• Tác giả

    Họa Sĩ Nguyễn Cát Tường

    Họa Sĩ Nguyễn Cát Tường

    A-NguyenCatTuong-HoaSi-8-18-2014Rev

    LE MUR NGUYỄN CÁT TƯỜNG :

    Mt ha sĩ, mt nhà to mu tài danh ca đt nước

    Thanh Thương Hoàng

    Thú thực khi còn nhỏ, vào những năm 1942, 1943 (khi đó tôi mới ngoài 10 tuổi) tôi đã mê đọc sách, nhất là những cuốn truyện của các nhà văn Vũ Trọng Phụng, Nhất Linh, Khái Hưng và những cuốn truyện Tầu rồi tới kiếm hiệp, trinh thám…vv… Tôi không chú ý ( vì chẳng “hấp dẫn”gì với tôi) những tờ báo nổi tiếng thời ấy                  ( thời tiền chiến trước năm 1945) với nội dung đả phá cái cũ (hủ lậu) quảng bá cái mới trong nếp sống dân tộc như báo PHONG HÓA NGÀY NAY. Thỉnh thoảng ông Bố tôi đem về nhà mấy tờ báo này, tôi chỉ lật vài trang xem mấy cái tranh khôi hài châm biếm (humour) với hai nhân vật chính Lý toét, Xã xệ. Tôi cũng chẳng để ý tới tên tác giả. Ông Bố tôi thường mua cho tôi báo CẬU ẤM CÔ CHIÊU chuyên đăng những bài, những tranh vui về tuổi thơ – mà bây giờ tôi cũng quên mất những mục, những bài đã làm bọn nhỏ chúng tôi (hồi đó) say mê thích thú. Sau này lớn lên tôi cũng chỉ biết tới tên một số họa sĩ nổi danh mà thôi. Tuy nhiên thỉnh thoảng tôi nghe trong đám bạn họa sĩ (cùng lớp tuổi tôi) nhắc tới tên một họa sĩ có tên là Le Mur. Tôi tưởng ông này là “ông Tây” hay ít ra cũng là “dân Tây”nên thú thực tôi không có cảm tình mấy và cũng chẳng tìm hiểu về ông làm gì. Khi bước vào làng văn làng báo Saigon tôi mới được biết nhiều hơn về một số họa sĩ tên tuổi “thời tiền chiến” và tranh của họ quý và mắc hơn vàng như các ông bà Nguyễn Gia Trí, Lê Thị Lựu, Lê Phổ, Tô Ngọc Vân, Bùi Xuân Phái vv…nhưng vẫn ít thấy tên ông Le Mur Nguyễn Cát Tường.

    Mấy chục năm sau, tôi sang Mỹ sống, mới đây tình cờ được coi một đĩa (DVD) thâu hình buổi trình diễn trang phục phụ nữ của Họa sĩ Le Mur Nguyễn Cát Tường (do các bà cựu nữ sinh trường Trưng Vương trình diễn) nhân cuộc triển lãm và hội thảo về báo Phong Hoá Ngày Nay và Tự Lực Văn Đoàn do Nhật báo Người Việt (Quận Cam) và Đài truyền hình STBN tổ chức. Cuộc triển diễn về trang phục phụ nữ của ông Le Mur Nguyễn Cát Tường được tổ chức nguyên một buổi thật tuyệt vời. Xem hết cuốn băng quả thật là một sự bất ngờ, tôi cứ tưởng những người đẹp VN đang biểu diễn thời trang thế kỷ 21. Đây là một nhân tài của đất nước, một họa sĩ, một nhà tạo mẫu trang phục cho nữ giới nước nhà, đã đi trước thời đại gần một thế kỷ. Ông tên thật là Nguyễn Cát Tường nên lấy bút danh Le Mur (tiếng Pháp cái tường). Về tiểu sử cũng như sự nghiệp của ông xin coi phần cuối của bài này.

    Vì sự tò mò và nhất là muốn tìm hiểu một nhân tài trải qua ngót thế kỷ, các “tác phẩm” của ông, các công trình sáng tạo của ông tới ngày nay (qua buổi trình diễn vừa rồi) vẫn “sống” và “sống” một cách huy hoàng lộng lẫy trải rộng khắp nước Mỹ và cả thế giới (vì cho tới bây giờ (năm 2016) những bộ quần áo theo “mẫu” của Le Mur vẫn được các bà các cô trưng diện trong những buổi hội hè đình đám. Những chiếc áo dài tha thướt, những chiếc quần trắng, quần mầu, những chiếc khăn choàng cổ vẫn lộng lẫy duyên dáng gợi cảm, chẳng những không lạc hậu chút nào mà còn tôn cao vẻ đẹp đặc biệt của người phụ nữ VN.

     

    Ông Lemur Nguyễn Cát Tường tốt nghiệp trường cao đẳng mỹ thuật Đông Dương, năm “1933” Năm “1932” đã có tranh khôi hài (vui cười) trên báo Phong Hóa. Sau khi ông Nguyễn Tường Tam mua tờ báo, ông vẫn tiếp tục gửi tranh khôi hài đăng trên báo…

    Nhà văn Nhất Linh giao cho ông phụ trách mục “Vẻ đẹp riêng tặng các bà các cô”. Tuổi mới ngoài 20 sau khi tốt nghiệp hội họa vào đời ông Tường đã có những tham vọng lớn về cải cách trang phục phụ nữ nước nhà cho hợp với trào lưu phụ nữ thế giới. Chúng ta nên nhớ vào thời điểm đó (những năm đầu thế kỷ 20) các cụ ông cụ bà ta còn chịu ảnh hưởng nặng nề chế độ phong kiến. Các cụ ông trong lễ lạc tết nhất thì mặc áo the dài đầu đội khăn đen xếp, còn các cụ bà thì mặc áo tứ thân mặc váy đầu đội nón quai thao để răng đen. Nếu là nhà giầu thì đi hài, còn thuộc giới trung lưu thì đi guốc gỗ sơn mài đen gót bằng, thấp. Ông đã tạo ra những kiểu giầy cao gót mũi nhọn cho tới ngày nay vẫn thịnh hành, cả Đông và Tây phương. Ông Cát Tường muốn đem cái sở học của mình ở nhà trường kết hợp văn hóa Đông phương với văn hóa Tây phương (mà ông đã học đã đọc được qua sách báo của Pháp) để sáng tạo những “mốt” áo quần giầy dép mới thích hợp với phụ nữ Việt Nam. Phải nói đây là một việc làm táo bạo có thể nói là một cuộc cách mạng về trang phục phụ nữ. Vào thời đại đó việc làm này quả vô cùng khó khăn trở ngại. Nhất là táo bạo khi ông sáng tạo các kiểu “xú-chiêng”, quần lót cho phái nữ. Chỉ dẫn cách luyện tập cho bộ ngực thon gọn đẹp. Theo ông phụ nữ thích làm dáng làm đẹp để  giữ chồng bảo vệ hạnh phúc gia đình. Chúng ta nên nhớ các bà các cô thời đó, trừ một số nhỏ mà người ta gọi là “phụ nữ tân thời” ở thành phố, còn tất cả đều mang yếm và mặc váy, đầu vấn khăn hoặc chùm khăn mỏ quạ. Ông còn hướng dẫn các bà các cô đánh phấn bôi son thích hợp với da và khuôn mặt mình, cách vấn tóc, chải rẽ đầu ngôi sao cho hợp với khuôn mặt, mặc đồ hai mảnh tắm biển, tập thể dục thể thao. Ông quan tâm rất nhiều đến quần của các bà các cô. Ông cho đây chính là điều cần thiết để tôn vinh cái đẹp và sức quyến rũ của phụ nữ VN. Ông đã tỉ mỉ vẽ những cái nhỏ nhất nhưng cần thiết cho những chiếc quần này. Chính ông là người tạo ra mốt áo hở cổ với hình trái tim, hình lá sen, kiểu hình chéo một bên vai (sau gọi là Raglan), hình hở phần cổ và trên ngực với giải khăn mầu quấn quanh cổ. Thời đệ nhất cộng hòa bà Ngô Đình Nhu phát động phong trào phụ nữ mặc áo dài hở cổ mà người ta gọi là ”áo bà Nhu” do bà “sáng chế”. Thực sự là bà Nhu đã “phác” theo mẫu của họa sĩ Le Mur Nguyễn Cát Tường. Thời gian đó bà Ngô Đình Nhu cũng bị dư luận đả kích nặng nề (thật oan cho bà). Cả quần ống loe cũng vậy. Ông Tường kết hợp Đông Tây tạo mốt mới thích hợp với cẳng đùi phụ nữ Việt Nam sao cho gọn gàng hấp dẫn. Thế mà mãi tới thập niên 50 (thế kỷ 20) chiếc quần ống loe mới được phổ biến rộng rãi thông dụng trong dân gian. Ông Tường cũng không quên “bầy việc” cho giới mày râu trong những bộ “com – lê” kết hợp Đông Tây tới nay vẫn còn là “mốt” thông dụng sang trọng lịch sự. Phải nói đây là một cuộc cách mạng táo bạo nên ông Tường đã gặp phải các thế lực thủ cựu chống đối dữ dội. Họ diễn thuyết, viết báo, vẽ tranh đả kích ông, chế nhạo ông đủ điều. Ông phải quyết tâm và can đảm lắm mới thoát khỏi trận “đánh phá” này. Ngoài những tài kể trên ông Le Mur còn là người mở phòng trà đầu tiên ở Hà Nội (cũng là cả nước) và ông cũng không quên giới bình dân lao động nghèo khổ phải đạp xe xích lô mưu sinh khi đưa ý kiến và vẽ mẫu cải tiến để “mỹ thuật hóa” chiếc xích lô đạp.

    Có thể nói họa sĩ, nhà tạo mẫu tài năng xuất chúng Le Mur Nguyễn Cát Tường đã đi trước thời đại ngót một trăm năm. Những mẫu áo quần ông tạo ra tới ngày nay vẫn còn hợp thời. Từ chiếc áo dài hở cổ, chiếc quần lụa trắng cải cách, chiếc quần tây gọn gàng gợi cảm (nhưng đứng đắn) những chiếc áo ngắn cộc tay có viền “ren” quanh cổ áo, ống tay áo, mặc trong nhà hay làm việc đều mới, lạ, đẹp, gọn gàng sẽ còn tồn tại lâu dài với người phụ nữ VN, và người ngoại quốc cả nam lẫn nữ cũng rất mê những bộ trang phục này.

    Tới đây tôi cũng xin có một “nhận xét nhỏ” góp vào bài viết này. Theo tôi nhận xét thì những chiếc áo Bà Ba của nữ giới Miền Nam chúng ta cũng “thoát thai” từ những chiếc áo hở cổ của họa sĩ Le Mur. Bằng chứng: những ảnh phụ nữ miền Nam chụp những năm đầu thế kỷ 20 các áo dài hay áo Bà Ba đều kín cổ cả. Kể cả các quần hai ống từ đùi xuống tới chân khá rộng gọi là “quần Mỹ a”. Sau đó tôi thấy khắp miền Nam các cổ áo Bà Ba của các bà các cô đều hình trái tim hoặc hình vuông hở cổ và một phần ngực.

    Họa sĩ Le Mur NGUYỄN CÁT TƯỜng rất xứng đáng để quý bà quý cô và cả chúng ta vinh danh và biết ơn ông.

    THANH THƯƠNG HOÀNG

    (3.9.2016)

    [pdf-embedder url=”https://vantholacviet.com/wp-content/uploads/NguyenCatTuong-HoaSi-8-18-2014Rev-copy.pdf” title=”nguyencattuong-hoasi-8-18-2014rev-copy”]

  • Chưa được phân loại

    Mạnh Thường Quân

    Việt Cộng đã và đang bán đất biên giới và biển đảo cho Trung Cộng.Biển Đông đang dậy sóng vì những giàn khoan dầu mà người Việt hải ngoại và thề giới tự do đang nhìn về Biển Đông để thấy Việt Cộng nhu nhược và đánh lừa cả thế giới để bán biển đảo cho Trung Cộng với đường vẽ 9 đoạn rồi 10 đoạn.

    SÁCH BÁN TRÊN INTERNET PAYPAL :

    Việt Cộng đã và đang bán đất biên giới và biển đảo cho Trung Cộng.
    Biển Đông đang dậy sóng vì những giàn khoan dầu mà người Việt hải ngoại và thề giới tự do đang nhìn về Biển Đông để thấy Việt Cộng nhu nhược và đánh lừa cả thế giới để bán biển đảo cho Trung Cộng với đường vẽ 9 đoạn rồi 10 đoạn.

    Cơ Sở Văn Thơ Lạc Việt xin mời quý vị tham dự bưổi ra mắt tác phẩm “Đại Đế Quang Trung –Nguyễn Huệ: Trận Đánh Cuối Cùng chấm Dứt Hoạ Bắc Thuộc” để người Việt chúng ta học hỏi tinh thần Quang Trung và đoàn kết” Diên Hồng” hầu tiêu diệt nội thù Việt Công và cùng đứng lên chống ngoại xâm Bắc Phương.
    Tác phẩm “Đại Đế Quang Trung – Trận Đánh Cuối Cùng chấm Dứt Hoạ Bắc Thuộc” đánh thẳng vào ý đố bá quyền Trung Cộng và kêu gọi đoàn kết dân tộc chống giặc phương Bắc.

    Gía 20.00 Mỹ Kim, ngòai USA thêm 20.00 Mỹ Kim tiền Bưu điện đi quốc ngoại.
    Quý vị có thể liên lạc nhà thơ Chinh Nguyên e-mail :cnchinhnguyen7@gmail.com

    Xin quý vị vào link dưới để mua sách hoặc bảo
    trợ cho sinh ho
    ạt Văn Thơ Lạc Việt:

    https://www.paypal.com/cgi-bin/webscr?cmd=_s-xclick&hosted_button_id=S5YH6RTJT6GEC

    ————————————————————————

     

    VĂN THƠ LẠC VIỆT
    LỜI CÁM ƠN VÀ XIN LỖI.
    Buỗi tiệc được thành công như mong muốn của ban tổ chưc nhờ được sự hổ trợ của quí vị và những mạnh thường quân, và truyền thông báo chí.

    Thành thật cám ơn quí vị trưởng bối, quí vị đại diện hội đoàn, quí văn nghệ sĩ, quí truyền thông báo chí quí thân hữu chiến hữu, và anh chị em thành viên đã tới dự buổi tiệc .

     

    Đặc biệt cám ơn báo Phụ Nữ Cali (chị Cao Anh Nguyệt), Thằng Mõ (Anh Lê Văn Hải), TinVietNews (Nhà Báo Cao Sơn), Đài Phố Đêm (Anh Phạm Xuân Nam), Little SàiGòn Radio (Nghệ Sĩ Mai Hân), Hệ thống radio Viên Thao (NV Đỗ Vẵn Trọn), và chương trình TV Dân Sinh (Anh Phạm Phú Nam) đã giúp phổ biến chương trình trên hệ thống truyền thông.

    Các quí anh chị MC TS Nguyễn Hồng Dzũng, Chị Kim Phượng Anh Hoàng Thưởng (LL SV Sĩ Quan Thủ Đức), Ký gỉa Cao Sơn, Ký giả Thư Sinh, và Nghệ sĩ Kiều Loan đã giúp điều hành chương trình 20 năm thành lập và phát giải Văn Thơ Lạc Việt 2012.

    Tôi mong rằng quí vị bỏ qua những lỗi lầm chẳng đặng đừng nếu có của ban tổ chức,  và nối tay đoàn kết để cùng đưa Văn Thơ Lạc Việt tiến lên trong tương lai với mục đích giữ lại nền văn hoá nhân vị yêu thương mà chúng ta đã xem như một món quà quý giá duy nhất đã mang theo sau năm 75.

    Trân trọng

    Chinh Nguyên

     

     

    Vài hình ảnh  PHÁT GIẢI VĂN THƠ của VT Lạc Việt   07-15-12

     

    http://www.photoshop.com/users/longuyen_vnaf68/albums/4c498dbc3fca42fb9f4728242c363195?wf=slideshow

    San Jose (Ý Dân): Khoảng 300 quan khách đã đến tham dự tiệc kỷ niệm 20 năm thành lập Văn Thơ Lạc Việt và  Phát Giải Văn Thơ Lạc tại nhà hàng Phú Lâm, San Jose vào 6 giờ chiều ngày 15-7-2012 vừa qua.

    Trong thành phần khách tham dự chúng tôi nhận thấy có nhà báo lão thành Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh, các văn thi hữu gồm có Ðông Anh, Trường Giang, Chu Tấn, Thanh Thương Hoàng,Nguyễn Phước Ðáng, Song linh,  Ngọc Bích, Lê Diễm, Hồng Hà, Kiều Loan, Thanh Xuân, Kim Hà v.v. cùng đại diện các hội đoàn và giới truyền thông.

    Sau nghi thức khai mạc, thi sĩ Chinh Nguyên, chủ tịch Văn Thơ Lạc Việt gời lời chào mừng , cảm tạ quan khách và xin bỏ qua những sơ suất của Ban Tổ Chức.

    Tiếp đến nhà báo lão thành Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh , hơn 90 tuổi,cố vấn của Hội với hình dáng tiều tụy vì sức khoẻ suy yếu ngỏ lời chúc mừng hội và khen ngợi việc làm duy trì và phát hụy văn hoá VN của ông Chinh Nguyên, nguyên là học trò yêu qúi của cụ.

    Thi Sĩ Ðông Anh, cố vấn hội cho biết rất cám ơn một số văn thi hữu đến từ xa như Canada , Nam Cali và Hoa Thịnh Ðốn. Ông cho biết Văn Thơ Lạc Viêt  hoạt động từ năm 1992 đến nay là 20 năm và giải Văn Thơ Lạc Việt năm nay là lần thứ 3. Ông cho biết hội rất nghèo, vì thế ông rât cám ơn các mạnh thường quân đã giúp đở hội trong công tác duy trì và phát huy văn hoá VN.

    Nhà báo Lê Văn Hải, phó chủ tịch hội cho biết Giải văn thơ Lạc Viêt lá nhằm khuyến khích các văn thi hữu thi đua sáng tác .Sau đó, ông Hải đã công bố  những người trúng giải gốm có:

    Về Văn:

    –  Giải Nhất :Bà Tâm Ngọc ( Nguyễn Mộng Giang) ở San Jose với truyện ngắn “Sống Chết Cho Tình Yệu “

    –  Giải Nhì : Bà Lê Ngọc Huyền ở Canada với truyện ngắn  “ Giáng Sinh trên miền đất trọ”

    –  Giải Ba :Bà Trần Khải Thanh Thủy, ở Sacramento , vắng mặt ,với truyện ngắn “Ở nơi đất  nước mặt trời lặn “

    –  Giải Khuyến Khích: Hồng Thúy vắng mặt với truyện ngắn :”Cám ơn chị Viêt Nam ”.

     

    Về Thơ:
    K
    hông có giải nhất và nhì

    –  Giải Ba :Ông Trần Ðông Phong  do ông Phan Phi Ô đai diện lảnh với bài thơ:” Lòng Vòng”

    –  Giải Khuyến Khích : Ông Từ Thanh Hà ở Texas vắng mặt với bài thơ “Hoa nở trên quê hương”

    Ðược biết tổng cộng tiền mặt cho các giải văn thơ trao tặng cho các người trúng giải là 1700 mỹ kim và một số hiện vât .

    Buổi tiệc sau phần văn nghệ, xổ số đã chấm dứt vào 9 giờ 30 tối cùng ngày.

    Nguyen Van Binh
    dacsanydan@att.net

    dacsanydan@yahoo.com

    ——————-
    Vài hình ảnh trong Facebook vê 20 năm thành lập và phát giải Văn Thơ Lạc Việt 2012

    http://www.facebook.com/chinh.nguyen.33483

    Lời  mở đầu

    Kính chào quí vị trưởng bối, quí vị đại diện hội đoàn, quí văn nghệ sĩ, quí truyền thông báo chí quí thân hữu chiến hữu và anh chị em.

    Tôi đại diện ban điều hành Văn Thơ Lạc Việt xin kính chào quí vị và mong rằng cái tình thân hữu này sẽ liên kết mãi đễ chúng ta có những ngày vui như hôm nay.

    Kính thưa quí vị. Tôi biết quí vị tới với Văn Thơ Lạc Việt vì cái tình, mà nợ tiền thì dễ trả mà nợ tình thì khó trả. Tôi xin khất…Kiếp sau..!

    Tôi mong rằng quí vị bỏ qua những lỗi lầm chẳng đặng đừng nếu có của ban tổ chức và nối tay đoàn kết để cùng đưa Văn Thơ Lạc Việt tiến lên trong tương lai với mục đích giữ lại nền văn hoá nhân vị yêu thươngmà chúng ta đã xem như một món quà quý giá duy nhất đã mang theo sau năm 75.

    Kính thưa quí vị. Vì tình người quí vị tới với Văn Thơ Lạc Việt, Vì tình thày trò, thày tới với trò trong ngày lễ lớn mặc dù thày bệnh. Thày tôi đã cố gắng tới với Văn Thơ Lạc Việt và muốn có vài lời chào mừng quí vị, nên tôi nhường vài phút cho thày được chào đón quí vị. Tôi

    nghĩ đây là lần cuối ông xuất hiện trước quí vị, vì năm sau chân mềm tay mỏi có muốn cũng không được nữa.

    Thày hom hem xương da
    Con đã đà tóc pha
    Đau nửa đời biệt xứ
    Gánh thời gian đi qua.

    Thày tôi là trưởng nhóm giám khảo trong kỳ thi giải Văn Thơ lạc Việt năm nay sau khi Thi sĩ Hà Thượng Nhân qua đời. Trước 75 ông là Phó giám đốc Việt Tấn Xã. Mặc dù báo chì có từ lâu nhưng ông là người mở khoa báo chí đầu tiên cho Miền Nam Việt Nam. Năm nay ông đã hơn 90 và hơn 70 năm làm nghề báo.

    Xin giới thiệu với quí vị Thày tôi bình luận gia Sơn Điển Nguyễn Viết Khánh người của “Nói Trước Thời cuộc”.

    Con xin thày bỏ hết tất cả chuyện thế giới chính chị, chính em mà chỉ nên nói chuyện vui ngày hôm nay.

    Hôm nay là ngày hội của Văn Thơ Lạc Việt.
    Xin giới thiệu quí vị ban điều hành Văn Thơ Lạc Việt :

    Nhà Thơ Dông Anh Cố Văn Trực Tiếp của Văn Thơ Lạc Việt
    Chủ nhiệm báo Thằng Mõ, nhà báo Lê Văn Hải, phó chủ tịch Văn Thơ Lạc Việt
    và trưởng ban kế hoạch .
    Nhà thơ Hồng Hà Phụ tá trưởng ban kế hoạch.
    Nhà Văn Thanh Xuân : Tổng Thư ký .
    Nhà thơ Cẩm Vân : Thủ Quỹ.

    Quí vị thành viên trực tiếp giúp Văn Thơ Lạc Việt :

    Nữ nghệ sĩ : Kiều Loan ái nữ cố thi sĩ Hoàng Cầm.
    Nhà Báo Thư Sinh Chị Mộng Hoa, Nhà Báo Cao Sơn, Mỹ Thanh .

    ——————————————————–

     

    http://www.youtube.com/watch?v=5BKqkmK4RHA

    Văn Thơ Lạc Việt 2012.

    Thi đàn Lạc Việt được thành lập năm 1992, sau kỷ niệm 15 năm đổi tên là Văn Thơ Lạc Việt. Năm nay kỷ niệm 20 năm thành lập Lạc Việt, Một hội văn học nghệ thu…

    Chinh Nguyên
    Theo: Văn Thơ Lạc Việt

  • Chưa được phân loại

    Thành thật cám ơn qí vị đã hổ trợ VănThơ Lạc Việt.

    Thành thật cám ơn qí vị đã hổ trợ VănThơ Lạc Việt.

    Quí vị order bất cứ  tác phẩm nào của Văn Thơ Lạc Việt trên web site Văn Thơ Lạc Việt là đã gián tiếp hổ trợ sinh hoạt của Cơ Sở Văn Thơ Lạc Việt, hầu gìn giữ nền văn hóa nhân vị, tự do ngôn luận, để chống đối nền văn hóa phá sản của Cộng Sản bán nước tại quốc nội.

    Chủ tịch Văn Thơ Lạc Việt.
    Chinh Nguyên. 

     

    Kính chào quí vị .

    Xin quý vị vào link dưới để mua sách, hoặc bảo trơ
    cho sinh hoạt Văn Thơ Lạc Việt:

     

    https://www.paypal.com/cgi-bin/webscr?cmd=_s-xclick&hosted_button_id=S5YH6RTJT6GEC
    Từ đó quí vị có thể mua bất cứ tác phẩm nào, Văn Thơ Lạc Việt sẽ
    gởi thẳng tới địa chỉ của quí vị không qua trung gian.

    Nếu quí vị muốn biết thêm chi tiết và gặp trở ngại trong vần đề mua tác phẩm xin liên lạc với
    Chinh Nguyên e-mail : cnchinhnguyen7@gmail.com
    Tele : (408) 279-2532 (Phone nhà)
    (408) 594-9274 (Cell phone)

     

    —————————————————————————————————-

     

    Vũ Ngọc Đĩnh sinh năm 1933 tại Hà Nội

    Di cư vào Nam : 1954

    Dạy học, viết báo, biên tập viên trưởng Tin Tức Đài Phát Thanh Saigon, đài Phát thanh Voice of Freedom (Saigon).

    Sau tháng Tư 1975 đi tù về tội “ hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân 80-88”, tiếp tục viết.

    Danh sách hổ trợ in tác phẩm của
    Nhà Văn Vũ Ngọc Đĩnh.
    “Đại Đế Quang Trung Trận Đánh Cuối Cùng Chấm Dứt Họa Bắc Thuộc”

    Sô TT , Họ và tên                              Hổ trợ                         Ghi chú

    1/ Mr. Tony Đinh (21 Centery)          $300.00           Chinh Nguyên đã nhận
    2/ Mr. Phạm Đức Vượng                   $200.00           Chinh Nguyên đã nhận
    3/ Mr. Chu Tấn                                  $100.00           Chinh Nguyên đã nhận
    4/ Mr. Thư Sinh                                 $100.00           Chinh Nguyên đã nhận
    5/ Mr. Thanh Thương Hoàng              $100.00           Chinh Nguyên đã nhận .
    6/ Mr. Đông Anh                                $100.00           Chinh Nguyên đã nhận
    7/ Mr. Giao Chỉ                                  $100.00           Chinh Nguyên đã nhận
    8/ Mr. Nguyễn Phi                              $100.00           Chinh Nguyên đã nhận
    09/ Mr. Chinh Nguyên                        $100.00           Chinh Nguyên đã nhận
    10/ TS Nguyễn Hồng Dzũng               $100.00           Chinh Nguyên đã nhận
    11/ BS Hồng Hà                                 $100.00           Chinh Nguyên đã nhận
    12/ Mrs Nguyễn Thanh Xuân              $100.00           Chinh Nguyên đã nhận
    13/ GS Nguyễn Cao Can                    $100.00           Chinh Nguyên đã nhận
    14/ Mr. Lê Đình Thọ                           $100.00           Chinh Nguyên đã nhận
    15/ Mr. Đỗ Hữu Nhơn                        $100.00           Chinh Nguyên đã nhận
    16/ Nhà Báo Kiều Mỹ Duyên             $100.00           Đã gởi tặng tác gỉa
    17/ Thằng Mõ Mr. Lê Văn Hải       $1000.00         Người quan trọng, bao chót.

     

     

    NHỮNG TÁC PHẨM của
    Nhà văn : VŨ NGỌC ĐĨNH

    Đã xuất bản :

    (trước 1975)

    • Mười Hai Sứ Quân tiểu thuyết lịch sử
    • Máy cưa máy khoan truyện
    • Trên tháp chuông nhà thờ truyện
    • Một màn xiếc truyện
    • Bàn tay trên cỏ truyện
    • Tình trên non cao dịch “La Maison de Petrodava”của C.Virgil Georghiu

    nhà xuất bản Âu Cơ-Saigon, ký tên Lê Vũ

    • Niki truyện con chó tác giả Roumanie không nhớ tên

     

    Đã xuất bản

    (sau 1975)

    • Mười Hai Sứ Quân * tiểu thuyết lịch sử,nxb Trẻ tp HCM-1999
    • Bắn Rụng Mặt Trời * tiểu thuyết lịch sử nhà Trần phá Nguyên Mông ,nxb Trẻ tp HCM-2000
    • Hào Kiệt Lam Sơn (Lê Lợi đuổi Minh)tiểu thuyết lịch sử-1995
    • Ứng Vận Thần Vũ (Lê Đại Hành Hoàng đế phá Tống)tiểu thuyết lịch sử; nxb Văn Hóa Thông Tin tp. HCM-2005
    • Đôi Hài Tiên truyện thần tiên VN **
    • Chiếc Mõ Sừng Trâu truyện thần tiên VN
    • Ngọn Đèn Lưu Ly truyện thần tiên VN
    • Thủy Thủ Khăn Vàng truyện thần tiên VN
    • Cô Gái Tật Nguyền truyện thần tiên VN
    • Miếng Da Ếch truyện thần tiên VN
    • Chiếc Chiếu Thần truyện thần tiên VN
    • Hoa Trường Mộng truyện thần tiên VN
    • Ống Sáo Thần Kỳ truyện thần tiên VN ( 9 truyện thần tiên này xb năm 1993, nxb Văn Hóa tp.HCM
    • Tự Điển Anh-Việt Bộ Giáo Dục và Đào Tạo-Trung Tâm Ngôn Ngữ và Văn Hóa VN-nxb Thế Giới-1994
    • Tự Điển Pháp Việt nxb Thế Giới-1995 –Công ty Phát hành Sách FAHASA tp HCM
    • Tự Điển Thương Mại Anh-Pháp-Việt -2003 , Nhà Xuất Bản Thống Kê – Hội Ngôn Ngữ Học thành phố HCM
    • Musashi Giang Hồ Kiếm Khách tác giả Eiji Yoshikawa; tiểu thuyết kiếm đạo kiệt xuất của Nhật Bản 2000 trang,dịch theo bản tiếng Pháp, nxbVăn Học tp.HCM 2008

    * Hai bộ tiểu thuyết lịch sử (mỗi bộ 8 tập – 3000 trang) Mười Hai Sứ Quân, Bắn Rụng Mặt Trời, đã được Thư Viện Quốc Hội Hoa Kỳ ghi tên và bảo vệ tác quyền trên toàn thế giới cho tác giả ;

     

    ** Bộ 9 truyện thần tiên (tổng cộng 2000 trang)

     

    Các tác phẩm chưa xuất bản :

    • Ca Dao & Tục Ngữ Dẫn Giảng 6100 trang
    • Ca Dao thời Cộng sản 500 trang
    • Lý Thường Kiệt Phạt Tống-Phá Tống , tiểu thuyết lịch sử 1615 trang khổ lớn
    • Lịch sử & các thành cổ VN
    • Bảo Toàn & Ngày gặp lại
    • Sao Mai Đã Mọc, Này Cai Ngục…
    • Buồn Cười Chả Được
    • Tiếng Hát Bên Trong Cửa tiểu thuyết
    • KÀMA SÙTRA bộ sách kinh điển của Ấn độ về đạo đức và thực hành tình dục có từ trước công nguyên, viết lại bằng tiếng Phạn cổ thế kỷ thứ 4 sau công nguyên, giáo sư học giả Alain Daniélou dịch trọn bộ sang tiếng Anh , bản duy nhất trên thế giới không cắt bỏ một dòng một chữ nào, nxb Park Street Press-Rochester, Vermon USA, bản dịch tiếng Việt của VNĐ năm 1997.
    • Núi Hồn Tanios Le Rocher de Tanios, tác giả là nhà văn nhà báo người Liban,

    từng chu du hơn 60 nước trong đó có cả VN thời chiến, tác phẩm viết bằng tiếng Pháp,là tiểu thuyết lịch sử vùng Trung đông, được giải Văn học Goncourt năm 1993, tác giả được ghi nhận là “nhà kể chuyện kiệt xuất”, VNĐ dịch xong năm 1999.

    • Những Âm Thanh Nhức Buốt Ngàn Đời
    • Sao Mai Đã Mọc, Này Cai Ngục…
    • Chửi
    • Đại Đế Quang Trung –(Quang Trung đả bại Đại Thanh Càn Long–Trận đánh cuối cùng kết thúc nghìn năm Bắc thuộc)
    • Ngô vương Quyền
    • Hai Bà Trưng

    Ba cuốn cuối (14-15-16 đang tiếp tục viết (2013))

  • Tham luận

    Cá hồi Đỏ

    Cá hồi đỏ

    S.T.T.D. Tưởng Năng Tiến (Danlambao) – …Số người Việt may mắn hơn, hiện đang phiêu bạt tứ tán khắp bốn phương trời, có thể được coi như là cá hồi Ðại Tây Dương – giống cá có khả năng đi đi về về nhiều lần từ sông ra biển và ngược lại. Những kẻ này vẫn tiếp tục kiếp sống tha phương cầu thực, chăm chỉ cặm cụi kiếm và để dành tiền, rồi hàng năm làm đơn “xin phép” được hồi hương. Mỗi Việt Kiều về thăm quê nhà chắc chắn đều chi trải một số tiền không phải chỉ là sáu trăm Mỹ Kim mà có thể là đến sáu ngàn Ðô La, hay nhiều hơn nữa…

    *

    Image result for Cá hồi đỏ"Năm 2014 Việt Nam sẽ tiếp tục là một trong 10 nước nhận được kiều hối nhiều nhất trên thế giới." – Nguyễn Hoàng Minh, Phó Giám đốc NHNN, chi nhánh TP HCM

    Trang Câu Lạc Bộ Kỹ Thuật Việt Kiều đăng tải một bài viết “Cuộc Di Cư Lớn Nhất Của Cá Hồi Đỏ Trong 100 Năm” khá thú vị. Xin ghi lại toàn văn:

    Nguồn ảnh: ovsclub.com.vn
    Khoảng 15.000 người đã đổ về tỉnh British Columbia của Canada để chứng kiến một trong những hiện tượng bí ẩn của tự nhiên: cuộc di cư khổng lồ của cá hồi đỏ, được cho là lớn nhất trong 1 thế kỷ trở lại đây.

    Dự kiến, khoảng từ 6-8 triệu con cá hồi đỏ sẽ di cư tới sông Adams thuộc khu vực Shuswap của tỉnh British Columbia trong năm nay và đây được xem là cuộc di cư lớn nhất của cá hồi đỏ kể từ năm 1913.

    Cá hồi đỏ là một trong các loại cá sống ở nước mặn và sinh sản ở nước ngọt. Cá hồi đỏ thường đẻ trứng trong vùng nước nông trên sông Adams vào tháng 10 hàng năm. Sau khi phát triển trong vùng nước ngọt khoảng 1 năm, những con cá nhỏ nở ra từ trứng sẽ di cư ra biển và sống ở đó khoảng 3 năm rồi quay trở lại chính nơi chúng được sinh ra.

    Loài cá hồi khi di chuyển định hướng bằng mùi. Mỗi con cá nhớ đều nhớ mùi của dòng sông nơi nó sinh ra. Khi di chuyển qua đại dương trở về con sông sinh sản, con cá sẽ tìm thấy đường của nó một cách hoàn toàn bản năng vì mùi vị thân quen càng gần càng trở nên rõ rệt.

    Khi vào lại vùng nước ngọt, cá hồi sẽ không ăn và chuyển sang màu đỏ sáng.

    Cá hồi có khả năng bơi ngược sông, vượt qua các dòng nước chảy xiết trong hành trình dài gần 500km từ biển tới sông Adams. Sau khi đã trở về nhà, chúng đẻ trứng rồi cuối cùng kiệt sức và chết. Trứng sau đó nở ra con non và con non lại hành trình ra biển.

    Hiện tượng di cư bí ẩn của cá hồi luôn thu hút sự quan tâm của du khách đến với sông Adams. Tại công viên Roderick Haig-Brown cạnh sông Adams – địa điểm quan sát cá hồi đẻ trứng tốt nhất, bầu không khí tại khu vực vốn yên tĩnh này đã trở nên nhộn nhịp giống lễ hội đường phố.

    Brian Riddell, chủ tịch kiêm giám đốc điều hành Quỹ cá hồi Thái Bình Dương, gọi cuộc di cư khổng lồ lần này là “điều bất ngờ thú vị” khi số cá hồi đỏ di cư nhiều gấp đôi so với dự đoán trước đó.

    Cá hồi Dại Tây Dương (Atlantic salmon) thì khác. Chúng có thể đi đi về về từ sông ra biển và ngược lại nhiều lần mà không hề do dự hay nao núng, dù khoảng cách phải vượt qua có thể dài đến hàng ngàn dặm, với vô số khó khăn và chướng ngại.

    Bản năng về nguồn của cá hồi, tất nhiên, đã được loài người ghi nhận và khai thác từ lâu. Riêng người Nhật, dân tộc đứng thứ nhì về kỹ nghệ cá hồi, vẫn đều đặn sản xuất ra thị trường mỗi năm cỡ một trăm ba mươi ngàn tấn.

    Xét về số lượng, mức sản xuất của người Nhật không hơn người Nga bao nhiêu và thua xa người Mỹ. Tuy nhiên, cách thức mà dân Nhật bắt cá hồi mới là điều cần cần phải được lưu tâm và học hỏi.

    Họ thiết lập nhà máy đóng hộp cá hồi ngay ở ven sông. Cũng chính nơi đây cá được nuôi nấng, đẻ trứng, thụ tinh để mỗi cặp sẽ cho từ hai đến mười ngàn chú cá hồi con ra đời. Sau đó, chúng sẽ được cho phiêu lưu vào đại dương, để bắt đầu cuộc đời “tha phương cầu thực.”

    Tùy theo từng loại, cá hồi sẽ sống ở biển từ sáu tháng đến năm năm. Nhờ vào khả năng “cảm” đuợc từ trường của lòng đất và sự chuyển động của hải lưu, nó sẽ tìm được về chốn cũ. Khi vào gần đến bờ, giác quan đặc biệt của loài cá này giúp chúng nhớ được đúng hương vị quê nhà – tức sông xưa bến cũ – và cứ theo đó mà lần về nguồn cội, đến tận nơi sinh nở.

    Người ta đặt sẵn nhiều dụng cụ từ cửa sông để giúp cho cá hồi dễ dàng và mau chóng vào đến nhà máy. Tại đây, họ sẽ tạo ra một loại chướng ngại vật giả khiến chúng phải phóng lên cao và khi rơi xuống thì rớt ngay vào một mạng lưới di động. Màng luới này chuyển động không ngừng, qua nhiều khâu chế biến, để đưa cá từ sông vào… hộp!

    Nói tóm lại là người Nhật thả cá hồi con ra biển, theo kiểu “đem con bỏ chợ,” để biển cả nuôi nấng. Rồi khi chúng theo bản năng trở về, họ dụ cho cá vào nhà máy để đóng hộp, và mang bán.

    Cách họ kiếm tiền ngó bộ dễ và (chắc) là nhiều. Bởi vậy, có kẻ bắt chiếc. Chính phủ Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (tên kêu gọn thường dùng là Việt Cộng) cũng học theo cách làm ăn không vốn gần như vậy. Chỉ khác có chút xíu xiu là họ dùng người để kinh doanh, thay cá.

    Ảnh: wikipedia
    Từ năm 1978 cho đế năm 1990, bằng hình thức này hay hình thức khác, Việt Cộng đã “thả” ít nhất là vài triệu người dân ra biển. Người ta ước tính rằng trên bước đường lưu lạc cứ ba con cá hồi rời bến sông ra đi thì ít nhất cũng có một con bỏ mạng. Nó trở thành mồi săn cho loài người, cho loài chim, hoặc những loài cá khác. Tương tự, trong số mấy triệu người Việt phiêu lưu vào biển cả – tối thiểu – cũng phải một phần ba đã vong mạng.

    Họ chết vì bão tố, vì hải tặc, hay vì bị xô đuổi một cách lạnh lùng tàn nhẫn tại bến bờ của những quốc gia lân cận. Nơi đây thuyền bè của họ thường bị lôi kéo trở ngược ra khơi. Họ sẽ lênh đênh giữa trời nước bao la cho đến chết vì không còn tìm được nơi để đến, và cũng không còn đủ lương thực (cũng như nhiên liệu) để tiếp tục đi.

    Những kẻ may mắn thoát nạn đều sẽ biến thành cá hồi (theo tinh thần của Nghị Quyết 36) của nhà đương cuộc Hà Nội. Đám dân “trôi sông lạc chợ” này sẽ bị tận tình khai thác, và khai thác dài dài, cho đến khi tắt thở, bằng nhiều cách.

    Nếu cá hồi Thái Bình Dương chỉ hồi hương một lần rồi chết thì những thuyền nhân rời khỏi Việt Nam sau ngày 19 tháng 6 năm 1988 – đã có thời gian dài sống tạm trú ở những quốc gia Ðông Nam Á – cũng mang số phận y như vậy. Họ bị cưỡng bách hồi hương và không bao giờ còn có dịp ra đi nữa. Riêng với những thuyền nhân ở Hồng Kông – khi phần đất này còn thuộc Anh – Anh Quốc đã thoả thuận trả sáu trăm hai chục Mỹ Kim mỗi đầu nguời để Hà Nội chịu nhận họ trở về, cùng với lời hứa hẹn là họ sẽ không bị hành hạ hay ngược đãi!

    Số người Việt may mắn hơn, hiện đang phiêu bạt tứ tán khắp bốn phương trời, có thể được coi như là cá hồi Ðại Tây Dương – giống cá có khả năng đi đi về về nhiều lần từ sông ra biển và ngược lại. Những kẻ này vẫn tiếp tục kiếp sống tha phương cầu thực, chăm chỉ cặm cụi kiếm và để dành tiền, rồi hàng năm làm đơn “xin phép” được hồi hương. Mỗi Việt Kiều về thăm quê nhà chắc chắn đều chi trải một số tiền không phải chỉ là sáu trăm Mỹ Kim mà có thể là đến sáu ngàn Ðô La, hay nhiều hơn nữa.

    “Lượng kiều hối nhiều khả năng đạt 12 tỷ USD năm 2014,” theo như tin loan của Đài Tiếng Nói Việt Nam – nghe được vào hôm 30 tháng 11 năm 2014. Cùng thời điểm này, Nguyễn Hoàng Minh, (Phó Giám đốc NHNN – chi nhánh TP HCM) cho biết: “Năm 2014 Việt Nam sẽ tiếp tục là một trong 10 nước nhận được kiều hối nhiều nhất trên thế giới.” Hà Nội có lý do để hãnh diện về thành quả này – thành quả kinh tế duy nhất (thực sự) vượt chỉ tiêu – về kỹ nghệ xuất và nhập cảng người, sau hơn nửa thế kỷ mà họ đã nắm được quyền bính ở Việt Nam. Họ đẩy ra khỏi nuớc những con nguời cùng quẫn và sôi xục bất mãn, rồi “thu về” những Việt kiều yêu nuớc và giàu sang.

    Thiệt khoẻ!

  • Tham luận

    Tương lai nào cho công an và quân đội thời hậu-cộng-sản?

    Tương lai nào cho công an và quân đội thời hậu-cộng-sản?

    Cũng như những triều đại khác lúc cuối đời, dù đảng cộng sản Việt Nam có quyết định và hành động gì nữa thì cũng sẽ đi vào chổ chết. Có nhường nhịn thì vẫn bị tiếp tục lấn chiếm đất đai và biển đảo.
    Giờ đây ai cũng biết đảng cộng sản Việt Nam đã mất hết khả năng điều hành đất nước. Qua sự kiện giàn khoan Hysy 981, chính phủ Việt Nam tụt thêm một mức nữa: Không còn khả năng duy trì chế độ. Cộng sản Việt Nam không còn đồng minh, hết còn lý tưởng, hết ngân sách…

    Cũng như những triều đại khác lúc cuối đời, dù đảng cộng sản Việt Nam có quyết định và hành động gì nữa thì cũng sẽ đi vào chổ chết. Có nhường nhịn thì vẫn bị tiếp tục lấn chiếm đất đai và biển đảo.

    Có bắt bớ và giam cầm những người đấu tranh thì đã có những người khác thay thế. Nhờ kiến thức lẫn kinh nghiệm của những người đi trước, thành phần đấu tranh kế tiếp còn lợi hại hơn nhiều.

    Nguy hiểm hơn, khi bắt bớ giam cầm hay đánh đập hành hung một người đấu tranh là chính quyền cộng sản ngẫu nhiên tôn vinh họ thành những tấm gương, biến họ thành những biểu tượng. Bắt rồi thả Nguyễn Phương Uyên là có ngay một biểu tượng tuổi trẻ yêu nước. Đánh đập Trần Ngọc Anh là dọn ghế ngồi cho một thủ lĩnh của dân oan. Kết án Đoàn Hữu Hậu là có ngay một tấm gương của trí thức chống tham nhũng.

    Không biết dân chúng đã hết sợ đến mức nào. Những thành phần đấu tranh đã hết sợ từ lâu. Những người bị áp bức như Nguyễn Văn Thạnh, Vi Đức Hồi,Trương Duy Nhất… vẫn tiếp tục đấu tranh dù đang ở trong tù, bị quản thúc hay đang bị đàn áp. Mới năm nào còn lác đác tên tuổi của vài người đấu tranh, bây giờ đếm và nhớ gần như không xuể!

    Thắc mắc của dân chúng, bên phe đấu tranh và cả bên cộng sản là Việt Nam sẽ ra sao khi chế độ cộng sản sụp đổ?

    Winston Churchill đã tiên đoán được chiến tranh Thế giới thứ Hai từ khi Hitler thắng cử và đã chuẩn bị đối phó từ năm 1933, 1934. Vì đã chuẩn bị sẵn 6, 7 năm trước nên ông không bở ngở. Biết phải làm gì trong những giây phút đen tối nhất của nước Anh. Hiện nay, ai dám chắc rằng cộng sản sẽ tồn tại tới 6, 7 năm nữa?

    Những nhóm hoạt động xã hội dân sự, đảng phái đấu tranh chính trị nên chuẩn bị giai đoạn chuyễn tiếp. Thời hậu cộng sản. Sự chuẩn bị chính trị chu đáo sẽ làm Việt Nam thay đổi êm thắm. Đất nước dễ đi lên. Thay vì phải sống trong một không khí thù hận và sợ hãi.

    Một vấn đề phải giải quyết là làm gì với khối lượng an ninh, công an thừa thãi?

    Trong các nước dân chủ, lực lượng an ninh cũng nhiều. Nhưng chẳng thấm vào đâu so với các nước độc tài. Trung bình, tỷ lệ dao động khoảng chừng 1 cảnh sát cho 200 công dân. Vì phải phụ trách nhiều lãnh vực an ninh khác nhau, nên lắm khi 1 cảnh sát khu vực phải chịu trách nhiệm đến… 800 gia đình. Chính phủ không cần tăng thêm nhân viên bởi vì dân chúng đã làm nhiều chức năng của cảnh sát. Nào là tự vệ, nào là tố cáo, nào là điều tra… Mỗi công dân, trong hiến pháp và trong thực tế đã là một « cảnh sát không súng ống ». Mặt khác, có nhiều chức năng mà cảnh sát không được làm như ở Việt Nam như xử lý xung đột về đâm chém, đất đai, kinh tế, thương mại… Vì những nhiệm vụ này thuộc quyền của tòa án, những người này rành luật pháp hơn. Quyền bắt giữ và quyền xử án được phân chia hẳn hòi (Tam quyền phân lập).

    Nếu Việt Nam là một nước dân chủ, thì chính phủ chỉ cần khoảng chừng nữa triệu nhân viên cho an ninh xã hội. Dù không công bố, con số này đã vượt quá xa gồm công an hình sự, công an khu vực, cảnh sát cơ động, dư luận viên, an ninh chìm, dân phòng, cai ngục…

    Vậy phải làm sao với số người dư thừa này?

    Nhiều người tức giận nuôi hận thù và đấu tranh với ý nghĩ duy nhất là đuổi việc ngay các đám an ninh, dư luận viên, dân phòng…

    Làm vậy thì Việt Nam sẽ rơi ngay vào hỗn loạn.

    Xin kể lại thất bại chính trị ở xứ người để rút ra bài học. Sau khi Đồng Minh đánh bại quân đội Irak dễ dàng như một cuộc tập trận, nhà ngoại giao Paul Bremer được đề cử đến Irak để tổ chức và thành lập một chính quyền dân chủ.

    Với quyền lực của một “toàn quyền”, Paul Bremer đã xóa bỏ đảng Baas, đảng chính trị cầm quyền duy nhất của Irak. Và xóa bỏ luôn quân đội Irak. Sáu tiếng đồng hồ sau khi 2 sắc lệnh này có hiệu lực, Irak bị đánh bom rồi chìm mãi trong máu lữa. Đến bây giờ vẫn chưa xong.

    Làm chính trị là biết giải quyết những oan ức trong quá khứ, dàn xếp những mâu thuẫn ở hiện tại và đề phòng những bất trắc trong tương lai. Nếu áp dụng đường lối chính trị ngắn hơi, những bất trắc của tương lai lại bắt đầu ngay từ hiện tại.

    Nếu chính phủ Việt Nam hậu-cộng sản xóa bỏ lực lượng an ninh và đuổi bớt lực lượng công an, dân phòng… thì xã hội sẽ có ngay những băng đảng mafia nguy hiểm nhất: Biết dùng vũ khí và có tổ chức !!!

    Những kẻ có nguy cơ thành trộm cướp trong tương lai đã được huấn luyện bài bản về cách theo dõi, rình mò, đột nhập và dùng vũ lực.

    Vậy phải làm sao? Và giải quyết như thế nào?

    Câu trã lời là nên tìm công ăn việc làm phù hợp cho nhóm người chỉ biết làm công cụ cho đảng. Song song với các thành phần khác trong xã hội. Không phải vì họ xứng đáng hơn những người khác. Mà vì nếu bỏ mặc họ thì xã hội sẽ rối loạn ngay.

    Một trong những lối thoát là chuyễn đổi lực lượng an ninh, cảnh sát cơ động dư thừa vào cơ chế quân đội. Với đồng lương, phần phụ trội tương xứng hoặc hơn cả khi họ phục vụ trong chế độ cộng sản. Nhìn về phía chuyên môn, thì họ có kỷ luật, trình độ hơn những kẻ lơ mơ từ dân sự vào quân đội dưởi hình thức nghĩa vụ quân sự.

    Với sự tiến bộ của vũ khí, kiểu quân đội đi bộ đội vài ba tháng, đào vài ba hố cá nhân, bắn vài ba viên đạn… đã qua. Khi có chiến tranh, những binh lính này sẽ là những tấm bia đở đạn. Dù muốn hay không, các chính phủ trên thế giới đều phải có quân đội chuyên nghiệp. Chuyên nghiệp đi chung với mức lương xứng đáng. Được trang bị vũ khí đầy đủ và huấn luyện đến nơi đến chốn. Việt Nam cũng không ngoại lệ.

    Quân đội đúng nghĩa của quốc gia dân chủ chỉ có một nhiệm vụ duy nhất: Bảo vệ đất nước. Họ không được quyền tham dự chính trị. Nên ngoài bộ trưởng bộ quốc phòng ra, không có sĩ quan nào được chức tước gì trong chính phủ. Nhiều nơi, bộ trưởng bộ quốc phòng cũng không phải là quân nhân.

    Nếu không ở trong trình trạng chiến tranh, một quân nhân chỉ là một người làm việc cho chính phủ. So với những người khác, họ chẳng có quyền hành gì ngoại trừ quyền hành của một công dân. Xe cộ, máy bay, tàu bè quân đội cũng chẳng có được một ưu tiên nào. Thậm chí người lính cũng không được mang súng cá nhân ra khỏi doanh trại.

    Thay vì canh giữ những người đấu tranh thì lực lượng an ninh sẽ được trao nhiệm vụ mới là bảo vệ những người dám tố cáo tiêu cực, những nhà báo điều tra tham nhũng, những nhân chứng trong những vụ án nổi cộm… Sự bảo vệ này sẽ thường trực 24 trên 24 nếu tình cảnh bắt buộc.

    Ngoài ra, nên biệt phái các lực lượng an ninh đến yểm trợ trực tiếp cho lực lượng bảo vệ trong các doanh nhân và công ty thành đạt.

    Doanh nhân và công ty thành đạt nên hiểu theo nghĩa là: Những công ty ăn nên làm ra, sẵn sàng đóng thuế cao và tạo công ăn việc làm cho nhiều người. Từ Trung Nguyên đến Samsung, từ Kinh Đô đến Adidas… Những công ty lắp ráp xe hơi, sản xuất bia rượu… mà lươn lẹo để không đóng thuế sẽ không được những đặc quyền trên. Dù cho nó lớn đi cỡ nào đi chăng nữa.

    Tài sản quý giá nhất và quan trọng nhất của quốc gia trong thời thái bình là những thành phần có khả năng làm kinh tế, tạo công ăn việc làm cho dân chúng. Người giám đốc tài giỏi sẽ kiếm được đội ngũ quản lý ưu tú. Ban quản lý ưu tú sẽ có cách tìm, giữ hay đào tạo đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp. Công ty sẽ đi lên. Ngược lại, đổ tiền và ban cho ưu đãi, độc quyền… với bộ phận quản trị tồi tệ thì trước sau gì công ty đó cũng rơi vào vực thảm. Những tập đoàn kinh tế quốc doanh là những bằng chứng thất bại không thể chối cải.

    Một chính quyền không thể làm đất nước giàu có. Sự giàu có là do dân chúng. Dân chúng làm ra công ty. Những công ty làm cho đất nước giàu có. Mỹ đứng đầu về kinh tế thế giới nhờ Apple, Exxon, Boeing, General Motor… Chính quyền Mỹ chỉ là cơ quan hòa giải, lập ra một sân chơi bình đẳng để cho những con người như Bill Gates, Warren Buffet… phát huy tài hoa của mình. Mỹ giàu có là nhờ công dân của họ.

    Những công ty đã làm cho nước Đức giàu : BMW, Siemens, Bayer… Chính quyền Đức chỉ bảo vệ quyền lợi của những công ty mình đối với thị trường Âu Châu và thế giới. Qua thuế má, chính quyền mới hưởng xoái, có chi phi để hoạt động và phân phối lợi tức cho những công dân khác.

    Nếu một doanh nhân bản xứ được bảo vệ như vậy thì họ sẽ yên tâm làm ăn. Các công ty ngoại quốc được bảo vệ như vậy thì họ sẽ tranh giành vào Việt Nam. Nhiều công ty thì cần nhiều nhân lực. Công nhân càng ngày càng khan hiếm nên các công ty này càng phải trả lương hậu hĩnh, góp phần cho mức sống người dân lên cao. Chính phủ tương lai khỏi cần tốn nước miếng mời mọc hay hứa hẹn. Khi đã thành lập được một môi trường thuận lợi cho kinh doanh, tiền của và chất xám từ thế giới sẽ đổ vào Việt Nam.

    Trong những quốc gia dân chủ, không cấm đoán là mặc nhiên cho phép. Nhân dân sẽ mở những công ty tiêu khiển, khu vực ăn chơi mà trước đây chính phủ Việt Nam cấm đoán như khu du lịch ăn uống qua đêm, trường bắn súng dành cho tư nhân, sòng bài, trường đua xe… Những lãnh vực kinh tế dễ có xung đột này cần có sự hiện diện thường trực của lực lượng an ninh hơn.

    Đi xa hơn nữa, chính phủ tương lai cũng không nên đuổi việc những công chức hành chánh. Bộ máy quá đồ sộ thì nên giao thêm nhiều trách nhiệm. Chẳng hạn như làm giấy tờ xuất khẩu hết là trách nhiệm của công ty mà là trách nhiệm của hải quan. Vậy hải quan sẽ phái nhân viên mình đến công ty tư nhân để tìm đủ tài liệu cho việc xuất khẩu.

    Nếu một công ty có dính líu đến hóa chất thì chính quyền sẽ phái thêm công an chuyên về môi trường. Nếu là công ty tài chánh thì dùng cảnh sát giao thông áp tải tiền bạc…

    Nếu bị vòi vĩnh, làm việc thiếu hiệu quả, mất thời gian … thì công ty có quyền đòi thay đổi nhân viên nhà nước. Ngay cả thưa kiện nếu thấy quyền lợi và của cải của mình bị xâm phạm. Trong trường hợp thua kiện, chính quyền phải bồi thường thiệt hại và công chức sai phạm sẽ bị đuổi việc. Thậm chí phải bồi thường hay bị tù tội.

    Nghiên cứu về các cuộc cách mạng người ta đều thấy rằng, lúc cuối đời, những quyết định của thế lực cầm quyền đều sai lầm. Và những gì xảy ra trong tương lai sẽ đen tối hơn trong hiện tại (théorie du chaos). Hiện nay cộng sản Việt Nam cũng không ngoại lệ. Vụ giàn khoan thứ nhất chưa xong đã có giàn khoan thứ hai. Dân oan trong quá khứ chưa giải quyết được đã có những dân oan sắp đến. Tìm cách ngăn chặn những kỹ thuật truyền thông chưa xong thì thị trường xuất hiện những kỹ thuật tân tiến hơn. Càng ngày càng chắc chắn, mau lẹ và tinh vi. Rồi nào là tài chính, kinh tế, môi trường, giáo dục…

    Ngoài bạo lực ra, chính phủ cộng sản không có giải pháp chính trị.

    Nếu có thì thì đã quá trễ. Vừa trễ vừa yếu ớt. Các chủ tịch nước, tổng bị thư… đều im hơi lặng tiếng với vụ kiện giàn khoan. Dân chúng chửi bới. Bây giờ lên tiếng với những lời tuyên bố mềm nhũng như cọng bún. Dân chúng chửi tiếp. Nguyễn Tấn Dũng ranh ma hơn đã lên tiếng trước. Và bị phe đấu tranh lật tẩy. Dân chúng vừa chửi rủa vừa thù hận.

    Trong tình cảnh bi thảm của Việt Nam hiện nay, những thành phần ở vào vị thế tuyệt vọng nhất không phải là tù nhân, dân oan, thất nghiệp… mà là những nhân viên an ninh, dư luận viên, quan chức… của chính quyền.

    Tương lai của họ ra sao? Người dân trốn cộng sản thì có thể vượt biên qua thế giới tự do. Nhưng đảng viên cộng sản chạy đi đâu khi Việt Nam sụp đổ? Chỉ cần chính quyền-hậu cộng sản lên tiếng là những người trốn chạy ở Mỹ, Úc, Pháp… sẽ bị dẫn độ về Việt Nam ngay. Từng cá nhân một.

    Dân chúng có đánh chết họ như đánh chết những người trộm cướp chó hay không? Nhiều người nói rằng họ bảo vệ đảng cộng sản. Đúng nhưng chỉ đúng một phần. Họ chỉ bảo vệ họ mà thôi. Họ hung bạo vì họ tuyệt vọng.

    Tôi viết bài này để cầu xin dân chúng, xã hội dân sự và những đảng phái chính trị có quyền lực trong tương lai. Xin cho những thành phần thừa thải của bộ máy bạo lực những cơ hội, công ăn việc làm để lập công chuộc tội.

    Những công an không mang nợ máu thì xin cứ để họ sống trọn vẹn quyền công dân trong nền chính trị dân chủ. Với đầy đủ quyền hành, chức vụ và trách nhiệm. Phủ nhận quyền làm người của họ là gây thêm những oan ức. Những trại cải tạo trong quá khứ lẫn những trại tù giam ở hiện tại không thể giác ngộ được con người. Nó chỉ làm được một chuyện duy nhất: hành hạ thân xác .

    Thời trai trẻ, vì nhẹ dạ nên tôi cũng đã từng giao du với những thành phần được coi là cặn bã của xã hội. Vì háo thắng nên tôi cũng đã đăng lính và gia nhập vào những đơn vị tác chiến có thành tích ngoài mặt trận lẫn trong những quán cà phê, vũ trường. Ngay cả những quân nhân của các đơn vị khác cũng tránh ngồi cùng bàn, ăn cùng mâm với chúng tôi. Dần dần, chúng tôi không còn bạn bè, ngoài anh em đồng đội. Vì chúng tôi đã có những ngôn ngữ riêng, thời gian làm việc riêng, cách tiêu khiển riêng, những giá trị riêng… Và từ từ cô lập với đời sống dân sự.

    Mặc quân phục là mặc quần áo của giai cấp nô lệ, làm những con chó cho cấp trên sai khiến. Biết làm gì khi chỉ được huấn luyện để dùng bạo lực? Biết nuôi bản thân và gia đình ra sao nếu không có mức lương cao như vậy?

    Khi tuổi trẻ đã cống hiến cho vinh quang của đơn vị thì phải có can đảm lắm mới đi tìm việc làm khác. Vào lính đã khó. Ra lính còn khó hơn. Dù đã chung vai sát cánh với những thành phần đầu trâu mặt ngựa, tôi vẫn không làm điều gì sai trái. Một phần do may mắn, một phần do cá tính của bản thân. Sau nhiều nổ lực, tôi đã thành một người chồng có trách nhiệm, một người cha biết yêu thương, một nhân viên có khả năng, một công dân tuân thủ pháp luật…

    Nhưng tôi không xin miễn tội cho tất cả những nhân viên an ninh đã dùng bạo lực quá mức cần thiết. Cần phân biệt những hành vi đánh đập vì cấp trên ban xuống và những đánh đập do tự cá nhân quyết định. Tự quyết định sẽ mạnh bạo hơn. Nằm trong lực lượng trấn áp, tôi đã từng có những hành động không phải đối với người khác. Đã từng hả hê và cũng đã từng miễn cưỡng. Những cú đánh hả hê luôn luôn dốc toàn lực.

    Những kẻ đánh đập thủ lĩnh dân oan Trần Ngọc Anh, Trần Thị Nga, Huỳnh Ngọc Tuấn… rất hả hê khi dùng bạo lực. Sau này Việt Nam có đổi đời, các hung thủ này không thể viện cớ là do cấp trên sai khiến. Cấp trên sẽ phải bị xử án theo tội của cấp trên: Ra lệnh và bao che. Các kẻ dùng tay chân trực tiếp thì phải xét xử theo chiều hướng tự ý dùng bạo lực.

    Nhiều người đấu tranh cho rằng sự sụp đổ của cộng sản vẫn còn lâu. Vì họ thấy thực lực của phe đấu tranh còn mỏng. Nhưng nhìn từ khía cạnh của một kẻ từng cầm súng đạn, áo giáp, dùi cui, lựu đạn cay thì tôi lại thấy sự sụp đổ này rất gần. Bởi vì phương pháp dùng lực lượng trấn áp, đánh đập chỉ có thể áp dụng theo tính cách nhất thời. Trong lúc chờ đợi chính phủ giải quyết bằng chính trị. Không có chính quyền nào có thể luôn dùng bạo lực để thay thế cho những phương pháp giải quyết bình thường và hằng ngày được.

    Những người đấu tranh còn ít. Nhưng họ chỉ là những que diêm. Thuốc nổ sẽ là quần chúng. Càng bị đè nén thì thuốc nổ càng được tích lũy. Chỉ cần một trong những que diêm này, trong một tình huống đặc biệt, ở giai đoạn chín muồi, châm ngòi là cộng sản Việt Nam sẽ nổ tan tành.

    Dương Thành Tân

  • Tham luận

    BAO GIỜ THÌ CHẾ ĐỘ CỘNG SẢN VIỆT NAM SỤP ĐỔ ?

    Tưởng niệm 45 biến cố thảm sát Tết Mậu Thân Huế 1968 – Nam Dao

    Link dưới :
    https://www.youtube.com/watch?v=h43-XYquqqo

    ————————————-

    BAO GIỜ THÌ CHẾ ĐỘ CỘNG SẢN VIỆT NAM SỤP ĐỔ ?

    * ĐINH LÂM THANH *
     
    Có thể xem là một đề tài hơi nhạy cảm và khó trình bày với công luận từ trước đến nay, vì khi viết, thế nào tác giả cũng bị chỉ trích bởi một số người không đồng quan điểm chính trị, hoặc là dịp để cộng sản và đám tay sai nằm vùng thừa cơ hội đánh phá. Tuy vậy, hôm nay tôi thử đưa chủ đề nầy ra nhằm góp ý với những người bạn tranh đấu đã đặt những câu hỏi. Đồng thời, hy vọng học hỏi thêm được kiến thức của các nhà chính trị lão thành cũng như những vị trí thức cao minh mà người viết ngưỡng mộ từ lâu.
     
    Số là, trong các lần họp mặt thân mật cũng như tham gia tranh đấu giữa những người cùng chiến tuyến, nhiều vị đặt câu hỏi với tôi rằng ‘theo ý ông thì bao giờ chế độ cộng sản Việt Nam sụp đổ ? Thật là câu khó trả lời khó đầy đủ trong một thời gian hạn hẹp giữa chốn đông người…và, cho dù trình bày dưới góc cạnh nào đi nữa thì cũng dẫn đến những cuộc tranh luận với nhiều ý kiến chống đối nhau. Do đó, hay hơn hết là lúc đó nên tránh làm mất thời giờ chương trình đã định sẵn. Vậy hôm nay tôi xin phép trình bày qua một bài viết ngắn để đáp lễ câu hỏi của nhiều Vị đã đặt ra.  
     
    Trước tiên, đề cập đến thời điểm chính xác đảng cộng sản phải sụp đổ…là một điều không thể suy đoán được. Chắc chúng ta vẫn nhớ rằng, Liên Sô cũng như các nước Đông Âu đã xóa bỏ toàn bộ chủ nghĩa cộng sản để trở về với chế độ tự do trong một thời hạn vượt ngoài sức tưởng tượng của chính trường quốc tế. Hơn nữa, bức tường ô nhục chia đôi thủ đô Berlin (Đức quốc) bị đập nát chỉ vỏn vẹn trong vòng một đêm ! Vậy trường hợp Việt Nam cũng rất khó đoán trước, nhưng tôi nghĩ rằng, thời điểm đổi đời một lần nữa cho đất nước và dân tộc Việt Nam sẽ xảy ra trong một ngày rất gần.Nhưng ai và động cơ  nào sẽ đóng vai chính trong vấn đề  nầy ? Xin tạm đưa ra ba giả thuyết :
     
    A. Chế độ cộng sản Việt Nam sẽ sụp đổ nhờ phong trào tranh đấu của người Việt hải ngoại ?
     
    Xin thưa rằng không ! Tuy xác định vậy nhưng người viết không phủ nhận các hoạt động tranh đấu của người Việt hải ngoại. Ngược lại, phải vinh danh việc làm của các cộng đồng, đoàn thể cũng như cá nhân đã ra sức đóng góp, gầy dựng và phát triển tinh thần tranh đấu chống cộng sản Việt Nam suốt cả một đoạn đường khó khăn. Từ gần bốn chục năm qua, tập thể người Việt hải ngoại đã đóng góp công sức qua nhiều phương diện để chống chế độ cộng sản. Từ quyên góp vật chất, xả thân tranh đấu cho tự do nhân quyền cũng như no cơm ấm áo của người dân nội địa đến việc lên tiếng tố cáo trước dư luận quốc tế về tội ác mà đảng cộng sản đang cai trị đất nước Việt Nam một cách dã man. Tuy phải nói rằng công cuộc tranh đấu của người Việt hải ngoại không thể đánh đổ trực tiếp được chế độ cộng sản. Nhưng các hoạt động chính trị tại đây đã thành công vẽ vang về mặt dân vận, quốc nội vận và quốc tế vận, đồng thời ngăn chận được sự phát triển ngoại giao, chính trị cũng như kinh tế của tập đoàn cộng sản ở các nước ngoài. Ngoài ra phải ghi nhận thêm một điều quan trọng nữa : truyền thông của tập thể cộng đồng người Việt hải ngoại đã vô hiệu hóa âm mưu tuyên truyền của chúng. Xin lướt qua vài trọng điểm thành công của người Việt hải ngoại :
     
    – Điểm thứ nhất, cộng sản và thành phần nằm vùng thường gọi các hình thức sinh hoạt tranh đấu tại hải ngoại của người Việt tự do là ‘võ mồm’. Nhưng nếu không có ‘võ mồm’ nầy thì giờ đây cán bộ cộng sản đã đi đầy đường, ngồi chật các quán café tại những nơi có người tỵ nạn định cư. Cờ đỏ sao vàng treo rợp trời trong các siêu thị người Việt, nhất là tại chợ Phước Lộc Thọ, ngay trung tâm Sàigòn Nhỏ tại Nam Cali. Và, chắc chắn những nơi sinh hoạt của người Việt hải ngoại phải đồng loạt treo hình già dịch HCM. Người tỵ nạn có thể bị đổi lại danh xưng mới là người Mỹ, người Pháp, người Úc, người Anh, người Bỉ, người Canada…gốc Việt cộng ! Và, những ai muốn được về Việt Nam du hí thì phải làm đơn đóng tiền xin trở lại quốc tịch (song tịch). Hơn nữa, chắc chắn tất cả người Việt trên thế giới tự do đều phải có nghĩa vụ đóng góp định kỳ tiền của gởi về xây dựng nhà nước, học tập thường xuyên chính trị chính sách đường lối của đảng. Trẻ con ‘hồ hởi’ ghi tên vào hội ‘nhi đồng yêu bác Hồ’ và ra đường phải mang khăn quàng đỏ. Sinh hoạt xã hội đồng loạt đoàn thể hóa, trong đó các thành phần già trẻ lớn bé đều trở thành hội viên các hội yêu nước dành cho bô lão, thanh niên, phụ nữ, trẻ con, sinh viên, trí thức của xã hội chủ nghĩa…
     
    – Điểm thứ hai, các cộng đồng người Việt hải ngoại đã xóa bỏ toàn bộ cờ máu sao vàng tại những quốc gia có người định cư, là nơi mà cộng sản đã thiết lập quan hệ ngoại giao với nước sở tại. Đây là một thành công lớn của người Việt hải ngoại và cũng là nỗi nhục quốc tế đối với cộng sản hiện giờ. Thay vào đó, cờ Vàng Quốc Gia được vinh danh trở lại trên toàn thế giới. Có thể tóm gọn lại rằng, ở đâu có người Việt Tỵ Nạn thì ở đó vắng bóng cờ máu và thành phần cán bộ cũng như bọn nằm vùng không dám ló đầu ra  đường. Hơn thế nữa, nhờ công cuộc đấu tranh của người Việt hải ngoại, quốc tế mới nhận ra đâu là chính nghĩa của người Việt quốc gia, đâu là gian tà của Hà Nội cộng sản, thành phần tỵ nạn là ai và bộ mặt khốn nạn xấu xa tồi tệ của đảng cũng như nhà nước Việt Nam hiện giờ. Còn phải đề cập đến nữa, nhờ vào hành động tranh đấu của người Việt hải ngoại, dư luận thế giới mới nhận ra rằng Việt Nam bây giờ là một nhà tù vĩ đại, đất nước hoàn toàn không có tự do nhân quyền và bình đẳng. Xã hội Việt Nam được chia làm hai thành phần rõ rệt : thống trị (đảng viên cộng sản và tay sai bù nhìn) và bị trị (toàn dân).
     
    – Điểm thứ ba, nhờ vào ‘võ mồm’ hải ngoại, cộng sản Việt Nam e ngại không dám mạnh tay đàn áp người dân và các nhà tranh đấu trong nước vì chúng e ngại ảnh hưởng quốc tế và…cũng nhờ thế ‘võ mồm’, hải ngoại đã đánh động lương tâm quốc tế để họ lên tiếng ép buộc bạo quyền Hà Nội phải giảm án, phóng thích một số nhà tranh đấu bị bắt mà chúng đã kết án nặng nề trong những năm qua.
     
    Tóm lại, cộng đồng người Việt hải ngoại đã thành công trong vai trò tranh đấu nhưng tại sao không thể trực tiếp đánh ngã được chế độ cộng sản Việt Nam ? Lý do chính trước tiên, cộng đồng hải ngoại chỉ là một tổ chức đơn thuần chính trị, không có khả năng tài chính cũng như quân sự, là hai yếu tố quan trọng để đánh đổ chế độ cộng sản trong nước. Ngoài ra, còn ba lý do phụ cũng không kém phần quan trọng nữa. Một,Những hình ảnh không mấy tốt đẹp của người Việt hải ngoại đã làm quốc nội mất niềm tin qua việc đánh phá nhau trên các phương tiện truyền thông, cũng như hoạt cảnh của số người trong hàng ngũ chống cộng, nhất là một ít thuộc thành phần lãnh đạo cộng đồng, đoàn thể, đảng phái lại đi về Việt Nam thường xuyên. Những người nầy vừa bước xuống máy bay thì vâng-dạ với tên kiểm soát visa nhập cảnh và lòn-cúi-van-xin với đám công an phường khóm để được phép an toàn ăn-chơi-du-hí. Hai, số cộng sản nằm vùng và đám cò mồi đón gió tại hải ngoại khá thành công trong việc mua chuộc những người ham danh tham tiền và thiếu liêm sỉ để trực tiếp đánh phá các cá nhân cũng như tổ chức chống cộng tại hải ngoại. Ba, chủ trương chính quyền Mỹ là muốn kềm chế sự phát triển và lớn mạnh của bất cứ tổ chức chính trị nào có gốc xứ ngoài ở trên đất nước của họ. Riêng với Việt Nam, dĩ nhiên người Mỹ cũng không muốn các cộng đồng chúng ta trở nên một khối chính trị lớn mạnh, hữu hiệu, có uy tín và thế lực trước quốc tế. Cộng đồng người Việt còn có thể bị xem là con bài Mỹ dùng để ra giá, nói chuyện hoặc xử dụng như một môi trường trái độn cho việc hòa giải hòa hợp với cộng sản mỗi khi cần đến !
     
    B. Chế độ cộng sản Việt Nam sẽ sụp đổ do bàn tay Mỹ và Tàu cộng ?
     
    Xin tạm trả lời là có thể. Việt Nam ngày nay được ví như con chuột đang bị hai con mèo Mỹ và Tàu cộng đặt vào sân chơi để đọ sức vờn nhau và ra giá đổi chác qua các âm mưu chính trị của hai bên. Theo giới quan sát quốc tế, Chệt đỏ nắm được đa số đàn em đắc lực trong bộ chính trị đảng cộng sản Việt Nam và lèo lái đám nầy thi hành các chỉ thị từ Bắc Kinh. Dĩ nhiên Mỹ đâu thua kém, chú Sam chắc chắn cũng đã gầy dựng được một hệ thống nằm vùng, tạm gọi là lá bài chính trị có khuynh hướng theo Mỹ để sẵn sàng thi hành lệnh khi cần. Từ việc nầy, cũng nên nhớ lại một biến cố quan trọng trước đây, Mỹ đã chấp nhận huấn luyện quân sự cho hàng ngàn sĩ quan cấp tá qua tu nghiệp tại Mỹ. Như vậy cứ hiểu ngầm rằng, một khi đi Mỹ tu nghiệp quân sự (!) thì chắc chắn trong đám bộ đội sĩ quan cũng có người đã ngậm phải củ cà rốt của CIA.Còn nữa, trước đây vài năm, Hà Nội đã công khai để cho CIA đặt văn phòng tại thủ đô cũng như Sàigòn, thì đến giờ nầy thiếu gì những tên cộng sản trung kiên đã, đang và sẽ đưa tay nhận tiền và làm việc cho Mỹ ! Trong quá khứ hai tên khổng lồ Mỹ-Tàu-cộng cũng đã một thời xem Việt Nam là con bài để tính toán trao đổi số phận Việt Nam Cộng Hòa. Sau những lần đi đêm của Kissinger, hai kẻ thù đã ngồi chung với nhau thể hiện âm mưu xâu xé Miền Nam, và, kết quả cả Mỹ lẫn Tàu cộng đã bật đèn xanh cho Hà Nội xua quân vượt vĩ tuyến 17 vào chiếm Việt Nam Cộng Hòa năm 1975. Ngày nay, chú Sam và Chệt đỏ cũng diễn lại cái trò cũ nầy : chế độ tiên tiến hiện đại  chiếc nôi nhân loại của cộng sản vẫn bị hai nước lớn xử dụng như một con cờ để đấu trí, trao đổi và mua bán cho quyền lợi quân sự chính trị kinh tế riêng tư của họ. Vì lẽ nầy, Việt Nam đến hôm nay vẫn còn nằm trong vòng lẩn quẩn tranh chấp giữa Mỹ và Tàu cộng cho đến lúc nào cả hai bên đạt được những thuận lợi nào đó thì vấn đề Việt Nam cộng sản mới được giải quyết. Những thuận lợi nầy có thể là một thỏa thuận về việc chia vùng ảnh hưởng. Hoặc đồng thuận chia đều quyền lợi trên thân xác Việt Nam. Hoặc, một cuộc chiến tranh mới được dàn xếp tiếp theo với những con cờ khác.
     
    Nếu một trong ba thuận lợi nầy xảy đến, lúc đó Mỹ và Tàu cộng sẽ bật đèn xanh cho thành phần của họ (Mỹ hoặc Tàu) hành động qua ba giải pháp. Một, hòa giải hòa hợp do đảng cộng sản nắm quyền chủ lực (mị danh bằng hình thức Trung Lập). Hai, trở lại chia đôi VN một lần nữa thành hai quốc gia như trước năm 1975. Ba, dứt điểm chế độ cộng sản để Việt Nam trở về chính thể Cộng Hòa.
     
    C. Chế độ cộng sản Việt Nam sụp bởi người trong nước ?
     
    Chắc chắn đúng vậy : Chính người trong nước mới đủ khả năng đánh sập chế độ cộng sản và giải quyết chuyện tương lai đất nước. Nhưng tranh đấu không phải là van xinnhà nước, mà muốn thành công việc đại sự thì phải có bạo động và chấp nhận hy sinh đổ máu. Những bài học lịch sử đã cho thấy, muốn lật đổ một chế độ thì không thể ngồi chờ sung rụng hay hoàn toàn mong đợi bàn tay ngoại bang, mà, chính mình phải nắm phần chủ động. Tôi không tin tưởng lắm vào các tổ chức tranh đấu nhân quyền trong nước, vì trong đó có một số ngồi phòng lạnh, bình thân trước những lần vùng dậy của các thành phần trẻ, giáo dân, dân oan đứng lên chống lại nhà nước. Tôi cũng không tin tưởng lắm các tổ chức nầy vì một số là cò mồi của Hà Nội, vừa để đánh bóng cho chế độ vừa thập thò đóng vai con rối với thế lực hải ngoại, mục đích là chờ cái giải pháp hòa giải hòa hợp.  tôi cũng không tin tưởng lắm vào giới trí thức tại nội địa chẳng qua là phần lớn họ đang hưởng ân huệ của nhà nước cộng sản. Số còn lại thì trùm chăn, có dịp tập họp viết thỉnh nguyện van xin và trình lên chính phủ. Ngoại trừ vài vị có tinh thần yêu nước đã lên tiếng, nhưng cũng là những con én nhỏ, đâu đủ sức làm nên mùa Xuân !
     
    Về hình thức và hành động cho cuộc cách mạng lật đổ chế độ cộng sản Việt Nam thành công, tôi hy vọng vào hai giải pháp : sẽ do quân đội nhân dân trực tiếp ra tay hoặc toàn dân xuống đường hỏi tội, xuất phát đồng loạt trong nội địa :  
     
    1. Bí mật, hữu hiệu, chính xác và nhanh chóng là do quân đội nhân dân chủ xướng và hành động. Ưu điểm của quân đội ở đây chính là sức mạnh (vũ khí – quân luật) cần thiết, bảo mật tối đa, dễ tạo bất ngờ, hành động chớp nhoáng và chính xác ngay trong lòng đối phương theo mô hình của một cuộc đảo chánh.
     
    Hoặc :
     
    2. Công khai, ồ ạt và đồng loạt xuống đường trong khí thế sôi sục của toàn dân từ Nam chí Bắc. Biến cố nầy phải được một nhân vật đủ uy quyền và có thực tài trong vai trò một vị tổng tư lệnh. Các nổ lực chính xuống đường của dân chúng trong giai đoạn chót dứt điểm chế độ cộng sản gồm sáu thành phần sau (21-26) :
     
    21. Giới trẻ trong nước : Giới trẻ, nhất là các blogger can đảm công khai đứng lên chống việc bán nước cũng như thái độ khiếp nhược cúi đầu thuần phục quan thầy xâm lược Tàu cộng của đảng cộng sản Việt Nam. Lịch sử cách mạng thế giới đã chứng minh rất nhiều vai trò của thanh niên nam nữ, sinh viên qua các cuộc cách mạng lật đổ các chế độ quân chủ, độc tài và cộng sản thối nát trên khắp thế giới trong những thế kỷ vừa qua. Đối với Việt Nam, sức mạnh giới trẻ chắc chắn sẽ là mũi nhọn dẫn đầu quần chúng và chọc thủng thành trì của tập đoàn cộng sản ngay khi pháo lệnh bắt đầu. Nhưng những gì đã xảy ra trong thực tế vừa qua ? Tuổi trẻ thật cô đơn, dấn thân mở đường cho một cuộc bùng nổ nhưng bị bơ vơ khi ra toà rồi âm thầm vào tù lãnh án. Tuổi trẻ Việt Nam cần phải được hướng dẫn và lãnh đạo theo sách lược tranh đấu để mồ hôi, nước mắt cũng như xương máu khỏi bị tiêu hao và hoang phí.
     
    22. Thành phần bị bóc lột trực tiếp : Đây là một lực lượng gồm đại đa số, từ các thành phần thường dân đến công nhân, nhân viên nhà nước đang bị đảng cộng sản bóc lột đến tận xương tủy. Họ là những nhà giáo, công nhân hãng xưỡng, nhân viên văn phòng, thợ thuyền nhà máy đến tiểu thương, nông dân, buôn thúng bán bưng đều đã sáng mắt ra sau 38 năm sống dưới chế độ bịp bợm cộng sản. Thành phần sẽ sống chết tham gia với một cuộc cách mạng để đổi đời một lần nữa nếu có một cuộc nổi dậy đồng loạt. Trước đây họ được đảng bịp bợm bơm lên thành chủ nhân ông, nhưng ngày nay, cũng chính đảng đã trắng trợn bóc lột và dìm họ xuống trở thành những kẻ khốn khổ nghèo đói nhất trong cái xã hội chủ nghĩa.  
     
    23. Dân oan bất mãn chế độ : Những người trước đây đã ngây ngô đùm bọc nuôi dưỡng những tên nằm vùng và tiếp tay kinh tài nuôi Việt cộng cũng như tham gia tuyên truyền khủng bố sát hại dân lành tại Miền Nam. Sau khi chiếm xong Sàigòn, họ được cộng sản cấp cho căn nhà ván, vài ký gạo và một lô giấy tờ, bằng ban khen…Nhưng nay thì cũng do chính đảng cộng sản lột sạch, đẩy ra đường và biến họ thành ăn mày bị gậy. Đám dân oan nầy suốt ngày ăn vạ trước dinh thự của những thằng‘cộng sản ăn cháo đá bát’ để đòi đất đòi nhà…Dân oan là thành phần bất mãn chế độ, sẽ hăng say có mặt hàng đầu trong đạo quân đi tiến vào hang ổ để hỏi tội bọn đầu sỏ cộng sản. Ai là người có khả năng lãnh đạo phong trào tranh đấu trong nước thì phải biết lợi dụng cơ hội ‘lấy gậy ông đập lại lưng ông’. Nếu ngồi salon xem truyền hình một cách thờ ơ và vô cảm thì xem như công cuộc tranh đấu đã vuột mất những cơ hội bằng vàng.
     
    24. Khối người Việt thiểu số : Người dân tộc thiểu số Việt Nam hiền hòa, dễ tin, trung thành và dứt khoát. Nếu đã thuyết phục được thì cầm chắc lòng trung thành của họ.Nhưng một khi làm mất niềm tin, người thiểu số không còn là một dân tộc hiền hòa và dễ chịu nữa. Trước kia họ rất trung thành với chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, nhưng sau năm 1975, với việc nhồi sọ của cộng sản, họ trở nên thù ghét chế độ cũ. Bằng chứng, tù chính trị của chế độ cũ nào trốn trại, nếu rơi vào tay người Thượng thì khó thoát được màng lưới truy tìm của các trại tù. Nhưng rồi Hà Nội chiếm nhà chiếm đất và đẩy họ đến những vùng ‘khô cằn sỏi đá’ thì họ phản ứng rất mạnh mẽ không giống như tình trạng an phận của người Kinh. Nói tóm lại, lực lượng người dân tộc thiểu số quá dư khả năng để bảo đảm cho một cuộc vùng dậy toàn bộ tại các vùng Cao Nguyên trên đất nước Việt Nam.    
     
    25. Khối hữu thần chống cộng : Cộng sản không chấp nhận hữu thần. Chúng tịch thu tài sản giáo hội, giam tù tín hữu của bất cứ tôn giáo nào có hành động chống lại nhà nước. Dù tổng số các tôn giáo có truyền thống chống cộng như Công giáo, Tin lành, Phật Giáo Hòa Hảo và Cao Đài tại Việt Nam không đạt được đại đa số, nhưng các cộng đoàn tôn giáo nầy, không kể quốc doanh, là những thành phần đang làm cho nội bộ chính trị cộng sản phải lo sợ, nhất là trong giai đoạn nầy. Nhưng tại sao các lãnh tụ tôn giáo, nhất là Thiên Chúa Giáo lại ở trong tình trạng bất động mặc dù Vị Giáo Hoàng mới sau nầy có thái độ không thích các nhà nước cộng sản.
     
    26. Các chính đảng chống cộng : Thành phần cuối cùng phải nhắc đến là các đảng viên trung kiên của các chính đảng có truyền thống chống cộng sản lâu đời tại Việt Nam. Họ là những người đã và đang sinh hoạt nội bộ cũng như hoạt động tranh đấu trong bóng tối từ hàng chục năm qua. Tôi dứt khoát khẳng định rằng đây là thành phần hoàn toàn tin tưởng. Họ là những đảng viên được đào tạo đúng đường hướng và hoạt động đắc lực chống ngoại xâm, chống cộng sản cũng như phục vụ quốc gia dân tộc. Ngày nay, họ sẽ trở thành những cán bộ đắc lực trong công cuộc tranh đấu ở giai đoạn cuối và là chuyên viên đầy đủ khả năng để xây dựng lại Đất Nước Việt Nam trong thời hậu cộng sản.
     
    Tóm lại, như đã trình bày ở phần 2, một khối quần chúng với vài chục triệu người trên toàn quốc là một lực lượng quá thừa khả năng để quật ngã chế độ cộng sản. Nhưng tại sao vẫn trật vuột cho đến ngày nay ? Có phải quốc nội vắng bóng một nhà lãnh đạo thật đúng nghĩa để phối hợp và lèo lái con thuyền tranh đấu ? Nếu đúng như vậy, cuộc tranh đấu kiểu ‘rắn không đầu’ nầy sẽ kéo dài cho đến bao giờ !
     
    Nếu trong nước có lãnh tụ thì vị nầy cần phối hợp với những nhân vật hải ngoại, quan trọng là phải biết chọn ở nước ngoài những người có khả năng văn hóa, có kiến thức cao chính trị, và nhất là, những người phải có một quá khứ cũng như hiện tại thật trong sạch, thực tâm yêu nước thương nòi. Có như vậy, khối người Việt chống cộng trong và ngoài nước mới thành hình được một mặt trận toàn hảo vừa tranh đấu, vừa tiếp thu và vừa chuẩn bị kế hoạch cần thiết để bảo vệ nhân mạng, tài sản quốc gia cũng như dân chúng trong các giai đoạn giao tranh, chuyển tiếp cũng như thời hậu cộng sản.
     
    Đừng trông chờ hoàn toàn vào Mỹ hay bất cứ một thế lực quân sự chính trị nào cho tương lai Việt Nam. Không một quốc gia nào thương yêu bao bọc và giúp đở cho Việt Nam nếu họ không áp đặt được cái cùm đô hộ cổ điển hoặc tân thời, trực tiếp hay gián tiếp lên đầu đất nước và dân tộc chúng ta. Người Việt Nam phải tự cứu lấy mình, và người trong nước mới chính là đầu tàu để làm một cuộc cách mạng !
     
    Kết luận, không thể nào tiên đoán được thật chính xác thời điểm sụp đổ của chế độ cộng sản Việt Nam. Một điều nên làm là hằng đêm, trước khi lên giường ngủ, nên dành một vài phút cầu nguyện Ơn Trên cũng như Vong Linh những Vị Anh Hùng đã nằm xuống phù hộ cho Đất Nước và Dân Tộc Việt Nam sớm thoát khỏi ách cộng sản.
     
    Đến thời điểm nầy thì đã đầy đủ Thiên Thời, Địa Lợi, Nhân Hòa. Cứ chờ từng ngày một, và biết đâu, một sáng nào đó vừa thức dậy sẽ nhận được tin : Quân đội nhân dân vừa bắt giữ toàn bộ những tên cộng sản đầu sỏ trung ương đảng. Hoặc, những người yêu nước từ Lạng Sơn xuống đến Cà Mau đã đồng loạt xuống đường xé bỏ cờ máu và giật sập hình tượng tên khốn nạn HCM !
     
    Đinh Lâm Thanh
    Paris, những ngày cuối năm 2013

  • Tham luận

    Việt Kiều tỵ nạn cộng sản đã giúp đỡ chính cộng sản!

    Việt Kiều tỵ nạn cộng sản đã giúp đỡ chính cộng sản!
     Trịnh Viết Bắc


    Xin quí vị mở link dưới :
    https://www.vantholacviet.com/news-2587/7/Tham-lua%CC%A3n/Chinh-Nguyen–y-nghi-tho-thien.html

    Từ trước năm 1975 ở miền Bắc có ai nghe thấy nạn tham nhũng lộng hành không? Có lẽ không ai biết hoặc là không có vì dân chúng nghèo quá làm sao mà có tiền hối lộ, tạo thành tệ nạn tham nhũng được. Nạn tham nhũng hối lộ ở Việt-Nam từ đâu mà ra ?
    Sau khi VC xâm chiếm miền Nam, chúng – những tên rừng rú đỉnh cao trí tuệ – thấy chóa mắt về cảnh hào nhoáng (hoành tráng), giầu có tại Sàigon, rồi đâm ra hủ hoá vì người dân miền Nam đút lót chạy chọt cho được việc:

    • để mua bãi vượt biên;
    • đút lót tiền cho cán bộ CS để được thăm nuôi người nhà bị tù trong trại cải tạo;
    • để có hộ khẩu,
    • để khỏi đi miền kinh tế mới;
    • để mua bán nhà cửa;
    • để xin giấy phép mở tiệm làm ăn ,
    • v.v. và v.v. …
    Đủ mọi thứ chạy chọt, tạo thành một hệ thống THAM NHŨNG – HỐI LỘ khổng lồ, giống hệt như ngày trước dân chúng miền Nam "bắt tay" cảnh sát công lộ để khỏi bị phạt. Tại xa cảng Biên Hoà, VC dùng những xe chở hàng, chở trái cây, phía dưới giấu người và vũ khí, cũng "bắt tay" với cảnh sát mình để chuyển quân và súng ống vào Sàigòn hồi Tết Mậu Thân1968.

    *Có lẽ chúng ta đấm ngực nhận lỗi đi là vừa

    * Khi chính phủ Clinton bắt đầu bang giao kết thân và giao thương với VC năm 1995, thì Việt Kiều về Việt-Nam ào ào.

    Những Việt Kiều này đa số là những người đã sống với CS trước khi vượt biên. Họ đã quen cái lối đấm mõm cán bộ rồi. Những Việt Kiều này đã bầy ra cái thủ tục "đầu tiên" còn lai rai kéo dài cho đến ngày nay. Họ dấm dúi hối lộ ngay tại hải quan để được xem xét Visa, thông hành  và lấy hành lý cho nhanh. Về đến phường xã, phải ra ghi tên nên lại một lần nữa nhờ thân nhân đem tiền ra "bắt tay" bỏ túi ít đôla hay tặng vài thùng bia cho đám công an khu vực để khỏi bị làm khó dễ.

    Người miền Nam chúng ta sống lè phè quen rồi, nghĩ rằng chi vài đồng cho cán bộ để được thoải mái cũng vô tội và lại được tiếng là rộng rãi. Thân nhân Việt kiều đang bị giữ thành con tin Thành phần Việt kiều và thân nhân của họ vô hình chung trở thành có giá được nâng cấp lên thành  công dân hạng 2 sau cán bộ gộc và gia đình của bọn này,  vì có tiền bạc rủng rỉnh, đi đâu cũng lọt

    Cho đến bây giờ đa số thân nhân được người nhà ở hải ngoại tiếp tế nên nhóm này tháng tháng nằm im bất động chờ quà, chờ tiền gửi về, không còn lo phải làm việc vì có tiếp tế đều đều từ hải ngoại, không còn muốn tranh đấu gì nữa. Khi họ có tiền thì họ được cảm tình với cán bộ, công an khu vực, vì họ bao cho cán bộ đi nhậu nhẹt chơi bời. Họ có tiền thì họ bắt đầu hành xử như một thứ * "bồ tèo" * hay * "người được công an bảo trợ&quot
    ;* và rồi coi thường loại công dân hạng ba là loại dân chúng nghèo khổ nhất nước.


    Theo thống kê thì số tiền "gửi về nước" hàng năm cũng khoảng hơn 3, 4 tỷ Mỹ Kim. Năm qua 2011 lên đến trên 9 tỷ mũ kim !!!

    Số tiền mang tiếng là gửi về nước nhưng được giữ lại và gửi vào ngân hàng Mỹ tại Hoa Kỳ. Các tay tài phiệt Mỹ thấy có lợi trông thấy nên đã ép chính phủ Mỹ thả lỏng cho Việt Kiều gửi tiền vô hạn định, để họ kiếm lời. Số tiền đôla (* đồng tiền nào cũng có số mà! *) đem về xài tại VN một hồi cũng được thu góp đưa cho con cháu cán bộ sang du học, du lịch và đem bỏ băng Mỹ hay tiêu sài mua nhà, mua cơ sở thương mại tại Mỹ không mất đi một đồng xu nào.

    Với giá hối đoái hiện nay, mỗi VK đem về $10,000 USD (tính ra tiền hồ là 200 triệu/giá cả năm 2012) là đã trở thành siêu triệu phú.

    Thành phần Việt kiều trở thành cái* mỏ vàng* hay nôm na một chút là các con * "bò sữa"* được nhà nước ta nâng niu để dễ dàng bòn vắt sữa. Chiêu bài gọi họ là "khúc ruột ngàn dặm," hay "Việt kiều yêu nước" ; mở thêm cả chục ngàn quán ăn, quán nhậu, làng nướng, quán cà phê, karaoke, bia ôm, đã được CSVN nghiên cứu kỹ càng.

    Mới đây nhất CSVN đổi luật song tịch để cho Việt Kiều mua nhà dễ dàng và cho phép Việt Kiều về nước mà không cần visa. Tất cả chỉ nhằm mục đích dụ khị VK đem tiền về nước càng nhiều càng tốt.

    Hội từ thiện bác ái … vắt bò sữa.

    Một việc nữa là họ nhờ những nhà * "từ thiện bác ái hải ngoại"* đi * "vắt sữa"* giùm cho họ – quảng cáo xin tiền của những người hảo tâm ở hải ngoại cứu trợ dân nghèo Việt-Nam – rồi đem về Việt-Nam phân phát. Chắc chắn phải chia với cán bộ cộng sản một phần lớn chứ không thế n&a
    grave;o đoàn cứu trợ tự do đi lại phát quà thoải mái được. Quý vị không tin cứ hỏi các chủ công ty như Thầy 6 VTA, linh mục Francis Hoàng, Mục sư Bảo, Nhóm Sưởi ấm của TG, v.v… thì sẽ biết quy tắc lề lối chia chác với cán bộ công an VC là bao nhiêu.


    Kể từ khi các chuyên viên xuất ngoại ra hải ngoại "vắt sữa" bị dân tỵ nạn tẩy chay, thì lại mọc thêm nhiều nhóm từ thiện… hoặc nhóm quốc doanh trong nước đang bắt tay với hàng giáo phẩm cao cấp xuất thân từ Cali đang tiến hành chiến dịch bênh vực xoá tội "vi phạm tự do tôn giáo" cho VC. Chúng ta hãy chờ xem, nhóm này cựa quậy ra sao để đối chất với các nhóm nhân quyền Hoa Kỳ và thế giới tự do đang kết án CSVN.

    Những gánh nặng của CSVN đáng lẽ chúng phải lo chăm sóc thì nay đã được những thành phần * "đĩ điếm phản động"* gánh vác giùm rồi mà chúng lại có phần ăn chia nữa chứ. Cộng sản chỉ cần thổi phồng lên lòng bác ái của người Việt hải ngoại, gọi họ là khúc ruột ngàn dặm, Việt Kiều yêu nước là có thể bòn rút tiền dễ dàng.

    Chúng ta đã là những người phổi bò đễ tin, bị khai thác triệt để vì cái tật hám danh. Có nhóm từ thiện nào đến gõ cửa các quan lớn VC, cá độ, chơi cờ tướng ăn thua bạc tỷ, để vắt sữa đâu mà chỉ nhè những ông bà già, đang ăn welfare, ăn tiền hưu, tiền già để móc tiền sau khi tung hô kêu gọi lòng bác ái thương người của họ lên đến tận mây xanh.

    Nghị Quyết 36 nhằm vào Việt Kiều CSVN biết rõ như vậy, cho nên chúng đã ra Nghị Quyết 36 chiêu dụ Việt Kiều bằng đủ mọi mánh khóe. Nuôi dưỡng đám Việt Kiều để hàng năm đem về cho chúng một số ngoại tệ 8,9 tỷ đôla. Việt Kiều mỗi cái Tết rủ nhau về cỡ 400.000 hay nửa triệu người. Cứ thử làm một bài toán nhân nhỏ là mỗi người Việt Kiều về như vậy trung bình đem vào VN khoảng 5 ngàn đô – hơn bù kém – thì số tiền là bao nhiêu. Nguyên 1 dịp Tết CSVN cũng thu được khoảng 2,3 tỷ Mỹ Kim.

    Riêng kỹ nghệ * "thủ tục đầu tiên" * tại Tân Sơn Nhất cũng kiếm khá bộn được hơn 4,5 triệu đôla.

    Mới đây cư dân trên mạng được xem thấy một đoàn xe super "xịn" của đám đại gia và cán bộ nhà nước VC đi dự đám cưới tại miền Bắc mà hoảng hồn.

    CSVN hiểu rõ là kỹ nghệ du lịch VN chiêu dụ người ngoại quốc không ăn khách nên bám riết vào Việt kiều thương nhớ quê hương.

    Du khách ngoại quốc chỉ du lịch một lần vì tiêu chuẩn khách sạn, vệ sinh và cách chiêu đãi phục vụ khách hàng tại Việt-Nam còn quá kém so với Thái Lan, Nam Hàn, Đài Loan và Singapore. Mời quý vị tìm xem các tạp chí về du lịch thế giới xem họ đánh giá du lịch Việt-Nam như thế nào thì biết rõ.

    Việt kiều  nhớ nhà hay nhớ cái gì ở VN ???

    Chỉ những người Việt-Nam vì ham chơi, đem * áo gấm về làng *, ham được dân chúng trọng vọng vì có tiền, vì đồ đạc rẻ rề so với ngoại quốc nên tha hồ mua sắm.

    Đúng ra vào thời điểm này, với kỹ nghệ tin học vượt bực, internet, chat, chụp hình, video gửi cho nhau để xem mặt nhau cho đỡ nhớ thì quá dễ. Nhưng đa số Việt Kiều muốn lấy cái cớ là * "nhớ nhà và nhớ người thân" * đế mỗi năm phải về Việt-Nam một lần và trong thâm tâm thật ra là họ nhớ các làng nướng, các quán cà phê mờ ảo, quán bia ôm, các chợ bán quần áo rẻ mạt. Đem 100 đôla về may được ít nhất 5 cái áo dài làm sao mà các chị, các bà, các cô không thích cho được. Ở Mỹ thì 100 đô chỉ đủ tiền mua "vải" cho 1 cái áo dài.

    Giả dụ như Việt-Nam có đời sống đắt đỏ như bên Âu Châu thì người Việt-Nam có rủ nhau về ùn ùn ăn Tết không? Có còn thương quê hương là chùm khế ngọt nữa không? Có thiếu gì Việt Kiều có bà con cha mẹ ở bên Pháp mà có năm nào cũng phải về Paris ăn Tết đâu ??? Vì vậy Việt Kiều vì ham chơi, ham trình làng áo gấm nên rủ nhau đem tiền về cúng cho con cái bác Hồ để chúng có đủ phương tiện trù dập đàn áp người dân lành của mình. Đó là một cái tính xấu của người Việt-Nam chúng ta là quá ích kỷ chỉ nghĩ đến bản thân.

    Các Việt kiều chưa hiểu thấu rõ các ý nghĩ của người dân nghèo trong nước coi "VK áo gấm" về làng ra sao: Việt Kiều kiêu căng lai căng!!!!!

    Tiếp xúc với một số dân tại Sàigòn, họ coi VK như là những người "ngoại quốc" khoe mẽ, nói chuyện thêm tiếng Mỹ tiếng Tây cho nó oai, nên tìm cách lừa đảo moi móc tiền bạc không thương tiếc. Tiền VK đem về sài làm mọi thứ tăng giá khiếp đảm làm đời sống của dân nghèo đã cơ cực lại càng thảm thương hơn, nhất là "giá cả Việt Kiều" dịp Tết Nguyên Đán này. Chưa bao giờ người Việt-Nam lại chịu khổ nhục như thời nay !!!!

    Tại sao ngày xưa người dân dám đứng dậy chống ngoại xâm, mà nay đối với CS sắt máu độc tài thì lại nhũn như con chi chi?

    Quân Sư Phụ của Nho giáo ảnh hưởng đến người Việt? Vì đạo Nho dậy vậy chăng? "Quân-Sư-Phụ" mà lỵ. "Quân" ngày trước là "vua" nói gì là nhân dân nghe răm rắp, dù là những vua ăn chơi đàng điếm, ngày nay "Vua" đã đổi tên thành * Chủ tịch Nhà Nước, Tổng Bí Thư Đảng * và * Thủ Tướng* nên người dân VN vẫn coi họ là vua chăng mà chịu khổ sở vì chữ Quân kia. Chưa bao giờ thấy một quốc gia với dân số 87 triệu người mà không dám làm gì với 1 chính quyền giỏi lắm có gần 300 tên và một lũ cán bộ, công an đảng viên ăn bám, theo đóm ăn tàn.

    Còn đâu những Ngô Quyền, Lê Lợi, Trưng Trắc ,Trưng Nhị, Trần Hưng Đạo, Quang Trung Nguy ễn Huệ, …anh dũng chống ngoại xâm ?????

    Trí thức Việt-Nam đã mai một trở thành trí ngủ rồi !!!!

    Qua vụ APEC 2006 người ta càng thấy rõ thêm là  đại tài phiệt quốc tê chỉ biết có đồng đô la thu vào được thôi, nên đưa chiêu bài dụ khị: "Muốn đánh đổ chế độ độc tài, cộng sản thì nên cho họ sung sướng phủ phê, viện trợ cho kinh tế lớn mạnh, rồi tự nó sẽ tự động dần dần trở thành dân chủ mà thôi, chả cần tranh đấu gì cả."

    Thực tế đã chứng minh là khẩu hiệu đó gian manh và sai lầm ở chỗ đám đại tài phiệt bán được nhiều sản phẩm cho các nước độc tài cộng sản, thu tiền vào túi áo của họ.

    Những chính phủ độc tài kia được nhiều ngoại tệ thì thay vì dễ dãi với dân chúng, mở mang tự do dân chủ từ từ, thì chúng lại sử dụng những số tiền đó để mua những máy móc, dụng cụ chặn đứng làn sóng dân chủ như bên Trung C ộng chúng đã liên kết với Microsoft, Yahoo, Google để chặn những tin tức từ trong nước đưa ra và làm nhiều bức tường lửa cấm dân chúng trong nước truy cập nhưng tin tức tự do dân chủ trên thế giới.

    Tại Việt-Nam đám công an mạng, cũng đã tìm đủ mọi cách làm tường lửa ngăn chặn những tin tức từ ngoài về. Chúng đã tăng cường số công an kiểm soát internet lên hơn 2.000 đứa từ Nam tới Bắc. Chúng đã áp dụng luật đăng ký SIM CARD của điện thoại di động để bóp chẹt tự do của người dân. Mới đây nhất chúng tuyên bố  lập thêm 4,5 cơ quan khác để kiểm soát cá BLOGs của dân chúng. Chúng còn thăng cấp, tăng lương cho đám công an, quân đội, để bọn này sả thân giúp cho đảng của chúng vững mạnh để tiếp tục ngồi lên đầu lên cổ người dân.

    Một đề nghị khác của chính phủ Hoa Kỳ qua ông cựu đại sứ Michalak cũng được nhiều nước tự do sử dụng là tạo điều kiện dễ dàng cho thanh niên sinh viên các nước cộng sản độc tài đi du học với mục đích là nhồi vào đầu óc những sinh viên ý niệm dân chủ, rồi sau đó vài chục năm sau, những sinh viên này về nước lên cầm quyền thì sẽ có dân chủ.

    Chiêu bài này cũng sai bét là vì ngay tại Việt-Nam thì những sinh viên được đi du học 99.9% là con cái của các cán bộ Cộng Sản gộc.

    Chúng là những người sẽ kế nghiệp ngôi vua tại Việt-Nam. Khi trở về được làm vua, được ngồi trên đống tiền, được tham nhũng thả dàn, được hưởng mọi quyền lợi, ăn trên ngồi trước, thì chúng có dại dột đem áp dụng dân chủ tây phương trong nước không, hay là sẽ tiếp tục kiểu cai trị độc tài độc đảng  để được hưởng lợi.

    Hoa Kỳ đã thất bại hoàn toàn đối với các sinh viên Hồi giáo được gửi sang Mỹ học dân chủ, khi về nước thì chưa một quốc gia hồi giáo nào "dân chủ" cả mà chỉ là tăng gia "mầm mống chống đế quốc Hoa Kỳ" mà thôi. Có lợi trong những chiến dịch này thứ nhất là những trường đại học Mỹ tha hồ thu học phí "out of state" mà chả cần tìm hiểu là sinh viên đó mất mấy năm mới ra trường, miễn là học càng lâu càng tốt… và thứ hai là các nhà băng Mỹ tha hồ thu tiền của con cái cán bộ gộc đem sang rửa tiền, mua nhà, mua xe, mở cơ sở thương mại. Của Ceasar sẽ trả về Ceasar là vậy.

    Một số các nhà dân chủ vận động xin phép chế tài CSVN thì được một câu như tát nước vào mặt: – Quý vị hãy về giáo huấn đồng hương của quý vị đi. Họ đã đổ tiền cả 8-9 tỷ MK về Việt-Nam mỗi năm !!!!

    Tựu chung đa số Việt Kiều ra khỏi nước năm 1979-1985, nhiều gia đình đã bỏ mạng trên biển Đông vì sóng gió hãi hùng, vịnh Thái Lan vì nạn hải tặc đánh cướp rồi và làm đắm thuyền bè. Bao nhiêu trong số này khi thoát đến các trại tỵ nạn đã năn nỉ xin tỵ nạn chính trị tại các nước tự do vì * "không sống được dưới gông cùm cộng sản"* mà nay ngang nhiên về làm giầu cho chúng, làm tay sai cho chúng.

    Phải nói một cách đau lòng là trong số này có những thành phần HO bị tù tội đầy đoạ nhiều năm trời, mà bây giờ cũng về nước rồi trở lại tung hô chúng nữa.

    Nếu còn có chút liêm sỉ thì nên bỏ ngay quốc tịch hay thẻ xanh xin về trở lại sinh sống tại Việt-Nam, chứ đừng ở Mỹ vừa hưởng tiền già, tiền bệnh do các người Mỹ đóng thuế đem tiền về phục vụ cho chế độ Cộng Sản.

    CSVN vô ơn với các gia đình liệt sĩ và bạn bè khi xưa  :

    Người dân miền Nam ngày xưa tin lời của VC đã cưu mang chúng trong những hầm hố để chúng cướp chính quyền năm 1975.

    Chính những người miền Nam đã ngụy tạo ra cái gọi là * "Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam"* làm công cụ cho cộng sản miền Bắc chiếm hoàn toàn miền Nam tháng 4 năm 1975.

    Chúng ta biết chắc là những người tham gia MTGPMN khi xưa bây giờ "hối lỗi" không còn kịp nữa, nhưng vì muốn giữ thể diện nên không dám nói ra mà thôi, hoặc là bị ép, bị cấy sinh tử phù nên không có thể nào dám phản lại.

    Những dân biểu đối lập ngày xưa làm công cụ cho Cộng Sản bây giờ cũng ngậm tăm, vì bị chúng cho ra rìa. Bằng chứng là * Dương Qu ỳnh Hoa, Ngô Công Đức, Hồ Ngọc Nhuận, Kiều Mộng Thu, Lý Quý Chung * ….bây giờ ra sao, có được cái ghế nào không hay là đang than thân trách phận vì đã quá ngu dại theo chúng ???

    Một * Nguyễn Ngọc Lan* chống đối chính quyền VNCH đệ II, những tưởng được CS tưởng thưởng, những đã vỡ mộng đến khi bị gây tai nạn chết (2007) vẫn chưa được toại nguyện. Một * Trịnh Công Sơn * chuyên làm nhạc phản chiến, cũng có đầy hy vọng khi CSVN chiếm miền Nam, những cũng âm thầm mang xuống mồ những ưóc mơ thiên đàng Cộng Sản. Không biết kỳ nữ Đại Uý * Kim Cương* bây giờ làm ăn ra sao hay là cũng bị VC vắt chanh bỏ vỏ như những người khác. Những mẹ nuôi chiến sĩ ngày xưa bây giờ bị bạc đãi cũng sáng mắt muốn chửi thề vì đã bị lừa dối. Cò người mang đầy huy chương trên ngực áo đi biểu tình đòi đất cũng bị Công An hốt lên xe không thương tiếc đưa về bót.

    Tạm Kết

    Ngoại trừ những trường hợp bất khả kháng thăm viếng bà con gia đình đau ốm, quan hôn tang tế phải về lại Việt-Nam thì được. Còn Việt kiều hàng năm phải về để ăn chơi du hí, tìm bò non thì đáng chê trách. Những Việt Kiều ngày nay đang tuôn tiền về nước cho chúng hãy mở mắt ra đi. Chúng có biết ơn không, hay là chúng đang dụ dỗ bòn rút tiền bạc của quý vị, để cầm chân thân nhân của quý vị như những con tin.

    Quý vị đã và đang trở thành c
    ông cụ của Cộng Sản độc tài đang tàn sát dân lành.


    Nếu quý vị không mở mắt ngay thì muôn đời dân tộc Việt-Nam sẽ không thể nào thoát ra khỏi chế độ Cộng Sản. Tương lai đất nước là ở trong tay quý vị. Quý vị thử "nhịn" về Việt-Nam, nhịn gửi tiền về cho thân nhân trong 1,2 năm thôi, thì CSVN sẽ mất đi một số ngoại tệ rất lớn, xem tình hình biến chuyển ra sao thì sẽ biết liền./.
  • Tham luận

    Tầm vóc lịch sử của Tổng Thống Ngô Đình Diệm

    Tầm vóc lịch sử của tổng thống Ngô Đình Diệm


    Mặc dầu TT. Ngô Đình Diệm và ông Ngô Đình Nhu đã bị chết một cách thảm bại, nhục nhã. Nhưng lịch sử đôi khi thật công bằng. Với độ lùi thời gian 50, càng ngày chân lý và sự thật càng được công khai và rõ ràng.. Đất nước do cộng sản quản lý càng sa lầy, càng thối nát thì người ta càng thấy nền Đệ Nhất Cộng Hòa miền Nam là ưu vượt là tốt đẹp, là đáng sống. Ít lắm ở nơi đây cũng là một mảnh đất lành cho con người trú ngụ và sống xứng đáng con người.

    Ngay những sử gia Mỹ cho chí đến những kẻ thù oán ông Diệm một cách không khoan nhượng cũng đến lúc cần nghĩ lại và chỉnh sửa lối nhìn một chiều của họ. Ngày nay, người ta phải thừa nhậnn ông Diệm không là bù nhìn của Mỹ, không là bè lũ Mỹ-. Diệm- Ngày nay, càng hiếm có người nào còn có chút lòng, còn chút suy nghĩ so sánh thực trạng đất nước dám công khai chê trách.

    Và mọi cố gắng tìm hiểu về VNCH- nhất là thời kỳ Đệ Nhất Cộng Hòa-, không thể không bắt đầu bằng ông Diệm. và ngay cả thời kỳ sau chế độ Diệm- không có Diệm.

    Ngày nay nhìn lại giai đoạn ấy, ông Diệm đã phủ bóng lên tất cả những xung đột tranh cãi, khen chê cũng như nhửng âm mưu thủ đoạn dẫn đưa đến cái chết của ông ấy và sự tan rã của miền Nam Việt Nam.

    Cái chết ấy không chấm dứt một giai đoạn lịch sử mà như bóng ma theo đuổi bất cứ ai muốn tìm hiểu con người ông như một ám ảnh không rời. Ông Diệm còn sống mãi..ngay đối với cả những kẻ thù ghét ông thuộc nhiều phía. Cuộc cách mạng lật đổ ông Diệm không nhất thiết đưa tới một một sự ổn định như nhiều người mong muốn.

    Nó tạo ra sự tan vỡ về thể chế và nhất là sự mất niềm tin vào chủ quyền quốc gia- Và nếu nói cho cùng thì đến lúc đó, miền Nam thực sự có một khoảng trống lãnh đạo không ai thay thế được. Nhiều chính trị gia đủ loại đã có dịp ở vai trò lãnh đạo đã tỏ ra bất lực và yếu kém. Phần người Mỹ dù có truyền thống dân chủ lâu đời, nhưng khi xuất cảng những khái niệm, tự do-dân chủ, khái niệm độc lập-tự chủ thì cho thấy họ đã dẫm đạp lên chính những điều mà họ đòi hỏi nơi các xứ đang mở mang..

    Ai cho phép họ cái quyền thay thế, ngay cả âm mưu ám hại một tổng thống đương nhiệm bất chấp mọi nguyên tắc ứng xử, bất chấp quyền tự chủ của dân tộc?

    Nhưng ngày nay, phải nhìn nhận có một xu hướng lịch sử như gió đổi chiều.

    Một sự đánh giá lại lịch sử, một sự nhìn nhận những ngộ nhận, xuyên tạc, bôi nhọ lịch sử-con người.

    Tầm vóc lịch sử- con người NĐD- thành quả của nền Đệ Nhất Cộng Hòa trở thành biểu tượng cho một giai đoạn sáng ngời với nhiều oan nghiệt!!

    Ngược lại, lãnh tụ Hồ Chí Minh càng được bôi vẽ thì càng ngày những vết bôi vẽ càng lở loét, để lộ bộ mặt thật của ông ấy..

    Theo R. Nixon: Không giống Hồ, Diệm là một người yêu nước chân chính. Và mọi so sánh hai nhân vật này là thừa và lố bịch. Quan tâm hàng đầu của ông Diệm là ổn định trật tự. Không thể có một chính quyền mạnh, nếu không chấm dứt tình trạng chia năm xẻ bẩy làm suy yếu quốc gia. Cho nên, việc diệt trừ Bình Xuyên là một việc làm chính đáng của chính quyền, mặc dầu phải trả một giá không nhỏ. Ông Diệm đang phải tiến hành hai công việc một lúc: Vừa phải ổn định và vừa phát triển một đất nước có chiến tranh đồng thời mong dành được chiến thắng cộng sản.

    Tiếng tăm của ông Diệm phần lớn nhờ vào những chương trình cải cách xã hội. Ông là một khuôn mặt được quý mến bởi những người dân thường hơn là những chính khách cả Việt lẫn Mỹ ở Saigòn.(…)

    Cái lỗi lầm của chính quyền Kennedy là đã ký thỏa ước Trung Lập Lào, mở đường cho cộng sản miền Bắc xâm nhập.. Ông Ngô Đình Diệm đã tỏ bầy sự tuyệt vọng đối với quyết định này của người Mỹ.. Từ nay, đường mòn Hồ Chí Minh trở thành một xa lộ cho sự xâm nhập của Hà Nội, chúng ta đã đặt Hồ Chí Minh ngồi vào cái ghế tài xế trong cuộc chiến tranh Việt Nam.(..)

    Diem quyết tâm duy trì độc lập chủ quyền và thường phản bác hoặc không quan tâm đến những ý kiến của các cố vấn người Mỹ. Nói chung, ông tự hào là một người quốc gia không chịu nghe theo những chỉ thị đến từ người Mỹ cũng như trước đây từ phía người Pháp.[1]

    Cái sai lầm thứ ba của chính quyền Kennedy ở miền Nam, năm 1963 là có những bất đồng gia tăng với ông Diệm và họ đã khuyến khích và ủng hộ cuộc đảo chính quân sự chống lại ông Diệm. Cái giai đoạn đáng xấu hổ chấm dứt với việc giết ông Diệm và mở đường cho một giai đoạn chính trị hỗn loạn ở miền Nam và đã buộc chúng ta phải gửi quân lính tham gia vào cuộc chiến tranh..

    Ông Diệm ổn định tình hình m
    iền Nam như một hòn đá tảng giữ cho tòa nhà khỏi sụp đổ.. Mọi xu hướng chính trị khác biệt phải quy tụ về một mối và ông điều hợp sự khác biệt giữa các nhóm ấy và đặt tất cả các nhóm ấy về vị trí của mình.

    Và người ta chỉ hiểu được vai trò quan trọng sống còn của ông Diệm một cách rõ ràng sau cái chết của ông, khi mà toàn thể hệ thống chính trị miền Nam đã sụp đổ.[2]

    Hình ảnh ông Diệm bị các ký giả Tây Phương mở một mặt trận báo chí gán cho ông đủ thứ như độc tài gia đình trị, đàn áp phật giáo thì nay hình ảnh một lãnh tụ đạo đức, tài ba và có lòng yêu nước chân thành- không phải tự nhiên- đã được tưởng niệm khắp nơi trên toàn thế giới- ở những nơi nào có người Việt cư ngụ-.

    Thật sự giữa hai người lãnh tụ giữa hai miền nay so sánh thì một người đang sống lại và một người đang chìm dần vào dĩ vãng mà người ta có ấn tượng là như thể bị lừa.

    Nhưng nếu tìm hiểu thấu đáo, ta sẽ hiểu là do ông Diệm có lập trường kiên định, đặt để chủ quyền độc lập dân tộc lên hàng đầu và lý tưởng chống thực dân Pháp bằng mọi giá mà không có chỗ cho sự thỏa hiệp.

    Cái chết tủi nhục của ông Diệm sau khi chết đang trở thành biểu tượng chân chính, một lý tưởng cho người Việt Quốc Gia.

    Mặc dầu vậy nơi tấm mộ bia của ông ở Lái Thiêu còn bị che dấu tên thật. Người ta chỉ để tên Thánh Goan Baoxitita-Huynh. Huynh là để chỉ là anh..

    Điều ấy đã đến lúc cần phải sửa đổi..

    Những người ái mộ ông Diệm đã có lần lập tấm bia mộ ông với tên Ngô Đình Diệm. Chính quyền cộng sản đã e ngại và ra lệnh gỡ bỏ tấm bia đó.

    Rõ ràng Hà Nội sợ ngay cả một người đã chết- ngay cả một tấm bia mộ- giống như trong trường hợp bức tượng người lính ở Nghĩa trang quân đội ở biên Hòa trước đây.

    Tầm vóc lịch sử của con người ấy nay được nhìn lại và những nhà viết sử trẻ thuộc thế hệ thứ hai như Catton, Jessica Chapman và nhất là Edward Miller đã cất lên một tiếng nói khác-.

    Tiếng nói của lòng trung thực không bị lấn áp bởi những quyền lợi chính trị phe phái. Trong số ấy còn phải kể thêm hai nhà sử học trẻ người Việt là Trần Thị Liên và Nguyễn Thị Liên Hằng.

    Họ không bị quá khứ bao vây ràng buộc hay ưu tư ám ảnh về việc bênh hay chống ông Diệm.

    Những nhà sử học trẻ với thời gian đủ để bình tĩnh nhìn lại đã vượt qua những nhà sử học lớp đàn anh như Bernard Fall, Jean Larteguy, John Prados, Neil Sheehan hay những Haberstam, Frank Snepp. Những người này phần đông đã phóng đại những sai lầm bất kỳ lớn nhỏ của một chế độ Cộng Hòa còn non trẻ dựa trên một mẫu thức một chế độ dân chủ có dộ dài lịch sử cả vài trăm năm. Mang vài trăm năm ra như thước đo để đòi hỏi một sớm một chiều thay đổi cả một hệ tư tướng phong kiến, thuộc địa cả ngàn năm là một đòi hỏi vô trách nhiệm.

    Quả thực hiện nay có một sự nhìn lại, đánh giá lại các công trình dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa như các thành quả không chối cãi đượ như: Ổn định một triệu người di cư- dẹp Bình Xuyên- ổn định trật tự xã hội- Phát triển giáo dục y tế và tạo dựng một quân đội hùng mạnh- có uy tín trên trường Quốc tế vỏn vẹn với thời gian ngắn ngủi chín năm.

    Chân dung ông Ngô Đình Diệm trước đây từng bị bôi nhọ bởi nhiều nhà báo trong và ngoài nước- nhất là kể từ năm 1960 trở đi dưới thời kỳ TT Kennedy..

    Tuần trăng mật của chế độ Ngô Đình Diệm chỉ thật sự an bình và được sự ủng hộ nhiệt tình cho đến hết nhiệm kỳ của đảng Cộng Hòa thời tổng thống Eisenhower. TT. Mỹ đã đón tiếp ông Diệm- một trong những trường hợp hiếm hoi- như một thượng khách và ra tận máy bay đón chào ông và cả hai đi diễu hành trên một chiếc xe mui trần được đám đông dân chúng đón chào trên đường phố Broadway ở thành phố Nữu Ước năm 1957. Ít vị quốc khách nào của Mỹ được đón tiếp long trọng như vậy.

    Nhưng từ khi TT Kennedy lên làm tổng thống thì tình trạng mỗi ngày mỗi xấu đi mà nhà sử học trẻ Edward Miller, xuất bản một cuốn sách gần đây đã lấy tựa đề tên sách đầy mỉa mai của ông là: Missaliance- Ngo Dinh Diem, The United State and the fate of South Viet Nam. (Cuộc hôn nhân không cân xứng, Ngô Đình Diệm and the fate of South Viet Nam)

    Cuộc hôn nhân không tương xứng ấy mỗi ngày một căng thẳng dẫn đến đổ vỡ- như một thứ chiến tranh lạnh giữa đôi bên- dẫn đưa đến quyết định của chính TT Kennedy là phải thay thế Diệm. Diem must go..

    Tại sao lại có sự căng thẳng ấy?

    Là bởi vì TT. Ngô Đình Diệm là một nhà lãnh đạo có tầm nhìn viễn kiến về chính trị có đường lối hẳn hoi mà không có một nhà lãnh đạo miền Nam nào từ thời Bảo Đại có được.

    Theo chính ông Ngô Đình Diệm thường bày tỏ trong các bài diễn văn của ông là, nguyên tắc căn bản của một nhà lãnh đạo đất nước là phải đặt chủ quyền đất nước, độc lập dâ
    n tộc như một nguyên tắc không thể tương nhượng-.

    Không có độc lập, tự chủ thì không có gì hết- Tout ou rien- Hoặc là có, hoặc không có..

    Và chủ quyền là bất khả tương nhượng. Người ta không thể vì lợi ích vật chất mà mất chủ quyền. Ông lấy tỉ dụ, nếu cứ nghe người Mỹ thì cuối cùng ông chỉ còn là một thứ con bài cho người ta sai bảo. Chính Ed Lansdale trong một bài phỏng vấn truyền hình do Stanley Karnow thực hiện đã thú nhận rằng 10 ý kiến đưa ra cho ông Diệm thì may ra một điều được ông nghe theo.

    Đó là một sự thật để sau này giải tỏa được những tuyên truyền của cộng sản như: Ông Diệm là con bài của Mỹ, Mỹ-Diệm hay trục của điều xấu: Spellman-Vatican- Diệm.

    Đường lối thứ hai của ông là chống Pháp thực dân và chống cộng sản độc tài.

    Chính vì ba nguyên tắc này mà ông được coi như là thuộc lực lượng thứ ba (3e force). Nghĩa là chống cả Pháp lẫn thực dân. Nhiều người cho là ông Diệm là người bướng bỉnh, cố chấp, người khác cho ông là không có cái mềm dẻo chính trị của một chính trị gia, hoặc ông là loại người ngây thơ, thiếu bén nhậy chính trị.

    Tất cả những nhận xét trên chỉ đúng một phần, phần còn lại là sai, vì họ đã không hiểu những viễn kiến chính trị của ông.

    Viễn kiến chính trị ấy ông đã theo đuổi suốt cuộc đời làm chính trị của ông và sau này xét công hay tội đều phải căn cứ trên viễn kiến chính trị này.

    Tiến sĩ Trần Thị Liên trong luận án tiến sĩ sử của bà cho thấy rằng cả người Pháp lẫn Bảo Đại cũng như giới lãnh đạo công giáo như giám mục Lê Hữu Từ đều cho thấy ông Diệm và Nhu là những người không bao giờ chấp nhận hai chữ Thỏa Hiệp.

    Ông Ngô Đình Nhu từng viết như sau về lập trường cố định của anh em ông:

    Và theo ông Nhu: nguyên tắc nền tảng để có thế cứu vãn Việt Nam là.[3]

    Điều quan trọng đối với ông Nhu là từ chối tất cả sự hợp tác với người Pháp, bởi vì theo ông ta tất cả các người công giáo đều có hai bổn phận: với tư cách người Việt Nam phải loại trừ khỏi ách đô hộ của người ngoại quốc và tranh đấu chống lại ý thức hệ cộng sản.(…)thỏa hiệp với người Pháp không phải là một giải pháp. Chẳng những vậy còn là một tội ác làm suy yếu lực lượng kháng chiến..(..)

    Ông Nhu viết tiếp : chủ nghĩa quốc gia tranh đấu một mất một còn là vũ khí hữu hiệu chống lại cộng sản và chủ nghĩa thực dân.

    Bảo Đại sau khi gặp Bollaert ở Hồng Kông cũng ghi lại thái độ của ông Diệm như sau :

    Diệm là người phản đối mạnh mẽ nhất. Đối với Diệm, những nhượng bộ của Pháp rõ ràng không đủ khi hạn chế chủ quyền quốc gia bằng cách sát nhập vào Liên Hiệp Pháp. Đối với ông ta, đó là những đề nghị sai lệch. Trần Văn Lý cũng chia xẻ quan điểm của ông Ngô Đình Diệm. Cả hai đã bị ảnh hưởng bởi các diễn tiến của các phong trào giải thực đang diễn ra đồng thời tại Ấn Độ và Miến Điện và họ đã đưa ra một chương trình nhờ đó cho phép Việt Nam có quy chế tự trị Domino.(Quy chế tự trị trong Liên Hiệp Anh- NVL).

    Đối với họ, đó là giải pháp duy nhất có thể chấp nhận được đối với những người quốc gia Việt Nam.[4]

    Lần chót trong một buổi họp ở Hồng Kông với Bảo Đại, một lần nữa ông Diệm đã lên án một cách mạnh mẽ về con đường thỏa hiệp của Bảo Đại khi ông này đặt bút ký vào Hiệp định Élysée. Ông Diệm coi đây như một sự đầu hàng người Pháp. Sau đó, kể như hai bên đoạn giao.

    Và Bảo Đại tỏ ra thất vọng viết:

    Với Diệm, chúng ta chỉ có một thái độ chờ đợi.[5]

    Lập trường chính trị cứng rắn của ông Diệm cũng buộc lòng giám mục Lê Hữu Từ gửi một phái viên thân cận là luật sư Lê Quang Luật nhằm thuyết phục ông Diệm về hợp tác với Bảo Đại. Kết quả là bị ông Ngô Đình Diệm phủi tay. Lê Quang Luật cho người Pháp hay là kết quả thương lượng không đem lại kết quả gì vì thái độ cứng rắn của ông Diệm:

    Ngô Đình Diệm không cho thấy một chút hy vọng gì ông ta ra khỏi thái độ chờ thời (attentisme) và thay đổi quan điểm chính trị của ông ta. Ông Diệm tỏ ra một thái độ ghét cay ghét đắng Bảo Đại vì lý do Bảo Đại là người có cá tính mềm yếu và không vững vàng. Giả dụ nếu Ngô Đình Diệm chấp nhận lên cầm quyền, ông ta sẽ tiến hành một cuộc chiến chống Cộng sản tới cùng với điều kiện được sự hỗ trợ của Bảo Đại.

    Và sự hỗ trợ đó đã không có.

    Diệm đã không muốn tham gia chính quyền vì những xác tín chính trị của ông ta.[6]

    Cũng theo đường lối này mà đã ba lần ông từ chối lời mời của ông Bảo Đại ra làm thủ tướng. Lần đầu lúc ông làm thượng thư triều đình, ông đã xin từ chức, tiện đó Bảo Đại đã cách chức và tước đoạt mọi phẩm hàm vào năm 1933, sau đó lại cho phục chức. Khi bị cách chức, ông mất danh vị nhị phẩm triều đình và lương bổng 400/tháng. Viết về việc này, ông Phan Khôi cho rằng trong vòng 50 năm trở lại đây từ đời Thành Thái chưa có một vị sĩ phu bào có khí t
    iết và danh dự như Ngô Đình Diệm. Danh ông nổi như cồn về việc từ chức của ông để phản đối Bảo Đại thỏa hiệp với Pháp. Phan Khôi viết:

    Sĩ phu liêm sỉ chi đạo táng, chính câu ông Phan Châu Trinh nói như thế. Con người mất cả liêm sỉ là con người bỏ; huống chi cả một đám người mất liêm sỉ, mà còn mong gì được ư?

    Nhờ ông Ngô Đình Diệm vớt lại nhiều ít, nhờ sự cách chức và khai phục ông Ngô Đình Diệm vớt lại nhiều ít, họa may cái lòng liêm sỉ của sĩ phu Việt Nam ngoi dạy chăng?[7]

    Cụ Phan Khôi mới chỉ nhấn mạnh tới cái đức tính liêm sỉ của ông Ngô Đình Diệm. Nhưng điều chính yếu trong việc từ chức này là một quan điểm chính trị dứt khoát không hợp tác với Pháp.

    Nhưng cũng vì đường lối cứng rắn của ông nên ông cũng bị cộng sản lên án tử hình và Pháp không bảo đảm an ninh cho ông-. Ông buộc lòng phải dời Việt Nam chọn bước đường lưu vong vào tháng 8-1950 cùng với ngưới anh là Giám mục Ngô Đình Thục.

    Thoạt đầu ông ghé Hồng Kông rồi sang Nhật Bản. Ở đây ông có dịp gặp lại một đồng chí của ông là Cường Để- ông đã xưng hô là bệ hạ-.Nhưng lá bài Cường Để đã không còn hữu dụng khi Nhật thua trận với đồng minh.

    Ông cũng tìm cách xin găp vị tướng lừng danh của Mỹ là Douglas MacArthur. Nhưng đã không có kết quả..

    Một cái may mắn là ông đã gặp được một giáo sư người Mỹ, làm tình báo cho CIA, ông này sãn sàng giúp đỡ ông Diệm và họ đã trở thành bạn. Đó là ông Wesley R. Fishel. (giáo sư Khoa Học Chính Trị, Michigan State University, 31, được coi là một chuyên gia đầy tài năng và có nhiều quan hệ với những nhân vật lãnh đạo ở Á Châu). Ông này nhận ra ông Diệm là một gương mặt sắc bén về chính trị, có niềm tin mãnh liệt và quyết liệt chống Cộng. Ông cũng là người đưa ông Diệm vào làm việc trong cơ quan của ông với tư cách một chuyên viên đặc trách về Đông Nam Á.

    Thật ra, sang Mỹ, phần lớn thời gian ông Diệm phải nằm chờ thời tại một tu viện ở Nữu Ước. Linh mục Phó viện truởng của tu viện tên là Daniel Lyons, dòng tên, sau này có viết lại trong cuốn sách của ông: Viet Nam Crisis như sau

    Ông Diệm ở lầu hai và ngày ngày ông học thêm tiếng Anh và đọc lịch sử Mỹ Quốc. Vì không phải một nhân vật có chức quyền nên không được giới chức Mỹ tiếp đón. Họ tỏ ra lạnh nhạt với ông.[8]

    Sau này do Fisel giới thiệu ông quen biết được một vài nhân vật trong chính giới Mỹ như các hồng y Cushing và nhất là Spellman và các thượng nghị sĩ dân chủ như Mike Mansfield, John F. Kennedy, nhất là ông tòa William,O Douglas và linh mục Raymond J. de Jeagher..( ông đã quen biết linh mục này từ năm 1947).

    Kết quả của những mối liên lạc này cũng không đi đến đâu và ông tỏ ra tuyệt vọng. Mùa xuân 1953 ông quyết định bỏ nước Mỹ từ bỏ chính trị đến ở một tu viện dòng Benedictin, St Andre ở Bỉ..

    Trong bữa ăn từ giã nước Mỹ do ông tòa William O. Douglas khoản đãi ông Diệm vào ngày 8-5-1953, ông Diệm đã có dịp gặp những vị khách mời quan trọng như Thượng Nghị Sĩ Mike Mansfield và John F. Kennedy. Trong bữa ăn này, một lần nữa, ông Diệm phê phán Bảo Đại vẫn đi tìm một giải pháp chính trị ảo vọng bằng cách tựa vào thế Liên Hiệp Pháp .

    Ít ra thì ông cũng gửi đi đuợc một tín hiệu cho chính giới Mỹ thấy rằng lá bài giải pháp Bảo Đại tỏ ra không hợp thời nữa và ngụ ý rằng không ai khác, ngoài ông ra có thể đưa được bài toán giải đáp cho những vấn đề phức tạp của Việt Nam.

    Việc rời khỏi Mỹ là dấu hiệu cho thấy ông Diệm không tìm được một lối ra cho bài toán VN ra khỏi quỹ đạo người Pháp, đồng thời không tìm được sự ủng hộ tích cực của chính giới Mỹ để chống cộng sản.

    Điều đó cho thấy rõ ràng con đường chính trị của Diệm là khởi từ Paris chứ không phải Hoa Thạnh Đốn.

    Về Paris, ông có dịp được gặp TT Pháp và sau đây là nội dung được ghi lại trong Hồi Ký của TT Pháp như sau:

    Nỗi lo lắng chính yếu của nhà lãnh đạo Thiên Chúa giáo là sự chấp nhận một chính quyền Việt Nam hoàn toàn độc lập. Không thể chấp nhận tình trạng hai quyền lực (dualité) chính quyền. Nghĩa là cần có một chính quyền thực sự có trách nhiệm.

    TT. Vincent Auriol ghi nhận thêm:

    Một lá bài chính đáng có thể một ngày nào đó phải được dùng đến : Diệm một người Quốc Gia thuần túy. Một người đã chống đối lại chúng ta một cách kịch liệt. Một người rất khó để có thể điều khiển. Nhưng trung thực và liêm khiết. Rất là đố kỵ với thối nát lúc nhúc chung quanh Bảo Đại, và là một người có uy tín lớn lao.[9]

    Gần đây nhất, chúng tôi được biết linh mục bề trên dòng Benedictin, tại Bỉ, Viện phụ René Forbe, bề trên của Đan Viện. Sau 60 năm giữ kín lá thư của ông Diệm xin đi tu trong bậc trợ sĩ. Trong dịp công bố lá thư này, có sự chứng kiến của một số thân thuộc của ông Diệm như bà Charlotte Ngô Đình Luyện, bà Marie Claude Ngô Đình Luyện và bà E1lizab
    eth Nguyễn Thị Thu Hồng- em gái cố hồng y Nguyễn Văn Thuận-. Cũng theo vị bề trên Đan Viện, ông Diệm đã trú ngụ ở Đan Viện 6 tháng trước khi quyết định rời tu viện.

    Lá thư xin đi tu của ông Diệm là một tài liệu vô cùng quý giá, vì nó làm sáng tỏ sinh mệnh chính trị của ông Diệm, đánh tan cái dư luận ác ý, thổi phồng gán ghép ông Diệm là một lá bài của Mỹ qua cái trục Spellman- Vatican- Ngô Đình Diệm.

    Đối với tôi, lá thư xin đi tu của ông Diệm là một soi sáng lịch sử sau 60 năm. Nó cho ta thấy rằng một lúc nào đó: Nắng đã lên. Sự thật được trả về cho sự thật.

    Trong Viet Nam, a History, Karnow cũng đã đưa ra một khẳng định phủ nhận những tin đồn của một vài tác giả Mỹ như Robert Scheer trong How the United States got involved in Viet Nam và tác giả Việt (trường hợp Vũ Ngự Chiêu)là có tính cách tiểu thuyết xây dựng chung quanh huyền thoại Spellman này.

    Sau này sử gia Edward Miller cũng đồng quan điểm với Stanley Karnow cho rằng : Những quan niệm cho rằng công giáo là yếu tố chủ chốt giải thích cho khả năng giành được sự ủng hộ của người Mỹ giỏi lắm cũng chỉ là phóng đại.[10]

    Và nếu chúng ta căn cứ vào những người trong cuộc như Bảo Đại, chúng ta thấy rõ việc chọn lựa ông Diệm làm thủ tướng là quyết định từ Bảo Đại với sự tham khảo ý kiến của nhiều chính giới ở Pháp và rằng những người này đều đồng ý việc chọn lựa ông Diệm làm thủ tướng..

    Cùng lắm một vài chính giới Mỹchỉ đóng vai trò tham khảo như các ông Bedell Smith và Bonsai. Và chỉ khi đã quyết định chọn ông Diệm rồi, ông Bảo Đại mới tiếp xúc với Ngoại Trưởng Foster Dulles để cho biết quyết định của mình.

    Tóm lại có tham khảo phía Mỹ mà không có bất cứ áp lực nào từ phía người Mỹ trong quyết định chọn ông Diệm làm thủ tướng.

    Phần Arthur J.Dommen đã dành hẳn một chương nói về việc này nhan đề : The choice of Diem trong đó nhấn mạnh chính ông Bảo Đại có quyết định về việc chọn lựa khó khăn này:

    4 ngày trước khi đến Paris, Bảo Đại đã triệu Ngô Đình Diệm từ tu viện St Andrew Bruges đến gặp ông ta. Một chủ đích rõ ràng muốn giao trọng trách cho Ngô Đình Diệm bất kể sự chống đối của người Pháp. Trong đó dù không trực tiếp nói ra, ông Bảo Đại cũng muốn sự đồng tình ủng hộ về phía người Mỹ.[11]

    Trong cuốn sách của Edward Miller nêu ở trên, ông còn khẳng định rằng :

    Những điều viết biếm họa về ông Diệm chỉ căn cứ trên những giả định sai lầm và nhiều những điều kết luận rút ra từ những giả định đó đều sai lạc..Chẳng hạn trái ngược với những đồn đại, Diệm chỉ là thứ bù nhìn của Mỹ, Diem đã nắm được quyền hành vào năm 1954 chỉ do những cố gắng cá nhân của ông và của những anh em của ông, mà không do một vận động áp lực nào từ phía Mỹ.

    Edward nói thêm:

    Và ngay sự thành công kế tiếp trong việc củng cố quyền lực của ông ở miền Nam VN cũng chỉ là do kết quả do những vận dụng của riêng ông mà thôi.[12]

    Và phải chăng viễn kiến chính trị về một con đường thứ ba vừa chống Pháp, vừa chống Việt Minh nay là thời cơ thuận tiện để ông Diệm thực hiện giấc mơ chính trị của mình?

    Cái chết của ông kéo theo một thảm trạng của miền Nam cuối cùng chỉ vì muốn bảo vệ chủ quyền độc lập quốc gia, không đồng thuận với người Mỹ.

    Quả đúng là một cuộc hôn nhân gượng ép mà ngay từ đầu cả hai bên đều thấy không thể kéo dài được nữa..

    ——————————————————————————–

    [1] No more Viet Nam, Richard Nixon 57-62

    [2] No more Viet Nam. Ibid trang 63-65

    [3] Trần Thị Liên, Les Catholiques Vietnamiens pendant la guerre d’indépendance ( 1945-1954) entre la reconquête coloniale et la résistance communsite

    [4] Bao Đai, Le Dragon D’Annam, 1980, trang 190-200

    [5] Bao Dai, Ibid, trang 198

    [6] ASAT 10 11 1039, Hanoi, le 24-3-1950, Fiche sur entretien avec Mr Le Quang Luat le 23-3-1950, peu après son retour à Sài Gòn

    [7] Việt-studies, Một việc rất có ảnh hưởng đến tâm thuật của sĩ phu. Cách chức và khai phục ông Ngô Đình Diệm, Lại Nguyên Ân

    [8] Viet Nam Crisis, Stephen Pan, Daniel Lyons, S.J. trang 82-83

    [9] Vincent Auriol, Journal du Septennat ( 1947-1954). Trích lại Tran Thi Lien, Ibid, trang 521

    [10] Vision, Power and Agency : The ascent of Ngo Dinh Diem 1945-1954 Eddward Miller, journal of southeast Asian Studies, trg 433-458, trích lại trong cuộc Cách Mạng Nhân Vị

    [11] The Indochinese Experience, Arthur J. Dommen, trang 237 — with Việt Dương Nhân and 89 others.

  • Tham luận

    Duyên Lãng Hà Tiến Nhất : SỰ BẤT QUÁ BAO NHIÊU LẦN MỚI ĐỦ?

    SỰ BẤT QUÁ BAO NHIÊU LẦN MỚI ĐỦ?
         

                                                                                         Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

                Trong cái túi khôn của người xưa có một câu rất đáng học là “Sự bất quá tam.” Ba lần thôi, đủ rồi. Phạm lỗi. Xin lỗi, đấm ngực ăn năn cũng chẳng ai tin được nữa, nếu sự việc xẩy ra quá 3 lần. Mẹ Tăng Sâm nghe người ta nói con bà giết người, đến lần thứ ba thì bà không thể nào không tin. Có lỡ thì cũng lỡ đến lần thứ ba, chứ ai lầm lỡ đi, lầm lỡ lại cùng một sai lỗi đến lần thứ bốn, thứ năm, thứ sáu … và biết đâu sẽ còn dài dài?
    Tờ báo Người Việt phạm lỗi, đăng bài của độc giả Sơn Hào bá vơ nào đó xúc phạm đến danh dự của cộng đồng người Việt tỵ nạn, cho là những tên làm tay sai cho Mỹ, tức là bán nước, tính ra lần này là lần thứ tư. Đấy là chưa kể đến chuyện Đỗ Ngọc Yến, chủ nhiệm sáng lập tờ báo Người Việt, ngồi chủ tọa bàn việc lớn với những tên chóp bu VGCS là Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Xuân Phong v.v. Chưa hết, những người ở xa không đọc báo Người Việt nên không biết, nhưng theo tiết lộ của chủ báo Saigon Nhỏ, bà Hoàng Dược Thảo, thì chuyện báo Người Việt thì thụt nâng bi bọn VGCS xưa nay xẩy ra dài dài, chỉ tại người ta không để ý đến mà thôi. Chủ báo Saigon Nhỏ viết: “Từ 20 năm qua, tôi đã lột mặt nạ báo Người Việt nhiều lần. Từ thập niên 80, báo Người Việt đã sưu tầm tài liệu cho Việt Cộng khi cho tổ chức cuộc thi viết về nạn đói năm Ất Dậu song song với tin Việt Cộng kiện Nhật bản đòi đền bù cho nạn nhân nạn đói năm Ất Dâu (1945). Toà soạn báo Người Việt đã bị đốt sau khi đài truyền hình của Người Việt phát hình cờ Việt Cộng chạy trên sông Thủ Thiêm.  Sau mỗi lần bị lột mặt nạ, báo Người Việt lại sa thải người chịu trách nhiệm biên tập. Sa thải kiểu “đèn trống quân” vì sau một thời gian, khi mọi việc lại lắng dịu thì người bị sa thải này lại được thu hồi vào vị trí cũ.”
                Lần này cũng vậy, báo Người Việt sỉ nhục đồng bào đã đíu rồi, ông chủ nhiệm Phan Huy Đạt mới mời một số “fan” đến để xin lỗi. Đúng ra cũng là một điều hay, thế nhưng “rằng hay thì thực là hay, xem ra ngậm đắng nuốt cay thế nào” ấy.
                Này nhá, hãy nói về lá thư xin lỗi của ông chủ nhiệm trước. Ông là một luật sư, hẳn biết rõ luật báo chí và cách thức làm báo. Luật pháp cho phép báo chí bảo mật nguồn tin. Nhưng xin nhớ, nguồn tin chứ không phải là nguồn (tác giả) bình luận. Cho rằng tác giả đăng bài bình luận trong mục “ý kiến độc giả” là người phải chịu trách nhiệm về những điều mình viết ra. Nhưng, tờ báo không thể nào đăng bài của một người, nhất là bài phê phán, mạ lỵ người khác hay một tập thể, mà không biết rõ tác giả là ai. Trường hợp như thế, tờ báo sẽ, hoặc là không biết làm báo, hoặc tắc trách, hoặc là vì một lý do nào khác, bị áp lực, bị đe dọa, hoặc bị mua chuộc bằng tiền bạc, quyền lợi v.v. nên phải bảo vệ bí mật cho người viết. Tác giả Sơn Hào là ai, tại sao báo Người Việt không dám công khai danh tánh của người này cho dư luận biết. Nếu ông luật sư chủ nhiệm quả thực không biết Sơn Hào là thằng cha căng chú kiết nào thì quả thực ông không biết làm báo, hoặc ông tắc trách. Còn nếu biết mà ông không dám vạch mặt chỉ tên tên Sơn Hào, lại đứng ra nhận lỗi và xin lỗi thay cho hắn để bảo vệ bí mật cho hắn thì vì lý do gì, chủ đích gì? Những người bị Sơn Hào mạ lỵ cũng cần phải được biết chứ.
                Vấn đề thứ hai không kém quan trọng trong lá “Thư Xin Lỗi” của ông Ls chủ nhiệm Phan Huy Đạt là cách dùng chữ của ông trong mạch văn của lời xin lỗi. Rõ ràng toàn bài viết là một lời xúc phạm (insult) làm mất thanh danh (defamation) của nền Cộng Hòa miền Nam VN trong đó ông là một thành viên, mà ông chỉ cho đó là một lời lẽ hàm hồ thì ngưòi tỵ nạn như chúng tôi thật sự không hiểu nổi. Hoặc là ông không biết rành tiếng Việt, hoặc là ông cố tình chạy tội chứ không phải xin lỗi. Viết như Sơn Hào mà ông chỉ cho là “hàm hồ.” Vậy chứ hàm hồ nghĩa là gì ông có biết không? Theo từ điển Hán Việt của Thiều Chửu (p. 466) thì chữ “hàm hồ” có nghĩa là: cổ họng (hóc?) nói năng không được rành mạch. Sơn Hào trong bài viết của hắn nói rất rõ ràng, minh bạch chứ có cái gì hàm hồ đâu. Ông luật sư cứ đọc lại mà xem. Nếu ông có cách nào đó buộc Sơn Hào phải viết cho rành mạch hơn ý tưởng của hắn cho ông xem thực sự hắn muốn nói gì rồi ông hãy cho biết quan điểm của tờ báo có phải hay hơn không. Việc gì ông phải hấp tấp xin lỗi sớm thế. Nếu ông luật sư chủ nhiệm không làm được như vậy thì chỉ còn có thể hiểu được là ông tìm cách làm giảm nhẹ đi vấn đề và xin lỗi cho xong chuyện. Cách này là cố tình chạy tội.
                Việc báo Người Việt tổ chức họp cộng đồng để đưa ra lời xin lỗi cũng là một vấn đề khó hiểu khác. Theo nhà báo Hà Giang (của Người Việt) thì khách mời có khoảng 5 chục người, gồm thân hào, nhân sĩ, đại diện các đoàn thể, và nhiều cơ quan truyền thông Việt ngữ tại Little Saigon. Cho đến lúc này, những người quan tâm theo dõi vấn đề chỉ được đọc bài tường thật buổi họp của chính báo Người Việt qua nhà báo Hà Giang là phóng viên viết tin và lãnh lương của Người Việt. Ngoại giả không thấy một cơ quan ngôn luận nào khác đưa tin hay tường thuật về buổi hội họp này. Báo Người Việt gây biến cố, rồi báo Người Việt mời “nhân dân” đến họp, rồi cũng báo Người Việt tường thuật buổi họp và loan tin. Như vậy thì nền tự do báo chí của tờ Người Việt xem ra cũng không khác gì nền tự do báo chí của VGCS là mấy. Người bình dân thường gọi hành động vừa đá bóng vừa thổi còi này là “báo chí lề phải” đấy ông chủ nhiệm ạ.
    Vả lại, những người được mời đến dự buổi họp là những ai, họ thuộc thành phần và huynh hướng nào, đại diện cho tập thể nào hoặc cơ quan ngôn luận nào thì không được ký giả Hà Giang viết rõ ràng, rành mạch. Nghĩa là cũng hàm hồ luôn. Nhưng có một điều không hàm hồ và rất rõ là những người chống đối mạnh mẽ nhất khi sự việc xẩy ra như các ông Ngô Kỷ, bà chủ báo Saigon Nhỏ Hoàng Dược Thảo, Đ/T Thomas Trần v.v. không được mời, mà chỉ thấy những người không hề lên tiếng về việc này, lại nữa có nhiều người xưa nay được coi là “fan” của tờ Người Việt có mặt. Những Fan này được mời đến để làm gì, có phải để họ hợp thức hóa sự xin lỗi vờ của ông Phan Huy Đạt?
    Một số từ ngữ và câu văn trong những lời phát biểu của cử tọa hoặc Ban Điều Hành tờ Người Việt có thể giúp soi sáng đưọc phần nào thắc mắc trên. Chẳng hạn, ông Ls chủ nhiệm trong phần trình bầy sự việc chỉ cho rằng đối với ông và tờ báo của ông, đây là một “tai nạn.” Sao lại là tai nạn? Tai nạn là một việc đáng tiếc gây ra vì vô tình, hoàn toàn không có chủ tâm. Một bài báo quan trọng qua tay hàng loạt nhân vật có trách nhiệm từ thư ký tòa soạn, đến phụ tá tổng thư ký, đến tổng thư ký, đến phụ tá chủ bút, rồi đến chủ bút là người sau cùng quyết định, như vậy mà là tai nạn được sao? Đúng là miệng lưỡi của ông luật sư. Còn ông phụ tá chủ bút Vũ Quí Hạo Nhiên biện hộ cho việc tờ Người Việt bằng một câu biện luận khá ngộ nghĩnh thế này: Thời buổi này còn có kẻ bênh vực CS ngu dốt như vậy thì phải cho thế giới thấy. Hiểu theo ông Vũ Quí Hạo Nhiên thì đây là phương pháp báo Người Việt làm cho những kẻ bưng bô cho CS như tên Sơn Hào phải tự lột mặt nạ mình. Không biết nên gọi cái chiến thuật này là “gậy ông đập lưng ông” hay “lấy mỡ nó để rán nó” mới được. Hay lắm, nhưng xin hỏi toàn thể Ban Điều Hành báo Người Việt câu này là, việc ông chủ nhiệm sáng lập ra tờ Người Việt Đỗ Ngọc Yến chủ tọa buổi họp với Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Xuân Phong, tại sao Người Việt lại giấu nhẹm đi, đến khi bị phát giác lại còn bào chữa? Trường hợp Đỗ Ngọc Yến tại sao Người Việt không phô bầy ra cho cả thế giới thấy? Sao không lấy mỡ của Đỗ Ngọc Yến rán Đỗ Ngọc Yến cho đúng với chủ trường của tờ Người Việt? Rồi đến câu hỏi của ông Phan Tấn Ngưu mới thật là khôi hài. Ông Ngưu hỏi báo Ngưòi Việt có chịu áp lực của thế lực nào không. Không lẽ một nhân vật hoạt động cộng đồng tên tuổi như ông Phan Tấn Ngưu kém thông minh đến độ không biết trước được câu trả lời của ông Đinh Quang Anh Thái, đại diện cho tờ Người Việt, ra sao? Như vậy thì ông Phan Tấn Ngưu hỏi để làm gì?
    Và cuối cùng theo bài tường thuật của ký giả Hà Giang thì nhà báo công giáo Trần Phong Vũ, chủ bút nguyệt san Diễn Đàn Giáo Dân đã “rửa tội” cho tờ báo Người Việt bằng một lập luận rất ư là chí lý. Ông Vũ nói: Chỉ cần đọc những bài bình luận hàng ngày của ông Ngô Nhân Dụng trên nhật báo Người Việt thì cũng hiểu rõ chủ trương của tờ báo. Nêu bằng chứng này, ông Trần Phong Vũ muốn dùng uy tín của ông để đưa ra sự bảo kê cho lập trường và đường lối chính trị của tờ báo Người Việt mà ông chủ nhiệm, luật sư Phan Huy Đạt đã minh định trong lá Thư Xin Lỗi trước đó: Chúng tôi sẽ cố gắng hết sức … tiếp tục cùng toàn thể đồng bào đấu tranh xóa bỏ chế độ CS độc tài, xây dựng một nước Việt Nam dân chủ tự do. Đọc lời lẽ của ông Trần Phong Vũ, kẻ viết bài này cảm thấy buồn và tiếc hùi hụi việc ngày xưa Đức Cha Lê Hữu Từ đã từ chối rửa tội cho Hồ Chí Minh quá sức. Giá Đức Cha chịu khó rửa tội cho tên giặc già này thì Dân Tộc VN ngày nay đâu có đến nỗi phải điêu đứng như thế này? Do “phép rửa” của nhà báo công giáo Trần Phong Vũ, tờ Người Việt thể nào cũng được sạch tội trước mặt một số người. Chỉ tiếc một điều là ông Vũ lấy có một lon nước Ngô Nhân Dụng để rửa thì có lẽ hơi thiếu nước đấy. Giá như ông lấy cả hồ nước (ban biên tập) của tờ Người Việt gồm những nhà văn, nhà báo, nhà bình luận lớn, những sĩ quan chiến tranh chính trị có uy tín để rửa cho tờ Người Việt thì tội gì của Người Việt từ trước tới nay mà không được rửa sạch.
    Thập niên 50 trong vụ Cải Cách Ruộng Đất ở miền Bắc, Hồ Chí Minh giết mấy trăm mạng người rồi xin lỗi là xong. Cái chết thể xác nó nhẹ như lông hồng. Ngày nay tờ Người Việt giết chết danh dự của hàng triệu người rồi cũng xin lỗi, lại được một nhà báo công giáo lớn rửa tội cho thì mọi chuyện cũng sẽ qua đi thôi. Nhưng cái chết tinh thần vì mất danh dự nó đeo đẳng con người ta suốt cả cuộc đời. Nó nặng nề lắm.

    Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất