• Giới thiệu sách,  Văn

    Cô gái Dao đầu hai xoáy tung vó ngựa trời Âu

    Cô gái Dao đầu hai xoáy tung vó ngựa trời Âu

    Phạm Xuân Nguyên

    Một cô gái dân tộc Dao Tuyển ở thôn Ngám Xá, xã Nậm Chạc, huyện Bát Xát (Lào Cai) sát biên giới Việt Trung đã trở thành người đầu tiên trong bản đậu đại học và cũng là người đầu tiên ở xã vùng cao này đi du học châu Âu. Năm 2016, sau khi tốt nghiệp xuất sắc trường Đại học Lâm Nghiệp Việt Nam và đi làm hai năm, cô đã giành được học bổng toàn phần Erasmus Mundus trị giá 50.000 USD đào tạo thạc sĩ ngành quản lý tài nguyên rừng bền vững của Trường đại học Gottingen (Đức) và Trường đại học Padova (Italia). Cuốn sách mang tên “Đường ngược chiều từ bản người Dao đến học bổng Erasmus”. Và tên tác giả là Chảo Yến.

    This image has an empty alt attribute; its file name is Sach-cogai-Dao-hocbong-Eramus-1.jpg

    Đường ngược chiều của Chảo Yến là đi ngược lại những định kiến, quan niệm, thái độ của dân bản, kể cả bố mẹ và những người thân nhất trong họ hàng, gia đình, cho rằng con gái thì không nên học lắm làm gì, con gái người dân tộc thiểu số thì càng không mong học cao vì học sao lại người Kinh. Cô bé đi học sớm tuổi khi được mẹ cho đi theo cùng chị đến trường ngày khai giảng và rồi từ ngày đó, việc học của cô là chuỗi ngày vật lộn với cái sự ăn đói mặc rách và đủ mọi sự thiếu thốn của một gia đình nông dân nghèo vùng cao.

    Hãy nghe cô thạc sĩ hiện nay ở thủ đô kể lại cái ăn của cô bé là mình hồi nhỏ ở quê: “Tôi khai vị bữa sáng bằng lá me rừng, món chính là lá xuyến chi, có hôm đổi sang lá tàu bay cho phong phú. Tôi kết thúc bữa sáng bằng món tráng miệng là lá chó đẻ, có nơi gọi là sam hôi. Tôi chào đón bữa trưa bằng món nộm lá thập cẩm: lá chó đẻ, lá tàu bay, lá me rừng, lá xuyến chi và nhiều loại “rau thơm” khác có nguồn gốc xuất xứ không từ trên cành cây thì cũng dưới mặt đất. Bữa tối của tôi sẽ hoành tráng hơn vì tôi được ăn ở những nơi yêu thích của loài lợn như chuồng lợn hoặc các bụi rậm và tất nhiên, các món ăn cũng không kém phần đặc sắc. Tất cả các bữa ăn của tôi đều được ăn kèm với một loại gia vị mà gia đình người Việt Nam nào cũng có, đó là muối trắng” (tr. 41).

    Cứ thế,  bố mẹ suốt ngày lên nương rẫy, cô bé sống tự nhiên như cây cỏ cùng chúng bạn và đi học hồn nhiên như đi chơi. Nhưng cô đã được Trời phú cho trí thông minh nên học giỏi. Học giỏi nhưng hết năm lớp 9 thì cô đành phải ở nhà cùng anh trai theo bố mẹ lên rẫy phát nương hoặc chăn trâu, lấy củi dù cô rất muốn được xuống huyện dự thi vào lớp 10. Thầy giáo thương trò đến nhà thuyết phục bố mẹ cho cô đi học tiếp cũng không được và cô sau khi nghe lỏm xong câu chuyện của người lớn lòng đầy buồn bã đã ra ngồi chuồng lợn khóc ròng bỏ cả bữa tối. Để nguôi ngoai nỗi thèm học, cô tranh thủ những lúc chăn trâu lại đứng nấp ghé lớp học mà mình đã học qua đến nỗi thầy giáo cũ lại cho vào lớp ngồi cùng để có dịp ôn lại kiến thức cũ mong năm sau đi thi. Hy vọng lại nhen nhóm trong cô. Nhưng rồi nó lại nhanh chóng bị dập tắt bởi những lời bàn ra tán vào của bà con xóm bản để cuối cùng bố mẹ cô quyết định dứt khoát và lạnh lùng là cô phải ở nhà đi rẫy thay vì đi học tiếp. Đó là sự ngược chiều.

    Ba năm ở nhà cô đã những muốn ruồng bỏ, quên đi ước mơ đến trường học tiếp, nhất là khi cô phải chứng kiến cảnh các chủ nợ đến nhà mình giằng từng bao lúa mới tuốt xong để trừ vào món nợ bán lúa non mà bố cô đã ứng trước để có tiền lo việc học cho các con. Cô đã tìm cách vào rừng lấy măng phơi khô bán chợ, đã thử mua rau đưa sang Trung Quốc bán, đã liều sang bên kia biên giới làm công kiếm tiền.

    Và cô tưởng đã yên phận như bao cô gái vùng cao khác. Nhưng rồi ước mơ lại bùng cháy trong cô, “lần này không còn chỉ là đơn giản là thích đi học nữa mà là khát vọng thoát nghèo” (tr. 212). Và người thầy giáo cũ đã khích lệ cô, đã lại đến nói chuyện với bố mẹ cô. Rồi cô được xuống huyện thi vào lớp 10 và thi đậu vào Trường Trung học Phổ thông số 2 Bát Xát. Cô được vào lớp 12A4 là lớp cá biệt của trường. Cô được bầu làm lớp trưởng cả ba năm học. Cô được nhận học bổng của tổ chức Global Care cho học sinh vượt khó học giỏi ngay năm học đầu cấp.

    Vượt qua những khó khăn nghịch cảnh cô đã bước đầu chứng tỏ được mình. Nhưng cùng lúc, sự ngược chiều lại tăng lên với cô mỗi khi về nhà thấy bố mẹ không vui, thấy những người bà con chòm xóm mỉa mai, dè bỉu việc học của mình, thấy sự độc ác hồn nhiên của mọi người. “Tôi thật sự sợ con đường về nhà! Sợ cái bản làng tôi yêu từng ngóc ngách, sợ những con người mà tôi từng rất yêu quý. Bản làng lúc đấy đã có điện lưới quốc gia, nhưng đường về nhà thì lại bị mất điện, nên chúng tôi chẳng muốn tìm đường về” (tr. 230) – cô gái lúc đó đã nghĩ vậy.

    Nhưng cô vẫn quyết ngược chiều. Tốt nghiệp phổ thông, cô thi đậu vào Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam, tiếp tục phát huy năng lực học tập của mình, chinh phục được tiếng Anh, từ đó mở ra cho mình con đường đi đến châu Âu, vươn ra thế giới. Cô đã chủ động nắm lấy vận mệnh mình và biết “căng buồm đợi gió” khi vận may đến. Cô chọn ngành học về rừng vì cô sống ở rừng, biết nỗi đau của rừng khi bị con người phá hủy và nỗi đau của người khi vì phá rừng mà bị thiên nhiên trừng phạt. Hiện giờ Chảo Yến đang làm việc tại Trung tâm Con người và Thiên nhiên (Hà Nội). Cô gái tuổi Ngọ (1990) đã thực sự tung vó ngựa vượt qua những rào cản ngược chiều để phi tới những miền xa khát vọng, những đỉnh cao mơ ước, cống hiến sức lực và năng lực của mình cho lợi ích cộng đồng.

    Cuốn tự truyện “Đường ngược chiều từ bản người Dao đến học bổng Erasmus” đọc thích vì giọng điệu kể chuyện. Chảo Yến kể lại cuộc đời tuổi trẻ của mình bằng lời văn hồn nhiên, tinh nghịch, mang chất tuổi mới lớn (teenage) tạo được sự đồng cảm yêu mến nơi người đọc dù chuyện bố mẹ, bản làng và của chính cô nhiều buồn bã, đau xót. Những trang kể về buổi khai trường, về buổi học cấp hai đầu tiên, về cuộc đi chợ huyện, về cảnh tranh mót mía với bầy lợn, về cậu bạn tên Hộp, về chuyện “cave”, về hình ảnh người bố trong buổi lễ tri ân trưởng thành của con gái, về chuyến đi của bố con lần đầu xuống Hà Nội… đọc lên có thể cười khóc được.

    Đặc biệt trong truyện kể của Chảo Yến hiện lên sinh động những con người quanh cô, đã giúp cô dám làm hành trình ngược chiều đi tới ước mơ. Đó là những người thầy ở cấp trung học và đại học. Đó là anh chị em trong nhà. Và trên hết là người mẹ của cô. Mẹ hay quát mắng, phát mông, đánh đòn con gái mỗi khi cô nghịch ngợm. Mẹ đã có lúc cùng bố muốn con gái thôi học ở nhà. Nhưng chính mẹ sau hôm nói chuyện với thầy giáo đã quyết định cho con gái xuống huyện thi vào lớp 10 bất chấp ý bố không muốn. Mẹ tin ở đứa con gái “đầu hai xoáy” của mẹ. Mẹ đã truyền cho con gái quyết tâm đi tới từ lời tâm sự: “Cuộc đời mẹ từ bé đã vất vả, tám tuổi mẹ đã phải đi làm thuê cùng bà ngoại để mua thuốc phiện cho ông ngoại. Sau ông ngoại mất, mẹ lại phụ bà ngoại nuôi các cậu, các dì. Mẹ cũng rất muốn được đi học, đến lúc lấy bố con mới được ông nội dạy để biết đọc báo. Mẹ mà được đi học mẹ chắc chắn cũng học giỏi như con, nhưng đời mẹ coi như bây giờ chỉ có các con thôi. Nên con hãy nhớ những gì mẹ kể, những gì người ta đối xử với bố, với mẹ, với nhà mình, để cố gắng học. Con tuyệt đối không được thất bại, con phải cho mọi người thấy con đường mình đi là đúng” (tr. 229). Nghe những lời này của mẹ, cô gái biết không thể tự cho phép mình bỏ cuộc. Cô đã dấn bước tiếp trên con đường đã chọn, đã quyết tâm leo hết con dốc Khó Khăn để được “rã rời” trong hạnh phúc tột độ khi lên tới đỉnh dốc.

    Khép lại cuốn tự truyện của mình, Chảo Yến viết: “Tôi không dám nói tôi là người thành công, nhưng với tôi nụ cười tít mắt của bố mẹ khoe khắp nơi rằng “Con gái tôi sắp đi Đức học thạc sĩ”, nụ cười của thầy Lee, thầy Dũng khi nói “Congratulations! Well done, I’m proud of you”, hay chỉ đơn giản là quyết tâm đi học của một vài em nhỏ ở trường cấp hai trên bản, đó chính là sự thành công. Thành công còn là cả khi tôi dám thoát khỏi lớp vỏ bọc, dám mơ ước được bay cao, bay xa như bao người. Hay đúng hơn, tôi vốn đã thành công ngay từ giây phút tạo hóa cho tôi được làm con của bố mẹ. Dù có nghèo, có vất vả, nhưng chính hoàn cảnh đó đã tôi luyện tôi thành một người kiên cường” (tr. 276).

    Có lẽ cả cuốn sách và những lời này của tác giả sẽ truyền được cảm hứng cho nhiều người đọc. Chảo Yến đã có dự định trích 10% lợi nhuận từ cuốn sách này để lập một quỹ học bổng dành cho các học sinh nghèo ở quê mình và cho các sinh viên ở Trường Đại học Lâm Nghiệp nơi cô từng học.

  • Văn

    Hạnh Phúc Xót Xa

    Hạnh Phúc Xót Xa

    Tôi vô cùng ngạc nhiên, khi nhận được một thiệp mời đám cưới gởi qua đường bưu điện, danh tánh nhà trai, nhà gái và cả cô dâu chú rể đều xa lạ. Gần nửa giờ ngồi “điểm danh” tất cả bà con, bè bạn xa gần, vợ chồng tôi và mấy đứa con cũng chẳng tìm ra “tông tích” họ là ai. Nghe bạn bè kể lại, một số không ít người Việt mình thích có nhiều thực khách tham dự tiệc cưới của con cháu. Khách càng đông càng chứng tỏ được thế giá của gia đình. Vì vậy có người chỉ gặp ai ở đâu đó một lần thoáng qua, cũng có thể trở thành “quan viên hai họ”. Hơn nữa, ở cái vương quốc nhỏ bé và hiền lành này, muốn tìm ai cứ việc mở cuốn điện thoại niên giám hoặc vào guleside gõ cái tên là có ngay số phone và địa chỉ. Cũng có thể là do một ông bà khách nào đó được mời nhưng hồi báo không thể tham dự được nên vợ chồng tôi được chọn để “điền vào chỗ trống cho có đầy đủ ý nghĩa”?

    Địa điểm tổ chức tiệc cưới là một nhà hàng Tàu sang trọng nằm ngoại ô thành phố Oslo, không xa nơi tôi ở. Ngày đám cưới còn hơn một tháng, nhưng lại đúng vào ngày mà vợ chồng tôi phải sang London thăm vợ chồng cô con gái và mừng thôi nôi thằng cu cháu ngoại. Vé máy bay đã “búc” rồi. Vợ chồng cô con gái cũng đã lấy hè để đón chúng tôi. Nên dù có biết cha mẹ hay cô dâu chú rể có tên trong thiệp mời chăng nữa, chúng tôi cũng không thể tham dự được, huống hồ lại là một người nào đó không quen. Thấy tôi phân vân, bà xã cầm tấm thiệp màu hồng vất vào kệ sách, lắc đầu bảo “forget it!”

    Sáng thứ Bảy, một tuần sau đó, khi đang sửa soạn hành lý, nghe điện thoại reo, tôi bốc máy lên nghe, nhưng không thể nhận ra người bên kia đầu dây. Một người đàn bà, tự giới thiệu tên Bích, rất lễ phép khi hỏi đúng cả tên lẫn họ của tôi.

    –  Vâng, đúng là tôi, nhưng chị có thể nói rõ hơn về chị không ạ, vì xin lỗi tôi không nhớ ra.

    –  Em là Bích Kiều đây, Lê Thị Bích Kiều, mà khi mới sang Na-uy, anh làm thông dịch giúp em đó. Tên em trong thiệp mời đám cưới là Yvonne Bich, chắc anh chị đã nhận được. Em đổi tên này sau khi có quốc tịch Na-uy.

    Tôi giật mình nhớ ra ngay. Mặc dù trong thời gian làm thông dịch, giúp khá nhiều bà con người Việt mới đến định cư, có biết bao nhiêu cái tên làm sao nhớ hết. Hơn nữa cũng đã hơn 25 năm rồi còn gì. Nhưng đặc biệt, Lê Thị Bích Kiều thì tôi không thể nào quên.

    Sau khi thăm hỏi, Bích Kiều xin được đến thăm vợ chồng tôi vào lúc bốn giờ chiều. Cô bảo, gặp nhau sẽ có biết bao nhiêu điều muốn nói.

    Thời gian còn ở trại tỵ nạn Bataan bên Phi Luật Tân, tôi may mắn được chọn làm phụ giảng cho các lớp học tiếng Na-uy. Được thầy cô dạy kèm riêng, và nhờ phụ giúp mỗi ngày trong các lớp học cũng như làm thông dịch bất đắc dĩ cho những thuyền nhân mới đến đảo, nên tôi có một số vốn liếng tiếng Na-uy, một thứ ngôn ngữ hoàn toàn xa lạ với hầu hết người Việt nam lúc ấy. Và cũng nhờ cái vốn bì bõm này, khi sang định cư ở Na-uy, tôi được chọn làm thông dịch tạm thời cho Phòng Xã Hội và Sở Cảnh Sát thị xã, nơi gia đình tôi tạm cư. Thời gian này Na-uy nhận một số lượng khá đông thuyền nhân được tàu Na-uy vớt trên biển và một số trường hợp nhân đạo khác.

    Nói là thông dịch chứ thực ra chỉ giúp bà con làm hồ sơ, khai lý lịch ở Sở Cảnh sát, xin trợ cấp ở Phòng Xã Hội, hoặc gặp bác sĩ, nha sĩ, hay vào bệnh viện khám và chữa bệnh. Cũng qua công việc này, tôi mới thấy rõ Na-uy là một quốc gia giàu lòng nhân đạo, mở rất rộng vòng tay, đối xử quá tốt với những người tỵ nạn mà họ cứu vớt, cưu mang. Công việc nhàn nhã mà lương bổng cũng khá, lại còn được cơ hội trau dồi ngôn ngữ mới, nên sau này, khi đã được chính thức nhận vào học và đi làm trong ngành ngân hàng bưu điện, tôi vẫn xin giữ cái “job” phụ này, nhưng chỉ làm thêm ngoài giờ hành chánh.

    Tuy nhiên, bên cạnh những điều vui ấy, tôi cũng bị “tai nạn nghề nghiệp” không ít. Đặc biệt khi phải thông dịch cho những bà con mà tàu của họ bị bọn hải tặc tấn công. Nghe họ kể những cảnh nghiệt ngã, thương tâm trên biển, tôi vừa không nén được xúc động vừa ngại ngùng khi phải thông dịch lại bằng tiếng Na-uy. Hơn nữa lúc ấy tôi cũng chưa có đủ ngôn từ để diễn đạt những điều “tế nhị”. Ngày ấy có một Viện Tâm Thần dành riêng cho người tỵ nạn, nằm trong Viện Đại Học Oslo, do bác sĩ Hauff, cũng là một giáo sư tâm lý học, điều hành. Ông là vị bác sĩ có lòng nhân hậu và rất tận tâm với nghề nghiệp. Những người tỵ nạn gặp điều không may, bị hải tặc đánh đập hãm hiếp, hay bị mất người thân trên đường vượt biển, đều được ông tận tình thăm nom, chăm sóc cũng như can thiệp Cơ quan Di Trú cho ưu tiên bảo lãnh gia đình và Sở Xã Hội cấp thêm nhiều phương tiện sinh hoạt, giải trí. Tôi sợ nhất là những lúc phải làm thông dịch để ông tâm tình, khuyên giải, an ủi nạn nhân, mà thời gian có khi kéo dài cả một vài ngày. Bởi vốn liếng tiếng Na-uy còn quá nghèo nàn, làm sao tôi có thể truyền đạt được những gì ông muốn nói. Có lần nghe ông dặn dò:

    –  Đây không phải một cuộc nói chuyện bình thường mà là một ca điều trị. Có điều, những bệnh nhân này chúng ta không chữa bằng thuốc mà chữa bằng ngôn ngữ.

    Mà ngôn ngữ của tôi thuộc loại ăn đong, thì làm sao giúp ông chữa loại bệnh đặc biệt trầm kha này. Nhiều lần tôi xin từ chối, nhận mình không đủ khả năng, nhưng Phòng Xã Hội không tìm được người thông dịch khác, và bác sĩ Hauff cứ gật đầu bảo là ông tin tưởng ở tôi. Cuối cùng tôi phải yêu cầu ông nói thật chậm và dùng những từ ngữ tương đối đơn giản để tôi hiểu rõ, và nhất là không hiểu lầm những gì ông nói.

    Một hôm tôi được Văn Phòng Xã Hội cho biết, phải đi theo bà Kari Mette ra phi trường Fornebu đón một người tỵ nạn đặc biệt, được Na-uy nhận nhân đạo từ một trại tỵ nạn Thái Lan. Người này được đưa thẳng từ Thái Lan đến Na-uy, mà không qua trại tỵ nạn chuyển tiếp Bataan, như những người khác. Bà Kari Mette làm việc cho một nhà thờ công giáo, nhưng vì có nhiều khả năng và uy tín, nên được yêu cầu kiêm nhiệm đại diện cho Sở Tỵ Nạn trong khu vực thị xã.

    Chúng tôi được vào tận cửa gate máy bay. Người mà chúng tôi đón hôm nay là một cô con gái trẻ, ngồi trên xe lăn, trên người choàng một tấm chăn mỏng, được một cô tiếp viên hàng không đẩy ra giao cho chúng tôi cùng túi hành lý nhỏ và một phong bì đựng hồ sơ có in huy hiệu (logo) Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ. Trông cô ta tiều tụy, xanh xao. Tôi giới thiệu và dịch vài lời chào mừng của bà Kari Mette. Khi đưa tay nhận bó hoa hồng từ bà, cô gật đầu, lí nhí hai tiếng cám ơn. Theo sau bà Kari Mette, tôi đẩy cô gái theo một lối đi riêng, không phải qua kiểm soát. Một chiếc xe tản thương và cô ý tá chờ sẵn bên ngoài. Khi phụ dìu cô gái lên nằm trên một băng ca trong xe, tôi mới biết là cô ta đang mang bầu. Theo yêu cầu của cô ý tá, tôi ngồi luôn trên xe tản thương, tháp tùng về bệnh viện. Bà Kari Mette lái xe chạy theo sau.

    Ở phòng nhận bệnh, khi nghe bà Kari Mette nói chuyện với vị bác sĩ, tôi mới biết cô gái này có tên Lê thị Bích Kiều, 21 tuổi, bị hải tặc giam giữ ở một hoang đảo ngoài khơi Thái Lan gần một năm, trước khi được một lực lượng tuần cảnh phối họp với hải quân Thái cứu thoát. Cô ta đang mang thai hơn năm tháng, sức khỏe rất yếu. Việc ưu tiên phải làm là giúp cô sớm hồi phục sức khỏe và bảo vệ thai nhi.

    Khi trả lời một số câu hỏi của bác sĩ, cô luôn nhìn tôi bằng đôi mắt thật buồn và ái ngại, một vài câu hỏi cô ngại ngần không muốn trả lời. Tôi từ tốn bảo cô cứ yên tâm, nếu điều nào chưa muốn nói ra, cô không cần thiết phải trả lời, tôi sẽ liệu cách để nói lại với bác sĩ. Nhưng sau đó, tôi mới hiểu ra, người cô ngại chính là tôi chứ không phải ông bác sĩ. Mặc dù trước khi bắt đầu làm việc, tôi đã nói với cô là những người làm thông dịch như tôi đều phải ký giấy cam kết taushetsplikt (bổn phận bảo mật). Cô được y tá đưa vào phòng tắm rửa và thay áo quần bệnh viện. Khi trở ra, cô tươi tỉnh hơn, bây giờ nhìn kỹ tôi thấy cô có khuôn mặt khá xinh, đôi mắt thật buồn. Theo y tá đưa cô lên một phòng riêng ở tầng ba, tôi bảo y tá bật cao đầu chiếc giường và đỡ cô ngồi dậy theo yêu cầu của cô, dịch cho cô nghe những điều dặn dò của bác sĩ, hỏi cô thích ăn uống những gì để tôi nói lại với cô y tá, rồi chào cô ra về, sau khi chúc cô ăn ngon và tối nay có một giấc ngủ thật bình yên. Cô nhìn tôi, nói cám ơn rồi vội vàng cúi xuống. Thoáng qua đôi mắt, tôi biết cô băn khoăn lo lắng, khi phải ở lại một mình. Tôi ghi số điện thoại trên mảnh giấy nhỏ đưa cô y tá. Bảo là trường hợp bệnh nhân hay y tá cần điều gì, cứ gọi cho tôi.

    Kể từ hôm ấy, ngoài bổn phận thông dịch tôi còn là người thân quen duy nhất của cô. Hôm nào cô ngỏ ý thèm các thức ăn Việt nam, tôi bảo bà xã tôi làm rồi mang đến cho cô, cùng mấy tờ báo Văn Nghệ Tiền Phong, và tập truyện của ông Duyên Anh mà cô thích đọc.

    Sau một tuần lễ, sức khỏe của cô khá hơn, nhưng y tá cho biết tâm trí chưa ổn định, cô thường giật mình thức giấc rồi la hét, khóc lóc lúc nửa đêm. Cứ vài ngày, bác sĩ Hauff từ Viện Tâm Thần đến thăm, cho cô quà, an ủi và khuyên cô hãy đọc sách, xem TV, cần nghĩ tới đứa bé sắp chào đời, dù gì nó cũng là giọt máu của mình. Có điều gì cần, hoặc cảm thấy nặng nề trong lòng, cô cứ nói ra mỗi lần ông đến thăm.

    Cô không phải đến Sở Cảnh Sát để làm hồ sơ di trú như những người tị nạn khác, mà do yêu cầu của Sở Tỵ Nạn, vị trưởng phòng Cảnh sát ngoại kiều đã đích thân đến bệnh viện để gặp cô sáng hôm sau. Qua làm việc, tôi được biết cô gái sinh ra và lớn lên ở Đà Lạt. Trước 75, mẹ cô là cô giáo và cha là một sĩ quan cấp tá, bị mất tích tại Đà Nẵng khi Vùng 1 di tản. Vượt biên từ Rạch Giá cùng vị hôn phu. Anh là con trai lớn của một người bạn cùng khóa Võ Bị với cha cô. Chiếc thuyền nhỏ chở theo 47 người, ra khơi ba ngày thì gặp hai chiếc ghe đánh cá của Thái Lan chặn lại. Cả bọn gần 20 tên mang dao búa và cả súng nữa, xông lên thuyền uy hiếp. Anh tài công bị giết đầu tiên bằng búa đánh vào đầu, một vài thanh niên khỏe mạnh có ý chống cự, liền bị chém chết. Chúng chia nhau lục soát trên tàu và trên từng người để cướp vàng bạc, đồng hồ. Trước khi rời khỏi thuyền, chúng phá hỏng máy, và bắt theo khoảng mười cô gái. Khi hai tên trong bọn kéo Kiều đi, người vị hôn phu của Kiều xông đến định giật lại Kiều, bị chúng bắn bị thương rồi đạp xuống biển, trước tiếng la khóc thất thanh của Kiều cùng những cô gái khác

    Vừa mới lên tàu, bọn hải tặc luân phiên hãm hiếp những cô gái bị chúng bắt theo. Tiếng van xin la khóc quyện vào âm thanh của những ngọn sóng dường như cũng đang thét gào phẫn nộ. Chỉ duy nhất có Kiều được thoát, không bị hiếp, nhưng bị cột cả hai tay vào phía sau phòng lái, và phải chứng kiến hành động dã man, bỉ ổi của bọn dã thú, cùng những khuôn mặt sợ hãi đau đớn uất hận tột cùng của những cô gái nạn nhân.

    –  Tại sao cô lại được tha, không bị chúng hiếp? Anh cảnh sát ngạc nhiên hỏi.

    –  Làm sao được tha. Có lẽ thấy tôi có chút nhan sắc, nên tên thuyền trưởng dành riêng tôi cho hắn. Khi ấy hắn đang lái tàu! Cô gái sụt sùi.

    Tối hôm ấy, cô đã bị cướp đi đời con gái. Qua một ngày kinh hãi, biết mình không thể chống cự, cô đã nằm im phó thác cho số phận. Trong khi thân xác bị dày vò, cô nghĩ đến cảnh người yêu vừa bị giết tức tưởi trưa nay, cắn chặt lưỡi giữa hai hàm răng ứa máu.

    Tay thuyền trưởng hải tặc không đánh đập hành hạ cô như những cô gái khác. Hắn săn sóc, mang cho cô một tô cháo cá nóng, nhỏ nhẹ dỗ dành cô ăn, nhưng cô không thể nào nuốt nổi, dù bụng đang đói. Nằm thiếp đi cả một ngày trong phòng lái, khi nghe tiếng ồn ào gọi nhau của bọn hải tặc, giật mình thức dậy, cô thấy tàu cặp vào một hòn đảo.

    Sau khi ra lệnh cho đám thuộc hạ quăng neo, tay thuyền trưởng cõng cô trên lưng, lội vào bờ. Cô ngạc nhiên rùng mình khi không thấy các cô gái khác. Số phận họ ra sao? Cô bịt kín hai tai, nhưng tiếng van xin kêu khóc hãi hùng của ngày hôm qua như muốn vỡ tung đầu óc. Cô tưởng tượng họ bị hiếp cho đến chết, rồi quăng xác xuống biển. Thật thảm thương tội nghiệp. Nhưng dù sao họ cũng không phải sống cả một đời thừa thải trong nỗi dày vò, mặc cảm và vô vọng như cô. Biển xanh sẽ ôm ấp vỗ về cả thân xác lẫn linh hồn họ. Là cánh hoa tả tơi duy nhất còn sót lại sau một ngày đêm giông bão, cô ví mình chẳng khác nào rác rưởi tắp vào một nơi hoang vắng. Cô tự hỏi, đó có phải là điều may mắn?

    Anh cảnh sát ngồi bất động nghe cô kể, thỉnh thoảng ngước mặt lên trần nhà để giấu những giọt nước mắt. Tôi thầm tội nghiệp cho cô gái và cho cả anh ta, một người sinh ra và lớn lên trên một vương quốc an bình, giàu có, hà cớ gì phải khóc cho nỗi đau thương, bất hạnh của dân tộc tôi. Chúng tôi dừng lại khi thấy cô gái sụt sùi. Tôi đứng dậy đi lấy mấy tờ giấy soft cho cô lau nước mắt và mời cô một ly nước saft.

    –  Rồi đời sống của cô trên đảo ra sao trước khi cô được cứu thoát? Anh cảnh sát hỏi.

    –  Tôi được đưa vào một cái hang đá khá lớn, có sẵn một số thức ăn, nước uống và cả áo quần cùng nhiều vật dụng mà có lẽ bọn họ cướp được từ những lần trước.

    Đó là một đảo hoang. Một trong những “hậu trạm”. Cứ bốn, năm hôm, có khi cả tuần lễ, bọn hải tặc trở về đây nghỉ ngơi đôi ngày, chia chác “chiến lợi phẩm”, rồi lại ra đi. Tiếp tục những chuyến làm ăn khác, hoặc vào bờ lấy thêm nhiên liệu, lương thực. Tay thuyền trưởng cao lớn, tóc phủ tới lưng, cả ngày chỉ mặc một cái quần short ố vàng, phơi tấm thân trần đen đúa với đầy những hình xâm. Không biết vì nghĩ là cô không hiểu tiếng Thái hay là bản tính ít nói, cả ngày hắn lầm lì, chỉ thỉnh thoảng mỉm cười. Hắn luộc tôm cá tươi ép cô ăn và bắt cô uống rượu. Miệng hắn lúc nào cũng nồng nặc mùi rượu. Đôi mắt đỏ ngầu. Rượu giúp hắn trở thành con hổ đói cuồng bạo trên tấm thân liễu yếu của cô. Hắn lột hết áo quần cô, làm nhiều cách hầu tạo kích thích, nhưng cả thân xác và tâm hồn cô đã trở thành gỗ đá, lạnh lùng, không còn cảm giác. Chỉ biết nhắm mắt chịu đựng đau đớn, để cho hắn ta mặc tình hành hạ.

    Bọn họ ra đi từ lúc trời chưa sáng. Khi cô thức dậy chung quanh vắng lặng, ngoài tiếng sóng biển rì rào. Cảm giác da thịt rã rời. Phải ngồi khá lâu mới đứng dậy được. Cô chui ra khỏi hang, trèo xuống hốc núi tìm đường ra biển. Hôm nay trời nắng, biển êm. Nhìn biển mênh mông, trong gió nghe như có tiếng gọi tên mình, cô giật mình nghĩ tới người yêu và những cô gái đồng hành bất hạnh. Cô xăn quần lội xuống, vốc một vốc nước rửa mặt. Nước biển làm rát khóe mắt, nhưng giúp cô tỉnh táo. Bỗng cô nghĩ đến cái chết. Chỉ cần lội ra xa để cho sóng cuốn đi là cô sẽ gặp lại người tình ở đâu đó dưới đáy đại dương và sóng biển có thể rửa bớt phần nào nhơ nhớp trên tấm thân, mà bao nhiêu lần, mẹ đã ôm cô dặn dò phải cố giữ gìn, trước lúc từ biệt ra đi. Chợt nhớ tới mẹ, nhớ các em, cô đứng bất động nghe lòng dạ bồi hồi.

    Gió từ biển khơi thổi tới như muốn an ủi vỗ về, giúp cô tìm lại một chút yên ả. Cô bước lên đi dọc theo bờ biển. Tiếp tục nghĩ đến mẹ và hai đứa em nhỏ dại. Giờ này không biết họ ra sao. Có biết mình đang lưu lạc trên một hoang đảo xa lạ giữa trời biển mênh mông với tấm thân hoen ố ê chề, hay là vẫn đang hy vọng đứa con gái, người chị của mình đã đến được một xứ thiên đường nào, để có thể cứu sống cả gia đình đang ở bước đường cùng. Bao nhiêu vốn liếng chắt chiu dành dụm được, kể cả chiếc nhẫn cưới và sợi dây chuyền vàng mà bà ngoại đã đeo lên cổ mẹ ngày vu quy, cũng chỉ đủ gom góp mua một cây vàng, và phải năn nỉ lắm mới được đóng trước một nửa cho chủ tàu, nửa còn lại khi nào đến nơi sẽ trả. Sau ngày cha cô vĩnh viễn không về, cùng nhiều đồng đội gởi xác thân ở một nơi vô danh nào đó, rồi cả miền Nam đang trù phú, hạnh phúc một thời, bỗng dưng trở nên đói nghèo, chia ly tan tác, cũng như những gia đình sĩ quan công chức khác, mẹ con cô đã trải qua bao tháng năm cùng cực. Cô đã phải bỏ học, phụ mẹ buôn tảo bán tần, mà cả nhà vẫn bữa đói bữa no. Nghĩ đến tương lai mịt mờ của mấy đứa con, mẹ bàn với cô, chỉ còn cách duy nhất, là cô phải ra đi. Bao lần tìm được mối, nhưng lo cho thân gái dặm trường, có biết bao điều bất trắc, cuối cùng bà rất vui mừng khi có người yêu của cô, cũng là con của một người bạn cùng khóa với chồng, cùng đi với con gái. Trước ngày đi, hai gia đình gặp nhau, tổ chức một lễ đính hôn rất vội vàng, đơn giản.

    Cô bước đi những bước vô hồn trên những bọt sóng xô bờ, hình dung tới tuổi ấu thơ và cả một thời cùng gia đình sống trong hạnh phúc. Nhớ mấy năm cha cô được đổi về làm huấn luyện viên trường Võ Bị Đà Lạt, nơi ông đã gặp mẹ cô, khi còn là một sinh viên sĩ quan trai trẻ, từng đứng trên đỉnh Lâm Viên với hào khí ngút trời. Nơi ông cùng bè bạn đồng môn, đã quỳ xuống vũ đình trường trong ngày mãn khóa, giữa không khí uy linh, đưa tay thề quyết bảo vệ núi sông. Cô cũng nhớ tới đám bạn bè một thời nhỏ dại. Không biết những cánh chim non hồn nhiên ngày ấy, giờ tản mác trôi dạt về đâu sau cơn bão lửa. Cũng như cô, tất cả đã mất rồi, cả một bầu trời xanh bao la với bao nhiêu ước vọng thuở nào. Không bao giờ còn tìm lại được!

    Đầu óc mơ hồ, tưởng mình đang đi tìm dấu vết tuổi thơ bên bờ hồ Xuân Hương thơ mộng. Khi nghiêng mình để tìm ngôi nhà Thủy Tạ, nơi lần đầu hò hẹn người yêu, cô bỗng giật mình nhận ra tảng đá trên hoang đảo, nơi cô bị giam lỏng từ mấy hôm nay. Giấc mơ xưa ngắn ngủi vỡ tan như bọt biển. Ngồi bệt xuống cát, thẫn thờ gọi mẹ, gọi em, và gọi tên người tình. Cô gọi đến khan cả cổ, để chỉ nghe tiếng mình dội lại từ đại dương mênh mông xa thẳm, không tìm thấy chân trời. Cô đã bật khóc.

    Tôi định đưa tay bảo cô ngừng kể, để tôi kịp dịch lại cho anh cảnh sát, đang hồi hộp ngồi chờ, nhưng chợt thấy cô cũng đang khóc. Anh cảnh sát đứng lên nháy mắt, làm dấu cho tôi cùng bước ra ngoài để cho cô được tự nhiên. Khi trở vào, anh cảnh sát nhờ tôi hỏi, nếu cô muốn bảo lãnh cho mẹ và các em còn ở Việt Nam, anh sẽ trình lên Sở Ngoại Kiều, lập hồ sơ cho cô được ưu tiên. Có thể trong vòng từ sáu đến tám tháng, cô sẽ được đoàn tụ với gia đình. Suy nghĩ một chập, cô lắc đầu:

    –  Em chưa chuẩn bị được tâm lý, không muốn mẹ và các em sẽ đau buồn vì những gì em đã trải qua, và nhất là cái thai trong bụng, em vẫn còn đang giấu mẹ. Chờ sinh đẻ xong, em mới bình tĩnh mà quyết định được. Mặc dù em rất nhớ mẹ và các em.

    Ngần ngừ một lúc cô ngõ ý muốn được Phòng Xã Hội cho mượn một số tiền để gởi về giúp gia đình, sau này đi làm cô sẽ trả. Anh cảnh sát gật đầu, hứa sẽ nói việc này với Phòng Xã Hội. Anh bắt tay cô, chúc sớm bình phục, gặp nhiều may mắn, và hẹn sẽ trở lại thăm cô để xin hỏi thêm cô ít điều bổ túc hồ sơ.

    Hai hôm sau, qua điện thoại từ Phòng Xã Hội, tôi đến nhận số tiền 10.000 kroner (khoảng 1.200 USD), để giao lại cho cô và yêu cầu cô ký tên vào biên nhận.Tôi cũng mang đến biếu cô mấy trái xoài chua, lần trước cô bảo là cô rất thèm. Gặp lại tôi, cô tỏ ra mừng rỡ. Lần đầu tiên tôi thấy cô nhoẻn miệng cười. Cô bảo cô rất buồn và thấy cô đơn, vì không có tôi cô chẳng biết trò chuyện cùng ai. Cô ngạc nhiên và thoáng một chút xúc động khi tôi đưa cho cô số tiền của Phòng Xã Hội, và bảo đó là tiền cô được cấp, chứ không phải mượn. Tôi giải thích thêm về những trợ cấp khác dành cho người tỵ nạn lúc ban đầu và hằng tháng sau này, cũng như trợ cấp việc sinh đẻ và nuôi con. Tôi bảo cô yên tâm, đừng lo lắng gì về chuyện tiền bạc. Cô càng vui và tỏ ra thân thiện hơn khi nghe tôi bảo trước đây tôi cũng là lính, sau gần 8 năm tù trở về, vợ con cũng khốn cùng như gia đình cô. Tôi kể chuyện gia đình tôi vượt biên nhưng may mắn được tàu Na-uy vớt, mới đến Na-uy tám tháng, nhưng mọi việc tạm thời ổn định. Cô nhớ tới cha cô, đôi mắt sáng lên và say sưa kể cho tôi nghe những ngày cô theo cha ra đơn vị, hoặc cùng mẹ vào trường Võ Bị tham dự các buổi lễ ra trường. Khi tôi đứng dậy cáo từ, cô viết tên và địa chỉ của mẹ cô, nhờ tôi gởi hết số tiền còn nguyên trong bì thơ về cho mẹ. Trong mắt cô sáng lên niềm vui.

    Một lần cô ngỏ ý muốn học tiếng Na-uy để giết thì giờ. Tôi bảo là ở Na-uy vừa mới có cuốn tự điển Nauy-Việt, tôi sẽ liên lạc Phòng Xã Hội để xin cho cô. Hai hôm sau, tôi mang cuốn tự điển đến, chỉ cho cô cách sử dụng, nói và viết vài câu đơn giản. Cô khá thông minh nên hiểu rất nhanh. Cô còn nhờ tôi viết cho cô vài câu tiếng Na-uy. Trong đó có một câu cô bảo là lời một bản nhạc nào đó mà cô rất thích: “Ngày mai, tôi muốn bỏ đi thật xa”.

    Khi được biết là sẽ sinh con trai, cô vui lắm, nhưng ngay sau đó tôi thấy cô ngồi thẫn thờ, suy nghĩ mông lung. Gần tới ngày cô sinh, tôi xin phép cô cho bà xã tôi đến thăm, để hướng dẫn chỉ vẽ cho cô ít nhiều kinh nghiệm sinh đẻ mà vợ tôi đã trải qua. Hơn nữa, khi sinh đẻ, có một người đàn bà thân quen bên cạnh cũng an tâm. Biết cô ái ngại, nên tôi nói trước là vợ tôi hoàn toàn không biết gì về hoàn cảnh của cô, và tất nhiên tôi không hề tiết lộ điều gì. Tôi sẽ nói với vợ tôi là chồng cô còn ở trại tị nạn Thái Lan, sẽ được định cư sau. Ngần ngừ một lúc, cuối cùng cô gật đầu.

    Cuối tuần, vợ chồng tôi đến thăm. Vợ tôi mang đến cho cô một ít thức ăn Việt nam và mấy bộ áo quần con nít. Đàn bà dễ thông cảm với nhau, nhất là vợ tôi sinh mấy đứa con cũng không có mặt chồng, vì tôi bận tham dự hành quân, không về kịp. Tôi ra ngoài, để cho hai người đàn bà dễ nói chuyện sinh đẻ.

    Cô sinh vào ban đêm, lúc trời đã vào đông. Tuyết rơi kín cả khung trời. Vợ chồng tôi đến phòng sinh lúc cô đau bụng. Vợ tôi ở bên cạnh cô, còn tôi ngồi ngoài phòng đợi. May mắn là cô sinh rất nhanh. Khoảng hơn 30 phút, tôi đã nghe tiếng con nít khóc. Khi mọi việc đã xong, nghe tiếng vợ gọi, tôi bước vào chúc mừng cô. Thằng bé đang nằm trên ngực mẹ. Tôi thấy cô khóc. Không biết đó là những giọt nước mắt xót xa hay hạnh phúc.

    Sau một tuần ở bệnh viện, mẹ con cô chuyển đến một khách sạn, được phòng xã hội mướn cho cô tạm trú một thời gian, vì chưa tìm được căn nhà thích hợp cho cô. Khách sạn khá sang trọng, nằm không xa bệnh viện, để tiện cho các y tá đến thăm và chăm sóc mẹ con cô.

    Mấy ngày sau, tôi đến khách sạn cô ở. Không phải để thăm cô mà để làm thông dịch cho bác sĩ Hauff và nhân viên phòng xã hội. Họ mang đến cho con cô nhiều quà tặng. Ai cũng ngạc nhiên và thích thú khi thấy cô biết nói vài câu ngắn bằng tiếng Na-uy. Bác sĩ Hauff hỏi là cô có cần ông giúp điều gì nữa không, cô bập bẹ trả lời: “Tôi sẽ nói với ông sau”. Tuy không đúng hẳn, nhưng mọi người đều hiểu được.

    Ngày đầy tháng, vợ tôi nhớ và nhắc tôi đến thăm mẹ con cô. Chúng tôi ghé siêu thị chọn mua một món quà mừng thằng bé. Bấm chuông phòng, cửa không mở. Gõ nhẹ cũng không thấy lên tiếng. Tôi đến văn phòng khách sạn hỏi. Họ cho biết là cô vừa mới chuyển đi. Tôi gọi hỏi Phòng Xã Hội, họ cho biết là cô đã chuyển đi một thành phố rất xa, và theo yêu cầu của cô, họ không tiết lộ địa chỉ mới cho bất cứ một ai. Sau một thoáng ngạc nhiên, tôi chợt nhớ đến lời một bài ca nào đó mà cô đã nhờ tôi viết ra bằng tiếng Na-uy và chỉ cho cô đọc đi đọc lại nhiều lần: “Ngày mai, tôi muốn bỏ đi thật xa”. Trên đường về, bà xã tôi thắc mắc tại sao cô lại chuyển đi sớm và không cho chúng tôi hay. Tôi lắc đầu, mặc dù tôi đã vừa mới hiểu ra.

    Từ hôm ấy, tôi không bao giờ gặp lại cô. Vài lần nhớ tới cô, tôi định hỏi thăm qua một số người quen ở các thành phố khác, hoặc gọi cho Sở Tỵ Nạn. Nhưng rồi tôi quyết định không tìm, vì có lẽ cô không muốn gặp lại tôi, một người biết quá nhiều về cô.

    * * *

    Bích Kiều đến đúng giờ hẹn. Khi thấy chiếc taxi đỗ ngay trước cổng nhà, vợ chồng tôi chạy ra đón. Tôi cũng nóng lòng muốn xem lại dung nhan của người con gái xinh đẹp nhưng găp phải điều bất hạnh của 25 năm trước. Bây giờ chắc tuổi cũng đã 45, 46. Vợ chồng tôi ngạc nhiên khi thấy Bích Kiều vẫn còn trẻ đẹp. Cặp kiếng cận làm tăng nét tao nhã quí phái. Cô ôm chầm chúng tôi, rồi lấy kiếng xuống để chùi nước mắt.

    –  Không ngờ Kiều bây giờ còn đẹp hơn hồi xưa nhiều lắm. Sao đi có một mình ên còn ảnh thì giấu kỹ ở đâu rồi không cho trình diện?

    Câu nói đùa của bã xã tôi làm cô bớt xúc động, nở nụ cười sau một thoáng thẹn thùng:

    –  Em vẫn còn độc thân mà! Hôm nay xuống đây nhờ anh chị làm mai đây.

    Chúng tôi đi quanh khu vườn sau nhà. Bà xã muốn khoe mấy cụm hồng vàng vừa mới nở hoa, trước khi dắt tay cô bước vào phòng khách. Tôi mang nước ra mời và ngồi nghe hai người đàn bà nói chuyện trang điểm phấn son xong mới lên tiếng:

    –  Vậy là Kiều đang ở Trondheim. Tôi thấy địa chỉ trong tấm thiệp cưới. Ngày ấy, tự dưng Kiều biến mất, làm bọn tôi cứ nghĩ là nàng trích tiên đã ngao ngán cảnh trần gian mà bay lại về trời rồi chứ.

    Cô cười bẽn lẽn:

    –  Hôm nay đến cũng để xin lỗi anh chị đây. Ngày ấy lòng em còn đau xót lắm, nên muốn đi đến một nơi thật xa, không muốn gặp bất cứ người Việt nào và nhất là những ai đã biết về mình. Mặc dù em rất thương quí và mang ơn anh chị.

    Tôi cười:

    –  Tôi biết, nên chỉ thương chứ có nỡ lòng nào mà trách. Chắc Kiều còn nhớ cái câu tiếng Na-uy “Ngày mai tôi muốn bỏ đi thật xa” mà Kiều nhờ tôi viết ra và chỉ cho Kiều đọc đi, đọc lại bao nhiêu lần. Khi ấy Kiều bảo rất thích câu ấy trong một bài hát mà Kiều hay hát? Nhờ đó mà tôi hiểu được, nên không có ý tìm Kiều.

    Đúng là cô đã đi thật xa, một hòn đảo nhỏ nằm ngoài khơi thành phố Ålesund. Ở đó không có một người Việt nào sinh sống. Chính quyền và dân chúng rất tốt. Mẹ con cô được chăm sóc chu đáo. Một năm sau cô bảo lãnh mẹ và hai cậu em sang đoàn tụ. Gia đình sống trong hạnh phúc. Đứa bé lớn lên trong vòng tay yêu thương của mọi người. Cháu được đặt tên Trần huy Bách, và trong giấy khai sanh có cha là Trần Huy Trác. Tên người vị hôn phu của Kiều. Anh đã bị chính cha ruột của thằng bé giết chết thảm thương rồi vất xác xuống biển. Kiều giấu kín mẹ và các em điều đau thương này, nên đến lúc qua đời, mẹ cô vẫn tin đứa cháu ngoại duy nhất của mình là con của Trác. Bà mất đột ngột sau cơn bệnh tim, khi sang Na-uy được mười sáu năm.

    Được chính phủ trợ cấp, cho học bổng, và nhờ mẹ giúp trông con cùng mọi việc trong nhà, nên Kiều và hai em được đi học. Cả ba chị em đều xong đại học. Hai cậu em đang là kỹ sư, còn cô làm y tá trong bệnh viện. Khi hai cậu em được nhận vào trường NTH, một đại học kỹ thuật bách khoa nổi tiếng tại thành phố Trondheim, miền trung Na-uy, cả nhà đã di chuyển về đây sau sáu năm ở Ålesund. Cháu Huy Bách, con của Kiều cũng vừa tốt nghiệp ở trường này mùa hè năm ngoái.

    –  Vợ chồng tôi mừng cho Kiều, cho sự thành công của mẹ con Kiều cùng hai cậu em, và cũng xin chia buồn về việc bà cụ đã ra đi. Tiếc là chúng tôi không có dịp được gặp bà.

    Đang vui, bỗng Kiều xúc động:

    –  Tất cả đều nhờ mẹ em. Cả một đời thiệt thòi, chịu đựng vất vả với con cháu. Em vẫn ân hận là em đã phải nói dối với bà về chuyện của cháu Bách.

    –  Tôi nghĩ Kiều làm như thế là đúng. Ít nhất là không làm đau lòng thêm những người ruột thịt vốn đã chịu quá nhiều nhục nhằn, khốn khổ. Tôi tin là bác ra đi thanh thản, không có trách gì Kiều về sự việc ấy đâu. Tôi nói để an ủi.

    Bà xã tôi nãy giờ không hiểu hết những gì chúng tôi trao đổi, hỏi Kiều:

    –  Sao cô lại không giữ tên Kiều mà lấy tên Bích. Tôi thấy tên Bích Kiều đẹp lắm. Ngày xưa gần nhà tôi ở Nha Trang cũng có tiệm uốn tóc Bích Kiều. Mấy cô con gái đều đẹp. Tôi quen cả hai chị em.

    –  Dạ, em thấy cuộc đời nàng Kiều của ông Nguyễn Du sao mà ba chìm bảy nổi quá, mà dường như cũng đã vận vào em, em sợ nên đổi tên Bích, cũng là chữ lót của em.

    Tôi cười phụ họa:

    –  Nàng Kiều nào cũng đã chết rồi. Bây giờ, đang ngồi trước mặt tôi là Bích. Một cô Bích hoàn toàn khác. Chúng tôi rất mừng được như vậy. Xin lỗi, đáng lẽ ra không nên gọi cô là Kiều nữa. từ bây giờ chúng tôi gọi tên Bích nghe.

    –  Có sao đâu anh. Hai đứa em của em cũng gọi em là chị Kiều mà. Ngoài gia đình, chỉ có anh chị là biết cái tên này của em. Chuyện xưa cũng đã qua rồi. Em muốn anh chị cứ gọi em là Kiều như ngày trước. Hơn nữa, em biết, ngày ấy anh chị cũng thương yêu cô Kiều đó lắm, phải không?

    Cả ba chúng tôi đều cười.

    Kiều nhìn đồng hồ trên tường, khi nghe tiếng chuông báo giờ. Không biết vì không muốn nhắc lại chuyện cũ, hay là sợ không còn nhiều thời gian, cô bắt đầu một câu chuyện khác. Cô mở xách tay lấy ra mấy tấm ảnh đưa cho chúng tôi xem. Ảnh của Bách, con trai cô vừa chụp với cô vợ tương lai trong ngày lễ đính hôn hơn ba tháng trước. Một cô gái Việt nam. Cả hai cô cậu đều đẹp, mũi cao, đôi mắt to, vầng trán thoáng lên nét thông minh.

    –  Hai cháu rất xứng đôi vừa lứa! Vợ chồng tôi khen.

    Cô cho biết cô dâu tương lai là một dược sĩ vừa mới tốt nghiệp, con gái út của vợ chồng một vị giáo sư trước 75, được con bảo lãnh sang Na-uy, và bây giờ lớn tuổi đã về hưu. Ông bà đang sống ở Oslo. Gia đình nề nếp, đạo đức, có năm người con, tất cả đều thành đạt. Cô nhờ vợ chồng tôi, tuổi tác ngang với cha mẹ cô dâu, đứng ra thay mặt nhà trai trong ngày đám cưới. Nhưng điều quan trọng hơn, theo cô, là để cho cháu Bách, và chính cô nữa, được tự tin, ấm áp hơn về phía gia đình mình. Bởi vợ tôi là người chứng kiến khi Bách ra đời, còn tôi là người đồng hương duy nhất biết rõ về Bách, về những tình huống để có Bách hiện diện trên thế gian này.

    –  Sự có mặt của anh chị trong ngày đám cưới cháu Bách, là một kỷ niệm thiêng liêng quý giá đối với mẹ con em. Bởi vì khi nhìn thấy anh chị, em sẽ có cảm giác như là đang có anh Trác bên cạnh. Xin lỗi anh chị, em cũng đã nói dối với cháu Bách, anh là người duy nhất ở Na-uy này biết chuyện Trác, và tội nghiệp, cháu Bách vẫn tin anh Trác là ba của nó. Em thường bắt gặp cháu đứng thật lâu trước tấm ảnh của anh Trác trên bàn thờ.

    –  Vậy nhỡ cháu Bách hỏi tôi về Trác, tôi biết nói gì với cháu?

    Nghĩ ngợi một lúc, Kiều lên tiếng:

    –  Em chỉ nói với cháu Bách, là ngày xưa anh ở trong quân đội, nên biết ba của anh Trác là ông nội cháu, thế thôi. Chứ lúc ấy anh Trác còn nhỏ lắm. Em thiết tha mong anh chị giúp em. Vì trong lúc này, em cảm thấy thật lo sợ và cô đơn. Những hình ảnh hãi hùng ấy cứ tưởng đã quên được từ lâu rồi, vậy mà bây giờ nó lại hiện lên liên tục, ngay cả trong giấc ngủ của em. Thú thực, ban đầu em không có ý định gặp anh chị, nhưng càng gần ngày đám cưới cháu, em càng thấy lòng bất an. Cuối cùng bất ngờ em đã nghĩ đến anh chị, người đã biết tường tận hoàn cảnh của mẹ con em, bỗng dưng em thấy nhẹ nhàng, như vừa giải tỏa được những gì cứ phải chôn giấu, đè nặng mãi trong lòng.

    Nhớ tới hai người em trai của cô, vợ tôi hỏi:

    –  Còn hai cậu em của cô bây giờ ra sao. Đã có gia đình riêng hay vẫn ở chung với cô?

    –  Cậu lớn sống chung với cô bạn gái người Na-uy hơn hai năm thì chia tay, còn cậu út vẫn chưa lập gia đình. Tuy nhiên, hai cậu đều ở riêng.

    Cuối cùng, vợ chồng tôi quyết định hủy bỏ chuyến đi London. Phải gọi sang xin lỗi và giải thích cho vợ chồng cô con gái, bảo đây là một việc ba má cần làm để giúp cho những người bất hạnh có thể tìm lại ít nhiều hạnh phúc.

    Lễ thành hôn được tổ chức buổi sáng thứ Bảy. Chúng tôi đến khách sạn Royal Christiania khi trời vừa mới trải qua một cơn mưa hạ. Ánh nắng bắt đầu chói chang rọi qua những tàn cây tạo thành những vệt lung linh trên các bãi cỏ xanh điểm những chấm vàng rực rỡ của hoa løvetann đang mùa nở rộ. Họ nhà trai dùng khách sạn này, nơi mẹ con Kiều và hai cậu em đang ở mấy hôm nay, làm “điểm xuất phát”. Từ Trondheim xuống, nên họ chỉ có bốn người. Thêm một cậu người Na-uy ở Oslo, bạn học của Bách làm phụ rể. Vợ chồng tôi đến với hai cô con gái và ba đứa cháu, để bưng các mâm lễ vật, theo yêu cầu của Kiều. Lần đầu tiên chúng tôi gặp Bách. Cậu bé ra đời vào một đêm đông tuyết giá, trong nỗi cô đơn và xót xa của mẹ, chỉ có vợ chồng tôi, hai người đồng hương xa lạ, có mặt và nghe tiếng khóc đầu đời, bây giờ là một thanh niên tuấn tú, có học, chân thật hiền lành. Điều làm chúng tôi ngạc nhiên là Bách nói tiếng Việt rất giỏi. Bất giác, tôi nhớ tới những điều Kiều kể với vị cảnh sát ngoại kiều trước kia trong bệnh viện. Đầu óc như mơ hồ có tiếng sóng biển thét gào phẫn nộ, và hình dung tới gã hải tặc Thái Lan có mái tóc phủ xuống lưng, trên người đầy những hình xâm với đôi mắt lúc nào cũng đỏ ngầu trong men rượu. Bỗng tôi giật mình, có cảm giác như vừa làm điều phạm tội. Cố gắng hướng tâm trí tới những điều thánh thiện, tốt đẹp khác để xua đuổi hết những hình ảnh đen tối ấy vào giờ phút mọi người đang cần có niềm vui và hạnh phúc.

    Lễ thành hôn đã diễn ra tốt đẹp. Ông bà sui của Kiều đều là nhà giáo, hiểu biết và tôn trọng nề nếp cũ. Mọi nghi thức hôn lễ theo tập tục do ông bà hướng dẫn khá tỉ mỉ. Con cháu đều thành đạt, lễ phép. Tôi mừng cho Kiều, và nhất là cho cháu Bách đã may mắn là con rể của gia đình này. Có lẽ thấu hiểu hoàn cảnh của Kiều với lòng mến mộ, sau khi lạy ông bà trên bàn thờ gia tộc, ông giáo hướng dẫn cô dâu chú rể đến dâng rượu và xin lạy mẹ của Bách hai lạy. Ông giải thích, một lạy cảm tạ công ơn sinh thành dưỡng dục của mẹ, mất chồng từ khi còn rất trẻ, nhưng không bước thêm một bước nào nữa mà dành hết cuộc đời cho đứa con duy nhất của mình. Một lạy xin mẹ nhận thay cha, để hai con tưởng nhớ đến người cha bất hạnh, sớm lìa đời khi chưa thấy mặt con.

    Khi vợ chồng cháu Bách mời rượu, nói những lời cám ơn thật cảm động, Kiều âu yếm nhìn hai con, định nói điều gì, nhưng rồi nghẹn ngào. Sau một lúc mới nở được nụ cười trong ràn rụa nước mắt. Tôi thấy lòng bâng khuâng. Thầm mong đó không phải là những giọt nước mắt xót xa mà là niềm vui của hạnh phúc.

    Không khí bỗng lắng xuống. Mọi người đều xúc động. Kiều ngước lên, đúng vào lúc tôi quay mặt đi để giấu những giọt nước mắt của chính mình.

    phạm tín an ninh

  • Văn

    CON THÚ BỊ RUỒNG BỎ

    CON THÚ BỊ RUỒNG BỎ

    Một truyện ngắn của Nguyễn Dậu

    Mỗi năm vào dịp sang thu, tôi lại được mời lên Ba Vì một lần. Đây là một vùng gò đồi rất đẹp. Hàng ngàn quả đồi nõn nuột cỏ xanh, tròn trịa như một mâm xôi. Rồi kế đến là vùng đồi dứa, đồi sim, đồi sơn, đồi trẩu. Càng vào sát chân núi, rừng càng rậm rạp dần, thâm u dần, để trở thành rừng già trùm lấp những tảng đá nguyên sinh nổi tiếng trên non Tản.


    Bạn tôi, thiếu tướng Nguyễn Hồng Quyền đã nghỉ hưu và định cư tại nơi đây. Trang trại của ông – có thể gọi như vậy – gồm gần hai chục nóc nhà làm bằng gạch và gỗ, nằm trên một trái đồi hình yên ngựa, xung quanh có hai ba dòng suối nhỏ uốn lượn vây bọc. Xa hơn nữa, một dòng sông mênh mang đỏ rực phù sa, đang cuồn cuộn chảy xuôi, mất hút vào giữa những eo núi hẻo lánh.


    Thật ra mảnh đất này không phải là đất tổ của Quyền. Năm 1948 chúng tôi có dịp chiến đấu chống Pháp ở đây. Rồi tới năm 1953 lại một phen nữa, đơn vị chúng tôi nhận nhiệm vụ phá bung hành lang trung du của địch mở lối thông thoát ở miền đồng bằng lên Việt Bắc, qua nẻo Hòa Bình, Sơn Tây, Phúc Thọ. Trong một tối lửa trại liên hoan quân dân, trung đoàn trưởng Nguyễn Hồng Quyền được một cô gái xinh đẹp nhất vùng Bất Bạt say đắm. Ở anh có nét điển xảo của trai Hà Nội, có tư thế hiên ngang, có ngựa hồng, côn-bát là hình ảnh “trai thời loạn” rất dễ làm xao xuyến những trái tim thiếu nữ thời bấy giờ. Họ thành vợ thành chồng. Con cái của họ giờ đã khôn lớn, hầu hết đi công tác ở nơi xa. Cố nhiên họ đã nên ông nên bà, và có một đàn cháu nội cháu ngoại khá đông đúc.


    Thiếu tướng là một con người sởi lởi, hào phóng, chí tình chí cốt với họ hàng và bầu bạn. Nhưng ông mắc bệnh gia trưởng quân phiệt một cách nặng nề. Ông yêu thương mọi chiến sĩ, nhưng cậu nào bướng bỉnh, ông cho đi an dưỡng hoặc cho thuyên chuyển tới đơn vị khác không thương tiếc. Ông đùm bọc họ hàng đến hết mình, nhưng chớ nên để ông phật ý. Chỉ một giận dữ nhỏ, ông thù ghét rất lâu, thậm chí đáng buồn là ông ghét họ suốt đời.


    Như nhiều người khác, ông cũng mắc bệnh nghề nghiệp. Nghĩa là ông ưa mọi ý muốn của ông phải được chấp hành, mọi rắp tâm phải được thực hiện. Bởi vậy, con dâu về ở cạnh ông đã đành. Con rể cũng phải về ở cạnh ông nữa. Rồi dần dần, một số con cháu trong họ cũng thiên cư đến đây quây quần cùng ông, cho “tre ấm bụi”. Không cần phải khéo léo cho lắm, ở cương vị ấy, người ta dễ dàng “ngói hóa” cho cả xóm. Thế là cái xóm nhỏ gồm toàn con cháu của ông, trở thành trang trại. Sau khi về hưu thì vị thiếu tướng nghiễm nhiên trở thành chòm chóp của trang trại này.


    Mới sáu mươi hai, thiếu tướng còn trẻ khỏe hơn tuổi tác. Ông cao lớn đẫy đà hồng hào, dáng đi mạnh mẽ, giọng nói oang oang, tiếng cười rồ rộ, tràn trề sức sống. Tuy đầu óc ông không còn thích nghi với một đơn vị chính quy hiện đại nữa, song ông quá thừa năng lực điều khiển việc sản xuất kinh doanh của trang trại, để cho nó ngày một phồn vinh sung túc.
    Ngoài công việc điều hành trang trại, thiếu tướng đặc biệt ham thích săn bắn, câu cá, cờ tướng. Đôi khi, cao hứng lên, ông cũng làm thơ. Những bài thơ Đường luật, lổn nhổn những từ ngữ xửa xưa: sơn hà, tráng sĩ, vung gươm, thôn nữ cửi canh, chinh phụ, bồi hồi v.v…


    Bởi tôi cũng thành thạo vài ngón như bắn súng, câu cá và ham cờ, nên vừa là niềm vui vừa là tai họa, mỗi năm ông bạn già ấy lại “buộc” tôi phải lên chơi với ông một lần, thậm chí, ông có lúc còn chèo kéo tôi lên định cư hẳn cùng ông, làm quân sư quạt mo cho ông trên một số lĩnh vực.


    Lần này, Nguyễn Hồng Quyền xuống tận Bất Bạt để đón tôi. Thiếu tướng không dùng xe máy “Ban căng” như mọi lần. Thay vào đó, ông cưỡi một con ngựa trắng đực tơ, bốn vó khá dài. Trên tay ông dong theo dây cương một con ngựa hồng cái, có bộ lông rất mượt, có cặp mắt màu vàng chanh, và bộ lông bờm màu hồng thật không gọt xén. Trao cương ngựa cho tôi, ông vừa vỗ về con Hồng, vừa nhìn tôi cười ha hả:
    – Sao? Ngạc nhiên lắm à? Có gì đâu, tớ muốn chúng mình lại cùng nhau phóng ngựa, như ngày xưa trẻ trung đã phi ngựa trên thảo nguyên Hoa Bắc ấy mà. Xương sống lưng của tớ thì tuyệt rồi. Mà xương sống của ông thì chắc cũng chẳng kém gì đâu. Đồng ý chứ?
    Tôi tỏ vẻ hân hoan. Bởi vì cái gì dính tới thời son trẻ cũng gây cho tôi một niềm ham thích.


    – Đồng ý thôi. Chỉ phiền cái xắc du lịch của mình hơi nặng.
    – Cứ ghì vào sau yên ấy. Con Hồng không chịu nhường bước con Bạch đâu. Rồi ông sẽ thấy nó phi nước đại hay đến mức nào. Phải tháo kính trắng ra bỏ vào túi áo, kẻo văng mất đấy.
    – Cặp ngựa này ông sắm từ bao giờ vậy? Năm ngoái tôi không thấy chúng.
    – À, mới lên Lạng Sơn tậu đấy. Lúc thường thì dùng chúng kéo máy ép mía, máy ép dầu. Lúc cần thì đi săn. Săn thú mà không có ngựa tốt để cưỡi thì nguy hiểm lắm. Ông quá rõ điều đó còn gì? Thôi, lên ngựa đi!
    Chúng tôi cùng lên ngựa. Quyền huýt gió một tiếng chói tai. Từ bụi cỏ gần đấy, một con chó to lớn mầu trắng đen loang lổ, băng lại cạnh chân ngựa. Nó ve vẩy đuôi, giương cặp mắt xanh thau, chờ lệnh chủ.


    Thiếu tướng hể hả, hất hàm hỏi tôi:
    – Ông vẫn nhớ nó chứ?
    – Làm sao tôi quên được con Tuýt của ông. Không phải chó nữa, mà thực sự là con cọp rừng. Năm nay nó đến bốn chục kilô đấy nhỉ?
    Vị chòm chóp của trang trại cười rung cả yên ngựa:
    – Bẩy mươi bẩy kilô đấy!
    Thế còn con Múc?
    – À, Con Múc, cái con trời đánh ấy ông nhắc đến nó làm gì? Rồi thì tôi sẽ cho ông rõ mọi chuyện. Ê, này Tuýt! Mày không kính chào bạn của chủ mày à?


    Con Tuýt ngoáy tít cái đuôi dài, “oẵng” một tiếng hùng dũng. Đoạn nó đứng thẳng lên bằng hai chân sau, hai chân trước chụm lại, hướng về tôi mà vái ba vái.


    – Thôi, đủ rồi – Chủ nó ra lệnh – Hãy dẫn đường cho chúng tao.
    Con Tuýt vọt lên trước. Con ngựa Bạch lao theo. Không chờ giật cương, con Hồng cũng băng lên, phi song song cùng bạn nó. Chúng tôi vùn vụt phi lên đèo, lượn quanh suối rồi lại vượt dốc, băng đèo. Sau lưng chúng tôi, bụi đỏ của vùng đồi đá ong bốc lên cuồn cuộn.


    Con Tuýt xứng đáng được chủ nó cưng chiều. Nó bỏ xa đầu ngựa hàng trăm mét. Có lúc nó tạt sang sườn trái, có lúc nó lại vòng bên sườn phải chúng tôi. Bốn chân nó thoăn thoắt, mờ mờ không còn rõ hình hài. Bộ lông khoang của nó như kẻ một đường thẳng trên ngọn cỏ. Đôi lúc, nó đánh hơi thấy một mùi hoang thú nào đó. Nó lập tức rống lên, rẽ ngang vào rừng sơn. Song dù máu săn của nó nóng tới đâu, nó vẫn nghe lệnh chủ mà quay ngoắt trở lại, rồi vun vút băng vọt lên dẫn đầu. Đôi ngựa chúng tôi đang cưỡi đây, cũng rất hăng máu non tơ, dường như muốn đuổi vượt con chó Tuýt. Chúng thở ra hơi trắng, bốn vó dồn dập sải dài nước đại. Sỏi đá, cây cỏ dưới mặt đường, như kéo thành vệt, loang loáng trôi về sau lưng. Nhưng không ổn. Chẳng nói gì ngựa thồ, ngựa ép mía, ngay đến ngựa chiến cũng không thể theo kịp tốc độ của chó săn. Con Tuýt láu lỉnh hiểu ý đôi ngựa. Ngựa phi nhanh, nó tăng tốc nhanh hơn. Ngựa chậm dần, nó hãm đà phóng, cứ lững thững ở mé trước như trêu như chọc.


    Quả thật đây là những giây phút sung sướng lành mạnh trong đời tôi. Thuở trai trẻ, chúng tôi được dịp ngồi trên yên những con ngựa cao lớn mà bay vút trên thảo nguyên bao la. Những con ngựa ấy, tôi chỉ đứng ngang bả vai chúng, rất xứng đáng với những cái tên rất kêu: “Thiên-lý-Hoa-lưu”, “Tích-tuyết-ô-truy”, “Xiển-điện-hoàng-phiêu”… so với chúng, thì hai con ngựa nhiệt đới mà chúng tôi đang cưỡi đây, chỉ đáng gọi là những con nghẽo xoàng xĩnh. Song tôi vẫn thấy chứa chan hào hứng. Tôi thầm cảm ơn bạn già, cảm ơn đội ngựa, cảm ơn con Tuýt tinh thông, cảm ơn đất trời mênh mông và cảnh sắc của thiên nhiên hào hùng xung quanh… Tất cả đã khuấy lại trong tim tôi những kỷ niệm đẹp đẽ đã trôi qua, những sôi nổi chỉ còn âm ỉ của một thời xuân sắc đã lướt vào dĩ vãng.
    Vị chòm trại đột ngột chụm môi rúc còi lanh lảnh ra lệnh cho chó và ngựa dừng lại bên bìa rừng trẩu.
    – Được nửa đường rồi, chúng ta tạm nghỉ một lát. Thế nào, ông bạn, cảm giác về sống lưng ra sao?
    Cả hai chúng tôi cùng nhảy xuống. Cương ngựa được cột chặt vào gốc trẩu. Chúng lúc lắc đầu, quạt mạnh đuôi, gõ móng ngựa thậm thịch xuống nệm cỏ, tỏ ý còn muốn được rong ruổi nữa, tuy rằng hơi thở của chúng đã khá nặng nề.


    Chúng tôi ngồi xuống nệm cỏ mật, giữa hai hàng trẩu non. Thiếu tướng rót rượu mật ong ra. Chúng tôi cùng nhau tợp vài ngụm rồi hút thuốc lá, loại thuốc sợi vàng óng, đặc sản của Ba Vì. Riêng Quyền, ông nhồi vào tẩu. Ông đã quen dùng tẩu từ mấy chục năm rồi.


    Tôi lim dim mắt, hỏi bạn già.
    – Tình hình các cháu nội ngoại của ông ra sao? Nhất là cái con Quỳnh ấy?
    – Chúng nó đều ăn khỏe, ngủ khỏe. Riêng cháu Quỳnh thì ngoài phần học văn hóa ra, cháu vẫn thích đi chơi trên đồi rừng, vẫn thích làm thơ về rừng. Từ ngày không còn con Múc, nó ít đi rừng hơn. Và tôi cũng cấm cháu nữa.
    – Nghĩa là, anh không hề thấy con Múc quay trở về?
    – Con Múc trở về ấy à? – Thiếu tướng mỉm cười, lắc đầu nhè nhẹ – Về con Múc, anh sẽ được thấy mọi điều. Hiện giờ tôi không muốn nói cùng anh vội. Nhớ rằng tôi mời anh lên đây lần này khác hẳn những lần trước. Dù rằng anh không ưa săn bắn, tôi vẫn ép anh phải dự cùng tôi một cuộc săn bắn bằng được.
    – Một con thú đặc biệt mới xuất hiện chăng?
    – Ồ, bí mật quân sự!


    Tôi không hỏi gì nữa. Tính nết đến khỉ của cái ông già này là vậy! Khi không, tự dưng ông nói tộc toạc đủ mọi điều. Lúc thích hỏi, thì ông ta lì lì ngậm tăm.


    Con Tuýt nằm duỗi chân cách chủ nó chừng nửa mét. Lười thè dài, mầu đỏ hồng có điểm những chấm đen lấm tấm. Thân nhiệt của nó, được xả ra từ đầu lưỡi, bốc thành hơi trắng nóng hầm hập. Hàm răng của nó trắng bóng. Bốn chiếc răng nanh cửa dài và cong, sáng nhoáng đến dễ sợ. Chẳng rõ từ ngày nó ra đời rồi trưởng thành đến nay, bộ nanh ghê gớm kia đã cắn xé biết bao gà lôi, với chim đa-đa, thỏ và chồn, hươu và hoẵng, gấu và cáo. Kinh dị hơn, chủ nó đã đôi lần tường thuật cho tôi nghe những trận ác đấu của nó với gấu ngựa và báo đen. Trong những cuộc cắn xé sinh tử đó, phần lớn nó đã chiến thắng, dù đẫm máu nhưng huy hoàng. Có nhiều phen nó đã sắp bị kẻ thù xé xác, nhờ nòng súng thiện xạ của ông chủ, nó được cứu thoát. Chủ và chó đều có ân huệ sâu xa với nhau.


    Nếu như chủ đã cứu chó thoát khỏi cửa tử nhiều phen, thì chó cũng đã dăm bảy bận đưa chủ trở về cõi sống.
    Trong các cuộc săn đuổi gay cấn và hấp dẫn lạ lùng kia, thiếu tướng đã hai phen bị báo gấm vồ lén, đã một lần bị gấu ngựa quật ngã. Mỗi lần ngặt nghèo vậy, con Tuýt mới được dịp bộc lộ hết tài năng của nó. Nó nhanh chóng chọn chỗ yếu của hoang thú, để tìm hướng lao vào. Không do dự trù trừ, không hấp tấp sai lệch, nó chồm tới, ngoạm rất chính xác vào cổ họng ác thú mà xé rách bằng hai ba cái quẫy đầu mạnh mẽ. Ác thú bị đòn chí tử, không còn kịp gây thương tích cho chủ nó nữa.


    Nguyễn Hồng Quyền thường đắc ý nói với tôi:
    – Anh rõ chăng, lúc nó mới chào đời, tôi đã thấy “tướng lạ” của nó. Dưới hàm của nó có ba sợi lông dài màu xanh biếc. Chỉ người sành chọn chó mới hiểu thế nào là “tam tu vi long, nhị tu vi hổ”. Đấy, thế đấy. Chó của tôi thì kém đếch gì một con beo? Này, anh có nhớ thượng tướng Th. không? Cái ông già gàn dở nổi tiếng toàn quân về phong thái “hiên ngang” ấy mà, đã gạ tôi đổi con Tuýt lấy một cặp béc-giê Sibêri đấy. Ồ, xin lỗi! Ngài hãy đổi cho tôi một cặp rồng thực sự, tôi cũng xin kiếu ngài thôi.


    Trong các cuộc săn đuổi gay cấn và hấp dẫn lạ lùng kia, thiếu tướng đã hai phen bị báo gấm vồ lén, đã một lần bị gấu ngựa quật ngã. Mỗi lần ngặt nghèo vậy, con Tuýt mới được dịp bộc lộ hết tài năng của nó. Nó nhanh chóng chọn chỗ yếu của hoang thú, để tìm hướng lao vào. Không do dự trù trừ, không hấp tấp sai lệch, nó chồm tới, ngoạm rất chính xác vào cổ họng ác thú mà xé rách bằng hai ba cái quẫy đầu mạnh mẽ. Ác thú bị đòn chí tử, không còn kịp gây thương tích cho chủ nó nữa.


    Nguyễn Hồng Quyền thường đắc ý nói với tôi:
    – Anh rõ chăng, lúc nó mới chào đời, tôi đã thấy “tướng lạ” của nó. Dưới hàm của nó có ba sợi lông dài màu xanh biếc. Chỉ người sành chọn chó mới hiểu thế nào là “tam tu vi long, nhị tu vi hổ”. Đấy, thế đấy. Chó của tôi thì kém đếch gì một con beo? Này, anh có nhớ thượng tướng Th. không? Cái ông già gàn dở nổi tiếng toàn quân về phong thái “hiên ngang” ấy mà, đã gạ tôi đổi con Tuýt lấy một cặp béc-giê Sibêri đấy. Ồ, xin lỗi! Ngài hãy đổi cho tôi một cặp rồng thực sự, tôi cũng xin kiếu ngài thôi.


    Vốn thâm giao, thường niên gặp gỡ, lẽ cố nhiên tôi hiểu rõ lai lịch con Tuýt vô giá kia. Tổ của nó vốn nòi chó săn Na-uy băng giá. Trong trận tiêu diệt đồn Đại Bục năm xưa, giữa hàng trăm chiến lợi phẩm quan trọng, trung đoàn trưởng Nguyễn Hồng Quyền chỉ mừng rỡ khi đoạt được con chó săn này, vốn là kẻ “cận vệ” của tên Pháp đồn trưởng. Ông gởi về nhà, giao cho vợ ông trông nuôi. Trong đàn con cháu của nó, ông Quyền chọn lựa được một con chó cái mầu trắng như tuyết, không pha tạp một sợi lông màu nào. Và ông đặt cho nó một cái tên rất âu yếm: Bạch Ngọc!


    Bạch Ngọc có đôi tai nhỏ, dựng đứng. Ức nó nở, bụng nó thon, toàn thân nó chắc nịch như thỏi giò bó. Đôi mắt của nó mang màu da cam, le lói tia sáng. Nó không sủa inh ỏi như chó nhiệt đới, mà lặng lẽ tiếp cận đối thủ, và chỉ tấn công khi nó biết chắc sẽ có một cú đợp chí mạng.


    Năm trước một lần về phép thăm nhà, thiếu tướng lấy làm lạ lùng thấy con Bạch Ngọc thường hay lặng lẽ băng mình vào rừng sâu những lúc xế chiều. Ông xỏ ủng da vào chân, xách khẩu AR15, loại tiểu liên cực nhanh, rồi cũng lặng lẽ đi vào rừng, theo hướng đi của con Bạch Ngọc.


    Từ xa, dưới một góc trám già nua, ông đã thấy Bạch Ngọc đang đùa giỡn với một con chó rừng vạm vỡ, có bộ lông đen bóng như lụa lĩnh. Ông rón rén vòng theo hướng ngược chiều gió, dần dần tới gần đôi chó bằng động tác đi cực kỳ êm nhẹ của thợ săn lành nghề. Và ông nằm phục xuống quan sát.


    Đôi chó quá vui vẻ, nên không hề phát hiện con người đã gần chúng. Nòng súng AR15 đã được nâng lên. Song, chỉ một tích tắc ngắn ngủi, vị thiếu tướng tinh ranh đã quyết định không bóp cò. Ông chỉ rê đầu súng theo hoạt động của con chó rừng đen tuyền kia, mà chờ đợi.


    Con chó rừng và con Bạch Ngọc ngửi hít nhau, đùa rỡn vật lộn nhau. Sắp đến lúc phấn khích, con chó rừng rụt cả đầu, cả thân mà chạy thành vòng tròn rộng xung quanh con Bạch Ngọc. Đôi lúc nó ngẩn cao đầu, tru lên từng hồi dài, rồi tung vọt người lên không, nhảy vút từ tảng đá này sang tảng đá khác với niềm cuồng say ghê gớm. Con Bạch Ngọc cũng nhảy nhót, nhưng dường như nó chỉ xoay mình trên tâm điểm. Cuối cùng nó hứng khởi cắn nhẹ vào má con chó rừng, rồi đứng im với tư thế mời mọc.


    Quả như ông thiếu tướng dự kiến. Một hiện tượng thiêng liêng của tự nhiên đã diễn ra. Con chó rừng hăm hở làm cái việc gắn đuôi con Bạch Ngọc. Biết chắc rằng đôi chó rừng không thể mau chóng tách rời nhau, thiếu tướng đứng lên, nhẹ nhàng lùi dần ra cửa rừng. Ông ngồi trên một khúc gỗ ẩm ướt, mồi lửa vào tẩu thuốc và ngâm nga một câu thơ gì đó. Ông vui! Một cuộc phối giống vô cùng hiếm hoi mà có dụng ý đến đâu người ta cũng không dám mong ước. Thiên nhiên yêu chiều ông đến thế là cùng.


    Chừng nửa tiếng sau, con Bạch Ngọc êm như ru chạy ra. Nhác thấy chủ, nó ngạc nhiên nhưng mừng quýnh. Đôi mắt sung sướng của nó lấp lánh như bốc lửa. Ông Quyền đập nhẹ bàn tay lên đầu nó, nói với nó vài lời trìu mến, khi nhìn thấy từ cục thịt dưới đuôi nó rỉ ra vài giọt máu tươi. Đoạn, cả chủ cùng chó, với niềm hoan hỉ, chậm bước quay về trại. Đó là lần đầu tiên và cũng là lần duy nhất, con người say sưa sát phạt kia đã không nổ súng vào một con thú rừng.


    Trước khi lên xe, trở lại đơn vị, ông dặn dò cặn kẽ vợ con cách chăm sóc và bồi dưỡng Bạch Ngọc, đồng thời phải biên thư báo cho ông biết diễn biến của nó từng tuần một. Bà Quyền ngoan ngoãn vâng lệnh chồng! Bà chỉ âm thầm buồn bực vì xưa nay chưa bao giờ chồng bà quan tâm như thế tới bà, tới con gái và con dâu mỗi kỳ thai nghén sinh nở.


    Con Bạch Ngọc đã không phụ lòng ông chủ. Nó đẻ lứa đó được bốn con chó con. Con đầu khoang đen trắng, tức con Tuýt. Con thứ hai hoàn toàn đen kịt, có cặp mắt tóe lửa giống mẹ, được đặt tên là Múc, còn hai con kia mang mầu lông xám đậm. Tuy tiếc đứt ruột, vị thiếu tướng vẫn phải tặng một con cho một ông Bộ trưởng có ân sâu dìu dắt ông tự thuở thiếu thời.


    Khi Tuýt và Múc được tám tháng tuổi, cũng là lúc ông tướng già được về hưu. Ông dốc hết sức mình vào việc dẫn dắt trang trại ngày một phồn vinh trên đường kinh doanh. Cũng với sự tận tình như vậy, ông chăm sóc, huấn luyện con Tuýt, con Múc cùng một bầy năm sáu con chó săn khác. Tuýt và Múc càng lớn càng khác biệt nhau. Cùng vạm vỡ, cao lớn, cùng ngông cuồng với thiên chức săn đuổi tìm diệt, song con Tuýt được chủ nó yêu quý hơn con Múc nhiều. Tuýt biết phán đoán, ửng xử hầu hết ý chủ. Nó gần như hiểu tiếng người. Ngoài chức trách dữ dằn, quyết liệt và man rợ trong săn bắt, nó rất dịu dàng, quấn quít con người. Chỉ cần dạy bảo đôi lần, nó biết mừng đón và biết vái chào, biết canh phòng và làm vui lòng chủ. Nếu cần sai nó lấy đôi dép, lấy con dao, lấy chiếc điếu cày, nó làm rất khéo. Nếu cần thúc nó trừng phạt gia cầm và gia súc, nó tuyệt đối làm vừa ý chủ.
    Con con Múc thì hoàn toàn ngược lại.


    Nó không hề thua kém Tuýt về khoản săn đuổi, vật lộn và cắn xé. Nhưng chỉ thế thôi. Nó dửng dưng với những việc mà con Tuýt say mê. Nó không quẩn quanh bên chân chủ, không biết chào đón, lại càng đần độn với những việc chủ muốn sai khiến. Trong cái trại đông đảo người này, nó chỉ thân thiết và gắn bó với riêng cháu Quỳnh. Mỗi lần cháu Quỳnh lên đồi sim, hoặc vào rừng, nó thường đi theo, nửa bước không rời. Những lúc tiễn cháu Quỳnh đi học rồi, nó thường quay về nằm duỗi dài chân ở đầu thềm dỏng tai nghe, chăm chú nhìn. Nó nghe gió ngà, nghe suối reo, nghe mọi động tĩnh trong rừng sâu. Đầu mũi ướt bóng của nó luôn luôn nhún động, để như nắm bắt, như phân biệt, như tận hưởng mọi thức hơi lạ theo gió lùa tới.


    Nó thờ ơ như vậy, dần dà, nó bị ông chủ ghẻ lạnh. Ông quên đi những công lao của nó, chỉ còn biết cáu gắt quát tháo mỗi khi nó lỳ lợm không chịu xua đuổi đàn gà quấy phá vườn rau, hoặc không chịu xua đuổi lũ gia súc đang tứ tán trên đồi. Tình hình xấu đến nỗi, ông đã quất cho nó vài ngọn roi da, khi nghi ngờ nó xơi tái mất hai con gà trống Đông Cảo, mà ông lận đận về mãi miền Từ Hồ mới mua được.


    Trong nghề săn bắn và nuôi dưỡng chó săn, ai cũng biết rằng người ta tuyệt đối tránh ngược đãi chó của mình. Sự trung thành sẽ mất đi, nếu con chó bị trừng phạt oan uổng. Một con người tinh ranh và sáng suốt như thiếu tướng Hồng Quyền mà cũng phạm phải sai sót đó, thật đáng buồn biết chừng nào.
    Sở dĩ ông thù ghét nhưng chưa nỡ ruồng bỏ con Múc vì hai lý do. Thứ nhất, ông sợ cháu Quỳnh buồn. Ông yêu thương và quý báu cháu Quỳnh, còn cháu Quỳnh thì lại trìu mến con Múc như một bạn nhỏ thân thiết. Thứ hai, hồi đầu năm, con Múc lập được một chiến tích có thể xem là phi thường được.


    Những ngày đầu xuân, mưa phùn và nắng ấm, làm cho rừng già trở nên tươi rói vì những búp nõn và chồi non. Tại các nẻo đồi mươn mướt từng đợt cỏ xanh mềm như nhung lụa. Muông và thú trong rừng sau đợt nghỉ đông hoặc ngủ đông dài dặc, bây giờ bừng tỉnh, nhộn nhịp đi kiếm ăn, tìm đôi, phối giống, và sinh sản.


    Một đàn lợn rừng từ bên kia sông Đà, đã ùa sang bên này. Các đồi lạc, đồi dứa của trang trại bị lợn rừng tàn phá nặng nề. Ông Quyền cùng Quý, con trai thứ ba, quyết định rủ nhau đi săn bắt đàn lợn rừng tệ hại kia. Lợn rừng chậm chạp, chỉ cực kỳ hung dữ khi bị dồn vào tử địa. Có khoảng sáu con họp thành đàn, đang trũi húc vào các luống lạc. Khi phát hiện ra có người và chó vây bủa, chúng mở đường máu lao về phía sông Đà. Chúng đi, tựa sườn vào nhau, hai nanh dưới to bằng ngón tay trỏ, nhe ra, lông bờm dựng đứng. Đàn chó phân vân, không biết nên tấn công đàn lợn bằng cách nào. Những mảnh đạn ghém tuy trúng đích cũng không khiến chúng ngã được, bởi lớp mỡ quá dày.


    Bản thân vị thiếu tướng cũng có phần lúng túng, chưa có cách nào để đạt kết quả tối ưu. Trong khi đó, đàn lợn vẫn rất trật tự, tựa sườn vào nhau mà lần lượt xuống sông bơi đi hết. Riêng có con đầu đàn, khổng lồ, không hiểu sao nó lại không lao xuống nước. Nó dừng chân bên bụi lau, và quay đầu trở lại. Đôi mắt nhiều lòng trắng của nó long sòng sọc. Nó tru hộc lên, những chiếc lông cứng và dài như lông nhím dựng đứng suốt từ gáy tới lưng. Hai chiếc nanh trước trắng bóng, cong cong của nó chĩa ngược lên trời với vẻ đe dọa không thể không làm ta rùng mình.


    Con Tuýt bị chủ thúc xông lên. Chính nó cũng chần chừ. Bởi vì giống chó săn thường chỉ đánh vào điểm yếu nhất của đối thủ là hầu họng. Các loại hoang thú thường để lộ cổ họng, dù có lớp mao bao bọc. Với lợn rừng lại là chuyện khác. Nó hầu như không có cổ. Lớp mỡ dầy đặc ứ bự xung quanh vùng mặt, nối liền bả vai và xương ức.


    Bị hối thúc vì lệnh chủ, con Tuýt nhảy vào. Nó ngoạm đúng phần má của con mồi. Nhưng nó đã bị trừng trị trở lại. Con lợn rừng chỉ hất mạnh cái mũi lên, hai chiếc nanh nhọn đã đóng ngập vào xương sườn con Tuýt. Con Tuýt rống lên đau đớn, nhưng nhanh nhẹn, nó vùng thoát rồi chạy về bên chủ, máu chảy đầm đìa. Ông thiếu tướng kinh hoàng vì đấu sĩ số một của ông chiến bại. Ông lập tức nâng khẩu AR15 lên. Cùng lúc ấy con Múc đã xông tới. Ông liền ngừng lại để xem bản lĩnh của con Múc. Con Múc hiểu rằng, qua cú đòn đau của con Tuýt, nó không thể ngoạm cổ con lợn rừng được. Nó liền chạy vòng quanh con mồi. Con lợn rừng hung tợn và lỳ lợm cũng xoay tròn thân mình, đôi mắt trắng sáng không rời con Múc. Bất thình lình, đang đà chạy bình thường, còn Múc nhảy vào con lợn. Nhưng khi gần tới cổ lợn, nó ngoặt người đổi hướng và đợp rất chính xác vào cẳng chân sau của con mồi. Tiếng xương gãy nghe ròn lắc rắc. Con mồi rống lên, nhưng con Múc đã vọt được ra xa. Lợn rừng hung tợn lên gấp trăm lần. Nó khập khiễng nhưng nhanh nhẹn xông vào tấn công bất kỳ ai. Cũng may hôm ấy tất cả đều ở trên mình ngựa, nên bầy ngựa nhảy dạt ra khá nhanh nhẹn. Cơ hội tốt đẹp đó tạo thuận lợi cho Múc. Trong khi con lợn xông theo con ngựa của ông Quyền, thì từ mé sau, con Múc băng tới, và ngoạm vỡ xương chiếc chân bên kia của con lợn. Lúc này con lợn mới rống lên thảm thiết. Gãy hai cẳng giò mé sau, nó không còn sức bật sức dướn nữa. Nó nằm bẹp xuống, điên cuồng dũi răng nanh vào đất đá, làm cho đất đá bị lõm thành một hố sâu. Phần còn lại, Múc dành cho người và bầy chó kia kết thúc. Nó đứng im, vừa thở vừa ngắm nghía con mồi bị nó đánh gục.


    Sau cái chuyện đó, ông Quyền, với con mắt người đi săn thấy rằng ở con Múc còn nhiều tiềm năng ghê gớm, mà chỉ khi lâm sự nó mới bộc lộ ra. Còn với cặp mắt của người chủ, ông vẫn không xóa bỏ được mối ác cảm đối với “tên đày tớ” ương bướng này.


    Trở về trại, ông chăm sóc chu đáo vết thương con Tuýt, nhưng việc cần phải làm là ban thưởng cho con Múc thì ông không làm.
    Năm trước lên thăm và ở chơi cùng ông Chòm Trại, tôi đã thân ái nhắc nhẹ ông về tính công bằng, và sự cần thiết phải gạt bỏ thành kiến. Song, ông bạn già của tôi vốn không thể cao cả hơn thượng đế được, mà chính thượng đế rất bảo thủ. Ông cười, chế nhạo lại tôi:
    – Trừng phạt và ưu ái là hai mặt của sự chăm sóc và gây dựng. Nếu con Múc muốn tôi ưu ái nó thì nó hãy ngoan ngoãn như con Tuýt. Tôi có hẹp hòi gì đâu? Mà, có nực cười không nhỉ, khi anh thấy cần giảng dạy cho tôi về mặt nuôi dạy chó săn?


    – Về việc đào tạo chó săn thì anh hơn tôi không chỉ một, mà là hàng vạn lần. Tôi chỉ lưu ý anh về tính di truyền sinh vật. Theo anh kể, bố nó là giống chó rừng thuần chủng. Còn mẹ nó là nòi giống của loại chó tinh quái có nguồn gốc hàn đới xa xôi, đã được thuần hóa. Con Tuýt được thừa hưởng cái gien máu của mẹ nó quá nhiều. Còn con Múc thì ngược lại, nó giống bố nó từ thể hình, màu lông và tính cách. Ở nó tính “rừng” đậm hơn tính “nhà”.
    Thiếu tướng cười

    vang vọng, đắc thắng:
    – Theo ý anh thì con hổ và con voi rừng có mang tí tính “nhà” không? Vậy mà người ta dạy nó làm xiếc được đấy. Vấn đề là nó có ngoan ngoãn không? Có phục tùng không?
    – Nhưng anh đã có tình thương yêu và tính kiên nhẫn của những nhà dạy thú chưa?


    Ông tướng già quen với việc ra mệnh lệnh lúc này mới im bặt. Ông trầm ngâm giây lâu, đoạn vỗ vai tôi:
    – Này, mình tặng con Múc cho ông đấy!
    – Tặng tôi?
    – Mình rất thực tâm. Có lẽ ở cùng ông thích hợp cho nó hơn.
    – Ôi, cảm ơn tình bạn của anh. Nhưng, tôi biết dùng nó vào việc gì? Chả lẽ để nó canh chừng những con sâu mọt đục phá cái bàn viết của tôi à? Vả chăng, tôi biết kiếm đâu ra thịt sống để nuôi nó, trong khi chính tôi cũng chả có thịt mà ăn?


    Chúng tôi lại cười, và cùng cười rồ rộ. Nguyễn Hồng Quyền không phải con người lúc nào cũng cố chấp, ông ta chỉ bướng bỉnh lúc nào bị sự ngu dốt xúc phạm. Trộn lẫn trong tim ông có tính hồn nhiên, phóng khoáng, tự phụ và hiếu thắng, nên nói chung, ông ta không giận bực lâu. Sự hào phóng và khoáng đạt vẫn là phong thái chủ chốt của ông.


    Tuy chưa hoàn toàn gạt bỏ sự căm ghét con Múc, song ông xem chừng cũng muốn mối quan hệ xấu ấy được đổi khác đi. Một hôm, để con Tuýt ở nhà, ông gọi riêng con Múc ra sông tắm cùng ông. Chủ và chó cùng bơi lội đùa nghịch. Ông ôm con Múc vào vòng tay, ngắm nghía những sợi lông dưới cằm nó. Ông sờ nắn những cái móng đã thoái hóa ở cổ chân nó, (phương đông gọi là huyền đề).


    Lúc đầu con Múc le lói ánh mắt đề phòng người chủ. Chưa khi nào nó được ông gần gũi, xoa vuốt như lần này. Nên, với bản chất rừng, nó hoang mang nghi ngờ ông. Cử chỉ của nó rất e dè, thận trọng. Có lúc tưởng chừng như nó sắp sửa muốn liếm tay, liếm mặt ông nữa, nhưng khi gần sát ông, nó liền đứng khựng và trở lùi. Lưỡi nó lè dài, mắt nó rừng rực ngắm thẳng vào mắt ông. Người và thú cùng dò xét nhau và cùng chưa xóa bỏ được định kiến. Con Múc không biết nói gì, cái đó đã hẳn. Những cử chỉ để giải tỏ lòng trung, nó cũng không thạo nữa. Nó biết làm sao đây để ông chủ hiểu rằng mặc dù bị ông ghẻ lạnh, ruồng rẫy, nó vẫn yêu mến ông, vẫn muốn gắn bó với cái trang trại này, cái cơ ngơi này.


    Một đêm mưa rét, khi con Tuýt và bầy chó săn kia đi tìm nơi ấm áp ngủ ngon, con Múc đã phát hiện thấy một con báo gấm đang quẩn quanh ngoài hàng rào mắt cáo, tìm lối vào trại. Nếu là con Tuýt hoặc chó khác, đã sủa ngậu lên, báo hiệu cho chủ. Với Múc, nó không ồn ào thế. Nó xù lông, nhảy vút tới bên bờ rào, đôi mắt tóe lửa. Con báo gấm, một ác thú nham hiểm bậc nhất ở rừng sâu, vừa gầm gừ nhè nhẹ, vừa chạy đi chạy lại tìm một lỗ hổng to rộng. Con Múc cũng gầm gừ nhè nhẹ, bám sát con báo gấm từng bước chân để ngăn chặn. Nếu không có hàng rào tre khỏe khoắn, chắc chắn đã diễn ra một cuộc cấu xé đẫm máu, mà phần bi thảm hẳn thuộc về con Múc. Bởi vì chó rừng, dù hung hãn, đồ sộ tới mức nào cũng không phải là đối thủ của báo gấm. Khi đói khát, bị cơn đói cồn cào kích thích, báo gấm dám liều lĩnh tấn công và cắn xé cả cọp rừng.


    Cứ như vậy, hai con thú trong cái thế đối chọi qua lớp rào tre, suốt đêm mưa gió. Đã mấy lần báo gấm định leo trèo hàng rào cao. Nhưng nó biết rằng khi leo rào, nó sẽ bị phơi bụng ra. Một ác thú nham hiểm đâu có dại dột vậy.


    Lúc trời tang tảng sáng, con báo gấm đành rống lên một tiếng căm hờn, vút thẳng vào rừng. Con Múc ướt sũng, mệt mỏi bơ phờ, trở về nằm dài ở cửa buồng cháu Quỳnh.


    Chính cái lần ấy, khi thấy con Múc rũ rượi, thảm hại vì suốt đêm căng thẳng, ông chòm trại đã chỉ vào mặt nó mà mắng:
    – Mày giấu đôi gà Đông Cảo của tao ở góc nào, hang hốc nào. Đêm qua mưa gió lẻn đi làm một bữa hả hê phải không?
    Chiến công quật ngã lợn rừng đầu đàn làm cho mối quan hệ chủ và chó có phần đẹp hơn. Nếu cứ cái đà ấy, cái đà mà chiến tích của Múc ngày càng vượt trội Tuýt, thì số phận của nó sẽ đẹp đẽ nhường nào. Nhưng hỡi ơi, định mệnh của nó nghiệt ngã, số kiếp của nó có chứa sẵn một kết cục ảm đạm, nên đã xảy ra một việc cực kỳ phi lý như sau:


    Vào độ rằm tháng bảy, khắp nơi người ta náo nức sửa soạn cúng lễ vong hồn tiên tổ. Về phần mình, ông thiếu tướng với cương vị chòm chóp của trại, ông làm hẳn cỗ thái lao, để trước là tỏ lòng tri ân tổ tiên, sau là ban ân cho con cháu. Thái lao, theo tục cổ là lễ tam sanh, gồm có một trâu trắng, một ngựa trắng và một dê trắng. Ông Quyền không thể quá ư nệ cổ, nên biến báo đi chút ít: một lợn trắng, một dê trắng và một gà trắng. Thế, e là cũng quá linh đình rồi. Dê và lợn đã được quay hồng. Gà thì được rán chín cả con. Tất cả bầy đặt trên bàn thờ tổ.


    Con Tuýt quanh quẩn dưới gầm bàn thờ. Mùi vị thịt rán kích thích tì vị nó dữ dội, xưa nay nó chỉ biết mùi thịt sống và cũng chỉ ăn toàn thịt sống. Người nuôi chó săn thường dùng máu nồng và thịt gây để kích thích tính hăng say xâu xé. Chưa bao giờ Tuýt được ngửi hít hương vị thơm tho lạ lùng đến thế.


    Trên gian thờ tổ vắng ngắt.
    Cánh mũi của Tuýt phập phồng nở rộng, nước rớt nước dãi của nó lều rều theo đầu lưỡi xuống đất. Bằng một động tác còn nhanh hơn ma quỷ, con Tuýt nhảy lên ban thờ, ngoạm chắc lấy con gà quay, rồi vọt ra cửa. Nó toan tính phóng thẳng ra nơi vắng vẻ bên bờ suối.
    Tại hiên hè, nó gặp con Múc đang nằm ở buồng cháu Quỳnh. Cũng lúc đó, tiếng đế ủng của ông chủ thậm thịch nơi xa. Nó vội nhả con gà quay ra, nhảy tót vào cửa ngách, rồi êm như động tác của mèo cái, nó vọt qua cửa sổ, mất hút.


    Ông thiếu tướng tròn xoe mắt nhìn con gà thái lao có vết răng chó bập vào, rồi ông trừng mắt nhìn con Múc nằm gần đó. Giận sôi sùng sục, ông vào nhà ngang lên tiếng gọi vợ con. Đoạn, ông rút chiếc roi gân bò, chạy đến bên con Múc.


    Múc không hiểu người ta định làm gì, song nó linh cảm thấy sự chẳng lành. Nó đứng phắt dậy toan mừng chủ chút ít thì một loạt roi da xiết bỏng trên lưng nó. Con vật rú lên thê thảm, nhảy vọt ra sân, nhưng vẫn còn bàng hoàng ngơ ngác, chưa dám chạy xa hẳn. Chỉ đến lúc nhác thấy ông chủ giằng lấy khẩu súng hai nòng trên tay cậu Quý, thì nó hiểu rằng không thể chậm trễ chút nào. Từ cái “gậy” sắt ấy nó đã thấy tóe lửa nhiều lần. Sau lúc lửa tóe, có bao muông thú giãy giụa tan xác.


    Bởi vậy, nó dồn hết sức lực vào bốn cẳng, luồn lỏi qua dãy chuồng gà, chuồng lợn, rồi vượt qua cửa rào, nó lao thẳng về phía rừng. Sau lưng nó, vang lên những tiếng nổ đoàng đoàng, tiếng chiu chíu xé gió bên tai nó. Bản năng sinh tồn giục nó chạy miết. Cũng chưa khi nào nó chạy tinh khôn như lần này. Không kẻ chỉ, không thẳng băng, mà ngoằn ngoèo đổi hướng. Có lúc tiếng đạn sát sạt trên lưng, nó nằm lăn ra, giả tảng chết. Rồi thình lình lại vọt lên, băng đi như một vệt đen mờ ảo.


    Vào tới rừng, nó đứng lại quay nhìn xóm trại. Nó thoáng thấy ông Quyền và cậu Quý trên yên ngựa. Dẫn đầu đàn chó săn tầm thường là con Tuýt – anh ruột nó, kẻ xảo quyệt đáng ghê đối với nó. Thế là nó chạy thẳng, chạy mãi vào rừng sâu, sang tận bên kia núi Ba Vì.


    Từ đó nó trở về cuộc sống hoang dại mà tổ tiên nó xưa kia hằng sống.
    Ngồi một lúc, chúng tôi cùng nghiêng người, nằm chống tay trên nệm cỏ. Xa xa, ba đỉnh núi màu lam sẫm như lách qua những dải mây trắng mà chĩa chọc nền trời xanh. Núi non Ba Vì thuần một màu đen sẫm của rừng già. Đó đây từng vệt lá cây màu vàng màu, đỏ xỉn, và màu xanh nõn nuột của rừng cọ, rừng son.


    Thiếu tướng Quyền gõ gõ tẩu thuốc, gảy hết lượt tàn tro, đoạn nạp thêm mồi sợi mới. Ông nheo mắt nói với tôi:
    – Lúc nãy anh cứ gặng hỏi xem tôi mời anh lên để săn bắn con thú gì. Tôi nói thật ra, e rằng anh ngạc nhiên.
    – Con Múc?
    – Chính thế. Anh nhanh ý đấy.
    – Quả thật không còn gì khiến tôi kinh ngạc hơn. Con Múc vẫn còn sống, anh cứ để cho nó sống. Nó đã giúp ích anh không ít. Anh hãy rộng lượng cho nó được tự do.
    – Tôi cũng có ý quên nó đi. Nhưng nó làm hại tôi quá chừng. Tôi không thể không diệt nó.
    – Làm hại?
    – Chừng một năm nay, nó thường xuất hiện ở bìa rừng. Có lúc nó còn mò vào trại. Thậm chí nó còn dám xông vào buồng cháu Quỳnh.
    – Thế thì có gì là tai hại? Nếu như là nó muốn quay về với chủ cũ thì sao? Chuyện ấy xưa nay thường xảy ra.
    – Ông bạn ơi, ông quá đồng cảm với nó đấy. Một năm nay tôi đã mất hai chục con gà, bốn đầu lợn và hai con dê sữa đấy. Để khi nào tôi găm vào mình nó trọn băng đạn AR15, rồi tha hồ ông thương xót nó.
    – Nếu là do cầy cáo và báo beo vồ bắt thì sao? Chẳng có chó rừng nào khênh nổi dê lợn đâu, nhất là lại khênh qua hàng rào tre nhà anh.
    Thấy mình đuối lý, ông chòm trại đỏ mặt, châm thuốc hút:
    – Cứ cho là beo báo tha dê và lợn đi, còn những con gà? Anh không thấy là con Múc nó rất háu thịt gà à? Đôi gà Đông Cảo và con gà Thái Lao… anh đã rõ rồi đấy!
    Đến lượt tôi đuối lý. Tôi im lặng hồi lâu. Lòng tôi bồn chồn và buồn bã. Tôi chợt thấy tiếc công tiếc việc ở dưới Hà Nội. Té ra tôi lên đây là để chứng kiến cái kết cục mạng sống của con Múc.
    Thiếu tướng hỏi tôi:
    – Sao, ông nghĩ ngợi gì vậy?
    – Không, à, con Múc giờ đây nó thế nào? Ông đã đích mắt nhìn thấy nó chưa?
    – Rồi. Tôi lại bắn trượt nó hai lần nữa. Thật là một con chó quái quỷ lạ lùng. Nó to lớn gấp rưỡi, hung dữ gấp mười, còn nhanh nhẹn thì gấp trăm.
    – Để sinh sống và tồn tại giữa bầy ác thú trong rừng sâu, nó cần phải trưởng thành như vậy. Nó không thể không độc dữ hơn.
    – Anh vẫn cứ bênh nó chằm chặp.
    – Tôi tiếc rằng anh đã bất công với nó. Trong trường hợp bị hắt hủi, bị hằn thù như vậy, đến con người cũng không thể không biến đổi tính cách, huống chi một con thú.


    Chúng tôi lại lên ngựa. Con Tuýt lại dẫn đường. Có thể do cách nói năng bộc trực của tôi, khiến bạn già không vui. Dọc đường ông chẳng nói một câu nào. Bởi vậy, tôi biết mình sai lầm. Định kiến của con người quen bệnh quyền uy kia là không thể thay đổi. Tôi tỏ lòng thương tiếc con Múc nhiều quá, điều đó chỉ khiến ông Quyền càng tăng thêm quyết tâm hạ sát nó mà thôi.


    Thấy chúng tôi phi ngựa về đến cổng trại, bà Quyền và đàn con cháu ra tận sân chào đón. Bà năm nay đã ngót sáu mươi. Vóc người mảnh mai, nhỏ nhắn, nên trông bà không đến nỗi già nua như tuổi tác. Trên vẻ mặt thanh tao của bà vẫn còn những đường nét vốn xưa xinh đẹp. Song, ở bà, điều hấp dẫn người ta chính là phong thái đôn hậu, hiền từ. Cạnh bà là cháu Quỳnh, cũng mảnh mai hiền từ, cũng gương mặt trái xoan, trông cháu giống bà ngoại như đúc.


    Cháu nhảy bổ vào lòng tôi:
    – Cháu chào ông trẻ. Ông có khỏe không ạ?
    Tôi nâng bổng cháu lên, rồi hạ cháu xuống:
    – Cảm ơn cháu! Ông trẻ vẫn khỏe. Còn cháu cứ mỗi năm lên đây, ông lại thấy cháu như ăn nhầm phải bột nở ấy. Cao bằng bà rồi đây này.
    Cả nhà cùng cười giòn giã. Bà Quyền hào hứng nói:
    – Ấy, ông cứ quở cháu thế. Cháu lại bé đi mất!
    – Nghe nói cháu bị con Múc làm cho sợ hãi, phải không?
    Cháu Quỳnh cười như nắc nẻ:
    – Cháu chả việc gì phải hãi con Múc cả – Cháu ghé sát tai tôi, thì thào – Rồi cháu sẽ kể mọi điều về con Múc cho ông trẻ nghe. Chứ mỗi lần nhắc đến con Múc, ông ngoại cháu ghét lắm!
    Thiếu tướng Quyền quát to:
    – Quỳnh, mày nói gì ông phỏng?
    Cháu Quỳnh vội vàng “không ạ” rồi lẻn ra nấp sau lưng bà. Bà Quyền xót cháu, cằn nhằn chồng:
    – Khiếp cho ông! Làm cháu mật xanh mật vàng chạy cả lên mắt thế này này – Bà quay sang phía tôi, cười – Lên đây, ông giúp tôi một tay, cạo cho ông ấy bớt cái nóng nảy đi.


    Ông Quyền hỏi vợ:
    – Cạo tôi? Cạo đầu tóc, hay cạo râu ria?
    – Cạo cái cặp mắt gườm gườm của ông ấy!
    Ông già cười khà khà.
    Một chút xung đột ý kiến không làm sứt mẻ tình bầu bạn giữa chúng tôi. Chỉ vài câu chuyện vui vui, hoặc vài ván cờ là tất cả sẽ qua đi như mưa rào ngày hạ. Nói chung thì, theo ý tôi, Nguyễn Hồng Quyền là một người biết chơi đẹp, biết ăn ở, biết cư xử. Trên đời còn nhiều những mẫu người đáng chán hơn; hãnh hợm một cách ngu si, thông thái trong tưởng tượng, hào phóng có điều kiện, và ngủ say li bì trên hào quang giả trá.


    Chúng tôi đi bơi, đi câu cùng nhau. Ông dắt tôi đi xem tận mắt những máy ép mía do ngựa kéo, rồi máy ép dầu lạc, dầu sả. Ông còn dự định chế tạo một loại xà phòng dùng nguyên vật liệu địa phương. Tôi vui mừng và chúc mừng ông về tất cả mọi điều ấy. Ở ông hiện rõ những ham muốn vật dục chủ nghĩa. Nhưng, dẫu sao cũng là còn muốn làm việc, còn muốn sáng tạo, muốn sinh lợi. Thế chẳng có ích cho đời hơn là chỉ ngồi ôn lại quá khứ hào nhoáng đã xa xôi sao?


    Duy có điều tôi mong được biết là kế hoạch vây bủa con Múc. Ông già chỉ tinh quái, lim dim mắt, cười ruồi, rồi lảng sang chuyện khác. Tôi làm sao yên tâm được. Tôi biết rằng chỉ khi nào găm đủ cả băng đạn vào mình con Múc, ông Quyền mới có thể ăn ngon ngủ yên. Lay chuyển ý định phi lý trong đầu ông thiếu tướng, có lẽ còn khó hơn vần đá tảng ngược tới Ba Vì.
    Người được gặp gỡ con Múc nhiều nhất lại chính là cháu Quỳnh.
    Chuyện đáng buồn xảy ra với con Múc khiến cháu giận dỗi ông ngoại. Cháu khóc liền mấy ngày, bỏ ăn mất ba bữa, và ngẩn ngơ thương tiếc không lúc nào nguôi.


    Hơn nửa năm sau. Một hôm cháu lên đồi kiếm sim chín và hoa rừng thì bất ngờ cháu gặp con Múc đứng ngay trước mặt cháu và ve vẩy đuôi chào mừng. Quỳnh không tin vào mắt mình nữa. Cháu nhìn chó, sợ hãi. Con Múc lông lá sồm soàm, bẩn thỉu và dữ tợn quá. Thấy con thú cứ ngoáy tít đuôi mãi, cháu bạo dạn hỏi nó:
    – Mày có phải là Múc không? Nếu là Múc thì lại đây với mình! Nào!
    Nói xong cháu ngồi xuống, giang hai tay ra. Con Múc xô vào người Quỳnh hơi mạnh, làm cháu suýt ngã ngửa ra. Đôi bạn thân thiết ấy, làm mọi cử chỉ có thể làm để tỏ tình thương nhau. Con Múc hôi tanh nồng nặc, nhưng Quỳnh cứ để mặt nó liếm lên má, lên tóc cháu. Cháu ứa nước mắt, hỏi nó:
    – Bạn ở rừng sâu à?
    -!
    – Bạn có khổ với lũ hổ báo không?
    -!
    – Bạn có bị đói luôn không?
    Con chó chỉ biết rít ứt trong họng, cà sát bộ lông vào người cô chủ của nó. Phải nửa tiếng sau, Quỳnh mới buồn rầu rời chó.
    – Bạn không về được đâu. Ông mình sẽ giết chết!
    Con chó hiểu ý ấy. Nó oẳng nhẹ một tiếng. Đôi mắt của nó nhoáng ánh lửa, ve vẩy đuôi một lần nữa, liếm bàn tay Quỳnh một lần nữa, rồi băng vút về rừng.


    Từ đó, cứ cách vài buổi, cháu Quỳnh lại lên đồi sim một lần. Lần nào con Múc cũng đợi sẵn. Mỗi lần vậy, đôi bạn lại trìu mến ve vuốt nhau, rồi lại bịn rịn chia tay.
    Nếu tôi là một cây bút giàu sức tưởng tượng và không biết kiềm chế, tôi sẽ lợi dụng đặc thù của văn chương mà viết vài đoạn thật hay. Tôi sẽ thêu dệt rằng: Một lần cháu Quỳnh gặp gấu ngựa ở trong rừng, con Múc đã tung hết sức lực ra để vật lộn với gấu cứu cô chủ. Hoặc giả là: Có lần cháu Quỳnh bị trăn quấn. Con Múc đã bật vọt lên cao. Khi buông mình rơi xuống nó ngoạm đúng “thất thốn” là tử huyệt của giống trăn. Nó cắn xé đến nỗi con trăn phải từ từ nới bỏ vòng quấn, cô chủ nó thoát nạn. Cũng có thể lãng mạn hơn, tôi viết rằng: Có lúc người và chó ngồi dưới ánh trắng bên bờ suối, rồi con Múc rúc lên lanh lảnh từng hồi, gọi bạn tri âm của nó cùng một đàn chó xinh xắn ra chào mừng cô chủ.


    Nhưng bởi vốn có tính thận trọng một cách hủ lậu, tôi không thể bịa đặt như vậy. Về mối quan hệ lạ lùng kia, tôi chỉ có thể nói thêm điều này. Một lần, cháu Quỳnh bị cảm cúm nặng. Hơn chục ngày liền, cháu không thể ra đồi sim gặp con Múc. Nửa đêm cháu nghe thấy có tiếng cào cửa quen thuộc. Cháu vui mừng chạy ra tháo chốt cài. Con Múc tọt vào, âm thầm quấn quýt cháu Quỳnh. Không may cho nó, con Tuýt và lũ chó săn kia phát giác đã sủa nhặng lên, rồi chặn kín cửa ra vào. Con Múc nhe nanh xông thẳng vào con Tuýt như một ánh chớp. Con Tuýt không ngờ rằng con Múc đã biến đổi mạnh mẽ dữ dội nhường ấy. Bị cắn xoạc bả vai, nó lăn ra sủa rống lên. Bày chó kia kinh hãi không dám nhúc nhích. Con Múc nhảy vọt qua đầu lũ chó săn, biến vào đêm tối.


    Ông Quyền đã gạn hỏi cháu gái đủ điều. Cháu Quỳnh chỉ khóc thút thít, không hé lấy nửa lời. Ông liền tuyên bố với cả nhà:
    – Con Múc lọt vào trại để trả thù. May có con Tuýt không thì cái Quỳnh bị xé xác ra rồi. Từ nay cả nhà phải cẩn thận lưu ý. Cái giống chó đã thù là thù dai lắm đấy!
    Ông băng bó vết thương cho con Tuýt, ban thưởng cho nó khá hậu hĩnh: một ký thịt nai rất tươi.


    Dù sao trẻ thơ vẫn là trẻ thơ, ông cháu vẫn là ông cháu. Cháu Quỳnh sợ tính ông nghiêm nghị, giận ông xử nặng con Múc, nhưng nó vẫn rất yêu ông ngoại. Ông cháu làm lành với nhau, thân thiết với nhau vì sợi dây huyết thống bí ẩn ràng buộc.
    Vào dịp rằm tháng tám, ông Quyền dùng xe máy đưa cháu Quỳnh đi Hà Nội sắm đồ chơi trung thu cho các em nhỏ. Ông còn đưa cháu đi vào lăng viếng di hài Bác Hồ. Cháu sung sướng. Cháu hớn hở. Trong một phút bồng bột hồn nhiên. Cháu nũng nịu vòi vĩnh ông ngoại:
    – Ông ơi, ông cho cháu đón con Múc về nhé?
    – Ừ, ông đồng ý, nếu cháu tìm thấy nó?
    – Cháu tìm được thì sao nào?
    Ông thiếu tướng cười phì:
    – Đến mười cái thằng bố mày, đến mười cái thằng ông mày cũng chả tìm nổi, nữa là…


    Qua vẻ mặt và ánh mắt của cháu gái, ông chòm trại dường như phát hiện ra điều gì. Ông bèn gặng hỏi cháu gái:
    – Cháu thấy nó rồi phải không?
    – Vâng ạ.
    – Ở đâu?
    – Nhưng ông phải hứa với cháu là không giết nó cơ.
    – Ừ, ông hứa!
    Cháu gái hào hứng kể cho ông ngoại nghe hết mọi điều đoạn kết luận:
    – Cháu thấy là nó, con Múc ấy, nó chẳng có lỗi gì đâu ông ạ.
    – Nó ăn gà, ăn dê, ăn lợn…
    – Cháu chả thấy tận mắt khi nào. Nhà mình có nhiều chó hư. Sao ông chỉ nghi ngờ mình nó thôi?
    – Nó không vâng lệnh. Nó không chịu sai khiến như con Tuýt, thế cũng là tội to rồi. Những quân bướng, cần phải nghiêm trị.


    Ngày hôm sau cháu Quỳnh lên đồi sim với con Múc. Ông già chòm trại lặng lẽ xách súng đi theo cháu gái, cách chừng ba trăm mét. Cháu Quỳnh không thấy con Múc đâu. Còn ông già thì thoáng thấy. Tuy không nhìn rõ hình thù nó, song ông thấy các bụi sim lay động ràn rạt, ông biết rằng con Múc đã nhìn rõ ông. Nó chuồn biến như tăm cá mất hút dưới đáy sông. Cháu Quỳnh hoàn toàn không rõ gì về việc ông nó đi theo mé sau cả.


    Những lần sau, mỗi khi cháu Quỳnh lên đồi sim, ông già thường gói cho cháu một ít thịt rán tẩm bột, bảo đem cho con Múc. Cháu gái cảm động ứa nước mắt, tưởng rằng ông ngoại đã thực sự hồi tâm chuyển ý, sẽ cho đón con Múc về. Còn ông già cũng rất vui sướng khi cháu gái khoe với ông rằng con Múc đã ngốn sạch sành sanh gói thịt rán, đến nỗi không còn tí mỡ dính lá chuối.


    Một buổi chiều, tôi sang làng Ngọc Nhi, thăm mấy người bạn cũ trở về. Vào đến sân, tôi ngạc nhiên khi trước mắt tôi là quang cảnh sửa soạn đi săn: người ngựa, súng ống, dây chão và đòn khiêng. Bày chó săn ngồi thành vòng tròn chờ đợi chủ. Con Tuýt lăng săng chạy đi chạy lại. Nó ve vẩy đuôi, đứng nghếch nghếch mắt nhìn chủ, chờ đợi sai khiến, hoặc đi giám sát từng con ngựa, cứ y như là một viên phó quan của cuộc săn vậy.


    Thiếu tướng với vẻ mặt đỏ gay, cặp mắt lóng lánh có nhiều sợi lông mày bạc trắng cong rủ xuống quanh mi. Mỗi lần mở cuộc săn bắn, ông thường có vẻ say sưa, kích động như vậy.
    Tôi hỏi lại ông:
    – Săn gì vào cái giờ chiều này?
    – Chó rừng!
    – Con Múc phải không? Anh miễn cho tôi can dự vào cuộc sát phạt này nhé.
    – Không được! Anh phải tận mắt thấy tôi sẽ chiến thắng sau hai ba lần thất bại.
    – Bạn ơi, anh cầm chắc thắng lợi đến thế nào?
    – Như cầm tỏi gà trong tay vậy.


    Lòng tôi buồn rầu, nhưng tính tò mò thúc giục. Vả chẳng, tôi muốn xem sẽ kết thúc ra sao, cái trò quái gở giữa một bên quyết ý tìm diệt và một bên tinh quái né tránh. Chúng ta, con người, loại động vật cao cấp nhất, nhờ có hai bàn tay lao động đã phát triển được trí thông minh. Nhưng sau khi rời bỏ rừng sâu, tiến về đồng bằng, xây dựng nên những trung tâm văn hóa, chúng ta đã quay lưng lại, đã phũ phàng và độc ác với rừng sâu. Chúng ta đã tàn hủy cái nôi sinh ra mình. Chúng ta đã săn bắn, tiêu diệt các sinh vật còn nương tựa vào rừng, mà ngu ngốc không hiểu rằng chúng ta đã tàn hủy tự nhiên và phá hoại thế cân bằng sinh thái. Các sinh vật, dữ và lành, tồn tại được nhờ rừng rậm. Rừng rậm tồn tại và phát triển được cũng đã nhờ sự sinh sôi của muông thú. Và cuối cùng, nếu muông thú và rừng rậm không tồn tại nữa, thì làm sao chúng ta có thể tồn tại được?


    Thuở xa xưa, con người sống đơn giản hơn. Người ta chỉ biết rằng điều quý nhất ở trên đời là mưa nắng trăng sao, điều quý ở dưới đất là ngũ cốc dồi dào, điều quý ở trong nhà là cháu thảo con hiền. Nhưng ngày nay, điều quý lại là châu báu vàng bạc, là uy thế lộng quyền, là sát phạt muông thú và sát phạt lẫn nhau. Hôm qua tôi đau đớn anh đấm tôi. Ngày hôm nay, tôi sung sướng được hành hạ nó. Ngày mai nó hả hê vì trừng trị kẻ khác… Một cơn lốc luẩn quẩn xoáy sâu vào ngõ cụt. Biết bao giờ mới tỉnh ngộ, mới tháo gỡ, mới đồng cảm và yêu thương?


    Đoàn săn bắn rầm rập phóng lên đồi sim. Tôi và ông thiếu tướng sóng vai nhau. Cậu Quý và người anh rể vòng ra mé sau đồi. Con Tuýt ngông cuồng hăng say dẫn đầu đàn chó – những con chó có hình thể tuyệt đẹp, băng băng nhảy nhót giữa các làn cây bụi cỏ.
    Chỉ chớp nhoáng sau, gọng kìm vây bủa đã xiết chặt quả đồi. Tôi kinh hoàng khi thấy cháu Quỳnh đang ngồi khóc. Con Múc nằm duỗi thẳng cẳng dưới chân cháu.


    Cháu Quỳnh chạy lại bên ông ngoại khóc nức nở:
    – Ông ơi, ông. Con Múc ăn xong gói thịt là nó lăn ra. Nó sắp chết mất rồi. Làm sao lại thế, hả ông?
    Ông già cúi xuống an ủi cháu gái:
    – Không sao đâu, nó không thể chết được. Thuốc ngủ chỉ vừa liều lượng thôi mà.
    – Ông trộn thuốc ngủ vào thịt…? Trời ơi…


    Con chó rừng mềm rũ rượi. Song đôi mắt rực lửa của nó vẫn trừng trừng ngắm nhìn tất cả. Nó hiểu rằng nó đã bị bịt hết mọi ngách sống. Thuốc ngủ liều cao làm tê liệt thần kinh và gân cốt nó. Nhưng từ nơi xa xăm nào không rõ, có thể là từ rừng sâu, có thể là trong từng tế bào máu, nảy sinh ra một ý chí mãnh liệt giục nó phải vượt lên, phải sống còn. Nó rống to lên một tiếng, vọt mình lên, phóng cẳng lao đi.


    Lập tức con Tuýt đuổi sát mé sau. Con Múc vừa chạy vừa ngã. Nó lồm cồm bò dậy, được vài bước lại ngã rúi rụi. Cuối cùng không chạy nữa, nó quay phắt lại, nhe bộ răng nanh ghê gớm, chờ đợi. Con Tuýt và cả bầy chó đã hiểu sức mạnh khủng khiếp của con Múc, chỉ chờn vờn nhảy nhót ở khoảng xa, không dám tiếp cận.


    Để khỏi mất thì giờ, ông chòm trại nâng nòng súng AR15. Một loạt đạn ngắn gọn rít lên, hòa cùng một tiếng thét xé trời đất của cháu Quỳnh. Con Múc lăn ra đất, không chút giãy giụa. Nó nhận đủ cả băng đạn từ cổ trở xuống. Máu nó xối tuôn, đỏ sẫm cả bộ lông đen. Đôi mắt nó mở to, vẫn màu lửa nhưng dịu hơn, trong đó có nhoáng lồng ánh mây trắng, trời xanh, rừng sẫm và ngọn Ba Vì uy nghi mầu tím đậm.


    Có lẽ đã được huấn luyện đầy đủ, nên, khi con mồi gục xuống rồi, bày chó săn đua nhau lăn sả vào, mỗi con đợp cho con Múc một miếng để làm vui lòng chủ, với dáng dấp bẩn thỉu hèn mạt quá chừng.


    Cháu Quỳnh chạy đến cạnh tôi. Thấy quanh cảnh thương tâm ấy, lòng dạ trẻ thơ không chịu đựng nổi. Cháu lả đi trong vòng tay tôi. Không rõ phải tôi hoa mắt hay bị hoang tưởng, tôi thấy vầng trán mịn màng của cháu bỗng như gợn nhiều nếp hằn sâu, còn mái tóc xanh đen của cháu bỗng như bạc trắng đi.
    Thiếu tướng tiến lại, kéo vai áo tôi:
    – Về thôi, anh. Cháu Quỳnh làm sao thế?
    Tôi nói như mình trong mộng:
    – Anh bắn giỏi thật đấy. Một cú “đúp” tuyệt vời! Anh hạ sát cả con Múc lẫn cháu Quỳnh.


    Ông chòm trại bàng hoàng, kêu lên:
    – Bậy nào! Không thể thế được. Cháu Quỳnh có làm sao không?
    Tôi nâng cháu Quỳnh lên, đi về phía con ngựa, đoạn nhảy lên yên:
    – Tôi đưa cháu Quỳnh về trước đây. Ông cứ yên tâm. Thân thể cháu Quỳnh vẫn nguyên vẹn. Nhưng băng đạn mà ông bắn vào lòng nhân ái, vào tình yêu thiên nhiên của cháu Quỳnh thì không thể nào cứu chữa nổi.
    Tháng 8 – 1988

    Nguyễn Dậu (1930-2002): tham gia cách mạng từ 1946, từng là chiến sĩ pháo binh, sau năm 1954 làm việc trong Phòng Văn nghệ thuộc Tổng cục chính trị, biên tập viên báo Văn Nghệ, cán bộ Sở Văn hoá Hà Nội, rồi làm thợ cắt tóc, rồi giải chiếu bán giày dép rong ở bên đền Ngọc Sơn, thấy công an hay quản lý thị trường từ xa thì… chạy. Một văn tài ít được nhắc đến.

  • Văn

    HUẾ XƯA KHÓC MỘT MÙA XUÂN

    HUẾ XƯA KHÓC MỘT MÙA XUÂN

    Đáng lẽ con đường cái chạy từ đầu đến cuối xóm tên là Hồ Xuân Hương, nhưng ngưòi ta vẫn quen gọi là đường Chùa Bà, chắc tại đầu xóm có cái chùa. Lúc thằng Cọp bắt đầu lớn lên, tung tăng khắp xóm và đọc được dòng chữ “Khuôn An Lạc”, nó đã thắc mắc tại sao không gọi là đường Khuôn An Lạc? Với lại Khuôn An Lạc có cả đức phật Thích Ca chứ nào phải chỉ thờ Phật Bà Quan Âm mà gọi là Chùa Bà? Tuy nhiên nó cũng không buồn tìm hiểu thêm làm gì. Chỉ biết đây là đường Chùa Bà, và xóm nó ở cũng được gọi là xóm Chùa Bà.

    Đáng lẽ con đường cái chạy từ đầu đến cuối xóm tên là Hồ Xuân Hương, nhưng ngưòi ta vẫn quen gọi là đường Chùa Bà, chắc tại đầu xóm có cái chùa. Lúc thằng Cọp bắt đầu lớn lên, tung tăng khắp xóm và đọc được dòng chữ “Khuôn An Lạc”, nó đã thắc mắc tại sao không gọi là đường Khuôn An Lạc? Với lại Khuôn An Lạc có cả đức phật Thích Ca chứ nào phải chỉ thờ Phật Bà Quan Âm mà gọi là Chùa Bà? Tuy nhiên nó cũng không buồn tìm hiểu thêm làm gì. Chỉ biết đây là đường Chùa Bà, và xóm nó ở cũng được gọi là xóm Chùa Bà.
    Xóm Chùa Bà có khoảng chừng trên năm mươi nóc gia rải rác theo con đường chính. Nhà Cọp ở gần giữa. Đúng ra thì đây là nhà ông nội Cọp. Nhà thiệt của ba mạ Cọp ở thành phố, gần chợ Đông Ba. Mạ Cọp bán vải ở chợ. Cọp ở với ông nội vì trường học gần nhà đi bộ cho tiện. Mỗi chiều thứ Bảy sau khi tan chợ, mạ Cọp đi xích lô về xóm Chùa Bà đón Cọp về nhà. Cọp cũng thương mạ và hai chị của nó lắm, nhưng mỗi cuối tuần phải về ở với gia đình, cực chẳng đã nó phải đi. Ai nói ở thành phố vui chứ với Cọp thật buồn lắm. Ở đó Cọp chỉ lủi thủi một mình. Ba Cọp đi lính ở xa lâu lâu mới về. Mạ Cọp buôn bán ở chợ từ sáng đến tối mịt. Hai chị thì hơn Cọp đến bảy tám tuổi, dù thương cũng không biết nói hay chơi gì với Cọp, cùng lắm là dắt Cọp ra phố ăn kem. Cho nên đến mỗi chiều Chủ Nhật, mặt trời chưa lặn là Cọp đã bồn chồn mong được “về nhà”.


    Về nhà, tức là về xóm Chùa Bà, giang sơn của Cọp. Có những lần mạ Cọp muốn giữ nó ở lại qua đêm Chủ Nhật, sáng thứ Hai sẽ đưa nó tới trường luôn.
    Cọp ngồi khóc tỉ tê.
    Mạ hỏi
    – Con không thương mạ à?
    – Dạ có
    – Rứa răng con cứ đòi về nhà?
    – Con không biết.
    Hình như Cọp biết mang máng, nhưng không làm sao diễn tả hết nỗi niềm.
    Ở xóm Chùa Bà, Cọp được tất cả mọi người thương mến. Dĩ nhiên Cọp phải ngoan, nhưng còn một lý do nữa: nó là cháu nội của vị Đông y sĩ nhân đức và rất mát tay chữa bệnh mà cả xóm cũng như những vùng lân cận đều trọng nể. Trước kia khi ông nội Cọp còn hành nghề, ông thường cứu giúp kẻ nghèo khó. Bây giờ đã già, ông về dưỡng lão tại đây.Tiếng là hồi hưu, nhưng ông vẫn thình thoảng trở lại nghề cũ để cứu giúp những bệnh nhân chung quanh hay một số thân chủ cũ tìm đến.


    Một trong những thân chủ quen thuộc vẫn nhờ ông nội Cọp bổ thuốc Tể hàng tháng là bà Tham.
    Bà Tham ở căn nhà lớn nhất cuối xóm. Không ai biết tên thật của bà là gì, chỉ quen gọi là bà Tham theo chức quan của ông cụ thời sinh tiền. Cụ Tham làm quan trong những năm cuối cùng của triều Nguyễn, nổi tiếng là ông quan nghiêm khắc và chính trực. Đó là lý do mà cả xóm cho đến nay vẫn còn kính trọng và nể vì. Nhà bà to và đẹp lắm. Vào cổng sau khi qua hai cột trụ cao và cổ kính, bên dưới có hai con sư tử bằng đá nhe răng múa vuốt, là con đường nhỏ trải đầy sỏi trắng, hai bên là hàng rào đầy các loại hoa. Cuối con đường đến khoảng sân trước nhà có những cái chậu bằng đá thật nặng đầy rêu phủ trồng sen. Hai bên hông và phía sau là khoảng vườn rộng mênh mông đầy các loại kiểng cũng như cây ăn trái. Đặc biệt có hai cây cau cao vút lên trời.


    Tuy nhà bà Tham lớn như vậy nhưng không có mấy người. Bà ở với đưá cháu ngoại trạc tuổi Cọp, một ông quản gia trung thành từng theo hầu cụ ông ngày trước, và một chị người làm lo việc bếp núc, các việc lặt vặt khác. Bà vốn hiếm muộn, chỉ có một người con gái thì lại theo chồng vào nam. Dù con bà đã nhiều lần muốn bà dọn vào Nam ở, nhưng bà đã cương quyết ở lại xóm Chùa Bà để giũ gìn hương hỏa bên chồng. Được cái tuy chỉ một con gái, nhưng bà lại có rất nhiều cháu ngoại. Trà là đưá con út mà con gái bà để lại Huế cho bà cháu hôm sớm có nhau, tuổi già bớt quạnh quẻ.


    Bà Tham không làm gì cả. Của cải do cụ ông để lại cùng lợi nhuận từ vườn cây sau nhà đủ cho bà sống thoải mái. Đó là chưa kể con gái bà vốn rất khá giả và vẫn thường chu cấp thêm thường xuyên cho mẹ. Công việc duy nhất để bà đi ra khỏi nhà hằng ngày là cùng ngồi xích lô đưa cháu đi học mỗi trưa, chiều lại đón về.Còn ngoài ra bà chỉ ở nhà tụng kinh niệm phật. Mọi việc giao dịch khác đã có người quản gia chu tất.


    Tuy bà sống thanh đạm và giản dị như vậy, nhưng danh tiếng của một mệnh phụ phu nhân vẫn không hề suy suyển. Cả xóm Chùa Bà đều kính nể và coi bà như thuộc về một tầng lớp khác. Đến cả ông nội Cọp cũng không ngoài lệ đó, dù bà là bệnh nhân vẫn nhờ ông hốt thuốc hàng tháng.
    Cọp gặp bà Tham mấy lần trong nhà khi bà đến cho ông nó bắt mạch. Những lần đó Cọp chỉ dám đứng xa xa quan sát và thắc mắc không hiều bà đáng sợ ở chỗ nào. Bọn con nít trong xóm như Cọp leo trèo phá phách ở đâu cũng phải chừa lại vườn nhà bà Tham. Đến như lũ chim kia hình như cũng biết đó là nơi an toàn nên đã từng đàn tụ về. Cọp và các bạn chỉ biết đứng ngoài thèm thuồng nhìn những trái chín mọng trong vườn và lũ chim líu lo rộn rả bên trong.


    Cơ hội đã đến với Cọp vào một buổi trưa oi ả khi Cọp đang đội nắng đến trường. Chiếc xích lô chở bà Tham đưa cháu ngoại đi học rà đến bên cạnh. Từ trên xe bà hỏi vọng xuống:
    – Này con. Con là cháu ông Khánh phải không?
    – Dạ. Cọp rụt rè trả lời.
    -Tội nghiệp! Trời nắng như ri mà đi bộ bịnh chết. Con lên đây đi với bà luôn thể.
    Câu nói của bà Tham làm Cọp ngẩn người không biết trả lời ra sao. Ngồi xe xích lô tới trường giữa trời nắng gắt như vầy còn gì sướng bằng. Khỏi mỏi chân và đỡ khát nước. Nhưng Cọp vẫn ngần ngừ. Bà Tham đối với nó vẫn là một người đáng nể sợ. Hơn nữa lại có con Trà trên xe. Cọp biết con Trà từ lâu. Nó học bằng lớp Cọp, nhưng ở dãy con gái. Cả trường Cọp có khoảng bốn hay năm đứa thuộc loại “quý tộc” như con Trà. Chúng nó thuờng chơi chung với nhau. Thực ra thì tụi con Trà cũng đâu có kiêu kỳ làm cao làm dáng gì đâu. Tụi nó khi nào cũng muốn gia nhập cuộc chơi với chúng bạn khác. Nhưng mà chỉ nội cái tiếng tăm của gia đình và lối đi học bằng xe đưa rước mỗi ngày cũng đủ làm cho lũ học trò bình dân như Cọp cảm thấy thua kém và cách biệt.


    Thấy Cọp cứ đứng ngẩn tò te, bà Tham bước xuống nắm tay nó kéo lên xe. Bà bảo con Trà sang ngồi trong lòng bà và nhường chỗ cho Cọp. Xe đã chuyển bánh mà Cọp cứ suy nghĩ. Con Trà lơ đãng nhìn Cọp. Nó không biểu lộ vể phản đối hay đồng ý nào cả. Hôm nay Trà đi học mặc áo đầm hồng mới tinh, tóc thắt nơ đỏ, đi giày Tây đàng hoàng. Con nhỏ đúng là một tiểu thơ tý hon. Bỗng nhiên Cọp thấy mắc cở quá. Chưa bao giờ Cọp thấy mình dơ dáy hơn lúc này. Bên cạnh con Trà sạch sẽ trắng trẻo, nó bỗng trở nên đen như cột nhà cháy.Tệ nhất là trên đầu nó mấy bữa nay mọc cục Sài. Ông nội Cọp phải cạo khoảng tóc chung quanh để dán miếng thuốc dán hiệu con Rắn vàoCọp ngồi yên lặng suốt quảng đường. Bà Tham có hỏi nó chỉ thưa dạ cho qua, tuyệt nhiên không nói gì với con Trà. Khi xe đến trường, bà Tham mua hai cây cà rem cho hai đứa. Cọp cầm cà rem chạy ù vào đám bạn đang bắn bi trước cổng trường, quên cả cám ơn.


    Hôm sau bà Tham cho xe đến đón Cọp tận nhà. Bà ngồi ngoài, để con Trà vào kêu Cọp đi học làm ông nội ngạc nhiên. Cọp thì dị quá trốn trong bếp khiến ông nội phải kéo nó ra tận nơi. Cực chẳng đã Cọp đành leo lên.
    Kể từ hôm đó, Cọp chính thức đi học bằng xe xích lô với con Trà. Mấy hôm đầu nó còn ngượng ngùng, dần dần Cọp quen đi. Bà Tham đâu có gì…ghê gớm như nó vẫn tưởng.


    Mỗi lần hỏi chuyện Cọp, bà kêu con thật ngọt ngào và hiền hậu. Giọng bà lơ lớ âm hưởng tiếng nam, vì bà vốn sinh ra trong đó. Cọp có nghe nói đến Sài Gòn, hòn ngọc viễn đông mà nó từng học trong một bài tập đọc. Đối với Cọp, miền nam là Sàigòn, Sàigòn là miền nam. Bà Tham phong độ quý phái có lẽ vì bà từ Hòn Ngọc Viễn Đông ra đây( ?).
    Mỗi chiều tan học, xe bà Tham đậu chờ sẵn ở cổng trường. Thông thường con Trà thuộc dãy con gái ra trước, Cọp ra sau. Mỗi khi Cọp leo lên xe, bà Tham thường hỏi
    – Bữa ni Cọp được mấy điểm?
    – Con được 10 điểm.
    Nó hí hửng khoe. Bà Tham xoa đầu khen
    – Cọp giỏi quá. Ráng học bà thương nghen con.
    Do đó, khi sự nể sợ bà Tham đã dần thay thế bằng lòng kính mến, thân mật thì mối cách biệt tiểu thư- dân dã giữa Cọp và Trà cũng không còn nữa. Ngồi trên xe, hai đứa thường khoe điểm và cãi nhau tíu tít trước sự thích thú của bà Tham. Thỉnh thoảng bà phải làm trọng tài để phân giải nữa. Trà và Cọp trở nên thân nhau tự lúc nào. Cọp hoàn toàn thay đổi quan niệm về bọn “quý tộc” trong trường. Bấy lâu, tụi Cọp chỉ mặc cảm và tạo sự cách biệt, chứ bọn con Trà có bao giờ làm cao như bọn Cọp vẫn nghĩ. Ngược lại, Cọp còn thấy tội nghiệp dùm con Trà. Hai đứa bằng tuổi nhau, ở chung xóm, mà trong khi Cọp tung tăng làng trên xóm dưới tham dự đủ mọi trò vui, thì con Trà vẫn ở trong nhà, kín cổng một mình với bà ngoại.

    ***
    Xóm Chùa Bà ở ngoại thành. Từ trung tâm thương mại chính là chợ Đông Ba, qua khỏi cầu Gia Hội, theo con đường Chi Lăng khoảng 2,3 cây số theo hướng về phía chợ Dinh là đến. Cho nên đây chỉ là vùng ngoại ô chứ chưa quá xa xuống các vùng quê. Dân trong xóm không ai gọi là quá nghèo. Mỗi nhà đều có vườn cây ăn trái phụ vào việc buôn bán, nên cuộc sống tương đối ấm no, và hầu như cả xóm đều quen biết nhau.
    Từ lúc có óc nhận xét, Cọp cảm thấy xóm Chùa Bà là quê hương bất khả chia lià của nó. Những ngày Chủ Nhật cuối tuần phải về với mạ và chị, nó coi như một bổn phận. Một ngày ở thành phố là một ngày buồn bã. Cọp chỉ lủi thủi giữa bốn bức tường chật hẹp. Cho nên khi mạ hỏi có thương mạ không, Cọp bảo rằng thuơng mà không thể giải thích tại sao cứ đòi về xóm Chùa Bà.


    Cọp còn quá nhỏ để diễn tả nỗi lòng của mình. Nó muốn nói rằng ở xóm Chùa Bà, dọc theo con đường Hồ Xuân Hương là hai dãy cỏ xanh mướt. Mỗi chiều có những con trâu hững hờ gặm cỏ. Có những đứa mục đồng là bạn chung trường với Cọp ngồi trên lưng trâu thơ thẩn nghêu ngao. Cọp thường lên lưng trâu với bạn đi sâu vào làng, vào tận các rẩy mương, được gặm mía, ăn khoai nướng, cơm vắt…


    Có những buổi sáng mùa Đông, Cọp dậy thật sớm uống trà cùng ông nội. Giữa cái lạnh sớm mai và tiếng mưa rơi tí tách bên ngoài, hai ông cháu bên chiếc bàn nho đối ẩm. Cọp bắt chước ông bưng tách trà lên miệng, thổi nhè nhẹ và nhấp một ngụm nhỏ rồi thở “phaaà” một cái. Vừa uống trà , ông vừa ư ử ngâm thơ. Cọp chưa thương ai hơn thương ông nội. Nó mong sau này lớn lên sẽ nối nghiệp ông để cứu nhân độ thế.


    Từ ngày đi học chung với con Trà, Cọp là đưá đầu tiên trong xóm được xâm nhập vùng “ cấm địa”, tức vườn nhà bà Tham..


    Đối với Cọp, vườn nhà bà Tham là vườn Địa Đàng. Khu vườn thật rộng, ít nhất cũng gấp ba, bốn lần vuờn nhà nó, đầy những ổi, đào chín nặng trĩu cành. Lũ chim trong vườn cũng rất dạn dĩ. Chúng đã quen với sự an toàn ở đây nên không có vẻ gì e sợ sự hiện diện của Cọp. Cọp thích nhất là được leo lên một cành ổi lớn, ngồi cheo leo trên cành thưởng thức vị thơm ngọt của trái Xá Lị mới hái, vừa nhìn lũ Chào Mào, Se Sẽ ca hát, rỉa lông cho nhau, thỉnh thoảng hái một trái chín quăng xuống cho con Trà phía dưới. Có hôm thằng Cọp rủ con Trà lén trốn ra đuờng đón mấy đứa mục đồng bạn của nó cho con Trà cởi trâu ra rẫy chơi. Lần đầu tiên cô tiểu thư đài các được …đi chăn trâu khoái quá, bất kể bộ quần áo thơm tho bị vấn mùi trâu khi về phải vội vàng đi tắm. Thằng Cọp còn bắt Chuồn Chuồn cho cắn vào rốn con Trà rồi dắt nó ra ao sau vườn tập bơi. Quả nhiên mấy ngày sau con Trà cũng bơi ra phết.


    Nhưng không phải chỉ mình Cọp biết bày trò đâu nha. Trà cũng có những mục riêng mà Cọp chưa hề biết đến. Trà có một bộ đồ chơi thật đẹp dạy trẻ em xếp nhà mà anh nó đang du học ở Pháp gởi về. Bộ đồ chơi gồm những miếng nhựa hình khối chữ nhật màu vàng ngà tương tự như quân cờ Mạc Chược của ông nội Cọp. Trên mỗi miếng đều có vẻ hình một cái cửa lớn hoặc cửa sổ. Chúng nó cứ lấy ra sắp thành những toà lâu đài theo ý thích và sự tưởng tượng riêng của mình. Con Trà cũng có một bộ đồ chơi nấu ăn đẹp nhứt xóm. Cọp chẳng thích gì ba trò nấu ăn của con gái. Nhưng đưọc cái là con Trà … nấu thiệt. Nghĩa là muốn nấu chè, con Trà vô bếp lấy đậu và đường đốt lửa nấu đàng hoàng chứ không phải lấy lá cây giả bộ như mấy đứa con gái khác. Cọp chiều ý con Trà, đợi nó nấu xong, dù sống hay chín, Cọp đều thanh toán hết. Con Trà chỉ nhấm nháp chút đỉnh và hả hê nhìn Cọp thưởng thức sản phẩm của mình.


    Một lần hai đứa được bà Tham dắt đi coi tuồng Phạm Công Cúc Hoa do một gánh cải lương từ Sài Gòn ra trình diễn. Khi về, con Trà khóc suớt mướt.
    Hôm sau không biết đưá nào rủ trước, cùng nhau diễn lại đoạn hai đứa trẻ mồ côi được mẹ Cúc Hoa hiện hồn về bắt chí. Cọp đóng vai Tấn Lực, con Trà làm Nghi Xuân. Sẵn có tượng Phật Bà Quan Âm khá lớn trong nhà cũng mặc đồ trắng giống Cúc Hoa, nên cả Nghi Xuân và Tấn Lực tân thời thi nhau tới trước tượng gào thét “Mẹ ơi, mẹ ơi…” một cách say sưa và thê thảm, nhập vai đến độ nước mắt nước mũi ngồm ngoàm đầy mặt, và bà Tham đứng sau lưng hồi nào không biết.


    Bà không la còn vỗ tay khen:
    – Ui chao ơi. Hai đứa mi hát cũng hay quá.
    Nghi Xuân đỏ mặt ôm bà phụng phịu, còn Tấn Lực thì dị quá vừa chùi mũi vừa cắm đầu chạy một mạch về nhà.
    ***
    Cọp về thành phố đón tết đã được mấy ngày. Mạ Cọp nghỉ chợ từ hôm 27. Ba Cọp cũng về nhà. Không khí vui vẻ và đầy đủ của gia đình làm Cọp tạm quên xóm Chùa Bà, tạm quên con Trà. Nó đã đếm từng ngày mong chóng đến mùng một để được mặc đồ mới theo ba mạ về chúc tết ông bà nội, và đi mừng tuổi bà Tham.
    Tết.
    Cọp nằm thấp thỏm mong trời mau sáng. Càng về khuya, pháo còn nổ lớn ròn rã. Trước còn không phân biệt, nhưng dần dần đã nhận ra tiếng súng. Mạ Cọp hỏi ba
    – Chắc cháy kho đạn?
    Ba Cọp lắng nghe và lắc đầu
    – Không phải kho đạn. Lạ thiệt, hưu chiến ăn tết mà!
    – Mô Phật. Tết nhứt mà đánh nhau chi kỳ rứa không biết.


    Súng nổ dữ dội càng lúc càng gần vào thành phố. Ba Cọp mở radio nghe tin tức, nhưng những bản nhạc Xuân mới mấy tiếng đồng hồ trước còn inh ỏi, nay thay thế bằng tiến u u vô nghĩa. Súng nổ lúc càng gần hơn đầy đe dọa. Xen lẫn những tiếng tạch – tạch – đùng là một tiếng ẦM thật lớn làm rung chuyển cả nhà cửa, bụi bay tứ phía văng cả vào mắt Cọp. Đến gần sáng, radio bỗng nhiên hoạt động. Ba Cọp thất thần khi nghe “Đây, tiếng nói của mặt trận giải phóng miền nam…”
    Hai chị của Cọp cũng biết và thì thầm với nhau:
    – Chết cha! Việt Cộng mi ơi.
    Trời sáng. Cả thành phố im lìm. Tiếng súng đã lặn dần chỉ còn lại lẻ tẻ đâu đó như đang răn đe hơn là hiến đấu. Nhà nhà đều đóng cửa kín mít. Bóng tối bao trùm…


    Một buổi sáng, Cọp thức dậy vì tiếng ồn ào ngoài đường. Hình như có một nhóm người đi từng nhà đập cửa kêu gọi gì đó. Cứ khoảng mười phút thì tiếng đập cửa lại vang lên, từng nhà, từng nhà mỗi lúc mỗi gần hơn. Ba mạ Cọp nhìn nhau lo ngại. Hai chị của nó thì sợ quá trùm mền kín mít không dám nghe. Cuối cùng rồi chuyện gì đến cũng sẽ đến. Tiếng đập cửa vang lên ngay nhà Cọp. Họ kêu lớn “ 73 Chi Lăng, mở cửa!”. Đúng là số nhà nó. Ba Cọp đành đứng dậy đi ra.


    Sau hơn một tuần đóng kín, cửa nhà Cọp phải mở để đón người lạ vào. Cọp lén nhìn ra thấy sáu bảy người đàn ông sầm sập đi vào. Việt Cộng đó sao? Cọp suýt kêu thành tiếng khi thấy người đàn ông đứng ở cửa. Thầy Tường ! Thầy dạy lớp nhất ở trường nó. Cọp tưởng mình trông lầm, nhưng rõ ràng là thầy Tường nổi tiếng hiền nhứt trường. Khác một điều là lúc này thầy lạnh lùng, ôm khẩu súng, tay áo có mang miếng băng đỏ. Cọp líu cả lưỡi, tay chân run rẩy. Thầy Tường là Việt Cộng? Nếu không tận mắt nhìn thấy, không đời nào Cọp tin nổi.


    Ba nói chuyện một hồi, đi vô bảo mạ:
    – Anh đi với họ.
    – Đi mô?
    Mạ Cọp thất thanh.
    Một người có vẻ là trưởng nhóm tiến lại:
    – Chúng tôi mời ông đi nghe chủ trương chính sách của chính phủ cách mạng. Tối ông về thôi.
    Ba Cọp nhìn mạ ra dấu có muốn từ chối cũng không được. Ông yên lặng xoa đầu Cọp và bước ra khỏi nhà cùng mấy người đàn ông nọ
    Đến tối quả nhiên ông về thiệt. Mạ Cọp mừng đến mếu máo:
    – Anh đi mô?
    Ba lắc đầu không nói. Mạ hỏi tiếp
    – Họ nói chi rứa?
    Ba chỉ xua tay và nặng nề ngồi xuống. Hình như ông vừa trải qua một sự kiện gì ghê gớm lắm nhưng không muốn cho mạ nó biết.


    Liên tiếp mấy tuần nữa, Huế vẫn đắm chìm trong bóng đêm. Chợ Đông Ba bốc cháy cũng không ai cứu chữa, cho tới khi một cơn mưa đổ xuống dập tắt, để lại những cột khói u ám cả bầu trời. Mạ Cọp ngẩn ngơ nhìn sản nghiệp tiêu tan theo làn khói. Lần đầu tiên Cọp thấy mạ khóc và cảm thấy thương mạ hơn bao giờ hết. Cọp biết hàng vải của mạ là do bà ngoại để lại. Từ bấy lâu nay mạ Cọp một tay nuôi nấng đàn con cũng nhờ nó. Nay coi như đã hết.
    Chưa bao giờ Cọp thấy buồn bả và chán nản hơn lúc này.
    Tết chi mà kỳ cục. Suốt ngày chỉ ru rú trong nhà tăm tối.


    Thình thoảng Cọp ngồi tư lự. Nó nhớ xóm Chùa Bà quá. Nó ngồi tưởng tượng hai dãy cỏ xanh mướt dọc theo con đường Chùa Bà và những thằng bạn chăn trâu nghèo khổ của nó. Súng bắn dữ như hôm rồi, không biết tụi nó có được bình yên? Còn những con trâu lừ đừ và châm chạp. Tụi nó có biết tìm chỗ tránh đạn? Cọp cũng nhớ con Trà và bà Tham. Bỗng nhiên Cọp khám phá ra một điều: ngoại trừ ông nội, con Trà là người nó thương và nhớ nhiều nhứt. Cọp không hiểu tại sao, nhưng hể nhắm mắt lại là nó thấy ông nội, con Trà, và bà Tham.
    Nhớ thì nhớ, thương thì thương, Cọp cũng phải bó gối trong nhà và thả hồn lơ lững về xóm Chùa Bà.

    ***
    Súng lại nổ vang. Lần này súng nổ ròn rả hơn, quyết liệt hơn. Cọp ôm đầu than: “Trời ơi,,Việt Cộng mô mà cứ tới hoài rứa !” Nó lại thấy mạ lâm râm niệm Phật, nhưng không để ý nét vui mừng ẩn hiện trên đôi mắt thâm quầng của ba.
    Súng nổ thật dữ dội đầu hôm và im dần khi trời vừa sáng. Cọp giật mình thức dậy và thấy ánh nắng chói chan rọi vào nhà. Lạ quá, tại sao nhà nó lại mở cửa? Ba mạ và chị nó đâu? Nó lại nghe tìếng cười nói huyên thuyên bên ngoài nên vùng chạy ra.
    Lính.
    Lính mình.
    Nhiều lính lắm, đang rầm rập đi đầy đường.
    Cọp chạy lại nắm tay ba. Ông nói
    – Mình tái chiếm rồi con.
    Tái chiếm? Nghĩa là không còn Việt Cộng nữa. Nghĩa là nó sắp được về lại xóm Chùa Bà tiếp tục những ngày vui !
    Cọp bỗng cười toe toét, ngẩng đầu hỏi lại;
    -Mình tái chiếm rồi hả ba?

    ***
    Chỉ vài tháng sau ngày tái chiếm, Cọp khăn gói theo gia đình vào SàiGòn. Ba Cọp quyết định đưa vợ con về nơi an toàn. Cọp cũng không lưu luyến xóm Chùa Bà nữa. Ông nội nó đã mất vì bệnh tim tái phát sau nhiều ngày đêm chịu đựng tiếng dội của bom đạn. Một lý do nữa là ba Cọp đã trở về từ địa ngục. Sau này kể lại, ông cho hay hôm mấy tên Việt Cộng trong đó có thầy Tường dẫn đi, ông bị còng tay ra nơi tập trung có những cái hố đào sẵn. Phước đức từ ông nội nên có một tên việt cộng là bạn học cũ của ba. Nhà hắn từng chịu ơn ông nội Cọp cứu giúp năm xưa nhận ra, lén cởi trói cho ba Cọp trốn về. Ba là người duy nhứt thoát được. Số người bị bắt chung hôm đó tất cả đã bị vùi sâu chôn sống hết dưới những hố hầm định mệnh.

    Đưa đám ông nội Cọp, con Trà đi cùng bà Tham …trên chiếc nạng gỗ. Một mảnh đại bác oan khiên cắt ngang chân trái của Trà.
    Tự do đã trở lại, nhưng hậu quả khốc liệt của một tháng trời bị tạm chiếm vĩnh viễn không thể phai mờ. Ban đêm Cọp phải qua ngủ với mạ để tìm cảm giác an toàn mỗi khi thức giấc nghe tiếng chó tru xa xa vọng lại.
    Mùa Xuân năm ấy, Huế nhuộm một màu tang !
    Khi Cọp trở lại xóm Chùa Bà lần cuối để chào từ giã bà Tham và con Trà trước ngày lên đường, bà Tham mếu máo ôm Cọp trong lòng như không nỡ rời. Con Trà cũng đứng đó, không khóc, không nói, chỉ ngẩn ngơ nhìn Cọp nửa bùi ngùi, nửa xa vắng.

    ***
    Thư một người chị của Cọp từ quê nhà gởi sang có đoạn “Em còn nhớ Trà, cô bạn nhỏ năm xưa của em ở Huế không? Chị mới gặp lại. Không ngờ cô ta vẫn còn nhớ đến em và gởi lời hỏi thăm…”
    Chữ “Trà” trong thư của chị gợi lại Cọp bao kỷ niệm thời thơ ấu tưởng đã chìm sâu trong tâm tưởng, bỗng sống dậy cuồn cuộn như sóng trào. Rời Huế từ năm ấy, Cọp chưa lần nào trở lại dù chỉ một lần để thăm viếng. Sài Gòn -Huế nào có bao xa mà như vĩnh quyết. Huống chi bây giờ thêm cả một đại dương!


    Hương Trà, cô tiểu thư, người bạn nhỏ thuở xưa. Cô đã sống ra sao trong suốt thời gian qua với chiếc nạng gỗ cay nghiệt đó!
    Cọp cúi đầu.
    “Lạy trời cho nàng một cuộc sống bình yên”
    ./.
    ThaiNC


    Xóm Chùa Bà có khoảng chừng trên năm mươi nóc gia rải rác theo con đường chính. Nhà Cọp ở gần giữa. Đúng ra thì đây là nhà ông nội Cọp. Nhà thiệt của ba mạ Cọp ở thành phố, gần chợ Đông Ba. Mạ Cọp bán vải ở chợ. Cọp ở với ông nội vì trường học gần nhà đi bộ cho tiện. Mỗi chiều thứ Bảy sau khi tan chợ, mạ Cọp đi xích lô về xóm Chùa Bà đón Cọp về nhà. Cọp cũng thương mạ và hai chị của nó lắm, nhưng mỗi cuối tuần phải về ở với gia đình, cực chẳng đã nó phải đi. Ai nói ở thành phố vui chứ với Cọp thật buồn lắm. Ở đó Cọp chỉ lủi thủi một mình. Ba Cọp đi lính ở xa lâu lâu mới về. Mạ Cọp buôn bán ở chợ từ sáng đến tối mịt. Hai chị thì hơn Cọp đến bảy tám tuổi, dù thương cũng không biết nói hay chơi gì với Cọp, cùng lắm là dắt Cọp ra phố ăn kem. Cho nên đến mỗi chiều Chủ Nhật, mặt trời chưa lặn là Cọp đã bồn chồn mong được “về nhà”.
    Về nhà, tức là về xóm Chùa Bà, giang sơn của Cọp. Có những lần mạ Cọp muốn giữ nó ở lại qua đêm Chủ Nhật, sáng thứ Hai sẽ đưa nó tới trường luôn.
    Cọp ngồi khóc tỉ tê.
    Mạ hỏi
    – Con không thương mạ à?
    – Dạ có
    – Rứa răng con cứ đòi về nhà?
    – Con không biết.
    Hình như Cọp biết mang máng, nhưng không làm sao diễn tả hết nỗi niềm.
    Ở xóm Chùa Bà, Cọp được tất cả mọi người thương mến. Dĩ nhiên Cọp phải ngoan, nhưng còn một lý do nữa: nó là cháu nội của vị Đông y sĩ nhân đức và rất mát tay chữa bệnh mà cả xóm cũng như những vùng lân cận đều trọng nể. Trước kia khi ông nội Cọp còn hành nghề, ông thường cứu giúp kẻ nghèo khó. Bây giờ đã già, ông về dưỡng lão tại đây.Tiếng là hồi hưu, nhưng ông vẫn thình thoảng trở lại nghề cũ để cứu giúp những bệnh nhân chung quanh hay một số thân chủ cũ tìm đến.
    Một trong những thân chủ quen thuộc vẫn nhờ ông nội Cọp bổ thuốc Tể hàng tháng là bà Tham.
    Bà Tham ở căn nhà lớn nhất cuối xóm. Không ai biết tên thật của bà là gì, chỉ quen gọi là bà Tham theo chức quan của ông cụ thời sinh tiền. Cụ Tham làm quan trong những năm cuối cùng của triều Nguyễn, nổi tiếng là ông quan nghiêm khắc và chính trực. Đó là lý do mà cả xóm cho đến nay vẫn còn kính trọng và nể vì. Nhà bà to và đẹp lắm. Vào cổng sau khi qua hai cột trụ cao và cổ kính, bên dưới có hai con sư tử bằng đá nhe răng múa vuốt, là con đường nhỏ trải đầy sỏi trắng, hai bên là hàng rào đầy các loại hoa. Cuối con đường đến khoảng sân trước nhà có những cái chậu bằng đá thật nặng đầy rêu phủ trồng sen. Hai bên hông và phía sau là khoảng vườn rộng mênh mông đầy các loại kiểng cũng như cây ăn trái. Đặc biệt có hai cây cau cao vút lên trời.


    Tuy nhà bà Tham lớn như vậy nhưng không có mấy người. Bà ở với đưá cháu ngoại trạc tuổi Cọp, một ông quản gia trung thành từng theo hầu cụ ông ngày trước, và một chị người làm lo việc bếp núc, các việc lặt vặt khác. Bà vốn hiếm muộn, chỉ có một người con gái thì lại theo chồng vào nam. Dù con bà đã nhiều lần muốn bà dọn vào Nam ở, nhưng bà đã cương quyết ở lại xóm Chùa Bà để giũ gìn hương hỏa bên chồng. Được cái tuy chỉ một con gái, nhưng bà lại có rất nhiều cháu ngoại. Trà là đưá con út mà con gái bà để lại Huế cho bà cháu hôm sớm có nhau, tuổi già bớt quạnh quẻ.
    Bà Tham không làm gì cả. Của cải do cụ ông để lại cùng lợi nhuận từ vườn cây sau nhà đủ cho bà sống thoải mái. Đó là chưa kể con gái bà vốn rất khá giả và vẫn thường chu cấp thêm thường xuyên cho mẹ. Công việc duy nhất để bà đi ra khỏi nhà hằng ngày là cùng ngồi xích lô đưa cháu đi học mỗi trưa, chiều lại đón về.Còn ngoài ra bà chỉ ở nhà tụng kinh niệm phật. Mọi việc giao dịch khác đã có người quản gia chu tất.


    Tuy bà sống thanh đạm và giản dị như vậy, nhưng danh tiếng của một mệnh phụ phu nhân vẫn không hề suy suyển. Cả xóm Chùa Bà đều kính nể và coi bà như thuộc về một tầng lớp khác. Đến cả ông nội Cọp cũng không ngoài lệ đó, dù bà là bệnh nhân vẫn nhờ ông hốt thuốc hàng tháng.
    Cọp gặp bà Tham mấy lần trong nhà khi bà đến cho ông nó bắt mạch. Những lần đó Cọp chỉ dám đứng xa xa quan sát và thắc mắc không hiều bà đáng sợ ở chỗ nào. Bọn con nít trong xóm như Cọp leo trèo phá phách ở đâu cũng phải chừa lại vườn nhà bà Tham. Đến như lũ chim kia hình như cũng biết đó là nơi an toàn nên đã từng đàn tụ về. Cọp và các bạn chỉ biết đứng ngoài thèm thuồng nhìn những trái chín mọng trong vườn và lũ chim líu lo rộn rả bên trong.


    Cơ hội đã đến với Cọp vào một buổi trưa oi ả khi Cọp đang đội nắng đến trường. Chiếc xích lô chở bà Tham đưa cháu ngoại đi học rà đến bên cạnh. Từ trên xe bà hỏi vọng xuống:
    – Này con. Con là cháu ông Khánh phải không?
    – Dạ. Cọp rụt rè trả lời.
    -Tội nghiệp! Trời nắng như ri mà đi bộ bịnh chết. Con lên đây đi với bà luôn thể.
    Câu nói của bà Tham làm Cọp ngẩn người không biết trả lời ra sao. Ngồi xe xích lô tới trường giữa trời nắng gắt như vầy còn gì sướng bằng. Khỏi mỏi chân và đỡ khát nước. Nhưng Cọp vẫn ngần ngừ. Bà Tham đối với nó vẫn là một người đáng nể sợ. Hơn nữa lại có con Trà trên xe. Cọp biết con Trà từ lâu. Nó học bằng lớp Cọp, nhưng ở dãy con gái. Cả trường Cọp có khoảng bốn hay năm đứa thuộc loại “quý tộc” như con Trà. Chúng nó thuờng chơi chung với nhau. Thực ra thì tụi con Trà cũng đâu có kiêu kỳ làm cao làm dáng gì đâu. Tụi nó khi nào cũng muốn gia nhập cuộc chơi với chúng bạn khác. Nhưng mà chỉ nội cái tiếng tăm của gia đình và lối đi học bằng xe đưa rước mỗi ngày cũng đủ làm cho lũ học trò bình dân như Cọp cảm thấy thua kém và cách biệt.


    Thấy Cọp cứ đứng ngẩn tò te, bà Tham bước xuống nắm tay nó kéo lên xe. Bà bảo con Trà sang ngồi trong lòng bà và nhường chỗ cho Cọp. Xe đã chuyển bánh mà Cọp cứ suy nghĩ. Con Trà lơ đãng nhìn Cọp. Nó không biểu lộ vể phản đối hay đồng ý nào cả. Hôm nay Trà đi học mặc áo đầm hồng mới tinh, tóc thắt nơ đỏ, đi giày Tây đàng hoàng. Con nhỏ đúng là một tiểu thơ tý hon. Bỗng nhiên Cọp thấy mắc cở quá. Chưa bao giờ Cọp thấy mình dơ dáy hơn lúc này. Bên cạnh con Trà sạch sẽ trắng trẻo, nó bỗng trở nên đen như cột nhà cháy.Tệ nhất là trên đầu nó mấy bữa nay mọc cục Sài. Ông nội Cọp phải cạo khoảng tóc chung quanh để dán miếng thuốc dán hiệu con Rắn vàoCọp ngồi yên lặng suốt quảng đường. Bà Tham có hỏi nó chỉ thưa dạ cho qua, tuyệt nhiên không nói gì với con Trà. Khi xe đến trường, bà Tham mua hai cây cà rem cho hai đứa. Cọp cầm cà rem chạy ù vào đám bạn đang bắn bi trước cổng trường, quên cả cám ơn.
    Hôm sau bà Tham cho xe đến đón Cọp tận nhà. Bà ngồi ngoài, để con Trà vào kêu Cọp đi học làm ông nội ngạc nhiên. Cọp thì dị quá trốn trong bếp khiến ông nội phải kéo nó ra tận nơi. Cực chẳng đã Cọp đành leo lên.
    Kể từ hôm đó, Cọp chính thức đi học bằng xe xích lô với con Trà. Mấy hôm đầu nó còn ngượng ngùng, dần dần Cọp quen đi. Bà Tham đâu có gì…ghê gớm như nó vẫn tưởng.


    Mỗi lần hỏi chuyện Cọp, bà kêu con thật ngọt ngào và hiền hậu. Giọng bà lơ lớ âm hưởng tiếng nam, vì bà vốn sinh ra trong đó. Cọp có nghe nói đến Sài Gòn, hòn ngọc viễn đông mà nó từng học trong một bài tập đọc. Đối với Cọp, miền nam là Sàigòn, Sàigòn là miền nam. Bà Tham phong độ quý phái có lẽ vì bà từ Hòn Ngọc Viễn Đông ra đây( ?).
    Mỗi chiều tan học, xe bà Tham đậu chờ sẵn ở cổng trường. Thông thường con Trà thuộc dãy con gái ra trước, Cọp ra sau. Mỗi khi Cọp leo lên xe, bà Tham thường hỏi
    – Bữa ni Cọp được mấy điểm?
    – Con được 10 điểm.
    Nó hí hửng khoe. Bà Tham xoa đầu khen
    – Cọp giỏi quá. Ráng học bà thương nghen con.
    Do đó, khi sự nể sợ bà Tham đã dần thay thế bằng lòng kính mến, thân mật thì mối cách biệt tiểu thư- dân dã giữa Cọp và Trà cũng không còn nữa. Ngồi trên xe, hai đứa thường khoe điểm và cãi nhau tíu tít trước sự thích thú của bà Tham. Thỉnh thoảng bà phải làm trọng tài để phân giải nữa. Trà và Cọp trở nên thân nhau tự lúc nào. Cọp hoàn toàn thay đổi quan niệm về bọn “quý tộc” trong trường. Bấy lâu, tụi Cọp chỉ mặc cảm và tạo sự cách biệt, chứ bọn con Trà có bao giờ làm cao như bọn Cọp vẫn nghĩ. Ngược lại, Cọp còn thấy tội nghiệp dùm con Trà. Hai đứa bằng tuổi nhau, ở chung xóm, mà trong khi Cọp tung tăng làng trên xóm dưới tham dự đủ mọi trò vui, thì con Trà vẫn ở trong nhà, kín cổng một mình với bà ngoại.

    ***
    Xóm Chùa Bà ở ngoại thành. Từ trung tâm thương mại chính là chợ Đông Ba, qua khỏi cầu Gia Hội, theo con đường Chi Lăng khoảng 2,3 cây số theo hướng về phía chợ Dinh là đến. Cho nên đây chỉ là vùng ngoại ô chứ chưa quá xa xuống các vùng quê. Dân trong xóm không ai gọi là quá nghèo. Mỗi nhà đều có vườn cây ăn trái phụ vào việc buôn bán, nên cuộc sống tương đối ấm no, và hầu như cả xóm đều quen biết nhau.
    Từ lúc có óc nhận xét, Cọp cảm thấy xóm Chùa Bà là quê hương bất khả chia lià của nó. Những ngày Chủ Nhật cuối tuần phải về với mạ và chị, nó coi như một bổn phận. Một ngày ở thành phố là một ngày buồn bã. Cọp chỉ lủi thủi giữa bốn bức tường chật hẹp. Cho nên khi mạ hỏi có thương mạ không, Cọp bảo rằng thuơng mà không thể giải thích tại sao cứ đòi về xóm Chùa Bà.
    Cọp còn quá nhỏ để diễn tả nỗi lòng của mình. Nó muốn nói rằng ở xóm Chùa Bà, dọc theo con đường Hồ Xuân Hương là hai dãy cỏ xanh mướt. Mỗi chiều có những con trâu hững hờ gặm cỏ. Có những đứa mục đồng là bạn chung trường với Cọp ngồi trên lưng trâu thơ thẩn nghêu ngao. Cọp thường lên lưng trâu với bạn đi sâu vào làng, vào tận các rẩy mương, được gặm mía, ăn khoai nướng, cơm vắt…


    Có những buổi sáng mùa Đông, Cọp dậy thật sớm uống trà cùng ông nội. Giữa cái lạnh sớm mai và tiếng mưa rơi tí tách bên ngoài, hai ông cháu bên chiếc bàn nho đối ẩm. Cọp bắt chước ông bưng tách trà lên miệng, thổi nhè nhẹ và nhấp một ngụm nhỏ rồi thở “phaaà” một cái. Vừa uống trà , ông vừa ư ử ngâm thơ. Cọp chưa thương ai hơn thương ông nội. Nó mong sau này lớn lên sẽ nối nghiệp ông để cứu nhân độ thế.
    Từ ngày đi học chung với con Trà, Cọp là đưá đầu tiên trong xóm được xâm nhập vùng “ cấm địa”, tức vườn nhà bà Tham..


    Đối với Cọp, vườn nhà bà Tham là vườn Địa Đàng. Khu vườn thật rộng, ít nhất cũng gấp ba, bốn lần vuờn nhà nó, đầy những ổi, đào chín nặng trĩu cành. Lũ chim trong vườn cũng rất dạn dĩ. Chúng đã quen với sự an toàn ở đây nên không có vẻ gì e sợ sự hiện diện của Cọp. Cọp thích nhất là được leo lên một cành ổi lớn, ngồi cheo leo trên cành thưởng thức vị thơm ngọt của trái Xá Lị mới hái, vừa nhìn lũ Chào Mào, Se Sẽ ca hát, rỉa lông cho nhau, thỉnh thoảng hái một trái chín quăng xuống cho con Trà phía dưới. Có hôm thằng Cọp rủ con Trà lén trốn ra đuờng đón mấy đứa mục đồng bạn của nó cho con Trà cởi trâu ra rẫy chơi. Lần đầu tiên cô tiểu thư đài các được …đi chăn trâu khoái quá, bất kể bộ quần áo thơm tho bị vấn mùi trâu khi về phải vội vàng đi tắm. Thằng Cọp còn bắt Chuồn Chuồn cho cắn vào rốn con Trà rồi dắt nó ra ao sau vườn tập bơi. Quả nhiên mấy ngày sau con Trà cũng bơi ra phết.


    Nhưng không phải chỉ mình Cọp biết bày trò đâu nha. Trà cũng có những mục riêng mà Cọp chưa hề biết đến. Trà có một bộ đồ chơi thật đẹp dạy trẻ em xếp nhà mà anh nó đang du học ở Pháp gởi về. Bộ đồ chơi gồm những miếng nhựa hình khối chữ nhật màu vàng ngà tương tự như quân cờ Mạc Chược của ông nội Cọp. Trên mỗi miếng đều có vẻ hình một cái cửa lớn hoặc cửa sổ. Chúng nó cứ lấy ra sắp thành những toà lâu đài theo ý thích và sự tưởng tượng riêng của mình. Con Trà cũng có một bộ đồ chơi nấu ăn đẹp nhứt xóm. Cọp chẳng thích gì ba trò nấu ăn của con gái. Nhưng đưọc cái là con Trà … nấu thiệt. Nghĩa là muốn nấu chè, con Trà vô bếp lấy đậu và đường đốt lửa nấu đàng hoàng chứ không phải lấy lá cây giả bộ như mấy đứa con gái khác. Cọp chiều ý con Trà, đợi nó nấu xong, dù sống hay chín, Cọp đều thanh toán hết. Con Trà chỉ nhấm nháp chút đỉnh và hả hê nhìn Cọp thưởng thức sản phẩm của mình.


    Một lần hai đứa được bà Tham dắt đi coi tuồng Phạm Công Cúc Hoa do một gánh cải lương từ Sài Gòn ra trình diễn. Khi về, con Trà khóc suớt mướt.
    Hôm sau không biết đưá nào rủ trước, cùng nhau diễn lại đoạn hai đứa trẻ mồ côi được mẹ Cúc Hoa hiện hồn về bắt chí. Cọp đóng vai Tấn Lực, con Trà làm Nghi Xuân. Sẵn có tượng Phật Bà Quan Âm khá lớn trong nhà cũng mặc đồ trắng giống Cúc Hoa, nên cả Nghi Xuân và Tấn Lực tân thời thi nhau tới trước tượng gào thét “Mẹ ơi, mẹ ơi…” một cách say sưa và thê thảm, nhập vai đến độ nước mắt nước mũi ngồm ngoàm đầy mặt, và bà Tham đứng sau lưng hồi nào không biết.
    Bà không la còn vỗ tay khen:
    – Ui chao ơi. Hai đứa mi hát cũng hay quá.
    Nghi Xuân đỏ mặt ôm bà phụng phịu, còn Tấn Lực thì dị quá vừa chùi mũi vừa cắm đầu chạy một mạch về nhà.
    ***
    Cọp về thành phố đón tết đã được mấy ngày. Mạ Cọp nghỉ chợ từ hôm 27. Ba Cọp cũng về nhà. Không khí vui vẻ và đầy đủ của gia đình làm Cọp tạm quên xóm Chùa Bà, tạm quên con Trà. Nó đã đếm từng ngày mong chóng đến mùng một để được mặc đồ mới theo ba mạ về chúc tết ông bà nội, và đi mừng tuổi bà Tham.


    Tết.
    Cọp nằm thấp thỏm mong trời mau sáng. Càng về khuya, pháo còn nổ lớn ròn rã. Trước còn không phân biệt, nhưng dần dần đã nhận ra tiếng súng. Mạ Cọp hỏi ba
    – Chắc cháy kho đạn?
    Ba Cọp lắng nghe và lắc đầu
    – Không phải kho đạn. Lạ thiệt, hưu chiến ăn tết mà!
    – Mô Phật. Tết nhứt mà đánh nhau chi kỳ rứa không biết.
    Súng nổ dữ dội càng lúc càng gần vào thành phố. Ba Cọp mở radio nghe tin tức, nhưng những bản nhạc Xuân mới mấy tiếng đồng hồ trước còn inh ỏi, nay thay thế bằng tiến u u vô nghĩa. Súng nổ lúc càng gần hơn đầy đe dọa. Xen lẫn những tiếng tạch – tạch – đùng là một tiếng ẦM thật lớn làm rung chuyển cả nhà cửa, bụi bay tứ phía văng cả vào mắt Cọp. Đến gần sáng, radio bỗng nhiên hoạt động. Ba Cọp thất thần khi nghe “Đây, tiếng nói của mặt trận giải phóng miền nam…”
    Hai chị của Cọp cũng biết và thì thầm với nhau:
    – Chết cha! Việt Cộng mi ơi.
    Trời sáng. Cả thành phố im lìm. Tiếng súng đã lặn dần chỉ còn lại lẻ tẻ đâu đó như đang răn đe hơn là hiến đấu. Nhà nhà đều đóng cửa kín mít. Bóng tối bao trùm…


    Một buổi sáng, Cọp thức dậy vì tiếng ồn ào ngoài đường. Hình như có một nhóm người đi từng nhà đập cửa kêu gọi gì đó. Cứ khoảng mười phút thì tiếng đập cửa lại vang lên, từng nhà, từng nhà mỗi lúc mỗi gần hơn. Ba mạ Cọp nhìn nhau lo ngại. Hai chị của nó thì sợ quá trùm mền kín mít không dám nghe. Cuối cùng rồi chuyện gì đến cũng sẽ đến. Tiếng đập cửa vang lên ngay nhà Cọp. Họ kêu lớn “ 73 Chi Lăng, mở cửa!”. Đúng là số nhà nó. Ba Cọp đành đứng dậy đi ra.


    Sau hơn một tuần đóng kín, cửa nhà Cọp phải mở để đón người lạ vào. Cọp lén nhìn ra thấy sáu bảy người đàn ông sầm sập đi vào. Việt Cộng đó sao? Cọp suýt kêu thành tiếng khi thấy người đàn ông đứng ở cửa. Thầy Tường ! Thầy dạy lớp nhất ở trường nó. Cọp tưởng mình trông lầm, nhưng rõ ràng là thầy Tường nổi tiếng hiền nhứt trường. Khác một điều là lúc này thầy lạnh lùng, ôm khẩu súng, tay áo có mang miếng băng đỏ. Cọp líu cả lưỡi, tay chân run rẩy. Thầy Tường là Việt Cộng? Nếu không tận mắt nhìn thấy, không đời nào Cọp tin nổi.
    Ba nói chuyện một hồi, đi vô bảo mạ:
    – Anh đi với họ.
    – Đi mô?
    Mạ Cọp thất thanh.
    Một người có vẻ là trưởng nhóm tiến lại:
    – Chúng tôi mời ông đi nghe chủ trương chính sách của chính phủ cách mạng. Tối ông về thôi.
    Ba Cọp nhìn mạ ra dấu có muốn từ chối cũng không được. Ông yên lặng xoa đầu Cọp và bước ra khỏi nhà cùng mấy người đàn ông nọ
    Đến tối quả nhiên ông về thiệt. Mạ Cọp mừng đến mếu máo:
    – Anh đi mô?
    Ba lắc đầu không nói. Mạ hỏi tiếp
    – Họ nói chi rứa?
    Ba chỉ xua tay và nặng nề ngồi xuống. Hình như ông vừa trải qua một sự kiện gì ghê gớm lắm nhưng không muốn cho mạ nó biết.
    Liên tiếp mấy tuần nữa, Huế vẫn đắm chìm trong bóng đêm. Chợ Đông Ba bốc cháy cũng không ai cứu chữa, cho tới khi một cơn mưa đổ xuống dập tắt, để lại những cột khói u ám cả bầu trời. Mạ Cọp ngẩn ngơ nhìn sản nghiệp tiêu tan theo làn khói. Lần đầu tiên Cọp thấy mạ khóc và cảm thấy thương mạ hơn bao giờ hết. Cọp biết hàng vải của mạ là do bà ngoại để lại. Từ bấy lâu nay mạ Cọp một tay nuôi nấng đàn con cũng nhờ nó. Nay coi như đã hết.


    Chưa bao giờ Cọp thấy buồn bả và chán nản hơn lúc này.
    Tết chi mà kỳ cục. Suốt ngày chỉ ru rú trong nhà tăm tối.
    Thình thoảng Cọp ngồi tư lự. Nó nhớ xóm Chùa Bà quá. Nó ngồi tưởng tượng hai dãy cỏ xanh mướt dọc theo con đường Chùa Bà và những thằng bạn chăn trâu nghèo khổ của nó. Súng bắn dữ như hôm rồi, không biết tụi nó có được bình yên? Còn những con trâu lừ đừ và châm chạp. Tụi nó có biết tìm chỗ tránh đạn? Cọp cũng nhớ con Trà và bà Tham. Bỗng nhiên Cọp khám phá ra một điều: ngoại trừ ông nội, con Trà là người nó thương và nhớ nhiều nhứt. Cọp không hiểu tại sao, nhưng hể nhắm mắt lại là nó thấy ông nội, con Trà, và bà Tham.
    Nhớ thì nhớ, thương thì thương, Cọp cũng phải bó gối trong nhà và thả hồn lơ lững về xóm Chùa Bà.

    ***
    Súng lại nổ vang. Lần này súng nổ ròn rả hơn, quyết liệt hơn. Cọp ôm đầu than: “Trời ơi,,Việt Cộng mô mà cứ tới hoài rứa !” Nó lại thấy mạ lâm râm niệm Phật, nhưng không để ý nét vui mừng ẩn hiện trên đôi mắt thâm quầng của ba.
    Súng nổ thật dữ dội đầu hôm và im dần khi trời vừa sáng. Cọp giật mình thức dậy và thấy ánh nắng chói chan rọi vào nhà. Lạ quá, tại sao nhà nó lại mở cửa? Ba mạ và chị nó đâu? Nó lại nghe tìếng cười nói huyên thuyên bên ngoài nên vùng chạy ra.
    Lính.
    Lính mình.
    Nhiều lính lắm, đang rầm rập đi đầy đường.
    Cọp chạy lại nắm tay ba. Ông nói
    – Mình tái chiếm rồi con.
    Tái chiếm? Nghĩa là không còn Việt Cộng nữa. Nghĩa là nó sắp được về lại xóm Chùa Bà tiếp tục những ngày vui !
    Cọp bỗng cười toe toét, ngẩng đầu hỏi lại;
    -Mình tái chiếm rồi hả ba?

    ***
    Chỉ vài tháng sau ngày tái chiếm, Cọp khăn gói theo gia đình vào SàiGòn. Ba Cọp quyết định đưa vợ con về nơi an toàn. Cọp cũng không lưu luyến xóm Chùa Bà nữa. Ông nội nó đã mất vì bệnh tim tái phát sau nhiều ngày đêm chịu đựng tiếng dội của bom đạn. Một lý do nữa là ba Cọp đã trở về từ địa ngục. Sau này kể lại, ông cho hay hôm mấy tên Việt Cộng trong đó có thầy Tường dẫn đi, ông bị còng tay ra nơi tập trung có những cái hố đào sẵn. Phước đức từ ông nội nên có một tên việt cộng là bạn học cũ của ba. Nhà hắn từng chịu ơn ông nội Cọp cứu giúp năm xưa nhận ra, lén cởi trói cho ba Cọp trốn về. Ba là người duy nhứt thoát được. Số người bị bắt chung hôm đó tất cả đã bị vùi sâu chôn sống hết dưới những hố hầm định mệnh.

    Đưa đám ông nội Cọp, con Trà đi cùng bà Tham …trên chiếc nạng gỗ. Một mảnh đại bác oan khiên cắt ngang chân trái của Trà.
    Tự do đã trở lại, nhưng hậu quả khốc liệt của một tháng trời bị tạm chiếm vĩnh viễn không thể phai mờ. Ban đêm Cọp phải qua ngủ với mạ để tìm cảm giác an toàn mỗi khi thức giấc nghe tiếng chó tru xa xa vọng lại.
    Mùa Xuân năm ấy, Huế nhuộm một màu tang !
    Khi Cọp trở lại xóm Chùa Bà lần cuối để chào từ giã bà Tham và con Trà trước ngày lên đường, bà Tham mếu máo ôm Cọp trong lòng như không nỡ rời. Con Trà cũng đứng đó, không khóc, không nói, chỉ ngẩn ngơ nhìn Cọp nửa bùi ngùi, nửa xa vắng.

    ***
    Thư một người chị của Cọp từ quê nhà gởi sang có đoạn “Em còn nhớ Trà, cô bạn nhỏ năm xưa của em ở Huế không? Chị mới gặp lại. Không ngờ cô ta vẫn còn nhớ đến em và gởi lời hỏi thăm…”
    Chữ “Trà” trong thư của chị gợi lại Cọp bao kỷ niệm thời thơ ấu tưởng đã chìm sâu trong tâm tưởng, bỗng sống dậy cuồn cuộn như sóng trào. Rời Huế từ năm ấy, Cọp chưa lần nào trở lại dù chỉ một lần để thăm viếng. Sài Gòn -Huế nào có bao xa mà như vĩnh quyết. Huống chi bây giờ thêm cả một đại dương!
    Hương Trà, cô tiểu thư, người bạn nhỏ thuở xưa. Cô đã sống ra sao trong suốt thời gian qua với chiếc nạng gỗ cay nghiệt đó!
    Cọp cúi đầu.
    “Lạy trời cho nàng một cuộc sống bình yên”



    ThaiNC

  • Văn

    ĐÒ XƯA

    ĐÒ XƯA

    Truyện Ngắn Thai NC

    -Thằng đang bơi, qua bên ni chị nhờ chút.
    Đang bơi thỏa thê trên sông, Cọp nghe tiếng gọi từ con đò đang đậu gần đó và thấy chị Lành đang đứng đầu mủi đưa tay ngoắc.
    Cọp biết đây là đò bán chè của chị Hiền và chị Lành. Hai người tuy ở chung đò nhưng không phải là chị em vì rất khác nhau. Chị Hiền lớn hơn chị Lành vài tuổi, cao và có nước da ngăm ngăm, giọng chị mang âm hưởng Quảng Nam, trong khi chị Lành thấp và trắng hơn, nói đặc giọng Huế.


    Lý do nào hai cô gái không phải chị em thân thuộc, không cùng quê quán lại cùng chung sống trên một chiếc đò thì Cọp không biết, và không cần biết. Cọp chỉ biết rằng mấy tháng trước hai chị cùng chèo đò tới cập bến tại đây để bảng bán chè. Ban ngày hai chị chèo đò bán dạo ở đâu không biết, chiều thường trở về bến ở xóm Chùa Bà nhà Cọp nấu cơm ăn, giặt giủ. Tối đến hai chị lại chèo đi bán chè dạo trên sông.
    Cọp biết tên chị Hiền chị Lành vì thỉnh thoảng nghe người ta gọi chè hai chị từ trên bờ, nhưng họ không biết Cọp là ai. Buổi chiều Cọp thường ra bơi sông gần chỗ hai chị neo đò. Cọp chưa bao giờ mua chè chị Hiền chị Lành nên chưa quen nhau.


    Cọp bơi lại gần và thấy chị Lành đang đứng kiển chân ở mủi đò cầm cái sào khá dài cố vớt cái quần đen đang dần trôi xa ra khỏi tầm với của chị. Quàn áo mấy chị giặt phơi bị gió thổi xuống sông đây. Không chần chờ, Cọp bơi qua lấy cái quần đưa lại. Chị Lành mừng quá rối rít:
    -Cám ơn cu hí. Cu tên chi?
    -Tên Cọp.
    Chị Lành cười
    -Ui cha tên chi mà dữ rứa ? Nhưng thấy cu hiền khô dễ thương ghê.
    -Ai rứa ? Có tiếng chị Hiền từ bên trong
    – Cái quần Mỹ Á mới may bị gió xuống sông may nhờ thằng cu ni bơi vớt lên chơ không là trôi mất rồi.
    – May chưa tề ! Kêu hắn lên cho hắn chén chè.
    -Ừ hí, em quên. Cu lên đò chị cho chè ăn nì. Cu chi? Cọp phải không? Cọp lên đây chị múc chè ăn. Không tính tiền mô.
    Nghe nói được cho chè, Cọp thích lắm, nhưng đành chịu, nguợng nghịu lắc đầu.


    Chị Lành hiểu ngay khi nhìn Cọp qua dòng nước, cười nói vào bên trong
    -Hắn lên không được mô Hiền ơi. Hắn đang bơi ở lổ. Hắn dị, hí hí!
    -Bày đặt. Con nít con neo ai thèm dòm mà dị !
    Chè thì thích thiệt, nhưng làm sao dám tồng ngồng lên gặp hai chị. Nó quảy mình bơi lẹ ra sông, và nghe tiếng chị Lành vói theo
    -Ngày mai Cu mặc quần rồi lên đò chị ăn chè nghe.
    ***


    Hôm sau Cọp đã chuẩn bị nên bơi… có mặc quần đàng hoàng và lên đò chị Hiền chị Lành làm một bụng chè thỏa thê.
    Kể từ hôm đó Cọp đã quen thân với cả hai chị. Không cần vớt quần vớt áo chi cả, Cọp khi nào cũng được ăn chè không tốn tiền. Không phải chỉ chè mà thôi. Chị Hiền chị Lành thỉnh thoảng kêu bún bò hay cơm Hến vô ăn cũng đều để dành cho Cọp một tô…


    Một bữa Cọp bơi đến con đò và thấy chị Lành ngồi một mình thọc hai chân xuống nước. Cọp mon men bơi lại nhưng không leo lên đò như mọi khi mà chỉ đứng dưới.
    Đang nói chuyện Cọp để ý chị Lành xắn chiếc quần đen đang mặc lên tới tận đầu gối, thòng cả hai cái chân xuống đong đưa vọc nước. Cọp cứ nhìn sửng đôi chân đến nổi chị Lành ngạc nhiên hỏi
    -Mi nhìn chi dưới nước?


    Cọp bẽn lẽn nói nó nhìn hai cái chưn chị đong đưa như vậy giống như hai con cá đang lượn đùa nhau.
    -Hi hi, chị Lành cười. Thằng ni tưởng tượng ghê hí. Ừ, chừ cho hai con cá bơi đua nghe.


    Nói xong, chị phát ra miệng mấy tiếng kêu “ ron-ron- ron…” như tiếng xe máy đang rú ga. Bên dưới chị dùng chưn trái lượn qua qua lượn lại rất lã lướt. Chưn phải cũng lượn rượt theo liền phiá sau. Hết bên trái tới bên phải, cứ như vậy chị cho hai con cá đuổi nhau thật sôi động. Thỉnh thoảng một con hứng chí bay lên khỏi mặt nước, con kia cũng bay theo lên liền không chịu kém.


    Thằng Cọp thích quá hò reo hưởng ứng. Chị Lành nghĩ ra trò đua cá thiệt hấp dẫn.
    Bỗng nhiên chị Lành cho con cá chưn trái chậm lại để cá chưn phải bắt kịp. Chị xoè ngón chân cái và ngón trỏ ngoạm một cái ngay gót chân, rồi la lên
    -Bắt được mi rồi. Bắt được mi rồi…
    Xong chị lấy ngón chưn cái của con cá sau ịn một cái vô con cá trước và nói tiếp:
    -Bắt được rồi cho hun một cái.
    Thằng Cọp cười ngặt nghẻo nhìn chị Lành đạo diễn màn đua cá, nhất là màn cuối bắt được rồi cho hun một cái.
    Chị Lành nhìn Cọp nói
    -Chừ tau với mi chơi. Tau bơi, còn mi đuổi theo nghe chưa. Cho mi dùng tay làm cá đó.


    Cọp chịu. Chị Lành co một chưa lên bờ, chưa kia vẫn để dưới nước và bắt đầu rà tới rà lui.Miệng chị vẫn “ron – ron- ron” rú ga giống như hồi nãy đầy vẻ thách thức. Cọp đâu chịu kém. Nó cũng “ ron- ron-ron” rú ga giống như chị Lành, và nhanh như chớp bất thần cả hai tay chụp xuống dưới nước. Chưa kịp chuẩn bị và không ngờ Cọp mới chịu là …làm liền, nên con cá Lành bị chụp cứng ngắt không kịp phản ứng.


    Chị la bai bải
    – Ăn gian.! Thằng ni ăn gian. Tau chưa chuẩn bị. Mà mi không được dùng hai tay. Tau một con mi cũng một con thôi. Chừ bắt đầu lại .
    Trò chơi lại bắt đầu. Lần này chị Lành đã chuẩn bị, và Cọp chỉ được dùng một tay nên cuộc đua sôi nổi hào hứng hơn. Mỗi lần Cọp chụp hụt là chị Lành lại cười ré lên khoái chí. Nhưng sau nhiều lần chỉ vồ nước sông, Cọp đã nghĩ ra cách chụp cá. Nó không nhắm bàn chưn chị Lành nữa mà nhè ngay… đầu gối chị để chụp. Chỗ này thì dính chắc vì chị đâu có di động được. Từ đầu gối, mặc cho chị Lành vung vẩy dữ dội Cọp vẫn cứ bám lấy và lần mò theo bắp chưn của chị xuống phía dưới cho đến khi nắm được bàn chưn con cá Lành là chị hết đường cục cựa. Chị Lành cười nắc nẻ.
    -Mi chơi ăn gian, nhưng mà thôi, cho mi thắng đó. Chừ bắt được rồi cũng hun một cái.


    Cọp đang ngơ ngác, chị Lành co chân lên khỏi mặt nước lúc lắc ngón chân cái. Hiểu ý, Cọp bắt chước như hồi nãy dùng ngón tay ịn vô chưn của chị để …hun một cái. Cả hai cười như nắc nẻ khoái chí.
    Đang cười, chị Lành bỗng ngưng lại,nhìn Cọp hỏi
    -Mi thấy chưn tau đẹp không?
    Nói xong chị đưa cái chưn tới sát ngay mặt. Như phản xạ tự nhiên, Cọp dùng cả hai tay bưng chưn chị Lành rồi ngơ ngẩn nhìn. Một tay Cọp đỡ ngay gót, tay kia vân vê những ngón chưn. Cọp nhận ra chưn của chị Lành trắng phau phau. Bàn chưn của chị nhỏ nhắn nhưng đầy đặn không một sợi gân. Đẹp nhứt là năm ngón e ấp tụm lại với nhau chứ không xòe ra như cánh quạt của hầu hết những người khác mà Cọp thấy. Điều đặc biệt là gót chưn của chị tròn lẵn, không một vết nứt nẻ nào. Cọp chưa từng thấy ai có bàn chưn đẹp như ri.


    Bỗng nhiên Cọp thấy thèm một cây cà-rem , cây cà rem đậu xanh Cọp thích nhứt, giữa buổi trưa hè… Nó đau đáu nhìn những giọt nước từ bàn chưn chị Lành tụ lại ở đầu ngón và rơi xuống sông, tưởng tượng cây cà-rem …
    Cọp thèm một cây cà rem chi lạ !
    -Chưn tau đẹp không?
    Tiếng chị Lành lặp lại. Cọp thẩn thờ gật đầu.
    -Mi thích không?
    Cọp lại gật đầu
    -Thích thì…cho hun một cái đó.


    Hồn vía Cọp lúc nầy như đã bị con Ma Hớp Hồn hớp mất, nó lấy ngón tay tính để ngón chưn của chị để hun như lúc nảy, nhưng chị Lành gạt ra và nói
    -Không phải hun rứa. Hun thiệt. Hun bằng miệng.
    Chị Lành nói xong đưa chưn tới sát ngay trước mặt Cọp.
    Cây cà rem đậu xanh sữa nhúc nhích, nhúc nhích. Cọp nhìn chị Lành thấy chị vừa cười vừa gật gật đầu. Nó mân mê cái chưn trắng ngồn ngộn của chị Lành trong tay, rồi bỗng nhiên như có một sức mạnh nào thúc đẩy, nó đưa mũi tới sát và hít một hơi thiệt mạnh. Chưa bao giờ Cọp hít mạnh như vậy. Nó có cảm tưởng không phải chỉ bàn chưn, mà cả cái chưn của chị, cả người chị Lành, đang chui tọt vô mủi nó.


    Không phải chỉ chị Lành.
    Con đò,
    Dòng sông,
    Cả thế giới chung quanh như đều bị Cọp hít hết cả vào người. Chị Lành bật cười sằng sặc làm Cọp bừng tỉnh. Nó dị quá, thả vội cái chưn ra và quay mình chạy vô bờ.
    – Chuyện chi rứa? Tiếng Hiền hỏi từ bên trong.
    -Thằng Cọp chơ ai. Tui mới chọc chút mà hắn dị hắn chạy rồi.
    -Con khỉ ! Hắn còn nhỏ, mi chọc chi rứa?
    Tiếng chị Lành cười khanh khách phía sau….

    ***
    Từ giả dòng Hương giang hiền hòa, Cọp rời Huế một sáng trời mưa bay bay, hành trang mang theo là những kỷ niệm.
    Kỷ niệm một cái chưn trắng nỏn nà của cô gái bán chè trên sông Hương đã cho Cọp cái cảm giác rạo rực đầu tiên trong đời.
    ./.

    Image may contain: night and outdoor
  • Văn

    NỖI LÒNG CỦA LAN

    NỖI LÒNG CỦA LAN


    (Nguyễn Ngự Bình – VĂN 1989)

    Khi Lan quẹo vào khu cư xá, cơn mưa cũng vừa dứt. Nàng cho xe chạy chậm lại để tránh những cái bumpers trên đường. Đây là khách hàng cuối cùng trong ngày nàng đưa cơm tháng đến, và là một khách hàng đặc biệt.
    Không rõ bắt đầu từ lúc nào, kỹ nghệ nấu cơm tháng trong cộng đồng Mít San Jose phát triển rất mạnh mẽ. Trong bất cứ tờ báo quảng cáo nào, độc giả cũng dễ dàng thấy dòng chữ “Nhận nấu cơm tháng, giao tận nhà, ba món ăn thay đổi hàng ngày, giá: X/ mỗi tuần, xin gọi số: Y”. Chỉ cần nhấc phone cho biết địa chỉ là khách có thể thơ thới có người giao cơm ngay ngày hôm sau, khỏi mất công đi chợ, nấu bếp. Dĩ nhiên, chiếu cố dịch vụ này nhiều nhất là giới độc thân nhan nhản ở đây.


    Hắn cũng độc thân như đa số khách hàng của Lan. Hay ít nhất cũng đang sống một mình. Lý do dễ hiểu là hắn chỉ lấy một phần cơm. Tháng trước, khi hắn điện thoại đến đặt cơm, Lan đã định từ chối vì không thuận đường, tận Mountain View, khá xa. Nhưng Hùng bàn lại thấy cần nhận lời để …khuếch trương thị trường, nên cuối cùng đã thay đổi ý kiến. Hai vợ chồng mới ra nghề không lâu, khách hàng còn ít ỏi, cần thêm mối càng nhiều càng tốt để phụ thêm vào món tiền trợ cấp nhất định hàng tháng khi Hùng vẫn còn trong thời gian huấn luyện Anh Văn và nghề nghiệp.


    Hắn ở trong một dãy condo mới xây dựng khá sang trọng. Không biết hắn mua hay mướn, nhưng dù mướn hay mua, Lan biết số tiền trả hàng tháng chắc cũng đã hơn số tiền chính phủ đang trợ cấp cho cả hai vợ chồng và đứa con. Chiếc xe BMW mui trần nàng vẫn thấy đậu ngay garage phía trước là một bằng chứng hùng hồn của lối sống thoải mái, dư dả.
    Tuy vậy, nếu hắn chỉ giàu, chưa chắc Lan đã liệt vào hàng đặc biệt. Ngày đầu tiên khi Lan bắt đầu giao cơm, hắn chờ sẵn ở cửa và trao nàng phong bì đựng tiền cho một tháng. Theo thói quen, Lan cẩn thận đếm và thấy dư 10 đô. Tưởng hắn lộn, nàng đưa trả lại. hắn xua tay cười “ồ, đây là tiền xăng để cô đưa cơm đến”, “Không, tiền xăng tôi đã tính đây rồi”. Nàng trả lời. Hắn vẫn cười dễ dãi “Vậy thì cô giữ…làm gì cũng được”, rồi quay vào để Lan ngơ ngác với món tiền tip đầu tiên từ khi nàng hành nghề từ ông khách hào hoa của mình.


    Ngay từ hôm đầu tiên đó, Lan đã thấy hắn khác người, và suy nghĩ vẩn vơ. Hắn làm gì, Lan không rõ. Chỉ biết hắn còn trẻ lắm, độ bằng Lan, hay hơn một hai tuổi là cùng. Nhưng qua lối sống đủ chứng tỏ hắn thành công vượt bực so với những người trẻ tuổi khác mà Lan biết. Suốt một tháng qua, thỉnh thoảng nàng đưa cơm tới gặp lúc hắn đi làm về, đôi bên trao đổi vài câu mưa nắng. Chỉ những câu nói thông thường giữa hai người đồng hương trên xứ người cũng làm Lan lúng túng. Tướng hắn dong dỏng cao, cân đối trong bộ vest với chiếc cravate đỏ chói. Giọng hắn trầm ấm, đầy vẻ tự tin, nhất là khi cất giọng, hàng ria mép có vẻ nghệ sĩ nhưng được chăm sóc kỹ lưỡng di động nhịp nhàng khiến Lan bỗng nhớ tới một ông tướng không quân nổi danh ngày trước. Tất cả tạo cho hắn một sức hấp dẫn lạ lùng đầy nam tính. Nàng cảm thấy mình nhỏ bé lại như thời con gái, lần đầu đối diện cùng bạn trai…


    Lan cho xe ngừng lại trước cửa, mở cốp lấy giỏ thức ăn ra và chú ý thấy chiếc xe mui trần của hắn. “Về sớm nhỉ!” Lan tự nghĩ, và cảm thấy tim đập. Bỏ chiếc giỏ xuống chỗ thường lệ, Lan đưa mắt nhìn sang chiếc cửa kính bên cạnh. Hình ảnh đầy màu sắc rực rỡ của một scene TV phản chiếu lên cửa. Không dằn được, nàng tò mò liếc vào và giật nẩy mình. Lan thấy nửa cái đầu tóc đen của hắn nhô lên từ ghế sofa đặt trước Tivi, hai chân trần gác lên cái bàn nhỏ trước mặt mà nàng chỉ thấy từ đầu gối. Một cái đầu khác tóc bạch kim vàng óng xỏa trên ghế bên cạnh mái tóc đen của hắn. Một người đàn bà Mỹ. Lan không nhìn được mặt, chỉ thấy cặp chân trần tròn trịa, phơn phớt những sợi lông măng gác lên chân hắn. Trời, hai người cùng ngồi trong cái ghế sofa chật chội? “Chắc họ chẳng mặc gì cả”, Lan cảm thấy nóng ran cả người. Đang định quay đi, Lan bỗng nghe tiếng đàn bà cười rú lên rúc rích bên trong. Cái đầu tóc vàng co cả hai chân lên ghế, dùng tay nắm mái tóc đen kéo dí xuống phía dưới. Chiếc sofa bật ngửa … “Đồ mắc dịch!”, Lan rủa thầm và cương quyết quay lưng.


    Không khí trong lành sau cơn mưa làm Lan thoải mái trở lại. Nàng vuốt nhẹ mái tóc và hít một hơi dài xua đuổi hình ảnh cụp lạc trong nhà ra khỏi đầu óc. Bây giờ Lan mới nhớ tay mình vẫn cầm tấm thiệp Lan định để lại cho hắn, vì hôm qua nàng nhận được card của hắn chúc mừng Giáng Sinh. Tự nhiên Lan cảm thấy khó chịu. Cái chân trần và giọng cười đĩ thõa của người đàn bà trong nhà lại chập chờn trước mặt. Nàng giận dữ xé tấm card, tiện tay quăng vào giỏ rác bên cạnh, bước vội ra xe.


    Vào freeway, Lan nhìn đồng hồ tay: gần ba giờ chiều rồi. Nàng phải chạy nhanh về nhà trước giờ tan sở, đường xá sẽ nghẹt ứ. Giờ này chắc Hùng cũng sắp về.


    Hùng, người đàn ông được gọi là chồng vì hắn là cha của đứa con nàng, Lan bỗng buồn bâng quơ. Nàng chưa bao giờ yêu chàng cả. Lan theo Hùng vượt biên và sống chung đến ngày nay cũng vì chàng là tài công cho chuyến đi chui sắp khởi hành. Đi theo Hùng là phương tiện duy nhất để Lan thực hiện giấc mơ tìm miền đất hứa, thoát khỏi một xã hội mà nàng đã chán chường đến tận cùng xương tủy.


    Vùng đất hứa trong giấc mơ của Lan hồi còn ở quê nhà là bãi cỏ xanh ngát trước căn nhà tường gỗ vàng, có những cây cột nhỏ màu nâu sậm, cái ống khói nho nhỏ màu đỏ chói để ông già Noel chui vào mỗi mùa Giáng Sinh.
    Lan cũng mơ ước những thành phố ban đêm rực ánh đèn màu, lấp lánh. Những cao ốc chọc trời cùng những vũ trường sang trọng. Những người đàn bà trang phục dạ hội thật lộng lẫy, nhởn nhơ trong tiếng nhạc…
    Lan đã đánh đổi hết, kể cả những gì quý báu nhất của người con gái để thực hiện giấc mơ của mình. Sự chung đụng có tính cách trả ơn hơn là kết cấu của tình yêu với Hùng lại có hậu quả. Đứa bé ra đời là sợi dây vô hình không định trước, trói buộc cuộc sống của hai người với nhau. Lan biết nàng không thể một mình thực hiện giấc mơ. Dù không có đứa con, Lan cũng phải bám lấy Hùng, dựa vào ưu tiên quân nhân của chàng để được đi định cư.


    Thực tế phũ phàng hơn Lan nghĩ. Nơi đến không phải đường lót đầy tiền để nàng tự nhiên lượm lên tiêu. Căn nhà với bãi cỏ xanh ngát, cái ống khói đỏ cho ông già Noel giờ đây chỉ là một căn apartment cũ kỹ, chung quanh đầy những đồng hương mà mỗi tối Lan có thể nghe tiếng cải lương từ một căn nhà nào đó ê a vọng lại. Người đàn bà lộng lẫy trong chiếc xe bóng lộn lao vút giữa ánh đèn đêm, tới những nơi xa hoa đầy tiếng nhạc … vẫn là một điều xa vời. Lan biết Hùng không bao giờ thực hiện niềm mơ ước đó cho nàng. Chàng chăm chỉ một cách vụng về, thủ phận trong nếp sống hiện tại, và không đủ tài thực hiện tương lai tươi đẹp đó. Lan phải tự tạo lấy, phải đốt giai đoạn. Nàng không hề nghĩ mình đang phản bội! Từ đầu, chính Hùng cũng hiểu Lan chưa bao giờ yêu chàng. Sự sống chung của hai người là một sự hợp tác, có qua có lại, mà đứa con chỉ là bản giao kèo của định mệnh. Lan dành quyền quyết định đời mình khi hoàn cảnh cho phép.


    Hoàn cảnh đã hé mở cánh cửa để hắn xuất hiện. Mẫu người lý tưởng có đủ khả năng cho nàng những gì mong muốn. Nhiều đêm, bên cạnh người đàn ông có chung với mình đứa con mà Lan thấy như người xa lạ. Giữa không gian vắng lặng còn hăng hắc mùi dầu mỡ từ căn bếp đưa sang, tự nhiên Lan nghĩ đến mùi hương ngào ngạt của loại nước hoa đắt tiền ít khi nào Lan có dịp dùng đến, mùi champagne nồng nàn của những buổi dạ tiệc. Nhìn Hùng say sưa ôm gối, nàng lại thấy hắn, hào hoa, sang trọng, trong một condo đắt tiền, với chiếc xe mui trần bóng loáng.
    Lan miên man suy nghĩ.
    Tiếc nuối!
    Tủi hờn!


    Gió lồng lộng tạt vào xe khiến nàng cứ đạp mạnh chân ga. Khi Lan giật mình thấy trong kiếng chiếu hậu chiếc xe màu đen có cái đèn tròn trên mui quay tít và rực sáng. Nàng hoảng hồn cho xe vào lane trong cùng, và dừng lại.


    Người cảnh sát cao lớn với tập giấy trên tay tiến đến bên cửa hỏi:
    – What’s problem, Mam? You’re driving very fast!
    ./.
    ThaiNC

    No photo description available.
  • Văn

    CON TÀU CHỈ CÓ MỘT NGƯỜI

    CON TÀU CHỈ CÓ MỘT NGƯỜI

    Anh cũng như bao nhiêu người sĩ quan khác ở Miền Nam. Sau 75, đều bị tập trung cải tạo. Những tháng đầu anh được vợ gửi cho một hai lần đồ ăn, sau đó thì biệt tăm. Anh được phép viết thư về cho gia đình nhiều lần. Nhưng không thấy vợ trả lời. Như thế kể như anh bị vợ bỏ. Sống trong trại cải tạo mà không có người thăm nuôi, không được tiếp tế đồ ăn, người đó kể như chết. Anh biết mình nằm trong số người bất hạnh đó. Nên anh phải tự lực cánh sinh. Nói chơi cho vui vậy chứ tự lực gì nổi. Có được thăm nuôi hay không, người tù nào cũng co cúm lại. Thức ăn dành dụm từng chút. Ra ngoài lao động, con mắt của họ dáo dác tìm bất cứ thứ gì có thể bỏ vào bụng cho đở đói. Cho nên người có quà thăm nuôi cũng như dân mồ côi, khi ra ngoài lao động cũng xục xạo tìm kiếm đào bới như nhau. Ai tìm được nấy ăn.

    Image may contain: 1 person


    Chuyển ra ngoài Bắc anh lại càng tơi tả hơn. Không quen với cái lạnh thấu xương, bụng thì đói meo. Trông anh như một ông cụ già hom hem. Công việc nặng nhọc làm cho anh còm lưng. Ngày trở về thì không thấy hy vọng. Anh cứ nghĩ mình kéo dài tình trạng đói khát, nặng nhọc nầy mãi, thì thế nào cũng bỏ xương tại cái xứ đèo heo hút gió nầy. Trốn trại thì không can đảm. Mà cũng chẳng biết trốn đi đâu, giữa núi rừng trùng trùng điệp điệp. Đành phải bó tay chịu trận.


    Bỗng nhiên một hôm anh nhận được gói đồ ăn gửi bằng đường bưu điện. Anh nghĩ chắc vợ anh gửi cho. Nhưng khi cầm gói quà trên tay nhìn tên người gửi lạ hoắc, anh phân vân, đắn đo. Chắc chắn đây là một sự nhầm lẫn. Tuy nhiên vì đói quá anh không có can đảm hoàn trả lại cho cán bộ, khi mà sự thèm khát đã lên tới tột đỉnh. Mà chắc gì gói quà được trả về cho khổ chủ của nó! Cán bộ trại đời sống cũng chẳng hơn tù bao nhiêu, thế nào họ cũng chia nhau. Trong lúc mình đang cần, anh an ủi mình như vậy. Anh về trại. Bạn bè tới chúc mừng anh. Như vậy, kể từ nay anh thuộc thành phần có thăm nuôi. Không còn mồ côi như trước. Gói quà đã được mở ra kiểm soát, cột lại sơ sài trước khi giao cho anh nhận lãnh.


    Ai nhận quà về đến chỗ nằm của mình, đều bóc ngay ra. Còn anh thì không dám đụng đến. Lúc đầu cái đói, cái thèm khát lâu ngày làm cho anh bấn loạn. Anh nghĩ nhận quà về bóc ra ngay ăn một bữa cho đã. Nhưng khi cầm gói quà trên tay, không phải tên vợ mình gửi, anh đâm ra đắn đo. Anh nằm gác tay lên trán nghĩ ngợi về tên người gửi. Anh đào bới hết trí nhớ, vẫn không tìm ra tên người đàn bà nầy, được viết trên góc của gói quà. Bạn bè tù cùng phòng với anh thì nghĩ khác. Họ cho rằng lâu quá không được nhận quà, không nghe tin tức vợ, nên anh muốn kéo dài cảm giác sung sướng. Không bóc vội gói quà. Thế nhưng rồi cũng đến lúc gói quà được mở. Sau khi ăn cơm chiều xong, anh leo lên chỗ nằm, ngồi quay mặt vào vách. Anh trịnh trọng mở gói quà. Quan trọng với anh bây giờ không phải là trong gói quà có những gì để ăn. Giữa lúc nầy, sự thèm khát bỗng nhiên trốn mất. Mà là lá thư trong gói quà nói gì.


    ” Anh yêu quý,
    Anh đã mất tích từ lâu, tưởng rằng anh đã chết. Em và các con lập bàn thờ mấy năm nay. Không ngờ, cách đây mấy hôm, vô tình đến thăm một người bạn, có người anh được thả ra từ trại cải tạo Miền Bắc. Em hỏi thăm là có bao giờ anh nghe tên người nào là Nguyễn Hữu trong trại của anh không? Anh đó trả lời là có một người cùng đội sản xuất với anh mang tên ấy, trước là đại úy thuộc Sư Đoàn 2, người Bắc Kỳ. Từ bao nhiêu năm nay không được ai thăm nuôi. Em nghe xong muốn quỵ xuống, đúng là anh rồi. Thế là từ nay em phải hạ bàn thờ xuống. Các con có bố chứ không còn mồ côi cha nữa. Em mừng quá, mang tên anh, tên đội, tên trại đến Ủy Ban Quân Quản Thành Phố để xin giấy phép gửi quà thăm nuôi. Lý do vì loạn lạc, di chuyển nhiều lần, địa chỉ không còn chỗ cũ, nên không nhận được giấy gửi quà thăm nuôi.


    Anh đừng để vi phạm nội quy, ráng học tập tốt, sẽ được nhà nước khoan hồng để sớm về đoàn tụ với gia đình. Có dịp được trại cho phép viết thư, anh viết thư về cho em biết sức khỏe của anh. Anh cần những gì lần sau có giấp phép em sẽ gửi ra cho anh. Em và các con bao giờ cũng mong chờ anh về.
    Thư nầy không viết dài được, em ngưng đây. Chúc anh luôn luôn khỏe mạnh.
    Vợ anh
    Lê Thị Hồng”


    Anh không dám đọc lại lần thứ hai. Một sự trùng hợp lạ ky, anh và ông Hữu kia cùng thuộc Sư Đoàn 2, cùng là người Bắc. Chỉ khác nhau là ông ta mất tích trong chiến tranh, còn anh thì trình diện đi cải tạo. Người đàn bà nầy vì quá thương chồng không điều tra cặn kẽ, chứ trong một sư đoàn, chuyện trùng tên, trùng họ là chuyện bình thường. Mà cán bộ kiểm duyệt thư từ cũng lơ đễnh, không thấy chữ mất tích từ đầu lá thư. Anh nhìn gói đồ ăn mà lòng trĩu nặng. Một bên vợ người ta, chồng mất tích bao năm mà vẫn chờ đợi. Còn mình sống sờ sờ vợ chẳng thèm ngó ngàng tới.


    Đọc thư xong, anh bỏ thư lại trong gói đồ rồi cột lại như cũ. Anh nằm gác tay lên trán suy nghĩ miên man. Các bạn chung phòng đến hỏi thăm tin tức gia đình anh ra sao, anh trả lời nhát gừng cho qua chuyện. Họ nghĩ, có lẽ gia đình anh đang gặp rắc rối gì đó, nên anh buồn ít nói.


    Sáng hôm sau ra lao động, anh không mang thêm cái gì để ra ăn buổi trưa. Anh không biết phải làm sao với gói quà mà anh đã nhận. Anh cảm thấy mình giống như một thằng ăn trộm, oa trữ đồ gian. Không biết phải giải quyết thế nào cho ổn thỏa đây. Mấy năm trời đói khát, thèm ăn. Chụp được một con dế, con cóc thì xem như được một bữa tiệc lớn. Thế mà khi nhận quà có thịt chà bông, cá khô, muối sả ớt v.v… anh lại sờ sợ. Lương tâm ư? Làm gì có thứ nầy ở đây. Anh không biết phải diễn tả thế nào tâm trạng của anh lúc ấy. Vì đụng vào đó, anh thấy mình như bị phạm tội. Buổi trưa, anh ra nhận cơm với vài cọng rau muống, nước muối. Anh lại thèm các thứ mà mình đang giữ. Sự thèm khát lại bắt đầu dằn vặt, hành hạ anh. Anh không thể nào chống lại nổi sự đòi hỏi hợp lý nầy. Thôi thì tới đâu hay tới đó.
    Ngày hôm sau anh mang tí ti đồ ăn theo, chia cho một số bạn cùng cảnh ngộ với anh, nghĩa là thuộc dạng mồ côi, không có ai thăm viếng hay gửi quà. Họ ăn một cách ngon lành. Anh ăn cũng ngon miệng nhưng khi ăn xong, anh thấy nghèn nghẹn. Mấy ngày đầu anh mang tâm trạng nầy, nhưng dần dần về sau nguôi ngoai. Hình như sự phạm tội thường xuyên, ít bị lương tâm cắn rứt hơn là phạm tội một đôi lần.


    Vài ba tháng sau đó, anh được trại cho phép viết thư về gia đình. Đây là một điều khó khăn cho anh. Gửi thư cho vợ hay gửi cho chị Lê Thị Hồng? Gửi cho vợ thì bao nhiêu cái vẫn biệt vô âm tín, còn gửi cho chị Lê Thị Hồng, thì biết nói sao cho chị hiểu là anh không phải là chồng chị ta. Nếu thư không bị kiểm duyệt thì chuyện nầy dễ nói. Còn thư tù như anh thì qua biết bao nhiêu cửa ải. Biết đâu khi cán bộ kiểm duyệt phát giác chuyện nầy sẽ tống cổ anh vô cùm. Cái tội mạo nhận ẩu để lãnh đồ thăm nuôi. Một lần cũng là mang tội, mà cái tội nầy bạn bè biết được thì khinh khi lắm. Nhưng mọi chuyện đã lỡ rồi, đành phải theo lao vậy. Anh đánh liều viết theo cái kiểu người chồng viết cho vợ.


    “Hồng em,
    Cám ơn em rất nhiều về gói quà vừa rồi em gửi cho. Em đừng lo gì cho anh nữa, ở đây anh được nhà nước cách mạng lo cho đầy đủ, ăn uống không thiếu. Em yên tâm để dành lo cho các con. Em ở nhà cố gắng dạy dỗ các con nên người, cố gắng chấp hành chính sách và pháp luật của nhà nước cách mạng.
    Nhờ ơn cách mạng, nhờ ánh sáng soi đường, nhờ chính sách khoan hồng của nhà nước ta. Anh học tập đã hiểu thế nào con đường lầm lẫn của mình trước đây. Anh đã ăn năn hối cải và mong sao sau khi được khoan hồng trở về với gia đình, anh sẽ làm lại cuộc đời tốt hơn. Đừng lầm lẫn đi theo con đường cũ nữa, phải sống hòa đồng với nhân dân và tuân thủ pháp luật nhà nước.
    Nhắc lại cho em rõ, đừng gửi quà cho anh nữa. Ở đây anh ăn uống rất đầy đủ, hãy dành dụm cho con, lo cho tương lai các con.
    Cầu chúc em và các con khỏe mạnh.
    Chồng em
    Nguyễn Hữu”


    Anh nhắc lại hai lần chữ “lầm lẫn”, để chị Hồng biết đoán ra mọi sự, không dám viết đi viết lại nhiều lần, sợ cán bộ trại nghi ngờ. Hai ngày sau, văn phòng trại gọi anh lên làm việc. Anh điếng hồn, không biết chuyện gì xẩy ra. Có lẽ vì mấy chữ lầm lẫn đó sao? Người kiểm duyệt sao thông minh quá vậy. Anh vừa đi, vừa tìm cách chạy tội. Nhưng không nghĩ ra cách nào giải thích, anh đổ liều, cứ chối đại ra sao thì ra. Mỗi lần gọi người nào một cách bất thần như vậy, là người đó có vi phạm điều gì. Các bạn tù cùng phòng lo lắng cho anh.


    Anh bước vào phòng cán bộ quản giáo, đầy lo âu và không biết chuyện lành dữ ra sao. Người công an chấp cung ngồi trước lá thư của anh viết cho chị Hồng. Anh ta tươi cười mời anh ngồi đối diện, rút trong túi gói thuốc lá mời anh. Một thái độ thân thiện lạ lùng. Anh rút một điếu và chậm rãi hút. Người cán bộ nhìn anh nói: “Trong trại nầy, ai viết thư về cho gia đình cũng xin cái nầy cái nọ. Riêng anh thì không, lại bảo chị đừng gửi gì cả. Cũng lạ thật. Anh thật sự không thấy cần thiết sao?”


    Anh lắc đầu: “Nhiều năm không được thăm nuôi, quen rồi. Hơn nữa gia đình tôi cũng nghèo. Vợ tôi lo cho các cháu đủ mệt. Lo thêm cho tôi, kiệt sức mất.. “


    “Anh nghĩ vậy cũng đúng. Các anh ngày trước sung sướng quen rồi, không quen chịu cực khổ. Mới có vài năm đã thấy thèm khát đủ thứ. Chúng tôi mấy chục năm đánh giặc. Ăn uống kham khổ. Không hề hé răng.”
    Người cán bộ nói tiếp: ” Chúng tôi có bỏ đói các anh đâu. Nuôi ăn đầy đủ đấy chứ. Chúng tôi cũng muốn cho các anh về với gia đình. Nghẹt vì các anh chưa thông suốt chính sách cách mạng, nên chúng tôi phải tạm giữ thêm một thời gian nữa.”


    Anh ấp úng: “Vâng, thưa cán bộ.”
    Người cán bộ nhìn thẳng vào mặt anh, trịnh trọng nói: ” Thay mặt Quản Giáo trại, tôi biểu dương tinh thần ý thức của anh. Thư anh gửi có giá trị thuyết phục. Anh là trại viên gương mẫu, sẽ được Ban Quản Giáo Trại đề bạt để anh được về sớm với gia đình.”


    Mấy thằng làm ăng-ten, cũng nghe cái lời hứa cho về sớm. Nên chúng nó ra sức kiếm điểm, mà có thấy thằng nào được về trước đâu. Anh cười thầm trong bụng với cái chiêu dụ nầy.


    Người cán bộ tiễn anh ra cửa và bắt tay thân thiện. Anh hú hồn, thoát được sự căng thẳng. Anh về chỗ nằm. Mấy người bạn tới hỏi thăm tin tức về chuyện nầy. Anh trả lời với họ là bị cán bộ cảnh cáo, vì lá thư viết không đúng tiêu chuẩn.. Anh nghĩ thế nào rồi câu chuyện nầy cũng đổ bể. Rồi cũng sẽ đi cùm vài tháng, với cái tội mạo nhận ẩu để lấy quà gửi. Chị Hồng thế nào cũng nhận ra nét chữ, và chữ ký của anh, không phải của chồng. Không cần mấy chữ “lầm lẫn” kia, chị Hồng cũng hiểu hết mọi sự là chồng chị đã chết.


    Ngày nầy qua tháng khác, anh vẫn lao động đều đặn. Anh vẫn yên tâm là mình trở lại với vị trí mồ côi muôn thuở. Anh không còn hy vọng có ai đó ngó ngàng tới để gửi cho chút quà thăm nuôi. Người ta có gia đình gửi quà. Người ta có quyền tưởng tượng các món ăn để vỗ an cho cái dạ dày. Vì thế nào có ngày cũng được thăm nuôi, món ăn mình ao ước sẽ được người nhà mang đến. Còn anh chỉ ăn hàm thụ các món đó thôi. Cũng không sao nghĩ ra, cái đói khát triền miên, đã làm cho anh chai lì mọi ao ước. Thần kinh tê liệt và suy sụp đến tận cùng.


    Nhận quà thăm nuôi bằng bưu điện lại có tên anh. Lại thêm một lần ngạc nhiên. Lần trước anh không dám mở gói quà, vì biết đó không phải là quà của mình. Không dám đọc thư vì biết thư đó không viết cho mình. Lần nầy thì ngược lại. Về đến chỗ nằm thì anh xáo tung để tìm lá thư ra đọc.. Thư viết cũng thắm thiết như lần trước, không hề đá động gì sự lầm lẫn mà anh đã nhấn mạnh. Nét chữ cứng cỏi thể hiện người viết có học thức, thế mà tại sao không biết mọi sự lầm lẫn đó. Trong thư nầy chị Hồng lại hiểu sai vấn đề, nghĩ rằng vì mấy năm không nhận quà thăm nuôi, nên anh giận dỗi. Biết làm sao đây, khi mà anh không có khả năng bày tỏ tự sự. Mặc kệ, cứ thản nhiên mọi chuyện, cứ ăn cho sướng. Phó mặc mọi chuyện cho trời đất. Anh đổ ra cáu kỉnh và lì lợm. Hình như anh muốn tạo ra tình huống nầy, để dễ dàng nuốt trôi mấy miếng thực phẩm thăm nuôi, mà không thẹn với lương tâm.


    Mỗi lần sực nhớ lại chuyện quà cáp, anh vội vàng xua đuổi ngay. Nhủ với lòng mình như vậy, nhưng dễ gì quên được điều đó. Mỗi đêm, khi cơn đói hành hạ, các món ăn trong trí tưởng tượng tuôn ra, là hình ảnh chị Hồng lại hiện lên. Đẹp hay xấu lúc nầy đối với anh chẳng cần thiết, nhưng tấm lòng thương chồng của chị đã làm cho anh cảm phục. Thực sự, anh thương hại cho hoàn cảnh côi cút của chị và mấy đứa con. Sống giữa sự khó khăn chung của xã hội, nuôi mấy miệng ăn cũng thấy khó lắm rồi, đừng nghĩ gì xa xôi hơn như chuyện thăm nuôi chồng. Tệ hại hơn nữa, đây không phải là chồng của mình.


    Mọi chuyện vẫn bình thường, ngày nầy qua ngày khác trong trại cải tạo. Anh vẫn sinh hoạt chung với các anh em. Bỗng nhiên một ngày, sau khi đi lao động về, anh được loa phóng thanh gọi tên ra khu thăm nuôi, có vợ là Lê Thị Hồng đến thăm. Lần nầy thì anh bối rối thật sự. Anh biết sự gặp nhau nầy rất bẽ bàng và ngượng ngập. Mọi sự thật sẽ làm cho chị Hồng đau khổ biết mấy. Với anh thì không sao, anh đã biết trước mọi chuyện, anh đã chuẩn bị tinh thần. Dù gì thì anh cũng phải trả lại sự thật nầy. Anh không muốn nó cứ mãi kéo dài, cứ mãi gây cho anh cảm giác phạm tội. Anh cố gắng diễn tả cho chị ấy biết, anh không phải thứ lừa đảo để kiếm miếng ăn. Dù có chết anh cũng chấp nhận, chứ không thể thuộc loài vô loại nầy. Anh nói nhiều, nhiều hơn nữa, để cảm ơn, để chị tha thứ. Anh sợ một vài tháng bị cùm, sợ mất mấy miếng ăn, mà phải để lại sự hiểu lầm trầm trọng. Để chị phải lặn lội khó nhọc, leo đèo vượt suối, từ Sài Gòn ra tận nơi đây thăm một người mà không phải là chồng mình.


    Người cán bộ phụ trách dẫn anh ra khu trại thăm nuôi. Từ xa anh nhìn thấy người đàn bà đang ngồi nơi bàn chờ đợi. Tự nhiên anh hồi hộp. Tự nhiên chân anh bước cảm thấy nặng nề. Rồi anh cũng bước tới chỗ chị ngồi. Tim anh muốn vọt ra khỏi lồng ngực. Anh e thẹn như con gái. Thấy xấu hổ và hối hận. Chị Hồng nhìn anh rồi bật khóc. Chị khóc nức nở. Mặt cúi xuống bàn. Tiếng khóc ấm ức như đang gặp sự bất trắc. Anh ngồi vào vị trí đối diện. Nước mắt anh cũng chảy dài. Anh không nói được với chị câu gì. Những gì anh đã chuẩn bị bay đi đâu cả. Người cán bộ ngồi ở đầu bàn kiểm soát thấy hai người cứ khóc mãi.. Có lẽ anh ta nghĩ rằng vì vợ chồng lâu ngày xa nhau, thương nhớ chồng chất lâu ngày, để họ khóc cho đã nư. Anh ta cũng chẳng cần để ý tới họ. Anh ta vừa đứng dậy đi ra cửa sổ khạc nhổ, anh chụp ngay cơ hội nói với chị: “Xin lỗi…xin lỗi chị”.


    Chị ngẩng mặt lên đưa ngón tay giữa miệng, ngụ ý cho anh biết đừng nói gì thêm. Anh thở dài. Tiếng thở của anh nghe rất não nuột. Nhưng trong tiếng thở ấy, như hàm chứa tất cả những gì anh đã chuẩn bị nói ra với chị. Chị lau nước mắt nhìn anh, rồi ấp úng hỏi anh những câu về sức khỏe, những lời khuyên cố gắng học tập tốt để về với gia đình, cho vừa lòng cán bộ kiểm soát. Chị cũng bịa ra những chuyện là con cái vẫn đi học bình thường, cha mẹ khỏe mạnh, tất cả gia đình, dòng họ, trông anh mau về sớm. Anh chỉ gật đầu mà không thốt được lời nào. Chị khóc chiếm hầu hết thời gian thăm nuôi.. Hơn ai hết, anh hiểu tiếng khóc của chị. Mọi hy vọng gặp lại chồng xem như hoàn toàn không còn nữa. Chị khóc cho số phận hẩm hiu của mình, thương cho phần số ngắn ngủi của chồng.


    Cán bộ báo cho biết giờ thăm nuôi chấm dứt. Chị đưa tay nắm lấy tay anh. Anh đưa hai bàn tay ra ôm lấy tay chị. Tự nhiên, không biết tại sao anh bật khóc lớn. Có lẽ anh thấy tủi thân. Anh thấy lòng thương hại của chị dành cho anh, đây là lần cuối. Làm sao anh đòi hỏi gì hơn, với người đàn bà không phải là vợ mình. Khóc cho mình, mà cũng thương cho chị lặn lội đường xa tìm chồng. Chị lủi thủi trở về với niềm tuyệt vọng. Rồi anh chị chia tay. Anh gánh phần quà của chị mang tới cho anh, vào trại. Chị đứng dựa vào cột tre nhìn theo. Thỉnh thoảng anh quay đầu ngó lại, lần nào chị cũng đưa tay lên vẫy chào. Mọi người trong trại từ xa nhìn thấy cảnh nầy. Ai cũng thông cảm cho cảnh vợ chồng khắng khít, bây giờ phải lìa xa.


    Anh gánh vào tới phạm vi giam giữ, thì các bạn anh chạy ra phụ mang đồ về phòng. Anh đứng lại nhìn ra khu thăm nuôi, đưa tay vẫy chào chị cho đến khi chị ra khỏi cổng trại khuất dạng. Anh lầm lũi về chỗ nằm. Đồ đạc còn để lăn lóc dưới đất. Anh chẳng màng sắp xếp. Anh vẫn chưa kịp định thần lại. Những giây phút thật bất ngờ đến với anh nhanh quá. Suốt trong nửa giờ gặp nhau, anh chỉ nói ra được hai tiếng xin lỗi. Màn kịch do chị diễn ra thật xuất sắc, xuất sắc đến nỗi anh là người trong cuộc, vẫn cảm thấy rất tự nhiên không ngượng ngịu. Không sao hiểu nổi được lòng chị.


    Ngồi nhớ lại cảnh gặp gỡ, khi chị ngước mắt lên nhìn anh. Khuôn mặt chị thật đẹp, đôi mắt thật hiền từ. Anh nghĩ chị cũng đã biết trong mấy lá thư gửi về, không phải là thư của chồng. Thế nhưng chị vẫn hy vọng, mong manh hy vọng. Trong mong manh đó chị đổi một giá cho sự phũ phàng, cay đắng. Có lẽ khi nhận thư hồi âm, sau khi đọc, chị thấy thương hại cho anh, thông cảm nỗi thống khổ của anh. Chị quyết định tiếp tục liên lạc với anh, giúp đỡ anh. Khi ra thăm nuôi, chị vẫn biết anh không phải là chồng, nhưng chị vẫn đi. Để xác định rõ ràng, khi gặp anh tức là chồng chị đã chết. Nghiệt ngã thật.. Chị bật khóc, vì thương cho chồng thì ít, mà lại thương anh nhiều hơn. Sống một đời tù tội, lao khổ, bị gia đình bỏ rơi. Dù sao chồng nằm xuống cũng đã lâu, nước mắt của chị đã bao năm khóc cho chồng, bây giờ đã khô cạn. Gặp anh trong một hoàn cảnh thật bi thương, sống giữa một trại tù vô cùng cực khổ, không tin tức gia đình vợ con. Anh đang chơi vơi giữa tận cùng khổ đau, dày xéo trên thân thể những vết hằn tủi nhục. Nước mắt của chị trào ra, khi ngước mắt trông thấy một con người thân thể vừa tiều tụy, vừa đờ đẫn, đang đứng đối diện…


    Đêm nay anh nằm đây, nghĩ lại cái cảnh chị lầm lũi bước lên tàu trở về Sài Gòn. Con tàu chạy vùn vụt trong đêm tối. Chỉ còn một mình chị thức, nhìn ra bên ngoài với sự trống vắng. Chị ôm một nỗi buồn sâu lắng. Đất nước đang trải qua một cơn sốt kinh khủng, đày đọa biết bao người lâm vào cảnh khốn cùng. Chị nghĩ sao về anh? Chị có còn giữ liên lạc với anh không?… Dù sau nầy thế nào, dù có giữ liên lạc hay cắt đứt, ơn nầy với anh suốt đời không quên được. Anh hứa với lòng mình, sau khi được trở về, anh sẽ tìm thăm chị. Sẽ nói với chị thật nhiều, cám ơn chị thật nhiều. Thay cho lần gặp gỡ trong trại không nói được.


    Anh thấy trên con tàu trở về kia, chỉ có mỗi một mình chị. Còn tất cả đều nhạt nhòa. Một mình chị thôi, chứa trên đó nỗi đoạn trường, bất hạnh của một đời người. Nhưng thật vô cùng quý báu của một tấm lòng. Tội nghiệp chị, con tàu đang chở chị lao vào màn đêm, xé tan bóng tối và lạnh lẽo.

    Phan Xuân Sinh

    Theo FB

  • Văn

    Chuyện Tình Của Em Tôi

    Chuyện Tình Của Em Tôi

    ThaiNC

    (ThaiNC – Sau tháng 4-1975 ở VN không còn tờ báo Chính Luận với trang thiếu nhi Mai Bê Bi để được lâu lâu viết gởi bài góp vui nữa, nhưng vốn thích thú vui viết lách tôi bèn đem mấy truyện ngắn mới sáng tác nắn nót chép tay trên một tập giấy, chép xong đưa cho mấy chị em trong nhà và vài đứa bạn đọc chơi…cho thỏa chí tang bồng 

    🙂 Thích thì làm vậy thôi chứ không nghĩ sẽ giữ nó lâu dài.
    Vài truyện ngắn đã hoàn thành, nhưng thất lạc theo thời gian, và cũng có vài truyện khác đang viết dỡ dang… 
    Nhưng hai truyện viết tay sau đây đã được gia đình lưu giữ và mang sang Mỹ khi qua đoàn tụ: “Chuyện Tình Của Em Tôi” và “Một Linh Hồn”
    Mời bạn đọc một trong hai truyện chép tay đó, sáng tác năm 1978, khi đó tôi mới xong trung học.
    Rất cám ơn sư muội Donna Mai Hồng Thu đã bỏ công đánh máy lại giùm cho cả hai truyện này.)

    No photo description available.

    Phải cố gắng lắm tôi mới dứt được cơn làm biếng và buồn ngủ, tốc mình ra khỏi giường, vươn vai một cái cho tỉnh hẳn, và giải quyết các công việc thường lệ của buổi sáng xong thì cũng gần 7 giờ, tôi hô lớn gọi thằng em: 
    -Sơn ơi, xong chưa mày? Trễ rồi nghe.
    -Đợi một chút. Tiếng nó từ trong nhà vọng ra.
    Rỏ khổ. Gần một tháng nay rồi cứ như thế này mãi. Trước kia hai anh em mỗi đứa một chiếc xe đạp. Tôi học ở đại học Tổng Hợp còn thằng em học lớp mười trường M.C., mỗi sáng phận ai nấy lo. Sau khi ăn uống xong xuôi là tự động xách xe đi học, chẳng ai phải chờ ai.
    Nhung nếu cứ vậy thì chẳng có gì đáng nói. Cho đến một ngày đẹp trời, sau buổi học cu cậu vác bộ mặt thảm nảo về mếu máo “Xe mất rồi má ơi”. Ôi, thế là xong cái xe đạp yêu quý, và cũng kể từ ngày ấy, trong lúc đợi mua xe mới, tôi có phận sự phải cho nó quá giang đến trường mỗi sáng. Thật là xui xẻo cho tôi và con ngựa già của tôi.
    Hắn đã ra tới nơi, hèn gì tôi phải chờ lâu.Thằng Sơn hôm nay diện kỹ quá, áo quần thẳng mướt, tóc chải bồng bềnh một cách cố ý, đôi kiếng cận trệ xuống thật điệu. Tôi nhìn kỹ khiến nó đâm ngượng, thúc :
    -Đi anh.
    -Bửa nay tao thấy mày…hơi đẹp trai. Tôi thành thực.
    Sơn có vẻ khoái chí nhưng vẫn giả bộ:
    -Thôi mà chọc quê hoài.
    -Thiệt…nhưng cặp mày đâu ?
    Giơ mấy cuốn tập trong tay hắn thốt:
    -Ôi, lớn rồi mà mang cặp đi học quê lắm.
    Ý, thằng em mình hôm nay ăn nói xanh rờn quá. “Lớn rồi..” Ừ mà kể ra nó cũng hơi lớn rồi đấy chứ, anh em tôi vốn giòng cao, tôi thước bảy nó cũng sáu lăm sáu sáu gì rồi, lại trang điểm thêm đôi kiếng cận nên trong cũng có vẻ trí thức lắm.
    Tôi dắt xe ra và nói:
    -Mày chở đi, tao mệt, phải tập để sau này chở..bồ chứ.
    Thế là thằng Sơn hăng hái đáp
    -Được, để em chở cho.

    ***
    Trong tuần đẹp nhất là ngày Chủ Nhật, và hôm nay là sáng Chủ Nhật. Tính xách xe lại nhà mấy thằng bạn đấu láo chơi, nhưng nghĩ sao tôi lại thôi. Buổi sáng thật đẹp như thế này, không đi đâu chơi kể cũng lãng phí, nhưng tôi biết chắc mình không đến tụi nó thì tụi nó cũng sẽ đến mình, ngồi nhà đọc tiểu thuyết chờ sướng hơn.
    Chợt có tiếng thằng Sơn sau lưng:
    -Anh Hai.
    Tôi quay lại, chà thằng Sơn đi đâu mà diện thật bảnh, xách bộ đồ vía ra mặc (áo quần Sơn, tôi biết quá mà) Vẫn mái tóc bồng bềnh có vẻ nghệ sĩ. Kiểu tóc này tôi thấy Sơn mới để khoảng 1 tuần nay thôi. Hắn hỏi tôi:
    -Hôm nay anh không đi đâu chơi sao?
    -Không.
    -Vậy cho em mượn xe đi chút việc nhe.
    -Đi đâu?
    Sơn hơi ngập ngừng:
    -Em…lại nhà thằng bạn.
    Hừ, lại nhà thằng bạn mà cũng diện dữ.
    -Đi đâu đi, nhớ đừng để mất xe nữa à!
    Hắn vọt ngay ra cửa như sợ tôi đổi ý, nói vói lại:
    -Đừng lo, tý xíu thôi.
    Đợi thằng Sơn đi xong, tôi lại kiếm cuốn tiểu thuyết đang đọc dỡ. Quái! Nó đâu mất rồi, mới để đây hôm qua cơ mà, chắc có ai lây đọc; Cả nhà thì ba má chắc chắn là không, con bé Hạnh em út thì mới lớp 4 biết gì, đích thị là thằng Sơn chứ không còn ai. Thằng láo thật, lấy không thèm nói một tiếng. Tôi bèn vào phòng nó lục kiếm.
    Bàn học của nó đây rồi, sách vở một chồng, xem nào: Vật lý lớp 10, Đại số lớp 10…v…v….cuốn sách cuối cùng đập vào mắt tôi: “ NHỮNG BỨC THƯ TÌNH HAY NHẤT THẾ GIỚI” Ủa, cuốn này mình đâu có, thằng Sơn mua hay mượn ở đâu, mà hắn đọc cuốn này làm gì?
    Cầm cuốn “những bức thư tình” lên lật xuống mấy trang, xem qua, tôi chợt thấy trang giấp với giòng chữ là lạ, lôi ra tôi cầm lên xem:
    “Sơn ơi,
    Hôm qua Phương bị bệnh nghỉ học nên mấy bài tập lý không hiểu gì hết, sáng mai nhờ Sơn đến nhà giảng lại dùm nhe. Nhớ đến nha, không là Phương giận cho xem.
    Phương”
    Một bức thư gởi cho thằng Sơn của con nhỏ Phương nào đó hẹn đến nhà. Vậy là đích thị cu cậu hồi này diện kỹ càng mặt mày hí hửng là để đến nhà con Phương này ra tay nghĩa hiệp chứ có đến thằng bạn nào đâu! Dám dấu anh nó, được lát về sẽ lột trần sự thật cho nó biết tay.
    Hai ba tờ giấy gì nữa đây?
    Chữ của thằng Sơn, mà tờ nào cũng có mấy chữ
    Tờ thứ nhất: Phương thân mến
    Tờ thứ hai: Phương mến
    Tờ thứ ba: Phương ơi!
    Trời, chỉ cái nhập đề mà cũng không xong, gì mà “thân mến” rồi lại “mến” lung tung. Xếp lại mấy tờ giấy vào chổ cũ cho nó khỏi nghi, tôi định đi ra chơt nhìn thấy mấy cái tàn thuốc vung vãi dưới đất, thôi rồi, quá lắm mới 16 tuổi đầu đã bày đặt hẹn hò, thư từ, hút sách…Không được, phải chận nó lại không thì sa ngã mất, học hành gì được nữa.
    Tôi vừa ra khỏi phòng thì thằng Sơn cũng vừa về tới. Hắn sầm sầm đi vô nhà, quăng cái xe thật mạnh, rồi đi thẳng vào phòng mà nó không nói một lời nào.
    Chắc có chuyện gì giữa hai “cô cậu” đây. Dám “cậu” bị “cô” cho leo cây lắm!
    ****
    Tối nay, đợi lúc thằng Sơn đi vắng, tôi lại vào phòng nó điều tra một lần nữa. Và lần này tôi thấy một cái thư khác của Phương gởi cho Sơn như sau:
    “ Sơn yêu dấu ơi…
    Phương biết hôm qua Sơn giận lắm, nhưng Phương bị mẹ gọi sai đi có việc gấp, nên lỗi hẹn với Sơn, Sơn đừng giận Phương nhe. Xin lỗi đó, chịu không?
    À, Sơn cho Phương mượn tập bài tập Hình Học đi nha.
    Phương”
    Quả nhiên hôm qua mình đoán không sai. Con nhỏ này ranh thật, cho người leo cây cú đau điếng vậy mà xin lỗi khơi vậy thôi. Bộ hết chuyện hay sao hết nhờ giảng bài dùm rồi lại mượn tập….?
    Trời cũng hơi khuya, tạm gác chuyện thằng Sơn, tôi giở tập ra ôn bài cho ngày mai. Phòng bên cạnh thằng Sơn nó vẫn chưa ngủ, đèn còn sáng. Tôi chưa kịp đọc chữ nào đã nghe tiếng gõ cửa và giọng thằng Sơn vọng qua:
    -Anh Hào chưa đi ngủ sao?
    -Chưa
    -Qua nói chuyện chút được không?
    Bày đặt lịch sự hảo, trước kia có vậy đâu.
    -Ừ
    Sơn mở cửa bước vào ngồi ở giường gợi chuyện:
    -Anh Hào học khuya vậy?
    -Mai kiểm tra mà mày.
    Nhớ lại mấy cái tàn thuốc lá hôm kia, tôi rút một điếu mời hắn:
    -Mày hút không?
    -Không, em không biết hút.
    Thôi đi ông cụ ơi, giả bộ ngây thơ hoài, anh biết tỏng cả rồi. Tôi dụ dỗ tiếp:
    -Mày lớn rồi, hút đâu có sao.
    Quả nhiên, hơi ngần ngại một chút, hắn lấy điếu thuốc châm lửa, thở khói khá…lành nghề.
    Tôi hỏi:
    -Muốn nói gì nói đi tao còn học bài chứ.
    Sơn ngập ngừng:
    -Chuyện gì đâu. À mà hồi trước làm sao anh quên với chị Nga được hay vậy?
    Đang muốn nói chuyện tình yêu đây, bởi vậy mới cho anh đi tàu bay chơi. Tôi gài chọc hắn chơi.
    -Ờ, thì Nga mượn tập tao, nhờ tao giảng bài dùm..v…v…mà mày hỏi làm gì?
    Mắt Sơn sáng lên ý chừng hắn thấy hai anh em sao giống nhau quá, hỏi tiếp:
    -Thế có lần nào…chị Nga cho anh leo cây chưa?
    Trời ơi tức cười quá, tội nghiệp thằng em tôi quá. Tôi cố nín kịp không thì đã cười phá lên:
    -Có chứ.
    -Thế anh có buồn lắm không?
    -Buồn chứ, buồn ghê gớm, buồn muốn tự tử lận.
    Sơn vẫn chưa hiểu gì, đúng là trong tình yêu co người ta trở nên dại khờ, ngu dốt.
    Hút một hơi thuốc, giộng hắn trở nên trang trọng:
    -Anh Hào này
    -Gì
    -Trong lớp em có một con nhỏ nó…nó….
    -Nó làm sao?
    Hình như phải cố gắng lắm hắn mới thốt được:
    -Nó… “yêu” em.
    Thằng này sài chữ “yêu” nghe ghê quá, tôi hỏi lại:
    -Có một con nhỏ yêu mày?
    -Dạ
    -Rồi mày có “yêu” nó không?
    Sơn có vẻ như suy nghĩ rồi đáp:
    -Có lẽ có anh ạ.
    “Có lẽ có” nghĩa là chưa chắc gì lắm, tôi hỏi:
    -Sao mày biết nó “yêu” mày?
    -Thì…nó cũng mượn tập em…rồi nhờ em giảng bài dùm như chị Nga với anh vậy.
    Cơn tức cười đã dằn xuống lại muốn bùng lên lại, tuy nhiên tôi ra vẻ nghiêm trang:
    -Nó tên gì?
    -Phương, Lê thị Minh Phương, học cùng lớp em.
    Đúng là cô ả Phương này rồi.
    -Đẹp không?
    -Cũng đẹp.
    -Chắc không? Mắt mày cận nên tao nghi quá.
    Sơn đứng dậy:
    -Sáng mai đi học sớm em chỉ nó cho anh xem.
    Cũng cần biết mặt con nhỏ xem sao, tôi bảo thằng em:
    -Được rồi ngày mai tao xem mắt dùm mày cho, thôi về ngủ để tao học bài.
    Sơn trở về phòng của hắn có vẻ thoải mái vì mới dốc xong bầu tâm sự, còn tôi lăn đùng ra giường cười ra nước mắt, nhưng không dám cười to sợ thằng Sơn nghe thấy.
    ***
    Theo kế hoạch đã bàn tối qua, tôi chở Sơn đi học sớm. Trường M.C. còn vắng lắm, lâu lâu trở lại trường cũ, nhìn lại quảng đời đã qua, cũng cảm thấy thích thú. Sơn mời tôi điếu thuôc, đã lỡ đóng kịch phải theo luôn, thông cảm cho hắn hôm nay. Anh em tôi ngồi ở quán cà phê một lát, bỗng Sơn đứng dậy nói nhanh:
    -Nó kìa anh Hào.
    Tôi nhìn dáo dác:
    -Đâu, nó đâu?
    -Con nhỏ đi bộ ôm cái cặp màu đỏ đó, anh nhìn kỹ nhé em lại đằng này chút.
    Tôi đã nhìn thấy Phương, càng tới gần càng thấy rõ. Kể ra thì Phương cũng đẹp thiệt, nhưng với kinh nghiệm của tôi thì cô nàng này có vẻ quá lịch lãm, so với Sơn có vẻ…chị hai hơn là bạn học. Có lẽ để ý được tôi nghía kỹ quá nên Phương lạnh lùng liếc tôi háy một cái rồi ngẩng mặt đi vô trường.
    Tôi ngồi sửng. 
    Sơn đã trở lại hỏi tôi:
    -Sao, anh thấy rõ chưa?
    -Rồi.
    -Được không?
    Tôi ậm ừ:
    -Cũng…tạm được.
    Sơn khoái lắm. Tôi leo lên xe tiếp tục đi học, về nhà sẽ nói nó sau.
    ******
    Tôi băn khoăn quá chẳng biết phải khuyên thằng Sơn thế nào đây. Kinh nghiệm cho tôi biết những thằng nhỏ mới lớn lần đầu sa chân vào tình ái thường ngu đần không thể tưởng.
    Đang suy nghĩ bổng có tiếng chuông rung: Thành, một thằng bạn thân cùng lớp, hay thật, thằng này có thể giúp mình nhiều ý kiến vì nó có kinh nghiệm về tình yêu hơn tôi nhiều, sự nghiệp tình yêu của Thành đã được chứng minh qua cả chục lần…đổi bồ và lần nào cũng đem khoe bạn bè rối rít.
    Hình như nó đang chở một cô nào! Chắc một đào mới đem đến khoe mình đây. Hai người coi bộ tình tứ quá, ngồi thật sát.
    Thấy tôi ra Thành nói lớn:
    -A Hào! Đi chơi sẵn ghé qua mày mượn cuốn sách luôn.
    Rồi hắn nheo mắt lại, tôi hiểu ý, hắn đã từng nheo như vậy với tôi mấy lần rồi. Cô gái ngồi phía sau hắn bỗng quay lại, tôi sửng sốt: Minh Phương. Không thể lầm được, mới hồi sáng này thôi, Thành giới thiệu:
    -À, giới thiệu: Phương bạn mới quen, còn đây là Hào, bạn thân cùng lớp với anh.
    Chắc chắn Phương không nhận ra tôi, nàng chào tôi với một điệu bộ…rất dễ thương.
    Nếu lúc này thằng Sơn mà thấy không biết nó sẽ làm sao nhỉ?
    Và y như rằng lúc tôi vừa nghĩ xong…thì thằng Sơn về thiệt, đang đi bộ từ xa, huýt sáo miệng ra vẻ yêu đời lắm. Tội nghiệp chắc nó khóc mất, Sơn chưa thấy Phương, chỉ mới nhận ra Thành, nó giơ tay chào và tiếp tục đi tới.
    Chuyện gì sẽ đến phải đến, Sơn và Minh Phương đối diện nhau. Thằng Sơn đúng khựng lại, mặt đỏ bừng, mắt chớp chớp rồi sầm sầm đi vào cổng không nói một tiếng nào. Tôi nhìn sang Minh Phương, cô nàng chỉ hơi đỏ mặt một chút rồi lại ngồi sát vào Thành như cũ như không có chuyện gì xảy ra.
    Thành lấy cuốn sách xong đi ngay, nheo mắt với tôi một lần nữa.
    Tôi đi thẳng vào phòng Sơn. Phải kiếm lời an ủi thằng em.
    ***
    Tôi vào phòng vừa lúc Sơn vừa viết xong cái gì đó, nết mặt vẫn thản nhiên. Nguy thật, thà đau khổ thì cứ than khóc tỉ tê cho vơi đi còn đỡ, chứ đè nén trong lòng thế thì nguy lắm, tôi bắt đầu:
    -Thôi mày đừng buồn Sơn à, dù sao…
    Nó ngắt lời tôi:
    -Em vừa viết xong cái thư cho Minh Phương, anh coi có được không?
    Tội nghiệp hắn, chắc đây là những giòng đau khổ, than thân trách phận, năn nỉ ỉ ôi Minh Phương dữ lắm. Tôi không nỡ xem nhưng vẫn xem.
    Thư của Sơn viết như sau:
    “Cô Phương,
    Bây giờ thì tôi đã biết cô chỉ giả bộ. Cô lợi dụng tôi để mượn tập những lúc cô cúp cua đi chơi mà thôi. Lần sau cô chịu khó mượn tập của ai mà chép, tôi không ngu như trước nữa đâu.
    Còn lâu mới “yêu” cô. 
    Sơn”
    Hoan hô thằng em tôi, nó đã có quyết định phi thường và can đảm. Tôi vỗ vai nó khen
    -Được lắm mày.
    Và chuyện tình của em tôi đến đây là chấm dứt.
    ./.
    ThaiNC
    (Sàigòn, tháng 10 năm 1978)

    Theo Internet

  • Văn

    NGƯỜI MÌNH

    NGƯỜI MÌNH – truyện ngắn

    VŨ THƯ HIÊN

    Vũ Thư Hiên's Profile Photo, Image may contain: 1 person, outdoor

    – Ông gì ơi, ông người Việt hử?

    Câu hỏi khàn khàn bất ngờ phát ra từ mấy thân hình chăn trùm kín đầu nằm trên ke làm tôi giật bắn mình. Ngoảnh lại, tôi thấy một mái tóc bù xù ngóc lên khỏi tấm vải dày kẻ ô vuông đã có vài lỗ thủng và một hàm răng trắng nhe ra trong nụ cười làm quen trên gương mặt xám, xương xẩu.

    Tôi gật.

    – Chả là tôi nghe tiếng hai ông từ biệt nhau.

    Ông bạn già nằng nặc đưa chân tôi tới tận trạm metro gần nhà. Bịn rịn mãi lúc chia tay, tôi lỡ mấy chuyến tàu. Hai thằng tôi hoạ hoằn mới gặp nhau. Xa thì không bao nhiêu, đường đi cũng thuận tiện, khốn cả hai đều ngại, tuổi già nó thế. Ông bạn ở ngoại ô, về mặt hành chính là tỉnh lỵ La Courneuve, một bidon ville của Paris, người Pháp gọi thế, mặc dầu nó chẳng có gì dính dáng tới một cái bi đông nào hết. Vùng này về đêm lâu nay không an toàn. Rải rác vẫn có những vụ cướp bóc ngẫu hứng của những con nghiện ma tuý và dân nhập cư từ những nước hậu cộng sản.

    Càng về khuya, tàu càng thưa.

    Trong lúc chờ tàu, tôi tản bộ. Ở cuối ke, bên dưới tấm pa-nô quảng cáo du lịch biển chiếm hẳn một khoang tường có đủ trời xanh, mây trắng, cát vàng, với các cô nàng diễm lệ và trần trụi nằm phơi nắng là những người vô gia cư, tiếng Pháp gọi là clochard, lăn lóc bên những vỏ chai, vỏ bia lon. Chỗ họ nằm bao giờ cũng bốc mùi khăn khẳn.

    Không phải trạm metro (xe điện ngầm) nào cũng có các clochard tụ tập. Có trạm có, có trạm không. Tôi không hiểu cách clochard chọn nơi ngả lưng. Cứ tưởng họ phải chọn nơi rộng rãi, thoáng đãng ở trung tâm thành phố, hoá không phải, có khi là một trạm hẹp, bên trên lại là một quận nghèo.

    Mấy năm trước, metro nào cũng có ghế băng cho khách. Sau thấy các clochard dùng chúng làm giường, người ta thay bằng ghế nhựa, đặt cách nhau. Nhưng cách ấy cũng vô ích – các clochard liền lăn ra sàn.

    – Sao… lại ở đây?

    Tôi ngập ngừng. Tôi không biết nên gọi gã bằng gì? Gã chưa đủ già để gọi bằng ông, lại không quá trẻ để gọi bằng anh. Mà gọi bằng anh trong bối cảnh này rõ ràng không tiện.

    Gã nhìn tôi từ đầu đến chân. Cái nhìn khảo sát của gã không mấy thiện cảm. Nhưng rồi gã cũng đáp, giọng lạnh lùng:

    – Ờ… ở đây. Thì đã sao?

    Tôi ấp úng.

    – Là hỏi vậy thôi… ông bạn bỏ quá.

    “Ông bạn” là cách gọi tiện nhất mà tôi kiếm được. Nó không xa cách, lại có chút thân tình.

    – Ờ… Không sao.

    Tôi cười vô duyên:

    – Xin lỗi, quả là.. tôi có chút… không ngờ.

    Gã chống tay ngồi lên, cái chăn tụt xuống sàn. Giờ thì tôi nhìn thấy cả thân hình gã – gày gò, xương xẩu trong bộ trang phục lụng thụng. nhem nhuốc.

    Không biết nói gì thêm, tôi dợm chân bước đi.

    Mới được vài bước, tôi nghe gã gọi:

    – Này, ông đồng bào…

    Tôi dừng:

    – Gì vậy?

    – Ông không thể nán lại vài phút sao? – gã nói, giọng buồn, hơi trách móc, nhưng không vật nài.

    – Đến lúc tôi phải về rồi – cảm thấy như mình có lỗi, tôi ấp úng phân trần – Nhà tôi ở khá xa đây. Dù sao thì được gặp… ông bạn, tôi vui đấy.

    – Tôi cũng thế – gã nói – Còn hơn là vui nữa kia.

    Chỉ những người lưu lạc nhiều năm nơi đất khách mới hiểu được tâm trạng những kẻ bất ngờ gặp người cùng xứ sở. Nhất là trong hoàn cảnh này.

    Gã đọc được ý nghĩ của tôi, chắc thế. Gã cười, nụ cười cố làm tươi, nhưng vì cố gắng, nó thành méo mó:

    – Nói thật, tôi có ý tìm, nhưng không gặp ai. Ông là người đầu tiên đấy.

    – Ở Paris này người mình cũng nhiều mà.

    – Nhưng ông là người đầu tiên – gã bướng bỉnh lặp lại – Tôi đã nhầm nhiều lần. Toàn Tàu là Tàu, ông ạ. Sao mà ở Paris này lắm Tàu thế không biết? Người ta bảo ở đâu có gián là ở đó có người Tàu. Nhiều người Tàu trông giống ta lắm. Gặp ông, tôi mừng. Tôi thèm được nói chuyện.

    – Khuya rồi, tôi lại ở xa – tôi nhắc lại điều đã nói – Một bận khác, nhé?

    Gã nhìn tôi đăm đăm, chờ tôi nói tiếp. Tôi chẳng có gì hơn để nói.

    – Ông sẽ chẳng tìm tôi đâu, tôi biết chứ – mặt chảy dài, gã cụp mắt, rồi nói khẽ – Hay là…

    – Gì cơ?

    Con tàu xầm xầm vào bến, tiếng bánh xe lăn trên ray làm tôi không nghe rõ câu tiếp theo của gã. Những cánh cửa đồng loạt mở ra, thả xuống bến vài người khách hiếm hoi rồi hối hả chạy đi. Tôi lỡ thêm chuyến nữa.

    – Ông bạn vừa nói gì nhỉ?

    Gã nín lặng, rồi nói khẽ:

    – Thế này, ông có thể thết tôi một bữa chăng?

    Thì ra gã nói chuyện với tôi chỉ để dẫn tới chỗ ấy. Tôi thò tay vào túi.

    Gã lắc, mặt sa sầm:

    – Tôi không phải ăn mày.

    Tôi không hiểu gã muốn gì.

    – Tại sao chúng ta không thể đi ăn cùng nhau một bữa? – gã nói tiếp – Trong bữa ăn mình tâm sự được nhiều hơn.

    – Ờ… Nhưng vào giờ này?

    –  Ở Paris giờ này đâu đã khuya. Không lẽ một yêu cầu nhỏ nhoi như thế mà cũng bị từ chối.

    Tôi suy nghĩ: ờ, đáng gì đâu một bữa ăn, nhất là trong hoàn cảnh này. Tôi tần ngần vài giây. Rồi quyết định:

    – Được thôi.

    – Hay quá! – gã vui hẳn lên, cười tươi.

    – Anh muốn ăn gì nào? – tôi cũng cười theo –  Âu hay Á?

    – Gì cũng được. Tôi không kén.

    Tôi gật lần nữa.

    Gã nhanh chóng rũ chăn, đứng dậy, xốc lên vai cái túi vải to bằng cái va li, bước theo tôi.

    2

    Ông chủ quán bít tết Arhentina trên đường Oberkampf chăm chú nhìn tôi. Không phải, ông nhìn người đi cùng. Clochard là thứ người không lẫn vào đâu được, là thứ người không bao giờ đặt chân vào quán ông. Né mình nhường lối cho khách, tôi thấy cánh mũi ông phập phồng. Hẳn ông nghĩ người đi với tôi bốc mùi, một đặc điểm không thể thiếu ở các clochard. May, gã không bốc mùi. Cái đó chứng tỏ gã mới gia nhập bộ lạc clochard chưa đủ lâu.

    Quán vắng. Những người khách cuối cùng đã lác đác rời đi.

    Tôi chọn bàn trong cùng, dưới đầu lâu một con bò với cặp sừng đen nguyên vẹn. Không có gì chứng thực rằng nó là bò Arhentina chính cống.

    Tôi không đói. Bữa tối bằng thức ăn sẵn đợi tôi ở nhà. Tôi có thói quen ăn muộn.

    – Hai suất – tôi nói, không cần nhìn thực đơn.

    – Tái, chín vừa hay chín kỹ?

    – Tái, như mọi khi – tôi nói, nhìn gã clochard của tôi.

    – Tái xanh[1], cho tôi – gã nói.

    – Cũng 250 gam? – ông chủ quán hỏi.

    Gã liếc nhanh xem ý tôi, rồi hất hàm:

    – 250 gam cho ông này, 350 gam cho tôi. Mà không, cho tôi 500 gam đi.

    – 500 gam?

    Gã gật, rất điềm nhiên. Tôi trợn mắt.

    – Còn rượu?

    Không đợi tôi, gã liếc nhanh lũ chai trên quầy:

    – Saint Émillion Grand Cru nhé!

    – Nửa chai?

    – Không, cả chai.

    Tôi ngẩn người. Gã nháy mắt:

    – Với bít tết ngon, phải là nó mới xứng, mới đủ, phải không ông?

    – Không sao.

    Tôi không bao giờ gọi Saint Émillion Grand Cru ở nhà hàng. Nó đắt khủng khiếp. So với giá siêu thị, giá nhà hàng giá phải tăng gấp bốn, nếu không gấp năm. Tôi hay lai vãng quán bình dân này, món bí tết ở đây ngon, giá cả lại phải chăng, nhưng rượu thì cũng thế không rẻ hơn các quán khác bao nhiêu.

    Cách chọn rượu của anh clochard của tôi làm tôi ngạc nhiên, phải nói là sửng sốt mới đúng. Sự đời dun dủi thế nào mà con người đang ngồi bên tôi lại ra nông nỗi này?

    – Mấy khi – gã nháy mắt với tôi – Có phải không ạ?

    Tôi chỉ còn biết gật. May, trong túi tôi có đủ tiền.

    Gã ăn say sưa. Gã uống say sưa. Như không có tôi ngồi bên. Gã quên bẵng nhu cầu tâm sự như gã nói. Thỉnh thoảng gã ngừng nhai, ngẩng lên, ợ một tiếng khoái trá.

    Trong bữa ăn tôi có thời gian quan sát kỹ ông bạn bất ngờ. Gã có gương mặt của người khôn ngoan, tức là không phải một gương mặt đần độn – cặp mắt sáng, cái nhìn hoạt. Tiếc cái trán ngắn và cặp môi mỏng làm hỏng tướng mặt. Là tôi từng nghe nói thế.

    Ăn xong, gã lấy giấy chùi mép, từ tốn như một quý ông.

    – Giờ ta về, hả?

    – Về thôi. Cũng khuya rồi. Ta chia tay ở đây thôi – tôi đứng lên, thở phào, chìa tay cho gã – Hẹn gặp lại.

    Nhưng cuộc phiêu lưu về đêm của tôi chưa kết thúc.

    Gã nhìn vào mắt tôi:

    – Thế này: đêm nay tôi ngủ ở nhà ông, nhá?

    Tôi ngập ngừng:

    – Không tiện đâu.

    Gã nhìn tôi, ra chiều ngạc nhiên. Cái nhìn không hỏi. Nó khẳng định.

    – Có gì mà không tiện? Ông ở một mình mà.

    Làm sao gã biết tôi ở một mình?

    – Tôi có khiếu quan sát. Người có đàn bà trong nhà không bao giờ mất hai khuy áo mà không được đính lại. Tôi không làm phiền ông. Tôi không ngáy. Đặt mình xuống là ngủ như chết.

    Tôi chết trân:

    – Nhà tôi chật lắm.

    – Tôi không cần giường. Một chỗ trống trên sàn là xong – gã nói bằng giọng khẳng định, không cho tôi có cơ hội từ chối – Cũng không cần chăn. Chăn trong này rồi – gã vỗ bèn bẹt vào cái tay nải.

    Tôi là kẻ yếu lòng bẩm sinh. Tôi ngần ngừ thêm vài giây tìm câu trả lời. Tôi chưa tìm thấy nó thì gã đã kéo phăng tôi đi.

    3

    Tôi nhường gã nằm sô pha, tôi dùng túi ngủ. Tôi quen dành cho khách thứ tốt nhất mà tôi có. Gì thì gì gã cũng là khách.

    Đêm đã khuya. Tôi tắt đèn, chúc gã ngủ ngon.

    Nhưng gã không ngủ. Trong bóng tối, gã đánh giá căn phòng của tôi:

    – Hừm, có sang tới bên này mới biết không phải cứ Việt kiều là khá giả, nhiều anh rách như tổ đỉa… Nhà bằng cái lỗ mũi.

    – Paris là một thành phố đắt đỏ. Theo thống kê, nó chỉ thua có Tokyo, London…

    – Hà Nội đắt không kém, có khi còn đắt hơn, nhưng người dân trung bình có số mét vuông để ở lại có phần thư thả hơn… cái chỗ này, ý gã muốn nói thế nhưng kịp giữ lại.

    Gã đúng. Căn phòng của tôi rộng có 14 mét vuông, lại ở tầng áp mái.

    Xem ra, gã không chịu ngủ. Có vẻ đã lâu không được nói chuyện với ai là người cùng xứ, gã thèm nói. Mà cũng có thể gã muốn dốc bầu tâm sự.

    Tôi ngáp. Gã nghe tiếng.

    – Ông buồn ngủ rồi à? Không muốn nói chuyện với tôi à?

    – Không, ông bạn cứ nói, tôi nghe.

    – Ở Hà Nội tôi có hai ngôi nhà thênh thang, hai biệt thự, nói cho đúng – gã bắt đầu câu chuyện.

    – Thế à? Sao ông lại bỏ đi?

    Gã hứ một tiếng.

    – Bỏ đi? Có mà điên!

    Bắt đầu một đêm mất ngủ đây, tôi ngán ngẩm.

    – Tôi lớn lên trong một gia đình bậc trung. Cha mẹ tôi mất sớm, các cụ để lại cho thằng con trai duy nhất là tôi một ngôi nhà.

    – Nhất rồi – tôi đệm – Có một ngôi nhà, lại là của mình, còn gì bằng.

    – Nhà chẳng lớn, cũng chẳng đẹp. Suốt thời bao cấp, tôi sống vất vưởng, vắt mũi bỏ miệng. Ông biết bao cấp là cái gì chứ?

    – Biết.

    – Thế rồi con tạo xoay vần thế chó nào mà một thằng nghèo kiết xác là tôi lại trở thành giàu có. Là nhờ cái nhà ấy, ông ạ – gã chống tay, ngóc dậy – Nhà còn gì uống không?

    – Có Coca trong tủ lạnh.

    – Coca? Giá có bia thì hay hơn. Ông không phải đàn bà.

    Gã đứng lên, mò mẫm trong bóng tối. Ánh sáng của tủ lạnh mở hắt lên mặt gã – nó khác gương mặt hốc hác, căng thẳng tôi nhìn thấy lúc trước.

    – Nhà mặt tiền, ông ạ. Không rộng, nhà Hà Nội đều thế cả, ăn ở cái chiều sâu, lại ở ngay trung tâm.

    – Tuyệt.

    – Người ta gọi chỗ ấy là đất vàng. Ông hiểu đất vàng là thế nào chứ? Sau hai cuộc chiến tranh khốn khổ khốn nạn, thiên hạ cứ gọi là điên hết lên vì nhà. Cứ như thể người ta ra đời chỉ có một mục đích: kiếm được một ngôi nhà, rồi chết.

    – Tôi có nghe kể – tôi nói.

    – Gặp cái cơn sốt bất động sản ấy nhà cửa loại gì cũng đắt, toàn giá trên trời không à. Tưởng tượng không ra, nằm mơ không thấy. Người ta không mua cái nhà xập xệ, tường rỗ, mái thủng, vừa ở vừa sửa, đến tôi còn không thiết đâu. Là người ta mua đất.

    – Tất nhiên.

    – May, tôi có thằng bạn thân thời học trò, bố nó làm quan, không phải quan thường mà quan rất to. Nó khuyên tôi bán quách cái nhà, lấy tiền mua đất ngoại thành. Rồi ra đất ở đấy sẽ có giá lắm. Thì ra nó biết trước quy hoạch thành phố sẽ mở rộng đến đâu, ông ạ. Tôi nghe nó, thuê tạm một chỗ chui ra chui vào, rồi cầm nắm tiền bán nhà đi mua đất. Mua khoảnh này, được giá thì bán lại, mua khoảnh khác, cứ thế. Chẳng mấy chốc tôi trở thành đại gia. Ông biết đại gia là cái gì chứ?

    – Là nhà giàu.

    – Không phải chỉ là nhà giàu, mà là rất giàu. Chẳng riêng tôi, nhiều người trong thời kỳ ấy phất lắm. Có thằng chủ một quán phở ở Moskva về nước trở thành tỷ phú đấy.

    – Khiếp! – tôi đế.

    – Mà không phải tỷ phú thường đâu, là tỷ phú cỡ thế giới cơ. Ông có nghe tên thằng Thịnh Phở không?

    – Chỉ buôn bán đất mà giàu thế kia á? – tôi chậc chậc.

    – Cóc phải – gã giảng giải – Đã giàu rồi thì giàu thêm mấy hồi. Tiền đẻ ra tiền. Không tiền là cái hoa đực, không bao giờ có quả. Giàu nhất là các quan. Ăn bẫm rồi thì phải có cách yểm tiền. Chúng nó mới hùn vốn với ba thằng đại gia mới nổi từ các nước Đông Âu về – thằng xưng giàu do buôn máy tính, thằng nói do buôn quần áo gắn mác rởm…

    – Ra thế.

    – Thằng quan nào chả nói nghèo, chỉ vợ con nó giàu thôi, mánh ấy thiên hạ biết cả, nhưng cái thời nó thế – “khôn chết, dại chết, biết thì sống”, người ta đành ngậm miệng.

    – Tôi hỏi thật nhé, ông đừng giận: ông bạn cũng từng là đại gia theo cách ấy sao?

    Gã thở dài:

    – Không hẳn thế. Nhưng cũng na ná. Có tiền rồi, tôi làm tà lọt cho một thằng đại đại gia, vốn nó bằng nghìn lần vốn tôi. Thôi thì theo voi hít bã mía, mèo nhỏ bắt chuột con.

    – Tôi không hiểu.

    – Ông không hiểu là phải thôi. Chưa kể đến cái số.

    Tôi gật trong bóng tối. Tôi cũng tin người có số, nước có vận.

    – Tôi trở thành tay chân thân tín thằng đại đại gia ấy. Chả là nó biết tôi thân với thằng con quan lớn –một mối quan hệ cần phải nắm. Tôi làm giám đốc một công ty con bên dưới cái công ty mẹ, gọi là tập đoàn của nó.

    Trong im lặng tôi nghe gã gãi sồn sột.

    – Ông sang đây bao lâu rồi?

    – Cũng lâu. Tròm trèm nửa thế kỷ.

    – Thảo nào.

    Tôi lại ngáp. Lần này tôi ngáp to, gã nghe thấy.

    – Ông buồn ngủ lắm rồi à? Còn muốn nghe nữa không?

    – Còn. Ông kể tiếp đi.

    Im lặng một lát, gã kể, nhưng giọng không còn hào hứng:

    – Mọi hợp đồng mua bán ngon nó cho tôi đứng tên. Nó dạy tôi các cách rút tiền ra từ những hợp đồng béo bở ấy – hàng mua giá mười tỷ thì tăng lên trăm tỷ, hai bên mua bán chia nhau số dư…

    – Ông bạn cũng có phần chứ?

    – Có chứ, sao không? Nhưng là phần bèo, phần lớn, miếng ngon là của nó. Còn các dự án nước ngoài đầu tư thì chặt phần trăm…

    Từ dưới đường vẳng lên tiếng xe tải giao hàng về đêm. Tôi kéo khóa túi ngủ lên tận cổ. Thời tiết Paris nó thế – ban ngày nóng mấy thì nóng, ban đêm vẫn phải có chăn.

    Bằng giọng đều đều gã tiếp tục dài dòng về những hợp đồng mà gã gọi là phi vụ. Một phi vụ lớn đổ bể, gã bị đưa ra chịu tội thay cho người khác, làm dê tế thần.

    Đoạn sau tôi nghe câu được câu chăng, tai vẫn nghe giọng kể đều đều của gã mà chìm vào giấc ngủ lúc nào không biết.

    4

    Gã không bỏ đi như tôi nghĩ.

    – Vì sao ông bạn sa vào cảnh không nhà? – trong bữa sáng, tôi đặt câu hỏi bằng giọng tế nhị nhất.

    – Tôi kể rồi mà.

    – Đoạn ấy tôi ngủ quên.

    – Ờ, tôi thấy ông thở đều. Rồi còn nói mê nữa.

    – Ông kể lại đi, tôi xin lỗi.

    Gã kể:

    – Có một vụ, cũng chẳng lớn lắm đâu, bị khởi tố. Là do mấy thằng nhà báo rách việc khui ra.

    Sự đời là thế – ghen ăn tức ở ấy mà… Đầu chẳng phải phải tai, tôi trở thành đầu vụ…

    – Khổ!

    – Nói trở thành thì không đúng. Là do thằng ông chủ sắp xếp. Phải có thằng giơ đầu chịu báng chứ.

    – Tệ quá.

    – Cũng may. Lúc ấy tôi lại đang ở Tây Ban Nha. Nó cho tôi biết sự tình, hứa sẽ thu xếp mọi việc chóng vánh, đâu sẽ lại vào đó.

    – Rồi thế nào?

    – Tôi đợi. Chứ còn làm thế nào? Ở nhà họ điều đình với nhau, như chuyện thường xảy ra, rồi sẽ có thoả hiệp. Thoả hiệp thế nào, tôi biết sao được. Nhưng lúc này tôi không thể về.

    Gã thở dài ngán ngẩm.

    – Ông đi du lịch?

    – Không, tôi dẫn một đoàn khách. Có cái lệ thế – sau một ký kết, ngoài khoản lại quả, bên đối tác được chiêu đãi bằng một chuyến du hí ở nước ngoài, gọi là tham quan, học tập kinh nghiệm…

    – Hay nhỉ?

    – Bằng tiền chùa ấy mà. Ông đừng tưởng các nước châu Âu không biết hối lộ. Có nước pháp luật nghiêm, nhưng cũng có nước biết lui tới lắm, Đức chẳng hạn, chúa trùm là anh Siemens… Thấy tình hình không sáng sủa, tôi phắn.

    – Phắn là cái gì?

    – Là chuồn nhanh. Tôi bỏ đoàn, rút tiền mặt đút túi, được bao nhiêu hay bấy nhiêu, lấy máy bay sang Ý…

    – Rồi đến Pháp?

    – Ờ, tôi chọn Pháp. Tôi đã đi khắp châu Âu rồi, tôi biết nước nào dễ, không hay bị kiểm tra giấy tờ, ở Pháp là nhất, ông ạ.

    Không phải là tay chơi lang thang mọi thành phố lớn, ở các khách sạn sang, nếm đủ của ngon vật lạ, gã mới sành điệu đến thế khi chọn rượu.

    – Tôi biết, ở đây mấy chục năm chưa ai hỏi giấy tờ lần nào.

    – Nhưng đó là chuyện sau. Ở Ý tôi bị mất sạch mọi thứ. Đau nhất là mất các thẻ tín dụng chưa kịp rút tiền. Bọn Ý là bậc thầy móc túi.

    – Các tài khoản không bị khóa?

    – Khóa chứ. Nhưng cũng có cái không. Cũng là anh em chúng tôi với nhau cả.

    Gã thừ ra, nhớ những người anh em tử tế.

    – Mà thôi, nói làm đếch gì

    Rồi không kể thêm, gã xắn tay áo, gã thu dọn nhà cửa giúp tôi:

    – Ông thật vô tích sự. Nhà lộn xộn thế này mà ở được.

    Tôi nhìn gã làm cái việc lẽ ra tôi phải làm. Tôi ăn ở có luộm thuộm thật, nhưng nó là cái trật tự của tôi, tôi biết cái gì nằm chỗ nào, không phải tìm. Thành thử tôi phải chăm chú dõi theo gã để biết cái trật tự mới gã đặt ra cho tôi nó làm sao, quên bẵng chuyện gã đã quyết định ở lại mà không cần hỏi tôi có bằng lòng hay không.

    – Tôi lấy tiền đi chợ.

    Nói là làm, gã móc ví trong áo tôi treo trên móc ở cửa, tự nhiên lấy tiền, rồi đi.

    Ngồi nhà một mình, bóp trán suy nghĩ. Đúng là gã biết chỗ yếu của tôi – gã ở lì, còn tôi thì không thể đuổi khỏi nhà một người cùng quê hương xứ sở trong cơn cơ nhỡ. Làm thế thì còn ra giống người à?

    Đồng bào! Hai chữ ấy mới thiêng liêng làm sao! Chỉ tiếng Việt của ta mới có nó. Không một thứ tiếng nào trên thế giới có cái tương đương. Sự gắn kết những đứa con cùng một bọc thật là đẹp, nó là cái mà bất cứ đứa con nào thuộc dòng giống Việt đều biết, đều nhớ, đều dùng, từ ông học giả tóc bạc phơ cho tới tên lưu manh đầu đường xó chợ, từ nhà hiền triết siêu nhân bản cho tới nhà cầm quyền đầy thủ đoạn. Nó là cái có khả năng gây ra mọi cung bậc tình cảm và cảm xúc tuỳ theo người dùng nó muốn. Chẳng ai tin ở cái truyền thuyết tối vô lý ấy. Bà cụ tổ nào có thể mang thai một bọc trong có trăm trứng để nở ra trăm con chứ? Nhưng truyền thuyết cứ thế trường tồn, sức sống của nó là vĩnh cửu. Và giờ đây nó đang làm cho một đứa con lưu lạc là tôi nao núng trước một quyết định hai chọn một.

    Có một sự thay đổi không biết từ lúc nào trong căn phòng hẹp của tôi, tức ngôi nhà của tôi: không biết từ lúc nào tôi không còn là chủ nó nữa. Chủ bây giờ là gã.

    Cái máy hút bụi Phillips, hàng hiệu hẳn hoi, mua mới tinh, không phải ở cửa hàng đồ cũ hay ở chợ giời, dùng đã mấy năm vẫn chạy tốt, bỗng nhiên biến mất. Thay vào đó là cái chổi đót.

    Nhìn gã quét nhà, tôi ngẩn người:

    – Sao không dùng máy hút bụi?

    – Bán rồi. Để làm gì cho chật nhà!

    – Bán khi nào?

    – Hôm kia. Chợ đồ cũ mở ngay phố mình. Tôi mang ra thử. Được giá là bán liền.

    Tôi nén một tiếng thở dài. Tôi thở dài nén đã thành quen, từ khi gã đến.

    – Lẽ ra cũng nên hỏi qua tôi một tiếng.

    Gã hứ:

    – Ông thì có biết tính toán gì cơ chứ! Già rồi, phải vận động chân tay nó mới khoẻ. Không vận động thì các cơ sẽ teo. Theo Mác, con người từ khỉ mà thành là nhờ lao động.

    Tôi chả bao giờ đọc Mác. Xem ra gã nói cũng phải. Con người văn minh cái gì cũng nhờ vào máy móc không phải là điều hay.

    Nhưng khi mấy giò địa lan tôi đặt ngoài ban công không cánh mà bay, thay vào đó là những chậu rau thơm, thì tôi nổi giận thật sự:

    – Ông bạn quá đáng nhá. Từ lúc nào ông không còn coi tôi ra gì? Tôi yêu hoa, ông có hiểu không?

    Gã nhăn nhở:

    – Hoa là thứ ba lăng nhăng, ông ơi. Nó chỉ có thể làm ta vui thêm một chút khi ta đã có đủ thứ. Mà ta thì đã có đủ thứ chưa? Chưa. Cứ mỗi lần ta nhậu là tôi lại phải ra chợ Tàu mua rau thơm, ông không thấy sao?

    – Ông không có phép làm thế mà không hỏi tôi.

    Lần này gã cười toác. Đoạn, xịu mặt:

    – Tôi xin lỗi. Tôi ân hận rồi. Tôi không biết ông yêu hoa đến thế. Tôi nghĩ mình làm việc tốt: trong nhà có sẵn rau thơm, khỏi phải đi mua. Đừng cáu nữa, nhé? Tha cho tôi đi mà.

    Tôi còn biết nói gì khi gã đã thốt lên như thế, với bộ mặt ỉu xìu thế kia.

    5

    Ông bạn già ở La Courneuve đến thăm tôi.

    Gã đón tiếp ông nồng nhiệt, còn hơn chính tôi. Gã nhanh nhảu pha trà, tíu tít hỏi han. Mới gặp mà hai người trò chuyện râm ran, như thể bạn thiết lâu ngày không gặp.

    Ông hỏi tôi khi gã đi khỏi nhà:

    – Ông kiếm được ông bạn mới đến ở chung từ khi nào vậy? Quý hoá quá!

    – Nào có kiếm – tôi ngao ngán – Tự hắn ta theo về.

    Nghe tôi kể chuyện tôi gặp gã như thế nào, ông bạn hốt hoảng:

    – Chết chửa, sao ông dễ tính thế? Biết hắn ta là người thế nào? Nhỡ là quân du thủ du thực thì sao?

    – Du thủ du thực thì không phải. Gã con nhà tử tế, có một quá khứ đàng hoàng. Là gặp cơn bĩ cực thôi.

    Ông chăm chú nghe những gì tôi được nghe được từ gã.

    – Dù sao hắn ta cũng có ích – tôi nói – Nhờ hắn tôi mới biết tình hình trong nước mà chúng ta thường lơ là: có gì mới đâu?

    Ông bạn chậc chậc liên hồi.

    – Nghĩa là hắn ta nằm trong chính cái ổ tham nhũng mà tôi vừa đọc trên mạng?

    – Chắc vậy.

    – Thế thì ông chứa cái giống tham nhũng ấy làm gì?

    – Tôi cũng nhẹ nhàng bảo hắn ta mấy lần rồi, nhưng, ông tính, hắn ta cứ ì ra… Thì biết làm thế nào?

    Ông bạn nhăn mặt:

    – Ông không kiên quyết. Phải tay tôi ấy à…

    Tôi không biết phải tay ông, ông sẽ làm gì?

    Tôi đặt câu hỏi. Ông thừ người ra.

    Tôi kể thêm cho ông nghe sự biến mất của cái máy hút bụi, những giò địa lan…

    – Hắn ta chỉ có một cái tật – ấy là thích nhậu. Ngoài ra thì cũng không khó chịu cho lắm.

    – Ông cũng nhậu với hắn?

    – Thì ông tính: ở đây hắn chỉ có tôi.

    – Nhậu nhẹt là thói xấu. Ông quen đi mấy hồi. Rồi ra thành nát rượu lúc nào không biết.

    – Ông đừng lo. Tôi biết chừng mực.

    Ông bạn xì một tiếng:

    – Ông đàn bà lắm. Thương người rồi khổ đến thân…

    – Ông bảo tôi phải làm gì nào? Nói thì nói rồi, nói mấy lần rồi.

    – Ông cứ báo cảnh sát!

    Tôi xua xua hai tay:

    – Chết chết, sao thế được? Ông không biết mới đây người ta vừa bắt được một vụ “trồng cỏ” cả hec ta do người Việt làm à? Mà không phải ở Anh hay ở Canada đâu nhá. Ở ngay ngoại ô Paris này này. Rồi một vụ nữa, họ bắt được cả một xe đông lạnh nhét đầy người trên đường từ mấy nước Đông Âu đánh đường sang Anh… Cũng là người Việt tổ chức đấy. Chưa đủ xấu hổ sao?

    Nghe tôi nói thế, ông không nói thêm. Ông ngồi thừ ra, chắc nghĩ kế giúp tôi.

    Tôi quên chưa nói: chúng tôi đi từ hai miền khác nhau, tôi từ miền Bắc, ông từ miền Nam. Nhưng giữa hai đứa lại không có sự phân biệt như thường thấy. Có lẽ do chúng tôi cùng có chung một cái quê đất thịt, khác nhau ở chỗ năm 1954 ông di cư vào Nam, tôi ở lại. Hoặc vì chúng tôi không đụng chạm tới chính trị là thứ đã ngán đến tận mang tai. Tuy nhiên ông cũng không đến nỗi cực đoan đến mức như loại dở hơi khi gặp người mình thì không hỏi “Đằng ấy người Việt hả?” mà hỏi ”Anh cộng sản hay anh chống cộng?”

    – Cứ báo cảnh sát đi! Còn chần chừ gì nữa? Ông chứa chấp đứa nào cũng được, nhưng chừa cái giống ấy ra. Ông sẽ không thoát được nó đâu Ông không làm, tôi làm.

    Tôi phải vất vả mới kéo được ông ngồi xuống. Mặt ông đỏ bừng. Ông thở dốc.

    6

    Câu chuyện đến đây là kết thúc. Nhưng không phải là kết thúc một truyện ngắn. Chẳng có thứ truyện ngắn nào lại kết thúc dở hơi như thế.

    Nhưng tôi chán rồi, chán lắm lắm. Tôi không muốn kể thêm nữa.

    Một câu chuyện kể  cụt lủn. Nó cụt lủn là bởi vì nó đúng là như thế. Bởi vì nó không có, hay chưa có, cái kết khác.

    Gã vẫn ở với tôi. Gã không đi, nói cách khác, gã không có ý định bỏ đi, chưa đến lúc gã bỏ đi.

    Còn tôi thì cứ ngồi đấy nhìn gã trong nhà mình.

    Trời hỡi, tôi biết làm sao bây giờ? Với cái trứng cùng trong một bọc kia.

    Vũ Thư Hiên – 2017

    —————————-

    [1] Bleu. Một thứ tái rất tái, chỉ nướng qua loa.

    Theo Internet


  • Văn

    LỜI XƯNG TỘI LÚC NỬA ĐÊM

    LỜI XƯNG TỘI LÚC NỬA ĐÊM

    Vũ Thư Hiên

    Khi linh mục già dò dẫm từng bước qua được những bậc thềm khấp khểnh của nhà kẻ liệt thì trời đã khuya lắm. Mấy vệt sáng vàng vọt của đèn dầu lọt qua khe cửa làm cho nó chìm thêm trong bóng tối mịt mùng. Trong đêm tối ông chỉ có thể cảm được chứ không thấy được rằng nơi ông tới là một thôn nhỏ đìu hiu với những mái tranh thấp thoáng dưới tán lá rừng rậm rạp.
    Linh mục vươn người vặn mình cho đỡ mỏi, mấy đốt sống kêu lục cục. Chủ nhà dựng chiếc Honda dưới thềm, bước vội lên đỡ ông :
    – Trình cha, xin cha cẩn thận chỗ bậu cửa.

    Linh mục ừ hữ gật đầu. Ông mệt lử sau hai chục cây số ngồi ôm eo vượt con đường hết đèo lại suối lổn nhổn đá và rễ cây. Không hiểu sao người ta lại cứ phải tìm ông, trong khi cách đây vài thôn có một xứ đạo khác, tuy không lớn, với một linh mục trẻ?

    Linh mục có quyền khước từ cuộc viếng kẻ liệt mà không ai có thể trách cứ. Ông đã quá già. “Cha lẫn rồi”, cả xứ đạo ồn lên sau một lần ông đứng trên toà giảng lẩm bẩm hồi lâu những câu không ai hiểu, mặc cho đàn chiên ngẩn ngơ phía dưới.

    Cha bận thông công với Đức Chúa Giê Su, bõ già giải thích. Chẳng ai tin lời bõ. Bõ cũng già, có dễ còn già hơn cả cha. Bề trên vội cử một linh mục khác về thay chân ông. Cha trẻ này mới được truyền chức. Mọi việc bây giờ cha phó làm hết. Nói theo cách thế tục, Toà giám cho cha xứ về hưu.
    Sau tiếng mở then hấp tấp, một người đàn bà rũ rượi, cây tọa đăng giơ cao trên đầu, hiện ra trong khung cửa.
    – Con xin phép lạy cha.

    Bà ta lùi lại một bước, lễ độ khuỵu một chân xuống khi nhìn mái tóc bạc phơ, gương mặt đầy nếp nhăn hằn sâu như những nét khắc trên gỗ và đôi mắt mờ đục của cha xứ.
    ”Lạy Chúa tôi, liệu một cha già thế kia có còn làm được phép xức dầu cho kẻ liệt nữa không?”, cái nhìn của bà ta nói.
    Sau lưng bà ta là mấy đứa trẻ mới lớn cao lộc ngộc. Chúng giương mắt nhìn linh mục, lí nhí chào ông. Chủ nhà kéo một cái ghế ba nan xiêu vẹo ra khỏi cái bàn đen đủi không cùng bộ với nó.
    – Xin cha ngồi ngơi…
    Linh mục để mặc cho chủ nhà đỡ ông ngồi xuống.
    – Thưa cha dùng gì ạ? Trà hay cà phê?
    – Vẽ, – ông xua tay – Ta nghỉ một lát rồi làm việc. Ta không khát.
    – Xin cha cứ tự nhiên ạ. Đường thì xa, lại xóc nữa – ông chủ nhà phàn nàn – Đến con đây còn mệt nữa là…

    Linh mục nhìn quanh. Bóng tối che khuất số đồ đạc hiếm hoi trong gian phòng nhỏ. Không khí có mùi ẩm mốc, mùi của cái nghèo.
    – Việc sửa soạn cho kẻ liệt dọn mình về với Chúa là việc trọng – linh mục nói – Chớ chia trí cho việc khác.
    Chủ nhà đưa mắt cho vợ. Người vợ bối rối nhìn lại chồng. Họ có vẻ băn khoăn.
    – Đội ơn cha đã hạ cố đến với chúng con – chủ nhà cúi mặt nói – E hèm…, chúng con sở dĩ phiền đến cha tuổi cao sức yếu, phải đi lại đêm hôm cực nhọc thế này là vì…, hèm…
    Linh mục bảo:
    – Có chuyện gì khó ông cứ cho ta hay. Đừng ngại.
    Người vợ đỡ lời chồng, thẽ thọt:
    – Chẳng giấu gì cha, chả là thế vầy: con có ông chú ruột…
    – Người sắp sinh thì… – người chồng tiếp – Dạ, trình cha, người cứ một hai đòi gặp cha…
    – Hừm.
    – Có điều chú con… – người vợ nói – Người trước kia cũng là con chiên bổn đạo ta đấy ạ. Quê chúng con chả toàn tòng, thưa cha.
    – Tức là?
    – Thưa cha, – người chồng cúi mặt – hiềm nỗi chú con… người trót nghe theo kẻ vô thần nên đã bỏ đạo…
    Linh mục nhắm mắt lại. Cả ba nín lặng.
    – Chuyện ấy thường. – linh mục thấy cần phải nói một điều gì đó để phá đi bầu không khí nặng nề, và cũng là để an ủi vợ chồng chủ nhà – Thời Lucifer, người bỏ đạo không ít… Ông ấy còn tỉnh trí chứ?

    Không thể làm lễ xức dầu cho kẻ ngoại đạo, cha xứ nghĩ. Oái oăm thật. Nếu người liệt đã hôn mê, ta có thể ban phước lành cho ông ta, cái đó thì không sao, cũng được, Chúa lòng lành chẳng hẹp với ai.
    Người vợ thấy cha xứ hiền, không quở trách, trở nên bạo dạn hơn:
    – Trình cha, còn, người còn tỉnh trí ạ – bà ta nhanh nhảu đáp với nụ cười như mếu – Ơn trên, người đã nghe chúng con, người xin giở lại đạo rồi…
    Linh mục nói:
    – Cũng lại chuyện thường thôi. Người bỏ vẫn bỏ. Người theo vẫn theo. Người giở lại đạo vẫn giở lại… Ông ấy đâu?
    Ông nhìn quanh.

    Người vợ bối rối:
    – Trình cha, chúng con chưa kịp thưa với cha: chú con quên ráo kinh bổn rồi. Nói ra thật xấu hổ, cơ mà chúng con cứ trình thật thế vậy…
    – Chuyện ấy không quan trọng – linh mục chống tay đứng lên – Hãy đưa ta đến với ông ấy. Ta biết phải làm gì.

    Chủ nhà cầm cây tọa đăng, đi trước, linh mục theo sau. Họ đi qua gian trong, nơi mấy đứa con trai đã nằm lại chỗ của chúng. Cánh cửa kêu kèn kẹt mở ra một khoảng trời tối với những ngôi sao bất động.
    Trong ánh đèn linh mục nhìn thấy mấy quả cà tím loáng sáng trên những luống rau dền. Hai bên lối đi nhiều cỏ may đến nỗi ông phải cẩn thận vén áo chùng lên tận đầu gối. Có mùi lá tre mục, mùi sương đêm tinh khiết. Mùa thu mát, nhưng ẩm ướt. Thời tiết trước khi vào đông bao giờ cũng vậy. Mình ở vùng này đã bao lâu rồi? – ông bâng khuâng tự hỏi – dễ đến ba mươi năm chứ không kém.
    – Chú con không chịu ở trên nhà với chúng con, người kêu ồn – chủ nhà phân trần – Người đòi nằm một mình cho tĩnh. Chứ chúng con không muốn thế…
    – Người già thường khó tính – linh mục nói

    Mình cũng thế, ông nghĩ. Ông biết gần đây chính ông cũng trở nên khó tính khó nết. Ông khảnh ăn, không chịu được mùi hôi và mọi sự bề bộn, động một tí là bẳn gắt. Hẳn ông cũng làm phiền các thầy và bõ già không ít. Có điều họ chẳng nói ra thôi. Đôi lúc tỉnh, ông thấy mình hành mọi người một cách vô lý, nhưng đáp lại họ chỉ nhẫn nhục im lặng. Những lúc tỉnh ra ấy ông giận mình lắm. Ông tự hỏi: họ buộc phải chịu đựng ông vì trách nhiệm được giao phó? Hay chỉ vì lòng tôn kính với bảy chức thánh của ông, vì lòng biết ơn sự tận tụy nhiều năm của ông ở xứ đạo của họ?

    Chủ nhà đẩy cửa vào ngôi nhà nhỏ cô độc ở cuối vườn. Gọi nó là lều thì đúng hơn, bởi vì nó rất hẹp và tuềnh toàng. Ánh toạ đăng soi tỏ cái giường tre, trên đó một thân hình còm nhom nhô lên dưới tấm chăn dạ rách, vật còn lại từ một thời chinh chiến.
    Linh mục tưởng người nằm đấy chết rồi, ông đã đến muộn. Dưới ánh đèn vàng vọt, trên gương mặt xương xẩu, khắc khổ của ông ta hầu như không còn dấu hiệu của sự sống.
    Chủ nhà cúi xuống nghe ngóng, rồi quay mặt lại:
    – Người ngủ. Để con đánh thức.
    Ông ta nắm lấy vai người bệnh, lay khẽ:
    – Chú ơi, chú! Cha đến.
    Linh mục chắp hai tay trước bụng, kiên nhẫn đợi.
    Trong yên lặng, một con tắc kè bỗng kêu to ở đầu hồi làm ông giật mình.
    Người bệnh khẽ rên một tiếng. Ông ta gượng mở mắt:
    – Cha hử?
    – Vâng, thưa chú, người đã đến ạ.
    Linh mục đặt tay lên vai chủ nhà :
    – Ông cứ lên đi, mặc chúng tôi.
    – Nước! – người bệnh thều thào.

    Chủ nhà cầm lấy phích nước trên cái bàn làm bằng một mảnh ván mộc kê trên đôi mễ xiên xẹo, rót chầm chậm vào cái chén sứt sẹo. Đoạn, mang đến bên phản, nâng đầu người bệnh, cho ông ta uống từng ngụm nhỏ. Mái tóc thưa, xơ xác của người bệnh rung rung khe khẽ cùng với nhịp chuyển động của yết hầu.

    Linh mục chăm chú nhìn người bệnh, ân hận đã không đem theo một cậu giúp việc trong trường hợp này. Nhưng ông sực nhớ: cái xe Honda ọp ẹp của chủ nhà chỉ có thể chở hai người.
    Chủ nhà lễ phép đi giật lùi ra khỏi lều, khép cửa lại.
    Người bệnh khó nhọc rút một tay ra khỏi chăn. Những ngón tay gày, cong queo vẫy linh mục lại gần hơn.

    Linh mục đến bên giường, chăm chú nhìn vào khuôn mặt vàng nhợt và cứng đơ như được nặn bằng sáp. Cất giọng trịnh trọng, như ông vẫn thường làm trong nhưng trường hợp tương tự, ông nói câu thuộc lòng:
    – Ta đã đến với con, hỡi con chiên lạc bầy muốn trở về trong Chúa!
    Linh mục bỗng giật mình. Ông nhận thấy giọng ông vang vang trong túp lều yên lặng hoàn toàn không có hồn, như thể nó phát ra từ máy ghi âm. Tự nhiên ông thấy mình bối rối. Vì tia sáng phát ra từ mắt người bệnh, cái tia sáng đi cùng với nụ cười thoảng qua, hay bởi chính giọng không hồn của mình, ông không rõ?
    – Con hãy nhận lấy tên thánh của con trước khi dọn mình xưng tội cùng Chúa – linh mục giơ cây thánh giá đeo trước ngực hướng về mặt người bệnh – Nhân danh Chúa trên Lời… ta đặt tên thánh cho con là Đôminicô để ghi lại giờ khắc con giở lại đạo trên đất đai của dòng Đa Minh.

    Trong khi linh mục cố tập trung tư tưởng để làm phận sự trước cái nhìn chòng chọc của người bệnh thì người ấy lại vẫy ông:
    – Này, linh mục…
    Linh mục cúi xuống, lắng nghe tiếng thều thào từ đôi môi khô héo:
    – Con muốn nói gì? Ta nghe đây.
    – Xin cảm ơn ông đã đến với tôi – người bệnh nói – Cảm ơn.

    Linh mục sững người, ông thấy có điều khác thường khi người bệnh không gọi ông bằng “cha” xưng “con”. Người bệnh đoán được tâm trạng của linh mục.
    – Ông đừng bực mình. Cách xưng hô không làm nên con người, cũng như cái áo không làm nên thày tu…
    – Hừ. Không sao, tôi không câu nệ…
    – Cảm ơn ông. Ông đã đến với tôi, thế là tốt lắm rồi. Ông khỏi cần làm lễ.
    – Hử?
    – Vâng, ông khỏi cần làm lễ. Nó vô ích.
    – ???
    – Là vì tôi có tin ở Chúa của ông đâu.

    Người bệnh cố diễn đạt ý mình cho mạch lạc, với giọng khao khao của thanh quản bị tổn thương.
    – Vậy ông cho mời tôi đến đây làm gì? – linh mục lắp bắp.
    Người bệnh nhìn quanh rồi đặt ngón tay trỏ lên miệng.
    – Cái gì vậy? – linh mục lo lắng nhìn quanh.
    – Ông chớ nói to, các cháu tôi nghe tiếng. Tôi không muốn chúng nghe câu chuyện giữa chúng ta.
    – À! Tôi hiểu – linh mục gật đầu, rồi vào giọng với người bệnh như một đồng loã, ông thì thào – Được, tôi sẽ nói khẽ.
    Người bệnh động đậy mấy ngón tay.
    – Phiền ông đỡ tôi ngồi lên.

    Linh mục vòng tay ra sau gáy người bệnh, đặt ông ta dựa lưng vào vách. Làm xong việc đó, ông thở dốc.
    – Thế. Tốt rồi. Khi ngồi tôi dễ thở hơn, nói cũng dễ hơn.
    – Ông không cần làm lễ? Thật vậy sao: không cần?
    Người bệnh ái ngại quan sát linh mục bằng cặp mắt mệt mỏi:
    – Ông cũng già quá, linh mục ạ. Ông ngồi xuống đây với tôi.
    Linh mục ngồi ghé xuống mép phản.
    – Sang năm tôi vừa đúng tám mươi hai.
    – Nhiều quá rồi – người bệnh thở dài – Linh mục đừng giận, nhưng sau lưng các cháu tôi, tôi phải nói thẳng với ông điều tôi nghĩ. Tôi không thích dối trá.
    – Hừm… Tôi hiểu – linh mục nói, giọng nhẹ nhàng, cố chứng tỏ ông không phật ý – Ông muốn chiều lòng các cháu?
    – Đúng thế, ông ạ. Các cháu tin ở Chúa. Tôi thì không. Chúng sốt sắng muốn tôi giở lại đạo.
    – Họ cũng nói với tôi như vậy.
    – Chiều các cháu, tôi mới bảo chúng: chú chỉ chịu xưng tội chịu lễ với cha ít nhất cũng phải ngang tuổi chú. Hì hì…, tôi biết trong vùng này chỉ có một mình cha…
    – Ông muốn chính tôi đến với ông?
    – Cái đó có nguyên uỷ của nó, tôi sẽ nói vì sao. Tôi chỉ e ông không đến được. Tôi chờ ông. Nghe nói ông không còn làm mục vụ nữa.
    – Nhưng tôi đã đến.
    – Cảm ơn ông. Tôi muốn trước khi chết tôi có dịp tâm sự với người cùng một thế hệ. Các cháu tôi yêu tôi, nhưng chúng không hiểu tôi bao nhiêu. Tôi rất muốn được nói chuyện với người ít nhất cũng đã sống trên trái đất này bằng số năm mà tôi đã sống. Chỉ người đó mới hiểu được những lời tâm sự của tôi, kẻ sắp qua đời…
    – Vậy là ông đã có người mà ông cần để đóng vở kịch của ông. Còn để tâm sự, tôi e rằng ông chọn lầm người. Một linh mục thì có gì để tâm sự với một người thế tục cơ chứ?

    Linh mục nhắp chân, toan đứng dậy. Người bệnh nắm lấy tay ông, giữ lại. Nắm chắc. Như một cái kìm.
    – Nghe tôi đây này, thật mà, ông lầm người rồi – linh mục gỡ tay ra, nhưng không được – Việc của linh mục là giảng đạo, nghe con chiên xưng tội và nhân danh Chúa giải tội cho họ. Còn tâm sự thì không. Không phải việc của linh mục.
    – Sao lại thế? – người bệnh chống tay cố gắng để ngồi thẳng dậy, nhưng không được – Nghe lời tâm sự của kẻ sắp chết để hiểu người thế gian cũng là một việc nên làm lắm chứ…
    Linh mục thở dài:
    – Được, nếu ông muốn thế thì tôi sẽ ngồi đây với ông thêm một lát.
    Đôi môi khô héo của người bệnh nhếch một nụ cười:
    – Cảm ơn ông.
    – Có gì mà ơn với huệ – linh mục phẩy tay – Tôi cho phép ông nói dối các cháu ông rằng ông đã được làm lễ xức dầu. Chúa cũng sẽ tha cho ông tội nói dối ấy, bởi vì nó vô hại… Xong, ông để tôi đi.
    – Ông đừng đi. – người bệnh vật nài – Ông sẽ ở lại với tôi cho đến lúc tôi đi khỏi đây nhá? Đi khỏi thế gian ấy mà. Tôi biết: ông là người tốt. Một linh mục chân chính thì phải ở lại trước lời thỉnh cầu trước giờ lâm tử của một kẻ ngoại đạo, cho dù kẻ đó là tín đồ của Mahomet, của Thích ca Mầu ni, của chư thần Ấn giáo. Hoặc là kẻ vô thần chẳng tin ở cái gì hết.
    – Ông tự tin quá đấy, nhưng trong chuyện này, ông có lý – linh mục nói – Tôi sẽ ở lại. Bao lâu cũng được. Tôi đã hết bận công kia việc nọ rồi.

    Đôi môi khô héo của người bệnh nở một nụ cười rất hiền.
    – Cảm ơn ông. “Điểu chi tương tử kỳ thanh tắc ai, nhân chi tương tử kỳ ngôn tắc thiện”, con chim gần chết thì tiếng kêu ai oán, người ta gần chết thì nói lời lành, ông có nhớ câu ấy không? Chẳng lẽ lúc này tôi lại nói với ông những điều xấu xa hay ác độc?

    Ông ta nói phải, linh mục nghĩ. Ai rồi cũng sẽ qua cái cầu ấy. Không biết rồi mình có cần gặp ai đó trong giờ lâm tử để trút bầu tâm sự không? Có lẽ mình cũng cần đấy, nhưng mình sẽ không nói ra, nói cho đúng, mình không dám nói ra. Xấu hổ lắm. Chẳng ai muốn bày ra chỗ yếu đuối của mình.

    Như đọc được ý nghĩ của linh mục, bàn tay xương xẩu của người bệnh bóp nhẹ cổ tay ông. Linh mục mỉm cười. Ông thấy trong lòng vui vui. Ông nhớ đến một người bạn trong thời thơ ấu, với cái bóp tay đồng loã khi hai đứa trèo vào vườn nhà người hái trộm khế ngọt.
    – Ông sẵn sàng nghe tôi nói chứ, linh mục?
    – Ông cứ nói đi, tôi đã ở lại thì tôi sẽ nghe ông.

    Người bệnh im lặng một lát, có vẻ ông ta muốn sắp xếp lại những ý nghĩ lộn xộn trong đầu trước khi nói ra. Đêm yên tĩnh lạ thường. Nghe rõ những giọt sương nặng từ mái lá rơi xuống lộp độp.
    – Tôi xin lỗi đã làm ông buồn.
    – Không, tôi không buồn. Có gì mà buồn?
    – Tôi không tin có Chúa, bởi vì nếu có Chúa thì tại sao trái đất của chúng ta lại như thế này? Chúa có quyền lực vô biên cơ mà. Tại sao Chúa lại sinh ra đau khổ bên cạnh hạnh phúc? Người nghèo bên cạnh người giầu? Người xấu bên cạnh người tồt? Và sự đểu cáng làm đau đớn những tâm hồn thánh thiện?
    – Chúa đặt ra những thử thách cho con người để nó khẳng định mình, tự hoàn thiện mình – ông nói – Chỉ có một nơi ngự trị toàn sự tốt lành, ấy là Thiên đàng, nước Chúa.

    – Nhưng nó ở xa lắm. Mãi đời sau kia – người bệnh cười méo mó – Đạo Phật cũng có một cái tương tự là niết bàn – nirvana. Linh mục có bao giờ nghĩ về sự vô lý này không? Với quyền lực vô biên, tại sao Chúa không dựng nước thiên đàng ở ngay đây, trên mặt đất nhày nhụa mà chúng ta đang sống?

    Phải, tại nơi mà hàng triệu sinh mạng chết đi trong những cuộc chiến tranh chẳng ích lợi gì cho họ, hoặc sống quằn quại dưới gót sắt của những bạo chúa, hoặc đi ra pháp trường bởi những lời xúi giục của đám chính trị gia lưu manh? Tại nơi có những giống nòi tự xưng thượng đẳng để đẩy những giống nòi khác vào chỗ diệt vong, nơi có hằng hà sa số nhà tù để giam đến chết những con người lương thiện thích sống bằng suy nghĩ của mình chứ không thích sống để nghe lệnh của kẻ cai trị?

    Linh mục thấy mệt. Chẳng lẽ con người này lại dùng những phút cuối cùng của đời mình vào cái việc bàn luận chính trị chán ngắt?
    Như đoán được linh mục nghĩ gì, người bệnh lắc đầu :
    – Tôi hiểu, ông chán. Ông chẳng lạ gì điều tôi vừa nói. Ông biết quá đi ấy chứ. Nhưng tôi dám chắc chẳng bao giờ ông trả lời được câu hỏi đó, bởi vì ở các chủng viện người ta cũng chẳng bao giờ dám động đến nó. Các ông, những linh mục, các ông chỉ là những ông thủ từ làm công việc canh đền, nói thế ông đừng giận. Trong đầu các ông chỉ có kiến thức của những con vẹt. Trước những câu hỏi như thế các ông thủ từ của mọi thứ đền lập tức chạy vội đến chỗ ẩn náu tiện lợi gọi là đức tin, và thế là xong. Tin và đừng có bàn cãi. Amen!
    – Lạy Chúa tôi lòng lành chẳng cùng! Trước khi chết ông muốn phỉ báng đạo Chúa sao? Có phải vì ý muốn đó mà ông mời tôi tới đây? – linh mục tuyệt vọng kêu lên – Ông nghĩ tôi là ai? Kẻ thù của ông chăng? Kẻ gây ra đau khổ cho ông chăng?

    Đến lượt người bệnh thở dài. Đó là tiếng thở dài chán ngán. Như luồng hơi cuối cùng trong bễ lò rèn trôi ra khi người phụ rèn dừng tay.
    – Linh mục ạ, vậy mà nhìn ông tôi nghĩ học vấn và tuổi đời đã làm cho ông tỉnh táo nhiều hơn đấy, và ông sẽ là người đối thoại tốt trong đêm chót cuộc đời tôi. Tại sao ông lại lảng tránh những câu hỏi tự chúng nảy ra trong đầu chúng ta, chứ không phải chỉ trong đầu tôi? Sau bằng ấy năm ta sống trên trái đất này? Chao ôi, linh mục ơi linh mục! Tôi chẳng còn dịp nào khác đâu. Tôi cũng chẳng còn ai để nói ra những gì chất chứa trong lòng. Tôi đâu có định gây sự với ông. Lúc này tôi chỉ còn có ông để mà tâm sự thôi. Tôi xin thề rằng tôi không hề có thù riêng với Chúa của ông.
    – Thế thì ông báng bổ đạo Chúa làm gì? – linh mục bực bội, nhưng ông lại nghe thấy giọng mình rền rĩ – Sự xúc phạm tới Chúa của tôi chính là sự xúc phạm tới tôi, bởi vì tôi, phần xác cùng là phần hồn, đều thuộc về Chúa.

    Ông phản bác người bệnh, nhưng lại cảm thấy những lời phản bác ấy là để cho chính ông. Cứ mỗi phút trôi qua ông lại thấy gần hơn với con người khốn khổ sắp lìa bỏ cõi đời. Ông tự phân tích tình cảm của mình và hiểu rằng cái làm ông không thể chối bỏ cuộc gặp gỡ này, bây giờ đã trở thành cuộc đối thoại, chính là vì ngay từ phút đầu tiên ông đã cảm thấy rằng con người này thực sự cởi mở cõi lòng với ông, một người hoàn toàn xa lạ, nhưng tin cậy ông trước khi ông tin cậy ông ta. Ngay cả những con chiên ngoan đạo khi xưng tội với ông thường không có sự cởi mở thực tâm từ đáy lòng như thế.

    Người bệnh lẩm bẩm điều gì, linh mục nghe không rõ. Để nghe rõ hơn ông phải ghé sát vào mặt ông ta.
    – Cuộc đời bao giờ cũng rối rắm hơn ta tưởng – người bệnh nói khẽ, đôi môi mấp máy, rõ ràng không chỉ để nói với linh mục – Hình như để cho cuộc sống dễ chịu hơn, hoặc để giải thích cuộc đời một cách giản đơn hơn, con người nào cũng cần đến Chúa…
    – Giê-su, lạy Chúa tôi, ông lại báng bổ nữa rồi đấy, chẳng lẽ ông chỉ nhìn thấy nơi Chúa một vật dụng tiện lợi? – linh mục thất vọng kêu lên.
    – Không phải Chúa Trời hay Chúa Giê-su đâu linh mục. – người bệnh nói, linh mục nghe trong giọng nói của ông ta có tiếng cười – Tôi nói về một Chúa chung chung cơ, Chúa với tư cách niềm tin ấy, Chúa không phải của riêng đạo nào, với tư cách Đấng tối cao ở khắp mọi nơi, thông biết mọi sự.
    – Hừm.


    – Nếu Chúa không có sẵn, linh mục ạ, thì chính con người cần đến Chúa sẽ tự mình tạo ra Chúa cho nhu cầu của nó – người bệnh nói, như thể đã lấy lại được giọng bình thường – Khi đã có Chúa trong tay, bất kể là Chúa nào – Chúa tìm thấy, Chúa tạo ra, Chúa vay mượn, Chúa mua sắm, Chúa nhập cảng, tuốt tuột, không phân biệt, tức thì nó lấy ngay Chúa mà nó sở hữu, Chúa của riêng nó, của phe phái nó, tròng vào cổ đồng loại, làm cái ưu thế của nó để đứng trên đồng loại, để được cảm thấy mình cao sang hơn đồng loại, chung cuộc là để thống trị đồng loại…

    Linh mục im lặng. Ông biết nói gì với những lời lảm nhảm ấy. Điều làm ông ngạc nhiên là bên trong những lời đầy báng bổ của người bệnh, có cái gì đó rất thật thà. Và không phải không có lý.
    – Linh mục, ông vẫn còn ngồi bên tôi đấy chứ? – người bệnh lặng đi một lúc, bỗng kêu lên, thảng thốt.
    – Tôi đây – linh mục vội vã nói khi người bệnh làm một cử chỉ cố gắng để chồm dậy – tôi vẫn ngồi ngay bên cạnh ông đây mà.
    Người bệnh thở ra một hơi dài.
    – Vậy mà tôi thấy ông bị trôi ra xa đến nỗi tôi muốn với tới ông mà không được.

    Linh mục đụng mấy ngón tay lên mí mắt nhắm nghiền của người bệnh. Cặp mắt mở ra, nhìn mà không thấy. Linh mục nghĩ có lẽ ông ta đang hấp hối.
    Nhưng rồi người bệnh lại bừng tỉnh, cặp mắt lại trở nên có thần.
    – Linh mục có gặp một người chết sống lại bao giờ không?
    – Không, ông ạ.
    – Tôi đã gặp hai người rồi đấy, họ chết hẳn rồi, cũng tin chắc như thế, nhưng rồi họ sống lại. Tôi hỏi họ thấy gì ở phút họ qua đời thì họ nói….
    – Họ nói sao?
    – Họ kể rằng lúc họ trút hơi thở cuối cùng, họ biết hết. Lúc đó, trí óc họ minh mẫn lạ thường, như thể chưa bao giờ họ minh mẫn như thế.
    – Có thể lắm.
    – Họ còn kể rằng người họ nhẹ như một sợi bông vậy, và họ rơi vào một bầu trời xanh kỳ lạ, mầu xanh trong cuộc đời họ chưa từng gặp. Cả hai người hỏi mà tôi hỏi đều kể giống nhau.
    – Tín đồ Thiên Chúa giáo không tin điều đó – linh mục nói, bất giác rùng mình – từ trái đất mà đi chỉ có hai ngả: một là bị quỷ dữ kéo xuống địa ngục, hai là được các thánh thiên thần rước lên thiên đàng.

    – Ông lại nói như sách rồi, linh mục ơi – đôi môi khô héo của người bệnh đụng đậy, như thế ông ta cười – Ông chớ tin Kinh Thánh. Đến cả Chúa Ki-Tô không phải bao giờ cũng thực thà. Trong Kinh tuần giảng bảy ngày có kể chuyện Đức Chúa Giê-su muốn hạ nhục bọn lái buôn thành Giê-ru-sa-lem đã vờ không rửa tay trước khi ngồi vào bàn tiệc. Để cho chúng có cớ cười nhạo ông, khinh bỉ ông không biết phép lịch sự. Là để tạo ra dịp mắng chúng chuyện sơn hào hải vị được bày ra trên bàn tiệc chẳng phải do chúng làm ra, bằng chính những bàn tay sạch sẽ đã được rửa trước khi ăn. Giả vờ, thưa linh mục, cũng là một dạng dối trá, tuy nhẹ hơn. Xin ông đừng giả vờ bác tôi, khi trong lòng ông, ông lắng nghe tôi, bởi vì ông hiểu tôi đang nói thật và điều tôi nói đáng để nghe.

    Linh mục giật mình. Người bệnh như nhìn thấy ông trần truồng đứng trước ông ta và ông cảm thấy hổ thẹn.
    – Ông cũng đã nhìn thấy màu xanh ấy rồi chăng?
    – Đúng, tôi đã thấy nó. Mới vài phút trước đây thôi. Đó là một màu xanh hết sức lạ lùng, màu xanh trời, thiên thanh, chứ không phải xanh nước biển, trong vắt và sâu vô cùng tận. Nó đẹp vô cùng quyến rũ, đẹp đến nỗi không sao dứt ra nổi, tưởng chừng cứ nhìn thêm vào nó một lát thôi là ta sẽ trôi tuột vào trong đó, vào cõi mà lý trí bảo ta rằng đó là cõi vĩnh hằng.

    Linh mục bối rối im lặng:
    – Ông nằm yên một lát chăng? Nói nhiều, ông mệt đấy.
    – Ồ không, không sao, tôi đã mệt cả cuộc đời rồi, có mệt thêm một chút cũng chẳng hại gì… – người bệnh khẽ lắc đầu, hoặc linh mục cảm thấy thế – tôi mệt vì bị dối trá, tôi mệt vì tôi dối trá người khác… Tôi còn mệt cả vì tôi tự dối mình nữa, linh mục ạ. Con người nào mà không giăng cho mình sợi tơ nhện dối trá để cho chính mình sa vào? Sự dối trá êm ái ấy mấy ai thoát khỏi? Êm ái và tiện lợi.
    – Cuộc sống nào chẳng do Chúa định cho ta.
    – Một sợi tóc rơi xuống cũng không ngoài ý Chúa, phải thế không? Như vậy thì, thưa linh mục, ta tồn tại làm gì? Tồn tại không phải để làm cái gì khác ngoài sự thực hiện ý Chúa hay sao? Nếu chỉ để làm như thế thì Chúa của ta thật trái tính trái nết. Và cái sự thực hiện mù quáng của ta mới vô duyên làm sao!

    Linh mục cảm thấy sức lực rời bỏ ông. Tại tuổi già, tại chuyến đi xa mệt nhọc, hay tại chính những lời lảm nhảm này. Tranh luận để làm gì khi mỗi con người nhìn chân lý từ một phía, như những anh mù sờ con voi, anh nói giống cái cột, anh nói giống cái quạt?
    Hai người im lặng một lúc lâu.

    Linh mục nghe rõ tiếng khò khè trong cuống họng của người bệnh và tiếng đập đôi lúc đứt quãng trong huyết quản mình. Trái tim ông sắp hết hạn làm việc mà Chúa ban cho nó rồi. Khoảng hai năm nay nó bắt đầu làm việc ì ạch, đập năm bảy nhịp rồi ngừng một nhịp, sau đó lại tiếp tục đập. Bao giờ nó sẽ ngừng hẳn không đập nữa? Và trong phút đó ta có nhìn thấy màu xanh tuyệt đẹp mà người này vừa nói tới không?

    Con tắc kè đầu hồi lại lên tiếng rất gần. Nó kêu lúc đầu dõng dạc, từng tiếng phân minh, rồi nhanh dần và nhỏ dần như ngán ngẩm không buồn kêu nữa.
    – Ông ngủ đấy ư? – linh mục hỏi.
    – Không, tôi suy nghĩ.
    – Ông nghĩ gì?
    Người bệnh mỉm cười, mắt nhắm nghiền.
    – Tôi nghĩ không biết có nên xưng tội với linh mục không?

    Linh mục vuốt ve bàn tay khô xác của người bệnh.
    – Đừng cưỡng bức mình làm cái việc mà mình không muốn. Cái đó chẳng có lợi cho ai.
    – Nhưng nếu tôi lại rất muốn?
    – Tôi sẵn sàng nghe ông, bởi vì tôi đã ở lại đây, bên cạnh ông, như ông đòi hỏi.
    Đầu người bệnh gục xuống ngực, không cất lên nữa. Mái tóc bạc lơ thơ xõa xuống che lấp cả vẻ ủ rũ trên mặt làm động lòng linh mục. Ý nghĩ về cái chết tràn ngập tâm hồn ông.
    – Tôi đã sống trên tám mươi năm trên thế gian. Tôi đã phạm phải vô vàn tội lỗi và hằng hà sa số sai lầm. Nhưng điều tôi muốn nói với linh mục lại liên quan tới một con chiên của Chúa, do đó tôi mới muốn xưng tội với ông, hay là với Chúa của ông thì cũng thế. Bởi vì tôi coi mình đã làm thiệt hại cho Chúa mặc dầu theo thuyểt tiền định của chính đạo Chúa thì mọi việc xảy ra đều do một ý Chúa. Tôi thấy ân hận vì việc mình làm, có nghĩa là trong việc đó tôi có tội…

    Linh mục đặt tay lên đầu người bệnh:
    – Tôi xin nghe ông, ông bạn già ạ.
    – Sao linh mục lại gọi tôi như thế?
    – Ông không phải con chiên của Chúa, nhưng ông là một người thật thà.
    – Cảm ơn linh mục.
    – Nào, ông nói đi, nói đi cho nhẹ lòng.

    Người bệnh tử từ ngẩng đầu lên. Linh mục nhìn thấy trước mắt mình đôi mắt không có hồn đang rõi ra xa.
    – Khoảng năm chục năm trước – khi tôi còn trẻ, tôi đã giết một người.
    – Giết người, đối với bất cứ tôn giáo nào cũng đều là trọng tội.
    – Nói cho đúng, trong cuộc đời tôi, tôi đã giết nhiều người, nhưng tôi không thấy ân hận bởi vì nếu tôi không giểt họ nhanh hơn họ giết tôi thì tôi cũng chẳng còn. Nhưng người mà tôi nói lại là người khác hẳn.

    Người bệnh ngừng nói để lấy hơi. Mà cũng có thể ông ta chọn lời.
    – Hồi đó tôi chỉ huy một trung đội trinh sát. Chúng tôi đi qua một làng mà năm trước giáo dân vừa nổi loạn. Họ đã giết một số bộ đội.
    – Lạy Chúa tôi! – linh mục kêu lên, làm dấu thánh.
    – Đám nổi loạn mà tôi nói tới đã bị dẹp, tình hình đã bình ổn, một năm rồi mà. Tôi nghĩ rằng đi qua đó chẳng có gì đáng lo ngại. Đến giữa làng mới biết là mình nhầm. Chuông nhà thờ bỗng nổi lên lanh lảnh, trống ngũ liên dồn dập, tiếng hò la dậy đất, rồi hàng loạt giáo dân xông ra. Một số trong bọn họ nổ súng vào chúng tôi. Thế là chúng tôi nổ súng bắn trả…
    – Giê-su!
    – Tôi bỡ ngỡ, tôi bàng hoàng, nhưng tôi còn đủ tỉnh táo để hạ lệnh cho bộ đội chúc nòng xuống mà bắn. Tôi thực lòng không muốn gây ra chết chóc…
    – Có phải ở Nam Định không?
    – Vâng, ở đấy. Trên đường truy kích những tên cầm súng bắn chúng tôi – tôi gặp một thanh niên nằm ngửa, mắt mở to. Anh ta đã chết, đạn xuyên qua bụng phá ra hông thành một lỗ toác hoác.

    Linh mục nín thở theo dõi câu chuyện.
    – Tôi dừng lại, vuốt mắt cho anh ta. Tại sao tôi lại làm như thế, tôi không hiểu. Tôi đã dự nhiều trận đánh, đã thấy nhiều xác chết trong đủ mọi kiểu chết…

    Người bệnh ngừng lời trong hồi tưởng.
    – Tôi dừng lại vì vẻ thánh thiện trên gương mặt trong sáng của người chết. Anh ta đẹp quá. Mà cái đẹp sinh ra để làm gì nếu không phải để tạo ra niềm vui, để dành cho tình yêu? Lẽ ra anh ta phải sống, để ôm ấp trong tay một người con gái đẹp, xứng đáng với anh ta. Để rồi cô gái là vợ anh sẽ sinh cho anh nhưng đứa trẻ đẹp như bố mẹ chúng. Vậy mà anh ta đã chết…

    Linh mục nuốt nước bọt. Họng ông bỗng khô khốc.
    – Ông đã có ý nghĩ của Chúa – linh mục nói – Người có ý nghĩ của Chúa là người có lòng lành.
    – Có thể chính tôi đã giết anh ta. Trong chiến trận nói chung chẳng ai biết kẻ nào phía bên kia đã chết vì viên đạn của mình… Khi những người sẵn sàng tử vì đạo kia xông lại, tôi đã bắn, và không phải chỉ một băng đạn. Họ hung hăng quá, tôi nghĩ họ đã nốc rượu vào khi xung trận…

    Người bệnh lặng đi trong cơn xúc động, cái đầu nặng nề lại gục xuống, mái tóc bơ phờ lại che khuất gương mặt mà linh mục rất muốn được thấy trong lúc này.
    Linh mục bối rối, ông muốn nói điểu gì, nhưng không cất nổi lời.
    Người chết ngẩng mặt lên. Nhưng đôi mắt đã đục chẳng còn thấy gì ở phía trước.

    Hai người im lặng một lúc lâu.
    – Rồi sau thì sao? – linh mục run run hỏi.
    Người bệnh thở dài:
    – Đoạn kết ông đã biết nó thế nào.
    Linh mục rùng mình.
    – Vâng, tôi biết rồi – ông xúc động nói – Ông đã nhận ra tôi.
    – Vâng, đến vùng này tôi đã gặp ông, tôi cũng đã nhận ra ông.
    – Ông đã giết em tôi?
    – Tôi không biết người ấy là ai. Tôi cũng không dám nói chắc rằng tôi đã giết. Tôi chỉ nói được rằng rất có thể chính tôi đã bắn chết anh ấy. Xác chết nằm trên đường đi của rất nhiều viên đạn do chúng tôi bắn ra. Cũng có thể anh ấy chết vì viên đạn của người nào khác, nhưng tôi lại đinh ninh chính mình đã làm điều đó…

    – Sao hôm ấy ông lại ngăn không cho những người lính của ông bắn chết tôi khi tôi vác dao lăn xả vào chém ông? Vết thương ở vai chắc còn đấy. Tôi nhớ, máu chảy ra xối xả, vọt đẫm mặt tôi…
    – Còn cái sẹo, linh mục ạ. Nó đây.
    Người bệnh đưa tay lên để vạch áo, nhưng cánh tay vừa giơ lên đã thõng xuống. Linh mục nhích lại gần để giúp ông ta. Khi linh mục trật vai áo của người bệnh ra ông thấy rõ vết sẹo thâm xì, sâu hoắm.

    Người bệnh nhìn ra phía trước, xuyên qua linh mục, xuyên qua bức vách, tới một nơi nào rất xa.
    – Bây giờ thì tôi hiểu vì sao ông không mời linh mục nào khác mà cứ đòi gặp tôi – linh mục buồn bã nói, kéo áo người bệnh lên để che đi vết sẹo – Ông muốn biết tôi bây giờ thế nào…
    – Cái quả đã xứng với cái cây. – người bệnh nói – Tôi chẳng than phiền.
    – Hạt thiện gieo xuống đâu thì cây thiện mọc lên ở đó. Tôi hằng cầu nguyện cho ông. Nếu không có ông gạt nòng súng ra thì viên đạn của người lính đã kết liễu đời tôi…
    – Tôi không nghĩ tới làm ơn. Tính thiện trong tôi đã làm việc đó.

    Linh mục đặt tay lên vai người bệnh:
    – Ông không có vợ con sao? Ở đây tôi chỉ thấy những người cháu.
    – Có chứ. Rồi tôi cũng có một gia đình. Tôi có vợ, có hai đứa con. Nhưng chiến tranh đã xoá sạch dấu vết cái gia đình ấy. Như thể bằng một nhát chổi…

    Con tắc kè lại kêu lên một hồi, tiếng của nó vang động trong rừng đêm.
    – Mấy giờ rồi, thưa linh mục?
    – Có lẽ đã gần hai giờ sáng. Tôi không mang đồng hồ. Từ lâu, thời giờ đối với tôi chẳng còn ý nghĩa.
    – Ông ở lại với tôi đến cùng nhé?
    – Tôi sẽ ở lại với ông.

    Người bệnh ngẩng đầu lên, hướng cái nhìn mà không thấy vào mặt linh mục. Linh mục bối rối đảo mắt qua nơi khác.
    – Tôi đã xưng tội. Bây giờ ông hãy nhân danh Chúa của ông mà tha tội cho tôi đi.
    Linh mục ngập ngừng, rồi làm dấu thánh trên đầu người bệnh, lẩm bẩm một câu la-tinh.
    – Điều thứ năm trong mười điều răn của Chúa…
    – Chớ giết người! – người bệnh nói – Nó phải là điều răn thứ nhất mới đúng, linh mục ạ.

    – Tôi cũng là kẻ có tội. Như ông – linh mục không muốn tranh luận, ông cố gắng đẩy câu nói nặng nhọc ra khỏi miệng – Hôm đó chính tôi cũng đã bắn về phía các ông. Cho đến khi súng của tôi hết đạn. Tôi nhìn thấy rõ ràng một người lính ngã xuống trước họng súng của tôi. Viên đạn bắn trúng anh ta trong phút ấy có thể không phải là của tôi, tôi cũng không dám nói chắc, nhưng cũng như ông, tôi nghĩ viên đạn là của tôi. Lúc đó tôi còn trẻ. Có lẽ trẻ hơn ông. Lúc đó chúng tôi nhìn các ông như kẻ thù. Chúng tôi đã quên lời dạy của Chúa: “Hãy thương yêu người ta như mình vậy”. Chính tôi là một trong những người được bề trên sai trói chín anh bộ đội vào đám xú vẹt năm trước đó.
    – Chính ông?

    – Vâng. Trong số chín người ấy có một anh bộ đội rất trẻ. Khi tôi trói anh ta, anh ta nhìn tôi và thật ngạc nhiên, tôi không thấy trong đôi mắt ấy có một chút oán giận, một chút căm thù. Chỉ có sự ngỡ ngàng, bối rối, như trước một điều khó hiểu. Tôi đứng gần đấy cho đến khi nước triều lên chậm chạp, bắt đầu vượt qua đầu gối họ, lên tới bụng họ, rồi tới ngực họ. Cả chín người đều im lặng. Tôi chờ anh thanh niên kia van xin tha chết, nhưng anh ta im lặng. Tôi không chịu nổi cái nhìn ấy hơn nữa, tôi không còn sức để chịu đựng hơn nữa, tôi vội vàng nới dây trói cho anh ta để anh ta có thể tự cởi và hấp tấp bỏ đi vài phút trước khi nước lên tới cằm họ…

    Linh mục quỳ xuống trong một dáng điệu trịnh trọng.
    – Tôi cũng đang xưng tội với ông đây. Chính cái gạt tay cho nòng súng chĩa vào tôi hôm đó đã làm cho tính Thiện trong tôi bừng tỉnh. Ông đã cắt đứt sợi dây của cái ác luân phiên. Từ đó tôi nguyện suốt đời làm tôi tớ Chúa, ghé vai vác cây thập ác nặng nề của Chúa…

    Người bệnh ngồi im lặng như nhập định.
    Linh mục ngước mắt lên, hai tay chắp trước ngực.
    – Nhân danh Cha và con, và thánh thần, kẻ tôi tớ Chúa xin Chúa lòng lành tha mọi tội lỗi cho những đứa con dốc lòng chừa cải…
    – A-men!
    Cầu nguyện xong, linh mục ngồi lên giường, đối diện với người bệnh, nắm lấy hai bàn tay lạnh giá của ông ta. Người bệnh hiểu cái nắm bàn tay gần gũi và thân thiết ấy:
    – Xin vĩnh biệt linh mục ông ta gắng nói, nhưng chỉ thều thào – Ông có thể đi được rồi đấy. Ý nguyện của tôi đã thành. Từ khi biết linh mục ở đây, tôi rất mong được gặp lại…
    – Chúng ta đã gặp nhau – linh mục bóp mạnh bàn tay khô xác – Tôi mừng gặp lại ông, ân nhân của tôi.
    – Ân nhân gì? Vĩnh biệt ông, linh mục!
    – Khoan hãy nói lời vĩnh biệt – linh mục thảng thốt kêu lên – Bây giờ tôi không muốn đi đâu hết. Tôi muốn ngồi lại với ông.
    – Chúng ta còn có chuyện gì để nói nữa đâu? Những gì cần nói, tôi đã nói hết rồi.

    Linh mục một lần nữa bóp chặt bàn tay người bệnh.
    – Bây giờ đến lượt tôi muốn hỏi ông – ông nói, hổn hển vì quyết định của mình – Chúa của ông là ai?
    – Tôi không có Chúa.
    – Ông có Chúa của ông. Như chúng tôi có Chúa của chúng tôi.
    – Không, tôi không có Chúa. Nói cách khác, tôi từng có một thứ như thế…
    – Ông là người cộng sản, phải không?
    – Ông muốn nói một đảng viên cộng sản?
    – Vâng.
    – Trong ý nghĩa ấy thì không. Bây giờ thì không.

    Người bệnh cười to theo cách của ông ta, há miệng không thành tiếng và đôi vai gày rung rung.

    Khi hai vợ chồng người cháu hé tấm liếp nhìn vào căn lều, họ thấy linh mục và người sắp chêt ngồi ôm nhau trên giường, người nọ gục vào vai người kia, hai đôi vai gày thỉnh thoảng giật lên khe khẽ trong ánh sáng nhợt nhạt của cây tọa đăng đã cạn dầu.

    1988

    Image result for "LỜI XƯNG TỘI LÚC NỬA ĐÊM"
    Vũ Thư Hiên