• Tin tức

    Mỹ chuẩn bị bán võ khí trị giá $2 tỉ cho Đài Loan

    Mỹ chuẩn bị bán võ khí trị giá $2 tỉ cho Đài Loan

    June 5, 2019

    Chiến xa loại M1 Abram của Mỹ. (Hình: Chung Sung-Jun/Getty Images)

    WASHINGTON, D.C. (NV) — Chính phủ Mỹ hiện đang chuẩn bị để bán số lượng võ khí trị giá hơn $2 tỉ cho Đài Loan, gồm cả chiến xa, theo các nguồn tin thông thạo về cuộc thương thảo.

    Hành động này chắc chắn sẽ làm Trung Quốc giận dữ trong bối cảnh cuộc chiến thương mại giữa hai cường quốc kinh tế hàng đầu thế giới tiếp diễn.

    Bản tin của hãng thông tấn Reuters hôm Thứ Tư, 5 Tháng Sáu, nói rằng một thông báo không chính thức về đề nghị bán võ khí này đã được gửi tới quốc hội Mỹ.

    Trong các loại võ khí Đài Loan muốn mua lần này có cả 108 chiếc chiến xa loại Abrams M1A2 do công ty GM chế tạo cùng các loại đạn dùng cho các chiến xa này, theo các nguồn tin riêng của Reuters.

    Chiến xa M60 A3 do Mỹ chế tạo hiện được quân đội Đài Loan xử dụng. (Hình: Sam Yeh/AFP/Getty Images)

    Từ nhiều năm qua, Đài Loan đã cho biết họ muốn có thêm các chiến xa mới do Mỹ chế tạo để tăng cường cho lực lượng chiến xa của họ hiện nay, vốn gồm cả các chiếc M60 Patton.

    Mỹ là nước duy nhất bán võ khí cho Đài Loan, quốc gia bị Trung Quốc coi là một tỉnh nổi loạn và chờ ngày thống nhất, bằng võ lực nếu cần.

    Tuy Tổng Thống Donald Trump vẫn nói ông tiếp tục theo đuổi chính sách “Một Trung Quốc”, Tòa Bạch Ốc hồi Tháng Năm đã đồng ý với yêu cầu của Đài Loan là mua của Mỹ hơn 60 chiếc chiến đấu cơ F-16.

    Hồi Tháng Năm, phía Trung Quốc cũng giận dữ về việc có cuộc họp giữa giám đốc an ninh quốc gia Đài Loan, ông David Lee, và cố vấn an ninh quốc gia Tòa Bạch Ốc John Bolton, cuộc họp lần đầu tiên giữa hai giới chức an ninh quốc gia của Mỹ và Đài Loan từ hơn bốn thập niên nay.

    Trung Quốc cũng bày tỏ sự không hài lòng trước việc Mỹ gia tăng các chuyến tuần tiễu của hải quân qua khu vực eo biển Đài Loan trong những tháng gần đây. 

    V.Giang

    Theo Internet

  • Tài liệu

    Chiến lược ‘Một Vành Đai, Một Con Đường’ của Trung Quốc

    Chiến lược ‘Một Vành Đai, Một Con Đường’ của Trung Quốc

    Quan sát những bước đi trong chính sách của Trung Quốc (TQ), nhiều người sẽ tự hỏi rằng TQ sẽ thực hiện những bước tiếp theo nào và đâu là mục đích cuối cùng.

    No photo description available.


    Bài dưới đây trình bày về chiến lược TQ đang thực hiện, có tên gọi là Chiến lược “Một Vành Đai, Một Con Đường”. Sự quan trọng của chiến lược nằm ở chỗ nó ảnh hưởng trực tiếp đến Việt Nam trên tất cả các phương diện từ kinh tế, chính trị, quốc phòng, và ngoại giao. Và do đó, sự hiểu biết một cách rộng rãi trong các tầng lớp nhân dân Việt Nam là một điều cần thiết. Nó cần thiết không chỉ ở làm sao giữ được một Việt Nam độc lập, bình đẳng, và hòa bình bên cạnh TQ, mà còn ở làm sao Việt Nam có lợi trong một mối quan hệ với TQ, vì dù muốn dù không Việt Nam không thể tự mình cô lập với TQ.

    Năm 2013 Trung Quốc phát động chiến lược “Một Vành Đai, Một Con Đường – One Belt, One Road (OBOR))” trong nỗ lực vươn lên trở thành một lãnh đạo khu vực châu Á và một cường quốc thế giới.

    Chiến lược OBOR hay còn được gọi là “Con Đường Tơ Lụa Mới” là một chiến lược kinh tế và chính trị gồm có hai phần: Một Vành Đai (One Belt) và Một Con Đường (One Road).

    Một Vành Đai chỉ “Vành đai Tơ lụa Kinh tế” bắt nguồn từ Tây An băng qua các thành phố lớn gồm Almaty, Bishkek, Samarkand, Tehran, Istanbul, Moscow và Rotterdam trước khi kết thúc ở Venice. Kế hoạch là xây dựng hệ thống đường bộ, đường sắt, và hệ thống ống dẫn dầu khí xuyên Trung Á đến châu Âu.

    Một Con Đường chỉ “Con đường Tơ lụa Hàng hải Thế kỉ 21″, bắt nguồn từ Phúc Châu (Fuzhou), kết nối các thành phố ven biển từ Hà Nội, Jakarta, Kuala Lumpur, Kolkata, Nairobi, trước khi kết nối với “Vành đai Tơ lụa Kinh tế” ở Venice. Để chuẩn bị cho việc hình thành «Con đường Tơ lụa Hàng hải», kế hoạch sẽ là xây dựng các hải cảng và các cơ sở hậu cần đường thủy từ Thái Bình Dương sang biển Baltic. Mà ở Việt Nam đó sẽ là việc xây dựng hệ thống đường cao tốc nối các tỉnh phía Nam của Trung Quốc với Hà Nội và các hải cảng phía Bắc, đồng thời nâng cấp hoặc xây mới các hải cảng ở vùng này.

    Qui mô của chiến lược được dự đoán ảnh hưởng trực tiếp đến 65 nước và 4,4 tỷ người, nối kết một khu vực địa lý tạo ra 55% tổng sản lượng toàn thế giới, đại diện cho 70% dân số toàn cầu, và chiếm xấp xỉ 75% tổng lượng năng lượng dự trữ đã biết. Dự án dự tính cần khoảng 30 đến 35 năm để hoàn thành.

    MỤC TIÊU
    OBOR có sáu mục tiêu chính ở tầm mức thế giới và nội địa.

    Trước hết, chiến lược là một phương cách nhằm đối phó với các nỗ lực của Hoa Kỳ, Liên minh Châu Âu và các đối tác trong việc hình thành nên các hiệp định thương mại nhằm gạt TQ ra khỏi các mạng lưới liên kết đối tác. Cụ thể là Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) và Hiệp định Thương mại Tự do xuyên Đại Tây Dương (TTIP). Nếu cả hai hiệp định này được thông qua thì khi đó hàng hóa có giá trị thấp của các nước châu Á sẽ thay thế hàng TQ trong mạng lưới các nước đối tác, trong khi hàng hóa công nghệ cao của Nhật và các nước châu Âu sẽ cạnh tranh hơn hẳn hàng hóa chất lượng cao của TQ. TQ do đó sẽ bị cô lập về kinh tế. Chiến lược OBOR, bằng cách thắt chặt nền kinh tế TQ với nền kinh tế các quốc gia trong mạng lưới OBOR, sẽ khiến các quốc gia khác chia sẻ một định mệnh kinh tế với mình.

    Ở khía cạnh thứ hai, chiến lược như là một cố gắng của TQ trong việc kéo các nước châu Á tích hợp và phụ thuộc vào TQ và nền kinh tế của mình nhằm tạo ra một hệ thống quyền lực mới ở Châu Á đặt trọng tâm tại Bắc Kinh như là một cách để đối đầu và làm thất bại chiến lược xoay trục về châu Á của Hoa Kỳ. Đó là một nỗ lực của TQ nhằm gửi ra một thông điệp đến Hoa Kỳ rằng châu Á là của mình.

    Một mục đích thứ ba của chiến lược đó là dùng các tiếp cận kinh tế từ hỗ trợ, đầu tư trực tiếp, cho đến xuất khẩu các chính sách phát triển quốc gia đến các nước châu Á trong khu vực như là một cách nhằm giải tỏa đi các tranh chấp biên giới và hàng hải. Các quốc gia có tranh chấp với TQ gồm Ấn Độ với tranh chấp đường biên giới, Việt Nam và Philippines với các tranh chấp về hải đảo. Bằng cách đưa “củ cà rốt” về lợi ích kinh tế tới các đối tác tranh chấp, TQ muốn họ đồng ý trong những đòi hỏi chủ quyền của mình.

    Ở mục đích thứ tư, chiến lược, bằng cách xây dựng cơ sở hạ tầng, tận dụng các hiệp định sẵn có và gỡ bỏ đi các rào cản thuế quan, cho phép nền kinh tế TQ tích hợp sâu hơn vào các nền kinh tế năng động khác. Nhờ đó giúp cho nền kinh tế TQ tăng xuất khẩu, giải quyết được khả năng sản xuất vốn đã bị dư thừa, và làm chậm lại quá trình đi xuống của nền kinh tế trong khi TQ đang cố gắng cải tổ nền kinh tế từ sản xuất để xuất khẩu sang tăng tiêu dùng nội địa.

    Ở mục tiêu thứ năm, chiến lược cũng là một phương thức nhằm cải thiện hố ngăn cách về xã hội và kinh tế giữa các tỉnh duyên hải và nội địa của TQ. Các hành lang của chiến lược OBOR bắt đất từ các tỉnh nội địa trung tâm và phía Tây của TQ. Các kết nối hạ tầng của chiến lược giúp kết nối các tỉnh nội địa trung tâm và phía Tây, nơi vốn có mức lương thấp, với các thị trường mới ở nước ngoài sẽ giúp thúc đẩy một sự dịch chuyển các ngành kinh tế ở các tỉnh duyên hải ngược lên các tỉnh này. Bên cạnh đó, theo mô hình kinh tế đàn sếu bay, sự dịch chuyển đến lượt nó thúc đẩy các kết nối kinh tế mạnh mẽ hơn giữa duyên hải và nội địa, đồng thời tạo đà cho các sự phát triển các sản phẩm có giá trị cao hơn ở các tỉnh duyên hải.

    Và cuối cùng, chiến lược đóng vai trò như một cách để giải quyết các thách thức về an ninh ở biên giới phía Tây và các vấn đề về an ninh năng lượng. Việc tích hợp về kinh tế của các tỉnh phía Tây Trung Quốc với hệ thống các chuỗi giá trị của thế giới thông qua các liên kết thương mại với các đối tác láng giềng giúp tăng cường khả năng chống khủng bố, ly khai và cực đoan tôn giáo trong khu vực, đặc biệt là vùng Tân Cương.

    Phương thức thực hiện

    Để đạt được ba mục tiêu như vậy, chiến lược “Một Vành Đai, Một Con Đường” dựa trên ba trụ cột chính. Đầu tiên, chiến lược thúc đẩy phát triển kinh tế thế giới thông qua đầu tư cơ sở hạ tầng và phát triển các kênh giao dịch thương mại mới.

    Thứ hai, chiến lược nhằm tạo ra một sự phụ thuộc lẫn nhau giữa TQ, các quốc gia và vùng miền khác thông qua các mạng lưới đối tác toàn cầu, mà một trong các phương thức đó là thúc đẩy nhiều hơn các thanh toán trực tiếp bằng đồng Nhân dân tệ, tạo ra các liên kết hợp tác thông qua các tổ chức đa phương mà TQ nắm quyền chi phối như Ngân hàng Đầu tư hạ tầng Châu Á (Asian Infrastructure Investment Bank – AIIB), Ngân hàng Đầu tư mới (New Development Bank), Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (Shanghai Cooperation Organisation), và ASEAN+1.

    Và thứ ba, chiến lược tập trung vào châu Á như một phần của chính sách ngoại giao láng giềng mới. Bằng cách xây dựng lại mối quan hệ chặt chẽ hơn về kinh tế với các vùng miền dọc theo Con đường Tơ lụa Mới, Bắc Kinh đang cố gắng thắt chặt sự thịnh vượng của khu vực vào mối quan hệ với Trung Quốc nhằm giúp hình thành nên một đế quốc kinh tế có trung tâm đặt tại TQ.

    Con đường đưa Venezuela tới thảm họa rắc đầy tiền của Trung Quốc

    Để thực hiện các dự án này, đặc biệt là các dự án cơ sở hạ tầng, TQ dựa phần lớn vào vai trò của các tập đoàn nhà nước. Để hỗ trợ tài chính cho các dự án, ngoài việc hợp tác với các chính phủ liên quan, các dự án còn có sự hỗ trợ nguồn lực tài chính thông qua ba tổ chức chính là quĩ Silk Road Fund với 40 tỷ đô la Mỹ, Ngân Hàng Đầu Tư Hạ Tầng Châu Á (Asian Infrastructure Investment Bank — AIIB) với 100 tỷ đô la Mỹ, và Ngân hàng Đầu tư mới (New Development Bank) với 50 tỷ đô la Mỹ.

    Nói một cách ngắn gọn, chiến lược “Một Vành Đai, Một Con Đường” vừa nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững nền kinh tế trong nước của TQ, vừa thiết lập một hệ thống kinh tế mới nơi TQ đứng giữa chi phối các nền kinh tế của các quốc gia xoay quanh, khiến họ phụ thuộc vào nền kinh tế TQ, vừa để tránh việc Trung Quốc bị cô lập trên trường thương mại thế giới, và cuối cùng, một hệ thống như vậy còn giúp TQ tranh thủ ảnh hưởng để thực hiện các chính sách khác từ chính trị đến ngoại giao như giải quyết các tranh chấp lãnh thổ hay kiến tạo các quan hệ đồng minh.

    Tham khảo thêm:

    “One Belt, One Road (OBOR): China’s regional integration initiative”, Gisela Grieger, European Parliamentary Research Service, July 2016.

    “One Belt, One Road”: China’s Great Leap Outward, Godement, F., and Kratz A., (eds.), European Council on Foreign Relations (ECFR), June 2015.

    “China’s Silk Road Strategy”, Chi Lo, The International Economy, Fall 2015.

    Theo Blog TS Nguyễn Huy Vũ

    Xem thêm:

    Sập ‘bẫy nợ’: Sri Lanka buộc phải cho Trung Quốc thuê cảng trong 99 năm

    Đặc khu kinh tế Myanmar – mắt xích chiến lược ‘Một vành đai, một con đường’

    Ngoại trưởng Đức: ‘Một vành đai, một con đường’ là cuộc chiến giữa dân chủ và độc tài

  • Tin VN

    Tàu TQ cướp trắng trợn 2 tấn mực giữa ban ngày

    Tàu Trung Quốc cướp trắng trợn 2 tấn mực giữa ban ngày

    Thứ Sáu, 07/06/2019 14:04 PM GMT+7

    Khi đang khai thác hải sản ở khu vực thuộc quần đảo Hoàng Sa, tàu cá của ngư dân Quảng Nam bị tàu Trung Quốc cướp trắng trợn giữa ban ngày.

    Ngày 7/6, bà Trần Thị Mỹ Dung (Phó Chủ tịch UBND xã Tam Quang, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam) xác nhận, một tàu cá của ngư dân địa phương vừa bị tàu Trung Quốc cướp 2 tấn mực.

    Ngu dan Quang Nam to tau Trung Quoc cuop trang tron 2 tan muc giua ban ngay hinh anh 1
    Thuyền trưởng Trần Văn Nhân (trái). 

    Đúng 6h cùng ngày, con tàu mang số hiệu QNa 91441TS do ngư dân Trần Văn Nhân (trú thôn Sâm Linh Đông, xã Tam Quang) làm chủ kiêm thuyền trưởng cập cảng Kỳ Hà (xã Tam Quang).

    Ngay khi vừa đặt chân vào bờ, anh Nhân cùng 9 bạn thuyền khác tìm đến cơ quan chức năng để tường thuật sự việc tàu cá của mình bị cướp trắng trợn ở vùng biển thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.

    Chia sẻ với PV VTC News, vị thuyền trưởng với nhiều năm dày dạn kinh nghiệm “chinh chiến” ngoài khơi xa không giấu được nỗi bức xúc khi nhắc lại câu chuyện bị cướp giữa ban ngày ban mặt.

    Anh Nhân kể, vào ngày 23/5, tàu cá của anh rời bến và thẳng tiến ra quần đảo Hoàng Sa để hành nghề chụp mực khơi. Trên tàu có tổng cộng 10 ngư dân.

    Ngu dan Quang Nam to tau Trung Quoc cuop trang tron 2 tan muc giua ban ngay hinh anh 2
     Tàu của ngư dân Quảng Nam bị tàu Trung Quốc cướp trắng trợn 2 tấn mực. 

    Sau 10 ngày khai thác, tàu của anh Nhân đánh bắt được khoảng 2 tấn mực.

    Vào trưa 2/6, khi anh Nhân và các bạn thuyền ngả lưng nằm nghỉ thì bị một tàu Trung Quốc áp sát.

    “Phát hiện thấy sự hiện diện của những người lạ nhảy sang tàu của mình, tôi và mấy anh em giật mình thức giấc. Khi chạy ra phía ngoài thì chúng tôi bị 6 người Trung Quốc dùng roi điện khống chế.

    Một người trong số đó biết nói tiếng Việt và bảo rằng đây là vùng biển thuộc chủ quyền của Trung Quốc, do đó chúng tôi không được phép đánh bắt. Tuy nhiên, tôi khẳng định đó là khu vực khai thác hải sản thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam từ nhiều năm qua”, anh Nhân nói.

    Ngu dan Quang Nam to tau Trung Quoc cuop trang tron 2 tan muc giua ban ngay hinh anh 3
    Chuyến vươn khơi vừa qua, tàu của anh Nhân bị lỗ nặng. 

    Theo anh Nhân, sau khi ép buộc anh và 9 bạn thuyền khai báo họ tên, những kẻ lạ mặt bắt đầu lục lọi trên tàu.

    Nhắc đến đây, vị thuyền trưởng vừa trải qua chuyến vươn khơi đầy sóng gió phẫn uất: “Toàn bộ 2 tấn mực mà mấy anh em khổ cực đánh bắt bị bọn chúng cướp trắng trợn. Giá của 2 tấn mực rơi vào khoảng 250 triệu đồng, cộng với chi phí nhiên liệu, chuyến đánh bắt vừa qua chúng tôi lỗ nặng”.

    Theo Internet

  • Tạp ghi

    Điều kỳ diệu giữa cuộc đời

    Điều kỳ diệu giữa cuộc đời

    Câu chuyện dưới đây xảy ra ở một thị trấn nhỏ xa xôi hẻo lánh ở Nam Phi và một lần nữa, nó chứng minh một chân lý: Chúng ta lương thiện bao nhiêu, trời xanh sẽ hồi báo bấy nhiêu…

    Ở thị trấn nhỏ Oos-Londen của Nam Phi có một đôi vợ chồng nọ, người chồng tên George còn người vợ tên Helen.

    George làm việc trong một nông trại ở phía bắc của thị trấn. Hằng ngày, anh đều ra khỏi nhà từ rất sớm và muộn mới trở về. Vợ anh vì đang mang thai nên ở nhà nghỉ ngơi, làm việc nhà.

    Hôm đó, như thường lệ, George lái chiếc xe Jeep ra khỏi nhà để đi làm. Nông trại cách nhà anh hơn 50km, trên đường đi phải đi qua mọt đoạn đường núi khá dài. Đoạn đường núi này gập ghềnh khó đi, xung quanh lại không có nhà dân, rất vắng vẻ heo hút.

    Khi George đang lái xe chầm chậm qua đoạn đường khó đi nhất thì điện thoại bỗng đổ chuông.

    “George, mau về nhà… em, em đau bụng quá, con của chúng ta có khi sẽ phải sinh non mất…”

    Nghe tiếng vợ trong điện thoại, người đàn ông thất thần. Nhà của họ ở nơi hẻo lánh, không có lấy một người hàng xóm, cách bệnh viện của thị trấn lại xa, phải làm thế nào đây?

    Lần trước Helen đi kiểm tra, bác sĩ đoán nhiều khả năng cô sẽ sinh non, không ngờ còn cách ngày dự sinh hơn một tháng mà lời bác sĩ đã ứng nghiệm. George biết, nếu không nhanh chóng đưa vợ vào viện, tính mạng vợ con anh đều gặp nguy hiểm.

    “Em ơi, đừng lo quá, anh lập tức về nhà đây.” Lúc này, thời gian chính là sinh mạng, George gác điện thoại, lập tức quay đầu xe.
    Thế nhưng đúng lúc đó, có người bất ngờ từ phía sau vừa chạy lại, vòng lên phía trước chặn đầu xe của anh.. Đó là một người đàn ông trung niên, ông ta cầu cứu anh với một nét mặt vô cùng bấn loạn và khổ sở: “Anh à, tôi xin anh, xin anh hãy cứu con trai tôi với!”

    Người đàn ông này tên là Antony. Vì hôm nay trời đẹp nên ông đưa vợ con ra vùng ngoại ô chơi, nào ngờ chiếc xe việt dã của ông bị mất phanh, lao xuống vực. Cậu con trai mới 9 tuổi của họ vì không cài dây an toàn nên bị thương rất nặng, nguy hiểm đến tính mạng trong khi hai vợ chồng họ chỉ bị thương nhẹ.

    George biết, từ đây đến thị trấn chỉ hơn 20km, nhưng nếu anh về nhà đón vợ lên bệnh viện rồi quay lại thì đường sẽ rất dài, thời gian sẽ rất lâu.

    Người đàn ông này nhanh chóng rơi vào hoàn cảnh khó xử, nếu như giúp Antony, tính mạng của vợ con anh sẽ gặp nguy hiểm. Nhưng nếu về nhà rồi mới quay lại thì con trai Antony có thể sẽ chết vì không được cấp cứu kịp thời.

    Đúng lúc anh đang do dự chưa quyết định thì người đàn ông quỳ rạp xuống trước đầu xe.

    George muốn nói với Antony rằng vợ anh cũng đang nguy kịch và đợi anh ở nhà, nhưng anh vẫn xuống xe và đỡ người đàn ông trung niên dậy: “Con trai ông ở đâu?”

    Antony đưa George đến một chỗ gần đó, từ trên đường nhìn xuống dưới, quả nhiên có một chiếc xe việt dã bị lật và một cậu bé đang nằm cạnh đó.

    Hai người đi xuống, George cúi người xuống nhìn, khắp người cậu bé bê bết máu, gương mặt trắng bệch vì đã mất máu quá nhiều, những vết thương hở trên người và đùi vẫn không ngừng chảy máu. George không dám nhìn tiếp.

    Antony giọng run run như khóc nói với George: “Chúng tôi đã gọi cấp cứu nhưng đợi được xe cứu hộ đến rồi quay về sẽ mất gấp đôi thời gian, đến lúc đó sợ rằng con tôi nguy mất!”

    Sau khi xảy ra tai nạn, vợ chồng Antony đã chia nhau ra đi tìm kiếm sự giúp đỡ, bản thân ông đứng đợi xe qua lại ở đường núi còn vợ ông men theo đường núi chạy về phía thôn làng gần nhất để tìm sự trợ giúp.

    George nghe xong cảm thấy không ổn. Anh biết rõ ở đây chẳng có người ở, nơi có người ở gần nhất chính là nhà của anh và cũng chỉ có mỗi anh là có một chiếc xe Jeep mà thôi.

    “Mau đưa thằng bé lên xe!” George nói lớn. Trải qua một hồi đấu tranh tư tưởng, cuối cùng anh đã ra một quyết định vô cùng khó khăn – cứu con trai của Antony!

    Antony vội vã ôm con lên xe, George khởi động xe lao như bay vào bệnh viện.

    Vừa lái xe, anh vừa vồ lấy chiếc điện thoại, vội vã gọi điện về nhà, hi vọng Helen nghe điện thoại và cố gắng chịu đựng thêm chút nữa.

    Lần thứ nhất, Helen nghe máy, tiếng rên siết đau đớn của cô như kim đâm vào tim George: “Anh ở đâu rồi?”

    George kìm nén nước mắt, đáp: “Em yêu, anh xin lỗi, em cố gắng thêm một chút nữa thôi.”

    Cách vài phút, anh lại gọi điện cho vợ, giọng của Helen trong điện thoại yếu dần. George cố cầm nước mắt, liến thoắng thì thầm trong điện thoại: “Em yêu, thứ lỗi cho anh, anh không thể nhìn thấy chết mà không cứu, mong thượng đế phù hộ cho em và con…”

    Nhờ được đưa đến bệnh viện kịp thời, con trai của Antony được các bác sĩ cấp cứu qua cơn nguy kịch. Lúc đó, George cũng cảm thấy được an ủi nhưng cảm giác đó không át được nỗi lo lắng về Helen trong lòng anh.

    Lần thứ 3 gọi điện thoại về nhà, không ai bắt máy. Nước mắt anh trào ra. Anh biết, không có ai nghe điện thoại, nhiều khả năng vợ anh đã gặp chuyện chẳng lành.

    George vội vã trở về nhà, Antony nhất định đòi đi cùng.
    Hồi kết bất ngờ cho tất cả

    Lái xe như bay về đến cổng, đột nhiên, cả hai nghe thấy tiếng khóc oa oa của trẻ con. Vội vã chạy vào nhà, cảnh tượng đầu tiên đập vào mắt anh đó là Helen đang bình an nằm nghỉ trên giường, trên người đắp một chiếc chăn.

    Ngay trên đầu giường cô nằm là con của họ – một em bé đáng yêu vừa ra đời cách đó không lâu và ngồi cạnh giường là một phụ nữ nét mặt mệt mỏi đang nhè nhẹ dỗ dành đứa trẻ.

    George vừa kinh ngạc vừa vui mừng khôn siết. Khi đó, Antony cũng đã bước vào nhà. Ông tiến đến ôm người phụ nữ, giọng cảm kích: “Em yêu, chúng ta phải cảm ơn George, nhờ cậu ấy giúp mà con chúng ta không sao rồi!”

    Thì ra người phụ nữ xuất hiện trong nhà của vợ chồng George là Mary, vợ của Antony – bà vốn là một bác sĩ sản khoa. Sau khi xe của họ gặp nạn, bà đã men theo đường núi định đi tìm người và xe đến giúp.

    Khi đó, chạy đến nhà George, bà nghe thấy tiếng kêu rên khổ sở của Helen nên ngó vào xem và phát hiện ngôi thai không thuận, lại sinh non, nếu không đỡ đẻ ngay, nhất định cả thai phụ và em bé trong bụng sẽ gặp nguy hiểm.

    “Xin lỗi George”, giọng Mary nghẹn ngào nói. “Khi đó tôi cũng không biết phải lựa chọn thế nào, không biết nên cứu Helen trước hay tiếp tục chạy đi tìm xe, tìm người giúp con trai tôi nữa, thật may là vào phút cuối, tôi đã không chọn sai.”

    Ánh mắt George sáng lên, mặt đỏ ửng: “Người phải nói xin lỗi là tôi, khi đó Antony đã nhờ tôi giúp và tôi cũng đã do dự.”

    “Nhưng cuối cùng thì chúng ta đều đã không đi ngược lại với lương tâm.” Antony chốt lại một câu.

    George nhìn vợ đang say ngủ, lại nhìn sang em bé đáng yêu của họ, nước mắt trào ra

    Theo Internet

  • Tài liệu,  Tham luận

    ĐƯỢC Gì SAU 10 NĂM KHAI THÁC BAUXITE TÂY NGUYÊN?

    ĐƯỢC Gì SAU 10 NĂM KHAI THÁC BAUXITE TÂY NGUYÊN?

    Thanh Trúc

    Năm 2001, dự án khai thác Bauxite ở khu vực Tây Nguyên được Bộ Chính Trị đảng cộng sản Việt Nam chuẩn thuận thông qua trong đại hội đảng lần 9. Sau đó vào tháng 11/2007, Thủ tướng chính phủ lúc bấy giờ là ông Nguyễn Tấn Dũng đã ký quyết định phê duyệt, qui hoạch phân vùng , thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng quặng bauxite giai đoạn 2007-2015 với tầm nhìn đến 2025.

    Đảng Cộng sản Việt Nam mong muốn Bauxite, quặng nguyên liệu chính để luyện nhôm, sẽ mang lại thu nhập lớn với trữ lượng bauxite ở Đak Nông được ước tính khoảng 3,4 tỷ tấn và tại Lâm Đồng là 1 tỷ tấn.

    Bất chấp mọi tranh cãi, kiến nghị, thỉnh nguyện thư cùng phản ứng gay gắt từ giới khoa học, các chuyên gia môi trường, các nhà địa vật lý cũng như các nhân sĩ trí thức trong nước, cho rằng không thể tiến hành dự án bởi nhiều mối nguy về môi trường, xã hội, quốc phòng, dự án bauxite Tây Nguyên vẫn tiến hành hoạt động. Hai cơ sở khai thác quặng bauxite ở Tây Nguyên là nhà máy Alumin Nhân Cơ tại tỉnh Dak Nông và nhà máy Alumin Tân Rai ở tỉnh Lâm Đồng. Tổng mức đầu tư cho các dự án này đến năm 2029 được ước tính tối đa lên 250 ngàn tỷ đồng và nộp ngân sách ước tính khoảng 850 tỷ đồng, tạo công ăn việc làm cho khoảng 3.000 lao động.

    Yếu tố Trung Quốc
    Một trong những người đầu tiên lên tiếng yêu cầu nhà nước Việt Nam dừng dự án bauxite Tây Nguyên là đại tướng Võ Nguyên Giáp. Yếu tố liên doanh khai thác với Trung Quốc là một trong những nguyên nhân phản đối giai đoạn đó.

    Tháng Tư năm 2009, tại Đại Hội Liên Hiệp Khoa Học Kỹ Thuật Đà Nẵng, giáo sư tiến sĩ Nguyễn Thế Hùng, Đại Học Bách Khoa Đà Nẵng, cũng là phó chủ tịch Hội Cơ Học Việt Nam, phát biểu thẳng rằng nếu cho Trung Quốc khai thác bauxite ở Tây Nguyên thì chẳng những môi trường bị phá hủy mà Việt Nam sẽ mất cả chì lẫn chài.

    Tiến sĩ Luật Cù Huy Hà Vũ, khi đó còn ở Việt Nam, là người đã đệ đơn kiện Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng với cáo buộc cho phép Trung Quốc được phép khai thác bauxite tại Tây Nguyên. Ông cũng là người giúp trang Bauxite Tây nguyên của các nhân sĩ trí thức phản đối dự án. Ông nhớ lại:

    Ngày 12 tháng Tư năm 2009 thì blog Bauxite Việt Nam ra đời. Nhưng chỉ mấy ngày sau thì blog Bauxite Việt Nam đã chật cứng, vì dung lượng quá nhỏ không thể đăng hết những phản hồi của người ủng hộ trong và ngoài nước, thành ra đến ngày 27 tháng Tư các vị khởi xướng blog Bauxite Việt Nam phải quyết định lập một website Bauxite Việt Nam để có thể đăng đầy đủ ý kiến phản biện và những thông tin cập nhật. Văn phòng luật sư Nguyễn Thị Dương Hà và bản thân tôi làm cố vấn pháp luật cho Trang Bauxite Việt Nam.

    Dai dẳng tác hại về môi trường
    Mười năm đã qua tính từ đó, câu hỏi được gì và mất gì từ bauxite Tây Nguyên vẫn chưa được trả lời thỏa đáng.

    Vào tháng Chín năm 2011, báo chí trong nước đã trích dẫn báo cáo kết quả của Đoàn Thanh Tra thuộc Sở Tài Nguyên Môi Trường Lâm Đồng độ PH từ nguồn nước thoát ra môi trường gần mức 11 tức là mức vượt qui chuẩn Việt Nam từ 6 đến 9 độ. Ngoài ra, báo cáo cũng cho biết nhiệt độ trong nước cao gấp 20% tiêu chuẩn cho phép.

    Hình minh họa. Dự án Bauxite ở Lâm Đồng hôm 13/4/2009Hình minh họa. Dự án Bauxite ở Lâm Đồng hôm 13/4/2009 AFP
    Nguyên nhân được chỉ ra là do hóa chất, nghĩa là đã có sự rò rỉ hóa chất trong quá trình hoàn thiện và tập kết vật tư, cộng với khi pha trộn chất hóa học xút (soude) trong chuẩn bị đưa dự án khai thác bauxite đi vào hoạt động.

    Mức độ độc hại từ việc rò rỉ hóa chất xút ở nhà máy bauxite Tân Rai được giáo sư Lê Huy Bá, Viện trưởng Viện Khoa Học-Công Nghệ và Quản ý Môi Trường, Đại Học Công Nghệ Sài Gòn, giải thích:

    Xút gây bào mòn da con người và động vật, hầu hết sinh vật không thể sống được trong điều kiện xút cao như thế. Khi xút vào trong nước và vào trong cơ thể sẽ hủy hoại hết, thí dụ vào đường ruột sẽ phá vở các tế bào ruột non, hít thở vào thì làm viêm mũi… Nói chung xút là một chất cực độc, xép vào loại ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống.

    Sau đó, chủ đầu tư dự án nhà máy Alumin Tân Rai ,Tập Đoàn Than-Khoáng Sản Việt Nam, lên tiếng thừa nhận tình trạng hóa chất xút bị rò rỉ ra môi trường như kết luận của thanh tra Sở Tài Nguyên-Môi Trường tỉnh Lâm Đồng.

    Đến tháng Bảy năm 2016, đường ống từ nhà máy Alumin Nhân Cơ tại Dak Nông, do nhà thầu Chalieco-Trung Quốc phụ trách, bị vỡ khiến gần 9,6 mét khối hóa chất kiềm tràn ra ngoài.

    Nhà máy Alumin Tân Rai.Nhà máy Alumin Tân Rai. Courtesy of www.boxitvn.net
    Truyền thông trong nước loan tin một số chất kiềm thấm xuống lòng đất trong phạm vi 600 mét vuông, phần còn lại chảy theo đường ống đổ xuống suối Dak Dao. Các cư dân tại xã Dak Dao khi đó cho báo Giao Thông biết khi nước đường ống bị vỡ chảy tràn xuống suối thì dòng nước trở màu đen sẫm, mặt nước nổi váng loang lổ, cá chết nổi lên. Vẫn lời người dân này, tiếp xúc với ước chừng 10 phút thì tay chân ngứa ngày, da khô căng và rộp lên như bị bỏng.

    Vụ vỡ đường ống nhà máy Alumin Nhân Cơ xảy ra trong giai đoạn nhà thầu Chalieco-Trung Quốc đang tiến hành các bước để chạy thử liên động toàn nhà máy.

    Giáo sư tiến sĩ Nguyễn Thế Hùng, một trong những người chủ xướng Trang Bauxite Viêt Nam nhằm gióng tiếng báo động về hệ lụy nguy hại từ những chất hóa học trong quá trình khai thác bauxite, nói rằng không thể coi vụ vỡ đường ống nước ở nhà máy Alumin Nhân Cơ là lần duy nhất, lần đầu hay lần cuối mà trong tương lai qua khai thác bùn tích lũy càng ngày càng nhiều:

    Tai họa do các đường ống không chịu đủ lực đã vỡ ra, hoặc hồ chứa bùn bị đống đất, hay do nhân tai như chiến tranh, khủng bố. Trước đây tôi đã có nói đó là quả bom lơ lững trên đầu chúng ta.

    Ngay sau đó Sở Tài Nguyên-Môi Trường tỉnh Dak Nông cho biết phía Công Ty Nhôm Dak Nông đã thu hom lượng hóa chất bị thoát ra bên ngoài, phần đất bị kiềm tràn vào được xúc đổ vào hồ chứa bùn đỏ, thêm vào đó là sử dụng hóa chất pha loãng để trung hòa lượng kiềm.

    Tháng Hai năm 2018, trong báo cáo tổng kết, đánh giá hiệu quả đầu tư thí điểm 2 dự án bauxite Tây Nguyên, Bộ Tài Nguyên-Môi Trường Việt Nam cho hay hai nhà máy Tân Rai và Nhân Cơ bị chậm tiến độ và vẫn tiềm ẩn nguy cơ về ô nhiễm cũng như sự cố môi trường.

    Hiệu quả đầu tư
    Theo kế hoạch, nhà máy Alumin Tân Rai sẽ có doanh thu 3 năm đầu bị lỗ và thời gian hoàn vốn là 12 năm, nhà máy Alumin Nhân Cơ thì bị lỗ trong 5 năm đầu và mất 13 năm để hoàn vốn.

    Tại buổi trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội hồi tháng Mười 2018, Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh nói rằng sản phẩm của hai nhà máy Tân Rai và Nhân Cơ, sản xuất được từ 2016 và 2017, được bao nhiêu là bán bấy nhiêu chứ không đủ cho nhu cầu thị trường và theo kế hoạch cho năm 2018.

    Nhưng đến đầu tháng Tư 2019, Bộ Công Thương Việt Nam loan tin nhà máy Alumin Tân Rai ở Lâm Đồng và nhà máy Alumin Nhân Cơ ở Dak Nông đã bắt đầu mang lại hiệu quả kinh tế nên Bộ sẽ đề nghị Chính Phủ và Quốc Hội tăng công suất cho hai nhà máy này, đồng thời mở rộng đầu tư khai thác bauxite là ngành công nghiệp nhôm ở Tây Nguyên.

    Cụ thể, Tập Đoàn Than-Khoáng Sản Việt Nam, đơn vị phụ trách hai nhà máy Tân Rai và Nhân Cơ, báo cáo với Bộ Công Thương rằng nhà máy Tân Rai có lãi từ năm 2017 sau 3 năm lỗ theo kế hoạch và riêng 2018 thì đạt lợi nhuận 1.700 tỷ đồng. Về phần nhà máy Nhân Cơ thì năm 2018 sản xuất gần 103% kế hoạch năm, tương đương 655 ngàn tấn Alumin, doanh thu trên 6.400 tỷ đồng.

    Tuy nhiên từ Na Uy, tiến sĩ Nguyễn Huy Vũ phân tích với RFA rằng số liệu lãi mà Tập Đoàn Than-Khoáng Sản Việt Nam đưa ra không chính xác. Qua ứng dụng messenger, Tiến sĩ Nguyễn Huy Vũ ghi rõ:

    “Thông tin chỉ nói về con số mức lãi của nhà máy Tân Rai mà không nói về mức lãi của nhà máy Nhân Cơ. Nhà máy Tân Rai với tổng mức đầu tư trên 15.000 tỷ, sau 3 năm lỗ cho ra mức lời 1.700 tỷ năm đầu tiên. Theo như tường thuật của báo giới, thì thực ra không có lời nếu tính thêm các chi phí khác. Thứ nhất, mức lời 1.700 tỷ đồng cho trên 15.000 tỷ đồng chỉ tương đương mức lợi nhuận 11% mỗi năm. Số tiền này xấp xỉ mức lãi suất trả tiền vay hàng năm. Thứ hai, mức lợi nhuận này còn phải tính đến giá trị của các quặng nhôm, chi phí phát sinh xử lý môi trường, chi phí hạ tầng, chi phí đền bù cho người dân… Và nếu tính đủ thêm các chi phí này vào dự án thì thực ra là lỗ chứ không có lời.”

    Nếu như…
    Đó là tình hình bauxite Tây Nguyên sau một thập niên hoạt động khai thác. Từ 10 năm trước, tiến sĩ Nguyễn Thành Sơn, một trong những trí thức đã góp ý rất nhiều về bauxite Tây Nguyên, từng nhận định với RFA rằng:

    Nếu cứ tiếp tục cho phát triển các dự án bauxite như cách làm hiện nay thì cái giá phải trả về lâu về dài là không phát triển được cây công nghiệp trên vùng Tây Nguyên do thiếu nước ngọt, thổ nhưỡng đất bazan thay đổi và có nguy cơ làm mất nguồn nước ngọt dùng để phát triển kinh tế cho các tỉnh vùng hạ lưu như Đồng Nai, Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh.

    Trung Quốc không khai thác trên nước họ mà họ sang mình họ làm, mình thì chúi đầu chúi cổ làm mà rõ ràng kinh tế không đạt, môi trường lại càng nguy hiểm, đường giao thông cũng bị phá nát. – Giáo sư Lê Huy Bá
    Và đúng 10 năm sau, ngay lúc này, giáo sư tiến sĩ Lê Huy Bá, nay đã về hưu, nói ông vẫn canh cánh nỗi lo về dự án bauxite Tây Nguyên:

    Nói một cách ngắn gọn là chưa thấy lợi ích gì cả mà chỉ thấy những hiện tượng rò rỉ trong sản xuất rồi thì ô nhiễm về hơi, về khí, về bùn đỏ, về nguồn nước. Còn kinh tế thì phải hạch toán rõ ràng để mọi người biết chứ phải không? Trong lúc nước Úc bỏ ra bạc triệu đô để đầu tư sản xuất bauxite nhưng rồi người ta cũng phải bỏ, Trung Quốc không khai thác trên nước họ mà họ sang mình họ làm, mình thì chúi đầu chúi cổ làm mà rõ ràng kinh tế không đạt, môi trường lại càng nguy hiểm, đường giao thông cũng bị phá nát.

    Cái mà tôi vẫn lo lắng nhất là trên độ cao 750 đến 800 mét như vậy mà có những hồ chứa bùn đỏ lớn như thế ai dám đảm bảo rằng không có động đất hay vở đập? Khi đập vỡ thì lũ quét mà lũ quét bằng bùn đỏ thì tai hai vô cùng.

    Ông Nguyễn Trung, nguyên cố vấn cho cố thủ tướng Võ Văn Kiệt trước đây vẫn giữ nguyên ý kiến của mình rằng không nên có các dự án Bauxite tại Tây Nguyên. Ông nói với đầy tiếc nuối:

    Tất cả những gì đầu tư vào bauxite Tây Nguyên hoàn toàn đủ để tạo nên một Tây Nguyên có nền kinh tế xanh. Nếu được như vậy thì chắc Tây Nguyên bây giờ đã khác hẳn rồi.

    Nguồn: https://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/10-years-bauxite-mining-what-gain-what-lost-06042019110334.html

  • Tin tức

    Tiễn đưa VÕ NHƠN TRÍ

    Tiễn đưa VÕ NHƠN TRÍ

    Cách đây vài tuần, anh hẹn tới nhà ăn trưa cùng với một số bạn bè. Giờ chót, anh không tới được, vì đi nhà thương về, ‘’ mệt quá, lết không nổi ‘’.
    Khi anh nói lết không nổi, nghĩa là …lết không nổi, bởi vì tính anh thực thà, không biết bịa đặt, dù để cáo lỗi. Nghĩ chắc tại đôi chân, vì từ mấy năm nay, anh đau chân, đi vài bước phải kiếm chỗ ngồi thở. Không ngờ anh đang chuẩn bị đi xa.
    Tiến sĩ Võ Nhân Trí vừa từ trần ở Paris, hưởng thọ 92 tuổi

    THƯ VIỆN
    Những ngày gần đây, không thấy anh ở thư viện. Thường gặp anh ở một thư viện nhỏ, quận 10, Paris. Sách không nhiều, cuốn nào đáng đọc đã đọc hết, nhưng báo chí có đủ loại, từ nhật báo, tuần báo tới các đặc san.
    Nhiều khi mở một tờ báo, thấy có dấu bút chì gạch dưới vài đoạn. Biết là ông Võ Nhơn Trí đã tới trước. ‘’ Tôi đánh dấu để anh đọc những bài đáng chú ý ‘’.
    Thư viện vừa mất một độc giả trung thành, lúc nào cũng tò mò, muốn tìm hiểu. Gặp, anh hỏi đủ thứ chuyện, phải tường trình đủ chuyện. Anh có thói quen ít người Việt có, nhất là người Việt đôi chút khoa bảng : nghe ý kiến của người khác. Kể cả những người đi sau một thế hệ.
    Là công tử Nam kỳ, có dân Tây, đi Pháp sớm, học Luật ở Pháp, kinh tế ở Anh, nhưng Võ Nhơn Trí chỉ muốn về giúp nước.
    Theo anh Nguyễn Văn Trần, anh Trí có cảm tình với kháng chiến vì nhà ở gần khám lớn Sài Gòn, hồi nhỏ nghe và thấy những chuyện Tây thực dân tra tấn tàn nhẫn những người yêu nước.


    Anh gia nhận đảng CS Pháp từ 1952 và đảng CS VN từ 1961.
    Năm 60, thay vì ngồi ở Paris ủng hộ cách mạng, như nhiều trí thức thiên tả khác, anh về Hà Nội, tưởng sẽ có cơ hội giúp nước. Khám phá ra chuyện coi trí thức là cục phân là một thực tế. Hơn thế nữa, trí thức là một đe dọa cho chế độ, nhất là trí thức trưởng giả, từ Pháp về, tư duy rất khả nghi, dù thật lòng yêu nước. Bởi vì lòng yêu nước không phải là một yếu tố quyết định. Yếu tố quyết định là sự trung thành với Đảng.

    NGỒI CHƠI XƠI NƯỚC
    Trong suốt thời gian ở VN, anh chỉ ngồi chơi xơi nước, trừ khi chính quyền cần gởi một người có bằng cấp, thông thạo ngoại ngữ đi tuyên truyền ở Bắc Phi. Chế độ không cần chuyên, chỉ cần hồng. Nhất là hồng dễ bảo, không suy nghĩ rắc rối.


    Chị Trí, dược sĩ, đang làm cho viện Pasteur Pháp, cũng bỏ việc theo chồng về ‘’ giúp nước ‘’, được đưa vào một phòng thí nghiệm không thí nghiệm gì, dưới quyền bà trưởng phòng có trình độ chuyên môn tương đương với nhân viên rửa chai lọ.


    Ngồi chơi xơi nước là thời gian chưa bị nghi kỵ, vì những lời chỉ trích Đảng và nhà nước của anh được báo cáo đầy đủ. Tiến sĩ Võ Nhơn Trí khám phá ra cách mạng còn dã man với đồng bào hơn cả thực dân trong khám lớn Sài gòn. Khám phá ra người CS không có đất nước, chỉ có Đảng.


    Vài năm sau khi Cộng Sản chiếm miền Nam, anh mới được phép từ Hà Nội trở về miền Nam. Một phó thủ tướng nói với anh: nếu cho những người như anh vào Sài gòn ngay khi giải phóng, nghe anh nói xấu XHCN, chắc thiên hạ sẽ bỏ chạy hết


    Sang Pháp tỵ nạn năm từ 1984, anh viết sách, đa số bằng Pháp hay Anh Ngữ ( thí dụ : Vietnam economic since 1975, nxp Pasir Panjang. Singapour ) vạch trần những tệ hại của chế độ.
    Cuốn ‘’ Việt Nam cần đổi mới thực sự ‘’ ( 2004 ) phân tích những lý do đưa VN tới tụt hậu, trong khi các nước trong vùng không ngừng phát triển.


    Theo tác giả, muốn ra khỏi cái nhục của một nước chậm tiến, VN phải thay đổi cả về chính trị lẫn chính sách kinh tế, đầy những vụng về, lầm lỗi. Nhưng tác giả bi quan : VN chỉ có thay đổi nếu có một lực lượng đối lập mạnh, và đối lập ở VN đã bị tiêu diệt từ trứng nước.

    BỔN PHẬN
    Khác với những nhà trí thức thiên Cộng, biết mình lầm đường, nhưng ngậm miệng, anh Trí nghĩ nêu rõ cái sai lầm của chính mình là một bổn phận đối với những thế hệ sau, là một món nợ phải trả.


    Những người tiếp xúc với anh Trí thấy anh chống Cộng, gay gắt, kiên trì hơn cả những người đã mục xương trong nhà tù CS. ( Anh chỉ bị nhốt 1 tháng vì bị nghi tính chuyện vượt biên ) Gần như một ám ảnh ngày đêm. Ngay cả khi ăn nhậu, sớm muốn gì cũng đi tới đề tài : làm cách nào chấm dứt được chế độ CS ở VN.
    Anh Nguyễn Văn Trần giải thích : đó là phản ứng của một người giầu tình cảm. Theo Cộng Sản vì yêu nước, bị phản bội, còn đau hơn là những người đã biết thực chất CS từ những ngày đầu.


    Cuộc đời của anh Trí là một thảm kịch. Như cuộc đời của rất nhiều người VN.


    ( tuthuc-paris-blog.com )

  • Tác giả

    TA VỀ MỘT BÓNG TRÊN ĐƯỜNG LỚN

    TA VỀ MỘT BÓNG TRÊN ĐƯỜNG LỚN…

    Theo Internet

    Thảo Dân

    Giáo viên miền Bắc, sinh năm 1974.
    * * *

    Xưa giờ, tôi vẫn tự nhận mình mê thơ Nam hơn thơ Bắc. Bởi lẽ, với riêng tôi, thơ là tiếng nói thốt lên tự đáy lòng, không cần phiên dịch, không cần triết lý, không cần gò bó trong những trúc trắc diễm lệ câu từ. Thơ càng chau chuốt, bóng bẩy thì, hình như, cái tình càng ơ hờ, nhạt nhẽo. Thơ cũng không phải nơi để gửi gắm triết lý. Làm việc đó, văn xuôi và triết học tốt hơn nhiều. Thơ để cảm, để yêu, để nơi trái tim gặp gỡ trái tim. Vậy mà có một ngoại lệ, nhà thơ tôi yêu thích trong âm thầm, khá lâu bền, lại là người được giới phê bình nhận xét “Người Nam nhưng mang hồn thơ Bắc”: Nhà thơ Tô Thùy Yên.

    Thật ra, trong cảm nhận của tôi, thơ Tô Thùy Yên có cả Nam, Trung và Bắc, có đủ triết, sử, đời. Nếu chọn đại diện duy nhất thơ cho một nước Việt Nam thống nhất, tôi trân trọng đề cử Tô Thùy Yên. Trong cái hệ lụy chung của Hiệp định Geneve chia đôi đất nước, thì nó cũng để lại một trái đẹp lạ lùng, đó là sự pha trộn, làm phong phú thêm ngôn ngữ, văn hóa miền Nam, và dường như, Tô Thùy Yên là thi nhân đặc biệt bắt được nhịp thở thời ông sống và nhập cả vào thơ điệu tâm hồn Bắc Trung Nam, làm nên một vóc dáng thơ vạm vỡ, uy nghi, lạ lẫm trong dòng chảy văn chương dân tộc với ngôn ngữ vừa dân dã vừa bác học, vừa bình dị vừa sang trọng, không lẫn vào ai khác. Nếu nói thơ Chế Lan Viên độc đáo ở siêu hình, thì thơ Tô Thùy Yên siêu hình không kém. Nếu nói sự tráng lệ của câu chữ trong thơ Yến Lan, sự cổ điển của Quách Tấn, tìm trong thơ Tô Thùy Yên, đủ cả. Cảm hứng về thiện nhiên, vũ trụ trong thơ Huy Cận, Tô Thùy Yên không thua, chưa muốn nói còn rợn ngợp hơn. Về lối viết cách tân của Trần Dần hay sự tài hoa của Quang Dũng, Tô Thùy Yên có nhiều câu không hề kém cạnh. Thơ Tô Thùy Yên mang phong vị thơ Bắc ở cách diễn đạt văn chương, ở lớp lang từ ngữ ước lệ, tượng trưng của Đường luật, ở cách dùng ca dao độc đáo, duyên dáng. Tôi gọi Tô Thùy Yên là Nhà thơ không quê hương. Ông sinh ra ở Gia Định nhưng quê hương ông là Việt Nam. Thơ ông nói với ta như thế.

    Thơ Tô Thùy Yên thể hiện một sự trái ngược khá lạ lùng. Ông là một trong 5 thành viên của nhóm Sáng Tạo (mà duy nhất ông là người Nam), một nhóm thơ mong muốn thổi vào thi ca Saigon khi đó một sự cách tân cả về nội dung lẫn hình thức, nhưng trong những sáng tác của ông, ta thấy ông lại dùng tấm áo gấm cổ điển để gói bọc nội dung siêu hình, giàu tính triết học, vô cùng hiện đại. Bài thơ Cánh đồng con ngựa chuyến tàu viết năm 1956 khá tân kỳ. Đặt vào hoàn cảnh quốc gia Việt Nam Cộng Hòa khi đó, nó mang tính thời sự rất cao nhưng vẫn không bớt chất lãng mạn, bay bổng. Bài thơ mở ra bức tranh động với hình ảnh cánh đồng một màu xanh cây cỏ nhưng không bằng phẳng êm xuôi mà có “gò nổng cao” và “thung lũng sâu”, như ẩn dụ về đường đời đầy thử thách. Trên nền màu xanh của cỏ cây, chú ngựa nâu đang rượt tàu, rượt tàu, rượt tàu, còn đoàn tàu vẫn vô tri vô giác chạy mau, chạy mau, chạy mau để rồi rốt cuộc ngựa thua. Gục đầu, gục đầu, gục đầu ngã lăn và để lại trên tấm thảm xanh trải dài hút mắt một vết nâu. Dường như, trong hai hình ảnh sóng đôi con ngựa và toa tàu không chỉ là cuộc phân tranh giữa “thảo mộc phương Đông và Tây phương cơ giới” như nhà phê bình Đặng Tiến nhận xét, mà dường như, ý thơ còn muốn mở ra điều sâu kín hơn: Con tàu văn minh rất hiện đại nhưng không có hồn vía, không có sự sống, không có cảm xúc và vẫn chịu sự điều khiển của con người. Con ngựa (phải chăng là ẩn dụ về con người?), tuy phải trải qua những cung đường gập ghềnh, thử thách, nhưng luôn được sống trong những giây phút thăng hoa, có thể thắng thua trên đường đời nhưng luôn được làm chủ cảm xúc, luôn được là mình. Bài thơ là khúc hoan ca về cái tôi kiêu hãnh. Hoặc nữa, nó còn là một lời dự báo, một âu lo ngấm ngầm trong tiềm thức: Một ngày nào đó, nền văn minh công nghiệp sẽ tàn phá tất cả, bỏ lại loài người bị tước bỏ môi trường sống, không còn được thung dung như chú ngựa nâu an nhiên thuộc về cội nguồn thiên nhiên cây cỏ đồng hoang?

    Nhưng, trong phạm vi một bài viết ngắn, không thể ôm đồm. Chỉ xin mạo muội chia sẻ một số suy cảm sơ sài về bản trường thi lộng lẫy trong kho tàng văn chương Việt Nam, được nhiều người ca tụng: TA VỀ.

    TA VỀ- bản trường thi nhiều lớp lang, cảnh trí: cảnh trí đất trời, cảnh trí con người và cảnh trí của cõi lòng thê thiết. Mỗi khổ thơ tách riêng có thể thành một bài thất ngôn tứ tuyệt độc lập, chặt chẽ, hoàn hảo. Điệp ngữ “Ta về” được dùng như chiếc chìa khóa mở ra nội tâm nhà thơ từ lúc đặt chân xuống đường lớn, trả lại thân phận tự do. Bài thơ là tiếng lòng của một người, cũng là tiếng lòng của hàng ngàn người miền Nam bị đày ải khắp các nhà tù từ Nam chí Bắc, từ rừng hoang heo hút, hiểm trở đến những nơi đồng chua nước mặn… Đọc bài thơ, ta hiểu về lịch sử, tâm sử, chứ không chỉ là lời giãi bày khi trở lại quê nhà, thậm chí nhóm câu thơ tình ái trong bài cũng gợi về dòng lệ tràn của bao nhiêu thân phận thiếu phụ chờ chồng từ những trại cải tạo sau 1975. Không riêng bài thơ này, mà trong toàn bộ sáng tác của Tô Thùy Yên, dường như ông luôn là người chép sử, luận triết bằng thơ. Ta gặp ở đây lối kết cấu nghệ thuật như trong thơ cổ. Trang đời mới mở ra sau cánh cổng nhà tù: Trở về, qua truông qua phá, gặp người quen cũ trên đường, gặp cha mẹ, gặp vợ con, đi thăm làng xóm, nhớ người còn người mất, tìm lại chính mình những ngày tháng cũ, đan xen là những suy tưởng để tìm lại mình và phá bỏ những xiềng xích tâm hồn 10 năm dằng dặc.

    “Mười năm”, không phải quãng thời gian dài nhất mà một người tù VNCH phải trải qua. Lâu nhất phải kể đên Thiếu tướng Lê Minh Đảo, Thiếu tướng Đỗ Kế Giai, Thiếu tướng Trần Quang Khôi, Thiếu tướng Phạm Ngọc Sang, Thiếu tướng Phạm Duy Tất, Thiếu tướng Lê Văn Thân, Thiếu tướng Mạch Văn Trường…đều bị tù từ tháng 5/1975- 1992, tức là 17 năm tù. Những người bị tù ít nhất cũng vài ba năm. Bản thân Tô Thùy Yên có tổng cộng 13 năm trong tù. Nhưng lần đầu, cũng là lần lâu nhất: 10 năm. Như vậy, nên hiểu “mười năm” vừa chỉ thời gian có thật, vừa là khái niệm ẩn dụ, tròn một thập kỷ, đủ để thương hải tang điền, đủ cho người thay đổi và đời thay đổi.

    Ta về một bóng trên đường lớn
    Thơ chẳng ai đề vạt áo phai 
    Sao bỗng nghe đau mềm phế phủ 
    Mười năm đá vẫn ngậm ngùi thay.

    “Ta về” được nhắc đi nhắc lại 16 lần, không phải tiếng reo vui, không phải lời báo tin mừng mà cả bài thơ nặng trĩu trầm ngâm suy tưởng. Ta về là kết thúc một phần đời đau khổ. Ta về để mở ra chương đời khác chưa biết có đỡ bi thảm hơn không. Ta về với những giấc mơ mười năm xóa trắng. Ta về mà như tiếng địch ngân xót xa sầu thảm của tráng sĩ thất trận qua sông.

    Tôi hình dung ra một con người quần nâu, áo vải phai màu bởi nắng mưa xứ Bắc, thập thững đi cô độc trên đường. Đường vắng. Người gầy, bóng đổ. Cả bóng lẫn người đều câm lặng. Một cuộc trở về ngậm ngùi, không người thân đưa tiễn, không ai biết mà đón đợi. Ca dao có câu Mình về em chẳng cho về/ Em níu vạt áo em đề câu thơ. Phút chia tay, bút mực đâu mà đề thơ lên áo. Là dòng lệ của nàng vẽ lên áo một chữ Tình đó thôi. Đề thơ chỉ là cái cớ để bên nhau lâu thêm một chút. Cuộc tiễn đưa dùng dằng, lưu luyến. Nhưng với thân phận người tù cải tạo khi đó, còn sống mà trở về đã là việc thần kỳ, được rời bỏ địa ngục trần gian phút nào là biết mình được sống phút đó, còn có mong chi ai đề thơ vạt áo. Mười năm mong mỏi. Vậy mà sao khi trở về lại “đau mềm phế phủ” đau thấu tâm can, đến nỗi đá cũng còn thay người ngậm ngùi rơi lệ? Bởi nhớ lại những đọa đày khó giấy bút nào tả xiết? Là nhớ những đoạn trường mẹ già, vợ dại con thơ truân chuyên đường xa dặm thẳm tàu xe cả tuần lễ mới tới nơi thăm nom, để dành cho một chút thức ăn từ những chắt chiu tằn tiện? Hay đau đứt ruột bởi những huynh đệ chi binh chia ngọt xẻ bùi, bảo bọc nhau qua ngày tháng khó, giờ chỉ là những nấm mồ hoang cô quạnh nằm lại nơi đất khách?

    Trong bài “Tàu đêm” tái hiện cảnh đoàn tàu chở những người tù miền Nam đi đày biệt xứ, Tô Thùy Yên viết những dòng rền vang, chát chúa như lời trăng trối tuyệt vọng khi đoàn tàu như trong một cơn giông lửa, giữa đêm chạy về nơi vô định, về nơi cuối trời, và với nhiều thân phận, đó là chuyến đi về nơi cuối đời. Khi chạy qua những xóm làng tối đen im lìm của miền Bắc, những bến cảng, nhà kho, người tù nhớ mẹ, nhớ em, nhớ phố phường hoa lệ…, hình dung mình như một thứ sinh vật khổ đau bị nghiến dưới đường ray lịch sử vô tình, người tù tuyệt vọng thốt lên những tiếng kêu bi thảm để mong loài người mê sảng trong thứ chủ nghĩa giáo điều tăm tối đang im lìm kia, thức dậy để biết có những đồng bào, đồng loại đang còn có linh hồn, để cùng nhau sống.

    Tàu ơi hãy kéo còi liên tục
    Cho tiếng rền vang dậy địa cầu
    Lay động những tầng mê sảng tối
    Loài người hãy thức, thức cùng nhau

    Ngược lại, khi trở về, chỉ là những thanh âm im lặng. Một mình một bóng. Và khi trở về, người tù hồi tưởng lại đoạn đời lao tù

    Vĩnh biệt ta- mười- năm chết dấp
    Chốn rừng thiêng im tiếng nghìn thu
    Mười năm mặt sạm soi khe nước
    Ta hóa thân thành vượn cổ sơ.

    Khổ thơ này là lời đoạn tuyệt 10 năm xa loài người, 10 năm sống trong âm ty địa ngục nhưng, ta vẫn bắt gặp tâm trạng kiêu hãnh kín đáo của kẻ chiến bại. Tựa vào rừng mà tồn tại. Câm lặng như rừng để giữ gìn chất Người dù cho bị đày đọa đến suy thoái cả hình hài, hoang dã như thời tiền sử. Thân bại nhưng vẫn âm thầm sống, mãnh liệt sống để danh không liệt.

    Có lẽ, khổ thơ này chỉ nên đọc và cảm nhận, không cần bình luận gì nhiều về thân phận người tù. Để hiểu thêm, xin giới thiệu một vài khổ thơ trong bài “Mùa Hạn” nói về cảnh ngộ người tù, ông viết năm 1979 ở Nghệ An nhưng phải tới 15 năm sau nó mới được in trong “Thơ Tuyển”, năm 1995 ở Mỹ.

    Ở đây địa ngục chín tầng sâu
    Cả giống nòi im lặng gục đầu
    Cắn chết hàm răng, ứa máu mắt,
    Chung xiềng nhưng chẳng dám nhìn nhau.
    Bước tới, chân không đè đá sắc
    Vai trần chín rạn gánh oan khiên
    Nước khe, cơm độn, thân tàn rạc
    Sống chẳng khôn, cầu được thác thiêng.

    Tô Thùy Yên đã chép lại một thời kỳ tăm tối mà ông và chiến hữu đã trải qua, thời kỳ kinh khủng, giữa thời đại văn minh mà con người bị đày đọa như súc vật đến nỗi, chung xiềng mà không dám nhìn mặt, nghiến đến chết cứng hàm răng, mắt ứa máu, vì thương bạn, thương mình, vì thân phận bị cầm tù đau xót, vì mang nỗi hận của hùm thiêng khi đã sa cơ, chỉ tồn tại với nước khe, cơm độn, nắng cháy, cát bay, rừng khô rụm, sông hồ nẻ, đá nứt, muông thú không còn, khoai sắn cũng bị dân làng đào sạch, thú hóa con người đến mức cầu được chết đi vì sống nhục nhằn hơn đau khổ hơn là chết. Để tồn tại và vượt thoát, có người tù còn nói câu để đời: “Con gì nhúc nhích được là ăn hết”. Đó vừa là bản năng sống, vừa là bản lĩnh người. A.I.Solzhenitsyn có tác phẩm Tầng đầu địa ngục đoạt giải Nobel Văn chương năm 1970, tái hiện cuộc sống của những nhà khoa học hàng đầu của Liên xô bị giam cầm như trong địa ngục dưới thời Stalin, khiến cả thế giới bàng hoàng về sự độc ác mà con người phải trải qua. Nhưng đó vẫn là Tầng đầu, tầng cao nhất mà Dante có thể nghĩ ra trong Thần khúc để dành chỗ cho khoa học gia, những người dám chống lại cả Chúa, còn những người tù trong thơ Tô Thùy Yên, thì đó là Tầng thứ 9. Đủ cho người đọc lạnh người.

    Hành trình trở về qua truông qua phá, lặng lẽ, im lìm, trời câm đất nín, đời im lìm, đóng váng. Người tù trở về, là người tự do trong thân phận cá chậu chim lồng đâu còn có thể hót lên bài ca cũ. Nhưng may mắn, họ không bị chai sạn tâm hồn, vẫn có thể “ngẩn ngơ trông trời đất cũ” cho dù đó không phải sự “ngẩn ngơ” lãng mạn tìm thi hứng, mà đó là nỗi xót xa cho phận người, phận mình, xót xa cho nỗi hưng phế suy vong của lịch sử.

    Mười năm, thế giới già trông thấy
    Đất bạc màu đi, đất bạc màu.

    Thời gian mười năm được nhắc lại, nhẹ như hơi thở mà chất chứa bao điều. Thế giới già đi, quê hương tan nát sau bao mùa bom đạn, quê hương tàn tạ sau mỗi chuyển dời. Đất bạc màu bởi người chết, người bị tù đày, người đi lên vùng kinh tế mới? Chỉ biết quê hương không còn là quê cũ trù phú, xanh tươi, sum vầy. Điệp ngữ “đất bạc màu” nghe như tiếng thở dài nuối tiếc, xót xa, bất lực. Trước sau, tấm lòng kẻ sĩ vẫn là nỗi trăn trở khi đặt những bước chân đầu tiên trở lại sau mười năm xa vắng.

    Ta về như bóng chim qua trễ
    Cho vội vàng thêm gió chuyển mùa
    Ai đứng trông vời mây nước đó
    Ngàn năm râu tóc bạc phơ phơ.
    Một đời được mấy điều mong ước
    Núi lở sông bồi đã mấy ghi
    Lịch sử ngơi đi nhiều tiếng động
    Mười năm, cổ lục đã ai ghi.

    Có lẽ ám ảnh bởi không gian vũ trụ siêu hình, nên trong thơ Tô Thùy Yên hay nhắc về các loài chim, dường như nó trở thành một hệ thống thi pháp khi ông diễn tả về thời gian, không gian: Con chim thần thoại mắt khoen sâu/ Giật mình như đã ngàn năm ngủ/ Giữ bụi lông, cất khản tiếng gào (Em nhỏ, làm chi chim biển Bắc) Ở đâu còn bóng chim huyền diệu/ Hót gọi tiền thân ta tái sinh (Mùa hạn) Núi xa chim giục giã hoàng hôn (Tưởng tượng ta về nơi Bản Trạch) Con chim nào hớt hải kêu van (Bất tận nỗi đời hung hãn đó) Con chim động giấc gào cô đơn (Trường Sa hành) Biển Bắc tuyệt mù con nhạn lạc (Mòn gót chân sương nắng tháng năm) Con chim lạc bạn kêu vườn rộng (Vườn hạ), Giữ khuya có tiếng chim ai oán (Nỗi đợi) Thương nhớ nghe chừng sông biển cạn/ Nghe chừng gãy những cánh chim bay (Tháng Chạp buồn)… Hình ảnh “bóng chim qua trễ” như một ám ảnh cô độc, lẻ bầy, cũng là chỉ sự trễ muộn của đời người, đi với “gió chuyển mùa” càng gợi sự trống vắng. Tất cả đều đã hư hao, muộn màng, tất cả đã lỡ thời theo ngọn gió heo may của tuổi chớm đông. Để rồi còn lại, vẫn là nỗi trăn trở khi những vọng động của lịch sử sẽ ngưng ngơi, rơi vào thinh không im lặng, mười năm, bao nỗi bi thương của dịch chuyển thời thế, bao đau khổ của núi lở sông bồi, đau thương, ly tán. Đã ai ghi…vừa là câu hỏi, vừa là lời tự sự mà lại như một tiếng than thầm. Mười năm ấy, cổ lục chưa từng có sử gia biên chép. Biết bao nhiêu máu lệ, ghi mấy cho vừa. Phải vậy chăng, mà Tô Thùy Yên tình nguyện làm người chép sử bằng thơ?

    Ta về cúi mái đầu sương điểm
    Nghe nặng từ tâm lượng đất trời
    Cảm ơn hoa đã vì ta nở 
    Thế giới vui từ nỗi lẻ loi.

    Đây là một khổ thơ có thể cắt riêng thành một bài tứ tuyêt tài hoa, chứa đựng những triết lý nhân sinh sâu sắc. Người xưa dạy, rộng lớn nhất là đại dương, rộng hơn đại dương là bầu trời, rộng lớn hơn cả bầu trời chính là lòng người. Tô Thùy Yên đã giải phóng mình khỏi nỗi hận thù, thấm nhuần giáo lý từ bi hỉ xả của nhà Phật, để lòng mình sánh ngang với trời đất, lắng nghe và cảm tạ lượng đất trời. Vì mình từ tâm nên mới nhìn thấu đất trời từ tâm. Ai đã từng trải qua những cảnh ngộ mà nhà thơ từng trải, sẽ hiểu rằng, được sống, được trở về từ nơi đã từng đày đọa mình “thành vượn cổ sơ”, là may mắn đến nhường nào. Chính vì thế, cuộc đời dù cay đắng vẫn đáng yêu đáng sống, khi vượt qua địa ngục trần gian càng biết trân quý những vẻ đẹp quanh mình. Ngắm một đóa hoa nở cũng đủ coi như ân điển. Thấp thoáng từ những câu thơ tài hoa là nụ cười an nhiên của người đã qua kiếp nạn, thấm đẫm tinh thần của Lão, Trang, nhìn thấy Đạo ngay từ cánh hoa, ngọn cỏ. Tâm thiện mở ra tận cùng mới cảm nhận được sự từ tâm vô lượng của vũ trụ. Tô Thùy Yên đã chạm tới cái vô hạn của nhân chi sơ tính bổn thiện. Không phải tới khi trải qua khổ nạn, Tô Thùy Yên mới thấu lẽ vô vi. Trong thời kỳ chiến tranh, ông đã có những vần thơ xót xa cho người lính phía bên kia chiến tuyến vừa sốt rét vừa đói lả nhưng vẫn xích lời nguyền sinh Bắc tử Nam để rồi từ đó bật lên khát khao nhân bản, giá như cả hai đều gom góp sức lại thì mặt đất này khác đến bao nhiêu. Ngay thời điểm chiến tranh đang hồi ác liệt, mà có sự bao dung, vượt lên trên chiến tuyến đó, còn là gì nếu không phải tâm thế của người vượt thoát giỏi các giới hạn, mà cụ thể trong hoàn cảnh này, là vượt lên hận thù ý thức hệ để nhìn xa hơn cho tương lai dân tộc, bởi nhân thức được sự hữu hạn của kiếp người?

    Khổ thơ tiếp theo bừng thức như ánh sáng chói lòa trong một giấc mơ:

    Tưởng tượng nhà nhà đang mở cửa
    Làng ta ngựa đá đã qua sông
    Người đi như cá theo con nước
    Trống ngũ liên nôn nả gióng mừng.

    gặp tràn không khí cổ thi của một thời chinh chiến. Nhà nhà, người người lên đường theo tiếng trống trận, theo điệu kèn xuất binh hùng tráng. Nô nức ra đi nô nức lên đường. Đến cả con ngựa đá cũng không cầm lòng được, cũng biết sang sông. Những câu thơ linh hoạt hẳn lên, bừng sáng, giàu màu sắc, hình ảnh, âm thanh, gợi tôi nhớ tới lời sấm Ngựa đá sang sông của cụ Trạng Trình, sông đổi dòng để ngựa đá qua bờ bên kia, thời cuộc thay đổi. Phải chăng, đó chính là ước mộng của một chiến binh kiêu dũng, vừa thoát ngục tù từ bên kia chiến tuyến đã mơ tìm lại nước, ước mơ tìm được đấng minh quân để tạo dựng cơ đồ? Không hiểu sao, đọc khổ thơ này, trong trí óc tôi lại cứ hiện lên hình ảnh bao con người có vẻ ngoài lầm lũi, cam chịu, nhẫn nại đang ngày đêm âm thầm cho những cuộc vượt thoát. Bằng đường biển, đến con ngựa đá cũng sang sông, cũng muốn ra đi. Giấc mộng mãi mãi chẳng viên thành, chỉ còn lại thực tại ê chề cay đắng nên lời thơ như có máu lệ sa xuống đầu ngọn bút.

    Ta về như lá rơi về cội…đoàn tụ , xum vầy, nhân quần tề tựu quanh bếp lửa. Bởi mười năm mới được trở lại nhà. Giang hồ có kẻ “một tiếng cơm sôi cũng nhớ nhà”, huống chi người mười năm mới được ngồi bên bếp lửa đang độ cuối thu. Chén rượu hồng đây rưới xuống. Cho bạn. Cho thù. Cho những ai còn sống và đã khuất. Cho chiến hữu còn âm u đất lạ quê người trong cảnh lao tù, cho cả những người đã tự chọn cho mình một con đường, bỏ nước ra đi. Tha thứ và làm lại từ đầu cho được thành người, không để kẻ nào vùi dập. Ngôn từ ngậm ngùi, hình ảnh đẹp bi tráng, không khí cổ thi vẫn đậm đặc.

    Ta về như hạt sương trên cỏ…hạt sương đẹp, khúc xạ cả mặt trời, trong sáng, tinh khôi nhưng lại ngắn ngủi, phù du đến vô thường, nên người ta hay ví sự ngắn ngủi của kiếp người, của cuộc đời như là sương trắng.. Hạt sương trên cỏ chính là bước đi của thời gian, ngắn ngủi hữu hạn đặt cạnh vô cùng vô tận để rồi chợt nhận ra satna bên cạnh vĩnh hằng. Tuy mong manh nhưng lại chứa sức sống mãnh liệt của không gian, thời gian, đa diện, đa sắc, phải vì thế chăng mà ở câu thơ sau tác giả nhắc tới sinh, dị, diệt trong Đạo Phật để tìm cho thấy cái tâm thế an nhiên tự tại. Đời người như gió như sương. Đời người như chớp mắt. Đặt cạnh số phận dân tộc, nó càng mong manh, vô thường. Ai rồi cũng hư vô. Vậy mà hạt sương bé bỏng vẫn phải tội tình. Hãy liên hệ với thực tại khi đó của thân phận những người tù vừa ở trại cải tạo về để cảm nhận tâm thế chấp nhận hoàn cảnh và lời than thầm của nhân vật trữ tình.

    Ta về như sợi tơ trời trắng
    Chấp chới trôi buồn với nắng hanh…
    Ta về như tứ thơ xiêu tán
    Trong cõi hoang đường trắng lãng quên…

    Một loạt hình ảnh tỉ dụ với những hình ảnh chỉ sự hữu hạn, mong manh, hư vô, đẹp đến mơ hồ.

    Ta về khai giải bùa thiêng yểm
    Thức dậy đi nào gỗ đá ơi
    Hãy kể lại mười năm chuyện cũ
    Một lần kể lại để rồi thôi.

    Có bùa thiêng nào kể lại được nỗi nhà mười năm xa vắng? Gỗ đá không thức dậy. nhưng cảnh đấy người đây luống đoạn trường. Từng mái, vách, tường xiêu, nhện giăng, khói ám, mối xông, giậu nghiêng cổng đổ, thềm cỏ um tùm, khách cũ không còn ai, người mất, người tù, người biệt tích…há chẳng phải cảnh vật đang kể lại một câu chuyện vô ngôn của cảnh nhà đơn chiếc, cha mẹ già như đĩa dầu hao, vợ lặn lội chạy ăn từng bữa nuôi con chờ chồng, những đứa con lớn lên không có bóng dáng cha đó sao? Đoạn thơ nói về cảnh vật mà người đọc hình dung ra bao biến cải bể dâu, nhớ tới câu thơ của Nguyễn Gia Thiều: “Phong trần đến cả sơn khê/ Tang thương đến cả hoa kia cỏ này”. Chỉ cần nhắc một lần để rồi phải sống. Hãy nhớ, bên cạnh yếu tố triết học, những ám ảnh không gian, thời gian, cảm thức sâu sắc về lẽ biến dịch, về sự tuần hoàn, thơ Tô Thùy Yên chính là thi sử, là những trang đời âm thầm máu lệ của ông và những đồng hữu thời hậu chiến, và vượt lên tất cả là khí phách là thái độ sống của một người quân tử, không trói buộc lòng mình vào hận thù, khắc hận thù vào trong dạ nhưng không để nó làm vẩn đục đời sống tinh thần.

    Những câu thơ dành cho người vợ tào khang khiến người đọc không khỏi xúc động.

    Ta về như tiếng kêu đồng vọng
    Rau mác lên bờ đã trổ bông
    Cho dẫu ngàn năm em vẫn đứng 
    Chờ anh như biển vẫn chờ sông.

    Ca dao Nam Bộ có câu: Chờ anh em quá sức chờ/ Chờ cho rau mác lên bờ trổ bông. Rau mác cùng họ với lục bình, nhưng lá nhọn như hình lưỡi mác. Hoa cũng tim tím như lục bình nhưng bông nhỏ và ít hoa hơn. Nếu lúc bình nổi lênh đênh trên mặt sông, kênh rạch, thời gian sinh trưởng ngắn thì rau mác có thể sống nhiều năm, mọc cố định ở đồng bưng, về mùa nước nổi, rau mác theo nước vươn lên, cọng trắng phau, mập tròn, có thể bứt làm thức ăn. Rau mác luôn mọc chòi lên bờ, như ước muốn thoát khỏi thân phận cây dại. Rau mác trổ bông quanh năm, vậy mà cô gái đã trách chàng trai để mình “quá sức chờ” lối nói thậm xưng chỉ sự ngóng trông đằng đẵng. Vậy mà 10 năm đợi chờ, bao nhiêu mùa rau mác trổ bông? Đủ thấy tấm lòng người vợ trung trinh với tiếng lòng đồng vọng. Em vẫn chung thủy đợi chờ, như lẽ tất nhiên, như điều bình dị, như lòng biển mênh mông nhẫn nại. Có người cho rằng, đây là so sánh thiếu tế nhị, thiếu mềm mại và không thích đáng. Kể ra không phải không có lý. Biển vĩ đại, sóng ngầm, bão tố, phong ba…đặt người đàn bà trong so sánh với biển, dữ dội quá, tuồng như không giống với những phẩm chất dịu hiền, thương khó mặc định của đàn bà Việt. Nhưng hãy đọc lại bao trang viết về những người vợ có chồng đi cải tạo, vừa lặng thầm chăm lo cha mẹ, vừa như con gà mẹ xù cánh che chở nuôi dạy con khỏi sự cô lập, kỳ thị của người đời, vừa thu vén chắt bóp thăm chồng đường xa vạn dặm, không chỉ đối mặt với bao khó khăn về vật chất, mà cái khổ lớn nhất là sự chịu đựng, o ép, đe dọa về tinh thần, thì không so sánh nào sâu sắc, hàm ơn bằng hình ảnh người vợ chờ chồng như biển chờ sông.

    Ta về như nước Tào Khê chảy
    Tinh đẩu mười năm đã nhạt mờ…
    …Người chết đưa ta cùng xuống mộ
    Đâu còn ai nữa đứng bờ ao
    Khóc người ta khóc ta rơi rụng
    Tuổi hạc ôi ngày một một hao.

    Những câu thơ này đặc phong vị Bắc. Nó làm người đọc liên tưởng tới câu ca dao thao thiết Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn/ Tào Khê nước chảy vẫn còn trơ trơ và Đêm qua ra đứng bờ ao/ Trông cá cá lặn, trông sao sao mờ. Tôi không biết khi viết những điển tích, những chỉ dấu Bắc kỳ tuyệt đẹp này, ông đã đọc những câu ca dao Bắc này chưa, nếu chưa, thì quả thực chất Bắc đã ngấm vào hồn thơ ông hồn nhiên, nhuần nhị như năm xưa Tướng quân Trần Nhật Duật lên miền ngược uống rượu với người Man, thuần thục đến mức được coi như gã người Man chính hiệu.

    Tôi đặc biệt thích khổ thơ:

    Ta về như bóng ma hờn tủi
    Lục lại thời gian kiếm chính mình
    Ta nhặt mà thương từng phế liệu
    Như từng hài cốt sắp vô danh.

    Tại sao lại là “bóng ma hờn tủi”? Là bởi vì bị bức tử về tinh thần, bị o ép về mặt thân xác, đã thành một con ma người tồn tại ở cái buổi nghi kị, tố giác, căm thù và độc địa. Nhưng nhân vật trữ tình trong thơ Tô Thùy Yên, luôn luôn cảm nhận rõ cảnh ngộ, thân phận, và có phần nào an phận, nhưng tuyệt đối không cúi đầu. Vượt lên tất cả nghịch cảnh là sự tiếc nuối, xót xa, thương yêu, bao dung và tha thứ. Buộc phải “chết”, bị ép vào tuyệt lộ nhưng vẫn không bao giờ đánh mất mình. Mười năm ta vẫn cứ là ta. Điềm đạm, ngang tàng, uy vũ bất năng khuất. Nếu ở khổ thơ trên, một bông hoa nở cũng đủ để nhà thơ cúi đầu cảm tạ, thì tới đây, ông lại “thương từng phế liệu”, những dấu tích thời chiến, dấu tích của cuộc đời khác, thuở được làm người. Một mối tương liên khi nhìn những mảnh phế liệu mà nghĩ tới phận mình, mình giờ đây có khác gì mảnh phế liệu thành vô danh ngay trên mảnh vườn nhà. Nhìn thấy ở mỗi sự vật đều có linh hồn, để mà thương lấy mình, để mà sống cho nhân ái khoan hòa. Tâm thế đó dường như là một chất riêng của thơ Tô Thùy Yên. Ông vượt thoát các giới hạn, không phải để lảng tránh, mà để đối mặt, nhìn rõ bản chất, không để hận thù mà để thứ tha. Bởi thế, tôi cho rằng, thơ Tô Thùy Yên còn giàu Phật tính, không chỉ riêng trong bài thơ này.

    Ta về như hạc vàng thương nhớ
    Một thuở trần gian bay lướt qua
    Ta tiếc đời ta sao hữu hạn
    Đành không trải hết được lòng ta.

    Từ ngàn xưa, trong tâm thức văn hóa Á Đông, Hạc được ví như chim thiêng, là linh vật bất tử trong thế giới loài chim. Hạc có sải cánh dài rộng, bay vút trời cao, vượt muôn trùng mây, sánh với người ưu tú có năng lượng sống dồi dào, mạnh mẽ đương đầu khó khăn sóng gió, lại trong sạch thuần khiết giống bậc quân tử, tiếng kêu thánh thót của nhân tài. Do đó, Hạc được xem như biểu tượng của trí tuệ và cốt cách thanh cao, vượt khỏi đời tầm thường tục lụy. Đây là khổ thơ xứng làm cái kết cho bản trường thi lộng lẫy, thể hiện sự song hành giữa cái hữu hạn bên cạnh cái vô hạn, giữa thanh cao và tục lụy, giữa buông xả và luyến thương. Đời là cõi tạm, còn ta chỉ như loài chim quý trót nặng lòng thương nhớ trần gian một thuở làm người mà về lại bên đời, để rồi vỗ cánh. Thế thì những tù đầy, oan trái còn xảy ra thêm vài lần nữa cũng có gì đáng sợ. Trong tầm vòng giới hạn của kiếp người, Tô Thùy Yên đã làm được điều mà ông hằng trăn trở. Dù đời người hữu hạn, vũ trụ vô cùng, nhưng bằng những thi phẩm để lại cho đời, ông xứng là con chim hạc bay qua miền đất này và cất tiếng lòng bi tráng, thống thiết, thánh thót, chạm tới tận cùng những cung bậc cảm xúc.

    TA VỀ- Đâu chỉ là về với quê hương bản quán mà nó còn là cuộc trở về với bản thể, trở về với chính mình để truy tìm những câu hỏi lớn: Rốt cuộc, sau bao nhiêu thống khổ, ta là ai? Ta là cánh hạc vàng bay trong chiều thương nhớ để dâng đời khúc hát của một đời ly loạn, không phải để hận thù, chia biệt, mà để loài người biết thương xót nhau thêm.

    Trong lần trả lời phỏng vấn của báo Người Việt gần đây, Tô Thùy Yên có kể lại một kỷ niệm rằng, thập niên 90, nhà thơ Thanh Tâm Tuyền trong khi thu xếp để chờ đi Mỹ, khi đến nhà chơi có nói: “Đất nước này rồi sẽ phải trải qua những biến động lịch sử tan tác kinh hồn chẳng thể cản tránh được, tôi ra đi xa lánh, anh còn ở lại, anh hoặc là ai đó sẽ phải viết một bài thơ mà chất liệu là núi xương sông máu, là hàng triệu cái xác chết”. May mắn, tới bây giờ thi nhân Việt Nam chưa ai phải viết ra tác phẩm như Thanh Tâm Tuyền dự đoán, nhưng với khối lượng sáng tác đáng nể, Tô Thùy Yên đã tạc lên một Cõi Người, một Cõi Phật, một Cõi Lão, Trang, một Thời Đại đặc biệt bằng thi ca, và như thế, trong mắt những người yêu thơ Tô Thùy Yên, thì ông mãi mãi MỘT BÓNG TRÊN ĐƯỜNG LỚN.– 
    — 

  • Giới thiệu sách

    THEO CÁNH GIÓ BAY

    Thư Pleime


    Tao được thơ mày cả tháng nay
    Hành quân liên tiếp suốt đêm ngày
    Lưng không rời giáp, tay rời súng
    Liên lạc thì không có máy bay

    Tao vẫn luôn luôn nhớ tụi mày
    Nhớ Sài Gòn đẹp nắng vàng hây
    Nhớ đường Lê Lợi ngập hoa nắng
    Nhớ ngõ Tam Ða tà áo bay

    Pleime suốt tháng mưa dầm dề
    Mày ơi, thèm quá khói cà phê
    Thèm tô phở tái thơm chanh ớt
    Thèm rót bọt đầy một cốc bia

    Xi Nê mày vẫn xem phim chưởng?
    Băng nhựa còn thu nhạc Khánh Ly?
    Những chiều thứ bảy còn đi nhót?
    Hay lén ông già nhậu whisky?

    Năm nay mày có lên đại học?
    Hay thôi, xếp sách nhập quân trường?
    Mày tính vào Dù hay Lục Chiến?
    Tao chờ mày nhé, ải biên cương

    Hôm qua thằng Tiến dẫn quân ngang
    Giữa rừng gặp bạn mừng hơn vàng
    Ôm nhau, hai đứa cười ha hả
    Râu tóc bù xù như cái bang

    Mày nghĩ, đã lâu không được tắm
    Hành quân liên tiếp giữa rừng già
    Ăn thì gạo sấy nhai qua bữa
    Tối ngủ nằm sương lạnh cắt da

    Hôm qua địch pháo giữa ban ngày
    Tao bị thương xoàng ở bả vai
    Mảnh đạn còn ghim trong thớ thịt
    (Mày đừng có nói mẹ tao hay)

    Mẹ tao không biết giờ ra sao?
    Còn khóc đêm trường để nhớ tao?
    Còn giận tao là thằng bất hiếu
    Xem tình cha mẹ như chiêm bao

    Mẹ tao chỉ muốn tao quanh quẩn
    Lính kiểng châu thành, lính phất phơ
    Mày nghĩ, tụi mình như cánh gió
    Ai đi nhốt gió được bao giờ?

    Những đêm biên cảnh sống xa nhà
    Cũng thấy đôi lần nhớ xót xa
    Cũng có đôi lần tao muốn khóc
    Muốn về thăm mẹ… thế nhưng mà…

    Thôi nhé, thư sau tao viết tiếp
    Trực thăng đã đáp trong vòng đai
    Tản thương lính đã đưa lên đủ
    Tao viết thơ này vội gởi ngay
    <>
    t/g Anh Tuyến

  • Tài liệu

    30 bức ảnh về thảm sát Thiên An Môn Trung Quốc

    30 bức ảnh về thảm sát Thiên An Môn Trung Quốc muốn xóa khỏi lịch sử

    Phạm Minh Trung

    Sinh viên Nghệ thuật Bắc Kinh tạo tượng Nữ thần Tự do ngay giữa Thiên An Môn. Ảnh: Jeff Widener / Associated Press0SHARESShareTweet

    Ngày 4/6 này đánh dấu tròn 30 năm ngày Đảng Cộng sản Trung Quốc ra lệnh đàn áp dã man cuộc biểu tình trên quảng trường Thiên An Môn đòi tự do hóa chính trị và kinh tế.

    Vào những giờ phút đầu tiên của ngày 4/6/1989, các đoàn xe tăng và lực lượng vũ trang nhận lệnh tiến vào trung tâm Bắc Kinh. Đảng Cộng sản cho phép quân đội “sử dụng mọi biện pháp” để tiêu diệt hàng ngàn người biểu tình đã chiếm giữ quảng trường trong vài tuần trước đó.

    Cuộc thảm sát kết thúc sau một đêm đẫm máu, lấy đi sinh mạng của hàng trăm người và làm hàng trăm người nữa bị thương (con số bán chính thức có thể tới hàng ngàn người). Kể từ đó đến nay, Đảng Cộng sản Trung Quốc vẫn luôn phớt lờ những bằng chứng do giới báo chí và những người trong cuộc đưa ra. Bắc Kinh muốn xóa sự kiện Thiên An Môn ra khỏi sử sách Trung Hoa bằng việc cấm hoàn toàn các bài đăng trên mạng trong nước và mọi từ khóa trên các trang tìm kiếm liên quan đến vụ việc.

    Tờ Business Insider hôm 30/5 đã đăng tải 30 bức ảnh ghi nhận sự kiện Thiên An Môn mà chính quyền Trung Quốc chắc chắn không muốn bạn nhìn thấy.

    Phóng viên Harrison Jacobs, Mark Abadi, Adam Taylor và Erin Fuchs là những người đóng góp để có series ảnh này.

    ***

    Các cuộc biểu tình bắt đầu vào tháng 4/1989, sau cái chết bí ẩn của nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản Hồ Diệu Bang (Hu Yaobang – cựu Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc, có tư tưởng tự do hóa kinh tế và chính trị, bị lật đổ).

    Hàng chục ngàn sinh viên và người dân Trung Quốc tề tựu tại Đài tưởng niệm Liệt sĩ trên Quảng trường Thiên An Môn, trung tâm thủ đô Bắc Kinh, ngày 21/4/1989. Ảnh: Sadayuki Mikami/AP.

    Trong suốt nhiệm kỳ của mình, Hồ Diệu Bang đã cố gắng thúc đẩy đất nước hướng tới một hệ thống kinh tế chính trị và thị trường cởi mở hơn. Quan điểm của ông được rất nhiều sinh viên ưu tú từ khắp các trường đại học danh tiếng Trung Quốc ủng hộ.

    Một chiếc xe tải gần như bị chôn vùi trong đám đông giữa những người biểu tình ở Quảng trường Thiên An Môn, ngày 17/5/1989. Ảnh: AP.

    Kết quả là hàng chục ngàn sinh viên và người dân đã tập trung tại Quảng trường Thiên An Môn ở trung tâm thành phố Bắc Kinh.

    Sinh viên các trường đại học ở Bắc Kinh giơ nắm đấm và giương cờ thách thức khi máy bay trực thăng quân sự Trung Quốc bay qua Quảng trường Thiên An Môn vào rạng sáng ngày 21/5/1989. Ảnh: AP.

    Quảng trường Thiên An Môn là một địa điểm quan trọng bởi đây là nơi có lăng mộ của người sáng lập Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Trung Hoa, Mao Trạch Đông, cũng như Đại lễ đường Nhân dân Trung Hoa – nơi diễn ra những hoạt động quan trọng nhất của Đảng Cộng sản Trung Quốc và cơ quan lập pháp nước này.

    Sau buổi sinh viên tưởng niệm ông Hồ Diệu Bang vào ngày 22/4, những người biểu tình lập một danh sách dài các đề xuất đối với chính quyền Bắc Kinh. Trong đó, họ đòi nới lỏng tự do ngôn luận, điều chỉnh mức lương và kiểm soát lạm phát. Trung Nam Hải đã bác bỏ yêu cầu của các sinh viên.

    Một lãnh đạo sinh viên Trung Quốc đại diện đọc yêu sách dành cho Trung Nam Hải trước Đại lễ đường Nhân dân Trung Hoa, ngày 18/4/1989. Ảnh: Kathy Wilhelm/AP.

    Vào ngày 26/4, tờ Nhân dân Nhật báo (cơ quan ngôn luận chính thức của Đảng Cộng sản) đăng một bài xã luận gọi các cuộc biểu tình là “gây rối” và cáo buộc những người biểu tình là phần tử chống Đảng. Điều này khiến người biểu tình càng phẫn nộ hơn.

    Người dân Bắc Kinh đọc một bản sao của bài báo “chụp mũ” người biểu tình trên Nhân dân Nhật báo, được những người biểu tình in và dán gần khuôn viên trường Đại học Bắc Kinh vào ngày 24/4/1989. Ảnh: Mark Avery/AP.

    Đến ngày 13/5, đám đông trên Quảng trường Thiên An Môn đã tăng lên khoảng 300.000 người, nhiều người trụ ở đó cả đêm. Trong ảnh là hai sinh viên Đại học Bắc Kinh không rõ danh tính đang ngủ trưa giữa những thùng nước giải khát.

    Bức ảnh này được chụp vào ngày 19/5/1989. Ảnh: AP.

    Hơn 100 sinh viên cũng bắt đầu tuyệt thực từ thời điểm này.

    Các sinh viên Đại học Bắc Kinh (chưa rõ danh tính) là những người đã tuyệt thực 5 ngày vì dân chủ. Trong ảnh là một số sinh viên đang nghỉ ngơi tại Quảng trường Thiên An Môn, buổi sáng sớm 18/5/1989. Ảnh: AP.

    Nhiều người cũng đồn đoán về chuyến thăm cấp cao của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô Mikhail Gorbachev tới Trung Quốc. Các sinh viên tin rằng chuyến thăm của Gorbachev tới châu Á là nhằm thuyết phục các đồng minh thân tín lâu năm, trong đó có Bắc Kinh, rằng Moskva vẫn luôn sát cánh bên họ.

    Học sinh – sinh viên Bắc Kinh bàn chuyện tiếp tục tuần hành trên đường phố để phản đối nguyên thủ Liên Xô. Các sinh viên bàn về những biểu ngữ sẽ giương lên để kêu gọi cải cách chính trị, nhằm đúng lúc Gorbachev gặp Đặng Tiểu Bình ở Đại lễ đường Nhân dân, nơi rất gần Quảng trường Thiên An Môn.

    Sinh viên đại học ngồi tuyệt thực ở quảng trường Thiên An Môn vào ngày 13/5/1989. Ảnh: AP.

    Vào ngày 19/5, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc Triệu Tử Dương (Zhao Ziyang) – người chủ trương đàm phán với các sinh viên –  xuất hiện tại cuộc biểu tình và kêu gọi thỏa hiệp. Nhưng hai bên đã không thể tìm được tiếng nói chung.

    Các sinh viên Đại học Bắc Kinh di chuyển tập trung tại Quảng trường Thiên An Môn vào ngày 20/5/1989 để hỗ trợ các đồng học. Ảnh: AP.

    Theo BBC, ông Triệu Tử Dương nói với đám đông rằng: “Chúng tôi đã đến quá muộn”.

    Đối thủ của Triệu Tử Dương – Thủ tướng Trung Quốc Lý Bằng (Li Peng) – đã tuyên bố thiết quân luật trên toàn bộ Bắc Kinh ngay sau đó.

    Một đoàn xe của quân đội Trung Quốc đang trên đường đến Quảng trường Thiên An Môn, phải quay trở lại sau khi bị những người biểu tình chặn đường vào ngày 20/5/1989. 
    Ảnh: Mark Avery/AP.

    Giải phóng quân Nhân dân Trung Quốc (PLA) bắt đầu tiến vào Bắc Kinh ngày 20/5 và rút quân chỉ một vài ngày sau đó. Người biểu tình còn cố gắng giảng giải, thuyết phục những người lính tham gia vào cuộc đấu tranh đòi dân chủ.

    Một sinh viên Đại học Bắc Kinh thông báo những địa điểm mà sinh viên biểu tình đang nắm giữ tại Quảng trường Thiên An Môn cho các quân nhân Trung Quốc, ngày 20/5. Ảnh: AP.
    Một máy bay trực thăng của PLA bay qua Quảng trường Thiên An Môn ngay sau tuyên bố của Lý Bằng về thiết quân luật, thứ bảy, 20/5/1989, Bắc Kinh, Trung Quốc. Ảnh: AP.

    Bất chấp việc máy bay quân đội quần thảo trên Thiên An Môn nhằm răn đe, đám đông khổng lồ tập hợp học sinh, sinh viên và người dân tiếp tục chiếm quảng trường trung tâm của Bắc Kinh. Trong khoảng một tuần, cuộc biểu tình vẫn tiếp diễn mà chưa thấy động tĩnh rõ ràng từ chính quyền Bắc Kinh về việc sử dụng vũ lực để đàn áp

    Sinh viên Đại học Bắc Kinh lắng nghe một phát ngôn viên sinh viên đưa ra chi tiết kế hoạch cho cuộc biểu tình ở Quảng trường Thiên An Môn, ngày 28/5/1989. Ảnh: AP.

    Các sinh viên thậm chí đã dựng một bức tượng bằng xốp cao 30 feet (tức hơn 9m), mô phỏng tượng Nữ thần Tự do của Hoa Kỳ, ngay trên quảng trường.

    Bức ảnh được chụp vào ngày 30 tháng 5 năm 1989. Ảnh: AP.

    Nhiều thanh niên công khai tấn công chính quyền Bắc Kinh. Một sinh viên biểu tình giơ biểu ngữ: “Chúng tôi không còn tin tưởng đám công chức bẩn thỉu. Chúng tôi tin Nhà Dân chủ”.

    Ảnh: Forrest Anderson/The LIFE Images Collection/Getty

    Đảng Cộng sản Trung Quốc sau đó quyết định hành động thêm một lần nữa. Vào ngày 2/6, các quan chức cao cấp của Trung Nam Hải đã áp đặt thiết quân luật nhằm “khôi phục trật tự thủ đô Bắc Kinh”.

    Một sinh viên biểu tình ủng hộ dân chủ giơ biểu tượng chiến thắng (chữ V – Victory) trước đám đông khi PLA rút khỏi Quảng trường Thiên An Môn vào ngày 3/6/1989. Ảnh: AP.

    Khoảng 250.000 binh sĩ đã được huy động cho ngày hôm sau, nhận lệnh tiến vào Thiên An Môn lúc 1 giờ sáng ngày 4/6 và “dọn dẹp” quảng trường trước 6 giờ sáng.

    PLA phô trương lực lượng ở Bắc Kinh, ngày 3/6/1989. Ảnh: Liu Heung Shing/AP.
    Mộtt phụ nữ trẻ bị bắt giữa những thường dân và binh lính Trung Quốc. Quân đội đang cố gắng đưa cô ra khỏi nhóm những người biểu tình gần Đại lễ đường Nhân dân ở Bắc Kinh, ngày 3/6/1989. AP Photo/Jeff Widener.

    Một nhóm các tướng lĩnh và chỉ huy quân đội cấp cao phản đối thiết quân luật, và viết thư cho các nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản rằng họ không thể cho quân đội vào Bắc Kinh để giải quyết vấn đề, tờ New York Times đưa tin, trích dẫn chia sẻ gần đây của cựu trung úy Giang Linh (Jiang Lin). Nhưng giới lãnh đạo Trung Nam Hải đã bỏ qua những lời can ngăn đó.

    Báo cáo đầu tiên về việc PLA bắn đạn thật vào dân thường được ghi nhận vào lúc 10 giờ tối 3/6, ở khu vực khoảng sáu dặm về phía tây của Quảng trường Thiên An Môn, ABC News đưa tin. Quân đội đã đến trung tâm quảng trường lúc 1:30 sáng Ngày 4 Tháng Sáu (Lục Tứ, theo tiếng Trung Quốc).

    Những người biểu tình đứng trên một chiếc xe bọc thép của quân đội gần Đại lộ Trường An ở Bắc Kinh, đầu ngày 4/6/1989. Ảnh: AP Photo/Jeff Widener.

    Người biểu tình đã phẫn nộ phản kháng khi quân đội có vũ khí tiến vào quảng trường. Hầu hết những người chiếm đóng Thiên An Môn đều không vũ trang, một số chỉ dùng đá và gậy gộc để chống trả.

    Một người đàn ông cố gắng kéo một người lính Trung Quốc ra khỏi hàng ngũ khi hai bên ẩu đả, ngày 3/6/1989. Ảnh:Mark Avery/AP.

    Bạo lực leo thang dữ dội khi những người biểu tình cố ngăn lực lượng quân đội tiến vào quảng trường, và PLA với dàn xe tăng bọc thép bắn xối xả vào sinh viên và những người biểu tình.

    Một sinh viên đặt rào chắn và đốt lửa trên đường để ngăn xe tăng quân đội tiến vào quảng trường Thiên An Môn, rạng sáng ngày 4/6/1989. Ảnh: AP.

    Sau một đêm đẫm máu, quảng trường đã được “dọn dẹp”. Đảng Cộng sản nói rằng vào thời điểm đó có 241 người, bao gồm cả binh sĩ, đã chết và 7.000 người bị thương. Nhưng nhiều nhân chứng và nhà báo khẳng định con số lớn hơn rất nhiều.

    Quân đội Trung Quốc di chuyển trên Đại lộ Trường An ở Bắc Kinh, ngày 5/6/1989. Ảnh: AP.  
    Một chiếc xe tải chở lính Trung Quốc trên Đại lộ Trường An, ngày 5/6/1989.
    Ảnh: Jeff Widener/AP.

    Các bức điện ngoại giao bí mật của Anh được giải mã và công bố năm 2017 cho thấy số người chết lên đến hơn 10.000, BBC đưa tin.

    Đây là đêm bạo lực nhất dưới sự cai trị của Đảng Cộng sản mà đất nước lớn nhất châu Á chứng kiến.

    Xe bọc thép PLA tiến vào Quảng trường Thiên An Môn, ngày 4/6/1989. Ảnh: Asahi Shimbun qua Getty.

    Sau khi dọn sạch Quảng trường Thiên An Môn vào ngày 5/6, các binh sĩ tiếp tục di chuyển xuống các con đường chính của Bắc Kinh. Xảy ra nhiều vụ nổ súng lẻ tẻ của quân đội Trung Quốc nhằm vào những người biểu tình không vũ trang, những người nào vẫn còn đang cố gắng chặn đường PLA.

    Xe tăng PLA chặn một cầu vượt trên Đại lộ Trường An của Bắc Kinh vào ngày 4/6/1989. Đây là con đường chính dẫn đến Quảng trường Thiên An Môn. Ảnh: Peter Charlesworth/LightRocket qua Getty.

    Khi đoàn xe tăng băng qua đại lộ Trường An gần Quảng trường Thiên An Môn, một người đàn ông bước tới chặn đoàn xe này lại. Bức ảnh đã trở thành biểu tượng cho sự kiện Thiên An Môn 1989.

    Đây là những gì đã xảy ra, theo PBS Frontline:

    “Khoảng giữa trưa, khi một đoàn xe tăng từ từ di chuyển dọc theo Đại lộ Trường An về phía Quảng trường Thiên An Môn, một thanh niên không vũ trang, cầm túi xách, đột nhiên bước ra trước mũi đoàn xe bọc thép.

    “Thay vì chạy qua anh ta, chiếc xe tăng đầu tiên cố gắng đi vòng quanh, nhưng chàng trai trẻ bước tới trước nó một lần nữa. Quân đội lặp lại thao tác này nhiều lần trước khi đoàn xe tăng dừng lại và tắt động cơ.

    “Chàng trai trèo lên xe tăng và nói chuyện với một binh sĩ cầm lái trước khi nhảy xuống. Rồi đột nhiên, anh bị một nhóm người không xác định đánh và bắt vào lề đường rồi cuối cùng biến mất trong đám đông”.

    Danh tính và nơi ở của chàng trai trẻ biểu tình – được đặt tên là “Tank Man” – đến nay vẫn chưa được xác định. Jeff Widener, nhiếp ảnh gia người Mỹ chụp bức ảnh này đã nhận được một đề cử chung kết giải Pulitzer vào năm 1990.


    Đoạn phim của ABC News cho thấy một nhóm người kéo chàng trai biểu tình mặc áo sơ mi trắng vào lề đường sau khi anh đứng chặn trước đoàn xe tăng của quân đội Trung Quốc tiến vào Quảng trường Thiên An Môn, ngày 5/6/1989. Ảnh:ABC News/AP.

    Ngày 9/6, Đặng Tiểu Bình xuất hiện lần đầu tiên kể từ đêm đàn áp đẫm máu, ca ngợi quân đội đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của họ trong vài ngày qua, và quy chụp những người biểu tình là phần tử phản cách mạng, muốn lật đổ cộng sản.


    Người dân Bắc Kinh tụ tập xem đoàn xe quân sự tại Quảng trường Thiên An Môn, ngày 7/6/1989. Ảnh: AP.

    Hàng chục ngàn người đã bị bắt giữ sau cuộc biểu tình, và một số lượng lớn chưa xác định có khả năng đã bị xử tử, theo PBS.


    Người dân đạp xe qua những tàn tích của cuộc đụng độ giữa PLA và những người biểu tình ủng hộ dân chủ, ngày 10/6/1989. Khu vực chụp bức ảnh nằm cách Quảng trường Thiên An Môn ba dặm. Ảnh: AP.
    Người dân Bắc Kinh đi làm và quan sát một chiếc xe tăng quân đội, ngày 12/6/1989. Ảnh: AP.

    Mức độ kiểm duyệt truyền thông và báo chí ngày càng gia tăng dưới thời Tập Cận Bình. Trong những tuần lễ kỷ niệm tròn 30 năm sự kiện Thiên An Môn, chính quyền Bắc Kinh đã tăng cường giám sát, đột kích và giam giữ các nhà hoạt động dân chủ.

    Từ khóa:

    Quảng trường Thiên An Môn: Tiananmen Square (np)
    Nhà chức trách Trung Quốc: Chinese authorities (np)
    Giải phóng quân Nhân dân Trung Quốc:  the People’s Liberation Army (np)
    Những người biểu tình đòi dân chủ: pro-democracy protesters (np)
    Tự do hóa kinh tế và chính trị: political and economic liberalization (np)
    Lực lượng quân sự có vũ trang: armed troops (np)

    Bạn có biết…

    Luật Khoa là một tạp chí độc lập và phi lợi nhuận. Với mong muốn mang lại trải nghiệm đọc báo tốt nhất cho bạn đọc, chúng tôi không đặt quảng cáo và do đó không có doanh thu. Luật Khoa chi trả mọi chi phí bằng các khoản đóng góp của bạn đọc.

    Mỗi ngày, các phóng viên, biên tập viên và cộng tác viên của Luật Khoa đều tận tâm với từng con chữ và từng mối quan tâm của bạn đọc, nhằm mang lại cho bạn đọc cái nhìn mới mẻ và đa chiều về những vấn đề pháp luật, chính trị.