Hãy học cách sắp xếp thời gian hiệu quả trong 1 ngày, cân bằng giữa công việc và cuộc sống.
Nhiều người thường nói: tôi không có thì giờ, tôi bận quá, tôi bận quá. Thượng Đế rất công bằng, mọi người trong chúng ta ai cũng có 24 giờ một ngày và người nào cũng phải chết.
Vậy thì khi người nào đó nói với bạn rằng tôi không có thì giờ hoặc tôi bận quá, bạn hãy tự hỏi mình người đó thân với bạn như thế nào? Khi một người nói với bạn tôi không có thì giờ thì bạn phải nghĩ rằng người đó không có thì giờ cho bạn, trong con mắt của người đó hoặc trong trái tim của người đó, bạn không phải là người thân. Nếu là người thân thì không bao giờ nói câu tôi bận quá, tôi không có thì giờ. Thì giờ người nào cũng bằng nhau, 24 giờ một ngày. Với 24 giờ, làm sao sử dụng cho hết: làm việc, ăn, ngủ, chơi, xem tivi, nghe radio, đọc sách, điện thoại, hoặc email cho người này hay người nọ. Nên bạn phải biết mình là ai khi nghe người nào nói rằng tôi có đọc email của bạn hay nhận điện thoại của bạn, nhưng rất tiếc tôi bận quá, tôi không có thì giờ trả lời.
Người trên trái đất này nhiều lắm hơn 6 tỉ, trời đất bao la nhưng tìm tri kỷ khó lắm. Tìm người hiểu mình, tìm người thương mình, xem mình như người thân thật khó. Nhiều khi mình tưởng người đó là bạn của mình nhưng chưa chắc người đó xem mình là bạn. Nếu bạn muốn biết người nào là bạn của mình thì hãy đợi xem khi bạn bệnh hoạn hay khốn khó, người đó có ở bên cạnh bạn hay không?
Người nào cũng có việc làm, có bổn phận, trách nhiệm, không phải ai cũng có thì giờ nghĩ đến người khác, có thì giờ quan tâm đến những người xung quanh mình, nhưng nếu biết sắp xếp thì mọi chuyện đều có thể làm được.
Có những chuyện trong cuộc sống xảy ra rất đỗi bình thường nhưng lại có kết thúc bất ngờ. Một cụ bà nằm trong viện dưỡng lão, con cháu không có thì giờ đến thăm, chỉ riêng có cô y tá chăm sóc cho cụ bà hàng ngày. Vào những ngày nghỉ hoặc ngày lễ, cô nhớ cụ bà, cô vào viện thăm cụ. Cụ bà cũng rất thương cô y tá này. Rồi một ngày kia, cụ bà qua đời. Luật sư của cụ bà gọi cô y tá đến văn phòng luật sư để nghe di chúc của cụ bà ở viện dưỡng lão. Cô y tá ngạc nhiên và vô cùng xúc động, không ngờ cụ bà để lại tài sản cho cô thay vì để lại cho con cháu của mình.
Đối xử với người xung quanh một cách chân thành, bạn sẽ nhận được phần thưởng xứng đáng.
Một câu chuyện khác về một cụ ông trong viện dưỡng lão. Ai cũng tưởng ông cụ rất nghèo, không thấy ai đến thăm, chỉ có những người làm từ thiện đến thăm người bệnh mà thôi. Một ngày kia, ông cụ gọi luật sư đến làm di chúc, để lại tài sản cho mấy con chó của cụ. Chó trung thành với chủ, chó không bao giờ bỏ chủ của mình. Chỉ có người ăn thịt chó chứ đâu ai nghe chó ăn thịt người bao giờ?
Tuổi già hiu quạnh, chỉ còn chú chó trung thành bên cạnh.
Thương người như thể thương thân, nói dễ nhưng làm khó lắm. Cho nhau nụ cười, tiếng cười, cho nhau một chút thì giờ và sự quan tâm, có bao nhiêu người làm được việc này?
Nhiều người thường nói:
– Tôi bận quá, tôi bận quá, tôi không có thì giờ.
Mọi người đều có thì giờ bằng nhau 24 giờ một ngày. Tôi bận quá, tôi bận quá, chỉ là một cách nói, một cách nói cho qua để khỏi làm mất lòng người nghe. Khi người ta quan tâm đến nhau, gần trút hơi thở cuối cùng, người bệnh vẫn gọi tên người mà họ yêu thương nhất và họ vẫn muốn gặp người này. Có nhiều người không muốn đi, cứ đợi chờ gặp một người nào đó lần cuối trong cuộc đời. Hơi thở đứt quãng, mệt nhọc nhưng không chịu nhắm mắt, vẫn chờ đợi bước chân của người mình thương xuất hiện trước cửa phòng bệnh.
Đó là người sắp chết, sắp thở hơi thở cuối cùng, còn người còn sinh tiền thì sao? Một chút thì giờ cho người khác có phiền lắm không? Có thương nhau thì hãy quan tâm đến người xung quanh ngay bây giờ, đừng chờ người đó sang bên thế giới thì hối tiếc cũng muộn quá rồi?
Một cô gái trẻ đã tâm sự: ba con bị thấp khớp, xương đau nhức, chân bị teo cơ không đi được nhưng ba nằm trên giường không một tiếng than. Niềm vui của ba là mỗi ngày chờ con cháu đi làm về ghé thăm, nghe ba nói chuyện. Vậy mà, con cứ cuốn vào cuộc sống cơm, áo, gạo, tiền, con không dành thời gian nhiều bên ba. Ba mất vào lúc sáng sớm, không kịp nhìn thấy mặt con lần cuối. Con chạy về, mặt ba còn hồng hào, thân thể còn ấm, mắt khép lại như muốn con cháu an tâm là ba ra đi thanh thản, không oán trách ai. Nhưng trong lòng con là một sự ăn năn, hối lỗi, ray rứt khôn nguôi. Khi ba cần con nhất, con đã không ở bên cạnh…
Khi biển sâu và trời rộng bao la, chẳng đo được công lao cha vun đắp.
Nghe cô gái kể, tôi nhớ ba mình vô cùng. Ngày tôi chuẩn bị vượt biên, tôi về thăm ba tôi. Tôi nắm tay ba tôi và nói:
– Con chuẩn bị vượt biên.
Mắt ba tôi sáng lên, ánh mắt thương yêu và hy vọng. Ba má tôi chỉ biết cầu nguyện cho con đi bình yên.
Ba tôi là người ít nói, lắng nghe nhiều nhưng mỗi lời nói của ba tôi rất sâu sắc và đầy ý nghĩa, chúng tôi phải lắng nghe.
Thế rồi tôi đi, chỉ một lần là thoát. Thuyền ra khơi, sóng to gió lớn, hết thực phẩm và nước uống. Mọi người chỉ cầu nguyện và cầu nguyện. Trước cái chết gần kề chỉ có sự cầu nguyện là linh thiêng nhất.
Chiếc thuyền đánh cá mỏng manh như chiếc lá ngoài biển khơi mênh mông được tàu Mỹ cứu, đưa vào Phi Luật Tân. Tôi được về Cali. Tôi vừa làm vừa học, bận tối tăm mặt mũi nhưng vẫn liên lạc thường xuyên với cháu tôi ở Pháp để nhờ chuyển thư về Việt Nam thăm gia đình.
Vài tháng sau khi tôi vượt biên, ba tôi qua đời, nhưng mọi người dấu không cho tôi hay sợ ảnh hưởng đến việc học của tôi. Lúc đó, Mỹ đang cấm vận Việt Nam không có liên lạc được phải qua một quốc gia khác như Pháp hay Canada để gởi thư.
Tôi thương ba má tôi lắm. Hồi nhỏ, tôi không được ở gần ba má tôi, vì phải đi học xa, ở xa mới có trường học tốt. Ba má tôi chú trọng đến việc học của con, cho đó là điều ưu tiên.
Nghĩa mẹ như biển rộng. Công cha như trời cao.
Ơn sinh thành dưỡng dục. Vời vợi tựa trăng sao
Bây giờ nhìn những người trẻ được ở gần cha mẹ, tôi ao ước vô cùng. Hãy dành thì giờ bên cạnh cha mẹ và hãy chăm sóc cha mẹ bằng cả tấm lòng. Được ở gần cha mẹ lúc cha mẹ lâm chung là điều hạnh phúc, không có cha mẹ làm sao có mình. Ba má tôi đã ra đi mấy chục năm rồi mà tôi tưởng chừng ba má tôi còn ở đâu đây, ở quanh chúng tôi.
Lúc người thân của mình còn hiện hữu hãy quan tâm, hãy cho họ thì giờ, nếu không sau này hối tiếc cũng không còn kịp nữa. Khi cha mẹ nhờ chở đi đâu, đi nhà thờ, đi chùa, đừng bao giờ nói: con không có thì giờ, con bận lắm,… thì sau này sẽ ân hận suốt đời.
Con sẽ không đợi một ngày kia Khi mẹ mất đi mới giật mình khóc lóc Những dòng sông trôi đi có trở lại bao giờ? Con hốt hoảng trước thời gian khắc nghiệt Chạy điên cuồng qua tuổi mẹ già nua Mỗi ngày qua con lại thấy bơ vơ Ai níu nổi thời gian? Ai níu nổi? Con mỗi ngày một lớn lên Mẹ mỗi ngày thêm già cỗi Cuộc hành trình thầm lặng phía hoàng hôn.
(Mẹ, thơ Đỗ Trung Quân)
Cho nhau tiếng cười, cho nhau một chút thì giờ có gì quá đáng? Hãy tự hỏi mỗi ngày mình bỏ bao nhiêu thì giờ xem tivi, nghe radio, đọc sách báo, nghe nhạc thì tại sao cho người khác một chút thì giờ thì lại phiền? Chỉ có lòng mình chưa đủ để quan tâm đến người bạn của mình mà thôi?
Hãy dành thời gian bên gia đình, người thân và bạn bè.
Xin đừng bao giờ nói: tôi bận quá, tôi không có thì giờ, tôi không có thì giờ. Mỗi ngày 24 giờ là nhiều lắm, nếu mình sử dụng hết 24 giờ này ngoài việc ăn, ngủ, làm việc thì còn thì giờ nhiều lắm. Nếu mình quan tâm đến người khác thì xin đừng bao giờ nói: tôi bận quá, tôi không có thì giờ.
Hãy bao dung, hãy rộng lượng, hãy thương người như thể thương thân, thì chúng ta có 24 giờ một ngày là nhiều lắm.
Thương người, đây là giá trị tinh thần quan trọng lắm. Thương người không phải chỉ cho họ thức ăn. Ở đây thức ăn nhiều quá, ai cũng sợ ăn nhiều rồi mập. Mập thì dễ sinh bệnh, cao mỡ, cao máu, cao đường. Thương người nên cho họ những gì thuộc về tinh thần: một lời cầu nguyện chân thành, những nụ cười hiền lành, tiếng cười giòn tan. Thương người nên quan tâm đến họ nhất là những lời an ủi trong lúc bệnh hoạn. Thương người nên cho họ niềm tin, hy vọng, lạc quan. An ủi bằng lời cầu nguyện, sự nhiệm mầu của sự cầu nguyện, lời cầu nguyện rất linh thiêng. Vì vậy, có những người vẫn đứng ngoài trời lạnh buốt giá trước tượng Phật bà Quan Âm hay Đức Mẹ Maria mà cầu nguyện một cách chân thành.
Tôi được biết nhiều người có niềm tin vào Đấng Tối Cao dễ sống vui vẻ, vượt qua những khó khăn giữa mùa dịch cúm Covid-19 này.
Hy vọng người thương người, cho nhau một chút thì giờ trong cuộc sống hàng ngày. Mong rằng sẽ không bao giờ phải nghe câu tôi bận quá, tôi không có thì giờ. Thì giờ nhiều lắm, thì giờ mênh mông, ban phát nó hay không là do ở mỗi người chúng ta.
Sáng 4 tháng 2-2021 nhà văn Duy Lam qua đời ở tuổi 89 tại bệnh viện thành phố Virginia, Hoa Kỳ.
Duy Lam là cháu gọi mấy anh em nhà văn Nhất Linh là cậu ruột, đồng thời anh là một trong ba nhà văn được Nhất Linh chọn lựa có thể trở thành thành viên của Tự Lực Văn Đoàn trong tương lai. Một trích đoạn trong chúc thư (văn nghệ) năm 1953, Nhất Linh viết:
“Giao Thừa năm quý tỵ 1953,
Trong hương trầm của đêm 30 Tết và mắt mờ đi vì thương cảm những người cũ đã khuất hoặc mất tích, lại nghĩ tời những nhân tài mới khả dĩ đem lại một người sinh lực rồi rào hơn làm nhà Tự Lực thay đổi luôn và trẻ mãi, tôi có mấy lời cảm xúc này – và cũng lã chúc thư luôn thể – với một bài thơ để gửi các anh em cũ (bất cứ ở khu nào) và mấy nhân viên tương lai của Tự Lực Văn Đoàn. Trong bẩy tám nhà văn mới chọn lọc được trong hai năm nay, tôi thấy có ba nhà văn chắc chắn xứng đáng là nhân viên Tự Lực Văn Đoàn và tôi tin anh Đỗ Đức Thu cũng như mấy anh mất tích sau này trở về, cũng như tôi sẽ bỏ phiếu bầu một khi ba nhà văn đó đã có đủ số sáng tác để sự quyết định có căn cứ. Ba người đó là Nguyễn Thị Vinh, Tường Hùng và Duy Lam…
Nhất Linh
2 giờ sáng, mồng 1 Tết năm Quý Tỵ
14-2-1953
(Ký tên)
Nhất Linh tự chép tay 5 bản.
2 bản do Đỗ Đức Thu và Nhất Linh giữ, 3 bản gửi 3 nhân viên tương lai.
Bản số 1
Nhất Linh” Hết trích.
Những tác phẩm của Duy Lam gồm có:
Chồng Con Tôi (tập truyện ngắn, 1960)
Gia Đình Tôi (tập truyện ngắn, 1962)
Cái Lưới (truyện dài, 1964)
Nỗi Chết Không Rời (truyện ngắn, cùng viết với Thế Uyên, 1966)
Ngày Nào Còn Đàn Bà (tập văn vui, 1967)
Lột Xác (truyện dài, 1968)
Tuyển Tập Truyện Mới (tập truyện ngắn, 1995)
Thi tập Chân Mây (thơ, 1996)
Em Phải Sống (tập truyện ngắn, 1996)
Where The Cloud Ends (cùng viết với An Nhiên, 2007)
Nhưng có lẽ tập truyện tạo nên tên tuổi Duy Lam là Gia Đình Tôi. Đây là một tập văn vui đăng trong giai phẩm Văn Hóa Ngày Nay.
Theo nhà văn Nhật Tiến, một nhà văn trẻ gần gũi với Nhất Linh và cũng là cộng tác viên của Giai Phẩm Văn Hóa Ngày Nay của ông Nhất Linh thì Duy Lam là cây bút chủ lực của giai phẩm này. Khi nhận định về 2 số cuối 10 và 11 của Giai Phẩm VHNN được ông Nhất Linh giao cho Duy Lam và Tường Hùng phụ trách, Nhật Tiến viết “Và theo thông lệ, ngòi bút Duy Lam vẫn giữ vai trò chủ lực. Ông có tới 5 bài, 2 bài bình luận : một về Văn, một về Hội Họa, 3 bài còn lại là văn vui.
Sau thời gian cộng tác với nhà văn Nhất Linh trên Giai phẩm VHNN mà số đầu ra mắt vào ngày 17-6-1958, Duy Lam được Quân đội điều lên làm huấn luyện viên ở trường Chỉ Huy và Tham Mưu tại Đà Lạt. Tại đó, Trung úy Nguyễn Kim Tuấn, tức Duy Lam, gặp Trung tá Hoàng Xuân Lãm. Tháng 2-1963, Trung tá Hoàng Xuân Lãm được thăng cấp Đại tá và được cử làm Tư lệnh Sư đoàn 23 ở Cao nguyên thì ông Lãm kéo Trung úy Tuấn đi theo làm Chánh văn phòng. Năm 1966 Tướng Lãm đi làm Tư lệnh Sư đoàn 2/BB ở Quảng Ngãi rồi 1966 lên làm Tư lệnh Quân đoàn I mà Bộ Tư lệnh đóng ở Đà Nẵng, Trung úy Duy Lam Nguyễn Kim Tuấn dần dần được thăng chức Trung tá vẫn được Tướng Lãm kéo theo làm Chánh Văn Phòng cho tới Mùa Hè Đỏ Lửa 1972 Tướng Lãm bị mất chức vì Bắc Quân tấn công chiếm Cổ Thành Quảng Trị và tạo áp lực nặng nề lên Huế.
Quân Đoàn I & Quân Khu 1 gồm 6 tỉnh thị miền Trung là Quảng Ngãi, Quảng Tín, Quảng Nam, Đà Nẵng, Thừa Thiên Huế và Quảng Trị là vùng đất hạ tầng cơ sở của Cộng sản khá nhiều và đồng thời cũng là địa bàn chính của 2 đảng Quốc gia chống Cộng là Đại Việt và Việt Nam Quốc Dân Đảng. Có thể nói tại nông thôn Vùng 1, người dân nếu không là Việt Quốc hay Đại Việt thì là Việt Cộng và hai bên Quốc Cộng thanh toán nhau quyết liệt.
Gia đình Nguyễn Tường được anh em các cấp trong Việt Nam Quốc Dân Đảng ở mọi địa phương coi như “người nhà”, do đó anh em chúng tôi sinh hoạt với VNQDĐ mà không bao giờ bị hỏi đã tuyên thệ gia nhập đảng chưa, gia nhập hồi nào, ai giới thiệu? Vì vậy trong thời gian ở Đà Nẵng, ngoài nhiệm vụ trong quân đội, Duy Lam dành hết thời gian và tâm trí sinh hoạt, cộng tác và giúp đỡ các Đảng bộ VNQDĐ tại tất cả 6 tỉnh thị để củng cố mặt trận chống Cộng.
Duy Lam cũng chủ trương hợp tác với các tổ chức chống Cộng khác, trong các tổ chức đó có tổ chức kết hợp 6 đảng của GS Nguyễn Ngọc Huy. Một lần GS Huy ra Đà Nẵng, trong cuộc gặp gỡ giữa những người có trách nhiệm tại nhà anh Duy Lam, GS Huy đã gây ấn tượng với tôi khi ông có lối nói chuyện thu hút tất cả người nghe với những câu chuyện đủ mọi loại, một khả năng tôi ít thấy người có được. Khi được chúng tôi tổ chức cho ông nói chuyện với đoàn viên nghiệp đoàn lao động Đà Nẵng, ông chọn đề tài nói về lý thuyết dân chủ rất hàn lâm khiến lúc đầu tôi hơi e-ngại cuộc nói chuyện sẽ khó thành công với thính giả là đoàn viên lao động. Nhưng thật bất ngờ, cuộc nói chuyện của GS Huy thu hút tất cả người tham dự vì họ đã được nghe một đề tài phức tạp qua sự trình bày giản dị mà hấp dẫn. Trong cuộc nói chuyện thân mật tại nhà anh Duy Lam, tôi có hỏi GS Huy hai câu. Trước nhất là con đường học vấn của ông, làm sao vừa tranh đấu bí mật từ thời Pháp thuộc mà ông còn lấy được bằng tiến sĩ? Ông cười nhỏ nhẹ cho biết, “Nhờ ông Diệm đuổi đi năm 1955 nên ông mới có thời giờ sang Pháp tiếp tục học và lấy Tiến sĩ.” Thời điểm đó đang có tin đồn GS Huy có thể được đề cử làm Thủ Tướng cho nên tôi hỏi “Nếu GS được mời làm Thủ Tướng thì GS có nhận lời không?” Ông từ tốn trả lời, “Với một điều kiện, vị Tổng Tham Mưu Trưởng phải là người của tôi.” Thời gian đó cũng từ lâu có tin đồn là Đại tướng Cao Văn Viên đã không muốn làm Tổng Tham Mưu Trưởng, ông muốn về hưu. Chuyện này không ít người trong giới quân đội không nghe nói và cũng biết rõ là với chức Tổng Tham Mưu Trưởng trong lúc chiến tranh sôi động mà ông còn có thời giờ và đầu óc thảnh thơi đi học tại Đại học Văn Khoa Saigon để lấy bằng Cử nhân, trong khi Tổng thống Thiệu lại trực tiếp chỉ huy các Tướng lãnh Tư lệnh Quân đoàn. Anh Duy Lam cho tôi biết chuyến đi đó ra miền Trung của GS Huy chủ yếu gặp Trung Tướng Ngô Quang Trưởng. Cuộc gặp đó có hay không, ở đâu, lúc nào và bàn về chuyện gì thì sau đó tôi không nghe nói và cũng không hỏi lại.
Trên lãnh vực văn nghệ, ngoài việc tiếp tục viết văn, anh còn quan tâm tới việc phát triển sinh hoạt Văn hóa, văn nghệ tại địa phương. Anh là người đã phát hiện ra tài năng của hai họa sĩ Cao Bá Minh và Hoàng Đăng Nhuận. Thời đó Cao Bá Minh rất thân thiết với anh Duy Lam và tôi đã gặp Cao Bá Minh nhiều lần ở nhà anh Duy Lam. Theo lời anh Duy Lam, một hôm Chuẩn Tướng Khánh, Tư lệnh Sư đoàn 1 không quân ở Đà Nẵng điện thoại mời anh Duy Lam sang xem một bức tranh của một quân nhân không quân. Khi sang xem, anh nhận xét với Tướng Khánh là họa sĩ này có tài và anh muốn gặp. Thế là Tướng Khánh cho gọi Cao Bá Minh tới. Sau cuộc gặp đó, anh Duy Lam tổ chức một cuộc triển làm cho Cao Bá Minh và cuộc triển lãm thành công. Từ sau cuộc triển lãm đó, Cao Bá Minh chính thức trở thành họa sĩ trong giới hội họa. Theo lời Cao Bá Minh, nhờ đó anh cũng được một người bạn của anh Duy Lam là Trung tá Trí, Tiểu đoàn trưởng một tiểu đoàn truyền tin ưu đãi hậu hĩnh quá mức so với cấp bực của Cao Bá Minh. Họa sĩ thứ hai là Hoàng Đăng Nhuận. Tôi quen Hoàng Đăng Nhuận, không nhớ do đâu. Nhuận là con ông bà chủ tiệm vàng Kim Chi trên con phố chính của Đà Nẵng, gần nhà anh Duy Lam. Một hôm Nhuận nhờ tôi giới thiệu với anh Duy Lam. Tôi mang cho anh Duy Lam xem một bức tranh của Nhuận, họa phẩm gồm toàn các chấm tròn, một lối sáng tác mà lúc đó lần đầu tiên tôi thấy. Xem xong anh Duy Lam cũng đồng ý làm một triển lãm cho Hoàng Đăng Nhuận. Năm 1986, gặp Hoàng Đăng Nhuận ở một quán café bên sông Hương, Nhuận khoe tôi anh là họa sĩ duy nhất của Huế là hội viên hội họa sĩ Việt Nam. Mới đây tra trên google, được biết Hoàng Đăng Nhuận đã từng có tranh tham dự triển lãm tại Mỹ, Pháp, Hồng Kông, và Singapore. Có tranh tại Viện Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam và Singapore. Năm 2010 trong phần giới thiệu cuộc Triển lãm của Ba Họa Sĩ tại Gallery Chiêu Ê, 89 Minh Mạng, Tp Huế, ban tổ chức viết trịnh trọng “Thứ Bảy này, nếu ai yêu mỹ thuật mà lại đang ở Huế thì nên ghé gallery Chiêu Ê. Triển lãm tranh của ba nghệ sỹ Đinh Cường, Hoàng Đăng Nhuận và Phan Ngọc Minh sẽ diễn ra tại đây, kéo dài khoảng một tuần. Hoàng Đăng Nhuận (sinh năm 1942) và Đinh Cường (sinh năm 1939) đều là những họa sĩ hàng đầu của Huế. (http://soi.today/?p=8527).
Sau đó anh Duy Lam thành lập Ủy Ban Phát Huy Văn Hóa Đà Nẵng gồm một số nhân sĩ, văn nghệ sĩ, trí thức như luật sư Lê Văn Kiềm, luật sư Hồ Công Lộ v…v và người đứng đầu là Bác sĩ Thái Can, để tổ chức một Tuần Lễ Văn Hóa với những diễn giả địa phương như GS Nguyễn Văn Xuân v…v và những diễn giả từ Saigon ra như Phạm Duy v…v Một tuần lễ sinh hoạt văn hóa 7 ngày, mỗi ngày có 2 sinh hoạt trong đó có một cuộc triển lãm hội họa, tất cả đều được đông đảo người tham dự miễn phí được coi là một thành công ngoài dự đoán. Để tổ chức được một tuần lễ văn hóa như vậy rất là khó khăn: Trước tiên là tài chánh chi phí di chuyển, ăn ở cho các diễn giả từ Saigon, thuê mượn và trang trí cơ sở. Tất cả số tiền đó chỉ do một mình anh Duy Lam quyên góp từ các bạn bè của anh. Lại phải là người có uy tín trong giới văn hóa, văn nghệ mới mời được các diễn giả tên tuổi, chuyên nghiệp, cũng lại chính anh Duy Lam mời các văn nghệ sĩ tham dự. Đặc biệt, trong cuộc triển lãm hội họa có nhiều họa sĩ tham dự, có bức tranh Cung Kiếm Mỏi của Hạ Quốc Huy đã từng được giải thưởng khuyến khích của Tổng thống, được một viên chức ngoại giao Hoa Kỳ mua với giá $400,000 đồng (tiền Việt Nam). Bức tranh đó tôi cũng thích. Lúc đó lương một thiếu úy độc thân chưa tới $20 ngàn. Họa sĩ Hạ Quốc Huy không muốn bán. Thấy vậy Duy Lam bàn, “Bán đi chứ! Đâu có họa sĩ nào bán được một bức tranh với giá như thế đâu!” Tưởng cũng nên biết, tại Việt Nam cho tới năm 1975 chỉ mới có hai Tuần lễ sinh hoạt văn hóa do tư nhân tổ chức. Một là Tuần lễ hội chợ có rất nhiều các sinh hoạt do ông Nhất Linh và TLVĐ mời hầu hết giới tinh hoa, trí thức bậc nhất Hà Thành tham gia ban tổ chức tại Hà Nội vào thập niên 1930s. Tuần lễ Văn hóa thứ nhì là tuần lễ này do cá nhân anh Duy Lam, với sự cộng tác của các thân hữu đứng ra tổ chức.
Sau sự thành công vượt dự đoán của Tuần lễ Văn hóa, trong buổi họp tổng kết tại tư gia anh Duy Lam, một lần nữa anh lại đề nghị một đề án mới: Thành lập Viện đại học Quảng Đà. Những buổi họp kế tiếp luân phiên giữa ba tư gia, Duy Lam, BS Thái Can, và LS Hồ Công Lộ đã hình thành Ủy Ban Vận Động Thành Lập Viện Đại Học Cộng Đồng Quảng Đà (UBVĐTLVĐHCĐQĐ) do BS Kiêm nhà thơ Thái Can làm Chủ tịch, Tổng thư ký là Duy Lam. Ủy ban nhận định, nhiều địa phương khác có Viện đại học nhưng đó là Viện đại học công hoặc do các tôn giáo tổ chức, Ủy ban muốn lần đầu tiên Quảng Đà có một Viện đại học do người dân địa phương đứng lên yêu cầu. Với hoàn cảnh hạn chế nhân sự tại địa phương, Ủy ban chỉ thỉnh cầu chính quyền mở Viện đại học cộng đồng với chương trình hai năm và liên kết với Viện đại học Huế để sinh viên sau khi tốt nghiệp tại Viện đại học Quảng Đà có thể tiếp tục ra Viện đại học Huế hoàn tất văn bằng kỹ sư hay cử nhân 4 năm. Bây giờ sang Mỹ, những ai từng theo học đại học cộng đồng (community college) đều hiểu vai trò và mục tiêu của Đại học Cộng đồng, chứ nhớ lại, hồi đó tất cả Ủy ban không ai hiểu khác biệt giữa Đại học Cộng đồng 2 năm và đại học thông thường 4 năm. Họ chỉ nghĩ rằng, thiếu nhân sự nên chỉ dậy chương trình 2 năm rồi sau đó sinh viên sẽ ra Huế hay vào Saigon học tiếp. Dù sao thì với sự vận động của Ủy Ban mà chủ yếu là anh Duy Lam, chính phủ trung ương đã cử Quốc Vụ Khanh Phan Quang Đán ra tiếp xúc với dân chúng. Buổi tiếp xúc do UBVĐTLVĐHCĐQĐ tổ chức được đông đảo đồng bào tham dự đã khiến chính phủ trung ương thấy cần đáp ứng nguyện vọng của dân chúng địa phương. Viện Đại học Cộng đồng Quảng đà được khai giảng mùa thu 1974 với Tiến sĩ Ngô Đồng tốt nghiệp ở Mỹ, thuộc Viện đại học Huế, được mời làm Viện trưởng. Tôi không biết niên khóa đầu tiên Viện có mấy lớp và các giáo sư phụ trách là những ai nhưng tôi có tham dự một buổi với tính cách dự thính lớp Dự bị Văn chương Pháp. Hôm đó giáo sư tên là Lam, một giáo sư trẻ của trường trung học Đà Nẵng giảng về cuốn tiểu thuyết L’Etranger của Albert Camus.
Tháng ba 1975 trong tình hình chiến sự sôi động, Trung tướng Ngô Quang Trưởng Tư lệnh Quân đoàn I tuyên bố tử thủ Huế, anh Duy Lam nói với tôi, Tướng Trưởng tuyên bố tử thủ thì anh, tôi và vợ Tướng Trưởng phải ở lại. Chứ trong ba chúng tôi mà có ai bỏ chạy trước thì dân chúng ai mà tin lời tuyên bố Tử thủ của Tướng Trưởng. Tôi không biết sau đó anh Duy Lam có bàn như vậy với vợ Tướng Trưởng không (anh Duy Lam là anh cô cậu ruột với bà vợ Tướng Trưởng) nhưng hàng ngày tôi gặp bà vợ Tướng Trưởng tôi thấy bà và mấy cháu vẫn sinh hoạt bình thường, không tỏ ý gì là muốn bỏ về Saigon trước. Cả ba chúng tôi đều để gia đình ở lại Đà Nẵng trong lúc có nhiều cấp lớn đã mua vé máy bay đưa gia đình chạy vào Saigon. Dĩ nhiên tất cả bạn bè của anh Duy Lam hay của tôi đều hỏi chúng tôi về chuyện “Liệu Huế có tử thủ không?” Họ nhìn vào hai chúng tôi để biết Tướng Trưởng, một người rể trong gia đình có thực sự tử thủ Huế hay không. Trong thời gian đó trưa nào tôi cũng tới ăn cơm với bà Trưởng. Các cháu ăn trước rồi, chỉ có hai chị em chúng tôi ngồi nói chuyện và ăn cơm trưa với nhau ở cái bàn nhỏ ở khu nhà bếp. Hai chị em chúng tôi không nói chuyện thời sự. Cũng như hiện nay, tại Mỹ, chúng tôi gọi nhau qua phone nhiều lần trong tuần và lần nào cũng nói lâu cả tiếng về những chuyện mà nếu có ai hỏi chúng tôi nói chuyện gì thì cũng không thể nói rõ chuyện gì ra chuyện gì, toàn những “chuyện ngày xưa” chuyện bà nội chúng tôi v…v, tóm lại là những chuyện gia đình. Thực ra trước đó tôi chỉ ghé bà Trưởng ăn cơm và nói chuyện một tuần một lần, nhưng vào thời điểm gay cấn, trưa nào tôi cũng ghé cốt để xem khi nào thì Tổng thống Thiệu ra lệnh Tướng Trưởng bỏ Huế… Rồi ngày đó cũng đến! Một buổi trưa, khi tôi vừa tới, bà Trưởng cho tôi biết Tổng thống Thiệu ra lệnh Tướng Trưởng bỏ Huế. Nghe xong, tôi suýt bật khóc. Từ lâu tôi vẫn nghĩ, Đà Nẵng là trung tâm quân sự, hành chánh và kinh tế nhưng Huế là “thủ phủ tinh thần” của miền Trung. Mất Huế sẽ là mất tất cả miền Trung. Tướng Trưởng là một vị Tư lệnh mà tôi rất quí trọng qua sự liêm khiết, dũng cảm, tận tâm với đơn vị, và thuộc cấp; nhất là đối với những quân nhân ở đơn vị tác chiến; và tôi từng là quân nhân tác chiến trong Sư đoàn 1 của ông trong hai năm. Tôi nghĩ ngay, sau lệnh bỏ Huế thì Tướng Trưởng sẽ trở thành bại tướng và ông sẽ chẳng còn gì. Tôi thương cảm cho ông! Sau vài phút dằn lòng, tôi từ tốn nói với bà Trưởng, “Chiều nay anh về, nhờ chị nói với anh là trong 7 năm qua em chưa bao giờ làm điều gì gây phiền cho anh, nhưng hôm nay em đào ngũ!” Nghe vậy, bà Trưởng chỉ biết từ tốn nói, “Bây giờ thì mạnh ai nấy quyết định!” Vì tôi là sĩ quan trực trung tâm hành quân Bộ chỉ huy cảnh sát Khu I nên tôi không thể lẳng lặng bỏ đi, sẽ gây phiền cho hai sĩ quan trực phiên kế tiếp, tôi lên gặp Đại tá Lộc Chỉ Huy Trưởng để xin nghỉ phép một tuần về Saigon tìm bà mẹ ở Ban Mê Thuột di tản chưa có tin tức. Đại tá Lộc người cao lớn, uy nghiêm nhưng hiền từ, ngồi oai vệ ở chiếc ghế xoay, an ủi tôi “Ừ anh cứ về đi, tôi còn ngồi đây thì tình hình chưa có gì đâu.” Sau đó ông gọi Trưởng ban nhân huấn lên ra lệnh làm giấy phép cho tôi. Tôi chính thức rời nhiệm sở luôn mà không cần đợi lấy giấy phép. Tôi chưa tiết lộ tin đó với ai, chỉ lẳng lặng thu xếp đồ đạc để chuẩn bị rời Đà Nẵng mà chưa biết bao giờ và bằng cách nào.
Mấy ngày sau tôi vẫn tới nhà bà Trưởng để nói chuyện và ăn cơm trưa để xem bao giờ thì bà ấy đi. Một buổi trưa, khi tôi tới thì thấy có một người Mỹ ngồi lẳng lặng ngoài thềm bên cạnh có chiếc máy truyền tin. Khoảng 2 tiếng sau tôi thấy người Mỹ đó nghe máy rồi bảo bà Trưởng cùng mấy con lên xe đi. Tôi lái xe jeep chạy theo ra chổ bãi đáp trực thăng ở ngay cuối đường Độc Lập, cũng rất gần tư dinh. Khi bà Trưởng lên trực thăng, tôi chào bà “Vĩnh biệt chị!” Bà bảo tôi, “Tâm làm gì mà ghê thế, anh còn ở đây mà!”
Thế là mọi chuyện có thể công khai được. Trở về tôi điện thoại dục anh Duy Lam ra đi nhưng anh từ chối. Tôi bảo nếu anh không đi thì để vợ con đi với tôi, anh bảo nếu tôi thuyết phục được vợ anh. Khi tôi gọi dục chị Duy Lam mang mấy cháu đi thì giọng chị vẫn bình thản, “Tôi không đi đâu. Tôi ngồi đây chờ Tuấn.” Từ lúc đó tôi không gặp lại anh Duy Lam ở Đà Nẵng nữa. Tôi biết rằng anh đang vận động thành lập một lực lượng quần chúng bảo vệ Đà Nẵng và anh xin Thị Trưởng Đà Nẵng cấp cho lực lượng đó 2000 ngàn khẩu súng. Tôi không biết việc vận động như vậy của anh diễn tiến ra sao nên tôi không định kể lại sự kiện này. Nhưng cách nay mấy hôm, tình cờ tôi đọc được mẩu đối thoại của 2 facebookers thế này:
Tôi quen anh Daniel Hoàng tức Hoàng Văn Thắng, cựu chánh văn phòng Ty Giáo Dục Đà Nẵng và hiện là giáo viên văn chương Anh trong trường Trung học Mỹ tại thành phố tôi đang ở, San Jose. Qua giới thiệu của Hoàng Văn Thắng tôi biết facebooker “Mongthu Lenhu” là anh Lê Quang Thông, một cựu giáo sư trung học Đà Nẵng, sau này vượt biên sang Pháp tốt nghiệp Thạc sĩ Toán tại Đại học Sorbonne và hiện đang dậy Đại học ở Đức. Trong hai messages trên anh Thông viết “Thắng còn nhớ những ngày cuối cùng ở Đà Nẵng, họp ở hội VM với anh DL bàn chuyện tử thủ? ở phần message cuối, anh Thông viết “Mình những ngày cuối tháng 3 loanh quanh ở hội VM sau lưng Tòa Thị Chính, lúc đó có anh DL ngồi với anh em.” (Ghi chú của Tường Tâm: hội VM là hội Việt Mỹ)
Thật may mắn, sau chuyến bỏ chạy gian khổ, cuối cùng tôi và anh Duy Lam gặp nhau ở Saigon. Tôi thấy chưa bao giờ anh Duy Lam có ý nghĩ sẽ mất miền Nam. Anh và tôi tới nhà GS Nguyễn Ngọc Huy, căn nhà khiên tốn vẫn có người cảnh sát gác bên ngoài. Trong cuộc nói chuyện tôi bày tỏ nhận định là dựa theo những gì tôi quan sát hành động của người Mỹ tại Đà Nẵng trước lúc Đà Nẵng bị bỏ lại, nhất là sau này hành động của người Mỹ được lập lại tại Phan Rang, nơi tôi tá túc trước khi đi ghe vô Saigon, thì Mỹ sẽ bỏ rơi miền Nam. Tôi phát biểu “Theo tôi hiện nay Saigon vẫn yên tĩnh, nhưng khi người Mỹ bỏ đi thì Saigon sẽ rối loạn!” Nhưng vẫn với sự lạc quan, GS Huy từ tốn nhận định “Người Mỹ đã đổ vào đây bao nhiêu tiền của và hy sinh mấy chục vạn người, bây giờ lại đã tìm thấy dầu hỏa, cho nên người Mỹ sẽ không thể bỏ miền Nam. Cùng lắm chúng ta sẽ rút xuống miền Tây sau đó người Mỹ sẽ giúp chúng ta phản công lại, như Nam Hàn trong chiến tranh 1950-53.” Khi ra về anh Duy Lam không nhận định gì, nhưng tôi nói, tôi không hiểu GS Huy có tin tức từ cấp cao của Mỹ ra sao mà tin như vậy, tôi thì vẫn không tin.
Sáng ngày 30-4-1975, khi ông Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, tôi đang ở Đường Kỳ Đồng, gần trường Đại học Vạn Hạnh. Tôi đi bộ tới thăm gia đình anh Duy Lam lúc đó đang tạm trú tại nhà người em rể. Chỉ có chị Duy Lam ở nhà. Khi trở ra ngoài đường tôi gặp một đoàn quân nhân nhẩy dù trên đường Trương Minh Giản đang từ phía Tân Sơn Nhất lui dần về trung tâm Saigon. Trong đoàn quân đó có anh Duy Lam đang mặc đồ trận mầu xanh. Tôi hỏi anh định đi đâu thì anh cho biết định theo đoàn quân nhẩy dù chiến đấu…cuối cùng đoàn quân thiện chiến tan hàng gần cầu Trương Minh Giảng.
Từ ngày đó hai chúng tôi chia tay. Hai mươi năm sau, chúng tôi mới gặp lại nhau ở miền nam tiểu bang California. Duy Lam là trưởng nam của bà Nguyễn thị Thế, em gái của 2 ông Nhất Linh và Hoàng Đạo và chị của Thạch Lam. Truyện Hai Đứa Trẻ của Thạch Lam chính là câu truyện Thạch Lam viết về chính mình và bà chị này.
Theo nhà thơ Luân Hoán (https://www.luanhoan.net/tacgiavn/1htm/duylam.htm) Duy Lam là thành viên ban sáng lập và chấp hành hội Bút Việt, sau đổi tên là Văn Bút Quốc Tế Việt Nam (Nhất Linh, Ðỗ Ðức Thu, Vũ Hoàng Chương, Ðái Ðức Tuấn, Hiếu Chân, Nguyễn Thị Vinh…)
Trên một trang báo Người Việt tại Nam California, nhà văn Lâm Túy Mĩ đã viết, “Quyển tiểu thuyết đầu đời tôi được đọc là quyển “Gia Đình Tôi” của nhà văn Duy Lam, ông là hậu duệ của gia đình Nguyễn Tường …Mùa Hè 1960, ba tôi lấy quyển tiểu thuyết “Gia Đình Tôi” của Duy Lam, một loại tuyển tập truyện ngắn, ông bắt tôi đọc, và nói rằng ba nghĩ con sẽ thích…”
Trong hình đính kèm Duy Lam chụp chung với các thành viên Văn Bút Việt Nam mà anh cùng ông Nhất Linh và một số nhà văn, thơ khác đồng sáng lập thập niên 1960 tại Saigon.
Duy Lam động viên khóa 3 Thủ Đức, cấp bậc cuối cùng, Trung tá Quân đoàn I, tù cải tạo gần 13 năm. Những năm tháng mới sang Hoa Kỳ theo diện HO vợ chồng anh sống tại Orange County, Nam California, sinh hoạt văn nghệ với nhiều thân hữu địa phương. Sau đó 3 người con gái của anh đã đón vợ chồng anh về sống tại Virginia, miền Đông Hoa Kỳ. Tại đây, anh chuyện về hội họa. Căn phòng riêng của anh trưng bày la liệt các họa phẩm của anh. Dần dần trí nhớ của anh có giảm sút…cuối cùng anh bị ngã. Được các con đưa vào nhà thương không lâu sau anh qua đời vì các căn bệnh khác của tuổi già.
Một số bạn tù cho biết trong tù anh Duy Lam vẫn giữ được khí tiết nên bị biệt giam với cùm sắt tới nỗi cổ chân bị thối. May nhờ có trụ sinh của gia đình gửi vào, nếu không thì chân anh đã bị cưa. Ngoài ra trong tù anh có 1 bài thơ cảm động mà nhạc sĩ Xuân Điềm đã phổ nhạc,
Anh Xuân Điểm kể về bài tù khúc “Chiếc kẹo nhỏ trong bàn tay người chết”:
“Nhà văn Duy Lam từ Bắc chuyển trại về Nam có tặng bài thơ nội dung nói về cái chết tức tưởi của đại tá Nguyễn Khoa Dóanh là bào đệ của thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam.
Nhà văn Duy Lam là người tù canh giữ trạm xá nơi đại tá Nguyễn Khoa Dóanh kiệt sức đang nằm chờ chết. Hôm ấy, đại tá Dóanh thều thào với nhà văn Duy Lam rằng ông thèm ngậm một viên kẹo trước khi lìa đời. Sau khi tìm được kẹo về thì đại tá Dóanh cầm chặt viên kẹo trong tay tỏ vẻ vui mừng nhưng không ngậm được nữa vì giờ chết gần kề. Khi nhà văn Duy Lam vuốt mặt lần cuối cho người bạn tù thì viên kẹo rơi ra khỏi tay và nằm trên ngực áo, Ôi! Thương thay, đến chết mà ước mơ thật nhỏ bé cũng không thành sự thật”. (Xuân Điềm)
Chiếc kẹo nhỏ trong bàn tay người chết
Nắm không buông như níu kéo cuộc đời
Chiếc kẹo nhỏ trong bàn tay người chết
Người bạn tôi vừa từ bỏ cuộc đời
Mới vừa đây trong tiếng rên hấp hối
Anh đã xin “hãy tìm hộ cho anh
Một chiếc kẹo” . . . vì đã thèm chất ngọt
Nhiều tháng năm chỉ chờ đợi phút này
Chiếc kẹo nhỏ trong bàn tay người chết
Phút chia ly tôi vuốt mắt bạn hiền
Chiếc kẹo nhỏ rơi nằm trên ngực áo
Kẹo còn đây mà người đã lìa đời . . .
Thế là thôi trong nỗi vui phút cuối
Anh chết đi chiếc kẹo còn trong tay
Đầy cẩn trọng trong nỗi niềm vô vọng
Nhiều tháng năm chỉ chờ đợi phút này
CODA: Tiễn đưa anh những bạn tù đói rách
Chiếc áo thô tẩm liệm cuối đời tù
Khóc cho anh và cho cả chúng ta
Rồi ngày nao . . . cũng sẽ đến lượt . . . mình
Sáng nay, mùng 5 tết âm lịch, tức 15-2-2021, trong khi viết những dòng này tôi đang ngồi ở miền Tây Hoa Kỳ tiễn đưa thân xác anh Duy Lam trở về với cát bụi qua đám tang trực tuyến ở miền Đông với nhiều xúc cảm. Một đời người 90 năm như bóng câu qua cửa sổ, nhưng anh Duy Lam đã luôn sống hữu ích với tinh thần lạc quan, năng nổ của kẻ sĩ nhập thế. Trong giây phút gian nguy của đất nước, anh vẫn lạc quan quên bản thân và gia đình để tập họp dân chúng bàn chuyện tử thủ, anh đã bày tỏ khí tiết anh hùng của một chiến sĩ vô danh.
Cắt 2 chữ đầu mỗi câu trong bài chính, thành bài ngũ ngôn:
Đón Tết rực vườn hoa
Xinh tươi đẹp ngọc ngà
Ý lời gieo vận đối
Tình nghĩa kết thơ hoà
Cánh phấn mai lơi lả
Tơ vàng bướm nhẩn nha
Tỏa quang ngời sắc thắm
Đón Tết rực vườn hoa
4. Cắt 2 chữ cuối mỗi câu trong bài chính, đọc ngược thành bài ngũ ngôn thứ 2:
Rực Tết đón chào Xuân
Ngời quang tỏa thế trần
Bướm vàng tơ lảng bảng
Mai phấn cánh lâng lâng
Kết nghĩa tình tuôn trải
Gieo lời ý ngập dâng
Đẹp tươi xinh sắc cảnh
Rực Tết đón chào Xuân
5. Cắt 3 chữ cuối mỗi câu trong bài chính, thành bài thơ 4 chữ:
Xuân chào đón Tết
Cảnh sắc xinh tươi
Dâng ngập ý lời
Trải tuôn tình nghĩa
Lâng lâng cánh phấn
Bảng lảng tơ vàng
Trần thế tỏa quang
Xuân chào đón Tết
6. Cắt 3 chữ cuối mỗi câu trong bài chính, chuyển ngược dưới lên thành bài thơ 4 chữ thứ 2:
Tết đón chào Xuân
Quang tỏa thế trần
Vàng tơ lảng bảng
Phấn cánh lâng lâng
Nghĩa tình tuôn trải
Lời ý ngập dâng
Tươi xinh sắc cảnh
Tết đón chào Xuân
7. Cắt 3 chữ đầu mỗi câu trong bài chính, thành bài thơ 4 chữ thứ 3:
Tết rực vườn hoa
Tươi đẹp ngọc ngà
Lời gieo vận đối
Nghĩa kết thơ hoà
Phấn mai lơi lả
Vàng bướm nhẩn nha
Quang ngời sắc thắm
Tết rực vườn hoa
8. Cắt 3 chữ đầu mỗi câu trong bài chính, chuyển ngược dưới lên thành bài thơ 4 chữ thứ 4:
Hoa vườn rực Tết
Thắm sắc ngời quang
Nha nhẩn bướm vàng
Lả lơi mai phấn
Hòa thơ kết nghĩa
Đối vận gieo lời
Ngà ngọc đẹp tươi
Hoa vườn rực Tết
9. Cắt 4 chữ đầu mỗi câu của bài chính, thành bài thơ 3 chữ:
Rực vườn hoa
Đẹp ngọc ngà
Gieo vận đối
Kết thơ hoà
Mai lơi lả
Bướm nhẩn nha
Ngời sắc thắm
Rực vườn hoa
10. Cắt 4 chữ cuối mỗi câu trong bài chính, ngược từ dưới lên thành bài thơ 3 chữ thứ 2:
Đón chào Xuân
Tỏa thế trần
Tơ lảng bảng
Cánh lâng lâng
Tình tuôn trải
Ý ngập dâng
Xinh sắc cảnh
Đón chào Xuân
11. Dùng 3 chữ đầu trong câu 8 của bài chính “thuận độc (bài 1) đảo ngược lại rồi thay cho 3 chữ cuối của câu 1, bài 1, và tiếp tục hoán đổi từ dưới lên cho đến hết 8 câu, thành một bài thất ngôn bát cú khác:
Xuân chào đón Tết, đón chào Xuân
Cảnh sắc xinh tươi tỏa thế trần
Dâng ngập ý lời tơ bảng lảng
Trải tuôn tình nghĩa cánh lâng lâng
Lâng lâng cánh phấn tình tuôn trải
Bảng lảng tơ vàng ý ngập dâng
Trần thế tỏa quang xinh sắc cảnh
Xuân chào đón Tết, đón chào Xuân
12. Dùng 3 chữ đầu trong câu 8 của bài “nghịch độc” (bài 2), đảo ngược lại rồi thay cho 3 chữ cuối của câu 1, bài 2, và tiếp tục hoán đổi từ dưới lên cho đến hết 8 câu, thành bài thất ngôn bát cú khác thứ 2:
Hoa vườn rực Tết rực vườn hoa
Thắm sắc ngời quang đẹp ngọc ngà
Nha nhẩn bướm vàng gieo vận đối
Lả lơi mai phấn kết thơ hòa
Hòa thơ kết nghĩa mai lơi lả
Đối vận gieo lời bướm nhẩn nha
Ngà ngọc đẹp tươi ngời sắc thắm
Hoa vườn rực Tết rực vườn hoa
Phương Hoa – Xuân Canh Tý – 2020
Tiền và Người
Quý Vị và Các Bạn thân mến,
Trong đời sống, quả thật đồng tiền hết sức quan trọng cho chính mỗi chúng ta. Vì tiền là thước đo sự thành công và giàu có của một người, một gia đình hay một quốc gia. Khi có nhiều tiền thì ta trở nên giàu có; nhiều của cải, nhiều vật chất, cũng như có được địa vị, có được danh tiếng… Và thế nên nó trở thành một động lực và chúng ta luôn cố gắng tìm mọi cách để sở hữu đồng tiền.
Tuy nhiên có một sự thật rằng, dẫu chúng ta có sở hữu thật nhiều tiền chăng nữa cũng không thể tránh khỏi bệnh tật – hay nói một cách khác là tránh được sự chết.
Để kiếm được nhiều tiền, cũng có nghĩa ta phải dành nhiều thời gian để làm việc, và như thế ta lại bỏ qua những điều quý giá và ý nghĩa khác trong cuộc sống.
Thật ra bản chất của đồng tiền không mang giá trị, nhưng nó chỉ là một phương tiện để chúng ta trao đổi với nhau trong cuộc sống. Giá trị đích thực của đồng tiền chỉ có khi chúng ta nhận thấy bản thân mình có giá trị hơn nó. Nghĩa là chúng ta sẽ không chỉ nhìn một người có nhiều tiền và giàu có, mà còn thêm vào các giá trị trải nghiệm mà họ có từ tư cách, nhân cách, danh dự, chân chính và đạo đức con người… Vì cuộc đời đã cho ta thấy không phải ai giàu có cũng đều được kính trọng !
Quan điểm của nhiều người cho rằng : “Tiền không phải là tất cả, nhưng không có tiền là không có tất cả”. Rất đúng nhưng, riêng cá nhân tôi điều đó đúng trong tương đối. Vì tiền không thể mua được sự hiểu biết và tri thức con người. Nghĩa là bạn có thể mua được bằng cấp bằng tiền, hoặc tiền có thể mua được cuốn sách, nhưng tuyệt nhiên không mua được kiến thức.
Như tôi đề cập ở trên. Bản chất của đồng tiền vốn chẳng tốt cũng chẳng xấu, nhưng do người biết sử dụng nó vào mục đích gì. Đồng tiền do con người làm ra, nhưng cũng vì nó mà con người gặp bao lao đao, đắng cay và tai ương. Người có nhiều tiền mà không chân chính và đạo đức, họ sống vô cảm và sẽ làm suy đồi phẩm chất con người. Họ sẽ mua thế lực và dùng tiền để làm điều sai trái cho mục đích đen tối của mình. Họ cũng dùng đồng tiền để ức hiếp và lăng nhục những người làm trái ý họ, và cũng không ngoại trừ dùng những thủ đoạn giết đi mạng sống của người khác.
Trong khi bạn và tôi vì cuộc sống, nên cũng không tránh khỏi và đã nhiều lần khiến ta phải nô lệ đồng tiền. Cũng vì nô lệ nó mà tôi với bạn đã đánh mất biết bao điều quý giá trong cuộc sống mà đôi khi hối hận thì đã quá muộn.
Bài thơ TÔI CHỈ LÀ TỜ GIẤY của một thiền sư : Thượng Tọa Thích Tánh Tuệ. Bài thơ này tôi chọn để phổ thành ca khúc mà Quý Vị và Các Bạn sẽ nghe dưới đây.
Quả thật lời và ý thơ là một sự mỉa mai cay đắng cho chính mỗi chúng ta – trong đó có tôi và có bạn.
Vâng, chỉ là một tờ giấy mỏng manh có in hình đồng tiền đó mà nó có uy lực vô song, khiến chúng ta phải long đong trong đời sống, khiến ta phải run rẩy để đổi giọng và đổi cả tấm lòng. Tờ giấy mỏng manh đó nó “hóa phép” để biến đen thành trắng, và trắng nó nhuộm thành đen. Tờ giấy đó nó cũng khiến người xa lạ trở thành thành thân quen – ôm hôn nhau thắm thiết như các lãnh tụ Xô Viết ! Cũng là tờ giấy đó mà lắm kẻ cao thượng bỗng dưng…. hèn, và kẻ hèn thành…. thượng đế !?
Chưa hết, đồng tiền giấy đó nó cũng có khả năng không những chỉ xua Đời mà còn khiến đến cả Đạo. Nghĩa là nó có thể khiến một số tu hành cũng bị lôi cuốn, lẩn quẩn trong vòng xoáy của luân hồi !
Tư Mã Thiên đã cảm nhận sâu sắc và thấu đáo để rồi ông phải thốt lên rằng : “Thiên hạ ồn ào đều vì lợi mà đến…” Và tôi xin thêm rằng : Thiên hạ cũng không chịu buông bỏ dù biết lợi đó là lợi bẩn !
Thưa Quý Vị và Các Bạn,
Những điều trên đây cho ta thấy về giá trị đồng tiền trong đời sống, cũng như mặt phải và trái, là “dao hai lưỡi” của nó.
Không gì giá trị và quý nhất mà đồng tiền do chính bản thân và công sức của mình làm ra một cách chân chính và lương thiện. Điều quan trọng hơn là cũng đừng vì đồng tiền mà đánh mất đi sự lương thiện và chân chính luôn có và hiện hữu trong lòng của mỗi chúng ta.
Nhân đây, tôi xin cám ơn đặc biệt đến người anh em là ca sĩ Anh Dũng đã thu âm bài hát này bằng tấm lòng và nghệ thuật mà không bị chi phối bởi “tờ giấy mỏng manh” đó.
Quả thật anh ấy đến với tôi trong nghệ thuật và âm nhạc, và cùng nhau muốn tôn “cái đẹp” trong thế giới nhiễu nhương hôm nay. Vì anh ấy biết rất sâu sắc, rằng : “Cái đẹp cứu rỗi thế giới”.
Xin chia sẻ đến Quý Vị và Các Bạn ca khúc TÔI CHỈ LÀ TỜ GIẤY theo link Youtube sau đây :
Thơ : Thích Tánh Tuệ
Nhạc : Văn Duy Tùng
Ca sĩ : Anh Dũng
Diễn ảnh : Trúc Tiên
Muốn hát karaoke ca khúc này, xin bấm vào đây :
Và bài hát PDF (đính kèm)
Trân trọng,
Văn Duy Tùng
(thơ song ngữ) THUNG LŨNG HOA VÀNG của QUỐC NAM & THANH-THANH
Ngày thứ ba 17 tháng 3 năm 2020 nghe tin cô Thái Thanh ra đi, dẫu biết cô đã 86 tuổi, cái tuổi của Sinh, Lão, Bệnh và bây giờ là Tử. Giữa lúc bệnh dịch Covid_19 lây lan hoành hành khắp nơi, mọi người đều bị cách ly ở nhà, chẳng ai gặp ai, tôi thật ngậm ngùi thương cảm Cô mất trong hoàn cảnh éo le, không có bạn bè thăm viếng, đưa tiễn…
Cô là người gắn liền biết bao kỷ niệm thời con gái. Tôi nghĩ phải có một bài viết về thần tượng của mình. Từ lúc nào tiếng hát của Cô đã thấm trong tim trong óc tôi “Người Đi Qua Đời Tôi” (thơ Trần Dạ Từ, nhạc Phạm đình Chương)
“Người đi qua đời tôi trong những chiều đông sầu
Mưa mù lên mấy vai gió mù lên mấy trời
Người đi qua đời tôi hồn lưng miền rét mướt,
Vàng xưa đầy dấu chân đen tối vùng lãng quên
Bàn tay mềm khói sương tiếng hát nào hơ nóng
Và ai qua đời tôi chiều âm vang ngàn sóng
Trên lối về nghĩa trang
Nghe những lời linh hồn, nghe những lời linh hồn
Trong mộ phần đen tối đen…”
Hồi đó Huế có những quán cà phê bàn ghế thường đặt trong sân vườn rất thơ mộng, dân Huế đi uống cà phê như cái thú tao nhã , ngồi trầm ngâm hàng giờ, nhìn phin cà phê nhỏ giọt, thả hồn theo dòng nhạc êm dịu, không nhất thiết phải là đôi tình nhân, hay đám thanh niên, mà còn có đám nữ rủ nhau lựa góc hiên thềm nhìn những giọt mưa rơi tí tách xuống thành bong bóng vỡ, nghe Cô TT ru hồn với “Ngàn Thu Áo Tím”
“Ngàn thu mưa rơi trên áo em màu tím
Ngàn thu đau thương vương áo em màu tím
Nhuộm tím những chuỗi ngày vắng nhau
Tháng năm càng lướt mau
Biết bao giờ thấy nhau…” (Hoàng Trọng & Vĩnh Phúc)
Những chiều Hạ vàng nhóm chúng tôi thường rủ nhau đến nhà bạn Nhã Phương bên Đập Đá hái khế ngọt và nhiều thứ trái cây trong khu vườn rộng, trải chiếu sau vườn nhìn ra bến sông, bạn xách cassette kèm cuốn băng Thái Thanh, có lúc gặp anh Cường của bạn đi lính về thăm nhà, thấy tụi này cũng nhập bọn vác đàn theo ca hát. Chúng tôi ngồi nhìn bóng con đò lững thững trôi chầm chậm với hình ảnh người đứng buông tay chèo, chiều nhạt bên kia bờ, thấm từng lời nhạc của Cung Tiến theo tiếng hát réo rắc huyễn hoặc của Cô trong bài “Hương Xưa”
“Người ơi, chiều nào có nắng vàng hiền hoà sưởi ấm nơi nơi?
Người ơi, chiều nào có thu về cho tôi nhặt lá thu rơi?
Tình có ghi lên đôi môi. Sầu có phai nhoà cuộc đời
Người vẫn thương yêu loài người và yên vui cuộc sống vui
Đời êm như tiếng hát của lứa đôi.
Đời êm như tiếng hát của lứa đôi…”
Mặc ai nói chuyện, tôi vẫn thu mình trong thế giới xa xôi mơ hồ theo cung điệu trầm bổng cùng “Dạ Khúc” (serenade) lời Việt: Phạm Duy
“Chiều buồn nhẹ xuống đời
Người tình tìm đến người
Thấy run run trong chiều phai
Vẻ sầu của đóa cười
Tình bền của lứa đôi
Thoáng hương trong chiều rơi…”
Giọng càng lúc càng cao vút điệu luyện về nhạc lý và kỹ thuật, nhất là bài “Dòng Sông Xanh” với điệu valse dồn dập ngây ngất cho ta mơ cảnh đẹp nước Pháp tuyệt vời lãng mạn.
Có lần xem tivi chương trình nhạc “Tiếng Tơ Đồng”, lúc đó Cô chỉ 42 tuổi xuất hiện với bài “Ồ Mê Ly” của Văn Phụng. Cô đang hát, tóc xõa ngang vai, anh tôi đi đâu về vừa thấy thì la lên “Tội quá má ơi, cột tóc lên cho con nhờ…”. Vì tôi rất sợ anh nên không hề nói chuyện ngang hàng, nhưng trong lòng giận lắm chẳng thèm ngó mặt một thời gian. Tiếc là bây giờ anh đã nằm dưới lòng đất lạnh, chứ nếu còn sống thấy tôi xõa tóc, chắc bị anh rượt chạy khắp làng quá, mà cũng lạ thiệt… đến tuổi 65 tôi vẫn còn muốn xõa tóc mỗi khi mặc áo dài “dáng huyền tha thướt đê mê, tóc dài thả gió lê thê…”, thơ văn nhiều lúc đã trang điểm cho tôi cái cảm giác mình vẫn còn… trẻ, có lẽ sẽ làm ngứa mắt thiên hạ, nhưng lại làm tôi hạnh phúc mơ hồ rằng… tôi không còn thời xuân mộng, nhưng cũng chưa già, mà tôi ở thế giới của âm nhạc mây mưa ảo tưởng, đêm cụng chén nguyệt, ngày nhặt nắng hạ…, có lẽ tôi mê mẩn thơ văn, trong đầu chỉ muốn sống với thế giới đầy tiếng thu trăng sầu nên bị lạm “Mái Tóc Dạ Hương” (thơ Đinh Hùng, Nguyễn Hiền phổ nhạc).
“Rồi đây trên những lối đi này.
Ta sẽ cùng ai tay nắm tay.
Nhịp chân lưu luyến mãi cung đàn.
Buông lắng chìm tâm tư đắm say
Dĩ vãng nào xanh như mắt em.
Chao ôi! màu suối tóc buông mềm
Nét buồn Khuê các hoen sương phủ.
Nhạt ánh sao ngàn bên dáng xiêm…”
Còn nhớ giờ ra chơi trong sân trường, từng cặp, từng nhóm đi dạo dưới hàng cây xanh, chúng tôi 3 đứa gồm Thu Sương, Hiền và tôi đi lượm từng giọt nắng đầu hạ, tình cờ nói chuyện về thơ Phạm Thiên Thư được Phạm Duy phổ nhạc bài “Ngày xưa Hoàng Thị”
“Em tan trường về. Mưa bay mờ mờ.
Anh trao vội vàng. Chùm hoa mới nở
Ép vào cuốn vở. Muôn thuở còn thương còn thương…”
Hiền đang say sưa hát, bỗng dưng ngừng lại, hỏi tôi
– Ê Minh …mi thích giọng ai hát
– Đối với tao nghe ai cũng không bằng Thái Thanh, thấy đậm đà làm sao
Hiền nghe vậy khoái quá
– Đúng, tao cùng sở thích như mi, tao thích giọng Cô lắm, rứa còn Thu Sương… mi thích ca sĩ mô
Thu Sương từ tốn nói
– Tao thích LT, nghe giọng TT có vẻ …mệt mệt làm sao
– Hiền nghe nói vậy như bị điện giật, lúc đó tôi đi giữa, nó chồm qua người tôi, giận dữ với Thu Sương
– Xin lỗi mi …chính LT giọng nghe mới mệt mệt
Dù tôi không cùng quan điểm với Thu Sương, dù thần tượng của tôi bị chê “nghe mệt mệt’, nhưng thường chơi bạn tôi không muốn mất lòng ai, nên im lặng và can ngăn 2 đứa bỏ qua chuyện đó. Thu Sương tánh đằm chẳng nói thêm gì nữa khi bị Hiền sừng sộ, bỏ ngang 2 đứa tôi, trở về lớp sớm. Còn lại tôi với Hiền
– Mi làm cái chi mà nổi nóng ghê rứa
– Chứ mi không thấy giọng ca như rứa mà hắn “nghe mệt mệt” à?
Rồi thì 2 đứa giận đến mấy tháng, chúng nó nhìn nhau kênh kênh cái mặt lên, Thu Sương giận cả tôi luôn, nhưng không kênh mặt, chỉ là không thân như trước thôi
Một hôm theo Tuyền Ái về quê Ngoại ăn đám giỗ, xe đò dừng ngoài lộ, muốn vào làng phải đi bộ rất xa, ngang qua thửa ruộng lúa chín vàng, có số người lom khom cắt lúa. Nhìn đồng hồ mới khoảng 2 giờ chiều, Tuyền Ái không muốn về nhà Ngoại sớm, hắn bảo về sớm phải phụ làm việc, chi bằng ngồi ngoài nhìn trời nhìn đất xem cảnh đồng quê thoải mái, canh giờ về chỉ có ăn thôi, tôi trợn mắt nhìn hắn nhưng rồi 2 đứa phá lên cười đồng tình cái lười biếng ở thành phố lâu nay chỉ có ăn học… nhác chảy thây.
Hai đứa ngồi xuống lề bờ ruộng, hái những cây lúa non thấy hạt gạo bên trong, tự nhiên cảm giác bồi hồi thích thú. Có anh thanh niên đang hốt vén cỏ gần đó, Tuyền Ái mon men tới gần hỏi:
– Anh hốt cỏ đó về làm chi rứa ?
– Về phơi khô chụm nấu cơm
– Anh gặt lúa, làm lụng suốt ngày có mệt không?
– Mệt chớ, nhưng dưới quê thì chỉ làm nghề ni thôi, mà 2 O ở thành phố xuống phải không?
Bạn tôi gật đầu, rồi không biết hỏi chi nữa, máu nghịch ngợm hắn bắt đầu nổi lên
– Anh cúp tóc ở mô rứa ?
– Hỏi chi rứa?
Mắt anh chàng ngẩng lên nhìn có vẻ ngạc nhiên.
– Thấy đầu tóc anh đẹp quá hỏi cho biết
– Cám ơn …tui làm chi đẹp bằng mấy O mấy Cậu trên thành phố được.
– Anh có vợ chưa ?
Lần này anh thanh niên không thèm trả lời, cứ im lặng làm việc. Bạn tôi hết chọc ghẹo được, rủ tôi đi tà tà ngắm mọi người trên đồng ruộng. Tôi bắt đầu thấy rung động với nét đẹp quê hương, con người mộc mạc và sự cần cù lao động, mà từ lâu nơi thành phố chẳng hề thấy. Giọt nắng làm áo họ thấm ướt mồ hôi, mùi lúa thơm phảng phất, đồng ruộng bát ngát mênh mông, gió thổi rì rào những khóm tre trên bờ đường… Thật thỏa lòng tôi luôn ao ước, nên thường dặn dò các bạn “Khi mô về làng ngoại nội nhớ rủ đi với nghe”
Canh giờ tới nhà ngoại của Tuyền Ái, đến nơi đúng lúc bà con vừa cúng xong, dọn mâm xuống. Cậu, mợ, dì, bà Ngoại mừng rỡ ôm cháu hỏi đủ điều, đã có sẵn ba mẹ Tuyền Ái về trước hôm qua, còn dự tính mai mới lên lại thành phố. Mọi người chăm thức ăn cho 2 đứa, bới xôi, thịt gà, cam quýt trong vườn dồn lại một xách, bắt chúng tôi lên sớm, mai còn đi học.
Sau chuyến đó, cứ nhớ hoài cảnh đồng quê, về nhà tôi thích nghe bài “Tình Ca” của Phạm Duy qua tiếng hát Thái Thanh thấm trong mạch máu từng lời nhạc, nghĩa tình quê hương đậm đà…
“Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời, người ơi
Mẹ hiền ru những câu xa vời
À à ơi! Tiếng ru muôn đời
Tiếng nước tôi! Bốn ngàn năm ròng rã buồn vui
Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơi…
Tiếng nước tôi! Tiếng mẹ sinh từ lúc nằm nôi
Thoát nghìn năm thành tiếng lòng tôi, nước ơi
…………………………….
Tôi yêu bác nông phu, đội sương nắng bên bờ ruộng sâu
Vài ngàn năm đứng trên đất nghèo
Mình đồng da sắc không phai màu
Tấm áo nâu! Những mẹ quê chỉ biết cần lao
Những trẻ quê bạn với đàn trâu, áo ơi
Tấm áo nâu! Rướn mình đi từ cõi rừng cao
Dắt dìu nhau vào đến Cà Mau, áo ơi
Tôi yêu biết bao người
Lý, Lê, Trần… và còn ai nữa
Những anh hùng của thời xa xưa
Những anh hùng của một ngày mai
Vì yêu, yêu nước, yêu nòi
Ngày xuân tôi hát nên bài tình ca
Ruộng xanh tươi tốt quê nhà
Lòng tôi đã nở như là đóa hoa…”
Một thời xóm tôi xuất hiện chàng họa sĩ tới thuê nhà trước mặt, tôi nhìn anh chàng cũng như bao người khác với trạng thái bình thường, nhưng khi mỗi chiều hè anh ra đứng bất động, mắt chăm chú ngó nền trời, tôi đoán có thể quan sát chân trời, có thể mây bay, hoặc có thể ráng mặt trời… để lấy màu hòa sắc. Những lúc ấy tôi đang ngồi bên khung cửa sổ, ngẩng lên chợt rung động theo hình ảnh người thanh niên đứng phút giây xuất thần. Không hiểu sao anh ta hay bỏ nhạc bài “Một Mùa Đông” được phổ thơ của Lưu Trọng Lư do cô TT hát, dù lúc đó đang vào thời tiết hạ, tôi hay lắng nghe và nhớ đoạn …
“Em ngồi trong song cửa. Anh đứng dựa tường hoa,
Nhìn nhau mà lệ ứa, Một ngày một cách xa
Yêu hết một mùa đông. Không một lần đã nói
Nhìn nhau buồn vời vợi. Có nói cũng không cùng…” (Phạm Duy)
Buổi chiều trên đường đi học về, gần đến ngõ đã nghe tiếng cô TT vang lên điệp khúc ấy, lòng tôi cũng nao nao tưởng tượng như anh chàng đang dành tặng bài hát này cho mình, “chắc hẳn anh vẫn thấy mình ngồi bên song cửa…”, sắp tới nhà anh, người tôi run lên, tim đập rộn ràng, mặt quay ngược lại, bên tai tiếng hát vẫn vang lên “Em ngồi trong song cửa. Anh đứng tựa vườn hoa…”
Rồi một chiều Thu… mùa Thu nơi xứ Huế thường pha chút tím trên nền trời, cuối chân mây và khắp nẻo đường biết bao tà áo tím thấp thoáng, đó là đặc điểm của Huế …Anh lại ra đứng ngoài ban công nhưng lần này có hình bóng người thiếu nữ diễm kiều trong tà áo tím, mái tóc xõa dài, cùng đứng cạnh nhìn theo hướng tay anh chỉ về phía chân trời. Hai người có vẻ tương đắc đang bàn điều gì, có lẽ cô đó học cùng lớp về ngành hội họa!!
Từ đó tôi ôm mùa đông xứ Huế buồn hiu hắt, bản nhạc vẫn mở, cô Thái Thanh vẫn thả làn hơi du dương nhưng tôi thấy “mỗi ngày mỗi cách xa…” xa trong cuộc sống, xa với tình yêu mà thật gần bài hát. Tôi đã biết cảm nhận “trên ngọn tình sầu”
Qua khỏi mùa đông anh cũng dọn nhà đi nơi khác, để lại trong tôi kỷ niệm về “Một Mùa Đông” anh đã cho những mơ màng rung động, những phút dệt mộng tình yêu đơn phương nhẹ nhàng như sương khói.
Còn nhớ những buổi chiều bạn bè tìm đến quán Hoa hồng 9, trời mùa đông lạnh lẽo, bên ngoài mưa rơi, trong quán Thái Thanh hát “Giòng Sông Xanh”, “Tình Hoài Hương”, “Dưới Giàn Hoa Cũ”, “Dạ Khúc”… Cùng tách trà lipton nóng, được bỏ hạt ô mai vào trong, trên có lát cam, vị thơm của trà pha mặn, mùi ngọt của lát cam thật ấm áp và sảng khoái. Số bản nhạc được chúng tôi yêu cầu vì giờ vắng khách, mỗi đứa mỗi tâm trạng… có đứa đang yêu thầm, có đứa đang vỡ mộng chán chường, có đứa đang mệt mỏi tình cảm, thất tình… cho nên nghe bản nào cũng thấy hợp, cũng se lòng thắt dạ đến ngây ngất. Không nhất thiết phải nói với nhau, nhưng chúng tôi rất cần có nhau mỗi khi đi uống cà phê, bởi vì đa số những quán cà phê ở Huế rất trầm lắng và thanh lịch, hầu như vào đó để nghe nhạc cho nên bọn con gái chẳng ngại điều gì mà không hưởng những giây phút thần tiên như vậy.
Sau 1975 mọi người như từ trên cao rớt xuống vực sâu, tinh thần suy sụp, không còn niềm tin, không còn nguồn vui bám víu. Mọi gia đình đều ly tán, bế tắc… Dân Huế bán nhà vào Nam rất đông. Gia đình bạn tôi tên Dung cũng vào cư xá Thanh Đa ở chật hẹp trong căn chung cư. Vào khoảng năm 80, 81 tôi cũng tìm đường vượt biển, ở nhà bạn thêu hàng áo dài chung. Tôi chỉ cần có chỗ tá túc trong thời gian chờ đợi liên lạc đường dây tổ chức, nên thêu kiếm bao nhiêu tiền tôi không để ý, giao hết cho bạn chi tiêu ăn uống. Gia đình bạn có tới 12 chị em, mẹ mất trước 75, cha đi “tù cải tạo” chưa về. Một hôm Dung mua được cuốn casettes cũ của ai với tựa đề “Em Ra Đi Mùa Thu” cô TT hát, nhưng trước khi mua, Dung hỏi cả nhà:
Tiền chợ mỗi ngày tiêu chuẩn chỉ $10 (bạc bắc) có ai chấp nhận hôm nay ăn rau muống chấm xì dầu, để tiền mua cuốn nhạc không? Mấy em nhỏ chẳng để ý, người lớn muốn làm gì thì làm, các chị lớn hoan nghênh liền:
– Chị Dung mua đi, ăn rau một ngày mô có chết, nghe nhạc cho đã tai.
Thế là mâm cơm chỉ có tô xì dầu xắn ớt tươi chan cơm và mấy bó rau luộc. Giây phút lịm người nhất là sau những buổi cơm trưa, đóng cửa, không gian mờ tối cả nhà nằm hết dưới sàn xi măng, mở nhạc ru giấc ngủ, nghe đến thuộc làu các bản nhạc “Hòn vọng phu 1”, “Gánh Lúa”, “Cho Tôi Yêu Lại Từ Đầu”, “Em Ra Đi Mùa Thu”, “Quê Em”, “Thư Gởi Người Chiến Binh”, “Ca Dao Me”, “Phút Đầu Tiên” …v..v… Dù thời gian đó ai cũng bị tình trạng ăn uống thiếu chất, nhưng những buổi trưa như vậy đã bổ dưỡng nhiều cho tâm hồn chúng tôi được tươi mát dịu vợi, nhất là …
“Em ra đi mùa thu, mùa thu không trở lại
Đếm lá úa mùa thu, đo sầu ngập tim tôi
………………………………..
Hôm em ra đi mùa thu. Mùa thu không trở lại
Lá úa khóc người đi. Sương mờ dâng lên mi
Em ra đi mùa thu. Mùa lá rơi ngập ngừng
Đếm lá úa sầu lên, bao giờ cho tôi quên… (Phạm Trọng Cầu)
Còn gì sung sướng hơn được hài lòng với mộng, tôi còn nhớ thầy dạy môn đạo đức đã giảng “tưởng tượng hay giấc mơ là trạng thái của sự thiếu thốn đè nén”, nên nó giải tỏa và thỏa mãn bằng phương cách đó. Chúng tôi được ve vuốt bởi tiếng hát “thuốc phiện”, đưa hồn lâng lâng lên thấu tầng mây xanh, quay lưng thực tại để được ru, được đi vào khung trời lãng mạn của Paris với khu vườn Luxembourg, và hóng mát bên dòng sông Seine rồi đi dần vào giấc ngủ thần tiên.
Không còn niềm rung động nào bằng thời điểm đó chìm lắng theo “Cho Tôi Lại Từ Đầu” sáng tác của Trần Quang Lộc, chúng tôi gần như mê man với bản nhạc này, dĩ nhiên chỉ có “Tiếng hát vượt thời gian” mới diễn đạt sâu sắc được
“Cho tôi bước lại con đường làng. Ngày đầu cắp sách đến trường.
Bên tai tiếng cười tiếng nói lạ. Dịu dàng mùi thơm giấy mới
Cho tôi hát lại câu hát đầu. Như thuở mẹ ru rất yêu
Tay tôi xếp hoài con diều nhỏ. Để ước mơ vào mây cao
Cho tôi giữ lại khung trời mộng. Chiều về đuổi bướm trên đồng
Nâng niu hát đùa với dế nhỏ. Trải mình nằm trên cỏ ấm
Cho tôi đứng chờ em cuối đường. Lá đổ lòng nghe vấn vương
Thơ tôi viết hoài cho tình mộng. Để hát cho người yêu nhau
Cho tôi lại từ đầu …Để được khóc, được thương được nhớ
Cho tôi lòng thật thà …trên môi đời nghiệt ngã
Để hương xưa …nhỏ xuống tình già
Cho tôi nói lại tiếng tình đầu. Một chiều em đứng bên cầu
Che nghiêng nón cười như dấu mộng. Thẹn thùng nụ hoa mới hé
Cho tôi nhớ lại hương tóc mềm. Gió chiều thả hương ấm vai
Đêm mơ thấy tình đi nhè nhẹ. Mà nhớ em ngày xa xăm…”
Cuối năm 1985 tôi qua Mỹ bằng đường biển, cô em họ của ông xã tôi cũng vượt biển tới đảo Galang, được bố chồng tôi bảo lãnh qua Mỹ sống chung nhà. Một hôm ông Thầy cũ muốn thăm cô em, cô không muốn tiếp tại nhà đông đúc nên rủ tôi đến nơi ông ở. Hai người nói chuyện, tôi ngồi nhìn mấy tờ báo, tình cờ thấy tấm poster quảng cáo đêm nhạc Thái Thanh vừa qua Mỹ, thấy tôi cứ nhìn chăm, ông Thầy quay qua hỏi tôi:
– Chị thích tiếng hát ca sĩ nào nhất
– Thái Thanh
Ông Thầy sáng mắt:
– OK…tôi mời chị và Vân đi xem buổi ca nhạc cuối tuần này có được không?
Tôi đưa mắt nhìn Vân không trả lời, Vân lanh ý nói sẽ xem lại chương trình rồi trả lời sau.
Nhìn giá vé buổi ca nhạc dù không phải hạng nhất nhưng tôi cũng le lưỡi thấy số tiền rất lớn, mới qua lại tay trắng rất ngại chẳng muốn đi, còn Vân thì không mê nhạc cho lắm, nhưng ông Thầy có vẻ nhiệt tình mời mọc như người gặp được tri kỷ
– Chị mê tiếng hát Thái Thanh nên tôi mừng lắm, muốn có người hợp sở thích cùng đi nghe.
Vân thương tôi nên cũng xiêu lòng nhận lời. Đêm đó ông thầy đến nhà chở 2 chị em đi. Nếu như còn ở VN, mà lại ở Huế đời nào tôi được xem buổi văn nghệ như vậy.
Bước vào rạp, tim tôi hồi hộp như sắp được gặp lại cố nhân. Chương trình có phần phụ diễn ca sĩ Ngọc Lan. Cô TT hát say sưa những bản quen thuộc tôi từng nghe như “Mái Tóc Dạ Hương”, “Kỷ Vật Cho Em”, “ Quán Bên Đường”, “Tình Ca”, “Bóng Người Đi”….v..v…. Giờ giải lao tôi không ngần ngại chen chân mua cuốn CD “Quê Hương và Kỷ Niệm”, mừng rỡ có 2 bài tôi ghiền nhiều là “Giòng Sông Xanh” và “Đôi Mắt Người Sơn Tây”. Đó là món quà đặc biệt nhất ngày tôi vừa bước chân đến Mỹ được hơn 3 tháng.
Thời gian kế tiếp tôi học lái xe có người chuyên nghề dạy. Ông là cựu sĩ quan, ngoài giờ làm hãng điện tử, dạy thêm kiếm tiền. Sau giờ học trên đường trở về nhà, tôi thấy ông bỏ nhạc Minh Hiếu trên xe, ông hỏi tôi thích giọng ai, tôi cho biết thích TT, ông nổi hứng hứa sẽ tặng tôi cuốn băng TT. Tối ông đến nhà đưa liền cuốn CD chủ đề “Đêm Nhớ Trăng Sài Gòn”, đây là những kỷ niệm liên quan đến tiếng hát cô Thái Thanh tôi rất trân quý giữ nó một góc trong tâm hồn…
Cuộc sống bắt đầu thấm mệt theo những bận rộn công việc, không còn thời gian để nghỉ ngơi. Tôi cày ngày 12 tiếng, tháng 30 ngày, đạp theo chân người Mỹ vì cũng phải sắm xe, nợ nhà, thêm bản tính dân Huế hay lo xa, cày được cứ cày, lỡ ngày mai thất nghiệp. Về nhà chỉ biết thèm giấc ngủ, tuy nhiên cũng còn nũng nịu bắt cô TT dỗ dù chỉ 1, 2 bài rồi say giấc ngủ dễ dàng. Vài năm sau tôi thay công việc làm cho company Kyle Design nên được nghỉ ngày cuối tuần thong thả.
Giấc ngủ muộn màng, mở tung cánh cửa sổ thấy bầu trời trong sáng rực nắng hạ, hay màn mưa mù ngoài song, cảm giác sung sướng thoát khỏi cảnh bị đồng hồ báo thức. Nằm nướng mở nhạc chiếc máy để đầu giường, nghe cô đưa vào kỷ niệm xa xưa… Hay là pha ly cà phê sữa nóng, ngồi một mình nơi phòng khách mở nhạc lớn thoải mái, ngồi bất động để tâm hồn lạc lối về miền quá khứ…
“Mời người lên xe về miền quá khứ.
Mời người đem theo toàn vẹn thương yêu
Đứng tiễn người vào dĩ vãng nhạt mầu.
Sẽ có chẳng nhiều đớn đau
Nối gót người vào dĩ vãng nhiệm mầu.
Có lũ kỷ niệm trước sau …”
Giọng hát cô uốn lượn theo nhiều cung bậc, xoáy sâu vào lời nhạc mang hồn thi ca phong phú, xoắn mạnh vào tâm hồn tôi ngây ngất, có lúc dồn dập….
“Chiều hành quân qua những đồi sim, những đồi sim, những đồi sim, đồi tím hoa sim, tím cả chiều hoang biền biệt…” (thơ Hữu Loan nhạc Phạm Duy )
Có lúc lâng lâng …
“Lắng trong tiếng chiều ngân, nhạc dặt dìu ái ân.
Người ơi nhớ mãi cũng đàn, năm tháng phai tàn, duyên kiếp vẫn còn lỡ làng…
“Chiều Tà” (Phạm Duy dịch)
Có lúc thắt ruột
“Lòng Mẹ bao la như biển thái bình dạt dào…”(Y Vân)
Có lúc chùng xuống “Đêm Cuối Cùng” (Phạm đình Chương).
“Đêm nay đêm cuối cùng gần nhau. Lệ buồn rưng rưng, lời hát thương đau.
Tất cả cô đều chuyên chở vào âm nhạc những vui buồn cảm xúc bằng tiếng ca lời nhạc, đã đem tâm hồn tôi đi xa, xa lắm …tạm quên đời cơm áo, những đè nặng lo âu hiện tại, tìm lại chiếc bóng ngây thơ dẫm trên đường hoa mộng, trở lại dòng sông xưa, có “bạn bè hiền như thỏ, đêm đêm về gặm cỏ dưới ánh trăng thanh…”. Thuở mây mưa giăng lối, thuở có giàn ti gôn trước hiên nhà, thuở một sớm thức dậy nghe tiếng chim hót, nhìn ánh nắng tràn qua song, vươn vai ra quét sân, thật nhẹ nhàng sợ đau những xác hoa vung vãi, nghe dư âm vang vọng tiếng hát thần tượng bên tai, rồi hát nho nhỏ:
“Bao nhiêu là ngày. Theo nhau đường dài
Trưa trưa chiều chiều. Thu đông chẳng nhiều
Xuân qua rồi thì. Chia tay phượng nở sang hè…”
Xứ Mỹ luôn luôn vội vã, tất bật, chính giọng hát cô đã kéo lại những giây phút thanh thản cho tâm hồn, bù đắp sau giờ làm việc mệt nhọc. Tôi chợt nhớ đã đọc đâu đó những tư tưởng lớn bày tỏ về giá trị tuyệt vời của âm nhạc, do những nhà soạn nhạc nổi tiếng thế giới đã nói:
Robert Schumann :“Nhiệm vụ cao quý của âm nhạc là chiếu sáng vào những cõi sâu thẳm trong trái tim con người”.
Gioachino Rossini: “Ngôn ngữ của âm nhạc là ngôn ngữ chung của tất cả mọi thế hệ và mọi dân tộc; ai cũng hiểu được nó, bởi nó được hiểu bằng trái tim”.
Beethoven: “Âm nhạc khơi ngọn lửa trong tim người đàn ông và dâng lệ lên mắt người phụ nữ”.
J. B Bach: “Âm nhạc có thể giúp tinh thần rũ sạch mọi bụi trần của cuộc sống thường ngày”
Tôi làm việc trên thành phố Livermore, phải chạy qua 2 freeway 880& 580. Mỗi chiều trên đường về bị kẹt xe, mấy cuốn CD luôn là bạn gần gũi, cô luôn đi cạnh tôi an ủi, vỗ về theo nhịp “Tiếng Sông Hương” (Phạm đình Chương), “ “Hát Nữa Đi Hương” (Trầm Tử Thiêng), “ Mẹ Việt Nam Ơi” (Nguyễn Ánh 9)… Cô là người ve vuốt tôi rất nhiều bằng sự diễn đạt sâu sắc trong từng lời nhạc, bao nhiêu tình tự lãng mạn, về tình yêu quê hương, về đất nước đau buồn trong thời loạn ly, đủ sắc thái cho tôi rung động nhịp thở un đúc những cảm giác buồn vui lẫn lộn…
Cô ra đi… ngậm ngùi và nuối tiếc một bảo vật vừa bị mất mát. Đám tang Cô được tổ chức tại thành phố Westminster thuộc Nam Cali vào lúc 12 giờ trưa ngày 25 tháng 3. Trước khi tang lễ diễn ra có phần Livestream, tôi thấy có nhiều nghệ sĩ như Cô Kiều Chinh, cô Kim Tước, cô Châu Hà, nhạc sĩ Lam Phương, ca nhạc sĩ Từ Công Phụng, giám đốc Trung Tâm Thúy Nga Tô Văn Lai nói lời chia buồn. Nhìn các nghệ sĩ nay đã tuổi hạc bày tỏ cảm xúc, nước mắt tôi ràn rụa ngậm ngùi ….vì bệnh dịch Covid-19, bạn bè thân thiết, khán giả hâm mộ không thể đến thắp nén hương giã biệt, chỉ biết tưởng nhớ nén hương lòng buồn bã lặng lẽ.
Ý Lan, Quỳnh Hương và con cháu mặc áo hồng trong đám tang, cô Thái Thanh nằm bình thản được khoác y phục màu hồng tươi đẹp như mong muốn của cô lúc còn sống, cô đã quan niệm đó là “Màu Hạnh Phúc”. Nhạc vang trong đám tang bằng bài “Tình Ca”
“Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời, người ơi
Mẹ hiền ru những câu xa vời
À à ơi! Tiếng ru muôn đời
Tiếng nước tôi! Bốn ngàn năm ròng rã buồn vui
Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơi…”
Chiếc xe đẩy quan tài và con cháu đi sau một đoạn đường xa, mọi người đều hát “Nghìn Trùng Xa Cách” (Phạm Duy)
Nghìn trùng xa cách đời đứt ngang rồi
Còn lời trăn trối gởi đến cho người
Nghìn trùng xa cách người cuối chân trời
Đường dài hạnh phúc cầu chúc cho người…”
Tiếng hát Ý Lan và Quỳnh Hương nức nở nghẹn ngào, chắc hẳn bao nhiêu người hâm mộ cô cũng hát theo và rơi lệ. Bài hát này đã xoắn vào tim tôi ngày xưa khi tôi thất tình, và khi vượt biên qua đảo Pulau Bidong đầu năm 1985, mỗi khi có chuyến tàu rời đảo, tôi thường chứng kiến những cặp yêu thương nhau phải rời xa đau khổ, tiếng hát cô Thái Thanh vang lên xé buốt, giờ đây tôi lại đưa tiễn cô, nghe lại bài hát trong nỗi luyến thương, dẫu biết mọi người cũng sẽ lần lượt ra đi mà thôi…
Bệnh dịch xáo trộn mọi thứ, mọi việc. Tôi đã nghỉ hưu, suốt ngày trong nhà không đi đâu, vì nghĩ tuổi mình không còn trẻ, sức miễn nhiễm có thể yếu đề phòng kỹ lưỡng vẫn tốt hơn. Ra vườn chăm tưới hoa, vào nhà ngồi đọc sách nhưng không tập trung đầu óc. Tôi mở Google gõ những bài yêu thích, chỉ trừ không tìm ra số bài cô Thái Thanh đã hát, thì quay qua dùng CD mở máy. Tiếng hát cô vẫn du dương, vẫn đưa tôi về nhiều kỷ niệm xa xưa. Tiếng hát muôn đời ở lại. Đêm tôi bị mất ngủ, bên tai nghe tiếng yêu thương của Cô, tôi say sưa làm thơ về Cô:
Nhớ Ca Sĩ Thái Thanh
Mưa buồn mở nhạc giọng trong thanh
Hơi vút đưa tình lướt phím nhanh
Tưởng nhớ yêu thương người nghệ sĩ
Năng tài lão luyện đã thành danh
Tròn trăng thiếu nữ thấm khi nào
Tuyệt diệu âm bè luyến láy cao
“Kỷ Vật Cho Em “ buồn ứa lệ
“Giòng Sông Xanh”, “Gánh Lúa” ngời ca
“Ồ Mê Ly” bộ tứ hoà nhau
Gắn bó anh em một chuyến tàu
Ban hợp ca Thăng Long nổi tiếng
Dâng đời tài nghệ những viên châu
“Người Về”, “Lòng Mẹ” nở ngàn hoa
“Dạ Khúc” ngày xưa quyện nắng tà
“Mái Tóc Dạ Hương” còn đắm đuối
“Nghìn Thu” tiếng hát chẳng rời xa
Minh ThúyThành Nội
Giã Biệt Thái Thanh
Cánh Nhạn bay xa tiếc vạn hồi
Theo vời tiếng hát gởi mây trôi
Hơi cao thả sóng danh lừng đỉnh
Giọng vút buông thuyền tiếng nổi ngôi
Rộn rã lời duyên gieo ánh mắt
Êm đềm chữ ái thả làn môi
Người đi để lại lòng thương nhớ
Nghệ sĩ ưu tài chẳng nhạt phôi
Minh ThúyThành Nội
Tưởng Nhớ Ca Sĩ Thái Thanh
Chị Thái Thanh lìa cõi giá băng
Buồn dâng ký ức vẫn in hằn
“Người Về “thuở ấy trời mơ phủ
“Dạ Khúc” hôm nào khói ảo giăng
“Kỷ Niệm” từng làm trăng uốn đảo
“Tình Ca” đã khiến gió xoay quằn
Say mê tiếng hát ngôi thần tượng
Nguyện ước cho người sớm vãn thăng
Minh Thúy Thành Nội
Trời đã cuối thu… màu sắc bên ngoài héo úa, cành lá trơ trọi chuẩn bị đi theo mùa đông ảm đạm. Biết bao giờ cuộc sống hết con vi khuẩn tàn ác phá hoại. Thiên tai hỏa hoạn tại Bắc Cali, bão gió bên Texas, biểu tình bên Seattle… Buồn và lo âu đủ thứ chuyện. Mùa đông lại sắp đến, mùa thường làm con người ta trầm ngâm ngồi nhìn mưa… thả tâm hồn trở về ngày tháng cũ, ký ức mơ hồ hoang vắng, tâm tư lạc lõng chơi vơi buông rơi niềm đau nỗi nhớ trên cung sầu phím lạc…
Tiếng hát cô lanh lảnh, ngây ngất se thắt lòng tôi. Đêm tĩnh lặng, thơ nhạc giờ này là người bạn gần gũi tôi nhất, cô vẫn luôn bên tôi, tiếng hát cô đang vỗ về, dìu dắt tôi đi vào giấc mộng êm đềm thật xa…
“Nếu anh còn trẻ như năm cũ
Quyết đón em về sống với anh
Những buổi chiều buồn phơ phất lại
Anh đàn em hát níu xuân xanh
Nhưng thuyền em buộc bên sông hận
Anh chẳng quay về với trúc tơ
Ngày tháng Tỳ Bà vương ánh nguyệt
Mộng héo bên song vẫn đợi chờ
Có mây bàng bạc gây thương nhớ
Có ánh trăng vàng soi giấc mơ
Có anh ngồi lặng so phím cũ
Mong chờ em hát khúc xuân xưa
Nếu có ngày nào em quay gót
Lui về thăm lại bến thu xa
Thì đôi mái tóc không xanh nữa
Mây bạc, trăng vàng vẫn thướt tha…”
Minh Thúy Thành Nội 2020
Vọng xuân thanh bình
Tony Nguyễn
Nhân Tết Tân Sửu, thay lời chúc, xin mời quý bạn thưởng thức một bài thơ « đọc xuôi, đọc ngược » (thuận nghịch độc) :
Vọng xuân thanh bình Ðông tàn, đã thắm rộ đào, mai, Tết chúc mừng: vinh, phúc, lộc, tài. Sông núi rộn reo hò chốn chốn, Thị-thành vang hát xướng nơi nơi. Mong chờ, vẫn biển ngàn ngăn cách, Ðợi ngóng, hàng năm tháng miệt mài. Lòng héo úa thêm chồng chất tuổi, Nông, sâu, đục nước chuyện cùng ai ?
Ðọc ngược, ta có một bài thơ khác, vẫn giàu tính thơ: Ai cùng chuyện nước đục, sâu, nông ? Tuổi chất chồng thêm héo úa lòng. Mài miệt tháng năm hằng ngóng đợi, Cách ngăn ngàn biển vẫn chờ mong: Nơi nơi xướng hát vang thành thị, Chốn chốn hò reo rộn núi sông, Tài, lộc, phúc, vinh, mừng chúc Tết, Mai, đào rộ thắm, đã tàn Ðông.
Đỗ Quang Vinh
Xin mượn bài thơ này gửi đến bè bạn mọi nơi : đây là lúc mà tâm tình những kẻ tha hương, ngày càng giống nhau và gần nhau hơn[1]. Có thể, vì chúng ta gốc gác Việt Nam nên khen « Tiếng Việt tuyệt vời » nghe không chói tai, chứ kỳ thực người nước nào mà chẳng trau dồi tiếng xứ ấy và sẵn sàng gán cho ngôn ngữ ấy hai chữ « tuyệt vời ». Cách « đọc ngược, đọc xuôi » (« thuận nghịch độc ») đâu phải chỉ là sở trường của ngôn ngữ thơ văn Việt Nam. Sử dụng ngôn ngữ như vậy, đọc xuôi, đọc ngược, gọi là « palindromes », tiếng Pháp tiếng Anh đều có cả. Sau đây là vài thí dụ văn xuôi tiếng Pháp : ta có thể đọc một từ, hoặc một cụm từ, từ trái sang phải, hoặc đọc từ phải sang trái, đều giống nhau, và nghĩa cũng như nhau. Từng từ một, như : « non », « ici », « ressasser », hoặc một câu nhiều từ như : « élu par cette crapule », « Ésope[2] reste ici et se repose », « un roc si biscornu », « engage le jeu, que je le gagne », « eh, ça va la vache », « Léon n’osa rêver à son Noël », « à l’autel elle alla, elle le tua là »… Tiếng Anh không thiếu trường hợp tương tự, hoặc một từ, như : « eye », « Eve », « noon », « civic », « madam », hoặc một câu nhiều từ như : « was it a car or a cat I saw ? », « even in eden I win eden in Eve », « Tivoli, I lov’it », « a man, a plan, a canal, Panama », hoặc đọc thuận đọc xuôi cả cụm từ : « King, are you glad you are King ? »…
Tuy nhiên, không phải ngôn ngữ nào cũng đưa cách chơi chữ này đến một vị trí như trong tiếng Việt. Theo Nguyễn Văn Ngọc, trong Nam Thi Hợp Tuyển, thơ thuận nghịch độc tuy làm theo thể thơ Đường nhưng lại là một lối riêng của thơ Việt Nam. Làm một bài thơ Đường luật đã khó, nhưng khi làm thơ « thuận nghịch độc » thì mỗi câu thơ lại đọc xuôi, đọc ngược làm sao cho cả hai cách đọc (xuôi, ngược) đều có ý nghĩa và hợp vần luật. Muốn được như thế, phải nắm bắt được một số quy luật, tuy không khó viết, nhưng viết xong lại khó hay. Hàn Mặc Tử, Tự Đức cũng từng làm thơ đọc xuôi, đọc ngược, nhưng nếu đem so những bài này với các bài thơ khác trứ danh, thì không có gì thật là « siêu phàm »[3]. Có người, vì đã nắm bắt được quy luật như thế, cho đăng luôn trên Mạng đúng 400 bài « thuận nghịch độc ». Làm thơ như vậy, đúng là để phá kỷ lục, chứ không phải vì yêu thơ. Cho nên, thơ thuận nghịch độc tuy không hiếm, nhưng bấy lâu nay, vẫn chỉ thấy có một bài với tám cách đọc, không biết ai là tác giả :[4]
Bài thơ kỳ lạ, tám cách đọc : đọc xuôi, đọc ngược…
1. Bài thơ gốc:
Ta mến cảnh xuân ánh sáng ngời Thú vui thơ rượu chén đầy vơi Hoa cài giậu trúc cành xanh biếc Lá quyện hương xuân sắc thắm tươi Qua lại khách chờ sông lặng sóng Ngược xuôi thuyền đợi bến đông người Xa ngân tiếng hát đàn trầm bổng Tha thướt bóng ai mắt mỉm cười.
2. Ðọc ngược bài gốc từ dưới lên:
Cười mỉm mắt ai bóng thướt tha Bổng trầm đàn hát tiếng ngân xa Người đông bến đợi thuyền xuôi ngược Sóng lặng sông chờ khách lại qua Tươi thắm sắc xuân hương quyện lá Biếc xanh cành trúc giậu cài hoa Vơi đầy chén rượu thơ vui thú Ngời sáng ánh xuân cảnh mến ta.
3. Bỏ hai chữ đầu mỗi câu trong bài gốc, ta được bài (ngũ ngôn bát cú, luật bằng vần bằng):
Cảnh xuân ánh sáng ngời Thơ rượu chén đầy vơi Giậu trúc cành xanh biếc Hương xuân sắc thắm tươi Khách chờ sông lặng sóng Thuyền đợi bến đông người Tiếng hát đàn trầm bổng Bóng ai mắt mỉm cười.
4. Bỏ hai chữ cuối mỗi câu trong bài gốc, đọc ngược từ dưới lên, ta được bài (ngũ ngôn bát cú, luật bằng vần bằng):
Mắt ai bóng thướt tha Ðàn hát tiếng ngân xa Bến đợi thuyền xuôi ngược Sông chờ khách lại qua Sắc xuân hương quyện lá Cành trúc giậu cài hoa Chén rượu thơ vui thú Ánh xuân cảnh mến ta.
5. Bỏ ba chữ cuối mỗi câu trong bài gốc, ta được bài (tám câu, mỗi câu bốn chữ ):
Ta mến cảnh xuân Thú vui thơ rượu Hoa cài giậu trúc Lá quyện hương xuân Qua lại khách chờ Ngược xuôi thuyền đợi Xa ngân tiếng hát Tha thướt bóng ai.
6. Bỏ ba chữ đầu mỗi câu trong bài gốc, đọc ngược từ dưới lên, ta được bài (tám câu, mỗi câu bốn chữ):
Cười mỉm mắt ai Bổng trầm đàn hát Người đông bến đợi Sóng lặng sông chờ Tươi thắm sắc xuân Biếc xanh cành trúc Vơi đầy chén rượu Ngời sáng ánh xuân. 7. Bỏ bốn chữ đầu mỗi câu trong bài gốc, ta được bài (tám câu, mỗi câu ba chữ) :
Ánh sáng ngời Chén đầy vơi Cành xanh biếc Sắc thắm tươi Sông lặng sóng Bến đông người Ðàn trầm bổng Mắt mỉm cười.
8. Bỏ bốn chữ cuối mỗi câu trong bài gốc, đọc ngược từ dưới lên, ta được bài (tám câu, mỗi câu ba chữ):
Bóng thướt tha Tiếng ngân xa Thuyền xuôi ngược Khách lại qua Hương quyện lá Giậu cài hoa Thơ vui thú Cảnh mến ta. Âu cũng là một cách thưởng Xuân nhẹ nhàng, ý nhị… Đ.T.H.
Khi hoa Xuân hé nụ với cây lá xanh tươi đón chào vạn vật, rồi Hạ tiếp với áng mây trời trong xanh, ánh nắng rực rỡ muôn lối, tiếp theo mùa Thu đầy lá vàng rơi êm dịu không gian, cuối cùng thì những hạt mưa rơi buốt giá mùa Đông đến.
Còn niềm vui nào bằng khi được sống với tình yêu của mình cùng nàng thơ. Ban ngày bận rộn với công việc, đêm của sự tĩnh lặng thì tình thơ lại dâng lên. Tôi được may mắn đi vào vườn thơ muôn sắc cùng những thi tài, thi bá và các bậc tiền bối chỉ dạy, hướng dẫn nhiều thể thơ của Đường luật, và tôi đã có những giây phút hạnh phúc để quên đi những nhọc nhằn trong đời sống.
Trân trọng biết ơn đến quý thi hữu đã cùng thở, cùng dâng những cảm xúc qua “Bốn Mùa Thơ Gọi”, mà tôi thiết nghĩ nên lưu lại kỷ niệm đẹp trong thi tập.
Cám ơn hội Văn Thơ Lạc Việt đã cho tôi có được duyên lành gặp Thầy Phạm Thái giúp đỡ hướng dẫn về kỹ thuật và in ấn.
Cám ơn đặc biệt đến người anh, người Thầy Bảo Trâm đã làm trên 1000 tranh thơ hoà điệu, đã dẫn dắt bước đầu về các luật thơ, cũng như giới thiệu đưa vào các hội thơ văn, và tôi được cơ hội học hỏi nhiều nhất từ hội Hoàng Gia.
Hiện tại cũng nhờ anh Bảo Trâm, chịu khó gom tất cả những bài thơ, giúp layout, làm bìa và trình bày nên tôi có được thêm tập thơ thứ hai “Bốn Mùa Thơ Gọi”.
Mời các bạn yêu thơ cùng hòa mình trong sân chơi tao nhã của 4 mùa Xuân Hạ Thu Đông khởi sắc.
Minh Thúy
Xin vui lòng click vào hình để đọc sách
Bài ca Ngày Ấy Hạ Buồn
Suối Thơ – Minh Thúy
Vui lòng bấm vào hình để đọc sách
Suối Thơ
Biển đời mênh mông trải những buồn vui, yêu thương thăng trầm theo cuộc sống, bên cạnh đó cũng có những giây phút được đắm mình tắm gội suối thơ cho những ai yêu thích…
Khi màn đêm xuống… ngoài trời gió se lạnh, ngoài trời có bóng trăng chênh chếch soi qua khung cửa sổ, nụ họa nở tươi giữa mùa Xuân, xác Phượng Tím loang màu nắng Hạ trải ngập lối về, tình Thu gieo cảm nỗi buồn man mác hay cơn mưa mùa Đông lạnh lẽo bên tách cà phê nóng, thì những giọt thơ lan tràn trên giấy mực chảy thành suối.
Ký ức ngày Quốc Hận đau thương nặng sâu hình ảnh các vị tướng tuẫn tiết, những anh lính Việt Nam Cộng Hoà hy sinh xương máu tàn phế bảo vệ tổ quốc, những người tù cải tạo chịu khổ ải nơi rừng sâu nước độc, hiện trạng trong nước đầy hình ảnh bất công, dã man đày đọa dân lành, con đường tăm tối quê hương bị Tàu xâm chiếm, những tù nhân chính trị đang bị giam cầm …thì giọt thơ cũng hoà lệ tuôn rơi trong nỗi ngậm ngùi xúc động …
Rồi mùa Phật Đản với niềm tin tôn giáo, đạo pháp như nước suối Cam Lồ cho đời tắm gội và chèo thuyền Bát Nhã thấm sâu luật Sắc Không, tập hành Tứ Diệu Đế (Khổ, Tập, Diệt, Đạo) đã ảnh hưởng vào đường thơ mà tôi được có cơ hội xướng họa cùng Thầy Thích Tánh Tuệ qua những bài pháp, được tán thán cố đại lão Hoà Thượng trong trang nhà Quảng Đức …
Mùa lễ Cha Mẹ đầy nỗi nhớ nhung buốt nhói, tiếng bạn khóc, lời than thở từ chị, từ anh, hay có những khi nỗi buồn không tên, nỗi buồn ly hương vây bám …đó là chất liệu, là vốn liếng, là cảm xúc được tràn vào thơ…
Chưa kể niềm vinh dự được họa bài xướng của bậc tiền nhân như cụ Phan bội Châu, Nguyễn công Trứ, Trần Tế Xương, Hồ Xuân Hương, Hàn mặc Tử, Bà huyện Thanh Quan, còn thêm về lịch sử như Hai Bà Trưng, Trần Bình Trọng, Trần Quốc Toản, vua Quang 5|Tuy ể n T ậ p Th ơ _2019_Minh Thúy
Trung, hoặc thơ tưởng niệm những vị anh hùng đã vong thân vị quốc v…v…
Tất cả đều được các thi bá soạn đưa vào cùng nhau xướng họa thơ Đường Luật với các thể khó như Ngũ độ Thanh, Song Thanh, Tung Hoành Trục Khoán, Bát Âm, Toán Sắc Thi, Lộc Lư Ngũ Bộ, Tập Danh và nhiều thể thơ biến hóa vui lạ khác…v..v.
Ngoài thơ Đường Luật còn có thơ Lục Bát, Tứ Tuyệt, Song Thất Lục Bát, thơ 5 chữ, thơ 8 chữ.
Được buông mọi mệt nhọc lo âu, những phiền não trong cuộc sống để trầm mình tắm gội dòng thơ, niềm đam mê cho tôi hưởng giây phút thật hạnh phúc nhẹ nhàng giải thoát
Tôi trân trọng những bài thơ xướng họa cùng quý thi nhân các hội thơ, đặc biệt nhất là hội thơ Đường Hoàng Gia mà từ ngày đầu, người anh tên Bảo Trâm đã giới thiệu gia nhập hội để học hỏi thêm, sau thời gian anh đã chỉ dạy nhiều luật thơ, từ đó tôi mở mang rộng theo các tiền bối, học hỏi tham gia trò chơi vận trí não đầy say mê thích thú.
Và đây là tập thơ thứ 3 gồm hơn 500 bài thơ của tôi trong năm 2019 cùng 500 bài của các tác giả trong hội thơ được lưu lại vì tôi rất trân quý kỷ niệm.
“Uống nước nhớ nguồn” . Tôi rất biết ơn công lao anh Bảo Trâm đã gom thơ, layout từng bài xướng họa, cùng thầy Thái Phạm đã liên lạc in ấn với Amazon, LuLu để hoàn thành tập 3, thơ sáng tác và xướng họa năm 2019, được gọi là “Suối Thơ”
Tôi cũng chân thành cảm ơn hội trưởng Chinh Nguyên hội Văn Thơ Lạc Việt, đã tạo duyên cho tôi gặp Thầy Phạm Thái phối hợp làm việc chung với anh Bảo Trâm giúp đỡ một cách nhiệt tình hăng hái
Cuối lời, mời các bạn yêu thơ hãy cũng tôi bơi lội trong giòng nước mát, hay dựa gốc cây ngắm suối chảy giữa trời mây bao la, có tiếng thơ muôn hướng của sân chơi tao nhã đầy trí tuệ.
LTS: Đây là một chuyện thật, không có một chút nào hư cấu, chúng tôi là một người lính tác chiến, chiêm nghiệm, có một sự huyền bí mà không giải thích được trong việc trùng phùng giữa cha con sau 40 năm, người SQ/BĐQ hoàn toàn không biết mình đã có một đứa con, TCDV chỉ hiệu đính các lỗi “hỏi ngã”, còn giữ nguyên toàn bộ lời kể của người trong cuộc. TCDV cho đăng câu chuyện hi hữu này, để riêng tặng cô Hoàng Mai, chủ Snack-Bar tại mũi Nhà Bè các năm 1969, 1970 và các bạn Mũ Nâu đã từng đóng quân nơi này. Germany, 12.03.2016 – Điều Hợp Viên DĐ Ngôn Ngữ Việt, – Chủ Nhiệm TCDV. LÝ TRUNG TÍN (TĐ51/LĐ6BĐQ/QLVNCH)Giọt nước mắt của lính– dht –
Đây là chuyện thật của người bạn học cũ của tôi và người lính Biệt Động Quân VNCH, sau 40 năm thất lạc nhau vì chiến tranh, một bất ngờ duyên trời đã cho anh chị gặp lại nhau, và tôi được nghe anh chị kể cho tôi về một phần đời của họ đầy vui, buồn, sợ hãi, chán chường của một người con gái đẹp đã vì hoàn cảnh mà ra nông nỗi ấy, của một người trai thời loạn thất chí, vì không làm tròn trọng trách đối với núi sông. Hôm được anh chị mời đến nhà chơi, qua một tách trà sen Huế (anh chị và tôi đều gốc Huế), anh nhìn vợ, âu yếm bảo:
– Em kể lại chuyện tình mình cho Mousti ( nick của tôi ) nghe đi, anh nghĩ Mousti sẽ thích chuyện tình đẹp của mình, đẹp như một cổ tích…và chị bắt đầu kể, anh ngồi nghe, lâu lâu thêm vào một vài chi tiết..
Anh nhìn tôi, tay vuốt tóc chị, nói với tôi:
– Cánh Hoa Thời Loạn. Xong quay lại nói với chị:
Anh phải đem em về lại Huế ngày nào đó nhé cưng. Hạnh phúc thật là nhỏ bé mà đồng thời cũng thật lớn vô cùng. Gặp nhau chỉ có một giờ tình yêu bất tận chẳng ngờ tái sinh…( Thơ của anh )
* Tôi mất anh đã hơn 40 năm rồi, ngày mà quê hương còn rền vang tiếng súng, tiếng đại bác.. của những trận chiến ác liệt như Pleime, Đồng Xoài, Bình Giả…
Lúc đó tôi còn là một người đàn bà 25 tuổi, mở một quán rượu gần đồn lính, thời bấy giờ không biết làm gì để nuôi cuộc sống còn của mình, cha mẹ chết, có người yêu đi lính cũng đã gục ngã trên chiến trường, nhà cửa tiêu tan vì chiến tranh, buồn quá, nhân có con bạn học cũ hoàn cảnh gần như tôi, nhưng nó còn đau hơn tôi là chồng nó bỏ gia đình đi tập kết ra Bắc, bỏ lại vợ con nheo nhóc buôn thúng bán bưng sống qua ngày. Hai đứa tôi, nhìn vẫn còn mặn mà lắm, ngày còn đi học là hai hoa khôi của Gia Long. Bây giờ nghĩ lại thời gian đẹp này chỉ còn trong hoài niệm. Tôi bây giờ đau đớn nói ra, mình đã là một cô gái giang hồ, nôm na là gái điếm. Khách của Vân và tôi gần như là lính, vì thành phố tôi đang ở gần một trại lính. Vân rủ tôi mở quán rượu ở đây vì vậy, lính là những người không có tương lai, sống chết không biết ngày nào nên họ ăn chơi bạt mạng, hễ cuối tháng lãnh lương ra là đến quán nhậu, rượu chè, gái…họ sống như vậy, lao mình vào những ly rượu mạnh hay những cuộc truy hoan để quên nỗi sợ những tiếng súng, những tiếng đại bác, những hầm chông cọc nhọn đang chờ, quên đi tử thần đang rình đâu đó.. Cũng may là Vân và tôi không còn gia đình, nếu không tôi không biết phải ăn nói làm sao với cha mẹ mình về cái nghề tôi đang làm! Lúc mới đầu chưa quen với nghề này, tôi ghét lắm những bàn tay vô tình để lên không đúng chỗ trên thân tôi, hay tiếng đùa giỡn quá trớn của những anh lính uống say, khi tôi đi ngang qua bàn, víu vai tôi xuống, ôm mặt tôi đặt chiếc hôn nặc nồng mùi rượu… có lúc tôi chán nản, muốn bỏ nghề đi tìm một nghề khác dù không đủ tiền nuôi mình, nhưng sau đó, ngày qua ngày, tháng qua tháng rồi cũng bắt đầu quen. Tuy vậy nhiều khi nhì Vân ngả ngớn với mọi người, ăn mặc hở hang, lắm lúc nó ngồi luôn trên chân khách, ỏn ẻn như muốn làm tình luôn ngay tại chỗ. Tôi nhìn những cử chỉ ấy, rồi thấy tởm cho chính mình luôn. Có những chàng lính trẻ khuôn mặt còn non, có thể nặn ra sữa được, phần đông là học sinh bị rớt Tú Tài, đến tuổi phải đăng lính thì nhiều lắm là cỡ tuổi em trai út mình thôi, vậy mà phải chịu đựng khói thuốc trong căn phòng bẩn không mấy sạch, vì làm gì có thời gian để thay đổi chiếu, chăn, nhiều đêm phải tiếp vài người khách là gần trắng đêm rồi, vì họ cho rằng tiền trao cháo múc, có những lần tôi gọi là xáp lá cà vì sự hùng hục không chút dịu dàng, sao cho thoả mãn sinh lý là được, không tình cảm trong đó, chính tôi, tôi cũng chẳng muốn có tình cảm, tôi tuy là một gái điếm nhưng tôi vẫn trọng phần hồn mình, chuyện làm tình với bất cứ ai chỉ là chuyện kiếm cơm mỗi ngày, không ăn thua gì đến trái tim mình cả, quan niệm tôi là vậy. Tôi cũng không bao giờ hy vọng hay ước mong ngày nào đó sẽ có một người sẽ đến yêu tôi và đưa tôi ra khỏi chốn bùn nhơ này. Rồi ngày tháng vẫn trôi qua, cuộc đời của Vân và tôi vẫn vậy, vẫn nhịn nhục chiều chuộng những người đàn ông thoáng qua đời chúng tôi trong vài giờ ngắn ngủi rồi ra đi, không để lại chút gì luyến tiếc. Tiền trao cháo múc mà! Rất hiếm những lần truy hoan có người nhìn tôi âu yếm, hay cử chỉ dịu dàng, chỉ có vừa mới chưa kịp cổi đồ là mình đã như con vật bị lên bàn mổ vậy, hùng hục, hùng hục, đúng như nghĩa của chữ này vậy, xong rồi, nằm thở dốc, hút điếu thuốc, mặc lại quần áo và mở cửa bước ra, không một lời chào hay một cái ngoắc tay từ giã…. Toán lính này đi, toán lính khác đến, không có gì thay đổi trong cuộc sống, không biết Vân nghĩ thế nào, phần tôi, tôi nhầy nhụa thêm như mình đang lội trong vũng bùn cuộc đời vậy.
Vậy mà, một hôm anh đến, anh vừa đổi đến đơn vị này; hôm ấy là ngày phép của anh, anh theo đồng bạn đến quán, gọi một chai martell thứ nặng nhất, mắc nhất uống với nhau. Con Vân đi ngang bàn, ngả ngớn với bạn anh, vuốt tóc anh, anh để tự nhiên cho Vân làm, chỉ mỉm cười chào lịch sự. Bàn anh gọi thức nhậu, Vân lo tán tỉnh với bạn anh, nó ngoắc tay nhờ tôi làm giùm. Tôi mang mấy dĩa đồ nhậu đến bàn anh, tôi thấy ánh mắt anh đậu lại trên mắt tôi một khắc, mỉm cười cám ơn; cả bàn gom tiền lại trả, anh móc túi cho riêng tôi một số tiền khá, anh cầm tay tôi, mở tay tôi ra, đặt tiền vào đó và đóng tay tôi lại, rồi thôi. Chiều ấy, anh nói với Vân muốn tôi tiếp anh, tôi bằng lòng, đưa anh lên phòng. Trong lúc anh ngồi trên ghế, tôi lấy drap và áo gối mới thay, vì chăn chiếu cũ đã có nhiều người nằm trên ấy, mùi thuôc lá, mùi đàn ông, những dấu vết vàng vàng của những lần làm tình trước dơ dáy.
Không hiểu vì sao tôi lại đối với anh đặc biệt như vậy, tôi cũng tự đang hỏi mình. Anh có một khuôn mặt thật…tôi không biết tả ra sao, cái nhìn ấm áp khi anh nhìn tôi. Sửa soạn giường gối sạch sẽ, tôi như bình thường, mời anh lại giường, tôi đứng cởi đồ trước mặt anh, xong tôi dìu anh nằm dài xuống, và từ từ cởi quần áo cho anh, anh để yên cho tôi làm, xong tôi ngồi xuống giường, nằm xuống cạnh anh, anh dang tay anh ra cho tôi đặt đầu lên, xong quay lại vuốt tóc tôi, hôn lên môi tôi dịu dàng, làm tôi hụt hẫng, bất ngờ trước những cử chỉ trìu mến ấy, rồi anh bắt đầu cuộc chơi. Tôi thú nhận là lần đầu tiên từ ngày tôi làm điếm, tôi có cảm tưởng như tôi là người con gái còn trinh được người yêu yêu mình lần đầu, có một rung động không tên chuyền vào tôi, tôi đáp trả lại anh, tôi không gọi lần này là cuộc truy hoan của một người đàn ông và cô gái điếm. Xong cuộc, anh lấy tấm khăn để trên bàn lau cho tôi và anh, xong anh bảo tôi nằm yên đó, anh chồm dậy lấy bao Capstan châm lửa hút, chợt anh nghe tôi ho, anh dập tắt ngay điếu thuốc chưa kịp hút.
– Tôi làm em ho? Em không chịu được khóí thuốc?
Tôi giật mình xin lỗi nói không phải vì khói thuốc mà ho mà tại tôi có cái tật từ nhỏ là nhạy cảm, và lúc nào bị xúc động là tôi ho. Nghe tôi trả lời, anh ôm đầu tôi lại gần và hôn tôi như anh đang hôn người tình của anh vậy. Rồi hứng lên, anh lại đưa tôi vào cuộc chơi thứ nhì. Sau lần yêu này, anh đặt đầu anh giữa hai vú tôi, hôn lên đó, và hai vai anh bỗng rung lên, anh khóc nức như đứa trẻ làm tôi sửng sốt. Tôi ôm đầu anh, trìu mến, hỏi anh nguyên do nhưng anh không muốn trả lời…
Anh và tôi nằm yên như vậy một lúc lâu, tôi không còn nghe anh khóc nữa, tôi nhìn anh, anh đang ngủ trên ngực trần tôi. Tôi lấy tay gỡ nhẹ đầu anh, đặt đầu anh lên gối, nhìn anh ngủ, lòng tôi chùng xuống, một tình cảm mới mẻ hiện ra trong tôi không có tên.
Tôi đứng dậy đi tắm và trước khi xuống quán, tôi nhìn anh ngủ, tôi cúi xuống đặt lên môi anh một chiếc hôn hình như có thương yêu trong đó, tôi cũng không hiểu luôn cử chỉ này tại vì sao nữa! Từ ngày hành nghề, tôi luôn tránh nếu có thể những chiếc hôn môi, cái cảm giác lợm giọng hôi nồng nặc thuốc lá và rượu làm tôi muốn ói, nhiều khi khách hôn mình, tôi muốn đấm vào mặt khách một cái, đạp cái thân thể trần truồng xuống đất và chồm dậy mặc nhanh áo quần, chạy trốn như vừa gặp phải ma. Vậy mà chính tôi lại hôn anh.
Tôi xuống quán xem Vân có cần đến tôi không, nhưng tối nay ít khách nên Vân để cho tôi yên.
Tôi xuống bếp làm vài món ăn đem lên phòng, anh đã tỉnh, vẫn nằm yên trong tư thế con nhộng,trên môi một nụ cười hóm hỉnh, nhìn tôi như nói:
– Em thẹn thấy anh trần truồng phải không? Tôi cười nhẹ không trả lời, trả lời sao bây giờ trong hoàn cảnh tôi, một cô gái điếm mà lại mắc cỡ đứng trước người đàn ông trần truồng như gái nhà lành!
Tôi nói anh đi tắm rồi ra ăn cơm với tôi. Trong lúc anh tắm, tôi lại giường, nằm xuống úp mặt lên gối, ngửi mùi tóc anh và mùi mồ hôi anh còn thoảng trên đó, có chút gì thật dễ thương khó quên!
Xong buổi cơm chiều, hai đứa cởi hết đồ, ôm nhau nằm trên giường, chợt nghe anh thở dài, tôi hỏi anh tại sao và anh chưa hề hỏi cho biết tên tôi cũng như tôi chưa biết tên anh, anh nói:
– Anh với em, mình không có tương lai, mai anh đi rồi, biết sống chết ra sao, và em cũng vậy, ngày anh may mắn còn sống trở về, chắc gì mình còn gặp lại nhau, thì thôi nếu em có chút tình cảm cho anh thì cứ giữ vậy làm kỷ niệm, anh không hề xem em là cô gái giang hồ, chỉ xem em là người con gái bất hạnh của cuộc đời trong chiến tranh mà thôi.
À, mà đây, vừa nói anh vừa tháo ở cổ anh sợi dây chuyền vàng có miếng mề đay nhỏ bằng vàng hình trái tim, có khắc số quân của anh. Tôi ngơ ngác, giương mắt nhìn anh:
– Đó là quà cuối cùng của Mẹ anh cho anh trước khi bà mất trong Tết Mậu Thân Huế, bà cho thợ vàng khắc số quân của anh khi lỡ anh chết trận, có trên cổ anh vừa tấm thẻ bài lính và số quân này, như vậy chắc ăn hơn, bà nghĩ vậy. Bây giờ anh gửi tặng em, giữ lấy như quà cưới, vì hôm nay anh không ngờ trước một sự gặp gỡ dễ thương và đáng nhớ như vầy, xem như hôm nay là ngày cưới anh và em, và đêm nay là đêm động phòng của mình. Anh cảm nhận được tình cảm em qua mấy lần yêu nhau chiều nay, em đã đặt tình cảm em trong đó; anh hiểu rõ lắm, vì trước đây, anh cũng đã sống trong trụy lạc, mê đắm trong thuốc lá, trong rượu, cùng gái điếm với những đêm truy hoan nhưng thú thật em, chỉ vì lâu ngày thèm khát đàn bà, với em hôm nay, anh không thèm khát chuyện xác thịt, lúc đầu anh cũng nghĩ sẽ như những cuộc truy hoan với những cô gái giang hồ khác (trong cuộc nói chuyện, anh vẫn tránh chữ gái điếm, và tôi thầm cảm ơn, sự tế nhị này của anh.) nhưng hôm nay thì không, anh có cảm tưởng người đang nằm bên anh là người yêu của anh. Anh xem em như người bạn đời của anh dù chỉ gặp nhau trong một đêm, và cuộc tình ngắn ngủi này sẽ theo anh suốt dọc quãng đường anh đi tiếp. Tôi tháo chiếc nhẫn bạc kỷ niệm sinh nhật 18 tuổi của mình, đeo vào ngón tay út anh.
Tôi tắt đèn, và hai đứa lại lao vào những trận yêu bỏng cháy đầy tình cảm…
1. CHÚT QUÀ GỬI EM
Liên tiếp tuần sau đó, tôi gặp lại người lính không tên này ngày chủ nhật. Anh đến quán cùng với vài người bạn lính khác, các anh và anh, nhất là anh vẫn oai hùng trong bộ quân phục với áo hoa rừng và chiếc mũ nâu, cũng vẫn khuôn mặt dễ mến mà từ tuần trước khi anh ra về, tôi ra điều kiện với Vân, nếu Vân còn muốn tôi giúp Vân trông nom quán tiếp Vân, tôi sẽ không tiếp khách nữa. Vì hình như tôi vẫn đợi anh đến, tình cảm tôi hình như có sư đổi thay, và hình như tôi có linh tính là cuộc đời tôi đang đến một ngã rẽ khác.
Anh ngồi chơi với bạn, uống một chai bia lạnh hiệu 33, trong không khí đầy khói thuốc lá, mùi rượu, những mẩu chuyện lính đầy tính chất gái giang hồ, và sexe; tôi lén để ý anh, anh chỉ ngồi cười nghe bạn, không hoà đồng vào với bạn, Vân lăng xăng ôm cổ người này đến người khác, bằng lòng cho khách hôn hít, sờ soạng…
Tôi đứng yên sau quầy rượu, giả vờ lau ly, cốc… Anh quay lại nhìn tôi, mỉm cười chào nhẹ bằng một nụ cười thật hiền và dễ thương. Anh làm hiệu cho tôi đến gần anh, anh đứng dậy kéo ghế cho tôi ngồi cạnh. Nhiều bận mấy đồng đội anh định giở trò ờm ờ, những cử chỉ như đối với Vân, anh đưa tay như bảo họ stop, và lạ lùng nhất là họ nghe anh răm rắp, tôi nghĩ trong toán lính này, anh là huynh trưởng của họ, vai vế lớn hơn.
Sau đó, chiều lại, mấy người lính kia đứng dậy đi về trại, anh ngồi lại quán, hỏi Vân với tôi có thể cho anh ăn cơm chiều ở đây không, Vân cười nhìn tôi, ý là cô nàng hiểu anh muốn gì.
Vân đứng dậy dọn ly cốc và vỏ chai không trên bàn, đem đổ tàn thuốc, đưa mắt cho tôi như bảo: Mày lo cho chàng đi. Mâm cơm chiều này tự tay tôi nấu, ngon hay vì cảm tình anh dành cho tôi mà anh thấy ngon?
Chiều nay anh uống hơi nhiều một chút, rồi ngà ngà say, Vân và tôi không để anh về một mình, giữ anh lại cho anh ngủ lại đây.
Sáng hôm sau, khi anh ấy dậy, tôi pha nước cho anh tắm, bưng điểm tâm lên phòng cho anh vì tôi muốn hưởng trọn với anh ấy những giờ phút cuối trước khi anh ấy trở về đơn vị.
Anh kéo ghế sát lại, bảo tôi ngồi cạnh anh, một tay anh cầm cốc café, tay kia anh ôm ngang người tôi, tôi cảm nhận được hơi nóng từ thân thể anh thấm vào người tôi, lòng tôi nhũn ra, nước mắt muốn ứa nhưng không dám vì sợ anh buồn biết tôi đang buồn.
Anh ôm tôi chặt trong vòng tay mạnh mẽ của anh, chặt nhưng trìu mến chứ không như lũ khách tôi thường gặp.
Rồi cũng phải đến giờ xa nhau. Anh cầm tay tôi, quàng cổ tôi đi xuống cầu thang, tôi không để ý đến bao thuốc Capstan anh quên trên bàn. Xuống quán, anh hôn má Vân từ giã, và hôn tôi nồng nàn, môi tôi và anh như bị gắn chặt bởi một thứ keo đặc biệt mà thiên hạ gọi là keo sơn. Vân hỏi anh bao giờ anh ghé ngang, anh chỉ cười, đưa tay lắc lắc như nói không biết được, rồi anh đi. Tôi nhìn theo bóng anh, tim tôi muốn ngất đi vì thương nhớ.
Tôi bỏ Vân một mình vì sớm quá, quán chưa đông, tôi lên phòng, đóng cửa định ngồi khóc cho đã, chợt nhìn thấy trên bàn gói Capstan anh quên, nhưng tôi biết anh xa rồi nên thôi. Tôi mở gói thuốc xem còn thuốc nhiều hay không, chợt tôi khựng lại; trong bao thuốc có một bao giấy gói, tôi mở ra xem: một photo anh ngày còn sinh viên chắc, vì trẻ lắm, một số tiền và một lá thư ngắn có theo một bài thơ.
– Em giữ hộ anh nhé khoản tiền lương tháng này anh vừa lãnh, vì lúc này anh chưa cần đến, và anh tặng em hình chụp ngày anh vừa 17 tuổi như một kỷ niệm. Em giữ số lương anh đến khi nào gặp lại anh em hãy đưa trả anh, còn nếu rủi không gặp nữa, em cứ giữ lấy phòng thân vì không ai biết ngày mai như thế nào với chiến tranh,
2. GỬI EM CHÚT QUÀ
(Bài thơ này anh viết trong đêm khi em ngủ ngon giấc bên cạnh, anh ngồi dậy viết vội tặng em.)
mai lên nớ bao giờ gặp lại ta biết em trong phút si cuồng thằng lính trận thấy lòng ấm lại tình của mình dù chỉ một đêm….
mai lên nớ thèm môi nào ngọt phút hiến dâng như cả đời mình ta bỗng chốc thành thằng ngu độn chín bệ vàng hoàng hậu nương nương
mai lên nớ say cùng chiến trận dòng chữ ghi ân hận chút tình bao giấy thuốc thơm tình lính trận gửi cho người tấc dạ trung trinh
mai lên nớ nhớ thân thể nóng em rướn người vào bóng trăng tan…..
Người lính không tên… * Trước khi anh đi, Anh hỏi tôi có tấm hình nào không? Tôi mở tủ, tìm được một tấm hình mặc áo dài trắng có gắn huy hiệu bông mai của trường Gia Long, hình này tôi giữ kỹ vì để nhớ thời gian mình còn là một nữ sinh trong trắng chưa vướng bụi đời. Tôi đưa cho anh, anh bảo như vậy những khi nhớ tôi anh sẽ nhìn cho nhớ mặt tôi vì hình lúc 10 năm về trước và tôi bây giờ không khác nhau bao nhiêu, tôi ngồi thừ trước hình anh… nước mắt chan hoà..
Sáng hôm sau, anh dậy sớm trở về trại vì đã hết phép. Anh hôn tôi nồng nàn, từ giã Vân và tôi. Tôi nhìn theo anh…hình như tôi vừa mất một cái gì thật thương qúi…
3. GIỌT NƯỚC MẮT BIẾT ĐAU
Quán Vân và tôi bây giờ khách thật đông, ngoài trại lính bên cạnh, tấp nập khách thương di chuyển hàng ngang thành phố, thêm gia đình vợ con lình cũng lên đây để thăm viếng chồng, anh, em trai cho tiện. Quán bây giờ không còn là ổ gái giang hồ mà là quán café và quán ăn. Vân cũng chán cái nghề mà thiên hạ vẫn gọi là nhơ nhớp và đê tiện. Vân trở về với đời sống bình thường, ngày ngày lo công việc rót rượu và các thức uống, mướn thêm người để tiếp khách, phần tôi vì tôi giỏi về nấu ăn nên Vân để trọng trách này cho tôi đảm đương.
Cuộc đời tôi không ngờ lại có sự thay đổi bất ngờ không tính trước, vì vài tháng sau, tôi đang thái rau cải, bỗng cơn buồn nôn thúc tôi chạy vào nhà sau ói, và tắt kinh: tôi mang thai với người lính không biết tên.
Tôi nửa mừng nửa lo, mừng là tôi sẽ lên chức mẹ, nhận ra tôi đã yêu thương anh ta vô cùng và tôi muốn giữ cái bào thai này như một kỷ niệm đẹp của đời mình, lo là không biết rồi đây cái thai lớn lên, rồi tôi sẽ làm gì và đi đâu, tôi kể cho Vân nghe, tôi muốn bỏ quán đi về quê quán để sinh nở nhưng Vân cản lại, Vân bảo thứ nhất là tôi mang thai, không chồng lại mang tiếng đồ gái chửa hoang, thứ hai tôi lấy gì để sống và nuôi cháu bé,
Vân bảo tôi hãy ở lại với Vân, nó rất tốt với tôi, thương tôi như ruột thịt, ở lại đây, dù sao tôi vẫn sống qua ngày được, tôi mềm lòng, cảm ơn Vân và tiếp tục công việc của mình.
Đêm đêm trước khi ngủ, tôi vẫn lấy hình người lính không biết tên ra nhìn, nhớ anh ấy như nhớ người tình hay người chồng của mình. Nhiều khi tôi nghĩ dại, lỡ anh chết ở chiến trường, chắc tôi khóc đến giọt nước mắt cuối cùng, và vui là biết bây giờ tôi còn thêm một kỷ niệm sống với anh sau mấy đêm thương yêu nhau thật như hai người tình.
Ngày tháng cứ theo nhau trôi qua, cuộc sống tạm ở quán Vân và tôi cũng đắp đổi qua ngày. Bây giờ tôi đã sinh nở xong, cháu bé trai ra đời trong tình thương của tôi và Vân. Tôi đặt tên cho cháu là Việt Nam, gọi Vân là dì Vân giùm cho cháu bé. Mỗi lần tôi ngồi cho con bú, tôi nhớ anh ấy kinh khủng, không biết bây giờ tiểu đoàn của anh đã trôi nổi ở chiến trường nào.
Quán chúng tôi bây giờ rất đông đảo, tấp nập đủ hạng khách, nhất là lính. Nhưng lúc này tôi cảm nhận hình như có gì không yên ổn lắm; trên gương mặt của những đám lính đến uống nước ở quán, lúc này có vẻ lo âu, tôi nghe lóm ở họ những tiếng di chuyển, thuyên chuyển, nào những địa danh như Đồng Xoài, Bình Giả…Pleime.
Tiếng máy bay trực thăng rền trên đầu, ngoài đường cái những xe tăng, xe cứu thương, xe jeep, từng đoàn convoi chở đầy lính không biết đi đâu… và càng ngày càng nghe tiếng súng, tiếng đại bác, tiếng bom gần lại. Tôi đâm lo, tôi nói với Vân, Vân cũng nghĩ như tôi, thấy tương lại bấp bênh quá.
Trong toán lính còn đóng ở đơn vị cạnh quán, có một người mặt mày thật chân hậu, dễ mến, xem ra hình như rất cảm nàng Vân và nàng ta cũng vậy, Vân đối với anh ta rất đặc biệt. Thấy anh mặc áo hoa rừng, trên vai có mang chữ V, tôi hỏi nhỏ một người lính bạn anh, anh ấy trả lời, ah, Hậu nó mang lon trung sĩ mà chữ nghĩa lính gọi là cánh gà đó chị.
Một trưa quán ít khách, tôi ngồi ru cháu bé ngủ ở nhà sau, để cho Vân và Hậu (anh ta tên là Nghĩa Hậu) nguyên buổi trưa. Lúc Hậu trở về đơn vị, Vân gọi tôi tâm tình, Vân thổ lộ với tôi là hai anh chị mết nhau lắm, và Hậu bảo Vân, Hậu muốn cùng Vân thành vợ chồng ngày Hậu mãn lính. Vân bằng lòng chờ đợi anh. Vân thú hết với Hậu về đời Vân, nhưng Hậu bảo Hậu không nề hà dĩ vãng của nàng, Hậu bảo Vân và tôi là hai sắc hoa trong thời loạn. Vân rất vui và cảm động tấm lòng độ lượng của Hậu, Vân nói nhưng làm sao anh giới thiệu Vân với gia đình của Hậu ở Đà Lạt lần tới khi anh được nghỉ phép vài ngày, Hậu trả lời không cần phải nói rõ Hậu gặp Vân ở đâu, hơn nữa, anh lớn rồi và anh là lính cuộc đời nay sống mai chết nên anh muốn cho Vân hưởng hạnh phúc cùng anh cho dù vài tháng, vài ngày, vài giây….Vân hứa sẽ lấy Hậu làm chồng và sau đó sẽ gửi quán lại cho tôi trông nom.
Tuần sau đó, Vân bảo tôi Vân sẽ về thăm người dì ruột ở Quảng Trị và hôm rồi sẽ trở về với tôi trông coi quán và chờ Hậu về. Nhưng Vân sẽ không bao giờ về với mẹ con tôi nữa. Chuyến xe đò trong đó có Vân đã trúng mìn, tất cả xe đều chết hết.
Thế là tôi lại bơ vơ thêm lần nữa, mất người bạn thiết, lạc người lính không biết tên mà tôi đã đem lòng yêu thương, tôi khóc hết nước mắt. Hậu cũng đi rồi, không biết phải ra chiến trường nào! Nhiều lúc nghe tiếng súng và đại bác gầm trong đêm, tôi ước có viên đạn lạc nào đó lấy luôn sự sống của tôi cho rồi, nhưng khi tôi nghe tiếng khóc con thơ bên cạnh, tôi sực tỉnh cơn ác mộng. Tôi đã tự hứa với mình là tôi sẽ nuôi cháu cho thành người vì tôi vẫn có hy vọng có thể ngày nào đó mẹ con tôi sẽ gặp lại người xưa.
Tôi vẫn tiếp tục ngày ngày cho quán, nhưng rồi cũng bối rối quá vì hình như có cái gì đó không ổn. Ngoài đường bây giờ từng đoàn người tay nải, tay bế tay bồng chạy, mà chạy đi đâu, không hỏi ai được, rồi thêm vào đó xe chở lính đầy đường, máy bay trực thăng bay rền trời, tôi cũng đâm hoảng, lúc này không còn thấy lính đến uống nước nữa. …
Cuối tháng Tư 75.
Đang hoang mang chưa biết phải làm gì thì ngay sáng hôm đó, Hậu không biết từ đâu chạy bay vào quán, réo tôi bảo thu xếp vài thứ cần thiết cho cháu bé, bảo hai cô gái giúp quán cũng vậy, tôi đang còn tần ngần không biết đem gì bỏ gì thì Hậu hét to lên bỏ hết, bỏ hết, mau lên, xong Hậu bồng thằng Nam, một tay nắm tay tôi dắt ra cửa, hai cô gái một cô dùng dằng không chịu đi vì em ấy còn mẹ già và em trai nhỏ, bảo chúng tôi cứ đi, để quán lại em lo tiếp.
Hậu bồng Nam ra xe, trao cháu cho người lính ngồi trên xe, đẩy tôi và cô gái tên Uyên lên xe rồi nhảy phóc lên chỗ tay lái, cho xe chạy thẳng. Trên đường bây giờ thiên hạ như tổ ong vỡ, vừa chạy vừa gào vừa khóc, không còn biết chạy hướng nào nữa. Chiếc xe jeep Hậu phải lách tránh vừa người, vừa convoy lính, phải tay lái cừ lắm mới không đụng ai và cán ai, có nhiều người muốn níu xe lại xin cho quá giang, như Hậu không ngừng, thì giờ khẩn cấp quá rồi. Tôi như con ngáo, hỏi Hậu là thế nào, mới hay là miền Nam đã mất vào tay cộng sản, và chúng tôi đang tìm đường thoát.
Tội thằng Nam, chắc nó cũng cảm được gì đó không an, nó ngồi êm rơ trong lòng người lính. Xe chạy như vậy không biết đã bao lâu và hướng nào vì đi từ sáng sớm tinh mơ, giờ đã tối thui. Hậu bảo chúng tôi là sắp đến Vũng Tàu. Tôi và cô gái cũng không dám hỏi thêm.
Sau cùng, tôi nhận ra bãi biển Vũng Tàu với những hàng dừa như ngái ngủ bây giờ bị dựng đầu dậy bởi tiếng khóc, tiếng réo, tiếng cầu cứu loạn xà ngầu của đám người chạy loạn cũng đang tìm cách thoát ra khơi bằng đủ cách. Vì Hậu hình như đã tính toán sẵn trước nên khi vừa đến Bãi Trước, anh hối mọi người theo anh chạy xuống mé biển, ở đấy đã có sẵn một chiếc tàu quân sự nhỏ đang chờ chúng tôi, anh để người lính bạn nhảy lên tàu trước, đưa Nam cho anh ta, xong đến cô gái, đến tôi và Hậu cuối cùng, chiếc tàu nhổ neo chạy vọt ra khơi.
Chiếc tàu chúng tôi chạy ra xa, và tiếng máy hình như vừa ngừng lại, trước mắt là một chiếc tàu lớn của binh chủng Mỹ vì có treo cờ Mỹ. Chiếc tàu dừng hẳn lại, trên tàu Mỹ, có mấy người lính Mỹ thả xuống một cái thang bằng dây. Hậu bảo người lính bạn leo lên, Hậu buộc cháu Nam trên lưng anh ta, xong Hậu đỡ tôi leo lên sau, rồi đến phiên cô gái và Hậu. Thường ngày, leo thang bằng dây như vậy thật là khó khăn, nhưng hôm nay, sự lo lắng và sợ hãi đã làm cho tôi như mọc cánh, leo thật dễ dàng.
Lên đến tàu rồi, thấy Hậu lăng xăng nói chuyện với mấy người lính Mỹ anh gặp. Trong lúc đó tôi nhìn quanh, chiếc tàu lớn này chở có lẽ đến 5, 6 ngàn người vừa lính Mỹ, vừa quân nhân Việt Nam Cộng Hoà, vừa đám người tị nạn như tôi, vợ con quân nhân…những người đầy may mắn chạy thoát đặc biệt như vầy.
Qua khỏi cơn kinh hoàng, bất chợt tôi vừa nhận ra mình sẽ rời xa mãi Việt Nam thân yêu, tôi quay lại nhìn về phía Vũng Tàu, xa lắm nên tôi không còn thấy và nghe tiếng đám người chạy loạn, chỉ thấy lửa; toàn lửa đỏ cả một góc trời và đám khói đen nghịt bốc cao, Vũng Tàu vừa bị đốt. Tôi thở dài, thế là quê hương thân yêu tôi đã bỏ lại sau lưng mình!
Tôi tìm anh lính để cám ơn anh đã lo cho Nam, tôi tìm Hậu để muốn nói một lời nào đó, và để hỏi Hậu về tin tức mình sẽ đi về đâu…Hậu thấy tôi đến gần, anh nhìn tôi, nở một nụ cười đón tôi nhưng thật buồn, rồi thôi, hai chúng tôi đứng bên nhau không nói thêm gì nữa, tôi thấy mắt Hậu nhìn về phia tôi cũng vừa nhìn lúc nãy, đôi mắt anh chứa một nỗi buồn kín đáo, trầm lặng, tôi biết anh đang nghĩ đến quê hương vừa bỏ mất, đến Vân, tình yêu đầu đời của anh nay chỉ còn là một hoài niệm khó quên, hình ảnh của những mảnh thịt da tan tác đó đây, nhầy nhụa máu cùng đất đỏ cao nguyên của Vân, của những người lính đồng đội của anh đã nằm xuống, của những người dân chết vì một viên đạn, một mảnh bom vô tình rơi trúng trên một quãng đường nào đó của quốc lộ…
4 – GIỌT NƯỚC MẮT TRỞ HỒNG LONG LANH ( Tiếp theo giọt nước mắt biết đau )
Trên chiếc Hàng Không Mẫu Hạm Hoa Kỳ chở dân tị nạn chúng tôi bây giờ bớt người, vì đến đảo Subic Bay, có khu trục hạm khác đang đậu chờ để chia bớt số dân di tản chia làm hai ra, dân trên tàu chúng tôi thấy tàu kia tản bớt còn ít người nên ùn ùn xuống bớt tàu nầy qua bên tàu kia. Không biết là chiến hạm này sẽ đi Canada hay Úc thì tôi không rõ lắm.
Thấy bớt được người, Hậu bảo anh bạn lính, Uyên và tôi cứ ở lại đây vì Hậu bảo tàu này chắc sẽ qua thẳng đảo Guam.
Tôi mở ngoặc nói về người Mỹ một chút, những ngày trên tàu, hầu hết lính Mỹ đối với đám dân tị nạn chúng tôi rất tốt, chúng tôi mỗi ngày vẫn nhận được 3 bữa ăn có cơm chỉ khổ là họ không biết biết nấu kiểu Việt Nam, nhiều nước quá nên cơm nhão, nhưng dù sao khi đói ăn gì vẫn thấy ngon, đồ ăn toàn là đồ hộp như thịt hộp…các cháu bé thì được phát thêm sữa bột Mỹ…Tôi cám ơn những người Mỹ đã đón nhận chúng tôi với nỗi thông cảm sâu sắc tình người.
Vì bớt người nên chúng tôi không còn nằm như cá mòi sắp lớp nữa, Hậu tìm được cho bọn con gái chúng tôi một chỗ trên boong, thoải mái. Những người lính Mỹ đem cho chúng tôi mỗi người một tấm nệm bằng cao su,một tấm mền.vừa ấm cũng vừa êm nên cũng đỡ khổ cho tấm lưng gầy, mấy hôm nay bị cong vì nằm hụt chỗ.
Đêm nay, đêm bình yên đầu tiên tôi nhìn thấy trăng, bao ngày lênh đênh trên biển, sự lo âu và đau buồn vì cớ cái chuyện rời bỏ quê hương đang bị dày xéo bởi chế độ khắc nghiệt độc tài sau chiến tranh. Nhớ cái chết thảm thương tội nghiệp của Vân, tôi như người ngồi trên lửa và mắt tôi như mù đi. Đêm nay ngồi ôm cho bé Nam ngủ, tôi ngồi cạnh Hậu, Sang – anh lính chưa quen và Uyên, tôi chợt thấy trên nền trời đêm xanh trong, có mặt trăng và những ngôi sao lấp lánh, chợt tôi nhớ đến 4 câu thơ của người lính không biết tên đọc cho tôi nghe lúc anh nằm cạnh, anh vuốt tóc tôi âu yếm:
Giữa khuya tay gối đợi chờ em đi vào giấc mơ đời lênh đênh trăng vào xiêm áo nhẹ tênh oằn thân ngà ngọc cong vênh cội nguồn….
mắt tôi chợt ướt, tôi lắc đầu cho quên đi kỷ niệm, vì giờ này đâu còn là lúc để nhớ mà chỉ lo ngay ngáy ngày mai mình và con sẽ ra sao, tương lai sẽ đi về đâu…
Lênh đênh trên biển như vậy, sau 11 ngày, thì chiến hạm đến hải phận của đảo Guam. Trước khi cho chúng tôi sang những chiếc tàu nhỏ của tuần dương hạm để vào đảo, họ phát cho chúng tôi ít quần áo, các người đàn ông mỗi người một chiếc sơ mi chim cò kiểu người Phi Luật Tân .
Bỗng tôi nghe có tiếng thét từ trên boong cao, tôi đưa cháu Nam cho Uyên, đưa mắt tìm Hậu nhưng không thấy, tôi chạy vội leo lên boong, thấy Hậu và một nhóm người đang nhìn xuống biển, tôi vội vàng chạy đến tìm Hậu, đưa mắt hỏi. Chỉ nghe Hậu thở dài và đám người kia phần nhiều là quân nhân VNCH, mặt họ thật buồn.
Hậu kể cho tôi nghe câu chuyện từ đâu có tiếng thét nhói tim người nghe lúc nãy: Lúc mọi người được phát cho quần áo, chiếc áo sơ mi chim cò kiểu Phi Luật Tân vẫn mặc. Như mọi người quân nhân khác, Hậu cầm chiếc áo trong tay, tần ngàn không biết nên cởi bộ quân phục đang bận trên người để thay, chợt Hậu thấy đằng xa một anh quân nhân cầm trên tay chiếc áo, vẻ mặt như đang nghĩ ngợi một điều gì quan trọng, có lẽ anh ta đang đối diện với một sự thật tàn nhẫn không thể chối bỏ hay quên được: Đó là danh dự tổ quốc, lý tưởng của người làm trai đã hy sinh cả cuộc đời, tuổi trẻ, gia đình để bảo vệ miền đất tự do của anh đã mất hết. Trong một khắc ngắn, như đã quyết định, anh leo lên bờ boong tàu, lao mình xuống biển mà sóng đã nuốt chửng mất hút thân anh trong biển mênh mông trong lúc Hậu chưa kịp làm một cử chỉ gì để giữ anh lại! Vậy là bao nhiêu chí lớn trong một khắc ngắn đã chìm theo những bọt sóng vô tình….Hậu nắm tay tôi, ngậm ngùi cho hoàn cảnh của những người cầm súng không giữ được quê hương! Hậu nghĩ trong đầu, khi cầm chiếc áo chim cò anh vừa nhận được, anh cảm thấy lòng anh rất thẹn, thẹn vì anh thấy mình thật bất lực, anh là một quân nhân của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, trong tay anh cầm súng cùng với anh em chiến hữu cố chiến đấu đến phút cuối cùng, vậy mà không làm tròn được sứ mạng của người trai lúc quê hương đang gặp nguy biến, không ngăn chận được kẻ thù, anh cũng đã nghĩ đến chỉ có cái chết mới có thể xin tạ lỗi cùng quê hương, nên anh rất hiểu tâm trạng người quân nhân vừa đã nhảy xuống biển tự vẫn vừa rồi.
Tôi nhìn Hậu, thấy sự xót xa trong mắt Hậu, tôi vội bấu chặt lấy cánh tay Hậu:
– Hậu, Hậu đừng làm vậy, đã không có ích gì mà còn làm cho Vân dưới suối vàng buồn thêm, và còn những người còn sống, đồng bạn Hậu, mẹ con chị còn cần đến Hậu.
Vào đến đảo, chúng tôi cũng được đón tiếp đàng hoàng. Mỗi gia đình được chia cho một căn lều vải. Chúng tôi là những người gần như đầu tiên đến đảo, được đối đãi rất tốt. Mỗi ngày nhận được 3 khẩu phần. Cuộc sống trên đảo cũng tạm qua ngày trong lúc chờ đợi Uỷ Ban Liên Hiệp Quốc quyết định cho tương lai của những người di tản.
Trên đảo có một văn phòng đại diện Liên Hiệp Quốc, họ cần những người biết tiếng Pháp, tiếng Anh để làm thông dịch viên. Hậu và tôi tình nguyện vào làm vì chúng tôi nói thạo 3 thứ tiếng.
Sau đó thấy Hậu độc thân, họ hỏi anh muốn đi đâu và có thân nhân ở đâu, Hậu bảo anh đã liên lạc được với vợ chồng em gái anh ở Mỹ và chịu bảo trợ cho anh, và anh đã được đồng ý cho đi Hoa Kỳ. Sau đó đến tôi, thấy tôi thạo tiếng Anh, và có con nhỏ, họ bảo tôi được quyền ưu tiên chọn xứ, và sau đó do sự bảo trợ của nhà thờ, họ tìm được cho tôi một gia đình hai vợ chồng người Mỹ cao tuổi đang cần một người giúp việc nhà, họ liên lạc với gia đình này và tôi được nhận.
Cuộc đời mẹ con tôi đến một ngã rẽ may mắn, nhiều khi nghĩ lại, tôi cũng tự hỏi có phải tôi đẻ bọc điều không, hay định mệnh do Trời Phật xếp đặt.
Ông bà Mỹ đối với mẹ con tôi như người nhà. Ngoài những giờ làm việc, bà chủ cho tôi theo học lớp tiếng Anh cho người ngoại quốc, vì dù tôi thạo tiếng Anh, nhưng ở Mỹ họ nói mau quá khó nghe vì nuốt chữ. Và vì chợ búa, món ăn tôi chưa thạo việc lắm, chỉ có cái vui là ông bà rất thích đồ ăn Việt nên mê những món tôi nấu.
Ở đây có nhiều hội từ thiện các nhà thờ, thường cho mẹ con tôi quần áo …có mặc rồi nhưng chưa cũ lắm, cháu Nam thì ban ngày được đi mẫu giáo, tóm lại, cuộc đời tôi không đến nỗi nổi trôi lắm nếu hai ông bà Mỹ không mất đi. Từ đó, tôi lại phải lo tìm việc khác để làm nuôi con.
Tôi nhờ nhà thờ tìm cho tôi chỗ làm, và tôi được nhận vào nấu ăn cho một nhà hàng Việt, với sự dành giụm, mấy năm sau tôi mua được một căn nhà nhỏ đủ cho mẹ con tôi ở. Tôi tiếp tục như vậy và nuôi con cho đến lúc nó ra đại học. Bây Giờ Nam đã là một luật sư. Nó tìm được chỗ làm tốt cùng với một luật sư người Mỹ gốc Việt.
Hiên nay tôi đã ngoài lục tuần. Tôi vẫn sống độc thân nuôi con, dù có rất nhiều người thương và xin cưới tôi. Trong tim tôi, bao giờ cũng chỉ có một hình bóng duy nhất của người lính không biết tên mà tôi vẫn xem anh như chồng mình. Tôi cứ cầu nguyện Trời Phật cho tôi gặp lại anh ấy dù chỉ một lần là đủ mãn nguyện rồi. Nam từ nhỏ vẫn hỏi cha nó đâu, tôi giải thích cho con cha nó là một người lính trước đây của binh chủng Biệt Động Quân Việt Nam Cộng Hoà.
40 năm sau …….
Buổi tối hôm đó, tôi đi dự đám cưới con của bạn, tôi không thể nào ngờ là mình đã gặp lại người xưa. Anh đưa tôi về nhà, tôi mời anh hôm sau đến chơi và để cho anh biết một chuyện mà anh không bao giờ ngờ đến.
Trong một bữa tiệc cưới con trai bạn, tôi đi dự hôm đó, mặc chiếc áo dài tím như thời còn là học trò nhưng hở cổ, thân người vẫn mỏng mảnh, và nhìn chung sắc diện cũng còn dễ coi, chưa bị thời gian hằn những nếp nhăn mặc dù đời tôi quá ê chề lúc trẻ. Trên cổ trắng ngần của mình, sợi dây chuyền người lính không biết tên đã tặng vẫn nằm yên cùng chỗ khi người ấy đeo vào cho tôi. Tôi đang đứng nói chuyện với mẹ cô dâu, chợt thấy có một người đàn ông tóc hơi hoa râm nhìn tôi chăm chú, tôi cố nghĩ tìm xem có quen không, thì người ấy đã đi về phía tôi, nhìn đăm đăm vào khoảng cổ trần của tôi:
– Xin lỗi bà về tội tôi đường đột sắp hỏi một câu, nếu có gì thấy thất lễ, mong bà lượng thứ cho. Chưa kịp trả lời bằng lòng hay không, ông ta tiếp theo:
– Xin lỗi bà, làm sao bà có sợi dây chuyền này?
Bất giác tôi nhìn tay ông ta đang cầm cốc rượu, một chiếc nhẫn bạc quen thuộc trên ngón tay út, cả hai người, ông ta và tôi đánh rơi hai cốc rượu xuống đất cùng một lần theo sau hai tiếng như thoát ra từ ngực mỗi người:
– Anh
– Em…
Anh đưa tôi về nhà, tôi mời anh hôm sau đến chơi và để cho anh biết một chuyện mà anh không bao giờ ngờ đến.
Hôm ấy tôi làm một bữa cơm thật giản dị nhưng để hết thương yêu vào những món mà ngày anh đến quán Vân tôi đã tự tay nấu cho anh và nhân thể tôi gọi Nam đến ăn cơm nhưng chưa cho con biết vì sao, tôi căn dặn con là phải đến. Hôm nay tôi cũng sửa soạn làm đẹp một chút và nhìn gương, tôi rất tự hào mình vẫn còn những nét xưa.
Nghe chuông cửa reo, tôi vội vàng ra mở cửa, thấy anh ôm trên tay một bó hồng đỏ và chào tôi bằng một nụ cười thật tươi, tôi sững hết một phút, ban ngày nhìn rõ, nụ cười đó của anh vẫn dành cho tôi những ngày ngắn ngủi thương yêu nhau ngày xưa. Anh đưa cho tôi bó hồng, anh bảo có 40 đoá hoa, tôi hỏi tại sao lại 40 đoá hoa?
– Vì đã 40 năm anh chưa gặp lại em. Và mỗi một đoá hồng là một năm tròn anh nhớ em đó em.
Nước mắt tôi ứa ra vì cảm động. Tối qua ở tiệc cưới, anh bảo anh vẫn ở một mình đến bây giờ vì cũng thầm mong ngày nào đó gặp lại tôi.
Tôi mời anh vào nhà, mời anh vào salon, mời anh ngồi ở chiếc ghế bành một chỗ bên tay trái tôi, tôi mở chai champagne, rót vào hai cốc, mời anh uống rượu khai vị. Anh nắm tay bảo tôi ngồi xuống cạnh anh, anh ôm tôi hôn nồng nàn như đêm đầu tiên mới gặp.
Qua hết những phút cảm xúc, tôi đứng dậy, đi lại bàn viết, mở hộc tủ lâu nay tôi vẫn khoá, tôi lấy bao thuốc lá Capstan cũ đưa cho anh, anh ngạc nhiên nhìn tôi, tôi ra dấu cho anh mở đi.
Anh cầm bao thuốc, mở ra, anh như sững lại: trong bao thuốc anh để lại trên bàn khi anh trở về đơn vị còn y nguyên số tiền lương tháng cuối cùng anh để lại cho tôi, tấm ảnh cũ của anh và bài thơ anh viết vội tặng tôi trước khi anh lên đường. Anh lặng người đi mấy phút, xong anh kéo tôi lại, dang tay ôm trọn tôi trong vòng tay anh.
– Sao em lại để dành số tiền này vậy?
– Vì đó thuộc về những kỷ niệm ít oi anh để lại cho em trước khi anh đi.
– Anh bảo em nếu em cần thì tiêu, không thì ngày gặp lại, em trả lại anh cũng được
– ???
– Vì em không phải cần đến số tiền đó nên…
Ngay lúc ấy, cửa nhà mở, cháu Nam bước vào, thấy anh, nó khựng lại một giây, xong bước lại gần, đứng cụp hai chân với nhau và đưa tay phải lên trán chào anh theo kiểu nhà binh.Thấy anh bỡ ngỡ, Nam lên tiếng trước:
– Con chào Ba, rồi đến gần hôn anh trên má.
Anh ngạc nhiên nhìn Nam rồi nhìn tôi, tôi chưa kịp lên tiếng thì Nam đã giành nói:
– Thưa, con biết là Ba, vì khi con vừa bước vào phòng khách, thấy Ba ngồi trên chiếc ghế mà Mẹ con không mời ai ngồi trên ấy, kể cả bạn bè của Mẹ hay ngay cả chú Hậu, vì Mẹ con vẫn nói với con là người đàn ông nào bước vào nhà và được Mẹ con mời ngồi vào chiếc ghế này sẽ là cha của con mà thôi, vì vậy mà con biết là Ba.
Anh nhìn tôi, tôi hiểu ra, tôi nói :
– Mấy tháng sau khi anh đi, em đã có thai, và đây là con trai chúng mình đấy anh, con tên là Nam, Nguyễn Việt Nam, em khai họ mẹ vì không biết anh tên gì và họ gì, anh cười thật tươi:
– Anh là Cường, Nguyễn Việt Cường.
– Còn em là Trầm Hương, anh trả lời hộ tôi, vì phía trong chiếc nhẫn em tặng anh đêm đó, anh đọc thấy tên em khắc trong nhẫn : Tôn Nữ Trầm Hương, rồi ôm tôi âu yếm…Hạnh Phúc thật bất ngờ còn đến với những người bạc hạnh như tôi.
đht
Còn Nỗi Ngậm Ngùi
HÃY CHO NHAU TIẾNG CƯỜI
Sống ở Mỹ hơn nửa đời người, ngày 30 Tết, tôi đi chùa làm phóng sự cho báo, radio và tivi. Ngày mùng 1 Tết, tôi đi xông đất cơ sở thương mại của mình và bằng hữu, và tiếp tục đi chùa. Giao thừa năm nay và mùng 1 Tết, tôi ở nhà chờ tin vui của bằng hữu.
Kiều Mỹ Duyên bên trẻ em mồ côi Mexico
Giọng nói của Sơ Immacolata Đào ThịThu Thủy ở đầu giây:
– Chị khỏe không?
Tiếng nói của sơ cùng với tiếng cười giòn tan. Nghe giọng nói của sơ là biết mùa Xuân đã về. Giọng nói của sơ Đào Thủy với tiếng cười reo vui đặc biệt, hình như sơ không bao giờ biết buồn. Sơ đậu bằng Tiến sĩ giáo luật ở Roma. Trước đây, sơ là cô giáo, tôi nghĩ chắc cô giáo sơ Đào Thủy được học trò thương lắm. Tôi cũng là cô giáo của trường Văn Hóa Quân Đội Quang Trung, quận Hóc Môn, tỉnh Gia Định. Học trò của tôi năm nay đã có cháu nội, cháu ngoại. Thỉnh thoảng, học trò của tôi bồng cháu nội, cháu ngoại đến thăm. Ngày xưa, dạy học tôi nghiêm lắm, nhưng cô giáo sơ Đào Thủy cười tươi vui lắm. Ai bảo đi tu là khó, đi tu dễ lắm chứ!
Sơ Đào Thủy rất dễ thương, sơ yêu nghề dạy học và làm từ thiện. Sơ ở trong hội Hồng Ân giúp đỡ tích cực cho người nghèo ở rừng núi Bắc Việt và cao nguyên Trung phần. Có lần, sơ nói với tôi:
– Chị ơi, em bị bắt nạt hoài.
Giọng nói của sơ lúc nào cũng reo vui. Tôi tự nhủ: “Sơ tốt nghiệp Tiến sĩ giáo luật, ai dám bắt nạt sơ chứ?” Nhưng tôi lại nhớ có lần, chị Liên của sơ nói về ông anh cả quyền huynh thế phụ. Anh của sơ đi tu từ lúc 11 tuổi, đâu có ở nhà để “bắt nạt” các cô em. Anh của sơ chịu chức linh mục, làm phó xứ, chánh xứ, được mọi người kính trọng và thương mến. Ngài hiền lành, đức độ và quảng đại, giúp đỡ mọi người khi ai cần đến sự giúp đỡ của ngài. Ngài có kiến thức uyên thâm nhưng rất khiêm tốn.
Mấy hôm nay, tôi ở nhà vì thuốc chích ngừa Covid-19 hành hạ. Ngày thứ hai, thứ ba và thứ tư, tôi đau, đau không thể tưởng tượng được, đau như chưa từng đau. Đầu nhức như búa bổ, cánh tay nơi chích ngừa nóng như lửa, hai bàn tay lạnh như nước đá. Khổ như chưa từng khổ, vậy mà khi nghe tiếng cười giòn tan của sơ Đào Thủy, tôi cảm tưởng như cơn đau đi mất.
Tôi nói với sơ:
– Hy vọng một ngày nào đó khi nghe tiếng cười của sơ là tôi chạy ra đón sơ vào, lúc đó sơ đang ở ngoài bãi đậu xe.
Sơ ĐàoThủy tiếp tục cười, tiếng cười reo vui. Sơ lúc nào cũng cười, ở sơ chỉ có mùa Xuân không có mùa Hạ, mặc dầu mấy tháng trước sơ chăm sóc cho hai người chị của sơ bị Covid-19 và cụ cố trong nhà già. May mắn, Chúa thương, hai chị của sơ đã bình phục.
Sr. Immacolata Đào Thị Thu Thủy
Hãy cho nhau tiếng cười reo vui, đời sống ngắn lắm, sự sống và sự chết gần nhau lắm, như sợi chỉ. Chỉ một cơn mê, chỉ một vài phút không thở, tim ngừng đập là lên đường ra đi mãi mãi, không bao giờ trở lại.
Hãy cho nhau nụ cười cho người còn hiện hữu, đừng đợi người ra đi rồi luyến tiếc. Muốn gặp ai thì cứ gặp, đừng chần chờ, vì không biết ngày mai mình còn thức dậy? Gặp người mình muốn gặp vài ba giây cũng đủ, nghe vài tiếng nói cũng đủ. Đâu cần ngồi bên cạnh cả ngày, cả tháng, cả đời? Biết đủ là đủ.
Trong những ngày bị thuốc chích ngừa Covid-19 hành hạ nằm một chỗ, mê mê tỉnh tỉnh, tôi có cơ hội để nghĩ rằng tình cảm giữa người và người vô cùng quan trọng. Một mai mình đi rồi không còn cơ hội để nghe tiếng cười của người khác hoặc nhìn thấy nụ cười của người mà mình quý mến. Tại sao không nói: Tôi đau quá, tôi cần nhìn nụ cười, tôi cần nghe tiếng cười, tiếng cười như một liều thuốc mầu nhiệm để chữa bệnh?
Trong những ngày đau đớn, quằn quại vì thuốc chích ngừa, tôi nghĩ đến việc nếu mình ra đi hôm nay hoặc ngày mai, mình không muốn thấy những người thân của mình buồn, mình không muốn nghe ai khóc, mình chỉ muốn nghe tiếng cười, tiếng hát những bài tình ca thật lãng mạn để tiễn người đi, hay kể những chuyện thật vui như khúc nhạc mừng đoàn quân chiến thắng trở về, vui ơi là vui.
Tiếng cười reo vui như khúc nhạc mừng chiến thắng.
Đời sống quá ư vất vả, ai cũng thích tiếng cười. Tiếng cười đem niềm vui và sức sống cho người xung quanh. Sống lạc quan khi có nụ cười, tiếng cười. Sự linh hoạt của đời sống là sự vui vẻ, yêu đời và lạc quan. Càng lớn tuổi, tôi càng thích tiếng cười. Tôi thích những người đem niềm tin đến cho mình, tôi cũng thích chính mình đem niềm tin đến cho người khác. Đem nỗi buồn làm phiền người khác để làm gì? Thương ai nên đem cho họ nụ cười, tiếng cười. Ngay cả người bệnh nằm trong viện dưỡng lão mà mình đem tiếng cười đến cho họ, nhìn vào mắt của bệnh nhân mình sẽ cảm thấy mắt của họ tươi hơn, khuôn mặt của họ có hồn hơn.
Hãy cho nhau nụ cười, cho nhau tiếng cười. Nếu mình có niềm vui trong lòng thì tiếng cười sẽ reo vui hơn, giòn tan hơn. Yêu người, yêu đời qua tiếng cười. Hãy yêu thương, lòng rộng mở, tiếng cười của mình sẽ hồn nhiên hơn, giòn giã hơn. Tôi yêu tiếng cười của trẻ thơ khắp nơi, nhất là các em trong viện mồ côi. Hãy ôm chặt các em trong tay với trái tim nồng nàn, chúng ta sẽ tìm thấy tình người trong vòng tay ấm áp của mình. Hãy nắm chặt tay người già trong viện dưỡng lão, chúng ta sẽ cảm nhận được người cần người dù trong chốc lát.
Kiều Mỹ Duyên bên trẻ em mồ côi ở Việt Nam
Có người suốt đời đi tìm nụ cười đã mất, tìm hoài, tìm mãi không được, vì người có nụ cười thân thiện, thương yêu đã không còn nữa, cho nên khi còn hiện hữu, gặp bằng hữu, chúng ta nên cười vui vẻ, tự nhiên mà cười, nếu không ngày mai không còn kịp nữa.
Tôi được may mắn quen nhiều người có tiếng cười reo vui. Catherine bận rộn suốt ngày, làm việc không có ngày nghỉ. Vậy mà lúc nào cũng nở nụ cười trên môi và tiếng cười reo vui. Trong suốt hành trình đi làm việc xã hội ở Á Châu với hội từ thiện Young Life. Catherine lúc nào cũng cười không biết mệt. Chồng của Catherine là một trong 9 tỷ phú người Việt Nam tị nạn ở Hoa Kỳ. Chúng tôi gặp nhau ở Cambodia. Chúng tôi đến từ Hoa Kỳ, ngừng lại ở Nam Hàn, rồi đến Cambodia. Catherine cùng chồng đến từ một quốc gia khác, chúng tôi gặp nhau ở Cambodia, ở trong một khách sạn International Continental của Pháp. Khách sạn trong rừng cây, bóng tối và rừng cây thành một màu đen, ngồi ăn chỉ thấy những bóng đèn rực rỡ bên ngoài khung cửa sổ. Catherine tươi cười quan tâm đến từng người, trong đó có người đến từ Cali và các tiểu bang khác. Trong phái đoàn có 2 tỷ phú, một người Mỹ và một người Mỹ gốc Việt, còn lại là triệu phú. Có lẽ tôi là người nghèo nhất trong phái đoàn.
Nhiều người đi làm từ thiện với các phái đoàn từ thiện quốc tế đều biết là chuyến đi rất vất vả. Chương trình sắp đặt không có một chút thì giờ nghỉ ngơi. Sáng thức dậy thật sớm, ra khỏi khách sạn khi mặt trời chưa mọc, khi trở về thì mặt trời đã đi ngủ. Buổi sáng, khuôn mặt người nào cũng tươi cười nhưng khi trở về thì tắt tiếng cười. Tiếng cười đi ngủ theo mặt trời, nhưng Catherine thì không. Catherine lúc nào cũng nói năng hồn nhiên, dù vào rừng hay lên núi.
Kiều Mỹ Duyên cùng hội từ thiện Young Life: Giáo sư Daniel Aldrich, cố vấn UCI (áo xanh da trời, đứng sau), ông bà Frank Jao, và trẻ em mồ côi ở Cambodia
Mục đích của hội từ thiện Young Life là đào tạo những nhà lãnh đạo trẻ đam mê làm việc xã hội, thay đổi xã hội bằng giáo dục. Young Life thành lập trung tâm huấn luyện giới trẻ ở Phi Luật Tân. Giáo sư Mỹ đến đây, tốn kém ít mà đào tạo được nhiều sinh viên, nhất là không mất nhân tài, vì họ học tại Á Châu và làm việc tại Á Châu, thay vì đến Mỹ, học rồi ở luôn không về nữa.
Catherine đem nụ cười đến với những người nghèo, trẻ em mồ côi. Catherine giúp họ rất tận tình như người mẹ chăm sóc con cái của mình. Những đứa trẻ ở Miên rất thương Catherine.
Đi làm việc xã hội phải thức dậy từ 6 giờ sáng, sau đó lên đường. Chương trình dày đặc: gặp gỡ những người nghèo, trẻ con mồ côi, tặng quà, lắng nghe những lời tâm sự của họ, bàn kế hoạch cho những năm sắp tới,… nhiều việc làm lắm. Chuyến đi nào cũng để lại cho chúng tôi bùi ngùi, xúc động.
Catherine lúc nào trong bóp cũng đầy tiền mặt. Tiếng cười và sự ân cần, niềm nở của Catherine cùng đi theo những món quà. Buổi tối về khách sạn ăn cơm tối, Catherine vẫn cười, trong lúc mọi người với nụ cười đã tắt theo ánh sáng mặt trời. Trong phái đoàn đa số là người lớn tuổi, khó tìm thấy nụ cười hay tiếng cười. Phu quân của Catherine lúc nào cũng suy tư, ít nói và không bao giờ cười, trong khi vợ thì luôn cười. Hai thái cực khác nhau vậy mà họ sống hạnh phúc gần hết cuộc đời, lạ không?
Đi làm xã hội với phái đoàn từ thiện Young Life, trong đó có Catherine, mọi người cười thoải mái vì có nụ cười của Catherine. Mong Catherine mãi có tiếng cười hồn nhiên đem lại sự an ủi cho những người nghèo và trẻ mồ côi.
Hoa đào khoe sắc thắm ngày Mùng 1 Tết
Tôi có người bạn hơn nửa thập niên, cứ mỗi năm ngày mùng 1 Tết, bạn gọi chúc Tết tôi. Nghe điện thoại reo, nhìn số điện thoại, tôi biết tiếng cười sẽ đến ngay. Thật vậy, tiếng nói đi theo tiếng cười, chúng tôi nói đủ thứ chuyện, chuyện đời xưa, chuyện đời nay. Câu chuyện không có chủ đề nhưng nói hoài không hết. Năm nay, mùng 1 Tết cũng vậy, tiếng cười đi trước, đã mấy chục năm rồi, lời chúc Tết của người bạn bằng tiếng cười thay lời nói, chuyện nào cũng vui, chuyện trời trăng mây nước, chuyện cây cỏ phủ một màu tuyết trắng xóa. Tôi thì kể chuyện hoa mai, hoa đào. Có nhiều khi người bạn không biết mình là ai, tôi phải nhắc nhở và phân tích cho bạn biết, bạn là ai, rất tiếc người ở bên bạn không thấy bạn, không định được giá trị của bạn. Bạn đến với tôi, bao giờ cũng vậy, tôi nhắc lại những người bạn cũ, những người bạn đã ra đi không bao giờ quay trở lại với những nét độc đáo của họ.
Ở trên đời này, xung quanh ta đông người lắm, nhưng tìm được một người hiểu mình được bao nhiêu? Một người biết lắng nghe người khác nói chuyện với trái tim của mình không phải dễ tìm. Bạn tôi vui lắm nhưng tôi biết bạn tôi cô đơn, nhưng không phải vì cô đơn mà mùng 1 Tết gọi thăm tôi với tiếng cười và kể đủ thứ chuyện cho tôi nghe. Tôi cũng rất thích thú nghe chuyện tuyệt vời ở miền Đông với tiếng cười ấm áp, tiếng cười hồn nhiên của người bạn hơn nửa thế kỷ đó.
Đã mấy chục năm rồi, bạn thường gọi thăm tôi vào buổi sáng mùng 1 Tết thật sớm, nhưng năm nay bạn gọi vào buổi chiều. Cũng may, lúc đó tôi đang ở nhà, đang nhìn ra khung cửa: cỏ xanh, trái tắc nặng trĩu trên cành, màu vàng rực rỡ, hoa đào vẫn rung rinh trong gió. Tôi yêu cành mai, cành đào sau vườn nhà tôi, và những trái bưởi treo lủng lẳng trên cành cây xanh. Tiếng cười của người bạn vẫn vang vang trong gió. Tôi thích nghe tiếng cười của bạn nên im lặng và mắt thì nhìn ra vườn. Một ngôi vườn nhỏ, nếu so với mảnh vườn của ba mẹ tôi ở Việt Nam thì vườn nhà tôi ở đây nhỏ lắm, nhỏ lắm. Hình như những trái cây vàng rực rỡ trên cành cất tiếng cười. Những con chim nhỏ hót líu lo nhảy nhót từ cành cây này sang cành cây khác đón chào mùa Xuân. Xuân của đất trời và Xuân trong lòng người.
Những trái cây rực rỡ trên cành đong đưa theo gió, mùi hoa bưởi thơm ngát thoang thoảng trong vườn. Tôi định hái trái cây để tặng cho vị lãnh đạo tinh thần, nhưng vị lãnh đạo tinh thần nào giỏi, đạo đức thì không thiếu một thứ gì, không cần một thứ gì, vì hàng ngàn tín đồ của họ đem đến, đâu cần đến trái cây vườn nhà tôi?
Tiếng cười của bạn tôi vẫn reo vang. Năm nào, bạn tôi cũng gọi cho tôi với tiếng cười lạc quan pha chút nghịch ngợm của trẻ thơ vào ngày đầu năm.
Tiếng cười vui vẻ không thay thế được cơm gạo, nhưng tiếng cười hồn nhiên của trẻ thơ, của người già vẫn là nhu cầu cần thiết của người nghe, của bằng hữu. Bạn tôi không gọi tôi thường xuyên nhưng mùng 1 Tết năm nào cũng gọi. Trước khi đi xa gọi, trở về gọi, có chuyện vui đều gọi tôi. Bạn tôi rất hồn nhiên, chỉ kể chuyện vui, không bao giờ kể chuyện buồn.
Mỗi lần nói chuyện với tôi, bạn tôi thường nhắc đến những người con gái điên. Những người con gái này có học, con nhà giàu, viết văn, làm thơ, ca hát và sáng tác nhạc rất hay. Tôi cười vì những người con gái này là bạn của tôi đang ở rải rác khắp nơi trên thế giới. Họ vẫn tiếp tục cầm bút và vẫn viết, viết rất hay. Có lẽ nhờ có máu điên mà viết hay chăng? Tình yêu chân thật làm cho các bạn tôi điên. Tôi cũng mong những người bạn văn nghệ của tôi mãi mãi điên, để không ham danh, ham lợi. Mãi mãi là người điên để tôi được thưởng thức những sáng tác tuyệt vời của các bạn.Vì yêu mà điên thì cứ mãi là người điên thì tốt hơn.
Mãi đến bây giờ, tôi mới nhận ra một điều quan trọng là chúng ta rất cần nụ cười, cần tiếng cười trong đời sống hàng ngày: tiếng cười hồn nhiên của trẻ thơ, nụ cười héo hon của người già gần đất xa trời, giọng cười giòn tan của bạn bè, thân hữu,… Đúng là một nụ cười bằng mười thang thuốc bổ?
Kiều Mỹ Duyên bên trẻ em mồ côi ở Cambodia
Hạnh phúc thay cho những ai có tiếng cười giòn tan thường đến với mình trong 4 mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Tiếng cười hồn nhiên pha lẫn chút nghịch ngợm của trẻ thơ làm cho người nghe lạc quan, yêu người, yêu đời mà sống, vượt qua những nỗi khó khăn ở hiện tại.
Xin cảm ơn những nụ cười, những tiếng cười mà tôi đã được gặp, được nghe trong đời sống hàng ngày, nhất là vào mùa Xuân.
Dạng flipbook có vài điểm đặc biệt dễ dùng: Chỉ bấm nhẹ cạnh bên phải hay bên trái của screen thì trang lật qua phải hay trái. Phía dưới trang, có vài ký hiệu, ký hiệu đầu có 4 hình vuông nhỏ. Khi bấm vào ký hiệu này, ta thấy màn hình có nhiều trang nhỏ với số trang. Chỉ cần chạm vào một trang nhỏ đó, thì trang đó mở ra. Ví dụ ta muốn xen vần NG, mục lục cho biết vần này bắt đầu từ trang 60. Vì flipbook ghi số trang từ trang bìa, nên vần NG bắt đầu từ trang 61. Ta bấm vào trang 61 sau khi mở ký hiệu 4 hình vuông nhỏ. Trang 61 mở ra ngay, thay vì phải lật từng trang như dạng cũ. https://fliphtml5.com/oimsx/uwjp/
GERMANY, 14.02.2021
TẠP CHÍ DÂN VĂN
Xin quý vị click vào hình đễ đọc.
Nơi Cây Đa Bến Cũ
Nơi cây đa bến cũ
Rét mướt gió Xuân về
Gió lay từng nhánh lá
Bờ tre trên đường quê
Con về thăm làng cũ
Gốc phượng xưa đã già
Thăm dòng sông bến nước
Tổ tiên biền biệt xa
Cha cho con đôi cánh
Mẹ dắt con vào đời
Công Cha như núi Thái
Lòng Mẹ tựa biển khơi
Mồ hôi Cha ướt áo
Mẹ dãi dầu nắng mưa
Trên dặm trường rong ruổi
Quên nhọc nhằn sớm trưa
Cha dạy con lối rẽ
Vững bước trên đường đời
Giờ Cha không còn nữa
Ngậm ngùi gọi, Cha ơi !
Cố hương dù vạn dặm
Xa khuất nẻo đường quê
Thăm Cha, thăm nguồn cội
Dẫu xót xa lối về
Dân oan trên khắp nẻo
Căm hờn nỗi nhà tan
Chân đau trong cùm xích
Kiếp lao tù nghiệt oan
Nỗi đau còn chồng chất
Trong tận cùng, Cha ơi !
Mẹ sẽ về lần nữa
Bên Cha cuối cuộc đời…
Nơi cây đa bến cũ
Vẫn sớm nắng chiều mưa
Người đi rồi, đi mãi
Có còn nhớ bến xưa…?
San Jose, California 02/ 06/ 2021
Vệ-Trà Huỳnh Kim Anh
Đặc San Xuân Tân Sửu
ĐẶC SAN XUÂN
…Đầu Xuân, nhận được Đặc San Xuân,
Đọc lại, đọc đi…cả chục lần!
Bìa sách, tên in…thơ chẳng thấy?
Văn hay, ảnh đẹp…muốn hoài ngâm!
Cảm ơn công sức ban biên tập,
Thâm phục tài năng quí trưởng đoàn!
Đấu lực, đồng tâm…mừng Lạc Việt
Năm Trâu, đại dịch sớm lùi chân…
Lại mừng Sinh Nhật, thơ và ảnh,
Lại họp hành, thi tuyển… trống đàn…
Văn Hóa, Văn Minh…lo củng cố…
Tự Do, Dân Chủ…hưởng muôn dân !!
Dương Huệ Anh 27/3/21
BÀI THƠ CÁO LỖI
(Cẩn họa bài “Đặc San Xuân” để tạ lỗi và cám ơn tiền bối Dương Huệ Anh)
Không quên những mảnh đời “không bao giờ có Mùa Xuân!”
Đón Giao Thừa và ăn Tết Tân Sửu 2021 với Khách Không Nhà (Homeless)
Anh Hải Trưởng Nhóm Mõ Nhân Ái, đứng bên cành mai, sửa soạn bao lì xì, trước giờ sinh hoạt đón Tết với những người bất hạnh.
(San Jose) – Sáng Thứ Năm, ngày 11 tháng 2 năm 2021, nhằm ngày Giao Thừa, tuy trong mùa dịch, nhưng Nhóm vẫn giữ những sinh hoạt truyền thống, đưa những niềm vui ngày lễ đến với những khách không nhà, đây là niềm an ủi rất lớn, xoa dịu nỗi cô đơn, giúp họ đỡ tủi thân khi nhìn xã hôi chung quanh, tươi vui hạnh phúc bên những người thân, còn mình thì không!
Nhìn nét mặt của họ, nở nụ cười tươi, khi nhận bao Lì xì, quà xuân, bữa cơm “to go”, bao thực phẩm,… làm các Anh Chị Em trong Nhóm thiện nguyện, cũng cảm thấy ấm áp hạnh phúc lây.
Nhiều người còn biết tiếng Việt, khi nhận quà, không quên “Chúc Mừng Năm Mới!” và ngỏ lời cám ơn Nhóm, bao nhiêu năm nay, đã không quên họ, năm nào cũng cho họ mừng Tết Việt chung.
Đây là truyền thống của Nhóm, đã sống chết, đi bên cạnh những mảnh đời bất hạnh trên 27 năm nay, coi họ như người trong nhà, ngoài cung cấp 2 bữa ăn nóng hổi trong tuần, (Thứ Năm, Thứ Sáu) còn có mục đích, đưa không khí gia đình ấm áp, hạnh phúc của những ngày lễ đến với họ.
Trong mùa dịch, nhất là những ngày giá lạnh mùa đông, họ đã qua đời nhiều nhất trong năm, trong khoảng thời gian khắc nghiệt này.
Không tin cũng phải tin “Mỗi người một số mệnh!” trên đất nước giầu có, văn minh nhất thế gới, lại có những mảnh đời khốn khổ như thế.
Chẳng làm gì được hơn, nhưng vẫn nguyện cầu, ước mong, Chúa Xuân đem niềm vui, hạnh phúc đến khắp nơi nơi, để ai ai cũng có cơ hội nâng ly rượu Mừng Năm Mới! thoát ly đời gian nan nghèo khó.
Một năm hứa hẹn tốt đẹp hơn, với Con Trâu khỏe mạnh, hiền hòa, chăm chỉ.
Mong lắm thay.
Danh ngôn Mùa Xuân:
–Ngày Tết là ngày Sinh Nhật chung của mọi người trên thế Giới! (Charles Lamb)
–Ngày mà Thượng Đế tạo ra tình yêu, thương mến, hy vọng, cũng chính là ngày, Ngài tạo ra Mùa Xuân! (Ben Willian)
Mừng Giai Phẩm Xuân
Chúc mừng Xuân đến….Xuân Tân Sửu
Hoa nở vẫy chào………Xuân mới sang
An Vui Tài Lộc………..Xuân gồm đủ
Thọ Hạnh dâng đầy…..Xuân tỏa lan
Muôn nhà tiễn biệt……Xuân năm cũ
Khắp nơi háo hức…….Xuân ngập tràn
Giai Phẩm Lạc Việt……Xuân Thơ Phú
Đẹp từng câu chữ…….Xuân Trâu Vàng
Hoàng Mai Nhất
Giai Phẩm Xuân
(Viết mừng Giai Phẩm Xuân Tân Sửu 2021/Văn Thơ Lạc Việt; ra mắt đọc giả đúng ngày mồng Một Tết, 12/2/2021).
Sáng Mùng Một đón mừng xuân giai phẩm
Mùa xuân về trên thung lũng hôm nay
Lật từng trang còn thơm mùi giấy mới
Văn thơ giao hòa vần điệu thật hay
Gió xuân tình nôn nao khoe áo mới
Nguồn văn thơ, trải mơ ước bên đời
Em và thơ cả hai đều duyên dáng
Đem xuân về, gửi tiếng chào muôn nơi
Lê Tuấn
HỒN XUÂN
(Kính họa bài Tiếng Gọi Xuân Về của thi sĩ Lê Tuấn)
Xuân về lộc trỗ vun cành
Nắng vương lên mảnh khăn lanh óng vàng
Được em yêu chẳng dễ dàng
Hồn rung mấy bậc nhịp nhàng cung thơ
Đắm say ra ngẩn vào ngơ
Hồn Xuân đã ngủ trên bờ vai em
Dịu dàng cơn gió ru êm
Mơn man vệt mộng ngang thềm nhẹ rơi
Tim bâng khuâng tiếng gọi mời
Miên man một cõi mây trời tỏa riêng
Cỏ hoa rực rỡ vào Giêng
Sao em nỡ để tâm phiền anh mang
Xuân nồng hôn khóm cúc vàng
Lắt lay cơn gió nhịp nhàng chân đi
Từ yêu em ước mãi khi
Bướm hoa chung lối mộng thì hoà chan
Phương Hoa – JAN 16th 2020
Vọng xuân thanh bình
Nhân Tết Tân Sửu, thay lời chúc, xin mời quý bạn thưởng thức một bài thơ « đọc xuôi, đọc ngược » (thuận nghịch độc) :
Vọng xuân thanh bình Ðông tàn, đã thắm rộ đào, mai, Tết chúc mừng: vinh, phúc, lộc, tài. Sông núi rộn reo hò chốn chốn, Thị-thành vang hát xướng nơi nơi. Mong chờ, vẫn biển ngàn ngăn cách, Ðợi ngóng, hàng năm tháng miệt mài. Lòng héo úa thêm chồng chất tuổi, Nông, sâu, đục nước chuyện cùng ai ?
Ðọc ngược, ta có một bài thơ khác, vẫn giàu tính thơ: Ai cùng chuyện nước đục, sâu, nông ? Tuổi chất chồng thêm héo úa lòng. Mài miệt tháng năm hằng ngóng đợi, Cách ngăn ngàn biển vẫn chờ mong: Nơi nơi xướng hát vang thành thị, Chốn chốn hò reo rộn núi sông, Tài, lộc, phúc, vinh, mừng chúc Tết, Mai, đào rộ thắm, đã tàn Ðông.
Đỗ Quang Vinh
Xin mượn bài thơ này gửi đến bè bạn mọi nơi : đây là lúc mà tâm tình những kẻ tha hương, ngày càng giống nhau và gần nhau hơn[1]. Có thể, vì chúng ta gốc gác Việt Nam nên khen « Tiếng Việt tuyệt vời » nghe không chói tai, chứ kỳ thực người nước nào mà chẳng trau dồi tiếng xứ ấy và sẵn sàng gán cho ngôn ngữ ấy hai chữ « tuyệt vời ». Cách « đọc ngược, đọc xuôi » (« thuận nghịch độc ») đâu phải chỉ là sở trường của ngôn ngữ thơ văn Việt Nam. Sử dụng ngôn ngữ như vậy, đọc xuôi, đọc ngược, gọi là « palindromes », tiếng Pháp tiếng Anh đều có cả. Sau đây là vài thí dụ văn xuôi tiếng Pháp : ta có thể đọc một từ, hoặc một cụm từ, từ trái sang phải, hoặc đọc từ phải sang trái, đều giống nhau, và nghĩa cũng như nhau. Từng từ một, như : « non », « ici », « ressasser », hoặc một câu nhiều từ như : « élu par cette crapule », « Ésope[2] reste ici et se repose », « un roc si biscornu », « engage le jeu, que je le gagne », « eh, ça va la vache », « Léon n’osa rêver à son Noël », « à l’autel elle alla, elle le tua là »… Tiếng Anh không thiếu trường hợp tương tự, hoặc một từ, như : « eye », « Eve », « noon », « civic », « madam », hoặc một câu nhiều từ như : « was it a car or a cat I saw ? », « even in eden I win eden in Eve », « Tivoli, I lov’it », « a man, a plan, a canal, Panama », hoặc đọc thuận đọc xuôi cả cụm từ : « King, are you glad you are King ? »…
Tuy nhiên, không phải ngôn ngữ nào cũng đưa cách chơi chữ này đến một vị trí như trong tiếng Việt. Theo Nguyễn Văn Ngọc, trong Nam Thi Hợp Tuyển, thơ thuận nghịch độc tuy làm theo thể thơ Đường nhưng lại là một lối riêng của thơ Việt Nam. Làm một bài thơ Đường luật đã khó, nhưng khi làm thơ « thuận nghịch độc » thì mỗi câu thơ lại đọc xuôi, đọc ngược làm sao cho cả hai cách đọc (xuôi, ngược) đều có ý nghĩa và hợp vần luật. Muốn được như thế, phải nắm bắt được một số quy luật, tuy không khó viết, nhưng viết xong lại khó hay. Hàn Mặc Tử, Tự Đức cũng từng làm thơ đọc xuôi, đọc ngược, nhưng nếu đem so những bài này với các bài thơ khác trứ danh, thì không có gì thật là « siêu phàm »[3]. Có người, vì đã nắm bắt được quy luật như thế, cho đăng luôn trên Mạng đúng 400 bài « thuận nghịch độc ». Làm thơ như vậy, đúng là để phá kỷ lục, chứ không phải vì yêu thơ. Cho nên, thơ thuận nghịch độc tuy không hiếm, nhưng bấy lâu nay, vẫn chỉ thấy có một bài với tám cách đọc, không biết ai là tác giả :[4]
Bài thơ kỳ lạ, tám cách đọc : đọc xuôi, đọc ngược…
1. Bài thơ gốc:
Ta mến cảnh xuân ánh sáng ngời Thú vui thơ rượu chén đầy vơi Hoa cài giậu trúc cành xanh biếc Lá quyện hương xuân sắc thắm tươi Qua lại khách chờ sông lặng sóng Ngược xuôi thuyền đợi bến đông người Xa ngân tiếng hát đàn trầm bổng Tha thướt bóng ai mắt mỉm cười.
2. Ðọc ngược bài gốc từ dưới lên:
Cười mỉm mắt ai bóng thướt tha Bổng trầm đàn hát tiếng ngân xa Người đông bến đợi thuyền xuôi ngược Sóng lặng sông chờ khách lại qua Tươi thắm sắc xuân hương quyện lá Biếc xanh cành trúc giậu cài hoa Vơi đầy chén rượu thơ vui thú Ngời sáng ánh xuân cảnh mến ta.
3. Bỏ hai chữ đầu mỗi câu trong bài gốc, ta được bài (ngũ ngôn bát cú, luật bằng vần bằng):
Cảnh xuân ánh sáng ngời Thơ rượu chén đầy vơi Giậu trúc cành xanh biếc Hương xuân sắc thắm tươi Khách chờ sông lặng sóng Thuyền đợi bến đông người Tiếng hát đàn trầm bổng Bóng ai mắt mỉm cười.
4. Bỏ hai chữ cuối mỗi câu trong bài gốc, đọc ngược từ dưới lên, ta được bài (ngũ ngôn bát cú, luật bằng vần bằng):
Mắt ai bóng thướt tha Ðàn hát tiếng ngân xa Bến đợi thuyền xuôi ngược Sông chờ khách lại qua Sắc xuân hương quyện lá Cành trúc giậu cài hoa Chén rượu thơ vui thú Ánh xuân cảnh mến ta.
5. Bỏ ba chữ cuối mỗi câu trong bài gốc, ta được bài (tám câu, mỗi câu bốn chữ ):
Ta mến cảnh xuân Thú vui thơ rượu Hoa cài giậu trúc Lá quyện hương xuân Qua lại khách chờ Ngược xuôi thuyền đợi Xa ngân tiếng hát Tha thướt bóng ai.
6. Bỏ ba chữ đầu mỗi câu trong bài gốc, đọc ngược từ dưới lên, ta được bài (tám câu, mỗi câu bốn chữ):
Cười mỉm mắt ai Bổng trầm đàn hát Người đông bến đợi Sóng lặng sông chờ Tươi thắm sắc xuân Biếc xanh cành trúc Vơi đầy chén rượu Ngời sáng ánh xuân. 7. Bỏ bốn chữ đầu mỗi câu trong bài gốc, ta được bài (tám câu, mỗi câu ba chữ) :
Ánh sáng ngời Chén đầy vơi Cành xanh biếc Sắc thắm tươi Sông lặng sóng Bến đông người Ðàn trầm bổng Mắt mỉm cười.
8. Bỏ bốn chữ cuối mỗi câu trong bài gốc, đọc ngược từ dưới lên, ta được bài (tám câu, mỗi câu ba chữ):
Bóng thướt tha Tiếng ngân xa Thuyền xuôi ngược Khách lại qua Hương quyện lá Giậu cài hoa Thơ vui thú Cảnh mến ta. Âu cũng là một cách thưởng Xuân nhẹ nhàng, ý nhị… Đ.T.H.
Tác phẩm Ca Dao Thời Cộng Sản đã được edit và update đầy đủ bao gồm quyển Một & Hai. Tại sao có tác phẩm này: Sau khi cha tôi mất, tôi rất e ngại phải đưa mẹ tôi về Việt Nam thăm các cô con gái của Mẹ. Tôi xuống Cần Thơ thăm bà cô và hỏi thăm cậu bé bán kem lối đi tới bến Ninh Kiều. Cháu bé bán kem nói với tôi: Đ. M. ông không biết bến Ninh Kiều ở đâu à. Tôi lắc đầu – Tôi biết trước 1975 nay quên rồi… cháu bán kem bỗng đọc câu ca dao: “CẦN THƠ CÓ BẾN NINH KIỀU, ĐỨNG QUANH TƯỢNG BÁC ĐĨ NHIỀU HƠN DÂN” ai chả biết bến Ninh Kiều ở đâu…! Tôi giật mình và sau đó về Sài Gòn gặp nhà văn đàn anh Vũ Ngọc Đĩnh. hỏi anh và cùng anh nghĩ tới cuốn Ca Dao Thời Cộng Sản. Anh viết được 2/3 cuốn tác phẩm thi qua đời năm 2016… và để lại cho tôi tiếp theo những ghi lại của anh về những câu “CA DAO THỜI CỘNG SẢN” còn dang dở cho trọn bộ gồm hai quyển Một và Hai, quyển hai đang layout…. thành thật cám ơn quý vị…! Xin quý vị click vào hình để đọc Ca Dao Thời Cộng Sản (quyển một).