• Tài liệu

    Campuchia-Từ Hun Sen đến Hang Chuon Naron

    Đỗ Ngà FB

    Đất nước Campuchia là đất nước trải qua 2 giai đoạn cộng sản. Giai đoạn đầu là Cộng Sản Kmer Đỏ, quân này cho truy giết tầng lớp trí thức và chỉ giữ lại tầng lớp dân ngu dễ trị, trong đó có 80% giáo viên bị giết. Chính vì vậy nên trí tuệ dân tộc này gần như trở về số zero tròn trĩnh. Sau thời CS Kmer thì đến CS Heng Samrin, đâu là một chế độ bù nhìn do Việt Nam dựng lên và tất nhiên bên trong nó cũng rập khuôn Việt Nam. Cộng Sản nào cũng như nhau cả, cũng thực hiện chính sách ngu dân để trị. Có điều chính quyền CS Heng Samrin thì thực hiện chính sách giáo dục ngu dân còn chính quyền CS Kmer Đỏ thì giết trí thức.

    Đến năm 1993 đất nước Campuchia chuyển sang thể chế Quân Chủ lập Hiến và Hun Sen- một cựu bộ trưởng ngoại giao trong chính quyền CS Heng Samrin được ngồi vào ghế đồng thủ tướng cùng với hoàng thân Norodom Ranariddh. Năm 1998 thì Hun Sen đảo chính lật Norodom Ranariddh và độc chiếm ghế thủ tướng cho đến nay. Nói cho cùng Hun sen cũng là CS, vì vậy mà sau thời CS Heng Samrin, Hun Sen cần phải có một thời gian đủ dài để ông ta gột rửa được tư duy CS đã thấm vào người ông ta. 

    Và thực tế cho thấy Hun Sen chứng tỏ rằng ông ta đã thoát khỏi mớ lý thuyết giáo điều của CNCS và có cái nhìn chiến lược hơn. Trong các nước Đông Nam Á thì Singapore là quốc gia có mô hình phát triển dựa trên sự học hỏi Phương Tây trong việc tuyển chọn con người tài cho đất nước và thiết lập cơ chế minh bạch. Hun Sen đã nhìn sang Singapore và cho đến hôm nay, ông ta đã vứt bỏ toàn bộ những thứ cặn bã của CS trong người ông và hướng tới xây dựng mô hình giống Singapore.

    Học Lý Quang Diệu trong công cuộc xây dựng quyền lực cho gia tộc, ông Hun Sen đã đầu tư cho con trai Hun Manet xuất ngoại và học tại Học Viện Quân Sự West Point danh tiếng của Hoa Kỳ và sau đó trở về tiếp quản dần quyền lực. Con đường ông chọn khá giống với cách mà Lý Quang Diệu đào tạo Lý Hiển Long. 

    Năm 2013 ông Hun Sen đã mạnh dạn bổ nhiệm Hang Chuon Naron một nhà kinh tế tốt nghiệp đại học Lyon – Pháp làm bộ trưởng bộ giáo dục. Đây có thể nói là một bổ nhiệm thành công của ông Hun Sen khi ông ta nhìn thấy tài năng thực sự của ông này.

    Đứng ở góc độ kinh tế, ông Hang Chuon Naron nhìn nhận rằng, không chỉ ở Campuchia, mà ở các nước phát triển cũng vậy luôn có những người có khả năng tiếp thu nền giáo dục tiến bộ và những người không khả năng. Những người có khả năng ấy nguồn chất xám tiềm năng rất lớn cho sự phát quốc gia, sẽ lãng phí rất lớn nếu đất nước  không thể khai thác nguồn chất xám này. Như vậy cải cách giáo dục là chính sách cốt lõi để cho những người có khả năng ấy có cơ hội tiếp cận với nền giáo dục tiên tiến.

    Khi tiếp quản nền giáo dục Campuchia, ông Hang Chuon Naron đã nhìn ra ngay cái tỷ lệ 80% đậu tốt nhiệp trung học là ảo. Vì ông ta thừa biết nền giáo dục của Campuchia trải qua 2 đời CS cai thị thì nội lực bên trong không còn gì cả. Và bước sang thời Quân Chủ lập Hiến thì đất nước này vẫn chưa có lần cải cách giáo dục triệt để nào để thay đổi. Vậy nên ông ta muốn lột bỏ cái tỷ lệ dối trá 80% ấy để xem chất lượng thực tế của nền giáo dục Campuchia là như thế nào?

    Để lột được tỷ lệ 80% dối trá đó, việc đầu tiên là ông tăng lương giáo viên lên gấp đôi để giáo viên sống được vì lương, tiếp theo ra luật phạt nặng những giáo viên nào dính tiêu cực để cho họ biết sợ mà chùn bước, và cuối cùng ông áp dụng cơ chế minh bạch để đảm bảo rằng, ai đã làm dối thì không thể che đậy. Kết quả là tỷ lệ đậu tốt nghiệp từ 80% rớt xuống còn 26% vào năm sau. Đấy là một cuộc cải cách chấn động xã hội. Tuy nhiên với tỷ lệ đậu tốt nghiệp 26% là tỷ lệ thật, dựa vào đó ông ta và bộ máy giáo dục mới có định lượng mà ra chính sách.

    Với chính sách hợp lý thì từ năm 2014 thì tỷ lệ đậu tốt nghiệp tăng dần qua hàng năm và hiện nay đã đạt  64% năm 2017, và 64% này là thỉ lệ thật. Khi tỷ lệ đậu tốt nghiệp tăng lên đến 80% thì xem như Hang Chuon Naron đã thay 80% đậu tốt nghiệp giả tạo thành 80% đậu tốt nghiệp thật, và đây là nền tảng để thay máu nguồn chất xám cho đất nước Campuchia trong tương lai. Song song đó, tỷ lệ học sinh bỏ học giữa các lớp 10 đến 12 giảm từ 23,8% năm 2015 xuống còn 19,4% năm 2016. Tất nhiên, với chính sách tăng gấp đôi lương và nhiều chương trình cải cách thì ngân sách giáo dục đã tăng lên từ dưới 10% chi tiêu quốc gia vào năm 2013 lên 18,3% vào năm 2016.

    Cũng với con mắt của một chuyên gia kinh tế, ông Hang Chuon Naron cho rằng, muốn rút ngắn khoảng cách với thế giới nhanh nhất là đầu tư vào công nghệ. Điều này phù hợp với xu hương thế giới và việc Tàu Cộng phát triển công nghệ vượt Tây Âu và tiệm cận với Mỹ là minh chứng. Hiện nay ông cho thiết lập chương trình thúc đẩy vai trò của công nghệ trong trường học bằng cách xây dựng các phòng thí nghiệm CNTT-TT được trang bị tốt và khuyến khích học sinh học tập do các nhân viên đào tạo về phương pháp giảng dạy sáng tạo. Sắp tới ông ta cho triển khai ở 200 trường học tại tất cả 25 tỉnh thành và ông ta dự tính mất khoảng 10 đến 15 năm sẽ thu hẹp được khoảng cách giữa thành thị và nông thôn.

    Hun Sen là một kẻ tham quyền, tuy nhiên ông ta không mù quáng và ích kỷ đến mức hy sinh quyền lợi quốc gia để bảo vệ quyền lực cho gia tộc như ĐCS Việt Nam đang làm mà ông ta chọn cách cách khác, ông ta nâng cao năng lực lãnh đạo cho con cái để làm sao chúng theo kịp với mặt bằng thế giới. Về vấn đề quốc gia đại sự, ông ta không chọn người bất tài như người kiểu chọn Phùng Xuân Nhạ của nhóm lợi ích ở Việt Nam, mà ông ta mạnh dạn chọn người có năng lực vào ghế bộ trưởng và giao quyền để họ kiến thiết quốc gia. Chỉ một mình Hun Sen cũng đủ bỏ rất xa bộ Chính Trị ĐCS Việt Nam về tầm nhìn chiến lược và khả năng quản trị đất nước.

    Như chúng ta thấy, bệnh dối trá ở Campuchia đã được Hang Chuon Naron triệt tận gốc trong vòng 4 năm thì tại Việt Nam được CS nuôi dưỡng và phát triển nó đã đến mức bất trị. Ngày xưa nạn bằng cấp giả, học hành giả tràn lan nhưng chưa ai dám công khai dùng bộ máy công an bảo vệ cái giả đó, thế nhưng hiện nay thì chuyện đó đã xảy ra ở đất nước này. Vụ ông Bí thư Đăk Lăk Bùi Văn Cường bắt giam ông Phạm Đình Quý và ông Hoàng Minh Tuấn là ví dụ. Điều đáng nói là chính quyền CS cũng đang dùng báo chí để dung túng cho điều đó. Đây là cái thua rõ ràng của Việt Nam trước người anh em Campuchia.

    Hậu CS, thì sẽ mất một thời gian để quốc gia hiệu chỉnh chính sách tạo đà theo những nước phương Tây. Và hiện nay Hun Sen đã tạo đà cho đất nước campuchia bằng cách đào tạo con cái có thực học và chọn người tài vào bộ máy. Hậu Hun Sen thì Việt Nam chỉ có thể ngửi khói Campuchia mà thôi. 

    -Đỗ Ngà-

    Tham khảo:

    https://tuoitre.vn/bo-truong-thuc-tam-giao-duc-campuchia-cai-cach-thuc-chat-duoc-quoc-te-cong-nhan-20200927083401627.htm?

    https://tuoitre.vn/giang-vien-truong-dai-hoc-ton-duc-thang-bi-cong-an-moi-lam-viec-20200925130232004.htm?

  • Tài liệu

    ĐỀ ĐỐC TRẦN VĂN CHƠN

        (100 năm ngày sinh)

    – Sanh ngày 24 tháng 09 năm 1920 tại Vũng Tàu

    – Năm 1952, tốt nghiệp Thủ khoa khóa 1 Sĩ quan Hải quân Nha Trang, cấp bậc Hải quân Thiếu úy

    – Năm 1953, Chỉ huy phó Hải đoàn Xung phong ở Vĩnh Long, cấp bậc Hải quân Trung úy

    – Năm 1954, Chỉ huy phó Hải đoàn Xung phong Ninh Giang

    – Năm 1955, Chỉ huy trưởng Trợ chiến hạm Linh Kiếm HQ-226, Chỉ huy trưởng Lực lượng Giang đoàn, cấp bậc Hải quân Đại úy

    – Năm 1957 – 1959, Tư lệnh Quân chủng Hải quân kiêm Giám đốc Hải quân Công xưởng, cấp bậc Hải quân Thiếu tá, Hải quân Trung tá

    – Năm 1960, du học lớp Chỉ huy tại trường Hải chiến Hoa Kỳ

    – Năm 1962, Chỉ huy trưởng Lực lượng Tuần giang

    – Năm 1966, tái nhiệm Tư lệnh Quân chủng Hải quân, cấp bậc Hải quân Đại tá

    – Năm 1968, thăng Phó Đề đốc, cấp bậc Chuẩn tướng

    – Năm 1970, thăng Đề đốc, cấp bậc Thiếu tướng

    – Năm 1974, giải ngũ

    – Năm 1975 – 1987, bị bắt đi tù chính trị

    – Năm 1991, định cư tại California, Hoa Kỳ

    – Ngày 02 tháng 05 năm 2019, qua đời tại nơi định cư

    – Đệ Tam Đẳng Bảo quốc Huân chương, nhiều huy chương trong và ngoài nước

  • Tài liệu

    Ý nghĩa niên hiệu của 12 vị vua triều Nguyễn

    Việt Nam thời các hoàng đế trị vị, việc đặt và ban hành niên hiệu đều có liên quan mật thiết đến ý chí chính trị của hoàng đế. Bằng hình thức niên hiệu, hoàng đế đã đưa ý chí chính trị của mình thẩm thấu vào cuộc sống thường nhật của quốc gia.

    Trước triều Nguyễn, hoàng đế Việt Nam không chỉ có một niên hiệu, thường có việc đổi niên hiệu. Sau chịu ảnh hưởng của đời Minh – Thanh, mỗi đời vua một niên hiệu. Triều Lê Trung Hưng bắt đầu thực hiện mỗi đời vua một niên hiệu. Đến triều Nguyễn thì chế độ này đã được cố định.

    Triều Nguyễn có tổng cộng 13 vị hoàng đế, trừ vua Cung Tông kế vị ngắn ngủi 3 ngày ra không có niên hiệu, tổng cộng đã đặt ra 12 niên hiệu, trong đó niên hiệu Hiệp Hòa chưa được sử dụng. Các vua Việt Nam tuy đã nhạt nhòa theo lịch sử nhưng những niên hiệu mà họ để lại làm cho chúng ta sau hàng trăm năm vẫn cảm nhận được ý thức chính trị của họ.

    Gia Long – Niên hiệu của vua Nguyễn Thế Tổ (18 năm, 1802 – 1819)

    Nguyễn Thế Tổ Nguyễn Phúc Ánh là người sáng lập ra triều Nguyễn. Năm 1802, Nguyễn Thế Tổ đánh bại triều Tây Sơn, thu phục cựu đô Phú Xuân, Quảng Nam và đổi tên là Thuận Hóa. Năm sau, đổi niên hiệu Gia Long, lập ra triều Nguyễn. Đặt quốc hiệu là Nam Việt, về sau, triều Thanh sắc phong ông làm Nam Việt Quốc Vương.

    “Đại Nam thực lục – đệ nhất kỷ” có ghi: “Lấy ngày 1 tháng 5 năm nay chiếu cáo thiên hạ, hôm sau chiếu cáo các Thánh, Kỷ Nguyên Gia, lấy kỷ thống nhất để biểu thị mới cái đức”. Ý nghĩa của cái tên Gia Long lấy từ cụm từ “Gia Định Thăng Long”, để bày tỏ ý nghĩa thống nhất thiên hạ (Việt Nam).

    Sử Trung Quốc “Thanh sử cảo – Việt Nam truyện” có chép: “Nguyễn Phúc Ánh có được quốc gia nhờ Gia Định, Vĩnh Long binh lực nhiều, nên lấy hai tỉnh làm niên hiệu, gọi là Gia Long”. Nhưng chúng tôi nhận thấy rằng niên hiệu của hoàng đế lấy ý nghĩa trong 2 từ Gia Định, Thăng Long. Bởi lúc đó khi triều Nguyễn vừa thiết lập, niên hiệu này cũng cho thấy hàm ý triều Nguyễn kế thừa triều Lê chính thống trị vị toàn bộ Việt Nam.

    Giai đoạn Gia Long tại vị trị vì, tình hình Việt Nam dần ổn định. Ông đã tiến hành cải cách trên các lĩnh vực quân sự, hành chính, kinh tế, văn hóa, xây dựng lớn nhiều đô thành, đường xá. Tham khảo “Đại Thanh luật” của Trung Quốc, ông đã ban hành “Gia Long luật thư” (sách luật Gia Long), đương thời gọi là “Hoàng triều luật lệ”.

    Cuốn “Quốc triều chính biên toát yếu” (bản tóm tắt chính biên triều đình) biên soạn trong những năm Duy Tân triều Nguyễn, đã đánh giá Gia Long Nguyễn Phúc Ánh là:

    “Vua đã phục hưng sáng nghiệp, công lao và đức độ đều lớn, tạo phúc cho dân to lớn chưa từng có. Khi bắt đầu lập quốc, vua cho xây dựng thành quách, tu sửa lăng tẩm, dựng đàn Giao Tế, đàn Xã Tắc, ban thưởng tước lộc, mở khoa thi cử chọn nhân tài, chấn hưng lễ nhạc, trường học, định ra pháp luật chế độ, điều luật, bảo tồn dòng dõi nhà Lê, Trịnh, kéo dài chế độ thế tập cho công thần, ngăn quan tướng Tây Sơn, đề phòng cẩn mật Xiêm La, bao dung Chân Lạp, vỗ về Vạn Tượng, uy danh chấn động muôn phương, nhân đức bao trùm các nước nhỏ, quy mô che phủ rộng lớn xa xôi“.

    Minh Mạng – Niên hiệu của vua Đại Nam Nguyễn Thánh Tổ (21 năm, 1820 – 1840)

    Đại Nam Thánh Tổ, tên húy Nguyễn Phúc Đảm, lên ngôi năm Gia Long thứ 18 (1819), đổi niên hiệu Minh Mạng. Trong thời gian ông trị vì, quốc lực cường thịnh nhất. Sau này vào ngày Giáp Tuất tháng 3 mùa xuân năm Minh Mạng thứ 19, đổi tên quốc hiệu là Đại Nam. Niên hiệu Minh Mạng lấy từ sách “Thượng thư – Hàm hữu nhất đức”: “Khắc hưởng thiên tâm, thụ thiên minh mạng” (Được hưởng lòng trời, thì được cái mệnh sáng của trời).

    Vua Minh Mạng là con thứ 4 của Nguyễn Thế Tổ Gia Long. Sau này, hoàng thái hậu Anh Duệ mất sớm, chuyển kế thừa cho con của hoàng hậu Thiên Cao, và coi ông là “đích tử”. Sau đó Nguyễn Phúc Đảm đổi tên thành Nguyễn Phúc Kiểu, được lập làm hoàng thái tử. Niên hiệu Minh Mạng cũng biểu lộ ngôi vị của ông là chính thống, ông lên ngôi là do thiên mệnh.

    Trong thời gian vua Minh Mạng trị vì, ông đã tiến hành rất nhiều cải cách. Minh Mạng đã xây dựng thể chế quan lại hệ thống hóa mô phỏng theo triều Mãn Thanh, hoàn thiện chế độ khoa cử, xây dựng chế độ hành tỉnh, đưa triều Nguyễn vào giai đoạn cực thịnh. Một lòng mong muốn xây dựng Việt Nam thành đại đế quốc như triều Thanh, ông đánh nam dẹp tây, mở rộng cương thổ của Việt Nam lớn nhất, thôn tính sát nhập Cam Pu Chia và Lào.

    Nhưng về đối ngoại ông lại thi hành chính sách bế quan tỏa cảng. Trong nước thì cấm truyền bá Cơ Đốc giáo, bức hại giáo sỹ, làm cho phương Tây ác cảm, bị người phương Tây gọi là “Nero phương Đông”, đã để lại một mối hậu hoạ sau này. Cuốn “Quốc triều chính biên toát yếu” đã đánh giá Minh Mạng:

    “Vua với tư cách thánh thượng kế thừa đại đinh, dốc sức trị quốc, tô điểm thái bình. Học điển cố xưa, sửa sang lễ nhạc, cẩn trọng quyền lực, rà soát pháp luật chế độ, đặt khoa cử chọn nhân tài. Vua cày ruộng khuyến nông, cử quan tuần các tỉnh, đặt chức kinh sát để kiểm tra quan lại. Cho đến ngăn chặn kẻ thân cận lộng quyền, ngăn ngừa cảnh giới hoạn quan, lệnh hoàng thân quốc thích không được can dự việc bên ngoài, ý vua ngăn chặn tệ nạ từ khi còn manh nha ra rất sâu sắc. 21 năm lo nghĩ, cần mẫn, khoan thứ, việc chính sự luôn giữ hàng ngày, phàm tất cả sắc lệnh, phê duyệt, dụ chỉ, bố cáo đều tự vua viết. Bắt đầu dạy chữ giáo hóa các vùng man di, uy danh chấn động Xiêm La, Lào, thánh đức thần công, không thể kể hết“.

    Thiệu Trị – Niên hiệu của vua Đại Nam Hiến Tổ (7 năm, 1841 – 1847)

    Đại Nam Hiến Tổ Nguyễn Phúc Tuyền tên ban đầu là Nguyễn Phúc Miên Tông, con trai trưởng đích hệ của vua Minh Mạng. Năm Minh Mạng thứ 21 (năm 1840) lên ngôi, niên hiệu Thiệu Trị. Thiệu Trị kế thừa đế quốc Đại Nam hùng mạnh, lãnh thổ bao gồm cả Cao Miên (Cam-pu-chia), Vạn Tượng (Lào)… Để bày tỏ kính trọng cha – vua Minh Mạng nên định niên hiệu là Thiệu Trị, với ý nghĩa là “Thiệu tiên hoàng Minh Mạng chi Trị” (Nối nghiệp trị vì của tiên hoàng Minh Mạng).

    Thời gian trị vì Thiệu Trị tôn trọng không thay đổi cách trị vì của vua cha, giữ lại các phép cũ. Về thái độ với phương Tây, Thiệu Trị cũng giống y như vua cha Minh Mạng, có thái độ bảo thủ và đối địch với các nước phương Tây, nhưng trong những năm Thiệu Trị cấm thiên chúa giáo có hòa hoãn hơn thời Minh Mạng. Thiệu Trị tiếp tục các chính sách của vua Minh Mạng, thưởng cho những người bắt các giáo sỹ phương Tây, và đưa các giáo sỹ bị bắt về Thuận Hóa giam giữ, lệnh cho họ dịch các sách phương Tây. Sau này người Pháp bắn pháo đánh Đà Nẵng. Vua Thiệu Trị nổi giận, lại tuyên bố lệnh cấm Thiên Chúa giáo, và tăng cường đàn áp giáo đồ Thiên Chúa giáo trong nước.

    Tự Đức – Niên hiệu của vua Đại Nam Dực Tông (36 năm, 1848 – 1883)

    Đại Nam Dực Tông Nguyễn Phúc Thì tên gốc là Nguyễn Phúc Hồng Nhậm, con trai đích hệ của vua Thiệu Trị (con trai thứ 2), năm Thiệu Trị thứ 7 lên ngôi, năm sau đổi niên hiệu là Tự Đức. Trong “Đại Nam thực lục đệ tứ kỷ” viết, nghĩa của Tự Đức là “Tự tiên hoàng Thiệu Trị chi Đức” (kế thừa đức của vua cha Thiệu Trị).

    Trong thời gian Tự Đức trị vì, nước Đại Nam dần dần suy yếu, người Pháp xâm nhập, xâm chiếm mấy tỉnh phía nam, ký hiệp ước bất bình đẳng, Việt Nam dần dần trở thành thuộc địa Pháp. Về văn hóa, cũng như vua cha coi trọng giáo dục văn hóa là Nho gia, biên soạn nhiều bộ sách sử như “Khâm định Việt sử thông giám cương mục”, và viết “Tự Đức Thánh chế tự học giải nghĩa ca”… Niên hiệu Tự Đức là niên hiệu sử dụng lâu nhất của triều Nguyễn. Các vua kế vị sau là Nguyễn Cung Tông và Hiệp Hòa cũng dùng niên hiệu này.

    Tự Đức qua đời tháng 6 năm Tự Đức thứ 36, con nuôi trưởng của ông là Nguyễn Cung Tông Nguyễn Phúc Ưng Chân kế vị, nhưng kế vị được 3 ngày thì bị quyền thần Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết soán cải di chiếu phế bỏ, và cũng chưa đặt niên hiệu. Sau khi Nguyễn Cung Tông bị phế, quyền thần Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết lập con thứ 29 của vua Thiệu Trị là Lang Quốc Công Nguyễn Phúc Hồng Dật lên ngôi, đổi tên là Nguyễn Phúc Thăng, sửa niên hiệu từ năm sau là năm Hiệp Hòa thứ nhất.

    Hiệp Hòa 

    Hiệp Hòa có xuất xứ từ sách “Thượng thư – Nghiêu điển” là “Hiệp Hòa vạn bang, lê dân ư biến thời ung” (hòa hiệp với vạn nước thì nhân dân thời biến loạn sẽ trở lại yên bình hài hòa). Đại Nam lúc này đã tơi tả thảm hại, vua mới hy vọng dưới sự trị vì của mình có thể hòa hiệp với nước Pháp, để nhân dân an định. Nhưng vua Hiệp Hòa chỉ là bù nhìn, Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết chuyên quyền khiến vua hết sức bất mãn, muốn tiếp nhận chính sách bảo hộ do người Pháp đưa ra để chống lại đại thần phụ chính cường thịnh.

    Sự việc bị Nguyễn Văn Tường biết và tấu bẩm Từ Dụ thái hậu. Ngày 29 tháng 11 năm 1883 đảo chính, Tường giết chết Trần Tiễn Thành và phế truất vua Hiệp Hòa, sử sách gọi là phế đế. Vì kế vị 4 tháng vẫn trong năm Tự Đức thứ 36, niên hiệu Hiệp Hòa vẫn chưa chính thức sử dụng.

    Kiến Phúc – Niên hiệu của vua Đại Nam Giản Tông (1 năm, 1884).

    Đại Nam Giản Tông tên húy là Nguyễn Phúc Hạo, tên gốc là Nguyễn Phúc Ưng Đăng, là con nuôi của Tự Đức (con thứ 3). Quyền thần Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết sau khi phế giết vua Hiệp Hòa, ngày 30 tháng 11 năm 1883 lập Giản Tông, đổi niên hiệu là Kiến Phúc. Trị vì 1 năm, thời gian đó Việt Nam và Pháp ký “Hiệp ước Thuận Hóa thứ 2”, Việt Nam trở thành nước bảo hộ của Pháp. Việt Nam đem ấn vàng Việt Nam Quốc Vương do triều Thanh ban nấu chảy, tuyên bố thoát ly quan hệ triều cống với triều Thanh.

    Hàm Nghi – Niên hiệu của vua Đại Nam Xuất Đế (năm 1885, phong trào Cần Vương sử dụng đến năm 1889)

    Vua Hàm Nghi tên húy là Nguyễn Phúc Minh, tên gốc là Nguyễn Phúc Ưng, con của Kiên Thái Vương. Vua Kiến Phúc mất, Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết chuyên quyền không muốn để con nuôi thứ 2 của Tự Đức Nguyễn Phúc Ưng Kỳ lên ngôi, bèn đưa em trai Nguyễn Phúc Ưng Kỳ là Nguyễn Phúc Ưng Ủng lên ngôi vua, lấy niên hiệu là Hàm Nghi. Hàm Nghi có nguồn gốc từ “Thi Kinh”: “Cảnh viên duy hàn thụ mệnh hàm nghi, bách lộc thị hà” (Núi Cảnh Sơn có sông lớn bao quanh, triều kế thừa triều Thương là thu mệnh trời, tất cả đều thích hợp, trăm lộc đều có cả). Nó phản ánh khát vọng cho nhân dân được yên vui của Hàm Nghi.

    Khi vua Hàm Nghi trị vì, Việt Nam đã là thuộc địa của Pháp, người Pháp đối với hoàng thất cũng rất kiêu căng ngỗ ngược. Vua Hàm Nghi được Tôn Thất Thuyết phò tá lấy danh nghĩa hoàng đế ban “Cần vương chiếu”, và xin Mãn Thanh sắc phong, hiệu triệu nhân dân các địa phương nổi dậy chống sự thống trị của người Pháp. Các nơi khắp Việt Nam ào ào khởi binh hưởng ứng. Phong trào nổi dậy chống sự thống trị của người Pháp này được đời sau gọi là phong trào Cần Vương. Sau đó Hàm Nghi bị phản đồ bán đứng cho Pháp, bị bắt và lưu đày ở Algeria.

    Đồng Khánh – Niên hiệu của vua Đại Nam Cảnh Tông (4 năm, 1885 – 1888)

    Đại Nam Cảnh Tông tên húy là Nguyễn Phúc Biện, tên gốc là Nguyễn Phúc Ưng Thị, là con nuôi thứ 2 của vua Tự Đức, năm Tự Đức thứ 35 được vua Tự Đức sắc phong làm Kiên Giang Quận Công. Sau khi vua Hàm Nghi ra đi phát động phong trào Cần Vương, chính quyền thuộc địa Pháp để vỗ về dân chúng đã thương lượng cùng Từ Dụ thái hậu lập Kiên Giang Quận Công Nguyễn Phúc Ưng Thị làm hoàng đế.

    Thế là ngày 9 tháng 8 năm Hàm Nghi thứ nhất, đổi tên theo tên đế hệ là Nguyễn Phúc Biện và làm lễ tấn quang, ngày 10 lên ngôi vua, đổi niên hiệu là Đồng Khánh, từ ngày 22 tháng 5 năm Hàm Nghi thứ nhất đổi là năm Ất Dậu Đồng Khánh, năm sau bắt đầu gọi là năm thứ nhất. Đồng Khánh có nghĩa là “Trung hưng đồng khánh” (phục hưng lại, tất cả đều vui mừng).

    Lúc này triều Nguyễn hoàn toàn phụ thuộc vào Pháp nên để che giấu màu sắc thuộc địa, nên xưng là vua Đồng Khánh và người Pháp hợp tác khôi phục trung hưng Đại Nam. Vua Đồng Khánh tự nhận là “Quả nhân khôi phục lại hưng thịnh”, Đồng Khánh kế vị dưới sự bảo hộ của người Pháp tuyên bố Đại Nam là “Quốc thái dân an, phổ thiên đồng khánh” (Quốc thái dân an, khắp trời đều vui).

    Thành Thái – Niên hiệu của vua Thành Thái

    Vua Thành Thái tên húy là Nguyễn Phúc Chiêu, tên gốc là Nguyễn Phúc Bửu Lân, là con của Cung Tông. Năm Đồng Khánh thứ 3 vua Đồng Khánh qua đời, Khâm sứ Trung Kỳ người Pháp Lê-na đưa Nguyễn Phúc Bửu Lân lên ngôi, và đổi tên theo tên đế hệ là Nguyễn Phúc Chiêu, đổi niên hiệu là Thành Thái. Thành Thái có nguồn gốc từ “Dịch Kinh” là “Thái, tiểu vãng đại lai, cát hanh. Tắc thị thiên địa giao, nhi vạn vật thông dã” (Thái, đi nhỏ về lớn, tốt lành. Tức là trời đất giao hòa, vạn vật hanh thông). Có ý nghĩa là quẻ Thái là trời đất giao hòa mà Thành. Thái có nghĩa là an định.

    Vua Thành Thái lên ngôi chú ý đến quốc sự, đi thị sát dân tình. Trong thời gian trị vì, thể hiện tương đối thân thiện với xã hội phương Tây, cũng là vị quân vương Việt Nam đầu tiên học lái xe, cắt tóc ngắn theo kiểu phương Tây. Tuy chịu ảnh hưởng của giáo dục nước Pháp sâu sắc, nhưng ông cảm thấy đau buồn vì quốc gia mình bị người Pháp khống chế. Năm Thành Thái thứ 17 (1907), vua Thành Thái bổ nhiệm một số quan lại mà chưa được sự đồng ý của chính quyền thực dân Pháp, làm cho người Pháp không tín nhiệm ông. Thế là Khâm sứ Trung Kỳ người Pháp phế truất vua Thành Thái.

    Duy Tân – Niên hiệu vua kế tiếp Đại Nam (10 năm, 1907 – 1916)

    Vua Duy Tân tên húy là Nguyễn Phúc Hoảng, tên gốc là Nguyễn Phúc Vĩnh San, là con trai vua Thành Thái. Năm Thành Thái thứ 17, Nguyễn Phúc Vĩnh San mới 8 tuổi được lập làm hoàng đế, đổi tên là Nguyễn Phúc Hoảng, đổi niên hiệu là Duy Tân, Duy Tân có nguồn gốc từ sách “Thượng Thư” là “Hàm dữ duy tân” (Tất cả đều được đổi mới), với ý nghĩa là Đại Nam dưới sự bảo hộ của người Pháp, đất nước đổi mới, mọi người dân được an lạc.

    Trong thời gian vua Duy Tân trị vì, người Pháp kiêu căng ngỗ ngược, vua Duy Tân cực kỳ căm ghét. Cuối tháng 4 năm 1916 (năm Duy Tân thứ 10), vua Duy Tân bí mật gặp các thành viên của Việt Nam Quang Phục Hội, lên kế hoạch đảo chính. Nhưng đảo chính thất bại. Người Pháp dự định đưa vua Duy Tân trở lại hoàng thành làm hoàng đế, nhưng vua không muốn làm bù nhìn. Thế là vua Duy Tân và vua cha bị lưu đày ở đảo Reunion.

    Khải Định – Niên hiệu của vua Đại Nam Hoằng Tông (10 năm, 1916 – 1925)

    Tên húy là Nguyễn Phúc Tuấn, tên gốc là Nguyễn Phúc Bửu Đảo, là con của vua Đồng Khánh. Ngày 18 tháng 5 năm 1916 (ngày 27 tháng 4 năm Duy Tân thứ 10) Nguyễn Phúc Bửu Đảo được thực dân Pháp lập làm hoàng đế Việt Nam, đổi niên hiệu là Khải Định. “Khải” là khai mở, “Định” là bình an, an định. Vì 2 vua Thành Thái, Duy Tân làm trái ngược ý chí của người Pháp, Khải Định mang ý nghĩa cam chịu làm bù nhìn cho người Pháp nên đặt niên hiệu là Khải Định. Trong thời gian trị vì ông đã ban bố nhiều pháp lệnh có lợi cho người Pháp. Ông cũng giống cha ông không nhận được nhiều thiện cảm của người dân Việt Nam.

    Khi trị vì, Khải Định đã đến Marseille Pháp, tham gia triển lãm các nước thuộc địa Pháp. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, hoàng đế xuất ngoại thăm viếng. Nhưng chuyến đi Pháp này bị mọi người chê trách. Sau khi vua Khải Định lên bờ cảng Marseille, thì gặp phải sự phản đối của nhóm người Việt lưu vong ở Pháp.

    Bảo Đại – Niên hiệu hoàng đế cuối cùng

    Vua Bảo Đại, hoàng đế cuối cùng của Việt Nam tên húy là Nguyễn Phúc Thiển, tên gốc là Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy. Năm Khải Định thứ 10 (1926), Khải Định tạ thế, ông kế vị làm hoàng đế, đổi niên hiệu là Bảo Đại. Bảo Đại lấy từ “Tả Truyện – kỳ lục nhật” là “Tuy vạn bang, lũ phong niên, bảo đại, định công, an dân, hòa chúng” (Dẹp yên vạn nước, liên tiếp được mùa, giữ được vị trí nước lớn, lập công đức, làm dân yên ổn, hòa hợp với tất cả mọi người), ngụ ý là kéo dài phúc tộ nhà Nguyễn, lập công dựng nghiệp.

    Các vị Vua triều nhà Nguyễn

  • Tài liệu

    Chuyện Cây kiếm của vua Hàm Nghi

    Và nghi án Nguyễn Phúc Hồng Bảo

    Anh và tôi làm chung hãng với nhau khá lâu, rất thân, vừa là đồng nghiệp, vừa người Huế đồng hương. Một hôm anh mời đến nhà chơi, nhân rảnh rỗi bàn luận thế sự. Tôi để ý trên bàn thờ nhà anh có treo bức tranh vẽ một ông quan đội mão rất uy nghi. Anh giới thiệu đó là ông Tổ nhà anh. Tôi tò mò hỏi cụ làm chức chi trong triều? Anh không trả lời, hỏi lại học sử có nhớ việc dưới triều nhà Nguyễn vua Thiệu Trị bỏ trưởng lập thứ là vua Tự Đức? Tôi nhớ có học điều đó, nhưng không biết gì thêm nữa. Anh trịnh trọng nói vị hoàng tử con trưởng vua Thiệu Trị đáng lẽ phải được chọn làm vua đó là: An Phong Công Nguyễn Phúc Hồng Bảo, là người trên bức chân dung đó. Và anh chính là hậu duệ của An Phong Công Hồng Bảo.

    Trong giây phút cảm khái theo dòng lịch sử của gia tộc, anh kể tôi câu chuyện thâm cung bí sử sau đây về nghi án của Nguyễn Phúc Hồng Bảo.

    “Lúc còn nhỏ ở Huế, tôi không sống cùng Ba Mạ mà sống cùng ông bà nội. Ôn Mệ cưng tôi lắm, nhứt là Ôn. Tôi muốn gì cũng được, thích gì cũng có. Tuy vậy, tôi vốn là một thằng bé ngoan, không đòi hỏi hay nghịch phá gì quá đáng nên hình như không có vấn đề gì. Chỉ một lần duy nhứt, vâng, một lần duy nhứt tôi bị Ôn bắt nằm xuống nã cho mấy roi.

    Ở với ôn mệ, tôi được tự do tung tăng nhà trên xóm dưới, bất cứ chỗ nào muốn chơi đùa phá phách gì cũng được, chỉ chừa một chỗ duy nhứt Ôn dặn dò tôi không được đụng tới, đó là dưới gầm bàn thờ. Ôn tôi để một số đồ đạc gì của dòng họ dưới đó, tôi không biết.

    Dĩ nhiên tôi rất vâng lời và không hề xâm phạm tới vùng cấm đó. Nhưng chỉ được một thời gian, sau khi đã nhàm chán và quen thuộc với khắp mọi nơi trong nhà, tôi bắt đầu tò mò và để ý đến vùng bí mật dưới bàn thờ mà bao lâu nay bao giờ cũng được một lớp vài điều che khuất. Trí tò mò của tôi trỗi lên mãnh liệt đến nỗi một hôm không dằn được, đợi Ôn Mệ đi vắng tôi vén màn chui vô xem.

    Không có gì cả, ngoại trừ một số sách báo cũ từ thời nào. Chỉ có một cái hộp bằng gỗ cũ kỷ, chạm trỗ tương đối khá tinh vi, dài chừng một mét.

    Nếu có điều gì bí mật, chắc chắn phải nằm trong cái hộp này. Tôi nhìn một hồi rồi không dằn được, mở ra, và thấy một thanh kiếm.

    Một thanh kiếm rỉ!

    Tôi ngạc nhiên vô cùng vì cái vật mà ôn tôi giữ kín và tôn trọng như gia bảo lại là một thanh kiếm tầm thường không có gì đặc biệt, giống như con dao dùng trong nhà dài hơn một chút, và bị rỉ sét trông thật xấu xí.

    Tôi thất vọng lắm, tuy nhiên óc tò mò đã được thỏa. Tôi bỏ thanh kiếm vào hộp trả về chỗ cũ và lẳng lặng chui ra.

    Nếu câu chuyện cây kiếm đến đây là hết thì tôi đã không bị một trận đòn, và không biết khi nào mới biết đến một lịch sử độc đáo của gia tộc.

    Số là lũ con nít chúng tôi trong xóm vẫn tụ họp chơi đùa chia phe đánh nhau hằng ngày. Choảng nhau bằng tay hay súng miệng nổ đoành đoành hoài cũng chán. Một hôm tụi tôi quyết định một trò chơi mới. Cũng là chia phe đánh nhau như mọi khi, nhưng lần này tụi tôi sẽ… đánh kiếm. Mỗi thằng về nhà tự chặt tre hay kiếm một thanh gỗ nào đó tạo cho mình một thanh kiếm. Thằng nào siêng thì làm thêm cái bao cho thêm phần le lói, còn không thì cây kiếm tre thắt ngang lưng cũng oai phong lẩm liệt chán.

    Tôi cũng định tự mình làm một cây kiếm tre. Nhưng hôm đó không hiểu phải đi đâu hay sao đó mà không thể làm xong. Đến giờ điểm quân chuẩn bị chiến tranh mà chưa có kiếm. Tôi bỗng nghĩ tới cây kiếm dưới bàn thờ và không suy nghĩ thiệt hơn gì nữa, sẵn dịp Ôn Mệ qua nhà hàng xóm ăn kỵ, tôi vào bàn thờ mở hộp lấy luôn cây kiếm và dông một mạch đến chỗ tụi tôi đã hẹn chia phe quyết chiến.

    Dĩ nhiên cây kiếm của tôi tuy trông xấu xí và rỉ sét, nhưng vẫn là cây kiếm thật và rõ ràng là một chiến tướng giữa một bầy kiếm tre yếu ớt chỉ đáng làm quân sĩ. Đêm đó, vì vậy, tôi được bầu làm chủ tướng một phe.

    Ỷ có cây kiếm sắt, tôi mặc sức tung hoành chiến trận vì mấy cây kiếm gỗ hay kiếm tre địch quân chạm vào kiếm của tôi không gãy cũng bị… cong hay mẻ, nên chúng nó chạy te hết. Phe tôi chiến thắng vẻ vang.

    Sau chiến trận, tôi hối hả chạy về nhà để trả thanh kiếm về chỗ cũ.

    Nhưng than ôi, thật là tai bay vạ gió.

    Thanh kiếm tôi dắt sau lưng nãy giờ đã không còn nữa. Chắc là đã rơi trên đường chạy về mà không hay.  Tôi sợ quá muốn trở lại kiếm nhưng đường từ nhà tôi tới bãi cỏ nơi chúng tôi chiến đấu khá xa, và trời thì đã tối mịch biết đâu mà mò ?  Nên đành lặng câm vô nhà ngủ, và định bụng sáng mai sẽ dậy thiệt sớm trở lại đường cũ kiếm cây kiếm.

    Nhưng có lẽ là định mệnh.

    Sáng đó tôi ngủ quên và thức dậy khá trể.

    Một thằng bạn trong nhóm đánh nhau hôm qua đi đâu sáng sớm nhặt được cây kiếm đem tới nhà trả ngay …ông nội tôi.

    Không còn đường chối cãi.

    Lần đầu tiên tôi bị Ôn la một trận tơi bời và phạt quỳ gối.

    Tôi biết mình có lỗi, nhưng vẫn ấm ức vì nghĩ rằng cây kiếm vẫn còn đó đã mất đâu? Vả lại đó chỉ là cây kiếm cũ kỷ không có giá trị gì cả mà sao Ôn quý nó như vậy!

    Càng nghĩ tôi càng tủi thân. Nghĩ rằng Ôn thương cây kiếm hơn là thương tôi. Vì vậy tôi đâm ra hờn dỗi không ăn uống gì cả mấy bữa liền, cứ ngồi khóc tủi thân…

    Thấy tôi cứ tấm tức, Mệ nội dắt tôi tới trước bàn thờ chỉ bức ảnh lớn treo trên tường hỏi tôi có biết đó là ai không?

    Tấm ảnh này dĩ nhiên tôi vẫn thấy hằng ngày. Đó là bức họa chân dung một người đàn ông bán thân, đầu đôi mão có vẻ như một ông quan. Tôi lúc đó chỉ biết mang máng là ông tổ của nhà tôi, còn ông là ai tên gì tôi cũng không hề biết.

    Mệ tôi trịnh trọng nói rằng người đó là  AN PHONG CÔNG Nguyễn Phúc Hồng Bảo, là hoàng tử trưởng của vua Thiệu Trị, mà theo lẽ phải lên làm vua nước Việt Nam sau khi vua Thiệu Trị băng hà.  Nhưng dĩ nhiên trong lịch sử thì Hoàng tử thứ Nguyễn Phúc Hồng Nhậm đã lên ngôi, tức là vua Tự Đức.

    Và bà kể cho tôi nghe một câu chuyện năm xưa có liên hệ đến lai lịch của gia tộc nhà tôi.

    Ngày đó, thật ra mệ tôi chỉ kể một cách đơn giản rằng hoàng tử Hồng Bảo là con lớn nhất, đáng lẽ phải được lên ngôi vua, nhưng vì mẹ là Đinh Thị phạm tội nên bị đuổi về làm thứ dân (tội gì thì mệ tôi cũng không biết). Cả đến họ Nguyễn của hoàng tử Hồng Bảo cũng phải bị đồi sang họ Đinh là họ mẹ. Cho nên ông Cố tôi là con của hoàng tử Hồng Bảo đã từng có thời mang họ Đinh của mẹ lưu lạc trong dân gian, mà đúng ra nếu vẫn giữ họ Nguyễn sẽ có vai vế chữ “Ưng” theo thứ tự “Đế Hệ Thi” của nhà Nguyễn hoàng tộc là

    Miên Hồng Ưng Bửu Vĩnh

    Bảo Quý Định Long Trường

    Hiền Năng Kham Kế Thuật

    Thế Thoại Quốc Gia Xương

    Nhưng nếu vậy tại sao ông nội tôi không mang họ Đinh, mà trở lại họ Nguyễn?

    Mệ kể rằng khi vua Hàm Nghi thoát ly khỏi kinh thành Huế truyền hịch Cần Vương để chống lại thực dân Pháp, ông Cố của tôi, về vai vế cũng như tuổi tác là vai anh của vua Hàm Nghi, đã vì lòng yêu nước đặt việc công trên việc tư đáp ứng hịch Cần Vương của vua dấn thân chống Pháp. Hai anh em đã nhận nhau trong thời gian kháng chiến chống Pháp này.

    Đến đây tôi tạm mở một dấu ngoặc về nghi án Hồng Bảo

    Sự việc hoàng tử Hồng Bảo tại sao bị thất sủng và con cháu phải đổi sang họ mẹ vốn là một nghi án lớn của triều Nguyễn.

    Dòng họ tôi từ xưa đến nay vẫn truyền miệng cho con cháu rằng:  Hoàng tử Hồng Bảo tuy là con trưỏng, nhưng mẹ Định Thị lại là vợ thứ, và xuất thân dân giả. Hoàng tử thứ hai Hồng Nhậm tuy nhỏ hơn vai em, nhưng lại là con của chánh phi Phạm thị của vua Thiệu trị (Nhà Nguyễn không phong chức Hoàng Hậu cho vợ của vua lúc còn sinh tiền). Do đó, đã có sự đấu tranh giữa hai bà. Họ đã làm gì, đó là bí mật thâm cung bí sử. Chỉ biết rằng mẹ con Đinh thị và Hồng Bảo đã thất thế nên bị kết tội và đuổi về làm dân. Hoàng tử Hồng Nhậm lên ngôi thành vua Tự Đức.

    Đó là trong gia tôc tôi kể lại như vậy. Sử sách chính thức đối với việc này hình như không thấy ghi lại. Có chăng là những sử liệu nghiên cứu đã đưa khá nhiều giả thuyết và nghi vấn khác nhau.

    1-  Có tài liệu ghi rằng Hoàng Tử Hồng Bảo tuy là trưởng, nhưng là một người ham chơi biếng nhác không đủ tài làm vua. Vua cha Thiệu Trị thấy rõ điều này nên trước khi băng hà đã ủy thác lại cho trọng thần Trương Đăng Quế lập Hoàng tử thứ hai Hồng Nhậm vốn tinh anh mẫn cán, xứng đáng làm vua hơn anh.

    2- Tài liệu khác cho rằng vua Tự Đức vốn là con của ông quan Trương Đăng Quế này đã đánh tráo vào cung từ nhỏ. Cho nên có dịp là ông Trương Đăng Quế đã thi hành thủ đoạn sửa đổi di chiếu của vua Thiệu Trị truất phế Hồng Bảo lập Hồng Nhậm lên làm vua.

    3- Hoàng Tử Hồng Bảo tin rằng mình bị sang đoạt ngôi báu nên đã âm mưu làm phản mong chiếm lại ngôi. Mưu đồ thất bại, Hồng Bảo bị bắt, được vua Tự Đức tha chết chỉ giam vào ngục. Con cháu của Hồng Bảo đều bị đuổi làm thứ dân mang họ Đinh. Hồng Bảo đã thắt cổ tự vẫn trong ngục chết sau đó.

    Caí chết của hoàng tử Hồng Bảo cũng là một nghi án, vì nhiều sử gia suy luận rằng vua Tự Đức không muốn mang tiếng giết anh nên giam vào ngục, nhưng đã âm thầm sai người giết chết, rồi dàn cảnh ông Hồng Bảo tự vẫn để diệt trừ mọi mầm mống phản lọan sau này.

    Tất cả cũng chỉ là truyền thuyết được ghi lại mà thôi. Không có gì chứng minh cả.

    Trở lại với phong trào Cần Vương của vua Hàm Nghi.

    Lúc đó gia tộc tôi phải chịu mang họ Đinh lưu lạc trong dân gian, đối với vua Tự Đức có một ân oán như vậy, nhưng lại không liên hệ gì đến vua Hàm Nghi.

    Vua Tự Đức vốn không có con và phải nhận cháu làm con nuôi. Sau khi ông  mất con nuôi là Ưng Chân lên nối ngôi tức là vua Dục Đức. Tình hình đất nước bấy giờ rất rôí ren. Phần thì ngoại xâm, phần thì các quan trong triều tranh đấu lẫn nhau, nên vua Dục Đức làm vua được ba ngày lại bị truất phế. Rồi vua Hiệp Hoà, vua Kiến Phúc lần lượt lên ngôi và bị hại trong một thời gian rất ngắn. Dân gian lúc đó có câu

    “Nhất giang lưỡng quốc nan bất thuyết

    Tứ nguyệt tam vương triệu bất tường”

    Nghĩa là

    “Một sông hai nước, lời khó nói

    Bốn tháng, ba vua, điềm chẳng lành”

    Hai ông Thuyết và Tường đã được nhắc đến trong hai câu ca dao trên.

    Ông hoàng Ưng Lịch, là cháu ruột của cả hai ông Hồng Bảo và Hồng Nhậm được đưa lên làm vua Hàm Nghi. Vua Hàm Nghi  đối với nghi án của ông bác Hồng Bảo có một cái nhìn khách quan hơn, và nhất là cảm cái tình của ông cố tôi đã quên thù nhà mà dấn thân giúp vua chống ngoại xâm. Lúc đó đang ở ngoài thành tranh đấu cùng thực dân, vua Hàm Nghi không có bên mình ngọc tỷ, hay cây kiếm lệnh trượng trưng cho uy quyền của Hoàng Gia. Vua bèn rút thanh gươm của người lính hầu cận đang ở bên cạnh để trượng trưng cho cây kiếm đó và tuyên bố “Trẩm từ nay cho phép hậu duệ của An Phong Công được trở về với họ Nguyễn. Và dòng trưởng được phép tiếp tục theo Đế Hệ Thi của Minh Mạng Hoàng Đế.”

    Chỉ dòng trưởng mả thôi, còn dòng thứ chỉ có thể trở lại họ Nguyễn nhưng không được quyền theo Đế Hệ Thi.

    Lời vua là kim khẩu.

    Điều này giải thích tại sao ông nội tôi là Bửu V., Bác cả, anh của ba tôi là Vĩnh Q.,  và người con trai đầu của bác là Bảo C.  Trong khi thân phụ tôi là con thứ nên chỉ được trở về với họ Nguyễn mà không được theo Đế Hệ Thi.

    Ngày đó khi lần đầu tiên nghe mệ tôi kể sơ về nguồn gốc của ông Hồng Bảo, tôi thật không ngờ gia đình mình lại có một lý lịch độc đáo như vậy. Và nếu không có sự cảm thông của vua Hàm Nghi ngày ấy thì bây giờ tôi vốn vẫn còn là họ Đinh chứ đâu phải họ Nguyễn!

    Cây kiếm đó vua Hàm Nghi đã ban lại cho gia tộc tôi để làm bằng chứng, Ông cố tôi rất trân trọng vì đây là vật của vua ban, truyền lại cho ông nội tôi cất giữ. Tức là cây kiếm rì mà tôi lấy chơi suýt nữa làm rơi mất.

    Nó chỉ là cây kiếm bình thường của một ngưòi lính thời bấy giờ mà thôi, nhưng với gia tộc tôi, trong một khoảnh khắc nào đó năm xưa đã trượng trưng cho uy quyền tối thượng của Hoàng Gia, của dòng họ mà vị vua yêu nước Hàm Nghi ban xá cho chi hệ gia tộc An Phong Công Nguyễn Phúc Hồng Bảo được trở về với họ Nguyễn.

    Sau bìến cố tết Mậu Thân 1968, căn nhà đó bị đạn bom đánh đổ. Ông Nội tôi cũng mất trong dịp đó nên cây kiếm không biết đã thất lạc về đâu. Vả chăng, nó cũng chỉ là một thỏi sắt rỉ, chỉ có giá trị lịch sử đối với gia tộc tôi mà thôi, còn ngoài ra không có một giá trị nào khác nữa.

    Những chuyện thâm cung bí sử, nguồn gốc của gia tộc nhắc đến ở trên dựa một phần trên quyển gia phả ba tôi đã photo lại trước khi lên đường HO sang Mỹ. Tiếc rằng gia phả nhà tôi viết bằng chử Nho, và bảng dịch tiếng Việt thì chưa hoàn thành và dang dở thiếu sót rất nhiều. Tôi phải tự tìm hiểu lấy, đối chiếu qua sách vở và tài liệu từ Internet mà thôi.Ngày nay, gia tộc tôi dĩ nhiên vẫn truyền tụng về nguồn gốc của dòng họ từ Chúa Nguyễn Hoàng trở về sau. Tuy nhiên, thế hệ con cháu bây giờ chắc không còn ai biết và nhớ đến vật gia bảo cây kiếm của vua Hàm Nghi đó nữa.

    Và anh kết luận: Những người Việt trong nước cũng như hải ngoại sau năm 1975 thường diễn giải câu sấm Trạng Trình “Nguyễn đi rồi Nguyễn lại về” nghĩa là ông Nguyễn văn Thiệu đi, nhưng rồi ông Nguyễn Vĩnh Thụy (tức vua Bảo Đại khi đó còn sống) sẽ về, không biết rằng câu sấm ấy thực ra đã ứng nghiệm từ lâu rồi. “Nguyễn đã đi, và Nguyễn đã về”, ứng vào việc ngai vàng họ Nguyễn đã có lúc lọt vào tay ngoại tộc họ Trương, tức vua Tự Đức. Nhưng mệnh trời khó cãi, vua Tự Đức vì vậy không thể có con nối dõi, phải trao ngai vàng lại cho họ Nguyễn, tức “Nguyễn đã về.”

    Nghe xong câu chuyện, tôi hỏi tấm chân dung ông Hồng Bảo hiện nay trong nhà có phải là tấm ở nhà ông nội anh năm xưa? Anh nói không phải. Tấm ảnh đỏ đã bị mất hay cháy trong tết Mậu Thân. Tấm này do anh tự vẽ lấy theo ký ức còn ghi lại trong đầu.

    Anh nói thêm nếu tính theo vai vế thì anh hàng chữ “Bảo”, ngang với hoàng tử Bảo Long, Bảo Thắng. Tuy nhiên thân phụ anh là con thứ nên chỉ có thể trở về với họ Nguyễn mà thôi, không thể có chữ “Bảo” đệm trước tên được.

    HẾT

    Lời người viết:

    Bài viết này hoàn toàn dựa vào lời kể của một người nhận là hậu duệ của An Phong Công Nguyễn Phúc Hồng Bảo, vị hoàng tử mà nếu không vì những thâm cung bí sử xảy ra như ở trên thì đã là vua nuớc Việt, không phải vua Tự Đức. Lịch sử Việt Nam cho đến ngày nay hầu như cố tình bỏ quên, hay có chăng chỉ là những giai thoại, sử liệu mập mờ về vụ án tại sao vua Thiệu Trị bỏ trưởng Hồng Bảo lập thứ Hồng Nhậm, hay cho đến cái chết của ông Hồng Bảo đến nay vẫn là một nghi án.

    Người viết chỉ là kẻ ghi lại, không biết gì về gia phả hoàng tộc họ Nguyễn Phước, không có ý định, và càng không đủ tư cách viết lịch sử. Do đó, bạn đọc chỉ nên xem đây như là câu chuyện dã sử, và nhất là không thể dùng câu chuyện này như một chứng liệu lịch sử nào cả.

    ./.

    ThaiNC

  • Tài liệu

    Bí ẩn về ngôi mộ của ông Trần Phú

    Trước năm 1975, ngoại ô Sài Gòn có một nghĩa trang rộng lớn, được đặt tên là “Nghĩa trang Đô Thành”, nằm trên đường Lê Văn Duyệt (nối dài Sài Gòn) – đối diện là trại lính Nhảy dù Nguyễn Trung Hiếu, và sau lưng là Cư xá Sĩ Quan Chí Hòa (Bắc Hải).

    Nghĩa trang này bị giải tỏa vào năm 1998, một phần đất phía sau bị chia chác biến thành nhà ở, còn một phần mặt tiền trở thành Công viên Lê Thị Riêng.

    Khi làm việc đào phá tại nghĩa trang này vào ngày 4.1.1999, lao công bất ngờ tìm thấy mộ của ông Trần Phú (Tổng bí thư đầu tiên của đảng CSVN).

    Qua đó, sau 68 năm ngày ông Trần Phú chết, nhà cầm quyền ở thành Hồ mới “phát giác” ra một “chứng tích lịch sử” vô cùng quan trọng – để rồi ngày 12.1.1999 vội vã đưa số xương cốt này về tái an táng tại quê nhà của ông ở tỉnh Hà Tĩnh.

    Câu chuyện “bí ẩn’ là ở chỗ, tại sao mộ của một Tổng bí thư đảng CSVN lại nằm trong khu Nghĩa trang Công Giáo, ở phía sau Nghĩa trang Đô Thành (sát với con rạch của Cư xá Sĩ quan Chí Hòa). Nơi  dành riêng cho những người có đạo (có tên Thánh) mới được chôn cất.

    Và tại sao tư liệu và lịch sử Đảng CSVN chỉ viết ông bị bắt và mất vào cuối năm 1931, ngoài ra “không ai biết ông mất trong hoàn cảnh nào và chôn cất ở đâu”.

    Theo lịch sử hình thành Đảng Cộng Sản ở VN, thì ông Trần Phú là “học trò xuất sắc của Chủ tịch HCM”, được ông Hồ đưa về từ Quảng Châu vào tháng 4 năm 1930.

    Cuộc đời làm “Kách Mệnh” của Trần Phú thật ngắn ngủi. Vào ngày 18.4.1931 ông Phú bị Pháp bắt giam, nhưng đến ngày 6.9.1931 (tức chỉ sau 5 tháng) đã qua đời tại bệnh viện Chợ Quán vì bệnh lao, lúc mới 27 tuổi (như vậy khó mà có thể tạo hào quang cho ông Phú là đã bị Thực dân hành hạ dã man đến chết trong tù).

    Mới đây trên facebook của ông Trần Đăng Phiệt có nói đến việc mộ của ông Trần Phú được tìm thấy ở Đất Thánh họ đạo Chợ Quán nằm sau Nghĩa trang Đô Thành, với mộ bia và tên tuổi đầy đủ.

    Nhà cầm quyền CSVN cũng bán tín bán nghi, nhưng sau khi thử DNA thì xác nhận đây chính là hài cốt của ông Trần Phú nên mới cho đem về Bắc, để lập khu tưởng niệm.

    Câu chuyện ly kỳ ở chỗ: “Một cụ già lão thành Cách mạng (bị giam chung với ông Trần Phú) ở Trà Vinh khi tình cờ biết tin “tìm được mộ TBT Trần Phú” trên báo SGGP đã viết một lá thư dài tường thuật đầy đủ quá trình bị giam giữ, theo đạo, rửa tội, chết và an táng của ông Trần Phú tại nhà thương Chợ Quán rồi gởi cho Cha sở xứ đạo Chợ Quán vào ngày 03.7.2018″.

    Cha sở họ đạo Chợ Quán lúc đó là Linh mục FX Lê Văn Nhạc; Ngài đã kiểm tra lại tài liệu lưu trữ của Giáo xứ giai đoạn 1930-1940 thì phát giác sổ rửa tội năm 1931 có ghi tân tòng Phê-rô Trần Phú. Sau đó ngài cho sao chụp hồ sơ lưu sổ rửa tội, và bức thư của cụ lão thành Cách mạng Trà Vinh ra làm ba bản. Một gởi cho Chính quyền TP, một gửi lên tòa Tổng Giám mục SG, một lưu tại giáo xứ.

    Hiện nay tại bệnh viện Nhiệt Đới (nhà thương Chợ Quán cũ) số 764 Võ Văn Kiệt, P.1, Q.5; bước vào cổng phía tay trái có một công viên nhỏ và tượng đài Đức Mẹ nay vẫn còn lưu giữ, là nơi các dì phước thời xưa mỗi buổi chiều đến thăm nom, chăm sóc bệnh nhân và đưa Mình Thánh cho các bệnh nhân có đạo được rước Chúa. Vào các chiều thứ bảy, các dì tổ chức dạy Giáo lý và có các Cha đến giải tội.

    Ông Trần Phú là một trong những bệnh nhân được cảm hóa, tin Chúa và cảm mến Chúa để được rửa tội tại đây. Đi vào hành lang bên tay phải, nhà cầm quyền cho dựng lại “một chuồng cọp” nói là nơi giam giữ ông Trần Phú lúc được đem đến đây chữa bệnh. Người ta cũng dựng lên một bức tượng của ông tại đó.

    Một nữ y tá làm việc lâu năm tại nơi này cho biết: “Cái nhà đá nói là nơi giam giữ ông Trần Phú là chuyện tưởng tượng. Bởi thời đó Bệnh viện là bệnh viện, và nếu là phạm nhân thì họ chỉ cần còng tay vào giường và có người canh gác là đủ”.

    Riêng Cha sở Lê Văn Nhạc nay đã 80 tuổi. Ngài đang nghỉ hưu tại GX Hạnh Thông Tây, Gò Vấp”. (Hết trích).

    Cần biết, một người trưởng thành xin rửa tội vào đạo Công Giáo thủ tục còn khó hơn đứa trẻ sơ sinh. Giáo hội đòi hỏi người tân tòng phải học đạo, có người “đỡ đầu”, và trí óc còn minh mẫn (nếu là bệnh nhân).

    Câu chuyện trên, chắc chắn không được nhà cầm quyền CSVN công nhận, bởi Lm Lê Văn Nhạc cho biết, ngài từng được Cán bộ CS đến hỏi thăm khi nhận được “hồ sơ” về việc rửa tội xin vào đạo Công Giáo của ông Trần Phú, và yêu cầu ngài không phổ biến tin tức này.

    Và nếu phải nói về việc “ngoài dự kiến” không hay ấy, các văn nô viết lịch sử Đảng cũng sẽ nói “bọn thực dân và tay sai” đã ép buộc Đ/c Trần Phú vào đạo, để phá bỏ hình ảnh “vô thần” của Tổng Bí Thư.

    Cho đến nay CSVN đã có 12 người làm TBT, nhưng rất nhiều ông khi chết đã bị hé lộ chuyện vẫn tin tưởng có thế giới bên kia, chứ không “vô thần” như lúc tuyên thệ vào Đảng.

    Ông HCM cũng nói khi chết sẽ đi gặp Các Mác và Lê Nin. Ông Lê Khả Phiêu trong nhà có bàn thờ Phật to tướng, và khi hạ huyệt có nhiều sư tụng kinh gõ mõ..v.v.

    Hiện nay, khi đi vào Công viên Lê Thị Riêng, người ta sẽ thấy phía bên trái có một tượng đài được xây dựng vào tháng 9.2005 dành cho ông Trần Phú với phù điêu mang hình cờ Đảng, cùng câu nói “nổi tiếng” của ông: “Hãy giữ vững chí khí chiến đấu”.

    Cần biết, trước 1975 đây là nơi đầy “oan khiên, chướng khí”.

    Vào năm 1963, gần trăm xác của các binh lính trung thành với TT Ngô Đình Diệm bị quân đảo chính bắn chết, và được đưa về đây.

    Đến năm 1968 hơn 2 ngàn xác của Cộng quân bị hạ sát trong trận Tổng tấn công Tết Mậu Thân cũng được “tập kết” thành một lỗ.

    Thê thảm hơn, vào ngày 30.4.1975 trên 3 ngàn xác chết của binh lính hai bên, và thường dân cũng được kéo về bỏ chất đống ở nghĩa địa, khiến dân chúng quanh vùng Ngã Ba Ông Tạ phải “ngộp thở” vì mùi tử khí trong nhiều ngày.

    Và tất cả những người xấu số chết vào giờ thứ 25 này, đều đã được vùi chung trong một hố chôn tập thể.

    Chưa hết, sau Tháng Tư Đen 1975, nhiều chuyến vượt biên không thành với vài chục xác chết của dân vượt biển (ở ấp Hàng Dầu) cũng được chở về đây, chờ người thân đến nhận.

    Bên trong Công viên Lê Thị Riêng hiện nay còn có một hồ nước, nhưng không ai dám cho con em đến gần, bởi “các hồn ma nghĩa địa” đã kéo nhiều em chết chìm khi chơi dưới hồ, dù nước không sâu!

    Nguyễn Vy Túy

    Theo FB

  • Tài liệu

    Huyền thoại về chiếc chuông đồng thời Tây Sơn

    Dù cách kinh thành Huế đến hơn bảy cây số nhưng vì sợ Nguyễn Ánh (lên ngôi vua năm 1802) tịch thu chuông quý nên các bô lão trong làng đã “thiến” chuông bằng cách khoan nhiều lỗ trên đỉnh rồi trám chì vào để giảm bớt… tiếng vang của chuông.

    Đây là câu chuyện có thật về một quả chuông quý được đúc bằng đồng dưới thời vua Quang Trung. Chúng tôi đã tìm về làng La Chữ, xã Hương Chữ, huyện Hương Trà (tỉnh Thừa Thiên – Huế) để được mục sở thị về huyền tích quả chuông – hiện vật lịch sử đã gắn liền hơn 200 năm với lịch sử dân tộc.

    “Sự tích” chuông đồng

    Men theo quốc lộ 1A, chúng tôi hỏi đường tìm về làng La Chữ với hi vọng được tận mắt thấy và nghe được tiếng chuông quý mà tiếng đồn về nó bấy lâu nay như một… “huyền thoại”.

    Nằm trong hệ thống đình làng, miếu mạo cổ kính, chùa làng La Chữ là một trong những di tích văn hóa lịch sử của tỉnh Thừa Thiên – Huế khi còn giữ lại được nhiều chứng tích của lịch sử. Đặc biệt là quả chuông đồng được đúc vào thời Tây Sơn với nhiều hoa văn độc đáo được dân làng La Chữ bảo vệ suốt mấy trăm năm nay.

    Theo ông Hà Xuân Út, Trưởng thôn La Chữ thì quả chuông này được đúc vào năm Quang Trung thứ 4 (1791) do vợ chồng võ tướng Điện tiền Thái bảo Võ Văn Dũng và nhạc phụ Lê Công Học cúng dường. Chuông cao 0,92m, đường kính miệng chuông 1,78m và nặng trên 3,5 tạ.

    Ông Lê Phước Vân bên quả chuông quý.

    Theo gia phả của làng chép lại thì vợ của võ tướng Võ Văn Dũng là người họ Lê thuộc làng La Chữ, tên là Lê Thị Vi. Sau khi triều Tây Sơn định đô ở Phú Xuân đã cho xây dựng tại làng La Chữ một dinh trấn do tướng Võ Văn Dũng trấn thủ. Là một vị tướng tài giỏi của triều đình, lại là người rể quý của làng La Chữ nên tướng Võ Văn Dũng đều được tất thảy mọi người trong làng quý mến.

    Ngoài chuông đồng, tại đây còn có “bãi voi” cũng đã được ghi vào lịch sử của làng. Vào thời điểm đó, làng La Chữ mua được một mảnh đất rộng chừng 7 mẫu từ làng An Đô. Và để giúp triều Tây Sơn, dân làng đã bàn nhau rồi quyết định hiến 7 mẫu đất này cho triều đình làm bãi luyện voi. Trải qua bao biến thiên thăng trầm của lịch sử, giờ đây “bãi voi” một thời gắn liền với tên tuổi của nữ tướng Bùi Thị Xuân – người phụ trách huấn luyện voi chiến tại bãi voi này, vẫn còn những dấu tích. Những vũng voi nằm nay trở thành những vũng nước trũng lớn phủ xanh một màu của lúa mạ.

    Ngày nay, bãi voi, chuông đồng của làng La Chữ được nhiều người biết đến bởi những kì tích và huyền tích gắn liền với lịch sử dân tộc.

    “Thiến” chuông để… giữ gìn báu vật  

    Quả chuông ở chùa làng La Chữ hiện là quả chuông duy nhất được đúc dưới thời vua Quang Trung còn lưu giữ được.

    Những hoa văn trên chuông không mang nặng dấu ấn Phật giáo mà được trang trí bằng “bộ tứ” hoa văn: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Theo đó ô Xuân được trang trí bởi các họa tiết, hoa văn như lược sưa, lược dày, gương hoa, thể hiện vẻ đẹp dịu dàng của mùa xuân, của phái đẹp. Ô Hạ được trang trí bởi ngọn lá và thanh gươm, biểu thị cho đấng mày râu anh hùng. Hai bầu rượu được quấn chặt bởi dải lụa được trang trí trên ô Thu và ô Đông là hình chiếc quạt lá và cuốn sách. Bên dưới các ô là hình 8 vị võ tướng tay cầm khí giới và dưới cùng là bộ “tứ linh”: Long, Lân, Quy, Phụng được trang trí tương ứng với mỗi ô.

    Những lỗ khoan được trám bằng chì trên đỉnh chuông.

    Ông Lê Phước Vân, người đang canh giữ chuông đồng tại chùa La Chữ cho biết: “Nhà tui đã có ba đời từ ông nội, ba tui và nay là tui làm nhiệm vụ canh giữ chuông quý của làng, mỗi ngày chỉ đánh hai lượt từ 3 giờ rưỡi sáng và 7 giờ tối. Dù đã trải qua hàng trăm năm lịch sử với gần chục lỗ đạn trên thân nhưng mỗi khi đánh, tiếng chuông vẫn ngân đến “lắng” lòng người chú à”.

    Khi Nguyễn Ánh lên ngôi vua (năm 1802), ngoài việc xóa bỏ những dấu tích của vương triều cũ như đình làng, miếu mạo… thì nhiều giá trị văn hóa lịch sử của triều Tây Sơn theo đó cũng bị nhà Nguyễn phá hủy. Nhất là việc “tận thu” các hiện vật bằng đồng để làm nguyên liệu đúc vũ khí. Thế nhưng, bằng tình cảm gắn bó bao đời với triều Tây Sơn, người dân làng La Chữ đã bảo vệ chuông đồng thoát nạn “tận diệt” của nhà Nguyễn với nhiều biện pháp…

    Theo ông Vân thì quả chuông đồng này tuy không lớn nhưng khi đánh lên lại có tiếng ngân vang xa đến kỳ lạ. Và vì sợ Nguyễn Ánh nghe được tiếng chuông này (dù lúc ấy chuông cách kinh thành Huế hơn 7 cây số – NV) mà cho tịch thu nên các bô lão trong làng đã tìm cách “thiến” chuông nhằm giảm tiếng vang bằng cách khoan nhiều lỗ trên đỉnh rồi trám chì vào đó. Dân làng còn tự xóa đi tên tướng Võ Văn Dũng được khắc trên chuông. Và cứ mỗi lần có binh lính nhà Nguyễn đi lùng sục thì dân làng lại đem chuông giấu xuống giếng, rồi ngụy trang trên miệng giếng. Nhờ vậy mà chuông đồng vẫn giữ được cho đến ngày hôm nay.

    “Có một thời, chiến tranh đã tàn phá, thiêu rụi đình, chùa ở đây nhưng phải mất 3 tháng sau, cột trụ to bằng hai người ôm của đình làng mới cháy hết. Còn những lỗ nhỏ trên chuông là do chuông bị trúng đạn vào năm Mậu Thân 1968”, một bô lão trong làng chỉ tay về những lỗ nhỏ do đạn bắn trên chiếc chuông đồng cho biết.

    Bằng tình cảm và với những cách làm khác nhau, dân làng La Chữ đã bảo vệ được quả chuông quý đến ngày hôm nay. Và mỗi khi tiếng chuông ngân lên, dân làng nơi đây lại “lắng lòng” để nhớ về một vị võ tướng anh dũng thời Tây Sơn. 

    Theo Internet

  • Tài liệu

    Nhìn lại những chặng đường của “Ban Hợp ca Thăng Long” – Ban nhạc đã trở thành huyền thoại

    Nếu nói về một ban nhạc danh tiếng nhất trong làng nhạc Sài Gòn trước năm 1975, hầu hết giới chuyên môn, giới ca sĩ, nhạc sĩ và khán giả đều công nhận đó là ban hợp ca Thăng Long, với nòng cốt là 3 tên tuổi đã trở thành bất tử: Ca sĩ Hoài Bắc (tức nhạc sĩ Phạm Đình Chương), danh ca Thái Thanh và ca sĩ Hoài Trung (tức Phạm Đình Viêm).

    Từ trái qua: Hoài Bắc (Phạm Đình Chương) – Thái Thanh – Hoài Trung (Phạm Đình Viêm)

    Trong 3 người thì Hoài Trung có vẻ kém danh tiếng hơn, nhưng khán giả vẫn chưa thể nào quên một giọng tenor với phong cách trình diễn đặc biệt, tiếng hát ngân dài và có khả năng giả tiếng ngựa hí hoặc các âm thanh khác khi hát bè trong hợp ca. Ông cũng có tài chọc cười nên cứ thấy ông xuất hiện trên sân khấu là khán giả đã cười ồ.

    Ngoài 3 cái tên chủ chốt này, thỉnh thoảng ban Thăng Long cũng có sự góp mặt của danh ca Thái Hằng, ca sĩ Khánh Ngọc (vợ Hoài Bắc) và cả nhạc sĩ Phạm Duy – là một trong những ca sĩ đầu tiên hát tân nhạc.

    Đại gia đình Thăng Long: hàng trên: Phạm Duy, Phạm Đình Chương, Hoài Trung, hàng dưới: Thái Hằng, Khánh Ngọc, Thái Thanh

    Điều đặc biệt của ban Thăng Long là các thành viên đều là những anh chị em họ Phạm (hoặc dâu rể). Thân phụ của họ là ông Phạm Đình Phụng. Người vợ đầu của ông Phụng sinh được 2 người con trai: Phạm Đình Sỹ và Phạm Đình Viêm (tức Hoài Trung của ban Thăng Long) và 1 người con gái đã không may qua đời sớm khi đi tản cư ở Sơn Tây.

    Người vợ sau của ông Phạm Đình Phụng có 3 người con: trưởng nữ là Phạm Thị Quang Thái, tức ca sĩ Thái Hằng, vợ nhạc sĩ Phạm Duy. Con trai thứ là nhạc sĩ Phạm Đình Chương và cô con gái út Phạm Thị Băng Thanh, tức ca sĩ Thái Thanh.

    Từ trái qua: Thái Thanh – Phạm Đình Chương – Thái Hằng

    Khi đặt chân vào đến phương Nam, những anh chị em nhà họ Phạm muốn lập một ban nhạc gia đình để đi hát, họ đã chọn cái tên Thăng Long, gợi nhớ về vùng đất Hà Nội, là cố hương gốc gác của họ. Cái tên Thăng Long cũng gắn liền với thời thanh xuân của các anh chị em họ Phạm ở vùng tản cư.

    Để nói rõ hơn về nguồn gốc của cái tên Thăng Long, hãy cùng đi ngược về quá khứ vào những năm đầu thập niên 1940, khi ông Phạm Đình Phụng còn ở Hà Nội và mở một cửa hàng bán mứt và ô mai ở phố Bạch Mai tên là Mai Lộc. Thuở đó có một câu bé mới 13 tuổi tên là Nguyễn Cao Kỳ thường đến Mai Lộc để ăn ô mai và đánh đàn mandoline với Phạm Đình Chương 14 tuổi, và Thái Thanh lúc đó mới 9 tuổi thường ngồi một bên để nghe mấy ông anh dạo đàn, thỉnh thoảng còn bị Phạm Đình Chương bắt hát để họ luyện đàn. Nguyễn Cao Kỳ sau đó thành tướng không quân, rồi phó tổng thống, nhưng luôn giữ một tình bạn thâm giao thuở thiếu thời với nhạc sĩ Phạm Đình Chương.

    Đến năm 1946, bắt đầu thời kỳ loạn lạc, nhiều gia đình Hà Nội phải dắt díu nhau đi tản cư, ông bà Phạm Đình Phụng cùng 2 người con trai, 3 người con gái ra vùng Sơn Tây (Lúc này người con trai đầu là Phạm Đình Sỹ đã lấy vợ là Kiều Hạnh và không đi cùng), sau đó dừng chân ở một vùng xuôi gọi là Chợ Đại. Tại đây, ông Phụng mua lại một cái quán và đặt tên là Quán Thăng Long, bán các món phở và cà phê. Trong những người con của ông bà Phụng có cô gái tên là Thái, tức ca sĩ Thái Hằng, vợ nhạc sĩ Phạm Duy sau này. Thái Hằng cùng với quán cà phê Thăng Long này đã trở thành nhân vật chính trong ca khúc nổi tiếng Cô Hàng Cà Phê của nhạc sĩ Canh Thân.

    Phạm Duy và Thái Hằng khi còn trong chiēn khu

    Trong hồi ký Phạm Duy, ông kể lại:

    “Tại Quán Thăng Long, ông bà có ba người con để giúp đỡ trong việc nấu phở, pha cà phê và tiếp khách. Người con gái lớn tên là Phạm Thị Quang Thái, vào trạc 20 tuổi, biết hát và biết chơi cả đàn guitare hawaienne nữa. Nàng có một vẻ đẹp rất buồn, lại là người ít nói, lúc nào cũng như đang mơ màng nghĩ tới một chuyện gì xa xưa. Văn nghệ sĩ nào khi tới gần nàng thì cũng đều bị ngay một cú sét đánh. Thi sĩ Huyền Kiêu luôn luôn thích làm người tao nhã (galant) và có nhiều lúc, trịnh trọng cầm hoa tới tặng Nàng. Thi sĩ Đinh Hùng, rụt rè hơn, nhờ người chị ruột của tôi – đang tản cư ở Chợ Đại – làm mối. Còn anh họa sĩ hiền lành như bụt và có đôi mắt rất xanh là Bùi Xuân Phái thì ngày ngày tới Quán Thăng Long, ngồi đó rất lâu, im lặng… Ngồi, nhìn, chứ không vẽ. Ngọc Bích cũng soạn một bài hát tỏ tình…”

    Chỉ một vài năm sau đó, tất cả các anh chị em họ Phạm là Phạm Đình Viêm, Phạm Đình Chương, Thái Hằng, Thái Thanh (lúc này đi hát với tên là Băng Thanh) đều gia nhập các ban văn nghệ quân đội Việt Minh của Liên Khu IV, hai ông bà chủ quán Thăng Long quyết định rời Chợ Đại di cư vào Thanh Hóa để được sống gần gũi các con. Hai ông bà tới một nơi gọi là Chợ Neo, thuê lại căn nhà lá và mở một quán phở, vẫn lấy tên là Quán Thăng Long.

    Những anh chị em và dâu rể nhà Thăng Long. Hàng đứng, từ trái sang: Hoài Trung (Phạm Đình Viêm), Hoài Bắc (Phạm Đình Chương), Phạm Đình Sỹ. Hàng ngồi: Phạm Duy, Thái Hằng, Kiều Hạnh, Thái Thanh

    Tháng 5 năm 1951, đại gia đình họ Phạm quyết định “dinh tê” về Hà Nội. Lúc này Phạm Duy đã cưới Thái Hằng, Phạm Đình Sỹ đã cưới Kiều Hạnh, sinh ra Mai Hương và cùng đi chung. Chỉ 1 tháng sau, đại gia đình Thăng Long quyết định vào vùng đất hứa Sài Gòn để định cư. Tại đây những anh em nhà họ Phạm, mà nòng cốt là Phạm Đình Viêm, Phạm Đình Chương, Thái Thanh thành lập ban nhạc lấy tên là Thăng Long, đặt theo tên quán phở gia đình ở vùng Chợ Đại, Chợ Neo trước đây.

    Rồi cũng trong một tâm trạng lưu luyến về dĩ vãng chưa xa lắm, Phạm Đình Viêm lấy nghệ danh là Hoài Trung để nhớ về Khu 4, Phạm Đình Chương lấy nghệ danh là Hoài Bắc để nhớ về cố xứ. Còn cô út Băng Thanh chính thức lấy nghệ danh là Thái Thanh cho giống với người chị Thái Hằng.

    Hoài Trung, Hoài Bắc và Thái Thanh

    Lúc này Thái Hằng đã lập gia đình, bận bịu con nhỏ nên không thể theo hát cùng ban Thăng Long thường xuyên, mà chỉ thỉnh thoảng góp mặt. Tương tự là Khánh Ngọc – vợ của Hoài Bắc. Vì vậy nòng cốt của ban Thăng Long thành lập từ những năm 1950 cho đến năm 1975 chỉ là 3 cái tên Hoài Trung, Hoài Bắc và Thái Thanh. Thời gian đầu họ đến cộng tác với đài phát thanh Pháp Á ở đại lộ de La Somme, mà sau này được đặt lại tên thành Hàm Nghi, ở gần góc đường với đường Công Lý. Ban Thăng Long thành công ngay lập tức mà lối hát khác biệt, có phần bè mới lạ và hấp dẫn. Họ lại có nguồn nhạc phong phú được sáng tác “cây nhà lá vườn” bởi 2 tên tuổi lừng danh là Phạm Duy và Phạm Đình Chương, mang được tính thời đại một cách sắc nét.

    Thái Thanh – Hoài Bắc – Hoài Trung trong ban Thăng Long

    Ngoài thù lao hát ở đài phát thanh và phòng trà vốn còn rất hạn chế ở Sài Gòn vào đầu thập niên 1950, thì ban Thăng Long kiếm sống chủ yếu là tiền thu thanh trong đĩa nhạc, lúc này vẫn còn là đĩa đá, chứ chưa có dĩa nhựa (vinyl) như sau này.

    Ban Thăng Long cũng là một trong những ban nhạc/ca sĩ đầu tiên trình diễn theo hình thức phụ diễn ở rạp chiếu bóng. Nghĩa là các ca sĩ lên hát tân nhạc (gọi là phụ diễn) cho khán giả nghe trước khi phim bắt đầu được chiếu. Đầu tiên là rạp Nam Việt ở chợ cũ góc đường de la Somme và Chaigneau (sau này là Hàm Nghi – Tôn Thất Đạm), lối phụ diễn này của ban Thăng Long thành công ngay lập tức. Ngay sau đó là rạp Văn Cầm ở Chợ Quán, rạp Khải Hoàn và Thanh Bình ở khu chợ Thái Bình – Quận Nhứt liên tục mời ban hợp ca Thăng Long đến phụ diễn.

    Thời điểm đó người Sài Gòn vẫn rất mê cải lương, nhưng tân nhạc bắt đầu được ưa chuộng, mà sân khấu đầu tiên chính là ở các rạp chiếu bóng, vì những người đi xem phim chiếu rạp như vậy đa số là dân Tây học rất thích tân nhạc, nên ban Thăng Long có dịp giới thiệu hàng loạt những sáng tác của Phạm Đình Chương, Phạm Duy và nhiều nhạc sĩ thời tiền chiến khác.

    Ban Thăng Long lúc này có thêm Khánh Ngọc (áo đậm) và Thái Hằng (áo trắng)

    Từ lối hát phụ diễn này, thừa thắng xông lên, ban Thăng Long tổ chức những Đại Nhạc Hội hát tân nhạc ở các rạp vốn được xem là “lãnh địa” của cải lương như rạp Nguyễn Văn Hảo hay Aristo. Lúc này không chỉ là hát phụ diễn nữa mà chương trình ca diễn của ban Thăng Long phong phú hơn nhiều. Các màn đơn ca, hợp ca, hay nhạc cảnh của ban Thăng Long cùng các nghệ sĩ khác được mời tới diễn chung, như Trần Văn Trạch, Phi Thoàn, Xuân Phát, và cả ban vũ Lưu Bình – Lưu Hồng (sau này gắn bó với Maxim’s của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ).

    Click để nghe Ban Hợp Ca Thăng Long hát trong băng Sơn Ca 10 năm 1974

    Với những hoạt động tân nhạc sôi nổi ngay từ khi mới chân ướt chân ráo đến Sài Gòn từ xứ Bắc, có thể nói ban hợp ca Thăng Long đã có những đóng góp lớn lao cho sự phát triển tân nhạc ở Sài Gòn thập niên 1950.

    “Quái kiệt” Trần Văn Trạch – người có thời gian cộng tác cùng ban Thăng Long kể lại: “Mỗi xuất hiện của Ban Hợp Ca Thăng Long là một cơn nóng sốt đối với bà con khán giả miền Nam. Cách trình diễn, bài vở họ chọn, ngôn ngữ họ dùng… như một điều gì vừa gợi óc một tò mò, vừa mới mẻ, quyến rũ, lại cũng vừa thân thiết như một vật quý đã mất từ lâu, nay tìm lại được…”

    Đạt được thành công to lớn ở phía Nam, những anh chị em nhà họ Phạm bắt đầu “Bắc tiến”, mà thực ra là sự trở về Thăng Long của ban nhạc mang tên Thăng Long, lúc này cùng theo đoàn hát mang tên là Gió Nam, với ý nghĩa là một làn gió mới đến từ phương Nam để đi trình diễn ở Hà Nội. Vì Nhà Hát Lớn giới hạn về không gian, nên rất nhiều thanh niên không mua được vé, phải trèo qua cửa sổ để nghe Gió Nam hát. Trong những người thanh niên đó có Lê Quỳnh, lúc đó hãy còn rất trẻ và hâm mộ tiếng hát Thái Thanh cuồng nhiệt. Đến sau này, khi di cư vào Sài Gòn năm 1954 và trở thành nam tài tử nổi tiếng bậc nhất Miền Nam, ông đến hỏi cưới Thái Thanh và được gia đình ông Phạm Đình Phụng đồng ý.

    Ban Hợp Ca Thăng Long đứng trên đỉnh cao cho đến đầu thập niên 1960 thì có một sự cố đau lòng diễn ra trong nội bộ gia đình họ Phạm đã làm rúng động báo giới Sài Gòn. Vụ việc này có thể ai cũng đã rõ nên xin không tiện nói, chỉ biết rằng sau tai tiếng này, cuộc đời Phạm Đình Chương bước sang một giai đoạn khác. Chia tay vợ với vết thương lòng to lớn, ông sống những ngày gần như cắt đứt mọi sự liên lạc, chỉ tiếp xúc giới hạn với 1 vài bằng hữu thân thiết. Gia đình Phạm Duy cũng rời đại gia đình Thăng Long ở đường Bà Huyện Thanh Quan để về cư xá Chu Mạnh Trinh.

    Nhạc sĩ Phạm Đình Chương và Khánh Ngọc

    Từ thập niên 1960 trở về sau, Hoài Bắc – Phạm Đình Chương sáng tác rất ít, nếu có thì cũng là những ca khúc u sầu như Người Đi Qua Đời Tôi, Khi Cuộc Tình Đã Chêt, hay Nửa Hồn Thương Đau. Nhiều người nói rằng ca khúc Nửa Hồn Thương Đau được ông viết ngay sau khi chia tay Khánh Ngọc, nhưng sự thật không phải vậy. Dư chấn của thảm kịch đã giảm thiểu mọi hoạt động của nhạc sĩ Phạm Đình Chương một thời gian khá dài, và ông chỉ sáng tác Nửa Hồn Thương Đau sau đó đúng 10 năm (1970) và được giới thiệu trong cuốn phim điện ảnh Chân Trời Tím qua tiếng hát Thái Thanh, được lồng vào phần trình diễn của minh tinh Kim Vui trong phim.

    Cũng từ thập niên 1960, dù không hoạt động sôi nổi như trước, nhưng Ban Hợp Ca Thăng Long vẫn thu băng dĩa và trình diễn ở phòng trà Đêm Màu Hồng do Hoài Bắc Phạm Đình Chương mở ở Hotel Catinat có 2 mặt tiền đường, số 69 Tự Do và số 36 Nguyễn Huệ.

    Hotel Catinat

    Cuối năm 1974, ban Thăng Long cùng giọng ca Thái Thanh được nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông thực hiện riêng một băng nhạc duy nhất, đó là Sơn Ca 10.

    Sau năm 1975, thời cuộc đổi thay, mỗi người mỗi ngả. Thái Thanh kẹt lại ở Việt Nam trong 10 năm, từ 1975 đến năm 1985. Trong thời gian đó, Hoài Trung và Hoài Bắc kết hợp cùng cháu ruột là ca sĩ Mai Hương (con của Phạm Đình Sỹ) thành lập ban Thăng Long hải ngoại để trình diễn ở một vài sân khấu hải ngoại.

    Ban Thăng Long ở hải ngoại, với Mai Hương thay thế cô ruột là Thái Thanh

    Năm 1991, Hoài Bắc Phạm Đình Chương qua đời ở tuổi 62

    Năm 2002, Hoài Trung Phạm Đình Viêm qua đời ở tuổi 83

    Đến năm 2020, cô em út Thái Thanh – linh hồn của ban hợp ca Thăng Long cũng rời bỏ chúng ta. Tất cả những người đã tạo lập thành ban nhạc huyền thoại năm xưa nay đều đã thành người thiên cổ, nhưng tên tuổi và những đóng góp của họ dành cho tân nhạc vẫn trường tồn với thời gian.

    Bài: Đông Kha
    Bản quyền bài viết của nhacxua.vn

  • Hồi ký,  Tài liệu

    Châu Công Tử – qúi tộc Hội An

    Nguyên Ngọc

    Chuyện này đến nay có lẽ chỉ còn mình tôi biết. tôi muốn kể lại, trước hết vì Hội An của tôi, để Hội An hiểu thêm rằng mình từng lạ và “hay” đến thế nào. Đặng mà cố giữ nó.

    Năm ấy hình như tôi khoảng 12 tuổi,  cũng có thể chỉ mới 11 vì đến cách mạng tháng Tám 1945 tôi vừa 13, mà  theo tôi nhớ thì ông Nguyễn Tuân tới Hội An trước Cách mạng đâu khoảng  vài ba năm.

    Ba tôi, bấy giờ gọi là “thầy thông bưu chính’’, tức đã có đến bằng diplome, hồi ấy thế cũng là trí thức bậc trung. Hình như ông định biến con trai mình thành một nhà bác học, hay tệ nhất cũng là  một nhà văn lừng danh. Ông có lối dạy con rất đặc biệt: ông bắt tôi đọc hầu như toàn bộ văn học Việt Nam đương thời, từ Tự Lực văn đoàn cho đến Tiểu thuyết Thứ bảy, rồi Phổ thông bán nguyệt san, đọc hết luôn tủ sách Văn mới của Hàn Thuyên, các tạp chí Thanh Nghị, Tri Tân, tất nhiên không  thể thiếu báo Ngày nay…, cả Tây sương ký và Trang Tử Nam hoa kinh qua  bản dịch của Nhượng Tống

    … Còn sách Tây thì tôi phải đọc trước chương trình quy định ở lớp một, có khi đến hai năm. Ngốn toàn bộ “Những người khốn khổ” và “Nhà thờ Đức Bà Paris” của Victor Hugo, tra từ điển  Larousse đến mờ mắt để lần cho ra cái đoạn lê thê ông nhà văn lắm lời này tả các cánh cửa rậm rạp của nhà thờ Đức Bà… Tôi biết ơn ba tôi đã  biến tôi thành một con mọt sách suốt đời.

    Một thành phố chỉ có thể thật sự là “thành phố văn hóa”, như Hội An, khi nó có, từng có, và  biết giữ một lớp tinh hoa cấp cao, một lớp quý tộc văn hoá như thế, có thể nhỏ thôi, có thể nghèo, nhưng là quý tộc, sang trọng, như là cái lõi vàng ròng của đời sống tinh thần và văn hóa chung.

    Bây giờ nhớ lại, cứ như ngày ấy tôi vì say sách mà đã thành kẻ mộng du, mới 11 hay 12 tuổi mà đêm nào cũng lang thang một mình trên các đường phố Hội, thường rất khuya, chỉ đi một mình thôi – anh ấy dặn vậy, tìm đến một ngôi nhà cổ bé tí và sâu hun hút. Nhà ấy có hai mặt đường như tất cả các nhà trong phố cổ Hội An, một mặt quay ra Rue du pont japonnais (đường Chùa Nhật Bản) nay là Trần Phú, mặt kia trổ ra Rue Cantonnais (đường  Quảng Đông) nay là Nguyễn Thái Học. Đấy là nhà của một vị nho học nổi  tiếng có cái tên rất lạ: Châu Phi Cơ. Lúc nào cũng thơm nồng mùi thuốc bắc, về đêm càng sực nức. 

    Khuya, tôi gõ cửa rất khẽ, đúng ra là chỉ cần chạm nhẹ vào cái khuy đồng ở cửa, lập tức “hạt vừng’’ từ từ mở ra. Anh  Châu Tường Anh, mới nghe tên đã biết tất phải là người rất sang trọng,  rất quý tộc, hình như đêm nào anh cũng sẵn chờ tôi sau cánh cửa dày và nặng, trong đêm đẹp như một bức sơn mài ấy. Vâng, một nhà quý tộc trẻ. Thanh mảnh, hơi gầy và cao, lúc nào cũng mặc áo dài hai lớp, áo dài  trắng bên trong áo lương đen mỏng tan. 

    Hội An ngày ấy có một lớp “quý  tộc’’ như vậy của mình. Một lớp quý tộc chập chờn giữa hai thời đại. Còn nho nhã phương Đông, nhưng đọc rành Tây và thường nói chuyện với nhau bằng tiếng Tây. Một lớp quý tộc nghèo mà sang. Những La Hối, Lê Trọng Nguyễn, Dương Minh Ninh, Dương Minh Hòa, Lưu Nghi… tất nhiên cả gia đình họ Nguyễn Tường, những người đã mang tinh hoa phố Hội quê hương tự  trong máu của mình ra trộn với tài hoa Cẩm Giàng Hải Dương để làm nên Tự Lực văn đoàn, cả một thời đại trong văn chương xứ Việt như Hoài Thanh  từng nói… Và anh Châu Tường Anh nữa, bạn vong niên của tôi. Anh lớn hơn  tôi đâu chỉ ba hay bốn tuổi, ở tuổi đó cách nhau chừng ấy đã gần cả một  thế hệ rồi, vậy mà anh kết nạp tôi vào thế hệ anh. Vì anh biết tôi cùng  mê sách. Những người mê sách thì bình đẳng trước văn hóa và vĩnh cửu, và  không có tuổi.

    Nhà tôi cũng có một tủ sách, tất nhiên, dày cộp.  Nhưng làm sao dám sánh với sách của anh Châu Tường Anh, dù anh có cuốn  nào tôi cũng có đúng cuốn ấy, không sót. Nhưng sách của tôi là sách  “thường’’, tầm thường, bán đại trà, cứ ra phố là mua được, mua hàng lô cũng còn được nữa là, những cuốn sách “vô danh’’, cũng còn có thể gọi là  “vô chủ’’ nghĩa là ai có cũng được, không đặc biệt là của riêng ai hết, có thể trôi nổi, nay vào tay người này mai vào tay người kia. Lại nữa,  không từ đâu đến, không ai trao cho mình cả, mình có tiền mình đi mua, có thể nơi một quầy vô danh bất kỳ ở một hiệu sách vô danh bất kỳ. Theo một nghĩa nào đó, một cuốn sách như thế không có “cá tính’’, không phải  là riêng nó, chỉ riêng nó, không có hai, duy nhất, đơn nhất, như một  người bạn, người thân, người yêu, của riêng mình… Có một dấu hiệu cho loại sách đó: mép sách được, hay bị, xén bằng dao kim loại, xoẹt một cái  phẳng lì, tăm tắp, chắc cũng có thể với máy móc hiện đại xoẹt một cái  xén phẳng sạch bong hàng chục cuốn…

    Tôi để ý: trên bàn của anh Châu Tường Anh tuyệt không có một con dao kim loại nào. Thư phòng của  anh ở trên gác, nhỏ thôi, tường gỗ, bốn mặt tường đều là sách. Và tuyệt không có cuốn sách nào bị xén “công nghiệp’’. Trên bàn có một con dao  bằng ngà, trắng nhờ. Bởi vì ở đây chỉ có toàn những cuốn sách được in hai tờ, hay bốn tờ, dính vào nhau, phải rọc ra. Con dao ngà kia là để  rọc.

    Ngày ấy sách được in như thế này: ở những nhà xuất bản lớn,  những cuốn sách hay của những tác giả tên tuổi, bao giờ ở trang giáp  cuối cũng có ghi: “… ngoài những bản thường, có 50 (hay 100) bản đặc  biệt, in trên giấy dó (hay giấy Lafuma), được đánh số từ A1 đến …, có  chữ ký của tác giả và không bán”. Không bán, vì nó vô giá. Bây giờ đến  lúc tôi khoe với các bạn rồi đây: 11 hay 12 tuổi, tôi đã có được một  người bạn vong niên, anh Châu Tường Anh, của Hội An tôi, là chủ nhân của  một tủ sách gồm toàn những cuốn như thế. Và đêm đêm, gần suốt tuổi thơ,  như một kẻ mộng du, tôi bỏ nhà lang thang trên các đường phố Hội An vắng tanh, một mình tìm đến ngôi nhà cổ nhỏ xíu trên đường Chùa cầu Nhật Bản,  chỉ chạm nhẹ vào cánh cửa nặng trịch thì vừng liền mở ra, và anh bạn vong niên của tôi, áo dài trắng bên trong áo lương đen, không nói một lời dắt tôi lên thư phòng của anh. Tôi ngồi yên trên một chiếc ghế nhỏ,  nhìn anh chậm rãi lấy từ giá xuống một cuốn sách mới, không bao giờ tôi  biết từ đâu mà anh có được, tôi không bao giờ dám hỏi. Tôi ngồi yên, sững sờ ngắm anh thực hiện cái nghi lễ thiêng liêng của người mê sách.  Đôi bàn tay các ngón đẹp như của một nghệ sĩ dương cầm, cầm con dao ngà,  rất chậm, rất nhẹ, như sợ làm đau giấy, rọc từng trang sách, mép giấy đó nhẹ nhàng xơ ra, một chút bụi giấy vàng mong manh bay lên và rơi  xuống lấm tấm li ti trên mặt bàn. Tôi những muốn được đưa ngón tay chấm nhẹ một hạt bụi ấy, mà không dám… Vậy đó mỗi đêm, một cuộc thôi miên…  Tôi không đọc sách ở nhà anh Châu Tường Anh, những cuốn sách ấy ở nhà  tôi cũng có, bản in phàm, bán đại trà, ba tôi mua. Tôi đến nhà anh Châu Tường Anh, đêm đêm, mộng du, là để chiêm ngưỡng những cuốn sách vô giá  của anh, được ngửi mùi thơm vừa thoảng vừa ngậy đặc trưng của giấy dó và  của mùi bụi giấy lấm tấm bay ra khi anh rọc sách bằng con dao ngà màu  trắng đục. Tôi cứ ngỡ bụi “phấn thông vàng” của Xuân Diệu cũng đẹp như  thế, thơm nhẹ và sâu như thế, tuy mãi mấy mươi năm sau tôi mới được biết phấn thông vàng thực ở Tây Nguyên. Cũng có hôm anh Châu Tường Anh cho  tôi được tự tay dở vài trang sách. Rất lạ, những trang ấy tôi đã đọc ở nhà rồi, có khi đến thuộc lòng, vậy mà ở đây mỗi con chữ đều long lanh,  và vang lên một cách khác… Nói thế nào nhỉ, chúng trở nên quý tộc hơn,  sang trọng hơn, và bổng như trở nên bí mật hơn… Vâng, mỗi đêm tôi được  hưởng một nghi lễ như vậy của cái đẹp…

    Cho tới một bữa, vừa bước lên gác tôi đã nhận ra mùi hương trầm. Anh Châu Tường Anh, không nói một  lời, lặng lẽ chỉ cho tôi ngồi xuống ghế, và ra hiệu cho tôi phải để hai  bàn tay xuống bên dưới mặt bàn. Nghĩa là tuyệt đối không được sờ đến  bất cứ thứ gì. Và ngồi đó chờ… Rất lâu. Rồi anh nhẹ nhàng nhấc từ trên  giá xuống một cuốn sách mới tinh. Sách đã rọc. Các mép giấy dó xơ ra,  còn giữ nguyên từng sợi vàng óng. Chỉ những người chuyên chơi sách mới  biết: sách đẹp chính là ở những xơ giấy dó được giữ quý như vàng đó. Tôi  nhìn trân trân. Cuốn Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân. Anh Châu Tường  Anh dùng mũi dao ngà khẽ lật trang bìa, rất chậm rãi, đến trang lót, rồi càng chậm rãi, đến trang thứ ba. Và tôi sững sờ: lời đề tặng của  chính ông Nguyễn Tuân. Nguyễn Tuân ngày ấy là huyền thoại của chúng tôi. Tự tay ông viết, cái ông Nguyễn Tuân tài hoa, phiêu bạt và ngang tàng  ấy, tự chính tay ông viết, như múa, không phải “Tặng anh Châu Tường  Anh”, cũng không phải “Kính tặng anh Châu Tường Anh”, mà là ”Kính tặng  Tường Anh Châu công tử”… Và bên dưới, chữ ký bay lên, như khói. Có người  bảo: đấy là hình tượng một cánh buồm lộng gió.

    Ôi ông Nguyễn  Tuân, chỉ có ông mới nghĩ ra được như vậy, mới viết được như vậy. Tôi có  hỏi kỹ một anh bạn chuyên nghiên cứu văn bản học, anh ấy khẳng định  trước Cách mạng tháng tám Nguyễn Tuân đến Hội An chỉ một lần, năm 1941,  và viết tùy bút Cửa Đại nổi tiếng. Năm đó tôi đúng 11 tuổi. Anh Châu Tường Anh của tôi lớn hơn tôi đâu bốn hay năm tuổi, tức khoảng 15 hay 16. Mà đã “Châu công tử”, kỳ lạ không, đã có thể kết bạn với ông Nguyễn Tuân, đã được chính ông Nguyễn Tuân huyền thoại kết bạn tâm đắc đến mức  tự tay trân trọng tặng Châu công tử một cuốn Vang bóng một thời in giấy dó vàng ươm!

    Vâng, Hội An của tôi là vậy đó. Cho phép tôi nói điều này: một thành phố chỉ có thể thật sự là “thành phố văn hóa”, như  Hội An, khi nó có, từng có, và biết giữ một lớp tinh hoa cấp cao, một  lớp quý tộc văn hóa như thế, có thể nhỏ thôi, có thể nghèo, nhưng là quý  tộc, sang trọng, như là cái lõi vàng ròng của đời sống tinh thần và văn hóa chung.

    Chắc tôi phải nói thêm chút nữa về người bạn vong niên kỳ lạ của ông Nguyễn Tuân ở Hội An, anh Châu Tường Anh quý tộc nghèo của tôi. Anh mất vào những ngày đầu kháng chiến chống Pháp cuối năm 1946. Không ai biết thật rõ về cái chết của anh. Chỉ nghe đồn đâu đó  ở cửa sông Thu Bồn. Anh quen biết, và hẳn gắn bó nhiều với gia đình  Nguyễn Tường của Nhất Linh Nguyễn Tường Tam. Ta biết, họ là Quốc dân  đảng. Trong những ngày cực kỳ rối ren, sôi nổi, hào hùng và thảm khốc của một cuộc chiến tranh ác liệt đang bắt đầu.

    Lịch sử mà…

    Nguyên Ngọc

    Theo FB

  • Tài liệu

    Chân dung tin tặc Việt vừa bị trục xuất sau 7 năm ngồi tù ở Mỹ

    Đứng sau một trong những hệ thống bán danh tính khách hàng lớn nhất từng tồn tại, tin tặc (hacker) Ngô Minh Hiếu kiếm được hơn 3 triệu USD trước khi bị mật vụ Mỹ bắt tại đảo Guam năm 2013.

    Ngô Minh Hiếu sinh năm 1989 ở Gia Lai và có biệt danh Hieupc. Vừa được thả và trục xuất về Việt Nam sau 7 năm ngồi tù tại Mỹ, Hiếu đã liên hệ với trang KrebsOnSecurity từ nơi cậu ta đang phải cách ly bắt buộc do dịch Covid-19, để chia sẻ câu chuyện của bản thân. Hiếu hy vọng sẽ thuyết phục những người giỏi về máy tính đừng đi theo vết xe đổ của mình.

    Ở thời đỉnh cao trong “sự nghiệp tội phạm mạng”, Hiếu kiếm tới 125.000 USD/tháng nhờ điều hành dịch vụ bán thông tin cá nhân chi tiết lấy được từ những công ty môi giới dữ liệu hàng đầu thế giới. Và chính lòng tham đã khiến Hiếu rơi vào bẫy của Mật vụ Mỹ.

    Trong vài năm bắt đầu từ khoảng 2010, chỉ có một thiếu niên duy nhất ở Việt Nam, tên là Ngô Minh Hiếu, điều hành một trong những dịch vụ nổi tiếng và sinh lời nhiều nhất trên mạng Internet, chuyên bán “fullz” – bộ dữ liệu cá nhân đánh cắp được bao gồm tên, ngày sinh, số thẻ an sinh xã hội, email và địa chỉ thực tế của một khách hàng.

    Lúc bị bắt vào năm 2013, Hiếu đã kiếm được trên 3 triệu USD nhờ bán dữ liệu cho những kẻ ăn trộm danh tính và các đường dây tội phạm có tổ chức hoạt động trên đất Mỹ.

    Tháng 2/2013, đặc vụ Mỹ Matt O’Neill đã thực hiện thành công kế hoạch dụ Hiếu rời Việt Nam đến Guam, để bắt giữ và đưa ra tòa án tại Mỹ. O’Neill hiện là Giám đốc Trung tâm chiến dịch điều tra toàn cầu của Mật vụ Mỹ, chuyên hỗ trợ điều tra các tổ chức tội phạm xuyên quốc gia.

    O’Neill cho biết đã tiến hành điều tra dịch vụ bán danh tính do Ngô Minh Hiếu điều hành, sau khi đọc về dịch vụ này trong một câu chuyện có tựa đề “Danh tính của bạn trị giá bao nhiêu?” trên trang KrebsOnSecurity năm 2011. Theo ông, hoạt động của Hiếu đã tiếp tay cho cả một thế hệ tội phạm mạng đánh cắp các tài khoản và gian lận tín dụng lên tới hơn 1 tỷ USD.

    “Tôi không rõ có tên tội phạm mạng nào gây tổn thất tài chính cho người Mỹ nhiều hơn Hiếu hay không. Cậu ta đã bán thông tin cá nhân của hơn 200 triệu người Mỹ, cho phép mọi đối tượng mua chúng chỉ với giá vài xu”, O’Neill nói.

    Khi còn nhỏ, Hiếu được gia đình mua cho một chiếc máy tính và cậu ta đam mê máy tính từ đó. Lớn lên, Hiếu sang New Zealand học đại học và lúc đó, Hiếu đã là admin của nhiều diễn đàn hacker trên web đen. Trong lúc học, nam sinh viên đã phát hiện một lỗ hổng trong mạng lưới máy tính của trường làm lộ dữ liệu thẻ thanh toán. Báo cho quản trị viên IT nhưng không ai quan tâm, Hiếu bèn hack luôn cả hệ thống rồi dùng lỗ hổng đó tấn công các trang web khác và ăn trộm được rất nhiều thẻ tín dụng.

    Sau khi bị nhà trường phát hiện và báo cảnh sát, Hiếu phải về nước khi hết học kỳ 1 vì không được gia hạn thị thực. Để trả thù, Hiếu tấn công trang web của trường, khiến nó tê liệt ít nhất 2 ngày.

    Về Việt Nam, Hiếu đi học lại nhưng vẫn dành chủ yếu thời gian lần mò trên các diễn đàn tội phạm mạng. Cậu chuyển từ hack cho vui sang hack vì tiền, khi thấy dễ dàng kiếm tiền từ đánh cắp dữ liệu khách hàng. Cậu cũng giao du với một số bạn bè từ các diễn đàn ngầm và bắt đầu nghĩ đến đánh cắp dữ liệu cá nhân để bán.

    “Tiền kiếm được quá nhanh đã khiến tôi mờ mắt”, Hiếu tâm sự.

    Số tiền phi pháp 3 triệu USD

    Một trong những trang web của Ngô Minh Hiếu chuyên cung cấp dịch vụ đánh cắp danh tính.

    Mục tiêu lớn đầu tiên của Hiếu là công ty báo cáo tín dụng MicroBilt ở New Jersey.

    “Tôi hack nền tảng của họ, đánh cắp cơ sở dữ liệu người dùng để có thể dùng đăng nhập khách hàng nhằm tiếp cận dữ liệu [người dùng] của họ. Tôi đã ở trong hệ thống của họ khoảng gần một năm mà họ không hề hay biết”, Hiếu nhớ lại.

    Tiếp đó, Hiếu lập trang Superget[.]info, chuyên bán hồ sơ người dùng cá nhân. Ban đầu, dịch vụ của Hiếu được thực hiện thủ công nhưng sau đó, hacker này tìm ra cách sử dụng các máy chủ mạnh ở Mỹ để tự động thu thập lượng lớn dữ liệu người dùng từ các hệ thống của MicroBilt và các hãng dữ liệu khác. MicroBilt đã phát hiện và đẩy Hiếu ra khỏi hệ thống, nhưng Hiếu trở lại được nhờ một lỗ hổng khác.

    Sau này, Hiếu tìm thấy một mục tiêu hấp dẫn hơn, đó là công ty Mỹ Court Ventures chuyên lập hồ sơ công cộng từ tài liệu tòa án. Thứ Hiếu quan tâm thực chất là thỏa thuận chia sẻ dữ liệu của Court Ventures với US Info Search, vì hãng môi giới dữ liệu này có khả năng tiếp cận nhiều hồ sơ người dùng nhạy cảm hơn. Bằng một vài thủ thuật, Hiếu thuyết phục được Court Ventures tin mình là một nhà điều tra tư nhân ở Mỹ.

    Năm 2012, Court Ventures được mua lại bởi Experian – một trong những tổ chức tín dụng khách hàng lớn của Mỹ. Hiếu trả cho Experian hàng nghìn đôla mỗi tháng để mua dữ liệu khách hàng, thông qua các tài khoản mới lập và đa số ở Trung cộng, Malaysia và Singapore.

    Đặc vụ O’Neill cho biết, trang web của Hiếu thực hiện hàng chục nghìn lệnh truy vấn mỗi tháng và kiếm bộn tiền nhờ ăn chênh lệch. Trong khi Court Ventures thu của Hiếu 0,14USD, thì cậu ta thu của khách hàng 1USD.

    Hiếu bị Mật vụ Mỹ để mắt tới và họ phát hiện một số email Hiếu gửi cho các đồng phạm, hướng dẫn cách thanh toán tiền cho Experian bằng cách chuyển khoản từ các ngân hàng châu Á. Các đặc vụ bắt đầu tìm cách đưa Hiếu vào bẫy.

    Tính đến năm 2012, Hiếu đã kiếm được hơn 3 triệu USD từ các hoạt động trên mạng. Cậu nói với cha mẹ rằng mình kiếm tiền nhờ phát triển website cho các công ty.

    Sa bẫy và hối hận

    Cuối cùng, Hiếu đã “cắn câu” của mật vụ Mỹ khi tới Guam để gặp một hacker người Anh nhằm dàn xếp một số vụ việc và thiết lập hợp tác. Hiếu không hay biết người này đã bị kết án và chính là “mồi nhử”, khiến cậu ta sa bẫy ngay khi bước chân xuống máy bay.

    Sau khi bị tạm giam 2 tháng ở Guam, Hiếu bị đưa tới New Jersey, nơi hacker thừa nhận đã thâm nhập vào MicroBilt cùng nhiều hệ thống khác. Hiếu kể rằng, trong quá trình xét xử, tòa án liên bang đã nhận khoảng 13.000 thư khiếu nại từ các nạn nhân. Họ trình bày mình bị mất nhà, mất việc và không còn khả năng mua nhà hay duy trì nguồn tài chính. Điều đó khiến Hiếu nhận ra mình là kẻ tồi tệ và cảm thấy rất ân hận.

    “Nhà tù là một nơi khốc liệt, nhưng nó cho tôi thời gian nghĩ về cuộc đời và các lựa chọn của mình. Tôi đang cố gắng làm điều tốt và trở nên tốt đẹp hơn mỗi ngày. Giờ đây, tôi hiểu ra rằng tiền chỉ là một phần của cuộc sống, chứ không phải tất cả và cũng không mang lại hạnh phúc thực sự”.

    “Tôi hy vọng những tội phạm mạng rút kinh nghiệm từ những gì tôi đã trải qua và dừng tay, thay vào đó hãy sử dụng các kỹ năng của mình góp phần làm cho thế giới tốt đẹp hơn”.

    Theo Internet

  • Tài liệu

    Chiến hạm USS New York làm từ đống sắt của biến cố 9/11

    Ngày 11 tháng 9 năm 2001, khủng bố đã hạ gục hai toà nhà Trung Tâm thương Mại Thế Giới World Trade Center (WTC) tại New York mang theo sinh mạng của hơn 3000 người dân vô tội, cùng một số rất đông cảnh sát, và lính cứu hoả đang thực hiện cuộc cấp cứu.

    World Trade Center sụp đổ thành những đống thép, gạch vụn khổng lồ, và chính phủ Hoa Kỳ đã làm một việc rất ý nghĩa. Chính phủ cho gom và sử dụng tất cả những săt và thép vun đó để chế tạo làm thành một chiến hạm đặt tên là USS NEW YORK.

    Tám năm sau, ngày 7 tháng 9 năm 2009, chiến hạm tối tân trị giá 1 tỷ đô USS NEW YORK đã hoàn tất và khởi hành chuyến đầu tiên về đất mẹ, tiến vào cảng New York giữa sự chào đón nồng nhiệt và cảm động của toàn cư dân New York city, nhất là thân nhân của những người bị nạn ngay tại World Trade Center ngày ấy.

    Trong mỗi gram của 24 tấn thép vụn tại WTC trong chiến hạm khổng lồ USS New York đó đều có một chút thịt, da, máu, và xương của hơn 3000 người đã ngã gục tại hiện trường.

    USS New York sau đó sẽ ra khơi với nhiệm vụ được giao phó từ Hải Quân Hoa Kỳ. Như vậy, tuy những nạn nhân WTC đã nằm xuống, nhưng thịt xương của họ vẫn luôn luôn sống còn trong khối thép khổng lồ của chiến hạm USS New York sẵn sàng chiến đấu để bảo vệ đất nước và lý tưởng tự do của Hoa Kỳ.