VĂN CAO MỴ NHÂN: THI SĨ HOA VĂN – NGƯỜI TÔN PHONG VỢ.

***

NGƯỜI TÔN PHONG VỢ.       CAO MỴ NHÂN 

Buổi tiếp tân ” tưởng tượng ” của niên trưởng đàn anh tôi, cả về niên tuế, cấp bậc, lẫn …thâm niên thi vụ, như kiểu thâm niên công vụ, hay quân vụ ngày xưa …

Mục đích để tôn phong bậc hiền nội đã quá cố, trong vòng thân mật gia đình, ngoài tôi là khách mời duy nhất . 

Mở đầu chương trình, thi sĩ Hoa Văn, người chơi lục bát như tập Dưỡng Sinh, bởi vì không có thơ lục bát trong đời ông, thì ông không thở được , mất hẳn ý nghĩa thi ca…

Ông giới thiệu tôi lên diễn đàn gia tộc, với trên năm chục thành viên, gồm con trai gái dâu rể, các cháu nội, ngoại  vv…

Để tôi, trên danh nghĩa thân quen gia đình ông từ hơn  nửa trăm năm nay, không thể nào quên được một dấu phẩy trong gia phả ông, tôi có thể cam đoan những gì …khai báo, à quên, những gì trình bầy là sự thật 100% . 

Số là : ” Từ thủa dấn thân vào bút mực

             Đời anh phóng túng với thơ tình 

             Những gì anh viết đều …không thực 

             Chỉ có em là rất …hiển linh 

                (  Tặng thi sĩ Hoa Văn  –  Cao Mỵ Nhân  ) 

Thay lời tựa cho buổi ra mắt bài thơ ” Vợ Tôi ” của thi sĩ Hoa Văn tặng quý Hiền Nội Nguyễn Thị Nhung đã quá cố ..,

Những đau thương, mất mát tràn ngập trong lòng nhà thơ mấy năm nay, khiến thi sĩ Hoa Văn đã vô cùng bức xúc, đã phải viết nên bài  tâm cảm ” Vợ Tôi ” bằng mối chân tình ” phong thánh ” vợ . 

  Vợ tôi đáng được tôi phong thánh 

  Thánh của con tôi, thánh của tôi …

      ( Vợ tôi.   Hoa Văn. ) 

Thưa quý vị, trộm nghĩ ” Vợ là tất cả “, đến nỗi thế nhân còn phải gia cố, nâng cấp vợ hơn nữa, như ngày xưa quý cụ cố tổ khẳng định điều ” nhất vợ, nhì  trời ” đấy chứ có  rỡn đâu . 

Có vài thân hữu cho rằng thi sĩ Hoa Văn quá lời khen tặng vợ …nào là : 

   Vợ tôi đáng được tôi phong thánh 

   Thánh của tình yêu, thánh thuỷ chung…

       (  Vợ tôi.   Hoa Văn  ) 

Bất quá nhà thơ có thể dùng ngôn ngữ đời thường, hết mình kể lể công vợ thờ chồng, nhất là lúc ông đi tù cải tạo, nuôi dạy đàn con nên người vv…

   Vợ tôi đáng được tôi phong thánh 

   Trong lúc tôi đang chốn ngục tù …

      (  Vợ tôi.   Hoa Văn.  ) 

Sự thực thì quý phu nhân các đấng sĩ quan VNCH, có chồng lao lý trong cái gọi là trại tập trung cải tạo, có nhiều vị hiền thê đáng tôn vinh lắm, có thể ví tựa Tô Thị vọng phu xưa, chờ chồng nuôi con và đủ thứ linh tinh khác trong gia đình . 

Chúng tôi hân hạnh có bà bạn cùng trường Trung học TV thủa nào, vốn là phu nhân vị bộ trưởng Bộ TT/ VH . Sau ngày đổi đời bi thảm 30 -4 – 1975, Bộ trưởng trên đi tù cải tạo, bà phu nhân đó đã kịp thời mở một sạp bún bò, sáng sáng bán ở ngay cổng cư xá thương nhân, đường Trương Minh Ký , quận Tân Bình, cho khách thập phương qua lại . 

Đã vậy, bà còn phải chăm sóc cụ bà mẹ chồng bị liệt , lâm sàng. Tất nhiên còn phải nuôi con cái vv…,và nhất là phải lo mua sắm đồ tiếp tế cho cựu Bộ trưởng  ở chốn lao tù, tận ngoài Bắc nữa .

Tôi nghĩ quý vị ấy có được gia đình …phong thánh cho còn là …khiêm tốn đấy .

.Cho nên,  thi sĩ Hoa Văn đề cao hiền thê bao nhiêu cũng không đủ, không đúng con người nhân bản chính chuyên, nên chỉ có nước là phong thánh cho bà vợ đó  e thoả đáng nhất . 

    Vợ tôi đáng được tôi phong thánh 

    Nàng có trong tâm đủ nghĩa tình …

      (  Vợ tôi.   Hoa Văn   ) 

Thì trên nguyên tắc, người được phong thánh, phu nhân thi sĩ Hoa Văn cũng đã mệnh chung rồi, vả lại bà là thánh của gia đình thi sĩ Hoa Văn và các con cháu bà thôi, chứ có mạo muội với ai đâu . 

    Tôi phong vị thánh cho em rồi 

    Thánh của lòng tôi mãi mãi thôi.  

    Ôi , chốn nghìn thu em có biết

    Vợ hiền thương quá vợ hiền ơi …

        (  Vợ tôi.   Hoa Văn   ) 

Thưa quý thành viên trong gia đình cựu Trung tá Ngô Văn Hoà, với chức vụ sau cùng là Tiểu Đoàn trưởng Tiểu Đoàn 20 Chiến tranh Chính trị, cùng cả đời đã là một nhà thơ tên tuổi miền Nam, đầy sức sống từ trong tổ ấm đến ngoài biên phương.

Ở mặt nào thi sĩ Hoa Văn cũng không quên nhiệm vụ : làm chồng , làm cha , làm ông, làm lính …

Xã hội dân tộc ta cũng rất cập nhật tư tưởng : ” Sau lưng một người đàn ông công thành danh toại  vv…là một  phụ nữ đầy đủ phẩm cách, tế nhị, có cần thì thêm chút mẫn cảm …để thúc đẩy người đàn ông ấy , tức đấng phu quân tiến bước …”.

Tôi xin sắp dứt lời trình bày ở đây, đồng thời xin cám ơn quý vị bốn phương đào lý , tri âm tri kỷ của thi sĩ Hoa Văn trước bài thơ phong thánh ” Vợ  tôi ” của Hoa Văn , vị Trung Tá VNCH  nguyên tù cải tạo CSVN  về đoàn tụ gia đình ít lâu, thì phu  nhân ông ngã bệnh qua đời .

Đã phần nào khiến quý vị thông cảm , ngơ ngẩn, ngỡ ngàng, ngại ngùng, nguy ngập, nhưng xin đừng hiểu là ngông nghênh, ngổ ngáo, ngầu …lý do thi sĩ Hoa Văn thương yêu, trọng kính vợ, trên cả mộng mơ, vương vấn…

Cho dẫu hiện nay, ông cũng có vài nhân ảnh nàng thơ tuổi lục tuần, sẵn sàng …hy sinh vì đại nghĩa thơ, sẵn sàng xử lý thường vụ đối tượng thơ, khi thi hứng Hoa Văn vỡ nguồn, gây lũ lụt tràn bờ … Thơ muôn tuổi . 

      CAO MỴ NHÂN 




CẬP NHẬT: CHÙM THƠ CAO MỴ NHÂN – LOANH QUANH – THƠ & NHẠC – THƠ CẢM TÁC songquang

LOANH QUANH. CAO MỴ NHÂN

Trái non anh xẻ làm đôi
Cho em một nửa để rồi ăn năn
Biết đời chỉ những phù vân
Trái sầu, trái chín, cũng dần rụng thôi

*
Hôm qua tha thẩn trên đồi
Nhìn về lũng cạn từng hồi nhớ nhung
Biết nhau tự thủa vô cùng
Xa nhau đã thấy mịt mùng trùng quan

*
Đời mình là những dở dang
Cuộc tình muộn vội mơ màng đó em
Thơ không ghi đủ nỗi niềm
Trong anh còn chút êm đềm thuỷ chung

*
Với trời, với đất mông lung
Với ta khăn áo não nùng biệt ly
Ô hay, ” sinh ký tử quy “
Níu thân nhau mối sân si kiếp này

*
Thì thôi buông lỏng vòng tay
Loanh quanh đã hết tháng ngày của anh
Một đàn chim quý trên cành
Hoà ca điệp khúc tiễn trình miên man …

CAO MỴ NHÂN

====

ĐÁ ĐỔ MỒ HÔI. CAO MỴ NHÂN

*
Tượng đá đổ mồ hôi
Từng giọt thầm trên đất
Là quê hương đã mất
Một nửa trời lưu vong

*
Anh có biết gì không
Tình yêu buồn như đá
Lệ dâng tràn quá khứ
Ngập tới bờ tương lai

*
Đá lỡ lời đơn sai
Hãy tan ra mảnh vụn

Đừng vụng về phiền muộn
Khi khối thạch chia hai

*
Anh vẫn nói với em
Nước mắt hoà rượu chát
Khổ đau còn ca hát
Đá sói mòn trái tim …

CAO MỴ NHÂN

===

THOÁNG ƯU PHIỀN. CAO MỴ NHÂN

*
Năm mới, trời cao, đất rộng
Hoa xuân nở dưới nắng đào
Nguồn thơ vươn xa cánh mộng
Bay về vời vợi chiêm bao

*
Hỏi anh mùa xuân tái thế
Mỗi năm chỉ đẹp một lần
Sao đời có nhiều dâu bể
Để người phải gọi cố nhân

*
Đoá hoa sắc mầu bất tử
Trên bụi trường sinh khô khan
Giấu vào tâm tư lỡ dở
Mùa xuân thả hết hành trang

*
Dấu xưa phai dần kỷ niệm
Mịt mù giây phút nhớ, quên
Tháng ngày mênh mông hò hẹn
Đã tan vào cõi ưu phiền…

CAO MỴ NHÂN

===

XOẢI CÁNH ĐAM MÊ. CAO MỴ NHÂN

*
Trước lúc anh về
Có con chim khách
Xoải cánh đam mê
Bay qua ngăn cách

*
Ngoài song mây bay

Nắng vàng đắm say
Bóng chim mất hút
Ngay trong tầm tay

*
Nghe tiếng hót xa
Lời chim thiết tha
Sắp về tổ ấm
Người đã quên ta

*
Này con chim khách
Biết ai buồn không
Ta thường thóc mách
Hồn sầu mênh mông

*
Anh cũng như chim
Ta mải miết tìm
Trời bao la quá
Anh và trái tim…

CAO MỴ NHÂN

===

THÁNG BA HOA VÀNG – CAO MỴ NHÂN

*

Kali cuối tháng ba tây

Rừng hoa anh túc bên này đại dương

Tóc anh pha lẫn khói sương

 ChaPa một thủa sắc hương tìm về 

*

Từ đi gió nổi mây thề

Đã tan theo nỗi hoang mê tuyệt vời

Tháng ba hoa nở khắp trời

Thương bông điên điển xót đời mộng mơ

*

Mấy mươi năm sống với thơ 

Mai A nguyên vẹn tóc tơ thủa nào

Anh còn lạc giữa chiêm bao

Vẫn em ôm ấp nỗi sầu xa xôi

*

Hai mươi lăm tháng ba rồi 

Nửa phần thế kỷ chia đôi lòng mình 

Mông lung, bàng bạc, u tình 

Đóa hồng vàng nhắc hành trình dở dang …

           CAO MỴ NHÂN 

Kính Quý thi hữu của VTLV và các trang blogs cbg & LP  

Thi hữu CAO MỴ NHÂN là một nhà thơ không xa lạ gì với 2 trang blogs cbg& LP của chúng tôi. Những bài thơ xướng họa trên 2 trang nầy đều được chị vui vẻ đọc và gởi bài họa và cả 2 trang đều có bài đăng họa của chị.

Tuyệt nhiên lâu rồi không thấy chị đưa một bài xướng nào để chúng tôi họa đáp cho thân tình thi hữu .Riêng tôi cũng rất trông chờ thơ chị.

Hôm nay đọc trên trang thơ số đặc biệt của VTLV thì SQ rất thích và thấy có những bài thơ của chị, thì biết rằng chị vẫn còn ưa thơ có làm thơ và cũng họa thơ cùng chúng tôi.Trong những bài thơ chị gởi cho VTLV số nầy có những bài như  Loanh quanh, thoáng ưu phiền , Đá đỗ mồ hôi…thì SQ rất thích bài thơ “ Loanh quanh” chị viết theo thể thơ lục bát với nhiều ý rất hay.

SQ xin chớp ý nầy và viết thành bài “ Lẩn quẩn“ với cảm tác thành thơ “ trường thiên tứ tuyệt gởi đến quý thi hữu xem và SQ cũng mạn phép gởi đến 2 trang nhà LP & CBG để các thi hữu nơi nầy thường lãm và chia sẻ.Xin cám ơn và chúc sức khỏe tất cả mọi thi hữu

          SQ 
LẨN QUẨN BÊN ĐỜI

(Cảm tác qua bài thơ Loanh Quanh của Cao Mỵ Nhân)

( trường thiên tứ tuyệt)

Lẩn quẩn bên đời chuyện áo cơm

Mà nghe nỗi nhục của căm hờn 

Làm người chả nhẻ hoài tay trắng

Chẳng để lại gì với nước non ?!

*

Lẩn quẩn  quanh năm với gạo tiền ?

Cuộc đời nhàm chán cứ triền miên 

Non sông nầy sẽ về đâu nhỉ ?

Chả nhẻ Sơn hà để đảo điên ?

*

Lẩn quẩn bên tình mãi dở dang 

Tình yêu dẫu muộn cũng mơ màng

Vầng thơ không đủ khơi niềm nhớ

Góp chút hương tàn gọi bướm sang

*

Lẩn quẩn rồi ta cũng trở về

Nguyên sinh cát bụi của sơn khê

Biết đời nào khác phù du vậy

Đừng nhắc làm chi chuyện não nề

songquang 

20250616




PHONG CHÂU – Truyện Ngắn VẠT NẮNG – THƠ

Truyện Ngắn: VẠT NẮNG

Ngọc Mai hất mền sang một bên rồi trườn mình sang phía có chiếc xe lăn đặt bên cạnh giường. Đúng ra thì nàng phải đợi cô y tá người Phi Luật Tân vào để đỡ nàng. Thường khi thì đúng tám giờ cô y tá mới vào. Nhìn đồng hồ thấy còn thiếu mười phút nữa mới đến tám giờ. Một thoáng nghĩ trong đầu “hay là hôm nay mình tự chuyển qua xe lăn mà không cần sự trợ giúp của cô y tá xem sao…”. Thoáng nghĩ xong là nàng dùng cả hai tay chống vào mặt nệm cứng rồi nhích mình nhiều lần sang mép giường bên phải, ngồi dậy và dùng hết sức để nhấc đôi chân ra khỏi giường. Nàng cố gắng làm cử động đong đưa hai chân bên mép giường và nhận thấy đôi chân đã không còn đau như những ngày trước. Nhìn chiếc xe lăn trước mặt mà chưa biết cách nào để đặt mình vào đó, Ngọc Mai cảm thấy có mồ hôi rịn ra ở trán nên vội đưa tay lên quẹt. Vừa lúc ấy cửa phòng xịch mở và cô y tá – Maria bước vào. Thấy Ngọc Mai ngồi ở mép giường, Maria vội chạy lại đưa hay tay vừa đỡ cả người Ngọc Mai và hỏi:                       

– Cô làm sao thế? Sao không chờ tôi vào…?                    

 Ngọc Mai trả lời:

– Tôi chỉ thử ngồi dậy thôi…                                        

Maria nói có phần nghiêm khắc:                            

– Đôi chân của cô còn yếu, chưa thể nào…   

Đồng thời, như mọi khi, đỡ Ngọc Mai ra khỏi giường và với những động tác rất chuyên nghiệp, chỉ trong vòng vài phút, Ngọc Mai đã ngồi gọn trên chiếc xe lăn. Nàng được đẩy đến phòng ăn. Bữa ăn sáng của các bệnh nhân diễn ra vào lúc tám giờ rưởi mỗi ngày như thường lệ. Hôm nay Ngọc Mai chỉ ăn một mẩu bánh mì, một miếng trứng chiên và uống một tách cà phê như mọi khi. Nhìn quanh căn phòng rộng chứa chừng hai mươi thực khách toàn là những người bệnh đang trong thời kỳ luyện tập để phục hồi. Có hai người đồng bệnh do tai nạn như nàng vừa mới xuất viện ngày hôm trước nên hôm nay nàng không có ai ngồi bên cạnh để chuyện trò trước khi được đẩy ra ngoài sân để hưởng chút không khí trong lành buổi ban mai.

Ngọc Mai yêu cầu Maria để cho tự mình lăn chiếc xe ra sân trước có mái che chạy dài dọc mái hiên của cơ sở phục hồi. Như thường lệ, nàng gật đầu chào những người bệnh cũng ngồi trên xe lăn hầu hết là những người lớn tuổi, một số đang đưa mắt nhìn về cõi xa xăm nào đó ở phía trước bằng những cặp mắt đờ đẫn vô hồn, số khác lại hết quay đầu sang bên phải rồi sang bên trái như để quan sát hết mọi việc chung quanh, có người mỉm cười vu vơ, có người mặt mày cau có khó chịu. Đó là hoạt cảnh mỗi buổi sáng mà Ngọc Mai đã chứng kiến trong suốt thời gian nàng có mặt ở đây sau khi chữa lành đôi chân từ bệnh viện và được chuyển đến đây để được trị liệu phục hồi.

Ánh nắng ban mai ấm áp phủ lên những ngọn cây phong đã đổi màu chiếu lan vào tận trong khu vực của những bệnh nhân đang ngồi. Như đã có ý định sẵn, hôm nay Ngọc Mai chọn một chỗ ngồi tương đối hơi xa các bệnh nhân khác trong đó đa số là người Mỹ, trắng có đen có cùng ba bốn bệnh nhân là người Việt Nam lớn tuổi để tránh chuyện trò vu vơ nhàm chán như những hôm trước. Nàng quyết định hôm nay sẽ đọc lại những đoạn ghi trong cuốn note nàng đã viết trong hơn một tháng. Maria mang đến cho nàng một ly nước và báo tin cho nàng biết là ngày mai nàng sẽ được xử dụng chiếc xe đẩy bốn bánh để di chuyển chứ không còn ngồi trong xe lăn nữa và hôm nay nàng không phải đến phong tập hồi phục. Ngọc Mai rất vui với tin này.

Chờ cho Maria rời khỏi chỗ nàng đang ngồi, Ngọc Mai cầm cuốn note đưa lên ngực và hít một hơi dài rồi nhắm nghiền đôi mắt, thở ra như để gỡ bỏ mọi vướng bận trong đầu hầu bình tâm đọc là những gì nàng đã viết. Đến lúc này nàng mới cảm thấy đang có một làn gió lạnh thổi vào sân. Nhìn quanh nàng thấy hầu như ai cũng có khoác áo ấm, riêng nàng thì không. Chút gió lạnh mơn man đầu thu khiến tâm hồn nàng cảm thấy nhẹ nhõm và hình như nó cuốn lôi đi những băn khoăn lo nghĩ vẩn vơ mà trong thời gian qua đã đem lại cho nàng nhiều ý nghĩ tiêu cực.

Ngày 15 tháng 6 – 2000… Mở mắt và nhìn thẳng lên trần nhà trắng toát khiến mình bàng hoàng. Không biết tại sao mình lại ở đây. Chưa nhớ được điều gì đã xảy ra. Mơ mơ hồ hồ thấy hình như mình đang nằm trong bệnh viện. Mệt nhiều lắm! Không biết chuyện gì đã xảy ra? Anh Minh đang ở đâu? Sao không thấy tới ?…

Ngày 20 tháng 6 – 2000… Hôm nay được đọc tờ biên bản của cảnh sát. Biết mình và anh Minh đã gặp tai nạn. Trời ơi! Sao thế? Anh Minh đã chết thật rồi sao? Một kẻ say rượu lái xe tông vào xe anh khiến anh chết tại chỗ. Mình bị văng ra cửa xe và bị thương ở đầu và cả đôi chân…

Ngày 21 tháng 6 – 2000… Nhớ ra rồi. Hôm đó sau giờ tan việc, mình và anh Minh hẹn nhau để đi sắm đồ cưới. Trước khi đến khu shopping, anh Minh và mình có ghé lại một tiệm ăn Việt Nam để ăn phở. Cả hai đều đói bụng sau cả ngày làm việc…

Ngày 24 tháng 6 – 2000… Mình nhớ. Ngồi trên xe mình thấy bảng chỉ tốc độ là 40 miles. Cả hai đang bàn tính sẽ chọn mẫu áo nào cho ngày cưới sắp tới. Rồi hai đứa cùng cười vui vẻ. Bỗng đâu một chiếc xe từ bên phải vượt đèn đỏ với tốc độ rất nhanh. Mình chỉ kịp ôm đầu và la thất thanh ối trời. Rồi không còn biết chuyện gì đã xảy ra…

Ngày 30 tháng 6 – 2000… Nghe mấy cô y tá nói khi tai nạn xảy ra thì mình bị bất tỉnh gần như hôn mê cả mấy ngày. Nhưng may mắn là đầu không bị tổn thương nhiều. Nặng nhất là xương chân bị bể. Các bác sĩ nói không cần mổ ở đầu nhưng phải mổ xương và may vá gì ở trong đó mình cũng chẳng hay đến khi tan thuốc mê mới được biết đôi chân đã OK, chỉ chờ cho chúng lành lặn. Ở bệnh viện các cô y tá giúp bế mình sang xe đẩy để giải quyết những sinh hoạt cá nhân. Ờ…mà sao bên gia đình của anh Minh không thấy có ai đến thăm và thuật lại những gì đã xảy ra cho mình nghe…

Ngày 4 tháng 7 – 2000… Hôm nay có ba người bạn làm cùng sở ghé thăm và tặng quà. Họ bảo hôm nay là ngày lễ độc lập Hoa Kỳ mà mình quên bẳng. Họ nói có đi dự đám tang của anh Minh nhưng không nghe có ai nhắc đến tên Ngọc Mai cả. Tại sao vậy nhỉ? À…mình nghĩ ra rồi…Cả gia đình anh Minh hầu như không đồng ý với cuộc hôn nhân giữa mình và anh ấy. Họ bảo mình là đứa con gái mồ côi, không cha không mẹ…Nghe thật đau lòng, chỉ trừ có cô em gái út. Nhưng tại sao cô ta cũng không đến thăm mình?…

Ngày 8 tháng 7 – 2000… Hôm nay mình nhớ ngày mà cha mẹ mình bị bọn hải tặc Thái Lan đâm chết và vứt xác xuống biển. Mới đó mà đã hơn hai mươi năm. Lúc đó mình mới mười tuổi được một cặp vợ chồng cùng vượt biên dắt cho đến đảo và cũng được khai cùng gia đình để được vào Mỹ…Được đi học cho hết lớp 12 mình xin việc làm và tiếp tục ghi danh học ở college. Gia đình ân nhân này lại dời sang sống tại tiểu bang Alaska vì có hai người con đã định cư ở đó. Mình ra ở nhà mướn. Một dạo sau thì mình mất liên lạc với họ…

Ngày 19 tháng 7 – 2000… Nhớ anh Minh quay quắt mà không biết cách nào để ra ngoài ghé viếng mộ của anh. Gia đình của anh ấy thật tệ. Không biết họ nghĩ thế nào về mình. Chẳng lẽ vì cái tội không cha không mẹ mà bị khinh khi đến thế sao!? Cha mẹ chết vì vượt biên chứ đâu phải mình là con hoang con dã gì cho cam. Nghĩ mà buồn cho thân phận…

Còn vài đoạn nữa Ngọc Mai muốn đọc cho hết để rồi tiếp tục ghi thêm vào cuốn note nhưng bỗng nhiên nàng thấy hơi khó thở. Ngọc Mai cố sửa lại thế ngồi cho thẳng để dễ thở hơn. Nhưng khi nàng vừa ưỡn ngực thì ngay lúc đó đầu nàng gục xuống. Cuốn note văng ra khỏi tay nàng.

Các bệnh nhân, một số đã vào phòng tập phục hồi từ lâu, chỉ còn vài người ngồi hóng chút ánh nắng còn lại ở mép sân hiên. Vạt nắng rọi xuống nơi Ngọc Mai ngồi rồi cũng dần biến mất…

Phong Châu – Tháng 8 – 2025

Mây Bay…

Những áng mây chiều lờ lững trôi
Thênh thang bay mãi tận chân trời
Có chở tình ta về bên ấy
Neo vào bến nước cạn dòng trôi

*
Ngày tháng tha hương mộng bềnh bồng
Trăng tròn trăng khuyết sầu mênh mông
Đôi vầng nhật nguyệt ôm thương nhớ
Đất đá thương nhau cũng nát lòng

*
Chim biệt xa ngàn nội cỏ phai
Người xưa năm cũ biết còn ai
Chén rượu ly bôi ngày chia biệt
Ghế đá nghiêng buồn giọt nắng mai

*
Lá mùa thu đã rụng ven sông
Bờ xưa con nước có chạnh lòng
Phố cũ còn ai qua ngõ vắng
Đêm buồn như phố thị mùa đông

*
Người ở nơi nào ta chốn đây
Rong rêu trong trí đã phủ đầy
Nửa giấc chiêm bao dài muôn kiếp
Mộng vút lên trời theo áng mây

*
Người xưa còn nhớ gọi tên nhau
Trăm năm chưa đến đã bạc đầu
Lữ khách dừng chân hoài dĩ vãng
Đường về che khuất lối nương dâu

*

Nghìn năm mây trắng vẫn còn bay
Người đi xa lạc dấu chim bầy
Hương lòng xin gửi về quê cũ
Dòng lệ vơi đầy chén rượu cay


Phong Châu
Tháng 8 – 25




VĂN – ĐỖ DUNG: HƯƠNG NGỌC LAN

Hương Ngọc Lan

Đỗ Dung

 – Ạ bà, thưa bà con mới đến!

Tôi còn đang nằm nướng trên giường, con bé nhảy tót lên ôm bà, dụi đầu vào ngực bà nũng nịu:

-Michelle muốn ngủ bà, Michelle muốn ôm bà…

Tôi ôm con bé hít một hơi thật dài:

-Cục cưng của bà thơm … thơm … thơm … !

Hai bà cháu ghiền nhau một lúc thì con bé nhổm lên, giương đôi mắt tròn xoe

-Bà ơi, nại nại!

Tôi vươn vai ngồi dậy nói vọng ra:

-Ông! Nại nại.

Chỉ đợi có thế ông đã xuất hiện ngay ở cửa phòng với bình sữa trên tay. Chúng tôi có ba người con, năm đứa cháu. Ba thằng cháu ngoại, Kobe lên chín, Carter lên bảy, Logi hai mươi tháng. Hai cháu nội, Michelle gần ba và Kenneth hơn một tuổi. Cô con dâu của chúng tôi người Việt gốc Hoa, buổi tối con bé ở nhà với bà ngoại, bà ngoại gọi con chị là Chể Chế còn thằng em là A Chảy. Chúng tôi ở nhà cô con gái, ban ngày con bé sang nhà bác chơi với các anh để ông bà trông nom một thể. Hai thằng lớn đã đi học nên nói chuyện với nhau bằng tiếng Mỹ, còn ông bà nói giọng đặc sệt Bắc kỳ. Con bé đang ở tuổi học nói, không biết trong cái đầu bé tí hon của nó có bị lộn xộn ba thứ tiếng không. Con bé sang dậy mấy thằng anh « phán xẻ », « phan cao », « xực phàn »… muốn uống sữa thì đòi « nại nại ».

Có những lúc thật buồn cười, khi ngồi vào bàn ăn, nó bảo Logi « xực phàn à », chỉ vào bát cơm nói bà « ăn cơm », quay qua hai thằng anh hô « eat! ». Buổi chiều khi mẹ nó đến đón, gọi con: « Chể chế phán xẻ! », nó quay lại khoanh tay: «Thưa ông bà con đi về».

Kenneth, thằng đích tôn ra đời sau cùng trong bầy cháu, ông bà đã «overload» nên phải nhờ bà ngoại cháu sang trông nom. Thằng bé kháu khỉnh, bụ bẫm, hiền lành… không lém lỉnh, ranh mãnh như con chị. Con chị làm thủ lãnh còn thằng em chỉ lúp xúp theo sau. Khi thằng bé sắp ra đời, bố mẹ nó cuống quýt tìm tên. Các cháu dù được gọi tên Mỹ nhưng trong khai sinh vẫn giữ nguyên tên Việt. Bố mẹ cháu tên Khôi và Linh, muốn bộ tên L.U.C.K., Michelle đã có tên Minh Uyên, ông con xin ông bố chọn tên vần C, ông bố tủm tỉm trêu: Vần C thì có Cục … ! Cuối cùng cháu cũng được ông nội đặt tên là Khiêm Cung và cả nhà đồng ý nếu các cháu có theo gương chị thêm đứa thứ ba thì đứa bé sẽ có tên Thiên Ý nếu là trai và Minh Yến nếu là gái để hoàn thành bộ L.U.C.K.Y.

Nói về con đầu cháu sớm phải kể chuyện Kobe – Minh Kha. Tôi vào phòng sanh với mẹ nó và tôi là người đầu tiên ôm thằng bé vào lòng, cảm nhận sự thiêng liêng, màu nhiệm và kỳ diệu của Hóa Công. Thằng bé to con, nặng hơn chín pounds. Mẹ nó nhỏ nhắn nên khi sanh xong bị hơi đuối sức, anh chồng phải ở cạnh săn sóc vợ. Tôi bám theo thằng bé để khỏi lo bị tráo con. Nhìn thằng bé lòng tôi lâng lâng, nao nao khó tả, như có một sợi dây vô hình ràng buộc hai bà cháu. Tôi yêu thằng bé vô cùng, xa thì nhớ quắt, nhớ quay… Khi cháu mới bập bẹ, vỗ tay vào miệng oa oa qua điện thoại với bà, tôi thu lại và giữ mãi mẩu băng đó, nghe hoài mà không biết chán.

Carter – Bảo Đăng kém thằng anh hai tuổi, gầy, cao, bảnh trai, láu lỉnh, thông minh và là « pet » của ông. Hai ông cháu rất tương đắc, ông nói gì cháu hiểu liền, cháu lại biết chiều ý bà, biết nịnh nọt ông. Ngặt một điều cháu rất biếng ăn, nếu không thúc thì bữa ăn kéo dài, dây dưa cả tiếng. Ra đường cháu nhanh nhẹn, luôn miệng hỏi và giải thích hết chuyện này tới chuyện kia, luôn bày đặt tài khôn với thằng anh to xác nhưng bộc tuệch như con gà tồ. Tiếng Việt cháu rất giỏi khi còn ở nhà với ông bà, nay học đến lớp hai thì cũng gửi gió cho mây ngàn bay gần hết.

Út ít Logi – Minh Khang hóm hỉnh, cười khẽ cũng rõ hai cái lúm đồng tiền. Bố mẹ cháu đã có hai thằng con trai, cố sanh thêm để kiếm một mụn con gái nhưng lại vẫn ra cái thằng cu! Mới bập bẹ nói mà ông hay bà hỏi : «Con có yêu ông bà không?» thì cu cậu toét miệng ra: “ Dạ tó!”. Hai thằng anh thì cao, thằng em nhỏ bé nên ông gọi là con vịt đẹt. Ông bà ráng vỗ, mua Pediasure, ngày nào cũng xay xay, giã giã … làm đồ ăn cho cháu, giả làm hề, làm tàu bay, tàu bò… để dụ nó ăn mà nó cũng chẳng lớn nhanh cho. Kenneth thì ăn như hùm, như hổ, chả phải dỗ dành và cứ lớn nhanh như thổi. Cô con gái trêu mẹ, phân bì: « Bà ngoại mình ơi, sao bà ngoại Kenneth nuôi nó bự quá, bà ngoại mình nuôi thằng Còm, bà ngoại mình dỏm rồi, bà ngoại mình ơi!»

Hè vừa qua bà ngoại Michelle về Việt Nam hơn một tháng, hai vợ chồng tôi quay cuồng với đám cháu từ sáng sớm đến tối khuya. Cả buổi sáng chỉ lo thay tã lót cho ba đứa nhỏ rồi lo ăn uống cho cả bầy, ăn xong ông cho hai thằng lớn ra sân dợt banh, bà bầy trò chơi cho ba đứa nhỏ. Đồ chơi đầy một nhà mà đôi lúc oái oăm thay cả ba cùng thích một thứ, eo sèo tị nạnh. Tôi nhớ hoạt cảnh gia đình tôi ngày xưa và nhớ bà nội tôi luôn luôn nói «xem tí, xem tí, chị phải nhường em» để bắt đứa lớn chịu thua. Ngày ấy tôi là lớn nên luôn phải chịu phần lép. Nay lịch sử tái diễn, tôi ở vị trí của bà và Michelle lại như tôi.

Nhãng đi một chút là ba đứa kéo nhau vào bếp, ôi thôi nồi niêu, xoong chảo đem ra khua inh ỏi, chúng rủ nhau mở ngăn kéo lôi hành tỏi vứt đầy ra sàn nhà, ông vào hét lên như còi tàu hỏa. Bà quýnh quáng thu góp, lôi ba đứa cho vào « family room » mở phim nhảy múa con nít. Thế là như một ban nhạc trẻ tài danh, ba đứa cùng múa may, nhảy nhót. Logi là vua phá, tất cả những gì có nút bấm là nó bấm loạn xạ, những “remode control” vào tay nó là kể như tiêu tùng.

Nhà tôi không bao giờ biết thay một cái tã hay pha một bình sữa cho con, bây giờ làm ông lại hóa giỏi. Chẳng qua tại ông thương vợ, không nỡ để tôi một mình vất vả nên phụ đỡ một tay, ông tiếp thu phần pha sữa cho mấy đứa bé, từ từ cho cháu ăn, cho cháu bú, khéo hồi nào chẳng biết. Mẹ chồng tôi nếu còn sống chắc Cụ không thể tưởng tượng ra cảnh này!

Đến bữa ăn trưa hay chiều mới rắc rối, năm đứa năm kiểu, thằng lớn nhất mới chín tuổi đã cao gần bằng bà, số cân cũng chẳng kém, bố mẹ nó nhắc ông bà bắt nó « diet ». Khổ nỗi thằng bé cứ thấy đồ ăn là thèm. Thằng thứ nhì hơi gầy, lại biếng ăn ông phải hò, phải hét. Hai thằng bé con cũng vậy, chưa đút cho thằng còm xong thì thằng ù đã há mồm sẵn đợi. Có Michelle là ngoan, cho phần ăn ngồi xúc lấy, chỉ đôi khi gặp món không thích là nhất định chẳng chịu ăn.

Ngày cuối tuần mới là ngày của bà … Có những buổi chiều êm ả, tôi ngả mình trên chiếc ghế xích đu trong bóng rợp ở vườn sau. Màu nắng của buổi chớm thu hanh vàng và bầu trời thì xanh trong với vài cụm mây trắng trôi lờ lững. Mùi Ngọc Lan thoang thoảng theo gió mơn man khứu giác… đưa ký ức tôi bềnh bồng, bềnh bồng trôi về dĩ vãng. Tôi nhớ bà nội tôi, nhớ xót xa. Năm tôi bé như Michelle bây giờ mà đã có hai em, Minh Thuận và Vân Hạnh. Những món đồ chơi ngày ấy chỉ là những con búp bê nhựa hay mấy con thú nhồi bông. Các em muốn chơi bà bắt tôi nhường nhưng khi thấy cháu phụng phịu, hậm hực bà lại ra cửa mua cho cái bánh giò nóng ngồi xúc cho ăn.

Năm tôi lên ba, học vỡ lòng ở trường Hồng Bàng, sau chợ Hàng Da. Bà đưa cháu đi học, tôi đòi bà phải ngồi ở cửa lớp chờ. Bà dỗ từ từ, bà nói ra ngoài hàng quà ở cổng trường ngồi đợi rồi bà lén về để đến giờ mới đi đón. Một hôm bà bận việc gì đó, sai cô Nga, em út của bố tôi đón cháu. Tôi im lặng không nói gì, về nhà gặp bà thì òa lên khóc bắt đền, khóc đến nỗi bà phải bắt cô đưa đến cổng trường để rồi bà lại đi đón. Không hiểu sao cả bà và mẹ tôi hồi ấy lại chiều tôi một cách vô lý như thế. Bà và mẹ tôi kể mãi chuyện này và nói là tôi đáo để.

Mẹ tôi cứ đều đều sản xuất, cách năm lại cho ra đời một đứa bé, mẹ nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ. Cứ hễ có em là đứa bé vừa mới thôi sữa được chuyển sang bà. Khi em Tuấn ra đời, hai đứa bé được chui vào màn rúc nách bà là Thuận với Hạnh, tôi phải nằm ngang phía dưới chân. Lâu lâu bà lại với chân xuống nhè nhẹ lấy chân xoa lưng cháu. Những đêm hè bà phe phẩy chiếc quạt nan, thỉnh thoảng lại quạt xuống phía dưới an ủi cô cháu gái. Tối tối bà bắt anh em chúng tôi rửa mặt mũi chân tay, thay quần áo sạch sẽ, sắp hàng ngồi sau lưng bà nghe bà tụng kinh. Sau khóa lễ được chui vào màn nghe bà kể chuyện đời xưa, chuyện Tấm Cám, chuyện Thạch Sanh Lý Thông, chuyện Bà Chúa Ba, chuyện Quan Âm Thị Kính… Khi tôi lên mười, đã có năm em, đã là chị lớn, bà bắt đầu dạy đi chợ nấu ăn, dạy sao để chọn con gà cho ngon, con vịt cho béo, rau quả cho tươi.

Ở nhà bà mặc quần sa tanh đen, áo cánh lụa trắng, đầu vấn khăn nhung. Đi đâu bà khoác chiếc áo dài nâu thêu những bông cúc vàng nho nhỏ. Đặc biệt bà rất thích hoa Ngọc Lan, bà chẳng bao giờ phấn son, mỗi khi đi chùa hay đi ra khỏi nhà bà chỉ dắt bông hoa Ngọc Lan tươi trên vành khăn để làm dáng. Năm 1965, cha tôi đổi làm việc trên Thủ Đức, được cấp một căn nhà xinh, trước nhà có một cây Ngọc Lan lớn, chi chít hoa. Bà mừng lắm, ngày nào tắm xong bà cũng ngồi xõa tóc cho các cháu nhổ tóc sâu rồi khi vấn lại khăn không quên dắt một bông Ngọc Lan. Ở lan can trước nhà chúng tôi có một dàn Dạ Lý Hương, buổi tối hương thơm ngào ngạt nhưng bà không thích bằng hoa Ngọc Lan và chê mùi hương hắc quá. Chúng tôi biết ý nhờ chú làm vườn trèo lên cây cắt từng cành hoa cho bà lễ Phật. Nghĩ đến bà là tôi nhớ đến những chùm hoa trắng muốt cũng như khi nhìn thấy hay ngửi hương Ngọc Lan thoang thoảng tôi lại nhớ đến bà. Và… năm ấy bà tôi mất … bà mất vào tháng tám, tiết thu, những bông Ngọc Lan trắng muốt vẫn còn chúm chím ở trên cây.

Bây giờ tôi đang o bế một cây Ngọc Lan, cây ở đây trồng hơi khó. Mùa đông tôi phải quây buồng và mặc áo cho cây để tránh sương lạnh, giá buốt. Mỗi đợt cây cho được hơn chục nụ hoa, đủ hương thoang thoảng cho tôi tìm về quá khứ… Một ngày xa xôi nào đó trong tương lai, hoa nở đầy cành và hương thơm dịu ngọt tỏa xa, bầy cháu yêu quý của tôi có nhớ đến bà của chúng như tôi đang nhớ xót xa về bà của tôi không!

Đỗ Dung

Fragrance of the Magnolia
Đỗ Dung

  • Hey Grandma, Grandma, Michelle is here!
    I was still lying in bed when the little girl jumped up and hugged me, nestling her head into my chest and whining:
    “Michelle wants to sleep with Grandma, Michelle wants to cuddle with Grandma…”
    I hugged her tightly and took a deep breath:
    “My precious girl smells so… sweet… sweet… sweet!”
    We cuddled for a while, and then she sat up, eyes wide:
    “Grandma, milk, milk!”
    I stretched and called out:
    “Grandpa! Milk!”
    And just like that, Grandpa appeared at the door with a bottle in hand.

We have three children and five grandchildren: three grandsons—Kobe, nine; Carter, seven; Logi, twenty months—and two grandkids from our son: Michelle, nearly three, and Kenneth, just over one. Our daughter-in-law is of Chinese-Vietnamese descent. In the evenings, Michelle stays with her maternal grandmother. That grandma calls the girl “Chể Chế” and her little brother “A Chảy.” We live with our daughter, and during the day, Michelle goes to her uncle’s house to play with the boys, so my husband and I take care of all the kids together.

The two older boys speak English since they go to school, but we speak with a thick Northern Vietnamese accent. Michelle is at the age where she’s learning to talk—who knows if her little head is getting all jumbled with three languages! She teaches her cousins phrases like phán xẻ (go home), phan cao (go to bed), xực phàn (eat rice)… and asks for milk with “nại nại.”

Sometimes it’s hilarious: when sitting down to eat, she tells Logi “xực phàn à,” points at her rice bowl and says “ăn cơm,” then turns to her brothers and shouts “eat!” In the evening, when her mom comes to pick her up and calls “Chể Chế phán xẻ!” she turns around, folds her hands and says, “Thưa ông bà con đi về” (Goodbye Grandpa and Grandma, I’m going home).

Kenneth, the youngest and the only grandson from our son, came along last, when we were already overloaded, so we had to ask his maternal grandma to help. He’s chubby, sweet, and calm—not mischievous like his sister. She’s the bossy one, and he’s always tagging behind.

When he was about to be born, his parents frantically searched for a name. Though they use English names, their Vietnamese names are still on the birth certificates. His parents—Khôi and Linh—wanted their kids’ names to spell out L.U.C.K. Michelle’s Vietnamese name is Minh Uyên. So, Grandpa suggested a “C” name. Jokingly, the father said: “C? Like Cục (chunk)?” In the end, Grandpa named him Khiêm Cung, and the whole family agreed: if there’s a third child, the names would be Thiên Ý for a boy and Minh Yến for a girl—completing the word L.U.C.K.Y.

Speaking of our first grandchild, I must talk about Kobe – Minh Kha. I was in the delivery room with his mom, and I was the first to hold him. It was a sacred, magical moment. He was a big baby—over nine pounds. His mom is petite and exhausted after labor, so her husband had to care for her. I stayed with the baby, afraid he’d get switched at the hospital. Looking at him, I felt a deep emotional bond—an invisible thread connecting us. I loved him immensely, missed him constantly.

When he was just babbling and clapping while talking to me on the phone, I recorded that moment and kept the tape forever—I could listen to it endlessly without tiring.

Carter – Bảo Đăng is two years younger than his brother. He’s tall, slender, good-looking, clever, and Grandpa’s pet. They’re a perfect pair. He understands everything Grandpa says, flatters him, and is sweet to Grandma too. But he’s a very picky eater. Meals can drag on forever unless he’s constantly reminded. Outside, he’s quick-witted, always asking questions, trying to outsmart his older brother who’s big but slow like a goofy chicken.

He used to be fluent in Vietnamese when living with us, but now that he’s in second grade, he’s forgotten most of it—“sent it off with the wind.”

Little Logi – Minh Khang, our youngest grandson, is charming with dimples that show even with a tiny smile. His parents had hoped for a girl after two boys but ended up with another boy. Though he’s just started talking, if you ask “Do you love Grandma and Grandpa?” he’ll beam and shout: “Dạ tó!” (Yes!).

The older two are tall, and he’s the small one, so Grandpa calls him our little duck. We try everything—Pediasure, grinding, blending, coaxing, clowning, flying spoons—to feed him, but he’s still growing slowly. Kenneth, on the other hand, eats like a lion and grows like a weed.

Our daughter teased me, “Grandma! Why is Kenneth’s grandma raising him so big, but our grandma’s raising a skinny boy? Our grandma’s no good!”

This past summer, Michelle’s grandma went back to Vietnam for over a month. My husband and I were run ragged from morning to night with the grandkids. Mornings were filled with diaper changes for the three little ones and meal prep for the whole gang. After eating, Grandpa played soccer with the older boys while Grandma made up games for the younger ones.

The house was full of toys, yet somehow all three would want the same thing and fight over it. I remembered my childhood home and my grandmother constantly saying: “Let your sibling have it” and making the older one give in. I was always the older one—always had to sacrifice. Now history repeats itself—I’m the grandma, and Michelle is the oldest just like I was.

Look away for a second, and all three kids are in the kitchen, banging pots and pans, raiding drawers, throwing onions and garlic on the floor. Grandpa comes in yelling like a train whistle. Grandma scrambles to clean up and herd them into the family room, putting on a dancing cartoon.

Then it’s like a kiddie pop concert—the three of them jumping and spinning together. Logi is the king of chaos—any button he sees, he presses like mad. Any remote he touches—gone!

My husband, who never changed a diaper or made a bottle when our kids were little, is now a pro grandpa. Out of love for me, he pitches in—makes bottles, feeds babies, burps them… he’s become surprisingly good at it. If my mother-in-law were still alive, she’d never believe it!

Lunchtime and dinner are the real battle: five kids, five appetites. The oldest is already almost as tall as me and weighs nearly the same. His parents want him on a diet—but he’s always hungry. The second is skinny and a picky eater, so Grandpa must beg and yell. The two little ones are a tag team—you can’t even finish feeding the skinny one before the chubby one is already mouth open, ready. Michelle is the only easy one—feeds herself unless it’s something she dislikes, then she flat out refuses.

Weekends are Grandma’s moments…
On peaceful afternoons, I recline on the swing chair under the shady garden trees. Autumn sunshine is golden and soft, the sky a clear blue with wisps of clouds drifting by. The gentle scent of magnolia lingers on the breeze, brushing my senses and carrying me back into the past…

I remember my own grandmother, and I miss her deeply. When I was Michelle’s age, I already had two younger siblings—Minh Thuận and Vân Hạnh. Our toys were simple: plastic dolls, stuffed animals. When my siblings wanted to play, Grandma made me give them my toys. But when I pouted, she’d go out and buy me a hot sticky rice cake to make it up to me.

When I was three, I started kindergarten at Hồng Bàng school, behind Hàng Da market. Grandma took me to class, and I made her wait at the door. She promised she’d sit at the snack stall outside the gate but would sneak home and return in time for pick-up.

One day she sent my aunt Nga to get me, and though I said nothing at first, I burst into tears when I got home, demanding Grandma come herself. I cried so hard she had to bring my aunt back to the school gate and pick me up again. I don’t know why my mom and grandma spoiled me so much, but they always recalled this story and said I was sharp-witted.

My mom had a baby every two years, breastfeeding each one. Every time she had a newborn, the recently weaned child was sent to sleep with Grandma. When Tuấn was born, Thuận and Hạnh slept tucked beside Grandma, and I had to sleep sideways at her feet. Every now and then, she’d gently stroke my back with her foot. On summer nights, she’d fan us and comfort me with a breeze from time to time.

Each evening, she made us wash up, change into clean clothes, and sit in line behind her while she chanted scriptures. Afterward, we’d crawl into the mosquito net and listen to fairy tales—Tấm Cám, Thạch Sanh, The Lady of the Temples, Quan Âm Thị Kính…

When I turned ten, with five younger siblings, I became the big sister. Grandma started teaching me how to shop and cook—how to pick the best chicken, the fattest duck, the freshest vegetables.

At home, Grandma wore black satin pants and a white silk blouse, with a velvet scarf on her head. When going out, she wore a brown áo dài embroidered with tiny yellow daisies. She loved magnolias and never wore makeup—just tucked a fresh magnolia flower into her scarf when going to the temple or leaving the house.

In 1965, my father was transferred to Thủ Đức, and we were given a lovely house with a big magnolia tree out front, full of blossoms. Grandma was thrilled. After bathing, she’d sit and let us pick her gray hairs, and always tucked a magnolia flower into her scarf when tying it back.

We had a trellis of night-blooming jasmine on the balcony, fragrant at night, but she didn’t like it—said it was too sharp. She loved the soft scent of magnolia. We would ask the gardener to climb up and cut branches for her to offer at the altar.

Thinking of Grandma, I always picture white magnolia blooms. And every time I see or smell a magnolia, I miss her. That year, she passed away… in August, in the autumn, while magnolias still bloomed quietly on the tree.

Now, I’m tending to a magnolia tree of my own. It’s hard to grow here. In winter, I have to wrap it in a shelter to protect it from frost. Each time it blooms, with just a dozen flowers, the fragrance gently drifts and takes me back in time…

And I wonder: One distant day in the future, when the tree is full of blossoms and its sweet scent spreads far and wide—will my dear grandchildren remember their Grandma the way I so tenderly remember mine?

—Đỗ Dung




THƠ TRẦN CÔNG/TIỀN GIANG TỬ: Thu Nhớ Người Đã Khuất




SƯU TẦM – CHUYỆN NGẮN CẢM ĐỘNG: Giấc Mơ Trên Bãi Ngàn Sao – Tác Giả Vương Hà

Giấc Mơ Trên Bãi Ngàn Sao
Vương Hà

Posted by GLN
Cả bản Phiêng Đao ồn ào, kháo nhau bởi chuyện ông Hom quyết định nhận nuôi bé Nhủm: Con bé thật tội nghiệp, bố mẹ chết vì đi đãi vàng bị sập hầm, họ hàng lại chẳng còn ai. Thân hình Nhủm gầy còm nhom, người ngợm lem luốc, duy chỉ có đôi mắt là đẹp như mắt thiên thần, con ngươi tựa viên ngọc trong veo,

Phong cảnh Phiêng Đao vô cùng quyến rũ, đẹp như một ngôi sao sa xuống mặt đất và mãi mãi không muốn trở về bầu trời. Vì thế, những người đầu tiên đến đây lập bản đã đặt tên bản là Phiêng Đao với ý nghĩa là bãi sao. Bãi ngàn sao.

Nhưng dân bản Phiêng Đao nghèo lắm, họ vẫn thường nửa đùa, nửa thật nói với nhau: “Bản ta nghèo đến mức con Bọ hung không chịu được, chỉ muốn chuyển tổ đi nơi khác”. Vậy mà nhà ông Hom lại còn nằm trong số những người nghèo nhất bản Phiêng Đao, cho nên mọi người mới bàn tán, ái ngại cho chuyện ông đón bé Nhủm về nuôi.

Tuổi ông Hom đã ngoài sáu mươi, da nâu, tóc bạc, khuôn mặt gầy cùng với rất nhiều nếp nhăn. Vợ ông đã mất từ lâu, có đứa con trai duy nhất thì lại mắc căn bệnh hiểm nghèo rồi cũng vĩnh viễn bỏ ông mà đi. Giờ đây ông sống cùng Hạnh cô con dâu và đứa cháu nội: Thằng Đức.

Ông Hom hiểu vì sao mọi người lại ồn ào, bàn tán. Dân bản thương ông, lo cho ông: Ông biết. Ông cũng do dự, nhưng khi nhìn Nhủm ngồi thu lu, run rẩy như con thú non lạc mẹ, lòng ông đau như ngày mất vợ, mất con.

Ông bàn với Hạnh chuyện nhận nuôi Nhủm,  cô con dâu của ông không đồng ý.

– Nhà mình còn bữa no, bữa đói thì làm sao có thể nuôi thêm được nó hả bố? – Hạnh gàn.

Nghe nói vậy, Nhủm cúi đầu, đôi mắt buồn như một lỗ hổng không có đáy. Nhủm không khóc, nhưng dáng vẻ nom thất vọng đến tột cùng. Thà Nhủm cứ khóc thì người chứng kiến sẽ thấy dễ chịu hơn.

Ông Hom thở dài, trên khuôn mặt gầy lại có thêm những nếp nhăn. Ông suy nghĩ mung lung lắm.

– Cháu cứ ở lại đây với ông. Từ nay ông sẽ đặt lại tên cháu là Đao, là một ngôi sao để sau này cháu gặp được những điều may mắn. – Ông nói với Nhủm như thế và kiên quyết không thay đổi ý định.

Gia đình ông Hom sống chủ yếu nhờ nghề đan lồng gà đem bán hoặc đổi chác. Bãi vườn nhà ông trồng đủ các loại tre: Tre đắng; tre ngọt; tre bương; tre “mợi”; tre gai… Dưới bàn tay chăm sóc của ông Hom, tre mọc san sát nhưng đều thành hàng, thành lối. Những bụi tre lên cao thẳng, không bao giờ chịu gục đổ trư­ớc gió bão chính là tất cả tài sản quý giá nhất mà gia đình ông Hom có. Măng trên rừng thường mọc theo mùa, nhưng vườn tre nhà ông thì măng mọc quanh năm. Ngon nhất là măng tre ngọt, chiếc nào cũng bụ mập to như­ bắp vế, ăn sống ngọt tựa khoai lang trồng trên đất cát pha.

Nhà ông Hom, bữa cơm nào hầu như cũng có măng. Ông thư­ờng nói: “Nhà mình sẽ không bao giờ lo bị chết đói vì có măng”. Nhưng măng thì không thể cứ ăn mãi một món. Vậy là ông làm rất nhiều kiểu món để ăn cho đỡ chán: Măng chua; măng gio; măng khô; măng ngâm ớt;… măng nướng; măng xào; măng ỏm; măng nấu canh chảo; măng kho cá suối… Ông Hom hết sức tự hào: Nếu mỗi bữa chỉ ăn một món thì mất cả tháng cũng không thể nếm hết những món măng của ông. Có lẽ vì thế mà quần áo ông quanh năm bốc lên mùi măng chua hăng hăng, trái hẳn với cái tên Cha, Mẹ đã đặt cho ông: Hom có nghĩa là hương thơm.

Đao quấn quít bên ông Hom như hình bóng, bé theo ông ra ngoài bãi vườn chọn tre bư­ơng về đan lồng gà.  Những thân tre mềm mại uốn theo làn gió hiu hiu.  Lớp lá tre khô phủ dầy trên mặt đất thực sự là một tấm thảm êm. Khi chọn tre, bao giờ ông Hom cũng trở đằng sống dao gõ lên thân cây tre bương rồi dỏng tai nghe. Thân cây nào nghe gọn gàng tiếng cốc cốc là có thể hạ được, còn nếu nghe bộp bộp là tre chưa đủ độ, mang về đan lồng gà sẽ nhanh mọt hỏng.

– Đao, cháu xem, cây như thế này là chặt được! – Ông Hom chỉ tay vào cây bương trước mặt.

Bé Đao nhìn ngước lên ngọn bương, đôi mắt thiên thần thấy ở đó có một tổ chim. Ngoài tiếng gió xua cành tre đập vào nhau, bé còn nghe thấy cả tiếng chim non kêu rất khẽ. Chắc là lũ chim non đang đói và mong đợi bố, mẹ. Chim cũng như người, trẻ con khi khát sữa bao giờ cũng khóc.

– Ông ơi! Đừng hạ cây này, trên cây đang có tổ chim. Để cho chim non thành chim lớn đã hãy hạ ông ạ! – Bé khẩn khoản.

Ông Hom nheo mắt, nhìn vút lên tổ chim rồi nở nụ cười đôn hậu. Dân Phiêng Đao vẫn có tục lệ: Khi vào rừng đi săn, không bao giờ được bắn, giết thú đang có mang hoặc đang nuôi con. Vì vậy, lẽ nào ông lại có thể hạ cây, phá tổ chim non. Ông bước từng bước khoan thai chuyển sang bụi tre khác, tiếp tục trở sống dao gõ thử lên từng thân tre. Đao vui lắm vì tổ chim đã được an toàn. Bé nhìn lại tổ chim lần nữa rồi đi theo sau ông. Gió thổi lá tre reo như khúc hát ru khiến Đao lúc nãy chân còn nhảy tưng tưng, nay mắt bỗng buồn díp lại, muốn ngả mình lên thảm lá tre khô ngủ một giấc thật êm đềm.

Đao là đứa trẻ chẳng lúc nào chịu ngồi yên: Bao giờ bé cũng nghĩ rằng mình cần phải giúp ông, giúp cô Hạnh làm một việc gì đó. Thế là trong nhà có mấy chiếc nồi đen sì, cáu bẩn muội bám, bé mang ra cạo sạch bong. Mình còn có thể giúp ông làm gì nữa nhỉ? À! Vẫn còn những mảnh giẻ ông thường dùng quấn các ngón tay khi chuốt nan đan lồng gà. Đao nghĩ: Cần phải đem chúng đi giặt thật sạch, nếu không lỡ bị đứt khi chuốt nan, tay ông lại nhiễm trùng thì khổ. Đao mang giẻ ra suối ra sức vò thật kỹ, lòng bàn tay của bé đỏ ửng vì bị cọ xát, những ngón tay con con thì trắng hồng lên. Sau đó bé thử xem giẻ có thật sạch không bằng cách hái lá khoai môn đặt lên hõm đá, rồi vắt nước vào đó để xem đã trong bằng nước suối hay chưa? Đao vô cùng hài lòng: Sạch quá rồi đấy! Thế giới trong tâm hồn Đao thật hết sức đơn giản: Bé yêu quý mọi người trong gia đình và luôn muốn được làm việc để giúp mọi người.

Đưa Đao về ở cùng được một thời gian, ông Hom nghĩ đến việc cho Đao đi học. So với độ tuổi bắt đầu vào lớp 1 thì Đao đã muộn mất 2 năm. Hạnh làm căng, bảo là lấy tiền đâu cho con bé đi học. Không thể để cho con trẻ phải thất học vì cuộc sống khốn khổ, rồi sẽ lại phải sống khốn khổ vì thất học, ông Hom quyết tâm đến nhà trường xin cho bé Đao được đi học.

Đến lớp thì phải có túi đựng sách. Ông Hom ngắm nghía chiếc quần dài của mình, ông chắt lưỡi: Ống quần mặc dẫu có ngắn đi một chút cũng chẳng sao. Vậy là ông cắt bớt hai cái ống quần dài, chập lại để khâu thành túi đựng sách cho Đao. Đàn ông khâu vá bao giờ cũng vụng về, không khéo như đàn bà. Mắt ông Hom kém, lại không có kính, kim đâm phải tay ông chảy cả máu. Ông không dám nhờ Hạnh. Bây giờ con dâu đang giận, nhờ nó làm khác nào chất thêm củi, thổi thêm gió vào đám cháy. Sẵn còn có ít chỉ màu, ông nghĩ cần phải thêu thêm hình mây và núi làm đẹp cho chiếc túi. Đao chăm chú nhìn ông kiên nhẫn vắt từng mũi chỉ. Đường thêu rất vụng, nhưng chiếc túi nom cũng có vẻ đẹp hơn. Ông không tự tin lắm, ngượng ngập nói với Đao là ông thêu núi, thêu mây. Còn Đao sau khi ngắm nghía lại quả quyết rằng những hình đó chính là măng và nấm.

Buổi đầu tiên Đao đến lớp, ông Hom hồi hộp chẳng khác gì ông mới là người đi học. Ông ngồi đan lồng gà, nhưng chốc chốc lại dừng tay, ngóng ra cổng. Đao tan học vừa về đến nhà, ông đã sốt ruột lấy ngay vở của bé giở ra xem. Nhìn chữ Đao viết, dù không biết đọc nhưng ông Hom vẫn cười nghiêng ngả, bởi chữ nét như  tóc rối, nét như giun oằn, nét lại xiên dọc, xiên ngang giống những cành tre gai tấp ngoài bờ rào. Nói tóm lại, đám chữ cứ búi vào nhau không gỡ ra được. Cười xong, sợ Đao xấu hổ, ông động viên: ” Làm cái gì lúc mới bắt đầu mà chẳng khó. Cháu cố gắng thì thể nào cũng sẽ học được hết các con chữ”.

Đao học rất chăm. Nhờ được đi học mà Đao nhận thấy mọi thứ xung quanh mình thật tuyệt vời: Đường đến lớp có rất nhiều hoa dại và bướm, mặt đất thì hiền hoà và xanh rợn cỏ non. Đao học giỏi nhất lớp, ông Hom vui không biết để đâu cho hết. Ông sung sướng trào nước mắt khi nhìn Đao trực tiếp nắn nót viết hai chữ: Ông Hom. Nước mắt vui của người già cũng trong như nước mắt của con trẻ và nhẹ như bông.

Nhưng cô Hạnh thì không vui. Cô cho rằng: Nuôi Đao ăn thôi cũng đã là quá sức lắm rồi, nay còn bày vẽ chuyện đi học. Trong Hạnh như có nuôi một tổ ong đất. Đừng bao giờ đùa với ong đất, những con trâu to khoẻ nhất cũng có thể chết khi đã sa phải vào tổ ong.

Sự căng thẳng trong nhà ông Hom ngày càng trở nên tồi tệ, lũ ong đất xui Hạnh làm những điều không nên làm: Cô rắc cát vào gạo rồi nấu cơm. Cơm chín, cô dọn lên bình thường coi như không có việc gì xảy ra.

Nhai miếng cơm, ông Hom nhăn mặt:

– Sao cơm hôm nay ăn lại có nhiều sạn cát thế này?

– Nhà tự nhiên nuôi thêm người, phải độn thêm cát mới đủ ăn! Không ăn được thì đem đổ đi! – Hạnh nói, đồng thời hai tay chống nạnh với tư thế sẵn sàng thả đàn ong đất.

Ông Hom tê tái, cố và thêm miếng nữa. Nhưng cơm độn cát, ăn sao nổi. Vậy là cả nhà cùng nhịn đói. Thương nhất thằng Đức, bị đói oan bởi cái tội của người lớn. Đôi mắt nó đặt những dấu hỏi: Tại sao???. Không còn biết phải làm gì, ông Hom ngồi lặng như người câm, mặc kệ nước mắt chảy. Nước mắt buồn của người già, đùng đục và nặng như đá.

Mọi chuyện còn tiếp tục tệ hơn nữa, bắt đầu từ việc Hạnh hỏi:

– Tiền bán lồng gà dạo này đi đâu? Sao ông không đưa cho con?

Ông Hom dè dặt:

– Tiền lồng gà bán được, bố đã cho bé Đao đem mua hết sách vở rồi con ạ!

Hạnh quắc mắt, đá mạnh vào chiếc lồng gà phơi trên sân. Không tin nổi,  chiếc lồng gà bay lên mắc vào bờ rào dựng bằng những cành tre gai.

– Đã bảo đừng cho nó đi học mà ông không chịu nghe. Người dưng như con khỉ trên rừng thì ông thương. Cháu nội ruột già máu mủ ông lại coi là cục đất. Gà không cần học cũng đẻ ra trứng. Nếu người nhờ đi học mà đẻ được ra trứng thì hãy cho đi – Hạnh vừa nói, tay vừa tự đấm thùm thụp vào lồng ngực.

– Con dâu à! – Tiếng ông Hom nhẹ nhàng – Con trách Bố không thương thằng Đức là không đúng. Bố chỉ nghĩ,  nhà mình nghèo nhưng vẫn cố gắng nuôi thêm cái Đao được con ạ! Nếu mình đuổi đi thì nó biết cậy nhờ vào ai?

– Ông đã nói như thế thì từ ngày mai con với thằng Đức sẽ khắc nấu ăn riêng! Còn ông muốn làm gì thì làm, con mặc kệ! – Giọng Hạnh nặng nề, tưởng như không thể bay thoát được lên khỏi mặt đất.

Ông Hom ngồi lặng thừ, thở dài. Ông vô thức vớ lấy cái điếu ục, nhồi một mồi thuốc lào thật to, châm lửa rít lấy, rít để. Thứ thuốc lào được trộn thêm râu ngô phơi khô, mùi khét át đi cả mùi thuốc lào. Miệng ống điếu rộng, ông phải nghiêng hẳn một bên má để bịt cho kín miệng ống. Khi rít, má ông tóp lại nom thật tội nghiệp. Nhưng thuốc lào cũng không giúp gì hơn được cho ông. Ông tủi thân. Ông buồn. Ông hy vọng: Chắc tại con dâu nóng giận nên mới nói thế thôi, chứ thực ra nó vẫn là đứa con dâu tốt. Từ khi chồng nó mất, đã có mấy đám đến hỏi, vậy mà nó từ chối ở vậy nuôi con, nuôi bố chồng. Tính khí con dâu nay trở thành như vậy, cũng là do cái đói, cái nghèo đưa đẩy, khiến người ta phải ích kỷ, tính toán chi ly – Nghĩ thế, ông thấy đỡ tủi thân đi một chút.

Bếp lửa nhỏ nhà ông Hom đã phải chia ra làm đôi. Ông Hom chỉ nhận lấy hai chiếc nồi: một chiếc còn khá tốt, một chiếc hết sức méo mó. Chiếc nồi còn khá tốt ông dùng nấu cơm, chiếc méo mó ông để đun thức ăn.

Bữa nay, ông Hom dùng chiếc nồi méo luộc hai quả trứng gà, một quả ông mang cho bé Đức: Dù có chia ra ăn riêng thì Đức vẫn là đứa trẻ, là cháu nội ông. Một quả ông bóc sẵn bỏ vào bát cho bé Đao. Còn phần ông là bát ớt tuơi giã muối và đĩa măng luộc. Màu măng luộc cũng trắng tinh như màu lòng trắng trứng. Nhưng ở bản Phiêng Đao, một quả trứng có thể đổi được mười đĩa măng luộc.

– Cháu ăn đi! – Ông Hom cầm bát cơm có quả trứng đặt vào tay Đao.

Đao ngần ngừ, không nỡ nào ăn quả trứng, bé muốn nhường lại cho ông.

– Cháu không ăn trứng đâu! – Đao cười, chỉ vào đĩa măng luộc – Cháu thích ăn măng này cơ ông ạ!

Ông Hom dùng đũa ấn quả trứng sâu vào trong lòng bát cơm.

– Không, cháu phải ăn! – Ông nói dịu dàng nhưng kiên quyết – Trẻ con ăn trứng gà mới mau lớn chứ!

Đôi mắt Đao nhìn quả trứng gà. Miệng lưỡi Đao có nước bọt tiết ra. Quả trứng này không phải là trứng vàng trứng bạc. Lòng đỏ và lòng trắng của nó cũng như mọi quả trứng khác. Nhưng mình không thể ăn! Ông đã vất vả nhiều, cái gì ngon cũng đều nhường cho mình. Mình không thể ăn! Mình phải làm thế nào bây giờ nhỉ? Trí óc non nớt của Đao chợt nghĩ ra một cách mà bé cho là tốt nhất. Đao đưa hai tay ôm lấy bụng, khuôn mặt giả vờ nhăn nhó, rên rỉ:

– Ối, ông ơi! Cháu đau bụng quá, không ăn cơm nữa đâu!

Đao chạy lên nằm trên giường, úp mặt xuống gối. Ông Hom lo lắng chạy theo. Thấy Đao nằm úp sấp, rên khe khẽ, thỉnh thoảng lại quằn quại sang hai bên, ông nghĩ bé đang đau lắm.

– Cháu cứ nằm im đây nhé! Để ông đi hái búp ổi non cho cháu nhai xem có đỡ đau không – Ông nói.

Đao vẫn nằm úp, sấp mặt xuống gối, chẳng dám ngẩng lên bởi xấu hổ vì đã trót nói dối. Bé thì thầm trong miệng không để ông Hom nghe: “Ông ơi! Cháu chỉ giả vờ để nhường ông quả trứng. Ông ăn quả trứng đi là cháu sẽ hết đau bụng ngay thôi!”. Ôi! Không phải tất cả mọi lời nói dối đều xấu xa. Đôi lúc vẫn có những lời nói dối xứng đáng được tha thứ.

Phải sống và lớn lên trong điều kiện khó khăn thì chuyện mắc bệnh cũng không có gì lạ. Bệnh suyễn lúc đầu còn chầm chậm rồi sau đó ngang nhiên chặn bàn tay lên ngực thằng Đức. Cứ cách vài ngày, thằng Đức lại lên cơn hen. Lúc đó, mặt Đức tái ngắt, thân thể mềm oặt như cụm rêu trong lòng suối. Đao thương lắm, nó rất muốn được xoa giúp cho em Đức bớt khó thở. Nhưng Đao không dám đến gần em vì sợ cô Hạnh, bé chỉ dám đứng nem nép ở sau khe cửa để ngó vào. Ngồi bên cạnh em Đức, cô Hạnh xù lên như con gà mái bảo vệ con trước lũ quạ. Nhưng cô Hạnh không phải là gà. Cô Hạnh là Người nên cô khóc, nước mắt ướt hết hai vạt áo đằng trước. Đứng ở sau khe cửa, nhìn thấy vậy Đao cũng trộm khóc theo. Nếu Mẹ còn sống, mình bị ốm chắc chắn Mẹ cũng sẽ thương mình như thế!

Không ai bảo, nhưng Đao luôn để ý xem có ai biết cách chữa bệnh của em Đức. Ngay cả trong giấc ngủ Đao cũng thường hay mơ thấy em Đức khoẻ mạnh, rồi hai chị em được cô Hạnh dắt tay cùng đi hái sim trên bãi ngàn sao. Đao tin mãnh liệt: Một ngày nào đó chắc chắn sẽ có người chữa khỏi được bệnh cho em Đức!

Một buổi, Đao được ông bảo đem măng đến biếu bà Pòm, bà sống độc thân không con cháu trong một căn lều dựng ven chân đồi. Căn lều của người sống cô độc không cần có cửa. Vừa mới bước vào trong Đao đã cảm thấy mùi nồng của bã trầu xộc lên hăng mũi. Mùi này có chút gì đó hơi giống mùi măng chua mà Đao chưa nghĩ ra.

Bà Pòm giữ Đao ở lại ngồi chơi.

– Cháu phải về ngay thôi bà ạ! Lúc này ở nhà em Đức đang lên cơn hen. – Đao lễ phép từ chối.

– Ôi dào! Tưởng gì, bệnh hen suyễn thì chỉ cần bắt lấy 1000 con “Đuổng khem”, đem nướng lên ăn là sẽ khỏi! – Bà Pòm vừa nhai trầu vừa nói, đồng thời nhổ toẹt xuống đất một bãi nước bã trầu đỏ quạch.

Chính Bà Pòm cũng không ngờ rằng mình đã vô tình mở toang cho Đao biết một điều bí mật. Đôi mắt thiên thần sáng rực. Đao mừng quýnh, nhảy cẫng lên. Hay quá! Hóa ra chỉ cần ăn 1000 con sâu chít là chữa khỏi bệnh hen suyễn. Chủ nhật này được nghỉ học cả ngày, mình sẽ đi bắt 1000 con sâu chít chữa bệnh cho em Đức.

Nghĩ là làm. Tinh mơ chủ nhật, Đao nhẹ nhàng rút then cửa, rồi rón rén ra khỏi nhà. Đao nhằm hướng núi đá tai mèo mà đi. Chỉ có chỗ núi đá tai mèo mới mọc nhiều cây chít.

Chít mọc thành từng bụi, Đao chặt, rồi lễ mễ ôm dồn thành đống, và sau đấy chẻ chúng tìm sâu. Thoạt đầu, Đao nghĩ mỗi cây chít sẽ đều có một con sâu. Nào ngờ, chẻ tước cả  đống may mới được 1, 2 con. Nhưng Đao không nản: Mình sẽ chặt thật nhiều để kiếm đủ 1000 con.

Trưa, nắng rọi đúng đỉnh đầu, Đao đổ lũ sâu chít kiếm được ra đếm: 100, 100,… lại 100 con nữa. Bao nhiêu 100 thì được 1000 nhỉ? Đao đã đi học nhưng mới chỉ biết đếm đến con số 100, chưa biết thế nào là 1000. Đao nhìn chỗ sâu chít: Ít như thế này chắc là vẫn chưa đủ. Đao nhìn kỹ xung quanh, những bụi chít dễ lấy thì Đao đã chặt hết, chỉ còn lại những bụi mọc cheo leo trên vách đá. Đao bặm môi trèo lên, đá tai mèo nhọn và sắc đâm vào chân trần buốt đến tận đỉnh óc. Đao nghiến răng cho khỏi bật tiếng kêu. Để chữa khỏi bệnh cho em Đức, dù đau hơn nữa mình vẫn chịu được.

Trong lúc Đao đang vật lộn, leo lên những vách đá tai mèo thì ông Hom lại lo lắng đi tìm cháu. Từ trước đến nay, chưa bao giờ con bé đi đâu mà không nói cho  ông biết. Ông đến từng nhà để hỏi. Sau khi hỏi hết nhưng không ai nhìn thấy Đao, ông Hom liền trèo lên ngọn đồi cao chắn trước bản. Đứng từ trên đỉnh đồi, ông khum lòng hai bàn tay vào nhau, vòng trước miệng rồi ra sức hú dài, mong nếu bị lạc thì Đao cũng sẽ nghe thấy, theo tiếng hú mà về. Mỗi lần ông cất tiếng hú, dưới lớp da nhăn nheo, gân cổ nổi lên chằng chịt như đám rễ cây. Ông chợt nghĩ: Hay là sáng nay con bé ra suối, sau đấy bị ngã trượt chân…

Ông rùng mình không dám nghĩ tiếp, rồi cuống cuồng đi mượn ngay chiếc thuyền độc mộc của hàng xóm vẫn dùng đánh cá. Mình trần, mặc mỗi chiếc quần đùi, ông tất tưởi chống thuyền xuôi theo dòng nước tìm Đao.

Chiều chạng vạng, Đao mới về đến nhà, bụng đói, mặt bê bết mồ hôi và tái xanh vì mệt, nhưng tay thì vẫn giữ chặt miệng túi đựng những con sâu chít. Vừa nhìn thấy Đao, không thèm để ý đến những điều đó, Hạnh vơ ngay lấy chiếc chổi đập chan chát vào vách tường, bức vách được trát bằng bùn rơm bong ra từng mảng.

– Khốn nạn! Mày đi chết dấm, chết dúi đâu cả ngày nay bây giờ mới thấy mặt? – Thái độ Hạnh hung dữ đến mức Đao nghĩ rằng trời sắp sập.

Đao co rúm người lại, khuôn mặt đã tái xanh lại càng tái thêm. Hạnh nhào tới, giằng lấy chiếc túi thái bé đang khoác trên người ném mạnh xuống chân. Từ trong túi rơi ra một gói sâu chít trắng ngà và béo nẫn, chúng tung toé lên mặt đất. Hạnh lấy mũi bàn chân di lên từng con cho hả cơn tức. Sâu chít nát bét, chảy ra một thứ nước trắng nhờ như sữa.

Đao quỳ xuống, mếu máo:

– Cô ơi! Cháu xin cô đừng đánh cháu! Cháu biết lỗi rồi. Chỉ tại cháu nghe thấy người ta bảo nếu ăn 1000 con sâu chít nướng thì sẽ chữa khỏi được bệnh hen suyễn, nên… nên cháu đi kiếm để mang về nướng cho em Đức ăn. Cháu… cháu sợ cô mắng nên không dám nói.

Chiếc chổi giật mình, cứng đờ, nó chỉ muốn được rời khỏi tay Hạnh, trốn vào một góc nhà nào đấy đứng yên tĩnh một mình để suy nghĩ.

Cũng vừa đúng lúc ấy ông Hom trở về, từ ngoài cửa ông đã nghe hết những lời Đao nói. Ông ôm chầm lấy bé và nghẹn ngào thốt lên hai tiếng “cháu tôi”. Mùi măng chua bốc lên từ quần áo của ông đem lại cho Đao cảm giác an lành. Chỉ có những đứa trẻ như Đao mới cảm nhận được rằng mùi măng chua cũng là một thứ hương thơm thân thiết. Ôi, hương thơm… mùi măng chua. Ông Hom bật khóc. Chiếc chổi thẳng đuỗn, vì không kịp lẩn tránh vào bất kỳ một xó xỉnh nào đó, nó đành phải lặng lẽ chứng kiến những giọt nước mắt buồn của người già: Đó là những giọt nước mắt đùng đục và nặng như đá.

Cả đêm hôm đấy, Hạnh nằm trằn trọc mãi không tài nào ngủ được. Chốc chốc cô lại trở mình, chiếc giường tre dưới lưng kêu rin rít như hơi thở khó nhọc. Chính vì không ngủ được mà Hạnh mới phát hiện ra rằng giường có rệp. Những đêm khác, làm việc quần quật suốt ngày mệt lử, nằm xuống là lập tức ngủ ngay nên rệp đốt cô cũng không biết. Hạnh ngồi dậy, thức soi đèn bắt rệp, được con nào cô đều đặt lên viên đá nghiền cho đến khi không còn nhìn thấy tí dấu vết nào nữa. Vừa bắt rệp, cô vừa tự trách mình cũng ác không khác gì con rệp. Gần sáng, mệt quá Hạnh ngồi bệt xuống đất, đầu gục vào thành giường rồi thiếp đi. Cũng vẫn trên chiếc giường đó, thằng Đức đang ngủ ngon lành say sưa, hơi thở đều đều, nhẹ nhàng. Đêm nay nó không lên cơn hen.

Hạnh thức dậy muộn hơn mọi khi. Cô mở toang cánh cửa để ngắm mặt trời mọc. Nắng bình minh tô hồng lên khuôn mặt mất ngủ của cô. Rồi đây thằng Đức sẽ có một người chị tốt và biết yêu thương nó – Hạnh nghĩ như thế. Cô rút mớ tiền lẻ nhàu nhĩ từ trong túi ra, rồi vuốt cho thật phẳng phiu. Hạnh quyết định: Chiều nay sẽ đi chợ mua món gì đó ngon ngon về nấu cơm cho cả nhà cùng ăn. Cũng khá lâu rồi, Mẹ con cô, ông Hom, bé Đao đã không ngồi ăn cơm cùng nhau.

Hạnh đến chỗ ông Hom đang ngồi giữa đám lồng gà ngổn ngang.

– Chiều nay ông đừng thổi cơm. Con sẽ đi chợ mua thức ăn về nấu cho cả nhà. – Cô nói mà mặt cúi gằm xuống đất,  mắt không dám nhìn thẳng.

Ông Hom sốt sắng nhận lời. Vậy là con dâu ông đã thông. Ông vẫn luôn luôn cầu mong điều này, nay thì  nó đã đến. Ông thở phào: Cơn mưa bão nào dù dữ dội đến mấy cũng có lúc phải tạnh.

Ông còn dặn Hạnh:

– Con dâu nhớ gánh theo chục chiếc lồng gà đi bán. Nếu bán được, con dâu mua thêm cho bố cút rượu!

Hạnh đi bộ hơn chục cây số đường rừng để đến chợ, có bao nhiêu tiền trong túi cô bỏ ra mua thức ăn bằng hết. Hạnh dường như đã phá bỏ, thoát khỏi được tổ ong đất, cả buổi chiều cô dành thời gian để chuẩn bị cho bữa cơm. Cô đi ra, đi vào, tất bật nấu nấu, nướng nướng. Bữa cơm chiều hôm nay phải thật ngon.

– Mẹ ơi! Hôm nay nhà mình có khách quý à? – Bé Đức hỏi.

Hạnh không trả lời, chỉ nghĩ: Còn quý hơn gấp nhiều lần khách quý!

Cả nhà ông Hom ngồi cùng nhau ăn một bữa cơm không có món măng. Thằng Đức là người vui nhất, bởi nó rất yêu quý ông nội và chị Đao. Hạnh tuy vẫn còn ngượng ngập nhưng vẫn luôn tay gắp những miếng ngon cho bố chồng và Đao. Ông Hom mỉm nụ cười nhẹ nhõm: Ông bao giờ cũng nghĩ con dâu là người tốt.

Ăn cơm xong, Đao cùng với Hạnh ngồi ngoài sân rửa bát. Bé kể cho Hạnh nghe những chuyện ngộ nghĩnh khiến cô phải bật cười. Đến tận hôm nay Hạnh mới ngắm nhìn Đao thật kỹ. Con bé thật nhanh nhẹn và xinh xắn. Tại sao mình không nhận thấy điều này sớm hơn nhỉ?

– Cháu có ra suối tắm cùng cô không? – Hạnh hỏi, giọng trìu mến.

Đao đưa mắt nhìn ông Hom như muốn hỏi ý kiến. Ông gật đầu. Đao phấn chấn chạy vụt ngay vào nhà lấy quần áo, gió tung mớ tóc dài mượt của bé vẽ vào không gian hình một suối sao băng.

Đây là lần đầu Đao đi tắm cùng cô Hạnh. Chắc chắn cô không còn giận mình và ông nữa. Đao hát líu lo, giọng bay lên cùng những giọt nắng cuối của một buổi chiều vàng rất đẹp, đàn suối hoà theo những âm thanh trầm bổng. Hạnh vui lây, lòng cô đã rũ bỏ được tổ ong đất, giờ đây nó như dòng mương được khơi thông, êm êm trôi chở nước cho những chân ruộng bậc thang.

Hai cô cháu cùng tắm khoả thân. Nước suối thượng nguồn vô cùng trong sạch và mát, tắm mình dưới làn nước ấy bao giờ cũng có cảm giác bình yên và thanh thản. Bàn tay Hạnh nhẹ nhàng kỳ cọ lên tấm lưng gầy gò của bé Đao, nơi xương sống nổi gồ lên như những gióng trúc cằn. Lòng cô dâng lên cảm xúc kỳ lạ: Trẻ con, bất kể chúng là đứa nào cũng đều hết sức đáng yêu! Hạnh xoay bé Đao quay mặt về phía mình rồi nhìn sâu vào đôi mắt đó. Đôi mắt thiên thần, con ngươi như viên ngọc trong veo.

Chợt Bé Đao rụt rè cất tiếng:

– Cô ơi! Từ nay cô cho cháu gọi cô là Mẹ, cô nhé!

Mũi Hạnh cay như sặc nước, cô choàng ôm lấy cơ thể bé Đao đang ướt sũng và thốt giọng nghèn nghẹn:

– Ừ! Ngay ngày mai Mẹ sẽ mua cho con bộ quần áo mới để con đi học. Con phải cố gắng học thật giỏi để mai kia có thể trở thành Cô giáo dạy chữ cho người dân trong bản Phiêng Đao.

Bé Đao “vâng” thật ngoan rồi dụi đầu vào bầu ngực Hạnh. Bầu ngực của những người mẹ bao giờ cũng rất ấm và êm ái. Chiều không còn nắng. Và lúc này, bầy côn trùng hoạt động về đêm đã bắt đầu tấu lên những thanh âm huyền diệu của sự sống. Trên trời cao lấp lánh đầy ánh sáng của muôn vì tinh tú, soi mênh mang xuống bãi ngàn sao.

Rất có thể về sau này, bản Phiêng Đao sẽ có một cô giáo chính là bé Đao ngày nào vẫn đến lớp với chiếc túi sách được khâu từ 2 mảnh ống quần thấm đẫm mùi măng chua./.

Vương Hà 

https://mail.vanchuongviet.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id=16221