• Thơ

    Mùa Đông về gõ cửa – thơ

    Mùa Đông về gõ cửa

    Lê Tuấn

    Image result for budapest winter

    Thành phố Budapest nằm trên giòng sông Danube.

     

    Related image

    Budapest là tên gọi của hai thành phố nằm hai bờ sông kết nối lại với cây cầu thật đẹp, một bên là thành phố Buda và bên kia là thành phố Pest, từ đó gọi chung là Budapest. Nghệ thuật điêu khắc và những tác phẩm hội họa cũng như âm nhạc thật tuyệt vời, về âm nhạc nổi tiếng là ca khúc (Chủ Nhật Buồn) Szomorú Vasárnaptiếng AnhGloomy Sunday) là một bài hát do nhạc sĩ dương cầm người Hungary tên Rezso Seress sáng tác để diễn tả tâm trạng thất tình của mình. Nhưng Seress không ngờ rằng bài hát của ông bị “kết tội” là nguyên nhân làm cho hàng trăm người tự tử. Vì thế, nó được mệnh danh là “Bài hát thần chết”. Nó còn được biết đến dưới cái tên “Bài ca tự sát Hungary” (tiếng Anh: Hungarian Suicide Song).

    Phạm Duy đã viết lời tiếng Việt cho bài hát này và cũng lấy tên “Chủ nhật buồn”.

    Tôi cũng ngẫu hứng viết bài thơ “Mùa đông về gõ cửa”

     

    Ở quanh đây sương khói tỏa mờ hơi
    Bao tàn phai nhan sắc giữa đất trời
    Em là gió, mùa đông về gõ cửa
    Hoa tuyết bay nhè nhẹ trắng muôn nơi.

    Bên cửa sổ bóng mờ sương phủ trắng
    Mịt mờ xa ẩn hiện một bóng trăng
    Em kịp đến mang cho đời ngọn lửa
    Đốt hồng lên tan chảy lớp tuyết băng.

    Ở quanh đây còn đọng chút mộng mơ
    Mắt em buồn phảng phất nét ngây thơ
    Trời đông đá, hồn ta không băng giá
    Bởi vì em, sưởi ấm cả vần thơ.

     

     

  • Thơ

    Có Những Bàn Tay – thơ

    Có Những Bàn Tay

    Sông Lô Lê Nam Sơn

     

    Image result for hands image

    Có những bàn tay vội nắm rồi buông

    Và cũng chẳng bao giờ còn nhớ lại

    Cũng có bàn tay nắm rồi nhớ mãi

    Dẫu tháng năm dài, dài đến không thôi

    Bàn tay nào mình nắm buổi đầu đời

    Chuyền cả yêu thương chở che kỳ lạ

    Bàn tay thiết thân bàn tay của mẹ

    Dắt mình đi bằng những bước tin yêu

    Mình trở về quê thăm mẹ một chiều

    Lấy chồng xứ xa tháng ngày hối hả

    Ngủ bên mẹ trong khuya đều nhịp thở

    Cầm bàn tay của mẹ ép vào lòng

    Mà thương sao tình mẹ quá mênh mông

    Những dấu chai trên bàn tay gầy guộc

    Dấu vết tảo tần một đời khổ nhọc

    Để cho con lớn dậy ngày hôm nay

    Bất chợt có bàn tay người con trai

    Mình cứ ngỡ sẽ trọn đời nắm lấy

    Ơi đôi bàn tay yêu sao đến vậy

    Ơi đôi bàn tay của mối tình đầu

    Nhưng rồi cũng chẳng thể đến dài lâu

    Cũng đã lơi dần rồi không nắm nữa

    Bàn tay ấy vội quên lời đã hứa

    Mặc riêng mình buồn một đến buồn hai

    Đôi khi nhủ lòng chẳng để một ai

    Nắm tay mình như tình đầu ấy nữa

    Vội vàng nói yêu, ngọt ngào lời hứa

    Rồi bổng nhiên hờ hững đến nhạt phai

    Nhưng rồi bỗng dưng có người con trai

    Cầm đôi tay mình ngỏ lời hỏi cưới

    Dấu chai cứng trên đôi bàn tay ấy

    Cảm giác khiến mình thương mẹ làm sao

    Nhìn thẳng mình chẳng ngần ngại chút nào

    Người ấy mạnh dạn nói điều rất thật

    Bàn tay này từng nghèo hèn lay lất

    Từng lớn lên bằng gánh nặng mưu sinh

    Lời của anh mộc mạc đến chân tình

    Nhìn thẳng mặt mình không hề áy náy

    Siết chặt thêm bằng niềm tin yêu ấy

    Hãy vững tâm mà nắm lấy đi em

    Cuối cùng chẳng ngại ngùng để trao duyên

    Nhận lời cầu hôn anh trao nhẫn cưới

    Anh lau nước mắt đưa về nhà mới

    Mình cùng với anh lập mái gia đình

    Đường đời có bằng phẳng có chông chênh

    Đan xen những lo toan và hạnh phúc

    Đôi bàn tay vẫn chai lì cứng cáp

    Dắt mình qua bao tháng rộng năm dài

    Rồi thời gian mình mang nặng hình hài

    Cho ra đời một sinh linh bé bỏng

    Nhẹ nhàng chạm đôi bàn tay đỏ hỏn

    Ôi thiêng liêng tình mẫu tử ngập lòng

    Để biết rằng mình thực sự trưởng thành

    Mà tin tưởng mình sẽ thêm mạnh mẽ

    Mình có thể vì con mà che chở

    Dắt con về phía trước rộng thênh thang

    Những đêm nằm cầm lấy tay con

    Đặt nhẹ lên môi nụ hôn của mẹ

    Chợt nghĩ về thuở xa xưa còn bé

    Mẹ đã thương mình như mình thương con

    Rồi một ngày con gái sẽ lớn khôn

    Lại đặt bàn tay vào bàn tay khác

    Mong đúng người để mà tin, mà gặp

    Để tay con không thể bị buông lơi

    Mình vẫn nhớ xưa khi ông qua đời

    Bà cầm tay ông khóc thương thảm thiết

    Kể lể về những ngày còn trẻ đẹp

    Thế mà tay ông giờ lạnh ngắt rồi

    Lẽ dĩ nhiên chẳng cưỡng được mệnh trời

    Ai rồi cũng sẽ trở về với đất

    Người ra đi trong ồn ào than khóc

    Kẻ lìa đời trong lạnh lẽo cô đơn

    Người ra đi trả hết nợ trần gian

    Kẻ ở lại với bao điều thương tiếc

    Dẫu biết không thể nào giữ lại được

    Bằng tiếc thương bằng lệ đẫm tội tình

    Thỉnh thoảng mình vẫn đưa bàn tay mình

    Lên trước mặt hỏi câu chồng từng hỏi

    Bàn tay này đã bao lần nắm vội

    Những tay nào? có còn nhớ không em?

    Có cái nắm tay buông rồi là quên

    Cũng có cái nắm khiến mình nhớ mãi

    Và đã lâu rồi chẳng hề nhớ lại

    Cái nắm tay xưa của mối tình đầu

    Chợt biết rằng bàn tay đẹp là đâu

    Không là bàn tay vội vàng mềm mại

    Mà là bàn tay để mình nắm mãi

    Được chìa ra bằng cả tấm lòng thành

    Cùng nắm tay qua những bước chông chênh

    Dẫu mỏi mệt cũng không hề buông bỏ

    Xin hãy trân trọng những bàn tay đó

    Bàn tay chân tình, bàn tay tin yêu

    Đời lắm rủi ro bất trắc cũng nhiều

    Nào biết được ai sẽ còn sẽ mất

    Khi tay này vẫn còn đang ấm áp

    Mà tay kia thì đã lạnh ngắt rồi

    Nếu khi sống không đem đến niềm vui

    Không đem đến cho nhau tình ấm áp

    Thì khi xa lìa cuộc trần trước mặt

    Dẫu tiếc thương cũng chẳng ý nghĩa gì

  • Thơ

    Mày Lại Về “Ăn Tết!”

    Mày Lại Về “Ăn Tết!”

    (Mượn lời người còn kẹt lại VN nói với đứa bạn đã từng vượt biên và đã từng mang danh “tỵ nạn”)

     

    Giang san đã bán cho Tàu,

    Người về “ăn Tết” có đau tấc lòng?

    Tao mới biết mày luôn về “ăn Tết”,

    Nhưng mày hằng trốn biệt chẳng tìm tao,

    Vì ngại tao túm áo hỏi tại sao

    Mày không nghĩ đến đồng bào đất nước.

    Hãy nhớ lại vài chục năm về trước,

    Khi Việt nam vừa được Mỹ bang giao,

    Mày đã quên lời thề thốt đêm nao,

    Vội lén lút xé rào về “ăn Tết”.

    Tao bắt gặp, mày bèn thề sống chết,

    Rằng về đây, cương quyết chỉ một lần,

    Mục đích là để thăm viếng người thân,

    Và cải táng mộ phần cho bố mẹ.

    Nhìn mắt mày rưng lệ,

    Tao phân vân rồi khe khẽ mủi lòng,

    Thầm nghĩ ai chưa quên hẳn giống dòng,

    Ắt còn có chút gì không đến nỗi.

    Sau lần đó, mỗi thằng đi một lối,

    Tưởng mày đà biết nghĩ tới quê cha,

    Có ngờ đâu những lời nói thiết tha

    Ngày xưa đó hóa ra là láo hết.

    Tao đau lòng được biết,

    Bấy lâu nay, hễ Tết đến Xuân về,

    Mày hầu bao rủng rỉnh ghé “thăm quê”,

    Lo đàn đúm hả hê không biết mệt.

    Tao nghe nói, có năm gần trước Tết,

    Mày lên đồ lính trận thiệt oai phong,

    Xuống Bolsa, hùng dũng giữa đám đông,

    Hô chống Cộng, trông vô cùng lẫm liệt.

    Nhưng sau đó, khi Sài Gòn đón Tết,

    Bỗng có mày về lê lết ăn chơi,

    Sáng la cà, chiều du hí khắp nơi,

    Thỉnh thoảng lại giở trò chơi “từ thiện”..

    Đám bè bạn xưa theo mày vượt biển,

    Đã lắm thằng giờ hiện ở nơi đây,

    Cùng mày luôn họp thành lũ thành bầy,

    Đêm trác táng, ngày no say “thoải mái”.

    Tao nhớ mãi, lần đầu mày trở lại,

    Mày vẫn còn ái ngại một vài phân,

    Nhưng ngày nay mày ắt đã quen dần

    Nên mặt mũi càng câng câng vênh váo,

    Khác hẳn lúc năm xưa mày đã bảo,

    Chỉ về đây để báo hiếu mẹ cha,

    Nhân tiện thăm bè bạn với thăm nhà,

    Trước khi phải rời xa quê mãi mãi.

    Mày xui xẻo giờ bị tao gặp phải,

    Chẳng sượng sùng, còn lải nhải biện minh,

    Nào đi xa nên nhớ quá quê mình,

    Nào tiếng gọi gia đình không dám cãi!

    Mày có biết khi xênh xang trở lại,

    Mày vô tình đã làm hại quê hương,

    Đã góp phần nuôi dưỡng bọn bất lương,

    Đưa đất nước vào con đường hủy diệt.

    Chuyện quá khứ mày đà quên hết tiệt,

    Quên vợ con mày chết ở Biển Đông,

    Quên những ngày trại tỵ nạn long đong

    Khúm núm sợ phật lòng thằng gác Thái.

    Tao chỉ hỏi lần này rồi mãi mãi

    Quyết sẽ không gặp lại bản mặt mày,

    Đứa chối từ thân phận để về đây

    Đạp lên nỗi đắng cay toàn dân Việt.

    Mày có thấy thường dân bị đánh giết,

    Khách trên đường chỉ liếc mắt rồi thôi,

    Vẫn thản nhiên, vẫn phớt tỉnh nói cười,

    Nhân tính của người thời nay thế đó!

    Mày có thấy bầy công an cán bộ

    Bắt con dân yêu nước bỏ vô tù,

    Bao nhà nông tài sản bị tịch thu

    Chỉ còn biết ngậm căm thù, nuốt lệ?

    Mày có thấy đám đầu xanh tuổi trẻ,

    Trai rạc rài chẳng kể đến ngày mai,

    Gái bán rao trinh tiết tận nước ngoài?

    Đấy, hy vọng cùng tương lai nước Việt!

    Mày có thấy năm nay về “ăn Tết”,

    Bắc đến Nam, nhốn nháo Chệt đầy đường,

    Trong lòng mày có thoáng chút buồn thương

    Cho vận mệnh của quê hương đất nước?

    Hay mày vẫn còn vênh vang như trước,

    Kệ quê nhà, miễn mày được vui chơi,

    Được rượu chè cùng trai gái thảnh thơi,

    Mặc nước mất vào tay người dị tộc?

    x

    x x

     

    Thêm một lần Bắc thuộc,

    Leo lét buồn ánh đuốc giữa đêm đen.

                   Trần Văn Lương

                      Cali, 1/2019

  • Tài liệu

    Trở lại Hong Kong

    Trở lại Hong Kong

    Đỗ Thành Công

    Sau gần 38 năm, chúng tôi trở lại thăm Hong Kong.

     

     

    Hành trình tìm lại kỷ niệm của những ngày ở Trại Tỵ Nạn, năm 1981 và 1982, trở về đầy ấp những khoảng khắc của quá khứ.

    Trại Jubilee Transit Center đã biến thành một Trung tâm buôn bán “Cheung Sha Wan Wholesale Food Market”, không còn dấu vết gì của một nơi từng chứa hơn 8,000 thuyền nhân Việt Nam. Cái sân chúng tôi nhận cơm mỗi ngày đã là nơi chứa đồ. Riêng Trại Argyler 4, trở thành bệnh viện, gọi là Hospital Authority Building. Trại này, là nơi chúng tôi từng học Anh Văn, đi làm nhân công trong các hãng xưởng Hong Kong, mỗi giờ được trả 5 đồng, gần bằng 1 đollar Mỹ. Những người không có việc thì thỉnh thoảng đi đóng phim. Các hãng phim Hong Kong cần nhiều người giã làm dân, đi qua đi lại trong phim trường. Vì vậy họ cứ đem xe buýt đến trại, chở vài chục người đi vô phim trường vài tiếng rồi đưa về lại trại, đóng bao tiếng thì trả bấy nhiêu tiền.

    Có lúc trại Argyler đánh lộn với trại khác. Hôm 30/4/1982, không biết tin ra sao mà vừa đi làm về đã thấy tình hình trong trại sôi sục. Nào là bên trại Kai Tắc họ tổ chức ăn mừng, vì trại này gần như dành riêng cho những thuyền nhân đến từ miền Bắc. Thế là dao phay, dao làm cá, gậy sắt v. v… được dấu diếm chuyền tay nhau, chờ tối thì đi xe buýt, bất ngờ nhập trại Kai Tắc để tấn công. Sáng hôm sau, cảnh sát Hong Kong vào Trại truy lùng, bắt đi một số người họ nghi có liên quan. Nhiều người bị từ chối đi định cư cũng vì dính líu vào những vụ việc này.

     

    Những cánh hải âu chờ đợi gió

    chiếc buồm run rẩy giữa cơn mưa

    có tiếng khóc cười trần gian thế

    ta bỏ cha ông để lưu vong

    Em đến từ đất trời giá lạnh

    xác ai trôi khuất nẻo đường đời

    Tự do ôi máu xương ta trả

    quê hương sao nỡ chạy xa xôi

     

    Đứng trên cao, nhìn xuống bến phà nơi cảnh sát Hong Kong chở chúng tôi nhập trại Jubilee năm 1981, 92 thuyền nhân, vừa được Tàu dầu Panama vớt ngoài biển Đông. Tôi nhớ lại khoảng khắc của lúc gần 38 năm về trước và những toà nhà nơi chúng tôi từng ở. Tất cả giờ biến mất, chỉ còn lại cái bến phà như một kỷ vật, và những thuyền nhân từ bỏ cha ông để lưu vong của năm xưa.

     

  • Tạp ghi

    Đất Lành

    Đất Lành

    Tưởng Năng Tiến

    image001_49.jpg

    Đất lành chim đậu.Thành ngữ VN

    Tôi thấy lũ trẻ “phượt” ào ào nên cũng vội vã phóng theo (chớ ở nhà hoài buồn chết mẹ) dù chả có chút ý niệm gì, về những nẻo đường sắp tới.

    Đi đâu đây cà?

    Ngần ngừ chút xíu rồi tôi quyết định là mình nên khởi sự bằng cách trở lại một chốn đã quen – Thái Lan – nơi mà tôi bắt đầu cuộc đời tị nạn, gần bốn mươi năm trước!

    Vì không biết rằng tiếng anh có từ ngữ “guest house” nên tôi gu gồ (đại) “bangkok hotel” và tìm ra một cái khách sạn, ở giữa thủ đô, với giá 40 U.S.A dollar mỗi ngày. Kể cũng chả mắc mỏ gì, nếu so với loại phòng bình dân ở California.

    Ngủ qua đêm, sáng hôm sau đi lơn tơn mới thấy trên cùng một dẫy phố nhưng có rất nhiều nhà trọ mà chỉ phải trả 18 Mỹ Kim hà. Thế là tôi lật đật xách ba lô, chạy sang chỗ mới.

    Qua đêm sau nữa, tôi “khám phá” ra rằng không chỉ ở mặt tiền mà trong những con hẻm (lủa tủa) hai bên cũng có cả đống guest house. Giá cả, tất nhiên, nhẹ nhàng hơn thấy rõ: mười hai đô la chẵn. Còn nếu “chịu” ở chung (ở dorm) với vài ba mạng nữa thì chỉ nửa giá đó thôi – breakfast included!

    Tôi “chịu” liền. Tưởng gì chớ “chung đụng” thì có hề chi. Số trại lính, trại tù, trại cải tạo, trại tị nạn… mà tôi từng sống qua – trên những cái giường đôi – nếu chỉ tính bằng đầu ngón tay, không kể luôn ngón chân, dám thiếu!

    Thêm vài ba bữa, sau khi la cà với một mớ đồng hương (mấy anh chị tị nạn, cùng với những em nhỏ chạy bàn, phụ hồ, bán kem, bán nước dừa, bán trái cây… ) tôi được cho hay là có rất nhiều cao ốc, ở ngoại ô Bangkok, phòng thuê hàng tháng chưa tới ba ngàn tiền baht – tròm trèm chỉ cỡ 100 MK thôi – không tính wifi và điện nước.

    Loại chung cư này thường cao tới bẩy tám tầng, nằm cạnh bên nhau, tạo nên những con hẻm nhỏ song song, vô cùng xầm uất. Hàng quán san sát, thức ăn ê hề, rẻ rề, ngon miệng, và chưa nghe có ai bị ngộ độc phải vô nhà thương hết trơn hết trọi. Vào giờ cao điểm, xe cộ – đôi khi – phải di chuyển cùng với tốc độ của… khách bộ hành nhưng không nghe tiếng còi và cũng không có tiếng người chèo kéo/mời mọc hay cãi cọ gì ráo trọi.

    Tôi dọn vô thử. Ở tuốt trên tầng sáu. Tuy thang máy chậm, phòng hơi chật và hành lang hơi tôi tối nhưng sạch sẽ, và yên tĩnh đến không ngờ. Cũng như người Lào, người Thái không ồn. Tiếng duy nhất mà tôi nghe suốt ngày, từ sáng sớm đến chiều, chỉ là tiếng chim thôi.

    Dân Thái tin rằng chim chóc mang lại điềm lành nên để chúng được sống hoàn toàn tự do, và tha hồ ca hót. Nhiều loại chim lắm. Có con líu lo, có con rủ rỉ, có con tíu tít không ngừng nhưng tôi nhận ra ngay tiếng ríu rít quen thuộc của những con se sẻ.

    Loài chim này có lẽ hiện diện khắp địa cầu. Tiếng kêu thân quen của chúng, trong những lùm cây, vào lúc chiều tàn, đã nâng đỡ cho tâm hồn đa cảm và yếu đuối của tôi – không biết bao lần – suốt cả cuộc đời lưu lạc. Cứ nghe se sẻ huyên náo chuyện trò là tôi lại trạnh nhớ tiếng chim ngày cũ, dù bao kỷ niệm (không mấy êm đềm) đều đã phôi pha.

    Từ một trại cải tạo heo hút, tôi nhận được giấy “tạm tha” cho trở về nhà, vào năm 1978. Mùa mưa nào mà Đà Lạt chả buồn nhưng mùa mưa năm ấy, tôi không chỉ buồn mà còn đói nữa. Ở tù bị đói, đã đành; ở nhà, ai ngờ, cũng đói!

    Lòng buồn, bụng đói, dạ hoang mang, tôi không biết làm chi với cuộc đời mình nên đành chỉ nằm nghe mưa và chờ nắng. Mong có chút xíu nắng thôi cho trời bớt lạnh, cho bầy se sẻ túa lên mái nhà (âu yếm rỉa lông, rỉa cánh cho nhau) và tíu tít mừng vui, đón chào nắng ấm.

    Đà Lạt hay có những cơn bão rớt, và những trận mưa dầm dề lê thê kéo dài cả tuần chứ không phải cả ngày. Tuy thế, vẫn có những lúc mặt trời cũng lấp ló ở một nơi nào đó. Nắng cũng làm sáng, và làm ấm phố phường đôi chút nhưng tiếng chim kêu rộn ràng (như những ngày xưa cũ) thì không còn nữa.

    Thỉnh thoảng mới có tiếng kêu thương lạc lõng của một con chim se sẻ, trên mái ngói, rồi tiếng đáp trả nho nhỏ buồn buồn (nghe cũng cô đơn và não lòng không kém) từ một căn nhà xa xa nào đó. Cả một dãy phố mà dường như chỉ còn sót vài đôi chim bé bỏng thôi.

    Cái đói của chính mình giúp cho tôi đoán được chuyện gì đã xẩy ra cho loài chim này trong mấy năm qua. Sự khắc nghiệt của chế độ hiện hành, hoá ra, không chỉ ảnh hưởng riêng chi đến con người.

    Tôi không hiểu là loài se sẻ chết dần vì đói, hay chúng rời đi đến một phương trời nào khác, bỏ tôi ở lại với đói lạnh và buồn. Buồn quá, tôi cũng đi luôn và chưa bao giờ lần dò trở về chốn cũ.

    image003_28.jpg

    Gần nửa thế kỷ đã qua, không biết bây giờ thì bầy sẻ nhỏ ra sao nhưng đồng bào hay đồng hương của tôi thì vẫn vậy – vẫn cứ tiếp tục ra đi bằng mọi giá và mọi cách. Ủa, chớ “bến bờ tự do” có gì quyến rũ mà dân Việt – từ thế hệ này sang thế hệ khác – cứ mãi khát khao đi tìm mãi thế? Tôi đang sống ở Thái Lan, một đất nước “tự do” đây, có thấy chi hấp dẫn lắm đâu?

    Chả qua chỉ là một căn phòng nho nhỏ, vừa đủ cho đôi vợ chồng son, với những tiện nghi căn bản – trong một khu chung cư ở ngoại ô – mà số tiền phải trả hàng tháng chỉ bằng một phần tư lợi tức của một người công nhân, dù với đồng lương tối thiểu.

    Nơi đây, tuy phần lớn chỉ là những người lao động có lợi tức thấp nhưng đời sống riêng tư của họ được tôn trọng hoàn toàn và tuyệt đối. Không có ông công an khu vực, bà tổ trưởng dân phố, hay chị hội trưởng phụ nữ (dấm dớ) nào lai vãng cả! Cũng chả thấy bóng dáng đám công an giao thông, cảnh sát cơ động, hay lực lượng dân phòng lảng vảng (xớ rớ) kiếm ăn ở chung quanh!

    Dọc theo mấy dẫy chung cư là một dòng sông nhỏ, nước tuy bẩn nhưng cá vẫn còn sống được. Kiên nhẫn ngồi câu, chừng hai ba tiếng, cũng chỉ kéo được hơn chục chú cá rô con.

    Phần lớn bờ sông là đất trống, bỏ hoang, mọc tá lả đủ thứ loại trái cây thông thường của vùng nhiệt đới: vú sữa, mít, ổi, chuối, xoài, mãng cầu, đu đủ… Với tay phía nào cũng có thể bẻ được một chùm tầm ruột, vừa mới chín hườm hườm, hay một quả khế (không biết chua/ngọt) vàng ươm.

    Bên kia bờ sông – đôi chỗ – cũng thấy nhô lên một toà biệt thự kín cổng, cao tường. Còn phần lớn đều chỉ là những căn nhà nhỏ, vách ván đơn sơ, sắc mầu lộn xộn. Từ ngoài nhìn vào cũng có thể thấy hết đồ vật luộm thuộm bên trong: giường tủ, ghế bàn, tuyềnh toàng, cũ kỹ.

    Cái nghèo cũng được bầy ra qua những mâm cơm chiều thanh đạm, dọn ngay trước sân nhà: cá khô, rau luộc, rổ đậu, đĩa trứng chiên nhỏ xíu, và mấy xâu thịt nướng mỏng tang, cùng vài chai bia (hoặc rượu) địa phương – ma dze in Thai.

    Tuy thế, trông người Thái nào tôi cũng cảm được là họ đang sống rất bình an. Nỗi an bình của một của cả một dân tộc chưa từng “dám” đánh thắng một đế quốc to nào ráo, đế quốc nhỏ cũng chưa!

    Dân Thái – chắc chắn – chưa bao giờ nghe nói đến những thứ (thổ tả) đại loại như chủ nghĩa mác xít lê nin nít vô địch muôn năn, cải cách ruộng đất, hợp tác xã, đánh công thương nghiệp, đổi tiền, vượt biên, trại cải tạo, nợ công, lạm phát, giải phóng mặt bằng, vỡ quĩ bảo hiểm xã hội, sự cố môi trường biển, Hội Nghị Thành Đô…

    Cộng lại tất cả những cái “chưa” này của người Thái Lan thì thành một giấc mơ xa vời (và mỗi lúc một thêm xa) của dân tộc chúng tôi!

     

  • Tin thế giới

    Lao động Việt săn bắt chim quý tại Đào Viên, Đài Loan

    Lao động Việt săn bắt chim quý tại Đào Viên, Đài Loan

     

    Truyền hình Đài Loan đưa tin: truy_nã 4 Lao động Việt săn bắt chim quý tại Đào Viên 桃園市 tuyên bố khẩn cấp với người Việt

    Mới đây trên mạng xã hội xôn xao vụ việc 4 nam thanh niên người Việt bị cảnh sát Đài Loan bắt giữ vì săn bắt chim quý hiếm lại còn cả gan đăng ảnh lên để khoe chiến tích.

     

    Được biết 1 thành viên trong nhóm 4 nam thanh niên này đã chụp ảnh lại và đăng tải lên mạng xã hội. Ngay khi bức ảnh được chia sẻ, cảnh sát đã vào cuộc điều tra và bắt giữ 4 thanh niên vì tội săn bắt động vật quý hiếm

    Câu chuyện ngay lập tức được nhiều người đăng tải lại và chia sẻ lên mạng đã nhận được nhiều sự quan tâm của dư luận. Đa phần các ý kiến đều lên án hành vi s.ă.n bắt, g.i.ế.t hại động vật quý hiếm của nhóm thanh niên này làm ảnh hưởng đến hình ảnh người Việt Nam:

    “Người Việt Nam bên này tiếng xấu không thể xấu thêm được nữa rồi!”

    “Bọn này không có não hay sao, nhục vãi bao nhiêu tiếng xấu Việt Nam! Bên này rồi mà ko khá lên đc. Bọn này muốn về nước đây mà”

     

    “Cái giá của sống ảo và không suy nghĩ là rất đắt”

    Rất nhiều người phẫn nộ với hành động của nhóm thanh niên này

    Theo FB

  • Tham luận

    Sự lừa dối có hệ thống

    Sự lừa dối có hệ thống

     

    Luật đất đai về sở hữu “toàn dân” là một cái luật khốn nạn, bất nhân, rừng rú. Chính vì cái luật này mà những người dân đang sống yên ổn trên mảnh đất, trong ngôi nhà của mình một ngày nào đấy có thể lâm vào cảnh màn trời chiếu đất, bơ vơ và uất hận cho đến chết.

    Chỉ cần doanh nghiệp nào đấy thấy một mảnh đất ngon, câu kết với chính quyền vẽ ra dự án, cố tình vẽ ra vài tiêu chí có vẻ phù hợp với chủ trương chung là có thể hất những người dân ra khỏi chính ngôi nhà, mảnh đất của họ. Bởi người dân không có quyền sở hữu mảnh đất họ sống, chỉ là có quyền sử dụng đất nên một vài cái công văn, quyết định là có thể cưỡng chế, bắt buộc người dân cầm đồng tiền “đền bù” rẻ mạt để bắt đầu cuộc sống vô gia cư.

    Một dự án lưu manh được dựng lên, sau khi đá người dân ra khỏi mảnh đất của họ thì nó thuộc về ai? Nó vẫn thuộc về “toàn dân” về mặt lý thuyết, nhưng thực chất là nó thuộc về thằng chủ dự án, bởi nó có thể bán lại cho khách hàng. Thuộc về toàn dân nhưng dân chân đất mắt toét có thể đặt chân vào được không? Tất nhiên là không. Vào là chúng nó đánh cho vỡ đầu nhập viện ngay.

    Do vậy, “toàn dân” ở đây không có nghĩa là toàn dân. “Toàn dân” ở đây có thể hiểu là người dân chỉ được sống tạm trên mảnh đất của mình, mặc dù mảnh đất ấy có thể được cha ông để lại từ trước khi cái chính thể này được thành lập. “Toàn dân” là chính quyền có thể cướp của dân để giao cho doanh nghiệp có tiền, là “cá lớn nuốt cá bé”, là “chân lý thuộc về kẻ mạnh”, là “nguy cơ bị cướp một cách hợp pháp” bất cứ lúc nào.

    Các bạn cầm bút trên báo chí chính thống nên hiểu rõ bản chất của cái luật này để viết sao cho sâu sắc. Tất nhiên, đa phần các bạn chỉ là thợ viết theo định hướng, chỉ là những con vẹt hót theo chủ nên quan tâm cũng chẳng được ích gì.

    Chính vì vậy mới sinh ra thảm cảnh Thủ Thiêm và giờ là Lộc Hưng. Nếu luật công nhận quyền sở hữu tư nhân về đất đai thì sẽ không bao giờ có những bi kịch này xảy ra.

    Đơn giản là bạn chỉ đồng ý bán khi giá cả thoả mãn với mình.

    Điều này không mới. Trong phong trào cải cách ruộng đất, phong trào “long trời lở đất” thì việc cướp bóc đã thành một con sóng khổng lồ bao trùm xã hội. Địa chủ không những mất đất mà còn mất mạng.

    Chỉ có điều xưa thì cướp của người giàu, giờ thì cướp của người nghèo. Xưa cướp của người giàu để chia cho nghèo, nay cướp của người nghèo để người giầu càng giầu thêm.

    Tóm lại tiêu chí chính quyền công nông, chính quyền vì người nghèo chỉ là một cái bánh vẽ thuở ban đầu. Giờ là thời của đồng tiền cất tiếng hát.

    Tôi biết các vị lãnh đạo, những người có tâm chắc cũng loay hoay ghê lắm khi điều hành xã hội này. Các “đồng chí” của các vị cũng lắm chiêu trò, lòng tham không đáy mà thủ đoạn thì vô cùng. Muốn ngăn chặn những con quái thú mõm to thì việc cần làm là thay đổi luật, là cải cách bộ máy và cần làm truyền thông tốt để có được sự ủng hộ của dân. Tuy nhiên, trong bộ máy này thì người có tâm có tầm thì ít mà kẻ cơ hội, câu kết bè phái để hưởng lợi thì nhiều.

    Trong bộ máy nhà nước, cả mớ người tôi nhìn thấy giống nhau cả. Nói không dám nói thẳng, tư duy vướng víu hổ lốn nhìn trước trông sau, có chăng chỉ là mấy mĩ từ ru ngủ chẳng có giá trị trí tuệ gì.

    Về vụ Lộc Hưng, tôi khẳng định là đất của họ là hợp pháp. Đa phần họ sống ở đấy từ năm 54, 21 năm trước khi chính quyền của các vị xuất hiện. Các vị có cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng cho họ hay không thì về mặt công lý, mảnh đất ấy vẫn thuộc về họ. Tất nhiên, các vị cố tình cướp thì cũng được. Máu dân lành sẽ đổ, nhưng vết sẹo lòng người sẽ không bao giờ liền được.

    Bây giờ là thế kỉ 21, xin bớt rừng rú có được không?

    Một người phụ nữ sau khi nhà bị phá ở Lộc Hưng (Ảnh từ FB Phạm Thanh Nghiên)

    Châu Đoàn

    Theo FB

     

     

     

  • English

    The Life and Legacy of Vietnam’s Sacred Giant Turtle

     

    The Life and Legacy of Vietnam’s Sacred Giant Turtle

    Hanoi’s Hoàn Kiếm Lake was once home to both legendary and real chelonians.

    A relief at Ngọc Sơn Temple depicting the legendary turtle with a sword on its back.
    A relief at Ngọc Sơn Temple depicting the legendary turtle with a sword on its back.
    John S Lander/LightRocket via Getty Images

    There is a legend that Vietnamese children learn in school about one of their country’s most revered heroes, a magic sword, and a giant turtle. As the tale goes, a 15th-century landowner known as Lê Lợi gained strength from a heaven-sent blade and drove out the occupying Ming army. Crowned emperor, he later went boating on a lake in present-day Hanoi—but his leisurely trip was interrupted by a large, golden turtle that emerged from the water to retrieve the weapon.

    Lê Lợi renamed the lake, today a famous Hanoi landmark, “Hồ Hoàn Kiếm,” or “Lake of the Returned Sword.” The blade was never seen again. But the sacred chelonian, today known as the Hoàn Kiếm turtle or the Golden Turtle, has maintained a curious, high-profile presence in Vietnam.

    A symbol of the country’s independence and longevity—even seen as a deity that has protected its capital—the turtle is immortalized in art and architecture around Hanoi. Tháp Rùa, or Tortoise Tower, is a late-19th-century building that sits on an islet on Hoàn Kiếm Lake. Nearby is Ngọc Sơn Temple, featuring a magnificent entrance with a relief of the Hoàn Kiếm turtle swimming away, sword on its back.

    But the Hoàn Kiếm turtle also has a status as a kind of Vietnamese Loch Ness monster, a centuries-old cryptid that has captured imaginations and sent the city into a frenzy from time to time.

    View across Hoàn Kiếm Lake with Tháp Rùa, also known as Turtle Tower.
    View across Hoàn Kiếm Lake with Tháp Rùa, also known as Turtle Tower.
    Thomas Stankiewicz/LOOK-foto

    Many Vietnamese believe the urban myth is kept alive to delight tourists. But anecdotal accounts of giant turtle sightings increased over the past few decades, according to the biologist Matthew P. Bettelheim. “Some who saw it said it was a monstrous turtle—some even said it was the Golden Turtle itself,” he writes in a 2012 article in the peer-reviewed scientific journal Bibliotheca Herpetologica. For those in the latter camp, any sight of it was a sign of good luck.

    Enjoying This Story?

    Get our latest, delivered straight to your inbox by subscribing to our newsletter.

    As it happens, enormous turtles have really lived in Hoàn Kiếm Lake. Some have even been studied. In 1967, a 550-pound, near-seven-foot-long male climbed to shore and died; it was preserved and placed in a glass box in Ngọc Sơn Temple, along with a plaque noting that it is more than 500 years old—suggesting that it could be the Golden Turtle. Another giant was captured on camera for the first time in 1998. The fuzzy footage, aired on television, set the capital “abuzz,” as one headline reads.

    In 2000, believing the turtles in the lake could be a new species, the biologist Hà Đình Đức, a professor at Hanoi National University, named it Rafetus leloii to honor the famous legend. But three years later, a pair of scientists provided evidence that the creatures in the lake were actually Yangtze giant softshell turtles, a species first described by the British zoologist John Edward Gray in 1873 (“the lines on the back have some resemblance to Chinese printing,” he wrote). Today, the species is known as Rafetus swinhoei—the world’s rarest freshwater turtle.

    The preserved turtle in Ngọc Sơn Temple.
    The preserved turtle in Ngọc Sơn Temple. Claire Voon

    Far from golden, these specimens are olive green, with yellow-speckled faces and hog-like snouts. Once found throughout the Red River Delta and in rivers in southern China and northern Vietnam, only four are currently known to exist, due to habitat loss and hunting for consumption. Two have been recorded in the wild on the outskirts of Hanoi, and a male and female live in China’s Suzhou Zoo, where mating efforts have so far been unsuccessful.

    Unfortunately, the fortuitous sightings at Hoàn Kiếm Lake ended on January 19, 2016, when the last turtle resident died. This one, known as Cụ Rùa, or Great-Grandfather Turtle, was the most famous of its kind and, for most of its life, rather elusive.

    “A lot of people didn’t believe it was really there,” says Timothy McCormack, director of the Asian Turtle Program, a Hanoi-based conservation organization. “They thought it was a legend. It’s quite secretive. It would spend a lot of time under the water, making it not all that easy to find.”

    By 2011, though, its existence was undeniable. At the end of December 2010, Cụ Rùa surfaced, drawing a crowd of excited locals and tourists who saw it as an indication of a lucky new year to come. But then it appeared multiple times in subsequent months, its skin mottled with ghastly lesions and other injuries from fishing hooks and invasive species. Concern for its health increased. After all, Cụ Rùa was living in a toxic, 12-hectare body of water—a central hub and all-too-convenient dumping site of a fast-growing city. Was Cụ Rùa trying to escape?

    The Hoàn Kiếm turtle comes up for air.
    The Hoàn Kiếm turtle comes up for air. haithanh/CC BY 2.0

    It seemed that way by March 2011, when its head poked out of the muddy water on a daily basis (on one occasion, it even allegedly ate a cat in front of an astonished audience). City authorities decided to capture Cụ Rùa and build it a special hospital—basically, a filtered, fenced-off section of the lake—near Turtle Tower.

    After a number of failed attempts watched by massive crowds, a team of 50 or so men successfully netted the 440-pound creature in early April for treatment, keeping it in the sequestered area. As Cụ Rùa’s health gradually improved, the city was forced to face the filthy waters that led to this mess. Sanitation crews worked to clean up the lake, and 60,000 fish were introduced into the water for Cụ Rùa to eat.

    The turtle was released in July 2011, but its environment, it seems, was far too toxic for it to survive long. In January 2015 alone, it had surfaced at least six times, provoking worry that it was stressed or ill.

    A year later, Cụ Rùa’s body was seen floating in the middle of the lake. It was believed to be over 100 years old.

    Its death was a deeply tragic environmental and cultural loss. People were concerned that it would have a negative impact on Vietnam,” says McCormack. “I’m always amazed at how it’s considered so culturally significant. An animal that brings fortune on the country—it’s quite unique really.”

    Thousands of onlookers cheered in central Hanoi on April 3, 2011, when rescuers captured the ailing turtle for treatment.
    Thousands of onlookers cheered in central Hanoi on April 3, 2011, when rescuers captured the ailing turtle for treatment. -/AFP/Getty Images

    They may not be tied to a beloved legend, but other Rafetus swinhoei might be swimming in Vietnam’s waters. McCormack and his team have been conducting field surveys throughout much of northern Vietnam to identify potential sites where the species might survive. They also focus on safeguarding the other two known Yangtze softshells in the country.

    One, identified in 2007, resides in Đồng Mỏ Lake. The second, in Xuan Khanh Lake, was confirmed only in April 2018, when scientists matched environmental DNA collected from its water with known samples of Rafetus swinhoei. Both bodies of water are commercial fishing sites, which pose threats to the creatures, as do floods, which can wash them towards danger. The Asian Turtle Program’s goal is to establish these lakes as protected habitats.

    All the organization’s efforts rely on government support. One ongoing discussion with Vietnam’s Directorate of Fisheries is how to catch and bring the two wild turtles together for breeding. Depending on their sexes, scientists could turn to artificial insemination, as the Suzhou Zoo attempted. There’s even the possibility of mating a turtle from Vietnam with one from China, although such a high-profile exchange would face many bureaucratic hurdles.

    Relief from Trấn Quốc Pagoda, featuring the turtle with a sword on its back.
    Relief from Trấn Quốc Pagoda, featuring the turtle with a sword on its back. Claire Voon

    And as for the fate of Cụ Rùa? After it died, its body was sent to Hanoi’s Museum of Nature, where German specialists were brought in to preserve it using plastination. Cụ Rùa is now in a box while museum officials decide where its body will reside, but according to Marco Fischer, a zoology preparator with the Museum of Natural History in Erfurt, one option is to present it at Ngọc Sơn Temple.

    Great-Grandfather’s presence has certainly been missed in the capital. The legend of the Hoàn Kiếm turtle is so enduring that some Hanoians have suggested that authorities move one of the Vietnamese softshells to the city lake to keep the story alive, says McCormack. But although the polluted lake was dredged once more at the end of 2017, the risk of introducing a turtle into those waters anytime soon is still too high.

    “There is potential that animals go back into Hoàn Kiếm, but the environment would have to go through further cleaning,” McCormack says. “Although ultimately, that would be a nice end to the story.”

    For now, he holds hope that the species can one day have a self-sustaining population elsewhere, in a sanctuary safe from fishing hooks, soup pots, and other human threats.

    Theo Internet

  • Thơ

    Thơ Pleime

    Thơ Pleime

     

    Thiếu úy Nhảy Dù Lê Anh Thái tử trận khi tái chiếm cổ thành Quảng Trị 1972. Khi được đơn vị giao hoàn xác con, người cha là Lê Anh Tuyến đã tìm thấy một lá thư viết gởi bạn chưa kịp gởi trong những di vật còn lại của con. Ông phổ lá thư đó thành bài thơ sau đây tựa đề là THƠ PLEIME vì thiếu úy Lê Anh Thái đã viết từ khi còn ở Pleime cho đến khi chuyển quân đến Quảng Trị vẫn chưa kịp gởi.

    Thiếu úy đã đền nợ nước khi mới tròn 24 tuổi, và có một đứa con mới chào đời 2 tháng đã mồ côi cha.

    Hình: Thiếu Úy Lê Anh TháI, đơn vị Pháo Binh -Dù

    Thơ Pleime

    Tao được thơ mày cả tháng nay

    Hành quân liên tiếp suốt đêm ngày

    Lưng không rời giáp, tay rời súng

    Liên lạc thì không có máy bay

    Tao vẫn luôn luôn nhớ tụi mày

    Nhớ Sài Gòn đẹp nắng vàng hây

    Nhớ đường Lê Lợi ngập hoa nắng

    Nhớ ngõ Tam Ða tà áo bay

    Pleime suốt tháng mưa dầm dề

    Mày ơi, thèm quá khói cà phê

    Thèm tô phở tái thơm chanh ớt

    Thèm rót bọt đầy một cốc bia

    Xi nê mày vẫn xem phim chưởng?

    Băng nhựa còn thu nhạc Khánh Ly?

    Những chiều thứ bảy còn đi nhót?

    Hay lén ông già nhậu whisky?

    Năm nay mày có lên đại học?

    Hay thôi, xếp sách nhập quân trường?

    Mày tính vào Dù hay Lục Chiến?

    Tao chờ mày nhé, ải biên cương

    Hôm qua thằng Tiến dẫn quân ngang

    Giữa rừng gặp bạn mừng hơn vàng

    Ôm nhau, hai đứa cười ha hả

    Râu tóc bù xù như cái bang

    Mày nghĩ, đã lâu không được tắm

    Hành quân liên tiếp giữa rừng già

    Ăn thì gạo sấy nhai qua bữa

    Tối ngủ nằm sương lạnh cắt da

    Hôm qua địch pháo giữa ban ngày

    Tao bị thương xoàng ở bả vai

    Mảnh đạn còn ghim trong thớ thịt

    (Mày đừng có nói mẹ tao hay)

    Mẹ tao không biết giờ ra sao?

    Còn khóc đêm trường để nhớ tao?

    Còn giận tao là thằng bất hiếu

    Xem tình cha mẹ như chiêm bao

    Mẹ tao chỉ muốn tao quanh quẩn

    Lính kiểng châu thành, lính phất phơ

    Mày nghĩ, tụi mình như cánh gió

    Ai đi nhốt gió được bao giờ?

    Những đêm biên cảnh sống xa nhà

    Cũng thấy đôi lần nhớ xót xa

    Cũng có đôi lần tao muốn khóc

    Muốn về thăm mẹ… thế nhưng mà.

    ..

    Thôi nhé, thư sau tao viết tiếp

    Trực thăng đã đáp trong vòng đai

    Tản thương lính đã đưa lên đủ

    Tao viết thơ này vội gởi ngay