• Thơ

    Nhớ người


    Nhớ người từ chốn nghìn trùng
    Nhớ người tan nát tận cùng thịt da
    Nhớ hoang sơ, nhớ thật thà
    Nhớ yêu dấu rất mặn mà tháng năm
    Nhớ thương dáng đứng, ngồi, nằm
    Nhẹ như gió thoảng, thì thầm trăng sao
    Nhớ trong giấc ngủ, chiêm bao
    Nhớ trong tiếng hát gọi chào bình minh
    Nhớ từ thuở rất điêu linh
    Nhớ đời những lúc gập ghềnh, gian nan
    Tay trong tay vẫn dịu dàng
    Ta chưa một phút bẽ bàng cho nhau
    Nhớ người, nhớ trước, nhớ sau
    Nhớ trăm năm đã đi vào trăm năm


    NK-TNC

  • Thơ

    ĐỪNG TƯỞNG

    Thi sĩ Bùi Giáng

    Đừng tưởng cứ núi là cao

    Cứ sông là chảy cứ ao là tù

    Đừng tưởng cứ dưới là ngu

    Cứ cao là sáng cứ tu là hiền.

    Đừng tưởng cứ đẹp là tiên

    Cứ nhiều là được cứ tiền là xong

    Đừng tưởng không nói là câm

    Không nghe là điếc không trông là mù

    Đừng tưởng cứ trọc là sư…

    Cứ vâng là chịu cứ ừ là ngoan

    Đừng tưởng có của đã sang…

    Cứ im lặng tưởng là vàng nguyên cây

    Đừng tưởng cứ uống là say…

    Cứ chân là bước cứ tay là sờ

    Đừng tưởng cứ đợi là chờ…

    Cứ âm là nhạc cứ thơ là vần

    Đừng tưởng cứ mới là tân…

    Cứ hứa là chắc cứ ân là tình

    Đừng tưởng cứ thấp là khinh…

    Cứ chùa là tĩnh cứ đình là to

    Đừng tưởng cứ quyết là nên…

    Cứ mạnh là thắng cứ mềm là thua

    Đừng tưởng cứ lớn là khôn….

    Cứ bé là dại, cứ hôn… là chồng

    Đừng tưởng giàu hết cô đơn…

    Cao sang hết ốm, tham gian hết nghèo

    Đừng tưởng cứ gió là mưa…

    Bao nhiêu khô khát trong trưa nắng hè

    Đừng tưởng cứ hạ là ve…

    Sân trường vắng quá ai khe khẽ buồn…

    Đừng tưởng thu lá sẽ tuôn…

    Bao nhiêu khao khát con đường tình yêu.

    Đừng tưởng cứ thích là yêu…

    Nhiều khi nhầm tưởng bao điều chẳng hay

    Đừng tưởng vua là anh minh…

    Nhiều thằng khốn nạn, dân tình lầm than.

    Đừng tưởng đời mãi êm đềm…

    Nhiều khi dậy sóng, khó kềm bản thân.

    Đừng tưởng cười nói ân cần…

    Nhiều khi hiểm độc, dần người tan xương.

    Đừng tưởng trong lưỡi có đường…

    Nói lời ngon ngọt mười phương chết người

    Đừng tưởng cứ chọc là cười…

    Nhiều khi nói móc biết cười làm sao

    Đừng tưởng khó nhọc gian lao…

    Vượt qua thử thách tự hào lắm thay

    Đừng tưởng cứ giỏi là hay…

    Nhiều khi thất bại đắng cay muôn phần.

    Đừng tưởng nắng gió êm đềm…

    Là đời tươi sáng hóa ra đường cùng

    Đừng tưởng góp sức là chung…

    Chỉ là lợi dụng lòng tin của người

    Đừng tưởng cứ tiến là lên…

    Cứ lui là xuống, cứ yên là nằm

    Đừng tưởng rằm sẽ có trăng…

    Trời giăng mây xám mà lên đỉnh đầu

    Đừng tưởng cứ khóc là sầu…

    Nhiều khi nhỏ lệ mà vui trong lòng

    Đừng tưởng cứ nghèo là hèn…

    Cứ sang là trọng, cứ tiền là xong.

    Đừng tưởng quan chức là rồng

    Đừng tưởng dân chúng là không biết gì.

    ☆☆☆

    Đời người lúc thịnh, lúc suy

    Lúc khỏe, lúc yếu, lúc đi, lúc dừng.

    Bên nhau chua ngọt đã từng

    Gừng cay, muối mặn, xin đừng quên nhau.

    Ở đời nhân nghĩa làm đầu

    Thủy chung sau trước, tình sâu, nghĩa bền.

    Ai ơi nhớ lấy đừng quên…!

    BÙI GIÁNG

  • Thơ

    LỤT LÌ

    Mê Hoa
    LTG: Lại ké con trai chút WiFi, MH lên mạng để lắng nghe tin tức bạn bè. Không nói được nhiều vì phải trả lại cho con để bảo tồn pin theo dõi thông tin. Xin chia sẻ với bạn bè tâm tư mấy ngày sống như thời xa xưa với cây đèn dầu leo lét…Giờ phút này nhà vẫn chưa được nhà đèn chiếu cố. Thông cảm thôi vì để bảo đảm an toàn cho dân.
    ************
    U cha ! nước lụt chưa ra,
    Lại tin có bão phương xa ập về.
    Cố Đô tui tội chưa tề,
    Điện mãi du hí, bốn bề tối tămh.
    Người cần kêu cứu làm răng?
    Điện thoại pin hết, khó khăn quá hè !
    Website, internet bị chê,
    TV, tủ lạnh, ê hề, bó tay!
    Microway, máy giặt xỉn say,
    Sức lực khô cạn, nằm quay chổng giò.
    Phố xá qua lại bằng đò,
    Dân chài gặp dịp giá hò vượt khung.
    Chỉ 200 mét qua đường
    Tiền công phải trả thất thường làm sao!
    Hai trăm ngàn, tới cái vèo,
    Xăng thời không tốn, công chèo – khiếp chưa?
    Trèo tường, đường tắt, đi bừa,
    Tìm nơi có điện, charge nhờ pin ngay.
    Big C, Sân Đấu gần đây,
    Nhà như ốc đảo, bao vây mịt mờ.
    Mênh mông nước bạc vô bờ,
    Mưa tuôn, đập xả, cây trơ thân gầy!
    Trông chờ tin điện mỗi ngày,
    Đêm nằm thao thức, đêm dài thâu đêm !
    Năm ngày không điện ngặt thêm,
    Thức ăn tủ lạnh nấu liền kẻo hư.
    Cá chiên, tôm luộc, thịt nhừ,
    Ăn dồn, mai mốt, thiếu thừa tính sau,
    Nước xuống, điện sẽ có mau,
    Cuộc sống trở lại, đâu vào đấy thôi.
    Nước ra tiền tốn một hơi,
    Xe bị ngâm nước, thôi rồi, mệt chưa?
    Mỗi xe 3 triệu sơ sơ,
    Sáu chiếc đứt bốn chục tờ 5 trăm.
    Nhà dột, ngói trụt càng căng,
    Thợ e không có, tính răng đây hè?
    Lụt bão vẫn còn nặng nề,
    Trăm lo, nghìn sợ, đầm đìa lệ rơi:
    -Dọn nhà điện giựt- hết đời!
    Mẹ con cùng chết, thương ơi, nỡ nào!
    -Đời bé chưa mở mắt chào,
    Mẹ hiền sinh đẻ, lật ào đò đưa!
    Lưới trời lồng lộng mà thưa,
    Hà Bá nuốt chửng con thơ mẹ hiền!…
    Rào Trăng thuỷ điện- Phong Điền,
    Chiến sĩ cứu hộ tận miền núi xa.
    Mưa to, núi đá lở ra,
    Lấp vùi chiến sĩ, chết 13 mạng người!
    Còn bao nhiêu kẻ tong đời,
    Thương ôi, biết nói làm sao hở trời!
    Người thân kêu khóc cạn lời,
    Người xa thương tiếc, ngậm ngùi sẻ chia.
    Cầu cho bão lụt chớ về,
    Gây bao tang tóc, nặng nề- oan khiên !
    Cầu trời gió lặng, mưa yên,
    Để cho nhân thế an nhiên đời thường.


    Huế 13/19/2020
    Mê Hoa

    Image may contain: 1 person, sitting
  • Thơ

    Chạnh nhớ Huế độ cuối thu

    THOẢNG BÊN NI NGHE TIẾNG RAO LẢNH LÓT
    “..AI BÁNH XÔI GIẦY…”
    CHẠNH NHỚ HUẾ ..ĐỘ CUỐI THU!

    Nghe chuyện xưa từ Mệ Ôn dạy kể lại
    Chợt chạnh lòng nhớ Huế độ cuối thu
    Con bạc phận sanh ra nơi viễn xứ xa mù
    Huế vẫn hiện hữu nhắc nhở Con về nguồn cội!


    Mưa cuối giữa Thu trải dài trên Xứ Huế
    Lảnh lót tiếng rao: “Ai ăn bánh xôi giầy..”
    Trong các món ăn đặc sản của Xứ Huế ni
    Thời còn Vua Chúa, Xôi Bánh Giầy là Cung tiến


    Hạt nếp Huế luôn luôn là nguyên liệu chính
    Cách làm rất công phu bởi rất hiếm kẻ mần
    Bánh vừa dẽo, vừa ngon mờ mô nhão từ nhân
    Vừa dai vừa ngọt lại mềm hợp với mọi khẩu vị


    Nếp nấu thành xôi chín, sao cho thiệt nhuyễn kỹ
    Kết hợp giã mạnh tay khi đang nóng để hạt xôi
    Hòa lẫn vào nhau..dòm tợ một khối bột nhồi
    Dẽo trắng và bóng mịn..Xôi bánh giầy là rứa đọ!


    Chừ xã hội cải tiến thu gọn nhiều công đoạn nhỏ
    Siêu thị, Chợ có bán đầy nhiều bột nếp tiện nghi
    Mua một ít bột về, hòa với nước cứ như ri
    Vo hình tròn, ẩn vô giữa ít đậu xanh nấu chín..


    Đậu xanh nhuyễn mềm xào với dầu hành với cỡ đường kính
    Chừng bảy, tám phân nắn cho viên bánh tê từ dẹt thành tròn
    Chung quanh viền chỉ việc nắn lại cho dày hơn
    Phần bánh ở giữa, thành vòng tròn ôm phắn bánh


    Nhưn đậu xanh nằm giữa có thể ví chiếc bánh
    Như chiếc khăn vấn trên đầu trong trang phục áo tứ thân*
    Bánh lúc nì cần chỉnh lại dáng, cho dệ trông
    Đem hấp cách thủy với độ mỏng mềm thanh cảnh


    Rứa bước đầu đã mần xong phần bánh..
    Dìn hắn in hệt dư mặt trăng vào độ trung tuần
    Xếp bánh giầy vô chiếc nách* bên hông
    Bên trong đặt thêm ít gia vị đi kèm đồ dùng bánh..


    Nơi phố thị khắp đường làng quê lót lảnh
    Những tiếng rao khi Huế độ cuối Thu..


    Chiếc bánh hình mặt trăng được ấn giữa một chút xôi
    Chín mềm thơm ngậy, bánh gấp đôi thành hình quai vạt
    Và dư rứa từng chiếc Xôi Bánh Giầy lần lượt..
    Bên cạnh ít mè rang thơm giã nát một chút thôi


    Trộn chút muối quê, thứ gia vị tuyệt vời
    Cắn một miếng bánh chấm muối mè, nhai từ tốn
    Sẽ cảm nhận vị béo bùi của nếp thơm mô lẫn lộn
    Mùi đậu xanh phi hành, thơm lựng đến nhức răng..


    Huế cuối thu, trời lành lạnh dưới mưa giăng
    Nhẹ nhàng man mác Thu chuyển mùa từng góc phố
    Tiếng rao lảnh lót mẹt nách hông quày quả
    “Ai xôi bánh giầy..”..Nhớ quá…Huế cuối Thu!


    By Anne Sandra Anh Ton
    (Cong Huyen Ton Nu Tram Anh)
    •••••••••••
    () Khi dòm từ trên xuống phần chiếc bánh

    () Là một cách goại rất Huế chừ đương dần mai một, Từ “nách” ni có nghĩa là đặt chiếc rỗ, mẹt bên hông rồi dùng một tay giữ rị lại mờ mô hề vác lên vai hay đặt vô triêng gánh

  • Thơ

    Hương Quê Hoài Niệm

    Vấn vương theo tà áo dài, như gợi nhớ cho tôi trở về với tình tự quê hương. Ở một nơi phương trời xa, hình dáng thiếu nữ trong tà áo dài, đã trở nên một hoài niệm của thời xa xưa


    1
    Em đi vạt áo gió bay
    Cho bao hoài niệm nhớ ngày xa quê
    Lắng nghe gió thổi hồn về
    Cuốn theo nỗi nhớ, lời thề gió bay.
    2
    Hoa vàng mấy độ vơi đầy
    Dùng dằng chia lối, đổi thay ý trời
    Quê hương nay đã đổi dời
    Còn đâu tà áo, bước rời cố hương.
    3
    Cho dòng lệ ngấn hạt sương
    Ngày dài hiu quạnh, đoạn trường thế thôi
    Bóng em đầy ắp hồn tôi
    Quê hương ở lại, nhớ người phương xa.
    4
    Em đi khép nép đôi tà
    Lòng tôi chết dại, mưa sa tần ngần
    Thôi thì tình ấy phù vân
    Gánh theo nỗi nhớ, bước chân người tình.
    5
    Tạ ơn em một bóng hình
    Tung bay ta áo xuân tình mộng mơ
    Thương em cái thuở bao giờ
    Ngây ngô trong sáng tuổi thơ dạt dào.
    6
    Hương quê tình tự xôn xao
    Vọng đưa câu hát ngọt ngào lời ru
    Tiếng ngân não nuột trầm tư
    Vang xa ngàn dặm bay vù cánh chim.
    7
    Hôm nay tôi vội đi tìm
    Tìm trong tà áo trái tim bồi hồi.
    Quê hương khế ngọt trên đồi
    Đường quê in bóng, Mẹ tôi đợi chờ.
    8
    Xa người tôi lại làm thơ
    Trang thư ráo mực nửa tờ đánh rơi
    Đôi hạc trắng bay mất rồi
    Tiếng kêu thảm thiết bên trời tha phương.
    9
    Dẫu rằng trời đất vô thường
    Mà sao lòng vẫn còn vương nhớ hoài
    Đêm về sương đẫm trên vai
    Đèn khuya một bóng soi dài tiếng đêm.
    10
    Sương thu ngấn lệ bên thềm
    Nhớ thương ở lại nỗi niềm gió bay
    Vướng em vạt áo nơi này
    Hương quê hoài niệm tràn đầy hồn tôi.


    Lê Tuấn

  • Thơ

    GỞI CHÚT TÌNH VỀ HUẾ


    Con đường đi , hoá thành sông
    Đồng ruộng trắng xoá mênh mông biển hồ
    Những dòng nước cuộn xô Bồ
    Mưa gào gió thét thẫn thờ lo âu
    Mây chùng xuống thấp rầu rầu
    Trời đen mờ mịt một màu tang thương
    Vài chiếc ghe nhỏ ngoài đường
    Trong nhà dọn dẹp ghế giường ngổn ngang
    Nhìn trời lòng thật hoang mang
    Nước dâng lên mãi nát tan cõi lòng
    Trời đất sao khiến long đong
    Bao nhiêu vật dụng chất chồng lên nhau
    Cầu cho con nước xuống mau
    Điện thì “ cúp “đã từ lâu tối mù
    Người thì mệt mỏi gật gù
    Dựa lưng trên ghế tù mù lất lây
    Nấu ăn biết chỗ nào đây ? !
    Đành nhai sống gói mì này qua đêm
    Nước phủ chẳng thấy bậc thềm
    Trong nhà bì bõm lội rêm cả người
    Cây vườn bầm dập kém tươi
    Lều bều rác rưởi và rươi quanh nhà
    Vì rứa Huế phải lo xa
    Phòng khi bão lụt có mà miếng ăn
    Nhìn quê hương thật băn khoăn
    Biết bao suy nghĩ làm răng bớt buồn ? !


    Võ Thời 11- 10 – 2020

  • Thơ

    THƠ ĐỜI TUY ĐỤC MÀ TRONG

    Trong giới văn nghệ sĩ, nhà thơ Bùi Chí Vinh là cái tên được nhắc tới với nhiều giai thoại, bởi anh có tài ứng khẩu thành thơ nhiều đề tài hóc búa do bạn bè thách đố bên chiếu rượu.

    Còn trên thi đàn, thơ đời Bùi Chí Vinh người khoái cũng nhiều, người ghét cũng lắm, thậm chí là một cái gai trong mắt nhiều người vì dám nói thẳng, nói thật, tung hê hết thảy sự đời trong đục, kiểu “bức tranh vân cẩu vẽ người tang thương”. Nhưng cũng cái dáng vẻ ngang tàng, gai góc ấy khi thỏ thẻ thơ tình lại biến hóa thành trong veo không có tuổi, kiểu như: “Cô gái ơi anh nhớ em/ Như con nít nhớ cà – rem vậy mà…”.

    Tự nhận mình sinh ra dưới một ngôi sao “quậy”, cầm tinh con ngựa bất kham, từng khoác áo lính một thời tuổi trẻ, nhưng có lúc phải làm đủ thứ nghề mạt lộ để sinh nhai như lời tự bạch: “Ta sinh ra gặp buổi nhiễu nhương/ Bất lương bàn luận chuyện hiền lương/ Kẻ sĩ cúi đầu làm binh sĩ/ Thơ quốc doanh cười cợt thơ Đường…”. Vài năm nay, anh chuyển sang cầm cọ vẽ tranh và đã có hai triển lãm cá nhân gây được sự chú ý trong công chúng. 

    -Trước đây mọi người quen gọi anh là nhà thơ, nhưng bây giờ gọi anh là họa sĩ trẻ cũng được phải không ạ? 

    Cứ gọi tôi là Bùi Chí Vinh – Bình Chí Vui là được rồi. Thật ra tôi làm quen với hội họa từ nhỏ, năm chín tuổi đã đoạt giải hội họa Thiếu nhi châu Á với bức tranh màu nước Quang Trung hành quân. Nhưng rồi do cái duyên, tôi gắn bó với văn chương nhiều hơn trong một thời gian dài. Thật vây, mỗi khi làm một công việc mới nào đó tôi đều không có sự tính toán nào. Tôi tin mọi việc đều do sự sắp đặt của số phận cả, và “cùng tắc biến, biến tắc thông”. 

    -Bùi Chí Vinh một tay chọc trời khuấy nước mà cũng tin vào số phận sao? Cái sự “cùng tắc biến, biến tắc thông” của anh là gì vậy? 

    Sao lại không chứ. Tính cách nào, số phận nấy mà. Tôi tin vào số phận, vào Thượng đế, vào luật nhân quả. Nếu có niềm tin, con người ta sẽ sợ làm điều ác, điều xấu. Tôi chỉ không sợ cái ác, cái xấu khi phải đối đầu với nó thôi.

    Đời tôi có những việc rất lạ mà tôi tin đó là sự trợ lực của Thượng đế. Tôi có niềm tin vào tâm linh, dù chúng ta đang sống trong thế giới duy vật. Đó là một khi cuộc sống bị đẩy vô chân tường thì tôi lại bộc lộ ra một khả năng mới và sống được bằng khả năng đó. Tôi quăng mình vào thơ một cách dữ dội nhưng rồi đến lúc chỉ được làm thơ tình để mọi người vỗ tay, hay thơ minh họa nghị quyết… tôi không thích nữa và dừng lại. Đưa đẩy thế nào tôi chuyển sang viết truyện cho tuổi mới lớn và bán vào hàng chạy nhất lúc đó cùng với Nguyễn Nhật Ánh. Khi người đặt hàng tôi viết truyện thiếu nhi là ông Nguyễn Thắng Vu, Giám đốc Nhà xuất bản Kim Đồng qua đời thì lại có người đặt hàng tôi viết kịch bản điện ảnh. Khi những nhà đầu tư làm phim gặp khó khăn thì khả năng hội họa của tôi lại trỗi dậy. Hai triển lãm vừa qua, mỗi cái tôi bán được năm bức tranh. Là “họa sĩ trẻ” mà được như vậy cũng là thành công rồi. 

    -Hỏi thật, anh đã thành danh trong văn chương, khi “tay ngang” đến với hội họa, anh không sợ bị cho là lấn sân, không “biết mình biết ta” sao? 

    Tôi có biết gì về hội họa đâu, bỗng một ngày muốn vẽ thì cầm cọ vẽ thôi. Vẽ xong cũng không có ý định triển lãm, nhưng rồi cái duyên cứ đưa đến. Tranh của tôi không giống ai, nó là minh họa cho cái đầu, cho suy nghĩ của tôi nên có sự hồn nhiên, chân thật lẫn dữ dội, thống khổ. Mỗi người có một sứ mệnh riêng nên tôi không nghĩ là mình lấn sân. Và vì “biết mình biết ta” nên tôi chỉ dạo chơi với hội họa một cách thoải mái nhưng hết mình. Bùi Chí Vinh là thế, chơi cái gì cũng phải hết mình.

    Người cầm bút mà lúc nào cũng cười xởi lởi trong đám đông thì tác phẩm cũng mang màu đồng phục, giống với mọi người. 

    -Như vậy sau hội họa, sẽ còn điều bí ẩn nào đó đang chờ anh khám phá phải không? 

    Như tôi đã nói, đó là một phản xạ tâm linh nên tôi cũng không biết trước. Có thể đó là sự trở lại với văn chương, vì tôi còn nhiều dự định đang ấp ủ.

    Nếu có điều kiện viết tiểu thuyết lịch sử hoặc làm kịch bản phim, tôi sẽ chọn viết về thời đại Quang Trung – Nguyễn Huệ, vì những con người anh hùng áo vải thời đó rất ly kỳ. Nó sẽ rất phong phú bởi nhiều tình tiết, chi tiết dạng giả sử, ngoại sử rất hấp dẫn, nhưng đều trên cơ sở khoa học, hợp lý mà tôi có thể tưởng tượng và làm được. Không chỉ có Nguyễn Huệ mà cả Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân, rồi sự xuất hiện của Nguyễn Hữu Chỉnh – một tài năng lớn của thời Lê – Mạc nhưng đi theo Nguyễn Huệ, Ngô Thời Nhiệm cũng vậy. Những người này có đời sống riêng rất đặc biệt, Ngô Thời Nhiệm là đệ nhất văn thần, còn Nguyễn Hữu Chỉnh là đệ nhất quân sư thời đó. Có thể thấy những nhân vật lỗi lạc nhất của Bắc Hà đều theo Nguyễn Huệ, cả những người Hoa tham gia phong trào phản Thanh phục Minh cũng theo Nguyễn Huệ. Chỉ có minh chúa mới có sức thu phục nhân tâm như thế.

    -Người ta thường sợ hạn năm tuổi, còn Bùi Chí Vinh thì có cảm giác gì khi “đáo tuế”?

    Tôi sinh năm Giáp Ngọ 1954, năm nay 2014 cũng là Giáp Ngọ, vậy là đúng 60 năm cuộc đời. Người ta thường sợ hạn năm tuổi, còn tôi lại không nghĩ vậy. Cuộc đời tôi đã trải qua quá nhiều vận hạn khắc nghiệt ở những năm khác nên đến năm tuổi, có khi tôi sẽ phục sinh, nạp đủ năng lượng để sải vó, để rong ruổi, để chinh phục những điều mới mẻ.

    “Ngày ta sinh Nguyễn Huệ đã bùng hà/ Nên con – ngựa – tử – vi không người cưỡi/ Ta sút chuồng phá bỏ yên cương/ Lặng lẽ ruổi đời mình lên núi…”. Hình như kiêu hãnh và cô độc là con đường mà anh đã chọn và theo đuổi đến cùng…

    Đúng rồi, vì “Chỉ có cô đơn mới đủ làm ta khóc/ Tiếng khóc của ta là tiếng hí của người/ Ta không biết ta là người hay ngựa/ Chỉ một mình Nguyễn Huệ hiểu ta thôi”… Đó là bốn câu đầu và cuối mà tôi đã viết trong bài Ngày sinh của ngựa. Bài thơ này mới nghe qua tưởng rất ngông cuồng, nhưng thật ra không phải vậy. Câu “Ngày ta sinh ra bầy rắn đã rung chuông”, tôi vừa mượn ý bài Ngày sinh của rắn của Phạm Công Thiện, nhưng hình ảnh rắn cũng để nói về một cái gì đó hiểm độc. Sự rình rập, mai phục trong bụi của rắn đối lập với hình ảnh con ngựa tung vó chạy trên đồng cỏ, càn lướt trên thảo nguyên. Trong đời tôi, Nguyễn Huệ là vị anh hùng mà tôi cảm phục, thần tượng nhất. Không chỉ là người làm nên chiến công hiển hách, chưa hề thất trận mà về mặt nhân quyền, ông có nhiều cải cách cho dân.

    Thời nào cũng vậy, cách cô độc của một kẻ sĩ cầm bút đi liền với sự kiêu hãnh. Cô độc vì cảm thấy “Thế sự thăng trầm quân mạc vấn” nên phải lùi lại. Nhưng trong biểu hiện sự cô độc phải có cá tính riêng. Người cầm bút mà lúc nào cũng cười xởi lởi trong đám đông thì tác phẩm cũng mang màu đồng phục, giống với mọi người.

    -Văn chương cũng là một sản phẩm của xã hội. Có ý kiến cho rằng người viết trẻ bây giờ có kỹ năng nhưng ít có vốn sống nên tác phẩm của họ cũng lơ lửng. Anh thấy nhận xét trên thế nào?

    Phải nói rằng viết văn là một nghề cực nhọc, đòi hỏi không chỉ tài năng mà còn sự dấn thân, bản lĩnh của người viết. Viết văn phải lương thiện, phải thực hiện đúng chức năng “văn dĩ tải đạo”. Tức phải tải được đạo lý, nhân nghĩa, chính trực, chứ nếu viết văn để tải cái hả hê, cái tham vọng của cá nhân thì nên chọn công việc khác hơn là viết văn. Tôi tin những ai còn lương tri, còn tài năng để làm việc thiện thì người đó sẽ tồn tại cùng với lịch sử, với thời gian.

    Bây giờ văn chương rất hỗn độn. Văn chương thậm chí tải cái ác, cái lơ lửng, khích cái tà đạo nhưng lại được một bộ phận không nhỏ cổ vũ. Có lẽ do đời sống bây giờ thực dụng, người ta không còn lý tưởng nên văn chương biến thành minh họa cho xã hội. Hơn bao giờ hết, giữa xã hội hỗn độn, các giá trị thiện ác, chính tà lẫn lộn thì văn chương càng phải làm nhiệm vụ “văn dĩ tải đạo” hơn nữa. Nhưng nhìn vào tương lai của văn học trẻ bây giờ tôi không cảm nhận được điều đó. Hiện nay tuy có rất nhiều người viết trẻ, nhưng tôi lại thấy văn học trẻ rất bế tắc. Lý do họ bị khống chế quá nhiều. Trong bản thân mỗi người có sẵn một người tự kiểm duyệt những con chữ của mình. Thế nên nhiều tác phẩm ra đời kiểu “đầu voi đuôi chuột”, mở ra vấn đề lớn nhưng kết thúc không đâu vào đâu.

    Viết văn phải lương thiện, phải thực hiện đúng chức năng “văn dĩ tải đạo”. Những ai còn lương tri, còn tài năng để làm việc thiện thì người đó sẽ tồn tại cùng với lịch sử, với thời gian.

    -Đời sống thực dụng, các giá trị thiện ác, chính tà lẫn lộn. Nghe thật đáng sợ, nhưng chẳng lẽ chúng ta phó mặc, không làm gì sao? Có lẽ nên bắt đầu từ giáo dục, anh có thấy như vậy không?

    Thời của tôi, từ khi còn nhỏ, học tiểu học là đã được nhà trường dạy môn Đức dục. Đó là cách tập tu thân, cư xử có đạo đức, theo đạo lý, lẽ phải nhưng không giáo điều, lên gân mà hết sức đơn giản, gần gũi như thưa gởi, xin phép cha mẹ khi ra khỏi nhà, chào người lớn tuổi, gặp đám tang cúi đầu chào, nghe thấy quốc ca dù ở đâu cũng đứng nghiêm, không nhặt của rơi… Những điều rất cơ bản trong một xã hội văn minh mà một đứa trẻ cần phải biết cách ứng xử với bạn bè trang lứa, với cha mẹ, người lớn, hàng xóm, với cả người nước ngoài đến nước mình. Lên trung học, bước vào đệ thất (tức lớp 6) thì học thêm môn Công dân, mở rộng hơn dạy về cách sống yêu nước, dám dấn thân, hy sinh, nghĩ đến đất nước trước khi nghĩ đến bản thân. Nhờ những bài học Đức dục, Công dân mà một đứa trẻ khi lớn lên bên cạnh kiến thức thì đã được trang bị nền tảng văn hóa để biết cách sống đẹp. Đất nước ta đã từng có những thế hệ được thừa hưởng nền giáo dục nhân văn như thế, từ đó mới có những người sống vì lý tưởng, dám dấn thân, dám hy sinh.

    Có lần tôi tham gia biểu tình và bị cảnh sát rượt, tôi phải quăng chiếc xe đang chạy trên đường Pasteur để thoát thân. Hai ngày sau quay lại thấy chiếc xe máy vẫn còn nguyên chỗ cũ. Lúc đó tôi mới 15 tuổi, tôi không cảm động hay thấy việc đó có gì đặc biệt. Vì đó là điều bình thường trong xã hội mà con người được giáo dục không được tham lam, tước đoạt của cải của người khác, dù để trước mặt. Thời tao loạn mà còn như thế. Còn bây giờ, chúng ta đã qua thời nghèo đói để biện mình cho việc “bần cùng sinh đạo tặc”, vậy mà những tin “hôi của” xảy ra khắp nơi. Hơn cả buồn là sự xót xa.

    -Anh từng làm “sếp” của những tay anh chị giang hồ mà vẫn cảm hóa được họ bằng thơ kia mà.

    Bởi tôi tin “nhân chi sơ, tính bản thiện”, và thơ từ trái tim khác với thơ từ cái lưỡi.

    Sau 1975, tôi được phân công về công tác tại Trường Thanh niên Xây dựng cuộc sống mới ở Xuyên Mộc (Bà Rịa – Vũng Tàu) và Tân Phú (Đồng Nai) giáo dục cho thanh niên loại 4. Có những người có học thức và cả những người thất học, họ phạm pháp nhưng chưa đến mức phải ở tù nên bị thử thách, trải qua môi trường cải tạo, xây dựng cuộc sống mới ở trường này. Tôi làm tuyên huấn, trực tiếp dạy học cho họ bằng vốn sống và kiến thức mình chứ không theo giáo trình nào cả. Ở đó, tôi thấy sự ngây thơ và hướng thiện của họ còn mạnh mẽ hơn chính những cán bộ thanh niên xung phong đang giáo dục, hướng dẫn họ.

    Tôi còn nhớ, có lần một học viên là giang hồ anh chị nổi tiếng vùng Tân Định bị đưa vào trường, anh này bất phục và có ý định bỏ trốn bằng vũ lực. Thấy được thái độ của anh ta, tôi làm bài thơĐiều tôi chưa chuẩn bị – là lời suy niệm của một “đại ca” dân Sài Gòn có học thức, nhưng cũng là châm ngôn của những người giảng dạy là “lấy tình thương xóa bỏ hận thù”. Liền sau đó tôi bị cấp trên nhắc nhở, cho rằng tôi đi lệch phương pháp của trường.

    “Đời sống có gì hơn quả bóng/ Tay trơn không níu được bao giờ/ Hạnh phúc có hơn gì quả bóng/ Lủng mấy lần xì hết ước mơ… Quả bóng tròn như thể công danh/ Anh chụp suốt một đời không dính…”.

    -Có khi nào anh nghĩ đời mình trắc trở do thơ anh vận vào đời không?

    Nhờ làm thơ về bóng đá mà tôi sống được đó chứ. Thời điểm sau khi bị buộc cởi áo lính là thời tôi thê thảm nhất. Đi đâu tôi cũng nghe đồn “cấp trên cấm đăng bài Bùi Chí Vinh trên báo”, còn nếu phải đăng thì “chỉ đăng thơ tình và duy nhất thơ tình mà thôi”. Tuy chỉ cấm bằng miệng chứ chẳng có văn bản nào, nhưng không nơi nào dám làm trái. Tôi phải xoay xở và nghĩ ra đề tài làm thơ về bóng đá. Thuởấy nhà báo Hồ Nguyễn phụ trách tờLong An Bóng đá và tờLong An Cuối tuần rất ưu ái tài nghệ làm thơ đa hệ và hoàn cảnh thắt ngặt của tôi bèn đề nghị mỗi số báo tôi có một bài thơ về thể thao hoặc trào phúng hài hước. Những bài thơ như một loại biên niên sử ghi chép các giải World Cup, Euro lẫn các giải vô địch Việt Nam đã giúp tôi sống được qua lúc khó khăn đó.

    -Lý lịch của anh rất đỏ mà cũng phải khổ sở như vậy sao?

    Gia đình tôi là gia đình cách mạng. Ba tôi từng là thành viên Ban tuyên truyền thi hành Hiệp định Geneve, là một nho sĩ Bắc Hà, là đảng viên Đảng Cộng sản Pháp và đảng viên Đảng Lao động Việt Nam. Mẹ tôi cũng hoạt động trong Đặc khu ủy Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định và cũng là đảng viên Đảng Lao động. Bà từng bị bắt ở bót Catinat và ở tù chung với bà Nguyễn Thị Bình, Đỗ Duy Liên, Lan Mê Linh… Ba tôi cũng muốn hướng tôi đi theo con đường của ông, nhưng tôi vốn cầm tinh con ngựa, có máu lang bạt, nổi loạn nên không muốn đi theo lối mòn. Nhà tôi ở xóm Lách dưới chân cầu Công Lý toàn là người lao động nghèo. Lớn lên tôi thấy hàng xóm tuy nghèo nhưng là những người tử tế, cư xử minh bạch, quân tử, ngay cả tiếng chửi thề cũng khí khái chứ không bừa phứa, vô lối. Vì vậy, tuy sống ở khu bùn lầy nước đọng nhưng chất hiệp sĩ cứ ngấm vào người từ lúc nào, khoái làm anh hùng nghĩa hiệp để bảo vệ người cô thế. Trong hoàn cảnh đó, những người có lý tưởng tham gia đấu tranh rất nhanh. Năm 15 tuổi tôi đã tham gia hoạt đồng cách mạng. Và cuộc đời đã quăng quật thằng tôi không thương tiếc để tôi phải thấm thía câu thế thái nhân tình.

    -Nhưng có lẽ nhờ thấm đòn mà anh cũng khôn ngoan hơn?

    Một con người có khi trộn lẫn nhiều yếu tố, nhưng dù thế nào cũng trên cơ sở Chân – Thiện – Mỹ. Khi tôi phân thân ra thì tôi vẫn là tôi, không giả dối, đánh lừa mình. Phân thân không phải là biến thành diễn viên mà là để linh hoạt tồn tại như câu nói nổi tiếng của Pele: “Tại sao tôi biến thành một cầu thủ thiên tài trong bóng đá? Bởi vì tôi biết linh hoạt như một giọt thủy ngân trên sân cỏ”.

    -Những biến thiên của một cuộc đời rất vô cùng. Giờ đây, nhớ về cậu bé xóm Lách ngày nào, anh có thấy hài lòng với những gì mình đã làm được trong cuộc đời chưa?

    Với một thằng bé xuất thân từ xóm Lách với đủ trò thả diều, câu lươn, bắt dế… và phải kiếm kế sinh nhai từ thuở nhỏ như dạy toán, luận văn cho những đứa cùng lớp, làm lồng đèn trung thu, nhiều trò thủ công khác để có tiền… thì tôi có chút hãnh diện, nhưng cũng chưa hài lòng, bởi với đất nước có bổn phận phải làm nhiều việc. Thời nào cũng vậy, bổng lộc là xương máu tạo anh hùng. Những câu thơ cũ tôi viết từ năm 1978 giờ vẫn “nóng”: “Biên giới như người đau mới mạnh/ Giặc sang truyền dịch sốt rét rừng/ Lẽ nào ta ngồi ôm ảo ảnh/ Nhấp ngụm trà luận chuyện văn chương…”.

    Xin được chia sẻ cùng anh những nỗi niềm của một người Việt Nam.

    Thu Ngân thực hiện

    Ảnh 1: chân dung tự họa Bùi Chí Vinh – sơn dầu 60x80cm

    Ảnh 2: VĨ CẦM ĐÔI sơn dầu, 80x120cm tranh đã bán

    Ảnh 3: Bùi Chí Vinh chụp với những người mua tranh và MC Hương Lan

    Ảnh 4: Bùi Chí Vinh, Hương Lan, Bùi Vương tại phòng tranh

    Theo FB

  • Thơ

    TIẾNG CHUÔNG THIÊN MỤ

    (Nhã Ca)

    Tôi lớn lên bên này sông Hương

    Con sông chẻ đời ra những vùng thương nhớ

    Cây trái Kim Long, sắt thép cầu Bạch Hổ

    Cửa từ bi vồn vã bước chân sông

    Mặt nước xanh trong suốt tuổi thơ hồng

    Tháp cổ chuông xưa sông hiền sóng mọn

    Những đêm tối bao la những ngày tháng lớn

    Những sáng chim chiều dế canh gà

    Tiếng chuông buồn vui dợn thấu xương da

    Người với chuông như chiều với tối

    Tôi bỏ nhà ra đi năm mười chín tuổi

    Đêm trước ngày đi nằm đợi tiếng chuông

    Cuối cơn điên đầu giấc ngủ đau buồn

    Tiếng chuông đến dịu dàng lay tôi dậy

    Tiếng chuông đến và đi chỉ mình tôi thấy

    Chỉ mình tôi nhìn thấy tiếng chuông tan

    Tiếng chuông tan đều như hơi thở anh em

    Tiếng chuông tan rời như lệ mẹ hiền

    Tiếng chuông tan lâu như mưa ngoài phố

    Tiếng chuông tan dài như đêm không ngủ

    Tiếng chuông tan tành như tiếng vỡ trong tôi

    Từ dạo xa chuông khôn lớn giữa đời

    Đổi họ thay tên viết văn làm báo

    Cơm áo dậy mồm ăn lơ nói láo

    Cửa từ bi xưa mất dấu đứa con hư

    Tháp cổ chuông xưa, sông nhỏ sương mù

    Dòng nước cũ trong mắt nhìn ẩm đục

    Con đường cũ trong hồn nghe cỏ mọc

    Chuông cũ giờ đây bằn bặt trong da

    Tuổi hồng sa chân chết đuối bao giờ

    Ngày tháng cũ cầm bằng như nước lũ

    Nhưng sao chiều nay bỗng bàng hoàng nhớ

    Tiếng chuông xưa bừng sống lại trongtôi

    Tiếng chuông xưa kìa tuổi dại ta ơi

    Chuông oà vỡ trong tôi nghìn tiếng nói

    Những mảnh đồng đen như da đêm tối

    Những mảnh đồng đen như tiếng cựa mình

    Những mảnh đồng đen như máu phục sinh

    Những mảnh đồng đen kề nhau bước tới

    Tôi thức dậy rồi đây chuông ơi chuông hỡi

    Tôi thức dậy đây tôi thức dậy rồi

    Thưc dậy thực sự rồi

    Thức dậy cùng giông bão,

    Thức dậy cùng tan vỡ

    Thưc dậy cùng lịch sử

    Mẹ hiền ơi thành phố cũ chiều nay

    Có tiếng chuông nào rơi như lệ trên tay

    Trên mặt nước trên mặt người mặt lộ

    Cho con trở về đừng mê sảng ngó

    ( Nhã Ca)

  • Tác giả

    Hữu Loan, Dzũng Chinh, Vũ Anh Khanh

    Ba người lạ cùng nhau nổi tiếng

    Hữu Loan, Dzũng Chinh, Vũ Anh Khanh, ba con người tuy hoàn cảnh và đường đời khác nhau nhưng đã tình cờ gặp nhau nơi con đường cái quan, trên đường tranh đấu, mưu cầu Xuân tự do cho quê hương, dân tộc.

    Từ trái, nhạc sĩ Dzũng Chinh, nhà thơ Vũ Anh Khanh, nhà thơ Hữu Loan. (Hình:wikimedia.org & Người Đưa Tin)

    “Nàng có ba người anh đi quân đội,” Hữu Loan mở đầu bài thơ khóc vợ mang tên “Màu Tím Hoa Sim” được ông làm từ năm 1949, sau được in trên tờ Trăm Hoa do Nguyễn Bính làm chủ nhiệm, đã đi vào lịch sử thi ca, như một chứng nhân của lịch sử. Còn ông, sau này trở thành chứng nhân của cuộc đời.

    Khi Hữu Loan vướng vào vụ án Nhân Văn-Giai Phẩm, cũng như những bất mãn trước đó trong cải cách ruộng đất, ông bỏ đảng, bỏ quân đội trở về vùng quê heo hút, Nga Sơn, Thanh Hóa, để làm một người phu kéo xe thồ đá. Bỏ lại phía sau lưng con đường công danh (mà ông cho là bại hoại) phía trước.

    Hữu Loan làm thơ không nhiều. Thơ ông vượt tuyến, vào Nam, không biết có phải do được in trong tập “Trăm Hoa Vẫn Nở Trên Đất Bắc?”

    Chỉ biết, bài “Màu Tím Hoa Sim” được nhiều nhạc sĩ phổ nhạc, và truyền bá sâu rộng ở miền Nam. Ít nhất có ba bài được giới trẻ và giới trí thức thời bấy giờ yêu chuộng là “Những Đồi Hoa Sim” của Dzũng Chinh, “Màu Tím Hoa Sim” của Duy Khánh và “Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà” của Phạm Duy.

    Riêng bài “Những Đồi Hoa Sim” của Dzũng Chinh và “Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà” của Phạm Duy, một bi ca, một hùng ca, cho đến nay vẫn là những tác phẩm nổi tiếng nhất dựa trên bài thơ gốc của Hữu Loan; trong đó, nhạc phẩm của Dzũng Chinh ra đời vào thập niên 1960, được cho là bản phổ nhạc sớm nhất.

    Sau năm 1975, Hữu Loan có vô thăm Sài Gòn. Ông ra chợ trời, mua được mấy băng cassette cũ, trong đó có thâu bài “Những Đồi Hoa Sim” của Dzũng Chinh. Nghe nói, Hữu Loan nghe đi nghe lại, tỏ ra thích thú với Dzũng Chinh, người mà theo Hữu Loan phổ nhạc thơ ông hay nhất.

    Nhạc sĩ Dzũng Chinh.

    Dzũng Chinh đưa Hữu Loan và Vũ Anh Khanh nổi tiếng hơn Dzũng Chinh, một sĩ quan bộ binh trẻ tuổi, tài hoa trong Quân Lực VNCH, không chỉ “nổi” lên khi sáng tác bản nhạc “Những Đồi Hoa Sim” với tiếng hát của nữ ca sĩ Phương Dung (được khán giả đương thời ưu ái gọi là “Con nhạn trắng Gò Công”) vào thời điểm năm 1961-1962, mà ông còn

    được nhiều người biết đến với nhạc phẩm “Đêm Dài Chưa Muốn Sáng” qua giọng ca của Hoàng Oanh.

    Nhạc phẩm này nói lên nỗi niềm bi thiết, trước lịch sử bi hùng của dân tộc, khát khao một mùa Xuân thanh bình, quê hương liền một huyết mạch lịch sử.

    Lời nhạc trầm hùng, trong “Đêm Dài Chưa Muốn Sáng” của Dzũng Chinh làm người ta nhớ tới những tác phẩm bất hủ như “Hòn Vọng Phu” của Lê Thương; “Con Đường Cái Quan”của Phạm Duy; chút u uất, đau đớn vì những khát vọng thuần nhân bản bị đè nén, bức hại như trong “Người Anh Vĩnh Bình” của Nguyễn Đức Quang.

    Nghe “Đêm Dài Chưa Muốn Sáng” của Dzũng Chinh, thấy thương tiếc cho ông. Một vùng trời âm nhạc bao la, ông vừa chạm đôi cánh vào. Nhưng chưa kịp vẫy vùng, tung cánh chim bằng lướt gió, thì lửa đạn chiến tranh đã đưa ông về tận đáy mồ sâu.

    Ông hy sinh dưới chân núi Chà Bang (Ninh Phước) vào đêm cuối Tháng Hai, 1969. Năm đó Dzũng Chinh mới 28 tuổi (sinh năm 1941). Dzũng Chinh để lại cho đời tiếng kêu bi thiết, của một thời mà mãi trời chưa sáng: “Từ nghìn năm trước đất mòn nào đưa/ Tiếng gọi Trường Sơn theo bóng tối tuổi gầy mòn… Gục ngã nơi sa trường, manh áo nhuộm bụi đường/ Cây lá bạc màu xanh, một lời nguyền hy sinh chưa hề nhòa…”

    Nơi Dzũng Chinh nằm xuống, cũng là một vùng có nhiều hoa sim tím, mọc dài theo triền đồi cát trắng, miền duyên hải.

    Từ những đồi hoa sim của Hữu Loan, hay mùa sim tím theo những triền cát trắng của duyên hải miền Trung – Nam bộ, quê hương của mình, Dzũng Chinh mơ thấy Xuân về trên đỉnh Trường Sơn với bao thao thức:

    “Mấy mùa mùa đợi mong, mai nở ven rừng/ Xuân đến bao giờ người nào hay…

    Cũng như Hữu Loan, Dzũng Chinh không sáng tác nhiều (hay đúng hơn là chưa kịp viết nhiều). Ngoài bài “Những Đồi Hoa Sim,” “Đêm Dài Chưa Muốn Sáng,” “Lời Tạ Từ,” “Hoa Trắng Tình Yêu,” “Hai Màu Hoa,” thì Dzũng Chinh còn được biết đến với một bài nổi tiếng khác, là bài “Tha La Xóm Đạo,” phổ thơ Vũ Anh Khanh.

    Nhà thơ Vũ Anh Khanh. 

    Vũ Anh Khanh nổi lên với “Tha La Xóm Đạo”

    Vũ Anh Khanh cũng là người ở vùng duyên hải miền Trung-Nam bộ. Ông quê ở Phan Thiết nhưng thuộc thế hệ trước. Ông viết văn, làm báo với Thẩm Thệ Hà, thập niên 1940-1950 ở Sài Gòn.

    Ông là một cây bút chuyên viết truyện ngắn và tiểu thuyết. Tác phẩm của ông phần lớn được in trong năm 1949 tại Sài Gòn, với “số lượng phát hành chiếm kỷ lục trong số ấn phẩm thời đó,” gồm truyện dài “Cây Ná Trắc” (nhà xuất bản Tân Việt, Sài Gòn, 1947), “Nửa Bồ Xương Khô” (hai tập, nhà xuất bản Tân Việt Nam, Sài Gòn, 1949), “Bạc Xỉu Lìn” (nhà xuất bản Tiếng Chuông, Sài Gòn, 1949)…

    Trong một lần cùng Thẩm Thệ Hà về thăm quê bạn ở Trảng Bàng (Tây Ninh), Vũ Anh Khanh có ghé thăm họ đạo Tha La, cám cảnh sinh tình ông viết ra bài thơ Tha La. Sau bài thơ này được in trong tiểu thuyết “Nửa Bồ Xương Khô” của ông.

    Bài thơ “Tha La Xóm Đạo” cũng được nhiều nhạc sĩ phổ nhạc, nhưng bài do nhạc sĩ Dzũng Chinh phổ nhạc là đi vào lòng người nhất. Theo wikipedia.org, “Tha La Xóm Đạo” đã được nhạc sĩ Dzũng Chinh, cũng là người Phan Thiết, phổ nhạc vào năm 1964.

    Có lẽ, cũng như “Màu Tím Hoa Sim,” “Tha La Xóm Đạo” sẽ còn mãi với thời gian, như là chứng nhân của một thời – không thể nào quên.

    Nếu như Hữu Loan đi kháng chiến ở miền Bắc, thì Vũ Anh Khanh đi  kháng chiến ở miền Nam.

    Sau 1954, Vũ Anh Khanh tập kết ra Bắc. Đến năm 1956, sau khi đi dự hội nghị nhà văn Á-Phi tại Ấn Độ, Vũ Anh Khanh trở về, sửa giấy phép đi đường, tìm cách tới bờ sông Bến Hải, với ý định vượt tuyến trở lại miền Nam tự do.

    Nhưng khi Vũ Anh Khanh còn đang ở giữa dòng nước, chưa kịp chạm tới bờ Nam. Thì bị biên phòng Cộng Sản miền Bắc phát hiện, dùng tên tẩm thuốc độc, bắn chết ông.

    Cái chết của Vũ Anh Khanh trở thành một khúc ca bi tráng, cho một văn-thi nhân sớm biết quay đầu là bờ. Ông đã không vượt qua nổi dòng sông định mệnh. Nhưng trong bóng đêm của hơn nửa thế kỷ trước, ông đã can đảm vượt qua dòng sông ý thức hệ. Nơi mà cho tới tận hôm nay, hàng triệu triệu con người, vẫn còn bị “mắc kẹt” ở bờ bên kia.

    Năm Vũ Anh Khanh mất, ông mới 30 tuổi (ông sinh năm 1926).

    Nhà thơ Hữu Loan. 

    Hữu Loan, truân chuyên một đời

    Như vậy, trong ba người văn nghệ khoác áo chinh nhân vì vận nước, chỉ có mình Hữu Loan là Trời cho (hay Trời bắt) được (phải) sống lâu. Vì sống lâu không phải để mong làm lão làng, mà chỉ để làm chứng nhân cho câu nói của người xưa – đa thọ, đa nhục (?!).

    Hơn thế nữa, Hữu Loan phải sống như lời ông kể lại, trong thơ:

    “Một bên là chính quyền có đủ thứ nhân dân

    (quân đội, tòa án, nhà tù nhân dân)

    Và nhất là Cuồng tín nhân dân…”

    Ông đã trả lời trong một cuộc thẩm vấn:

    -Sao anh không làm nhà?

    -Vì tôi mắc làm người!

    Cả cuộc đời của Hữu Loan, vật lộn tranh đấu từng ngày, để chỉ được làm người – con người lương thiện, bình dị, không viết hoa (như Cộng Sản tuyên truyền).

    Hữu Loan có hai người vợ. Cả hai đều là con địa chủ. Dù ông chỉ là con của một tá điền.

    Nhờ siêng năng tự học, ông lấy được bằng tú tài Tây. Tham gia kháng chiến, ông là tuyên huấn của sư đoàn, kiêm chính trị viên tiểu đoàn.

    Người vợ đầu của ông mất trong thời chiến tranh, như trong bài “Màu Tím Hoa Sim” ông viết: “Nhưng không chết người trai khói lửa, mà chết người em gái nhỏ hậu phương.”

    Nhà thơ Hữu Loan và người vợ thứ hai. 

    Người vợ thứ hai, ông “nhặt được” sau cải cách ruộng đất.

    Bà nguyên là con của một gia đình địa chủ, mà người cha trong kháng chiến thường cho tá điền gánh gạo tới ủng hộ quân lương cho sư đoàn của ông. Chính Hữu Loan nhiều lần đề nghị sư đoàn cấp giấy khen cho người địa chủ yêu nước kia. Nhưng trong cải cách ruộng đất, gia đình người địa chủ kia bị chôn, chỉ chừa cái đầu lên mặt ruộng, để trâu kéo bừa “cày” cho tới chết. Riêng cô con gái năm đó mới 17 tuổi, được tha, nhưng bị đuổi ra khỏi nhà, với chỉ thị của cán bộ là dân làng không ai được tiếp xúc với cô.

    Cô đi lang thang, nhặt những mẩu khoai sót trên đồng để ăn, tối về ngủ trong miếu hoang.

    Trong nơm nớp lo sợ, trước sự cuồng tín của cán bộ và sự cuồng tín nhân dân…

    Hay tin, Hữu Loan từ đơn vị trở về, đón cô gái bị chế độ căm thù, ruồng bỏ kia về nhà. Từ đó, ông bắt đầu một hành trình làm người gian nan, còn khổ nhục hơn cả thời tham gia kháng chiến.

    Người ta phá, không muốn cho Hữu Loan thồ đá, vì không muốn ông làm người lương thiện (dám bỏ đảng, bỏ quân đội). Vợ ông buôn bán ngoài chợ, người ta bao vây, hất hết đồ xuống đất… Nhưng tất cả sự cuồng tín của một chế độ, cũng không chà đạp nổi nhân tính của một con người như Hữu Loan.

    Nhiều người không hiểu chuyện, đố kỵ cho rằng Hữu Loan chỉ làm có một bài thơ thôi, mà nổi tiếng tới tận bây giờ. Sự thật, cuộc đời của Hữu Loan trong mấy mươi năm, cắn răng từng ngày, để được làm một con người lương thiện dưới chế độ Cộng Sản, còn đẹp hơn tất cả những bài thơ.

    Ngoài bài “Màu Tím Hoa Sim,” Hữu Loan còn có những bài như: “Hoa Lúa,” “Đèo Cả”…

    Tha La xóm đạo ở xóm An Hội, xã An Hòa, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, nổi tiếng khắp nơi nhờ bài hát “Tha La Xóm Đạo” của nhạc sĩ Dzũng Chinh phổ từ bài thơ cùng tên của nhà thơ Vũ Anh Khanh. (Hình: Flickr Vinh_Saigon).

    Sau chiến tranh, trở về từ chiến khu, nhìn cảnh miền Bắc điêu tàn, nhất là sau cải cách ruộng đất. Hữu Loan làm bài thơ Tết, đăng trên Giai Phẩm – Xuân 1957, với câu như: “Tết và mùa Xuân/ Như mắt người ứa lệ.”

    Nơi Nga Sơn, miền heo hút gió, người phu thồ đá vật lộn từng ngày với áo cơm, cùng hiểm nguy muôn thứ hận thù rình rập, vẫn không quên thế cuộc. Ông ngước nhìn mây bay trên đầu, như thấy tận đỉnh Trường Sơn, mượn tiếng quạ kêu, ông làm một bài thơ nói lên nỗi niềm ai oán. Thương cho những người lính ngã xuống, trong cuộc chiến huynh đệ tương tàn giữa hai miền Nam-Bắc.

     (Văn Lang)

  • Thơ

    Da Cao Cấp

    Ngu Yên

    Gần nửa thế kỷ sống ở Hoa Kỳ,

    nếu bạn chưa gặp kinh nghiệm

    bị kỳ thị,

    chưa buồn lòng

    vì chỉ khác màu da,

    có lẽ,

    bạn ngây thơ

    hoặc ngu ngơ

    hoặc giả vờ.

    Kỳ thị là phản ứng tự nhiên:

    thích hay không thích,

    khinh hay không khinh,

    sợ hay không sợ.

    Kỳ thị là chuyện phải chấp nhận

    dù không vui.

    Kỳ thị không thể chịu đựng

    khi đổ máu

    khi tội hình

    khi quá độ

    khi mạng người bị diệt vong.

    Người Việt kỳ thị có hạng trên thế giới.

    Hầu hết người Việt già không thích da đen.

    Đa số giới Việt trẻ bạn bè đa văn hóa

    không phân biệt màu da,

    chỉ phân biệt tốt xấu.

    Khi người Việt ủng hộ kỳ thị,

    có tự hỏi da mình màu gì?

    Không thể hơn da đen,

    Vì da Việt chưa có Louis Armstrong, Michael Jordan, Muhammad Ali, Whitney Houston, Beyoncé, Denzel Washington, Will Smith, Morgan Freeman, Whoopi Goldberg, George Washington, Alice Ball, Mae C. Jemison, Maya Angelou, Toni Morrison, Langston Hughes, Barrack Obama…

    Không thể hơn da Mễ,

    Vì da Việt chưa có Octavio Paz, Carlos Fuentes, Anthony Quinn, Jennifer Lopez, Victor Celorio, Victor Ochoa, Pacho Villa, Alfonso Garcia Robles, Mario José Molina…

    Chỉ có thể hơn da bản thân.

    Khi người Việt ủng hộ da trắng kỳ thị da màu,

    đã tự quên mình là ai,

    có lẽ,

    vì ngây thơ

    vì ngu ngơ

    vì giả vờ

    hoặc nửa nghi nửa ngờ da mình thuộc hàng cao cấp.