• Tác giả,  Tài liệu

    Sinh hoạt văn học miền Nam trước 1975

    Sinh hoạt văn học miền Nam trước 1975

    Nhân thời điểm 30 tháng Tư, nhà báo Đinh Quang Anh Thái ghi lại các buổi trò chuyện ông đã thực hiện với một số nhà văn, nhà báo, nghệ sĩ hiện đang sống tại Việt Nam hay đã ra hải ngoại, để biết ký ức và cảm nhận của họ về cái ngày “làm cho triệu người vui và triệu người buồn” này.

    VOA

    VÕ ĐẮC DANH là người cầm bút đã thành danh ở Việt Nam sau 1975. Anh viết nhiều, các tác phẩm tiêu biểu cho ngòi bút sắc bén của Danh là Nỗi Niềm U Minh Hạ, Đồng Cỏ Chát, Thế Giới Người Điên, Canh Bạc, Đồi Chợ Chợ Đời…

    Võ Đắc Danh tại căn nhà ở Nam California Tháng Giêng 2020. (Hình: Đinh Quang Anh Thái)
    Võ Đắc Danh tại căn nhà ở Nam California Tháng Giêng 2020. (Hình: Đinh Quang Anh Thái)

    Danh sinh ra trong một gia đình “rặt cộng sản.” Nói theo cách của nhà văn Lê Phú Khải trong cuốn Lời Ai Điếu “những lần họp mặt gia đình ngày giỗ tết, trừ cái cột nhà, ai cũng là đảng viên cộng sản.”

    Vậy mà tối 30 Tháng Tư 2019, ngồi với nhau tại nhà tôi, Danh nâng chén rượu, giọng dưng dưng nói “anh em mình cùng mất nước; anh Thái mất miền Nam, còn tui, Việt Nam bây giờ không còn là Việt Nam của tui nữa.”

    Tôi bảo Danh, thực ra đất nước mình nào có mất, mà chỉ bị một tập đoàn cưỡng chiếm, cướp đoạt khát vọng của người dân muốn được sống đúng nhân phẩm.

    Lần đầu gặp Danh năm 2011, Danh dẫn theo con gái đang học bên Mỹ, anh bảo con “tía muốn con nghe câu chuyện của những người như bác Thái để hiểu tại sao đất nước mình thống nhất mà nhiều người phải bỏ nước ra đi như vậy.”

    Danh chào đời vào thời điểm chiến tranh ác liệt nhất; và lớn lên ở Cà Mau, trong vùng “giải phóng”, những phần đất mà Việt Nam Cộng Hòa gọi là vùng mất an ninh hoặc vùng Việt Cộng. Danh nói, phía Việt Cộng gọi vùng Quốc Gia là vùng Ngụy quân Ngụy quyền hoặc là vùng “tạm chiếm.”

    Tháng Giêng 2020, từ Xẻo Lá gần Sài Gòn, vợ chồng Danh chạy ngược chạy xuôi lo mua vé máy bay để sang Mỹ ‘trốn dịch Covid 19” đang có nguy cơ bùng phát ở Việt Nam và để đoàn tụ với 2 con gái đã định cư tại Nam California từ nhiều năm qua.

    Đến thăm Danh, vợ Danh nấu cho ăn mấy món thuần quê Nam Bộ: Cá kèo kho tiêu, canh bầu, thịt luộc chấm mắm ớt. Câu chuyện miên man dẫn đến đề tài sinh hoạt văn hóa của miền Nam trước 1975, Danh nói, ba Danh và cả dòng họ đều đi theo kháng chiến. Ba của Danh hồi ấy là xã ủy viên, trưởng ban binh vận xã nên nhà Danh thường là điểm hội họp của cơ quan ba Danh và có khi cũng là điểm họp của xã ủy. “Vì thế mà những câu nói mang tính ‘thời sự’ của mấy chú, mấy bác sớm gieo vào trí nhớ tôi đến mức thuộc lòng. Những buổi tối, tôi hay bày ra một trò chơi, lấy gối chất thành một vòng tròn trên giường giả làm các ‘nhân sự’ trong cuộc họp, và tôi đóng vai người lãnh đạo, phát biểu với các ‘đồng chí’ trong chi bộ.”

    Giọng “rặt” Nam Bộ, Danh hồi tưởng nguyên văn lời đã từng phát biểu trong trò chơi thời thơ ấu: “Thưa các đồng chí, vùng nông thôn giải phóng của chúng ta tuy còn nhiều khó khăn, tuy còn phải chịu mất mát đau thương bởi bom đạn của quân thù, nhưng chúng ta không khổ bằng hàng triệu đồng bào ta ở các đô thị miền nam đang chịu đựng sự kềm kẹp của đế quốc Mỹ, từng ngày, từng giờ họ đang chờ chúng ta về giải phóng . . .”

    Tuổi thơ của Danh gắn liền với hình ảnh các “chú Việt Cộng” đêm đêm đem súng về làng. Sau đó, vì chiến tranh ngày càng leo thang, mẹ Danh gởi Danh về quê ngoại để đi học trường tiểu học cộng đồng ở một vùng “tạm chiếm”. Danh nói, gọi là vùng tạm chiếm nhưng chỉ cách tỉnh lỵ An Xuyên chưa đến mười cây số. Một vùng ven trù phú và rất bình yên. Thỉnh thoảng có mấy anh mặc đồ đen từ ngoài chợ chạy xe đạp vô dạy đám trẻ cùng tuổi với Danh múa hát, và gọi là đoàn thiếu nhi nông thôn. Sau mỗi buổi sinh hoạt, ông xã trưởng mặc quân phục tới phát cho đám mỗi đứa một ổ bánh mì, ông luôn dặn dò các em phải cố gắng học giỏi, phải biết vâng lời ông bà cha mẹ, phải biết lễ phép với người lớn tuổi, phải biết ôn hòa với bè bạn và em út trong gia đình. Có khi ông đến sớm và cùng vỗ tay và hát với đám Danh:

    Em là đoàn thiếu nhi nông thôn
    Cùng vui sống bên bờ tre ruộng đồng
    Em là đoàn thiếu nhi nông thôn
    Biết mến yêu quê mình
    Em áo rách nhưng lòng không rách
    Em biết yêu cha mẹ khó nhọc
    Đổ mồ hôi cho nhà em no ấm
    Đổ mồ hôi cho đồng thêm lúa xanh

    Danh nói, hàng năm, khi bãi trường thì Danh lại khăn gói về quê, tạm biệt ngôi trường, tạm biệt “vùng tạm chiếm” để về với gia đình ở “vùng giải phóng”.

    Danh kể “Những chiều êm tiếng súng giao tranh, các anh bộ đội thường ra xóm vui chơi với bà con, tối tối, các anh thường gọi mấy đưa trẻ chúng tôi lại quây quần dạy múa hát:

    Qua miền Tân Đức cây là dừa xanh mát
    Bóng tre vườn cau đã chứa bao hờn căm
    Bộ đội ta về đây giải phóng quê nhà
    Quân với dân một lòng
    Cùng đồng tâm tiêu diệt hết quân thù

    Sau ba tháng hè, ngày tựu trường lại đến, tôi lại trở về ‘vùng tạm chiếm’, lại hát:

    Em là đoàn thiếu nhi nông thôn
    Em biết yêu cha mẹ khó nhọc . . .

    Và cứ thế, tuổi thơ tôi cứ trôi theo dòng chảy của cuộc đời như đám lục bình trôi theo dòng nước, không thể lựa chọn bến bờ.

    Thế rồi cái dòng chảy ấy dừng lại thành cái mốc lịch sử 30 Tháng Tư như cái định mệnh cho ” triệu người vui và triệu người buồn.”

    Danh uống nhiều, và trong vài ba lần gặp nhau, lúc ngà ngà hơi men, có khi Danh còn hát vọng cổ cho tôi nghe. Chất giọng mạnh, sang sảng, Danh hát bài “Ghe Chiếu Cà Mau” hay tuyệt.

    Hỏi Danh về kỷ niệm nào đáng nhớ nhất trong ngày 30 tháng Tư năm 75, Danh nói, lúc hơn 10 giờ trưa, “tôi ôm chiếc radio, mở hết volume chạy trong mưa, chạy dài theo xóm, vừa chạy vừa la: Dương Văn Minh đầu hàng rồi bà con ơi ! Giải phóng rồi bà con ơi! Nhưng rồi sau đó không lâu, bỗng một ngày, mấy đứa bạn học cùng trường cùng lớp với tôi mặt mày biến sắc, có đứa khóc ròng vì một sự cố xảy ra: Đánh tư sản! Đang giàu có bỗng trở thành kẻ trắng tay, đang nhà cao cửa rộng bỗng trở thành kẻ vô gia cư. Đứa thì theo cha mẹ vô sân chùa căng lều che mưa che nắng, đứa về quê tá túc với họ hàng, đứa vượt biên, đứa bỏ thây ngoài biển.

    Tôi rùng mình nhớ lại trò chơi tuổi thơ, giả làm lãnh đạo phát biểu hùng hồn với mấy chiếc gối quanh giường: . . . Thưa các đồng chí, vùng nông thôn giải phóng của chúng ta tuy còn nhiều khó khăn, tuy còn phải chịu mất mát đau thương bởi bom đạn của quân thù, nhưng chúng ta không khổ bằng hàng triệu đồng bào ta ở các đô thị miền nam đang chịu đựng sự kềm kẹp của đế quốc Mỹ, từng ngày, từng giờ họ đang chờ chúng ta về giải phóng . . .”

    ***

    TUẤN KHANH từng tốt nghiệp Nhạc Viện ở Sài Gòn bộ môn flute và sáng tác nhạc từ năm 17 tuổi. Nhiều năm gần đây, anh là Facebooker nổi tiếng với rất nhiều bài viết nêu lên những thảm trạng của đất nước và con người Việt Nam, và vạch trần những dối trá của chế độ. Có lần, nhà báo Huy Đức, tác giả cuốn Bên Thắng Cuộc, nói với tôi, Khanh viết hay đến độ, nhiều người trong giới cầm bút ở Sài Gòn nói với nhau, sáng sáng thức dậy mong đọc bài của Khanh.

    Tuấn Khanh (hình Uyên Nguyên)
    Tuấn Khanh (hình Uyên Nguyên)

    Mỗi lần Khanh từ Việt Nam sang Mỹ thăm gia đình, chúng tôi thường tìm đến nhau để hỏi han tin tức “quê nhà quê người.” Những đêm trò chuyện, nghe Khanh nói, tôi có cảm tưởng lửa đang hừng hực cháy trong lòng Khanh khi Khanh bày tỏ nỗi phẫn uất về những chuyện xảy ra cho người dân trong nước.

    Năm nay, dịch Covid 19 đang tàn phá nhiều quốc gia, không thấy Khanh sang chơi. Tôi email về Sài Gòn hỏi Khanh, rằng trong mắt Khanh, sinh hoạt văn học miền Nam ra sao, Khanh email trả lời:

    Mùa hè năm 2000, trong một lần trò chuyện với một biên tập viên văn học có tên tuổi từ miền Bắc vào, tôi có nhắc đến việc sắp kỷ niệm 3 năm mất của Bùi Giáng, một thi sĩ lừng danh của miền Nam.

    Đó là lần trò chuyện tổn thương đến mức, tôi không sao quên được. Người biên tập viên đầy ắp các tác phẩm văn học cổ điển của Pháp, Đức và Nga đã cười nhẹ, như chừng thương hại tôi ‘Nói thật, Bùi Giáng có gì đâu mà xuất sắc. Chỉ là người miền Nam mấy anh cứ nống lên.’ Tôi sững người, vì chưa bao giờ trong đời đối mặt với một sự phủ nhận tàn khốc đến vậy. Sự phủ nhận cứ như xô tôi – một người miền Nam hoàn toàn trung dung – vào bờ biển như một người bị đắm tàu, trôi dạt và kiệt sức. Để thuyết phục tôi về sự vĩ đại của nền văn học miền Bắc, người biên tập viên ấy kể không ngớt về Nguyễn Khải, Nguyễn Tuân, Xuân Quỳnh, Viễn Phương… tôi im lặng nghe, nhưng trong đầu cứ quay cuồng với suy nghĩ về cái hố sâu thẳm chia rẽ nhận thức của người Việt với người Việt đến vậy. Nhưng tôi quyết định không thuyết phục người đối diện. Bởi, văn hóa hay tri thức, là điều phải tự đến, không phải bằng thắng ở một cuộc tranh cãi.

    Gần 10 năm sau, tôi gặp lại người biên tập viên ấy, ở đường sách Sài Gòn đối diện Vương Cung Thánh Đường, nơi các nhà sách đương thời xếp hàng nhau trưng bày các ấn phẩm mới. Nhưng nơi đó, đặc biệt có những quầy sách cũ của miền Nam Việt Nam trước 1975, lúc nào cũng có người cắm cúi tìm, lật, đọc. Người biên tập viên ấy cười, chào và nói anh đang tìm mua một số sách cũ. ‘Ở đây thì đắt nhưng còn chịu được, chứ bọn con buôn vác ra Hà Nội thì đắt gấp mấy lần.’ Trong những chồng sách cũ ấy, có đủ các tác giả được nhà nước cho phép lẫn không vui khi thấy tên. Tôi kéo ra cuốn Hoàng Tử Bé của nhà văn Pháp Antoine De Saint-Exupéry do Bùi Giáng dịch, và nói rằng bao nhiêu năm đọc lại vẫn thú vị. ‘Vâng, Bùi Giáng thì siêu rồi,’ người biên tập viên ấy nói, hào hứng.

    Tôi không nhắc lại câu chuyện mà tôi như bị rạch trong tim từ 10 năm trước. Như vậy chắc là đủ. Nhận thức là thời gian, và sự khác biệt của văn học miền Nam là thấm sâu và chiếm trọn trái tim, không cần một sự thuyết phục nào. Văn hóa miền Nam bị giằng xé rách rưới, đứng giữ đống bùn lầy, vẫn mỉm cười kiêu hãnh, bất chấp đạo quân chiến thắng năm 1975 đã trút mọi căm thù lên bằng cách đốt, cấm, bắt cả những người viết sách đi tù.

    Tôi được nghe rằng sau năm 1990, có một chỉ đạo từ Hà Nội, rằng những gì mà miền Nam đã có, nguồn lực của chế độ mới có thể thay thế, thì phải ra sức thay, để nhấn chìm văn hóa miền Nam vào quên lãng. Chẳng hạn như sách dịch: cuốn Hoàng Tử Bé, bản gốc Le Petit Prince của nhà văn Pháp Antoine De Saint-Exupéry do Bùi Giáng dịch được thay bằng bản mới là Hoàng Tử Nhỏ. Bố Già, nguyên tác The Godfather của Mario Puzo, bản dịch của Ngọc Thứ Lang, thì được thay bằng bản mới là Ông Trùm. Đỉnh Gió Hú, nguyên bản của Emily Bronté do Nhất Linh chuyển sang Việt ngữ thì thay bằng Đồi Gió Hú…

    Rõ ràng, có một chủ trương muốn thay thế và cào bằng đối với văn học miền Nam, nhưng có vẻ như sức sống của một giai đoạn văn chương và tri thức của hai nền Cộng Hòa vẫn đứng vững. Những ấn bản được nhặt lên từ bùn lầy, bị xô giật rách rưới, vẫn tỏa sáng kỳ lạ đến tận hôm nay.

    Chuyện kể, để thay sự diễn giải khô cằn. Và thú vị thay, tôi còn nhìn thấy những người bạn trẻ quanh mình, từ phía Bắc, lớn lên và được tắm mát từ những gì đã bị phế bỏ ấy.

    ***

    THÚY HÀ, từng có thời làm thư ký tòa soạn báo Phụ Nữ của đảng. Sau đó Thúy Hà lấy chồng là con một ông sĩ quan “ngụy” cao cấp, cùng chồng sang Mỹ định cư. Hà viết nhiều, và đã viết một số bài về văn học Miền Nam, đặc biệt là về thơ Cao Tần (Lê Tất Điều). Có lần nói chuyện với Hà về thơ Cao Tần, cả hai chúng tôi đều rất tâm đắc bốn câu trong bài “Mai Mốt Anh Trở Về”:

    Nếu mai mốt bỗng đổi đời phen nữa
    Ông anh hùng ông cứu được quê hương
    Ông sẽ mở ra nghìn lò cải tạo
    Lùa cả nước vào học tập yêu thương

    Thúy Hà (hình tư liệu Đinh Quang Anh Thái)
    Thúy Hà (hình tư liệu Đinh Quang Anh Thái)

    Tháng Tư 2020, cả thế giới chao đảo vì con virus Covid-19, không ai ra khỏi nhà, nên chỉ nói chuyện với nhau bằng phone, bằng email. Gọi cho Hà hỏi thăm sinh hoạt gia đình cô ra sao, rồi câu chuyện đẩy đưa đến đề tài văn học Miền Nam trước 1975 đối với lớp trẻ sinh ra và lớn lên sau thời điểm đó.

    Hai ngày sau, Thúy Hà gửi cho tôi những giòng sau đây:

    Covid chợt bùng lên, Chiều Trên Phá Tam Giang còn dai dẳng…

    Trong những tuần qua trên Facebook, tôi thấy một số bạn bè mình ở Sài Gòn, ở Hà Nội… đăng tải những tấm ảnh thành phố vắng người kèm theo lời hát “Chiều Trên Phá Tam Giang” như một sự liên tưởng thú vị và thi vị. “Giờ này thương xá sắp đóng cửa… Giờ này thành phố chợt bùng lên…”

    Thật lạ, khi một bài tình ca thời chiến lại in dấu trong tiềm thức những người Việt ở lứa tuổi thậm chí còn chưa hề trải qua chiến tranh, ở cả những người sinh ra và lớn lên bên kia chiến tuyến nơi bài hát xuất xứ- một bài hát từng bị cấm đoán tại Việt Nam sau 1975.

    “Thật lạ”- đó là cảm giác của tôi năm 18 tuổi lần đầu nghe bài hát này ở một quán cà phê Thủ Đức khi đang là sinh viên Văn khoa năm thứ hai (cuối thập niên 90). Lời tự sự yêu đương, khắc khoải, xao xuyến ấy tự nhiên đi vào lòng người nghe- một cô gái trẻ, là tôi. Lúc đó tôi không hề biết bài hát phổ thơ Tô Thuỳ Yên- trong giáo trình đại học khoa Ngữ văn không hề có tên ông và bóng dáng nền văn học miền Nam giai đoạn 1954-1975. Khoảng trắng về học thuật đó cũng không hề gợi nên thắc mắc nào trong thế hệ sinh viên-cừu non chúng tôi thời bấy giờ.

    “Thật lạ” ở cấp độ cao hơn- “sửng sốt”- là cảm giác hơn 20 năm sau đó, khi tôi lần đầu đọc được nguyên bản bài thơ Chiều Trên Phá Tam Giang trên một trang mạng. Bài thơ nằm ngoài sự tưởng tượng của tôi về Chiều Trên Phá Tam Giang mà tôi chỉ biết lâu nay qua ca khúc.

    Bài thơ dài 155 câu, đầy đặn, truyền cảm và sống động như một cuộn phim màn ảnh rộng. Thơ của một người từng là trưởng phòng tâm lý chiến quân đội Việt Nam Cộng Hòa mà lại tự vấn hoang mang thế này ư? Giữa thời điểm 1972 khốc liệt mà người lính ấy lại độc thoại, trăn trở, suy tư về thân phận, về chiến tranh, về sống chết, về tuổi trẻ, về tình yêu và về sự thương xót đến như vậy ư? Nhất là cái tình con người thương xót con người- với kẻ thù bên kia chiến tuyến, khi cả hai đều không thoát khỏi bánh xe lịch sử và cùng phải đối mặt với tử thần.

    Điều gây ấn tượng mạnh với tôi về bài thơ ngoài nghệ thuật ngôn từ chính là cái chất Người lộng lẫy ấy. Con Người được bày tỏ tận cùng tâm trạng của mình trước thời cuộc mà không bị trói buộc bởi ý thức hệ, mưu toan chính trị hay chế độ kiểm duyệt nào. Tôi tìm đọc thơ Tô Thùy Yên cũng từ đó, và yêu thích thơ ông cũng từ đó, tuy trễ tràng nhưng vẫn kịp. Sau này tôi biết thêm: Chiều Trên Phá Tam Giang được coi là một trong những bài thơ tiêu biểu nhất của nền thi ca miền Nam giữa cuộc chiến.

    Những tuần qua, việc lock down, cách ly xã hội diễn ra gần như trên toàn cầu và nhu cầu bày tỏ tâm trạng của con người trước biến loạn thời cuộc bằng văn chương nghệ thuật lại trỗi dậy. Và không phải ngẫu nhiên những người bạn của tôi những ngày này bỗng nhắc lại bài thơ Chiều Trên Phá Tam Giang của Tô Thùy Yên, và Trần Thiện Thanh phổ thành ca khúc, xem lại những bức tranh về sự khủng hoảng cô đơn của Edward Hopper…

    Nghệ thuật đích thực về con người sẽ trường tồn dai dẳng, mà Covid-19 chỉ là cơn dịch có nhiệm vụ nhắc nhớ chúng ta…

    ***

    TỐNG VĂN CÔNG từng có 56 năm là đảng viên Cộng Sản và từng là tổng biên tập báo Lao Động, một trong những cơ quan tuyên truyền “mũi nhọn” của chế độ. Ông bỏ đảng năm 2014 và xuất bản tại Mỹ cuốn hồi ký ‘Đến già mới chợt tỉnh – Từ theo cộng đến chống cộng’.

    Tống Văn Công (hình Uyên Nguyên)
    Tống Văn Công (hình Uyên Nguyên)

    Đến thăm ông vào một chiều cuối Tháng Năm 2016 khi vợ chồng ông vừa từ Việt Nam sang định cư tại căn nhà người con gái ông ở thành phố Stanton-California. Tuổi đã ngoài 80, ông nhìn vẫn khỏe, đôi mắt tinh anh, nước da “như còn bám chút phèn” của vùng quê Bến Tre của ông.

    Gặp lần đầu tiên nhưng bản tính xởi lởi Nam Bộ của ông làm tôi không còn rụt rè. “Chú ở lại ăn cơm với anh chị nhé,” ông Công nói “thẳng như ruột ngựa” và coi như đương nhiên tôi nhận lời. Bữa cơm có Thúy Hà, từng một thời là thư ký tòa soạn báo Phụ Nữ của đảng. Chính nhờ Hà và một nhà báo còn ở trong nước nên tôi mới có dịp gặp ông Công.

    Ba năm liền, tôi đến thăm ông Công nhiều lần và thường là ở lại ăn cơm với hai ông bà để có nhiều giờ nghe ông nói chuyện. Có lần, cả buổi ăn, ông nói về nhận xét của ông đối với sinh hoạt văn học của miền Nam thời 1954-1975.

    Nhấp chút rượu vang đỏ, ông Công từ tốn nói, “trước khi cầm bút, tôi được dạy rằng ‘báo chí là tiếng nói của Đảng’. Do làm đúng như thế, tôi trở thành Tổng biên tập ba tờ báo của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

    Tháng Chín năm 1969, khi ông Hồ qua đời, báo chí miền Bắc đăng lại bài viết của giáo sư Lý Chánh Trung đã đăng trên báo ở Sài Gòn, ca ngợi ông Hồ là một nhà ái quốc. Tôi hết sức kinh ngạc: ‘Ồ lạ nhỉ, báo chí của họ là tiếng nói của ai ? Tại sao họ có thể đăng bài ca ngợi kẻ thù của chế độ?’

    Sau này tôi mới được biết ông Hoàng Đức Nhã, Tổng trưởng Dân vận và Chiêu hồi của Việt Nam Cộng Hòa tuyên bố : “Ở Việt Nam Cộng Hòa không có báo chí viết tốt cho chính quyền. Báo chí chỉ viết tốt cho các cương lĩnh của cá nhân, của các nhóm chính trị, của các tôn giáo và thuần túy vì mục đích thương mại. Tức là báo chí được tự do nói lên quan điểm của mình đối với mọi sự kiện mà không bị chính quyền ràng buộc.

    Hỏi ông, thế lúc bấy giờ, ngoài Bắc thì sao, ông cho biết, ông và những người cầm bút khác được dạy là văn học phải sáng tác theo chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa , tác phẩm có giá trị trước hết phải “có tính Đảng sâu sắc”. Nhưng theo ông thì các tác phẩm “được đảng đánh giá là xuất sắc sao mà quá tẻ nhạt!”

    Ông nghĩ sao về giai đoạn sau Tháng Tư năm 1975, các loại sách của miền Nam bị tiêu hủy khiến nhiều người buộc phải đem sách ra bán trên vỉa hè như bán giấy lộn với giá rẻ như choông nói, “Tôi cũng như nhiều người yêu sách được dịp mua nhiều quyển sách quý : Âm Thanh Và Cuồng Nộ của William Faulkner, Dr. Zhivago của Pasternak, Mùa Hè Sa Mạc của Albert Camus… Đặc biệt là sách của các nhà văn Miền Nam như Thềm Hoang, Người Kéo Màn, Chuyện Bé Phượng của Nhật Tiến, Tiếng Chim Vườn Cũ của Nguyễn Mộng Giác, Vòng Tay Học Trò của Nguyễn Thị Hoàng … Thơ của Tô Thùy Yên, Nguyên Sa, Du Tử Lê…

    Sau này tôi được biết, trong lễ phát giải văn chương toàn quốc năm 1961-1962 , ông Trương Công Cừu, Bộ trưởng Đặc nhiệm Văn hóa và Xã hội của Việt Nam Cộng Hòa đã chúc các nhà văn miền Nam xây đắp xã hội mới ‘một thế giới gấm vóc mỹ lệ, dệt bằng tình bác ái không vụ lợi, bằng đức liêm khiết không xảo trá, và bằng tài trí không tự tôn tự đại.’ Trong một bài viết của Tiến sĩ Lubomir Svoboda, nhà phê bình văn học của Tiệp Khắc thời cộng sản nhận xét tác phẩm Người Kéo Màn của nhà văn Nhật Tiến: ‘Với bút pháp đầy trí lực, và cao hơn, tính nhân văn hay nói một cách chính xác là ông đã viết tác phẩm này bằng một trái tim nhân hậu, biết yêu thương và biết cả căm giận…’

    Tôi nghĩ, có thể dùng hai nhận định nói trên để đánh giá chung cho nền văn học của Việt Nam Cộng Hòa.”

    ***

    NGUYỄN THANH BÌNH chào đời tại tỉnh Thái Nguyên, Việt Bắc, nơi là căn cứ địa của Việt Minh. Gốc gác gia đình Bình là dân Nam Bộ và “tập kết” ra Bắc năm 48. Lúc Hội Nghị Genève đang diễn ra ở Thụy Sĩ, thân sinh của Bình, ông Nguyễn Thanh Hà (tên thật là Nguyễn Thành A), đang ở Genève với cương vị tổng thư ký đoàn đại diện Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Thân mẫu Bình, bà Huỳnh Thị Phi, người Vĩnh Long, sau đó mới ra Bắc, và sau năm 1954, làm nhân viên hành chánh của bộ Ngoại giao.

    Hai đứa tôi sinh cùng năm. Chỉ hơn kém nhau 8 tháng.

    Hai đứa tôi quen rồi thân nhau đúng là do “duyên nghiệp”, như cách Bình thường nói.

    Nhà báo Huy Đức là người giới thiệu hai đứa tôi với nhau.

    Nguyễn Thanh Bình tại Buôn Mê Thuột năm 1973. (Hình tư liệu Đinh Quang Anh Thái)
    Nguyễn Thanh Bình tại Buôn Mê Thuột năm 1973. (Hình tư liệu Đinh Quang Anh Thái)

    Năm 2015, tác giả “Bên Thắng Cuộc” đến thăm tôi. Thấy trên bàn tôi có cái tẩu hút thuốc màu trắng, Huy Đức nói, anh cho em đem về biếu một người bạn ở Việt Nam.

    Khoảng một tháng sau đó, trên trang Facebook của Họa Sĩ Nguyễn Thanh Bình ở Sài Gòn có đăng hình cái tẩu với giòng chữ: Cám ơn Thái Đinh.

    Vỏn vẹn 4 chữ, thế thôi. Sau đó, thản hoặc chúng tôi có liên lạc với nhau thì cũng chỉ là những câu ngắn gọn, nhưng tôi đọc nhiều bài viết của Bình và nghe bằng hữu ở quê nhà nói về chàng họa sĩ nổi danh này, tôi hình dung được Bình, một người đôn hậu, cởi mở, có lòng nhân.

    Một buổi tối đầu Tháng Tám 2019, lần đầu tiên chúng tôi gặp nhau khi tôi đón Bình từ Việt Nam sang Mỹ chơi.

    Ba tuần ở với nhau, chúng tôi nói đủ thứ chuyện, chuyện đời, chuyện đất nước, chuyện người, chuyện mình… và nói về sinh hoạt văn học miền Nam. Bình nhận xét: “1954, người ta lấy một dòng sông chia đôi đất nước, một nửa phía Bắc, đứt lìa khỏi dòng chảy của Nam Phong, Tự Lực Văn Đoàn, nửa phía Nam vẫn tiếp nối và song hành cùng văn học thế giới. Những ai quan tâm đến văn học Việt Nam nói chung và miền Nam nói riêng (giai đoạn 1954 – 1975) không thể không biết những tên tuổi như Doãn Quốc Sỹ, Võ Phiến, Trần Hữu Tá, Võ Hồng, Nguyên Sa, Thanh Tâm Tuyền, Du Tử Lê, Tô Thùy Yên … duy trì một nền văn chương chuyên nghiệp. Đó là một nền văn học đúng nghĩa, đúng chức năng đối với xã hội, chỉ nhằm vào đối tượng duy nhất là con người.

    Diện mạo văn học miền Nam (1954 – 1975) có nhiều gương mặt nổi bật, tuy nhiên, cũng giống như hội hội họa hay âm nhạc ở miền nam trước 75, nó không tạo ra được sức mạnh có tầm ảnh hưởng sâu đậm như Tự Lực Văn Đoàn và văn nghệ tiền chiến. Những cây bút xuất sắc nhất, tự mình tỏa sáng, tài năng của mỗi người được bảo toàn, hợp thành mảng văn học Việt Nam phong phú, đầy màu sắc, nhưng chưa đủ để soi rọi những ngóc ngách sâu xa của dân tộc đau khổ, oằn mình vì thời cuộc, bởi cuộc nội chiến tương tàn, thảm khốc ấy, có vai trò rất quan trọng trong tiến trình lịch sử của đất nước. Tự Lực Văn Đoàn là sự xuất hiện một văn đàn mang hồn cốt của dân tộc, trong bối cảnh nô lệ, điều ấy, nói ngắn gọn là ‘hồn dân tộc’ không bao giờ mất, trong bất kỳ hoàn cảnh nào, mà điều kiện của nó là sự tự do ngôn luận. Miền Nam trước 1975, quyền tự do ngôn luận được thể chế dân chủ bảo đảm, các nhà văn đã làm hết trách nhiệm của mình, đã đặt những dấu ấn không phai mờ, nhưng uy lực đã không còn rực rỡ như các bậc tiền bối.

    Tuy nhiên, lịch sử văn học Việt Nam hiện đại, sẽ tạc tên những người như Doãn Quốc Sỹ, Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên, Du Tử Lê, Nhã Ca, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Nguyên Sa, Dương Nghiễm Mậu và cả Bùi Giáng … lên tượng đài của mình, như là một phần tất yếu của hồn dân tộc những năm tháng khói lửa, đau thương …

    Và Bình đọc bốn câu thơ của Bùi Giáng để kết cho buổi nói chuyện kéo dài quá nửa đêm giữa hai đứa:

    “Em từ vô tận dư vang
    Kết chùm cỏ mọc đá vàng thiên thâu
    Em đi từ tình mộng đầu
    Trùng lai chất vấn biết đâu điệu chào … “

    (Bùi Giáng)

    ***

    TRẦN ĐĨNH là tác giả cuốn “Đèn Cù, số phận Việt Nam dưới chế độ Cộng Sản, tự truyện của người từng viết tiểu sử Hồ Chí Minh” xuất bản tại Mỹ năm 2014.

    Tết Trung Thu 2014, nhà văn Nhật Tuấn, tác giả cuốn Đi Về Nơi Hoang Dã lúc bấy giờ sống ở Bình Dương viết cho tôi một email ngắn: “Trung Thu năm nay tại Việt Nam trẻ con rước đèn lồng, còn người lớn bận rước Đèn Cù của Trần Đĩnh”.

    Nhà văn Trần Đĩnh tại Mỹ năm 2015. (Hình tư liệu Đinh Quang Anh Thái)
    Nhà văn Trần Đĩnh tại Mỹ năm 2015. (Hình tư liệu Đinh Quang Anh Thái)

    Cuốn sách gây tiếng vang lớn cả trong lẫn ngoài nước vì tác giả tham gia Việt Minh vào lúc mới 16 tuổi và thuộc lớp đảng viên tiên phong gia nhập đảng cộng sản Việt Nam từ năm 1948. Và cũng vì ông còn là nhà báo kỳ cựu của tờ Sự Thật từ những ngày đầu tiên khi báo này thành lập do Trường Chinh làm Tổng biên tập.

    Do làm việc trong một cơ quan báo chí cao nhất của Đảng, ông có cơ hội gặp gỡ hầu hết các khuôn mặt của chế độ từ Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Lê Duẩn, tới Lê Đức Thọ, Hoàng Tùng, Đỗ Mười… và những quan hệ này đã giúp ông sớm nhận ra khuôn mặt thật phía sau chiếc mặt nạ của các chóp bu cộng sản.

    Trong vụ án mà chế độ quy chụp là “Xét lại chống đảng”, ông cũng là một nạn nhân, tuy lao tù nhẹ hơn những người khác như Vũ Đình Huỳnh, Hoàng Minh Chính, Lê Trọng Nghĩa, Vũ Thư Hiên…nhưng đủ để ông thấy được sự đấu tranh gay gắt, sống còn giữa hai chủ trương trong nội bộ đảng là theo Tầu hay theo Liên Xô cùng với Nghị quyết 9 dẫn tới cuộc chiến xâm lăng miền Nam bằng võ lực và đẩy Đảng Cộng sản Việt Nam lún sâu vào vòng kềm tỏa của Trung Cộng.

    Là người chấp bút tiểu sử Hồ Chí Minh, Trần Đĩnh có nhiều cơ hội gần gũi và tiếp xúc với nhân vật này, đủ để cho ông nêu một nhận định ngắn gọn nhưng rõ nét về ông Hồ: “Lòng trung của Hồ Chí Minh đối với Lê Nin, Stalin, Mao Trạch Đông là vô bờ. Cho nên lòng trung với nước Việt, dân Việt vơi đi.”

    Suốt thời gian Đèn Cù còn trong dạng bản thảo, tác giả thường xuyên trao đổi với tôi về những đoạn cần thêm vào, hoặc cần cắt ngắn, nhờ vậy, tôi thấy được điểm đáng quý nhất của ông là tuyệt đối không bảo thủ ý kiến của mình mà rất tôn trọng ý người khác. Trong một email viết cho tôi, ông nói, bản thân ông đã sống hầu hết cuộc đời trong một xã hội mà Đảng và lãnh tụ chiếm “đặc quyền viết, đặc quyền nói,” chỉ dùng các nhà văn làm đầy tớ, mà “ôi đã làm đầy tớ thì có đời thuở nào còn dám sáng tạo?” Vì vậy, ông chủ trương, tác giả có công đẻ ra tác phẩm, nhưng chăm bón cho nó thành hoàn hảo để ra mắt độc giả là có bàn tay nhà xuất bản, nên nhà xuất bản có quyền tỉa bớt “những cành lá làm mất đẹp cái cây.”

    Đầu năm 2015, tác giả Đèn Cù từ Việt Nam sang thăm Mỹ. Gần một tháng ông ngao du thăm bà con, bạn bè và văn hữu chỉ mới nghe tiếng nhau mà chưa bao giờ gặp mặt. Những ngày được hầu chuyện với ông, ông cho tôi nghe những nhận xét hết sức sâu sắc về người và việc.

    Đối với sinh hoạt văn học miền Nam thời trước 1975, ông nói “Tôi là người được hoàn cảnh ưu ái có lẽ đặc biệt. Từ bé tôi đã sống trong môi trường sách hàng nghìn quyển của gia đình-cũng như có thể mỗi tuần xem điện ảnh đều đặn vài ba buổi không mất tiền. Được đọc, được xem với tôi gần như đã thành sự thường tình. Ở căn cứ địa Tân Trào, dưới trướng tổng bí thư Trường Chinh, tôi xem các báo Pháp, Mỹ cùng hàng giá tiểu thuyết Pháp, Mỹ trong tay Đức Sáu Ngón, bạn tôi, cai quản thư viện của Trung ương. Nói thế để nhấn rằng với việc đọc, tôi như đã quen không chấp nhận rào cản cho cái đọc. Do đó ở Bắc Kinh học xong về nước, trong hai năm 1961, 62, tôi đã nhót lấy hầu hết các báo chí, tập san văn nghệ, văn học của Sài Gòn để đọc. Và xin nói thật, thấy ngụp ngay vào cái dòng chảy văn học dân tộc đậm đà chất hiện sinh chủ nghĩa Sartre và Camus nầy hơn cái dòng chảy cuồn cuộn nhưng giả tạo của văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa. Tôi đã thích những Võ Phiến, Doãn Quốc Sĩ, Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Thế Uyên, Nguyễn Thị Hoàng, Bình Nguyên Lộc, Uyên Thao, Tô Thùy Yên, Du Tử Lê, Cung Trầm Tưởng, Túy Hồng, Phan Nhật Nam, Nhã Ca, Trần Dạ Từ, Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Thụy Ý, … Các anh chị em trong Nam lôi cuốn tôi vì họ thổ lộ chân thực đầy đủ lòng dạ. Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài là ở đây. Còn anh chị em nhà văn ngoài bắc thì khác, cứ phải dựa vào cái lý tưởng chưa có, để thêu dệt ra những điều viển vông để ca ngợi…Và cuối cùng rồi sao? Xôi hỏng, bỏng không.

    Đêm đưa ông Trần Đĩnh ra phi trường bay về Sài Gòn, có một thoáng tôi buột miệng hát mấy câu trong một ca khúc mà chính tôi không nhớ tên: “Dù rằng sau mưa bão gió hiền hòa lại về vẫn thấy lòng hoang vu, cuộc đời là hư vô bôn ba chi xứ người khi mình còn đôi tay.”

    Nghe tôi ư ử trong cổ họng, ông nói, này, nghe cháu hát Xin Thời Gian Qua Mau của Lam Phương, bác có cảm tưởng cháu đang lao theo một nỗi buồn đau nào đó đang chạy phía trước.

    ***

    KIM CHI là khuôn mặt lớn của sinh hoạt điện ảnh miền Bắc trong cuộc chiến. Tên thật và đầy đủ là Nguyễn Thị Kim Chi. Nghệ danh của cô văn công Kim Chi trong 10 năm ở chiến trường miền Nam từ 1964 đến 1974 là Hồng Anh. Sau đó bà trở lại miền Bắc. Những năm tháng bom đạn đó, Kim Chi vừa là MC giới thiệu chương trình, vừa là diễn viên kịch, khi thiếu người, bà cũng múa hát. Bà được bộ đội đặt cho cái biệt danh là “người đẹp rừng xanh.”

    Kim Chi nổi tiếng với những bộ phim như Nước Về Bắc Hưng Hải, Mùa Gió Chướng, Cánh Đồng Hoang. Tháng Giêng năm 2013, bà Kim Chi đã từ chối làm hồ sơ khen thưởng nghệ sỹ của Thủ tướng CS Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng vì cho rằng ông Dũng đang làm nghèo đất nước, làm khổ nhân dân.

    Nguyên văn lời tuyên bố của bà là: “Tôi không muốn trong nhà tôi có chữ ký của một kẻ đang làm nghèo đất nước, làm khổ nhân dân. Với tôi, đó là một điều rất tổn thương vì cảm giác của mình bị xúc phạm.”

    Ngày 4 Tháng11 năm 2018, nghệ sĩ Kim Chi chính thức tuyên bố ra khỏi Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong lá thư gửi đảng, bà viết, “Lẽ ra tôi đã làm việc này cách đây gần 3 năm trước, khi ông Nguyễn Phú Trọng tái đắc cử Tổng Bí thư Đảng CSVN. Bởi tôi biết ông Trọng một mực theo đuổi CNXH – con đường tăm tối không có tương lai cho đất nước, đi ngược xu thế tiến bộ của nhân loại.

    Nhưng ngày đó, lão tướng Nguyễn Trọng Vĩnh – cựu Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc, Giáo sư Chu Hảo, và chồng tôi (ô. Vũ Linh), cùng nhiều bằng hữu tâm huyết khuyên tôi kiên nhẫn ở lại để giúp những người tốt trong Đảng CSVN nhận biết lẽ phải.

    Tôi đã kiên nhẫn tỏ bày chính kiến ôn hoà trong mọi việc:
    – Xuống đường biểu tình vì nhân quyền, chủ quyền đất nước, môi trường sống…
    – Viết Facebook lên án những sai trái của an ninh, giới chức nhà nước.
    – An ủi, sẻ chia cùng tù nhân lương tâm, bà con dân oan…

    Tham gia các hoạt động xã hội dân sự, với thiện ý xây dựng, tôi thành tâm mong góp tiếng nói phản biện, nhằm thức tỉnh lương tri những người đang chèo lái vận mệnh đất nước. Tôi chưa bao giờ có ý tưởng lật đổ, cổ xúy bạo lực, mà luôn thật lòng mong mỏi những người giữ trọng trách trong guồng máy nhà nước thay đổi tốt đẹp, biết yêu nước, thương dân.

    Nhưng đáp lại thiện chí của chúng tôi là sự đàn áp ngày càng khốc liệt người bất đồng chính kiến; là ý đồ muốn biến nhân dân thành bầy cừu; thù ghét, khủng bố những người dấn thân tranh đấu vì những quyền cơ bản, chính đáng của con người, những giá trị phổ quát của nhân loại; hãm hại những trí thức ưu tú muốn khai trí nhân dân.

    Trải qua tuổi trẻ ở chiến trường, tôi khát khao giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước. Nhưng than ôi! Khi nhận ra mình đã góp tuổi xanh vào một cuộc chiến huynh đệ tương tàn do mâu thuẫn ý thức hệ quốc tế, tôi vô cùng đau đớn. Nhiều đêm trắng tôi thao thức, khi những người ưu tú lần lượt vào tù. Hàng triệu dân oan không nhà làm nhói tim tôi. Im lặng là đồng loã cái ác, là có tội…”

    Một đoạn khác trong lá thư, bà viết: “Chủ nghĩa Mác – Lê Nin, mà Đảng CSVN lấy làm nền tảng tư tưởng, chỉ là một học thuyết phản khoa học, phi thực tế, cổ xúy bạo lực ‘đấu tranh giai cấp’, hiếu chiến, tạo bất công, gieo rắc đói nghèo lạc hậu, độc đoán thủ tiêu mọi quyền tự do chính đáng của nhân dân…

    …Phần lớn lãnh đạo Đảng CSVN tự hoang tưởng, tha hóa biến chất ngày một tồi tệ, làm đất nước ngày càng tụt hậu, nhân dân lầm than. Đã đến lúc tôi phải rời khỏi cái đội ngũ mà thế lực hắc ám ngự trị trong Đảng CSVN đang lạm dụng làm bình phong che chắn cho động cơ vị kỷ, tệ hại của họ.

    Tôi thành tâm mong mỏi ngày càng có nhiều đảng viên có lương tri, còn tâm huyết với dân, với nước, nhất là thế hệ trẻ, tiếp tục rời bỏ Đảng CSVN, rời bỏ Đoàn TN CSVN.

    Vận nước, tương lai dân tộc tùy thuộc mỗi người Việt Nam chúng ta.”

    Kim Chi thăm vấn an Đức Đệ Ngũ Tăng Thống Thích Quảng Độ.
    Kim Chi thăm vấn an Đức Đệ Ngũ Tăng Thống Thích Quảng Độ.

    Bà Kim Chi sang Mỹ nhiều lần, thăm con, thăm các học trò cũ và gặp gỡ những người có thời từng bà từng khác chiến tuyến. Gặp bà, nghe những câu chuyện của bà, quan sát bà, tôi thấy bà là một nhân cách đôn hậu, chân thật, tiêu biểu cho những mẫu người trong thơ Phùng Quán “yêu ai cứ bảo là yêu, ghét ai cứ bảo là ghét, dù ai cầm dao dọa giết, cũng không nói ghét thành yêu, dù ai ngon ngọt nuông chiều, cũng không nói yêu thành ghét.”

    Một lần, bà tâm sự: “Trước 75, tôi ở rừng miền Đông Nam bộ. Thỉnh thoảng mới đọc lén được một tờ báo của miền Nam, do một ai đó vừa đi thăm gia đình móc về. Ấn tượng của tôi là những tờ báo ấy được trình bày đẹp mắt và phong phú hơn rất nhiều báo chí ở miền Bắc lúc bấy giờ. Nhưng tôi không có nhiều cơ hội để tiếp xúc với báo chí miền Nam trong giai đoạn đó.

    Cho mãi tới năm 1978, sau khi học xong khóa đạo diễn Sân Khấu ở Bungaria trở về, tôi có dịp sống và làm việc ở Sài Gòn. Khi ấy tôi dạy ở trường nghệ thuật sân khấu 2 ở 125 Cống Quỳnh. Đây là cơ hội vàng để tôi tìm hiểu về đời sống văn hóa của người miền Nam trước 75. Thỉnh thoảng tôi lang thang tới những cửa hiệu bán sách cũ. Tôi ngớ ra vì thấy mình có quá nhiều điều không biết. Thì ra báo chí miền Nam khi đó khá tự do. Nó được viết ra theo suy nghĩ của những người cầm bút. Nó được tỏ bày theo chính kiến của nhà báo. Báo chí của nhà nước cộng sản thì phải viết theo định hướng của đường lối cách mạng và sự chỉ dẫn của lãnh đạo. Các nhà báo ăn lương của nhà nước và thường viết theo lệnh của các tổng biên tập. Mà các tổng biên tập thì lại nhận lệnh từ cấp trên (Ban văn hoá tư tưởng) về những chủ đề trên trang báo ấy phải phản ánh. Họ chỉ được phép viết ca ngợi chế độ. Thỉnh thoảng đưa ra vài câu chuyện tiêu cực, nhưng phải tránh những nhân vật có tên tuổi. Luận điệu của họ là ‘phải bảo vệ uy tín cán bộ để cho họ lãnh đạo.’ Miền Bắc ngày ấy có nhiều tòa soạn: Thanh Niên, Phụ Nữ, Thiếu Nhi, Tiền Phong… nhưng toà soạn báo Nhân Dân là quyền uy nhất. Nhiệm vụ của tờ báo này là đưa ra chủ trương chính sách của đảng. Đội ngũ phóng viên của tờ báo này 100% là ăn lương nhà nước. Có nhiều nội dung quan trọng như phổ biến chính sách thì bài viết là của phóng viên, nhưng nó lại được ký tên bởi một ông to nào đó. Báo chí miền Bắc khi đó nhiều khi phải làm nhiệm vụ lái dư luận xã hội qua những chuyện ‘cướp, hiếp’ để tránh một vụ bê bối của một quan chức nào đó. Với luận điệu của họ rằng ‘để xử lý nội bộ’…

    Không phải báo chí miền Nam trước 75 là tuyệt đối tự do. Nhưng nếu so sánh với báo chí miền Bắc ngày ấy và ngay cả bây giờ thì báo chí miền Nam thời Việt Nam Cộng Hòa hơn hẳn báo chí cộng sản Việt Nam.

    Đó là sự khác biệt cơ bản của hai nền báo chí: VNCH và CHXHCNVN.

    Năm tháng qua đi, tôi càng thấm thía rằng những người cầm bút mà không được viết theo mệnh lệnh của trái tim mình, lại phải viết theo sự sai khiến của ai đó thì chẳng có gì đáng buồn hơn. Tự do tư tưởng là niềm khát vọng cho những người sống có lý tưởng. Người cầm bút phải có TỰ DO TƯ TƯỞNG. Không để cho người ta biến mình thành những con Robo.

    Hỏi bà, bà có lo sợ cho an ninh bản thân khi lớn tiếng kết án chế độ bằng những lời lẽ như thế, nữ nghệ sĩ có khuôn mặt khả ái này nói, bà “từng đi chiến trường 10 năm, không sợ chết vì bom đạn thì bây giờ coi mọi việc nhẹ như lông hồng.”

    ***

    NGUYỄN THỊ HẬU là tiến sĩ khảo cổ học, được nhiều người biết tới với tên “Hậu khảo cổ”. Bà có nhiều công trình nghiên cứu về các nền Văn hóa Óc Eo, Đồng Nai, Sa Huỳnh, khảo cổ học đô thị… Bà cũng xuất bản nhiều cuốn sách ở các thể loại như ký, truyện ngắn, tản văn…Một số tác phẩm tiêu biểu của bà: Thế Giới Mạng Và Tôi, Ngắn & Rất Ngắn, Sài Gòn Bao Giờ Cũng Thế…

    Từ trái : Nguyễn Thanh Bình, Trần Đĩnh, Nguyễn Thị Hậu và Hồng Ánh.
    Từ trái : Nguyễn Thanh Bình, Trần Đĩnh, Nguyễn Thị Hậu và Hồng Ánh.

    Nguyễn Thị Hậu sang Mỹ lần gần đây nhất trước khi thế giới bị cuốn vào trận đại dịch Covid-19 là năm 2019.

    Gia đình tập kết từ Nam ra Bắc năm 1954, bốn năm sau, Hậu “khảo cổ” chào đời tại Hà Nội. Lớn lên ngoài Bắc và chỉ nhìn thấy miền Nam sau 1975, nên Nguyễn Thị Hậu có giọng nói “thuần Bắc.”

    Nhiều lần gặp, ăn uống, trò chuyện, thậm chí còn đi với nhau cả một đoạn đường xa từ Nam lên Bắc Cali, có cả nữ nghệ sĩ trung hồ cầm Hồng Ánh, họa sĩ Nguyễn Thanh Bình và nhà báo Mặc Lâm, nhiều câu chuyện Hậu “khảo cổ” kể đã để lại cho tôi nhiều ấn tượng về sinh hoạt xã hội miền Bắc. Nhất là những cảm nghĩ của Hậu về văn học miền Nam trước 1975.

    “Sau năm 1975, nhiều người lần đầu vào Sài Gòn choáng váng khi nhìn thấy cuộc sống của thành phố này: nhà cửa, xe cộ, quần áo và hàng ngàn loại vật dụng sinh hoạt… mà hầu như gia đình nào ở Sài Gòn cũng có, trong khi đó ở miền Bắc chỉ có thể nhìn thấy vài thứ trên phim ảnh “Liên xô”, thậm chí có thứ chưa từng biết đến như TV, tủ lạnh, đồ dùng trong toilet… Có thể đọc những cảm nhận này qua hồi ký của một số người nổi tiếng mới xuất bản gần đây.

    Giữa năm 1975 gia đình tôi – một gia đình miền Nam tập kết ra Bắc năm 1954 – đoàn tụ ở Sài Gòn. Những tháng đầu cả nhà ở tạm trong một căn phòng tại cơ quan của ba tôi (là một biệt thự trên đường Trần Quý Cáp). Trong căn phòng chừng hơn 30m vuông có một tủ sách lớn dựng suốt một bức tường. So với tủ sách đơn sơ của nhà tôi ở Hà Nội được đóng bằng những mảnh gỗ tạp, cũng chứa đầy sách, thì cái tủ sách “vĩ đại” này đã thỏa mãn ước mơ lớn nhất của tôi khi ấy! Tôi bỡ ngỡ và sung sướng làm sao khi trên đó đầy ắp các loại sách truyện, tạp chí… còn phía dưới giá sách là một dàn máy AKAI với một cuốn băng đang nghe dở “Sơn ca 7”. Đây là cơ duyên đầu tiên của tôi với văn học miền Nam và với nhạc Trịnh Công Sơn.

    Từ cái tủ sách đó giờ rảnh rỗi tôi chỉ ôm sách đọc ngấu nghiến, đầu tiên là sách văn học. Lâu rồi tôi không nhớ hết tác giả và tác phẩm, nhưng tôi còn nhớ các tác giả Duyên Anh, Nhã Ca, Nguyễn Thị Hoàng, Nguyễn Thụy Long, Hồ Trường An, Bình Nguyên Lộc, Chu Tử, Hoàng Hải Thủy, Bà Tùng Long, Nguyễn Thị Thụy Vũ… Vài tác giả chuyên sáng tác chuyện miền Tây như Hồ Biểu Chánh, Sơn Nam, An Khê, Lê Xuyên… Những tác giả của Tự Lực Văn Đoàn mà ngoài Bắc chỉ giới thiệu rất ít… Ngoài ra còn nhiều truyện dịch mà ba tôi rất thích; chị tôi mê mải với Quỳnh Dao còn anh tôi thì nghiền Kim Dung…

    Từ năm 1976 vào học đại học Văn Khoa tôi còn được bạn bè giới thiệu và cho mượn sách của các tác giả Mai Thảo, Nguyên Sa, Tô Thùy Yên, Thanh Tâm Tuyền, Võ Phiến, Nguyễn Mạnh Côn, Doãn Quốc Sỹ… lúc này đã bị cấm lưu hành. Rồi khi nhiều thư viện “thanh lý” sách xuất bản tại Sài Gòn trước 1975 ba tôi đã xin được mấy thùng sách về lịch sử của Kim Định, Nguyễn Duy Cần, Nguyễn Đăng Thục, các bộ sử thời Nguyễn… Thế giới văn học của tôi trở nên rộng mở và cũng mang đến cho tôi bao điều mới mẻ, cả những nỗi hoài nghi mà tôi phải mất nhiều năm mới giải đáp được.

    Lúc đầu tôi không thích lắm vì phần lớn các đầu sách là loại “tiểu thuyết gia đình” với tựa sách gợi cảm và hình bìa nhiều màu sắc, cốt truyện thường đơn giản, xoay quanh những cuộc tình éo le không lối thoát do thân phận, do cuộc chiến, nhiều tình tiết “lâm ly bi đát” giống tuồng tích cải lương khi ấy. Đọc xong không để lại ấn tượng gì ngoài một kết thúc buồn, hiếm khi nào “có hậu”. Phải chăng sự thật về chiến tranh luôn hiện diện trên báo chí truyền thông làm cho xã hội bất an, cuộc chiến ngấp nghé bên ngoài đô thành đã làm cho con người mất niềm tin vào tương lai?

    Nhưng rồi, dần dần một thế giới mới đến với tôi, rất khác với các tác phẩm văn học tôi từng đọc ở miền Bắc. Từ cao sang đến nghèo hèn, từ quan chức tướng lĩnh đến công chức, buôn gánh bán bưng, thế giới của các tay anh chị, tướng cướp hay gái điếm… tất cả đều hiện diện trong văn chương, không loại trừ “kiêng cữ” một ai. Trong nhiều tác phẩm không có ai thật tốt hoặc thật xấu, nhưng ở vào thời điểm khó khăn thì họ đều bộc lộ phần nhân văn ẩn sâu bên trong… Vì vậy, dù kết thúc buồn nhưng vẫn mang lại cho người đọc cảm xúc đẹp về tình người.

    Các tác phẩm về cuộc chiến thực sự khốc liệt, trần trụi, ác liệt… hầu như không có bóng dáng của những lời tuyên truyền “lý tưởng cao đẹp” như ngoài Bắc mà chỉ thấy trong mỗi người lính đầy ắp nỗi nhớ gia đình, nhớ quê hương, tình đồng đội… Cũng không thiếu vắng cái chết đau đớn của những người lính, nỗi đau giằng xé của vợ góa con côi, nhưng ước mơ một ngày giản dị bên gia đình, bên “người yêu bé nhỏ” khi đã “tàn cơn binh đao”… là hy vọng sống sót cho những người lính trận. Bởi vì, khi cuộc chiến kết thúc thì người lính lại trở về làm dân, nếu may mắn không “xanh cỏ” thì cũng có mấy ai được “đỏ ngực”.

    Để lại nhiều ấn tượng với tôi là các tác phẩm của Duyên Anh như : Dzũng Đakao, Vết thù trên lưng ngựa hoang, Điệu ru nước mắt; của Nhã Ca: Truyện cho những cặp tình nhân, Thành phố buồn, Đêm nghe tiếng đại bác, Giải khăn sô cho Huế. Truyện của Nguyễn Thị Hoàng rất lạ với tôi như: Vòng tay học trò, Tuổi Sài Gòn. Còn Nguyễn Thụy Long hay nhất là Loan mắt nhung. Đặc biệt là Mùa hè đỏ lửa của tác giả Phan Nhật Nam hay bộ ba tập “Đường đi không đến” của nhà văn “chiêu hồi” Xuân Vũ… Tôi đặc biệt thích Bình Nguyên Lộc với các công trình biên khảo công phu của ông và những trang tản văn, tùy bút đẹp đến nao lòng…

    Tuy nhiên, cái hấp dẫn tôi nhất chính là mỗi tác giả có phong cách riêng, dễ nhận biết qua chủ đề, cốt truyện và ngôn ngữ. Nhà văn Nam bộ hóm hỉnh, giản dị câu chữ, nhà văn miền Bắc sắc sảo, bóng bẩy, nhà văn và cũng là nhà báo thì sinh động, trực diện… Ngôn ngữ vùng miền, phương ngữ được sử dụng phổ biến. Cả một xã hội phân hóa sâu sắc, phong phú, đa dạng và cũng khắc nghiệt, tàn nhẫn như cuộc sống hiện ra, thôi thúc tôi tò mò tìm đọc và luôn ngạc nhiên mỗi khi bước vào “khu rừng” văn học miền Nam khi ấy.

    Đặc biệt sách văn học cho tuổi thanh thiếu niên rất nhiều, có lẽ nổi bật nhất là Tủ sách Tuổi Hoa. Sách Tuổi Hoa chia làm ba loại: Hoa Đỏ, Hoa Xanh và Hoa Tím. Tôi còn nhớ sách Hoa Đỏ là loại trinh thám, phiêu lưu, mạo hiểm. Hoa Xanh thuộc loại tình cảm nhẹ nhàng. Hoa Tím đã xuất hiện tình yêu giữa nam nữ một cách trong sáng. Dấu hiệu thân thuộc của tủ sách là bông hoa tám cánh giản dị và xinh xắn.

    Cũng phải nói đến những tiệm cho thuê sách và cửa hàng sách cũ luôn là nơi hấp dẫn với tôi chứ không phải là cửa hàng thời trang hay mỹ phẩm. Tôi còn nhớ hoài có bạn học người Sài Gòn khá kỳ thị tôi bởi cái giọng Hà Nội 75 và trang phục giản dị có phần “hổng giống ai”. Một lần không biết có việc gì bạn đến nhà tôi, nhìn thấy tủ sách bạn rất ngạc nhiên vì bên cạnh những cuốn sách tôi mang vào từ Hà Nội là rất nhiều sách xuất bản tại Sài Gòn. “Nhà Việt Cộng mà cũng có sách như nhà ‘Ngụy’ à?!” nhưng từ đó thái độ của bạn với tôi khác hẳn. Đặc biệt bạn bắt đầu đọc và rồi cũng thích nhiều tác phẩm văn học của miền Bắc.

    Văn học miền Nam trước 1975 đa dạng và phong phú về tác giả, thể loại, khuynh hướng, trường phái… Đó là nhờ sự khai phóng của môi trường xã hội nói chung và môi trường sáng tác nói riêng, sự cởi mở của giới cầm bút chấp nhận những thử nghiệm, sáng tạo, tinh thần tự do dân chủ của giáo dục – nhất là giáo dục đại học. Những tác phẩm văn học tôi đọc tuy còn ít ỏi nhưng đủ để nhận biết giá trị nhân văn của một nền văn học, qua đó hiểu biết về xã hội và con người miền Nam trong cuộc chiến vừa qua. Điều đó góp phần giúp tôi thoát khỏi định kiến mặc cảm về “bên này – bên kia, thắng – thua, ta – địch” mà nhiều người cùng thời với tôi còn đang mang nặng trong lòng.”

    ***

    DƯƠNG THU HƯƠNG tự nhận mình là “người rừng”, “mụ nhà quê răng đen, mắt toét”.

    Báo chí Pháp thì gọi Dương Thư Hương là “Con Sói Đơn Độc”.

    Còn lãnh đạo cộng sản Việt Nam thì chửi bà là “con đĩ chống đảng”.

    Dương Thu Hương và Đinh Quang Anh Thái tại một quán ăn ở Paris năm 2005. (Hình: Đinh Quang Anh Thái)
    Dương Thu Hương và Đinh Quang Anh Thái tại một quán ăn ở Paris năm 2005. (Hình: Đinh Quang Anh Thái)

    Gọi bằng gì thì gọi, Dương Thu Hương vẫn là chính mình: bản chất chân quê không hội nhập vào thế giới mạng Internet, bỗ bã, đốp chát, đơn độc, và trên hết, ngay thẳng, hết mực với mục tiêu nhắm tới là tranh đấu cho một nước Việt Nam dân chủ, tự do, thoát khỏi cái chế độ hiện nay mà bà gọi là “chỉ sống bằng xác chết, không có bất cứ giá trị gì cả.”

    Sinh năm 1948, lớn lên tại miền Bắc vào đúng giai đoạn Cộng sản Hà Nội tung toàn lực lượng nhất quyết bằng mọi giá phải đạt được tham vọng “giải phóng miền Nam thoát khỏi sự kềm kẹp của Mỹ-Ngụy.” (sic)

    Như lời bà kể, cùng với hơn 100 bạn ngang lứa tuổi, bà đã cắt máu xin vào Nam “đánh Mỹ cứu nước”.

    Những trải nghiệm trong chiến tranh, cùng những chua chát của Tháng Tư 1975 đã là chất liệu cho các tác phẩm sau này của bà, như “Những Thiên Đường Mù”, “Bên Kia Bờ Ảo Vọng”, “Khải Hoàn Môn”, “Đỉnh Cao Chói Lọi”, “No Mans Land” (ấn bản Anh ngữ) được dịch sang Pháp ngữ là “Terre Des Oublis”…

    Dương Thu Hương là một trong những người cầm bút đã can đảm “bước qua lời nguyền”, giành lại quyền suy nghĩ bằng cái đầu của chính mình với những bài phát biểu, bài viết; và nhất là với tác phẩm “Những Thiên Đường Mù.”

    Tôi chỉ biết Dương Thu Hương qua tác phẩm, mãi tới khoảng giữa tháng Tư 1997, lần đầu tiên tôi mới có dịp – qua điện thoại – nói chuyện với “Con Sói Đơn Độc.”

    Sau rất nhiều lần trò chuyện thăm hỏi, Dương Thu Hương mới trải lòng nói về dấu mốc quan trọng làm thay đổi hẳn cuộc đời bà là thời điểm đoàn quân của “bên thắng cuộc” vào Sài Gòn trưa ngày 30 Tháng Tư 1975.

    Trả lời cuộc phỏng vấn bằng điện thoại, Dương Thu Hương kể: “Ngày 30 tháng Tư năm 1975 đã là một ngả rẽ trong đời tôi. Khi đội quân chiến thắng vào Sài Gòn, trong khi tất cả mọi người trong toán quân chúng tôi đều hớn hở cười thì tôi ngồi bên lề đường khóc. Vì tôi thấy tuổi xuân của tôi đã hy sinh một cách uổng phí. Tôi không choáng ngợp vì nhà cao cửa rộng của miền Nam, mà vì tác phẩm của tất cả các nhà văn miền Nam đều được xuất bản trong một chế độ tự do; tất cả các tác giả mà tôi chưa bao giờ biết đều có tác phẩm bầy trong các hiệu sách, ngay trên vỉa hè; và đầy rẫy các phương tiện thông tin như TV, radio, cassette. Những phương tiện đó đối với người miền Bắc là những giấc mơ. Ở miền Bắc, tất cả mọi báo đài, sách vở đều do nhà nước quản lý. Dân chúng chỉ được nghe đài Hà Nội mà thôi; và chỉ có những cán bộ được tin tưởng lắm mới được nghe đài Sơn Mao, tức là đài phát thanh Trung Quốc. Còn toàn bộ dân chúng chỉ được nghe loa phóng thanh tập thể; có nghĩa là chỉ được nghe một tiếng nói. Vào Nam tôi mới hiểu rằng, chế độ ngoài Bắc là chế độ man rợ vì nó chọc mù mắt con người, bịt lỗ tai con người. Trong khi đó ở miền Nam người dân có thể nghe bất cứ thứ đài nào, Pháp, Anh, Mỹ… nếu người ta muốn.

    Ðó mới là chế độ của nền văn minh. Và thật chua chát khi nền văn minh đã thua chế độ man rợ.”

    Nhiều năm sau cuộc phỏng vấn lần đầu tiên đó, tôi thường xuyên điện thoại về Hà Nội nói chuyện với bà Dương Thu Hương; và thậm chí còn sang tận Paris thăm bà vào trung tuần Tháng Hai năm 2005, khi bà nhận lời mời của nhà xuất bản Sabine Wespieser Editeur để ra mắt tác phẩm đã được in bằng Anh ngữ, cuốn “No man’s land”, được dịch sang Pháp ngữ là “Terre Des Oublis”.

    Trong suốt 8 năm được trò chuyện qua điện thoại và những lần gặp mặt trực tiếp, tác giả Thiên Đường Mù đã dành cho tôi nhiều cuộc phỏng vấn dài.

    Tháng Tư 2020, nước Pháp và riêng thủ đô Paris đang bị dịch Covid-19 hoành hành khiến người dân ai cũng ru rú trong nhà để tránh dịch, tôi gọi điện thăm Dương Thu Hương, bà nói “Con sói đơn độc” vốn đã đơn độc nay càng đơn độc hơn và đang dành trọn thì giờ góp phần cho cuộc đấu tranh dân chủ của đồng bào tại quê nhà. Tôi nhắc lại câu bà nói với tôi Tháng Tư năm 2007:

    “Vào Nam tôi mới hiểu rằng, chế độ ngoài Bắc là chế độ man rợ vì nó chọc mù mắt con người, bịt lỗ tai con người. Trong khi đó ở miền Nam tác phẩm của tất cả các nhà văn miền Nam đều được xuất bản trong một chế độ tự do, người dân có thể nghe bất cứ thứ đài nào, Pháp, Anh, Mỹ…nếu người ta muốn.

    Ðó mới là chế độ của nền văn minh. Và thật chua chát khi nền văn minh đã thua chế độ man rợ.”

    Chú thích :

    * “Bên Thắng Cuộc” là tựa cuốn sách của Nhà báo Huy Đức.

  • Tác giả,  Thơ

    HỒN QUÊ TRONG THƠ LỤC BÁT LÊ NAM SƠN

    HỒN QUÊ TRONG THƠ LỤC BÁT LÊ NAM SƠN

    Nguyễn Phúc

    Sông Lô Lê Nam Sơn tên thật là Lê Nam Sơn, sinh năm 1949 tại Bồng Sơn, Hoài Nhơn, Bình Định, quê quán Quảng Nam, sang Đức năm 1980. Có thơ in trong tập Thơ Việt ở Đức, tập 2.

    Không hiểu sao, cứ mỗi lần chạm vào thơ lục bát là mỗi lần tôi chạm vào nỗi nhớ quê. Có lẽ, bởi thơ lục bát từ cái hồn quê mà sinh ra, mà hồn tôi lại được nuôi lớn từ lời ru của mẹ :
    Con cò bay lả bay la
    Bay từ cửa sổ bay ra cánh đồng..
    ( Ca dao )


    Ca dao lục bát – sáng tác dân gian hay thơ lục bát của các nhà thơ đã có từ rất lâu đời, và được ví như Quốc hồn dân tộc Việt. Thơ lục bát của người ở miền Trung, miền Nam, miền Bắc hay bất kỳ ở đâu, ta đều nhận ra trong nó cái hồn quê Việt. Khi tôi đọc thơ lục bát của Lê Nam Sơn với những câu:


    Thèm nghe tí tách bếp hồng
    Mái quê nhả khói mục đồng về thôn
    Thèm nghe tiếng ốc thổi dồn
    Ngư dân háo hức cánh bụồm xa khơi
    ( Trích – Chiều Hôm )


    Thì lòng tôi bỗng trùng xuống một nỗi nhớ quê. Cái thèm của Lê Nam Sơn dội vào cái nhớ trong lòng tôi. Câu thơ chẳng có cánh cò, nhưng cánh cò lại vỗ cánh trong hồn tôi trên sóng lúa rập rờn, trong bóng hình mẹ tôi bên sông, con thuyền ai hun hút đi trong cơn mưa mùa hạ tối đất, tối trời…
    Lê Nam Sơn quê ở Điện Bàn, Quảng Nam. Anh sang Đức năm 1980. Thành thực mà nói, tôi biết rất ít về thơ văn miền Nam trước năm 1975. Vì thế khi biết tin có các anh Đặng Lâm, Lê Nam Sơn, Lữ Du từ bên Tây sang tham dự buổi Hội tụ thơ Việt ở Đức, tổ chức ở Thành phố Chemnitz, tôi đã rất háo hức muốn được nghe thơ của các anh. Cần nói rõ hơn điều này, người Việt sống ở phía Tây nước Đức phần lớn là người miền Nam đến từ sau năm 1975, dưới dạng thuyền nhân. Có thể nói, đấy là những cuộc rời bỏ quê hương, ra đi trong thầm lặng, nhưng vô cùng khốc liệt với cả máu và nước mắt. Nó khác cái không khí náo nức, vui tươi của người dân miền Bắc sang lao động, theo ký kết giữa hai chính phủ Việt Nam và Cộng Hòa Dân Chủ Đức từ năm 1980. Do yếu tố lịch sử, nguồn gốc sự ra đi khác nhau, nên sự hòa hợp của người Việt giữa hai miền trong nhiều trường hợp vẫn là rất khó. Tôi vẫn nhớ lời chia sẻ của các anh sau đêm thơ: Thơ không làm chiếc cầu hoà giải, vì thơ vốn dĩ chưa bao giờ có biên giới. Chỉ có tấm lòng thành thực kéo chúng ta lại gần nhau.


    Vâng, tôi hoàn toàn đồng ý với các anh. Thơ là tiếng của cõi lòng, hay nói cách khác là sự rung động của tâm hồn, mà hồn ta lại có trong hồn của dân tộc, của giống nòi. Có thế, ta mới cùng yêu được một làn điệu dân ca, yêu khúc hát ca dao và những câu thơ lục bát đã có tự bao đời…Và ngay đêm thơ ấy, qua giọng thơ ấm áp của anh Đặng Lâm, tôi được biết, được yêu thêm một Nguyên Sa, thi sỹ đầy chất trữ tình lãng mạn của miền Nam với bài Áo lụa Hà Đông. Có phải hồn quê đã thấm vào từng đường tơ áo lụa để Nguyên Sa viết Áo lụa Hà Đông giữa Sài Gòn lộng nắng. Và tôi cũng đã lặng đi bởi cái buồn đẹp đến nao lòng, phảng phất hồn thơ Bích khê trong cái sắc mầu huyền diệu của mấy câu thơ Lữ Du:


    Rồi những buổi chiều mây vương mầu tím
    Cho mắt anh buồn, trời đã vào thu
    Sương thu mênh mang, lá vàng rơi rụng
    Gió heo may, mưa sắc trắng, sa mù
    (Trích, Điệp khúc bốn mùa)


    Trở lại thơ lục bát của Lê Nam Sơn. Thơ lục bát thuộc thể thơ không khó làm nhưng khó hay. Điểm đặc biệt trong thơ lục bát của Lê Nam Sơn là bài nào anh cũng gửi được vào đó một chút tình, làm ta cảm động. Đọc thơ anh, ta không có cảm giác nhạt, loãng ấy là bởi anh biết chọn từ ngữ, hình ảnh bám rất sát tứ thơ trong bài, làm cho cấu trúc bài thơ gọn và chặt, nổi lên được cái điều anh định giãi bày. Cũng vì thế, đọc thơ Lê Nam Sơn bao giờ ta cũng lĩnh hội được một điều gì đó: Từ sự cám cảnh trước thân phận những cô gái làng, vùng đồng bằng sông nước Cửu Long, một ngày bỏ mối tình quê, lặng lẽ theo tình khách thương hồ, sống một cuộc đời sông nước lênh đênh, vô định:


    Thương ai như đám lục bình
    Sông hồ một kiếp lênh đênh theo dòng
    Nông sâu, bồi lở, đục trong
    Bến quê như thể mãi mong đợi người
    Về đâu bèo dạt mây trôi
    Về đâu sông nước ai người biết chăng
    ( Đò Dọc )


    Đến chuyện cô gái trú mưa chợt đến, chợt đi như cơn mưa đầu hạ Sài Gòn, để lại trong lòng ta những bâng khuâng tiếc nuối. Đây là một bài thơ hay. Mỗi chúng ta trong cuộc đời, ít nhiều đều có những khoảng khắc rung động, bâng khuâng giống như tác giả. Thơ hay ở chỗ gợi chứ không tả. Câu thơ” Ờ sao em nép thế này”, hai chữ” Ờ sao” đã biến câu thơ thành lời tự vấn, chuyển lời thơ từ tả sang gợi, từ nhìn sang cảm. Từ đây, tác giả không nói sự việc bằng đôi mắt thường, mà từ những rung động của tâm hồn, khiến lòng ta cũng chuyển động cùng với chuyển động trong lòng của thi nhân:


    Ờ sao em nép thế này
    Để tôi mong mãi chiều nay mưa hoài
    Hạt mưa ngắn…hạt mưa dài…
    Hạt trong văn vắt… hạt cài tóc em…
    Tiếng mưa rả rích reo thềm
    Nghe sao như tiếng ru êm bên mình
    (Hạt mưa đầu Hạ )


    Chính là tác giả biết lắng nghe chuyển động của lòng mình, để cảm xúc tràn lên những ngôn từ, nên thơ Lê Nam Sơn cảm động và có điều tinh tế. Thi sỹ nghe trong gió mầu lá bớt xamh, nắng nhạt bên thềm, nghe tiếng vọng của hồn thu đang về gõ cửa:


    Hình như mầu lá bớt xanh
    Thoảng trong hơi gió hương đồng dần phai
    Nắng như nhạt sắc hiên ngoài
    Đã nghe chớm chút u hoài xa xăm
    ( Hình Như )


    Thơ lục bát của Lê Nam Sơn thường mang tâm trạng buồn. Tôi không nghĩ tâm trạng ấy là hoàn toàn bởi cuộc sống tha hương, mà có từ một tâm hồn đa cảm. Ngay ở bài Hạt mưa đầu Hạ, chuyện ở Sài Gòn, hơi thơ đã phảng phất buồn, hoặc trong Đò Dọc, có gì ảm đạm hơn cảnh một con thuyền âm thầm rời bến, lặng lẽ trôi dưới màn trời lất phất mưa bay:


    Mưa bay lất phất ngoài sông
    Một con đò dọc âm thầm nhổ neo
    ( Đò Dọc )
    Đến Hình Như và Chiều Hôm, không chỉ còn là nỗi buồn nhân thế, thi sỹ thấy mình bơ vơ, lạc lõng bất lực với cuộc đời:
    Tà dương vỗ cánh chim trời
    Hoàng hôn cúi xuống góc đời tha phương
    Nhớ gì bằng nhớ cố hương
    Cô giang một mái chèo buông theo dòng
    Buồn tay níu lấy thinh không…
    ( Trích -Chiều Hôm )


    Con người ta khi phảỉ níu vào cái không thể níu: níu lấy thinh không, níu vào hư vô là chỉ khi lòng ta tuyệt vọng, tay đưa lên phía trời xanh cầu cứu thánh thần.


    Tâm trạng buồn của thi sỹ đâu còn là của riêng anh nữa, nó là nỗi buồn của muôn vạn sinh linh trên trái đất này, khi phải rời bỏ quê hương, rời bỏ cái cái hồn quê, nơi chôn rau cắt rốn của mình…
    Đã ba mùa thơ đi qua, ba lần được gặp, được nghe thơ của các anh, tôi lại phải mượn lời của ông Pascal: Tưởng kẻ viết là một nhà văn, không ngờ lại được gặp một người!


    Chemnitz 23-4-2019
    *****
    Giới thiệu những bài thơ của Sông Lô Lê Nam Sơn…

      
    Miền Trung với những cơn mưa dầm kéo dài ngày nhiều khi đến cả tuần mà chưa chịu dứt, mưa thì buồn lắm nhất là với kẻ sống xa nhà, nhà thơ Nguyễn Bính tha hương đến Huế đã không từng than thở là gì!


    Giời mưa ở Huế sao buồn thế! 
    Cứ kéo dài ra đến mấy ngày 


    Nhất là những khi mưa gió bão bùng, nhìn những người đội mưa vì sinh kế, kiếm cái ăn cho gia đình hay hình ảnh một người đơn độc, lặng lẽ đứng trú mưa dưới hiên nhà ai đó luôn là hình ảnh dễ làm tôi chạnh lòng với  ít nhiều thương cảm.
    Trong nhạc phẩm “Mưa Rừng” của nhạc sĩ Huỳnh Anh tôi vẫn thích những câu:


    Nhất là những khi mưa gió bão bùng, nhìn những người đội mưa vì sinh kế, kiếm cái ăn cho gia đình hay hình ảnh một người đơn độc, lặng lẽ đứng trú mưa dưới hiên nhà ai đó luôn là hình ảnh dễ làm tôi chạnh lòng với  ít nhiều thương cảm.
    Trong nhạc phẩm “Mưa Rừng” của nhạc sĩ Huỳnh Anh tôi vẫn thích những câu:

    Mưa từ đâu mưa về, làm muôn lá hoa rơi tả tơi…
    Hoặc…

    Mưa rừng ơi mưa rừng, tìm đâu hỡi ơi bóng người xưa…


    Lớn lên vào Sài Gòn học, phải sống xa nhà, tháng 5, Sài Gòn sắp bước vào hè, thường thì không có mưa nhưng nếu có đi nữa thì mưa cũng không dài như mưa miền Trung, mưa ào một cái như trút nước chừng 15 hay 20 phút rồi dừng, khách qua đường gặp những cơn mưa bất chợt như thế thường thì chỉ vội tấp vào bất cứ hiên nhà nào bên đường để trú mưa. Những cảnh trú mưa này ít nhiều đã để lại những kỷ niệm đáng yêu đối với tôi. 

    Bài thơ “Hạt Mưa Đầu Hạ” được tôi sáng tác với những tình tiết lãng mạng dưới đây cũng nằm trong cảnh trú mưa đáng yêu đó.


    HẠT MƯA ĐẦU HẠ
    Hạt mưa đầu hạ trên trời
    Theo em mưa xuống hiên ngoài nhà ai
    Chạy mưa bước ngắn bước dài
    Hiên nhà bỗng chốc mấy ai mà đầy

    Ờ sao em nép thế này
    Để tôi mong mãi chiều nay mưa hoài
    Hạt mưa ngắn…hạt mưa dài…
    Hạt trong văn vắt…hạt cài tóc em…

    Tiếng mưa rả rích gieo thềm
    Nghe sao như tiếng ru êm bên mình
    Nép gần thêm nữa đi em
    Mùi hương con gái dịu mềm là sao

    Mưa đầu mùa mấy dài lâu
    Mà sao tôi muốn dài lâu riêng mình
    Trú mưa bao kẻ vô tình
    Như cơn mưa bất thình lình đó thôi

    Thế là đang lúc mưa rơi
    Bỗng dưng chậm hạt chưa lơi đã dừng
    Thế là mưa chẳng buồn vương
    Hạt mưa đầu hạ dễ thường riêng ai

    Bước em thấp thỏm vội rời
    Ngoài kia trăm ngả bước đời về đâu
    Tiếc chi những hạt mưa mau
    Tiếc mà chi bước cơ cầu thế nhân

    Chiều nay lất phất ngoài sân
    Hạt mưa đầu hạ gieo vần thơ tôi


    Trước khi hòa bình lập lại năm 1954, gia đình ba má tôi còn ở quê, thời gian này tôi đã được sinh ra và lớn lên dưới lũy tre làng, đã từng nghe tiếng ầu ơ hát ru của mẹ bên dòng sông nhỏ. Với tôi, lũy tre xanh là hình ảnh của một cái gì quen thuộc và thân thương mà tuổi thơ tôi đã trải qua.


    Cho đến bây giờ dẫu nơi chốn tha hương tôi cũng không thể nào quên được những lũy tre xanh ngắt của quê nhà, những vòm tre mọc ở bên đường, ngọn tre đan vào nhau và vươn lên từng khóm như muốn ôm ấp mái nhà tranh nhả khói lúc chiều tà. 


    Lũy tre xanh, vòm tre xanh là những từ nghe thật gần gủi, êm tai mang hơi hướm cỏ nội hương đồng trong âm vang lùa qua của gió. 


    Có sinh ra và lớn lên ở làng quê mới thẩm thấu được trọn vẹn những hình ảnh của lũy tre làng. Bài thơ “Lũy Tre” tôi sáng tác dưới đây là hình ảnh chẳng những của quê hương tuổi thơ tôi mà còn là hình ảnh của quê hương một thời chinh chiến mà tôi đã trải qua.
    Em lớn lên từ dưới lũy tre xanh
    Dưới tiếng hát mẹ ru bên dòng sông nhỏ…

    LŨY TRE
    Lũy tre có tự khi nào?
    Mà xanh xanh ngắt một màu tre xanh
    Thân gầy cành lá xanh đan 
    Cho thôn cho xóm nên làng tre ơi
    Từ xa thấy lũy tre rồi
    Càng thêm háo hức chân người về quê
    Chang chang nắng đổ trưa hè
    Mái tranh mát với bóng tre quanh làng
    Bão bùng tre vẫn hiên ngang
    Dẻo dai thân uốn chẳng màng lưng cong
    Thẳng người nào chịu đứng khom
    Dẫu cành lá vẫn ôm choàng lấy thân
    Đời tre cúi xuống đời măng
    Là truyền sức sống nuôi mầm tương lai
    Những trưa nắng đổ đường dài
    Thương người tre đứng miệt mài bóng che
    Quê nghèo tre chẳng hề chê 
    Đất cằn tre vẫn chẳng nề sinh sôi
    Một đời bao bọc quen rồi
    Một đời thân thiết với người với quê
    Có gì phía sau lũy tre
    Tình chòm xóm đã chuyền qua bao đời
    Tre xanh thắm cả tình người
    Thấm hồn dân tộc thấm lời quê hương


    Ngày xưa, thời còn chinh chiến, tôi đã từng qua những, vùng sông nước miền Tây. Nói đến miền Tây, chắc ai cũng biết, nó là miền của sông nước mênh mông, với ruộng đồng sông lạch, vùng của Cửu Long Giang. Ở đây các hoạt động vận chuyển đều phụ thuộc vào thuyền bè trên sông nước. Có lần ngồi uống rượu chung với khách thương hồ trên những chuyến đò dọc tại một bến của dòng sông lớn, được nghe họ kể về những mối tình của họ dọc theo những bến sông mà thấy thương cảm cho những đời gái quê lỡ trao thân theo người tứ chiếng. Tôi sáng tác bài thơ này cũng vì cảm nhận đó.

    ĐÒ DỌC
    Em tôi bỏ chuyến đò ngang
    Em theo đò dọc vô vàn xa xăm
    Một lần em có về thăm
    Rồi đi đi mãi biệt tăm không về
    Nắng chiều thoi thóp bờ tre
    Sao em quên vội lời thề với anh
    Chắc làng ở cạnh dòng sông
    Nên bao cô gái lấy chồng đều xa

    Trai làng thì cứ thật thà
    Ngêu ngao hát mãi bài ca chung tình
    Thương ai như đám lục bình
    Sông hồ một kiếp lênh đênh theo dòng

    Nông sâu, bồi lở, đục trong
    Bến quê như thể mãi mong đợi người
    Về đâu bèo dạt mây trôi
    Về đâu sông nước ai người biết chăng

    Mưa bay lất phất ngoài sông
    Một con đò dọc âm thầm nhổ neo


    HÌNH NHƯ
    Hình như trời chớm vào thu
    Tinh mơ đã có sương mù mong manh
    Hình như màu lá bớt xanh
    Thoảng trong hơi gió hương đồng dần phai

    Nắng như nhạt sắc hương ngoài
    Đã nghe chớm chút u hoài xa xăm
    Lâu nay ngỡ đã yên nằm
    Ở trong cùng tận đáy lòng thu ơi

    Vào thu chỉ để bao người
    Buồn thu hiu hắt đầy vơi ít nhiều
    Giao mùa chỉ để cô liêu
    Giữa lòng nhân thế bao điều hư hao

    Hình như có gió lùa vào
    Cửa phòng tôi mở lúc nào chẳng hay


    CHIỀU HÔM
    Tà dương vỗ cánh chim trời
    Hoàng hôn cúi xuống góc đời tha phương
    Nhớ gì bằng nhớ cố hương
    Cô giang một mái chèo buông theo dòng

    Buồn tay níu lấy thinh không
    Lao xao con nước thì thầm đuổi nhau
    Xa xanh xanh ngắt một màu
    Đục trong mấy bến nông sâu mấy dòng

    Thèm nghe tí tách bếp hồng
    Mái quê thở khói mục đồng về thôn
    Thèm nghe tiếng ốc thổi dồn
    Ngư dân háo hức cánh bụồm xa khơi

    Thèm trong nỗi nhớ chơi vơi
    Trong từng hơi hướm ngọt bùi quê hương
    Giật mình tóc đã điểm sương
    Tàn cơn rong ruổi còn vương bụi hồng

    Chiều hôm phủ xuống mênh mông
    Quyện vào nỗi nhớ ngập lòng bên song.


    GẶP LẠI 
    Bao nhiêu vật đổi sao dời
    Tan đàn xẻ nghé dập vùi bao phen
    Tình cờ ta gặp lại em
    Xứ người lưu lạc ngỡ quên nhau rồi
    Cũng may còn chút gì rơi
    Rớt trong ánh mắt nụ cười ngày xưa
    Tóc em sợi nắng sợi mưa
    Nét mai ra vẻ xế trưa cũng nhiều
    Giữa dòng lưu lạc gieo neo
    Thương em tay chống tay chèo lẻ loi
    Thơ Kiều lục bát nổi trôi
    Có vần nào vận vào đời em chăng
    Nợ dâu tội nghiệp thân tằm
    Em tôi dang díu nợ nần hồng nhan
    Cũng trèo leo với đa đoan
    Để rồi trật vuột dở dang nửa chừng
    Để rồi nhắm mắt đưa chân
    Để rồi lặn hụp giữa dòng mông mênh
    Nhìn em rồi ngắm lại mình
    Cũng trôi nổi cũng lênh đênh theo dòng
    Quê nhà một ngóng hai mong
    Hỏi thu thu đợi hỏi đông đông chờ
    Hỏi xuân xuân quá hững hờ
    Hỏi tình lưu lạc ngu ngơ đáp lời
    Nhìn nhau hai đứa cùng cười
    Mà nghe thấm thía chiều ơi..! Xứ người


    MẸ QUÊ
    Thương hoài bà mẹ Việt Nam
    Mong con mắt lệ mỏi mòn bao năm
    Chiều nay ngoài chốn xa xăm 
    Có đời lưu lạc nhớ thầm mẹ quê
    Thân cò dầu dãi nắng mưa
    Dâu tằm trút mãi sớm khuya tảo tần
    Đời con lưu xứ bao năm
    Đâu bằng đời mẹ nhọc nhằn mấy mươi
    Nuôi con từ thủa nằm nôi
    Từ lời ru mẹ à…ơi… ngọt bùi
    Mẹ vui khi thấy con cười
    Con buồn mẹ lại đứng ngồi không yên
    Dạt dào tình mẹ triền miên
    Mẹ là tất cả của niềm thương yêu
    Mẹ tôi nay đã về chiều
    Mà sao mắt mẹ vẫn nhiều lệ rơi
    Mưa nhiều ướt lá mồng tơi
    Ướt con đường dốc một đời mẹ qua
    Mưa nhiều ướt áo bà ba
    Ướt màu tóc mẹ phôi pha sắc trời
    Con đi mưu chuyện lỗ lời
    Héo hon mẹ đợi cuối đời chưa thôi
     

    RA ĐI

    “Ra đi là sự đánh liều
    Nắng sớm ai biết mưa chiều ai hay” (1)
    Ra đi cho đó xa đây 
    Cho nghe biết mấy lòng đầy gió sương
    Ra đi là sự cùng đường
    Tìm trong tắc biến dễ thường mấy ai
    Ra đi nào biết ngày mai
    Thương quê cũng mặc, thương ai cũng đành
    Ra đi tóc vẫn còn xanh
    Giờ thì tóc đã đổi thành muối tiêu 
    Dõi về quê cũ thân yêu
    Sông xa mấy khúc, chim kêu mấy ngàn
    Tháng năm thương nhớ vô vàn 
    Ngẫm đời lưu lạc mà càng thương thân
    Sông xưa chắc đã thay dòng?
    Người xưa giờ biết đục trong bến nào?
    Tìm về trong giấc chiêm bao
    Chập chờn hình bóng thủa nào phôi phai
    Bạn bè còn mất những ai
    Hỏi ra mới biết còn vài đứa thôi
    Ai đi về phía quê tôi
    Làm ơn cho nhắn vài lời nhớ thương
    Ngóng về cố lý mờ sương
    Nghe bao sầu nhớ còn vương cuối chiều

    (1) ca dao

    VỘI                

    Cho bà xã Thu Nga 

    Em ơi, đừng vội vã già (1)
    Trăm năm dẫu ngắn cũng là trăm năm 
    Khuyết tròn trăng vẫn là trăng 
    Đời cho được mấy nhiêu rằm làm riêng


    Em ơi, đừng vội vã phiền
    Tình ta mấy lúc mà nên đá vàng
    Trách chi chút nghĩa cũ càng
    Mấy ai giữ mãi bóng vang một thời


    Em ơi, đừng vội ngậm ngùi
    Cứ tìm hưng phế cuộc đời mà yêu
    Mai kia mốt nọ xế chiều
    Thôi em tưởng tiếc ít nhiều mà chi


    Nghe em đừng vội làm gì
    Cứ thong thả bước mà đi với đời
    Dẫu qua bao cuộc đổi dời
    Mãi luôn đằm thắm nụ cười nghe em

    (1): trích câu thơ Nguyễn Duy

    EM GÁI

    Hôm qua hạnh phúc đến tìm

    Ân cần gõ cửa sao em vắng nhà

    Đường lầy em muốn đi xa

    Lối trơn em thích vượt qua một mình

    Đùa dai dẳng với ái tình

    Rồi đem chuyện bất thình lình cợt chơi

    Thế là sau mỗi trận cười

    Em tôi lệ đẫm đầy vơi má đào

    Nhưng rồi em quẹt lệ mau

    Thay hương thay phấn đổi màu son môi

    Bao nhiêu lần thách thức đời

    Bấy nhiêu lần tóc dần phôi phai dần

    Thản nhiên xem cứ như không

    Em đong em đếm tình gần tình xa

    Tình này chẳng mấy thiết tha

    Tình kia ừ chỉ mặn mà thế thôi

    Quỷ tha ma bắt em tôi

    Cứ như giỡn hớt đùa chơi cuộc đời

    Chiều nay mưa gió tơi bời

    Em tôi bèo giạt hoa trôi nữa rồi

    ƯỚC GÌ
    Ước gì ôm được quê hương
    Vào lòng cho thoả nhớ thương cõi lòng
    Ngỡ rằng cách núi ngăn sông
    Ngỡ rằng xa mặt cách lòng quê ơi
    Càng xa càng nhớ khuôn nguôi
    Thiết tha như nỗi nhớ người tình chung

    Đôi khi hạnh phúc vô cùng
    Trong dòng suy tưởng mông lung tìm về
    Chỉ là lắt lẻo cầu tre
    Hiu hiu ngọn gió trưa hè con sông
    Chỉ là những mái nhà tranh
    Chiều về nhả khói quây quần bên nhau
    Chỉ là nhịp võng đêm thâu
    Mẹ ru con giấc ngủ sâu êm đềm

    Bao nhiêu nỗi nhớ không tên
    Bấy lâu nay tưởng ngủ quên trong lòng
    Thời gian cùng những hoài mong
    Là niềm trắc  ẩn mảnh lòng tha phương
    Ước gì hôn được quê hương
    Như là từng được hôn em thủa nào
    Để tôi hôn ngọt hôn ngào
    Sông dài biển rộng biết bao nhiêu tình

    Ước gì quê ở bên mình
    Để trang trải mối u tình với quê
    Để cười để nói mải mê
    Để lòng tôi thấy hả hê với đời
    Để tôi rủ nắng trên trời
    Xuống đây sưởi ấm tình người phương xa
    Để nhìn chiếc áo bà ba
    Bên dòng sông Cửu chan hoà nắng quê
    Để nghe rộn bước chân về
    Ba mươi sáu phố phường xưa xa nào
    Để tôi chẳng hiểu vì sao
    Câu thơ lục bát đi vào nón em
    Chiều về nắng đổ nghiêng nghiêng
    Vàng phai tà áo dài em trên đường

    Ước gì làm được khói sương
    Để tôi quyện với Trường Sơn, Thái Bình
    Im nghe con nước thề nguyền
    Núi mòn biển cạn vẫn tròn thuỷ chung
    Ước gì làm được dòng sông
    Chảy về hợp với Cửu Long, Hồng Hà
    Căng bầu sữa mẹ phù sa
    Nuôi hai bồ lúa quê nhà bội thu
    Xoá tan đi lớp sương mù
    Đói nghèo quanh quẩn cầm tù quê hương

    Ước gì thấy được quê hương
    Như là từng thấy tuyết sương xứ người
    Sài Gòn, Hà Nội, Huế ơi !
    Ở đây chỉ có một trời nhớ thương
    Chân đi khắp lối cùng đường
    Vẫn chưa đi nổi một phương quê nhà

    Bôn ba khắp nẻo đường xa
    Hôm nay cảm thấy nhớ nhà làm sao

  • Tác giả,  Thơ,  Văn Thơ

    NHỚ HOÀI CẢNH CHỊ XOÁY THEO DÒNG NƯỚC

    Người em trai “nàng thơ” bảo rằng suốt mấy chục năm trời, cả gia đình không ai dám đọc, dám nghe bài thơ Mầu tím hoa sim vì nó quá thật, gợi sự “rờn rợn” và nỗi đau đớn tiếc thương.

    Từ thành phố Thanh Hóa, chúng tôi tìm về ấp Thị Long, huyện Nông Cống – nơi được ghi “người vợ chờ bé bỏng chiều quê” nằm lại.

    Bất ngờ qua điện thoại, ông Nguyễn Hữu Đán bảo: “Mẹ già tôi không nằm ở Nông Cống. Mẹ đang nằm ở nghĩa trang làng Định Hòa ở thành phố Thanh Hóa, cũng là quê của bà”.

    Kỳ 2:  Nhớ hoài cảnh chị xoáy theo dòng nước - Ảnh 1.

    Làng Định Hòa thuộc phường Đông Cương, nằm cách cầu Hàm Rồng vắt qua sông Mã non ba cây số đường chim bay.

    Tìm đến nhà thờ họ Lê Đỗ, ông thủ từ Lê Đỗ Dạng say sưa giới thiệu về ngôi nhà thờ cổ ba gian chạm trổ công phu được làm từ thời Khải Định, là nhà thờ cổ hiếm hoi, gần như duy nhất còn lại trong vùng.

    Bên bảng phả hệ treo trên bức tường, ông diễn giải ngài tổ Lê Thành đến đất Định Hòa lập ấp từ mấy trăm năm trước, vốn là công thần nhà Lê Trung hưng được ban quốc tính nên con cháu về sau lấy họ Lê Đỗ.

    Bảng phả hệ thể hiện người cha Lê Đỗ Kỳ đời thứ 17, bà Ninh đời 18.

    Nằm cách khu dân cư Định Hòa một cánh đồng rộng trồng nhiều hoa hồng và rau màu tươi tốt, nghĩa trang họ Lê Đỗ được xây dựng qui mô với hàng trăm ngôi mộ xếp theo thế thứ.

    Phần mộ “nàng thơ” nằm ở dãy thứ sáu, tấm bia ghi rõ: “Mộ chí bà Lê Thị Ninh, đời thứ 18, sinh năm 1932, tạ thế 29-4-1949”.

    Kỳ 2:  Nhớ hoài cảnh chị xoáy theo dòng nước - Ảnh 2.

    Sau khi thắp hương, ông Dạng dẫn chúng tôi vào làng tìm gặp ông Lê Đỗ Tùng, trưởng ban điều hành dòng họ.

    Ông Tùng là cán bộ về hưu, không biết có người trong họ vốn là “nàng thơ” dù ông rất thích bài thơ Mầu tím hoa sim. Ông “hi vọng” nhiều thông tin sẽ nằm trong gia phả mà mình lưu giữ.

    Chúng tôi lần giở bản gia phả trong sự hồi hộp, bỗng “bắt phải vàng” khi ở đời thứ 18, mục 238, ghi rõ rành: “Lê Thị Ninh, tức Lê Đỗ Thị Ninh (1932-1948, giỗ ngày 29-5), cha: Lê Đỗ Kỳ, mẹ: Đái Thị Ngọc Chất, chồng: Nguyễn Hữu Loan (nhà thơ, 1916-2010), mộ ở làng Định Hòa”.

    Thông tin trong gia phả dù vài độ lệch về ngày tháng nhưng khẳng định rõ phần mộ kia chính xác là “người vợ chờ bé bỏng chiều quê” của thi sĩ tài hoa Hữu Loan.

    Kỳ 2:  Nhớ hoài cảnh chị xoáy theo dòng nước - Ảnh 4.

    Nhờ ông Tùng, chúng tôi liên lạc với ông Lê Đỗ Bình – em trai “nàng thơ” – và chốt cuộc hẹn tại Hà Nội.

    Ngồi trên phiến đá xanh trước đền Ngọc Sơn bên hồ Gươm, ông Bình kể nhiều về một thời loạn lạc tứ tán. Từ đầu năm 1947, tiêu thổ kháng chiến, ngôi nhà lớn ở Thanh Hóa bị giật sập, cả gia đình sơ tán lên ấp Thị Long sinh sống, nơi người bố có trang trại rộng chừng 5 – 7 mẫu.

    Đến đoạn, giọng ông chùng nghẹn xuống, nhắc hình ảnh người chị xoáy trôi theo dòng nước suốt mấy chục năm vẫn mãi trong tâm trí.

    “Sông Chuồng hôm ấy đang mùa nước dữ, nước chảy xiết, dâng cao. Mẹ tôi cùng chị Ninh đưa quần áo ra bến giặt, tôi và hai đứa em nữa theo sau. Chị Ninh không may bị trượt chân, tôi nhìn rõ cảnh chị bị dòng nước xoáy cuốn vào và đưa đi.

    Mẹ tôi la hét gọi người đến cứu nhưng vì dân ở cách xa, không ai nghe thấy. Mãi lúc sau, một thanh niên xuống vớt chị lên, cách chỗ trượt chân khoảng chừng trăm mét. Mẹ tôi bất thần không biết gì nữa” – ông Bình kể.

    Tang trùng tang, bà Đái Thị Ngọc Chất đau đớn tột cùng bởi người mẹ ruột sống cùng mình cũng qua đời trước đó không lâu. Bà cho an táng con gái cạnh người mẹ.

    Mãi đến năm 1967, bà sai ông Bình về Thị Long tìm mộ mẹ và con gái đưa về cải táng đầu làng Định Hòa. Sau này khi Trường cao đẳng nghề Công nghiệp Thanh Hóa xây dựng, phần mộ bà Ninh tiếp tục được dời đến nghĩa trang gia đình.

    Trong câu chuyện dài, ông nhớ mãi hình ảnh người chị gái có “khuôn mặt khá bầu, người hơi đậm, thấp và nhỏ nhắn” và ngậm ngùi vì di ảnh duy nhất bị thất lạc trong chiến tranh.

    Kỳ 2:  Nhớ hoài cảnh chị xoáy theo dòng nước - Ảnh 5.

    Sau đợt cải cách ruộng đất 1954, ông Bình tìm về Vân Hoàn ở cùng anh rể hơn 1 tháng mới ra Hà Nội.

    Ông nhớ mãi Hữu Loan hồi đó “suốt ngày đọc sách rồi đi ra đi vào, viết lách làm thơ. Thỉnh thoảng anh đưa tôi đi về mấy xóm chài xem họ xiếc tép, làm cá. Cái thời cơm gạo khó khăn, hai anh em ăn toàn khoai lang”.

    Sau đó không lâu, khi Hữu Loan đang làm báo Văn Nghệ, ông Bình cũng tìm đến nhà anh rể gần Văn Miếu – Quốc Tử Giám ở lại 2 tuần để chờ một người anh từ chiến khu trở về.

    Năm 1985, ông Bình lại về thăm anh rể ở Vân Hoàn, giai đoạn bài thơ Mầu tím hoa sim “đã công khai, nổi tiếng như cồn”. Ông kể: “Anh Loan bảo tôi: “Người ta sẽ đến đây tìm mộ nàng thơ Mầu tím hoa sim. Tôi muốn đưa mộ bà Ninh về Vân Hoàn này”.

    Tôi trả lời anh rằng chị gái đã bị di dời nhiều lần, nay đã mồ yên mả đẹp. Vả lại anh bây giờ đã yên bề gia thất, mười đứa con sum vầy, có người chăm sóc. Đưa chị về đây cũng cô quạnh lắm, chẳng nên chút nào”.

    Kỳ 2:  Nhớ hoài cảnh chị xoáy theo dòng nước - Ảnh 6.
    Kỳ 2:  Nhớ hoài cảnh chị xoáy theo dòng nước - Ảnh 7.

    Ông Bình kể khi còn sống, mẹ không bao giờ cho nghe bài thơ Mầu tím hoa sim. Hễ ai đọc lên là bà khóc. Mãi sau khi mẹ qua đời (1987), anh em trong gia đình mới đọc và nghe các bài hát phổ thơ, vậy mà không lần nào không rơi nước mắt.

    “Bây giờ chúng tôi già rồi, “trơ” ra rồi, vậy mà đọc còn thấy đau xót lắm, bởi anh Hữu Loan viết tình cảnh rất thật. Ba người anh đi bộ đội, người em chưa biết nói đều có.

    Còn đồi sim, trong trí nhớ tôi hồi ấy nơi trang trại ở vùng bán sơn địa Thị Long, màu tim tím cứ trải dài đến tận núi. Rồi những hình ảnh mẹ tôi “ngồi bên mộ con đầy bóng tối”, “bình hoa ngày cưới thành bình hương”… tất cả đều thật hết” – dừng kể, ông khẽ đọc những câu thơ trong nỗi buồn miên man.

    Câu chuyện gia đình Hữu Loan lẫn gia đình “nàng thơ” Mầu tím hoa sim cho biết Hữu Loan luôn thương, kính và biết ơn người mẹ vợ Đái Thị Ngọc Chất.

    Tuy nhiên, theo ông Bình, có lẽ vì hai bên “có khác nhau” nên ít liên lạc. Đến khi người mẹ mất ở Hà Nội, gia đình ông cũng không báo.

    Khi biết tin, Hữu Loan đã làm đôi câu đối vừa thể hiện dâng mẹ, vừa ẩn ý trách cứ:

    Kỳ 2:  Nhớ hoài cảnh chị xoáy theo dòng nước - Ảnh 8.
    Kỳ 2:  Nhớ hoài cảnh chị xoáy theo dòng nước - Ảnh 9.
  • Tác giả,  Thơ,  Văn Thơ

    TỪ ĐỨA BÉ ĐẺ RƠI ĐẾN BÀI THƠ TÌNH THẾ KỶ

    Chùa Vân Lỗi nằm cách đường vào thôn Vân Hoàn chừng vài chục bước chân. Câu chuyện ra đời của Hữu Loan được người sãi giữ chùa kể đã lan truyền rất lâu ở làng.

    Chiều cuối xuân nhạt nắng, từ thành phố Thanh Hóa, chúng tôi đi khoảng 30km về trung tâm huyện Nga Sơn. Từ xa đã dễ dàng nhận thấy ngọn núi Vân Hoàn sừng sững vươn lên giữa đồng bằng.

    Nép bên sườn núi, nhìn ra sông Mã, chùa Vân Lỗi nằm cách đường vào thôn Vân Hoàn chừng vài chục bước chân.

    Kỳ 1: Từ đứa bé đẻ rơi đến bài thơ tình thế kỷ - Ảnh 1.

    Được xây dựng từ thế kỷ XIV thời nhà Trần, vách núi của ngôi chùa từng mang tên Sùng Nghiêm Tự này vẫn còn in dấu nhiều bài thơ do tiền nhân để lại.

    Nhưng không chỉ thế, 104 năm trước, nơi đây còn gắn liền với sự ra đời của một nhà thơ tên tuổi khá đặc biệt trong văn học Việt Nam: Hữu Loan.

    Đứng trên những bậc đá cheo leo lên chùa, ông Nguyễn Hữu Dũng, người sãi giữ chùa, nở nụ cười thân thiện mời chào.

    Nghe chúng tôi hỏi thăm về thi nhân Hữu Loan, ông “khoe” ngay: “Tôi gọi nhà thơ là chú, bố tôi với nhà thơ là anh em chú bác ruột. Hồi xưa, ông ấy được đẻ loi (đẻ rơi) ngay cánh đồng trước chùa đây chứ đâu”.

    Vừa nói, ông Dũng vừa hướng ra đồng cói xanh xanh trước chùa, phía xa là con sông Mã hiền hòa uốn lượn.

    Kỳ 1: Từ đứa bé đẻ rơi đến bài thơ tình thế kỷ - Ảnh 2.

    Câu chuyện ra đời của Hữu Loan được người sãi giữ chùa 76 tuổi kể đã lan truyền rất lâu ở làng.

    Ban đêm, sư trụ trì Sùng Nghiêm Tự bỗng thấy một vầng sáng vàng lóe lên phía trên núi Vân Hoàn. Rạng sáng hôm sau, một người phụ nữ đang làm đồng phía trước chùa lên cơn đau đẻ bất ngờ. Lê vào tới thềm chùa thì bà sinh rớt con ngay ở đó.

    Sư trụ trì ngày ấy nói với người phụ nữ rằng đứa bé con bà rất đặc biệt, hẳn sau này sẽ hơn người. Đứa bé đó chính là nhà thơ Hữu Loan.

    Cậu bé Hữu Loan lớn lên với trí thông minh, học đâu nhớ đó càng khiến nhiều người làng tin vào “điềm trời”.

    Dù nhà nghèo Hữu Loan vẫn được cha mẹ cho theo con đường ăn học. Để rồi năm 1938, 22 tuổi, con đường học vấn của Hữu Loan tỏa sáng khi đỗ “tú tài Tây” tại Hà Nội, bằng cấp thời ấy rất hiếm người đạt tới.

    Chỉ cần có bằng tú tài là đủ để tìm việc trong một cơ quan hành chính đương thời, nhưng cơ hội ấy chưa bao giờ nằm trong ý định của Hữu Loan. Sau khi có bằng tú tài Tây, ông hành nghề dạy học ngay trên quê hương mình.

    Kỳ 1: Từ đứa bé đẻ rơi đến bài thơ tình thế kỷ - Ảnh 3.
    Kỳ 1: Từ đứa bé đẻ rơi đến bài thơ tình thế kỷ - Ảnh 4.
    Kỳ 1: Từ đứa bé đẻ rơi đến bài thơ tình thế kỷ - Ảnh 5.

    Trong suốt hành trình chúng tôi tìm hiểu về Hữu Loan, câu chuyện về xuất phát điểm của bài thơ được rất nhiều người kể lại gần như nhau.

    Hồi đó ở số 48 Phố Lớn (Trần Phú, Thanh Hóa ngày nay), bà Tham Kỳ (tức Đái Thị Ngọc Chất, vợ ông Lê Đỗ Kỳ, chánh thanh tra Đông Dương về canh nông) mở cửa hiệu tạp hóa bán nhiều loại giấy bút, sách vở.

    Kỳ 1: Từ đứa bé đẻ rơi đến bài thơ tình thế kỷ - Ảnh 6.

    Là con ông Đái Xuân Quảng (một cử nhân Hán học, từng làm tri huyện), nên bà Tham Kỳ giỏi Hán ngữ lẫn Pháp ngữ, đam mê thơ phú, thuộc nhiều tác phẩm văn học cổ như Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm khúc…

    Thời gian ở Thanh Hóa học tú tài, Hữu Loan vẫn thường xuyên lui tới cửa hiệu của bà Chất để thỏa mãn niềm đam mê sách vở. Rất quý mến chàng trai con nhà nghèo hiếu học, bà Chất đã mời Hữu Loan về dạy kèm cho ba con trai của mình.

    Lần đầu tiên Hữu Loan về nhà bà Chất, con gái thứ tư của bà vẫn còn là cô bé con.

    Bẵng đi một thời gian, khi đã là thầy giáo đang dạy Trường Alexandre de Rhodes do nhà thờ Công giáo ở Thanh Hóa lập, Hữu Loan lại được bà Chất mời về nhà dạy cho chính cô con gái này, lúc đó đã là cô bé Lê Đỗ Thị Ninh 8 tuổi.

    Một thời gian sau, Hữu Loan tham gia kháng chiến.

    Ông Nguyễn Hữu Đán, con trai út Hữu Loan, tâm sự: “Bố tôi kể sau ngày độc lập 2-9-1945, khi đang làm tuyên huấn, cụ đã diễn thuyết vận động nhân dân ủng hộ cách mạng trong Tuần lễ vàng ở Thanh Hóa.

    Vô tình thấy cụ đang diễn thuyết, lúc đó là con nhà giàu đeo nhiều nữ trang, mẹ Ninh đã tháo ra hết ủng hộ cách mạng.

    Về nhà, mẹ giải thích chuyện không còn vàng bạc với người mẹ là bà Tham Kỳ, rằng: “Mẹ ơi, hôm nay con gặp anh Loan. Anh đọc diễn văn Tuần lễ vàng trước bao nhiêu người, anh thông minh, giỏi lắm mẹ ạ”.

    Là phụ nữ, biết “bệnh” tương tư, người mẹ hiểu rõ tâm tình của cô con gái hay nhắc đến “anh Loan”.

    Sẵn mối cảm mến đặc biệt với thầy giáo và biết được tình ý của con gái, bà Tham Kỳ đã viết bức thư rồi sai người cậu tên Ngân chuyển vào nơi Hữu Loan đóng quân.

    Nội dung nôm na: Cái Ninh nhà tôi nó khen anh lắm, hôm nọ vì anh mà nó tháo hết vàng bạc để ủng hộ cách mạng. Nó nhắc anh suốt. Nếu anh có ưng thì gia đình sẽ gả Ninh cho anh, đồng ý thì anh về sớm…

    Cũng chính bà Chất đã kết duyên cho mối tình đầu đời của Hữu Loan. Sau tiêu thổ kháng chiến, khi bà Chất các con về sơ tán ở ấp Thị Long, Nông Cống (cách thành phố Thanh Hóa chừng 30km), Hữu Loan đã xin về phép và có một đám cưới giản đơn nhưng đầy hạnh phúc.

    Một đám cưới chân thật như lời thơ của ông:

    “Ngày hợp hôn

    Nàng không đòi may áo cưới

    Tôi mặc đồ quân nhân

    Đôi giày đinh bết bùn đất hành quân

    Nàng cười xinh xinh

    Bên anh chồng độc đáo.

    Tôi ở đơn vị về

    Cưới nhau xong là đi!”.

    Để rồi ba tháng sau đó, người vợ qua đời trong đau đớn.

    Một trong những người ở cùng Hữu Loan trong kháng chiến lúc bấy giờ là nhà thơ Vũ Cao từng viết lại thời khắc đau thương nhất của Hữu Loan: “Trong một quán nhỏ ở Thanh Hóa, anh báo tôi biết cái tin đột ngột: Lê Đỗ Thị Ninh vừa mất. Bàn tay anh cầm cốc nước run lên bần bật, nước bắn tung tóe xuống bàn, mặt anh tái xanh”.

    Và những đau đớn ấy theo suốt đường hành quân xa, những vần thơ bất hủ cứ thế theo dòng cảm xúc của nhà thơ tài ba ra đời.

    Kỳ 1: Từ đứa bé đẻ rơi đến bài thơ tình thế kỷ - Ảnh 7.

    Sau thời gian “truyền tụng ngầm”, bài thơ Mầu tím hoa sim lần đầu tiên được Nguyễn Bính cho đăng trên báo Trăm Hoa. Không ít ý kiến “quy kết” bài thơ là “thứ văn chương ủy mị, mang tư tưởng tiểu tư sản”, được xem là nguyên cớ để Hữu Loan rời báo Văn Nghệ về quê lao động, thồ đá nuôi con.

    Ở miền Nam, tác phẩm Mầu tím hoa sim được các nhạc sĩ tài hoa như Phạm Duy, Anh Bằng, Dzũng Chinh phổ nhạc, làm thổn thức biết bao trái tim.

    Đến năm 2004, Mầu tím hoa sim được một công ty ở TP.HCM mua tác quyền với giá 100 triệu đồng…

    Kỳ 1: Từ đứa bé đẻ rơi đến bài thơ tình thế kỷ - Ảnh 8.
  • Tác giả

    Nhà văn Hồ Trường An – Sống Theo Cái Đức

    Nhà văn Hồ Trường An – Sống Theo Cái Đức

    Hồ Trường An

    LTS: Nhà văn Hồ Trường An đã qua đời hôm Thứ Hai, ngày 27 tháng 1, năm 2020, tức Mồng Ba Tết Canh Tý, tại Troyes, Pháp, hưởng thọ 82 tuổi.

    Ngoài những sáng tác  của HTA được nhiều người biết đến, là tác giả 60 tác phẩm gồm truyện ngắn, tiểu thuyết, tiểu luận và bút ký,  Ông còn được dư luận quan tâm khi trao đổi vấnđề xã hội – giới tính – đồng tính luyến ái –… Lúc còn sinh tiền Ông không ngại ngùng và phá biểu thẳng thắn, bộc trực về vấn đề “giới tính”. Việc “đồng tính luyến ái” nay trong những xã hội dân chủ đã trở thành bình thường, bớt thành kiến, thôi không còn “khắt khe” như trước.

    Lưu Diệu Vân thực hiện – 15.05.2008

    Nhà văn Hồ Trường An tên thật là Nguyễn Viết Quang. Sinh ngày 11 tháng 11, 1938 tại Vĩnh Long. Ông định cư tại Pháp vào năm 1977 và hiện đang sống ở thành phố Troyes. Ông đã cộng tác với nhiều tạp chí văn chương trong và ngoài nước và là tác giả 60 tác phẩm gồm truyện ngắn, tiểu thuyết, tiểu luận và bút ký. Ông vẫn tiếp tục sáng tác hăng say và hiện là một trong số ít tác giả lưu vong có số sách xuất bản kỷ lục tại hải ngoại. Ông tạo được một chỗ đứng riêng biệt trong dòng văn chương việt qua lối viết gần gũi và đề tài chân quê chất phác.

    Hôm nay, ngoài cương vị người viết, nhà văn còn sẽ đến với chúng ta qua một vai trò mới khá thú vị – nhà xã hội học bất đắc dĩ – cũng bằng giọng văn thân thiết, gần gũi và sự chân thật đặc trưng của Hồ Trường An.

    LDV: Giới tính là một đề tài khá nhạy cảm và đòi hỏi sự bộc bạch hết sức can đảm từ phía người chia sẻ. Không thiếu những nhà văn Việt viết nhiều về đề tài giới tính, nhưng hầu như ít ai thích nói về nó một cách cởi mở trong những trang viết có tính cách cá nhân, trừ Hồ Trường An. Dũng khí quan trọng như thế nào đối với một người viết?

    ho_truong_an_1991

    HTA: Cô Vân, tôi chấp nhận cuộc phỏng vấn này là môt lời tự thú trong buổi tàn thu cuộc đời. Tôi đã vào tuổi thất tuần rồi, cô ơi! Mỗi đêm, trước khi đi ngủ tôi luôn tự hỏi: sáng mai, mình có thức dậy được không đây? Hay là mình phải làm một chuyến đi tàu suốt vào giấc ngủ miên viễn? Vậy tại sao mình lại giấu diếm cái bí mật trong cuộc sống tình cảm lẫn tình dục của mình? Chấp nhận cuộc phỏng vấn của cô, tôi muốn cho lớp thế hệ bọn gay sau tôi một vài kiến thức hay một vài kinh nghiệm nhỏ nhoi nào chăng?

    Vào những năm đầu của thập niên 80, tiết lộ giới tính và khuynh hướng tình dục của mình mới là hành động can đảm. Hồi đầu thập niên 60, tôi chỉ tiết lộ thân phận mình cho chị Thụy Vũ của tôi cùng một số bạn thân. Bắt đầu năm 1980 tôi có người yêu là dân Pháp chánh gốc, tôi ngang nhiên sống chung với đương sự, tới nay kể ra cũng gần 30 năm. Một phần là tôi tức giận tên Thi Vũ Võ Văn Ái (nhà báo/nhà thơ), nó nỡ đem tâm sự của tôi đi bán rao tùm lum tà la. Cho nên từ đó, khi đi dự các cuộc tiếp tân nào trong giới văn nghệ sĩ kiều bào ở Paris, tôi cũng dắt người bạn lòng của tôi theo. Đương sự nhỏ hơn tôi 9 tuổi, nhưng cái tác của hắn lớn hơn tôi khá nhiều.

    Năm 1983, tôi tung ra quyển Hợp Lưu trong đó có nhân vật gay tên Quế, phản ảnh đôi chút tâm trạng của tôi. Trước tôi, vào năm 1967, bạn tôi tên Đỗ Quế Lâm có viết tiểu thuyết tự truyện tựa là ‘‘Vết Hằn Rướm Máu’’ do chính chị Thụy Vũ tôi viết lời tựa. Sau đó, ở hải ngoại, vào năm 1979, thằng bạn khác của tôi tên Lucien Trọng, một kỷ sư thủy lâm có viết quyển L’Enfer Rouge, Mon Amour do Seuil xuất bản. Sau đó nó dịch ra tiếng việt Hỏa Ngục Đỏ, Mối Tình Tôi kể lại mối tình của nó với một chàng trai bụi đời tên Hải trong thời gian hai đứa bị Cộng Sản giam cầm. Đúng như cô Vân nghĩ, hình như những cây bút gay như Đổ Quế Lâm lẫn Lucien Trọng không dám diễn tả huỵch tẹt như HTA, không mô tả cuộc làm tình tỉ mỉ và tới nơi tới chốn như HTA. Tôi diễn tả chuyện giao hợp giữa cậu trai việt và anh chàng gay quí tộc Pháp khá táo bạo và khá đậm đà. Chính nữ ca sĩ Quỳnh Giao thuở thập niên 80 bảo rằng đây là quyển sách mà Quỳnh Giao thích. Song song, cũng có rất nhiều độc giả chửi tôi khá nặng. Họ gọi điện thoại xài xể luôn anh Mai Thảo vốn là người chủ trương tờ tạp san văn chương Văn, tại sao có thể đăng từng kỳ những chương “dơ dáy nhớp nhúa” của quyển Hợp Lưu?

    Còn chị hỏi tôi cái dũng khí của người viết văn thì tôi khó trả lời. Thiệt ra, tôi chẳng có một chút dũng khí nào. Sở dĩ tôi dám phô bày chơn tướng mình ra vì tôi tức giận kẻ lẻo mép thối mồm. Đã là một tên gay xấu xí mà dám viết truyện qua cái tôi của mình, một nhân vật đẹp trai như Phan An, Tống Ngọc, chẳng những được bọn gay tôn thờ mà còn được phụ nữ mê sa trầm lụy. Cũng đừng vì mình không kiếm được bồ đực để thương yêu giao hợp rồi lên giọng kích bác kẻ đồng tính luyến ái may mắn hơn mình, khuyên họ phải dẹp bỏ thói ‘‘xấu ấy’’ để trở thành kẻ bình thường. Đã là gay rồi thì trở thành kẻ biết yêu người khác phái tính sao được? Văn chương cần sự thành thật của nhà văn dị tính luyến ái đã đành mà còn của một nhà văn gay.

    LDV: Đó là thế giới văn chương, còn trong cuộc sống hiện thực, ông đã từng chứng kiến những người đồng tính luyến ái bị ngược đãi quá mức. Họ có nên thỏa hiệp để tránh việc bị đánh giá thấp?

    HTA: Còn ở ngoài đời, hai chàng gay không nên âu yếm ở chốn công cộng vì đa số người chứng kiến vốn không quen cảnh hôn hít trái cựa như vậy, họ sẽ bị dị ứng và chướng mắt ngay. Cũng đừng phùng xòe bộ đi tướng đứng oai phong lẫm liệt một cách phường tuồng mà bị thiên hạ quở rằng các chàng gay đang đóng vai dũng tướng Địch Luông, Địch Hổ trong tuồng Hồ Quảng hay tuồng hát bội. Cũng đừng ẻo lả thục nữ quá thì chẳng có tên gay nào khác tìm đến xáp cục với mình. Gay nào mà chẳng mê mẫu người có phong độ đàn ông tính? Cũng đừng gạ gẫm ve vãn nhưng kẻ dị tính luyến ái mà chuốc lấy sự bêu rếu, sự lăng nhục của hạng người này.

    Tôi thường nghĩ đồng tính luyến ái là do trời sanh ra, do cái ác nghiệp từ tiền kiếp hiện hành ở kiếp này. Bản tính mình như thế nào thì mình sống theo bản tính ấy, can gì phải giấu diếm? Đau khổ nhứt cho những kẻ vì bảo vệ nghề nghiệp trong các công sở, vì đã lỡ tạo lập gia đình, nên có cuộc sống song đôi. Họ lén lút ăn nằm với bọn gay bán tình và luôn nơm nớp lo sợ chuyện bí mật của mình bị tiết lộ. Đồng tính luyến ái là cái bản tính tự nhiên của một số người. Bắt những chàng gay sống như người bình thường, cưới vợ để sanh con đẻ cái là bắt họ chống lại thiên nhiên.

    Cái tức giận của tôi đối với một tên bạn Võ Văn Ái thèo lẻo ác ôn làm tôi bạo dạn, trở nên thách thức với những kẻ có đầu óc hẹp hòi. Cho nên tôi từ bỏ cuộc sống song đôi, chỉ sống theo cuộc sống bọn gay… cho gọn. Tôi không muốn giả dối, không giấu diếm cái sở thích yêu người đồng phái tính của mình làm chi cho phiền phức. Phải đơn giản hóa cuộc sống, phải sống tràn đầy và nguyên vẹn cuộc đời riêng biệt của mình với tấm lòng thành khẩn thì may ra mới tìm được hạnh phúc.

    LDV: Nhà văn Hồ Trường An định nghĩa giới tính của mình bằng đường lối nào?

    HTA: Cô Vân ơi, câu hỏi nầy trặc trẹo lắm. Tôi không sao có thể định nghĩa giới tính chính mình. Tôi chỉ biết giới tính chia ra làm ba hạng người: hạng thứ nhất là hạng người yêu đương và thích làm tình cùng người khác phái của mình. Đó là những người dị tính luyến ái (les hétérosexuels). Hạng thứ hai là những người yêu đương và thích làm tình với người đồng phái. Đó là những người đồng tính dục (les homosexuels), nhưng nói cho nhẹ nhàng bóng bẩy một chút thì gọi là đồng tính luyến ái (les homophiles); bên nam giới gọi là gay, bên nữ giới thì được gọi là lesbiennes. Lại có người thích làm tình với người khác phái tính lẫn người đồng phái tính. Đó là những người lưỡng tính luyến ái (les bisexuels). Vua Hán Cao Tổ có nhiều quý phi, cung tần, mỹ nữ. Nhưng ông ta thỉnh thoảng tìm các cậu trai mới lớn nuôi sẵn trong biệt viện để ông ta thay đổi thực đơn hành lạc. Những cậu trai như vậy tiếng Pháp gọi là bé cưng (les mignons). Đó là tôi nói theo nhà Trung Hoa học thuật gia Robert Van Gulik qua cuốn biên khảo ‘‘La Vie Sexuelle dans la Chine Ancienne.’’

    Trong giới nghệ sĩ Hoa Kỳ thì Marlon Brando cũng thuộc loại lưỡng tính luyến ái. Anh ta mê phụ nữ da màu và đã trải qua hai đời vợ là Anna Kashfi – lai Ấn, Movita – gốc Mễ-tây-cơ. Nhân tình cũa anh ta gồm có các nữ tài tử France Nuyen – lai Việt, Tarita – người thuộc đảo Tahiti, Rita Moreno – dân Mỹ La-tinh. Nhưng bà vợ Anna Kashfi trong cuốn Brando au Petit Déjeuner xác nhận rằng Marlon Brando lẫn James Dean đều là dân lưỡng tính luyến ái. Trước khi nổi danh, trong thời gian sống ở Paris, Marlon chơi thân với điện ảnh gia Roger Vadim và nam tài tử Christian Marquand. Chính anh chàng Marquand này là người yêu của Marlon Brando. Anh ta người Tây-ban-nha lai Á-rập nhưng sinh sống từ nhỏ ở Pháp, đóng phim Pháp, nổi tiếng đẹp trai và sexy. Christian Marquand cũng là dân bisexuel, sau đó kết hôn với nữ tài tử Tina Aumont. Hư thực ra sao đố ai biết rõ. Chúng ta chỉ biết một khi người vợ bị tổn thương thì việc gì mà không dám nói. Anna Kashfi còn dám viết rằng Marlon Brando có tới ba hòn nang. Khi sống trên tại kinh thành Paris, chàng ta đã cùng Roger Vadim và Christian Marquand đi Monmartre để hành lạc theo kiểu ‘‘nga môn khoái lạc’’ do dân phong lưu Trung Hoa phát minh. Đó là đút dương vật vào hậu môn con vịt, rồi thình lình chặt cổ con vịt để cho hậu môn con vịt siết chặt và buông lỏng liên miên dương vật. Marlon Brando trong quyển hồi ký của mình bảo thẳng thừng rằng : ‘‘Tôi cũng có vài kinh nghiệm về đồng tính dục.’’ Riêng James Dean được báo chí thêu dệt mối tình giữa chàng ta và nữ tài tử gốc Ý Pier Angeli, giữa chàng ta và nữ thần nhục cảm Ursuela Andress gốc Thụy- sĩ. Nhưng lại có tin hành lang cho biết người tình đực rựa của chàng là tài tử bô trai cực kỳ thanh tú và hùng tráng là Tab Hunter.

    Về phía lưỡng tính luyến ái phái nữ thì vào thời Đệ tam Cộng Hòa có hai nàng nữ danh kỹ là Liane de Pougy và Emilienne d’Aleçon sắc nước hương trời. Cả hai đã từ dan díu với các chàng trai quý tộc và các kỹ nghệ gia Hoa Kỳ thuộc hạng tỷ phú. Liane de Pougy đã từng ăn nằm với Hoàng tử vùng Galles nước Anh về sau trở thành vua Edouard VII, còn Emilienne d’Aleçon đã từng dan díu với vua Léopold II nước Bỉ. Cả hai cô danh kỹ kia còn là nữ sĩ văn chương. Liane viết 7 cuốn tiểu thuyết, nổi tiếng nhứt là cuốn Idylle Saphique (Tình Yêu Các Cô Đồng Tính Luyến Ái) và cuốn nhật ký Mes Cahiers Bleus ( Những Tập Giấy Xanh Của Tôi). Người tình nuơng mặn mòi thắm thiết nhứt của Liane de Pougy là nữ sĩ kiều diễm người Mỹ Natalie Cliffod Barney. Còn Emilenne d’Aleçon về sau kết hôn với anh nài ngựa người Anh chẳng những trí thức, giàu sụ mà còn đẹp trai. Vì là nài ngựa nên chàng hơi nhỏ con một chút, nhưng rất xinh xắn dễ yêu. Cả hai si mê nhau điên cuồng, yêu đương bỏng cháy. Vì yêu nàng, chàng bỏ quốc tịch Anh và xin vào quốc tịch Pháp. Vì chàng, nàng thôi làm cái nghề đưa ông hoàng ra cửa trước, rước ông tỷ phú vào cửa sau. Chàng nài ngựa bô trai giỏi văn chương Pháp nên dạy Emilienne d’Aleçon làm thơ. Do đó nàng cho trình làng hai thi tập Temple d’Amour (Ngôi Đền Tình Ái) và Les Masques (Những Cái Mặt Nạ). Chàng nài ngựa yểu mệnh, Emilienne d’Aleçon đau khổ không nguôi. Từ đó nàng đoạn tuyệt với đàn ông và chỉ ăn nằm với đàn bà trong đó có nữ nam tước người Ý là Baronne Mimy Franchetti. Cô nữ nam tước nầy cũng đã từng ăn nằm với Liane de Pougy.

    LDV: Sự chấp nhận một cách hân hoan về khuynh hướng tính dục đặc biệt của mình đã đem lại cho nhà văn những gì ngoài cõi lòng yên tĩnh cần thiết để cho ra đời những trang viết đầy tình người và sức sống?

    HTA: Sống thành thật với chính mình thì dĩ nhiên được thoải mái về mặt tinh thần lắm, có phải không cô Vân? Hồi chưa tiếp xúc với giới đồng tính luyến ái tôi ấm ức trong lòng, khao khát được giao hợp với người mình yêu. Nhưng ở tại một tỉnh lỵ đất Tiền Giang, tôi tìm đâu ra một đối tượng tình yêu thuộc loại người như mình? Cho nên tôi đau khổ, tuyệt vọng, lại còn sợ mọi người chế nhạo mình yêu trai, cho nên tôi không biết ngỏ tâm sự cùng ai. Năm tôi 25 tuổi, tôi lên Sài Gòn học lớp tập sự ngành Dược Khoa, tôi được thằng bạn thân học chung với tôi suốt 6 năm bậc trung học. Nó cũng là dân gay như tôi, nhưng cả hai chỉ là bạn suông trơn mà thôi. Nó giới thiệu cho tôi một ký giả người Pháp, gốc Ba-lan tên là Ilya Mustkatblatz. Sau đó, nó chỉ cho tôi những chỗ hội họp của bọn gay Việt lẫn gay từ các xứ như Mỹ, Pháp, Thụy Sĩ, Phi-luật-tân, Đại Hàn, Tàu Chợ Lớn qua làm việc hoặc định cư ở Sài Gòn. Họ thường lui tới rạp chớp bóng Vĩnh Lợi (mà bọn tôi gọi là Vĩnh Lạc Cung) ở đường Lê Lợi và gần Bệnh Viện Đô Thành, rạp chớp bóng Moderne (mà chúng tôi gọi là Mẫu Đơn Đình) ở gần chợ Tân Định. Ngoài ra còn ở nhà hàng Continental, nhà hàng Givral, Bùng Binh trước chợ Bến Thành là những nơi để bọn gay kiếm bồ bịch. Ngoài ra ngôi chùa thuộc Nghĩa Trang Bắc Việt, đền thánh ở Thủ Thiêm cũng là nơi hò hẹn bọn gay.

    Không hiểu sao, từ khi tiếp xúc vào xã hội gay, dù lúc tiên khởi tôi nghĩ mình bắt đầu có một cuộc sống lệch lạc về lề thói, về nguyên tắc trật tự trong xã hội. Nhưng chính các lệch lạc, cái trái cựa đó khơi dậy cho tôi biết bao niềm lạc hoan mênh mông và nguồn cảm hứng cực kỳ phồn thịnh. Tôi phải trải rộng cảm hứng đó lên giấy càng nhiều càng tốt. Tôi yêu đời, yêu mọi người. Tôi chỉ mong có nhiều người đọc những gì tôi viết. Nhưng tôi chưa dám viết trực tiếp cái xã hội gay. Nhưng ai cấm tôi sáng tạo những người đàn bà đa tình phản ảnh nguyên vẹn cái tôi đã bao lần xao xuyến tâm hồn và xác thân trước hình bóng những nam minh tinh điện ảnh mà tôi ái mộ? Từ khi lao vào giới gay, tôi vui sống, sáng tác thơ rất nhiều. Tiếc rằng khi bỏ xứ ra đi, tôi không mang theo được gì, chỉ nhớ lõm bõm vài bài thơ nhục cảm để khi ra hải ngoại tôi thực hiện thành thi tập Thiên Đường Tìm Lại.

    Vào năm 1966, trước hết, tôi viết truyện ngắn, thơ, kế đó mới tập tành điểm sách, viết tạp ghi. Và sau hết, tôi viết các bài nhận định về kịch ảnh & tân nhạc. Tôi đã từng cộng tác với các tập san Bách Khoa, Tin Văn, Tiểu Thuyết Tuần San, Minh Tinh, Sinh Hoạt Nghệ Thuật, công tác với các nhật báo Tranh Thủ, Tiền Tuyến… Hứng thú đưa đẩy ngòi bút tôi chạy tốc hành trên xấp trang bản thảo khi tôi ngồi vào bàn viết. Nhưng tôi không dám viết cái tôi của mình là gay. Tôi dệt ra những cảnh giao hợp bỏng cháy, tôi nhập vai vào các nữ nhân vật, còn nam nhân vật tuy có tên Việt như Cảnh, Hạo Minh, Tường Ngọc, Huy Châu v.v…, nhưng tôi mường tượng qua các chàng kép có thân vóc cường tráng mỹ lệ.

    Bao giờ cũng vậy, khi viết tiểu thuyết không bao giờ tôi dám giết những nhân vật đẹp trai dù các đương sự cùng hung cực ác đi nữa. Tôi chỉ dám giết những nhân vật già nua từ 80 tuổi trở lên (cho họ chết vì già yếu chớ không dám cho họ chết vì bịnh hoạn). Lại nữa, các nhân vật đẹp trai được tôi xe duyên chỉ thắm với những nữ nhân vật nếu không kiều diễm thì cũng duyên dáng mặn mòi. Nếu các cô lỡ có chửa với người chồng bô trai ngó hoài…vẫn thích ngó của họ, thì ở chương áp chót của quyển tiểu thuyết, tôi cho họ xổ bầu đập chum để họ có cái eo thon đẹp, để họ diện áo đẹp đi rước đèn, đi bát phố cùng chồng. Còn nam nhân vật đẹp trai nếu rủi bị bịnh ung thư hay bị bịnh AIDS thì nếu không nhờ thuốc men hiệu nghiệm thì cũng được Đức Thánh Đồng Trinh Maria của thành phố Lourdes hay Đức Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát sẽ dùng phép lạ mà giúp họ lành mạnh. Như vậy nữ độc giả sẽ an tâm khi xếp quyển sách cũa tôi lại.

    Cô xem đó, khi con người được hạnh phúc, họ dễ có tấm lòng vị tha, không đem giáo điều khe khắc ra buộc tội bất cứ ai. Trong các tác phẩm của tôi hầu như không có kẻ ác. Thường là những kẻ có cái miệng dữ dằn, ngáp ra khói, ói ra tro, ho ra sấm sét, nhưng lòng dạ các đương sự hiền lành như bột sắn, bột khoai. Thường là các mụ đàn bà thuộc loại chằn ăn trăn quấn, ưa ganh tị từ cái ngáp tiếng ho với bạn bè, ưa thèo lẻo trong các cuộc ngồi lê đôi mách, nhưng khi đối thủ của mình gặp hoạn nạn thường ra tay cứu giúp, an ủi, đãi cho kẻ cựu thù những món ăn ngon… chết giấc luôn! Tôi ưa viết những chuyện vạch tật xấu đàn bà, nhưng độc giả của tôi hầu như 75% là đàn bà. Vậy có nghĩa là văn chương tôi không độc địa như siêu vi trùng gây bịnh AIDS, không giúp các nhân vật lao vào những hành động ác ôn côn đồ thổ phỉ, không xô nạn nhân vào cảnh đoạn trường.

    LDV: Xã hội phong kiến của Việt Nam có ảnh hưởng một cách tiêu cực đến cái nhìn về giới tính của nhà văn không, trong cuộc sống cũng như trong quá trình viết lách?

    HTA: Ở Việt Nam, chuyện đồng tính luyến ái vào thập niên 50, 60 không được xem là trầm trọng. Dân mình cho rằng hễ ai mắc phải ‘‘cái tật’’ yêu người cùng phái tính, một khi được lấy vợ gả chồng thì ‘‘lành bệnh’’ ngay. Nhưng bên Âu Châu vào thời Trung Cổ, những ai có hành động quá thân mật với người cùng phái tính thì bị lôi ra tòa án và Giáo hội Gia-tô xen vào kết án thiêu sống các đương sự. Tôi không nhớ rõ năm nào trong thập niên 90 của thế kỷ 20, Đức Giáo Hoàng Jean Paul II đã từng xin lỗi mọi người trên thế giới về chuyện các Giáo Hội Gia-tô đã lên án xử tử nhà bác học Galilée khi ông ta dám tuyên bố quả đất tròn. Ngài cũng xin lỗi về vụ các tín đồ Gia-tô a tòng với bọn buôn người bắt dân Phi Châu bán cho người da trắng làm nô lệ. Nhưng ngài vẫn không thèm xin lỗi về vụ bọn tăng lữ Gia-tô ở Pháp và ở vài nước Âu Châu đã đem dân gay thiêu sống vì họ cho rằng những người gay cũng như nhừng người phù thủy là ác quỷ Sa-tăng cần phải bị tiêu diệt.

    Trong quá trình viết lách, trước kia dám khai huỵch tẹt cái sở thích yêu người cùng phái với mình chỉ có văn hào André Gide ở những quyển nhật ký. Nhưng ở cuốn L’Immoraliste (Kẻ Vô Luân), ông ta chỉ nói mí mí thôi. Văn hào Thomas Mann với quyển Mort à Venise (Chết Tại Kinh Thành Venise). E.M Forster với cuốn Maurice thì viết hẳn hoi về cuộc tình thầm kín hay công khai của các nhân vật gay. Tuy nhiên E.M Forster viết cuốn Maurice khi còn sống, nhưng không dám đăng báo hay xuất bản. Trên giường bịnh chờ chết, ông dặn người nhà khi ôg ta qua đời thì mới cho xuất bản cuốn di cảo ấy. Còn nữ sĩ Natalie Clifford Barney thì viết lách công khai chuyện đàn bà đánh chập chõa với đàn bà. Cả nàng danh kỹ Liane de Pougy dám viết cuộc tình của mình với Natalie Clifford Barney trong cuốn Idylle Saphique của mình. Vậy mà các ông hoàng ở Âu Châu, các triệu phú, tỷ phú Hoa Kỳ vẫn tình nguyện chết chung vào lỗ của nàng. Rồi khi nàng leo lên 40 tuổi có ông hoàng Lỗ-ma-ní nhỏ hơn nàng 15 tuổi cưới nàng làm vợ, cuộc hôn nhân kéo dài tới khi ông ta lìa đời. Lúc đó Liane xấp xỉ 70 tuổi rồi, đành sống cô đơn tới lúc nhắm mắt theo chồng.

    Về các nhà văn nhà thơ Việt Nam thì vào năm 1966, đã có Đỗ Quế Lâm viết cuốn ‘‘Vết Hằn Rướm Máu’’. Hai nghệ sĩ diễn ngâm thơ là Đoàn Yên Linh và Hồ Bảo Thanh sáng tác những vần thơ đẹp như gấm và dịu như nhung. Họ xưng mình là em, là nàng cô phụ gửi người tình không chân dung nào đó hoặc người tình có thật trong cuộc sống mà họ đã từng si mê. Tiếc thay cả hai không cho xuất bản các bài thơ đẹp kia thành thi tập, chỉ đăng báo lai rai. Đoàn Yên Linh, Hồ Bảo Thanh và tôi đều là bạn của cây sáo thần Thanh Hà. Nhưng Thanh Hà không phải là gay mà là kẻ thông cảm với bọn gay chúng tôi mà thôi. Tình bạn giữa Thanh Hà và tôi từ trong nước, trước 1975 vẫn kéo dài cho tới bây giờ.

    Ra hải ngoại, người xung phong viết chuyện đồng quê Nam Kỳ và chuyện đồng tính luyến ái vẫn là H.T.A. Người thứ hai là Ngô Nguyên Dũng trong quyển trường thiên tiểu thuyết Đêm. Lại có thêm Tạ Thái, Nguyễn Thạch Đàn qua những tự truyện dưới hình thức truyện ngắn đăng trên báo Văn. Lại có thêm Lê Nghĩa Quang Tuấn, em trai của hai nhà văn nữ là Lê Thị Huệ và Lê thị Thấm Vân đã từng đi diễn thuyết đòi quyền sống và đòi chỗ đứng trong xã hội cho dân đồng tính luyến ái trong xã hội. Tuấn lại còn chủ trương tạp san dành cho gay và lesbian. Đó là tờ Đối Diện (Face To Face). Thi tập Ầu Ơ… của đương sự rất tuyệt vời về tư tưởng triết học và xen vào đó có những bài thơ nhục cảm chan hòa mộng đẹp, sinh lực, tinh khí, những tư duy rất nhân bản. Theo tôi, những cây viết ở vào cuối thế hệ thứ nhì và đầu thế hệ thứ ba ở hải ngoại, trong hàng ngũ gay thì có Ngô Nguyên Dũng bên Văn, còn Lê Nghĩa Quang Tuấn bên Thi Ca. Cả hai tài hoa rất mực. Còn bên ca nhạc ở hải ngoại thì cũng ít nhất 5 người. Nhưng mà thôi, tôi không tiện hài danh hà tánh các đương sự, cứ để họ tiếp tục hành nghề và giữ mãi mãi là thần tượng của các cô choai choai có hơn không!

    LDV: Khung cảnh tự do của quê hương thứ hai đã đem lại cho ông những thay đổi tích cực gì về khuynh hướng tính dục của mình và của những người đồng tâm trạng chung quanh ông?

    HTA: Tôi qua nước Pháp gặp lúc phong hóa đang biến chuyển tiến bộ. Phim sex dành cho bọn gay có chiếu vài rạp ở Paris. Tạp chí dành cho gay là Gaipied bán tràn ngập khắp thị trường sách ốc. Nhà trí thức André Baudry lập câu lạc bộ Arcadie để làm diễn đàn cho dân gay. Chính tại đây, Lucien Trọng đã đăng đàn diễn thuyết và mở cuộc triễn lãm tranh sơn dầu của đuơng sự. Ngoài ra, vũ trường Scaramouche dành cho gay. Hơn một chục phòng tắm hơi dành cho dân gay ở Paris. Các anh chàng gay vào đó tha hồ khỏa thân hoặc quấn chiếc khăn bông ở hạ bộ. Tìm được kẻ vừa ý là cả hai dắt nhau vào căn buồng nhỏ để làm tình. Nếu phòng bị chiếm hết thì tìm chỗ nào hơi tối một chút để giao hoan, chẳng bị ai phá rối.

    Nhưng rồi từ năm 1985, bịnh AIDS lan tràn, tôi không dám bén mảng tới bất kỳ chỗ hẹn hò nào, đừng nói chi là phòng tắm hơi. Vả lại, từ năm 1985, tôi bắt đầu phái phì: bụng to như có cái chảo gang hay cái thau nhôm úp lên, lại có cằm đôi như cái nọng heo và còn dến thêm miệng cá má lợn. Đi đâu, tôi cũng vác các bụng bự chang bang như cái bụng chửa sắp tới ngày xổ bầu thì chán quá! Làm diet, chạy jogging, cuốc bộ hàng chục cây số vẫn chỉ sụt bớt 5 kí lô là cùng. Rồi tôi bỏ cuộc vì tôi bị ba chứng bịnh nan y như tiểu đường, cholesterol, cao máu. Từ nằm 1985, người bạn lòng tôi và tôi dù ở chung dưới một mái nhà, ngủ chung một giường, nhưng chỉ là bạn thuần khiết mà thôi. Vào năm 2006, tôi nghe lời bác sĩ thân tín tập thể dục dành cho người già cả, tập thở một cách chăm chỉ theo phương pháp mà Thiền Sư Nhất Hạnh chỉ dạy, tôi gần như hết bịnh tiểu đường, dứt tuyệt chứng cholesterol, giảm bớt cao máu. Nhưng tôi vẫn phải uống thuốc đều đặn. Do đó mà tôi sụt cân. Thể dục làm cho bụng tôi thon, cằm đôi biến mất. Thở theo phương pháp Tọa Thiền làm cho da mặt tôi sáng hồng. Bụng tuy thon nhưng lại hơi nhão, mông không xệ nhưng không tròn. Cằm đôi tuy mất, nhưng cổ tôi nhăn nhúm như cái nhau con heo nái phơi khô. Ngực tôi tuy đầy đặn nhưng không căng phồng như cánh buồm lộng gió. Bọn trai tráng có cặp mông tròn trặn như trái dưa hấu bổ đôi, bụng chẻ ra làm sau miếng như sáu thẻ chocolate. Vì than ôi, tôi đã 70 tuổi rồi, làm sao có thân vóc rắn chắc và mỹ lệ như bọn đờn ông con trai từ 18 đến 45 tuổi? Lại nữa, tôi đâu còn khả năng tình dục nữa, cho nên tôi đành làm bạn với con Chung Vô Diệm (chim vô dụng) mà thôi.

    Thật ra, tôi cũng chẳng buồn tiếc cái thời sống lăng loàn hạnh phúc cũ. Nếu vào thuở trung niên tôi vẫn còn có sắc vóc ngoạn mục, biết đâu tôi chơi bời thả cửa, giao hoan thả giàn với bọn gay, để rồi vướng bịnh AIDS. Như vậy trong cái rủi vẫn có cái may, phải không nào? Rất nhiều bạn bè tôi xin tôi chỉ họ phương pháp làm gầy, phương pháp làm cho da mặt mịn màng sáng sủa. Tôi cứ tình thật mà ‘‘khai báo’’. nhưng họ làm không có kết quả. Thiệt tình tôi không hiểu tại sao? Nhưng đẹp lão để làm gì? Khi tôi mặc áo thun, quần jean thì thân vóc tôi vẫn là người đàn ông tuổi ngũ tuần. Nhưng khi vào bãi khỏa thân ở tỉnh nhà thì đây là thân vóc của một ông già, dù có ngực đầy, bụng thon và mông không xệ đi nữa. Ở ngoài đời, da mặt tôi thật lý tưởng mà phụ nữ rất hâm mộ. Nhưng khi tôi được chụp ảnh, khuôn mặt tôi vẫn là khuôn mặt ông già, dù da mặt chỉ có vài nét nhăn mờ mờ ở chuôi mắt đi nữa. Cho nên tôi không thèm nhuộm tóc làm gì. Tuổi của tôi hiện giờ có thể làm ông cố được rồi.

    ho_truong_an_2008

    Khi qua Pháp, tôi đã 40 tuổi, hưởng thụ không bao lâu, nhưng tôi không thối tiếc một chút cỏn con nào. Mừng là thấy phong hóa tiến bộ một cách tích cực. Có nhiều nước cho phép cặp gay làm đám cưới với nhau. Tôi thấy cái dó không cần cái đó. Nhưng thôi, ai cũng có hoàn cảnh riêng, sở thích riêng, tâm trạng riêng; đừng bắt buộc người khác phải giống mình. Bây giờ ở Gia-nã-đại và ở vài nước Âu Châu có lịnh phạt những kẻ nào dám sỉ nhục những chàng gay trước đám đông. Kẻ sĩ nhục sẽ bị phạt nặng nếu kẻ bị hạ nhục có tìm được nhân chứng. Đối với những nước văn minh tân tiến, tội đó cũng ngang ngữa với tội kỳ thị chủng tộc. Tôi chỉ thương xót các em các cháu gay gặp vấn nạn bịnh AIDS nên không được thoải mái lúc bắt bồ với nhau. Họ không được tâm trạng thảnh thơi như tôi hồi 40 năm về trước khi làm tình với đối tượng của mình.Tôi tin rằng đa số những kẻ gay cũng như tôi được hạnh phúc khi sống trong xã hội được nới lỏng nguyên tắc và giáo điều, sống tràn ngập tin tưởng hơn. Có vậy Ngô Nguyên Dũng sáng tác không hề nhàm mỏi. Có vậy Lê Nghĩa Quang Tuấn mãi mãi là tấm gương can trường dám đứng đầu sóng ngọn gió. Tôi không hiểu tại vì sao càng lớn tuổi, Dũng ưa bỏ chín làm mười bất cứ chuyện gì. Dũng nhìn đời bằng cặp mắt bao dung. Có phải chăng hắn sống trong hạnh phúc và sống với tâm trạng cởi mở nên mới được đức tánh ấy? Dũng yêu thích văn nghệ sĩ giới sáng tác lẫn văn nghệ sĩ giới trình diễn nên không cần lui tới thường xuyên các cuộc hẹn hò trong khi đương sự vẫn còn là kẻ trung niên tuấn tú, có thể bắt bồ vơi bọn gay Đức dễ ợt. Càng lớn tuổi đương sự chuộng tâm linh nghiên cứu Phật Giáo. Còn riêng tôi, trong mùa thu cuộc đời, tôi vẫn nghiên cứu thêm Kinh Đại Thừa như hồi còn ở quê nhà, sưu tầm sách vở, các hình ảnh các minh tinh điện ảnh và ca sĩ ngoại quốc. Bắt đầu chớm xuân, tôi trồng hoa ở bao lơn. Trong nhà tôi bày những chậu cây cảnh những món ngoạn hảo (bibelots) và tranh ảnh. Tôi không có thời giờ để phiền muộn. Hễ khi cái đầu nóng rực vì viết lách hơi nhiều, tôi dừng bút lại, lo săn sóc lau chùi nhà cửa, nấu nướng một món ăn hợp khẩu vị. Đôi khi tôi điện đàm với các bà bạn vốn là độc giả của tôi để học hỏi cách thức làm những món ăn phổ thông hay những món ăn đặc biệt sao cho hợp khẩu vị.

    Lũ bạn gay của tôi sinh sống ở Paris thường hỏi tôi suốt gần 30 năm nhà bác tuyệt tích giang hồ. Vậy mà nhà bác chịu đựng được? Có phải chăng ở Troyes có phòng tắm hơi dành cho bọn gay? Hay có những chỗ hẹn hò nào khác? Làm sao tôi nói cho lũ bạn tin rằng tôi đã sống đã tạm đầy đủ rồi. Bây giờ ôn lại ‘‘thời tung hoành’’ cũng chỉ vun quén phong vị cho văn chương và cho tuổi hoàng hôn, đừng quay lại thời dĩ vãng xa lắc xa lơ nữa. Tôi còn nhớ một câu nói của đại kịch sĩ Pháp là Jean Louis Barrault : ‘‘Ở chỗ huy hoàng ánh sáng, hay trong xó kẹt tối tăm, đâu đâu cũng có hồng ân của Thượng Đế’.’

    LDV: Văn của Hồ Trường An đầy chi tiết, sống động và tràn ngập nhiều nhân vật nữ với tạo hình thật rõ nét. Định hình giới tính của một nhà văn giữ tầm ảnh hưởng như thế nào đến giọng văn, chủ đề, và thông điệp gởi gấm?

    HTA: Văn chương tôi có nhiều chi tiết sống động? Có thể lắm chớ? Tôi viết theo cảm hứng, có nhiều khi rất máy móc, không cần suy nghĩ cho nhuần nhuyện trước khi viết. Thường thường bọn gay chúng tôi thích trào lộng và có óc quan sát mãnh liệt. Do đó tôi tìm những nhân vật độc đáo, xem cách sống, cách suy nghĩ và cách ăn nói của họ. Ai chê hạng người ngồi lê đôi mách là hạng người mất nhân phẩm. Sức mấy mà tôi suy nghĩ như vậy. Các cuộc ngồi lê đôi mách giúp tôi khám phá và tìm hiểu các nhân vật độc đáo, những nhân vật có cá tính mạnh.

    Tôi nhớ, hồi xa xưa, tôi ở chung với chị Thụy Vũ. Hôm đó, Tô Thùy Yên và chị nằm trên gác. Cô tớ gái của chị đang lục đục dưới bếp. Tôi và lũ bạn kéo về, quây quần bêm mâm gải khát, bắt đầu kể chuyện ngồi lê đôi mách pha trộn chuyện tiếu lâm. Bọn tôi không hay trên gác có người nên chúng tôi tha hồ mà xả máy đía dóc. Khi câu chuyện bắt đầu rời rạc dần thì chị tôi bước xuống, cười ngất: Nãy giờ tao với ông Tiên (chỉ TTY) nằm ngủ trên gác. Nghe bọn bây đấu hót bừa bãi mà cả hai cười muốn bể bụng, muốn tróc mỡ sa ra. Tao lại mắc tiểu. Nhưng ông Tiên cản tao lại để có thể tiếp nghe câu chuyện tụi bây. Trời ơi, tao nín đái, bọng đái căng phồng muốn bể như cái pháo chuột đây nè. Mấy tên này nên tìm gánh hát gia nhập làm hề là phải hơn.

    LDV: Thế kỷ gần đây rất nhiều văn nghệ sỹ nổi tiếng trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đã có những hành động công khai và cởi mở hơn về khuynh hướng tính dục của họ và điều này đã khuyến khích sự đồng thuận và cái nhìn thấu hiểu ngày một khoan dung của xã hội về khuynh hướng đồng tính. Theo ông, những người nắm giữ sự ái mộ đặc biệt của công chúng có trách nhiệm hướng dẫn dư luận vào lối suy nghĩ bình đẳng hơn trong những nan đề xã hội không?

    HTA: Tôi ra hải ngoại vào năm 1977. Tôi có đọc được vài quyển hồi ký cũa các cây bút gay như hồi ký của kịch tác gia Tennessee Williams, hồi ký của Gore Vidal, hồi ký đại minh tinh điện ảnh Pháp là Jean Marais mà tôi còn nhớ cái tựa là Histoire de Ma Vie (Lịch Sử Đời Tôi). Ngoài ra, nhà văn Renaud Camus và nhà văn Tony Duvert có cho xuất bản quyển nhật ký của mình công khai bày tỏ những mối tình và những cuộc liên hệ xác thịt của mình với kẻ đồng phái tính. Còn nhà văn Pháp Dominique Fernandez qua cuốn L’Étoile Rose (Ngôi Sao Hường) cũng không giấu giếm khuynh hướng đồng tính dục của mình. Quyển L’Étoile Rose đã làm cho hàng triệu độc giả Pháp và độc giả các nước nói tiếng Pháp cảm thương cho dân gay bị bọn Đức Quốc Xã giam trong những trại trừng giới, bị xâm ngôi sao hường trên trán, bị đọa đày dã man. Lại nữa, tôi có đọc cuốn hồi ký của nhà văn nữ lừng danh xứ Pháp là Françoise Sagan. Tôi rất cảm phục bà ta ở chỗ dám chia sẻ cảm thông với tâm sự các nghệ sĩ gay. Bà ta viết về kịch tác gia kiêm văn gia Tennessee Williams kết bạn với nữ sĩ Carson Mc Cullers. Ông chồng bà Carson Mc Cullers tự tử vì khám phá ra mình là gay. Bà ta xuống tinh thần, bị suy nhược thần kinh. Ông Tennessee Williams và anh chàng tình nhân ông ta săn sóc bà. Rồi ông ta đưa bà ta sang Ý viếng thăm nữ tài tử Anna Magnani. Tại đây ngôi sao điện ảnh hàng đầu nước Ý này cùng anh tình nhân trẻ tuổi của mình săn sóc người nữ văn gia bất hạnh kia. Tình bạn giữa Tennessee Williams và Anna Magnani cũng rất gắn bó keo sơn. Nhờ cuốn phim Le Rose Tatouée phỏng theo vở kịch cùng tựa của Tennessee William mà Anna Magnani đoạt giải Oscar một cánh vinh quang. Từ đó, cả hai thân thiết nhau. Lại nữa, cô Vân chắc cũng biết qua nữ minh tinh Hoa Kỳ Elizabeth Taylor có 3 người bạn gay thân thiết đã từng đóng phim chung với cô ta là Montgomerry Clft, Rock Hudson, Roddy Mac Dowall. Cô ta giúp do họ vật chất lẫn tinh thần. Khi Rock Hudson chết vì bịnh AIDS, Liz Talor lập ra hội giúp đỡ dân bị séro-positif lẫn dân bắt đầu vào thời kỳ bịnh AIDS bắt đầu phát tác trên hoàn vũ.

    Theo tôi, những nhà nghệ sĩ thuộc giới sáng tác bất kỳ trên xứ sở nào cũng không cần phải e ngại kẻ thưởng ngoạn giảm sút sự ái mộ của mình khi những kẻ dó biết họ là gay. Các nhà văn lừng danh trên thế giới như André Gide, François Mauriac, Jean Cocteau, Gore Vidal… vẫn được độc giả ủng hộ và ái mộ như thường. Bên sáng tác nhạc có Tchaikowski, bên hội họa có Michel Ange, Léonard de Vinci tới nay văn phẩm, nhạc phẩm lẫn họa phẩm của họ vẫn được hậu thế truyền tụng.

    Những kẻ được quần chúng ái mộ nên đóng góp vào công việc đập tan thành kiến tiêu cực về vụ đồng tính luyến ái, giúp họ sống tự nhiên theo căn tính, theo khuynh hướng luyến ái và sở thích tình dục của họ. Rúng ép, cưỡng bách họ theo bản tính và sự ưa thích của mình tức là làm trái với cái ĐỨC theo quan niệm của Lão Tử, tức là sống theo bãn tính tự nhiên của mình. O ép họ hoặc khiên cưỡng họ sống theo người yêu kẻ khác phái tính là một điều trái tự nhiên, phản khoa học, lại còn độc ác bất nhân. Françoise Sagan, Mae West, Liz Taylor là những người biết sống vì biết thông cảm những kẻ muốn sống tự nhiên theo bản tính nhưng lại bị xã hội đầy những kẻ đầu óc hẹp hòi nguyền rủa, lên án và ngăn cấm.

    LDV: Chúng ta đã làm được gì và cần làm thêm những gì để đẩy lùi những sự phân chia kỳ thị giới tính?

    HTA: Chỉ cầu mong cho mọi người hiểu rằng đồng tính luyến ái là cái sở thích bẩm sinh, chứ không phải là cái căn bịnh do xã hội tạo ra. Có kẻ bảo rằng người đồng tính luyến ái là do trong người đương sự có những cái gènes (mầm mống) tạo cho đương sự cái khuynh hướng yêu người đồng phái. Dù tôi không nắm vững vấn đề nầy, nhưng tôi không bao giờ để cho Ông Trời hay nhà khoa học hay nhà tâm ly học hoặc nhà phân tâm học nào chữa trị tôi trở thành người đàn ông bình thường. Tôi rất hạnh phúc được làm chàng gay.

    Để đẩy lùi sự phân chia giới tính, người đồng tính luyến ái phải tỏ ra có tư cách. Trước hết đừng ve vãn cọ quẹt với những người không phải là gay như mình. Đừng tỏ ra âu yếm quá lố với người tình của mình trước công chúng hoặc làm trò õng ẹo nữ tính. Có vậy các nhà soạn kịch, các nhà viết kịch bản không viết tuồng hát hay viết truyện phim phơi bày cái lố lăng của bọn gay ra. Như thế, bọn gay chúng tôi mới tránh khỏi bị họ vẽ vời qua những đường nét biếm họa lố lăng. Phải sống như người bình thường. Đừng mặc cảm, có vậy mới hóa giải đươc một phần lớn sự phân chia gới tính của kẻ dị tính luyến ái. Còn những người dị tính luyến ái nào vốn thiếu tấm lòng thông cảm bao dung phải tìm hiểu vì sao thời buổi này vấn đề đồng tính luyến ái được một vài nước nới lỏng, không bị ngăn cấm gắt gao. Đó có phải là cái kết quả tích cực của biết bao công việc nghiên cứu của các nhà tâm lý học, nhà phân tâm học, nhà xã hội học, nhà nhân chủng học, nhà sinh lý học, nhà tình dục học v.v… Dần dần họ mới khám phá cái bí nhiệm của kẻ đồng tính luyến ái và đi đến kết luận tích cực như sau: đồng tính luyến ái không phải là cái bệnh, cũng không phải là tật xấu mà là một trạng thái tâm lý học lẫn sinh lý học như bao nhiêu trạng thái muôn màu muôn vẻ của con người sống trên trái đất này.

    LDV: Ông có tin vào tầm ảnh hưởng lớn của văn chương không? Ông có tin nó có thể giúp chúng ta xóa bỏ những ranh giới khác biệt giữa người và người không?

    HTA: Có chứ cô Vân. Hồi 2 thập niên 30 và 40, văn hào André Gide dám phô bày cái đồng tính luyến ái của mình qua nhiều văn phẩm có giá trị nghệ thuật nên một thiểu số dân Pháp chẳng những không buộc tội bọn gay mà còn đặt lại vấn đề để tìm hiển dân gay sâu xa hơn. Tôi còn nhớ khi nhà đạo diễn James Ivory thực hiện cuốn phim Maurice phóng tác theo tác phẩm cùng tựa của E.M. Forster, khán giả Pháp đến xem chật rạp. Đa số dều chia sẻ tâm sự chàng Maurice do James Wilby đóng. Vào năm 2005, khi cuốn phim Le Secret de Brokeback Mountain của Ang Lee tung ra cũng được giới thưởng ngoạn ủng hộ nồng nhiệt. Đọc những quyển sách của ông André Gide, của ông Robert Peyrefitte (chẳng hạn như quyển Les Amitiés Particulièrs/Tình Bạn Kỳ Đặc) hoặc xem những cuốn phim mà tôi vừa kể thì kẻ thưởng ngoạn phải suy nghĩ và đặt lại vấn đề kỳ thị dân gay chứ! Nên tôi mãi tin, văn chương có tầm ảnh hưởng đáng kể.

    LDV: Với tư cách là một nhà văn và một người trong cuộc, ông có những lời khuyên nào cho những ai vẫn còn chưa tìm được sự bình an trong tâm hồn về định hình giới tính của riêng họ?

    HTA: Mình hạnh phúc hay không là do chính mình. Mình phải thành thật với chính mình, phải xem xét hoài bão và nguyện vọng của mình để tìm một lối sống riêng biệt cho mình với điều kiện mình không làm mất lòng ai, không dẫm chân và phóng uế vào đời tư kẻ khác. Mình phải chủ trương đời mình miễn sao đừng làm hại kẻ khác. Tôi xin nhấn mạnh những gì tôi đã phô bày, cạn tỏ mình nên sống bằng cuộc đời của mình, đừng sống bằng đời của kẻ khác. Đó là sống theo cái ĐỨC. Sống bằng đời kẻ khác, hoặc sống tuân theo luật lệ xã hội một cách khít khao mà không để một khe hở nhỏ nhoi cho ánh nắng tượng trưng cho sự tự do, cho sự quyền biến, cho sự cảm thông lọt vào thì cuộc sống của mình trở nên lệch lạc nếu không bảo là què quặt tật nguyền.

    LDV: Xin trân trọng cảm tạ nhà văn Hồ Trường An đã dành cho độc giả những tâm sự hết sức cá nhân và lòng chân thật đáng quý trong cuộc nói chuyện này.

    *Ảnh trên: nhà văn HTA vào năm 1991. Ảnh dưới – nhà văn HTA vào năm 2008.

  • Tác giả

    Cuộc đời và sự nghiệp của nhà thơ Hàn Mặc Tử

    Số phận của một thi nhân tài hoa bạc mệnh

    https://nhacxua.vn/cuoc-doi-va-su-nghiep-cua-nha-tho-han-mac-tu-so-phan-cua-mot-thi-nhan-tai-hoa-bac-menh/

    Nhà thơ Hàn Mặc Tử là một trong những tên tuổi nổi bật trong thi đàn Việt Nam thế kỷ 20, là người khởi đầu cho dòng thơ lãng mạn hiện đại Việt Nam.

    Hàn Mặc Tử tên thật là Nguyễn Trọng Trí, được sinh ra trong một gia đình có 8 người con được đặt tên rất ý nghĩa là: Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín, Hiếu, Hiền, Thảo. Tổ tiên của ông là họ Phạm, nhưng do liên quan đến quốc sự bị truy nã nên đổi thành họ Nguyễn.

    Hàn Mặc Tử mang vóc mình ốm yếu, tính tình hiền từ, giản dị, hiếu học và thích giao du bè bạn trong lĩnh vực văn thơ. Do cha ông là Nguyễn Văn Toản làm thông ngôn, ký lục nên thường di chuyển nhiều nơi, nhiều nhiệm sở, nên dù được sinh ra ở Quảng Bình nhưng Hàn Mặc Tử đã theo học ở nhiều trường khác nhau như Sa Kỳ (1920), Quy Nhơn, Bồng Sơn (1921–1923), Pellerin Huế (1926).

    Hàn Mặc Tử có tài năng làm thơ từ rất sớm khi mới 16 tuổi, từng có duyên gặp gỡ Phan Bội Châu và chịu ảnh hưởng khá lớn của chí sĩ này. Sau này, ông nhận một suất học bổng đi Pháp nhưng vì quá thân với Phan Bội Châu nên đành đình lại. Hàn Mặc Tử quyết định vào Sài Gòn lập nghiệp, năm ông 21 tuổi; lúc đầu làm ở Sở Đạc Điền.

    Đến Sài Gòn, ông làm phóng viên phụ trách trang thơ cho tờ báo Công luận. Khi ấy, Mộng Cầm ở Phan Thiết cũng làm thơ và hay gửi lên báo. Hai người bắt đầu trao đổi thư từ với nhau, và ông quyết định ra Phan Thiết gặp Mộng Cầm. Một tình yêu lãng mạn, nên thơ nảy nở giữa hai người.

    Theo gia đình Hàn Mặc Tử thì vào khoảng đầu năm 1935, họ đã phát hiện những dấu hiệu của bệnh phong trên cơ thể ông. Tuy nhiên, ông cũng không quan tâm vì cho rằng nó là một chứng phong ngứa gì đó không đáng kể. Cho đến năm 1936, khi ông được xuất bản tập “Gái Quê”, rồi đi Huế, Sài Gòn, Quảng Ngãi, vào Sài Gòn lần thứ hai, được bà Bút Trà cho biết đã lo xong giấy phép cho tờ Phụ nữ tân văn, quyết định mời Hàn Mặc Tử làm chủ bút, bấy giờ ông mới nghĩ đến bệnh tật của mình. Nhưng ý ông là muốn chữa cho dứt hẳn một loại bệnh thuộc loại “phong ngứa” gì đấy, để yên tâm vào Sài Gòn làm báo chứ không ngờ đến một căn bệnh nan y. Năm 1938 – 1939, Hàn Mặc Tử đau đớn dữ dội. Tuy nhiên, ở bên ngoài thì không ai nghe ông rên rỉ than khóc. Ông chỉ gào thét ở trong thơ mà thôi. Trước ngày Hàn Mặc Tử vào trại phong Quy Hòa, Nguyễn Bá Tín, em ruột của nhà thơ cho biết tình trạng bệnh tật của anh mình như sau: Da anh đã khô cứng, nhưng hơi nhăn ở bàn tay, vì phải vận dụng sức khỏe để kéo các ngón khi cầm muỗng ăn cơm. Bởi vậy, trông như mang chiếc “găng” tay bằng da thô. Toàn thân khô cứng.

    Ông Nguyễn Bá Tín, trong một chuyến thăm Bệnh viện Quy Hòa, có đến thăm bác sĩ Gour Vile – Giám đốc Bệnh viện Quy Nhơn. Bác sĩ nói rằng: Bệnh cùi rất khó phân biệt. Giới y học (thời đó) chưa biết rõ lắm. Tuy triệu chứng giống nhau, nhưng lại có nhiều thứ. Ông bác sĩ quả quyết bệnh cùi không thể lây dễ dàng được. Nhiều thông tin cho rằng, một hôm Hàn Mặc Tử đi dạo với bà Mộng Cầm ở lầu Ông Hoàng (Phan Thiết), qua một cái nghĩa địa có một ngôi mộ mới an táng thì gặp mưa. Bỗng ông phát hiện ra từng đốm đỏ bay lên từ ngôi mộ. Sau đó ông về nhà nghỉ, để rồi sớm mai ông phát hiện ra mình như vậy. Đó là căn bệnh do trực khuẩn Hansen gây nên.

    Thời đó, vì thành kiến sai lầm rằng đây là căn bệnh truyền nhiễm nên bệnh nhân thường bị hắt hủi, cách ly, xa lánh, thậm chí bị ngược đãi. Hàn Mặc Tử cũng không là ngoại lệ. Lúc này, gia đình ông phải đối phó với chính quyền địa phương vì họ đã hay tin ông mắc căn bệnh truyền nhiễm, đòi đưa ông cách ly với mọi người. Sau đó gia đình phải đưa ông trốn tránh nhiều nơi, xét về mặt hiệu quả chữa trị là phản khoa học vì lẽ ra phải sớm đưa ông vào nơi có đầy đủ điều kiện chữa trị nhất lúc bấy giờ là Bệnh viện phong Quy Hòa. Trong câu chuyện với người em của thi sĩ Hàn Mặc Tử, bác sĩ Gour Vile cũng nói rằng kinh nghiệm từ các trại cùi, không có bệnh nhân nào chỉ đau có từng ấy năm mà chết được. Ông trách gia đình Hàn Mặc Tử không đưa nhà thơ đi trại phong sớm. Bác sĩ cho rằng, Hàn Mặc Tử qua đời do nội tạng hư hỏng quá nhanh vì uống quá nhiều thuốc tạp nham của lang băm trước khi nhập viện phong Quy Hòa.

    Ông bỏ tất cả quay về Quy Nhơn vào nhà thương Quy Hòa (20 tháng 9 năm 1940) mang số bệnh nhân 1.134 và từ trần vào lúc 5 giờ 45 phút rạng sáng 11 tháng 11 năm 1940 tại đây vì chứng bệnh kiết lỵ, khi mới bước sang tuổi 28.

    Cuộc đời Hàn Mặc Tử có duyên với 4 chữ Bình: sinh tại Quảng Bình, làm báo Tân Bình, có người yêu ở Bình Thuận và mất tại Bình Định. Ông được biết đến với nhiều mối tình, với nhiều người phụ nữ khác nhau, đã để lại nhiều dấu ấn trong văn thơ của ông – có những người ông đã gặp, có những người ông chỉ giao tiếp qua thư từ, và có người ông chỉ biết tên như Hoàng Cúc, Mai Đình, Mộng Cầm, Thương Thương, Ngọc Sương, Thanh Huy, Mỹ Thiện.

    https://youtu.be/21tXsK0qnpg

    Trong âm nhạc, ca khúc nổi tiếng nhất viết về cuộc đời của thi sĩ Hàn Mặc Tử chính là ca khúc mang tên Hàn Mặc Tử của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh, nổi tiếng qua tiếng hát Trúc Mai cả trước và sau năm 1975. Trước khi mất vài năm, nhạc sĩ Trần Thiện Thanh đã về nước và xây lại một ngôi mộ tươm tất cho người thi sĩ tài hoa bạc mệnh đó.

    Hàm Mặc Tử làm thơ từ năm 16 tuổi lấy hiệu là Phong Trần rồi Lệ Thanh. Đến năm 1936, khi chủ trương ra phụ trương báo Saigon mới đổi hiệu là Hàn Mạc Tử, sau ông lại đổi thành Hàn Mặc Tử. “Hàn Mạc Tử” nghĩa là chàng trai đứng sau bức rèm lạnh lẽo, trống trải. Sau đó bạn bè gợi ý ông nên vẽ thêm Mặt Trăng khuyết vào bức rèm lạnh lẽo để lột tả cái cô đơn của con người trước thiên nhiên, vạn vật. “Mặt Trăng khuyết” đã được “đặt vào” chữ “Mạc” thành ra chữ “Mặc”. Hàn Mặc Tử có nghĩa là “chàng trai bút nghiên”.

  • Tác giả,  Thơ

    NHỚ AI BUỒN NGẤT TRÊN VAI ÁO

    NHỚ AI BUỒN NGẤT TRÊN VAI ÁO
    MƯA Ở ĐÂU VỀ NHƯ VẾT THƯƠNG

    Phương Tấn

    Nhà thơ NGUYỄN ĐỨC BẠT NGÀN mất ở Canada ngày 27.9. 2019. Nhà thơ DU TỬ LÊ mất ở Mỹ ngày 7.10.2019. Nhà thơ TRẦN TUẤN KIỆT mất ở Việt Nam ngày 8.10.2019. Các anh nối nhau rời bỏ chúng ta. Sự ra đi đột ngột của các anh làm tôi sửng sốt, tiếc thương, buồn rũ rượi và đỗ bệnh suốt tháng nay.

    1.
    * Anh NGUYỄN ĐỨC BẠT NGÀN từ Canada qua Cali thăm tôi vào đầu tháng 8 năm 2018. Buổi gặp gỡ thân mật hôm đó còn có các nhà thơ, nhà văn, nhà báo Hà Nguyên Du, Nguyễn Lương Vỵ, Trịnh Y Thư, Phan Tấn Hải, Lê Giang Trần. Không những tôi thích thơ Nguyễn Đức Bạt Ngàn vì thơ anh gần như là hơi thở, là sự sống khổ lụy của tôi mà tôi còn thích nhân cách của anh. Anh bộc bạch: “Thơ đến với tôi như ám chướng, viết vì không thể không viết”. Anh làm thơ trước 1975, đăng thơ khá nhiều, các tác phẩm của anh được lưu trữ tại Thư viện Quốc gia Canada. Anh định danh qua tài năng thi ca của anh chứ không định danh qua hội nhóm hay hình bóng người khác. “An Vi” là một trong vài bài thơ cuối cùng anh viết trước khi mất: “Em phơi phới trên bốn mùa thanh vắng / nhen lửa tình hong ấm cõi âm ti / anh là gió nên trọn đời thức trắng / giữa ta bà tâm hớn hở an vi.”

    2.
    * Anh DU TỬ LÊ và tôi thân nhau từ năm 1962 lúc anh còn ở ngã Bảy, Chợ Lớn. Tôi, anh Du Tử Lê, họa sĩ Phan Ngọc Diên, họa sĩ Động Đình Hồ thường gặp nhau và chúng tôi cũng thường kéo nhau ăn cơm trưa bình dân ở góc đường Lý Thái Tổ – Phan Thanh Giản. Anh Du Tử Lê có nụ cười hiền lành, dễ thương và sống rất thật với anh em. Anh cộng tác trong các tạp chí văn nghệ mà tôi phụ trách.

    Tôi nhớ nhất một kỷ niệm vào khoảng năm 1971, một hôm anh Du Tử Lê bảo tôi cho nhà văn Thế Nguyên, chủ nhiệm bán nguyệt san Trình bầy một bài thơ để đăng trong tuyển tập do Trình bầy chủ trương. Tôi trao bài thơ 5 chữ cho anh Du Tử Lê. Vài hôm sau, anh Du Tử Lê gặp tôi nói anh Thế Nguyên đề nghị tôi sửa 2 câu. Tôi viết: “Bộ đội ôm mìn cốt / Trên thân xác buồn xo”, sửa thành: “Quân đôi ôm mìn cốt / Trên thân xác buồn xo”. Tôi không đồng ý sửa và xin không đăng bài thơ này. Không lâu sau, tôi biết Trình bầy là một tạp chí khuynh tả và nhà văn Thế Nguyên là ai? Gần đây, trong bữa cơm trưa cùng anh Du Tử Lê và họa sĩ Phan Ngọc Diên trên đất Mỹ, tôi kể kỷ niệm xưa cho anh nghe. Anh cười vẫn nụ cười thật hiền: “Mình nhớ. Bài thơ thật hay!” Thỉnh thoảng tôi có gửi thơ đăng trên trang dutule.com của anh và mới đây, ngày 2 tháng 10 anh có đăng bài viết của nhà thơ Nguyễn Nhã Tiên viết về “Lục bát Phương Tấn”, tôi chưa kịp cám ơn anh thì anh đã mất.

    Sáng Chủ Nhật ngày 27 tháng 10 năm 2019, tôi đến chia tay anh Du Tử Lê trước giờ anh đi xa, thật xa. Tôi ngồi nghe những phát biểu thâm tình cùng những tiếng hát được phổ nhạc từ thơ Du Tử Lê của các anh chị văn nghệ sĩ quá quen tên: Doãn Quốc Sĩ, Nhã Ca, Vũ Thành An, Từ Công Phụng, Kiều Chinh, Trịnh Cung, Lệ Thu, Đỗ Quý Toàn, Trúc Hồ… 4 giờ chiều. Tôi tiễn anh Du Tử Lê đến tận mộ và gửi xuống lòng đất cùng anh một bông hoa hồng trắng. Trời trở lạnh và gió nhiều như sắp mưa. Tôi chợt nhớ hai câu thơ của anh: “Nhớ ai buồn ngất trên vai áo. Mưa ở đâu về như vết thương”.

    3.
    * Anh TRẦN TUẤN KIỆT với tôi rất thâm tình. Trên “Tạp chí Phổ Thông Xuân 1962” của nhà báo Nguyễn Vỹ kèm theo mỗi bài viết hay sáng tác là một ảnh chân dung của cộng tác viên của tạp chí. Năm ấy, tôi vừa 16 tuổi, nhỏ tuổi nhất và học thấp nhất bên cạnh các nhà văn, nhà thơ, nhà báo… tên tuổi lừng lẫy cả trong nước và ngoài nước. Cũng từ sự mến mộ, sau này khi du học 2 năm tại Hoa Kỳ, nhà báo Nguyễn Vỹ đã mời tôi phụ trách chuyên mục “Lá Thư Hải Ngoại”.

    Thời gian này, anh Trần Tuần Kiệt gần như là “người nhà” của tạp chí Phổ Thông, tuần báo Thằng Bờm và nhật báo Dân Ta của nhà báo Nguyễn Vỹ nên tôi rất thân với anh. Tôi hay đến nhà anh ở khu vườn Chuối, quận 3 ăn cơm trưa. Anh là dân Nam Bộ, hết sức dễ thương, sống nghèo nhưng thật giàu tình nghĩa với mọi người. Sau năm 1975, anh dời nhà về Hàng Xanh, đường Xô Viết Nghệ Tĩnh, tôi vẫn thường ghé trò chuyện văn thơ và lấy bài viết về võ thuật của anh cho tạp chí võ thuật mà tôi phụ trách.

    Trong một lần từ Mỹ về, tôi không còn nhớ địa chỉ nhà anh nên mãi miết tìm kiếm trong các hẽm khu Hàng Xanh, đường Xô Viết Nghệ Tĩnh nhưng không được. Khi trở về Mỹ, tôi vui mừng nhận được địa chỉ của anh nhưng chưa kịp gặp lại anh thì anh đã mất. Vâng, bây giờ: “Thánh thần Tiên Phật xa rồi / Lấy ai bằng hữu giữa trời vân du” như thơ của anh đã viết. Anh Trần Tuấn Kiệt ơi, thương quá!

    PHƯƠNG TẤN
    (30-10-2019)

    Image may contain: 6 people, people sitting and outdoor

    @ PHƯƠNG TẤN – nhà thơ HÀ NGUYÊN DU – nhà thơ NGUYỄN ĐỨC BẠT NGÀN – nhà văn TRỊNH Y THƯ – nhà thơ NGUYỄN LƯƠNG VỴ – nhà báo PHAN TẤN HẢI – nhà văn LÊ GIANG TRẦN.
    Image may contain: one or more people and text
    Nhà thơ DU TỬ LÊ ký tặng PHƯƠNG TẤN tuyển tập thơ DU TỬ LÊ (1957 – 2013).
    Image may contain: 8 people, people smiling, people standing
    PHƯƠNG TẤN cùng nhà thơ DU TỬ LÊ và các nhà văn, nhà thơ, nhà báo ĐẶNG PHÚ PHONG – HẠ QUỐC HUY – PHẠM QUỐC BẢO – NGUYỄN LƯƠNG VỴ… tại nhật báo NGƯỜI VIỆT.
    Image may contain: 2 people, people smiling, indoor
    PHƯƠNG TẤN TRONG TANG LỄ NHÀ THƠ DU TỬ LÊ SÁNG NGÀY 27-10-2019 TẠI WESTMINSTER, CALIFORNIA, USA.

    Theo FB

  • Tác giả

    Vĩnh biệt Du Tử Lê, ngôi sao của thơ cách tân và hoà giải

    Vĩnh biệt Du Tử Lê, ngôi sao của thơ cách tân và hoà giải

    Bùi Văn Phú

    Một sao sáng trên bầu trời thi ca Việt Nam vừa vụt tắt. Nhà thơ Du Tử Lê đã qua đời tối thứ Hai 7/10/2019 tại Quận Cam, California.

    Nhắc đến Du Tử Lê, giới văn học nghệ thuật nhớ đến một thi sĩ có sáng tác trải dài hơn 60 năm, từ quê nhà ra đến hải ngoại. Ông bắt đầu làm thơ khi tuổi mới hơn mười và có sáng tác đầu tay được đăng trên tạp chí văn học Mai năm 1958, lúc 16 tuổi với bút danh Du Tử Lê. Năm 1973 ông đoạt giải Văn học Nghệ thuật Toàn quốc Việt Nam Cộng hoà thể loại thi ca, với tập thơ “Thơ tình Du Tử Lê 1967-1972”

    Rời nước trong biến cố 30/4/1975, nhà thơ đến Mỹ định cư tại Quận Cam, California cho đến ngày qua đời.

    Một trong những bài thơ đầu tiên trong đời tị nạn, ông viết từ trại Camp Pendleton:

    “em đâu biết tôi có những giấc mơ
    buổi sáng, camp Pendleton, xếp hàng, đợi bữa
    có rất nhiều chuyến xe buýt miễn phí
    nối liền Processing Center với Trại Một
    người con gái ốm o ngồi cùng băng ghế
    hỏi có phải tôi là người mới tới, vài hôm…”

    Trước đó, năm 1969 Du Tử Lê đã đến Mỹ tu nghiệp về báo chí. Thời gian xa nhà ông có những vần thơ mang cảm giác xa lạ nơi xứ người:

    “đến đây nắng cũng lạ người
    chân đi dưới phố hồn ngồi tháp cao
    tôi như quái vật chốn nào
    ngu ngơ lỡ lạc bước vào cõi âm
    rùng rùng những bóng dã nhân
    đi qua, đi lại bước chân ngoài đời
    bỗng thèm khát một tiếng thôi
    bỏ tiền vào máy nghe lời chào ông”

    [Hai bài lục bát ở quê người, San Francisco 10-69]

    Khi đó quanh nhà thơ không có ai nói cùng ngôn ngữ. Mấy năm sau, nơi ông định cư ở miền Nam California, có đông đồng hương, nhưng ông đã thật sự phải sống đời lưu vong.

    Ông tiếp tục làm thơ và làm báo. Tờ Tay Phải, tờ Nhân Chứng do ông chủ trương. Nhiều báo khác như Việt Nam Hải Ngoại, Quê Hương phát hành ở Nam California trong những năm đầu của cộng đồng người Việt tị nạn đều có đăng sáng tác của ông.Ông tiếp tục làm thơ và làm báo. Tờ Tay Phải, tờ Nhân Chứng do ông chủ trương. Nhiều báo khác như Việt Nam Hải Ngoại, Quê Hương phát hành ở Nam California trong những năm đầu của cộng đồng người Việt tị nạn đều có đăng sáng tác của ông.

    Thơ của ông là những hoài niệm về một nơi chốn cũ. Nhớ bạn bè, những con đường cũ, lớp học xưa. Đêm về nhìn trăng quê người mà nhớ:

    “…đêm về theo bánh xe qua
    nhớ tôi Xa Lộ nhớ nhà Hàng Xanh
    nhớ em kim chỉ khứu tình
    trưa ngoan lớp học chiều lành khóm tre
    nhớ mưa buồn khắp Thị Nghè
    nắng Trương Minh Giảng lá hè Tự Do
    nhớ nghĩa trang quê bạn bè
    nhớ pho tượng lính buồn se bụi đường
    đêm về theo vết xe lăn
    tôi trăng viễn xứ, sầu em bến nào?

    [Đêm, nhớ trăng Sài Gòn, 1978]

    Văn nghệ sĩ miền Nam bỏ nước ra đi khi đó đều mang trong lòng nỗi nhớ bất tận về quê cũ. Nó càng xoáy sâu khi ít có thông tin từ bên nhà. Gần như tuyệt vọng vì sẽ không có ngày về, Du Tử Lê mường tượng ra ngày qui cố hương, là sau khi chết:

    “Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
    đời lưu vong không cả một ngôi mồ
    vùi đất lạ thịt xương e khó rã
    hồn không đi sao trở lại quê nhà

    Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
    nước ngược dòng sẽ đẩy xác trôi đi
    bên kia biển là quê hương tôi đó
    rặng tre xưa muôn tuổi vẫn xanh rì…

    Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
    và trên đường hãy nhớ hát quốc ca
    ôi lâu quá không còn ai hát nữa
    (bài hát giờ cũng như một hồn ma)

    Khi tôi chết nỗi buồn kia cũng hết
    đời lưu vong tận tuyệt với linh hồn.

    [Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển, 12-1977]

    Đó là cách ông đã mơ một ngày được trở về quê hương.

    Nhưng phải mấy chục năm sau ước mơ đó mới thành hiện thực. Năm 2014 thi sĩ Du Tử Lê bằng xương thịt và còn sống đã về lại quê hương cùng lúc với gia sản tinh thần của ông được Nxb. Hội Nhà văn cho in trong nước. Ông đã gặp Hoàng Cầm, Nguyễn Trọng Tạo, đã có những buổi nói chuyện về thơ, giao lưu cùng bạn đọc yêu thích thơ của ông.

    Với hoàn cảnh đất nước như hiện tại, khi chính quyền vẫn muốn định hướng suy nghĩ của người dân và kiểm soát chặt chẽ việc in ấn, xuất bản thì những giao tiếp giữa văn nghệ sĩ trong và ngoài nước còn nhiều giới hạn và những chuyến trở về của văn nghệ sĩ Việt Nam Cộng hoà luôn tạo nên dư luận. Trường hợp Du Tử Lê cũng không là ngoại lệ vì ông từng là một đại úy tâm lý chiến, từng là phóng viên chiến trường, là thư ký nguyệt san Tiền Phong của Quân lực Việt Nam Cộng hoà. Trước những chỉ trích, kể cả việc sửa thơ để có cớ tấn công, ông chọn sự im lặng.

    Du Tử Lê đã có ý tưởng hoà giải hoà hợp với văn nghệ sĩ quê nhà từ khi ông đưa thơ của mình vào tập “Two Rivers: new Vietnamese writing from America and Vietnam” [Uni. Of Hawaii Press, 2002] do Frank Stewart là chủ biên, với sự đồng biên tập của Kevin Bowen và Nguyễn Bá Chung. Tập thơ văn này có sáng tác của Hữu Thỉnh, Lâm Thị Mỹ Dạ, Nguyễn Minh Châu từ trong nước và hải ngoại có Mai Thảo, Đỗ Kh., Phan Nhiên Hạo, Đinh Linh, Barbara Trần, Nguyễn Quí Đức v.v…

    Thơ Du Tử Lê đã xuất hiện trong nhiều sách, tập san thơ và báo tiếng Anh ở Mỹ, như trong tác phẩm “Understanding Vietnam” của Neil J. Jamieson [Uni. of California Press, 1993], trong “World Poetry – An Anthology of Verse from Antiquity to Our Time” [Nxb. W.W. Norton, 1998] cùng với năm nhà thơ Việt khác, hay trên các báo New York Times, Los Angeles Times. Ông cũng đã có nhiều dịp đến các đại học Harvard, U.C. Berkeley, CSU Fullerton nói chuyện về thi ca và văn học Việt Nam.

    Người đọc thơ Du Tử Lê rất dễ nhận ra cách làm thơ của ông có những khác lạ. Những vần thơ, và cả văn, của ông viết theo lối mà ông gọi là “cách tân” – không phải là thơ “tân hình thức”.

    Những bài lục bát, một thể loại thơ phổ biến trong dân gian nước Việt, thường theo nhịp 2 đều đặn, như trong Truyện Kiều xưa với hàng nghìn câu hay những vần thơ đương đại của Phạm Thiên Thư: “Rằng xưa có gã từ quan / Lên non tìm động hoa vàng ngủ say”

    Còn lục bát Du Tử Lê ngắt theo lối khác, có thể là 1, 3, 2 cho câu sáu và 3, 1, 4 cho câu tám, bằng dấu phẩy, chấm, hai chấm, ba chấm hay dấu cắt nghiêng nên khi đọc phải chậm lại, ngừng, nghỉ, nghĩ suy:

    “nên, con sông không thi hành
    cát suy thoái, muộn, vơi ghềnh/ thác/ cao/.
    trưa chôn chân: dăm con sào
    bóng toan xuống cấp. thân hồ hởi, can /.”

    [Biển, gương, seattle]

    Hay một đoạn lục bát khác của ông:

    “hàng cây, hàng cây, phương tây /.
    gió: khô góc trái; ngực: lầy dấu đinh /.
    nàng về, nàng về, vai thuôn
    vòm tâm ấn tượng trí cường điệu, khoan /.”
    [phác hoạ Hoa Thịnh Đốn]

    Không phải khi ra hải ngoại thơ Du Tử Lê mới cách tân. Trong những năm đầu sáng tác ông đã có lối ngắt lục bát khác thường:

    Xin em đôi cánh tay mềm
    Một bên nắng…dắt, một bên mưa…dìu

    [Trầm ca tháng Giêng, 1962]

    Trong một lần nói chuyện trên đài truyền hình CaliToday ở miền bắc California cuối năm 2014, ông cho biết năm 1967 ông có gửi những bài lục bát cách tân cho Mai Thảo, lúc đó đang phụ trách tạp chí Văn, và Mai Thảo đã nhận xét rằng những bài thơ của ông không phải là thể thơ lục bát.

    Cách ngắt chữ của ông còn thể hiện trong các thể thơ khác, 5 chữ hay 7, 8 chữ cũng có:

    “mưa chưa đi khuất, ngày chưa tới
    đêm, treo ngược tôi: dấu chấm than!
    mùa hoen đôi mắt, như vừa khóc
    gọi hết tàn phai, gõ một lần.
    .
    trời đem mây xuống neo chân sóng
    gió hú đường bay ngang ngọn cây.
    tử / sinh vốn dĩ như hình / bóng.
    linh hồn nào còn quẩn quanh đây?…”

    [Đêm, treo ngược tôi: dấu chấm than!]

    Thơ Du Tử Lê cũng đã được nhiều nhạc sĩ phổ nhạc: Phạm Đình Chương với “Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển”, “Đêm nhớ trăng Sài Gòn”; Phạm Duy với “Kiếp sau xin giữ lại đời cho nhau”; Từ Công Phụng với “Trên ngọn tình sầu”; Hoàng Quốc Bảo với “Người về như bụi”; Trần Duy Đức với “Chỉ nhớ người thôi đủ hết đời”.

    Được biết đến nhiều nhất là “Khúc Thụy Du” do Anh Bằng phổ nhạc và Quang Dũng đã đưa bài hát lên đỉnh điểm. Đây cũng là ca khúc gây tranh luận, vì nội dung nguyên thủy là một bài thơ dài cả trăm câu, Du Tử Lê viết về thân phận con người trong chiến tranh, ngay sau Tổng Công kích Tết Mậu Thân. Bài thơ đầy máu và nước mắt, nhưng khi chuyển thành ca khúc, nhạc sĩ Anh Bằng chỉ dùng một phần của Đoạn 3 và đưa nó lên thành bản tình ca đầy mộng mị:

    “…tôi làm ma không đầu
    tôi làm ma không bụng
    tôi chỉ còn đôi chân
    hay chỉ còn đôi tay
    sờ soạng tìm thi thể
    quờ quạng tìm trái tim
    lẫn tan cùng vỏ đạn
    dính văng cùng mảnh bom
    thụy ơi và thụy ơi

    đừng bao giờ em hỏi
    vì sao mình yêu nhau
    vì sao môi anh nóng
    vì sao tay anh lạnh
    vì sao thân anh rung
    vì sao chân không vững…”

    [Khúc Thụy Du, 3-68]

    Du Tử Lê tên thật Lê Cự Phách, sinh năm 1942 tại Hà Nam. Di cư vào Nam năm 1954, theo học các trường trung học Trần Lục, Chu Văn An và Đại học Văn khoa Sài Gòn.

    Ông phục vụ trong Quân đội Việt Nam Cộng hoà với cấp bậc sau cùng là Đại úy tại Tổng cục Chiến tranh Chính trị.

    Bà Phan Hạnh Tuyền, vợ của nhà thơ, đưa tin trên Facebook là ông ra đi nhanh và nhẹ nhàng. Chiều hôm đó ông còn ra quán ăn cơm với bạn bè, gần tám giờ ông kêu mệt và được bạn đưa về nhà. Lên giường nằm nghỉ, chỉ ít phút sau thì ông trút hơi thở cuối cùng.

    Mấy năm trước nhà thơ đã trải qua một cuộc phẫu thuật đường ruột và khi đã qua tuổi “thất thập cổ lai hy” ông coi sống được thêm ngày nào là quà tặng (bonus) của trời cho thêm.

    Thi sĩ Du Tử Lê hưởng thọ 77 tuổi và để lại cho đời 77 tác phẩm.

    Sáng tác của ông trước năm 1975 có: “Tình khúc Tháng Mười Một” (1965), “Tay gõ cửa đời” (1967), “Thơ Du Tử Lê 1967-1972”, “Đời mãi ở Phương Đông” (1974).

    Xuất bản ở hải ngoại: “Ở chỗ nhân gian không thể hiểu” (1985-1989) [Tủ sách Văn học Nhân Chứng, 1989], “Đi với về cũng một nghĩa như nhau” (1992), “Chấm dứt luân hồi em bước ra” (1993), “Thơ tình Du Tử Lê” (1996), “Tuyển tập Du Tử Lê 1957-2013” [Nxb. Người Việt, CA]

    Những năm gần đây một số tác phẩm của ông đã được xuất bản trong nước: “Chỉ nhớ người thôi, đủ hết đời” [Cty Văn hoá Cổ phần Phương Nam, 2017], “Mẹ về Biển Đông” [Nxb. Hội Nhà văn Việt Nam, 2017], tập thơ “Khúc Thụy Du” [PhanBook, 2018], truyện dài “Với nhau, một ngày nào” [Saigon Books, 2018].

    Ông còn có những tác phẩm nhận định văn học: “Sơ lược 40 năm văn học nghệ thuật Việt 1975-2015” Tập 1 và 2 [Nxb. Người Việt, CA], “Phác hoạ toàn cảnh sinh hoạt 20 năm VHNT miền Nam 1954-1975” Tập 1 và 2 [HT Productions, CA]

    © 2019 Buivanphu

    Image may contain: one or more people and closeup
    H01: Thi sĩ Du Tử Lê 1942-2019 (Ảnh: Bùi Văn Phú)
    No photo description available.
    Thư của Du Tử Lê gừi Bùi Văn Phú, trưởng Bút nhóm Ý Thức, sinh viên Đại học U.C. Berkeley (Ảnh: Bùi Văn Phú)
    Image may contain: 3 people, people smiling
    Từ phải: Giảng viên Việt ngữ ĐH Berkeley Trần Hoài Bắc, Du Tử Lê cùng vợ Phan Hạnh Tuyền và Jimmy Tiến Phan tại U.C. Berkeley đầu thập niên 2000 (Ảnh: Jimmy Tiến Phan)

  • Tác giả

    DU TỬ LÊ, MỘT CÕI CHO MÌNH

    DU TỬ LÊ, MỘT CÕI CHO MÌNH

    Vũ Thư Hiên

    Tôi kính trọng những nhà thơ. Trong mắt tôi, họ là những người dũng cảm bậc nhất. Hoặc gan lì, cũng bậc nhất luôn.


    Giữa thời thiên hạ tối tối dán mắt vào ti vi, sáng sáng lướt rao vặt trên báo chợ, ngốn tiểu thuyết trinh thám trên xe điện ngầm, trên máy bay… mà vẫn cứ có những nhà thơ, những nhà thơ này vẫn bình tĩnh làm thơ được, mới lạ. Ngó vào số lượng in ở trang cuối mỗi tập thơ lại càng thêm kính phục họ. Các nhà thơ hậu duệ của Beaudelaire, Verlain, Apollinaire, của Goethe, Schiller… đều ngán ngẩm khi nói đến tình trạng thê thảm của sự đọc thơ thời bây giờ – đời thuở nhà ai mà một tập thơ bán được một ngàn bản đã là của hiếm trên đất nước đông đúc bảy tám chục triệu dân cơ chứ. So với họ, các nhà thơ Việt của chúng ta ở hải ngoại còn dũng cảm hơn nhiều. Và cũng may mắn hơn nhiều, nếu so số lượng xuất bản trên tỷ lệ số dân.

    • Dũng cảm gì đâu. – Du Tử Lê cười hiền lành – Không hề. Gàn dở, thì đúng hơn, ông ạ. Khốn nạn, tôi, và tất cả tụi làm thơ chúng tôi, chạy không nổi khỏi nó. Nó là cái nghiệp, là sự chìm đắm vừa đau đớn vừa êm đềm, một thống khoái khó hiểu, đối với nhiều người, không trừ chính kẻ làm thơ…

    Chúng tôi ngồi ở một bàn ngoài của một quán cà phê với một loạt ghế trên hè, rất Paris, ngay trước tượng Thần Tự Do giương cánh trên đài kỷ niệm Bastille. Quán cà phê bình dân này không phải là La Rotonde ở Montparnasse, nơi những danh nhân lịch sử của nước Pháp từng lai vãng, nhưng vào buổi chiều thu ấy cũng đông nghịt, bên trong không còn một bàn trống. Du Tử Lê xuề xoà, nói ngồi ở các bàn ngoài thú hơn, giống ở Sài Gòn hơn. Vừa nhàn nhã nhâm nhi ly expresso, ngắm cảnh xe cộ bá tính tấp nập ồn ào trên quảng trường ghi dấu cuộc cách mạng vĩ đại 1789, vừa bàn về văn chương thơ phú, thật thú vị.


    Hình như các nhà thơ đều hiền lành. Tôi chưa gặp một nhà thơ dữ tợn nào. Những người dữ tợn không làm thơ. Tôi đòi Du Tử Lê đọc một bài thơ mà anh ưng ý hơn cả. Du Tử Lê nhìn tôi như cách người ta nhìn một con quạ trắng.

    Bài nào tôi cũng khoái, nhưng chỉ trong lúc đang làm ra nó thôi. Bài ưng ý nhất là bài mà mình sắp làm cơ, ông ạ.
    Ấy là người đã có một lượng tác phẩm đồ sộ, hơn bốn chục thi phẩm, nếu tôi không nhầm, nói thế. Nhưng chiều tôi, Du Tử Lê ngâm se sẽ vài câu:

    đêm về theo bánh xe qua
    nhớ em Xa Lộ nhớ nhà Hàng Xanh
    nhớ em kim chỉ khứu tình
    trưa ngoan lớp học chiều lành khóm tre
    nhớ mưa buồn khắp Thị Nghè
    nắng Trương Minh Giảng lá hè Tự Do
    nhớ nghĩa trang quê bạn bè
    nhớ pho tượng lính buồn se bụi đường

    đêm về theo vết xe lăn
    tôi trăng viễn xứ, sầu em bến nào…

    Nhớ Sài Gòn khi Paris sống động trước mặt là trúng lắm. Chẳng có nơi nào gợi nhớ những thành phố quê hương bằng Paris. Cách chúng tôi mấy bước là một cái nắp cống bằng gang in hệt những nắp cống trên hè Hà Nội hay hè Sài Gòn, đọc những hàng chữ trên nắp cống mới biết chúng cùng một lò sản xuất. Mấy chiếc lá vàng lềnh bềnh trên dòng nước rãnh dọc hè, y như ở Hà Nội.


    Người đọc biết đến Du Tử Lê không phải với tư cách nhà thơ lục bát truyền thống, hoặc thơ mới các kiểu hàng loạt. Du Tử Lê được thiên hạ biết đến, được nhớ đến, là nhờ những bài thơ không vần với những chấm, phẩy, gạch nối, ngoặc đơn, ngoặc kép và những ký hiệu toán học. Những cái đó là tốt, là xấu, là hay, là dở, tôi không bàn. Trong địa hạt này tôi là kẻ ngoại đạo. Nhưng điều tôi thấy rõ là Du Tử Lê đã và đang làm một cái gì đó chưa từng có. Anh là kẻ khai phá. Cái mà anh đang khai phá rồi đi đến đâu là chuyện về sau. Nhưng ngay bây giờ tôi đã bắt gặp đâu đó những người theo chân anh. Như thế, anh không hề đơn độc.

    như / con sông / sẽ không ra biển!??
    nhan sắc đi / về ngang vết thương.
    thịt / da từng tấc chăm, nuông nghiệp –
    mỗi ngón tay:

    • thơm một nỗi niềm.
      như mưa / nắng / sẽ không cư, ngụ!?!
      lọn tóc xin tình mãi thiếu niên –
      nuôi vai chia nhánh vào ly, biệt…
      thương, nhớ nào xanh(?)
      những mặt bằng!?!!!

    Tôi không hỏi Du Tử Lê vì sao những dấu chéo (/) đặt giữa những chữ như / con sông / sẽ không ra biển…; vì sao giữa từ kép ly biệt lại phải có một dấu phẩy ngăn cách để thành ly, biệt; cũng như tôi không hỏi vì sao sau câu như / con sông / sẽ không ra biển!?? lại có một dấu than với hai dấu hỏi, mà ở câu thương, nhớ nào xanh(?)[xuống dòng] những mặt bằng!?!!! sau một dấu than, một dấu hỏi lại có đến ba dấu than nữa?


    Tôi không hỏi vì không muốn Du Tử Lê phải dằn lòng cắt nghĩa cho tôi rằng thơ là cái để mà cảm, chứ không phải cái để mà lý giải. Trong cái sự cảm ấy, tôi thấy, hoặc tôi lơ mơ hiểu dường như Du Tử Lê muốn dùng những ký hiệu toán học, những dấu biểu cảm ngữ nghĩa như một cách chơi nhạc, để ngắt chữ ngắt câu, để nhấn mạnh, để khêu gợi, để bắt người đọc đi tiếp con đường suy tưởng của/cùng anh (tôi dùng một dấu chéo theo cách Du Tử Lê rồi đấy). Cái “thi tại ngôn ngoại” của Du Tử Lê phong phú, nó gọi ta bước qua những chữ cụ thể để lướt đi xa hơn nữa trong liên tưởng, như từ một nốt nhạc nẩy lên ta nghe vang vọng một toàn hài.


    Cái mà người đọc cảm được, thấy được trong thơ Du Tử Lê là những cảm giác Du Tử Lê cũng là cảm giác của mình, dù đó là những suy tưởng về ý nghĩa thời gian, tình nhân loại, những niềm vui hồn nhiên, những phút buồn vô cớ.

    rất nhiều khi tôi khóc một mình
    những hạt lệ không giúp ai no
    những hạt lệ không làm ai đỡ đói,
    nhưng nó vẫn là những giọt lệ
    chính nó,
    một mình –
    không có tôi đứng cạnh.

    thay vì cloning cho tôi con cừu
    hãy tạo sinh vô tính cho tôi buổi chiều,
    quê cũ.

    một lần trong đời nhau
    đêm, nghìn sâu tiếng gọi
    ngọt ngào gối, chăn đau
    thịt, da gào kiếp mới
    soi mặt gương đời, sau
    giọt máu còn chói lọi

    một lần thân thể nhau
    tôi rạng ngời: địa ngục!?!

    nuốt trọng chính mình, như ngọn lửa
    cháy một tôi: kẻ tự lột da
    nhìn em: chảy máu trong yên, ắng
    nghe giữa bọng cây: rộ đoá hoa.

    Tôi viết: Du Tử Lê không đơn độc trong sáng tạo, trong khai phá một lối đi mới cho chính anh, độc đáo trước hết cho chính anh, không cần ai chấp nhận. Cũng cái cung cách như thế ở trong nước có Dương Tường, một hồn thơ gần gụi với Du Tử Lê. Dương Tường cũng khai thác âm hưởng của những con chữ trong thơ, với những hàm ý không dễ hiểu, và dường như không cần ai hiểu. Dương Tường có những câu thơ thế này:


    tôi nhìn nước Mĩ
    qua mềm mại em phi lí
    chéo
    qua phụ khoa em hơ hớ
    chéo
    qua nhục dục em ngao ngán
    chéo
    qua thân hình em ngạo ngược
    chéo
    qua năng động em vô vọng
    chéo
    qua nụ bè he em bối rối
    chéo

    Có Trời hiểu những chéo in đậm nọ mang nghĩa gì. Trong tập “Thơ Dương Tường” (xuất bản năm 2005) có một câu “chẳng thể nào xuất” với hai gạch chéo hình chữ V nằm ngang (<) đi tiếp chỉ vào hai chữ “tinh” và “thần” để ta có thể đọc theo hai dị bản “xuất tinh” và “xuất thần”, hoặc gộp cả hai lại: “xuất tinh thần”; trông cứ như một công thức cấu tạo phân tử. Có khác gì Du Tử Lê với những ký hiệu toán học đâu.

    Trong tình hình nhiều năm mọi kênh thông tin trong ngoài bị đóng kín, hai người không được đọc thơ của nhau, nhưng Dương Tường và Du Tử Lê đều có những hoài bão khai phá như nhau và lối khai phá khá giống nhau. Về sự sử dụng nhạc tính trong thơ hai người hơi khác nhau chút ít. Có thể nói nếu thơ Du Tử Lê là euphonic thì thơ Dương Tường thiên về cấu trúc dodecaphonic. Dù sao thì ở đây ta cũng thấy hiện tượng những trí lớn gặp nhau.


    Ở đây vấn đề muôn thuở được đặt ra: ở đâu, cái cảm giác chừng mực của sự biểu cảm? Chưa tới thì không được. Một chút quá là hỏng.


    Nhưng với chủ thể của sự sáng tạo Du Tử Lê vấn đề trên bất thành vấn đề. Tôi quen Du Tử Lê chưa đủ lâu để có thể nói rằng tôi hiểu anh thật nhiều. Nhưng tôi dám nói như thế từ những quan sát của mình qua những lần gặp gỡ bao giờ cũng ngẫu nhiên và hồn nhiên.
    Tôi hỏi Du Tử Lê:

    • Khi viết ông có nghĩ tới người sẽ đọc thơ ông không?
    • Hoàn toàn không.
    • Vậy ông nghĩ gì khi làm thơ.
    • Tôi chẳng nghĩ gì cả. Một tứ thơ chợt đến, và tôi cầm lấy bút.

    Thế đấy. Du Tử Lê không làm thơ, có thể hiểu như thế. Thơ tự đến với Du Tử Lê, như cái duyên số phận, có đi tìm cũng không thấy, muốn chế tạo cũng không được. Trong Du Tử Lê mọi điều kiện cần thiết cho thơ đã có sẵn để cho thơ nảy nở. Cái sự khai phá mà tôi nói đến ở trên cũng nằm trong cái duyên ấy, không phải do một ý chí nào. Chính vì vậy mà Du Tử Lê làm thơ không quan tâm đến đối tượng sáng tạo, không cần biết họ hiểu được hay không hiểu, cảm được hay không cảm được.
    Du Tử Lê làm thơ như Du Tử Lê thở, như Du Tử Lê cười, Du Tử Lê khóc, nói tóm lại, như Du Tử Lê sống.


    Trong cõi riêng của mình.

  • Tác giả,  Văn Thơ

    Nhà thơ Ấn độ Tagore

    Có hàm hồ khi nói rằng, Ấn độ chỉ đóng góp cho nhân loại, ngoài 2 bộ sử thi Mahabharata và Ramayana, Kamasutra thì chỉ còn các tác phẩm của Tagore? Tagore không chỉ là đại diện văn hóa tiêu biểu của Ấn Độ, ông còn là nhà thơ châu Á đầu tiên được trao giải Nobel Văn học. Ông sáng tác hơn 2.000 bài hát và sáng tạo nên Rabindra-sangeet – một thể loại âm nhạc Bengal mang tên ông. Vở kịch opera đầu tiên – Valmiki Pratibha – ông sáng tác khi mới 20 tuổi. Truyện ngắn và tiểu thuyết của ông giữ một vị trí quan trọng trong nền văn học Bengal. Và có lẽ ông là nhà thơ duy nhất trên thế giới đã sáng tác quốc ca cho cả hai nước: bài Amar Shonar Bangla cho Bangladesh và Jana Gana Mana cho Ấn Độ.

    Có thể nói, với Tagore, được sống trên đời thực sự là niềm vui cao quí khi ở đó chứa chan tình yêu giữa con người với con người, con người với thiên nhiên. Ông góp phần thức tỉnh nhân dân Ấn Độ ý thức tự do dân chủ khi màn khói sương thần bí của tôn giáo bao phủ đất nước này trong suốt mấy nghìn năm. Những vần thơ của Tagore đã đưa người dân Ấn Độ chủ động đi tìm cái đẹp, hạnh phúc trong cuộc đời. Và cuộc gặp gỡ lịch sử giữa Tagore và Einstein diễn ra vào năm 1930. Khi Einstein hỏi: “Ông có tin vào một đấng linh thiêng tồn tại biệt lập khỏi thế giới?”

    Thi hào đã trả lời: “Tính người vô tận đủ để thấu hiểu cả Vũ trụ. Chẳng có gì nằm ngoài khả năng lĩnh hội của con người, như vậy Chân lý của Vũ trụ cũng là một Chân lý thuộc về con người. Khi vũ trụ hài hòa với Con người, cái vĩnh hằng, ta nhận ra đó là Chân lý, ta cảm thấy đó là cái đẹp. Chân lý vốn được nhận thức bởi con người. Trong mọi trường hợp, nếu có một Chân lý nào đó hoàn toàn không liên quan tới con người, thì đối với chúng ta nó tuyệt đối không tồn tại”. Với Tagore, con người có đủ phẩm tính để tiếp cận Chân lý và do đó đủ tư cách để làm chứng cho tính khách quan ấy.

    Trong niềm ngưỡng vọng, Thượng Đế mang dáng dấp của đấng quyền năng tối cao thần bí xa xôi. Nhưng đối với Tagore, thượng đế không ở đâu xa lạ mà là nguồn vui, nguồn an ủi, là tình yêu thương đã mang lại cho con người khát vọng và niềm vui sống, thân thuộc như ngôi nhà, cũng như đền chùa, trong các lễ hội, sinh hoạt… “Người ở nơi kia, nơi nông dân đang vật lộn cùng đất cứng, nơi công nhân đang xẻ đá làm đường… Người tự buộc mình mãi mãi với chúng ta. Người là bầu trời và cũng là tổ ấm. Ôi người đẹp vô ngần! Nơi ấy, trong tổ ấm tình yêu của người lấy sắc màu, âm thanh, hương thơm, ấp ủ linh hồn.”

    Con người trong sáng tác của Tagore không tìm cách chối bỏ cuộc đời, không rời khỏi cuộc sống nhân sinh để tìm đến sự giải thoát, cõi thanh tịnh, cõi vô cùng. Ngược lại, con người chủ động tìm đến với cuộc đời, chủ động thâm nhập vào cõi đời, khao khát được sống mãi trong hiện thực muôn màu muôn vẻ.

    “Trẻ thơ gặp nhau trên bờ đại dương thế giới mênh mông. Trên cao bầu trời bao la bất động, phía dưới mặt nước nôn nao không ngừng… Trẻ thơ xây nhà bằng cát, chơi đùa với vỏ sò rỗng không. Lấy lá úa kết thành thuyền, trẻ thơ hớn hở thả trên mặt nước thăm thẳm, bao la.”

    “Nàng gần tim tôi như hoa đồng nội cỏ gần đất lành, nàng dịu dàng với tôi như giấc điệp thân thương với tay chân thấm mệt, rã rời. Tình yêu tôi dành cho nàng là cuộc đời tôi sống, tuôn chảy tràn trề như dòng sông mùa thu chảy tuôn phóng túng thảnh thơi. Thơ tôi làm với tình yêu là một, na ná tiếng suối rì rào, nao nao theo sóng vỗ, ngun ngút theo dòng nước chảy trôi.”

    “Có phải trái tim anh đã một mình phiêu du qua bao thời đại qua bao thế giới chỉ để tìm em? Có phải cuối cùng lúc anh tìm được em, niềm khao khát bao năm trong anh đã kiếm yên bình tuyệt đối trong mắt, trên môi, trên suối tóc chảy dài và trong giọng nói dịu dàng của em?”