Giai nhân Hà thành tiết lộ về tác giả bài thơ ‘Hai sắc hoa ti gôn’
Một ngày cuối tháng 5, tại căn nhà nằm khuất sâu trong con ngõ nhỏ Võ Thị Sáu, Hai Bà Trưng, Hà Nội, chúng tôi có dịp gặp gỡ bà Viên Thị Thuận, năm nay 94 tuổi, một trong những nữ sinh Đồng Khánh thuở nào.
Trường nữ sinh Đồng Khánh – Hà Nội (College de Jeunes Filles) được thành lập năm 1917, nay là trường THCS Trưng Vương – Hà Nội, là ngôi trường duy nhất của miền Bắc dành riêng cho nữ sinh tới cấp trung học.
Lớp của bà Viên Thị Thuận khóa 1934 – 1942.
Ngôi trường được xây dựng vào những thập niên đầu thế kỷ 20, khi vấn đề nữ quyền đang gặp nhiều rào cản của tư tưởng phong kiến.
Từ đây, nhiều tiểu thư khuê các nhanh chóng bước ra khỏi chốn “màn che trướng rủ” để nhập cuộc với thời đại, trở thành những nữ sinh Đồng Khánh có tiếng duyên dáng và nết na.
Trong số họ có rất nhiều người là bậc kỳ nữ tài hoa sau này, như giáo sư Lê Thi (Dương Thị Thoa) con gái GS Dương Quảng Hàm, nhà giáo Hoàng Xuân Sính – nữ tiến sĩ toán học đầu tiên ở Việt Nam…
Bên cạnh đó, trường Đồng Khánh còn được nhiều người biết đến là ngôi trường của những giai nhân…
Ngôi trường của những giai nhân
Trong tâm trí người Hà Nội xưa, trường nữ sinh Đồng Khánh nổi tiếng với những cô học trò xinh đẹp đầy mộng mơ, hồn thiên thướt tha trong tà áo dài đã trở thành một miền kí ức khó phai.
Một ngày cuối tháng 5, tại căn nhà nằm khuất sâu trong con ngõ nhỏ Võ Thị Sáu, Hai Bà Trưng, Hà Nội, chúng tôi có dịp gặp gỡ bà Viên Thị Thuận, năm nay 94 tuổi, một trong những nữ sinh Đồng Khánh thuở nào.
Thời gian dẫu nhuốm màu tuổi tác, nhưng vẻ quý phái, thanh tao của giai nhân Hà thành ngày đó vẫn toát ra từ người đàn bà ở tuổi cửu thập cổ lai hy này.
Bằng chất giọng nhỏ nhẹ với phong thái đoan trang, bà Thuận kể: “Muốn vào trường Đồng Khánh học, các học trò phải vượt qua các kỳ thi gắt gao, chỉ ai thực sự học giỏi mới đỗ được vào trường Đồng Khánh”.
Theo bà Thuận, ngày xưa nữ sinh Đồng Khánh được học toàn diện, họ không chỉ được dạy văn hóa, dạy tiếng Pháp mà còn được dạy nữ công gia chánh, hát, đàn piano, thể dục thể thao.
Bên cạnh đó, trường còn dạy thêu thùa may vá, cách tắm và chăm sóc cho trẻ sơ sinh, cách chi tiêu sao cho hợp lý bằng cách phân loại ra tiền điện, tiền nước, tiền ăn…
Ngày đó, nữ sinh Đồng Khánh nổi tiếng không chỉ thông minh, xinh đẹp mà còn hết sức nết na thuỳ mị. Ai cũng dịu dàng đài các, rất đỗi đa cảm nhưng vô cùng kín đáo, tế nhị. Dù có thích ai họ cũng chỉ giữ kín trong lòng hoặc gửi gắm vào những trang lưu bút.
Cựu nữ sinh Đồng Khánh cho biết: “Ngày đó cuộc sống của chúng tôi nói riêng và các tiểu thư đương thời nói chung rất lãng mạn. Chúng tôi thường đọc thơ và chép thơ vào những quyển lưu bút”.
Một cô bạn cùng lớp bà Thuận, so với các bạn có phần cá tính, mạnh mẽ hơn nhưng tâm hồn cũng không kém phần lãng mạn, cô là con gái một bác sĩ.
Cô bạn này có tình cảm với thầy giáo dạy thể thao người Pháp, đẹp trai và phong độ. Bị các bạn trong lớp phát hiện, trêu đùa, cô thường hay ngượng ngùng.
Rồi mối tình đơn phương đó cũng sớm kết thúc khi thấy giáo kết hôn cùng người phụ nữ khác. Còn cô thì gửi nỗi buồn da diết của mối tình đầu tan vỡ vào những quyển sổ lưu bút.
Bà Viên Thị Thuận cho biết thêm, các nữ sinh Đồng Khánh thường mặc áo dài thướt tha, thả mái tóc dài mượt, gọn gẽ đến trường.
Đặc biệt, theo nội quy nhà trường, không ai được phép trang điểm khi đi học. Thế mà các nữ sinh Đồng Khánh lại rất đẹp, đẹp đến hút hồn khiến bao trái tim nam sinh các trường THPT, ĐH phải si mê, ngơ ngẩn. heo đó nam nữ học riêng, buổi chiều tan học, nam sinh từ các trường khác thường mon men đến cổng trường Đồng Khánh, đứng ngắm, nhìn trộm từ xa lúc các cô gái tan học về. Hầu như chàng trai nào cũng mơ được làm quen với một nữ sinh Đồng Khánh.
Họ coi đó là niềm hãnh diện, tự hào để khoe với bạn bè, nhưng điều này quả là chuyện khó, bởi mấy nữ sinh Đồng Khánh luôn lạnh như băng, thâm trầm như biển sâu. Với họ nữ sinh Đồng Khánh luôn là… một ẩn số.
Tác giả bí ẩn của bài thơ “Hai sắc hoa ti gôn”
Bà Thuận cho biết, học sinh nữ từ các tỉnh miền Bắc về đây học tập, phần lớn là con gái gia đình trung lưu, có địa vị trong xã hội. Vào thời gian bà Thuận học năm 3 ở trường Đồng Khánh, có người bạn rất xinh đẹp, tên là Phạm Thị Lý (SN 1922, quê ở Phủ Lý).
Người bạn này của bà được mệnh danh là hoa khôi trường Đồng Khánh, xinh đẹp, thông minh nhưng gia đình muốn bà lấy một người chồng bà không có tình cảm. Vốn có tâm hồn đa sầu, đa cảm nên khi phải lấy người mình không yêu, bà rất buồn bã.
Bà Viên Thị Thuận chia sẻ: “Cũng có thể trong lòng bà ấy đã có ý trung nhân nào khác nhưng ở thời kỳ nữ quyền vừa bắt đầu những bước đi đầu tiên, vẫn mang nặng tư tưởng phong kiến thì việc dành tình cảm cho người con trai nào đó, dẫu “tình trong như đã, mặt ngoài còn e” là điều không thể. Nên khi phải về lấy chồng bà ấy rất buồn… Trước khi lấy chồng, bà Phạm Thị Lý đã sáng tác bài thơ ‘Hai sắc hoa ti gôn’ gửi đăng báo bằng bút danh TTKH, với mục đích giấu tên.
Bà không ngờ được bài thơ mình sáng tác trong cái giây phút ngẫu hứng lại trở nên nổi tiếng cho đến ngày nay. Hôm đó, bà Lý cùng tôi đến tòa soạn gửi bài thơ rồi đi thẳng nên chẳng ai tìm được tác giả”.
Bà Thuận cũng cho biết thêm: “Trước khi gửi đăng báo, bà Lý từng đọc cho các bạn trong lớp nghe…”.
Sau này, rất nhiều giả thiết được đưa ra để xác định tác giả thực sự nhưng đều dừng lại ở mức độ nghi vấn, vì tác giả bài thơ chưa bao giờ lên tiếng xác nhận.
Hình như, dù là cuộc hôn nhân “ép buộc” nhưng cuộc đời bà lại vô cùng hạnh phúc. Có thể vì thế, những cảm xúc đầu đời cùng bài thơ “Hai sắc hoa ti gôn” được bà Lý cất gọn trong kí ức.
Vợ chồng bà sinh được 10 người con, sau này bà theo chồng sang Mỹ định cư và mất ở tuổi 80. Và, tác giả của một bài thơ nổi tiếng giờ vẫn là bí ẩn trong văn đàn.
Một nữ sinh nổi tiếng khác của trường Đồng Khánh, không thể không nhắc đến là GS Lê Thi tên thật là Dương Thị Thoa, con gái của cố GS Dương Quảng Hàm.
Bà cùng các anh chị em được cha mẹ cho ăn học tử tế ngay từ khi còn nhỏ. Bà chính là một trong hai nữ sinh đã kéo cờ trong ngày độc lập đầu tiên tại Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày 2/9/1945.
Gần 80 năm đã trôi qua, nữ sinh trường Đồng Khánh cùng khóa bà Thuận chỉ còn lại vài người. Nhưng mỗi dịp có cơ hội gặp gỡ, họ vẫn tranh thủ ngồi lại hàn huyên và ôn lại những kỉ niệm vàng son thủa nào…
Emperor Thành Thái’s Edict to Establish the Quốc Học, 1896
Lê Minh Khai / Tôn Thất Tuệ dịch
Năm 1896, Triều Nguyễn thiết lập một học đường ở Kinh Đô để dạy Pháp Văn, là Quốc Học từ tên gốc là Quốc học trường 國學場; tên tiếng Pháp là Collège National (thời ấy “national” – quốc gia – có nghĩa học tiếng Pháp).
Chính quyền thuộc địa Pháp đã có sáng kiến nầy và được vua Thành Thái (TT) chấp thuận qua sự đồng ý của triều đình.
Để chính thức thành lập Quốc Học, TT đã ban hành một chỉ dụ bằng chữ Hán, nói rõ vua thuận phê chuẩn sự thiết lập nầy. Ít lâu sau, toàn quyền Paul Armand Rousseau ký một nghị định thi hành công lệnh ấy tức là thiết lập ngôi trường, kèm theo bản dịch tiếng Pháp chỉ dụ nêu trên.
So sánh công lệnh Hán Việt và bản tiếng Pháp, thì người dịch đã bỏ nhiều điều. Nếu đọc nguyên văn chỉ dụ nầy, chúng ta có thể biết cái nhìn của vua và triều đình về thế giới rất sâu sắc, không có trong bản đính kèm nghị định của Rousseau.
Chỉ dụ Thành Thái mang nhiều chi tiết thực tiển như cách chọn giáo sư, cách tuyển học sinh thì được dịch chính xác và đầy đủ. Nhưng phần mở đầu của chỉ dụ không được như thế.
Công lệnh bắt đầu với lời giải thích vì sao cần có một trường dạy Pháp ngữ. Bản dịch và bản chính có sự khác biệt to lớn. Sự khác biệt nầy giúp người đọc thấy rằng Hán Văn cổ điển và tiếng Pháp không những thuần túy chỉ là hai ngôn ngữ tách biệt, mà chúng còn cho chúng ta một ý niệm rõ ràng về sự khác nhau giữa hai nền văn hóa và hai thế giới quan khác nhau.
Trích bản dịch: Quand on veut donner un développement sérieux à l’instruction, on ne se borne pas à un enseignement exclusif, de même que pour assurer la régularité de l’enseignement, il est indispensable de créer des cours d’études. Or, eu dehors des livres sacrés de Chine, il existe d’autres ouvrages des divers pays et le mandat de porter la parole est chose très importante dans les relations internationales. ngưng.
Diễn qua chữ Việt: Nếu muốn đem lại cho nền giáo dục một sự phát triển đứng đắng thì không nên tự giới hạn trong sự dạy dỗ chuyên biệt độc quyền. Cũng giống vậy, để bảo đảm tính cách điều hòa của ngành giáo huấn, cần mở thêm các ngành học mới. Ngày nay ngoài những Thánh Điển từ bên Tàu và tác phẩm từ nhiều nước khác nhau, khả năng nói, đàm thoại là điều vô cùng quan trọng trong các mối liên lạc quốc tế.
諭學無常師, 欲其博也。教必立學, 欲其專也. 蓋六經之外別有方書,列國之交,重在辭命。Dụ học vô thường sư, dục kỳ bác giả. Giáo tất lập học, dục kỳ chuyên dã. Cái lục kinh chi ngoại biệt hữu phương thư, liệt quốc chi giao trọng tại từ mệnh.
(Trong phương cách học mà không cần có thầy giáo thường xuyên, thì người học tự tìm cách mở rộng kiến thức. Nhưng trong việc giáo huấn, cần có một học đường dạy những phần chuyên môn hóa. Ngoài “Lục Kinh” còn có sách vở từng khu vực địa phương. Nhưng trong việc giao thiệp giữa các nước cần có khả năng biện thuyết, đàm thoại).
Những danh tự sau đây cho thấy thế giới quan của TT. Học vô thường sư 學無常師; học không cần thầy thường xuyên; Lục Kinh 六經 và phương thư 方書, sách vở từng vùng; từ mệnh 辭命, khả năng thuyết giải, đàm thoại, và liệt quốc chi giao 列國之交, giao tiếp giữa các quốc gia. Nhưng chúng không có trong bản dịch.
Học vô thường sư 學無常師, tìm tòi cầu đạt những kiến thức một cách rộng rãi, nhiều nơi chứ không với một ông giáo kỳ cựu “sỉa rẹn” một chỗ. Ý nầy trước đây học giả Hàn Dũ 韓愈 nhà Đường đã nêu trong luận văn danh tiếng nhan đề sư thuyết 師說.
Thánh nhân vô thường sư: Không Tử sư Đam Tử, Trương Hoằng, Sư Tướng, Lão Đan. Đam Tử chi đồ kỳ hiền bất cập Khổng Tử. Khổng Tử viết: Tam nhân hành tất tắc hữu ngã sư. Thị cố đệ tử bất tất bất như sư. Sư bất tất hiền vu đệ tử. Văn đạo hữu tiên hậu, thuật nghiệp hữu truyền công. Như thị nhi dĩ.
Thánh nhân không có thầy cố định. Khổng Tử chọn làm thầy những ông Đam Tử, Trương Hoằng, Sư Tướng, Lão Đan, nhóm người như Đam Tử không giỏi, không khôn bằng Khổng Tử. Khổng Tử nói: ba người đi trước mặt ta, nhất định có một người là thầy ta. Như vậy đệ tử không nhất thiết kém hơn thầy; và thầy không nhất thiết giỏi hơn khôn hơn đệ tử. Chuyện là một kẻ đã học đạo trước một kẻ khác; hoặc một người nào đó có kỹ năng chuyên môn hóa. Chỉ chừng đó thôi.
TT mở đầu như vậy để giải thích với quần thần vì sao vua đã ra lệnh thiết lập một trường dạy tiếng Tây. Hẵn rõ TT đang gặp sự chống đối của các học sĩ chính thống cửa Khổng sân Trình; nhóm nầy xem người Pháp là man rợ có kiến thức kém. Do đó vua dùng Khổng học mà biện luận. Khi nói Khổng Tử và các hiền giả đều học với bất cứ ai, TT muốn nói con các quan, con triều thần có thể học với người Pháp.
Vua giải thích rằng kiến thức của người Pháp nằm ngoài Lục Kinh (Lục Kinh chi ngoại 六經之外) nhưng nằm trong sách vở từng vùng khác nhau ngoài nước Tàu (phương thư 方書). Người Tây viết về điểm nầy như sau: Or, eu dehors des livres sacrés de Chine, il existe d’autres ouvrages des divers pays. Ngoại trừ những thánh điển của Tàu, còn có những tác phẩm khác từ nhiều xứ khác nhau.
Khi TT chỉ nói Lục Kinh thì bản dịch là các sách linh thiêng của Tàu (les livres sacrés de Chine). Người Tây xem những chương sách người An Nam học là sách Tàu, của Tàu, nhưng TT chỉ đơn giản nói Lục Kinh. Xa hơn tí nữa, trong bản dịch, người Pháp xem Lục Kinh và sách ngoài (phương thư 方書) cùng mức giá trị như nhau; nhưng bản Hán tự của TT không xem như vậy. Thay vào đó, Lục Kinh và phương thư có hệ cấp giá trị không tương đồng.
“Phương” xem như nghịch với trung ương, thủ đô. Phương thư ở cấp tỉnh, Lục Kinh ở kinh đô. Một sự so sánh khác nữa sẽ được dùng là Khổng học phân chia văn 文, viết và ngôn 言 nói; văn giá trị hơn ngôn. Kinh đô là nơi mình có thể thấy vua và quần thần, tức là nhóm người có tài và sính diễn đạt tư tưởng bằng cách viết và tự cho mình là gương mẫu nêu cao nền luân lý trong Lục Kinh. Ở vùng xa kinh đô, dân chúng mù chữ chỉ có khả năng diễn tả ý nghĩ bằng lời nói, do đó người đô hội xem họ thấp kém nhiều phương diện.
Thế giới quan Khổng học đậm đặc như vậy không thể giúp TT nhìn một cách trung hòa bình đẳng Pháp ngữ, là một ngôn ngữ nói (language parlé).
Thứ nhất, khi ghép tiếng Pháp vào phương thư, TT đã truyền đạt ý niệm thấp kém, bởi vì chỉ có dân quê mới diễn tả tư tưởng bằng lỗ miệng, bằng cách nói; có nghĩa tiếng Pháp không thể đứng ngang với Lục Thư.
Thứ hai, khi nói từ mệnh 辭命, khả năng nói, là rất quan trọng trong mối liên lạc giữa các xứ khác nhau, TT đã cho thấy so sánh cao thấp. Hai chữ nầy nằm trong một đoạn danh tiếng trong sách Mạnh tử 孟子. Vài môn đệ của Khổng Tử nói rất hay (thiện vi thuyết từ 善爲說辭). Nhưng Khổng Tử cho biết ông không giỏi nói. 我於辭命則不能也, ngã ư từ mệnh bất năng dã.
Những câu chuyện nhỏ thế này đã nuôi giữ trong đầu các học giả Á Châu hệ cấp bất bình đẳng giữa viết và nói. Khổng Tử không giỏi nói có hề chi vì nói không phải là giá trị hàng đầu. Lập lại, TT gặp khó khăn khi phải giải thích sự cần thiết một ngôi trường dạy Pháp ngữ. TT giải thích vì sao chấp nhận ổn thỏa phải học ở những người một mặt đặt “nói” cao hơn “viết” trên nất thang giá trị, đồng thời thuộc hàng tỉnh chứ không phải trung ương.
Chỉ dụ thành lập QH có nhiều điều hấp dẫn. TT phải đương đầu với những thay đổi khó tin xẩy ra quanh mình. Thế giới đổi thay nầy được phản ảnh qua ngôn từ đã dùng như phương thư và liệt quốc chi giao 列國之交, giao tiếp giữa các quốc gia.
Ngày nay có thành ngữ quan hệ quốc tế 國際關係 (international relations) nhưng chưa có vào thời TT cũng như danh từ ngoại giao 外交, diplomacy chưa có. Trước khi người Pháp đến vào thế kỷ 19, VN chỉ có danh từ bang giao 邦交, liên lạc cấp vùng (domainal relations). Danh tự nầy dùng cho một hệ thống đẳng cấp Đông Á giữa chính quốc (Tàu) và các nước nhỏ chung quanh, những tiểu quốc chư hầu. Thành ngữ nầy xuất hiện 500 năm trước Tây lịch, và thời chiến quốc Xuân Thu. Sách lễ ký 禮記 ghi trong đoạn nói về các nghi lễ triều cống của chư hầu dâng lên vua nhà Chu. Ở VN trước thế kỷ mười chín, danh tự nầy biểu lộ đẳng cấp trong tương quan chính quốc và tiểu quốc giữa nhà Thanh và nhà Nguyễn.
Liệt quốc chi giao 列國之交, interrelations between various countries, người VN bắt đầu dùng vào thế kỷ 19 để nói về sự liên lạc mới có đối với các dân tộc tây phương; đâu đó giữa bang giao và ngoại giao. Trong lúc ấy, liệt quốc chi giao đòi hỏi một kỹ năng mới là nói tiếng Tây; mà lại vào thời 1896, người Việt không sành món nầy.
Do đó phát sinh nhu cầu chính đáng phải mở trường QH năm 1896. Nhưng đó cũng là thách thức của TT: làm sao thuyết phục các học vị trong triều, tức là những người học cách khinh thị những thành phần như người Pháp, khinh thị kiến thức và cách thông tri của họ. Nhưng nay phải đồng ý cho con cháu học những kiến thức ấy, học với những kẻ thấp hèn ấy.
Người Pháp không đủ sức hiểu và không cần hiểu những suy tư thâm sâu và bác học của vua Thánh Thái. Ngày nay với những người thông hiểu Hán tự, chiếu chỉ của Hoàng Đế Thành Thái sẽ cung hiến cái nhìn đầy đủ về thời đại của vua và những khó khăn vua phải đương đầu.–
1.- Một Facebook về lịch sử đăng một bài nhan đề Chiếu Chỉ vua Thành Thái Lập QH, không nói dịch từ chỗ nào. Nhưng xem mấy hàng đầu, độc giả có thể biết từ bản dịch người Pháp kèm vào nghị định của Toàn Quyền Rousseau; tức là bản dịch mà Lê Minh Khai cho thấy sai lạc thiếu sót.
Quand on veut donner un développement sérieux à l’instruction, on ne se borne pas à un enseignement exclusif, de même que pour assurer la régularité de l’enseignement, il est indispensable de créer des cours d’études. Or, eu dehors des livres sacrés de Chine, il existe d’autres ouvrages des divers pays et le mandat de porter la parole est chose très importante dans les relations internationales. (xem hình)
Muốn cho việc giáo dục được hoàn bị, không nên hạn chế học vấn trong khuôn khổ hẹp hòi. Trái lại, để đảm bảo cho việc giáo huấn được điều hòa cần mở ra các lớp học thường xuyên. Nay ngoài những thánh kinh, hiền truyện của Trung Hoa lại còn nhiều sách trước tác ở các nước khác và trách nhiệm của người đại diện phát ngôn trong lúc giao thiệp trên trường quốc tế rất là quan trọng.
Thánh Kinh? The Bible? “Trách nhiệm người phát ngôn?”. Tôi không tin người dịch có một ý niệm căn bản về Hán Tự và Pháp ngữ. “Mandat” trong ngữ cảnh nầy chỉ là khả năng, kỹ năng. “Porter la parole”, một động từ và danh từ bổ túc, là lối nói văn hoa dành cho công việc hằng ngày là phát ra tiếng nói bằng mồm, hoặc cao hơn như biện thuyết, diễn thuyết. Ở đây không có phát ngôn viên. Porte-parole mới là spokeman.
2.- Theo Võ Hương An, người biết rất nhiều về Huế qua các sách khảo cứu, Quốc Học là tên rút ngắn từ bốn chữ Quốc Gia Học Đường; 4 chữ nầy ghi trên một bức hoành nghi hiện treo tại trường. VHA làm rể nhà thầy Nguyễn Đình Hàm, hiệu trưởng đầu tiên khi trường mang tên cũ QH, tiếp theo tên Quốc Học Ngô Đình Diệm 1955. Nguyễn Phúc Bá, lang quân của Lương Thúy Anh, cho biết hiện nay trường còn lưu giữ một văn kiện ghi tên trường Quốc Gia Pháp Tự Học Đường. Về sau còn có tên nhiều người biết là Khải Định. Khải Định, QH nói chung, là những tên về sau. Quốc học trường là tên trên chiếu chỉ nhà vua. Ba chữ nầy nằm ở góc trái trên hình chữ Hán đính kèm.
3. Nhiều người sẽ ngạc nhiên về thuở ban đầu QH là một trường ngôn ngữ. Không rõ lúc nào trường trở nên một học đường đầy đủ. Tham luận với tác giả Lê Minh Khai, tôi cho rằng QH là một Sorbonne của Trung Kỳ, sản xuất một phần lớn thành phần trí thức, cho đến 1975. Nhiều người đã có tú tài QH Khải Định mà chưa một ngày ở trong trường này vì quân lính Pháp đồn trú từ 1946 đến 1954 theo hiệp ước sơ bộ ký với Sainteny. Trường chia làm hai, một nửa xuống trường Việt Anh sau thành Nguyễn Tri Phương cũ, một nửa gởi rể bên Đồng Khánh.
Cách mạng “bài phong” 1954 đã hất cẩm bào Gia Long khỏi đường ngã giữa, tuột áo Khải Định nhưng không tuột … Đồng Khánh để còn giữ cho đến 1975.
4. Vua Thành Thái đề cập “lục kinh” có ý khác “tứ thư ngũ kinh” của Tàu diễn tả Khổng Học. Công thức nầy có từ thời Chu Hy nhà Tống (gọi là Tống Nho), chỉ dùng ngũ kinh, tuy từ trước là lục kinh. Bớt đi kinh nhạc, vì kinh nầy đã mất khi Tần Thùy Hoàng cho đốt sách, chỉ còn đôi chương không quan trọng, nay ghép vào kinh lễ thành tiểu mục nhạc ký. Ngũ kinh là: kinh thi, kinh thư, kinh dịch, kinh lễ và kinh Xuân Thu. Tứ thư: Đại Học, Trung Dung, Khổng Tử và Mạnh Tử. Đa số các sách tiếng Anh thì theo vua Thành Thái và gọi lục kinh là Six Classics.
5. Sau 1954, theo quan điểm chính thức của trường, người sáng lập là ông Ngô Đình Khả, thân sinh của ông Ngô Đình Diệm. 1972, tôi tình cờ gặp thầy cựu hiệu trưởng 1956 Nguyễn Đình Hàm đi họp chi đó nơi tôi làm việc, thầy cho một nội san “Quốc Học” theo đó người sáng lập là toàn quyền Paul Armand Rousseau. Sự thật là ông Ngô Đình Khả được chỉ định thúc đẩy việc xây trường, xem như hiệu trưởng. Toàn quyền Paul Armand Rousseau có ký nghị định thành lập nhưng là một văn kiện thi hành chiếu chỉ của vua Thành Thái; nghị định nầy đã tham chiếu chỉ dụ của vua. Trong hành chánh, nghị định thấp hơn chỉ dụ. Như vậy phải nói người sáng lập QH là Hoàng Đế Thành Thái.
Hình ghép vua Thành Thái và trường QH, dãy lớp học nầy từ ngoài vào nằm bên trái.
Chỉ dụ của vua Thành Thái. Ba chữ Hán ở góc trái phía trên là Quốc Học Trường
Điều 13.- Thành phần trẻ nào đã đậu kỳ thi ra trường sẽ hưởng các quyền lợi, đặc quyền dự trù trong Chỉ Dụ hoàng triều đính kèm nghị định nầy.
Điều 14.- Chi phí nhân viên, vật liệu, xây cất và bảo trì trường ốc sẽ do Chính Phủ An Nam đài thọ.
Điều 15.- Khâm Sứ tại An Nam, Cơ Mật Viện chiếu nhiệm vụ thi hành nghị định nầy.
Hà Nội, ngày 18 tháng Nov, 1896. Ký tên A. Rousseau.
Phó thự bởi Khâm Sứ An Nam., Brière
Kinh đô thành thị coi trọng việc viết (writing); ngoại ô và thôn quê chỉ sành nói (speech).
Thuộc xã Xuân Tiến , huyện Xuân Trường , tỉnh Nam Định .
Không gian kiến trúc được thiết kế mang đậm phong cách phương Tây. Với mái vòm rộng và tháp chuông cao mằm ở giữa. Tổng chiều dài 75 m , rộng 20 m , cao 28 m và tháp chuông cao 46 m
— Bên cạnh nhà thờ Kiên Lao là một hồ nước, tạo khung cảnh cổ kính , thanh bình với tông màu chủ đạo là màu ghi đậm, nên có chút gì đó hơi u tịch .
2. NHÀ THỜ GIÁO HỌ XUÂN YẾN
Nằm ở xã Nghĩa Trung , huyện Nghĩa Đàn , tỉnh Nghệ An, nổi bậc với màu tím lịm , lộng lẫy và tráng lệ
Trong Thiên Chúa Giáo , mài tím được coi là sự sống lại của Chúa Giêsu Kito ; là ơn cứu chuộc cho con người . Màu tím còn là màu nối kết giữa màu xanh ( chỉ Trời ) và màu đỏ ( chỉ con người ) .
Nhà thờ Xuân Yến đã thu hút giới trẻ đến đây tham quan , cầu nguyện , chụp ảnh .
3. NHÀ THỜ GIÁO XỨ ĐÔNG VINH
Ở ấp Đông Hải , tỉnh Đồng Nai, cách thành phố Biên Hòa chưa đầy 1km. Nhìn từ xa trông nhà thờ như một lâu đài tráng lệ .
Toàn bộ nhà thờ được xây dựng bằng đá Magma , theo kiến trúc vừa hiện đại nhưng vẫn mang phong cách cổ kính phương Tây .
Từng chi tiết ở đây , được thiết kế rất tinh xảo và rất tỉ mỉ. Những đường nét chạm khắc hoa văn , mang lại cho bạn một cảm giác như đang đứng một góc trời nào đó ở Paris nước Pháp .
NHỮNG CÂY CẦU CÓ MÁI CHE Ở VÙNG NÔNG THÔN MỸ
Xuất phát từ việc làm ra biện pháp bổ sung để bảo vệ những cây cầu gỗ khỏi các yếu tố thời tiết . Giờ đây , các cây cầu có mái che trở thành hình ảnh thân thuộc ở vùng nông thôn Mỹ .
Thời gian tuyệt vờinhất trong năm , để có được tận hưởng khung cảnh đẹp về những cây cầu có mái che , chính là mùa thu .
* Cây cầu có mái che lâu đời nhất ở Mỹ . Đó là cầu Hyde Hall ở Cooperstown — New York .
Cây cầu được xây dựng năm 1825 .
Tọa lạc ở phía bắc của hồ Otsego , trong công viên Glimmerglass .
Cây cầu giúp người đi bộ qua sông Shadow Brook .
Đây là một trong ba cây cầu có mái che và vách che nằm ngang .
* Cây cầu có mái che Weddle ở Sweet Home – Oregon .
Sau khi xây dựng một cây cầu bằng bê tông kiên cố , qua sông Thomas vào năm 1980 . Cây cầu có mái che này không còn được sử dụng và dự kiến bị phá dỡ vào cuối thập niên đó .
Tuy nhiên , những người yêu thích cây cầu không ủng hộ . Sau này , cây cầu nhận được tài trợ chi phí , sửa chữa , bảo trì và được chuyển đến vị trí hiện nay qua khúc sông Ames .
* Cây cầu có mái che Nghệ Sĩ ở Newry – Maine .
Cây cầu được đặt theo tên một họa sĩ người Mỹ yêu thích công trình kiến trúc này .
* Cây cầu có mái che Stark Covered ở làng Stark – New Hampshire . Được xây dựng năm 1862 ở sông Upper Amonoosuc .
Năm 1890 , một đợt nước dâng cao đã đẩy cây cầu về phía hạ lưu . Đội cứu hộ cùng với những con bò khỏe mạnh đã kéo cây cầu về lại đúng vị trí cũ .
* Cây cầu có mái che Campbell ở Gowensville – Nam Carolina .
Cây cầu tọa lạc trong công viên của quận Greenville .
* Cây cầu có mái che Philippi ở Philippi — Tây Virginia .
Là cây cầu có mái che duy nhất phục vụ hệ thống đường cao tốc Mỹ .
* Cây cầu có mái che Flume ở Lincoln – New Hampshire .
Cây cầu được đặt tên theo một hẻm núi gần đó .
Cây cầu nhìn ra sông Pemigewasset trong công viên Franconia Notch .
Đến nay , người ta vẫn còn tranh cãi xem công trình này được xây dựng vào năm 1871 hay 1886
* Cây cầu có mái che Felton ở Felton – California .
Cây cầu được xây dựng năm 1892 .
Hiện cây cầu chỉ phục vụ cho người đi bộ .
Cây cầu bắc qua sông San Lorenzo . Và là cây cầu có mái che cao nhất nước Mỹ .
* Cây cầu có mái che West Cornwall của Connecticut .
Là một trong những cây cầu mang tính biểu tượng nhất ở New England .
Cây cầu được xây dựng năm 1941 , bắc qua sông Housatonic .
Tuổi thọ đã cao nhưng đến nay , cây cầu vẫn được sử dụng .
* Cây cầu có mái che kỳ quặc ở Covington – Virginia . Được xây dựng năm 1857 .
Đây là cây cầu có mái che lâu đời nhất , còn tồn tại ở Virginia .
* Cây cầu có mái che Goodpasture Covered gần Vida – Oregon .
Cây cầu nổi tiếng với những ô cửa sổ ở hai bên .
Cây cầu được xây dựng năm 1983 .
Cây cầu có mái che này , gây ấn tượng với những ô cửa sổ theo phong cách Gothic .
* Cây cầu có mái che Horton Mill ở quận Blount – Alabama .
Cây cầu được cải tạo gần đây nhất vào năm 2013 .
LỤT LÌ
Mê Hoa LTG: Lại ké con trai chút WiFi, MH lên mạng để lắng nghe tin tức bạn bè. Không nói được nhiều vì phải trả lại cho con để bảo tồn pin theo dõi thông tin. Xin chia sẻ với bạn bè tâm tư mấy ngày sống như thời xa xưa với cây đèn dầu leo lét…Giờ phút này nhà vẫn chưa được nhà đèn chiếu cố. Thông cảm thôi vì để bảo đảm an toàn cho dân. ************ U cha ! nước lụt chưa ra, Lại tin có bão phương xa ập về. Cố Đô tui tội chưa tề, Điện mãi du hí, bốn bề tối tămh. Người cần kêu cứu làm răng? Điện thoại pin hết, khó khăn quá hè ! Website, internet bị chê, TV, tủ lạnh, ê hề, bó tay! Microway, máy giặt xỉn say, Sức lực khô cạn, nằm quay chổng giò. Phố xá qua lại bằng đò, Dân chài gặp dịp giá hò vượt khung. Chỉ 200 mét qua đường Tiền công phải trả thất thường làm sao! Hai trăm ngàn, tới cái vèo, Xăng thời không tốn, công chèo – khiếp chưa? Trèo tường, đường tắt, đi bừa, Tìm nơi có điện, charge nhờ pin ngay. Big C, Sân Đấu gần đây, Nhà như ốc đảo, bao vây mịt mờ. Mênh mông nước bạc vô bờ, Mưa tuôn, đập xả, cây trơ thân gầy! Trông chờ tin điện mỗi ngày, Đêm nằm thao thức, đêm dài thâu đêm ! Năm ngày không điện ngặt thêm, Thức ăn tủ lạnh nấu liền kẻo hư. Cá chiên, tôm luộc, thịt nhừ, Ăn dồn, mai mốt, thiếu thừa tính sau, Nước xuống, điện sẽ có mau, Cuộc sống trở lại, đâu vào đấy thôi. Nước ra tiền tốn một hơi, Xe bị ngâm nước, thôi rồi, mệt chưa? Mỗi xe 3 triệu sơ sơ, Sáu chiếc đứt bốn chục tờ 5 trăm. Nhà dột, ngói trụt càng căng, Thợ e không có, tính răng đây hè? Lụt bão vẫn còn nặng nề, Trăm lo, nghìn sợ, đầm đìa lệ rơi: -Dọn nhà điện giựt- hết đời! Mẹ con cùng chết, thương ơi, nỡ nào! -Đời bé chưa mở mắt chào, Mẹ hiền sinh đẻ, lật ào đò đưa! Lưới trời lồng lộng mà thưa, Hà Bá nuốt chửng con thơ mẹ hiền!… Rào Trăng thuỷ điện- Phong Điền, Chiến sĩ cứu hộ tận miền núi xa. Mưa to, núi đá lở ra, Lấp vùi chiến sĩ, chết 13 mạng người! Còn bao nhiêu kẻ tong đời, Thương ôi, biết nói làm sao hở trời! Người thân kêu khóc cạn lời, Người xa thương tiếc, ngậm ngùi sẻ chia. Cầu cho bão lụt chớ về, Gây bao tang tóc, nặng nề- oan khiên ! Cầu trời gió lặng, mưa yên, Để cho nhân thế an nhiên đời thường.
Huế 13/19/2020 Mê Hoa
NHÀ THỜ CỔ ĐỘC ĐÁO XÂY TỪ ĐÁ , NẰM TRÊN ĐỈNH NÚI LỬA
* Nhà thờ Saint Michel d’ Aiguilhe , trên đỉnh của miệng núi lửa đã ngừng hoạt động . Nổi tiếng thế giới với kiến trúc độc đáo .
Nhà thờ cổ Saint Michel d ‘ Aiguilhe có hơn 1.000 năm tuổi và được xây dựng bằng đá .
* Nằm ở Aiguilhe gần Le Puy- en- Velay , Pháp .
* Nhà thờ cổ Saint Michel d ‘ Aiguilhe hơn 1.000 năm tuổi , là một trong những điểm du lịch nổi tiếng thế giới .
* Nhà thờ gây chú ý bởi tọa lạc trên đỉnh miệng núi lửa đã ngừng hoạt động . Và nhà thờ cách mặt đất 84 m.
Để lên được nhà thờ Saint Michel d ‘ Aiguilhe , du khách phải leo lên 268 bậc thang tạc từ đá .
* Nhà thờ được xây dựng năm 962 .
* Giám mục Gothescalk Puy-en-Velay cho thi công công trình nhà thờ . Sau khi ngài trở về từ chuyến hành hương đến Saint Jacques de Compostela
* Không chỉ nằm ở vị trí đặc biệt . Nhà thờ Saint Michel d ‘ Aiguilhe còn có kiến trúc độc đáo . Khi toàn bộ cấu trúc nhà thờ được xây bằng đá .
* Nhờ vậy , công trình nhà thờ cổ Saint Michel d ‘ Aiguilhe vô cùng kiên cố , đứng vững hơn 1.000 năm qua giữa trời đất .
* Bên trong nhà thờ có nhà nguyện , tháp chuông , phòng trưng bày …
* Những bức bích họa trong nhà thờ Saint Michel d ‘ Aiguilhe , có từ thế kỷ thứ 10 . Trở thành một trong những điểm nổi bậc thu hút du khách .
* Nhà thờ Saint Michel d ‘ Aiguilhe còn là nơi lưu giữ nhiều cổ vật linh thiêng như :
— Cây Thánh giá bằng gỗ từ thế kỷ 11 .
— Cây Thánh giá kim loại thời Đế chế Byzantine
* Do đó , du khách khi viếng thăm nhà thờ Saint Michel d ‘ Aiguilhe . Có thể chiêm ngưỡng những cổ vật quý giá này .
Sáng tạo bằng lá cây
Chạnh nhớ Huế độ cuối thu
THOẢNG BÊN NI NGHE TIẾNG RAO LẢNH LÓT “..AI BÁNH XÔI GIẦY…” CHẠNH NHỚ HUẾ ..ĐỘ CUỐI THU!
Nghe chuyện xưa từ Mệ Ôn dạy kể lại Chợt chạnh lòng nhớ Huế độ cuối thu Con bạc phận sanh ra nơi viễn xứ xa mù Huế vẫn hiện hữu nhắc nhở Con về nguồn cội!
Mưa cuối giữa Thu trải dài trên Xứ Huế Lảnh lót tiếng rao: “Ai ăn bánh xôi giầy..” Trong các món ăn đặc sản của Xứ Huế ni Thời còn Vua Chúa, Xôi Bánh Giầy là Cung tiến
Hạt nếp Huế luôn luôn là nguyên liệu chính Cách làm rất công phu bởi rất hiếm kẻ mần Bánh vừa dẽo, vừa ngon mờ mô nhão từ nhân Vừa dai vừa ngọt lại mềm hợp với mọi khẩu vị
Nếp nấu thành xôi chín, sao cho thiệt nhuyễn kỹ Kết hợp giã mạnh tay khi đang nóng để hạt xôi Hòa lẫn vào nhau..dòm tợ một khối bột nhồi Dẽo trắng và bóng mịn..Xôi bánh giầy là rứa đọ!
Chừ xã hội cải tiến thu gọn nhiều công đoạn nhỏ Siêu thị, Chợ có bán đầy nhiều bột nếp tiện nghi Mua một ít bột về, hòa với nước cứ như ri Vo hình tròn, ẩn vô giữa ít đậu xanh nấu chín..
Đậu xanh nhuyễn mềm xào với dầu hành với cỡ đường kính Chừng bảy, tám phân nắn cho viên bánh tê từ dẹt thành tròn Chung quanh viền chỉ việc nắn lại cho dày hơn Phần bánh ở giữa, thành vòng tròn ôm phắn bánh
Nhưn đậu xanh nằm giữa có thể ví chiếc bánh Như chiếc khăn vấn trên đầu trong trang phục áo tứ thân* Bánh lúc nì cần chỉnh lại dáng, cho dệ trông Đem hấp cách thủy với độ mỏng mềm thanh cảnh
Rứa bước đầu đã mần xong phần bánh.. Dìn hắn in hệt dư mặt trăng vào độ trung tuần Xếp bánh giầy vô chiếc nách* bên hông Bên trong đặt thêm ít gia vị đi kèm đồ dùng bánh..
Nơi phố thị khắp đường làng quê lót lảnh Những tiếng rao khi Huế độ cuối Thu..
Chiếc bánh hình mặt trăng được ấn giữa một chút xôi Chín mềm thơm ngậy, bánh gấp đôi thành hình quai vạt Và dư rứa từng chiếc Xôi Bánh Giầy lần lượt.. Bên cạnh ít mè rang thơm giã nát một chút thôi
Trộn chút muối quê, thứ gia vị tuyệt vời Cắn một miếng bánh chấm muối mè, nhai từ tốn Sẽ cảm nhận vị béo bùi của nếp thơm mô lẫn lộn Mùi đậu xanh phi hành, thơm lựng đến nhức răng..
Huế cuối thu, trời lành lạnh dưới mưa giăng Nhẹ nhàng man mác Thu chuyển mùa từng góc phố Tiếng rao lảnh lót mẹt nách hông quày quả “Ai xôi bánh giầy..”..Nhớ quá…Huế cuối Thu!
By Anne Sandra Anh Ton (Cong Huyen Ton Nu Tram Anh) ••••••••••• () Khi dòm từ trên xuống phần chiếc bánh
() Là một cách goại rất Huế chừ đương dần mai một, Từ “nách” ni có nghĩa là đặt chiếc rỗ, mẹt bên hông rồi dùng một tay giữ rị lại mờ mô hề vác lên vai hay đặt vô triêng gánh
Hương Quê Hoài Niệm
Vấn vương theo tà áo dài, như gợi nhớ cho tôi trở về với tình tự quê hương. Ở một nơi phương trời xa, hình dáng thiếu nữ trong tà áo dài, đã trở nên một hoài niệm của thời xa xưa
1 Em đi vạt áo gió bay Cho bao hoài niệm nhớ ngày xa quê Lắng nghe gió thổi hồn về Cuốn theo nỗi nhớ, lời thề gió bay. 2 Hoa vàng mấy độ vơi đầy Dùng dằng chia lối, đổi thay ý trời Quê hương nay đã đổi dời Còn đâu tà áo, bước rời cố hương. 3 Cho dòng lệ ngấn hạt sương Ngày dài hiu quạnh, đoạn trường thế thôi Bóng em đầy ắp hồn tôi Quê hương ở lại, nhớ người phương xa. 4 Em đi khép nép đôi tà Lòng tôi chết dại, mưa sa tần ngần Thôi thì tình ấy phù vân Gánh theo nỗi nhớ, bước chân người tình. 5 Tạ ơn em một bóng hình Tung bay ta áo xuân tình mộng mơ Thương em cái thuở bao giờ Ngây ngô trong sáng tuổi thơ dạt dào. 6 Hương quê tình tự xôn xao Vọng đưa câu hát ngọt ngào lời ru Tiếng ngân não nuột trầm tư Vang xa ngàn dặm bay vù cánh chim. 7 Hôm nay tôi vội đi tìm Tìm trong tà áo trái tim bồi hồi. Quê hương khế ngọt trên đồi Đường quê in bóng, Mẹ tôi đợi chờ. 8 Xa người tôi lại làm thơ Trang thư ráo mực nửa tờ đánh rơi Đôi hạc trắng bay mất rồi Tiếng kêu thảm thiết bên trời tha phương. 9 Dẫu rằng trời đất vô thường Mà sao lòng vẫn còn vương nhớ hoài Đêm về sương đẫm trên vai Đèn khuya một bóng soi dài tiếng đêm. 10 Sương thu ngấn lệ bên thềm Nhớ thương ở lại nỗi niềm gió bay Vướng em vạt áo nơi này Hương quê hoài niệm tràn đầy hồn tôi.
Lê Tuấn
BỘ ẢNH CHÀI LƯỚI ĐẸP CỦA NHIẾP ẢNH GIA VIỆT NAM
* Những bức ảnh chài lưới được chụp ở An Hải — Phú Yên , bởi nhiếp ản gia Khánh Phan ( 34 tuổi ) mới đây đã được tờ Tin Tức Daily Mail ( Anh ) đăng tải , giới thiệu đến độc giả những bức ảnh chài lưới đẹp mê hồn .
* Nhiếp ảnh gia Khánh Phan đến từ thành phố HCM cho biết : Anh bị mê hoặc bởi màu xanh của lưới đánh cá , nổi bật trên nền xanh của biển cả . Hình thù của chiếc lưới tạo ra đối với anh vô cùng đẹp mắt .
* Những chiếc lưới đánh cá tạo nên những hình thù đẹp đẽ trên mặt nước .
* Những con thuyền rực rỡ sắc màu cũng mang lại cho người xem cảm xúc ấn tượng
* Nhìn trong ảnh chiếc thuyền đã trở nên nhỏ bé
* Chiếc lưới đánh cá nổi bật lên trên nền xanh của biển cả .
* Và hơn ai hết . Qua những bức ảnh , người dân đất Việt và bạn bè quốc tế sẽ phải trầm trồ trước vẻ đẹp bình dị mà diễm lệ của non sông Việt Nam
Sách giáo khoa VN “cóp” sai chuyện ngụ ngôn La Fontaine
Sách lớp 1 có bài Ve và gà, nói là của Minh Hòa kể lại từ ngụ ngôn của cụ Jean de La Fontaine. Với nội dung tối nghĩa vô cùng và có thể suy diễn bậy bạ ( coi hình)
Mình bèn lên tra lại toàn bộ các bài thơ ngụ ngôn của cụ, coi cụ có viết vậy hay không. Kết quả tìm được bài Ve và kiến. Trong toàn tập thơ của cụ mà mình có thì không có bài Ve và gà nào hết. Vậy có phải khịa hay không nhờ các cao nhân chỉ rõ, theo chủ quan của mình tới nay là bài này khịa.
Và nguyên văn cụ viết bằng tiếng Pháp rất hay. Mình đọc hiểu được mà không thể dịch cho hay được, nên xin để bản dịch của cụ Nguyễn Văn Vĩnh đăng trên Đông Dương tạp chí số 40 (năm 1914). Đọc bản dịch này các bạn sẽ thấy khác xa với bài đăng trên sách lớp 1 thế nào.
“Ve sầu kêu ve ve
Suốt mùa hè
Đến kỳ gió bấc thổi
Nguồn cơn thật bối rối
Một miếng cũng chẳng còn
Ruồi bọ không một con
Vác miệng chịu khúm núm
Sang chị Kiến hàng xóm
Xin cùng chị cho vay
Dăm ba hạt qua ngày
Từ nay sang tháng hạ
Em lại xin đem trả
Trước thu, thề đất trời!
Xin đủ cả vốn lời
Tính Kiến ghét vay cậy
Thói ấy chẳng hề chi
Nắng ráo chú làm gì?
Kiến hỏi Ve như vậy
Ve rằng: Luôn đêm ngày
Tôi hát, thiệt gì bác!
Kiến rằng: Xưa chú hát
Nay thử múa coi đây”
Và mình xin trích một bản dịch từ truyện ngụ ngôn Aesop là nguyên bản xa xưa nhất của truyện Ve và kiến này cho các bạn hiểu hơn. Vì cụ La Fontaine chú rõ trong sách là viết dựa theo truyện của Aesop và Phrygian
“Vào một ngày mùa đông đẹp trời, vài con kiến đương bận với việc sấy khô ngô đã bị ướt sau một trận mưa dài. Lúc đó, một con ve từ đâu bay tới xin lũ kiến cho ít hạt ngô “vì” nó nói “tôi sắp chết đói đây”. Lũ kiến ngừng làm việc một lúc mặc dù trái với qui định của chúng. “Chúng tôi có thể hỏi” chúng nói “anh đã làm gì trong suốt cả hè qua? Tại sao anh không đi tìm thức ăn để dự trữ cho mùa đông?” “Sự thực là” ve trả lời “tôi quá bận với việc hát ca nên không còn thời gian nữa” “Nếu anh dành mùa hè để hát” lũ kiến trả lời “thì không gì tốt hơn là hãy dành mùa đông để nhảy”. Nói xong, chúng mỉm cười và lại tiếp tục công việc của mình.
(Người dịch: Thu Anh, Ngọc Bích) Ngụ ngôn Ê-Dốp/ NXB Văn hoá thông tin, 2005.
Truyện ngụ ngôn nguyên gốc hay như vậy, có tính giáo dục như vậy thì bị đổi nội dung hoàn toàn trong sgk. Còn tên của truyện là Ve và kiến thì bị đổi thành Ve và gà trong sgk. Nhân vật cũng đổi luôn.
Hơn nữa ve và kiến có thể chơi với nhau trong tự nhiên, chứ gà thấy con ve có thể mổ luôn chứ nó ngán gì.
Mong các người làm sgk ngồi yên đừng làm gì, để bà con tự vô lấy truyện của cụ La Fontaine hay cụ Aesop ra dạy con cháu, còn hơn là dạy mà xuyên tạc và phá hoại.
Từ nước mắm ngon thành nước mắm Lú
Theo dân gian, nước mắm loại ngon nhất, nước đầu tiên tức mắm Nhĩ để chừng 10 năm thì trở thành mắm Lú. Mắm Lú, đen đậm, không còn thơm nữa và cũng không dùng để ăn mà chỉ để trị bệnh.
Nước mắm ngon dòm sâu đáy hủ
Thả miếng đu đủ nó nổi lờ đờ
Phận em còn dại còn khờ
Làm dâu chưa đặng, cậy nhờ nơi anh (*)
Theo các bậc trưởng thượng. Nước mắm Nhĩ trở thành nước mắm Lú, có vị thuốc và khả năng trị được bệnh nhờ vào mật cá. Vị mặn của muối và đắng của mật quân bình, làm cho tinh thần được bình an, ngũ ngon và giãm huyết áp.
Mắm Lú cũng giúp trị bệnh ho, hen suyễn, thấp khớp, phong thấp, cãm cúm và nhiều chứng bệnh khác. Trời nó mà trị được con Vũ Hán Virus thì trời xập quá.
Nước mắm ngon dầm con cá liệt
Em có chồng nói thiệt anh hay
Nước mắm ngon dầm con cá trắng
Thấy em làm dang nắng anh thương
Muốn làm nước mắm Lú, lấy mắm ngon, cốt Nhĩ tinh khiết cho vào chai, lu, đem cất từ 5 năm trở lên, càng lâu, nước mắm Lú càng hiệu nghiệm. Nước mắm Lú có màu đậm đen, vị ngọt, đậm đà.
Nước mắm ngon dầm con cá bẹ
Anh biểu em rình, lén mẹ qua đây
Nước mắm ngon dầm con cá đối
Em biểu anh chờ để tối em qua
Thợ lặn uống một muỗng thì khõe ra có thể lặn sâu hơn. Ca sĩ giọng khàn, uống một hớp thì thanh tao. Cãm cúm, nhức đầu, đau xương, tê khớp thì mắm Lú sẽ thay thế thuốc Tây.
Nước mắm ngon dằm con cá trích
Anh có vợ rồi đứng xích em ra
Nước mắm ngon dằm con cá đối
Anh có vợ rồi nói dối em chi
Tại sao tên là Lú. Mắm nhĩ làm ra rồi bỏ sau hè, chừng 5 năm thì quên luôn, bỏ ở đâu cũng không nhớ, thành ra lú lẫn, và từ đó trở thành nước mắm Lú ở Phan Thiết. Mắm Lú, gia vị, và hương thơm bị mất theo thời gian. Nhưng độ đạm của nước mắm lại tăng, và đó là lý do nước mắm Lú trở thành thuốc Nam trong gia đình.
Đó là Nhĩ hồi xưa, mắm Nhĩ bây giờ ở Việt Nam, nhất là sau vụ Formosa thì không bảo đãm. Coi chừng uống vô thì Lú luôn. Nhắc trước rồi nhe.
Nước mắm ngon dằm con cá nục
Anh mê vợ bé em đục bể mình
Nước mắm ngon dằm con cá chình
Em ở một mình đừng rình nữa anh ơi (**)
Đỗ T. Công
(*) ca dao dân gian
(**) ca dao tân thời
Sông Thạch Hãn – mùa lũ lụt
Theo FB
GỞI CHÚT TÌNH VỀ HUẾ
Con đường đi , hoá thành sông Đồng ruộng trắng xoá mênh mông biển hồ Những dòng nước cuộn xô Bồ Mưa gào gió thét thẫn thờ lo âu Mây chùng xuống thấp rầu rầu Trời đen mờ mịt một màu tang thương Vài chiếc ghe nhỏ ngoài đường Trong nhà dọn dẹp ghế giường ngổn ngang Nhìn trời lòng thật hoang mang Nước dâng lên mãi nát tan cõi lòng Trời đất sao khiến long đong Bao nhiêu vật dụng chất chồng lên nhau Cầu cho con nước xuống mau Điện thì “ cúp “đã từ lâu tối mù Người thì mệt mỏi gật gù Dựa lưng trên ghế tù mù lất lây Nấu ăn biết chỗ nào đây ? ! Đành nhai sống gói mì này qua đêm Nước phủ chẳng thấy bậc thềm Trong nhà bì bõm lội rêm cả người Cây vườn bầm dập kém tươi Lều bều rác rưởi và rươi quanh nhà Vì rứa Huế phải lo xa Phòng khi bão lụt có mà miếng ăn Nhìn quê hương thật băn khoăn Biết bao suy nghĩ làm răng bớt buồn ? !
Võ Thời 11- 10 – 2020
Nguyễn Văn Tường (1824-1886)
Năm 1883, vua Tự Đức băng hà, trong tình hình Bắc Kỳ đang bị thực dân Pháp xâm lược lần thứ hai. Mặc dù Henri Rivière cũng bị giết chết trong một trận đánh do Hoàng Tá Viêm làm tổng chỉ huy, Lưu Vĩnh Phúc trực tiếp cầm quân, các tỉnh Bắc Kỳ vẫn chưa thu hồi được, kinh đô Huế lại đứng trước nguy cơ bị tấn công. Và thật sự Thuận An, cửa ngõ của kinh đô, đã bị thất thủ, không lâu sau ngày vua Tự Đức mất. Do đó, cùng với Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Văn Tường lần lượt lập rồi phế bỏ 2 vua Dục Đức, Hiệp Hòa (với lý do: một thân Pháp, “tả đạo”; một cấu kết với Pháp qua De Champeaux), nhằm mục đích đưa lên ngai vàng một vị vua yêu nước, quyết chiến với thực dân Pháp.
Bấy giờ, quân Thanh đã sang đất Bắc Kỳ để phối hợp đánh Pháp, theo những lần thương nghị giữa Nguyễn Văn Tường, đại diện triều đình Đại Nam, và Đường Đình Canh, đại diện triều đình Đại Thanh (Trung Hoa), từ năm 1881. Nhưng trong thực tế, quân binh nhà Thanh lại mưu mô quy phục Lưu Vĩnh Phúc nhằm mục đích cùng Pháp chia đôi Bắc Kỳ (“Bắc Kỳ mỏ” và “Bắc Kỳ gạo”), lấy sông Hồng làm ranh giới.
Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết thực hiện kế sách quân sự “tọa sơn quan song hổ đấu”, thúc đẩy chiến tranh giữa Pháp và Hoa nổ ra, còn triều đình Huế đứng vào thế trung lập.
Nhưng triều đình nhà Thanh lại ký Hòa ước Thiên Tân với Pháp, cô lập hoàn toàn triều đình Huế. Triều đình Huế bị bắt buộc phải ký Hòa ước Giáp Thân (còn gọi là Hòa ước Patenôtre, 1884). Trong tình thế ấy, hai vị phụ chính đại thần vẫn cố gắng tiếp tục thúc đẩy chiến tranh Pháp – Hoa tiếp diễn, nhằm làm suy yếu lực lượng cả Pháp lẫn Hoa và tranh thủ thời gian để xây dựng cơ sở cho phong trào Cần Vương. Một loạt sơn phòng được củng cố, xây dựng, gồm cả “hậu lộ kinh đô”, Tân Sở (Cam Lộ, Quảng Trị). Đích thân Nguyễn Văn Tường chỉ đạo xây dựng “kinh đô kháng chiến” hoặc “kinh đô tị địa” này.
Vua Kiến Phúc lại không may mắc bệnh, băng hà. Quốc sử quán triều Nguyễn ghi chép khá kĩ lưỡng như sau:
“ Vua không khỏe, tháng tư trước, ngọc thể vi hoà, đình thần đã xin vua tĩnh dưỡng, và chia nhau đi cầu đảo các linh từ; sau đó đã khỏe, nhưng chưa được bình phục như cũ; đến ngày mồng 7 tháng này, ngày kỷ mão, mới ngự điện Văn Minh, chịu lễ chầu mừng, ban thưởng lụa hoa cho các bầy tôi có sai bậc, rồi sau lại không được khỏe. Thái y tiến thuốc, không thấy công hiệu. Ngày mồng 10, nhâm ngọ, bệnh kịch; giờ ngọ hôm ấy vua mất ở chính điện Kiền Thành. Hoàng thái phi bèn vời bọn Tôn nhân phủ Miên Định, phụ chính phủ thân đại thần Hồng Hưu, Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết và Hộ bộ thượng thư Phạm Thận Duật, truyền bảo hoàng đế di chúc rằng:
Hoàng đế đức mỏng, có em là Ưng Lịch có học có hạnh, hoàng đế như có mất đi, truyền bảo tôn nhân phụ chính nên lấy Ưng Lịch vào nối ngôi lớn, để phụng tôn miếu; lại đại lễ tiên hoàng đế chưa xong, và lấy của dùng chưa sẵn, vậy hợp thành tang lễ châm chước làm được 4, 5 phần mà thôi, chớ cầu thể lệ.
Bấy giờ, Miên Định công và phụ chính thân đại thần truyền lệnh cho biết. Tôn nhân phủ, văn võ đình thần bèn hợp từ tâu lên Từ Dụ thái hoàng thái hậu; hoàng thái hậu rước công tử Ưng Lịch (là con thứ 5 Kiên Thái vương Hồng Hợi, biện phụng vương ấy), vào nhà tang xưng là tự quân, phàm việc tâu xin tuân hành; chọn ngày lành làm lễ tấn tôn (đó là vua Hàm Nghi)…[1]
”
Ngày 12 tháng 6 âm lịch, năm Quý Mùi (1884), Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết cùng Tôn nhân phủ, đình thần lập vua Hàm Nghi lên ngôi.
Hai vị phụ chính cùng các thành viên nhóm chủ chiến (Trần Xuân Soạn, Trương Văn Để…) đã có một vị minh quân để tiếp tục đương đầu với Pháp cũng như với bộ phận khá lớn giáo dân Thiên Chúa giáo được cho là bị các cố đạo phỉnh gạt, cầm súng, đào hào, tiếp tế lương thực cho Pháp.
Chính phủ Pháp quyết thực hiện xâm lược toàn bộ Đại Nam. De Courcy được cử sang với mục đích hoàn tất việc chiếm trọn Bắc Kỳ và bắt đầu tấn công chiếm cứ kinh đô Huế. Câu nói của De Courcy, hầu như ai cũng biết, “cần phải giải quyết việc này ở Huế”; và ông ta đã vạch kế hoạch bắt sống hoặc tiêu diệt nhóm chủ chiến triều đình Huế, đứng đầu là Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết.
Cuộc kinh đô quật khởi và bị thất thủ (05-7-1885)
Bài chi tiết: Trận Kinh thành Huế 1885
Ngày 23 tháng 5 âm lịch, Ất Dậu (khuya ngày 4 tháng 7, bước sang ngày 5 tháng 7 năm 1885), tuy thi hành kế sách “không biết gì”, nhưng thực sự ông cùng Tôn Thất Thuyết chỉ huy cuộc tấn công một cách bất ngờ vào Sứ quán Pháp bên kia sông Hương và doanh trại Pháp tại Mang Cá (Huế), nhưng thất bại. Thực chất đó chỉ là đòn đánh trước để giành thế thượng phong, mặc dù biết rằng De Courcy cố dùng kế khích tướng, ép buộc quân Đại Nam phải tấn công trước (Đại Nam tấn công trước thì không nước nào trách được việc Pháp vi phạm các hòa ước).
Nguyễn Văn Tường cho người rước vua Hàm Nghi và Tam cung (thái hoàng thái hậu Từ Dũ, Trung phi Vũ thị, Học phi Nguyễn thị) ra khỏi kinh thành; trong khi đó, Tôn Thất Thuyết và Trần Xuân Soạn vẫn cố kìm giữ sự tấn công của Pháp. Trần Xuân Soạn là vị tướng can trường, ông có nhiệm vụ rút quân cuối cùng.
Theo dự kiến mà nhóm chủ chiến đã vạch ra trong trường hợp kinh đô thất thủ (phương án 2), Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết lúc ấy liền quyết định đưa vua ra thành Quảng Trị, rồi sẽ đưa lên Tân Sở (tại huyện Thành Hóa, tức là Cam Lộ) để tránh đạn quân xâm lược Pháp, đồng thời phát Dụ Cần vương.
Trong lúc đó, một mặt được lệnh của bà Từ Dũ và vua Hàm Nghi, mặt khác là thực hiện phương án 2, ngăn cản Pháp truy kích xa giá, thực thi kế sách “kẻ ở người đi” (đàm và đánh), nên ông đã quay lại điều đình với Pháp[2]. Nguyễn Văn Tường đã nhờ giám mục Caspar (có tên tiếng Việt là Lộc) của giáo đường Kim Long đưa sang Sứ quán để gặp tướng De Courcy (qua môi giới Caspar cũng là cách mà vào năm 1883, khi Thuận An thất thủ, Trần Tiễn Thành, Nguyễn Trọng Hợp đã thực hiện trong việc “cầu hòa”). Sau khi De Courcy buộc Nguyễn Văn Tường ban bố một vài lệnh lạc “hòa hảo giữa hai nước Việt – Pháp”, ông ta lại ra thời hạn cho Nguyễn Văn Tường: trong vòng hai tháng phải tìm cách để đưa vua Hàm Nghi và Tam cung về.
Nguyễn Văn Tường phái Phạm Hữu Dụng cầm sớ ra Quảng Trị, tâu xin rước vua về, nhưng Tôn Thất Thuyết cản sớ không cho vua biết. Tôn Thất Thuyết dặn Phạm Hữu Dụng: Nguyễn Văn Tường cố gắng thương thuyết với Pháp 2 điều là Pháp không được tiếp tục bức hiếp và phía ta cũng nên “đoàn kết” với Pháp. Nếu được như thế, mới có thể rước vua Hàm Nghi về lại kinh đô.
Nguyễn Văn Tường lại viết sớ vấn an Tam cung, và đệ trình về việc Tam cung tạm về Khiêm lăng (lăng Tự Đức) trong khi chờ vụ việc được giải quyết.
Về việc Tôn Thất Thuyết cản Phạm Hữu Dụng trực tiếp dâng sớ lên vua Hàm Nghi và cũng không cho vua biết: Đây có thể là một khía cạnh mâu thuẫn trong sách lược mà hai vị phụ chính đã bàn với nhau, và chắc hẳn đúng hơn là do tình huống mới nảy sinh, nên đó chỉ là một “động tác giả”, để thực hiện thủ thuật “hai mặt”, nhằm đối phó với Pháp. Nhưng ngay sau đó, bằng sự liên lạc mật, họ lại nhất trí vẫn duy trì kế sách “kẻ ở người đi”. Từ Tân Sở, Dụ Cần vương chính thức và duy nhất được ban bố, cùng thời điểm vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết gửi về Huế một bản sắc dụ cho Nguyễn Văn Tường. Mật dụ của vua Hàm Nghi (và Tôn Thất Thuyết) từ Tân Sở gửi về Nguyễn Văn Tường, cùng một ngày phát Dụ Cần vương, 2 tháng 6 năm Ất Dậu (13 tháng 6 năm 1885):
“ … Tôn Thất Thuyết còn giữ giá vua còn đóng ở Phòng Quảng Trị, đã kèm vua ra Lệnh dụ Thiên hạ cần vương, lại sẽ dụ bảo Nguyễn Văn Tường và yên ủi những người họ mạc ở trong kinh, đều một đạo, do đường dịch lộ chuyển chạy về kinh. (Khi ấy tự Phòng đến kinh ống trạm còn chuyển đệ được). Đó đều là việc từ mồng 7 tháng này trở về trước.
Ngày mồng 2 dụ Văn Tường, lược nói:
Y [De Courcy] thấy ta càng khuất, y càng ngày càng lấn, khiến Triều đình không còn mặt mũi nào, vạn bất đắc dĩ mà ta mới phải làm cái kế bỏ thành đi ra ngoài. Nay đại thần Tôn Thất Thuyết cùng ta cùng quanh quẩn, còn ngươi là phụ chính đại thần thì ở lại mà thương đàm, kẻ ở người đi đều lấy lòng yêu nước lo dân làm căn bản. Trời đất thực cũng chứng giám. Ngươi nên khéo thể tấm thịnh tình của tiên hoàng đối với nước láng giềng rất có thuỷ chung và cùng y giảng rõ về lý thế, cân nhắc về lợi hại, hết lòng thoả hiệp, phàm những khoản gì bách thiết, chung nhau bàn đổi, cốt khiến cho hai nước như anh em, vinh nhục cùng quan hệ, vui lo cùng chung nhau mười phần chân thành, không còn dùng đến uy thuật. Lúc này ta mệnh cho hồi loan, trên để phụng dưỡng ba cung, dưới để yên lòng thần dân, khanh cùng với Tôn Thất Thuyết trung trinh chói lọi, muôn thuở cùng sáng, những phường nịnh tử gian phu, đều phải lặn hình giấu bóng. Nam triều ta há chẳng hân hạnh ư, nước Đại Pháp chắc cũng vui vẻ mà cùng giữ lấy cường thịnh vậy.
Nếu không như thế thì các miếu xã lăng tẩm và các vương công không kịp đi theo ấy thì hết thảy uỷ cho khanh. Ta duy có chọn đất lánh ở, sợ trời vui trời, rường cột cương thường, cả nước cùng thế, không đâu không phải là Triều đình và không phải là tôi con vậy. Trẫm quyết không cùng với họ tranh được thua vậy.
Tình thế ví lại không thôi, trẫm nguyện phái thêm cán viên, lấy đường đi khắp các nơi, nghiêm sắc cho Ninh Bình trở về phía Bắc, bao nhiêu quan tỉnh, phủ, huyện đều để ấn lại mà đi, người nào như có trung nghĩa tài lược không kể quan hay dân, đều cho được tiện nghi làm việc [nhân dân, sĩ phu khởi nghĩa], cốt không phụ tấm lòng tốt của triều đình dưỡng dục, tác thành, yên được bóng thiêng liêng ở trời của liệt thánh, và đáp phó được nguyện vọng [khởi nghĩa chống Pháp] tha thiết của thần dân trong nước. Khanh nên nghĩ cho kỹ nhé, có muốn nên tâu đối, thì gởi theo đường trạm chờ xét cũng chẳng hại gì.[3]
”
Sau đó ít hôm, vào ngày 7 tháng 5 năm Ất Dậu (18 tháng 7 năm 1885), vua Hàm Nghi (và Tôn Thất Thuyết) lại từ Tân Sở gửi một mật dụ về Huế cho hoàng tộc:
“ Ngày mồng 7, dụ các người trong họ, đại lược nói:
Dụ Thọ Xuân vương, phụ chính Hoài Đức công và các bọn hoàng phiên, công chúa nghĩ coi: Nước Nam ta nhiều lần bị kẻ khác bức hiếp nhiều khoản, phàm có tai mắt khí huyết không ai là không uất ức buồn rầu, chẳng riêng người trong họ ta mà thôi. Trẫm vâng di mệnh của tiên quân, và các vương công phụ thần cùng suy tôn lên quyền giữ việc nước. Phàm có trăm điều đều duy kiến nghị, phải ấy thì theo. Trẫm tuổi trẻ, kiến thức chưa rộng, dám đâu chuyên trái việc gì, cho nên hễ khi tiếp được thư của nước Đại Pháp gửi đến khoản gì, nếu quá lăng nhục và yêu sách quá đáng, nhân tình không thể chịu được, mật nghe vương công và các phụ chính khuyên bảo, không đâu là không cưỡng tự đau đớn nín náu, chịu theo êm việc, vì muốn bảo toàn xã tắc, để họ mạc lâu dài hưởng tôn quý giàu sang vậy. Không ngờ sứ Pháp ngang ngược ngày thêm, không còn được chút quốc thể, cúi xuống đất, ngửa lên trời, xiết bao hổ thẹn, vạn bất đắc dĩ mà phải làm ra việc này; quay nhìn nơi lăng miếu và các bậc ý thân, thực không biết bao nhiêu là tưởng nhớ, chả biết trong tôn tộc từng có tin đến sự lo xuôi nghĩ ngược của ta không? Nay đã có phụ chính huân thần là Nguyễn khanh [Nguyễn Văn Tường] ở lại giảng nói, che chở nhiều việc, hơi được yên ổn; huân thần tâm sự như thế, cáng đáng như thế, thực là đau khổ quá chừng. Nhân vật nước ta, những người trung nghĩa từ xưa, tưởng không hơn được. Trẫm cũng dụ cho đại thần ấy hết lòng bàn tính công việc, tâu chờ quyết định. Vương công đều là cốt nhục chí thân, đều nên thương ta khổ tâm, thể tất ta vô cùng. Phàm việc gì cùng với Nguyễn khanh châm chước thoả đáng, cốt không trái với cương thường của trời đất. Nên được nền bình trị lâu dài của quốc gia, ngõ hầu để được tiếng thơm muôn đời, thế là lành lắm, tốt lắm. Trời đất dài lâu, gặp nhau có hẹn. Nước nhà suy thịnh, gặp hội đổi thay, càng nên trân trọng di dưỡng, để yên tấm lòng xa của người tuổi trẻ. Còn ra sẽ uỷ cho Nguyễn khanh sẽ vì ý thân điều đình cho thoả đáng, vụ được như thường. Phàm người họ ta, cần tin lời ta nhé, thế thì ta mới yên lòng.[4]
”
Trong hai tháng đó, Nguyễn Văn Tường hoàn toàn bị Pháp quản thúc ngay tại Sở Thương bạc, do một trung đội lính viễn chinh thuộc Pháp canh giữ, sĩ quan Schmitz chỉ huy. Tất cả mọi sắc dụ ký tên thái hoàng thái hậu Từ Dũ đều do Miên Định (chú ruột vua Tự Đức, hiện giữ chức nhiếp chính giám quốc) bàn bạc, thông qua và Nguyễn Nhược Thị Bích (tác giả Hạnh Thục ca) chấp bút.
Tuy ở trong thế bị quản thúc nghiêm ngặt, Nguyễn Văn Tường vẫn đấu tranh hết sức gay gắt với nhóm người “đón gió xoay buồm”, trực diện là với Nguyễn Hữu Độ (người đã có ý theo Pháp từ 1873—theo ghi chép đã xuất bản của Jean Dupuis và theo Đại Nam thực lục chính biên), trong việc phong chức hàm cho ông ta với quyền hạn “phó vương” tại Bắc Kỳ, thành lập Nha Kinh lược tại đấy, mà thực chất là mất hẳn Bắc Kỳ vào tay Pháp và các cố đạo như Puginier.
Trong khi đó, phong trào “Cần vương, bình Tây, sát tả đạo” đã bùng nổ ra khắp cả nước, đặc biệt là ở các tỉnh tả kì (phía trái cửa ngõ vào kinh đô, tức là phía Nam). Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, chính Nguyễn Văn Tường đã lãnh nhiệm vụ chỉ đạo tổng quát ở miền đất ấy, trong khi Tôn Thất Thuyết phụ trách các tỉnh hữu kì (phía Bắc) (xem cáo thị khi giặc Pháp bắt Nguyễn Văn Tường bên dưới).
Lưu đày và cái chết nơi biệt xứ (1885–1886)
Hết hạn hai tháng, đúng vào ngày 27 tháng 7 Ất Dậu (5 tháng 9 năm 1885), Pháp ra lệnh bắt Nguyễn Văn Tường. De Courcy chỉ thị De Champeaux công khai cáo thị khắp nước. Quốc sử quán ghi nhận như sau:
“ Đô thống Đại Pháp là Cô-ra-xy [De Courcy] bắt thái phó, Cần Chánh điện đại học sĩ, lãnh Lại bộ thượng thư, kiêm sung Cơ mật viện đại thần, Kì Vĩ quận công, là Nguyễn Văn Tường xuống tàu thủy chạy đi Gia Định.
Cứ theo lời cáo thị của khâm sứ Tham-bô [De Champeaux] nói: Văn Tường từng đã chống cự nước ấy [nước Pháp] thực đã nhiều năm. Từ khi cùng Tôn Thất Thuyết sung làm phụ chánh, chỉn [vốn] lại đổng suất quan quân nổi dậy công kích quan binh nước ấy; và Văn Tường do đô thống ấy xin [chính phủ Pháp] cho hai tháng [nhằm để] lo liệu việc nước cùng Bắc Kỳ cùng được lặng yên vô sự; [kì thực] đến ngày 27 tháng ấy hết hạn, mà các tỉnh tả kỳ về phía Nam, có nhiều nơi nổi quân chém giết dân giáo. Đến đây đô thống ấy định án, ưng [nên; phải] kết tội lưu.
Hôm ấy chở đem Văn Tường đến cửa biển Thuận An; buổi chiều Nguyễn Hữu Độ, Phan Đình Bình đi tàu thủy Pháp cũng về đến cửa biển ấy.
(Thuyền Pháp chở Văn Tường đến Gia Định, sau chở gồm cả Phạm Thận Duật, Lê Đính [Tôn Thất Đính] đem về nước ấy [thuộc địa Tahiti]; Thận Duật trong khi đi đường bị ốm chết ở trong tàu, buông xác xuống biển)…[5]
”
Không những người Pháp ở Gia Định đổ một loại hóa chất gây cháy bỏng vào miệng Nguyễn Văn Tường, khi tra tấn (để khỏi la hét, gào rú), De Courcy còn đánh điện tín cho Caffort, chúa đảo Côn Đảo: “Tầm quan trọng của những tù nhân chính trị này đòi hỏi họ phải được giám sát nghiêm ngặt với bất cứ giá nào”; trong đó, Nguyễn Văn Tường là “kẻ thù nguy hiểm nhất” đối với Pháp[6].
Khi ông và hai người bạn tù của ông đã bị giam giữ tại Côn Đảo, chính phủ Pháp lại chuẩn bị lưu đày họ tận Tahiti; bấy giờ, triều Đồng Khánh, dưới sự chỉ đạo của De Courcy, đã “xử án vắng mặt” nhóm chủ chiến triều đình Huế, với nội dung chính là hành trạng của họ từ ngày 5 tháng 7 đến 5 tháng 9 năm 1885. Bản án chung thẩm ấy được xét xử, công bố vào tháng 8 âm lịch Ất Dậu (tháng 9 năm 1885):
“ Tôn nhân phủ và đình thần dâng sớ tâu bày tội trạng của Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết, xin tước hết quan tước và tịch thu gia sản; tham tri Trương Văn Đễ đã quá cố, và chưởng vệ Trần Xuân Soạn, đều là bè đảng làm loạn, cũng tước cả quan chức. Trong bọn ấy, thì Tôn Thất Thuyết, Trần Xuân Soạn, xin do quan địa phương xét bắt bằng được và chém ngay, để tỏ rõ hiến pháp trong nước. Vua nghe theo.[7] ”
Lúc khoảng 4 giờ 30 sáng ngày 30 tháng 7 năm 1886, tại Papeete, một làng trên quần đảo thuộc địa Tahiti của Pháp, Nguyễn Văn Tường mất vì bệnh ung thư cổ họng[8]. Sau một vài tháng quàn giữ, di thể ông được Tôn Thất Đính đưa về Đại Nam.
Trước tác
Một số văn bản tài liệu
Lúc sinh thời, ông nổi tiếng là người sắc sảo, cả quyết và mưu trí. Trong khi làm quan, ông đã dâng lên vua nhiều tấu sớ. Hầu hết các tài liệu này đã được vua Tự Đức đích thân phê duyệt, và được các quan lưu giữ tại các nha môn, bộ, viện và tại Quốc sử quán. Số di cảo này đã được Nhóm Tư liệu Hán – Nôm lịch sử cận đại Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh và nhóm giảng viên Đại học Sư phạm Huế sưu tầm, dịch thuật.
Nam Kỳ tấu nghị (chưa xuất bản toàn bộ, chỉ mới ấn hành từng phần)
Bắc Kỳ tấu nghị (chưa xuất bản, chỉ mới ấn hành từng phần)
Thương bạc viện phúc (chưa xuất bản, chỉ mới ấn hành từng phần)
Văn thư thương thuyết Nhà Thanh viện binh tiễu phỉ.
Sáng tác thơ ca
Nguyễn Văn Tường còn có một tâm hồn thơ ca và những bài thơ giàu cảm xúc, đầy trách nhiệm trước vận nước. Nhưng đa số thơ được Nguyễn Văn Tường sáng tác, hiện còn lại, chủ yếu là trong 5 năm tiễu phỉ ở núi rừng phía Bắc và một vài tỉnh gần kề với Lạng Sơn
Câu chuyện xảy ra với tôi cách đây 40 năm trước và từ đó đến nay tôi chưa hề nói với ai kể cả người trong gia đình.
Trong lúc tranh luận với ông Biden, ứng viên tổng thống từ đảng Dân Chủ, TT Trump truyền đạt thông tin cho nhóm cực đoan white supremacy Proud Boys ‘stand back and stand-by’ như mệnh lệnh của cấp chỉ huy ‘lui về và chờ lệnh tôi’.
White supremacy là một nhóm người da trắng, tin rằng người da trắng hoàn hảo về mọi mặt kể cả thông minh hơn tất cả chủng tộc khác. Những cảm xúc của 40 năm về trước ùa về và tôi quyết định nói ra mặt trái của xã hội Mỹ về phân biệt chủng tộc ngày hôm nay.
Khi mới qua Mỹ, tôi phải học lại một năm trung học vì không biết tiếng Anh và cũng không có một tài liệu minh chứng trình độ học vấn nào trong người. Gần cuối học kỳ mùa đông năm ấy (1981), thầy lớp Vật lý đưa cho mỗi học sinh hai hộp tăm và một ống keo dán bảo mỗi hs làm một cái cầu với khoảng trống tối thiểu là xx inches. Sau đó sẽ có một cuộc thi coi cầu nào có sức chịu nặng cao nhất. Tất cả mọi công việc xây dựng cầu phải làm trong lớp và không được đem về nhà.
Tất cả các bạn trong lớp háo hức bắt tay vào việc xây dựng mô hình cầu. Còn tôi thì vào thư viện lấy hết tất cả các sách nói về cầu, tôi đem về lớp ngồi xem từng cái cầu và suy nghĩ về những yếu tố cần thiết để có cây cầu vững mạnh. Tư duy này sau này tôi mới hiểu từ câu nói của TT Lincoln ‘Cho tôi 6 tiếng để đốn cái cây thì tôi bỏ 4 tiếng để mài rìu’.
Sau hai ngày phần lớn các bạn trong lớp đã xong hơn nửa còn tôi thì chưa bắt đầu. Các bạn chọc ‘Ủa, bạn không biết làm sao à? Chứ sao không thấy bạn làm gì cả?’ Tôi chỉ cười. Đến ngày thứ 3 tôi mới lấy viết chì vẽ kiểu trên tờ giấy và vẽ đường cong mẫu cho hai cột ngang dưới chính. Nhờ có bản vẽ với kích thước thật 1:1 nên tôi hoàn tất cầu tăm cũng khá nhanh chóng.
Buổi thi đấu bắt đầu, tất cả cầu tăm được dán số, được chưng ở hành lang trường dẫn đến phòng ăn trưa để tất cả học sinh trong trường bầu chọn chiếc cầu được thiết kế đẹp nhất. Cuối ngày khi đếm phiếu, cầu tôi được giải ‘đẹp nhất’.
Ngày hôm sau thi đấu kỹ thuật. Các thẻ tạ 5 và 10 lbs được để lên cầu đến khi nó gãy. Các bạn háo hức thử cầu của mình nên tôi thử chót. Đến lượt tôi thì cầu chịu nặng nhất là 90 lbs. Khi cầu tôi lên 100 lbs thì ai cũng trầm trồ.
Tôi như nín thở khi để tạ lên. 105, 110, 115, 120, 125, 130, 135, 140 lbs tôi thấy cầu bắt đầu run và bung một cây chống ngang nhỏ ở dưới đáy. Tôi nói thầy: ‘Em không muốn thử nữa. Đủ thắng rồi và em muốn giữ nó làm kỷ niệm.’ Thầy OK và nói với cả lớp, kỷ lục xưa này của lớp là 120 lbs và tôi đã phá kỷ lục vượt lên trên 140 lbs (vì cầu chưa gãy). Hôm đó tôi vui lắm ôm hai giải cups về khoe cha mẹ nuôi.
Chiếc cầu tăm của tác giả. Ảnh: Trương Nguyện Thành
Vài ngày sau đó, trên báo của trường có một bài bình luận nặc danh đưa ra một thuyết âm mưu “Để một đứa tị nạn từ Việt Nam, tiếng Anh thì không biết, kiến thức thì cũng không mà có thể đạt được cả hai giải vật lý và phá kỷ lục xưa nay bởi 20 lbs là điều không thể. Điều đó chỉ có thể xảy ra là người đó ‘cheat’, lừa đảo hay gian lận bằng cách nào đó mà chưa phát hiện được mà thôi“.
Khi vào lớp Lý, một bạn đưa bài cho tôi đọc. Thầy hôm đó rất giận, mắng các bạn rất nhiều, tôi không rõ hết (vì tiếng Anh còn kém) nhưng đại khái ‘Các em thấy bạn Thành biết bỏ thời gian chuẩn bị, biết nghiên cứu, biết ngồi tính toán và thiết kế, các em đã không có làm điều đó. Kết quả cuộc thi quá rõ ràng như thế… các em thua thì cũng nên thua một cách lịch thiệp (‘loose gracefully’)…’
Trường tôi nằm ở miền Bắc tiểu bang Minnesota, ở một khu vực đồng quê khá hẻo lánh và đa số là người da trắng. Trong trường chỉ có một vài đứa da màu là con nuôi của những gia đình Mỹ trắng và tôi là một trong số đó. Lớp Lý của tôi có một số bạn thật là hoàn hảo, học giỏi, chơi thể thao giỏi, chơi nhạc cụ cũng giỏi, chẳng những thế mà còn đẹp trai đẹp gái nữa và theo tôi biết từ các bạn khác thì họ là con của những nhà giàu trong khu phố nhỏ.
Một hôm trong lớp Lý, tôi xin phép được đi vệ sinh. Chừng một phút sau thì tôi thấy một số (4) bạn trong lớp (trong nhóm học sinh hoàn hảo) cũng vào phòng vệ sinh. Một bạn to lớn (dân chơi football) đứng dang tay, dang chân chặn cửa không cho tôi ra trong khi ba bạn còn lại bắt đầu la hét vào tai tôi hoặc đưa mặt sát vào mặt tôi la hét.
– Thằng ngu xuẩn kia mày tưởng mày thông minh lắm hả. Mày là một thằng ngu xuẩn, tiếng Anh thì không biết nói, mày từ những cái chòi tranh vách đất mà tao thấy trên TV. Vậy mà mầy nghĩ mày thông minh hả…
– Mày hãy về lại cái chòi của mày đi. Ở nước Mỹ này không welcome mày và cũng không có gì cho mày. Cút về Việt Nam đi đồ khốn.
Tôi van xin cho tôi đi ‘Please, let me go’ nhưng tên to con đã dùng thân cản cửa ra vào và còn hét vào mặt tôi ‘Tụi tao đang nói chuyện với mày đấy, mày có biết không thằng ngốc’. Chúng liên tục chửi bới và tôi phải đứng yên chịu trận. May quá tiếng chuông reo hết tiết đã cứu tôi. Trước khi bỏ đi chúng còn hăm dọa ‘Mày mà báo cáo với trường thì chúng trao sẽ treo cổ mày như mấy thằng da đen đấy’.
Tôi không phải là người thông minh. Nhưng mỗi lần nhìn vào cái cầu tăm này tôi có thêm động lực để phấn đấu vượt qua mọi khó khăn và quyết tâm để lại dấu ấn ở những nơi tôi học hay làm, để những người theo chủ nghĩa white supremacy phải suy nghĩ.
Khi ông Trump bảo nhóm Proud Boys ‘stand-back and stand-by’ đã thể hiện ông ta là thủ lĩnh của nhóm White Supremacy. 40 năm sống ở Mỹ, chưa khi nào mà tôi thấy xã hội Mỹ phân rẽ tồi tệ như 3-4 năm qua và ông Trump trong cương vị Tổng Thống chỉ đổ dầu thêm vào lửa.
Qua trải nghiệm của năm đầu sống ở Mỹ, tôi trở nên rất nhạy bén nhận ra những người kỳ thị chủng tộc. Tôi có thể nói rằng ông Trump là một người theo chủ nghĩa White Supremacy, kỳ thị người da màu và không xứng đáng là một tổng thống của một nước hùng mạnh nhờ vào đa dạng chủng tộc. Tuy thế tôi vẫn cầu mong cho ông chóng khỏi bệnh dịch covid-19. Tôi nghĩ ông sẽ chóng khỏi thôi vì với ông, nó chỉ là một bệnh cảm bình thường không có gì phải quan ngại!
Tôi biết rất nhiều bạn Việt Nam ủng hộ ông Trump vì ông ta chống TQ. Nhưng tôi sẽ bầu ông ra khỏi ghế Tổng thống trong tháng sau. Bầu cử lần này không phải để bầu một người vào vị trí ứng cử, mà để truất phế người đang ngồi ở vị trí đó.
——————————
Trương Nguyện Thành : Đại học, bằng cử nhân với danh dự (honors) ngành hóa cộng với 4 ngành phụ Toán, Lý, Công Nghệ Thông tin, và xác suất thống kê. Có 6 bài báo nghiên cứu khoa học quốc tế trong đó hai bài là tác giả chính và một bài viết với sư tổ (sư phụ của sư phụ) John Pople (Chemistry Nobel prize winner năm 1998). Kỷ lục này không biết có ai ở đó phá chưa. Tuy nhiên rất khó đấy vì trung bình một luận án Tiến sĩ có bốn bài báo quốc tế.
Cao học, được vào Tiến sĩ dự bị chỉ sau 4 quarters (sớm nhất từ trước đến lúc ấy). Lúc ấy tôi đã có hai bài báo quốc tế với GS hướng dẫn rồi. Luận án ra trường TS với 16 bài báo quốc tế, 90% là tác giả chính. Kỷ lục này đến nay ở khoa này vẫn chưa ai phá vỡ.
Ở ĐH Utah, thăng chức từ Assistant Professor lên Associate Professor trong 5 năm với danh sách 40 bài báo quốc tế. Thăng chức từ Associate Prof lên Full Prof cũng trong 5 năm với danh sách 100 bài báo quốc tế. Hai kỷ lục này thì từ khi TNTthăng chức Associate Prof cho đến nay, gần 25 năm chưa ai trong khoa phá vỡ.
***
Truyện ngắn “CAO NHƯ ĐẢNG”
Đinh Vũ Hoàng Nguyên.
Tác giả Đinh Vũ Hoàng Nguyên là nhà thơ, vì thơ rất hay. Anh là họa sĩ chuyên nghiệp vì tốt nghiệp tại trường Đại học Mỹ Thuật Công nghiệp Hà Nội. Anh là một nhà văn: truyện ngắn của anh chứa đầy nụ cười và trăn trở. Cười vì văn chương anh dí dỏm một phần nhưng trăn trở vì phía sau những số phận nhân vật mà anh đem vào truyện như nét vẽ chân dung trọn vẹn tính người trong dòng chảy gập ghềnh của thời đại.
Người nghệ sĩ đa tài ít tuổi đó là Đinh Vũ Hoàng Nguyên. Giã từ bàn viết ở tuổi 37 (2012) khi tài năng chỉ mới bắt đầu nhưng đã báo hiệu một phong cách lạ, nhiều dấu ấn và luôn làm ngạc nhiên người đọc.)
…
CAO NHƯ ĐẢNG
“Tên của gã là Cao Như Đảng. Tên cúng cơm của gã là Cao Như Đảng. Trong lý lịch gã đề tên Cao Như Đảng. Tức là đích thị trên đời có thật một gã Cao Như Đảng.
Cao Như Đảng biệt tài làm thịt chó, thịt nhanh, nấu khéo, cả làng cả xóm biết tiếng. Ngay cả chó dại, chó chết ốm, chó bị trẹt xe…, gã mà đã nhúng tay pha thịt, ướp hấp, lúc dọn lên mâm vẫn ngon nhức.
Trong xóm nhà ai thịt chó cũng nhờ gã. Ủy ban xã khi nào tiếp khách hay liên hoan, cần thịt chó, lại gọi gã. Bản lĩnh ấy khiến gã với mấy vị trên Ủy ban thành thân tình. Dần dần người ta lấy luôn cái nghề của gã gắn vào tên, gọi gã là Đảng Chó. Gã nghe vậy cũng chẳng lấy gì làm phiền.
Một ngày, Cao Như Đảng mở quán thịt chó.
Hôm khai trương, gã mời cán bộ trong xã đến đánh chén. Rất vui. Nhưng đang dở bữa, thì bí thư xã phát hiện ra cái biển trước quán đề THỊT CHÓ ĐẢNG.
Ông bí thư gọi Cao Như Đảng đến, quắc mắt:
“Ông ghi thế này là chửi ai?”.
Cao Như Đảng nói:
“Thì dân vẫn gọi em là Đảng Chó, các bác trên xã cũng gọi em là Đảng Chó, thì giờ mở quán em làm biển thế cho tiện!”.
Bí thư bảo:
“Lời nói gió bay, nói mồm với nhau không có gì làm bằng, chứ ghi lên thế này thì mặt mũi đảng còn cái chó gì nữa?”. Gã đành “dạ dạ…”.
Cái biển sau, rút kinh nghiệm, Cao Như Đảng đề: ĐẢNG THỊT CHÓ.
Bí thư xã đến ăn, nhìn biển mới, gật gật gù gù bảo:
“Sửa thế này được, để cái giống ấy sau chữ đảng, cho đỡ bị hiểu lầm!”.
“Cả nhà nhà em toàn người ngoan và ngu, có biết gì mà phản động?”.
Ông bí thư hạ giọng, thầm thì:
“Nước mình là một đảng lãnh đạo, cấm có cái chuyện hai ba đảng, ông ghi thế này nhỡ ai hiểu là ông lập đảng đối lập, thì toi!”.
Cao Như Đảng bảo:
“Chả nhẽ thằng bán thịt chó và mấy thằng ăn thịt chó mà cũng bị thành đảng à?!”.
Bí thư bảo:
“Ai chả biết thế! Nhưng cái nước mình nó thế! Mà thôi, tốt nhất thời này cái gì đã đảng thì đừng chó, mà đã chó thì đừng đảng!”.
Gã đành “dạ dạ…”.
Sau bữa đấy, Cao Như Đảng lại thay biển mới, còn đề mỗi THỊT CHÓ.
Nhưng lắm lúc gã tấm tức: đến cái giống chó còn đi không đổi họ, ngồi không đổi tên, lúc biến thành thịt vẫn gọi là chó, chẳng nhẽ chỉ do nước này có độc cái đảng mà thành mình phải kị húy, phải kiêng cả tên cha sinh mẹ đẻ đặt cho, thì hóa chẳng bằng chó!
– Cựu học sinh Trung Học Trần Quý Cáp , Hội An . – Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Khoá 20 Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam . – Chức vụ sau cùng : Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân . – Từ 1975 tới 1988 tù cải tạo ( 13 năm ) từ Nam ra Bắc . – Từ 1993 định cư tại Thành Phố Seattle , tiểu bang Washington , USA . – Năm 2003 tốt nghiệp University of Washington , cấp bằng BA Social Sciences & Communication . – Gia cảnh hiện nay : Một vợ , 4 con , 1 cháu Nội , 3 cháu Ngoại .
* * *
Một chiều cuối năm 1998 tôi vào Trường University of Washington ( UW ) để đón đứa con gái áp út tan giờ học . Tình cờ tôi nhìn thấy một ông già đứng chờ xe bên bến Bus . Có lẽ ông cụ lớn tuổi hơn tôi nhiều . Hỏi chuyện , tôi mới hay , ông cụ đã qua tuổi bảy mươi , ăn tiền hưu , và đang học môn Truyền Thông ( Communication ) năm Senior . Tôi chợt nghĩ , thời gian này mình cũng không bận lắm , tại sao không trở lại trường ? Ít ra cũng học thêm được vài điều hay . Thế là , hôm sau tôi nộp đơn xin trắc nghiệm trình độ Toán và Anh Văn để xếp lớp tại Shoreline Community College ( Shoreline CC ) .
So với các trường đại học cộng đồng quanh vùng , thì học phí của Shoreline CC tương đối nhẹ . Thật là , không có gì diễn tả nổi niềm vui sướng tột cùng của tôi buổi đầu được cắp cặp trở lại trường làm học trò . Ba mươi lăm năm sau khi rời ghế nhà trường ( 1963 ) để tình nguyện vào quân ngũ , tôi đâu ngờ còn có ngày được ngồi dưới lớp nghe lời thầy giáo giảng ? Xung quanh tôi là những người trẻ tuổi vừa qua bậc Trung Học . Tôi làm việc 10 tiếng đồng hồ 1 ngày , 4 ngày 1 tuần lễ . Ngày , ngày , vừa tan sở , tôi lại vội lái xe tới lớp . Từ ấy , tôi làm việc full time , đi học full time , bận bịu vô cùng . Học kỳ ( quater ) đầu tiên , tôi ghi danh một lớp Toán , và hai lớp Anh Văn , mỗi lớp 5 tín chỉ ( credit ) . Tôi miệt mài trong công việc suốt ngày , và chuyên cần trong học tập mỗi đêm . Vào mùa thi , tôi thức trắng hai , ba đêm là thường . Tôi ghi danh full time để thúc đít thằng con út . Thằng nhỏ sợ ông bố theo kịp , nên phải gắng chạy có cờ để thoát lên đại học 4 năm .
Một niên khoá trôi qua . Con đường học hành của tôi đang có vẻ rộng mở thênh thang , thì bỗng dưng lại quẹo vào một khúc quanh , chỉ vì mùa Fall 2000 tôi đã ghi danh lớp History 274 « US and Vietnam » .
Tôi « lấy » lớp Sử Ký này với mục đích tìm hiểu xem cuộc chiến tranh vừa qua đã được các sử gia Mỹ ghi chép lại như thế nào ? Từ đó , hy vọng biết được phần nào , nguyên nhân vì sao , giữa đường , Mỹ đã bỏ rơi Việt Nam , vì sao chúng ta đã thua trận .
Người từ lâu độc quyền phụ trách lớp Sử 274 là thầy Dan . Trong thời gian dài cả chục năm qua , ông giáo kỳ cựu này đã đào tạo hàng ngàn môn sinh . Những học trò của ông sau khi chuyển tiếp lên trường đại học bốn năm , đã trở thành những Thạc Sĩ , Tiến Sĩ . Lâu lâu họ lại ghé về trường xưa , thăm ông thầy cũ .
Lớp « US and Vietnam » mùa Fall 2000 có chừng hơn hai chục học viên , trong đó da trắng chiếm đa số . Có 4 học trò gốc Châu Á , gồm 2 anh Tàu lục địa , một cậu bé H’Mong và tôi . Bạn đồng lớp với tôi còn nhỏ lắm . Họ trẻ hơn mấy đứa con tôi nhiều .
Tôi cứ tưởng rằng những tài liệu lịch sử mà các thầy giáo đem truyền bá , phải nằm trong chương trình đã kiểm duyệt và cho phép của Bộ Giáo Dục Hoa Kỳ . Nhưng thực tế không phải vậy . Nền giáo dục của Mỹ đã đi vào tự trị từ lâu . Thầy giáo có toàn quyền lèo lái , hướng dẫn con thuyền học vấn chở học trò mình tới bất kỳ bến bờ nào mà thày đã chọn . Thầy giáo chỉ định sách giáo khoa nào thầy sẽ dạy để chúng tôi mua . Thầy phổ biến những tài liệu nào mà thầy ưng ý . Trong hai phần ba thời gian đầu của học kỳ Fall 2000 , mỗi khi nói tới phong trào Việt Minh , ông giáo sư dạy Sử không ngớt ca tụng HCM như một lãnh tụ tài ba , và vô cùng sáng suốt đã khôn khéo hướng dẫn dân tộc Việt Nam tới chiến thắng thoát ách đô hộ của Đế Quốc Pháp .
Thầy khẳng định rằng , chính phủ Hoa Kỳ là nguyên nhân cuộc chiến tranh Đông Dưong lần thứ hai ( 1954-1975 ) . Vì theo lời thầy , thì HCM đã năm lần gửi mật thư cho Tổng Thống Harry Truman để xin thần phục và hợp tác , nhưng Tổng Thống Harry Truman đã từ chối . Thầy cho rằng người Mỹ đã lầm lẫn trợ giúp quân Pháp trở lại tái chiếm Đông Dương trong khi cao trào dân chủ , đấu tranh giành độc lập đang lan tràn trên toàn thế giới , và chủ nghĩa thực dân đã lỗi thời .
Chúng tôi đã được cho xem những đoạn phim cũ về trận Điện Biên Phủ , về Hiệp Định Geneve , và về cuộc di cư năm 1954 . Với những trận có âm vang quốc tế như Plei Me , Khe Sanh , Kontum , Bình Long , Long Khánh vân vân … chúng tôi chỉ được thấy những cảnh thương vong của quân đội Đồng Minh và Việt Nam Cộng Hoà . Trận Mậu Thân , chỉ là cảnh … nhà cháy , dân chạy loạn . Tất cả những « tư liệu » này đều có thực , nhưng thầy Dan chỉ trưng bày những phần có lợi cho Việt Cộng . Tôi chưa nghe được từ miệng thầy một lời nói tốt nào cho phía Việt Nam Cộng Hoà . Thầy mô tả Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà như một đội quân kém cỏi về cả tổ chức lẫn khả năng tác chiến . Với thầy Dan , chiến tranh Việt Nam chỉ là một gánh nặng cho ngân sách Quốc Phòng Hoa Kỳ , một sự phí phạm công quỹ . Đã có đôi lần tôi dơ tay nêu ý kiến bênh vực quân đội ta , chính quyền ta , thì ông chỉ cười , chỉ tay vào quyển Sử dày cộm : – Book said !
Cứ cái điệp khúc « Sách dạy ! » đó , ông thầy phản chiến đã lịch sự gián tiếp nhắc nhở cho tôi hay rằng , tôi là một học trò , còn ông là một vị giáo sư nói có sách , mách có chứng .
Thầy hùng hồn thuật lại những lần thầy tham gia biểu tình chống chiến tranh thời 1960s và nặng lời đả kích lệnh động viên ngày đó , đã đưa hàng trăm ngàn thanh niên Hoa Kỳ vào chỗ chết .
Kết quả hai lần khảo hạch giữa học kỳ ( Mid Term ) tôi đều lãnh điểm ( F ) bởi vì tôi chỉ làm trót lọt phần A , B , C khoanh , còn về bài tiểu luận ( essay ) thì tôi bị loại thẳng tay .
Cả hai bài đều lãnh điểm « không » ( 0 ) chỉ vì tôi đã viết không hợp ý ông thày . Ngặt một điều là , lớp History 274 này bị tính điểm đem lên trường đại học 4 năm . Bị đánh rớt lớp này thì giấc mơ chuyển tiếp lên University of Washington của tôi sẽ thành mây khói .
Tôi theo học lớp này đúng vào lúc nhà trường đang sôi sục với cuộc vận động bầu cử Tổng Thống . Ông thầy dạy Sử không phải là người độc nhất có ác cảm với chiến tranh , mà Tiểu Bang Washington tôi đang cư ngụ cũng là thành trì của Đảng Dân Chủ . Tâm sự này kiếm cả trường chắc cũng chẳng có ai thông cảm !
Thời gian này lòng tôi thật muộn phiền . Tôi tự trách rằng , mùa Fall 2000 có thiếu gì lớp tương đương với History 274 mà sao tôi lại nộp mạng vào cái lớp chết tiệt này ? Đúng là bỏ tiền ra ghi danh để ngồi nghe người ta chửi mình , chửi quân đội mình . Càng nghĩ tôi càng thấy tức ! Thằng con trai thấy ông bố rầu rầu bèn lân la hỏi chuyện . Khi hiểu nguồn cơn nỗi buồn của tôi , nó mới cho tôi hay , năm ngoái nó cũng ghi danh học lớp này , và đã bị một « vố » đau . Để thoát thân , từ bài thi thứ nhì nó phải viết theo ý ông giáo . Vất vả lắm nó mới kiếm được đủ điểm .
Sau ngày có kết quả khảo hạch kỳ thứ nhì , tôi bỏ công xuống thư viện nghiên cứu , sao chép những tài liệu sử liên quan tới chiến tranh Việt Nam . Tôi không màng đến vấn đề chuyển tiếp lên University of Washington nữa . Tôi chờ , nếu có cơ hội là tôi sẽ « choảng nhau » với ông giáo phản chiến này một trận , rồi muốn ra sao thì ra . Tôi lục lạo kệ sách loại chọn lọc ( preference ) và tìm được một quyển Sử Ký , trong đó , chứa đựng nhiều tài liệu ghi chép rõ ràng những thành quả mà Việt Nam Cộng Hoà đã thực hiện được . Trong số những tài liệu quý giá đó , có cả một bài đề cập tới đơn vị tôi , Liên Đoàn 2 Biệt Động Quân . Tôi vui mừng và cẩn thận photo copy những gi thu nhận được để dùng làm bằng chứng khi cãi lý với ông giáo sư dạy Sử . Tôi cũng tận dụng thời gian rảnh cuối tuần để sắp xếp cho có thứ tự những điều cần tranh luận . Tôi ghi sẵn những câu phê bình , những câu chất vấn thẳng thắn với thầy Dan về cung cách giáo dục học trò của ông , và về những tài liệu mà ông đã dùng để trợ huấn . Buổi học áp chót của mùa Fall chúng tôi có một giờ đầu thi A , B , C khoanh . Sau đó thầy giáo phát đề bài làm ở nhà . Thời gian còn lại , thày sẽ giảng gợi ý cho bài tiểu luận . Bài tiểu luận sẽ phải giao nộp vào đầu giờ buổi học cuối cùng . Vừa nghe chuông giải lao , tôi tiến tới bàn ông giáo Sử . Dù trong bụng đã chuẩn bị sẵn một mớ ngôn từ đao to búa lớn cho một cuộc đấu khẩu sống mái , nhưng tôi vẫn dằn lòng , nhỏ nhẹ : – Thưa giáo sư . Xin giáo sư vui lòng cho phép tôi được trình bày với ông đôi điều liên quan tới sự giảng dạy của ông trong thời gian vừa qua . Tôi có thể làm phiền ông vài phút được không ? Thầy Dan niềm nở : – Dĩ nhiên là được . Ông có điều gì cần cứ nói . Thấy câu chuyện đã mở đầu trót lọt , tôi mạnh miệng :
– Thưa giáo sư , tôi là một người Việt Nam tỵ nạn . Tôi là một cựu sĩ quan của Quân Đội Việt Nam Cộng Hoà . Tôi còn nhớ trong bài giảng đầu tiên , thầy có nhắc đi , nhắc lại rằng , phi vụ đầu tiên của pháo đài bay B 52 trên Cao Nguyên Việt Nam là vụ oanh tạc Thung Lũng Ia Drang . Thầy có biết không ? Cũng vào ngày hôm đó , tôi đang tập dượt lễ mãn khoá sĩ quan Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam . Và 10 năm sau , trước khi tàn cuộc chiến , vùng đất mà tôi chịu trách nhiệm trấn giữ cũng bao gổm cả cái Thung Lũng Ia Drang đó . Thầy chỉ biết tới những trận đụng độ đẫm máu trong thung lũng Ia Drang qua báo chí , truyền thanh , và truyền hình . Còn tôi là người đã lặn lội mười năm ở đó , đã nhiều lần bị thương đổ máu ở đó , đã rơi lệ vuốt mắt cho nhiều đồng đội nằm xuống ở đó . Trong số những người nằm xuống ấy , không thiếu những thanh niên Mỹ đồng trang lứa với thầy . Nơi đó chúng tôi chiến đấu quên mình từng ngày , vì nền độc lập của đất nước tôi , và vì quyền lợi của nước Mỹ . Thầy chưa từng khoác áo nhà binh , chưa một lần có mặt trên chiến trường . Suốt đời thầy không hiểu nổi thế nào là niềm kiêu hãnh của một người lính chiến , thế nào là lòng khát khao chiến thắng , thế nào là tình huynh đệ chi binh .
Suốt đời thầy không hiểu được vì sao hơn hai chục thương binh què quặt của một đơn vị Biệt Động Quân Việt Nam Cộng Hoà phải mở đường máu rút lui mà vẫn cưu mang theo ba người lính Mỹ , trong đó có hai người bị trọng thương ; và vì sao một đại tá Hoa Kỳ đã đưa thân che chở cho một thương binh Việt Nam để rồi ông bị mảnh đạn vỡ đầu . Mạng lưới truyền thông thiên Cộng khổng lồ của Hoa Kỳ đã tiếp tay với bộ máy tuyên truyền của Cộng Sản Quốc Tế cố tình xuyên tạc , bóp méo tất cả những c liên quan tới nguyên nhân , diễn tiến , và hậu quả của cuộc Chiến Tranh Việt Nam . Từ đó , tên Việt Cộng khát máu HCM đã được tô vẽ , đánh bóng thành một vị lãnh tụ đức độ anh minh .
Chính tên sát nhân này và đảng Cộng Sản Việt Nam đã giết oan không biết bao nhiêu đồng bào vô tội của tôi trong suốt thời gian ba mươi năm chiến tranh . Nằm trong số hàng trăm ngàn nạn nhân bị giết , tù đầy , thủ tiêu , cha tôi và chú tôi cũng bị chặt đầu trôi sông trong thời gian đó . Nếu chế độ Cộng Sản là tốt đẹp , thì đã không có một triệu dân miền Bắc di cư vào Nam sau Hiệp Định Geneve năm 1954 , và sẽ chẳng có những cuộc vượt biên bi thảm của hàng triệu thuyền nhân trên biển bỏ quê hương sau khi Miền Nam rơi vào tay Cộng Sản năm 1975 . Thầy chỉ mới thấy hình bé gái Kim Phúc trần truồng , vừa khóc vừa chạy , thân mình phỏng cháy vì bom Napalm của quân Đồng Minh đánh lầm vào nhà dân , mà thầy đã thấy xót xa , cho rằng quân Đồng Minh tàn ác .
Nếu thầy ở vào vị trí của tôi , không hiểu thầy sẽ nghĩ sao ? Ngày 18/04/1974 , sau khi tái chiếm Căn Cứ Hoả Lực 711 , Pleiku , tôi đã tận mắt chứng kiến một cảnh dã man chưa từng thấy . Trong một căn hầm trú ẩn đầy ruồi nhặng , trên chiếc giường tre là cái xác trần truồng của một người vợ lính . Chị bị Việt Cộng lột hết quần áo , bị hãm hiếp , rồi bị đâm chết bởi nhiều nhát lưỡi lê , ruột gan lòi lòng thòng . Trên nền đất , máu đọng thành vũng . Trong góc hầm là xác đứa con trai hai tuổi của nạn nhân . Cháu bé bị trói hai tay , hai chân bằng dây dù và cũng bị hàng chục nhát lưỡi lê đâm vào bụng , vào ngực . Hai người này vừa theo chuyến xe tiếp tế của đơn vị lên thăm Chồng và Cha của họ được vài ngày . Họ đã không kịp chạy khi Việt Cộng tràn ngập căn cứ trưa 15/05/1974 . Câu chuyện vừa tới đây thì hết giờ giải lao , học trò trở lại lớp . Ông giáo vỗ vai tôi , – Ông cứ ngồi đây , ta sẽ tiếp tục .
Rồi ông lớn tiếng cho phép lớp nghỉ sớm , để học trò có thời gian chuẩn bị bài thi viết . Chờ cho người học trò sau cùng ra khỏi cửa , thầy Dan nói nhỏ với tôi : – Ông hãy tiếp tục câu chuyện của một nhân chứng sống . Tôi mong được nghe thêm .
Tôi không ngần ngại , tiếp lời :– Cám ơn Giáo Sư . Tôi chỉ nói những gì thấy tận mắt , nghe tận tai , và những gì xảy ra cho chính bản thân và gia đình tôi để thầy có một nhận định chính xác về cuộc chiến tranh Việt Nam đã ảnh hưởng như thế nào đối với người dân Việt .
Tôi tâm sự với thầy Dan rằng , tôi là một học trò tốt nghiệp trung học vào đúng thời điểm đất nước lâm nguy nên tôi đã tình nguyện vào quân ngũ để cứu nước . Tôi tóm lược cuộc đời chinh chiến của mình cho ông giáo nghe . Tôi thấy thầy Dan đặc biệt lưu tâm tới những chiến dịch xảy ra trên Tây Nguyên , và ông có vẻ rất quen thuộc với những địa danh Ban Mê Thuột , Pleiku , Plei Me , Đức Cơ , Kontum . Nghe tôi nói ở Tây Nguyên chiến trận , chết chóc xảy ra hàng ngày , ông vội hỏi : – Mỗi lần ra trận , ông có sợ không ?
Tôi cứ tình thực trả lời :– Sợ chứ ! Vào chỗ chết , ai mà không sợ ? Nhưng tinh thần trách nhiệm đã làm cho tôi quên cái sợ . Thấy ông giáo sư có vẻ muốn nghe truyện chiến trường , muốn hiểu tâm tư người đi trận ra sao , tôi đã không ngần ngại thuật lại hoàn cảnh của tôi trong trận Dak Tô năm 1969 . Cuối trận này tôi đã phải mở khói đỏ yêu cầu máy bay đánh ngay trên đầu mình để cùng chết với quân thù . Vào giờ phút tuyệt vọng nhứt của trận đánh đó , tôi đã nghĩ gì , tôi cũng thổ lộ cho ông giáo biết . Ông giáo sư đã từng nghe nói tới cái tên « Đường Mòn HCM » nhưng chưa bao giờ ông ngờ rằng đó là cả một hệ thống đường giao thông chằng chịt che dấu dưới rừng già dọc Trường Sơn . Tôi đã chia sẻ với ông những cảm giác hồi hộp , căng thẳng của người có cái kinh nghiệm đi toán Viễn Thám săn tin dọc biên giới Việt Miên Lào từ Khâm Đức tới Bu Prang vào những năm 1972-1973 . Ông cũng rất hứng thú khi nghe tôi thuyết trình về kỹ thuật bắn xe tank mà Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân đã áp dụng trong trận Xuân Lộc Tháng Tư năm 1975 . Trận Xuân Lộc này ông có nghe qua , nhưng ông không ngờ , một trong những cấp chỉ huy trực tiếp của trận đánh lừng lẫy ấy đang ngồi trước mặt ông . Tôi không quên nói tới những lần dừng quân bên xóm làng quê nghèo nàn , nhận những bát nước chè xanh , những củ khoai luộc của đồng bào tôi đem ra mời mọc . Tình quân dân cá nước ấy đã là những liều thuốc bổ giúp tinh thần chúng tôi mạnh mẽ hơn khi đối mặt với quân thù . Tôi thuật lại cho thầy nghe , trong tình thế hoàn toàn tuyệt vọng , chúng tôi đã chiến đấu kiên cường như thế nào .
Và sau khi biết rằng chỉ trong vòng một tháng cuối cùng , chín mươi phần trăm của quân số hơn năm trăm người thuộc Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân đã chết vì tổ quốc , thì ông giáo đã giơ hai tay lên trời , lắc đầu thốt ra hai tiếng ,
Thầy Dan la lên : – Trời ơi ! Thầy Dan cũng muốn tìm hiểu xem , sau khi mất nước thì số phận của tôi và gần một triệu quân nhân , công chức chính quyền Việt Nam Cộng Hoà ra sao . Ông đã trố mắt ngạc nhiên khi biết ra rằng , từ sau Tháng Tư năm 1975 , khắp đất nước tôi , « Trại Cải Tạo » đã mọc lên như nấm . Cái tên « Re Education Camp » mà ông đã nghe qua , trên thực tế chỉ là những trại tù khổ sai . Những « học viên » trong các trại đó sống không khác gì những con vật , quằn quại với cái đói . Họ bị ép buộc làm việc tới kiệt lực . Tinh thần bị khủng bố , căng thẳng liên miên bởi những buổi ngồi đồng học tập , phê bình , bầu bán . Tôi thú thật với ông giáo rằng , trong thời gian đó , tôi chỉ nghĩ tới tự do ; làm sao để tìm lại được tự do , dù có chết cũng cam lòng . Ông giáo đã tỏ ra say mê theo dõi truyện hai lần tôi trốn trại thất bại , cùng những cực hình mà tôi phải gánh chịu . Tôi cũng không ngần ngại thuật lại hoàn cảnh của vợ tôi ngày đó , một nách bốn đứa con thơ dại , vất vả , tảo tần nuôi con , chờ chồng trong 13 năm tôi bị giam giữ , tù đầy .
Tôi cho ông giáo biết tôi là người sinh ra tại Miền Bắc Việt Nam . Tháng 07/1954 gia đình tôi đã cùng gần một triệu người khác di cư vào Nam để trốn lánh Cộng Sản . Tôi cặn kẽ phân tích cho thầy rõ , sau Hiệp Định Geneve năm đó , hai miền Nam , Bắc Việt Nam đã thành hai quốc gia , độc lập và có chủ quyền , có biên giới . Chính HCM và đảng Cộng Sản Việt Nam đã chủ trương , phát động và điên rồ theo đuổi một cuộc chiến tranh tiến chiếm Miền Nam . Quân đội và nhân dân Việt Nam Cộng Hoà chỉ làm nhiệm vụ tự vệ . Quân Mỹ và Đồng Minh vào Việt Nam là để phụ giúp chúng tôi chống lại một cuộc xâm lược từ phương Bắc .
Chúng tôi thất trận không phải vì chúng tôi kém khả năng , thiếu tinh thần chiến đấu , mà vì người Mỹ đã phản bội , nửa đường rút quân , cắt viện trợ . Từ khi người Mỹ rút lui , chúng tôi bị bó chân bó tay , bụng đói mà vẫn phải chiến đấu . Trong khi đó , Miền Bắc lại tràn ngập lương thực , quân dụng , quân nhu , và vũ khí viện trợ từ khối Cộng . Thời gian khởi đầu chương trình Việt Nam Hoá chiến tranh , còn được cung ứng vũ khí , lương thực dồi dào , chúng tôi đã chứng tỏ khả năng có thể cáng đáng bất cứ nhiệm vụ nào của quân đội Đồng Minh bàn giao lại . Để chứng minh điều này , tôi mở tờ copy từ quyển History của thư viện , trong đó có sơ đồ các cánh quân Việt Nam Cộng Hoà vượt biên tiến chiếm miền Bắc Cam Bốt trong chiến dịch Bình Tây 1 , 2 , 3 cuối năm 1970 của Quân Đoàn II . Tôi chỉ cho ông cái dấu hiệu quân sự hình tam giác có chữ R ở giữa , cạnh trên có ba cọng râu , bên trái là con số 2 :
– Đây ! Thưa thầy , cuối năm 1970 , tại vùng 2 Chiến Thuật , chúng tôi đã đánh đuổi quân Bắc Việt tới bờ đông của sông Mê Kông trên đất Miên . Ngày đó tôi là người chỉ huy một đơn vị trực thuộc Liên Đoàn 2 Biệt Động Quân . Tôi đã đánh chiếm thành phố Ba Kev , và đóng quân tại nơi này một thời gian . Chúng tôi đã chứng tỏ rằng khả năng chiến đấu của chúng tôi đã hơn hẳn quân đội Bắc Việt . Nhưng những năm sau , viện trợ cắt giảm dần . Mặc dầu tinh thần của chúng tôi không suy giảm , nhưng chiến đấu trong cảnh thiếu thốn thường xuyên , chúng tôi vất vả lắm . Tôi xin đan cử ra đây một so sánh để thầy thấy rõ sự khác biệt .
Trước khi Mỹ rút , tháng 06/1968 , có một lần tôi đang dàn quân tiến chiếm một ngọn đồi thì Bộ Chỉ Huy Task Force South của Mỹ ở Đà Lạt đã bắt tôi ngừng lại để chờ pháo binh và không quân yểm trợ . Tôi đã nhận được một phi tuần hai phi xuất F4C và sau đó là một hoả tập tám trăm quả đạn đại bác 105 ly trên mục tiêu trước khi xung phong . Mục tiêu đó chỉ rộng bằng diện tích khuôn viên trường Shoreline CC này . Chỉ hơn một năm sau khi Mỹ rút , tháng 08/1974 , tiền đồn Plei Me do tôi trấn giữ đã bị một lực lượng địch đông gấp 9 lần vây hãm 34 ngày đêm . Plei Me cũng chỉ rộng bằng trường Shoreline CC thôi . Vậy mà mỗi ngày chúng tôi đã hứng chịu từ một ngàn tới hai ngàn viên đạn pháo cối của địch . Để chống lại , ngoài hai khẩu 155 ly của quân bạn yểm trợ từ xa , tôi chỉ có hai khẩu đại bác 105 ly . Vì tình trạng khan hiếm , tôi chỉ được phép bắn theo cấp số đạn giới hạn là bốn viên cho mỗi khẩu súng một ngày . Chiến đấu trong tình trạng thiếu thốn như thế , chúng tôi vẫn chiến thắng . Thầy nghĩ sao về chuyện này ? Chúng tôi đã chiến đấu cho chính nghĩa như thế đấy , chúng tôi đã hy sinh như thế đấy , và chúng tôi đã bị bỏ rơi như thế đấy . Tôi cũng không hiểu vì sao người Mỹ phản chiến , trong đó có thầy , lại xuống đường tranh đấu , cổ vũ cho kẻ thù của chúng tôi , và ngược đãi chiến binh của chính nước Hoa Kỳ ? Thầy ơi ! Sao thầy lại nỡ nhẫn tâm như thế ! Thầy đã tiếp tay với kẻ thù , đâm sau lưng thân nhân và bạn bè đồng minh của thầy . Nhân dịp này , tôi cũng chuyển lại cho thầy nghe tâm sự của anh Bill , một bạn cựu quân nhân Mỹ trở về từ Việt Nam năm 1973 . Anh Bill hiện nay ( 2000 ) là Supervisor của hãng mà tôi đang làm việc . Đây là lời của anh ấy :
– Bạn có cảm thông nỗi đau đớn của chúng tôi ngày đó không ? Hôm chúng tôi cặp bờ Everett , Washington , dân chúng Mỹ , kể cả những người thân , tiếp đón chúng tôi bằng cách dơ cao ngoắc ngoắc ngón tay giữa ! Đi đâu chúng tôi cũng bị nhìn với đôi mắt khinh khi . Bao nhiêu ê chề nhục nhã đổ lên đầu người thua trận . Thua trận đâu phải lỗi của chúng tôi ? Có bạn tôi đã buồn mà tự tử . Rồi tôi bị giải ngũ . Thời gian ấy kiếm được một việc làm là điều khó khăn trần ai . Hãng xưởng nào cũng không mặn mà với những hồ sơ xin việc của những cựu chiến binh . Cũng may , có người bạn học thời Mẫu Giáo đã giới thiệu tôi vào làm việc cho hãng này . Lương hướng thời ấy chỉ có 3 USD một giờ cũng đã khiến tôi mừng quá lắm rồi . Sau câu chuyện này , tôi chuyển sang phê bình cách giảng dạy của ông thầy , tôi nói thẳng với ông giáo sư rằng , bao năm nay ông đã bóp méo lịch sử của cuộc chiến tranh giữa hai miền Nam và Bắc Việt Nam , làm như thế ông đã phạm tội đối với lịch sử . Cách giảng dạy của ông đã gieo vào trí óc học trò những thành kiến sai lầm đối với Việt Nam Cộng Hoà , làm giảm giá trị sự trợ giúp của chính phủ và nhân dân Hoa Kỳ đối với nước tôi . Cuối cùng , tôi hỏi ông giáo :
– Thầy còn nhớ , năm ngoái , có một cậu bé Việt Nam , mặt mày sáng sủa , lông mày rậm , tóc hớt kiểu nhà binh theo học lớp Sử 274 này không ?– Nhớ chứ ! Mỗi lớp chỉ có vài học trò Á Châu , dĩ nhiên là tôi nhớ !– Cậu bé Việt Nam đó chính là thằng con út của tôi ! Năm ngoái , bài tiểu luận đầu của nó bị điểm « không » ( 0 ) vì nó viết theo quan điểm của một người dân Miền Nam . Những bài sau nó phải đổi cách viết , để thầy cho điểm khá hơn . Tôi là cha nó ; tôi là một trong những người chứng kiến , tham gia và trực tiếp gánh chịu hậu quả của cuộc chiến tranh vừa qua ; tôi không thể làm như con tôi được . Tôi đã nói hết những đều cần nói với giáo sư , và tôi sẵn sàng chấp nhận hậu quả .
Ông thầy dạy Sử như bừng tỉnh cơn mơ : – Tôi tin lời ông , vì chẳng có lý do gì để ông nói dối . Có điều là , từ đó tới nay , hơn hai mươi năm dài , kể từ ngày những gia đình Việt Nam đầu tiên tới định cư ở Hoa Kỳ , chưa ai nói cho tôi nghe những điều này . Có thể , người ta muốn quên đi quá khứ , hoặc là người ta không có can đảm nói ra . Tôi đã hiểu , và tôi phải cám ơn ông . Ông quả là một chiến binh thực thụ .
Nghe được những lời nói chân tình từ miệng ông giáo sư , lòng tôi cảm thấy ấm áp lạ lùng . Trước mắt tôi , ông đã thành một người bạn đồng minh , ông đưa bàn tay hộ pháp ra cho tôi bắt : – Thưa người chiến binh . Ông vừa lập một chiến công !
Đêm ấy trên đường về nhà , lòng tôi rộn ràng như thuở nào giữa sân vận động Pleiku , sau chiến thắng Plei Me , tôi đã đứng trước một đoàn hùng binh , quần áo hoa rừng , nhận những vòng hoa rực rỡ , tai nghe bản nhạc « Bài Ca Chiến Thắng » do ban quân nhạc Quân Đoàn II hoà tấu .
Ngày chấm dứt mùa Fall năm 2000 ông thầy dạy Sử tươi cười trao cho tôi bản tổng kết cuối khoá , trên đó điểm trung bình ( GPA ) lớp History 274 của tôi ghi 4 chấm ( 4,00 ) .
Cuối mùa Spring 2001 tôi dự lễ cấp văn bằng tốt nghiệp AA nơi vận động trường có mái che của Shoreline Community College . Khán đài đông nghẹt thân nhân . Vợ tôi và bốn đứa con tôi cũng có mặt ngày hôm ấy . Khi người điều hành gọi tên tôi lên bục để nhận văn bằng , cả hội trường đều ngạc nhiên vì thấy nơi hàng ghế giữa của khu giáo sư có tiếng ai gào lên như tiếng sấm : – Long ! I’m proud of you ! Đến lúc bà Hiệu Trưởng bắt tay tôi thì ông giáo Dan đứng dậy , bắc loa tay hướng về sân khấu : My soldier ! I’m loving you !
Ông là một người cao lớn . Trong chiếc áo thụng đen , trông ông dềnh dàng như nhân vật chính trong phim « Người Dơi » .
Những người có mặt trong hội trường buổi ấy đều quay mặt nhìn về hướng ông giáo , ai cũng ngạc nhiên vì hành động phá lệ của một ông thầy xưa nay nổi tiếng là mô phạm . Thấy ông giáo Dan réo tên tôi ầm ầm , vợ con tôi và những khán giả ngồi trên khán đài cũng vỗ tay , reo hò , la hét theo . Hai năm sau , khi tốt nghiệp BA từ University of Washington , tôi về thăm và báo cho ông biết , ông vui lắm .
Từ đó cho tới khi tôi ngồi viết lại những giòng này ( 2011 ) hàng chục ngàn học trò đã tới , rồi giã từ Shoreline Community College . Và chắc chắn , hàng trăm lượt người trẻ tuổi đã đi qua lớp History 274 . Mười một năm qua , tôi vẫn nhớ buổi tối năm nào , tôi với ông giáo sư dạy Sử đã ngồi tâm sự với nhau . Lời khen của ông , mà tôi quý như một tấm huy chương , vẫn còn văng vẳng : – Thưa người chiến binh . Ông vừa lập một chiến công !
Seattle 2011/07
Vương Mộng Long – K20
Đúc kết 38 bí qᴜyết νàпg νề sức khỏe củɑ Ԁɑпh y Hoɑ Đà
Danh y ʜoa Đà là 1 trong 4 ɴʜâɴ νật пổi tiếng пhất trong пgành Đông y TQ. 38 bí quyết пày từng được xem là “phương châm sống thọ” của rất пhiềᴜ пgười. Bạn có thể tham khảo áρ Ԁụng.
Muốn sống khỏe mạnh thì ρhải Ԁựa νào Ԁưỡng sinh
Danh y ʜoa Đà (145 – 208) là một thầy ᴛʜυṓc пổi tiếng thời cuối Đông Hán νà đầυ thời Tam Quốc trong lịch sử Trung Quốc.
Ông được xưng tụng пhư một ᴛнầɴ y пổi tiếng không chỉ ở пội bộ đất пước Trung Quốc mà còn được biết đến rất пhiềᴜ trong các пước đồng νăn ʜóᴀ пhư Việt Nam, Nhật Bản νà Hàn Quốc, được xem là một trong пhững ông tổ của Đông Y.
Ông cùng Đổng Phụng νà Trương Trọng Cảɴʜ được xưng tụng làm Kiến An tam ᴛнầɴ y, đồng thời cùng νới Biển Thước, Trương Trọng Cảɴʜ νà Lý Thời Trân được xem là 4 νị đại Ԁanh y пổi tiếng bậc пhất trong lịch sử Trung Quốc пói riêng νà các пước có пền Đông y ρнát triển пói chung.
Saᴜ đây là 38 lời Ԁạy của ʜoa Đà νề sức khỏe νà Ԁưỡng sinh, được пgười xưa coi là “bí quyết νàng”. Nếᴜ làm được, bạn sẽ нạn chế được bệɴʜ ᴛậᴛ ρнát sinh, cơ thể khỏe mạnh νà tuổi thọ được kéo Ԁài.
Cʜâɴ Ԁung Danh y ʜoaĐà
1. Tỏi là một kho báᴜ quý giá, ăn chúng thường xuyên sẽ rất tốt sức khỏe.
2. Mỗi пgày ăn 2 quả táo, bệɴʜ ᴛậᴛ trong cơ thể sẽ không tìm đến bạn.
3. Mỗi пgày ăn một quả táo tàu, trường sinh bất lão không ρhải là chuyện xa νời.
4. Quả óc chó giống пhư một kho báᴜ của пúi rừng, ăn νào νừa bổ thậɴ, νừa tốt cho ɴão
5. Sắt không ɴấᴜ chảy không thành thép, пgười không chăm sóc sức khỏe thì không thể khỏe mạnh
6. Cà rốt chính là “tiểᴜ ɴʜâɴ sâm”, ăn thường xuyên sẽ có tinh ᴛнầɴ νà thể ʟực tốt.
7. Cà chua là trái cây có Ԁinh Ԁưỡng tốt, ăn νào sẽ trẻ đẹρ νà ít bệɴʜ.
8. Dưa chuột пhỏ là một kho báᴜ cho sức khỏe, ăn нàng пgày có thể giúρ giảм câɴ νà Ԁưỡng пhan rất tốt.
9. Ăn cần tây пhiềᴜ нơn mà không cần нỏi lý Ԁo, νì đây là thực ρhẩm нạ нuyết áρ rất нữᴜ ích.
10. Hành lá chấm пước sốᴛ, càng ăn càng ʙéo.
11. Ăn một bát cháo đậᴜ xanh νào mùa нè, là một bài “ᴛʜυṓc tiên” trong νiệc giải độ.c, thanh пhiệt, giảм пóng.
29. Cứ để пước мắᴛ chảy, bệɴʜ tự пhiên sẽ giảм пhẹ (ý пói νề tác Ԁụng của khóc, không пên kìm пén cảm xύc).
30. Bậc trượng ρhᴜ cũng có lúc ρhải rơi пước мắᴛ, ɑnh нùng bị chảy мáᴜ cũng ρhải rơi lệ (ý пói không пên kìm пén đᴀᴜ đớn, пgăn chặn cảm xύc tự пhiên).
31. Trong giấc пgủ, пên để cho trái tiм пgủ trước, đôi мắᴛ пgủ saᴜ (thư giãn tinh ᴛнầɴ trước khi пgủ).
32. Dùng ᴛʜυṓc bổ нay thực ρhẩm bổ, cũng không bằng νiệc làm cho trái tiм khỏe.
33. Cơm chăm sóc cơ thể, âm пhạc lời ca chăm sóc trái tiм νà ᴛâм нồn.
34. Mang trong mình một trái tiм trẻ trung, cả đời bạn sẽ không biết đến sự già пua. ᴛâм нồn νui νẻ thì пhan sắc thanh xuân.
35. Một пụ cười có thể trẻ ra 10 tuổi.
36. Mỗi пgày cười 3 lần, khó khăn пào cũng qua, tuổi già sẽ chậm đến.
37. Thường xuyên mở мiệɴg cười tươi, thanh xuân luôn tồn tại trên khuôn мặᴛ bạn.
38. Một tiếng kêᴜ khóc sẽ giúρ bạn loại bỏ ᴜ sầu.
Trên đây là пhững lời khuyên của Danh y ʜoa Đà Ԁành cho пgười Ԁân cách đây đã нơn 18 thế kỷ, tuy пhiên cho đến пay, нầᴜ пhư chúng νẫn còn giá trị khoa нọc νà ứng Ԁụng rất cᴀo. Nếᴜ cảm thấy bổ ích, нãy chia sẻ cho bạn bè của bạn cùng tham khảo.
Nói đến trăng, chúng ta sẽ nghĩ đến ông Lý Bạch, nhà thơ nổi tiếng như cồn bên Tàu cách nay cả ngàn năm có dư, và được tôn sùng là nhà thơ số một từ trước tới nay của Trung Hoa. Thơ ông hay làm sao, thật tình tôi chưa hân hạnh được đọc, nhưng ông chết thế nào thì tương truyền rằng một hôm đang đi thuyền uống rượu trên sông bỗng thấy bóng trăng phản chiếu xuống dòng nước đẹp quá, sẵn hơi men, ông nhảy ùm xuống nước để ôm trăng và…ngủm.
Mỗi lần nghe câu chuyện trên, tôi vẫn cười tự hỏi không biết ông Lý Bạch đã để lại cho hậu thế được bao nhiêu bài thơ và ngày nay biết còn được mấy người có thể nhớ trọn một bài nào đó của ông, nhưng chính cái chết của ông lại được thi vị hoá thành một huyền thoại và lưu truyền rộng rãi mãi cho đến bây giờ. Tôi thì tôi cho rằng bữa đó ông xỉn quá ngồi trên thuyền không vững nên bị tai nạn té xuống nước, và xui một điểm là nhà thơ không … biết bơi, nên đành lặng lẽ trôi theo khóm lục bình. Trăng thì cứ nhìn lên trời thấy nó sáng chói, rõ ràng mới đẹp chứ đợi nó in hình dưới nước thì đâu có gì đẹp? Tôi lấy thí dụ bạn muốn ngắm một người đẹp thực sự bằng xương bằng thịt trước mặt mình, hay nhìn cô ta trong gương vậy?
Vậy đó mà những cơn mưa bão thổi qua Cali mấy ngày qua đã làm tôi suy nghĩ lại. Không chừng ông Lý Bạch quả đúng như tương truyền, ông ấy nhảy xuống sông để ôm trăng mà chết thiệt!
Hôm kia, không hiểu vì lý do gì tôi ra vườn sau nhà vào buổi tối. Mưa đã tạnh, nhưng hậu quả của mấy ngày mưa dầm dề đã làm nước ngập một cái vũng trong vườn nhà tôi, khá lớn, độ gần một mét đường kính. Nếu không nhờ mấy cơn mưa lớn vừa rồi tôi cũng không biết vườn nhà mình có một chỗ hủm để nước có thể tụ lại thành vũng trông như một cái ao tý hon vậy. Nhưng điều làm tôi thích thú nhứt là ở ngay giữa ao là nguyên một vầng trăng. Đúng vậy. Mưa tạnh, mây tan và trăng lại hiện ra trên cao. Trăng rằm vành vạnh, chói sáng cả bầu trời sau cơn mưa và in trọn vẹn xuống …cái ao vườn nhà tôi.
Trăng đẹp. Chúng ta có ai không một lần trong đời nhìn trăng trên cao và tấm tắc khen là nó đẹp. Đã biết bao nhiêu giấy bút, thi văn, thần thoại xuất xứ từ trăng lưu truyền từ ngàn xưa và sẽ mãi đến ngàn sau. Tôi cũng vậy. Thỉnh thoảng, thường là những ngày rằm, tôi có khi tình cờ nhìn vầng trăng chiếu sáng trên bầu trời và cũng tấm tắc khen nó… đẹp. Chỉ vậy thôi. Nửa phút là nhiều lắm. Nếu lúc đó có ai hỏi trăng đẹp ở chỗ nào thì đành cười trừ.
Hôm nay cũng vậy. Tôi cũng nói là vầng trăng trên trời thật đẹp. Đẹp ở đâu ? Không biết. Nhưng vầng trăng ở trong vũng nước ngay trước mặt tôi thì khác. Tôi sẽ không ngần ngại gì mà trả lời rằng trăng đẹp vì hình như là nó có hồn. Hồn Trăng. Có một sự khác biệt rõ ràng giữa hai vầng trăng. Trăng ở trên trời thì xa xôi diệu vợi, còn vầng trăng dưói đất trước mặt tôi thì nó gần gũi làm sao. Thậm chí tôi có thể lấy tay đụng nó được. Trăng trên cao thì bất động vô tri, còn trăng ở đây thì đang chuyển mình theo từng gợn sóng lăn tăn mỗi khi có cơn gió thổi qua làm cho tôi có cảm tưởng như trăng đang múa.
Một cảm giác man mác, thanh thản chạy khắp cơ thể làm tôi rùng mình với ý nghĩ này. Trăng trên trời là của chung nhân loại, còn vầng trăng này là của riêng tôi, của tôi mà thôi. Trong một khoảnh khắc mấy giây thôi, tôi có cảm giác như thế giới chung quanh mình bỗng nhiên ngừng đọng; chỉ còn vầng trăng trước mặt đang lả lướt uốn mình trong một vũ điệu nghê thường nào đó, và tôi là khán giả duy nhứt được chọn để thưởng ngoạn.
Tôi ráng đứng thật yên tận hưởng những giây phút kỳ diệu này, vì một đám mây đang dần kéo đến xâm chiếm và che dần vầng trăng của tôi. Tôi tiếc lắm nhưng không làm gì được. Tôi linh cảm là những cảm giác vừa qua có thể là cơ hội duy nhứt trong đời. Trăng thì bao giờ cũng còn, và nước thì ở đâu cũng có, nhưng phải đợi đến bao giờ cảnh và tình mới có thể kết hợp một cách hài hòa và sống động trong tôi như vậy nữa?
Và tôi bỗng nhớ tới ông Lý Bạch. Họ nói ông thấy trăng dưới nước đẹp quá bèn nhảy theo xuống. Cũng có thể lắm. Tôi chỉ là một hậu sinh tầm thường mà bỗng nhiên cũng có vài giây xuất thần như vậy thì với công lực cao siêu của ông Lý Bạch, có lẽ ông không những thấy trăng đang muá vũ khúc Nghê Thường, mà chắc là ông còn thấy cả Hằng Nga Tiên nữ trong đó nữa nên ông nhào xuống ôm là phải rồi.
Trở lại cái vũng nước sau vườn.
Tôi vẫn còn tiếc nuối vầng trăng của tôi nên nấn ná chờ cụm mây đi qua. Quả nhiên chỉ vài phút sau sự nhẫn nại của tôi đã được bồi đáp. Trăng lại xuất hiện một lần nữa, trong veo vẻo giữa cái ao. Nó cũng uốn mình lăn tăn theo từng gợn sóng. Tôi mừng lắm, nhưng rồi lại thất vọng vì quả nhiên là không còn tìm lại được cảm giác như lúc nãy. Trăng vẫn đẹp, nhưng tôi không còn cảm được cái hồn của nó nữa. Tiếc quá đi thôi.
Có một đoạn thơ xưa như vầy:
“Quân tại Tương giang đầu
Thiếp tại Tương giang vĩ
Tương tư bất tương kiến
Đồng ẩm Tương giang thủy”
Chàng ở đầu sông, thiếp ở cuối sông. Nhớ nhung nhưng không thể gặp mặt; hãy cùng nhau uống nước sông Tương.
Nếu tôi nhớ không lầm thì đây là bốn câu trong bài thơ Trường Tương Tư. Bài thơ khá dài nhưng đây là bốn câu độc đáo và được trích đọc nhiều nhứt. Chuyện xưa kể rằng có nàng Lương Ý Nương nhà ở bên bờ sông Tiêu Tương vừa đẹp lại vừa hay chữ. Ở trọ nhà nàng có thư sinh tên là Lý Sinh. Một đêm Trung Thu trăng tròn, hai người cùng thưởng trăng, tâm đầu ý hợp và thương yêu nhau. Cha của nàng không đồng ý cuộc tình nên đã đuổi Lý Sinh ra đi thật xa. Nàng Ý Nương ở lại nhà bên bờ sông Tương, thương nhớ người tình mà cảm tác ra bài Trường Tương Tư này.
Phải chi ngày đó có ai nói cho họ biết rằng không phải chỉ có nước sông Tương mới là cái chung của họ. Còn vầng trăng trên trời nữa chi? Dù có cách xa nhau ngàn dặm sơn khê thì vầng trăng kia cũng chỉ một. Hai người chỉ cùng nhìn lên trăng mà tâm sự thì cũng vơi đi nỗi niềm.
Nhưng rồi họ lại nói rằng trăng kia có cả…ngàn cặp tình nhân khác cùng nhìn và cùng tâm sự như họ thì đâu còn gì là riêng tư. Được thôi. Muốn riêng tư thì có riêng tư.
Dù chàng có ở đầu sông nàng ở cuối sông , thì nơi nào cũng phải có những vũng nước như vũng nước sau vườn nhà tôi, phải không? Vậy thì chàng và nàng cứ ra sau vườn, mỗi người một vũng, đợi trăng lên cao in bóng xuống nước, thế là mỗi người đã có một vầng trăng riêng mặc sức mà tâm sự. Và điều tuyệt vời nhứt là bây giờ trăng đang ở gần ngay trước mặt. Hai người có thể đặt tay lên và nhờ ánh trăng làm cầu đưa lên gặp nhau trên Cung Quảng.
….Thi sĩ Tản Đà của chúng ta trước đây cũng có một câu lục bát bất hủ:
“Ai làm cho khói lên trời
Cho mưa xuống đất, cho người biệt ly.”
Làm người thì phải biệt ly, nhưng hội ngộ thì lại tùy duyên. Nếu có duyên, thỉnh thoảng chúng ta sẽ gặp lại nhau ở những khúc rẽ cuộc đời.
Còn nếu lỡ vô duyên?
Xin hãy gởi tình qua ánh trăng.
Bởi vì, dù ở phương trời xa xôi cách biệt nào, chúng ta bao giờ cũng chung một vầng trăng.
Đêm nay, dưới ánh trăng thanh bình của xứ người, xin gởi tình tôi về bên kia bờ đại dương, qua những xóm làng, đến những dòng sông của quê hương yêu dấu.
…
Trăng rơi rơi sáng ngập bờ đê.
Có người quảy gánh cuối đường quê
Nghiêng vai bóng đổ chân đều bước
Sương khuya trắng phủ mái tóc thề
Tôi về từ nghìn dặm sơn khê
Theo trăng dừng bước cạnh bờ đê
Đôi dòng viết vội treo đầu gánh
Gánh trăng cô gánh cả thơ về
./.
ThaiNC
THƠ ĐỜI TUY ĐỤC MÀ TRONG
Trong giới văn nghệ sĩ, nhà thơ Bùi Chí Vinh là cái tên được nhắc tới với nhiều giai thoại, bởi anh có tài ứng khẩu thành thơ nhiều đề tài hóc búa do bạn bè thách đố bên chiếu rượu.
Còn trên thi đàn, thơ đời Bùi Chí Vinh người khoái cũng nhiều, người ghét cũng lắm, thậm chí là một cái gai trong mắt nhiều người vì dám nói thẳng, nói thật, tung hê hết thảy sự đời trong đục, kiểu “bức tranh vân cẩu vẽ người tang thương”. Nhưng cũng cái dáng vẻ ngang tàng, gai góc ấy khi thỏ thẻ thơ tình lại biến hóa thành trong veo không có tuổi, kiểu như: “Cô gái ơi anh nhớ em/ Như con nít nhớ cà – rem vậy mà…”.
Tự nhận mình sinh ra dưới một ngôi sao “quậy”, cầm tinh con ngựa bất kham, từng khoác áo lính một thời tuổi trẻ, nhưng có lúc phải làm đủ thứ nghề mạt lộ để sinh nhai như lời tự bạch: “Ta sinh ra gặp buổi nhiễu nhương/ Bất lương bàn luận chuyện hiền lương/ Kẻ sĩ cúi đầu làm binh sĩ/ Thơ quốc doanh cười cợt thơ Đường…”. Vài năm nay, anh chuyển sang cầm cọ vẽ tranh và đã có hai triển lãm cá nhân gây được sự chú ý trong công chúng.
-Trước đây mọi người quen gọi anh là nhà thơ, nhưng bây giờ gọi anh là họa sĩ trẻ cũng được phải không ạ?
Cứ gọi tôi là Bùi Chí Vinh – Bình Chí Vui là được rồi. Thật ra tôi làm quen với hội họa từ nhỏ, năm chín tuổi đã đoạt giải hội họa Thiếu nhi châu Á với bức tranh màu nước Quang Trung hành quân. Nhưng rồi do cái duyên, tôi gắn bó với văn chương nhiều hơn trong một thời gian dài. Thật vây, mỗi khi làm một công việc mới nào đó tôi đều không có sự tính toán nào. Tôi tin mọi việc đều do sự sắp đặt của số phận cả, và “cùng tắc biến, biến tắc thông”.
-Bùi Chí Vinh một tay chọc trời khuấy nước mà cũng tin vào số phận sao? Cái sự “cùng tắc biến, biến tắc thông” của anh là gì vậy?
Sao lại không chứ. Tính cách nào, số phận nấy mà. Tôi tin vào số phận, vào Thượng đế, vào luật nhân quả. Nếu có niềm tin, con người ta sẽ sợ làm điều ác, điều xấu. Tôi chỉ không sợ cái ác, cái xấu khi phải đối đầu với nó thôi.
Đời tôi có những việc rất lạ mà tôi tin đó là sự trợ lực của Thượng đế. Tôi có niềm tin vào tâm linh, dù chúng ta đang sống trong thế giới duy vật. Đó là một khi cuộc sống bị đẩy vô chân tường thì tôi lại bộc lộ ra một khả năng mới và sống được bằng khả năng đó. Tôi quăng mình vào thơ một cách dữ dội nhưng rồi đến lúc chỉ được làm thơ tình để mọi người vỗ tay, hay thơ minh họa nghị quyết… tôi không thích nữa và dừng lại. Đưa đẩy thế nào tôi chuyển sang viết truyện cho tuổi mới lớn và bán vào hàng chạy nhất lúc đó cùng với Nguyễn Nhật Ánh. Khi người đặt hàng tôi viết truyện thiếu nhi là ông Nguyễn Thắng Vu, Giám đốc Nhà xuất bản Kim Đồng qua đời thì lại có người đặt hàng tôi viết kịch bản điện ảnh. Khi những nhà đầu tư làm phim gặp khó khăn thì khả năng hội họa của tôi lại trỗi dậy. Hai triển lãm vừa qua, mỗi cái tôi bán được năm bức tranh. Là “họa sĩ trẻ” mà được như vậy cũng là thành công rồi.
-Hỏi thật, anh đã thành danh trong văn chương, khi “tay ngang” đến với hội họa, anh không sợ bị cho là lấn sân, không “biết mình biết ta” sao?
Tôi có biết gì về hội họa đâu, bỗng một ngày muốn vẽ thì cầm cọ vẽ thôi. Vẽ xong cũng không có ý định triển lãm, nhưng rồi cái duyên cứ đưa đến. Tranh của tôi không giống ai, nó là minh họa cho cái đầu, cho suy nghĩ của tôi nên có sự hồn nhiên, chân thật lẫn dữ dội, thống khổ. Mỗi người có một sứ mệnh riêng nên tôi không nghĩ là mình lấn sân. Và vì “biết mình biết ta” nên tôi chỉ dạo chơi với hội họa một cách thoải mái nhưng hết mình. Bùi Chí Vinh là thế, chơi cái gì cũng phải hết mình.
Người cầm bút mà lúc nào cũng cười xởi lởi trong đám đông thì tác phẩm cũng mang màu đồng phục, giống với mọi người.
-Như vậy sau hội họa, sẽ còn điều bí ẩn nào đó đang chờ anh khám phá phải không?
Như tôi đã nói, đó là một phản xạ tâm linh nên tôi cũng không biết trước. Có thể đó là sự trở lại với văn chương, vì tôi còn nhiều dự định đang ấp ủ.
Nếu có điều kiện viết tiểu thuyết lịch sử hoặc làm kịch bản phim, tôi sẽ chọn viết về thời đại Quang Trung – Nguyễn Huệ, vì những con người anh hùng áo vải thời đó rất ly kỳ. Nó sẽ rất phong phú bởi nhiều tình tiết, chi tiết dạng giả sử, ngoại sử rất hấp dẫn, nhưng đều trên cơ sở khoa học, hợp lý mà tôi có thể tưởng tượng và làm được. Không chỉ có Nguyễn Huệ mà cả Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân, rồi sự xuất hiện của Nguyễn Hữu Chỉnh – một tài năng lớn của thời Lê – Mạc nhưng đi theo Nguyễn Huệ, Ngô Thời Nhiệm cũng vậy. Những người này có đời sống riêng rất đặc biệt, Ngô Thời Nhiệm là đệ nhất văn thần, còn Nguyễn Hữu Chỉnh là đệ nhất quân sư thời đó. Có thể thấy những nhân vật lỗi lạc nhất của Bắc Hà đều theo Nguyễn Huệ, cả những người Hoa tham gia phong trào phản Thanh phục Minh cũng theo Nguyễn Huệ. Chỉ có minh chúa mới có sức thu phục nhân tâm như thế.
-Người ta thường sợ hạn năm tuổi, còn Bùi Chí Vinh thì có cảm giác gì khi “đáo tuế”?
Tôi sinh năm Giáp Ngọ 1954, năm nay 2014 cũng là Giáp Ngọ, vậy là đúng 60 năm cuộc đời. Người ta thường sợ hạn năm tuổi, còn tôi lại không nghĩ vậy. Cuộc đời tôi đã trải qua quá nhiều vận hạn khắc nghiệt ở những năm khác nên đến năm tuổi, có khi tôi sẽ phục sinh, nạp đủ năng lượng để sải vó, để rong ruổi, để chinh phục những điều mới mẻ.
“Ngày ta sinh Nguyễn Huệ đã bùng hà/ Nên con – ngựa – tử – vi không người cưỡi/ Ta sút chuồng phá bỏ yên cương/ Lặng lẽ ruổi đời mình lên núi…”. Hình như kiêu hãnh và cô độc là con đường mà anh đã chọn và theo đuổi đến cùng…
Đúng rồi, vì “Chỉ có cô đơn mới đủ làm ta khóc/ Tiếng khóc của ta là tiếng hí của người/ Ta không biết ta là người hay ngựa/ Chỉ một mình Nguyễn Huệ hiểu ta thôi”… Đó là bốn câu đầu và cuối mà tôi đã viết trong bài Ngày sinh của ngựa. Bài thơ này mới nghe qua tưởng rất ngông cuồng, nhưng thật ra không phải vậy. Câu “Ngày ta sinh ra bầy rắn đã rung chuông”, tôi vừa mượn ý bài Ngày sinh của rắn của Phạm Công Thiện, nhưng hình ảnh rắn cũng để nói về một cái gì đó hiểm độc. Sự rình rập, mai phục trong bụi của rắn đối lập với hình ảnh con ngựa tung vó chạy trên đồng cỏ, càn lướt trên thảo nguyên. Trong đời tôi, Nguyễn Huệ là vị anh hùng mà tôi cảm phục, thần tượng nhất. Không chỉ là người làm nên chiến công hiển hách, chưa hề thất trận mà về mặt nhân quyền, ông có nhiều cải cách cho dân.
Thời nào cũng vậy, cách cô độc của một kẻ sĩ cầm bút đi liền với sự kiêu hãnh. Cô độc vì cảm thấy “Thế sự thăng trầm quân mạc vấn” nên phải lùi lại. Nhưng trong biểu hiện sự cô độc phải có cá tính riêng. Người cầm bút mà lúc nào cũng cười xởi lởi trong đám đông thì tác phẩm cũng mang màu đồng phục, giống với mọi người.
-Văn chương cũng là một sản phẩm của xã hội. Có ý kiến cho rằng người viết trẻ bây giờ có kỹ năng nhưng ít có vốn sống nên tác phẩm của họ cũng lơ lửng. Anh thấy nhận xét trên thế nào?
Phải nói rằng viết văn là một nghề cực nhọc, đòi hỏi không chỉ tài năng mà còn sự dấn thân, bản lĩnh của người viết. Viết văn phải lương thiện, phải thực hiện đúng chức năng “văn dĩ tải đạo”. Tức phải tải được đạo lý, nhân nghĩa, chính trực, chứ nếu viết văn để tải cái hả hê, cái tham vọng của cá nhân thì nên chọn công việc khác hơn là viết văn. Tôi tin những ai còn lương tri, còn tài năng để làm việc thiện thì người đó sẽ tồn tại cùng với lịch sử, với thời gian.
Bây giờ văn chương rất hỗn độn. Văn chương thậm chí tải cái ác, cái lơ lửng, khích cái tà đạo nhưng lại được một bộ phận không nhỏ cổ vũ. Có lẽ do đời sống bây giờ thực dụng, người ta không còn lý tưởng nên văn chương biến thành minh họa cho xã hội. Hơn bao giờ hết, giữa xã hội hỗn độn, các giá trị thiện ác, chính tà lẫn lộn thì văn chương càng phải làm nhiệm vụ “văn dĩ tải đạo” hơn nữa. Nhưng nhìn vào tương lai của văn học trẻ bây giờ tôi không cảm nhận được điều đó. Hiện nay tuy có rất nhiều người viết trẻ, nhưng tôi lại thấy văn học trẻ rất bế tắc. Lý do họ bị khống chế quá nhiều. Trong bản thân mỗi người có sẵn một người tự kiểm duyệt những con chữ của mình. Thế nên nhiều tác phẩm ra đời kiểu “đầu voi đuôi chuột”, mở ra vấn đề lớn nhưng kết thúc không đâu vào đâu.
Viết văn phải lương thiện, phải thực hiện đúng chức năng “văn dĩ tải đạo”. Những ai còn lương tri, còn tài năng để làm việc thiện thì người đó sẽ tồn tại cùng với lịch sử, với thời gian.
-Đời sống thực dụng, các giá trị thiện ác, chính tà lẫn lộn. Nghe thật đáng sợ, nhưng chẳng lẽ chúng ta phó mặc, không làm gì sao? Có lẽ nên bắt đầu từ giáo dục, anh có thấy như vậy không?
Thời của tôi, từ khi còn nhỏ, học tiểu học là đã được nhà trường dạy môn Đức dục. Đó là cách tập tu thân, cư xử có đạo đức, theo đạo lý, lẽ phải nhưng không giáo điều, lên gân mà hết sức đơn giản, gần gũi như thưa gởi, xin phép cha mẹ khi ra khỏi nhà, chào người lớn tuổi, gặp đám tang cúi đầu chào, nghe thấy quốc ca dù ở đâu cũng đứng nghiêm, không nhặt của rơi… Những điều rất cơ bản trong một xã hội văn minh mà một đứa trẻ cần phải biết cách ứng xử với bạn bè trang lứa, với cha mẹ, người lớn, hàng xóm, với cả người nước ngoài đến nước mình. Lên trung học, bước vào đệ thất (tức lớp 6) thì học thêm môn Công dân, mở rộng hơn dạy về cách sống yêu nước, dám dấn thân, hy sinh, nghĩ đến đất nước trước khi nghĩ đến bản thân. Nhờ những bài học Đức dục, Công dân mà một đứa trẻ khi lớn lên bên cạnh kiến thức thì đã được trang bị nền tảng văn hóa để biết cách sống đẹp. Đất nước ta đã từng có những thế hệ được thừa hưởng nền giáo dục nhân văn như thế, từ đó mới có những người sống vì lý tưởng, dám dấn thân, dám hy sinh.
Có lần tôi tham gia biểu tình và bị cảnh sát rượt, tôi phải quăng chiếc xe đang chạy trên đường Pasteur để thoát thân. Hai ngày sau quay lại thấy chiếc xe máy vẫn còn nguyên chỗ cũ. Lúc đó tôi mới 15 tuổi, tôi không cảm động hay thấy việc đó có gì đặc biệt. Vì đó là điều bình thường trong xã hội mà con người được giáo dục không được tham lam, tước đoạt của cải của người khác, dù để trước mặt. Thời tao loạn mà còn như thế. Còn bây giờ, chúng ta đã qua thời nghèo đói để biện mình cho việc “bần cùng sinh đạo tặc”, vậy mà những tin “hôi của” xảy ra khắp nơi. Hơn cả buồn là sự xót xa.
-Anh từng làm “sếp” của những tay anh chị giang hồ mà vẫn cảm hóa được họ bằng thơ kia mà.
Bởi tôi tin “nhân chi sơ, tính bản thiện”, và thơ từ trái tim khác với thơ từ cái lưỡi.
Sau 1975, tôi được phân công về công tác tại Trường Thanh niên Xây dựng cuộc sống mới ở Xuyên Mộc (Bà Rịa – Vũng Tàu) và Tân Phú (Đồng Nai) giáo dục cho thanh niên loại 4. Có những người có học thức và cả những người thất học, họ phạm pháp nhưng chưa đến mức phải ở tù nên bị thử thách, trải qua môi trường cải tạo, xây dựng cuộc sống mới ở trường này. Tôi làm tuyên huấn, trực tiếp dạy học cho họ bằng vốn sống và kiến thức mình chứ không theo giáo trình nào cả. Ở đó, tôi thấy sự ngây thơ và hướng thiện của họ còn mạnh mẽ hơn chính những cán bộ thanh niên xung phong đang giáo dục, hướng dẫn họ.
Tôi còn nhớ, có lần một học viên là giang hồ anh chị nổi tiếng vùng Tân Định bị đưa vào trường, anh này bất phục và có ý định bỏ trốn bằng vũ lực. Thấy được thái độ của anh ta, tôi làm bài thơĐiều tôi chưa chuẩn bị – là lời suy niệm của một “đại ca” dân Sài Gòn có học thức, nhưng cũng là châm ngôn của những người giảng dạy là “lấy tình thương xóa bỏ hận thù”. Liền sau đó tôi bị cấp trên nhắc nhở, cho rằng tôi đi lệch phương pháp của trường.
“Đời sống có gì hơn quả bóng/ Tay trơn không níu được bao giờ/ Hạnh phúc có hơn gì quả bóng/ Lủng mấy lần xì hết ước mơ… Quả bóng tròn như thể công danh/ Anh chụp suốt một đời không dính…”.
-Có khi nào anh nghĩ đời mình trắc trở do thơ anh vận vào đời không?
Nhờ làm thơ về bóng đá mà tôi sống được đó chứ. Thời điểm sau khi bị buộc cởi áo lính là thời tôi thê thảm nhất. Đi đâu tôi cũng nghe đồn “cấp trên cấm đăng bài Bùi Chí Vinh trên báo”, còn nếu phải đăng thì “chỉ đăng thơ tình và duy nhất thơ tình mà thôi”. Tuy chỉ cấm bằng miệng chứ chẳng có văn bản nào, nhưng không nơi nào dám làm trái. Tôi phải xoay xở và nghĩ ra đề tài làm thơ về bóng đá. Thuởấy nhà báo Hồ Nguyễn phụ trách tờLong An Bóng đá và tờLong An Cuối tuần rất ưu ái tài nghệ làm thơ đa hệ và hoàn cảnh thắt ngặt của tôi bèn đề nghị mỗi số báo tôi có một bài thơ về thể thao hoặc trào phúng hài hước. Những bài thơ như một loại biên niên sử ghi chép các giải World Cup, Euro lẫn các giải vô địch Việt Nam đã giúp tôi sống được qua lúc khó khăn đó.
-Lý lịch của anh rất đỏ mà cũng phải khổ sở như vậy sao?
Gia đình tôi là gia đình cách mạng. Ba tôi từng là thành viên Ban tuyên truyền thi hành Hiệp định Geneve, là một nho sĩ Bắc Hà, là đảng viên Đảng Cộng sản Pháp và đảng viên Đảng Lao động Việt Nam. Mẹ tôi cũng hoạt động trong Đặc khu ủy Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định và cũng là đảng viên Đảng Lao động. Bà từng bị bắt ở bót Catinat và ở tù chung với bà Nguyễn Thị Bình, Đỗ Duy Liên, Lan Mê Linh… Ba tôi cũng muốn hướng tôi đi theo con đường của ông, nhưng tôi vốn cầm tinh con ngựa, có máu lang bạt, nổi loạn nên không muốn đi theo lối mòn. Nhà tôi ở xóm Lách dưới chân cầu Công Lý toàn là người lao động nghèo. Lớn lên tôi thấy hàng xóm tuy nghèo nhưng là những người tử tế, cư xử minh bạch, quân tử, ngay cả tiếng chửi thề cũng khí khái chứ không bừa phứa, vô lối. Vì vậy, tuy sống ở khu bùn lầy nước đọng nhưng chất hiệp sĩ cứ ngấm vào người từ lúc nào, khoái làm anh hùng nghĩa hiệp để bảo vệ người cô thế. Trong hoàn cảnh đó, những người có lý tưởng tham gia đấu tranh rất nhanh. Năm 15 tuổi tôi đã tham gia hoạt đồng cách mạng. Và cuộc đời đã quăng quật thằng tôi không thương tiếc để tôi phải thấm thía câu thế thái nhân tình.
-Nhưng có lẽ nhờ thấm đòn mà anh cũng khôn ngoan hơn?
Một con người có khi trộn lẫn nhiều yếu tố, nhưng dù thế nào cũng trên cơ sở Chân – Thiện – Mỹ. Khi tôi phân thân ra thì tôi vẫn là tôi, không giả dối, đánh lừa mình. Phân thân không phải là biến thành diễn viên mà là để linh hoạt tồn tại như câu nói nổi tiếng của Pele: “Tại sao tôi biến thành một cầu thủ thiên tài trong bóng đá? Bởi vì tôi biết linh hoạt như một giọt thủy ngân trên sân cỏ”.
-Những biến thiên của một cuộc đời rất vô cùng. Giờ đây, nhớ về cậu bé xóm Lách ngày nào, anh có thấy hài lòng với những gì mình đã làm được trong cuộc đời chưa?
Với một thằng bé xuất thân từ xóm Lách với đủ trò thả diều, câu lươn, bắt dế… và phải kiếm kế sinh nhai từ thuở nhỏ như dạy toán, luận văn cho những đứa cùng lớp, làm lồng đèn trung thu, nhiều trò thủ công khác để có tiền… thì tôi có chút hãnh diện, nhưng cũng chưa hài lòng, bởi với đất nước có bổn phận phải làm nhiều việc. Thời nào cũng vậy, bổng lộc là xương máu tạo anh hùng. Những câu thơ cũ tôi viết từ năm 1978 giờ vẫn “nóng”: “Biên giới như người đau mới mạnh/ Giặc sang truyền dịch sốt rét rừng/ Lẽ nào ta ngồi ôm ảo ảnh/ Nhấp ngụm trà luận chuyện văn chương…”.
Xin được chia sẻ cùng anh những nỗi niềm của một người Việt Nam.