• Thơ

    Ngày ấy lâu rồi

    Ngày ấy lâu rồi

    Nhớ người xa vắng bóng chiều buông

    Từ thuở xa xưa chẳng biết buồn

    Ngây thơ trong trắng hoa chớm nở

    Trái tim dại khờ mới yêu đương.

    Ngày ấy tôi thường dạo phố phường

    Ngắm em vui bước buổi trường tan

    Những vạt áo dài bay trong nắng

    Làm trái tim tôi nhịp rộn ràng.

    Ngày ấy tôi thường hay làm thơ

    Cả hồn trong trắng đền dại khờ

    Mở đầu tôi viết câu lục bát

    Gửi chút tình riêng vào trong mơ.

    Tôi biết gì đâu một chữ yêu

    Mà sao đau nhói ở trong lòng

    Mỗi lần em bước qua khung cửa

    Tôi vội nhìn theo lòng ước mong.

    Tôi sợ sương bay phủ bóng mờ

    Xóa đi dấu vết của nàng thơ

    Khung trời lạnh lẽo người xa vắng

    Em đã đi xa chẳng đợi chờ.

    Lê Tuấn

    “Người nghệ sĩ lang thang trong tâm tưởng

    Viết một bài tình thơ cho thuở dại khờ”

  • Thơ

    THƠ NHỚ MẸ

    THƠ NHỚ MẸ


    Thâm tâm vẫn biết đời hư ảo
    Mắt cứ trào dâng lệ nhớ thương
    Trong mơ thấy mẹ cười nghiêng nón
    Mặc áo dài nhung lúc tuổi xuân
    Nhớ lúc hoàng hôn bóng ngã dài
    Dáng mẹ hao gầy buổi tiển đưa
    Thầm thì con nói theo làn gió
    Mẹ ở trên trời chắc sẽ vui
    Khói hương rồi cũng chìm trong nắng
    Tưởng với thời gian sẽ nhạt nhòa
    Mây mù che phủ miền thương nhớ
    Để mẹ từ đây mãi ngủ yên
    Rồi khi trên bước đời vấp té
    Con vẩn kêu hòai tiếng mẹ ơi
    Con cần một bàn tay che chở
    Đặt trên đầu dịu bớt niềm đau
    Cần tiếng cười hiền, lời nói ngọt
    Xoá mờ đi những vết gai đâm
    Đàn con tóc chớm màu sương tuyết
    Vẩn ngóng mẹ về trong giấc mơ


    (Ngọc Dung)

    Image may contain: 1 person
  • Tài liệu

    RUPERT NEUDECK – ĐẠI ÂN NHÂN CỦA THUYỀN NHÂN VIỆT NAM

    RUPERT NEUDECK – ĐẠI ÂN NHÂN CỦA THUYỀN NHÂN VIỆT NAM.

    Le Sa Long


    Ngày 31-5-2016, tại Bệnh viện Koln ở nước Đức, đã có một trái tim nhỏ ngừng đập ở tuổi 77. Đây là một tin gây rúng động cho nhiều cộng đồng, đặc biệt là người Việt Nam di tản hiện đang sống tại Đức, vì người đó là Tiến sĩ Rupert Neudeck – một nhà Thần học Công giáo, một nhà báo, nhà hoạt động xã hội.

    Những năm 70-80 của thế kỷ XX, do phương tiện truyền thông bị hạn chế, cũng như tin tức về người vượt biên rất nhạy cảm theo quan điểm của nhà cầm quyền, nói chung chưa có Facebook, Twitter… như thời bây giờ nên những vụ đắm tàu, cướp biển tấn công, hãm hiếp người di tản, một số nước châu Á cho tàu quân đội ra xua đuổi tàu chở thuyền nhân khi vào lãnh hải của họ… ít người biết đến. Nhưng lúc đó, ở các nước phương Tây, tin tức này là thời sự, nó cũng như cảnh ta đang xem trên tivi mới đây về những người dân Somalia, Lybia vượt biên chết hàng loạt trên biển.


    Tình cảnh thê lương cùng đường bị xua đuổi như tội đồ của họ đã đánh động trái tim của TS Rupert Neudeck. Nó thúc đẩy ông dấn thân hành động bằng cách kêu gọi chính quyền Đức, cộng đồng xã hội, tôn giáo, các bằng hữu hãy cứu giúp những thuyền nhân Việt Nam đang bị nạn như thuyền hết xăng dầu, lương thực, chết máy, bị cướp bóc… đang lênh đênh trên biển. Khi bị nhà cầm quyền từ chối, ông không nản lòng mà đã cầm cố ngôi nhà của mình, kêu gọi bạn bè thân nhân góp tiền của để đóng thuyền ra khơi cứu người Việt Nam.

    Câu chuyện về người có trái tim nhân ái này được ông Franz Alt, sau này là giám đốc Đài truyền hình Baden, kể lại vô cùng ấn tượng: “Ông ấy gõ cửa xin tôi phát lời kêu gọi cộng đồng, tôi bảo không thể làm thế được vì một ý kiến cá nhân. Ông ấy kêu gào: “Chẳng lẽ chúng ta cứ nhìn thảm cảnh như vậy mỗi ngày sao?”. Tôi trả lời: “Tôi có thể làm được gì?”. Ông ấy trả lời: “Tôi có thể cầm cố ngôi nhà đang ở để khởi sự cho chuyến đi biển”. Tôi đành nhượng bộ trước quyết tâm của con người này và cho ông ấy hai phút để phát sóng”.


    Đúng vậy, sau lời kêu gọi trên đài, chỉ ba ngày sau, cả nước Đức đã hưởng ứng với số tiền đóng góp lên đến 1,3 triệu mác (tiền Đức thời bấy giờ) để thuê chiếc tàu Cap Anamur đầu tiên ra khơi vào ngày 9-8-1979 với sứ mệnh cao cả là cứu vớt người Việt Nam gặp nguy khốn trên biển Đông.
    Tiếp theo đó là thêm hai chiếc Cap Anamur được hạ thủy nhờ vào sự ủng hộ của những người có từ tâm. Trong thời gian 7 năm hoạt động (1979-1986), tổ chức Cap Anamur đã cứu vớt được 11.300 người vượt biển trên 223 chiếc ghe/thuyền và hầu hết được định cư tại nước Đức. Để làm được việc này, chính ông cùng với nhà văn Heinrich Boll – người đoạt giải Nobel Văn chương năm 1972 – và thân hữu đã thuyết phục thành công chính quyền Đức cho thuyền nhân Việt Nam được nhập cư vào nước này.


    Được biết, ngoài việc cứu giúp cho người Việt, tổ chức do ông sáng lập đã có hoạt động giúp đỡ nạn nhân chiến cuộc tại Somalia, châu Phi, Afghanistan, Pakistan. Để tỏ lòng trân trọng công lao to lớn của ông, nhà cầm quyền Đức đã tặng ông Huân chương Chevalier cao quý, nhưng hai lần ông từ chối.
    Chính ông đã đánh động lương tâm của nhiều người, trong đó có người Mỹ và người Việt Nam tại Mỹ. Năm 1979, chính Tổng thống Mỹ Jimmy Carter đã ra lệnh cho 5 tuần dương hạm đi cứu vớt những thuyền nhân và cho họ được nhập cư vào Mỹ.


    Hãy tưởng tượng 11.300 người, từ năm 1979 đến nay, hơn 40 năm, số lượng này tăng lên bao nhiêu, nếu tính luôn việc họ bảo lãnh cho người thân từ Việt Nam sang thì có hàng chục ngàn số phận đã đổi thay từ nhân duyên này.


    Ông kể về thời niên thiếu của ông:
    Lúc còn bé, thời Đệ nhị Thế chiến, ông và gia đình đã nhỡ một chuyến tàu tỵ nạn và chuyến tàu xấu số đó trúng thủy lôi của Hồng quân Liên Xô, chìm ngoài biển, mang theo trên 9.000 người. Có lẽ biến cố này đã gây ấn tượng quá lớn với một cậu bé để, khi trưởng thành, nó thôi thúc ông làm một nghĩa cử gì đó cho những nạn nhân trên biển cả chăng?


    Ông ra đi về nơi thanh thản sau khi làm được việc lẽ ra của Thượng Đế, là đem sự sống lần thứ hai cho hàng chục ngàn người, và nhờ đó ông trở thành bất tử.


    (*) Theo fb Pham Phu Yen.

  • Thơ

    NGẬM NGÙI

    NGẬM NGÙI


    Chiếc xe đò rùng mình nín thở
    Quẳng xuống đường một nhúm xương khô
    Gã lính ngụy lưu đày ngơ ngác
    Chưa dám tin mình đã trở về
    Gã băng qua mùa đông vào phố
    Nắng loe hoe đọng ngã ba đường
    Chiều ngủ vùi trên manh áo vá
    Có con chim cất tiếng chào buồn
    Dãy bạc hà hiên trường thuở nhỏ
    gió thều thào lúc gã đi qua
    Vàng thiêm thiếp thẩn thờ lá đợi
    Chút mong manh xuân ấm chợt về
    Chiếc cầu nơi tuổi thơ đánh rớt
    Đám lục bình khóc ướt dòng sông
    Gã lục lọi tìm trong ký ức
    Bạn bè xưa ai mất ai còn
    Cây trụ điện đứng nơi góc chợ
    Gánh cặp loa ruột thắt gan bầm
    Hát ra rả vạn lời mị ngữ
    Còn riêng mình mòn mỏi tháng năm
    Gã tha thẩn mò vào xóm cũ
    Người quen xưa tản lạc muôn phương
    Trời lồng lộng cao không vói tới
    Giẫm cuộc đời nát vụn dưới chân
    Con chó già ngồi chơi trước cửa
    Ngửi hơi xưa lúc lắt đuôi chào
    Chiếc áo mặc lác bươm từng mảng
    Con ruồi bay quanh mũi lao đao
    Tên công an trông coi khu vực
    Biết gã về vác súng hỏi thăm
    Con chó nản nhắm nghiền mắt đói
    Chuyện thường ngày lâu thét sẽ quen


    Quan Dương

    Đây là ngã ba cải lộ tuyến Ninh Hoà nơi quốc lộ 1 kéo dài từ Nam ra Bắc . Mũi tên phía phải chỉ hướng Tuy Hoà . Mũi tên còn lại chỉ hướng Ban Mê Thuột . Đó cũng là con đường đi vào phố chợ Ninh Hoà nơi có nhà tôi ở

    Mùa đông năm 1981 chiếc xe đò hiệu Khánh Hoà với thùng than to tổ bố đèo theo phía sau rùng rùng ngừng lại và thả xuống nơi này một tên ốm nhách áo quần bèo nhèo nhăn nhúm với bọc đồ được gói trong một miếng ni lông ôm trong bụng . Gã đó là tôi sau sáu năm ở tù vừa được thả về .

    Lội theo con đường phía bên trái tôi đi bộ về nhà . Đứng ven bên đường trường Trung học Trần Bình Trọng là nơi tôi đã có sáu năm mài đũng ghế trước khi bước chân vô đời lính. Dãy khuynh diệp trước cổng nay đã sắp già . Những cây khuynh diệp này do chúng tôi trồng khi còn là những cây con bé tí . Năm đó tôi học đệ tam (lớp 10 bây giờ). Nơi này cũng là nơi tôi và các bạn cùng lớp quây quần bên nhau thuở còn đi học . Đang vào mùa đông . Trốn trong nách phía trên cao của dãy khuynh diệp là những vệt nắng chiều thả màu vàng yếu ớt lên những chiếc lá èo ọt . Tôi đứng trước cỗng trường với bộ đồ tù vá đùm đụp nhiều chỗ . Tại nơi này mới hôm nào tôi còn là một cậu học trò với đồng phục quần xanh áo trắng giờ là người tù đang bước vào tuổi trung niên. Cũng chỉ là một người nhưng tôi có cảm tưởng bị tách làm hai . Tôi nhớ bạn bè cùng lớp, những đứa con trai bị dòng chiến tranh cuốn hút tản lạc muôn phương. Những đứa tử trận , những đứa còn sống đang vất vưởng tại một nơi nào của một trại khổ sai nào đó. Những người con gái sợ lỡ xuân thì cũng vội vã lấy chồng là lính giờ cũng đang mòn mõi đợi . Tôi lủi thủi đi vào con phố với biết bao nỗi ngậm ngùi . Không ai nhận ra tôi đang trên con đường . Tất cả đều tan nát…

  • Tài liệu

    Bỏ rơi hay phản bội?

    Bỏ rơi hay phản bội?

    Bùi Anh Trinh

    Sau ngày 30-4-1975 Mỹ mở chiến dịch đổ tội làm mất nước cho TT Nguyễn Văn Thiệu để cho người ta không oán hận Mỹ đã bỏ rơi VNCH. Giờ đây đã 44 năm trôi qua, nếu người Mỹ không lên tiếng giải oan cho TT Thiệu thì cũng nên trả lại sự thật cho lịch sử.

    TT Nguyễn Văn Thiệu cho tới trước khi chết Ông vẫn cúi đầu nhận chịu trách nhiệm đã làm cho mất nước, một lỗi lầm quá to lớn mà cá nhân một người không thể nào gánh vác. Nếu có một người nào đó đứng ra nhận chịu thì quả là vô lý, thế nhưng Ông Nguyễn Văn Thiệu đã làm.

    Kể từ ngày lập quốc, nước Mỹ thực sự sụp đổ vào năm 1975 với 3 triệu cựu chiến binh tại chiến trường VN, 58 ngàn người đã chết, và 3.000 quân nhân còn mất tích. Xã hội Mỹ phân hóa trầm trọng với tranh cãi đổ lỗi cho nhau.

    Chính vì vậy mà những người quân nhân VNCH không bao giờ động chạm tới nỗi đau của người bạn chiến đấu Mỹ, họ đã làm hết sức của họ rồi, họ đã phải chết tới 58.000 người và đã hao tốn 300 tỉ USD, lại còn phải nuôi 3 triệu cựu chiến binh Mỹ mà người nào cuộc đời cũng tan nát do bị khủng hoảng, bị thất bại vì không thể trở lại trường để làm lại cuộc đời.

    Hai chữ “Bỏ Rơi” là do BBC và RFI dùng để xoa dịu sự oán hận của người Việt sau khi Mỹ cắt ống tiếp huyết cho VNCH. “Bỏ Rơi Đồng Minh” khác với “Phản Bội Đồng Minh”. Bỏ Rơi có nghĩa là tôi thích thì tôi giúp, khi thấy mệt mỏi quá thì tôi không giúp nữa. Còn Phản Bội là phỉnh gạt, lừa đảo. Cho nên người Mỹ muốn nhận là họ Bỏ Rơi VNCH còn hơn là nhận Phản Bội VNCH.

    Năm 1968, anh sinh viên Frank Snepp quyết định làm đơn xin đầu quân vào CIA để tránh khỏi phải đi lính và chiến đấu tại VN. Năm 1969 Snepp bắt đầu làm viêc tại chi nhánh CIA tại Sài Gòn trong tư thế một nhân viên mới vào nghề. Năm 1971 ông trở về Trung tâm CIA tại Mỹ với nhiệm vụ phân tích những tin tức thu thập từ báo chí của Bắc Việt.

    Đến năm 1972, ông bị đày đi VN vì tội đã báo trực tiếp cho Tòa Bạch Ốc một thông tin ông đọc được trên báo của Hà Nội mà không qua các xếp lớn của CIA. Nhiệm vụ lần thứ hai của Frank Snepp tại VN là đọc báo và nghe đài phát thanh của CSVN và VNCH để trình cho Polgar, trưởng CIA tại Sài Gòn, những tin nào mà ông ta thấy đáng quan tâm.

    Sau biến cố 1975, Frank Snepp quyết định viết thành sách về những gì ông chứng kiến trong vai trò một nhân viên CIA làm việc tại VN trong giai đoạn Hoa Kỳ cuốn cờ ra khỏi VN. Nhờ đó ông nhanh chóng trở thành nhân chứng sống duy nhất dám tiết lộ những bí mật mà một nhân viên CIA không được phép tiết lộ.

    CIA đã đưa ông ra tòa vì ông đã hành động trái với lời tuyên thệ khi ông bước chân vào tổ chức CIA. Tòa án đã phán quyết Frank Snepp không bị tội tiết lộ bí mật nghiệp vụ nhưng cũng quyết định cho thu hồi quyển sách “Decent Interval” của Frank Snepp. Tuy nhiên phán quyết này chỉ có hiệu lực hình thức bởi vì cả thế giới đều đã đọc Decent Interval.

    Theo Frank Snepp, mọi chuyện đều bắt đầu từ khi ký kết Hiệp định Paris. Rồi 3 tháng sau khi ký kết Hiệp định, TT Nixon cử Martin làm đại sứ Mỹ tại VN thay Bunker. Frank Snepp mô tả vai trò của Đại sứ Martin: “Mỹ buộc phải bỏ khỏi VN trong tư thế đường hoàng, và muốn tạo được ấn tượng như vậy thì cần phải có một chuyên gia về ảo thuật và kịch nghệ mà Martin thuộc vào hạng sư phụ. (trang 75, nguyên văn: “The United States was obliged to crawl out of Vietnam standing up, and to foster that illusion required the kind of conjuring and stagecraft at which Martin so adept”).

    Như vậy màn kịch bỏ rơi VN đã được lên giàn từ tháng 4 năm 1973. Năm 1974 giữa năm, TT Mỹ Nixon đệ trình Quốc hội Mỹ bản dự thảo hiệp ước giao thương giữa Mỹ và Liên Xô. Đến lúc này Quốc hội Mỹ mới biết rằng đây là cái giá mà Nixon đã trả cho việc Liên Xô ngưng cung cấp vũ khí cho Hà Nội và ép Hà Nội phải ký hiệp ước ngưng bắn 1973. Dĩ nhiên khi đưa ra trước Quốc hội, Nixon tin rằng sẽ được thông qua dễ dàng vì lợi ích chung của cả hai nước, nhất là từng bước giải quyết chiến tranh lạnh là điều mà dân chúng Hoa Kỳ mong chờ.

    Tuy nhiên ông đã tính lầm, Quốc hội Mỹ đoán rằng còn nhiều cái giá khác nữa giữa Nixon và Liên Xô, Trung Quốc, Hà Nội vào năm 1972. Vì vậy Quốc hội bác bỏ thẳng thừng hiệp ước thương mại Xô – Mỹ để buộc Nixon phải lòi ra những thỏa thuận khác. Dĩ nhiên là Nixon không đưa ra, ông dùng đặc quyền hành pháp để từ chối.

    Vì vậy Quốc hội có một cách khác để moi ra những gì mà Nixon đã cam kết với LX, TQ và Hà Nội vào năm 1972; đó là cách lợi dụng vụ Watergate để triệu tập một Ủy ban điều tra đặc biệt về sai phạm của Nixon trong vụ nghe lén, nhờ đó công tố viên của ủy ban điều tra có quyền bắt Nixon phải đưa ra tất cả những cam kết ngầm với Bắc Kinh, Mạc Tư Khoa và cả Hà Nội.

    Nixon chỉ còn có cách từ chức để né tránh Ủy ban điều tra bởi vì ông và Kissinger đã có những thỏa thuận mật với đối phương mà không xin phép Quốc hội. Một khi ông từ chức thì những cam kết của ông trở thành vô hiệu lực. Quốc hội sẽ không còn cớ để truy xét.

    Sau khi Nixon từ chức thì Quốc hội Hoa Kỳ cho thông qua đạo luật cấm HK buôn bán với các nước CS vào cuối năm 1974 (đạo luật Jackson-Vanik). Sự trở mặt của Quốc hội Mỹ đã khiến Liên Xô tức giận bởi vì những cam kết của Nixon khi ông ta viếng thăm Liên Xô vào năm 1972 đã không được thi hành. Vì vậy, cuối năm 1974, Đại tướng Kulikov của Liên Xô đến Hà Nội để xúi Hà Nội đưa quân đánh chiếm Miền Nam, Liên Xô sẽ cung cấp vũ khí và chiến phí.

    Theo như 7 mục, 23 điều khoản của Hiệp định Paris thì Hà Nội ngưng bắn vô điều kiện, trao trả cho Mỹ 591 tù binh Mỹ vô điều kiện, trao trả tù binh VNCH để đổi lại VNCH trao trả 28 ngàn tù binh Bắc Việt. Trong khi đó TT Nguyễn Văn Thiệu không phải từ chức, 38 ngàn tù chính trị của Mặt trận DTGPMN vẫn tiếp tục bị giam giữ.

    Đặc biệt là “ngưng chiến da beo”, nghĩa là quân đội CSVN vẫn ở trên rừng và quân đội VNCH kiểm soát thành thị và thôn quê Nam VN. Biên giới hai miền Nam Bắc vẫn được tôn trọng theo như Hiệp định Genève 1954.

    Nhìn bề mặt của Hiệp định Paris quá vô lý cho nên giới quan sát quốc tế thừa biết bên trong phải có một mật ước riêng. Quả nhiên sau này vào năm 1977, TT Jimmy Cater của Mỹ xác nhận có một mật ước riêng đằng sau Hiệp định Paris được Nixon ký với Hà Nội 4 ngày sau khi ký kết Hiệp định Paris 1973. Vào tháng 10-1988 Hà Nội cho công bố toàn văn bản mật ước Nixon & Phạm Văn Đồng.

    Theo đó thì Nixon hứa sẽ viện trợ tái thiết cho Bắc Việt 3,25 tỉ USD và viện trợ phát triển kinh tế cho Hà Nội 1,5 tỉ USD. Trong vòng 30 ngày sau khi người tù binh HK cuối cùng rời khỏi VN thì hai bên sẽ thiết lập xong hệ thống viện trợ tái thiết, và trong vòng 60 ngày sau đó thì lập xong hệ thống viện trợ phát triển kinh tế.

    Bản mật ước do đích thân Kissinger mang tới Hà Nội cho Phạm Văn Đồng ký nhận. Từ đó Lê Duẩn ngày đêm trông chờ món tiền của Kissinger và đến cuối năm 1974, Liên Xô cử tướng Kulikov sang Hà Nội xúi Lê Duẩn đánh chiếm Miền Nam thì có nghĩa là Hiệp định Paris coi như tờ giấy lộn. Rốt cuộc Hà Nội biếu không 591 tù binh Hoa Kỳ mà chẳng nhận được đồng nào; suốt 10 năm chiến đấu gian khổ, hàng triệu người chết, hàng chục tỉ đôla nợ chiến phí… đến nay chỉ còn là con số không (sic).

    Tướng Kulikov xúi Hà Nội phát động chiến tranh trở lại nhưng Lê Duẩn và ban lãnh đạo CSVN thực sự trắng mắt. Dân chúng Miền Bắc đã kiệt sức; trong 5 năm nhà nước đã đóng cửa tất cả 18 trường đại học và cao đẳng, bòn vét nhân lực đến độ phải gọi lính ở tuổi 16, tại Miền Bắc chỉ còn một trời đàn bà góa… thì lấy đâu để gây chiến tranh trở lại.

    (Theo hồi ký của tướng CSVN Hoàng Văn Thái thì cho tới năm 1974 Hà Nội đã động viên đến 16% dân số, không thể nào động viên thêm được nữa. Trong khi Miền Nam là 5,88%).

    Bắt đầu từ năm 1975 Đại tướng Cao Văn Viên viết tường trình cho Ngũ Giác Đài về những ngày cuối cùng của chiến tranh VN nhưng đến năm 1983 mới được in thành sách với tựa đề “The Final Collapse” và hai mươi năm sau, 2003 The Final Collapse được nhà nghiên cứu sử Nguyễn Kỳ Phong dịch ra tiếng Việt với tựa đề “Những ngày cuối của VNCH”. Trong sách có kèm theo những chú giải mới nhất của Đại tướng Cao Văn Viên. “Một sự thực không thể chối cãi là quân đội VNCH sẽ hết đạn và nhiên liệu vào tháng 6-1975…” (Tài liệu của Ngũ Giác Đài: Cao Văn Viên, The Final Collapse, bản dịch của Nguyễn Kỳ Phong trang 136).

    Năm 1974 tháng Giêng, theo tài liệu của CIA: “Từ cuối tháng 12-1973 đến đầu tháng Giêng 1974, Tướng John Murray và ban tham mưu của ông đã làm việc ngày đêm để cố gắng tìm đáp số cho bài toán viện trợ quân sự. Nhưng mỗi lần họ tìm ra một giải pháp để giải quyết vấn đề thì lại phát sinh một vấn đề khác mà kết quả cũng chỉ đưa tới bí lối” (Frank Snepp, Decent Interval, trang 95).

    Tướng John Murray là Tư lệnh cuối cùng của quân đội Hoa Kỳ tại Nam VN. Ông đến VN sau Hiệp định Paris 1973, sang đầu năm 1974 ông và Bộ Tham mưu Hoa Kỳ tại VN phải tính toán sổ sách về viện trợ quân sự cho Nam VN trong nửa cuối 1974 và đầu năm 1975. Tuy nhiên Ngũ Giác Đài đã cho ông biết trước là có thể dưới 700 triệu đôla, nhưng theo các chuyên viên tham mưu của John Murray thì 700 triệu chỉ đủ giữ được Vùng 4.

    Năm 1974 cũng theo Frank Snepp, ngày 16-8 John Murray họp buổi họp chót với Đại tướng Cao Văn Viên (Tổng tham mưu trưởng), Tướng Đồng Văn Khuyên (Tổng cục trưởng Tổng cục Tiếp vận) và một số tướng lãnh của Bộ TTM. John Murray khuyên Tướng Viên nên liệu cơm gắp mắm, gấp rút lên kế hoạch sẵn sàng bỏ Vùng 1, Vùng 2 và cả Vùng 3 để về cố thủ Vùng 4. Tuy nhiên “Tướng Viên lẫn Tướng Khuyên đều nói rằng lên kế hoạch về quân sự thì được, nhưng về mặt chính trị thì không thể nào thi hành nổi”. Sau buổi họp này thì John Murray giải ngũ, trở về Hoa Kỳ.

    Theo TS Nguyễn Tiến Hưng (Bộ trưởng Bộ Kế hoạch của VNCH) thì ông đã tình cờ trông thấy bản kế hoạch “Cắt Đất Theo Lượng Viện Trợ” của Murray nằm trên bàn của TT Thiệu vào tháng 5-1974, nghĩa là 2 tháng trước khi Nixon từ chức. Như vậy Murray chính là tác giả của kế hoạch bỏ Vùng 1, Vùng 2 vào năm 1975, một kế hoạch mà cho tới 40 năm sau người ta vẫn cho là sáng kiến (tối kiến) của TT Nguyễn Văn Thiệu. Sự thực TT đã bị báo chí Mỹ cố tình gieo tiếng oan mà lúc đó Ông không thể lên tiếng thanh minh.

    Năm 1974, ngày 24-12, theo hồi ký của Đại tá Phạm Bá Hoa: “Ngày 24-12-1974, lúc quân CSVN đang tấn công Phước Long sang ngày thứ 10, một buổi tiệc mừng Giáng sinh được Tướng Đồng Văn Khuyên, Tham mưu trưởng Bộ Tổng tham mưu, tổ chức trên lầu của Câu lạc Bộ trong Bộ TTM”. Khách tham dự gồm có Tướng Smith (Chỉ huy trưởng cơ quan quân sự HK tại VN; Tướng Quân y Phạm Hà Thanh; Tướng Công binh Nguyễn Văn Chức; Đại tá Phạm Kỳ Loan (Tổng cục phó Tiếp vận); Đại tá Phạm Bá Hoa (Tham mưu trưởng Tổng cục Tiếp vận); Đại tá Pelosky (Phụ tá của Tướng Smith); Trung tá Nguyễn Đình Bá (Chánh văn phòng của Tướng Khuyên).

    Tướng Smith tiết lộ rằng: “Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ có kế hoạch với ngân khoản dự trù hơn 300 triệu đôla để di tản sang Hoa Kỳ khoảng 40 ngàn sĩ quan và gia đình, nhưng thời gian thì chưa rõ” (Phạm Bá Hoa, Đôi Dòng Ghi Nhớ, bản in lần 4, trang 264). Khi sách của Phạm Bá Hoa phát hành thì tất cả các nhân vật trong bữa tiệc đều còn sống mạnh khỏe nhưng không ai phản đối, kể cả Tướng Smith; chứng tỏ chuyện này hoàn toàn có thật.

    Như vậy là kịch bản bỏ rơi Miền Nam đã được lên giàn trước khi mất Phước Long chứ không phải là sau khi mất Ban Mê Thuột. Người ta đã tính toán sẵn kế hoạch để cho VNCH sụp đổ trước tháng 6-1975, kể cả ước tính trước ngân sách chi dụng cho kế hoạch.

    Năm 1975, ngày 7-1: Phản ứng của Mỹ sau khi mất Phước Long là: “Nhà Trắng nói rằng TT Ford không có ý vi phạm những điều cấm chỉ (của Quốc hội) về việc sử dụng lực lượng quân sự Hoa Kỳ tại VN” (Hồi ký của Tướng CSVN Hoàng Văn Thái, trang 161). Khi vừa nghe tin này Phạm Văn Đồng tuyên bố: “Cho kẹo quân Mỹ cũng không dám trở lại VN” (trang 146).

    Ngay sau khi nhận được tin, Lê Duẩn chỉ thị cho Đại tướng Tổng tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái lên kế hoạch tiến chiếm miền Nam: “Một tháng sau chiến thắng Phước Long, ngày 5 tháng 2, anh Văn Tiến Dũng lên đường vào Tây Nguyên” (Hoàng Văn Thái, trang 172).

    Ngày đó cơ quan USIS của CIA tung tin quân VNCH thua tại Phước Long là do TT Nguyễn Văn Thiệu cố tình bỏ Phước Long để thử xem phản ứng của Mỹ. Sở dĩ CIA đổ cho Nguyễn Văn Thiệu là để Quốc hội Mỹ có cớ biểu quyết ngưng viện trợ quân sự cho VNCH.

    Tuần đầu của tháng 3 năm 1975. Trong một cuộc họp đầu tuần của Bộ Ngoại giao HK, Kissinger đã giải thích hành động viện trợ “Lấy có” cho Cam Bốt: “CP Lon Nol đang trên đà sụp đổ, đây là nguyên do chính khiến chúng ta phải tiếp tục viện trợ để cho sau này không ai có thể trách chúng ta vô trách nhiệm” (Frank Snepp, Decent Interval, trang 175). *(Nguyên văn: “…he say, the Lon Nol Government was on the brink of collapse, it was essential to keep open the aid pipeline so no one could later blame the United States for the disaster”).

    – Ngày 7-3-1975, Kissinger chỉ thị cho các viên chức ngoại giao HK trước khi ông ta lên đường đi Trung Đông: “Hãy làm mọi cách để Quốc hội tiếp tục duy trì viện trợ (Lấy có) cho Cam Bốt và VN. Không phải để cứu vãn hai nước đó, mà vì không thể nào cứu vãn được hai nước đó” (Frank Snepp, Decent Interval trang 176). *(Nguyên văn: Do everything possible to ensure that Congress lived up our aid commitments to Cambodia and Vietnam- not because the two countries were necessarily salvageable, but precisely because they might not be). Hai ngày sau khi Kissinger nói câu này thì Văn Tiến Dũng ra lệnh tấn công Ban Mê Thuột.

    Kissinger không muốn thiên hạ nghĩ rằng VN sụp đổ do không còn viện trợ. Và với mức độ viện trợ nhỏ giọt thì đến ngày 30-6-1975 quân đội VNCH sẽ không còn gạo và không còn đạn (Tài liệu The Final Collapse của Đại tướng Cao Văn Viên). Vì thế Kissinger mong cho Quân đội VNCH tự tan rã trước khi hết gạo và đạn trước tháng 6-1975. Lúc đó thiên hạ sẽ nghĩ rằng Quân đội Sài Gòn đã thua chạy trước sức tiến công vũ bão của quân Hà Nội.

    Năm 1975 ngày 11-3, một ngày sau khi mất Ban Mê Thuột. Theo Đại tướng Cao Văn Viên 

    “Ngày 11-3 TT Thiệu mời các Tướng Khiêm, Viên, Quang ăn sáng tại Dinh Độc Lập và sau đó trình bày ý định muốn cắt bỏ bớt lãnh thổ cho vừa với mức viện trợ quân sự của HK vào năm 1975”. 

    Tướng Viên ghi lại cảm nghĩ của ông lúc đó: “Quyết định của TT Thiệu cho chúng tôi thấy đây là một quyết định ông đã suy xét thận trọng. Hình như TT Thiệu đã ngần ngại về quyết định đó, và bây giờ ông chỉ thổ lộ cho ba người chúng tôi trong bữa ăn sáng…”. “… TT Thiệu phác họa sơ: …một vài phần đất quan trọng đang bị CS chiếm, chúng ta sẽ cố gắng lấy lại bằng mọi giá… Ban Mê Thuột quan trọng hơn hai tỉnh Kontum và Pleiku nhập lại…” (Cao Văn Viên, The Final Collapse, bản dịch của Nguyễn Kỳ Phong, trang 129-131).

    “Ngay sau khi Phước Long bị tấn công, Hoa Kỳ không có một phản ứng nào. Một thực tế gần như hiển nhiên là Hoa Kỳ không muốn cuộc chiến tiếp tục và biểu quyết viện trợ để VNCH đánh tiếp là chuyện sẽ không xảy ra. Đối với Hoa Kỳ cuộc chiến VN đã kết thúc” (trang 132).

    Henry Kissinger viết trong hồi ký của ông: “Cho đến hôm nay tôi kính trọng ông Thiệu như là một gương hào hùng của một kẻ dám chiến đấu cho nền tự do dân tộc của ông, một kẻ sau này đã chiến bại bởi những hoàn cảnh ngoài tầm tay cá nhân ông, đất nước ông và ngay cả ngoài vòng quyết định của chúng ta…” (Henry Kissinger, Years of Upheaval, 1981, bản dịch của Xuân Khuê)

    Kissinger là người mà TT Nguyễn Văn Thiệu ghét cay ghét đắng cho tới khi xuống mồ. Trong khi ngược lại, Kissinger cũng làm ra vẻ ghét cay ghét đắng TT Nguyễn Văn Thiệu, kẻ mà báo chí và nhân dân Mỹ luôn luôn nguyền rủa là cản trở và phá hoại hòa bình.

    Tuy nhiên cuối cùng, khi mà hòa bình đã đạt được bằng cái giá phản bội dân tộc VN, Kissinger mới bình tâm thú thực cảm nghĩ của ông ta về người anh hùng lãnh đạo đất nước VN trong thời gian gay cấn nhất của lịch sử. Kissinger nói: “… Sau khi ngưng bắn, quân đội chúng ta sẽ rút về bên kia bán cầu, còn dân tộc của ông vẫn còn cảnh một đội quân tiếp tục hy sinh cho những hy vọng mong manh của nền độc lập tại Đông Dương. Chúng ta đã chắc rằng biện pháp của chúng ta sẽ kềm hãm tham vọng của Hà Nội. Nhưng mắt của ông TT Thiệu chỉ quan ngại vào những điều mong manh về sau này…” (bản dịch của Xuân Khuê ).

    Kissinger cũng thú thực là vì không còn cách lựa chọn nào khác cho nên Mỹ đành phải hy sinh Nam VN, và cũng vì vậy mà Kissinger đành phải đóng vai làm kẻ thù của TT Nguyễn Văn Thiệu nhưng tự sâu xa trong đáy lòng, Kissinger khâm phục TT Thiệu: “…Như là một phép lạ phát xuất từ lòng dũng cảm, ông Thiệu đã cố gắng lèo lái quốc gia trong giai đoạn cam go này, chiến đấu chống lại quân thù cố tâm xâm lấn và làm an tâm đồng minh nào chưa thông hiểu ông… Về riêng tư tuy tôi dành ít cảm tình về ông TT Thiệu nhưng tôi rất kính nể ông vì ông là một người kiên tâm chiến đấu trong nỗi cô đơn ghê gớm (nguyên văn: terrible loneliness) sau cuộc rút quân của Hoa Kỳ. Ông chấp nhận những cảm tình và thông hiểu ít ỏi dành cho ông. Chuyện đó không làm phẩm chất của ông hao mòn đi…” (bản dịch của Xuân Khuê).

    Ngày 22-10-1972 TT Nguyễn Văn Thiệu đã nổi giận khi Kissinger ép buộc ông phải chấp nhận bản dự thảo Hiệp định đình chiến mà Kissinger đã cùng Lê Đức Thọ soạn thảo tại Paris. Ông khuyến cáo Kissinger: “Tôi không đồng ý về việc một số nhân viên của quý vị đi nói khắp Sài Gòn là tôi đã ký. Tôi chưa ký kết gì cả. Tôi không phản đối hòa bình nhưng tôi chưa nhận được một trả lời thỏa đáng nào của quý vị cho nên tôi sẽ không ký”. Kissinger mất bình tĩnh với tuyên bố của TT Thiệu, ông nói ông đã thành công ở Bắc Kinh, Mạc Tư Khoa và Paris mà bây giờ ông phải thất bại tại Sài Gòn: “Nếu ngài không ký, chúng tôi sẽ xúc tiến một mình”. 

    Tới phiên Thiệu nổi giận, ông buộc tội Kissinger là thông đồng với Bắc Kinh và Mạc Tư Khoa để bán đứng Miền Nam. Hồi ký của Kissinger ghi lại lời lẽ của Thiệu: “Là một quân nhân thì lúc nào cũng phải chiến đấu, nếu tôi không phải là một quân nhân thì tôi đã từ chức khi HK yêu cầu tôi từ chức và còn mặc cả với tôi về ngày giờ từ chức… Tôi chưa hề nói với ai là người Mỹ đã đòi tôi từ chức, vì như vậy là nhục; cho nên tôi đã làm như tự mình chọn lấy quyết định đó…” (Kissinger, White House Years, trang 1385).

    Kissinger đáp lại: “Tôi cảm phục tính hy sinh và lòng can đảm của ngài qua lời phát biểu vừa rồi. Tuy nhiên, là một người Hoa Kỳ, tôi không khỏi phiền lòng khi ngài cho rằng chúng tôi thông đồng với Liên Xô và Trung Quốc. Làm sao ngài có thể nghĩ như vậy được trong khi quyết định ngày 8-5 của TT Nixon (thả bom Hà Nội và phong tỏa các hải cảng Bắc Việt) đã liều cả tương lai chính trị của mình để giúp quý ngài. Chúng tôi điều đình với Liên Xô và Trung Quốc là để làm áp lực, buộc họ phải làm áp lực với Hà Nội… Nếu như chúng tôi muốn bán đứng quý ngài thì đã có nhiều cách dễ dàng hơn để hoàn thành việc đó…” (Kissinger, White House Years, trang 1385, 1386).

    Rồi tới phiên Đại sứ Bunker mất bình tĩnh : “Vậy thì thưa TT, lập trường chót của ngài là không ký, có phải không?”. TT Thiệu đáp: “Vâng, đó là lập trường cuối cùng của tôi. Tôi sẽ không ký và tôi xin ngài thông báo cho TT Nixon biết như thế. Xin quý vị trở lại Washington và nói với TT Nixon rằng tôi cần được trả lời”.

    TT Thiệu chỉ tay vào bản đồ VN rồi nói: “Có gì quan trọng khi Hoa Kỳ để mất một quốc gia nhỏ bé như Nam VN? Chúng tôi không hơn gì một chấm nhỏ trên bản đồ của thế giới đối với các ông… Nhưng đối với chúng tôi, đó là một sự chọn lựa giữa sự sống và sự chết. Đối với chúng tôi, đặt bút ký vào một hiệp ước tương đương với sự đầu hàng là chấp nhận một bản án tử hình, vì cuộc sống không có tự do là sự chết. Không, nó còn tệ hơn là sự chết” (Larry Berman; No Peace, No Honor; trích từ Văn khố Bộ Ngoại giao HK, bản dịch của Nguyễn Mạnh Hùng, trang 230).

    Sau 1975 thì người Mỹ muốn lái sự oán hận mất nước của nhân dân Miền Nam vào ông TT Nguyễn Văn Thiệu và quân đội VNCH để quên đi hành động “bán đứng đồng minh” của Mỹ (lời của TT Nguyễn Văn Thiệu nói thẳng vào mặt Kissinger năm 1972). Họ vận động các phương tiện truyền thông tiếng Việt tại hải ngoại kết án ông Thiệu làm cho mất nước. Họ kết án quân đội VNCH hèn nhát, tham nhũng… Họ dập tắt tiếng nói thanh minh của ông Thiệu và của những quân nhân VNCH. Họ thuê bọn vô lại biến phong trào chống CS tại hải ngoại thành những trò thối tha vô liêm sỉ!

    Hằng năm cứ vào mùa tháng Tư thì các phương tiện truyền thông tiếng Việt như RFA, BBC… lại rộn lên những luận điệu kêu gọi hòa hợp hòa giải giữa chế độ CSVN và những người đã bị đuổi chạy ra nước ngoài. Họ coi những người rượt đuổi và những người bị đuổi đều tội lỗi như nhau.

    Trong khi đó cuộc chiến Nam Bắc Hàn cũng giống hệt như cuộc chiến VN. Nhưng ngày nay RFA, BBC… nói cho con cháu Nam Hàn rằng năm 1950 quân Bắc Hàn tràn qua vĩ tuyến 38 đánh chiếm Nam Hàn. Quân đội Mỹ đã giúp nhân dân Nam Hàn đẩy lui quân Bắc Hàn về Bắc. Tội lỗi đều là phía Bắc Hàn chứ phía Nam Hàn không có lỗi.

    Nhưng đối với cuộc chiến VN thì quân Bắc Việt cũng tràn qua vĩ tuyến 17 đánh chiếm Miền Nam nhưng Mỹ lại nói: phía CSVN và phía VNCH đều có lỗi cho nên Mỹ đứng giữa không biết giúp bên nào! Cho tới nay cũng chưa ngã ngũ bên nào phải bên nào trái.

    Cũng vì chưa ngã ngũ cho nên tới nay danh dự của TT Nguyễn Văn Thiệu vẫn chưa được phục hồi. Người Mỹ vẫn muốn con cháu VN nhìn TT Nguyễn Văn Thiệu như là một kẻ luôn luôn cản trở và phá hoại hòa bình.

    Bùi Anh Trinh

    Kissinger và Lê Đức Thọ mật đàm tại Pháp (10 Jun 1973, Gif sur Yvette, Essone)

  • Tài liệu

    ILE DE LUMIÈRE , CHIẾC TÀU ĐÃ CỨU HÀNG CHỤC NGÀN THUYỀN NHÂN VN

    ILE DE LUMIÈRE , CHIẾC TÀU ĐÃ CỨU HÀNG CHỤC NGÀN THUYỀN NHÂN VN

    Từ Thức

    Hai biến cố lịch sử trong thế kỷ 20 đã làm thế giới thức tỉnh, vỡ mộng về thiên đường Cộng Sản : bức tường Bá Linh và boat people.

    Hàng triệu người VN đã bất chấp hiểm nguy vượt biển tìm đất sống, khi Cộng Sản Bắc Việt chiếm miền Nam tháng Tư 1975. Một phần ba đã bỏ mình trên biển cả, những người khác phải đối phó với cái chết, hải tặc, đói khát..Thảm kịch boat people đã tạo một phong trào tương trợ lớn lao chưa từng thấy tại các nước Tây Phương đối với thuyền nhân VN

    CÁI BẮT TAY LỊCH SỬ

    Ile de Lumière ( Đảo Ánh Sáng ) cũng tạo ra cái bắt tay lịch sử của hai trí thức, triết gia hàng đầu của Pháp : một của phe tả, Jean Paul Sartre, một của phe hữu, Raymond Aron. Và làm lung lay, nếu không tan vỡ, giấc mộng thiên đường XHCN, thế giới đại đồng của cả một lớp trí thức không tưởng

    Ile de Lumière ra đời do sáng kiến của Bernard Kouchner, được gọi là French Doctor, vì đã sáng lập Médecins Sans Frontières, tổ chức Bác sĩ Không Biên Giới, đưa các y sĩ Pháp đi giúp đỡ nạn nhân chiến tranh hay thiên tai trên khắp thế giới.

    Trí thức Pháp thời đó có một ranh giới không ai muốn, hay có can đảm, vượt qua : tả và hữu

    Sartre và Aron chống nhau kịch liệt. Sartre thiên Cộng, đã từng nói ‘’những người chống Cộng là những con chó ‘’ ( Tout anticommuniste est un chien ) . Và không lỡ một cơ hội đả kích, miệt thị Aron.

    Aron là triết gia, bình luận gia chính trị hiếm hoi đã viết sách, báo không ngừng nghỉ, để vạch trần bộ mặt thực của Cộng Sản, thực chất của chiến tranh VN, và hiểm họa độc tài toàn trị đe dọa thế giới.

    Hai địch thủ chính trị tạm quên hiềm khích, bắt tay nhau vì một mục tiêu chung : cứu boat people. Bên trái : Sartre, bên phải, Aron. Đứng giữa là André Glucksmann, triết gia Maoiste sau đó trở thành cây bút chống Cộng tích cực

    Đó là một thái độ can đảm hiếm có ở một nước, một thời điểm, thiên tả đồng nghĩa với trí thức. Những người chống Cộng không dám bày tỏ ý kiến của mình, sợ bị coi là phản động ( réactionnaire ), chưa nói tới chống Cộng kiên trì , với những lập luận sắc bén như Raymond Aron hay Jean François Revel. Câu nói quen thuộc của trí thức thời đó : ‘’Thà lầm lẫn với Sartre còn hơn có lý với Aron ‘’ ( Il vaut mieux avoir tort avec Sartre que raison avec Aron ). Đó là cái phi lý của tinh thần mù quáng vì ý thức hệ. Sartre được ngưỡng mộ , Aron bị đả kích, chế nhạo, mặc dù với thời gian, người ta thấy , về chính trị, Sartre lầm từ đầu tới cuối, trong khi Aron có lý trên mọi phương diện. Sartre đã mua chuộc những lầm lẫn của mình bằng một thái độ đáng phục : khi tuổi đã cao, gác bỏ tự ái, đã cùng với Aron gõ cửa chính quyền, kêu gọi cứu giúp khẩn cấp các thuyền nhân VN

    TỪ HẢI HỒNG TỚI ILE DE LUMIÈRE

    Một ngày gần cuối năm 1979, chuyện khó tin nhưng có thực đã xẩy ra : hai ông lãnh tụ trí thức không đội trời chung, Satre và Aron, ngồi lại với nhau, lên tiếng ủng hô dự án Île de Lumière, kêu gọi dân Pháp mở rộng bàn tay tiếp đón thuyền nhân, nạn nhân của cái mà trước đó những trí thức như Sartre nghĩ là một cuộc giải phóng. Khi quân Khmer Đỏ tiến vào Pnom Penh, tờ báo trí thức thiên tả Le Monde viết : dân chúng chen lấn hai bên đường đón rước.

    Bác sĩ Bernard KOUCHNER

    Thảm trạng của boat people trên chiếc thuyền Hải Hồng trên màn ảnh truyền hình đã làm họ tỉnh ngủ.

    Hình ảnh lạ hơn nữa là Sartre cùng với Aron vào điện Elysée, yêu cầu tổng thống Giscard d’Estaing đón nhận những thuyền nhân trên lãnh thổ Pháp.

    Sartre là một trí thức anarchiste, không nhìn nhận nhà cầm quyền, hay những cơ cấu của xã hội trưởng giả, đã từng từ chối giải Nobel Văn chương.

    Nước Pháp còn là nơi tiếng nói của những trí thức lớn có ảnh hưởng đáng kể. Việc Sartre cùng với Aron vào dinh Tổng thống kêu gọi giúp boat people gây mộ tiếng vang lớn trong dư luận.

    Tổng thống Giscard d’Estaing chấp thuận, dân chúng vui lòng đón tiếp và tận tình giúp đỡ trên 128. 000 thuyền nhân, chỉ trong những năm đầu, trong đó nhiều người đã được tàu Ile de Lumière cứu vớt ngoài khơi.

    Nên nhớ lúc đó kinh tế Pháp đang kiệt quệ. Chính phủ Pháp đã quyết định ngưng nhận di dân. Việc đón tiếp, giúp đỡ, cấp giấy cư trú và giấy phép hành nghề dễ dàng cho hàng trăm ngàn boat people đi ngược lại chích sách nhà nước đã được dân Pháp ủng hộ. Hầu như không có một phản ứng tiêu cực nào, tại một xứ chia làm hai ; cái gì phe tả cho là tốt, phe hữu cho là xấu. Hay ngược lại.

    Thuyền trưởng HERBELIN

    Là sáng kiến của Bernard Kouchner, dự án Một con tàu cho Việt Nam được sự ủng hộ tích cực của các trí thức tả phái nổi danh như triết gia Michel Foucault, ca sĩ Yves Montand, tài tử Simone Signoret, trước đó chống Mỹ, chống chiến tranh VN.

    Hình Sarte ngồi họp báo với Aron sau khi gặp Tổng thống Pháp chạy trên trang nhất tất cả các tờ báo lớn nhỏ. Ngồi giữa là André Glucksmann, triết gia thiên tả, maoiste ( người tôn thờ Mao ), sau vụ này trở thành chống Cộng. Ngày nay, tất cả đều đã qua đời, Sartre, Foucault, Aron, Gluckmann , Signoret, Montand. Bernard Kouchner về hưu. Sau khi tàu Ile de Lumière ngưng hoạt động, Kouchner rời Médecins Sans Frontières, sáng lập và điều hành tổ chức Médecins Du Monde ( Y Sĩ Thế Giới ), trước khi trở thành Tổng trưởng Ngoại Giao dưới thời Sarkozy.

    NHÀ THƯƠNG NỔI

    Ile de Lumière là một chiếc tàu cũ, 1500 tonnes, 90m chiều dài, được sửa cấp tốc, chạy tới đảo Poulo Bidong, ngoài khơi Mã lai , khởi đầu dùng làm nhà thương nổi, với 100 giường, chữa trị cho 20.000 thuyền nhân trên đảo.

    Thuyền trưởng François Herbelin, 29 tuổi, nói đó là những kỷ niệm sâu đậm nhất trên đời ông. ‘’ Tôi rất cảm phục những người Việt rất bình tĩnh, có tổ chức, có tư cách ( dignes ), quyết tâm ra khỏi đại nạn. Khi mới tới, họ kiệt lực, nhưng hồi phục rất nhanh, nghĩ tới tương lai ‘’.

    Chín tháng sau, Ile de Lumière bắt đầu sứ mạng mới : ra khơi cứu vớt những thuyền nhân phấn đấu trên biển cả, giữa cái sống và cái chết, giữa mưa bão và hải tặc.

    Hàng triệu người đã liều mạng vượt biển tìm tự do, với những phương tiện thô sơ gây kinh ngạc cho người Tây phương. Hàng trăm ngàn người bỏ mạng trên biển cả.

    Ile de Lumière đã cứu hàng chục ngàn người, chở về Poulo Bidong chờ ngày được nhận đi định cư ở Hoa Kỳ, Canada hay Âu Châu.

    Sau 14 tháng ngược xuôi, Ile de Lumière được thay thế bởi một chiếc tầu mới, Ile de Lumière II . Herbelin thành hôn với một phụ nữ thuyền nhân Việt Nam, trở thành thuyền trưởng một tàu thương mại. Làn sóng vượt biển bớt đi từ 1986, khi VN bắt đầu cởi trói, ít nhất về kinh tế, nhưng chưa bao giờ chấm dứt, mặc dầu ngày nay boat people VN nhường chỗ trên các médias cho thuyền nhân từ các vùng khác.

    DEVOIR D’INGÉRENCE

    Ile de Lumière đánh dấu một phong trào tương trợ đáng cảm phục ở Pháp, và sau đó ở các nước Tây Phương. Bernard Kouchner nhân đó đưa ra chủ thuyết ‘’ Devoir d’ingérence ‘’ ( Bổn phận phải can thiệp ), theo đó các nước dân chủ Tây phương có bổn phận phải can thiệp , để cứu các nạn nhân, tại những nơi nhân quyền bị chà đạp. Sau đó, các nước Tây phương đã nhân danh nguyên tắc này để đổ bộ can thiệp ở Kosovo.

    Ile de Lumière cũng đánh dấu sự thức tỉnh của trí thức thiên tả Pháp. Trước đó, từ 1975 tới 1979, Khmer Đỏ thảnh thơi tàn sát ở Cambodge, không ai phản ứng gì. Silence, on tue ( xin yên lặng, người ta đang giết người ). Người ta bịt tai, bịt mắt, bịt miệng để khỏi nghe, khỏi thấy, khỏi nói tới những sự thực phũ phàng.

    Người ta không quên câu nói nổi tiếng của Sartre, khi giải thích tại sao ông ta không đề cập đến Goulag và những chà đạp nhân quyền ở Nga Xô Viết : Il ne faut pas désespérer Billancourt. Không nên làm Billancourt tuyệt vọng. Boulogne Billancourt là một ngoại ô của Paris, nơi có trụ sở của hãng xe hơi Renault, tượng trưng cho thợ thuyền Pháp. Không đả động gì tới những tệ hại ở Nga để khỏi làm tuyệt vọng giới thợ thuyền, đang mơ thiên đường XHCN như ông già trong thơ Tố Hữu, ngồi đan rổ mơ nước Nga.

    Raymond Aron, tác giả cuốn L’Opium Des Intélectuels ( Thuốc phiên của trí thức ) viết : những trí thức thiên tả là những nhà cách mạng phòng khách, căm ghét xã hội đang sống, một xã hội cho họ một đời sống sung túc và đủ mọi quyền tự do, trong đó có quyền tự do ngôn luận.

    Sau làn sóng boat people, sau khi bức tường Bá Linh sụp đổ, phong trào thiên tả đi xuống, đảng Cộng Sản Pháp trước đó là một trong hai chính đảng lớn nhất, làm mưa làm gió ở Pháp, ngày nay trở thành một đảng bỏ túi, với trên 1% phiếu bầu.

    Từ Thức ( Paris, Septembre 2017 )

    Tây Phương đã tận tình giúp đỡ boat people VN. Đổi lại, thuyền nhân VN, bằng máu và nước mắt, đã giúp Tây phương mở mắt trước thực tế của ”xã hội chủ nghĩa” theo mô hình Cộng Sản.

    ( tuthuc-paris-blog.com ) _________________________________________________________

    RUPERT NEUDECK và tàu CAP ANAMUR

    Một số đoàn thể VN tại Đức đã xây một tượng đồng để vinh danh và tri ân ông Rupert Neudeck, ân nhân lớn của thuyền nhân VN trong lâu đài Wissem, thành phố Troisdorf.

    Rupert Neudeck, là một trong những người Đức được kính trọng nhất , đã được trao tặng nhiều giải về nhân quyền. Ông cùng bà, Rachel Neudeck, đã lập ‘’ Một con tầu cho VN ‘’ và đã cứu ít nhất 10.000 thuyền nhân VN những năm 80 .

    Chiếc thuyền nhỏ, chở 52 thuyền nhân kiệt sức, được tầu Cap Anamur hiện còn trưng bày ở Troisdorf, một thị trấn gần Bonn

    Là ký giả, triết gia, ông Neudeck đã bỏ trọn cuộc đời để cứu giúp những người thiếu may mắn.

    Ông đã sáng lập tổ chức Cap Anamur, giúp nạn nhân chiến tranh ở Phi Châu, tổ chức Mũ Xanh ( Greenhelms ) giúp dân chúng ở Trung Đông.

    Đôi khi được coi như một ông thánh, Rupert Neudeck mất năm 2016 , hưởng thụ 77 tuổi. Hiện nay có 4 trường học ở Đức mang tên Rupert Neudeck.

    Rupert Neudeck cũng là thuyền nhân, khi chữ boat people chưa được dùng để chỉ những người vượt biển tìm tự do. Ông đã theo gia đình trốn khỏi Ba Lan khi còn 6 tuổi để tránh Hồng Quân N

    Tượng đồng do Joost Mayer, nghệ sĩ điêu khắc và giảng viên tại đại học nghệ thuật Aachen thực hiện. Dưới tượng ghi câu châm ngôn của thành phố Danzig, ngày nay là Gdansk, Ba Lan , nơi ông sinh ra: ‘’ Không táo bạo, cũng chẳng sợ hãi ‘’ và một hàng chữ đơn giản : ‘’ Robert Neudeck 1939-2016 . Do thuyền nhân VN tại Đức xây dựng ‘’.

    Không liều lĩnh, nhẹ dạ, cũng không sợ hãi, không cúi đầu trước bất cứ bạo lực nào, suốt đời làm hết sức mình để giúp người khác, đó cũng là nhân sinh quan của Rupert Neudeck

    Việc vinh danh để bày tỏ lòng tri ơn đối với những nhân vật địa phương đã hết lòng giúp chúng ta trong những bước đầu cực kỳ khó khăn là một thái độ đẹp, một việc rất nên làm. Biết nhớ ơn những ân nhân của mình là dấu hiệu của một dân tộc có văn hóa, của những người tử tế.

    Việc làm càng có ý nghĩa hơn khi tập đoàn cầm quyền VN dùng mọi áp lực và hành vi côn đồ để xoá bỏ mọi dấu vết của thảm kịch thuyền nhân tại các nước láng giềng

    ( tuthuc-paris-blog.com )

    Cuốn phim về ILE DE LUMIERE và BOAT PEOPLE :

  • Thơ

    THƠ PLEIME- THEO CÁNH GIÓ BAY

    THƠ PLEIME- THEO CÁNH GIÓ BAY


    “Mày nghĩ tụi mình như cánh gió
    Ai đi nhốt gió được bao giờ…”


    Thiếu úy Nhảy Dù Lê Anh Thái tử trận khi tái chiếm cổ thành Quảng Trị mùa hè đỏ lửa 1972. Khi được đơn vị giao hoàn xác con, người cha là Lê Văn Tuyến đã tìm thấy một lá thư viết gởi bạn chưa kịp gởi trong những di vật còn lại của con. Ông phổ lá thư đó thành bài thơ sau đây tựa đề là THƠ PLEIME vì thiếu úy Lê Anh Thái đã viết từ khi còn ở Pleime cho đến khi chuyển quân đến Quảng Trị vẫn chưa kịp gởi.


    Thiếu úy đã đền nợ nước khi mới tròn 24 tuổi, và có một đứa con mới chào đời 2 tháng đã mồ côi cha.
    Thơ Pleime, trích từ tập “Theo Cánh Gió Bay” của thi sĩ Anh Tuyến


    Tao được thơ mày cả tháng nay
    Hành quân liên tiếp suốt đêm ngày
    Lưng không rời giáp, tay rời súng
    Liên lạc thì không có máy bay
    Tao vẫn luôn luôn nhớ tụi mày
    Nhớ Sài Gòn đẹp nắng vàng hây
    Nhớ đường Lê Lợi ngập hoa nắng
    Nhớ ngõ Tam Ða tà áo bay
    Pleime suốt tháng mưa dầm dề
    Mày ơi, thèm quá khói cà phê
    Thèm tô phở tái thơm chanh ớt
    Thèm rót bọt đầy một cốc bia
    Xi nê mày vẫn xem phim chưởng?
    Băng nhựa còn thu nhạc Khánh Ly?
    Những chiều thứ bảy còn đi nhót?
    Hay lén ông già nhậu whisky?
    Năm nay mày có lên đại học?
    Hay thôi, xếp sách nhập quân trường?
    Mày tính vào Dù hay Lục Chiến?
    Tao chờ mày nhé, ải biên cương
    Hôm qua thằng Tiến dẫn quân ngang
    Giữa rừng gặp bạn mừng hơn vàng
    Ôm nhau, hai đứa cười ha hả
    Râu tóc bù xù như cái bang
    Mày nghĩ, đã lâu không được tắm
    Hành quân liên tiếp giữa rừng già
    Ăn thì gạo sấy nhai qua bữa
    Tối ngủ nằm sương lạnh cắt da
    Hôm qua địch pháo giữa ban ngày
    Tao bị thương xoàng ở bả vai
    Mảnh đạn còn ghim trong thớ thịt
    (Mày đừng có nói mẹ tao hay)
    Mẹ tao không biết giờ ra sao?
    Còn khóc đêm trường để nhớ tao?
    Còn giận tao là thằng bất hiếu
    Xem tình cha mẹ như chiêm bao
    Mẹ tao chỉ muốn tao quanh quẩn
    Lính kiểng châu thành, lính phất phơ
    Mày nghĩ, tụi mình như cánh gió
    Ai đi nhốt gió được bao giờ?
    Những đêm biên cảnh sống xa nhà
    Cũng thấy đôi lần nhớ xót xa
    Cũng có đôi lần tao muốn khóc
    Muốn về thăm mẹ… thế nhưng mà.
    ..
    Thôi nhé, thư sau tao viết tiếp
    Trực thăng đã đáp trong vòng đai
    Tản thương lính đã đưa lên đủ
    Tao viết thơ này vội gởi ngay
    ./.
    T/g Anh Tuyến

  • Tham luận

    2020 là năm quyết định tương lai chính trị của nước Mỹ

    2020 là năm quyết định tương lai chính trị của nước Mỹ

    Vũ Ngọc Yên

    3-5-2020

    Vào đầu năm 2020, không ai nghĩ Tổng thống Mỹ đương nhiệm có thể sẽ đại bại trong cuộc bầu cử Tổng thống sắp diễn ra vào ngày 3.11.2020. Tổng Thống Donald Trump rất hãnh diện về những thành tích đạt được trong ba năm cầm quyền. Tình hình kinh tế cải thiện với độ tăng trưởng gần 3% và tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống mức 3.5%. Những cáo buộc của Hạ Viện, Trump lạm dụng quyền hành trong phiên xử luận tội truất quyền tại Thượng viện bị bác bỏ. Tỷ lệ cử tri ủng hộ Trump lên đến 49%. Con số cao nhất từ khi Trump chấp chính vào tháng 1.2017.

    Nhưng sự lạc quan cho Tổng Thống Trump và Đảng Cộng hòa đã không tồn tại được lâu vì đại dịch corona từ Vũ Hán, Trung Quốc, xâm nhập, làm thay đổi toàn bộ tình hình chính trị và kinh tế nước Mỹ từ ba tháng nay.

    Hiện Mỹ có số người bị nhiễm bệnh gần 1.166.000, trong đó có gần 68.000 người bị virus giết chết.

    Thâm thủng ngân sách 3.700 tỷ USD, tăng gần 4 lần so với năm ngoái. Nợ công sẽ lên 25.000 tỷ USD trong năm 2020.

    Tổng sản lượng quốc gia (GDP) trong quý 2 giảm 40%. Theo ước tính của Quỹ Tiền tệ Quốc tế, đến cuối năm nay, GDP của Mỹ sẽ giảm 5,9%.

    Thất nghiệp leo thang khủng khiếp, Mỹ hiện có khoảng 34 triệu người thất nghiệp. Theo các chuyên gia kinh tế, tỉ lệ thất nghiệp ở Mỹ trong tháng 4 là 20%, cao nhất kể từ thời Đại Khủng hoảng trong thập niên 1930.

    Trump và Đại dịch corona

    Trump chưa bao giờ là người có thiện cảm đối với giới khoa học. Ngay khi dịch virus corona bộc phát ở Mỹ, ông đã chốt một câu như đinh đóng cột “cơn dịch này là ‘HOAX‘, tin thất thiệt” do đảng Dân chủ tung ra để hại cá nhân ông.

    Ngày 22.1, Trump tuyên bố trong một cuộc phỏng vấn “chúng tôi đã kiểm soát được hoàn toàn“. Một ngày trước đó, ngày 21.1, một ca nhiễm được báo chí loan tin.

    Ngày 27.02 Trump quả quyết “Nạn dịch sẽ biến mất vào một ngày nào đó như một phép lạ“. Hai ngày sau, nạn nhân tử vong do corona xảy ra tại Mỹ.

    Những phát ngôn bất cẩn của Trump đã làm nhân dân thế giới kinh ngạc về sự thiếu kiến thức khoa học khi ông khẳng định “Virus sẽ bị ngăn chặn trễ nhất vào tháng Tư, vì nhiệt độ gia tăng sẽ giết virus và chấm dứt nạn dịch Covid-19“.

    Báo Washington Post công bố kỷ lục nói dối và loan tin thất thiệt của Trump kể từ tháng 1.2017 đã lên tới 18.000 lần.

    Lo sợ trước nguy cơ sẽ mất phiếu trong tất cả các cuộc bầu cử tháng 11.2020 vì những sai lầm trong việc giải quyết cuộc khủng hoảng hiện nay, Trump và đảng Cộng hòa đang tìm mọi cách phản công.

    Một mặt Trump lạm dụng ngân khố quốc gia tung tiền cứu trợ kinh tế, tài chính cho người dân, mặt khác vẫn tự bốc thơm và đổ lỗi bất lực xử lý trong vụ chống dịch cho người khác như Đảng Dân chủ, Thống đốc Dân chủ, ứng viên Tổng thống Dân chủ Biden, Âu châu, Tổ chức Y tế Thế giới và giới chuyên gia khoa học. Thậm chí cả doanh nhân Bill Gates và Cựu Tổng thống tiền nhiệm Obama. Đặc biệt Trung Cộng đang được Trump và đảng Cộng hòa dùng làm vật tế thần (scapegoat) cho thảm trạng hiện nay ở Mỹ.

    Lịch sử nước Mỹ đã cho thấy, những khi đất nước lâm vào các cuộc khủng hoảng lớn, cử tri sẽ có xu hướng tìm kiếm ứng cử viên được xem là có năng lực và đáng tin cậy hơn để lãnh đạo quốc gia. Vì vậy các cuộc bầu cử sắp tới không chỉ đơn thuần là chọn ứng viên tranh cử của đảng Cộng hòa hay Dân chủ, mà còn là cuộc biểu quyết tương lai chính trị của nước Mỹ.

    Trump và đảng Cộng hòa sẽ đi bại trong cuộc bầu c 2020?

    Các cuộc bầu cử tại Mỹ sẽ diễn ra trong ngày 3.11.2020, gồm:

    – Bầu Tổng thống

    – Bầu tất cả 435 ghế trong Hạ Viện

    – Bầu 33 ghế trong Thượng viện, cộng thêm hai cuộc bầu lại ở Arizona và Georgia.

    – Bầu Thống Đốc ở 11 Tiểu bang và 2 lãnh địa ngoại biên (outlying Territories) như Caribbean và hải đảo vùng Thái Bình Dương.

    – Bầu lại Nghị viện ở tất cả tiểu bang, ngoại trừ Alabama, Maryland, Missisippi, New York và Virginia. Ngoài ra còn bầu Thị trưởng (mayor), Ủy viên hội đồng (councilman), cũng như các viên chức địa phương.

    Từ năm 1912, có 5 lần Tổng thống đương nhiệm không được bầu lại. Trong số đó, có 4 lần thuộc Cộng hòa (CH) và 1 lần thuộc Dân chủ (DC).

    – 1912: William Taft (CH)

    – 1932: Herbert Hoover (CH)

    – 1976: Gerald Ford (CH)

    – 1980: Jimmy Carter (DC)

    – 1992: George H. W. Bush (CH)

    Trump có thể là Tổng Thống thứ năm có chung số phận như 4 vị Tổng thống Cộng hòa trước đây.

    Theo các cuộc thăm dò dư luận trong tháng 3.2020 của các Viện nghiên cứu ý dân, chỉ ra mức độ tín nhiệm Trump đã giảm xuống 44% và bất tín nhiệm tăng lên 52%. Cuộc khủng hoảng càng kéo dài, dân chúng càng mất niềm tin vào Trump và đảng Cộng hòa.

    Các Tổng Thống Mỹ và Việt Nam

    Trong quá khứ, các Tổng thống Mỹ của hai chính đảng đã can dự vào Việt nam. Tổng thống Harry S. Truman (Dân chủ) công bố chính sách ngăn chặn (containment policy) sự bành trướng chủ nghĩa cộng sản ở các nước trên thế giới. Mỹ khởi động chiến tranh Triều Tiên (1950-1953) chống Hàn Cộng, bảo vệ Nam Hàn.

    Dwight D. Eisenhower (Cộng hòa) khai sinh học thuyết Domino (dominno theory) vào năm 1954, nhằm bào vệ các quốc gia Đông Dương trước hiểm hoạ Cộng sản, mà trọng tâm là Nam Việt nam.

    John F. Kennedy ( Dân chủ) can thiệp vào chiến tranh Việt Nam, hỗ trợ quân sự và kinh tế cho Việt Nam Cộng hòa, chống CS Bắc Việt xâm lược.

    Lyndon B. Johnson (Dân chủ) gia tăng quân số lên trên 500.000 và hàng vạn cố vấn cho chiến trường tại Việt Nam.

    Richard Nixon (Cộng hòa) khởi động chính sách hòa giải với Trung Cộng (Thông cáo Thượng Hải năm 1972), khai thông cho chiến lược Việt Nam Hóa Chiến tranh để rút quân khỏi Việt Nam và ký kết Hiệp định đình chiến Paris năm 1973.

    Gerald Ford (Cộng hòa) chấp nhận sự kết thúc chiến tranh vào ngày 30.04.1975, đón nhận người Việt và thuyền nhân tị nạn vào nước Mỹ.

    Sau khi hòa bình tái lập ở Việt Nam, Tổng Thống Clinton, Bush, Obama và Trump đã đến Việt Nam, nhưng nổi bật nhất là các chuyến công du:

    – Bill Clinton (Dân chủ) đến thăm Việt nam năm 2000 sau khi CS chấp nhận không đòi bồi thường chiến tranh 2 tỷ USD, và sẽ không thưa kiện bất cứ vụ nào liên quan đến sự can dự chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam, chẳng hạn nạn nhân chất độc da cam. Clinton ủng hộ Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO năm 2007.

    – Barack Obama (Dân chủ) thăm Việt nam sau khi Việt Nam gia nhập Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), một chiến lược giúp Việt Nam phát triển kinh tế và chống sự bành trướng chủ nghĩa bá quyền Trung Cộng tại Á châu.

    – Donald Trump (Cộng hòa) chủ trương “Nước Mỹ trên hết”, không muốn Mỹ bị ràng buộc vào các Hiệp ước quốc tế không lợi cho Mỹ, nên tuyên bố rút khỏi Hiệp định TPP mà không đề ra một chiến lược thay thế.

    Thái độ của chúng ta trước các cuộc bầu cử

    Cộng sản Việt Nam là đối thủ chính trị của chúng ta và Trung Cộng là kẻ thù của dân tộc ta. Cả hai đều phải chống. Nhưng trong cuộc đấu tranh vì Dân chủ và Độc lập quốc gia chúng ta không nên đặt niềm tin hoàn toàn vào bất cứ cá nhân lãnh đạo của một cường quốc nào. Trong quá khứ, hai miền Nam – Bắc đã là nạn nhân của sự lật lọng của các quốc gia đồng minh.

    Cuộc hải chiến Hoàng sa 1974 là một bằng chứng. Miền nam quá tin vào Nixon và Mỹ trong cuộc hải chiến này vì hy vọng Mỹ sẽ trợ giúp, nhưng cuối cùng chính quyền Nixon đã không cho Hàng không Mẫu hạm can dự, thậm chí còn cấm không quân Việt Nam Cộng hòa oanh tạc. Còn Bắc Việt cả tin Tàu Cộng, báo trước họ xâm chiếm Hoàng Sa là chỉ để thử phản ứng Mỹ xem Mỹ có còn quyết tâm giúp Miền Nam nữa hay không. Nhờ sự “nắn gân” Mỹ, Bắc Việt mới lên kế hoạch Tổng tấn công miền Nam vào năm 1975.

    Sau ngày 30.4.1975 Cộng sản Việt Nam mới biết mình bị Trung Cộng lừa khi nhận ra việc chiếm Hoàng Sa là chủ đích chính mà Trung Cộng muốn Bắc Việt tái xác nhận chủ quyền Trung Cộng trên các quần đảo ở biển Đông qua Công hàm Phạm Văn Đồng (năm 1958). CSVN đã không phản đối, coi như mặc nhiên công nhận.

    Hai chính đảng Cộng hòa và Dân chủ của Mỹ đều là những đảng có lập trường chống độc tài Cộng sản, nên đối với chúng ta không quan ngại đả̉ng nào thắng thua. Chúng ta hãy khai thác đường lối của hai đảng có lợi cho cuộc đấu tranh vì Dân chủ và Độc lập ở Việt Nam.

    Nếu bạn nào cảm thắy cương lĩnh Cộng hòa phù hợp với quan điểm chính trị của mình thì cứ tiệp tục hỗ trợ đảng này. Còn các bạn ủng hộ Dân chủ vì thấy đường lối, chính sách của đảng này phù hợp lý tưởng của những người dân chủ thì cũng nên dấn thân, can dự vào các sinh hoạt chính trị để giúp đảng này chiếm được hậu thuẫn của đa số nhân dân Mỷ.

    Chúng ta đều biết câu “không có đồng minh và kẻ thù vĩnh viễn, chỉ có lợi ích quốc gia mới là vĩnh viễn” được áp dụng trong quan hệ quốc tế. Vì vậy, chúng ta nên có cái nhìn chính trị thực dụng (pragmatism), chia trách nhiệm khai thác cả hai đảng Cộng hòa và Dân Chủ cho mục đích chung, thay vì phí phạm năng lực cho chống đối, hay phỉ báng lẫn nhau. Đảng nào thắng qua kết quả bầu cử cũng đều có lợi cho chúng ta.