image_pdfimage_print
  • Văn

    Trần Khải : Những Ngày Tháng Năm

    Những Ngày Tháng Năm

    Trần Khải

    Tháng năm ở quê nhà có quá nhiều chuyện. Không chỉ chuyện Biển Đông, mà cả chuyện ngay giữa Hà Nội. Không chỉ chuyện của người, mà cả chuyện của hoa. Mới biết, vào cõi này là khổ trăm bề…
    Trước tiên, tháng 5 năm nay là bắt đầu vượt qua dấu mốc 35 năm Miền Nam thất thủ. Nghĩa là trải qua hơn ba thế hệ tuổi trẻ, ba thế hệ của những người không liên hệ gì tới cuộc chiến dai dẳng giữa hai miền Nam-Bắc VN, vừa là nội chiến và vừa là tranh chấp ý thức hệ.
    Vậy là xong, chỉ thêm 10 năm nữa hoặc hơn, sẽ có thêm nhiều triệu người Việt của một thời Nam-Bắc phân ly trở về với cát bụi, và các thế hệ trẻ sẽ phải lo với các ưu tư mới — của khai thác mỏ bauxite để mai phục Tây Nguyên, của Biển Đông dậy sóng, của hàng trăm ngàn mẫu rừng cho các công ty phương Bắc thuê khó đòi lại được, của môi trường ô nhiễm cạn sông chết cá, của phố thị khói xe mịt mù, của những lá thư chính phủ Hà Nội có câu đầu là chữ Oa-sinh-tơn và câu kế tiếp là chữ huy-vọng thay cho hy-vọng… Trời ạ, quê nhà biến dạng tới nổi không nhìn thấy có gì là quen thuộc nữa.
    Cũng tháng này, nhà thơ Hoàng Cầm đã ra đi ngày 6 tháng 5-2010. Một vì sao đã băng trên bầu trời thi ca quê nhà. Ông vẫn luôn luôn là một ngọn núi sừng sững, bất kể bao nhiêu áp lực đày đọa — thậm chí phi lý tới mức, như khi Bộ Công An đã quyết định trả tự do theo nhắc nhở của Lê Đức Thọ và áp lực quốc tế, thì chỉ vì một câu nói của Tố Hữu cũng đủ giam nhà thơ Hoàng Cầm thêm một năm tù. Đó là lời của nhà thơ Hoàng Hưng viết trong bài “Trước linh cữu nhà thơ Hoàng Cầm,” đăng trên các mạng Talawas và Boxitvn. Hoàng Cầm đã trở về cõi vô cùng, nhưng chắc chắn rằng những dòng thơ của ông vẫn tưới mát ngôn ngữ dân tộc Việt Nam không thôi.
    Nếu chúng ta nhớ rằng, trong tháng 4 cuả 35 năm trước là những cuộc di tản kinh hoàng của Quân Lực VNCH, và để nói chính xác, là những cuộc di tản hàng hàng lớp lớp của nhiều triệu người dân bình thường từ các tỉnh Miền Trung và Tây Nguyên từng có kinh nghiệm về sự đàn áp chuyên chính khốc liệt của những người CSVN.
    Trong tháng 5 năm nay, là một cuộc di tản trong đêm của một người ở Hà Nội: Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt, người nửa đêm được đưa lên phi cơ, bay từ Hà Nội sang Mỹ. Cuộc di tản này là sự sắp xếp của nhà nước CSVN, vì không muốn thấy ông Kiệt hiện diện ở VN nữa, bất kể rằng Hội Đồng Giám Mục VN đã thu xếp để đưa TGM Kiệt về Châu Sơn dưỡng bệnh  sau khi thu xếp để Tòa Thánh Vatican ưng thuận cho ông từ chức.
    TGM Ngô Quang Kiệt, 58 tuổi, phảỉ ra đi, để bàn giao Tổng Giáo Phận Hà Nội lại cho Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Nhơn, 72 tuổi. Chuyện đã được tiên đoán từ nhiều tuần trước: TGM Kiệt phải ra đi, vì nhà nước CSVN không thích có những cuộc biểu tình nhiều ngàn người – trên hình thức là xuống đường cầu nguyện đòi công lý, lúc đầu là đòi nhà nước trả đất Tòa Khẩm Sứ, và sau là đòi trả đất Giáo Xứ Thái Hà. Khởi sự cuộc cầu nguyện tập thể là trong tháng 12-2007. Tính tới bây giờ, kể như là gần 2 năm rưỡi, sau khi qua những sóng gió cả về xô xát, về pháp lý, về can thiệp của Vatican khi đưa TGM Kiệt sang Rôma chữa bệnh.
    Một tuần lễ trước ngày sinh nhật ông Hồ (ngày 19 tháng 5), TGM Ngô Quang Kiệt trong đêm 12-5-2010 đã được bí mật đưa lên phi cơ bay sang Mỹ. Không để chậm hơn được sao, và không để ban ngày cho có tiệc chia ly cho phải lẽ? Nhà nước CSVN sợ dân chúng ra đưa tiễn đông, lại sợ giaó dân mang biểu ngữ ra tràn ngập phi trường Nội Bài, thế nên phải lặng lẽ đẩy TGM Kiệt di tản đêm…
    Nhưng tại sao bay sang Mỹ? Có ông Đạị Sứ Mỹ Michael Michalak tiễn chân TGM Kiệt ở Nội Bài hay không? Có phải visa nhập cảnh Mỹ làm theo thủ tục khẩn cấp, theo yêu cầu của CSVN đẩy đi càng sớm càng tốt?
    Nhưng tại sao phải sang Mỹ, sao không sang Rôma như kỳ chưã bệnh lần trước? Có phải vì Đức Ông Cao Minh Dung ở Tòa Thánh Vatican muốn như thế?
    Tình hình di tản khẩn cấp tới mức, theo bài viết nhan đề “TGMHN Giuse Ngô Quang Kiệt bất ngờ đi nước ngoài” đăng ngày Thứ Năm 13-5-2010 trên trang Nữ Vuơng Công Lý, trích:
    “Đức TGMHN Giuse Ngô Quang Kiệt đã bất ngờ bay đi nước ngoài vào đêm 12/5/5010 làm xôn xao dư luận Hà Nội.
    Ngày 9/5/2010, TGMHN Giuse Ngô Quang Kiệt vào Toà Giám mục Vinh chúc mừng Kim khánh Giám mục Phaolo Cao Đình Thuyên. Ngài đã ở laị Toà GM Vinh một đêm với Đức cha Cao Đình Thuy&ec
    irc;n và sáng 10/5/2010, Ngài đã dâng Thánh lễ cho Dòng Mến Thánh giá Xã Đoài.
    Sau khi dâng Thánh lễ, Ngài đã về đan viện Xito Châu Sơn – Ninh Bình, nơi đã chuẩn bị cho Ngài chỗ nghỉ ngơi sau ngày 13/5/2010 hôm nay – Ngày Ngài phải rời chức TGM HN để giao lại quyền TGM cho TGM Phó Nguyễn Văn Nhơn cách chính thức. Theo dự định, Ngài sẽ trở lại Đan viện Xito Châu Sơn vào ngày 18/5/2010.
    Ngày 11/5/2010, bất ngờ Đức TGM Phó Hà Nội Nguyễn Văn Nhơn đến Châu Sơn tha thiết mời Ngài về HN để “có việc gấp”.
     Chiều 12/5/2010, từ 9h, Ngài về Toà TGMHN bình thường, đột ngột đêm 12/5/2010, Ngài lên đường đi nước ngoài (theo Văn phòng Toà TGM thông báo) trước sự ngỡ ngàng của tất cả mọi người.
    Điều đáng nói, là cách đó hai ngày, CTV Nữ Vuơng Công Lý cho chúng tôi biết, một cán bộ của Mặt trận Tổ quốc VN đã tiết lộ: Trước sự phản kháng mạnh mẽ của giáo dân Hà Nội và khắp nơi, nhà cầm quyền Hà Nội biết rằng nếu Đức TGM Giuse dù về hưu hay ở đâu thì cũng không thể giải quyết triệt để “Vấn đề Ngô Quang Kiệt". Đặc biệt khi Thư Thỉnh nguyện của Giáo dân với hơn 15.000 chữ ký đã đến Vatican…”
    Tháng Năm quả nhiên là đầy sóng gió. Dù là ở Biển Đông, hay ngay giữa Hà Nội.
    Tuy nhiên, bắt đầu từ tháng 5 năm nay, Hà Nội quyết định chỉ chơi hoa giả. Nghĩa là, nghị quyết của thành ủy là, hoa thật là để thế giới chơi, còn dân Hà Nội là phải chơi hoa giả. Chuyện tưởng như đùa, nhưng mà là thật: Lễ hội Hoa Anh Đào do Trung Tâm Việt Nhật tổ chức taị Hà Nội sau liên tục ba năm 2007, 2008 và 2009, năm nay 2010 quyết định chỉ xài hoa anh đaò giả.
    Và Lễ Hội Hoa Anh Đaò được đổi tên thành Lễ Hội Satsuki Nhật Bản, theo các báo quốc nội. Lễ hội này khai mạc hôm 8-5-2010 tại Trung tâm Hội chợ triển lãm Giảng Võ – Hà Nội. Báo Tiền Phong, bản tin nhan đề “Satsuki thế chỗ lễ hội anh đào” hôm 9-5-2010 viết, “…Diễn ra trong hai ngày 8 và 9-5 tại Triển lãm Giảng Võ (Hà Nội), lễ hội Satsuki chứng tỏ sức hấp dẫn khác biệt so với lễ hội hoa anh đào các năm trước.”
    Vì xài hoa giả, nên đổi tên là Lễ Hội Satsuki, tức Lễ Hội Tháng Năm. Tuy giả, nhưng vẫn “hấp dẫn khác biệt…” Thế mới lạ.
    Báo Thể Thao và Văn Hóa số ngày Thứ Bảy 8-5-2010, bản tin nhan đề “Vì sao Lễ hội hoa anh đào đổi tên?” đã viết:
    “Tiếp nối thành công của Lễ hội hoa anh đào Nhật Bản tại VN trong 3 năm 2007, 2008, 2009, thu hút được rất nhiều sự quan tâm của các bạn trẻ và nhân dân VN, năm nay BTC quyết định đổi tên thành Lễ hội Satsuki (tiếng Nhật nghĩa là Tháng năm) sẽ diễn ra trong 2 ngày 8 – 9/5 tại Trung tâm Hội chợ Triển lãm VN (148 – Giảng Võ, HN), với mong muốn lễ hội như một bó hoa tươi thắm góp một phần nhỏ trong các sự kiện chào mừng 1000 năm Thăng Long – Hà Nội.
    TT&VH đã có cuộc trò chuyện với chị Đỗ Thị Minh Phương, Ủy viên Ban điều hành Lễ hội.
    * Lý do gì dẫn đến sự đổi tên này, thưa chị?
    Lý do đổi tên có rất nhiều. Trong 3 năm qua, khi lễ hội hoa anh đào kết thúc đều có những lời phàn nàn về lễ hội như: hoa anh đào chưa được đẹp, dân mình cũng chưa có ý thức giữ hoa… Vì thế, năm nay BTC phía VN quyết định không tổ chức lễ hội hoa anh đào nữa. Còn phía Nhật Bản thì cảm thấy như vậy sẽ thiếu đi một sân chơi giao lưu văn hóa giữa hai 2 nước, và vẫn quyết định tổ chức lễ hội. Năm nay, BTC quyết định sẽ chỉ trưng bày một cây hoa anh đào giả. Vì không có hoa anh đào, nên phía Nhật không tổ chức lễ hội hoa anh đào được. Ở Nhật Bản cũng có lễ hội tháng 5 và BTC quyết định đổi thành lễ hội tháng 5…” (hết trích)
    Hoa giả nhưng cũng “hấp dẫn khác biệt….” Thật vậy sao? Tại sao nhà nước CSVN muốn tuổi trẻ tập cho quen với búp bê sex, thay vì giúp tuổi trẻ đi tìm người để thật lòng yêu thương?
    Trời ạ, quả nhiên là Tháng Năm đầy chuyện bí hiểm.

  • Văn

    Đông A : Hương Ngọc Lan và Định Kiến

    Hương Ngọc Lan và Định Kiến

    Hương Ngọc Lan và Định Kiến Hồi bé tôi thường được nghe câu ca dao « Chẳng thơm cũng thể hoa nhài, dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An ». Tôi được nghe giải thích rằng nó tượng trưng cho nếp sống người Hà Nội, thanh cao mà dịu dàng như hoa nhài. Tôi thích hoa ngọc lan hơn, dù hoa nhài cũng thơm một cách rất dễ chịu và khó quên. Tuy vậy mỗi khi nghe câu ca trên, tôi luôn cảm thấy bị dị ứng. Trước hết là vì khen lối sống của người Hà Nội, mà lại nói Tràng An, kinh đô cũ của nước Tầu: thật là vô lý. Giử thử nói câu này khen người Trung Quốc ở Tràng An lịch sự, thì dù rằng chẳng biết đúng sai, ít ra còn có thể thông cảm về mặt ngữ nghĩa. Đằng này, viết Tràng An mà lại bảo Hà Nội vì « cùng là kinh đô », thì quả là một sự nhập nhằng, thậm chí một sự nhận vơ đáng xấu hổ. Huống hồ, sinh ra và lớn lên tại Hà Nội, tôi thấy đây chỉ là một định kiến vì người Hà Nội không luôn thanh lịch như lời ca dao dẫn.

    Nếu nói đúng, phải nói là người Hà Nội có những nét thanh lịch không thể phủ nhận, nhưng cũng còn có nhiều thứ khác, khá lủng củng và đôi khi không thể giải thích. Để dẫn chứng, mời bạn đi dạo chợ Đồng Xuân từ khu ba mươi sáu phố phường. Tôi tin bạn sẽ phải dựng tóc gáy vì văn hóa chợ búa ở đây. Mua hàng bị cân thiếu và được ăn chửi là chuyện bình thường. Mà đã lăng mạ nhau thì rất lắm khi giữa cả người bán lẫn người mua. Thời kỳ bao cấp, cứ chỗ nào có vui chơi là có ăn trộm tụ tập, nổi tiếng nhất tại Bờ Hồ và vườn hoa Giám. Ngày hôm nay Bờ Hồ đã được « giải phóng », vườn hoa Giám được quy hoạch khang trang thành khu Văn miếu, nhưng vô số tệ nạn khác lại phát sinh ở khắp nơi. Các công viên buổi đêm vẫn là những tụ điểm của xì ke, nghiện hút, những người không lương thiện. Các con đường vẫn là những nơi xả rác vô tư, và các bờ hồ buổi tối bị biến thành những « chợ tình » bất đắc dĩ. Với tôi, Hà Nội đã và luôn là nơi chất chứa của vô số các tầng văn hóa, từ vô công rồi nghề, đến chợ búa, tiểu thương, hàn lâm, học sỹ. Nó chưa bao giờ thể hiện một sự thanh lịch tinh khiết, nhưng cũng không thể vì thế mà có thể đánh đồng nó với một thói xấu hoàn toàn. Tuy tồn tại và có thể cảm nhận được, nhưng nếp sống Hà Nội chỉ là một khái niệm không định hình. Khái niệm ấy vẫn bị tha hồ nhào nặn để người ta có thể chê bai hoặc khen khống nó, tùy theo tâm lý người nói chuyện với mình. Ôi, thành phố của tôi, thủ đô ngàn năm văn hiến.

    Những người có đủ dũng cảm để viết ôn hòa về những thói xấu của Hà Nội vẫn là rất hiếm. Thông tin về Hà Nội luôn nằm giữa hai thái cực. Một bên là những bài văn lung linh hoành tráng mà trong đó Hà Nội hiện lên với những nét mờ ảo thiêng liêng, hào hùng, không đợm tì vết. Bên kia là vô số những tin vặt, tin giật gân, tin 3 dòng viết về những tệ nạn thành phố. Trong những mẩu tin này, chẳng ai nêu đích danh Hà Nội, chẳng ai dám gắn nó với nếp sống người Hà Nội, tất cả đều là tự hiểu. Tệ hơn nữa, có thể bắt gặp cả những lời chê bai cũng đầy định kiến của những người không sống tại Hà Nội. Nhưng để hiểu Hà Nội, và yêu nó, cần phải biết vứt bỏ các định kiến.

    Dẫu không phải là người Hà Nội gốc, nhưng tôi vẫn thích mùi ngọc lan, hương thơm dịu dàng rất dễ chịu, khó quên mà hồi bé tôi vẫn được nghe giải thích là trượng trưng cho Hà Nội, nếp sống người Hà Nội thanh lịch, cũng giống như hoa nhài. Thật khó cho một đứa trẻ như tôi hình dung được nếp sống thanh tao ấy.

    Nhưng lớn lên rồi, tôi vẫn không tài nào định hình được nét thanh lịch trong dòng ngỗn ngang đủ thứ tạp nhàng của Hà Nội hôm nay. Nếp sống người Hà Nội mang đầy chê bai, định kiến, từ chính những người ngược xuôi trong lòng Hà Nội và cả những người không ở Hà Nội.

    Cố công tìm hiểu bề dày lịch sử của Hà Nội để hiểu thêm về nếp sống người Hà Nội, để định nghĩa được thế nào người Hà Nội, và rộng hơn là để biết điều gì làm nên văn hóa Nội thành, tôi chợt nhận ra rằng khái niệm nếp sống Hà Nội là một điều bí ẩn vì thiếu cơ sở lịch sử minh chứng, biến nét thanh lịch của người Hà Nội xưa thành một danh tiếng hầu như không được chứng thực mà chỉ được lan truyền ; và như thế, tạo nên định kiến đối với những người di cư vào Hà Nội đang làm nên Hà Nội. Và một nguy cơ to lớn là văn hóa Hà Nội đang có khuynh hướng trở thành một thứ tạp pí lù, bao trùm khắp to nhỏ.

    Tôi muốn tin là Hà Nội thanh lịch. Tôi muốn Hà Nội trở nên thanh lịch…(*)
    ***
    Hà Nội có một bề dày lịch sử mà không phải ai cũng cố công tìm hiểu. Do đó nếu nhận xét nó mà không đặt vào một cái nhìn bao quát lịch sử, thì nhầm lẫn sẽ là chuyện thường tình. Là thủ đô được vinh danh rồng bay thời vua Lý, là nơi thành không nhà trống chống quân Nguyên thời Trần, là nơi phế đô bị quên lãng ngắn ngủi đời nhà Hồ, rồi là nơi hội tụ hiền tài và tinh hoa đời vua Lê, Hà Nội đã ghi lại những biến động lịch sử lớn nhất của nước Việt. Đây là nơi hoàng đế Quang Trung đã đánh tan hơn hai mươi vạn quân Tàu, dạy cho chúng biết nước Nam là có chủ. Đây cũng là nơi Hoàng Diệu tử tiết, đánh dấu cho việc người Pháp thôn tính Việt Nam làm thuộc địa kéo dài suốt 80 năm. Hà Nội đã không ngừng thay đổi, kh&oc
    irc;ng ngừng được xây dựng và phát triển. Nếu như nền văn hiến được thật sự đánh dấu bằng việc mở Quốc tử giám – trường đại học đầu tiên của Việt Nam, nét thanh lịch của người dân được dần dần quy tắc hóa trong suốt nhiều thế kỷ sau đó để trở thành môt tập hợp các cách ứng xử trong cuộc sống hàng ngày. Đó, trước hết, là đạo đức của sự hiếu học và văn hóa tôn trọng người thầy, được rèn rũa trong tiến trình văn minh của Hà Nội. Tôi vẫn nghe kể, và chính mình đã được học những quy tắc lễ nghi gia giáo. Phải lễ phép với người lớn, phải vâng dạ rõ ràng, đi đâu phải chào hỏi, khách đến nhà phải mời ngồi, mời nước …vân vân và vân vân.


    Tập hợp các quy tắc này hẳn đã phải chịu thất lạc và thay đổi để thích ứng với các giao đoạn lịch sử. Cũng như địa giới hay dân số, nếp sống ở Hà Nội luôn thay đổi và không phải bao giờ cũng nằm trong khuôn thanh lịch. Do đó nói người Hà Nội thanh lịch có nguy cơ gặp phải hai lần lỗi. Lỗi thứ nhất là vì Hà Nội không hề là duy nhất, trước sau như một. Nó luôn là nó mà lại không phải là nó. Cũng như thế, thành phần dân số nơi đây luôn biến động. Vì thế khái niệm người Hà Nội cũng còn là một khái niệm mập mờ và không được nắm bắt kỹ lưỡng. Không hề có người Hà Nội chuẩn mực. Lỗi thứ hai là vì những người sống tại Hà Nội cũng không hoàn toàn thanh lịch, mà cũng còn có vô số thói hư tật xấu khác. Kết quả của hai yếu tố này là ta hoàn toàn có thể:

    a. bị sốc vì người Hà Nội không thanh lịch, đơn giản vì trót có định kiến họ thanh lịch và,

    b. khen người Hà Nội thanh lịch mà không biết rằng họ chưa chắc đã là « người Hà Nội » theo cách hiểu đơn phương và chủ quan của chính mình.

    Câu hỏi được đặt ra là cần xác định Hà Nội như thế nào, để sau đó xác định thế nào là người Hà Nội ? Để có thể trả lời, chúng ta cần biết hai yếu tố. Thứ nhất là không gian địa lý của Hà Nội. Trong suốt thời gian tồn tại của mình, đô thị Hà Nội không ngừng được xây dựng, được thay đổi. Quá trình đô thị hóa lan dần từ hoàng thành, trung tâm Hà Nội ra các không gian sản xuất và trao đổi xung quanh, biến chúng thành các khu dân cư. Từ đó hình thành bộ mặt của thành phố. Cho đến tận cuối thế kỷ XIX, Hà Nội vẫn rất ít được xây dựng và bao gồm vô số các làng cổ. Xác định được không gian sống của người Hà Nội là điều không hề đơn giản. Thứ hai là phải dùng đối tượng dân cư nào để xác định người Hà Nội ? Liệu chỉ có thể tính những người dân đã sống tại đây từ nhiều đời, hay có thể tính cả những cư dân từ nơi khác dời đến đây sống ?

    Trước hết hãy nói về yếu tố địa lý. Một thói quen thường thấy khi nói về Hà Nội cổ xưa, là dẫn chiếu đến khu 36 phố phường, khu hoàng thành, và Hồ Gươm, nghĩa là không tính các khu sản xuất. Chúng ta biết rằng sau khi được khai sinh, Thăng Long vươn ra từ các khu phụ cận với hoàng thành. Giảng võ đường, là nơi huấn luyện võ nghệ cho binh sỹ, Quốc tử giám, là trường đại học đầu tiên của Việt nam. Bản đồ 1 (trang 69, Papin). Ngày hôm nay, Hà Nội cổ ở mức ấy chỉ còn là vết tích các công trình xây dựng cũ: một mảnh tường thành cửa Bắc, cổng Ô Quan Chưởng, và rùa đá ở Văn Miếu. Khu hoàng thành cũ bị sử dụng làm là doanh trại quân đội. Hồ Gươm và 36 phố phường vẫn còn đó, nhưng bị biến thành những khu buôn bán và du lịch. Nhà cửa chật hẹp, cổ lỗ, các điều kiện vệ sinh và điện nước không đảm bảo một không gian sống. Nếu dừng lại ở giới hạn công trình xây dựng, thì Hà Nội quả là quá nhỏ hẹp. Nó chỉ là sự tập hợp của một nhúm người sống trong những địa điểm có chiều dày kiến trúc lịch sử. Khó lòng có thể tưởng tượng được nếp sống của họ thanh lịch như hoa nhài, và nhất là liệu có thể chấp nhận họ là đại diện cho những người Hà Nội gốc ?

    Một khuynh hướng thứ hai là dẫn chiếu đến Hà Nội bao gồm tất cả các khu kiến trúc nói trên, và thêm vào đó Hồ Tây và các làng cổ phụ cận phục vụ sản xuất hàng hóa sinh hoạt thiết yếu. Đây hẳn phải là một cách dẫn chiếu hợp lý nhất vì nó làm cho đô thị (agglomeration) hiện hữu một cách tự thân đầy đủ. Đây cũng là cách dẫn chiếu được các nhà quy hoạch hiện đại sử dụng nhiều nhất, theo đó một đô thị có thể bao gồm thành phố trung tâm và các không gian kinh tế và không gian sống phụ thuộc vào nó. Các không gian này cung cấp hàng hóa, dịch vụ và sức lao động cho khu vực trung tâm.

    Nếu sử dụng cách dẫn chiếu này thì Hà Nội sẽ bao gồm tất cả các làng cổ và làng nghề thủ công. Bản đồ của người Pháp vẽ Hà Nội vào thế kỷ XVIII, cuối thế kỷ XIX cho thấy các làng này còn chiếm một phần rất lớn địa giới của Hà Nội. Ngoài khu 36 phố phường, Hà Nội sẽ bao gồm lên các làng hoa ở Ngọc Hà, Quảng Bá, làng đào ở Nhật Tân, các làng mai ngày nay không còn tồn tại nhưng dễ dàng được nhận ra nhờ tên gọi cũ : Bạch Mai, Hoàng Mai, Mai Động…, các làng trồng rau ở Láng, làm giấy ở Yên Thái, Cầu giấy, làm lụa ở Nghi Tàm, đúc đồng Ngũ Xã. Nếu đi xa hơn nữa, ra hẳn ngoài ranh giới chính thức của nội đô, ta có thể tìm thấy ở Bát Tràng, Thanh Trì, Định Công, Vạn Phúc, Ngọc Hồi, dấu tích các làng cổ khác. Sự hình thành các làng cổ này tương ứng với thời điểm mà Hà Nội trở thành một điểm giao thương lớn của cả nước, nguồn gốc của cái tên Kẻ Chợ.

    Khó khăn lớn nhất ở đây là phải biết liệu các làng này có tồn tại như những quần thể tương đối độc lập ? hay bị hòa nhập với toàn bộ Hà Nội như là một bộ phận của đô thị ? Nghĩa là nếu tính các làng cổ này, thì phải chỉ ra được chúng là những làng nào? được coi là Hà Nội từ những thời điểm nào ? Thời gian đã xóa nhòa rất nhiều thứ. Ngày hôm nay Nghi Tàm không còn dệt lụa, Giảng Võ không còn dạy võ, Ngọc Hà không còn trồng hoa. Đấy là chưa kể các làng nghề khác ở xa hơn chỉ trở thành một phần Hà Nội rất lâu sau này. Bao nhiêu người liệu có thể nói được các làng cổ cổ đến mức nào ? Tự bao giờ chúng là một phần chính thức của Hà Nội? Đến khi nào chúng không còn giữ những chức năng ban đầu của mình – Nghi Tàm thôi dệt lụa, Giảng võ ngừng thao luyện và Ngọc Hà hết đất trồng hoa ? Vào những thời điểm đó, những người sống tại các làng này đến từ đâu ? và có được coi là người Hà Nội hay không ? Sự thiếu vắng cơ sở xác định những yếu tố trên đã góp phần biến khái niệm nếp sống Hà Nội trở thành một điều bí ẩn, và biến nét thanh lịch của người Hà Nội xưa thành một danh tiếng hầu như không được chứng thực mà chỉ được lan truyền.

    Một điều có thể chắc chắn là nếu tính những làng cổ, thì số dân trồng hoa, trồng rau và làm thủ công phải lớn hơn nhiều lần số người thanh lịch biết uống trà thưởng hoa thanh nhã. Điều này thiết tưởng cũng không lấy gì làm lạ vì về bản chất, Việt Nam là một đất nước nông nghiệp. Trong quá khứ, Hà Nội có thể đã là một nơi đô thị sầm uất hơn hẳn nơi khác, nhưng tránh khỏi nếp sống nông nghiệp là điều không thể. Đành rằng các làng trồng hoa không hẳn đã là nông dân như người kéo cày trồng lúa, nhưng cũng không vì thế mà không có sự nhọc nhằn vất vả. Sự vất vả của nghề nông có lẽ chính là một nguyên nhân đã làm biến mất nghề trồng hoa ở nội đô. Nhìn từ góc độ xã hội và với sự tôn trọng rất lớn những nghề nghiệp này, người ta không thể không nghi ngờ hai chữ thanh lịch khi chúng đại diện cho người Hà Nội. Đấy là chưa kể sự phát triển của chợ sẽ kèm theo sự ra đời của những hệ lụy không hay như rác rưởi bừa bãi, và các tệ nạn như cò con, lừa đảo, và trộm cướp.

    Vũ Trung tùy bút của Phạm Đình Hổ có một đoạn rất thú vị viết về nạn lừa đảo và trộm cướp, xin được trích dẫn ở đây. « Phường Diên Hưng (Hàng Ngang) và phường Đồng Lạc (Hàng Đào) là nơi phố hàng áo, bán các thứ tơ lụa vóc nhiễu rất nhiều. Phiên chợ là những ngày: mồng một, mồng sáu, mười một, mười bốn, rằm, hai mươi mốt, hai mươi sáu, ba mươi. Phiên chợ phường Bạch Mã (Hàng Buồm) cũng là một chỗ buôn bán rất huyên náo. Những quân trộm cắp hay thừa cơ cướp giật, có khi thò tay vào túi người ta móc lấy hết cả. Có khi chúng cố ý làm cho ồn ào, đổ xô nhau mà chạy để rồi cắp bọc áo người ta, hoặc khuân đồ vật hàng hóa. Có khi chúng huyên truyền là voi lồng ngựa sổ để các người chợ búa và người đi đường xô nhau chạy, hàng hóa đồ vật vứt bừa bãi; lúc biết là chúng huyên truyền láo thì quân kẻ cắp đã phỗng hết cả rồi. Một hôm, ở phường Đông Các (Hàng Bạc) có một bà lớn đi võng mành mành cánh sáo, đầy tớ lính hầu rậm rịch, đến trước cửa một nhà hàng bạc, truyền thị tỳ dừng võng lại để hỏi mua mấy chục nén bạc. Mà cả giá chưa xong, bà lớn ngồi trên võng truyền vú già hãy cầm chục nén bạc đem về dinh, trình quan lớn xem qua, sẽ định giá. Chủ nhà hàng cũng không ngờ gì. Một lát, thị tì và lính hầu lẻn dần đi hết, hai tên lính khiêng võng cũng cút mất. Trời đã gần tối, chờ mãi chẳng thấy người vú gi
    à cầm bạc trở lại, nhà chủ mới đến trước võng hỏi bà lớn để đòi bạc. Mở mành mành xem thì té ra là một mụ lão ăn mày, mù cả hai mát, mặc áo nhiễu điều, ngồi chễm chệ trong võng, mơ màng không biết nói ra sao. Nhà chủ cho đi tìm hết mọi nơi, không còn thấy tăm hơi đâu cả, chỉ bắt được có cái võng cũ nát, giá không đáng mấy quan tiền. Ấy, những lối ăn cắp lừa dối như thế rất nhiều, không thể kể hết được. Cái tài giỏi của kẻ gian cũng lắm lối rất buồn cười, xem thế đủ hiểu cái thịnh suy của đời thăng bình vậy ».


    Ngày hôm nay, việc xác định Hà Nội chỉ còn có thể dựa vào tiêu chí cuối cùng là mốc địa giới của Nhà nước. Vấn đề là tiêu chí này chỉ làm việc nhận chân nếp sống Hà Nội là càng không thể. Trước kia, Đống Đa hoàn toàn là nơi ngoại ô (nằm ngoài cửa ô), hôm nay là một quận đông dân nhất thành phố. Sóc sơn, Gia Lâm trước là ngoại tỉnh, nay đã là những huyện ngoại thành. Và Hà Nội sẽ còn phải mở rộng nhiều để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế của quốc gia. Khi chính phủ vừa quyết định đưa địa giới Hà Nội về Hà Tây và Hòa Bình, liệu chúng ta đã sẵn sàng để coi người dân những vùng này là người Hà Nội? Nếp sống Hà Nội càng lúc càng trở thành một khái niệm không thuần nhất. Bạn đọc xin đừng cho rằng tôi phê phán điều đó. Tôi chỉ muốn nói rằng không hề có một nếp sống thuần Hà Nội để có thể gọi nó là thanh lịch. Xin đừng quên Hòa Bình và Hà Tây cũng có những nét văn hóa riêng, và dù tốt, dù xấu trong mắt nhiều người, những luồng văn hóa này chưa chắc đã cần phải gắn mác Hà Nội để có thể tồn tại.

    « Thời gian đã xóa nhòa rất nhiều thứ. Ngày nay Nghi Tàm không còn dệt lụa, Giảng Võ không còn dạy võ, Ngọc Hà không còn trồng hoa. »

    Bây giờ xin đề cập đến yếu tố dân số. Dân số Hà Nội vào ngày tiếp quản thủ đô là 53,000 người, vào năm 1990 là 2,6 triệu người, vào năm 2009 là hơn 6 triệu người. Số chênh lệnh di dân hơn 10 000% đó đã làm nên sự thịnh vượng của thủ đô. Họ từ đâu đến ? Từ một vùng quê nào đó của nước Việt. Họ có phải người Hà Nội không ? Làm sao có thể nói không khi cuộc sống của họ gắn liền với cuộc sống của thủ đô ? Những con số này buộc chúng ta phải nghi vấn khái niệm người Hà Nội ? phải là người Hà Nội gốc ư ? Hay chỉ cần sống một thời gian đủ dài tại Hà Nội. Tôi ngả về tiêu chí thứ hai bởi vì lịch sử của Hà Nội là lịch sử của sự hội tụ. Những người đã làm nên Hà Nội đâu phải đều là người Hà Nội. Lịch sử của mảnh đất này được viết nên bằng máu của tất cả những người đã gìn giữ nó, và gìn giữ đất nước. Đó là những anh hùng dân tộc như Lý Công Uẩn, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Huệ, Hoàng Diệu, Nguyễn Tri Phương. Hay những danh nhân như Phan Chu Trinh, Nguyễn Văn Vĩnh, Lương Văn Can. Trong số này, không có ai là người Hà Nội « gốc ».

    Suy nghĩ rằng người Hà Nội thanh lịch phải là người xuất thân từ phố cổ và làng cổ, cứ như thể chỉ những nơi Hương Ngọc Lan và Định Kiến này mới là chuẩn mực cho một nếp sống Hà Nội, như vậy rõ ràng không có tính thuyết phục xã hội. Có người nói muốn biết có phải người Hà Nội gốc hay không, phải xem gốc gác 3 đời. Theo tiêu chí này nếu đời ông bà là người Hà Nội, bố mẹ là người Hà Nội, và bạn sinh ra lớn lên ở Hà Nội, thì mới được tính là người Hà Nội. Đây quả là một kiểu phân loại lố bịnh và đầy ý niệm giai cấp, được lịch sử phong kiến để lại. Ông bà ngoại tôi là người Hải Dương, ông bà nội tôi ở Nam Định, mẹ tôi sinh ở Hà Giang và bố tôi ở Thái Lan. Sinh ra tại Hà Nội, nếu tôi không phải người Hà Nội thì sẽ là người ở đâu bây giờ?

    Ở Hà Nội còn có bao nhiêu người vô danh không thể « đếm mặt, đặt tên ». Đó là những người bán hoa, bán hàng rong, bán quà sáng, những em bé đánh giày, bán báo, những anh xe ôm, đạp xích lô. Họ không phải người Hà Nội ư ? Cũng có thể. Vấn đề là một khi cuộc đời họ đã gắn bó với Hà Nội, nếp sống của họ sẽ hòa vào dòng chảy văn hóa nơi đây. Vì sao chối bỏ nó, vì sao ruồng rẫy nó ? Nếu thiếu nó thì Hà Nội cũng đâu còn là Hà Nội. Có hề hấn gì không khi ta không phải người Hà Nội gốc, nhưng hàng ngày vẫn sống cùng với nhịp đập của thành phố ?

    Hà Nội, thành phố ở trong sông, cái tên ấy thật đẹp. Nhưng ngày hôm nay, Hà Nội không còn là thành phố ở bên trong sông. Con sông Hồng bãi lở bãi bồi đã từ lâu rồi lọt vào tầm ngắm quy hoạch dự án xây dựng. Những vườn hoa đào đang mất dần, thay vào đấy là những dự án lấy đất làm chung cư và khu giải trí. Một nguy cơ to lớn là văn hóa Hà Nội đang có khuynh hướng trở thành một thứ tạp pí lù, bao trùm khắp to nhỏ. Nó sẽ phủ rộng từ nông nghiệp đến công nghiệp, từ doanh nghiệp đến tiểu thương, từ thất nghiệp đến văn phòng, từ ăn mày đến hàn lâm, nghệ sỹ. Nó đang bị biến trở thành một thứ văn hóa của siêu đô thị trong kỷ nguyên toàn cầu hóa. Nó trộn vào cuộc sống hiện đại sự du nhập của văn hóa tiêu thụ phương Tây, văn hóa hào nhoáng lòe loẹt của Trung Quốc, văn hóa gia phong khép kín của lịch sử, văn hóa chợ búa lừa đảo. Trong cái đống hỗn độn ấy của tắc đường, của chen lấn và khói bụi ấy, làm sao giữ được mùi hương ngọc lan? làm sao gìn giữ được những nét thanh lịch hào hoa mà chúng ta đang cố định hình ?
    ***

    Tôi có quen một người Pháp đã giúp đỡ rất nhiều sinh viên Việt Nam du học tại Paris. Vốn sẵn máu phiêu lưu lại làm về quan hệ quốc tế nên ông đã có dịp đặt chân lên rất nhiều nơi trên thế giới. Thuộc týp người chỉ cần một balô trên vai và một chiếc máy ảnh trên cổ để đi từ những cánh đồng tuyết Siberi tới những đỉnh cao của dãy Himalaya, ông chụp rất nhiều ảnh. Ông đã cho tôi xem những bức ảnh của phố cổ Hà Nội những năm 1990, ngay đầu thời kỳ đổi mới. Ông có hơn 1500 bức ảnh chụp Hồ Gươm cũng vào cùng giai đoạn. Tôi thích lắm vì nó gợi lại cả một ký ức tuổi thơ khi tôi mới lớn, những thứ mà tôi đã được nhìn, nhưng chẳng bao giờ còn được nhìn lại. Ông thản nhiên nói với tôi rằng, Hà Nội là thành phố đẹp nhất châu Á không thể bàn cãi. Câu nói đó vô tình làm sống lại trong tôi tình yêu và kỷ niệm của quê hương. Tôi nhớ cái lạnh đầu đông Hà Nội. Tôi nhớ mùi hương ngọc lan. Tôi nhớ những con phố phủ đầy lá rụng trên vết rêu phong. Tôi nhớ chiều 30 Tết, tôi và em được cô đơn chiêm ngưỡng những vườn hoa đào bạt ngàn không bóng người ở Nhật Tân, những luống violet, hoa hồng, hoa cúc, hoa layơn muôn sắc. Cả Hà Nội đã bỏ trốn, để lại mình chúng tôi trên cánh đồng.

    Tôi muốn tin là Hà Nội thanh lịch. Tôi muốn Hà Nội trở nên thanh lịch như Paris, London hay những thành phố lớn khác mà tôi đã đi qua. Nhưng tôi chán ngán với những sự thanh lịch giả dối. Kết cục của sự giả dối là sự pha trộn tạp nham những điệu bộ kịch cỡm, những cái bắt tay hững hờ và những ngôn ngữ cử chỉ trần trụi, vô học. Và tôi không muốn nhìn thấy một Hà Nội là con rồng cất cánh vật vờ thiếu bản sắc giữa một thế giới của quy luật tư bản đơn điệu. Những kiến trúc hào nhoáng, những trung tâm shopping liên hoàn, và những ngọn tháp chọc trời không biến sa mạc Arập Xêút thành nơi hội tụ văn hóa. Những cây phong, cây bàng, cây cơm nguội, những mái nhà rêu phủ, những cô gái xinh đẹp như hoa lan, nụ cười trong như nước, với tôi đấy mới là Hà Nội. Ở nơi đây một cành hoa mai trắng mong manh trong vườn, một nụ cười thân thiện, những tiến
    g cám ơn giữa hai người không quen biết đã và đang biến mất dần. Làm thế nào để sống với Hà Nội mà không có những thứ đó ? Tôi chợt nghĩ đến một câu nói nổi tiếng mà không nhớ chính xác của ai: « Văn hóa là những gì học suốt đời vẫn không đủ. Văn hóa là những gì còn sót lại khi tất cả đã bị lãng quên ».

    Đông A

    http://vi.wikipedia.org/wiki/Hà_Nội
    Vũ Trung tùy bút, Phạm Đình Hổ. Bản dịch của NXB văn học 1972
    http://www.sachxua.net/forum/index.php?topic=74.0
    – Lịch sử của Hà Nội, Philippe Papin – Trường Viễn đông Bác Cổ, NXB Fayard, 2001 (Nguyên văn : Histoire de Hanoi)
    (*) lời dẫn do biên tập viên thêm vào.

  • Văn

    Thư Khanh : Mưa Thu

    MƯA THU

    Mưa thu dăng mắc sợi buồn ,
    Bao năm xa cách – hỏi còn nhớ em .
    Từng đêm vuốt sợi tóc mềm ,
    Mà nghe nhưng nhức nỗi niềm nhớ nhung .
    – Mưa rơi …từng sợi tơ trùng ,
    Sao nghe nặng trĩu phím lòng rung tơ ….
    Điệu nào ? – là khúc Tango ,
    Cho em bước với say sưa với đàn .
    Nhạc ơi ! đâu khúc đoạn trường ,
    Chia ly từ đó – Tuổi hồng để hoang .
    – Mưa thu ! anh có buồn không ,
    Mây chia đôi ngả buồn mong chiền chiền …

    THƯ KHANH



     

     

    TRĂNG ƠI

     Khi đi ! trăng cũng đi cùng ,
     Khi về ! trăng cũng vô mùng  …. chung đôi .
     Trăng ơi … – Trăng của riêng ai ,
     Hay trăng là của riêng tôi thế này .
     – Trăng cười bẽn lẽn ôm tôi ,
     Khoe cái khuôn ngọc . Khoe đôi mắt tình .
     – Bỗng dưng gió động bên mành ,
     Rủ trăng chạy tuốt .. Tôi đành ngẩn ngơ .
     Cợt đùa trăng …- rất lẳng lơ ,
     Thì thầm nhắn gió : " Em chưa …muốn chồng ! "
     –  Ơi trăng ! Cô bé kén chồng ,
     Chê tôi không phải đàn ông cho Nàng .
     –  Cả đêm tôi ngủ mơ mòng ,
     Ngắm trăng khoe cái khuôn vàng đáy sông ..
     – Kiếp sau XIN LÀM ĐÀN ÔNG ….

     THƯ KHANH
     (Bên đồi Femont Seattle ngắm trăng 16 – Tiết trời Vào Thu)

    CHỈ BIẾT NHẬN VÀ TRAO

    Em vẫn sợ – sợ hơn anh nhiều lắm .

    Bởi đàn bà hay nhẹ dạ lắm anh ơi .

    Đã chót cho anh là cho tất cả .

    Đâu dám mong sẽ có một ngày  …đòi …

     

    ***

     Em … cũng sợ …song vì Tim Bão Nổi .

    Trời có ngăn cũng chả lại khi yêu .

    Đôi tay anh : rắn thần đang khi chặt .

    Còn biết gì – Chỉ Biết Nhận và Trao …

    ***

    Rồi từ đó thiên đàng về trong mộng .

    Bóng hình anh như thấp thoáng trong mơ .

    Có những đêm chập chờn …cơn hờn dỗi .

    Ngọn gió thu lạnh buốt ! Rất tình cờ …

     

    THƯ KHANH




     

    CÓ PHẢI MÙA THU ĐÃ LẠI VỀ

     Ai hong yếm lụa sáng nay …
     Cho liễu khoe mái tóc mây GIAO MÙA ?
     Lá vàng nhỏ lệ lưa thưa ,
     Bỗng như xa lắm … thu xưa chợt về .
     Lá bàng liệng xuống lối đi ,
     Chập chờn Hà Nội bỗng nghe ngập hồn .
     – Này đây Quan Thánh rộn ràng ,
     Leng keng tàu điện – " Xấu dòn ! " -ai rao …
     – Này đây cô gái Hàng Đào ,
     Bím hoa trên mái tóc – Bao nhiêu tình .
     Mộng tròn ủ đáy mắt xanh ,
     Chỉ xin cái liếc là thành thiên thu .
     Tình anh Xin Nguyện Ngục Tù ,
     Để thơ gieo vận thành thơ trang đài .
     – Hỡi em quảy gánh trên vai ,
     Hoa còn thua sắc hương người gánh hoa .
     Quê em bên Xứ Ngọc Hà ,
     Cho anh về với dù là  … để quen …
     Để rồi mỗi sáng cùng em ,
     Hái hoa lên chợ Đồng Xuân với Nàng .
     – Này em ! – cô bé Hàng Đường ,
     Cà phê anh uống Giọng Nàng ở trong .
     Phải chăng anh đã phải lòng ,
     Cho anh nghe chút …Giọng đường của anh …
     – Thu Về Rồi Đó Phải Không ,
     Hà Nội chắc chắn mù sương trên hồ .
     Nhớ về Hà Nội … Xa Xưa ,
     Bao nhiêu thơ viết vẫn chưa vừa lòng …

     THƯ  KHANH
     (ĐẦU THU Seattle nhớ về Đầu THU HÀ NỘI – khi mới …được cắp sách đi học tại  Hà Nội )

    Bài 1- SÁNG XUÂN

    Sáng Xuân ! Mây thả cánh vàng ,
    Cho em ửng má môi hồng như hoa .
    Áo Xuân ! cánh mỏng la đà ,
    Gió thơm hương bưởi đeo tà áo em .
    Trên cành -…- tiếng hát đôi chim ,
    Vui như tiếng sáo bỏ quên bên đường .
    Đò ngang bến đục hay trong ,
    Cho em sang với kẻo lòng em đau .
    Đò ơi ….Mây vẫn qua cầu ,
    Để quên túi nhớ men sầu cho ai …? !

    THƯ KHANH

    Bài 2-  NHỚ NGƯỜI NHỚ LẮM

    Nhớ người ! Nhớ lắm người ơi ,
    Không cà phê đắng nhắp môi đầu ngày .
    Môi cười ủ rũ biếng soi ,
    Nhắc phone muốn gọi …- E người đã quên .
    – Nhớ người một sớm yêu em ,
    Kể cho nhau chuyện thần tiên non bồng .
    Kiếp sau nếu phải vợ chồng ,
    Liệu người còn nhớ chuyện lòng hôm nao …!

    THƯ KHANH



     

     


    TRỜI ƠI TA ĐÃ XA NGƯỜI

    Trời ơi ! Ta đã xa Người ,
    Trăng treo đỉnh núi , tóc bời mây bay …
    – Ta là hạt cát gió bay ,
    Người là Công Chúa , phút giây gặp Nàng .
    – Bao giờ …Ta lại tương phùng ?!
    Hết rồi …! – Bản Giốc – nỗi buồn thiên thu .
    – Trông vời Cố Quốc xa mù ,
    Mỏi mòn tiếng Quốc …, sao tua khóc thầm .
    Lệ Ta ! Hạt cát đầm đầm ,
    Quê hương cứ mãi mất dần …- TRỜI ƠI !

    THƯ KHANH ( Trong mơ nhớ thương  Bản Giốc – đã mất cho TRUNG CỘNG ! )

     

     

     

     

     

    NHƯ CƠN MƯA  HẠ VỀ .

    Em chưa yêu hay đã yêu ? !
    Mà sao vắng tiếng phone reo là buồn .
    Giọng anh như suối đầu phone ,
    Như cơn mưa hạ sưởi hồn đắng cay .
    – Soi gương …- kẻ chút  chân mày ,
    Tiếng cười nắc nẻ – đã đày  dấu  yêu :
    " Nói đi anh ! cần có bấy nhiêu ,
    Một bài thơ nhỏ – Một liều thuốc tiên ! "
    – Đủ rồi ! cảm tạ tình anh ,
    Một cơn Mưa Hạ v
    ề  xanh lòng mình .

    THƯ KHANH

    NHỚ NGƯỜI ANH THƯƠNG 

    Hình như trời đang mùa xuân ,
    Leo lên đồi vắng hái làn mây bay .
    Chùm này …hồng… để tặng ai ,
    – Tặng em với cái trâm cài năm xưa .
    Chùm này  tim tím – hoa thơ ,
    Gói môi em đã mấy mùa xa nhau .
    Chùm này …trăng trắng hoa cau ,
    Bay lan  thềm – xuống dàn trầu mẹ ươm  .
    – Chùm này óng ả dịu mền ,
    Dáng em – mái tóc  bên rèm chờ anh .
    – Nền trời … xanh … bát ngát xanh ,
    Mắt em nhốt trọn hồn anh một đời .
    Mây trôi ! Mây cứ dong chơi ,
    Trèo lên đồi vắng nhớ ngừời anh thương …

    THƯ KHANH


    EM VẪN CHỜ ANH DƯỚI NGUYỆT TÀN

    1- Em vẫn chờ anh dưới nguyệt tàn .
    Mùa thu này nữa …- đã bao năm  ? !
    Bờ mi  lạnh  đỏ đôi dòng lệ .
    Em vẫn chờ anh …- Dưới Nguyệt Tàn .

    2- Quê hương quằn quại trong đau khổ .
    Cứ mãi mong chờ bóng người đi .
    Đất Biển dâng Tàu khôn đòi lại .
    Đất Biển ngàn năm khó trở về .

    3-  Mẹ mòn mỏi đợi – thêm hiu hắt .
    Vận nước Trời cho- chả đến sao ? !
    Hai Bà tuẫn Tiết dòng sông Hát .
    Nhi Nữ Ngàn Thu vẫn tự hào .

    4- Đinh -Lê -Lý -Trần-  Nguyễn …Anh Hùng Tử .
    Những chiến công xưa tỏ rạng ngời .
    Khí hùng nào tử … gươm ngời  sáng .
    Nung chí kiên cường  – Trăng vẫn soi .

    5- Em vẫn chờ anh dưới nguyệt tàn .
    Chén cơm chan lệ – kiếp dân Nam .
    Mùa Thu này nữa bao năm nhỉ .
    Em vẫn chờ anh dưới nguyệt tàn …

    THƯ KHANH

    Chiều Cô Độc

    Em xẻ cho anh chút nắng vàng .

    Nắng đang đậu cửa . Rất là thương .

    Mà sao em cứ buồn vô kể .

    Chăn chiếu đêm nay sẽ dỗi hờn ? !

     

                        ***

    Ôi ! Sao lạnh thế .Và đây nữa .

    Gió cứ luồn song . Cứ cợt đùa .

    Chui vào trong áo  em …hò hẹn   .

    Chạy xuống  đùi em …- Có khổ chưa ? !

                       

                    ***

    Anh ơi ! hãy cứu em mau với .

    Hãy đến dùm em …Ôm xát đi .

    Hai bàn tay ấm anh đâu nhỉ …

    Đuổi gió làm mưa nắng hạ về …

     

                    ***

    Em chắng làm thơ được nữa đâu .

    Cho em gói ghém mảnh hồn đau .

    Gửi anh chút nắng Chiều Cô Độc .

    Là chút tình em …với ngọt ngào …

    THƯ KHANH

    THEO LÁ VÀNG RƠI

    Anh có về không – xem Hà Nội .
    Lá bàng từng cánh liệng ngoài song .
    Em ngó thẩn thơ …mong viễn xứ .
    Nhớ người Bến Cũ …mỏi mòn mong .

    ***
    Người đi sao mãi không về nhỉ .
    Có phải quên em . Lỗi hẹ thề ? !
    Nước mắt  tuôn theo . Dòng lệ nhỏ .
    Âm thầm chuông đổ vọng chùa xa .

    ***
    Hư vô tịch mịch chiều Quan Thánh .
    Và gió mùa thu rất ..lạnh lùng .
    Không mang Hơi Thở Anh về nữa .
    Tất cả bây giờ …một chữ KHÔNG .

    ***
    Một chữ Không to tô đậm nét .
    Hồn em chới với giữa mùa thu .
    Nhớ anh một thoáng tròn như mộng .
    Theo lá vàng  rơi …như cánh hoa …

    THƯ KHANH



    NGHE HƠI THU THỞ NGỠ HƠI NGƯỜI TÌNH


    Nghe hơi thu thở bên đường ,

    Thơm như hoa bưởi hoa bòng …nhà ai …

    Anh về hết tối lại mai ,

    Rằng thương -rằng nhớ ! Chia hai nẻo tình ….

    Tóc em – mây thả mành mành ,

    Cho thu anh đợi – cho mình nhớ nhau .

    Thu về ! Rượu chớ ngâm ngâu ,

    Xin em hãy giữ …"hai bầu rượu tăm …"

    Xin em một chỗ …giường nằm ,

    Gối đầu tay với muôn vàn thơ say …

    Tình ơi ! Thu đã về đây ,

    Nghe hơi thu thở ngỡ hơi người tình ….

    THƯ KHANH

     

     

    CHIỀU CÔ ĐỘC  

    Em xẻ cho anh chút nắng vàng .ĐÔI NƠI

    1-  Hai Kẻ ĐÔI NƠI : Người mỗi ngả .
    Tình ta ! Thơ đậm nét lưu đày .
    Đầu phone anh  gọi… thương thương quá .
    Đem đến cho lòng một chút say …

    2- Tưởng xa mà lại gần anh nhỉ .
    Thơ chở tình em – bát nước đầy .
    Hỡi ơi ! năm tháng mong xum họp .
    Sao mãi như là gió với mây .

    3- Thu này đã đến  – mấy lần  thu ? !
    Lá rụng bên song – đỏ mắt chờ .
    Dòng sông thu muộn . Bao mong ngóng .
    Em trút vào thơ  … những ước mơ …..

    4- Cuối đời nếu chẳng bao giờ gặp .
    Anh đốt bài thơ gửi gió về .
    Tặng em với cả ân tình cũ .
    Với cả bờ môi …Một Gã Si …

    THƯ KHANH

    KHI CÓ EM

    1- Trời đất đầu thu đẹp lạ thường .
    Có em bên cạnh nắng vàng ong .
    Có đôi môi đỏ – hoa hàm tiếu .
    E thẹn – cười duyên – bướm… chạnh lòng ….

    2- Có em ! trời bỗng rộng bao la .
    Gió đuổi mây bay dưới nguyệt tà .
    Đăm đắm ngắm em …- pho tượng cổ .
    Nhủ thầm : " Vệ nữ đến trong ta ! "

    3- Em ơi ! Tình dẫu  là hư ảo .
    Anh vẫn làm thơ như thuở nào .
    Có em ! trời đất nghê thường qúa .
    Quăng hết phong trần . Ta có nhau …

    THƯ KHANH (  30- 9- 2009 – Đầu  mùa thu  Seattle )

     

  • Văn

    Thiên Lý : The only beautiful love is the broken one

    The only beautiful love is the broken one


    Thousands of years passed by
    Millions of loves are alright
    But trillions of ones are broken, why?
     
    The answer has the following meanings:
    Because of non-observing
    Because of non-understanding
    Because of non-respecting …
     
    That makes the mistake
    Love likes a cake
    If you let another person takes
    You will lose it, in fact!
     
    Now you say sorry
    It’s a difficulty
    As you have cut deeply
    The valentine’s heart that gives
     
    Could not stop the run
    That the tears had gone
    Deal with you again
    Sorrow will have begun

    Now you will regret
    But the love will be rich
    Forever it is your favourite …

     

    Not everyone can do!

     

    It’s him running to town everyday.

    Where is he coming?

    Is it interesting?

    All the children that are his neighbours don’t know

    Because they are not old.

    They are too young to get the curiosity.

    They eat all the aliment he brings back happily.

    You will think that they are his children.

    That’s the misunderstanding you have taken

    As they are poor and hopeless.

    They live in his village.

    Can you divine where he takes the food?

    Ha ha ha … It is good.

    All your guess are wrong.

    Please! Don’t, don’t, don’t.

    Don’t get angry like that.

    He never cares you are thinking of what.

    The place is a restaurant.

    In a small kitchen,

    The edibles is classified from the stuffs in the remnants of the meals.

    Now, I will not stop your anger if you will.

    The comestibles itself has no meaning

    But the man’s characteristic is everything.

    And please keep quite to hear your soul murmuring!

     

    Embarrassment!

    The boy looked tired

    Seeing a waitress and asked:

    “Could I buy an ice-cream in stead of a cake?”

    She replied that :” Of course!

    Fifty cents it costs.

    For the most fancy one.”

    He counted the money at once.

    “ What do you want?” She asked impatiently.

    “ I would like to say sorry!

    I just need the less fancy ice-cream”

    Unhappy she seemed

    But it was so keen the little man was

    He left a fifteen cents tip to that girl

    After paying thirty five cents for the … meal

    And the waitress did not have a chance to say THANK YOU!

     

    In time ( 29/12/2009)

    In a tempestuous night

    A woman was standing on the road side

    And her car had broken down

    She was wet because of signalling the passers by

     

    She was in hurry

    Her face looked sadly

    A fair man stopped in the end

    He called a mechanic and hailed her a taxi

     

    She went away

    Not forgot a thank to say,

    An address of his to take down on a piece of paper

    While the man waved farewell to her: bye bye …

     

    One week latter

    The man’s door was knocked by a courier

    To his enormous surprise

    A big colour TV package to be delivered:

     

    “ Many thanks for helping me without any reasons

    I was able to reach my dying husband

    You are the god of my soul

    Best wishes for you in all seasons” …

  • Văn

    Lâm Sông Đồng : TO THE WEST WITH MY LOVE

    TO THE WEST WITH MY LOVE

     

    Springtime in Texas

    Bring back memory… as always

    Along curvy country roads

    Lying at the edge of freeways

    Wild flowers and bluebonnets

    Busily bathing sun rays

     

    The naked beauties

    Waving with cool wind

    For that, butterflies and bees

    Fluttering and dancing

     

    Memory…..memory…

     

    Once, we were young and pretty

    Cruising up and down the roads around the counties

    Somewhere on top of the bayou we parked

    Drinking beers and singing in the back of my old truck Chevy

     

    Once, she lay on bluebonnets hillside

    The sky was so blue that I saw in her eyes

    The warm sun light shined her blonde hair like an angle

    I were trembling, no touch, afraid of breaking Goddess ‘idol

     

    Such beautiful moments together as we grow

    My sweetheart graduated the Heights, decided to go

    She moved to the West, dreaming a movie star

    Still a country boy I am, and time has gone that far

    ……………………………………

     

    Springtime in Texas, again and again, happy life coming

    Wild flowers, bluebonnets, the cool wind….

    County roads had not changed much since those days

    Still bees dancing and butterflies fluttering in the sun rays

     

    For the good of the yesteryears that love

    Never fade in me and memory keeps grow

    To the West where she belongs to that day

    I am sending a yellow rose and pray

     

    Lâm Sông Đồng

    Houston, Texas. USA.  2010

  • Văn

    Vân Thư : BÓNG CHIỀU TƯƠNG TƯ

    BÓNG CHIỀU TƯƠNG TƯ

     

     

    Những chiều lưu luyến em anh

    Tà dương mừng chúc lá cành liền cây

    Em không thể sống kiếp này

    Nếu không bút họa thơ đầy tình yêu

    Cung thương ngân vọng tiếng tiêu

    Nắng vàng quấn quyện bóng chiều chờ ai

    Xa xa tiếng sáo thiên thai

    Đưa em về cõi chỉ hai chúng mình

    Chân mây, Hương Tích động đình 

    Cổ Ngư, Hoàn Kiếm suối tình diệu hương

    Lung linh giọt nắng rải đường

    Cùng ta kết sợi tơ vương, tơ hồng

    Mây mù sương tuyết gió đông

    Không sao rung chuyển con sông lòng thuyền

    Bến chờ bến đợi chính chuyên

    Dấu xưa trăng cũ lời nguyền báu kim

    Tình anh sâu khắc buồng tim.

     

    Vân Thu

    VỀ ĐÂU ?

     

    Thơ buồn biết gởi về đâu ?

    Trăng rơi vỡ vụn tiếng sầu ai nghe

    Không gian thăm thẳm đường về

    Sao người lỗi hẹn lời thề năm xưa ?

     

    Vân Thu

    NHỚ

     

    Dòng sông muôn thuở đợi chờ

    Mây vàng nắng ấm vần thơ trữ tình

    Từ đâu ẩn hiện bóng hình

    Chập chờn tâm trí…hay mình chớm yêu?

    Không gian im vắng tiêu điều

    Biết ai thấu hiểu hắt hiu thư phòng

    Dấu buồn giăng kiếp long đong

    Giòng sầu theo khúc tơ lòng gửi mây

    Nhắn ai:  ở chốn phương này

    Có người lữ khách tháng ngày không yên

    Bao lần thao thức trắng đêm

    Buồng tim lạc cõi triền miên nhớ người

    Nhớ đôi mắt biếc, nụ cười

    Làn da trắng mịn môi tươi ngọt ngào

    Tóc hương óng mượt lao xao

    Phủ bờ vai nhỏ thanh tao dáng gầy

    Nỗi niềm nhung nhớ vơi đầy

    Người ơi tôi khổ đắng cay muôn chiều

    Xin người một chút hương yêu.

     

    Vân Thu

    (viết thay một người) 

    VÌ ANH EM LÀM THƠ

     

     

    Bâng khuâng thứ bảy cuối tuần

    Em ngồi đan sợi nắng xuân mượt mà

    Kết vầng mây trắng thướt tha

    Tô son cánh lá đài hoa nhung tuyền

     

    Bến xưa, nồng thắm mắt huyền

    Hoài trông dòng nước bóng thuyền buồm xanh

    Góc buồm khắc chữ M-N

    Thêu bằng mầu nhớ vàng chanh tím cà

     

    Từ đâu đôi nhạn la đà

    Đưa tin anh đã vượt qua sóng chiều

    Anh về!  thắp sáng thương yêu

    Lấp bao sầu úa tiêu điều..xác xơ ;

     

    Để em nửa chết dật dờ

    Nửa trong hiu hắt bơ vơ thiếu mình..

    Một lòng ước nguyện trung trinh

    Một đời khao khát chữ tình thủy chung.

     

    Vân Thu 

     

     

    MÂY BỖNG NGỪNG BAY

     

    Chiều nay mây bỗng ngập ngừng

    không bay. để báo: anh dừng bước chân

    hải hồ. mưa gió tan dần

    Bên em đan chuỗi tâm tình xa xưa

     

    Vân Thu

     

  • Văn

    Ý Nga : KHOAN VỀ VỚI ĐẤT

    KHOAN VỀ VỚI ĐẤT

    Nhân nghe tin Bạn Đấu Tranh

    cũng là Bạn Thơ bệnh nặng.

     

    “Người ơi! Người ở đừng về”*,

    Ở đây giữ vẹn câu thề từng trao,

    Bình dân, cốt cách thanh tao,

    Bạn đem vào giấy, thơ trao bút đề.

     

    “Người ơi! Người ở đừng về”

    Câu thơ thật ngộ! Lời quê mà tình!

    Yêu thương chữ nghĩa nước mình

    Sắt son như thể bóng hình bấy lâu

    Ầu ơ rồi lại … ví dầu

    Tiếng ru, vô nghĩa, nhiệm màu trái tim?

     

    Trách ai một chữ chẳng tìm

    Xen ngôn ngữ lạ, nhận chìm ca dao

    Dân ca, tục ngữ biết bao

    Cần chi ngoại ngữ chen vào lai căng

    Âm vang, nhạc điệu trắc bằng,

    Người ngoài cũng nói rõ ràng là “Mê!”

     

    “Người ơi! Người ở đừng về”

    Sống bên tôi, giữ lời thề, ước mơ!

    Bên nhau bàn chuyện dựng cờ

    Biết đâu thơ đẹp chẳng nhờ ý hay.

     

    Họ về, lặng lẽ khoanh tay,

    Cúi gầm mặt xuống, biết ngày nào vui?

    Ai ơi! Không tiến là lùi!

    Chìm sâu bóng tối, ngậm ngùi mãi sao!

     Ý Nga, 24.7.2003.

     

    *Dân ca Quan Họ, Bắc Ninh.

     

     

    TUYỆT GIAO

     

    Người gọi tôi “tri kỷ”,

    Không một chút thật lòng,

    Miệng lưỡi quen uốn cong

    Chẳng còn chi liêm sỉ.

     

    Sau lưng tôi, người chém

    Vẫn thốt lời “tri âm”

    Từng vết, từng vết bầm

    Thói hèn hay tính… lém?

     

    Không hèn, sao người sợ?

    Nhút nhát theo… trẻ con

    Quất lưng tôi bao đòn

    “Bạn bè” như phiên chợ.

     

    Tôm cá, bên hoa quả,

    Trên sạp bày cùng hàng

    Tấy cả đều rất sang,

    Sao mùi tanh vẫn tỏa?

     

    Lòng người ai lấy thước

    Mà đo được con tim?

    Bạn quý làm sao tìm?

    Cũng đành âu nghiệp số.

     

    ”Tuyệt giao và lặng im!”

    Ý Nga, 26.8.2003.

     

     

    BIA MỘ ĐƠN

     “Mai tôi chết, tôi sẽ phù hộ Y.N.”.

     

    Đưa Người Thơ vào lòng đất

    Giã từ, tiếc những tài hoa

    Chúc Thi Sĩ ngủ yên giấc

    Phò hộ Dân giữ được Nhà

     

    Đưa hồn thơ vào huyệt lạnh

    Biết nói gì phút chia tay?

    Mộ bia mai rồi hiu quạnh

    Để lại chi thế gian này?

     

    Hoa gửi theo Người một đóa

    Hãy về với hương ngọc lan

    Tro bụi mai Người cũng hóa

    Tử, sinh? Chung cuộc cũng tàn!

     

    Hồn về Quê Hương người nhé!

    Giúp giùm bao trẻ thơ đau

    Hồn về giữ giùm đất Mẹ

    Giữ Lời Thề đã cùng nhau.

     

    Đưa Người Về, bài duy nhất

    Tôi viết khi tàn nén hương:

    Anh linh sớm về cõi Phật

    Thơ Người để lại Yêu Thương.

    Ý Nga, 10.6.2003.

     

     

     

    ĐẦU EM TỪNG ĐỘI THƠ ĐI

    Tự nhiên nhớ nón bài thơ

    Bao năm từng đội, bây giờ mới… yêu

    Một dân tộc, lạ đủ điều

    Thơ đem thử thách: sáng, chiều, gió, sương,

    Nắng, mưa bạc phếch nẻo đường

    Chữ phai nhạt sắc, Thơ thương vẹn màu!

    Ý Nga, 8.2.2003.

     

     

    NỀN MÓNG HOÀ-BÌNH

    Viết tặng:

    *Kỹ-sư HUỲNH LƯƠNG VINH.

    *Trung sĩ quân cảnh, quân chủng

    Lục Quân Hoa Kỳ: BÙI THANH THẢO.

     

    Đừng bao giờ quên nhé EM

    Mũ, mão, cân đai: gốc VIỆT

    Gan vàng, dạ sắt là NAM

    Áo vá, chân trần đã HIẾU

    Quần lụa, hia vàng càng THẢO!

    *

    Em là kiến-trúc sư

    Mơ dựng căn Nhà Việt

    Cho người dân an cư

    Hưởng thái-bình, lập nghiệp.

    Ý Nga.

     

    *Kỹ-sư HUỲNH LƯƠNG VINH

    đã vận động để lá Cờ Vàng được

    phất-phới tung bay trên đỉnh Everest,

    dãy Hy Mã Lạp Sơn, ngày 17.5.2004.

     

    *Trung sĩ quân cảnh, quân chủng

    Lục Quân Hoa Kỳ BÙI THANH THẢO

    đã cắm lá Cờ Vàng tại đơn-vị đang chiến

    đấu, ở thủ-đô Iraq, ngày 6.9.2004.




     

    VÀO KHÔNG LỐI RA

    Dư điện nhất là Casino

    Xanh, vàng, tím, đỏ… cũng nhờ đô*

    Đầu tuần cuối tháng người tấp nập

    Trăm ngả kiếm tiền, một cổng vô**

    Ý Nga, 9.7.2003.

    *Đô= dollars.

     

     

    KHÔNG SỢ MA BẰNG ĐÔI MẮT NHỎ

    Nhỏ ơi! Nhớ nhỏ thiết-tha

    Thương bao chia-sẻ đã xa nghìn trùng

    Không còn có một điểm chung,

    Từng vui như thuở đã cùng thương yêu

    Bạn bè đếm được bao nhiêu,

    Mà ta một bóng, buồn xiêu vách tường?

    Bạn thân và bạn rất thương

    Nửa đêm gió hú, trùng-dương bạn… về

    Đường đi gian khổ trăm bề

    Tưởng đâu tạm-biệt, ai dè mất nhau

    Hồn oan nhỏ hẳn còn đau,

    Nên chưa siêu-thoát? Lệ trào mắt ta!

    Một mình, khuya chẳng sợ ma

    Sợ đôi mắt nhỏ, cũng nhòa… nhớ nhung.

    Ý Nga, 26.11.2003.

     

     

    TU HAY… HÀNH!

     

    Từ vô thủy đến nay,

    Đã mấy kiếp? Dở, hay?

    Cửa tâm linh khép chặt,

    Vật dục chìm cơn say!

     

    Bao ô trược trần gian,

    Nộ, ái, ố… miên man,

    Chưa thăng hoa ái, lạc,

    Hạnh hỷ xả nghèo nàn.

     

    Hữu sinh, thân phàm trần,

    Hữu tử, cũng từng… gần

    Đời phù sinh hệ lụy:

    Chữ HIẾU chưa báo ân.

     

    Vần thơ hữu hình viết,

    Xong rồi đọc một mình

    Nhờ lục căn, lục thức*

    Ru đời bằng câu kinh.

     

    Vòng luân hồi mấy kiếp?

    Mỗi vòng bao rủi, may?

    Học sửa và tập sửa:

    Chữ “Tu… hành” đúng thay!

    Ý Nga, 22.10.2006.

     

    – Lục căn: mắt, tai mũi, lưỡi, thân, ý

    – Lục thức: nhãn, nhĩ, tỵ, thiệt, thân và ý thức.

     

     

    NHỮNG DÂU CHẤM THAN!


    Em đi, đi mãi chưa về.

    Kẻ về quê cũ, môi trề, bảo: Đi!

    Đi! Về! Vô tận hỉ, bi

    Về? Đi? Lạy Chúa! Thầm thì: Nam Mô

    A Di Đà Phật niệm vô

    Ơn Trên cứu độ cõi Vô Thường này!

    *

    Mấy lần chạy giặc bi ai!

    Lần này bệnh mãi, biết mai có về?

    Thiền hành, tâm vượt cõi mê

    Trăng lên, trăng khuyết, bốn bề tuyết hoa

    Tuyết Ý, tuyết Canada

    Đều chuyên chở nhớ… Nắng Nhà Việt Nam

    *

    Kẻ về quày quả bước… ra,

    Khen quân bán nước “tiến xa”. Thật kỳ!

    Cho nên mình phải… làm chi

    Ở mô? Răng hỉ? Ngày đi cầu trời?

    Ngày về: “Thơn thớt nói cười”

    Đảng, đoàn gian ác thốt lời ê a:*

    “Ruột ngoài ngàn dặm của ta,

    Khúc nào cũng quý, đô-la túi đầy!”

    Kêu oan, dân khóc, mặc thây,

    Rõ ràng sống chết mặc bay phận nghèo

    Miếng cơm, manh áo gông đeo

    Bởi xưa nhẹ dạ chạy theo, giờ buồn

    *

    Bắc, Trung, Nam máu lệ tuôn

    Dân liều bỏ gốc, xa nguồn, vượt biên

    “Ma cô, đĩ điếm chuyên viên!”**

    Thành người “yêu nước”… có tiền ăn chơi

    Người đi, ôm… hận một đời

    Kẻ về, có tính kỹ lời lỗ chưa?

    Bán Sông, bán Núi, chưa vừa…

    Bán luôn con trẻ, có… thừa nhục không?

    Núi Sông! Sông Núi! Núi Sông!

    Hồn thiêng kêu gọi góp chung tay vào.

    *

    Yêu Nước phải Quý đồng bào!

    “Nuôi ong tay áo” ngày nào, chớ quên!

    Ý Nga, 24.12.2007.

                                       

    *Lời đầu môi chót lưỡi của Đảng

     dụ dỗ “Khúc Ruột Ngàn Dặm”.

    **Cũng là lời… Đảng.

     

     

    BƯỚM ƠI!

     

    Bay về đâu những cánh chao,

    Nghiêng trăm cánh ấy cánh nào là anh?

    Bay về đâu kiếp mong-manh,

    Bướm trong giấc mộng biến thành người bay?

    Con người xa xứ lâu ngày

    Thả hồn theo bướm muốn bay về nhà

    Nương đám mây chiều lướt xa,

    Mây tan, mộng vỡ, về nhà được sao?

    Ý Nga, 3.4.2002.

     

     

  • Văn

    Xướng họa thơ Thăm bệnh Cụ Hà Thượng Nhân của Ngô Đình Chương và Du Sơn Lãng Tử)

    Thương Cảm   (Bài Xướng)

    Khuôn mặt hài hòa, nép ấy đâu?
    Chỉ còn trắng bệt nỗi thương đau.
    Nằm giường ngồi ghế, người dìu xuống,
    Uống nước ăn cơm, trẻ đút vào.
    Nhìn bạn viếng thăm, ừ có biết,
    Thấy con săn sóc, ủa vì sao.
    Túi thơ đành đoạn đầy tâm khảm,
    Nước mắt lưng tròng với bóng câu. 

    Ngô Ðình Chương

     

    Thơ Thăm Bệnh Cụ Hà   (Bài Họa)

    Căn bệnh tuổi già, khó biết đâu?
    Sáng chiều trở gió vẫn thường đau.
    Cháo, cơm, năm tháng buồn ăn đến,
    Nước, sữa, ngày đêm chán nuốt vào.
    Vui thấy Cụ cười, con hớn hở,
    Mừng nhìn Ông khỏe, cháu mong sao…
    Thành tâm chúc phúc Hà sư phụ,
    Kỳ ngộ Thi Ðàn: rộn vó câu… 

    Du Sơn Lãng Tử (07/26/2010)

    THO THAM BENH CU HA 2.jpg
  • Văn

    BA CON CÁO (Nhà văn Bình Nguyên Lộc)

    BA CON CÁO
    Bình Nguyên Lộc
     
    Bắt đầu bằng cái rùng rợn của thế giới người chết. Vậy mà cuối cùng, chính cái thế giới ấy lại tử tế gấp vạn lần thế giới của những kẻ đang sống. Truyện này mang xuống âm phủ mà đọc, chắc dưới đó người ta cũng xếp ngay vào loại “Liêu trai”. Bởi đối với cõi âm, thì người sống chính là một loại… ma quỉ. Một giọng văn cách đây già nửa thế kỉ mà đọc vẫn không hề cũ. Bình Nguyên Lộc được coi là Anphôngxơ Đôđê của Nam Bộ thật xứng lắm thay.
     
    VPL
     
    Mặc dầu là tay "bán trời không mời thiên lôi", Sáu Sửu vẫn nghe rờn rợn khi nhìn ra ngoài.
    Thánh giá trắng đứng mơ hồ trong ánh sáng lờ mờ của nghĩa địa, sắp thành hàng ngũ đông đúc, nhánh ngang của thánh giá trông mường tượng như những cánh tay người giăng ra để đón bắt ai.
    Xa xa, một trụ vôi có dáng một người đàn bà đội khăn tang trắng, đứng nhìn đám mồ trước mặt bà ta.
    Gió đêm, cùng với dế, trùn, họp nhau mà than vãn bên hàng nghìn mồ hoang mả lạnh, và thỉnh thoảng, anh Sáu vẳng nghe như có tiếng người rên rỉ đâu đây.
    Từ một ngôi mả cũ đằng xa, một ánh lửa lóe lên, nhỏ bằng ngón tay, từ từ bay lên cao rồi đi bơ vơ qua các hàng thánh giá. Lửa ma trơi hay là đèn của một người đi soi ếch nào đó?
    Mưa dầm tháng tám rơi trên nước ao tù khiến anh Sáu có cảm giác rằng mình đang ngủ trên một chiếc thuyền, giữa dòng nước.
    Lạnh quá, lạnh ngoài da, mà lạnh cả đến trong lòng.
    Người sống, một khi xâm nhập vào địa hạt của người chết, mới nhận được rằng cuộc đời bên ngoài dầu đau khổ bao nhiêu cũng còn ấm chán.
    Tại phố Phát Diệm, khúc phía trên này, họ Cầu Kho có một đất thánh mà từ vài năm nay nhà thờ không cho chôn trong đó nữa.
    Dân số nghĩa địa cứ mỗi ngày một tăng lên, mà không có một ai chết lần thứ nhì cả để cho số sanh và số tử bù trừ nhau hầu đất đai trống bớt chỗ.
    Ngoài thành phố, người ta đẻ con, nhưng người ta lại chôn ông, nhà cửa thành thử không chật thêm được. Ở đây mồ mả sanh ra rồi già cỗi dưới rêu xanh của sương gió, nhưng vẫn nằm lì đó đến muôn thu.
    Vì vậy nghĩa địa phải chịu nạn nhơn mãn. Nhà thờ không cho chôn xác thêm vào đó, rồi cũng chểnh mảng việc trông nom đất thánh nên người sống đang thiếu đất, bèn ùa đến mà lấn người chết.
    Nghĩa địa không có vách thành. Ban đầu vài người mạo hiểm cất nhà ngay trên ranh đất thánh. Thấy không ai nói gì, một số người khác lách qua khỏi mấy cái nhà vừa cất lên, để vô trong mà xây cất.
    Họ cất vây tứ phía ngôi đất thánh và vòng vây cứ càng ngày càng siết chặt lại, người chết không còn lối nào để thoát ra được nữa cả.
    Khi vòng vây siết đến lằn mức chót, nghĩa là những ngôi mộ ở bìa, thì cuộc xô lấn bắt đầu diễn ra một cách đau thương.
    Người sống cũng biết đau lòng khi phải dẫm lên những gò mả còn mới rành rành (nhiều mộ bia, thánh giá, đề năm chôn là 1951) nhưng họ, ác thay, lại cũng biết lạnh. Cho nên họ cứ cất nhà trên những nấm đất ấy, xin người chết thứ lỗi, miễn là có chỗ núp mưa thì thôi.
    Không bao giờ kẻ sống và người chết lại sát cánh nhau đến thế. Ông đã chết rồi, ông choán đất làm chi cho nhiều, trong khi tôi không có lấy một vuông nhỏ để mà cắm cây cột gỗ; vậy ông thứ lỗi nhé! Rồi ngày sau tôi cũng hoàn lại đất như ông vậy mà; trần gian nầy chỉ là cõi tạm thôi, tranh nhau làm gì!
    Cuộc xâm lăng lặng lẽ để tranh sống với người chết, gây ra một tai hại lạ kỳ.
    Vùng đất ấy ngày xưa tuy cũng thấp vẫn khô ráo, nhờ con rạch Bần tháo nước ra sông Ông Lãnh. Nhưng từ khi đô thành cho đắp đại lộ Trần Hưng Đạo, cách đây mấy mươi năm, thì ngọn rạch Bần bị lấp, và nước mưa trên nầy bị bỏ tù lại đến chung thân khổ sai, vì khu ấy đất trũng mà!
    Đất thánh không phải ở giữa rún đất nên không đọng nước. Nhưng vòng vây tai hại kia lại biến thành con đê ngăn nước đất thánh đổ xuống chỗ trũng hơn.
    Thành thử phần nhiều ngôi mộ đã biến thành cù lao, có cù lao rời rạc, có mớ họp thành quần đảo, không còn làm sao ra đó được nữa. Nước tù mang một màu khó tả và một mùi cũng khôn tả. Đáy ao biến thành bùn non, đi thì lún đến ống quyển.
    Lau, sậy, đế tha hồ mà mọc như ở bưng miền xa.
    Giữa đất thánh còn sót lại một ngôi mộ cổ kiến trúc theo bên lương mà có lẽ nhà thờ không nỡ phá đi lúc lập ra đất thánh cho giáo dân nầy.
    Ngôi mộ ấy đồ sộ nhứt nghĩa địa, xây bằng vôi và ô đước, xanh đặc những rêu phủ. Lối kiến trúc rất rắc rối như một lâu đài, đầy rẫy ngăn nắp với nào là đường vào lối ra quanh co và hóc hiểm.
    Hôm ấy những người của vòng vây đều ngạc nhiên mà thấy một mái nhà lá dựng ngay trên ngôi mộ cổ ấy.
    Nhà dựng đâu từ sớm mai đến trưa là xong cả. Họ cứ tự hỏi, và hỏi nhau làm thế nào mà chủ nếp nhà ấy lội sình để ra ngoài đó được. Đi tay không đã không được rồi, mà làm sao hắn ta lại mang cả gỗ, tre và lá ra đó để cất nhà?
    Hỏi nhau không ai đáp được, mà cũng chẳng mong phỏng vấn thằng cha dị hợm kia, họ đành thôi. Thét rồi mắt họ quen đi, nếp nhà ăn vào chân trời quen thuộc của họ, họ nhận cho nó ở đó mà không bàn tới bàn lui gì nữa cả.
    Sáu Sửu ngày trước có ở xóm Phát Diệm. Năm ấy có người treo cổ trong nhà mồ ở bìa đất thánh. Anh đã vào đó với nhiều kẻ hiếu kỳ khác để xem kẻ chết treo, nên được dịp biết rõ nghĩa địa.
    Hôm tháng rồi anh bị truy nã ráo riết nên cố tìm một chỗ ẩn nấp thật kín. Nhớ lại xóm cũ với cái nghĩa địa kia, anh về qua đó và rất hài lòng mà gặp hòn đảo nầy.
    Không một viên cảnh sát nào đủ can đảm lội sình nhứt là dầm chơn trong một thứ nước nhơn nhớt để ra ngoài đảo Lỗ Bình Sơn của anh.
    Nếu có cuộc bố ráp đại qui mô như hồi còn Tây thì bất quá họ cũng đứng ngoài mà nhìn vào, hú bậy vài tiếng như hú đò bên kia sông, rồi đò không qua thì thôi. Họ nghĩ sót một con cá cũng chưa chết ai, mà biết đâu cá đó lại không phải cá hiền, một tên ăn mày nào đó chớ gì.
    Từ vòng vây ở ngoài, leo lét vài ngọn đèn dầu của những kẻ lấn đất người chết. Xa thật xa ngoài kia, ánh sáng đô thành làm nổi bật lên, đen thui, những ngôi nhà lầu, những ngọn cây cao. Các thứ nầy giống hệt những hình bằng giấy đen, người ta cắt rồi dán lên nền trời.
    Bỗng anh Sáu nghe rục rịch dưới sàn ván. Hôm cất nhà xong, anh lót ván lên mộ, vừa để làm nền nhà, vừa để làm giường ngủ. Dưới ván rầm ấy, lau sậy bị đè đầu xuống, và sẽ chết lần mòn vì thiếu ánh sáng.
    Anh Sáu quên, một thứ khác, cũng giống như lau sậy, mà biết cục cựa nữa kia. Vì thế đêm nay trời có trăng, anh ngồi ngó một ra đám rừng thánh giá trắng thì anh phải một phen hết hồn trước sự hiện ra của một chú chồn to bằng con chó ta.
    Chồn khua lau sậy sột soạt, rồi chui ra khỏi mộ, ngoái cổ lại dòm cái nhà mà đêm hôm qua đây chưa có. Suốt ngày hôm ấy nó nằm trong hang, không dám ló ra nên không biết ngoài này loài người làm gì mà lục đục mãi.
    Đôi mắt nó lóng lánh dưới ánh trăng, ngạc nhiên giây lát rồi bỏ đi. Nó đã quen với con người rồi nên không có vẻ gì sợ sệt cả.
    Nhưng anh Sáu lại sợ. Anh có đọc truyện Phong Thần nói chuyện mả Huỳnh Đế có một bầy hồ ly mà một con đã nổi danh trong lịch sử, là cái con đã biến thành nàng Tô Đắc Kỷ; đến nay thấy chồn trong mộ chui ra, anh liên tưởng ngay đến tích cũ rồi rợn người lên.
    Nhưng anh trấn tĩnh lại được. Trong dân chúng người ta tin chắc như đinh đóng cột rằng tóc người chết hóa thành con lươn, rồi con lươn hóa thành con chồn. Con chồn mà anh thấy, có lẽ chỉ là thối thân của tóc người nằm dưới nhà mồ, chớ không phải yêu quái gì đâu.
    Độ nửa tiếng đồng hồ sau, anh Sáu thấy chồn về, mõm ngậm một con vịt.
    – A ha, đồng đạo đây mà! Anh Sáu cười mà nói thầm như vậy rồi cảm tình ngày với con thú nầy.
    Cái đạo mà anh nói đó là đạo … chích; trước kia, trước khi lường gạt và cướp giựt, anh cũng đã đi ăn cắp gà như chú chồn nầy vậy.
    Ngày nay anh thôi ăn cắp, nhưng lại biến thành con cáo già chuyên môn gạt gẫm thiên hạ.
    – Mầy cáo thì tao đây cũng cáo, vậy thì là bồ rồi.
    Từ đó, hai con cáo chung đụng với nhau mà không xích mích bao giờ cả.
    Nghe động dưới sàn, anh Sáu mỉm cười lẩm bẩm:
    – Đồng nghiệp xuất quân đó đa!
    Anh Sáu nhờ cậy con chồn nầy lắm. Có nó ở dưới ấy thì không còn lo rắn rít nữa. Anh mong có dịp trả ơn nó, nhưng nó có đói bao giờ đâu để anh ra tay hào phóng mua cho nó một con gà. Xóm lao động vây quanh nghĩa địa, người ta nuôi gà vịt cả bầy, nó ăn đến già cũng chưa hết.
    Bỗng anh Sáu nghe có tiếng chó sủa vang dậy lên. Tiếng sủa to lắm và oai vệ lắm, có lẽ đó là tiếng chó bẹc-giê.
    Rồi lại nghe nước khua lũm chũm, với tiếng chó càng lúc càng đến gần anh. Anh Sáu bước ra dòm thì thấy bạn của anh đang chạy bán sống bán chết trước một con chó to thấy mà bắt ớn.
    Anh Sáu thò tay vào trong rút cây chĩa ba ra, cây chĩa anh sắm để chĩa ếch dưới nước, rồi lẹ như chớp, anh chìa mũi chĩa đón đầu chó cho chồn đủ ngày giờ chui vào mả.
    Chó bẹc-giê chạy quá đà, bị mũi chĩa đâm vào mõm đau điếng, rống lên vài tiếng rồi trở bước, vừa đi vừa day lại, sủa om như chửi thề.
    Anh Sáu cười ha hả rồi cúi xuống sàn mà nói:
    – Đêm nay tổ trác rồi đó phải không em! Anh đây cũng bị rượt thường lắm, nhưng đều thoát khỏi cả. Bây giờ thì đố ai mà dám theo anh vào chốn nầy. Chỗ ở tụi mình kín số dách.
    Sáng hôm ấy, anh Sáu đi uống cà-phê, về tới nhà thì ngạc nhiên hết sức. Trên một ngôi mộ cận mộ anh, một chòi lá đã dựng lên rồi.
    Ngộ quá, nhà cửa sao mà mọc mau lẹ như nấm mối. Uống xong tách cà-phê, đọc xong trang nhứt một tờ nhựt báo là một túp lều cũng vừa dựng xong. Phải mà, chỉ có bốn cây cột thôi thì chậm sao được!
    Anh Sáu ngạc nhiên mà thấy có một người thứ nhì lại biết con đường bí mật đưa vào đó! Anh lại tức vì túp lều ấy chặn ngay đầu đường bí mật của anh.
    Số là anh Sáu biết lợi dụng mấy ngôi mộ chung quanh nên mới vào đây được. Anh phải đi quanh co nhiều nơi, nhảy từ ngôi mộ nầy qua ngôi mộ khác, ra cửa nhà thì đi hướng đông, nhưng ra khỏi nghĩa địa lại ra hướng tây, nghĩa là anh phải đánh một cái vòng rất lớn và rất cong quẹo.
    Túp lều tranh ấy cất ngay trên ngôi mộ anh dùng làm đầu cầu cuối cùng để nhảy vào nhà anh, thì anh còn làm sao mà về nhà được, nếu hắn không cho anh nhảy ngang qua nhà hắn?
    Anh tức giận lắm toan vào lều mần thằng cha nầy một mách cho nó phải giải tỏa hiểm đạo của anh, anh mới nghe cho.
    Anh Sáu vỗ đùi nhảy một cái như bay đi và rơi xuống phiến mộ bia đặt nằm theo lối Châu Âu, trên có khắc mấy giòng chữ như sau:
    Ci-git:
    Alphonse Thomas Nguyễn-Văn-Nở
    décédé en sa 78è année
    Priez pour lui (1)
    Phiến đá lớn bằng bộ ván hai, và thằng cha chủ nhà nầy dùng phiến đá ấy để làm bộ ván luôn, nên không thấy nó lót gì trên ấy cả mà lại để lên đó nào là va-ly, dép … à … mà sao lại dép đàn bà?
    Túp lều che có phân nửa tấm bia thôi; cửa lều là một bức màn bằng vải bông cũ. Anh Sáu bước tới vén màn lên thì ô nầy lạ, chủ nhơn bà (chớ không phải chủ nhơn ông) là một thiếu phụ tóc quăn.
    Chủ nhơn bà bình tĩnh chào anh Sáu bằng một mỉm cười yên lặng.
    Có lẽ chồng chị ta đi làm rồi chăng? Nhưng vẫn lạ là chị không có vẻ lao động chút xíu nào hết. Móng tay chị đỏ choét và nhọn hoắt, nước da mặt của chị bị phấn ăn, chỗ thì mét chằng, chỗ thì thâm đen sì, mắt chị mệt đừ và sâu hóm như mắt cô đào hát bội.
    Y phục của chị cũng không phải y phục của những kẻ đầu tắt mặt tối: lai quần gắn ren, áo cổ bà lai thêu rằn rịt xanh đỏ, tóc thì kẹp thành đuôi ngựa, cột bằng ruy-băng màu.
    Chị ngồi trên chiếc rương thiếc nhỏ, món đồ từ khí độc nhứt trong chòi, mỉm cười rồi giây lát hất hàm hỏi anh:
    – Có tiền mãi lộ không? Nếu không, mỗ không cho đi ngang qua đây. Mỗ đóng đồn ở đây rồi, ai bước qua phải đóng thuế.
    Anh Sáu thọc tay vào túi quần tây cũ của anh đứng thẳng lên coi oai vệ như một tướng cướp trong xi-nê-ma, cười gằn rồi ngạo nghễ đáp:
    – Hỡi cô nữ tướng mã thượng giang hồ, nữ tướng không có lâu la thì đòi tiền mã lộ ai được. Nữ tướng có giỏi thì bước ra ngoài đánh với ta vài mươi hiệp cho rõ tài cao thấp.
    Nữ tướng cười xòa vì nghe giọng điệu thì biết đã gặp tay đồng điệu. Tuy bắt nạt hắn không được nhưng bắt bồ với hắn có thể có lợi.
    Anh Sáu xem qua thì biết nữ tướng thuộc vào hạng người nào trong xã hội rồi. Đây cũng là một kẻ trốn chui như anh, như con cáo dưới giường anh. Cả ba đều là chồn, nhưng con chồn cái này đã tu luyện nhiều năm nên mang được hình người. Đây là một thứ hồ ly không hớp hồn nho sĩ mà chỉ hốt bạc cắc của mấy anh lao động thôi.
    Đầu anh Sáu đụng nóc chòi, anh khó chịu quá nên ngồi xuống:
    – Ở đây không sợ mang tội à? Anh hỏi đùa.
    – Chớ còn anh?
    – Tôi thì khác. Ngôi mả của tôi cũ lắm rồi.
    Đó là một cái nhà của một người chết đã đi đầu thai kiếp khác rồi.
    Con chồn cái bỗng bỏ cái cười, buồn nét mặt lại rồi chỉ ra ngôi giáo đường trước nghĩa địa.
    Tiểu giáo đường tuy chỉ để làm lễ mỗi khi đám xác nào tới đây thôi, nhưng cũng đồ sộ bằng một nhà thờ ở thôn quê. Tuy ngói đã bị tốc nhiều nơi, gạch, đá trên tường nhiều viên đã rã và rớt xuống, cửa sổ gỗ đã bung hết, cửa kính màu đã bể nát, nhưng toàn thể công trình kiến trúc gô-tích ấy vẫn còn mang cái phong độ vĩ đại của thời Trung Cổ Châu Âu.
    – Anh thấy không? Chị ta nói. Nếu mình dám vào trong đó mà ở thì đâu có phạm tội như vầy.
    Anh Sáu thở dài rồi không thèm chào hỏi gì cả vỗ đùi nhảy bay qua nhà anh.
    Từ đó bộ ba chịu đựng nhau để sống chung nhau.
    Họ khác nhau ý tứ, phong tục, thói quen, lối sống, nhưng cả ba con cáo đều có một nỗi băn khoăn chung là cả ba đều sợ: Con cáo chánh hiệu con … cáo thì sợ chó bẹc-giê, con cáo già sợ Công An, còn con hồ ly cáo cái thì sợ lính kiểm tục.
    Trong cảnh khổ giống nhau, tuy họ không tương đắc với nhau được và vẫn phải tương thân để bảo vệ nhau, khi cần. Mà nhứt là để an ủi lẫn nhau.
    Anh Sáu không thích đờn bà lắm. Hay nói cho đúng ra, anh đã chán chê đờn bà, nhứt là chán những hạng đờn bà như con hồ ly không bao giờ chịu xưng tên nầy.
    Nhưng mà những đêm mưa dầm buồn quá, nằm giữa cánh đồng ma mà được có người để trò chuyện với nó thì ấm biết bao!
    Những đêm mưa như vậy, con hồ ly không đi kiếm ăn được, mà cũng không đủ sức mạnh để nhảy qua nhà anh Sáu vì hòn đảo của anh ở xa mãi ngoài giữa dòng nước, nên hồ ly ta thắp lên một ngọn nến rồi ngồi bó gối mà ca trật lất bản nhạc "Đêm đông".
    "Đêm đông, ca nhi đối gương ôm sầu riêng bóng".
    Gió đâm sầm vào tiểu giáo đường đằng trước kia, tung hoành giữa gian phòng trống mênh mông rồi vừa hú vừa chui ra khỏi các cửa sổ nghe bắt lạnh mình.
    Mấy cây thùy liễu hiếm hoi đã kháng cự được với lau sậy để sống sót, đứng cúi đầu khóc sướt mướt dưới trận mưa dầm, trong ánh trăng mờ.
    Mộ hàng hàng như bầy cừu nằm nghỉ, gặm cỏ héo hon và vô vị, hút đắng cay trên miếng đất mồ côi (2).
    Đây là chốn mà mộng đời bị cắt đứt nửa chừng, kẻ chết yên nghỉ thiên thu, mà người sống cũng khó mong trở về với xã hội loài người.
    Anh Sáu nhảy bay qua nhà hồ ly, như một tay kiếm khách phi dạ hành, rồi hai kẻ ở ngoài vòng pháp luật ấy mới cùng nhau tâm sự.
    Không phải kể chuyện cho khách nghe, hồ ly khỏi phải thi vị hóa buổi thiếu thời của mình, không cần lòe ai, con cáo già cũng khỏi anh hùng hóa bước giang hồ của hắn. Họ đánh bài, mà hạ bài cho nhau thấy. Bao nhiêu thúi tha nhơ nhớp trong đời họ, họ phơi cả ra như sau đêm mưa, họ phơi gối trên mồ cho nó bớt âm ẩm khó chịu.
    Trời mưa cuối mùa cứ dai dẳng từ ngày nầy qua ngày khác. Con hồ ly ban đầu ăn xôi, ăn bánh mì chả lụa trừ cơm. Mãi rồi nó cũng không còn tiền để mua xôi nữa. Đất Sài Gòn, những ngày cuối tháng mà mưa dầm, thì tiền bạc nó cũng sợ lạnh, không hề dám ló ra ngoài. Nó có ló ra, con hồ ly mới ăn nem nướng được, còn nó mà trùm chăn thì chồn cái cũng đành trùm mền mà nhịn đói.
    Anh Sáu cũng chẳng thấy đi uống cà-phê sáng cho ấm bụng. Cũng chẳng thấy khói thuốc bay ra khỏi mái lều của anh như mọi ngày, và lâu lâu cũng không còn nghe mẩu thuốc vứt xuống ao, tắt kêu xèo một cái.
    Cả hai, vì tự ái hão, đều giả đau để nằm nhà. Anh Sáu yên thân hơn, còn dám ngồi dậy lết ra lết vô. Còn con hồ ly thì sợ anh Sáu đi ngang qua đó biết mình giả đò chăng, nên cứ trùm chiếu mãi từ sáng đến chiều.
    Khó chịu quá, ngộp quá, mà anh Sáu không đi ngang qua lần nào để thấy là nàng ta đang đau ốm thì có tức hay không chớ?
    Hết mưa rồi nắng. Anh Sáu ra đi. Ngang qua nhà hồ ly, anh lấy chơn lật chiếu ra thì thấy hồ ly nằm xụi lơ. Nàng đau ốm thật đó, đau một chứng bịnh cổ điển của loài người, là bịnh … đói.
    Anh Sáu mau bước nhảy như con khỉ từ ngôi mộ nầy đến ngôi mộ khác và rốt cuộc ra tới đầu ngõ hẻm trổ ra phố.
    Thiên hạ cứ mỗi ngày một khôn ra, cho nên, mặc dầu là cáo già, anh Sáu không còn gạt gẫm ai được nữa.
    Anh buồn hiu trở lại đào viên mà ba người bạn đã mặc lặng kết nghĩa với nhau hôm mấy tháng trước.
    – Chị đỡ bớt hay chưa? Anh hỏi bậy cho có chuyện.
    – Có uống mẹ gì đâu mà đỡ bớt.
    – Chị nghe trong mình làm sao?
    – Không biết. Nhưng nếu ăn được một chén cháo thì khỏe.
    Anh Sáu hiểu ngay. Anh lại thở ra, ngồi bó gối bên cạnh một người mà anh sẽ chịu đồng cảnh vài ngày nữa đây. Sở dĩ anh còn đi đứng được là nhờ anh mạnh sức, lây lất nổi thêm vài ngày.
    Chiều xuống sớm và mây kéo đen nghịt trời. Ngoài kia vịt vào chuồng kêu cạp cạp. Nghe tiếng vịt kêu, anh Sáu nhớ lại người bạn thứ ba.
    – Hừ, nó coi vậy mà no đó.
    Bỗng một ý nghĩ nảy ra. Anh vừa mừng thì lại nghe như ai xát ớt trong ruột anh.
    Nhưng biết làm sao: Đi ăn trộm vịt, không đáng gì cả, mà rủi ro thì khổ. Trong lúc mình đang trốn mà dại gì làm những chuyện xằng nho nhỏ.
    Anh Sáu đứng lên nhảy bay qua nhà anh, rồi ngồi nhìn mưa bắt đầu rơi lũm chũm trên mặt ao tù.
    Một con nhái hay con gì không rõ, nhảy xuống nước lội róc rách đi về đâu không biết. Gió hú trong tiểu giáo đường, gió than vãn ở các nhà mồ. Xa xa tiếng động cơ xe nổ lên, nhắc nhở rằng cuộc sống ở bãi tha ma nầy thầm lặng quá!
    Anh Sáu rút cây chĩa ba, lết ra tới trước mả mà ngồi. Anh cúi mặt xuống miếng đất đọng nước, mắt lom lom rình.
    Bỗng có tiếng sột soạt do con chồn khua lau sậy, nay đã chết khô rồi. Anh Sáu hồi hộp nghe tim anh đập thình thình trong lồng ngực anh. Lạ! Anh đã giết người, mà nhớ ra là anh đã không nghe mảy may sợ hãi. Cớ sao đêm nay …
    Kìa một cục đen đen thò ra khỏi sàn ván. Anh Sáu cầm chĩa ba mà nhắm rồi sực một cái, mũi chĩa đâm chúi xuống trúng ngay cổ con chồn. Chồn thét lên một tiếng kêu đau, kinh sợ, rồi thôi. Trong bãi tha ma hoang vắng, không một tiếng vang lặp lại tiếng kêu thương của con vật vừa bị bạn phản bội nầy.
    Dân lưu manh vẫn thế. Họ cũng biết xúc cảm, nhưng chỉ xúc cảm vậy vậy thôi. Họ nhỏ trên máu con chồn vài giọt nước mắt rồi thịt nó liền mà không nghe nhờm răng.
    Thế là đêm đó hai con chồn đói xơi một con chồn no.
    Họ chỉ ân hận một vài giây thôi, vì dầu sao, người bạn xấu số ấy cũng chỉ là một con chồn. Ai dư nước mắt mà khóc thú vật cho lâu!
    Trời cứ mưa, mưa như cầm chĩnh mà đổ, mưa như một oanh tạc cơ định về căn cứ, đổ dốc hết bao nhiêu bom còn sót lại trên tàu, mưa cho hết ráo nước để rồi khô hạn được trong sáu tháng dài, mưa đêm chưa phỉ lại mưa ngày, mưa cho đến xương kẻ dưới mồ chắc cũng lạnh thấu tủy khô.
    Ăn được bữa cháo chồn, hồ ly nghe khỏe như chị đã đoán. Sáng hôm ấy chị ra đi, căn dặn anh Sáu ở nhà, chị sẽ có tiền, một món tiền khá to, đâu như năm trăm, do một anh tình nhơn hứa biếu và hẹn hôm ấy trao cho vì hôm trước là ngày lương.
    Anh Sáu thích quá, muốn ôm lấy hồ ly mà hôn một cái. Nhưng con hồ ly dơ thấy mà bắt nôn, nên anh thôi.
    Độ lối chín giờ sáng, anh Sáu đang nằm ca sáu câu mùi mẫn:
    Cảnh vị nhân sầu, xơ xác ngọn vi lau, nước triều mênh mông chảy … thì bỗng nghe tiếng tu huýt thổi hoen hoét ở cùng tứ phía, quanh nghĩa địa rồi giây lát sau con hồ ly nhảy như khỉ qua các nấm mồ, theo sau chị là hai người đàn ông còn trẻ.
    – Trời ơi, anh Sáu kêu, mình đã dại, kể cho nó nghe duyên cớ trốn tránh của mình; nó bán mình mà ăn đây! Chồn ơi, hồn mi có thiêng chăng, về mà xem kẻ phản bội mi sắp bị trừng phạt đây.
    Anh Sáu bó tay không chống cự. Anh nhìn hồ ly, không oán giận mà chỉ tội nghiệp thôi. Con hồ ly cái trốn cái nhìn của anh, ngồi day mặt vô vách lá mà đếm tiền.
     
    Đêm nay, gió sao mà hú ghê rợn hơn đêm nào cả. Hồ ly giật nẩy mình, dáo dác nghe ngóng. Gì mà như anh Sáu ho bên ấy! Chị đánh diêm lên để thắp nến. Trời ơi, mới hôm qua đây, anh Sáu còn nằm bên đèn kể lại những bước phiêu lưu của anh! Hơi thở của anh, chị còn nghe như văng vẳng. Cái mặt xương của anh đậm nét lên dưới ánh đèn, như là còn ẩn hiện mơ hồ trên tấm mộ bia!
    Trời ơi! Kéo cuộc đời nhơ nhớp nầy biết đến bao giờ mới thôi? Đã nhơ nhớp lại đê hèn, bước từ phản bội này qua phản bội khác cho đến một khi kia thì mình chỉ còn phản bội được chính mình.
    Hồ ly rùng mình một cái, không phải vì lạnh, cũng không phải vì sợ ma, mà vì chị bỗng sợ hãi chính mình, sợ hãi con người đã vơi cạn hết chất người.
    Chị ôm mặt khóc òa, rồi lẩm bẩm van vái lầm thầm:
    – Trời Phật ơi, Chúa ơi, tha tội cho tôi, ngày mai tôi sẽ ra khỏi chốn nầy và ra khỏi vực đen của đời tôi nữa!
     
    Chú Thích của BNL:
    (1) Nơi đây yên nghỉ: Ông An-Phông Tô Ma Nguyễn Văn Nở, thất lộc năm 78 tuổi. Hãy cầu nguyện cho ông.
    (2) Ý nầy của P.S. và X.V.
     
    Lời bàn thêm của người tuyển:
    “Thế là đêm đó hai con chồn đói xơi một con chồn no.” Bữa tiệc ấn tượng đến rùng mình. Cái kết thúc của con “chồn no” ấy ta có thể đoán trước được. Nhưng cái kết thúc của con “cáo già” thì thực sự là một bất ngờ. Xin nghiêng mình bái phục cụ Bình Nguyên Lộc. Thế còn con hồ ly? Thì… cứ đợi đấy!

  • Văn

    NGƯỜI VỀ TỪ CÕI CHẾT


    NGƯỜI VỀ TỪ CÕI CHẾT

    Phan thanh Vân

     

     Năm 1957, sau khi tiếp thu các phi đoàn vận tải của KQ Pháp giao lại (như các phi đoàn Béarn, Franche- Comté và Sénégal đóng tại TSN), với cấp bực Trung úy, anh làm huấn luyện viên phi công vận tải tại Liên Phi đoàn 1 vận tải dưới quyền chỉ huy của Trung tá Nguyễn cao Kỳ.

    Đầu năm 1958, anh được biệt phái sang Hàng Không Dân sự, lái phi cơ cho hãng Hàng Không VN (Air Vietnam) thay thế cho các phi công dân sự Pháp bị sa thải hồi hương.

    Năm 1961, anh được gọi trở về Bộ Tư lệnh KQ để nhận lảnh nhiệm vụ mới. Anh được chỉ định chỉ huy và lái một trong hai chiếc “Cò Trắng”, có nhiệm vụ đặc biệt bay thám thính, tiếp tế và thả dù các toán gián điệp biệt kích ra miền Bắc CSVN, (lúc bấy giờ chỉ có hai phi hành đoàn Cò trắng được thành lập để bay ra Bắc theo kế hoạch hoạt động tình báo do CIA Mỹ tổ chức và điều động, một phi hành đoàn do Trung tá Kỳ chĩ huy và lái, phi hành đoàn thứ hai do Trung úy Vân chỉ huy. Gọi là Cò Trắng vì 2 chiếc phi cơ C47 dành riêng cho các phi vụ đặc biệt này đều được “sterilized”, tẩy xóa hết mọi cờ quạt, quốc huy, quốc hiệu để lại toàn thân chiếc phi cơ một mầu nhôm trắng toát.)

    Ngày 1 tháng 7 năm 1961, anh lãnh một nhiệm vụ đặc biệt thay thế cho ông Kỳ, lái phi cơ ra miền Bắc để thả dù tiếp tế biệt kích. Trong chuyến bay định mệnh này, phi cơ của anh đã bị hỏa tiễn tâm nhiệt của phóng không CSBV bắn rơi lúc 01 giờ 15 phút rạng ngày 2-7-61, khi phi cơ bay sát từ mặt biển vừa vào đất liền. Máy bay bị rơi xuống một nơi thuộc xã Tô hiệu, huyện Kim sơn, tỉnh Ninh Bình. Phi hành đoàn do anh chỉ huy và lái, gồm thêm 2 phi công phụ (Trung úy Phan khắc Thích, Thiếu úy Trần minh Tâm), 2 điều hành viên (Thiếu úy Tiêu huỳnh Yên, Chuẩn úy Phạm trọng Mậu), 1 vô tuyến điện viên (Trung sĩ Nguyễn văn Nở), 1 cơ khí viên (Thượng sĩ Phạm văn Đăng), ngoài ra còn có 3 biệt kích dù (Thượng sĩ Lộc, Trung sĩ Tiết và Thượng sĩ Khoa) thuộc phòng 46 (sở Bắc, sau đổi thành Nha Kỹ thuật).

    Cả thảy 10 người trên phi cơ lúc bị bắn rơi xuống bãi sình lầy, rồi bốc cháy, người chết cháy vì kẹt lại trong phi cơ, người bị thương nặng rồi chết sau đó, chỉ còn lại 3 người sông sót là anh, người cơ khí viên và 1 biệt kích dù. Cả 3 đều bị thương tích nặng và bị dân quân CSBV trên bờ ào ra bắt giữ. Sau một thời gian bị giam giữ hỏi cung tại trại giam Hỏa lò Hà nội, ngày 15 thàng 11 năm 1961, anh bị đưa ra Tòa Án Quân Sự Trung ương CSBV xét xử cùng với 2 đồng hành với bản án như sau:

    -Đinh như Khoa, biệt kích dù, 15 năm tù

    -Phan thanh Vân, trưởng phi cơ, 7 năm tù

    -Phạm văn Đăng, cơ khí viên, 3 năm tù

    Sau khi lảnh án, anh bị đưa đi cải tạo ở trại Bắc Bạc (Ba vì, Sơn tây), rồi sau đó bị đưa lên giam giữ tại trại E ở Phố Lu (Lào Cai)

    Năm 1971, anh được CSBV phóng thích sau một thời gian 10 năm (tù giam và quản thúc), và nhờ sự lo lắng của gia đình người chị ruột, qua Hồng thập tự Pháp, anh được đưa sang Pháp để đoàn tụ với gia đình và sinh sống.

     

    xxxxxxxx

     

     

    Hôm nay đã là 29 tháng chạp, chỉ còn vài ngày nữa là Tết rồi. Tết năm nay là Tết Tân Hợi (1971) và đúng là cái Tết thứ 10 mà mình sống bơ vơ, xa gia đình, xa quê hương xứ sở.

    Chiều hôm nay, sau khi hoàn thành xong chiếc giường đôi rẻ quạt, gã chính ủy (ủy viên chính trị) quản lý hợp tác xã mộc Đồng tiến ở thị xã Ba vì, tỉnh Sơn Tây gọi tôi lên văn phòng và nói:

    -Anh nghỉ việc sáng hôm nay, về lán thu xếp để chuẩn bị ngày mai về Hà nội.

    Tôi thắc mắc:

    -Dạ, báo cáo cán bộ, tôi về Hà nội có chuyện gì và về bao lâu?

    Gã lạnh như tiền:

    -Anh đừng thắc mắc, đó là lệnh trên của Trung ương, tôi cũng không biết lý do. Anh cứ chuẩn bị sẵn sàng đi, và có lẽ anh sẽ không trở về đây đâu.

    Ra khỏi văn phòng cán bộ, tôi trở về lán thu xếp đồ nghề mà trong lòng nghĩ ngợi miên man; lại cái gì đây?Được đưa về đây sống quản thúc ở hợp tác xã mộc này đã gần 2 năm nay, ngày ngày tháng tháng lòng mình lúc nào cũng thấp thỏm lo âu với cái tội nặng nề thầm kín mang trong người là “giặc lái Mỹ ngụy”

    Năm 1961, sau khi lãnh cái án tù 7 năm, là từ Hỏa Lò Hà Nội đến trại này trại kia, cuối cùng là trại E Phố Lu (Lao Cai), tôi đã “ngoan ngoãn” cải tạo tư tưởng để trở thành “thành phần tiến bộ”, để sau khi hết án 7 năm tù, được hường thêm 2 năm “tự giác” ở lại trại giam. Và cuối cùng cho đến năm 1969, tôi đã thở phào nhẹ nhõm người khi được nhân dân, Đảng và nhà nước trả tự do, đưa về đây quản thúc với nghề thợ mộc,”ngày động tối điểm” (ban ngày lao động:cưa xè, đóng bàn, đóng giường, tối điểm danh trước khi đi ngủ).

    Tối hôm nay trằn trọc mãi, không tài nào ngủ được, lo nghĩ lại chuyện gì sẽ đến với mỉnh đây, tại sao lại bị đưa về Hà nội, tại sao…tại sao…nằm mãi không ngủ được thôi thì dậy, phì phèo vài điếu thuốc lào.

    Ngoài làn các “đồng chí” đang quây quần bên đống lửa to, canh nồi bánh chưng. Nghĩ lại nếu không có cái lệnh đi Hà nội thì giờ này mình cũng ngồi ngoài đó vì ban sáng mình đã được phân công canh nấu bánh chưng tối nay.

    Sáng rồi, chưa tới 9 giờ thì thấy đã có một chiếc xe Molotova loại nhỏ như xe Jeep của Mỹ, đậu sẵn ở trong sân của Hợp tác xã. Tôi cũng đã sẵn sàng khi đồng chí cán bộ quản lý xuống kêu lên văn phòng gặp cán bộ trung ương.

    Vào đến văn phòng là tôi khựng lại, nghĩ thầm trong lòng: Lại cái ông Toán này nữa, cái ông cán bộ công an đã săn sóc mình trong mấy năm qua, từ khi mình được trở thành ngườI tự do.!!

    Sau khi anh quản lý bảo tôi ngồi xuồng rồi đi ra, ông Toán mới chậm rãi:

    Anh có được khỏe không? Hôm nay tôi lên gặp anh để đưa anh về Hà nội và sau đó đưa anh ra sân bay để anh đi Pháp đoàn tụ với gia đình. Đảng và nhà nước đã rất khoan hồng đối với anh và đã chấp thuận lời xin của gia đình người chị của anh ở bên Pháp, cho anh về Pháp sum họp gia đình.

    Nghe đến đây tôi như tắt thở, mừng đến nỗi nhịp tim đập mạnh như muốn nhảy ra ngoài, tuy nhiên vẫn cố lấy bình tĩnh để nghe tiếp những lời lải nhải của đĩa hát cũ đã rè, lập đi lập lại, nào là anh phải biết ơn nhân dân, biết ơn Đảng và nhà nước, nào là anh phải tiếp tục cải tạo tư tưởng để thành người tiến bộ, trở về phục vụ nhân dân, phục vụ Đảng và nhà nước v…và v…

    Ông Toán nói tiếp:

    Đây là giấy thông hành tạm cấp cho anh để anh dùng đi đường ra nước ngoài, còn đây là giấy máy bay của hãng hàng không Pháp Air France đi từ Hà nội đến Paris. Giấy máy bay này do người chị của anh mua và gởi sang cho chúng tôi để nhờ đưa lại cho anh dùng. Thôi chúng ta chuẩn bị lên đường kẻo trễ, anh còn có ý kiến, còn muốn phát biểu gì không?

    Tôi lập bập:

    Dạ báo cáo cán bộ, dạ dạ thưa không!

    Đứng dậy ra xe chân mình bủn rủn, đi hết muốn vững. Đâu có ngờ!

    Ra đến xe thấy cán bộ quản lý chạy lại:

    Anh cầm lấy túi bánh chưng này, đây là quà Tết của hợp tác xã tặng anh, cầm theo mà ăn đi đường.

    Xe lăn bánh rờI Ba Vì, bon bon trên đường hướng về Hà nội. Ngồi trên xe mà lòng tôi lâng lâng, nửa tỉnh nửa mơ, mừng lo lẫn lộn, vì chưa hẳn dám tin đó là chuyện thật, hai bên đường cây cối trơ trụi, bụi đường tung tóe theo lằn bánh xe lăn, nhưng sao mình thấy cái gì cũng vui tươi, cái gì cũng đẹp sáng, tưng bừng như…Tết.

    Mải triền miên với trăm nghìn ý nghĩ trong đâøu, tôi không để ý đã băng qua Hà nội lúc nào và đang trên đường tiến vể sân bay Bạch mai

    Xe đến cổng phi trường thì chạy chậm lại, tài xế lái xe vào đậu ở gần nhà ga hành khách, ông Toán bước xuống quay lại bảo tôi xuống xe theo ông vào trong làm thủ tục giấy tờ.

    Tôi liếc nhanh quanh sân bay, ngoài bãi đậu xa hai ba chiếc máy bay rải rác đậu, một chiếc máy bay kiểu Illouchine 14 của Nga (loại máy bay vận tải chở hành khách loại nhỏ đang chuẩn bị, năm ba người nhân công chạy chung quanh, người đổ xăng, người đi vòng phi cơ kiểm tra.

    Tôi nghĩ bụng mình sẽ đi với chiếc phi cơ này. Sau khi theo ông Toán vào quầy hành khách để trình giấy tờ, giấy thông hành, giấy máy bay…làm xong thủ tục, ông Toán nói:

    Thôi đến giờ rồi, anh theo ra máy bay đi, anh đi mạnh giỏi và hãy nhớ những gì anh đã tiếp thu được mà cố gắng trở thành người tốt.

    Dạ báo cáo cán bộ, dạ tôi xin cám ơn!

    Mình lập bập, hối hả theo sau độ năm mười người nữa ra hướng máy bay đậu. Nhìn những hành khách khác, không biết là Việt hay Tàu, người nào cũng áo bốn túi, cổ Mao, chắc toàn là cán bộ đi công tác, còn mình thì chả giống ai với bộ bà ba nâu, chân đi dép cao su Bình Trị Thiên, tay quẩy túi bánh chưng bây giờ mới để ý thấy có bốn cái, mình lững thững bước lên vào tìm chổ ngồi trong phi cơ. Nhìn anh phi công cao lớn, da đỏ có lẽ là người Nga, mặc đồ phi hành dân sự, đi giữa hai hàng ghế hành khách để lên buồng lái, tôi ngẩn ngơ nhớ lại… ngày nào!

    Chiếc vận tải cơ Illouchine 14 của hãng hàng không Nga từ từ chuyển bánh ra phi đạo, ngừng lại chỗ thử máy và sau đó cất cánh nhẹ nhàng.

    Toàn thân tôi rung mạnh theo đà máy bay lăn trên phi đạo rồi từ từ rời đất liền và theo chiều cao bay lên, bỗng dưng hai mắt tôi nhắm nghiền lại, người tôi tự nhiên thấy ớn lạnh khi chợt nghĩ đến… một chuyến bay!!!

    Rồi những kinh hoàng, hãi hùng của những giây phút rùng rợn gần 10 năm xưa dần dần tiếp diễn qua tâm trí tôi như một cuốn phim:

    Tôi nhớ rõ chiếc máy C47 trắng ngần do tôi lái khi vượt qua vĩ tuyến 17, bay là sát mặt biển xâm nhập vào bầu trời của miền Bắc, dù còn ở ngoài khơi của biển Đông, cả 7 người trong phòng lái chúng tôi đều bắt đầu thấy thần kinh căng thẳng; người này lo lắng liếc mắt nhìn người kia, không ai nói vơi ai một lời. Khi máy bay vào sâu nội địa, tôi còn nhớ lúc ấy khoảng hơn 1 giờ đêm, đột nhiên tôi thấy nhoáng lên như ánh chớp màu da cam ngay trước mặt tôi trong bầu trời như bức màn đen, máy bay tự nhiên rung giật mạnh, không hề nghe một tiếng nổ hay bất cứ một âm thanh gì, hai tay tôi ôm cứng lấy tay lái, cố giữ thăng bằng cho chiếc máy bay, mắt tôi còn thoáng thấy anh Mậu điều hành viên và anh Thích phi công phụ ôm chầm láây nhau, rồi…tôi không còn biết gì nữa!

    Không biết mãi bao lâu sau, khi thấy lạnh run, tôi cố mở mắt nhìn trong đêm tối đen kịt, người tôi như vỡ nát ra trăm mảnh, tôi không cử động được tay chân, đau đớn tận cùng hồn tôi lửng lơ, tôi tưởng như tôi đã chết rồi, hay đang… chết. Sau đó dần dần một lúc, tôi mới cảm thấy đau nhừ khắp cả người, chỗ nào cũng đau, tôi không nhìn thấy gì cả, cố thu hết tàn lực đưa tay quờ quạng hốt ít nước bùn lầy đưa lên mặt để rửa. Nước bùn nhầy nhụa hòa với một thứ nước mằn mặn trên gương mặt loang lổ của tôi, “máu “ mặt tôi đày máu, tôi cố mở mắt nhiều lần nhưng vẫn không thấy gì, đầu tôi như có ai cầm chiếc gậy đập đều đều, tôi lại mê man, tâm trí như có một khoảng trống rỗng, chẳng còn ý niệm gì về thời gian, không gian.

    Tôi cũng chẳng biết là cho đến bao lâu nữa, mãi khi tai tôi chợt nghe văng vẳng trong gió lao xao của đêm khuya: Chết tôi rồi, chết tôi rồi, nóng quá, nóng quá, chết…tôi rồi!

    Tiếng kêu thảm thiết của những người đang chết cháy! Tôi không nhúc nhích gì được, cả một nửa người của tôi đã ngập sâu dưới bùn lầy, tôi cố mở mắt to: xa xa cách chỗ tôi “đứng” độ vài trăm thước, một đám cháy to, lửa đỏ bốc lên ngùn ngụt và những tiếng thét kinh hoàng mà tôi nghe từ đó vọng ra, tôi như nửa tỉnh nửa mê, chợt lờ mờ có ý niệm rằng chiếc C47 do tôi lái đã bị bắn rơi xuống đây và đang bốc cháy!

    Tôi lại mê man bất tỉnh cho đến khi mở choàng mắt ra, lúc này đã nhìn được lơ mơ thấy khung cảnh đồng ruộng sình lầy, đầu tôi đau nhức như có người lấy dao nạo vào óc, rồi tôi nghe rõ tiếng người hò hét xa xa, tiếng léo nhéo, quát tháo vẳng trong gió đêm.

    Một ý thức bừng dậy thành phản xạ của sự sống còn ập đến như một đòn bẩy, tôi cố vùng vẫy, nhô người lên khỏi đám sình lầy, nhưng tôi quá yếu, bất lực!

    Tiếng quát tháo lẫn lộn của đàn ông lẫn đàn bà càng lúc càng gần cùng với những ngọn đuốc lập lòe di động đốt sáng cả một góc trời, phần vì khắp người đau như dần với bao nhiêu thương tích, phần vì quá khiếp sợ, đầu óc tôi tê đi, cho đến lúc họ đã quát tháo ầm ầm bên tai tôi mà tôi vẫn đứng im như một xác chết. Họ hò nhau túm lấy tay chân tôi, kéo tôi ra khỏi sình lầy.

    Lúc này trời đã sáng tỏ, tôi lờ mờ thấy không biết bao nhiêu người, đàn ông, đàn bà lố nhố vây quanh tôi, súng ống gậy gộc, họ hầm hè như muốn nhai xương, nuốt sống, ăn thịt tôi tôi đau đớn sức tàn, tôi sợ quá, nhắm mắt lại, rồi lịm đi, văng vẳng nghe tiếng quát, tiếng chửi rủa ập ngoáy vào tai tôi: Coi chừng, coi chừng, nó hãy còn sống, đập chết nó đi, đập chết nó đi, nó là biệt kích ác ôn của Mỹ Diệm!

     

    Cuốn phim đến đây tự nhiên tắt ngay, tôi giựt mình bừng tỉnh dậy.  Tôi đang ngả người trên chiếc ghế nhung của hành khách, máy bay đang bay êm, tiếng máy đều đều…trong máy bay gió lạnh nhưng người tôi ướt đẫm mồ hôi, ướt thấm cả bộ quần áo nâu tôi đang mặc, tôi cảm thấy lạnh, lạnh ớn xương sống…với giấc chiêm bao vừa qua!

    Với tay với cái mền đắp lên người mới nhớ ra các giấy tờ mang theo trong người, lần mò móc ra xem, ngoài tờ giấy thông hành tạm, đóng dấu đỏ của Bộ Công An Hà nội là giấy máy bay của hãng hàng không Pháp Air France, trong đó ghi chặng đường đi:Hà nội, Canton, Hồng kông. Paris.

    Tôi nghĩ  thầm trong bụng: tại sao ghé qua Quảng đông (Canton) đó là đất đai của Trung cộng, nếu mà lôi thôi trở ngại biết làm sao?Mãi loay hoay với ngàn ý nghĩ lo lắng, tôi không để ý đến đèn báo hiệu buộc dây an toàn bật cháy, cho đến khi người chiêu đãi viên đến nhắc tôi vì máy bay chuẳn bị đáp. Phi trường Quảng đông vắng tanh, lạnh ngắt, không thấy một sinh hoạt nhộn nhịp nào như các phi trường dân sự khác, không thấy một chiếc máy bay nào khác đậu ở sân bay, ngoài chiếc máy bay tôi đang đi, từ từ vào bến đậu, ngay trước nhà ga hành khách. Tôi được mời xuống máy bay theo sau lẻ tẻ hai ba người hành khách khác, đi vào trạm nhà ga.

    Vì đã quen với cách thức đi lại của các phi trường quốc tế, tôi tìm ngay đến quầy tiếp khách đại diện của Air France. Sau khi trình giấy tờ, giấy máy bay của tôi cho người nhân viên, một người tầu, bập bẹ nói tiếng Pháp, anh ta xem xong rồi nói:

    Hiện tại chúng tôi không có đường bay nối tiếp (connection) giữa Canton và Hồng kông, theo lộ trình đã được chỉ định và trả tiền trước, chúng tôi sẽ lo liệu cho anh đi Hongkong bằng đường xe lửa, và khi đến Hong kong anh sẽ tiếp tục lấy máy bay đi Paris, anh chuẩn bị theo tôi ra xe để tôi đưa anh ra nhà ga xe lửa cho kịp giờ.

    Ngồi trên xe theo người nhân viên Air France từ phi trường ra ga xe lửa, quang cảnh hai bên đường xe chạy lạ hoắc, nhưng tôi đâu còn tâm trí nào để nhận xét! Nhà ga xe lửa Quảng đông thật nhộn nhịp ồn ào khác thường, đặc nghẹt hành khách và hành lý. Người nhân viên Tầu dắt tôi len lỏi qua đám người, chen chúc đến quầy lấy vé và đưa tôi lên một toa giữa con tầu để tìm chỗ ngồi, may mắn tìm được một chỗ trống gần cửa sổ, anh ta chỉ cho tôi ngồi xuống và đưa tay bắt tay tôi chúc may mắn (bonne chance)

    Khi xe lửa bắt đầu lệnh khệnh lăn bánh, một kiểu xe lửa từ thời chiến tranh 1914-18, cũng là khi tôi thấy đói lả, mệt nhừ! Chợt nhớ túi bánh chưng xách tòn ten theo từ khi rời Hà nội, tôi mở ra lấy một cái, bóc lá, nhỏm nhẻm ăn ngon lành, thả hồn thưởng thức hương vị của bánh chưng Tết, mặc kệ cho quang cảnh ồn ào chung quanh, tiếng cười, tiếng nói “xí xí ngộ cỏn” của các hành khách nông thôn Tầu đù loại, đang chen chúc nhau trong toa tàu chật hẹp.

    Trời đã xế chiều, tôi không có ý niệm chính xác về thời gian, đoán chừng là đã 4, 5 giờ chiều thì xe lửa từ từ dừng lại vì đã tới trạm ranh giới giữa Quảng đông và Hồng kông. Sau khi xe lửa ngừng hẳn, giữa cảnh ồn ào nhốn nháo của hành khách, tôi thấy hai người mặc quân phục, một người Anh và một người Tầu, tôi đoán là nhân viên của Sở Di trú (Immigration) lên toa xe để kiềm soát giấy tờ.

    Khi họ đến chỗ tôi ngồi và sau khi xem xét giấy thông hành tôi trình ra, nhân viên người Anh lật qua lật lại tờ giấy của tôi, xem xong rồi chậm rãi nói:

    Với giấy thông hành này của CS Hà nội cấp cho anh đi đường, vì không phải là sổ thông hành chính thức, chúng tôi chỉ chấp nhận cho anh đi qua(transit) đất Hông kông 24 tiếng đồng hồ mà thôi, sau thời gian đó, anh phải đi ra khỏi Hong kong, nếu không chúng tôi sẽ bắt giữ anh và trục xuất anh về Hà nội, anh có hiểu rõ lời tôi nói không?

    Tôi xanh mặt, lẩm bẩm trả lời:Yes, yes Sir!

    Tay run run cầm tờ giấy thông hành người nhân viên Anh đưa trả lại,bụng nghĩ thầm:Chết cha thằng nhỏ rồi, rồi đây biết lo liệu làm sao?

    Xe lửa ngừng hẳn ở nhà ga Hong kong, hành khách chen chúc nhau đi xuống, tôi đặt chân xuống nền gạch sạch mát của nhà ga, lòng tự nhiên thấy hả hê, vui lây với quang cảnh sinh hoạt của thế giới tự do!Tôi nhìn đồng hồ nhà ga, đã hơn 6 giờ chiều, tôi vội vã len lòi ra khỏi nhà ga, tìm đường mò về phi trường Kaitak vì biết chắc đó là phi trường quốc tế của Hongkong

    “Thả cọp về rừng”, may là đường xá ở Hong kong đâu có xa lạ gì với tôi khi tôi còn lái cho Air Vietnam và đã từng ghé qua ăn cơm bữa ở đây. Cất bước như vừa đi vừa chạy, băng ngang qua các phố xá đông nghịt người vui nhộn như cảnh Tết, nhưng tôi đâu có dám dừng chân để thưởng thức gì, vừa mệt vừa lo sao cho kịp đến phi trường Kaitak để bắt cho kịp chuyến máy bay Air France đi Paris.

    Vào đến phi trường là lúc phố xá đã lên đèn, người tôi mệt nhoài, tôi hổn hển tìm đến quầy vé hãng Air France, trình giấy máy bay đề đi cho kịp chuyến AF 1002, cất cánh lúc 20 giờ đi từ Hong kong sang Paris theo như trên bảng khởi hành (departure) mà tôi đã nhanh mắt nhìn qua.

    Người nhân viên hãng Air France sau khi ghi nhận và xem xét giấy thông hành của tôi, anh ta nói:

    Đây nhé, chúng tôi rất tiếc là không thề nhận cho anh đi trên chuyến bay này vì anh mang trong mình giấy tờ cùa CSBV và máy bay của chúng tôi phải làm transit ở Bangkok, tôi e ngại rằng nhà cầm quyền Thái lan sẽ làm khó dễ cho anh, tôi khuyên anh nên nhẫn nại chờ chuyến sau, hoặc bay thẳng, hoặc ghé nơi nào có thuận lợi cho anh hơn thì anh hãy đi.

    Cầm giấy tờ người nhân viên đưa trả lại mà tôi “hỡi ơi, sao lại gặp rắc rối quá trời như thế này”. Chân đi không vững, tôi lần mò ra ghế băng ngổi nghỉ đợi, trong lòng “trống đánh thùng thùng”, lo âu cứ nghĩ đến giờ sẽ bị trục xuất! Chợt có ai đằng sau vỗ vai tôi và một giọng phụ nữ vui vẽ nói bằng tiếng Pháp:

    Ê có khỏe không? Anh có phải là anh Vân, captain Air Vietnam? Đi đâu mà ăn mặc kỳ cục không giống ai hết vậy?

    Tôi ngỡ ngàng quay lại, một người đẹp trong bộ y phục chiêu đãi viên hàng không tươi cười đưa tay cho tôi bắt:

    Anh quên tôi rồi sao?Tôi là Francoise,hôtesse Lufthansa nè!

    Tôi ngạc nhiên,sượng sùng nhìn người thiếu phụ quen quen không nói được một lời, chị ta tiếp tục huyên thuyên kể lể.

    À! thì té ra là Francoise Dupuis, nữ chiêu đãi viên bay cho hãng hàng không Đức, người mà thời xưa, lúc tôi còn lái cho Air Vietnam, đã từng được tôi mời mọc, ăn uống mỗi khi gặp nhau ở các escale Hongkong hay Tokyo…

    Tự nhiẽn tôi thấy thoải mái, mừng lây với cái vui mừng vồn vã, hồn nhiên của người xưa, nay gặp lại nhau, tự nhiên tôi thấy có can đảm để “bốc” với nàng, đem  “nghề của chàng” kể lể cuộc đời đã qua với hoàn cảnh hiện giờ của tôi cho nàng nghe. Nghe xong nàng vui vẻ:

    Anh đừng lo, tôi sẽ cố gắng thu xếp giúp anh. Anh đưa vé máy bay của anh cho tôi, tôi sẽ lo liệu cho anh trên chuyến máy bay Lufthansa của tôi, cất cánh đi Francfort lúc 10 giờ đêm, có ghé qua Paris, có điều là tôi dặn anh phải nhớ, khi đáp xuống Bangkok để tiếp tế xăng và lấy thêm hành khách, anh phải giả bệnh nằm lại trên phi cơ, tôi sẽ tìm cách thu xếp ổn thỏa cho anh tránh khỏi qua sự kiểm soát của Thái lan, anh nhớ nhé. Thôi anh đi theo tôi làm thủ tục cho kịp.

    Tôi vui mừng vô cùng, lững thững đi theo người đẹp mà trong lòng thầm nghĩ sao lại còn may mắn gặp được cảnh “thánh nhân đãi kẻ khù khờ”.

    Sau bao nhiêu gian truân trắc trở, lo lắng trên đoạn đường đời của một người “từ cõi chết tìm về tự do” cuối cùng tôi đặt chân xuống phi trường Orly (Pháp) ngày 7 tháng 2 năm 1971.

     

        Cò trắng Phan thanh Vân

        Xuân 2002

     

  • Văn

    Hoàng Lan Chi : Những người tình “ Chu văn An”!

    Những người tình “ Chu văn An”!

     

    Hoàng Lan Chi

     

    Tôi là dân Bắc kỳ chín nút tức Bắc Kỳ di cư 1954. Bắc kỳ này khi di cư vào Nam còn “nhỏ híu” nhưng “chảnh” lắm, nhất định giữ giọng Bắc của mình cơ chứ không lai căng gì cả. Nhất là tôi lại học Gia Long chứ chả học Trưng Vương vậy mà giọng nói không bị lai là vì yêu tiếng Bắc của mình lắm lắm.  

    Lý do nào tôi học Gia Long thì đã viết trong nhiều tuỳ bút. Ở đây chỉ nhắc lại là thường thì Gia Long “bồ tèo” với Petrus Ký nhưng cái cô Gia Long Bắc Kỳ này không thân thiết với dân ấy mà lại thích dân “Chu Văn An” cơ. Có gì đâu, cùng tông bắc kỳ mà! Người miền Nam sợ con rể Bắc vì nói con trai Bắc hay có tính gia trưởng này và …láu cá nữa chứ. Còn tôi, tôi chỉ thấy con trai Bắc thông minh, lém, ăn nói dí dỏm làm mình vui chứ mấy ông “Nam Cờ” lắm khi thành thật quá thấy “cù lần lửa” chết đi được!  

    Tôi chỉ chơi nhiều với dân Chu Văn An khi lên đại học. Lý do chính là “made in con nhà giáo”! Thuở trung học bị ông bố kềm kẹp cấm không có bạn trai thì lấy đâu ra bạn mà chơi. Phí của giời vì:  

    Trời hôm ấy mười lăm hay mười tám

    Tuổi của nàng tôi nhớ chỉ mười ba

    (Thơ Nguyên Sa)

     

    Cái ông thi sĩ này yêu con gái còn vị thành niên khôn bỏ xừ đi ấy. Tuổi mươì ba là tuổi mới truởng thành, còn ngây thơ vô tội chứ chưa vô số tội! Vì ngây thơ vô tội thì tình yêu sẽ thuần tuý tình yêu và chưa hề tính toán. Nói theo kiểu các bạn trẻ bây giờ là “yêu anh vì đó là anh”!

    Tôi quen một dân Chu Văn An ngay đầu năm thứ hai đại học. Trường hợp quen cũng dễ thương tuy không lãng mạn theo kiểu mưa rơi và trú cùng mái hiên. Hôm đó, anh chàng đứng cạnh tôi nơi cửa sổ ghi danh. Một con sâu từ cây còng me tây chơi gian ác đu xuống rồi bình thản đậu trên tay cô nàng Bắc Kỳ chỉ sợ …ma và sâu. Nói nào ngay hồi đó tôi hiền lắm chứ chả như bây giờ. Bây giờ ấy à, chị Ngô Minh Hằng chọc tôi “Người đánh Nam dẹp Bắc mà lại sợ ma và sâu”! Ý chị Hằng ám chỉ việc tôi viết bài “uýnh” việt gian cứ bén như dao bổ cau ấy mà. Con sâu dù bé tí cũng đủ làm hồn vía lên mây và tôi hét lớn. Có lẽ vì âm thanh quá lớn… làm phiền hàng xóm nên anh chàng giật mình và túm cổ con sâu vặt ra làm sáu mảnh! Tôi nhìn anh chàng cười duyên một cái. Này các ông “ Chu văn An” ạ, con gái Bắc Kỳ cũng ranh ma lắm đấy chứ chả vừa đâu. Thấy mình có cái gì “đèm đẹp” là lợi dung tối đa. Ví dụ tôi biết có đôi mắt nai rất ư là “tồ và ngố” nên chuyên môn mở to mắt ra cái điều em ngây thơ lắm em chả biết gì đâu. Hay biết mình có cái răng hơi “khênh khểnh” nên gặp dịp tốt là nàng khoe ngay tắp lự! Cũng chả biết ma xui đất khiến thế nào mà sau đó chúng tôi chơi với nhau rất lâu. Nhưng duyên số không có nên sau khi ra trường một năm thì đường ai nấy đi. Mấy chục năm sau chúng tôi  gặp lại trên đất khách sau khi gặp nhau ở net! Việc gặp lại này xin nhường cho CVA Đàm Trung Phán (biệt danh Lãng Xẹt) kể nhé: 

    Lãng Xẹt và Hoàng Lan Chi 

    Khoảng năm 2001, tôi đọc trên Internet thấy tên một tác giả nghe rất ngộ: Hoàng Lan Chi (HLC) và tôi bắt đầu đọc những bài viết của HLC. Tác giả viết văn theo lối học trò, mang một niềm nuối tiếc không những của thời còn là một nữ sinh Gia Long, một sinh viên trường Khoa Học mà còn cả một bầu trời Miền Nam nước Việt trước năm 1975. Ðiều đặc biệt là tuy tác giả còn đang sống tại Việt Nam mà “Bà Bà LC” cứ thẳng tay mà “vuốt mặt nhà nước”. Thời kỳ này, Lãng tôi bắt đầu vào đọc và viết trên Vietbao Online. Cũng vì vậy mà Xẹt tôi đã có dịp “gặp” HLC vừa trên Phố Rùm (Forums), vừa qua I- Meo. 

    Một hôm tôi đọc trên Quán Gió bài viết “Những người tình Chu Văn An” của HLC. Tôi nhìn con ruồi bay qua màn hình điện toán và mỉm cười vu vơ, chẳng qua là vì tôi cũng đã là một cựu học sinh của trường Chu Văn An. Ðọc đến đoạn HLC nhắc tới người tình CVA mang tên T nay đã có vợ Mỹ và năm đứa con, tôi cười hô hố và suýt té khỏi cái ghế có năm cái bánh xe. Nhân vật T này rất đặc biệt vì hai “điểm son” đó nhưng lại chẳng có xa lạ gì với tôi: hắn là bà con với bà Cai BN của tôi! Hắn không những đã “dám” lấy vợ Mỹ mà còn “dám” có một lúc 5 đứa con trên cái “cõi-đờí-thiên-hạ-có-ít-con” này nữa. Tôi ngưng cười và gọi BN vào đọc bài viết này. Xẹt tôi bèn I- meo ngay cho “chàng Trương” để nghe hắn tâm sự ra sao. Sau khi tôi được nghe đương sự “thú nhận tội lỗi”, T và BN kể cho tôi nghe nhiều mẩu chuyện của thời sinh viên ngày xưa và tôi cũng được trở về với khung cảnh của Việt Nam vào cuối thập niên 60 và trước hồi tháng 4,1975. Vì những kỷ niệm dễ thương của thuở mới vào đời đó mà vợ chồng tôi bắt đầu viết I- meo cho HLC. BN và HLC cùng là dân Bắc Kỳ 9 Nút và cựu nữ sinh Gia Long! Lúc đó, HLC vẫn còn đang kẹt lại ở Việt Nam . HLC và tôi thường hay “gặp” nhau trên Phố Rùm của Vietbao Online. 

    Vâng, từ CVA Lãng Xẹt Đàm Trung Phán, khi đọc tuỳ bút của tôi, T nhận ra ngay Hoàng Lan Chi chính là QG ngày xưa vì thuở sinh viên chàng ta chuyên bỏ giờ học ngồi bậc thềm xem truyện ngắn của tôi đăng trên các báo thời đó. “Văn QG lúc nào cũng vậy”. T viết như thế. Ngày tôi đến Virginia , thành phố tình nhân xứ hoa anh đào thì T lên gặp tôi. Mấy chục năm hội ngộ nơi đất khách, hai mái đầu đã bạc. Chút kỷ niệm xưa chỉ còn là kỷ niệm.  

    Khi tôi gửi bài “Những người tình Chu Văn An” đầu tiên lên web Quán Gió khoảng năm 2001 thì giời ơi, bao ông CVA xôn xao. Ông nhận mình là T, ông nhận mình là L…Đó là do ông webmaster tường trình vì chính anh ta cũng khoái “con bé” và nhận làm em gái văn nghệ!  Một cựu CVA là ông Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh cũng chú ý bài ấy. Năm 2006 có việc phỏng vấn ông Vinh, ông hỏi tôi về bài đó, tôi ngớ người ra vì không dè ông Vinh cũng nhớ bài ấy. Toàn bộ “Những người tình CVA” trong bài viết ấy đều là có thật trăm phần trăm nhưng gia vị mắm muối bột ngọt tôi nêm vào đó thì chỉ có tôi và các đương sự biết!  

    Nhớ lại thuở trước chúng ta có những nề nếp mà bây giờ đã quá lỗi thời. Nhắc lại nếp xưa sẽ làm chùng tim cao niên chúng ta nhưng với bọn trẻ thời nay thì có khi họ lại ré lên cười. Chẳng hạn như cô em họ tôi “Mẹ em bảo ngày xưa mẹ đi học về, mỗi góc phố đều có người đứng nhìn! Còn em bây giờ mà thấy thằng nào như vậy, em nghĩ thằng đó khùng hay vô gia cư vô nghề nghiệp!” 

    Ừ nhỉ, đã qua rồi thời chúng ta với thuở quen nhau thật lãng mạn! Tôi còn nhớ chàng T của tôi thuổng ở đâu đó được bài thơ như sau: 

    Em có biết đường đến trường mấy ngả
    Con đường nào anh đếm bước nhiều hơn
    Gốc cây nào anh thường quen đứng đợi
    Nhớ nhung gì khi bóng ngả hoàng hôn

     

    Hồi đó tôi khờ và tồ lắm, cứ ngỡ thơ của chàng cơ nên tôi viết cho chàng như sau:

     

    Em vẫn biết đường đến trường nhiều ngả
    Đường không em anh đếm bước nhiều hơn
    Gốc me tây anh thường quen đứng đợi
    Nhớ em nhiều khi bóng ngả hoàng hôn!  

    Ấy, tôi viết đúng ‘thực tế” lắm đó nhé. Là nhiều lần chàng đứng đợi tôi nè. Là trường Khoa Học có nhiều cây còng me tây lắm cơ. Chỉ có điều tôi phịa là “Nhớ em nhiều khi bóng ngả hoàng hôn”! Chàng viết và hỏi thế thì mình cứ nhận chàng nhớ mình đâu có siu phải không? Nhưng nói nào ngay, chàng này có lời tỏ tình mà tôi đã viết thành một tuỳ bút với cái tựa là “Lời tỏ tình dễ thương” và các netter “nhí” tha đi khắp nơi. Bây giờ chàng chỉ còn là một hình ảnh của dĩ vãng đã vô cùng xa mờ.  

    Hiện nay tôi có nhiều “Người tình Chu Văn An” khác! Tôi phải “copy” lại cái câu tôi viết vào khoảng năm 2001 trong bài “Hỡi người tình Chu Văn An” nhé. Đó là “Người tình không phải là người tình mà là người tôi có cảm tình”! Ca va! C’est tout! Ấy, từ khi sang xứ Cờ Hoa tôi bực mình vì cái vốn Anh văn của mình quá. Ngày xưa sinh ngữ chính là Pháp, còn Anh Văn chỉ học vỏn vẹn ba năm và xì tốp cả hai thứ khi vào đại học. Do đó sang đây tôi bị trở ngại ngôn ngữ ghê quá. Chính vì thế trong giai đoạn đầu tôi luôn nhờ vả “người tình T” của tôi và sau đó đã viết “Vẫn có anh bên đời” để ám chỉ việc, mấy chục năm sau, “Quỳnh ngày xưa vẫn có anh nhưng …là thông dịch cho Quỳnh!’ Vì thế lâu lâu phải xổ Pháp ra cho đỡ bực mình vì có biết tiếng Anh đâu cưa chứ?!  

    “Người tình CVA” là “fan” của tôi thì khá nhiều. Đa số quý cụ CVA đọc văn thấy nghịch ngợm, gợi nhớ ngày xưa nên thích. Ai thì tôi cũng chơi hết cả nhưng mức độ thân thì sau này tôi không dám thân với ai. Lý do năm 2001 gì đó, tôi khá thân với một anh vì anh làm thơ, viết văn đều hay cả dù xuất thân ngành khoa học. Chúng tôi chơi công khai ở một forum, nơi có nhiều người tham gia. Anh đã viết một câu chuyện ngồ ngộ làm “netters” thích thú theo dõi và sau đó ở đoạn cuối anh làm các “netters” chưng hửng vì nhân vật nữ chính của câu chuyện đó là …Lan Chi! Chính tôi cũng bị bất ngờ. Tối đó, anh gọi về Việt Nam cho tôi và hai anh em cười vui hể hả. Từ câu chuyện của anh đã gợi hứng cho tôi viết “Bẩy ngày ngà ngọc”, một chuyện tình lồng trong phong cảnh Việt Nam và được nhiều “netters” đón nhận. Thậm chí một trang web nào đó còn lấy ra đọc. “Bẩy ngày ngà ngọc”, nghe thì tưởng “nhảm nhí” nhưng thực ra thì chả nhảm tí nào mà lại rất lãng mạn mơ mộng. Ông chồng cũ của ca sĩ Lệ Thu, ký giả Hồng Dương viết cho tôi “Lan Chi ơi, truyện này dễ thương, giọng văn cao sang lắm…” Tôi không hiểu giọng văn cao sang là sao? Còn Vũ Trung Hiền, em ruột nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm cũng khen nhưng bảo tôi “Cái chi tiết hai người kéo nhau lên Ban Mê Thuột mà …chả có gì nghe không thực”! Ơ hay, Vũ Trung Hiền “trần tục” quá đi,  tại sao hai người lại “phải có gì”!  

    Trở lại anh bạn trên. Sau đó khi khổng khi không bà xã anh (cũng sinh hoạt cùng trang net đó và chính chị làm quen tôi trước anh) nổi cơn Hoạn Thư. Từ đó khi gặp quý cụ fan, tôi cũng chơi nhưng sau một thời gian thì “ông/tôi” để các bà khỏi mất công ghen.  

    Năm 2008 tôi nhận mail của CVA Pat Lâm xin phép phổ bài thơ. Tôi không nhớ nổi thơ nào liên quan đến dân CVA cả để mà chấp thuận đơn thỉnh cầu của đương sự! Pat Lâm kêu trời “Thơ mình mà không nhớ?!”! Sau đó Pat Lâm phải giải thích, đó là một ông CVA gửi truyện “Những người tình CVA” và Pat Lâm thích mấy câu thơ cuối của bài viết và đã phổ nhạc. Anh Bùi Bảo Sơn đưa lên web CVA 65-66 gì đó của anh. Thú thật nghe bản nhạc thấy cũng vui vui và vì tôi thích tiếng huýt sáo! Tôi nói với Pat Lâm “Chắc ngày xưa ông hát hay lắm. Bây giờ nghe hơi khàn khàn nhưng còn chất lắm đó! Sau nữa nghe ông huýt sáo làm tôi nhớ thuở sinh viên của tụi mình quá”. Bản nhạc của Pat Lâm được ai đó làm youtube và khá phổ biến ở net. Buồn cười là từ người xa lại nhận họ hàng với người gần. Nôm na thế này, nghe Pat Lâm kể về web CVA, tôi kể cho Pat Lâm nghe, tôi và Bùi Bảo Sơn chưa gặp bao giờ nhưng không xa lạ vì hai gia đình là bằng hữu từ thuở Thái Bình. Ông Bùi văn Bảo, thân phụ Bùi Bảo Sơn là bạn thân bác và cả cha tôi. Sau đó anh Sơn gửi mail với cái tựa “Nhận họ hàng”!   

    Một cư dân CVA khác nhưng “duyên” tái ngộ không phải từ diễn đàn CVA mà là từ “group” Tổng Nha Kế Hoạch. Tổng Nha Kế Hoạch, nơi tôi làm việc đầu tiên ngay sau khi ra trường năm 1971, trực thuộc Bộ Kế Hoạch và Phát Triển Quốc Gia. Năm 2008, vô tình tôi “lụm” được ông Phó Tổng Giám Đốc Trần Lương Ngọc từ “group CP” (nhóm du học thời VNCH với học bổng Colombo, CP là Colombo Plan). Sau đó tôi viết bài “Bác Phó của tôi”. Rồi “Bác Phó” giới thiệu bài với group “Tổng Nha” của bác. Từ đó, tôi lai rai trò chuyện trong group này cũng như group Khoa Học của tôi. Một chuyên viên Tổng Nha, cư dân CVA, đã viết lại kỷ niệm xưa thật dễ thương làm trái tim già cỗi của tôi bồi hồi. Cư dân CVA này viết như sau, thử hỏi quý cụ CVA là có đúng dân CVA “lém” như Lan Chi nhận xét không nhé: 

    “ Cô Quỳnh Giao này có trí nhớ tốt thật. Tôi nhớ lúc ấy tôi làm ở Nha Viện Trợ. Anh Từ Trì đã chuyển sang Bộ Ngoại Giao. Giám Đốc NHa Viện Trợ lúc đó là anh Trần Hữu Dũng. Khi cô Quỳnh Giao đến làm việc, thấy cô bé này " hay hay" nên mấy anh chuyên viên trẻ thách nhau đến làm quen. Và tôi đã nhận lời đưa cô nhân viên mới này đi giới thiệu khắp nơi. Tôi nhớ mình thắng được chầu cà phê vỉa hè đường Lê Thánh Tôn. It lâu sau tôi chuyển sang làm việc ở trụ sở 244 Phan Thanh Giản, cùng bộ phận nghiên cứu dưới quyền Ông Nguyễn Như Cương và không có dịp gặp lại cố nhân Quỳnh Giao nữa.
     
          Vậy mà đã hơn 30 năm rồi. Năm ngoái, khi đọc lại bài viết của Lan Chi về ngày cô vào làm ở Tổng Nha Kê Hoạch, tôi làm được một bài thơ ngắn, trong đó có mấy câu :
     
                       " Một vùng như thể" trên trang Web
                         Người vẫn nguyên đài các diễm kiều
                         Có nhớ Saigon ngày xưa ấy
                         Có kẻ vì ai đã mộng nhiều
        
         "Một vùng như thể " là tôi lấy phần đầu câu Kiều.( Một vùng như thể cây Quỳnh cành Giao )Trên trang Web là cô em gái Đỗ Nghiêm Trinh gởi hình Lan Chi trên e mail cho những anh em Kế Hoạch . Ngay từ ngày Quỳnh Giao vào làm ở Kế Hoạch  là tôi nghĩ đến câu thơ này mỗi lần nghĩ đến cô, và hình như tôi nghĩ đến cô hơi nhiều.

    LQT”
         

      Oregon hay mưa. Mưa Oregon không gợi nhớ mưa Sài Gòn vì rả rích. Anh bạn CVA bắt viết cho đặc san CVA, không cho Lan Chi “xu huyền”  mà Lan Chi thì không biết viết gì nữa. Thôi thì nhắc lại chuyện “Những người tình CVA” vậy! Tình cũ có, tình mới có nhưng điều ngậm ngùi là:   

    …có những “người tình CVA” mà Lan Chi thấy rất đáng yêu bởi dân CVA lúc nào cũng đáng yêu cả vì thông minh, lém lỉnh, dí dỏm nhưng không yêu được vì quý cụ đang là “chim hót trong lồng”!!!  

    Thành phố hoa hồng Portland 2010

     

    Hoàng Lan Chi

  • Văn

    Văn Toàn : XƯA HÀ-NỘI CỦA TÔI – NAY HÀ-NỘI CỦA AI ?

    VIỆT-NAM – QUÊ-HƯƠNG NGẠO-NGHỄ. XƯA HÀ-NỘI CỦA TÔI – NAY HÀ-NỘI CỦA AI ?
     
    Van Toan
     
    Nói đến Hà-nội từ thời trước năm năm mươi bốn. Hẳn bất cứ ai đã một thời sinh-sống, hoặc được lớn lên, hoặc được ăn học, hoặc ít nhất cũng được sinh ra tại nơi đó. Tất thảy đều lấy làm hãnh-diện lẫn đôi chút tự-phụ. Nói đến Hà-nội, những ai có chút văn-nghệ, một chút lãng-mạn, thi-ca trong người, ai là người không phải bồi-hồi xúc-cảm khi nghe thoáng qua, hoặc chợt nhớ lại Hà-nội.

    Nói đến Hà-nội ai là không liên-tưởng tới những chàng trai thanh-tú, lịch-lãm, hào-hoa, bay bướm. Những nàng tiểu-thư khuê-các, thuỳ-mị đài-trang pha chút kênh-kiệu, những thiếu-nữ thướt-tha dịu-dàng trong tà áo tung bay của những buổi dạo chơi phố-phường …

     

    Nói đến Hà-nội ai không biết đến 36 phố-phường. Đến những tác-phẩm lãng-mạn một thời làm điêu-đứng, bởi độc-giả vì nó phải mơ mơ, mộng mộng. Những tiểu-thuyết Tố Tâm … Hồn bướm mơ tiên …

    Nói đến dân Hà-nội, ai không phải kiêng-nể một chút về tính-chất văn-chương trong khoa ăn nói. Lịch-sự thái quá đến độ khách-sáo.

    Nói đến Hà-nội khiến ai không là người phải nhớ-nhung đến mùa Thu, đến màu xanh, đến tình-yêu của Đoàn-Chuẩn – Từ-Linh.

    Em ơi có xuân nào không tàn, có màu nào không phai … Em còn nhớ, anh nói rằng, khi nào em đến với anh, xin đừng quên chiếc áo xanh. Nhưng em ơi ! Có thu nào không tàn, có tình nào không phai ? Như tình anh với em !

    Nói đến Hà-nội hẳn chúng ta không thể không chút xao-xuyến khi nghe :

    Hà-nội ngày tháng cũ, có bóng trăng thơ in trên mặt hồ – Hà-nội ngày tháng cũ, có tiếng oanh ca bên bờ tường-vi. Có dáng em tôi áo trắng nghiêng-nghiêng đường chiều ……….

    Hà-nội ngày tháng cũ, mãi mãi theo tôi trôi trên biển đời ………….

    Nhưng với tôi nay thì :

    Chiếc lá cô đơn lang-thang trôi trên vỉa hè. Dù đường xưa vắng … Ai chờ !!!

    Ôi Hà-nội của tôi ơi ! Sao … mà tôi cứ cảm-tưởng đó chỉ là những truyện cổ-tích, những truyện không bao giờ có thực trên cõi đời ô-trược này !

    Dân năm tư đã đem gần như hết sạch, đem gần như trọn vẹn "Hà-nội" vào trong Nam trên con đường tìm tự-do rồi ư ? Phải chăng vì lý-lẽ đó mà Hà-nội xưa của tôi, nay Hà-nội là của ai ? (Mượn tứ của cụ Vũ-Hoàng-Chương : Xưa Tố của Hoàng, nay Tố của ai ? – 12 tháng 6).

    Mỗi lần tôi đến Hà-nội, tôi không sao giữ được ý-niệm là về lại nơi chôn nhau cắt rốn của mình. Mang tiếng là quê cha đất tổ. Nhưng tôi vẫn thấy rõ rệt nơi mình cái cảm-nghĩ : Xứ lạ quê người !

    Hà-nội bây giờ lạ quá, lạ từ lời ăn tiếng nói, lạ từ dáng đi, nếp sống, ý ăn, ý ở.

    Đàn bà, con gái thì cười nói cứ gọi là rất tự do. Nói theo ngôn-ngữ của Gã Thâm, Thương-Sinh, Dê Húc Càn. Bây giờ các cô thiếu nữ Hà-nội không còn “ xõa môi cười che dấu nửa vai ngoan” nữa (Vũ-Thành – Buồn mắt tím). Giờ thì họ cứ hiên-ngang vén môi lên mà cười cứ gọi là tồ tồ.

    Lẽ ra, tôi phải kể, phải nói về Hà-nội nhiều lắm, nói mãi, nói cho đến hơi thở tàn-lụi vẫn còn muốn nói. Thế nhưng, nay tôi không còn thể nào nói được về Hà-nội của ai đó được nữa rồi. Bởi Hà-nội của tôi không còn hiện-hữu trong đời thực. Nó chỉ còn sống trong tâm-khảm, trong trí-nhớ nhỏ-nhoi của một cậu bé 11 tuổi khi bước chân lên cyclo, để ra phi-trường Gia-lâm đáp chuyến bay 4 động cơ cánh quạt vào Saigon , vào miền tự-do bao la đầy hương.

    Chẳng lẽ nào mình đi Hà-nội, mà chẳng có một chút quà mọn nào sao. Đành cùng theo mọi người mà phất-phơ, mà lang-thang giữa lòng thủ-đô nước Việt-nam mà cữ ngỡ mình đang ở xứ-sở nước người. Thôi thì lấy máy ra bấm vài tấm để làm quà cho HNPĐ. Hà-nội từ ngàn xưa đã biết bao nhiêu giới lấy đó làm đề-tài. Trong đó có bậc tài-danh về nhiếp-ảnh.

    Thôi, cứ chụp ẩu, chụp tả một phát. Tôi đành chụp cảnh Tháp Rùa – hồ Gươm vào ban đêm để làm quà với quý Độc-giả. Tôi xin có lời chua cho tấm ảnh này : Tháp bút chơ-vơ liễu xanh vật-vờ.

    Tôi không thể nào không run tay để bấm máy những hoạt-cảnh đến não lòng của Hà-nội ngày nay. Vả lại, những sự việc đó, trên mạng trong cũng như ngoài nước đã có nhiều lắm rồi. Chẳng phải “phiền” đến tôi nữa.

    Hà-nội phố xá bây giờ bẩn kinh-khủng-khiếp. Vừa đến Hà-nội trời bắt đầu đổ một cơn mưa nhẹ. Lẽ ra, Hà-nội trong mưa phải là lãng-mạn lắm … Nhưng thưa không. Nó nhếch-nhác đến độ không thể tưởng. Lấy xe ra dạo một vòng cho đỡ tốn thì-giờ. Đến khi về khách-sạn cúi xuống nhìn hai bàn chân của mình mà ngỡ rằng tôi đang đi giày cơ đấy.

    Thảm chịu không được, bỏ đôi dép ra mới thấy lòi ra được một chút trắng của bàn chân, nhờ được che-chở bởi cái quai dép. Tôi xin được ngừng để khỏi phải nói những vết lở lói của Hà-nội. Những khổ-nạn mà Hà-nội phải gánh chịu.

    – oOo –


                                         Tháp chuông này xứng-đáng làm chứng-nhân cho bao thăng-trầm của lịch-sử ?!

                                  Cửa Tùng (sông Bến-hải) với cây cầu bắc ngang cửa Tùng. Đứng nhìn từ bờ Bắc.

     Cửa Tùng (sông Bến-hải) đứng nhìn từ bờ Nam .

     

    Bãi biển chạy dài từ cửa Tùng đến cửa Việt (14km) cũng xứng-đáng là một bãi biển đẹp và lớn nhất Việt-nam. Nhưng rất tiếc trời hôm ấy tuy không có mưa, nhưng rất âm-u và gió thổi mạnh làm tung bụi nước.

     Con đường xưa em đi. Từ cửa Tùng đến cửa Việt.

    Cửa Việt (sông Thạch-Hãn) nơi quân-sử VNCH ghi bao chiến-tích của Cọp Biển và các anh-hùng Địa-phương-quân Vùng I chiến-thuật. Đứng nhìn từ bờ Bắc. Bên kia là ngọn hải-đăng (1973 bị hư-hỏng nặng, nay trên tháp xây lại nên không thấy sự hòa-đồng của nó)

    Cửa biển Nhật-lệ nhìn từ xa ( ngay tại bến phà Nhật-lệ cũ, gần phía sau của nhà thờ Tam-tòa).

 

 

 

Read More

  • Văn

    Bài viết hay của hai học sinh Trung học, tại vùng Thủ đô Hoa Thịnh Đốn…

     
    Davis Trần


    “Vẫn thấy quê hương đêm ngày réo gọi
    Vẫn thấy trong tim canh cánh đường về
    Vẫn thấy nơi đây chỉ là đất tạm
    Thầm hẹn ngày về chết giữa quê hương”

    Nhật Ngân

    image

    DAVIS TRẦN
    WINNER OF THE "GIẢI KHUYẾN HỌC" 2010
    FROM THE VIETNAMESE COMMUNITY OF DC, MD,VA

    April 30, 1975: a day long to be forgotten but forever imprinted within the mind of every Vietnamese American. It was on this day when countless Vietnamese citizens gave up their daily lives to become boat refugees, waving good-bye to their homeland in hopes of a better life and a brighter future. I could never wrap my head around the dark events of that day as my mom retold her “vượt biên” account, nor could I imagine the rippling effect that would entail a mass exodus of Vietnamese immigrants for the next 35 years.

    Sitting here in America, in a land where the principle of freedom is so sacredly held, offers me a distinct perspective on the war and its aftermath. As part of the 1.5 generation, reading about the war in American textbooks and watching historic clips did nothing to fill that empty void, to better connect myself with the communal suffering of my heritage. Music filled that void, thanks to the many Vietnamese composers that transcribed their feelings. From Trần Thiện Thanh’s “Rừng Lá Thấp” that brought me the emotions of a solider to Duy Khánh “Xin Anh Giữ Trọn Tình Quê” of nostalgic feelings, these songs bridge the gap of my generation and that of my mother’s. This genre of music not only captures the feelings of those that directly experienced such tragedies, but enables me, the later generation, to truly grasp what occurred. Just listening to the emotional lyrics provokes me to think about how fortunate I am, to think of the men and women who have endured so much, and to be proud of my Vietnamese roots. The Vietnam War has left a scar, but the Vietnamese community is thriving, transforming such adversity and pain into inspiration for success- something I long admire and follow.

    My mom not only lives by this mantra, but exemplifies it to the fullest. Starting her life anew on foreign soil, without knowing a word of English to communicate, demonstrates the utmost sacrifice and perseverance more than any song. She speaks little of the war, only asking that I do well in school. As a child, I considered myself a spy in training, and only through my eavesdropping skills did I hear her retell her journey. I remember asking my mom why. Why would she give up her youth, jump into a boat among 60 others, and risk her life at sea when she couldn’t swim. She looked at me, stared into the void space and said, “vì tự do.” This made me think about my life, how I really don’t have an excuse to whine or complain about anything for the rest of my life. Only a few years ago, my mom dropped her barber profession to take care of my bed-stricken grandmother, a stroke survivor. My mom is truly the embodiment of the Vietnamese fighting spirit. Her account, along with other stories of suffering and endurance through both songs and tears, has taught me the true value of freedom as well as the meaning of sacrifice.

    As Lan Cao ends her novel, Monkey Bridge, she’s reminded of home by the crescent moon in the shape of a dangling seahorse, the shape of Vietnam. I, too, am constantly reminded of my ethnic heritage thanks to the songs and stories. While I call America my home, I know my mom does not see it that way, but yearns to return back to her home, the land she calls quê hương, Việt Nam.

     

    KÍNH TẶNG MẸ TÔI VÀ NHỮNG PHỤ NỮ VIỆT TRONG NGHỀ NAILS NHÂN NGÀY VU LAN 2010

     

    Nguyễn Kim Ngọc

     

    Những sự khó nhọc mà gia đình tôi đã đi qua chỉ vì họ muốn đem lại cho thế hệ sau một tương lai tươi đẹp. Vào lúc đó thì tôi chợt nghĩ rằng: Nếu ai đó đã cố gắng làm một công việc mà bị nhiều người khác chê cười, chỉ vì tương lai của con cái họ, thì người đó thật là đáng khen ngợi, đáng được tôn trọng. Người mà hy sinh bản thân và cuộc sống của mình để con cái được hạnh phúc thì thật là đáng nể. Bởi vì gia đình tôi đã can đảm làm những việc mà người khác coi thường, tôi đang sống nơi đây. Tôi đang có cơ hội để hiểu biết thêm về kiến thức. Tôi đang đi đến một tương lai sáng ngời. Và tôi đã tìm ra câu trả lời mà cô giáo Anh đã hỏi hồi năm xưa: Khi tôi lớn lên, tôi sẽ đem đến những sự đổi mới cho cuộc đời. Và hiện tại, tôi là một người không hề sợ hải hoặc e ngại khi nói lên, "Tôi rất tự hào là gia đình tôi làm nail vì họ làm điều đó cho tương lai của tôi."

     "I want to be a person who changes the ordinary"

     

    Ngọc Nguyễn

    .

    image 

     NGUYỄN KIM NGỌC
    THÍ SINH ĐOẠT GIẢI KHUYẾN HỌC CDVN HTD, MD, VA

    When I grow up, I want to be a person who changes the ordinary. And for now, I am the person who is not afraid to say, “I am proud that my family works at the nail salon because they do it for my future.”

    Nguyễn Kim Ngọc

    Just a few years ago, my English teacher asked her class who each person would like to be when he or she grows up. Some wanted to be doctors, scientists, and some wanted to be lawyers, engineers… When she asked me, I looked around and asked myself, “What do I want to be in the future?” A classmate yelled out, “Maybe you can work at a nail salon!” It was as if that was a joke, the class burst out in laughter. I felt hurt and discriminated. But most of all, I felt angry because in an attempt to make fun of me, that classmate has denoted something shameful about the job of a nail technician and about my own background.

    My grandfather is a veteran from the Viet Nam war to gain independence for our beloved country. Though we had the help from American troops, after the war ended, grandpa was sent to an internment. Long after the suffering that grandpa endured, he and his family were finally brought to America by the American government to enjoy the freedom that he well deserves.

    I’ve heard of many stories told by my dad about the struggle my grandpa’s family went through when they first came here, and I’ve always admired them because of their strength, their bravery, but most of all, their hard work. My grandpa entered the United States along with my grandma, and my five aunts and uncles. My uncles and aunts were no older than thirteen at that time, and so as the breadwinners of the family, my grandpa and grandma took on many jobs to support the family.

    Life was hard because they had to learn English as a second language, alongside with finding jobs that would require no prior knowledge, training, or education. Yet to add on to the hardship, they had no relatives and no friends in America to lend a hand of support. My grandpa was a labor worker, my grandma worked as a nail technician, while my uncles took on part-time jobs as dishwashers at a restaurant near home.

    I vividly remember my mom told me one day, “Con nhớ là phải học giỏi, để rồi mai mốt, con sẽ có tương lai tốt đẹp. Người Việt như mẹ với bà ngoại đây qua Mỹ trễ quá, mù chữ, nên phải làm nail, cực lắm con ơi.” That was when I realized that Vietnamese migrate to the United States to look for opportunities; opportunities, not for themselves, but for the future generation. I realized that my mom would withstand it when people criticized her position as a nail technician only to bring me a better future.

    All the hard work my family has done was to develop a better and brighter future for the next generation to come. At that point, I realized that no matter what path people take in life, everyone deserves respect. Someone who is willing to work a job that people look down upon to support his or her children should deserve to be respected because that person is selfless; that person is willing to make sacrifices for the ones he or she loves. Because my family was brave enough to take on those jobs that are considered to be “low in standard”, I stand where I am today. I am getting an education. I am making a brighter future.

    I found the answer to my teacher’s question: When I grow up, I want to be a person who changes the ordinary. And for now, I am the person who is not afraid to say, “I am proud that my family works at the nail salon because they do it for my future.”

    image

    image


    Vài năm về trước, cô giáo dạy Anh của tôi hỏi tất cả học sinh rằng họ muốn làm gì khi họ lớn lên. Có bạn thì muốn làm bác sỹ, nhà khoa học. Bạn khác thì muốn làm luật sư, kỹ sư.. Khi cô giáo hỏi đến tôi thì tôi nhìn quoanh và tự hỏi mình, "Tôi muốn làm gì trong tương lai?" Có một ai đó la lên, "Bạn có thễ làm nail đấy!" Cứ thể như điều đó là một trò cười, ai ai trong lớp cũng bật cười. Tôi cảm thấy buồn và tức giận vì họ đã coi thường những người làm nail, và họ đã coi thường địa vị của gia đình tôi.

    Ông ngoại tôi là cựu chiến binh từ hồi chiến tranh dành sự tự do cho nhân dân miền Nam. Việt nam đã có sự giúp của quân đội Hoa Kỳ, nhưng sau khi chiến tranh kết thúc thì phần thắng lại chẳng thuộc về những người đấu tranh cho sự tự do chính nghĩa. Và những chiến sĩ như ngoại tôi đã bị quân thắng trận giam giữ sau những năm tháng từ đấy. Nhiều năm gian khổ thì ông ngoại tôi lại được trở về nhà với gia đình và được chính phủ Hoa Kỳ đưa đến đất nước Mỹ để được hưởng sự tự do thật sự mà bao nhiêu năm đã bỏ biết bao công sức và tuổi thanh xuân để bảo vệ.

    Năm 2003 chính là năm mà ngoại bảo lảnh gia đình tôi qua Mỹ. Tôi đã nghe ba tôi kể thật nhiều chuyện về sự khó khăn mà gia định ngoại đã trải qua khi họ bước lên đất nước Mỹ. Ông ngoại tôi sang Mỹ cùng với bà ngoài và 5 cậu, dì của tôi. Tôi luôn luôn khâm phục họ vì họ thật là mạnh mẽ, can đảm, và kiên trì. Ông ngoại làm việc lao động trong hảng, bà ngoại làm nail, còn các cậu thì rửa chén trong nhà hàng. Cuộc sống sao thật gian khổ vì ngoại vừa phải học tiếng Anh, vừa phải làm những công việc lao động – những công việc mà không cần đến sự hiểu biết tiếng Anh. Và để thêm vào nỗi đắng cay ấy, ngoại tôi chẳng quen biết ai trên đất nước Mỹ xa lạ này. Ngoại chẳng có ai để chia sẻ nỗi buồn, chẳng biết nương tựa vào ai khác trừ hai bàn tay trắng của mình.

    Tôi nhớ có một ngày mẹ bảo tôi, "Con nhớ là phải học giỏi, để rồi mai mốt, con sẽ có tương lai tốt đẹp. Người Việt như mẹ với bà ngoại đây qua Mỹ trễ quá, mù chữ, nên phải làm nail, cực lắm con ơi." Khi đó tôi mới biết rằng: Người Việt mình qua Mỹ để tìm cơ hội; một cơ hội không phải cho họ, mà cho con cái, cho thế hệ trong tương lai. Tôi biết rằng mẹ tôi đã nghiến răng chịu đựng khi mọi người chê báng nghề làm nail của mình chỉ để đem lại cho chị em tôi một tương lại sáng đẹp.

  • Văn

    Dòng Thơ Quỳnh Mai : Ngủ Đi Anh

    NGỦ ĐI ANH

    Lìa quê trôi dạt phương trời
    Ra đi đành đoạn nửa đời, xót xa
    Mây quầng Tần Lĩnh mưa sa
    Thân chưa về kịp hồn đà lãng du

    Ngủ đi ANH, đời phù du
    Được thua hơn thiệt mịt mù vó câu
    Đẹp chăng cái thuở ban đầu
    HƯƠNG cau ngõ trúc nhịp cầu lối xưa

    Ngủ đi ANH kẻo trời mưa
    Sợi buồn giăng mắc dường chưa phai mờ
    Phải chăng tàn một giấc mơ
    Người đi kẻ ở thẫn thờ nhớ thương

    Phải chăng đời, cõi vô thường
    Hợp tan còn mất khó lường phong ba
    Cầm như quy luật đó mà
    Hoàng hôn sụp xuống Trời xa Đất gần

    Nặng lòng trong buổi tiễn chân
    Anh về vĩnh cửu nhẹ thân tang bồng…


    KÍNH DÂNG HƯƠNG LINH ANH HOÀNG NGỌC THÁI  

    Quỳnh Mai

  • Văn

    Nguyễn Hoàng Bảo Việt : Ngàn Năm Thăng Long

    Ngàn Năm Thăng Long

     

                       Ta có ngàn năm xưa dựng nước

                          Yêu quê hương và quý tự do

                          Ta có ngàn năm để đuổi giặc

                          Nụ cười tiếng hát cho trẻ thơ

     

    Đêm nay Hà Nội nhớ Thăng Long

    Nhớ thời Vua Lý thêm đau lòng

    Năm mươi tư Rồng rơi nước mắt

    Tiễn dân miền Bắc ra biển Đông

     

    Tết Mậu Thân đỉnh cao tội ác

    Gia Hội chôn sống Huế điêu tàn

    Khe Đá Mài Phú Thứ Đồi Cát

    Thương xót dân Rồng cũng chịu tang

     

    Sau Đà Nẵng Sài Gòn thất thủ

    Di tản vào châu thổ Cửu Long                                          

    Bảy mươi lăm Rồng không về nữa

    Bay với thuyền nhân ra biển Đông 

     

    Đại La thành dựng tượng Lê Ninh

    Bá Bạch Quân Thủ Đức hành hình

    Ven sông Hồng dân oan đói khổ

    Rời Hoa Lư về núi Chí Linh

     

    Nam Quan mất Chi Lăng bỏ ngỏ

    Bát men Ngọc Lý cống Bắc triều

    Hà Hồi im tiếng trống Ngọc Lũ

    Bản Giốc thác buồn nghe quốc kêu

     

    Lê Chiêu Thống thờ trong Văn Miếu

    Mưa Hồ Gươm mặn cát Hoàng Sa

    Sóng Bạch Đằng khóc voi Trưng Triệu

    Cao Nguyên rước Mã Viện vào nhà

     

    Bịt mắt bưng tai giam tiếng nói

    Uốn bút đẽo lưỡi giả bồ câu  

    Tẩy não buộc con người gian dối

    Vệ binh Mao quý hơn đồng bào

     

    Ai rao bán trẻ con phụ nữ

    Thế giới nhìn Việt Nam hôm nay

    Xuất cảng lao nô đảng tỉ phú

    Quan tham ô bắt dân kéo cày

     

    Án tù chồng chất tội yêu nước

    Công lý phi nhân luật bạo quyền

    Phá nghĩa trang đấu tố liệt sĩ

    Địa ngục chết còn muốn dựng lên

                                                                            

    Gió đông buốt lạnh tù Thanh Cẩm                                    

    Hỏa Lò nóng cháy rừng U Minh

    Long Khánh Hàm Tân qua Suối Máu

    Ba Sao Thanh Liệt tới Hoàng Liên

     

    Từ chốn lưu đày nhớ Thăng Long

    Bà Huyện Thanh Quan cũng đau lòng

    Nhớ bạn tù chết trong ngục tối

    Nhớ người thân mất tích biển Đông

     

    Từ Ngô Quyền tới Trần Hưng Đạo

    Bao thế hệ bồi đắp cõi bờ

    Có Lê Lợi Nguyễn Trải Nguyễn Huệ

    Và Nghĩa Sĩ Việt Nam Tự Do

     

    Trương Định Đề Thám Phạm Hồng Thái

    Phan Châu Trinh và Phan Bội Châu

    Nguyễn Thái Học Cô Giang Cô Bắc

    Nguyễn An Ninh và Tạ Thu Thâu

     

    Nguyễn Trung Trực Kiên Giang Nhựt Tảo

    Ngụy Văn Thà chết cho quê hương

    Mơ Rồng về bay ngang quần đảo

    Mơ Gánh Hàng Hoa khắp nẽo đường

     

    Cảo thơm hương sắc vườn Văn Hiến

    Chu Văn An và Lê Quý Đôn

    Sương Nguyệt Ánh và Đoàn Thị Điểm

    Nguyễn Du Đồ Chiểu Hồ Xuân Hương

     

    Hà Nội không chỉ nhớ Thăng Long

    Nhớ Sài Gòn Huế nhớ Hải Phòng

    Nhớ Công Nhân Thanh Nghiên Thanh Thủy

    Nhớ anh em bạn tù bất công

     

    Bà Mẹ nói con tôi vô tội

    Khi điểm mặt đảng xã hội đen

    Uất ức biển ta ơi con viết

    Quân sát nhân thái thú ngụy quyền

     

    Nửa thế kỷ ngồi canh ngọn nến

    Dung nhan em có bớt hao gầy

    Từ buổi kinh đô bị giặc chiếm 

    Cành Nam bốn mùa chẳng đổi thay

     

    Hà Nội con tin nhìn qua đêm

    Trăng xưa thôi chải tóc trước thềm

    Quanh Trụ Đồng công an tuần rảo

    Em ơi Chim Việt có bình yên

     

    Đêm nay Hà Nội nhớ Thăng Long

    Biết Vua thời Lý cũng đau lòng

    Người đi dưới ánh sao Khuê đó                                      

    Vững tin nơi Hồn Thiêng Núi Sông.

     

    Nguyên Hoàng Bảo Việt

    Genève tháng giêng 2010

     

     

     

     

     

  • Văn

    Trúc Lang : PHIÊU BỒNG

     

    ĐÔI ĐŨA NGỌC

     

    Đây trái tim đôi mắt biếc giang hồ,

    Em trở lại  biến thành đôi đũa ngọc !

    Anh sẽ gắp đôi bờ hoang cỏ mọc…

    Trên môi Em có một đóa hoa hồng ?

     

    Có phải chăng tình chẳng rõ mùa Đông ?

    Sắc lầm tưởng lời tương tư mọc rễ !

    Gió đuổi bắt hàng cây cao Thượng Đế,

    Bút mơ hồ nghe động cỡn đi hoang !

     

    Trời làm thinh mây nín thở lăng loàn,

    Anh sợ lắm sương rơi trên khóe mắt ?

    Em có hỏi rằng mai đây nắng tắt !

    Đôi bờ hoang đôi đũa ngọc về đâu ?

     

     Hay chiêm bao má cọ sát mài đau ?

    Tóc buông xõa chơi vơi trên láng ngực !

    Rồi chợt nhớ bài thơ chưa chấm dứt ?

    Bỏ quên đâu ?  Nào biết có Em không !

     

    Anh vô cùng trôi lạc giữa mênh mông ?

    Đôi đũa ngọc bờ hoang yêu cỏ mọc,

    Nơi ánh mắt làn môi Em chợt khóc ?

    Trắng ngỏ trời chưa thấy gió đâm chồi !

     

    Tưởng nghe chừng hoang phế xuống xa xôi ?

    Không trung lạc tiếng côn trùng biến mất !

    Một trời nhớ đi về trong cõi đất…

    Đâu còn Em ? Đôi đũa ngọc !  Bờ hoang ?

     

    TRÚC LANG OKC

    Hạ Canh Dần 2010

     

    BIẾT NÓI GÌ

     

    Biết nói gì ? Xác thịt thuở Tôi yêu !

    Miệng Tôi mút bao dòng thơ ngọt lịm ?

    Lưỡi kiều diễm trần truồng Em rộ chín !

    Tuổi dậy thì mơn trớn đỏ chiêm bao ?

     

    Môi nồng hương? Tôi lạc cửa hôn nào  !

    Má rợn cháy sượng sần tê điếng dại ?

    Hồn ngợp xác chơi vơi đùa cợt mãi,

    Cứ lay bay mê hoảng bởi vì đâu ?

     

    Ngả nghiêng say cuồng dại não cân đau,

    Nghe ngây ngất phiêu bồng châu báu vỡ ?

    Sắc vô lượng Liêu trai thanh thoát nhớ,

    Ngập tràn lên  ngực vú núi vô biên !

     

    Em dìm Tôi xuống một vũng sao điên ?

    Cười sặc sụa giữa đêm trăng ngấu nghiến !

    Tiếng ma loạn thét gào từng búng miệng…

    Mửa mê ly thoát lộ lũ rừng hoang .

     

    Biết nói gì ? Nhan sắc vội lên ngàn !

    Vóc thần tượng tưởng vô cùng biến mất ?

    Mùi cỏ lá khai sinh từ trái đất

    Biến Em thành bộ lạc gái Sơn Ca !

     

    Ôi ! Lưu ly ?  Ký dị ! Một làn da ?

    Tôi kinh ngạc cả trời sương phủ lối !

    Da băng tuyết hay máu trinh tiết gội ?

    Trắng lõa lồ Em nằm ngửa đêm Trăng !!!

    Trúc Lang
    Cuối Đông Kỷ Sửu 2009

     

    MÁU THƠ

     Aha ! Máu thơ Ta bay lả tả ?

    Chảy vô cùng quá trí ở nơi mô !

    Mà chẳng hay đến mắc cỡ vô bờ,

    Mê hoảng lạc màu môi Em đỏ rực.

     

    Lá mắt biếc mơ hồ trong sóng ngực ?

    Phơi trần truồng trinh tiết ngả nghiêng say.

    Hây hây mơ chín gốc lả lơi bay…

    Cứ quấn quýt như thèm yêu chớp ngợp.

     

    Đây có phải thanh âm đường lớp lớp ?

    Tỏa trong tim hay hơi thở trong Em !

    Ta cuồng si nằm ngủ giữa Xuân điên,

    Trong lõa thể trời đất quên mở cửa ?

     

    Ôi ! Vẻ đẹp thuàn túy ngây ngất ngửa.?

    Sắc vô tri  chất lượng quá vô lường,

    Trong hình Em dáng vóc biến ra sương,

    Đến sần sượng giả vờ tay cởi yếm.

     

    Rồi cứ thế trần gian xoay tít biến ?

    Chở Ta về kể lể miệng thơ ra…

    Lưỡi say sưa ngậm nuốt máu chan hòa,

    Chao ôi lạ ! Da trăng Em trắng quá ?

     

    Ta bất chợt hồn khạc thành biển cả,

    Siêu thoát rồi cao tột bực hư vô !

    Trong mông lung Ta quả thật điên rồ ?

    Thơ bồng ẩm bóng Em trăng ngả ngả !!!

     

    TRÚC LANG OKC

    Cuối Đông Kỷ Sửu 2009

    Người là Ai ? Là Tổ Quốc Tôi yêu !

    Máu vực dậy từ lòng Dân cứu Nước,

    Ôm chí lớn mang danh Người Phục Quốc,

    Diệt thù chung Cọng sản Đấng trai hùng.

     

    BởI tình Quê chan chứa Nhục vô cùng…

    Được đóng dấu bằng Đinh tim của Mẹ,

    Bằng Sắt đá Sỏi gan Sông Núi chẻ,

    Đúc thành Thơ chọc thủng tím Chân Trời .

     

    Người là Ai ? Là Gió lộng Sóng ngàn khơi !

    Thân Nguyễn TrảI Phi Khanh hồn bất khuất ?

    Xưa Bản Giốc Nam Quan còn Ải Bắc ?

    Nay Hoàng Sa há nhục Giặc coi thường !

     

    NgườI là Ai ? Là Phù Đổng Thiên Vương !

    Cởi Ngựa Sắt cứu nguy Dân Tộc Việt,

    Lửa máu cháy Kinh Kha gươm lẫm liệt,

    Tràn lên Người khiến da thịt Tôi say !

     

    Vươn vai dài đánh đổi ngả đêm ngày,

    Diệt Cọng phỉ đến tàn hơi xác pháo…

    Người lại đến thét gầm cơn gió bão,

    Dậy ba quân khôi phục lại Sơn hà.

     

    Tay phất cao ngọn cờ Tổ Tiên Ta !

    Của thế hệ Hôm Nay chân bước tới…

    Đem Dộc Lập Tự Do Xuân đổi mới,

    Thuở Quang Trung Lịch Sử nét Vàng Son !!!

     

    TRÚC LANG OKC

    Đông Kỷ Sửu 2009

     

     

    QUỲ DƯỚI CHÂN TƯỢNG MẸ LA VANG (1)

     

    Qùy dưới  tượng viết vần thơ viếng Mẹ ?

    Đây Okla tràng hạt chuỗi  La vang !

    Mẹ Việt Nam, trong ánh sáng huy hoàng,

    Khói hương tỏa hòa chan ơn vũ lộ

    Mẹ là cả hào quang như thác đổ

    Trải bao la bất tận cả nguồn thơ !

    Tung hô câu ca  ngợi chín tầng mơ,

    Rất huyền diệu cao sang vô số kể.

     

    Chói chang ngất lưu ly ngàn diễm lệ ?

    Mẹ biển trời? Con giọt lệ rưng rưng !

    Giữa rừng sương xôn xao ngại vô cùng ?

    Con làm sáo hót lời kinh gió bão,

    Ca vũ trụ càn khôn nguồn sống đạo…

    Mang thiên thu vào thế giới linh hồn,

    Mẹ La vang Mẹ Thiên Chúa trời con,

    Dưới chân tượng con quỳ như trẻ nhỏ..

    Thân xác thịt hồn con bay vạn gió.. ?

    Mẹ biển trời ? Con giọt lệ rưng rưng !

     

    Mắt Mẹ ngời sáng rực lạ vô cùng ?

    Miệng lưỡi thốt sân si nào nói hết !

    Chuỗi ngập ứ vô tri tràng bất diệt ?

    Hạt từ bi tay lần trước Thiên nhan…

    Biển Trần gian nước mắt lụy hòa tan,

    Lưng tròng đọng hai hàng mi má ướt.,

    Ơn vô lượng thanh âm nào tả được !

    Cả trời cao bỗng chợt vỡ trăng sao ?

    Ướp lời kinh đêm nguyện trắng chưa vào,

    Tay Mẹ vuốt tóc con quỳ dưới tượng.

     

    Thân xác thịt hồn con bay vạn trượng.. ?

    Mẹ biển trời ? Con giọt lệ rưng rưng !

     

    TRÚC LANG OKC

    Xuân Canh Dần  2010-

    (1)Tượng Đài Đức Mẹ La vang được xây cất tại Nhà Thờ Chánh Tòa ĐMHCG/OK

    PHIÊU BỒNG

     

    Em  phiêu bồng như giọt nắng trăng sao ?

    Anh đuổi bắt theo mây bay chẳng được !

    Khiến trời đất bất bình kêu gió rượt,

    Cả rừng hoang thức dậy tiếng nai vang !

     

    Rồi không gian chìm đắm giữa hoang mang,

    Anh chợt gặp làn môi Em chín đỏ ?

    Như ngọn lửa theo tiếng cười của gió,

    Khói tóc mây xóa trắng bụi nghê thường.

     

    Em phiêu bồng Anh lạc cảnh trong sương ?

    Giấc ngủ chậm nghe say từng miếng nhớ,

    Thức dậy hỏi môi Em càng chín đỏ ?

    Trong con tim ngọn lửa ngực phơi trần..

     

    Vẻ đẹp nào ? Thế giới mới khoe thân !

    Sao không hỏi con nắng nào tái giá ?

    Biển nước mắt ngàn năm đâu mặc cả,

    Em phiêu bồng như giọt nắng trong sương ?

     

    Ôi ! Yêu thương nào biết có vô thường !

    Tuổi lãng mạn bắt nguồn từ Thượng Đế ?

    Khi đôi mắt Em tan từng miếng lệ,

    Vỡ thanh âm nghe bầm nát vô tim….

     

    Như con chim trôi lạc giữa trời sim !

    Bay vô tận mười hai con mắt biển ?

    Tiếng cát rụng côn trùng Anh lạc tiếng,

    Gió Càn khôn ? Em ! Lá cỏ mù sa ?

     

    TRÚC LANG OKC

    Hạ Canh Dần  2010

     

     
    Xin góp cùng Trúc Lang huynh đôi vần cho thỏa tình tri ngộ. 
    Ngũ Lang (Du Yên)


    ĐÊM HOANG

     

    Du Yên

     

    Lãng đãng em về như giáng tiên

    tóc mai ấp ủ mắt môi hiền

    nụ hôn phù thủy say mê hoặc

    ngọt lịm trong từng khao khát điên

     

    trăng vàng mờ ảo dáng liêu trai

    chờ đợi từng đêm nhẹ gót hài

    nương theo gió thoảng em vừa đến

    lại bỗng tan dần theo nắng mai

     

    vòng tay hụt hẫng, ánh trăng nghiêng

    cành lá xôn xao động giấc mềm

    còn thoảng đâu đây mùi hương tóc

    đã đợi em về lạnh gió đêm

     

    mê mẩn làn da ấm áp tình

    nụ hôn mời mọc hé môi xinh

    vũ trụ bỗng tan thành sương khói

    trong chốn hư vô thoáng bóng hình

     

    em là ma nữ hay yêu tinh

    hãy đến cùng ta hiện dáng hình

    đời chẳng gì vui nơi hạ giới
    chi bằng lạc bước chốn u linh

     vùng gió xoáy – 270510

    GIẤC NGỦ ĐIÊN RỒ

    Ta điên rồ ôm hết bóng trăng mơ ?
    Khao khát gọi tên Em ngoài biển trắng !
    Máu thơ chảy lõa lồ từng miếng cắn,
    Giữa xác đêm mang theo lũ cô hồn.

    Ta hôn Em má còn đọng hoàng hôn,
    Trời cúi mặt lánh xa giây phút thẹn…
    Em bẽn lẽn trong cơn mơ nhạy bén,
    Thả mây bay che phủ cõi cuồng si.

    Ôi ! Vô tri mê hoặc gái Tần Phi ?
    Em hiện diện một loài hoa cỏ sớm !
    Xuân vô tận leo thang từng giọt lớn,
    Kéo đa tình sa đọa ngất ngây say !
     

    Em có về trời bao cấp mưa bay ?
    Cây lạc lối rừng chênh vênh gió cát !
    Tiếng lau phách tàn dư kinh cổ Phật,
    Nát từ bi nghiêng ngả cánh Từ Đường.

    Giấc ngủ điên rồ ? Tiếng mõ trong sương !
    Nghe vọi vọi từ ngàn năm thế kỷ,
    Như băng hoại cả nguồn thơ triết lý ?
    Khiến châu thân trăng ngậm bóng Di Đà !

    Em lại về trong một cõi mù sa,
    Hương rưng rức bay nhanh mùi ánh đạo,
    Đến hốt hoảng hồn Ta theo gió bão,
    Xác mơ hồ trăng vọng tiếng nam mô !.

    TRÚC LANG OKC
    Ha Canh Dần 2010

     

     

    ĐƯA TIỄN EM ĐI

     

    Đưa tiễn Em đi trời rẽ trắng ?

    Tình yêu nhỏ giọt áo sai bâu !

    Bước hoang đô thị sa lầy vắng,

    Trên nhựa đường không nét xám nâu !

     

    Ngực nở căng phồng Xuân mở cửa,

    Phơi trần vẻ đẹp thái dương say ?

    Âm ba gợn sóng tinh cầu ngửa…

    Ánh Đạo bắt mùa sương ấp lay.

     

    Cặp mắt của Ta hình ảnh mất,

    Một người con gái cuối chu kỳ..

    Bóng mờ xanh nhạt Em hòn đất ?

    Chiếc áo từ bi cúi xuống đi….

     

    Giờ cuối cùng bay kinh dị vỡ,

    Ta nhìn khuôn mặt một và nhiều ?

    Sao người còn đó ? Hung cuồng nhớ !

    Sỏi đá vô thường điệu nhảy yêu.

     

    Rồi những vết thương thơ ọc máu,

    Đóng đinh vào trái tim sa lầy…

    Ô hay ! Ngọc thể Quan Âm báu ?

    Đưa tiễn sao người còn ở đây !

     

    Giữa ba hướng khói Em thiền viện ?

    Ta quá điên rồ rung hoảng say !

    Nhìn vết Chân Không ngời tỏa biến ,

    Bước mau như những lá Kinh bay !

     

    TRÚC LANG OKC

    Ha Canh Dần 2010

    TÌNH YÊU VÂY KHỔN

     

    Ta chỉ sợ trời đất quên mở cửa,

    Để tình Em trôi dạt bến không bờ ?

    Ném suy tư lên hòn sỏi bâng quơ,

    Lòng chẳng biết ? Đá  rừng hay bọt biển !

     

    Tiếng nhảy bỗng loài hưu nai vọt biến,

    Đi về đâu ? Từ thế kỷ hoang sơ !

    Ta lặng câm nhìn Em xuống dòng thơ,

    Dáng Sơn nữ của khe Mường Mán lạ. ?

     

    A tăng kiếp ! Tiền duyên vô mặc cả ?

    Mà chẳng hay hoa cỏ dại côn trùng !

    Biết đâu về từ cõi nhớ Mê Cung…

    Trong sảng sốt có cuồng si chịu mũi.

     

    Da thịt hỏi rằng Em còn giọt lụy ?

    Để Ta yêu cánh bướm cánh chuồn chuồn !

    Thuở đất trời mê hoặc cứ hành hung ?

    Tay níu với kiễng chân trời vú dại.

     

    Tình kiến bé máu xương nào khắc khoải ?

    Ngực tim Ta vây khổn một hồn thơ !

    Những cơn điên khờ dại tắp vô bờ,

    Sương Hy Lạp bay về trôi lãng đãng..

     

    Ngôn ngữ thoát phá vòng vây hốt hoảng,

    Khiến Ta say lá cỏ với mù sa ?

    Rằng yêu Em Thơ viết mãi chưa ra !

    Cõi ta bà cũng bay xa phố thị.

     

    TRÚC LANG OKC

    Hạ Canh Dần  2010

     

     

  • Văn

    Hiền Yến: Ngàn Thu Thương Nhớ.

    NGÀN THU THƯƠNG NHỚ

     

    Chúc Anh viết thay Mẹ.

    (Kính dâng Hương Hồn Anh Thiệm

     với tràn đầy nỗi buồn sâu đậm của em…)

     

     

    Nhìn chiếc lá vàng lặng lẽ rơi

    Đau buồn thổn thức nỗi đơn côi

    Thoảng trong hương gió lời bi thán

    Phải tiếng hồn anh, dòng lệ trôi?

    Gối lẻ sao khuya sầu ánh mắt

    Phòng đơn nguyệt lạnh nhớ làn môi

    Tình ta tuy dẫu thiên thu biệt

    Tha thiết yêu anh mãn kiếp người.

     

    Genève 06 tháng 5, 2002

    Hiền Yến

  • Văn

    Phiêu Dao : Hẹn Nhau

    Người Hải Ngoại

    Vần thơ chỉ tặng người tha hương
    Và tiếng chao chân mọi nẻo đường

    Và tấm lòng trinh nào đó nhỉ?
    Bên bờ quang đãng xa quê hương
    Vẫn biết người còn mãi đếm thu
    Vẫn nhìn Tổ Quốc giữa sa mù
    Long lanh ánh mắt buồn vời vợi
    Đã mấy năm trời người ngóng thu
    Người đi cướp lửa ánh sao trời
    Để sưởi nồng thêm mảnh Nguyệt rơi
    Khép lại trong tim thời lộng lẫy
    Huy hoàng,lịm tắt và tơi bời
    Ngày đi,sóng gió vỗ xô thuyền
    Khói lửa ngập trời, đời đảo điên
    Trôi nổi phận người trên mặt nước
    Lênh đênh để cảm cuộc truân chuyên
    Nếu có ngày về buổi đón Xuân
    Tôi mong tay nắm tay ân cần Bên bờ
    Hải Ngoại,người nhìn thấy?
    Một tấm chân tình đứng bâng khuâng

    Phiêu Dao

    Thương Nhau

    Thương anh,em lội tận sông sâu
    Tà áo thiên thanh nhàu nát nhàu
    Trôi phấn trôi hương tan phận ngọc
    Thuỳ dương thảng thốt van đôi câu
    Thương em,anh trèo tận núi cao
    Vóc dáng thanh tân nhào đổ nhào
    Chân bước chênh vênh khua thạch quyển
     Phù trầm trọn kiếp,mắt xanh xao
    Thương nhau,vướng nặng tình đa mang
    Tay gói đêm sâu thành thở than
    Đã trót thương nhau,sao chẳng đến?
    Để sầu chiếc bóng phai cầm loan
    Đêm sầu lặng lẽ khúc trầm ngâm
    Thương buổi tròn trăng bước lỡ lầm
    Chất ngất u hoài theo tuế nguyệt
    Thương cho duyên phận..ôi! thương tâm!
    Thương!…

    Thơ Phiêu Dao

     

     

    Hẹn Nhau

    Hẹn nhau giữa ngã ba đường
    Ngờ đâu lạc giữa muôn phương chợ đời
    Hai ta đóng vở kịch đời
    Gặp nhau mắt ướt im hơi lặng buồn
    Ngày em bước,đẫm lệ tuôn
    Còn ta len lén nỗi buồn vương mang
    Mộng về ngày ấy xuân sang
    Tình yêu tựa sóng dịu dàng ru êm
    Một hôm gió cuốn mây mềm
    Chia tay chua xót tình thêm tội tình
    Một chiều ôm ấp thơ trinh
    Rưng rưng dĩ vãng một mình rưng rưng
    Hôm nay,tim bổng ngập ngừng
    Nhìn em,ngấn lệ,bước chân gọi buồn …………………..
    Hẹn nhau giữa ngã ba đường
    Ngờ đâu lạc giữa muôn phương chợ đời

    Phiêu Dao

  • Văn

    Đỗ Bình : Mảnh Vỡ.

    Mộng Thừa

     

    Liễu rũ

    trăng nghiêng

    soi bóng cửa,

    Trải dòng suối bạc

    ngỡ rừng xưa.

    Vói tay

    mới biết

    àn hư ảo.

    Ðêm vẫn còn thơ

    mộng sớm thừa!

     

    Chám Phá

     

    Bức tranh cổ nửa đời say đắm,

    Có thuở vàng son lắm khách thăm.

    Một sáng tình cờ lau lớp buị

    Mới hay mối đục mảnh trăng rằm !

     

      

    Mảnh Vỡ!

                                  (*Trăng, Hằng Nga: tự do *Trời: xứ Mỹ * Chú Cuội: kẻ nói láo)

    Giơ tay vớt ánh *trăng mờ

    Tìm xem sóng nước mấy bờ đầy vơi?

    Dắt nhau lẻn trốn lên *trời,

    Hỏi thăm chú *cuội một thời xa xăm.

    *Hằng Nga nương bóng hương trầm!?

    Cây đa rũ rượi lệ thầm trong mơ.

    Dây tơ đứt đoạn bao gìờ?

    Duyên xưa tàn tạ dật dờ thế ư!

    Chinh nhân mỏi mệt ưu tư,

    Buồn trong kẽ lá suy tư bẽ bàng!

    Gió về tưởng bước em sang…

    Tàn thu lạnh buốt sắc vàng tả tơi!

    Thông reo như khóc than đời,

    Phồn hoa lũ sậy lả lơi êm đềm.

    Say hương ta ngắm trăng lên,

    Tóc xanh điểm bạc từ đêm ngỡ ngàng!

    Nước non sầu buổi tan hoang,

    Tiên chắp cánh, phòng loan hững hờ!

    Yêu *em viết mấy vần thơ,

    Chờ nhau suốt kiếp thẫn thờ bến mê!

    Theo em quên nẻo đường về,

    Trăm năm chợt tỉnh lời thề có nhau!?

    *Thiên thai lạc giấc mơ đầu,

    Ðập gương tìm bóng hỏi câu ân tình,

    Bẽ bàng mảnh võ lặng thinh!

    Nửa vầng trăng cũ lung linh nghê thường.

    Ta về trả cõi yêu đương,

    Còn nghe âm hưởng thiên đường ngày xưa…

                                                           Đỗ Bình

     *(Em: tự do, Thiên thai: trời Mỹ

  • Văn

    NHỮNG VỊ “ANH HÙNG NHÂN DÂN”

    NHỮNG VỊ “ANH HÙNG NHÂN DÂN”

    Tôi về quê tôi trong một ngày đầu xuân, ngày xuân có gió nhẹ nhàng, có những cành đào tươi nở và có cả lòng người chờ mong thương yêu. Lâu lắm rồi tôi không về, kể từ lần đầu về bây giờ đã 15 năm, con đường vạn lý cứ mãi giằng kéo bước chân tôi xa quê, mải mê với bước “giang hồ” nên quê cũ vẫn là một nơi chốn chỉ để nhớ để thương.

    Thật ra với một người như tôi mà thương nhớ quê là rất lạ, vì trang lứa tôi sinh ra trên đường vào nam ( 1954 ) lớn lên ở miền Nam, có mấy ai nhớ về quê cũ đâu. Khác với những người như vậy, tôi gắn bó với quê một cách sâu đậm và hằng nhung nhớ trong lòng.

    Lần đầu tiên về quê, chỉ một mình mà tôi dám về quê, những bất ngờ mà quê dành cho mình càng làm tôi càng thương nhớ quê hơn, người “nhà quê” đã đón tôi bằng cả một tấm lòng thương mến. Tôi đã về để đi trên con đường “dong nhà mình”, cứ ngỡ đâu đây cha mẹ mình vừa đi qua, vào nhà “cụ xã” ( ông nội tôi ), ngồi ở bậc thềm nhìn ra cầu ao trước nhà, tôi vụt đứng lên bước vội ra cầu ao, đúng rồi, mẹ tôi bảo: “Cầu ao nhà ông Xã có ba bậc, bậc thứ hai mẻ một miếng ở bên phải”.

    Bà con hàng xóm đến thật đông để chào và nghe tôi nói chuyện, tôi chợt nhớ một điều bèn hỏi: “Ai là… con Nga, con bà Nguyệt ?” Một bà cụ khoảng 70 tuổi móm mém đứng lên: “Con ạ !” Mọi người bật cười còn tôi bối rối. Tôi vẫn thường nghe mẹ tôi kể rằng “Con Nga, con bà Nguyệt” hay bện rơm xoắn lại, dọa anh tôi: “Tao bắt mẹ mày” thế là anh tôi sợ và khóc chạy về quấy mẹ, câu chuyện đã lâu lắm rồi, anh tôi năm nay đã tròm trèm 70, thế mà tôi quên mất !

    Lần đầu tiên tôi dâng lễ ở Nhà Thờ họ tôi ( Giáo Xứ quê tôi có họ nhà xứ và 4 họ lẻ ), những gì cha tôi kể như hiển hiện ngay trước mắt tôi, từng cái cửa, cái bàn, cái ghế cũ kỹ, cái Cung Thánh sơn son thếp vàng, cái rương gỗ của cha già Trúc để ở phòng thánh… Tất cả còn hết, còn nguyên vẹn. Tôi ứa nước mắt ra khi nhìn mọi sự vật cha tôi đã kể tỉ mỉ cho tôi nghe, mọi cái còn đó, chỉ có cha tôi, người con đi biệt xứ kể từ cái đêm bị ruồng bắt năm 1945, ôm ấp mãi trong lòng ước muốn một lần về thăm quê, thăm mọi người, thăm mồ ông mả cha, thắp cho ông nội tôi một nén nhang tạ tội mà không được. Cha tôi đã mất để lại cho chúng tôi nỗi nhớ quê nhà…

    Ông nội tôi chết ở đình làng khi bị giam cầm chờ ngày mai xét xử trong cuộc đấu tố cải cách ruộng đất. Nghe kể lại rằng, đêm đó cô tôi bò vào mang theo nắm cơm cho bố ăn, nhưng khi vào đến nơi sờ vào người cha mình thì ông tôi đã chết rồi, ông tôi chết một cách uất ức vì ông tôi có phải là địa chủ đâu, chân lấm tay bùn quanh năm. Mẹ tôi bảo: “Ông cả đời nhịn ăn nhịn mặc, chẳng bao giờ dám hoang phí một đồng, cả ngày lặn lội ngoài ruộng, thế mà bị gán là địa chủ !”

    Sau năm 75, có một người trong số những người đấu tố ông nội tôi vào Nam tìm đến gặp cha tôi, họ nói lời xin lỗi cha tôi, hôm đó cha tôi không trả lời câu nào hết, ông lặng người đi, gục đầu vào bàn thờ ông nội tôi, khi quay ra, tôi thấy mắt cha tôi đỏ hoe. Hôm đó, cha tôi bảo làm cơm đãi người ta ăn và khi chia tay, cha tôi lấy một ít tiền chia sẻ với ông ta, hình như mẹ tôi rất khó chịu về điều này, sau này tôi được biết, ngày đó cha tôi cũng gật đầu chấp nhận cho ông ta tiếp tục sống trên cái “thổ nhà mình”, vì cha tôi bảo: “Mình có về nữa đâu mà giữ !” Hôm tôi ở quê, đứa em con bà cô, đứa em còn cố giữ được thổ nhà ông tôi gợi ý: “Anh sang thăm thổ nhà bác”. Tôi ngần ngừ rồi trả lời: “Thôi em ạ !”

    Dĩ nhiên là người “nhà quê” đã không để tôi yên, tình cảm yêu thương dồn nén, một ngày phải dâng ba lễ, bao nhiêu loại lễ mừng, lễ giỗ họ, đem cả vào hai ngày tôi ở quê mà yêu cầu tôi “ban” cho, đành vậy. Những giờ khác, chú tôi, ông “tiên chỉ làng” dẫn tôi đi thăm các nhà có liên hệ, danh sách đã được ông định trước và không ai dám cãi ông.

    Ông dẫn tôi đền nhà cụ Trùm Bát, cụ Trùm Bát ốm liệt nằm trên giường đã mấy tháng nay, cụ chẳng xa lạ gì với tôi vì cha tôi hay kể về cụ, kể về người bạn hiền lành và thân thiết năm xưa ở quê nhà, thậm chí tôi còn biết nhiều chuyện khá riêng tư của hai cụ nữa, nhưng có một chuyện mà tôi không biết, bất ngờ trong lần đầu tiên về quê được cụ bà tiết lộ, đó là: “Thưa cha, con là bạn của bà cố, ngày xưa con đi phù dâu cho bà
    cố !” Lần ấy, tôi về lại Sài-gòn, hỏi mẹ tôi, cụ nhăn mặt suy nghĩ rồi trả lời: “Chẳng nhớ nữa, chắc vậy”.

    Lần này cụ bà bị điếc nhưng vẫn còn khỏe, cụ bà loay hoay bên tôi, người co rúm lại cười cười nói nói rất hồn nhiên. Cụ ông nằm liệt giường, việc đầu tiên là “ăn mày phép giải tội”, cụ thở giốc nói được vài lời, họ quấn quanh cụ những chăn bông, những áo len, những mũ len, tất cả cũ kỹ cáu bẩn, mùi hôi, mùi ẩm mốc…

    Sau những “lời khuyên bảo“, cụ đưa tay run rẩy luồn vào tấm áo trong, tìm kiếm phía trên ngực, “Thưa cha, con có chút tiền dâng cha lo việc Nhà Thờ”. Cụ tiếp tục run rẩy tìm kiếm, tôi đã nói lời từ chối không nhận tiền vì nghĩ rằng cụ rất nghèo, chẳng có là bao, để cụ lấy tiến đó mà lo thang thuốc, nhưng cụ nhất định không chịu. Khi tôi sang nhà bên cạnh, người ta cầm sang cho tôi một “nắm” tiền và cho biết đó là tiền của cụ. Tôi đã bật khóc khi tối về xem xét lại “nắm” tiền đó, 20 tờ 1.000 đồng mới tinh và 6 tờ 5.000 đồng cũng mới tinh.

    Tôi biết cụ đã cho tôi tất cả cái cụ có, khi kể lại câu chuyện này cho một người quen, chị ấy thốt lên: “Hai đồng tiền bà góa !” Cám ơn Chúa đã cho con được cảm nghiệm Tin Mừng một cách rất cụ thể, và con đã có được cảm nghiệm đó khi con đi gặp người nghèo.

    Có một “vị Anh Hùng Nhân Dân” mà tôi đã hân hạnh được viếng thăm, bất ngờ hơn, lại là người mà tôi “còn có họ”. Bà đáng được phong danh hiệu như vậy. “Nhân Dân” bởi chính bà là người dân hiền lành chất phác, căn nhà nhỏ bé ba gian lợp ngói kiểu đồng bằng Bắc Bộ, khung cảnh cuối đông ảm đạm càng làm cho cái vẻ nghèo nàn tăng thêm.

    Trời rét lạnh nên tuổi già còn phải chịu quấn quanh người cái áo len dầy cộm, ông chồng của bà vẫn tươi cười chia sẻ: “Con đau yếu chẳng làm gì được, đành ở nhà nội trợ, còn nhà con phải lên Hà Nội ‘lội chợ’ kiếm ít tiền”. Thế nhưng khi lao mình vào chốn thành thị ấy, thì người đàn bà chân quê nhận ra cái lẽ phải và sự thật, cái nhận thức rất đơn giản của người nhà quê yêu mến Giáo Hội và kinh nghiệm thế nào là sự giảo quyệt. Bà luôn có mặt ở hàng ngũ những người đi đầu trong các cuộc đòi chân lý. Trong những ngày tháng căng thẳng, có một người đàn bà nhỏ bé duy nhất lọt vào Tòa Khâm Sứ cũ, quỳ trước tượng Đức Mẹ Sầu Bi cầu nguyện một mình, hình ảnh đó được phát đi khắp nơi cho mọi người chiêm ngưỡng, hình hài nhỏ bé đó là chính bà. Bà hồn nhiên cho biết: “Thưa cha, con cầu nguyện với Đức Mẹ thì con sợ gì ai ?” Người mẹ “Anh Hùng Nhân Dân” ấy là mẹ của một Linh Mục.

    Có một “Anh Hùng Nhân Dân” khác tôi cũng được gặp khi về quê, người đàn bà quả cảm ôm tượng Đức Mẹ vào đặt tại bể nước trong khu “linh địa Đức Bà”, cũng như người mẹ Anh Hùng kia, người này cũng xuất thân từ chuyên ngành “đồng nát” ( ve chai ), kể từ khi vụ việc Thái Hà xảy ra, bà nhận ra cái “lạnh lẽo đạo nghĩa” của mình, bôn ba khắp thiên hạ rồi cũng chẳng đi đến đâu, bà dừng chân ở linh địa, khởi viết lại trang sử đời mình từ những ngày đi đòi chân lý và nguyện gắn bó sống chết với điều đã chọn lựa, bà nói: “Có bắt con đi tù thì phải lo mà nuôi cơm con, con vẫn cứ đi đòi cho đến khi nào có được chân lý và sự thật”.

    Có một ai đó đã viết về quê tôi, miền quê có truyền thống gìn giữ và bảo vệ Đức Tin mạnh mẽ, miền quê nghèo nhưng không nghèo lòng quả cảm, miền quê đã sản sinh ra nhân vật nổi tiếng của Giáo Hội một thời, Đức Cha Phạm Năng Tĩnh, một anh hùng của Đức Tin, miền quê đó hôm nay lại hun đúc một con người, Giuse Ngô Quang Kiệt, một gương mẫu mới của lòng yêu mến và quả cảm, sao miền quê đó lúc này im ắng quá. Không im ắng đâu, bởi vẫn còn những bà mẹ nghèo nhưng giàu lòng quảng đại, vẫn còn những bạn Taxi, xe ôm và đồng nát kiên cường.

    “Các cha cứ gọi, chỉ vài phút sau chúng con sẽ có mặt tại Thái Hà”…

    Lm. VĨNH SANG DCCT, 7.2.2009

    LM. Vĩnh Sang, DCCT
  • Văn

    Buổi Chiều Ở Thị Trấn: SÔNG PHA

    Buổi Chiều Ở Thị Trấn: SÔNG PHA 
    Phạm Thành Châu
    Mưa càng lúc càng nặng hạt. Thị trấn Sông Pha với hai dãy phố trên quốc lộ 20 như chìm ngập trong mưa. Người đàn ông lom khom chạy, tay che đầu, cổ rụt xuống, tưởng như thế mưa sẽ không đổ xuống người. Khi đến một quán ăn, ông ta tạt vào hiên, đứng giũ giũ áo, phủi nước trên tóc rồi mới bước hẳn vào trong. Một cái quán bình thường, giống như bâùt cứ quán cơm, phở, mì nào trên quốc lộ, tỉnh lộ. Cũng mái tôle, vách ván, vài cái bàn gỗ mộc, trên để ống đũa, muỗng, mấy chai xì dầu, nước mắm…vài con ruồi bay lãng vãng. Mùi ẩm mốc, mùi đất lẫn với mùi thức ăn gợi cho ông ta cảm giác dễ chịu, tưởng như quen thuộc với nơi nầy rất lâu.
     
    Trong quán đã có vài ba người đang xì xụp ăn, mấy ly bia đã cạn. Có lẽ họ là thợ rừng vì bên lề đường có một xe be chở mấy súc gỗ to tướng, dài cỡ vài chục mét. Họ vừa ăn vừa nói chuyện nhát gừng với nhau. Người đàn ông tìm một góc, ngồi tránh gió lùa. Qua khung cửa sổ ông ta nhìn đăm đăm cái dốc cầu lỡ lói, rồi nghiêng người nhìn cho rõ cái cầu sắt, đen đủi, giống một con thú yên lặng chịu đựng cơn mưa lạnh. Mấy người đàn ông ăn xong, kêu lên “Tính tiền, bà chủ!” Một chị đàn bà, cỡ dưới bốn mươi, từ sau quày đi ra. Họ đối đáp, cười nói xã giao vài câu trong lúc trả tiền, rồi toán đàn ông cũng lom khom chạy ra xe, nổ máy. Chiếc xe be ì ạch leo lên giốc cầu, chậm chạp như con khủng long trườn qua giòng nước chảy xiếc phía dưới, mờ dần trong mưa.

    Có tiếng lao xao ngoài đường. Mấy toán học sinh đi học về. Chúng đi từng bọn với nhau, trò chuyện. Những chiếc áo mưa đủ màu. Bọn con gái đi nép dưới hiên nhà, bọn con trai thì lội ngược giòng nước mưa, dùng chân tạt nước vào nhau, đuổi nhau…Buổi chiều mưa u ám bỗng như sống động hẳn lên vì lũ học sinh. Người đàn ông chợt nhớ lại, lần trước, cách đây vài mươi năm, ông cũng ngồi trong quán ăn nhìn ra đường và bọn học trò cũng đi học về. Cảnh vật, nhà cửa hai bên đường đã hoàn toàn đổi khác nhưng chiếc cầu sắt và lũ học trò vẫn thế, dù lần trước trời không mưa, các cô thì áo dài trắng, các cậu quần xanh áo trắng. Ông ngạc nhiên tưởng chừng những cô cậu học sinh ngoài kia vẫn cứ đi học từ lúc đó đến bây giờ. Dáng đi dịu dàng của các cô, vẻ nhanh nhẹn vô tư của các cậu vẫn thế. Và nếu không có cơn mưa, ông đã đứng trên dốc cầu ngắm các cô đi học về rồi lần xuống bờ sông, nhìn mê mãi giòng nước như ông đã làm trước đây, khi ông còn trai trẻ.
    “Thưa ông dùng chi?”
    Chị chủ quán đứng bên ông tự lúc nào “Xin lỗi chị!..”
    “Dạ, không sao. Ông có định ăn hay uống món gì? Hay ông chỉ ngồi trú mưa, cũng không sao!”
    “Chị có cháo lòng không? Tôi nhớ lần trước, có ghé lại một quán ăn nào đó, hình như đằng kia kìa, có món cháo lòng ngon lắm”
    “Dạ tôi cũng có cháo lòng nhưng có lẽ không ngon như ở cái quán mà trước đây ông đã ăn”
    “Thú thật tôi cũng không nhớ có ngon không, nhưng ở đó có một kỷ niệm nên tất cả thành ra đẹp và ngon. Lúc nãy tôi đi tìm quán cháo lòng thì người ta chỉ đến đây. Bây giờ sao không còn thấy cái quán đó nữa, chị?”
    “Dạ, quán đó đã đóng cửa, bán nhà cho người khác rồi”
    “Tiếc quá! Chị cho tô cháo” Trong lúc chị chủ quán lúi húi làm việc, ông ta để ý mới biết phía trước là quán ăn, phía sau làm nơi cư ngụ của cả gia đình. Lối đi vô nhà sau nằm ngay nơi bếp, cách biệt hẳn hai nơi rõ rệt.
    Một cô học trò chạy ùa vào nhà “Thưa mẹ, con đi học về!” Nó xoay qua chào ông khách “Chào bác ạ!” “Vâng, chào cháu!” Nó chào xong là biến mất sau cửa.
    “Hùng ơi! Nhớ nấu cơm kẻo ba con về không kịp” Tiếng con bé từ sau nhà vọng ra “Sao giờ nầy ba chưa về, mẹ?”
    “Nghe ba con nói chiều nay ghé trường đón em con rồi ra xưởng họp hành gì đó” Chị chủ quán bưng tô cháo đến, ông ta hỏi “Con gái sao đặt tên Hùng như con trai?” Chị cười “Ở trường nó tên Hồng, ở nhà quen gọi Hùng từ lúc nhỏ, chúng tôi cắt tóc ngắn, cho mặc đồ con trai, chúng tôi thích con trai…”
    “Tôi thấy tên Hùng đặt cho con gái có vẻ hợp lý. Nhiều ông tên Hùng mà chẳng hùng dũng gì cả, như tôi chẳng hạn”
     
    Chị chủ quán đặt tô cháo trên bàn, không trả lời, chỉ liếc nhìn ông khách, xong chị quay về ngồi sau quầy, khuất sau mấy bó hành xanh, ớt chín đỏ treo tòn teng như những vật trang trí. Người đàn ông thong thả nhai những miếng lòng, miếng gan, mắt vẫn lơ đãng nhìn ra đường mưa. Chị chủ quán chăm chú nhìn ông khách ăn, rồi như chợt nhớ ra điều g&ig
    rave;, chị lấy trái chanh, xắc mấy miếng, đặt trên cái đĩa nhỏ mang ra
    “Tôi quên đem chanh. Ông có uống gì không? Nước ngọt hay bia?”
    “Chị cho tôi xin trà nóng. Trời mưa uống trà thích lắm”
    “Dạ, ông chờ cho chút, tôi có sau nhà, trà cho khách uống không được ngon”
    “Cám ơn chị. Có lẽ tôi là khách đặc biệt mới được chị đãi trà ngon”
    “Dạ, tôi đoán ông sành uống trà nên phải có trà thơm cho ông. Thường ngày khách chỉ uống cà phê, trà buổi sáng. Họ ngồi chuyện trò cả buổi nên chỉ dùng trà thường”
     
    Chị chủ lại về ngồi chỗ cũ. Cô gái sau nhà đi ra, âu yếm ôm vai mẹ. Hai mẹ con chuyện trò nho nhỏ gì đấy. Ông khách nhìn và cười
    “Ra đường người ta tưởng là hai chị em. Giống nhau quá!” Chị chủ quán cũng cười
    “Nó lớn rồi, lên trung học mà cứ làm nũng với mẹ như con nít” Chị nói với con gái
    “Nước sôi rồi, con lấy hộp trà trên bàn thờ ra đây cho mẹ. Xong rồi lo học bài, làm bài. Theo mẹ hoài, bác khách cười cho”
     
    Ông khách không dám nhìn lâu, sợ bất nhã, nhưng cũng nhận ra chị chủ quán có đôi mắt đẹp và buồn xa xăm như đăm chiêu về một nơi nào. Bỗng ông nhíu mày lại, đôi mắt đó, hình như ông đã gặp ở đâu? Ông ngước nhìn chị, bắt gặp chị ta cũng đang nhìn ông. Cả hai có vẻ bối rối.
    Ông đành hỏi một câu cho bớt ngượng
    “Chị lập quán nầy lâu chưa?”
    “Dạ, sau giải phóng độ vài năm”
    “Chắc chị người vùng nầy? Tôi nhớ lần trước có thấy đâu đó mấy chữ Thị Trấn Sông Pha, hình như lúc vừa từ đèo đổ xuống, chữ lớn lắm”
    “Nó còn đấy chứ, có lẽ trời mưa nên ông không thấy” Chị chủ quán bưng bình trà và một cái tách trên một khay nhỏ
    “Mời ông dùng trà”
    “Cám ơn chị. Buôn bán có khá không chị?”
    “Dạ, cũng đủ sống. Mọi khi trời không mưa thì giờ nầy cũng có lai rai khách đến nhậu”
    “Chị cho tính tiền”
     
    Sau khi trả tiền, ông khách nhìn ra đường
    “Mưa lớn quá!”
    “Mọi năm, tháng nầy đâu có mưa. Hôm qua trời còn nắng mà cũng không lạnh” Và như hiểu ý, chị nói “Trời còn mưa, nếu không vội, ông cứ ngồi đây tự nhiên”
    “Cám ơn chị, tôi định đi loanh quanh đây, nhưng mưa quá!”
    “Có lẽ ông muốn tìm ai?”
    “Tôi tìm một người quen. Thú thật, tôi chỉ nhớ tên, chứ không nhớ rõ người, lâu quá!”
    “Chắc ông biết nhà?”
    “Thì cái quán đằng kia, nhưng đã đổi chủ rồi nên tôi chỉ đi lang thang cho đỡ buồn. Nói đúng ra, tôi tìm một kỷ niệm. Mà chị biết, kỷ niệm thì người thích thì giữ, người không thích không muốn nhớ đến. Nhiều khi chuyện không đâu, chẳng có gì đáng nhớ, lại nhớ suốt đời…”
     
    Chị chủ quán về lại sau quày, có vẻ tò mò
    “Người quen mà mình quên mặt! Thế làm sao ông tìm?”
    “ Giả như có tìm ra người, chắc gì người nhớ ra mình. Lâu quá! Cỡ vài mươi năm, cho nên tôi tìm cho biết thôi. Tôi nói thế nầy, chắc chị thông cảm với tôi liền. Bây giờ, tình cờ chị tìm thấy quyển vở, quyển sách thời còn đi học, hay rõ hơn, chị đọc lại quyển lưu bút chẳng hạn, chị sẽ bồi hồi nhớ lại tất cả, thương yêu tất cả. Mà những người bạn trước kia, nay đã khác rồi, từ gương mặt đến tâm hồn, suy nghĩ, cho nên trong những giây phút hồi tưởng đó, cách tốt nhất là chị đến trường cũ đứng nhìn, chị sẽ thấy lại cả một quãng đời thanh xuân với bạn bè ngày trước… Nghĩa là nó ở một thế giới khác, cách biệt hẳn với hiện tại. Tôi cũng thế, tôi muốn đến đấy, ngồi lại cái quán ăn cách đây mấy chục năm, gọi một tô cháo, ăn xong, lang thang trên đường nầy, đứng ở dốc cầu kia, ngắm mấy cô nữ sinh đi học về, rồi xuống dưới bờ nhìn giòng sông. Cũng may, con đường còn nguyên, cây cầu còn nguyên, giòng nước thì vẫn thế, chỉ có cái quán ăn không còn mà thôi. Cái lạ là người tôi muốn tìm, tôi cũng ước ao cô ta vẫn chỉ độ mười sáu, mười bảy tuổi thôi. Không phải cho tôi bây giờ, mà để tôi tìm thấy tôi lần đầu tiên trong đời được cô ta ban cho cái hạnh phúc đẹp đẻ, thánh thiện của tình yêu. Cho nên tôi nói với chị là tôi đi tìm dĩ vãng, tìm người cũng có, nhưng lại không muốn gặp người”
     
    Ông khách nói một hơi như sợ không còn dịp để thổ lộ ý nghĩ mình. Chị chủ quán có vẻ thông cảm
    “Coi bộ ông cũng lãng mạn dữ. Nhưng giả dụ, nay, ông gặp lại người cũ, dĩ nhiên bây giờ già rồi, xấu rồi, ông còn giữ tình cảm, đúng ra, tình yêu của ông đối với người đó không?”
    “Chị với tôi đều lớn tuổi rồi, nên tôi nói chị sẽ hiểu ngay. Tình yêu lúc đầu là dáng người, ánh mắt, miệng cười, lời nói…Rồi theo thời gian nó không là hình bóng nữa m&agra
    ve; là sự cảm thông, chấp nhận, hòa tan vào nhau. Ý tôi muốn nói ở đây là dù cô ta có thế nào tôi vẫn cứ yêu thương. Tôi yêu cái tình mà tôi tin rằng cô ta yêu tôi, yêu cả tình tôi yêu cô ta nữa. Thật khó giải thích! Nhưng chị còn nhớ một bài thơ của ông Phan Khôi có câu “Liếc đưa nhau đi rồi! Con mắt còn có đuôi”?
     
    Qua bao năm dài nó còn lại là tấm lòng chứ không phải vì tuổi tác hay sắc diện bề ngoài” Bàn của ông khách cách quày của chị chủ quán độ năm mét, nhưng tiếng mưa nghe rào rào trên mái tôle, ông khách sợ người nghe không rõ, không thông cảm nên ông nói lớn tiếng. Chị chủ quán có vẻ bối rối, nhìn ra đường rồi chị lại cúi xuống lấy ấm nước đến rót vào bình trà cho ông khách “Ông bảo đi tìm người ta mà lại không muốn gặp, vậy ông đến đây làm gì?… Để tôi bỏ thêm ít trà nữa” “Cám ơn chị. Thật tâm, tôi muốn gặp nhưng sợ người ta quên nên không dám đối diện. Mà dù có còn nhớ, tôi cũng không nên xáo trộn cuộc sống của người ta. Chắc chắn cô ta đã lập gia đình, có con cái, sống với hạnh phúc bình thường của một người bình thường” Chị chủ quán đi lấy hộp trà, mở ra, nghiêng đổ một ít vào lòng bàn tay rồi mở nắp bình trà, cẩn thận bỏ vào. Ông khách ngước nhìn chị, hai khuôn mặt gần sát nhau, ông thấy rõ đôi mắt đen chăm chú vào bình trà, chiếc mũi thon, hơi hếch lên, vẻ nghịch ngợm, miệng mím lại nửa như làm nghiêm, nửa như cười, gò má hồng, da mịn.
     
    Ông nghe cả hơi thở nặng nề từ đồi ngực căng phập phồng sức sống của tuổi sung mãn. Ông nói nhỏ “Cám ơn chị, trà thơm quá! Vị đậm và có hậu” Chị chủ vẫn cúi xuống, lắc nhẹ bình trà “Ông chờ một lát cho trà ngấm. Trà Blao ướp ngâu, chúng tôi thường uống trà nầy, quen rồi” Chị quay về quày “Nghe ông kể tôi cũng tò mò, muốn biết câu chuyện ra sao và tên của người hân hạnh được ông nhớ mãi, suốt mấy mươi năm. Tôi sẽ cố tìm giúp ông, biết đâu tôi sẽ tìm thấy. Tôi là người ở địa phương nầy” “Lúc nãy chị bảo tôi lãng mạn, có lẽ đúng. Chuyện chẳng có gì. Với người khác không đáng để nhớ, nhưng với tôi lại là một biến cố lớn trong đời. Đại khái như thế nầy. Năm đó, tôi học đại học sắp ra trường, ở Sài Gòn. Trong dịp tôi theo mấy người anh họ đi dự đám cưới của một người bà con trên Đa Lạt, lúc quay về chúng tôi đồng ý sẽ ghé Nha Trang chơi. Tôi nhớ đó là lần đầu tôi theo quốc lộ 20 nên tất cả đều mới lạ và đẹp. Đèo Ngoạn Mục, Đa Nhim, Sông Pha… Lúc vừa vào thị trấn Sông Pha thì xe bị trục trặc, người lái xe bảo phải chờ hơn hai tiếng đồng hồ để người phụ tài đi mua phụ tùng về thay. Chúng tôi rủ nhau vào quán đằng kia. Trong khi các người anh nhậu nhẹt, tôi chỉ kêu một tô cháo lòng. Cô con gái của chủ quán đem cháo ra. Tôi đoán thế vì tôi thấy cô đi học về, vào nhà thay đồ rồi ra phụ với gia đình ngay. Cô trông rất có duyên và vui. Bây giờ gặp lại, có lẽ tôi không nhận ra, chỉ còn ấn tượng là cô có đôi mắt đẹp, đen nhánh, như cười, môi hồng tự nhiên. Tôi bảo cô “Anh đi chiếc xe đò kia kìa, nó bị hư ph i sửa, ít nhất vài tiếng nữa. Anh ra đằng dốc cầu kia đứng chơi, khi nào xe đó sửa xong, em bảo họ chờ một lát và cho người ra kêu anh, được không?” “Được chứ, nhưng nếu kêu anh, anh sẽ thưởng gì?” “Nếu là người phụ việc ở đây, anh sẽ biếu ít tiền để cám ơn” “Nếu em gọi?” Tôi đùa “Nếu là em, anh sẽ tặng em quả tim của anh, để em nấu cháo, khách sẽ khen ngon” Cô le lưỡi “Anh nói nghe mà ghê!”
     
    Tính tôi vẫn thế, đến chỗ lạ là thích lang thang, nghiêng ngó cảnh vật, đường sá, nhất là nơi nào có chiếc cầu bắc qua sông là tôi có thể đứng ngắm nhà cửa bên kia bờ, ngắm giòng nước cả giờ không chán. Tôi nhớ rất rõ, khi tôi đứng dưới dốc cầu, mặt trời lặn sau dãy rừng cây âm u phía xa, màu mây trời làm đỏ rực mặt sông, tiếng chim về tổ gọi nhau…Chị có ra đó đứng ngắm cảnh chiều tà lần nào chưa? Đẹp lắm! Vẻ êm đềm của thị trấn yên tĩnh, hiền hòa nầy cứ ở mãi trong trí tôi, biến thành ước ao ngày nào được về đây sống, và mỗi buổi chiều ra ngắm giòng sông… Trong lúc đang mơ màng thì tôi nghe tiếng kêu “Anh đó, về lẹ lên, xe sắp chạy rồi” Tôi ngẩn lên thấy cô học trò, con chủ quán, vừa chạy trên bờ vừa kêu. Cái bờ sông, tuy không cao lắm, nhưng có cỏ, nên cô bị trược chân, gượng lại không được, cứ chạy chúi nhủi xuống phía tôi. Tôi giữ được tay cô nhưng cô cũng ngã nhào vào người tôi, khiến tôi cũng suýt ngã theo. Đôi mắt cô ngước nhìn tôi sáng long lanh. Cô mắc cỡ nên má cô hồng. Tóc cô dài và đen, vướng đầy cánh tay tôi. Không hiểu sao tôi lại đủ can đảm
    hôn lên môi cô, chỉ hôn phớt thôi. Môi cô mềm, hơi thở cô thơm như của trẻ thơ. Đó là nụ hôn khiến tôi rung động, hạnh phúc nhất trong đời. Bao nhiêu năm rồi, tôi vẫn cảm tưởng như mới đây. Cô đẩy tôi ra, lùi lại, nhìn sửng tôi rồi cô cười và nói “Chạy tìm anh bắt mệt!” Tôi nói “Cám ơn em”. Có lẽ cô bị xúc động nên cứ lúng túng không lên được bờ dốc. Tôi nắm tay cô kéo đi “Anh tên Hùng, em tên gì?” “Phúc Lan” “Anh sẽ trở lại thăm em” Lên khỏi bờ sông , cô gỡ tay tôi ra và chạy trước. Cô mới lớn, hơi cao và ốm nhưng dáng đi đã uyển chuyển, tóc cô bay trong gió…” Chị chủ quán bỗng kêu lên “Thôi chết, trời mưa mà tôi quên đậy mớ củi, ướt hết!” Chị khoác áo mưa, cứ để đầu trần chạy ra cửa, vòng ra sau hè. Người đàn ông không quan tâm, rót nước trà uống, ông ta như muốn kể cho riêng mình nghe. Một lát chị quay vào, cởi áo mưa treo trước hiên. Đầu tóc, mặt mũi ướt đẫm nước mưa. Chị phân bua “Mưa lớn quá, ướt hết cả!” Chị ra sau quày, lấy khăn xoa đầu tóc, lau mặt, rồi hỉ mũi sụt suỵt. Người đàn ông kêu lên “Chị bị cảm rồi đó!” “Cám ơn, tôi sẽ uống thuốc. Ông kể tới đâu rồi? Xin lỗi, tôi vội quá” “Chuyện đến đó là hết, chẳng có gì hay ho” “Ông hứa trở lại, rồi ông có trở lại không?” “Thú thật, đôi khi tôi cũng quên bẵng đi. Chẳng phải tôi có người yêu khác, mà cuộc đời cứ bắt đầu óc mình quay cuồng với bao chuyện rắc rối, khi nhớ đến cô bé đó thì lại tự hẹn mình chờ dịp thuận tiện.
     
    Rồi vụ đổi đời năm bảy lăm, tôi không thể đi đâu được. Bây giờ tôi ở xa lắm. Hơn nửa đời người, bao nhiêu biến chuyển, chỉ còn đọng lại trong tâm hồn tôi kỷ niệm nhỏ bé với cô Phúc Lan và buổi chiều Sông Pha năm nào. Tôi nhớ người cũ, cảnh cũ lắm mới tìm về đây. Tôi thấy thích ở đây, ở đến già đến chết cũng được” Chị chủ quán cười “Nếu ông về ở đây, hễ đến quán nầy, tôi tính nửa giá thôi. Nhưng bây giờ ông định làm gì, có muốn gặp lại cô bé ngày xưa không? Theo ông kể, có lẽ tuổi cô ta cũng cỡ tôi, cũng đi học cùng trường với tôi, nhưng sao nghe cái tên lạ quá. Để tôi giúp ông, tôi sẽ hỏi các bạn tôi ở đây, dù cô ta có đi nơi khác cũng còn bà con, bạn bè biết cô ta. Nhưng hỏi ra thì báo cho ông cách nào. Ông có địa chỉ không? Ông có muốn nhắn gì với cô ta không?” “Ý kiến chị vậy mà hay. Tôi chỉ cần biết cô ta ở đâu để có dịp tôi chỉ đến nhìn thôi, chứ không gặp. E cô ta đã quên hẳn tôi rồi! Lại nữa tôi không muốn xáo trộn cuộc sống của cô ta. Tôi là kẻ ngoại cuộc rồi” “Ông cứ cho tôi địa chỉ, khi tìm ra, tôi sẽ báo cho ông” Rồi chị cười “Tôi cũng bắt chước cô bé ngày xưa của ông, hỏi ông, nếu tìm ra cô ta, ông thưởng gì cho tôi? Tôi không cần tiền cũng không cần quả tim của ông” “Chà, khó hè! Thôi thì như chị nói, tôi sẽ đến quán nầy hằng ngày, suốt quãng đời còn lại của tôi” “Đùa với ông thôi, bây giờ ông cho tôi địa chỉ, nhưng bà xã ông nổi ghen thì không phải lỗi của tôi đâu nghe” “Tôi chẳng có gia đình. Tôi đã là thanh niên râu rồi, lỡ thì rồi! Chị có giấy cho tôi xin tờ, cây viết nữa” Chị chủ quán gọi lớn “Hùng ơi, đem cho mẹ cây viết và tờ giấy” Cô bé chạy ra “Con đem cho bác đằng kia” Chị chủ quán ngồi nhìn con gái và ông khách, ngạc nhiên thấy hao hao như hai cha con. Ông khách hỏi ý kiến chị chủ quán “Có lẽ tôi nên viết mấy giòng cho cô ta để nhắc lại chuyện cũ xem cô có nhớ ra không. Tôi nên gọi cô ta là chị, là bà hay là cô?” “Tôi thấy ông nên viết là bà hợp lý hơn” “Phải rồi, gọi là bà đứng đắn hơn. Rủi người ta không nhớ ra mình cũng không bảo rằng mình thiếu lịch sự” Người đàn ông ngồi nép vào vách để tránh bụi mưa, chống cằm suy nghĩ một lúc rồi cắm cúi viết. Được độ nửa trang ông đọc lại rồi đem đến cho chị chủ quán “Chị xem tôi viết thế nầy có được không?”

    “Kính gửi bà Phúc Lan,
    “Tôi tên Hùng, cách đây gần hai mươi năm, tôi là người khách đến quán của gia đình bà ăn tô cháo. Xong, tôi ra bờ sông ngắm cảnh trong lúc chờ xe đò hỏng phải sửa chữa. Bà có ra gọi tôi vì xe đã sửa xong, tôi được biết tên bà là Phúc Lan. Tuy chỉ có thế nhưng tôi vẫn nhớ đến bà mãi. Hôm nay tôi ghé lại Sông Pha thì quán của gia đình bà không còn nữa! Tôi chỉ mong được biết tin về bà bây giờ ra sao? Bà chắc đã có gia đình, tôi thì cũng lớn tuổi rồi, không còn như ngày xưa! Thế nên tôi chỉ ước mong bà xem tôi như một người bạn nếu bà còn nhớ ra tôi. Còn như bà đã quên bẵng tôi thì tôi xin lỗi b&agrave
    ; về những giòng chữ vô duyên nầy. Tôi đã kể hết cho chị chủ quán, người đưa mãnh giấy nầy, nếu tò mò, xin bà cứ hỏi chị ta. Kính chúc bà và ông nhà và các cháu khang an, vạn sự như ý. Kính thư . Hùng”

    Chị chủ quán đọc xong “Ông viết thế nầy đủ rồi, nếu cô ta có hỏi gì về ông, tôi sẽ kể lại như ông đã kể cho tôi nghe” “Cám ơn chị. Tiếc quá, hôm nay trời mưa, tôi không thể đi lòng vòng thị trấn nầy” “Ở đây buồn lắm, trời mưa lại càng buồn hơn. Ông từng đi đây đi đó…mà lại thích ở đây cũng lạ! Nếu ông chờ, hy vọng ngày mai mưa sẽ tạnh” “Sáng sớm tôi phải đi rồi. Chào chị!” Nói xong ông ta lại xòe tay che đầu, rụt cổ lại đi nép vào hàng hiên. Chị chủ quán ngồi nhìn theo ông ta cho đến khi đi khuất. Chị bần thần đọc lại lá thư rồi xé, ném vào bếp lửa, chỉ giữ lại cái địa chỉ.

    Sông Pha Ngày…tháng…năm…

    “Anh thân yêu,
    “Buổi chiều, lúc anh rời quán, em muốn chạy theo kêu anh, cho anh rõ rằng người anh muốn tìm là em, nhưng không hiểu sao, em chỉ biết ngồi chết lặng. Tối đó, em cứ thao thức mãi. Tưởng tượng anh đang ở trong quán trọ đằng kia, ngay tại Sông Pha nầy…Anh gần đó mà sao em thấy xa vời quá! Tình yêu của em, ước mơ của em, hạnh phúc của em…em tưởng là tuyệt vọng, bây giờ đã hiện ra, nhưng em không còn quyền quyết định nữa!

    “Và giờ đây, em đang khóc khi viết cho anh. Khóc vì mừng và giận anh. Sao anh hẹn mà không trở lại? Chỉ một cái trượt chân định mệnh, em ngã vào vòng tay anh, em gỡ tay anh ra nhưng em không gỡ được linh hồn em, cuộc đời em ra khỏi anh. Đã bao buổi chiều em ra ngồi ở dốc cầu, âm thầm khóc vì nhớ anh. Em tưởng như anh còn đứng đấy. Dáng anh cao, mắt anh sáng, miệng tươi cười với em. Vì lời hứa của anh mà em hy vọng mãi. Nghe tiếng xe đò ngừng trước đường là em hồi hộp, thầm nhủ rằng anh đang xuống xe và đến với em. Chỗ anh ngồi trong quán, không lúc nào là em không nhìn chừng. Em yêu thương cả đến chỗ ngồi của anh! Và tên anh, nghe người ta gọi nhau, em cũng rung động, nhớ anh.

    “Với tuổi thơ ngây, em chỉ cầu mong được gặp anh, nhìn anh, chuyện trò cùng anh, thế thôi. Đến khi trưởng thành, nụ hôn của anh, vòng tay anh thành ước mơ được anh ấp ủ, được quấn quít bên anh.

    “Khi quyết định lấy chồng, em cũng ra dốc cầu ngồi khóc đến sưng cả mắt mà chẳng biết tâm sự với ai. Em chỉ biết kêu lên với giòng sông, với gió chiều “Xin hẹn anh kiếp sau” tưởng như gió sẽ đưa lời của em đến với anh. Nhưng biết anh nơi đâu? Chiều nay em cũng lại ra đấy, đứng nhìn giòng sông, lòng em vui khi anh đã quay lại nhưng không khỏi ngậm ngùi vì những ước mơ chẳng còn gì. Em cũng đành thì thầm với giòng sông, với gió chiều “Xin hẹn anh kiếp sau”. Anh bảo rằng đã quên em, chỉ nhớ đôi mắt em rất vui, rất đẹp. Bây giờ đôi mắt không còn vui, cũng chẳng còn đẹp đến độ anh đã gặp mà không nhận ra em! Em thì giây phút đầu đã biết ngay là anh, nhưng không hiểu anh có còn nghĩ đến em không? Đến khi nghe anh kể lại, khi anh nhắc đến tên anh, tên em, em phải chạy ra ngoài mưa đứng khóc vì xúc động và để khỏi mềm lòng ngã vào tay anh. Yêu anh, nhớ anh đã là một hạnh phúc. Được biết anh cũng nhớ đến em, hạnh phúc và lòng biết ơn anh tràn ngập lòng em. Bao nhiêu năm rồi, nụ hôn của anh, có bao giờ em quên! Dù sao cũng là một an ủi cho em, không bỏ công em lập quán bên đường để chờ anh. Đứa con gái đầu lòng, em đặt tên anh để mỗi ngày gọi anh cho đỡ nhớ, và em cũng không ngờ nó lại phảng phất giống anh… Từ hôm nay em lại nhìn chừng về phía bàn anh ngồi, lại hy vọng. Anh vẫn thế, nhưng em đã thay đổi. Em đã có chồng, có con. Em thương chồng, thương con. Em có một gia đình bình thường, một hạnh phúc bình thường như anh đã bảo. Lý trí em thì nghe theo lời anh “Không muốn xáo trộn cuộc sống của em” Nhưng tự tim em, tự tâm hồn em, cứ mong ngóng được gặp lại anh hằng ngày.

    “Hay là thế nầy. Chúng ta thỏa thuận, cứ vào gần cuối mùa Xuân, mỗi năm anh về thăm em một lần, cũng vào buổi chiều như hôm trước. Anh như là khách lạ, ghé vào quán của em. Anh đừng chuyện trò, hỏi han gì em. Anh cứ ngồi đấy, để em được nhìn thấy anh trong chốc lát, là ban cho em hạnh phúc tuyệt vời rồi. Xin anh đừng liên lạc gì với em cả. Em không ghi địa chỉ của em là vì thế.

    “Em van anh, đừng thực hiện ý định về sống suốt đời ở thị trấn nầy. Dốc cầu còn đó, giòng sông còn đó, ánh nắng chiều vẫn vậy. Nếu anh về ở hẳn nơi đây, mỗi chiều anh ra đứng đấy thì cái thảm cỏ kia sẽ làm trượt chân em. Lần nầy, em biết, sẽ không gỡ tay anh ra được nữa”

    Trích trong tập truyện ngắn “Nhớ Huế” của nhà văn Phạm thành Châu

  • Văn

    Phạm Tín An Ninh : T R Ờ I Đ Ấ T B A O L A

    T R Ờ I    Đ Ấ T    B A O    L A

     

      

     

    Định cư ở Nauy hơn ba năm, sau khi ổn định công việc làm ăn và việc học hành cho mấy đứa con, tôi tổ chức một chuyến Âu du bằng xe hơi. Chiếc xe Ford của tôi vừa cũ kỹ vừa nhỏ, không thể nào vượt qua một chặng đường trên dưới mười ngàn cây số khứ hồi, và dĩ nhiên cũng không đủ chỗ cho một gia đình lớn nhỏ tám người. Lại nghe mấy người bạn tới trước hù, bảo là trên xa lộ Âu châu vào mùa hè, chạy một cái xe cũ có thể bị giữ lại giữa đường và nộp tiền phạt vì cái tội làm trở ngại giao thông. Tôi mướn một cái xe mới toanh mười hai chỗ ngồi, có máy lạnh và kính mát đàng hoàng. Tôi không muốn bất cứ điều gì làm mất cái hứng thú cho cuộc hành trình đầu tiên của chúng tôi trên những đất nước mà trước đây tôi đã từng một thời mơ ước nhưng chẳng bao giờ nghĩ là có một ngày được đi qua. Tôi và đứa con trai lớn vừa mới đủ tuổi lấy bằng lái xe, thay nhau làm tài xế. Bà xã và cô con gái lớn chịu trách nhiệm xem bản đồ và theo dõi lộ trình.

     

    Tuần lễ đầu tiên, chúng tôi rất thích thú khi đi qua những vùng đất xa lạ, mà ngày trước tôi chỉ biết mơ hồ qua sách vở. Sau một ngày, băng qua hai đất nước hiền hòa Thụy Điển, rồi Đan Mạch, chúng tôi sang Hamburg, thành phố lớn cực bắc của Tây Đức. Thời gian này nước Đức còn chia đôi, nên vừa mới đến ranh giới là không khí đã căng thẳng. Cảnh sát với súng ống dầy người, trông mặt người nào cũng đằng đằng sát khí làm tôi nhớ tới hình ảnh của Hitler trong bộ phim dài chiếu mỗi tuần trên truyền hình Nauy. Vừa mới thoát ra cảnh chiến tranh tù đày ở quê nhà, lại được định cư tại một quốc gia ban phát giải Nobel Hòa bình, tôi không muốn phải ngộp thở trên quê hương của ông Hitler, nên sau khi qua khỏi Frankfurt, tôi rẽ sang Hòa Lan. Một đất nước mà tôi nghe như huyền thoại: nằm dưới mặt nước biển trung bình, có một con đập dài nhất thế giới, cũng là một xa lộ băng qua biển. Chạy xe trên con đập này, tôi cứ ngỡ mình đang lái tàu chạy giữa biển khơi. Xứ sở của hoa Tulip, với vườn hoa lớn và đẹp nhất thế giới, những chiếc quạt gió cùng những con kênh đào thơ mộng.

     

    Ở thủ đô Amsterdam, có một nơi dành cho những người nghiện đến nhận thuốc phiện miễn phí của chính phủ; nguyên cả một khu phố lớn dọc theo bờ sông thơ mộng lại là một khu dành cho mấy cô gái điếm đủ sắc dân. Đây là một cơ sở kinh doanh, có đóng thuế cho nhà nước, nên dược cảnh sát bảo vệ. Trước mỗi nhà là một cái tủ kiếng, bày hàng thật cho khách bốn phương chiêm ngưỡng. Hàng thật là một hay hai cô gái thoát y 90%, dĩ nhiên phải là đẹp, đứng như những pho tượng nữ thần Hy lạp. Chúng tôi ghé thăm gia đình mấy ngưòi bạn cùng quê, sống rải rác khắp nơi. May mà đất nước Hòa Lan này không rộng lắm, lái xe từ bắc xuống nam chỉ mất khoảng bốn tiếng đồng hồ. Dừng lại nhà một người bạn ở Bergen op Zoom, thành phố biển phía nam chúng tôi tha hồ ăn sò huyết và những con "hàu". Mấy loại này ở đây chỉ cần lội xuống biển mười phút là mang lên cả thùng nướng ngay tại chỗ. Hôm sau, chúng tôi sang Bỉ, Lục Xâm Bảo, và cuối cùng chúng tôi đến Pháp.

     

    Điểm đến cuối cùng cũng là nơi quan trọng nhất mà chúng tôi muốn đến. Tôi dành một nửa thời gian, hai tuần lễ còn lại, cho cái xứ sở mà lúc còn nhỏ, khi học lịch sử thì tôi thù ghét, nhưng khi học văn chương thì tôi lại mê thích nó. Nào là tháp Eiffel bên dòng sông Seine tình tự, nào là nhà thờ Notre Dame cổ kính mà tôi mơ hồ thấy trong phim Thằng Gù ở nhà thờ Đức Bà, nào là vườn Luxembourg, nơi hẹn hò của bao cặp tình nhân. Tôi bắt gặp đâu đó những đứa trẻ trong Sans Famille của Hector Malo, những người đàn bà trong Les Misérables , và cả những bến tàu có cảnh tiễn đưa trong Oceano Nox của Victor Hugo. Chúng tôi ở trong khách sạn của một người Hà Nội, sang Pháp lập nghiệp từ hơn 50 năm trước. Khách sạn nằm trên con phố chính trong quận 13, nơi có đông ngưòi Việt Nam sinh sống.

     

    Hơn một tuần ở Paris, chúng tôi xuôi về miền Nam nước Pháp. Thành phố Nice nằm bên bờ Đại Tây Dương, gần thành phố Cannes nơi qui tụ những tài tử điện ảnh hằng năm, và không xa đất nước Monaco với những sòng bài và những chuyện tình nóng bỏng của mấy nàng công chúa. Mười ngày nằm trên thành phố biển này, tôi tạm quên những bất hạnh trong quá khứ và những gì đang xảy ra trên quả đất có quá nhiều phiền muộn này.

    Rời Nice, chúng tôi trở lại Paris trước khi về Nauy. Trời mùa hè đang nóng, bà xã và mấy cô con gái của tôi đề nghị chạy ban đêm, vừa cho mát vừa được ngắm những thành phố rực rỡ trong ánh đèn. Nhìn trên bản đồ, tôi thấy trên đường đến thành phố Lyon, mình có thể dừng lại Grenoble rồi rẽ sang Genève của Thụy Sĩ,, xem thử nơi đã cho ra đời cái hiệp định làm khốn khổ quê hương mình ra sao. Như được trở lại thời trận mạc xa xưa, tôi gọi cả bầu đoàn thê tử lại để ban bố " lệnh hành quân". Chúng tôi không đi theo xa lộ 85 mà chọn con tỉnh lộ nhỏ trực chỉ Grenoble. Tôi đích thân xem bản đồ hướng dẫn cho cậu con trai làm tài xế. Rời Nice lúc 7 giờ tối. Sau hơn ba giờ từ "tuyến xuất phát", tôi mới biết là mình đã sai lầm khi xử dụng con đuờng tắt này. Vì chúng tôi bắt đầu chạy qua một khoảng rừng và những đồng lúa mì mênh mông, không thấy một bóng người.

     

    Đang mơ màng thì nhìn thấy phía đầu xe bốc khói. Tôi ra dấu cho đứa con trai dừng lại, bảo cả nhà xuống xe gấp. Khói trước xe vẫn còn bốc lên mờ mịt. Tôi tái mặt , vì bao nhiêu năm nay, từ lúc còn ở Việt nam cũng như sang đây, ngoài việc cầm vô- lăng và đổ xăng ra tôi có biết gì về xe cộ nữa đâu. Chờ cho khói tan hết và rờ vào nắp xe thấy không còn nóng, tôi mở nắp xe lên bảo cậu con trai rọi đèn pin vào máy nhìn thử. Đến đường cùng thì làm như phản xạ tự nhiên vậy thôi, chứ tôi có biết cái gì trong máy đâu mà xem. Nhìn quanh một chập, tôi cảm giác có điều gì lạ lạ. Cuối cùng tôi mớí phát hiện là sợi dây cu-roa không còn nữa. Nước trong bình đã bốc hơi không còn một giọt. Thấy tôi xách đèn pin trở lại, bà vợ và đám con gái đang nằm trên bờ cỏ ruộng lúa mì, ngồi bật dậy. Nghe tôi ra lệnh " đóng quân tại vị trí " vì xe hư không biết khi nào mới chạy được, bà vợ xỉ vả cho tôi một trận, bảo hèn chi ngày xưa ông đánh giặc thua là phải, đừng có đổ thừa tại tụi Mỹ nó phản bội bỏ miền Nam.

     

    Tôi bảo đám đàn bà con gái lên xe nằm và khóa cửa lại cẩn thận, vì biết đâu khu này có thú dữ. Đàn bà coi dữ vậy chứ nhát gan, ríu rít tuân lệnh. Tôi và thằng con trai đi vòng vòng xem có nhà cửa gì không. Nhưng tất cả đều tối om, tĩnh mịch. Đến gần một giờ sáng, khi tôi đang nằm mơ màng trên ruộng lúa, thì nghe có tiếng động. Dường như là tiếng của một loại động cơ nào đó, càng lúc càng gần hơn. Một lúc sau, tôi thấy có ánh đèn từ khu ruộng lúa chay ra. Một chiếc máy cày. Ai đi cày ruộng vào giờ này ? Chưa kịp tìm câu trả lời cho thắc mắc của mình, chiếc máy cày đã dừng lại trước mặt tôi.

    Qua ánh đèn xe, tôi thấy một người đàn ông trẻ, có lẽ là người Pháp, bước xuống tiến lại phía chúng tôi. Cử chỉ anh ta không phải là một người gian. Tôi yên tâm. Anh hỏi chúng tôi bằng tiếng Pháp, anh nói từng chữ vì sợ chúng tôi không hiểu:

    – Chắc là xe các anh bị hư ? Có cần tôi giúp điều gì không?

    Lúc còn đi học, Pháp văn là sinh ngữ chính của tôi. Vậy mà lâu quá không xử dụng, tôi hiểu tiếng được tiếng mất, vừa trả lời vừa ra dấu:

    – Xe tôi bị đứt dây cu-roa, khô hết nước, không chạy được nữa.

    – Các anh ở tỉnh nào tới ?

    – Chúng tôi từ Nauy sang, chứ không phải ở Pháp. Trên đường từ Nice về, thì xe bị hỏng.

    Anh bảo bây giờ đã khuya rồi, nhà anh cũng ở gần đây, anh sẽ giúp chúng tôi kéo xe về nghỉ tạm, rồi ngày mai sẽ tính..Tôi mừng rỡ gật đầu. Anh ra dấu cho tất cả chúng tôi lên xe.

    Chiếc máy cày kéo xe và chúng tôi chạy lòng vòng chỉ khoảng 10 phút thì về đến nhà. Trời tối, tôi không thấy gì ngoài mấy cái nhà khá lớn nằm dưới những tàng cây. Anh đưa chúng tôi vào một gian phòng rộng, mang thêm vài tấm nệm và mấy cái mền mỏng. Một chập sau anh lại mang vào bánh mì, phô- mát, và một ấm cà phê nóng, rồi chúc mọi người ngủ ngon.

     

    Lạ nhà, nhưng có lẽ vì mệt quá, nên khi chúng tôi thức dậy thì trời đã sáng tự lúc nào. Kim của chiếc đồng hồ lớn treo trên tường chỉ 8 giờ 10 phút. Mở cửa sổ nhìn ra ngoài, tôi mới biết đây là một nông trại khá lớn. Chưa kịp gọi bà vợ và mấy đứa con dậy xem, thì có tiếng gõ cửa. Anh bạn trẻ tốt bụng tối hôm qua đến dắt tôi chỉ khu nhà tắm, nhà vệ sinh, rồi dặn tôi khoảng 45 phút nữa, anh sẽ trở lại đón chúng tôi ăn sáng.

    Ngồi vào bàn ăn, anh giới thiệu vợ và hai đứa con nhỏ. Cô vợ khá xinh, vui vẻ, lúc nào miệng cũng cười, vừa nói vừa làm dấu với mấy đứa con gái của tôi.

    – Các anh là người Việt Nam ? Anh ta vừa bưng tách cà phê vừa hỏi.

    – Nhưng làm sao anh biết được vì ở bắc Âu cũng có nhiều người Tàu, người Đại Hàn , người Thái Lan và cả người Nhật nữa? Tôi không trả lời mà hỏi ngược lại anh.

    – Tôi không nói được nhưng hiểu một ít tiếng Việt. Bà ngoại tôi là người Việt Nam mà. Mẹ tôi cũng sinh ra và lớn lên ở Việt Nam. Lúc còn sống bà nhớ Việt Nam lắm và thường kể cho chúng tôi nghe những thắng cảnh bên ấy. Đặc biệt, bà thường nhắc đến một thành phố có tên là Đà Lạt. Bà bảo nơi đó thật thơ mộng và có những nơi hò hẹn thật dễ thương cho những cặp tình nhân. Tội nghiệp, bà mới mất hơn hai năm nay, trong một tai nạn xe hơi cùng cô em gái duy nhất của tôi.

    Ăn điểm tâm xong, anh đưa chúng tôi vào thăm phòng đọc sách. Một tấm bản đồ Việt nam thật to treo trên vách. Anh chỉ cho chúng tôi thành phố Đà Lạt mà mẹ anh thường kể cho anh và cô em gái nghe mỗi lần bà nhớ về quê mẹ.

     

    Càng lúc chúng tôi càng thấy gần gũi và thân thiết với gia đình anh bạn trẻ có một chút gốc gác Việt Nam này. Anh bảo vợ anh đưa chúng tôi đi thăm khu nuôi bò sữa và vắt đem về vài lít sữa tươi để chúng tôi dùng thử, trong khi anh lấy xe chạy ra phố tìm mua sợi giây cu-roa để thay cho xe chúng tôi. Mấy cô con gái của tôi rất thích thú khi được cô chủ nhà chỉ cho cách vắt sữa bò. Sau đó chúng tôi vào thăm một vườn nho.

    Khi trở về, thì anh ta đã sửa xong cái xe và đang cho máy nổ thử. Thấy chúng tôi, anh cười đưa ngón tay cái lên báo hiệu là xe đã tốt. Anh tắt máy xe và giao chìa khóa lại cho tôi. Tôi chưa kịp trả tiền sợi giây cu-roa và nói lời cám ơn thì anh đã vỗ vai mời chúng tôi ở lại chơi với gia đình anh vài hôm. Anh bảo là lâu lắm anh mới gặp được những người đến từ quê ngoại. Thấy ông bà chủ hiếu khách, phong cảnh ở đây hữu tình, lại có sẵn sữa tươi và rượu nho, bà xã và mấy cô con gái cười nheo mắt nhìn tôi. Tôi hiểu ý và nói với anh là chúng tôi chỉ có thể ở lại một đêm. Trưa ngày mai chúng tôi phải lên đường.

    Ăn cơm chiều xong, trời dịu mát, anh đề nghị chúng tôi đi thăm khu vườn cam nằm trên ngọn đồi. Vào vườn cam chúng tôi có cảm tưởng như lạc vào một chốn thiên thai nào đó. Những hàng cam thẳng tắp, trĩu vàng những quả, mùi hoa cam tỏa ra thơm cả một góc trời. Giữa vườn cam là một công viên nhỏ, trồng đủ các loại hoa. Bên kia công viên, ngay giữa đỉnh đồi là khu nghĩa trang nhỏ của gia đình. Vợ chồng anh mời chúng tôi đến thăm mộ của ba má anh và cô em gái. Ba ngôi mộ xây đơn giản, nhưng lại có nét đẹp cổ kính. Trên mỗi mộ bia đều có một tấm ảnh lồng trong khung kiến. Đến trước từng ngôi mộ, tôi cung kính cúi đầu, chấp hai tay trước ngực và đọc thầm từng tên khắc đậm trên bia..

     

    Khi đọc đến tên người mẹ:

    JACQUELINE CUVÉRO GAULTIER – tôi bỗng giựt mình.

     

    Cái tên này tôi thấy quen lắm. Bà mất lúc tròn 50 tuổi. Nhìn tấm ảnh thật lâu, tôi nghĩ đến một người.

    Khi về nhà, tôi ngỏ ý muốn xem những tấm ảnh lúc cha mẹ anh còn trẻ. Anh bạn chủ nhà mang đến cho chúng tôi mấy quyển album. Bà xã và mấy cô con gái thì tranh nhau xem quyển album lúc ông bà làm đám cưới và nức nở khen mấy cái áo của cô dâu. Riêng tôi dành lấy tập album cũ với những tấm ảnh đen trắng mà nhiều cái đã ngã màu vàng. Bỗng tôi lạnh người khi xem những tấm ảnh của mẹ anh thời con gái, đặc biệt là tấm ảnh có mái tóc cắt ngắn giống ca sĩ Sylvie Vartan thời cô ta đang nổi tiếng. Chẳng lẽ lại là nàng ? – Không thể nào ! Tôi lắc đầu nói thầm trong miệng.

     

    Năm học lớp đệ nhất trường Võ Tánh, Nha Trang, dù học không giỏi nhưng tôi cũng cố gắng để được trở thành một thằng sinh viên, dù chỉ là loại sinh viên hạng bét, và cũng để khỏi phụ lòng thương yêu, lo lắng của cha tôi, suốt một đời làm gà trống nuôi con. Vậy mà tôi bị một lúc hai cái tai ương. Tự dưng có một nàng con gái, mà lại là con gái đẹp, yêu tôi. Đang ngụp lặn trong tình yêu thì ông Trời phạt tôi: phận nhà nghèo mà lại đèo bồng yêu người đẹp, nên giáng cho tôi một cơn bệnh thập tử nhất sinh. Vì vậy khi bạn bè vác lều chỏng đi thi, thì tôi đang nằm bất động ở nhà thương tư của bác sĩ Thạch ở đường Trần Quí Cáp. Ba tháng sau, khi vừa xuất viện về tiếp tục điều trị tại nhà, tôi nhận được bức thư tạ từ. Người đẹp đi lấy chồng. Tôi bỏ thành phố Nha Trang, bây giờ với tôi là thành phố buồn, vào Sài gòn lang thang kiếm việc làm thuê để có tiền đi học tiếp. Nhưng rồi cũng chẳng có ai chịu thuê một thằng thư sinh nhà quê như tôi. Vừa buồn vừa không có tiền trả tiền cơm cho bà Cả Đọi, tôi đăng vào lính.

     

    Khi chân ướt chân ráo vào Sài gòn, tôi chẳng có ai quen, ngoài một bà cô họ xa, trước lấy chồng Tây. Chồng chết, bà ở với mấy đứa con mang hai dòng máu ở sau khu tiệm phở Tàu Bay, Tàu Thủy, trên đường Lý Thái Tổ. Tôi không ngờ trong khu này đa số là những gia đình có con lai Pháp, trắng có đen có, được tòa đại sứ Pháp cưu mang lo lắng từ việc sinh sống tới việc học hành. Hầu hết đều mang quốc tịch Pháp và được theo học ở các trường Tây Sài gòn, Đà lạt. Những ngày cuối tuần tôi thường ghé lại đây chơi. Đang cô đơn ngơ ngác thì được mấy người con của bà cô họ giới thiệu cho tôi nhập bầy với đám Tây lai này. Họ cũng dễ thương và dĩ nhiên là có phong cách Tây lắm. Chiều cuối tuần họ thường tụ tập để ăn uống và nhảy đầm. Anh con cả của bà cô họ tôi là trưởng nhóm, chỉ định một cô bé tóc vàng, có mái tóc ngắn và đôi mắt thật dễ thương dạy tôi nhảy đầm và cũng làm partner cho tôi khi có tiệc tùng. Nghe mọi người trong nhóm gọi cô là Sylvie Vartan, tôi cũng gọi theo, nhưng biết vì khuôn mặt và mái tóc của cô giống người ca sĩ Pháp đang được ái mộ này nên bè bạn gọi đùa, chứ đó không phải là tên thật của cô.

     

    Chỉ đi chơi với nhóm một vài lần gì đó, thì tôi vào quân trường Thủ Đức. Hôm lễ gắn Alpha, thấy anh em mời thân nhân bạn bè nhiều quá, tôi cũng tủi thân. Gia đình tôi và một số bạn bè thân ở tận Nha Trang, còn ở Sài Gòn này thì tôi tứ cố vô thân. Cuối cùng tôi nghĩ đến ba người con lai Tây của bà cô họ và mời họ đến dự lễ gắn Alpha, rồi sau đó cùng đi dự tiệc với tôi. Hôm ấy cả ba người đều đến và còn dẫn theo nàng con gái Sylvie Vartan. Họ rất thích thú với khung cảnh quân trường và sinh hoạt của lính. Ai cũng chụp chung với tôi một tấm ảnh có mang cầu đai Alpha.

    Sau đó, trong những lần về phép ngắn ngủi, tôi cũng có ghé thăm họ một đôi lần. Đêm ra trường, họ cũng đến dự. Sau đó đưa tôi về Sài gòn, họ làm một buổi tiệc chia tay tôi. và lần này tổ chức tại nhà cô gái có tên Sylvie Vartan. Gia đình cô không ở trong khu Lý Thái Tổ mà có một biệt thự riêng, khá xinh, nằm trên một con hẻm lớn trên Tân Định.

    Tôi không gặp ai trong gia đình của cô hôm ấy, chỉ xem tấm ảnh người cha ruột của cô chụp với mẹ cô khi còn rất trẻ, và cả tấm ảnh chụp gia đình cô bây giờ, với ông cha Việt Nam, một người em gái cũng lai Tây như cô và hai người em nhỏ cùng mẹ khác cha. Mẹ cô có nhan sắc, nên ông chồng mới sau này thuộc loại nhà giàu. Tôi nghĩ như thế.

    Tới hơn hai giờ sáng, tiệc mới tàn. Khi nói lời chia tay, không hiểu vì xa họ không biết khi nào gặp lại hay vì nghĩ đến đời lính chiến nay mai trên rừng núi cao nguyên mà tôi chạnh lòng, muốn khóc. Nàng cũng nhìn tôi nghẹn ngào. Khi mọi người đi tìm áo khoác và mang giày, nàng kéo tôi ra phía sau, tặng tôi một tấm ảnh, rồi bất ngờ hôn tôi trên má.

     

    Ngồi trên máy bay ra trình diện đơn vị, tôi bất chợt nhớ đến nàng, mở xách tay ra tìm lại tấm ảnh. Nàng có mái tóc thật dễ thương, nhìn kỹ đúng là giống cô ca sĩ Sylvie Vartan. Sau tấm ảnh nàng viết một câu ngắn ngủi: À toi, avec tout mon coeur. Phía dưới cô chỉ ghi là người có mái tóc Sylvie Vartan.

     

    Nhớ tới nụ hôn bất ngờ tối hôm qua, tôi đưa tay lên sờ má, thấy vẫn còn thoang thoảng một mùi hương. Tôi mỉm cười và nói thầm một mình: Đúng là lãng mạn như Tây.

    Tôi ra đơn vị đúng vào lúc chiến trưòng cao nguyên bắt đầu sôi động, cùng lúc nhóm người Thượng Fulro nổi loạn, giết một số sĩ quan, viên chức hành chánh người Kinh, chiếm một vài nơi, đặc biệt là tỉnh Quảng Đức và một vài quận lỵ. Đơn vị tôi đang tiếp viện cho chiến trường Quảng Nhiêu còn mịt mờ lửa đạn ở bắc Ban Mê Thuột thì được lệnh di chuyển về phi trường Phụng Dực, xử dụng máy bay dân sự của hàng không Việt Nam để đáp xuống Nhơn Cơ, một phi trường bỏ hoang nằm cách tỉnh lỵ Quảng Đức khoảng 30 cây số, do một đơn vị Lực Lượng Đặc Biệt mũ xanh của ta kiểm soát. Thằng trung đội trưởng mới ra trường như tôi làm sao có khả năng để ứng phó với một chiến trường nửa ta nửa địch, mà trong sách vở quân trường không hề nói tới. Lòng tôi thật băn khoăn. Nhưng cuối cùng thì mục tiêu cuộc hành quân Dân Thắng này cũng đạt được. Đơn vị tôi không hề tốn một viên đạn. Mấy lãnh tụ người Thượng thấy quân chủ lực bao vây bốn hướng, cộng với lời thuyết phục tài ba của vị chỉ huy nào đó, đã ra lệnh cho những lực lượng người Thượng buông súng.

     

    Nằm trong cái tỉnh khỉ ho cò gáy mà dân chúng sống rải rác trong các buôn làng hầu hết là người thượng, mấy thằng lính trẻ như tôi chỉ có buồn muốn khóc. Ai cũng mong sớm chuyển đi tỉnh khác Vậy mà riêng tiểu đoàn của tôi được lệnh nằm lại đây để giữ an ninh cho dinh điền Đạo Nghĩa nằm trong một thung lũng gần biên giới Cam Bốt. Một trong những dinh điền do Thổng Thống Ngô Đình Diệm ra lệnh sáng lập để thu hút di dân sau 1954.

     

    Ra trường đã hơn hai năm. Đời lính cao nguyên thật là vất vã và buồn. Nhiều lúc nằm giữa rừng già, nghe tiếng chim kêu vượn hú, tôi thường chạnh lòng nhớ tới thời còn đi học , và khuôn mặt những người quen. Đôi khi tôi cũng chợt nhớ tới cô con gái lai Tây và lấy tấm ảnh ra xem. Đến bây giờ tôi cũng không biết tên thật của nàng. Mà biết để làm gì? Vì giữa nàng với tôi là cả một thế giới cách biệt. Tôi, một thằng lính trận, gốc gác nhà nghèo, không biết sống chết ra sao. Còn nàng lại là một cô con gái lai Tây, xinh đẹp và quí phái. Nàng quen với tôi , thích tôi một chút, cũng là cái thích lãng mạn của một tiểu thư sống trong thành phố lâu ngày được bất ngờ ra thăm một vùng dân giả, thế thôi.

    Ở Quảng Đức gần hai năm, đánh nhau một vài trận, tôi được mấy cái huy chương rồi lên làm đại đội trưởng. Trong mấy thằng đại đội trưởng, tôi là thằng trẻ nhất, và cũng nghèo kinh nghiệm chiến trường nhất. Ra trường gần hai năm rồi mà trông mày vẫn cứ như thư sinh. Ông tiểu đoàn trưởng bảo tôi như thế trước khi cho tôi dẫn đại đội solo xuống núi biệt phái cho tiểu khu Lâm Đồng

     

    Đoàn xe chở đại đội tôi vừa vào ranh giới Lâm Đồng, tôi nhận lệnh ông tiểu khu trưởng, trực chỉ đến khu cầu Đại Ngà để giữ an ninh cho công binh làm lại mấy cây cầu trên QL 14, từ Saigòn chạy lên Đàlạt, vừa bị đặc công giựt sập trong hai đêm trước.

    Đến vị trí, tôi phối hợp với một đại đội địa phương quân đã có mặt tại chỗ và một đơn vị công binh mới từ Đà Lạt xuống, bố trí quân theo nhu cầu. Riêng ban chỉ huy đại đội cùng trung đội vũ khí nặng, nằm trên một đồn điền trà có cao độ tốt cho việc phòng thủ và yễm trợ hỏa lực. Phía duới khu đồn điền này là cây cầu Đại Ngà, cây cầu dài nhất vừa bị phá hoại.

    Sau khi công binh làm xong mấy cái cầu tạm, lưu thông họat động trở lại. Do ứ động mấy hôm trước, nên ngày đầu tiên có khá nhiều xe đò từ Sài Gòn chạy lên Đà Lạt. Hơn nữa bây giờ đang là mùa hè, người Sài Gòn rủ nhau lên Đà Lạt nghỉ mát. Để bảo đảm an ninh, trước khi xe chạy vào khu quân sự, đều phải dừng lại, tất cả hành khách xuống xe để được kiểm soát giấy tờ. Trạm kiểm soát là một căn nhà bằng ván do công binh vừa mới dựng lên, toán quân báo của đại đội tôi phối hợp cùng với ba nhân viên cảnh sát đảm trách. Mỗi ngày tôi lái xe đi kiểm tra các cây cầu và thường ghé lại ngồi nghỉ trong trạm kiểm soát này.

     

    Buổi chiều, trời vừa tắt nắng, tôi định trở về vị trí đóng quân, thì một đoàn xe đò chạy tới. Có lẽ đây là mấy cái xe cuối cùng từ Sài Gòn lên. Anh cảnh sát bảo với tôi như thế. Trong số những hành khách xuống xe bước qua cái cổng chắn làm bằng kẻm gai dã chiến, tôi để ý tới một cô gái tóc vàng, mặc một cái jupe màu vàng sậm. Khi cô móc ví lấy giấy tờ, ngước mặt lên nhìn anh cảnh sát, tôi thấy thật quen và vội chạy ra. À, cô Sylvie Vartan, cô lên đây làm gì ? Tôi hỏi bất ngờ, rồi quay sang bảo anh cảnh sát ; cô này là người nhà của tôi. Anh cảnh sát trao lại cho tôi tấm thẻ căn cước bằng tiếng Tây mà anh chưa kịp hiểu.

    Cô nhìn tôi cười rạng rỡ :

    – Anh là anh Ninh, phải không ? Mấy năm rồi tụi mình không gặp. Em lên Đà Lạt đón cô em về Sài Gòn nghỉ hè. Nó học trên Lycée Domaine de Marie.

    – Tôi đóng quân trong đồn điền trà nằm trên đồi cao kia. –

    Tôi vừa nói vừa chỉ tay về hướng đồn điền –

    – Đẹp lắm, và ông chủ hình như cũng là người Pháp. Mời cô ghé lại chổ tôi chơi. Tôi sẽ đón chuyến xe sau gởi cô về Đà Lạt.

    Cô ngần ngừ một chút rồi gật đầu. Tôi đưa cô lại xe lấy túi hành lý và nói với anh tài xế:

    – Cô này là người nhà của tôi, cô ở lại đây chơi với tôi rồi lên Đà Lạt sau.

    Anh tài xế trẻ, nhìn tôi nhoẻn miệng cười.

     

    Tối hôm ấy nàng ở lại với tôi. Có lẽ nàng cũng biết là chuyến xe của nàng là chuyến cuối cùng. Chẳng còn có chuyến sau nào để tôi gởi nàng lên Đà Lạt , như lúc tôi hăm hở nói với nàng, mà không biết là mình đang nói dối.

    Giữa cảnh núi rừng, nàng đẹp rực rỡ như một bông hoa. Không biết nàng đã nói gì vơí ông chủ người tây, ông dành riêng cho cô một phòng ngủ và mời chúng tôi dùng bửa cơm chiều với ông. Bửa cơm đầy đủ hương vị tây , mà chai rượu chát ông khoe đã gởi mua từ bên Pháp. Sau bửa cơm, tôi đưa nàng đi dạo trong đồn điền trà.

     

    Bây giờ đang là mùa hè, bầu trời trong vắt, ánh trăng tỏa ánh vàng xuống cả một đồi trà. Đêm cao nguyên trời bắt đầu lành lạnh, thơ mộng như một muà thu. Chúng tôi nắm tay nhau bước tung tăng dưới ánh trăng , nghe từng nhịp đâp của trái tim giữa một vùng đất trời tĩnh mịch. Nàng kể cho tôi nghe về một ước mơ của nàng : muốn có lần trở về quê cha, thăm ngôi mộ của người và bà nội già còn đang sống ở đó với mấy người cô. Quê nội nàng đẹp lắm lại là một đất nước với nhiều thi ca lãng mạn. Chúng tôi đã xuống cuối chân đồi, nghe tiếng nước chảy từ một con suối nhỏ. Nàng bảo tôi dừng lại và dìu tôi đến ngồi xuống một bải cỏ. Bên kia con suối là một cánh đồng cỏ rộng mênh mông

    – Anh có thấy gì lạ không ?

     

    Tôi đang ngơ ngác, thì nàng chỉ cho tôi mấy hàng cây bên kia bờ suối

    – Bây giờ là mùa hè, mà sao có nhiều lá vàng đang rơi. Anh không thấy sao?

    Nàng âu yếm dựa sát vào tôi và hỏi tôi có biết bài thơ Les feuilles mortes của Jacques Prevert không ?

    – Lúc học Littérature Francaise, anh có học, nhưng lâu quá, anh chỉ còn nhớ một đôi câu. Bài thơ thật hay và cảm động. Tôi đã đổi cách xưng hô tự lúc nào không biết.

    Nàng cất tiếng khe khẻ hát bài thơ Les feuilles mortes được phổ nhạc. Hát xong bài hát nàng chậm rãi đọc lại mấy câu:

                Et la vie sépare ceux qui s’aimant

               Tout doucement, sans faire de bruit

               Et "le vent" effface sur la "plaine"

               Les pas des amants désunis.

     

    Tôi hỏi sao nàng dám đổi lời một bài thơ hay của tác giả. Nàng không trả lời mà ôm tôi hôn thật lâu. Trong say mê tôi cảm thấy có cái gì lành lạnh trên gò má. Tôi sờ tay lên mân mê: nước mắt.

     

    Nàng ôm tôi ngồi khóc, nàng bảo là nàng có nhiều bạn bè, nhưng nàng có cảm tình thật nhiều với tôi từ khi nhìn tôi mặc áo lính. Nàng thấy ở tôi có cái gì khác lạ so với mọi chàng trai lai Pháp mà nàng quen. Và cũng ở nơi tôi nàng được thấy lại hình ảnh của cha nàng. Cũng làm lính cả một thời trai trẻ, rời quê hương, rồi chết sớm ở xứ người bỏ lại mẹ và hai chị em nàng. Những người con gái mang hai dòng máu. Buồn lắm phải không anh ? mấy lần nàng hỏi tôi như thế.

    Đêm hôm ấy nàng không ngủ trong căn phòng sang trọng mà ông chủ đồn điền đã dành sẵn cho nàng. Nàng ra ngồi trong căn lều phủ poncho của tôi cùng uống trà tươi mà tâm sự thâu đêm. Nàng rủ tôi ngày mai cùng nàng lên Đà Lạt vài ngày để nàng làm thủ tục đón cô em gái về và đưa nàng đi thăm các thắng cảnh thơ mộng ở đây.

    Sáng hôm sau, tôi lên máy gọi về trung tâm hành quân TK Lâm Đồng xin gặp ông Tiểu Khu Trưởng, xin ông cho ba ngày phép và được xử dụng chiếc xe jeep của TK biệt phái, đón người vợ sắp cưới vừa mới lên Đà Lạt. Tôi tả oán thêm là cả một năm nay, phải tham dự nhiều cuộc hành quân, nên hai đứa chưa được gặp nhau. Ông Tiểu Khu trưởng tốt bụng, vui vẻ chấp thuận, và dặn dò tôi phải bàn giao công việc thật kỹ càng cho anh đại đội phó.

     

    Ba ngày ở Đà Lạt là ba ngày thần tiên nhất trong đời lính của tôi. Sau khi đưa nàng đến trường thăm cô em gái và làm một số thủ tục cần thiết, chúng tôi lấy phòng ở khách sạn La Palace nằm trên một ngọn đồi cao gần hồ Xuân Hương và cách khu phố Hòa Bình không xa lắm. Ban ngày chúng tôi đi tắm ở thác Cam Ly, thăm hồ Than Thở, cỡi ngựa ở sân Cù, bơi thuyền trên hồ Xuân Hương. Buổi tối đi ăn bê thui, uống rượu vang, rồi ra nhà Thủy Tạ ngồi tâm tình đến khuya.

    Ngày hôm sau, chúng tôi rời thành phố. Sau khi thưởng thức cà phê Tùng, chúng tôi chạy về hướng thác Prenn. Nàng chỉ đường cho tôi tìm đến một hotel nằm trên núi, ông chủ cũng là một người Tây. Lấy phòng và gởi hành lý xong, chúng tôi đi bộ xuống thác Prenn, nằm không xa phía dưới. Nàng kéo tôi xuống tắm dưới dòng thác. Hai đứa ôm nhau trong cái lạnh của nước từ trên núi cao đổ xuống. Nàng dắt tôi chạy vào khu rừng phía sau để đùa với mấy con khỉ, con gấu và cả một con cọp nữa trong vườn bách thú. Rồi nàng đi trốn, giả vờ làm nàng Jane mắc nạn để bắt tôi làm Tarzan đi cứu. Nàng hò la và ôm tôi cười vang cả một khu rừng.

     

    Trong ba ngày, nàng đã cho tôi tất cả những gì hạnh phúc nhất mà không đòi hỏi ở tôi bất cứ một điều gì. Hôm cuối cùng, tôi đưa nàng trở lại trường Domaine de Marie để gặp lại em nàng. Ngồi trên xe, nàng trầm ngâm không nói một lời. Đến cổng trường, nàng bảo tôi dừng lại. Nàng hôn tôi thật lâu. Tôi nghe tiếng nàng khóc. Tôi định nói một lời gì đó, nhưng nàng lấy một ngón tay để trên miệng tôi, không cho tôi nói, rồi bảo tôi ngồi yên trên xe chờ nàng. Hơn hai mươi phút sau nàng chạy ra, cầm tay tôi và trao cho tôi một tờ giấy nhỏ, rồi vụt chạy vào phía sau trường. Trên mảnh giấy nàng viết vội vàng bằng tiếng Việt: Xin cám ơn và tạm biệt anh ở đây. Em và đứa em của em sẽ về Sàigòn vào sáng sớm ngày mai. Anh hãy trở lại đơn vị, đừng chờ và cũng đừng tìm em nữa. Hôn anh.

    Tôi vội vàng bước xuống xe, chưa biết gọi nàng bằng tên gì, thì nàng đã mất hút phía sau trường. Tôi ngồi trên xe nhìn thẩn thờ vào khu trường. Tất cả đều vắng lặng, chỉ nghe một vài tiếng lá rơi từ những hàng cây đứng chơ vơ im lìm trước cổng.

    Tôi trở lại nhà Thủy Tạ, tìm lại bóng dáng và mùi hương của nàng. Buổi trưa, bốn bề yên lặng. Một con chim lạ, có dáng của một con hải âu, đậu xuống con thuyền bơi phía trước, kêu vài tiếng, vụt cánh bay sà xuống mặt hồ, rồi biến mất trong rừng thông. Cả một khung trời Đà Lạt nhạt nhòa trong nước mắt. Tôi không biết mình đã khóc tự bao giờ.

     

    Tôi lái xe trở về đơn vị mang theo một nỗi buồn kỳ lạ, dường như trong lòng chỉ còn là một khoảng trống bao la.

    Suốt đêm hôm ấy, tôi lang thang trong đồi trà, ngồi một mình bên bờ con suối nhỏ, nhìn mấy chiếc lá vàng rơi xuống và trôi theo dòng nước, bàng bạc dưới ánh trăng. Nửa đêm tôi trở về căn lều cũ, đun đầy một ấm trà tươi mà không uống.

    Tôi ngủ vùi từ lúc nào không biết. Thức giấc, mặt trời đã lên cao. Tôi vội vã xách xe chạy xuống trạm kiểm soát. Ngồi suốt cả ngày hôm ấy, tôi vẫn không tìm thấy bóng dáng của nàng.

     

    Hai ngày sau, khi thay bộ đồ trận ra giặt, thò tay vào túi áo lấy mọi thứ ra, bất ngờ tôi thấy tấm thẻ căn cước của nàng, viết bằng tiếng Pháp do tòa đại sứ cấp. Tôi nhớ anh cảnh sát đã giao tấm thẻ này cho tôi hôm ở trạm kiểm soát và tôi đã quên trả lại cho nàng. Đến bây giờ tôi mới biết được tên thật của nàng: Jacqueline Cuvéro.

    May mắn trong tấm căn cước có cả địa chỉ. Tôi gởi trả lại nàng tấm thẻ căn cước, viết kèm theo bốn câu thơ trong bài thơ Les feuilles mortes mà nàng yêu thích.

    Les feuilles mortes se ramassent à la pelle

    Les souvenirs et les regrets aussi

    Mais mon amour silensieux et fidèle

    Sourit toujours et remercie la vie

    Tôi phập phồng chờ thư hồi âm, nhưng không thấy. Tôi viết thêm vài cái thư nữa cho nàng nhưng tất cả đều biệt vô âm tín. Ba tháng sau tôi xin bảy ngày phép thường niên về Sàigon. Trước khi tìm đến nhà nàng, tôi trở lại khu đường Lý Thái Tổ thăm gia đình bà cô và rủ người anh họ cùng đi. Anh bảo là nàng cùng cô em gái đã về định cư bên Pháp hơn hai tháng nay. Không biết khi nào mới trở lại Việt Nam.

     

    Tôi lang thang ở Sài Gòn hai ngày thì lấy xe đò về Nha Trang để thăm cha tôi. Nhưng ngày nào tôi cũng đi lang thang trên bờ biển, nhìn sóng đổ vào bờ cuốn theo tất cả mọi dấu chân mình trên cát, và nhớ đến nàng.

    Tôi trở lại đơn vị, đúng vào lúc đại đôi tôi nhận lệnh rời khỏi Lâm Đồng để di chuyển về Phan Thiết, tăng phái cho Tiểu khu Bình Thuận, hành quân phối hợp với một đơn vị thiết kỵ của Hoa Kỳ vừa mới đến Việt Nam, giải tỏa mật khu Lê Hồng Phong.

    Kể từ ngày ấy, trên bảng tên may trên nắp áo lính, ngay phía dưới tên tôi, có thêu một chữ nhỏ: Jacqueline, màu vàng. Mấy thằng lính bảo sao tôi lại có tên con gái. Tôi giã vờ: tại vì tao ái mộ bà vợ của Tổng Thống Kennedy.

                                         

     Sáng ngày mai gia đình chúng tôi phải rời nông trại GAULTIER thơ mộng này để trở về Nauy. Vợ chồng anh chủ nhà cùng mấy cô con gái của tôi đang rượt bắt mấy con gà Tây. Anh muốn đãi chúng tôi một bũa ăn Tây truyền thống. Tôi đi lang thang khắp nơi trong khu nông trại, như để cố tìm ra những dấu tích của nàng.

    Buổi chiều, khi bà xã và mấy đứa con đang ngồi ở phòng khách, say mê theo dõi một cuốn phim trên truyền hình, tôi một mình lặng lẽ ra vườn cam, rồi vào khu nghĩa địa.

    Tôi ngồi trước mộ nàng rất lâu, hình dung lại hình ảnh của nàng trong những ngày cùng tôi trên đồn điền trà ở bên cây cầu Đại Ngà và tung tăng khắp nơi ở bờ hồ, thác Prenn và trong rừng thông Đà Lạt.

    Một cơn gió xào xạc, mấy chiếc lá vàng trên tàng cây chầm chậm rơi xuống mộ nàng.

    Tôi đưa tay sờ tấm ảnh nàng trên mộ bia, nói thì thầm trong gió :

    Et la chanson que tu me chantais

    Toujours, toujours je l’entendrai. !

        (Và bài hát mà em đã hát cho anh nghe

         Mãi mãi, mãi mãi, anh vẫn còn đang nghe đây)

    Phạm Tín An Ninh