• Thơ

    Hương Quê Hoài Niệm

    Vấn vương theo tà áo dài, như gợi nhớ cho tôi trở về với tình tự quê hương. Ở một nơi phương trời xa, hình dáng thiếu nữ trong tà áo dài, đã trở nên một hoài niệm của thời xa xưa


    1
    Em đi vạt áo gió bay
    Cho bao hoài niệm nhớ ngày xa quê
    Lắng nghe gió thổi hồn về
    Cuốn theo nỗi nhớ, lời thề gió bay.
    2
    Hoa vàng mấy độ vơi đầy
    Dùng dằng chia lối, đổi thay ý trời
    Quê hương nay đã đổi dời
    Còn đâu tà áo, bước rời cố hương.
    3
    Cho dòng lệ ngấn hạt sương
    Ngày dài hiu quạnh, đoạn trường thế thôi
    Bóng em đầy ắp hồn tôi
    Quê hương ở lại, nhớ người phương xa.
    4
    Em đi khép nép đôi tà
    Lòng tôi chết dại, mưa sa tần ngần
    Thôi thì tình ấy phù vân
    Gánh theo nỗi nhớ, bước chân người tình.
    5
    Tạ ơn em một bóng hình
    Tung bay ta áo xuân tình mộng mơ
    Thương em cái thuở bao giờ
    Ngây ngô trong sáng tuổi thơ dạt dào.
    6
    Hương quê tình tự xôn xao
    Vọng đưa câu hát ngọt ngào lời ru
    Tiếng ngân não nuột trầm tư
    Vang xa ngàn dặm bay vù cánh chim.
    7
    Hôm nay tôi vội đi tìm
    Tìm trong tà áo trái tim bồi hồi.
    Quê hương khế ngọt trên đồi
    Đường quê in bóng, Mẹ tôi đợi chờ.
    8
    Xa người tôi lại làm thơ
    Trang thư ráo mực nửa tờ đánh rơi
    Đôi hạc trắng bay mất rồi
    Tiếng kêu thảm thiết bên trời tha phương.
    9
    Dẫu rằng trời đất vô thường
    Mà sao lòng vẫn còn vương nhớ hoài
    Đêm về sương đẫm trên vai
    Đèn khuya một bóng soi dài tiếng đêm.
    10
    Sương thu ngấn lệ bên thềm
    Nhớ thương ở lại nỗi niềm gió bay
    Vướng em vạt áo nơi này
    Hương quê hoài niệm tràn đầy hồn tôi.


    Lê Tuấn

  • Thơ

    GỞI CHÚT TÌNH VỀ HUẾ


    Con đường đi , hoá thành sông
    Đồng ruộng trắng xoá mênh mông biển hồ
    Những dòng nước cuộn xô Bồ
    Mưa gào gió thét thẫn thờ lo âu
    Mây chùng xuống thấp rầu rầu
    Trời đen mờ mịt một màu tang thương
    Vài chiếc ghe nhỏ ngoài đường
    Trong nhà dọn dẹp ghế giường ngổn ngang
    Nhìn trời lòng thật hoang mang
    Nước dâng lên mãi nát tan cõi lòng
    Trời đất sao khiến long đong
    Bao nhiêu vật dụng chất chồng lên nhau
    Cầu cho con nước xuống mau
    Điện thì “ cúp “đã từ lâu tối mù
    Người thì mệt mỏi gật gù
    Dựa lưng trên ghế tù mù lất lây
    Nấu ăn biết chỗ nào đây ? !
    Đành nhai sống gói mì này qua đêm
    Nước phủ chẳng thấy bậc thềm
    Trong nhà bì bõm lội rêm cả người
    Cây vườn bầm dập kém tươi
    Lều bều rác rưởi và rươi quanh nhà
    Vì rứa Huế phải lo xa
    Phòng khi bão lụt có mà miếng ăn
    Nhìn quê hương thật băn khoăn
    Biết bao suy nghĩ làm răng bớt buồn ? !


    Võ Thời 11- 10 – 2020

  • Thơ

    THƠ ĐỜI TUY ĐỤC MÀ TRONG

    Trong giới văn nghệ sĩ, nhà thơ Bùi Chí Vinh là cái tên được nhắc tới với nhiều giai thoại, bởi anh có tài ứng khẩu thành thơ nhiều đề tài hóc búa do bạn bè thách đố bên chiếu rượu.

    Còn trên thi đàn, thơ đời Bùi Chí Vinh người khoái cũng nhiều, người ghét cũng lắm, thậm chí là một cái gai trong mắt nhiều người vì dám nói thẳng, nói thật, tung hê hết thảy sự đời trong đục, kiểu “bức tranh vân cẩu vẽ người tang thương”. Nhưng cũng cái dáng vẻ ngang tàng, gai góc ấy khi thỏ thẻ thơ tình lại biến hóa thành trong veo không có tuổi, kiểu như: “Cô gái ơi anh nhớ em/ Như con nít nhớ cà – rem vậy mà…”.

    Tự nhận mình sinh ra dưới một ngôi sao “quậy”, cầm tinh con ngựa bất kham, từng khoác áo lính một thời tuổi trẻ, nhưng có lúc phải làm đủ thứ nghề mạt lộ để sinh nhai như lời tự bạch: “Ta sinh ra gặp buổi nhiễu nhương/ Bất lương bàn luận chuyện hiền lương/ Kẻ sĩ cúi đầu làm binh sĩ/ Thơ quốc doanh cười cợt thơ Đường…”. Vài năm nay, anh chuyển sang cầm cọ vẽ tranh và đã có hai triển lãm cá nhân gây được sự chú ý trong công chúng. 

    -Trước đây mọi người quen gọi anh là nhà thơ, nhưng bây giờ gọi anh là họa sĩ trẻ cũng được phải không ạ? 

    Cứ gọi tôi là Bùi Chí Vinh – Bình Chí Vui là được rồi. Thật ra tôi làm quen với hội họa từ nhỏ, năm chín tuổi đã đoạt giải hội họa Thiếu nhi châu Á với bức tranh màu nước Quang Trung hành quân. Nhưng rồi do cái duyên, tôi gắn bó với văn chương nhiều hơn trong một thời gian dài. Thật vây, mỗi khi làm một công việc mới nào đó tôi đều không có sự tính toán nào. Tôi tin mọi việc đều do sự sắp đặt của số phận cả, và “cùng tắc biến, biến tắc thông”. 

    -Bùi Chí Vinh một tay chọc trời khuấy nước mà cũng tin vào số phận sao? Cái sự “cùng tắc biến, biến tắc thông” của anh là gì vậy? 

    Sao lại không chứ. Tính cách nào, số phận nấy mà. Tôi tin vào số phận, vào Thượng đế, vào luật nhân quả. Nếu có niềm tin, con người ta sẽ sợ làm điều ác, điều xấu. Tôi chỉ không sợ cái ác, cái xấu khi phải đối đầu với nó thôi.

    Đời tôi có những việc rất lạ mà tôi tin đó là sự trợ lực của Thượng đế. Tôi có niềm tin vào tâm linh, dù chúng ta đang sống trong thế giới duy vật. Đó là một khi cuộc sống bị đẩy vô chân tường thì tôi lại bộc lộ ra một khả năng mới và sống được bằng khả năng đó. Tôi quăng mình vào thơ một cách dữ dội nhưng rồi đến lúc chỉ được làm thơ tình để mọi người vỗ tay, hay thơ minh họa nghị quyết… tôi không thích nữa và dừng lại. Đưa đẩy thế nào tôi chuyển sang viết truyện cho tuổi mới lớn và bán vào hàng chạy nhất lúc đó cùng với Nguyễn Nhật Ánh. Khi người đặt hàng tôi viết truyện thiếu nhi là ông Nguyễn Thắng Vu, Giám đốc Nhà xuất bản Kim Đồng qua đời thì lại có người đặt hàng tôi viết kịch bản điện ảnh. Khi những nhà đầu tư làm phim gặp khó khăn thì khả năng hội họa của tôi lại trỗi dậy. Hai triển lãm vừa qua, mỗi cái tôi bán được năm bức tranh. Là “họa sĩ trẻ” mà được như vậy cũng là thành công rồi. 

    -Hỏi thật, anh đã thành danh trong văn chương, khi “tay ngang” đến với hội họa, anh không sợ bị cho là lấn sân, không “biết mình biết ta” sao? 

    Tôi có biết gì về hội họa đâu, bỗng một ngày muốn vẽ thì cầm cọ vẽ thôi. Vẽ xong cũng không có ý định triển lãm, nhưng rồi cái duyên cứ đưa đến. Tranh của tôi không giống ai, nó là minh họa cho cái đầu, cho suy nghĩ của tôi nên có sự hồn nhiên, chân thật lẫn dữ dội, thống khổ. Mỗi người có một sứ mệnh riêng nên tôi không nghĩ là mình lấn sân. Và vì “biết mình biết ta” nên tôi chỉ dạo chơi với hội họa một cách thoải mái nhưng hết mình. Bùi Chí Vinh là thế, chơi cái gì cũng phải hết mình.

    Người cầm bút mà lúc nào cũng cười xởi lởi trong đám đông thì tác phẩm cũng mang màu đồng phục, giống với mọi người. 

    -Như vậy sau hội họa, sẽ còn điều bí ẩn nào đó đang chờ anh khám phá phải không? 

    Như tôi đã nói, đó là một phản xạ tâm linh nên tôi cũng không biết trước. Có thể đó là sự trở lại với văn chương, vì tôi còn nhiều dự định đang ấp ủ.

    Nếu có điều kiện viết tiểu thuyết lịch sử hoặc làm kịch bản phim, tôi sẽ chọn viết về thời đại Quang Trung – Nguyễn Huệ, vì những con người anh hùng áo vải thời đó rất ly kỳ. Nó sẽ rất phong phú bởi nhiều tình tiết, chi tiết dạng giả sử, ngoại sử rất hấp dẫn, nhưng đều trên cơ sở khoa học, hợp lý mà tôi có thể tưởng tượng và làm được. Không chỉ có Nguyễn Huệ mà cả Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân, rồi sự xuất hiện của Nguyễn Hữu Chỉnh – một tài năng lớn của thời Lê – Mạc nhưng đi theo Nguyễn Huệ, Ngô Thời Nhiệm cũng vậy. Những người này có đời sống riêng rất đặc biệt, Ngô Thời Nhiệm là đệ nhất văn thần, còn Nguyễn Hữu Chỉnh là đệ nhất quân sư thời đó. Có thể thấy những nhân vật lỗi lạc nhất của Bắc Hà đều theo Nguyễn Huệ, cả những người Hoa tham gia phong trào phản Thanh phục Minh cũng theo Nguyễn Huệ. Chỉ có minh chúa mới có sức thu phục nhân tâm như thế.

    -Người ta thường sợ hạn năm tuổi, còn Bùi Chí Vinh thì có cảm giác gì khi “đáo tuế”?

    Tôi sinh năm Giáp Ngọ 1954, năm nay 2014 cũng là Giáp Ngọ, vậy là đúng 60 năm cuộc đời. Người ta thường sợ hạn năm tuổi, còn tôi lại không nghĩ vậy. Cuộc đời tôi đã trải qua quá nhiều vận hạn khắc nghiệt ở những năm khác nên đến năm tuổi, có khi tôi sẽ phục sinh, nạp đủ năng lượng để sải vó, để rong ruổi, để chinh phục những điều mới mẻ.

    “Ngày ta sinh Nguyễn Huệ đã bùng hà/ Nên con – ngựa – tử – vi không người cưỡi/ Ta sút chuồng phá bỏ yên cương/ Lặng lẽ ruổi đời mình lên núi…”. Hình như kiêu hãnh và cô độc là con đường mà anh đã chọn và theo đuổi đến cùng…

    Đúng rồi, vì “Chỉ có cô đơn mới đủ làm ta khóc/ Tiếng khóc của ta là tiếng hí của người/ Ta không biết ta là người hay ngựa/ Chỉ một mình Nguyễn Huệ hiểu ta thôi”… Đó là bốn câu đầu và cuối mà tôi đã viết trong bài Ngày sinh của ngựa. Bài thơ này mới nghe qua tưởng rất ngông cuồng, nhưng thật ra không phải vậy. Câu “Ngày ta sinh ra bầy rắn đã rung chuông”, tôi vừa mượn ý bài Ngày sinh của rắn của Phạm Công Thiện, nhưng hình ảnh rắn cũng để nói về một cái gì đó hiểm độc. Sự rình rập, mai phục trong bụi của rắn đối lập với hình ảnh con ngựa tung vó chạy trên đồng cỏ, càn lướt trên thảo nguyên. Trong đời tôi, Nguyễn Huệ là vị anh hùng mà tôi cảm phục, thần tượng nhất. Không chỉ là người làm nên chiến công hiển hách, chưa hề thất trận mà về mặt nhân quyền, ông có nhiều cải cách cho dân.

    Thời nào cũng vậy, cách cô độc của một kẻ sĩ cầm bút đi liền với sự kiêu hãnh. Cô độc vì cảm thấy “Thế sự thăng trầm quân mạc vấn” nên phải lùi lại. Nhưng trong biểu hiện sự cô độc phải có cá tính riêng. Người cầm bút mà lúc nào cũng cười xởi lởi trong đám đông thì tác phẩm cũng mang màu đồng phục, giống với mọi người.

    -Văn chương cũng là một sản phẩm của xã hội. Có ý kiến cho rằng người viết trẻ bây giờ có kỹ năng nhưng ít có vốn sống nên tác phẩm của họ cũng lơ lửng. Anh thấy nhận xét trên thế nào?

    Phải nói rằng viết văn là một nghề cực nhọc, đòi hỏi không chỉ tài năng mà còn sự dấn thân, bản lĩnh của người viết. Viết văn phải lương thiện, phải thực hiện đúng chức năng “văn dĩ tải đạo”. Tức phải tải được đạo lý, nhân nghĩa, chính trực, chứ nếu viết văn để tải cái hả hê, cái tham vọng của cá nhân thì nên chọn công việc khác hơn là viết văn. Tôi tin những ai còn lương tri, còn tài năng để làm việc thiện thì người đó sẽ tồn tại cùng với lịch sử, với thời gian.

    Bây giờ văn chương rất hỗn độn. Văn chương thậm chí tải cái ác, cái lơ lửng, khích cái tà đạo nhưng lại được một bộ phận không nhỏ cổ vũ. Có lẽ do đời sống bây giờ thực dụng, người ta không còn lý tưởng nên văn chương biến thành minh họa cho xã hội. Hơn bao giờ hết, giữa xã hội hỗn độn, các giá trị thiện ác, chính tà lẫn lộn thì văn chương càng phải làm nhiệm vụ “văn dĩ tải đạo” hơn nữa. Nhưng nhìn vào tương lai của văn học trẻ bây giờ tôi không cảm nhận được điều đó. Hiện nay tuy có rất nhiều người viết trẻ, nhưng tôi lại thấy văn học trẻ rất bế tắc. Lý do họ bị khống chế quá nhiều. Trong bản thân mỗi người có sẵn một người tự kiểm duyệt những con chữ của mình. Thế nên nhiều tác phẩm ra đời kiểu “đầu voi đuôi chuột”, mở ra vấn đề lớn nhưng kết thúc không đâu vào đâu.

    Viết văn phải lương thiện, phải thực hiện đúng chức năng “văn dĩ tải đạo”. Những ai còn lương tri, còn tài năng để làm việc thiện thì người đó sẽ tồn tại cùng với lịch sử, với thời gian.

    -Đời sống thực dụng, các giá trị thiện ác, chính tà lẫn lộn. Nghe thật đáng sợ, nhưng chẳng lẽ chúng ta phó mặc, không làm gì sao? Có lẽ nên bắt đầu từ giáo dục, anh có thấy như vậy không?

    Thời của tôi, từ khi còn nhỏ, học tiểu học là đã được nhà trường dạy môn Đức dục. Đó là cách tập tu thân, cư xử có đạo đức, theo đạo lý, lẽ phải nhưng không giáo điều, lên gân mà hết sức đơn giản, gần gũi như thưa gởi, xin phép cha mẹ khi ra khỏi nhà, chào người lớn tuổi, gặp đám tang cúi đầu chào, nghe thấy quốc ca dù ở đâu cũng đứng nghiêm, không nhặt của rơi… Những điều rất cơ bản trong một xã hội văn minh mà một đứa trẻ cần phải biết cách ứng xử với bạn bè trang lứa, với cha mẹ, người lớn, hàng xóm, với cả người nước ngoài đến nước mình. Lên trung học, bước vào đệ thất (tức lớp 6) thì học thêm môn Công dân, mở rộng hơn dạy về cách sống yêu nước, dám dấn thân, hy sinh, nghĩ đến đất nước trước khi nghĩ đến bản thân. Nhờ những bài học Đức dục, Công dân mà một đứa trẻ khi lớn lên bên cạnh kiến thức thì đã được trang bị nền tảng văn hóa để biết cách sống đẹp. Đất nước ta đã từng có những thế hệ được thừa hưởng nền giáo dục nhân văn như thế, từ đó mới có những người sống vì lý tưởng, dám dấn thân, dám hy sinh.

    Có lần tôi tham gia biểu tình và bị cảnh sát rượt, tôi phải quăng chiếc xe đang chạy trên đường Pasteur để thoát thân. Hai ngày sau quay lại thấy chiếc xe máy vẫn còn nguyên chỗ cũ. Lúc đó tôi mới 15 tuổi, tôi không cảm động hay thấy việc đó có gì đặc biệt. Vì đó là điều bình thường trong xã hội mà con người được giáo dục không được tham lam, tước đoạt của cải của người khác, dù để trước mặt. Thời tao loạn mà còn như thế. Còn bây giờ, chúng ta đã qua thời nghèo đói để biện mình cho việc “bần cùng sinh đạo tặc”, vậy mà những tin “hôi của” xảy ra khắp nơi. Hơn cả buồn là sự xót xa.

    -Anh từng làm “sếp” của những tay anh chị giang hồ mà vẫn cảm hóa được họ bằng thơ kia mà.

    Bởi tôi tin “nhân chi sơ, tính bản thiện”, và thơ từ trái tim khác với thơ từ cái lưỡi.

    Sau 1975, tôi được phân công về công tác tại Trường Thanh niên Xây dựng cuộc sống mới ở Xuyên Mộc (Bà Rịa – Vũng Tàu) và Tân Phú (Đồng Nai) giáo dục cho thanh niên loại 4. Có những người có học thức và cả những người thất học, họ phạm pháp nhưng chưa đến mức phải ở tù nên bị thử thách, trải qua môi trường cải tạo, xây dựng cuộc sống mới ở trường này. Tôi làm tuyên huấn, trực tiếp dạy học cho họ bằng vốn sống và kiến thức mình chứ không theo giáo trình nào cả. Ở đó, tôi thấy sự ngây thơ và hướng thiện của họ còn mạnh mẽ hơn chính những cán bộ thanh niên xung phong đang giáo dục, hướng dẫn họ.

    Tôi còn nhớ, có lần một học viên là giang hồ anh chị nổi tiếng vùng Tân Định bị đưa vào trường, anh này bất phục và có ý định bỏ trốn bằng vũ lực. Thấy được thái độ của anh ta, tôi làm bài thơĐiều tôi chưa chuẩn bị – là lời suy niệm của một “đại ca” dân Sài Gòn có học thức, nhưng cũng là châm ngôn của những người giảng dạy là “lấy tình thương xóa bỏ hận thù”. Liền sau đó tôi bị cấp trên nhắc nhở, cho rằng tôi đi lệch phương pháp của trường.

    “Đời sống có gì hơn quả bóng/ Tay trơn không níu được bao giờ/ Hạnh phúc có hơn gì quả bóng/ Lủng mấy lần xì hết ước mơ… Quả bóng tròn như thể công danh/ Anh chụp suốt một đời không dính…”.

    -Có khi nào anh nghĩ đời mình trắc trở do thơ anh vận vào đời không?

    Nhờ làm thơ về bóng đá mà tôi sống được đó chứ. Thời điểm sau khi bị buộc cởi áo lính là thời tôi thê thảm nhất. Đi đâu tôi cũng nghe đồn “cấp trên cấm đăng bài Bùi Chí Vinh trên báo”, còn nếu phải đăng thì “chỉ đăng thơ tình và duy nhất thơ tình mà thôi”. Tuy chỉ cấm bằng miệng chứ chẳng có văn bản nào, nhưng không nơi nào dám làm trái. Tôi phải xoay xở và nghĩ ra đề tài làm thơ về bóng đá. Thuởấy nhà báo Hồ Nguyễn phụ trách tờLong An Bóng đá và tờLong An Cuối tuần rất ưu ái tài nghệ làm thơ đa hệ và hoàn cảnh thắt ngặt của tôi bèn đề nghị mỗi số báo tôi có một bài thơ về thể thao hoặc trào phúng hài hước. Những bài thơ như một loại biên niên sử ghi chép các giải World Cup, Euro lẫn các giải vô địch Việt Nam đã giúp tôi sống được qua lúc khó khăn đó.

    -Lý lịch của anh rất đỏ mà cũng phải khổ sở như vậy sao?

    Gia đình tôi là gia đình cách mạng. Ba tôi từng là thành viên Ban tuyên truyền thi hành Hiệp định Geneve, là một nho sĩ Bắc Hà, là đảng viên Đảng Cộng sản Pháp và đảng viên Đảng Lao động Việt Nam. Mẹ tôi cũng hoạt động trong Đặc khu ủy Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định và cũng là đảng viên Đảng Lao động. Bà từng bị bắt ở bót Catinat và ở tù chung với bà Nguyễn Thị Bình, Đỗ Duy Liên, Lan Mê Linh… Ba tôi cũng muốn hướng tôi đi theo con đường của ông, nhưng tôi vốn cầm tinh con ngựa, có máu lang bạt, nổi loạn nên không muốn đi theo lối mòn. Nhà tôi ở xóm Lách dưới chân cầu Công Lý toàn là người lao động nghèo. Lớn lên tôi thấy hàng xóm tuy nghèo nhưng là những người tử tế, cư xử minh bạch, quân tử, ngay cả tiếng chửi thề cũng khí khái chứ không bừa phứa, vô lối. Vì vậy, tuy sống ở khu bùn lầy nước đọng nhưng chất hiệp sĩ cứ ngấm vào người từ lúc nào, khoái làm anh hùng nghĩa hiệp để bảo vệ người cô thế. Trong hoàn cảnh đó, những người có lý tưởng tham gia đấu tranh rất nhanh. Năm 15 tuổi tôi đã tham gia hoạt đồng cách mạng. Và cuộc đời đã quăng quật thằng tôi không thương tiếc để tôi phải thấm thía câu thế thái nhân tình.

    -Nhưng có lẽ nhờ thấm đòn mà anh cũng khôn ngoan hơn?

    Một con người có khi trộn lẫn nhiều yếu tố, nhưng dù thế nào cũng trên cơ sở Chân – Thiện – Mỹ. Khi tôi phân thân ra thì tôi vẫn là tôi, không giả dối, đánh lừa mình. Phân thân không phải là biến thành diễn viên mà là để linh hoạt tồn tại như câu nói nổi tiếng của Pele: “Tại sao tôi biến thành một cầu thủ thiên tài trong bóng đá? Bởi vì tôi biết linh hoạt như một giọt thủy ngân trên sân cỏ”.

    -Những biến thiên của một cuộc đời rất vô cùng. Giờ đây, nhớ về cậu bé xóm Lách ngày nào, anh có thấy hài lòng với những gì mình đã làm được trong cuộc đời chưa?

    Với một thằng bé xuất thân từ xóm Lách với đủ trò thả diều, câu lươn, bắt dế… và phải kiếm kế sinh nhai từ thuở nhỏ như dạy toán, luận văn cho những đứa cùng lớp, làm lồng đèn trung thu, nhiều trò thủ công khác để có tiền… thì tôi có chút hãnh diện, nhưng cũng chưa hài lòng, bởi với đất nước có bổn phận phải làm nhiều việc. Thời nào cũng vậy, bổng lộc là xương máu tạo anh hùng. Những câu thơ cũ tôi viết từ năm 1978 giờ vẫn “nóng”: “Biên giới như người đau mới mạnh/ Giặc sang truyền dịch sốt rét rừng/ Lẽ nào ta ngồi ôm ảo ảnh/ Nhấp ngụm trà luận chuyện văn chương…”.

    Xin được chia sẻ cùng anh những nỗi niềm của một người Việt Nam.

    Thu Ngân thực hiện

    Ảnh 1: chân dung tự họa Bùi Chí Vinh – sơn dầu 60x80cm

    Ảnh 2: VĨ CẦM ĐÔI sơn dầu, 80x120cm tranh đã bán

    Ảnh 3: Bùi Chí Vinh chụp với những người mua tranh và MC Hương Lan

    Ảnh 4: Bùi Chí Vinh, Hương Lan, Bùi Vương tại phòng tranh

    Theo FB

  • Thơ

    TIẾNG CHUÔNG THIÊN MỤ

    (Nhã Ca)

    Tôi lớn lên bên này sông Hương

    Con sông chẻ đời ra những vùng thương nhớ

    Cây trái Kim Long, sắt thép cầu Bạch Hổ

    Cửa từ bi vồn vã bước chân sông

    Mặt nước xanh trong suốt tuổi thơ hồng

    Tháp cổ chuông xưa sông hiền sóng mọn

    Những đêm tối bao la những ngày tháng lớn

    Những sáng chim chiều dế canh gà

    Tiếng chuông buồn vui dợn thấu xương da

    Người với chuông như chiều với tối

    Tôi bỏ nhà ra đi năm mười chín tuổi

    Đêm trước ngày đi nằm đợi tiếng chuông

    Cuối cơn điên đầu giấc ngủ đau buồn

    Tiếng chuông đến dịu dàng lay tôi dậy

    Tiếng chuông đến và đi chỉ mình tôi thấy

    Chỉ mình tôi nhìn thấy tiếng chuông tan

    Tiếng chuông tan đều như hơi thở anh em

    Tiếng chuông tan rời như lệ mẹ hiền

    Tiếng chuông tan lâu như mưa ngoài phố

    Tiếng chuông tan dài như đêm không ngủ

    Tiếng chuông tan tành như tiếng vỡ trong tôi

    Từ dạo xa chuông khôn lớn giữa đời

    Đổi họ thay tên viết văn làm báo

    Cơm áo dậy mồm ăn lơ nói láo

    Cửa từ bi xưa mất dấu đứa con hư

    Tháp cổ chuông xưa, sông nhỏ sương mù

    Dòng nước cũ trong mắt nhìn ẩm đục

    Con đường cũ trong hồn nghe cỏ mọc

    Chuông cũ giờ đây bằn bặt trong da

    Tuổi hồng sa chân chết đuối bao giờ

    Ngày tháng cũ cầm bằng như nước lũ

    Nhưng sao chiều nay bỗng bàng hoàng nhớ

    Tiếng chuông xưa bừng sống lại trongtôi

    Tiếng chuông xưa kìa tuổi dại ta ơi

    Chuông oà vỡ trong tôi nghìn tiếng nói

    Những mảnh đồng đen như da đêm tối

    Những mảnh đồng đen như tiếng cựa mình

    Những mảnh đồng đen như máu phục sinh

    Những mảnh đồng đen kề nhau bước tới

    Tôi thức dậy rồi đây chuông ơi chuông hỡi

    Tôi thức dậy đây tôi thức dậy rồi

    Thưc dậy thực sự rồi

    Thức dậy cùng giông bão,

    Thức dậy cùng tan vỡ

    Thưc dậy cùng lịch sử

    Mẹ hiền ơi thành phố cũ chiều nay

    Có tiếng chuông nào rơi như lệ trên tay

    Trên mặt nước trên mặt người mặt lộ

    Cho con trở về đừng mê sảng ngó

    ( Nhã Ca)

  • Thơ

    Da Cao Cấp

    Ngu Yên

    Gần nửa thế kỷ sống ở Hoa Kỳ,

    nếu bạn chưa gặp kinh nghiệm

    bị kỳ thị,

    chưa buồn lòng

    vì chỉ khác màu da,

    có lẽ,

    bạn ngây thơ

    hoặc ngu ngơ

    hoặc giả vờ.

    Kỳ thị là phản ứng tự nhiên:

    thích hay không thích,

    khinh hay không khinh,

    sợ hay không sợ.

    Kỳ thị là chuyện phải chấp nhận

    dù không vui.

    Kỳ thị không thể chịu đựng

    khi đổ máu

    khi tội hình

    khi quá độ

    khi mạng người bị diệt vong.

    Người Việt kỳ thị có hạng trên thế giới.

    Hầu hết người Việt già không thích da đen.

    Đa số giới Việt trẻ bạn bè đa văn hóa

    không phân biệt màu da,

    chỉ phân biệt tốt xấu.

    Khi người Việt ủng hộ kỳ thị,

    có tự hỏi da mình màu gì?

    Không thể hơn da đen,

    Vì da Việt chưa có Louis Armstrong, Michael Jordan, Muhammad Ali, Whitney Houston, Beyoncé, Denzel Washington, Will Smith, Morgan Freeman, Whoopi Goldberg, George Washington, Alice Ball, Mae C. Jemison, Maya Angelou, Toni Morrison, Langston Hughes, Barrack Obama…

    Không thể hơn da Mễ,

    Vì da Việt chưa có Octavio Paz, Carlos Fuentes, Anthony Quinn, Jennifer Lopez, Victor Celorio, Victor Ochoa, Pacho Villa, Alfonso Garcia Robles, Mario José Molina…

    Chỉ có thể hơn da bản thân.

    Khi người Việt ủng hộ da trắng kỳ thị da màu,

    đã tự quên mình là ai,

    có lẽ,

    vì ngây thơ

    vì ngu ngơ

    vì giả vờ

    hoặc nửa nghi nửa ngờ da mình thuộc hàng cao cấp. 

  • Thơ

    PHƯƠNG XA

    Thơ Vũ Hoàng Chương

    Nhổ neo rồi thuyền ơi! Xin mặc sóng,

    Xô về đông hay giạt tới phương đoài,

    Xa mặt đất giữa vô cùng cao rộng,

    Lòng cô đơn cay đắng hoạ dần vơi.

    Lũ chúng ta, lạc loài, dăm bẩy đứa,

    Bị quê hương ruồng bỏ, giống nòi khinh,

    Bể vô tận sá gì phương hướng nữa,

    Thuyền ơi thuyền! Theo gió hãy lênh đênh.

    Lũ chúng ta, đầu thai lầm thế kỷ,

    Một đôi người u uất nỗi chơ vơ,

    Đời kiêu bạc không dung hồn giản dị,

    Thuyền ơi thuyền! Xin ghé bến hoang sơ.

    Men đã ngấm bọn ta chờ nắng tắt,

    Treo buồm cao cùng hát tiếng hò khoan.

    Gió đã nổi nhịp trăng chiều hiu hắt,

    Thuyền ơi thuyền theo gió hãy cho ngoan.

  • Thơ

    RU TÌNH


    Hôm nào mở cửa mùa Thu,
    Nắng hanh mây tụ non mù quyện nhau,
    Lửa tình chớm trước duyên sau,
    Chiều nào mang sáo qua cầu thang mây.

    Hôm nào mở cửa Hạ say,
    Sóng trùng dương dợn ngất ngây gió nồng,
    Sầu ve phượng vỹ nát lòng,
    Ngày nào biển gọi ru dòng tình thơ.

    Hôm nào mở cửa Đông mơ,
    Trăng non buốt giá soi mờ bóng xiêu,
    Người đi lỗi tạ muôn chiều,
    Ru tình tạ lỗi cô liêu một thời.

    Hôm nào mở cửa Xuân tươi,
    Ra đi là mất mộng đời xuân xanh,
    Gởi người ở lại an lành!
    Gởi người ở lại Mai lành nguyên hương !

    Hôm nào người ghé bến thương,
    Người mang cả một thiên đường đê mê,
    Bên nhau rộn rã non thề,
    Thời gian ngừng bặt biển thề dưới trăng !

    Tình em vằng vặc trăng rằm,
    Tình anh sầu rụng rơi nằm trong thơ,
    Bên nhau hò hẹn tận giờ,
    Tình ru thắm thiết cuối bờ yêu thương…!


    NGUYỄN THIÊN LONG

  • Nhạc,  Tác giả,  Thơ

    Hoàng Nguyên, người nhạc sỹ lãng mạn và tài hoa

      NGUYỄN TRỌNG TẠO

       

    Hoàng Nguyên, người nhạc sỹ lãng mạn và  tài hoa

    Hơn nửa thế kỷ nhầm nơi sinh quê quán.

    Thật lạ là hơn nửa thế kỷ người ta tin là nhạc sĩ Hoàng Nguyên sinh ở Quảng Trị. Tất cả tiểu sử giới thiệu tác giả, đều ghi quê quán Quàng Trị, đến nỗi từ điển Bách khoa toàn thư Wikipedia ghi rõ: “Hoàng Nguyên (19321973) là một nhạc sĩ tên tuổi, tác giả các ca khúc nổi danh như Ai lên xứ hoa đào, Cho người tình lỡ… Ông tên thật là Cao Cự Phúc, sinh 3 tháng 11932 tại Quảng Trị. Lúc nhỏ theo học trường Quốc học Huế. Đầu thập niên 1950, Hoàng Nguyên có tham gia kháng chiến nhưng rồi từ bỏ quay về thành phố”.

    Các tư liệu ấy có 2 cái nhầm: Nơi sinh và năm sinh của ông.

    Sự thực, ông sinh ra tại xã Diễn Bình, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Tên thật ông là Cao Cự Phúc, sinh ngày 3.1.1930 (sau này ông khai là sinh năm 1932), mất ngày 21.8.1973.

    Tôi quen với Giáo sư Cao Cự Bội sinh năm 1936 tại Diễn Bình là chú của Cao Cự Phúc, nhưng cháu hơn chú 6 tuổi, lớn lên lại biết dạy võ cho chú. Tất nhiên tuổi thiếu thời của Phúc sống và học tập ở quê cùng chú Bội gần chục năm mới rời quê hương. Anh Phúc rời quê là vì mẹ đã mất sớm, cha đi làm sở điện, đến lúc anh 15-16 tuổi theo ông nội vào Vinh học và tham gia quân đội chống Pháp khi còn trẻ. Tổ chức thấy anh thông minh, giao ông nhiệm vụ vào tìm bố làm việc bưu điện ở Quảng Trị để hoạt động bí mật. Anh Phúc vào học xong ở Huế rồi bị bắt vì làm nhạc trong phong trào Hòa bình. Được thả, 1955 lên Đà Lạt dạy Anh văn và âm nhạc, hướng nghiệp cho Nguyễn Ánh 9 sau này trở thành nhạc sĩ. Năm 1957 bị bắt đày ra Côn Đảo vì thành phần Việt minh cũ và cất trữ bản nhạc Tiến quân caTrương Chi của nhạc sĩ Văn Cao. Ra tù, 1961 học thêm đại học Sư phạm Sài Gòn, dạy học, sáng tác âm nhạc. Năm 1965, Hoàng Nguyên bị động viên vào Trường Bộ Binh Thủ Đức. Sau khi ra trường chuyển về Cục Quân Cụ, dưới quyền của Đại tá nhạc sĩ Anh Việt và được giao phụ trách ban nhạc Hương Thời Gian.1973 mất vì tai nạn xe hơi ở Vũng Tàu.

    Gần đây tôi có gặp ông Lương Tử Miên, người xã Diễn Bình kém anh mấy tuổi có biết anh Phúc. Ông kể: sau năm 1945, anh Cao Cự Phúc đang ở nhà ông bà nội anh ấy (ở cùng xóm với tôi cách nhà nhau chừng 100m). Hàng ngày tôi vẫn vào nhà học nhóm với chú ruột Cao cự Phúc là Cao Cự An và gặp anh Cao Cự Phúc. Có lần Cao Cự Phúc hướng dẫn cho chúng tôi về âm nhạc. Cao Cự Phúc cũng học Trường Nguyễn Xuân Ôn, trên chúng tôi 2 lớp. Quảng năm 1948 anh Cao Cự Phúc rời nhà ông bà nôi sang nhà bà Hàn Lương cháu nội cụ Nguyễn Xuân Ôn ở xã Diễn Thái vừa làm gia sư vừa đi học tiếp trung học. Từ đó cho đến khi tôi đi lính thì không gặp anh Cao Cự Phúc nữa. Khoảng năm 1949-1950 nghe tin anh Cao Cự Phúc tham gia đoàn tuyên truyền kháng chiên liên khu 4 cùng với nhà văn Bửu Tiến và anh Cao Xuân Hạo (sau này là giáo sư ngôn ngữ học) đi vào chiến khu Ba Lòng (Cam Lộ – Quảng Trị) hoạt động tuyên truyền kháng chiến. Thông tin về Cao Cự Phúc sau đó không có nhiều ở quê nên ít người biết. Còn nói về gốc gác quê hương bản quán và tuổi trẻ thì phải nói anh Phúc quê ở Xóm Chợ xã Diễn Bình huyện Diễn Châu – Nghệ An bây giờ

    Như vậy, Cao Cự Phúc xuất hiện ở Quảng Trị đi tìm bố, từ khoảng 19 tuổi, khi ấy anh đã học nhạc ở ban nhạc họ Cao Diễn Châu, học nhạc Nguyễn Văn Thương quen ông nội ở Vinh và sáng tác âm nhạc. Mẹ đẻ anh mất lúc 2 tuổi, mấy năm sau bố anh là ông Thông Bàng lấy vợ kế, sinh con ở Quảng Trị. Từ khi tìm bố ở Quảng Trị, Cao Cự Phúc vào học ở Huế khai tụt 2 tuổi và lấy bút danh Hoàng Nguyên. Sự kiện 1955 bị bắt và được thả đã thôi thúc ra đi, và thẳng Đà Lạt dạy Việt văn, Anh văn và âm nhạc, xuất hiện chùm ca khúc Đà Lạt nổi tiếng của Hoàng Nguyên: Ai lên xứ hoa đào, Bài thơ hoa đào, Đà Lạt mưa bay. Không ai ngờ rằng, Hoàng Nguyên là người nhạc sĩ tài hoa quê tận Diễn Châu, Nghệ An.

    Âm nhạc cuộc sống và lãng mạn.

    Nếu nói về sáng tác âm nhạc thì Cao Cự Phúc – Hoàng Nguyên là một nhạc sĩ rất nổi tiếng thập niên 50, 60 thế kỷ trước. Ông không chỉ sáng tác nhạc mà còn dạy nhạc, dàn dựng tác phẩm và phát hiện bồi dưỡng những nhạc sĩ trẻ. Nguyễn Ánh 9 là một nhân tố mà ông yêu quý, chăm sóc trở thành người nhạc sĩ tài hoa sau này. Người học trò thuở đấy đã nghĩ về Hoàng Nguyên là một con người có lý tưởng chống Pháp, và âm nhạc của anh đã hiện rõ lý tưởng đó: Có lẽ trong lòng những người yêu nhạc sẽ mãi mãi vang vọng những giai điệu đầy kỷ niệm của thời kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp… “Nếu hiểu rằng anh đi vì lũ giặc tham tàn, thì em ơi, em chớ sầu thương chi! Em thấy chăng khói súng của giặc thù còn mịt mùng và còn che khuất mờ…”. Nhạc sĩ Hoàng Nguyên đã viết ca khúc Anh Đi Mai Về này ở tuổi 20 tràn đầy nhiệt huyết trong bối cảnh cả dân tộc đang trường kỳ kháng chiến. Bài hát tức khắc được đón nhận nồng nhiệt và phổ biến rộng khắp. Hiếm có những nhạc sĩ trẻ xưa nay tìm được thành công dứt khoát ngay tác phẩm đầu tay của mình và nhanh chóng thành danh như anh.

    Có lúc Hoàng Nguyên đã sáng tác ca khúc khi làm tuyên truyền quân khu 4, cùng tinh thần sáng tác ca khúc với Cao Xuân Hạo đồng hương, nhưng rồi do nhiệm vụ khác nhau. Hoàng Nguyên học ở Huế, các hoạt động Việt Minh bị cách trở thấy xa xăm. Nhiều đêm anh nhớ cảnh hoạt động cùng đồng đội mà vẫn phải chịu đựng qua ngày tháng:

    Quên đi những chiều nhìn mây vương sau đèo

    Nắng vàng đùa thông reo bên bờ dòng suối lắng

    Cùng nhau vỗ súng ca cho đời biên khu

    Xa rồi ơi đàn

    Đâu đêm trăng vàng cùng chung vui bên rừng

    Tiếng trầm hùng vang vang, bóng từng đoàn chiến sĩ,

    nguyền dâng sức sống cho quê nhà

    Đêm nay xa rồi ơi đàn

    Đàn ơi xa rồi,

    Lòng vắng mơ chi ngày về, đàn ơi dứt đi đường tơ

    Đàn ơi xa rồi, tơ lòng đừng vương vấn

    Buồn chi khi non sông còn vương máu, và chiến chinh đang tràn lan

    (Đàn Ơi, Xa Rồi)

    Ngay cho đến khi đất nước chia đôi, tinh thần thống nhất đất nước vẫn luôn trỗi lên trong anh. Tất cả những mối liên lạc hoạt động như mất hết với anh, và niềm khắc khoải day dứt cùng lý tưởng chỉ lặng lẽ với anh. Anh nghĩ tới “cách chia”, “chia lìa” và vẫn “nhớ thương”, “mong chờ”. Chính vì vậy mà bài hát “Em chờ anh trở lại” đã ra đời sau hiệp thương 1954 như một khao khát nước nhà thống nhất:

    Ngày anh ra đi, đường nắng chưa phai màu

    Dòng sông chia ly, lờ lững chưa hoen sầu

    Ngờ đâu chân anh, lạc bước khi qua cầu

    Chiều nay bâng khuâng, chợt xót thương đời nhau.

    Ngày anh ra đi, rặng liễu chưa xanh màu

    Mà nay bên sông, liễu khuất bến giang đầu

    Mười mấy năm qua rồi còn gì đâu? Còn gì đâu

    Có chăng là đớn đau.

    Em chờ anh trở lại chốn đây

    Đường xưa còn đó sánh đôi vai gầy

    Em chờ anh tìm về lối cũ

    Có em còn đây bên sông này

    Đợi chờ ai đến trong vòng tay.

    Bài hát là bài tình khúc, khao khát và chia lìa, lãng mạn trên đau khổ. Những bài hát như vẫn phảng phất lý tưởng dân tộc trong đất nước chia đôi. Đó chính là lý tưởng của người nhạc sĩ Hoàng Nguyên trong một giai đoạn lịch sử hiện thực chi phối cả dân tộc.

    ***

    Từ thời Hoàng Nguyên phiêu bạt vào Đà Lạt, anh tung một chùm bài hát trữ tình, lãng mạn rất tươi đẹp, như cảm xúc của du khách rất yêu đời. Những người du khách, nghệ sĩ nghe nhạc, nhập vào những âm thanh bên hồ, tiếng suối, tiên cảnh nên thơ. Có người nghe nhạc Đà Lạt của Hoàng Nguyên rồi gọi ông là “người đội vương miện cho nhan sắc Đà Lạt”. Vâng, âm nhạc của anh xứng đáng vẻ đẹp và tươi sáng của xứ hoa như vẫy mọi con người. Và lời ca của Hoàng Nguyên rất giàu chất thơ, gây mê người thưởng thức:

    “Ai lên xứ hoa đào dừng chân bên hồ nghe chiều rơi

    Nghe hơi giá len vào hồn người chiều xuân mây êm trôi

    Thông reo bên suối vắng lời dìu dặt như tiếng tơ

    Xuân đi trong mắt biếc lòng dạt dào nên ý thơ

    Nghe tâm tư mơ ước mộng đào nguyên đẹp như chuyện ngày xưa

    Ai lên xứ hoa đào dừng chân bước lần theo đường hoa

    Hoa bay đến muôn người ngại ngần rồi hoa theo chân ai

    Đường trần nhìn hoa bướm rồi lòng trần mơ bướm hoa

    Lâng lâng trong sương khói rồi bàng hoàng theo khói sương

    Lạc dần vào quên lãng rồi đường hoa lặng bước trong lãng quên”

    Những câu nhạc như dài ra hơn bình thường. Những nốt nhạc lên xuống như núi đồi nối nhau. Những hoa bướm, bướn hoa; những quên lãng, lãng quên như quấn quýt lấy nhau trong một khúc thức mở ra không cùng lấp lánh. Qua bài hát, ta thấy tài năng cả nhạc và lời của Hoàng Nguyên như được trời cho:

    Ai lên xứ hoa đào đừng quên mang về một cành hoa 

    … Giờ này nhìn sương khói mà thầm mơ màu hoa trên má aị

    Có thể nói Hoàng Nguyên đã mê say Đà Lạt trinh nguyên thuở ban đầu. Chỉ trong thời gian ngắn, 2 ca khúc về Đà Lạt được anh sáng tác, và trở thanh 2 ca khúc bất hủ cho vùng đất này. Bài thứ 2 là “Bài thơ Hoa Đào” anh viết trong một căn phòng đơn sơ của một thầy giáo, “trong khuôn viên Trường Bồ Đề Đà Lạt, nơi anh đang dạy Anh văn cho các lớp trung học. Một chiếc giường đơn, một bàn viết bằng gỗ thông và một cây đàn guitar treo trên vách. Thời gian đó, Hoàng Nguyên còn phụ trách các buổi phát thanh của Hội Phật giáo trên làn sóng Đà Lạt”. Nguyễn Ánh 9 đã nhớ lại như vậy, và đã nghe anh hát cho nghe giai điệu đầu tiên đầy quyến rũ:

    Ngày nào dừng chân phiêu lãng 

    Khách tới đây khi hoa đào vương lối đi 

    Màu hoa in dáng trời 

    Tình hoa lưu luyến người 

    Bồi hồi lòng lữ khách thấy chơi vơi 

    …Ôi! Đà Lạt là mơ 

    Giấc mơ tiên nữ giáng xuống trần 

    Tóc mây buông lơi tha thướt bên hồ 

    Đợi tình quân đến trong giấc mơ…

    Và vẫn còn “đợi tình quân đến trong giấc mơ” của  anh lính Cao Cự Phúc ngày nào. Với âm nhạc say sưa da diết như vậy, người ta tin là anh đã gắn bó với đất này như thiên đường của tuổi trẻ. Nhưng anhthú nhận với người học trò yêu quý ngay sau khi anh viết xong bài hát này: “Không, anh chỉ ghé chân để tạm mưu sinh và tìm cảm hứng…”. Vâng, sự “ghé chân” đã dâng lên trog bài hát:

    Nhưng rồi mùa hoa tàn 

    Người hoa sao vắng mãi 

    Bao chiều lòng mong chờ 

    Đường hoa sao hững hờ 

    Để lòng lữ khách tê tái 

    Cất bước đi nhớ hoa đào trên má ai 

    Màu hoa in trên má 

    Làm khách lưu luyến mãi Đà Lạt ơi!

    Chính vì tâm sự ấy mà nỗi lòng bâng khuâng mãi với Đà Lạt, bâng khuâng mãi ­­với lữ khách muôn thời.

    Cũng với Đà Lạt, anh còn có những bài hát nữa như “Đường nào lên thiên thai”, “Đà Lạt mưa bay”… Bài hát nào cũng muốn cái đẹp của Đà Lạt như Thiên Đường, không bị phai tàn. Có thể đó là mơ mộng:

    Cầm tay em anh hỏi

    Đường nào lên Thiên Thai,

    Đường nào lên Thiên Thai,

    Đường nào lên Thiên Thai?

    Nơi hoa xuân không hề tàn,

    Nơi bướm xuân không hề nhạt,

    Nơi tình xuân không úa màu bao giờ

    Và Hoàng Nguyên cứ tin cuộc đời là vậy, với đôi mắt trong đẹp ngây thơ:

    Nhìn trong đôi mắt đẹp,

    lòng chợt vui như say;

    kìa đường lên Thiên Thai,

    Ấy đường qua ngõ mắt thơ ngây, tiếng nhạc êm lẫn tiếng thơ say,

    Đưa hồn anh lạc vào tận tim ai.

    Rồi một ngày anh chỉ “ghé chân” nơi Đà Lạt, phải rời xa nơi này bởi tù đày vì yêu đời yêu nhạc yêu ca. Âm nhạc của anh vẫn vang lên cũng cuộc sống:

    Chừ anh đi rồi mình tôi còn ở lại 

    Dalat buồn mưa mãi mãi không thôi…

    Rời Đà Lạt, Hoàng Nguyên tiếp tục một cuộc sống khác, nhưng chỉ mấy năm gắn bó bằng âm nhạc, bằng lời thơ, bằng trái tim yêu đời cùng thành phố hoa thơ mộng, anh đã trở thành “Người nhạc sĩ đội vương miện cho nhan sắc Đà Lạt”.

    ***

    Thời gian “sau Đà Lạt” thì cuộc đời rất phức tạp và éo le với Hoàng Nguyên. Năm 1956, anh bị chính quyền lùng bắt ở Đà Lạt do hoạt động tuyên tuyền Quân khu 4 kháng chiến chống Pháp từ lâu và lấy cớ trong nhà có bản Tiến Quân Ca của nhạc sĩ Văn Cao, người mà Hoàng Nguyên rất ái mộ, nên anh đã bị bắt và đày ra Côn Đảo năm 1957. Bị tù ở Côn Đảo, do tài giỏi, anh được Chủ đảo mời dạy nhạc cho con gái 19 tuổi, thầy trò đã yêu nhau bốc lửa và mang bầu, phải vận động cuộc tự do để thả Hoàng Nguyên ra tù về Sai Gòn theo ý Chủ đảo. Anh ra tù không lấy con Chủ đảo vì éo le, tiếp tục dạy học và theo học Đại học Sư phạm Sài Gòn. Năm 1961, anh quen ông Phạm Ngọc Thìn, thị trưởng thành phố Phan Thiết và bà Huỳnh Khanh là nữ diễn viên mến mộ tài năng nhận anh làm em nuôi, rồi trở thành con rể ông bà. Năm 1965, Hoàng Nguyên bị động viên vào Trường Bộ Binh Thủ Đức, sau đó chuyển về Cục Quân Cụ, lý ban nhạc Hương Thời Gian xuất hiện trên truyền thanh và truyền hình Sài Gòn đến khi bị tai nạn xe hơi kết thúc cuộc đời.

    Thời kỳ này âm nhạc miền nam không chỉ nhạc vàng tình yêu, nhạc xanh, nhạc sến mà còn nhạc trẻ, nhạc tây. Hoàng Nguyên từ dòng tiền chiến lãng mạn đến tình yêu sang trọng, rồi nhập vào dòng tân nhạc hay hiện đại. Nhưng câu chuyện tình yêu trong ca nhạc muốn vượt lên, nhưng vẫn phảng phất nỗi niềm tủi đau. Trong khi chuyện gia đình người vợ làm anh u uất không vui, và âm nhạc cũng gieo vào tâm sự:

    Những tưởng dài lâu 

    như trăng như sao cho đến bạc đầu. 

    Nào ngờ trời mưa 

    mưa rơi không thôi nát tan tình đầu 

    Nước mắt rơi mau 

    long lanh giọt sầu xót xa niềm đau. 

    (Đừng trách gì nhau)

    Ai dám đợi chờ ai 

    Và người nay đi xa 

    Từ giã bến sông dài 

    Để đến hôm nay tôi ngồi đây 

    Lặng ngắm hoa soan rơi rụng đầy 

    Người ơi! thơ ngây đã lỡ rồi 

    Tình xa rồi thì cho tôi chép lại vần thơ xưa.

    (Thuở  ấy yêu nhau)

    Và bài hát “Cho Người Tình Lỡ”,dù là một chuyện tình đã lỡ, nhưng cái con người nhân văn của nhạc sĩ luôn luôn trĩu nặng trong từng lời thơ nốt nhạc. Âm nhạc cũng mới mẻ lên, nhịp điệu cũng dào dạt hơn, để lại tâm tình càng sâu nặng sau bao yêu thương đau khổ. Bài hát “Cho Người Tình Lỡ”,có gía trị, và được chọn thu vào đĩa 45 vòng do Hãng đĩa Tình Ca Quê Hương sản xuất do Thanh Lan hát cùng bài “Không”của Nguyễn Ánh 9 được Khánh Ly hát. Và đây là đầy đủ lời ca của Hoàng Nguyên”:

    Khóc mà chi, yêu thương qua rồi 

    Than mà chi, có ngăn được xót xa 

    Tiếc mà chi, những phút bên người 

    Thương mà chi, nhắc chi chuyện đã qua 

    Anh giờ đây như là chim 

    Rã rời cánh biết bay phương trời nào 

    Em giờ đây như cành hoa 

    Trót tả tơi đón đưa ngọn gió nào. 

    Mình  nào ngờ, tình rơi như lá rơi. 

    Người tình đầy, vòng tay ôm quá lơi. 

    Để giờ này một người khóc đêm thâu, 

    Một người nén cơn đau nghe mưa mà cúi đầu. 

    Thế là hết, nước trôi qua cầu 

    Đã chìm sâu những thánh ngày đắm mê 

    Thôi đành quên, những tiếng yêu đầu 

    Những lời yêu ấy nay đã quá xa. 

    Nẻo đường cũ giăng đầy mưa 

    Khuất mù lối khiến nên tình đành lỡ 

    Ta giờ đây như rừng thu 

    Nắng liệm với chiếc lá vàng cuối mùa.

    Có thể nói, từ “Ai lên xứ hoa đào”đến“Cho Người Tình Lỡ”,là 2 đỉnh cao của ca khúc đầu đời và cuối đời của nhạc sĩ Hoàng Nguyên.

    Hoàng Nguyên – Nhạc sĩ của công chúng.

    Thường thì một đời, một sự nghiệp âm nhạc phụ thuộc vào tác phẩm được công chúng yêu thích. Có nhạc sĩ cả nghìn bài đươc 1 bài nổi tiếng, được công chúng ghi danh. Có nhạc sĩ trăm bài được vài bài, dăm bài nổi tiếng là để lại nhiều thế hệ yêu thích. Và có người qua đời, không để lại tác phẩm nào cả. Điều đó là công bằng, tác phẩm được sàng lọc qua thời gian.

    Nhạc sĩ Hoàng Nguyên/Cao Cự Phúc mất sớm do tai nạn khi 43 tuổi, không còn từ năm 1973 đến nay đã 45 năm, nhiều bài hát của anh vẫn còn được công chúng yêu thích, được khắc trên đá, được vang trong cuộc sống. Đó là niềm vinh dự của người nhạc sĩ trong cuộc đời này. Có thể nói, các thế hệ không quên những tác phẩm nổi tiếng của anh, và biết ơn anh.

    Và anh có quê, quê gốc nhiều đời, quê cha mẹ sinh ra xã Diễn Bình, Diễn Châu của anh; quê tuổi thanh niên Quảng Trị cùng cha đẻ, mẹ kế và các em của anh; và các miền quê phiêu bạt đã làm nên sự nghiệp của anh.

    Là một người bắt đầu hoạt động chống Pháp từ khi còn trẻ, dù môi trường công tác khác nhau có thể mất cả đường dây hoạt động, bị khủng bố, tù đày nhưng anh vẫn trở về cuộc sống nhân văn làm gốc với con người, xã hội. Và cho dù làm với bên này bên kia bằng ngòi bút sáng tác, bằng người dạy học mang kiến thức cho mọi người. Thật đáng kính.

    Vì vậy những người yêu anh đã khắc những bản nhạc của anh lên đá, những phù điêu hình ảnh của anh nơi công cộng, và cũng có những người đề nghị đặt tên đường cho anh trên đất Đà Lạt, con đường nhạc sĩ Hoàng Nguyên. Và theo tôi, nên đặt cả tên đường của anh trên đất Diễn Châu, Nghệ An và trên đất Quảng Trị.

    Vâng, sự nghiệp của anh bằng âm nhạc thật rõ ràng. Anh, Hoàng Nguyên/Cao Cự Phúc là người nhạc sĩ lãng mạn và tài hoa.

    Hà Nội, 15.7.2018

  • Thơ

    Hoài niệm thu về

    Hoài niệm thu về bao vấn vương

    Cho lá vàng phai những cung đường

    Gió sương, lá úa bay khắp ngõ

    Xơ xác hoa vàng đã nhạt hương.

    Sương khói mờ bay chiều nhớ nhung

    Trời thu giá buốt đến lạnh lùng

    Buồn nghiêng theo lá rơi về cội

    Viết nốt bài thơ lòng nhẹ rung.

    Mùa thu vàng úa nét tiêu sơ

    Gió lạnh sương bay phủ bóng mờ

    Thiếu nữ nhà bên buồn tựa cửa

    Nhớ thương ai? mà đứng ngẩn ngơ.

    Người ấy! có lẽ ở rất xa

    Thương sao! Thiếu nữ nhớ quê nhà

    Mấy thu mưa gió trời xa lạ

    Tình cũ tàn phai nhuộm bóng tà.

    Lê Tuấn

    “Người nghệ sĩ lang thang hoài trong tâm tưởng để viết mãi những vần thơ tình cho mùa thu hoài niệm.

    Thung lũng hoa vàng. San Jose tháng 9 mùa Covid 2020”

    ———————————————————————————

    Còn một chiếc lá

    Bỗng nhận ra mùi lá

    Nhẹ bay theo gió về

    Sương giăng mờ phố vắng

    Mùa thu đứng bên lề.

    Em được mùa xúng xính

    Quần áo rất điệu đàng

    Ai ngoài kia đứng đợi

    Bước vào thu nhẹ nhàng.

    Thu còn bao nhiêu gió

    Cành vơi nhiều lá khô

    Cổ thụ già lớn tuổi

    Còn chiếc lá chơ vơ.

    Lê Tuấn

    Người nghệ sĩ lang thang

    Tháng 9 mùa Covid 2020.

    Hình minh hoa với kỹ thuật photoshop lê tuấn

    Ảnh tự chụp, trong công viên quốc gia miền bắc California, nơi đây là vùng rừng núi tuyệt đẹp Yosemite National Park. Tháng 10 mùa thu năm 2018.

  • Thơ

    BÔNG HỒNG MÙA XUÂN

    BÔNG HỒNG MÙA XUÂN

    Đây là bài thơ của tác giả Lý Thụy Ý, đăng trong Tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong Sài Gòn vào năm 1968.


    … Lúc đó chiến tranh Miền Nam Việt Nam đang hồi khốc liệt. Bài thơ viết về chuyện tình của một người lính thời chiến và cô gái bán bông hồng ở hậu cứ …

    Bài thơ thể hiện tình cảm lãng mạn đầy tính nhân văn đằm thắm thật đáng yêu trong tình yêu trai gái, tình đồng đội và sự nhớ ơn những người lính đã nằm xuống để bảo vệ Miền Nam Việt Nam thân yêu trước năm 1975.

    BÔNG HỒNG MÙA XUÂN
    “Bán cho tôi một bông hồng đi, cô bé!
    Đóa nào tươi còn búp nụ mịn màng.”
    Tôi ngước lên: “Xin ông chờ tôi lựa.
    Một bông hồng vừa ý nghĩa, vừa sang!”

    Khách mỉm cười: “Cô thật tài quảng cáo!
    Thế… hoa hồng mang ý nghĩa sao, cô?”
    Tôi bối rối: “Hình như người ta bảo
    Nó tượng trưng tình nồng thắm vô bờ.”

    “Cám ơn cô! Giá bao nhiêu đấy nhỉ?”
    Tôi lắc đầu: “Thôi, xin biếu không ông
    Một đóa hoa không đáng bao nhiêu cả
    Rất mong ông làm người đẹp vừa lòng.”

    Khách bỗng nhìn tôi, mắt như xoáy lốc
    “Cô bé lầm! Tôi không tặng người yêu
    Thằng bạn thân chiều qua vào nghĩa địa
    Một bông hồng cho nó bớt quạnh hiu.

    “Nhưng cô bé phải nhận tiền tôi chứ!
    Hoa cho không, rồi mẹ mắng làm sao?”
    Tôi cúi mặt: “Xin gửi người xấu số
    Chuyện của ông làm tôi bỗng nghẹn ngào!”

    Khách quay đi, áo hoa rừng đã bạc
    Dáng cao gầy khuất hẳn bóng chiều nghiêng
    Tôi bất chợt đưa tay làm dấu thánh
    Mẹ giữ gìn cho Người ấy bình yên!

    Trời đầu xuân còn vương vương sắc lạnh
    Nắng vàng mơ, má con gái thêm hồng
    Tôi bâng khuâng nhớ đến người khách lạ
    Mình nhớ Người, Người có nhớ mình không?

    Chiều hai chín phố phường sao tấp nập
    Người ta vui từng cặp đẹp bên nhau
    Mắt tôi lạc… rồi bỗng dưng bừng sáng
    “Phải anh không? Người khách của hôm nào?”

    Tim đập mạnh sau áo hàng lụa mỏng
    Anh đến gần, lời nói cũng reo vui:
    “… Sao cô bé… hàng hôm nay đắt chứ?
    Còn nhớ tôi… hay cô đã quên rồi!

    Hành quân xong, tôi vừa về hậu cứ
    Ghé ngang đây xin cô một bông hồng
    Và mong cô cho tôi xin lời chúc:
    “Rất mong ông làm người đẹp vừa lòng.”

    Tôi bỗng nghe như tim mình thắt lại
    Gượng tìm hoa, rồi trao tặng tay Người
    Khách nhìn tôi, mắt bỗng dưng dịu xuống
    Đầy đăm chiêu và nghiêm lại nụ cười:

    “Xin lỗi cô, nếu lời tôi đường đột
    Nhưng thật tình tôi không thể nào quên
    Người con gái trong một lần gặp gỡ
    Nhớ thật nhiều… dù chưa được biết tên.

    Một bông hồng – như hôm nào cô nói:
    “Là tượng trưng tình nồng thắm vô bờ.”
    Tôi run tay, nhận hoa hồng Người tặng
    Sự thật rồi… mà cứ ngỡ đang mơ.

    (Thơ: Lý Thụy Ý)