• Thơ

    Tình Xuân

    Tình Xuân

    Ở hai đầu nỗi nhớLặng lẽ buồn bơ vơ
    Anh gặp em ngày đó
    Đền bây giờ dại khờ.

    Tình xưa thời con gái
    Tuổi trăng tròn ngây thơ
    Môi chạm môi bỡ ngỡ
    Đầy ướt át trong mơ.

    Nụ mai vàng trước ngõ
    Gió xuân đang đợi chờ
    Nắng ươm đầy nỗi nhớ
    Mây trắng bồng bềnh trôi.

    Cành đào thêm sắc đỏ
    Dập dìu khách vui xuân
    Lang thang chiều dạo phố
    Bỗng dưng lòng bâng khuâng.

    Buổi chiều vàng chợt tốiHạt mưa xuân nhẹ rơi
    Anh cùng em nhẹ bước
    Đêm xuân vẫn gọi mời.

    Lê Tuấn
    Người nghệ sĩ lang thang

    Tình yêu nhiệm mầu

    Linh hồn ta yếu đuối
    Làm sao vượt lên trên
    Bên kia bờ vực thẳm
    Cho nỗi nhớ bồng bềnh.

    Nhìn thấy bóng dáng em
    Ta đã lỡ ôm ghì
    Đem vào thơ nỗi nhớ
    Mối tình đầu mê si.

    Đọc hết trang thánh thư
    Hồn ta vẫn nát nhừ
    Thiếu tình em là thế
    Dù biết đời hư vô.

    Cô đơn như Thượng Đế
    Yếu đuối như gã khờ
    Vì tình nên anh viết
    Chữ yêu đầy trang thơ.

    Cõi lòng còn day dứt
    Huyết mạch chảy trong tim
    Dòng nào cho tình sử
    Dòng nào chảy lặng im.

    Triết lý nào cũng thế
    Dạy ta biết yêu nhau
    Không chia đôi cắt đứt
    Tình yêu sự nhiệm mầu.

    Lê Tuấn
    Người nghệ sĩ lang thang trong tâm tưởng

  • Tài liệu

    Một số dấu tích ngôn ngữ Nam Việt cổ trong từ thư Trung Quốc

    Một số dấu tích ngôn ngữ Nam Việt cổ trong từ thư Trung Quốc

     Phan Anh Dũng

    06 Tháng 1 2020

    1. Đặt vấn đề về sự tồn tại của nhà nước Nam Việt cổ

    Sách Thông Điển của Đỗ Hựu 杜佑[1] thời Đường (801)通典卷第一百八十四– 州郡十四,có ghi chép như sau:

    Tự Lĩnh nhi nam đương Đường Ngu Tam Đại vi man di chi quốc, thị Bách Việt chi địa, diệc vị chi Nam Việt. Hoặc vân Nam Việt chi quân diệc Hạ Vũ chi hậu … ” Tạm dịch: “Từ núi Ngũ Lĩnh về phía Nam, ngang với đời Đường Ngu và Tam Đại là (một) nước man di, nằm trong đất Bách Việt, cũng gọi là Nam Việt.[2] Có kẻ nói quân trưởng của Nam Việt là dòng dõi vua Hạ Vũ…”

    Để tránh nghi vấn “tam sao thất bản” nên người viết chụp nguyên bản trang sách đó ở dưới:

    Như vậy truyền thuyết về thời đại Hồng Bàng – Hùng Vương của người Việt đâu phải là tự người Việt bịa đặt ra, như có người từng quy kết rằng: ban đầu do Trần Thế Pháp “sáng tác” trong Lĩnh Nam Trích Quái, rồi sử quan đô tổng tài thời Lê là tiến sĩ Vũ Quỳnh “ghi bừa” vào Đại Việt Sử Ký Toàn Thư? Để ý Thông Điển (801) có trước Việt Sử LượcLĩnh Nam Trích Quái đến khoảng nửa thiên niên kỷ, mà Đỗ Hựu từng làm Tiết độ sứ Lĩnh Nam nên có thể đã từng nắm trong tay những tư liệu sách vở về nước Nam Việt cổ chứ không phải viết dựa theo truyền thuyết của người Việt.

    Dẫu sách của Đỗ Hựu đã viết theo kiểu miệt thị gọi nước của người Việt là “man di” đi nữa thì vẫn là một “quốc” chứ không viết là một “xứ” hay một bộ lạc, hơn nữa ngay câu sau lại nhắc tới “quân” tức là “vua” của “man di chi quốc” này nên hiển nhiên “quốc” phải hiểu theo nghĩa “quốc gia” … Thông tin này cũng phù hợp với thông tin của Tiến sĩ Nguyễn Việt cho biết đã tìm thấy nha chương bằng ngọc, biểu hiện của quyền lực, trên đất nước ta với niên đại khoảng 3500-3800 năm trước trong một ngôi mộ cổ ở Xóm Rền (Phù Ninh, Phú Thọ), khoảng 3500-3800 năm trước là khoảng nửa cuối nhà Hạ (thế kỷ 21 TCN – 16 TCN). Nha chương này có cùng chất liệu với các vòng ngọc tìm thấy trong ngôi mộ cổ đó nên có khả năng lớn là được chế tác tại chỗ, chứ không phải là từ Trung Quốc truyền sang qua con đường giao lưu buôn bán.

    Niên đại hơn 4.000 năm của nước Nam Việt nói trong Thông Điển cũng khá phù hợp với niên đại của nước Việt Thường trong sách Thông Chí đời Tống:《通志》(宋•鄭樵[1104年-1162年]撰)又按陶唐之世,越裳國獻神龜,蓋千歲,方三尺餘,背有科斗文記開闢以來,堯命錄之,謂之龜歴。《Thông Chí 》(Tống. Trịnh Tiều [110-1162] soạn): Hựu án Đào Đường chi thế, Việt Thường quốc hiến thần quy, cái thiên tuế, phương tam xích dư, bối hữu khoa đẩu văn kí khai tịch dĩ lai, Nghiêu mạng lục chi, vị chi Quy Lịch.

    Lại xét đời Đào Đường, nước Việt Thường dâng con rùa thần, phải đến hơn nghìn năm tuổi, mình nó hơn ba thước, trên lưng có văn khoa đẩu ghi việc từ khi trời đất mới mở mang trở về sau. Vua Nghiêu sai chép lấy, gọi là Quy Lịch tức Lịch rùa.”

    Tóm lại: Nam Việt là một địa danh và là tên nước cổ, có thể đã có trước thời Triệu Đà đến hàng nghìn năm chứ không phải đến thời Triệu Đà mới đặt ra tên Nam Việt.

    Theo quan điểm của người viết thì “nhà nước” Nam Việt hoặc Việt Thường hoặc Văn Lang… ở vùng Lĩnh Nam trước thời Chu có lẽ cũng chỉ ở mứcmột hình thức liên minh bộ lạc như các liên minh bộ lạc Hạ-Thương ở Trung Quốc đương thời mà thôi, nhưng vẫn có tính ĐỘC LẬP, KHU BIỆT nhất định, và đặc biệt là có truyền thống kế thừa hàng ngàn năm về ngôn ngữ, văn hóa, lịch sử .v.v…

    2. Các dấu tích ngôn ngữ Nam Việt trong từ thư Trung Quốc.

    Từ cách đặt vấn đề ở trên, chúng ta thử tìm hiểu về các dấu tích ngôn ngữ Nam Việt có thể còn lưu lại rải rác trong từ thư Trung Quốc. Để đảm bảo khách quan cần phải tìm đúng các đoạn văn có nội dung nói về người Nam Việt hay tiếng Nam Việt trong các từ thư Trung Quốc, công việc thật không dễ dàng, nhưng người viết cũng tìm được một số từ (chữ) sau:

    – Chữ Sưu 獀.Khang Hy Tự điển có đoạn chú như sau: 獿獀,南越人名犬- Nạo sưu, Nam Việt nhân danh khuyển. (Người Nam Việt gọi chó là nạo sưu) .

    Phục nguyên âm thượng cổ của chữ sưu:

    Karlgren: /ʂi ̯ʊg/

    Lí Phương Quế: /srjəgw/

    Vương Lực: /ʃiu/

    Baxter: /srju/

    Trịnh Trương Thượng Phương: /sru/

    Phan Ngộ Vân: /sru/.

    Đây có thể là một từ gốc Môn-Khmer, vì chó trong tiếng Việt cổ là /*cuəʔ/ (phục nguyên theo G.Diffoth, xem Giáo trình Lịch sử ngữ âm tiếng Việt, trang 48), một số ngôn ngữ phương Nam khác gọi chó là a-so hay a-sưu, ví dụ tiếng Katu thì chó là achoo, còn chó sói là axô hay axớu .v.v…  Tiền âm tiết a– ứng với nạo, vì chữ nạo còn được viết là 獶, mà phục nguyên âm thượng cổ chữ này theo Vương Lực là /iu/ theo Baxter là /ʔju/, phản ánh một tiền âm tiết với phụ âm đầu zero hay tắc thanh hầu.

    Học giả Axel Schuessler trong phần mở đầu cuốn sách “Từ điển từ nguyên Hán ngữ cổ” ( Etymological_Dictionaryof old Chinese) khi bàn về quan hệ giữa Hán ngữ và các ngôn ngữ láng giềng, ở mục quan hệ với tiếng Việt (mục 1.2.6 trang 4) cũng dẫn ví dụ về chữ sưu 獶 này cùng với chữ trát 札(tức là chết tiếng Việt, nói kỹ ở phần dưới).

    Trong khi đó các ngôn ngữ nhóm Thái – Kadai như Choang, Tày, Thái đều gọi chó là ma, âm đọc hoàn toàn khác với nạo sưu mà sách Trung Quốc đã ghi chép … Từ so sánh trên có thể thấy, giống người được sách Trung Quốc gọi là “Nam Việt nhân” nhiều khả năng là người Việt (Kinh) chứ không phải nhóm Choang – Tày – Thái.

    Vả lại xét dân số của vùng Lĩnh Nam (tức vùng đất Nam Việt theo Thông Điển viết ở trên) được ghi chép trong Hán Thư thì quận Uất Lâm, phía tây Quảng Tây, vốn là vùng đất sinh sống của người Choang, đất rộng đến 12 huyện nhưng dân số chỉ có 71.162 khẩu, chưa bằng một huyện của quận Giao Chỉ  (tức miền Bắc VN), khi đó quận Giao Chỉ có 10 huyện nhưng dân số cộng đến 746.237 khẩu. Nếu cộng luôn cả Tày – Nùng và nhóm Lê ở đảo Hải Nam khi đó thì nhóm Thái – Kadai có lẽ cũng chưa bằng 1/5 dân số của người Việt (Kinh) ở riêng quận Giao Chỉ chứ chưa tính đến quận Cửu Chân, nên bảo rằng người Nam Việt vốn là người Choang – Lê (và chỉ có thể là Choang – Lê?) thì thật là vô lý.

    Lại xét Lữ Gia là Thừa tướng nước Nam Việt của Triệu Đà, truyền thuyết của người Việt nói Lữ Gia là người Việt đất Lôi Dương quận Cửu Chân, hiện còn đền thờ ở tỉnh Hưng Yên. Vì vậy việc sách Trung Quốc ghi tiếng nói Nam Việt có điểm giống tiếng Việt (Kinh) thì có gì lạ?

    Chữ trát 札:

    《周礼·地官·司关:“国凶札,则无关门之徵。” 郑玄注引郑司农云:“凶,谓凶年饥荒也;札,谓疾疫死亡也。越人谓死为札。

    Chu Lễ, Địa Quan, Tư Quan: “Quốc hung trát, tắc vô tống quan chi trưng. Trịnh Huyền[3] chú dẫn Trịnh Ti Nông vân: hung, vị hung niên cơ hoang dã; trát, vị tật dịch tử vong dã. Việt nhân vị tử vi trát.

    Ở đây chúng ta chỉ cần chú ý đến câu cuối “Người Việt gọi chếttrát”còn phía Hán ngữ thì nghĩa là “tật dịch tử vong”, Axel Schuessler có dẫn từ này như đã nói ở phần trên nhưng dịch thành epidemic tức là “tật dịch” mà bỏ sót nghĩa “tử vong”ghi trong từ thư Trung Quốc, đó mới là nghĩa gốc của nó bắt nguốn từ “chết” của tiếng Việt.

    Đối chiếu phục nguyên âm thượng cổ Hán của chữ “trát 扎” theo Vương Lực là /tʃet/ , hay theo Baxter là /tsrit/ thấy khá gần từ “chết” của người Việt (Kinh), đó là một từ gốc Mon-Khmer mà ngữ âm thời proto Mon-Khmer (khoảng hơn 4000 năm trước) theo G.Difflot là /*kacet/[4] nếu bỏ qua tiền âm tiết “ka” thì cũng không khác lắm so với tiếng Việt hiện đại. Trong khi đó từ “chết” trong tiếng Thái Đen là “tai”, tiếng Tày là “thai” đều khác với từ “trát” nhiều, như vậy việc một số học giả Trung Quốc cho rằng các nhóm dân Bách Việt cổ ở vùng Nam Trường Giang là thuộc nhóm Thái – Kađai là thiếu căn cứ.

    – Chữ cụ 颶(gió bão): Sách Nam Việt Chí của Thẩm Hoài Viễn (沈怀远) thời Nam Triều Tống南朝宋(năm 420-479)[5] viết: 颶風者-cụ, phong dã (cụ là gió), cũng đã được ghi lại trong Khang Hy Tự điển.

    Phục nguyên âmthượng cổ của chữ cụ颶 (Thanh mẫuquần群, vận mẫungu虞, khứthanh, hợp khẩu,tam đẳng, nhiếpngộ遇,thiết âm: 衢遇- cù ngộ thiết):

    Karlgren: /gʹi ̯u/

    Lí Phương Quế: /gjugh/

    Vương Lực: /gio/

    Baxter: /gjos/

    Trịnh Trương Thượng Phương: /gos/

    Phan Ngộ Vân: /gos/.

    Tiến sĩ Trần Trọng Dương trong Nguyễn Trãi Quốc âm từ điển chú về chữ  Nôm gió như sau: “Tự dạng Nôm cổ hơn với cấu trúc {cá+dũ 个+愈} để ghi thủy âm kép *kj … đối ứng: kzo trong Mày, Rục, Sách, Arem, Mã Liềng … Kiểu tái lập *kjɔ …”

    Như vậy tái lập âm của Trần Trọng Dương cũng không khác mấy so với tái lập của Baxter cho chữ cụ 颶là: /*gjos/, vì hai phụ âm k- và g- chỉ phân biệt ở đặc tính vô thanh hay hữu thanh, dễ dàng chuyển hóa cho nhau, như thường thấy ở tiếng Nga, còn âm cuối -s dẫn đến khứ thanh (theo Haudricourt) cũng phù hợp với dấu sắc ở tiếng Việt “gió”. Có thể dẫn thêm hàng loạt trường hợp chữ Hán có thanh mẫu kiến 見(K-),tương ứng âm Hán Việt là GI- như: 加gia; 價giá; 覺giác; 皆giai; 解giải; 間gian, 江giang… Nhân tiện nói thêm: TS Trần Trọng Dương dựa vào các ngôn ngữ bà con với tiếng Việt nên phục nguyên âm đầu là k-, nhưng chúng tôi đề nghị vẫn phục nguyên là g- tức “gjɔ”. Âm đầu g- vốn có sẵn từ xưa trong proto Mon-Khmer, nhiều tác giả cho rằng sau này đã gộp vào k- ở giai đoạn Việt – Mường chung, rồi sau này ở tiếng Việt lại tách ra, nhưng chúng tôi cho rằng riêng nhóm Việt vùng Bắc Bộ thì vẫn giữ phân biệt k-/g- từ thượng cổ đến nay. 

    Rõ ràng Thẩm Hoài Viễn đã ghi chép được đúng nghĩa chữ gió 颶của người Việt (Kinh) nghĩa là gió (phong) nói chung, chứ không chỉ có nghĩa hẹp hơn là “gió bão” như ở Hán ngữ.

    Hình minh họa chữ Nôm gió cổ viết dạng {cá+dũ 个+愈} chụp lại từ bản Nôm Phật Thuyết Đại Báo Phụ Mẫu Ân Trọng Kinh, trang 12a (câu Nôm: đi đỗ lệ tai gió):

    – Chữ hào 蠔(nghĩa là con hàu)南越志》曰:南土謂蠣爲蠔Nam Việt Chí viết: Nam thổ vị lệ vi hào. (Sách Nam Việt Chí viết rằng người phương Nam gọi “lệ” là con hào).

    Âm hào thời Thẩm Hoài Viễn trùng hoàn toàn với tên con hào (hay hàu) mà người Việt hiện nay vẫn sử dụng rất phổ thông.

    Thử tra cứu tự điển chữ Nôm Tày và từ điển Thái Đen – Việt thì không thấy chữ hào nghĩa là con hàu, nhưng không cần ngạc nhiên chuyện này vì người Tày và Thái vốn cư trú ở miền núi, còn con hàu là sinh vật biển. Hiện người viết chưa tra cứu được từ điển Choang có chữ hào nghĩa là “con hàu” này không, nhưng nhiều khả năng cũng như Tày-Thái thôi, vì người Choang cũng cư trú ở miền núi, nếu hiện tại có từ hào thì có lẽ là họ mượn của người Hán hay người Việt (Kinh).

    – Chữ đồn 豚(con lợn): 《南越志:江豚似猪Nam Việt Chí: Giang đồn tựa trư. (con lợn sông hay lợn biển hình giống như lợn).

    Phục nguyên âm thượng cổ của chữ đồn 豚:

    Karlgren: /dʹwən/

    Lí Phương Quế: /dən/

    Vương Lực: /duən/

    Baxter: /lun/

    Trịnh Trương Thượng Phương: /duun/

    Phan Ngộ Vân: /duun/

    Phục nguyên của Baxter /lun/cho thấy từ lợn của người Việt với đồn Hán ngữ có thể là cùng mộc gốc Nam Á, trong khi đó họ ngôn ngữ Thái-Kadai gọi con lợn là mu thì rất khác.

    Ví dụ về quan hệ giữa âm đầu đ- Hán Việt với l- Việt còn thấy ở các cặp từ khác như chữ Đà (Hán: ) /Lái (Việt) mà phục nguyên theo Baxter là: /lajʔ/, hay chữ đạo 稻là lúa phục nguyên theo Baxter là: /luʔ /(âm cuối tắcʔ khi mở sẽ chuyển thành -a ở tiếng Việt).

    Trong tiếng Việt còn có các ví dụ về từ có âm đầu đ/l đồng nghĩa như đạc ngựa cũng là lạc ngựa, hay đòi tói=lòi tói (tức dây xích sắt, từ đòi tói có ghi trong từ điển Việt Bồ La A.D.Rhodes và chú là cũng như lòi tói) v.v…

    – Chữ trá 䖳(tức 水母 thủy mô, tức con sứa): sách《淡水廳志》Đạm Thủy Sảnh Chí[ 6] có chép rằng 南越志謂之䖳 (Nam Việt Chí vị chi trá).

    Khang Hy Tự Điển có ghi một âm khác của trá 䖳là 咤, mà chữ này người Việt quen đọc âm Hán-Việt là . Như vậy có thể “con sá” tức là “con sứa” của người Việt, quan hệ giữa vần -a và -ưa là khá rõ ràng vì nhiều vùng khu 4 cũ như Thanh Hóa vẫn gọi “lửa” là “lả”. Chắc chắn đây là từ gốc Nam Á của nhóm Bách Việt, vì có sách ghi là người Mân Việt cũng gọi con sứa là 䖳.

    – Sách 臨海異物志》Lâm hải dị vật chí của Thẩm Oánh (沈莹) đời Tam Quốc viết: 比目魚,似左右分魚,南越謂之板魚(Tỉ mục ngư, tựa tả hữu phân ngư, Nam Việt vị chi bản ngư– Cá mắt sát nhau, giống như cá phân biệt hai nửa trái phải, người Nam Việt gọi là cá “bản”).

    bản chính là cá bơn hay thờn bơn trong tiếng Việt[7], đặc điểm của cá bơn là hai con mắt nằm cùng một phía thân, sát vào nhau, (chữ tỉ trong tên “Tỉ mục” nghĩa thông thường là so sánh, còn có nghĩa khác là cặp sát). Có 2 chữ Nôm ghi tên cá bơn mà đều dùng phần biểu âm là chữ ban (~), khá phù hợpvớiâm bản, sai khác về thanh không quan trọng vì theo Haudricourt [11] thì khoảng đầu công nguyên tiếng Việt còn chưa có thanh điệu, tiếng Hán có thể cũng chưa định hình rõ thanh điệu.

    Xem hình minh họa con cá bơn “mắt lác” ở trang tiếng Việt http://thucphamgreenlife.com/221/id/96/catid/13/ca-bon-ca-luoi-trau.php:

    Cá bơn – cá lưỡi trâu

    So sánh với hình “tỉ mục ngư” ở trang tiếng Hoa

    http://zh.wikipedia.org/wiki/%E6%AF%94%E7%9B%AE%E9%AD%9A :

    Cứ ngư 锯鱼(cá lưỡi cưa), theo Nam Việt Chí và Thái Bình Hoàn Vũ Ký thì Nam Việt gọi là 狼籍– lang tịch ngư[8].

    Chữ “lang”có lẽ ứng với “răng” trong tiếng Việt vì phục nguyên âm thượng cổ của chữ theo Baxter là /c-raŋ/, theo Trịnh Trương Thượng Phương và Phan Ngộ Vân là /raaŋ/, còn chữ “tịch” có thể là “lược” trong tiếng Việt vì Baxterphục nguyên âm thượng cổ của tịch là /zljᴀk/, Trịnh Trương Thượng Phương: /ljaag/, Phan Ngộ Vân: /sɢlag/.

    Cá răng lược hay “cứ ngư”


    * Ngoài các dẫn chứng trên, còn hàng loạt các từ Hán có nguồn gốc phương Nam nhưng đã Hán hóa cao và không chỉ có ở đất Nam Việt nên người viết không tính là dấu tích Nam Việt, chẳng hạn như phù lưu (plâu=trầu), cảm lãm (klãm=trám), da (dừa), tân lang (binh lang=cây cau), trứ/trợ (đũa), đại mội (đồi mồi) .v.v…

    Sơ kết

    Các chứng tích ngữ âm Nam Việt còn lưu trong sách Trung Quốc tìm được ở trên tuy chưa nhiều nhưng tạm có thể đặt vấn đề là tiếng nói của người Nam Việt cổ chính là tiếng nói của người Việt (Kinh).

    Tuy địa bàn Lĩnh Nam còn có các nhóm Thái-Kadai, nhưng dân số chưa bằng 1/4 của người Kinh, nên ước chừng nếu tìm được nhiều chữ hơn trong từ thư Trung Quốc viết về đất Nam Việt để so sánh thì tỉ lệ số chữ có gốc Việt (Kinh) vẫn áp đảo.

    Tài liệu tham khảo:

    1. Phục nguyên âm thượng cổ Hán ngữ ở trang web của Đại học Thượng Hải http://www.eastling.org/oc/oldage.aspx có bản sao ở trang http://fanzung.com/?page_id=445
    2. 中上古汉语音的纲要、高本汉、齐鲁书社、济南。1987
    3. A Handbook of Old Chinese PhonologyGS William Baxter (1992, New York, Berlin).
    4. 王力古漢語字典,Vương Lực “Cổ Hán ngữ tự điển”.
    5. Etymological_Dictionaryof old Chinese.  Axel Schuessler , 2007 University of Hawai’i Press.
    6. Giáo trình Lịch sử ngữ âm tiếng Việt. Nguyễn Tài Cẩn, NXB Giáo Dục, Hà Nội. 1995
    7. Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt. Nguyễn Tài Cẩn. NXB Đại học Quốc gia , Hà Nội. 2000.
    8. Từ điển tiếng Cơ Tu- Việt, Việt -Cơ Tu, Nguyễn Hữu Hoành, Tạ Văn Thông, Nguyễn Văn Lợi, Sở KHCN Quảng Nam và Viện Ngôn ngữ học 2007.
    9. Chữ Nôm và tiếng Việt qua bản giải âm Phật Thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh. Hoàng Thị Ngọ. NXB KHXH, Hà Nội, 1999.
    10.  Thử tìm hiểu từ nguyên một số cặp từ Việt Hán, PHAN ANH DŨNG, Bài viết tham gia hội thảo nhân một năm ngày mất GS Nguyễn Tài Cẩn, Hà Nội, 4-2012.
    11.  Tìm hiểu về lớp từ cổ Việt Hán qua các cứ liệu ngữ âm lịch sử, PHAN ANH DŨNG, Hội thảo quốc tế Ngôn ngữ học, Hà Nội 14-16/4/2013.
    12.  A.G. Haudricourt (1954). Về nguồn gốc các thanh của tiếng Việt. (Hoàng Tuệ dịch). In trong Những bài viết về lịch sử tiếng Việt – Trần Trí Dõi biên soạn, Hà Nội, 1997.
    13.  Nguyễn Trãi Quốc âm Từ điển. Trần Trọng Dương. NXB Từ điển Bách khoa. Hà Nội 2014.

    [1] Đỗ Hữu 杜佑(735-812) từng làm Tiết độ sứ Lĩnh Nam, soạn sách Thông điển trong 36 năm từ 766 đến 801 sau đó làm Tể tướng nhà Đường gần 10 năm cho tới cuối đời. Đỗ Hữu là ông nội của nhà thơ Đỗ Mục. http://zh.wikipedia.org/wiki/%E6%9D%9C%E4%BD%91

    [2] Đường Ngu tức là vua Nghiêu họ Đào Đường ( 2337 TCN–2258 TCN) và vua Thuấn họ Hữu Ngu. Tam Đại tức 3 đời Hạ (bắt đầu từ vua Vũ), Thương, Chu.

    [3] Trịnh Huyền (郑玄127-200) là một học giả thời Đông Hán.

    [4] Dẫn lại theo Giáo trình lịch sử ngữ âm tiếng Việt của GS Nguyễn Tài Cẩn, trang 46.

    [5] Hiện sách Nam Việt Chí đã thất truyền, nhưng nó được trích dẫn rất nhiều ở các sách khác, hiện đã có một công trình của các học giả Trung Quốc sao lục lại Nam Việt Chí từ các sách khácnhau, tập hợp lại được khoảng 49 trang A4 .

    [6] Đạm Thủy Sảnh 淡水廳là một địa phương ở đảo Đài Loan.

    [7] Cá bơn hiện nay là món ăn rất phổ thông ở Huế, thường dùng nấu canh với trái thơm (dứa).

    [8] Xem thông tin ở trang http://baike.xzbu.com/995417.htm, 《寰宇记:“惠州出锯鱼,亦名狼籍鱼,身长二丈,口长三尺,广三寸,左右齿如铁锯,《南越志》作锯鱼。”Hoàn Vũ Ký: Huệ Châu xuất cứ ngư, diệc danh lang tịch ngư, thân trường nhị trượng, khẩu trường tam xích, quảng tam thốn, tả hữu xỉ như thiết cứ. Nam Việt Chí tác cứ ngư. Huệ Châu là ngoại ô phía đông bắc thành phố Quảng Châu, kinh đô xưa của nước Nam Việt của Triệu Đà.

    Theo Internet

  • Tin địa phương

    Lễ Tưởng Niệm Hải chiến Hoàng Sa

    Lễ Tưởng Niệm Hải chiến Hoàng Sa

    Để bày tỏ Lòng Tri ân và Tưởng nhớ các chiến sĩ Hải quân Quân lực Việt Nam Công Hoà đã chiến đấu và hy sinh anh dũng trước quân xâm lược Trung quốc, để bảo vệ Hoàng Sa, hàng năm dù đã trên bốn mươi năm nơi quê hương thứ hai, các anh em đồng đội đã không quên tổ chức Lễ Tưởng Niệm, vinh danh những anh hùng đã khuất.


    Trưa Chủ nhật 19/01/2020, vào hồi 11.30 ngày – đúng vào ngày nổ ra trận hải chiến Hoàng Sa trước đây bốn mươi sáu năm-  tại Trung Tâm Cộng Đồng Việt Mỹ trên đường Lucretia Ave thành phố San Jose, Hội HQ Bạch Đằng bắc California đã phối hợp các hội đoàn cựu quân nhân địa phương, tổ chức Đại Lê Tưởng Niệm với sự tham dự của nhiều quan khách và đồng hương.


    Sau đây là một vài hình ảnh chúng tôi ghi lại, xin được chia xẻ cùng Quí Vị cùng Các Bạn xa gần, góp lòng bày tỏ sự Tri ân các anh hùng đã hy sinh bảo vệ Tổ Quốc.

    IMG_0153.JPG
    IMG_0152.JPG
    IMG_0141.JPG
    IMG_0139.JPG
    IMG_0140.JPG
    IMG_0144.JPG
    IMG_0147.JPG
    IMG_0159.JPG
    IMG_0155.JPG
    IMG_0146.JPG
    IMG_0145.JPG

    Thêm vài hình ảnh từ Youtube
    https://youtu.be/YiOCwZga3M8?t=26

    MPD

  • Tài liệu

    Người Nam Kỳ không lập gia phả

    Người Nam Kỳ không lập gia phả 

    Image result for "Nam Kỳ"


    Đó là một câu khẳng định chắc như cây đinh đóng cái cột nhà.
    Gia phả là gì ? 家譜 gia phả  hoặc gia phổ là phả hệ của một dòng họ, gia đình, là cuốn sách chép tên ông bà tổ tiên, con cháu của một dòng tộc nào đó.


    Người Bắc Kỳ xưa rày ta nghe tới là thói “lũy tre làng”, có gia phả, có dòng tộc nghiêm ngặc, có trưởng tộc, có nhà thờ tổ, mả tổ, thủy tổ và những quy định ná thở với con cháu. Nhưng với dân Nam thì không có, hoặc có hời hợt, hình thức.

    Dân Nam Kỳ có câu cười Bắc Kỳ là “Tổ tiên đại bác thụt chưa tới”.
    Chúng ta biết tổ tiên khai phá dựng lên Nam Kỳ Lục Tỉnh là dân khai hoang, kêu là lưu dân.

    Image result for "Nam Kỳ"

    流民 lưu dân là dân phiêu lưu, dân đi xa, dân bỏ làng quê gốc mà ra đi. 
    Đó là người Ngũ Quảng : Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Đức (Huế), Quảng Nam, Quảng Ngãi hiệp cùng người Minh Hương, đồng hóa người Khmer, người bổn địa Stieng… mà trộn ra dân Nam Kỳ ngày nay. 


    Đó là dân nghèo rách nát, dân bị lưu đày, bị truy nã, bị làng ruồng bỏ, gái chửa hoang, học trò thất chí, quan bị biếm chức, người thích phiêu lưu, giang hồ lãng tử…


    “Tới Cà Mau – Rạch Giá
    Cất chòi đốt lửa giữa rừng thiêng
    Muỗi vắt nhiều hơn cỏ
    Chướng khí mù như sương
    Thân không là lính thú
    Sao chưa về cố hương?”(Sơn Nam) 

    Xa hơn dân Ngũ Quảng là những người ở mạn Bắc di cư theo chúa Nguyễn Hoàng vô Trung Kỳ mà Phạm Duy tả là ” Gió tiễn người về đến quê hương câu ca giọng Hời.”


    “Mộng ngoài biên giới mơ hồ
    Chẳng ngăn được sóng vỡ bờ
    Với đêm mờ hồn về trên Tháp ma”

    Rồi thời chúa Nguyễn, lưu dân Việt từ Ngũ Quảng theo bà Ngọc Vạn vô Mô Xoài, Đồng Nai :
    “Nhà Bè nước chảy chia hai 
    Ai về Gia Định Đồng Nai thì về” 

    嘉定 Gia Định là nơi đô hội, trù phú nhứt Nam Kỳ, có nghĩa là định cư nơi an ổn, phước lớn. 

    Là những lưu dân tạo ra hợp chúng quốc Nam Kỳ, ông bà chúng ta tạo ra một nền văn hóa đặc trưng riêng của Nam Kỳ mà nhìn lại có phần khác ngoài Trung, đối lập với ngoài Bắc. 

    Thí dụ Bắc ăn bánh chưng cắt 8 miếng hình trụ nhọn,Nam Kỳ ăn bánh tét -tét ra khoanh tròn, Bắc Kỳ uống trà kêu uống chè, Nam Kỳ kêu trà. 

    Văn hóa Bắc là lũy tre làng bốn góc chôn chặc cái làng ở giữa, làng nào sống kiểu làng đó, cấm giao lưu trai gái, có hương ước ngặc nghèo, có thầy Lý hắc cám, có con Thị Màu lẳng lơ, có chị Dậu bế tắc, có những người con gái chửa hoang bị cạo đầu bôi vôi thả bè chuối trôi sông.

    Nam Kỳ khác Bắc, phần nhiều Nam sống mở, làng của Nam dựa vô mé sông, giao lưu với làng khác bằng ghe xuồng, bằng những con lộ,người Nam luôn mời khách xa xôi vô ở chung, giúp đỡ nhau cùng an cư vui vẻ, gái làng thích lấy trai xa xứ và thương chồng đứt ruột đứt gan vì cái quá khứ “trôi sông lạc chợ” đó. 


    “Rồng chầu ngoài Huế ngựa tế Đồng Nai
    Nước sông trong chảy lộn sông ngoài
    Thương người quân tử lạc loài tới đây,
    Tới đây thì ở lại đây
    Bao giờ bén rễ xanh cây sẽ về”

    Gái Nam Kỳ chịu chơi, dám theo người mình yêu, dám nhận hậu quả do tình yêu đó đem lại. 
    “Đi đâu cho thiếp theo cùng
    Đói no thiếp chịu lạnh lùng thiếp cam
    Ví dầu tình có dở dang
    Thì cho thiếp gọi đò ngang thiếp dzìa”

    Ông bà tổ tiên Nam Kỳ mình quá hãi hùng ở đất Bắc hắc ám nên vô Nam bỏ tục gần hết.
    Họ không muốn con cháu họ phải sống cái cảnh mõ làng rùng rợn phiên xử “hương ước” ở đình làng như ngoài Bắc. 

    Làng xóm Nam Kỳ không có hương ước, lệ làng, làng Nam Kỳ là làng mở, nhưng có những luật bất thành văn, mọi người phải tôn trọng, làng Nam Kỳ tuân luật triều đình, tôn trọng quan chủ quận, tri huyện. 

    Thành ra gái Nam thất tiết thì bị gia đình xử bằng cách đuổi ra khỏi nhà, nhưng đuổi là thủ tục thôi vì lén nhét tiền của cho nó đi trốn khuất mắt một thời gian, hoặc đày nó xuống nhà sau cấm ló mặt lên nhà trước trong một hai năm, hoặc ra vườn sau cất nhà mà ở. Hết thời gian đó cô gái sống lại bình thường, con cháu máu mủ mình mà. 

    Nên ai làm phim làm cạo đầu bôi vôi, thả bè chuối trôi sông, thả rọ heo xuống sống, quăng người xuống giếng là không hiểu gì về văn hóa Nam Kỳ. Tổ tiên Nam Kỳ chúng tôi chưa bao giờ có ý nghĩ đó trong đầu với con cháu mình. 

    Người Nam Kỳ không lập gia phả, vì sao ?
    Đừng bao giờ nói người Nam Kỳ là lưu dân dốt không biết chữ mà không lập gia phả. 

    Các bạn nghiên cứu thấy rằng Nho giáo Bắc Kỳ là đầu môi chót lưỡi, tức thể hiện bằng cái miệng, Nho giáo Nam Kỳ thể hiện bằng cách sống. 

    Có ai đó nói “Người Bắc cao đạo một cách ngây ngô còn người Nam thì thực tế một cách trần trụi”.
    Cái chữ trần trụi hơi quá,nhưng những quy tắc bất thành văn ở Nam Kỳ nó vô hình dữ lắm nha, thí dụ dân Nam Kỳ mời bạn ăn cơm, mà bạn ăn hỗn trong mâm cơm quá, họ không nói, nhưng lần sau sẽ không mời. Người Nam Kỳ luôn để khách tự giác và không nhắc. 

    Trong làng Nam Kỳ vẫn có người biết chữ Nho, sau là chữ Quốc Ngữ, nên biết chữ Quốc Ngữ được dạy ở Nam Kỳ đầu tiên. 

    Nhìn đền chùa, miếu mạo Nam Kỳ xưa đi, hoành phi câu đối rất nhiều, đó là bằng chứng. 

    Không viết gia phả vì thấy không cần thiết. Một xã hội mở thì không cần gia phả. 
    Xưa đất rộng người thưa, con cháu đi tứ tán, ở nhà  toàn nhờ láng giếng gần đó, có câu “Bán họ hàng xa mua láng giềng gần”. 

    Là dân gốc lưu dân, dân Nam muốn xóa bỏ quá khứ hãi hùng từ Bắc Kỳ và Trung Kỳ. 
    Cách xưng hô “anh Cả” ở Bắc so với “anh Hai” ở Nam là điển hình. 
    Rất nhiều người đặt câu hỏi tại sao người Nam gọi “anh Cả”, “chị Cả” (người con trưởng, theo cách gọi miền Bắc) là “anh Hai”, “chị Hai”. 

    Nhiều người giải thích rằng thời chúa Tiên Nguyễn Hoàng dân ở Bắc vào khai phá vùng đất Phương Nam, rằng trong đoàn quân Nam tiến lúc đó, hầu như không có ai là “anh Cả”, vì đi mở cõi thì nguy hiểm, theo tục Bắc phải để người con trưởng ở lại để phụng dưỡng cha mẹ và chăm sóc mộ phần tổ tiên; những người ra đi đều là con thứ. 

    Nói vậy không trúng. 

    Có những gia đình họ ôm cả nhà cả dòng họ của họ vô Nam kìa. 
    Chuyện anh hai ở Nam Kỳ là chuyện đặc trưng, không thể giải thích là ông cả cọp gì đó mà sợ  nên Nam Kỳ tránh “Anh Cả”, vậy chứ ông Hương Cả thì sao ? Nam Kỳ có Hương Cả trong ban hội tề 

    Image result for "Nam Kỳ"

    Đơn giản người Nam cố tình làm cho khác Bắc Kỳ khi bỏ cả, chỉ gọi người lớn là anh hai, chị hai. 

    Bỏ chữ cả là một dạng dứt áo, cắt đứt với hương ước, lũy tre làng, với họ tộc kinh hoàng kiểu Bắc Kỳ. 

    Ông Hương Cả trong Nam đâu có quyền hành gì, chỉ tượng trưng, và là cả duy nhứt trong Nam, có lẽ là một chút hoài vọng. 

    Người Bắc thừa tự là con trưởng, nhưng thừa tự, cúng kiếng trong Nam là  con trai út, Nam Kỳ rất thực tế, thằng út lúc nào cũng trẻ trung, nó sẽ gánh vác gia đình ở mức hăng hái, thằng hai thì già chát, nhỏ hơn cha mẹ không nhiều gánh gì nổi. 

    Câu “Giàu út ăn nghèo út chịu” cũng của Nam Kỳ đưa ra. 

    Thằng út giữ hương hỏa trong nhà, nhưng vẫn không hạ bệ thằng anh hai nha. 

    Bằng chứng là trong những ngày giỗ chạp, cúng kiếng tổ tiên, đám cưới thì ông anh hai vẫn đứng ra tế lễ, thằng út đứng sau lưng anh hai.

    Trong họ tộc thì người thứ hai vẫn mang tiếng người đứng đầu, đám cưới thưa gửi là ông bác hai hết thảy, ông này chết thì ông bác ba lên thế. 

    Nhưng anh hai làm lễ thôi, anh hai không có quyền xen vô chuyện cúng kiếng của thằng út như cúng lớn, cúng nhỏ, cúng ra làm sao. Nam Kỳ chia quyền hết là ở đây. 

    Ngày nay Nam Kỳ thực tế luôn ở kiểu chia bàn thờ, anh hai giỗ cha, út giỗ mẹ, tới ngày tụ lại hai nhà vui vẻ. 

    Không gia phả, không họ tộc, không có khái niệm nhà thờ tổ, nhưng Nam Kỳ mặc định nhà thằng Út là nhà thờ tổ, tức là nhà nào mà  cha mẹ, ông bà chết và thờ là nhà tổ. 

    Ông nào giữ hương hỏa có nghĩa vụ làm đám giỗ, không có quyền chỉ trỏ, ra lịnh này nọ nghĩa vụ với con cháu như tộc trưởng ngoài Bắc. 

    Con cháu trong Nam sướng là vậy, cứ về ăn đám giỗ, giàu mua đồ nhiều, nghèo mua đồ ít, không ai dám nói. 

    Với bản chất trọng người sống, kỉnh người chết ở mức tượng trưng, việc cúng kiếng Nam Kỳ cũng khác Bắc Kỳ. 
    Thường giữa nhà người  Nam đặt cái bàn thờ 九玄七祖 “Cửu Huyền Thất Tổ” tức “7 đời tổ tiên trên chín tầng trời”.
    Nhưng thực ra người miền Nam cúng giỗ chỉ 3 đời tới ông cố bà cố thôi, hết 3 hoặc 4 đời là không cúng kiếng gì nữa. 

    Có câu五代埋神主”Ngũ đại mai thần chủ” (Đến 5 đời thì chôn thần chủ), tức đem bài vị chôn hoặc đốt, nhập lại làm một gọi là “Cửu huyền thất tổ’ và giỗ chung tượng trưng. 
    “Nước chảy ra thương cha nhớ mẹ
    Nước chảy vào thương mẹ nhớ cha”

    Cái đình Nam Kỳ rất chan hòa, vui vẻ, là nơi dân làng tụ hợp lại cúng thành hoàng rồi ăn uống vui chơi, coi hát bội, nó như một cái sân khấu.
    Gánh hát về đình là niềm vui bất tận của người Nam Kỳ.
    Nam Kỳ không có thằng mõ tay chưn của lý trưởng ,không có cảnh phạt vạ kiểu Thị Màu. 

    Trong cái làng Nam Kỳ có nhà việc là chỗ  làm việc của làng, tra án ở đó, không mang vô đình như Bắc Kỳ. 
    Coi ‘Con nhà nghèo’, bà Cai Hiếu đòi đóng gông Ba Cam thì Hương Quản đáp lại “Tôi đang tra án nó, mà thủa nay làng tôi có gông đâu mà đóng”. 

    Là gốc lưu dân, không viết gia phả, không lập họ tộc, không lập lũy tre làng, không có ông lý trưởng hét ra lửa 

    Để ý coi đi trong đám giỗ Nam Kỳ luôn cúng một mâm ngoài sân nhà, đó là mâm cúng lề, cúng những người khai hoang bỏ mình hồi xưa, sau 1975 CS kêu “mâm chiến sĩ”. 

    Tất cả các miếu, am, và bàn thông thiên Nam Kỳ đều có cúng mấy hủ muối, gạo và nước, có nơi cúng bó củi.
    Đó là cúng tổ tiên gốc lưu dân của mình hồi xưa. 

    Người Nam Kỳ cúng  lề, cúng đất, cúng cô hồn.
    Cúng tổ tiên Nam Kỳ chung là ngày 25 tháng Chạp, khi con cháu tụ về dẫy mả, tảo mộ, họ sẽ làm mâm cơm cúng ở nhà, thường là nấu cháo gà cháo vịt. 

    Tục thờ ông bà ở Nam Kỳ rất đơn giản, chỉ ba bốn đời, nhưng không được bỏ bàn thờ tổ tiên.  
    Đồ Chiểu chửi rằng “Sống làm chi theo quân tả đạo-Quăng vùa hương đạp bàn độc thấy lại thêm buồn”. 

    Xưa Nam Kỳ có cái bàn thờ và giường thờ.
    Người Pháp qua, đem qua Nam Kỳ cái tủ chén đứng kiểu thời Louis XVI, không cao không thấp, trước tiên là ở xứ Thủ Dầu Một, sau thợ Gò Công sáng tạo đóng cái tủ thờ dựa trên nguyên lý ráp mộng đi khung của tủ kiểu Pháp, nhưng cải tiến theo phong tục Nam.

    Từ đó cái tủ thờ này là đặc trưng Nam Kỳ Lục Tỉnh, hiệp cùng tranh kiếng nữa, ra cái hồn tổ tiên Nam kỳ mình. 

    Trong “Gia Định thành thông chí” của Trịnh Hoài Đức có đoạn :  
    “Vùng Gia Định… đất đai rộng, lương thực nhiều, không lo đói rét, nên dân ưa sống xa hoa, ít chịu súc tích, quen thói bốc rời. Người tứ xứ. Nhà nào tục nấy… Gia Định có vị trí nam phương dương minh, nên người khí tiết trung dũng, trong nghĩa khinh tài…”

    Đó là  tánh hiếu khách, hào phóng, không câu nệ hình thức, sống thực dụng. 

    Dân Nam Kỳ hay đờn ca xướng hát, làm ra đờn ca tài tử và cải lương vang danh, hệ thống bài lý nhiều nhứt Việt Nam. 

    Người Nam Kỳ trọng tôn giáo, nhưng kiểu của họ. 
    Đạo Phật vô Nam biến thể, phải trộn với tín ngưỡng dân gian. Dân Nam Kỳ không phải là những tín đồ Phật giáo thuần thành. 
    Các phái Phật trong Nam đều là biến thể, chùa trong Nam không lớn. 
    Công giáo trong Nam Kỳ xưa khác ngoài Bắc, Nam không có các giáo xứ, người Công giáo Nam Kỳ hòa nhập, thế tục. Người Công giáo Nam Kỳ luôn ít hơn Công giáo Bắc Kỳ 

    Sông rạch và đồng bằng tạo cho dân Nam Kỳ tánh khẳng khái, bộc trực, ít chịu cúi lòn, kém thủ đoạn trong chánh trị, nhưng tràn trề tình thương,biết nhìn người khác, biết cúi mình xuống tha thiết với Quốc Gia. 
    Dân Nam Kỳ không những nói ngay mà hay nói lớn tiếng, thiếu trau chuốt, đôi lúc bổ bả.


    Không lập gia phả, nhưng con cháu sống làm sao phải ra dáng con người, sống không làm tủi nhục tổ tiên, sống thẳng, sống có ích, sống không để tiếng nhơ cho tổ tiên, dòng họ. 

    Người Nam Kỳ dạy con cháu cũng theo kiểu mở. 
    Biên cái tục này là để răn mình.
    Biết cái hay cái tệ của mình để nhìn lại bản thân mình.
    Và tính cho ra cách thức tồn tại của xứ sở mình trước thời cuộc.

    —nguồn Nguyễn Gia Việt

  • Văn

    HUẾ XƯA KHÓC MỘT MÙA XUÂN

    HUẾ XƯA KHÓC MỘT MÙA XUÂN

    Đáng lẽ con đường cái chạy từ đầu đến cuối xóm tên là Hồ Xuân Hương, nhưng ngưòi ta vẫn quen gọi là đường Chùa Bà, chắc tại đầu xóm có cái chùa. Lúc thằng Cọp bắt đầu lớn lên, tung tăng khắp xóm và đọc được dòng chữ “Khuôn An Lạc”, nó đã thắc mắc tại sao không gọi là đường Khuôn An Lạc? Với lại Khuôn An Lạc có cả đức phật Thích Ca chứ nào phải chỉ thờ Phật Bà Quan Âm mà gọi là Chùa Bà? Tuy nhiên nó cũng không buồn tìm hiểu thêm làm gì. Chỉ biết đây là đường Chùa Bà, và xóm nó ở cũng được gọi là xóm Chùa Bà.

    Đáng lẽ con đường cái chạy từ đầu đến cuối xóm tên là Hồ Xuân Hương, nhưng ngưòi ta vẫn quen gọi là đường Chùa Bà, chắc tại đầu xóm có cái chùa. Lúc thằng Cọp bắt đầu lớn lên, tung tăng khắp xóm và đọc được dòng chữ “Khuôn An Lạc”, nó đã thắc mắc tại sao không gọi là đường Khuôn An Lạc? Với lại Khuôn An Lạc có cả đức phật Thích Ca chứ nào phải chỉ thờ Phật Bà Quan Âm mà gọi là Chùa Bà? Tuy nhiên nó cũng không buồn tìm hiểu thêm làm gì. Chỉ biết đây là đường Chùa Bà, và xóm nó ở cũng được gọi là xóm Chùa Bà.
    Xóm Chùa Bà có khoảng chừng trên năm mươi nóc gia rải rác theo con đường chính. Nhà Cọp ở gần giữa. Đúng ra thì đây là nhà ông nội Cọp. Nhà thiệt của ba mạ Cọp ở thành phố, gần chợ Đông Ba. Mạ Cọp bán vải ở chợ. Cọp ở với ông nội vì trường học gần nhà đi bộ cho tiện. Mỗi chiều thứ Bảy sau khi tan chợ, mạ Cọp đi xích lô về xóm Chùa Bà đón Cọp về nhà. Cọp cũng thương mạ và hai chị của nó lắm, nhưng mỗi cuối tuần phải về ở với gia đình, cực chẳng đã nó phải đi. Ai nói ở thành phố vui chứ với Cọp thật buồn lắm. Ở đó Cọp chỉ lủi thủi một mình. Ba Cọp đi lính ở xa lâu lâu mới về. Mạ Cọp buôn bán ở chợ từ sáng đến tối mịt. Hai chị thì hơn Cọp đến bảy tám tuổi, dù thương cũng không biết nói hay chơi gì với Cọp, cùng lắm là dắt Cọp ra phố ăn kem. Cho nên đến mỗi chiều Chủ Nhật, mặt trời chưa lặn là Cọp đã bồn chồn mong được “về nhà”.


    Về nhà, tức là về xóm Chùa Bà, giang sơn của Cọp. Có những lần mạ Cọp muốn giữ nó ở lại qua đêm Chủ Nhật, sáng thứ Hai sẽ đưa nó tới trường luôn.
    Cọp ngồi khóc tỉ tê.
    Mạ hỏi
    – Con không thương mạ à?
    – Dạ có
    – Rứa răng con cứ đòi về nhà?
    – Con không biết.
    Hình như Cọp biết mang máng, nhưng không làm sao diễn tả hết nỗi niềm.
    Ở xóm Chùa Bà, Cọp được tất cả mọi người thương mến. Dĩ nhiên Cọp phải ngoan, nhưng còn một lý do nữa: nó là cháu nội của vị Đông y sĩ nhân đức và rất mát tay chữa bệnh mà cả xóm cũng như những vùng lân cận đều trọng nể. Trước kia khi ông nội Cọp còn hành nghề, ông thường cứu giúp kẻ nghèo khó. Bây giờ đã già, ông về dưỡng lão tại đây.Tiếng là hồi hưu, nhưng ông vẫn thình thoảng trở lại nghề cũ để cứu giúp những bệnh nhân chung quanh hay một số thân chủ cũ tìm đến.


    Một trong những thân chủ quen thuộc vẫn nhờ ông nội Cọp bổ thuốc Tể hàng tháng là bà Tham.
    Bà Tham ở căn nhà lớn nhất cuối xóm. Không ai biết tên thật của bà là gì, chỉ quen gọi là bà Tham theo chức quan của ông cụ thời sinh tiền. Cụ Tham làm quan trong những năm cuối cùng của triều Nguyễn, nổi tiếng là ông quan nghiêm khắc và chính trực. Đó là lý do mà cả xóm cho đến nay vẫn còn kính trọng và nể vì. Nhà bà to và đẹp lắm. Vào cổng sau khi qua hai cột trụ cao và cổ kính, bên dưới có hai con sư tử bằng đá nhe răng múa vuốt, là con đường nhỏ trải đầy sỏi trắng, hai bên là hàng rào đầy các loại hoa. Cuối con đường đến khoảng sân trước nhà có những cái chậu bằng đá thật nặng đầy rêu phủ trồng sen. Hai bên hông và phía sau là khoảng vườn rộng mênh mông đầy các loại kiểng cũng như cây ăn trái. Đặc biệt có hai cây cau cao vút lên trời.


    Tuy nhà bà Tham lớn như vậy nhưng không có mấy người. Bà ở với đưá cháu ngoại trạc tuổi Cọp, một ông quản gia trung thành từng theo hầu cụ ông ngày trước, và một chị người làm lo việc bếp núc, các việc lặt vặt khác. Bà vốn hiếm muộn, chỉ có một người con gái thì lại theo chồng vào nam. Dù con bà đã nhiều lần muốn bà dọn vào Nam ở, nhưng bà đã cương quyết ở lại xóm Chùa Bà để giũ gìn hương hỏa bên chồng. Được cái tuy chỉ một con gái, nhưng bà lại có rất nhiều cháu ngoại. Trà là đưá con út mà con gái bà để lại Huế cho bà cháu hôm sớm có nhau, tuổi già bớt quạnh quẻ.


    Bà Tham không làm gì cả. Của cải do cụ ông để lại cùng lợi nhuận từ vườn cây sau nhà đủ cho bà sống thoải mái. Đó là chưa kể con gái bà vốn rất khá giả và vẫn thường chu cấp thêm thường xuyên cho mẹ. Công việc duy nhất để bà đi ra khỏi nhà hằng ngày là cùng ngồi xích lô đưa cháu đi học mỗi trưa, chiều lại đón về.Còn ngoài ra bà chỉ ở nhà tụng kinh niệm phật. Mọi việc giao dịch khác đã có người quản gia chu tất.


    Tuy bà sống thanh đạm và giản dị như vậy, nhưng danh tiếng của một mệnh phụ phu nhân vẫn không hề suy suyển. Cả xóm Chùa Bà đều kính nể và coi bà như thuộc về một tầng lớp khác. Đến cả ông nội Cọp cũng không ngoài lệ đó, dù bà là bệnh nhân vẫn nhờ ông hốt thuốc hàng tháng.
    Cọp gặp bà Tham mấy lần trong nhà khi bà đến cho ông nó bắt mạch. Những lần đó Cọp chỉ dám đứng xa xa quan sát và thắc mắc không hiều bà đáng sợ ở chỗ nào. Bọn con nít trong xóm như Cọp leo trèo phá phách ở đâu cũng phải chừa lại vườn nhà bà Tham. Đến như lũ chim kia hình như cũng biết đó là nơi an toàn nên đã từng đàn tụ về. Cọp và các bạn chỉ biết đứng ngoài thèm thuồng nhìn những trái chín mọng trong vườn và lũ chim líu lo rộn rả bên trong.


    Cơ hội đã đến với Cọp vào một buổi trưa oi ả khi Cọp đang đội nắng đến trường. Chiếc xích lô chở bà Tham đưa cháu ngoại đi học rà đến bên cạnh. Từ trên xe bà hỏi vọng xuống:
    – Này con. Con là cháu ông Khánh phải không?
    – Dạ. Cọp rụt rè trả lời.
    -Tội nghiệp! Trời nắng như ri mà đi bộ bịnh chết. Con lên đây đi với bà luôn thể.
    Câu nói của bà Tham làm Cọp ngẩn người không biết trả lời ra sao. Ngồi xe xích lô tới trường giữa trời nắng gắt như vầy còn gì sướng bằng. Khỏi mỏi chân và đỡ khát nước. Nhưng Cọp vẫn ngần ngừ. Bà Tham đối với nó vẫn là một người đáng nể sợ. Hơn nữa lại có con Trà trên xe. Cọp biết con Trà từ lâu. Nó học bằng lớp Cọp, nhưng ở dãy con gái. Cả trường Cọp có khoảng bốn hay năm đứa thuộc loại “quý tộc” như con Trà. Chúng nó thuờng chơi chung với nhau. Thực ra thì tụi con Trà cũng đâu có kiêu kỳ làm cao làm dáng gì đâu. Tụi nó khi nào cũng muốn gia nhập cuộc chơi với chúng bạn khác. Nhưng mà chỉ nội cái tiếng tăm của gia đình và lối đi học bằng xe đưa rước mỗi ngày cũng đủ làm cho lũ học trò bình dân như Cọp cảm thấy thua kém và cách biệt.


    Thấy Cọp cứ đứng ngẩn tò te, bà Tham bước xuống nắm tay nó kéo lên xe. Bà bảo con Trà sang ngồi trong lòng bà và nhường chỗ cho Cọp. Xe đã chuyển bánh mà Cọp cứ suy nghĩ. Con Trà lơ đãng nhìn Cọp. Nó không biểu lộ vể phản đối hay đồng ý nào cả. Hôm nay Trà đi học mặc áo đầm hồng mới tinh, tóc thắt nơ đỏ, đi giày Tây đàng hoàng. Con nhỏ đúng là một tiểu thơ tý hon. Bỗng nhiên Cọp thấy mắc cở quá. Chưa bao giờ Cọp thấy mình dơ dáy hơn lúc này. Bên cạnh con Trà sạch sẽ trắng trẻo, nó bỗng trở nên đen như cột nhà cháy.Tệ nhất là trên đầu nó mấy bữa nay mọc cục Sài. Ông nội Cọp phải cạo khoảng tóc chung quanh để dán miếng thuốc dán hiệu con Rắn vàoCọp ngồi yên lặng suốt quảng đường. Bà Tham có hỏi nó chỉ thưa dạ cho qua, tuyệt nhiên không nói gì với con Trà. Khi xe đến trường, bà Tham mua hai cây cà rem cho hai đứa. Cọp cầm cà rem chạy ù vào đám bạn đang bắn bi trước cổng trường, quên cả cám ơn.


    Hôm sau bà Tham cho xe đến đón Cọp tận nhà. Bà ngồi ngoài, để con Trà vào kêu Cọp đi học làm ông nội ngạc nhiên. Cọp thì dị quá trốn trong bếp khiến ông nội phải kéo nó ra tận nơi. Cực chẳng đã Cọp đành leo lên.
    Kể từ hôm đó, Cọp chính thức đi học bằng xe xích lô với con Trà. Mấy hôm đầu nó còn ngượng ngùng, dần dần Cọp quen đi. Bà Tham đâu có gì…ghê gớm như nó vẫn tưởng.


    Mỗi lần hỏi chuyện Cọp, bà kêu con thật ngọt ngào và hiền hậu. Giọng bà lơ lớ âm hưởng tiếng nam, vì bà vốn sinh ra trong đó. Cọp có nghe nói đến Sài Gòn, hòn ngọc viễn đông mà nó từng học trong một bài tập đọc. Đối với Cọp, miền nam là Sàigòn, Sàigòn là miền nam. Bà Tham phong độ quý phái có lẽ vì bà từ Hòn Ngọc Viễn Đông ra đây( ?).
    Mỗi chiều tan học, xe bà Tham đậu chờ sẵn ở cổng trường. Thông thường con Trà thuộc dãy con gái ra trước, Cọp ra sau. Mỗi khi Cọp leo lên xe, bà Tham thường hỏi
    – Bữa ni Cọp được mấy điểm?
    – Con được 10 điểm.
    Nó hí hửng khoe. Bà Tham xoa đầu khen
    – Cọp giỏi quá. Ráng học bà thương nghen con.
    Do đó, khi sự nể sợ bà Tham đã dần thay thế bằng lòng kính mến, thân mật thì mối cách biệt tiểu thư- dân dã giữa Cọp và Trà cũng không còn nữa. Ngồi trên xe, hai đứa thường khoe điểm và cãi nhau tíu tít trước sự thích thú của bà Tham. Thỉnh thoảng bà phải làm trọng tài để phân giải nữa. Trà và Cọp trở nên thân nhau tự lúc nào. Cọp hoàn toàn thay đổi quan niệm về bọn “quý tộc” trong trường. Bấy lâu, tụi Cọp chỉ mặc cảm và tạo sự cách biệt, chứ bọn con Trà có bao giờ làm cao như bọn Cọp vẫn nghĩ. Ngược lại, Cọp còn thấy tội nghiệp dùm con Trà. Hai đứa bằng tuổi nhau, ở chung xóm, mà trong khi Cọp tung tăng làng trên xóm dưới tham dự đủ mọi trò vui, thì con Trà vẫn ở trong nhà, kín cổng một mình với bà ngoại.

    ***
    Xóm Chùa Bà ở ngoại thành. Từ trung tâm thương mại chính là chợ Đông Ba, qua khỏi cầu Gia Hội, theo con đường Chi Lăng khoảng 2,3 cây số theo hướng về phía chợ Dinh là đến. Cho nên đây chỉ là vùng ngoại ô chứ chưa quá xa xuống các vùng quê. Dân trong xóm không ai gọi là quá nghèo. Mỗi nhà đều có vườn cây ăn trái phụ vào việc buôn bán, nên cuộc sống tương đối ấm no, và hầu như cả xóm đều quen biết nhau.
    Từ lúc có óc nhận xét, Cọp cảm thấy xóm Chùa Bà là quê hương bất khả chia lià của nó. Những ngày Chủ Nhật cuối tuần phải về với mạ và chị, nó coi như một bổn phận. Một ngày ở thành phố là một ngày buồn bã. Cọp chỉ lủi thủi giữa bốn bức tường chật hẹp. Cho nên khi mạ hỏi có thương mạ không, Cọp bảo rằng thuơng mà không thể giải thích tại sao cứ đòi về xóm Chùa Bà.


    Cọp còn quá nhỏ để diễn tả nỗi lòng của mình. Nó muốn nói rằng ở xóm Chùa Bà, dọc theo con đường Hồ Xuân Hương là hai dãy cỏ xanh mướt. Mỗi chiều có những con trâu hững hờ gặm cỏ. Có những đứa mục đồng là bạn chung trường với Cọp ngồi trên lưng trâu thơ thẩn nghêu ngao. Cọp thường lên lưng trâu với bạn đi sâu vào làng, vào tận các rẩy mương, được gặm mía, ăn khoai nướng, cơm vắt…


    Có những buổi sáng mùa Đông, Cọp dậy thật sớm uống trà cùng ông nội. Giữa cái lạnh sớm mai và tiếng mưa rơi tí tách bên ngoài, hai ông cháu bên chiếc bàn nho đối ẩm. Cọp bắt chước ông bưng tách trà lên miệng, thổi nhè nhẹ và nhấp một ngụm nhỏ rồi thở “phaaà” một cái. Vừa uống trà , ông vừa ư ử ngâm thơ. Cọp chưa thương ai hơn thương ông nội. Nó mong sau này lớn lên sẽ nối nghiệp ông để cứu nhân độ thế.


    Từ ngày đi học chung với con Trà, Cọp là đưá đầu tiên trong xóm được xâm nhập vùng “ cấm địa”, tức vườn nhà bà Tham..


    Đối với Cọp, vườn nhà bà Tham là vườn Địa Đàng. Khu vườn thật rộng, ít nhất cũng gấp ba, bốn lần vuờn nhà nó, đầy những ổi, đào chín nặng trĩu cành. Lũ chim trong vườn cũng rất dạn dĩ. Chúng đã quen với sự an toàn ở đây nên không có vẻ gì e sợ sự hiện diện của Cọp. Cọp thích nhất là được leo lên một cành ổi lớn, ngồi cheo leo trên cành thưởng thức vị thơm ngọt của trái Xá Lị mới hái, vừa nhìn lũ Chào Mào, Se Sẽ ca hát, rỉa lông cho nhau, thỉnh thoảng hái một trái chín quăng xuống cho con Trà phía dưới. Có hôm thằng Cọp rủ con Trà lén trốn ra đuờng đón mấy đứa mục đồng bạn của nó cho con Trà cởi trâu ra rẫy chơi. Lần đầu tiên cô tiểu thư đài các được …đi chăn trâu khoái quá, bất kể bộ quần áo thơm tho bị vấn mùi trâu khi về phải vội vàng đi tắm. Thằng Cọp còn bắt Chuồn Chuồn cho cắn vào rốn con Trà rồi dắt nó ra ao sau vườn tập bơi. Quả nhiên mấy ngày sau con Trà cũng bơi ra phết.


    Nhưng không phải chỉ mình Cọp biết bày trò đâu nha. Trà cũng có những mục riêng mà Cọp chưa hề biết đến. Trà có một bộ đồ chơi thật đẹp dạy trẻ em xếp nhà mà anh nó đang du học ở Pháp gởi về. Bộ đồ chơi gồm những miếng nhựa hình khối chữ nhật màu vàng ngà tương tự như quân cờ Mạc Chược của ông nội Cọp. Trên mỗi miếng đều có vẻ hình một cái cửa lớn hoặc cửa sổ. Chúng nó cứ lấy ra sắp thành những toà lâu đài theo ý thích và sự tưởng tượng riêng của mình. Con Trà cũng có một bộ đồ chơi nấu ăn đẹp nhứt xóm. Cọp chẳng thích gì ba trò nấu ăn của con gái. Nhưng đưọc cái là con Trà … nấu thiệt. Nghĩa là muốn nấu chè, con Trà vô bếp lấy đậu và đường đốt lửa nấu đàng hoàng chứ không phải lấy lá cây giả bộ như mấy đứa con gái khác. Cọp chiều ý con Trà, đợi nó nấu xong, dù sống hay chín, Cọp đều thanh toán hết. Con Trà chỉ nhấm nháp chút đỉnh và hả hê nhìn Cọp thưởng thức sản phẩm của mình.


    Một lần hai đứa được bà Tham dắt đi coi tuồng Phạm Công Cúc Hoa do một gánh cải lương từ Sài Gòn ra trình diễn. Khi về, con Trà khóc suớt mướt.
    Hôm sau không biết đưá nào rủ trước, cùng nhau diễn lại đoạn hai đứa trẻ mồ côi được mẹ Cúc Hoa hiện hồn về bắt chí. Cọp đóng vai Tấn Lực, con Trà làm Nghi Xuân. Sẵn có tượng Phật Bà Quan Âm khá lớn trong nhà cũng mặc đồ trắng giống Cúc Hoa, nên cả Nghi Xuân và Tấn Lực tân thời thi nhau tới trước tượng gào thét “Mẹ ơi, mẹ ơi…” một cách say sưa và thê thảm, nhập vai đến độ nước mắt nước mũi ngồm ngoàm đầy mặt, và bà Tham đứng sau lưng hồi nào không biết.


    Bà không la còn vỗ tay khen:
    – Ui chao ơi. Hai đứa mi hát cũng hay quá.
    Nghi Xuân đỏ mặt ôm bà phụng phịu, còn Tấn Lực thì dị quá vừa chùi mũi vừa cắm đầu chạy một mạch về nhà.
    ***
    Cọp về thành phố đón tết đã được mấy ngày. Mạ Cọp nghỉ chợ từ hôm 27. Ba Cọp cũng về nhà. Không khí vui vẻ và đầy đủ của gia đình làm Cọp tạm quên xóm Chùa Bà, tạm quên con Trà. Nó đã đếm từng ngày mong chóng đến mùng một để được mặc đồ mới theo ba mạ về chúc tết ông bà nội, và đi mừng tuổi bà Tham.
    Tết.
    Cọp nằm thấp thỏm mong trời mau sáng. Càng về khuya, pháo còn nổ lớn ròn rã. Trước còn không phân biệt, nhưng dần dần đã nhận ra tiếng súng. Mạ Cọp hỏi ba
    – Chắc cháy kho đạn?
    Ba Cọp lắng nghe và lắc đầu
    – Không phải kho đạn. Lạ thiệt, hưu chiến ăn tết mà!
    – Mô Phật. Tết nhứt mà đánh nhau chi kỳ rứa không biết.


    Súng nổ dữ dội càng lúc càng gần vào thành phố. Ba Cọp mở radio nghe tin tức, nhưng những bản nhạc Xuân mới mấy tiếng đồng hồ trước còn inh ỏi, nay thay thế bằng tiến u u vô nghĩa. Súng nổ lúc càng gần hơn đầy đe dọa. Xen lẫn những tiếng tạch – tạch – đùng là một tiếng ẦM thật lớn làm rung chuyển cả nhà cửa, bụi bay tứ phía văng cả vào mắt Cọp. Đến gần sáng, radio bỗng nhiên hoạt động. Ba Cọp thất thần khi nghe “Đây, tiếng nói của mặt trận giải phóng miền nam…”
    Hai chị của Cọp cũng biết và thì thầm với nhau:
    – Chết cha! Việt Cộng mi ơi.
    Trời sáng. Cả thành phố im lìm. Tiếng súng đã lặn dần chỉ còn lại lẻ tẻ đâu đó như đang răn đe hơn là hiến đấu. Nhà nhà đều đóng cửa kín mít. Bóng tối bao trùm…


    Một buổi sáng, Cọp thức dậy vì tiếng ồn ào ngoài đường. Hình như có một nhóm người đi từng nhà đập cửa kêu gọi gì đó. Cứ khoảng mười phút thì tiếng đập cửa lại vang lên, từng nhà, từng nhà mỗi lúc mỗi gần hơn. Ba mạ Cọp nhìn nhau lo ngại. Hai chị của nó thì sợ quá trùm mền kín mít không dám nghe. Cuối cùng rồi chuyện gì đến cũng sẽ đến. Tiếng đập cửa vang lên ngay nhà Cọp. Họ kêu lớn “ 73 Chi Lăng, mở cửa!”. Đúng là số nhà nó. Ba Cọp đành đứng dậy đi ra.


    Sau hơn một tuần đóng kín, cửa nhà Cọp phải mở để đón người lạ vào. Cọp lén nhìn ra thấy sáu bảy người đàn ông sầm sập đi vào. Việt Cộng đó sao? Cọp suýt kêu thành tiếng khi thấy người đàn ông đứng ở cửa. Thầy Tường ! Thầy dạy lớp nhất ở trường nó. Cọp tưởng mình trông lầm, nhưng rõ ràng là thầy Tường nổi tiếng hiền nhứt trường. Khác một điều là lúc này thầy lạnh lùng, ôm khẩu súng, tay áo có mang miếng băng đỏ. Cọp líu cả lưỡi, tay chân run rẩy. Thầy Tường là Việt Cộng? Nếu không tận mắt nhìn thấy, không đời nào Cọp tin nổi.


    Ba nói chuyện một hồi, đi vô bảo mạ:
    – Anh đi với họ.
    – Đi mô?
    Mạ Cọp thất thanh.
    Một người có vẻ là trưởng nhóm tiến lại:
    – Chúng tôi mời ông đi nghe chủ trương chính sách của chính phủ cách mạng. Tối ông về thôi.
    Ba Cọp nhìn mạ ra dấu có muốn từ chối cũng không được. Ông yên lặng xoa đầu Cọp và bước ra khỏi nhà cùng mấy người đàn ông nọ
    Đến tối quả nhiên ông về thiệt. Mạ Cọp mừng đến mếu máo:
    – Anh đi mô?
    Ba lắc đầu không nói. Mạ hỏi tiếp
    – Họ nói chi rứa?
    Ba chỉ xua tay và nặng nề ngồi xuống. Hình như ông vừa trải qua một sự kiện gì ghê gớm lắm nhưng không muốn cho mạ nó biết.


    Liên tiếp mấy tuần nữa, Huế vẫn đắm chìm trong bóng đêm. Chợ Đông Ba bốc cháy cũng không ai cứu chữa, cho tới khi một cơn mưa đổ xuống dập tắt, để lại những cột khói u ám cả bầu trời. Mạ Cọp ngẩn ngơ nhìn sản nghiệp tiêu tan theo làn khói. Lần đầu tiên Cọp thấy mạ khóc và cảm thấy thương mạ hơn bao giờ hết. Cọp biết hàng vải của mạ là do bà ngoại để lại. Từ bấy lâu nay mạ Cọp một tay nuôi nấng đàn con cũng nhờ nó. Nay coi như đã hết.
    Chưa bao giờ Cọp thấy buồn bả và chán nản hơn lúc này.
    Tết chi mà kỳ cục. Suốt ngày chỉ ru rú trong nhà tăm tối.


    Thình thoảng Cọp ngồi tư lự. Nó nhớ xóm Chùa Bà quá. Nó ngồi tưởng tượng hai dãy cỏ xanh mướt dọc theo con đường Chùa Bà và những thằng bạn chăn trâu nghèo khổ của nó. Súng bắn dữ như hôm rồi, không biết tụi nó có được bình yên? Còn những con trâu lừ đừ và châm chạp. Tụi nó có biết tìm chỗ tránh đạn? Cọp cũng nhớ con Trà và bà Tham. Bỗng nhiên Cọp khám phá ra một điều: ngoại trừ ông nội, con Trà là người nó thương và nhớ nhiều nhứt. Cọp không hiểu tại sao, nhưng hể nhắm mắt lại là nó thấy ông nội, con Trà, và bà Tham.
    Nhớ thì nhớ, thương thì thương, Cọp cũng phải bó gối trong nhà và thả hồn lơ lững về xóm Chùa Bà.

    ***
    Súng lại nổ vang. Lần này súng nổ ròn rả hơn, quyết liệt hơn. Cọp ôm đầu than: “Trời ơi,,Việt Cộng mô mà cứ tới hoài rứa !” Nó lại thấy mạ lâm râm niệm Phật, nhưng không để ý nét vui mừng ẩn hiện trên đôi mắt thâm quầng của ba.
    Súng nổ thật dữ dội đầu hôm và im dần khi trời vừa sáng. Cọp giật mình thức dậy và thấy ánh nắng chói chan rọi vào nhà. Lạ quá, tại sao nhà nó lại mở cửa? Ba mạ và chị nó đâu? Nó lại nghe tìếng cười nói huyên thuyên bên ngoài nên vùng chạy ra.
    Lính.
    Lính mình.
    Nhiều lính lắm, đang rầm rập đi đầy đường.
    Cọp chạy lại nắm tay ba. Ông nói
    – Mình tái chiếm rồi con.
    Tái chiếm? Nghĩa là không còn Việt Cộng nữa. Nghĩa là nó sắp được về lại xóm Chùa Bà tiếp tục những ngày vui !
    Cọp bỗng cười toe toét, ngẩng đầu hỏi lại;
    -Mình tái chiếm rồi hả ba?

    ***
    Chỉ vài tháng sau ngày tái chiếm, Cọp khăn gói theo gia đình vào SàiGòn. Ba Cọp quyết định đưa vợ con về nơi an toàn. Cọp cũng không lưu luyến xóm Chùa Bà nữa. Ông nội nó đã mất vì bệnh tim tái phát sau nhiều ngày đêm chịu đựng tiếng dội của bom đạn. Một lý do nữa là ba Cọp đã trở về từ địa ngục. Sau này kể lại, ông cho hay hôm mấy tên Việt Cộng trong đó có thầy Tường dẫn đi, ông bị còng tay ra nơi tập trung có những cái hố đào sẵn. Phước đức từ ông nội nên có một tên việt cộng là bạn học cũ của ba. Nhà hắn từng chịu ơn ông nội Cọp cứu giúp năm xưa nhận ra, lén cởi trói cho ba Cọp trốn về. Ba là người duy nhứt thoát được. Số người bị bắt chung hôm đó tất cả đã bị vùi sâu chôn sống hết dưới những hố hầm định mệnh.

    Đưa đám ông nội Cọp, con Trà đi cùng bà Tham …trên chiếc nạng gỗ. Một mảnh đại bác oan khiên cắt ngang chân trái của Trà.
    Tự do đã trở lại, nhưng hậu quả khốc liệt của một tháng trời bị tạm chiếm vĩnh viễn không thể phai mờ. Ban đêm Cọp phải qua ngủ với mạ để tìm cảm giác an toàn mỗi khi thức giấc nghe tiếng chó tru xa xa vọng lại.
    Mùa Xuân năm ấy, Huế nhuộm một màu tang !
    Khi Cọp trở lại xóm Chùa Bà lần cuối để chào từ giã bà Tham và con Trà trước ngày lên đường, bà Tham mếu máo ôm Cọp trong lòng như không nỡ rời. Con Trà cũng đứng đó, không khóc, không nói, chỉ ngẩn ngơ nhìn Cọp nửa bùi ngùi, nửa xa vắng.

    ***
    Thư một người chị của Cọp từ quê nhà gởi sang có đoạn “Em còn nhớ Trà, cô bạn nhỏ năm xưa của em ở Huế không? Chị mới gặp lại. Không ngờ cô ta vẫn còn nhớ đến em và gởi lời hỏi thăm…”
    Chữ “Trà” trong thư của chị gợi lại Cọp bao kỷ niệm thời thơ ấu tưởng đã chìm sâu trong tâm tưởng, bỗng sống dậy cuồn cuộn như sóng trào. Rời Huế từ năm ấy, Cọp chưa lần nào trở lại dù chỉ một lần để thăm viếng. Sài Gòn -Huế nào có bao xa mà như vĩnh quyết. Huống chi bây giờ thêm cả một đại dương!


    Hương Trà, cô tiểu thư, người bạn nhỏ thuở xưa. Cô đã sống ra sao trong suốt thời gian qua với chiếc nạng gỗ cay nghiệt đó!
    Cọp cúi đầu.
    “Lạy trời cho nàng một cuộc sống bình yên”
    ./.
    ThaiNC


    Xóm Chùa Bà có khoảng chừng trên năm mươi nóc gia rải rác theo con đường chính. Nhà Cọp ở gần giữa. Đúng ra thì đây là nhà ông nội Cọp. Nhà thiệt của ba mạ Cọp ở thành phố, gần chợ Đông Ba. Mạ Cọp bán vải ở chợ. Cọp ở với ông nội vì trường học gần nhà đi bộ cho tiện. Mỗi chiều thứ Bảy sau khi tan chợ, mạ Cọp đi xích lô về xóm Chùa Bà đón Cọp về nhà. Cọp cũng thương mạ và hai chị của nó lắm, nhưng mỗi cuối tuần phải về ở với gia đình, cực chẳng đã nó phải đi. Ai nói ở thành phố vui chứ với Cọp thật buồn lắm. Ở đó Cọp chỉ lủi thủi một mình. Ba Cọp đi lính ở xa lâu lâu mới về. Mạ Cọp buôn bán ở chợ từ sáng đến tối mịt. Hai chị thì hơn Cọp đến bảy tám tuổi, dù thương cũng không biết nói hay chơi gì với Cọp, cùng lắm là dắt Cọp ra phố ăn kem. Cho nên đến mỗi chiều Chủ Nhật, mặt trời chưa lặn là Cọp đã bồn chồn mong được “về nhà”.
    Về nhà, tức là về xóm Chùa Bà, giang sơn của Cọp. Có những lần mạ Cọp muốn giữ nó ở lại qua đêm Chủ Nhật, sáng thứ Hai sẽ đưa nó tới trường luôn.
    Cọp ngồi khóc tỉ tê.
    Mạ hỏi
    – Con không thương mạ à?
    – Dạ có
    – Rứa răng con cứ đòi về nhà?
    – Con không biết.
    Hình như Cọp biết mang máng, nhưng không làm sao diễn tả hết nỗi niềm.
    Ở xóm Chùa Bà, Cọp được tất cả mọi người thương mến. Dĩ nhiên Cọp phải ngoan, nhưng còn một lý do nữa: nó là cháu nội của vị Đông y sĩ nhân đức và rất mát tay chữa bệnh mà cả xóm cũng như những vùng lân cận đều trọng nể. Trước kia khi ông nội Cọp còn hành nghề, ông thường cứu giúp kẻ nghèo khó. Bây giờ đã già, ông về dưỡng lão tại đây.Tiếng là hồi hưu, nhưng ông vẫn thình thoảng trở lại nghề cũ để cứu giúp những bệnh nhân chung quanh hay một số thân chủ cũ tìm đến.
    Một trong những thân chủ quen thuộc vẫn nhờ ông nội Cọp bổ thuốc Tể hàng tháng là bà Tham.
    Bà Tham ở căn nhà lớn nhất cuối xóm. Không ai biết tên thật của bà là gì, chỉ quen gọi là bà Tham theo chức quan của ông cụ thời sinh tiền. Cụ Tham làm quan trong những năm cuối cùng của triều Nguyễn, nổi tiếng là ông quan nghiêm khắc và chính trực. Đó là lý do mà cả xóm cho đến nay vẫn còn kính trọng và nể vì. Nhà bà to và đẹp lắm. Vào cổng sau khi qua hai cột trụ cao và cổ kính, bên dưới có hai con sư tử bằng đá nhe răng múa vuốt, là con đường nhỏ trải đầy sỏi trắng, hai bên là hàng rào đầy các loại hoa. Cuối con đường đến khoảng sân trước nhà có những cái chậu bằng đá thật nặng đầy rêu phủ trồng sen. Hai bên hông và phía sau là khoảng vườn rộng mênh mông đầy các loại kiểng cũng như cây ăn trái. Đặc biệt có hai cây cau cao vút lên trời.


    Tuy nhà bà Tham lớn như vậy nhưng không có mấy người. Bà ở với đưá cháu ngoại trạc tuổi Cọp, một ông quản gia trung thành từng theo hầu cụ ông ngày trước, và một chị người làm lo việc bếp núc, các việc lặt vặt khác. Bà vốn hiếm muộn, chỉ có một người con gái thì lại theo chồng vào nam. Dù con bà đã nhiều lần muốn bà dọn vào Nam ở, nhưng bà đã cương quyết ở lại xóm Chùa Bà để giũ gìn hương hỏa bên chồng. Được cái tuy chỉ một con gái, nhưng bà lại có rất nhiều cháu ngoại. Trà là đưá con út mà con gái bà để lại Huế cho bà cháu hôm sớm có nhau, tuổi già bớt quạnh quẻ.
    Bà Tham không làm gì cả. Của cải do cụ ông để lại cùng lợi nhuận từ vườn cây sau nhà đủ cho bà sống thoải mái. Đó là chưa kể con gái bà vốn rất khá giả và vẫn thường chu cấp thêm thường xuyên cho mẹ. Công việc duy nhất để bà đi ra khỏi nhà hằng ngày là cùng ngồi xích lô đưa cháu đi học mỗi trưa, chiều lại đón về.Còn ngoài ra bà chỉ ở nhà tụng kinh niệm phật. Mọi việc giao dịch khác đã có người quản gia chu tất.


    Tuy bà sống thanh đạm và giản dị như vậy, nhưng danh tiếng của một mệnh phụ phu nhân vẫn không hề suy suyển. Cả xóm Chùa Bà đều kính nể và coi bà như thuộc về một tầng lớp khác. Đến cả ông nội Cọp cũng không ngoài lệ đó, dù bà là bệnh nhân vẫn nhờ ông hốt thuốc hàng tháng.
    Cọp gặp bà Tham mấy lần trong nhà khi bà đến cho ông nó bắt mạch. Những lần đó Cọp chỉ dám đứng xa xa quan sát và thắc mắc không hiều bà đáng sợ ở chỗ nào. Bọn con nít trong xóm như Cọp leo trèo phá phách ở đâu cũng phải chừa lại vườn nhà bà Tham. Đến như lũ chim kia hình như cũng biết đó là nơi an toàn nên đã từng đàn tụ về. Cọp và các bạn chỉ biết đứng ngoài thèm thuồng nhìn những trái chín mọng trong vườn và lũ chim líu lo rộn rả bên trong.


    Cơ hội đã đến với Cọp vào một buổi trưa oi ả khi Cọp đang đội nắng đến trường. Chiếc xích lô chở bà Tham đưa cháu ngoại đi học rà đến bên cạnh. Từ trên xe bà hỏi vọng xuống:
    – Này con. Con là cháu ông Khánh phải không?
    – Dạ. Cọp rụt rè trả lời.
    -Tội nghiệp! Trời nắng như ri mà đi bộ bịnh chết. Con lên đây đi với bà luôn thể.
    Câu nói của bà Tham làm Cọp ngẩn người không biết trả lời ra sao. Ngồi xe xích lô tới trường giữa trời nắng gắt như vầy còn gì sướng bằng. Khỏi mỏi chân và đỡ khát nước. Nhưng Cọp vẫn ngần ngừ. Bà Tham đối với nó vẫn là một người đáng nể sợ. Hơn nữa lại có con Trà trên xe. Cọp biết con Trà từ lâu. Nó học bằng lớp Cọp, nhưng ở dãy con gái. Cả trường Cọp có khoảng bốn hay năm đứa thuộc loại “quý tộc” như con Trà. Chúng nó thuờng chơi chung với nhau. Thực ra thì tụi con Trà cũng đâu có kiêu kỳ làm cao làm dáng gì đâu. Tụi nó khi nào cũng muốn gia nhập cuộc chơi với chúng bạn khác. Nhưng mà chỉ nội cái tiếng tăm của gia đình và lối đi học bằng xe đưa rước mỗi ngày cũng đủ làm cho lũ học trò bình dân như Cọp cảm thấy thua kém và cách biệt.


    Thấy Cọp cứ đứng ngẩn tò te, bà Tham bước xuống nắm tay nó kéo lên xe. Bà bảo con Trà sang ngồi trong lòng bà và nhường chỗ cho Cọp. Xe đã chuyển bánh mà Cọp cứ suy nghĩ. Con Trà lơ đãng nhìn Cọp. Nó không biểu lộ vể phản đối hay đồng ý nào cả. Hôm nay Trà đi học mặc áo đầm hồng mới tinh, tóc thắt nơ đỏ, đi giày Tây đàng hoàng. Con nhỏ đúng là một tiểu thơ tý hon. Bỗng nhiên Cọp thấy mắc cở quá. Chưa bao giờ Cọp thấy mình dơ dáy hơn lúc này. Bên cạnh con Trà sạch sẽ trắng trẻo, nó bỗng trở nên đen như cột nhà cháy.Tệ nhất là trên đầu nó mấy bữa nay mọc cục Sài. Ông nội Cọp phải cạo khoảng tóc chung quanh để dán miếng thuốc dán hiệu con Rắn vàoCọp ngồi yên lặng suốt quảng đường. Bà Tham có hỏi nó chỉ thưa dạ cho qua, tuyệt nhiên không nói gì với con Trà. Khi xe đến trường, bà Tham mua hai cây cà rem cho hai đứa. Cọp cầm cà rem chạy ù vào đám bạn đang bắn bi trước cổng trường, quên cả cám ơn.
    Hôm sau bà Tham cho xe đến đón Cọp tận nhà. Bà ngồi ngoài, để con Trà vào kêu Cọp đi học làm ông nội ngạc nhiên. Cọp thì dị quá trốn trong bếp khiến ông nội phải kéo nó ra tận nơi. Cực chẳng đã Cọp đành leo lên.
    Kể từ hôm đó, Cọp chính thức đi học bằng xe xích lô với con Trà. Mấy hôm đầu nó còn ngượng ngùng, dần dần Cọp quen đi. Bà Tham đâu có gì…ghê gớm như nó vẫn tưởng.


    Mỗi lần hỏi chuyện Cọp, bà kêu con thật ngọt ngào và hiền hậu. Giọng bà lơ lớ âm hưởng tiếng nam, vì bà vốn sinh ra trong đó. Cọp có nghe nói đến Sài Gòn, hòn ngọc viễn đông mà nó từng học trong một bài tập đọc. Đối với Cọp, miền nam là Sàigòn, Sàigòn là miền nam. Bà Tham phong độ quý phái có lẽ vì bà từ Hòn Ngọc Viễn Đông ra đây( ?).
    Mỗi chiều tan học, xe bà Tham đậu chờ sẵn ở cổng trường. Thông thường con Trà thuộc dãy con gái ra trước, Cọp ra sau. Mỗi khi Cọp leo lên xe, bà Tham thường hỏi
    – Bữa ni Cọp được mấy điểm?
    – Con được 10 điểm.
    Nó hí hửng khoe. Bà Tham xoa đầu khen
    – Cọp giỏi quá. Ráng học bà thương nghen con.
    Do đó, khi sự nể sợ bà Tham đã dần thay thế bằng lòng kính mến, thân mật thì mối cách biệt tiểu thư- dân dã giữa Cọp và Trà cũng không còn nữa. Ngồi trên xe, hai đứa thường khoe điểm và cãi nhau tíu tít trước sự thích thú của bà Tham. Thỉnh thoảng bà phải làm trọng tài để phân giải nữa. Trà và Cọp trở nên thân nhau tự lúc nào. Cọp hoàn toàn thay đổi quan niệm về bọn “quý tộc” trong trường. Bấy lâu, tụi Cọp chỉ mặc cảm và tạo sự cách biệt, chứ bọn con Trà có bao giờ làm cao như bọn Cọp vẫn nghĩ. Ngược lại, Cọp còn thấy tội nghiệp dùm con Trà. Hai đứa bằng tuổi nhau, ở chung xóm, mà trong khi Cọp tung tăng làng trên xóm dưới tham dự đủ mọi trò vui, thì con Trà vẫn ở trong nhà, kín cổng một mình với bà ngoại.

    ***
    Xóm Chùa Bà ở ngoại thành. Từ trung tâm thương mại chính là chợ Đông Ba, qua khỏi cầu Gia Hội, theo con đường Chi Lăng khoảng 2,3 cây số theo hướng về phía chợ Dinh là đến. Cho nên đây chỉ là vùng ngoại ô chứ chưa quá xa xuống các vùng quê. Dân trong xóm không ai gọi là quá nghèo. Mỗi nhà đều có vườn cây ăn trái phụ vào việc buôn bán, nên cuộc sống tương đối ấm no, và hầu như cả xóm đều quen biết nhau.
    Từ lúc có óc nhận xét, Cọp cảm thấy xóm Chùa Bà là quê hương bất khả chia lià của nó. Những ngày Chủ Nhật cuối tuần phải về với mạ và chị, nó coi như một bổn phận. Một ngày ở thành phố là một ngày buồn bã. Cọp chỉ lủi thủi giữa bốn bức tường chật hẹp. Cho nên khi mạ hỏi có thương mạ không, Cọp bảo rằng thuơng mà không thể giải thích tại sao cứ đòi về xóm Chùa Bà.
    Cọp còn quá nhỏ để diễn tả nỗi lòng của mình. Nó muốn nói rằng ở xóm Chùa Bà, dọc theo con đường Hồ Xuân Hương là hai dãy cỏ xanh mướt. Mỗi chiều có những con trâu hững hờ gặm cỏ. Có những đứa mục đồng là bạn chung trường với Cọp ngồi trên lưng trâu thơ thẩn nghêu ngao. Cọp thường lên lưng trâu với bạn đi sâu vào làng, vào tận các rẩy mương, được gặm mía, ăn khoai nướng, cơm vắt…


    Có những buổi sáng mùa Đông, Cọp dậy thật sớm uống trà cùng ông nội. Giữa cái lạnh sớm mai và tiếng mưa rơi tí tách bên ngoài, hai ông cháu bên chiếc bàn nho đối ẩm. Cọp bắt chước ông bưng tách trà lên miệng, thổi nhè nhẹ và nhấp một ngụm nhỏ rồi thở “phaaà” một cái. Vừa uống trà , ông vừa ư ử ngâm thơ. Cọp chưa thương ai hơn thương ông nội. Nó mong sau này lớn lên sẽ nối nghiệp ông để cứu nhân độ thế.
    Từ ngày đi học chung với con Trà, Cọp là đưá đầu tiên trong xóm được xâm nhập vùng “ cấm địa”, tức vườn nhà bà Tham..


    Đối với Cọp, vườn nhà bà Tham là vườn Địa Đàng. Khu vườn thật rộng, ít nhất cũng gấp ba, bốn lần vuờn nhà nó, đầy những ổi, đào chín nặng trĩu cành. Lũ chim trong vườn cũng rất dạn dĩ. Chúng đã quen với sự an toàn ở đây nên không có vẻ gì e sợ sự hiện diện của Cọp. Cọp thích nhất là được leo lên một cành ổi lớn, ngồi cheo leo trên cành thưởng thức vị thơm ngọt của trái Xá Lị mới hái, vừa nhìn lũ Chào Mào, Se Sẽ ca hát, rỉa lông cho nhau, thỉnh thoảng hái một trái chín quăng xuống cho con Trà phía dưới. Có hôm thằng Cọp rủ con Trà lén trốn ra đuờng đón mấy đứa mục đồng bạn của nó cho con Trà cởi trâu ra rẫy chơi. Lần đầu tiên cô tiểu thư đài các được …đi chăn trâu khoái quá, bất kể bộ quần áo thơm tho bị vấn mùi trâu khi về phải vội vàng đi tắm. Thằng Cọp còn bắt Chuồn Chuồn cho cắn vào rốn con Trà rồi dắt nó ra ao sau vườn tập bơi. Quả nhiên mấy ngày sau con Trà cũng bơi ra phết.


    Nhưng không phải chỉ mình Cọp biết bày trò đâu nha. Trà cũng có những mục riêng mà Cọp chưa hề biết đến. Trà có một bộ đồ chơi thật đẹp dạy trẻ em xếp nhà mà anh nó đang du học ở Pháp gởi về. Bộ đồ chơi gồm những miếng nhựa hình khối chữ nhật màu vàng ngà tương tự như quân cờ Mạc Chược của ông nội Cọp. Trên mỗi miếng đều có vẻ hình một cái cửa lớn hoặc cửa sổ. Chúng nó cứ lấy ra sắp thành những toà lâu đài theo ý thích và sự tưởng tượng riêng của mình. Con Trà cũng có một bộ đồ chơi nấu ăn đẹp nhứt xóm. Cọp chẳng thích gì ba trò nấu ăn của con gái. Nhưng đưọc cái là con Trà … nấu thiệt. Nghĩa là muốn nấu chè, con Trà vô bếp lấy đậu và đường đốt lửa nấu đàng hoàng chứ không phải lấy lá cây giả bộ như mấy đứa con gái khác. Cọp chiều ý con Trà, đợi nó nấu xong, dù sống hay chín, Cọp đều thanh toán hết. Con Trà chỉ nhấm nháp chút đỉnh và hả hê nhìn Cọp thưởng thức sản phẩm của mình.


    Một lần hai đứa được bà Tham dắt đi coi tuồng Phạm Công Cúc Hoa do một gánh cải lương từ Sài Gòn ra trình diễn. Khi về, con Trà khóc suớt mướt.
    Hôm sau không biết đưá nào rủ trước, cùng nhau diễn lại đoạn hai đứa trẻ mồ côi được mẹ Cúc Hoa hiện hồn về bắt chí. Cọp đóng vai Tấn Lực, con Trà làm Nghi Xuân. Sẵn có tượng Phật Bà Quan Âm khá lớn trong nhà cũng mặc đồ trắng giống Cúc Hoa, nên cả Nghi Xuân và Tấn Lực tân thời thi nhau tới trước tượng gào thét “Mẹ ơi, mẹ ơi…” một cách say sưa và thê thảm, nhập vai đến độ nước mắt nước mũi ngồm ngoàm đầy mặt, và bà Tham đứng sau lưng hồi nào không biết.
    Bà không la còn vỗ tay khen:
    – Ui chao ơi. Hai đứa mi hát cũng hay quá.
    Nghi Xuân đỏ mặt ôm bà phụng phịu, còn Tấn Lực thì dị quá vừa chùi mũi vừa cắm đầu chạy một mạch về nhà.
    ***
    Cọp về thành phố đón tết đã được mấy ngày. Mạ Cọp nghỉ chợ từ hôm 27. Ba Cọp cũng về nhà. Không khí vui vẻ và đầy đủ của gia đình làm Cọp tạm quên xóm Chùa Bà, tạm quên con Trà. Nó đã đếm từng ngày mong chóng đến mùng một để được mặc đồ mới theo ba mạ về chúc tết ông bà nội, và đi mừng tuổi bà Tham.


    Tết.
    Cọp nằm thấp thỏm mong trời mau sáng. Càng về khuya, pháo còn nổ lớn ròn rã. Trước còn không phân biệt, nhưng dần dần đã nhận ra tiếng súng. Mạ Cọp hỏi ba
    – Chắc cháy kho đạn?
    Ba Cọp lắng nghe và lắc đầu
    – Không phải kho đạn. Lạ thiệt, hưu chiến ăn tết mà!
    – Mô Phật. Tết nhứt mà đánh nhau chi kỳ rứa không biết.
    Súng nổ dữ dội càng lúc càng gần vào thành phố. Ba Cọp mở radio nghe tin tức, nhưng những bản nhạc Xuân mới mấy tiếng đồng hồ trước còn inh ỏi, nay thay thế bằng tiến u u vô nghĩa. Súng nổ lúc càng gần hơn đầy đe dọa. Xen lẫn những tiếng tạch – tạch – đùng là một tiếng ẦM thật lớn làm rung chuyển cả nhà cửa, bụi bay tứ phía văng cả vào mắt Cọp. Đến gần sáng, radio bỗng nhiên hoạt động. Ba Cọp thất thần khi nghe “Đây, tiếng nói của mặt trận giải phóng miền nam…”
    Hai chị của Cọp cũng biết và thì thầm với nhau:
    – Chết cha! Việt Cộng mi ơi.
    Trời sáng. Cả thành phố im lìm. Tiếng súng đã lặn dần chỉ còn lại lẻ tẻ đâu đó như đang răn đe hơn là hiến đấu. Nhà nhà đều đóng cửa kín mít. Bóng tối bao trùm…


    Một buổi sáng, Cọp thức dậy vì tiếng ồn ào ngoài đường. Hình như có một nhóm người đi từng nhà đập cửa kêu gọi gì đó. Cứ khoảng mười phút thì tiếng đập cửa lại vang lên, từng nhà, từng nhà mỗi lúc mỗi gần hơn. Ba mạ Cọp nhìn nhau lo ngại. Hai chị của nó thì sợ quá trùm mền kín mít không dám nghe. Cuối cùng rồi chuyện gì đến cũng sẽ đến. Tiếng đập cửa vang lên ngay nhà Cọp. Họ kêu lớn “ 73 Chi Lăng, mở cửa!”. Đúng là số nhà nó. Ba Cọp đành đứng dậy đi ra.


    Sau hơn một tuần đóng kín, cửa nhà Cọp phải mở để đón người lạ vào. Cọp lén nhìn ra thấy sáu bảy người đàn ông sầm sập đi vào. Việt Cộng đó sao? Cọp suýt kêu thành tiếng khi thấy người đàn ông đứng ở cửa. Thầy Tường ! Thầy dạy lớp nhất ở trường nó. Cọp tưởng mình trông lầm, nhưng rõ ràng là thầy Tường nổi tiếng hiền nhứt trường. Khác một điều là lúc này thầy lạnh lùng, ôm khẩu súng, tay áo có mang miếng băng đỏ. Cọp líu cả lưỡi, tay chân run rẩy. Thầy Tường là Việt Cộng? Nếu không tận mắt nhìn thấy, không đời nào Cọp tin nổi.
    Ba nói chuyện một hồi, đi vô bảo mạ:
    – Anh đi với họ.
    – Đi mô?
    Mạ Cọp thất thanh.
    Một người có vẻ là trưởng nhóm tiến lại:
    – Chúng tôi mời ông đi nghe chủ trương chính sách của chính phủ cách mạng. Tối ông về thôi.
    Ba Cọp nhìn mạ ra dấu có muốn từ chối cũng không được. Ông yên lặng xoa đầu Cọp và bước ra khỏi nhà cùng mấy người đàn ông nọ
    Đến tối quả nhiên ông về thiệt. Mạ Cọp mừng đến mếu máo:
    – Anh đi mô?
    Ba lắc đầu không nói. Mạ hỏi tiếp
    – Họ nói chi rứa?
    Ba chỉ xua tay và nặng nề ngồi xuống. Hình như ông vừa trải qua một sự kiện gì ghê gớm lắm nhưng không muốn cho mạ nó biết.
    Liên tiếp mấy tuần nữa, Huế vẫn đắm chìm trong bóng đêm. Chợ Đông Ba bốc cháy cũng không ai cứu chữa, cho tới khi một cơn mưa đổ xuống dập tắt, để lại những cột khói u ám cả bầu trời. Mạ Cọp ngẩn ngơ nhìn sản nghiệp tiêu tan theo làn khói. Lần đầu tiên Cọp thấy mạ khóc và cảm thấy thương mạ hơn bao giờ hết. Cọp biết hàng vải của mạ là do bà ngoại để lại. Từ bấy lâu nay mạ Cọp một tay nuôi nấng đàn con cũng nhờ nó. Nay coi như đã hết.


    Chưa bao giờ Cọp thấy buồn bả và chán nản hơn lúc này.
    Tết chi mà kỳ cục. Suốt ngày chỉ ru rú trong nhà tăm tối.
    Thình thoảng Cọp ngồi tư lự. Nó nhớ xóm Chùa Bà quá. Nó ngồi tưởng tượng hai dãy cỏ xanh mướt dọc theo con đường Chùa Bà và những thằng bạn chăn trâu nghèo khổ của nó. Súng bắn dữ như hôm rồi, không biết tụi nó có được bình yên? Còn những con trâu lừ đừ và châm chạp. Tụi nó có biết tìm chỗ tránh đạn? Cọp cũng nhớ con Trà và bà Tham. Bỗng nhiên Cọp khám phá ra một điều: ngoại trừ ông nội, con Trà là người nó thương và nhớ nhiều nhứt. Cọp không hiểu tại sao, nhưng hể nhắm mắt lại là nó thấy ông nội, con Trà, và bà Tham.
    Nhớ thì nhớ, thương thì thương, Cọp cũng phải bó gối trong nhà và thả hồn lơ lững về xóm Chùa Bà.

    ***
    Súng lại nổ vang. Lần này súng nổ ròn rả hơn, quyết liệt hơn. Cọp ôm đầu than: “Trời ơi,,Việt Cộng mô mà cứ tới hoài rứa !” Nó lại thấy mạ lâm râm niệm Phật, nhưng không để ý nét vui mừng ẩn hiện trên đôi mắt thâm quầng của ba.
    Súng nổ thật dữ dội đầu hôm và im dần khi trời vừa sáng. Cọp giật mình thức dậy và thấy ánh nắng chói chan rọi vào nhà. Lạ quá, tại sao nhà nó lại mở cửa? Ba mạ và chị nó đâu? Nó lại nghe tìếng cười nói huyên thuyên bên ngoài nên vùng chạy ra.
    Lính.
    Lính mình.
    Nhiều lính lắm, đang rầm rập đi đầy đường.
    Cọp chạy lại nắm tay ba. Ông nói
    – Mình tái chiếm rồi con.
    Tái chiếm? Nghĩa là không còn Việt Cộng nữa. Nghĩa là nó sắp được về lại xóm Chùa Bà tiếp tục những ngày vui !
    Cọp bỗng cười toe toét, ngẩng đầu hỏi lại;
    -Mình tái chiếm rồi hả ba?

    ***
    Chỉ vài tháng sau ngày tái chiếm, Cọp khăn gói theo gia đình vào SàiGòn. Ba Cọp quyết định đưa vợ con về nơi an toàn. Cọp cũng không lưu luyến xóm Chùa Bà nữa. Ông nội nó đã mất vì bệnh tim tái phát sau nhiều ngày đêm chịu đựng tiếng dội của bom đạn. Một lý do nữa là ba Cọp đã trở về từ địa ngục. Sau này kể lại, ông cho hay hôm mấy tên Việt Cộng trong đó có thầy Tường dẫn đi, ông bị còng tay ra nơi tập trung có những cái hố đào sẵn. Phước đức từ ông nội nên có một tên việt cộng là bạn học cũ của ba. Nhà hắn từng chịu ơn ông nội Cọp cứu giúp năm xưa nhận ra, lén cởi trói cho ba Cọp trốn về. Ba là người duy nhứt thoát được. Số người bị bắt chung hôm đó tất cả đã bị vùi sâu chôn sống hết dưới những hố hầm định mệnh.

    Đưa đám ông nội Cọp, con Trà đi cùng bà Tham …trên chiếc nạng gỗ. Một mảnh đại bác oan khiên cắt ngang chân trái của Trà.
    Tự do đã trở lại, nhưng hậu quả khốc liệt của một tháng trời bị tạm chiếm vĩnh viễn không thể phai mờ. Ban đêm Cọp phải qua ngủ với mạ để tìm cảm giác an toàn mỗi khi thức giấc nghe tiếng chó tru xa xa vọng lại.
    Mùa Xuân năm ấy, Huế nhuộm một màu tang !
    Khi Cọp trở lại xóm Chùa Bà lần cuối để chào từ giã bà Tham và con Trà trước ngày lên đường, bà Tham mếu máo ôm Cọp trong lòng như không nỡ rời. Con Trà cũng đứng đó, không khóc, không nói, chỉ ngẩn ngơ nhìn Cọp nửa bùi ngùi, nửa xa vắng.

    ***
    Thư một người chị của Cọp từ quê nhà gởi sang có đoạn “Em còn nhớ Trà, cô bạn nhỏ năm xưa của em ở Huế không? Chị mới gặp lại. Không ngờ cô ta vẫn còn nhớ đến em và gởi lời hỏi thăm…”
    Chữ “Trà” trong thư của chị gợi lại Cọp bao kỷ niệm thời thơ ấu tưởng đã chìm sâu trong tâm tưởng, bỗng sống dậy cuồn cuộn như sóng trào. Rời Huế từ năm ấy, Cọp chưa lần nào trở lại dù chỉ một lần để thăm viếng. Sài Gòn -Huế nào có bao xa mà như vĩnh quyết. Huống chi bây giờ thêm cả một đại dương!
    Hương Trà, cô tiểu thư, người bạn nhỏ thuở xưa. Cô đã sống ra sao trong suốt thời gian qua với chiếc nạng gỗ cay nghiệt đó!
    Cọp cúi đầu.
    “Lạy trời cho nàng một cuộc sống bình yên”



    ThaiNC

  • English

    ‘Pushing boundaries’: The rise of Samizdat publishing in Vietnam



    ‘Pushing boundaries’: The rise of Samizdat publishing in Vietnam


    Liberal Publishing House publishes and distributes books Vietnam’s government does not wants its citizens to read.

    by Adam Bemma
    13 Jan 2020

    Hanoi, Vietnam – Inside a cramped room in a secret – and temporary – location in northern Vietnam, a printer whirs to life, spitting out sheets of paper covered in text.

    Neat piles are stacked on nearby tables and a man wearing an air respirator places one of them into a machine that cuts and binds the pages to a cover.

    “The dampness in the room has caused the paper to crease. This isn’t good,” said the editor in chief of Vietnam’s Nha Xuat Ban Tu Do – Liberal Publishing House – as he flipped through the newly-printed book.

    In Vietnam, as in the former Soviet Union, such publications are known as Samizdat – the illegal copying and distribution of books – and are banned by the government as “anti-state” activity. Under Article 117 of Vietnam’s criminal code, anyone involved in Samizdat risks a jail term of 20 years. The Liberal Publishing House editor prefers not to share their name.

    The publishing house was founded last February in Ho Chi Minh City by a group of dissidents as a direct challenge to the government’s control of the industry and to bring the non-fiction work of Vietnam’s growing crop of dissident writers to the nation’s readers.

    “Every printing house in Vietnam is controlled by the government. We had to buy our own printing press to do it clandestinely,” said Tran Ha, Liberal Publishing House’s founding member, who asks that we use a pseudonym to protect their identity.

    Immediately after the press was set up, Ha had to move it from Vietnam’s largest city to an undisclosed location due to pressure from police trying to shut it down and arrest them.

    “We’re unable to stay anywhere for a long period of time or our work may be revealed. If we’re discovered even the community will be at risk,” added Ha.

    ‘Dangerous and damaging’
    The government has long censored and controls its media and publishing industries and imposed tight restrictions on them.

    Vietnam samizdat


    Liberal Publishing House has published dissident author Pham Doan Trang’s latest books Politics of a Police State and Non Violent Protest. [Adam Bemma/Al Jazeera]
    The Law on Publishing prohibits “propaganda against the Socialist Republic of Vietnam,” the “spread of reactionary ideology” and “the disclosure of secrets of the [Communist] Party, State, military, defence, economics, or external relations.”

    Liberal Publishing House has published 11 books from eight authors during the past year on politically sensitive topics including China’s role in Vietnam and controversial legislation on Special Economic Zones. It has also released a legal handbook for jailed activists.

    It is the first Samizdat in Vietnam to launch a website and Facebook page.

    “We have tens of thousands of readers despite police repression and state censorship,” Ha said. “Many of them are members of the Communist Party.”

    There is no way to verify these claims, but in October, Vietnamese authorities cracked down on Liberal Publishing House, its distribution network and readers.

    In November, Amnesty International and Human Rights Watch released a joint statement calling for an end to the intimidation and harassment of people either associated with the publisher’s activities or trying to obtain copies of Samizdat books.

    By printing books they can make independent information look professional and legitimate to readers. If (readers) can hold it in their hands they trust it more.
    TRINH HUU LONG, CO-FOUNDER, LEGAL INITIATIVES FOR VIETNAM.

    According to Amnesty International’s Vietnam campaign team, police have questioned nearly 100 people for either owning or reading books printed by Liberal Publishing House.

    “They know how dangerous and damaging [Samizdat publishing] is to their regime,” said Trinh Huu Long, a democracy activist and co-founder of Legal Initiatives for Vietnam.

    “By printing books, they can make independent information look professional and legitimate to readers. If they can hold it in their hands they trust it more. It’s valuable.”

    Clandestine network


    Walking along popular bookshop-lined streets in either Ho Chi Minh City or Hanoi it is easy to find and buy copies of Western and Vietnamese literature banned by the government since reunification in 1975. While some illegal books are smuggled into the country, most are photocopied versions of the originals.

    But finding Samizdat books written by Vietnamese authors in Vietnam itself is difficult so press freedom activists have started a support network to help keep Liberal Publishing House operational.

    Supporters help ship books within the country. Readers across Vietnam place an order and decide a location from which to collect the books which are delivered by motorbike-taxi drivers – rather like ordering food online.

    “A lot of those shipping our books have been trapped by police officers pretending to be readers interested in buying copies. They order a book from us online and set a place and time to have the book delivered to them,” said Ha.

    “We’ve had two of our staff arrested and one was forced to confess.”

    Vietnam samizdat
    A Samizdat book from Vietnam’s Liberal Publishing House whose readers are mainly from the country’s remote and poorer areas [Adam Bemma/Al Jazeera]
    Liberal Publishing House has begun to distribute digital versions of their most popular books to help pay for the costs associated with publishing physical copies.

    ‘Pushing boundaries’


    Nguyen Quang A, 73, has been challenging state censorship under his SOS Squared Library for 20 years. He has published dozens of banned books in physical and e-book format and was the inspiration behind the Liberal Publishing House’s Samizdat operation.

    “I gave up printing paper books,” Quang A said. “My objective is not to be a hero fighting against the corrupt censorship system. It’s just to discuss ideas.”

    Ha said the feedback its Vietnamese readers give Liberal Publishing House reflects the hunger people have to know more about public policy in Vietnam.

    “I think Liberal Publishing House is pushing the boundaries,” said Dinh Thao, a 28-year-old activist living in Hanoi. “In the past, [Samizdat] publishers would rather print translated books, but now they publish books from Vietnamese authors inside the country. These are the kinds of books I like to read.”

    Bestselling copies of dissident author Pham Doan Trang’s latest books Politics of a Police State and Non Violent Protest sit on the table at Liberal Publishing House’s Samizdat printing facility.

    While Hong Kong’s protests have continued into their eighth month, books on the subject are scarce in Vietnamese. Liberal Publishing House’s next release will shine a light on anti-China protests in Hong Kong and those that took place inside Vietnam in June 2018 – the biggest protests since the end of the Vietnam War.

    “We’ve had a lot of interest from Vietnamese readers about the Hong Kong protests,” said Nguyen. “Our readers are coming from some of the most remote and poorest areas of the country.”

    SOURCE: AL JAZEERA NEWS

  • Thơ

    Mùa xuân vừa đến

    Mùa xuân vừa đến

    Mùa xuân hương vị ngọt ngào

    Hoa thơm cỏ lạ đón chào bình minh

    Tóc bay nhè nhẹ hương tình

    Má hồng môi thắm điểm xinh nụ cười

    Mai vàng hé nụ đẹp tươi

    Đào về trước ngõ lả lơi gọi mời

    Mưa bay lất phất giữa trời

    Long lanh hạt ngọc cho đời thêm duyên

    Mùa xuân đang đến trước hiên

    Môi em thắm đỏ cười hiền đón xuân

    Dặt dìu bước nhẹ bâng khuâng

    Niềm vui mơ ước xa gần thăm nhau.

    Mùa xuân hoa lá đổi màu

    Bướm vui bay lượn mở đầu ngày vui

    Bãi xuân én lượn sương mù

    Bước chân em nở cánh dù đầy hoa.

    Lê Tuấn

  • Tài liệu

    Hồi ký về gia đình Nguyễn Tường

    Hồi Ký về gia đình Nguyễn Tường

    Nguyễn Thị Thế

    (trích)

    Anh cả tôi tên Thụy, hồi có thai anh, mẹ tôi nằm mơ thấy có người đem đến cho một viên ngọc, nếu đặt tên Ngọc có vẻ con gái quá nên đặt là Thụy vì chữ Thụy có ẩn chữ Ngọc. Anh thứ hai tên Cẩm, thứ ba là Tam, anh thứ tư là Long, tôi thứ năm tên Thế, em thứ sáu tên Vinh, em thứ bẩy tên Bách. Thật sự tên anh em tôi không phải ngay từ lúc đầu đã đặt theo bộ chữ THỤY CẨM TAM LONG VINH BÁCH THẾ (Ba con rồng bằng gấm đẹp vinh hiển muôn đời) như một vài cuốn sách đã viết và coi như sự nổi tiếng của Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam là tiền định.

    NTT_2-content

    Ba anh tôi tên đã được đặt từ trước là Thụy, Cẩm, Tam, anh Tư tôi (Hoàng Đạo) đáng lẽ là Tứ nhưng có người bạn của thầy tôi là Tứ nên mới đặt là Tư và tôi là Năm. Rồi tới em Sáu (Thạch Lam) và em út là Bẩy. Sau này vì anh tư tôi không đủ tuổi đi thi anh mới đổi là Long. Còn tên tôi, em Sáu và em Bẩy là do anh TAM đổi nhân dịp em Sáu cũng vì lý do đổi tuổi để đi thi. Như vậy tuổi khai sinh của anh em nhà tôi không hoàn toàn đúng với tuổi thật. Năm đó tôi nhớ anh Tam đã viết “NHO PHONG” và tôi khoảng 14, 15 tuổi, bấy giờ anh Tam mới nghĩ tới việc đặt tên anh em chúng tôi theo bộ chữ trên. Tôi là con gái nên lấy chữ cuối. Thứ tự gia đình tôi theo đúng tuổi là anh Cả NGUYỄN TƯỜNG THỤY sau này làm Tổng giám đốc bưu điện sinh năm Quý Mão (1903), anh Hai NGUYỄN TƯỜNG CẨM, kỹ sư canh nông, Giám đốc báo NGÀY NAY sinh năm Giáp Thìn (1904), anh Tam NGUYỄN TƯỜNG TAM, Nhất Linh, Nhị Linh chủ trương TỰ LỰC VĂN ĐOÀN sinh năm Bính Ngọ (1905), anh Tư NGUYỄN TƯỜNG LONG, Tứ Ly, Hoàng Đạo trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn sinh năm Đinh Mùi (1907), tôi NGUYỄN THỊ THẾ sinh năm Kỷ Dậu (1909), em Sáu NGUYỄN TƯỜNG VINH (LÂN), Thạch Lam trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn sinh năm Canh Tuất (1910), em Bẩy NGUYỄN TƯỜNG BÁCH, Bác Sĩ, sinh năm Bính Thìn (1916).

    Riêng em Sáu tôi đổi tên tới hai lần. Lần thứ nhất đổi là Vinh, cũng vì lý do để đủ tuổi đi thi bằng thành chung. Tôi còn nhớ khi em Sáu thi đậu, Tú mỡ Hồ Trọng Hiếu có mừng em bài thơ tôi chỉ còn thuộc có 6 câu:

    Gửi lời mừng bác NGUYỄN TƯỜNG VINH

    Đáng bậc thần đồng bọn học sinh
    Năm trước vừa ăn kỳ tốt nghiệp
    Năm sau liền đỗ bậc chung thành
    Văn hay phúc ấm nhờ tiên tổ
    Cũng bởi công phu gắng học hành

    Lần đổi tên thứ hai là Lân. Tên này em tôi giữ cho tới khi chết. Sự đổi tên của anh em tôi là do ý kiến của anh Tam vì khi đổi tên tôi và các em Sáu, em Bảy thầy tôi mất đã lâu.

    Tôi không ngờ em Sáu có trí nhớ dai thế, như truyện em tôi tả hai chị em thức đợi chuyến tầu đêm qua rồi mới đi ngủ. Năm đó tôi mới có chín tuổi, em tôi lên tám mà mẹ tôi đã giao cho hai chị em tôi coi hàng. Cửa hàng chỉ bán có rượu, ít bánh khảo, thuốc lào, cốt để đưa khách quen vào trong nhà bà ngoại. Tối đến hai chị em phải ngủ lại để trông hàng. Hai chị em vì ở nhà quê đã lâu nên bạo dạn. Chủ nhà là hai bà cụ đã già tóc bạc phơ hình như hai người là bạn với nhau, đều không có con, tôi cũng không rõ là ở đâu tới. Một bà trẻ, khỏe mạnh hơn dọn hàng cơm cho khách ăn, thỉnh thoảng cũng có người lỡ tầu ngủ trọ lại. Hàng bà cụ rất sạch sẽ, món ăn cũng ngon. Những con cá chép rán vàng, rồi canh cá nấu măng chua, mấy cái chân giò luộc, trông thật thèm.

    Khách hàng là mấy ông lý ông chánh ở các làng xa xôi lên huyện có việc. Đông nhất là những ngày vào vụ thuế. Hồi đó thuế người thuế ruộng phải đem lên nộp cho quan, quan đem xuống tỉnh nộp cho công sứ. Hàng mẹ tôi dọn được ít lâu khách đã quen vào nhà trong rồi nên khỏi bán hàng ở ngoài nữa (xem truyện “Hai chị em” Thạch Lam đã viết lại đúng như sự thực).

    CÁI CHẾT CỦA THẠCH LAM

    Chú Sáu trông nom nhà báo được ít lâu bị yếu phổi phải nằm nhà dưỡng bệnh. Biết tính chú ưa tĩnh nên dù ở gần tôi cũng ít sang thăm.

    Một tết Trung Thu, chú mời tất cả các bạn thân đến ăn bánh thưởng trăng Tây Hồ. Anh em ai tới phải mang theo bánh, các bà không được tham dự. Thím Sáu và chị Song Kim vợ Thế Lữ rút vào nhà trong pha trà, cà phê. Tôi vì có cháu bé nên không sang được, Trung thu năm đó lại mưa bão không có trăng, các ông ngồi chật cả ba gian nhà. Sợ chủ nhân buồn, ông thì hát chèo cổ, ông thì hát trống quân, người thì ngâm thơ, kể cũng vui, không có cảnh trăng trong gió mát thì cảnh mưa bão hồ Tây cũng đẹp.

    Tết năm đó tôi cùng chú về quê ăn Tết. Hai mươi tháng chạp tôi thu xếp việc nhà cho các cháu về trước. Chú Sáu ba mươi Tết mới về, nhà ở giữa cánh đồng, tuy có lũy tre bao bọc nhưng vẫn lạnh thấu xương. Chú về tới nhà là phải quạt một hỏa lò than hồng để sưởi, trên chăn dưới nệm vậy mà chú vẫn kêu lạnh. Mẹ tôi kêu con trai gì mà yếu thế, chú nói tại mẹ khỏe nên không thấy lạnh, giá mẹ xây một cái lò sưởi có phải ấm nhà và vui vẻ bao nhiêu không.

    Sau mẹ tôi phải cho đốt một đống củi lớn ở giữa nhà, trải ổ rơm xung quanh ngồi đánh bất đợi giao thừa. Tôi phụ với mẹ tôi bầy cỗ cúng bàn thờ và cúng trời đất. Đúng mười hai giờ người nhà lên đánh trống lễ, đỉnh trầm khói hương nghi ngút, không khí đầy diễm ảo.

    Làm lễ xong cả nhà ngồi vào bàn để uống rượu mừng năm mới. Ai nấy im lặng, chú Sáu có vẻ buồn, lặng lẽ nhìn khói trầm, không ai nói câu nào như sợ tan vỡ một cái gì. Người nào cũng tưởng nhớ đến người ở xa vì Tết năm đó anh Tư còn bị giam ở Vụ Bản, anh Tam ở bên Tầu. Tết buồn, vắng, và cũng là cái Tết sau cùng của em Sáu tôi.

    Tết ra, em đau yếu luôn, vẫn về ở bên căn nhà bên hồ Tây. Mẹ tôi phải dời trại Cẩm Giàng đem theo một anh người nhà nữa để trông nom vì thím Sáu lúc đó đang có mang đứa con thứ ba. Mẹ tôi xem số tử vi cho chú ấy, nếu thím sanh con trai thì khó qua khỏi được. Vì vậy hôm báo tin sanh con trai, chú thở dài nói con trai mà làm gì. Đứa bé ra đời được ba ngày chú trở bệnh nặng. Mẹ tôi biết khó sống được nên lén lên nhà bảo sanh đón hai mẹ con về. Tôi bế thằng bé ra cho chú coi mặt. Chú liếc nhìn và khen trông nó khỏe đấy. Nó sau này là cháu Nguyễn Tường Giang.

    Sáng hôm sau sang thăm, thấy hai mắt chú sáng trong. Tôi ngồi xuống cái ghế cạnh giường, nắm tay chú, bàn tay ấm và mềm. Chú bảo chị đẩy em lên cao một tí để em nhìn thấy cây liễu, chú phàn nàn anh người nhà đem chặt đi mất một cành liễu rủ xuống làm mất đẹp. Tôi biết chú vốn quý cây liễu ấy lắm, nhưng không ngờ lúc đau ốm gần kề với cái chết mà vẫn còn để ý đến vẻ đẹp thiên nhiên, như vậy chú còn ham sống yêu đời lắm. Năm đó chú mới ba mươi ba tuổi. Có một hôm chú bảo tôi hôm nào em khỏi chị cho em ăn một bữa cơm nguội với dưa chua và cá kho, sao mà ngon thế. Chị có nhớ hôm đi chơi khuya về chị lấy cho em ăn đó. Em vẫn ao ước hôm nào khỏi lại được ăn như thế. Tôi cười bảo bây giờ chú ăn chưa chắc đã thấy ngon. Ăn ngon phải đúng lúc mình thật đói và trong người khỏe mạnh mới ngon được.

    Từ hôm bệnh trở nặng, chú Bách (tên chú Bẩy) thường ở luôn bên cạnh anh. Chú Sáu đang nằm tự nhiên bảo đỡ ngồi dậy. Mọi người đưa mắt nhìn nhau. Thím Sáu ở trong buồng chạy ra ngồi đỡ một bên. Mẹ tôi ngồi một bên. Thấy thím khóc, chú bảo tôi đã chết đâu mà khóc. Hai anh em nói tiếng Pháp với nhau, tôi thấy chú Bách bỏ ra cửa, chú Sáu gọi “Bách, Bách”, chú Bách chỉ quay đầu lại thôi chứ không trở lại, tôi chực gọi thì thấy hai hàng nước mắt chú tuôn rơi, lúc đó tôi mới hiểu. Nhìn lại thấy chú Sáu duỗi hai chân thẳng ra. Thế là đi luôn.

    Tiếng khóc của mẹ tôi, của thím Sáu cùng nổi lên một lượt, riêng tôi vẫn còn hoang mang, không thể ngờ chú còn tỉnh táo như vậy mà cái chết đã đến quá mau chóng. Người khóc nhiều nhất là chú Bách, từ nhỏ tới giờ không bao giờ thấy chú khóc nhiều như vậy. Có lẽ vì đã học năm thứ năm trường thuốc nên biết lúc đó là lúc anh mình phải chết mà mình bất lực không làm gì được.

    Tết năm đó (1942) chỉ còn có hai anh em về ăn Tết. Chú cũng đã yếu rồi nên thím Sáu đã phải đốt một lò than hồng để đón chú, mà chú cũng còn kêu: “Rét quá, giá mẹ xây lò sưởi có phải ấm không”. Đêm giao thừa phải đốt một đống củi ở buồng hai gian nhà ngang vải chung quanh trại ổ rơm mà chú vẫn kêu lạnh. Tất cả ngồi quây quần đánh bất để đợi Giao Thừa, năm đó tiết trời cũng giá buốt nên thay vì cúng và ăn ngoài sân, cả gia đình đều vào phòng khách. Đúng Giao Thừa, chú bảo đốt trầm lên và đem rượu ra uống mừng Xuân. Rượu rót ra rồi ai nấy đều thấy chú ngồi im lặng lẽ, khói trầm mờ ảo, tất cả tự nhiên đều im lặng, mỗi người hoài niệm một nỗi niềm riêng tư. Vắng mấy anh như là vắng tất cả. Xuân này mỗi anh mỗi phương, người góc bể, kẻ chốn rừng sâu, chắc giờ này cũng đương hướng cả tâm hồn về với nhau. Anh em sum họp đã bao cái Tết vui vẻ, nay như chim lìa đàn, con bay về phương Bắc, con về phương Nam, cách biệt từ nay mấy dặm ngàn.

    Sau cái Tết đó là chú Sáu bắt đầu yếu. Hôm chú sang chơi nhà anh Thế Lữ rồi qua tới thấy tôi đốt lò sưởi, chú thích quá. Chú nói bên hồ năm nay lạnh quá, chú chịu không nổi. Tôi mời chú qua đây ở, tôi sẽ nhường chú căn phòng khách có lò sưởi cho ấm chứ nhà tôi có tiếp khách nào đâu. Nói rồi, tôi thấy nét mặt chú buồn buồn. Lúc tiễn chú ra cổng, thấy thân hình chú mặc cái áo cẳng dài, người mảnh và cao, chân bước đi như gió thoảng trên mặt đê, lòng tôi tự nhiên thấy buồn nhưng cũng không rõ vì sao. Không thấy chú sang, có lẽ chú sợ phiền vì đã hai lần chị đã nhường cho nhà rồi, vả lại đời sống chú cũng khó khăn, sang đây sợ thiếu phương tiện.

    Chú đã yếu nhiều nên tính nết cũng khó khăn, thích yên tĩnh nên tôi có sang thăm chú phải bảo mấy cháu chơi ở ngoài hoặc ra cây đa, hoặc sang sân đình vì chú không ưa trẻ con. Tôi còn nhớ lần đó sang chơi, thấy chú đương ăn cơm, chú mời tôi ăn với chú một thể nhưng tôi đã ăn rồi, chú mới hỏi mấy cháu có qua với tôi không. Tôi bảo: “Chúng nó sợ chú nên ở chơi ngoài sân đình rồi”. Chú bèn nói gọi hết mấy cháu vào đây. Tôi và thím Sáu đều nhìn nhau lấy làm lạ vì đã có lần chú cấm tôi có sang thì để lũ trẻ con ở lại nhà. Thế mà hôm nay chú lại vui vẻ gọi các cháu vào, nào là bắt ăn rồi lại mở tủ sách của chú mà xưa nay các cháu thích lắm nhưng chẳng bao giờ dám mó vào, bây giờ muốn đọc thì tha hồ đọc. Lúc về chú lại cho mượn đem về, hẹn phải giữ cẩn thận rồi đem qua chú đổi cho quyển khác.

    Tôi thấy chú cười nói tôi cũng mừng, hay là chú đã hết bệnh rồi nên chú thay đổi tính nết. Ai ngờ là gở chết, vì theo như các cụ nói thì người đương dễ tính sẽ đổi ra khó, còn người đương khó tính sẽ đổi ra dễ, đó là điềm gở. Được vài tháng sau là chú đau liệt giường luôn, không tới tòa báo được nữa. Chú Bách cũng hằng ngày xuống chích thuốc cho chú, nhưng cũng vô hiệu và chú đã lao phổi nặng rồi. Mẹ tôi cũng từ dưới trại lên để trông nom chú và người bếp già vì thím ấy đã gần ngày sanh. Chú gầy quá lại kêu đau mình, nên mẹ tôi cho mang cả giường lò xo lên cho chú nằm cho êm. Thuốc men ăn uống cũng chả thấy đỡ, bệnh chú càng ngày càng nặng, chú Bách chích đủ các loại thuốc tốt nhưng cũng đành bó tay thôi.

    Mẹ tôi đi coi số cho chú ấy nói nếu có hai con trai thì là tận số. Hôm thím ấy sanh, nói con trai, chú chỉ thở dài nói lại con trai. Mẹ tôi thấy chú phù hai chân biết là khó qua khỏi, nên thím ấy sanh mới được có ba ngày là cho đón về lúc buổi sáng mười giờ. Bế thằng bé con ra cho chú coi mặt, chú bảo trông nó khỏe mạnh đấy. Tôi bắc ghế ngồi bên chú, chú bảo chị cho cái gối cao lên để em ngắm liễu, hôm nọ nó chặt mất cành thấp rũ xuống, em tiếc quá. Xong chú nói em nhớ bữa cơm nguội mà hôm em đi chơi về, chị cho em ăn với cá kho và dưa chua, sao mà ngon thế, hôm nào em khỏi chị lại cho em ăn như thế. Tôi cười nói đúng đó chú ạ, mình chỉ ăn ngon vào đúng lúc mình đói thì bữa cơm đó không có gì ăn cũng ngon, chú nhỉ. Chú lại hỏi sắp đến mùa na chưa, em thèm ăn na quá. Tôi bảo tháng sáu hoặc tháng bảy chú ạ. Chú chỉ ao ước một bộ đồ lụa mỏng vải cúc áo dài lụa thì Mẹ tôi đã may cho chú để mặc cho mát và nhẹ. Còn các thứ trái cây thì chú thích nhất là na, xoài, dưa tây ướp đá.

    Có lần chú Bách đưa cho tôi mấy miếng dưa tây hoặc mấy miếng xoài, thế là quý chị lắm đó. Hai chị em cứ nói chuyện vẩn vơ như vậy, đâu có ngờ đến 12 giờ tôi về bên nhà ăn cơm, vừa ăn xong thì hai vợ chồng tôi sang cùng đứng cả bên giường. Chú bảo đỡ chú ngồi lên, anh người nhà một bên, mẹ tôi một bên, sau là thím Sáu. Thấy chú nói tiếng Pháp với chú Bách, thím Sáu khóc thì chú bảo tôi không chết đâu mà khóc. Chú Bách bỏ bước ra cửa, chú ấy gọi Bách, Bách rất rõ mà chú ấy không quay lại. Tôi và mẹ tôi đều kêu chú Bách, anh gọi này. Chú không quay vào chỉ ngoảnh mặt lại thôi, tôi thấy chú khóc. Tôi chưa từng thấy chú khóc bao giờ. Tôi thấy chú Sáu duỗi hai chân ra, thế là đi luôn, anh người nhà vội đặt chú nằm xuống.

    Tôi sửng sốt không ngờ, chỉ có chú Bách và Mẹ tôi là biết rõ thôi. Chú đã học thuốc và đã từng chứng kiến nhiều nên chú không dám quay lại khi thấy mình bó tay không sao ngăn được thần chết. Chú lại là người khóc nhiều hơn ai hết, tôi còn phải đi lo báo cho mọi người biết. Mẹ tôi đứng lên lo hết ma chay cho chú xong, mẹ tôi lại trở về trại Cẩm Giàng. Còn nhà báo thì ai trông nom sau khi chú Sáu mất, tôi cũng chả rõ. Gần một năm sau thì anh Long và ông Khái Hưng về trông nom tờ báo. Năm đó cũng là năm Nhật hay sang bỏ bom, mọi người sợ hãi hay chạy về nhà quê và nhà nào cũng đào hầm để trú ẩn. Bên mấy mẹ con thím Sáu thì mẹ tôi đón về trại ở rồi, chứ ở trên này thì lấy gì sống.

    (Văn hóa Ngày Nay tái bản 1996)

  • Tin VN

    Họa sĩ Hoài Nam qua đời

    Họa sĩ Hoài Nam qua đời: Con ngựa già đã tìm về đồng cỏ

    Họa sĩ thiết kế sân khấu Hoài Nam – Ảnh: Tư liệu

    Nghệ sĩ Hoài Nam – người họa sĩ tiên phong của ngành thiết kế mỹ thuật sân khấu cải lương miền Nam và đã cống hiến trọn vẹn – suốt đời cho đam mê nghệ thuật này đã qua đời ở tuổi 90 ở Viện dưỡng lão nghệ sĩ TP.HCM.

    Sáng nay (7.1.2020) lướt Facebook, mới hay tin họa sĩ Hoài Nam đã từ trần lúc 4 giờ sáng nay tại Khu dưỡng lão nghệ sĩ (đường Âu Dương Lân, Q.8, TP.HCM), thấy hồn xốn xang, và chắc chắn rằng nhiều “cựu cư dân” của “Tám Mốt-Trần Quốc Thảo”: Thiên Hà, Trương Đạm Thủy, Lê Hồng Thái, Bùi Công Doanh, Tăng Bình, Trần Lượng… cũng sẽ bồi hồi với cái tin ông mất…

    Nhớ khoảng 20 năm về trước, khi tôi là “đại sứ thường trực” ở Quán Nghệ sĩ (81, Trần Quốc Thảo, Q.3), thỉnh thoảng vẫn thấy ông xuất hiện ở đây: Dáng người mảnh khảnh, tóc dài, cặp mắt sâu sau đôi kính lão, đôi má hóp sâu… Ông ngồi uống bia với bạn bè nhưng rất kiệm lời, chỉ thỉnh thoảng nở nụ cười thật hiền. Anh em giới thiệu với tôi: “Họa sĩ Hoài Nam – chuyên thiết kế cho các sân khấu cải lương”.

    Từ đó, tôi thường được ngồi “hầu bia” với ông cùng với nhà văn Dương Hà (tác giả tiểu thuyết Bên Dòng Sông Trẹm), nhà thơ-soạn giả Kiên Giang-Hà Huy Hà và nhóm anh em đã kể ở trên. Tôi đã chụp ông khá nhiều bức ảnh vẫn còn lưu file ở đâu đó mà nhất thời chưa tìm lại được. Lúc đó, ông đã “giã từ vũ khí” và đã về nương thân ở Khu dưỡng lão nghệ sĩ bởi ông thuộc dạng “tứ cố vô thân”, chưa từng có vợ nên cũng chẳng có con cái để làm chỗ dựa lúc tuổi xế chiều…

    Họa sĩ Hoài Nam và tác phẩm – Ảnh: Tư liệu

    Họa sĩ Hoài Nam tên thật là Bùi Hoài Nam, ông sinh năm 1930 trong một gia đình điền chủ tại Thủ Thừa (Long An), 15 tuổi “công tử Thủ Thừa” bỏ nhà đi theo kháng chiến, một năm sau trở về thì… nhà cửa ruộng đất mất sạch. 17 tuổi, Hoài Nam lên Sài Gòn học Trường vẽ Gia Định, đồng thời ghi danh học Trường Âm nhạc Sài Gòn. Tuy nhiên, vốn tính lãng tử, cả 2 môn học này ông đều bỏ ngang khi sắp tốt nghiệp. Lúc đó, Hoài Nam chơi thân với con trai của nghệ sĩ cải lương kiêm bầu gánh Năm Châu. Vậy là lân la với nghề trang trí sân khấu.

    Thoạt đầu là phụ việc cho các họa sĩ đàn anh, dần dần trở thành họa sĩ chính, nổi tiếng đến nỗi gánh hát nào cũng muốn nhờ ông trang trí. Nghe kể rằng chính ông là người đã làm một cuộc cách mạng: Đưa việc thiết kế phông màn sân khấu từ đình chợ đơn giản ra rạp hát hoành tráng. Sau này (từ năm 1958) ông còn là họa sĩ thiết kế hình ảnh cho các bộ phim: Xa lộ không đèn, Bàn thờ tổ của cô đào, Nghêu Sò Ốc Hến, Hồi chuông Thiên Mụ…

    Trước 1975, ông thuê một căn nhà ở cuối đường số 2 Làng báo chí Thủ Đức. “Trong nhà không một cái ghế ,cái bếp hay những vật dụng sinh hoạt tối thiểu của một gia đình, nói chung như một cái nhà hoang vậy… Nhưng trong nhà có rất nhiều những hũ rượu thuốc mà ông đi đây đi đó mang về và sách thì chất đầy nhà với những sách tiếng Hán, hay những bộ truyện Kim Dung mới xuất bản ở Sài Gòn thời đó, cùng với báo chí hay những giá vẽ, tranh vẽ dở dang v.v… (chi tiết này của Bùi Công Doanh, người ở cùng Làng Báo chí Thủ Đức với ông). Mỗi lần có đoàn hát đặt hàng là ông đóng cửa đi vẽ suốt tháng.

    Dạo ấy, thu nhập của ông phải nói là “xu hào rủng rỉnh” nên ông rất hào phóng với bạn bè thân hữu. Cũng dễ hiểu vì ông không vướng bận vợ con. Thực ra hồi ấy ông là một họa sĩ tài hoa, làm ra tiền, lại đẹp trai với dáng người dong dỏng cao nên thiếu gì cô đào hát xinh đẹp hoặc những cô gái hâm mộ sẵn sàng tình nguyện “nâng khăn sửa túi”, Trước năm 1954, ông cũng đã từng yêu một cô gái, tính chuyện cưới xin nhưng rồi cô ấy trở mặt, bỏ ông để lấy một anh lính Tây, từ đó ông “tắt lửa lòng”. Một điều nữa khiến ông không tha thiết gì chuyện vợ con là bởi ông từng chứng kiến cha mẹ chết sớm, rồi lần lượt 7 người anh em ruột của ông qua đời mà không ai qua khỏi tuổi 40. Ông tự nhủ: “chắc mình cũng không qua khỏi cái ngưỡng ấy. Thôi, vợ con làm gì, thêm khổ cho người ta !” (vậy mà ông sống ngót…90 tuổi mới lạ!).

    Sau hơn 60 năm làm việc cho các đoàn sân khấu, ông về nương thân ở Khu dưỡng lão nghệ sĩ (quận 8), viết bộ sách Giải mã Hán – Việt – Nôm theo phương pháp họa tự và sáng tác thơ. Việc nghiên cứu chữ Hán cũng là một đam mê song song với hội họa. Ông kể rằng, dạo còn phiêu bạt ở tuổi thanh niên, ông được học chữ Hán với một ông chủ tiệm thuốc bắc người Hoa ở Vũng Tàu. Bộ sách Giải mã Hán – Việt – Nôm theo phương pháp họa tự đã được NXB Trẻ in tập 1 (tập 2 đang dang dở thì ông mất).

    Còn về thơ, thú thực chơi với ông cũng khá lâu, cũng từng nhiều lần ngồi nghe ông nói chuyện nhưng tuyệt nhiên tôi cũng như bạn bè quanh ông chưa bao giờ nghe ông “đụng chạm” gì tới thơ văn cả. Vậy mà mới đây nhà thơ Trương Đạm Thủy tiết lộ (trích: “Mới đây gặp lại anh với nụ cười móm xọm của tuổi U.80, anh trao tôi món quà là kết quả của những đêm già khó ngủ. Đó là tác phẩm tập photo bản thảo thơ 7 cuốn gồm: 1/Ngũ Âm, 2/Thơ Đường Phố, 3/Túy thi,, 4/Tình thi, 5/Lãng Thi, 6/ Thủy mặc thi, 7/Điền dã thi..; Chưa bao giờ tôi nghĩ Hoài Nam lại có một tâm hồn thơ nồng nàn đến vậy. Anh lại còn tỏ ra có tay nghề với một dòng thơ vừa hiện đại lại vừa u hoài cổ phong như trong Đêm:

    Sao đêm trùm chăn lạnh

    Lã đời nhẹ ý xanh

    Tơ thơ mơ bỡ ngỡ

    Vương vương lệ đầu cành…

    Trong tập ”Thơ Đường phố” Hoài Nam tự nhận mình như con ngựa hoang dù đã đi gần hết cả đời người mà vẫn hoài lang thang đơn độc. Anh viết :

    Anh là con ngựa hoang

    Nên không có đồng cỏ

    Em là con yến nhỏ

    Chỉ hát trong lồng son

    Ngựa hoang không biết hát

    Chỉ thống hí lê thê

    Một dòng đời ê chề

    Nên ngôn ngữ xa anh… (hết trích).

    Vậy đó, con ngựa già giờ đã khuỵu vó. Xin cuộc đời là đồng cỏ thanh bình để ông tìm về an nghỉ. Cuộc sống riêng của ông dẫu có cô đơn nhưng ông vẫn hiện diện một cách thật nồng ấm trong trái tim bạn bè và người mộ điệu…

    Xin vĩnh biệt ông: Người họa sĩ tiên phong của ngành thiết kế mỹ thuật sân khấu cải lương miền Nam và đã cống hiến trọn vẹn – suốt đời cho đam mê nghệ thuật này.

    Hà Đình Nguyên

    Một số tranh của họa sĩ Tô Hoài Nam:

    Cúc trắng

    Cúc và nho

    Cúc và táo

    Đường hoa

    Cuối xuân

    Mùa hè

    Cuối hè

    Cuối thu 

    Lập đông

    Giữa mùa đông

    Nắng chiều trên đồng vàng

    Bóng núi 

    Núi

    Sườn núi

    Xa lộ qua núi

    Vô biên

    Xưa và nay