image_pdfimage_print
  • Văn

    Cụ Nguyễn Văn Tuyết : THƯ TÌNH VIẾT MUỘN!


    THƯ TÌNH VIẾT MUỘN!

     Cụ Nguyễn Văn Tuyết
    (cụ vừa mới từ trần ở Paris, hưởng thọ 91 tuổi)

    Paris ngày 14 tháng 10 năm 20xx

     
    Bà nó à!
    À mà thôi, gọi là EM đi cho tình tứ như ngày xưa chúng mình cùng chung giường chung gối, chung cả đường đi lẫn lối về em nhá. Dù rằng nay đôi ta mỗi người một ngả, lại đông con nhiều cháu mà còn xưng hô “anh em” thì e rằng con cháu nó cười. Nhưng đây là tình thư của anh gửi tới em, lá thư đầu tiên và cũng là lá thư cuối cùng. Anh viết thư này từ ngày 14/10/20xx, mỗi ngày vài dòng, khổ nỗi mỗi khi viết đến tên em là như có hơi nước che mờ cặp kính nên anh đành phải buông bút, dụi mắt thở dài! Viết lâu rồi đấy mà chưa nói được gì với em! Chuyện tình trong 60 năm dễ gì nói trong vài trang giấy, kể trong vài ngày.
    Thôi thì thế này nhá, nếu không xong để gửi qua đường bưu điện thì anh sẽ mang đến nơi em đang ở để trao tận tay. Anh biết nơi em ở rồi, kể từ khi em dọn về bên ấy, anh đã rất nhiều lần đi vòng quanh bên ngoài để ngắm một căn nhà 2 tầng(*) nhỏ-nhắn, xinh-xắn, mà nghe đâu em khoe với hàng xóm rằng:
    – “Tôi ở tầng dưới, còn tầng trên để dành cho nhà tôi”…
     
    ****************
    Em à!
    Nhớ lại ngày nào em là thiếu nữ 16 tuổi xinh tươi làng Vạn, hoa khôi huyện Yên Phong, còn anh là trai làng Đại Lâm, chúng mình cùng tỉnh Bắc Ninh, nhưng anh theo gia đình ra Hà Nội học nên không có dịp “thả thơ”
    Em còn nhớ những vụ “thả thơ” này không? Dì Phách, cô em gái của em nói rằng em đẹp lắm lại là con nhà có của nên trai huyện trai làng nhiều người ngấp nghé, mỗi khi em đi chợ thì họ len lén bỏ thư vào cái làn mây em xách tay, khi về nhà mới biết, thế là mấy chị em đọc thư tỏ tình của các chàng nhát gái mà cười bò ra, nghe cũng vui đấy nhỉ. Nhưng anh thì chưa có dịp thả thơ như thế.
    Khi bố anh cần người giúp ông trong việc kinh doanh nên đã bắt anh lập gia đình sớm, anh có quen biết nhiều cô gái ở Hà Nội nhưng không thương ai. Thế rồi một hôm bố anh bảo diện vào rồi đi chợ huyện Yên Phong với ông, anh hỏi bố rằng con đi chợ làm gì thì bố nói:
    – Trai khôn tìm vợ chợ đông, gái khôn tìm chồng giữa chốn ba quân.
    Khi đến chợ rồi mới biết ngày đó em cũng đi chợ, có lẽ người lớn đã sắp xếp cho chúng mình trông thấy nhau. Nghĩ lại cũng buồn cười nhỉ, bây giờ khác xưa rồi, trai gái quen biết và yêu rồi mới dẫn cha mẹ hai bên gặp nhau.
    “Anh trông thấy em đi chợ anh thương”. Bố chưa kịp hỏi ý kiến anh có bằng lòng “cô ấy” hay không thì anh vội nói trước:
    – Chưa gặp đã bén hơi. Tại duyên số rồi bố ơi!
    Thế là bố khuyên anh “cưới vợ thì cưới liền tay, chớ để lâu ngày lắm kẻ dèm pha” nên anh vội nhờ người đem tặng em “một thúng xôi vò, một con lợn béo một vò rượu tăm. Tặng em đôi gối em nằm, cái chăn em đắp..” năm đó chúng mình vừa tròn 17.
    Họ hàng nhà trai khen em xinh gái và có duyên, nhưng bố anh thì nói: “vợ chồng cùng tuổi nằm duỗi mà ăn”, và để cho con đừng có ỷ lại nằm duỗi mà ăn nên ông cụ đã giao cho vợ chồng mình xưởng sửa chữa và cho thuê xe xích-lô.
     
    * Yêu em mãi mãi   Nhạc Từ Công Phụng – Cố NT/KQ Vũ Văn Ước trình bầy
     
    Khởi đầu là thế, mình sống đầm ấm bên nhau, không vất vả về kinh tế nên năm 1941 em sinh con gái đầu lòng, anh đặt tên con là Trinh. Rồi lần lượt có thêm con Thục, con Thuý, cả ba xinh gái giống mẹ. Sau 3 cô con gái là em sinh liền cho anh 4 cậu con trai, tên các con là Phong, Tuấn, Quang, Anh. Đời sống gia đình đang thanh bình ấm êm, các con đi học có xích lô đưa đón thì bỗng “trời đất nổi cơn gió bụi”, em má hồng chịu nỗi chuân chuyên, bụng mang dạ chửa mà phải cùng gia đình di cư vào Nam. Vừa đến Hải Phòng thì em sinh con gái thứ tư nên mình đặt tên con là Nguyễn Thị Hải, và Hải là đứa con thứ tám cùng theo bố mẹ di cư 1954 vào vùng đất lạ.
    Cưới năm 1939 tới 1954 khi di cư mới được có 8 con nên em nói còn ít. Nhớ hôm dẫn em vào bảo sanh viện, anh nắm tay em an ủi thì em mỉm cười nói:
    – Anh còn phải đưa em vào bảo sanh viện tám lần nữa, vì thầy tướng số nói em sẽ có 16 người con tất cả”.
    Nghe em nói xong anh cười to khiến mấy bà bầu ngồi ở phòng chờ đợi quay sang nhìn vợ chồng mình, chắc họ tưởng mình vui vì mới có con đầu lòng. Nghĩ vậy nên anh ghé vào tai em thì thầm:
    – Bao nhiêu cũng được, chỉ sợ vất vả cho em thôi, còn anh thì ..lo tất.
     
    ************
    Vào tới Saigon, gia đình mình ở số nhà 247 đường Thành Thái, Chợ Lớn, gần ngã tư Trần Bình Trọng. Em vẫn tề gia nội trợ, còn anh, xoay đủ nghề. Từ mở trường dạy lái xe hơi lúc mới vào rồi làm tôm đông lạnh ở Rạch Giá, lập trại trồng nấm rơm ở suối Lồ Ồ Dĩ An, thầu xây dựng với anhThúc, làm cho USOM, và như em biết đấy, công việc cuối cùng của anh là làm việc ở tòa Lãnh Sự Pháp Saigon, nhờ đó mà sau 30/4/1975 gia đình ta đi định cư tại Paris.
    Tuy nhiên anh đã không giúp em được toại nguyện theo như lời khuyên của thầy tướng số nên trong thời gian ở Saigon, vợ chồng mình chỉ thêm được có 4 “cậu” là Tiến, Thắng, Thụy, Xương và 2 “cô” Loan, Hà, vị chi là 14 mụn con gồm 6 gái, 8 trai, còn thiếu 2 vì thế em mới nuôi thêm 2 cháu ngoại là Yến và Việt, con của Thúy để cho đủ 16 đứa.
    Nay tuy không được vuông tròn trọn vẹn nhưng tất cả đã ổn định cả rồi. Hiện tại ở Mỹ có 3 cô 2 cậu, ở Pháp có 4 cậu, 3 cô. Con nào cũng có gia đình hạnh phúc một vợ một chồng và đã tặng cho em rất đông cháu nội ngoại và đã hơn 10 chắt rồi đó. Duy chỉ còn cô út Thu Hà, đẹp, thông minh hoạt bát, nhiều chàng ngấp nghé lắm nhưng con gái út của chúng mình lơ là chuyện này mà lại siêng năng nghiên cứu kinh sách nhà Phật. Tại duyên số thôi.
     
    Anh rất hài lòng vì các con, trai gái thì hiếu thảo con dâu nào cũng coi như con đẻ, nhất là Yến, vợ Quang, hiện là chị dâu trưởng, là gương mẫu cho các em. Còn con rể ư? Các cụ xưa gọi con rể là tế-tử nên anh thấy tế-tử nào cũng tử tế cả, các anh ấy là người biết điều, lo toan mọi bề cho vợ con, lại hiền lành. Duy chỉ có chồng của Thúy, tức bố của Yến-Việt là quân nhân nên vất vả và luôn phải xa gia đình, nghèo và hơi ngang. Em nhớ không, lần đầu tiên hắn đến nhà mình thăm con Thúy mà lại ngồi gác chân mang giầy nhà binh lên bàn! Anh giận quá! Nhưng bù lại, nay mỗi lần anh sang Mỹ thăm con cháu, thì bố Việt chở anh ra khu chợ ABC mua bánh ngọt, đi ăn hủ tíu Mỹ Tho, lại còn bảo vợ chồng Việt “niềng” răng cho ông ngoại, anh thấy vui vui nên nói:
    – “Khỏi niềng, răng của ông còn rất tốt và đẹp nữa, con chỉ cần bỏ vào ly nước ngâm với thuốc sát trùng cho ông là được    
        rồi.”
    Anh nói tới đâu rồi nhỉ? Thế đấy, còn minh mẫn nhưng hơi lộn xộn nên thư viết cho em cứ chuyện nọ xọ sang chuyện kia. À nhớ ra rồi, tới chỗ vuông tròn.
    Anh nói không được vuông tròn trọn vẹn là vì con gái đầu lòng đã ra đi khi vừa tới Mỹ, và hai con trai hy sinh cho Tổ Quốc, cậu cả Phong bị thương ở Ban-Mê-Thuột rồi hy sinh, cậu Tuấn thì tử trận trên biển, chìm theo hộ tống hạm HQ10 trong trận hải chiến để bảo vệ Hoàng Sa chống lại quân xâm lược Trung Cộng vào ngày 19 tháng 1 năm 1974.
    Em à, anh không muốn nhắc chuyện xưa làm đau lòng em khi mất đi 2 đứa con trai tuổi còn quá trẻ, nhưng cũng là một đóng góp cho đất nước như biết bao các gia đình khác. Mới đây ông HQ Đặng Thanh Long đã thay mặt Phó Đề Đốc Đặng Cao Thăng, Tổng Hội Hải Quân Hải Ngoại đem cuốn Hải Sử Tuyển Tập và Hải Sử HQVNCH đến tặng gia đình ta với bút tích ghi ở trang đầu như sau:
    “Kính biếu gia đình liệt sĩ Hoàng Sa HQ Nguyễn Văn Tuấn”.
     
    *************
    Thấm thoát thời gian mau thế đấy em nhỉ, chả cần nói nhiều thì các con cũng biết từ lúc có đứa con đầu lòng ở Hà Nội rồi có thêm cô Út Hà ở Saigon rồi gia đình ta di tản, bảo lãnh, vượt biển vượt biên mà được thế này cũng là tạ ơn trời đất lắm rồi. Nhưng bất hạnh thay, em lại bỏ anh mà đi! Dễ chừng gần chục năm rồi chứ ít sao? Lúc trước anh nhớ chính xác ngày giờ năm tháng em ra đi, nhưng sau lần anh bị té dập đầu thì trí nhớ không còn tốt. Thôi để anh mở sổ ra xem ngày nào em bỏ anh ra đi. Đây rồi, ngày 14 tháng 10 năm 2002, và anh viết lá thư này cho em cũng vào ngày 14 tháng 10, em đi đã được 8 năm rồi đó.
     
    Em à! Anh nhớ rõ là em bị bệnh thận, đang lọc máu thì bị té dập xương chậu và sau một thời gian ngắn thì em ra đi! Ngày đó mắt anh đã khô, khi thấy con cháu vây quanh mẹ, quanh bà nức nở khóc làm anh nghẹn cổ họng.
    Thôi thế cũng xong, vì hiện nay em luôn được mạnh khỏe, không còn lo lắng về bệnh tật, cuộc sống mới lại bình an, thảnh thơi mãi mãi. Nhưng cẩn thận nhá, mỗi lần “vân du” em nhớ mang theo áo ấm và gài dây an toàn kẻo gió mạnh lại thổi bay mất thôi.
    Em nhớ không? Lúc sinh thời mỗi lần mang thuốc và nước đến cho em thì anh chỉ nói vắn tắt: “thuốc đây, bà uống đi”! Nay anh muốn gọi tiếng EM, nói thật nhiều lời thương yêu thì giọng anh đã khò khè, thở không ra hơi! Hối hận quá!
    Khi em đi rồi mà đàn chim bồ câu cứ đúng giờ nó lại bay về đậu trên thành cửa sổ, cái của sổ của căn phòng trên tầng thứ 15 của tòa biu-dinh thuộc thị xã Alfort Ville, ngó ngay ra bờ sông Seine, từng đôi chim gù-gù sát cánh bên nhau chờ những miếng bánh mì mà em bẻ vụn ra rồi rắc cho chúng ăn.
     
    Ngày đó anh cằn nhằn em hoài vì cái việc cho chim ăn, nó ăn rồi ị, sương mù và mưa phùn làm bánh mì thừa ướt nhão nhẹt ra rồi mốc xanh lên khiến anh lại phải dọn. Bực mình anh la thì em nhỏ nhẹ nói: “tội nghiệp chúng nó”. Thôi đành cứ để em cho chim ăn rồi anh dọn phân và thức ăn thừa kẻo gió lùa vào phòng mình hôi cứt chim. Khi em về trên đó rồi, mình anh ở lại mỗi ngày phải nhìn từng đôi chim gù gù tỉa cánh cho nhau mà nhớ em vô vàn. Đó là lý do thầm kín anh không muốn rời căn phòng này để về ở với con cháu.
     
    ************
    Có những chiều Hè hoàng hôn nắng úa, đứng ngắm hình em treo trên tường, anh thì thầm: “sao em không nói với anh” rồi ngó qua cửa sổ anh bỗng thấy như có mưa phùn chiều Đông, thì ra mắt anh mờ và anh cảm thấy lạnh lẽo!
    Tất cả đồ dùng của em còn để nguyên chỗ cũ, nhìn đâu cũng thấy em vì thế các con xin dọn cho gọn gàng thì anh không cho. Bẩy cô cậu thay nhau thuyết phục bố về ở với các con nhưng anh nhất định không muốn rời xa nơi này, tuy không còn là tổ ấm nhưng còn cái ghế em ngồi, còn cửa sổ mà em đứng rắc bánh mì cho chim ăn. Anh không thổ lộ những điều thầm kín đó mà chỉ nói:
    – “Bố còn khỏe, tự lo cho mình được mà, các con cứ yên tâm”.
    Mà anh còn khỏe thực, mỗi sáng không còn lái xe ra Paris 13 để ăn hủ tíu và mua báo Văn Nghệ Tiền Phong nữa thì anh đi bộ quanh phòng, đi dăm ba bước anh dừng lại nghỉ dăm phút, cứ như thế mỗi giờ cũng đi được hơn một vòng. Anh cũng vẫn ăn được, mỗi ngày cô Hải mang cơm nóng canh sốt sang cho bố rồi dọn dẹp nhà của, Hải về thì cô út Hà sang lo mọi việc giấy tờ về sức khỏe của bố. Cậu cả Quang tuy ít nói nhưng phân công đâu ra đó cho các em trai Thắng Thụy Xương luân phiên trực đêm bên bố và chở bố đi Paris 13, khu phố Việt, phố Tàu.
     
    Tuy sống độc thân nhưng anh không cô độc, mỗi thứ Bẩy và Chúa Nhật là con trai gái dâu rể, cháu nội ngoại kéo nhau về tụ họp trong căn phòng nhỏ này. Khi trước còn khỏe thì anh nấu một nồi phở thật to, nay thì mỗi con mang theo một thứ, căn phòng không chỉ ấm cúng mà còn nóng lên nữa ấy chứ. Những lúc đó thì anh lại nghĩ đến em, để cho con cháu vui chơi, anh lẳng lặng đi nằm, ứa nước mắt vì sung sướng nghe tiếng cười của con cháu nhưng cũng ứa nước mắt khi thiếu tiếng em! Thì ra “con nuôi cha không bằng bà nuôi ông”, ông nuôi bà.
    Cách nay khá lâu, anh đang vịn tường để đi vào phòng tắm thì bị té, các con vội đưa đi cấp cứu, bệnh viện khám phá ra một mạch máu trong đầu bị nghẽn khiến anh té chứ không phải tại anh vô ý.
    Nhớ mãi hôm ấy thấy em đến thăm anh trong bệnh viện, anh vội vàng ngồi dậy, ba chân bốn cẳng chạy ra đón em và anh bị vấp té, choàng mở mắt thì biết anh vừa nằm mơ và giận quá tại sao mình không cẩn thận để bị té rồi tỉnh lại mà không được nắm tay em. Vừa lúc đó anh nghe cô ý tá nói:
    – Từ nay cụ phải dùng cái này.
    Ngó xem thì ra là cái gậy chống, ở cuối có 4 chân bịt cao su. Nếu anh chống gậy này mà đi thăm em thì đúng là “ba chân bốn cẳng rồi”.! Anh không thích chống gậy, trông giống ông cụ quá! Đối với anh, em vẫn còn khỏe và còn trẻ, người cõi tiên thì “trẻ mãi không già” mà.
     
    Nằm bệnh viện được mấy ngày thì anh đòi về nhà, nhớ căn phòng quá, nhưng các con không cho, lựa khi các con không có mặt, anh “ba chân bốn cẳng” vào phòng bác sĩ trực năn nỉ xin xuất viện và họ “đắc-co”
    Về nhà được mấy ngày thì anh lại “ba chân bốn cẳng” mang hoa đến tặng em, nhưng gõ của hoài mà không nghe tiếng ai trả lời, hình như mấy cô tiên đưa em vân du trên cẩu Vồng hay du Nguyệt Điện thì phải. Rõ chán! Cả đời ở bên nhau, anh chưa bao giờ tặng em một cánh hoa, tại anh thấy em là hoa đẹp rồi. Anh mong sớm có ngày được đoàn tụ cùng em nắm tay nhau tung mây lướt gió.
     
    * Một mai tôi qua đờiNhạc Phạm Trọng Cầu – Mỹ Linh trình bầy
     
    Sống với nhau hơn 60 năm, “sáu mươi năm cuộc đời” được 14 mặt con mà mình chưa bao giờ “to tiếng” với nhau, cằn nhằn thì có, nhưng chưa một lần em phải buồn phiền vì anh uống rượu, hút thuốc, đánh bạc và lăng nhăng, vì anh không thích những thứ đó, vì anh đã có em. Tính đến nay xa em đã 8 năm, thời gian cũng quá đủ suy ngẫm về thói đời hay coi thường hạnh phúc đang có sẵn trong tay mà không biết vun quén. Anh đang mong ngày tái ngộ.
    Cầu được ước thấy, mới tuần trước đây anh đang đứng vịn tường tập thể dục thì tự động ngã, bệnh viện cho biết những mạch máu li ti trên đầu bị vỡ, các con bao quanh lo lắng và bác sĩ họ đang cố gắng nối lại, nhưng anh nói:
    _ “Thôi”.
    Sống với con cháu như vậy là quá đủ rồi, lo cho các con như vậy cũng tạm ổn, nhìn lên không bằng ai nhưng nhìn xuống thì không ai bằng. Tuy các con không giầu có gì, nhưng đủ ăn và hạnh phúc, nhất là các con một vợ một chồng, như đũa có đôi và anh chị em thương yêu nhau. Anh nói với các con:
    _ “Các con như đũa có đôi, để ba về với mợ chứ, căn phòng trên lầu nơi mợ ở dành cho ba đã có sẵn tiện nghi rồi, các con đừng lo lắng và bịn rịn nữa. Chúc các con ở lại bình an, đùm bọc và thương yêu nhau như từ trước tới nay”.
     
    Em à! Hôm nay là ngày 14 tháng 9 năm 2010, chỉ còn đúng một tháng nữa là trùng vào ngày em đi, 14/10, bác sĩ cũng vừa báo cho biết họ sẽ “búc” vé cho anh. Như vậy là mọi việc đã sẵn sàng tốt đẹp, anh không mang theo gì cả. Khi nào có vé thì anh sẽ gọi phôn cho em biết để mở cửa cho anh vào. Nếu em nghe không rõ tiếng người mà chỉ thoáng phì phò tiếng gió thì biết đó là lúc anh đã cất cánh.
    Hẹn gặp em một ngày rất gần.
    Vĩnh biệt các con và các cháu cùng các chắt.
    Nguyễn văn Tuyết.
    ~~~~~~~~~~~~~~~~~~~
    (*) Mộ 2 tầng, ai đi trước nằm tầng dưới, ai đi sau nằm tầng trên
  • Văn

    Dòng Thơ Nhật Quang : NỢ NON SÔNG

    Xin quí vị đọc những bài thơ dưới đây, thì biết mình là người nhạy cảm (sensitive) hay vô cảm (insensitive). NQ

     

    NỢ NON SÔNG

    Ra đi chưa thoát nợ non sông,

    Thương phế thư theo gởi chất chồng:

    Phế liệt cơ hàn nơi chõng nát,

    Binh mù sờ soạn giữa lều không.

    Đứt gân xiêu vẹo, thù khinh ghét,

    Cụt gối bò lê, bạn chẳng trông.

    Tủi nhục quê hương thân nặng gánh,

    Từng chung lửa đạn có tâm đồng?

            ****

    Người ngay nào quịt nợ non sông,

    Phúc đức mừng ta hưởng chất chồng:

    Chinh chiến vạn ngày bom đạn tránh,

    Viễn trình muôn dặm biển trời thông.

    Mỗi trăm đô nhịn chưa nghèo bớt,

    Triệu tám đồng vô giúp nổi nông.

    Binh phế khổ đau, luôn nhớ giúp,

    Bạn cùng chiến tuyến mãi chờ trông.

    Nhật Quang

     

    NGHĨA NỢ NON SÔNG

    Ra đi còn thiếu nợ non sông?

    Đừng tưởng an vui, vội bốc đồng.

    Chiến hữu tật nguyền trong đói lạnh,

    Cố tình ngoảnh mặt, thẹn buồn không?

     

    Nghĩa cả quê hương cùng sống chết.

    Người đi may mắn, kẻ quê trông.

    Thế gian một thoáng rồi tan biến,

    Thương xót chia nhau chút mặn nồng.

     

    Xứ người nghèo bịnh khỏi lo chi,

    Vị kỷ, bần keo chẳng đúng gì,

    Chắc bóp nhiều thêm, rồi cũng thế,

    Phế thương, tự nhớ giúp thường đi.

     

    Lắm mồm, quịt nợ đáng khinh khi,

    Nợ nghĩa non sông, chẳng thể lỳ.

    Sòng phẳng phân minh, đời phước hạnh.
    Mai ngày thanh thản bước tiên qui.

    Nhật Quang.

     

    THƯ THƯƠNG PHẾ BINH

    Quê nhà thương phế gởi thư sang,

    Cảm cảnh non sông, lụy  ứa  tràn.

    Chiến sĩ cụt giò, mông lếch đất,

    Anh hùng đui mắt, gậy quờ quang.

    Mẹ nghèo quá vãng, lều tan mái,

    Vợ đói dông rồi,  bếp lạnh hoang.

    Tủy sống đạn vương nằm liệt chiếu.

    Bạn, thù, dạ sắt  nỡ  khoe khoang.

    Nhật Quang HP.

     

    CHÁN PHÈO

    Cuộc thế từng qua thấy chán phèo,   

    Đủ trò, nhiều đám chết ngu theo:      

    Mác Lê ảo vọng xui cuồng ác,            

    Mao Cáo tàn hung khiến đói nghèo.  

    Vô Thượng lừa mê ban nước thải      

    Sư  mang  đại  vũ  lọng  tàn  đeo          .    

    Ngón nghề cường bịp chung là nhất,

    Lớn nhỏ triều đình hổ, cáo, heo.       

    Nhật Quang. 

     

    THƯ THƯƠNG PHẾ BINH

    Thư quê thương phế kêu gào,

    Đã cùng chiến tuyến nở nào làm ngơ.

    Bao năm khổ nhục đến giờ,

    Hoài trông chiến hữu bên bờ chát chua.

    Tiền đem cờ bạc mãi thua,

    Diễu đời, dối đạo, chẳng mua được gì.

    Phật nào độ chẳng từ bi,

    Chúa nào cho kẻ tiện ti thiên đường.

    Lắm rượu gan, thận, nảo thương,

    Hút thuốc hại phổi sớm bương nhị tì.

    Thức ngon ăn lắm phát phì,

    Chi bằng nhiều ít độ trì thương binh.

    Trước đây chiến sĩ phe mình,

    Xông pha lửa đạn, hy sinh cuộc đời.

     

    Trẻ già hào phóng nên chơi,

    Bỏ thói bủn xỉn tiếng đời cười chê.

    Thiên thu rồi cũng ra về,

    Của tiền chắc bóp, khó bề mang theo.

    Ta no, thương phế đói nghèo,

    Miếng cơm, manh áo, xẻ seo chân tình.

    Cũng thời một kiếp nhân sinh,

    Đui què liệt cụt thay mình khổ đau.
    Tuy ta chẳng mấy sang giàu,

    Ấm no, lành lặn, đủ màu thảnh thơi.

    Đoái thương chia chút lộc trời,

    Nghĩa tình, nhân đạo cho đời đẹp vui.
    NhatQuang HP.

     

    TÌNH NGHĨA CHỊ EM

    Em đây thương tật rả rời,

    Một đô chị giúp, vui dời mươi hôm.

    Chị ơi em đói khô mồm,

    Cho em chút đỉnh tiền còm cháo rau.

    Thân em đui cụt liệt đau,

    Chẳng kiếm ăn được, trông mau qua ngày.

    Phước trời , mừng chị vận may,

    Thoát nơi tù ngục đọa đày thế gian.

    Chị đi xe gấm xênh xang,

    Giữa thù em chịu muôn vàn đắng cay.

    Chiến trường em mất chân tay,

    Em hư dôi mắt, lê càng liệt suy,

    Em vì Đất Nước chị đi,

    Chị khoe áo gấm làm chi xứ người.

    Xứ người giàu có mười mươi,

    Chị khoe cho lắm chúng cười chị thôi.

    Bao năm khổ nhục lắm rồi,

    Chị cố chơi nổi, vang trời tiếng hơn.

    Rắn rồng mồng đỏ chị sơn,

    Cho em tiền đó, em ơn chị nhiều.

    Thoáng qua đời đã về chiều,

    Thương em giữa cảnh tiêu điều tối tăm.

    Nhật Quang.

     

    CHỐN NƯƠNG THÂN

    Tây phương, Úc, Mỹ giúp thương ta,

    Đùm bọc cưu mang trẻ  lẫn  già.

    Bất nghĩa cố giàu, đua nhũng lạm,

    Lắm tay nghề nghiệp tính công ma.

     

    Giấy tờ giả mạo chúng trưng ra,

    Tín dụng, tiền vô đặt số ma,

    Bịp thuốc, buôn nhà, vay nợ lớn,

    Lừa tiền chính phủ sống xa hoa.

     

    Đứa buôn ma túy, đứa buôn người,

    Đứa gạt ngân hàng phá sản gia.

    Luật hở moi thêm bày dối giả,

    Trở cờ giúp Cộng vớt dollars.

     

    Cơm Mỹ mòn răng, khen nịnh Cộng

    Hãy về luôn sống, chúng đang mong.

    Việt Kiều yêu nước nguồn lao động,

    Mãi ở chi đây khuấy cộng đồng.

     

    Đá, đồng, đồ sắt bước văn minh,

    Nay tới đồ gian đễu thịnh hành,

    Trở tráo, ác tham tràn khắp chốn.

    Trăm điều chẳng thật, vốn lưu manh.

     

    Xuân nầy mong mỏi khắp gần xa,

    Nhàng nhẹ an vui sống trẻ già.

    Đây chốn nương thân xin chớ phản,

    Chung lòng bồi đắp đẹp thêm ra.

    Nhật Quang.

     

    ĐỒNG VỒ

    QuảngNgãi MiềnTrung có chú Đồng

    Ký dâng các đão biển thềm đông,

    Trả ơn bom súng quân Tàu giúp.

    Phá nát non sông hiến giặc hồng.

     

    Tây Tạng nay đây sắp xứ mình,
    Tiến trình nước Việt bước điêu linh.
    Công lao tiên tổ đâu còn nữa,
    Muôn thuở hồn mang nỗi bất bình.
    Nhật Quang
    .

  • Văn

    Nguyễn thành Bửu: TỪ NGÀY CÁC BÁC VÔ ÐÂY

    TỪ NGÀY CÁC BÁC VÔ ÐÂY

    Cảm tác sau khi đọc lá thơ đầy nước mắt của một cô gái đang sống dật dờ  tại thị xã Cần Thơ
     


    Lúc mà các bác chưa có vô đây
    Cháu chưa có mặt trên đất nước này
    Má cháu còn đi đến trường mỗi sáng
    Đúng tuổi trăng tròn, đôi má hây hây.
    Kể từ sau ngày các bác vô đây
    Ông Ngoại bỗng nhiên bị bắt, tù đày
    Bà Ngoại nhớ chồng rưng rưng mỗi tối
    Má cháu ưu sầu đánh mất thơ ngây.
    Hai năm sau ngày các bác vô đây
    Một sáng mùa Đông sương trắng giăng đầy
    Các bác đến nhà, lưng đeo súng đạn
    Bắt Má đi làm thủy lợi miền Tây.
    Một tháng đi làm thủy lợi miền Tây
    Má về ốm o, thân xác hao gầy
    Má ôm Ngoại khóc, thì thầm kể lể :
    – Cán bộ hiếp con, có lúc cả bầy !
    Rồi cháu ra đời không Ba, có Má
    Ngoại vừa nằm xuống nên Má trắng tay
    Bán buôn tảo tần Má nuôi cháu lớn
    Dù không biết rằng Ba cháu là ai !
    Mười tám năm sau ngày bác vô đây
    Tài sản, cửa nhà không cánh mà bay
    Má cháu qua đời sau cơn bạo bệnh
    Còn gì bán nữa ? – Ngoài thân cháu đây ?
    Gần hai mươi năm sau ngày bác vô
    Cháu mười sáu tuổi thân xác héo khô
    Vậy mà phải bán, lấy tiền mua gạo
    Tính ra sáng chiều – chỉ khoảng một tô !

    Nguyễn thành Bửu 
    (04/1995)

     

  • Văn

    Dương Quân : CHUYỆN VỀ THÁNG HẠ

    CHUYỆN VỀ THÁNG HẠ

                       ( Tháng 6/ 1975 )

     

     

       Ta sẽ kể em nghe về tháng hạ

       Một ngày xưa ta buộc phải lên rừng

       Bỏ thành thị, bỏ gia đình…tất cả

       Hành trang buồn, tủi nhục cõng trên lưng.

     

       Đầu đội trời chói chang, lê chân đất

       Cạnh bên ta rổn rảng những xích xiềng

       Bạn đồng hành chung chiếc còng, khóa chặc

       Ta trở về thời Trung Cổ đêm đen.

     

       Kìa những trại giăng giăng dây thép rỉ

       Những hào sâu nhọn hoắc vạt tầm vông

       Tường đá dựng che mảng trời âm ỉ

       Nòng đại liên lấp ló lổ đen ngòm.

     

       Ta đến đó cùng anh em thất trận

       Chốn giam cầm thừa bẩn thỉu hôi tanh

       Lòng ngơ ngác như sau cơn địa chấn

       Song sắt tù khép lại tuổi  xuân xanh.

     

       Bọn cai ngục ác tâm và hung bạo

       Đày đọa ta, " tù cải tạo " nhọc nhằn

       Lao động khổ sai, tả tơi manh áo

       Cơn đói hoành hành, chẳng có cái ăn.

     

       Từ hạ ấy, từng thu, đông xám ngắt

       Nhiều năm dư dưới cùm xích tơi bời

       Anh em ta, những người xưa biến dạng

       Xem hình hài như một lũ ma trơi.

     

       Ôi còn đâu ? dáng phương phi ngạo nghễ

       Nếp nhung y, trán thẳng, nét kiêu hùng

       Con người giờ đây ngang hàng giun dế

       Chỉ còn trái tim, đóm lửa rưng rưng…

     

       Nhiều bạn ta đã tàn hơi lực kiệt

       Đành xuôi tay, thần chết dẫn ra đi

       Ta cúi đầu thì thầm lời thương tiếc

       Nỗi ngậm ngùi đau xé phút lâm ly.

     

       Từ hạ ấy, quê hương trùm tang tóc

       Lũ vô thần dày xéo dãy non sông

       Khắp thành thị, thôn quê đầy gian tặc

       Ta bắt đầu lạc bước kiếp lưu vong.

     

                   ***

       Chuyện tháng hạ ngày xưa ta đã kể

       Bài học này, em có nhớ hay không?

     

     

                  DƯƠNG QUÂN

  • Văn

    Đỗ Trung Quân : TẠ LỖI TRƯỜNG SƠN

    Có thể quý vị đã đọc, nhưng cứ chuyển.

    Mời các bạn đọc một bài thơ của một thanh niên năm 1982 mới 27 tuổi đời (sinh năm 1955) đã sáng tác bài thơ này mà cho đến năm nay 2009 tức 27 năm sau mới dám công khai phổ biến. Không có một chế độ nào giam hãm kìm kẹp tâm tư của con người thô bạo như chế độ CSVN, bài thơ chỉ nói về những đổi thay của Sài Gòn  7 năm sau khi Sài Gòn thất thủ vào tay CS, đó là sự thật 100% thế mà cũng bị cấm.

     

    TẠ LỖI TRƯỜNG SƠN
               (1982)

    1.

    Một ngàn chín trăm bảy mươi lăm
    Các anh từ Bắc vào Nam
    Cuộc trường chinh 30 năm dằng dặc
    Các anh đến
    Và nhìn Sài Gòn như thủ đô của rác
    Của xì ke, gái điếm, cao bồi
    Của tình dục, ăn chơi
    “Hiện sinh – buồn nôn – phi lý!!!”

    Các anh bảo con trai Sài Gòn không lưu manh cũng lính ngụy
    Con gái Sài Gòn không tiểu thư khuê các, cũng đĩ điếm giang hồ
    Các anh bảo Sài Gòn là trang sách “hư vô”
    Văn hóa lai căng không cội nguồn dân tộc
    Ngòi bút các anh thay súng
    Bắn điên cuồng vào tủ lạnh, ti vi
    Vào những đồ tiêu dùng mang nhãn Hoa Kỳ
    Các anh hằn học với mọi tiện nghi tư bản
    Các anh bảo tuổi trẻ Sài Gòn là “thú hoang” nổi loạn
    Là thiêu thân ủy mị, yếu hèn
    Các anh hùa nhau lập tòa án bằng văn chương
    Mang tuổi trẻ Sài Gòn ra trước vành móng ngựa!!!

    2.

    Tội nghiệp Sài Gòn quá thể
    Tội nghiệp chiếc cầu Công Lý
    Có anh thợ điện ra đi không về
    Tội nghiệp những “bà mẹ Bàn Cờ” của những ngày chống Mỹ
    Lửa khói vỉa hè nám cả những hàng me
    Tội nghiệp những người Sài Gòn đi xa
    Đi từ tuổi hai mươi
    Nhận hoang đảo tù đày để nói về lòng ái quốc

    Có ai hỏi những hàng dương xanh
    Xem đã bao nhiêu người Sài Gòn hóa thân vào sóng nước
    Tội nghiệp nhưng đêm Sài Gòn đốt đuốc
    Những “người cha bến tàu” xuống đường với bao tử trống không
    Tội nghiệp những ông cha rời khỏi nhà dòng
    Áo chùng đen đẫm máu
    Tội nghiệp những chiến trường văn chương, thi ca, sách báo
    Những vị giáo sư trên bục giảng đường
    Ưu tư nhìn học trò mình nhiễm độc

    Sài Gòn của tôi – của chúng ta.
    Có tiếng cười
    Và tiếng khóc

    3.

    Bảy năm qua đi với nhiều buồn vui đau xót
    Một góc phù hoa ngày cũ qua rồi
    Những con điếm xưa có kẻ đã trở lại làm người giã từ ghế đá công viên để sống đời lương thiện
    Những gã du đãng giang hồ cũng khoác áo thanh niên xung phong lên rừng xuống biển
    Tìm lại hồn nhiên cho cuộc sống của mình
    Cuộc đổi thay nào cũng nhiều mất mát, hy sinh…

    4.

    Và khi ấy
    Thì chính “các anh”
    Những người nhân danh Hà Nội
    Các anh đang ngồi giữa Sài Gòn bắt đầu chửi bới
    Chửi đã đời
    Chửi hả hê
    Chửi vào tên những làng quê ghi trong lý lịch của chính mình
    Các anh những người nhân danh Hà Nội sợ đến tái xanh
    Khi có ai nói bây giờ về lại Bắc!!!
    Tội nghiệp những bà mẹ già miền Bắc
    Những bà mẹ mấy mươi năm còng lưng trên đê chống lụt
    Những bà mẹ làm ra hạt lúa
    Những năm thất mùa phải chống gậy ăn xin
    Những bà mẹ tự nhận phần mình tối tăm
    Để những đứa con lớn lên có cái nhìn và trái tim trong sạch

    Bây giờ
    Những đứa con đang tự nhận mình “trong sạch”
    Đang nói về quê mẹ của mình như kẻ ngoại nhân
    Các anh
    Đang ngồi giữa Sài Gòn nhịp chân
    Đã bờm xờm râu tóc, cũng quần jean xắn gấu
    Cũng phanh ngực áo, cũng xỏ dép sa bô
    Các anh cũng chạy bấn người đi lùng kiếm tủ lạnh, ti-vi, cassette, radio…

    Bia ôm và gái
    Các anh ngông nghênh tuyên ngôn “khôn & dại”
    Các anh bắt đầu triết lý “sống ở đời”
    Các anh cũng chạy đứt hơi
    Rượt bắt và trùm kín đầu những rác rưởi Sài Gòn thời quá khứ

    Sài Gòn 1982 lẽ nào…
    Lại bắt đầu ghẻ lở?

    5.

    Tội nghiệp em
    Tội nghiệp anh
    Tội nghiệp chúng ta những người thành phố
    Những ai ngổn ngang quá khứ của mình
    Những ai đang cố tẩy rửa “lý lịch đen”
    Để tìm chỗ định cư tâm hồn bằng mồ hôi chân thật

    6.

    Xin ngả nón chào các ngài
    “Quan toà trong sạch”
    Xin các ngài cứ bình thản ăn chơi
    Bình thản đổi thay lốt cũ
    Hãy để yên cho hàng me Sài Gòn
    Hồn nhiên xanh muôn thưở
    Để yên cho xương rồng, gai góc
    Chân thật nở hoa

    Này đây!
    Xin đổi chỗ không kỳ kèo cho các ngài cái quá khứ ngày xưa
    Nơi một góc (chỉ một góc thôi)
    Sài Gòn bầy hầy, ghẻ lở

    Bây giờ…
    Tin chắc rằng trong các ngài đã vô số kẻ tin vào “thượng đế”
    Khi sống hả hê giữa một thiên đường
    Ai bây giờ
    Sẽ
    Tạ lỗi
    Với Trường Sơn?

    Đỗ Trung Quân (1982)

     

  • Văn

    Ngọc Bích : Thơ đốt cho anh.

    Nguyễn thị Vinh

     

              Thơ đốt cho anh

     

    Kính tặng nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam.                                                                        

                                            N.T. V.

    Ngày 07 tháng 07 – 2007 cũng là ngày song thất, 7/ 7/1963 là ngày giỗ của nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tường Tam, Ngo.c Bích xin sao chép lại bài thơ này để kính dâng lên hương hồn Người và cũng để gửi đến chị Nguyễn thị Vinh trong thời gian anh chi (Nhựt-Vinh) sống tại Bích Thiền Viện San Jose vào dịp Ngọc Bích làm lễ giỗ chồng cũng vào ngày 7 tháng 7 – 2006  với nhiều kỷ niệm chung của mà chị em chia xẻ.

     


    Thơ đốt cho anh.

     

    Tôi đến thăm anh, anh biết không?

    Đất trời hẳn cũng cảm thông tâm tình

     

    Tỉnh đi anh, dạy đi anh!

    Nghe như lòng đất chuyển mình

    Cỏ trên nấm mộ lung linh u hoài

    Gió mơ hồ nhẹ thở dài

    Hình anh mờ nhạt trên vài dáng mây

    Tiếng anh nghe vẳng đâu đây

    Nhắc tôi nhớ tới phút giây tâm tình

     

    Sống là chi, thác là chi

    Âm dương đâu có nghĩa gì?

    Chúng mình muôn thuở vẫn đi chung đường

    Hiểu nhau qua những tình thương

    Trọng nhau vì nghĩa văn chương thể tình

     

    Giờ anh nằm trong lòng đất lạnh

    Còn riêng tôi sống giữa trần gian

    Bơ vơ trên nẻo đường cô quạnh

    Hai chúng mình đơn lạnh hơn ai.

     

    Bây giờ là cuối tháng hai

    Mùa xuân dương thế còn dài không anh?

    Sao tôi quá ngại chán chường

    Sợ mình gục ngã giữa đường đang đi

     

    Cỏ trên mộ anh xanh xanh

    Nghe như tiếng bước chân anh hiện về

    Nói đi anh! Kể đi anh!

    Có gì ngăn cách chúng mình?

    Phải ba tấc đất vô tình này chăng?                          

    Nguyễn thị Vinh

     

    **

     

     

    Ngọc Bích

     



    Ngày giỗ anh

     

    Đếm từng sợi tóc phai m àu

    Anh ơi tóc bạc mà sầu chẳng phai

    Xa nhau đã thật xa rồi

    Hẳn rằng đến kiếp luân hồi gặp ư?

     

    Thôi thì thôi chút âm dư

    Đốt dòng thơ gửi tâm tư về người

    Khói cay mắt, mặn bờ môi

    Có hay chăng nhỉ anh ơi! một ngày

     

    Mồng bảy tháng bảy năm nay

    Hai bảy mười bốn là ngày giỗ anh

    Năm năm tháng tháng qua nhanh

    Đôi hàng lệ chợt long lanh vì chàng

     

    Nhớ ôi là nhớ vô vàn

    Sầu rơi theo những lá vàng nhẹ rơi

    Lá vàng phủ lá nơi nơi

    Sầu rơi lá rụng đầy vơi nhớ chàng

    Ngọc Bích

     

    **


     

    Hai bảy mười bốn

    ngày ta mất người

     

    Một ngày song thất một năm xưa

    Em đã cùng con dọn án thờ

    Dưới án thờ anh em chỉ nhớ

    Hai hàng nước mắt ngập hiên mưa

     

    Giờ đây cũng lại tháng…ngày …thôi

    Em, một mình em lại ngậm ngùi

    Đốt một lò hương em đứng lặng

    Niềm riêng khói tỏa tận chân trời

     

    Thì đã xa anh thật, thật rồi

    Chỉ còn dư  ảnh những ngày vui

    Ngày này tháng bảy …anh còn đó

    Ngày giỗ lòng em vẫn lệ rơi

     

    Là nhớ, là thương cả quãng đời

    Ngày xưa, hai tiếng ấy xa xôi

    Phải chi lặng gió thuyền bên bêán?

    Còn lại thuyền riêng nỗi ngậm ngùi

     

    Em gửi theo anh tận cuối trời

    Cùng anh về mãi nẻo xa xôi

    Gửi trời xanh thẳm niềm cay đắng

    Năm tháng vơi mà lệ chẳng vơi

     

    * Ngọc Bích

     

  • Văn

    Thiếu Khanh : Trường Ca Việt Nam

    Trường ca Việt Nam

    Posted: 06/04/2011 by quản thủ thư viện in Thiếu Khanh, Thơ

    Thiếu Khanh
    Cho Thu Lâm Trương Lợi  (Canada)

    Ta phá xiềng Bắc thuộc
    Một ngàn năm nếm mật nằm gai
    Một ngàn lần quật mình đứng dậy
    Ngạo nghễ trước móng vuốt
    cường bang bạo lực
    Gọi thức giống người đoạn phát văn thân
    Giết chết con thuồng luồng quấn cổ
    Khơi rộng biển ngòi
    Mở rộng giang sơn

    Từ đó
    Bàn chân ta khai núi
    phá rừng
    Bàn tay xua loài thú dữ
    Mang quả tim lửa bỏng yêu thương
    Ta đi về phương Nam
    Mặt trời rực rỡ
    Đặt mình trên bờ bát ngát trùng dương
    Hát bài ca gió nồm
    Trong hơi thở nồng ấm
    mặn mà
    ngào ngạt
    Của biển của sông
    Và khí phách mấy ngàn năm
    phấn đấu
    Để sinh tồn

    Đã từng phen hưng phế thăng trầm
    Đớn  đau thân thể
    Ta bùi ngùi kể lể
    Bằng gió Thái Nguyên
    Rừng Lạng Sơn
    Sông Nhị núi Nùng
    Nghe từng đàn con tức tửi
    Từng bàn chân dã thú ngoại nhân
    Dẫm nát những vùng tóc xanh máu đỏ
    Mà nhớ những đêm Chí Linh
    tiếng thét oai hùng

    Cũng nhiều phen ta hò reo
    Đẫm mồ hôi thạch mã
    Đỏ ngọn sóng Hồng Hà
    Lời hịch vang lừng nhát dao chém đá

    Ta cựa mình đứng dậy
    Nhìn hai mươi vạn quân thù tan tác trôi sông

    Đêm Mê Linh
    Núi Lam Sơn
    Ngọn Bạch Đằng
    Gò Đống Đa
    Thân ta dựng nên thành cao
    bất khuất.

    Từ buổi sơ sinh trên bờ sông Dương tử
    Ta khôn lớn ở Thăng Long nghiêm cẩn
    Về Phú Xuân trang trọng hào hoa
    Nhìn ra trùng dương sóng vỗ
    Ngọn gió hồng hào thổi suốt châu thân
    Thơm mùi biển khơi
    rừng sâu
    Phù sa quyện tràn hơi thở
    Chín con rồng hát khúc bình ca
    Trên thân thể ta mượt xanh châu thổ

    Bản hùng ca
    Bốn ngàn năm khí phách
    Bốn ngàn năm bứt phá nanh vuốt bạo tàn
    của con hổ dữ
    Dựng một trời chiến công
    Ngút tỏa hào quang
    Trên bờ Đông hải
    Với những trường canh nhịp phách lẫy lừng
    Ngô Quyền
    Lê Lợi
    Hưng Đạo
    Quang Trung

    Ta vừa hát vừa đi
    Từ Bắc xuống Nam
    Gõ nhịp trên những ngọn tháp Chiêm Thành
    đất đỏ

    Nhưng một buổi
    Bản hùng ca bỗng dứt
    Ta đau thương tủi cực
    Nghẹn lời trầm ca thê thiết xuýt xoa
    Ngọn lửa thù hằn nung cháy nồi da
    Ta nhức nhối nằm nghe chín từng thớ thịt
    Ngọn sóng Linh Giang
    Xô lấp tiếng thét Bạch Đằng
    Ta buông rời từng chiếc tóc xanh
    Cánh tay cằn cỗi
    Không che hết những vết rạch ròi
    Bao nhiêu nhát dao bằm trên thân thể

    Kể từ đó
    Ta thành con-người-một-nửa
    Con mắt bên này
    Nhìn chới với con mắt bên kia
    Trong vết tử thương xả đôi hình hài
    Ta nhìn ta
    xương thịt
    mũi tẹt da vàng
    Đã dựng chung lịch sử

    Từ thuở sơ sinh trên bờ sông Dương tử
    Theo cánh chim Lạc
    Bay về với nắng phương Nam
    Ta cất tiếng hùng ca
    Khai rừng đuổi thú
    Bốn ngàn năm khôn lớn đứng dậy
    làm người

    Bây gìờ một nửa thân ta thương tích
    Nằm nhìn con sông Bến Hải
    Nằm nhìn hai phần thân thể buông nhau
    Bởi chính một dòng huyết mạch

    Thiếu Khanh
    (trích Trong Cơn Thao Thức; nxb Da Vàng, 1971)

    NGUYỄN TRỌNG TẠO: Khoảng 1973-1974 tôi tình cờ có được tập thơ Trong Cơn Thao Thức của Thiếu Khanh. Tập thơ đã rách bìa, và cuối tập thấy ghi in ở Đà Nẵng 1971. Khi đó cuộc chiến tranh đang hồi ác liệt, tôi là bộ đội và Thiếu Khanh chắc là “lính Cộng Hòa” – vì thơ anh là thơ của một người lính. Tập thơ của anh hấp dẫn tôi vì sự chân thật đến nghẹt thở của một người lính chiến. Từ chuyện hành quân, nổ súng, ném bom đến tin vợ sinh con khi ba đang trong trận đánh đều được anh viết chân thật và và lay động tận tâm can. Lúc đó tôi cũng đã làm thơ, đã có thơ in báo và đang chuẩn bị in một tập thơ lính. Đọc Thiếu Khanh, tôi giật mình khâm phục, ước gì viết được những câu thơ gan ruột như anh. Những câu thơ đến giờ tôi còn nhớ:

    “Nếu không có con
    Biết lấy ai làm chứng cho ba đã có mặt trong đời”

    Chỉ có người lính chiến mới nhận ra được cái điều tưởng như đơn giản ấy. Đạn bom đã cướp đi biết bao người lính trẻ “chưa một lần được hôn” (Phùng Quán), họ thành liệt sĩ hay thành vô danh trong suốt cuộc chiến tranh dài như là họ chưa hề có mặt trong đời. Bởi vì cuộc chiến thật khốc liệt, không biết sống chết lúc nào:

    “Véo vào da thịt thấy đau
    Da thịt còn đau – dấu hiệu sống còn”

    Và cái nghịch lý chiến tranh đã tạo nên biết bao bi kịch người lính, kể cả tình yêu mà mình luôn nâng niu trân trọng:

    “Anh đi ném bom xé nát trăm miền
    Rồi về dưới đó mua cành hoa nhân tạo
    Sáng mồng một Tết tặng em”

    Những câu thơ chua chát và cay đắng thật hiếm có trong cuộc chiến!

    Nhiều lần tới Đà Nẵng, tôi hỏi thăm xem có ai biết Thiếu Khanh không. Năm 1984, nhà thơ Đoàn Huy Giao (con rể nghệ sĩ Hoàng Châu Ký) bảo tôi là có biết anh nhưng không biết Thiếu Khanh hiện đang ở đâu. Rồi lâu quá, tôi nghĩ chắc anh vượt biên hoặc đi ra nước ngoài theo diện HO. Tuy vậy, thỉnh thoảng tôi vẫn đọc những câu thơ của anh khi nói chuyện về thơ lính. Những câu thơ luôn nhận được sự đồng cảm và thán phục của công chúng.

    Mãi đến đầu 2010, trên một chuyến xe chở đoàn nhà văn từ Hà Nội đi dự Đêm Thơ Quốc Tế ở Hạ Long, tôi ngồi ghế trước anh ngồi ghế sau mà không hề biết nhau. Xe gần đến Tuần Châu tôi hỏi anh tên gì? Anh rất hiền từ nói tên là Thiếu Khanh, khiến tôi ngạc nhiên vô cùng. Và khi biết tên tôi anh cũng ngạc nhiên không kém. Hóa ra sau này Đoàn Huy Giao cũng đã kể cho Thiếu Khanh là tôi đã có lần tìm anh.

    Tôi đọc thuộc những câu thơ gần 40 năm của anh, và anh gật gù đọc nối tiếp. Anh bảo nhiều bài thơ xưa anh không còn nhớ nữa, nhưng những câu thơ tôi thuộc thì anh vẫn nhớ. Hóa ra anh vẫn ở Việt Nam. Sau chiến tranh anh đi làm rẫy 22 năm rồi mới xuống Sài Gòn làm nghề dịch sách văn học, sách từ điển, và vẫn thầm lặng làm thơ. Thơ của anh vẫn nồng hậu và lãng đãng chất lính hào hoa xưa. Xưa “Yêu em ta bỗng thành thi sĩ/ Thơ lính hong ngời mắt mỹ nhân“, và nay thì: “Chỉ hai đứa mình cũng đủ thành giao hưởng/ Mỗi nốt vui khởi xướng cả trăm bè”.

    Chúng tôi du thuyền ra Hạ Long, ngồi cáp treo lên Yên Tử rồi chụp ảnh kỷ niệm hai người lính hai chiến tuyến xưa, nhưng thơ thì không còn ranh giới nào cả, bởi thơ là điểm gặp nhau chung nhất của con Người.

    Chiều nay tôi nhận được mail và tấm hình anh gửi. Lòng cảm động như nhận thư của người yêu. “Sự gặp gỡ của hai chúng ta trong dịp này khiến tôi hết sức xúc động, nó làm cho những ngày ở Hà Nội của tôi thật có ý nghĩa mà nếu trước đó tôi không đi dự chắc là tôi không biết mình đã đánh mất một điều gì. (Tôi đã định không đi dự hội nghị này vì … sợ không kịp hoàn thành một tác phẩm đang dịch dở dang. Về tới nhà tôi vội lao vào làm việc ngay cho kịp). Tấm ảnh Tạo gửi tôi, năm người chúng ta thật đẹp, và tất cả cùng rất vui. Tôi cũng gởi cho Tạo tấm ảnh chúng ta chụp ở núi Yên Tử. Tôi nhớ chúng ta có chụp một tấm ảnh nữa trước cổng Thiền Phái Trúc Lâm (?), nhưng tôi chưa tìm ra!”

    Vâng 37 năm người viết và người đọc mới gặp nhau mà như đã chơi với nhau từ lâu lắm…

    Hà Nội, 21.1.201037 năm mới gặp nhau.

    5 nhà thơ: Nguyễn Hoa, Thiếu Khanh, Hoàng Hưng, Nguyễn Trọng Tạo, Hữu Thỉnh.

    THIẾU KHANH: Tên thật Nguyễn Huỳnh Điệp. Sanh năm 1942. Tại Bình Thạnh, Tuy Phong – Bình Thuận. Hiện cư ngụ tại Sài Gòn.

    TÁC PHẨM ĐÃ XUẤT BẢN :

    ·  Thơ: Khơi Dòng (chung với Thu Lâm và Nguyên Thi Sinh, Montreal Canada 1968)

    ·  Trong Cơn Thao Thức (Da Vàng – Đà Nẳng, 1971). Tác phâm được in tại Đà Nẵng vì đó là quê hương người bạn đời của nhà thơ.

    ·  Một số tác phẩm dịch thuật, Từ Điển Cụm Từ Việt-Anh (ký Nguyễn Huỳnh Điệp).

  • Văn

    ĐỒNG CHÍ TƯ LÙ

    ĐỒNG CHÍ TƯ LÙ   

                                                                                               
     
                                                                                 Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất
     
         Hoàng đến. Hắn vừa liệng tờ báo Mercury tiếng Việt xuống bàn truớc mặt bạn bè vừa lớn tếng đùa dỡn:
     
    –   Tin nóng hổi! Tin nóng hổi đây!
     
         Thế là bọn chúng tôi ba đứa đã đủ mặt. Tuần nào cũng vậy, chúng tôi gặp nhau vào cuối tuần để hàn huyên và tán gẫu cho vui. Có thể nói cuộc gặp gỡ hàng tuần như thế này đã trở thành nếp sống riêng của cả ba. Nếp sống này hình thành từ ngày chúng tôi rời khỏi quân trường, trước kia thì những lúc rảnh rỗi, còn bây giờ thì vào mỗi cuối tuần. Cả ba chúng tôi tốt nghiệp cùng một khoá, phục vụ tại cùng một đơn vị, đóng quân tại một vùng trong suốt thời gian 6 năm lính. Cuộc đời vào sinh ra tử đã nối kết chúng tôi lại như một gia đình. Trừ ra quãng thời gian đi tù, sang Mỹ cả ba lại cùng gặp lại và chung sống với nhau trong cùng một thành phố, nên chuyện gắn bó với nhau là điều tất nhiên. Vì thế chúng tôi tự đặt cho mình cái tên là Ba-chàng-ngự-lâm-pháo-thủ theo tên của cuốm phim Les Trois Mousquetaires coi hồi còn là học trò. Đó có lẽ là một định mệnh. Chỉ cần một ly cà phê, một lon nước ngọt, hay một chai la de là đủ để buổi họp bạn kéo dài cho đến khuya. Đủ mọi chuyện để nói: chuyện đời học trò, chuyện trong đơn vị, những mẩu chuyện tình vụn vặt, cả những chuyện thời sự cũng được đem ra trao đổi.   
     
          Bạn bè đã quen tính láu lỉnh của Hoàng xưa nay nên chẳng bao giờ coi điều hắn đùa dỡn là quan trọng, chẳng cần biết tin nóng hổi mà Hoàng muốn loan báo là tin gì, cứ tưởng Hoàng méo mó cái nghề thông tín viên ngày xưa của hắn, một dạo làm cho hãng AP (Associated Press) trước khi nhập ngũ. Theo Hoàng kể, vì hắn có tài chỗ nào chui cũng lọt nên anh chàng Esper văn phòng trưởng của AP sai chạy có cờ. Đó là đặc điểm của nghề làm báo của Hoàng. Chuyện xào tin và phịa tin của bọn báo chí ngoại quốc là chuyện cơm bữa. Đôi khi chính Hoàng cũng phải tham gia vào. Sang Mỹ thỉnh thoảng Hoàng tỏ ý mơ ước được trở lại cái nghề tối ngày chạy rông này. Tôi cứ tưởng Hoàng xạo chuyện như mọi lần nên đùa lại để chế diễu:
     
    –   Thì ra ông thầy trở lại nghề làm báo mà tôi không hay. Báo đời hay báo hại đây? Mà từ hồi nào vậy?
     
         Thằng bạn khác là Sơn nóng tính chẳng cần biết ất giáp gì, tiện thể phang liền:
     
    – Làm báo nào chứ làm cho bọn Mẹc-Cu thì xin phép tao chê. Ở trong nước bọn báo chí phải làm văn nô cho đảng chả nói làm gì. Ở cái xứ tự do này mà đi làm văn nô cho tụi báo chí bất lương để kiếm miếng ăn thì chó má lắm. Thằng tỵ nạn như mình thà đi rửa nhà cầu mà sống còn hơn chui đầu vô làm cái nghề điếm nhục đó.
     
         Hồi còn ở lính, Sơn ghét cay ghét đắng bọn báo chí phản chiến, nhất là bọn nhà báo Mỹ lúc đó. Từ ngày sang Mỹ, cái ấn tượng này càng đè nặng hơn trên người Sơn. Nói đến bất cứ tờ báo nào của tập đoàn tư bản truyền thông Do Thái Knight Ridder là Sơn muốn nổi sùng ngay. Thấy Hoàng đi vào cầm theo tờ Việt Mercury là Sơn muốn điên lên rồi. Thấy câu chuyện bỗng đâu trở nên gay gắt một cách vô lý, Hoàng cụt hứng, nghệt mặt ra một lúc rồi mới lên tiếng phân trần:
     
    – Đừng nóng! Các ông đừng nóng! Các ông lạc đề hết rồi. Thằng này có làm báo làm bổ gì đâu. Có cái tin ngộ ngộ trên báo muốn cho các ông biết chơi thôi.
     
         Hoàng vừa nói vừa cầm tờ báo lên, lật qua lật lại rồi banh ra trước mặt các bạn:
     
    –   Các ông thử nhìn kỹ xem ai đây? Có quen không?
     
         Sơn không thèm ngó trong khi tôi dán mắt vào tấm hình đen trắng một đàn ông và một đàn bà trên một phần tư trang báo ở góc trái trang 2. Tôi bỗng kêu lên sửng sốt:
     
    –   Thằng Tư Lù tụi bay ơi!
     
    –   Đúng rồi, thằng Tư Lù. Mày hãy còn nhận ra nó. Khá đấy.  – Hoàng xác nhận.
     
         Tình hình xem ra đã bớt căng thẳng. Hoàng quay sang nói với Sơn:
     
    –   Mày đừng nóng, coi thử đi.
     
         Sơn vẫn chưa hết hậm hực:
     
    –   Ừ thì thằng Tư Lù, nhưng rồi làm sao?
     
         Nói thế chứ Sơn cũng phải lấy tay banh tờ báo và dán mắt vào tấm hình. Phải nói là cả bọn tôi đứa nào cũng hết sức ngạc nhiên. Không khí căn phòng trở lại thân mật như bình thường và chuyện trò bỗng sôi nổi hẳn lên:   
     
    –   Sao lại là thằng Tư Lù được nhỉ?
     
    –   Có cả con chằng lửa nữa. 
     
    –   Không, tên con mẹ là Thu Đạm.
     
    –   Cũng không đúng, phải nói là đồng chí Tư Lù và đồng chí Con Đĩ Ngựa mới phải.
     
    –   Rõ ràng là thằng Tư Lù, mà sao lại thành Nguyễn Tạ?
     
    –   Còn là thủ tướng mới rùng rợn nữa chớ.
     
    – Tư Lù thành ra Nguyễn Tạ thì có sao, nhưng nó làm thủ tướng thì nghe chuế quá.
     
         Cả ba đứa tôi đều ngạc nhiên trước sự kiện thằng Tư Lù ngày nào, bây giờ trở thành ông thủ tướng Nguyễn Tạ. Không sao giải thích được. Chuyện sâu bọ làm người chỉ xẩy ra ở những xứ mọi rợ thôi chứ không bao giờ có trong các xã hội văn minh như cái nước Mỹ này. Dưới chế độ đồ tể Hồ Chí Minh thì chuyện gì cũng có thể xẩy ra được. Chúng tôi đành phải đi đến kết luận như thế. Hồ Chí Minh làm bồi tầu, Đỗ Mười thiến heo, cạp rằng đồn điền cao xu Lê Đức Anh đều là những thứ sâu bọ làm người cả. Dưới chế độ mọi rợ này, một con người mà tên tuổi bị lem luốc thì nó chỉ việc thay đổi một cái tên khác thôi là xong rồi. Xã hội coi như thằng người có cái tên ngày trước đã chết. Người mình thường nói: chó chết hết chuyện là thế. Vì thế người ta mới thấy bọn cán bộ thay tên đổi họ như thay áo mỗi ngày. Từ thằng to đầu cho đến lũ cán nhí bên dưới, không đứa nào là không mang ít nhất hai, ba tên. Thằng Hồ có đến hàng chục cái tên. Bốn thằng anh em nhà họ Đinh cùng một lỗ chui ra nhưng rồi bốn thằng mang bốn họ khác nhau. Dưới cái chế độ côn đồ này, giết người còn chưa phải là chuyện lớn thì việc thay tên đổi họ thì nào có nhằm nhò gì. Kinh điển Marx dậy: cứu cánh biện minh cho phương tiện không tấy sao!
     
         Thằng Tư Lù ngày nào, bây giờ biến thành thủ tướng Nguyễn Tạ, dưới bầu trời cộng hoà xã hội chủ nghĩa Vietnam không phải là chuyện lạ. Chuyện lạ là một tên du thủ du thực biến thành ông thủ tướng. Thế mới biết chánh sách đổi mới của nhà nước CS Việt Nam nó thần sầu quỉ khốc tới múc nào. Tư Lù, một con người mà mấy bà bạn hàng ngoài chợ thường gọi là thằng Tư, sống lang thang chui rúc trong một cái xó chợ nhỏ nhà quê hẻo lánh gọi là chợ Chọi, chỉ là một tên vô lại. Nhưng kể từ ngày bọn VC nhẩy lên cướp chính quyền, Tư Lù được mang tước hiệu là “đồng chí”, bỗng dưng trở nên sáng chói và uy danh khắp miền Lục Tỉnh. Hiện tượng đó các nhà sử học sau này biết đâu sẽ chẳng đặt ngang hàng huyền thoại Phù Đổng Thiên Vương trong cổ sử nước ta.
     
         Về địa danh có tên là chợ Chọi, đó là một khu đất trống người ta họp để buôn bán mỗi buổi sáng sớm lúc gà chưa cõng con đi đái. Chợ họp chừng bốn năm tiếng đồng hồ là tan rồi. Nó nằm ngay mé sông, cạnh một thị trấn nhỏ gần Ngã Ba Ống Quần (xin đừng lộn với địa danh cũng có tên là Ngã Ba Ống Quần trong tác phẩm Vàng Và Máu của nhà văn Nguyên Vũ). Khu thị tứ này mấy bà nhà quê đã đo đạc tỉ mỉ, tính toán tường tận và qui ra chỉ lớn bằng một cái giạng đái của mấy bà. Ngày xưa, nơi đây không phải là cái chợ, mà là một khu đồng trống, bên cạnh một ngã ba sông. Trên bờ con sông lớn có một cái đồn Tây. Cách đó khoảng vài trăm thước là mấy túp lều tranh trá hình bán buôn giải khát, nhưng kỳ thực là nơi tiếp khách tây của chị em làng chọi. Vì thế khu chợ mọc lên sau này dân địa phương quen thói nôm na gọi là chợ Chọi. Nơi đây có thể nói là địa linh nhơn kiệt, đã sản sinh ra nhiều tay yêng hùng hảo hớn, những tay anh chị của đủ mọi thời đại. Chuyện kể về những bậc yêng hùng này có khi chỉ được truyền tụng giới hạn trong nền văn chương truyền khẩu tại địa phương, chẳng hạn đồng chí Tư Lù (khi chưa trở thành thủ tướng) như đang nói đây thì cứ tính từ chợ Chọi có đường bán kính vài chục dặm, bảo đảm từ già tới trẻ không ai là không biết. Nhưng cũng có chuyện được ghi chép lại trong nền văn chương được gọi là bác học của nước ta. Chẳng hạn như câu chuyện về nhân vật quen gọi là Bác Cáo thì cả nước ai cũng biết.
     
         Bác Cáo vốn là một tay anh chị nổi tiếng. Hắn sinh ra trong một gia đình nghe đâu là khoa bảng ở ngoài Trung. Người ta đồn ông bố thân sinh ra Cáo đã đậu tới thám hoa bảng nhỡn gì đó, rồi ra làm quan cho triều đình tại đất Nam Kỳ Lục Tỉnh. Được ít lâu, đất Nam Kỳ trở thành thuộc địa của tây mũi lõ. Ông bố Cáo trở thành ông quan ta thuộc địa, cai trị dân bản xứ ở mãi tận miệt Năm Căn Cái Nước. Ông quan ta thuộc địa này ăn phải bả tây nên nhiễm được hai cái tật rất tây là uống rượu tây như dân Năm Căn uống nước sông Hậu, và uấn dân ta như tây mũi lõ ngày xưa uấn nô lệ Phi Châu. Một hôm có một nông dân đến gãi đầu gãi tai xin quan giảm thuế vì mùa màng thất bát, lại vợ đau con ốm. Người này đến thật không phải lúc, làm mất hứng quan đang nhậu. Quan liền nọc anh nông dân ra đánh đòn. Đang lúc hơi men chếnh choáng, quan xuống tay quá mạnh chẳng may làm chết người. Thế là quan bị triều đình cách chức. Trước cảnh nhà sa sút, Cáo phải bỏ học, phiêu bạt giang hồ về mãi tận khu chợ Chọi này để lăn lộn kiếm sống. Lúc đó Cáo còn trẻ nên rất xốc vác. Hắn làm đủ nghề: cu ly có, bồi bàn có, đôi khi còn dắt mối tây cho chị em ta từ Cầu Hàn Chợ Lớn về đến chợ Chọi. Ông bố Cáo vì buồn phiền nên đâm ra nát rượu. Ngày nào cũng sáng xỉn chiều say. Chỉ vài năm sau ông bị thối gan mà chết. Cáo trở về thì ông bố đã ngỏm từ bao giờ. Thời gian bôn ba quá cực khổ làm Cáo gầy rộc đi, đen sậm lại, không còn cái dáng vẻ cậu ấm con quan ngày xưa nữa. Sống ở khu chợ Chọi, Cáo mới tròm trèm năm chục mà râu tóc đã bạc phơ. Có người gọi Cáo là cụ, kẻ kêu là bác để tỏ lòng kính trọng, vì dù sao hắn cũng thuộc giòng dõi nhà quan, lại có được cái dáng dấp tiên phong đạo cốt bên ngoài. Người ta vẫn thường nói ở xứ mù thằng chột làm vua. Ở cái chợ nhà quê này chẳng mấy ai có chữ nghĩa, nên Cáo đương nhiên được kể là người có ăn học. Hắn chễm chệ lên ngôi hương thân, và có chút vai vế trong khu vực. Thực ra ngoài mớ tiếng tây Cáo học được ở trường thuộc địa hồi còn bé, mớ kiến thức tả pín lù của hắn chỉ là do lăn lộn trường đời nhiều nên dễ nói phét khiến nhiều người nể nang hắn. Được chút nể vì của người đời, Cáo lên mặt ta đây, tự xưng là Bác với mọi người, bất kể lớn bé già trẻ. Cáo nối nghiệp ông bố được thói nát rượi và hút sách. Nhưng cũng còn được cái là hắn chỉ uống và hút lén lút một mình ở trong nhà. Ra đường Cáo cố giữ vẻ trang nghiêm và mực thước của bậc tôn trưởng. Đặc biệt Cáo đã tiêm nhiễm được ở đâu cái thói cầm nhầm. Để tỏ ra ta đây là người có ăn học, hắn thường đánh tráo thơ văn của người khác nhận làm của mình. Tệ hơn nữa hắn còn cầm nhầm cả vợ bạn. Nhiều người nói Cáo còn là một tên giết người. Hắn ăn vụng biết chùi mép, giết người, cướp vợ bạn, hay làm những hành vi bỉ ổi khác nhưng đều che dấu rất tài tình. Ai nấy đều e dè Cáo, nhưng ngoài mặt vẫn tươi cười vồn vã với hắn vì sợ có chuyện gì lại liên lụy vào thân.
     
         Cáo xứng đáng là bậc tiền bối của đám hậu sinh như Tư Lù. Hai nhân vật này giống nhau ở một điểm là do thời thế tạo nên. Những điểm khác nhau chẳng hạn về thân thế thì có nhiều. Tư Lù không xuất thân nhà quan. Nghe đồn nó sanh ra từ mấy quán nước gần đồn Tây, và trưởng thành ở cái chợ Chọi này. Nửa chữ cắn đôi cũng không biết, nhưng nhờ “kách mệnh”, nó bỗng dưng trở thành một nhân vật được nể vì. Nhiều người cho Tư Lù là thứ sanh phùng thời. Cũng đúng. 
     
         Người ta sinh ra ở đời, ai cũng đều sống có nhà, chết có mồ. Nghĩa là còn sống thì có gốc gác gia đình, dòng họ. Chết đi để lại mồ mả để con cháu nhớ ngày cúng giỗ. Riêng đồng chí Tư Lù, cái khoản gia thế chỉ là con số không. Từ khi được “kách mệnh” giác ngộ và dậy dỗ, nó thường tỏ ra tự hào có tổ tiên là giống khỉ. Hậu duệ của nhà khỉ này trước kia ban ngày sống lang thang chung quang khu chợ Chọi. Đêm đến thì bất kỳ đâu cũng là nhà. Nhà nó có thể là cái chái miếu thờ Thổ Thần trong xóm. Cũng có thể là cái phản thịt của chú Ba Xệ ngoài chợ, hoặc cái sạp của mụ Bẩy Mướp bán bún nước lèo dưới mé sông. Tư Lù sống nửa cuộc đời vô gia cư, vô gia đình, vô bà con dòng họ. Thậm chí đến cái tên cúng cơm cũng vô luôn. Nó không có lấy một thứ giấy tờ gì lận lưng, nên không biết ngày sanh tháng đẻ, không biết cha mẹ là ai. Quê quán thật sự ở đâu nó cũng mù tịt.
     
         Từ ngày giặc cờ đỏ tràn về, Tư Lù bỗng dưng được coi là người có công với cách mạng. Chuyện cũng chỉ là tình cờ, nhưng đã có ông thầy bói mù ở chợ Chọi bốc quẻ nói tiên tri rằng nó là một thằng Xuân Tóc Đỏ thời đại. Trong lúc mọi người chạy giặc, cả đồn cảnh sát, chi khu và căn cứ lính tráng đã rút về tỉnh hết, một mình nó say xỉn, lượm đâu được lá cờ nửa xanh nửa đỏ, vừa đi vừa phất, miệng hát ngêu ngao. VC thấy nó cho  là dân chúng cử đại diện ra nghênh đón quân giải phóng. Nó ở thế chẳng đặng đừng nên tình nguyện hướng dẫn bọn bộ đội tiến vào quận lỵ đã bỏ trống. Tư Lù vì thế trở thành anh hùng cách mạng. Chỉ ít ngày sau, nó được tuyên dương thành tích trong một buổi meeting long trọng chào mừng ngày giải phóng của toàn tỉnh và được tham gia vào phái đoàn Thành Đồng Chống Mỹ Cứu Nước của Miền Nam ra tham quan Hanoi. Khi nó được gọi đến để lấy lý lịch và kê khai thành tích, tên chính trị viên của tiểu đoàn 307 cơ động tỉnh phụ trách công tác tuyên dương cấp tỉnh tiếp đãi Tư Lù như một thượng khách. Sau một tuần trà nước, bánh kẹo, và thuốc lá xã giao, tên bộ đội bắt đầu làm công tác. Hắn rút ra trong túi cuốn sổ tay và cây viết bic để ghi chép rồi ôn tồn hỏi Tư Lù: 
     
    –   Đồng chí có giấy tờ gì không?
     
         Tư Lù chưa đoán được sự thể ra sao nên vẫn chưa cảm thấy yên bụng. Nó lí nhí trả lời trong cổ họng:
     
    –   Dạ, không có.  
     
    –   Có mà không mang theo hay không có?
     
    –   Không có.
     
         Tên bộ đội nghĩ trong bụng dù sao Tư Lù cũng chưa tin tưởng cách mạng lắm nên cố tình dịu ngọt với nó để nó yên tâm: 
     
    –   Đồng chí không có gì phải sợ. Cách mạng hiểu đồng bào sống trong vùng địch kiểm soát, ai cũng phải mang giấy tờ tùy thân mà đồng bào không muốn. Đồng chí tất nhiên cũng thế thôi. Chẳng hạn khi đồng chí muốn đi đâu thì cũng phải có giấy căn cước thì mới đi lại được. Chẳng lẽ đồng chí không đi đâu bao giờ?
     
    –   Dạ tôi không có đi.
     
         Tên bộ đội vẫn giữ giọng thân mật:
     
    –   Thôi cũng được. Đồng chí nhớ được gì thì đồng chí cho biết. Đồng chí tên gì?
     
    –   Dạ, tên Tư Lù.
     
    –   Đây là tên gọi của đồng chí? Tôi muốn hỏi tên họ. Đồng chí họ gì? 
     
    –   Dạ không biết. Tôi không có họ. Người ta vẫn gọi tôi là Tư Lù.
     
    – Cả tên họ của đồng chí mà đồng chí cũng không biết họ gì. Cha mẹ đồng chí còn sống hay đã chết, ở đâu?
     
    –    Tôi không biết. 
     
    –    Chết thật!
     
         Tên bộ đội thở dài hơi tỏ vẻ thất vọng. Hắn hỏi thêm về tuổi tác, thân nhân của Tư Lù nhưng nó vẫn ngồi làm thinh. Hắn ngồi cắn bút suy nghĩ trước cái lý lịch mù mơ của người đối diện. Đầu tiên tên bộ đội còn nghi ngại đoán già đoán non Tư Lù có thể là một điệp viên tụi Mỹ cài lại. CIA chắc chắn rất quỉ quyệt nên cần phải đề cao cảnh giác. Hắn tự nhủ. Tuy nhiên, chỉ trong khoảnh khắc hắn đã tìm ra được chân lý. Một lý luận rất logic trong kinh điển Mác chợt loé ra trong cái đầu đặc sệt của tên bộ đội làm hắn bật đứng lên, vui như nhà bác học Achimède đang lúc tắm truồng trên sông Nile, khám phá ra nguyên lý thuỷ tĩnh học. Hắn đập tay lên bàn một cái bịch, rồi nhả vào khoảng không trước mặt một hơi dài sự khoái trá trong lòng hắn:
     
    –   Đúng rồi! Đúng rồi! Nhất định là như thế!
     
         Tư Lù không hiểu tên bộ đội này muốn nói đúng là đúng cái gì. Nó hơi hoảng, lo sợ biết đâu hắn lại chẳng nhớ ra một người nào đó trông giống mình mà cơ quan của hắn đang tầm nã. Tên bộ đội vẫn đứng đó. Hắn hí hửng ngắm nghía Tư Lù một lúc từ đầu xuống chân rồi từ từ bước tới trước mặt nó. Hắn biết Tư Lù đang thắc mắc và lo sợ nên làm ra vẻ kẻ cả, đặt tay lên vai Tư Lù và bắt đầu giảng giải về phép biện chứng mà hắn đã được học trước đây:
     
    –   Đừng sợ! Đừng sợ! Trường hợp của đồng chí kể như đặc biệt lắm đấy. Đồng chí sống giữa lòng địch mà đã tự giác ngộ được cách mạng, thoát ly tất cả mọi ràng buộc gia đình giống như bác Hồ muôn vàn kính yêu, tự mình lột xác một cách toàn diện và triệt để. Đồng chí phủ định tất cả quá khứ, cũng như mọi liên hệ tình cảm của mình mà không cần đến sự giáo dục của đảng để trở thành một con người cộng sản tinh ròng theo đúng logic, phù hợp với biện chứng của chủ nghĩa Mác bách chiến bách thắng thì thực là trên đời có một không hai đấy. Tôi nhiệt liệt hoan nghênh đồng chí, và thay mặt đảng tuyên dương đồng chí là một người con yêu của tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Tuy đồng chí chưa chính thức gia nhập đảng, nhưng tôi tin chắc rằng rồi ra đồng chí sẽ có những bước tiến nhẩy vọt để trở thành một người cộng sản chân chính, một đảng viên gương mẫu. Tôi chúc mừng đồng chí, và một lần nữa, thay mặt đảng, tôi nhiệt liệt hoan nghênh và tuyên dương đồng chí.
     
         Tư Lù ngồi chết trân. Mặt nó nghệt ra, đầu óc lùng bùng vì những thứ chữ nghĩa mà nó chưa hề nghe nói đến bao giờ.  Nào là lột xác. Nào là qui luật. Rồi còn biện chứng, logic, chủ nghĩa Mác vv.. Tuy không hiểu gì, nhưng nhìn vào nét mặt rạng rỡ của tên bộ đội, và bỗng nhiên được ông quan cách mạng này gọi là đồng chí, nó cảm thấy yên tâm với ý nghĩ dữ ít lành nhiều. Tên bộ đội nói xong, sửa lại tư thế đứng nghiêm kiểu nhà binh, giơ tay ra bắt tay Tư Lù. Nó vội vàng đứng dậy, lưng hơi cong xuống, không dám ngẩng mặt lên, mắt chớp chớp, đưa cả hai bàn tay nắm lấy tay tên bộ đội mà lắc. Trong lúc nắm tay tên bộ đội, Tư Lù chợt nhận thấy trong lòng nó trào lên một thứ tình cảm thật khó diễn tả, vừa sung sướng, vừa tự hào, vừa tin tưởng, vừa hy vọng. “Nhờ ơn cách mạng, nhờ ơn đảng”, nó gật gù cái đầu bờm xờm và lẩm bẩm một mình. Nó không nói lên sự cám ơn tên bộ đội bằng lời, nhưng bằng hai con mắt rươm rướm ướt. Nó cảm thấy như cuộc đời của nó như đã biến đổi. Nó thầm cám ơn cách mạng đã giải phóng nó. Đối với nó, tất cả quá khứ từ nay đều tiêu tan hết. Một tương lai mới hiện ra trước mắt nó. Từ nay nó sẽ không còn bị khinh khi, bị gọi tên một cách xách mé: thằng Tư này, thằng Tư nọ nữa. Nó ghét nhất kẻ nào gọi nó xách mé như thế. Nó hình dung ra những kẻ mà chỉ vài ba ngày trước còn chiếm một địa vị trên nó rất cao, rất cao, giờ này đây chỉ còn là những con giun, con kiến dưới chân nó. Mấy mụ bán hàng ở chợ và ngoài bến sẽ hết còn dám xỉ vả nó. Tên xã trưởng già mà thường ngày nó vẫn khép nép vâng vâng, dạ dạ xưng bố xưng con, từ nay nó sẽ bắt phải bỏ cái thói nhìn nó bằng nửa con mắt đi. Bọn sĩ quan trong chi khu và căn cứ nữa, tuy phần lớn có xề xoà tốt bụng thật đấy, còn trẻ măng, cũng cỡ chừng tuổi với nó, nhưng nó vẫn phải khúm núm kêu bằng ông thầy, từ nay sẽ biến mất khỏi cái giang sơn này của nó, hết còn hàng ngày ra ăn uống tại quán bún nước lèo của mụ Bẩy Mướp. Lại còn anh chàng trưởng chi cảnh sát mới thật đáng chết. Xưa nay nó vẫn kính cẩn gọi anh ta là sư phụ. Có lần nó bị sư phụ nhốt một đêm trong đồn vì tội ăn cắp, còn doạ bắt nó đi lính. Nó không sao quên được cái đêm trong căn hầm nóng nực đầy muỗi ấy. Gặp được sư phụ ít nhất nó cũng phải xỉ vả cho mấy câu để trả thù. Nó sẽ bắt mọi người từ nay phải kính trọng nó. Phải rồi, còn cả cái ả bán hột vịt lộn tên Nở ấy nữa. Mỗi khi nó ăn hột vịt, ả tính toán với nó từng đồng từng cắc, không cho thiếu một xu. Ấy vậy mà không hiểu sao trong khoảnh khắc tưởng tượng đó, Tư Lù lại chừa ra cho ả một chút lòng thương hại. Nó cho rằng ả cũng nghèo nên đáng thương hơn là đáng ghét. Sự phân biệt đối xử này có lý do khác chứ không phải mang tính giai cấp mà nó mới giác ngộ được từ tên bộ đội. Đã nhiều lần Tư Lù chọc ghẹo thị Nở nhưng lần nào cũng bị ả cự tuyệt và đuổi đi. Nó đặt cho Nở một cái tên thật văn vẻ là Thu Đạm. Bình thường nó thân mật kêu ả là Con Đĩ Ngựa. Nó bấm bụng phải trả thù cái tội hỗn láo và bần tiện của Con Đĩ Ngựa mới được. Nó nhớ lại lần ăn chạy năm cái hột vịt lộn của Thị Nở. Ả đòi kẹp nó vào háng để đậy cho nó một bài học. Giận Nở thì có giận thật, nhưng sao lúc này nó lại thấy tội nghiệp ả vô cùng. Nó bỗng mơ ước được Con Đĩ Ngựa kẹp vào háng để dậy cho nó bài học ngay vào lúc này thì hay biết mấy. Nó cảm thấy nóng ran ở mặt. Nó nuốt nước miếng ừng ực, nhếch mép cười ruồi và quả quyết trong đầu: vụ này quyết không thể bỏ qua được, nhưng để rồi sau sẽ tính.
     
         Tên bộ đội vui vẻ hiện ra mặt vì hắn vừa mới khám phá ra được một con người cộng sản lý tưởng. Hắn tự cho mình đạt được một chiến công đúng ngày hắn vào giải phóng khu chợ Chọi này. Hắn khám phá ra rằng một con người nếu đã mang sẵn tính giai cấp trong mình, khi gặp điều kiện thì họ lập tức sẽ đột biến, chẳng khó khăn gì. Đó là mỘt bước nhẩy vọt, cũng giống như bước nhẩy vọt từ vượn thành người mà hắn đã được học ở khu rừng già chiến khu D Phước Thành. Cả một mớ lý thuyết hắn dồn vào bụng, nay mới có cơ hội được chứng minh. Quả thật có sức thuyết phục. Thái độ vừa khuất phục, vừa biết ơn của Tư Lù làm tên bộ đội càng tự tin hơn vào sự suy nghĩ của mình. Sự mù tịt về lý lịch của Tư Lù đã không còn phải là vấn đề, mà trái lại còn là động cơ cho tiến trình phát triển đúng với qui luật. Hắn cho đó là một sự lột xác thần kỳ, một mánh lới khôn ngoan để thi hành chánh sách bất hợp tác với ngụy quân, ngụy quyền. Rõ ràng là một hình thức phản kháng đầy trí tuệ đã đem lại hiệu quả. Chỉ với sự kiện này, Tư Lù cũng đáng được kể là đã lập được thành tích, có công lớn đối với cách mạng. Nó xứng đáng được tuyên dương anh hùng chống Mỹ cứu nước, và được tưởng thưởng huy chương Thành Đồng Chống Mỹ. Với Tư Lù, giờ đây nó chỉ cần biết một điều là nó đã có tên tuổi hẳn hoi đối với cách ma.ng. Tên nó là Tư Lù. Đúng hơn nữa là Đồng Chí Tư Lù. Cách mạng gọi nó là đồng chí thì nhất định nó là đồng chí rồi. Nghĩa là nó cũng như những tên bộ đội mang súng, đội nón cối, chân mang dép râu mà nó thấy. Nó tin rằng chắc chắn nó cũng sẽ được khoác khẩu súng trên vai và lúc đó mọi người ở chợ Chợi sẽ phải phục nó sát đất. Chữ “đồng chí” đối với nó thật đáng yêu làm sao! Ngày trước người ta gọi nó là thằng Tư thì nó tưởng đấy là tên cha mẹ đặt cho nó. Còn chữ Lù đi kèm tên Tư thì lại là một câu chuyện truyền tụng khó quên chung quanh khu chợ Chọi, một thành tích có một không hai về nghề ăn quịt của nó. Điều này Tư Lù biết rõ hơn ai hết. Nhiều bà bán hàng ngoài chợ những lúc vắng khách vẫn còn đem ra bàn qua tán lại câu chuyện ăn quịt rất hài hước này của thằng Tư.
     
         Thị Nở, hay Thu Đạm, hay Con Đĩ Ngựa hàng ngày vào mỗi buổi chiều đội thúng hột vịt lộn ra bán ngoài đường cái ngay lối vào chợ. Bữa đó, khi Nở vừa bầy hàng ra xong thì bỗng thằng Tư lù lù vác xác tới. Mỗi khi thấy nó, ả vội vàng lập tức đuổi nó như người ta đuổi tà. Ở chợ ai lại không biết Tư Lù là thằng chuyên môn ăn chạy, nghĩa là ăn xong là chạy, không trả tiền. Hôm ấy Nở chưa kịp ra tay tống khứ Tư Lù thì nó đã xà đến kéo ghế ngồi. Nó hách dịch nói với ả như ra lệnh:
     
    –   Cho năm cái vịt lộn. Nhớ chọn mấy cái ấp mề già đấy nhá.
     
         Nở muốn điên liên. Ả nghĩ trong bụng, thằng này hôm nay chán sống rồi, nhưng ả cũng cứ cho nó ngồi yên để xem thử, vì dù sao nó cũng đã lỡ ngồi xuống rồi. Ả trợn mắt nhìn thẳng vào nó rồi lên giọng kẻ cả, hỏi:
     
    –   Có tiền không cái đã. Không thì đi chỗ khác chơi cho người ta buôn bán. Đừng có đến đây mà ám. Chưa mở hàng đâu đấy nghe, ông thần nước mặn.
     
         Nó làm bộ thọc tay vào túi quần, lắc lắc mấy cái như ra dấu bảo rằng ta đây có tiền, còn nhe răng cười và trả lời chắc nịch:
     
    –   Sao lại không? Yên chí đi. Sòng phẳng mà chị Hai.
     
         Thị Nở cũng là người cả tin. Ả giọn ra cho nó một cái tô đựng năm cái hột vịt lộn còn nóng hổi. Ả dằn mạnh cái tô trước mặt Tư Lù rồi dục:
     
    –   Ăn đi. Ăn lẹ lên rồi đi ngay, chỗ người ta làm ăn.
     
         Ả còn không quên nhắc lại một lần nữa:
     
    –   Mà phải trả tiền sòng phẳng đó nghe. Không thì cứ để cái xác lại đấy. Không dỡn đâu.
     
         Tư Lù chẳng thèm để ý đến lời đe doạ của Thị Nở. Nó gục đầu xuống, vừa thổi phù phù, vừa ăn một cách rất tự tại. Chỉ trong khoảnh khắc, nó đã nuốt trôi năm cái hột vịt lộn nóng hổi vào bụng, rồi thản nhiên đứng lên đi. Biết mình lại bị một phen nữa mắc lừa, Thị Nở đứng bật dậy, dục hết đồ đạc trên tay xuống bàn. Ả bung người nhẩy bổ ra, đứng chắn trước mặt nó, hét lên như trời gầm:
     
    –   Mày lại dám ăn quịt của tao nữa hả, cái thằng trời đánh này? Mày phải trả tiền cho tao đã rồi mới được đi. Không thì mày móc họng mày ra hết cho tao. Lần này tao không tha đâu. Tao nói trước rồi.
     
         Tư lù không còn đường tiến, cũng không còn đường rút lui. Bất thình lình, nó lấy hết sức gạt người đàn bà sang một bên rồi ù té chạy. Thị Nở té chúi xuống, nhưng chồm dậy ngay được. Ả đuổi theo nó, vừa đuổi vừa chửi. Ả chạy một quãng rồi dừng lại vì biết rằng không thể nào đuổi kịp nó. Vả lại ả không dám bỏ lại thúng vịt lộn không có người coi. Thấy Nở đứng lại, nó cũng đứng lại. Thấy ả bước tới, nó lại cắm cổ chạy. Cứ như thế một lúc thật lâu. Người ta chung quanh chợ đổ ra xem đông nghẹt. Con nít coi màn tuồng cút bắt này khoái tỉ, vừa reo hò, vừa vỗ tay bôm bốp. Trước tình trạng đó, thị Nở cũng đành phải bất lực. Ả cảm thấy mắc cỡ với những người đứng coi vì sự nhẹ dạ của mình. Ả đứng lại thách thức thằng Tư:
     
    – Mày có giỏi thì lại đây chơi tay đôi với bà. Bà không xé xác mày ra không làm cái giống người.
     
         Nó đứng ở xa cười hăng hắc, hỏi lại để cố ý trêu chọc ả:
     
    –   Mày dám?
     
    –   Tao không dám thì ai dám?
     
    –   Tao lại mà không dám làm gì tao, mất năm cái hột vịt nữa, chịu không?
     
    – Thằng chó đẻ! Bắt được mày, tao kẹp mày vào háng bắt mày bú L. tao cho mày chừa cái thói ăn dựt, ăn chạy đi.
     
         Tư Lù nghe vậy cười khoái chí, nó càng trêu chọc thêm:
     
    – Thiệt không? Sợ gì mà không dám cho mày bắt. Sướng thấy mồ. Tổ sư cha đứa nào chỉ nói mà không dám làm? 
     
         Người đứng xem cười ồ lên. Đám trẻ con vỗ tay rần rần như pháo tết. Kể từ ngày đó, thằng Tư được đặt cho một chữ nữa ghép vào cái tên Tư thành ra là Tư Lù. Ai gọi sao thì gọi. Nó chỉ cười hề hề, chẳng phân trần, cũng chẳng cải chính. Nó không buồn phiền gì với Con Đĩ Ngựa, trái lại nó càng mơ tưởng đến ả nhiều hơn.
     
         Sau khi Tư Tù đi tham quan thủ đô Hanoi về, nó được bố trí công tác an ninh ngay tại khu vực chợ Chọi. Trong giai đoạn đầu của chánh quyền “kách mệnh”, sự xếp đặt này là đúng người đúng việc, vì không ai xứng đáng được gọi là thổ công ở cái chợ Chọi này hơn nó. Nó biết rành từng gia đình, từng người trong khu vực. Gia đình nào có con, cháu đi lính “ngụy”, làm công chức “ngụy”, gia đình nào có người trước kia đi làm cho Mỹ vv.., từng gia đình, tiền bạc, nhà cửa, ruộng vườn như thế nào nó đều biết rành cả. Nó biết rõ mọi chuyện như nắm trong lòng bàn tay. Nó chỉ dưới quyền một người là tên bộ đội chính trị viên của tiểu đoàn 307. Tên này quyền hành cũng như chủ tịch xã lúc trước, còn Tư Lù phụ trách vấn đề an ninh trong khu vực. Cả hai tên này họp lại dưới danh nghĩa là Ban Quân Quản Chợ Chọi. Với tư cách là thành viên Ban Quân Quản, nó gởi hết vào trại cải tạo những thành phần đáng nghi ngờ đối với chế độ, nói cho đúng hơn là những người nó không ưa, hay nó có thành kiến. Chức vụ mới này cũng cho phép Tư Lù tuyển chọn theo ý nó một đám lâu la để sai khiến. Bọn này quản lý hầu như mọi vấn đề quanh khu chợ Chọi. Chúng gồm có bốn tên đàn ông và một mụ đàn bà. Mụ này không ai khác hơn lại chính là Con Đĩ Ngựa. Trước ngày VC vào, bốn tên lâu la này đều là thứ anh chị ở trong vùng. Mỗi tên bao sân thu hụi chết một lãnh vực buôn bán, chẳng hạn đứa hàng ăn, đứa hàng trái cây vv.. Giang san của đứa nào đứa ấy quản trị ngầm theo một nguyên tắc giữa chúng với nhau là nước sông không phạm đến nước giếng. Vì thế ít khi có đụng độ nào đáng kể giữa bọn chúng. Riêng Con Đĩ Ngựa, sau khi “chính quyền đã về tay nhân dân” rồi thì nó mới hiện nguyên hình là một đồng chí nữ giao liên VC. Ả được giao nắm đầu hội Phụ Nữ Giải Phóng huyện, trực tiếp làm việc với ban quân quản. Khi Tư Lù lên làm lớn, bọn bốn tên tự động qui thuận dưới trướng của nó. Chúng tôn Tư Lù lên làm lãnh đạo và gọi nó là thủ trưởng. Chức thủ trưởng này vậy mà rất có tác dụng.
     
         Từ khi Tư Lù lên chức thủ trưởng, sinh hoạt khu chợ Chọi có phần đi vào nề nếp hơn. Bọn đầu gấu này có mặt chỗ nào là chỗ đó hết ai dám hó hé. Chúng nói gì mọi người phải  tuân theo răm rắp. Chúng ghé hàng quán nào, ăn uống gì, mua bán gì, chủ quán đều phải khép nép mời chào rất lễ phép. Và tất nhiên mua gì chúng không bao giờ nhớ trả tiền. Cũng không ai dám đòi tiền chúng. Có một lần Tư Lù dẫn lũ đàn em vô nhậu tại quán chú Ba Thìn. Ăn uống xong, cả bọn đứng dậy. Tư Lù làm bộ móc tiền định trả làm chú Ba xanh mặt. Chú vội xua tay cười giả lả nói với nó như van xin:
     
    –  Có gì đâu, thôi đi. Chuyện nhỏ mà ông Tư.
     
         Tư Lù làm ra vẻ thành khẩn:
     
    –   Chú Ba buôn bán mà, tụi tui ăn không của chú sao được.
     
         Ba Thìn là dân Chệt. Chú chỉ cần được yên thân. Thói bợ đỡ đút lót là nghề của dân Chệt làm ăn trên đất người. Chú áp dụng mánh lới rất chệt để mà tâng bốc Tư Lù:
     
    –   Cách mạng lo cho dân thì dân giúp đỡ lại cách mạng thôi mà. Có phải không ông Tư?
     
         Sự việc này sau đó trở thành nếp sinh hoạt tự nhiên của người dân buôn bán chung quanh khu chợ Chọi. Tất cả cán bộ, bộ đội, kể cả những kẻ chỉ có hơi hướng với kách mạng đều ngang nhiên ăn uống, mua bán miễn phí. Hậu quả đem lại là cả thị trấn chỉ trong sáu tháng từ sau ngày “giải phóng” đã đoạt ngọn cờ tiên phong, đi đầu trong cuộc chạy đua tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên xã hội chủ nghĩa đói rách. Không còn ai bán buôn. Chợ Chọi lại trở về hoang vu thời tiền Pháp thuộc. Tư Lù một lần nữa được tuyên dương tiên tiến xây dựng nếp sống mới xã hội chủ nghĩa.
     
         Khi người dân chợ Chọi đã quay về với đồng ruộng rồi thì Tư Lù do thành tích, được gia nhập đảng và dược đưa lên làm trưởng đồn công an phường tại thị xã Sóc Trăng. Sau ngày “giải phóng”, tỉnh Ba Xuyên sát nhập vào tỉnh Bạc Liêu và tỉnh lỵ trở thành thị xã Sóc Trăng. Thị xã này có 6 phường. Trong 8 năm trời, Tư Lù lần lượt nắm chức đồn trưởng công an của cả 6 phường trong thị xã. Tính trung bình mỗi phường nó làm đồn trưởng ở đó hơn một năm. Sau cùng nó được đề bạt làm trưởng ty công an thị xã kiêm thị uỷ viên. Dưới sự chăm sóc an ninh tận tình của đồng chí Tư Lù, Sóc Trăng cũng mau chóng tiến lên chủ nghĩa xã hội theo con đường của thị trấn chợ Chọi. Một thị xã lúa gạo trù phú nhất miền Nam chỉ trong 8 năm trời tiến lên tới đỉnh cao chủ nghĩa xã hội phải nói đó là một bước tiến nhẩy vọt. Công đầu làm nên thành tích này không phải do tên Mười Thì, bí thư thị xã, mà là do đồng chí Tư Lù. Thành tích này đã đẩy Tư Lù lên thay tên Mười Thì làm bí thư thị xã.
     
         Tư Lù không thể tưởng tượng có ngày nó lại được làm lớn như thế. Trước đây nó cứ tưởng càng làm lớn càng khó, không ngờ đối với nó lại quá dễ dàng. Mọi thứ công văn giấy tờ trình lên nó, nó chỉ cần hỏi tên cần vụ xem ký chỗ nào rồi cầm cây viết quẹt vào chỗ đó một con giun dài ngoòng là xong. Tuy nhiên tình trạng mù chữ cũng gây khó khăn đôi chút đối với nó. Một là rất dễ bị bịp, và hai là vấn đề sĩ diện đối với dân chúng và thuộc cấp. Trường hợp Mười Thì đã cho nó học được rất nhiều kinh nghiệm.
     
         Mười Thì bắn súng thì giỏi nhưng phải cái mù chữ cho nên hắn chỉ mang quân hàm đến đại tá và làm bí thư thị xã là cao lắm rồi. Trong suốt những năm làm bí thư thị xã, Mười Thì không một lần dám ăn nói hay đọc diễn văn trước đám đông. Những việc này thì lại xẩy ra quá thường đối với cương vị một bí thư, nhưng Mười Thì đều đẩy hết cho tên phó bí thư làm thay. Còn mù chữ bị gạt thì Tư Lù đã chính tai nghe, mắt trông thấy Mười Thì bị gạt nhiều lần. Người gạt Mười Thì không ai xa lạ mà là tên cần vụ của ông bí thư. Thằng ranh con này cũng không phải gạt chuyện lớn gì, mà chỉ kiếm chác bao gạo hoặc ký đường để bán lấy tiền gởi về Bắc nuôi bà mẹ già ngoài đó. Tư Lù biết rành chuyện qua mặt cấp trên của tên cần vụ nhưng nó nghĩ chấp nhất ba cái trò vặt vãnh này thuộc cấp sẽ khinh khi mình và có thể khiến nó hết làm ăn gì được. Tên cần vụ cũng biết thế nên tỏ ra rất khâm phục và biết ơn Tư Lù.
     
         Những cái bất lợi như trên làm Tư Lù suy nghĩ mãi. Con đường thăng quan tiến chức của nó không thể để tình trạng mù chữ phá hỏng được nên nó nghĩ mình phải quyết tâm học. Người thầy đầu tiên khai sáng cho Tư Lù lại là Con Đĩ Ngựa.
     
         Con Đĩ Ngựa đã học hết lớp hai bậc tiểu học. Nó bỏ học ngang xương theo du kích đi làm cách mạng. Ả được bố trí công tác giao liên và theo dõi tình hình địch tại khu vực chợ Chọi. Ít lâu sau khi Tư Lù về làm đồn trưởng công an tại Sóc Trăng, Con Đĩ Ngựa cũng được bố trí về đó. Ả được coi là thành phần có văn hóa nên được giao làm thư ký trong văn phòng bí thư. Do công việc đòi hỏi, Tư Lù và Con Đĩ Ngựa có cơ hội gặp nhau thường xuyên. Chuyện lúc trước ở chợ Chọi không những đã không làm chúng khó xử khi gặp lại nhau, mà trái lại cả hai coi đó như là những kỷ niệm đẹp làm chúng xáp lại với nhau một cách dễ dàng hơn. Chưa đầy hai năm sau chúng chính thức trở thành vợ chồng. Con Đĩ Ngựa đồng thời là người vợ, là tham mưu, và là cố vấn rất đắc lực của Tư Lù. Không những ả giỏi kiếm chác mà còn tỏ ra tinh khôn, biết tới lui những nơi cần tới và nhất là biết việc gì nên làm, việc gì không nên làm. Người ta thường nói khôn chết, dại chết, biết sống. Con Đĩ Ngựa trời cho được cái biết này. Cần làm gì, ả không sợ tốn kém, cũng không tiếc bất cứ một thứ gì, miễn sao con đường hoạn lộ của Tư Lù được hanh thông. Chính ả cũng thừa nhận rằng Tư Lù muốn tiến thân hơn nữa nó cần phải có học. Ả biết cách làm thế nào để Tư Lù đạt được những thứ mơ ước đó. Nhờ công lao của ả, Tư Lù từ bước đầu học i-tờ cho đến khi có trong tay tờ giấy chứng chỉ lớp 12 do chính hiệu trưởng trường trung học phổ thông Hoàng Diệu ký và đem đến tận nhà cho nó. Việc này tuy vậy cũng phải mất 6 năm. Đó là thời gian tối thiểu cho một thần đồng, hay ít nhất là loại người sinh nhi tri.
     
         Bây giờ Tư Lù đã có thể xem duyệt công văn và đọc được diễn văn rồi. Con Đĩ Ngựa lại tính đến bước kế tiếp. Ả phen này phải bôn ba đi Hanoi một chuyến. Rồi như là một chuyện may ngẫu nhiên, Tư Lù bất thình lình được kêu lên thành phố ( Saigon ) làm thủ tục đi Liên Sô du học. Liên Sô thời đó là một nơi đào tạo nhân tài số một cho các nước trong khối xã hội chủ nghĩa. Các đại học ở đây bảo đảm cho tất cả các du học sinh, miễn là có ghi tên học, đều được cấp bằng phó tiến sĩ khi trở về nước. Nhà nước Vietnam sau khi đã làm một bản hạch toán kinh tế, đề ra kế hoạch đào tạo nhân tài đầy sáng tạo mà người trong nước gọi là “dắt bò đi Liên Sô, đem phó tiến sĩ về”. Con cháu cách mạng vì thế ào ào đi Liên Sô. Vài ba năm sau trở về đứa nào cũng đem theo về ít nhất một mảnh bằng phó tiến sĩ. Tư Lù cũng đi Liên Sô du học theo cách thức đào tạo này.
     
         Khi Tư Lù lên máy bay thì nó đã biến thành một nhân vật khác rồi. Cái lý lịch cũng khác đi nhiều rồi cho phù hợp với tương lai đang tới của hắn như câu người Pháp vẫn thường đem ra biện lý: noblesse oblige. Trên hộ chiếu ghi tên nó là đồng chí Nguyễn Tạ. Thằng Tư Lù ngày nào coi như đã chết. Đây là việc đương nhiên nằm trong qui luật của chủ nghĩa Mác bách chiến bách thắng. Hồ Chí Minh sanh ra có tên là Nguyễn Tất Thành. Tên này có nghĩa là nhất định phải thành. Cái thành của chàng thanh niên Tất Thành này mơ ước là trở thành một viên quan thuộc địa như ông bố của hắn. Nhưng khi không thành ông quan thuộc địa, mà chó ngáp phải ruồi, mới thành chủ tịch nước, tên hắn lại đổi thành Chí-Minh, nghĩa là cực kỳ sáng láng. Khi Tư Lù cần phải giao tiếp với lớp thượng lưu trí thức, cái tên Tư Lù đầy dấu tích phèn chua nước mặn của miền sình lầy chợ Chọi Nam Bộ kia tất nhiên không còn hợp thời nữa.
     
         Trong thời gian Tư Lù đi du học, Con Đĩ Ngựa ở nhà tần tảo kiếm chác. Ả chẳng còn biết làm gì cho qua những ngày trống vắng đó ngoài việc thỉnh thoảng bay đi Hồng Kông hay Singapore sửa sắc đẹp. Qua mấy chuyến đi, Con Đĩ Ngựa ngày nào của đất chợ Chọi không mấy chốc đã biến thành nàng công chúa ngủ trong rừng. Cái tên Thị Nở bám đầy cáu ghét phù sa sông Hậu cũng đã đổi thành nàng Thu Đạm mơ mộng. Ở Saigon , ả tới lui cơ quan thành uỷ như đi chợ. Ngoài Hanoi, ả ra vào dinh tổng bí thư như đến chỗ không người. Bữa ra phi trường đón Nguyễn Tạ đi du học về, hai đứa hug nhau và hôn hít ngoài đường ngoài chợ hệt như tây đầm thứ thiệt. Để khoe sự quảng giao của mình, ả õng ẹo hỏi chồng:
     
    –   Đồng chí muốn ra Hanoi công tác hay làm trong thành uỷ?
     
         Nguyễn Tạ cũng tỏ ra biết nịnh vợ, nó trả lời:
     
    –   Anh chỉ thích phục vụ cho đồng chí Con Đĩ Ngựa của anh thôi.
     
    –   Nghiêm túc đấy. Vậy thì thành ủy đi nghe.
     
         Nguyễn Tạ làm trong thành uỷ thật, phụ trách về kinh tế. Thế lực của Con Đĩ Ngựa đã lên cao, bao trùm trên cả nước. Nguyễn Tạ có số thân cư thê. Nó mang đôi hia bẩy dặm để đi làm việc nước. Nó bước những bước vững chắc từ thành uỷ, rồi lên bí thư, và hiện nay là thủ tướng chính phủ. Trong một chuyến đi sang Tầu trước đây, nó đã học được câu “phi thương bất phú” là phương châm cường quốc của người Tầu. Vì thế khi lên nắm chính quyền, Nguyễn Tạ chủ trương phát triển tối đa ngành bán buôn trong nước. Dân ta ai cũng lao đầu vào buôn bán. Khắp hang cùng ngõ hẻm, từ đồng quê đến thị thành, nhà nhà buôn bán, người người buôn bán. Có thể nói người Việt Nam bất kể sang hèn, lớn bé già trẻ, hết 90% đều làm nghề buôn bán. Lê dân bá tánh thì buôn thúng bán mẹt, củ khoai, củ sắn. Viên chức làng xã thì bán đất, bán ruộng cho Đài Loan làm sân golf. Cán bộ cấp trung san bằng phố xá để bán cho Hàn, cho Nhật làm khách sạn. Mấy ông ở trung ương bán biển, bán biên giới cho Tầu, nghe đâu kiếm ăn được lắm. Một điểm rất đặc biệt của nền kinh tế Việt Nam mà trên thế giới không nước nào có là nghề bán thân. Nghề này có xuất xứ từ chợ Chọi. Nay đã phát triển ra địa bàn cả nước, rồi còn xuất khẩu qua nhiều quốc gia trong vùng. Những cô gái xuân tình hơ hớ được xuất khẩu đi nhiều nước. Họ còn được nhà nước đem sang tận Singapore triển lãm để rao hàng. Món hàng đặc sản Vietnam này cũng được quảng cáo rầm rộ trên nhiều tờ báo Đài Loan. Mấy chú ba ham mua sắm đến nỗi khiến nguồn hàng trở nên khan hiếm. Trước tình trạng cầu vượt mức cung này, nhà nước của Nguyễn Tạ đã phải thu vét hàng loại tuổi mới vừa rời vú mẹ chưa được bao lâu để xuất khẩu.
     
         Đường lối lãnh đạo của Nguyễn Tạ tài tình và hữu hiệu đến nỗi khiến nhiều ông tổng thống Mỹ phải thán phục. Ông Clinton đã phải thân hành sang Việt Nam để học hỏi. Còn Bush thì mời mọc cho bằng được Nguyễn Tạ sang Mỹ để cầu thân. Trong bài diễn văn chào mừng Nguyễn Tạ, Bush không tiếc lời khen và hứa hẹn với ông khách quí này: Khi quí vị phát triển quyền buôn bán Tự Do (chứ không phải tự do buôn bán) của quí vị như hiện nay, chúng tôi sẽ cùng đứng chung với quí vị.    
     
         Thời gian ở thăm nước Mỹ, vợ chồng Nguyễn Tạ và bộ hạ không dám đi đến đâu, vì chường mặt ra là bị đồng bào tỵ nạn rượt đuổi. Phái đoàn của Nguyễn Tạ chỉ thấy xuất hiện một lần trong buổi họp báo tại vườn hồng toà Bạch Ốc. Cách toà Bạch Ốc không xa đồng bào ta biểu tình đông nghẹt. Bọn ba chàng Ngự Lâm Pháo Thủ chúng tôi cũng có mặt. Thấy một anh nhà báo Mỹ lăng xăng thu hình, ghi chép gần đó, Hoàng khều nhẹ anh ta hỏi nhỏ:
     
    –   Này, lát nữa anh có vô trong kia không?
     
    –   Sure.  – Anh nhà báo Mỹ trả lời.
     
         Hoàng cười xã giao:
     
    –   Phiền anh có thể giúp tôi việc này không?
     
    –   Việc gì? Tôi sẵn sàng.
     
    –   Anh làm ơn nói với đồng chí Tư Lù và cả Con Đĩ Ngựa chúng tôi hỏi thăm họ:
     
    –   Ai là đồng chí Tư Lù và ai là Con Đĩ Ngựa? Ông với họ thế nào?
     
    – Thì là vợ chồng ông thủ tướng Nguyễn Tạ đấy. Chúng tôi hồi xưa ở vùng chợ Chọi Việt Nam có quen biết với họ.
     
    –   À thì ra thế.
     
         Anh chàng phóng viên Mỹ nghe Hoàng nói nhưng không tin. Anh ta tưởng tượng đến dư âm cuộc chiến gần nửa thế kỷ trước, có thể hai kẻ thù hôm nay bất ngờ gặp lại nhau. Hoàng đoán biết anh chàng Mỹ nghĩ gì, cố tìm cách giải thích cho anh ta hiểu. Anh ta nhe răng cười thông cảm. Hoàng được trớn nhắc thêm:
     
    – À còn chuyện này nữa, anh cũng làm ơn nhắc dùm với ông Bush hộ tôi là ông ta đã đứng lộn chỗ rồi đấy (*).
     
         Anh nhà báo Mỹ thật thông minh. Anh hiểu ra ngay Hoàng muốn nói gì mới kiếm một câu thật hóm hỉnh trả lời Hoàng:
     
    – Chả đã làm hai nhiệm kỳ rồi, đâu có ứng cử lại được nữa, có đứng lộn chỗ một tí cũng không sao. Mà đứng bên cạnh Nguyễn Tạ có lợi nhiều hơn cho Chả chứ. Ông thấy có đúng không?
     
         Hoàng thẩy cho anh chàng nhà báo Mỹ một cái cười nhếch mép cùng với một bàn tay giơ lên thay cho câu cám ơn, cũng là câu từ biệt. Bọn chúng tôi kéo nhau đi chỗ khác. Cả ba vừa buồn thấm thía, vừa tội nghiệp đồng bào mình đang giang thân ra giữa trời nắng gió thế này mà biểu tình. Đồng bào thật có lòng và cũng thật đáng thương, ăn quả lừa đã ngán rồi vẫn còn ráng mà ăn.
     
     
     
    (*) Trong bài diễn văn nhậm chức nhiệm kỳ 2, Tổng Thống George W. Bush tuyên bố:
    “Today, America speaks anew to the peoples of the world: All who live in tyranny and hopelessness can know: the United States will not ignore your oppression, or excuse your oppressors. When you stand for your liberty, we will stand with you. “(Tạm dịch: Hôm nay, một lần nữa nước Mỹ nói với các dân tộc trên thế giới rằng tất cả những ai đang sống trong chuyên chế và vô vọng đều nên biết Hoa Kỳ sẽ không làm ngơ trước việc họ bị áp bức, và tha thứ cho những kẻ đàn áp họ. Một khi các bạn đứng lên vì tự do, chúng tôi sẽ cùng đứng chung với các bạn).
     
     Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất
  • Văn

    Truyện Dài : Sống Và Chết

                                       SỐNG VÀ CHẾT

                                             Truyện dài của Hồ Nam

    Chương 1

    Những ly rượu Mao Đài

    Mùa Đông đang tới với bầu trời sám sịt và mưa phùn rả rích trời  bắt đầu rét  đậm người Hànội co ro trong những cái áo len mỏng manh sau những ngày đói đến lả người, nay lại đang phải  lo âu vì quân đội Pháp đã trở lại trên đường phố mặt mũi vênh váo trong lúc quân Tầu Tưởng thì đang nhếch nhác kéo nhau về nước luật sư Lê Quang Luật sau cuộc họp với hai lãnh tụ Lý Đông A, và Trương Tử Anh vội vàng đến kiếm anh chàng cử nhân luật mới ra trường tên Nghiêm Xuân Hồng người mà nhà văn Hồ Hữu Tường gọi là ”hiện tượng văn hóa Việt Nam”

    Vừa tới nhà Hồng luật sư Luật đã hỏi ngay Hồng” có gì ăn không” Hồng cười nói sáng nay nhà Hồng chỉ có mỗi một mónù sôi lạp xưởng thôi

    -Cho mình ăn sôi lạp xưởng liền đi .Câu phải lập tức thay quần áo và sửa sọan hành trang tới nhà Xíu bảo Xíu thu xếp với chồng cô ấy làm thế nào đưa được cậu lên Lạng Sơn ngay để cậu gặp cụ Trần Trọng Kim thuyết phục bằng được cụ bỏ chuyến sang Tầu về ngay Phát Diệm. Các anh Thái Dịch Lý Đông A và Trương Tử Anh đã quyết định xử dụng căn cứ Phát Diệm  của Gíam Mục Lê Hữu Từ làm vùng xuất phát cho giải pháp quốc gia và cụ Trần TrọngKim sẽ là nhân vật tượng trưng cho giải pháp quốc gia đấy

    Nghiêm Xuân Hồng nghe tới tên Thái Dịch Lý Đông A  thì im lặng vì biết cái nhân vật xuất thân nông dân ở vùng chiêm trũng tỉnh Hà Nam này ngày bé tu trong chủng viện đạo Ki Tô lớn lên nương cửa Phật làm thơ hay nói năng nhỏ nhẹ, từng lưu lạc nhiều năm ở bên Tầu, chưa bao giờ học đại học nhưng kiến thức thì

    lại trên đại học và đầu óc thì vượt xa cả cái thời đại ông ta đang sống Hồ Hữu Tường một lãnh tụ đệ tứ quốc tế Việt Nam chỉ nói chuyện với Thái Dịch Lý Đông A có mấy buổi mà đã bỏ luôn cả ông Trat Ki lẫn ơng Các Mác di theo Duy Dân cái đảng mà chí sĩ Phan Bội Châu đặt tên cho khi Lý Đông A gặp trí sĩ Bến Ngự năm 1940?

    -Minh đi Lạng Sơn thì không có vấn đề gì cả, nhưng tại sao hai anh A và Anh không cử  Bùi Diễm làm việc này. Diễm nói chuyện với cụ Trần Trọng Kim tiện hơn mình nhiều lắm đấy. Trước hết Diễm là con cụ Phó Bảng Bùi Kỷ anh rể cụ Trần Trọng Kim thứ hai Diễm từng sát cánh với cụ Trần Trọng Kim nhiều năm

    -Cậu nói đúng Diễm đi gặp cụ Trần Trọng Kim tiện hơn cậu nhưng Diễm đang “kẹt” ở Phát Diệm rồi nên các anh ấy mới phải nhờ tới cậu hơn thế nữa chỉ có cậu mới có thể  nhờ phương tiện của chồng Xíu tới Lạng Sơn được trong lúc này mà thôi. Sau cuộc họp với mình Thái Dịch Lý Đông A đã về chiến khu Nga Mi của Z ở Hòa Bình, Trương Tử Anh rút liền vào bí mật mình gặp cậu xong cũng về Phát Diệm với Đức Cha Lê Hữu Từ cậu phải làm sao đưa đươc cụ Trần Trọng Kim về Phát Diệm. Mình tin cô Xíu của cậu có bàn tay dài lắm vì ông chồng co ấy cái ông tướng Tầu người Mỹ gốc Hoa  đó là chỗ thân tín của tướng ”Cọp bay” Chennault đấy.  Anh em tất cả đều  trông cậy cả vào cậu đấy cậu phải rán lên nhé.

    Vùa nhai ngấu nghiến nhựng hạt sôi lạp xưởng luật sư Luật vừa nói vừa  cười  rồi vỗ vai Hồng và thêm một câu

    – Đi mau về nhé tiểu thư Xíu của cậu trên cả “tuyệt vời” đấy, anh Nhất Linh khen cô ấy nức nở và nói với mình anh không ngờ một  tiểu thư con quan thượng thư triều đình Huế như cô Xíu mà trên đường gió bụi của cách mạng lai tháo vát đến  như vậy. Hẹn gặp nhau lại ở Phát Diệm nhé, Đức cha Lê Hữu Từ để dành cho cậu môt chai rượu lễ đấy đi mau về nhé anh em  ai cũng chờ cậu về.

    -Anh Nhất Linh cũng biết Xíu sao

    -Anh Nhất Linh  gặp Xíu ở bên Tầu, Cậu gặp Xíu cho mình gửi lời thăm Xíu nhé

    Lê Quang Luật vỗ vai Nghiêm Xuân Hồng rồi bỏ đi trước khi ra cửa còn lấy chai rượu Whisky để trên nóc tủ chè đút vào túi quần

    -Cho tớ chai này nhé

    Luật đi khỏi Hồng vẫy vơ lại nói nhỏ gì đó rồi sách cái  tay nải khóac lên vai đi lại bàn làm việc quay điện thọai cho văn phòng tướng  Smith Trần đầu óc suy nghĩ vẩn vơ không biết trước khi đi Phát Diêm Luât có gặp tiểu thư Kim trưởng nữ cụ án Mô không hai người yêu nhau đã mấy năm họ định sau khi Luật có văn phòng luật sư thì làm đám cưới, nhưng Luật đã dùng tiền mở văn phòng luật sư đưa cho Thái Dịch Lý Đông A lo cho đảng Đại Việt Duy Dân và Kim thì  đưa tất cả của hồi môn cho  anh em họat động trong đó có  các  cậu em Nguyễn Trần Huyên và Nguyễn Trần Thiết

    Hồng bỗng nghĩ tới Xíu cô gái Huế thông minh tuyệt vời đang học dược và là hoa khôi trường Đại Học dược bỗng một buổi nói với Hồng rằng Huế đã tù túng tưởng ra Hànội phóng khóang nhưng Hànội cũng chẳng hơn gì Huế tòan một lũ” “giá áo túi cơm” cả còn anh thì lại lừng khà lừng khừng em sẽ đi xa cho mà xem..Trước khi đi xa em muốn cho anh ”tất” để khỏi vướng víu Hồng trả lời anh đã có vơ con anh không thể chiều em được, em yêu anh đã thiệt thòi nhiều lắm rồi anh không muốn em bị thiệt thòi hơn nữa Xíu bĩu môi” em tình nguyện thiệt thòi mà sao anh lắm chuyện thế không nhiều lời nữa”. Nói là Xíu làm, và Hồng bị động đến sững sờ vì không ngờ cô gái nổi tiếng táo tợn lại còn trinh nguyên cô gái nổi tiếng cứng rắn lại thút thít sau khi dâng hiến

    Xíu biến đi như một tia chớp làm Hồng  không làm sao hiểu nổi. Sau khi đê sông Hồng  bị vỡ quân Tầu Tưởng nhếch nhác kéo sang  chân quấn sà cạp gánh nồi niêu soong chảo đi ngập đương phố Hànội Xíu tái xuất hiện trên một chiếc xe Ford mới ”cáu cạnh” của một ông tướng Tầu Tưởng ngay trước cửa nhà Hồng ríu ra ríu rít giới thiệu chồng với vợ Hồng

    -Anh Hồng đâu chị, hôm nay em đưa nhà em lại thăm anh chị

    -Nhà tôi ở trên gác để tôi bảo thằng nhỏ kêu anh ấy xuống mời vợ chông cô vào trong nhà uống nước

    Hồng đang trên gác buồn nản vì  anh em  quốc gia không quyết đóan để Việt Minh chơi trò ”tháu cáy” ”phỗng ” tay trên cướp mất chính quyền tất cả cũng chỉ tại nhà văn Hòang Đạo Nguyễn Tường Long bị sốt rét thương hàn nằm một chỗ bác sĩ Nguyễn Xuân Chữ thì hiền quá không  cho lệnh ông cả Sâm ra tay chứ ông cả Sâm mà ra tay thì bố Việt Minh cũng chẳng làm gì được Thời cơ lỡ Hồng như người mất hồn

    Vừa trông thấy Hồng Xíu ríu rít nói tiếng Anh giới thiệu chồng với Hồng và thêm rằng chồng Xíu là tư lệnh phó phòng quân Trung Hoa sang Việt Nam ”giải giáp” quân đội Nhật chồng Xíu đang cần một ”cố vấn” thông thạo mọi chuyện ở Việt Nam Xíu muốn Hồng giúp chồng Xíu làm việc này

    Hồng cười nhìn Xíu đăm đăm ”cô bé” vẫn vậy xinh như mộng nụ cười có cái răng khểnh luôn ”hớp” hồn người lúc nào cũng tíu ta tíu tít, người Xíu lúc này có da co thịt nhìn có vẻ hấp dẫn hơn trươc nhiều

    -Mời vợ chồng Xíu uống nước trà sen

    Xíu nâng tách nước trà sen lên lỗ mũi ”hin hin” ngửi rồi cười mím chi

    -Hà nội đói mà anh chị vẫn còn trà sen uống

    -Nhà này gạo có thể thiếu chứ trà sen thì còn nhiều lắm chút nữa mình biếu cô Xíu một ít về dùng  lấy ”thảo” nhé.

    -Dạ em xin cảm ơn chị. Tối nay vơ chồng em xin phép được mời anh chi tới khách sạn Phú Gia dùng bữa tối với vợ chồng em.

    -Tôi chắc phải xin phép cô ở nhà vì các cụ nhà tôi không được khỏe để anh Hông đi thay được rồi

    Sau buổi gặp lại Xíu Hồng đã tham khảo ý kiến Luật, và Luật nói anh em biết cả rồi Hồng phải tranh thủ vợ chồng Xíu để giúp anh em đối phó với Việt Minh. Bởi vì Việt Minh mới tổ chức tuần lễ vàng vơ vét vàng của dân đi hối lộ tướng Tiêu Văn cố vấn chánh trị của tướng Lư Hán tư lệnh ”phòng quân Trung Hoa” mua chuộc tướng này cản tướng Lư Hán không ”cứng rắn” với Việt Minh nữa. Luật nhấn mạnh tướng  Smith Trần chồng của Xíu tuy chỉ là trung tướng nhưng là người của Tưởng Giới Thạch cử đi ”giám sát” tướng Lư Hán ”thế lực ”lắm

    Hồng nhận lời làm ”cố vấn” cho tướng Smith Trần với điều kiện không ăn lương nhưng trong nhà  phải có đường điện thọai quân sự nối với bản doanh tướng  Smith Trần và mỗi khi có chuyện thì tướng SmithTrần phải cho xe lại đón.

    Hồng ngạc nhiên vì người bắt máy điện thọai không phải tướng  SmithTrần mà là Xíu

    -Có chuyện gì vậy anh,.em đang muốn gặp anh đây. Thôi em cho xe lại đón anh liền. SmithTrần có việc phải về Trùng Khánh Chuyện gì  em cũng có thể giải quyết đươc. Đi Lang Sơn găp cụ Trần Trọng Kim là  chuyện nhỏ  thôi em  có chuyện quan trọng hơn cần nói với anh chuyện này là chuyện hơi kinh khủng đấy

    Ngồi trên chiếc xe Ford lướt trên đướng phố Hà nội mưa phùn lất phất đầu óc Hồng suy nghĩ mông lung chuyện quan trọng và lớn hơn nhiều Xíu định nói với Hồng là chuyện gì vậy. Từ ngày Xíu ở bên Tầu về đến giờ Hồng rất ”bị động” vì ngay sau buổi ăn tối với vơ chồng Xíu xong ra về Xíu nói thẳng với Hông ngày mai chồng Xíu có việc phải về Côn Minh Xíu sẽ bắt cóc Hồng  nguyên một ngày đấy

    Cái ngày gặp lại đó Hồng không những bị Xíu đẩy vào cơn mê của thịt da không làm sao cưỡng lại được khi chia tay Xíu nói dứt khóat ”anh thu xếp sao thì thu xếp một tuần lễ anh phải cho em một ngày chỉ một ngày thôi”. Hồng gật đầu nhưng nói nhỏ”Anh ngại SmithTrần quá như em biết đấy hiện nay anh sống vì anh em nhiều hơn vì anh … Không có cái gì phải ngại cả SmithTrần chỉ là quân cờ của em mà  thôi anh có thể yên tâm; anh em, của anh cũng là anh em của em.Với em lúc này chỉ có tình yêu là quan trọng thôi. Em yêu người nào thì người đó sẽ sung sướng vô cùng nhưng cũng sẽ khổ sở ghê gớm vì tình yêu của em đấy. Em là con nhỏ ”trái khóay” một đứa con gái Huế rất dễ thương và cũng rất dữ dằn anh đã mang cái nghiệp yêu em thì anh phải rán mà ”chịu đựng”

    Xíu nói đúng Hồng nhiều lúc như mê sảng vì tình yêu của Xíu nhưng nhiều lúc tâm hồn cũng bay bổng trong cái thế giới ”ngọt ngào” doXíu tạo ra

    Hồng cứ lãng đãng sống ngầy ngật trong cái không khí lúc thì ”bù khú” với anh em lúc thì ở nhà với vợ con lúc thì ”mê sảng ” trong vòng tay Xíu

    Chiếc xe Ford chạy vào một tòa biệt thư kiểu Pháp Xíu tươi cười chạy ra mở của xe cho Hồng

    -Em mới có một chai Mao Đài ngon lắm chuyện gì cũng gác lại hết ta uống mấy chén Mao Đài cho ấm bụng cái đã

    -Mao Đài là rượu quỉ quái gì vậyem

    -Mao Đài là rượu Trung Quốc một thứ quốc tửu của Trung Quốc anh uống vô sẽ thấy nó ngon như thế nào Thứ Mao Đài em mời anh hôm nay là thư rượu sản xuất tại Phủ Thiệu Hưng tỉnh Chiết Giang Trung Quốc, Bên Tầu có nhiều thứ rượu Mao Đài nhưng chỉ có thư Mao Đài sản xuất bằng gạo nếp phủ Thiệu Hưng và nấu với nước giếng Phủ Thiệu Hưng mới được coi là quốc tửu của Trung Quốc mà thôi

    Xíu mang một cái chai bằng sành mầu sám mở nút rót ra hai cái chén hạt mít bằng ngọc trắng.Chai rượu mới mở ra Hồng đã thấy một mùi thơm rất lạ đập vào mũi Hông

    -Thư này anh phải uống từ từ từng ngụm nhỏ mới thấy cái ngon của ù nóAnh có biết tại sao hôm nay em lại khui chai rựou qui này ”đãi” anh không

    Hồng đưa chén rượu lên mũi ngửi và lắc đầu cái chất rươu mầu hổ phách sóng sánh trong cái chén hạt mít mầu bạch ngọc như mê hoăc Hồng

    -Anh uống đi anh cụng chén với em đi để mừng anh sắp làm bố em sắp làm me. Đời anh sẽ còn khổ vì  em nhiều đấy

    -Em có thai mấy tháng rồi

    -Từ ngày chúng ta gặp lại nhau

    -Smith Trần biết không

    -Chưa, anh là nhân vật quan trọng em phải báo để anh biết trước. Uống đi anh hôm nay chúng ta phải say một bữa

    Hồng nhâm nhi chén rượu đầu óc mung lung thứ rượu này lạ uống rất đậm nhưng không nồng, tuy  Hồng không còn đầu óc để kiếm ra cái ngon của nó khác với Whisky của người Anh hay Cognac của người Pháp như thế nào vì đầu óc chới với trước cái tin Xíu vừa báo

    -Anh hãy thưởng thức cái ngon của rượu Mao Đài đi còn chuyện chúng ta sắp làm bố làm mẹ em đã tính cả rồi. Rươu Mao Đài phải nhắm với món Hải Sâm mới thú vị

    Chương 2

     

    Đường lên Lạng Sơn

     

    Xíu rót hết ly rượu Mao Đài này tới ly rượu Mao Đài khác cho Hồng và luôn miệng dục Hồng cạn ly.Nhìn nét mặt rạng rỡ của Xíu Hồng thấy men rượu Mao Đài cũng hay hay và thế là Hồng cứ tì tì uống. Cơn say đến với Hồng lúc nào Hồng cũng chẳng biêt nữa Hồng nôc rươu liên tục vì nghĩ rằng say đươc lúc này là sung sướng nhât trên cõi đời này say để quên đi tât cả những chuyện phiền tóai ở  đời say để khỏi phải nhưc đầu vì thế sự nữa

    -Em nghĩ kỹ rồi em sẽ đi Lạng Sơn cùng với anh. Như anh thấy đấy’’ già’’ Hồ đã bắt tay với Tây bọn nó sẽ ‘’chơi’’ các anh nhiều cú’’sát ván ‘’. Đã tới lúc anh phải thật cẩn thận không thận trọng là mất mạng như chơi. Lúc này không thể ’’dễ ngươi’’ được đâu. Trước khi Smith Trần về Trùng Khánh anh ấy có nói với em ba ngày nữa anh ấy sẽ trở; lại đón em về Trùng Khánh rồi đưa em đi Mỹ luôn Sứ mạng của anh ấy ở Hànôi đã hòan thành anh ấy mới nhận chưc tùy viên quân sự Tòa Đai Sứ Trung Hoa Dân Quốc ở Hoa Thạnh Đôn. Em không dấu gì anh hêt Smith Trần là ngươi làm việc với CIA em cũng vậy. CIA là cơ quan tình báo của chính phủ Mỹ bàn tay họ dài lắm hiện tại và cả trong tương lai CIA sẽ quyêt định số phận nhiều nước nhỏ mà không cho các nươc này có ý kiến. Gìa Hồ từng ngỏ ý xin làm việc với CIA nhưng tướng ‘’cọp bay’’  Chennault từ chối không nhận [sở dĩ tương Chennault  có hỗn danh là tương’’cọp bay’’ vì ông là chủ tịch Hội Đồng quản tri kiêm Tổng Gíam Đốc hãng hàng không Tiger Fly ’’cọp bay’’ một hãng hàng không của OSS [Cơ quan tình báo chiến lưoc của Mỹ tiền thân của CIA] Chuyện ly kỳ ở chỗ tướng Chennault không nhận già Hồ vào làm việc cho CIA nhưng lại giúp gìa Hồ cướp chánh quyền ở Viêt Nam ngày 19 tháng 8 năm 1945

    -Em nói gì lạ vậy

    -Anh biêt thiêu tá Patti chỉ huy trưởng tóan ’’đăc công’’ Con nai của Đồng Minh cạnh tướng Võ Nguyên Gíap chứ ông ta và những người Mỹ, người Tầu trong tóan Con Nai đều là nhân viên  đặc nhiệm của OSS. Ngay cái bản tuyên ngôn Đôc Lập mà già Hồ đọc ở Qủang Trương Ba Đình ngày 2 tháng 9 năm 1945  cũng ’’cóp’’ nguyên văn bản tuyên ngôn Độc Lập của Mỹ. Lý do là Patti ‘’cóp’’ bản tuyên ngôn Đôc Lập của Mỹ đưa cho già Hồ dịch lại chư già Hồ có viêt lách gì đâu

    Quốc gia các anh ngây thơ lắm, em sơ ông A và cả ông Anh nữa đang gặp nguy hiểm có thể mất mạng như chơi.Theo lẽ em sẽ ‘’băt cóc ‘’anh sang Tầu rồi sang Mỹ vì em sợ con em sẽ mồ côi bố nhưng em không thể ích kỷ như vậy đươc em sẽ đưa anh đi gặp cụ Trần Trọng Kim theo yêu cầu của anh dù em biết chuyện này chẳng đi đến đâu nhưng em vẫn làm theo ý anh

    -Em yên tâm Dương Thái Ban tay tổ số tử vi ở Hànội mới ’’chấm’’ cho anh một lá số tử vi và bàn rằng số anh năm nay có tin vui và anh thọ trên tám mươi tuổi làm tới tể tương nhưng không ngối ghế tể tương

    -Em nói anh đưng giận nhé tài anh dư làm tể tương nhưng chỉ làm cho ngươi ta hưởng thôi kiểu cốc mò cò sơi chẳng nước mẹ gì đâu. Số tử vi anh thế nào em không quan tâm em phải đưa anh lên Lạng Sơn rồi tổ chức đưa anh vế Phát Diệm. Chút nữa anh làm ơn mặc quân phục Lam y của quân đội Trung Hoa Dân Quôc. Anh biêt Lam y uy tín thế nào chứ. Ngay khi nghe điện thọai của anh xong em đã cho chuẩn bi giây tờ và hai bộ quân phục Lam y để anh đóng vai sĩ quan tùy viên của tương Smith Trần Em đã chụẩn bị quà cho cụ Trần Trọng Kim quà gồm áo ấm và trà Long Tỉnh. Thôi anh anh ăn gà ác tiềm hải sâm đi, món này nhắm với Mao Đài hợp lắm đây

    Hồng múc một thìa hải sâm tiềm gà ác đưa lên miệng chiêu môt ngụm Mao Đài bỗng thấy những lời Xíu nói thật thấm thía Hồng không ngờ Xíu tính mọi chuyện đâu ra đó đến như thế

    -Rươu Mao Đài uống đươc không anh

    -Mao Đài rất tuyệt

    -Vậy thì em cho đem hết lên xe nhé đường từ đây lên Lạng Sơn chẳng có gì để ngắm đâu ta cư ngồi trên xe nhâm nhi là thú nhất. Qua khỏi Băc Giang một chút lác đác may ra còn chút hoa đào vùng quan họ Băc Ninh mới qua nạn đói sơ sác lắm

    -Có em bên cạnh lai có thêm rượu nữa anh đâu còn đầu óc ngắm cảnh bên đương

    -Vậy với anh em chỉ trên rượu thôi phải không?

    -Em trên rượu cón chưa bằng lòng sao anh Luật gửi lời thăm em đấy anh Luwạt nói nhà văn Nhất Linh phục em sát đât.

    -Nhà văn Nhât Linh sang Tầu rồi bác sĩ Nguyễn Tương Bách em ông ấy cũng đang thu xếp bỏ chạy chỉ có nhà văn Khái Hưng và nhà báo Nguyễn Tường Cẩm là lì, nhất định không đi đâu các ông ấy có thể mất mạng nhưng thât sỉ khí. Thôi, ta lên đương kẻo muộn.

    Khi Hồng bươc lên chiếc xe Ford mầu đen chàng không ngờ Xíu tổ chức chuyến đi chu đáo đến như vậy chiếc xe Ford có xe bọc thép mở đường xe díp gắn đại liên bọc hậu trong xe có máy truyền tin siêu tần số.

    Vừa ngôi yên trên xe Xíu trao Hồng môt khâu súng lục tư động P38 và ba băng đạn rồi nhẻn cươi-Từ nay đi đâu anh làm ơn mang theo dùm em cái này nhé

    -Em làm gì mà nghiêm trọng vậy

    -Tụi Tây và cả tụi Viêt Minh chúng nó đang chú ý tới anh đấy, em đã cho người bảo vệ ngầm anh nhưng em vẫn chưa yên tâm anh nên nghe lời em cẩn tắc vô áy náy là tốt nhất

    Hồng nhận khẩu P38 đeo ngang nách khi chiếc xe chạy qua cầu Long Biên lòng Hồng buồn rười rượi. Mỗi lần qua cầu Long Biên Hồng lại nhớ tới buổi tiễn Thái Dịch Lý Đông A đi khỏi nước Cái anh chàng họ Nguyễn tên Thanh sinh ra và lơn lên ở vùng Hà Nam Phủ Lý đât chiêm trũng ’’đồng tuế’’ với Hồng bé ở chủng viện lớn nương của Phật chỉ ba năm viết mấy ‘’chum’’ sách bàn tòan những vấn đề sinh tử của nước nòi rối gặp chí sĩ Phan Bội Châu trao đổi cụ Phan đã phán ’’tư tưởng của ông nêu lập Đảng nên lây tên là Đảng Đai Việt Duy Dân

    Lòng quyết tử tiến tên đường gió bụi

    Hai bàn tay thề phục lại san hà

    Thái bình dương san bằng nguồn nhục tủi

    Lấy máu đào rửa sạch máu yêu ma

    -Xíu mà cũng thuôc thơ Thái Dịch Lý Đông A sao?

    -Anh A làm thơ hay lắm em thich nhât những câu

    Cách giòng nươc tôi là người mất nước

    Thấy ngươi quê mà chẳng được thấy tình quê

    Em có cả một tập thơ đó là tập Trương Đao Ngâm do chính anh  A chép tặng em. Anh A là một nhà thơ thiên tài nhưng theo em anh A lại là một nhà chính trị hơi cực đoan thời nay là thời tòan câu hóa thời hội nhập không thể cực đoan được. Em còn nhớ hồi ở bên Tầu có một bữa anh A và anh Nhât Linh  ngồi uống rượu với Smith Trần vui câu chuyện em có nói với các anh A và Nhât Linh rằng nước ta chẳng có bao nhiêu văn tài thế mà chánh trị lại ngốn mất hết thời gian của những văn tài như Ly Đông A Nhât Linh thật vô cùng đáng tiếc

    Trong hơi men ngà ngà anh Nhât Linh đã trả lời em

    -Minh biết chứ sở trường của mình là văn chương nhưng nhu cầu đất nước đòi hỏi mình phải lao vô chánh trị tình thế bắt buộc mình phải làm chánh trị chư mình có thích chánh trị đâu, mình là chính khách bất đắc dỉ

    Trong khi anh Nhât Linh nói anh Thái Dịch Lý Đống A trầm ngâm rồi cười mím chi. Thwáy thái độ của Thai Dịch Lý Đông A em bèn  chất vấn

    -Xin anh A cho biết anh có phải chính khách bât đăc dĩ không?

    -Mình xin nói rõ một lần nữa mình  chỉ làm cách mạng chứ không làm chính trị mình đang làm cuộc cách mạng duy dân mình đang phục hoạt lại nước Việt và nói Viêt. Con đường của mình đi gay go lắm Nước Viêt ta có lich sử năm ngàn năm nước Việt ta xưa lắm và  lớn lắm nòi Viêt ta quang vinh lắm văn hóa Viêt ta còn có trước cả văn hóa của ngươi Hán và nhân bản hơn văn hóa của ngươi Hán mình chỉ tiếc là mình ít thì giờ quá cho nên chưa hòan thành được bản tổng kêt chi tiết

    Nghe anh Thái Dich Lý Đông A nói em thấy tiếc cho anh ấy quá, mấy có anh Hồ Hữu Tương hiểu đượcc tư tưởng Lý Đông A viêt cuốn Tương Lai Văn Hóa Viêt Nam triển khai tư tưởng văn hóa Lý Đông A chi tiết hơn

    -Em nhận định về các anh Nhât Linh Thái Dịch Lý Đông A hay lắm thế em nhận định về anh thế nào đây.

    -Anh cũng như các anh Vũ Khắc Khoan Lê Quang Luật tất cả đều mê văn chương hơn chánh trị các anh lại là ngươi đọc sách nên cách anh phải lao đầu vào chánh trị và đang khổ vì nó. Chính cái thái  độ không buông xuôi dám tạo thời thế sẽ làm các anh khổ Em yêu anh vì anh dám nghĩ và dám làm. Anh nhìn kia vùng Tiên du đep không.

    Hồng nhìn ra ngoai cửa xe thây vùng đồi núi của huyện Tiên Du  tỉnh Bắc Ninh nơi còn dấu vêt của Phù Đổng Thiên Vương với nền văn minh cây tre, lòng bỗng nôn nao nghĩ tới gậy thần sách ước của Đưc Thánh Tản và thấy Thái Dịch Lý Đông A có lý của Thai Dich Lý Đông A khi trở lại nguồn gốc của dân tộc Việt từ cái cội nguồn trăm Viêt

    -Em nói thật anh đừng giận nhé cái ‘’giải pháp quốc gia’’ của các anh chẳng đi tới đâu. Ông bạn Hồ Hữu Tương của anh đúng đấy Mao Tưởng đang ‘’đánh cuội’’ để quịt nơ quốc tế cho dân Tầu kết quả là Tầu đỏ của Mao sẽ tới biên giới Viêt Trung, cuộc chiến tranh Viêt Nam sẽ bị quốc tế hóa tốt nhất là anh theo em sang Tầu rồi sang Mỹ

    -Anh không thể bỏ anh em

    -Vậy ta tiếp tục uống rượu và anh phiêu liêu cùng lich sử

    Xíu rót rượu ra ly mắt nhìn Hồng lúng liếng

    -Uống đi anh chúng ta sắp tới Lạng Sơn rồi em sẽ thu xếp để anh gặp cụ Trần Trọng Kim. Tuy em không phải thầy bói nhưng cũng có thể nói trươc với anh cụ TrầnTrọng Kim cũng là lọai người mê văn chương chữ nghĩa hơn bất cứ cái gì ở đời, vạn bất đắc dĩ cụ mới phải bước vô chính trường chắc chắn lần này cụ sẽ chọn con đường ra đi để viết lần sang Singapore trươc 1945 cụ đã dịch đươc mấy trăm bài Đương Thi đây lần này chắc cụ viết hồi ký

    Lên Lạng Sơn em sẽ đãi anh môt bữa thịt quay. Em đã đi nhiều nhưng chưa thấy nơi nào có món thịt lơn quay đặc sắc như Lạng Sơn. Thịt lợn quay ở Lang Sơn thơm lừng da lợn ròn tan thịt lợn mềm và ngọt như có tẩm mật

    -Lúc này mà em nói chuyện ăn uống đươc sao

    -Ăn uống là một trong bốn cái khóai ở đời ngươi ta sống mà không biêt thưởng thức những món ăn vừa miệng thì sống để làm gì chêt quách đi cho xong. Trời bắt đầu có sương mù rồi đó anh nhìn những ngọn lau phât phơ trong sương mù thích không làm thêm một ly nhé

    Hồng nhìn ra ngòai trời thấy hai bên đường lau lách bạt ngàn những cánh chim đang bay về núi lòng buồn mênh mang tợp một ngụm Mao Đài

    -Chúng mình sắp tới Lạng Sơn rồi đó tới thành phố Ải Băc này em sẽ đãi anh món phở chua. Tới Lạng Sơn phải ăn phở chua cũng như tới Hà Giang phải ăn phở thịt ngựa uống rượu ngô anh Nhât Linh là nhà văn mê phở thịt ngựa và rượu ngô của vùng Hà Giang anh ấy viết về món này đọc em rât thích lắm

    Hồng im lặng nghe Xíu nói như chim hót đầu óc trống rỗng chẳng còn muốn suy nghĩ chuyện gì ở đời nữa muốn quên đi tất cả nhưng bỗng hai câu thơ của Thái Dịch Ly Đông A lại vang lên

    Lòng quyết tử tiến trên đương gió bụi

    Hai bàn tay thề phục lại sơn hà

    Chiếc xe Ford chạy từ từ trong cái thành phố biên giới vừa lên đèn cái thứ ánh sáng vàng vọt pha sương mù làm cho Hồng có cảm giác mình đang lạc trong môt chốn đìu hiu nào đó

    -Mình đi ăn phở chua rồi về nhà khách của tướng Lư Hán em sẽ cho người dẫn anh tới chỗ cụ Trần Trọng Kim đang ở anh sẽ thây vị cựu thủ tướng thất thế tội nghiệp như thế nào ông đúng là môt khách giang hồ

    Ngồi trước bát phở chua hương thơm quyến rũ Hồng bỗng thây con tì con vị cồn cào cả lên nhưng Hồng lại đủng đỉnh không đụng đũa Xíu thây thái độ biếng ăn của Hồng thì vội vàng lấy thìa múc phở đút cho Hồng

    -Thử một miếng đi anh phở chua lạ lắm

    Hồng trệu trạo nhai một miếng phở chua và thây món này khá lạ miệng Hồng cầm bát phở lên ăn và thấy món này quả hấp dẫn Hồng ăn môt lóang hêt bát phở rồi bỏ xuống tợp môt ngụm rượu Mao Đài

    Xíu thây Hồng ăn uống có vẻ thich thú thì mỉm cười

    -Ăn thêm một bát nữa đi anh

    Hồng lắc đầu

    -Món ngon cần phải ăn vừa phải để còn nhớ và them



    Chương 3

     

    Gặp Sử Gia Trần Trọng Kim

     

    Xíu đưa Hồng tới nhà khách của Bộ Chỉ Huy Phòng Quân Trung Hoa ở Lạng  Sơn,môt tòa biệt thự kiểu Pháp đươc canh phòng khá cẩn mật nàng vào ngồi nơi phòng khách xổ ra môt tràng tiếng Quan Thọai viên sĩ quan chỉ huy nhà khách vẫy người sĩ quan tùy viên dặn dò gì đó Xíu bảo Hồng

    -Anh có thể đi gặp cụ Trần Trong Kim

    Hồng được dẫn lên lầu đi qua môt hành lang có ánh điện vàng vọt tới môt căn phòng cửa khép hờ viên sĩ quan Tầu ngừng lại gõ cửa

    -Xin mời vào

    Viên sĩ quan người Tầu dơ tay đẩy cửa và ra dấu mời Hồng vào phòng, Hồng đẩy cửa vào phòng chắp tay sá người đang ngồi trên tràng kỷ quàng cái chăn bông to đùng trên ngươi

    -Con đây thầy

    -Ông cũng sang Tầu chuyến này phải không

    -Dạ thưa thầy anh em quốc gia cử con lên đây thưa với thấy một chuyện quan trọng

    -Chuyện gì vậy, ngổi xuống uống nước cái đã rồi từ từ nói

    Cụ Trần Trong Kim chỉ cái tràng kỷ đối diện rồi lấy cái tách lật ngửa lên chuyên trà ra mời Hồng

    Hồng ngồi xuống tràng kỷ lấy trà và áo lạnh ra bầy trên bàn và nói

    -Thưa thầy cô Xíu con quan Thượng Võ có chút quà nhờ con chuyển tới thầy

    -Cụ Hường Trác khỏe không

    -Da thưa thầy cha vợ con vẫn bình thường

    -Ông có tin tức gì về cụ Thượng Ngô Đình Diệm không

    -Thưa thầy cụ Thượng Ngô Đình Diêm sau khi được Việt Minh trả tự do đã đươc Đức cha Lê Hữu Từ đón về Phát Diệm anh em quốc gia chúng con cử con lên đây đón thầy về làm minh chủ cho giải pháp Quốc Gia

    -Gỉai pháp Quốc Gia phải có Hòang Đế Bảo Đại ngài đã xuất bôn sang Tầu rồi tôi mà làm đươc cái gì ông Nguyễn Hải Thần ông Nguyễn Tường Tam cũng sang Tầu cả rồi, Tây với Việt Minh sắp đánh nhau tôi phải  tranh thủ tránh nơi khói lửa thôi

    -Thưa thầy Gíao khu Phát Diệm đã tuyên bố ‘’trung lập’’ người Pháp hứa không tấn công Phát Diệm còn Việt Minh rất sợ tự vệ Công Gíao của linh mục Hòang Qùynh

    -Các ông phải nhớ là các ông có chính quyền trong tay có quân đội mà còn chẳng làm nên trò trống gì

    -Thưa thầy tại bác sĩ Nguyễn Xuân Chữ hiền quá nhà văn Hòang Đạo lai bệnh thương hàn

    -Với bọn yêu ma các ông phải nhớ câu thơ của ông Lý Đông A’’Lấy máu đào rửa sạch máu yêu ma’’ tất cả phải làm lại hết, Thủ đọan chúng ghê lắm ông Hồ chỉ ký hiệp đinh sơ bộ ngày 6 tháng 3 năm 46 bắt tay với Pháp là phe quốc gia xiểng liểng liền. Các cụ mình đã có câu ‘’Đi với Bụt mặc áo cà sa đi với ma mặc áo giấy’’ thế mà các ông cứ coi thường bọn ma quỉ bọn bất chấp thủ đoan. Tôi đã quyết rồi phải ra đi . Cái ’’đân ‘’ tôi đi Tân Gia Ba đã dịch đươc tâp Đường Thi lần này hi vọng viết đươc cái gì đáng gía

    -Thầy về Phát Diệm với anh em chúng con cũng có thể viết

    -Tôi đi vì muốn gặp lại Hòang Đế Bảo Đại, Hòang Đế phải có tôi bên cạnh nếu không bà Mông Điệp cô Lý Lệ Hà sẽ làm hư mọi chuyện. Chắc ông biết ông Trương Tử Anh đã cài bà Mông Điệp bên cạnh Hòang Đế Bảo Đai nhưng ông Cousseau cao tay ấn hơn đã tung cô Lý Lệ Hà vào trận cô Hà có tiền của Tây có mánh khóe ‘’gái nhẩy’’ làm sao bà Mộng Điệp đương cự nổi tôi phải ra tay thôi

    Thầy đã nói thế con không dám nhiều lời nữa con chỉ xin thầy bảo trọng

    -Tôi quí ông lắm tôi muốn ông đi với tôi được không tôi đương “neo’’ người quá con gái tôi nó chỉ giúp tôi chuyện ăn uống giăt rũ chứ đâu giúp được các việc khác

    -Thưa thầy con rất mến thầy nhưng con phải về trình lai với anh em việc anh em tin cậy trao làm không xong

    -Tai sao các ông không tôn cụ Thượng Ngô Đình Diệm làm minh chủ

    -Anh em có nghĩ tới cụ Thượng  Ngô Đình Diệm nhưng cụ đã trả lời lúc này chưa phải lúc cụ tham chánh cụ muốn sang Mỹ một chuyến

    Xíu nhìn bô măt ỉu sìu của Hồng thì cười ngất

    -Em đã nói rồi cụ Trần Trọng Kim là như vậy đó ‘’giải pháp quốc gia’’của cụ là phải có Hòang Đế Bảo Đại, mà Hòang Đế Bảo Đại thi đang nằm trong tay bà Mông Diệp và cô Lý Lệ Hà

    -Sao em tài thế Lý Lệ Hà là người của ông Cousseau

    -Anh quên em la dân tình báo. Cu Trần Trong Kim sẽ chẳng làm đươc gì đâu vì bàn tay của ông Cousseau dài lắm người quan trọng của giải pháp Bảo Đại sẽ là dươc sĩ Phan Văn Gíao một bạn ăn chơi của vua Bảo Đại dược sĩ Phan văn Gíao mà làm chính trị sẽ có nhiều trò hay

    -Sao em rành vậy

    -Anh quên em là gái Huế sao

    -Thưc tế vua Bảo Đại có tài không

    -Điều anh cần phải biết đó là vua Bảo Đai là ai, chắc chắn không phải con của ông vua “bất lực’’ Khải Định, mà là con của môt người khác có thể con một ông Tây hay môt hòang thân quôc thích nào đó nhưng là quân bài của người Pháp được Pháp quốc đầu tư từ bé. Thưc ra thì dòng họ Nguyễn tới đời vua Minh Mạng đã sang tay họ Trương rồi, Lê Văn Duyệt vì muốn con Hòang Tử Cảnh lên ngôi đã bi thất sủng khiến Lê Văn Khôi phải nổi loan vụ này anh Hồ Hữu Tương có nhiều tài liệu chính xác lắm vua Gia Long tài ba lắm nhưng đã làm mất nghiệp của con cháu chỉ vì mê gái đẹp

    -Xíu ơi em ghê quá chuyện gì em cũng biết

    -Thôi mình kiếm cái gì ăn và say môt bữa sáng mai anh về Hànôi còn em đi Tĩnh Tây

    -Một ý kiến hay nhưng cho anh hỏi môt câu Phan Văn Gíao thực ra là một người như thế nào

    -Môt Lã Bất Vi của thời đai đấy. Phan Văn Gíao có tiền lại tài hoa là ’’thầy’’ ăn chơi của vua Bảo Đại. Phan văn Gíao rất sành điêu và có tài chinh phục các người đẹp ở Huế, Gíao thích người đẹp nào là đố cô đó thóat đươc khỏi tay hắn kẻ cả tiểu thư khuê các đấy

    -Tai sao em lại không dính Phan Văn Gíao ?

    -Hỏi thế mà cũng hỏi tại em ra Hànôi và ‘’dính’’ anh mất rồi

    Xíu vừa nói vừa cười hăng hắc

    -Hôm nay hai đứa mình phải say một trận ra trò anh nhé

    -Tùy em nhưng thế nào thì thế anh cũng phải trở lại Hànôi

    -Anh yên tâm em đã lên kế hoạch cả rồi không có gì trục trặc đâu máy tính IBM chính sác không sai một ly ông Ngô Đình Diệm ông ấy hay lắm đấy, bên cạnh ông lại có ông Ngô Đình Nhu và tòa thánh La Mã nữa con bài này sáng giá hơn vua Bảo Đại nhiều.



    Chương 4


     
    Những ly rượu lễ

     

    Hồng về tới Phát Diệm mới thấy bàn tay của Xíu dài thật, người dẫn đường mà cũng là người bảo vệ Hồng lúc là cán bộ Việt Minh lúc là Tự vệ Công Gíao của Gíao khu Phát Diệm do linh muc Hòang Qùynh là Tổng chỉ huy nhờ thế mà Hồng vươt qua dễ dàng những tram gác của dân quân du kích của những làng kháng chiến và những trạm gác của Tự vệ Công Gíao

     

    Vừa tới Phát Diệm Hồng đã đươc người thư ký riêng của linh muc Hòang Qùynh dẫn vào gặp linh mục Hòang Qùynh tai văn phòng bộ chỉ huy Tự Vệ Công Gíao. Linh mục Hòang Qùynh đón tiếp Hồng rất đon đả và đúng bữa cơm còn mời Hồng ăn cơm chung cơm có thit gà luộc, canh cá chép nấu với quả dọc và khai vị bằng rượu lễ

    Trong bữa cơm linh muc Hòang Qùynh cho Hồng biết luật sư Luật đang làm việc với đức cha Lê Hữu Từ giáo khu Phát Diệm rất hoan nghênh những trí thức như Hồng đến với giáo khu

    Hồng nhấm nháp ly rươu lễ và ăn cơm môt cách chậm rải Hồng chưa ăn hết một bát cơm thì Luật sư Luật xuất hiện Hồng liền gác đũa đứng dậy cáo từ linh mục Hòang Qùynh Luật vôi vàng lên tiếng

    -Trình cha con và Hồng có vài chuyện cần trao đổi xin cha cho con đưa Hồng lên lầu

    -Ông cố vấn chính tri cứ tự nhiên

    Vừa bươc chân lên cầu thang gác Luật đã lên tiếng liền

    -Ông đừng buồn không mời đươc cụ Trần Trọng Kim về đây chẳng sao mình đã có ông Ngô Đình Diệm. Bọn Việt Minh họ đang làm ầm ĩ chuyện cụ Trần Trọng Kim có dính liu tới đứa con út của nhà văn Phạm Duy Tốn. Chuyện này thực hư thế nào chưa rõ chỉ biết bà Phạm Duy Tốn mang thai cậu Út Cẩn khi nhà văn Pham Duy Tốn bị tai biến mạch máu não bán thân bất toai đã cả năm. Nhưng cụ Trần Trọng Kim không về với Phát Diệm đi sang Tầu có thể phá đươc ảnh hưởng của Cousseau với vua Bao Đại, Như ông biết đấy công sứ Cousseau nhiều mánh lới lắm nhất là mánh lới xử dụng mỹ nhân kế

    -Ông Ngô Đình Diệm thật ra là người như thế nào

    -Cụ Ngô Đình Khả cha ông Ngô Đình Diệm tuy không xuất thân khoa cử chi là một thầy thông ngôn do nhà thờ Thiên chúa giao giới thiêu với Phủ Thống soái quân đội Pháp ờ Đông Dương, nhưng là môt thầy thông ngôn từng được đào tạo tới sáu chức tại chủng viện của phái đòan thừa sai ở Pénang [Nam Dương Quần Đảo] nơi từng đào tạo nhà học gỉa Trương Vĩnh Ký. Từ vai trò thông ngôn của Phủ Thống Sóai cụ Ngô Đình Khả đã đươc triều đình Huế xung vào Cơ mật viện và trở thành tứ trụ của triều đình Huế, con cái thành đat người làm tới giám muc người làm tới tổng đốc con gái là tỷ phú ở Huế. Bản thân ông Ngô Đình Diệm cũng không xuất thân khoa cử chỉ là cậu ấm đi tập ấm, rồi học trương hậu bổ ra làm quan nhưng ba mưoi mấy tuổi đầu đã làm tới Thương Thư bộ Lai đâu phải tay vừa, ông là ngươi trung quân ái quốc có tinh thần quốc gia dân tộc khi trái ý dám từ quan liên lạc với Kỳ Ngọai Hầu, Cương Để phát động cuôc cách mạng quốc gia sau khi ngươi Nhât đảo chính người Pháp, ông được mời làm thủ tướng nhưng đưa ra một số điều kiện người Nhât không thỏa mãn đã từ chối, Việt Minh cướp chính quyền bắt ông rồi đề nghị thả ông với điều kiện ông nhận làm bô trưởng Nội Vụ ông cũng từ chối luôn chính phỉ Liên Hiệp các Đảng Phái ra đời ông được trả tư do và đề nghị làm Phó Thủ Tướng ông chỉ nhận sự tự do rồi về Phat Diệm. Chút mình vô trao đổi với ông Diệm về giải pháp quôc gia

    -Ông Ngô Đinh Diệm không có vơ con phải không anh Luật

    -Ông Diệm chưa bao giờ lập gia đình, nhưng hình như định lập gia đình với một tiểu thư con cụ Thượng Thư Nguyễn Hữu Bài nhưng không hiểu sao chuyện không thành cô này đã vào nhà tu kín khấn chon đời phục vụ Chúa

    -Như vậy ông Diệm nhận lời là tốt

    -Tốt quá đi chứ thôi ta vào gặp ông ấy

    Luật tiến lại gõ một cánh cửa khép hờ của môt căn phòng một người trẻ tuổi ra mở cửa Hồng thấy môt người tướng ngũ đỏan ăn mặc chỉnh tề đang ngối trên ghế sa lông đứng dậy

    -Mời các thầy ngồi rồi chúng ta trao đổi mọi chuyện ông Hải rót nước mời khách

    Nghe ông Ngô Đình Diệm nói vây Hồng mới biết người trẻ tuổi là Võ Văn Hải môt nhân vật nổi tiếng tuổi trẻ tài cao giỏi nhiều ngọai ngữ có tài ngọai giao có đầu óc tổ chức rất đươc ông Ngô Đình Diệm tin cẩn nên Võ Văn Hải vừa là thư ký riêng vừa là quản gia luôn

    Khi mọi người yên vị ông Ngô Đình Diệm bắt đầu nói. Tuy ông Ngô Đình Diệm là người Qủang Bình nhưng ông nói giọng Huế ‘’rặc’’ ông nói thao thao bất tuyệt cả giờ đồng hố mới dứt ông nói như môt người ngồi ’’đồng’’ nhưng giọng không  môt chút hấp dẫn. Ông nói về cuôc cách mạng quôc gia ông đang theo đủổi ông nhắc tới tên những nhân vât như Kỳ Ngọai Hầu, Cường Để chí sĩ Phan Bội Châu ông nói về chủ trương Dân Tộc Độc Lập Dân Quỳền Tư Do Dân Sinh Hạnh Phúc Lao Tư Lưỡng Lơi Thăng Tiến Cần Lao Đồng Tiến Xã Hội ông càng nói người nghe càng buồn ngủ

    Ông kết luận muốn làm cuôc cách mạng quốc gia về chủ quan trong nước phải có người có tổ chức ông đang xây dựng tổ chức, và kiếm anh em đồng chí hướng về khách quan cần có sự giúp đỡ của bên ngòai ông cần phải xuất ngoai sang Mỹ tìm sự yểm trợ. Nói về người Pháp ông tỏ ra hòai nghi họ không có ý trao trả Độc Lập cho Việt Nam. Nói về vua Bảo Đại ông nói ’’chẳng đăng đừng’’ ông mới cộng tác. Kết thúc cuôc nói chuyện ông Diệm tỏ ra rất vui khi găp đươc Luật và Hồng

                    Khi chia tay ông Diệm bước xuống lầu Luật hỏi cảm tưởng của Hồng về ông Diệm, Hồng cười và nói

    -Ông Ngô Đình Diệm mới bốn mươi mấy tuổi mà mình có cảm giác ông gìa quá nhữmg điều ông nói nghe cũng hay hay nhất là chuyện Lao Tư Lưỡng lợi Thăng Tiến Càn Lao đồng tiến xả hội môt thứ chủ nghĩa xã hội Thiên chúa giáo nhưng ông nói giọng quá ít thuyết phục.

    -Những chuyện này ông phải nghe em ông ấy là ôngNgô Đình Nhu nói mới dễ nghe ông Nhu chính là linh hồn của ông Diệm, ông Nhu học ở Tây bạn cùng học với Nguyễn Thiệu Lâu, Lâu rất phục ông Nhu. Ông biết Nguyễn Thiệu Lâu thông minh cỡ nào chứ đỗ môt năm bốn cái bằng cử nhân, ông Nhu về nước làm quản thủ Thư Viện Trường Viễn Đông Bác Cổ đọc thiên kinh vạn quyển chính ông sáng tạo ra cái thuyết Cần Lao Nhân Vị và sáng lập Đảng Cần Lao Nhân Vị ông giỏi nhưng hơi kiêu ngạo môt tí

    -Nghe thiên hạ nói bà Nhu bay bướm lắm phải không anh

    -Bà Nhu là con nhà gia thế bố là luật sư Trần Văn Chương người Gò Công mẹ là môt tiểu thư người Huế thuôc dòng họ Thân nổi tiếng trăng hoa từng giao du với thống sứ Chatel, bà Nhu  nhũ danh Trần Lệ Xuân chơi đờn dương cầm vào lọai có hạng ở xứ Dông Dương nên có lúc là thầy dạy dương cầm của vua Bảo Đai bà cũng như má bà làm ngoại giao rất tài

    -Hình như bà Xuân có người chị là Lệ Chi cũng nổi tiếng bay bướm

    -Đúng Lệ Chi lấy Luật sư Nguyễn Hữu Châu, môt công tử con nhà giầu thuôc dòng họ Nguyễn Hữu nổi tiếng. Lệ Chi, Lệ Xuân là những cô gái tham gia phong trào đời sống mới của thống sứ Chatel chắc chắn là bay bướm

    -Thiên hạ đồn cả Lệ Chi, Lệ Xuân lẫn bà Chương đều qua tay Thống sứ Chatel

    -Hơi đâu để ý tới những tin đồn mình chỉ biết anh em ông Ngô Đình Diệm họ đòan kết với nhau lắm, bà chị sẵn sang chi tiền cho các ông em làm chuyện lớn ông anh làm Gíam mục lúc nào cũng nghĩ tới việc làm của các em, người em út ở Huế lo coi sóc mẹ già nhưng không ngừng thu phục tay chân khuếch trương tổ chức Đảng Ngô Đình Diệm người em ở mươc ngòai tên Luyện lo ngoại giao và chiêu tập Việt Kiều cho ông anh nhờ vậy mà người của ông Diệm rất có trình độ

    -Thiên hạ đồn ông Ngô Đình Nhu ’’chơi ‘’ ma túy

    -Có thể là như vây vì ông ấy có bà vợ quá ’’xung’’ nhưng ông ấy học nhiều và có đầu óc phân tích và tổng hợp khá nhạy bén

    -Ông ấy còn làm tình báo

    -Thời đại ngày này tinh báo là siêu chính trị

    -Vây Luật quyết đinh theo ông Ngô Đình Diệm

    -Cũng chưa hẳn thế nhưng ‘’giải pháp Ngô Đình Diệm lúc này là giải pháp tốt nhất

    -Mình không ngại ông Diệm nhưng ngại cái gia đình ấy

    -Đúng phải dè chừng cái gia đình này, mai Hông về Hànội phải không hình như Xíu đã tính tóan mọi chuyện cho Hồng rối đấy

    -Pháp và Việt Minh sắp bắn nhau rồi, nhà văn Nhượng Tống nói muốn găp mình

    Nhà văn Nhượng Tống là người từng cùng Nguyễn Thái Học sáng lập Việt Nam Quốc Dân Đảng, nhưng Lê Ngọc Chấn có vẻ không thích nhà văn Nhượng Tống cái anh tri huyện Việt Quốc có bí danh Chấn Quang Minh này sắt máu lắm, ông gặp nhà văn Nhượng Tống nói phải coi chừng Lê Ngoc Chấn, Nhượng Tống Phạm Hòang Trân là ngươi có hoc, có văn tài anh Thái Dich Lý Đông A thích lắm

    Trươc khi chia tay mình về chiến khu Nga Mi của Z  ở Hoa Bình anh A có dặn minh nói với Hồng, bảo những người thân tín của Xíu rán bảo vệ Thái Vĩnh Thinh ông luật sư này hơi gàn nhưng rất hiểu tư tưởng Lý Đông A rán bảo vệ ông không để bọn ‘’Vẹm’’ thit.

    -Xíu có nói với mình là đã có phương án bảo vệ Hồ Hữu Tương và một số anh em rồi ông có thể yên tâm

    Hồng vừa tắm xong mới rót môt ly rươu lễ nhâm nhi chờ bữa cơm tối thì thằng nhỏ tới báo tin nhà văn Nhượng Tống đang chờ dưới nhà, Hồng vội vàng thay quấn áo xuống lấu vì dù sao với Hồng, nhà văn Nhương Tống cũng là bậc đàn anh. Hồng phải giữ lễ ăn mặc chỉnh tề khi tiếp xúc  cho phải phép, Tính Hồng từ xưa tới nay vẫn vậy

    Vừa thấy nhà văn Nhương Tống Hồng đã cúi mình xuống chào

    -Bác vẫn khỏe chứ hôm nay đệ có chai rươu lễ mời bác nhâm nháp môt ly

    -Ông Thiện nhờ tôi đến thưa với ông một chuyện

    -Chuyện của anh Thiện nhờ bác nói với đệ liên quan gì tới bà vợ sắp cưới của anh ấy không. Anh Thiện là người học rộng đọc nhiều nhưng phải cái hay nghe lời vị hôn thê nên đệ rất ngại dính vô những chuyện này

    -Chuyện này là việc nước

    -Anh Thiện làm việc nước có dính dáng gì tới người Pháp không thưa đàn anh

    -Như ông biết đấy Pháp và Việt Minh sắp nổ sung, ông Thiện muốn gíup dân đỡ khổ trong đó có ông và tôi. Theo Tây thì mình theo không đươc theo Viêt Minh thì có thể bị chúng thủ tiêu

    -Đàn anh có thể cùng anh em vào tòa lãnh sư Trung Hoa Dân Quốc tỵ nạn

     -Ông có đường giây không

    -Dạ có nếu đàn anh cần đệ sẽ cho người tới rước

    -Vấn đề không phải chỉ tôi, ông và một só nhân sĩ mà còn dân nên ông Nghiêm Xuân Thiện và ông Trương Dình Tri muốn lập ra môt tổ chức lo cho dân không đi tản cư có chỗ lánh nạn

    -Đệ xin nói thẳng chuyện này dính tới vị hôn thê của anh Thiện và công sứ Cousseau đệ xin phép đươc đứng ngòai và có lời thưa với  huynh nên thận trọng đối với những người anh em của Chấn Quang Minh bọn này họ ‘’sắt máu ‘’ lắm đấy

    -Mình giúp ông Thiện chỉ là tham gia ý kiến thôi chư mình đứng ngòai làm thầy lang mưu sinh

    -Thái độ của đàn anh như vậy đệ rất mừng thôi mời huynh nhâm nhi ly rượu lễ cho ấm bụng

    Giữa lúc Hồng và nhà văn Nhương Tống đang cụng ly thì nhà văn Hồ Hữu Tường xuất hiện cùng với ngươi liên lạc của Xíu. Vứa trông thấy Nhượng Tống nhà văn Hồ Hữu Tưồng đã reo lên

    -Tôi ra Bắc kỳ này chỉ có một nguyện vọng là gặp Nguyễn Đăng Thục và Nhượng Tống, Thục thì tôi đã gặp rồi nay gặp được ông lại được uống rượu lễ thật hên quá

    -Nghe nói ông Thâu đã gặp nạn

    -Vâng anh Tạ ThuThâu đã bị Việt Minh hay đúng hơn bọn đệ tam giết ở Quảng Ngãi vì ghé đó thăm cậu con nuôi là Nguyễn An Mỹ con trai Nguyễn An Ninh. Hôm rồi gặp ông Hồ Chí Minh mình có hỏi ông ấy về chuyện Tạ Thu Thâu bị thủ tiêu ông ấy nói ông không chủ trương chuyện này dưới họ làm bậy ông ấy đã khiển trách, bọn ‘’đệ tam’’ họ ghê quá..!

    -Ai được như mấy ông ‘’đệ tứ’’ nhưng thú thật tôi ngán các ông Mác xít lắm

    -Đàn anh ơi lúc này Hồ Hữu Tương không còn đệ tứ và cũng giã từ Mác xít rối. Ở trong Nam của Tường có đạo Cao Đài là thứ tôn giáo thể hiện rõ tinh thần dung hóa và chuyển hóa của văn hóa Việt Nam thư Văn Hóa Tam Gíao đồng nguyên nay thờ cả Chúa lẫn Phật thêm Lão Tử Khổng Tử . Nhà thơ Lý Thái Bach đã thành giáo tông. Đệ hôm nay hạnh ngô huynh muốn hỏi huynh ý kiến về tương lai văn hóa Việt Nam nên có mô hình như thế nào. Đệ nghĩ lúc này là lúc ta phải tổng hợp ba nền văn minh kỹ sư của tư bản chủ nghĩa Tây Phương và văn minh chính ủy của công sản chũ nghĩa và văn minh Đạo học của Đông Phưong thành nền văn minh Viêt Nam, và chính nền văn minh tổng hợp của người Viêt Nam sẽ’’ cứu rỗi ‘’nhân lọai. Văn minh chính ủy tổ chức hay nhưng bần cùng hóa nhân dân lao động đến phi nhân văn minh kỹ sư tiến tới nền văn minh trí thức nâng cao đới sống con người nhưng cũng đoa lạc con người cả hai nền văn minh nay phải có nền văn minh đao học mới giúp con người tìm thấy sự bình an

    -Uống đi lý thuyết gia, rượu lễ đươc lắm nhưng ông gọi công sản là văn minh thì xin lỗi tôi phải có ý kiến, chủ nghĩa cộng sản chỉ là một tà thuyết  và đảng công sản chỉ là môt tà giáo hình thành trên sư dối trá và lương gạt bọn lãnh tụ công sản chỉ là bọn phù thủy đảng viên là một lũ âm binh sớm muộn gì âm binh cũng vật chết phù thủy sự dối trá lương gạt cũng bị lôt mặt nạ thôi .Ông Tường nói đúng tinh thần văn hóa Việt Nam cốt lõi là tinh thân dung hóa và chuyển hóa tinh thần không đồng hóa tinh thần từ chữ Hán chế ra chữ Nôm, từ chữ La Tinh chế ra chữ quôc ngữ ông trở về với dân tộc là điều đáng mừng.

    -Đàn anh nói hay lắm nhưng sao đàn anh là ngươi cùng với Nguyễn Thái Học sáng lập ra Việt Nam Quôc Dân Đảng lại để cho bọn Vũ Hồng Khanh làm mưa làm gió vậy.

    -Nói cho đúng thì vấn đề chính là nhân sự Pháp và Cộng Sản chúng giết quá nhiều, anh em của mình người sáng giá cuối cùng là Nguyễn Thế Nghiệp đã bị Việt Minh giết, mình chỉ là anh văn nhược trói gà không chăt làm được gì, nhưng biết rất rõ chũ nghĩa tam dân với ba mục tiêu Dân Tộc Độc Lập, Dân Quyền Tự Do, Dân Sinh hạnh phúc vẫn còn tốt Việt Nam Quốc Dân Đảng có thêm Nhất Linh, Nguyễn Tường Tam mình rất mừng.

    -Tại đất Nam Bộ của bọn này Phật giáo một tôn giáo ra đời hơn hai ngàn năm cũng đang ’’chuyển hóa’’. Ngay từ thế kỷ mười chín môt nhà tu hành ẩn danh được thiên hạ gọi là Sư Vãi Bán Khoai đã triển khai ’’pháp’’ của  Phật Gíao Mật Tông, mà một nhân vật ẩn danh đâu từ Thanh Hóa vô, thiên hạ thương gọi là ông Cả thành những câu sấm gỉảng về Phât Gíao Tứ Ân đi tu không cạo đầu tín đồ không thờ hình tượng chỉ thờ môt bức trần điều ăn chay làm lành sau này thiên hạ gọi Phât Gíao Tứ Ân là đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, và 1938 ông Hùynh Phú Sổ Tập Đai Thành tư tưởng của Ông Cả, của Sư Vãi Bán Khoai của Đòan Minh Huyên thành Sấm Gỉang, và vì ông Hùynh Phú Số sinh ra ở làng Hòa Hảo nên thiên hạ gọi cái đạo của ông Hùynh Phú Sổ là đao Hòa Hảo

    -Có phải Phật Gíao Hòa Hảo chủ trương thờ Phât Di Lặc vì cho là Pháp của Di Lặc sẽ thế Pháp của Thích Ca

    -Đúng vậy, tư tưởng Phât Gíao là tư tưởng biến chuyển không ngừng cùng với thời đai nếu chúng ta không chịu thích nghi với thời đại thì sớm muộn chúng ta cũng sẽ bị đào thải thôi

    -Nghĩa là đã tới lúc chúng ta phải xét lại hết rà sóat lại hết

    –Đúng thế không nhìn lạji không thể bươc tới

    Giửa lúc Hồ Hữu Tương và Nhượng Tống say sưa nói chuyện thì ngươi liên lạc của Xíu cho Hồ hữu Tường biết gia đình Hồng đã chuẩn bị tư trang xong cả rồi mọi người có thể  lên đường đến trụ sở tòa lãnh sư Trung Hoa Dân Quốc.

    -Nhà cửa tính sao đây

    -Dạ bọn này đã cho dán lá cờ Thanh Thiên bạch nhật mãn địa hồng ngòai cửa là có thể yên tâm

    Hồng quay qua phía nhà văn Nhượng Tống

    –Đàn anh đi với bọn này chứ

    -Cho mình quá giang về nhà. mình phải về với gia đình, và không thể bỏ rơi Nghiêm Xuân Thiện lúc này đươc

    -Như vậy đàn anh phải cẩn thận trước bọn Chấn Quang Minh

    -Mình là người tin ở số mệnh, và ông trời nên, mìh chẳng ngại gì cả thấy đúng là làm.


    Chương 5

    Những quân cờ

    Hồng tiếp Nguyễn Tú cánh tay mặt của bác sĩ Đặng Văn Sung với lời giao hẹn trước chuyện gì mình cũng có thể nói chuyện với ông nhưng chuyện tham gia giải pháp Bảo Đại thì mình xin kiếu. Nguyễn Tú người bạn thủa thiếu thời của Hông từng lưu vong sang Tàu cười sòa trả lời Hồng rằng bác sĩ Đặng Văn Sung muốn gặp Hồng trao đổi về chuyện chiến khu của Phục Việt ở Thanh Hóa bác sĩ Sung muốn trao đổi với Hồng ,và Vũ Khắc Khoan trước khi ông ra tham quan chiến khu của Phục Viêt dù ông đã gặp hai phái viên của Phục Việt  là Hòang Đạo và Kim Sơn cũng như đã nghe báo cáo cáo của các phái viên của Đai Việt Quốc Dân Đảng là Đinh Xuân Cầu và Nguyễn Văn Hương rồi găp chính Dupra người cầm đâu ngành phản gián của Pháp, thăm dò nhưng ông vẫn thấy lấn cấn thế nào ấy. Bác sĩ Đăng Văn Sung cái anh chàng trai người Nghệ An em vợ bác sĩ Phan Huy Qúat với Hồng nào phải chỗ xa lạ, bác sĩ Sung từng đươc lãnh tụ Trương Tử Anh chọn làm truyền nhân bác sĩ Sung mới học ngành y nội trú năm thứ năm nhưng rất thân với bác sĩ Huard và từng phụ ông anh rể là bác sĩ Phan Huy Qúat người từng làm chủ tịch Tổng Hội Sinh Viên nên thiên hạ gọi Đăng Văn Sung là bác sĩ. Chính bác sĩ Sung là người thuyết phục bác sĩ Phán làm Lã Bất Vi đưa cô vợ bé cô đầu nổi tiếng nhan sắc một thời Mông Điệp dâng vua Bảo Đai, bác sĩ Sung là ngươi rất đươc vua Bảo Đai tin tưởng  nhưng  ông từ chối mọi chức vụ kể cả chức thủ tướng tuy nhiên sẵn sàng tiến cử ngươi ‘’phò’’ vua  Bảo Đại nên người của bác sĩ Sung làm phó thủ tướng làm thủ hiến Bắc Việt, Đặng Văn Sung là người thông minh có tài nhưng có tật mê đánh’’phé’’ và mê người đẹp ’’tằng tịu’’ với vợ tri phủ Vương Văn Bách, Sung định đi thăm chiến khu của Phục Việt là chuyện lạ Hồng phải găp Vũ Khắc Khoan liền vì Khoan nắm ban hành động của Z Khoan mới gặp Nguyễn Đức Qùynh bạn thân của Cousseau và cánh tay mặt của của tướng Nguyễn Sơn tư lệnh khu 4 một ngươi nổi tiếng coi thường Võ Nguyên Gíap vì từng là trung tướng trong Bát Lộ Quân của Mao Trạch Đông, môt chàng trai làng Đồng Kỵ ở Gia Lâm tên khai sinh là Vũ Nguyên Bắc nổi tiếng nhiều vợ người vợ cuối cùng là con gái út nhà văn Sở Cuồng Lê Dư

    Hồng sách môt chai cognac tới găp Vũ Khắc Khoan anh chàng kỹ sư canh nông bạn cùng học với Huy Cận vì mê văn nghệ nên thương lui tới nhóm Hàn Thuyên gặp Trương Tửu và Nguyễn Đức Qùynh đưa những vở kịch Khoan sáng tác nhờ họ đọc cho ý kiến cả hai đều khen Khoan viết kich hay hơn Vi Huyền Đắc Vũ Đình Long nhưng từ ngày gặp Thái Dich Lý Đông A thì Khoan lai mê làm thơ và làm cách mạng nên dù là con rể họ Bùi Tường thì con đưong làm quan không khó nhưng Khoan cũng không màng

    Hông vừa khui chai rươu  Martell cordon bleu ra vừa cho Khoan biết chuyện Đặng Văn Sung mời hai ngươi ăn ở nhà hàng Phú Gia trao đổi về chuyện chiến khu của Đảng Phục Việt, Khoan nghe Hồng nói thì cười khùng khục và nói

    – Lê Quang Luật mới được linh mục Hòang Qùynh tiết lộ Hòang Đạo cũng như Kim Sơn đều là cán bô phản gián của Vịêt Minh chính Hòang Đao đã báo cho Dupra lộ trình của Hồ Tùng Mậu để Dupra cho phi cơ tiểm kích giết chết Hồ Tùng Mâu theo lệnh của Hồ Chí Minh. Giết đươc Hồ Tùng Mậu rồi Hồ Chí Minh sẽ  trả Nguyễn Sơn về cho Trung Công để nắm khu 4. Nguyễn Đức Qùynh mới về Hànôi gặp Cousseau mà nhân vât Nguyễn Đức Qùynh từng đi lính Lê Dương và là bạn thân với Cousseau từng viết cả môt cúốn tiểu thuyết về Cousseau tựa đề là Thằng Cu So chính vì Qùynh thân với Cousseau mà Trương Tửu mới mời Qùynh làm chủ bút tờ Văn mới của nhóm Hàn Thuyên, Qùynh về Hà nôi gặp Cousseau để thu xếp cho gia đình Pham Duy về thành sau đó Nguyễn Đức Qùynh cũng về thành cùng nhà văn Tchya làm việc với Phan Văn Gíao, Nguyễn Đức Qùynh có văn tài đọc nhiều nhưng có cái tật là luôn tự nhận minh là hậu duệ của Kỳ Đồng Nguyễn Văn Cẩm một nhân vât lich sử thông minh xuất chúng viết văn tiếng Pháp người Pháp đoc rất phục viết kich, hoa sĩ thiên tài Gauguin phuc sát đất. Cái tay Đinh Xuân Cầu con rể chủ báo Tiểu Thuyết Thứ Bẩy Kịch tác gia Vũ Đình Long cũng như Nguyễn Văn Hướng bí thư xứ ủy Nam Kỳ của lãnh tụ Trưong Tử Anh ra chiến khu của Phục Việt mấy lần nhưng bị công an Việt Minh chúng dàn cảnh làm mờ con mắt cả

    Tất cả vở kịch đảng Phục Việt lập chiến khu đều do một tay Nguyễn Tao còn có tên là Nguỵễn Phủ Doan đạo diễn hết tên Nguyễn Tao là một tên công sản người Nghệ rất nguy hiểm. Linh mục Hòang Qùynh đã cho lệnh anh em tự vệ Công giáo gặp Hòang Đạo và Kim Sơn ở đâu là tóm cổ liền. Tên Hòang Đạo có tên khai sinh là Nguyễn Văn Hòang nó là điệp viên nhị trùng từ thới Pháp thuộc nó từng làm việc với cò Bazin  trùm mât thám Tây bót Catinat ở Saigon sau năm 1945 nó chuyển vùng ra miền Trung làm trưởng ty cống an Thanh Hóa và nay nó thành Hòang Đạo

    Hồng nghe Vũ Khắc Khoan nói thì nhíu mày bảo với Khoan rằng anh em quốc gia chẳng cón bao nhiêu người mình đã thiếu cảnh giác để bọn Chấn Quang Minh bắn chết mất ông nhà văn NhượngTống lần này minh không thể để Đinh Xuân Cầu và Nguyễn Văn Hương sa vao bẫy cũa bọn chúng nó đươc

    Khoan cầm ly rượu lên nhấp một ngụm rồi trầm ngâm môt lát mới khen rượu ngon và tiếp theo là lắc dầu bảo Hồng rằng người của Xíu mới báo tin Đinh Xuân Cầu và Nguyễn Văn Hương đã cùng Hòang Đạo Kim Sơn và mấy chục cán bộ Đại Việt trẻ xuống thuyền dùng đương biển tới Thanh Hóa rồi.

    –Đặng Văn Sung không chờ tham khảo ý kiến bọn mình đã từ chối đi thăm chiến khu của Phục Việt mà chỉ gửi môt số cán bô trẻ với súng tiểu liên và môt trăm cái xe đap cho chiến khu Phục Việt. Dupra đã chuẩn bị cho quân đổ bộ ở Sầm Sơn khi cuộc khởi nghĩa của Phục Việt nổ ra tuy nhiên cả Dupra lẫn Đinh Xuân Cầu, Nguyễn Văn Hương đều bị lừa hết Cầu và Hương có thóat chết thì cũng bị đi Lý Bá Sơ mút mùa

    -Vậy chúng ta gặp Đặng Văn Sung không

    -Găp chư Sung có nhiều rượu ngon nhà hàng Phú Gia có món nhậu tuyệt vời phải đi để ‘’đánh chén’’ môt bữa chứ. Người của Xíu mới báo tin Xíu đã thu xếp để ông và tôi ’’nhâu’’ với cái ông Nguyễn Thế Truyền để cài Thái Vĩnh Thịnh vào chiến khu của quân Cao Đài Liên Minh do cái ông đại tá Trình Minh Thế cầm đầu.  Cái chiến khu kháng Pháp này có bàn tay của tình báo Mỹ CIA đấy

    Nguyễn Thế Truyền dân Hành Thiện Nam Đinh là con quan sang Tây du học đậu cử nhân hóa học nhưng đi làm báo đã cùng luật sư Phan văn Trương sáng lập ra tờ Việt Nam Hồn là người đươc nhà Duy Tân Phan Chu Trinh đặt tên là Nguyễn Ái Quốc, sau này Nguyễn Tất Thành đã ’’cầm nhầm’’ cái tên này đi theo Cộng Sản Đệ Tam Quốc Tế rồi lại cầm nhầm cái tên Hồ Chí Minh của một anh Tầu phù cùng với cuốn thơ Nhât Ký Trong Tù bằng chữ Hán của anh Tầu phù này. Nhà báo Nguyễn Thế Truyền bị Tây đầy qua đảo Madagascar găp giáo chủ Đạo Cao Đài Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc kết nghĩa anh em nên khi người Pháp thả giáo chủ Đạo Cao Đai Tòa Thánh Tây Ninh là Đưc Hô Pháp Phạm Công Tắc về Tây Ninh Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc đã mời ông Nguyễn Thế Truyền làm cố vấn chánh trị ông Truyền đã liên lạc với người của Xíu

    Hiện quân Cao Đài Liên Minh là bô phận quân sự Đức Hô Pháp Phạm Công Tắc coi như quân bài chủ của Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh, ngài trao cho đại tá Trình Minh Thế cằm đầu, đại tá Thế là môt trung nông học chưa qua bậc trung học nhưng chịu khó đọc sách ông rât mê bộ Đông Chu Liêt Quôc và bô Tam Quôc Chi Trình Minh Thế khởi đầu binh nghiệp đi lính Haiho [một thứlính thợ] của quân đôi Nhât Bản nhưng vì Thế là chỗ thân cận với phối sư Trần Quang Vinh nên đươc Đảng Hắc Long của Nhât chú ý, không những đưa đi dào tạo sĩ quan mà còn bồi  dưỡng thêm về tình báo hiện bô tham mưu của ông có Nhi Lang tên khai sinh là Thái Lân con rể nhà văn Nhất Linh môt đảng viên Viêt Nam Quôc Dân Đảng tại Qủang Nam có lúc công tác với phòng nhì Pháp sau này làm việc với CIA, Thái Vĩnh Thịnh mà tham gia bộ tham muu của Trình Minh Thế thì sẽ ngon lành vì trước hết có học vị giỏi tiếng Anh và do nhà cách mang Nguyễn Thế Truyền giới thiệu dích thân Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc ký thánh lệnh phong quân hàm và đàng sau có người của Xíu tức người của đại tá Lansdale bảo trợ

    -Thái Vĩnh Thịnh đang muốn đi Saigon vì người yêu của chàng mới theo gia đình vào Saigon do đó chuyện đưa Thái Vĩnh Thinh vao chiến khu của Cao Đài Liên Minh chắc chắn Thái Vĩnh Thinh chịu liền

    Thịnh nắm đươc Cao Đài Liên Minh anh em mình có bàn đap Nam Tiến mình với ông phải nhậu môt trận ra trò với ông Nguyễn Thế Truyền mới đươc. Mình đã nhâu với ông Truyền mấy lần thấy tay Truyền này uống rươu rât hào sảng ông ấy nhậu ’’sừng sừng ‘’ rồi gõ bát ngâm bài Hồ Trường thì thật tuyệt vời

    Chương 6

    Vào trận

    Khoan và Hồng bước chân vào toa biệt thự kiểu Pháp ven Hồ Tây kinh ngạc vì mùi chả chó nươc thơm nức,môt mùi thơm của thịt nướng ngào ngạt  làm con tì con vị sôn sao môt mùi thơm vô cùng quyến rũ với dân tửu đồ

    -Tay Truyền đãi anh em mình món  cờ Tây[cầy tơ ] đặc sản của Nam Đinh quê ông ấy dân này sành ăn gớm.Thit chó không nơi nào chế biến ngon hơn dân Nam Đinh.Dân Nam Định chỉ chén chó mưc và chó vàng thôi các loai chó khác họ chê tuốt

    Hồng nghe Khoan nói thì im lặng quan sát。 Hai ngươi vừa bươc qua hai cánh cửa sắt mở rộng bươc trên cai sân trải sỏi trắng muốt giữa là lối đi có trồng hai hàng tóc tiên với những bông hoa mầu tím dễ thương

    -Xin mời hai vị lên phòng khách ông chúng tôi đang chờ hai vị

    Hồng và Khoan đươc người thư ký riêng của nhà báo Nguyễn Thế Truyền dẫn vào phòng khách trải thảm Ba Tư nhưng trên thảm Ba Tư lại có trải những chiếc chiếu hoa loai sang nhất.Chủ nhân một ngươi cao to lưc lưỡng mặc áo sơ mi dài tay mầu nâu nhưng lai không mặc quần mà quấn sà rông dơ tay ra chào và nói lơn’’ hôm nay chúng ta hạ cờ Tây phải ngôi trên chiếu hoa ăn uống mới thỏai mái.Trong cái đao ăn uống  thì cái sự   thỏai mái phải đặt lên hàng đầu.ăn uống mà lễ nghi lỉnh kỉnh thì còn gì thú nữa.Những ngày ở bên Tây những ngày đi đầy ở Mã Đảo món mình them nhất là thịt chó. Ở bên Tây làm sao kiếm đươc chó ta nhất là chó mưc hay chó vàng mà ‘’chén’’ tòan thứ chó Tây thịt mùi gây đến buồn nôn.Có chó mà không có riềng mẻ mắm tôm cũng vứt đi mình là dân Hóa học nhưng mình phải phục các cụ nhà ta tài quá chỉ với món cơm nguôi để tư lên men mà chế ra đươc thư dấm vi sinh gọi là mẻ that tuyệt với thịt chó ướp riềng mẻ nêm mắm muối rồi nướng thật quyến rũ

    Thưc đơn hôm nay tòan những món chế biến từ chó thôi món khai vị sẽ là óc chó hấp ,món ăn chơi là dồi chó rồi chả chó cái nhà hàng thit chó này họ chế món chả chìa tuyệt lắm  còn dồi chó thì vô đich cũng đâu xanh cũng huyết chó cũng  với những gia vị như thiên hạ nhưng tay đầu bếp này làm dồi chó không giống ai ngửi đã thơm ăn lại vừa bùi vừa béo vừa ngot vừa cay lạ lắm.Cái anh thịt chó có riềng có mẻ mà thiếu húng chó cũng thua.Thiên hạ ăn thịt chó thường chú ý món chả chó dồi chó nhưng đầu bếp nấu thịt chó hay vào lọai cao cương theo mình phải biểu lộ nghề ở món nhựa mận.Hôm nay ngòai món nhựa mận ra mình đãi quí vị món sáo măng mà lai sáo măng chân chó

    Nhà báo Nguyễn Thế Truyền vừa nói dứt lới thì môt thưc khách tới với một vò rượu bằng sành loai năm lít miệng vò nút lá chuối trên tay bước vô

    -Ông Tiến hay quá đem rươu làng Vân tới, thit chó mà’’nhâu’’ với rưou làng Vân là số môt ‘’hâu sinh khả úy ‘’ thật nhưng kiếm đươc rượu làng Vân chinh cống nấu bằng nếp cái hoa vàng lúc này chỉ có bà HòangĐao Nguyễn Tương Long mới có thôi.Cả cái nươc này chỉ có bà Hòang Đao Nguyện Tương ;Long mới sành ăn sành uống như thế này

    Hồng nghe nhà báo Nguyễn Thế Truyền nói thì nhìn Tiến cươi.Với Hồng Lê Văn Tiến tức Tiến Nhât em kết nghĩa và cũng là thư ký riêng của nhà văn Hòang Đao Nguyễn Tương Long nào phải chỗ xa lạ gì với Hồng. Tiến mà thiên hạ thương gọi là Tiến Nhât người đươc nhà văn Hòang Đao Nguyện Tương Long rât cưng gửi nhà văn người Nhât Bản tên Komatsu chúa Đảng Hắc Long của Nhât Bản ờ Hànội bồi dưỡng về tình báo và nghề văn

    Tiến từ ngày làm đệ tử chúa Đảng Hắc Long thì mắc bệnh mê tín Nhât Bản ca ngơi món cá sống chấm với tương hat cải ma người Tây gọi la mù tạc và món cơm nắm kiểu Nhạt mà người Nhât gọi la sushi những món mà Hồng thấy chẳng ra làm sao

    Nhà báo Nguyễn Thế Truyền mở nut hũ rượu đưa miệng hũ rươu lên mũi híi một hơi rồi cười môt cách sảng khóai

    -Bà Hòang Đao đúng là dân sành điệu số một ở đát Hà Thànhnày thật. Thời buổi này chỉ có bà mới kiếm cho cậu em nuôi của chồng rượu làng Vân nươc thứ nhất mới ra lò chỉ có bà mới kiếm được thư rượu  LÀNG Vân nươc nhất mới ra lò.Mình đã uống nhiều rươu gạo tòan thứ số môt cả từ Gò Công Gò Đen đến Chuồi nhưng không anh rượu nào bằng đươc cái anh làng Vân cả

    Mình còn nhớ sau bao nhiêu năm xa nươc lần đầu tiên về tới Saigon môt ông bạn thân đưa đi ăn thịt chó kiểu Tầu ở Chợ Lớn.Ngươi Tầu vốn sành về ẩm thực chế biến món ăn nổi tiếng là tài tình nhưng làm món lẩu chó thì xin lỗi không làm sao’’nuốt’’ nổi .Thịt chó mà ăn với rau cúc tần[rau tần ô] chấm với chao cái thư nươc chấm chế bằng đậu phụ thúi thật chẳng ra làm sao cả

    -Đàn anh đã chén món thịt chó ‘’hon ‘’ chưa

    -Rồi món thịt chó nấu kiểu Nam Kỳ Lục Tỉnh này cũng tạm đươc nhưng  thịt chó mà bỏ nươc cốt dừa vô mình vẫn thấy nó làm sao ấy.Nhưng Nam Kỳ Lục Tỉnh họ không ăn món chó luôc mà hấp mình thấy rất tuyệt.Thịt chó hấp thái mỏng ăn với lá mơ tam thể quả la tuyêt vời bao nhiêu cái ngon cái ngọt cái béo cái bùi cái thơm của thit chó nhờ hấp đươc giữ nguyên trong cái đùi chó thái ra.Thịt chó hấp vừa chín tới đúng là sáng kiến làm ngon thêm. Món thịt chó số một của dân Nam Kỳ Lục Tỉnh này mình mang về phổ biến ở Nam Đinh dân ăn thịt chó  ở Nam Định ai cũng ca ngơi .Món thịt chó hấp thật không chê vào đâu đươc vừa đậm đà vừa rẻo lại vừa ròn

    -Đàn anh sành that món gì ngon của thiên hạ cũng biết

    -Sành ăn như mình nhưng vẫn thua bà chị của ông đấy,ông nhà văn Hòang Đao có bà vợ thật tuyệt vời mình ăn món cá Anh Vũ đã nhiều nhưng phải nói rằng món cá Anh Vũ do bà Hòang Đao nấu thì không chê vào đâu đươc.Cá Anh Vũ là đăc sản của vùng sông nươc Việt trì thời bình đã hiếm thời chiến tranh này còn hiếm hơn thế mà bà Hòang Đao mua đưoc và chế biến với đủ thư gia vị lai có cả rượu Mai Quế Lộ rươu Mao Đài nữa bà tài thật

    -Đàn anh quá khen bà chi tôi,hôm nay đàn anh cho bọn này hạ cờ Tây có phải như vi binh bộ Thượng Thư triều đình Huế Ông Ích Khiêm không đấy

    -Cái ông Tiến này ghê thật mình mở tiệc chiêu hiền đại sĩ chỉ một món thịt chó thôi đâu dám ‘’dỡn mặt’’ nhân sĩ Bắc Hà

    Nhà báo Nguyễn Thế Truyền nâng vó rươu làng Vân lên mở nút lá chuối rót ra cái bát kiểu nửa bát rươu rồi đưa lên miệng làm môt hơi và đưa cay bằng môt thìa óc chó

    Xin quí vị uống thỏai mái môt bữa .Rươu làng Vân phải uống bằng bát mới thú thư này mà nhắm với óc chó có thể quên hết mọi chuyện phiền tóai ở cuộc đời này kể cả chuyện cái nươcViệt Nam của chúng ta sắp bị chia đôi và lũ‘’quỉ ‘’ đang dở lắm trò ma mãnh hại dân hại nước  này. Dân Việt Nam phen này sẽ còn thảm hơn cái lần Trịnh Nguyễn phân tranh đấy

    -Tình hình đất nươc như vậy đàn anh định làm gì chẳng lẽ uống rượu ăn thịt chó rồi chửi đổng cho sướng miệng thôi sao

    -Làm chứ ông Tiến ơi ông bạn Hộ Pháp Đao Cao Đài Phạm Công Tắc của mình đươc cơ bút cho biết qua cơ bút’’bề trên’’ đã chỉ rõ nươc ta sắp phải trải qua môt cuôc chiến tranh ủy nhiệm dân ta thành nạn nhân của những cuôc thử nghiệm vũ khí chiến lươc chiến thuật của hai phe Cộng  Sản và Tư bản thê thảm lắm Đao Cao Đài lãnh thiên mạng tìm lối thóat cho dân tộc Việt Nam tránh cái tai họa chiến tranh ủy nhiệm.Đao Cao Đài là môt tôn giáo hình thành bằng cơ bút không môt xu dính túi không kiến trúc sư không công trình sư chỉ trông cây vào cơ bút hiệp thông với bề trên mà Đưc Hô Pháp Phạm Công Tắc đã xây dựng lên Tòa Thánh Cao Đài ở Tây Ninh trị giá mấy trăm ngàn lương vàng

    Đao Cao Đai có hai Hôi Thánh môt hội thánh nơi cõi thế môt hôi  thánh nơi cõi trên hôi thánh nơi cõi thế làm việc theo sự dẫn dắt của Hội Thánh cõi trên qua phương tiện hiệp thông là cơ bút

    Cái phương pháp’’hiệp thông’’ với cõi trên qua cơ bút lạ lắm có khi trên phán xuống bằng môt bài thơ môt câu sấm

    -Xin đàn anh nói thêm cho chúng đệ nghe về cái mà đàn anh gọi là chiến tranh ủy nhiệm

    -Cõi trên nói rõ lắm thế giới đang có hai cưc Tư Bản và Cộng Sản Việt Nam ta đang là bãi chiến trương của hai phe này dân Việt Nam như những con gà ‘’chọi’’ thiên hạ bôi măt đeo cựa sắt ủy nhiệm cho ‘’chọi’’ nhau để họ ‘’cá cươc’’ đó chính là chiến tranh ủy nhiệm.Cao Đài dươc bề trên trao cho thiên mạng phải làm sao cho dân Việt không biến thành gà’’chọi’’ luât sư Thái Vĩnh Thịnh đang làm cái sứ mạng tách đai tá Trình Minh Thế ra khỏi hàng ngũ gà’’chọi’’ của người Mỹ

    -Đàn anh có tin Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc làm nên chuyện không

    -Đưc Hộ Pháp Phạm Công Tắc có nói với mình rằng’’thiên cơ bất khả lậu’’ông làm công việc tách dân tôc Viêt Nam ra khỏi cuôc chiến tranh ủy nhiệm sẽ găp nhiều tai nạn và có thể về cõi trên sớm nhưngĐao Cao Đài hay nói đúng hơn Đai Đao Tam Kỳ Phổ Độ sẽ phát triển tòan cầu nên vì giếng mối tương lai Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc của Đai Đao Tam Kỳ Phổ Độ sẽ không ngại bất cứ chuyện gì đối với bản thân kể cả sinh mang.’’Tiết lậu thiên cơ’’ sẽ phải trả gia đắt nhưng lòng tư bi của người tu hành không thể nào không ‘’giác ngộ’’ chuyện cứu vớt chúng sinh là những đồng bào của mình trong cuôc chiến tranh ủy nhiệm tàn khốc do hai đối cưc trên hành tinh này chủ trương

    -Đàn anh đã nói thế thì tiểu đệ xin giới thiệu với đàn anh ông bạn cử Bình ngươi từng là Đổng Ly Văn Phòng của Thương Thư bộ Hình Bùi Bằng Đòan và từng là chánh án tòa án quân sự quân khu 3 của tướng Bằng Giang bây giờ nhìn thấy rõ bô măt gian trá lừa gạt bịp bợm của  Công Sản muốn làm một cái gì cho đất nươc và dân tôc

    -Ông cử Bình viết văn hay lắm viết báo cũng tài nhất là châm biếm khôi hài thì thuôc vào loai cư phách sao hôm nay ông Tiến không dẫn ông cử Bình lai chén thịt chó

    -Cử Bình không biết ăn thịt chó và cũng không biết uống rượu chỉ thích uống trà

    -Cái gì chứ món trà mình cũng mê lắm mình mới có môt hộp trà ô long ngon lắm mình muốn mời ông cử Bình bàn chuyện kiếm cách chống việc thiên hạ đưa dân tộc Việt Nam vào cuộc chiến tranh ủy nhiệm.Thôi anh em mình chén đi món óc cho hấp tuyệt lắm đấy

    Chương 7

    Thế chiến quôc

    Hồng đã vào Saigon và nghe theo lới Xíu không tham chánh với Luât mua môt căn nhà ở đường Gia Long,Hồng không tham chính mà tham gia văn phòng luât sư của Trương Đình Dzu một ;luât sư quê ở Bình Đinh mà theo lời Xíu người Mỹ đang ‘’đầu tư’’ vào nhân vât này rất nhiều để dùng trong giai đọan kế tiếp

    Làm việc trong văn phòng của luât sư Trương Đình Dzu Hồng thấy nhân vât này hơi khó hiểu ít nói chuyện chánh tri chỉ thích ăn chơi ưa giao du với giới tài phiệt mê nhẩy đầm là bạn nhẩy đầm của những Trần Lệ Xuân Trần Lệ Chi nhưng lại luôn tuyên bố đứng ngòai chính trương. Vì chính trị là thế giới không hợp với Dzu

    Với ai Trương Đình Dzu cũng tỏ ra thân thiết nhưng thật ra chảng thân thiết với ai cả.Một người bạn cũ từ hồi còn học luật của Hồng là Ta Chí Diệp cũng dân Bình Đinh có thời là bạn học với Trương Đình Dzu nói với Hồng rằng với Dzu tiền là trên hết Dzu coi the761 lưc của đồng tiền là thế lưc  vô địch trong thiên hạ

    Hồng còn nhớ cái bữa Diệp lại văn phòng Trương Đình Dzu kiếm Hồng Dzu gặp Diệp reo ầm lên’’Tha phương ngô cố tri sao ông thấy tôi mà cứ lờ đi vậy ông quên thời đi học ông là công tử cháu quan tổng đốc Ta Chương Phùng anh Tạ Chi Đông Hải.Nghe nói có thới ở khu năm ông cùng với Đòan Thế Nhơn lập chiến khu bị Việt Minh tuyên án tử hình hôm nay gặp ông ở đây mình mừng lắm phải đi ‘’nhâu’’ với mình và Hồng một bữa nhé’’

    Diệp đươc Dzu mời lên xe  hơi riêng cùng Hồng đến tiệm Tài Nam ở chợ Cũ ăn món đuông chà là chiên bơ.Đuông dừa thì Hồng đả từng ăn và khá thích mấy con xâu ăn dọt dừa này nhưng đuông chà là thì đây là lần đầu Hồng đươc thưởng thức lòai sâu ăn đọt chà là ngâm trong nước mắm chiên bơ uống Martelle cordon bleu ôi cái vị béo vị thơm của con đuông chiên vừa chín tới thât tuyệt vời.Trong bữa nhâu Dzu ca ngợi Diệp hết lới nào thông minh nào dám nghĩ dám làm nào con nhà quyền quí mà không phách lối dù có ông chú đậu đai khoa lai làm tổng đốc ngay tại quê nhà khi tiếp thu Bình Định thủ tương Ngô Đình Diệm đã cử ngay cụ Ta Chương Phùng làm tỉnh trưởng Bình Đinh.Dzu nói Hồng mới biết Tạ Chí Diệp chính là Nguyễn Phan Châu chính ủy của chiến khu Đông cái chiến khu mà Thái Quang Hòang là ủy viên quân sự Đỗ Mâu là ủy viên an ninh đươc đai tá Lansdale lập ra làm căn cứ cho ông Ngô Đình Diệm khi tương Nguyễn Văn Hinh Tổng tham mưu quân đội quốc gia nổi loan dùng Đài Phát Thanh quân đôi xuốt ngày công kích chế độ gia đình trị của họ Ngô

    Ông là công thần của nhà Ngô mà sao bây giờ lai chẳng chịu làm gì trong dinh Đôc Lập vậy như thế là thế nào xin tiết lộ cho anh em biết đi

    -Mình đọc Đông Chu Liệt Quôc nên qui cái mạng của mình lắm phải biết rút lui trươc khi bị thanh tóan

    -Người ta sầm sì rằng ông nghe lời ông Hồ Hữu Tường nên bỏ gia đình họ Ngô

    -Ông Tường đưa  ra cái  thuyết trung lập chế để cho người Việt Nam không bị rơi vào môt cuôc chiến tranh ủy nhiệm mình phục cái đầu óc ghê gớm của ông Tường nhưng mình lập Đảng Nhân Dân để dân chủ hóa chế độ này thôi chứ mình làm sao đủ khả năng chống chiến tranh ủy nhiệm ông có gặp mấy ông bạn Mỹ của ông xin làm ơn nói rõ với họ mình khọng thích chiến trang ủy nhiệm nhưng đâu có chống Mỹ hôm qua ăn cơm với Bẩy Viễn mình đã nói rõ,Bẩy Viễn tuy là tướng cướp nhưng đươc lắm ông nói cùng đường ông mới phải ‘’chứa thổ đổ hồ’’ ông săn sàng dẹp Bình Khang đóng cửa Kim Chung Đại Thế Giới khi ông Ngô Đình Nhu chấm dứt buôn thuốc phiện.Mình nói thật cái quan niệm sống’’cứu cánh chứng minh cho phương tiện’’ bất chấp thủ đọan tởm lắm làm chính trị kiểu đó mình khinh

    -Chén đi mình phải nói thât mình thua ông nhiều thứ lắm nên không dám làm chính trị chỉ dám làm giầu thôi mình sẵn sàng chuỵển những gì ông nói tới mấy người bạn Mỹ của mình ông chơi thân với ông Bùi Diễm sao ông không bảo ông Diễm nói với nhưng người bạn Mỹ của ông ấy ông Diễm còn có những người bạn Mỹ ‘’ngon’’ hơn mình nhiều

    -Mình có nhờ Diễm đấy chư tên này đươc lắm hắn không sợ gì cả nhưng phải cái uống rượu hơi kém và không biết ăn ngon nhất là cái món đuông chà là ở Tài Nam này món đuông ở đây tuyệt lắm,ông cứ làm giầu đi lâu lâu đãi mình chén môt bữa là tốt rồi

    -Sao ông không nói thẳng với ông Lansdale,tay này vẫn còn nhiều ảnh hưởng lắm đấy

    -Lansdale nói với mình rằng’’hợp đồng’’ của ông ấy với Trung Tâm là đưa ông Diệm lên làm nguyên thủ quốc gia và đưa Trình Minh Thế kèm Dzu biết Trình Minh Thế chư ông ta họ Trịnh gốc dân Bình Định mình  tổ tiên vào Nam đổi thành họ Trình tay này có quân sư là Thái Vĩnh Thịnh môt người bạn học của mình thông kim bác cổ hình như đươc nhà báo Nguyễn Thế Truyền tiến cử với Đưc Hộ Pháp Phạm Công Tắc và đươc một nhân vật quyền thế ở Lansley ủng hộ triệt để nhưng Thái Vĩnh Thịnh đã nói rõ với Lansdale rằng Thịnh chỉ ở chiến khu Bà Đen bên cạnh Trình Minh Thế  chứ còn khi Thế đem quân về Saigòn giúp ôngNgô Đình Diệm chống Mặt Trận Thống Nhất Tòan Lưc thì Thịnh về Nha Trang hành nghề luât sư và cưới vợ

    -Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc hình thành đươc Măt Trận Thống Nhất Tòan Lực Qúốc Gia là quá hay nhưng người Mỹ họ đã thấy cái ý đố chống chiến tranh ủy nhiệm của ngài rồi e mặt trận này sẽ gặp nhiều rắc rối tướng Thế  đã tách khỏi Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc lại không có Thái Vĩnh Thịnh bên cạnh sợ rằng đai tá Lansdale chưa chắc bảo vệ nổi trước con ‘’cáo già ‘’Ngô Đình Nhu nhất là lúc này chung quanh Nhu có rất nhiều cán bộ tình báo Việt Minh tầm cỡ như Phạm Ngoc Thảo ,Hà Đưc Minh Trần Ngoc Ban[Mười Hương Ủy viên trung ươngĐảng Lao Động trợ lý của Trường Chinh]Kiều Công Cung.

    -Phạm Ngoc Thảo là con đỡ đầu của Đức cha Ngô Đình Thục nghe nói đi tập kết ta Bắc bất mãn bỏ về

    -Đúng Phạm Ngoc Thảo là em Phạm Ngoc Thuần sinh trưởng trong môt gia đình Thiên chúa giáo La Mã tòan tòng,nhưng Pham Ngoc Thảo lai phu trách Biệt Động Thành Phố Saigon đươc đích thân Lê Duân giới thiệu vào Đảng Lao Đông ông Nhu giao cho Thảo làm trưởng phòng 6 phòng tình báo của Đảng Cần Lao Nhân Vị

    =Hinh như  Hà Đưc Minh la thầy tu xuất

    -Đung Hà Đức Minh  la thầy sáu mấy ông thầy tu xuất lôi thôi lắm chỉ vì miếng đất xéo mà mấy ông dám bỏ chưc đai diện chúa thì chuyện gì các ông cũng có thể làm đươc.Tôi nói thât cụ Diệm thì không có vấn đề gì tôi rát tin tưởng nhưng ông Nhu thì tôi hơi ngại bà Nhu thì dứt khóat tôi chống,Nghe thiên hạ nói Dzu sọan luât gia đình cho bà Nhu phải không bà ấy làm luât này là vì bà chi Lệ Chi của bà ấy nhắm chiếm một nửa tài sản của luât sư Nguyễn Hữu Châu ,Cái tay Châu này tài hoa viết văn tiếng Tây khà sáng giá nhưng chuyện phòng the thua anh Tây’’quản mã’’ của mình nên thua trắng tay gặp  mình  mình cho mấy ly rượu hải mã là xong ngay

    -Diệp có rươu hải mã nhiều không

    -Ông chú mình có cả hũ năm chuc lít ngâm môt trăm cặp hải mã tòan thư bằng hai ngón tay con nào cũng còn đủ cả hai mắt thứ này còn mạnh hơn cả rươu của vua Minh Mạng có tên rươu’’nhất dạ luc giao sinh ngũ tử’’ mai mình sẽ tặng Dzu và Hồng mỗi người môt lít

    -Diệp có noi với Lansdale chuyện chung quanh ông Nhu có nhiều cán bộ tình báo Việt Minh không

    -Minh có nói nhưng Lamsdale nghe lại im lặng không noi gì người Mỹ họ lạ thật

    -Như vậy là Diệp cần cẩn thận

    -Mình là dân giang hồ nên chẳng ngại cái quái gì cả họ có tính tóan hết mình có một bà vợ’’chiu chơi’’lắm bà ấy nói với mình mọi chuyện  trong gia đình em lãnh hết anh cứ thỏai mái làm việc của anh đừng thắc mắc gì chuyện vợ con mình bị án tử hình mà nay vẫn còn sống.còn có gì để sợ nữa đâu

    -Hình như cụ Ta Chương Phùng nhận làm lãnh tu đảng Cần Lao của ông Nhu

    -Ông chú mình kỹ tính lắm ông đã nói thẳng với cu Diệm va ông Nhu ông chỉ nhận làm lãnh tụ Đảng Cần Lao với điều kiện ông có tòan quyền còn lãnh tu tương trưng thì xin miễn

    -Vây là gay rồi

    -Đúng rất gay hôm nay mình đến găp Hồng bàn chuyện Lê Quang Lụật.Trong số anh em mình Luât là người có bản lĩnh có lý tưởng nay Luât lai làm công việc tập trung lưc lượng đưa một triệu dân di cư vào Nam đấu tranh chánh trị mình sợ Luât làm xong việc này sẽ mất mạng Như vậy uổng lắm

    Luât hơn ai hết thuôc lầu cái nguyên tắc ‘’đươc chim bẻ ná đươc cá quăng nơm hết thỏ giết chó của người xưa Diệp có thể yên tâm hơn thế nữa Luât đang đóng kich say sưa bét nhè xuốt ngày chắc tòan mạng nhưng Ngô Đình Nhu ghê lắm thế nào ông ấy cũng cho báo chí của ông ấy hạ nhục Luât kiểu’’đóng cửa rut cầu’’ Luât thóat chết nhưng cũng te tua tuy nhiên qua vụ Lê Quang Luât chắc chắn nhiều vị linh mục sẽ  đặt vấn đề với cu Diệm thôi, chén đi bàn chuỵên thiên hạ làm gì cho mệt Tài Nam  có món rùa rang muối’’độc’’lắm đây,qui vị phải thương thưc món gan rùa vàng để nếm cái hương vị la của gan rùa Đồng Tháp Mười.Món này ‘’nhậu’’  hết biết luôn

    Chương 8

    Mê lộ

    Hồng bay ra Hải Phòng bằng phi cơ C47 của quân đội Pháp,môt thứ phi cơ vận tải  sản xuất từ thời đệ nhị thế chiến của Mỹ viện trợ cho  quân đội Pháp khi bay động cơ rú lên như bò rống đã thế ghế ngồi lại bằng nhôm cứng ngồi lâu ê cả đít ,Sau ba giờ bay chiếc C47 chở Hồng hạ cánh xuống sân bay Cát Bi .Hồng đươc người thư ký riêng của Luât đón ngay nơi cầu thang máy bay và mời lên chiếc xe Citroen 15 ngựa của tòa Đai Biểu Chính Phủ tại Bắc Viêt.Ngồi trên chiếc nệm xe bọc vải trắng ngả lưng cho đỡ mỏi Hồng kinh ngạc khi thấy chiếc xe chạy về phía Qúan Bà Mâu môt xóm Cô Đầu nổi tiếng của thành phố Cảng Hải Phòng thay vì chạy về tòa Đai biểu chính phủ

    -Đi đâu thế này

    -Tình hình phức tạp anh Luật phải làm việc  dưới Xóm cho an tòan xin anh thông cảm

    -Cậu nói cái gì dưới xóm cô đầu lại an tòan hơn dinh Đai biểu chính phủ

    -Vâng dưới xóm cô đầu anh em giang hồ họ bảo vệ cho anh Luât  tốt hơn trong dinh đai biểu chính phủ.Ở Qúan Bà Mâu người của công sản bén mảng tới là ta biết liền người của Saigon ra tha hồ mà báo cáo ông đai biểu chính phủ ‘’hủ hóa’’,anh em ở các nơi về gặp anh Luật lại rất thỏai mái

    -Nhà sư họ Đòan lúc này thế nào

    -Các thương tọa ho Đòan và họ Đồng đưa đươc khá nhiều Phât Tử di cư  vào Nam quí vi ghé thăm anh Luât thương ngày

    -Câu có thấy Nguyễn Sĩ Thuyên ghé không

    -Dạ có anh Thuyên hình như anh Thuyên cũng là bác sĩ như anh Sung anh ấy hay đi với mấy người Mỹ tới gạp anh Luât tay này uống cũng’’ bạo’’ lắm

    -Thuyên học dưới anh Sung mấy lớp nhưng có bằng bác sĩ ở ngòai khu ông gìa Thuyên là bạn cùng hoc với Hòang Xuân Hãn Tôn Quang Phiệt nhưng lại thích y hoc cổ truyền hơn dạy học và làm chánh trị

    -Em nghe nói ông già anh Thuyên  bi đem ra đấu tố nên anh Thuyên ‘’vot’’ về Hải Phòng cùng môt số anh em liên lạc với người Mỹ quyết ăn thua đủ với Cộng Sản

    -Đi với Thuyên có Đậu Phi Lục phải không

    -Dạ đúng vậy nhưng hình như anh Lục là sĩ quan quân báo Cộng Sản

    -Người của mình cả, cậu cứ yên tâm không việc gí phải ngại

    -Cô Kim có hay  ghé không

    -Từ ngày cô Kim vao Saigon đến giờ chỉ ra vài lần nhưng anh Huyên thì ra đều

    -Huyên được lắm đấy câu ấy từng đươc Komatsu đào tạo cậu ấy khá cứng cựa từng cùng Nguyễn Hữu Đang lập Văn Hóa Cứu Quốc ông Nhu cũng rất thích tay này

    -Theo anh Luât hình như ông Nhu đang có một tính tóan gì với anh Luât nhưng anh Luật bỏ ngòai tai mọi chuyện để lo cho xong cụộc di cư của  đồng bào miền Bắc

    -Đúng chú phải làm sao để anh Luât hòan thành việc đưa một triệu đồng bào đi tỵ nạn mọi chuyện khác đã có anh em lo bây giờ là lúc xây dựng lưc lương đồng bào di cư là lưc lượng lớn đấy

    X

    Hồng gặp Luât trong không khí nồng năc mùi rựơu  khói thuôc và ồn áo tiếng sênh phách bài hát ả đào Hồng Hồng Tuyết Tuyết của Dương Khuê do môt giọng ca già cất lên nghe nó cứ thế nào ấy

    -Uống đi rồi mình nói chuyện.Phải say một chút nói chuyện mới thu vi Tươc mới ra đây gặp mình chuyển những lời nhắn nhủ của Xíu,cô ấy rất đúng nhưng cô ấy phải nhớ Xíu chỉ là một phụ nữ nên cái nhìn còn hẹp lắm mình chấp nhận hi sinh là con chốt thí trong canh bài này.Cái mình cần là giữ sao cho tòan mạng thôi.Đức cha Lê Hữu Từ đã nói với mình rằng bây giờ đức cha chỉ biết cầu nguyện cho anh em ông Ngô Đình Diệm tỉnh táo lại.Đức cha Lê Hữu Từ nói đúng anh em ông Ngô Đình Diệm’’hết thúôc chữa’’ rồi.Trước tình thế này người thờ Chúa như mình chỉ còn mỗi mõt cách là cầu nguyện xin ơn trên mà thôi

    -Các linh mục ở miền Nam ho không chịu chỉ ‘’câu nguyện’’ thôi đâu.tay Nguyễn Đình Qúat định sẽ ‘’quậy’’ đấy

    -Qúat mình biết tay này hắn quê Hà Tĩnh thân lập thân làm giầu rất giỏi từng làm việc với Đảng Hắc Long thân với Trần Quốc Phiên tức nhà thơ Trần Việt Hòai trưởng nam thi sĩ Á Nam Trần Tuấn Khải người một thời đươc lãnh tụ Lý Đông A dùng làm thư ký riêng và có ý dinh chọn làm ‘’truyền nhân’’.Qúat rất đươc dám tư bản Pháp tin tưởng nên đã trúng thầu hệ thống’’hầm ngầm và hầm nổi’’ bảo vệ đồng bằng Bắc Việt.Chính Qúat đã thiết kế hệ thống ‘’hầm ngầm hầm nổi’ này với lớp bê tông mỏng manh để súng ba zô ka của cộng sản dễ bắn tung,Qúat rất hào hoa với anh em chính trị hắn muốn làm môt Lã Bất Vi của thời đai chi cả tiền cho Đảng cụ Diệm chi cả cho Đức cha Từ Đức cha Chi chỗ nào cần tiền làm việc nươc việc thiện xây nhà thờ là Qúat chi.Trình độ chính trị của Qúat chỉ’’làng nhàng ‘’nhưng Qúat là một tay cờ bạc dám đặt tiền nhiều cửa.Hắn đưa tiền cho mình tiêu không bao giờ đếm cả hắn luôn miệng nói ông làm việc nươc tôi không làm đươc nhưng đươc cho đóng góp là sung sương rồi tôi cờ bạc rươu chè trai gái nên tội lỗi lắm làm đươc chuyện gì có ich cho anh em đươc là tôi chi liền.Cái thú ở đời của tôi là kiếm tiền và tiêu tiền được tiêu tiền theo ý mình là tôi sung sướng.Có tiền Qúat sẵn sàng’’chi ‘’ cho các cha xây nhà thờ lập cô nhi viện lập trường học làm việc nghĩa

    -Anh tinh sao khi ta rút khỏi miền Bắc

    -Người của ông Diệm đã mua đươc Vòong A Sáng đem đ.ám Nung vô chơi giáo phái làm hư kế hoach lâp chiến khu tuyên bố vùng người Nùng tư trị rồi nây giờ là lúc chúng ta phải tính chuyện xa hơn chuyển lưc lương di cư thành môt khối thống nhất câu nên bàn chuyện này với ông thương tọa họ Đòan mình thấy Nhu hắn có vẻ coi thương mình rồi nhưng tên Tuyến thì có thể nó sẽ bôi đen mình đây

    -Luât cần giư sưc khỏe chứ kich cọt kiểu này sợ ông chịu không nổi đâu

    -Biết làm sao tai mắt của Nhu và Tuyến ghê lắm đã vào vai thì phải vào cho tới khi kich hạ màn

     

    Chương9

    Xuất tương

    Hồng vừa về tới nhà thì Hồ Hán Sơn tới,Với Hồng thì cái ông huấn luyện viên trương luc quân Trần Quôc Tuấn này đâu phải chỗ xa lạ Hồ Hán Sơn tên khai sinh là Hồ Mậu Đề từng học trương Hòang Phố ra có lúc đươc tứong Nguyễn Sơn tin dùng ví bình luân truyện Tam Quôc hay không thua gì Mao Trạch Đông khi đảng Lao Đông ra đời vì lý lich co dính tới Viêt Nam Quôc Dân Đảng nên Sơn về thành đươc bác sĩ Đăng Văn Sung dùng cử tham gia Đai Hôi Nhân Sĩ Tòan Quôc do cưu thủ tương Trần Trọng Kim và nhà báo Trần Văn Ân chủ nhiệm tuần báo Đời Mới đứng ra triệu tâp, Sau Đai Hôi này HôHán Sơn được nhà cách mạng Nguyễn Thế Truyền giới thiêu với Đưc Hộ Pháp Phạm Công Tắc và đươc Đưc Hộ Pháp ký thánh lệnh phong Hồ Hán Sơn làm đai tá quân đội Cao Đài

    -Có chuyện gì vây đai tá

    -Luât sư Thịnh vừa ‘’ủy thác’’ cho Sơn tham mưu cho tương Trình Minh Thế đi Băng Đung dự hôi nghị Á Phi lần thư nhất soạn cho tương Thế môt  bài diễn văn này Thái Vĩnh Thinh đã phác qua nội dung nhưng nói Sơn cần trao đổi với Hồng trươc khi chấp bút

    -Phái đỏan Nam Việt Nam đi dư hôi nghi Băng Đung kỳ này đáng lẽ do đích thân thủ tương Ngô Đình Diệm lãnh đao nhưng theo chỗ mình biết giơ chót sẽ do bộ trưởng bộ kế hoach Nguyễn Văn Thoai người thân của ông Ngô Đình Luyện cầm đầu phái đòan có giáo sư Vũ VănMẫu và luât sư Trần Thanh Hiệp tham gia vai trò của tương Thế lớn lắm đây ông ta sẽ nhân danh những ngươi kháng chiến Viêt Nam phát biểu trươc hôi nghi sau bài phát biểu của  trưởng đòan Nguyễn Văn Thoai anh Thái Vĩnh Thinh mới trao đổi bằng điên thoai với mình vê nôi dung bài phát biểu rồi cư cái ý nông dân kháng chiến vì người cầy cần có ruông và vạch trần cái trò cải cách điền đia sát nhân của Viêt Minh Công Sản là  tốt rồi

    -Ý này thì Sơn nắm đươc rồi nhưng Sơn muốn Hông tham mưu cho mình là sau đó mình và tương Thê phải làm gì

    -Sơn chỉ đong vai trò anh nhà báo là hơi gay mình sẽ giới thiêu cho Sơn bạn dồng nghiệp nhà báo Lê VănTiến

    -Tiến người của bác sĩ Tuyến phải không?

    -Chỗ quen biêt thôi chư Tiến hắn là thầy về tình báo của bác sĩ Tuyến.Ngòai Tiến ra mình có thể giới thiêu Lý Thanh Cần tưc Nguyễn Kiên Giang cũng dân cưu kháng chiến Nam Bô nhưng người này ho sẽ in bản dich bài diễn văn của Trình Munh Thế đem phổ biến cho báo chì nươc ngòai.Sau vụ này tương Thế sẽ lên như diều và Sơn cũng vây nhưng không cẩn thận mất chỗ đôi mũ như chơiđấy

    -Có phải vì vây mà luât sư Thái Vĩnh Thịnh né không

    -Đai tá Lansdale đã nói gì với Sơn

    -Đai tá Lansdale nói ông Diêm sẽ lên làm tổng thống tương Trình Minh Thế sẽ làm thủ tương mình sẽ phụ tương Thế

    -Sơn phải coi chưng Thái Lân tưc Nhi Lang con rể nhà văn Nhất Linh Nguyễn Tương Tam môt điệp viên nhi trùng vưa làm viêc cho CIA vừa làm việc cho phòng nhì Pháp và tên Hoài ngươi của cả CIA lẫn Sở Nghiên Cứu Chánh Trị của bác sĩ Trần Kim Tuyến

    -Luât sư Thính đã cho Sơn biết rõ về hai nhân vật này và tướng Thế cũng rành hai nhân vât này

    -Ý kiến tướng Thế ra sao

    -Tương Thế nói với Sơn môt khi anh Thịnh tin tửong Sơn đê nghị tương Thế làm việc với anh Thinh qua Sơn thì Tương Thế tin Sơn lắm nhưng như anh Hồng biết đấy Sơn làm viêc với Nguyễn Thành Phương người đối nghich với tương Thế nên Sơn phải đi Băng Dung với tư cách chủ nhiêm kiêm chủ bút tuần báo Viêt Chính.Ngay khi Pham Xuân Thái bô trưởng bộ Thông Tin làm danh sách các nhà báo đi Băng Đung trình cho thủ tương chính phủ ông Ngô Đinh Nhu đã mời các nhà báo đi Băng Đung vào nhà trắng trong khuôn viên Dinh Đôc Lâp ăn sáng.Trong buồi ăn sáng này ông Nhu đã bắt tay Sơn và nói nhà báo cần cô gắng làm sáng tỏ chính nghịa quôc gia

    -Ông Nhu chú ý tới Sơn thì Sơn cần phải chuẩn bị tư tưởng và tư thế làm viêc lớn đi là vừa nhưng chơi với lửa phải cẩn thận mình sẽ trao đỗi với Thịnh và sẽ gặp Sơn sau anh Trần VănÂn môt người có nhiều kinh nghiệm’’đi’’ với Mỹ có nói mình nhắn Sơn là chơi với Mỹ như chơi dao sắc không cẩn thận sẽ đứt tay đấy

    Hô Hán Sơn nghe Nghiêm Xuân Hông nói thì cười hăng hắc

    -Minh có gì đâu mà sơ mất

    -Thiên ha đồn Sơn sắp cưới em gái Trương Tử Anh phải không?

    -Anh Hồng ơi anh từng hoat động với ông Trương Tử Anh anh thấy nhân vât này thế nào

    -Trương Tư Anh là lý thuyết gia thuôc lọai giòi thuyết dân tôc sinh tồn đến nay vẫn còn tốt đã thế lại có tài tổ chưc và nhiều thủ dọan nên Viêt Minh họ ngại đã phải thủ tiêu.Cái chết của Trương Tử Anh là một mất mát lơn cho Đảng Đai Viêt và Quôc Dân Đảng bởi vì Trương Tử Anh đưa bác sĩ NguyễnTiến Hỷ làm Tổng Bí Thư Quôc Dân Đảng với ý đồ Trương Tử Anh đứng đằng sau lãnh đao Quôc Dân Đảng..Sơn cưới em lãnh tu Trương Tử Anh là điều rất hay nhưng đã tìm hiểu kỹ chưa.Chỗ thân tình mình muốn nói thẳng với Sơn một chuyện đó là Sơn phải nhớ mình là ai Sơn cũng như tướng Thế thiên hạ nể ngươi Mỹ chú` ý là vì cái Hôi Thánh Đai ĐạoTam Kỳ Phổ Độ và nhất là Đưc Hộ Pháp Phạm Công Tắc chư không phải nhờ đoc sách nhơ những mưu lươc của những nhân vât trong Đông Chu Liêt Quôc hay Tam Quôc Chí vì Ngô Đinh Nhu đọc sách nhiều hơn Sơn Ngô Đinh Nhu đọc và thuôc Đông Chu Liêt Quôc cũng như Tam Quôc Chí hơn Sơn va tương Thế nhiều  Sách Tôn Ngô hay sách Mao Trạch Đông ông ta có cả một bô phận do Phạm Ngoc Thảo tổng kết cho ông ta

    -Xin anh cho ý kiến về nhân vât Phạm Ngoc Thảo tương Thế rất muôn biết về nhân vât này

    -Pham Ngoc Thảo là em Phạm Ngoc Thuần môt  trong những người con tinh thần của Đưc Cha Ngô Đình Thục Phạm Ngọc Thảo từng chỉ huy Biêt Đông Thành của Viêt Minh hiện đang đươc ông Ngô Đình Nhu dùng như môt chuyên viên về tình báo và về quân sự ông Ngô Đinh Nhu không phải người tầm thưong đâu ông từng ở nhà ông Nguyễn Văn Lưc lãnh tụ VNQDĐ lọai tiến bô trong thời kỳ ông sống ở Hànôi ông sài nhiều cán bộ Viêt Munh cỡ bư như Kiều Công Cung Vũ Ngoc Nhã ông Nhu đang chơi trò’’gậy ông đập lưng ông’’ với cả Cộng sản lẫn các Đảng phái quôc gia nhưng mình sợ chơi dao ông Nhu có ngày sẽ đứt tay,Cái chúng ta cần phải tính tóan kỹ là chuyện người Mỹ muôn bỏ ‘’giải pháp Bảo Đai.’’Thât ra ông Bảo Đai chẳng là cái gì chỉ là môt đưa con hoang của môt tay chơi nào đò có thể là môt ông Hòang hay môt tên Tây nào đó vì vua Khải Đinh tưc Bửu Đáo là môt ông hòang’’ bất lưc ‘’ không có khả năng quan hệ với phụ nữ còn bà Tư Cung thì lai quá’’ sung.’’Thât ra thì dòng dõi Gia Long tới Minh Mang đã ‘’dứt’’ rồi vì Minh Mang đâu phải con Gia Long mà là con Trương Đăng Khoa,Chính vì vụ này mà có vụ án Lê Văn Dytêt và các con của Hòang Tử Cảnh sất bất sang bang.Bảo Đai chỉ là đưa con hoang nhưng ông ta đuơc học hành đến nơi đến chốn ông biết phải làm gì khi xử dung bác sĩ Đăng Văn Sung như phó vương nhưng nhất đinh không chiu trao cho môt nhân vât Đai Viêt nào làm thủ tương dù nhân vât Đai Viêt Ngưyễn Hữu Trí ngươi từng làm Đông Lý Văn Phòng Bộ Nôi Vụ khi nhà Nho kiêm nhà báo Huynh Thúc Kháng làm bộ trưởng Nôi Vụ của chính phủ Liên Hiệp năm 1946 luôn lăm le làm thủ tướng mà chỉ trao cho ông Nguyễn Hưu Trí chưc thủ hiến Bắc Việt  thôi dù bác sĩ Đăng Văn Sung không ngớt vận động quôc trưởng Bảo Đai trao cho ông Nguyện Hữu Trí chưc này.Sơn cần suy nghĩ thấuđáo về vấn đề đai tá Lansdale đăt ra với Sơn trèo cao không cẩn thận ngã mà ngã đau  sẽ có thể mất mạng đấy

    Chương 9

    Trong gọng kìm quốc tế

    Ngay khi nhận được tâp hồ sơ do đich thân bác sĩ Tuyến trình và cho biết IS[Cơ quan tình báo Anh]xác nhận là chính sác ông Ngô Đình Nhu ngã người ra ghế bành và rút bao thuôc lá Mê- li-a vàng bẻ một điếu thuôc ,lá Mê –li-a vàng  làm đôi rồi châm lửa hít môt hơi đến hóp cả má lai rồi mở tập hồ sơ ra đoc bản tóm tắt.Đoc xong bản tóm tắt tập hồ sơ ông Nhu nhíu mày và đoc luôn tòan phần hồ sơ

    Đoc xong  tòan bộ tập hồ sơ ông Nhu lại nhíu mày vì không ngơ đai sư Mỹở Saigon lại trở măt đi ủng hô bác sĩ Trần Văn Đỗ chú vơ ông lên làm thủ tương thay ‘’ người anh thưong thư Ngô Đinh Diệm ‘’ của ông và chống vơ chồng ông kich liêt đên thế.Tình hình này phải nổ súng vào Măt Trận Thông Nhất Tòan Lưc Quốc Gia cho quân vượt qua cầu chữ Y thôi, phải cắt cái hầu bao của Bảo Đai  mới đựoc.Đai tá Lansdale nói đúng quôc trưởng Bảo Đai có thể cử tương Nguyễn Van Vỹ làm Tổng Tham Mưu Trửong và dùng lưc lương Ngư Lâm Quân của đai tá Nguyễn Tuyên con trai Ngư Tiền Văn Phòng Nguyễn Đệ làm lưc lương nong côt cho tướng Nguyễn Văn Vỹ.Chuyện này phải nhờ mấy người của Lê Xuân lo lót tương Ély và đai tá Lansdale giải quyếtđai tá Lansdale nói ông Allen Dulles có bàn tay dài lắm cư yên tâm hãy cư để cho Lansdale sài bon Nhi Lang Trình Minh Thế Hồ Hán Sơn và cho chúng phồng mũi lên rồi ta ra tay cũng không muộn

    Ông Nhu gấp tập hồ sơ lại rồi cười nhạt  và bấm máy điện thoai nội bộ gọi bác sĩ Tuyến

    -Găp tôi gấp nhớ đem theo hồ sơ đội đăc nhiệm

    -Dạ tôi sẽ có mặt liền

    -Nhờ là đưa cho tôi coi tòan bộ hồ sơ đội đăc nhiêm nuôi quân  lâu đã có dip dùng tới rồi đó

    Bác sĩ Tràn Kim Tuyến đứng khúm núm trươc cái bàn giấy rộng mênh mông của ông Ngô Đình Nhu nằm trên lầu môt cánh trái dinh Norodom trình tập hồ sơ ,ông Nhu đỡ tập hồ sơ rồi nói khẽ

    -Ngồi đi bác sĩ

    Được ông cố vấn Ngô Đình Nhu cho phép ngồi bác sĩ Trần Kim Tuyến mới dám ngồi xuống cái ghế trươc bàn giấy của ông cố vấn Ngô Đình Nhu

    -Mấy tay đặc nhiệm sắp có việc phải dùng rồi đây bác sĩ nhơ nguyên tắc là ho làm việc xong thì phải sóa dấu vết , Bác sĩ vẫn cho người bám sát những nhân vât của đai tá Lansdale chư

    -Trình ông cố vấn tôi cho người bám sát Nhi Lang nhưng nhân vât này ranh ma lắm hắn đã cắt đuôi rất tài tình nhưng vẫn nằm trong   tầm kiểm sáat của Lê Văn Thái vì hắn không ngờ Thái là người của ta

    -Cần phải cẩn thận với cái nhân vật người Qủang Nam này hắn vẫn liên lạc với phòng nhì đấy

    -Lần này đai tá Lansdale gài thế trận rồi sẽ có môt màn kich khá cụp lạc Nhi Lang sẽ chĩa súng vào người tướng Vỹ làm hùm làm hổ

    -Như vây là ta lât ngươc thế cờ nhưng ta rơi vào thế trận của người Mỹ ông cụ thành nhân vât tương trưng người Mỹ muốn đưa tương Trình Minh Thế làm thủ tương và tung Hồ Hán Sơn vào trận đã tới lúc ta phải sài tới đám  đăc nhiệm tôi trao cho bác sĩ làm viêc này bác sĩ làm đươc chư

    -Trình ông cố vân chuyện gì chư thanh tóan mấy con kỳ đà tôi làm đươc

    -Tôi tính thay bác sĩ Trần Căn Đỗ bằng giáo sư Vũ Văn Mẫu bác sĩ có ý kiến gì về cái ông tri huyện tư pháp này không

    -Trình ông cố vấn giáo sư Mẫu đươc lắm

    -Bác sĩ đa tính xong vụ Lê Quang Luât chưa

    -Dạ trình ông cố vấn sư nghiệp chính trị của Lê Quang Luât kể như chấm dưt khi Sở Nghiên Cưu Chánh Tri tung ra chiến dich  dùng báo chí bôi đen cuôc đời ông đai biểu chánh phủ Lê Quang Luât

    -Ngưng ngay chiến dich này lai ông cụ bưc mình rối đó.Vấn dề trươc mắt ta cần làm là thanh tóan mấy con kỳ đà cản mũi .Cái Sở Nghiên Cứu Chánh Trị của bác sĩ tồn tai bằng tiền thu từ trương đua Phú Thọ và Sổ Số Kiến Thiết sẽ chẳng làm đươc gì ta phải dành lai đương giây buôn ma túy của Bẩy Viễn Mai đen lo vu này đươc không

    -Dạ Mai đen có kinh nghiệm

    -Vậy tạm thời trao Mai đen lo vụ đương giây ma túy bác sĩ phải nhơ một điều  đường giây này là máu huyết không chỉ của Đảng Cần Lao mà còn cả của Sở Nghiên Cứu Chánh Trị.Để bảo vệ đường giây này chúng ta phải luôn đối phó với CIA phòng nhì Pháp và tình báo Cộng Sản bác sĩ đang sài Trần Ngọc Ban phải không câu Út biết chuyện này đấy

    -Trình ông cố vấn khi tôi xử dụng Trần Ngoc Ban tôi có trình ông cố vấn

    -Ban từng là thư ký riêng kiêm trợ lý của Trương Chinh hiện nắm một cụm tình báo của Hànôi ở miền Nam Ban hợp tác với ta lấy tin của phòng nhì Pháp và CIA  Mỹ cung cấp cho ta

    -Bác sĩ cần lưu ý dân nhị trùng nguy hiểm lắm chúng ta cần khai thác đám tay chân của Ban

    -Trình ông cố vấn chuyện này Sở Nghiên Cứu đã làm rỏi

    -.Bác sĩ cần thận trọng khi dùng người của Cộng Sản bác sĩ cần phải nhớ môt điều là ngươi Mỹ ho đang dùng người của Đai Viêt quan lai nhât là đám tay chân của bác sĩ Đặng Văn Sung để lấy tin tưc  miền Bắc tay nghề đám này khá lắm đây

    -Trình ông cố vấn Lê Văn Thái nắm vững vấn đề này

    -Bác sĩ có tin tưc gì về ông Ngưyễn Văn Lưc không

    -Trình ông cố vấn ông Lưc kín đao lắm nhưng Sở đã có ngươi kề cận ông Lưc rồi

    -Tôi từng ở nhà ông Lưc lúc tôi ở Hànội nên rõ ông ấy lắm cái nguy hiểm của ông Lưc là những đưa con của ông chúng thông minh và rất lý tưởng phải cẩn thận đám này vì họ trẻ thông minh lại có lý tưởng

     

     

     

     

    Ky sau tiếp

     

  • Văn

    Tiểu Tử : TẤM VẠC GIƯỜNG


    TẤM VẠC GIƯỜNG

     

    Tiểu Tử

     

              Hồi đó, tôi làm mướn cho ông Cả Bảy. Mấy ngày đầu, ngày nào cũng chèo xuồng qua bên kia sông để giữ ruộng cho ổng. Hồi ổng kêu tôi làm việc cho ổng, ổng nói : «  Hổng có gì, nhưng có  mặt mầy ở bển tụi nó không giám phá lúa ! »  . Ổng nói ‘ phá’  để tránh nói ‘ ăn cắp’   nghe…nặng lỗ tai !

              Mà thiệt ! Công việc hổng có gì gọi là nặng nhọc. Tôi treo võng giữa hai cây gáo lớn cạnh bờ sông, rồi nằm tòn ten trên đó ca tới ca lui mấy câu vọng cổ, lâu lâu trèo lên cây gáo ngồi nhìn ruộng lúa minh mông kéo dài tới rừng tràm nằm phía trong xa, xa cỡ đôi ba dậm hú. Đó là chiều sâu. Còn chiều ngang là nằm dài theo con sông Cái, có con rạch No làm ranh phía trên, chỗ tôi treo cái võng, và con rạch Bù Xu làm ranh phía dưới. Từ rạch No muốn nhìn thấy rõ rạch Bù Xu phải xè bàn tay đưa lên ngang mày che bớt ánh sáng ! Nói như vậy, để thấy ruộng ông Cả Bảy lớn biết ngần nào…

               Lần đầu tiên đi với ông Cả Bảy qua ruộng để ‘ nhận việc ’ , thấy minh mông thiên địa như vậy, tôi hết hồn, nói :

               – Trời đất ! Mút chỉ như vậy, mình con coi sao thấu !

               Ông Cả Bảy cười khì khì :

    – Tao chỉ cần mầy qua bển cho có mặt hằng ngày chớ đâu có biểu mầy đi

    đánh lộn với tụi lưu manh đâu ! Cái lũ đó hể thấy có người canh ruộng là tụi nó rút đi chỗ khác hè !

               Ngừng một chút để suy nghĩ rồi ổng nói :

               – Tàm tạm vài bữa rồi tao cho đám thằng Hai Lưa ở trại hòm qua cất cho mầy cái chòi nhỏ có tháp canh cao phía trên, để có chỗ cho mầy đụt mưa đụt nắng.

               Có lẽ thấy tôi còn…ngơ ngơ nên ổng nói tiếp :

               – Trên tháp canh sẽ có cái ống tre lớn làm cái mõ. Hễ mầy thấy có bóng người vô ruộng thì mầy cứ gõ mõ liên hồi là nó chạy. Hiểu chưa ?

               Vậy là ít lâu sau, tôi có cái chòi tranh vách lá, có chỗ để treo võng, có chỗ để nấu cơm, phía trước có cây cầu ván chờm ra sông để tắm gội…

               …Qua mùa lúa đó, ông Cả Bảy kêu tôi, nói :

               – Tao thấy mầy tuy côi cút một thân một mình mà làm việc siêng năng nên tao thương. Tao cho mầy một miếng đất bên ruộng để mầy cất nhà rộng rộng, còn lo cưới vợ nữa chớ !

               Vậy rồi mấy hôm sau, ổng dẫn nhóm chú Hai Lưa trại hòm qua ruộng của ổng, đo đạc cặm nọc để cho tôi miếng đất nằm cạnh vàm rạch No, còn chỉ chỗ cho chú Hai Lưa cất cho tôi cái nhà nền đất nóc tôn vách ván nữa ! Tôi cảm động nghẹn lời, ấp úng nói mấy tiếng cảm ơn mà cũng không tròn chữ tròn câu…Ông Cả cười cười :

               – Mầy lo đốn cây làm rào dậu, trồng trỉa cho thành khoảnh đi, rồi tao kiếm cho mầy một con vợ !

               Nói xong, ổng cười ha hả, khoái chí !

               …Ông Cả Bảy có hai người con trai đi học bên tây rồi ở luôn ở bển. Từ ngày  bà Cả nằm xuống, ổng vẫn sống cu ky một mình trong cái nhà sàng tổ chảng nằm cạnh trại hòm và trại cưa của ổng. Ổng thôi làm cả trong ban hội tề từ lâu nhưng trong làng vẫn gọi ổng là Cả. Nghe nói ổng ‘ quen lớn ’ dữ lắm, thấy mấy ông Quận ông Tỉnh thường ghé nhà ổng chơi hay cùng đi bắn le-le … Hồi tôi tới tuổi đi quân dịch, ổng nói : «  Mầy yên tâm lo canh ruộng, còn vụ nầy, để tao lo ». Vậy rồi mươi hôm sau, ổng trao cho tôi tờ hoãn dịch !

               … Cất nhà xong, chú Hai Lưa vỗ vai tôi, nói :

               – Tao có một cái giường đôi bằng gỗ không xài, để tao chở qua cho mầy. Có điều là nó chỉ còn có mấy thanh ngang chớ không có tấm vạc giường, tại mấy thằng con tao nó lấy cưa ra làm sạp cho ghe của tụi nó. Mầy chịu khó đạp xe vô Xóm Mới nói thằng Ba Kiên đương cho cái vạc bằng tre, rẻ hơn cái vạc gỗ mà nằm lại êm hơn gấp bội.

               Ngừng một chút rồi ổng vò đầu tôi, nói :

               – Chừng cưới vợ, nhớ cho tao nhậu với nghen !

               Tôi nói ‘ Cám ơn chú’ , lí nhí nghe chừng không rõ lắm !

               … Cái gường đó ráp vô rồi thấy rộng rinh. Mình tôi ngủ thì cần gì đến tấm vạc ? Vậy là tôi thả lên hai tấm ván đủ cho tôi nằm, sung sướng vì nghe thẳng lưng hơn nằm võng !

               Tôi ngủ không có tấm vạc giường như vậy cho đến hết mùa lúa năm đó thì tôi gặp ‘ Nàng’… Cũng do Trời xui Đất khiến !

     

                                                               * * *

               Nàng tên là Huệ, mồ côi cha, con của bà Năm Căng ở xóm Lò Gạch. Nàng làm công cho lò gạch ông Tám Tiếu. Nhờ đi chở gạch để ông Cả cho sửa lại cái đầu bờ kè trước nhà nên tôi gặp nàng. Gặp là tôi hạp nhãn liền ! Trời ! Con gái nhà quê gì mà nước da trắng bóc, còn thân hình thì cân đối thon thả kèm theo tướng đi lượng là cứ bắt người ta phải nhìn theo !

               … Vậy rồi nàng và tôi quen nhau. Vậy rồi, ngày một ngày hai, tôi đạp xe đến lò gạch. Không có gì : chỉ cần gặp nàng để nói đôi ba câu không đầu không đuôi, rồi chèo xuồng về nhà bên kia sông, trèo lên vọng gác ngồi ngẩn ngơ suốt buổi !

               … Vậy rồi, tôi nghĩ đến tấm vạc giường ! Vậy rồi, tôi đạp xe vô Xóm Mới đặt chú Ba Kiên đương cho tấm vạc giường bằng tre. Tuần lễ sau, tôi cuốn tròn tấm vạc chở về nhà trải lên cái giường gỗ, nhìn nó mà nghe lòng phơi phới. Bởi vì đó là lần đầu tiên tôi sắm một món đồ tuy không có giá trị gì nhiều nhưng lại mang đầy ý nghĩa …

               … Để tránh tai mắt, tôi và nàng thường hẹn gặp nhau ở đường lên chùa vì đường đó vắng người và có mấy bụi tre lớn giao tàn che nắng. Hai đứa đứng nói chuyện ‘ trên trời dưới đất’ cả canh, nàng hay cầm lấy cành tre non đầy lá vươn ra cạnh chỗ nàng đứng, lắc qua lắc lại như để đánh nhịp khi nàng nói, mắt nàng nhìn bụi tre, nhìn con dốc lên chùa chớ ít khi nhìn tôi. Vậy mà sao tôi vẫn nghe lòng phơi phới như được nàng nhìn thẳng vào mắt !

               … Bây giờ thì rõ ràng tôi đã thương nàng, càng ngày càng thương đậm ! Mà giữ riết trong lòng thì ấm ức quá đi ! Chắc phải nói ra cho nàng biết, rồi ra sao thì ra ! Vậy rồi một hôm đứng cạnh bụi tre đã thành quen thuộc, tôi làm gan nói :

               – Huệ à ! Anh nói thiệt, Huệ đừng giận nghen ! Anh thương Huệ quá rồi Huệ à !

               Nàng bỗng quay sang nhìn tôi, tay vẫn còn vin cành tre non, hỏi bằng một giọng nhẹ như tiềng gió trong lùm tre trước mặt :

               – Vậy sao ?

               Chỉ có hai tiếng nghe ngơ ngớ kỳ kỳ như vậy mà tôi lại thấy như là một sự chấp nhận ! Tôi bước lại gần nàng, nàng vẫn nhìn vào mắt tôi, cập môi mấp máy như muốn nói gì mà hai vành tai ửng đỏ. Đúng lúc đó, tôi hửi được mùi con gái của nàng làm tôi choáng váng ngầy ngật. Trời ơi ! Tôi muốn ôm đại nàng để siết chặt lại trong tôi, bởi vì chỉ có làm như vậy tôi mới nói được tôi thương nàng biết ngần nào … Nhưng tôi lại sợ làm ẩu, rủi nàng không hiểu rồi giận rồi vùng vằng bỏ đi tuốt thì chắc tôi … chết quá ! Tôi ráng kềm tôi lại, nuốt nước miếng mấy lần mới nói được :

               – Huệ à …

               Nàng ‘ dạ’ , tiếng ‘dạ’ nghe như chờ đợi. Nàng không còn nhìn tôi mà quay về với cành tre non. Lần nầy, nàng bứt từng chiếc lá tre rồi bỏ rơi xuống đất, giống như nàng đếm lá !

               – Huệ à ! Anh muốn xin cưới Huệ …

               Nói tới đó tôi bỗng nghe … hụt hơi ! Nàng im lặng bứt từng chiếc lá … Một lúc, tôi hỏi :

               – Mà Huệ có ưng không ?

               – Biết đâu nà !

               Tôi ráng sức nói một hơi :

               – Anh làm công cho ông Cả Bảy. Anh có nhà có đất ở bên kia sông. Anh được hoãn dịch không phải đi lính. Anh sẽ nhờ ông Cả đánh tiếng qua má của Huệ để xin cưới. Mà Huệ phải cho anh biết coi Huệ có ưng hay không, cái đã !

               – Ờ … Thì vậy !

               Rồi, có lẽ thấy câu trả lời không mấy rõ nên nàng nói thêm :

               – Tính sao cũng được !

               Tôi mừng quá, nắm đại bàn tay nàng vứa lắc vừa cám ơn rối rít ! Nàng bỗng quay qua nhìn tôi, mỉm cười. Trời ! Cái cười của nàng sao mà đẹp hết nói ! Tôi như bị hốt hồn, cầm chắt bàn tay của nàng mà tưởng chừng như đang cầm cây sào cắm xuống lòng rạch để giữ cho xuồng đừng theo con nước mà bỏ bờ …

               Đêm đó, trải chiếc chiếu trên tấm vạc giường, tôi nằm lên mà nghe mát rượi. Tôi nghĩ : rồi đây, hai đứa sẽ nằm chung một vạc giường. Chỉ bao nhiêu đó thôi cũng đủ làm tôi sung sướng đi vào giấc ngủ. Cuộc đời sao dễ thương quá hổng biết ?

    *  *  *

             

               Chuyện của nàng và tôi chưa ai biết hết thì xảy ra vụ tháng tư 1975. Lúc đó, nghe tin dân miền trung chạy rần rần vô nam, ông Cả Bảy kêu tôi , nói :

               – Chuyến nầy, mầy đi giùm tao xuống Cần Thơ. Tao có con em mấy chục năm nay theo chồng ở dưới. Địa chỉ nó đây.

               Ổng đưa tôi miếng giấy có ghi tên họ, số nhà, tên đường :

               – Tao nhờ mầy ôm một số tiền xuống đưa cho tụi nó, biểu tụi nó lo chạy về đây ở với tao sớm sớm cho có anh có em. Có gì cũng còn có nhau còn hơn là đứa một nơi người một ngả, loạn lạc nầy không biết đâu mà rờ. Tao có biểu tụi thằng Hai trại hòm qua ở nhà mầy, vừa giữ giùm nhà vừa coi ruộng luôn. Đừng lo !

               … Vậy là tôi lặn lội xuống Cần Thơ tìm người em gái của ông Cả. Bà nầy có sạp vãi ở chợ Cần Thơ, ông chồng là thiếu tá hải quân. Khi tôi tìm ra được bả thì có tin thiên hạ ở Sài Gòn đang chạy di tản, làm dân chúng Cần Thơ cũng rối ren hối hả xuống ghe xuống xuồng tranh nhau đi. Ông thiếu tá hải quân hốt hết gia đình đem lên tàu chiến, kéo tôi theo luôn ! Đứng trên tàu, tôi nhìn đồng ruộng chạy lùi về phía sau mà chết điếng ở trong lòng, không biết làm sao báo tin cho ông Cả Bảy và nhứt là cho Huệ …

               … Vậy rồi sau thời gian nằm trên đảo của quân đội đồng minh, tôi định cư ở Mỹ, tiểu bang Cali . Tôi làm công cho một tiệm ăn Việt Nam ở khu Sài Gòn Nhỏ, rửa chén  quét dọn lau nhà … Lương lậu không bao nhiêu nhưng được bà chủ cho ở trong một phòng nhỏ nằm cạnh nhà bếp, ở để làm gác-dan cho bả luôn !

               Thời gian sau, khi đã ổn định đời sống, tôi có gởi thơ về nhưng không thấy hồi âm. Tôi biết làng tôi nhỏ béo lại nằm tuốt trên vùng Ngọn – gọi là ‘ Ngọn’  bởi vì nằm trên ngọn sông Vàm Cỏ – giáp ranh với đất Cao Miên. Hồi thời trước, trong làng không có nhà bưu điện nên mỗi tuần một lần ông Sáu làm biện trong làng phải đạp xe xuống quận cách đó mười mấy cây số để lấy thơ ở nhà bưu điện đem về để trong nhà làng. Dân chúng cứ tự động đến coi trong đống thơ, cái nào mang tên mình thì lấy, có khi lấy giùm hàng xóm hay họ hàng bạn bè nữa ! Tôi nghĩ chắc bây giờ cũng vậy thôi, thơ tôi gởi không đến tay Huệ thì làm gì có hồi âm được ?

               Dầu vậy, tôi vẫn tin tưởng rằng nàng không bao giờ quên tôi, cũng như tôi lúc nào cũng nghĩ tới nàng. Tôi hay nghe mấy người có đọc sách nói  ‘Lời thề trăm năm’ . Nàng và tôi đâu có thề thốt gì đâu, nhưng câu nói ‘ Tính sao cũng được’ và cái mỉm cười tiếp theo sau đó của nàng ở đường lên chùa hồi tôi ngỏ ý xin cưới … tôi đã khắc ghi vào lòng. Như vậy, chẳng phải là một ‘ Lời thề trăm năm’  hay sao ?

               Nhứt định tôi sẽ trở về Việt Nam để cưới Huệ. Để hai đứa cùng nằm chung một vạc giường, cái vạc giường đương bằng thanh tre già chuốt giẹp giẹp, nằm vừa êm vừa mát. Để thấy cái mà mấy người biết đọc sách gọi là ‘ Hạnh phúc lứa đôi ’ đối với tôi, nó chỉ võn vẹn là sự sung sướng được chia đôi với người mình thương một tấm vạc giường … Mà muốn được vậy, tôi phải có tiền.  Vậy là tôi để dành tiền, cắc ca cắc củm !

                                                               *  *  *

     

               Nhờ hỏi thăm mấy người có về Việt Nam nên tôi đã ước lượng được số tiền cần thiết để làm đám cưới và để hai vợ chồng tôi có một số vốn làm ăn. Vậy mà phải năm năm sau tôi mới có tàm tạm đủ ! Chừng đó, tôi mới dám ‘ lên kế hoạch’ : nhờ ông Cả Bảy làm chủ hôn bên đàng trai, rước dâu về nhà của ổng, đãi đằng hai họ ở đó, xong rồi tôi chèo xuồng đưa cô dâu về nhà bên kia sông để tôi khoe với nàng tấm vạc giường mà tôi sắm cho hai đứa, từ hơn sáu năm nó vẫn nằm chờ…

               Ngồi trên máy bay về Việt Nam, trong đầu tôi sắp xếp. Trước tiên là về nhà tôi để nghỉ ngơi cho tỉnh mỉnh. Sáng hôm sau sẽ đi thăm ông Cả Bảy, còn xế chiều thì qua nhà nàng vì giờ đó nàng mới từ lò gạch về nhà, tôi sẽ bất thần bước vô nói lớn : « Huệ ơi ! Huệ ! Anh về rồi nè ! ». Tưởng tượng đến đó, tôi bỗng ứa nước mắt ! Đầu óc tôi tự nhiên sao mù mờ. Làm như bao nhiêu năm nay tôi chỉ chờ có như vậy ! Tôi thấy tội nghiệp tôi, tội nghiệp nàng : nếu không có cái ngày nghiệt ngã 30 tháng tư 1975 thì làm gì hai đứa phải cắn răng chịu đựng khắc khe cỡ nầy ?

               …Làng tôi bây giờ lạ hoắc. Không phải có thêm đường ngang nẻo dọc mà thấy đầy cờ xí biểu ngữ, loa trên loa dưới ồn ào không giống cái gì hết !

    Tôi xuống xóm chợ nhờ một chị chèo xuồng mướn đưa tôi sang sông.

               Khi xuồng vừa cặp vô cây cầu ván thì có con chó chạy ra sủa râng, rồi hai ông bà già từ trong nhà bước ra dòm. Té ra là chú thím Hai Lưa hồi xưa thủ trại hòm của ông Cả Bảy ! Chú Hai nhìn ra tôi ngay. Ổng la lên :

               – Trời đất ! Mầy còn sống hả ? Ở đâu mà về vậy ?

               – Dạ ở Mỹ.

               – Cha…xa ớn há !

               Rồi chú lật đật vừa la chó vừa bước xuống cầu phụ tôi đem hành lý lên. Trước nhà thấy có phơi chiếc chiếu với hai ba cái gối. Trong nhà vẫn như xưa, cái giường gỗ vẫn nguyên chỗ cũ với tấm vạc giường tôi đem về từ trong Xóm Mới. Chỉ có thêm là hai cái võng nằm song song gần đó, còn thì bàn ghế tủ..v.v…không có gì thay đổi. Tôi xúc động đến nghẹn lời. Chú Hai nói :

               – Mầy uống miếng trà rồi nằm võng nghỉ lưng. Trong làng tưởng mầy chết rồi chớ , đâu dè … Để tao kể mầy nghe …

               Vậy rồi chú nằm trên võng cạnh tôi, vừa hút thuốc vừa kể :

               – Hôm mầy đi Cần Thơ, cha con tao theo lời ông Cả biểu, thay phiên nhau qua đây giữ nhà giữ ruộng. Kế đó, tụi nó – tụi cách mạng ớ ! – tràn vô làng, bắt hết hội đồng xã, bắt luôn ông Cả Bảy trói bằng kẽm gai thành một dọc, chở đi mất. Rồi tụi nó chiếm hết, nhà cửa đất đai ruộng vườn, đuổi tụi tao ra để lấy trại hòm. Nhờ có cái nhà của mầy mà tụi nầy dọn qua ở tạm. Tao và hai thằng con tao cất thêm cho cái chòi giữ ruộng rộng ra để để đồ đạc của tụi tao và để hai thằng con tao có chỗ hành nghề thợ mộc của tụi nó. Hai thằng nầy coi vậy mà gan ! Tụi nó vượt biên rồi định cư ở Úc. Bây giờ, tụi nó có xưởng mộc ở bển, coi bộ làm ăn khá ! Thấy lâu lâu gởi tiền về nhờ thằng bạn tụi nó ở thành phố chạy Honda lên đưa ! … À ! Mầy biết hông ? Tụi cóc cắn cách mạng có kêu tao về trại hòm làm cho tụi nó, tao đấm thèm ! Mầy nghĩ coi : trại hòm mà cũng bày đặt trương biểu ngữ đề ‘ Hạ quyết tâm hoàn thành tốt kế hoạch của Nhà Nước ’. Mẹ ! … Hòm chôn người chết mà cũng vô kế hoạch nữa thì khùng hết nước nói ! Còn chuyện nầy chắc mầy chưa biết : con Huệ, con bà Năm Căng …

               Hai tiếng ‘ Con Huệ ‘ làm tôi giật mình. Tôi nhỏm dậy, lắng tai nghe. Chú nói tiếp :

               – Mấy tháng sau giải phóng, không biết nó nghe lời ai mà ôm gói xuống thành phố nói kiếm việc làm rồi lặn mất luôn cho đến năm ngoái đây, nó trở về mà đi bằng xe hơi nhà có tài xế, trên băng sau có người đàn ông có vẻ ông chủ. Mầy biết, trong làng chỉ có thằng Cói gia nhân của ông Cả Bảy là được ổng sắm cho chiếc Honda để đưa ổng đi đây đi đó, chớ đâu có ai có xe hơi. Vì vậy, khi con Huệ đi xe hơi thẳng vô xóm Lò Gạch là thiên hạ để ý. Bà Năm Căng kể lại nói bả nhìn nó không ra, tưởng là một bà nhà giàu nào đó đi lầm nhà ! Chừng nó xưng tên, mẹ con nó và bầy em nó ôm nhau khóc làm hàng xóm chạy qua mừng cũng rớt nước mắt. Nó đem cho má nó hai bao đồ rồi nhét trong túi áo má nó một cộc tiền. Sau đó, nó chỉ nói được có mấy tiếng ‘ Con lạy má ! Con lạy má !’ rồi vừa khóc vừa chạy vội ra xe lên ngồi cạnh ông người á-đông ở băng sau, tài xế rồ máy chạy ào đi  gấp. Từ đó tới giờ không có tin tức gì hết !. Còn đồ nó cho má nó toàn là tơ lụa mắc tiền nằm kín trong từng bao ni-long có in nhiều chữ tàu. Thầy Ba trên chùa đọc rồi nói đó là sản phẩm cao cấp của Thượng Hải …

               Tôi ngả người nằm xuống võng mà nghe lùng bùng hai lỗ tai, chết điếng ở trong lòng. Chú Hai Lưa hỏi :

               – Mầy còn nhớ con Huệ hông ?

               Tôi ‘ dạ ‘, tiếng dạ bị nước mắt trào lên chận ngang. Tôi nuốt xuống mà nghe miệng mồm đắng chác. Không kềm được nữa, tôi đưa hai tay lên bụm mặt. Chắc chú Hai Lưa thấy, hiểu, nên nghe chú tằng hắng một tiếng rồi làm thinh …

     

                                                               *  *  *

     

               Trên máy bay trở về Mỹ, tôi nhìn qua cửa sổ thấy nhà cửa ruộng đồng cây cối mờ lần mờ lần rồi mất hút … mà tôi nghe buồn rười rượi. Ở tuốt dưới đó, trong một làng quê nằm xa mút trên vùng đất Ngọn, tôi đã bỏ lại một tấm vạc giường, tấm vạc giường tưởng để nằm chung với người con gái nhà quê mà tôi thương, đâu ngờ chuyện hai đứa chưa kịp thành duyên thành nợ thì nàng đã như chiếc xuồng bỏ bờ mà trôi theo nước, đành đoạn trôi theo nước …

               Mối tình dành riêng cho nàng mà tôi giữ miết ở trong lòng từ bao nhiêu năm, giờ nghĩ lại sao thấy quá khù khờ ! Dầu vậy, tôi vẫn muốn gặp nàng, gặp một lần thôi, để chỉ hỏi có một câu : «  Tại sao ? … Tại sao ? … Tại sao ? … »

               Nghĩ đến đó, tự nhiên tôi trào nước mắt …

     

                                                                                                         Tiểu Tử

                                                                         

  • Văn

    Sưu tầm Trâu Gìa : Truyển Tập 195 Câu Chuyện Tù Đầy

    Truyển Tập 195 Câu Chuyện
     Tù Đầy "Cải Tạo"

     

    FYI
    (Sưu tầm bởi Trâu-Già)
     
                Để tưởng niệm mùa Quốc Hận thứ 35 (2010).
    Trân trọng mời quý vị và các bạn bấm vào một trong những đề tài được tuyển chọn dưới đây: 
     
     195 CÂU CHUYỆN TÙ-ĐẦY mang danh nghĩa "CẢI TẠO"
     
    1.    Nhà Ri
    2.   Cuộc vượt ngục tù cải tạo trại tù Bùi Gia Phúc
    3.    Khai từ
    4.     Thân Phận Người Lính Gãy Súng(Vĩnh Khanh – 11/2006)
    5.   Về Nam (I )(Nguyên Huy – 04/1993)
    6.   Về Nam (II)(Nguyên Huy – 04/1993)
    7.   Một Chuyến Thăm Nuôi(Vũ Thị Bích)
    8.   Phiên tòa đầu tiên(Đông Vân – 2001)
    9.   Tuân(Đông Vân – 1998)
    10.   Vượt thoát(Nguyễn Sĩ Nam)
    11.   Người Tù Về Từ Yên Bái(Nguyễn Minh Châu)
    12.   Mầu Nhiệm Trong Ngục Tù(Vũ Thanh Thủy)
    13.   Chữ Tu… Chữ Tù(Hoàng Hải Thủy)
    14.   Chiến sĩ(Trọng Ðạt)
    15.   Hồi ký cải tạo Bombata(Hoàng Long Hải)
    16.   Phường Chèo(Phan Quân)
    17.   Lính gái(Phan Quân)
    18.   Cái Sen(Phan Quân)
    19.   Sáng mắt(Phan Quân)
    20.   Con Suối Nhớ (I)(Nguyên Huy)
    21.   Con Suối Nhớ (II)(Nguyên Huy)
    22.   Kỷ niệm tù(Hoàng Minh)
    23.   Bệnh Tật Trong Trại Cải Tạo(Trần Mộng Lâm20- 20/09/2005)
    24.   Tại sao tôi bị đưa ra Bắc(Nguyễn Trọng Dzũng)
    25.   Cuộc tuyệt thực(Kiều Duy Vĩnh – 1994)
    26.   Anh Đỗ Phủ Ở Buồng Nào ?(Hoàng Ngọc Liên)
    27.   Vạn Lý Thăm ChB Bng(Thu Thủy)
    28.   Đên Noel trong xà lim số 6(Vũ Ánh – 22/12/2005)
     
    Sưu tầm bởi:
      NguuLao.gif picture by dalatnguyenNguulao@yahoo. com
    QuanKyVNCH-1.jpg picture by dalatnguyen
     
    Read More
  • Văn

    Tâm Thanh : Trích Tiên

    TRÍCH TIÊN

    Tâm Thanh

     

    – Ðài quan sát, phi trường Banak, tôi nghe đây ạ.

    – Thân đấy hả? Nghe đây: Có một người Việt Nam , đang ở phòng cảnh sát Tana, không biết một chữ Na-uy. Họ cần người dịch. Cậu có muốn giúp họ không?

    Tôi nói như trẻ con xí đồ chơi:

    – Dạ, muốn chứ, thiếu tá.

    – "Muốn chứ"- ông thiếu tá có tật nhái lời, lúc mới nhập trại tôi cứ tưởng ông kỳ thị, rồi tiếp -Nửa giờ nữa có người lên gác thế, anh xuống văn phòng gặp tôi. Có trực thăng tới đón.

    Bỏ điện thoại xuống, tôi mới bắt đầu tự hỏi: tại sao lại có người Việt nào lạc loài lên miền địa đầu giới tuyến này? Tưởng chỉ có mình tôi điên. Chắc là một du khách người Việt đi coi mặt trời đêm, quên đường về? Hay là một người từ Nga nhảy rào xin tịn nạn chính trị? Ôi! Nếu là một vụ tị nạn thì thật hấp dẫn. Tôi nhìn cây kim đồng hồ treo dưới chân dung quốc vương Harald và hoàng hậu Sonja nhích đi chậm chạp.

    Tôi thay đồ dân sự xong lên trình diện. Ông thiếu tá thấy vẻ hăng hái khác thường của tôi, tò mò hỏi:

    – Tại sao anh – tay tổ làm biếng – lại sáng mắt lên nhận việc này?

    – Lâu quá tôi không được gặp người đồng hương.

    Vâng, tôi đang phục vụ ở một nơi hẻo lánh cỡ như Lạng Sơn của Việt Nam, nhưng trong vòng 1000 cây số hình như chỉ có một người Việt. Và lý do tôi vận động đi quân dịch, mặc dầu đã quá tuổi bắt buộc, là vì sau khi ra trường, tôi xin việc mấy chục chỗ không được, đâm buồn chán, trống rỗng, muốn đi thật xa một phen. Hơi quá xa.

    Từ bãi trực thăng đi vào phố chỉ chừng 2 km. Tana là một xã nhỏ cực bắc của Na-uy, giáp giới Phần-lan, và là một trong những con đường chính từ Nga sang. Từ vài năm nay, mùa hè ở đây tràn ngập du khách, nhiều nhất là người Nga và Phần-lan. Người địa phương, phần đông là thổ dân Same, nghe nói cũng giòng giống Mông-cổ, nhưng so với dân Viking, không gần gũi với tôi gì hơn. Xe chở tôi chạy qua một khu chợ trời náo nhiệt. Sau ngày Liên bang Xô-viết sụp đổ, người Nga tuồn cả núi quân nhu, quân cụ ra bán. Nào là "mũ nơm gà" Hồng quân Liên xô, huân chương, áo giáp, ống dòm, la bàn, nào là quần áo nhà binh, tượng Lê-nin, Xít-ta-lin, bao cao-su… được bày la liệt trên lề đường, như một cuộc chiến vừa tàn. Ở vài góc đường, những cô gái Nga -rất dễ phân biệt với gái Na-uy nhờ nét mặt thanh tú, thân người thon nhỏ- ăn mặc phong phanh, mời mọc. Có lẽ đây là mấy cô mà bọn con trai trong trại thường to nhỏ, xuýt xoa mỗi lần đi phép về, và ông thiếu tá cũng đã cảnh cáo, nhưng vẫn không yên tâm, bắt cả trại thử máu thường xuyên.

    Ty cảnh sát nằm sau nhà thờ. Người đón tôi là một ông trung sĩ cảnh sát, nhưng người điều tra lại là một cô sĩ quan xinh đẹp, tóc ngắn, da dẻ đỏ như đồng, chắc suốt mùa hè này chỉ tắm nắng. Cô tự giới thiệu là Marianne. Vào phòng thẩm vấn, tôi vừa ngạc nhiên vừa mừng, không hiểu tại sao, khi thấy "đối tượng" thông dịch là một cô gái. Cô đang ngồi quay lưng về phía cửa ra vào, khi cô đứng lên, quay lại, tôi hoa cả mắt vì vẻ đẹp khác thường. Bị hớp hồn, tôi mở lời bằng một câu u mê:

    – Cô người Việt?

    Nàng cũng thẫn thờ:

    – Anh người Việt?

    Trong lúc chờ Marianne tìm thêm ghế, tôi nhìn trộm đôi môi hồng vừa thốt ra những âm hưởng Hà Nội ấm và sang, và nghĩ cái câu "Anh người Việt?" có thể dùng để chào nhau, thay cho câu "Bác xơi cơm chưa?" của miền bắc Việt Nam. Khi người nữ sĩ quan cảnh sát bắt đầu gài mẫu biên bản lấy cung vào máy đánh chữ, tôi hiểu đây không phải chỉ là vụ cớ mất bóp hay du khách lạc đường, và trong tâm trạng của một người chín tháng nay chưa thấy mặt người Việt Nam, tôi nghĩ bụng cô gái xinh đẹp này…oan, dẫu chưa biết sự cố liên quan tới việc gì. Người sĩ quan bắt đầu:

    – Cô tên gì?

    – Natasja Jakusjok.

    Tôi không nghe kịp tên họ, phải chìa tờ giấy, xin cô gái viết. Trong lúc Marianne so mảnh giấy cô gái viết với tờ thông hành, tôi so nét mặt thuần túy Việt Nam với cái tên Nga Natasja, lòng đầy nghi hoặc. Marianne tiếp:

    – Cô sang Na-uy làm gì?

    – Du lịch.

    – Từ bao giờ?

    – Chiều thứ sáu.

    – Bằng phương tiện gì?

    – Xe buýt.

    – Khởi hành từ đâu?

    – Murmansk.

    – Ai mời cô sang Na-uy?

    – Tôi tự sang.

    – Không có ai từ Nga tự sang Na-uy được. Phải có người từ Na-uy mời, lãnh sự quán của chúng tôi ở Murmansk mới cấp phép nhập cảnh.

    – Tôi mà được mời?

    Marianne tỏ vẻ nửa ngạc nhiên, nửa thất vọng. Tôi tự nhiên đâm thông minh hơn thường lệ một chút, dịch chữ "mời" thành "bảo lãnh", và nhắc lại câu hỏi. Quả nhiên người đồng hương hiểu ý, trả lời:

    – Tôi không biết tên người bảo lãnh.

    – Cái tên đó cô phải biết để viết đơn xin chiếu khán.

    – Tôi không viết đơn.

    Marianne như sắp chụp được con mồi:

    – Ðó. Tôi muốn hỏi người nào viết đơn giùm và tổ chức chuyến đi cho cô?

    – Tôi không biết. Tới phiên thì tôi mua vé xe. Người bán vé chỉ cho tôi đi xe nào, tôi lên xe đó.

    Người nữ cảnh sát thất vọng, xoay mặt lại cái máy chữ từ nãy đến giờ nằm thất nghiệp, lùa tay vào mái tóc nâu. Tôi quay sang Natasja. Tia mắt tôi chạm phải bàn tay cô trắng nuột nà đặt trên đùi, tôi quay đi chỗ khác. Nhưng rồi trong lúc dịch tôi không thể tránh nhìn vào một trong hai người. Tôi nảy ra một so sánh: lúc mới gặp cô cảnh sát, tôi thấy cô đẹp như một nữ tài tử đóng trong các phim James Bond; lúc này ngồi cạnh cô gái Việt, cô trông như một nữ tì. Nhưng người "nữ tì" đã quay phắt lại, nghiêm nghị, dằn từng tiếng:

    – Chúng tôi bắt được quả tang cô bám dâm.

    Tôi hụt hẫng, bàn tay co giật, loại co giật mà tôi thường gặp khi rơi từ cơn chập chờn vào giấc ngủ sâu, hoặc như khi đi đường băng trơn với em gái, mà nó bị trượt. Tôi sượng sùng, dịch "bán dâm" thành "tiếp khách". Nhưng hai tiếng này cũng đủ như một tảng đá tròng vào cổ, cô gái Việt cúi đầu xuống. Ðầu tôi cúi theo. Một tiếng nhỏ, khàn đục bật ra từ khóe môi lợt lạt:

    – Phải…

    Cô thú nhận với người cảnh sát Na-uy, nhưng theo thói quen, cô quay sang người thông dịch tội nghiệp. Mắt cô mở lớn, trong vắt, van lơn. Lồng ngực tôi đòi lấy hơi để trút một tiếng thở dài, nhưng tôi cố nín, và càng khó chịu hơn. Và khoảng cách giữa tôi và người con gái đồng hương trở nên bồng bềnh như một mạn thuyền với một cánh bèo trên biển sóng, lúc xa, khi gần. Tôi không làm nghề thông dịch, nhưng hồi còn đi học, thỉnh thoảng tôi có đi dịch để kiếm tiền tiêu vặt. Trước khi được nhận làm, tôi phải học mấy giờ về luân lý chức nghiệp. Hình như tôi nhớ được đôi điều, và bây giờ tôi nhủ lòng mình "Ðây không phải việc của tôi". Cuối cùng cô gái "Natasja" tiếp:

    – Nhưng… luật pháp Na-uy không cấm việc này… có phải không?

    Phản ứng bớt buông xuôi của Natasja khiến tôi ngạc nhiên. Marianne nghe vậy, lại trở nên hăm hở:

    – Ðúng. Luật pháp Na-uy không cấm việc mãi dâm, nhưng cấm hoạt động ma cô. Chúng tôi cần biết ai làm ma cô cho cô?

    – Không ai làm ma cô cho tôi cả.

    – Thôi. Xin hỏi câu khác: Cô vừa nói luật pháp Na-uy không cấm mãi dâm, mà cấm ma cô. Ai nói cho cô biết điều này vậy?

    – Bạn bè.

    Quanh đi quẩn lại, rõ ràng là cô cảnh sát chỉ muốn tóm cổ mấy thằng ma cô. Nhưng có gái giang hồ nào giám chỉ điểm ma cô của mình? Hồi nãy khi đi qua khu chị em ta, tôi cũng thấy những bộ dạng khả nghi, chẳng phải người địa phương, cũng chẳng phải du khách hay người thập phương tới buôn bán. Cảnh sát cũng dư biết như thế, có lúc gặp tên ma cô nhâng nháo quá, họ ngứa mắt, đã bắt thử, nhưng chẳng có chứng cớ, phải thả ra cho nó nhâng nháo thêm. Cơ hội duy nhất cho biện lý cuộc là lời khai của các cô gái giang hồ. Nhưng các cô ấy, nhất là cô gái lạc loài ngồi trước mặt tôi đây, làm sao dám nói? Tôi ngước lên nhìn Natasja, gặp đúng lúc cô cũng ngước lên nhìn tôi – trong đôi mắt sâu ấy, cô đang chới với. Marianne dòm lăm lăm vào tờ biên bản gài trên máy chữ như để moi ra câu hỏi mới. Cuối cùng cô ta chuyển đề tài:

    – Cô có quốc tịch Nga, nhưng sanh tại Việt Nam?

    – Vâng

    – Cô lấy chồng Nga?

    – Vâng.

    Marianne ráng tỏ ra kiên nhẫn:

    – Cô Natasja ạ, chúng tôi không bao giờ làm gì hại cô. Chúng tôi chỉ muốn biết tên và có bằng chứng truy tố bọn ma cô. Vậy cô cứ nói cho tôi biết ai đã đưa cô tới đây?

    Natasja ngơ ngác:

    – Ðưa tới đâu cơ?

    Marianne nói muốn nghỉ giải lao mươi phút, trong khi đó tôi phải ra văn phòng làm thủ tục tính thù lao. Marianne gặp tôi ở phòng khách lúc tôi định lấy tách cà phê cho tôi và có lẽ một tách cho cô gái. Cô hỏi chuyện lính tráng của tôi, về người tị nạn Việt Nam ở Na-uy. Câu chuyện lan man sang việc, vào năm 93, cô tham gia chiến dịch vĩ đại chuẩn bị cho trường hợp một triệu người Nga tràn vào Na-uy tị nạn chính trị hoặc nạn đói. Một nhà báo nổi tiếng dí dỏm gọi chiến dịch đó là "cuộc chuẩn bị đón tiếp các công dân của Thiên Ðường đở vỡ". Việc đó may không xảy ra, nhưng lại xảy ra một cuộc xâm thực dưới hình thức khác. Cô hỏi tôi có biết về các tệ nạn biên giới? Tôi nói có đọc loạt phóng sự của nhật báo Aftenposten và Verdens gang về việc người Nga sang đây buôn bán ma túy, rượu mạnh, quân nhu quân dụng, và mãi dâm. Tôi hỏi:

    – Nghe nói có thể mua bất cứ thứ gì?

    – Ðúng. Từ sau khi Liên-xô sụp đổ, người ta có thể mua mọi thứ, thứ dữ như bom nguyên tử, súng máy, xe tăng, tầu ngầm… Thứ hiền như đồ chơi. Ðồ chơi rẻ tiền có huân chương Anh hùng Liên-xô, huân chương Lê-nin, Anh hùng dân tộc, Anh hùng lao động. Và đồ chơi đắt tiền là các cô này.

    – Bao nhiêu mà đắt?

    – Từ 200 tới 500 kroner một đêm.

    Tôi nghĩ tới Natasja. Theo cái giá mà văn chương Trung Hoa và Việt Nam đề ra, cô ta phải đáng "ngàn vàng" là ít. Tại sao xuống tới mức này?

    – Giá đó tương đương với 2 tới 5 giờ làm việc của một người thợ Na-uy. Có gì mà gọi là đắt?

    – Chỉ một cuối tuần các cô gái buôn hương kiếm được số tiền bằng lương một năm của một người thợ trung bình ở Nga.

    – Vậy sao quí vị không để cho người ta kiếm ăn?

    – Chúng tôi không muốn làm khó dễ các cô gái. Chỉ muốn trừ khử bọn ma cô.

    – Nghĩa là nếu các cô ấy làm ăn độc lập thì được phép?

    – Ðược.

    – Cô thử hỏi cô gái tại sao không làm ăn độc lập?

    – Cần gì hỏi. Tôi biết họ không thể nào làm ăn độc lập được. Người dân Nga tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa. Họ vừa thoát ách độc tài cộng sản, đã rơi vào nanh vuốt Mafia. Báo cáo của hội đồng an ninh kinh tế (NSR) cho biết 4/5 xí nghiệp Nga phải trả tiền bảo vệ cho Mafia. Ta không cần hỏi đồng hương của anh câu đó.

    Marianne nhìn đồng hồ, ý muốn chấm dứt giờ giải lao, nhưng lại đứng thêm một lát hỏi về người Việt ở Nga. Tôi không biết gì ngoài những bài phóng sự về tình cảnh những người được chính quyền Việt Nam gởi đi nước ngoài lao động trả nợ chiến tranh, và công thức trả lương: một phần phát cho công nhân, một phần Nhà Nước Việt Nam "lấy thảo". Sau đó khi bức màn sắt sụp đổ, nhiều người ở lại phải xoay xở chật vật để sinh sống, kể cả việc phi pháp và mãi dâm. Và tới phiên người khác lấy thảo.

    Tôi mang cà-phê vào cho Natasja, nhưng cô để nguội tanh không uống. Marianne tiếp tục lại cuộc thẩm vấn. Nhưng câu chuyện về sau biến thành một cuộc mạn đàm nhiều hơn. Sau cuộc thẩm vấn, Marianne tự động nói với tôi:

    – Chắc anh muốn nói chuyện riêng với người đồng hương? Cứ ngồi đây mà nói. Anh không phải thông dịch viên chính thức, chúng tôi nhờ vả anh trong trường hợp đặc biệt, nên đền công đặc biệt. Nhân tiện, tôi nhờ anh nói cho cô ấy biết theo luật pháp Na-uy cô ấy không làm điều gì bậy cả. Cô ấy đẹp và hiền quá.

    Tôi ngồi lại, không hiểu vì động lực nào – vì tò mò hay tội nghiệp, vì đây là một người con gái đẹp hay một đồng hương? Marianne đã khép cửa văn phòng lại. Bỗng nhiên tôi hoang mang, không biết tại sao ngày hôm nay, giờ này mình ngồi đây với một cô gái lạ. Tôi nghĩ có thể Natasja cũng có cảm giác đó, khi cô loay hoay sửa lại thế ngồi, rồi lại trở về thế cũ. Gò má cô từ từ ửng hồng. Cô mở lời rụt rè:

    – Anh là người tị nạn ra đi từ miền Nam?

    – Dạ. – Nghe cách ăn nói đủ biết.

    – Còn cô? Chắc từ Hà Nội?

    – Vâng.

    – Nghe giọng nói đủ biết.

    Lần đầu tiên chúng tôi cùng cười nhẹ. Cô tiếp:

    – Ở đây đông người Việt không?

    – Chỉ có mình tôi đi quân dịch lên đây. Cách đây 500 cây số có một ông bác sĩ lên phục vụ để lấy thâm niên. Ngoài ra nhóm người Việt gần nhất ở cách đây chừng 1000 cây số.

    Khi nêu những khoảng cách xa xăm, bỗng tôi cảm thấy cô gần lại một chút. Cô nói, do dự:

    – Tôi… e..m tên Quỳnh Hương.

    – Tên đẹp quá. Tôi tên Thân.

    – Anh có trách em không?

    – Tại sao lại trách?

    – Em làm xấu hổ chung.

    Tôi cảm thấy mình vụng về, không tìm được lời, chỉ biết nói:

    – Cô cảnh sát nhắn tôi nói lại: Cô không làm điều gì bậy cả, theo luật pháp Na-uy. Cô ấy còn khen chưa thấy ai đẹp và hiền như cô.

    “Chưa thấy ai” là ba chữ quá giang, nhưng thực tình không quá tải. Quỳnh Hương cảm động, nét mặt bớt căng thẳng. Nhưng giữa chúng tôi có cái gì thiếu tự nhiên, câu chuyện không hào hứng như tôi tưởng tượng lúc ngồi trên trực thăng đáp xuống Tana, và nhất là giây phút đầu tiên thấy mặt cô gái.

    Vì lịch sự tôi vẫn cho cô địa chỉ và số điện thoại, dặn cần gì có thể liên lạc. Tôi ra ngoài móc hết tiền bạc trong túi – hình như dăm trăm – bỏ vào một phong bì, viết mấy chữ an ủi nhờ Marianne đưa cho cô gái.

    Quỳnh Hương thất thểu theo một người nữ cảnh sát khác ra khỏi bót. Tôi đứng nhìn cô đi về phía nhà thờ, lủi thủi. Tôi tưởng tượng ra cô gái làng chơi Magdalena trong Thánh kinh trên đường đi tìm Chúa Giêsu để thú tội.

    Nhưng cô có tội tình gì? Câu hỏi thành hình từ khi tôi ngồi lên trực thăng, và nó cứ lớn dần từng ngày khi tôi trở về trại. Tôi càng mong đợi càng bặt tin Quỳnh Hương. Tôi đinh ninh thể nào cô về cũng viết thư ngay cho tôi để cám ơn nghĩa cử, để tôi có thể nói những lời tốt đẹp, kể cả lời hứa giúp đỡ. Tôi còn tưởng tượng ra câu chuyện về một chàng thanh niên hào hoa, đóng ở "tiền đồn heo hút", tình cờ gặp một cô gái giang hồ và cảm hóa được nàng đi tu thành ma sơ thánh thiện. Không ngờ một tuần, hai tuần, rồi một tháng trôi qua, không có tin cô. Rõ ràng cô đã nhét địa chỉ tôi cho vào bóp. Ngoài ra, trên phong bì tiền tôi cũng quen tay ghi tên và địa chỉ một lần nữa.

    Chờ đợi, băn khoăn, cuối cùng là hối hận. Tôi đã quá lạnh lùng, đã thay đổi thái độ quá nhanh sau khi biết cô là gái giang hồ. Tất cả chỉ xảy ra trong lòng tôi, nhưng tránh sao cô chẳng linh cảm được. Nét mặt thông minh ấy. Vì trịch thượng ngầm, tôi không nghĩ tới việc xin địa chỉ cô.

    Năm tuần sau, tôi nhận được lá thư đóng dấu bưu chính Murmansk . Tôi mừng như được thư người tình, leo lên tháp canh đọc cho… thấm. Nhưng đọc thư xong tôi vô cùng thất vọng. Nét chữ xấu xí quê mùa, lời lẽ tình nghĩa kệch cỡm, nghe rợn tóc gáy. "Chủ đề" của thư đương nhiên là xin gởi tiền (bằng tiền Norway ) về địa chỉ v.v… Tôi nổi giận, xé lá thư vất vào sọt rác. Không thể ngờ được bộ mặt xinh đẹp như thế lại mang tâm hồn bần tiện như vậy. Dù cố thử biện hộ cho cô gái bằng lý luận "cái khó bó cái khôn", tôi vẫn chán ghét cô gái, ê chề tình đời, tôi chán ghét cái vùng đất mất hết tình người. Ðau nhất là con người lãng mạn của tôi bị quê nặng quá.

    Hết phiên gác, việc đầu tiên là tôi về phòng để hủy cái dấu vết cuối cùng về cô gái bất xứng – miếng giấy viết hai chữ Natasja Jakusjok. Ðó là miếng giấy mà cô gái viết tên trong bót cảnh sát, đi Tana về tôi gắn trước bàn viết để kỷ niệm một buổi gặp gỡ… hay hay. Nhưng khi gỡ miếng giấy, cầm trên tay, tôi bỗng giật mình – nét chữ này thanh tao, nhuyễn mềm, khác xa một trời một vực với nét chữ thô lậu, tục tằn trong thư tôi vừa xé. Tôi tức tốc chạy lên đài quan sát, lục lại lá thư. Chẳng cần so lại tuồng chữ, tôi cũng biết thư này không phải do Quỳnh Hương viết. Tôi "sang" hết mấy lời xỉ vả hồi nãy cho bọn bất lương, và nôn nả bắt tay vào việc tìm tung tích Quỳnh Hương.

    Sau buổi thông dịch, tôi thỉnh thoảng có điện thoại cho cô cảnh sát Marianne, vừa để tán gẫu chơi, vừa thăm dò xem "ngựa có về đường cũ không". Bây giờ muốn biết địa chỉ thật của Quỳnh Hương tôi chỉ việc hỏi Marianne. Nhưng tôi không được phép làm như vậy. Tôi thử làm điệp viên si tình một phen. Một mặt tôi ra ngân hàng gởi 300 kroner cho bọn làm tiền, tất nhiên dưới tên Natasja Jakusjok. Na-uy đang mở rộng việc làm ăn với Nga, để biến đổi bán đảo láng giềng Kola thành một vùng bớt nghèo đói và ô nhiễm, nên có rất nhiều hãng xưởng và ngân hàng Na-uy mọc lên hai bên đại lộ Lê-nin. Tôi chọn gởi tiền qua ngân hàng Kirkenes, vì nó nằm đối diện với một khách sạn. Gởi tiền đi hôm trước, hôm sau tôi đáp xe đò đi Murmansk và thuê khách sạn đó, phòng có cửa sổ quay ra mặt đường. May mắn quá mong đợi, ngày rình chực thứ ba tôi đã thấy bóng Quỳnh Hương ra ngân hàng. Tôi không cần ngụy trang nhiều, chỉ cần cái quần soọc, cái mũ lưỡi trai, và cái máy Nikon là ra dáng một anh triệu phú Nhật Bổn rồi. Phải thêm cái kính mát to để che mặt.

    Vào ngân hàng tôi đứng xa xa, thấy Quỳnh Hương đang xếp hàng quay lưng lại, tôi cẩn thận không lộ diện, nhỡ có tên cô hồn nào đi kềm nàng không. Khi nàng lãnh tiền xong quay ra, tôi đau nhói tim thấy mặt nàng tiều tụy, và có vết bầm xanh. Một tên đàn ông mặt mũi bất lương ở đâu sán lại kè nàng, chưa ra khỏi cửa, nó đã giằng lấy tiền, chửi thề "Ð.M. có mấy đồng ranh mà nàm nhọc xác ông". Quỳnh Hương cúi đầu, không trả lời. Tôi lén theo dõi hai người, nhưng tới ngã tư thì họ lên một chiếc xe hơi do người thứ ba lái chạy mất tăm, tôi đón taxi không kịp.

    Tôi thất vọng trở về Na-uy, viết thư làm bộ nói nhớ thương Natasja và mong gặp nàng, bóng gió cho biết sang Na-Uy sẽ dễ dàng mang tiền về hơn. Nàng sang thật. Vết bầm trên mặt đã biến mất, nhưng vẫn còn tiều tụy. Tôi đưa nàng thẳng vào một khách sạn đàng hoàng cho nàng nghỉ ngơi. Chúng tôi ăn ngay trong khách sạn. Nàng ngạc nhiên vô cùng khi tôi nói tôi biết hết trò giả mạo thư và làm tiền của bọn vô lại. Nhưng tôi thắc mắc:

    – Tại sao chúng biết cô có liên hệ với tôi?

    – Em vừa từ biên giới về, chúng nó lục lọi khám xét ngay, và tất nhiên thấy phong bì tiền của Anh cho, địa chỉ nằm đó. Chúng bắt em viết thư vòi tiền, em không làm, chúng đánh đập, bắt trở lại đứng đường. Em xin làm mọi việc trâu ngựa để hầu hạ cả bọn miễn đừng bắt em làm việc đó. Chúng chấp thuận nhưng vẫn giả mạo thư tống tiền Anh. Em xấu hổ quá.

    Tôi hỏi một câu mà định hỏi mấy lần nhưng chưa có dịp:

    – Cô sang Nga theo diện nào?

    – Nghiên cứu sinh. Nghiên cứu sinh sử học.

    Tôi kinh ngạc:

    – Nhà Nước Việt Nam gởi đi?

    – Vâng.

    Tôi nhớ lại việc thông dịch, hỏi:

    – Sao cô không nói tiếng Nga, dễ kiếm người thông dịch ngay tại đây?

    – Em muốn giấu tông tích. Chẳng may…

    Tôi hơi phật ý về hai chữ "chẳng may", nhưng không tỏ ra, hỏi tiếp:

    – Cô… xong tiến sĩ chưa?

    – Thưa, rồi ạ.

    – Vậy cô chỉ việc trở về phục vụ đất nước.

    – Trễ rồi.

    – Sao vậy?

    Quỳnh Hương hít hơi thật sâu, như để đè nén cái gì, cuối cùng nói nhẫn nại:

    – Truyện dài lắm. Em chỉ vắn tắt thế này: Khi em đang chuẩn bị về nước, thì bố em bay sang nói bất cứ giá nào đừng về.

    – Tại sao vậy? Ở Việt Nam bây giờ thay đổi khá lắm, và bắt đầu đãi ngộ những người có trình độ.

    – Lợi dụng thì có, đãi ngộ không.

    Chúng tôi ra ban-công. Nắng đêm quyện vào gió bắc cực lùa vào mặt mát rượi. Tóc Quỳnh Hương thơm. Tôi hỏi:

    – Ngoài ra bố cô nêu lý do gì để khuyên cô đừng về nước?

    Nàng nhìn con hải âu đậu một mình trên cột đèn, đáp:

    – Là lý luận gia lâu năm của Ðảng, khi thấy bức tường Bá-linh rạn nứt và thiên đàng Liên-xô sắp bốc lửa, Bố em dự kiến Ðảng cộng sản Việt Nam sẽ biến từ một tổ chức cách mạng thành một guồng máy tư bản.

    – Vậy càng tốt chứ sao?

    – Anh không hiểu đâu, cũng như em hồi đó không hiểu. Vì thế Bố phải đích thân bay sang. Gặp Bố em vừa mừng vừa ngạc nhiên hết sức, nhưng run sợ khi ông nói nước Việt Nam sẽ không còn là nơi dung thân của con người nữa.

    – Sao vậy?

    – Bố hỏi em "Chị xem – cái thiên đàng kiểu mẫu mà sắp sụp đổ nay mai, thì cái thiên đàng mô phỏng sẽ ra sao?" Em không trả lời, ông nói "Các ông ấy là những kiến trúc sư chuyên vẽ thiên đàng. Kiểu này đổ vẽ kiểu khác. Mà mỗi lần đổ, mỗi lần đổi kiểu là hàng vạn người chết vì cột kèo đè."… Bố em về, tự vẫn chết, để họ không còn gây sức ép với em được, trước khi bị cột kèo đè.

    Nghe đến đây, tôi lạnh toát xương sống, khô cổ họng. Cột đèn đằng trước, con hải âu đã bay đi, còn cái tay đèn đua ra, như chờ một sợi dây thòng lọng. Mãi lâu sau tôi mới thốt lên được câu gần như vô nghĩa:

    – Khủng khiếp quá!

    Quỳnh Hương mím môi để khỏi bật ra tiếng khóc, nhưng giọng ướt lệ:

    – Người ở ngoài không hiểu nổi sự khủng khiếp tới mức nào đâu. Người trong cuộc, đa số khi hiểu thì trễ quá rồi.

    Vai tôi chờ một mái đầu tựa vào. Nhưng tôi phải làm như tỉnh táo, hỏi:

    – Với cô, có quá trễ chưa?

    – Em không biết. Nhưng để em kể em đã sa xuống chỗ nào. Lúc đầu em may mắn trên con đường tị nạn. Ông giáo sư đỡ đầu cho em li dị vợ để cưới em. Anh đừng trách em. Vì ông ta li dị xong mới cho em biết đã có vợ và mới li dị. Ở Nga, li dị là chuyện cơm bữa, cũng như chuyện trai gái chung chạ. 30% các cặp vợ chồng li dị. Việc làm tình hổ lốn trở thành phổ thông là vì tình trạng ăn chung ở chạ, nhà cửa chật chội. Chồng em là một tên ghiền rượu, đánh đập em mãi, em vẫn chịu đựng được. Nhưng hai ba lần em bị anh họ chồng, em chồng, rồi cả bố chồng cưỡng hiếp, thì anh bảo sao em chịu được? Em phải ra đi, và sa vào tay Mafia.

    Tôi lại ớn lạnh. Không phải vì gió đêm. Mà vì nhớ chúng tôi đang ở gần biên giới. Tôi dìu Quỳnh Hương vào trong. Ðóng cửa sổ lại. Chúng tôi im lặng uống một thứ rượu kem gì đó khá ngon. Tôi quyết định ngày mai ra lãnh sự quán bí mật làm giấy bảo lãnh hẳn cho Quỳnh Hương sang Na-uy. Ðiều làm tôi do dự là cái giấy hôn thú. Trước khi về phòng riêng, tôi đắp mền cho Quỳnh Hương như một đứa em gái và nói:

    – Ngủ ngon. Ðừng mộng mị gì cả, dù thiên đường.

    Quỳnh Hương sang chơi Na-uy lần kế tiếp vào ngày lễ Sankthans, ngày dài nhất, đúng hơn, không có đêm. Nàng từ xe buýt Murmansk bước xuống, ăn mặc đơn giản, càng xinh đẹp hơn. Nàng tha thướt đi giữa những huân chương và mũ áo Hồng quân bên vệ đường, tàn tích của một thiên đường vừa đổ vỡ, diễm lệ như một nàng tiên, tôi đặt tên cho nàng là "Trích Tiên". Khi tôi nói ra, nàng cười tươi, chấp nhận. Từ đó cuối tuần nào nàng cũng qua. Thường tôi đưa nàng về căn chòi thuê của xã ở sườn núi trông ra biển, rất thơ mộng. Từ mùa thu không còn mặt trời giữa đêm nữa, nhưng rừng thu biến thành những tảng màu đỏ, vàng tuyệt diệu. Vài cánh buồm trắng nhẹ trôi trên mặt nước xanh lộng bóng núi. Ban đêm trời trong, trăng sao vằng vặc chiếu xuống vịnh bao la. Chúng tôi ngồi bên nhau ngoài hiên nói chuyện tới khi sương ngập thềm. Tôi gọi căn chòi này là "Ðộng Tiên", muốn vĩnh viễn ở lại không về trần gian. Nàng "trích tiên" thỉnh thoảng lại khóc làm tôi lo lắng. Nhưng nàng nói:

    – Xin lỗi Anh, em khóc chỉ vì quá hạnh phúc.

    Tôi uống những giọt hạnh phúc này từ mắt nàng, và nói:

    – Ðây là nước mắt hạnh phúc. Nhưng nước mắt đau khổ của Em, anh cũng xin uống.

    Chúng tôi chỉ ước có phép mầu cho thời gian và không gian ngừng ở đây. Lạ lùng là những lúc tôi gần gũi Quỳnh Hương trên chòi nghỉ mát, tôi chỉ say sưa nhìn ngắm, lắng nghe, ngửi hương nàng, không xàm xỡ. Tôi sống sự hiện diện nàng. Sự sống nồng nàn, ngây ngất mà thanh khiết. Tạo hóa đã khắc cho nàng một chân dung kỳ diệu – từng nét thì đối chỏi mà toàn thể thì hài hòa. Các nhà giải phẫu thẩm mỹ không bao giờ làm được như vậy. Chỉ có Nhà Ðiêu khắc tối cao, thừa thương yêu và tinh quái mới nắn nên khuôn mặt và thân thể Quỳnh Hương – để tặng riêng tôi, cho riêng mỹ cảm mà Ngài tạo cho tôi. Và Ngài gởi tặng phẩm tới cho tôi qua con đường sầu thảm quá. Con đường các phép lạ thường đi.

    Khốn nạn thân tôi (tiếng Bắc của Quỳnh Hương), nỗi đam mê lành thánh kia, tôi chỉ giữ được khi có sự hiện diện của nàng. Khi nàng qua lãnh thổ Nga, tôi trở về trại Banak, thì xác thịt tôi giằn vặt, réo gọi. Tôi quằn quại trong giường lính độc thân, thèm khát thân hình nuột nà cô gái giang hồ Natasja. Xác thịt tôi trách móc tôi đã dại dột bỏ qua cơ hội nọ, cơ hội kia trên Ðộng Tiên. Cho tới khi tôi ngủ thiếp đi. Có vài lần trong mơ… Nhưng thường trong mơ tôi thấy nàng Trích Tiên mặc áo dài trắng tinh khiết trổi lên từ giòng nước trong xanh vẫy gọi tôi. Phải chờ tới buổi sáng, khi mặt trời mọc, rọi sáng vào những góc tăm tối trong tâm hồn, tôi mới thực tỉnh táo, và hãnh diện cuối tuần trước đã giữ mình đứng ngoài cái giòng đục lềnh bềnh những xác bố chồng, xác anh, xác em chồng nàng, và những thiên đường mà nàng đang vùng vẫy thoát ra. Ðúng hơn, chúng đẩy nàng ra như một vật lạ trong cơ thể.

    Chỉ có một lần tôi táo bạo, lần đi thăm Nordkapp. Nordkapp hay "Mũi Bắc" nằm trên vĩ độ cao nhất nước, có lẽ là kỳ quan Na-uy thu hút nhiều du khách nhất. Mỗi năm, hàng vạn người từ khắp thế giới, nhất là Nhật, Ðức, Mỹ mua vé máy bay lên đây, chỉ để coi mặt trời đêm. Lúc tôi đưa Quỳnh Hương đi thăm Mũi Bắc, trời đã sang đông, không còn du khách nào nữa, cũng không còn mặt trời đêm. Tôi nắm tay Quỳnh Hương đứng trên ghềnh đá vách dựng đứng. Nước biển vẫn thăm thẳm. Gió lạnh buốt. Nhưng chúng tôi càng thích thú. Bỗng nhiên, mây trên trời biến thành màu xanh như lân tinh, và quay tít như đèn kéo quân, hào quang lấp lánh rực rỡ, những luồng điện nổ tí tách trong mây như hàng ngàn tràng pháo chuột ngày Tết. Quỳnh Hương kinh sợ nhưng lại reo vui vì có tôi bên cạnh. Tôi giải thích:

    – Ðó là nordlys (bắc quang). Hiện tượng huy hoàng này không phải lúc nào cũng xảy ra. Hôm nay nó xảy ra đúng lúc Em tới đây. Ðó là dấu hiệu Trời cũng muốn chào đón Em đó.

    Quỳnh Hương tựa lưng vào ngực tôi. Giọng nàng mật ngọt:

    – Còn Anh, Anh cho em dấu hiệu gì?

    Cầm lòng chẳng đậu, tôi xoay người nàng lại, và hôn vào đôi môi nồng nàn. Ðó là lần đầu tôi hôn một người con gái. Trên mỏm đá lịch sử Nordkapp, dưới ánh bắc quang.

    Chỉ còn một tháng nữa là Tết ta. Thu An gọi điện thoại nhắc thế nào tôi cũng phải xin về phép cho kịp ngày cúng Giao Thừa. Thay vì nói trong điện thoại, sợ không đủ mạch lạc và không đối đáp được con em lí lắt, tôi viết cho nó một thư dài 6 trang trình bày ý định mời Quỳnh Hương về Oslo ăn Tết. Tất nhiên trong thư tôi dấu một số chi tiết về thảm cảnh của Quỳnh Hương, nhưng tên "Trích Tiên" thì không thể không khoe. May quá con bé chấp thuận liền, còn hào hứng chuẩn bị đón "chị dâu". Tôi nói tuyệt đối nó không được… lạc quan.

    Gia đình chúng tôi đã nhận bao nhiêu tai họa bất ngờ, đúng trong những lúc tưởng là hạnh phước nhất. Tết Mậu Thân Ông Nội đang công tác ngoài Huế bị cộng sản Bắc Việt bắt đi chôn sống, đúng lúc ông được điện tín về mà coi mặt và đặt tên cho cháu đích tôn là tôi; Bà Nội đi bốc xác Ông, về phát điên rồi mất. Năm 75 con Thu An vừa sanh ra, để trong cái biệt thự thơ mộng Ba Má mới mua ở Chí Hòa mấy năm sau "có một tiểu thư ra vào", thì cộng sản tràn vào "giải phóng"; Ba đi tù, Má bị sa thải. Ba trốn học tập về, đúng lúc Má đặt được chỗ vượt biên chính thức, tưởng vĩnh viễn thoát khỏi cái thế giới điêu ngoa, hận thù, gian manh, thì tầu do tỉnh ủy Ðồng Nai đóng bị vỡ, Ba Má chết đuối.

    Từ đó, cứ thấy bóng dáng hạnh phúc là tôi giật mình. Lần này, với Quỳnh Hương, tôi lại lăn xả vào, không phải như con thiêu thân nhào vào lửa nhan sắc, mà như muối gặp biển mặn. Nàng là hiện thân của tôi – phần nước mắt, và cả gia đình, dân tộc tôi, phần ước mơ và bất hạnh. Tôi đón nhận hết. Một lần, trong Trích Tiên.

    Tôi thu xếp cho Quỳnh Hương sang đúng dịp tôi và Thu An nghỉ phép mùa đông. Và để tránh mọi dị nghị, tôi trình bày nội vụ với ông thiếu tá, và nhờ ông trình ông đại tá luôn. Ông dễ thương tặng Quỳnh Hương cái vé máy bay. Thu An bày đặt mang hoa ra phi trường Fornebu đón khách. Vừa giáp mặt Quỳnh Hương, nó đã reo ầm lên:

    – Eo ơi! Chị Quỳnh Hương đẹp dễ sợ.

    Quỳnh Hương bật cười vì những từ ngữ kỳ cục của con bé, cảm động nhận hoa. Tôi giới thiệu với khách:

    – Ðây là đứa em gái thua tôi tới sáu tuổi, nhưng từ ngày chúng tôi mồ côi, nó nhảy tót lên ngôi chị hai, "kềm kẹp" tôi từ miếng cơm tới manh áo.

    Thu An cong cớn:

    – Từ nay em không thèm kềm kẹp nữa, em sắp bàn giao chủ quyền Trường Sá cho người khác.

    Quỳnh Hương chỉ biết đỏ mặt. Tôi huých Thu An một cái làm nó chạy giạt sang bên kia, núp bóng Quỳnh Hương.

    – Ê ê! Từ nay có chị Quỳnh Hương che chở, anh Hai không được ăn hiếp em nữa.

    Thu An vừa lái xe vừa giới thiệu thành phố cho khách. Chị em nói chuyện líu lo. Tôi ngồi băng sau, nhắm mắt nghe giọng Hà Nội và giọng Sài Gòn quấn quít. Quỳnh Hương như thơ trẻ lại. Tôi ngả người tận hưởng hạnh phúc của một gia đình, lần đầu tiên sau 15 năm cô độc, lạc lõng nơi xứ người. Ðêm giao thừa, cúng vái, ăn cơm xong, Quỳnh Hương dọn trà mứt, Thu An bưng ra một cái bánh bông bơ, thắp 30 ngọn nến. Quỳnh Hương trầm trồ:

    – Người Việt tại Na-uy có tục lệ riêng để đón xuân? Ðẹp quá!

    Thu An trả lời:

    – Không phải đâu, chị. Năm nào chúng em cũng ăn Tết, đồng thời mừng ngày sanh anh Hai. Nhưng năm nay đặc biệt hơn, vì năm nay anh Hai "tam thập nhi lập".

    Quỳnh Hương hiểu ngay:

    – Thế tức là Anh sinh năm 1968?

    Tôi nói:

    – Ðúng, năm Mậu Thân.

    Thu An hớt:

    – Vì thế Ba Má mới đặt tên ảnh là Thân. Ba Má nói "Thân" đây có hai nghĩa là "yêu mến", "thân thiện" chứ không phải "con khỉ". Nhưng em thấy ảnh "mậu thân" với em lắm. Từ nay ảnh "mậu thân" là ảnh chết.

    Quỳnh Hương cười ngặt nghẹo. Chưa bao giờ nàng cười nhiều như vậy. Tôi nói:

    – Năm đó con khỉ con này chưa sinh ra, sao bây giờ khoọc khẹc dữ vậy?

    – Chính anh Hai nghe lóm Ba Má kể rồi khoe với em hết chứ bộ. Cũng như Anh, năm Mậu Thân đâu có biết gì về chuyện Ông Bà Nội, bây giờ cũng kể vanh vách.

    – Chuyện gì vậy?

    Quỳnh Hương hỏi. Tôi chần chờ. Thu An lần lượt kể về những thảm cảnh gia đình. Thảm cảnh nào nó không trực tiếp trải qua, nó kể lể rành mạch như chuyện cổ tích; đến thảm cảnh Ba bị công an vào nhà còng tay Ba lần thứ hai, cảnh đắm tầu thì nó kể lộn xộn như cơn ác mộng. Cuối cùng tôi kết luận một câu mà trong những dịp thiêng liêng thường nói với em gái, như bổn phận nhắc lại một gia qui đơn giản, Quỳnh Hương là người dưng đầu tiên nghe:

    – Ba Má chỉ dạy chúng tôi một điều: lòng trắc ẩn.

    – Hai Bác thật là nhân hậu, từ những khủng khiếp của năm Mậu Thân và bao năm sau đó, chỉ rút ra chữ "Thân" đặt tên cho con trai và hai chữ "Trắc ẩn" khắc trong lòng hai con.

    Không muốn hai người con gái thấy ngấn nước trong mắt tôi, tôi bèn đứng lên thắp thêm nhang trên bàn thờ ông bà. Nghĩ tới "Trích Tiên" và mấy chục triệu người đáng thương xót ở ngàn dậm xa, tôi khấn thầm: "Lạy Trời Phật! Hai chữ trắc ẩn Ba Má khắc trong lòng chúng con, cũng là lẽ sống bàng bạc trong lòng Trời Ðất. Xin Trời Ðất nhỏ xuống lòng mọi người ở bên kia một giọt trắc ẩn. Riêng tình yêu của con dành cho Quỳnh Hương, đã khởi đầu do lòng trắc ẩn, nhưng bây giờ kết thúc là tình yêu. Xin Trời Phật, Ba Má chứng kiến và chúc phúc cho chúng con".

    Im lặng một lúc, Thu An hỏi:

    – Anh Hai vừa ăn mảnh, lén xin Ba Má thêm cái gì, phải không?

    Tôi nửa đùa nửa thật:

    – Anh không xin xỏ gì cả, chỉ hỏi ý kiến thôi. Ba tháng nữa anh Hai hết thời hạn quân dịch, và có quyền bảo lãnh một người ngoại quốc sang Na-uy. Anh hỏi Ba Má muốn con dâu là một người trần hay tiên.

    Quỳnh Hương mắc cỡ gục mặt xuống, trong khi Thu An nhảy lại ôm vai nàng, reo:

    – Em thay mặt Ba Má trả lời: Tiên. Trích Tiên!

    Nhưng còn Quỳnh Hương, nàng có ưng thuận vào trong cái mà tôi cho là "thiên đường" của chúng tôi không? Một con người suốt đời bị số phận đẩy đưa và người khác định đoạt, lần này quyết định phải thuộc quyền nàng. Vì thế lúc bạn đọc tới giòng này, tôi vẫn đang ở trong giây phút thiên thu chờ đợi nàng trả lời.

     

    Tâm Thanh

  • Văn

    Phan Thanh Tâm : Về Việt Nam – Về Mỹ ?


    Về Việt Nam – Về Mỹ ?

    imagePhan Thanh Tâm
          
         Gềnh Ráng – Quy Nhơn 12/12

         Đi với Về cũng một nghĩa như nhau?(1) Không. Đi là di chuyển đến một nơi khác Về là trở lại chốn cũ, nơi mình có nhiều quan hệ. Một người Mỹ gốc Việt có hai nơi để về. Về Việt Nam thăm mồ mả cha ông, gặp lại người thân, nhìn lại đường xưa lối cũ; con đò, bờ sông, nón lá, mấy nhịp cầu tre, con trâu, cái cò, núi đồi, đồng ruộng; được ăn những món đặc sản ngay tại địa phương; được hít thở không khí quê nhà và được nghe những âm thanh quen thuộc. Nhưng rồi phải quay về Mỹ. There’s no place like home. Our home is where our heart is. Không đâu bằng mái ấm gia đình. Nơi này có công ăn việc làm, có tự do. Tôi có thể nói những gì tôi muốn nói; làm những gì tôi muốn làm.

         Hồi cuối năm 2011 tôi đã về VN một tháng. Bay trên mây, nhìn trời xanh, tôi nghĩ đến mấy câu thơ trên mạng của Bùi Minh Quốc và Thanh Thảo mô tả VN ngày nay: Ngoảnh mặt vào đâu cũng phải ghìm cơn mửa, Cả một thời đểu cáng đã lên ngôi và Cứ tự mình dán băng keo vào miệng / Yêu tổ Quốc chỉ còn nghe ú ớ. Có thật vậy không? Kỳ này, mắt thấy tai nghe mong sẽ biết VN nhiều hơn là qua thế giới ảo. Nhờ bạn bè, bà conxa gần, tôi đã thực hiện một chuyến đi ta ba lô thích thú viếng Hà nội, Huế, Đà Nẵng, Hội An, Qui Nhơn, Vũng Tàu, Bến Tre. Tôi cũng đã cùng với gia đình Đỗ Lê Minh, hiện dạy toán ở Đại Học UCLA (University of California, Los Angeles), theo tour viếng Đế Thiên Đế Thích, một kỳ quan thế giới ở Siem Reap thuộc Campuchia trong ba ngày.

          Đây là lần thứ hai về VN vì lý do gia đình. Lần thứ nhất cuối năm 2006. Sau 1975 tôi đành phải rời xa đất nước vì sống không nổi dưới chế độ độc tài toàn trị dù tôi đã yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời. Lúc bấy giờ hầu như dân miền Nam đều muốn bỏ xứ ra đi. Đảng Cộng sản Việt Nam (CSVN) là thực dân thứ thiệt; rất giỏi trong việc bóc lột, dối trá, bưng bít và còn ngụy biện bằng khẩu hiệu yêu nước là yêu xã hội chủ nghĩa. Tôi đã vượt biên trong một đêm không trăng sao tối đen như mực. Trên ghe 13 người kể cả một bé nhỏ sáu tháng. Sao lại có người gan liều bồng con trôi giạt một tháng như vậy? Theo nhà văn Phạm Phú Minh các bà mẹ Việt Nam đánh hơi thấy nếu không ra đi thì con mình sẽ bị suy tàn về thể chất, dốt nát về trí tuệ và thui chột về đạo đức.

          Phần lớn thời gian về VN tôi ở Saigon. Trước 1975 đây là thủ đô của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) giờ có tên mới viết là TP (thành phố hay tội phạm?) Hồ Chí Minh, thay đổi rất nhiều. Quận nào cũng có xây cất nhưng không được qui hoạch đàng hoàng. Mạnh ai nấy làm, kiểu cách, cao thấp, trồi sụt bất thường. Chỉ có khu bên kia sông là khá qui củ. Sau chầu cà phê với Thân Trọng Minh ở Chợ Lớn tôi theo Vũ Thị Ái đồngnghiệp trước 1975 đến Việt Tấn Xã, sở cũ cạnh Dinh Độc Lập. Chúng tôi đi bộ, ra vẻ thăm dân cho biết sự tình. Tôi như lạc vào chỗ lạ. Không hình dung ra nơi chốn vì mặt tiền mấy nơi đi qua khác hẳn, không còn nhận ra đường nào với đường nào. Buổi trưa trời nắng, nóng nực quá chừng. Saigon bị lây Hà nội rồi. Thành phố không có vỉa hè.

          Hồn Việt Nam Cộng Hoà và Phạm Duy

          Ngồi bệt ở một cái sạp bán nước bên vệ đường, tôi uống hai trái dừa xiêm, no cành hông, thiệt đã. Vô tình thấy tờ Saigon Giải Phóng, có bài Dành Vỉa Hè Cho Người Đi Bộ trong mục Sự Kiện Vấn Đề của tác giả Phạm Phương Thảo. Đi bộ khó thật vì không phải vỉa hè nào cũng có chỗ đi, có khi phải đi xuống lòng đường và việc đi bộ còn gặp khó bởi không ít vỉa hè dùng vào việc buôn bán, đậu xe. Xe gắn máy cứ lách lên vỉa hè mà chạy. Việc đi bộ qua các ngã tư không dễ dàng cho dù có đèn xanh, đèn đỏ. Mặt khác bộ mặt của vỉa hè có nơi vẫn còn tình trạng tiểu tiện bừa bãi. Nhìn dòng xe chạy chen lấn, len lách tôi thấy dường như ai cũng nghĩ mạnh ai nấy đi. Qua đường là một thửthách. Hà nội cũng y như vậy. Kinh khủng. Terrible. Chữ của một người ngoại quốc nói với tôi và cũng của một người bạn ở Hà nội khi cùng đi qua đường.

          Dấu vết Saigon xưa chỉ còn lại chợ Bến Thành, đường Nguyễn Huệ, Lê Lợi. Chính quyền mới muốn xóa mọi hình ảnh cũ. Sinh hoạt thời VNCH làm họ bực tức, khiến chữ giải phóng mất ý nghĩa, biến thành phỏng dái. Nhưng hồn VNCH vẫn còn trong lối sống, vương vọng qua mấy bản nhạc trên xe taxi, ở quán đầu hẻm, trong nhà từ nam chí bắc; và ngay cả thủ đô Hà Nội, cái nôi xã hội chủ nghĩa VN. Nhà hát Lớn Hà Nội đã bị làn sóng nhạc “sến” tấn công. Tuấn Vũ chiếm lĩnh hàng chục đêm, rồi các live show của Quang Lê, Mai Quốc Huy (được xem là “truyền nhân” của vua nhạc sến Chế Linh)…gần đây nhất là ca sĩ Thanh Tuyền. Nếu không có những rắc rối trong tổ chức, vua nhạc sến Chế Linh cũng đã cất cao giọng hát tại lâu đài âm nhạc giữa thủ đô. Một tờ báo ở VN đã viết như vậy.

          Tại sao có hiện tượng đó? Nhạc cách mạng vừa dở vừa lỗi thời không ai muốn nghe nữa. Tác giả Phan văn Minh trong bài “Đừng Làm vấy bẩn ca từ tiếng Việt” trên Hồn Việt ngày 28/12/11 viết, lời ca một số bản nhạc mới là một sự kém cỏi về văn hóa, trí tuệ; một sự phỉ báng đối với ngôn ngữ mẹ đẻ. Về chuyện Chế Linh bị hủy không cho trình diễn tiếp, theo nhạc sĩ Phạm Duy, họ làm ầm ĩ quá. Khiêm tốn thì được.
          Phạm Duy có vẻ không được khỏe lắm, cho biết, những buổi trình diễn của ông rất thành công. Ghé thăm ông tại nhà ở Phú Thọ, nhạc sĩ có cả ngàn bài ca nói, trở về VN là đúng với luật tự nhiện: lá rụng về cội. Ông muốn khi mất sẽ mất ở Saigon. Sau đó, các con sẽ dời mộ bà Thái Hằng về luôn. Giờ không còn sức ngồi máy bay gần 20 tiếng trở qua Mỹ.

          Cuộc sống hiện nay thế nào? Nhạc sĩ Phạm Duy cười trả lời, rất thoải mái
    . Lẽ dĩ nhiên phải có tiền và mũ nỉ che tai. Câu nói của nhạc sĩ
     90 tuổi cũng là triết lý sống của nhiều người trong nước. Có đủ tiền chi tiêu; không nghe, không thấy, không bàn về bất kỳ điều gì coi là nhạy cảm có hại đến chế độ. Nhưng Giáo sư Nguyễn Huệ Chi, một trong những người chủ trương trang mạng Bauxite VN, nói với đài BBC hồi cuối năm rằng nhà cầm quyền đã đối xử với 85 triệu dân như những con bò. Có lẽ vì vậy, khi một số khoa bảng VN được nhà nước đãi ngộ hơn kẻ khác, đươc trao hoa, cho quà, ban chức, phong tước, họ mừng rơn về hùa với chế độ; thay vì phẫn nộ, đòi hỏi công bằng, công lý, cho những người bị phân biệt đối xử, bị nhiều thiệt thòi.

          Ngoài ra, để định hướng dư luận, đảng CSVN quyết nắm chặt các phương tiện truyền thông. Tất cả báo chí đều một giọng, một điệu. Coi văn nghệ sĩ như tôi tớ, gọi dạ, bảo vâng. Lâu lâu xoa đầu khen thưởng hay rầy la. Ký giả Đoan Trang trong bài Giọt Nước Mắt Của Lề Phải viết trên mạng, dưới chế độ Cộng Sản nhà báo không khác gì con chó; bảo sủa thì sủa; bảo im thì im. Nhìn chung, có vẻ đảng CSVN thành công trong việc thuần hóa đám đông. Công an có mặt khắp nơi. Con đường tiến thân là nhớ lời Bác. Qua báo chí thấy một xã hội ổn định. Muốn vào Internet, cửa sổ nhìn ra thế giới bên ngoài phải vượt tường lửa. Chỉ người nào muốn hiểu biết, có phương tiện mới tiếp cận được với nhiều nguồn tin khác nhau.

          Ngô Công Đức Tự Bạch: Hối Hận

          Trước khi cái thiện thắng cái ác của thời bao cấp, tức trước khi đổi mới trở về cái cũ hồi cuối thập niên 80, con đường tương lai là đi ra biển. Thời này khác, thay vì vượt biên, cha mẹ cho con du học hay  theo học trường ngoại trong nước. Nền giáo dục VN hỏng lâu rồi. Nhưng thay đổi thế nào? Bỏ bác, bỏ đảng, bỏ mác, bỏ lê? Hồi xưa ra ngõ gặpanh hùng bị gạt. Ngày nay, ra ngõ gặp tiến sĩ giấy, quán cà phê hay trẻ em lang thang bán vé số, đánh giày. Báo Tuổi trẻ (3/12/11) cho biết, theo Nhóm Young Lives (Những cuộc đời trẻ thơ), một chương trình nghiên cứu quốc tế thì có 1,2 triệu trẻ em không đến trường; còn Bộ Giáo Dục Đào Tạo thì chỉ có 200,000 thôi; nhưng cả hai đều đồng ý nguyên nhân chính là vì chán học và kinh tế khó khăn.

          Ngô Công Đức (1936 – 2007), dân biểu đối lập thời VNCH, một nhà báo tên tuổi, sáng lập tờ Tin Sáng trước và sau 1975, rồi bị CSVN dẹp luôn năm 1981, trong cuốn Tự Bạch, phổ biến hạn chế viết, Tôi là người ủng hộ Cách Mạng, cảm thấy đau lòng và hối hận trước cảnh khốn khổ của người dân. Quan liêu, tham nhũng, hà hiếp dân có hệ thống mà người ta đổ lỗi cho cơ chế, đã gây tủi hổ cho những ngưòi Cộng Sản chân chính, và tôi cũng hổ thẹn lây vì từng đứng bên cạnh họ. Hai chữ Anh Hùng đã bị bôi bẩn. Thống nhất là một may mắn lớn. Rồi Miền Nam phải rước lấy một chế độ đã từng được áp đặt bao nhiêu thập niên ở miền Bắc, gây nhiều chết chóc đau thương oan uổng, gây nghi kỵ gian dối, gây nghèo đói giữa một dân tộc thông minh và cần cù.

          Tập Tự Bạch 16 trang viết xong ngày 21/11/2006 thố lộ thêm, Nếu không thống nhất đất nước ai quả quyết được miền Bắc không giống như CHDCND Triều Tiên. Người Cộng Sản được sống ở miền Nam đã làm thay đổi suy nghĩ của Đảng Cộng Sản. Công cuộc đổi mới đất nước chính là cuộc giải  phóng miền Bắc khỏi một chế độ đã thất bại từ trước và đưa miền Nam về dần với tính năng động đã có trước đây ở miền Nam. Kết quả hôm nay có được sự đổi mới này, chính là nhờ sực đấu tranh của nhân dân cả hai miền. Đức độ của Hồ Chủ Tịch sao không dạy được cấp dưới noi theo? Hôm nay được nghe lời kêu gọi đoàn kết – hòa hợp. Nhưng đoàn kết hòa hợp thật hay chỉ là sự tiếp nối của lời kêu gọi thiếu lòng thành trong 30 năm qua. Để rồi phải tiếp tục kêu gọi đoàn kết? Ngoài tập này, tác giả còn có Cuốn Hồi Ký, chưa ấn hành.

          Đến Hànội mà không ngồi ở Hồ Hoàn Kiếm và Hồ Tây là một thiếu sót. Nhìn mặt hồ gợn sóng lăn tăn, in bóng hàng liễu rũ cho ta cái thú của một kẻ nhàn du, tha hồ mơ xa rồi lại nghĩ gần. Thủ đô có hai cái đẹp: mấy viên ngọc bích thủy thiên nhiên, in bóng trời xanh mây trắng và buồng phổi của 36 phố phường, mấy hàng cây cổ đại cành lá xum xuê, phủ mát lòng đường. Hồi niên thiếu, tôi thấy Hà nội lãng mạn trong Tự Lực Văn Đoàn, trong các lời ca của các nhạc sĩ năm 54; rồi thấy Hà nội nghèo khổ, thiếu thốn thời bao cấp qua lời kể của người được ra Bắc sau 75 trong đó có nhà tôi; và Hà nội ngày nay, ầm ầm, ào ào, lúc nào cũng chộn rộn. Hai bản nhạc hay về Thăng Long là Giấc Mơ Hồi Hương của Vũ Thành và Mùa Thu Hà nội của Trịnh Công Sơn.

          Một cái thú khác khi viếng Thủ đô, có hơn 1,000 năm lịch sử, khai sinh từ vua Lý Thái Tổ (1009-1028), là bước vào những tiệm ăn uống xưa cũ, bình dân để biết thêm về văn hóa ẩm thực vùng này. Một người quen, anh B. dân Hànội đưa tôi vào quán Cà phê Lâm, ở phố cổ. Thời bao cấp khách hàng quen thuộc của quán là văn nghệ sĩ Hà Thành. Cà phê đen đặc quánh nổi tiếng từ thập niên 50. Ngồi trên ghế gỗ thấp, tôi hình dung sinh hoạt tiệm; nơi treo nhiều tranh cũ từ nửa thế kỷ trước mà tác giả là những họa sĩ đã để lại vì ghiền mùi cà phê của ông. Tôi cũng đã được ăn phở ở phố cổ vừa rẻ, vừa ăn được, hơn hẳn phở trong khách sạn năm sao ngay tại Hà nội; giá 10$ US một tô. Khunày lúc nào cũng tấp nập từ sáng tinh mơ cho đến quá nửa đêm.

          Võ khí mềm: hộ khẩu và cái loa

          Sau ngày 30/4/75, Hà nôi là trung tâm quyền lực của cả nước. Phía thắng ai cũng nôn nao muốn vào Nam để nhận hàng khi thấy từng đoàn xe đầy ắp chiến lợi phẩm chở về Bắc. Trong khi đó, dân miền bại trận muốn được yên thân tìm người để nhận họ hay âm thầm nhào ra biển.
          Nhằm củng cố việc cai trị, CSVN đem vào hai võ khí mềm: giấy hộ khẩu và loa phóng thanh, gắn khắp phường khóm. Giấy hộ khẩu chủ yếu nắm bao tử. Loa phóng thanh định hướng dư luận. Nó còn dùng để phá đạo.
          Nhớ lại, khi viếng chùa Thiên Mụ ngắm cảnh, tìm sự yên tịnh hay tiếng chuông ngân, tôi bị sốc khi nghe từ trong xóm cái giọng Huế nặng nói về công ơn của Bác Đảng. Lải nhải cả ngày kiểu này, Chúa Phật chắc cũng bỏ chùa, bỏ nhà thờ mà chạy huống chi người phàm.

          Rời Hà nội, tôi về miền trung đến Huế qua ngõ sân bay Phú Bài. Phi trường này chẳng được sửa sang gì hơn với thời VNCH. Trong ba ngày ở cố đô, tôi đã có dip thả bộ qua lại nhiều lần hai cầu An Cựu, nơi mà dòng sông nắng thì đục, mưa thì trong và cầu Trường Tiền, sáu vài 12 nhịp. Bao nhiêu nước chảy qua cầu từ dạo ấy mà Huế vẫn vậy, ít thay đổi. Cảnh cũ, đường xưa không khác bao nhiêu. Chỉ có các món ăn là dở đi nhiều; còn đâu bánh khoái, bánh bèo, bánh nậm? Người Huế bỏ xứ đã mang theo hết cả nghệ thuật ẩm thực rồi sao? Sau khi thăm mồ mả bà con trong đó có mộ hai ông cố Phan Tôn, Phan Liêm mà chị Phan Thanh Gia Lai đã thêm chữ quốc ngữ trên hai bia xây từ cuối thế kỷ 18 toàn  chữ nho, tôi đã vào thăm trường Quốc Học.

          Trường xưa nhưng bạn cũ đâu hết rồi? Đường đời vạn nẻo, ai còn ai mất? Nhìn dãy lớp thuở nào, tôi vừa thấy xa lạ vừa thấy thân thương; bồi hồi nhớ lại một thời đã qua. Ngồi lặng cả giờ ở một ghế đá trong sân trường, được thành lập ngày 23/10/1896 theo chỉ dụ của vua Thành Thái, giao cho ông Ngô Đình Khả làm trưởng giáo với tôn chỉ pháttriển giáo dục, đào tạo nhân tài; tôi ở trong trạng thái nhớ nhớ, buồn buồn khi nghĩ tơi một số bạn cùng lứa, cùng lớp và cùng bàn đã ngã xuống trong cuộc nội chiến: Huỳnh Sửa, Huỳnh Sảnh, Nguyễn Khánh, Nguyễn Đức, Hồ Đắc Cung, Hồng Dũ Thiều… và gia đình Trần Như Thông, mất tích khi vượt biên. Tôi đã chán chường khi thấy tượng Nguyễn Tất Thành tức Hồ Chí Minh cắp sách đi học, ngay chỗ cột cờ.

          Tiến sĩ Sử Học Hoàng Ngọc Thành, cưụ học sinh Quốc Học, trong cuốn Công và Tội Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản Việt Nam 1945-2006 Lịch Sử Hiện Đại Việt Nam, in năm 2009 cho rằng, ông Hồ Chí Minh, đã đặt cái không tưởng Xã Hội Chủ Nghĩa trên quyền lợi quốc gia hay lợi ích dân tộc. Ông Hồ Chí Minh có công rất lớn với Liên sô và Trung Cộng nhưng đối với dân tộc VN, ông và đảng cộng sản phạm tộiphản bội tức phản quốc. Cũng vẫn theo Giáo sư sử nhiều trường Đại học ở Saigon trước 75, thường các vụ thống nhất đất nước là có công, nhưng vụ thống nhất VN sau 18 năm chiến tranh 1957-1975 là có tội vì mục tiêu chính là phục vụ Liên
    Sô, Trung Cộng và vì ý thức hệ Cộng

    Sản. Ông Hồ từng khoác lác, tôi dẫn năm châu tới đại đồng.

          Một bạn cũng học ở Quốc học hiện ở Saigon nói quá nhục nhã khi tôi nhắc tới cái tượng và tấm bia ngay ở cổng vào ghi tên các công thần gộc của chế độ. Chế Lan Viên viết: MậuThân 2000 người xuống đồng bằng, chỉ một đêm còn sống có 30, ai chịu trách nhiệm về cái chết 2000 người đó. Tôi! vì những câu thơ tôi làm người ấy xung phong. Năm 1999 Thứ Trưởng Bộ Thương Binh Xã hội Nguyễn văn Quảng cho Đài TruyềnHình Nhật NHK biết có 800,000 đồng chí hy sinh Tết đó. Đến nay, nhiều gia đình vẫn còn tìm kiếm hài cốt người thân. Hỏi ai? Hãy níu áo Võ Nguyên Giáp; ông tướng cầm quân như tay đánh bạc không bao giờ sợ hết tiền. Còn Phạm văn Đồng ký công hàm 14/9/58 về Hoàng Sa, Trường Sa khó thoát tội Việt gian rành rành.

          Dẫn xe tăng CSBV ủi Dinh Độc Lập

          Một kỷ niệm đáng nhớ là đã cùng đồng nghiệp thời VNCH, Nguyễn Vạn Hồng (NVH) đạp xe dọc bờ biển trên đường Hoàng Sa & Trường Sa, từ núi Sơn Trà đến Ngũ Hành Sơn, còn gọi là núi Non Nước. Tôi đạp lạng quạng không hiểu vì ngây ngất trước cảnh trời biển bao la với từng đợt sóng từ xa ùa vào bờ hay vì mùi muối mằn mặn trong không khí và cái lành lạnh ban mai? Làm sao có chuyện một phóng viên Việt Tấn Xã dẫn xe tăng CSBV ủi cổng dinh Độc Lập ngày 30/4/75? Theo NVH, trên đường về làng báo chí đón vợ con, khi đến cầu Thị Nghè thì gặp xe tăng tiến qua; nép vô lề. Vài anh bộ đội trên xe hỏi đường trong đó có sĩ quan Bùi Quang Thận, cầm súng lục bắt dẫn tới dinh Độc Lập. Tôi quay xe chạy trước. Họ theo sau đến cổng rồi ủi vào cửa sắt.

          Sau 75, NVH nổi tiếng với bút hiệu Cung Văn, làm cho tờ Saigon Giải Phóng; hiện còn giữ cờ lệnh xe tăng của sĩ quan Thận. Người quen nói với tôi, vì thấy toàn là dối trá nên NVH bỏ về Đà nẵng, sống nhờ vợ.
          Thành phố này rất phát triển. Chúng tôi viếng Đại Học Phan Châu Trinh, có 1200 sinh viên, lập năm 2007 ở Hội An, một thành phố cổ thu hút du khách nhờ Chùa Cầu, do người Nhật xây từ thế kỷ 17. Tôi gặp nhà văn Nguyên Ngọc, một giới chức của trường, đã có một buổi ăn trưa đáng nhớ bên dòng sông Thu Bồn: món đặc sản cá đối kho dưa gan. Theo nhà văn, cũng là cựu học sinh Quốc Học, cuộc chiến Nam Bắc Mỹ kết thúc đẹp. Có lẽ nhờ vậy, Hoa Kỳ mới là cường quốc; mới là nơi tụ hội của nhiều nhân tài từ khắp năm châu.

    image
          Chùa Cầu, do người Nhật xây từ thế kỷ 17

          Trước khi đưa ra ga xe lửa rời xứ Ngũ Phụng Tề Thi về Qui Nhơn, vợ chồng NVH đã đãi tôi một bữa ăn mì quảng lươn ngon lành. Dù rằng nhà thờ bên ngoại tộc Lê ở Hà nội và bên nội chánh quán ở Bến Tre, và chẳng có kỷ niệm gì về thành phố này, tôi vẫn về đây vì gia đình tôi và mồ mả cha mẹ chị em trước 1945 ở Bình Định. Dịp này, tôi đã không quên đến Ghềnh Ráng viếng Đồi Thi Nhân, nơi an nghỉ rất đẹp của Hàn Mặc Tử. Tuy mất lúc còn trẻ 28 tuổi năm 1940 vì bệnh cùi, ông hãy còn được giới văn nghệ nhắc đến: Đây Thôn Vỹ Dạ, Gái Quê.. Có hai con đường trong hai thành phố Qui Nhơn, nơi trưởng thành, và Đồng Hới – Quảng Bình, nơi sinh ra, mang tên thi sĩ của trăng. Phạm Duy và Trần Thiện Thanh đều có phổ nhạc thơ Hàn Mặc Tử.

          Trong một tháng tôi đã đi từ Nam ra Bắc, rồi vào Trung, đã cùng chị Phan Thanh Gia Lai, thuộc nhánh Phan Liêm đi Bến Tre thăm mộ Phan Thanh Giản, được gặp nhiều bà con bạn bè, được đón tiếp nồng hậu với tình cảm thắm thiết, được thăm viếng nhiều nơi, được ăn nhiều món đặc sản quí hiếm; không hề bị phiền nhiễu gì về giấy tờ, tiền bạc; nhưng tôi vẫn thấy không thể sống hẳn ở VN. Về đây ở mình sẽ như chui vào một cái trại; mà đã lọt vô rọ rồi thì phải ngậm mà nghe. Vả lại, thời gian rồi tôi như cỡi ngựa xem hoa. Rất rất nhiều người nói với tôi rằng, để sống dễ dàng phải tập làm quen với những điều chướng tai gai mắt, phải mũ nỉ che tai. Tôi muốn nói với các ông bà nào, còn vọngbác thì hãy về đây đi anh. Đừng có chân trong, chân ngoài.

          Chư Hầu rồi?

          Chuyến về VN có ba thời khắc chắc tôi nhớ hoài. Đó là một giấc ngủ trưa tuyệt vời, sau bữa cơm chay, nằm trên ghế đá, trong vườn chùa im vắng, dưới bóng mát cây sa la, lơ mơ nhìn trời xanh mây trắng, nghe gió hiu hiu thôi, thỉnh thoảng vọng về tiếng gà gáy nơi xa. Chùa Tuần Chính Thiền Viện nằm giữa một cánh rừng tràm, do Ni Sư Thích Nữ Huệ Niệm trụ trì, xây năm 1986 tại một vùng kinh tế mới thuộc huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Lần thứ hai, ngồi lặng trên ghế đá ở sân trường Quốc Học, vào một buổi chiều âm u buồn, nhớ về một thời đã qua. Lần thứ ba, ngồi ở một quán bên bờ sông Saigon, lúc xế trưa, nghe tiếng còi hụ, nhìn đám lục bình bồng bềnh theo dòng nước đục mà không hiểu rồi nó sẽ tấp vào bến bờ nào?

          Tôi có một anh bạn, hàng năm đôi ba lần về VN bằng tiền nhà, giúp hoàn thành một số dự án hay dạy học và bảo trợ cho nhiều sinh viên sang Mỹ lấy tiến sĩ. Anh du học thời VNCH, hiện là giáo sư của một trường lớn ở Mỹ, có nhiều bằng sáng chế, một hôm tâm sự, nước mình đánh nhau hàng chục năm để rồi chẳng có điểm nào coi được. Tệ như vậynhưng CSVN vẫn thống trị thì tại sao? Theo tôi, về kinh tế, một phần nhờ chín tỷ đô la, hải ngoại gửi cho gia đình ở trong nước. Phần khác, VN ổn định được vì dựa vào hậu phương lớn phía Bắc như bài hát Việt Nam Trung Hoa có từ thời 1960: núi liền núi, sông liền sông, chung một biển đông, chung một ý, chung một lòng, chúng ta sống chung, nghe tiếng gà gáy cùng; muôn năm Hồ Chí Minh, Mao Trạch Đông.

          Thời gian tôi ở VN là thời gian báo chí nói tới sửa đổi Hiến Pháp 1992. Sau hơn 20 năm làm Hà nội xác xơ, rồi sau khi thống nhất đất nước, CSVN để hơn 30 năm cho cán bộ gộc ăn no nê thành tư bản đỏ, giờ mới lập một ủy ban để Tìm Thông Điệp Chung Về Quyền Con Người và Tổ Chức Quyền Lực. Họ bàn tới quyền công dân, vai trò lãnh đạo của đảng, đổi mới chế độ bầu cử. Một người am tường việc này cho tôi biết, chưa chắc Bộ Chính Trị đồng ý với bản dự thảo. Ông tâm sự, ông bị thương khi vào Nam “giải phóng”. Tôi cho ông hay là tôi bị Việt Cộng bắn rớt máy bay. Ông cười: anh em mình bắn nhau. Ông tặng tôi tập san Nhà Nước và Pháp Luật. Tôi hỏi, nếu đảng chịu sửa Hiến Pháp nhưng Trung Quốc không đồng ý thì sao? Ông không trả lời. Như vậy là chư hầu rồì? Ông nhìn tôi, rồi tự nhiên nói: Ngày mai trời lại sáng.

          Đương nhiên, có ngày mai nào cứ tối mãi? Nhưng chừng nào 14 ông vua tập thể của Xã Hội Chủ Nghĩa VN mới sáng mắt sáng lòng không còn đồng hoá chế độ và đất nước; vứt bỏ cái cơ chế lỗi thời lai căng Nga Tàu, do Hồ Chí Minh mang về. Thật khó, khi Bộ Chính trị vì quyền lợi, đồng sàng đồng mộng với Trung Quốc, quyết duy trì ngôi vương. Tuy nhiên, nếu họ tiếp tục hèn với giặc phương Bắc rồi sẽ có ngày người dân ở HồGươm nổi dậy như sóng, ở sông Hương xuống đường như lũ và ở Saigon bừng dậy như hỏa diệm sơn; cho dù CSVN có nêu lên 16 chữ vàng: láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai; và bốn tốt: láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt, để nhờ Trung Quốc cứu cũng không ngăn dẹp nổi.

          Đền bù đất đai không thực tế; luật pháp không minh bạch; xảy ra nhiều bản án oan sai, Luật sư gặp nhiều khó khăn cùng nạn chạy án của thầy cãi. Đó là tình trạng tư pháp ở VN mà tôi được nghe qua trong cuộc trò chuyện tại Saigon với Luật sư Nguyễn Bính Châu, tác gỉả mấy bài báo trên mạng BBC. Ngoài ra, theo tờ Nhà Nước và Pháp Luật, bằng hành vi pháp lý, người ta tạo ra sư hỗn độn của pháp luật. Các khẩu dụ thành quy tắc xử sự có hiệu lực cả bên ngoài cơ quan nhà nước. Ông Châu cho rằng để Pháp Luật không là cây đèn thần khủng bố, VN cần có Dân chủ. Nhưng tôi chắc CSVN không dám thực hiện điều này vì lúc đó họ sẽ hết còn vừa đá banh vừa thổi còi và sợ ông Hồ có trăm tên ngàn
    mặt sẽ bị soi rọi, tênh hênh ra đó thì còn gì nữa đâu?

          Dân ca
    Khmer và Ngậm Ngùi của Huy Cận


          Nhân dịp về VN tôi đã đi Siem Reap viếng Đế Thiên Đế Thích, không xa Saigon. Trên phi cơ rời Tân Sơn Nhất, ngồi cạnh chị Phạm BíchThủy, có cuốn Về Sân Khấu Truyền Thống Khmer Nam Bộ của Sở Văn Hoá tỉnh Sóc Trăng; tôi mượn đọc thấy có mấy câu dân ca Khmer: Lời ru thành ngọn gió đưa; Quạt anh ve vuốt giấc mơ vợ hiền; Chìa tay anh, em gối lên; Xoã ngực anh, mái tóc mềm của em, khiến tôi nhớ đến bài Ngậm Ngùi của Huy Cận: Sợi buồn con nhện giăng mau; Em ơi ! Hãy ngủ. anh hầu quạtđây; Lòng anh mở với quạt này; Trăm con chim mộng về bay đầu giường. Ngủ đi em, mộng bình thường; Ru em sẵn tiếng thùy dương mấy bờ. Thơ Huy Cận in trong Lửa Thiêng năm 1940. Còn mấy câu dân ca của Khmer có từ lúc nào?

          Đế Thiên Đế Thích hay Angkor Wat và Angkor Thom có một quá trình kỳ lạ. Hiện nay nó là một cảnh quan thế giới, thu hút rất nhiều du khách. Trước đó nơi này là chốn trú ẩn của Khmer đỏ, đám quân đã giết hơn hai triệu đồng bào mình. Không ai biết tại sao nó bị bỏ hoang 4, 5, trăm năm để cho rừng cây che lấp. Cuối thế kỷ 19 người Pháp mới khám phá ra phế tích và tìm cách bảo tồn. Theo các nhà khảo cổ những điện chính được xây từ thế kỷ thứ VI và tiếp tục cho đến đời vua Suryavarman II (1113-1150). Công trình kéo dài làm tốn biết bao nhân lực, vật lực nhưng cũng thể hiện nghệ thuật tuyệt đỉnh về chạm, đục, khắc và vẽ hình trên đá của nền kiến trúc Khmer. Tất cả chỉ để làm nơi thờ thần hay tổ tiên của vua chúa; rồi sau trở thành linh đền thờ Phật.

    image 

          Viếng thăm Đế Thiên Đế Thích ngoài việc biết dân tộc Khmer đã có một thời hưng thịnh, có một nền văn minh sáng chói; còn cho thấy đời sống tâm linh của dân tộc nước láng giềng thật kỳ bí bởi các hình tượng thần voi, sư tử, bò, rắn, chạm khắc trong các đền đài đầy huyền ảo; tuy hiện phần lớn họ theo đạo Phật, phái tiểu thừa. Hình ảnh in sâuđậm khác trong trí nhớ du khách là rừng cây hùng vĩ ở nơi này đã có thể nuốt trọn cả đền đài. Có những thân cây cổ đại 3, 4 trăm năm to bự ba bốn người ôm cũng không xuể, cao vời vợi, ngự trên đỉnh tháp với hàng chục rễ trắng nhợt, láng cứng như xi măng, dài hàng chục thước thòng xuống đất, ôm xoắn lấy chân tháp như con bạch tuột đang giữ lấy mồi.

          Phan Thanh Tâm
          Saint Paul, MN.


          (1) Đi với Về cũng một nghĩa như nhau là nhan đề một tập thơ của Du Tử Lê
  • Văn

    Diệp Lan Chu : CẢO THI

    CẢO THI

     

    Tác giả:  Diệp Lan Chu

     

    Lời giới thiệu:   Một người làm thơ trong nuớc gởi ra cho tôi một tập thơ nhỏ, mặc dầu tôi không phải là nhà thơ, chẳng phải nhà văn, cũng không hề quen biết tác giả. Sở dĩ tập thơ đến tay tôi là vì người nhận chuyển đem ra ngoài là bạn tôi. Anh bạn tôi biết tôi đôi khi cũng có viết lách đôi chút nên anh giao lại cho tôi chứ cũng chẳng biết giao cho ai. Theo kể lại, tác giả có năng khiếu về hội họa, sáng tác nhạc, và làm thơ. Cũng được cho biết, Diệp Lan Chu không phải là tên thật của tác giả, mà chỉ nên coi là bút hiệu. Tác giả không muốn tiết lộ tên thật của mình vì lý do riêng tư. Ông đã từng đi tù cộng sản. Ông hiện sống độc thân và rất nghèo. Ý nguyện của tác giả là muốn gởi đến những người yêu thơ nỗi lòng của một người sống mất tự do ở trong nước.  

         Tập thơ viết trên giấy học trò, khổ 8 x 5.8,  gồm hai chục bài thơ thể thất ngôn và tứ tuyệt. Các bạn yêu thơ có thể tư do trích nếu muốn, miễn là không thay đổi câu, chữ, và ghi rõ tên tác giả.

     

    Thay Lời Tựa:

     

         Cỏ rất ít giá trị về mặt thẩm mỹ, nhưng cũng có những loại cỏ đã được đi vào văn học, nghệ thuật.

         Sách Khổng Tử Gia Ngữ có đoạn viết: “Khi ta mới vào chỗ bán cá ưon thì cảm thấy mùi hôi tanh. Ở lâu không còn cảm thấy gì nữa vì ta cũng đã hóa hôi ra rồi. Trái lại, khi ta mới vào nhà có cỏ Chi thì cảm thấy mùi thơm. Ở lâu không còn cảm thấy nữa, vì ta cũng đã hóa thơm ra rồi vậy.”

         Người xưa dùng danh từ “Cảo Chi” để ám chỉ nơi ở của bậc hiền nhân. Trong phần khai đề cuốn thơ Kiều, cụ Nguyễn Du cũng đã viết:

       Cảo thơm lần dở trước đèn

       Phong tình cổ lục còn truyền sử xanh

         Tuy nhiên Cỏ nói chung đâu có được mấy người yêy, lại là thứ mà nhà nông chẳng ai ưa. Tự thấy mình còn thô sơ, nên Diệp Lan Chu tôi lấy nhan đề cho tập thơ bằng hau chữ: CẢO THI. Cảo là cỏ. Thi là thơ. Ý nói thơ đây chẳng khác gia cỏ, và cũng bởi lẽ có những mảnh đời chẳng khác cây cỏ, chôn chân vào nơi khô cằn sỏi đá trong suốt hai mươi năm dài khói lửa, không thể mưu ích cho mình và cho đời, cuộc chiến đó đã cướp mất tương lai, sự nghiệp và tuổi trẻ của bao nhiêu mảnh đời, với những nỗi đau thương, mất mát của hàng triệu gia đình phải lâm vào cảnh cùng cực. Mặc dù cuộc chiến đã lui vào dĩ vãng, nhưng những tiếng ai oán, những giọt nước mắty, những giọt máu con tim vẫn còn lặng lẽ tuôn trào mà chưa có dấu chấm dứt, như tiếng lá vàng vẫn rơi trong những mùa thu, âm thầm, văng vẳng trong gió, tronmg sương, trong sự tuyệt vọng …

         Những vần thơ đơn sơ vương mầu khói lửa của một thời kỳ lịch sử đen tối, như những tiếng gió heo may se lạnh muốn cống hiến khách yêu thơ chút dư âm của mùa trăng bang bạc. Thiết nghĩ những người có tâm hồn, mấy ai lại không có một mùa thu vương vấn?

     

    Tác giả

     

    Mấy bài này được trích trong tập thơ Cảo Thi của Diệp Lan Chu, trên 70 bài, cho đến nay vẫn chưa được xuất bản. Ước mong có sự giúp đỡ của một nhà mạnh thuờng quân để tập thơ nhỏ bé được ra chào đời, nếu có một chút ích lợi cho đời, cho kho tang văn học Việt Nam sau này, thì đó là niềm vui chung của những người thích chơi văn nghệ vậy.

    Tác giả (ký tên)

     

    1.   Khăn Gói Qủa Mướp

     

    Vốn gót phiêu lưu chẳng ngại đường

    Năm tư nhẹ bước biệt quê hương

    Một sớm cuối thu sương gió nặng

    Đèn mờ hiu hắt phố tang thương.

     

    Thôi nhé từ nay giã biệt nhà

    Chẳng còn đèn sách, chẳng ê, a

    Sớm, chiều vắng tiếng trên hè phố

    Vắng cả người thân bóng xế tà.

     

    Tháp cũ, Hồ Gươm, nguyệt nửa vành

    CỔ Ngư, Bách Thảo, vắng chinh xanh

    Liễu buồnsương trắng hoa rơi lệ

    Để lạnh riêng ai phút biệt thành!

     

    Tuổi chưa mười bốn, nước phong ba

    Thế phải tha phương kẻ thiếu nhà

    Rồi lúc mơ về nơi viễn xứ

    Nỗi lòng thầm gơ/I áng mây xa.

     

    (Hồi ký Hànội cuối thu 1954)

     

    2.   Nỗi Niềm Heo Đất

     

    Heo đất ngày xưa vốn cổ phong

    Xuân đến, xuân đi chẳng đổi lòng

    Vẫn mầu hiền hậu như năm cũ

    Vừa thơm, vừa sạch cả bên trong.

     

    Heo đất mẹ cho nói những gì

    Dậy con tiết kiệm để phòng khi

    Sa cơ, lỡ bước không cầu lụy

    Mưa nắng cuộc đời ai chắc chi

     

    Tình yêu của mẹ để trong nôi

    ấp ủ con thơ thuở thiếu thời

    Khi nhìn kỷ niệm ngày thơ ấu

    Lặng lẽ đong đầy nước mắt rơi

     

    3. (đoạn cuối bài): Người Cùng Phố

     

    Đường đời đôi ngả cách tình thân

    Chiếc bóng thời giantiếc bội phần

    Xui chi một giấc hoàng lương để

    Canh cánh bên lòng kẻ cố nhân.

     

    4.   Em Bé Bán Vé Số

     

    Đường phố lang thanh dưới bước em

    Sớm chiều mưa nắng vị tình quen

    Chả thèm ấp ủ bàn tay mẹ

    Thân phận chào đời trúng số đen.

     

    Tối ngủ công viên ngựa, hổ chầu

    Hỏi đời thân thế mấy ai đâu

    Gối đá mơ màng chơi điện nguyệt

    Bình minh chim hót vểnh tai trâu.

     

    Kim qui lót dạ sáng đi cầy

    Thường bữa cơn cần chẳng kém Tây

    Khách sạn là hiên chơi thoải mái

    Nhất kông dám quấy, nhị không rầy.

     

    Tay không có cửa gõ thần tài

    Số đỏ cầm rao bán những ai

    May mắn bỗng nhiên thành triệu phú

    Em thì hè phố sống lai rai.

     

    5.   Mầu Sắc Quê Hương

     

    Y phục Việt Nam tự thuở xa

    Tha thướt b^n trong lụa nõn nà

    Hồn quê một bước thêm mườinhớ

    Đi đâu chẳng lộn áo dân ta.

     

    Dáng vẻ áo dài đẹp biết bao!

    Tôi yêu mầu áo tự hôm nào

    Mầu của thân yêy tình đất mẹ

    Bốn mùa phơi phới nét thanh cao.

     

    Xa thì nhung nhớ, ở thương thương

    Hình bóng trong tôi nỗi đoạn trường

    Trênbước tha phương, sầu viễn xứ

    Áo còn gợi lại nhớ dư hương.

     

    Nhớ mãi dáng em áo trắng ngần

    Như hoa mới nở bướm vườn xuân

    Trải bao biến đổi đời nhân thế

    Dưới bóng thời gian vẫn tuyệt trần!

     

    6.    Bức Vẽ Trăng Rừng

     

    Chân đồi sim tím suối trăng pha

    Sơn nữ mảnh maid a trắng ngà

    Khép nép mơn hoa trong gió nhẹ

    Mơ màng tưởng nhớ bóng ai xa

     

    Thiên nhiên đạt bút nhờ tay quen

    Đường cong tuyệt mỹ mấy khi quên

    Chỗ núi, non, khe đều nhớ cả

    Hở thì tô trắng, kín bôi đen.

     

    7.   Tự Vẽ Chân Dung

     

    Mặt mũi chưa tô, chấm phá mờ,

    Con gì chẳng giống tóc lơ thơ

    Mực tím vô duyên, tình giấy mỏng

    Hóa thằng há hốc, mắt lơ mơ.

     

    Chiều tan trường học em săng chơi

    Trong lúc mình đang mải vẽ vời

    Em hỏi: “Vẽ chi vung vít thế?”

    Mình bennói đại: “Vẽ ma trơi!”

     

    8.   Mùa Xuân Ly Tan

     

    Bên chồi lan thắm đá xanh vân

    Đẹp tựa bài thơ có điệu vần

    Như tin mai nở xuân về bến

    Thoát áo đông phong để trắng ngần.

     

    Tấm thiệp mừng xuân nét vẽ sơ

    Lâu lắmthời gian xóa chủa mờ

    Mầu thương, mầu nhớ, mầu hy vọng

    Mầu của mùa hoa đang ước mơ.

     

    Bỗng đâu mây tím phủ ngang trời

    Nước xanh pha máu lạnh lùng trôi

    Xuân đến,rồi đi trong lửa khói

    Là mùa ly biệt tuổi đôi mươi

     

    9.   Cá Sấu Giả Hình

     

    Vốn ở hồ nông, chỗ vũng lầy

    Ăn người rồi khóc giả làm ngây

    Gớm thay thủ đoạn loài cầm thú

    Nước mắt gian tà mấy kẻ hay!

     

    10.  Lên Đường

     

    Tôi lên đường vấn vương ý chí

    Dẹp bút nghiên bỏ phí cuộc đời

    Thế thời, thời thế ai ơi!

    Nhìn xem phong cảng nghẹn lời nước non!

     

    Dù xẻ núi e gì gián khó

    Ngại lá vàng rách áo lung lay

    Tư phong nào khác tù đầy

    Mồ chôn hy vọng, những ngày, ngày xanh.

     

    11.  Bán Vầng Trăng Khuyết

     

    Sen cỗi hồ thu nước nủa vời

    Trong vườn xơ xác lá hoa rơi

    Ngựa Hồ, chim Việt cùng ta bán

    Một nửa trăng xưa vẫn cuối trời.

     

    Chỉ mình chiếc bóng với sao khuê

    Vì nửa trăng đi chẳng trở về

    Ta đã cầmlòng chò đợi mãi

    Cam đành héo hắt với sơn khê!

     

    12.  Chuyến Đò Chiều

     

    Mây xám giăng giăng phủ sắc vàng

    Mầu chiều tô đậm bóng đò ngang

    Vạc kêu sương sớm mơ màng liễu

    Cô khái buồnhiu đợi khách sang.

     

    Thôi thế là thôi bến vắng rồi

    Bên bờ sông Dịch chỉ riêng tôi

    Cùng người duyên dáng hôm nào ấy

    Lâu ngày gặp lại, lại xa xôi.

     

    Ra đi một dạo mấy thu rồi

    Khi qua bến ấy cảm tình tôi

    Chinh khách bụi đường nơi chiến địa

    Ngày về không hẹn tiếc nhau thôi.

     

    Nào ngờ lại có buổi chiều nay

    Bến cũ, đò xưa vẫn thế này

    Mầu áo chinh nhân chưa giũ sạch

    Hậnđời khôn tỏ lúc chia tay!

     

    13.   Dòng Sông Ly Biệt

     

    Em biết rằng em chẳng có duyên

    Cùng anh kết mối một con thuyền

    Bây giờ mộng đẹp chia hai lối

    Để lại trong lòng chuyện khó quên!

     

    Lặng lẽ nhìn anh chẳng nói gì

    Thì ra không nỡ nói chia ly

    Phải chăng giấc điệp đêm xuân mộng?

    Hay là hờn dỗi dắt em đi?

     

    Anh vô tình quá có ngờ đâu

    Trời đất xoay vần cuộc bể dâu

    Trăng đem tâm sự thành vô nghĩa

    Trăng gió đong thêm nặng gánh sầu!

     

    Tôi, nàng cách tở một con sông

    Hai chiếc lá trôi nước ngược dòng

    Sóng dạt lênh đênh thuyền mỗi ngả

    Thế là không bến, thế là xong!

     

    (Saigon những ngày đen tối 1966)

     

    14.  Nười Đi Không Trở Lại

     

    Anh lớp người trai nợ gió sương

    Mới viề cưới vợ vội lên đường

    AQuê hương máu lửa trời tang tóc

    Khiến kẻ cô phòng nặng tấm thương

     

    Đóa hoa biết nói dáng xinh xinh

    Môi mọng, cười duyên, mắt ngụ tình

    Hai má non non mầu mận chín

    Tóc thề thơ trẻ nét đoan trinh.

     

    Vợ hiền mòn mỏi những đêm dài

    Một sớm tin chồng đã tái lai

    Trang điểm phấn son chờ đợi đón

    Người đi sao lại chiếc quan tài?!

     

    Ngày tái lai thế thôi là hết!

    Nỗi đau này hoa chết mầu tươi

    Từ đây tắt hẳn nụ cười

    Thương vành tang trắng, tiếc người ng`n thu.

     

    ( Saigon mùa mưa 1964, nhớ những người

    bạn thân đã hy sinh.)

     

    15.  Hòa Bình Hỡi Ơi

     

    Hòa bình ơi hỡi hát vang vang

    Tháp canhngơ ngác ngọn cờ Vàng

    Tướng sĩ mất đầu nan tiến thoái

    Chưa tỉng Nam Kha Mỹ chạy làng

     

    Núi sương, sông máu chẩy về đâu?

    Nâng chén ly tan Quốc hân sầu

    Chiến địa oán than hồn tử sỹ

    Ngàn đời bia đá một niềm đau.

     

    (Saigon Đông Xuân 1973)

     

    16.  Thần Tượng

     

    Người là thần tượng của em thôi

    Nhờ em tô vẽ mới lên ngôi

    Là thần tượngđể em sùng bái

    Nắm nót tha hồ chớ điểm môi

     

    Tượng thần xem trước chớ xem sau

    Cứ đứng xa xa kẻo nhỡ tầu

    Kẻo tượng tan ra thành cát bụi

    Hiện hình chó sóikhiến em đau.

     

    17.   Thất Thế

     

    Đống chữ vào đời, chữ phất phơ

    Chữ ngu không học hóa ngây thơ

    Thẹn mặt sách đèn đau chiến cuộc

    Hổ danh khói lửa thất thời cơ

    Phải chi đừng muốn làm người thật

    Nửa ngợmngây ngô chẳng bến bờ

    Non nước người xưa đâu mất cả?

    Ai người cám cảnh ngợm còn mơ!

     

    Nghĩ mình xôi hỏng bỏng không xu

    Cuộc trần lỗ vốn lấy chi bù

    Lắm lúc đã toan qui Phật – Chúa

    Sợ đời ngứa miệng: “đĩ già tu!”

     

    18.  Cuộc Đời Buồn

     

    Đời buồn đeo đẳng dứt không ra

    Chẳng đội trời chung với nó mà

    Quẳng gánh rầu đi nào có được

    Vì thằng giặc gớm sống trong ta!

     

    19.  Xuân Ư

     

    Lại xuân mơi mới đến rồi ư?

    Bảo ai rằng mới mấy ai ừ

    Phố xá lèo tèo, xe chật đất

    Nhởn nhơ lũ ngọm, bố tiên sư!

    Tiết xuân gió trướng xơi gà cúm

    Chúa tể sơn lâm cũng bỏ xừ

    Xem ra chó, chó ngon lành nhất

    Gì gì cũng nhậu, chẳng gì từ.

     

    20.  Vịnh Chiếc Lá Thu

     

    Thu sang chiếc áo biệt mầu xanh

    Mỗi lúc gần thêm chỗ rụng cành

    Sương trắng vô tình đâu xá kể

    Lá vàng trước gió, lá monh manh.

     

    Sương thu nhỏ giọt đếm từng canh

    Đợi gió heo may tiễn biệt cành

    Đi vào cát bụi, quay về đất

    Là chỗ sinh chồi chiếc lá xanh.

     

    Xanh lá thu sang biệt sắc mầu

    Tóc đen điểm bạc mỗi xuân sau

    Trăm tuổi, sáu mươi đời được mấy?

    Con người, chiếc lá khác chi nhau!

     

     

     

  • Văn

    Trần Mộng Tú : THƠ ĐÊM BA MƯƠI THÁNG TƯ

     

                               THƠ ĐÊM BA MƯƠI THÁNG TƯ

     

                                   – Gửi Trùng Dương

     

     

                       Anh ạ, hôm nay ngày ba mươi

    ngày muốn quên mà đêm vẫn nhớ

    người bạn từ xa xin em một bài thơ

    cho cây nhang chị thắp trên bàn thờ Phật

    cây nhang uốn tàn cong xuống tháng tư

    chắc chị muốn em tặng một bài thơ biết khóc

     

    Nhưng nước mắt em đã từ lâu trong suốt

    những vết thương như vết cắt trên cây

    trong hủy diệt tìm mầu xanh trở lại

    tâm hồn em đã chìm trong niềm hòa giải

    em nhìn xuống thương đau như nhìn xuống trang kinh

                                      ba mươi lăm năm em không đánh mất tên mình

    dù ai đã gọi em bằng những tên rất lạ

    em là bạn hay em là thù vẫn là em cả

    vẫn một em với ngơ ngác da vàng

    vẫn một em mãi mãi Việt Nam

    làm sao mình đổi được quê hương anh nhỉ

     

    Ba mươi lăm năm mình đã bao lần lau khô mắt lệ

    bị chính giống nòi ngun ngút hận thù

    pho sử nào máu thấm đến thiên thu

    mà ta chỉ có một trang đời để sống

     

    Lòng như sông hiền muốn làm hòa với sóng

    em đứng đây hòa giải với đất trời

    hòa giải với ngàn ngàn giọt lệ đã rơi

    em tha thứ và cầu xin đất trời cùng tha thứ

    ngọn nến nào lung linh bàn thờ Chúa

    nén nhang nào dưới chân Phật tàn cong

    trang kinh thơm em trải xuống giữa lòng

    thấm vết cắt thôi không còn chẩy máu.

     

                                      tmt – Đêm 30/4/2010

                                      Trần Mộng Tú

  • Văn

    Ngọc Bích : Khóc bạn Trưng Vương :

    Khóc  bạn Trưng Vương :
    Lương thị Nghệ Vừa giã từ cõi tạm

     
     Đêm qua tôi ngủ bỗng nằm mơ
    Chợt thấy trường mình với bạn xưa
    Áo trắng một thời vui thuở ấy
    Sân trường bao sáng nắng chiều mưa
     
    Nằm mơ mà bỗng lòng nghe lạnh
    Tuổi vàng mây trắng mộng còn xanh 
    Bỏ lại  thời xưa hồi kẹp tóc
    Tiếc thời trung học thuở Trưng Vương
     
    Chiêm bao mà .. thấy lại buồn hơn
    Bạn cũ giờ đây kẻ mất còn
    Đầu ngõ chợt nghe tin bạn đã…
    Bỏ lại chồng con, bạn hữu luôn
     
    Tin  bạn ra đi,  thật rất buồn
    Qua làn hương mỏng nỗi cô đơn
    Bạn nằm chốn ấy đâu còn biết
    Tôi đứng đây mà nước mắt tuôn
     
    Bạn biết không? Tôi chỉ  kịp nghe…
    Tin rằng …bạn mới mất đêm kia
    Sau khi bạn mất, còn chi nữa ?
    Áo trắng Trưng Vương ngập  lối về
     
    Tiễn bạn lại nghe thương với tủi
    Bạn mất bao nhiêu đứa ngậm ngùi
    Bảo với nhau …còn thương nhớ mãi
    Lá vàng, lá rụng trước sau thôi
     
    Bên một hàng cây dưới góc trời
    Chiều nay lá rụng lẫn hoa rơi
    Trường  cũ bạn xưa còn , vẫn dấy
    Đứng lặng đây cùng nhớ Nghệ thôi !!!
     
     Các bạn Trưng Vương còn đứng lại bên nhau
                             và Ngọc Bích

     

  • Văn

    Hạo Nhiên T.T.Ngữ : Nhớ Sài Gòn

    NHỚ SÀI GÒN                 

    Thôi rồi Sài Gòn trơ trọi thành cũ
    Bạch Đằng ngơ ngẩn ngàn năm
    Nguyễn Huệ bẽ bàng muôn thuở
    Đô thành yêu dấu từ nay biệt dạng xa xăm
    Trăng chẳng về phố thị
    Gió không lộng Chương Dương
    Mà Lê lợi từ độ Hạ sang
    Vắng bóng mãi những chàng trai thuở trước
    Anh bạn ơi Sài Gòn xa mấy nước
    Nhớ nhung xa còn quyến ánh trăng thề
    Hơi sương lạnh mơ hồ mùa dĩ vãng
    Sài Gòn ơi từ nay bao xa vắng
    Thoảng hơi Thu còn vẳng tiếng oan hờn
    Tiếng chuông Xá Lợi hững hờ
    Buông theo cô tịch những giờ hoàng hôn

    Nơi đây tha phương ta quay về nước Việt
    Chờ ánh trăng lên ta mài kiếm sắc
    Dốc lòng xây lại trời Nam
    Thành đô rực ánh trăng vàng
    Bạch Đằng tung kiếm giang san dựng cờ

    Gió dâng khúc nhạc thanh bình ấy
    Trăng rọi trời xanh khóm lá xanh
    Anh bạn già ơi anh có thấy ?
    Nguồn vui tràn ngập cả kinh thành

      @@@@@

    Hạo Nhiên T.T.Ngữ
    ( Trích thi tập Những Bài Thơ Hay Nhất xb 1982 )

  • Văn

    Trần Văn Lương : Hãy Chụp Giùm Tôi.

    Đừng khoe tôi . . . .
    Những hình ảnh mà kẻ thù toan tính
    Muốn tung ra để cố phỉnh gạt người
    . . . . .
    Lòng người chóng nguôi ngoai
    Tháng Tư đến, có mấy ai còn nhớ !
    Nguyễn Trọng Dzũng


    Kính gửi đến quý anh con cóc cuối tuần đầu tháng Tư đen.

    Dạo:
            Mây đêm kín lối quay về,
    Ánh đèn sặc sỡ, biết quê chốn nào.

    Cóc cuối tuần:

            Hãy Chụp Giùm Tôi

    Đừng khoe tôi, hỡi người bạn tài hoa,
    Những tấm ảnh mang ra từ địa ngục,
    Nơi bạn mới về rong chơi hạnh phúc,
    Dù bao người vẫn tủi nhục xót xa.

    Đừng khoe tôi hình ảnh một quê nhà,
    Mà bạn nghĩ đang trên đà "đổi mới",
    Những thành thị xưa hiền như bông bưởi,
    Nay bỗng dưng rã rượi nét giang hồ.

    Đừng khoe tôi những cảnh tượng xô bồ,
    Những trụy lạc giờ vô phương cứu chữa.
    Đất nước đã từ lâu không khói lửa,
    Sao rạc rài hơn cả thuở chiến chinh.

    Đừng khoe tôi những yến tiệc linh đình,
    Những phố xá ngập phồn vinh giả tạo,
    Nơi thiểu số tung tiền như xác pháo,
    Khi dân nghèo không muỗng cháo cầm hơi.

    Đừng khoe tôi cảnh tụ họp ăn chơi,
    Của những kẻ đã một thời chui nhủi,
    Bỏ tất cả, trong đêm dài thui thủi,
    Ngược xuôi tìm đường xăm xúi vượt biên.

    Đừng khoe tôi những con phố "bưng biền",
    Những quảng cáo, những mặt tiền nham nhở,
    Những khách sạn ánh đèn màu rực rỡ,
    Trơ trẽn bày, dụ dỗ khách phương xa.

    Đừng khoe tôi chốn thờ phượng nguy nga,
    Những dinh thự xa hoa nằm choán ngõ,
    Những màu sắc lam, vàng, đen, tím, đỏ,
    Đang uốn mình theo gió đón hương bay.

    Đừng khoe tôi ảnh Hà Nội hôm nay,
    Thành phố đã chết từ ngày tháng đó,
    Khi bị ép khoác lên màu cờ đỏ,
    Khi triệu người phải trốn bỏ vô Nam.

    Đừng khoe tôi những cảnh tượng giàu sang,
    Đã được bạn tóm càn vô ống kính,
    Những hình ảnh mà kẻ thù toan tính,
    Muốn tung ra để cố phỉnh gạt người.
                            x
                        x      x
    Bạn thân ơi, sao không chụp giùm tôi,
    Nỗi thống khổ của triệu người dân Việt,
    Nửa thế kỷ trong ngục tù rên xiết,
    Oán hờn kia dẫu chết chẳng hề tan.

    Chụp giùm tôi đàn thiếu nữ Việt nam,
    Thân trần trụi xếp hàng chờ được lựa,
    Hay bầy trẻ mặt chưa phai mùi sữa,
    Bị bán làm nô lệ ở phương xa.

    Chụp giùm tôi đôi mắt mẹ, mắt cha,
    Mà suối lệ chỉ còn là máu đỏ,
    Khóc con cháu ra đi từ năm đó,
    Biển dập vùi, đà tách ngõ u minh.

    Chụp giùm tôi số phận những thương binh,
    Đã vì nước quên mình trên chiến trận,
    Mà giờ đây ôm hận,
    Tấm thân tàn lận đận giữa phong ba.

    Chụp giùm tôi hình ảnh những cụ già,
    Bọn đầu nậu gom ra đường hành khất,
    Để đêm đến, nộp hết tiền góp nhặt,
    Đổi chén cơm dầm nước mắt nuôi thân.

    Chụp giùm tôi xác chết những ngư dân,
    Bị Tàu giết bao lần trên biển rộng,
    Hay những chiếc quan tài chưa kịp đóng,
    Chở cha, anh lao động Mã Lai về.

    Chụp giùm tôi thảm cảnh những dân quê,
    Chịu đánh đập chán chê dù vô tội,
    Hay cảnh những anh hùng không uốn gối,
    Gánh đọa đày trong ngục tối bao la.

    Chụp giùm tôi mốc biên giới Việt Hoa,
    Lấn vào đất của ông cha để lại,
    Hay lãnh thổ cao nguyên còn hoang dại,
    Lũ sài lang hèn nhát lạy dâng Tàu.

    Chụp giùm tôi những nghĩa địa buồn đau,
    Chúng tàn phá, chẳng còn đâu bia mộ.
    Kẻ sống sót đã đành cam chịu khổ,
    Người chết sao cũng khốn khó trăm đường.
                              x
                          x      x
    Hãy chụp giùm tôi hết những tang thương,
    Hình ảnh thật một quê hương bất hạnh,
    Nơi mà bạn, xưa đêm trường gió lạnh,
    Đã căm hờn quyết mạnh dạn ra khơi.

    Chiếc thuyền con, ca nước lã cầm hơi,
    Mạng sống nhỏ đem phơi đầu sóng dữ.
    Rồi tha phương lữ thứ,
    Tháng năm dài, quá khứ cũng dần phai.

    Lòng người chóng nguôi ngoai,
    Tháng Tư đến, có mấy ai còn nhớ!

                Trần Văn Lương
      Cali, đầu mùa Quốc Hận, 2010

  • Văn

    Thanh Sơn : Hoa Kinh …. Giờ Thiêng Đã Diểm

    HOA KINH 

     

     
     
     
     
    Tháng Hoa ngày đó Quê Nhà
    Tiếng chuông năm nọ ngân nga Giáo Đường
    Ngày ngày chăm sóc ruộng nương
    Chiều chiều dâng Mẹ hoa hương ngọt ngào

    Mẹ ơi! Con nhớ năm nao
    Giáo đường chiều đến ngọt ngào hương kinh
    Xóm làng xum họp quanh mình
    Quây quần trên dưới gia đình an vui

    Thế rồi một cuộc ngậm ngùi
    Tháng tư giặc đến chôn vùi Quê Hương
    Bao người tù tội thảm thương
    Cha xứ chúng bắt, ruộng vườn chúng thâu

    Việt Nam cả một trời sầu
    Nhiều người đã phải xuống tầu vượt biên
    Ma-ri-a Mẹ dịu hiền
    Xin Mẹ đưa tới đất liền bình yên

    Dưới thuyền khấn hứa liên miên
    Bây giờ trên mảnh đất liền Mỹ-Âu
    Bao người còn nhớ lời cầu
    Những đêm vượt biển Mẹ bầu chữa ta

    Bao nhiêu năm đã trôi qua
    Có gì dâng Mẹ làm qùa cho xinh
    Con xin kết nụ câu kinh
    Dâng về Mẹ chốn thiên đình cao xa

    Tháng năm dâng Mẹ tràng hoa
    Chuỗi hồng tươi thắm làm qùa yêu thương
    Nhẹ nhàng huyền diệu thơm hương
    Bay lên mãi tận Thiên Đường cao sang

    Mẹ trên cõi phúc Thiên Đàng
    Xin Mẹ giữ lấy xóm làng quê con.
    Quê nhà giáo hội héo mòn
    Chúng con dâng Mẹ vuông tròn Mẹ ơi !

    Xin cho thoát ách tội đời
    Thái bình thịnh trị nước trời an vui.

    Thanh Sơn

    http://chaobuoisang-ts.blogspot.com/

     
     
     
      
    GIỜ THIÊNG ĐÃ ĐIỂM
     

     
     
    HÃY      mau cứu lấy QUÊ HƯƠNG
    MAU     hô thật lớn ta thương Nước Nhà
    CỨU     mau kẻo mất Sơn Hà
    LẤY      lại nhân phẩm sống ra anh hùng
    QUÊ     Hương đất nước của chung 
    HƯƠNG thơm vang tiếng từ Hùng Vương xưa
     
    GIỜ       sao tà cộng làm bừa
    THIÊNG hồn sông núi chúng đưa dâng Tầu.
    Đà       đến giờ hô vang câu
    ĐIỂM    mặt những đứa đầu lâu đê hèn
    XUỐNG đường dẹp hết đêm đen
    ĐƯỜNG đi Dân Chủ HOA SEN ngợp trời
    VÙNG    lên hô lớn khắp nơi
    LÊN       đường đòi lại cuộc đời Tự Do
     
    ĐẢ        đảo tà cộng thật to
    ĐẢO      biển chúng bán hết cho Tầu rồi
    CỘNG    nô là một lũ tồi
    SẢN      sinh ra một bầy tôi mọi người
    VANG    danh tội ác đầy trời
    RỀN      rền giết hại khắp nơi tầy đình
     
    TỰ        mình cứu Tổ Quốc mình
    DO       dự sẽ mất quang vinh ngàn đời
    DÂN     Chủ đang đến sáng ngời
    CHỦ     quyền lãnh thổ từ thời Hùng Vương
    LÀM     nên đất Việt hùng cường 
    NỀN     Dân hô lớn trên đường thất to!
    QUÊ     Hương Dân Chủ Tự Do
    HƯƠNG SEN thơm ngát thơm tho thanh bình
     
    29.04.2011 Thanh Sơn
     
  • Văn

    RUỘT ĐAU QUÊ MẸ (Chương Khuê)

    RUỘT ĐAU QUÊ MẸ

    Chi
    ều chiều ra đứng cửa sau
    Trong về quê mẹ ruột đau chín chiều

     (Ca dao)

      ly hương suốt hơn nửa thế kỷ chưa một lần quay về, tôi không nhớ xuể lòng mình đã mấy nhiêu bận trĩu nặng lời ca dao …Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều. Nhưng lần này trông về quê mẹ Vinh với  biến cố Xứ ĐạoTam Toà, ruột tôi đau thắt như thể…không biết bao nhiêu chiều.

    Chiều nay, ngày 15 tháng 8 năm 2009, không may mắn như người thiếu nữ lấy chồng xa, “chiều chiều ra đứng cửa sau”: nhà chồng dù có xa mấy, cũng là trên dãi đất quê mẹ cô, dễ dàng nối liền bằng một chuyến đò dọc, hay một chuyến đò ngang, một quảng đường làng. Còn tôi đang trong một ngôi giáo đường vùng Bắc Mỹ, thành phố Seattle, tiểu bang Washington xa cách nước Việt mến yêu nửa vòng trái đất với cả một đại dương, biểnThái Bình, để cùng dăm bảy chục đồng hương lạc lỏng đất khách cầu nguyện cho quê mẹ Vinh đang trong cơn bách hại do đám mang danh người đồng chủng.

    Cô lấy chồng xa đứng đó hình dung, mường tượng những hình ảnh thân thương, khuôn mặt mẹ cha, anh chị em, bạn bè, ao cá, liếp rau, bờ tre,  bụi chuối, mé sông, đường làng …và bao điều khác nữa. Những gắn bó thân thương làm nên một phần đời cô vừa bỏ lại, nhưng tất cả đều còn đó, trong bình yên. Chỉ xa cách, và trong nỗi nhớ nhung “trông về” không thôi cũng đã khiến cô ruột đau chín chiều.

    Tôi mang tấm thân lưu lạc xứ người, qùy đây nhìn lên màn hình, cảnh những giáo dân Tam Toà bị vây khổn, đánh đập bởi những người công an, tựa đàn chiên cừu giữa bầy lang sói. Những đồng bào tôi mặt mày lênh láng máu me, môi mắt sưng vù, đầu, tay băng bó. Tại họa không phải do phường trộm cướp bọn côn đồ, mà do nhà chức trách đương quyền tỉnh Quảng Bình gỉa dạng bọn côn đồ phường trộm cướp, vì cái “tội” đồng bào tôi đã đến dựng tạm cái láng  lều làm nơi thờ phượng Chúa trên sân ngôi giáo đường đổ nát do bom đạn chiến tranh mà họ sở hữu đã 122 năm nay, từ năm 1887, trước khi ông Hồ Chí Minh chào đời.

    Tôi nhoè mắt, và ngỡ rằng mình đang bị bàn tay vô hình nào kéo giật ngược về quá khứ xa xăm, thời tiền sử hồng hoang. Không phải. Thuởi man di mọi rợ, loài thú giết nhau ăn thịt nhau vẫn hiên ngang đường đường chính chính chứ không dở trò ném đá dấu tay.Hay ai đã đưa tôi đến một hành tinh khác trái đất nàỵ? Cũng không phải nốt..Phía trên màn hình, tượng Chúa bị đóng đinh vẫn còn đó. Đây vẫn là trái đất có quê mẹ của tôi đã một thời trãi qua kinh hoàng của “Cải Cách Ruộng Đất” đẩm máu oan khiên, thời con cái được “giáo dục” để đấu tố mẹ cha, trẻ thơ bập bẹ tiếng đầu lòng không được “ba ba, má má, mẹ mẹ”, mà phải là “Xít ta lin”, ông mắt xanh mũi lỏ râu quặp xa tít mãi nước Nga; tình cảm thì “thương cha thương mẹ thương chồng thương mình “ cộng lại cũng chỉ được một phần mười “thương ông” Xít chết; Đây vẫn là trái đất với giáo xứ Tam Toà rõ ràng có ông Phó chủ tịch Tỉnh Quảng Bình Trần Công Thuật giàn cảnh đưa linh mục  Ngô Thế Bính đến thăm linh mục Nguyễn Đình Phú bị đánh trước đó đang nằm ở trạm xá rồi bỏ đi cho bọn côn đồ bố trí sẵn xông vào đánh 2 giáo dân đang trực cha Phú và đánh cha Bính lỗ  đầu, bầm mắt, văng răng, gãy tay.

    Không phải là ác mộng, mà là hiện thực quê mẹ tôi đang quằn quại dưới vuốt nanh loài qủy Đỏ hung hãn hơn cả tại cái nôi sinh ra chúng, Liên Xô cũ. Ruột tôi càng thắt càng vò khi nhìn ngược dòng lịch sử, quê mẹ tôi nhờ Ân sủng Trời đã kết tụ được những tinh hoa của hồn thiêng sông núi. Những tiên sinh mà ngày nay chỉ cần nhắc đến tên đã sáng ngời niềm tự hào chung cho cả dòng giống Lạc Hồng. Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Trường Tô, Nguyễn Biểu, Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu, Cao Thắng,  , sáu vị thánh tử đạo và đặc biệt trong hàng ngũ chống thực dân Pháp có anh hùng linh mục Đậu Quang Lĩnh, người làng Yên Phú, xứ Thọ Ninh, Đức Thọ.

    Nhưng oái oăm thay có phải vì lẽ bù trừ mà cũng chính từ vùng “địa linh nhân kiệt” này , làng Kim Liên, Nam Đàn đã nứt đât ra con Hồ ly tinh biến hóa thành một bầy “cháu ngoan” đang tác oai tác quái đưa giang sơn xứ sở đến bờ tiêu vong.

    Quê mẹ tôi cùng chung số phận của cả dân tộc và đất nước qua bao thời kỳ đau thương.” Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu; một trăm năm đô hộ giặc Tây” và những năm dài nồi da xáo thịt, huynh đệ tương tàn. Nhưng chưa bao giờ đất nước và dân tộc Việt Nam tôi bị đổ vỡ tang thương nhục nhã mất mát như hiện tại dưới sự thống trị của tà thần có tên Cộng Sản du nhập bởi đứa con phản tặc xuất thân từ hạ lưu sông Lam xứ Nghệ.

    Giữa hoang tàn đổ nát truyền thống dân tộc, đạo lý cha ông, non sông, biển đảo tổ tiên, hào khí Hồng Lạc suốt toàn cõi từ Bắc chí Nam giang sơn một thời gấm vóc, tôi lầm lủi thu mình trông về quê mẹ Vinh nơi giáo xứ Tam Tòa nhỏ bé.

    Nơi sân nhà thờ ấy các linh mục chỉ rao giảng cho giáo dân Sứ Điệp Tin Mừng Tình Thương, Hòa Giải và Sự Sống , sao các người Cộng Sản lại sợ hãi đến nỗi phải ra tay hành động tàn độc với họ hơn cả loài dã thú như vậy ? …

     

    Hỡi nhà cầm quyền ở Hà Nội và tỉnh Quảng Bình, các người chỉ cần tự hỏi : Ai đang chăm sóc hầu hết những người cùi phong của cả nước? Ai đang cứu tế những thành phần khốn khó bị bỏ rơi bên lề xã hội Việt nam? Ai đang lặn lội đường rừng để cứu đói, chữa bệnh nan y cho những người thiểu số vùng cao ?  Ai đang đêm đêm đi bới móc lục lọi từng thùng rác để gom thây hay có khi cứu sống những thai nhi bị tước đọat quyền làm người ra khỏi bụng mẹ? Ai đang trong âm thầm xoa dịu những đau thương sau cuộc chiến? Ai đang nhắc nhở làm người chẳng những phải sống lương thiện mà cò phải thương yêu tha nhân như chính bản thân ? Ai đang báo động họa Bauxite Tây Nguyên, họa Biển Đông ? Ai đang dạy dỗ có hiệu quả tốt đẹp nhất các trẻ nhỏ tại các trường Mầm Non mà chính nhiều dảng viên CS cấp cao ở thành thị đã và đang gửi gắm con cháu họ ? Và chắc chắn các ngưới đã không thấy một linh mục, một giáo dân nào hô hoán, “Giết, giết, giết cho ruộng đồng xanh tươi”. 

    Ơi người thiếu nữ lấy chồng xa trong ca dao thuở nào, hẵn cô đã có được ít nhất một lần về lại quê mẹ, và mọi sự đều êm đềm đẹp đẽ như cô mường tượng ngóng trông những chiều chiêù từ cửa sau nhà chồng. Thuyền đưa cô về vẫn êm ả trên sông nước hiền hoà. tình quê vẫn lai láng ngọt ngào chân chất, như buổi cô đi. Thời đại cô may mắn, chưa bị ai đem “xuyên suốt sợi chỉ hồng”.

    Thời đại của tôi thì đã khác: sợi chỉ hồng đã xuyên suốt Nam Bắc, khơi nguồn cho sông máu núi xương dọc Trường Sơn. Máu xối xả trên Đại lộ Kinh Hoàng, trôi thành dòng giữaThành phố Huế, loang lỗ khắp những nẻo đường quê hương; máu chờn vờn Biển Đông. Và giờ đây máu đang đổ trên khuôn mặt những người giáo dân Tam Toà, xuơng gãy trên cánh tay của linh mục Ngô Thế Bính…

    Trông về quê mẹ Giáo Phận Vinh , ruột tôi đứt mấy khúc, đau mấy chiều!

     

    Chương Khuê

  • Văn

    Nguyễn Phan Ngọc An : Mây Hồng

    MÂY HỒNG

                         Tâm  bút :  Nguyễn Phan Ngọc An

     

     

    Trời về khuya, miền biển thường vang vọng những tiếng sóng rì rào như những lời ru  thì thầm thiết tha của biển, những âm thanh vi vút tưởng chừng như lời thánh thót yêu đương của những hàng thông dài thẳng tắp, ngoài xa xa phía chân trời từng chấm đèn nhỏ li ti đang di động, có lẽ là những chiếc tàu thuyền đi đánh cá về đêm… Rằm trung thu năm nay sao buồn và ảm đạm hơn mọi năm, Mây Hồng cũng chẳng buồn mua sắm lồng đèn con cá, con cua gì cho hai đứa con trai của nàng…Trên bầu trời đầy sao với vầng trăng ngọt ngào soi sáng trần gian sao lòng nàng vẫn thấy tối tăm như đêm 30 đen tối, nàng vừa trải qua một cơn giông tố nặng nề trong cuộc sống lứa đôi…xuyên qua ánh trăng dịu hiền một chấm đèn phi cơ đang bay dần về hướng nàng, Mây Hồng ước gì mẹ về trong chuyến bay này nhỉ ? Ngồi lặng hồi lâu đưa tiềm thức về miền dĩ vãng xa xưa …… sáu năm qua từ khi xãy ra những biến đổi trong gia đình, Mây Hồng lại mong có mẹ, có các anh bên cạnh cho bớt cô đơn…đời người con gái mười hai bến nước trong nhờ, đục chịu, nàng vô phần bạc phước, hai lần sang ngang đều rơi vào bến đục – tự nhiên hình ảnh của những ngày xuân xanh sống lại trong tấm trí nàng…giữa lòng đất nước bao la, người thì đông nhưng tìm một người thân yêu không có, nàng thở dài và chán nản cho tình đời, tình người, chán ngán loại người đàn ông đoản hậu vong tình mà cuộc đời nàng phải gặp suốt gần 10 năm qua …

     

    Nàng nhớ lại thuở còn rất bé mà mẹ cha lại chia tay nên Mây Hồng phải khổ,  Mẹ đi buôn bán suốt ngày ngoài chợ đến chiều tối mới về, Mây Hồng ở nhà thường bị anh hai bắt nạt và đánh đòn – Sinh trưởng trong một gia đình nho giáo, ông ngoại là một giáo chức thông thái về hưu, bà ngoại con gái một thương gia giàu có, chữ nghĩa tinh thông, văn chương thi phú dạt dào – Cha là một sĩ quan quân lực VNCH, thêm nghề tay trái ảo thuật tài tình, mẹ là một người phụ nữ đảm đang, có học và lại nối nghiệp bà ngoại, văn thơ từ lứa tuổi trăng tròn… Ngày hai buổi Mây Hồng cắp sách đến trường, những mong sau này trả hiếu mẹ cha. Dạo đó chinh chiến lan tràn trên quê hương Việt Nam của nàng, máu và nước mắt đã tràn ngập cái xứ sở thân yêu này, Cha đã vào tù khi Mây Hồng vừa tròn 4 tuổi, một thân mẹ cưu mang săn sóc 4 anh em trong biển người gian ngoa lừa đảo của một cuộc sống mới đổi thay – Rồi năm tháng cũng qua đi với những gian nan vất vả, Mây Hồng đã trở thành một cô gái xinh đẹp dễ thương, có lẽ vì hoàn cảnh chiến tranh, thiếu tình thương của cha cùng với những bất công của xã hội, Mây Hồng thường ít chuyện trò với ai, từ đó nàng trở nên lầm lì, sống khép kín trong nhà với mẹ, phụ mẹ trong việc buôn bán vải và thuốc tây hàng ngày ngoài chợ cho mau chóng qua đi thời gian vô nghĩa…

    Định mệnh vẫn là một sợi dây vô hình đưa con người vào cạm bẫy, 16 tuổi Mây Hồng nào biết gì là tình yêu ? Phong, một cậu thanh niên trong lứa tuổi ăn chơi, con nhà khá giả, Cha đã ra nước ngoài, cậu sống với mẹ và các chị em gái trong cảnh sống một gia đình buôn bán quần áo vải sợi – Tình cảm và lòng sôi nổi trong tình yêu Phong đã làm rung động trái tim non nớt nhưng lạnh lùng của Mây Hồng, từ đó hai người có những buổi hẹn hò tha thiết, mẹ Hồng biết được đã hết sức cản ngăn vì con gái mình còn quá nhỏ, đường đời chưa từng nếm trải mà chông gai thì ai biết đâu mà lường mà tránh – Nhưng với tính tình gan lì và cương quyết, Phong bất chấp sự ngăn trở của mẹ Mây Hồng, đôi lần thách thức và nghiễm nhiên Phong đã chiếm được tình cảm của Mây Hồng, người con gái ngây thơ của một thời áo trắng học trò chưa từng vướng bụi yêu đương.

    Một hôm Phong tìm đến nhà Mây Hồng , đứng ngoài đường nói vọng vào :

    –           Mây Hồng ơi…mẹ em có ở nhà không ? đừng cho bả thấy, ra đây đi , anh chở em đi mua sắm một ít vật dụng cần thiết cho đám cưới chúng ta, anh đặt sẵn nhẫn và bông cho em rồi đây…

    Mây Hồng vội vã chạy ra đường, nhắc khéo Phong :

    –           Sao anh ồn ào vậy, anh không biết là mẹ em không chấp nhận sao ? chuyện này chắc phải chờ thêm một thời gian nữa để em thuyết phục mẹ, thôi anh về đi, mẹ em đang ở trong nhà, coi chừng mẹ em thấy anh đó !

    –           Kệ bả, Phong trả lời, đúng lúc đó mẹ Mây Hồng bước ra đường – Bà nói với Phong :

    –           Cậu Phong à ! Con Mây Hồng còn quá nhỏ, nếu cậu thật tình thương nó hãy chịu khó đợi thêm vài ba năm nữa, tôi không muốn con gái tôi bước theo con đường của tôi, lấy chồng sớm thì khổ sớm mà thôi, cậu nghe lời tôi đi vì nó còn đang đi học, vài năm sau nó ra trường cũng không muộn đâu cậu …

    Phong ngần ngừ :

    –           Thưa cô, cháu sắp đi nước ngoài, cháu muốn cô đồng ý cho cháu và Hồng được thương yêu nhau, mai mốt cùng ra nước ngoài với cháu.

    –           Ôi, chuyện đó còn lâu mà cậu, hơn nữa tôi nhận thấy cậu chưa chững chạc để lập gia đình, cậu ăn chơi bay bướm tôi còn nghe danh, bao giờ cậu tu chỉnh đàng hoàng đi rồi hãy tính chuyện lấy vợ…

    Câu nói quá thẳng thắn của mẹ Hồng làm chạm tự ái Phong, cậu ta tức giận trả lời thẳng vào mặt mẹ Mây Hồng :

    –           Được rồi, cô chống mắt mà coi, cô giữ con gái cô được bao lâu ? Cháu thách cô đó…

    Nói rồi Phong tức tối bỏ đi còn Mây Hồng thì mặt ủ mày châu, dàu dàu không nói gì ! Suốt thời gian sau, dường như Phong không lên nhà Hồng tìm kiếm nữa, nhưng lại gọi phone nhắn nàng đến những chỗ hẹn hò – quán ăn, quán nước, nhà của bạn bè thân …rất nhiều lần Mây Hồng đi như thế mẹ nàng phải bỏ thì giờ đi tìm kiếm cả mấy giờ liền – Hồng đã làm khổ cho mẹ nàng không ít suốt khoảng thời gian quen biết với Phong…

    Sau đó 2 tháng một đám cưới âm thầm diễn ra trong gia đình Phong vì mẹ Hồng nhất định không tham dự – Không phải mẹ Hồng quá khắt khe nhưng vì nhìn thấy chàng rể là một thanh niên ăn chơi e sau này con gái phải khổ – Mây Hồng thì tin tưởng vào tình yêu của Phong, sau đám cưới nàng xin phép mẹ rồi thu dọn về nhà Phong sống chung với mẹ chồng và các chị em chồng – một gia đình người Huế lạnh nhạt, không ai biết vui vẻ tử tế với nàng – Còn riêng Phong sau thời gian chung sống đã lộ ra bản chất ăn chơi quá độ, đôi lúc trở thành côn đồ, bạc tình, bạc nghĩa – Mây Hồng trở thành một bóng mờ lặng câm chịu đựng không dám than van một lời vì tự mình chọn lựa, mẹ Hồng mà nghe được sự thể chỉ khổ thêm mà thôi …

    Sáu tháng sau ngày thành hôn, Mây Hồng đã mang thai 2 tháng – một việc mà Mây Hồng không mong mỏi bao giờ khi biết quá rành bản chất của Phong – Từng giọt lệ âm thầm hàng đêm trong căn phòng lặng lẽ đã khiến nhan sắc u sầu, tái tê gan ruột từng cơn – Bỗng một ngày gia đình Phong nhận được giấy bão lãnh của người cha từ Mỹ gởi về, Mây Hồng đã cương quyết ở lại quê nhà với mẹ, để yên cho Phong làm hồ sơ ra đi cùng gia đình bên Phong mà không hề cản trở – ngày ra đi Phong có đem theo một tờ hôn thú photocopy giữa hai người, còn hôn thú chánh thì Mây Hồng cất giữ từ bấy lâu nay – Hy vọng dứt được chuyện tình với Phong từ đây, bào thai còn nhỏ Mây Hồng chấp nhận chờ ngày bé ra đời, đã có mẹ an ủi chăm sóc Mây Hồng không phải lo sợ điều gì nữa …

    Mẹ nàng cũng có giấy tờ bão lãnh từ hai anh trai của Hồng đã vượt biên từ năm 1983, đang ở Mỹ, hồ sơ cũng ghi rõ bão lãnh mẹ và hai em, Mây Hồng và Biển Hồng, em trai út của nàng – Ngày phỏng vấn là một nỗi đau chết lặng tâm tư mẹ và Mây Hồng, người Mỹ bảo rằng : Con gái bà có chồng bên Hoa Kỳ, chỉ đi với diện chồng bão lãnh chứ không đi được với bà hoặc bất cứ diện nào khác ! ông ta đưa ra một tờ hôn thú photocopy và một hồ sơ của Phong gởi về bão lãnh Mây Hồng … Trước sự tình xãy ra mẹ Hồng chết lặng, không đi ở lại tranh đấu cho Mây Hồng cùng đi thì biết đâu chẳng có kết quả gì mà kẹt lại luôn cả 3 mẹ con, Biển Hồng lại đang tuổi phá phách tập tành ăn chơi phá của, mẹ Hồng cắn răng ra đi vì tương lai của thằng con út, bỏ Mây Hồng ở lại quê nhà bơ vơ côi cút ! Nước mắt tuôn tràn giờ phút chia tay :

                            Vẫy tay chào giã biệt

                            Con ở lại quê hương

                            Mẹ lên đường sang Mỹ…

                           

                            Giọt nước mắt mẹ rơi

                            Nghẹn ngào con nức nở

                            Ôm hôn con lần cuối

                            Phi cơ cất cánh rồi !

     

                            Trên bước lãng du

                            Ruột đau từng đoạn

                            Thương con thơ dại

                            Giữa chốn bụi hồng

                            Một thân trơ trọi !

     

                            Tuyết rơi đất khách đau lòng mẹ

                            Sương phủ đầu xanh trẻ xót xa

                            Vầng trăng soi mái tây lầu

                            Vầng trăng soi thấu nỗi sầu trong ta ?

                            Bao năm xa cách quê nhà

                            Bao năm biệt xứ lệ sa từng dòng

                            Đêm đêm đối bóng điện hồng

                            Đêm đêm gục mặt nghe lòng thương đau

                            Làm sao ngăn được giọt châu

                            Làm sao ngăn được bể dâu cuộc đời ?!!!

     

    Mây Hồng đã cương quyết ở lại quê hương một mình với đứa con thơ vừa tròn 3 tuổi, nàng đã chán ngán người chồng như Phong nên không có ý định tiến hành hồ sơ Phong bão lãnh … Trong cuộc sống đảo điên chợ đời trăm ngã, Hồng đã quyết không lập gia đình ở vậy nuôi con dù bão tố vây quanh, dù cô độc mọi bề – nhưng định mệnh lần thứ hai đưa đẩy, một chuyện tình nữa tưởng như rất đẹp đến cho cuộc đời bất hạnh của nàng, Mây Hồng lặng lẽ nuôi con, hàng ngày chăm sóc bán buôn cho qua ngày buồn tẻ, “ VI VÂN coffe” là quán cà phê của nàng, một năm trước khi vừa mở quán đã có một chàng trai theo đuổi mơ mộng chữ tình yêu, Mây Hồng không chấp nhận vì không muốn khổ thêm lần thứ hai và vì trách nhiệm nặng nề với đứa trẻ thơ vô tội mà nàng đã tạo ra dù trong niềm ân hận vô biên…người thanh niên ấy chí tình chờ đợi sự đổi thay trong tâm hồn nàng để bước tới hôn nhân – hoàn cảnh cô đơn đôi lúc gặp tai nàn trong cuộc đời cô phụ, mà mẹ cha, anh em , các cậu đều đã xuất ngoại từ lâu, vì nỗi cô đơn cùng cực Mây Hồng đã thuận bước thứ hai, nghĩ là sẽ được bù đắp – Cường là cái tên giả mà cậu đã dùng khi làm quen với Hồng, cậu đã nói dối cả về cha mẹ, về bà nội, nơi cư ngụ và công ăn việc làm của cha mẹ cậu khi mẹ Hồng dò hỏi – cậu không thật ngay từ phút đầu quen biết, con người như thế nhưng cả gia đình Hồng đâu hay biết cứ lầm từ những ngôn từ tỏ ra hiền lành của cậu ta – Lúc đầu cậu ta cũng tương đối tốt, năn nỉ nhiều lần đòi tự vận Mây Hồng mới chấp nhận tình yêu với Cường, hàng xóm ai cũng nói rằng Cường tốt số, Mây Hồng xinh đẹp tuy rằng gái một con nhưng gia đình toàn ở nước ngoài từ mẹ, cha, hai anh, em và các cậu – Mây Hồng lại hiền và ít nói, khôn ngoan trong xử thế giao tiếp mọi người – Thấy Cường là người có tấm lòng khi đứa bé Tùng Vũ ( con trai của Hồng) ốm đau, Cường đã hết lòng chăm sóc không ngại thức khuya, dậy sớm vào bệnh viện chăm nom, Tùng Vũ khi sinh ra mắc phải chứng bệnh kinh phong nên thường xuyên bị giựt cả người khi lên cơn sốt – Mẹ và Mây Hồng đã cực khổ biết bao nhiêu từ ngày bé Tùng Vũ ra đời, lúc mẹ đi nước ngoài rồi, một thân một mình Mây Hồng khổ sở tưởng như đứng tim nhiều lần vì bệnh tình của con, nay nàng chẳng thiết gì chuyện yêu đương nhưng người phụ nữ cô độc quả là một sự đáng lo sợ, xung quanh nàng không có một người thân ruột thịt, các chị bạn dì thì ở xa, nàng nghĩ cần phải có người đàn ông bảo bọc khi tai nàn và nhất là bé Vũ phải có một người cha dù rằng không cùng chung huyết thống .

    Sau thời gian quen biết đi đến yêu thương, Mây Hồng lại một lần nữa chuẩn bị lên xe hoa, nàng phân vân cho số phận của mình, không lường được điều may hay rủi tuy rằng thực tế Cường tỏ ra rất thương yêu nàng – Khi Cường bàn định về việc đám cưới Hồng mới hỏi Cường:

    –           Việc này rất hệ trọng, anh phải mời cha mẹ anh lên nói chuyện với mẹ em vì mẹ em từ Mỹ vừa về hai hôm nay và em phải đến nhà anh thăm hai bác cũng như chào hai bác cho biết mặt .

    –           Việc đó dễ mà ! Cường trả lời, vậy ngày mai em xuống nhà anh trước rồi sau đó anh mời cha mẹ anh lên thăm mẹ em rồi trình bày chuyện chúng mình luôn thể…

    –           Nhưng anh nói cha mẹ anh bán vải ở Sài Gòn , còn nhà cha mẹ anh thì ở đâu ?

    –           Anh nói gạt em thôi, nhà anh ở An Nhứt , và cha mẹ anh không bán vải chỉ làm nghề thầy trị bệnh thôi .

    Hồng thắc mắc : vậy sao em quen biết anh đã hơn một năm rồi mà anh còn dấu diếm sự  thật về gia đình anh, không chừng anh có vợ con rồi mà cũng dấu diếm luôn ?

    –           Cường gạt phăng : Không có, thôi anh xin lỗi vì đã nói dối với em trong thời gian quen nhau, bây giờ là sự thật, ngày mai em xuống nhà anh chơi sẽ rõ tất cả.

    Hôm sau Cường lái chiếc mô tô đến, Hồng dẫn chiếc xe Dream ra rồi nổ máy chạy theo Cường, nàng không muốn ngồi chung xe mang tiếng với bên gia đình Cường, dù sao cũng phải giữ gìn cho cha mẹ Cường tôn trọng – Nghĩ thế, nàng ghé lại tiệm mua một ít bánh và trái cây để làm quà đến thăm hai bác – Sau một lúc nói chuyện với ba mẹ Cường, Hồng mới biết Cường là tên giả tự anh ta đặt , còn tên thật là tên N, thì ra con người sống hai mặt, nói dối đủ thứ…ba má N. khi tiếp xúc thì có ý không thích Hồng khi nàng nói thật đã có một đời chồng và một đứa con trai, duy chỉ có bà nội của N thì rất hiền và dường như có cảm tình với nàng – Sau lần đó, nàng thấy e dè N nên từ chối việc hôn nhân, nhưng cậu ta vẫn quyết tâm xin làm đám cưới dù cha mẹ chưa bằng lòng – Hồng thấy không tin tưởng được N nên dọn về ở chung với ông ngoại và không buôn bán quán cà phê nữa…

    Tùng Vũ bệnh hoạn liên miên, nửa đêm phải mướn xe chở về bệnh Viện Nhi Đồng ở Sài Gòn, nó chỉ còn xương bọc da mà N thì không buông tha cứ tìm mọi cách tới lui thăm Hồng và bé Vũ – Vì trong nỗi cô đơn và gặp nhiều việc khó khăn trong bệnh hoạn của con, Mây Hồng chấp nhận làm đám cưới với N – Cha mẹ N thì tỏ ý không bằng lòng “con trai mà lấy gái có con” rồi đổ thừa kỵ tuổi nên ngày cưới không tham dự, chỉ có bà con hai bên và hai bà Nội bà Ngoại bên N lụm cụm đến với hai cháu trong ngày cưới mà thôi – Mẹ nàng cũng không về, ông Ngoại đứng ra làm chủ hôn – tuy thế đám cưới tổ chức đãi tiệc tại nhà hàng Mai Quế Lộ cũng rất đông quan khách bạn bè thân của N và Hồng mời tới – lúc đó vào năm 1995 – hai năm đầu N cũng sống tử tế tuy rằng thường hay nhậu nhẹt say xỉn , công ăn việc làm bấp bênh cả hai sống nhờ vào tiền gửi về hàng tháng của mẹ Hồng và thỉnh thoảng ba Hồng, các cậu, các anh gửi về cho – Đã nhiều lần mẹ Hồng hỏi ý để bão lãnh sang Hoa Kỳ nàng đều không bằng lòng :

    –           Hồng à ! con nên nghĩ đến tương lai bé Vũ, nên gởi hồ sơ giấy tờ qua để mẹ bão lãnh vợ chồng con và bé Vũ – mẹ gọi về nhắc nhở Mây Hồng.

    –           Nàng trả lời : Không được đâu mẹ à ! bé Vũ là con của Phong nên khai sanh đâu phải con của N , con nghĩ khó khăn lắm, thôi con không đi Mỹ đâu, ở Việt Nam quen rồi, qua bên  đó lạnh lắm và buồn lắm, con không thích đâu !

    –           Ai nói với con là buồn là lạnh, gia đình mình ở tiểu bang California là số một  rồi, vừa ấm vừa vui…hai anh của con đã ra trường mua nhà cửa riêng và có sự nghiệp làm ăn riêng, Biển Hồng thì theo ba qua Marylane từ hơn một năm nay làm nghề Nail ( vẽ trên móng) – má muốn có vợ chồng con  và bé Vũ gần gũi chứ má bên này không có con gái hủ hỉ cũng buồn lắm !

    Mây Hồng suy nghĩ một hồi rồi trả lời mẹ :

    –           Thôi để con tính lại – hiện nay ông ngoại yếu lắm rồi không biết sống chết  ngày nào đây – má giữ sức khỏe vì con thấy má về kỳ rồi má ốm lắm đó – bây giờ con phải đưa Tùng Vũ đi học, con phải ngưng ở đây, chúc má luôn vui khỏe nhé !

    Nàng cúp máy và chở con đi học, đầu óc suy nghĩ miên man , đi hay ở, đi thì có tương lai cho con,  nhưng xứ lạ quê người, mọi việc làm lại từ con số zero nghĩ mà ớn óc, ở đây có nhà cửa, phương tiện đầy đủ, có cả xóm giềng bạn hữu thân thương, nhất là phải chăm sóc lo cơm nước cho ông ngoại, thôi để đó tính sau…nàng quên bẵng đi chuyện đi Mỹ, mỗi khi mẹ gọi về nhắc nàng cứ ấm ớ nói cho qua lề và khai sanh của nàng , nàng cứ quên không gửi qua cho mẹ, dù tất cả giấy tờ đã hoàn chỉnh chỉ còn chờ khai sanh của Hồng là hồ sơ tiến hành.

    Hai năm sau nàng hạ sanh một bé trai với N,  đặt tên Nguyễn Lê Trọng Duy, bé rất kháu khỉnh, N cưng con một mực, Tùng Vũ lúc ấy thường hay bị đòn bởi cha ghẻ,  cái luật cha ghẻ muôn đời vẫn thế ! Hồng buồn nhưng cam chịu, cứ nghĩ một ngày nào Tùng Vũ lớn lên chút nữa, hết nghịch ngợm lì lợm chắc sẽ không còn bị đòn nữa…

    Rồi cái ngày đau thương đã đến ! Ông ngoại bệnh nằm viện hai tháng rồi mất, mẹ nàng về rồi phải trở qua Mỹ đi làm đổi cậu Bảy về lo cho ông ngoại – cậu Năm quá bận không về được, các anh cũng bận rộn không ai về. Đám tang ông ngoại hàng xóm bạn hữu đến đầy nhà, nhưng người thân thì chỉ có cậu 7 và vợ chồng Hồng và các anh chị bạn dì mà thôi…trong niềm lẻ loi đó Hồng thấy thương ông vô cùng, nếu ông chịu đi Mỹ chắc là đám tang ông lớn lao đông đảo lắm bởi các cậu và mẹ giao thiệp rất rộng, nàng khóc tức tưởi trước hương linh ông và tự hứa ở lại quê nhà để nhang khói mộ phần cho ông.

    Cha mẹ N lúc đầu không thích nàng vì quan niệm cổ xưa đó,  nhưng chỉ sau một thời gian họ thấy được tấm lòng và tính nết Mây Hồng, họ cũng đã thương  mến nàng không còn ngăn cách nữa –   còn bà nội chồng, năm nay ngoài 80, bà có vẽ rất thương quý cháu dâu,  bà luôn hỏi han an ủi Hồng khi thấy nàng buồn trách về N. ham chơi nhậu nhẹt tối ngày – vì bà cháu thường hay tâm sự nên càng ngày bà nội càng thương cháu dâu bởi nhận thấy nơi Mây Hồng rất xứng đáng cho bà thương yêu – nàng quý bà nội và cha mẹ chồng, luôn làm tròn bổn phận và tình thương chan hòa như cha mẹ ruột,  vì chỗ thân thương đó khi ông ngoại mất cha mẹ N đồng ý để ông nằm trong miếng đất của vườn nhà và bà nội sống trong căn nhà cạnh bên miếng vườn ấy, thỉnh thoảng bà nội ra thăm những ngôi mộ của thân nhân trong đó có mộ của ông ngoại Mây Hồng –  N càng ngày càng ăn chơi sa đọa, ỷ lại tiền bạc ăn tiêu có cha mẹ vợ lo, không lo gia đình, chè chén bê tha lại thêm mê gái, về nhà nửa đêm kiếm chuyện hành hung, đánh đập Hồng, nhiều lần Hồng bắt gặp chở cô này, ngồi ăn uống với cô khác và N liên tục bỏ nhà đi đêm không về – tiêu pha tiền bạc của Mây Hồng không ít – có một lần N bị công an bắt chung với những cô gái giang hồ đang hành nghề tại Long Toàn , giam qua đêm, cha mẹ N phải lên bão lãnh cho N về. Họ cố tình dấu diếm nhưng Hồng đã tường sự việc vì xã Long Toàn nằm chung trong tỉnh gần nhà nàng – Thật là nhục nhã, thật là xấu xa, từ đó nàng ghê tởm N và ít xuống thăm cha mẹ chồng – Nàng thật buồn và tủi cho thân phận nhưng chỉ biết lặng câm và chỉ biết khóc, nàng đã khóc âm thầm từ ba năm nay kể từ khi sanh bé Trọng Duy.  Có một lần mẹ nàng về thăm, chứng kiến tận mắt cảnh N đấm vào tim Hồng và nàng bất tỉnh cả buổi, phải kêu thầy tới cắt các đầu ngón tay và các đầu ngón chân, nặn máu ra nàng mới tỉnh lại…

                Mây Hồng đau khổ cho số kiếp của mình nhưng chẳng dám hở môi, mỗi khi mẹ gọi phone về hỏi thăm đều nói tốt mọi mặt cho N  – nhưng sự thật vẫn không bao giờ che dấu được lâu, càng ngày N càng lậm thói ăn chơi xa đọa, bỏ bê vợ con, vô trách nhiệm khi ốm đau – Nước mắt Mây Hồng cạn dần sau hai cuộc tình đầy đau khổ, nàng không muốn có cuộc tình thứ ba, vì biết mình còn quá trẻ, và với nhan sắc dễ nhìn nàng không dễ gì được yên thân, thà chịu đau khổ âm thầm để tránh đổ vỡ gia đình lần thứ hai – N đâu thấy sự hy sinh và nỗi khổ của Mây Hồng, cứ sống ích kỷ cho bản thân, ăn chơi trụy lạc, tiền bạc mẹ cha cho Mây Hồng là N tìm mọi cách lấy tiêu xài nuôi gái, vung vãi ngoài đường không tiếc tay – N hư hỏng tệ bạc quá độ, tội cho Mây Hồng, nàng là người đoan chính, dù chồng có bê bối vẫn sống đàng hoàng đạo đức nuôi con, cả xóm ai cũng phục nàng qua đức hạnh hiếm có khi gia đình tiền bạc đủ đầy, có sẵn nhan sắc – Đã nhiều lần mẹ nàng về thăm con, dù che đậy cỡ nào mẹ nàng cũng biết nên có ý nhắc lại việc bão lãnh nàng sang Mỹ, nàng trả lời dứt khoát không đi, nàng không có một ấn tượng nào về nước Mỹ, nàng thương quê hương, thương nơi chôn nhau cắt rún, nơi cho nàng bao kỷ niệm không quên từ thuở bé – hơn nữa nàng lại còn trách nhiệm với tổ tiên, ông bà – hai nấm mộ ông bà ngoại chôn nơi vườn đất của bà nội chồng, hủ xương cốt bà nội của nàng gởi nơi Chùa tờ phụng, còn hai dì, còn Bích Phượng, chị cô cậu của nàng, những nắm xương tàn đã đốt thành tro bụi đó, không có nàng thì ai sẽ là người hàng ngày nhang khói cúng vái tảo mộ thờ phượng, lại còn một trách nhiệm vô cùng lớn lao với Biển Hồng, đứa em trai út của nàng, bỏ Hoa Kỳ, bỏ mẹ cha thân yêu về quê hương đua đòi hư hỏng mang thân tù tội, nàng cực khổ gian nan hàng tháng đội mưa nắng, quà cáp thăm em, cuộc đời nàng là cả bể trầm luân, không biết từ kiếp nào vay mượn mà kiếp này trả nợ thương đau đến thế, vậy mà mẹ bão lãnh đã 6 năm rồi nàng vẫn không đi, ở lại để làm tròn trách nhiệm, ở lại để cô đơn buồn tủi một thân mình !

    Tùng Vũ đã lớn, nàng muốn con được ra nước ngoài ăn học, nhờ mẹ nàng liên lạc với Phong thì Phong cũng vô tình không đoái tưởng, nghe lời người chị ác tâm xúi quẩy không bão lãnh con mình còn lắm lời bạc bẽo vô nhân, dù từ khi Tùng Vũ ra đời Phong chưa một lần gặp mặt con, chưa một đồng bạc gởi nuôi con, đứa nhỏ thì giống Phong như hai giọt nước mà làm cha nhu nhược thiếu bản lĩnh trước ác tâm của người chị muốn chia rẽ vì sợ Phong chu cấp tiền bạc nuôi Tùng Vũ, mụ ta không được hưởng trọn tiền Phong cho – kẻ xấu bao giờ cũng có âm mưu lợi dụng, kẻ xấu bao giờ cũng vì tiền mất đi đạo lý, Mây Hồng tức giận và từ đấy không liên lạc, không cần Phong bão lãnh con, nàng đã xé tất cả hồ sơ định làm và nghĩ bụng sẽ không cho Phong gặp mặt con dù một lần…

    Chông gai đã lắm, gian truân đã nhiều, nhưng Mây Hồng vẫn hãnh diện vì vẫn giữ được đạo đức thanh cao của người phụ nữ Việt Nam – vẫn là người mẹ gương mẫu của hai đứa con trai yêu quý, “ giấy rách phải giữ lấy lề” “ mua danh ba vạn, bán danh ba đồng” những câu châm ngôn của cổ nhân để lại nàng đã thuộc nằm lòng từ khi có trí khôn, nàng hãnh diện sống cô đơn, biết bao nhiêu bạn bè thân và xóm giềng khuyên nàng nên bỏ đi loại chồng vô nhân bất nghĩa đó, nhưng nàng không nỡ, chấp nhận số phận không may, mang danh vợ chồng nhưng N toàn đi lấy hết người này đến người nọ, bỏ nàng thui thủi một mình từ năm năm nay, bây giờ anh ta phản bội trắng trợn thì vạn phúc cho nàng, nàng không mang tiếng bỏ chồng, lúc đầu nàng còn đau buồn vì không thể ngờ N tệ đến thế, nhưng rồi lý trí thức dậy, bảo rằng đừng tiếc đừng thương chi nữa loại chồng vô lương tâm, không xứng đáng – “con nào mê anh ta cũng chỉ vì tiền, mai mốt hết tiền cũng bỏ anh ta mà thôi” – Không hiểu sao bây giờ anh ta có nhiều tiền, một lần cách chừng mấy tháng lúc N đã bỏ nhà đi hẳn, nhưng còn thỉnh thoảng ghé nhà cho bé Duy tiền ăn bánh, Hồng vô tình nhìn thấy trong bóp Nhơn một cọc tiền đô, vì khi say anh ta móc bóp lấy tiền lộ liễu, Hồng về kể lại cho mẹ nghe lúc mẹ về thăm nàng…hai mẹ con đã bán tính bán nghi về số tiền mà N gạt Hồng lấy tiền đô trả nợ để Nhơn khỏi vào tù và mấy đợt bảo Hồng đưa tiền đô mua xe Dream Nhựt về để dành bán, lấy tiền mà không thấy đem xe về, gặn hỏi thì N trả lời để xe ngoài tiệm…Chừng vỡ lẽ ra thì toàn là gạt gẫm dối trá, N đã dùng mọi thủ đoạn để moi tiền đô bỏ túi riêng ăn xài thỏa thích ! Chưa vừa dạ, N còn bán đứt của Hồng hai chiếc Wave, một chiếc của Hồng và một chiếc mẹ mua để dành khi về có xe đi ! Bây giờ nhớ đến những thủ đoạn của N, Hồng rùng mình, nổi da gà, cũng may nàng phát giác sớm, cũng may N bộc lộ dã tâm sớm vì y nghĩ Hồng không còn tiền để y moi nữa nên thẳng tay phản bội đê hèn và trắng trợn – Xa lánh được loại đàn ông đê tiện này Hồng thấy nhẹ nhõm như vừa trút được gánh nặng ngàn cân… Mây Hồng bây giờ tâm đã lặng, sống bình yên với hai con, lo cho chúng ăn học thành người, thỉnh thoảng mẹ về, các anh về, các cậu về thăm ở lại vài tuần, đôi khi mẹ về cả tháng, biết chừng đâu sau này mẹ về ở với nàng luôn và khi Biển Hồng ra tù chị em đã có nhau, nàng cần gì  N, người chồng  ăn chơi trụy lạc bất nhân bất nghĩa gieo đau khổ cho nàng suốt gần mười năm qua…

    Bây giờ nàng không còn gì để bao che cho N nữa, mẹ gọi về và nàng đã nói thật : “ N bây giờ đang sống với cô gái khác, chính thức chở ngay trên đường phố và cô ta đã mang bầu bụng lớn rồi,  anh ta bỏ nhà đi hẵn không về trên 6 tháng nay, bạn bè con gặp và con gọi phone hỏi, anh ta trả lời xác nhận đó là sự thật vì anh ta hết thương con rồi ! Đã như thế mà còn bồ bịch năm ba con đàn bà khác nữa, ai cũng nhìn thấy sự việc này và chê trách N rất nhiều, anh ta không thấy được con người vô nhân của mình còn đi bán rao với người ta rằng : “Gia đình bên vợ tệ lắm, tôi chưa bao giờ nhờ vã tiền bạc bên vợ” con người N không còn lương tri, chỉ còn thủ đoạn , cũng may mấy lần mẹ về hắn ta dụ mẹ mua xe “ Van cá mập” chạy hợp đồng, mẹ đã định mua cho hắn, may phước hàng xóm thương con và mẹ nên cản lại, nếu không hắn cũng ăn luôn chiếc xe cá mập rồi…Con nghe đâu gần đây hắn ta bồ thêm với cô Việt Kiều về nước với hy vọng cô ta sẽ bão lãnh sang Mỹ, người ta bắt cá hai tay chứ anh ta bắt cá mười tay một lượt mẹ à ! con chẳng thèm quan tâm loại đàn ông đĩ điếm bất lương đó nữa đâu mẹ, dưới mắt con hắn là kẻ đáng sợ phải lánh xa, con đã khinh tởm đến tận cùng xương tủy, chỉ chờ tòa xét xử cho con ly dị anh ta thôi… tâm hồn con bây giờ đã bình yên rồi, xin mẹ hoàn toàn yên tâm” … Từ đó mẹ gọi về nghe giọng nàng thánh thót vui tươi, không đượm chút gì phiền não, nàng đã phi thường đánh đổ thường tình nhi nữ, mẹ thấy thương Mây Hồng quá, mẹ đã vô phước đường tình duyên, nàng đẹp hơn mẹ sao đường tình không may mắn mà lại còn bạc phận hơn mẹ nữa, mẹ gọi phone về thường nói :  “vợ chồng là nợ tiền khiên, trả hết nợ là mừng rồi, thoát nạn rồi con ơi – còn ai gieo gió thì gặt bão – ngày xưa quả báo còn chầy, ngày nay quả báo một giây nhãn tiền” Mây Hồng cười vui, trước mắt nàng bầu trời như rực rỡ hơn vì đã cắt bỏ được những ung nhọt, mắt vẫn sáng, môi vẫn hồng và niềm tin đức năng thắng số, nàng vẫn tin vào một ngày mai tươi đẹp “ qua cơn mưa trời lại sáng” ….

                                         

     

     

    Đời của nàng như một trang cổ tích

    Đọc mà thương mà xót phận hồng nhan

    Có sắc hương lại thêm phần thanh lịch

    Sao trời cao xui duyên phận bẽ bàng ?!

     

    Nàng hiên ngang và cang cường chịu đựng

    Mây Hồng ơi, em sáng tựa vầng trăng

    Ta tin em một đời em đứng vững

    Thuyền em chèo xuôi mái ngọn hoa đăng…

     

    nguyễnphanngọcan – San Jose

  • Văn

    Quang Thiên : Ngoại Tình

    Chính Đào Huy Thông đã có dịp xử dụng loại thuốc độc bí ẩn, nhưng cho tới khi hiện diện trước tòa và sau khi bị kết án, anh mới tự giác nhận tội, cho rằng mình tự dưng trở thành phạm nhân là do vận xui mà thôi. Lúc đứng trước vành móng ngựa, nghĩ tới việc đã làm, anh lẩm bẩm: “Thật toàn hảo, thuốc đã không để lại vết tích, chẳng sai tí nào.”

    Hồ sơ tư pháp cho biết Thông dính líu vào một chuyện tình và không ngờ âm mưu của anh đã sai dự tính để cuối cùng lãnh bản án đại hình được miễn giảm, tức chín năm tù giam theo luật pháp hiện hành. Tuy vậy, Thông được trả tự do chỉ sau ba năm thọ án. Trong thời gian ở tù, anh bị một bạn đồng khám đâm suýt chết bằng lưỡi dao tự chế tại công xưỡng trong nhà giam, nơi hai người cùng làm việc. Ông này hối hận vì đã dùng búa hạ sát vợ và ba đứa con, nhưng rất tức giận khi cứ nghe mãi câu chuyện âm mưu tàn nhẫn của Thông. Sau đó, phạm nhân giết người bằng búa được chuyển tới Biên Hòa. Tại đấy, ông ta lại quấy rầy các y sĩ với những lời đau khổ về gia đình đã mất.

    Vào thời kỳ vụ án xảy ra, Thông sắp được ba mươi mốt tuổi và đang là nhân viên có hạng đại diện cho công ty ĐPN, chuyên cung cấp dụng cụ y khoa, tại thị xã Đàlạt. Ai cũng công nhận anh thực sự là tay thương mại có tài. Các y sĩ và nhân viên hóa chất làm việc chung đều nễ phục Thông về vốn kiến thức y khoa.

    Nụ cười thân thiện và sự hiểu biết của Thông đã khiến nhiều khách hàng tin anh là y sĩ. Có tin đồn cho rằng những rắc rối bí ẩn trong gia đình đã ngăn cản anh lấy nốt mấy kỳ thi cuối để được tốt nghiệp. Dư luận khác lại nói anh bị hỏng hai lần thi dự bị y khoa nên bỏ cuộc, hoặc ông cụ thân sinh của Thông, một phụ tá quản lý ngân hàng, đã nghe ai đó xúi giục, bảo cho anh tiếp tục học chỉ phí tiền, căn cứ vào câu chuyện ông cụ mắng Thông: “Người ta bảo con thiếu thực hành, đó là chuyện ở trường trước kia, bây giờ cũng vậy. Bố không hiểu con thích hợp với thứ gì hả Thông, hay là con chỉ có thể đi quét đường?

    Về phần mình, Thông thành thật cho biết chính ông cụ muốn cậu con trở thành y sĩ và Thông nghĩ anh không đến nổi phải đi quét đường. Như vậy khuynh hướng ưa thích của anh nghiêng về ngành nào? Có thể là báo chí, nhưng chắc chắn không phải các ngành liên hệ tới giờ giấc đều đặn trong văn phòng hoặc làm việc chăm chút như bác sĩ giải phẩu. Thông đã thử hoạt động sáu, bảy nghề trong nhiều năm, ngay sau khi bỏ cuộc ngành y khoa, nhưng rốt cuộc đều thất bại cho tới khi được cơ hội thử làm việc một thời gian với ĐPN. Không ngờ tại đây anh thành công ngay từ bước đầu và cho tới lúc xảy ra án mạng, anh đã cộng tác tại công ty này được mười năm. Thông thường phải công tác xa nhà anh ở Đà Lạt, thuộc tỉnh Tuyên Đức. Ngoài thời gian đi đây đó chào hàng cho công ty, mỗi năm Thông làm việc bốn tuần lễ tại các phòng thí nghiệm ở ngoại ô thị xã Nha Trang, nơi chuyên thử nghiệm các loại thuốc mới và bốn tuần lễ khác tham dự những cuộc họp bàn về các trọng điểm thương mại và thị trường đáng chú ý. Thông thích có mặt vào các dịp nầy để chứng tỏ khả năng mình và để được cấp trên tán dương.

    Đào Huy Thông thành hôn với Dương Hồng Vân chỉ một thời gian ngắn sau khi tìm được việc làm tại công ty ĐPN. Vân trước kia là bạn gái học cùng trường trung học Văn Khoa với anh. Cha nàng là người có ảnh hưởng ngầm trong thành phố. Ông ta lúc nào cũng đội chiếc nón phớt nỉ đắc tiền mỗi khi lái Mecedes từ biệt thự rộng lớn ở đường Trần Bình Trọng lên phố, ngoại trừ những ngày chiếc xế nầy nằm ở bên ngoài câu lạc bộ đánh golf trên Đồi Cù ở Hồ Xuân Hương. Bà vợ ông ta lái chiếc xe nhỏ hơn, hiệu Peugeot 403.

    Sau khi được Dương Hồng Vân nhận lời thành hôn, Thông thưa với bố thì ông cụ bảo: “Gia đình họ có tới hai chiếc xe, tốt đấy, cậu đã chọn đúng chỗ để cưới vợ.” Còn bà mẹ thì nháy mắt với con trai, tỏ ý chức mừng và cho rằng định mệnh đã xui khiến Thông gặp được con gái nhà họ Dương. Hồng Vân cũng như Thông, đều là con một. Thực ra cuộc hôn nhân được thành tựu là do Thông biết điều khiển định mệnh. Sau lần đầu tiên may mắn được gặp lại Vân tại vũ trường khách sạn Duy Tân, Thông linh cảm nàng thuộc về anh. Từ đó, anh tán tỉnh nàng với tất cả nghệ thuật. Vào thời kỳ này, anh hai mươi tuổi và tự thấy đã tới lúc thích hợp để lập gia đình. Hồng Vân ở vào tình trạng như vậy vì tính ra nàng lớn hơn anh chàng đang ve vản mình tới hai tuổi. Vân là thiếu nữ tính tình ôn hòa, giản dị và về cơ thể, nàng có vẻ mập mạp. Do đó, nhìn vóc dáng bên ngoài thì không có mấy chàng chịu theo, nhưng bù đắp lại, nhờ gia đình Hồng Vân đi Mercedes và xe Peugeot, đồng thời thuộc thành phần có máu mặt trong thành phố. Đám cưới Vân và Thông được tổ chức rình rang tại giáo đường Thánh Nicola, kèm với bữa tiệc thết đãi hai trăm thực khách tại nhà hàng Palace sang trọng nhất Đàlạt. Sau đó, chính ông Dương Đình Phúc chi tiền cho mọi phí khoảng để con gái và chàng rễ tới thủ đô ánh sáng Paris hưởng tuần trăng mật. Trước những lời tỏ vẻ ái ngại của Thông, ông khoác tay, nói:

    – Đừng khách sáo, bây giờ con là người trong gia đình ta rồi!

    Tuy nhiên, về sau, Thông mới nhận thấy làm con rễ gia đình nhà họ Dương chẳng hưởng lợi lộc gì như anh vẫn tưởng và ngay cả không đúng như anh dự tính. Hai năm sau, ông già vợ qua đời bất ngờ ngay tại sân đánh golf vì bệnh tim thì chiếc nón ông vẫn đội, tượng trưng cho sự sang trọng, bị thiên hạ dèm pha là một hình thức lừa dối và điều này có lẽ đúng, bởi bất cứ thứ gì ông Dương Đình Phúc sở hữu trong thị xã đều không quan trọng hoặc chẳng đạt lợi nhuận bao nhiêu. Lúc còn sinh tiền, ông đã sống vượt quá mức thu thực sự. Do đó, sau khi ông lìa đời, ngôi biệt thự phải bán và lẽ dĩ nhiên chiếc Mercedes cũng ra đi, xe Peugeot được đổi lấy chiếc Renault bé hơn. Cuối cùng, bà góa phụ phải dọn đến ở trong một ngôi nhà nhỏ thấp ở đường Hoàng Diệu. Với hoàn cảnh gia sản như vậy, Thông và Vân không được thừa hưởng thứ gì cả.

    Kết cuộc, chỉ đúng được điều Hồng Vân nói là hai người còn có nhau. Cũng may, vào giai đoạn này, nghề nghiệp của Thông tại công ty ĐPN đang thăng tiến. Nhờ vậy, đôi vợ chồng son sống dưới một mái nhà xinh xắn nối vách với hàng xóm tại khu chung cư giáp ranh Đồi Cù, có lối kiến trúc cùng trang trí giống nhau như đúc, cũng một khuôn vườn nhỏ ở trước và đàng sau nhà được một khoảnh đất lớn hơn.

    Cuộc hôn nhơn tính đã khá lâu, nhưng chàng và nàng vẫn chẳng có con. Đối với sự kiện nầy, Vân có chút buồn phiền, nhưng Thông lại ngầm hài lòng. Anh là người thận trọng và tính toán nên cho rằng có con là phải chịu cả một vấn đề tốn kém trong khi vợ chồng anh không thể kham nổi. Hồng Vân dường như có khả năng đọc được những gì chồng tưởng nghĩ trong thâm tâm nên sau khi đề nghị Thông đến bác sĩ cắt ống dẫn tinh để ngăn ngừa khỏi có con, nàng kết luận:

    – Bằng lòng đi! Anh tự biết không muốn có con mà!

    Khó xử với lời nói của vợ, anh đính chánh: – Chưa hẳn anh không muốn có con, mà chính vì sự tốn kém, nếu sanh con. Anh đã tính hết, kể cả chi phí hàng năm em đã xài từ chương mục ngân hàng.

    – Em hiểu rồi! Thôi, có con hay không cũng chẳng quan trọng. Thực ra em chỉ muốn tụi mình được hạnh phúc, vậy thôi.

    Trên phương diện thực hành, không cần Hồng Vân phải đề nghị, vì chính Thông đã tự ý đến bác sĩ làm việc ngừa thai, như vậy, anh thấy yên tâm hơn.

    Gia đình hai vợ chồng phải chi khá nhiều vì ông cụ thân sinh của Thông và bà mẹ góa của Hồng Vân vẫn thường đến nhà con ăn trưa và tối đều đặn vào mỗi ngày Chúa nhật. Trong khi đó, hai vợ chồng còn phải dành tiền du hí tại vũ trường địa phương; ngoài ra phải giao du với xã hội. Chính trong những cơ hội thù tiếp bạn bè, Vân được dịp trổ tài nội trợ. Nàng tỏ ra chi dụng rất khéo léo số tiền do chồng phân phát mỗi tháng đến đổi ông cụ Đào phải khen con dâu nức nở.

    Đời sống lứa đôi càng kéo dài, Thông nhận thấy thân thể vợ càng mập, không còn hấp dẫn, nên thỉnh thoảng anh vụng trộm du hí vào những lúc được dịp. Trong công ty y dược phẩm ĐPN, Thông là tay bán hàng thành công, nên khoảng không gian hoạt động của anh cũng mở rộng. Do đó anh phải đi giao dịch xa và vắng nhà một hai đêm là chuyện thường. Vào những dịp nầy, mỗi tối anh thường tìm đến các quán rượu để tán tỉnh những người đàn bà lạc lỏng tại đó. Thông biết chắc những lần giải quyết sinh lý vụng trộm này không thể gây sứt mẻ chuyện hôn nhân gia đình giữa anh với vợ. Hơn nữa anh cũng không mấy quan tâm vì thấy Hồng Vân có vẻ thông cảm cho chồng.

    Có một đêm, nằm bên cạnh Thông, nàng bất ngờ hỏi:

    – Trước kia anh muốn cưới em chỉ vì tiền thôi, phải không?

    Thông cười thầm với câu hỏi của vợ vì anh chẳng nhận được đồng xu nào từ gia đình nàng. Anh chưa kịp đáp, nàng tiếp lời: – Để em nói cách khác. Anh hy vọng là sau khi lấy chồng ba sẽ cung cấp hoặc tìm cho em một việc làm xứng đáng và cuối cùng khi chết ông sẽ để cho em chút ít gia tài phải không?

    – Em suy luận như vậy cũng được, nhưng không đúng hẳn, mặc dù anh từng có chút ý tưởng đó ở trong đầu.

    – Nhưng dù sao, cuộc sống tụi mình bây giờ cũng chẳng đến nổi tệ phải không?

    Thông không trả lời dứt khoát. Anh hôn vợ và nói:

    – Cuộc sống của tụi mình hiện nay cũng tuyệt diệu đấy!

    – Anh dùng chữ tuyệt diệu không đúng lắm. Phải nói mọi sự đều êm xuôi. Anh xử sự rất tốt, chúng ta có nhiều bạn hữu và em thích làm việc nội trợ.

    Thông cắt ngang để khen vợ có tài quáng xuyến ngân sách gia đình, nhà cửa, nhưng Hồng Vân chưa muốn ngừng: – Anh đừng ngắt ngang câu chuyện, để em nói. Em chỉ buồn một diều là anh không thích đàn bà mập trong khi những biến đổi trong cơ thể đã làm em ngày càng to lớn. Em đã đọc đủ mọi loại sách mà vẫn chưa có cách giải quyết. Anh đi làm công việc của anh, em lo bổn phận của mình. Em nhớ trước kia anh thường tặng hoa và dầu thơm cho em. Bây giờ không còn nữa, nhưng em không trách, vì anh phải làm việc nhiều hơn đến nổi phải xa nhà ban đêm. Em muốn anh rõ là những lúc vắng em, anh đã làm gì em đều biết hết, nhưng đừng bận tâm, em chỉ nói vậy thôi.

    Đối với những lời Vân phân trần, nhiều lúc Thông muốn tâm sự với vợ, nhưng thấy bất tiện, sợ gây ngộ nhận vì khó thể hiểu nhau thấu đáo; tuy vậy, không phủ nhận những gì nàng vừa nói, anh hỏi: – Như thế, em có thể chịu được sao?

    Nàng trả lời, ánh mắt ngời sáng:

    – Bởi vì anh là chồng em, người đàn ông đẹp trai nhất em từng được gặp, chỉ có vậy.

    Vào giai đoạn này, Thông cũng phát tướng thật. Thời còn thanh niên, tính tình anh non dại và bất định, nhưng đến tuổi trung niên, làm việc thành công, khiến tự tin nên bao nhiêu năm qua sắc diện anh đã thay đổi tươi nhuận theo cách hoạt động làm ăn đang lên. Nhiều lúc soi gương, Thông thấy mình diển trai như tài tử điện ảnh. Nhất là khi gội rửa sạch sẽ, cạo râu thường xuyên, với mái tóc được cắt tỉa đúng kiểu và ăn mặc sang trọng, trông anh càng giống tài tử, phảng phất dáng nét của Trần Quang. Nhiều lúc Thông lại nghĩ mình có thể thuộc loại thời trang cổ điển. Thực ra anh cũng không muốn mình trẻ như thanh niên để tóc dài mặc quần jean, vì mặc dù mới ba mươi, mái tóc đen rậm của anh đã bắt đầu điểm bạc ở hai bên thái dương. Gương mặt bây giờ trông gầy như lúc mới cưới vợ, làm sắc diện anh trông rất rõ nét. Thông tự biết khuyết điểm của mình ở giọng nói với cái miệng không có khuôn mẫu và thiếu tự mãn trong cách thức tỉa bộ râu mỏng. Tuy vậy, nhìn toàn diện thì không thể phủ nhận anh đẹp trai, do đó, đối với phụ nữ, Thông là người có nhiều nét quyến rủ.

    Một hay hai hôm sau đêm nói chuyện với vợ, Thông mua hoa cho Vân và tuần sau anh mua tặng nàng một chai Magical Night, loại dầu thơm đặc biệt gây nhiều cảm hứng cho cuộc tình của hai người trong tuần trăng mật trước kia. Đối với quà tặng và vẻ ưu ái của chồng, Hồng Vân chỉ cười mỉm cám ơn và nựng nhẹ ở cằm Thông. Cử chỉ của nàng khiến anh có ý nghĩ phải chăng một người mang lọ dầu thơm gợi tình về nhà để chỉ được vợ vuốt ve như đối xử với đứa bé? Tuy nhiên, Thông chẳng quan tâm lắm vì anh vui thích với việc làm của mình và chiêm ngưỡng vẻ mặt thích thú của vợ, mặc dù anh không đam mê mấy trong tình yêu đối với Vân, nhưng nếu hỏi có là người đàn ông được mãn nguyện với hạnh phúc gia đình không thì anh sẵn sàng trả lời có.

    Thời gian sau đó, khoảng một năm trước khi xảy ra án mạng, Thông được dịp quen biết Ngọc Yến. Nàng sinh trưởng ở Sàigòn nhưng làm vợ Trương Mãn Du, nhà thầu xây cất, cũng ở ngay tại thị xã Đàlạt. Chồng nàng có chiếc cổ khá lớn và giọng nói oang oang như thứ tiếng phát ra từ máy phóng thanh. Thông gặp Yến khi anh tình cờ ngồi ăn tối bên cạnh nàng tại câu lạc bộ trên Đồi Cù Hồ Xuân Hương, và ngay từ đầu, hai người đã thấy có cảm tình với nhau. Thông ngạc nhiên vì những lời nàng mở đầu câu chuyện làm quen: – Từng trông thấy anh nhiều lần ở những buổi khiêu vũ, anh biết tôi nảy sinh ý tưởng gì trong đầu không? Tôi nghĩ là một ngày nào đó sẽ được dịp ngồi bên anh và tôi sẽ nói thẳng.

    – Nói gì?

    – Nói anh là người đàn ông có sức quyến rủ nhất trong vũ trường khách sạn Duy Tân. Tôi nói rồi đó!

    Chớp đôi mắt đen láy nhìn Thông một lúc, nàng tiếp lời: – Tôi biết Hồng Vân, vợ anh, đôi lần trong các cuộc họp mặt. Bà ấy dễ thương đấy, nhưng hình như anh không có thì giờ dành cho vợ. Vân nói anh thuộc típ người lúc nào cũng bận rộn.

    Thông thổ lộ công việc làm của mình với người đàn bà mới quen và không quên nhấn mạnh, chỉ cần một thời gian ngắn nữa, nghề nghiệp được thăng tiến, anh sẽ giữ một chức vụ quan trọng trong ban quản trị công ty ĐPN. Cuối cùng, anh hỏi:- Còn chồng của chị?

    – Người đàn ông có cái cổ lớn nhất, ngồi ở bàn bên cạnh kia. Ông ta chỉ nghĩ tới một thứ…

    Ngừng giây lát như để tìm lời, Yến nói tiếp: – Tiền, mặc dù ông ta đã có rất nhiều.

    Dứt lời, Yến quay mặt nhìn thẳng người đối diện. Bấy giờ Thông mới quan sát rõ người đàn bà. Da mặt nàng trắng muốt, ánh mắt thu hút, đa tình. Phía mặt bên kia nổi rõ dấu bớt son bẩm sinh khá lớn, chạy dài từ xương gò má lên tới thái dương. Môi nàng điểm nụ cười và thình lình bỏ mặc Thông, Yến quay sang phía khác nói chuyện với người đàn bà bên cạnh. Thái độ của Yến làm anh băn khoăn, không hiểu nàng có ý gì?

    Về nhà, Thông giả vờ vô tình hỏi dò vợ về Yến. Qua lời Vân, anh được biết Yến gặp chồng nàng, lão Du, do những lần tiếp xúc trong thời gian nàng là nhân viên giao dịch với khách ở chi nhánh Đông Nam Á Ngân Hàng tại Đàlạt. Mấy tháng sau, hai người cưới nhau. Cả hai đều tái giá.

    Hồng Vân nói tiếp: – Mấy bà già ở đây cho rằng cô ta nhận lấy lão Du vì tiền. Điều này có thể đúng, vì Yến nhỏ tuổi hơn ông ta nhiều. Sau đó, thiên hạ đồn cô ta điều khiển ông chồng làm việc nầy việc nọ. Em nghĩ có thể người ta dèm pha vì ganh tị. Anh thử đoán Ngọc Yến bao nhiêu tuổi? Ba mươi phải không?

    – Anh đâu nghĩ tới chuyện đó

    – Cô ta trực tính, thích nói thẳng điều mình nghĩ. Anh đối phó với Ngọc Yến như thế nào?

    – Đại khái thôi, thực ra anh không thích đàn bà bạo dạn như cô ta.

    – Em biết anh chỉ muốn người hiền dịu, không thích tranh cãi.

    Dứt lời, Hồng Vân nhìn chồng mĩm cười. Thông nghĩ vợ nói đúng, nhưng hơi bực mình nên anh nói ngược. Sự thực, Thông ngày càng cảm thấy phiền vì sự kiện Vân hầu như luôn luôn đọc được các ý nghĩ trong đầu anh.

    Đào Huy Thông là người thận trọng. Anh không làm bất cứ điều gì có thể gây tổn thương cho đời sống hôn nhân với Hồng Vân, cũng như cho công việc làm ăn và những gì anh cho là vai trò xã hội của mình. Do đó, anh chỉ thầm lén giao du xác thịt với những người đàn bà khác ở nơi rất xa nhà. Nhiều lúc Thông liên tưởng tới Hoàng Ngọc Yến và ánh mắt đa tình nàng dành cho mình. Ước muốn của anh phải chờ đến dịp khác tại nhà hàng Shanghai ở khu Hòa Bình. Thông và nàng đã cùng ăn trưa, không còn ngại ngùng như lần gặp gỡ trước. Anh mạnh dạn dọ hỏi nàng vì sao lại đi ăn riêng rẻ.

    – Những lần lão Du có việc xa nhà, em lười nấu nên đi ăn tiệm. Còn anh? Em được biết anh cũng thường xa nhà phải không?

    – Tôi hay đi đây đi đó vì nhu cầu chào hàng tại các địa phương khác. Ngày mai tôi lại có việc phải đi Nha Trang và Qui Nhơn, xa Đàlạt khoảng vài hôm.

    Nghe Thông nói, Yến lẩm bẩm, cho rằng anh may mắn. Bất chợt một ý nghĩ thoáng nhanh trong thâm tâm Thông. Hôm sau anh gọi điện thoại cho Yến, đề nghị tiển anh khỏi thị xã vài cây số. Thông mời nàng ăn tối tại khách sạn Palace, nơi nàng có thể lái xe đến, nhưng đủ xa để tránh ánh mắt tò mò của những người quen biết.

    Ngọc Yến trút hết phần chai bia còn lại vào ly và nói:- Em cứ nghĩ anh không bao giờ mời em.

    Thông để ý men rượu làm dấu bớt ở mặt nàng trở nên đỏ như vệt son. Đối với anh, lúc này vết bớt như có mãnh lực làm da mặt Yến trông hấp dẫn hơn.

    Đêm hôm sau, không ăn tối, cả hai đưa nhau vào thẳng gian phòng Thông đã lấy trước với tên và họ Nguyễn Văn quen thuộc của đa số dân Việt. Trước và sau cuộc mây mưa, Ngọc Yến tâm sự rất nhiều. Nàng cho biết đã chán ngấy ông chồng thô lổ, chán thị xã Đàlạt nhỏ bé cũng như chán các vấn đề chính trị tại địa phương. Thông cũng phụ họa với nàng, cho rằng anh không thích cuộc sống ở đây, nhưng thâm tâm nghĩ khác.

    Để nguyên thân hình lõa thể, Ngọc Yến rời khỏi giường đi thẳng vào phòng tắm. Thông nằm nghĩ ngợi mông lung và mơ hồ nghe tiếng nước chảy vội vàng. Một lúc lâu nàng bước ra, hỏi:

    – Anh vẫn hay vụng trộm kiểu này trước đây, phải không?

    Thông nhấn mạnh: – Không hẳn vậy!

    Vẻ đam mê và thèm khát tình ái của Ngọc Yến rất lạ đối với anh, nhưng Thông không muốn hỏi thêm về cuộc đời nàng vì sợ những gì phải nghe. Nhiều lúc, trước tính bạo dạn, sẵng sàng cởi mở của Yến, anh bất chợt thấy không được thoải mái vì có mặc cảm tội lỗi đối với vợ ở nhà. Tuy vậy, anh cảm ơn Yến đã cho mình một đêm yêu đương nồng thắm không thể tưởng và trong thâm tâm, anh thầm ước còn được lần thứ hai. Thình lình, tiếng Ngọc Yến lôi Thông trở về thực tại. Nàng hỏi: – Còn Vân, anh tính sao? Anh sẽ kể mọi sự cho vợ nghe chứ?

    Nhìn nàng với vẻ sững sốt, Thông đáp:

    – Tuyệt đối không bao giờ. Em cũng chớ có ý định như vậy nhé!

    – Kể với chồng em hả? Anh nghĩ em khùng hay sao? Hắn sẽ phủi tay sung sướng nếu biết em có mối tình khác. Để em nói sự thực anh nghe, chồng em sẽ không than phiền, vì ông ta có hàng tá bồ bịch; em từng bắt được thư đám con gái gửi ở trong túi áo của hắn. Do đó, em phải giữ kín để dành cho được một nửa tài sản của lão Du chứ.

    Dứt lời, môi nàng mím lại với vẻ hằn học và máu giận như dồn lên mặt làm vết bớt trở thành đỏ ửng.

    Trong mấy tháng kế tiếp, Ngọc Yến còn nhiều dịp đến khách sạn để ân ái với Thông. Có những lúc lão Du ở nhà, nàng đành phải thoái thác cuộc hẹn với tình nhân. Những lần như vậy, tuy cảm thấy rất khó chịu nhưng Thông không hề có ý tưởng tìm đàn bà khác thay thế Yến và trong thời gian tiếp nối, hai người ngày càng tiến sâu vào cuộc tình bằng tất cả đam mê.

    Đôi lúc Thông cảm thấy ái ngại vì tình trạng thân thiết giữa Yến với Vân. Đã hai lần trở về nhà sau cuộc viễn du xa mà Ngọc Yến đã hẹn ngủ với anh tại khách sạn, Thông thấy nàng ngồi trong phòng khách chuyện vãn với vợ mình.

    Nhiều lúc, Hồng Vân nói với chồng:

    – Em rất thích Yến. Cô ấy biết nhiều thứ, có lẽ vì là dân Sàigòn.

    – Nếu anh là em, anh không tiếp xúc với cô ta nhiều.

    Thông phản đối vợ với luận điệu yếu ớt và gượng gạo đến nổi Vân phải nghi ngờ, kể lể về tai tiếng của chồng. Tuy nhiên, như nàng từng biết, anh không bao giờ cãi vã ồn ào, ngay cả anh cũng chẳng màng nói lớn tiếng. Nếu lỡ có vài lời khắc bạc thì hôm sau anh lại tặng hoa cho vợ. Với món quà như vậy, Vân nhận hoa và chỉ khẽ nựng trên cằm chồng.

    Có một đêm tại khách sạn Palace, Yến cho Thông biết nàng đã ly thân với chồng, lão Trương Mãn Du. Dứt lời, Yến cười lớn tiếng, nhìn ánh mắt nửa tin nửa ngờ của người tình, rồi nói:

    – Thôi đi, anh đừng nhìn em với điệu bộ như vậy. Em nói thật đấy! Nhưng anh chớ lo, ông ta không biết tên anh đâu. Em đã nói với anh, em đầu tư trên sản nghiệp của Trương Mãn Du và cuộc ly thân này đã do cả đôi bên thỏa thuận. Cuộc dàn xếp giữa em với chồng rất êm thắm bởi vì ông ta muốn cưới một trong mấy cô bồ sau khi ly dị em. Tuy vậy, giai đoạn này chưa xảy ra. Thông à, anh là người tình có vóc dáng đẹp nhất mà em được gặp. Hãy đến đây với em!

    Ngập ngừng giây lát, Thông lên tiếng: – Em tính rời khỏi Đàlạt?

    – Đúng vậy, em đã nhắm một chỗ ở mới trong vùng Thủ Đức.

    – Như thế chúng mình phải dứt tình hay sao?

    – Em đâu nói vậy.

    Tuy được Ngọc yến trấn an, thâm tâm Thông vẫn nghĩ điều anh hoài nghi có thể xảy ra. Đến cư trú ở Thủ Đức, nàng rất dễ gặp lại những người bạn đầu môi chót lưỡi tại thành phố Sàigòn, những kẻ nàng từng giao thiệp trước kia hoặc những thành phần tương tự và nàng sẽ chóng quên anh. Thông thấy nao núng khi liên tưởng tới cuộc sống thiếu vắng Yến, Nghĩ đến sự kiện sẽ mất nàng, anh đã rất thực tâm khi dùng mấy chữ “không chịu đựng nổi”.

    Ngọc yến nhìn chăm chú người yêu một lúc như cố tìm hiểu tâm trạng Thông xong dịu dàng nói: – Dường như anh và em không thể rời nhau được nữa, phải không? Chúng ta cảm thấy buồn sầu khi phải chia xa. Tuy nhiên anh vẫn có thể đến thủ đô thăm em và em sẽ lái xe tới khách sạn gặp anh. Em cũng đã đam mê với cuộc tình của chúng mình.

    Chờ Ngọc yến dứt lời, Thông nói quả quyết:

    – Chúng ta không mất nhau mà sẽ sống đời với nhau.

    – Vậy Vân, anh tính sao? Em không muốn phá hoại hạnh phúc của bạn, làm chị ấy đau khổ. Dù sao Vân vẫn đối xử thân tình với em.

    – Anh sẽ trình bày, thuyết phục nàng hiểu. Thực ra Hồng Vân cũng chẳng cần gì ở anh.

    – Anh đang nói gàn đấy! Anh biết rõ mình hơn ai hết. Đối với em, anh chỉ là tình nhân, nhưng với Vân anh là người chồng. Tự hỏi lòng, em cũng không rõ đã thực tâm yêu anh hay chưa. Đúng ra em chỉ thích kiểu tình tự hoang đàng của chúng ta hiện tại thôi.

    Ngưng giây lát, Ngọc yến nắm tay Thông đặt chỗ vết bớt son ở mặt nàng và tiếp lời:

    – Dấu vết này, một ngày nào đó sẽ làm anh nhàm chán em nếu cứ phải nhìn nó hàng ngày.

    Trước ý tưởng bi quan của Ngọc yến, Thông phản đối và cho rằng từ ngày quen nhau, anh chưa bao giờ bận tâm tới vết bớt đỏ đó. Thế nhưng yến nói, giọng buồn bã:

    – Em vẫn biết anh có thể là người tình đam mê của em nếu vợ anh không còn đó. Nhiều lúc em cũng muốn có anh ở mãi bên mình, nhưng em mất hy vọng, vì anh đã thuộc về Hồng Vân.

    Nghe người yêu bộc bạch tâm tư, Thông nhận thấy nàng hữu lý. Sau đó, anh trở về gia đình với tâm trạng rối bời. Hồng Vân quan sát chồng một lúc, xong nàng lên tiếng:

    – Anh bâng khuâng vì Ngọc Yến phải không? Em cũng nhớ cô ấy lắm!

    – Em hàm ý gì vậy?

    – Em đã biết chuyện giữa anh với cô ấy, nhưng không phải do Yến kể đâu, cô ấy chẳng tiết lộ gì cả. Em đã hiểu rõ tâm ý của anh ngay sau khi anh nêu những câu hỏi trong bữa ăn tối hôm nọ.

    – Em thắc mắc gì không?

    – Có chứ! Sao em không bận tâm được?

    Hồng Vân bỗng ngừng nói, ngước mắt nhìn chồng; Thông thấy rõ nét mặt mập tròn của vợ và cái nọng hiện rõ ở dưới cằm nàng. Tuy nhiên, không chú ý tới ánh mắt chồng, nàng điềm nhiên tiếp lời: – Tuy nhiên nhận thấy những lần vụng trộm tình ái với Yến giúp anh thoải mái nên em đành im lặng chịu đựng. Ngoài ra em từng chứng kiến nhiều cuộc hôn nhân đầm ấm ban đầu, nhưng rốt cuộc cũng đưa đến đời sống ngoại tình.

    *    *    *

    S

    au khi Thông hoàn tất lần quan sát các phòng thí nghiệm ở ngoại ô thị xã, Ngọc Yến chưa rời khỏi Đàlạt. Tuy nhiên, nàng đã dọn ra khỏi ngôi biệt thự xinh đẹp của lão Trương Mãn Du; trong khi đó, chỗ dự định tại Thủ Đức vẫn còn dằng co vì giá cả thuê mướn chưa ngã ngũ. Trước tình cảnh của bạn, Hồng Vân đề nghị nàng đến ở tạm tại gian phòng trống trong nhà, nhưng ý tốt của vợ làm Thông ngỡ ngàng và anh phản đối. Vì vậy, Ngọc Yến phải về ở tạm trong nhà cô cháu của chồng. Tại đây, hàng ngày nàng được thuận tiện đến chuyện vản với Hồng Vân.

    Lái xe một mình xuống đèo Ngoạn Mục trên đường đi Nha Trang, Thông nghĩ ngợi rất nhiều về tình huống phức tạp của mình. Anh tự thấy khó xử và có ý tưởng muốn xa lìa vợ. Thông đã đặt hết lẽ sống vào Ngọc Yến nhưng vô vọng vì không có phương cách nào để giữ được mối liên hệ vĩnh cữu với nàng nếu Vân còn hiện diện. Thông nhận thấy, dù muốn dù không, anh phải chấp nhận sự hiện hữu lâu dài của Vân trong cuộc đời mình. Ý tưởng về cái chết của Hồng Vân nếu do anh chủ động, điều anh bất đắc dĩ phải nghĩ đến, Thông thực lòng không dám thực hành. Nếu bắt buộc phải có hành động bội bạc… Đang nghĩ, anh lập tức gạt bỏ ý tưởng manh nha trong đầu, vì sợ những toan tính ngông cuồng sẽ tiến tới độ nguy hiểm. Sự kiện mà về sau bị đưa ra ánh sáng, Thông buồn rầu thú nhận chính Nguyễn Đình Tuân, một người bạn thân, đã giúp anh thành kẻ sát nhân.

    Tuân là nhà hóa học nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực nghiên cứu. Ông tự cho mình là luật khi giữ chức vụ trưởng phần hành trách nhiệm phạm vi phòng thí nghiệm trong công ty. Tại đây, tất cả những sáng kiến đăng trên các loại báo khoa học ở khắp thế giới đều được đem thử nghiệm. Đa số loại tin nầy đều vượt quá giai đoạn thực hành, nhưng đối với Tuân, ông vẫn đạt được giải thưởng nhờ tài chế biến một sản phẩm hay một kỹ thuật hiện hữu để sau đó tung ra thị trường và rất thành công…Hóa học gia Nguyễn Đình Tuân có dáng vóc thấp nhỏ, với ánh mắt vui nhộn sau đôi kính cận gọng mạ vàng. Ông uống rượu như hủ chìm và sống độc thân vì sợ đàn bà kềm chế. Tuân và Thông trở thành đôi bạn tâm đầu ý hợp ngay sau lần gặp gỡ đầu tiên và từ đó, hai người thường đi du hí với nhau ở thị xã Nha Trang.

    Trong lần viếng nầy, như thường lệ, Thông đảo quanh các phòng thí nghiệm, kể cả bên trong khu cấm địa của Tuân. Anh đàm đạo với các khoa học gia và nhân viên kỹ thuật về vấn đề thử nghiệm cùng những sáng chế trong nội vi công ty. Đến trung tâm của Tuân, Thông được bạn tiếp đón niềm nỡ và chỉ cho xem đủ loại hợp chất hóa học đang sủi bọt trong các loại bình tròn, cổ cong và những giống chuột lớn, bé, đã được chích thí nghiệm với nhiều loại thuốc làm chúng bị biến tính thành hiền lành hoặc hung dữ. Ngoài ra còn các loại dược phẩm đang được nghiên cứu để bào chế loại thuốc chữa lành các chứng nhiễm độc ở da hay trị lành bá bệnh, nhưng vẫn còn đặc tính gây phản ứng phụ. Tại đầu cuối gian phòng rộng lớn còn sắp nhiều lọ nhỏ và chai chứa các loại sản phẩm đầy hứa hẹn cho các cuộc thí nghiệm qui mô khác. Một số lớn cho thấy có những biến chứng trái với ý muốn, nhưng may mắn vẫn còn một hay hai loại dược phẩm hiệu nghiệm để tung ra thị trường.

    Với đôi mắt mở rộng hầu như không nháy trong lúc nói chuyện, Tuân giới thiệu với bạn tất cả mọi thứ với giọng đầy triển vọng, làm Thông cũng hăng say tìm hiểu và lắng nghe một cách thích thú. Cuối cùng, Tuân vói tay nắm lấy chiếc lọ khá lớn, chứa một chất lỏng có màu đục và một chai khác nhỏ hơn đựng dung dịch màu vàng nhạt. Lúc Tuân nâng cao chai lớn, Thông để ý miếng nhãn nhỏ ghi mấy chữ noscan, và ông bạn lên tiếng, giải thích:

    – Chất kỳ diệu này rất hứa hẹn, đây là sản phẩm cách mạng. Anh biết, hiện nay phụ nữ mang thai đều phải qua máy dò để biết vị thế thai nhi nằm trong bụng ra sao v.v.. Tuy nhiên giới y sĩ sản phụ khoa cho rằng nếu kết quả không rõ, tất phải dò lại lần thứ hai và như vậy, bà mẹ lẫn thai nhi sẽ bị ảnh hưởng tai hại. Do đó, chất noscan này được sử dụng để hóa giải nguy hiểm. Chỉ cần một liều lượng vừa đủ, mấy tấm phim quang tuyến sẽ cho thấy ảnh rõ như khắc hình vào đấy.

    – Nếu thế thì còn bị trở ngại gì?

    Tuân nhìn Thông với vẻ mặt khôi hài, bàu chữa:

    – Tôi đâu cho là bị trở ngại. Thực ra chỉ còn chút khó khăn nhỏ phải điều chỉnh thôi.

    – Thứ gì chứa trong chai kia?

    Vừa nói, Thông vừa chỉ chai nhỏ dán nhãn vọn vẹn hai chữ NX.

    Trước câu hỏi tò mò của bạn, Tuân nói như thì thầm: – Thuốc độc nguyên chất đấy! Tôi được đọc bài của một khoa học gia người Đức viết về dịch chất lấy từ loại cây beloa mọc trong rừng nhiệt đới xứ Ba-Tây. Tại địa phương, người da đỏ dùng trộn với bùn để trị các vết thương cùng những chỗ đau nhức trên cơ thể và cho là thần dược có thể chữa lành mọi thứ bệnh dưới ánh mặt trời. Tôi không thể cho bạn biết từ đâu tôi đã có được thứ dung dịch nầy, nhưng đây là dịch chất cây beloa thứ thiệt. Loại độc dược thuần chất này đặc biệt không màu, không mùi vị. Phải sử dụng bao tay cao su khi làm việc, vì chỉ cần thấm một ít vào khăn tay ngửi hoặc chỉ cần nhỏ vài giọt lên da, nạn nhân sẽ chết tức khắc mà không bị cảm giác đau đớn gì cả, không gây triệu chứng cũng như không để lại dấu tích, chỉ có việc mất mạng mà thôi.

    Dứt lời, Tuân cười lớn tiếng với tất cả sản khoái trong lúc Thông tỏ vẻ hoài nghi:

    – Như vậy thì đâu có hữu ích, và để dùng vào việc gì chứ?

    – À, đấy là trở ngại nội bộ cần điều chỉnh. Cậu nên biết, chính dịch chất beloa có khả năng làm cho phim quang tuyến chụp rõ hình ảnh, hiểu chưa? Tụi này đang tìm cách loại trừ độc tính trong dung dịch để có thể sử dụng hiệu quả hơn. Chúng ta không thể trộn với bùn như dân da đỏ đã làm chỉ vì muốn giữ nguyên dạng dung dịch lỏng. Tôi thử pha với rất nhiều chất, tỉ như đây: noscan 7, chất hỗn hợp thứ bảy và cũng đã thí nghiệm sáu loại pha chế trước đây trên các loại chuột, thỏ, bọ.

    – Kết quả ra sao?

    – Chúng không sống nổi! Khó khăn nằm ở điểm này đấy! Tuy vậy, vẫn còn đủ dung dịch noscan để pha chế. Thôi, tạm ngưng ngang đây đi, đừng hỏi dài dòng nữa. Tối nay tụi mình hẹn gặp nhau ngoài phố được chứ? Tôi đã sắp xếp mọi thứ để đãi cậu.

    Sau bữa cơm tối, Tuân đến tìm Thông tại khách sạn. Hai người rủ nhau đi nhậu và tán gẩu. Tiếp đến, Tuân giới thiệu hai cô “gái tài tử” với bạn, nhưng Thông khước từ cơ hội vui chơi vì không muốn mang mặc cảm tội lỗi với Ngọc Yến, điều mà anh không bao giờ nghĩ đến khi lén vợ anh, để vụng trộm với các phụ nữ khác. Anh lịch sự chi tiền đãi bạn và xin lỗi cáo từ xong đơn độc trở về phòng trọ.

    Suốt đêm hôm ấy, Thông không thể nào chợp mắt. Anh suy nghĩ rất nhiều về sự kiện Vân vẫn còn hiện hữu bên cạnh cuộc đời của mình. Cuối cùng trong đầu óc anh nảy sinh ý tưởng việc gì cũng có thể làm được nếu quyết tâm. Vân đã biết Yến hiện diện trong trái tim anh và chịu đựng sự kiện chồng lén lút ngoại tình. Liên tưởng tới câu nói của vợ: “Cuộc hôn nhân nào dù đẹp cách mấy rồi cũng đi đến tình trạng phải chịu đựng mọi thứ”, Thông nhận thức được thực trạng anh sẽ mãi mãi là người chồng ngoại tình nếu cuộc sống với nàng càng kéo dài và theo năm tháng, anh sẽ chán ngấy vì thực tế vợ anh ngày càng mập béo, da thịt nở phồng như chiếc ghế nệm. Tệ hại hơn nữa, Hồng Vân từng chứng tỏ với Thông nàng có khả năng đọc biết ý nghĩ của anh nhưng vẫn cứ phải câm lặng chịu đựng những buồn phiền chồng chất.

    Càng ngẫm nghĩ, Thông càng thấy nỗi bực bội vô cớ tràn ngập trong lòng. Sâu trong tiềm thức, anh nghe văng vẳng những lời Ngọc yến nói: “Nếu Vân không còn, em sẽ mãi mãi ở bên anh.” Tự dưng thấy lòng xao xuyến khó tả, Thông lẩm bẩm, thầm sửa lại câu nói của người yêu: “Anh cũng mong được có em mãi mãi.” Tuy nhiên, qua những ý nghĩ trong đầu, thành thật xét lòng mình, Thông nhận thấy có lẽ anh chẳng bao giờ nảy sinh ý tưởng bội bạc với vợ để được sống cùng người yêu nếu không gặp Tuân, không được nghe nói tới chất noscan và không thấy chai nhỏ đựng chất NX.

    Gặp Tuân vào buổi tối, Thông vờ hỏi thêm đôi câu có vẻ ngẩu nhiên trong lúc cùng bạn chờ hai cô gái làng chơi đến. Qua câu chuyện, Tuân tỏ ra thích thú, cho bạn biết nhiều chi tiết về những khám phá trong lĩnh vực hóa chất. Ông ta nói thao thao bất tuyệt, nhưng Thông chỉ tưởng nghĩ đến loại thuốc độc thực tiển của bạn rất thích hợp với mục đích toan tính. Anh hài lòng với công dụng giết người êm thắm, chẳng để lại dấu vết của thuốc vì anh không muốn Hồng Vân bị đau đớn và hành động tàn nhẫn của anh bị phác giác. Nguyễn Đình Tuân còn cho biết, trong các cuộc thử nghiệm, thỏ và bọ đã ngã lăn ra chết nhẹ nhàng vì tim ngừng đập.

    Thông suy tính phương cách làm sao để vợ anh qua đời tự nhiên như bị chứng tim hành. Bản tính vốn cẩn trọng, anh không muốn sơ suất để lộ một điểm nhỏ nhặt nào khiến người ta có thể phác giác được. Thông thấy chẳng nên dại dột nghĩ đến chuyện thực hành nếu mưu định chưa có kế hoạch chu đáo. Tuy nhiên, anh cảm thấy rất tự tin khi những điểm làm anh lo âu được giải tỏa. Nếu Tuân nói đúng sự thật, không ba hoa quá đáng thì anh chẳng thể thất bại và không ai biết được việc làm ám muội của anh… Bây giờ vấn đề quan trọng là làm sao đánh cắp thuốc độc mà Tuân không hay biết. Tuy suy tính như vậy, nhưng một lần nữa, Thông tự nhủ lòng, nếu không có cơ hội thực hiện ý định, anh sẽ xem như đấy là điềm báo dấu hiệu bất lợi và sẽ gạt bỏ mọi mưu toan, không tính chuyện thực hành nữa. Sau đó, Thông mua một chai lọ nhỏ để chứa độc dược, một ống dẫn và cặp găng tay an toàn.

    Cuối cùng, vấn đề khó khăn nhất bỗng dưng được giải quyết một cách dễ dàng y như định mệnh đã an bài. Thông luôn luôn lưu lại ở các phòng thí nghiệm ba hôm và mỗi ngày anh đến viếng trung tâm của Tuân để đấu láo. Vào ngày cuối, trong lúc người phụ tá mải ở thư viện bên cạnh để lục lọi một số hồ sơ, còn Tuân được gọi đi tiếp nhận điện thoại, và chỉ mình Thông hiện diện trong phòng thí nghiệm. Anh chú ý chiếc chai nhỏ đựng thuốc độc NX đang chứa đầy tới ba phần tư. Mang găng tay vào, Thông cẩn thận rót khoảng hơn một phân bề cao cột chất lỏng chứa bên trong vào chiếc lọ nhỏ của mình. Hoàn tất công việc đánh cắp chỉ trong mấy giây đồng hồ, anh mừng thầm nhận thấy tay không bị vấy chất độc.

    Thời gian sau đó, hầu như số mạng đã đưa đẩy Thông tiến tới. Anh vẫn tự nhủ nếu có gì đáng ngờ trong thời gian dự tính, anh nhất định sẽ gạt bỏ ý định ám muội của mình. Nhưng khi về đến nơi, Thông thấy Ngọc Yến đã dọn đến trọ ở gian phòng trống trong nhà mình và được biết việc nàng muớn nhà ở Thủ Đức vẫn còn rắc rối, trong khi đó nàng lại có chuyện xích mích với đứa cháu. Vì vậy, Ngọc Yến quyết định nhận lời bạn mời, tới nhà Vân tạm trú.

    Vừa thấy mặt chồng, Hồng Vân nói với giọng chân tình đến độ làm Thông ngỡ ngàng và bất mãn trong lúc Ngọc Yến nhướng đôi mắt đen nháy, thích thú nhìn thái độ anh phản ứng.

    – Anh à! Rốt cuộc Yến là người trong gia đình mình!

    Giới hạn chịu đựng của Thông đã tràn đầy vào đêm thứ hai sau khi anh về với vợ. Đang nằm bên cạnh chồng, Vân chợt nói:

    – Nếu anh muốn, cứ vào ngủ với Yến, em không thắc mắc gì đâu.

    Cảm thấy khó chịu trước lời đề nghị đột ngột của vợ, anh đáp: – Không bao giờ! Yến là bạn em và là khách trọ trong nhà mình, sao em lại có ý tưởng như vậy?

    – Em thấy ở nhà nào cũng vậy, có khác gì đâu?

    Thông lắc đầu bực bội vì không thể giải thích nổi. Tình yêu của anh đối với Ngọc Yến rất lãng mạn và đầy tính chất đam mê, nhưng việc ngoại tình với người đàn bà khác được vợ biết và tán thành ngay trong nhà, đối với anh là điều không thể chấp nhận. Do đó, những lời xúi bẩy không nhằm lúc của Hồng Vân đã vô tình phá tan ý tưởng ngần ngại của anh trong việc muốn ám hại vợ. Thông thầm nghĩ số phận của Vân đã được định đoạt.

    Thấy vợ đã dùng hết lọ nước hoa Magical Night, Thông mua ngay chai khác và trước khi trao nàng, anh kín đáo mở nút, thận trọng trút loại dịch chất NX giết người từ chiếc lọ bé nhỏ vào đấy. Khi nhận lọ dầu thơm từ tay chồng, Hồng Vân nở nụ cười nhẹ nhàng như thầm cảm ơn Thông đã dành cho mình những đêm ái ân hạnh phúc bên nhau.

    Hôm sau, trước khi ra đi, Thông nói những lời mà anh thầm nghĩ đã dối trá với vợ qua mấy câu ân cần dặn dò nàng nên dùng dầu thơm trước hoặc ngay ngày anh trở về, để nếu nàng xiêu lòng thì anh và Ngọc Yến sẽ thấy ngay kết quả. Thông hy vọng những lời dịu ngọt sẽ giải quyết được “vấn đề” và với thâm ý, tốt nhất anh nên vắng nhà vào giai đoạn này. Tuy vậy, anh vẫn băn khoăn, chỉ sợ Nguyễn Đình Tuân nói sai và anh sẽ rất khổ tâm nếu chất độc hành Vân đau đớn.

    Vào buổi tối thứ ba trong bốn ngày công tác, Đào Huy Thông không ngạc nhiên khi được thông báo thám tử Đinh Trọng đang chờ gặp dưới lầu khách sạn. Anh chuẩn bị để phô diễn vẻ mặt ngạc nhiên và đau khổ của mình khi nghe tin Hồng Vân qua đời, đồng thời soạn sẵn những lời cần đối đáp như: “Thật không ngờ, Vân vẫn mạnh khỏe khi tôi rời khỏi nhà”, hoặc “À, tôi nhớ ra rồi! Nàng thường than phiền bị đau nhức ở hệ thống tiêu hóa.” Nhưng Thông không bao giờ được dịp ứng dụng các câu nói anh sắp đặt. Bằng đôi mắt sắc bén chuyên nghiệp, viên thám tử với với người phụ tá đứng cạnh, đã lên tiếng ngay khi vừa trông thấy anh:

    – Ông là Đào Huy Thông? Tôi có trát tòa bắt giữ anh về tội cố ý giết bà Hoàng Ngọc yến.

    Nghe những lời người thám tử nói, mặt Thông biến sắc tái nhợt. Anh ngây người, há hốc miệng lộ vẻ ngạc nhiên tột cùng. vì không thể nào đoán nổi vì sao âm mưu của mình lại xảy ra trái ngược như vậy? Đầu óc tuy băn khoăn, anh vẫn cố khai thác viên thám tử để khám phá những điều cần biết, do đâu anh bị kết tội âm mưu đầu độc Yến mà thực lòng anh không hề chủ tâm.

    – Đừng vờ nữa ông Thông. Ông biết rõ là thuốc độc được pha trong lọ nước hoa Magiacal Night mà.

    Anh ngoan cố hỏi vặn: – Chính ông đủ khả năng tách rời thuốc độc ra?

    Viên thám tử cười mỉm, tỏ thái độ không được vui, đáp:

    – Chúng tôi biết xuất xứ loại thuốc độc ông xử dụng. Ông đã rót một ít chất độc thực vật tên NX lấy từ phòng thí nghiệm tại công ty ông làm việc và trút vào lọ nước hoa để tặng vợ.

    – Tôi không chấp nhận lời cáo buộc của ông, và xin cho biết, ông đủ khả năng tách rời chất độc khỏi lọ nước hoa hay sao?

    Trước câu hỏi của Thông, viên thám tử lặng thinh không trả lời khiến anh nghĩ thầm Tuân nói đúng, chất độc không thể nào phác giác được, nên nhấn mạnh:

    – Nếu không, sao ông biết trong chai có độc dược?

    – Có gì khó đâu! Chúng tôi áp dụng cách thực tiển nhất là lấy một lượng nhỏ chất lỏng trong lọ dầu thơm cho vào thức ăn của chuột và thấy chúng ngã lăn ra chết trong vòng nửa giờ.

    Thông đuối lý trước lời giải thích xác đáng của người thám tử và anh ân hận đã không có mặt ngay tại chỗ kịp lúc để phi tang, lấy chai trút bỏ hết dung dịch dầu thơm còn lại bên trong.

    Viên thám tử tiếp tục giải thích: – Đến lúc chúng tôi liên lạc với bạn anh ở phòng thí nghiệm, ông Nguyễn Đình Tuân xác nhận nguyên nhân làm cho chuột chết là do một loại thuốc độc đặc biệt. Vì vậy, ông ta soát lại chai dịch chất NX và cho biết mực chất lỏng đã xuống thấp hơn trước, chứng tỏ có người rót trộm.

    Lời giải thích của viên thám tử đã rõ, nhưng Thông vẫn muốn hỏi cho biết do đâu ông ta có thể nghi ngờ được tất cả mọi sự, nhưng cuối cùng, anh nói: – Tôi xác nhận có tặng vợ tôi, chai dầu thơm Magiacal Night, nhưng không hề đưa cho cô Ngọc Yến.

    – Chúng tôi biết, đáng lý ra nạn nhân phải là vợ anh chứ không phải Hoàng Ngọc Yến

    – Vậy thì sao?

    – Bà Dương Hồng Vân nghĩ ông đùa một cách quái ác và khai ông đã kín đáo tư tình với cô Yến. Ông xác nhận điều này chứ? Ông không nhận cũng được, vì chúng tôi đã có đầy đủ chứng cớ sau khi kiểm soát các khách sạn mà hai người từng lui tới hẹn hò. Lọ dầu chính là để cho vợ ông, nhưng bà lại trao cho bạn và bảo rằng dầu thơm không chắc đúng loại Magical Night bà ưa thích. Cô Ngọc Yến bật cười rồi mở ra ngửi thử, xong xức vài giọt trên tay và trên mặt. Sau đó chỉ được vài phút, cô ta ngã vật xuống và không đầy một giờ đồng hồ thì tắt thở.

    Nghe đến đây, Thông sực nhớ vợ mình có thể đã nghi ngờ ngay từ đầu. Anh quên mất nàng có biệt tài thấu hiểu được tâm ý của chồng một cách kỳ lạ. Do đó, có lẽ lính tính báo cho biết chồng muốn hại mình nên đã trao chai dầu thơm cho Yến thử chăng? Anh hỏi: – Rồi sau đó?

    – Vợ anh gọi y sĩ ngay, nhưng khi ông ta đến nơi, nạn nhân đã lìa đời vì chứng tim bất ngờ ngưng hoạt động. Cái chết của cô Ngọc Yến có thể được xem rất tự nhiên nếu không có điểm đáng lưu ý mà vợ anh phác giác ra khiến chúng tôi được gọi tới điều tra, để từ đó tìm được mấu chốt dẫn đến anh ở đây. Đúng như thế đấy!

    – Đúng như thế là sao?

    Viên thám tử mỉm cười, đáp: – Tôi được biết ông Tuân không những chỉ tiết lộ với ông về công dụng của độc dược NX cực mạnh như thế nào mà còn nói đấy là loại chất đáng chú ý?

    – Ông ta có nói, nhưng rồi sao? Vợ tôi đã tìm thấy gì?

    – Đáng lẽ vợ anh chẳng phác giác được gì, nhưng vì cô Ngọc Yến thoa dầu thơm ở gần chỗ có dấu bớt son khá lớn ở một bên mặt và khi cô ta chết, vợ anh chợt để ý là trong vòng một hay hai phút sau, dấu bớt son bỗng dưng biến mất, không còn dấu vết gì cả.

    QUANG THIỆN