• Tài liệu

    HỐ CHÔN NGƯỜI ÁM ẢNH

    Vũ Thư Hiên 

     ·

    Tác giả, cựu binh Trần Đức Thạch, 68 tuổi, vừa bị nhà cầm quyền bắt giam ngày 23 Tháng Tư, 2020, tại xã Diễn Tân, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An vì can tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền…” Khung hình phạt có thể từ 12 năm đến tử hình.

    Trước đây ông đã bị kết án tù hai lần vào các năm 2000 (án 15 năm sau giảm xuống còn 8 năm, tội “xâm phạm an ninh quốc gia”) và 2009 (án tù 3 năm, tội “Tuyên truyền chống nhà nước”). Ông viết blog và sau này có trang Facebook Trần Đức Thạch đăng tải những suy nghĩ của mình hoặc chia sẻ bài viết của những người khác về các vấn đề thời sự..

    Nhiều năm trước, ông cho phổ biến hồi ký “Hố Chôn Người Ám Ảnh” kể lại tội ác của CSVN đã giết hàng trăm người dân vô tội tại một ấp trong tỉnh Long Khánh ngay sau khi CSVN nhuộm đỏ được miền Nam Việt Nam ngày 30 Tháng Tư, 1975. Lúc đó, ông mới 23 tuổi, là “phân đội trưởng trinh sát, Tiểu Đoàn 8, Trung Đoàn 266, Sư Đoàn 341.” Hồi ký này được đăng tải lại trên nhiều trang mạng khác nhau như một tài liệu lịch sử tội ác của Cộng Sản đối với người dân Việt Nam.

    “Tháng Tư, 1975, đơn vị chúng tôi (Sư Đoàn 341 thường gọi là đoàn Sông Lam A) phối hợp với sư đoàn khác đánh vào căn cứ phòng ngự Xuân Lộc. Trận chiến quyết liệt kéo dài 12 ngày đêm. Tiểu Đoàn 8 chúng tôi do hành quân bị lạc nên được giao nhiệm vụ chốt chặn. Nhằm không cho các đơn vị Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa tiếp viện cũng như rút lui.

    Phải công nhận là Sư Đoàn 18 của phía đối phương họ đánh trả rất ngoan cường. Tôi tận mắt chứng kiến hai người lính Sư Đoàn 18 đã trả lời gọi đầu hàng của chúng tôi bằng những loạt súng AR15. Sau đó họ ôm nhau tự sát bằng một quả lựu đạn đặt kẹp giữa hai người. Một tiếng nổ nhoáng lửa, xác họ tung tóe giữa vườn cam sau ấp Bàu Cá. Hình ảnh bi hùng ấy đã gây ấn tượng mạnh cho tôi.

    Tinh thần của người lính đích thực là vậy. Vị tướng nào có những người lính như thế, dù bại trận cũng có quyền tự hào về họ. Họ đã thể hiện khí phách của người trai nơi chiến trận. Giả thiết nếu phía bên kia chiến thắng chắc chắn họ sẽ được truy tôn là những người anh hùng lưu danh muôn thủa. Nhưng vận nước đã đi theo một hướng khác. Họ đành phải chấp nhận tan vào cõi hư vô như hơn 50 thủy binh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bỏ mình ngoài biển để bảo vệ Hoàng Sa.

    …Nghe tiếng súng nổ ran, tôi cắt rừng chạy đến nơi có tiếng súng. Đấy là ấp Tân Lập thuộc huyện Cao Su tỉnh Đồng Nai bây giờ. Ấp nằm giữa cánh rừng cao su cổ thụ. Đạn súng đại liên của các anh bộ đội cụ Hồ vãi ra như mưa. Là phân đội trưởng trinh sát, tôi dễ dàng nhận ra tiếng nổ từng loại vũ khí bằng kỹ năng nghiệp vụ. Chuyện gì thế này? Tôi căng mắt quan sát. Địch đâu chẳng thấy, chỉ thấy những người dân lành bị bắn đổ vật xuống như ngả rạ. Máu trào lai láng, tiếng kêu khóc như ri. Lợi dụng vật che đỡ, tôi ngược làn đạn tiến gần tới ổ súng đang khạc lửa.

    -Đừng bắn nữa! Tôi đây! Thạch trinh sát Tiểu Đoàn 8 đây!

    Nghe tiếng tôi, họng súng khạc thêm mấy viên đạn nữa mới chịu ngừng.

    Tôi quát:

    -Địch đâu mà các ông bắn dữ thế? Tý nữa thì thịt cả mình.

    Mấy ông lính trẻ tròn mắt nhìn tôi ngơ ngác. Họ trả lời tôi:

    -Anh ơi! Đây là lệnh…

    -Lệnh gì mà lệnh, các ông mù à? Toàn dân lành đang chết chất đống kia kìa!

    -Anh không biết đấy thôi. Cấp trên lệnh cho bọn em “giết lầm hơn bỏ sót.” Bọn em được phổ biến là dân ở đây ác ôn lắm!

    -Tôi mới từ đằng kia lại, không có địch đâu. Các ông không được bắn nữa để tôi kiểm tra tình hình thế nào. Có gì tôi chịu trách nhiệm!

    Thấy tôi cương quyết, đám lính trẻ nghe theo. Tôi quay lại phía hàng trăm người bị giết và bị thương. Họ chồng đống lên nhau máu me đầm đìa, máu chảy thành suối. Một cụ già bị bắn nát bàn tay đang vật vã kêu lên đau đớn. Tôi vực cụ vào bóng mát rồi dật cuốn băng cá nhân duy nhất bên mình băng tạm cho cụ. Lát sau tôi quay lại thì cụ đã tắt thở vì máu ra quá nhiều. Một chỗ thấy năm người con gái và năm người con trai bị bắn chết châu đầu vào nhau. Tôi hỏi người lính trẻ đi theo bên cạnh:

    -Ai bắn đấy?

    -Đại đội phó Hường đấy anh ạ!

    Ông Trần Đức Thạch mới bị bắt giam ngày 23 Tháng Tư, 2020, vì bị vu cho tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền….” (Hình: Facebook Trần Đức Thạch).

    Lại nữa, tôi ngó vào cửa một gia đình, cả nhà đang ăn cơm, anh bộ đội cụ Hồ nào đó đã thả vào mâm một quả lựu đạn, cả nhà chết rã rượi trong cảnh cơm lộn máu. Tôi bị sốc thực sự. Hình ảnh anh bộ đội cụ Hồ “Đi dân nhớ, ở dân thương” mà thế này ư? Cứ bảo là Mỹ Ngụy ác ôn chứ hành động dã man này của chúng ta nên gọi là gì? Tâm trạng tôi lúc đó như có bão xoáy. Mặc dù vậy, tôi vẫn nhận ra ngay những việc cần làm. Tôi tập trung những người sống sót lại. Bảo chị em phụ nữ và trẻ con ra rừng tổ chức ăn uống nghỉ tạm. Cốt là không cho mọi người chứng kiến lâu cảnh rùng rợn này. Đàn ông từ 18 đến 45 tuổi có nhiệm vụ ra sau ấp đào cho tôi một cái hố. Trong ấp ai có xe ô tô, xe lam, máy cày phải huy động hết để chở người bị thương đi viện. Mọi người đồng thanh:

    -Xe thì có nhưng dọc đường sợ bị bộ đội giải phóng bắn lắm!

    -Không lo, có tôi đi cùng!

    Tôi giao cho Nghê, một du kích dẫn đường vừa có bố bị bộ đội cụ Hồ sát hại:

    -Việc lỡ như thế rồi, chú nén đau thương lại giúp anh. Thu hồi căn cước tư trang của những người đã chết sau này còn có việc cần đến.

    Thế là suốt chiều hôm đó, tôi lấy một miếng vải đỏ cột lên cánh tay trái. Lăm lăm khẩu AK ngồi trên chiếc xe dẫn đầu đoàn lần lượt chở hết người bị thương ra bệnh viện Suối Tre. Tối hôm ấy, tôi cho chuyển hết xác người bị chết ra cái hố đã đào. Không còn cách nào khác là phải chôn chung. Trưa ngày hôm sau người ta mới dám lấp. Đây là ngôi mộ tập thể mà trong hoàn cảnh ấy tôi buộc lòng phải xử lý như vậy.

    Trời nắng gắt, để bà con phơi thây mãi không được. Một nấm mồ chung hàng trăm người lẫn lộn, không hương khói, không gì hết. Tôi cho dọn vệ sinh sạch sẽ những chỗ mọi người bị tàn sát. Xong, mới dám cho đám phụ nữ và trẻ con ở ngoài rừng về. Tôi vượt mặt cả cấp trên để làm việc theo tiếng gọi lương tâm của mình bằng mọi nỗ lực có thể để cứu giúp đồng bào.

    Tưởng thế là tốt, sau này nghĩ lại mới thầy hành động của mình giống như sự phi tang tội ác cho những anh bộ đội cụ Hồ. Thú thật lúc ấy tôi vẫn còn một phần ngu tín. Cũng muốn bảo vệ danh dự cho đội quân lính cụ Hồ luôn luôn được ca ngợi là tốt đẹp. Tuy vậy tôi bắt đầu nghi ngờ “Tại sao người ta giết người la liệt rồi bỏ mặc. Chẳng lẽ họ mất hết nhân tính rồi sao?”

    Công việc xong tôi gặp Nghê để chia buồn. Tôi không tránh khỏi cảm giác tội lỗi. Nghê đã đưa xác bố về chôn tạm ở nhà bếp. Tội nghiệp Nghê quá. Lặn lội đi theo cách mạng, ngày Nghê dẫn bộ đội về giải phóng ấp lại là ngày bộ đội cụ Hồ giết chết bố Nghê. Nghê “mừng chưa kịp no” đã phải chịu thảm cảnh trớ trêu đau đớn. Nghê buồn rầu nói với tôi:

    -Hôm qua nghe lời anh. Em thu được hai nón đồng hồ, tư trang và căn cước của những người bị giết. Sau đó có một anh bộ đội bảo đưa cho anh ấy quản lý. Em giao lại hết cho anh ấy để lo việc chôn ba.

    -Em bị thằng cha nào đó lừa rồi. Thôi quên chuyện đó đi em ạ. Anh thành thật chia buồn với em. Chiến tranh thường mang đến những điều không may tột cùng đau đớn mà chúng ta không thể lường trước được. Anh cũng đang cảm thấy có lỗi trong chuyện này.

    ***

    …Đã mấy chục năm qua, khi hằng năm, khắp nơi tưng bừng kỷ niệm chiến thắng 30 Tháng Tư thì tôi lại bị ám ảnh nhớ về hàng trăm dân lành bị tàn sát ở ấp Tân Lập. Cái hố chôn người bây giờ ra sao? Người ta sẽ xử lý nó như thế nào hay để nguyên vậy? Tôi muốn được quay lại đó để thắp nén hương nói lời tạ tội. Vô hình trung việc làm tốt đẹp của tôi đã giúp cho người ta bưng bít tội ác.

    Không! Người dân ấp Tân Lập sẽ khắc vào xương tủy câu chuyện này. Nỗi đau đớn oan khiên lúc đấy chưa thể phải nhòa được. Còn những người tham gia cuộc tàn sát ấy nữa, có lẽ họ cũng vô cùng dằn vặt khi nhận những tấm huân chương do đảng và nhà nước trao tặng sau ngày chiến thắng. Ý nghĩ ấy giúp tôi dũng cảm kể lại câu chuyện bi thương này.

    Sau ngày CS chiếm miền Nam 30 Tháng Tư, 1975, tôi có chụp một kiểu ảnh đang cởi áo, lột sao dang dở. Tôi đem tặng cho một thằng bạn đồng hương chí cốt. Hắn run người, mặt tái mét:

    -Tao không dám nhận đâu, họ phát hiện ra tấm ảnh này quy cho phản động là chết cả lũ!.

    Bạn tôi sợ là đúng. Vì cậu ta là đảng viên. Nhưng điều bạn ấy không hiểu là tôi làm vậy vì cảm thấy hổ thẹn và nhục nhã cho anh bộ đội cụ hồ khi nghĩ tới vụ thảm sát ở ấp Tân Lập……

    Thời gian trôi. Tôi, từ một chàng lính trẻ măng ngày nào bây giờ đã là một ông già với mái đầu hoa râm đốm bạc. Vậy mà tôi chưa nói được câu chuyện lẽ ra phải nói. Đôi lúc tôi âm thầm kể lại cho một số bạn bè tin cậy. Nghe xong ai cũng khuyên “Nói ra làm gì, nguy hiểm lắm đấy.” Và quả thật, sống trong xã hội xã hội chủ nghĩa quái đản này, người ta quen thói bưng bít sự thật. Sự thật không có lợi cho đảng, cho nhà nước chớ dại mà nói ra, bị thủ tiêu hoặc vào tù là điều chắc”.

    Trần Đức Thạch là  cựu phân đội trưởng trinh sát Tiểu Đoàn 8, Trung Đoàn 266, Sư Đoàn 341, Quân Đoàn 4, QĐNDVN.

  • Tài liệu

    GRIGORI PERELMAN :Thiên tài từ chối giải thưởng toán học

    https://en.wikipedia.org/wiki/Grigori_Perelman

    Thiên tài từ chối giải thưởng toán học “Fields Medal” cùng triệu đô tiền thưởng G. Perelman.

    Thoạt nhìn, ai cũng sẽ nhầm lẫn người đàn ông này là một gã vô gia cư nào đó, với mái tóc bù xù, và quần áo xộc xệch. Nhưng thật ra, ông chính là Grigori Perelman, người được mệnh danh là thiên tài toán học, khi trở thành người duy nhất giải được bài toán hóc búa Poincaré trong 1 thế kỷ qua.Hai nhà báo Marc Nexon và Katia Swarovskaya của tờ Le Point (Pháp) từng tổ chức một chuyến đi dài ngày tới nước Nga, tìm người đàn ông được mệnh danh là thiên tài toán học Grigori Perelman. Khác với những gì người ta có thể tưởng tượng, Perelman sống trong một căn hộ 3 phòng ngủ 65m², tại một tòa chung cư đã cũ, và thậm chí còn không có thang máy. Ông từ chối mọi lời phỏng vấn của phóng viên, cũng như mọi giải thưởng danh giá, và danh tiếng mà mọi người muốn ông nhận.

    Mỗi khi có phóng viên tìm đến, ông chỉ trả lời ngắn gọn: “Tôi không trả lời phỏng vấn”. Và khi phóng viên cố nán lại để được trò chuyện với ông lâu hơn: “Nhưng anh vẫn mạnh khỏe chứ?”. Ông trả lời: “Vẫn khỏe, cám ơn và xin chào”. Sau đó, ông vội đóng nhanh cánh cửa lại trước khi phóng viên có cơ hội hỏi thêm câu nào khác nữa.

    Đam mê với toán học từ khi còn nhỏ

    Grigori Perelman, tên khai sinh đầy đủ là Grigori Yakovlevich Perelman, sinh vào 13/6/1966 tại Leningrad (nay là Saint Petersburg, Nga) trong một gia đình gốc Do Thái. Vào thời điểm mà Liên bang Xô Viết còn chưa sụp đổ, mẹ ông, bà Ludmila là giáo viên dạy toán cho một trường trung cấp kỹ thuật, còn cha là một kỹ sư điện.

    Năm 11 tuổi, Perelman đã tỏ ra vượt trội hơn những bạn đồng trang lứa về khả năng lý giải các môn khoa học, và chơi đàn violon. Ông ham học, và yêu thích việc học hơn bất cứ thứ gì trên đời. Có lần Perelman bị sốt cao 39,5 độ C, nhưng sau đó, ông đã lén đem cặp nhiệt kế nhúng vào nước đá để tiếp tục được đến trường.

    Năm 14 tuổi, Perelman vào học ở trường số 239 Leningrad (nay là Saint- Pétersbourg), lớp chuyên toán.

    Đến năm 1982, khi Perelman 16 tuổi, ông tiếp tục lọt vào danh sách 1 trong 6 thành viên thuộc đội tuyển Liên Xô tham dự cuộc thi Olympic toán quốc tế (IMO) lần thứ 23, tổ chức tại Budapest (Hungary), và giành được huy chương vàng với điểm số tuyệt đối 42/42.

    Tuy nhiên, mặc dù thông minh nhưng Perelman được nhiều người nhận xét là có tính cách khá lập dị. Ông hầu như không tha thiết bất cứ thứ gì ngoài việc học tập và nghiên cứu, những gì người khác muốn ông đều không muốn, thậm chí cũng không hề bận tâm đến.

    Ví dụ chuyện ăn mặc, có khi người ta thấy ông cài lệch mất một khuy áo, khi lại quên buộc dây giày, và không đi tất vào mùa đông.

    Có lúc ông đột nhiên để móng tay rất dài, tận 5cm, và khi có ai hỏi thì ông trả lời: “Giống như việc người ta vẫn để những củ hành mọc ở ban công đó thôi”.

    Evgueni Abakoumov, một người bạn từng đi trại hè với Perelman cho biết: “Đừng mất công rủ cậu ấy đi uống bia , bởi tâm trí cậu ấy luôn vẩn vơ ở một nơi nào đó rất xa”. “Thế đối với các cô gái thì sao?”, Evgueni trả lời: “Cậu ấy cũng không quan tâm”.

    Perelman sau đó được đặc cách vào học ở trường đại học tổng hợp quốc gia Leningrad (LGU), và nhận được học bổng toàn phần mang tên ‘Lênin’ để chuyển lên làm nghiên cứu sinh.

    Năm 1991, Perelman được trao giải thưởng của hội Toán học trẻ Leningrad về những đóng góp trong lĩnh vực nghiên cứu chuyên môn, và cũng là giải thưởng duy nhất trong đời mà ông nhận.

    Năm 1996, Perelman tiếp tục được trao giải thưởng của hiệp hội Toán học châu Âu (EMS) cho các nhà toán học trẻ. Một giải thưởng mà nhiều người ao ước, vì sẽ bảo đảm cho người lĩnh giải được nhận vào làm tại các trường đại học danh giá nhất ở Mỹ và các nước châu Âu. Nhưng Grigori Perelman đã không chần chừ mà nhất quyết từ chối.

    Ông tốt nghiệp bằng phó tiến sĩ khoa Toán cơ của LGU, chuyên về lĩnh vực nghiên cứu hình dáng các vật thể trong không gian, và được nhận về công tác cho Phân nhánh Leningrad thuộc viện Toán học cao cấp Steklov (LOMI, hiện là PDMI) lừng danh.

    Người đầu tiên giải được giả thuyết Poincaré trong suốt 1 thế kỷ

    Trong các lĩnh vực, ông say mê nhất là với hình học. Ở tuổi 26, Perelman từng bay sang Mỹ, dành 3 năm để đọc một loạt bài giảng tại các trường đại học hàng đầu. Và từ đó giả thuyết Poincaré cũng bắt đầu ám ảnh tâm trí Perelman.

    (Giả thuyết Poincaré là công thức hình thể của vũ trụ, được nhà toán học người Pháp Jules Henri Poincaré (1854-1912) nêu ra vào năm 1904, là một trong những mệnh đề toán học hóc búa nhất suốt 1 thế kỷ qua chưa có lời giải đáp).

    Ông luôn tự giam mình trong nhà, và đắm chìm trong thế giới của mình, nghiên cứu và tìm tòi để giải quyết bài toán hóc búa ấy.

    Vào tháng 11/2002, ông đã bất ngờ công bố nghiên cứu dài 59 trang về giả thuyết Poincaré của mình lên mạng xã hội, không thông quá bất cứ tạp chí danh tiếng nào. Dường như, ông không hề quan tâm đến việc đặt bài nghiên cứu mình ở đâu, mà chỉ để thỏa mãn câu trả lời ấy cho riêng mình. Thời điểm ấy, công bố của ông đã trở thành một cú sốc lớn trên toàn thế giới.

    “Chúng tôi đã phải cần tới 6 tháng nghiền ngẫm để có thể hiểu được những lập luận trong phần đầu của bài nghiên cứu này”. Gérard Besson, thành viên trong nhóm nghiên cứu, được giao nhiệm vụ đọc và giải mã các kết quả của Perelman.

    Tuy nhiên, việc trở nên quá nổi tiếng, khiến ông không hề thoải mái, mà còn tỏ ra khó chịu và kỳ lạ khi nhiều người có thái độ đố kỵ với mình.

    “Anh ấy là như vậy. Perelman luôn nghĩ rằng các nhà toán học phải là một cái gì đó rất thuần khiết và trong sáng”. Serguei Roukchine, giáo viên cũ của Perelman, người điều hành một trong các câu lạc bộ toán học nổi tiếng nhất của Saint – Pétersbourg lý giải.

    Cũng từ đó, ông càng sống khép mình hơn, không cần đến bất kỳ người bạn nào. “Khi các thành viên của viện ngồi quanh bàn trò chuyện, uống nước chè và ăn bánh ngọt thì Perelman vẫn luôn nán lại ở góc phòng, trước màn hình máy vi tính”.

    Từ chối tất cả để quy ẩn

    Năm 2005, Perelman bất ngờ nộp đơn từ nhiệm cho Viện Steklov và tuyên bố rút khỏi cộng đồng toán học. Ông cũng yêu cầu hủy hết những thư từ liên lạc có liên quan đến mình.

    “Tôi không có bạn và tôi cũng đã tỉnh mộng”, Perelman tuyên bố với viện trưởng Serguei Kisliakov.

    Khi Kisliakov ngỏ lời mời Perelman quay trở lại viện bất cứ lúc nào anh muốn, ông đã cám ơn và nói rằng điều đó sẽ không bao giờ xảy ra.

    Không màng đến danh tiếng, hay tiền bạc, những giải thưởng như nỗi ám ảnh đối với ông. Perelman liên tục phải từ chối chúng.

    Năm 2006, Liên minh Toán học Quốc tế (IMU) với trụ sở tại Berlin (Đức) quyết định trao huy chương Fields, phần thưởng cao quý vốn được mệnh danh là “giải Fields Medal Toán học” cho Perelman, nhưng ông thẳng thừng từ chối, mặc cho ban tổ chức có thuyết phục thế nào.

    Năm 2007, tạp chí học thuật hàng đầu Sience đã tôn vinh danh hiệu Breakthrough of the Year (Khám phá của năm) cho Perelman. Đây là lần đầu tiên trong hơn một thế kỷ tồn tại của mình, tạp chí Sience mới phong danh hiệu này cho lĩnh vực toán học.

    Đầu năm 2010, Viện Toán học Clay (CMI), một tổ chức phi lợi nhuận lừng danh có trụ sở ở thành phố Cambridge (Massachusetts, Mỹ), ra quyết định trao giải thưởng Thiên niên kỷ cho ông, vì đã chứng minh được Giả thuyết Poincaré kèm phần thưởng là 1 triệu USD.

    Biết tích cách của ông, nên họ thậm chí còn đến tận nhà để trao giải, nhưng cũng như mọi giải thưởng kia, ông đều không nhận, cũng không quan tâm đến.

    “Sau khi cân nhắc kỹ giữa việc nhận hay không nhận giải thưởng, tôi tuyên bố từ chối giải thưởng mà Quỹ Clay dự định trao cho tôi”, Perelman cho hay.

    Trong những lần hiếm hoi chia sẻ suy nghĩ của mình, ông khẳng định rằng: “Tôi không hứng thú với tiền bạc hay danh vọng. Tôi không muốn bị trưng bày như động vật trong sở thú. Tôi không phải là một anh hùng toán học. Đó là lý do tại sao tôi không muốn mọi người nhìn mình”.

    Năm 2011, Grigori Perelman lại một lần nữa, mất công phải từ chối trở thành viện sĩ Viện hàn lâm khoa học Nga. Tuy đây chỉ là danh hiệu trong nước nhưng xét về giá trị vật chất thì nó còn lớn hơn tất cả những giải thưởng mà ông từng từ chối trước kia.

    “Anh ấy có một đòi hỏi rất cao về đạo đức và từ chối tất cả các dạng thương mại hóa những nghiên cứu khoa học”, Serguei Roukchine lý giải.

    Thậm chí, trong thời gian ở ẩn, vẫn còn rất nhiều các trường đại học như Princeton, Berkeley, MIT… những trường hàng đầu của Mỹ thường xuyên gửi lời mời tới Perelman, mong mỏi ông cùng cộng tác và định cư vĩnh viễn ở Mỹ. Nhưng Grigori Perelman kiên quyết từ chối tất cả.

    Không ai rõ hiện tại ông sống bằng cái gì, bởi gia đình ông chẳng có nguồn thu nhập nào khác ngoài tiền lương hưu của mẹ và khoảng tiền nhỏ mà Léna, cô em gái, hiện sống ở Thụy Điển thỉnh thoảng gửi về.

    Thậm chí ông cũng rất ít khi đi ra ngoài, và thường chỉ đi ra để mua sắm một cái gì đó. Hàng xóm xung quanh khu chung cư cũng không ai biết nhiều về ông, vì họ thường chỉ trả lời nhau trong một vài câu xã giao nho nhỏ. Thỉnh thoảng cánh nhà báo vẫn tìm đến ông, nhưng đều bị ông từ chối.

    Lý giải về việc không muốn nổi tiếng của mình, ông trả lời rằng: “Tôi đã có tất cả những gì mình muốn, nên không quan tâm đến tiền bạc hay danh vọng!”.

    “Perelman đã mơ ước chinh phục được đỉnh Everest trong toán và cậu ấy đã làm được điều đó. Giờ đây cậu ấy cảm thấy trống rỗng và muốn rằng mọi người để cậu ấy được yên”, Valery Ryzhik, cựu giáo viên môn toán của Perelman chia sẻ.

    Theo Internet

  • Tài liệu

    Người Việt đầu tiên đến nước Mỹ

    Hà Đình Nguyên

    Hà Đình Nguyên

    5

    Hiện ở P.Long Bình, Q.9, TP.HCM có con đường mang tên Trần Trọng Khiêm. Có lẽ ít ai biết đây chính là người đã đặt chân đến nước Mỹ cách đây hơn 170 năm.

    Tranh vẽ minh họa hành trình của ông Trần Trọng Khiêm /// T.L

    Tranh vẽ minh họa hành trình của ông Trần Trọng Khiêm

    Câu chuyện bắt đầu từ năm 1842 (năm Minh Mạng thứ 23) ở làng Xuân Lũng, phủ Lâm Thao (Phú Thọ) có một chàng thanh niên 21 tuổi tên Trần Trọng Khiêm phạm trọng án. Số là người vợ mới cưới của anh bị tên chánh tổng ép bức, làm nhục rồi sát hại. Căm giận, Trần Trọng Khiêm quyết báo thù. Sau khi tương kế tựu kế giết chết tên vô lại, anh trốn xuống Phố Hiến (Hưng Yên) rồi xin vào làm việc trên một chiếc tàu buôn ngoại quốc, khởi đầu cho những chuyến phiêu lưu khắp năm châu bốn biển.

    Suốt 12 năm (1842 – 1854), Trần Trọng Khiêm đã đi qua nhiều vùng đất từ Á sang Âu: Hồng Kông, Anh, Hà Lan, Pháp… Nhờ trí thông minh, đi đến đâu anh cũng cố gắng học tiếng địa phương. Năm 1849, anh đặt chân đến thành phố New Orleans (Mỹ), bắt đầu chặng đường 4 năm phiêu bạt ở Mỹ cho đến khi tìm đường về cố hương.

    Sau khi đến Mỹ, Trần Trọng Khiêm bấy giờ 28 tuổi, cải trang thành một người Trung Hoa tên là Lê Kim rồi gia nhập đoàn người đi tìm vàng ở miền Viễn Tây. Trong gần 2 năm, Lê Kim sống cuộc đời của một cao bồi miền Tây thực thụ. Anh đã tham gia đoàn đào vàng do một người Canada tên Mark khởi xướng. Để tham gia đoàn này, tất cả thành viên phải góp tiền mua lương thực và chuẩn bị lên đường. Lê Kim góp 200 USD vào thời điểm năm 1849. Do biết nhiều ngoại ngữ, anh được ủy nhiệm làm liên lạc cho thủ lĩnh Mark và làm phiên dịch cho những thành viên trong đoàn gồm tiếng Hà Lan, Trung, Pháp… (trong cuốn sách La Ruée Vers L’or của tác giả Rene Lefebre (nhà xuất bản Dumas, Lyon, 1937) có kể về con đường tìm vàng của Lê Kim và những người đa quốc tịch Canada, Anh, Pháp, Hà Lan, Mexico…). Anh nói với mọi người rằng anh còn biết một thứ tiếng nữa là tiếng Việt nhưng không cần dùng đến. Lê Kim cũng nói anh không phải người Hoa nhưng đất nước của anh nằm cạnh nước Tàu.

    Lê Kim và những người tìm vàng đã vượt sông Nebraska, qua dãy núi Rocky, đi về Laramie, Salt Lake City, vừa đi vừa hát bài ca rất nổi tiếng thời đó là Oh! Suzannah (Oh! My Suzannah! Đừng khóc nữa em! Anh đi Cali đào vàng. Đợi anh hai năm, anh sẽ trở về. Mình cùng nhau cất ngôi nhà hạnh phúc…). Trong đoàn, Lê Kim nổi tiếng là người lịch thiệp, cư xử đàng hoàng, tử tế nên rất được kính trọng, nhưng đó đúng là một chuyến đi mạo hiểm – họ thường xuyên đối mặt với hiểm họa đói khát và sự tấn công của người da đỏ. Sốt rét và rắn độc cũng đã cướp đi quá nửa số thành viên trong đoàn.

    Sau khi tích trữ được một chút vàng làm vốn liếng, Lê Kim quay trở lại San Francisco. Vào giữa thế kỷ 19, nơi đây còn là một thị trấn đầy bụi bặm, trộm cướp. Là người tháo vát, xông xáo lại biết nhiều ngoại ngữ, Lê Kim nhanh chóng xin được làm phóng viên tự do cho nhiều tờ báo như: Alta California, Morning Post rồi làm biên tập cho tờ nhật báo Daily Evening.

    Lê Kim hướng sự thương cảm sâu sắc đến những người da vàng làm việc ở những mỏ khai thác vàng là nạn nhân của sự phân biệt chủng tộc. Nhiều bài báo của anh đăng trên tờ Daily Evening hiện vẫn còn lưu giữ ở thư viện Đại học California. Đặc biệt, trong số báo ra ngày 8.11.1853, có một bài báo đã kể chi tiết về cuộc gặp giữa Lê Kim và vị tướng Mỹ John A.Sutter. Tướng Sutter vốn trước là người có công khai phá thị trấn San Francisco. Khi Lê Kim mới đến đây, anh đã được tướng Sutter giúp đỡ rất nhiều. Sau khi bị lật đổ, tướng Sutter bị bệnh tâm thần và sống lang thang ở các bến tàu để xin ăn, bạn bè thân thiết đều không ai đoái hoài đến.

    Khi gặp lại, Lê Kim đã cho vị tướng bất hạnh 200 USD và chê trách thái độ của người dân San Francisco cũng như nước Mỹ đối với người khai phá ra vùng đất San Francisco.

    Sang năm 1854, khi đã quá mệt mỏi với cuộc sống nhiễu nhương ở Mỹ, cộng thêm nỗi nhớ quê hương ngày đêm thúc giục, Lê Kim đã tìm đường trở lại Việt Nam. Nhưng anh cũng đã kịp để lại nước Mỹ dấu ấn của mình, trở thành người Việt Nam đầu tiên cưỡi ngựa, bắn súng như một cao bồi và cũng là người Việt đầu tiên làm ký giả cho báo chí Mỹ.

    “Người Minh Hương” cầm quân chống Pháp

    Năm 1854, Trần Trọng Khiêm trở về Việt Nam vẫn dưới cái tên Lê Kim. Để tránh bị truy nã, ông không dám trở về quê nhà mà phải lấy thân phận là người Minh Hương (người gốc Hoa, không chịu thần phục nhà Thanh nên di dân sang Việt Nam – NV) đi khai hoang ở tỉnh Định Tường. Ông là người có công khai hoang, sáng lập ra làng Hòa An, phủ Tân Thành, tỉnh Định Tường. Tại đây, ông tục huyền với một người phụ nữ họ Phan và sinh được hai người con trai.

    Trong bức thư bằng chữ Nôm gửi về cho người anh ruột Trần Mạnh Trí ở làng Xuân Lũng vào năm 1860, Lê Kim đã kể tường tận hành trình hơn 10 năm phiêu dạt của mình từ một con tàu ngoại quốc ở Phố Hiến đến những ngày tháng đầy khắc nghiệt ở Mỹ rồi trở về an cư lạc nghiệp ở Định Tường.

    Chưa đầy 10 năm sau khi Pháp xâm lược Việt Nam, Lê Kim từ bỏ nhà cửa, ruộng đất, dùng toàn bộ tài sản của mình cùng với Võ Duy Dương mộ được mấy ngàn nghĩa binh phất cờ khởi nghĩa ở Đồng Tháp Mười, trở thành một vị tướng giỏi. Năm 1866, trong một đợt truy quét của Pháp do tướng De La Grandière chỉ huy, quân khởi nghĩa thất thủ, Lê Kim đã tuẫn tiết chứ nhất quyết không chịu rơi vào tay giặc. Trên mộ của Lê Kim ở Giồng Tháp (tỉnh Đồng Tháp) có khắc đôi câu đối: “Lòng trời không tựa, tấm gương tiết nghĩa vì nước quyên sinh/Chính khí nêu cao, tinh thần hùng nhị còn truyền hậu thế”. 

    (Dựa theo tài liệu của học giả Nguyễn Hiến Lê 1912 – 1984)

  • Tài liệu

    Máu của loài CUA MÓNG NGỰA

    Cua móng ngựa là một loài động vật chân đốt thuộc họ Limilidae. Tồn tại trên Trái Đất từ cách đây 450 triệu năm, loài cua này còn được mệnh danh là những hóa thạch sống. Máu của chúng có màu xanh da trời.

    Và có thể bạn chưa biết, thứ chất lỏng đó là một trong những nguồn tài nguyên đắt nhất thế giới. Mỗi lít máu cua móng ngựa có giá khoảng 16.000 USD, tương đương 370 triệu VNĐ. Nhưng tại sao nó lại đắt đến vậy?

    Mỗi lít máu của loài cua này có giá 370 triệu đồng

    Tồn tại trên Trái Đất từ cách đây 450 triệu năm, loài cua máu xanh này còn được mệnh danh là những hóa thạch sống

    Thứ làm nên màu xanh trong máu cua móng ngựa chính là đồng. Nhưng bạn không thể khai thác đồng trong một lít máu mà lãi tới hơn 370 triệu được.

    Hợp chất đắt giá nhất mà những con cua móng ngựa nắm giữ trong máu mình là Limulus Amebocyte Lysate (LAL), chất đông máu duy nhất được Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ bắt buộc sử dụng cho các thử nghiệm độ an toàn của vắc-xin.

    Trước khi biết đến LAL, các nhà khoa học không hề có cách nào để biết vắc-xin họ sản xuất ra, hoặc các dụng cụ y tế mà họ đang sử dụng, có bị nhiễm khuẩn hay không. Để kiểm tra điều đó, họ phải tiêm trước vắc-xin vào những con thỏ, và chờ đợi xem chúng sống chết ra sao, có xuất hiện triệu chứng nhiễm trùng hay không.

    Cho đến năm 1970, phát hiện về LAL đã thay đổi toàn bộ quy trình thử nghiệm đó. Một nhà khoa học bây giờ chỉ cần nhỏ một lượng cực nhỏ LAL vào vắc-xin hoặc dụng cụ y tế. Nếu vi khuẩn gram âm xuất hiện trong đó, LAL sẽ bao chúng lại bằng một cái kén thạch nhìn thấy được.

    Mặc dù kén thạch này không tiêu diệt vi khuẩn, nhưng nó là hoạt động như một chiếc chuông báo cháy. LAL thông báo cho chúng ta biết về sự hiện diện của mầm bệnh, về khả năng nhiễm trùng có thể gây tử vong nếu vẫn sử dụng vắc-xin hoặc dụng cụ y tế nhiễm khuẩn.

    Với tính chất đặc biệt ấy, FDA yêu cầu mọi công ty dược phẩm phải kiểm tra vắc-xin của mình với LAL trước khi đưa ra thị trường. Để có được lượng LAL cần thiết, mỗi năm Hoa Kỳ phải bắt tới 600.000 con cua móng ngựa.

    Chúng được đưa vào nhà máy, trích 30% máu sau đó thả trở lại tự nhiên. Chuyến ghé thăm hiến máu cho con người kéo dài từ 24-72 tiếng đồng hồ. Và không phải con cua nào cũng có thể sống sót sau thủ thuật khắc nghiệt ấy.

    Có khoảng 30% số lượng cua sẽ chết ngay trong quá trình rút máu. Trong khoảng vài ngày sau đó, sẽ lại có từ 10-25% cua móng ngựa tiếp tục chết vì thiếu máu. Ngay cả khi sống sót, những con cua này nhiều khả năng cũng gặp vấn đề trong việc xác định phương hướng hoặc sinh sản.

    Chỉ có những con cua móng ngựa sống trên 2 tuần sau khi mất máu mới có thể hồi phục và tiếp tục sống khỏe mạnh sau đó.

    Các nhà khoa học biết nguồn tài nguyên từ máu cua móng ngựa rất quan trọng đối với ngành dược phẩm. Bởi vậy, hoạt động bảo tồn loài cua này rất được chú trọng.

    Con người cần bảo tồn cua móng ngựa, nếu không muốn mất đi một nguồn tài nguyên quan trọng

    Khai thác máu cua móng ngựa trong hàng thập kỷ đã khiến quần thể loài sinh vật này giảm sút. Trong 40 năm tới, các nhà khoa học ước tính một lượng 30% cua móng ngựa sẽ biến mất.

    Năm 2016, Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế đã buộc Mỹ đưa loài cua này vào sách đỏ. Nhiều nhóm vận động bảo đang kêu gọi ngành dược phẩm đối xử nhân đạo với những con cua, trong khi đó, cấm hoàn toàn việc sử dụng loài cua này làm mồi câu cá.

    Với những động thái này, quần thể cua móng ngựa ở Nam Carolina đang có dấu hiệu hồi phục trở lại. Bảo vệ loài cua cổ xưa chính là bảo vệ sự an toàn cho những liều vắc-xin của chúng ta.

    https://en.wikipedia.org/wiki/Horseshoe_crab

  • Tài liệu

    HỐ THIÊN THẠCH 50000 NĂM TUỔI

     Nhìn từ trên cao , hố thiên thạch khổng lồ này thường bị nhầm là núi lửa .

     Hố thiên thạch Barringer là một trong những hố sâu khổng lồ trên trái đất , hình thành do va chạm với thiên thạch .

     Hố này nằm ở phía bắc sa mạc Arizona , cách thành phố Las Vegas – Mỹ khoảng 300 dặm .

     Hố nằm ở độ cao trên mặt nước biển khoảng 1.740 m .

     Đường kính 1.200 m , sâu 170 m và được bao quanh bởi vành đai 45 m so với đồng bằng xung quanh .

     Hố sâu này được tạo nên , một trong những vụ rơi thiên thạch Vevivs hego 300.000 tấn và bay với vạn tốc khoảng 45 đến 60.000 km / giờ .

     Bởi kích thước khổng lồ . Trước năm 1960 , mọi người tưởng nhầm đây là miệng núi lửa .

     Một trong những đặc điểm thú vị của hố thiên thạch 50.000 năm tuổi này là , định dạng hình vuông của nó . Có thể thấy rõ nếu nhìn từ trên cao .

     Điều này được cho là do các mối nối khu vực hiện tại ( các vết nứt ) ở tầng địa chất tại nơi đây tác động .

     Sở hữu địa hình gồ ghề , khắc nghiệt đáng sợ . Được ví như mặt trăng trên trái đất .

     Khu vực hố thiên thạch là một trong những nơi đào tạo các phi hành gia , trước khi lên mặt trăng .

     Hố thiên thạch cũng là điểm du lịch nổi tiếng của Arizona , thuộc sở hữu tư nhân Barringer .

     Tại đây , du khách có thể ghé thăm các triển lãm về thiẻn thạch , tiểu hành tinh , không gian , hệ mặt trời và Sao Chổi .

     Điều thú vị là du khách có thể thấy thiên thạch nặng 637 pound , được tìm thấy trong khu vực cũng như các mãnh vỡ của miệng núi lửa thiên thạch , được tìm thấy ở Arizona .

     Thiên thạch nặng 637 pound được trưng bày tại điểm du lịch hố thiên thạch Barringer .

     Người dân địa phương thường đồn đại về sự xuất hiện của UFO ở khu vực này .

  • Tài liệu

    Nữ sinh Đồng Khánh nói về bài thơ ‘Hai sắc hoa ti gôn’

    Một mùa thu trước, mỗi hoàng hôn

    Nhặt cánh hoa rơi chẳng thấy buồn,

    Nhuộm ánh nắng tà qua mái tóc,

    Tôi chờ người đến với yêu đương.

    Người ấy thường hay ngắm lạnh lùng

    Dải đường xa vút bóng chiều phong,

    Và phương trời thẳm mờ sương, cát,

    Tay vít dây hoa trắng chạnh lòng.

    Người ấy thường hay vuốt tóc tôi,

    Thở dài trong lúc thấy tôi vui,

    Bảo rằng: “Hoa, dáng như tim vỡ,

    Anh sợ tình ta cũng vỡ thôi!”

    Thuở ấy, nào tôi đã hiểu gì

    Cánh hoa tan tác của sinh ly,

    Cho nên cười đáp: “Màu hoa trắng

    Là chút lòng trong chẳng biến suy”

    Đâu biết lần đi một lỡ làng,

    Dưới trời đau khổ chết yêu đương.

    Người xa xăm quá! – Tôi buồn lắm,

    Trong một ngày vui pháo nhuộm đường…

    Từ đấy, thu rồi, thu lại thu,

    Lòng tôi còn giá đến bao giờ

    Chồng tôi vẫn biết tôi thương nhớ…

    Người ấy, cho nên vẫn hững hờ.

    Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời

    Ái ân lạt lẽo của chồng tôi,

    Mà từng thu chết, từng thu chết,

    Vẫn giấu trong tim bóng “một người”.

    Buồn quá! hôm nay xem tiểu thuyết

    Thấy ai cũng ví cánh hoa xưa

    Nhưng hồng tựa trái tim tan vỡ.

    Và đỏ như màu máu thắm pha!

    Tôi nhớ lời người đã bảo tôi

    Một mùa thu trước rất xa xôi…

    Đến nay tôi hiểu thì tôi đã,

    Làm lỡ tình duyên cũ mất rồi!

    Tôi sợ chiều thu phớt nắng mờ,

    Chiều thu, hoa đỏ rụng chiều thu

    Gió về lạnh lẽo chân mây vắng,

    Người ấy sang sông đứng ngóng đò.

    Nếu biết rằng tôi đã lấy chồng,

    Trời ơi! Người ấy có buồn không?

    Có thầm nghĩ tới loài hoa… vỡ

    Tựa trái tim phai, tựa máu hồng?

    Tác giả: TTKH

    Nguồn:

    1. Tiểu thuyết thứ bảy, số 179, 30-10-1937

    2. Thi nhân Việt Nam, NXB Văn học, 2005

    Tác giả bài thơ “Hai sắc hoa ti gôn” là người Phủ Lý?

    Vietnamnet vừa đăng bài viết “Giai nhân Hà thành tiết lộ về tác giả bài thơ “Hai sắc hoa ti gôn“, theo đó, một cựu nữ sinh trường Đồng Khánh đã tiết lộ tác giả bài thơ nổi tiếng trên là người Phủ Lý. Xin giới thiệu bài viết này.

    Giai nhân Hà thành tiết lộ về tác giả bài thơ ‘Hai sắc hoa ti gôn’

    Một ngày cuối tháng 5, tại căn nhà nằm khuất sâu trong con ngõ nhỏ Võ Thị Sáu, Hai Bà Trưng, Hà Nội, chúng tôi có dịp gặp gỡ bà Viên Thị Thuận, năm nay 94 tuổi, một trong những nữ sinh Đồng Khánh thuở nào.

    Trường nữ sinh Đồng Khánh – Hà Nội (College de Jeunes Filles) được thành lập năm 1917, nay là trường THCS Trưng Vương – Hà Nội, là ngôi trường duy nhất của miền Bắc dành riêng cho nữ sinh tới cấp trung học.

    Lớp của bà Viên Thị Thuận khóa 1934 – 1942.

    Ngôi trường được xây dựng vào những thập niên đầu thế kỷ 20, khi vấn đề nữ quyền đang gặp nhiều rào cản của tư tưởng phong kiến.

    Từ đây, nhiều tiểu thư khuê các nhanh chóng bước ra khỏi chốn “màn che trướng rủ” để nhập cuộc với thời đại, trở thành những nữ sinh Đồng Khánh có tiếng duyên dáng và nết na.

    Trong số họ có rất nhiều người là bậc kỳ nữ tài hoa sau này, như giáo sư Lê Thi (Dương Thị Thoa) con gái GS Dương Quảng Hàm, nhà giáo Hoàng Xuân Sính – nữ tiến sĩ toán học đầu tiên ở Việt Nam…

    Bên cạnh đó, trường Đồng Khánh còn được nhiều người biết đến là ngôi trường của những giai nhân…

    Ngôi trường của những giai nhân

    Trong tâm trí người Hà Nội xưa, trường nữ sinh Đồng Khánh nổi tiếng với những cô học trò xinh đẹp đầy mộng mơ, hồn thiên thướt tha trong tà áo dài đã trở thành một miền kí ức khó phai.

    Một ngày cuối tháng 5, tại căn nhà nằm khuất sâu trong con ngõ nhỏ Võ Thị Sáu, Hai Bà Trưng, Hà Nội, chúng tôi có dịp gặp gỡ bà Viên Thị Thuận, năm nay 94 tuổi, một trong những nữ sinh Đồng Khánh thuở nào.

    Thời gian dẫu nhuốm màu tuổi tác, nhưng vẻ quý phái, thanh tao của giai nhân Hà thành ngày đó vẫn toát ra từ người đàn bà ở tuổi cửu thập cổ lai hy này.

    Bằng chất giọng nhỏ nhẹ với phong thái đoan trang, bà Thuận kể: “Muốn vào trường Đồng Khánh học, các học trò phải vượt qua các kỳ thi gắt gao, chỉ ai thực sự học giỏi mới đỗ được vào trường Đồng Khánh”.

    Theo bà Thuận, ngày xưa nữ sinh Đồng Khánh được học toàn diện, họ không chỉ được dạy văn hóa, dạy tiếng Pháp mà còn được dạy nữ công gia chánh, hát, đàn piano, thể dục thể thao.

    Bên cạnh đó, trường còn dạy thêu thùa may vá, cách tắm và chăm sóc cho trẻ sơ sinh, cách chi tiêu sao cho hợp lý bằng cách phân loại ra tiền điện, tiền nước, tiền ăn…

    Ngày đó, nữ sinh Đồng Khánh nổi tiếng không chỉ thông minh, xinh đẹp mà còn hết sức nết na thuỳ mị. Ai cũng dịu dàng đài các, rất đỗi đa cảm nhưng vô cùng kín đáo, tế nhị. Dù có thích ai họ cũng chỉ giữ kín trong lòng hoặc gửi gắm vào những trang lưu bút.

    Cựu nữ sinh Đồng Khánh cho biết: “Ngày đó cuộc sống của chúng tôi nói riêng và các tiểu thư đương thời nói chung rất lãng mạn. Chúng tôi thường đọc thơ và chép thơ vào những quyển lưu bút”.

    Một cô bạn cùng lớp bà Thuận, so với các bạn có phần cá tính, mạnh mẽ hơn nhưng tâm hồn cũng không kém phần lãng mạn, cô là con gái một bác sĩ.

    Cô bạn này có tình cảm với thầy giáo dạy thể thao người Pháp, đẹp trai và phong độ. Bị các bạn trong lớp phát hiện, trêu đùa, cô thường hay ngượng ngùng.

    Rồi mối tình đơn phương đó cũng sớm kết thúc khi thấy giáo kết hôn cùng người phụ nữ khác. Còn cô thì gửi nỗi buồn da diết của mối tình đầu tan vỡ vào những quyển sổ lưu bút.

    Bà Viên Thị Thuận cho biết thêm, các nữ sinh Đồng Khánh thường mặc áo dài thướt tha, thả mái tóc dài mượt, gọn gẽ đến trường.

    Đặc biệt, theo nội quy nhà trường, không ai được phép trang điểm khi đi học. Thế mà các nữ sinh Đồng Khánh lại rất đẹp, đẹp đến hút hồn khiến bao trái tim nam sinh các trường THPT, ĐH phải si mê, ngơ ngẩn. heo đó nam nữ học riêng, buổi chiều tan học, nam sinh từ các trường khác thường mon men đến cổng trường Đồng Khánh, đứng ngắm, nhìn trộm từ xa lúc các cô gái tan học về. Hầu như chàng trai nào cũng mơ được làm quen với một nữ sinh Đồng Khánh.

    Họ coi đó là niềm hãnh diện, tự hào để khoe với bạn bè, nhưng điều này quả là chuyện khó, bởi mấy nữ sinh Đồng Khánh luôn lạnh như băng, thâm trầm như biển sâu. Với họ nữ sinh Đồng Khánh luôn là… một ẩn số.

    Tác giả bí ẩn của bài thơ “Hai sắc hoa ti gôn”

    Bà Thuận cho biết, học sinh nữ từ các tỉnh miền Bắc về đây học tập, phần lớn là con gái gia đình trung lưu, có địa vị trong xã hội. Vào thời gian bà Thuận học năm 3 ở trường Đồng Khánh, có người bạn rất xinh đẹp, tên là Phạm Thị Lý (SN 1922, quê ở Phủ Lý).

    Người bạn này của bà được mệnh danh là hoa khôi trường Đồng Khánh, xinh đẹp, thông minh nhưng gia đình muốn bà lấy một người chồng bà không có tình cảm. Vốn có tâm hồn đa sầu, đa cảm nên khi phải lấy người mình không yêu, bà rất buồn bã.

    Bà Viên Thị Thuận chia sẻ: “Cũng có thể trong lòng bà ấy đã có ý trung nhân nào khác nhưng ở thời kỳ nữ quyền vừa bắt đầu những bước đi đầu tiên, vẫn mang nặng tư tưởng phong kiến thì việc dành tình cảm cho người con trai nào đó, dẫu “tình trong như đã, mặt ngoài còn e” là điều không thể. Nên khi phải về lấy chồng bà ấy rất buồn… Trước khi lấy chồng, bà Phạm Thị Lý đã sáng tác bài thơ ‘Hai sắc hoa ti gôn’ gửi đăng báo bằng bút danh TTKH, với mục đích giấu tên.

    Bà không ngờ được bài thơ mình sáng tác trong cái giây phút ngẫu hứng lại trở nên nổi tiếng cho đến ngày nay. Hôm đó, bà Lý cùng tôi đến tòa soạn gửi bài thơ rồi đi thẳng nên chẳng ai tìm được tác giả”.

    Bà Thuận cũng cho biết thêm: “Trước khi gửi đăng báo, bà Lý từng đọc cho các bạn trong lớp nghe…”.

    Sau này, rất nhiều giả thiết được đưa ra để xác định tác giả thực sự nhưng đều dừng lại ở mức độ nghi vấn, vì tác giả bài thơ chưa bao giờ lên tiếng xác nhận.

    Hình như, dù là cuộc hôn nhân “ép buộc” nhưng cuộc đời bà lại vô cùng hạnh phúc. Có thể vì thế, những cảm xúc đầu đời cùng bài thơ “Hai sắc hoa ti gôn” được bà Lý cất gọn trong kí ức.

    Vợ chồng bà sinh được 10 người con, sau này bà theo chồng sang Mỹ định cư và mất ở tuổi 80. Và, tác giả của một bài thơ nổi tiếng giờ vẫn là bí ẩn trong văn đàn.

    Một nữ sinh nổi tiếng khác của trường Đồng Khánh, không thể không nhắc đến là GS Lê Thi tên thật là Dương Thị Thoa, con gái của cố GS Dương Quảng Hàm.

    Bà cùng các anh chị em được cha mẹ cho ăn học tử tế ngay từ khi còn nhỏ. Bà chính là một trong hai nữ sinh đã kéo cờ trong ngày độc lập đầu tiên tại Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày 2/9/1945.

    Gần 80 năm đã trôi qua, nữ sinh trường Đồng Khánh cùng khóa bà Thuận chỉ còn lại vài người. Nhưng mỗi dịp có cơ hội gặp gỡ, họ vẫn tranh thủ ngồi lại hàn huyên và ôn lại những kỉ niệm vàng son thủa nào…

    —-

    (Theo : Vietnam.net)

  • Tài liệu

    Vua Thành Thái thiết lập Quốc Học

    Chỉ dụ Hoàng Đế Thành Thái thiết lập Quốc Học

    Emperor Thành Thái’s Edict to Establish the Quốc Học, 1896

    Lê Minh Khai / Tôn Thất Tuệ dịch

    Năm 1896, Triều Nguyễn thiết lập một học đường ở Kinh Đô để dạy Pháp Văn, là Quốc Học từ tên gốc là Quốc học trường 國學場; tên tiếng Pháp là Collège National (thời ấy “national” – quốc gia – có nghĩa học tiếng Pháp).

    Chính quyền thuộc địa Pháp đã có sáng kiến nầy và được vua Thành Thái (TT) chấp thuận qua sự đồng ý của triều đình.

    Để chính thức thành lập Quốc Học, TT đã ban hành một chỉ dụ bằng chữ Hán, nói rõ vua thuận phê chuẩn sự thiết lập nầy. Ít lâu sau, toàn quyền Paul Armand Rousseau ký một nghị định thi hành công lệnh ấy tức là thiết lập ngôi trường, kèm theo bản dịch tiếng Pháp chỉ dụ nêu trên.

    So sánh công lệnh Hán Việt và bản tiếng Pháp, thì người dịch đã bỏ nhiều điều. Nếu đọc nguyên văn chỉ dụ nầy, chúng ta có thể biết cái nhìn của vua và triều đình về thế giới rất sâu sắc, không có trong bản đính kèm nghị định của Rousseau.

    Chỉ dụ Thành Thái mang nhiều chi tiết thực tiển như cách chọn giáo sư, cách tuyển học sinh thì được dịch chính xác và đầy đủ. Nhưng phần mở đầu của chỉ dụ không được như thế.

    Công lệnh bắt đầu với lời giải thích vì sao cần có một trường dạy Pháp ngữ. Bản dịch và bản chính có sự khác biệt to lớn. Sự khác biệt nầy giúp người đọc thấy rằng Hán Văn cổ điển và tiếng Pháp không những thuần túy chỉ là hai ngôn ngữ tách biệt, mà chúng còn cho chúng ta một ý niệm rõ ràng về sự khác nhau giữa hai nền văn hóa và hai thế giới quan khác nhau.

    Trích bản dịch: Quand on veut donner un développement sérieux à l’instruction, on ne se borne pas à un enseignement exclusif, de même que pour assurer la régularité de l’enseignement, il est indispensable de créer des cours d’études. Or, eu dehors des livres sacrés de Chine, il existe d’autres ouvrages des divers pays et le mandat de porter la parole est chose très importante dans les relations internationales. ngưng.

    Diễn qua chữ Việt: Nếu muốn đem lại cho nền giáo dục một sự phát triển đứng đắng thì không nên tự giới hạn trong sự dạy dỗ chuyên biệt độc quyền. Cũng giống vậy, để bảo đảm tính cách điều hòa của ngành giáo huấn, cần mở thêm các ngành học mới. Ngày nay ngoài những Thánh Điển từ bên Tàu và tác phẩm từ nhiều nước khác nhau, khả năng nói, đàm thoại là điều vô cùng quan trọng trong các mối liên lạc quốc tế.

    諭學無常師, 欲其博也。教必立學, 欲其專也. 蓋六經之外別有方書,列國之交,重在辭命。Dụ học vô thường sư, dục kỳ bác giả. Giáo tất lập học, dục kỳ chuyên dã. Cái lục kinh chi ngoại biệt hữu phương thư, liệt quốc chi giao trọng tại từ mệnh.

    (Trong phương cách học mà không cần có thầy giáo thường xuyên, thì người học tự tìm cách mở rộng kiến thức. Nhưng trong việc giáo huấn, cần có một học đường dạy những phần chuyên môn hóa. Ngoài “Lục Kinh” còn có sách vở từng khu vực địa phương. Nhưng trong việc giao thiệp giữa các nước cần có khả năng biện thuyết, đàm thoại).

    Những danh tự sau đây cho thấy thế giới quan của TT. Học vô thường sư 學無常師; học không cần thầy thường xuyên; Lục Kinh 六經 và phương thư 方書, sách vở từng vùng; từ mệnh 辭命, khả năng thuyết giải, đàm thoại, và liệt quốc chi giao 列國之交, giao tiếp giữa các quốc gia. Nhưng chúng không có trong bản dịch.

    Học vô thường sư 學無常師, tìm tòi cầu đạt những kiến thức một cách rộng rãi, nhiều nơi chứ không với một ông giáo kỳ cựu “sỉa rẹn” một chỗ. Ý nầy trước đây học giả Hàn Dũ 韓愈 nhà Đường đã nêu trong luận văn danh tiếng nhan đề sư thuyết 師說.

    聖人無常師:孔子師郯子、萇弘、師襄、老聃。郯子之徒,其賢不及孔子。孔子曰:「三人行,則必有我師」。是故弟子不必不如師,師不必賢於弟子。聞道有先後,術業有專攻,如是而已。

    Thánh nhân vô thường sư: Không Tử sư Đam Tử, Trương Hoằng, Sư Tướng, Lão Đan. Đam Tử chi đồ kỳ hiền bất cập Khổng Tử. Khổng Tử viết: Tam nhân hành tất tắc hữu ngã sư. Thị cố đệ tử bất tất bất như sư. Sư bất tất hiền vu đệ tử. Văn đạo hữu tiên hậu, thuật nghiệp hữu truyền công. Như thị nhi dĩ.

    Thánh nhân không có thầy cố định. Khổng Tử chọn làm thầy những ông Đam Tử, Trương Hoằng, Sư Tướng, Lão Đan, nhóm người như Đam Tử không giỏi, không khôn bằng Khổng Tử. Khổng Tử nói: ba người đi trước mặt ta, nhất định có một người là thầy ta. Như vậy đệ tử không nhất thiết kém hơn thầy; và thầy không nhất thiết giỏi hơn khôn hơn đệ tử. Chuyện là một kẻ đã học đạo trước một kẻ khác; hoặc một người nào đó có kỹ năng chuyên môn hóa. Chỉ chừng đó thôi.

    TT mở đầu như vậy để giải thích với quần thần vì sao vua đã ra lệnh thiết lập một trường dạy tiếng Tây. Hẵn rõ TT đang gặp sự chống đối của các học sĩ chính thống cửa Khổng sân Trình; nhóm nầy xem người Pháp là man rợ có kiến thức kém. Do đó vua dùng Khổng học mà biện luận. Khi nói Khổng Tử và các hiền giả đều học với bất cứ ai, TT muốn nói con các quan, con triều thần có thể học với người Pháp.

    Vua giải thích rằng kiến thức của người Pháp nằm ngoài Lục Kinh (Lục Kinh chi ngoại 六經之外) nhưng nằm trong sách vở từng vùng khác nhau ngoài nước Tàu (phương thư 方書). Người Tây viết về điểm nầy như sau: Or, eu dehors des livres sacrés de Chine, il existe d’autres ouvrages des divers pays. Ngoại trừ những thánh điển của Tàu, còn có những tác phẩm khác từ nhiều xứ khác nhau.

    Khi TT chỉ nói Lục Kinh thì bản dịch là các sách linh thiêng của Tàu (les livres sacrés de Chine). Người Tây xem những chương sách người An Nam học là sách Tàu, của Tàu, nhưng TT chỉ đơn giản nói Lục Kinh. Xa hơn tí nữa, trong bản dịch, người Pháp xem Lục Kinh và sách ngoài (phương thư 方書) cùng mức giá trị như nhau; nhưng bản Hán tự của TT không xem như vậy. Thay vào đó, Lục Kinh và phương thư có hệ cấp giá trị không tương đồng.

    “Phương” xem như nghịch với trung ương, thủ đô. Phương thư ở cấp tỉnh, Lục Kinh ở kinh đô. Một sự so sánh khác nữa sẽ được dùng là Khổng học phân chia văn 文, viết và ngôn 言 nói; văn giá trị hơn ngôn. Kinh đô là nơi mình có thể thấy vua và quần thần, tức là nhóm người có tài và sính diễn đạt tư tưởng bằng cách viết và tự cho mình là gương mẫu nêu cao nền luân lý trong Lục Kinh. Ở vùng xa kinh đô, dân chúng mù chữ chỉ có khả năng diễn tả ý nghĩ bằng lời nói, do đó người đô hội xem họ thấp kém nhiều phương diện.

    Thế giới quan Khổng học đậm đặc như vậy không thể giúp TT nhìn một cách trung hòa bình đẳng Pháp ngữ, là một ngôn ngữ nói (language parlé).

    Thứ nhất, khi ghép tiếng Pháp vào phương thư, TT đã truyền đạt ý niệm thấp kém, bởi vì chỉ có dân quê mới diễn tả tư tưởng bằng lỗ miệng, bằng cách nói; có nghĩa tiếng Pháp không thể đứng ngang với Lục Thư.

    Thứ hai, khi nói từ mệnh 辭命, khả năng nói, là rất quan trọng trong mối liên lạc giữa các xứ khác nhau, TT đã cho thấy so sánh cao thấp. Hai chữ nầy nằm trong một đoạn danh tiếng trong sách Mạnh tử 孟子. Vài môn đệ của Khổng Tử nói rất hay (thiện vi thuyết từ 善爲說辭). Nhưng Khổng Tử cho biết ông không giỏi nói. 我於辭命則不能也, ngã ư từ mệnh bất năng dã.

    Những câu chuyện nhỏ thế này đã nuôi giữ trong đầu các học giả Á Châu hệ cấp bất bình đẳng giữa viết và nói. Khổng Tử không giỏi nói có hề chi vì nói không phải là giá trị hàng đầu. Lập lại, TT gặp khó khăn khi phải giải thích sự cần thiết một ngôi trường dạy Pháp ngữ. TT giải thích vì sao chấp nhận ổn thỏa phải học ở những người một mặt đặt “nói” cao hơn “viết” trên nất thang giá trị, đồng thời thuộc hàng tỉnh chứ không phải trung ương.

    Chỉ dụ thành lập QH có nhiều điều hấp dẫn. TT phải đương đầu với những thay đổi khó tin xẩy ra quanh mình. Thế giới đổi thay nầy được phản ảnh qua ngôn từ đã dùng như phương thư và liệt quốc chi giao 列國之交, giao tiếp giữa các quốc gia.

    Ngày nay có thành ngữ quan hệ quốc tế 國際關係 (international relations) nhưng chưa có vào thời TT cũng như danh từ ngoại giao 外交, diplomacy chưa có. Trước khi người Pháp đến vào thế kỷ 19, VN chỉ có danh từ bang giao 邦交, liên lạc cấp vùng (domainal relations). Danh tự nầy dùng cho một hệ thống đẳng cấp Đông Á giữa chính quốc (Tàu) và các nước nhỏ chung quanh, những tiểu quốc chư hầu. Thành ngữ nầy xuất hiện 500 năm trước Tây lịch, và thời chiến quốc Xuân Thu. Sách lễ ký 禮記 ghi trong đoạn nói về các nghi lễ triều cống của chư hầu dâng lên vua nhà Chu. Ở VN trước thế kỷ mười chín, danh tự nầy biểu lộ đẳng cấp trong tương quan chính quốc và tiểu quốc giữa nhà Thanh và nhà Nguyễn.

    Liệt quốc chi giao 列國之交, interrelations between various countries, người VN bắt đầu dùng vào thế kỷ 19 để nói về sự liên lạc mới có đối với các dân tộc tây phương; đâu đó giữa bang giao và ngoại giao. Trong lúc ấy, liệt quốc chi giao đòi hỏi một kỹ năng mới là nói tiếng Tây; mà lại vào thời 1896, người Việt không sành món nầy.

    Do đó phát sinh nhu cầu chính đáng phải mở trường QH năm 1896. Nhưng đó cũng là thách thức của TT: làm sao thuyết phục các học vị trong triều, tức là những người học cách khinh thị những thành phần như người Pháp, khinh thị kiến thức và cách thông tri của họ. Nhưng nay phải đồng ý cho con cháu học những kiến thức ấy, học với những kẻ thấp hèn ấy.

    Người Pháp không đủ sức hiểu và không cần hiểu những suy tư thâm sâu và bác học của vua Thánh Thái. Ngày nay với những người thông hiểu Hán tự, chiếu chỉ của Hoàng Đế Thành Thái sẽ cung hiến cái nhìn đầy đủ về thời đại của vua và những khó khăn vua phải đương đầu.–

    Bản tiếng Anh gốc: https://leminhkhai.blog/emperor-thanh-thais-edict-to…/

    ———————————————————–

    Vài ghi nhận của người dịch

    1.- Một Facebook về lịch sử đăng một bài nhan đề Chiếu Chỉ vua Thành Thái Lập QH, không nói dịch từ chỗ nào. Nhưng xem mấy hàng đầu, độc giả có thể biết từ bản dịch người Pháp kèm vào nghị định của Toàn Quyền Rousseau; tức là bản dịch mà Lê Minh Khai cho thấy sai lạc thiếu sót.

    Quand on veut donner un développement sérieux à l’instruction, on ne se borne pas à un enseignement exclusif, de même que pour assurer la régularité de l’enseignement, il est indispensable de créer des cours d’études. Or, eu dehors des livres sacrés de Chine, il existe d’autres ouvrages des divers pays et le mandat de porter la parole est chose très importante dans les relations internationales. (xem hình)

    Muốn cho việc giáo dục được hoàn bị, không nên hạn chế học vấn trong khuôn khổ hẹp hòi. Trái lại, để đảm bảo cho việc giáo huấn được điều hòa cần mở ra các lớp học thường xuyên. Nay ngoài những thánh kinh, hiền truyện của Trung Hoa lại còn nhiều sách trước tác ở các nước khác và trách nhiệm của người đại diện phát ngôn trong lúc giao thiệp trên trường quốc tế rất là quan trọng.

    Thánh Kinh? The Bible? “Trách nhiệm người phát ngôn?”. Tôi không tin người dịch có một ý niệm căn bản về Hán Tự và Pháp ngữ. “Mandat” trong ngữ cảnh nầy chỉ là khả năng, kỹ năng. “Porter la parole”, một động từ và danh từ bổ túc, là lối nói văn hoa dành cho công việc hằng ngày là phát ra tiếng nói bằng mồm, hoặc cao hơn như biện thuyết, diễn thuyết. Ở đây không có phát ngôn viên. Porte-parole mới là spokeman.

    2.- Theo Võ Hương An, người biết rất nhiều về Huế qua các sách khảo cứu, Quốc Học là tên rút ngắn từ bốn chữ Quốc Gia Học Đường; 4 chữ nầy ghi trên một bức hoành nghi hiện treo tại trường. VHA làm rể nhà thầy Nguyễn Đình Hàm, hiệu trưởng đầu tiên khi trường mang tên cũ QH, tiếp theo tên Quốc Học Ngô Đình Diệm 1955. Nguyễn Phúc Bá, lang quân của Lương Thúy Anh, cho biết hiện nay trường còn lưu giữ một văn kiện ghi tên trường Quốc Gia Pháp Tự Học Đường. Về sau còn có tên nhiều người biết là Khải Định. Khải Định, QH nói chung, là những tên về sau. Quốc học trường là tên trên chiếu chỉ nhà vua. Ba chữ nầy nằm ở góc trái trên hình chữ Hán đính kèm.

    3. Nhiều người sẽ ngạc nhiên về thuở ban đầu QH là một trường ngôn ngữ. Không rõ lúc nào trường trở nên một học đường đầy đủ. Tham luận với tác giả Lê Minh Khai, tôi cho rằng QH là một Sorbonne của Trung Kỳ, sản xuất một phần lớn thành phần trí thức, cho đến 1975. Nhiều người đã có tú tài QH Khải Định mà chưa một ngày ở trong trường này vì quân lính Pháp đồn trú từ 1946 đến 1954 theo hiệp ước sơ bộ ký với Sainteny. Trường chia làm hai, một nửa xuống trường Việt Anh sau thành Nguyễn Tri Phương cũ, một nửa gởi rể bên Đồng Khánh.

    Cách mạng “bài phong” 1954 đã hất cẩm bào Gia Long khỏi đường ngã giữa, tuột áo Khải Định nhưng không tuột … Đồng Khánh để còn giữ cho đến 1975.

    4. Vua Thành Thái đề cập “lục kinh” có ý khác “tứ thư ngũ kinh” của Tàu diễn tả Khổng Học. Công thức nầy có từ thời Chu Hy nhà Tống (gọi là Tống Nho), chỉ dùng ngũ kinh, tuy từ trước là lục kinh. Bớt đi kinh nhạc, vì kinh nầy đã mất khi Tần Thùy Hoàng cho đốt sách, chỉ còn đôi chương không quan trọng, nay ghép vào kinh lễ thành tiểu mục nhạc ký. Ngũ kinh là: kinh thi, kinh thư, kinh dịch, kinh lễ và kinh Xuân Thu. Tứ thư: Đại Học, Trung Dung, Khổng Tử và Mạnh Tử. Đa số các sách tiếng Anh thì theo vua Thành Thái và gọi lục kinh là Six Classics.

    5. Sau 1954, theo quan điểm chính thức của trường, người sáng lập là ông Ngô Đình Khả, thân sinh của ông Ngô Đình Diệm. 1972, tôi tình cờ gặp thầy cựu hiệu trưởng 1956 Nguyễn Đình Hàm đi họp chi đó nơi tôi làm việc, thầy cho một nội san “Quốc Học” theo đó người sáng lập là toàn quyền Paul Armand Rousseau. Sự thật là ông Ngô Đình Khả được chỉ định thúc đẩy việc xây trường, xem như hiệu trưởng. Toàn quyền Paul Armand Rousseau có ký nghị định thành lập nhưng là một văn kiện thi hành chiếu chỉ của vua Thành Thái; nghị định nầy đã tham chiếu chỉ dụ của vua. Trong hành chánh, nghị định thấp hơn chỉ dụ. Như vậy phải nói người sáng lập QH là Hoàng Đế Thành Thái.

    Hình ghép vua Thành Thái và trường QH, dãy lớp học nầy từ ngoài vào nằm bên trái.

    Chỉ dụ của vua Thành Thái. Ba chữ Hán ở góc trái phía trên là Quốc Học Trường

    Điều 13.- Thành phần trẻ nào đã đậu kỳ thi ra trường sẽ hưởng các quyền lợi, đặc quyền dự trù trong Chỉ Dụ hoàng triều đính kèm nghị định nầy.

    Điều 14.- Chi phí nhân viên, vật liệu, xây cất và bảo trì trường ốc sẽ do Chính Phủ An Nam đài thọ.

    Điều 15.- Khâm Sứ tại An Nam, Cơ Mật Viện chiếu nhiệm vụ thi hành nghị định nầy.

    Hà Nội, ngày 18 tháng Nov, 1896. Ký tên A. Rousseau.

    Phó thự bởi Khâm Sứ An Nam., Brière

    Kinh đô thành thị coi trọng việc viết (writing); ngoại ô và thôn quê chỉ sành nói (speech).

    Theo FB

  • Tài liệu

    Nguyễn Văn Tường (1824-1886)

    Năm 1883, vua Tự Đức băng hà, trong tình hình Bắc Kỳ đang bị thực dân Pháp xâm lược lần thứ hai. Mặc dù Henri Rivière cũng bị giết chết trong một trận đánh do Hoàng Tá Viêm làm tổng chỉ huy, Lưu Vĩnh Phúc trực tiếp cầm quân, các tỉnh Bắc Kỳ vẫn chưa thu hồi được, kinh đô Huế lại đứng trước nguy cơ bị tấn công. Và thật sự Thuận An, cửa ngõ của kinh đô, đã bị thất thủ, không lâu sau ngày vua Tự Đức mất. Do đó, cùng với Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Văn Tường lần lượt lập rồi phế bỏ 2 vua Dục Đức, Hiệp Hòa (với lý do: một thân Pháp, “tả đạo”; một cấu kết với Pháp qua De Champeaux), nhằm mục đích đưa lên ngai vàng một vị vua yêu nước, quyết chiến với thực dân Pháp.

    Bấy giờ, quân Thanh đã sang đất Bắc Kỳ để phối hợp đánh Pháp, theo những lần thương nghị giữa Nguyễn Văn Tường, đại diện triều đình Đại Nam, và Đường Đình Canh, đại diện triều đình Đại Thanh (Trung Hoa), từ năm 1881. Nhưng trong thực tế, quân binh nhà Thanh lại mưu mô quy phục Lưu Vĩnh Phúc nhằm mục đích cùng Pháp chia đôi Bắc Kỳ (“Bắc Kỳ mỏ” và “Bắc Kỳ gạo”), lấy sông Hồng làm ranh giới.

    Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết thực hiện kế sách quân sự “tọa sơn quan song hổ đấu”, thúc đẩy chiến tranh giữa Pháp và Hoa nổ ra, còn triều đình Huế đứng vào thế trung lập.

    Nhưng triều đình nhà Thanh lại ký Hòa ước Thiên Tân với Pháp, cô lập hoàn toàn triều đình Huế. Triều đình Huế bị bắt buộc phải ký Hòa ước Giáp Thân (còn gọi là Hòa ước Patenôtre, 1884). Trong tình thế ấy, hai vị phụ chính đại thần vẫn cố gắng tiếp tục thúc đẩy chiến tranh Pháp – Hoa tiếp diễn, nhằm làm suy yếu lực lượng cả Pháp lẫn Hoa và tranh thủ thời gian để xây dựng cơ sở cho phong trào Cần Vương. Một loạt sơn phòng được củng cố, xây dựng, gồm cả “hậu lộ kinh đô”, Tân Sở (Cam Lộ, Quảng Trị). Đích thân Nguyễn Văn Tường chỉ đạo xây dựng “kinh đô kháng chiến” hoặc “kinh đô tị địa” này.

    Vua Kiến Phúc lại không may mắc bệnh, băng hà. Quốc sử quán triều Nguyễn ghi chép khá kĩ lưỡng như sau:

    “ Vua không khỏe, tháng tư trước, ngọc thể vi hoà, đình thần đã xin vua tĩnh dưỡng, và chia nhau đi cầu đảo các linh từ; sau đó đã khỏe, nhưng chưa được bình phục như cũ; đến ngày mồng 7 tháng này, ngày kỷ mão, mới ngự điện Văn Minh, chịu lễ chầu mừng, ban thưởng lụa hoa cho các bầy tôi có sai bậc, rồi sau lại không được khỏe. Thái y tiến thuốc, không thấy công hiệu. Ngày mồng 10, nhâm ngọ, bệnh kịch; giờ ngọ hôm ấy vua mất ở chính điện Kiền Thành. Hoàng thái phi bèn vời bọn Tôn nhân phủ Miên Định, phụ chính phủ thân đại thần Hồng Hưu, Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết và Hộ bộ thượng thư Phạm Thận Duật, truyền bảo hoàng đế di chúc rằng:

    Hoàng đế đức mỏng, có em là Ưng Lịch có học có hạnh, hoàng đế như có mất đi, truyền bảo tôn nhân phụ chính nên lấy Ưng Lịch vào nối ngôi lớn, để phụng tôn miếu; lại đại lễ tiên hoàng đế chưa xong, và lấy của dùng chưa sẵn, vậy hợp thành tang lễ châm chước làm được 4, 5 phần mà thôi, chớ cầu thể lệ.

    Bấy giờ, Miên Định công và phụ chính thân đại thần truyền lệnh cho biết. Tôn nhân phủ, văn võ đình thần bèn hợp từ tâu lên Từ Dụ thái hoàng thái hậu; hoàng thái hậu rước công tử Ưng Lịch (là con thứ 5 Kiên Thái vương Hồng Hợi, biện phụng vương ấy), vào nhà tang xưng là tự quân, phàm việc tâu xin tuân hành; chọn ngày lành làm lễ tấn tôn (đó là vua Hàm Nghi)…[1]

    Ngày 12 tháng 6 âm lịch, năm Quý Mùi (1884), Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết cùng Tôn nhân phủ, đình thần lập vua Hàm Nghi lên ngôi.

    Hai vị phụ chính cùng các thành viên nhóm chủ chiến (Trần Xuân Soạn, Trương Văn Để…) đã có một vị minh quân để tiếp tục đương đầu với Pháp cũng như với bộ phận khá lớn giáo dân Thiên Chúa giáo được cho là bị các cố đạo phỉnh gạt, cầm súng, đào hào, tiếp tế lương thực cho Pháp.

    Chính phủ Pháp quyết thực hiện xâm lược toàn bộ Đại Nam. De Courcy được cử sang với mục đích hoàn tất việc chiếm trọn Bắc Kỳ và bắt đầu tấn công chiếm cứ kinh đô Huế. Câu nói của De Courcy, hầu như ai cũng biết, “cần phải giải quyết việc này ở Huế”; và ông ta đã vạch kế hoạch bắt sống hoặc tiêu diệt nhóm chủ chiến triều đình Huế, đứng đầu là Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết.

    Cuộc kinh đô quật khởi và bị thất thủ (05-7-1885)

    Bài chi tiết: Trận Kinh thành Huế 1885

    Ngày 23 tháng 5 âm lịch, Ất Dậu (khuya ngày 4 tháng 7, bước sang ngày 5 tháng 7 năm 1885), tuy thi hành kế sách “không biết gì”, nhưng thực sự ông cùng Tôn Thất Thuyết chỉ huy cuộc tấn công một cách bất ngờ vào Sứ quán Pháp bên kia sông Hương và doanh trại Pháp tại Mang Cá (Huế), nhưng thất bại. Thực chất đó chỉ là đòn đánh trước để giành thế thượng phong, mặc dù biết rằng De Courcy cố dùng kế khích tướng, ép buộc quân Đại Nam phải tấn công trước (Đại Nam tấn công trước thì không nước nào trách được việc Pháp vi phạm các hòa ước).

    Nguyễn Văn Tường cho người rước vua Hàm Nghi và Tam cung (thái hoàng thái hậu Từ Dũ, Trung phi Vũ thị, Học phi Nguyễn thị) ra khỏi kinh thành; trong khi đó, Tôn Thất Thuyết và Trần Xuân Soạn vẫn cố kìm giữ sự tấn công của Pháp. Trần Xuân Soạn là vị tướng can trường, ông có nhiệm vụ rút quân cuối cùng.

    Theo dự kiến mà nhóm chủ chiến đã vạch ra trong trường hợp kinh đô thất thủ (phương án 2), Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết lúc ấy liền quyết định đưa vua ra thành Quảng Trị, rồi sẽ đưa lên Tân Sở (tại huyện Thành Hóa, tức là Cam Lộ) để tránh đạn quân xâm lược Pháp, đồng thời phát Dụ Cần vương.

    Trong lúc đó, một mặt được lệnh của bà Từ Dũ và vua Hàm Nghi, mặt khác là thực hiện phương án 2, ngăn cản Pháp truy kích xa giá, thực thi kế sách “kẻ ở người đi” (đàm và đánh), nên ông đã quay lại điều đình với Pháp[2]. Nguyễn Văn Tường đã nhờ giám mục Caspar (có tên tiếng Việt là Lộc) của giáo đường Kim Long đưa sang Sứ quán để gặp tướng De Courcy (qua môi giới Caspar cũng là cách mà vào năm 1883, khi Thuận An thất thủ, Trần Tiễn Thành, Nguyễn Trọng Hợp đã thực hiện trong việc “cầu hòa”). Sau khi De Courcy buộc Nguyễn Văn Tường ban bố một vài lệnh lạc “hòa hảo giữa hai nước Việt – Pháp”, ông ta lại ra thời hạn cho Nguyễn Văn Tường: trong vòng hai tháng phải tìm cách để đưa vua Hàm Nghi và Tam cung về.

    Nguyễn Văn Tường phái Phạm Hữu Dụng cầm sớ ra Quảng Trị, tâu xin rước vua về, nhưng Tôn Thất Thuyết cản sớ không cho vua biết. Tôn Thất Thuyết dặn Phạm Hữu Dụng: Nguyễn Văn Tường cố gắng thương thuyết với Pháp 2 điều là Pháp không được tiếp tục bức hiếp và phía ta cũng nên “đoàn kết” với Pháp. Nếu được như thế, mới có thể rước vua Hàm Nghi về lại kinh đô.

    Nguyễn Văn Tường lại viết sớ vấn an Tam cung, và đệ trình về việc Tam cung tạm về Khiêm lăng (lăng Tự Đức) trong khi chờ vụ việc được giải quyết.

    Về việc Tôn Thất Thuyết cản Phạm Hữu Dụng trực tiếp dâng sớ lên vua Hàm Nghi và cũng không cho vua biết: Đây có thể là một khía cạnh mâu thuẫn trong sách lược mà hai vị phụ chính đã bàn với nhau, và chắc hẳn đúng hơn là do tình huống mới nảy sinh, nên đó chỉ là một “động tác giả”, để thực hiện thủ thuật “hai mặt”, nhằm đối phó với Pháp. Nhưng ngay sau đó, bằng sự liên lạc mật, họ lại nhất trí vẫn duy trì kế sách “kẻ ở người đi”. Từ Tân Sở, Dụ Cần vương chính thức và duy nhất được ban bố, cùng thời điểm vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết gửi về Huế một bản sắc dụ cho Nguyễn Văn Tường. Mật dụ của vua Hàm Nghi (và Tôn Thất Thuyết) từ Tân Sở gửi về Nguyễn Văn Tường, cùng một ngày phát Dụ Cần vương, 2 tháng 6 năm Ất Dậu (13 tháng 6 năm 1885):

    “ … Tôn Thất Thuyết còn giữ giá vua còn đóng ở Phòng Quảng Trị, đã kèm vua ra Lệnh dụ Thiên hạ cần vương, lại sẽ dụ bảo Nguyễn Văn Tường và yên ủi những người họ mạc ở trong kinh, đều một đạo, do đường dịch lộ chuyển chạy về kinh. (Khi ấy tự Phòng đến kinh ống trạm còn chuyển đệ được). Đó đều là việc từ mồng 7 tháng này trở về trước.

    Ngày mồng 2 dụ Văn Tường, lược nói:

    Y [De Courcy] thấy ta càng khuất, y càng ngày càng lấn, khiến Triều đình không còn mặt mũi nào, vạn bất đắc dĩ mà ta mới phải làm cái kế bỏ thành đi ra ngoài. Nay đại thần Tôn Thất Thuyết cùng ta cùng quanh quẩn, còn ngươi là phụ chính đại thần thì ở lại mà thương đàm, kẻ ở người đi đều lấy lòng yêu nước lo dân làm căn bản. Trời đất thực cũng chứng giám. Ngươi nên khéo thể tấm thịnh tình của tiên hoàng đối với nước láng giềng rất có thuỷ chung và cùng y giảng rõ về lý thế, cân nhắc về lợi hại, hết lòng thoả hiệp, phàm những khoản gì bách thiết, chung nhau bàn đổi, cốt khiến cho hai nước như anh em, vinh nhục cùng quan hệ, vui lo cùng chung nhau mười phần chân thành, không còn dùng đến uy thuật. Lúc này ta mệnh cho hồi loan, trên để phụng dưỡng ba cung, dưới để yên lòng thần dân, khanh cùng với Tôn Thất Thuyết trung trinh chói lọi, muôn thuở cùng sáng, những phường nịnh tử gian phu, đều phải lặn hình giấu bóng. Nam triều ta há chẳng hân hạnh ư, nước Đại Pháp chắc cũng vui vẻ mà cùng giữ lấy cường thịnh vậy.

    Nếu không như thế thì các miếu xã lăng tẩm và các vương công không kịp đi theo ấy thì hết thảy uỷ cho khanh. Ta duy có chọn đất lánh ở, sợ trời vui trời, rường cột cương thường, cả nước cùng thế, không đâu không phải là Triều đình và không phải là tôi con vậy. Trẫm quyết không cùng với họ tranh được thua vậy.

    Tình thế ví lại không thôi, trẫm nguyện phái thêm cán viên, lấy đường đi khắp các nơi, nghiêm sắc cho Ninh Bình trở về phía Bắc, bao nhiêu quan tỉnh, phủ, huyện đều để ấn lại mà đi, người nào như có trung nghĩa tài lược không kể quan hay dân, đều cho được tiện nghi làm việc [nhân dân, sĩ phu khởi nghĩa], cốt không phụ tấm lòng tốt của triều đình dưỡng dục, tác thành, yên được bóng thiêng liêng ở trời của liệt thánh, và đáp phó được nguyện vọng [khởi nghĩa chống Pháp] tha thiết của thần dân trong nước. Khanh nên nghĩ cho kỹ nhé, có muốn nên tâu đối, thì gởi theo đường trạm chờ xét cũng chẳng hại gì.[3]

    Sau đó ít hôm, vào ngày 7 tháng 5 năm Ất Dậu (18 tháng 7 năm 1885), vua Hàm Nghi (và Tôn Thất Thuyết) lại từ Tân Sở gửi một mật dụ về Huế cho hoàng tộc:

    “ Ngày mồng 7, dụ các người trong họ, đại lược nói:

    Dụ Thọ Xuân vương, phụ chính Hoài Đức công và các bọn hoàng phiên, công chúa nghĩ coi: Nước Nam ta nhiều lần bị kẻ khác bức hiếp nhiều khoản, phàm có tai mắt khí huyết không ai là không uất ức buồn rầu, chẳng riêng người trong họ ta mà thôi. Trẫm vâng di mệnh của tiên quân, và các vương công phụ thần cùng suy tôn lên quyền giữ việc nước. Phàm có trăm điều đều duy kiến nghị, phải ấy thì theo. Trẫm tuổi trẻ, kiến thức chưa rộng, dám đâu chuyên trái việc gì, cho nên hễ khi tiếp được thư của nước Đại Pháp gửi đến khoản gì, nếu quá lăng nhục và yêu sách quá đáng, nhân tình không thể chịu được, mật nghe vương công và các phụ chính khuyên bảo, không đâu là không cưỡng tự đau đớn nín náu, chịu theo êm việc, vì muốn bảo toàn xã tắc, để họ mạc lâu dài hưởng tôn quý giàu sang vậy. Không ngờ sứ Pháp ngang ngược ngày thêm, không còn được chút quốc thể, cúi xuống đất, ngửa lên trời, xiết bao hổ thẹn, vạn bất đắc dĩ mà phải làm ra việc này; quay nhìn nơi lăng miếu và các bậc ý thân, thực không biết bao nhiêu là tưởng nhớ, chả biết trong tôn tộc từng có tin đến sự lo xuôi nghĩ ngược của ta không? Nay đã có phụ chính huân thần là Nguyễn khanh [Nguyễn Văn Tường] ở lại giảng nói, che chở nhiều việc, hơi được yên ổn; huân thần tâm sự như thế, cáng đáng như thế, thực là đau khổ quá chừng. Nhân vật nước ta, những người trung nghĩa từ xưa, tưởng không hơn được. Trẫm cũng dụ cho đại thần ấy hết lòng bàn tính công việc, tâu chờ quyết định. Vương công đều là cốt nhục chí thân, đều nên thương ta khổ tâm, thể tất ta vô cùng. Phàm việc gì cùng với Nguyễn khanh châm chước thoả đáng, cốt không trái với cương thường của trời đất. Nên được nền bình trị lâu dài của quốc gia, ngõ hầu để được tiếng thơm muôn đời, thế là lành lắm, tốt lắm. Trời đất dài lâu, gặp nhau có hẹn. Nước nhà suy thịnh, gặp hội đổi thay, càng nên trân trọng di dưỡng, để yên tấm lòng xa của người tuổi trẻ. Còn ra sẽ uỷ cho Nguyễn khanh sẽ vì ý thân điều đình cho thoả đáng, vụ được như thường. Phàm người họ ta, cần tin lời ta nhé, thế thì ta mới yên lòng.[4]

    Trong hai tháng đó, Nguyễn Văn Tường hoàn toàn bị Pháp quản thúc ngay tại Sở Thương bạc, do một trung đội lính viễn chinh thuộc Pháp canh giữ, sĩ quan Schmitz chỉ huy. Tất cả mọi sắc dụ ký tên thái hoàng thái hậu Từ Dũ đều do Miên Định (chú ruột vua Tự Đức, hiện giữ chức nhiếp chính giám quốc) bàn bạc, thông qua và Nguyễn Nhược Thị Bích (tác giả Hạnh Thục ca) chấp bút.

    Tuy ở trong thế bị quản thúc nghiêm ngặt, Nguyễn Văn Tường vẫn đấu tranh hết sức gay gắt với nhóm người “đón gió xoay buồm”, trực diện là với Nguyễn Hữu Độ (người đã có ý theo Pháp từ 1873—theo ghi chép đã xuất bản của Jean Dupuis và theo Đại Nam thực lục chính biên), trong việc phong chức hàm cho ông ta với quyền hạn “phó vương” tại Bắc Kỳ, thành lập Nha Kinh lược tại đấy, mà thực chất là mất hẳn Bắc Kỳ vào tay Pháp và các cố đạo như Puginier.

    Trong khi đó, phong trào “Cần vương, bình Tây, sát tả đạo” đã bùng nổ ra khắp cả nước, đặc biệt là ở các tỉnh tả kì (phía trái cửa ngõ vào kinh đô, tức là phía Nam). Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, chính Nguyễn Văn Tường đã lãnh nhiệm vụ chỉ đạo tổng quát ở miền đất ấy, trong khi Tôn Thất Thuyết phụ trách các tỉnh hữu kì (phía Bắc) (xem cáo thị khi giặc Pháp bắt Nguyễn Văn Tường bên dưới).

    Lưu đày và cái chết nơi biệt xứ (1885–1886)

    Hết hạn hai tháng, đúng vào ngày 27 tháng 7 Ất Dậu (5 tháng 9 năm 1885), Pháp ra lệnh bắt Nguyễn Văn Tường. De Courcy chỉ thị De Champeaux công khai cáo thị khắp nước. Quốc sử quán ghi nhận như sau:

    “ Đô thống Đại Pháp là Cô-ra-xy [De Courcy] bắt thái phó, Cần Chánh điện đại học sĩ, lãnh Lại bộ thượng thư, kiêm sung Cơ mật viện đại thần, Kì Vĩ quận công, là Nguyễn Văn Tường xuống tàu thủy chạy đi Gia Định.

    Cứ theo lời cáo thị của khâm sứ Tham-bô [De Champeaux] nói: Văn Tường từng đã chống cự nước ấy [nước Pháp] thực đã nhiều năm. Từ khi cùng Tôn Thất Thuyết sung làm phụ chánh, chỉn [vốn] lại đổng suất quan quân nổi dậy công kích quan binh nước ấy; và Văn Tường do đô thống ấy xin [chính phủ Pháp] cho hai tháng [nhằm để] lo liệu việc nước cùng Bắc Kỳ cùng được lặng yên vô sự; [kì thực] đến ngày 27 tháng ấy hết hạn, mà các tỉnh tả kỳ về phía Nam, có nhiều nơi nổi quân chém giết dân giáo. Đến đây đô thống ấy định án, ưng [nên; phải] kết tội lưu.

    Hôm ấy chở đem Văn Tường đến cửa biển Thuận An; buổi chiều Nguyễn Hữu Độ, Phan Đình Bình đi tàu thủy Pháp cũng về đến cửa biển ấy.

    (Thuyền Pháp chở Văn Tường đến Gia Định, sau chở gồm cả Phạm Thận Duật, Lê Đính [Tôn Thất Đính] đem về nước ấy [thuộc địa Tahiti]; Thận Duật trong khi đi đường bị ốm chết ở trong tàu, buông xác xuống biển)…[5]

    Không những người Pháp ở Gia Định đổ một loại hóa chất gây cháy bỏng vào miệng Nguyễn Văn Tường, khi tra tấn (để khỏi la hét, gào rú), De Courcy còn đánh điện tín cho Caffort, chúa đảo Côn Đảo: “Tầm quan trọng của những tù nhân chính trị này đòi hỏi họ phải được giám sát nghiêm ngặt với bất cứ giá nào”; trong đó, Nguyễn Văn Tường là “kẻ thù nguy hiểm nhất” đối với Pháp[6].

    Khi ông và hai người bạn tù của ông đã bị giam giữ tại Côn Đảo, chính phủ Pháp lại chuẩn bị lưu đày họ tận Tahiti; bấy giờ, triều Đồng Khánh, dưới sự chỉ đạo của De Courcy, đã “xử án vắng mặt” nhóm chủ chiến triều đình Huế, với nội dung chính là hành trạng của họ từ ngày 5 tháng 7 đến 5 tháng 9 năm 1885. Bản án chung thẩm ấy được xét xử, công bố vào tháng 8 âm lịch Ất Dậu (tháng 9 năm 1885):

    “ Tôn nhân phủ và đình thần dâng sớ tâu bày tội trạng của Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết, xin tước hết quan tước và tịch thu gia sản; tham tri Trương Văn Đễ đã quá cố, và chưởng vệ Trần Xuân Soạn, đều là bè đảng làm loạn, cũng tước cả quan chức. Trong bọn ấy, thì Tôn Thất Thuyết, Trần Xuân Soạn, xin do quan địa phương xét bắt bằng được và chém ngay, để tỏ rõ hiến pháp trong nước. Vua nghe theo.[7] ”

    Lúc khoảng 4 giờ 30 sáng ngày 30 tháng 7 năm 1886, tại Papeete, một làng trên quần đảo thuộc địa Tahiti của Pháp, Nguyễn Văn Tường mất vì bệnh ung thư cổ họng[8]. Sau một vài tháng quàn giữ, di thể ông được Tôn Thất Đính đưa về Đại Nam.

    Trước tác

    Một số văn bản tài liệu

    Lúc sinh thời, ông nổi tiếng là người sắc sảo, cả quyết và mưu trí. Trong khi làm quan, ông đã dâng lên vua nhiều tấu sớ. Hầu hết các tài liệu này đã được vua Tự Đức đích thân phê duyệt, và được các quan lưu giữ tại các nha môn, bộ, viện và tại Quốc sử quán. Số di cảo này đã được Nhóm Tư liệu Hán – Nôm lịch sử cận đại Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh và nhóm giảng viên Đại học Sư phạm Huế sưu tầm, dịch thuật.

    Nam Kỳ tấu nghị (chưa xuất bản toàn bộ, chỉ mới ấn hành từng phần)

    Bắc Kỳ tấu nghị (chưa xuất bản, chỉ mới ấn hành từng phần)

    Thương bạc viện phúc (chưa xuất bản, chỉ mới ấn hành từng phần)

    Văn thư thương thuyết Nhà Thanh viện binh tiễu phỉ.

    Sáng tác thơ ca

    Nguyễn Văn Tường còn có một tâm hồn thơ ca và những bài thơ giàu cảm xúc, đầy trách nhiệm trước vận nước. Nhưng đa số thơ được Nguyễn Văn Tường sáng tác, hiện còn lại, chủ yếu là trong 5 năm tiễu phỉ ở núi rừng phía Bắc và một vài tỉnh gần kề với Lạng Sơn

  • Tài liệu

    Chuyện chiếc cầu tăm

    Trương Nguyện Thành 

    05/10/2020

    Tác giả, GS Trương Nguyện Thành. Nguồn: VNN

    Câu chuyện xảy ra với tôi cách đây 40 năm trước và từ đó đến nay tôi chưa hề nói với ai kể cả người trong gia đình. 

    Trong lúc tranh luận với ông Biden, ứng viên tổng thống từ đảng Dân Chủ, TT Trump truyền đạt thông tin cho nhóm cực đoan white supremacy Proud Boys ‘stand back and stand-by’ như mệnh lệnh của cấp chỉ huy ‘lui về và chờ lệnh tôi’.

    White supremacy là một nhóm người da trắng, tin rằng người da trắng hoàn hảo về mọi mặt kể cả thông minh hơn tất cả chủng tộc khác. Những cảm xúc của 40 năm về trước ùa về và tôi quyết định nói ra mặt trái của xã hội Mỹ về phân biệt chủng tộc ngày hôm nay.

    Khi mới qua Mỹ, tôi phải học lại một năm trung học vì không biết tiếng Anh và cũng không có một tài liệu minh chứng trình độ học vấn nào trong người. Gần cuối học kỳ mùa đông năm ấy (1981), thầy lớp Vật lý đưa cho mỗi học sinh hai hộp tăm và một ống keo dán bảo mỗi hs làm một cái cầu với khoảng trống tối thiểu là xx inches. Sau đó sẽ có một cuộc thi coi cầu nào có sức chịu nặng cao nhất. Tất cả mọi công việc xây dựng cầu phải làm trong lớp và không được đem về nhà.

    Tất cả các bạn trong lớp háo hức bắt tay vào việc xây dựng mô hình cầu. Còn tôi thì vào thư viện lấy hết tất cả các sách nói về cầu, tôi đem về lớp ngồi xem từng cái cầu và suy nghĩ về những yếu tố cần thiết để có cây cầu vững mạnh. Tư duy này sau này tôi mới hiểu từ câu nói của TT Lincoln ‘Cho tôi 6 tiếng để đốn cái cây thì tôi bỏ 4 tiếng để mài rìu’.

    Sau hai ngày phần lớn các bạn trong lớp đã xong hơn nửa còn tôi thì chưa bắt đầu. Các bạn chọc ‘Ủa, bạn không biết làm sao à? Chứ sao không thấy bạn làm gì cả?’ Tôi chỉ cười. Đến ngày thứ 3 tôi mới lấy viết chì vẽ kiểu trên tờ giấy và vẽ đường cong mẫu cho hai cột ngang dưới chính. Nhờ có bản vẽ với kích thước thật 1:1 nên tôi hoàn tất cầu tăm cũng khá nhanh chóng.

    Buổi thi đấu bắt đầu, tất cả cầu tăm được dán số, được chưng ở hành lang trường dẫn đến phòng ăn trưa để tất cả học sinh trong trường bầu chọn chiếc cầu được thiết kế đẹp nhất. Cuối ngày khi đếm phiếu, cầu tôi được giải ‘đẹp nhất’.

    Ngày hôm sau thi đấu kỹ thuật. Các thẻ tạ 5 và 10 lbs được để lên cầu đến khi nó gãy. Các bạn háo hức thử cầu của mình nên tôi thử chót. Đến lượt tôi thì cầu chịu nặng nhất là 90 lbs. Khi cầu tôi lên 100 lbs thì ai cũng trầm trồ.

    Tôi như nín thở khi để tạ lên. 105, 110, 115, 120, 125, 130, 135, 140 lbs tôi thấy cầu bắt đầu run và bung một cây chống ngang nhỏ ở dưới đáy. Tôi nói thầy: ‘Em không muốn thử nữa. Đủ thắng rồi và em muốn giữ nó làm kỷ niệm.’ Thầy OK và nói với cả lớp, kỷ lục xưa này của lớp là 120 lbs và tôi đã phá kỷ lục vượt lên trên 140 lbs (vì cầu chưa gãy). Hôm đó tôi vui lắm ôm hai giải cups về khoe cha mẹ nuôi.

    Chiếc cầu tăm của tác giả. Ảnh: Trương Nguyện Thành

    Vài ngày sau đó, trên báo của trường có một bài bình luận nặc danh đưa ra một thuyết âm mưu “Để một đứa tị nạn từ Việt Nam, tiếng Anh thì không biết, kiến thức thì cũng không mà có thể đạt được cả hai giải vật lý và phá kỷ lục xưa nay bởi 20 lbs là điều không thể. Điều đó chỉ có thể xảy ra là người đó ‘cheat’, lừa đảo hay gian lận bằng cách nào đó mà chưa phát hiện được mà thôi“.

    Khi vào lớp Lý, một bạn đưa bài cho tôi đọc. Thầy hôm đó rất giận, mắng các bạn rất nhiều, tôi không rõ hết (vì tiếng Anh còn kém) nhưng đại khái ‘Các em thấy bạn Thành biết bỏ thời gian chuẩn bị, biết nghiên cứu, biết ngồi tính toán và thiết kế, các em đã không có làm điều đó. Kết quả cuộc thi quá rõ ràng như thế… các em thua thì cũng nên thua một cách lịch thiệp (‘loose gracefully’)…’

    Trường tôi nằm ở miền Bắc tiểu bang Minnesota, ở một khu vực đồng quê khá hẻo lánh và đa số là người da trắng. Trong trường chỉ có một vài đứa da màu là con nuôi của những gia đình Mỹ trắng và tôi là một trong số đó. Lớp Lý của tôi có một số bạn thật là hoàn hảo, học giỏi, chơi thể thao giỏi, chơi nhạc cụ cũng giỏi, chẳng những thế mà còn đẹp trai đẹp gái nữa và theo tôi biết từ các bạn khác thì họ là con của những nhà giàu trong khu phố nhỏ.

    Một hôm trong lớp Lý, tôi xin phép được đi vệ sinh. Chừng một phút sau thì tôi thấy một số (4) bạn trong lớp (trong nhóm học sinh hoàn hảo) cũng vào phòng vệ sinh. Một bạn to lớn (dân chơi football) đứng dang tay, dang chân chặn cửa không cho tôi ra trong khi ba bạn còn lại bắt đầu la hét vào tai tôi hoặc đưa mặt sát vào mặt tôi la hét.

    – Thằng ngu xuẩn kia mày tưởng mày thông minh lắm hả. Mày là một thằng ngu xuẩn, tiếng Anh thì không biết nói, mày từ những cái chòi tranh vách đất mà tao thấy trên TV. Vậy mà mầy nghĩ mày thông minh hả…

    – Mày hãy về lại cái chòi của mày đi. Ở nước Mỹ này không welcome mày và cũng không có gì cho mày. Cút về Việt Nam đi đồ khốn.

    Tôi van xin cho tôi đi ‘Please, let me go’ nhưng tên to con đã dùng thân cản cửa ra vào và còn hét vào mặt tôi ‘Tụi tao đang nói chuyện với mày đấy, mày có biết không thằng ngốc’. Chúng liên tục chửi bới và tôi phải đứng yên chịu trận. May quá tiếng chuông reo hết tiết đã cứu tôi. Trước khi bỏ đi chúng còn hăm dọa ‘Mày mà báo cáo với trường thì chúng trao sẽ treo cổ mày như mấy thằng da đen đấy’.

    Tôi không phải là người thông minh. Nhưng mỗi lần nhìn vào cái cầu tăm này tôi có thêm động lực để phấn đấu vượt qua mọi khó khăn và quyết tâm để lại dấu ấn ở những nơi tôi học hay làm, để những người theo chủ nghĩa white supremacy phải suy nghĩ.

    Khi ông Trump bảo nhóm Proud Boys ‘stand-back and stand-by’ đã thể hiện ông ta là thủ lĩnh của nhóm White Supremacy. 40 năm sống ở Mỹ, chưa khi nào mà tôi thấy xã hội Mỹ phân rẽ tồi tệ như 3-4 năm qua và ông Trump trong cương vị Tổng Thống chỉ đổ dầu thêm vào lửa.

    Qua trải nghiệm của năm đầu sống ở Mỹ, tôi trở nên rất nhạy bén nhận ra những người kỳ thị chủng tộc. Tôi có thể nói rằng ông Trump là một người theo chủ nghĩa White Supremacy, kỳ thị người da màu và không xứng đáng là một tổng thống của một nước hùng mạnh nhờ vào đa dạng chủng tộc. Tuy thế tôi vẫn cầu mong cho ông chóng khỏi bệnh dịch covid-19. Tôi nghĩ ông sẽ chóng khỏi thôi vì với ông, nó chỉ là một bệnh cảm bình thường không có gì phải quan ngại!

    Tôi biết rất nhiều bạn Việt Nam ủng hộ ông Trump vì ông ta chống TQ. Nhưng tôi sẽ bầu ông ra khỏi ghế Tổng thống trong tháng sau. Bầu cử lần này không phải để bầu một người vào vị trí ứng cử, mà để truất phế người đang ngồi ở vị trí đó.

    ——————————

    Trương Nguyện Thành : Đại học, bằng cử nhân với danh dự (honors) ngành hóa cộng với 4 ngành phụ Toán, Lý, Công Nghệ Thông tin, và xác suất thống kê. Có 6 bài báo nghiên cứu khoa học quốc tế trong đó hai bài là tác giả chính và một bài viết với sư tổ (sư phụ của sư phụ) John Pople (Chemistry Nobel prize winner năm 1998). Kỷ lục này không biết có ai ở đó phá chưa. Tuy nhiên rất khó đấy vì trung bình một luận án Tiến sĩ có bốn bài báo quốc tế.

    Cao học, được vào Tiến sĩ dự bị chỉ sau 4 quarters (sớm nhất từ trước đến lúc ấy). Lúc ấy tôi đã có hai bài báo quốc tế với GS hướng dẫn rồi. Luận án ra trường TS với 16 bài báo quốc tế, 90% là tác giả chính. Kỷ lục này đến nay ở khoa này vẫn chưa ai phá vỡ.

    Ở ĐH Utah, thăng chức từ Assistant Professor lên Associate Professor trong 5 năm với danh sách 40 bài báo quốc tế. Thăng chức từ Associate Prof lên Full Prof cũng trong 5 năm với danh sách 100 bài báo quốc tế. Hai kỷ lục này thì từ khi TNTthăng chức Associate Prof cho đến nay, gần 25 năm chưa ai trong khoa phá vỡ.

    ***

  • Tài liệu

    TRIỀU ĐÌNH ANNAM VÀ VUA DUY TÂN DƯỚI CON MẮT NHÀ VĂN SĨ HÀN LÂM EUGÈNE BRIEUX

    Vào khoảng năm 1910, nhà văn sĩ có chân trong Hàn lâm Viện Văn chương Eugène Brieux [a] được cử đi du lịch phương Đông.

    Sau cuộc hành trình ấy về, ông có cho xuất bản một quyển sách viết theo lối nhật ký, nhan đề là “Voyage en Indochine. ‒ Simples notes d’un touriste”, trong ấy ông đã mô tả một cách rõ rệt tình hình các xứ Viễn Đông, nhất là tình hình chính trị ở xứ Đông Dương ta.

    Dưới đây là một đoạn văn ông nói về triều đình An Nam và vua Duy Tân, một đoạn mà chính ở báo này, ông Trần Thanh Mại đã có nhắc qua một lượt.

    Nay xin trích dịch ra đây cho đầy đủ, gọi là cung cho độc giả một món tài liệu về sử học, việc mà Sông Hương vẫn theo đuổi lâu nay.

    ***

    Chúa nhật 12 Novembre

    Tôi đã thấy vị hoàng đế trẻ con ấy rồi. Ông Khâm sứ và tôi đã mang bộ lễ phục đen, về dịp ấy ‒ khi mười giờ mai! Tôi đã tự lấy làm hổ thẹn về tấn kịch khôi hài mà chính tôi, tôi cũng phải đóng trước cậu bé ngây thơ ấy.

    Các quan Phụ chánh, như một đàn quạ, đến chào chúng tôi; tôi có cái cảm giác khó chịu trong khi nắm trong tay mình những bàn tay móng dài và cong, chỉ sợ gãy bể đi mất, nó bắt nghĩ đến những vuốt của thú vậy.

    Họ đi trước chúng tôi, mời chúng tôi đi qua một cánh cửa nhỏ. Đây chúng tôi đã vào tới chỗ chính điện. Các vật đầu tiên mà tôi thấy, trong khi trong óc tôi còn mường tượng những tội ác ngày xưa đã xảy ra ở đây, các vật đầu tiên ấy là một thức chơi của trẻ con, một chiếc ô-tô mà thường người ta vặn máy lò xo cho chạy ấy. Thật là buồn cười quá đi mất! Một cánh cửa khác mở ra, rồi trước hàng đình thần ghê tởm, một anh chàng tí hon mặc toàn sắc vàng, đến trước chúng tôi, đạo mạo, nghiêm trang, bị chăn giữ, bị xô đẩy nữa, và đưa tay ra chào. Trông dạng cậu bé không tới sáu tuổi.

    Ấy thế mà thương hại! Cậu lại có dáng điệu lắm đấy! Những cử chỉ cậu đã dùng để chỉ chỗ ngồi cho ông Khâm sứ và tôi, đầy những vẻ bệ vệ oai nghi. Nhưng thấy vậy, người ta chỉ có thể cảm động thương tâm mà thôi.

    Những thị vệ ăn mặc lôi thôi mang thuốc xì gà và rượu sâm banh lại ‒ trong giờ nầy! ‒ Những kẻ dâng cái cúp bằng kim khí cho vua, đều quỳ xuống cả.

    Câu chuyện bắt đầu trao đổi, nhờ một viên thông ngôn cúi gãy đôi người ra và nói nhỏ tiếng vì cung kính. Các quan đại thần thì chú mắt vào cậu bé và như ở đây, mà cũng còn nhắc cho cậu những câu vấn đáp họ đã soạn sẵn. Người ta có thể nói đó là những anh gõ đầu trẻ đứng trông học trò mình thi, cái cuộc thi nó sẽ định đoạt tương lai của họ.

    Trong khi vua đang trao đổi những câu lễ phép lấy lệ với quan Khâm sứ, tôi cố nhìn. Vua vẫn có một bộ mặt thông minh, nhưng xét cho kỹ thì thấy có dáng lo lắng buồn rầu hơn là nghiêm trang. Vua tỏ ra bộ sợ không thuộc bài của mình; trông hai bàn tay chút xíu măn mo một chiếc khăn lụa thì biết vua đang bực tức lắm. Rồi trong khi những tiếng “Tâu Hoàng thượng” lặp đi lặp lại nhiều lần, văng vẳng đến tai tôi, tôi nhìn cái mũ nho nhỏ hất lên trời ấy, cái trán nho nhỏ ấy, rồi tôi chỉ muốn nói: “Thôi được rồi! Cậu trả lời được đúng cả rồi đấy. Bây giờ cho cậu đi chơi!”.

    Nhưng vua đã xây lại tôi, và hỏi tôi đi tàu có bình an không, cái mục đích cuộc hành trình của tôi, v.v… Mỗi lần trước khi nói, vua nín lặng lâu như để cố nhớ lại đã. Nếu như không buồn thảm đến thế, thì tôi đã bật cười vì thấy cách mệt nhọc của vua trong khi gắng làm cho ra bộ thích nghe những câu trả lời của tôi.

    Xong mấy câu thi lễ cần thiết, ông Khâm sứ xoay cuộc nói chuyện ra một chiều thân thiện hơn. Bây giờ thì vua bắt đầu nói tiếng Pháp, và nghe hiểu cũng kha khá. Vua chỉ muốn cười, và mỗi khi cười thì cái mũi nho nhỏ của ngài nhăn lại ở phía trên sống, như một đứa con nít nhỏ lắm ấy. À! Thật thế ư? Ra người chú ngài đi tàu bể lại say sóng kia! Thế thì chẳng buồn cười lắm nhỉ? Rồi một giọng cười trong trẻo đưa ra, làm cho không khí bấy giờ phải ngạc nhiên… Nhưng bây giờ ông chú ấy ở đâu rồi nhỉ? Ở thành Avignon, gần thành Avignon. (1)

    Người ta còn cắt nghĩa cho vua rằng vì lòng tử tế mà chính phủ Pháp lựa xứ ấy cho chú ngài ở, vì khí hậu ở đấy cũng gần giống như ở An Nam. Vua lại cười nữa, và nói rằng mình sợ ngựa lắm.

    Nhưng bỗng nhiên vua dừng nín bặt, e lệ và nhìn trộm năm ông quan im lặng mặc y phục thâm vẫn đứng nhìn vua cung kính lắm.

    Chúng tôi ra về. Vẫn là cái bắt tay bệ vệ oai nghi như trước. Chúng tôi ra xa. Tôi đoái lui thì thấy cậu bé mặc áo vàng như muốn chạy theo nhưng mấy quan Thượng thư đã lôi lại.

    Chúng tôi lại đi qua các cánh cửa ngày xưa ít khi nào mở, và để lại sau mình, tức là ở giữa cậu bé và sự tự do, những đền đài không mỹ thuật, ẩm thấp, vắng vẻ, những thành trì xây theo kiểu Vauban, với hào, với lũy, với tất cả cánh cửa làm ra để giam cầm vua lại hơn là để bảo hộ cho vua.

    Thương hại cho cậu bé!

    Cung điện của cậu giống như một viện bảo tàng nhân chủng, ở trong ấy người ta chăm nom mà cất kỹ cái mẩu cuối cùng và quý báu của một giống đã mất rồi.

    Cậu bé ấy có tính đa cảm lạ thường, nóng nảy như tính cha. Người ta kể cho tôi rằng hễ bị rầy một tí là cậu đã đâm ra khóc nức nở.

    Không phải là cậu không biết cái địa vị của cậu. Ngay bây giờ cậu đã có nhiều cơn giận dữ, còn là vô hiệu, khiến nhiều khi cậu trở lại đương đầu với các vị Thượng thư và nói với họ rằng: “Ta là vua”.

    Vua cũng giữ thể diện của mình lắm. Có một viên thầy thuốc nhà binh mới qua, đã đến thăm vua nhiều lượt rồi mà khi nào cũng mặc áo quần trắng thường. Một hôm, vua bảo ông ta rằng:

    ‒ Như tuồng tôi chưa bao giờ thấy ông mặc lễ phục cả thì phải.

    Viên thầy thuốc xin lỗi:

    ‒ Mặc âu phục thì phải cái nóng lắm.

    Vua liền gắt:

    ‒ Thế thì ông sẽ chịu nóng vậy!

    Vua lại còn có nhiều câu nói ngẳng và xấc nữa. Trong một cuộc đại lễ, một vị quan to tưởng phải đọc cho vua một tờ chúc từ cho thật dài, vua ngắt đi nửa chừng mà bảo:

    ‒ Ông không mệt à?

    Tôi có hỏi người ta có ý đem vua sang Pháp khi nào không, thì họ trả lời:

    ‒ Có chứ! Nếu như có một cuộc đấu xảo, thì sẽ đem vua đi.

    Thương hại cho cậu bé! [b]

    EUGÈNE BRIEUX

    Nguồn:

    Sông Hương, Huế, s. 19 (5 Décembre 1936), tr. 1.

    Chú thích

     (1) Ám chỉ đức ông Hoài Ân vương Bửu Yêm, hồi ấy qua du học bên Pháp.(nguyên chú của tòa soạn S.H.)

    [a] Eugène Brieux (1858-1932) người Pháp, nhà viết kịch, nhà báo, nhà du lịch; cuốn du ký kể tên trong bài xuất bản năm 1910.

    [b] Bài dịch không ghi tên dịch giả; vậy tác quyền thuộc tòa soạn, tức là do Phan Khôi dịch.

    Theo Internet