• English,  Tin địa phương

    Haltom City elects Vietnamese-American mayor

    Haltom City elects Vietnamese-American mayor

    Dr. An Minh Truong came to the US when he was 26 and had a long career in law enforcement Author: Lauren Zakalik Published: 5:37 PM CDT May 7, 2019

    HALTOM CITY, Texas — As a child growing up in Vietnam, studying by street light, An Minh Truong says he never could’ve imagined the life he’s ended up living.

    Monday, he’ll be sworn in as the mayor of Haltom City after receiving nearly 60 percent of the vote.

    “I’m so proud for myself, my family, and…for the Vietnamese American society as a whole,” Truong told WFAA Tuesday.

    With his election, Truong is making history. We’re told he’s the first Vietnamese-American mayor in Tarrant County, and possibly the entire state. 

    But he’s no stranger to making history. Truong came to the United States at age 26, after having flown planes as a fighter pilot alongside Americans during the Vietnam War.

    “At that time, you have to live one day at a time because you have no future. I can be killed the next day,” he said.

    Truong then became a Fort Worth police officer in the 1980s. He believes he was the first Vietnamese-American officer on the force.

    “Most of them laughed at me, saying ‘You can’t speak English, you can’t learn English,'” he recalled.

    For 37 years after that, Truong was an investigator — often undercover — with the Tarrant County District Attorney’s office. But now, the man who eventually earned a Ph.D. is going from city council member to mayor.

    “After the election, I said ‘Ah! Can you believe it?’ Something just like in a dream, you know?” he said. “Just like a dream.”

    About 4 percent of Haltom City residents are Vietnamese-American, according to online city documents. Truong says another 5 percent are Laotian-American. He’s proud to lead a diverse city. His swearing in ceremony, he says, will include English, Spanish and Vietnamese.

  • Thơ

    XÚC ĐỘNG KHI ĐỌC “THƯA MẸ” CỦA PHƯƠNG TẤN

    Thiếu Khanh

    Lòng Mẹ bao la như biển Thái Bình rạt rào,
    Tình Mẹ tha thiết như dòng suối hiền ngọt ngào,
    Lời Mẹ êm ái như đồng lúa chiều rì rào.
    Tiếng ru bên thềm trăng tà soi bóng Mẹ yêu.

    Có lẽ không một người Việt nào ở Miền Nam Việt Nam trước đây mà không từng nghe hay thuộc lẩm nhẩm ít nhất vài câu của bài hát Lòng Mẹ rất cảm động này của nhạc sĩ Y Vân.

    Mẹ là người gần gũi thân thiết nhất của mỗi người. Trong lòng chúng ta, mọi con người ở khắp năm châu, đều có hình ảnh người Mẹ yêu kính của mình. Hình tượng người Mẹ đã có từ khi bắt đầu có loài người. Mẹ là nhân vật đầu tiên và thân thiết nhất của mỗi con người sinh ra trên trái đất này. Sự vĩ đại của Mẹ, và tình yêu thiêng liêng Mẹ dành cho con cũng đã có từ đó. Có thể có những đứa con ngỗ nghịch ở đâu đó, nhưng bao giờ Mẹ cũng yêu thương con, tình yêu của Mẹ có thể so sánh với sự bao la vô hạn của trời đất. Người Do Thái có câu nói: “Thượng Đế không thể có mặt ở mọi nơi, vì vậy Ngài đã làm ra những người Mẹ”. (God could not be everywhere, and therefore he made mothers). Mẹ thay mặt cho Thượng Đế. Tức là, về một mặt nào đó, Mẹ cũng lớn lao cao cả như Thượng Đế. Tuy vậy, người Tây phương thường coi Mẹ như một thiên thần.

    Người ta kể, Abraham Lincoln, vị Tổng thống thứ 16 của Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ từng có lần nói: “Tất cả những gì tôi được như hôm nay hoặc tôi hy vọng đạt được, đều nhờ ở người Mẹ thiên thần của tôi.” (All that I am or ever hope to be, I owe to my angel mother.”)

    Người Trung Quốc tôn những bà Mẹ sinh ra các bậc thánh nhân là Thánh Mẫu, nhưng một trong những nền văn hóa phụ hệ sớm nhất của loài người này, người phụ nữ không có vị trí quan trọng trong gia đình và xã hội. Mặc dù tình yêu vô điều kiện của họ dành cho con cũng lớn lao như của tất cả những bà Mẹ khác của loài người. Vì vậy, ngoài các Thánh Mẫu của các thánh nhân, dường như người Tàu không có một hình ảnh tinh thần thiêng liêng dành cho người Mẹ của họ — như hình ảnh Mẹ-thiên-thần của người Tây phương, hay hình ảnh Mẹ-bà-tiên của người Việt Nam. Người Việt coi Mẹ là một bà tiên đẹp đẽ, hiền hậu và đầy lòng yêu thương. Khi mình lớn lên, có tuổi tác rồi, dù Mẹ có trở nên một nhân vật thực tế hơn, nhưng bao giờ Mẹ cũng gần gũi với hình ảnh bà tiên dịu hiền dành tất cả tình thương yêu cho con, và mình luôn yêu kính Mẹ.

    Nhà thơ Phương Tấn, một người từ nhỏ đã thiếu tình cha, vì:

    Cha tôi theo cách mạng
    Huyễn mộng giữa đất trời
    Sầu đùn theo năm tháng
    Mẹ đợi bóng ma trơi.
    (Trích: Đợi Bóng)

    Cha đi từ thuở nọ
    Biệt tích giữa chiến khu…
    (Trích: Cuốn trôi giấc mơ tiên)

    Phương Tấn cùng các anh em ông sống với Mẹ, và hiểu hơn ai hết tình yêu thương của Mẹ. Nhưng Mẹ ông là một “bà tiên bất hạnh”:

    Mẹ, bà tiên bất hạnh
    Gượng leo dây một chân
    Quẫy quạnh hiu một gánh
    Chập choạng vào thế gian.

    Mẹ, bà tiên bất hạnh
    Gượng leo dây một tay
    Quẫy quạnh hiu một gánh
    Chập choạng vào thế gian.
    (Trích: Đời có chi ngộ quá)

    Mẹ ông nghèo quá, như thân cò gầy rạc nuôi bốn đứa con:

    Bốn thằng con sống chung cùng manh chiếu
    Cùng chút xương người mẹ róc cho con.
    (Trích: Thư cho em trai ở Bệnh viện Nguyễn Huệ, Nha Trang)

    Trong cảnh nghèo vất vả:

    Mẹ cười, bưng bát cơm thiu
    Ầu ơ, móm mém hắt hiu phận bèo
    (Trích: Ầu ơ, con ẵm bóng theo tạ đời)

    Người Mẹ của nhà thơ Phương Tấn gặp người “bạn” nào đó khuyên bà… bán bớt con:

    Gặp bạn thời bạc phước
    Khuyên Mẹ bán bớt con
    (Trích: Cuốn trôi giấc mơ tiên)

    Lời khuyên tàn nhẫn của người “bạn” của Mẹ ông khiến người ta hình dung được hoàn cảnh của mẹ con ông lúc bấy giờ cơ cực thê thảm đến mức nào. Tuy vậy, Mẹ ông đã khẳng quyết thà bán chính mình chớ không bán con mình:

    Mẹ ôm con khóc mướt:
    “Bán Mẹ, không bán con.”
    (Trích: Cuốn trôi giấc mơ tiên)

    Quyết định “Bán Mẹ không bán con” của Mẹ ông, bỏ qua cái nhìn trắc ẩn và lời khuyên đau lòng của người bạn, là phát xuất từ sức mạnh của tình thương yêu rất thiêng liêng và vĩ đại của người Mẹ, trùng hợp với nhận xét của Agatha Christie, nhà văn người Anh nổi tiếng, chuyên viết tiểu thuyết về tội phạm khi, trong truyện ngắn The Last Seance, bà nói: “Tình thương yêu của người Mẹ dành cho con mình là không giống với thứ gì khác trên đời. Nó bất chấp luật lệ, bất chấp sự trắc ẩn của người khác nhìn mình, nó coi thường mọi thứ, và đập nát không thương tiếc tất cả những gì ngăn cản sự thể hiện của nó.” (A mother’s love for her child is like nothing else in the world. It knows no law, no pity, it dates all things and crushes down remorselessly all that stands in its path).

    Và Nina Grey, một nhân vật trong Eden, cuốn thứ ba của bộ tiểu thuyết Providence (Providence, Requiem, và Eden) của Jamie McGuire cũng xác định như thế: “Tình yêu của người Mẹ là tất cả… Nó là thứ mang đứa con vào với thế gian. Nó là thứ hun đúc nên toàn bộ bản chất cuộc sống của chúng. Khi người Mẹ nhìn thấy con mình lâm nguy, bà có thể làm mọi thứ, theo nghĩa đen, để cứu nó. Những người Mẹ đã nhấc bổng chiếc xe đang đè lên các con mình, và hủy diệt toàn bộ nhiều triều đại. Tình yêu của người Mẹ là năng lực mạnh mẽ nhất mà con người đã biết đến.” (A mother’s love is everything, (…). It is what brings a child into this world. It is what molds their entire being. When a mother sees her child in danger, she is literally capable of anything. Mothers have lifted cars off of their children, and destroyed entire dynasties. A mother’s love is the strongest energy known to man.)

    Những điều này giúp ta hiểu: Phương Tấn – đứa trẻ sinh thiếu tháng nuôi trong lồng kính – đã sống sót và trưởng thành, cùng với các anh em của ông, dưới ý chí mạnh mẽ và tình thương bao la của người Mẹ:

    Vâng, xin thưa tất cả
    Tôi không phải là người
    Tôi là tên thiếu tháng
    Từ lồng kính bước ra
    Chưa một lần được nói
    Tiếng nói của con người
    Chưa một lần được biết
    Tháng đẻ và năm sinh
    Chưa một lần thấy mặt
    Về người cha của mình.
    (Trích: Reo vui giữa huyệt đời)

    Và chúng ta cũng hiểu được: nhà thơ Phương Tấn không chỉ làm thơ về Mẹ, mà ở tuổi ngoài thất thập (Phương Tấn sinh năm 1946) còn dành riêng một tập thơ để ca ngợi và tưởng nhớ Mẹ mình, tập thơ Thưa Mẹ:

    Con lột mũ cởi giày và tháo mép
    Những chua ngoa xin mắc lại cho đời
    Nay trở ngựa rầu rầu qua lưng mẹ
    Thân cũng tàn con gõ lấy mà chơi.

    Xin đừng hỏi e một lời cũng mỏi
    Tương tàn kia bòn mót hết xương da
    Con ngồi gỡ trăng phơi trong mắt lạnh
    Lấy nắng chiều hong một chút sầu khuya.
    (Trích: Thưa Mẹ)

    Nếu coi Mẹ là Thánh Mẫu, hay là Thiên Thần, những hình tượng đó đều hàm ý một điều gì siêu nhiên, cao cả, và dường như chỉ để kính trọng – và có ít nhiều sợ hãi kiểu “kính nhi viễn chi” – chớ ít gần gũi thân thiết với con người như hình ảnh bà tiên. Tuy bà tiên cũng chỉ là một hình ảnh tưởng tượng, nhưng thích hợp với tinh thần văn hóa của người Việt hơn. Một vị Thần Thánh thường gợi hình ảnh một đấng oai nghiêm, không bao giờ cười, và có thể ngự trên bàn thờ; còn một bà tiên thì không như thế. Bà tiên, ngoài đặc tính xinh đẹp và hiền hậu, là một hình tượng của sự nhân ái, yêu thương và giúp đỡ, luôn luôn có mặt bên cạnh mình, sẵn sàng nâng đỡ khi mình sa sút, an ủi khi mình đau buồn, xoa dịu và chữa lành khi mình bị thương tổn, dù mình có thể vô tình không nhìn thấy. Bà tiên còn gợi ý sự nhẹ nhàng, thanh thoát và lung linh hơn thần thánh. Nhưng “bà tiên bất hạnh” của nhà thơ Phương Tấn mang hình ảnh tần tảo khổ cực vất vả nuôi con trong hoàn cảnh đất nước nhiễu nhương và người chồng đi kháng chiến:

    Thân Mẹ gầy hơn cỏ
    Càng vò võ hoài mong
    Thương dầu hao bấc cạn
    Gửi phận vào thinh không.
    (Trích: Cuốn trôi giấc mơ tiên)

    Sophocles, một trong những kịch tác gia Hy Lạp thời xưa cho rằng chính con cái là gánh nặng như những chiếc neo giữ chặt bà tiên trên mặt đất (Children are the anchors of a mother’s life). Điều này không phải chỉ ứng với người Mẹ đáng kính của nhà thơ Phương Tấn, mà có lẽ tất cả chúng ta đều là những chiếc neo của Mẹ mình; rõ nhất là trường hợp các bà Mẹ cô đơn, góa bụa đã dành cả cuộc đời mình cho con mà không tái giá, thà:

    “Bán Mẹ, không bán con.”

    “Những chiều mưa phố đỏ
    Mẹ vò võ trông chồng”
    (Trích: Cuốn trôi giấc mơ tiên)

    Nhà văn nữ người Mỹ Audrey Niffenegger, trong một tác phẩm tiểu thuyết được quay thành phim, The Time Traveler’s Wife, nói rằng: Trong các chuyện cổ tích, luôn luôn là những đứa con bay nhảy tung tăng khắp chốn, trong khi các bà Mẹ ngồi vò võ ở nhà trông chờ đàn con bay về vào nhà qua cửa sổ (In fairy tales it’s always the children who have the fine adventures. The mothers have to stay at home and wait for the children to fly in the window).

    Phương Tấn cũng có thể là một đứa con “bay tung tăng” như vậy. Nhưng không phải ông “tung tăng” trong những niềm vui hoan lạc nào, mà ông cũng như nhiều thanh niên khác cùng thời đại mang chung thân phận trai thời chiến, có trách nhiệm với núi sông, có những dằn vặt thao thức về chí hướng, lý tưởng của bản thân, về thảm trạng điêu tàn do chiến tranh gây ra cho đất nước:

    Sau ngày tháng năm đó
    Mày đã làm được gì?
    Tiếng quát của lý tưởng
    Quay tít giữa châu thân
    Căng thêm niềm thần bí
    Tôi thiếu điều hụt chân.

    Ôi chao, ngày phụt tắt
    Tuổi trẻ đen đêm đen
    Từng ý nghĩ thoăn thoắt
    Nhảy trong trí não này.

    Nỗi thật đen thấp xuống
    Cùng bão lũ lên cao
    Đuổi theo đuổi theo mãi
    Trên số phận hẩm hiu.

    Trên số phận hẩm hiu.
    (Trích: Cuốn trôi giấc mơ tiên)

    Nhà thơ không những không “bay về vào nhà qua cửa sổ,” mà trong những ngày Tết thiêng liêng Mẹ ông chờ con vò võ, ông còn ở quê người xa tắp, vọng về quê nội đang chìm trong chiến tranh tang tóc:

    Ở Mỹ không hạt dưa
    Không lì xì không mứt
    Không lấp ló sau nhà
    Chờ được mừng tuổi Má.

    Xuân ở quê nội con
    Có bà con cô bác
    Cầm tay ngỡ kẻ thù
    Có anh em ruột thịt
    Mà giết nhau như chơi.

    Xuân ở quê nội con
    Rượu mà như nước mắt
    Khóc say nhau một lần
    Mai chắc gì thấy mặt
    Mai chắc gì anh em.
    (Trích: Mẹ ơi con không về kịp Tết)

    Ngay cả ngày vui thành hôn của người em trai, nhà thơ cũng không về kịp được để chúc mừng hạnh phúc của hai em:

    Anh về muộn một hôm sau tiệc cưới
    Chút gì vui còn loáng thoáng quanh nhà
    Lòng chợt mát như có người vừa tưới
    Cho thịt xương riu rít ở bao la.
    (Trích: Thư cho em trai ở Bệnh viện Nguyễn Huệ, Nha Trang)

    Tập thơ Thưa Mẹ của Phương Tấn gồm 32 bài thơ, nhưng chỉ có một nửa, tức một phần hai số bài thơ có nói về Mẹ. Một phần hai còn lại của tập thơ phản ảnh những dằn vặt của nhà thơ về thân phận, chiến tranh và quê hương.

    Ta nhảy nhót với bóng ta vãi xuống
    Một đời vui đem gói lại cho người
    Một đời buồn gửi lại ở bên ta
    Trong khuya khoắt nụ tầm đông chợt nở.

    Ta sẽ sớt hồn ta cho cây cỏ
    Cây sẽ xanh và cỏ hết bạc lòng
    Ta sẽ thả lòng ta cho trời đất
    Trời ra hoa và đất hết vô tâm.
    ….

    Nơi quạnh vắng cõi lòng ta thăm thẳm
    Ấy bao dung lồng lộng gửi cho người
    Trong chiu chắt tình ta phơi phới lắm
    Ngó xuống đời bạc phếch tuổi hai mươi.
    (Trích: Vào Trại phong Quy Hòa làm thơ gửi Hàn Mặc Tử)

    Những thao thức dằn vặt nội tâm của nhà thơ phản ảnh phần nào nỗi thao thức của tuổi trẻ, những người đồng hành với tác giả trong cùng không gian và thời gian, mang cùng tâm trạng.

    Này cô đơn quá đỗi
    Tuổi trẻ làm sao ăn
    Tóc đà trắng buồn bã
    Sao chẳng thấy Phật đâu
    Nhào lộn trên thánh giá
    Vẫn chẳng thấy Chúa đâu.
    (Trích: Reo vui giữa huyệt đời)

    Ôi, con thèm đi học
    Để biết mình biết yêu
    Để biết mình biết khóc
    Xót quê mình đìu hiu.

    Ôi, con thèm đi học
    Phận đời như bóng câu
    Tủi một thời ngang dọc
    Tát hoài mỗi bể dâu.

    (Trích: Mẹ ngủ ngoan con thương)

    Kính thưa chị cơm bữa no bữa đói
    Nhà lêu bêu thuê tháng được tháng không
    Xuôi với ngược cũng làm thân tôi mọi
    Ngược rồi xuôi vẫn lấy cát lấp sông.

    Tuổi thì nhỏ sao lòng nghe đà mỏi
    Mắt còn trong sao dạ đã bơ phờ
    Chúa thì cao em làm sao mà vói
    Khổ còn qua, qua mãi ai ngờ.
    (Trích: Khoai lang vỏ đỏ lòng vàng)

    Như mọi người Việt miền Nam thời đó có làm thơ hay không làm thơ, đi qua cuộc chiến, không thể không mang trên mình những vết thương – những vết thương không nhất thiết chỉ hằn vào da thịt. Một vài vết thương như thế chắc chắn gây sẹo trong tâm hồn nhà thơ:

    Vạt máu vãi trên đồi cao bóng lẻ
    Máu quân thù hay máu của quê chung.
    (Trích: Cha và Con)

    “Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam” (mà người miền Nam, cũng như trong các tài liệu của Mỹ và Tây phương, thường gọi là Việt Cộng) là một bộ phận chính trị – quân sự của miền Bắc, hoàn toàn do miền Bắc lãnh đạo, được thành lập tại miền Nam vào năm 1961. Trong ngôn ngữ của những người lính mang số mệnh “sinh Bắc tử Nam,” “xẻ dọc Trường Sơn đi đánh Mỹ” của cái Mặt trận này có những từ ngữ rất “đặc trưng” mà người miền Nam không dùng. Chỉ từ sau năm 1975 những từ ngữ vốn có sẵn trong ngôn ngữ mà vẫn “lạ tai” đó đã lan tràn khắp nước. Năm 1964, là mốc thời gian rất sớm khi Phương Tấn dùng những từ “giải phóng” “nhân dân” “đỏ phố đỏ cờ”, thứ ngôn ngữ du nhập từ miền Bắc ấy, trong bài thơ viết gởi cha mình ở bên kia dòng sông Bến Hải vào năm đó. Bài thơ có những lời như tiên tri:

    Ơi giải phóng
    phóng bùa vong bản
    Tiêu máu nhân dân
    đỏ phố đỏ cờ
    Chân vô thức bủa quanh đầu cách mạng
    Con gõ hồn thân bỗng úa mênh mang.

    Trong hiu hắt dòng chim rừng quẫy cánh
    Dắt dìu nhau trôi dạt bến bờ xa

    Lửa cuồn cuộn chìm sâu vào sử sách
    Cội chia nguồn và bóng cũng chia ta.
    (Trích: Thư gửi cha bên kia sông Bến Hải)

    Những vết thương không chỉ trong lòng nhà thơ; nó đã trở thành một nỗi đau rất lớn của cả dân tộc, mà dư chấn còn kéo dài chưa biết tới bao lâu, được nhà thơ ghi nhận trong toàn bài thơ rất xúc động dưới đây:

    THƯƠNG CÂY NHỚ CỘI

    Còng lưng thay trâu cày qua luống đất
    Qua những luống đời ròng rã chiến chinh
    Ngưng bắn nghe đâu riêng cho thành thị
    Chỉ có thị thành không có đao binh.

    Mỗi sáng ra đồng cờ vàng cờ đỏ
    Cờ của bên này cờ của bên kia
    Đây đạn Trung-Xô đấy bom Mỹ quốc
    Kia xác đồng bào nọ xác anh em.

    Giựt đất cắm cờ cắm cờ giựt đất
    Cờ của hận thù đất của Việt Nam
    Bom đạn cho ai vì ai lường lật
    Đâu phải người ngoài giết nhau cho cam.

    Lúa của nông dân mặt vàng da bủng
    Đất của cha ông chân lấm tay bùn
    Đạn của Trung-Xô bom của Mỹ quốc
    Cờ của hai miền đất của quê chung.
    (Đại Lộc, 26.03.1973)

    Có lẽ không phải ngẫu nhiên nhà thơ Phương Tấn xếp những bài thơ như thế này vào tập thơ ông chủ ý dành cho Mẹ. Trong những bài thơ này, tuy tác giả không nhắc đến Mẹ, nhưng chúng là những nét bi tráng vẽ lên cái bối cảnh không gian và thời gian mà Mẹ và các anh em nhà thơ Phương Tấn đã sống và trải nghiệm hết các mức độ sắc màu sáng tối và mùi vị cay đắng của nó. Vả lại, những cảm nhận này của nhà thơ không phải là chuyện riêng của ông. Như nhà văn đa tài người Mỹ, Mitchell David Albom, nhận xét: “Đằng sau tất cả những câu chuyện của anh luôn luôn là câu chuyện của Mẹ anh, vì chuyện của bà là nơi những câu chuyện của anh bắt đầu.” (But behind all your stories is always your mother’s story, because hers is where yours begins). Những điều trong thơ của Phương Tấn kể với chúng ta đều bắt đầu từ câu chuyện đời gian nan vất vả của người Mẹ đáng kính của ông.

    Phương Tấn không chỉ là nhà thơ, nhà báo nổi tiếng, ông còn là một người yêu võ. Nhưng đọc thơ ông người ta sẽ không thấy oai thế của một “tráng sĩ” vung gươm trên lưng ngựa, mà chỉ thấy một tâm hồn dịu dàng và nhạy cảm của một nhà thơ, hơn nữa, một đứa con hiếu thảo luôn thương yêu Mẹ. Chợt nhớ lời bà Martha Ellis Gellhorn, nhà văn Mỹ, đồng thời là nhà báo được đánh giá là một trong những phóng viên chiến tranh vĩ đại nhất của thế kỷ 20. Bà nói: “Tôi có đủ hiểu biết để thấy rằng không một phụ nữ nào nên làm vợ một người đàn ông ghét bỏ Mẹ mình.” (I know enough to know that no woman should ever marry a man who hated his mother). Đọc phần chú thích dưới bài thơ Một Trang Kinh Viết Lại của Phương Tấn trong tập thơ này, mình nghiệm ra bà ấy nói đúng: Có yêu Mẹ một cách chân thành và cảm nhận hết tình Mẹ, người ta mới biết yêu vợ mình hơn. Nhưng đây là sự liên tưởng “ngoài lề.”

    Và khi anh thụ thai
    Sẽ không còn bóng tối
    Sẽ không còn tội lỗi
    Anh lại càng yêu em.

    Và khi anh thụ thai
    Em không còn cô độc
    Và khi anh biết khóc
    Anh lại càng yêu em.

    Và khi anh thụ thai
    Một trang kinh viết lại
    Một nỗi đau nhớ mãi
    Anh thật sự yêu em.
    (Sàigòn, 1989)

    Ngoài việc cám ơn nhà thơ Phương Tấn có nhã ý cho tôi được đọc trước bản thảo tập thơ rất xúc động của ông, tôi muốn bày tỏ thêm sự đồng cảm sâu sắc với nhà thơ: Tôi cũng trong hoàn cảnh gia đình hoàn toàn giống như của ông vậy. Cha tôi đi kháng chiến và mất tích trong chiến tranh chống Pháp (1951). Mẹ tôi cũng một mình cơ cực nuôi 4 đứa con và nếm trải đủ cay đắng thăng trầm trong cuộc sống. Có lẽ những bài thơ về Mẹ trong tập thơ Thưa Mẹ của Phương Tấn không chỉ tạo sự xúc đông sâu sắc nơi những người có hoàn cảnh như ông và tôi, mà có thể làm bùi ngùi bất cứ ai yêu Mẹ.

    Mà có đứa con nào không yêu Mẹ?

    * Thiếu Khanh
    (Sàigòn, 8/11/2017)
    ——————–
    Chú thích hình:
    H.1: Những lá thư của Mẹ tôi viết cho tôi trong suốt 21 năm (từ năm 1969 đến năm 1990).

    No photo description available.


    H.2: Mẹ tôi cùng bốn con trai.

    Image may contain: 5 people


    H.3: Mẹ tôi

    Image may contain: 1 person
  • Văn

    HAI CHUYẾN XÍCH LÔ

    HAI CHUYẾN XÍCH LÔ

    Dạo đó đất nước tuy có chiến tranh nhưng ở tận đâu đâu xa lắm, còn ngay thành phố Huế tôi ở vẫn thanh bình và yên ổn. Mạ tôi có một gian hàng vải ở chợ Đông Ba. Khi tôi còn nhỏ, mạ hay dẫn ra chợ ở chơi với mạ cả ngày trong lúc mạ bán vải. Mỗi lần có dịp theo mạ ra chợ như vậy là một niềm vui vô cùng. Tôi tha hồ được bay nhảy khắp nơi, và được cho ăn hàng chợ mệt nghỉ. Không phải chỉ có mạ cho, mà những bà bạn hàng chung quanh mạ đều thương và tranh nhau cho tôi ăn nữa đó.


    Nhưng tôi thích nhứt là được đi xích lô những khi tan chợ ra về trời mưa.
    Mỗi khi trời mưa đi xích lô về nhà, bên ngoài trời mưa càng lớn càng thích. Mưa nặng hạt, gió rít từng cơn, nhưng bên trong xe tôi hoàn toàn khô ráo nhờ tấm tent dầy trùm kín. Tôi thích lắm cái cảm giác ngồi bên trong lắng nghe tiếng mưa rơi lụp bụp lên xe đang chạy, được ngồi ép sát vào mạ thật ấm áp. Cái cảm giác được mạ che chở, ấp ủ, và truyền hơi ấm cho thật là dễ chịu và sung sướng.


    Một lần đó mạ và tôi đang đi xích lô dưới cơn mưa xối xả. Xe chạy được nửa đường bỗng nghe một tiếng “Bộp” thật lớn vang lên khiến chiếc xe xiêu vẹo làm mạ hoảng hồn, nhưng bác xich lô đã vội vàng trấn an, và cho xe tấp vào lề. Quả nhiên một cái bánh xe bị nổ lốp và bẹp dí. Xe không chạy được nữa trong khi đoạn đường về nhà còn khá xa không thể đi bộ. Hơn nữa trời dang mưa dầm dề, hai mạ con đành phải xuống xe trú mưa dưới hiên nhà người chờ xe khác.

    Image may contain: one or more people, bicycle and outdoor


    Trú mưa một chút thì may sao có chiếc xích lô trề tới làm chúng tôi ai nấy đều mừng rở, nhất là bác xích lô này. Chuyện bể bánh xe xảy ra hoàn toàn ngoài ý muốn nhưng bác có vẻ bức xúc lắm. Mạ tôi trả tiền cho bác trước khi lên xe mới. Bác cẩn thận nói với mạ rằng tiền xe như vậy là đã xong hết rồi, cuốc sau không phải trả thêm tiền nào nữa. Tiền công bác xích lô sau bác sẽ tính hai người với nhau vì họ vốn quen biết.


    Khi xe về đến nhà, tôi thấy mạ lại móc tiền trả thêm một lần nữa. Tưởng mạ quên, tôi nhắc bác hồi nãy nói mình khỏi trả. Chú xích lô này cũng nói vậy, nhưng mạ nói tiền hồi nãy cứ để hết cho bác xích lô đó. Còn tiền chú chạy nữa đoạn đường sau mạ cũng trả chú bằng như vậy. Hoá ra chuyến xe này mạ trả gấp đôi ? Sao mạ mình…dại vậy? Chú xích lô không nhận, nhưng mạ nói thêm gì đó cuối cùng chú ấy cũng nhận tiền.


    Tôi thắc mắc lắm hỏi mạ tại sao phải trả tiền hai lần ! Mạ nói với tôi rằng:
    “Mấy bác xích lô ni nghèo lắm. Họ đạp xe kiếm cơm từng bữa. Bữa ni trời mưa chắc không ai ra đường đi mô hết. Hai bác ấy chắc chắn bị ế khách. Họ sẽ không có đủ tiền đem về cho gia đình thật tội nghiệp. Nhất là bác lúc nãy bị bể bánh xe không thể đạp thêm kiếm tiền, mà lại tốn tiền sửa xe. Cho nên mạ trả thêm giúp đỡ họ chứ không phải mạ quên. Mạ nói tôi sau này phải học theo mạ. Mình may mắn trời phật cho đủ ăn đủ mặc, nhưng còn biết bao người khốn khó chung quanh nên để ý giúp ai được lúc nào thì giúp. Ở hiền gặp lành nhớ nghe con”
    Bài học “Ở hiền gặp lành” mạ dạy con trong một ngày mưa ở Huế với hai bác xích lô đó mãi mãi in sâu trong đầu.
    ./.


    ThaiNC

  • Tin thế giới

    Nhà thờ Notre Dame nhận được quá nhiều tiền

    Nhà thờ Notre Dame nhận được quá nhiều tiền

    Fondation du Patrimoine, một trong 3 hiệp hội được ủy nhiệm tiếp nhận sự đóng góp của công chúng để xây dựng lại nhà thờ Notre-Dame de Paris, cho hay đã quyết định ngưng nhận tiền, vì đã nhận được …quá nhiều.

    Fondation du Patrimoine , nhận được trên 200 triệu Euros trong tổng số trên 1 tỷ ít ngày sau khi nhà thờ bị cháy, cho biết sẽ lập một quỹ khác , gọi là ‘’ Plus jamais ça ‘’, để nhận tiền đóng góp dùng vào việc trùng tu cho tất cả các di sản, lăng tẩm quốc gia bị hư hại.

    Image may contain: sky and outdoor


    Hiện nay, ngân quỹ nhà nước dành cho việc trùng tu, bảo trì các lăng tẩm trên toàn quốc, 350 triệu mỗi năm, không đủ đáp ứng nhu cầu.


    Nước Pháp có quá nhiều lâu đài, nhà thờ, dinh thự công cộng . Hầu hết việc trùng tu những lăng tẩm nổi tiếng như điện Versailles, bảo tàng viện Louvre, các nhà thờ lớncực kỳ tốn kém đều do các ”foundations” tư nhân, đa số là Hoa Kỳ tài trợ.
    Những di sản ít nổi tiếng, tại các vùng hẻo lánh bị hư hại nhiều vì thiếu ngân sách. Fondation du Patrimoine muốn nhân cơ hội này gây quỹ cho việc bảo tồn lâu dài các di sản quốc gia.
    Nhà thờ Notre Dame, như tất cả những bất động sản quốc gia của nước Pháp đều không có bảo hiểm, vì phí tổn bảo hiểm quá lớn.
    Quốc hội vừa thông qua một dự luật qui định nguyên tắc trùng tu Notre Dame. Người ta nghĩ việc xây cất có thể bắt đầu từ 2021. Việc khẩn cấp là che chở cho nhà thờ khỏi bị mưa gió làm hư hại.


    Tổng thống Macron muốn việc xây cất ‘’ một nhà thờ đẹp hơn ‘’ hoàn tất trong 5 năm, nhưng các chuyên viên phản đối, cho hay không thể làm việc hấp tấp, việc trùng tu không thể thực hiện dưới 10 hay 15 năm.


    Hiện nay hai khuynh hướng đang tranh luận sôi nổi : một phe muốn xây lại nóc nhà thờ với chất liệu mới, kiến trúc mới, hợp với thời đại, hướng về tương lai, phe khác đòi xây lại y như cũ để tôn trọng một di sản văn hóa.
    Bộ trưởng Văn hóa Frank Riester hứa sẽ tham khảo ý dân trước khi quyết định, vì Notre Dame là tài sản chung của nhân dân.


    Trong thời gian xây cất, một thánh đường tạm thời sẽ được dựng lên để tiếp đón tín đồ, du khách.

     

    Từ Thức

  • Thơ

    TÔI ĐÃ THẤY NỖI ĐAU NGÀY QUỐC HẬN!!!.

    TÔI ĐÃ THẤY NỖI ĐAU NGÀY QUỐC HẬN!!!.
    Hạnh Dung.

    Tôi đã thấy máu vương trên ngọn cỏ
    Nhỏ xuống ruộng đồng và cả trên môi. 
    Người con gái mím đôi môi rịn máu,
    Như cố dằn giọt nước mắt tuôn rơi
    Trên đôi tay còn nắm tấm thẻ bài,
    Vương dấu máu của người trai hùng ấy
    Đã tuẫn tiết vì quyết không hàng giặc.
    Tôi đã thấy người mẹ hiền ôm ấp
    Đứa con thơ ngồi dưới mái hiên thưa,
    Vách loang lỗ vì đạn thù pháo kích.
    Tôi đã thấy cả một đoàn quân lính
    Tiến qua làng rồi chìm khuất trong đêm.
    Tôi đã nghe nhiều tiếng bom, đạn nổ
    Át tiếng chuông nơi xóm đạo điêu tàn
    Xé màn sương, từng mảnh đạn vô tình
    Xuyên qua vách mái tranh nghèo xơ xác
    Chém ngang người hai đứa trẻ thơ ngây.
    Tôi đã thấy nỗi đau ngày Quốc hận!
    Nắng tháng tư như đốt cháy thân gầy
    Máu loang lỗ từng đoạn đường ngập xác,
    Xương trắng đồng như những bãi tha ma.
    Tôi đã thấy từng ngôi nhà bốc cháy,
    Những tàn tro còn mãi đến hôm nay,
    Ôi! Đau thương còn chất ngất từng ngày
    Quê tôi đó, một Việt Nam tan nát!!!

    Nguyễn Hạnh Dung.
    Melbourne Australia.
    Quốc hận 30/04/2019.

     

    Image may contain: one or more people and text

  • Tài liệu

    Những tao ngộ ở Manila

    Những tao ngộ ở Manila

    Chu Vĩnh Hải

    Ngày 30-4- 1975 đánh dấu việc kết thúc cuộc chiến Nam- Bắc huynh đệ tương tàn, nhưng cũng là ngày mở đầu cuộc di cư đau đớn nhất trong lịch sử nhân loại. Cũng từ ngày 30-4-1975, thế giới có thêm một từ vựng cay đắng; Boat People- thuyền nhân.
    Theo nhiều tổ chức, từ năm 1976 đến năm 1990 đã có khoảng từ 1,2 triệu đến 1,5 triệu người Việt Nam vượt biên để tìm đến những bến bờ tự do. Trong số đó, có từ 300.000 đến 500.000 người đã bỏ mình trên biển cả. Liên Hiệp quốc xác nhận rằng, đó là cuộc di cư đau đớn nhất trong lịch sử nhân loại.

    Image may contain: 1 person, sitting and indoor


    Tại Manila- Philippiness vào tháng 11-2014, tôi đã gặp một thuyển nhân đặc biệt, đó là ông Phong- người đang cầm chiếc bánh bao. Người đàn ông này đã được tôi đề cập đến trong phóng sự “Những tao ngộ ở Manila” đăng trên Việt Nam Thời Báo vào cuối năm 2014.


    “Ông Dany đưa tôi đến gặp một người Việt Nam “ rất đặc biệt” ở Manila, theo như lời ông Dany. Luồn lách qua những hẻm hóc chỉ vừa đủ chỗ cho hai ô tô du lịch tránh nhau, ông Dany đưa tôi đến một bệnh viện do người công giáo Manila thành lập để chữa trị có thu phí cho những người bệnh tâm thần. Sau khi đăng ký gặp gỡ thăm thân nhân, ông Dany dắt tay một người đàn ông khoảng chừng 65-70 tuổi, vóc dáng cao, hơi ốm, nước da trắng xanh, vẻ mặt hiền khô và đôi mắt vô hồn ra ngồi đối diện với tôi. “ Anh có thể nói chuyện với ông Huỳnh Phong đây bằng tiếng Việt. Ông Phong vẫn nhớ được đôi điều, và muốn quên rất nhiều điều”, ông Dany nói với tôi.


    -Thưa ông, ông tên là gì ạ?
    – Mình tên là Huỳnh Phong
    -Ông năm nay bao nhiêu tuổi rồi?
    -Mình năm nay 34 tuổi rồi.
    – Ông vượt biên năm nào, năm ông bao nhiêu tuổi?
    -Mình vượt biên năm mình 34 tuổi.
    – Hồi ở Việt Nam ông đã có vợ con chưa?
    -………..
    -Nhà ông ở Việt Nam ở tỉnh thành nào?
    -Chợ Mới.
    -Con tàu chở ông đi vượt biên có bao nhiêu người tất cả?
    -………
    – Con tàu chở ông đi vượt biên đi mất bao nhiêu ngày?
    -…..
    – Gia đình ông có ai đi vượt biên cùng ông không?
    -……
    -Ông có muốn đến Hoa Kỳ hoặc Canada không?
    -……….
    -Ông có muốn trở về Việt Nam không?
    -………
    Tôi chia tay ông Huỳnh Phong trong nỗi buồn trĩu nặng.


    Qua ông Dany, qua một số người Việt đang sinh sống ở Manila, tôi biết chắc chắn một điều rằng, ông Huỳnh Phong là một sự trớ trêu điển hình của lịch sử thuyền nhân Việt. Cư dân trên đảo Palawan, cộng đồng người Việt Nam tị nạn trên đảo Palawan không ai không biết ông Huỳnh Phong. Vì sao? Vì vừa mới cập đảo Palawan, ông Huỳnh Phong ngay lập tức trở thành một người điên. Ông xé hết áo quần, đi lang thang và chỉ ăn lá cây thay bữa. Ông chối từ quần áo, chăm sóc y tế và thức ăn. Chỉ có những người vượt biển trên chuyến tàu định mệnh ấy hiểu vì sao ông Huỳnh Phong bị điên.


    Tôi đã suy nghĩ mãi một điều: có nên kể ra câu chuyện dẫn đến bệnh điên của ông Huỳnh Phong? Sau bao dằn vặt, tôi quyết định kể ra câu chuyện này vì nhận thức rằng: sự thật và lịch sử cần được tôn trọng.

    Image may contain: outdoor and water

    Cách đây hàng chục năm, chuyến tàu vượt biên của ông Huỳnh Phong đã mất phương hướng, máy tàu bị hư hỏng, tàu bị trôi dạt vô định và hết sạch thức ăn nước uống. Nhiều người đã chết, trong đó có trẻ em, phụ nữ và người già. Và dĩ nhiên họ trở thành những miếng mồi của lũ cá ở đại dương. Khi không thể chịu đựng đói khát được nữa, người thuyền trưởng đã phải đưa ra một quyết định đau đớn:để tồn tại, để đến được bến bờ, tất cả các thành viên còn sống sót trên tàu phải uống máu và ăn thịt người có nguy cơ chết cao nhất. Và phương thức lựa chọn người chết là bốc số. Em trai của ông Huỳnh Phong là một trong số được chọn. Ông Phong đã phải uống máu và ăn thịt chính người em ruột mà ông yêu quí nhất. Và ông đã điên, đã quên đi gần như tất cả quá khứ”.

  • Tài liệu

    Boat People, thảm kịch trên biển cả

    Boat People, thảm kịch trên biển cả

    ILE DE LUMIÈRE , CHIẾC TÀU ĐÃ CỨU HÀNG CHỤC NGÀN THUYỀN NHÂN VN

    Từ Thức

    Hai biến cố lịch sử trong thế kỷ 20 đã làm thế giới thức tỉnh, vỡ mộng về thiên đường Cộng Sản : bức tường Bá Linh và boat people.

    Hàng triệu người VN đã bất chấp hiểm nguy vượt biển tìm đất sống, khi Cộng Sản Bắc Việt chiếm miền Nam tháng Tư 1975. Một phần ba đã bỏ mình trên biển cả, những người khác phải đối phó với cái chết, hải tặc, đói khát..Thảm kịch boat people đã tạo một phong trào tương trợ lớn lao chưa từng thấy tại các nước Tây Phương đối với thuyền nhân VN

    CÁI BẮT TAY LỊCH SỬ

    Ile de Lumière ( Đảo Ánh Sáng ) cũng tạo ra cái bắt tay lịch sử của hai trí thức, triết gia hàng đầu của Pháp : một của phe tả, Jean Paul Sartre, một của phe hữu, Raymond Aron. Và làm lung lay, nếu không tan vỡ, giấc mộng thiên đường XHCN, thế giới đại đồng của cả một lớp trí thức không tưởng

    Ile de Lumière ra đời do sáng kiến của Bernard Kouchner, được gọi là French Doctor, vì đã sáng lập Médecins Sans Frontières, tổ chức Bác sĩ Không Biên Giới, đưa các y sĩ Pháp đi giúp đỡ nạn nhân chiến tranh hay thiên tai trên khắp thế giới.

    Trí thức Pháp thời đó có một ranh giới không ai muốn, hay có can đảm, vượt qua : tả và hữu

    Sartre và Aron chống nhau kịch liệt. Sartre thiên Cộng, đã từng nói ‘’những người chống Cộng là những con chó ‘’ ( Tout anticommuniste est un chien ) . Và không lỡ một cơ hội đả kích, miệt thị Aron.

    Aron là triết gia, bình luận gia chính trị hiếm hoi đã viết sách, báo không ngừng nghỉ, để vạch trần bộ mặt thực của Cộng Sản, thực chất của chiến tranh VN, và hiểm họa độc tài toàn trị đe dọa thế giới.

    Cái bắt tay lịch sử giữa SARTRE ( bên trái ) và ARON, hai địch thủ chính trị, tạm quên những cuộc tranh luận gay gắt để làm một việc chung : cứu boat poeple. Đứng giữa là André Gluckmann, triết gia Maoiste sau đó trở thành cây bút chống Cộng tích cực

    Đó là một thái độ can đảm hiếm có ở một nước, một thời điểm, thiên tả đồng nghĩa với trí thức. Những người chống Cộng không dám bày tỏ ý kiến của mình, sợ bị coi là phản động ( réactionnaire ), chưa nói tới chống Cộng kiên trì , với những lập luận sắc bén như Raymond Aron hay Jean François Revel. Câu nói quen thuộc của trí thức thời đó : ‘’Thà lầm lẫn với Sartre còn hơn có lý với Aron ‘’ ( Il vaut mieux avoir tort avec Sartre que raison avec Aron ). Đó là cái phi lý của tinh thần mù quáng vì ý thức hệ. Sartre được ngưỡng mộ , Aron bị đả kích, chế nhạo, mặc dù với thời gian, người ta thấy , về chính trị, Sartre lầm từ đầu tới cuối, trong khi Aron có lý trên mọi phương diện. Sartre đã mua chuộc những lầm lẫn của mình bằng một thái độ đáng phục : khi tuổi đã cao, gác bỏ tự ái, đã cùng với Aron gõ cửa chính quyền, kêu gọi cứu giúp khẩn cấp các thuyền nhân VN

    TỪ HẢI HỒNG TỚI ILE DE LUMIÈRE

    Một ngày gần cuối năm 1979, chuyện khó tin nhưng có thực đã xẩy ra : hai ông lãnh tụ trí thức không đội trời chung, Satre và Aron, ngồi lại với nhau, lên tiếng ủng hô dự án Île de Lumière, kêu gọi dân Pháp mở rộng bàn tay tiếp đón thuyền nhân, nạn nhân của cái mà trước đó những trí thức như Sartre nghĩ là một cuộc giải phóng. Khi quân Khmer Đỏ tiến vào Pnom Penh, tờ báo trí thức thiên tả Le Monde viết : dân chúng chen lấn hai bên đường đón rước.

    Bác sĩ Bernard KOUCHNER

    Thảm trạng của boat people trên chiếc thuyền Hải Hồng trên màn ảnh truyền hình đã làm họ tỉnh ngủ.

    Hình ảnh lạ hơn nữa là Sartre cùng với Aron vào điện Elysée, yêu cầu tổng thống Giscard d’Estaing đón nhận những thuyền nhân trên lãnh thổ Pháp.

    Sartre là một trí thức anarchiste, không nhìn nhận nhà cầm quyền, hay những cơ cấu của xã hội trưởng giả, đã từng từ chối giải Nobel Văn chương.

    Nước Pháp còn là nơi tiếng nói của những trí thức lớn có ảnh hưởng đáng kể. Việc Sartre cùng với Aron vào dinh Tổng thống kêu gọi giúp boat people gây mộ tiếng vang lớn trong dư luận.

    Tổng thống Giscard d’Estaing chấp thuận, dân chúng vui lòng đón tiếp và tận tình giúp đỡ trên 128. 000 thuyền nhân, chỉ trong những năm đầu, trong đó nhiều người đã được tàu Ile de Lumière cứu vớt ngoài khơi.

    Nên nhớ lúc đó kinh tế Pháp đang kiệt quệ. Chính phủ Pháp đã quyết định ngưng nhận di dân. Việc đón tiếp, giúp đỡ, cấp giấy cư trú và giấy phép hành nghề dễ dàng cho hàng trăm ngàn boat people đi ngược lại chích sách nhà nước đã được dân Pháp ủng hộ. Hầu như không có một phản ứng tiêu cực nào, tại một xứ chia làm hai ; cái gì phe tả cho là tốt, phe hữu cho là xấu. Hay ngược lại.

    Thuyền trưởng HERBELIN

    Là sáng kiến của Bernard Kouchner, dự án Một con tàu cho Việt Nam được sự ủng hộ tích cực của các trí thức tả phái nổi danh như triết gia Michel Foucault, ca sĩ Yves Montand, tài tử Simone Signoret, trước đó chống Mỹ, chống chiến tranh VN.

    Hình Sarte ngồi họp báo với Aron sau khi gặp Tổng thống Pháp chạy trên trang nhất tất cả các tờ báo lớn nhỏ. Ngồi giữa là André Gluckmann, triết gia thiên tả, maoiste ( người tôn thờ Mao ), sau vụ này trở thành chống Cộng. Ngày nay, tất cả đều đã qua đời, Sartre, Foucault, Aron, Gluckmann , Signoret, Montand. Bernard Kouchner về hưu. Sau khi tàu Ile de Lumière ngưng hoạt động, Kouchner rời Médecins Sans Frontières, sáng lập và điều hành tổ chức Médecins Du Monde ( Y Sĩ Thế Giới ), trước khi trở thành Tổng trưởng Ngoại Giao dưới thời Sarkozy.

    NHÀ THƯƠNG NỔI

    Ile de Lumière là một chiếc tàu cũ, 1500 tonnes, 90m chiều dài, được sửa cấp tốc, chạy tới đảo Poulo Bidong, ngoài khơi Mã lai , khởi đầu dùng làm nhà thương nổi, với 100 giường, chữa trị cho 20.000 thuyền nhân trên đảo.

    Thuyền trưởng François Herbelin, 29 tuổi, nói đó là những kỷ niệm sâu đậm nhất trên đời ông. ‘’ Tôi rất cảm phục những người Việt rất bình tĩnh, có tổ chức, có tư cách ( dignes ), quyết tâm ra khỏi đại nạn. Khi mới tới, họ kiệt lực, nhưng hồi phục rất nhanh, nghĩ tới tương lai ‘’.

    Chín tháng sau, Ile de Lumière bắt đầu sứ mạng mới : ra khơi cứu vớt những thuyền nhân phấn đấu trên biển cả, giữa cái sống và cái chết, giữa mưa bão và hải tặc.

    Hàng triệu người đã liều mạng vượt biển tìm tự do, với những phương tiện thô sơ gây kinh ngạc cho người Tây phương. Hàng trăm ngàn người bỏ mạng trên biển cả.

    Ile de Lumière đã cứu hàng chục ngàn người, chở về Poulo Bidong chờ ngày được nhận đi định cư ở Hoa Kỳ, Canada hay Âu Châu.

    Sau 14 tháng ngược xuôi, Ile de Lumière được thay thế bởi một chiếc tầu mới, Ile de Lumière II . Herbelin thành hôn với một phụ nữ thuyền nhân Việt Nam, trở thành thuyền trưởng một tàu thương mại. Làn sóng vượt biển bớt đi từ 1986, khi VN bắt đầu cởi trói, ít nhất về kinh tế.

    DEVOIR D’INGÉRENCE

    Ile de Lumière đánh dấu một phong trào tương trợ đáng cảm phục ở Pháp, và sau đó ở các nước Tây Phương. Bernard Kouchner nhân đó đưa ra chủ thuyết ‘’ Devoir d’ingérence ‘’ ( Bổn phận phải can thiệp ), theo đó các nước dân chủ Tây phương có bổn phận phải can thiệp , để cứu các nạn nhân, tại những nơi nhân quyền bị chà đạp. Sau đó, các nước Tây phương đã nhân danh nguyên tắc này để đổ bộ can thiệp ở Kosovo.

    Ile de Lumière cũng đánh dấu sự thức tỉnh của trí thức thiên tả Pháp. Trước đó, từ 1975 tới 1979, Khmer Đỏ thảnh thơi tàn sát ở Cambodge, không ai phản ứng gì. Silence, on tue ( xin yên lặng, người ta đang giết người ). Người ta bịt tai, bịt mắt, bịt miệng để khỏi nghe, khỏi thấy, khỏi nói tới những sự thực phũ phàng.

    Người ta không quên câu nói nổi tiếng của Sartre, khi giải thích tại sao ông ta không đề cập đến Goulag và những chà đạp nhân quyền ở Nga Xô Viết : Il ne faut pas désespérer Billancourt. Không nên làm Billancourt tuyệt vọng. Boulogne Billancourt là một ngoại ô của Paris, nơi có trụ sở của hãng xe hơi Renault, tượng trưng cho thợ thuyền Pháp. Không đả động gì tới những tệ hại ở Nga để khỏi làm tuyệt vọng giới thợ thuyền, đang mơ thiên đường XHCN như ông già trong thơ Tố Hữu, ngồi đan rổ mơ nước Nga.

    Raymond Aron, tác giả cuốn L’Opium Des Intélectuels ( Thuốc phiên của trí thức ) viết : những trí thức thiên tả là những nhà cách mạng phòng khách, căm ghét xã hội đang sống, một xã hội cho họ một đời sống sung túc và đủ mọi quyền tự do, trong đó có quyền tự do ngôn luận.

    Sau làn sóng boat people, sau khi bức tường Bá Linh sụp đổ, phong trào thiên tả đi xuống, đảng Cộng Sản Pháp trước đó là một trong hai chính đảng lớn nhất, làm mưa làm gió ở Pháp, ngày nay trở thành một đảng bỏ túi, với trên 1% phiếu bầu.

    Từ Thức ( Paris, Septembre 2017 )

    _________________________________________________________

    RUPERT NEUDECK và tàu CAP ANAMUR

    Một số đoàn thể VN tại Đức đã xây một tượng đồng để vinh danh và tri ân ông Rupert Neudeck, ân nhân lớn của thuyền nhân VN trong lâu đài Wissem, thành phố Troisdorf.

    Rupert Neudeck, là một trong những người Đức được kính trọng nhất , đã được trao tặng nhiều giải về nhân quyền. Ông cùng bà, Rachel Neudeck, đã lập ‘’ Một con tầu cho VN ‘’ và đã cứu ít nhất 10.000 thuyền nhân VN những năm 80 .

    Chiếc thuyền nhỏ, chở 52 thuyền nhân kiệt sức, được tầu Cap Anamur hiện còn trưng bày ở Troisdorf, một thị trấn gần Bonn

    Là ký giả, triết gia, ông Neudeck đã bỏ trọn cuộc đời để cứu giúp những người thiếu may mắn.

    Ông đã sáng lập tổ chức Cap Anamur, giúp nạn nhân chiến tranh ở Phi Châu, tổ chức Mũ Xanh ( Greenhelms ) giúp dân chúng ở Trung Đông.

    Đôi khi được coi như một ông thánh, Rupert Neudeck mất năm 2016 , hưởng thụ 77 tuổi. Hiện nay có 4 trường học ở Đức mang tên Rupert Neudeck.

    Rupert Neudeck cũng là thuyền nhân, khi chữ boat people chưa được dùng để chỉ những người vượt biển tìm tự do. Ông đã theo gia đình trốn khỏi Ba Lan khi còn 6 tuổi để tránh Hồng Quân N

    Tượng đồng do Joost Mayer, nghệ sĩ điêu khắc và giảng viên tại đại học nghệ thuật Aachen thực hiện. Dưới tượng ghi câu châm ngôn của thành phố Danzig, ngày nay là Gdansk, Ba Lan , nơi ông sinh ra: ‘’ Không táo bạo, cũng chẳng sợ hãi ‘’ và một hàng chữ đơn giản : ‘’ Robert Neudeck 1939-2016 . Do thuyền nhân VN tại Đức xây dựng ‘’.

    Không liều lĩnh, nhẹ dạ, cũng không sợ hãi, không cúi đầu trước bất cứ bạo lực nào, suốt đời làm hết sức mình để giúp người khác, đó cũng là nhân sinh quan của Rupert Neudeck

    Việc vinh danh để bày tỏ lòng tri ơn đối với những nhân vật địa phương đã hết lòng giúp chúng ta trong những bước đầu cực kỳ khó khăn là một thái độ đẹp, một việc rất nên làm. Biết nhớ ơn những ân nhân của mình là dấu hiệu của một dân tộc có văn hóa, của những người tử tế.

    Việc làm càng có ý nghĩa hơn khi tập đoàn cầm quyền VN dùng mọi áp lực và hành vi côn đồ để xoá bỏ mọi dấu vết của thảm kịch thuyền nhân tại các nước láng giềng

    ( tuthuc-paris-blog.com )

    Cuốn phim về ILE DE LUMIERE và BOAT PEOPLE :

    https://www.dailymotion.com/video/x6f5tjt

     

  • Thơ

    ANH ĐỪNG VỀ HÀ TĨNH NHỮNG NGÀY NI

    ANH ĐỪNG VỀ HÀ TĨNH NHỮNG NGÀY NI
    (Mượn lời của cô gái Hà Tĩnh nhắn gửi người yêu)

    Anh đừng về Hà Tĩnh những ngày ni.
    Biển buồn lắm, sóng khóc than vật vã.
    Nơi ta hẹn hò, giờ trương đầy xác cá.
    Gió tanh nồng, phờ phạc cả miền quê…

    Biển bây chừ cá mú đã vắng hoe.
    Cả miền Trung, thuyền ngủ vùi trên cát.
    Xóm chài xưa, những nụ cười vụt tắt.
    Không còn xôn xao trên bến dưới thuyền…

    Chẳng còn nghe điệu Ví giặm tình duyên.
    Đợi thuyền anh, mỗi chiều em ngồi ngóng …
    Biển đã chết ư ? em hỏi thầm con sóng.
    Chỉ gầm lên, rồi sóng vỗ bạc đầu…

    Miền Trung chừ, đang gánh trọn nỗi đau.
    Từ Hà Tĩnh ni, trải dài vô trong nớ.
    Quảng Trị, Quảng Bình, đến Thừa Thiên Huế…
    Không biết mai tê có vô tận Cà Mau?

    Viết cho anh lòng em cũng u sầu.
    Biết khi mô biển trong xanh trở lại.
    Để nghe sóng ru nhạc tình êm ái…
    Như ngày xưa, của hai đứa chúng mình…

    Mần răng mà, biển vẫn cứ lặng thinh ?
    Mặc con sóng vật vờ trong nuối tiếc.
    Cánh buồm xưa đã bỏ đi biền biệt…
    Tôm cá bây chừ còn mô nữa anh ơi?

    Mấy bữa ni, lòng em cũng rối bời.
    Biển đã chết, thì mần răng em sống…
    Những vần thơ chết dần trong tuyệt vọng…
    Xin anh đừng về Hà Tĩnh những ngày ni…

    Ngọc Ly Kim

    Image may contain: 1 person, sitting, outdoor, nature and water

    Ngôn ngữ miền Trung:

    Ngày ni = ngày nay, bữa nay;

    Trong nớ = Trong đó;

    Bây chừ = Bây giờ;

    Khi mô = Bao giờ; còn mô = còn đâu;

    Mai tê = Mai kia, mai này;

    Mần răng = Làm sao?

  • Tin địa phương

    Tưởng Niệm Tháng Tư 1975

    Tưởng Niệm Tháng Tư 1975
    Để Tưởng Niệm những anh hùng đã tuẩn tiết, hy sinh không chịu hàng giặc, cùng các chiến sĩ anh dũng cûa Quân lực Việt Nam Cộng Hoà đã nằm xuống cho quê hương trong Tháng Tư uất nghẹn 1975, một buổi lễ long trọng đã được tổ chức bởi một số Hội  Đoàn cùng Cộng Đổng bắc Cali,  khai mạc vào hồi 12 giờ trưa nay, Thứ Bảy ngày 27 tháng 4/2019 trước Tiền đình Quận Hạt Santa Clara với sự tham dự của khoàng trên ba trăm đồng hương cùng quan khách.
    Sau đây là một vài hình ảnh trong phần đầu của chương trình chúng tôi đã ghi lại xin được chia xẻ cùng quý Vị và Các Bạn xa gần.

     

     

     

    Mạc Phương Đình

    Video từ Youtube :
  • Tin VN

    HÃY BẮT TÔI, NẾU CÓ THỂ

    HÃY BẮT TÔI, NẾU CÓ THỂ

     

    Phạm Đoan Trang

     

    Theo FB

    Như tin đã đưa, vào ngày 27/3/2019, Cơ quan an ninh điều tra Bộ Công an, phối hợp với an ninh TP. Hà Nội, đã bắt giữ, câu lưu, thẩm vấn Cao Vĩnh Thịnh – thành viên nhóm Green Trees (Cây Xanh) – suốt một ngày. Trong lúc giam Thịnh ở đồn, công an cũng kéo đến nhà riêng của cô đòi khám nhà, lừa gia đình rằng “chị Thịnh đã hợp tác và chỉ chỗ giấu sách của Đoan Trang”. Tuy nhiên, gia đình cảnh giác cao nên đã từ chối, không bị lừa khám xét gì.

    Nội dung mà công an thẩm vấn Cao Vĩnh Thịnh hôm ấy xoay quanh nhiều vấn đề, trong đó có phần liên quan đến bộ phim tài liệu “Đừng sợ” của nhóm Green Trees. Tuy nhiên, điều có thể đặt Cao Vĩnh Thịnh vào rủi ro lớn nhất là việc cô đang tìm cách in cuốn sách “Phản kháng phi bạo lực” (bìa như trong hình).

    Những ngày qua, công an tiếp tục theo dõi Cao Vĩnh Thịnh, thẩm vấn, đe dọa các nhà in và hăm he sẽ khởi tố vụ án về tội in cuốn sách này.

    Trước rủi ro rất lớn mà Cao Vĩnh Thịnh và một số cơ sở in phải đối mặt, tôi viết những dòng dưới đây, khẳng định các điều sau:

    – Tôi – Phạm Đoan Trang – là tác giả của cuốn sách “Phản kháng phi bạo lực”.

    – Tôi là người bỏ tiền ra để in cuốn sách, nhờ Cao Vĩnh Thịnh tìm chỗ in, và chưa tìm được thì Cao Vĩnh Thịnh bị bắt. Nói theo ngôn ngữ của công an, tôi là người cầm đầu, chủ mưu (và tài trợ) toàn bộ vụ việc, Cao Vĩnh Thịnh không có vai trò gì.

    – Vì vậy, nếu khởi tố vụ án, yêu cầu cơ quan công an xác định đúng kẻ chủ mưu, tuyệt đối không được đe dọa, ép cung, bức cung người vô tội. Đồng thời, trong quyết định khởi tố, phải nêu rõ căn cứ là khởi tố do hành vi viết, in ấn và xuất bản sách (cụ thể là cuốn “Phản kháng phi bạo lực” này).

    —-
    Kính gửi các độc giả thân mến của tôi,

    “Phản kháng phi bạo lực” là cuốn sách tôi viết vào cuối năm 2017 (ngay sau “Chính trị bình dân”). Mô tả ngắn gọn thì đây là một cuốn cẩm nang về đấu tranh chính trị, của người Việt, viết cho người Việt đọc, sử dụng ví dụ minh họa chủ yếu là các câu chuyện ở Việt Nam. Tôi viết nó trong bối cảnh cuộc chiến chống BOT bẩn đang diễn ra quyết liệt ở Cai Lậy. Đó là nguồn cảm hứng để tôi viết cuốn sách, song đó cũng chỉ là một trong hàng chục ví dụ mà cuốn sách đưa ra để minh họa, phân tích về chiến lược, chiến thuật đấu tranh, và cũng chỉ là một trong vô vàn câu chuyện cần được ghi lại, lưu giữ, cần được kể cho độc giả nhiều thế hệ nữa cùng nghe.

    Đây là đường link tải sách: bit.ly/phankhang

    Mong các bạn hãy đọc nó. Tôi tin rằng việc độc giả tìm đọc sách sẽ là cách tốt nhất để bảo vệ tác giả và bạn bè của tác giả, cụ thể ở đây là bảo vệ tôi và Cao Vĩnh Thịnh. Cảm ơn các bạn nhiều. 

    Nếu vì cuốn sách này mà phải ngồi tù, chúng tôi rất vui lòng. Dù rằng tất nhiên chúng tôi cũng còn rất nhiều công việc khác phải làm.

    * * *

    https://www.bbc.com/vietnamese/vietnam-47864680

    Sợ???: Bộ phim về giới đấu tranh thảm họa Formosa

    Nhóm Greentrees mới ra mắt bộ phim tài liệu ngắn với tên gọi “Sợ???”, và phóng viên BBC có dịp được xem và chuyện trò với đoàn làm phim về bộ phim này.

    Bộ phim tập trung vào thảm họa cá chết do công ty TNHH Hưng Nghiệp Formosa gây ra ở dọc bãi biển miền Trung vào 2016 và giới hoạt động cũng như những người dân đấu tranh đòi lại bồi thường thích đáng nhiều năm qua.

    Trả lời BBC hôm 12/4, đại diện đoàn làm phim cho biết đoàn muốn làm bộ phim này vì muốn “có một cách tiếp cận khác về việc phổ cập nhân quyền và nhận thấy phim tài liệu là một cách hiệu quả để nâng cao ý thức xã hội. “

    “Chúng tôi đồng thời phát hiện ra là các linh mục ủng hộ dân chủ ở miền Trung cũng mong muốn cộng đồng trong nước và quốc tế biết đến cuộc sống khó khăn của người dân nơi đây qua các thước phim tài liệu,” đại diện đoàn làm phim xin giấu tên cho biết.

    Trong lúc bộ phim được quay, Hoàng Bình, một nhà hoạt động môi trường hợp tác làm bộ phim đã bị bắt và tuyên án 14 năm tù giam khiến đoàn cũng muốn “làm bộ phim để cảm ơn Hoàng Bình”.

    “Tinh thần bất khuất, kiên cường của họ là ngọn lửa cần thắp sáng, lan toả mạnh mẽ để khích lệ phong trào đấu tranh dân chủ hiện nay,” đại diện đoàn làm phim nói.

    Bộ phim được làm trong hơn hai năm kết hợp với một nhóm bạn trẻ và chỉ định làm phim tài liệu nghệ thuật về thảm hoạ Formosa thuần tuý thông qua đời sống thường nhật của một hộ ngư dân tại Kỳ Anh – Hà Tĩnh.

    Nhưng sau khi thực hiện được vài tháng thì gia đình ngư dân đó đi lao động Đài Loan cộng với sự đe doạ của an ninh đối với đoàn làm phim nên bộ phim phải dừng lại.

    Sau cuộc biểu tình 2/10/2016, đoàn lại quyết định làm bộ phim với chủ đề rộng hơn về phong trào đấu tranh dân chủ ở Việt nam với vai trò của xã hội dân sự qua thảm hoạ Formosa.

    Bị an ninh truy đuổi, đe dọa

    Trong quá trình làm phim, đoàn cho biết họ luôn bị an ninh Hà Tĩnh và Nghệ an theo dõi, truy đuổi.

    “Họ đọc tên chúng tôi trên loa phường và yêu cầu nhân dân không chứa chấp những ‘thành phần nguy hiểm, phản động.”

    “Họ đến nhà những người dân được chúng tôi phỏng vấn để đe doạ. Họ cho cảnh sát giao thông chặn đường xe chúng tôi để an ninh mặc thường phục gây gổ, khám xét tịch thu máy móc, điện thoại. Nhưng rất may chúng tôi được người dân và các cha xứ giúp đỡ, giải cứu, che chở, tránh được sự truy đuổi của an ninh trong đêm mưa bão, bảo toàn dữ liệu phim.”

    “Không lâu sau đó, Hoàng Bình, người kết nối, dẫn dắt chúng tôi đi quay phim, phỏng vấn các nạn dân bị bắt. Bạch Hồng Quyền bị truy nã. Một vài thành viên bị bắt trong vụ việc khác. Không khí lúc đó rất căng thẳng.”

    Làm lại phim nhiều lần

    Bộ phim ban đầu có tên “Trỗi dậy từ thảm họa” đã được hoàn thành vào tháng 5/2018 với thời lượng 52 phút nhưng chất lượng không được giới chuyên môn đánh giá cao nên đoàn làm phim quyết định quay trở lại miền Trung hai lần nữa để làm lại phim.

    “Lần này không khí hừng hực đấu tranh không còn mà chỉ thấy sự dè dặt, trầm mặc. Do đó chúng tôi phải đổi tên phim thành ‘Đừng sợ'”.

    Nhưng sau buổi công chiếu đầu tiên tại Hà nội hôm 16/3, an ninh đã bắt Cao Vĩnh Thịnh, một thành viên của Green Trees để tra hỏi về bộ phim. Bên cạnh đó họ đã tìm gặp, điều tra, doạ dẫm những người đã đến xem phim với hy vọng tìm ra người làm phim để ngăn chặn phim không được trình chiếu thêm nữa.

    Vì vậy, bộ phim cuối cùng được chỉnh sửa thêm lần cuối và đổi tên thành “SỢ???”

    “Mọi người có quyền sợ để rồi sau đó tự đặt câu hỏi sợ cái gì? Tại sao phải sợ? Như vậy sẽ mạnh mẽ hơn và không áp đặt như ‘Đừng sợ’.”

    Một khó khăn khác đoàn gặp phải là vấn đề kinh phí.

    “Chúng tôi không được tài trợ và phải bỏ tiền túi ra để thực hiện bộ phim này nên thời gian làm phim bị kéo dài hơn so với dự định.”

    “Bộ phim mở đầu là Hoàng Bình và kết thúc với gia đình Hoàng Bình bởi vì đây là một nhà hoạt động tích cực trong thảm hoạ Formosa, người giúp đỡ các nạn dân đi khiếu kiện, người có gương mặt, giọng nói điềm tĩnh, ôn hoà, chưa từng vi phạm pháp luật thế mà lại bị bắt với án tù 14 năm?

    “Hình ảnh gia đình Hoàng Bình cuối phim như một sự nhắc nhở về hậu quả của thảm hoạ vẫn còn đó nhưng người dân không khóc lóc mà đầy tinh thần chiến đấu. Hình ảnh này gây sốc người xem hơn là cảnh khó khăn, bi lụy thường tình.

    “Chúng tôi mong muốn được trình chiếu bộ phim cho những nạn nhân ở miền Trung. Những tổ chức về môi trường và nhân quyền quốc tế, các đại sứ quán.”

    Bản quyền hình ảnh CAO VĨNH THỊNH/FACEBOOK

    Cao Vĩnh Thịnh trong sự kiện công chiếu phim hôm 16/3

    Bộ phim được công chiếu hôm 16/3 tại một địa điểm ở Hà Nội, với sự có mặt của một số thành viên Greentrees và các nhà hoạt động, đấu tranh dân chủ, trong đó có chị Cao Vĩnh Thịnh.

    Sau khi tham gia buổi công chiếu, Thịnh cho biết chị đã bị công an câu lưu hơn 10 tiếng đồng hồ.

    “Phía an ninh Việt Nam tra hỏi rất nhiều về nội dung bộ phim và về việc bộ phim đã được công chiếu tại những đâu rồi? Tại những đại sứ quán nào?”

    “Rồi họ hỏi những người thực hiện bộ phim này là ai? Địa điểm chiếu phim tại Hà Nội ở đâu….. Rất nhiều câu hỏi họ hỏi đi hỏi lại mình ngày hôm mình bị bắt.

    Tuy nhiên, mình nghĩ điều khiến an ninh Việt Nam quan tâm tới bộ phim là bởi tiêu đề của bộ phim và họ rất tò mò muốn biết nội dung phim nói cái gì.”

    Theo chị Thịnh, sau khi xem xong bộ phim thông điệp chị cảm nhận được là về vai trò của xã hội dân sự, sự hình thành và những mức thăng trầm của nó đối với từng mốc sự kiện hay có thể nói là giai đoạn lịch sử của Việt Nam.

    “Bởi khi nhìn hình ảnh của nhà hoạt động Hoàng Đức Bình và hình ảnh gia đình anh, những con người mạnh mẽ mặc dù con trai họ bị kết án tù rất nặng [14] năm nhưng không có gì khuất phục ý chí của họ,” chị Thịnh nói.

    Sau khi Hoàng Bình bị kết án 14 năm tù, báo Nghệ An đã viết: “Trên Faceboook cá nhân, Hoàng Đức Bình còn nhiều lần phát trực tiếp với những hình ảnh, lời lẽ vu khống các lực lượng chức năng, mang tính kích động,xuyên tạc sự thật. Tại phiên tòa hôm nay, Bình không thể hiện sự ăn năn hối cải.”

    “Hoàng Đức Bình thường xuyên đăng tải, chia sẻ trên Facebook cá nhân những thông tin, tài liệu tuyên truyền nói xấu chế độ, cổ vũ phong trào đa nguyên, đa đảng.”

    “Lợi dụng sự cố môi trường biển miền Trung, với tư cách Phó chủ tịch “Phong trào Lao động Việt”, Hoàng Đức Bình đã xúc tiến, thành lập “Hiệp hội ngư dân miền Trung” với ý đồ tạo dựng tổ chức ngoại vi, tập hợp lực lượng, lôi kéo giáo dân, ngư dân miền Trung tham gia vào tổ chức; tìm chọn “hạt nhân” kích động biểu tình, phá rối an ninh trật tự.”

    Trong khi đó, Tổ chức Theo dõi Nhân quyền (HRW) phát đi thông cáo dẫn lời ông Brad Adams, Giám đốc Ban Á châu của tổ chức này: “Hoàng Đức Bình đã liên tục và công khai lên tiếng ủng hộ các tù nhân chính trị bị giam, giữ. Ông cũng tham gia nhiều cuộc biểu tình phản đối Formosa và góp phần tổ chức các nhóm vận động đòi bồi thường thiệt hại cho ngư dân vì cuộc sống bị ảnh hưởng do đợt xả chất thải độc năm 2016.”