GS SD Nguyễn Viết Khánh: VĂN HÓA VÀ TÔN GIÁONHÂN QUYỀN THẾ GIỚI

NHÂN QUYỀN THẾ GIỚI
Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh

Từ 10 năm qua, tôi vẫn nghĩ Liên Hiệp Quốc là một ông già vô dụng không còn hiệu năng nào nữa. LHQ được thành lập năm 1945, năm nay mới có 64 tuổi, lẽ nào đã hết hiệu năng? Sự thật LHQ chỉ là một tổ chức, có cơ cấu như một bộ máy chớ không phải là người. Một tổ chức cần phải tiến mau tiến mạnh cho kịp với sự phát triển rất mau lẹ của bộ óc con người. Ðó là sự phát triển của trí tuệ của tư duy, dễ thấy nhất là những tiến bộ về khoa học kỹ thuật tạo ra những máy móc, những tiện nghi của cuộc sống mà chúng ta đang sử dụng hàng ngày. Và lạ lùng thay chính những tiến bộ đó lại thúc đẩy thêm cho sự mở mang trí tuệ của con người gia tăng đến độ dù không phải là cấp số nhân cũng là cấp số cộng. Tại sao nhanh như vậy? Ðó là vì một ngành gọi là truyền thông đại chúng, tức là ngành trao đổi tin tức giữa con người và con người. Có trao đổi thông tin, con người mới học hỏi thêm được những gì thật mới, những kinh nghiệm của người khác. Dù muốn dù không, khi đã sống trong xã hội hiện đại, trí tuệ con người bắt buộc phải học để tiến lên chớ không thể đứng ỳ một chỗ… như một ông già dậm chân tại chỗ. Một thí dụ dễ thấy là hãy nhìn lại các liên mạng toàn cầu đã tiến như thế nào năm 2009 so với năm 1999, nghĩa là chỉ có 10 năm. Còn so với năm 1945 khi LHQ mới thành hình lúc đó chưa có TV, nói chi đến những cell phone hay những cứ điểm lưới đầy rẫy trên tầng không gian Internet hiện nay. LHQ đã quá già rồi. Bản Hiến chương cũ đã trở thành đồ cổ. Không những nó vô dụng mà còn có khi làm hại cho nền hòa bình thế giới và cản trở sự tiến hóa của nhân loại. Hãy trẻ trung hóa LHQ bằng một bản Hiến chương mới.

Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh

Gs Nguyễn Viết Khánh: ÐỊA BÀN CHỐNG KHỦNG BỐ

Gs Nguyễn Viết Khánh: ÐỊA BÀN CHỐNG KHỦNG BỐ

Vậy bin Laden và bọn al-Qaida có gốc gác như thế nào? Vào cuối năm 1979 Liên Sô đã mở cuộc tấn công đánh chiếm Afghanistan, lập một chính quyền Cộng sản, bị sự phản kháng dữ dội của các nhóm du kích Hồi giáo gọi là “mujahideen”, chủ trương dùng Thánh chiến (jihad) để tiễu trừ bọn ngoại xâm. Ðó là thời kỳ chiến tranh lạnh, Mỹ tìm cách giúp du kích Hồi giáo đánh Nga. Với sự yểm trợ của Pakistan, Mỹ cấp vũ khí, giúp cả việc huấn luyện cho du kích chống Cộng ở Afghanistan. Trong số các du kích này có một người trẻ tuổi từ Á Rập Sê-út ở Trung Ðông đến. Tên anh ta là Osama bin Laden. Năm 1989, Liên Sô chịu không thấu, phải ký kết hòa ước rút quân khỏi Afghanistan, để lại một Tổng Thống thân Cộng. Liền sau đó các nhóm du kích Hồi giáo đánh lẫn nhau để tranh cướp chính quyền. Ðến năm 1996 nhóm Taliban phần lớn gồm những thanh niên Hồi giáo chiếm được thủ đô Kabul, thiết lập một chế độ Thần quyền cai trị theo luật Hồi giáo. Ðến năm 1998 nhóm khủng bố có tổ chức xuất hiện ở một vùng núi hiểm trở phía Ðông Afghanistan gần biên giới Pakistan. Người cầm đầu nhóm này chính là Osama bin Laden, vốn là con nhà triệu phú Á-Rập có nhiều tiền đã lập một căn cứ huấn luyện nhóm khủng bố al-Qaida, dưới sự bao che của chính quyền Taliban.

Vậy tại sao bin Laden ra lệnh cho al-Qaida đánh thẳng vào Mỹ vào tháng 9 năm 2001? Rất có thể bin Laden đã có tư tưởng này ngay sau khi quân Liên Sô phải rút khỏi Afghanistan năm 1989. Hắn thấy một siêu cường tương đương với Mỹ vào lúc đó đã phải thất bại trước sức mạnh của “jihad”, vậy tại sao Hồi giáo không đánh luôn cả Mỹ và các nước Âu châu? Ðó là những nước từ lâu vẫn bị tố cáo lợi dụng di sản thời thuộc địa từ hơn hai thế kỷ trước để áp chế và trục lợi kinh tế ở các nước Trung Ðông. Tổ chức khủng bố al-Qaida lợi dụng việc Mỹ đánh Iraq trước hết để bành trướng thế lực ở Trung Ðông và sau ở nhiều nơi khác trên thế giới. Sở dĩ bin Laden cho tấn công Mỹ trước là để dằn mặt Mỹ không cho can thiệp vào việc nội bộ của Trung Ðông. Ngoài ra khủng bố đánh Mỹ mà Mỹ không ngăn chặn nổi cũng là một cách dằn mặt các nước Tây phương. Người ta đã thấy những gì xẩy ra trên hai mặt trận ở Afghanistan có quân Mỹ và quân khối NATO tham dự, và ở Iraq có quân Mỹ và quÐầu tuần này tình hình Iraq thật đáng quan ngại. Hai bom đặt trên xe vận tải đã nổ ở một làng người Hồi hệ phái Shi-a ở gần thành phố Mosul phía Bắc Iraq làm chết 28 nguòi, trong khi tại Baghdad 9 vụ nổ liên tiếp đã làm chết 22 người. Tính từ 3 ngày qua các vụ đánh bom đã giết chết 100 người Shi-a. Các vụ đánh bom đó do nhóm người Hồi Sun-ni nổi loạn hợp tác với al-Qaida (cũng gốc Sun-ni) thực hiện, nhằm gây lại các cuộc xung đột giữa hai hệ phái Sun-ni và Shi-a đã từng diễn ra khốc liệt trong những năm 2006 và 2007, làm chết hàng chục ngàn người. Vậy quân Mỹ có thể rút ra khỏi Iraq dự liệu vào năm 2011 hay không? Thủ tướng al-Maliki (gốc Shi-a) quả quyết nói các lực lượng an ninh của ông có đủ khả năng kiềm chế nạn bạo động trong khi quân đội Mỹ chuyển dần trách nhiệm an ninh cho chính quyền Iraq. Tôi nghĩ sự xung đột giữa hai phe Shi-a và Sun-ni ở Iraq đã có từ mấy chục năm qua, đây là chuyên nội bộ của Iraq, nên để cho dân nước này giải quyết.

Trong khi đó cuộc chiến ở Afghanistan, có nhiều chuyện phức tạp hơn. Ở đây hiện có 101,000 quân NATO và quân Mỹ tham chiến. Trong số này quân Mỹ có 62,000 quân, tức là Mỹ đã tăng gấp đôi số quân. Từ đầu tháng 7 bọn phiến loạn do Taliban cầm đầu đã gia tăng các cuộc tấn công, khiến tháng đó là tháng thiệt hại nhiều nhất cho quân đồng minh: 74 người chết trong đó có 43 quân Mỹ. Người ta e rằng các trận chiến còn gia tăng hơn nữa trước ngày 20/8 là ngày bầu cử nhiệm kỳ mới của Tổng Thống, hiện vẫn do ông Hamid Karzai tại chức. Tình thế đặc biệt là dân nước này nghèo khổ, ít học, chỉ sống bằng nghề trồng nha phiến, và đa số cũng nghiền nha phiến. Quân NATO theo lệnh của LHQ cấm dân trồng nha phiến, nhưng bọn Taliban lại sẵn sàng cho dân trồng để lấy nha phiến bán ra nước ngoài đem tiền về dùng làm chiến phí. Thành ra quân NATO đi đến đâu, dân làng “nghiền” cũng ngấm ngầm báo động Taliban. Ðây là cuộc chiến rất khó khăn cho Mỹ và NATO.

Tôi đã viết dùng quân đổ bộ vào một nước để đánh khủng bố là một sai lầm chiến lược. Ðịa bàn chống khủng bố nhằm chỉ một khu vực rộng lớn gồm đủ mọi nơi trên thế giới, không phải để tổ chức một thế liên minh quân sự, mà để tìm một sự hòa hợp cộng tác trong hòa bình vì lợi ích chung của cả thế giới. Các thế liên minh quân sự đã hết thời. Ở Iraq, quân Anh đã rút khỏi Iraq. Ở Afghanistan quân đồng minh NATO chỉ có danh nghĩa thời chiến tranh lạnh, còn bây giờ tham chiến chống khủng bố là hời hợt, chính vì thế Mỹ đã phải tăng thêm quân. Với chiến lược hòa hợp cộng tác, Mỹ nhằm vào đâu? Âu châu đã hết thời với NATO, các nước Nam Mỹ chỉ lo chuyện địa phương trên lục địa của họ. Phi Châu phần lớn nghèo khổ, chỉ Bắc Phi có các nước mạnh, dân trí cao, bọn khủng bố không bén mảng tới. Ở Á châu có Trung Quốc và các nước Ðông Nam Á là địa bàn Mỹ có thể nhìn đến để áp dụng chiến lược hòa hợp cộng tác về mặt kinh tế.

Trung Quốc đang phải đối phó với Tân Cương, nhưng không lo người Hồi Trung Á đi theo khủng bố, mà chỉ lo phát triển kinh tế cho 1 tỷ 3 trăm triệu dân khỏi nổi loạn vì nghèo khổ. Trong khi đó ở Nam Á, Ấn Ðộ theo Ấn giáo đã thẳng tay trừng trị bọn Hồi giáo quá khích sau vụ đánh bom ở Mumbai. Ở Ðông Nam Á có khối ASEAN (Hiệp hội các quốc gia Ðông Nam Á) là một thế lực kinh tế đang lên mạnh, tạo thành một thế chân vạc với kinh tế Trung Quốc và Nhật Bản. Xét trên toàn cầu, đây là một địa bàn quan trọng nhất. Mỹ nên tăng cường mối quan hệ hòa hợp với địa bàn này. Và khi Mỹ đã thay đổi địa bàn chiến lược, tất nhiên cũng phải thay đổi cả chiến thuật. Mỹ nên đánh khủng bố từ trên cao hay từ biển, thay vì dùng quân đổ bộ ở những nơi không có trận tuyến rõ rệt.

Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh.

Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh: DI SẢN CHIẾN TRANH LẠNH

Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh: DI SẢN CHIẾN TRANH LẠNH

Sự bất đồng có tính cách cục bộ nhằm vào quyền lợi kinh tế ở các khu vực có nhiều mỏ dầu lửa ở Ðông Bắc Iraq, một vùng nằm sát biên giới của Iran. Hiện nay Mỹ đang thực hiện việc chuyển giao trách nhiệm bảo vệ an ninh cho quân đội, Cảnh sát và lực lượng an ninh của Iraq, nhưng điều đáng ngại là trong nhiều trường hợp chính quyền Iraq đã không cáng đáng nổi nhiệm vụ này. Về việc hòa giải, Maliki có vẻ đã đi một nước cờ chiến lược mới vào chủ nhật vừa qua khi ông đến Bắc Iraq mở một cuộc họp đặc biệt với lãnh tụ Kurd là Masoud Barzani, có danh xưng là Tổng Thống Chính phủ Khu vực Kurd, để tìm một thỏa hiệp về việc khai thác dầu lửa. Kết quả Barzani cho biết một phái đoàn cao cấp Kurd sẽ đến Baghdad. Tuy nhiên vấn đề còn gai góc, vì ở vùng Kurd tiếp giáp với Iraq, còn có người Á rập và sắc tộc Turk sinh sống. Những người này vẫn sợ nạn độc quyền của người Kurd. Ðầu tuần này xe bom nổ làm chết 3 người ở một thị trấn nhỏ của trong tỉnh Anbar ở miền Tây Iraq, nơi có nhiều nguời Sun-ni cư ngụ. Tính từ ngày 20/7 đã có 24 người chết vì vì bom ở tỉnh này. Tuần trước một loạt những vụ đánh bom vào các đền Hồi giáo Shi-a ở thủ đô Baghdad đã giết chết 31 người. Ðó là nạn chém giết lẫn nhau giữa hai hệ phái Sun-ni và Shi-a.

Ở Afghanistan tình thế có vẻ còn khó khăn hơn. Hôm thứ hai một quả bom nổ do điều khiển từ xa đã làm chết 10 người, 30 người bị thương trong chợ rau quả thành phố Herat, thuộc miền Tây gần biên giới Iran. Một phát ngôn nhân của Taliban tuyên bố bom đó nhằm vào Cảnh sát trưởng quận Inji lân cận. Các vụ đánh bom đã gia tăng trong mùa hè năm nay, vì nhóm phiến loạn Taliban đã thề phá rối cuộc bầu cử Tổng Thống vào ngày 20/8. Hiện nay quân đội NATO và Mỹ có 101,000 người ở nước này. Riêng Mỹ đã gia tăng đến 62,000 quân trong tổng số kể trên, tức là Mỹ đã tăng gấp đôi quân số so với một năm trước.

Trong tháng 8 quân đội đồng minh đã có 9 người chết vì giao tranh hay vì bị bom, kể cả 3 quân Mỹ hôm thứ bẩy và thêm 3 người hôm chủ nhật, 2 Gia Nã Ðại và 1 Pháp. Tháng 7 là tháng quân đồng minh chết nhiều nhất kể từ năm 2001 khi quân đội đồng minh do Mỹ lãnh đạo đánh chiếm Afghanistan, lật đổ chính quyền Taliban lúc đó bao che trùm khủng bố Osama bin Laden. Trong tháng 7 vừa qua quân đồng minh có 74 người tử trận, trong đó có 43 Mỹ. Phần lớn quân phiến loạn Taliban dùng bom chôn ngoài đường để tấn công quân đồng minh. Quân đội Mỹ cho biết bọn phiến loan nay sử dụng các loại bom có ít hay không có chất kim loại nên rất khó dò tìm. Bọn Taliban còn dùng cách chôn chồng nhiều quả bom lên nhau, và đặt nhiều bẫy bom trong một khu nhỏ. Các Tư lệnh Mỹ dự liệu các vụ đánh bom còn gia tăng thêm cho đến ngày bầu cử 20/8.

Các cuộc chiến khó khăn ở Iraq và Afghanistan làm nổi bật một vấn đề chiến lược chiến thuật rất quan trọng vào đầu thế kỷ 21. Dùng Bộ binh để đánh khủng bố hay can thiệp vào các vấn đề nội bộ của một nước để giúp xây dựng hòa bình và dân chủ là một sai lầm nghiêm trọng. Bộ binh Mỹ và đồng minh đều là quân đội hiện đại nhất thế giới, nhưng đã bất lực trước các nhóm khủng bố vài ngàn người chỉ vì đó là những kẻ lẩn vào trong dân chúng, thành ra chúng vô hình. Chúng chỉ hiện hình sau khi bom tự sát nổ. Thành ra siêu cường đem đại quân đến đánh nhau với những kẻ vô hình, khác nào đem mỡ đến miệng mèo, để chúng sơi tái từng miếng, tích lũy thành số tổn thất thương vong rất lớn.

Việc siêu cường đem quân ra khỏi nước tham gia các cuộc chiến cục bộ chỉ có trong thời gian chiến tranh lạnh sau Thế chiến II. Ðầu tiên là cuộc chiến tranh Triều Tiên (1950-53), khi Bắc Hàn đem quân đánh Nam Hàn với sự trợ giúp của chí nguyện quân Trung Quốc, Mỹ và đồng minh đã tham chiến chống Cộng sản. Sau khi có ngừng bắn, Quân đội Cộng sản rút về Bắc Hàn, Mỹ và đồng minh không tiến quân lên giải phóng Bắc Hàn, nhìn nhận sự chia đôi Nam Bắc. Kế đó đến cuộc chiến tranh Việt Nam khi quân Cộng sản miền Bắc tấn công miền Nam từ năm 1956. Ðến năm 1965 đại quân Mỹ đổ bộ trực tiếp tham chiến giúp Việt Nam Cộng Hòa. Tuy nhiên đến năm 1972, chính phủ Nixon ký hiệp định ngừng bắn với Bắc Việt để rút hết quân Mỹ khỏi miền Nam Việt Nam, bỏ mặc quân đội và dân chúng vùng này cho Cộng sản Bắc Việt thôn tính.

Tại sao Mỹ làm như vậy? Trước hết ở Việt Nam cũng như ở Bắc Hàn, Mỹ đem quân tham chiến tại chỗ là vì nhu cầu chiến lược của siêu cường. Mục tiêu của Mỹ chủ yếu là ngăn chặn sự bành trướng của khối Cộng sản mà kẻ cầm đầu là Liên Sô, còn chuyện giúp đỡ dân miền Nam Việt Nam chỉ là thứ yếu. Vì thế sau khi Ngoại trưởng Mỹ Henri Kissenger bất ngờ đến Bắc Kinh, TT Nixon bắt tay được với Mao Trạch Ðông, chiến lược chống Cộng của Mỹ đã toại nguyện ở Ðông Nam Á, vì đã chia rẽ được hai anh Cộng sản lớn nhất là Liên Sô và Trung Cộng, mặt trận Việt Nam không còn cần thiết nữa. Binh pháp từ thời cổ ở Âu cũng như ở Á đã có câu “Chia rẽ kẻ thù là thượng sách”.

Chiến tranh lạnh đã để lại cho thế giới một di sản vô giá. Ðó không phải là một tấm gương để các thế hệ mai sau cứ theo đúng như thế mà làm. Di sản chỉ là một khối những kinh nghiệm được tích lũy trong trường đời, có kinh nghiệm tốt có kinh nghiệm xấu, tóm lại đó là những bài học chiến lược cho những kẻ đi sau. Hãy từ từ rút hết quân Mỹ và đồng minh ra khỏi Afghanistan. “Chỉ có Hồi giáo mới trừ được khủng bố Hồi giáo”. Tàn nhẫn quá chăng? Không nên quên “Chia rẽ kẻ thù là thượng sách” câu nói cổ nhân đã dạy chúng ta vẫn còn đó.

Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh

GS Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh: NGUY VÀ CƠ

GS Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh: NGUY VÀ CƠ

Mấy tuần trước, Giáo sư David M. Kennedy dạy lịch sử tại Đại học Stanford, đã nhắc đến từ “nguy cơ” của chữ Hán và tách rời hai chữ “nguy” và “cơ”, để dùng phép ẩn dụ chỉ ra rằng trong hiểm họa cũng có cơ may. Trong lịch sử Mỹ, Franklin. D. Roosevelt (Dân chủ), năm 1920 đã viết một câu nhận định có nhiều ý nghĩa cho đảng ông: “Đảng Dân Chủ không có hy vọng lên cầm quyền, trừ phi đảng Cộng Hòa đưa đất nước đến một thời kỳ suy thoái kinh tế nghiêm trọng”. Mười năm sau, trong thập niên 30, nước Mỹ lâm vào một nạn suy thoái kinh tế nguy hiểm hơn Roosevelt dự tưởng, khiến ngày nay người ta gọi đó là một cuộc “đại suy thoái” của Mỹ. Năm 1933, F. D. Roosevelt được bầu làm Tổng Thống và ông đã từ trần năm 1945 vào giai đoạn chót của Thế chiến II. Ngày nay lịch sử ghi nhận sau TT Lincoln, F. D. Roosevelt là vị Tổng Thống vĩ đại đứng hàng thứ 2 của nước Mỹ.

Từ hơn 80 năm trước, nhận định của Roosevelt đã cho thấy sự tranh chấp chính quyền giữa hai đảng Dân Chủ và Cộng Hòa đã gay gắt như thế nào. Ông đã để lại một bài học quan trọng cho hậu thế: “Hãy tìm sự thỏa hiệp giữa hai đảng để đưa nước Mỹ đi lên, vì chính đảng làm việc cho quyền lợi và hạnh phúc của dân chớ không phải vì quyền lợi riêng tư của đảng”. Thỏa hiệp luỡng đảng hay tinh thần làm việc lưỡng đảng, ai cũng nói được nhưng làm thì rất khó. Bài học của quá khứ ai cũng thích nói, nhưng lịch sử đã cho thấy quá khứ khác với hiện tại, và sẽ còn khác hẳn so với tương lai bởi vì trong chuỗi dài của lịch sử, nếp sống và tư tưởng của người dân tiến hóa hóa mỗi ngày một mạnh. Bởi vậy sự thỏa hiệp lưỡng đảng cần phải đặt trên một căn bản không phải chỉ ký kết một thỏa hiệp nhất thời, mà còn tạo ra một sự “giao ước mới” với người dân (chính trường Mỹ đã có từ gọi là New Deal), để vận động đa số dân chúng ủng hộ. Cái New Deal của đầu Thế kỷ 21 này vỏn vẹn nằm trong một cụm từ duy nhất: “An toàn cho người dân chớ không phải an toàn cho đảng”.

Vậy Tổng Thống Barack Obama ngày nay đã lãnh hội được bài học như thế nào? Và Quốc hội Mỹ đã làm gì để thực hiện sự giao ước xã hội mới với người dân? Ngay sau khi Obama được bầu làm Tổng Thống cuối năm 2008, người ta đã thấy đảng Cộng Hòa lên tiếng chỉ trích như thông lệ, rồi sau các phần tử cực đoan của đảng này đã tổ chức một mặt trận quy mô để chống đối mọi việc làm, mọi quyết định của TT Obama kéo dài trong suốt nửa năm đầu của 2009 mỗi ngày một quyết liệt hơn sau khi đảng Dân Chủ chiếm đa số ở cả hai viện Quốc hội. Nhóm cực đoan này đánh phá mọi chủ trương của đảng Dân Chủ trong các vấn đề đối ngoại, kể cả hai cuộc chiến ở Iraq và Afghanistan, và đặc biệt là các vấn đề đối nội, trong đó quan trọng nhất là tình hình kinh tế và ngân sách quốc gia. Về mặt này phe thiểu số cực đoan có sách lược là cứ phá phách mọi kế hoạch cho bằng được để đến năm 2012 kinh tế vẫn không ngóc đầu lên được là đảng của họ sẽ nắm phần chắc lấy lại được Bạch Ốc trong tay Obama.

Thế nhưng chính nhóm thiểu số này đang làm đảng Cộng Hòa rạn nứt, nhiều đảng viên ôn hòa, có óc cởi mở tỏ ra bực bội với nhóm cực đoan. Đảng Cộng Hòa là đảng bảo thủ, phần lớn những nhân vật quan trọng của đảng đều là những nhà đại tư bản. Những tư tưởng bảo thủ vẫn đáng quý ở một nước như nước Mỹ mới lập quốc có hơn 230 năm, chưa có truyền thống giá trị đạo đức giữ vững cả ngàn năm như các nước khác. Mặt khác chủ nghĩa tư bản đến một mức độ nào đó không phải là xấu, nếu biết tự loại bỏ lòng tham quá trớn và vô trách nhiệm. Tôi nghĩ phần đông người Cộng Hòa sẵn sàng tiếp nhận chủ trương “giao ước xã hội mới” do TT F.D. Roosevelt đề ra.

Nói chung những người Cha tạo ra Hiến pháp để khai sáng Hiệp chúng quốc Hoa Kỳ đã thiết lập một nền trật tự chính trị đặt trên nguyên tắc “kiểm tra và quân bình”. Nguyên tắc này đã có lúc làm tê liệt hệ thống chính trị. Nó cản trở sự thích ứng mau lẹ với những thực tế của những thay đổi về kinh tế và xã hội của con người. Thành ra có khi nó đưa đến một trạng thái mà không một văn bản chính trị nào dư liệu được, đó là sự toa rập tệ hại giữa hiểm họa và cơ hội chủ nghĩa. Nói cách khác đó là nạn song hành của cặp “thí mạng cùi và lòng tham không đáy”.

Vậy Tổng Thống Obama đối phó với tình tình “nguy và cơ” lúc này như thế nào? Ngay lúc chưa hết tuần trăng mật 100 ngày, Obama đã bị các phần tử cực đoan của đảng Cộng Hòa đánh phá tơi bời. Tôi nghĩ một nhà luật học như Obama không ngạc nhiên chút nào trước tình trạng này. Mấy tháng trước, khi một ký giả trên TV hỏi ông có cảm thấy gánh quá nặng vì những cuộc khủng hoảng đang đua nhau đè lên đất nước này hay không, Obama nói “Lúc này đầy hiểm nguy, nhưng cũng đầy khả năng”. Đó là lúc hệ thống chính trị bắt đầu tiến lên một cách hữu hiệu.

Roosevelt thời xưa cũng không có lời phát biểu nào hay hơn thế. Vị Cựu TT vĩ đại của Mỹ đã chủ trương một sự cải cách mà trung tâm điểm là sự an toàn của người dân. Tiếc rằng cuộc Thế chiến II Mỹ lâm vào để đánh nạn độc tài Quốc xã đã khiến Roosevelt không có thời giờ thực hiện cuộc cải cách đó. Thế nhưng muốn được so sánh với Roosevelt, Obama cần được dư luận quần chúng Mỹ phán xét, không phải chỉ riêng việc ông cứu nguy nền kinh tế như thế nào, mà quan trọng nhất là ông đã biết nắm lấy cơ hội để thúc đẩy chúng ta có ý chí vùng lên tự chấn chỉnh và thích ứng với thời thế mới của Thế kỷ 21.

Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh.

Tân Cương & Việt Nam

Tân Cương & Việt Nam Phạm Thanh Phương (Úc Châu) Trong những ngày qua, cuộc xung đột của sắc tộc Uighur tại Tân Cương đã gợi lại cho người Việt Nam phải nhớ đến dòng lịch sử của dân tộc. Nhớ về lịch sử để hãnh diện và cám ơn tổ tiên và đồng thời…

Details