image_pdfimage_print
  • Văn

    Kiều Oanh : Cơn Bão Đầu Mùa

     

     

     

    CHIỀU NHUNG NHỚ

    Có phải chiều nay mưa hắt hiu

    Sương mù tỏa kín khắp buổi chiều

    Gió hắt hiu tung làn tóc rối

    Mắt nhạt nhòa giọt lệ buồn thiu

     

    Có phải chiều nay trời lại mưa

    Nên anh lỗi hẹn chẳng đón đưa

    Đường chiều, một bóng em đơn lẻ

    Nhớ cuộc hẹn hò nhớ ngày xưa

     

    Có phải chiều nay gió đong đưa

    Gió cứ bay bay khắp bốn mùa

    Gió hôn làn tóc, vờn sau gáy

    Gió thổi rì rào, áo nàng thơ

     

    Có phải tại Trời mưa cứ mưa

    Mưa qua song cửa, từng hạt thưa

    Bước lang thang qua từng phố thị

    Mong tìm về kỷ niệm xa xưa

     

    Chiều tím mù sương cơn gió mùa

    Lần tay xếp lại mấy trang thơ

    Lời yêu vừa ghép thành nhung nhớ

    Đã vội tan tành biến trong mưa.

     

    Kiều Oanh Trịnh

    12/05/09

     

    Thu Buồn (1) 

    Mưa Thu tí tách, lá vàng bay

    Trầm, bổng heo may, gió cùng mây

    Nắng Thu vàng úa, Trời mây xám

    Bước nhẹ đường chiều, ai có hay?

     

    Em đi gom góp lá Mùa Thu

    Đốt hết cho bay khói mịt mù

    Cho thành tro bụi thành nhung nhớ

    Ngàn mảnh tinh cầu vỡ thành thơ

     

    Tiếng nhạc dập dìu buổi cuối Thu

    Nỉ non, tiếng hát lúc giao mùa

    Não nề, vang vọng lời thơ cuối

    Tiếc một cuộc tình, đành bơ vơ

     

    Anh đã đi xa một sớm nào

    Vó câu thấp thoáng tựa chiêm bao

    Dặm trường tung bụi mờ trong cát

    Bỏ lại sau anh, Nốt Nhạc Sầu

    Thu Buồn (2)

     

    Gió Thu xào xạc bước chân anh

    Hoa Cúc trên cành uốn mong manh

    Ngàn chim tung cánh về tổ ấm

    Đàn gieo khúc nhạc bước quân hành

     

    Anh đã trở về chốn xa xưa

    Tìm em khắp nẻo, khắp bốn mùa

    Đường kia đôi bóng mình chung bước

    Khắc khoải u hoài bóng người xưa

     

    Thôi nhé, Anh ơi! Nốt Nhạc Sầu

    Tơ tình đã hết, nay còn đâu?

    Pháo đỏ, thuyền hoa em rời bến

    Vội vã theo người xứ Trời Âu

     

    Chỉ tại tình mình quá mong manh

    Anh đi xây đắp mộng tung hoành

    Người về, không hẹn, đành nuối tiếc

    Thôi thì khất lại, để dành nghe anh!!!!

     

    Kiều Oanh Trịnh, VA,
    October 30, 2009

    Mùa Thu 2009

     

     

  • Văn

    Phạm Hoài Việt : KÍNH GỞI MẸ VIỆT NAM

    KÍNH GỞI MẸ VIỆT NAM

     

    Đau lòng con viết thư nầy
    Nỗi niềm con trẻ tháng ngày xa quê
    Mẹ ơi ! Dân khổ trăm bề
    Bây chừ đất biển cống về người ta !
    Đâu còn danh dự quốc gia
    Bởi loài nghịch tử mới ra nỗi nầy !
    Lòng buồn quặn thắt từng giây
    Quê hương ô nhục ! Đêm ngày xốn xang
    Toàn dân khổ cưc muôn vàn
    Sao chưa tỉnh thức, không màng đến dân ?!
    Lạy Phật Tổ, phước hồng ân
    Việt nam thoát khỏi ách trần diệt vong
    Mẹ ơi con vẫn hằng mong
    Cùng người yêu nước chung lòng quốc gia
    Siết tay quang phục sơn hà
    Diệt phường vong bản mới là trung trinh
    Giận thay một lũ Ba Đình
    Hung tàn, bạo ngược, cầu vinh, cúi lòn
    Hỡi ai còn giữ sắc son
    Gian san vẹn gánh cho tròn chí trai
    Cầu xin mẹ Việt đoái hoài
    Mẹ ơi con vẫn mong ngày đoàn viên  ./.  

    Phạm Hoài Việt

    Texas

  • Văn

    Hàn Thiên Lương : Thu nhớ

     

    http://www.youtube. com/watch? v=SPGUU-KxwNE

    Thu nhớ

    Vàng lá thu rồi ai có hay
    Không gian ủ dột trời nhiều mây
    Từng cơn gió nhẹ se se lạnh
    Thương nhớ về xa … lạc chốn này !

    Thu đến thu đi đà mấy độ
    Ta vẫn chưa về đến cố hương
    Nhớ bóng trăng thu soi sáng ngỏ
    Đường xưa khói tỏa bóng chiều buông

    Thương lắm sông quê lặng lờ trôi
    Đò ai tiếng hát vẳng xa xôi
    Bến chiều ai đó còn trông đợi
    Một bóng người xa lạc cuối trời !

    Ta cũng người xa … mãi viễn phương
    Thu chở về đây vạn nỗi buồn
    Bao nhiêu lá đổ bao nhung nhớ
    Mỗi bước giang hồ lạnh gió sương

    Mai mốt vườn sau vàng lá đổ
    Ta ngậm ngùi trông lá bỏ cành
    Như ta biền biệt làng quê cũ
    Mấy bận tàn thu tóc hết xanh

    Ta mãi còn xa biết mấy thu
    Quê hương mờ ải cõi sương mù
    Hồn quê vương mãi trong tim lẻ
    Vọng hướng trời xa mắt lệ mờ

    Hàn Thiên Lương

  • Văn

    Thu Nguyệt : Một chiều Nhớ Anh

    Một Chiều Nhớ Anh

     

     

    Cùng em phố cổ buồn hiu

    Lặng nhìn những áng mây chiều lang thang

    Lửng lơ bên giải nắng vàng

    Thì thầm:  sao bước chân chàng vắng xa?

     

    Ngày xưa, nắng lượn chiều qua

    Quàng vai dệt khúc lụa là yêu thương

    Sóng đưa tiếng sáo nghê thường

    Chơi vơi trên chiếc thuyền buồm xinh xinh

     

    Chiều quê non nước hữu tình

    Mây vương làn tóc chúng mình ngẩn ngơ

    Thơ anh thả mộng giăng mơ

    Ngàn lời nhung mượt sợi tơ chỉ hồng

     

    Nhớ thương khép mở đôi lòng

    Nghe mùa xuân đến tình nồng hương hoa

    Cánh hồng xưa vẫn mượt mà 

    Theo chùm sợi nhớ thiết tha gửi người.

     

    Thu Nguyệt

  • Văn

    Ý Nga : KHO TÌNH

    KHO TÌNH

    Kho tình một núi ngổn ngang

    Em xếp cho gọn vào trang thơ tình

    Xếp rồi, mới thấy ra Mình

    Hóa ra là bóng với hình theo em.

    Á Nghi, 7-6-2010.

     

     

    ANH MỪNG

    Hôm nay em vẫn dùng chay

    Nên chi hiền dịu, nhảy bay tha hồ

    Tuần này em vẫn Nam Mô

    Bướm ong mặc sức vu vơ trăm đường

    Em à! Cửa Phật nên nương

    Để anh kính lễ mười phương, vui mừng.

    Chèn ơi! Vui như chưa từng

    Mặn mà lắm tội! Em đừng trở lui

    Cám ơn! Tôi được là tôi

    Được yên, thơ thẩn với trời văn chương

    Căn nhà êm ả lạ thường

    Tu thêm em nhé! Ngọt đường giùm anh.

    Á Nghi, 30.6.2010.

     

     

    KHÓA CỬA

    Khóa cửa phải cần mấy vòng

    Làm như phú quý mênh mông bạc tiền

    Thật ra chỉ sợ anh hiền

    Lỡ bay đi mất ai điền chỗ vơi?

    Nhốt anh trong trái tim rồi

    Vẫn còn sợ mất, đời thời khổ đau!

    Á Nghi, 28-6-2010.

     

     

    ONG NÀO CHẲNG THÍCH NGỌT

    Em giăng võng cho anh nằm đọc sách

    Mà muỗi, ong cứ bay lượn lòng vòng

    Chắc chúng mê hàng chữ nghĩa màu hồng

    Em đã viết cho người chồng yêu quý?

    Á Nghi, 29.6.2010.

     

     

    SƯỢNG TRÂN

    Tài thiện nghệ, anh đuổi ong tản mát

    Em vụng về, tìm lối thoát nhọc thân

    Núp vào ai, ai lém lĩnh cười rần

    Ong với chủ trợ lực nhau dàn… trận!

    Á Nghi, 29.6.2010

     

     

    SẮC NÉT

     Tặng Khánh-Cầm

    Chữ nào em thả vào thơ

    Mà anh như quyện trong tơ, rối tình?

    Chữ nào em nhuộm lân tinh

    Mà anh chóa mắt bồng bềnh đêm thương?

    Chữ nào trầm bổng du dương

    Mà anh ngất lịm yêu đương nhạc ngày?

    Á Nghi, 29.6.2010

     

     

    TÌNH THI

    Em kín đáo đóa hoa còn trinh nụ

    Ta ngại ngùng chưa dám tỏ tình si

    Mượn văn chương xin gửi ý thầm thì

    Gói hoan hỉ nhờ hương đưa từ gió

    Á Nghi, 29.6.2010

     

     

    TRẺ MÃI KHÔNG GIÀ

    Anh than hai đứa mình già

    Nên em hổng chịu, thật thà trẻ măng

    Lên rừng mượn gió hung hăng

    Bẻ măng đem nấu một nồi Thuốc Yêu

    Mời anh, không dám nói nhiều

    Chỉ xin bài hát thông reo, suối hòa.

    Á Nghi, 28.6.2010

     

     

    VẪN KHÁT.

    Ba em khó tính nhất đời

    Thương em, đã được tiếng mời, vẫn lo

    -“Thưa Bác!” con mắt thăm dò…

    Sao ngồi cả buổi chẳng cho gặp nàng?

    Mải rồi em cũng… dịu dàng

    Mang cho ly nước, rõ ràng em thưa:

    -“Mời Ba” Em nói dễ ưa

    -“Mời Anh” Em nhỏ nhẹ vừa… mắt nai

     

    Anh về thuộc mỗi  một bài

    Thơ yêu Nguyễn Bính, đọc hoài nửa đêm!

    Đêm, chưa khát nước, đã… thèm

    Cuối tuần lại được lên thềm nhà em

    Uống đôi mắt quá êm đềm

    Thêm nụ cười nữa, mới êm cả tuần!

    Á Nghi, 25.8.2008.

     

    GÁNH NƯỚC

    Dây thừng múc nước giếng trong

    Anh bện cho chặt, em không giật mình

    Nắng xuyên khe lá, tội tình

    Trộm nhìn em, nhớ giữ, mình… mình hay

    Đừng dùng dây nhựa, tuột tay

    Gàu rơi, tai… vách*; kẻ hay, người cười.

    Á Nghi,  28.8.2008.

    *Tai vách mạch rừng

    ĐỪNG NHAI LẠI  NHỮNG GÌ VIỆT CỘNG THẢI RA

    Gửi MG, K.

     

    Con buôn mặc cả làm ăn:

    “Chủ trương, đường lối…” Lăng xăng lối về

    Cộng đồng khinh bỉ, chán chê

    Kỹ sư, bác sĩ diễn hề, múa may:

     

    Bà Rơm mát dây

    Ông Rác mát… nhợ

    Dây nhợ nặng nợ

    Buộc thật là hay!

     

    Lập trường chao đảo

    Nghênh ngang nhởn nhơ

    Bố lếu, bố láo

    Khoe…công kẻ thù.

    !

    Nhờ vậy đảng sáng sủa

    Tuần nào cũng… sủa suông

    Dân trên đe, dưới búa

    Một mình đảng… đóng tuồng!

     

    Thức ăn thơm vào bụng

    Khi… ra còn chửa thơm

    Bụng Việt Cộng ác độc

    Giết người không biết nhờm.

     

    Xin đừng phong thánh thần

    Bọn cưỡi đầu “nhân dân”

    Mà tăng thêm uất hận

    Của Bể Khổ Trầm Luân.

     

    Nước trong, ngon vào miệng

    Khi… ra còn chửa trong

    Miệng Việt Cộng lắm chuyện

    Chớ tin lời cuồng ngông!

    Ý Nga, 3.11.2007.

     

     

    HẬU 1975

    Tôi là người ra đi

    Mang theo nỗi lụy bi

    Lìa Mẹ, Cha, Tổ Quốc

    Vẫn chưa làm được gì!

     

    Lịch sử đã sang trang

    Địa ngục hay thiên đàng?

    Mở đầu bằng tang tóc

    Triệu gia đình nát tan.

     

    Trăm người bị hải tặc

    Bán vào động Thái Lan,

    Triệu người bị Việt Cộng

    Bán cho người Đài Loan.

     

    Muôn vạn sóng ngầm loang

    Khăn đỏ bắt dân quàng,

    Đất đai đem… bán nốt

    Đảng nhởn nhơ thu vàng.

     

    Khuất mắt ai không trông

    Tôi chẳng bắt hình dong,

    Không bạ đâu tâu đấy.

    Mấy ai chẳng động lòng.

     

    Nguời đi hoài chưa… tới

    Đã tuyệt mạng nơi đâu?

    Biển khổ còn nông sâu?

    Ai cứu giùm cho với???

     

    Bao triệu người lưu đày

    Bao triệu người kém may

    Ai ruột đau, lòng xót,

    Từ cộng sản vào đây?

     

    Ý Nga, 30.5.2007.

     

    KẺ MUA NGƯỜI BÁN

    Từ một chuyện có thật được nghe kể lại.

     

    Con bé tuổi 15,

    Hổ thẹn xin… bán… dâm.

     

    “Áo gấm” về mua… gái,

    Hống hách, tuổi 65.

     

    Thế là họ “gặp” nhau,

    Rủi thay: cùng máu đào,

    Hỏi thăm, ra… dòng họ

    Nước mắt ai tuôn trào???

    Ý Nga, 12.4.2006.

     

    TỪ THIỆN “ĐỎ”

    “Hồng y, giám mục”* xin tiền

    “Ni cô, thượng tọa”* lạc quyên đem… về

    Xây chùa ai ở? Khổ ghê!

    Trùng tu, kiến thiết cho… “Bề Trên” ăn

    “Bề Trên” bụng “đỏ”, tim “đen”

    Ăn chơi trác táng, miệng khen “Việt kiều”

    *

    Nhà tù thượng tọa đăm chiêu

    Bịt mồm linh mục, triệt tiêu thánh thần

    Tự do? Tôn giáo khổ thân!

    Cao Đài, Hòa Hảo… cũng trần ai đau,

    Tin Lành thảm thiết kêu gào

    Giáo dân, Phật tử…, “chiên” nào được yên?

    Nhà thờ mới, để… làm duyên

    Khảo tiền thế giới, bạo quyền ăn chơi.

    Ý Nga, 5.11.2007.

     

    NẾU TIM NGỪNG ĐẬP

    Em đem chữ nghĩa ngào đường

    Nhắc người nỗi đắng quê hương

    Ngọt chưa để em thêm mật?

    Thêm nhiều cho người biết… thương!

     

    Em đem bằng, trắc ướp thơm

    Vận, vần em trộn với cơm

    Mời người mỗi ngày một chén

    Ăn nhớ những rạ cùng rơm.

     

    Em gom tất cả rồi nè!

    Người giữ giùm em kỹ nghe!

    Mai em lỡ về chín suối

    Một sông, một biển thơ… về.

     

    Quên nữa! Em gửi… con tim

    Một lần: Tự Do, đi tìm…

    Mà xa Quê Nhà lâu quá

    Tim về, quan tài chớ… niêm!!!

    Ý Nga, 13.8.2003.

     

     

     

    KHÔNG RIÊNG TÂY NGUYÊN

    Nhac Dan Chu Ca, tho Y’ Nga

    http://www.danchuca.org/128kbps/KhongRiengTayNguyen.mp3 (hi-speed)

    http://www.danchuca.org/22Kbps/KhongRiengTayNguyen.mp3 (lo-speed)

    http://www.danchuca.org

     

    Phá ách xâm lăng: Lê Thái Tổ!

    Dẹp thù hiển hách: Trần Nhân Tông!

    Quang Trung đánh Mãn: tan hồn phách!
    Phá Tống, bình Chiêm: Lý Nhân Tông!

     

    Máu tô hùng sử còn không,

    Mà quên công khó Cha Ông? Tà quyền?

    *

    Tây nguyên! Biến động Tây Nguyên!

    Dân gào tiếng thét: Chủ Quyền Việt Nam!

    *

    Một “bầy” học dở, bở làm

    Hoàng, Trường Sa mất chẳng thèm bận tâm

    Đường Lào, Cam Bốt: mặt nam,

    Phía tây: Tàu cũng tham lam “mua” rồi!

    Bắc phương chỉ cần hở “Môi”*

    “Răng” Bác, “răng” Đảng? Ôi thôi sá gì!

    Nguy cơ mất nước chí nguy

    Hồ Ba Giang, “Beauxite” đỏ: lợi chi quốc phòng?

    Lâm Đồng cho đến Dak Nông,

    Ngụy trang Hán giặc: ngoài, trong chững chàng

    Bắc, Nam, Trung: đảng quy hàng,

    Thành “Chiêu Thống Mới” rước sang kẻ thù*

    Bao sư đoàn giặc lù lù

    Nhà Tu * lên tiếng, Nhà Tù rung rinh

    Lòng dân phẫn uất, bất bình

    Hại dân, phản quốc, lộng hành Việt gian

    *

    Vùng lên trừng trị bạo tàn!

    Thăng Long, Vạn Kiếp huy hoàng sử xưa!

    Mê Linh cờ phất, trống khua

    Diên Hồng “Quyết chiến!” Người xưa chẳng lầm!

    *

    Bạn ơi! Xưa bày, nay làm

    Bình Than Hội Nghị đồng tâm hào hùng

    Bạch Đằng Giang đã lẫy lừng

    Ải Chi Lăng, giặc cũng từng thất kinh,

    Sông Như Nguyệt với hùng binh,

    Đống Đa khí phách quân hành! Khắc ghi!

    Bến Chương Dương vẫn uy nghi!

    Xin đừng nhu nhuợc! Cứu nguy sơn hà!

    *

    Ngoại xâm quyết chống! Không tha!

    Thương ca cùng hát: Giữ Nhà Việt Nam!

     

    Ý Nga, 15.4.2009.

     

    1-Vua Trần Nhân Tông là vị hoàng đế thứ ba của đời Trần, vừa có tài, đảm lược, vừa nhân đức; ngài đã từng trải qua hai lần đại chiến với quân Mông Cổ và đã cùng với Hưng ĐạoVương Trần Quốc Tuấn, chủ tọa cuộc hội nghị tối cao về quân sự tại Bình Than với các vương hầu, để quyết định cho sự sống còn của Việt-tộc thời ấy.

    2-Vua Lê Thái Tổ là người lãnh đạo cuộc kháng chiến đánh đuổi quân Minh trong vòng 10 năm và thu hồi nền độc lâp vào năm 1428.

    3-Đại đế Quang Trung chỉ trong vòng 7 ngày đã đánh tan gần 300 ngàn quân Mãn Thanh vào năm Ất Dậu 1789.
    4-Vua Lý Nhân Tông được lịch sử ghi công đã 2 lần hiển hách: “PHÁ TỐNG, BÌNH CHIÊM”


    *Bến Chương Dương, Hàm Tử Quan, Vạn Kiếp, Thăng Long , Vân Đồn, Thiên mạc là những địa danh đã có những trận thắng lớn đánh quân Mông Cổ.

    *Ải Chi Lăng: nơi quân ta đã chém đầu hầu Nhân Bảo, tướng nhà Tống, dưới thời vua  Lê Đại Hành và quân của Bình Định Vương Lê Lợi cũng đã chém đầu tên Liễu Thăng tại đây (trên ngọn đồi Mã Yên)

    *Sông Như Nguyệt: nơi Lý Thường kiệt chỉ huy, đánh chận được bước tiến ồ ạt của quân Tống không cho tràn sang nước ta.

    *Đống Đa và Ngọc Hồi là hai nơi quân ta đánh với giặc Mãn, đã khiến Tôn Sĩ Nghị phải bỏ cả ấn tín mà chạy thoát thân.

     

    *Năm 1974: Tàu đã chiếm Hoàng Sa của Việt Nam

    Năm 1988: Tàu chiếm luôn Trường Sa.

    *Bộ Chính Trị CSVN với dự án ngụy trang Khai Thác “Beauxite’ ở Tân Rai (Lâm Đồng) và Nhân Cơ (Dak Nông) đã rước bọn lãnh đạo Tàu vào Nhà VN.

    *Những tù nhân chính trị và cũng là những vị chân tu đã khí khái chống lại CSVN từ bao năm qua như hòa thượng Thích Quảng Độ, linh mục Nguyễn văn Lý…v.v…

    *Khầu hiệu VC: “Môi hở răng lạnh”

  • Văn

    Đông Thiên Triết : Hoàng Hạc Lâu

    Hoàng Hạc Lâu

     
    “Tài liệu tham khảo: Đường Thi Tam Bách Thủ (Ba trăm bài thơ đời Đường) nguyên bản Hán văn, do Tân Hoa Thư Cục Đài Loan ấn loát và phát hành”.
     
    Trong quyển Đường Thi Tam Bách Thủ (ba trăm bài thơ “chọn lọc”thời thịnh Đường) thấy ghi lại như sau: Hoàng Hạc Lầu là một bài thơ tuyệt tác của đại thi hào Thôi Hiệu (có người gọi là Thôi Hạc). Bài thơ này, vì vào thời buổi đó, chưa có thơ Đường Luật, nên làm theo lối cổ phong và do chính thi hào sáng tác đã để lại trên vách tường của một căn gác hoang, đó là lầu Hoàng Hạc. Nguyên lầu này tọa lạc tại hướng Tây Bắc, thành Vũ Xương, ngày nay thuộc tỉnh Hồ Bắc, Trung Hoa. Do đó người ta gọi là Hoàng Hạc Lầu.
     
    Tương truyền rằng: Xưa kia có một vị tiên ông, tên là Phí Văn Vi, sau khi tu đắc đạo thành Tiên, Ngài thường cỡi con hạc màu vàng, rồi bay đến căn lầu hoang vắng này để nghỉ ngơi, cùng lúc ấy, Phí tiên ông cũng thường ngâm vịnh, hay cầm kỳ thi họa cùng các vị tao nhân mặc khách thường lai vãng đến lầu này.
     
    Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ,
    Thử địa không du Hoàng Hạc Lâu .
    Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản,
    Bạch vân thiên tải không du du
     
    Những cuộc tao phùng nào mà không có buổi chia ly?, Phí tiên ông cũng không ngoại lệ, thế cho nên trong các buổi cầm kỳ thi họa cùng các vị tao nhân kia được ít lâu, thì bỗng một hôm, Phí Văn Vi đột nhiên cỡi con hạc vàng bay đến một phương trời xa thẳm y như những lần trước, nhưng chuyến cỡi hạc ra đi lần cuối cùng này, Phí tiên ông không bao giờ trở lại phàm trần nữa để tiếp tục đối ẩm, cầm kỳ thi họa cùng các tao nhân mặc khách của Ngài. Nhưng Phí Vi tiên ông nào có ngờ đâu, sự ra đi vĩnh viễn của Ngài, đã để lại đằng sau lưng mình, còn có các vị mặc khách tao nhân kia, mà ở nơi họ, là cả một sự mỏi mòn vì mãi mê chờ đợi bạn tri âm trong tuyệt vọng. Mãi cho đến một ngày kia, tất cả các vị tao nhân này cũng đều phải ra đi vĩnh viễn trong cát bụi, trong hư vô, theo định luật Thành Thịnh, Suy Hủy của càn khôn vũ trụ. (Tục truyền rằng Ngài Phí Văn Vi đã cỡi hạc về cảnh tiên giới để tiếp tục đường tu hành), Vì vậy người ta gọi căn lầu hoang vắng kia là Hoàng Hạc Lầu. (Di tích lịch sử này, hiện vẫn còn tọa lạc tại tỉnh Hồ Bắc TH).
     
    Thời gian sau, nhân một chuyến du ngoạn, lúc thi hào Thôi Hiệu đi ngang qua căn lầu hoang vắng này, tiện ghé vào lầu để nghỉ ngơi, thì được nghe kể lại sự tích trên, rồi Ngài dõi mắt nhìn quang cảnh lầu hoang bụi bám, tơ nhện giăng đầy khắp nơi, nhưng người xưa thì nay đà khuất bóng, chỉ còn trơ lại thực tại ngôi lầu hoang vắng, cũ kỹ, nằm trên một triền đồi hẻo lánh, trong khung cảnh âm u của núi rừng sâu thẩm. Nhưng đối với hồn thơ đa sầu, những dạt dào cảm ái của thi hào Thôi Hiệu, thì nó chính là tụ điểm của một bức tranh xuân sơn thủy lục, được tô điểm sắc thái dưới bóng một buổi chiều tà, có ánh ngà hoàng hôn vừa buông sụp, mà ngay khi ấy, tức thì bức màn đêm cũng chừng như sắp sửa buông phủ, để sẵn sàng đè lên những sợi nắng hồng nhạt của buổi hoàng hôn trong cô tịch.
    Nếu trông về quang cảnh trước mắt từ phía đằng xa, thì thấy hiển hiện lên những dợn khói sóng trên mặt sông Trường Giang, đang mập mờ tung tóe, bay nhảy trên mặt nước, như đang đùa giởn với bức màn sương dầy đặc, chẳng khác nào như tự nó cố tình, muốn che khuất lối đi nẻo về của người lữ khách đường xa, thì thử hỏi, mấy ai mà tránh khỏi cái cảm giác xúc động này, để rồi ôm vào trong lòng mình những nỗi xót xa dùm cho người lữ khách đó trong đêm nay ?, nhất là đối với tâm hồn thi nhân, thì tránh sao khỏi những cảm xúc, bởi những nỗi niềm riêng lai láng trổi dậy trong hồn thơ của họ.
     
    Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản,
    Bạch vân thiên tải không du du .
    Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ
    Phương thảo thê thê Anh Vũ châu.
    Nhật mộ hương quan hà xứ thị ?
    Yên ba giang thượng sử nhân sầu !
     
    Cảnh trí xuân sơn thủy tú này, được lồng trong sáu câu thơ trên đây, đã tô điểm thành một bức tranh sống động mà khiến cho người sáng tác tranh thơ này, khi ngâm nga lên, cũng phải liên tưởng đến hình ảnh cha mẹ, anh em, thân bằng quyến thuộc, đang ở quê nhà mà hiện giờ này, họ đang trông đợi mình chăng?. Cho nên nó đã trở thành một động lực thúc giục Ngài, làm nôn nóng sự nẩy sanh ra định ý trở về quê hương ngay trong đêm hôm ấy. Nhưng nếu với hoàn cảnh này, hành trình về quê còn xa dài thăm thẳm, bởi phải trải qua các cửa thành Hán Dương, rồi lại phải băng qua bãi Anh Vũ châu, thì mới đặt chân đến chốn ấy được. Nhưng mà giờ này, đường xá quan san diệu vợi, hơn nữa, sương mù, sông núi và mây ngàn còn đang án ngữ, đó chính là những chướng ngại vật trước mắt, cản bước cuộc hành trình, thì biết đến bao giờ Ngài mới phản hồi cố quốc được?
     
    Cảm xúc bởi quê hương, quyến thuộc, tình thân, đang len lén xâm nhập vào hồn thơ, nên nó khiến cho ngọn bút thần của Ngài bị tức cảnh mà thi thố thần oai, như phụng múa rồng bay, bằng tám câu thơ trên vách tường, duy chỉ vỏn vẹn 8 Câu Thần, mà đã phát họa nên một bức gấm dệt, hoa thêu, với những nét đặc sắc của một bức tranh trước lầu Hoàng Hạc, cùng đệm lên những khúc điệu lồng trong tâm sự của chính Ngài. Với bút pháp tuyệt kỹ, tạc thành những dòng thơ tuyệt tác, làm thương cảm người đọc, làm xúc động triệu triệu con tim từ thuở ấy cho đến hôm nay. Và kể từ dạo đó về sau, bài thơ này mới bắt đầu được ghi chép lại và truyền tụng khắp dân gian, đó là bài Hoàng Hạc Lâu như vừa đang kể .
     
    Về tiểu sử của thi hào Thôi Hiệu, ông sanh vào năm nào thì không ai biết, nhưng chỉ biết ông mất vào năm 754, (Ông mất trước thi hào Lý Bạch 8 năm) ông người huyện Biện Châu, nay là tỉnh Hà Nam, Huyện Khai Phong (T.H). Ông đỗ Tiến Sĩ vào năm Khai Ngyên thứ 11, và làm quan đến chức Thượng Thư Tư Huân Viên Ngoại Lang. Thuở nhỏ bản chất thông minh, bắt đầu làm thơ từ tuổi thiếu thời, văn thơ lỗi lạc, nên được người đời gọi ông là: Niên Thiếu Vi Thư, Danh Thao Khinh Bạt (Tuổi trẻ giỏi văn thơ, tiếng tâm thật lẫy lừng).
    Một thời gian sau, khi thi hào Lý Thái Bạch, nhân một hôm đi du ngoạn, cũng có ghé thăm viếng lầu Hoàng Hạc, và Ngài cũng có đọc qua bài thơ của thi hào Thôi Hiệu, với những bút tích vẫn còn y nguyên trên vách tường lầu, khi đọc xong bài thơ, Lý Trích Tiên không tiếc lời khen ngợi thiên tài của thi hào Thôi Hiệu, cho nên Ngài liền thốt ra câu :
    Nhãn tiền hữu cảnh đạo bất đắc,
    Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu .
     
    眼 前 有 景 道 不 得
    蓷 顥 題 詩 在 上 頭
     
    (nghĩa là trước mắt có cảnh, mà ta không thốt nên lời thơ đặng, vì đã có bài thơ của Thôi Hiệu ở trên vách lầu này rồi). Đó chẳng qua là Lý Trích Tiên tỏ ý nhúng nhường chăng? hay để tỏ lòng kính ngưỡng thiên tài thi phú của thi hào Thôi Hiệu?, vì thế mà Ngài Trích Tiên không dùng thần bút của mình để phát họa bức tranh thơ tại lầu này, Ngài bèn đến một nơi khác, nơi đó cũng có một ngôi lầu, quang cảnh cũng tương tự như Phụng Hoàng lầu nơi đây, đoạn Ngài làm ra một bài thơ khác, bài thơ ấy được gọi là: Đăng Kim Lăng Phụng Hoàng Đài .
     
    Có sách ghi lại rằng, Lý Trích Tiên đã dựa trong ý thơ của bài Hoàng Hạc Lầu mà làm thành baì thơ Đăng Kim Lăng Phụng Hoàng Đài, (vì bài thơ của Ngài, có những ý thơ tương tợ lầu Hoàng Hạc)
     
    Dưới đây là nguyên bản của 2 bài thơ Hoàng Hạc Lâu và Đăng Kim Lăng Phụng Hoàng Đài của thi hào Thôi Hiệu và Lý Thái Bạch, qua sự chuyển ngữ của Đông Thiên Triết.
    Nguyên tác bài Hoàng Hạc Lâu của thi hào Thôi Hiệu:
     
    Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ,
    Thử địa không du Hoàng Hạc Lâu .
    Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản,
    Bạch vân thiên tải không du du .
    Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ,
    Phương thảo thê thê Anh Vũ châu .
    Nhật mộ hương quan hà xứ thị?
    Yên ba giang thượng sử nhân sầu!
     
    黃鶴樓
     
    昔人已乘黃鶴去,
    此地空餘黃鶴樓。
    黃鶴一去不復返,
    白雲千載空悠悠。
    晴川歷歷漢陽樹,
    芳草萋萋鸚鵡洲。
    日暮鄉關何處是,
    煙波江上使人愁。
     
    崔顥
     
    Chuyển ngữ theo thể Đường Luật của Đông Thiên Triết:

    Người xưa đã cưỡi hạc về đâu?
    Hoàng Hạc Lâu, nay vắng bạn bầu
    Một rẽ hạc vàng biền biệt bóng,
    Ngàn treo mây trắng lửng lơ lầu .
    Dòng sông tạnh dặc dầy Dương thụ,
    Thảm cỏ xanh man mác Vũ châu.
    Đâu ngõ quê hương chiều sụp tối?
    Trường Giang khói sóng khiến ta sầu!
     
    Nguyên tác bài Đăng Kim Lăng Phụng Hoàng Đài của thi hào Lý Thái Bạch:
     
    Phụng hoàng đài thượng phụng hoàng du,
    Phụng khứ, đài không, giang tự lưu.
    Ngô cung hoa thảo mãi u kính,
    Tấn đại y quan thành cổ khưu.
    Tam sơn bán lạc thanh thiên ngoại,
    Nhị thủy trung phân bạch vũ châu.
    Tổng vị phù vân năng tỵ nhật,
    Trường An bất kiến sử nhân sầu.
     
    登金陵鳳凰台
     
    鳳凰台上鳳凰游,
    鳳去台空江自流。
    吳宮花草埋幽徑,
    晉代衣冠成古邱。
    三山半落青天外,
    二水中分白鷺洲。
    總為浮雲能蔽日,
    長安不見使人愁。
     
    李白
     
    Chuyển ngữ theo thể Đường Luật
    của Đông Thiên Triết:
     
    Phụng hoàng cất cánh đã bay đâu?
    Phụng vắng lầu hoang, sông chảy sầu
    Hoa cỏ rường Ngô vùi nẻo thẳm,
    Mão y nếp Tấn lấp đường sâu.
    Trời xanh ba núi in trong bóng,
    Nước bạc hai ngòi rẽ giữa châu .
    Mây phủ giăng tầng che bóng ác,
    Trường An mờ khuất, dạ thêm rầu
     
    Ngày nay, những đứa con của Mẹ Việt Nam đang lưu lạc khắp nơi trên thế giới, thử hỏi có mấy ai mà chẳng thương nhớ đến quê cha đất tổ của mình? vậy tại sao chúng ta không thông cảm mà cùng nhau chia sẻ nỗi sầu trên đây với thi hào Thôi Hiệu? Hay chúng ta thử có ý định đem so sánh cái tâm trạng hôm nay của chính mình, cùng với nỗi sầu trên lầu Hoàng Hạc của thi hào Thôi Hiệu thuở xa xưa xem sao? Vậy thì nỗi sầu vong quốc của chúng ta hiện nay, chắc hẳn gấp vạn lần so với nỗi sầu của thi hào Thôi Hiệu, đã được Ngài gánh đổ mối sầu ấy, tạc nên những vần thơ trên vách lầu Hoàng Hạc này mãi mãi đến ngàn thu.
     
    Tuy nhiên, nỗi sầu của thi hào Thôi Hiệu, không trỉu nặng hơn nỗi sầu vong quốc của chính chúng ta, nhưng thiết nghĩ, vì chúng ta là thân phận hậu bối, âu cũng nên chia sớt nỗi sầu xa xưa của người thiên cỗ đôi chút? Do đó mà sau khi đọc qua bài Hoàng Hạc Lâu này, trong tâm tư của chính tôi, tự nó đã hiển hiện ra cái khung cảnh xuân sơn thủy lục, được hình dung trong một giây phút xuất phát từ ảo giác của tâm hồn mình, và nghe như đâu đây, văng vẳng có những tao nhân mặc khách tự thuở nào, và nghe như họ đang cầm kỳ bên hồ sen chén ngọc hay họ đang ngâm nga thi họa bên gác tía lầu vàng, khiến cho tâm hồn tôi tưởng chừng như chính mình đang được hưởng cái vinh hạnh này, là đang được diện kiến các vị tao nhân, trong những phút giây tức cảnh nên thơ, khi tôi đang đọc qua bài Hoàng Hạc Lâu của thi hào Thôi Hiệu.
     
    Ôi! cái mường tượng này, nó đã cấu tạo thành một bức tranh Hoàng Hạc trong ảo giác của tôi, và như tự nó đã họa lên trên mảnh lụa vàng, thành một bức tranh có muôn hoa khoe sắc, để trang hoàng, để tô điểm cho ngôi lầu hoang vắng kia trở nên rực rỡ hơn trong tiềm thức của 3 bài liên hoàn dưới đây: để Kỉnh Vấn Thi Hào Thôi Hiệu, theo thể Đường luật, cốt để gánh tiếp cái nỗi sầu ly hương xa xứ của Ngài, mà trong tâm trạng của chính tôi, cũng là tâm trạng chung của mỗi người đang mang nặng nỗi sầu ly hương vì vong quốc.
     
    KỈNH VẤN THI HÀO THÔI HIỆU (khi đọc qua bài Hoàng Hạc Lâu)
     
    Tôi cũng như ông xa xứ nhà,
    Tâm hương kỉnh lễ hỏi Thôi gia:
    Đi đâu ghé lại lầu Hoàng Hạc?
    Đứng đó ngắm nhìn bóng Nguyệt Nga?
    Hứng gió trông quê, con mắt mỏi,
    Đề thơ nhớ bạn, cánh diều xa.
    Mấy người chia sớt sầu ông nhỉ?
    Hay chỉ mình ông tự gánh à?
     
    Tự gánh sầu ông đến gác ngà,
    Chẳng may Tiên Hạc đã bay xa.
    Phí Vi vui đạo không quày lại,
    Mặc khách sầu đời chẳng ghé qua.
    Những sớm cầm kỳ bên chén ngọc
    Thường đêm thi họa trước thềm hoa
    Với tiên, với khách, tao nhân ấy,
    Vung ngọn bút thần vẩy nét sa.
     
    Thần bút Thôi ông vẩy nét ngà,
    Câu câu tuyệt diệu chẳng phai pha.
    Xưa đề thơ: Một Sầu Thôi Hiệu,
    Nay đọc lời: Ngàn Thảm Dạ Ta.
    Thuở ấy Ngài than xa xứ sở?
    Bây giờ Tôi khóc mất quê nhà!
    Đợi ngày quang phục, lòng như đốt,
    Mượn mấy dòng thơ để gọi là ….
     
    Đông Thiên Triết
    Canh Thìn niên 2000
  • Văn

    Chuyện buồn người vợ tù

    Chuyện buồn người vợ tù
    Ý Cơ
    Chuyện buồn người vợ tù là một chuyện đã thực sự xẩy ra cho một người phụ nữ sau tháng tư năm 1975, Ý Cơ tin rằng hoàn cảnh ấy không xẩy ra riêng cho mình chị, mà câu chuyện thương tâm, phần nào phảng phất  một nét đời đã qua nhưng khó quên của mỗi chi em chúng ta, khi có chồng, có con bị tập trung trong trai cải tao. Ý Cơ đã viết lại theo lời kể của nhân vật chính, ví thế chữ tôi được dùng trong chuyện kể, không phải là tác gỉa bài viết, rồi vẫn giữ nguyên danh tánh của hai nhân vật. (Nhân vật tên Chung trong chuyện kể này là Trung Úy Trương Kim Chung, giảng viên Tâm Lý Chiến và Xã Hội Học Trường Võ Bị Quốc Gia Dalat)
    Ngôi biệt thự nhỏ, khiêm tốn, cuối đường Hoàng Diệu, Dalạt. Phía sau là vườn hồng, từ đó, thấp thóang nhìn thấy những mầu áo xanh lam, của nữ sinh nội trú trường Couvent des oiseux. Đó là: “Ngôi nhà hạnh phúc!” của chúng tôi, cũng là tên do các bạn yêu thương đặt cho nó.
    Chúng tôi sống êm đềm hạnh phúc, bên ba đứa con nhỏ dễ thương, và một em bé còn đang trong bụng mẹ. Căn nhà lúc nào cũng rộn rã vui tươi, nhất là khi Tết đến, nó lại có cơ hội tiếp đón những ‘Con bà phước’, đó là những Sĩ Quan huấn luyện viên của trường Võ Bị Quốc Gia Dalat, không được về thăm nhà khi Tết đến, tất cả đều quây quần vui chơi, như chính nhà của họ, bởi vì, vợ chồng tôi, luôn coi các anh như người ruột thịt.
    Thời gian như thế chẳng bao lâu, và cuộc sống đầm ấm ấy đã bị đảo lộn, khi tiếng súng bắt đầu nổ vang trên bầu trời Buôn Mê Thuột, để rồi dẫn đến ngày cuối tháng tư đau thương này.
    Được lệnh thượng cấp rút khỏi Dalat vào cuối tháng 3/75, Chồng tôi cùng các chiến hữu, đã lặng lẽ lên đường, giữ an ninh lộ trình di tản cho dân chúng và các đơn vị bạn thuộc Tỉnh Tuyên Đức và Thị Xã Dalat, các anh là những người sau cùng rời xa Dalat.
    Phải rời xa nơi chốn hạnh phúc của chúng tôi và bè bạn, anh đi mà vẫn quay đầu nhìn lại, anh muốn ở lại để bảo vệ mảnh đất thân yêu ấy, nhưng không thể cãi lệnh thượng cấp, vì anh là một quân nhân, anh kể lại cho tôi như thế, về suy tư của anh trên đường rút quân.
    Sàigon thất thủ, Anh cùng một số chiến hữu đã ra đi, sau lời tuyên bố của Tướng Dương Văn Minh. Nhưng.. .. đến chiều tối, Anh đã trở lại cùng mẹ con tôi, Anh đã rời chiến hạm của quân chủng Hải Quân để về cùng mẹ con tôi, vì anh không muốn xa lìa hạnh phúc đời mình, để ra đi, chỉ một mình anh như thế! Nếu biết, trở lại để rồi phải vĩnh viễn xa lìa mẹ con tôi, chắc anh vẫn quyết đinh như thế, tôi tin như vậy ở tình yêu của anh giành cho mẹ con tôi.. .. ..  Đó, chính là niềm đau ray rứt, niềm ân hận khôn nguôi trong cuộc sống mẹ con tôi đến cuối đời.
    Là một sĩ quan cấp uý, cuối tháng 6/75, Anh cũng như bao người khác đã trình diện để học tập cải tạo, với hy vọng sau vài mươi ngày sẽ trở về, nhưng.. .. .. ..
    Vắng Anh, tôi ở lại, với bao hoang mang lo sợ, lo sợ cho sinh mệnh của anh nhiều hơn cho sự bơ vơ của mẹ con tôi. Thời gian cứ hun hút qua đi, không một tin tức nào về anh.
    Tất cả chúng ta, các chị và mẹ con tôi, cũng như những người cha, ngưòi chồng yêu qúy của chúng ta, đều bị những kẻ chiến thắng lường gạt một cách một cách hèn hạ.
    Anh đã cho tôi và các con anh một đời sống ổn định vững vàng, nay không có anh, tôi đã mất hết, mất cả những ước mơ toan tính cho tương lai con cái về sau, tôi chẳng còn gì, ngay cả mạng sống cũng mong manh bên cháu nhỏ mới chào đời.
    Nhưng thực tế, vẫn là thực tế, dù là thực tế phũ phàng, tôi và hầu hết chị em chúng ta phải gánh chịu, phải tự vực mình đứng lên, và tự nhủ, phải đứng thật thẳng để là nơi nương tựa vững chãi cho chồng con.
    Tự nhủ như thế để lấy lại can đảm, tôi đã phải ngược xuôi trăm đường, bán buôn đủ thứ nơi đầu đường xó chợ, trong cảnh vạn người bán mà chỉ có vài người mua, để thay chồng nuôi con.
    Dân chúng tại các thành phố và tỉnh thị, không có gạo mà ăn. Khoai lang, khoai mì, bo bo .. .. đã trở thành lương thực chính, phân phối theo sổ gia đình, khi nào được mua bột mì, đã là một hạnh phúc lớn cho dân chúng miền nam, vì có thể lấy bột làm bánh mì để ăn, hoặc để bán, đi bán bánh mì cũng là một trong muôn nghề, tôi đã nhờ đó nuôi con.
    Ngày tháng cứ qua đi, với buồn lo nặng chĩu hai vai, không người chia sẻ, tôi vẫn nhủ thầm, lúc này, mình không được gục ngã, không thể gục ngã, khi mà các con tôi còn qúa nhỏ, khi mà sự sống chết của người chồng yêu qúy không một chút tăm hơi.
    Với một chiếc xe đạp cũ kỹ, tôi chạy ngược xuôi kiếm sống, nuôi con. Khi những người cầm quyền CS biết rằng, đa số chi em chúng ta, đang chiếm lòng lề đường, và những đầu con hẻm làm nơi kiếm sống, họ đã cho thi hành chiến dịch, dẹp lòng lề đường, để triệt hạ con đường sống của những vợ con ngụy.
    Tôi đành chuyển cách kiếm sống, khi thì chạy thuốc tây, đôi khi vài ba mảnh vải.. .. để chuyển từ tay người muốn bán, đến tay người muốn mua, ở giữa mình kiếm vài củ khoai nuôi con.. ..
    Có những lúc đạp xe muốn kiệt sức, vì từ sáng chưa có chút gì vào bụng ngòai một ly nước lạnh, trời Saigon nắng gắt, đạp xe mà không nhìn thấy gì phía trước, không biết vì mồ hôi từ trán chẩy xuống, hay những gọt nước mắt tuôn rơi. Nhiều lúc đầu óc muốn vỡ tung, vì những mưu toan sinh kế, trước những ách bức nặng nề do xã hội chủ nghĩa gây nên, ấy thế, những giây phút tưởng như cuồng điên ấy, có lẽ còn dễ chịu hơn những khi màn đêm buông xuống,
    Ngồi cạnh giường, nhìn đàn con ngủ, những khuôn mặt ngây thơ vô tội, nhưng chắc cũng đã một chút ấm lòng, vì chiều nay mẹ đã mang về cho các con được hơn một ký gạo.
    Nhưng còn chồng tôi đâu? đói-no, ấm-lạnh ra sao? Anh là người nặng tình vợ con, liệu có yên giấc ngủ, hay đang chong mắt nhớ vế gia đình, với những lo lắng, mà không sao Anh gánh vác thay vợ lúc này.. Chỉ có lúc này tôi mới được tự do khóc, nức nở khóc, để vơi chút buồn lo.
    Thời gian qua, gần một năm sau ngày chồng tôi bị đưa đi cải tạo, tôi mới được tin chồng, dù chẳng phải tin vui, nhưng có vẫn hơn.
    Anh đang bị bệnh sốt rét ác tính, và thiếu dinh dưỡng trầm trọng, không biết Anh có còn chờ được thấy em lần cuối hay không? Một người bạn đưa tin về, mong ước của Anh là được tin vợ con, trước khi Anh nhắm mắt.
    Trời đất như sụp đổ dưới chân tôi, không còn đủ sức đứng vững, hay tôi đã qùy xuống để xin người về, chỉ đường cho tôi, tìm đến với người chồng bất hạnh cho kịp lúc.
    Ngay tờ mờ sáng hôm sau, tôi đã vội vã lên đường đi, tìm chồng. Băng rừng, vượt suối, muỗi, vắt, cắn bầm tím cả người, không màng tới, quần áo ướt rồi khô, khô lại ướt, gió lạnh căm căm nơi rừng sau, chẳng sờn.
    Tìm được trại giam chồng, tôi chưa kịp mừng, một bọn đàn ông với đôi mắt cú vọ hạch hỏi đủ điều, chỉ với lý do, tại sao tôi biết điạ điêm của trại tù này.. .. Nhưng cuối cùng họ cũng cho tôi gặp Anh có lẽ vì: ”cảm phục lòng yêu chồng của phụ nữ miền nam”. Tôi đọc được điều đó, qua ánh mắt của họ gìanh cho tôi lúc đó.
    Chồng tôi bệnh nặng, anh em cùng láng, cho mắc võng chồng tôi chính giữa, còn võng cuả Anh Em bao chung quanh để che gió lạnh cho chồng tôi, thật sự, có che được bao nhiêu, vì mỗi khi gió thôi tạt vào, thì tất cả đều phải đón nhận những làn gió lạnh và cát bụi bám đày mặt. Tôi đem lòng kính yêu những tấm lòng ấy, và ngỏ lời cảm ơn các anh.
    Tôi chết sững, khi các anh chỉ cho tôi chiếc võng ở giữa, nơi chồng tôi đang nằm, Chồng tôi đó sao? Một người cao gần 1m80, nặng trên 70 ký, nay chỉ còn là một bộ xương sơn đen, hàm răng trắng nhô ra, làm cho đôi má đã hóp, lại càng thấy trũng sâu hơn, đôi mắt lõm sâu không thần sắc.. .. ..  nước mắt như cùng lúc với tôi, nhào lăn đến bên Anh, tôi ôm ghì bờ vai Anh, đôi bờ vai ấy, những năm tháng qua đã là nơi nương tưa qúy báu cho tôi, những khi tôi buồn. Còn Anh, Anh không đủ sức kéo đầu tôi ngả vào vai như ngày xưa nữa. Thời gian như ngừng lại, các bạn Anh đứng bên cũng yên lặng ngậm ngùi, yên lặng đến độ tôi đã nghe thấy âm thanh của nước mắt tôi rơi trên vai chồng.
    Làm sao tôi có thể quyên được đêm ấy, bên đống lửa bập bùng, mấy chục khuôn mặt, mà tôi chắc, trước kia oai phong và đẹp trai lắm, trong bộ quân phục VNCH .. .. nhưng.. .. bây giờ.. .. quanh tôi.. ..  chỉ còn là những bộ xương biết cử động. Hai mắt tôi đã đau nhức vì khô cạn nước mắt, tôi khóc cho tôi, tôi khóc vì các anh, và chắc các anh cũng đang cùng tôi khóc cho quê hương dân tộc.
    Chồng tôi nằm đó, thoi thóp thở, miệng vẫn cố cười, nụ cười héo hắt, chắc Anh đã mãn nguyện, khi biết rằng vợ con Anh còn sống?
    Đứa con gái út của Anh mới được tám tháng, nên mẹ nó còn sữa, hai bầu sữa căng nhức đã kéo tôi ra khỏi cơn mê, tôi chợt tỉnh táo để xin lỗi các bạn Anh tránh ra xa môt chút, để tôi có thể san xẻ phần sữa của con tôi cho bố nó.
    Bưng bát sưã, vừa bỏ thêm hai muỗng đường, xúc từng muỗng đưa lên miệng Anh, tôi hy vọng là không có giọt nuớc mắt nào của tôi, rơi vào bát sữa, để Anh không phải uống thêm những đắng cay  của cuộc đời vào lúc này.
    Không hiểu vì bát sữa, hay vì tôi đã đến, sáng ra Anh đã tỉnh lại nhiều, các bạn Anh bảo, nhờ có sữa tiên nên Anh mới khoẻ lại như vậy, tôi biết các bạn Anh nói đùa, vui, cho chồng tôi lên tinh thần. Xin cảm ơn các Anh.
    Chiều đó tôi bắt buộc phải rời trại giam.
    Trên đường về, đầu óc lại làm việc, mong sao tìm được cách kiếm tiền đi thăm nuôi chồng, càng sớm càng tốt, nếu không tôi sợ không kịp.. .. không kịp,.. .. không kịp?.. .. tôi không dám nghĩ tiếp.
    Sau lần thăm ấy, tôi bị mất liên lạc, vì chồng tôi bị chuyển qua nhiều trại khác.. Mãi đến giữa năm 1977, tôi mới nhận được giấy báo của trại cho phép đến thăm Anh, tại trại an dưỡng Biên Hòa. Sau lần đó, chồng tôi cùng các bạn bị chuyển ra Bắc.
    Thời gian này thật khủng khiếp, vì Anh luôn bị chuyển trai, hết Lào Cai, rồi Yên Bái, rồi Lạng Sơn.. .. .. .. !
    Vừa được tin anh ở trai này, đến nơi, anh đã bị chuyển đi trại khác, tôi rượt đuổi theo anh nhiều ngày tháng, nhưng không sao bắt kịp bước đi của anh. Phải trở về, vì bốn đứa con nhỏ còn đang cần mẹ. Tôi phải hối lộ cho bọn cán bộ Bưu Điện để có những tấm phiếu gơi qùa, qua đường bưu điện, mỗi phiếu được ba ký. Phải tính tóan làm những món ăn để được lâu, một chút thịt mỡ cũng phải kho thật mặn.. .. .. trông thấy tôi làm những món ăn gởi cho Anh, các con Anh nói:”Bố sướng qúa, bố có nhiều đồ ăn ngon hơn tụi mình !”.. .. ..  còn gì đau khổ và xót sa cho tôi trước những câu nói so sánh ngây thơ ấy, nhưng cũng có chút an ủi cho chúng, là còn được vét xoong.
    Cuối cùng tôi cũng tìm ra, họ đã chuyển Anh về Nghệ Tĩnh, tôi vội ra thăm Anh, dù không có giấy phép, đủ mọi mưu kế, đủ mọi tính toán .. .. ..  .. tôi không biết mình đã trở thành người nhiều mưu kế như thế tự bao giờ, và cuối cùng tôi đã xin được giấy chứng nhận bị mất cắp tòan bộ giấy tờ và tiền bạc, trong đó có giấy phép được thăm nuôi, nhờ thế tôi đươc vào trại giam chồng tôi. Tôi đến được trại giam vào tối thứ bẩy, qua ngày chủ nhật sẽ được gặp mặt chồng, nhưng qua hôm sau cán bộ ở trại họ cho biết, đến thứ hai mới gặp được vì chồng tội bị đi lao động xa, và họ sẽ cho gọi Anh về.
    Đêm chủ nhật trằn trọc mãi không ngủ được, phần vì lạ chỗ, phần thì mừng, mai được gặp mặt chồng sau nhiều năm xa cách, hơn nữa, xem Anh có mạnh khỏe hơn, sau lần được uống sữa tiên hay không? Nhiều ý nghĩ dồn dập tới.. .. .. Nhưng mệt qúa nên tôi cũng thiếp đi được một chút. Trong giấc ngủ, tôi nằm mơ thấy anh về báo tin cho tôi là anh đã chết.. .. .. .. Tôi chòang thức giấc, mà miệng còn ú ớ, như đang nói điều gì, tôi tỉnh dậy, lo buồn, khóc thành tiếng, làm thức giấc các chị cũng đến thăm chồng thăm con như tôi. Các chị biết chuyện, hùa vào an ủi, thôi, sinh dữ tử lành, yên tâm ngủ đi, rồi mai thế nào cũng được gặp, tôi cũng tự an ủi mình như thế.
    Hôm sau, mờ mờ sáng, tôi đã cùng chị em nấu cơm cho chồng, cho con một bưã, mong được ấm lòng cả hai. Trời sáng hẳn, qua màn sương mỏng, từ cao nhìn xuống, tôi thấy từng lớp người lũ lượt theo từng tóan đi lao động. Tôi như kẻ mộng du, như có ai xô đẩy sau lưng tôi, tôi chạy ào xuống chân núi, nơi cấm những thân nhân tù cải tạo đến gần, tôi thấy, toán 1, rồi tóan 2, rồi tóan 3 .. .. Tôi chợt nghe tiếng gọi: ”Chị Chung.. .. à .. .. Chị Minh” và tiếp theo có tiếng người la to: ”Anh Chung chết rồi”. Tôi ngã xuống và không còn biết gì nữa.
    Khi tỉnh lại, tôi thấy mình bị trói chặt tay chân vào một chiếc chõng tre, một người y tá đang chích thuốc cho tôi. Tôi nghe kể lại, tôi đã bị ngất xỉu hơn một giờ đồng hồ, họ phải khiêng tôi lên từ chân núi, họ phải trói tôi lại vì sợ tôi vật vã, làm gãy kim chích. Tôi nói, tôi không sao, cởi trói cho tôi.
    Sau cơn chóang qúa đau đến dại người, tôi trở nên bình tĩnh lạ thường, bây giờ nghĩ lại tôi vẫn còn sợ cho sự bình tĩnh cuả tôi lúc đó, miệng tôi luôn lẩm bẩm: ”Anh linh thiêng đến thế sao?” Khi nhớ lại giấc mơ đêm qua.
    Tôi được gặp trại trưởng, tôi yêu cầu gì, họ cũng chấp thuận. Tôi xin được gặp bạn bè thân của chồng tôi, trao lại cho các anh hơn 120 kg qùa tôi mang đến cho chồng, tôi nói với các Anh rằng, ai cần gì thì lấy thức đó, rồi  thư về cho vợ con, trả tiền lại cho tôi sau, phải nói thế các Anh mới chịu nhận, thực trong lòng tôi thương các Anh như thương chồng mình vậy.
    Sau đó, cán bộ trại mang đến cho tôi một xách tay, bên trong không có gì khác hơn ngòai một bộ bà ba đen đã bạc mầu.
    Họ cho tôi một chén cơm hẩm, còn hôi mùi mốc, trên có một qủa trứng luộc, để mang ra mộ Anh, tôi đi như một xác không hồn, mắt mở căng như tóat ra nỗi căm hờn, phẫn uất, nhưng nào nhìn thấy gì phiá trước, bước thấp, bước cao, theo hai người diù tôi đi.
    Tôi không thể chết bên mộ chồng, vì ở nơi xa kia, còn có bầy con thơ đang chờ mẹ về, kể chuyện đi thăm bố.
    Vài tháng sau, tôi nhận được hai gói qùa trả lại với hàng chữ: ”Người nhận đã chết, trại yêu cầu hoàn lại”. Ra bưu điện nhận lại hai gói qùa, tới bưã ăn, nhìn bốn đứa con ngồi ăn ngon lành, những món qùa trả lại, vì bố các cháu không còn cần nữa, mắt tôi lại một lần mờ lệ thương thân.
    Vài năm sau, tôi dời mộ chồng về Saigon, trong ngày bốc mộ Anh, tôi được vài người bạn tù của Anh giúp đỡ, một trong các Anh lấy lên từ dưới mộ, đưa cho tôi một kỷ vật, do chính chồng tôi làm  ở trong tù, nó được chồng tôi làm từ những sợi giây kẽm nhỏ, thành sợi giây chuyền, với chiếc mặt nhựa kính máy bay, có khắc hình hai đứa đứng cạnh nhau. Anh đã dấu diếm từng ngày để không bị cán bộ CS tịch thu, các bạn Anh đã tìm thấy trong khi liệm xác Anh, họ đã chôn nó cùng Anh trong huyệt lạnh.
    Hơn một năm, sau ngày Anh mất, phường khóm đưa đến cho tôi một biên bản ”Phạm nhân chết”, trong đó ghi rõ tội ác của chồng tôi can tội: ”Giảng viên tâm lý chiến, xã hội học, Trường Võ Bi Quốc Gia Dalat. Án phạt: 3 năm tập trung cải tạo”. Nhưng khi chồng tôi chết, Anh đã bị tù đúng 3 năm 7 tháng. Bẩy tháng oan nghiệt giết chết chồng tôi.
    Đến năm 1994 tôi được định cư tại Hoa Kỳ theo diện HO vì có chồng chết trong khi bị tập trung cải tạo.
    Nay các con tôi đã khôn lớn, đã thành đạt, và các cháu rất hiếu thảo. Tôi đã và luôn tự nhủ, phải đứng thẳng làm nơi nương tựa vững chắc cho chồng cho con, trách nhiệm phần nào đã nhẹ gánh.
    Em đã sống vì anh, thay anh nuôi dậy con chúng ta, tôi vẫn thì thầm cùng anh như thế, ”Hãy đợi em đến cùng anh”. Vâng, tôi ước mong được sớm ra đi bình yên như thế, để được xum họp với chồng tôi, để nối lại gánh hạnh phúc của chúng tôi  bị gẫy sau 4 năm 5 tháng chung sống. Tôi chắc Anh có nhiều nuối tiếc như tôi và đang chờ tôi đến cùng Anh.
     
  • Văn

    Trần Mộng Tú : Công Chúa Mùa Xuân

    Trần Mộng Tú

     

                                                          CÔNG CHÚA VÀ MÙA XUÂN

     

     

             Khí trời vẫn còn lạnh lắm, sáng tây bắc Mỹ vẫn mù sương. Chiếc hồ chạy dài trước nhà như có như

    không, đứng ở tả ngạn không nhìn thấy hữu ngạn, dốc thấp không nhìn thấy đồi cao, xe sau không nhìn thấy

     xe trước. Bình minh, hai tay vẫn phải giấu kỹ vào trong túi áo khoác khi tản bộ trong xóm, những ngón tay

     thỉnh thoảng lại co vào nhau như hỏi xem có ngón nào đã ấm chưa? Đi vòng mấy con dốc vừa hết một bình

     minh, vẫn không hết lạnh.

     

    Thế mà buổi trưa, sương vừa tan từng chỗ như lụa được mang cắt chia nhau từng khúc; đoạn dài may áo,

    đoạn ngắn may khăn. Nhìn ra vườn sau, trên sườn đá hai con nai ở mé bìa rừng tây nam đang lững thững vào

     vườn, chúng đi tìm nụ non của mấy bụi hồng dại, chúng đi tìm những cánh hoa báo xuân ( Primroses). Hóa

     ra mùa xuân đã thực sự đến rồi.

    Chúng lững thững đến, ngơ ngác nhìn quang cảnh, cúi xuống tìm hoa ăn, xong lại lững thững đi. Người

    ở trong cửa kính, nín thở, không dám gây tiếng động, người nhìn nai, nai nhìn người. Cuối cùng, có đến,

    phải có đi.

     

    Nai tìm về vườn sau, có nghĩa là xuân đang đến. Ai đó hấp tấp chạy ra vườn tìm mùa mới. Hai cây đào ngoài

     kia, một cây bên trái, phía tây nam, cao ngang với mái nhà, hoa cánh đơn phơn phớt hồng, có hương thơm rất

     nhẹ; một cây giữa vườn sau, cây chiết, có hai loại hoa khác nhau, mầu hồng cánh kép, và mầu trắng như hoa

    mơ. Cả hai cây, chíu chít nụ, những nụ đã nứt ra một chút ở đầu như báo hiệu sự có mặt sắp đến. Đứng hết

    dưới gốc cây này, sang gốc cây kia, nhìn lên những cành nụ vươn ra trong nắng mới; không khí ngọt ngào,

     tinh khiết, khe khẽ lạnh; người ngồi xuống, cúi nhìn đất, tìm những nụ hoa Daffodils (thủy tiên đất), hoa

    Tulips (kim hương) đang thi nhau chồi lên khỏi mặt đất. Người biết chỉ còn hai tuần nữa thiên nhiên sẽ cho

     những đóa hoa tuyệt đẹp. Hoa Irish (diên vỹ) và Rhododendron (sơn lựu) hoa Peony (mẫu đơn) cũng đang

     chồi lên, ra nụ. Đây là những đóa hoa sẽ nở vào tháng năm.

    Cây Magnolia (mộc liên) sát cửa sổ buồng ăn, sẽ cho những đóa hoa như bông sen trắng với những chiếc

     lá dầy xanh biếc như được cắt ra từ một khối ngọc nào đó, vào tháng sáu.

    Chao ôi! Nói về hoa thì làm sao kể tên cho hết. Mỗi mùa một loài hoa nở, ngay cả mùa thu, lá thu cũng khác

     gì những cành hoa gấm trên cây, mùa đông lạnh giá cũng còn có hoa xuyên tuyết (Croquets), và ai kia còn

     nhìn sông nước gọi: “Hoa sóng,” nhìn trời gọi: “Hoa mây”

       Mỗi lần người nghe thiên nhiên cựa mình theo gót chân nai trở về, mang mùa xuân vào vườn, bỗng có câu

     thơ cũng chợt trở về:

     

     Huyền Trân Huyền Trân ơi

     Mùa xuân mùa xuân  rồi

     Ngoài kia chín vạn bông trời nở

     Riêng có tình ta khép lại thôi.(Nguyễn Bính)

     

    Mấy câu thơ của Nguyễn Bính tả mối tình huyền hoặc của Huyền Trân và Trần Khắc Chung

    Cô công chúa ở tuổi xuân và đẹp như hoa xuân đó có đoạn sử nói cô là người yêu của quan Thượng

    Tướng Trần Khắc Chung trước khi cô sang Chiêm quốc.  Huyền sử kể lại rằng: Công chúa ngại đường sông,

     sang Chiêm về nhà chồng bằng đường bộ, quan thượng tướng Trần Khắc Chung đi tháp tùng, khi đến đèo

     Hải Vân, đoàn lữ hành dừng lại nghỉ chân, công chúa đã viết bài thơ “Nước Non Ngàn Dậm Ra Đi” để gửi

    tâm tình mình cho người yêu vào đó:

     

    Cái tình chi !
    Mượn màu son phấn,
    Đền nợ Ô Ly,
    Xót thay vì,
    Đương độ xuân thì,
    Độ xuân thì,
    Số long đong, hay là duyên nợ gì ?
    Má hồng da tuyết,
    Quyết liều như hoa tàn, trăng khuyết.
    Vàng lộn theo chì.
    Khúc ly ca,
    Sẽ còn mường tượng nghe gì ?
    Thấy chim hồng nhạn bay đi,
    Tình lai láng,
    Hướng dương hoa Quì
    Dặn một lời Mân Quân :
    Như chuyện mà như nguyện,
    Đặng vài phân,
    Vì lợi cho dân,
    Tình đem lại mà cân,
    Đắng cay trăm phần…

     

    Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư thì Trần Khắc Chung có mang lòng yêu  công chúa Huyền Trân. Cứ tưởng

     tượng huyền sử trên là có thật thì mối tình của hai người đẹp và đáng thương biết nhường nào; Nhưng

    cũng theo quốc sử Trần Khắc Chung lại là một trong những người đồng ý đem gả công chúa cho vua

    Chiêm để đổi lấy hai châu Ô, Ly. Tại sao? Có phải Trần Khắc Chung đặt tình yêu nước lên trên tình riêng

    hay không? Ta hy sinh tình yêu của ta cho bờ cõi nước Đại Việt được mở mang. Nào ai biết rõ được tâm

    tư ấy!

     

    Trong dân gian, người ta thương tiếc một vị công chúa sắc nước hương trời, cành vàng lá ngọc, phải

     đem gả cho Chế Mân (còn được coi là Mán) nên đã có câu đồng dao:

     

     Tiếc thay cây quế giữa rừng

     Để cho thằng Mán, thằng Mường nó leo

     

    Khi vua Chiêm mất, Trần Khắc Chung sang cứu công chúa khỏi dàn hỏa và hai người lênh đênh trên

     sông nước một năm mới trở về đến quê nhà. Nhưng sử sách của nước non Chiêm phủ nhận điều đó. Ta

     hãy đọc một đoản tài liệu sử Chàm dưới đây:

     

    “Vua Champa Jaya Simhavarman đệ tam (tiếng Việt gọi là Chế Mân) đã dâng hiến cho Ðại Việt vào năm

    1306 hai vùng Ô và Ly (lãnh thổ của Huế hôm nay) để được kết hôn với công chúa Huyền Trân của Ðại

    Việt. Sự kết hôn này đúng là một vở bi kịch tình sử. Vì rằng chưa đầy một năm chung sống với công

    chúa Ðại Việt, Jaya Simhavarma đã tử trận trong một khung cảnh vô cùng mờ ám, để rồi Huyền Trân tìm

    cách chạy trốn về Thăng Long với Trần Khắc Chung mà chưa ai hiểu được nguyên nhân nào để giải thích

     cho sự hiện diện của Trần Khắc Chung trong bối cảnh lịch sử này. Nhiều câu hỏi thường được nêu ra

    vì cái chết đột ngột của vua Jaya Simhavarma đệ tam. Nguyên nhân nào giải thích cho mưu mô chạy

    trốn của công chúa Huyền Trân, trong khi ai cũng biết rằng công chúa Ðại Việt này không thể hội đủ

    điều kiện để xin lên giàn hỏa. Nếu theo truyền thống Champa, chỉ có bà hoàng hậu chính thức mới được

     phép để hiến thân trên giàn hỏa với chồng của mình.” ( *)

     

        Cũng theo sử, tuân lệnh di ngôn của Thượng Hoàng Trần Nhân Tông, khi về đến hoàng cung

    (năm 1308), công chúa được gửi vào chùa để tu đến hết đời (Khi sang Chiêm công chúa 19 tuổi, hơn

    một năm sau vua Chiêm mất; lúc Trần Khắc Chung đón công chúa mới 20 tuổi) Lênh đênh sông nước

     một năm, ở tuổi 22, công chúa được đầu gia Phật giáo, tu tại núi Trâu Sơn (nay thuộc Bắc Ninh), năm

     1311 Công Chúa cùng một thị nữ về tu ở dưới chân núi Hổ (Huyện Thiên Bản, Nam Định) công chúa

     qua đời ở tuổi 53.(1287-1340).Hiện nay ở Huế có điện thờ Công Chúa Huyền Trân.

     

    Người thời nay, ngẫm lại, chỉ trong vòng ba năm, cuộc đời của công chúa Huyền Trân

    đã qua bao nhiêu thay đổi và thay đổi nào cũng là những đánh dấu ngàn thu.

     

     Công chúa Huyền Trân sang làm vợ vua Chiêm để mang về hai châu Ô, Ly (lãnh thổ Huế ngày nay)

    là có thật trong quốc sử, nhưng chung quanh bộ ba: Công chúa Huyền Trân, quan thượng tướng

    Trần Khắc Chung, và vua chiêm Chế Mân, có rất nhiều huyền sử.

     

    Theo huyền sử kể lại:  Khi sang Chiêm gặp chồng là vua Chế Mân, một vị vua oai phong, trẻ đẹp công

     chúa không hề oán ghét, công chúa sanh cho vua một vị hoàng tử, và bình tâm sống trong địa vị và hoàn

    cảnh của một bà hoàng hậu nước Chiêm. Nhưng sang năm thứ hai, Trời mở ra một trang đời khác cho công

     chúa không kém phần ngoạn mục, cho nàng được lênh đênh trên sông nước với người yêu hơn 365 ngày

    . Trai tài, gái sắc, tình xưa; chắc chẳng còn gì đẹp bằng!(theo huyền sử). Năm thứ ba Trời lật trang sách

     kế tiếp (theo quốc sử.) Công chúa đi vào sau cánh cổng chùa. Nét mặt còn đẹp như hoa mận, tóc còn

     mướt như liễu xanh. Công chúa qùy xuống, cổng chùa đóng lại. Thật may mắn thay khi trang kinh được

     mở ra, những trang quốc sử, tình sử, huyền sử, được Trời đóng lại như gắp một cuốn sách, để lên kệ.

          

    Một bài thơ để lại cho hậu thế về cái giá trị của một trang quốc sắc.

     

     

    Công Chúa Huyền Trân

     

    Đổi chác khôn ngoan khéo nực cười,
    Vốn đà không mất lại thêm lời,
    Hai châu Ô, Ly vuông ngàn dặm,
    Một gái Huyền Trân của mấy mươi !
    Lòng đỏ khá khen lo việc nước,
    Môi son phải giống mãi trên đời.
    Châu đi rồi lại châu về đó,
    Ngơ ngẩn nhẩn nhau mấy đứa Hời. (Hoàng Cao Khải)

     

    Chỉ sau ba ngày đầy nắng, mùa xuân thực sự đã về trên những cây hoa đào trong vườn nhà, trên những

     con lộ trong làng, chúng nở tung những chùm hoa kiều diễm. Hoa có biết là những người con gái, không

     phải là hoa nhưng nhan sắc của nàng đã viết lên những trang sử diễm lệ hay không?

     

    Tháng Tư/2009

     

        (*) Để Hiểu Thêm Về Lịch Sử Champa- TS Po Dhama.

        –  Tài liệu: Tự Điển Bách Khoa

  • Văn

    Nguyễn Hữu Nhân : Những giờ phút cuối cùng tại Xuân Lộc Long Khánh

    Những giờ phút cuối cùng tại Xuân Lộc Long Khánh

    Hồi ký : Trung Úy  Nguyễn Hữu Nhân Tiểu đoàn 181 Pháo Binh Sư Ðoàn 18 BB

         

             Sau khi tham dự Hành quân để giải tỏa Quận lỵ Võ Đắt với Liên Đoàn 7 Biệt Động Quân, Pháo đội A 181 Pháo Binh  giờ  thì chỉ còn có 4 khẩu 105 ly mà thôi, chúng tôi đang đợi để nhận bổ sung thay thế 01 khẩu đại bác đã bị Cộng quân đánh phục kích và kéo đi ở Chánh Tâm 2 đường đi Võ Đắt. Hai trung đội ở hai vị trí khác nhau, một trung đội đóng ở  Hậu cứ Tiểu đoàn 181 Pháo Binh, nằm cuối phi trường, còn một trung đội được đóng ở căn cứ Núi Thị cách Bộ chỉ huy hậu cứ của Tiểu đoàn độ 5 cây số, Pháo đội  chúng tôi ở lại Long Khánh với Thiếu tá Nguyễn Tiến Hạnh trong những giờ phút sau cùng,  Thiếu tá Nguyễn Tiến Hạnh xuất thân Khóa 13 trường Võ Bị Quốc gia Việt Nam về thay thế Thiếu tá Tôn Xuân nhận thuyên chuyển đến Tiểu đoàn 47 Pháo Binh tại Long Xuyên.. Được biết ông từ Pháo Binh Thủy quân Lục Chiến, sau cùng về Pháo Binh Biệt Khu Thủ Đô trước khi về nhận Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 181 Pháo Binh. Ngay từ khi mới về nhận đơn vị, Thiếu Tá Nguyễn Tiến Hạnh đã tỏ ra rất vui vẻ và rất dễ dãi với các Sĩ quan và binh sĩ trong đơn vị, mỗi khi có tiệc tùng hay tổ chức ăn nhậu, ông thường kêu các sĩ quan cùng ngồi nhậu và ăn uống chung với ông, không cần biết có mấy sĩ quan, cứ khui một két bia lớn ra, ông chỉ uống những chai có nhãn hiệu trái thơm mà thôi, và số còn laị thì các sĩ quan phải chia nhau uống cho hết. Thường thường mỗi két chỉ có chừng 2 đến 3 chai có nhãn hiệu trái thơm mà thôi.

           Vào những giờ phút chót, tôi được điều động lên Núi Thị với một trung đội của Trung Uý Trung. Còn một trung đội  đóng chung với Bộ chỉ huy Tiểu đoàn cho đến giờ nầy tôi cũng không còn nhớ rõ trung đội nầy là trung đội mấy của Pháo đội A nữa. Tôi cũng không nhớ rõ lúc đó các Pháo đội B của Đại Úy Vũ Huy Thiện và Pháo Đội C của Trung Úy Trần Hữu Rật đang tham dự hành quân ở đâu nữa, vì sau gần 7 năm tù và qua đây phải vất vả với cuộc sống cho nên trí óc tôi không còn được sáng suốt nữa. Nếu tôi nhớ không lầm thì sáng ngày 8 tháng 04 năm 1975, khoảng 04 giờ sáng Cộng quân đã chận xe đò và chiếm Cua Heo đường vào Quận lỵ Long Khánh, cũng kể từ ngày tháng nầy, con đường xe chạy Saìgòn Bình Tuy hay Sàigòn Võ Đắt – Tánh Linh đã không còn lưu thông nữa, xe chạy trên tuyến đường nầy đã phải đậu laị nối đuôi nhau để chờ giải tỏa, thế nhưng cho đến chiều cũng vẫn chưa được phép chạy, vì vậy các xe đã trở đầu để quay trở lại. Trên hệ thống vô tuyến chúng tôi nghe tin Cộng quân đang chiếm dinh Tỉnh Trưởng, hiện chúng đang quần thảo với Bộ chỉ huy Tiểu khu, chưa biết tình hình Tỉnh trưởng như thế naò, tin trên loan ra làm cho chúng tôi vô cùng hoang mang, ngay cả dinh Tỉnh trưởng mà cộng quân đã chiếm được thì còn chỗ nào an toàn nữa. Tình hình Long Khánh trong lúc bấy giờ thật hết sức nguy ngập.Các đơn vị ở miền Trung đã di tản chiến thuật, bây giờ Long Khánh là cứ điểm cuối cùng, nếu Long Khánh thất thủ thì cộng quân sẽ tiến chiếm vào Sàigòn, vì vậy bằng bất cứ giá nào chúng tôi cũng phải giữ cho được Long Khánh.  Các đơn vị trực thuộc Tiểu khu đã chạm súng ác liệt với Cộng quân từ sáng đến giờ, những tiếng súng lớn nhỏ nổ dòn như bắp rang ở hướng dinh Tỉnh trưởng, tình hình ta và địch lẫn lộn, chúng tôi cũng không còn biết tin tức chính xác là như thế nào nữa., đến trưa thì chúng tôi được tin quân  ta đã làm chủ được tình hình, đã đẩy lui Cộng quân ra khỏi dinh Tỉnh trưởng, như vậy dinh Tỉnh trưởng đã được giải tỏa  sau gần 6 tiếng đồng hồ đã bị cộng quân vây hãm. Trung đội Pháo binh 1A của chúng tôi lúc đó đang được yểm trợ trực tiếp cho tiểu đoàn 2/43 đang trú đóng tại Núi Thị, cùng lúc ấy tôi được lệnh tác xạ trực tiếp từ một sĩ quan Pháo binh của Tiểu đoàn chúng tôi, Trung úy Đinh Văn Phùng, sĩ quan Thủ khoa của Khóa 4/68 Căn bản sĩ quan Pháo binh, Phùng gia đình ở  Láng Cát  Bà Rịa , tôi và Phùng thường về phép chung với nhau và Phùng đang là sĩ quan Liên lạc và ngay sáng sớm hôm đó, tôi đã tác xạ yểm trợ trực tiếp cho Phùng, có lẽ số phận gắn liền nhau cho nên sau khi Cộng quân cưỡng chiếm miền Nam rồi, chúng tôi  phải trình diện để đi tù, thì cũng lại gặp nhau tại trại Hoàng Diệu ở Long Khánh, gặp nhau trong cảnh tù gồm có Nguyễn Thanh Liêm, Nguyễn Phước Lễ, Trần Văn Tuyến, Ðinh Văn Phùng, các anh là những bạn học với tôi trong những năm tháng chúng tôi ở mái trường Châu Văn Tiếp Phước Tuy.  Những trái đạn điều chỉnh thật chính xác và chỉ mấy phút sau chúng tôi đã được nghe Phùng báo cáo oang oang trên máy:

    – Trúng ngay chiếc xe tăng T-54 rồi, bây giờ chiếc xe tăng đã bị lật nằm ngang trên ụ đất phiá ngoài vòng đai  phi trường.

    – Tin bắn trúng xe tăng của địch đã làm cho binh sĩ trong Trung đội lên tinh thần, tôi dặn các binh sĩ phải tháo đạn thật lẹ, giật cò cho nhanh để yểm trợ thật chính xác.

           Những chiếc xe tăng của chúng đã bị Pháo binh bắn trúng lật nghiêng, và những chiếc khác đã bị bắn đứt dây xích nằm môt chỗ không chạy được, chúng đã rồ máy kêu inh ỏi, chúng tôi đã được nghe tiếng máy của xe tăng trong combinet trên máy vô tuyến.  Cho đến giờ nầy chúng tôi  mới tạm được nghỉ để cho binh sĩ ăn uống, kiểm điểm lại, từ sáng đến giờ chúng tôi đã sử dụng rất nhiều đạn để yểm trợ cho đơn vị đẩy lui Cộng quân ra khỏi vòng đai của Tỉnh lỵ, cũng kể từ ngày hôm nay, chúng tôi đã không còn được đi chợ nấu ăn như trước nữa mà chỉ toàn dùng thực phẩm khô mà thôi. Con đường từ Núi Thị xuống tỉnh lỵ Long Khánh đã không còn sử dụng được nữa, Pháo binh Núi Thị đã trở thành đơn vị Pháo binh duy nhất để yểm trợ cho Sư đoàn và tỉnh lỵ Long Khánh và Chi Khu Xuân Lộc.

           Cũng kể từ ngày nầy, chúng tôi đơn vị nào ở đâu thì đóng ở đó, chỉ liên lạc với nhau qua hệ thống vô tuyến mà thôi. Mỗi ngày chúng tôi đếm từng ngày để mong được xuống núi đi chợ thay đổi mua thức ăn tươi, chứ nằm ở trên nầy hoài ăn uống thiếu thốn nên tinh thần binh sĩ rất xuống dốc, qua radio,mỗi ngày chúng tôi lại nhận thêm tin tức mất thêm một vài quận lỵ và tỉnh lỵ từ miền Trung trở vào, vì thế càng làm cho chúng tôi hết sức lo lắng và dự đóan tình hình thật xấu, riêng bản thân và sự suy nghĩ của riêng tôi, với sự ngây thơ về chính trị, tôi vẫn luôn luôn tin rằng không bao giờ có chuyện Cộng quân chiếm Sàigòn, và luôn luôn tin tưởng quốc gia ta sẽ thắng, Cộng quân trước sau gì cũng sẽ phải rút lui mà thôi, vì vậy chúng tôi rất yên tâm chiến đấu, Sau  khi đẩy lui cộng quân ra khỏi bờ đai tỉnh lỵ, chúng tôi cảm thấy yên tâm và tin rằng chúng ta sẽ cố thủ Long Khánh cho đến giờ phút sau cùng và nhất là chúng ta đã đẩy lùi bọn chúng ra khỏi vòng đai, Long Khánh sẽ được sống trở lại bình thường, mỗi ngày chúng tôi vẫn bắn liên tục để yểm trợ cho các đơn vị bạn. Thế rồi hôm đó ngày 20 tháng 04 năm 1975, tôi được lệnh của Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng ra lệnh cho tội xuống đồi và gặp ông ở Bộ chỉ huy Tiểu đoàn 181 Pháo Binh, để trung đội do Trung Úy Trung điều hành, tôi có hỏi đoạn đường qua Cua Heo đã đi được chưa vì từ ngay 08 tháng 04 đến giờ chúng tôi chưa hề xuống được núi, nhà binh lệnh là phải thi hành, vì vậy dù rất lo sợ, tuy nhiên tôi vẫn phải xuống núi, tôi đã để lại xe Jeep của tôi tại vị trí Núi Thị và nhờ một binh sĩ chở tôi về trình diện Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng bằng xe Honda của anh ta, tôi biết rằng đi xuống bằng xe Jeep thì quá nguy hiểm cho nên đi xe Honda có lẽ cũng đỡ nguy hiểm hơn, tôi trang bị cho mình áo giáp, nón sắt, dây ba chạc và súng colt 45 và đạn được đầy đủ, trên vai còn mang theo một khẩu M-79 và  trên tay cầm một khẩu M-16, giả từ Trung Úy Trung trung đội trưởng của trung đội nầy và các binh bĩ của trung đội, các binh sĩ cũng rất lo lắng cho tôi trên đường đi, tôi nói với trung úy Trung cho súng hướng về đoạn đường mà tôi sẽ xuống núi và yểm trợ cho tôi ngay khi tôi gọi, Hạ sĩ nhất Vũ văn Soạn nhà ở Kiệm Tân nên đem xe Honda để ở trại vị trí trung đội, độ vài tuần thì về phép bằng xe Honda, tôi bảo Soạn đeo thêm máy PRC-25 trên vai và thầy trò tôi bắt đầu xuống núi. Phải chi như bây giờ có điện thoại di động thì còn gì sung sướng cho bằng, vừa gọn nhẹ và dễ dàng cất dấu.

             Sau gần nửa tháng không xuống núi, giờ lần đầu tiên trở laị con đường nầy tôi cũng cảm thấy sờ sợ, mong sao cho mau được đến vị trí của bộ chỉ huy tiểu đoàn để chờ ông có lệnh lạc gì mới cho tôi?

             Đã lâu lắm rồi, từ ngày làm trung đội trưởng Pháo binh đến giờ, tôi hầu như không còn đi xe Honda nữa, ngay cả những lần về phép tôi cũng dùng xe Jeep để đi phép, ký sự vụ lệnh cho tài xế đưa tôi đi chỗ nầy, chỗ nọ. Tôi ngoại giao rất giỏi, vì thế xe Jeep của tôi lúc nào cũng có xăng đầy đủ để chạy, có những tháng tiểu đòan cấp cho xe Jeep nhưng không cấp nhiên liệu, các sĩ quan khác đành không nhận xe vì không có xăng để xử dụng, nhưng riêng tôi chưa bao giờ không có xe Jeep cả, và ngay cả phương tiện truyền tin tôi cũng đã có máy VRC-34 trên xe ngoài cấp số.

           Thật may mắn cho tôi, sau khi từ Núi Thị hai thầy trò tôi chạy thật nhanh,  Soạn  chạy hết ga sau khi xuống được con đường chánh của quốc lộ, tôi ôm chặt lấy Soạn và mắt nhìn xung quanh rất nhanh, hai bên đường cảnh trí hoang tàn, tiêu điều sau những trận pháo của chúng tôi, đi ngang Cua Heo tôi còn thấy chiếc xe tăng bị bắn cháy đang nằm trơ trọi nơi đó, Soạn chạy riết ở đường ngoài để xuống Chi Khu xuân Lộc, vì lúc bấy giờ bộ chỉ huy Tiểu đoàn đang đóng ở rừng cao su trước quận lỵ.

    Tôi vào gặp Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng và được tin tối nay chúng tôi sẽ rút khỏi Long Khánh và bàn giao vùng hành quân nầy lại cho Lữ Đoàn 1 Dù sẽ thay thế chúng tôi.Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng đưa cho tôi những mục tiêu, và tôi chấm lại trên bản đồ toàn là YS nằm trên trục lộ về Đức Thạnh, sau khi chấm những điểm nầy lên bản đồ tôi đã đoán ra được lộ trình mình sẽ đi. Con đường từ Xuân Lộc về Đức Thạnh gần 10 năm nay không được sử dụng, thế mà tối nay chúng tôi sẽ đi lại bằng con đường đó, tôi băng khoăn tự hỏi, bỏ đi cả 10 năm rồi, giờ làm sao đi lại cho được?

            Phối hợp một trung đội của Pháo đội A(-) còn lại ở đây và bộ chỉ huy của Tiểu đoàn, tôi tập hợp tất cả lại và chỉ thị cho tất cả chuẩn bị lên đường khi có lệnh, không được mang theo gì cả, ngoaì việc phải kéo hai khẩu 105 ly, móc hậu gạo và móc hậu nước cũng bỏ lại. Tôi không còn nhớ rõ trưởng ban 3 của tiểu đoàn lúc đó là ai nữa, duy chỉ biết Thiếu tá Hạnh nói sẽ đi với tôi và ông nói rằng đi với tôi ông ta thấy yên tâm hơn. Thiếu tá Hạnh sẽ đi xe Jeep sau chiếc xe kéo súng của trung đội, tôi sẽ đi trên chiếc xe GMC kéo súng đầu tiên.

    Lúc đó hơn 4 giờ, tôi ra lệnh cho các binh sĩ sẵn sàng di chuyển khi có lệnh, Soạn nói với tôi xin phép cho mang theo chiếc xe Honda, tuy nhiên tôi đã ra lệnh không ai được mang theo gì cả, vì vậy tôi nói với HS1 Soạn là tôi rất tiếc không thể để Soạn mang theo chiếc xe Honda được. Soạn nói với tôi rằng, thôi em sẽ chạy Honda theo hai xe kéo súng của mình và tôi đã đồng ý. Tôi đã cho sắp xếp tất cả xe của đơn vị Pháo binh của chúng tôi ra ngoài  đường từ 5 giờ chiều ngày 20 tháng 04 năm 1975. Và ngày đó chúng tôi coi như là một ngày kỷ niệm, cho đến giờ tôi vẫn còn nhớ đến ngày đó.

    Tất cả đoàn xe đều nổ máy và chờ lệnh, chúng tôi được biết Thiếu tướng Lê Minh Đảo tư lệnh Sư đoàn đã đi với 81 Biệt cách Dù từ buổi trưa, và bây giờ chúng tôi đang đợi lệnh ông để di chuyển. Thời giờ chờ đợi lúc nào cũng đi thật chậm, chúng tôi càng sốt ruột hơn vẫn chưa được lệnh di chuyển, rồi từ hướng sân bay chúng tôi nghe những tiếng  bụp … bụp  bụp.. là tiếng depart của pháo địch, chừng vài giây sau những tiếng nổ chát chúa ngay tại vị trí chuẩn bị di chuyển của chúng tôi, trái đạn đầu tiên đã rớt trúng ngay xe Jeep của Thiếu tá Hạnh Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 181 Pháo binh, và những trái pháo kích khác đã  rớt xung quanh đoàn xe của  chúng tôi, lúc đó chẳng còn lệnh lạc gì nữa, mạnh ai nấy chạy, xe của thiếu tá Hạnh đã bị pháo nên không đi được nữa, ông chạy ngay lại xe GMC kéo súng của tôi và chúng tôi di chuyển ngay lúc đó, chạy về hướng trung đoàn 48 bộ binh đóng ở Long Giao, tôi thiết nghĩ nếu như lúc đó chỉ cần một tràng AK nữa thì tôi tin rằng đơn vị sẽ rả ngủ, chúng tôi  cố cho xe chạy thật nhanh, trong khi đó những tiếng nổ vẫn tiếp tục sau lưng chúng tôi, nếu không có phản ứng cấp thời  và di chuyển ngay thì có lẽ chúng tôi đã ăn những qủa đạn pháo đó rồi, hai bên đường mùi xác chết xông lên nồng năc, thiếu tá Hạnh ngồi bên trong xe GMC kéo súng làm trưởng xa, tôi nghĩ rằng có lẽ đây là lần đầu tiên một vị tiểu đoàn trưởng pháo binh ngồi trên xe GMC kéo súng, vì pháo binh xe cộ rất đầy đủ, và tiểu đoàn trưởng thì muốn xe gì mà  không có, thế nhưng đây là lần đầu và cũng là lần cuối cùng vì sau trận nầy chúng tôi không còn được đi xe GMC nữa mà phải vào các trại tù mà chúng gọi là đi cải tạo. Tôi đứng phía ngoài xe GMC tiếp tục chạy trên đường về Long giao, vừa chạy tôi vừa liên lạc với bộ tư lệnh sư đoàn để nhận chỉ thị, cũng may sau đợt pháo đầu tiên, tôi liên lạc với các xe và được biết tất cả anh em sĩ quan và  binh sĩ của chúng tôi hoàn toàn vô sự, duy chỉ có chiếc xe jeep của thiếu tá Hạnh là bị trúng pháo kích và đã bỏ lại ngay lúc khởi hành. Khảng 09 giờ tối chúng tôi đến Long Giao, tôi không còn nhớ rõ nữa nhưng hình như chúng tôi là đơn vị pháo binh được di chuyển có xe còn các đơn vị khác đã di chuyển bộ, vì vậy khi dừng lại Long Giao tôi không thấy một đơn vị nào hộ tống chúng tôi cả, bộ chỉ huy Pháo binh Sư đoàn lúc đó là Đại tá Ngô Văn Hưng, tôi không được nghe tiếng nói của ông lúc đó, nhưng tôi nghe giọng nói của Trung úy Hà Phương Đính. Lệnh cho tôi phải ở lại Long Giao và sẵn sàng tác xạ để yểm trợ cho lữ đoàn 1 Dù đang ở lại để thay thế chúng tôi. Tôi cho dừng xe và ra lệnh cho trung dội đưa súng vào vị trí để chuẩn bị gióng hướng và sẵn sàng tác xạ, hai khẩu pháo nằm chênh vênh trên đường trước cổng Trung đòan 48 tại Long giao (Black Horse) khẩu nầy cách khẩu kia không đầy 5 mét, gióng hướng súng xong và sẵn sàng tác xạ, cọc ngắn 1 mét và cọc dài 3 mét thay vì cọc ngắn 50 mét và cọc dài 100 mét. Tất cả sách vở học trong trường pháo binh đều được bỏ hết mà chỉ thực hành theo điều kiện cho phép, tôi được lệnh qua tần số của Dù và liên lạc để yểm trợ cho họ, lúc nầy mà họ xin tác xạ mới mệt cho chúng tôi quá, nhưng chúng tôi vẫn nhận lệnh và đã bắn yểm trợ cho họ khoảng 10 quả đạn 105 ly trước khi chúng tôi tiếp tục di chuyển. Lúc nầy khỏang 11:30 tối, tôi được lệnh tiếp tục di chuyển để về điểm hẹn, Tôi được biét đơn vị Dù thay thế chúng tôi cũng sẽ đến Long Giao sau khi tôi đi khỏi nơi nầy, tôi liên lạc qua trung đội pháo binh ở Núi thị để hỏi thăm tình trạng của  trung đội nầy ra sao? Trung úy Trung cho tôi biết, bây giờ trung đội đang chuẩn bị xử dụng M-14 (đây là loại đạn chỉ dùng khi có lệnh để phá hủy đaị bác, tôi từ ngày gia nhập vào binh chủng Pháo Binh cho đến giờ, tôi cũng chưa hề xử dụng đến loại đạn nầy). Trung đội sẽ nhận lệnh trực tiếp của Bảo Định Thiếu tá Nguyễn Hữu Chế, tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2 /43. Tôi dặn dò Trung úy Trung cố gắng bảo tòan đơn vị và liên lạc chặt chẻ với Bảo Định, sau đó tôi trở qua hệ thống để liên lạc với BCH pháo binh sư đoàn 18 Bộ binh. Đoạn đường đã bỏ  từ nhiều năm nên cỏ mọc hai bên đường ngăn cả lối đi, trời thật tối, tôi đứng bên hông xe khoảng 50 thước tôi lại bật đèn Pin lên rọi về hướng trước để tài xế  liếc nhìn đoạn đường mà chạy, và cứ thế  chúng tôi tiếp tục di chuyển trên con đường đã bỏ trống cả gần 10 năm nay. Lúc tôi di chuyển có đơn vị của bộ chỉ huy tiểu khu cùng di chuyển theo chúng tôi, tôi dừng lại và ra lệnh cho đơn vị nầy phải di chuyển xa chúng tôi và không được mở đèn, đến sáng hôm sau khoảng 9 gi&ogra
    ve;, chúng tôi đã về đến Đức Thạnh, đơn vị tôi tới nơi an toàn, duy chỉ có Trung Tá Long tham mưu trưởng Tiểu khu Long Khánh,  ông là người chỉ huy đoàn xe chạy theo tôi lúc đêm qua đã không may bị cộng quân phục kích và ông đã tử thương, tất cả chúng tôi đều hoàn hồn và nghĩ rằng ông Tham mưu trưởng đã mở đèn và vì vậy bọn Việt cộng đã phục kích bắn trúng xe ông ta. Vừa vào đến vị trí, tôi được lệnh phải sẵn sàng tác xạ.

            Gióng hướng súng vừa xong thì tôi nhận được lệnh  tác xạ yểm trợ cho lữ đoàn 1 Dù. Các mục tiêu nằm ngoài tầm pháo, vì vậy chúng tôi chỉ bắn vài chục quả để dọn mục tiêu, trong lúc đang tác xạ tôi lại nhận được lệnh trung đội lại chuẩn bị lên đường. Đại Úy Hoàng Uông Lễ trưởng ban 4 tiểu đoàn sẽ tiếp tế cho tôi 10 xe đạn vào chiều nay tại ví trí hành quân mà tôi sắp sửa di chuyển đến. Hai giờ chiều tôi nhận được lệnh sẽ di chuyển Trung đội trở ngược về hướng Chi Khu Xuân Lộc để yểm trợ cho Lữ đoàn 1 Dù đang hành quân ở Cẩm Tâm, Cẩm Mỹ. Đơn vị hộ tống cho tôi lúc bấy giờ là một đơn vị của Chi khu Đức Thạnh với  một trung đội , tôi chỉ thấy họ đưa hộ tống đơn vị tôi bằng 02 xe cơ giới mà thôi, tôi trở laị trên con đường mà sáng nay tôi đã đi qua, trở lại được khoảng hơn 10 cây số, tôi được lệnh đóng tại đây để yểm trợ cho Lữ đoàn 1 Dù.  Tôi cho  02 khẩu pháo đóng ngay bên đường đi, chỉ cách đường không đầy  5 thước, gióng hướng súng, thiết lập xạ bảng và  sẵn sàng tác xạ.  Khi vừa chiếm đóng vị trí xong không đầy nửa giờ, tôi nhận được lệnh tác xạ từ sĩ quan liên lạc của Lữ đoàn 1 Dù, “Đích thân” là danh hiệu của Lữ đoàn trưởng vô hệ thống và ông đã trực tiếp liên lạc với tôi. Tôi đã bắn yểm trợ cho lữ đoàn vào bìa rừng cao su được chừng 20 tràng thì cùng lúc ấy Ðại Úy Hoàng Uông Lễ  ông đã dẫn một đoàn xe Quân vận và tiếp tế cho tôi thêm 10 xe đạn nữa. Binh sĩ quá  mệt mỏi sau một đêm không ngủ, giờ lại vừa tác xạ và vừa tháo đạn nên rất mệt, tôi liên lạc với Bộ chỉ huy Pháo binh Sư đoàn xin tăng cường  người để phụ giúp tháo đạn, tôi được tăng cường thêm 10 loài chim đi biển (Lao công đào binh) để phụ giúp cho các khẩu đội.  Tôi cũng không còn nhớ rõ các Lao công đào binh nầy đã đến bằng phương tiện gì nữa,  tôi tiếp tục vừa tác xạ yểm trợ cho lữ đoàn Dù cho mãi đến 07 giờ tối, trong lúc tác xạ, đồng bào đã di chuyển từ hướng Long khánh đi ngang qua vị trí cuả tôi rất nhiều từng đợt, từng đợt, tôi nghĩ ngay biết đâu trong đám dân di chuyển nầy lại không có những tên Cộng sản trà trộn, và như vậy chúng nó sẽ báo cáo vị trí của tôi thì chỉ có chết mà thôi,  nghĩ như vậy nhưng không làm cách nào ngăn cản người dân di chuyển được, tôi đành nhắm mắt mặc cho mọi việc gì đến thì phải đến mà thôi.

           Trời đã quá tối, đơn vị cơ giới bảo vệ cho tôi họ đã đi từ lúc nào chúng tôi cũng không biết, tôi liên lạc với BCH Pháo binh Sư đoàn để báo cáo tình hình và xin lệnh rút lui nhưng lúc đó BCH pháo binh sư đoàn không có lệnh gì cho tôi cả mà bảo tôi chờ ở đó đợi lệnh. Trời bắt đầu tối, những cơn gió lạnh thổi đến, lại thêm những đoàn người di chuyển ngang qua vị trí, càng làm cho chúng tôi càng lo lắng hơn, giá như trong đoàn người di chuyển nầy có vài tên Việt cộng trà trộn, và khi đi ngang qua vị trí của tôi chúng bắn vài phát AK vào vị trí đóng quân của tôi lúc bấy giờ thì tôi không biết sẽ phải giải quyết như thế nào nữa, đơn vị bạn yểm trợ cho tôi thì họ đã đi từ lúc nào, chúng tôi mãi mê tác xạ mà không để ý đến đơn vị bạn đã bỏ chúng tôi đi từ lúc nào rồi,  chưa bao giờ một đơn vị Pháo binh yểm trợ mà không có đơn vị bộ binh bảo vệ vị trí như đêm nay. Sau khi biết được đơn vị cơ giới đã bỏ chúng tôi và đã rút lui trước, thật sự lúc đó tôi vô cùng lo lắng, nếu cộng quân tấn công chúng tôi ngay lúc bấy giờ thì không biết chúng tôi sẽ phải đối phó ra sao nữa.

          Trời càng tối rất mau, quá nguy hiểm mà đơn vị pháo binh của tôi giờ lại không có ai bảo vệ, không chờ được nữa, tôi ra lệnh cho binh sĩ móc súng vào xe và tự động chạy trở lại Đức Thạnh. Đây cũng là lần đầu tiên tôi  tôi đã quyết định một cách liều lĩnh mà không chờ lệnh lạc gì cả, khoảng cách chỉ 10 cây số mà tôi bổng thấy thật xa, xe chạy trong đêm tối, thỉnh thoảng có tiếng súng nổ phía sau lưng càng làm cho chúng tôi lo sợ hơn. Chúng tôi chạy thục mạng, chạy trong đêm tối và chỉ mong sao cho mau về đến vị trí. Đơn vị tôi thật sự may mắn, tôi về đến vị trí Đức Thạnh lúc đó khỏang gần 10 gờ đêm, tôi báo cáo tình hình cho Bộ chỉ huy Pháo binh Sư Đoàn, và lúc đó sĩ quan trực là Trung Úy Hà Phương Đính  vẫn còn cho lệnh tôi ở ngoài vị trí và đợi lệnh. Gần 15 phút đứng ở ngoài cổng, tôi được lệnh cho Pháo vào vị trí, tôi cho lệnh các khẩu vào vị trí, gióng hướng súng và xuống đạn dược, anh em binh sĩ và tôi mệt lã người sau 2 ngày di chuyển, cũng may tôi kịp trở về chứ nếu cứ ở đó đợi lệnh thì có lẽ hôm nay  tôi không còn để viết trang hồi ký nầy.

         Đêm hôm đó chúng tôi tạm ở lại Đức Thạnh và sáng sớm hôm sau đơn vị di chuyển về Long Bình, Thấy tôi qúa vất vả trong những ngày cuối, vì vậy Thiếu tá Tiểu  đoàn trưởng đã ký giấy phép cho tôi về thăm nhà, còn đơn vị sáng sớm hôm sau trở về Long Bình, vì vậy vào những giờ phút chót của đơn vị tại Long Bình  tôi không được tham dự.

         Bài viết nầy tôi muốn nói lên tinh thần chiến đấu của chúng tôi nói riêng và cũng là tinh thần chiến đấu của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa trong những giờ phút chót ở chiến trường Xuân Lộc. Cho đến những giây phút chót chúng tôi vẫn thi hành lệnh một cách tuyệt đối .Tôi cũng cảm ơn Thiếu Tá Nguyễn Tiến Hạnh, vị tiểu  đoàn trưởng sau cùng của tôi, cũng nhờ ông ra lệnh cho tôi  từ Núi Thị  xuống gặp ông và đã được di chuyển cùng ông trong những giờ phút cuối của Sư đoàn 18 tại Xuân Lộc. Tôi được biết trung đội pháo binh ở Núi thị sau khi phá huỷ súng bằng đạn M-14, Trung Úy Trung đã theo tiểu đoàn 2/43 rút lui xuống núi và  đơn vị nầy đã chịu tổn thất rất nhiều, sau đó tôi tập trung vào các trại tù với các sĩ quan trong đơn vị như: Trung Úy Nguyễn Đắc Tài, Trung Úy Nguyễn Tiến Hiệp trong suốt thời gian ở các trại tù GK3 Long Khánh, rồi di chuyển lên Phước Long chúng tôi đều được ở chung trong một tiểu đoàn, cho đến năm 1979 trong lúc đơn vị lên Trung đoàn để chặt tre và gặt lúa, trên đường về các anh đã vượt trại và cho đến nay chúng tôi không nhận được tin tức gì về các anh nữa. Khi vượt biên qua đây, tôi cũng không được tin tức của Trung Úy Trung Trung đội trưởng Pháo Binh đóng tại Núi Thị và các binh sĩ cùa Trung đội nầy.

          Tôi đã được gặp lại Bảo Định (Thiếu tá Nguyễn Hữu Chế) Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 2/43 tại San Jose, Thiếu tá Nguyễn Hữu Chế xuất thân khóa 13 Trừ bị Thủ Đức, Ông là một sĩ quan gan dạ, một sĩ quan ưu tú của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, Ông luôn luôn được đề nghị là chiến sĩ xuất sắc của Sư đoàn 18 Bộ binh nói riêng, và là sĩ quan xuất sắc của QLVNCH nói chung.  Ông đã viết những bài thật xúc động và chúng tôi không thể ngờ ông không những  là một sĩ quan tài ba trên chiến trường  mà  còn là một cây bút tuyệt tác nữa. Chúng tôi đã được đọc những bài viết của ông như: Võ Đắc Trong Biển Lửa, Lui Binh, Ði Tìm Xác Chồng v.v…Tôi cũng đã được gặp lại  Thiếu Tá Nguyễn Tiến Hạnh  con chim đầu đàn của Tiểu đoàn 181 Pháo Binh, vị tiểu đoàn trưởng cuối cùng trong đời binh nghiệp của chúng tôi, ông là một sĩ quan trẻ, gan dạ và rất được các sĩ quan trong đơn vị thương mến, tôi cũng đã được gặp lại Đại úy Đặng Hồng Tâm, Đại Úy Hoàng Uông Lễ, Trung Úy Trần Ngọc, Trung Úy Trần Ngọc Thông, Trung Úy Ðinh văn Phùng, Trung úy Nguyễn Phi Hùng, Trung Úy Cao Ngọc Tú, Trung úy Đoàn Thanh Bình, Trung úy Trần Hữu Rật, tôi cũng được nói chuyện qua điện thoại với Thiếu Tá Vòng Phát Sáng Tiểu đoàn Phó, Đại úy Vũ Huy Thiện, Trung Úy Ngô Thanh Lệ, Thiếu uý Hoa tuy nhiên cho đến giờ phút nầy  tôi cũng chưa có dịp để ghé thăm quý vị nầy.

         Ước mong có một ngày nào đó, chúng ta sẽ lại gặp lại nhau trên mảnh đất Việt Nam quê hương yêu dấu của chúng ta, để nhớ lại những kỷ niệm của thời xa xưa khi quê hương Việt Nam thân yêu của chúng ta  thật sự hoàn toàn tự do.

     

    John Nguyen – Nguyễn Hữu Nhân – California

     

     

     

    NHỮNG NGÀY GAI LỬA

               

    Một câu chuyện thật của tác giả viết về trận chiến  30 – 4 – 1975

                                  

                                                    Hồi ký :  Nguyễn Phan Ngọc An

     

     

     Ầm…ầm…Những tiếng nổ như long trời lở đất , nàng bồng vội con thơ chạy ra sân nhìn về hướng trước mặt, cả một vùng trời khói bay nghi ngút…Mới hôm qua nơi đây là một thành phố đẹp, hôm nay đã thành bãi chiến trường !

    Thảo sống nơi đây cũng gần được ba năm, chồng nàng, một vị Quận Trưởng của Quận nầy, tuy gia đình không mấy gì hạnh phúc nhưng vợ chồng Thảo không để mất lòng một người dân. Sáng qua, có tin mật báo về, Tuấn, chồng nàng đã vào Quận ứng chiến suốt ngày đêm…

    Giữa trưa hôm qua, một trận pháo kích tới tấp vào thành phố nầy, phá tan cuộc sống yên lành của người dân , phá tan bao mơ ước xây dựng cơ đồ sự nghiệp. Từng loạt dãy nhà sụp đổ tan hoang ! bao nhiêu người bị thương, bao nhiêu người đã chết ở ngoài kia…Thảo rùng mình lo sợ, nàng không thể hiểu được những gì xảy ra bên ngoài vì không còn ai dám bước ra khỏi nhà. Những căn nhà có hầm trú ẩn coi như tạm bình yên còn nhà Thảo không có hầm trú ẩn, Thảo biết làm sao đây ? Một thân nàng với bốn con thơ dại, Tuấn thì không thể về nhà trong giai đoạn này…sinh mạng mẹ con nàng như chỉ mành treo chuông …

    Ngoài kia tiếng lao xao ầm ỉ, trên đường lộ hàng loạt người gánh gồng tị nạn, họ bất chấp những hiểm nguy, những đợt pháo kích giết người tàn khốc đang đổ trút xuống thành phố thân yêu một thời của họ. Thế còn Thảo …nàng phải làm sao ? nếu ở lì lại đây chắc gì đã sống ? còn dìu dắt bốn con thơ xông pha ngoài lửa đạn cũng chắc gì thoát được hiểm nguy ? thôi thì một phen liều mạng, Thảo không mang theo được một của cải gì ngoài chút tiền sẵn có trong túi áo. Chiến tranh đã làm Thảo đảo điên, nàng đã mất trọn số tiền lớn của kỳ thu nhập Câu lạc Bộ cuối tháng ba này. Hôm nay là 23 còn hai ngày nữa là đến kỳ phát lương của các Tiểu Đoàn…Chiến tranh tàn ác, chiến tranh dã man, giành giựt xâm chiếm để máu đồng loại đổ tuôn, để xác người cao hơn non núi, để thảm họa đói rách cho muôn người !

    Thảo nghẹn ngào nhìn căn nhà lần cuối rồi kéo vội các con chạy theo đoàn người tỵ nạn, đứa nhỏ nhất còn ẵm trên tay. Đến giữa lộ, một tiếng nổ long trời, rồi hai tiếng, ba tiếng…bụi cát bay mịt mù, Thảo không còn trông thấy gì nữa… mấy mẹ con té nhào xuống lộ rồi kéo dìu nhau đứng dậy tiếp tục chạy.

    Tiếng pháo kích như đuổi theo sau từng loạt, từng loạt nghe như xé cả không gian. Trước bước chân nàng bao xác nằm ngổn ngang, bao tiếng thét gào do hậu quả đợt pháo kích vừa qua, nàng thầm cầu nguyện Phật Trời thương tưởng, cứu nhân gian cứu cả mẹ con nàng thoát qua cơn lửa đạn…

    Thảo chạy tấp vào căn nhà quen phía chợ khi bên tai nàng vẫn còn nghe tiếng depart của loại hỏa tiễn 122 giặc pháo tới. Đã bao năm sống trong tiền đồn , quận lỵ nàng đã rành rọt như những người lính. Nàng cũng biết bắn súng, biết xử dụng lựu đạn, biết lái đủ loại xe trong quân đội và cũng biết các mật mã truyền tin nữa…

    Lại một tràng pháo kích vang dậy đất trời, thế giới quanh nàng là bãi tha ma, là đất chết…biết lấy ai cứu mẹ con nàng trong cõi chết, nàng không còn lối thoát thân…

    Thảo gục xuống nền gạch, đôi mắt chan hòa ngấn lệ! Nàng thương các con nàng, tuổi măng non nào có tội tình chi ! nàng muốn các con nàng được sống dù phải đánh đổi đi sinh mạng của nàng…Thảo nhìn các con mà không kềm được tiếng nấc nghẹn…

    Tiếng pháo kích tạm ngưng vì đã 3 giờ sáng. Tiếng đập cửa thình lình vội vã, Thảo điếng người, tưởng họ đã xông vào nhà thì chỉ còn lên trời mà trốn…Dì Năm chủ nhà vội mở cửa, Tuấn hiện ra nơi cửa, bế xốc các con nàng bỏ lên xe thiết giáp, kéo vội Thảo lên xe phóng thẳng về hướng Quận lỵ, Thảo la to : Không được, không được, em và các con phải ra khỏi nơi này, hãy quay xe chở em ra hướng khác để đón xe đò thoát khỏi nơi đây, mau lên, mau lên …

    Tuấn gạt phăng : Không còn lối ra nữa, chúng đã chận hết các nẻo đường, cứ tạm vào Quận rồi tính sau !

    Tuấn đưa Thảo và các con xuống hầm tử thủ cuối cùng của Quận. Đường đi xuống ngoằn ngoèo sâu thẳm, ánh sáng chập chờn của những cây đèn pin không đủ rọi cho các con nàng, chúng té liên hồi trên những bậc tam cấp, khi xuống đến cuối hầm mẹ con nàng ngất xỉu…

    Tiếng điện đàm vang vang làm Thảo giật mình choàng tỉnh, nàng đã rõ đây là nơi trú ẩn duy nhất cho mẹ con nàng. Xung quanh nàng là những người lính truyền tin làm việc không ngưng nghỉ với nét mặt nghiêm trọng khẩn cấp từng hồi. Bảy ngày đêm dưới hầm trú ẩn Thảo chỉ biết thời gian qua chiếc đồng hồ đeo tay của nàng, mẹ con nàng tạm sống với những gói mì và những bịt gạo sấy… Qua ngày thứ tám Tuấn liên lạc được phi cơ tải thương để đem xác chết ra khỏi Quận lỵ, chàng vội dẫn mẹ con nàng ra khỏi hầm trú ẩn kéo lên xe Jeep phóng nhanh ra cửa Quận. Tiếng depart của hỏa tiễn giặc vút lên, Tuấn đạp thắng gấp kéo tuột mẹ con nàng chạy vào ẩn nấp trong lô cốt tuần canh ngay cửa Quận . Địch pháo kích ngay phi trường, chiếc trực thăng vừa hạ cánh đã phải cất cánh lên ngay, những xác chết lại một lần thứ hai trúng miểng hỏa tiễn của giặc, những người lính hào hùng buông băng ca ngã quỵ tại phi trường…từ lổ chiến hào nhìn ra lòng Thảo đau lên từng đoạn, thương cho người chiến sĩ xã thân vì đất nước, giờ tử biệt không có một người thân bên cạnh, xác sưng phồng hôi thối không biết đến ngày nào mới được chôn cất mảnh xương tàn? Cuộc chiến tranh nồi da xáo thịt, anh em giòng họ giết nhau, cuộc chiến triền miên từ ngày Thảo mở mắt chào đời, nàng chưa thấy một ngày bình yên trên quê hương của nàng ?…

    Tuấn đưa mẹ con nàng trở xuống hầm tử thủ, Thảo khóc nức nở, nàng không còn hy vọng gì về với mẹ cha…mẹ con nàng sẽ phải vùi thây đau đớn như những chiến binh đã bỏ xác giữa sa trường !

    Sau một tiếng đồng hồ Tuấn bắt được liên lạc với phi cơ, chàng chuẩn bị sẵn cho vợ con một chiếc xe thiết giáp rồi kéo nhau đến tọa độ mới để phi cơ có thể đáp xuống an toàn. Một khu sân rộng đủ để máy bay hạ cánh. Bên kia những người lính đang khệ nệ khiêng ba chiếc băng ca của ba vị sĩ quan tử trận bó bằng ba lá cờ vàng ba sọc đỏ, xác để lâu ngày nên phồng to và có mùi hôi…Bên nay là mẹ con Thảo, Tuấn và hai chú lính trong tư thế sẵn sàng khi máy bay hạ cánh.

    Tiếng phi cơ đến gần, Thảo hồi hộp từng giây, không biết bình yên hay tai họa nữa đây ? Loại tải thương H20 trên cao thẳng xuống và lên thẳng vội vàng và cấp bách vì sợ địch khám phá mục tiêu. Bên kia thảy ba xác chết lên phi cơ, Tuấn và hai chú lính liệng nàng và các con nàng lên phi cơ, nàng và các con ngồi trọn trên ba xác chết cứng đờ, bíu chặt vào những mảnh vải lá cờ để được sống vì phi cơ hai bên không có cửa…Máy bay lên thẳng ruột gan mẹ con nàng lộn nhào, một tay Thảo níu xác chết, một tay Thảo níu các con !

    Véo ! véo ! véo… những âm thanh nghe rợn người, những đóm lửa bay tung tóe hai bên phi cơ, trước mắt nàng không gian cơ hồ sụp đổ ! trời ơi…ai cứu mẹ con tôi ! Phi cơ lên độ cao để tránh tầm đạn lửa của địch, tiếng đạn lửa rít xung quanh làm phi cơ chao đảo nhưng rồi viên phi công đã lấy lại bình tỉnh lái thoát ra vùng đạn lửa đang đuổi theo sau .

    Thảo hoàn hồn, nàng lâm râm cảm ơn Thượng Đế, cảm ơn Trời Phật đã xót thương cứu độ mẹ con nàng qua cơn tai biến, nàng tưởng tượng mẹ con nàng vừa chết đi và sống lại nhờ vào phép nhiệm mầu của đất trời một kiếp đoái thương…

    Phi cơ hạ cánh tại phi trường Tân Sơn Nhất, Sài Gòn vẫn tấp nập xe cộ vì tình hình nơi đây chưa đến hồi nguy ngập, mọi người chen chúc bán buôn tuy nhìn lên gương mặt ai cũng thoáng nét lo âu. Thảo cùng các con đón xe về Vũng Tàu nơi cha mẹ nàng cư ngụ.

    Chiều chiều, nàng tựa cửa chờ mong tin tức Tuấn với cả sự nôn nóng lo âu, chợt sáng nay có tin chàng gọi về từ chiến trận. Thảo vội chạy đến điện đài của Tỉnh để nói chuyện với chồng. Đầu giây bên kia tiếng chàng thảng thốt :

    –           Em và các con vẫn còn sống đấy chứ ? Lạy trời cho đây là sự thật ! em biết không ? khi anh nhìn thấy những viên đạn lửa bắn theo máy bay anh không còn một hy vọng gì mẹ con em sống sót, anh quỳ xuống khóc ngất và liên tưởng ra những hình ảnh hãi hùng, anh tưởng em và các con đã chết cháy và không tìm được xác ! bây giờ anh yên tâm rồi, Quận đã mất , anh dẫn tàn quân đang tìm lối thoát thân về Tỉnh. Em yên tâm, anh vẫn mạnh.

    Tuấn cúp phone ! Thảo bàng hoàng se sắt, cả cuộc đời nàng chưa bao giờ trải qua những kinh hoàng đến thế cũng chưa bao giờ thấy lo lắng xót xa và thương Tuấn như bây giờ, cầu xin cho chàng được bình yên để có ngày xum họp.

    Đêm nay trời u ám lạ thường, cơn mưa thình lình trút xuống như thác đổ, đã buồn Thảo lại buồn thêm…phải chăng trời cũng xót thương nhân gian nên đẫm lệ ? phải chăng dân tộc Việt Nam đã đến buổi tương tàn ?…

    Thảo nhìn vào khoảng  không xa vắng, mới hôm nào cũng tại mái nhà nầy Thảo là một cô bé ngây thơ, bên mẹ cha dỗi hờn nũng nịu, tung tăng trong chiếc áo dài màu trắng học trò. Bây giờ, tay dắt tay bồng dạn dày sương gió, trải qua biết bao khủng khiếp của cuộc đời…một thiếu phụ tuổi đang xuân nhưng tâm hồn như già đi trước tuổi …

    Ngoài hiên, mưa vẫn rơi tí tách không ngừng …Thảo đưa tay gạt đôi dòng lệ ! mưa khóc cho người hay mưa khóc đời ta ?!…                     

    nguyễnphanngọcan – California       

  • Văn

    Tâm Phương : Mùa Xuân Đã Đến Em Chưa ?

    MÙA XUÂN ĐÃ ĐẾN EM CHƯA ?

     

     ( Truyện này đã được Giải Văn-chương viết về Thuyền-Nhân do Hội

       Văn-Hoá Việt-Mỹ trao tặng July 18,2009 tại San Jose  )

     

                                           Tâm Phương

                                                        

         tôi biết cách đây hơn hai mươi lăm năm qua, đã làm tôi nhớ mãi không bao giờ quên được trong đời .

    Những năm sau này, có lúc tôi cố tình hỏi han tìm kiếm, nhưng vì bận rộn sinh kế gia-đình nên bỏ cuộc nửa chừng . Có diều tôi biết chắc chắn là cô A-Diệp đang sống ở Mỹ .

    Nhớ lại khoảng cuối năm 79, đầu năm 80 . Khi tôi xong Đại-học đúng vào thời điểm kinh-tế Mỹ trên đà tuột dốc, các hãng xuởng sa thải nhân-công nhiều hơn mướn vào . Ngày nào tôi cũng lang thang đến Hãng này, Hãng nọ nạp đơn xin việc nhưng chẳng có Hãng nào gọi phỏng vấn .
         Thời gian buồn chán chẵng bao lâu thì nghe đuợc Hội Hồng-Thập-Tự cần tuyển một số nhân viên bán chính thức , nghia là họ cần nhân viên thiện-nguyện và trả lương đại khái cùng với bao ăn bao ở để giúp người tỵ-nạn mới đến ở các trại tỵ-nạn Đông-Nam-Á .

    Tôi đến nạp đơn và được phỏng vấn nhận ngay, có lẽ vì thông thạo Anh ngữ , hơn nữa thời gian này không một người Việt nam nào muốn đi ra khỏi nước Mỹ bỡi công-danh sự-nghiệp chưa lo xong, hoặc vì đồng lương ít ỏi, không ai muốn đi làm xa .

    Tôi chỉ có một tuần thu xếp hành trang, trả nhà trọ, nhận vé máy bay lên đường đi Mã-Lai-Á .

    Đến Mã-Lai chiều hôm trước, sáng hôm sau bắt đầu làm việc . Nơi làm việc của tôi cũng giống như hàng chục người khác trong cùng một lều vải quân đội, một bàn gỗ nhỏ và chiếc ghế ngồi , bao quanh bốn tấm ván ép, có chừa khoảng trống dùng làm cữa ra vào . Truớc bàn làm việc có hai chiếc ghế nhỏ để làm kiểu hơn là để cho khách ngồi . Vì mỗi lần gọi vào phỏng vấn , hầu hết là nguyên cả gia-đinh , năm bảy nguời quần áo tả-tơi bỡi vừa bước chân lên đảo, đứng vây quanh chiếc bàn bé nhỏ của tôi .

    Tôi phải lấy lý-lịch của họ thật nhanh , xếp gia-đinh họ thuộc thành phần Quân- đội, Cảnh-sát , Công-chức Chính phủ hay Thường-dân ….

    Ngày nào như ngày nấy ,làm việc đầu tắt mặt tối, bỡi lúc này làn sóng vượt biên ào ạt, cùng với sự ra đi bán chính thức do Nhà nuớc Việt-nam tổ chức nên số người đến đảo hàng ngày đông kinh khủng .

     

    Một buổi chiều nọ, sau một ngày oi-bức làm việc mệt mỏi, đang lay-hoay xếp gọn lại hồ-sơ trước khi ra về, Bà thư ký người Mỹ dẫn vào một bé gái Việt nam chừng mười tuổi, tóc tai bù-xù, áo quần rách rưới, bà nói .

    – Em bé này tàu đánh cá Mã-lai vừa vớt được, hình như tàu em bị đắm, mọi người trên tàu chết hết, chỉ mình em sống sót . Nhờ Anh làm Hồ-sơ lý-lịch trong khi tôi đi đến kho quần áo kiếm cho em vài bộ để thay . Nói xong, Bà để em ở lại với tôi và quay lưng đi ra .

    Tôi chỉ tay bảo em ngồi xuống ghế . Em rụt rè sợ hãi, tay ôm chặt bịch nylon màu đỏ ép vào ngực và không dám ngồi . Tôi nhỏ nhẹ lên tiếng :

    – Cháu đừng sợ – Cứ ngồi xuống ghế, đây không phải Việtnam Cọng sản đâu .Em rón rén ngồi xuống . Chiếc ghế vừa phải nhưng bây giờ lại quá rộng so với thân xác gầy gò của em .

    Nhìn thoáng qua em , tôi thầm đoán , chắc là em không phải con nhà khá giả .

    Thân em gầy guộc , da thịt xanh xao, có lẽ đói khát đã mấy ngày . Nhưng em có đôi mắt to đen và trong sáng , mặc dầu đang nhạt nhòa nước mắt và rưng rưng muốn khóc . Tuy nhiên nếu ở trạng thái bình thường, chắc là xinh xắn hơn những bé gái cùng trang lứa, nhờ đôi mắt đẹp, sóng mũi cao, miệng trái tim  .

    Tôi đứng dậy rót ly nước ấm trao cho em và nói :

    – Hãy uống ly nước ấm để tĩnh táo tinh thần, trước khi Chú hỏi lý-lịch của Cháu .

    Em nhanh tay bưng ly nước để lên môi và nốc cạn . Tôi lấy ly rót thêm nước, em bưng lên uống tiếp . Trông thật tội nghiệp, không biết em đã đói khát bao nhiêu ngày trên biển ?? Tôi bắt đầu phỏng vấn em .

    – Trước hết Chú muốn biêt Cháu tên họ là gì ?

    Im lặng một lúc, tự nhiên em òa lên khóc . Tôi chờ đợi em bớt khóc và lập lại :

    –  Cháu tên họ là gì ?

    Em nhìn tôi với đôi mắt đẫm lệ, trả lời nho nhỏ  :

    – Cháu tên Trần thị kim Diệp…..

    Ngừng giây lát  …Rồi em ú ớ …à …à …như sực nhớ điều gì  …..và ấp úng nói :

    –  Không phải …không phải …Cháu tên… Lý …Trần …A-Diệp …

    Đã mấy tháng làm việc, tôi quen thuộc với những nguời khai gian lý-lịch .

    Ví dụ như có gia đinh Thương-buôn lại khai đã ở trong Quân-đội để được đi Đệ-tam quốc-gia nhanh hon . Nhưng ngược lại, họ bị đưa vào trại điều-tra nên ra đi chậm hơn .

    Tôi nhìn thẳng vào em và nói nhỏ :

    – Cháu muốn đi định-cư sớm, phải nói thật tất cả . Nếu sau này có ai tìm Cháu thì dễ dàng hơn . Vậy thì Trần thị kim Diệp và Lý Trần A-Diệp , tên nào là tên thật của Cháu ? .

    Em lại sụt-sùi khóc rồi không nói thêm gì nữa .Tôi vẫn kiên-nhẫn đợi chờ .

    Thình lình Bà Mỹ trở lại, hai tay ôm áo quần và ổ bánh mì . Bà nói :

    – May quá , chọn được ba bộ vừa cỡ và ổ bánh mì cho nó ăn đỡ đói .

    Khi Bà bỏ áo quần và bánh mì lên bàn rồi quay gót đi ra,  tôi vội vàng gọi lại :

    – Barbara !( Tên bà Mỹ) – Tôi nghĩ là Bà nên dẫn nó về ăn uống nghỉ ngơi đêm nay, sáng mai tôi sẽ làm hồ-sơ sớm nhất . Bây giờ mệt mỏi, nó chỉ khóc ,không trả lời được gì .

    Bà Mỹ nói OK rồi gom áo quần, lấy bánh mì đưa nó và dắt đi …….

    Em vừa đi vừa cạp bánh mì trông thật đáng thương  …………………………………

     

    Trời chiều trên đảo, không có cây cao, nên bóng tối tràn về rất chậm . Thông thường khoảng hơn chín giờ tối mới nhìn thấy mặt trời đỏ ối chìm dần xuống lòng biển phương Tây .

    Trại tỵ-nạn là nơi tập-hợp hàng ngàn căn lều vải quân-đội màu xanh lá cây, nằm san sát ven biển . Mỗi Lều chứa chừng vài ba chục người, và cai-quản bỡi Quân-đội Mã-lai . Dân tỵ nạn tại đây hầu hết là người thuộc Nam Việt-nam .

    Chỉ có trại tỵ-nạn Hongkong là người miền Bắc Việt-nam chiếm đa số .  Họ sống trong trại chỉ để đợi chờ thủ tục đi định-cư nên không có những sinh- hoạt gì đáng chú-ý ngòai các Cha, các Sư, các Linh mục tập họp những người

    mộ-đạo mỗi buổi tối để rao giảng, thuyết-pháp .

    Như thường lệ, sau khi ăn tối, Tôi đi chân không trên cát ven biển để hít thở không khí trong lành, và đôi bàn chân được ngâm trong nước biển lạnh mát .

    Nhìn lên bờ biển, nơi này vài đám thanh-niên chơi đá banh, nơi kia một đám khác đánh bóng chuyền . Đám trẻ con cũng chia phe đá banh hoặc chơi trò rượt bắt .

    Một hình ảnh vui chơi nhộn nhịp bao quanh bỡi trời nước biển khơi .

    Tôi vừa lội nước dọc theo bờ cát vừa suy nghĩ mông lung, nếu đất nuớc ta thanh-bình thực sự thì làm gì có thảm cảnh vượt biên ? Làm gì có gia-đình ly tán ? Làm gì có hàng chục ngàn người chìm xác dưới lòng biển sâu làm mồi

    cho cá ?……..Và mình cũng không chứng kiến cảnh em bé áo quần tơi tả, da thịt xanh xao, thân xác gầy gò,  mặt mũi còn khiếp sợ hãi-hùng với hai hàng nước mắt chảy dài như em bé chiều nay ?

    Khi lội qua khu lều dành riêng cho thiếu nhi tỵ nạn không Cha mẹ hoặc thân-nhân tháp tùng . Tôi bước chân lên bờ cát, thình lình bắt gặp hình ảnh một em bé ngồi bó gối, bất động, hai tay chống lên cằm, không buồn để ý những gì xung quanh, mặt hướng về biển khơi, trong khi nhiều em khác đang đùa giỡn, chơi rượt bắt hoặc đá banh đàng xa .

    Tôi bước nhanh lên bờ và nhẹ nhàng đi bọc phía sau lưng em . Càng tiến đến gần, càng nhận ra hình dáng quen thuộc của em bé chiều nay, nhất là khi thấy bịch Nylon màu đỏ em ôm trước ngực .

    Đến gần sát bên em nhưng em chẵng buồn quay lại . Tôi để ý thấy đôi vai gầy guộc có lúc rung lên bỡi tiếng khóc nức nở .

    Tôi không muốn khuấy động giây phút riêng-tư, nhớ thương quê nhà và những  nguời thân thuộc của em, bèn đứng im lặng bên cạnh nhìn ra biển khơi và thầm nghĩ, tại sao mới ngần này tuổi mà em quá rạt rào tình cảm . Khác với hầu hết những đứa trẻ kia, bước chân lên đảo là vui chơi, có khi đánh nhau với những đứa khác và quên hết mọi chuyện hãi hùng xãy ra trên đường vượt biên .

    Vài phút sau, tôi nhẹ nhàng ngồi xuống và khẻ gọi :  Diệp……Em ngước mặt quay sang, nhận ra tôi, em khoanh tay cúi đầu chào, trong khi nước mắt vẫn tuôn trào trên đôi gò má xanh xao  .  Tôi quàng tay vuốt nhẹ lưng em vỗ về :

    – Thôi ! … Đừng khóc nửa ……

    Trong khi chờ đợi em bớt khóc, tôi cố moi móc trong đầu những từ-ngữ nào dễ hiểu để khuyên nhủ em hãy chóng quên đi dĩ-vãng hãi hùng và sẵn sàng phấn- đấu hội-nhập vào xã-hội mới cho bước đường tương-lai còn quá dài của em .

    Mặt khác, tôi cũng suy nghĩ làm thế nào để em xem tôi như người thân thuộc hầu vơi đi niềm đau-buồn đã trải qua, và tâm sự hết cuộc đời em cho tôi biết .

    Muốn thế, trước tiên làm sao cho em vui rồi sắp đặt thứ tự những câu hỏi dễ dàng cho em .

    Thấy em hết khóc, tôi hỏi :

    – Chắc là Cháu nhớ Trường học, nhớ Bạn bè, Thầy Cô hả ?

    Em chỉ lắc đầu, và không lên tiếng trả lời . Tôi nói tiếp với lời đùa cợt  :

    –  À ! Chú biết rồi, Cháu nhớ con búp-bê trên giường ngủ và hủ kẹo cuả Cháu  cất giấu trong phòng chứ gì ?

    Lần này em quay sang nhìn tôi và buồn bả nói :

    – Cháu chưa bao giờ có hủ kẹo và búp-bê trên giường ngủ . Cháu không đuợc

    đi học từ lúc bảy tuổi và ở nhà đi vớt lục-bình về xắt nhỏ trộn với cám cho heo ăn.

    Thấy em bắt đầu nói chuyện, tôi suy nghĩ phải nói điều gì cho em cười vui, tôi bịa đặt câu chuyện và nói – Chú nhớ lúc nhỏ, nhà Chú nuôi con heo nái đẻ đuợc năm con rất dễ thương .

    Một hôm trong nhà đi vắng, Chú bắt một con heo-con đẹp nhất đem về phòng chơi với Chú . Heo mẹ mất con nên eng-ẻng kêu suốt ngày , nghe điếc tai .

    Ông Anh bắt buộc Chú trả lại cho mẹ nó . Chú ôm heo-con xuống chuồng, thấy heo mẹ nằm cho con bú trong góc xa, Chú ráng chồm nguời ra xa để bỏ heo-con vào gần heo mẹ, không ngờ heo mẹ vùng dậy hét lên làm Chú giật mình té

    vào chuồng, mình mẩy dính đầy phân heo . Hôi thối quá trời, Chú tắm hai ba lần vẫn không hết hôi ………

     

    Không ngờ , Em ngữa mặt lên trời cười ngặt nghẽo ………… rồi hỏi :

    – Sao chú không tắm bằng xà bông thơm ?

    Tôi không trả lời, làm bộ cười thích thú để hòa cùng tiếng cười với em .

    Thì ra, những buồn khổ đớn đau em đã trải qua, không thể xóa nhòa được bản tính hồn-nhiên của tuổi thơ đang có trong em . Tôi thầm nghĩ, Tôi đã thành công một phần trong việc kết thân để tìm hiểu lý-lịch em . Tôi nói tiếp :

    – Hồi nãy nghe nói Cháu không bao giờ có hủ kẹo, vậy Cháu có thường ăn kẹo   không ?  . Em suy nghĩ một lúc rồi đáp :

    – Mỗi năm có ăn vài lần, con Ông Chảy chạp-phô cho .

    Từ khi làm việc tại trại này, tôi không thấy ai bán kẹo, ngoại trừ có vài gia-đình gửi tiền nhờ lính Mã-lai ra phố mua Đường, Đậu, Nếp…….. nấu xôi chè hoặc làm bánh bán loanh quanh trong trại mà thôi . Tôi nói với em :

    – Chú muốn mua kẹo cho Cháu nhưng ở đây không ai bán kẹo, hay là ta đi ăn   chè, Cháu thích ăn chè không ? . Em gật đầu . Tôi nắm tay em kéo dậy, rồi dắt em đi tìm quán bán chè .

     

    Trời bắt đầu nhá-nhem tối, những cột đen dã-chiến xung quanh trại đã sáng lên.

     Không khí nóng bắt đầu chuyển đổi thành mát lạnh rất dễ chịu .

    Tuy nhiên em vẫn buớc đi co-ro bên tôi, tay bưng ly giấy đựng chè như muốn đổ ra ngoài .

    Tôi giành lấy, bưng cả hai ly chè của em của tôi và đến ngồi duới cột đèn sang nhất . Em ăn trông có vẻ ngon lành như chưa bao giờ được ăn .

    Vừa ăn xong ly chè , em lên tiếng :

    – Cháu không biết tại sao Cháu sống đuợc đến hôm nay ? vì Cháu nghĩ chắc chắn sẽ chết vì kiệt sức hoặc sẽ bị cá mập ăn .

    Tôi sợ em nhớ lại chuyện hãi-hùng trên biển rồi khóc, làm hỏng chủ đích phỏng vấn của tôi tối nay, nên gat ngang nói :

    – Thôi, đừng nghỉ đến chuyện hãi-hùng trên biển nữa, để Chú kể chuyện này cho nghe . Một lần nữa Tôi sáng tác chuyện Phật Bà Quan-Âm cứu nguời trên Biển Đông  .

    Sau khi nghe xong, tự nhiên em nói :

    –  Chắc chắn là Cháu đuợc Phật Bà Quan-Âm cứu rồi . Tôi trả lời :

    –  Ừ , có thể là đúng . Vậy từ nay, khi nằm lên giường ngủ, Cháu hãy nhắm mắt  cầu nguyện : " Lạy Phật Bà Quán-Âm, Con cám ơn Phật Bà đã cứu con và  xin    Phật Bà tiếp tục phò trợ Con những tháng ngày sắp tới . " .

    Tôi bắt em lặp đi lặp lại nhiều lần truớc khi lấy cuốn sổ tay nhỏ và bắt đầu phỏng vấn em .

    Một điều ngạc nhiên là em trả lời rất mạch lạc, như một nguời lớn đang tường thuật về cuộc đời mình . Có lúc cảm động quá, cả em và tôi cùng đưa tay mình lên chùi nước mắt .

    Đã gần mười một giờ đêm, em bắt đầu ngáp vì buồn ngủ và câu chuyện cũng đến hồi kết thúc . Tôi dẫn em về trại, bảo em lên giường nằm, tôi đắp chăn, xoa đầu em từ giả , và không quên bảo em nhắm mắt cầu nguyện trước khi ngủ.

    Trên đường vê, tôi tự nhủ , dù đêm nay có thức đến sáng, tôi cũng phải viết cho xong câu chuyện Ông Lý A-Chảy làm điều nhân-nghĩa ….

     

                                    **         **

                                         **

     

    Mọi người buôn bán trong chợ Cầu-quay hay Chợ mới Long-xuyên, không ai có thể quên đuợc hình dáng ông Chảy chạp-phô .

    Cứ tưởng tượng những chú Chệt ở Chợ Lớn ngày nào, quần xà lỏn áo thun, phơi cái bụng phệ ra trước, cái đầu hói, đứng truớc tiệm tạp-hóa với nụ cuời chào mời khách hàng " Lị mua cái lày, hàng tốt mới dìa " thì ông Chảy chạp-phô cũng thế .

    Tuy nhiên, ông Chảy chạp-phô có thêm những đức tính xuề-xòa, vui cười hiền hậu,và thương yêu giúp đỡ nguời khác, bất kể là Việt hay Tàu .

    Ông có căn lầu ba tầng ở dãy phố cuối Chợ .Bà Vợ cũng mập phì chẵng kém gì ông . Hai đứa con trai, tuổi lên 9 và 11 noi gương Bố Mẹ nên đi không muốn nổi  Đúng là giòng-dỏi Họ-Mập .

    Người ta gọi ông là ông Chảy chạp-phô vì ông tên Lý A-Chảy, buôn sỉ và lẽ hàng tạp-hóa . Hầu hết những nguời buôn bán tạp hóa tại đây đều lấy hàng sỉ của ông . Nếu ai không có tiền trả trước , ông cho thiếu chịu , như trường hợp cô Kim-Hương , thuờng xuyên thiếu chịu nhưng ông vẫn cho lấy hàng . Có thể Kim-Hương là truờng hợp đặc biệt .

    Nhớ lại mấy năm truớc, lần đầu tiên đến mua hàng, Kim-Hương đã nói thật với ông bằng những lời cảm động như van xin  :

    – Cháu không có Cha Mẹ, ở tuốt trong ruộng với Bà Cô độc thân . Bây giờ Bà Cô bị bệnh qua đời nên Cháu ra thành phố lập nghiệp .  Vốn liếng chẵng có là bao nhờ ông giúp giùm cho mua hàng sỉ để bán kiếm lời .

    Ông nhìn K.Hương từ đầu đến chân rồi hỏi :

    – " Lị lược mấy cái tuổi ? " .

    – Dạ , năm nay cháu mười chín .

    Ông suy nghĩ một lúc rồi bảo :

    – " Lược , muống báng cái gì cứ lấy li . Ngộ tính giá sỉ cho ." .

    Những ngày sau đó, ông thường ra chợ, đến chỗ K.Hương bán hàng, chỉ vẻ sắp cái này chỗ này, xếp cái kia vào chỗ nọ theo thứ tự cho dễ bán . Hương răm rắp làm theo nên ông rất hài lòng .

    Có những hôm bán hết hàng, ông sai hai thằng con đem hàng ra cho Hương .

    Với bản tính nhân đức của Ông Chảy, khi đã tin tưởng rồi thì ông đem hết tấm lòng ra giúp mà không bao giờ đắn đo, suy nghĩ thiệt hơn .

    Hơn thế nủa, đã hơn nửa năm giúp Hương buôn bán, bây giờ Hương đã có số vốn khá nhiều nhưng ông vẫn tiếp tục giúp, có lẻ vì Hương đã tuyên bố với mọi người trong chợ, Ông Bà Chảy là Ba Mẹ nuôi và Ông Bà rất vui vẻ nhận lời .

    Một buổi sáng ông ra chợ, thấy Hương đang ngồi nói chuyện thân mật với một thanh niên đứng đối diện, mặc quân phục nhảy dù mang lon Chuẩn-úy . Ông xăm xăm đi tớí đứng truớc gian hàng, nhìn có vẻ dò xét . Hương hiểu ý nên đứng dậy cúi đầu chào rồi giới-thiệu :

    – Thưa Ba nuôi, đây là bạn con, anh Trực ,  mới đi phép về đây .

    Trực quay lại, làm một cử chỉ rất lễ phép, lấy cái mủ đỏ trên đầu xuống, khoanh tay cúi đầu chào :

    – Dạ chào Kây-Pa ( Ba nuôi )

    Ông Chảy chưng-hửng hỏi lại với vẻ ngạc nhiên :

    – " Lị cũng nguời Hoa hay sao mà biếc cách xưng hô ? "

    – Dạ không, con chơi với mấy đứa bạn nguời Hoa nên biết .

    – " Lược dồi – Cứ lói chiệng chơi, ngộ phải dìa báng hàng . " .

    Ông Chảy rất tế nhị, biết chuyện tình Hương và Trực còn nóng bỏng nên không muốn ở lại làm phiền .

    Linh-cảm đuợc sự kết thân với ông bà Chảy là điều tốt lành nên tối hôm đó Trực mời Hương và cả gia-đinh ông Chảy đi ăn cơm tối .Trong bữa cơm, Bà Chảy thường nói bằng tiếng Hoa với Ông, đại khái Bà khen cặp này rất đẹp đôi, nếu nên duyên Chồng Vợ thì quá tốt . Dầu sao, Hương được xem như hoa-hậu trong xóm chợ này, còn Trực thì đẹp trai và trông rất oai hùng với bộ đồ trận rằn-ri có cánh hoa dù . Ông Bà Chảy thấy Hương có nguời yêu xứng đôi vừa lứa nên rất vui vẻ mừng rỡ .

    Sáng hôm sau, khi Hương vừa mở cữa buôn bán, ông Chảy vội đến nói :

    – " Bả bảo Ngọ lói với Lị nên đi coi tuổi để làm lễ cưới càng xớm càng tốt ." .

    Hương buồn bả, cúi gầm mặt xuống và nói :

    – Dạ thưa Ba nuôi con đã coi rồi . Anh Trực tuổi Dần ,con tuổi Tỵ nên ông Thầy         bảo không nên lấy nhau, vì Dần Thân Tỵ Hợi tứ hành xung . Lấy nhau sau này sẽ ly tán hoặc chết chóc .

    Ông Chảy thở dài buồn bả đi trở ra, không nói lời nào, khiến Hương cũng buồn lây và rơm rớm nuớc mắt .

    Buổi chiều khi tan chợ, thấy Bà Chảy xuất hiện, vừa buớc vào quán Bà hỏi :

    – Hôm nay Trực có ra chơi không ?

    – Dạ có, buổi sáng nay .

    – Tối nay hai nguời có gặp nhau không ?

    – Dạ, lát nửa tụi con sẽ đi ăn cơm với nhau .

    – Ừ, tốt – Bảo nó nếu đa thương nhau thì nên tiến tới càng sớm càng tốt . Chuyện coi tuổi chỉ coi cho biết vậy thôi, sau này sống chung thì cùng nhau cầu nguyện, Ơn trên sẽ phò hộ cho . Như truờng hợp ông Chảy và Tôi cũng thế, Ổng tuổi Thân, Tôi tuổi Hợi, sống với nhau mấy chục năm nay có sao đâu ?

    Khi Bà Chảy đi rồi, Hương ngồi thẫn thờ, suy nghĩ vẫn vơ :

    Bây giờ tình yêu đa chín mùi rồi, làm sao thối lui cho đuợc . Làm sao tìm đuợc nguời cùng hòan cảnh với mình như anh Trực .  Điều mà Hương biết rõ nhất là mình không thể thiếu vắng Trực trong cuộc đời .

    Yêu thương mình, hiểu rõ mình, đồng cảnh ngộ với mình thì còn tiêu-chuẩn nào hơn cho nguời con gái, trong việc lựa chọn người chồng tương lai ?

    Anh Trực thuỡ thiếu thời, mồ côi Cha Mẹ, bà Dì nuôi ăn học cho đến khi Dì lâm trọng bịnh qua đời .Anh kẹt tuổi động-viên nên bỏ học vào trường Sỉ-quan Thủ-Đức rồi chọn Binh-chủng Nhảy-dù .

    Lần gặp đầu tiên như có thần-giao-cách-cảm, nhất là khi anh nói :

    – Trong đời này, ngoài nguời Vợ là tình thân ruột thịt, anh chẵng còn ai .

    Cũng như Hương, ngoài người Chồng, chẵng còn ai là nguời thân thuộc .

    Thế nhưng khi nhớ lại lời ông thầy bói ở Chùa Ông, đường Nguyễn Trung-Trực thì Hương có tâm trạng như tiến-thối lưỡng-nan .

    Sau đó, có lần Trực bắt Hương hứa từ nay không đuợc nghĩ quanh-quẫn .

    Trực nói : "  Con đường duy nhất chúng ta phải đi là con đường hạnh-phúc bên nhau ."

    Bây giờ lại thêm Bà Chảy đốc thúc làm Hương yên lòng hơn, không còn suy nghĩ chuyện thối lui nửa .  

    Do đó, lần về phép kế tiếp là tiệc cưới của Trần Xuân-Trực và Nguyễn thị Kim-Hương . Ông Bà Chảy đứng ra lo toan mọi chuyện . Đám cưới đơn sơ, chỉ có vài bàn mời bạn bè quen biết .

    Những năm đầu, ôi ! biết bao hạnh phúc, cứ vài ba tháng Trực về phép một tuần hoặc có lúc Hương nghỉ buôn bán vài ngày lên Sài-gòn thăm chồng .

    Đứa con gái đầu lòng ra đời lấy tên Trần thị Kim-Diệp từ đó .

    Hương một tay vừa buôn bán vừa nuôi con với sự tiếp sức của Ông Bà Chảy.  Mãi tới đầu năm 1974,  Diệp lên bảy tuổi, Hương mới mang thai đứa thứ nhì .

    Sự thực lâu nay Trực không muốn Hương mang thai và sinh đẻ nửa vì Bác-sỉ cho hay Hương bị bịnh yếu tim .

    Năm nay là năm vận hạn xấu nhứt của Hương và Trực, và cũng là năm tồi tệ nhất về tình hình đất nuớc Việt Nam .

    Chiến tranh leo thang, xã-hội rối loạn, kinh tế tuột dốc, vật giá tăng cao và khan hiếm .  Ngoài tiền-tuyến áp-lực địch gia tăng, noi hậu-phương địch quân len lỏi vào mọi tầng lớp quần-chúng cũng như Trường học nên thường xuyên có những cuộc biểu tình, bải trường, bải khóa ……..Dân chúng không bán buôn gì đuợc .

    Cuộc chiến lúc này quá sôi động nên Trực đi hành quân liên miên . Khi thì vùng A-Sao, A-Luới hoặc những vùng biên-giới Việt-Lào , Việt-Miên nên không còn được đi phép như xưa .

    Gần cuối năm 1974, Ông Chảy thấy tình thế quá xáo trộn và bất ổn , hơn nửa, hai thằng con đã đến tuổi quân-dịch,  Ông bèn bỏ ra mười mấy lạng vàng lo giấy tờ du-học và mua vé máy bay cho bà Chảy đem hai con đi Hồng Kông .

    Ông Chảy dự tính ở lại bán xong tài sản rồi tìm cách trốn qua Hồng Kông sau này  .

    Bà Chảy và hai con đi rồi Hương như mất một cánh tay , lúc này bụng mang dạ chửa sắp tới ngày sinh nở, ai là nguời giúp Hương đón đua bé Diệp học hành .

    Anh Trực thì biền biệt mấy tháng nay không nghe tin tức .

    Dân bán buôn trong chợ cứ cách vài hôm là có người đi nhận xác Chồng, xác Cha, xác Anh, xác Em .

    Hương chứng kiến cảnh than khóc mà buồn thúi ruột .

    Những lúc rảnh rỗi bán buôn là Hương ngồi nhắm mắt nguyện cầu  .

    Có lúc quá lo sợ, Hương nhủ thầm, chuyến này Trực về phép, sẽ bảo anh đào ngủ, rồi Vợ Chồng con cái về quê làm ruộng sinh sống sẽ đỡ lo lắng hơn .

    Chứ bây giờ ngày nào cũng lo âu sầu khổ , có ngày bệnh tim tái phát chắc chết mất .

    Nhưng rồi chuyện gì đến cũng phải đến, một buổi sáng thức dậy Hương cảm thấy bồn chồn trong dạ . Hai con mắt cay cay và cứ chớp liên hồi.

    Hương thầm nghĩ có lẻ vì bào thai đã lớn nên hành mẹ . Trong người bần-thần mệt mỏi, không dắt bé Diệp đi học đuợc  . Con bé mới bảy tuổi nhưng rất khôn ngoan, lanh lẹ, thường giúp Hương sắp xếp hàng hóa và bán hàng mỗi khi có khách đông .

    Gần đến xế chiều, Hương nghe phía cuối chợ có tiếng xôn xao hỏi han chỉ vẻ :

    – Đàng kia kìa , đàng kia kìa – Tin lành hay tin dữ hả chú ?  Sao không trả lời ? Hương ngẩng đầu lên nhìn, thấy Bà Sáu, bà Thông và ba bốn bà nửa đi theo anh lính mặc quân phục dù, nón bê-rê đỏ đi về huớng mình . Hương toát mồ hôi lạnh, mặt mày tái xanh, biết là sẽ nghe chuyện chẵng lành . Anh lính đến đứng truớc mặt Hương hỏi :

    – Xin lỗi, có phải Chị Hương ?

    Hương nhẹ gật đầu, cố lấy hết can đảm để lắng nghe và các Bà đi theo, ai cũng im lặng đợi chờ .

    Bất ngờ anh lính oà lên khóc hu hu như đứa trẻ rồi vừa nói vừa nấc lên trong nghẹn ngào :

    – Ông Thầy em… Thầy Trực của em ….bị thương nặng lắm ….đang nằm mê man bất tinh ở Bệnh viện Cọng Hòa Sài gòn ……..hu …hu …hu   .

    Hương chỉ nghe đến đó, rồi bất tĩnh ngả lăn xuống đất . Bà Sáu và Bà Thông la hoảng lên :

    – Tránh ra, tránh ra ….Ai có chai dầu gió xanh, đem lại cho tôi gấp .

    Thế là các Bà kẻ xoa người bóp, nguyên cả Chợ xôn xao và lo lắng .

    Vài phút sau, Bà Thông vùng đứng lên, vừa chạy vừa la :

    – Gọi xích lô giùm – Gọi xích lô – Xích lô – Xích lô ……. Nó đa ngừng thở . Chở đi Bệnh viện gấp – Trời đất oi, xin Trời Phật cứu giúp cho ………….Bà vừa la hét vừa than khóc nghe xót xa, nảo nùng ….

    Bé Diệp với nét mặt sợ hãi, khóc la và chạy về thông báo ông Chảy .. 

     

                              **               **

                                      **

    Ông Trung-tá Bác-sỉ thuộc Quân-y Viện Long xuyên cầm xấp hồ sơ ra hành lang gặp ông Chảy đang ngồi ủ-rủ với bé Diệp, nói lời chia buồn và cho biết :

    – Nếu lúc tim ngưng đập, có nguời nào biết làm hô-hấp nhân tạo thì có thể cứu sống khi đến bệnh-viện . Khổ nổi, các Bà ngoài chợ chỉ biết bôi dầu gió và xoa bóp tay chân .

    Phải biết rằng chỉ có vài phút tim ngừng đập là đứa trẻ trong bụng sẽ chết . Huống gì từ khi cô Hương tắt thở đến khi vào đây đã hơn bốn mươi lăm phút . Do đó, cả Mẹ lẩn Con không thể cứu đuợc . Xin thành thật chia buồn …………

    Ông Chảy đứng nghẹn ngào tức tưởi, ngữa mặt lên trần nhà, giang rộng hai cánh tay với đôi mắt đầm đìa nuớc mắt nói lớn :

    – " Chời lấc ơi ! Sao Chời Phậc không cứu giúp người hiềng lức ?  . Chời ơi là chời  !."……Ông nấc lên nghẹn ngào và lặp đi lặp lại " Chời Phậc ơi ! " ….

    Tiếng ông than khóc vang dội cả hành lang bệnh viện, hầu hết bệnh-nhân và y-tá thò đầu ra khỏi phòng để xem .

    Trong giây lát, ông như sực nhớ điều gì, bèn lấy áo lau nước mắt và nói :

    – Thưa Bác sỉ , đứa con trong bụng đa lớn, nếu khâm liệm như thế thì tội quá . Xin Bác sỉ mỗ đem đứa bé ra để chúng tôi chôn cất riêng rẽ  .

    –  Ông khỏi lo, Tôi đã nghĩ đến điều đó và tối nay cho thi hành . Bây giờ ông cứ về sửa soạn tang lễ, ngày mai đến nhận hai xác đem về .

    Ông Chảy cúi đầu cám on rồi dẫn bé Diệp ra khỏi Bệnh viện ..

     

    Ông Chảy giờ đây như nguời mất hồn, may mà có bé Diệp nghỉ học giúp ông buôn bán .

    Thực sự từ lúc Bà Chảy và hai con ra đi, ông không lên Sài-gòn lấy thêm hàng hoá, cố tình bán hết hàng để lo chuyện sang Hồng Kông sống với Vợ Con .  Nhưng nay lại đeo thêm món nợ Dương-trần quá nặng, dù không muốn cũng phải mang . Đó là bé Diệp và nguời Cha tàn phế .

    Khi chôn cất hai Mẹ Con Hương xong, ông có ý định để lại căn nhà và một ít tiền bạc cho hai cha con bé Diệp truớc khi sang Hông kông  .

    Ông ráng làm tròn bổn phận người Cha nuôi để linh-hồn Hương nơi chín suối không buồn tủi .

    Nhưng kể từ khi đem bé Diệp lên Bệnh viện Sài gòn thăm Trực, ông bắt buộc phải tính toán đường khác, bỡi Bác sỉ cho hay sự hy vọng sống sót của Trực chỉ có chừng 15 đến 20 phần trăm .

    Đã gần hai tháng Trực chưa một lần hồi tĩnh . Nằm bất động và thở bằng máy Oxy, chân Phải cưa lên tới háng, chân Trái cưa đến đầu gối, ngực và bụng thì may không biết bao nhiêu đường, hoàn toàn không ăn uống gì đuợc . Chắc trước sau rồi cũng sẽ chết . Đó là hậu quả Trung -đội của Trực nhảy dù ban đêm trúng ngay bãi mìn .

    Do đó, khi trở về Long xuyên, ông bỏ ra mấy chỉ vàng làm lại khai sinh cho Diệp với tên mới là Lý Trần A-Diệp, để dễ dàng làm giấy tờ ra đi sau này .

    Ông Chảy là dân thương buôn, tính toán rất kỷ , nhưng không hiểu tại sao Trời Đất vẫn chưa giúp ông .

    Khi giấy tờ xuất ngoại đang tiến hành nửa chừng, thì ngày định-mệnh u-tối của đất nước Việt Nam 30 tháng tu 1975 ập đến.

    Một cuộc đổi đời hổn loạn từ thành thị đến thôn quê . Quân đội Việt cọng ào ạt từ Rừng xuống Phố, từ Bắc vào Nam mang theo gia-đình vợ con .

    Thành phố nào cũng đông nghẹt Gia-đình Bộ-đội, xông vào chiếm cứ nhà dân miền Nam để ở, Nhất là những căn nhà lầu  . Căn nhà ông Chảy cũng cùng chung số phận.

    Ba Gia-đinh Bộ-đội,  mỗi Gia-đinh một tầng lầu . Đuổi Ông Chảy và bé Diệp ra sống lang thang  ngoài Chợ .

    Không một nguời dân nào kể cả ông Chảy được quyền kêu la khiếu nại, lý do là Nhà nước đang mở Chiến-dịch " Quét sạch Tư-sản Mại-bản đã dùng xương máu nhân dân xây nhà lầu . Giờ đây, Cán bộ nhân dân có quyền vào ở .  " .

    Ai chống đối sẽ đuợc mang bản án " Chống Chính phủ Cách mạng " ở tù rục xương .

    Quá chán ngán với cuộc sống hiện tại, ông Chảy ngày nào cũng đi thăm dò những bạn bè người Hoa để tìm đường vượt biên .

    Qua kinh nghiệm mấy lần đổi tiền, nên khi đổi xong là ông mua vàng chôn giấu ngoài Chợ, chỉ chừa một ít tiền mặt sống độ nhật .

    Thêm vào đó, để che mắt cán bộ phường khóm, mọi nguời dân phải làm việc để tăng-gia sản-xuất, ông mua hai con heo con, gọi là có nghề nuôi heo sinh sống, thả chạy rong ngoài Chợ, có bé Diệp trông coi và hàng ngày đi vớt lục-bình cho heo ăn  .

     

    Đa mấy tháng nay lo suy tính quá độ nên bây giờ bị bịnh mất ngủ . Trưa nay ông Chảy cột chiếc ghe máy vào cành cây có bóng mát nằm nghỉ lưng .

    Giờ đây tuổi tác đã cao, tóc đã bạc, mắt đã mờ, tai điếc, răng rụng gần hết, trí nhớ kém cỏi . Nhưng Ông nhất định phải vận dụng hết mọi khả năng để làm một chuyến vượt thoát cuối cùng dù có bỏ mạng trên biển cũng đành cam .

    Ông thắc mắc sao mọi chuyện trong cuộc Đổi-đời xảy ra với thờì gian quá ngắn, chỉ có vài ba năm , không tưởng tượng nổi .

    Một khúc film quay ngược về trong trí óc ông .

    Kể từ lúc nhận vợ chồng Trưc-Hương làm con nuôi, ông rất hảnh diện và được mọi người trong nể . Đám du-đảng xưa kia thường đến làm tiền, bây giờ nghe danh ông Chảy có con là Thiếu-úy nhảy-dù nên không dám đến quấy phá.  

    Chẳng đuợc bao lâu thì Sang, anh lính cận vệ của Trực về báo tin buồn Trực bị thương nặng, Hương bị bệnh chấn động tim bộc-phát nên qua đời .

    Nguời lính cận vệ tên Sang, quê ở gò-vấp, gần Quân-Y  viện Cọng-Hòa nên thường ra vào thăm nuôi Trực cho đến ngày mất nuớc .

    Sau khi mất nước, ông Chảy dắt bé Diệp lên Sài gòn thăm để từ giả Trực đi vuợt biên . Đến nhà Sang  dò la tin tức , Sang kể cho hay :

    – " Bác Chảy ơi, thật là một cảnh tượng hãi-hùng, kinh-khiếp mà theo Cháu nghĩ chỉ có trên đất nước Việt nam này thôi . Thật quá tàn ác và vô-nhân-đạo .

    Sáng ngày 01-05-1975, Thương bệnh binh thuộc tất cả Quân-Y-Viện  các Tỉnh miền Nam từ Quảng-trị đến Cà-mâu đều bị đuổi ra khỏi Bệnh viện . Họ không cần biết ai, bệnh nặng nhẹ cỡ nào .

    Buổi sáng hôm sau Cháu đến thăm anh Trực thì chứng kiến cảnh hàng chục người mù đi được, đang cỏng những nguời què sáng mắt, rồi hàng trăm nguời khác, kẻ bò người lết ngổn ngang ra ngoài Cổng bệnh viện, không còn sức lực nên nằm chờ chết bên lề đường .

    Mùi tanh hôi xông lên nồng nặc bỡi có những nguời đa chết sình thối . Các Thương binh nằm liệt giường như Anh Trực thì họ tháo gỡ ống thở, đẩy ra ngoài sân chờ xe đem đi chôn tập thể .

    Cháu phải hối lộ Anh Bộ-đội hai cây thuốc lá, mới đuợc mang hai lít xăng và bó nhang vào phía sau Bệnh-viện làm lễ Hỏa-táng anh Trực …

    Kể đến đó, Sang nấc lên khóc trong nghẹn ngào . Ông Chảy và bé Diệp cũng oà lên khóc theo  "….

     

    Hơn một năm sau, ông Chảy tìm được đường dây vượt biên nhưng xui xẻo thay, gần ba giờ sáng xuống ghe nhỏ ở xả Long-phú gần Cữa Định-An để ra Ghe lớn đi Mả-lai thì tàu Công-an chận bắt một giờ sau đó .

    Kết quả, Ông Chảy mất mười lăm cây vàng và ngồi tù sáu tháng . Bé Diệp trở lại sống lang thang ở Chợ Long-xuyên trong thời gian ông ở tù .

    Khi ra tù, Ông Chảy gom góp số vàng còn lại, lần này ông tính toán thật kỷ . Ông trả hai cây vàng lo Hộ-khẩu sống trên chiếc ghe máy để làm nghề đánh cá, hoặc đôi lúc chuyên chở hàng hoá Long-xuyên Cần-Thơ .

    Ban đầu Cán-bộ không tin, sợ ông dùng ghe vượt biên . Ông cố gắng đút lót thêm ít tiền nên mọi chuyện mới êm xuôi .

    Nhưng rồi cung mất gần hai năm sau, Cán-bộ thuộc các trạm canh gác dọc bờ sông  mới quen mặt và tin tưởng đuợc ông .

    Ông tính toán từ Long-xuyên đến Cữa Định-An có tất cả sáu trạm kiểm soát bờ sông . Nếu cho mỗi trạm hai ký thịt heo và năm lít rượu đế thì chỉ mất chừng một cây vàng . Thông thường các trạm kiểm soát bờ sông về đem thường ăn nhậu hơn là canh gác . Biết đuợc nhược điểm này nên chiều hôm trước ông đem rượu thịt đến biếu và khởi hành khoảng mười hai giờ đêm .

    Mọi chuyện êm xuôi như đã định .  Chiếc ghe một block máy tăng tốc độ tối đa khi ra khỏi cuã Định-An . Đến lúc mặt trời vừa ló dạng phía Đông trước mặt thì nhìn lại đằng sau không thấy đất liền , ông yên chí bảo Diệp pha bình trà và làm tô mì gói .

    Biển hôm nay sao thật êm, thật đẹp, ghe chạy trên biển mà giống như trong sông .

    Truớc khi đi Ông đã lén lút học kinh-nghiệm đi biển từ Ông bạn thân . Ông bạn khuyên không nên đi biển tháng mười hai là tháng biển động . Nhưng ông Chảy thì nghĩ rằng vì gần ngày Tết, Bộ-đội và Dân chúng đều bận rộn sắm Tết, không ai để ý chuyện vượt biên nên ông nhứt quyết ra đi .

    Ông bạn còn dạy cho cách xác-định phương-hướng, phải học thuộc lòng :

    " Phải Đông, Trái Tây, Nam sau,Bắc truớc " , nghĩa là buổi sáng để vai Phải về phía mặt trời, tức vai Trái là hướng Tây . Buổi chiều thì để vai Trái về phía mặt trời, tức vai Phải là hướng Đông . Còn Nam sau, Bắc truớc thì không thay đổi .

    Ngoài ra, khi biển động, tuyệt đối không được lái ghe đi sóng ngang, sẽ dễ dàng bị lật, mà phải đi theo chiều của đợt sóng .

    Vốn liếng đi biển của ông Chảy chỉ có vậy và mua đuợc hai chiếc phao tròn nhỏ, bé Diệp có thể tròng lọt vào cổ rất an toàn nhưng ông Chảy vì thân hình quá lớn nên chỉ ôm vào ngực mà thôi .

    Ông bạn còn khuyên không nên đi Hồng Kông, vì phải đi hướng Đông-Bắc, ngược sóng mùa này và đường dài hơn hai lần đi Mã-lai .

    Tuân theo sự chỉ dẫn của ông bạn, bây giờ ông quẹo Phải chín mươi độ quay mũi ghe về hướng Nam đi Mã-lai . Dự trù khoảng chừng ba ngày ba đêm là tới .

    Ông Chảy là người nổi tiếng cẩn thận, mặc dù biển êm gió lặng nhưng ông bắt buộc Diệp phải cột phao vào người thường xuyên và máng cái túi Nylon màu đỏ vào cổ . Túi này ông Chảy cẩn thận bọc chặt hai ba lớp, không cho nuớc thấm vào vì bên trong có tấm hình Ba Mẹ Diệp .

    Sau khi đi đuợc ba ngày hai đêm, đêm thứ ba thì biển động mạnh . Mưa bảo ùn ùn kéo tới . Những đợt sóng lớn làm ghe bị bắn tung lên cao rồi như rơi xuống vực thẵm . Trong cơn mưa bảo tầm tả, ông vẫn ghì chặt tay lái, miệng kêu lớn :  –  Diệp phải ôm ghì chặt vào mạn ghe, coi chừng bị hất tung ra biển .

    Khi trời còn sáng, ông còn thấy đường giữ tay lái để ghe đi theo đợt sóng . Nhưng khi trời bắt đầu tối đen như mực, ông chẵng thấy được gì nên có lúc ghe nằm ngang trên đầu sóng như muốn lật nghiêng .

    Cứ tiếp tục hết cơn mưa bảo này ập tới rồi cơn mưa bảo khác . Ông cầm cự cho tới gần nữa đêm thì sức cùng lực kiệt, nước mưa nước biển làm ngập máy nên tắt luôn . Tay lái xem như bất khiển dụng . Hai Ông Cháu phó thác cho Trời Đất chỉ được vài giây đồng hồ, tiếp theo là cơn bảo lớn thổi lật úp chiếc ghe và hất tung hai ông cháu văng ra biển . Trong đêm vắng, Diệp chỉ nghe tiếng ông kêu thất thanh : D… i… ệ …. p……………

    Thân xác ông Chảy to lớn, lại không biết bơi và cũng không chụp đuợc phao nên đã chìm sâu vào lòng biển ..

    Còn Diệp nhờ chiếc phao cột sẵn vào nguời, biết bơi chút đỉnh nên cầm cự tới sáng hôm sau và được tàu đánh cá Mã-lai vớt ..

                                                                      

     Những ngày tháng bận rộn công việc, khiến đầu óc quay cuồng, nhất là chuyện bé Diệp nên thời gian trôi đi quá nhanh . Thấm thoắt Tôi làm  việc tại đây đã gần một năm .

    Bé Diệp đáng lẻ có người bảo-trợ sớm nhưng Tôi chần chờ để cố gắng tìm Cha Mẹ nuôi thật tốt hơn, mặt khác, đang liên lạc Hồng Kông tìm bà Chảy .

    Tuần rồi nhận thư thằng bạn kèm với những thư offer Job của các Hãng lớn .

    Nghĩ rằng đây là cơ-hội tốt nên bắt buộc Tôi phải về Mỹ để chọn lựa công việc .

    Chiều hôm qua khi tan sở, Tôi rủ Barbara cùng với bé Diệp ra bãi cát ngồi hóng gió biển, với chủ đích Tôi muốn gửi bé lại cho Bà ta lo lắng . Nhưng khi nghe Tôi kể xong câu chuyện thương tâm, Barbara với hai hàng nước mắt đầm đia, kéo bé Diệp ôm sát vào lòng và nói với tôi :

    –  Tôi sẽ là người bảo-trợ bé . Chính Tôi sẽ là Mẹ nuôi của Diệp .

    Nhìn hình ảnh Barbara ôm bé Diệp, Tôi không cầm đuợc nuớc mắt, có lẻ vì vui sướng hơn là cảm động .

    Bà Barbara đề nghị Tôi phải sửa lại Hồ-sơ bé Diệp để khỏi tìm kiếm bà Tăng Kim Huệ, vợ ông Chảy và hai con ở Hồng-Kông . Bỡi vì chưa chắc bà Huệ muốn bảo trợ bé, hơn nửa, bé Diệp qua Mỹ sẽ có nhiều cơ-hội tiến thân hơn .

    Kể từ hôm đó, Bà Barbara chăm sóc và dạy Anh văn cho bé Diệp hàng ngày .

     

    Đã gần ba mươi năm qua, kể từ lúc ông Chảy giả-từ Muà Xuân Trần-thế trên biển Đông . Bây giờ muà Xuân về trên đất Mỹ, nhìn hàng Anh Đào nở đầy hoa , trong Tôi vẫn chưa vơi niềm uẩn-khúc, nhất là khi nhớ lại lời ông Chảy than trách : " Sao Trời Phật không cứu giúp người hiền đức  ? " .

    Điều này nếu để tâm tìm hiểu thêm kinh sách của Chúa, của Phật , ta sẽ thấy :

    Những con Chiên của Chúa hay người theo Chúa khi chết thì xem như : " Đuợc Chúa gọi về " . Chắc chắn sống bên cạnh Chúa , trong " Nước Chúa " , sẽ đời đời sung sướng hạnh phúc . Đó là Thiên-Đàng hay Cõi Vinh-Hằng .

    Những ai theo Phật khi chết được gọi là : " Đi đầu thai kiếp khác " . Sướng khổ tùy theo Nhân-quả Luân-Hồi . Có thể là " Niết-bàn , Miền Cực-Lạc  " hay " Địa-ngục " . Có nghiã là khi con người không còn vương vấn bụi-trần thì đuợc Chúa gọi đi hay chấm dứt cuộc đời Dương-thế để về miền Miên-Viễn .

    Xem như ông Chảy đã dứt sạch Nợ-Trần, dù ông theo đạo nào chăng nửa, Tôi vẫn thắp Nén-Hương-Lòng nguyện cầu cho linh-hồn ông được sớm về miền Cực-Lạc .

     

     

                                                       Tâm Phương

     

  • Văn

    LM Nguyễn Trung Tây : dark valley , Thung Lũng Tối

    Nguyễn Trung Tây, SVD
    meditation picture

    dark valley

    Though I walk to the dark valley,
    I fear no evil,
    For you’re walking besides me.
    (Psalm 23)
       




    http://www.nguyentrungtay.com/darkvalley.html


    Because of her own charming characters and special location in Central Australia, Alice Springs has become an idea spot for many young people in the world to go on backpack. Some of them, especially guys from the Far East countries, don’t speak English. Noticing that some Asian Catholic who attend Sunday mass are limited with English, the owner comes up with a church project, called English As Second Language, for those would like to learn and improve their speaking skills. The class meets every Saturday between 2 until 3pm in the Presbytery, and is free of charge. Normally there are six or seven students from Korea, Hong Kong, Malaysia, East Timor, India, the Philippines and Viet Nam attend the ESL class.

    In August 2010 the class welcomed a Korean student, a Catholic young man in his early twenties. In English the owner calls the new student Coby. Coby later calls the owner Bố Quang (Daddy Quang). When he first came to Alice Springs, Coby worked in Desert Palms Resort during the day and attended the afternoon mass at 5:30pm. On occasion Bố Quang rode Coby to the Indigenous Chapel to attend the Sunday mass at 11am, or took him out for Aussie meals in local restaurants or a glass of Guinness, a thick and flavorful Irish beer, in the pub nearby the Presbytery. Some times on Saturday, the owner invited his friends to the Presbytery for dinner. After finishing cooking meal, Bố Quang texted his son, “R u free for 2nite dinner?” If not committed with overtime schedules, Coby quickly rode his bike to the front door of the Presbytery, calling from his mobile phone, “Bố Quang, here is Coby. Please open the door.” Twice, one time on late Saturday night, another in the late Sunday afternoon, while Coby was with Bố Quang, Alice Springs Hospital sent “distress signals” to the owner, asking for the sacrament of healing for patients in critical conditions. The owner brought Coby along, so Coby could experience life from different aspects, in particular life in hospital.

    After the ESL class or the mass, when the situation allowed, Coby stayed behind, having chats with Bố Quang. Coby normally shared with Bố Quang his concerns about life, particularly the new life he now faced in Alice Springs. Bố Quang advised Coby to join the Youth Group that meets every Friday at 6pm in the Presbytery so Coby would make new friends and at the same time to improve his English conversations.

    And, out of a sudden, Bố Quang did not see Coby anymore. Just as water evaporating from the scorching heat, Coby disappeared from church activities as if he had never been in Alice Springs.

    Christmas’ Eve 2010 came. The OLSH Church again held the Midnight Mass. Nevertheless, being scheduled to celebrate Christmas Mass at 7:30am, the owner excused himself not to concelebrate midnight mass, but retreated to his room about 10pm, locked the door, and spent the rest of the night on bed, ready for having a pleasant dream. Right at the moment the owner began hearing his own snoring sound, he heard another sound as if someone were knocking on his door. The owner almost wanted to ignore the unexpected sound, but he eventually gave up. Opening the door, the owner saw his SVD neighbor who informed him, “Your Korean friend wants to see you.” “Korean friend?”, the owner repeated. “Who’s it?”, he asked himself while carefully stepping down from the staircase to the Presbytery.

    And to his surprise there was his son, Coby, who was waiting to deliver the Christmas card to his daddy. Having seen Bố Quang, Coby greeted jubilantly, “Merry Christmas, Bố Quang.” His son scratched his hair, saying recently he worked for three jobs. So busy!!!… Well, well, well! Dad and son exchanged conversations for a while. But, celebrating the Christmas mass tomorrow at 7:30am was still a reality that Bố Quang couldn’t ignore. After promising to contact Coby after Christmas, Bố Quang excused himself and returned to his room to catch up the dream interrupted by his son’s unannounced visit. However, out of curiosity, while lying in bed, he opened Coby’s Christmas card to read the Christmas greetings. Believe it or not, Coby composed to Bố Quang one of the most beautiful Christmas greetings that he had never received in life. Bố Quang’s eyes almost began filling with tears while reading, “Dear Bố Quang, you are the most precious person to me in Alice Springs. Through you I can feel the love of Jesus Christ and my parents. Even after I return to Korea, I will never forget you. Merry Christmas and Happy New Year. Coby”

    Three days later, 27 December, as promised, Bố Quang and Coby went out for Christmas and New Year dinner. Before meal, daddy and son rode to Simpsons Gap to enjoy the sunset scenery. The sunlight on that late afternoon seemed to be brighter when discovering Bố Quang and Coby on Darken Drive to the famous gap of Northern Territory. Because the gap was located to the west of Alice Springs, the sun by the late afternoon in the clear blue sky reddened the right hill but darkened the left one of the gap, while transforming the bright green of the grass by the sides of the road to faded yellow; a perfect shot of Simpsons Gap. About five more kilometers from the gap, Bố Quang pulled the car over. Coby asked, “Bố Quang, what happened?”. Bố Quang asked, “Are you ready to be a movie star?”. Bố Quang directed Coby to stand in the middle of the road, to rise up his hands and to smile for a best shot.


    Coby Bae, Photographed by NTT

    After Coby’s, the owner captured another view of Simpsons Gap.

    And the meditation picture of Dark Valley is born to Bố Quang and now displayed in the spiritual pub in town.

     

    Thung Lũng Tối

    Dù bước đi tới,
    nơi thung lũng tối,
    Con không lo lạc lối,
    Vì có Chúa sánh bước với con.
    (Thánh Vịnh 23

    Tháng Mười Hai năm 2009, chủ quán nước đầu làng rời bỏ Melbourne cho công tác mục vụ truyền giáo mới tai Alice Springs.

    Alice Springs, thị trấn nhỏ nằm giữa Úc Châu, có mật độ dân số khoảng hai mươi tám ngàn người. Thị trấn sa mạc nổi tiếng thị trấn du lịch. Du khách tới Central Australia để thăm viếng sa thạch Uluru hoặc phong cảnh nổi tiếng của Red Centre thông thường bay tới Alice Springs nghỉ ngơi một vài ngày trước khi khởi hành tới Uluru chiêm ngắm kỳ quan thiên nhiên của thổ dân ngời sáng màu đỏ vào lúc hoàng hôn và bình minh. Trong thời gian tạm trú tại thị trấn, du khách cũng có thể thả bộ trên con lộ chính Todd Mall lựa chọn cho mình một vài tranh sơn dầu của người thổ dân, hoặc lái xe tới Alice Springs Old Telegraph tìm hiểu hồi mới tới người Úc liên lạc với nhau và thế giới như thế nào. Du khách cũng có thể giảm bớt độ nóng hừng hực mùa hè bằng cách dìm chân xuống dòng nước lạnh của con lạch Trephina Gorge trên hương lộ Ross, hoặc chuẩn bị tinh thần cho màn trình diễn tuyệt vời của hòn đá Uluru bằng cách chiêm ngắm cảnh chiều hoàng hôn của Simpsons Gap, một trong những núi chẻ tuyệt đẹp đứng đầu của rặng núi phía Đông MacDonnell, được tạo ra bởi trận địa chấn và khí hậu thay đổi của triệu triệu năm về trước…

    Bởi nét duyên dáng và vị thế đặc biệt của thị trấn sa mạc, Alice Springs trở thành địa điểm lý tưởng du lịch cho nhiều người trẻ. Một vài người, nhất là thanh niên từ miền Viễn Đông, không nói tiếng Anh. Nhận ra rất nhiều tín đồ Công Giáo Á Châu tham dự thánh lễ Chúa Nhật với tiếng Anh còn giới hạn, chủ quán đề nghị nhà thờ tổ chức một lớp tiếng Anh, dành cho những người muốn trau giồi khả năng đàm thoại. Lớp học ngày thứ Bẩy từ 2 cho tới 3 giờ chiều tại nhà xứ, và hoàn toàn miễn phí. Thông thường lớp có từ sáu tới bẩy học sinh từ Đại Hàn, Hồng Kông, Mã Lai, Đông Timor, Ấn Độ, Phi Luật Tân và Việt Nam tham dự.

    Tháng Tám năm 2010 lớp chào đón một học sinh Đại Hàn, người Công Giáo ở tuổi hai mươi. Trong tiếng Anh, chủ quán gọi học sinh mới với tên Coby. Coby về sau gọi chủ quán là Bố Quang. Hồi mới tới Alice Springs, Coby đi làm ban ngày tại Desert Palm Resort, sau đó tham dự thánh lễ chiều cử hành lúc 5:30. Đôi khi Bố Quang mang Coby tới nguyện đường Thổ Dân tham dự thánh lễ Chúa Nhật lúc 11 giờ sáng, hoặc ra những quán ăn địa phương nếm thức ăn nấu kiểu Úc Thòi Lòi, hoặc ra quán bia gần nhà xứ uống một ly bia Guiness đặc như sữa của người Ái Nhĩ Lan. Có những buổi chiều thứ Bẩy, chủ quán mời bạn tới nhà xứ ăn tối. Sau khi nấu nướng xong xuôi, Bố Quang gọi Coby bằng “máy nhắn” di động, “Tối nay có rảnh hay không, tới ăn tối”? Nếu không bận làm thêm vào ngày cuối tuần, Coby nhanh nhẹn lái xe đạp tới trước cửa nhà xứ, gọi điện thoại di động, “Bố Quang ơi, Coby đây. Làm ơn mở cửa”. Đã hai lần, một lần vào buổi tối thứ Bẩy, lần kia vào buổi chiều Chúa Nhật, trong khi Coby đang có mặt tại nhà xứ, bệnh viện Alice Springs gọi chủ quán qua tần số khẩn cấp, xức dầu cho bệnh nhân đang trong tình trạng nguy cập. Chủ quán mang Coby đi theo để Coby học thêm những kinh nghiệm khác về đời sống, đặc biệt đời sống trong bệnh viện.

    Sau giờ học ESL hay sau thánh lễ, khi điều kiện thuận tiện, Coby hay ở lại nói chuyện với Bố Quang. Coby chia sẻ với Bố Quang về những băn khuăn trong đời sống, đặc biệt về đời sống mới tại Alice Springs. Bố Quang cũng khuyên Coby nên tham gia nhóm Thanh Niên của giáo xứ để có thêm bạn và đồng thời trau dồi thêm tiếng Anh.

    Và thật là bất ngờ, Bố Quang không thấy Coby đâu nữa. Như nước bốc hơi bởi gió nóng sa mạc, Coby biến mất như chưa bao giờ có mặt tại phố Alice Springs.

    Chiều Giáng Sinh 2010 đã tới. Nhà thờ OLSH một lần nữa lại tổ chức thánh lễ nửa đêm. Nhưng bởi phải cử hành thánh lễ Giáng Sinh vào sáng ngày hôm sau lúc 7:30, chủ quán kiếu không đồng tế thánh lễ nửa đêm, nhưng khoảng 10 giờ tối rút lui vào phòng, khóa cửa lại, leo lên giường chuẩn bị cho một giấc ngủ say. Sau khi chủ quán nghe được tiếng ngáy của chính mình trong vòng một vài phút, tự nhiên chủ quán nghe có tiếng động giống như có người đang gõ cánh cửa phòng mình. Chủ quán đã muốn làm lơ, nhưng cuối cùng đầu hàng. Mở cửa, chủ quán nhận ra người anh em hàng xóm Ngôi Lời, Sư Huynh nói, “Có người bạn Đại Hàn đang kiếm cha.” “Bạn Đại Hàn”, chủ quán lập lại. “Ai vậy cà?”, chủ quán tự hỏi trong khi bước những bước chân cẩn thận xuống cầu thang dẫn tới nhà xứ. Thật là ngạc nhiên, đó là ông con Coby, đang đợi tặng Bố tấm thiệp Noel. Thấy Bố Quang, Coby reo to, “Merry Christmas, Bố Quang”. Ông con trai của chủ quán gãi gãi tai nói gần đây con phải đi cày ba “job”. Bận ơi là bận!!! Well, well, well!

    Bố con nói chuyện một hồi. Nhưng thánh lễ ngày mai lúc 7:30 sáng vẫn là một thực tế Bố Quang không thể làm ngơ. Bố đành hẹn với ông con sẽ gặp lại sau ngày Giáng Sinh, rồi bỏ về phòng đi ngủ. Nhưng, thật sự là bởi tò mò, vừa nằm trên giường chủ quán lôi tấm thiệp ra đọc. Không thể ngờ, Coby viết những hàng chữ chúc mừng Noel tuyệt vời chưa bao giờ Bố Quang nhận được trong đời. Thế là Bố Quang long lanh nước mắt trong khi đọc những hàng chữ, “Bố Quang mến, ở Alice Springs, Bố là người con quý nhất. Bởi Bố, con cảm nhận được tình thương của Chúa Giêsu và Bố Mẹ. Con sẽ không bao giờ quên Bố, ngay cả sau khi đã quay về Đại Hàn. Chúc mừng Giáng Sinh. Coby”.

    Ba ngày sau, 27 tháng 12, như lời đã hứa, Bố Quang và Coby ăn Giáng Sinh và Năm Mới. Trước khi ăn, bố và con lái xe tới Simpsons Gap ngắm cảnh hoàng hôn. Những chùm tia sáng mặt trời hoàng hôn ngày hôm đó dường như sáng rực rỡ hơn khi nhìn thấy Bố Quang và Coby trên đường Darken dẫn tới Gap. Bởi địa thế nằm về hướng đông của Alice Springs, từ trên bầu trời xanh mặt trời buổi chiều hôm đó chiếu đỏ rặng núi bên tay phải nhưng bôi tối rặng núi tay trái, trong khi tô vàng những bụi cỏ màu xanh nằm dọc theo hai bên đường; một bức tranh tuyệt vời của Simpson Gap. Khi còn cách rặng núi khoảng năm cây số, Bố Quang bẻ tay lái tắp vào lề đường. Coby thắc mắc, “Bố Quang, sao vậy”? Bố Quang nói, “Đã sẵn sàng làm tài tử màn bạc hay chưa”? Bố Quang đạo diễn Coby đứng giữa đường, hai tay giơ cao, miệng cười tươi cho một tấm hình tuyệt vời.

    Sau Coby, chủ quán chụp thêm một tấm nữa, cùng một góc độ. Và hình Chiêm Niệm Thung Lũng Tối ra đời, giờ này được treo trong quán nước đầu làng.

    Nguyễn Trung Tây, SVD

    Alice Springs, a small town in Central Australia, is populated by approximately twenty eight thousand inhabitants. The desert town has her frame as a tourist town. Tourists who travel to Central Australia to visit the sandstone Uluru and famous sceneries of Red Centre usually fly to Alice Springs and stay here for a few days before departing to Uluru to see the iconic natural wonder of the Indigenous glowing red by sunset and sunrise. While being in town, tourists can walk on Todd Mall to collect for themselves some Indigenous canvases drawn by Aboriginal artists; or ride to Alice Springs Telegraph Station to see how the early Caucasian Australians communicated with the rest of Australia and the world. Tourists can also cool themselves off from the intense heat during summer by dipping their feet into the cold water of Trephina Gorge via Ross Highway, or preparing themselves for the spectacular sunset show of Uluru by contemplating the sunset view of Simpsons Gap, one of the most gorgeous and prominent gaps of the West MacDonnell Ranges, caused by a massive erosion and climate changes over million years ago…

  • Văn

    Cắm hoa em tạ ơn đời.

    Cắm hoa em tạ ơn đời.

    Làm thơ em tạ ơn người yêu thơ
     


    Cảm ơn một buổi thu sang
    Cho bè bạn được rộn ràng vui chơi
    Cảm ơn bằng cả muôn lời
    Chắp đôi tay tạ ơn đời thiết tha.

    Cảm ơn tình rất bao la
    Bên nhau trong ánh chiều tà mênh mang
    Cảm ơn những tấm lòng vàng
    Đã từng xoa dịu lỡ làng thương đau

    Cảm ơn một thoáng mưa mau
    Bạc làn tóc trắng , thắm màu tóc xanh
    Cảm ơn tia nắng vàng hanh
    Gợi niềm nhung nhớ quê mình mến yêu

    Cảm ơn cả những buổi chiều
    Gửi trong thơ cả những điều ước mơ
    Cảm ơn ngày tháng xa mờ
    Đưa ta vượt thoát bến bờ chông gai

    Cảm ơn những giấc mơ dài
    Chắt chiu kỷ niệm khung trời yêu thương
    Cảm ơn , lời rất bình thường
    Gửi từ những đóa tâm hương chan hòa.
    Ngọc Bích

  • Văn

    Nguyễn Quốc Chánh : Quê Hương và Chủ Nghĩa

    Quê Hương và Chủ Nghĩa    

    Tác Giả : Nguyễn Quốc Chánh, Saigon   
     
    Thứ Năm, 22 Tháng 4 Năm 2010 12:04

    Một bài thơ viết từ SAIGON rất hay…giới trẻ cần quan tâm.










    Chủ nghiã dạy em, thù hận hờn căm
    Chủ nghiã dạy em, độc ác bất nhân
    Chủ nghiã dạy em, lọc lừa xảo trá
    Chủ nghiã dạy em, dối gian trăm ngả
    Chủ nghiã dạy em, bội phản vong ân
    Chủ nghiã dạy em, giết chết lương tâm
    Chủ nghiã dạy em, vô thần đấu tố



    Chủ nghiã mù, rước voi dày mả Tổ
    Chủ nghiã ngu, thờ đồ tể ngoại bang
    Chủ nghiã bưng bô, xây dựng thiên đàng
    Chủ nghiã lừa em, những con bò sữa
    Chủ nghiã bất lương, ma cô nhà chứa
    Chủ nghiã tú bà, dụ dỗ thơ ngây
    Chủ nghiã cò mồi, vơ vét luôn tay



    Chủ nghiã cai thầu, bán buôn Tổ-Quốc
    Chủ nghiã lưỡi câu, móc mồi dân tộc

    Chủ nghiã bịp lừa, bánh vẽ tự do
    Chủ nghiã cá ươn, tư tưởng vong nô
    Chủ nghiã chết đi, Quê Hương vẫn sống

    Ai nhân danh hạnh phúc
    Thứ hạnh phúc ngục tù



    Ai nhân danh dân chủ
    Thứ dân chủ si ngu

    Ai nhân danh chân lý
    Thứ chân lý đui mù



    Bao nhiêu năm, ai nhân danh chủ nghiã,
    Tự-Do xích xiềng, Dân-Chủ dối gian
    Mác-Lênin, đâu phải người Việt Nam!
    Sự thật đó có làm em đau nhói ?


    Vẫn chập chờn lượn bay bầy quạ đói
    Chồn cáo kia có rình rập trước sau

    Ngẩng mặt cao và đừng sợ đớn đau
    Đứng lên em bằng tâm hồn biển động.

    Em đứng lên như đại dương dậy sóng
    Tiếng sét thần tuổi trẻ nổ ầm vang

    Những tượng hình, chủ nghiã, phải tiêu tan
    Cây Dân-Chủ bừng lên ngàn sức sống,

    Em bây giờ khôn lớn
    Mắt rực lửa yêu thương,
    Biết đâu là sự thật
    Em tìm thấy con đường.
    Tự-Do sẽ nở hoa
    Trên quê hương khốn khó



    Anh như con ngựa già
    Vẫn cúi đầu kiên nhẫn
    Đốt những đám cỏ khô
    Dọn đường cho em đi làm lịch sử

    Nhà thơ Nguyễn Quốc Chánh sinh năm 1958 ở Bạc Liêu, hiện sống tại Sài Gòn. Tác giả của nhiều tập thơ như Ðêm mặt trời mọc, Khí hậu đồ vật và Của căn cước ẩn dụ, và Ê, tao đây. Thơ của ông đã được nhiều tác giả dịch ra tiếng Anh. Trong bài phỏng vấn dành cho nhà văn Vi Ký, nhà thơ Nguyễn Quốc Chánh nhận xét về đảng Cộng Sản:


    “Ðảng Cộng sản thắng Tây và Mỹ bằng máu của dân tộc, bằng vũ khí của Nga và Tàu, rồi nộp “độc lập dân tộc” cho cộng sản Tàu và Nga. Ai chỉ ra tình trạng thế chấp và bán đứng đó đều bị cho là phản động. Kẻ phản động có thể gây tai họa cho Ðảng nhưng lại là phúc của dân.
    Những ai vì Ðảng sẽ kết án kẻ phản động, còn những ai vì con người thì sẽ hoan hô kẻ phản động. Hãy nhớ câu nói lịch sử của ông Nguyễn Văn Thiệu:
    “Ðừng tin những gì cộng sản nói, mà hãy nhìn những gì cộng sản làm”.


    (Gửi tuổi trẻ Việt Nam)


    Em hãy ngồi xuống đây
    Anh kể câu chuyện này
    Trên cánh đồng cỏ cháy
    Ngậm ngùi như khói bay



    Con ngựa già một đời
    Chưa thấy được ngày vui
    Mắt mỏi mòn trông đợi
    Những mầm cỏ xanh tươi.

    Đã bao nhiêu năm rồi
    Hướng nhìn về xa xôi
    Tâm tư đau nhức nhối
    Cuộc đời vẫn nổi trôi



    Em nhìn về tương lai
    Cố dấu tiếng thở dài
    Mắt dường như ngấn lệ
    Có phải vì khói cay?

    Em thấy đó, trên đường đi không đến,
    Quê hương đau, chồn cáo vẫn nghêng ngang
    Những con thú người nhảy múa kiêu căng
    Ngửa mặt hú một bài ca chủ nghiã.
    Ngôn ngữ văn nô, đỉnh cao trí tuệ,

     



  • Văn

    Ngô Võ : Thử

    Thử 

     

    Nối tay đêm đèn ngày nơi phố chợ

    Ta đi tìm những cái có & không

    Cái có kia đang nằm nơi góc chợ

    Cái không nầy chìm nổi giữa hư không .

     

    Bao năm qua đất người ta : sau trước 

    Nẻo đường dài nhật nguyệt chẳng riêng soi

    Để chân đơn nặng bước dưới dòng đời

    Ta là khúc nhạc buồn nơi phố rỗng .

     

    Thử trói yêu môi mềm chưa men đắng

    Thấy cuộc đời nặng trĩu mắt ưu tư

    Thử trói tình trong những đêm sâu lắng

    Nghe đêm lồng gió lộng giữa đêm dư .

     

    Thử trói thương bên trời xa miên viễn

    Xót dây đời ràng buộc ở quanh thân

    Thử trói ơn cao sâu như trời biển

    Để đèn ngày vừa lụn giữa ban mai .

     

    5/19/2010

     

    VN

     

  • Văn

    Trần Đình Ngọc : NỮ TU QUẾ HƯƠNG

                            

                            NỮ TU QUẾ HƯƠNG

    Tôi với nàng học chung
    Cả  hai cùng một trường
    Nàng thua tôi hai lớp
    Mỹ  danh là Quế Hương 
     
    Năm tôi vừa mười sáu
    Nàng cũng tuổi mười ba
    Nàng xinh như  hoa hậu
    Tôi yêu nàng thiết tha! 
     
    Năm  đó lễ Giáng Sinh
    Tôi rủ  cô bé xinh
    Cùng tôi  đi dự lễ
    Về  ăn tiệc linh đình 
     
    Mẹ định sẵn khi nào
    Tôi vừa  đủ hăm ba
    Thì  xin làm đám hỏi
    Rồi ngày cưới không xa 
     
    Đột nhiên nàng đi tu
    Vào dòng Mến Thánh Giá
    Vắng nàng tôi ngẩn ngơ
    Tim tôi như  hóa đá! 
     
    Nhớ Quế Hương khôn xiết
    Bởi tôi yêu  tha thiết
    Tìm  đến cửa nhà Dòng
    Xin được nàng tiếp kiến! 
     
    Tôi sẽ nói với nàng
    Để Hương khỏi ngỡ ngàng
    Hương về làm đám cưới
    Khỏi phí uổng ngày vàng! 
     
    Chúng ta sẽ có con
    Những đứa con thật xinh
    Tình yêu mãi sắt son
    Tôi, chồng, cha hi sinh! 
     
    Tôi  đợi ngoài phòng khách
    Càng đợi càng bồi hồi
    Mãi sau Mẹ  Bề trên
    Ra nói tôi vài lời 
     
    Mẹ  nói con về đi!
    Con đừng mong mỏi chi
    Têrêsa vĩnh khấn
    Chẳng tơ  tưởng sự gì! 
     
    Tôi rời khỏi nhà Dòng
    Chân thất thểu, ngỡ ngàng
    Biệt ly là vĩnh viễn
    Mũi tên xuyên qua lòng! 
     
    Rồi ngày khấn cũng đến
    Vẫn yêu nàng, quyến luyến
    Tôi xin đến nhà Dòng
    Dự  lễ trong xao xuyến! 
     
    Kìa Quế Hương của tôi!
    Cùng ba chị  đọc lời
    Thề  hứa và tuyên khấn
    Theo Giêsu trọn  đời! 
     
    Mỗi mùa Giáng Sinh về
    Kỷ niệm buồn lê thê
    Chúa  ơi! Con vẫn nhớ
    Nhớ thương Hương tràn trề! 


    Ngày xưa con gái 13 tuổi nhiều
    người đã đi lấy chồng hoặc ăn hỏi, sẽ cưới sau.
    Những bài thơ mới sáng tác sẽ có trong “ Sau Giờ Kinh Chiều 2”.
    Sau Giờ Kinh Chiều 1 đã phân phối gần 4,000 tập khắp Hoa Kỳ sang cả Âu Châu, sẽ về VN. Xin
    quý vi đã nhận sách vui lòng đọc trang 3 và yểm trợ (ít nhiều tùy tâm) để chúng tôi in thêm gửi đến
    Những người chưa có. 

    Tác giả: Trần Đình Ngọc

  • Văn

    Túy Hà :CHỖ CUỐI CÙNG

    CHỖ CUỐI CÙNG

     

    Vẫn la hạt  bụi bơ vơ,

    vẫn vần thơ cũ vẫn mơ

    dại khờ

    Thương em đã cách đôi bờ,

    nhớ em

    đành phải ôm hờ

    gối chăn.

    Qua cơn mộng mị trở trăn

    giật mình mới biết ăn nằm

    liêu trai

    Tìm đâu ra liễu chương đài

    trong câu thơ cổ trải dài

    trăm năm.

    Cũng là chiếu cũng là chăn

    chỉ còn thiếu ánh trăng cài

    song thưa

    Làm sao mơ chuyện mây mưa

    làm sao níu lại ngày xưa

    cận kề.

     

    Có phải em quên lối về

    hay là

    anh lạc vào mê sảng đời

    Cho anh hạt bụi tả tơi

    trăm thương ngàn nhớ là lời

    trối trăn.

    Vẫn biết em như trăng rằm

    cuốn theo mây gió chiếu chăn

    quen rồi.

     

    Thì thôi còn lại chỗ ngồi

    Đành gom hương nhạt ướp đời

    bụi trôi.

     

    Túy hà

     

    THÁNG TƯ CHUYỆN CŨ HAY LÀ

     

    Tôi quá ghét tôi là người lính cũ, bỏ súng bên trời

    ứa máu bầm gan. Giận quá đi thôi, đạn dư cấp số

    chưa đánh đã thua trước lệnh quy hàng.

    Tôi muốn treo tôi trên thành giữa chợ, cho người với người

    nguyền rủa tôi thêm.

    Tôi thật là tôi tức mình chi lạ, đâu phải tại là đổ lỗi nọ kia.

    Ừ thì cứ xem như thằng chết nhát, kẽm gai bao cát

    lại chui đầu vào. Mười ngày đáo hạn, mười năm chưa về,

    thân như cỏ rác, mọi người khinh chê.

            Tin ngoài nhắn vô: Nhà tan cửa nát, vợ theo cán bộ con đi ăn mày.

    Ngoài đời giả vờ vui cùng chế độ, dĩ nhiên có thưởng khỏi làm, mại dô

            Trong tù có chó nhận làm ăng ten.Vệ sinh phòng ốc được phần khoai thêm.

    Anh nào không phục lao dộng vinh quang, kể như chết bỏ. đời như trâu bò

    Cứ thế ngày qua, hè thu chết dỡ.Đông lạnh xuân tàn,coi bộ đứt hơi.

    May mắn làm sao,lệnh tha ra trại,Với điệu kiện nhỏ: Hiến nhà cho quan.

    Ừ hiến thì hiến. Nhà chúng cướp rồi, làm sao lấy lại. Chết thằng tây thôi.

    Mất nhà được lời ba năm quản chế, ở kinh tế mới nếm khổ với đời.

            Chuyện kể khóc cười, hết con đường sống, đành bước theo người

    vượt biển bão giông.

            Giờ nói ai nghe, giữa trời nước bạn đồng minh một thời.Nhắc lại ứa gan.

    Đã quên súng đạn từ lúc tan hàng, nhưng sao cứ cảm thấy lòng nát tan.

     

    Túy hà

     

    NGẬM NGÙI LỤC BÁT SÁU CÂU

     

     

    Trăng ngà cỏ biếc tương tư

    Nỗi buồn sương phụ ngàn thu không lời.

    Ở đâu có sao đổi ngôi

    Là luôn có những mộng đời dể thương.

     

    Chùm hoa khế rụng bên đường

    Cũng đau lòng khách viễn phương không nhà.

    Câu thơ như những hồn ma

    Tứ than vần oán theo ta không rời.

     

    Câu thơ vô ý lỡ lời

    Làm đau lòng mực ru hời trăm năm.

    Trăng suông rụng xuống chỗ nằm

    Cành hoa nương tử trở trăn chiếu giường.

     

    Cỏ thèm hoa nắng tơ vương

    Ta thèm tiếng thở miên trường xót xa.

    Trăng thèm trải lụa sông ngà

    Ta thèm nghe tiếng em và môi thơm.

     

    Cũng là nhành lúa hạt cơm

    Như hương thiếu nữ trổ hoa đòng đòng

    Cũng là cành mới đơm bông

    Cớ chi chậm nở trải lòng lửa rơm.

     

    Hoa chanh hoa bưởi còn thơm

    Níu tay kết lại vẫn đơm mâm đầy.

    Vẫn là sông nước miền tây

    Đò qua bến bắc miệt này buồn tênh.

     

    Chim Quyên mê ngủ trên cành

    Làm sao đánh thức khói xanh hương nồng.

    Đò chiều đưa khách sang sông

    Lòng cô lái có chờ trông khách về.

     

    Thôi đừng một rủ hai rê

    Sáu câu vọng cổ xuống xề gọn bâng.

    Tần hoài dạ cổ phân vân

    Nửa đêm buông tiếng mấy phần nhớ nhau.

     

    Trăng ngà cỏ biếc ngàn sau

    Nhớ gần nhau nhé kẻo đau lòng người.

    Riêng ta chỉ xin nụ cười

    Cho hành trang nhẹ gánh đời ngược xuôi.

     

    Túy Hà

     

    QUA SÔNG VẪN NHỚ CON ĐÒ

     

    Mười năm lính

    mười năm tù

    mười năm chân đất sức kiệt tàn.

    Ba mươi năm ấy còn cân thiếu

    gánh nợ quê hương

    chút nợ người.

    Lý tưởng mười năm đời binh lửa

    ngậm đắng mười năm giữa đọa đày.

    Muối mặn chát môi, mồ hôi đổ lửa

    cho mười năm sống kiếp ngựa người.

    Tính nhân bản trong Phong kiều dạ bạc*

    đang hỏi hồn Trương Kế về đâu.

    Ta như gã hát rong tắt tiếng,

    ta như người khất thực mòn chân.

    Dẫu vẫn biết từ trong gỗ mục

    vẫn còn nguyên cốt lõi trầm hương.

    Dẫu vẫn biết đêm trường cô lẻ

    vẫn có vầng trăng lạnh soi nghiêng.

    Nhưng sao lạ,

    giữa trời đất lạ.

    Ai thân quen để chia nửa nụ cười

    ai thân quen để cùng trao ánh mắt

    chắt chiu chia sớt chút tình người.

    Hỡi bạn lưu vong

    phong trần đất lạ.

    Có còn không dấu ấn từ tâm

    có còn không nghĩa tình huynh đệ

    Của một thời chia lửa gian nan.

    Kiếm dựng trường sơn

    Đạn ngăn sóng đỏ

    Chinh nhân hồ dễ đã ai quên.

    Ta tự hỏi ta

    Như người mất trí

    Ngẫn ngơ giữa phố thị buồn.

    Ta tự hỏi ta

    Đã quên

    Hay vẫn nhớ

    Nước mắt mẹ già trước giờ ra trận

    Và chiếc khăn tay

    Thêu tặng chữ trinh nguyên.

    Nước mắt mẹ là mưa rừng nhiệt đới

    Chiếc khăn tay là chiếc khăn tang.

    Ngày mất nước là mất luôn cả mẹ

    Và em tôi tan tác một đời hoa.

    Ta tự hỏi ta

    lính chưa giải ngũ

    Sao lại là thành cựu quân nhân.

    Và ta hỏi em

    khăn tang chưa chít

    sao gọi là cô phụ giữa phù vân.

     

    Ta lại hỏi

    ngược xuôi tên tuổi

    có phải là ngược cả đời nhau.

    Câu trả lời là lặng yên như cổ mộ

    Lạnh sống lưng người, máu lính còn nguyên.

     

    Bạn hữu ta ơi

    đổi đời xin nhớ

    Ván cờ thế sự chưa xong

    Trận đánh cuối vẫn chưa phân thắng bại

    Ngày tan hàng-vết chém chẳng liền da.

    Và hòn than dưới tro tàn vẫn đỏ.

    Tự hỏi mình có được giấc ngủ yên.

    Lữ khách sang sông

    Làm sao quên được

    Bến xưa và những đời thuyền.

     

    Túy hà

     

    *cổ thi-trương kế

     

  • Văn

    Nguyễn Huy Hùng : CÁCH MẠNG MÙA THU !!!



    Cách mạng Mùa Thu
    Thơ Nguyễn Huy Hùng
       
     
      Từ Thành thị đến Thôn quê,
    Cửa quyền, hà hiếp, đủ nghề gian manh.
    Trung
    Ương Cán Bộ đàn anh,
    Cũng toàn m
    ột bọn Ma Ranh hại đời.

    CÁCH MẠNG MÙA THU !!!

    Từ ngày 19 tháng 8 năm 1945,

    Giặc Hồ tàn phá quê hương,
    Nào ai trông th
    ấy chẳng thương Đồng Bào.
    Đêm ngày vất vả lao đao,
    L
    ầm than đói khổ biết bao cực hình.
    Công an rình r
    ập quanh mình,
    C
    ấm ăn, cấm nói, cấm tin Phật Trời.

     Từ ngày 19 tháng 8 năm 1945,
    Giang sơn chung của Giống Nòi,
    C
    ủa đâu riêng bọn đười ươi nạ dòng.
    Tam vô đ
    ấu tố Cha Ông,
    Th
    ờ Lê, thờ Mác, Tổ Tông chẳng thờ.
    Máu Dân nhu
    ộm đỏ Cơ đồ,
    X
    ương Dân chất đống cho Hồ nổi danh.

     Từ ngày 19 tháng 8 năm 1945,
    Nổi danh lừa bịp Dân lành,
    Noi g
    ương Cộng đảng đàn anh Nga Tầu.
    Công nông vô s
    ản dẫn đầu,
    San b
    ằng giai cấp, diệt giầu, diệt sang.
    Cha, Con, Ông, Cháu, ng
    ỡ ngàng,
    M
    ột tuồng đồng chí, đồng xàng với nhau.

     
     
     

     

     
    Từ ngày 19 tháng 8 năm 1945,
    Thành công Cán bộ sang giầu,
    Nhân Dân ti
    ếp tục làm trâu kéo cầy.
    Oan khiên ng
    ậm đắng nuốt cay,
    Thi
    ếu ăn, thiếu mặc, đêm ngày lầm than.
    Tr
    ẻ Già cùng cực cơ hàn,
    Ch
    ỉ riêng Cách Mạng hân hoan béo phì.

     

    Từ ngày 19 tháng 8 năm 1945,
    Vô Thần đảo lộn tôn ty,
    Luân th
    ường Đạo lý suy vi não nề.

     

     


    T
    ừ ngày 19 tháng 8 năm 1945,
    Bất công, tội ác tầy Trời,
    Ti
    ếng Dân rên siết hụt hơi mặc tình.
    Bọn người Cách Mạng hiển vinh,

    Sống trên xương máu sinh linh Đồng Bào.
    Trăm ngàn th
    ứ Thuế tăng cao.
    Đ
    ộc tài, Tham nhũng kể sao cho cùng.

     Từ ngày 19 tháng 8 năm 1945,

    Huênh hoang Cộng đảng anh hùng,
    Đ
    ất đai, Hải phận cắt dâng Thầy Tầu.
    Mong Th
    ầy giúp Đảng bền lâu,
    Chuyên quy
    ền toàn trị cưỡi đầu nhân dân.
    Chia nhau h
    ưởng lạc phù vân,
    Bán buôn lao đ
    ộng, gái tân, kiếm tiền.
    Th
    ẳng tay khủng bố người hiền,
    Dám vì l
    ợi nước van khuyên Bạo quyền.
    Bu
    ộc dân Sắc Tộc Cao nguyên,
    S
    ống vô tín ngưỡng sống quên gốc nguồn.

     Từ ngày 19 tháng 8 năm 1945,

    Cuộc đời Đại Chúng cực hơn,
    Vì b
    ầy Quỷ Đỏ bất nhân bạo tàn.
    Nôi Liên Xô đã r
    ữa tan,
    Chúng còn mê mu
    ội lang thang lối cùng.
    L
    ỗi thời tất phải cáo chung,
    Dân vùng lên di
    ệt gian hùng lưu manh.
    Kh
    ắp nơi rực LỬA ĐẤU TRANH,
    Quy
    ết thiêu Cộng Đảng tan tành ra tro.
    Chung xây n
    ếp sống TỰ DO,
    Cùng nhau d
    ựng lại cơ đồ VIỆT NAM.

     

    Quận Orange, Nam California.
    Little Saigon, Tháng 8 năm 2006.
    Khiết Châu Nguyễn Huy Hùng

    ***
              

    Việt Nam vùng trời đau thương và uất hận
    Hương Saigon

    Video VC thảm sát đồng bào vô tội trong Tết Mậu Thân-1968

    http://www.youtube.com/watch?v=-FCsJ7lhidE

  • Giao Chỉ,  Văn

    Giao Chỉ : Nhà thơ không có tác phẩm


    Ghi Chú của VTLV

    Vào khoảng năm 1982 một số tù cải tạo từ trại Thanh Chương Nghệ Tĩnh được chuyển về Nam. Đêm hôm đó, tháng giêng, trời rất rét, đám tù chuyển trại ngủ tập trung ngoài trời ngay bãi cỏ bên hông đền thờ Vua An Dương Vương và Mỵ Châu. Nơi này gần ga Vinh và đèo Mộ Dạ, khi xưa vua và công chúa bị quân Triệu Đà, Trọng Thủy đuổi, chạy tới đây vua phát hiện công chúa rắc lông ngỗng chỉ đường cho Trọng Thủy tìm mình nên chém đầu . Ai ngờ lọt vào quỷ kế của giặc. Giống như đám tù nhân lọt vào bẩy của Cộng Sản.

    Trời trong, sương lạnh, tù nhân cứ hai người còng lại với nhau. Hà Thượng Nhân và Đông Anh bị còng chung. Nhìn sao trời nói chuyện thơ văn trong đêm tối dưới họng súng AK. Nghĩ thương cho thân phận mình và thương cho vua An Dương Vương tin người mà lầm vào quỷ kế. Thương cho công chúa Mỵ Châu đặt hết tình yêu vào kẻ manh tâm lừa phản đến nỗi bị mất đầu.

    Nay nghe Văn Thơ Lạc Việt tổ chức họp mặt tân niên, thi sĩ Hà Thượng Nhân viết bài thơ để nhớ lại chuyện xưa với ngày đi tù tại Thanh Chương để tặng cho quý vị quan khách trong ngày họp mặt tân niên hoa nở.

     

    Nhân Đêm Rã Ngũ và Thành Lập Hội Thơ Lạc Việt.

    Hà Thượng Nhân  viết cho ngày Văn Thơ Lạc Việt họp Xuân 2010

     

    Lạc Việt dựng lên từ dạo ấy

    Lạc Việt khi không lại góp lời

    Bình thường họa lại văn thơ cũ

    Thỉnh thoảng quay sang chuyện khóc cười

    Câu chuyện có nhau thêm sắc cạnh

    Mỗi phương thi hữu góp thêm lời

    Ngày xưa Lạc Việt ai đem nhắc

    Câu chuyện ngày xưa cũ lắm rồi

    Ta mang hâm lại văn chương cũ

    Câu chuyện ngày xưa lại sáng ngời

    Đền cổ An Dương, đêm rã ngũ

    Ngày sau lưu lại mấy cơn cười

    Câu chuyện nỏ thần không có nữa

    Thành ra ân oán lại đôi nơi

    Nước non để lại năm cùng tháng

    Năm tháng tàn theo chuyện khóc cười

    Mối tình thuở  ấy tuy còn trẻ

    Thành Cổ Loa kia sống với đời

    Lông ngỗng rắc cho chàng nhớ thiếp

    Trăm năm ân ái chuyện con người

    Ái ân vả lại chàng bên thiếp

    Hai chữ oan gia giữa cuộc đời

    Câu chuyện tình yêu đêm gió lạnh

    Đông Anh cảm hứng chép thành lời

    Đến nay đã mấy mùa thương nhớ

    Kỷ niệm xưa nay thấy ngậm ngùi

    Đoàn quân bại trận nghe tình sử

    Chẳng hiểu làm sao ngất ngưởng cười

    Mới biết ngàn năm còn chữ nghĩa

    Ngàn năm còn chuyện nỏ thần ơi

    Đêm nay gió lạnh về qua đó

    Ai có ngờ đâu chuyện vẫn dài

    Một chuyện ái tình gây thắc mắc

    Nỏ thần ai vẫn tiếc cho ai

    Văn nghệ khởi duyên từ nghiệp đó

    Muôn lòng thắc mắc những hôm mai

    Nghĩ xót thương cho chàng Trọng Thủy

    Mà thương cô gái Việt Nam ơi

    Mỵ Châu, em chỉ vì chung thủy

    Nước giếng thần kia chẳng đủ vơi

    Ta lại có thêm câu chuyện lạ

    Tình nào cho khác được tình ai

    Tình kia thật quả thua quyền lợi

    Gương sáng ngàn năm sống với đời

    Gương ấy muôn sau đem xét lại

    Người chê, kẻ hận rối tung hoài

    Bạn ta phản bội quên tình bạn

    Câu chuyện đồng minh: một cuộc đời

    Oan nghiệt thương cho chàng Trọng Thủy

    Lại thương số mệnh của con người

    Nỏ thần bị mất vì tình nghĩa

    Hai chữ oan gia luống ngậm ngùi

    Chuyện ấy chúng ta ngồi nghĩ lại

    Ghét yêu thôi cũng chuyện con người

    Con người bởi lẽ không chung thủy

    Lưu lại ngàn sau một tiếng cười

    Ta muốn nói nhiều nhưng chẳng nói

    Khi ông đại tướng bắt binh lui

    Khi ông đại tướng còn ra lệnh

    Bỏ thành, giữ lấy nước non thôi

    Ta chịu thua vì không tiếp vận

    Ta thua vì đã quá tin người

    Lòng vẫn đêm ngày cùng nhớ rõ

    Chuyện tình thuở  trước mịt mờ soi

    Xưa nay có mấy người thua trận

    Gom góp nhau về kể chuyện chơi

    Thắng bại phải chăng là nỗi nhục?

    Ta còn nhau đó cũng là vui

     

    Hà Thượng Nhân

    Nhà thơ không có tác phẩm

    GIAO CHỈ – SAN JOSE

     

    Có một chàng Thi sĩ miền quê … ( Phạm Duy)

    Những mái đầu cất cao, không một lời than thở. (HTN)

     

    Quả thực bác này đúng là chàng thi sĩ miền quê. Nếu hơn 15 năm trước, khi bác mới được HO qua Mỹ, làng văn thơ hải ngoại mời bác làm chủ tịch Văn bút Việt Nam Tự do thì chắc hẳn ai cũng cho là rất xứng đáng. Ấy vậy mà, bác lại không đủ điều kiện để nộp đơn xin vào làm hội viên bình thường của văn bút Việt Nam hải ngoại. Bởi vì dù là tác giả của hàng ngàn bài thơ nhưng chưa bao giờ ông có được một tác phẩm thi ca.

    Chàng thi sĩ ở San Jose của chúng tôi là người Thanh Hóa, quê làng Hà Thượng, sinh năm 1919. Khi đệ nhị thế chiến chấm dứt (39- 45) ông bắt đầu làm báo và theo kháng chiến suốt 7 năm. Ðó là thời kỳ bài ca Tuổi Vàng của Phạm Duy gọi lên hồn nước làm rung động toàn thể thanh thiếu niên Việt Nam.

    “Một mùa thu năm qua, cách mạng tiến ra ……..

    Thời kỳ đó có lần làng Bình Hải, huyện Yên Mô tổ chức đón các đại biểu liên khu về hội họp. Những cậu bé trong đoàn thiếu niên Kim Ðồng của Hà Nam Ninh chúng tôi hết lòng sùng kính các anh từ liên khu Thanh Nghệ Tĩnh về nói chuyện. Gia đình tôi từ Nam Ðịnh tản cư về Yên Mô, Ninh Bình. Từ miền Hoa Lư, đường vào xứ Nghệ phải qua Thanh Hóa với cây cầu Hàm Rồng đầy huyền thoại.

    Các anh từ khu Tư nổi tiếng về nói chuyện tại đình làng Bình Hải. Năm đó, tuổi 15 tôi đứng dựa cột đình. Dường như chàng thi sĩ làng Hà Thượng cũng có mặt trong vai trò cán bộ văn hóa quan trọng của kháng chiến. Phần văn nghệ có cả cô bé Thái Thanh tham dự hát bài chữ I chữ Tờ.

    Hơn 60 năm sau, bây giờ 2010, tại San Jose tôi xin gửi đến các bạn bài viết về Trung Tá Phạm Xuân Ninh, tức là nhà thơ Hà Thượng Nhân, người Thanh Hóa.

     

                Một đời văn nghệ.

     

    Có thể nói suốt đời bác Ninh là một đời văn nghệ. Ði lính từ đại úy đến Trung Tá nhưng ông không hề liên quan gì đến quân trường và súng đạn. Làm chủ nhiệm báo Tiền Tuyến nhưng chàng luôn luôn ở hậu phương. Cuộc đời của ông tất cả là bằng hữu và thơ phú. Năm 1935, cậu Ninh 16 tuổi đã có dịp dự cuộc thi thơ với các bậc tiền bối và đoạt giải với bài Trăng Thu.

    “Sương mỏng manh, canh vắng lặng tờ

    Buồn xưa náo động mấy vần thơ…….

    Quả thực bài thơ trúng giải của cậu thư sinh đã làm náo động cả hội thơ Vỹ Dạ thủa xưa. Trải qua 7 năm theo kháng chiến, năm 1952 ông về thành và 1954 ông di cư vào Nam.

    Do nhu cầu của Tâm lý chiến miền Nam và do thân hữu đề cử, thủ tướng Ngô Ðình Diệm ký lệnh cho me xừ Phạm Xuân Ninh đặc cách mang cấp đại úy trừ bị. Ðây là cấp bậc theo quy chế đồng hóa thuộc bộ quốc phòng. Sau đó ông được đề nghị thăng cấp thiếu tá và trung tá. Suốt 21 năm ông làm việc tại tổng cục chiến tranh chính trị. Sau 75 ông đi tù tập trung cải tạo từ Nam ra Bắc và từ Bắc vào Nam. Sau cùng HO qua định cư tại San Jose.

    Anh em văn nghệ cao niên chúng tôi tại San Jose thường ghi nhận rằng cuộc đời từ hoa niên, binh nghiệp, tù đầy, tỵ nạn và định cư trải qua các giai đoạn chính như sau. Lẽ dĩ nhiên cũng có người đi theo thứ tự, có người đặc cách khác anh em. Sau đây là các dấu mốc

    1) Sinh quán, sinh nhật 2) Trường học và quân trường 3) Trại binh, trại gia binh, trại tù, trại tỵ nạn 4) Nhà tạm trú, nhà housing, nhà trả góp, nhà mobil, và nhà dưỡng lão.

    Anh bạn cùng khóa Cương quyết II Thủ Ðức của tôi là trung tá lực lượng đặc biệt Ðỗ Hữu Nhơn đã có lần còn nhắc đến chuyện nhà quàn từ Down Hill cho đến Oak Hill. Riêng phần các bác, xin cứ ghi nhận và xem lại để thấy rằng mình đang ở giai đoạn nào và đã đặc cách vượt cấp ra sao.

    Sau đây là bài thơ cuộc đời bằng Anh Ngữ.

    DOP, POB / School, Military School / Military Camp, Concentrate Camp, Refugee Camp / Half way House, Housing, Single House, Mobil Home, Nursing Home.

    Và cuộc đời bác Ninh của chúng tôi hiện ở giai đoạn hết sức hoàng hôn. Ông đang được điều trị tại khu dưỡng lão Wilow Glen, San Jose. Chàng vốn không có tên trong các hội ái hữu quân trường dù là Ðồng Ðế, Thủ Ðức hay Ðà Lạt. Cũng chẳng phải là thành viên của các quân binh chủng bay bướm oai hùng. Ở đây hội ái hữu đồng hương chẳng thiếu địa danh nào nhưng lại chẳng hề có hội đồng hương Thanh Hóa. Nhưng bằng hữu thơ văn thì ai mà chẳng biết Hà Thượng Nhân. Ðặc biệt ông bạn tù là nhà thơ Nguyễn Ðình Tạo, quê làng Ðông Anh sớm tối vào thăm bác Ninh. Bác Ðông Anh hiện nay là người điều hợp thi đàn Lạc Việt, có bạn Chinh Nguyên làm tổng thư ký. Hội ta vẫn thường trực chuyên chở bác hội viên cố vấn Hà Thượng Nhân. Vì vậy chàng thi sĩ của chúng ta đã từng viết câu thơ mãi mãi tràn đầy tình nghĩa… “Ta từ có bạn đến giờ, lời thơ lại bỗng bất ngờ thành vui…..”

     

    Những bài thơ…

     

    Nếu đem in những bài thơ của thi sĩ người làng Hà Thượng thì xoàng ra cũng có được năm bẩy tác phẩm. Thực ra với nhiều bút hiệu khác nhau, bác Phạm Xuân Ninh đã từng soạn nhiều tài liệu nghiên cứu do Nha chiến tranh Tâm lý xuất bản.

    Tuy nhiên, đây chỉ là sáng tác thuộc về lãnh vực nghiên cứu của một công chức quốc gia. Còn những vần thơ gan ruột của thi nhân, những bài thơ về tình yêu của nhà thơ thì chưa bao giờ in thành sách.

    Ông đã từng viết !

    “Ta có một tình yêu, bao la như trời đất.

                            Ta viết vào trang Thơ, Tình yêu ta không mất.”

    Và mục đích của cuộc đời được ghi lại.

                            “Sống chỉ lấy cái tâm làm trọng.

                            Gửi ngàn sau mấy giọng tiêu giao.”

    Trong số hàng ngàn bài thơ của thi nhân tôi thích nhất những bài thơ ông làm trong thời gian ở tù. Trong hằng trăm bài thơ tù, tôi ghi nhận có 3 bài hết sức rung động. Xin giới thiệu bài Thắp sáng. Xin các bác lưu ý. Mỗi câu thơ đều là một lời kinh đấu tranh. Mỗi câu thơ đều có thể đặt tựa cho cả bài thơ. Bài thơ ngũ ngôn, một sở trường của tác giả như sau :

     

    “ Thắp sáng muôn vì sao”

    Nếu như không đau khổ. Làm sao biết căm hờn. Càng muôn trùng sóng gió. Tay chèo càng vững hơn. Chúng ta cùng có nhau. Nhìn nhau vui hớn hở. Trên luống cày khổ đau. Hoa Tự do vẫn nở Những mái đầu cất cao. Không một lời than thở

    Tác giả chỉ giải thích lòng căm hờn bắt nguồn từ thân tù đầy oan trái, tuy nhiên, như lời thơ đã viết, tác giả không nuôi dưỡng căm hờn. Chỉ là :

    “ Những mái đầu cất cao, không một lời than thở.

                Nhưng có 2 bài thơ trong tù tràn ngập yêu thương xin gửi đến các bác đọc lại thật rõ từng lời để cùng rung động với tác giả.

    Năm 1975 mới vào tù, ông làm bài Mưa buồn trong trại Long Giao trong lòng đất quê hương miền Nam. Năm 1978 sau khi bị đưa ra đất Bắc ông làm bài Cỏ biếc, vào lúc tác giả chuyển trại từ Thác Bà, Yên Bái về Thanh Chương, Nghệ Tĩnh. Ðây là lời thơ của bài Mưa Buồn Long Giao. Xin hãy nhớ cho, tác giả làm bài thơ này vào thời gian sau tháng 4-75. Người tù già ngồi nghe mưa miền Nam tại Long Giao.

    Ở ngũ ngôn tứ tuyệt đoạn cuối, tác giả dùng chữ nẻo cụt chỉ bước đường cùng, tưởng là giấc mơ, tưởng chỉ là cơn ác mộng, hút điếu thuốc lào, hỏi lòng mình đã say chưa.

    MƯA BUỒN LONG GIAO,

    Trời có điều chi buồn ? Mà trời mưa mãi thế !

    Cây cỏ có chi buồn ? Mà cỏ cây ứa lệ !

    Anh nhớ em từng phút, Anh thương con từng giây.

     Chim nào không có cánh, Cánh nào không thèm bay.

                            Người nào không có lòng, Lòng nào không ngất ngây.

    Gửi làm sao nỗi nhớ, Trao làm sao niềm thương.

    Nhớ thương như trời đất, Trời đất vốn vô thường.

    Ngày xưa chim Hồng hộc, Vượt chín tầng mây cao,

    Ngày xưa khắp năm Châu, Bước chân coi nhỏ hẹp,

    Bây giờ giữa Long Giao, Ngồi nghe mưa sùi sụt,

    Cuộc đời như chiêm bao. Có hay không nẻo cụt,

    Anh châm điếu thuốc lào, Mình say, mình say sao !!

    Trại tù cải tạo Long giao 1975 HTN

    Và sau cùng là bài Cỏ Biếc làm trong trại tù nơi quê hương của tác giả, miền khu 4 , Thanh Nghệ Tĩnh ngày xưa:

     

    XIN LÀM CỎ BIẾC

     

    Anh cầm tay em, Bàn tay khô héo. Anh nhìn mắt em, Gió lùa lạnh lẽo. Anh nhìn lòng mình, Mùa Đông mông mênh. Cỏ non mùa Xuân, Còn vương dấu chân. Trăng non mùa Hạ, Ướt đôi vai trần. Có xa không nhỉ? Ngày xưa thật gần. Thời gian ! Thời gian! Em vẫn là em…Nụ cười rạng rỡ, Ngày nào vừa quen, Mai đưa em về, Xin làm cỏ biếc, Vương chân em đi. Xin làm giọt mưa, Mưa giầm rưng rức. Trên vai người yêu, Sàigòn! Sài Gòn! Không là quê hương,  

    Mà sao mình nhớ,  Mà sao mình thương…

    Ngày từ trại Thác Bà, Yên Bái về trại 6 Thanh ChươngNGHỆ TĨNH 1978

     

    Ngày nay, tại hải ngoại có biết bao nhiêu Little Saigon. Có bao nhiêu người đã tranh đấu cho tên gọi thành phố Saigon. Nhưng có ai yêu Saigon hơn được người thi sĩ Thanh Hóa.

    Saigon Saigon, không là quê hương.

    Mà sao mình nhớ, mà sao mình thương.

     

                Gửi ông bạn già.

    Bác Hà Thượng Nhân, tôi chưa biết ông 60 năm về trước. Hồi 70 Saigon tôi cũng không quen bác. Bác HO về San Jose, mới biết bác qua bạn Ðông Anh. Năm xưa, chúng tôi mời bác lên sân khấu nhận giải sự nghiệp một đời của tiểu bang California. Bác chiều lòng anh em mà lên nhận bảng tuyên dương, tôi biết bác đâu có quan tâm gì những vinh quang phù phiếm đó. Tấm lòng bác đôn hậu, tinh thần bác an nhiên.

    “ Chẳng cầu cạnh, chẳng ưu phiền,

                            Miễn sao lòng cứ an nhiên là mừng.”

    Năm nay bác đã ngoài 90. Tuy không còn hút thuốc lào nhưng đang trải qua giai đoạn khi tỉnh khi mê. Lúc quên lúc nhớ. Khi tỉnh bác làm thơ hay. Khi say thơ vẫn còn hồn. Lúc trẻ lời thơ đã uyên bác. Khi về già thơ vẫn còn tình tứ.

    Bác phê bình Giao Chỉ viết văn như bổ củi. Hết bó này đến bó khác. Mỗi ngày, mỗi tuần, mỗi tháng, mỗi năm.

    Hôm nay gặp bó củi cao niên, tôi xin tiếp tục làm công tác bổ củi. Chẻ thật nhỏ ra làm đóm để bác châm lửa hút lại điếu thuốc lào.

    Tôi có lần hỏi tuổi bác, bác trả lời 9 chục. Rồi nói tiếp : “Mình cũng không biết tại sao lại sống lâu như vậy”. Tôi nói rằng : “Tại bác sống đời thi sĩ. Sống bên cạnh cuộc đời. Tại bác không sống tỉnh. Bác sống say say.

    Bác tự hỏi lòng : “ Mình say sao ? Bác say thật rồi.

                Một đời sung sướng. Một cuộc sống tuyệt vời. Bác thuộc về một số rất ít.

                Những mái đầu cất cao, không một lời than thở.

    GIAO CHỈ, SAN JOSE.

  • Văn

    Hãy vinh danh người lính Việt Nam Cộng Hoà

    Hãy vinh danh người lính Việt Nam Cộng Hoà
     
     
     
     
     
      
     Nguyễn thị Thảo An
     

    Không biết bắt đầu từ thuở nào có một quy luật hình thành là ở một thể chế chính trị, đều thành lập một lực lượng để bảo vệ mình, lực lượng đó được gọi là quân đội. Quân đội sinh ra từ chế độ và nó cũng vẽ nên những chân dung của chế độ. Chế độ tốt sẽ xây dựng nên một quân đội tốt. Quân đội tốt sẽ không dung dưỡng một chế độ xấu. Từ hơn hai nghìn năm về trước, người lính Việt Nam với chiếc áo trấn thủ, mang gươm giáo ngàn xưa để gồng gánh trên vai những nhiệm vu giết thù diệt loạn, bảo quốc an dân, giữ gìn cơ nghiệp của tiền nhân. Trải qua bao thăng trầm của đất nước, hình ảnh của người lính thay đổi qua bao thời thế, nhưng trách nhiệm không hề thay đổi.
     

    Người thanh niên tuổi trẻ Việt Nam từ khi bước vào quân trường, khoác vội bộ đồ trận, lưng mang vác ba lô cho tới khi anh đứng nghiêm với lời tuyên thệ Vị Quốc Vong Thân. Người tuổi trẻ đã trở thành người lính. Anh trưởng thành hơn bóng dáng của quê hương. Người lính với chiếc nón sắt xanh đậm tròn tròn như nửa vầng trăng in rõ bóng trên nền trời xanh lơ. Anh đã bước ra, tay ôm súng và chân mang giày trận, anh giẫm mòn nửa vòng đất nước đi canh giữ cho quê hương.
     

    Bắt đầu từ thập niên Sáu Mươi, khi kẻ thù phương Bắc, với xe tăng súng cối, với những chủ thuyết ngoại lai, với những xích cồng nô lệ, đã toan tính nhuộm đỏ quê hương, thì từ đó, người lính đã hiện diện trong tuyến đầu lửa đạn. Anh mang vác hành trang, chiếc ba lô nặng cồng kềnh để chận bước quân thù, để bảo vệ miền Nam.
     

    Ðất nước hai mươi năm chiến tranh, hai mươi năm dài người lính hầu như không ngủ. Hai mươi năm có tới mấy ngàn ngày để anh đi từ sáng tinh mơ, chân giẫm ướt ngọn sương mai trên cỏ. Hai mươi năm có tới mấy ngàn đêm, bóng anh mịt mờ trong núi rừng lạnh giá.  Hai mươi năm, anh nghe tiếng đại bác vang trời không nghỉ.
     

    Tiếng mưa bom đạn réo bên mình. Tiếng xe tăng nghiền nát đường quê hương. Hai mươi năm, anh đã đem sinh mạng của mình đặt trên đường bay của đạn. Ðã đem hy vọng cuộc đời đặt trên khẩu súng thân quen. Hay đã đem tình yêu và nỗi nhớ đặt trên đầu điếu thuốc. Hai mươi năm chiến tranh có bao ngày anh được ngủ yên trên chiếc giường ngay ngắn. Có bao đêm anh mơ được trọn giấc bình yên. Hay anh đã sống thân quen với đời gian khổ và đánh bạn với gian nguy.
     
    Anh với đầu đội súng và vai mang ba lô, lội qua những vũng sình lầy nước ngang tầm ngực. Anh đã đi qua những địa danh xa lạ: Ashau, Ia Drang, Kontum, Pleime, nơi giơ bàn tay cũng không thấy được bàn tay. Hay anh truy địch ở bờ sông Thạch Hãn lừng lững sương mai, ở phá Tam Giang sóng vỗ kêu gào hay ở Cổ Thành xứ Huế mù sương. Dài dọc xuống Miền Nam với rừng Tràm, rừng Ðước, đến Ðồng Tháp Mười anh đã nghe muỗi vo ve như sáo thổi.
     

    Anh đã đến những nơi mà anh không tưởng, anh đi diệt địch và anh đã ngã xuống địa danh chẳng quen dấu chân anh. Người lính nằm xuống ở Miền Nam xanh tươi ngọn mạ, ở những vùng trầm se rét Miền Trung, hay ở Miền Ðông xác thân thối rửa Từ Ấp Bắc, Ðồng Xoài, Bình Giả… cho tới Tống Lê Chân, An Lộc, Bình Long, người lính đã căng rộng tấm poncho để che kín bầu trời Miền Nam được yên ấm tự do. Nối gót tiền nhân, người lính, mỗi người lính đã đem 3.8 lít máu tươi, tưới cho thắm tươi hoa lá ruộng đồng, đã đem mỗi một 206 lóng xương khổ nạn của mình cắm trăm nẻo đường quê hương muôn ngã, để cho chính nghĩa quốc gia tự do được tồn tại. Ðể cho người dân quốc gia được sống no ấm ở hậu phương.
     

    Những người dân quốc gia, những người dân quốc gia không hề muốn trở thành dân Cộng Sản, những người quốc gia luôn muốn bỏ chạy khi Cộng Sản tới và núp bóng người lính để được sống an nhàn ở chốn hậu phương. Họ hoàn toàn trao trọng trách bảo vệ quốc gia, ngăn thù dẹp loạn như một thứ công việc và trách nhiệm của người làm nghề lính, như thể không liên quan gì tới họ. Và họ tự trấn an lương tâm rằng người lính sẽ không bao giờ buông súng và sẽ mãi mãi bảo vệ họ tới cùng. Vì thế, họ luôn yên tâm sống ở hậu phương, yên tâm kiếm tiền và tranh đua đời sống xa hoa phè phỡn trên máu xương của người lính.
     

    Và ở hậu phương, người lính đồng nghĩa với nghèo, đời lính tức là đời gian khổ, và tương lai người lính đếm được trên từng ngón taỵ Thế nên, người lính về hậu phương, anh ngỡ ngàng và lạc lỏng. Bỗng hình như anh cảm thấy mình như người Thượng về Kinh. Như vậy thì người ta tội nghiệp người lính và yêu người lính để thể hiện tình quân nhân cá nước trong sách vở, báo chí và truyền hình.
     

    Người lính bị bắt cóc vào văn chương tiểu thuyết là những người lính giấy, vào văn chương để tự phản bội chính mình, để thoả mãn cho những kẻ trông con bò để vẽ con nai, và ngồi phòng khách để diễn tả chiến trường đỏ lửa. Người lính trên trang giấy ngang tàng và hung bạo, chửi rủa chính phủ, chống chính quyền và ghét cấp chỉ huy, lính la cà trong quán rượu, uống rượu chẳng thấy say, và càng say càng đập phá.  Người lính xuất hiện trên sân khấu thì phong lưu và đỏm dáng hay trắng trẻo no tròn. Anh mặc đồ trận mới toanh còn nguyên nếp gấp, ngọt ngào chót lưỡi đầu môi anh ca bài ca mời gọi ái tình. à người yêu của anh lính là những cô mắt ướt môi hồng, áo quần xa hoa lộng lẫy, thề non hẹn biển yêu lính trọn kiếp trong ti vi. Như vậy thì quá mỉa mai cho cái gọi là anh trai tiền tuyến, em gái hậu phương. Trong khi đó, ở ngoài đời những người vợ lính là những người chống giữ thầm lặng ở xã hội hậu phương.
     

    Ðó là những người đàn bà bình dị với tấm áo vải nội hoá rẻ tiền, với đôi guốc vông kẻo kẹt, đóng vai vừa là người mẹ vừa là người cha nuôi con nhỏ dại, gói ghém đời sống bằng lương người chồng lính chỉ vừa đủ mua nửa tháng gạo ăn. Ðó là những người đàn bà tất tả ngược xuôi, lăn lộn thăm chồng ở các Trung Tâm Huấn Luyện, hay ở những nơi tiền đồn xa xôi với vài ổ bánh mì làm quà gặp mặt. Ðó là những người âm thầm và lặng lẽ, chịu đựng và hy sinh để chồng luôn an tâm chống giữ ngoài trận tuyến với đối phương.

    Hạnh phúc của họ mong manh và nhỏ bé, bất chợt như tình cờ. Có thể ở một thỏi son nhỏ bé mà người lính mang về để tặng vợ, có thể là một chiếc nón bài thơ, hay chút tình cờ ở một buổi tối người lính chợt ghé nhà thăm vợ. Hạnh phúc ở trong chén trà thơm uống vội, hay ở lúc nhìn đứa con bé nhỏ chào đời tháng trước.
     

    Người vợ lính cũng là những người hằng đêm thức muộn để lắng tai nghe tiếng đại bác thâu đêm, rồi định hướng với lo âu trằn trọc. Ðó là những người đàn bà mà sau mỗi lần đơn vị chồng đụng trận, đi thăm chồng giấu giếm mảnh khăn sô.
     

    Trong nỗi chịu đựng hy sinh, âm thầm và kỳ vĩ, họ vẫn sống và luôn gắng vượt qua để cho người chồng an tâm cầm súng. Ðể anh, người lính 

     

    Ở chiến trường, anh đối diện với kẻ thù hung ác, ở hậu phương anh bị ghét bỏ khinh khi, trên đầu anh có lãnh đạo tồi, sẵn sàng dẫm xác anh để cầu vinh cho họ, đồng minh anh đợi bán anh để cầu lợi an thân.

    Những người dân của anh, những người anh hy sinh để bảo vệ từ chối giúp anh truy lùng kẻ địch, và điềm nhiên để anh lọt vào ổ phục kích của địch quân. Những người dân bán rẻ linh hồn cho quỷ, tiếp tay cho địch thác loạn ở hậu phương, đó là những kẻ chủ trương đòi quyền sống, trong đó không bao gồm quyền sống của anh.
     

    Những kẻ để trái tim rung động tiếc thương cho cái chết của kẻ thù nhưng dửng dưng trước sự ngã xuống của anh. A dua, xu thời là bọn báo chí ngoại quốc thiên tả, lệch lạc ngòi bút, ngây thơ nhận định, mù quáng trong định kiến. ất cả vây quanh anh để tặng cho anh những đòn chí tử. Người lính bi hùng và bi thảm. Anh chống địch mười phương, tận lòng trong đơn độc, anh vẫn hy sinh và chống giữ tới hơi thở cuối cùng.
     

    Ngày Hoà Bình, 28 tháng Giêng năm 1973 hiệp định Paris được ký kết Hoà Bình thật đến trên trang giấy, đến với thế giới tự do. Thế nên, thế giới tự do nâng ly để chúc mừng cho hoà bình của họ và nhận giải Nobel. Nhưng hoà bình đến ở Việt Nam tanh hôi mùi máu, đen ngòm như tấm mộ bia. Và anh, anh là vật thụ nạn trong cái hoà bình bi thảm.

    Người lính vẫn tiếp tục ngã xuống, đem xác thân đắp nên thành luỹ để ngăn bước quân thù. Từ Ðông sang Tây, từ Nam chí Bắc, từ ngàn xưa và cho tới ngàn sau, có một quân đội nào mang số phận bi thương và oai hùng như người lính?
     
    Những người lính chịu uống nước rễ cây và đầu không nhấc thẳng, đi luồn dưới Rừng Sát suốt 30 ngày không thấy ánh mặt trời. Những người lính đi hành quân mà không người yểm trợ để hai ngày ăn được bốn muỗng cơm, hay ăn luôn năm trái bắp sống và những lá cải hư mục ruỗng, miệng thèm một cục nước đá lạnh giữa cái nắng cháy da.

    Người lính, người ở địa đạo Tống Lê Chân ăn côn trùng để tử thủ giữ ngọn đồi nhỏ bé. Người nằm xuống ở An Lộc, Bình Long. Và thủ đô, vòm trời thân yêu mà anh mơ ước để tang truy điệu cho anh chỉ có ba ngày. Ba ngày cho sinh mạng của năm ngàn người ở lại. Người ta lại tiếp tục vui chơi và quên đi bất hạnh. Bởi bất hạnh nào đó chỉ là bất hạnh của riêng anh.
     

    Người lãnh đạo anh còn mè nheo ăn vạ. Và anh, anh phải đóng trọn vai trò làm vật hy sinh. Trước nguy nan, lãnh đạo anh tìm đường chạy trốn thì anh vẫn còn cầm súng ở tiền phương. Anh đã chống giữ, chịu đựng từng đợt xung phong ở Ban Mê Thuột mỗi ngày 24 giờ, không có ai yểm trợ, tiếp tế từ hậu phương. Nhưng ở đó, anh vẫn phải tử thủ cho con đường tẩu thoát của cấp lãnh đạo anh tuyệt đối được bình yên.
     

    Và đồng minh của anh, người đồng minh đã từng sát cánh, cùng chia sẻ nỗi gian nguy ở Hạ Lào, Khe Sanh dưới trời mưa pháo, nay lại nghiễm nhiên nhìn anh đi những bước cuối cuộc đời. Phải chăng nhân loại đang trút những hơi thở cuối cùng nên lương tâm con người đang yên nghỉ ?
     

    Cho nên, cả thế giới lặng câm để nhìn anh chết. Không chỉ cái chết riêng cho mỗi mình anh, vì bởi dưới đuờng đạn xuyên qua, xác thân anh ngã xuống thì đau thương đã vụt đứng lên. Cái bi thương có nhân dáng lớn lên và tồn tại suốt ngang tầm trí nhớ. Và người lính, anh vẫn kỳ vĩ và chịu đựng như vị thần Atlas mang vác quả địa cầu, người lính đã mang vác và bảo vệ mấy trăm ngàn người dân trên đường triệt thoái.
     
    Trên những con đường từ Cao Nguyên không thiếu những người lính gồng gánh cho những người cô dân chạy loạn. Tay anh dẫn em thơ, tay dắt mẹ già chạy trong cơn mưa pháo. Và anh đã làm dù, làm khiên đỡ đạn, cho nên thân xác anh đã căng cứng mấy đường cây số, hay xác làm cầu ở tỉnh lộ 7B, anh đã chết ở Cao Nguyên lộng gió và đếm những bước cuối đời ở ngưỡng cửa thủ đô.
     

    Bởi lãnh đạo đầu hàng nên anh nghẹn ngào vất đi súng đạn. Với nham nhở mình trần, anh vẫn chưa tin đời đã đổi thay. Có thật không?  Hai mươi năm chiến tranh kết thúc? Giã từ những hy sinh và gian khổ của hôm quả có thật không? gày buông rơi vũ khí, anh mơ được về để an phận kẻ thường dân? Và có thật không? Anh được đi, được sống giữa một quê hương rối loạn tràn ngập bóng quân thù?
     

    Anh đã khóc nhiều lần cho quê hương chinh chiến và đã khóc nhiều lần cho những xác bơ vơ. Lính khổ lính cười, dân khổ để người lính khóc. Và có ai, từng có ai trong chúng ta đã khóc thương cho đời lính?
     

    Thương cho người lính với trái tim tan vỡ từ lâu.  Bởi trái tim anh đã hơn một lần để lại dưới chân Cổ Thành Quảng Trị, ở một mùa Xuân xứ Huế năm nào, ở Hạ Lào, Tống Lê Chân hay ở trong cái nồi treo lủng lẳng trên ba lô khi anh hô xung phong để tiến vào An Lộc?  Người lính thật sự trái tim anh tan vỡ từ lâu.
     

    Lịch sử đã sang trang, và loài người đã bắt đầu đi những bước cuối cùng trên trái đất? Thế nên thời trang nhân loại là thứ phấn hương tàn nhẫn, và môi tô trét thứ son vô tình. Cả thế giới đồng thanh công nhận và gửi điện văn chúc mừng sự thống nhất ở Việt Nam. Và người ta uống chén rượu mừng để truy điệu Việt Nam đi vào cõi chết, chúc mừng Việt Nam có thêm 25 triệu nô lệ mới nhập tên. Hoà bình đã nở hoa trong cộng đồng thế giới, trong đời người Cộng Sản, nhưng hoà bình không thật đến ở Việt Nam.
     

    Người Cộng Sản chân chính có truyền thống là những người không hề biết hoà bình, không sống được trong hoà bình thật sự.  Như con giun, con dế sợ ánh sáng mặt trời. Thế nên họ dẫn dắt toàn dân đi xây dựng văn minh thời thượng.

    Khởi đầu là việc cày nát nghĩa trang Việt Nam Cộng Hoà và hạ tượng Người Lính Việt Nam Cộng Hoà. Người Lính rơi xuống vỡ tan trong lòng đường phố, nhưng từ đó anh mới thực sự đứng lên, đứng thẳng và oai hùng hơn trước trong trái tim của người dân Việt Miền Nam.
     

    Bởi từ khi những người bộ đội Cộng Sản bước chân vào thành phố, thì người dân Quốc Gia mới thật sự hiểu được giá trị của anh. Và những sự lầm lẫn và hối hận hôm nay hình như luôn theo nhau đi vào lịch sử. Vậy thì, khi ta chết trên con đường chạy loạn, khi ta chết ở bãi Tiên Sa, ta vùi thân nơi vùng kinh tế mới hay ta chìm dưới đáy biển Ðông, không phải vì khẩu súng rơi trên tay người lính, mà ta chết bởi viên đạn ích kỷ, viên đạn lãnh đạm và thờ ơ xuất phát từ trái tim bắn ngược lại chính ta. Bởi sự thật về người Cộng Sản đã đi quá tầm tưởng tượng và sự hy sinh của người lính vượt quá nỗi bi thương.

    Hai mươi năm chiến tranh, hơn hai trăm ngàn người lính, hơn năm trăm ngàn thương binh đã để lại hai trăm ngàn sinh mạng và năm trăm ngàn những phần cơ thể để lại trên chiến trường khốc liệt. Ðể cho chúng ta có một bầu trời để thở, có một khoảng không gian đi đứng tự do, để cho tuổi thơ của chúng ta không phải đi lượm ve, lượm giấy, không phải đeo khăn quàng đỏ và ngợi ca những điều dối gạt chính mình.
     
    Ðể cho bàn tay thiếu nữ không chạm bùn nhơ thủy lợi, tuổi thanh xuân không phải vùi chôn ở những gốc mì. Ðể cho bà mẹ già không phải ngồi mơ ước miếng trầu xanh, và những giọt nước mắt thôi không cần tuôn chẩy.
     

    Nhưng lịch sử đã sang trang, những trang hồng tươi màu máu cho người Cộng Sản và cũng là những trang đẫm máu và nhơ bẩn nhất cho cả lịch sử của dân tộc Việt Nam.

    Anh, người lính trong thời chiến thành người tù của thời bình. Người lính chịu số phận bi thương của chiến tranh và cũng chịu luôn số phận tàn nhẫn trong thời bình. Anh người lưu vong trong lòng dân tộc, và lưu đày ở chính quê hương anh.
     

    Bởi Cộng Sản Việt Nam đã bắt đầu một cuộc chiến tranh mới và đẩy anh xuống đáy trầm luân. Cũng chính từ chiến trường Tù Ngục này mà Cộng Sản đã chứng minh được Chúng và Anh không là đồng loại. Chúng, là lũ Cộng Sản cuồng tín, và tàn bạo nhất giữa thế giới Cộng Sản và vô nhân. Chúng lập nên một vương quốc mới mang tên là Lừa Dối, và mở ra một kỷ nguyên giết người theo kiểu mới, giết người bằng những mỹ từ đẹp đẻ, bằng lao động vinh quang, bằng thời gian không thể đếm.
     

    Người lính bước vào trận chiến mới, chiến trường có tên là cải tạo, và anh người tù nhân không có án. Ở đây anh không có lãnh đạo, không có đồng đội, không có hậu phương. Kẻ thù vắt cùng, vắt kiệt sức lực anh trong rừng thẳm. ày đọa sỉ nhục anh dưới hố xí tanh hôi, đem thanh xuân và tài hoa của anh vùi chôn ở những vòng khoai vớ vẩn. Ðặt hy vọng của anh máng vào những mốc thời gian.
     

    Người lính đã trở thành vật thụ nạn thời bình.  Anh chết đói bên những vòng xanh nở rộ do chính tay anh cày xới vun trồng. Anh chết khát khi bên ngoài mưa rơi tầm tã.  Giữa những trùng vây sóng dữ, giữa bóng tối cô đơn Anh vượt qua sự chết để đem về nghĩa sống. Anh đi xiếc qua những ranh giới tử sinh để chứng minh được phẩm giá con người. Ðôi mắt anh cao ngạo và chân đạp chữ đầu hàng.

    Từ trong tăm tối hận thù, anh thắp sáng lên ý nghĩa đời người. Anh đã chiến đấu, để từ trong cõi chết anh bước ra mà sống. Ðể anh trở về từ địa ngục trần gian.  Bao đồng đội bất hạnh đã ngã xuống trong rừng thẳm, cuối cùng anh đã trở về:

     

     

    Ta về cúi mái đầu sương điểm
    Nghe nặng từ tâm lượng đất trời
    Cám ơn hoa đã vì ta nở
    Thế giới vui từ mỗi lẻ loi
    (Tô Thùy Yên)
     
    Nước mắt anh không rơi trong ngục tù Cộng Sản, nước mắt anh rơi khi anh được trả tự do. Anh bước về, anh đi giữa lòng quê hương.  Anh ngỡ ngàng như thức từ cơn mộng. Có thật chăng đất nước Việt Nam, tàn hơn 30 năm chinh chiến và tù đày, để anh có được một đất nước thanh bình điêu tàn hơn thời chiến?
     

    Và tuổi trẻ, những mầm non đất nước hôm nay xa lạ như người không cùng chung dòng giống. Anh đi trên đường phố xưa, đường đã đổi tên. Anh tìm bạn bè cũ, đứa còn đứa mất. Quê hương này không có chỗ cho anh?
     

    Hai mươi năm chiến chinh, mười mấy năm tù đày trên chính quê hương để rồi anh phải tha hương biệt xứ. Người lính, mười bốn năm lính, mười bốn năm tù, tài sẵn có, được trí trá vài đô la, và mái đầu sương điểm để anh bước vào đời lần nữa.
     

    Anh không có quyền bắt đầu, chỉ có quyền tiếp tục trôi theo dòng đời nghiệt ngã. Người lính cũ ngồi bán nước đá bào cho học trò giờ tan học ở chính quê hương. Hay anh, người lính lưu vong ngồi bán thuốc lá lẻ hằng đêm trong những tiệm Seven Eleven trên đường phố Mỹ.
     

    Ba mươi năm vết thương cũ hầu như chưa lần khép kín. Ôi, hai mươi sáu chữ cái bắt đầu từ a, b, c, đ dẫu sắp xếp khéo léo tới đâu vẫn không đủ để viết nên những bi hùng anh đã đạt. Và cần phải thêm vào bao nhiêu chữ nữa mới diễn tả lên sự xót thương anh.

    Chúng ta đã quá may mắn, quá vinh dự để trang sử Việt Nam có thêm những anh hùng như người lính Việt Nam Cộng Hoà, những anh hùng vô danh và sống đời thầm lặng, những anh hùng bình thường mà ta chưa có dịp vinh danh.
     

    Nhưng cho tới nay, ta đã làm gì để tri ân người lính Quốc Gia. Chúng ta những người dân Quốc Gia đi chung con thuyền Miền Nam do các anh chèo chống, đưa qua những con sóng dữ Việt Nam. Những người quốc gia đã sang thuyền trong cơn quốc nạn, và đã để mặc anh chìm trong cơn Hồng Thuỷ của Việt Nam.
     

    Chúng ta, những người quốc gia tầm gửi, đã sống nhờ trên máu xương người lính, và chưa lần đóng góp nào cho chính nghĩa quốc gia. Có phải giờ đây, chúng ta tiếc thương người lính bằng đầu môi chót lưỡi, bằng những video, nức nở kêu gào, hay chúng ta khóc cho người lính bằng những trang thơ vớ vẩn? Và có ai, có ai trong chúng ta cảm thấy thẹn khi ta đã đôi lần hãnh diện vì ta nói tiếng Anh trôi chẩy hơn họ, xe ta đẹp, nhà ta to.

    Ngày nay, Người Cộng Sản ở quê hương với đôi tay đẫm máu của thuở nào cũng nói lời phản tỉnh. Vậy còn ta, bao nhiêu người Quốc Gia sẽ thức tỉnh để vẽ chân dung kỳ vĩ và nhiệm màu của Người Lính chúng ta. Có ai trong chúng ta sẵn sàng chi tiêu những bữa tiệc đắt tiền trong những nhà hàng danh tiếng, mua những tấm vé vào cửa của đại nhạc hội lừng tên mà ta tiếc bỏ tiền ra để quyên góp, xây lại tượng Người Lính ở thủ đô đã ngã xuống hôm nào.
     

    Ðể một mai, khi quê hương không còn giống Cộng Sản, ta đem anh về trở lại quê hương. Ðể anh được đứng lên chính nơi anh ngã  xuống như cùng thời với đất nước lúc hồi sinh.

    Bao nhiêu chuyên gia nhóm họp nhan đề "xây dựng lại đất nước trong thời hậu Cộng Sản". Vậy có ai đã đặt kế hoạch tri ân cho người lính ? Bởi, một ngày nào mà ta chưa biết tri ân người lính và đặt họ ở một địa vị xứng đáng mà đáng lẽ họ phải ở từ lâu, thì làm sao ta có thể xây dựng được một xã hội đáng gọi là nhân bản.

     

    Hãy vinh danh người lính Việt Nam Cộng Hoà…. Hãy giữ gìn và bảo vệ tinh thần Vị Quốc Vong Thân của họ 
    như giữ gìn ngọn lửa thiêng trong lòng dân tộc, 
    thì dân tộc ta mới mong có được những
    truyền nhân xứng đáng với thế hệ tương lai….
     
     
    Nguyễn thị Thảo An

     
     

  • Văn

    NGUYỄN KHẮP NƠI :NGƯỜI VIỆT CỦA TÔI.

    NGƯỜI VIỆT CỦA TÔI.

     

    NGUYỄN KHẮP NƠI

    Viết theo lời kể của một cư dân Quận Dĩ An,

    Viết cho ngày 30 tháng Tư đen,

    Viết cho những người Lính, Nghĩa Quân, Cảnh Sát, Xây Dựng Nông Thôn và dân chúng của Quận Dĩ An xưa.

    Kính tặng  Ông Quận Dĩ An – Ông Quận Thủy Quân Lục Chiến Sát Cộng – Trung Tá Nguyễn Minh Châu. 

    Để tưởng nhớ Chú Ba Trưởng Cuộc Cảnh Sát Dĩ An.

    Nói về địa dư, thì quận Dĩ An thuộc về vùng III. Từ Sài Gòn đi Biên Hòa, nếu đi đường trong (đường ngoài là đường xa lộ Saigòn Biên Hòa), chúng ta sẽ tới Thủ Đức rồi tới Dĩ An và cuối cùng là Biên Hòa.

    Mặc dù ở khoảng giữa Saigòn Biên Hòa, nhưng người ta biết đến Thủ Đức và Biên Hòa nhiều hơn là biết tới Dĩ An, vì hai nơi kể trên có quá nhiều cảnh đẹp, thức ăn và trái cây ngon, như Suối Tiên, nem Thủ Đức, buởi Biên Hòa . . . .

    Dĩ An chỉ là một quận thuộc về . . . miền quê, không có bất cứ một thứ gì đặc sắc, ngoài cái việc ở kế cận Sàigòn.

    Đúng vậy, nếu đứng ngay ở quận lỵ Dĩ An, chúng ta sẽ thấy ngôi chợ, bót cảnh sát, ga xe lửa . . . Nhưng qua khỏi ga xe lửa một chút, chừng vài cây số thôi, là chúng ta đã tới miền  quê rồi đó, với những cánh đồng lúa và vườn trái cây xanh mướt thấp thoáng những mái tranh đơn sơ.

    Và trong một vài mái tranh đơn sơ đó, có  . . . Việt Cộng.

    Sau hiệp định Geneve 1954, phân chia đất nước làm hai miền: Miền Bắc theo Cộng Sản, còn miền Nam theo Tự Do, thuộc Pháp.  Khi Pháp rút về nước, trao chính quyền lại cho Quốc Trưởng Bảo Đại. Sau một cuộc “Trưng Cầu Dân Ý” Bảo Đại bị truất phế, nhường cho Ngô Đình Diệm lên làm Tổng Thống. Bọn Việt Cộng ở miền Nam, một số tập kết về miền Bắc , số còn lại rút gân rút cốt thay hình đổi dạng, nằm vùng chờ cơ hội.

    Tổng Thống Ngô lập chính phủ Cộng Hòa, lo vãn hồi an ninh trật tự cho miền Nam Tự Do, ông cho bắt hết đám Việt Cộng nằm vùng, xây dựng nền kinh tế vững mạnh. Cuộc sống người dân trở lại bình thường, dân Dĩ An nhờ đó, cũng sống rất yên lành.

    Tôi sinh ra và lớn lên ở Dĩ An, chứng kiến những sự việc xẩy ra ở đó qua hai đợt di cư của người miền Bắc vào Nam: Năm 1954 và năm 1975.

    Dân Di cư miền Bắc, được tập trung sinh sống ở khu Thủ Đức, Hố Nai, Tam Hiệp . . .  gần Biên Hòa, và đương nhiên là gần Dĩ An.

    Thời đó, tôi còn rất nhỏ, mới bắt đầu đi học Tiểu Học.

    Tới trường, hễ nghe đứa nào nói cái giọng khó nghe, thì hiểu liền, đó là dân “Bắc Kỳ”. Đang đi ngoài đường, hễ nghe ai đó nói:

    “Rê Su Ma, nạy chúa tôi”

    Là tụi tôi biết liền, đó là dân “Bắc Kỳ”

    Ra chợ, hễ thấy bà nào có hàm răng đen bóng, là bọn chúng tôi biết ngay, đó là dân “Bắc Kỳ”

    Một vài điều tôi còn nhớ như in vào đầu là, thời đó còn xài tiền giấy xé làm hai: Một đồng xé làm hai thành hai tờ Năm Cắc. Những đứa nhỏ Bắc Kỳ cùng học với chúng tôi, tụi nó hiền lành, chỉ nhìn tụi tôi chơi dỡn chứ không bao giờ dám chọc ghẹo tụi tôi cả. Má tôi và những người chòm xóm bán hàng ngoài chợ thì nói những người Bắc Kỳ chụi khó làm việc và rất nhẫn nhịn, cái gì cũng cười.    

     Tôi được má kể lại là, lâu lâu , chính phủ tổ chức chiếu phim thời sự vào buổi tối, ở đầu chợ Dĩ An, để dân chúng đi xem, đông lắm, vui vẻ lắm, thái bình thịnh trị lắm.

    Vào thời gian xẩy ra đảo chánh Ngô Đình Diệm và những cuộc đảo chánh kế tiếp, tôi không biết và không nhớ nhỉều cho lắm, vì lúc đó tôi chỉ là một đứa nhỏ chín mười tuổi mà thôi. Chỉ có một điều làm tôi nhớ: Mỗi lần chiếu bóng,  Việt Cộng thẩy lựu đạn làm đám con nít tụi tôi chết nhiều lắm. Tôi không nhớ năm đó là năm nào, chỉ nhớ rằng, trong lúc đang mải mê xem phim chống bệnh tật: Máu đỏ và máu xanh trong cơ thể chống lại vi trùng xâm nhập vào người, thì nghe một tiếng nổ lớn:

    “Đùng”

    Nhìn chung quanh, tôi thấy người ta ngã xuống đất, máu chẩy thật nhiều, bọn tôi sợ quá, xúm nhau chạy về nhà. Kể từ đó, ba má tôi cấm đám anh em tụi tôi không được  đi xem hát nữa.   

     Qua một thời gian vài năm không đi  coi hát ở chợ nữa, có một bữa, mấy đứa bạn tôi rủ đi coi hát ở đầu chợ nữa. Tụi nó nói với tôi:

    “Có ông Quận mới về, ổng . . . sát cộng lắm, nên tụi nó không dám về thẩy lựu đạn nữa, đi coi hát được rồi.”

    Nói thì nói vậy, chứ má tôi đâu có dám cho tụi tôi đi coi nữa. Anh em tụi tôi ham coi hát, lén lén đi từ đứa, mỗi đứa coi một khúc rồi về thế cho đứa khác đi coi. May là không có ai thẩy lựu đạn nữa, nên má tôi không biết chuyện này.

    Mấy bữa sau, tụi tôi có chuyện đi ra quận đường. Đang đi, tôi chợt thấy có một chiếc “Xe Díp” chạy trờ tới, có một ông mặc đồ rằn ri nhà binh ngồi trên xe bước xuống, chống cây gậy đi chậm chậm. Dưới cặp mắt con nít của tôi, thì ông rất là oai phong. Tôi đâu có biết ông đó là ai, cứ mở bự con mắt ra mà dòm ông. Những người lớn tuổi đi kế bên tôi lao xao nói chuyện với nhau. Một bác đi kế bên tôi nói lớn ra vẻ thích thú:

    -“Đó, ông Quận Dĩ An mới về đó!”

    -“Ông Quận đó . . . sát cộng lắm đó! Ổng cho lính đi phá hầm Việt Cộng hoài à, kỳ nào cũng giết được mấy đứa, làm tụi nó sợ lắm, trốn hết trơn rồi.”

    -“Ổng là lính “Thủy Quân Lục Chiến” đó, đánh trận ngầu lắm đó!”

    -“Ổng tên gì vậy?”

    -“Ai biết ổng tên gì! Nghe người ta kêu ổng là “Ông Quận Thủy Quân Lục Chiến”, vậy thôi, chứ ai mà biết ổng tên gì!”   

    Mấy ngày sau, nhân dịp tết Trung Thu, bọn con nít tụi tôi được đi theo thầy giáo tới quận đường để lãnh lồng đèn và bánh trung thu. Đây là lần đầu tiên trong đời, tôi đuợc tới quận đường và được lãnh quà trung thu. Tôi không còn nhớ đã được lãnh lồng đèn kiểu gì? Nhưng còn nhớ rất rõ là được phát một cái bánh dẻo nhỏ bằng ngón tay, ăn có mùi lá dứa.

    Nhà tôi ở ngay chợ Dĩ An, mỗi ngày ngoài giờ học và nhưng giờ chạy chơi với bạn bè, tôi đều phụ má bán hàng, nên được nghe nói rất nhiều về “Ông Quận Dĩ An Thủy Quân Lục Chiến.

    Có người kể:

    “Tối qua, ông Quận cho lính đi phá hầm, giết nhiều du kích lắm, thằng con của Năm Rê (không phải tên thật) hổng dám dề kêu đi đắp mô nữa”

    Cũng có người nói:

    “Tối bữa trước, thằng Năm con ông Chín Lùa kéo đám trong bưng về chặn đường ông Tám Hó (không phải là tên thật) Hội Đồng Xã đặng giết. May phước, ông Tám có thằng nghĩa quân  xách súng đi theo, bắn trả lại rồi chạy thục mạng ra tới Xã ở luôn đó, mấy bữa rồi cũng không dám về nhà.”

    Một ông già bán xạp đã thật là vui vẻ nói lớn:

    “Hổm rày quận mình yên lắm rồi! Tụi tui và bà con chòm xóm hết bị mấy cái đám ác ôn tối trời về bắt đi đắp mô rồi. Nhớ lại hồi đó, tối bị lùa đi đắp mô, sáng lại phải đi phá mô, hổng còn sức đâu mà làm ăn!”

    Như tôi đã nói ở trên, từ ga xe lửa Dĩ An đi theo đường cái vô sâu chừng vài cây số, tới vùng Nhị Tỳ, Nhà Đèn Dĩ An là tới khu ruộng lúa và những đám rừng âm u (chưa tới Ngã Ba Cây Lơn). Những người đi theo Việt Cộng ban ngày vẫn làm ruộng trồng rau, ban đêm nhập với đám Việt Cộng trong rừng ra, tới từng nhà đòi đóng thuế, hoặc giết những người trong Hội Đồng Xã. Nhà hàng xóm gần nhau, ai theo Việt Cộng, ai theo Quốc Gia, dân chúng có khi biết nhau hết, nhưng không dám nói ra.      

    Có một bữa, dân chúng kéo nhau đi coi xác Việt Cộng chết, được ông Quận kéo về để dọc đường rầy xe lửa. Tôi tò mò lén đi coi. Tới nơi, tôi thấy có chừng sáu bẩy cái xác Việt Cộng, đứa thì mặc quần xà lỏn, đứa thì mặc đồ bà ba đen, quấn khăn rằn   bị bắn chết, máu chẩy đầy mình. Lính nghĩa quân cầm súng đứng gác kế bên. Người ta đi coi đông lắm, tới tận nơi mà dòm. Tôi thấy xác chết thì sợ quá, không dám tới gần, chỉ đứng lớ xớ phía xa. 

    Có người léo xéo nói với nhau: “Xác đó là thằng . . . Tám (không phải là tên thật), con của Sáu Lô đó”

    Có người làm gan, tới hỏi anh nghĩa quân đứng gác:

    “Việt Cộng bị bắn chết rồi, sao không đem đi chôn, mà lại đem trưng ra đây? Coi dễ sợ quá, hôi hám quá đi”

    Anh nghĩa quân trả lời:

    “Tụi tôi mới đi phá hầm bí mật của Việt Cộng tối qua đó, ông Quận cho kéo về, chờ làm giấy tờ xong mới đem chôn, cũng để đó đặng cho bà con biết, đừng có đi theo Việt Cộng mà có ngày bị chết thảm như cái đám này đó!”

    Tôi lớn lên theo tình hình an ninh của quận Dĩ An. Ông quận Dĩ An vẫn còn làm việc ở quận, tôi không có dịp gặp ông nữa, nhưng nghe dân chúng nói rất nhiều về những điều ông làm. Ông chịu lo lắng cho vấn đề an ninh của dân chúng, chịu hành quân, chịu đi phá hầm, truy lùng Việt Cộng lắm.

    Vì thế, dân chúng mới đặt cho ông cái tên:

    “Ông Quận Sát Cộng”

    Bây giờ thì tôi đã lớn đủ để hiểu Việt Cộng là ai? Và Sát Cộng là gỉ? rồi. Tôi chỉ là một đứa con gái, nhưng tôi cảm thấy phục ông, và lâu lâu vẫn suy nghĩ: Ông đi đứng chống gậy rất khó khăn, vậy làm sao mà ông có thể đi hành quân phá hầm việt cộng hoài hoài như vậy được?

    Có một bữa bán hàng, tôi thấy có một đám người lạ mặt mặc quần áo đen, đội nón rộng vành, mang ba lô tới ăn ở quán của nhà tôi. Tôi thấy họ mặc đồ bà ba đen và quấn khăn rằn thì sợ lắm, nhất là nhìn thấy cái nón của họ, hơi giống cái nón tai bèo của đám du kích. Nhưng khi thấy họ mang ba lô thì tôi đỡ sợ, vì tuy không đi lính, nhưng tôi cũng biết chỉ có lính Cộng Hòa mới mang ba lô mà thôi. Khi một chú ăn xong, kêu tính tiền, tôi làm gan, hỏi chú là lính gì mà lại mặt đồ đen.

    Chú này cỏn trẻ lắm, nhe răng cười trả lời tôi:

    “Tụi tui là lính “Xây Dựng Nông Thôn” mới từ Vũng Tàu về đây”

    (Xin gọi tắt là XDNT)

    Nghe anh trả lời thì tôi biết vậy thôi, và tôi cũng chỉ gặp họ một lần đó thôi nên cũng quên đi, còn lo bán hàng, lo đi học. Chừng vài tháng sau, tôi nghe dân chợ nói chuyện với nhau:

    “Lính XDNT được lắm, họ hổng giống lính Cộng Hòa, họ ở luôn trong ấp của mình đó, mấy ảnh giúp mình đủ chuyện hết, có bữa còn phụ bà Tám Cái (không phải là tên thật) cấy lúa đó!”

    “Bàn ngày, đám XDNT này đi vòng vòng giúp bà con, ban đêm họ xách súng đi tìm Việt Cộng mà đánh đó. Tội nghiệp quá, họ làm việc sáng đêm. Tối qua đám này ghé nhà tôi, tía thằng Tâm nói tôi nấu cháu cho mấy chú đó ăn cho no đặng làm việc đó!”

    Từ đó tôi mới biết lý do tại sao họ không có mặt ở chợ nữa, vì họ ở luôn ở trong làng, trong xã chung với dân. Theo suy nghĩ nông cạn của tôi, tôi cho rằng: Việt Cộng nằm vùng sống cùng với dân, muốn diệt trừ bọn này, chỉ có cách là cũng sống cùng với dân như những người lính XDNT này thì mới tìm ra chúng mà đánh thôi. Từ đó, tôi lại có thêm cảm tình với lính XDNT và thêm cảm tình với ông Quận Dĩ An.

    Tói tuổi thi tú tài, tôi lo học nhưng cũng thích thơ TTK, Hữu Loan, Hồ Zếnh ,và cũng thích đọc “The Exodus” “Chiến Tranh và Hòa Bình”. . .

    Một bữa, tôi đang đọc  cuốn “Trại Đầm Đùn” thì một ông khách lạ mặc quần áo Cảnh Sát buớc vào quán kêu đồ ăn, ông trạc tuổi 45 gì đó. Khi tới quầy trả tiền, liếc mắt thấy tên cuốn sách, ông nhìn tôi ngạc nhiên:

    “Con gái mà đọc mấy loại sách này làm chi!”

    Tôi trả lời ông:

    “Cháu đọc cho biết Việt Cộng là như thế nào?”

    Lâu lâu ông lại ghé quán của má tôi mà ăn trưa, ăn tối. Tới khi quen rồi ,tôi mới biết ông là Cuộc Trưởng Cuộc Cảnh Sát Dĩ An. Có bữa, tôi cắc cớ hỏi ông:

    Chú Ba, có khi nào chú bắt được Việt Cộng, rồi cũng tra tấn người ta giống như bọn VC tra tấn dân, giống như trong . . . Trại Đầm Đùn, hay không?”

    Ông đã cười lớn một lúc rồi mới trả lời tôi:

    “Bạo tàn không phải là nghề của Cảnh Sát Quốc Gia! Mình làm gì cũng phải có tình người ở trong đó. Hơn nữa, hỏi cung đám VC là do CSĐB hoặc là ANQĐ phụ trách, chứ không phải là nhiệm vụ của chú.”

    Từ đó, tôi có cảm tình nhiều hơn đối với ông. Ông kêu tôi là “Con gái” và xưng “Chú” với tôi. Nhà ông ở Sàigòn, ông đi làm bằng xe Vespa (hay Lambretta gì đó, tôi không nhớ rõ), chứ không lái xe Jeep Cảnh Sát. Người ta kêu ông là Chú Ba, thì tôi cũng theo đó mà kêu, chứ không hỏi và cũng không dám hỏi tên thật của ông.

    Tháng Tư 1975, ngày đen tối của VNCH đã đến! Mấy ngày trước đó, thấy tình hình nguy ngập, má tôi lo cho tính mạng của anh Hai tôi đang đóng quân ở Bạc Liêu và anh rể tôi làm Cảnh Sát ở Xa Cảng, nhưng đâu có làm gì được hơn. Má chỉ còn cách bảo tôi đi mua gạo trữ phòng khi có biến.

    Gần cuối tháng, tôi nghe súng nổ thật gần, nhưng cũng chẳng biết làm gì hơn.

    Sáng 30, tôi nghe trên đài phát thanh, Tổng Thống Dương Văn Minh đầu hàng Việt Cộng và kêu gọi binh sĩ các cấp gác súng súng chờ bàn giao.

    Má tôi lo cho số mạng của người con trai và con rể. Còn tôi, tôi lo cho số mạng của những bạn bè tôi đã đi lính. Dĩ An ở gần phi trường Biên Hòa, gần cả căn cứ Sóng Thần, nên có rất nhiều thanh niên gia nhập Không Quân và Thủy Quân Lục Chiến, bạn bè tôi ở trong đám này đông lắm. Rồi còn những người lính XDNT nữa, họ còn đang ở chung với bà con trong Xã, Ấp, còn chú Ba Cảnh Sát, còn ông Quận TQLC Sát Cộng nữa, họ sẽ ra sao?

    Mẹ tôi lính quýnh đi tới đi lui trong nhà. Tôi cũng lo sợ, lo sợ cho mẹ tôi, cho chính tôi nữa, cuộc đời mình sẽ ra sao?

    Ngay lúc đó, chú Ba bước vào, mặt mày đăm chiêu. Điều ngạc nhiên hết sức là chú không mặc bộ quần áo cảnh sát thường ngày, mà chú mặc bộ đồ mầu trắng tươi, đeo lon và huy chương sáng ngời. Chú nói với mẹ tôi:

    “Tôi chào chị lần cuối, rồi về nhà. Đầu hàng rồi, nhưng tôi đâu có thua trận đâu mà đầu hàng! Sáng nay, khi nghe tin Tổng Thống Minh đầu hàng, tôi đã tập họp tất cả cảnh sát trong Cuộc lại dể  làm lễ chào quốc kỳ lần cuối cùng, rồi giải tán, ai về nhà nấy. Tôi cũng về đây, thôi, chào chị và cháu gái, hai người ở lại mạnh giỏi.”

    Mẹ tôi và tôi chưng hửng nhìn chú. Một lúc sau, mẹ tôi mới nói:

    “Đầu hàng rồi, tôi thấy người ta mặc thường phục đi về, sao chú không thay quần áo thường mà lại mặc đại lễ như vầy, lỡ . . . có chuyện gì thì sao? Con trai tôi còn để mấy bộ quần áo ở nhà, tôi nói con Nhung lấy cho chú bận nhe!”

    Chú Ba cười chua chát, trả lời:

    “Lần cuối cùng của cuộc đời binh nghiệp của tôi mà chị! Tôi phải mặc đại lễ chứ!”     

    Tôi ái ngại nhìn chú, hỏi thêm:

    -“Chú Ba đi về cùng với anh em cảnh sát hay về chung với ông Quận? Về chung chắc là an toàn hơn đó”

    -“Anh em cảnh sát đa số là dân địa phương, họ tự đi về, còn chú, chú đi bằng xe riêng từ đó tới giờ, nên hôm nay chú cũng về bằng xe riêng. Ông Quận vừa nói chuyện với chú xong, ổng sẽ về sau cùng với những người lính nào ở Sàigòn.”

    -“Chú Ba, còn cây cờ của mình, sao chú không gỡ xuống, để . . . người ta xé đi thì tội nghiệp cho lá cờ lắm”

    -“Chú Ba chỉ có nhiệm vụ thượng kỳ Việt Nam Cộng Hòa mà thôi. Quân Đội không dậy chú cuốn cờ bỏ đi, và chú cũng không thể làm chuyện đó được. Trước khi về, chú đã đứng nghiêm chào lá cờ lần chót rồi.

    Cứ để lá cờ ở đó, trong đầu óc của chú sẽ nhớ mãi hình ảnh lá cờ VNCH tung bay trong gió. Sau này, lá cờ sẽ ra sao? Để tương lai trả lời.”

    Rồi chú quay ra, đạp máy xe rồ ga đi thẳng.

    Ngoài đường, tôi thoáng thấy những thanh niên mang băng tay đỏ, cầm súng chạy lăng xăng.

    Chiều đến, má tôi hốt hoảng nhớ tới bầy cháu ngoại ở Sàigòn, má nói tôi ráng mang gạo cho chị tôi, để mấy đứa nhỏ đói tội nghiệp.

    Tôi cảm thấy sợ hãi khi phải đi ra ngoài trong giờ phút này, nhưng cũng chất gạo lên xe Honda chạy ra xa lộ đi về Sàigòn.

    Dọc đường, vẫn còn súng nổ, vẫn còn lính ta chạy tới chạy lui, quần áo lính vứt rải rác khắp nơi, và rất nhiều đàn ông mặc thường phục đi bộ về phía Sàigòn. Những chiếc xe tăng cắm cở Xanh dương và đỏ chạy rầm rộ trên đường, chạy qua mặt tôi một cách hung tợn, cũng huớng về Sàigòn. Tôi sợ lắm, bậm gan rồ ga chạy thục mạng.

    Bất chợt, tôi nhìn thấy ở vệ đường, một người lính mặc đại lễ mầu trắng với những huy chương đeo đầy trên ngực áo, nắm bất động, mặt đầy máu, quay về phía đường lộ, bên cạnh chiếc xe Vespa lật nghiêng. Tôi thảng thốt kêu lên:

    “Chú Ba Cảnh Sát!”

    Tôi muốn dừng lại, xem có phải thật sự là chú Ba hay không?

    Chú còn sống hay đã bị bắn chết?

    Nhưng giòng người xô đẩy, tiếng súng hai bên nổ vang, rồi xe chở lính Việt Cộng chạy tới, xe tăng, thiết giáp bắn nhau qua lại, tôi không thể nào ngừng lại.

    Tôi bật khóc, nhìn chú Ba một lần chót rồi rung rẩy chạy xe đi.

    Tôi nhớ lại hồi sáng, sau khi chú Ba đi được khoảng một tiếng đồng hồ thì một đám những tên đeo băng tay đỏ, những tên đội nón tai bèo, đã kéo lá cờ VNCH xuống, xé tan nát đi. Tôi vụt chạy ra muốn giựt lại lá cờ, nhưng vừa mới ra tới cửa, đụng phải một đám đá cá lăn dưa cầm súng chĩa tứ phía, làm tôi sợ quá, dội trở lại. Lúc đó, tôi đã giận chú Ba hết sức, tại sao không kéo lá cờ xuống mà cất đi, để nay bị cái đám người này xé nát.

    Bây giờ, nhìn chú Ba nằm đó, tôi lại nhớ câu nói cuối cùng của chú:

    “Cứ để lá cờ ở đó, trong đầu óc của chú sẽ nhớ mãi hình ảnh lá cờ VNCH tung bay trong gió. Sau này, lá cờ sẽ ra sao? Để tương lai trả lời.”

    Tôi không giận chú Ba nữa, và nghĩ rằng, chú Ba đã làm đúng!

    Chú Ba ơi, trong đầu óc chú bây giờ, lá cờ Việt Nam Cộng Hòa vẫn còn tồn tại, vẫn còn tung bay trong gió, trong vĩnh cửu, phải không chú?

    Những ngày sau đó, rất nhiều khuôn mặt xuất hiện. Những khuôn mặt này rất quen thuộc với người dân Dĩ An trước đây, nhưng bây giờ họ đã trở thành khác hẳn:

    Họ quấn  khăn rằn, đội nón tai bèo, hiện nguyên hình Việt Cộng.

    Bà con đi chợ nói với nhau:

    “Cái đám này, hồi đó đã bị Cảnh Sát chìm, bị lính của Ông Quận mình bắt nhốt hết trơn rồi đó đa. Nhưng bị báo chí nói lung tung là bắt dân vô tôi, nên mới phải thả tụi nó ra. Nay thì rõ ràng quá rồi, phải chỉ hồi đó xử tử hết tụi nó đi, đỡ khổ . . .”

    Một thời gian ngắn sau đó, những người Bắc Kỳ lại xuất hiện, chúng tôi kêu họ là “Bắc Kỳ 75”. Những Bắc Kỳ này láu cá và hỗn láo vô cùng, khác xa với “Bắc Kỳ 54” xưa. Bắc Kỳ 54 ăn nói nhỏ nhẹ, cái gì cũng cười, thì đám Bắc Kỳ 75 đội nón cối, đ chân đất, luôn miệng chửi thề. Khi nói chuyện, họ xưng ông xưng cha với chúng tôi và sẵn sàng đe dọa:

    “Ông báo công an, bắt bỏ cha chúng mày đi bây giờ!”

    Mỗi lần ngày 30 tháng Tư trở lại, tôi lại nhớ tới quận Dĩ An, nhớ tới ông Quận TQLC Sát Cộng, nhớ tới Chú Ba Cảnh Sát. Tôi đã kể cho chồng con tôi nghe về những người này, không biết họ còn sống hay đã chết? Chồng tôi hỏi, tôi còn nhớ tên những người hùng này hay không? Lâu quá rồi, hơn nữa, hồi đó, tôi còn quá nhỏ để mà nhớ.

    Mỗi lần đi ngang những đài tưởn g niệm chiến sĩ VNCH, tôi đều cầu nguyện cho họ.

    Bất chợt, một hôm đọc Việt Luận, đọc bài “Cuộc Đời Đổi Thay” tôi mới biết ông Quận Trưởng Dĩ An , ông Quận TQLC Sát Cộng, Trung Tá Nguyễn Minh Châu, ông còn sống, đang ở bên Mỹ. Tôi mừng qua, kêu chồng tôi:
    “Anh ơi, ông “Guậng . . . Ông Guậng Dĩ Ang nè, ổng còn sống, ổng diếc báo nè!

    Anh coi hình ổng nè, ổng bận đồ rằng ri, oai hùng lắm nè! Thấy hông, em nói mà!”

    Chúc mừng ông Quận được bình yên sau những đổi thay của cuộc đời.

    Cám ơn ông Quận, đã gìn giữ an ninh trong quận, đã sát cộng, để những người dân Dĩ An như tôi có một cuộc sống yên ổn, cho tới ngày 30 tháng Tư.

    NGƯỜI VIỆT CỦA TÔI, LÀ THẾ ĐẤY!

    NGUYỄN KHẮP NƠI.

  • Văn

    Trần Mộng Tú : MỒ CÔI CON

    MỒ CÔI CON

    Tháng chạp âm lịch, Hà Nội trở rét. Rét đậm, rét ngọt, rét thấm qua áo mỏng, áo dầy, áo len khoác ngoài, “rét đến tận xương” như người Hà Nội thường kêu lên thảng thốt. Năm giờ sáng vợ chồng tôi thức dậy ở khách sạn Hồng Ngọc phố Hàng Mành, sửa soạn thật nhanh, cho kịp cái hẹn sáu giờ với anh Sơn tôi ở khách sạn Hà Nội Tower, phố Hai Bà Trưng. Chúng tôi cùng nhau đi Nam Định trước khi mặt trời lên.
    Từ Hà Nội đến Nam Định gần một trăm cây số, chúng tôi sẽ mất khoảng hai tiếng xe để đến tu viện Đa Minh thuộc Trung Lao, huyện Trực Ninh, Nam Định.
    Anh Sơn tôi, thời gian gần đây đã đi đi, về về giữa thành phố Vienna, tiểu bang Virginia đến Trung Lao, Nam Định, phụ giúp các Sơ dòng Đa Minh giúp nuôi các cụ già mồ côi con, và các trẻ em mồ côi cha mẹ.
     

    Tranh: Bảo Huân


     
    Xe đến Trung Lao, gặp lúc đường đang sửa, các lối đi bị cản ngang, mặc dù anh tài xế  taxi quen, đã nhiều lần chở anh Sơn tôi đến đây, vẫn phải gọi điện thoại cho một Sơ trẻ đi xe gắn máy ra dẫn đường vào tu viện. Đã có năm, sáu Sơ đứng đợi chúng tôi trước cửa chính, có một vài người già đang sống ở đó cũng áo bông, áo len, co ro ra đón chúng tôi.
    Khuôn viên tu viện khá rộng, nhưng cũ kỹ và không đủ tiện nghi theo tiêu chuẩn cần thiết. Các Sơ dòng Đa Minh tự chăn nuôi (cá, heo, gà) và trồng trọt (rau, lúa, ngô, khoai) nhưng những gặt hái này ngay cả chỉ dùng cho các Sơ cũng đã thiếu hụt, nói chi đến việc phải nuôi thêm người ngoài.
    Một Sơ giới thiệu cho chúng tôi gia đình của ba anh em ruột, họ vừa mù, câm và điếc đang được các Sơ nuôi. Họ chưa từng lập gia đình, họ cũng chẳng hề có một thân nhân nào khác, ngoài một người anh cũng vừa mù, vừa câm, vừa điếc nữa; ông này có vợ, có con. Nhưng Sơ nói thêm, ông đó gầy ốm lắm, vì suy dinh dưỡng.
    Frank, chồng tôi, đến khoác tay cả hai ông; ông anh gần bảy mươi tuổi, ông em hơn sáu mươi tuổi. Frank đứng giữa cầm tay hai ông cho hai ông xoa vuốt lên mặt mình, xong anh lại lấy hai bàn tay ôm từng mặt hai người xoa đầu xoa cổ họ, như biểu hiệu của những lời chào. Anh ôm tay quàng sang vai hai người; ba người đàn ông thân mật như ba người anh em ruột, họ bước đi vòng quanh khuôn viên tu viện. Tôi nhìn thấy giọt lệ ứa ra ở hai con mắt nhắm của người em, và nét mặt đầy xúc động của người anh. Trong cái gió lạnh của mùa đông đất Bắc, mặt trời vừa lên, ánh nắng vừa đủ dịu dàng trên đầu, trên tóc, của ba người đàn ông, tôi cũng thấy mắt mình ứa lệ. “Tất cả chúng ta đều là anh em trong Chúa.” Câu nói này, đang được nói lên không thành lời trong buổi sáng hôm nay. Tôi biết họ ít khi (có thể nói là chưa bao giờ) được ai chạm tay, vuốt ve như vậy. Các Sơ chỉ có thể cho họ những lời dịu dàng thôi.
    Tôi đi theo một Sơ khác thăm các cụ già nằm ở trong buồng. Có cụ gần trăm tuổi, sống hoàn toàn vào sự chăm sóc của các Sơ. Cụ có con không? Có cháu không? Có nhà không? Trả lời cho cả ba câu đó là: “Không.” Ai đó đến báo cho các Sơ, ở một nơi nào đó, có một người thật già, thật bệnh, thật đói, không con cháu, thân nhân, là các Sơ đón về. Cơm đâu, thuốc đâu, quần áo đâu? Những điều đó tính sau. Các Sơ biết chắc chắn các Sơ có một cái quỹ rất đầy và các Sơ có thể mang ra phân phát cho các cụ “mồ côi con,” đó là: “tình thương” của các Sơ.

    Ba người đàn ông vẫn tay khoác tay đi dưới vầng nắng dịu dàng. Tôi đi tìm người em gái út, chị năm nay ngoài năm mươi tuổi, trông chị tươi tắn, khỏe mạnh, các Sơ cho chị mặc ấm áp, tươm tất, chị tên Hồng. Tôi cầm tay chị Hồng hỏi han, chị cười, nhưng chỉ u ơ, gật lắc. Chị cứ nắm chặt tay tôi cho đến khi tôi từ giã về, nhất định chị không buông ra, thậm chí chị còn lôi tôi về phía cổng như muốn cùng đi với tôi. Sơ Liên cho tôi biết, chị mù 90%, nên ban ngày, có nắng, chị có thể nhìn được lờ mờ. Có ngày chị dắt hai anh đi chơi, buổi chiều ập xuống, bóng tối phủ nốt 10% còn lại, chị không biết đường về. Tu viện phải phái người đi tìm.
    Tôi cầm cả hai tay chị dỗ dành mãi, hẹn chị tôi sẽ trở lại, sẽ thế này, sẽ thế kia (toàn là hứa mơ hồ, ngay cả cho chính mình,) chị mới chịu buông tay tôi ra. Tôi ôm chị rất khẽ, như sợ phải ôm một sự thật không vui. Frank đang chia tay hai người anh em mới của mình, Frank giỏi lắm, anh buông họ ra và nói: “Đã đến lúc tôi phải đi,” và anh không tỏ dấu bịn rịn. Lúc lên xe anh nói với tôi, mình phải làm cho nhanh, càng chần chừ họ càng buồn. Mình làm nhanh, họ biết là mình bắt buộc phải hành động như vậy.
    Chúng tôi lên xe sang một địa điểm thứ hai của các Sơ cũng thuộc dòng Đa Minh. Ở đây có hai khu nhà. Khu thứ nhất nuôi người già, cũng tương tự như khu chúng tôi vừa thăm. Các cụ ở đây có cụ ngoài tám mươi, lưng cong như con tôm, nhưng vẫn đi lại trong sân, vẫn xâu tràng hạt để phụ giúp chi thu cho các Sơ được. Một cụ ngoài tám mươi, vừa thấm nước mắt vừa nói, chồng con cụ chết hết vì nạn đói Ất Dậu, không biết tại sao mà chỉ có mình cụ sống. Tôi chẳng biết trả lời cụ thế nào, đó là bất hạnh hay may mắn! Ở phòng khác có cụ cả trăm tuổi, nằm hắt hiu một góc buồng, chờ Sơ đổ sữa, chờ Sơ làm vệ sinh.
     
    Khu thứ hai đi cách một cái sân rộng và sang hẳn một tầng nhà khác, nơi nuôi bốn mươi em mồ côi. Các em mồ côi này đặc biệt lắm, các em vẫn có cha có mẹ. Cha các em chưa hẳn đã chết, họ là nạn nhân của bệnh HIV hay là nạn nhân của ma túy. Cha các em biến mất trong đời sống các em, bay vèo như chiếc lá cuối thu. Mẹ các em buổi sáng thả các em vào tu viện, các Sơ cho ăn, cho ngủ, dạy học. Có bà mẹ trả cho nhà dòng năm, bảy ngàn một ngày (mười tám ngàn
    bằng một Mỹ kim,) có bà mẹ chẳng trả đồng nào.
    Chúng tôi bước vào một căn buồng khá rộng. Lúc đó, ở một góc phòng, có hơn hai mươi em đang ngủ trưa, (hôm nay trưa thứ bảy, có em được về nhà,) chúng nằm cạnh nhau, xếp thành hai hàng, bên dưới chúng là một cái vỉ tre, trên trải chiếu, chúng co ro, không có chăn. Hôm nay anh Sơn tôi đưa chúng tôi đến thăm trả tiền cho bốn mươi tấm nệm, bốn mươi cái chăn anh đã đặt. Sơ chăm sóc các em còn rất trẻ, chắc mới trên hai mươi, Sơ xưng con với chúng tôi. Sơ chỉ những bức tranh vẽ trên tường, tranh vẽ con thỏ, con sóc, Bạch Tuyết và bảy chú lùn rất đẹp. Sơ nói, con vẽ đó, các em không có đồ chơi, con vẽ cho các em xem. Tôi đưa mắt nhìn chung quanh bốn bức tường, không thấy một ảnh nào về tôn giáo, duy nhất  bức hình ông Hồ ôm một em bé lộng kính treo trên cao. Không biết ông Hồ có nhìn xuống, có trông thấy mấy em này không? Trong mấy năm liền, tôi đã đi thăm nhiều tu viện, có nhà trẻ, tôi thấy gần như mỗi buồng đều có treo tấm hình này.
    Sơ dắt chúng tôi ra sân, chỉ cho tôi các phòng trống, cũ kỹ, gần như bỏ không, vì không có phương tiện tu sửa, nước không có thì không dùng phòng được nữa. Ở một góc sân, sát buồng của các em, có năm sáu cái “bô” cho các em làm vệ sinh; buổi sáng Sơ xếp ra, buổi chiều Sơ đem đi rửa. Tôi vừa nghe Sơ nói chuyện, vừa nhìn khuôn mặt còn rất trẻ của Sơ, mấy cái mụn trứng cá lấm tấm, nụ cười tươi và dung dị như hoa cúc trắng, tôi thấy thật xúc động. Phải có lý tưởng lắm, yêu Thiên Chúa và yêu tha nhân lắm, mới hiến cả tuổi trẻ của mình ở một chốn xa xôi như thế này, làm một công việc bác ái, cao cả như thế này. Trông bên ngoài chẳng có gì là vĩ đại cả, nhưng không phải ai cũng làm được, nhất là người tuổi trẻ. Tuổi trẻ phòng trà, tuổi trẻ phóng xe, tuổi trẻ thuốc lắc, tuổi trẻ rượu mạnh, tuổi trẻ kiếm tiền bằng đủ mọi cách, tuổi trẻ phung phí đời mình, như sáng mai sẽ chết! Tôi nhìn tuổi trẻ của Sơ không biết nói lời gì, cho xứng.

    Ngày còn nhỏ, đi học, thỉnh thoảng trường công giáo hay tổ chức cho đi thăm viện mồ côi. Tôi hiểu, mồ côi có nghĩa là cha mẹ mình mất từ khi mình còn rất bé, không có họ hàng giơ tay ra vớt nên phải vào viện mồ côi. Bây giờ tôi được biết thêm, người ta bất cứ tuổi nào, nếu không có ai thân thích cũng có thể gọi là mồ côi như các cụ đang sống ở trong bàn tay săn sóc của các Sơ Đa Minh, các cụ “mồ côi con”.

    Cũng thật may, trên trái đất này, vẫn còn những con người tốt đẹp, còn có những tấm lòng thơm hơn cả hương hoa của các Sơ, các Ni cô. Thánh đường có bị đạp đổ, thánh giá có bị kéo xuống, tăng ni có bị đuổi ra khỏi chùa, thì những trẻ em mồ côi cha mẹ, những người già mồ côi con cái, vẫn còn một chỗ dung thân.

    tmt

     Tháng 1/2010

  • Văn

    NV Thế Phong : Tổng Luận 60 Văn Nghệ Việt Nam

    “>Tổng Luận 60 năm Văn Nghê Việt Nam Tập II

    Xin tiếp tục phía dưới.

     

     

    Kinh Anh Thế Phong;

     

    Cảm ơn đã gửi quyển tổng luận này.

     

    Có phải rằng lịch sử VN đang được nhiều

    nhân văn viết lại từng trang một không?

    Tôi là người dốt nát về lịch sử nhất

    thế mà tới già rồi mới biết không thoát

    khỏi cái bóng lịch sử, của chính mình

    và của dân tộc, quốc gia mình nữa.

     

    Nói đến chính bản thân tôi, nhiều khi

    tôi còn tránh né viết lại ; biện luận cho

    nhứng hành vi:  Tăng tốt, giảm xấu.

    Huống chi lịch sử các vị tiền bối ngày

    xưa?  Ai đã là người trung thực nhất

    và ai sẽ là người kiểm chứng sự chân

    thật trung gian của nhiều tác giả?

     Một vài giòng thật thà.  Gần đất xa trời,

     bây giờ tôi phải bắt đầusám hối lâm râm.

     

    Sau khi tôi chuyển tiếp cái link của anh về

    quyển tổng luận.   http://www.vantholacviet.com/news-1634/11/Van/The-Phong–Tong-Luan-60-Van-Nghe-Viet-Nam.html

     

    Có vài người đã đọc ngay  quyển 1  trang 13-14-15.

    và cho thêm dữ kiện lịch sử.  Tôi nghĩ họ cũng trích ra từ

    anh chàng Google mà ra.

    Tôi chỉ chuyển tiếp chứ không có ý kiến gì thêm.

    Rất hào hứng cho một tác giả, khi viết bài có người

    đọc và góp thêm dữ kiện phải không anh Thế Phong?

    Chúc anh thành công dài dài trên con đường văn học.

    Giúp ích cho quần chúng.

     

    km

     

    Một bạn đọc viết: 

     

     

    "Nếu Phạm Quỳnh không bị giết chết (thủ tiêu) thì tình hình chính trị Việt Namcó thể đi qua lối khác, giành độc lập thành công, ôn hoà và tự do tốt đẹp hơn nhưng bọn Việt Minh lúc đó đâu muốn vậy.

    Việt Minh còn lập mưu lùa đảo để giết biết bao đảng viên quốc dân đảng VN nữa vì nghe lời Mao trạch Đông.

     

    Những gì nói về cái chết của Phạm Quỳnh bằng chữ đỏ ở dưới.


     

    Phạm Quỳnh sinh tại nhà riêng số 1 phố Hàng Trống, Hà Nội; quê quán ở làng Lương Ngọc (nay thuộc xã Thúc Kháng), phủ (nay là huyện) Bình Giang, tỉnh Hải Dương, một làng khoa bảng, có truyền thống hiếu học. Mồ côi mẹ từ 9 tháng tuổi, mồ côi cha từ khi lên 9 tuổi; Phạm Quỳnh côi cút được bà nội nuôi ăn học.

    Phạm Quỳnh học giỏi, có học bổng, sau khi đỗ đầu bằng Thành chung (tốt nghiệp) Trường trung học Bảo hộ (tức trường Bưởi, còn gọi là trường Thông ngôn) năm 1908, Phạm Quỳnh làm việc ở Trường Viễn Đông Bác cổ tại Hà Nội lúc vừa tuổi 16.

    Từ năm 1916, Ông tham gia viết báo cho một số tờ có uy tín đương thời; làm chủ bút Nam Phong tạp chí từ ngày 1 tháng 7 năm 1917 và đình bản tháng 12 năm 1934; tuyên truyền cho tư tưởng "Pháp Việt đề huề". Cũng trong thời kỳ 1924-1932, ông còn là giảng viên Trường Cao đẳng Hà Nội.

    Ngày 2 tháng 5 năm 1919, ông sáng lập và là Tổng Thư ký Hội Khai trí Tiến Đức, Trần Trọng Kim là Trưởng ban Văn học của Hội; và Hội trưởng Hội Trí tri Bắc Kỳ.

    Năm 1922, với tư cách đại diện cho Hội Khai trí Tiến Đức, ông đã sang Pháp dự Hội chợ triển lãm Marseille rồi diễn thuyết ở cả Ban Chính trị và Ban Luân lý Viện Hàn lâm Pháp về dân tộc giáo dục.

    Năm 1924, ông được mời làm giảng viên Khoa Bác ngữ học, Văn hóa, Ngữ ngôn Hoa Việt, Trường Cao đẳng Hà Nội, trợ giúp báo France – Indochine.

    Từ năm 1925 – 1928, Phạm Quỳnh là Hội trưởng Hội Trí tri Bắc Kỳ; năm 1926, ông làm ở Hội đồng Tư vấn Bắc Kỳ và đến năm 1929 được cử vào Hội đồng Kinh tế và Tài chính Đông Dương.

    Năm 1930, Phạm Quỳnh đề xướng thuyết lập hiến, đòi hỏi người Pháp phải thành lập hiến pháp, để quy định rõ ràng quyền căn bản của nhân dân Việt Nam, vua quan Việt Nam và chính quyền bảo hộ.

    Năm 1931, ông được giao chức Phó Hội trưởng Hội Địa dư Hà Nội. Năm 1932, giữ chức Tổng Thư ký Ủy ban Cứu trợ xã hội Bắc Kỳ.

    Ngày 11 tháng 11 năm 1932, sau khi Bảo Đại lên làm vua thay Khải Định, ông được triều đình nhà Nguyễn triệu vào Huế tham gia chính quyền Bảo Đại, thời gian đầu làm Ngự tiền Văn phòng, sau đó làm Thượng thư Bộ Học và cuối cùng giữ chức vụ Thượng thư Bộ Lại (1944–1945).

    Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp. Chính phủ Trần Trọng Kim được thành lập. Ông về sống ẩn dật ở biệt thự Hoa Đường bên bờ sông đào Phủ Cam, Huế.

    Ông bị Việt Minh bắt giam ngày 23 tháng 8 năm 1945 và giam ở lao Thừa Phủ, Huế. Ông mất sau đó một thời gian tại làng Hiền Sỹ, tỉnh Thừa Thiên.

    Ông bị giết sau đó cùng với nguyên Tổng đốc Quảng Nam Ngô Đình Khôi (anh ruột Ngô Đình Diệm) và Ngô Đình Huân (con trai của Ngô Đình Khôi).

    Di hài ông được tìm thấy năm 1956 trong khu rừng Hắc Thú, và được cải táng ngày 9 tháng 2 năm 1956 tại Huế, trong khuôn viên chùa Vạn Phước. [3]

    Thông tin về ai đã ra lệnh giết ông được lý giải theo nhiều giả thuyết khác nhau.

    [Cái chết của Phạm Quỳnh

    • Cuốn Tác gia văn học Thăng Long Hà Nội từ thế kỷ XI đến giữa thế kỷ XX, mục về Phạm Quỳnh (1892-1945) cũng có một dòng: Đến Cách mạng Tháng Tám 1945 chính quyền nhân dân khép án tử hình[2].
    • Có lệnh cấp tốc di dời Ngô Đình Khôi và Phạm Quỳnh ra khỏi cố đô đề phòng những chuyện bất trắc không hay sau này. Nhóm du kích áp tải đến một quãng rừng cách xa Huế thì nghe tiếng tàu bay Pháp ầm ì trên đầu tưởng đâu như tiếng máy bay thả biệt kích. Sợ không hoàn thành trách nhiệm di dời nên nhóm áp tải đã tự động thủ tiêu cả ba người mà không chờ chỉ thị của cấp trên[2]. Giả thuyết này không đề cập đến cấp trên là ai hay cơ quan nào ra lệnh[2].
    • Có người cho rằng trong số người đi áp tải đó có người nhà Thượng thư Nguyễn Hữu Bài, người có mối hiềm từ lâu với Phạm Quỳnh nên đã lợi dụng việc này mà giải quyết ân oán[2].
    • Có nguồn tin, vì Pháp cho biệt kích tìm Phạm Quỳnh nhưng nhóm này bị bắt và để lộ thông tin, và Phạm Quỳnh bị dân quân địa phương (Hiền Sĩ, Thừa Thiên, Huế) giết. Nhà văn Thái Vũ lý giải:

    Mà lúc ấy trong dân chúng, buổi đầu cách mạng, cũng là trong ngày đầu chính quyền mới do dân làm chủ thì mấy tiếng Việt Gian, diệt Việt gian kèm theo hành động lan truyền… khắp mọi nơi, nhất là đối với những người có “thành tích” thân Pháp.

    Mà hai cụ họ Phạm và Ngô thì rõ ràng quá, tránh sao lúc trong dân, chỉ mới hưởng 1 ngày đầu chính quyền cách mạng, còn căm thù bọn thống trị Pháp và đám tay chân người bản xứ của chúng, có hành động manh động. Đó hẳn là “nỗi uẩn khúc” cuối cùng của ông chủ báo Nam Phong…[4].

    Xin chuyển để đọc.

    Kim Morris