image_pdfimage_print
  • Tạp ghi

    Bây Giờ Là Mùa Thu – Tôi đi tìm dĩ vãng

    Văn Quang

    Viết từ Sài Gòn

     

    MuaThu-VQ

     

    Thật ra 99.9% ca khúc “bất hủ” của Trịnh Công Sơn được sáng tác vào thời trước 75 ở Sài Gòn và Huế. Cho nên ngày nay khi người ta “vinh danh” Trịnh Công Sơn chính là vinh danh nền văn hóa của Miền Nam VN vào thời trước 75.

    Bây giờ là mùa thu ở Sài Gòn và cũng là mùa lá rụng ở Rừng Phong trên đất Mỹ. Buổi chiều ngồi trong căn chung cư nhỏ hẹp nghèo nàn nhìn mưa dăng nhẹ ngoài khung trời ngoài kia, tôi bỗng muốn thoát khỏi mình trở lại sống với những ngày xưa. Những ngày xưa có bạn bè, có mộng ước xa vời, có yêu thương giận hờn, có quá nhiều thứ như ở một thế giới khác.

    Tôi ngồi vào computer đi tìm dĩ vãng. Gõ bàn phím vào những bài hát về Mùa Thu, bỗng hiện ra đầy đủ cả lời ca tiếng hát, những cuốn phim xưa, những danh ca tài tử đi mãi vào lòng người, đi mãi vào bất tận trong ký ức. Tôi bay bổng vào đó để gặp lại những người tôi đã từng quen, đã từng là bạn, đã từng kề vai nhau một thời xa vắng. Ở đây, tôi chỉ gặp những người đã từng có mặt trên các sân khấu ca nhạc và trong những cuốn phim đã từng chiếu ở VN trước năm 1975, gọi chung là những người trong “làng giải trí” mà tôi đã quen hay đã từng coi nhau như bạn bè.

    Xem trọn bài

     

  • Tạp ghi

    Nữ danh ca Dalida từng đến và hát tại Sài Gòn

    Film Screening “Dalida”

    14 giờ ngày 25.6.1962, danh ca Dalida đến phi trường Tân Sơn Nhất bằng máy bay phản lực của Hãng Air France. Không rõ từ nguồn tin nào, các fan đã có mặt đón tiếp nồng nhiệt “giữa tiếng vỗ tay đượm nhiều thân ái”.

    Tuần báo Kịch ảnh số 18 phát hành ngày 30.6.1962 cho biết thêm: “Dalida cao chừng 1,65 m, mặc bộ đồ xanh giản dị, đôi bông tai lớn kiểu Y Pha Nho nổi bật trên nền tóc hung đỏ bới cao. Cặp mắt màu nước biển và đôi môi son lợt đều ngời sáng”. Đáng chú ý, chuyến đi này, ngoài 4 nhạc công, còn có cả chàng họa sĩ đẹp trai Jean Sobieski mới 25 tuổi, người gốc Ba Lan nhưng sinh tại Pháp, chưa nổi tiếng gì. Cả hai cặp kè như hình với bóng. Họ có mối quan hệ thế nào? Thiên hạ tha hồ đồn đoán bởi trước đó, ngày 25.4.1961, Dalida đã ly dị chồng là Lucien Morisse.

     

    Ngay chiều tối hôm đón Dalida quay lại Sài Gòn, ông L’Épine – đại diện khách sạn Caravelle, đã mời Ban Biên tập báo Kịch ảnh, gồm nhà báo Quốc Phong, nhà văn Mai Thảo và đạo diễn Hoàng Anh Tuấn đến khách sạn nhằm mục đích “nghệ sĩ gặp nghệ sĩ” có tính cách “trong nhà với nhau”.

     

    Từ sân bay, Dalida cùng Sobieski về đến khách sạn Caravelle lúc 20 giờ, niềm nở mời mọi người lên phòng riêng số 606 ở lầu 6. “Bây giờ các anh đang ở trong nhà của tôi, tôi là chủ nhà, nay, các anh có thể tự tiện vì chủ nhà Dalida rất quý khách”, cô nói. Trong lúc trò chuyện, cô cho biết dù đã chia tay Lucien Morisse, không còn là vợ chồng nhưng là “hai người bạn thân nhau nhất trên đời”. Chuyện ly dị của họ xem ra cũng “ngớ ngẩn” lắm: sau 5 năm yêu nhau, họ chính thức kết hôn tại Tòa hành chính Quận 13 Paris, nhưng chỉ sau 3 tháng, do chồng bận việc, một mình Dalida đi Côte d’Azur biểu diễn. Tại đây, cô đã gặp Sobieski trong một hộp đêm và “tiếng sét ái tình” đã nổ ra. Biết chuyện, Lucien Morisse chủ động đề nghị ly dị. Dalida “phải lòng” Sobieski cũng rất lạ đời. “Trong khi mọi người xem Dalida là nhân vật quan trọng, một minh tinh ghê gớm thì Sobieski chỉ đặt nàng vào địa vị người mà chàng yêu”, đạo diễn Hoàng Anh Tuấn nhận định.

    Dalida in Saigon-1962(2)

    Nhà báo Quốc Phong hỏi: “Dalida cho biết bí mật thành công của cô, để tôi nói lại cho các ca sĩ Vietnam nghe”. Dalida trả lời: “Bí quyết gồm 2 điểm: luyện giọng và gặp dịp may. Con số đem lại may mắn cho tôi là 421”. Tại sao? Cô giải thích: “Tháng 4.1956, tôi đến hát thử cho Bruno Coquatrix – Giám đốc Nhà hát tạp kỹ Olympia và ban giám khảo nghe. Lúc đó, Eddie Barclay – nhà sản xuất băng đĩa, Lucien Morisse – Giám đốc điều hành Đài Europe 1 đang nhậu nhẹt trong một quán cà phê trên đường Caumartin, gần Olympia. Bruno lôi họ đến nghe tôi hát cho vui nhưng họ không chịu. Cuối cùng, Bruno đánh cá nếu họ thua Bruno trong một ván gieo xúc xắc kiểu 421 thì phải tới nghe; bằng không, Bruno sẽ đãi thêm một chầu rượu nữa. Bruno thắng. Cả hai phải đến nghe, khi tôi ca bản L’Étranger au paradis, họ chịu liền. Thế là một “vị” chọn bài hát, còn một “vị” thâu đĩa. Nhờ những đĩa hát của Eddie Barclay mà tôi nổi tiếng”.

     

    Dalida (1933 – 1987) tên thật là Yolanda Cristina Gigliotti sinh tại Ai Cập trong gia đình gốc Ý. Năm 1954, Dalida đoạt giải Hoa hậu Ai Cập và đến Paris thử “thời vận” bằng nghề ca hát trong các phòng trà Villa d’Este và Drap d’Or. Rồi sau đó, cô cực kỳ nổi tiếng cả thế giới với hàng loạt ca khúc: Besame Mucho, Bambino, Histoire d’un amour, Paroles… Paroles… đoạt vô số giải thưởng âm nhạc. Dalida có thể hát bằng rất nhiều thứ tiếng, không chỉ tiếng Pháp, Ý và còn cả tiếng Đức, Ả Rập, thậm chí là tiếng Nhật. Tổng cộng hơn 125 triệu đĩa hát của Dalida đã được bán ra trên toàn thế giới trong đó Bambino đã trở thành đĩa bạch kim vào năm 1964 và đĩa kim cương năm 1981. Cô cũng tham gia rất nhiều phim: Parlez-moi d’amour, Ménage à L’Italienne, Comme sur des roulettes…

     

    Những ngày tại Sài Gòn, Dalida đã thực hiện 4 chương trình “dạ hội” chủ đề: “Tất cả cái đẹp trong cái mới”, diễn ra tại rạp Rex và khách sạn Caravelle. Trong buổi diễn đầu tiên tại rạp Rex, với giá vé là 250 đồng/chiếc, ký giả của báo Kịch ảnh đã đến thưởng thức, sau đó, có bài tường thuật trên báo Kịch ảnh số 19 ra ngày 7.7.1962: “Dalida mặc cái “robe” rất giản dị màu hoa cà, tóc để xõa và không có món trang sức nào cả. Với dàn nhạc 5 người, suốt 13 bài liền Dalida đã chiếm trọn lòng tôi, nắm lấy con tim tôi và dìu tôi đến những bến bờ rung cảm mới lạ… Khán giả vỗ tay tán thưởng, Dalida lại trở ra, cười rất tươi và gửi đến tất cả một nụ hôn gió thật duyên dáng. Không một phút trống, Dalida lại tiếp tục hát luôn 5 bài nữa, trong số có bài Parlez-moi d’amour quen biết. Dalida đã thấm mệt nhưng không vì thế mà kém phần linh động và không “hết mình” cho khán giả. Hát hết bài, Dalida chạy vào hậu đài rồi lại chạy ra cười, hôn gió gửi chúng tôi, rồi chắp tay xá, rồi cười, rồi lại hát nữa. Không nói mà thật ý nhị, thật thiện cảm. Dành bản nhạc Bambino quen biết để kết thúc, Dalida đã làm hài lòng tất cả mọi người. Ngay sau đó, đại diện Hội Hồng Thập tự lên nói lời cảm ơn, ca sĩ Thanh Lan cũng xuất hiện với bó hoa tươi thắm tặng Dalida. Tấm màn nhung buông xuống giữa lúc pháo tay nổ ran, nổ mãi không thôi. Bất ngờ, màn lại kéo lên, Dalida lại trở ra, hát thêm bài Les Gitans rất hay”.

    Dù chỉ đến biểu diễn tại Sài Gòn một lần, nhưng Dalida đã chinh phục được tình cảm của công chúng, tất nhiên do tài năng, ngoài ra còn gì nữa? Đạo diễn Hoàng Anh Tuấn cùng nhà văn Mai Thảo dạy cô tập phát âm tiếng Việt để có thể thưa gửi với mọi người bằng tiếng Việt đã kể lại: “Nhìn Dalida chăm chú theo dõi, đoạn tròn miệng đọc lại những tiếng có, không, cám ơn, chào mạnh giỏi… người ta thấy toát ra một khía cạnh đẹp đẽ nữa của tâm hồn Dalida. Cái khía cạnh chân thực, tha thiết và nồng nàn, cộng với một niềm vui sống tràn đầy và một bản chất hồn nhiên, cởi mở của Dalida, tạo thành bí quyết thành công rực rỡ. Điều mà người ta nhận thấy – và điều này là châu báu quý giá nhất của Dalida, còn quý giá hơn cả tiếng hát của nàng – là danh vọng không hề đổi khác con người Dalida, danh vọng không đẩy nữ danh ca quốc tế này vào một cái thứ tháp ngà kiêu hãnh, là cái mặt trái đáng ghét thường thấy ở phần lớn những nghệ sĩ được đông đảo quần chúng ái mộ. Ở điểm này, Dalida xứng đáng là Dalida, xứng đáng với cái phong thái, cái tư cách, cái thái độ phải có của một danh ca quốc tế”.

     

    Thêm một điều lý thú cũng ít ai ngờ là bấy giờ, người Sài Gòn đã rất nhanh nhạy nhằm đáp ứng nhu cầu ái mộ của công chúng bằng dịch vụ: “Ai muốn có lưu bút kỷ niệm của Dalida trên đĩa hát hay hình ảnh, có thể tới tiệm Alpha Radio, 157 đường Tự Do, Sài Gòn từ 16 – 18 giờ ngày 3.7.1962”.

     

    Về sự kiện, nữ danh ca Dalida – người đã từng được thành phố Paris lấy tên đặt cho một quảng trường gần nhà, đã đến Sài Gòn trong thập niên 1960, khi lướt web, tôi còn tìm thấy một vài hình ảnh ghi lại khoảnh khắc đó. Với tôi, thú vị vẫn là bức cô điều khiển chiếc xe bò, ngồi cạnh một nông dân miền Nam, chụp tại Gò Vấp, Sài Gòn.

    Dalida in Saigon-1962

    Dalida điều khiển xe bò tại Gò Vấp, Sài Gòn

     

  • Tạp ghi

    Doãn Quốc Sỹ, kẻ sĩ thời đại chúng ta

    Nguyễn Mạnh Trinh

    Với nhiều người bản xứ , hình như dư âm của cuộc chiến tranh Việt Nam vẫn còn nên văn chương và văn hóa Việt nam được đặc biệt chú ý.

    Tôi có một người bạn cùng lớp Creating & Writing học viết văn người Mỹ gốc Ý rất thích thú với văn chương Việt Nam. Một bữa anh khoe với tôi tuyển tập “Việt Nam: A traveler’ s literary companion” do John Balaban và Nguyễn Quý Đức chủ biên và rất đặc biệt chú ý tới nhà văn Doãn Quốc Sỹ với truyện ngắn “The Stranded Fish” ( Con cá mắc cạn). Anh còn khoe đã được dự một cuộc seminar với hai giáo sư Doãn Quốc Sỹ và Lê Hữu Mục tháng 6 năm 1999 tại University St Thomas ở Houston với đề tài “ Living Two Cultures: A conference for Vietnamese – Americans”. Và anh hỏi tôi một câu: Bạn nghĩ thế nào về nhà văn Doãn Quốc Sỹ. Nhà văn? Nhà giáo? Một người hoạt động chính trị? Hay một người yêu nước bị chế độ đương thời đầy ải khi ở trong nước? Và một nhà văn luôn hướng về tương lai ở hải ngoại …

    Doan Quoc Sy

    Xem trọn bài

  • Tạp ghi

    Lời tự thuật của Thi sĩ HỮU LOAN, tác giả “MÀU TÍM HOA SIM”

    Hữu Loan

    HuuLoan-DoiTimHoaSimTôi sinh ra trong một gia đình nghèo, hồi nhỏ không có cơ may cắp sách đến trường như bọn trẻ cùng trang lứa, chỉ được cha dạy cho dăm chữ bữa có bữa không ở nhà. Cha tôi tuy là tá điền nhưng tư chất lại thông minh hơn người. Lên trung học, theo ban thành chung tôi cũng học tại Thanh Hóa, không có tiền ra Huế hoặc Hà Nội học. Đến năm 1938 – lúc đó tôi cũng đã 22 tuổi – Tôi ra Hà Nội thi tú tài, để chứng tỏ rằng con nhà nghèo cũng thi đỗ đạt như ai. Tuyệt nhiên tôi không có ý định dấn thân vào chốn quan trường. Ai cũng biết thi tú tài thời Pháp rất khó khăn. Số người đậu trong kỳ thi đó rất hiếm, hiếm đến nỗi 5-6 chục năm sau những người cùng thời còn nhớ tên những người đậu khóa ấy, trong đó có Nguyễn Đình Thi , Hồ Trọng Gin, Trịnh văn Xuấn , Đỗ Thiện và …tôi – Nguyễn Hữu Loan.

     

    Với mảnh tú tài Tây trong tay, tôi rời quê nhà lên Thanh Hóa để dạy học. Nhãn mác con nhà nghèo học giỏi của tôi được bà tham Kỳ chú ý, mời về nhà dạy cho hai cậu con trai. Tên thật của bà tham Kỳ là Đái thị Ngọc Chất, bà là vợ của của ông Lê Đỗ Kỳ, tổng thanh tra canh nông Đông Dương, sau này đắc cử dân biểu quốc hội khóa đầu tiên. Ở Thanh Hóa, Bà tham Kỳ có một cửa hàng bán vải và sách báo, tôi thường ghé lại xem và mua sách, nhờ vậy mới được bà để mắt tới.Bà tham Kỳ là một người hiền lành, tốt bụng, đối xử với tôi rất tốt, coi tôi chẳng khác như người nhà.

     

    Nhớ ngày đầu tiên tôi khoác áo gia sư, bà gọi mãi đứa con gái – lúc đó mới 8 tuổi- mới chịu lỏn lẻn bước ra khoanh tay, miệng lí nhí: ” Em chào thầy ạ!” Chào xong, cô bé bất ngờ mở to đôi mắt nhìn thẳng vào tôi. Đôi mắt to, đen láy, tròn xoe như có ánh chớp ấy đã hằn sâu vào tâm trí tôi, theo tôi suốt cả cuộc đời. Thế là tôi dạy em đọc, dạy viết. Tên em là Lê Đỗ Thị Ninh, cha làm thanh tra nông lâm ở Sài Gòn nên sinh em trong ấy, quen gọi mẹ bằng má. Em thật thông minh, dạy đâu hiểu đấy nhưng ít nói và mỗi khi mở miệng thì cứ y như một “bà cụ non”. Đặc biệt em chăm sóc tôi hằng ngày một cách kín đáo: em đặt vào góc mâm cơm chổ tôi ngồi ăn cơm lúc thì vài quả ớt đỏ au, lúc thì quả chanh mọng nước em vừa hái ở vườn, những buổi trưa hè, nhằm lúc tôi ngủ trưa, em lén lấy áo sơ mi trắng tôi treo ở góc nhà mang ra giếng giặt …..

     

    Có lần tôi kể chuyện ” bà cụ non” ít nói cho hai người anh của em Ninh nghe, không ngờ chuyện đến tai em, thế là em giận! Suốt một tuần liền, em nằm lì trong buồng trong, không chịu học hành… Một hôm bà tham Kỳ dẫn tôi vào phòng nơi em đang nằm thiếp đi. Hôm ấy tôi đã nói gì, tôi không nhớ nữa, chỉ nhớ là tôi đã nói rất nhiều, đã kể chuyện em nghe, rồi tôi đọc thơ… Trưa hôm ấy, em ngồi dậy ăn một bát to cháo gà và bước ra khỏi căn buồng. Chiều hôm sau, em nằng nặc đòi tôi đưa lên khu rừng thông. Cả nhà không ai đồng ý: “Mới ốm dậy còn yếu lắm, không đi được đâu” Em không chịu nhất định đòi đi cho bằng được. Sợ em lại dỗi nên tôi đánh bạo xin phép ông bà tham Kỳ đưa em lên núi chơi …..Xe kéo chừng một giờ mới tới được chân đồi. Em leo đồi nhanh như một con sóc, tôi đuổi theo muốn đứt hơi. Lên đến đỉnh đồi, em ngồi xuống và bảo tôi ngồi xuống bên em.Chúng tôi ngồi thế một hồi lâu, chẳng nói gì. Bất chợt em nhìn tôi, rồi ngước mắt nhìn ra tận chân trời, không biết lúc đó em nghĩ gì. Bất chợt em hỏi tôi:- Thầy có thích ăn sim không ?- Tôi nhìn xuống sườn đồi: tím ngắt một màu sim. Em đứng lên đi xuống sườn đồi, còn tôi vì mệt quá nên nằm thiếp đi trên thảm cỏ …

     

    Khi tôi tỉnh dậy, em đã ngồi bên tôi với chiếc nón đầy ắp sim. Những quả sim đen láy chín mọng.- Thầy ăn đi.Tôi cầm quả sim từ tay em đưa lên miệng trầm trồ:-Ngọt quá.Như đã nói, tôi sinh ra trong một gia đình nông dân, quả sim đối với tôi chẳng lạ lẫm gì, nhưng thú thật tôi chưa bao giờ ăn những quả sim ngọt đến thế! Cứ thế, chúng tôi ăn hết qủa này đến qủa khác. Tôi nhìn em, em cười. Hai hàm răng em đỏ tím, đôi môi em cũng đỏ tím, hai bên má thì….tím đỏ một màu sim. Tôi cười phá lên, em cũng cười theo! Cuối mùa đông năm ấy, bất chấp những lời can ngăn, hứa hẹn can thiệp của ông bà tham Kỳ, tôi lên đường theo kháng chiến. Hôm tiễn tôi, em theo mãi ra tận đầu làng và lặng lẽ đứng nhìn theo. Tôi đi… lên tới bờ đê, nhìn xuống đầu làng ,em vẫn đứng đó nhỏ bé và mong manh. Em giơ bàn tay nhỏ xíu như chiếc lá sim ra vẫy tôi. Tôi vẫy trả và lầm lũi đi…Tôi quay đầu nhìn lại… em vẫn đứng yên đó … Tôi lại đi và nhìn lại đến khi không còn nhìn thấy em nữa.

     

    Những năm tháng ở chiến khu, thỉnh thoảng tôi vẫn được tin tức từ quê lên, cho biết em vẫn khỏe và đã khôn lớn. Sau này, nghe bạn bè kể lại, khi em mới 15 tuổi đã có nhiều chàng trai đên ngỏ lời cầu hôn nhưng em cứ trốn trong buồng, không chịu ra tiếp ai bao giờ …

     

    Chín năm sau, tôi trở lại nhà…Về Nông Cống tìm em. Hôm gặp em ở đầu làng, tôi hỏi em , hỏi rất nhiều, nhưng em không nói gì, chỉ bẽn lẽn lắc hoặc gật đầu. Em giờ đây không còn cô học trò Ninh bướng bỉnh nữa rồi. Em đã gần 17 tuổi, đã là một cô gái xinh đẹp….Yêu nhau lắm nhưng tôi vẫn lo sợ vì hai gia đình không môn đăng hộ đối một chút nào. Mãi sau này mới biết việc hợp hôn của chúng tôi thành công là do bố mẹ em ngấm ngầm ” soạn kịch bản”.

     

    Một tuần sau đó chúng tôi kết hôn. Tôi bàn việc may áo cưới thì em gạt đi, không đòi may áo cưới trong ngày hợp hôn, bảo rằng là: ” yêu nhau, thương nhau cốt là cái tâm và cái tình bền chặt là hơn cả”. Tôi cao ráo, học giỏi, Làm thơ hay…lại đẹp trai nên em thường gọi đùa là anh chồng độc đáo. Đám cưới được tổ chức ở ấp Thị Long, huyện Nông Công, tỉnh Thanh Hóa của gia đình em, nơi ông Lê Đỗ Kỳ có hàng trăm mẫu ruộng. Đám cưới rất đơn sơ, nhưng khỏi nói, hai chúng tôi hạnh phúc hơn bao giờ hết! Hai tuần phép của tôi trôi qua thật nhanh, tôi phải tức tốc lên đường hành quân, theo sư đoàn 304, làm chủ bút tờ Chiến Sĩ.

     

    Hôm tiễn tôi lên đường, em vẫn đứng ở đầu làng, nơi chín năm trước em đã đứng. Chỉ có giờ em không còn cô bé Ninh nữa mà là người bạn đời yêu quý của tôi. Tôi bước đi, rồi quay đầu nhìn lại…..Nếu như chín năm về trước, nhìn lại chỉ thấy một nỗi buồn man mác thì lần này, tôi thật sự đau buồn. Đôi chân tôi như muốn khuỵu xuống. Ba tháng sau, tôi nhận được tin dữ: vợ tôi qua đời! Em chết thật thảm thương: Hôm đó là ngày 25 tháng 5 âm lịch năm 1948, em đưa quần áo ra giặt ngoài sông Chuồn (thuộc ấp Thị Long, Nông Cống), vì muốn chụp lại tấm áo bị nước cuốn trôi đi nên trượt chân chết đuối! Con nước lớn đã cuốn em vào lòng nó, cướp đi của tôi người bạn lòng tri kỷ, để lại tôi tôi nỗi đau không gì bù đắp nỗi. Nỗi đau ấy, gần 60 năm qua, vẫn nằm sâu thẳm trong trái tim tôi.Tôi phải giấu kín nỗi đau trong lòng, không được cho đồng đội biết để tránh ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu của họ. Tôi như một cái xác không hồn …

     

    Dường như càng kềm nén thì nỗi đau càng dữ dội hơn. May sao, sau đó có đợt chỉnh huấn, cấp trên bảo ai có tâm sự gì cứ nói ra, nói cho hết. Chỉ chờ có thế, cơn đau trong lòng tôi được bung ra. Khi ấy chúng tôi đang đóng quân ở Nghệ An, tôi ngồi lặng đi ở đầu làng, hai mắt tôi đẫm nước, tôi lấy bút ra ghi chép. Chẳng cần phải suy nghĩ gì, những câu những chữ mộc mạc cứ trào ra: “Nhà nàng có ba người anh đi bộ đội… Những em nàng có em chưa biết nói. Khi tóc nàng đang xanh…” Tôi về không gặp nàng…Về viếng mộ nàng, tôi dùng chiếc bình hoa ngày cưới làm bình hương, viết lại bài thơ vào chiếc quạt giấy để lại cho người bạn ở Thanh Hóa… Anh bạn này đã chép lại và truyền tay nhau trong suốt những năm chiến tranh.

     

    Đó là bài thơ Màu Tím Hoa Sim. Đến đây, chắc bạn biết tôi là Hữu Loan, Nguyễn Hữu Loan, sinh ngày 2-4-1916 hiện tại đang “ở nhà trông vườn” ở làng Nguyên Hoàn – nơi tôi gọi là chỗ “quê đẻ của tôi đấy” thuộc xã Mai Lĩnh, huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa. Em Ninh rất ưa mặc áo màu tím hoa sim. Lạ thay nơi em bị nước cuốn trôi dưới chân núi Nưa cũng thường nở đầy những bông hoa sim tím. Cho nên tôi viết mới nổi những câu : “Chiều hành quân, qua những đồi sim… Những đồi sim, những đồi hoa sim.. Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết.. Màu tím hoa sim, tím cả chiều hoang biền biệt…Và chiều hoang tím có chiều hoang biết…Chiều hoang tim tím thêm màu da diết.”

     

    Mất nàng, mất tất cả, tôi chán đời, chán kháng chiến, bỏ đồng đội, từ giã văn đàn về quê làm ruộng, một phần cũng vì tính tôi” hay cãi, thích chống đối, không thể làm gì trái với suy nghĩ của tôi”. Bọn họ chê tôi ủy mị, hoạch hoẹ đủ điều, không chấp nhận đơn từ bỏ kháng chiến của tôi. Mặc kệ! Tôi thương tôi, tôi nhớ hoa sim của tôi quá! Với lại tôi cũng chán ngấy bọn họ quá rồi!

     

    Đó là thời năm 1955 – 1956, khi phong trào văn nghệ sĩ bùng lên với sự xuất hiện của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm chống chính sách độc tài, đồng thời chống những kẻ bồi bút đan tâm lừa thầy phản bạn, dốc tâm ca ngợi cái này cái nọ để kiếm chút cơm thừa canh cạn. Làm thơ thì phải có cái tâm thật thiêng liêng thì thơ mới hay. Thơ hay thì sống mãi. Làm thơ mà không có tình, có tâm thì chả ra gì! Làm thơ lúc bấy giờ là phải ca tụng, trong khi đó tôi lại đề cao tình yêu, tôi khóc người vợ tử tế của mình, người bạn đời hiếm có của mình. Lúc đó tôi khóc như vậy họ cho là khóc cái tình cảm riêng….Y như trong thơ nói ấy, tôi lấy vợ rồi ra mặt trận, mới lấy nhau chưa được hơn một tháng, ở nhà vợ tôi đi giặt rồi chết đuối ở sông …

     

    Tôi thấy đau xót, tôi làm bài thơ ấy tôi khóc, vậy mà họ cho tôi là phản động. Tôi phản động ở chỗ nào? Cái đau khổ của con người, tại sao lại không được khóc? Bọn họ xúc phạm đến tình cảm thiêng liêng của tôi đối với người vợ mà tôi hằng yêu quý, cho nên vào năm 1956, tôi bỏ đảng, bỏ cơ quan, về nhà để đi cày. Họ không cho bỏ, bắt tôi phải làm đơn xin. Tôi không xin, tôi muốn bỏ là bỏ, không ai bắt được! Tôi bỏ tôi về, tôi phải đi cày đi bừa, đi đốn củi, đi xe đá để bán. Bọn họ bắt giữ xe tôi, đến nỗi tôi phải đi xe cút kít, loại xe đóng bằng gỗ, có một bánh xe cũng bằng gỗ ở phía trước, có hai cái càng ở phía sau để đủn hay kéo. Xe cút kít họ cũng không cho, tôi phải gánh bộ. Gánh bằng vai tôi, tôi cũng cứ gánh, không bao giờ tôi bị khuất phục. Họ theo dõi, ngăn cản, đi đến đâu cũng có công an theo dõi, cho người hại tôi …

     

    Nhưng lúc nào cũng có người cứu tôi! Có một cái lạ là thơ của tôi đã có lần cứu sống tôi! Lần đó tên công an mật nói thật với tôi là nó được giao lệnh giết tôi, nhưng nó sinh ở Yên Mô, thường đem bài Yên Mô của tôi nói về tỉnh Yên Bình quê nó ra đọc cho đỡ nhớ, vì vậy nó không nỡ giết tôi. Ngoài Yên Mô, tôi cũng có một vài bài thơ khác được mến chuộng. Sau năm 1956 , khi tôi về rồi thấy cán bộ khổ quá, tôi đã làm bài Chiếc Chiếu, kể chuyện cán bộ khổ đến độ không có chiếc chiếu để nằm!

     

    Định mệnh đưa đẩy, dắt tôi đến với một phụ nữ khác, sống cùng tôi cho đến tận bây giờ. Cô tên Phạm Thị Nhu, cũng là phụ nữ có tâm hồn sâu sắc. Cô vốn là một nạn nhân của chiến dịch cải cách ruộng đất, đấu tố địa chủ năm 1954, 1955. Lúc đó tôi còn là chính trị viên của tiểu đoàn. Tôi thấy tận mắt những chuyện đấu tố. Là người có học , lại có tâm hồn nghệ sĩ nên tôi cảm thấy chán nản quá, không còn hăng hái nữa.

     

    Thú thật, lúc đó tôi thất vọng vô cùng. Trong một xã thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, cách xa nơi tôi ở 15 cây số, có một gia đình địa chủ rất giàu, nắm trong gần năm trăm mẫu tư điền. Trước đây, ông địa chủ đó giàu lòng nhân đạo và rất yêu nước. Ông thấy bộ đội sư đoàn 304 của tôi thiếu ăn nên ông thường cho tá điền gánh gạo đến chổ đóng quân để ủng hộ. Tôi là trưởng phòng tuyên huấn và chính trị viên của tiểu đoàn nên phải thay mặt anh em ra cám ơn tấm lòng tốt của ông, đồng thời đề nghị lên sư đoàn trưởng trao tặng bằng khen ngợi để vinh danh ông.

     

    Thế rồi, một hôm, tôi nghe tin gia đình ông đã bị đấu tố. Hai vợ chồng ông bị đội Phóng tay phát động quần chúng đem ra cho dân xỉ vả, rồi chôn xuống đất, chỉ để hở hai cái đầu lên. Xong họ cho trâu kéo bừa đi qua đi lại hai cái đầu đó cho đến chết. Gia đình ông bà địa chủ bị xử tử hết, chỉ có một cô con gái 17 tuổi được tha chết nhưng bị đội Phóng tay phát động đuổi ra khỏi nhà với vài bộ quần áo cũ rách. Tàn nhẫn hơn nữa, chúng còn ra lệnh cấm không cho ai được liên hệ, nuôi nấng hoặc thuê cô ta làm công. Thời đó, cán bộ cấm đoán dân chúng cả việc lấy con cái địa chủ làm vợ làm chồng. Biết chuyện thảm thương của gia đình ông bà địa chủ tôi hằng nhớ ơn, tôi trở về xã đó xem cô con gái họ sinh sống ra sao vì trước kia tôi cũng biết mặt cô ta. Tôi vẫn chưa thể nào quên được hình ảnh của một cô bé cứ buổi chiều lại lén lút đứng núp bên ngoài cửa sổ nghe tôi giảng Kiều ở trường Mai Anh Tuấn. Lúc gần tới xã, tôi gặp cô ta áo quần rách rưới, mặt mày lem luốc. Cô đang lom khom nhặt những củ khoai mà dân bỏ sót, nhét vào túi áo, chùi vội một củ rồi đưa lên miệng gặm, ăn khoai sống cho đỡ đói. Quá xúc động, nước mắt muốn ứa ra, tôi đến gần và hỏi thăm và được cô kể lại rành rọt hôm bị đấu tố cha mẹ cô bị chết ra sao. Cô khóc rưng rức và nói rằng gặp ai cũng bị xua đuổi; hằng ngày cô đi mót khoai ăn đỡ đói lòng, tối về ngủ trong chiếc miếu hoang, cô rất lo lắng, sợ bị làm bậy và không biết ngày mai còn sống hay bị chết đói. Tôi suy nghĩ rất nhiều, bèn quyết định đem cô về làng tôi, và bất chấp lệnh cấm, lấy cô làm vợ.

     

    Sự quyết định của tôi không lầm. Quê tôi nghèo, lúc đó tôi còn ở trong bộ đội nên không có tiền, nhưng cô chịu thương chịu khó , bữa đói bữa no…. Cho đến bây giờ cô đã cho tôi 10 người con – 6 trai, 4 gái – và cháu nội ngoại hơn 30 đứa! Trong mấy chục năm dài, tôi về quê an phận thủ thường, chẳng màng đến thế sự, ngày ngày đào đá núi đem đi bán, túi dắt theo vài cuốn sách cũ tiếng Pháp, tiếng Việt đọc cho giải sầu, lâu lâu nổi hứng thì làm thơ, thế mà chúng vẫn trù dập, không chịu để tôi yên. Tới hồi mới mở cửa, tôi được ve vãn, mời gia nhập Hội Nhà Văn, tôi chẳng thèm gia nhập làm gì.

     

    Năm 1988, tôi ” tái xuất giang hồ” sau 30 năm tự chôn và bị chôn mình ở chốn quê nghèo đèo heo hút gió. Tôi lang bạt gần một năm trời theo chuyến đi xuyên Việt do hội văn nghệ Lâm Đồng và tạp chí Langbian tổ chức để đòi tự do sáng tác, tự do báo chí – xuất bản và đổi mới thực sự. Vào tuổi gần đất xa trời, cuối năm 2004, công ty Viek VTB đột nhiên đề nghị mua bản quyển bài Màu Tím Hoa Sim của tôi với giá 100 triệu đồng. Họ bảo đó là một hình thức bảo tồn tài sản văn hóa. Thì cũng được đi. Khoản tiền 100 triệu trừ thuế đi còn 90 triệu, chia “lộc” cho 10 đứa con hết 60 triệu đồng, tôi giữ lại 30 triệu đồng, phòng đau ốm lúc tuổi già, sau khi trích một ít để in tập thơ khoảng 40 bài mang tên Thơ Hữu Loan. Sau vụ này cũng có một số công ty khác xin ký hợp đồng mua mấy bài thơ khác, nhưng tôi từ chối, thơ tôi làm ra không phải để bán.

     

    Màu tím hoa sim

    (Nguyên văn của tác giả)

     

    Nàng có ba người anh đi bộ đội

    Những em nàng

    Có em chưa biết nói

    Khi tóc nàng xanh xanh

    Tôi người Vệ quốc quân

    xa gia đình

    Yêu nàng như tình yêu em gái

    Ngày hợp hôn

    nàng không đòi may áo mới

    Tôi mặc đồ quân nhân

    đôi giày đinh

    bết bùn đất hành quân

    Nàng cười xinh xinh

    bên anh chồng độc đáo

    Tôi ở đơn vị về

    Cưới nhau xong là đi

    Từ chiến khu xa

    Nhớ về ái ngại

    Lấy chồng thời chiến binh

    Mấy người đi trở lại

    Nhỡ khi mình không về

    thì thương

    người vợ chờ

    bé bỏng chiều quê…

     

    Nhưng không chết

    người trai khói lửa

    Mà chết

    người gái nhỏ hậu phương

    Tôi về

    không gặp nàng

    Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối

    Chiếc bình hoa ngày cưới

    thành bình hương

    tàn lạnh vây quanh

    Tóc nàng xanh xanh

    ngắn chưa đầy búi

    Em ơi giây phút cuối

    không được nghe nhau nói

    không được trông nhau một lần

    Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím

    áo nàng màu tím hoa sim

    Ngày xưa

    một mình đèn khuya

    bóng nhỏ

    Nàng vá cho chồng tấm áo

    ngày xưa…

     

    Một chiều rừng mưa

    Ba người anh trên chiến trường đông bắc

    Được tin em gái mất

    trước tin em lấy chồng

    Gió sớm thu về rờn rợn nước sông

    Đứa em nhỏ lớn lên

    Ngỡ ngàng nhìn ảnh chị

    Khi gió sớm thu về

    cỏ vàng chân mộ chí

    Chiều hành quân

    Qua những đồi hoa sim

    Những đồi hoa sim

    những đồi hoa sim dài trong chiều không hết

    Màu tím hoa sim

    tím chiều hoang biền biệt

    Có ai ví như từ chiều ca dao nào xưa xa

    Áo anh sứt chỉ đường tà

    Vợ anh chưa có mẹ già chưa khâu

    Ai hỏi vô tình hay ác ý với nhau

    Chiều hoang tím có chiều hoang biết

    Chiều hoang tím tím thêm màu da diết

    Nhìn áo rách vai

    Tôi hát trong màu hoa

    Áo anh sứt chỉ đường tà

    Vợ anh mất sớm, mẹ già chưa khâu…

     

    Màu tím hoa sim, tím tình trang lệrớm

    Tím tình ơi lệ ứa

    Ráng vàng ma và sừng rúc điệu quân hành

    Vang vọng chập chờn theo bóng những binh đoàn

    Biền biệt hành binh vào thăm thẳm chiều hoang màu tím

    Tôi ví vọng về đâu

    Tôi với vọng về đâu

    Áo anh nát chỉ dù lâu…

     

    (1949, khóc vợ Lê Đỗ Thị Ninh)

     

    Hữu Loan

     

    © Hữu Loan

     

  • Tạp ghi

    Sự bế tắc của ngôn ngữ

    Bùi Quang Vơm

    Đọc bài viết của nhà báo Phạm Toàn được báo Vietnamnet trích đăng với tựa đề:

    “Không nên quá kiêu ngạo nghĩ mình mãi là thầy“, thú thật là tôi có cảm giác bế tắc như đụng đầu vào bức tường chặn lối lên phía trước, trông thấy ẩn hiện, nhưng không có cách nào qua để bắt lấy nó. Loáng thoáng hiểu điều ông muốn nói, chờ để được giải thích, hoặc sẽ có gì rõ hơn ở phía sau, nhưng đọc mãi, cho đến hết, cuối cùng không thấy có và cảm giác bế tắc tới uất ức, bất lực. Những triết lý trừu tượng, tối nghĩa, những khái niệm mông lung lơ lửng.

    Có thể một nhà giáo uy tín và nổi tiếng mà có khó khăn trong cách diễn đạt ý tưởng của mình? Thế thì làm sao là làm nghề giáo được? Làm sao truyền dậy?

    Câu trả lời nằm ở chỗ khác?!

    Làm thế nào để có một nền giáo dục đa chiều trong một chế độ chính trị độc quyền chân lý? Làm sao khai phóng tư duy trong một thế giới thông tin bị sàng lọc một chiều? Làm sao thông với vũ trụ trong một không gian đóng kín?

    Ông Phạm Toàn cố diễn đạt một cái gì đó. Người ta cố gắng hiểu rằng cái gì đó là cái vĩnh cửu vượt ra khỏi giới hạn của thời gian, nghĩa là nền giáo dục không lấy triết lý đương thời làm khung khổ. Cái đương thời rồi sẽ chết, hoặc ít nhất cũng biến hoá, trong khi nền tảng của nền giáo dục có căn bản bất biến. Cái bất biến đó là bản năng tự hoàn thiện mình bằng năng lực tự nhiên của con người. Năng lực tự nhiên và bản năng tự hoàn thiện là cái vẫn tồn tại sau tất cả những áp lực nhân tạo chỉ xuất hiện trong một không gian và thời gian nhất định có hạn.

    Nói cho rõ ra thì là thế này: Hãy vượt ra ngoài sự trói buộc bởi tư duy giáo dục cộng sản để quay trở lại với bản chất con người. Có phải Nhà giáo định nói vậy không?

    Đấy có thể là điều mà nhà giáo Phạm Toàn muốn «bắn» tới những đồng nghiệp có trách nhiệm của ông? Nhưng giáo dục là sự minh bạch, rành mạch, rõ ràng và chuẩn xác về phương pháp tư duy. Ông muốn mọi người phải hiểu và phải làm một điều đang bị cấm kỵ bởi những thế lực quyết định sinh mệnh của họ và của chính ông. Nhưng ngay nói thẳng những điều đó ra, ông cũng còn chưa dám. Nói những điều không giám nói, thì những điều nói ra trở thành tối nghĩa và khó hiểu. Muốn nói về màu đen, nhưng sử dụng ngôn ngữ dùng để diễn tả một mầu không đen, và lại muốn trách người xem sao không thấy nó đen. Đó là bi kịch cuả ước vọng khai phóng, cũng chính là bi kịch của nền giáo dục thờicộng sản hiện đại trong lốt nhà giáo dục.

    Không biết có ai cùng cảm giác bế tắc khi đọc bài viết của nhà giáo Phạm Toàn không, xin đọc ở đây:

    «Không nên quá kiêu ngạo nghĩ mình mãi là thầy.

    Nhà giáo Phạm Toàn đã khẳng định như vậy trong bài viết gửi tới hội thảo giáo dục 2017 do Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng Quốc hội tổ chức sáng 23/9. VietNamNet xin trích đăng bài viết này.

    Vấn đề

    Chúng ta đang bàn bạc về sự nghiệp giáo dục của dân tộc.

    Chúng ta đang bàn bạc về công việc lớn lao này trong nỗi lo lắng và tinh thần trách nhiệm.

    Lo lắng và trách nhiệm đè nặng lên vai từng cá nhân có mặt ở hội thảo này và chúng ta còn gánh nặng cả những nỗi ưu tư của biết bao con người vắng mặt tại đây, trong đó có những nhà khoa học và có cả những phụ huynh có con em đi học.

    Và không chỉ có thế, vắng mặt hôm nay nhưng luôn luôn có mặt, còn là tổ tiên chúng ta, những ân nhân đã giao lại đất nước này cho chúng ta và còn là cả những bé em sẽ ra đời trên mảnh đất thiêng liêng này, những thế hệ của trăm năm, của nghìn năm sau.

    Không ai buộc chúng ta phải lo lắng và phải có trách nhiệm như vậy. Tự chúng ta từng người từng người mang nỗi lo và trách nhiệm đó, đơn giản vậy thôi.

    Chúng ta nhất trí trong nỗi lo và tinh thần trách nhiệm.

    Nhưng chúng ta lại rất khó nhất trí trong giải pháp cứu nguy, chấn hưng sự nghiệp giáo dục của dân tộc.

    Và nỗi bất đồng to lớn nhất lại rơi vào một điều cốt lõi của mọi điều cốt lõi: tư duy về giáo dục.

    Cái bất biến của giáo dục

    Chọn lựa thứ nhất là đi tìm một cái nút bấm mà nếu tác động vào điều bất biến đó thì mọi việc sẽ hanh thông.

    Chọn lựa thứ hai là sa đà vào những điều khả biến với vẻ ngoài đầy hấp dẫn, nhưng sẽ làm ta rơi vào một cái bẫy mê hồn trận.

    Chọn lựa thứ nhất dẫn nhà giáo dục và các lực lượng xã hội khác đến với trẻ em – người học như một mục tiêu bất biến. Nó bất biến vì nó nằm trong tầm tay xử trí của nhà giáo dục.

    Chọn lựa thứ 2 dẫn các nhà cải cách đến những vấn đề thuộc về thể chế, nằm ngoài tầm tay xử lý của nhà giáo dục.

    Cả hai lựa chọn đều là hai cuộc đại phiêu lưu. Không có lựa chọn nào dẫn đến thành công “thần tốc” hết. Nhưng chọn lựa thứ nhất sẽ tạo ra một sự thâm canh – cũng hệt như thâm canh trong sản xuất nông nghiệp – trong khi chọn lựa thứ 2 cũng tương tự như đi tìm cách thay đổi chế độ tô thuế.

    Có điều “thâm canh” trong sự nghiệp giáo dục sẽ tạo ra một cái nền màu mỡ, để một trăm năm nữa (có khi lâu hơn thế) sẽ có những sản phẩm mà những bậc thầy ngày hôm nay không sánh kịp. Con hơn cha, trò hơn thầy, đó là mơ ước của công cuộc thâm canh vào cái bất biến cần được tư duy đổi mới giáo dục nhận ra ngay ngày hôm nay: trẻ em.

    Nghịch lý cõng người khổng lồ

    Nhà cải cách giáo dục đúng sẽ thành công nếu trong tư duy giáo dục và dạy học họ luôn nghĩ rằng mình đang cõng trên vai những người khổng lồ. Không nên quá kiêu ngạo để luôn luôn nghĩ mình mãi là thầy, mãi mãi là người khổng lồ để các em đứng lên vai.

    Ấy thế nhưng, ở nơi đây và vào lúc này, họ vẫn đang là thầy. Nghịch lý là ở chỗ đó. Khi tư duy để tìm cách cứu nguy nền giáo dục hiện thời, chúng ta luôn luôn đứng trước hai cách chọn lựa.

    Diễn đạt theo cách khác sẽ nói như sau: nhà cải cách giáo dục như những chú lùn có sứ mệnh tạo ra những con người cao ráo hơn mình. Khi chúng ta đang nhắc lại những khái niệm như tự do hoặc khai phóng vô tình hay hữu ý, ta đang thực hiện một phương thức bất biến chi phối công việc đào tạo những người khổng lồ.

    Vì thế, đừng có nghĩ nền giáo dục được ta lên kế hoạch chấn hưng sẽ đào tạo những học trò có vài ba năng lực nào đó cộng với dăm bẩy giá trị nào đó rập theo tiêu chuẩn biến động của những chốn vu vớ nào đó.

    Một cách khiêm nhưng đủ tự tin như một nghịch lý, chúng ta hãy tổ chức sự trưởng thành của cái đối tượng bất biến mà chúng ta đang phục vụ bằng việc vun trồng bằng chính bàn tay tầm thường của chúng ta ở đây và ngay lúc này.

    Mục tiêu tổ chức sự trưởng thành của trẻ em, đến lượt nó, cũng thành một điều bất biến trong tư duy giáo dục. Không phải là tổ chức cuộc chạy đua học giỏi mà tổ chức sự trưởng thành về tâm hồn, về trí tuệ, về lối sống của một nhân cách đúng nghĩa.

    Những sản phẩm mang tầm vóc trưởng thành đó sẽ phải là những con người có một năng lực bất biến – năng lực tự học – và tự học để tự lập thành người Việt Nam chính hiệu.

    Lộ diện giải pháp

    Cuối cùng, “trăm dâu đổ đầu tằm”, dù chọn đi theo cách tư duy nào và theo lý thuyết trời biển gì đi nữa thì cũng phải trình ra xã hội bộ chương trình và bộ sách giáo khoa.

    Đến lượt chúng, những công cụ này cũng sẽ phải thể hiện một tầm tư duy giáo dục dựa trên những điều bất biến.

    Đặt câu hỏi đơn giản hơn: chương trình và sách giáo khoa có tuổi thọ dài, thậm chí rất dài hay là chúng cứ bị thay đổi luôn soành soạch theo tuổi đời từng dự án?

    Xin nói luôn để đỡ mất công chờ đợi: Chương trình và sách giáo khoa cũng phải bất biến. Điều này hoàn toàn trái với những phát ngôn đương thời cho rằng sách giáo khoa trên thế giới cũng chỉ tuổi thọ dăm mười năm.

    Ta hãy cùng lý giải về tính bền vững của chương trình giáo dục phổ thông và sách giáo khoa cho học sinh phổ thông. Chúng sẽ bền vững và có tuổi thọ dài vì những lý do sau:

    – Chúng thể hiện cách học của người học, cách học thể hiện ở các thao tác tư duy, là điều bất biến.

    – Những vật liệu dùng để tổ chức cách học của học sinh đều mang tính phổ thông và đó là điều bất biến.

    – Sách giáo khoa phải giúp giáo viên dễ thực hiện nhiệm vụ tổ chức việc học của trẻ em – một định nghĩa khác về nghề “dạy học” xưa nay.

    Tư duy sáng sủa

    Càng dấn thân vào sự nghiệp giáo dục, càng thấy mọi chuyện không dễ dàng và càng không thể xong trong ngày một ngày hai.

    Vì thế, việc tư duy về giáo dục cần phải rất sáng sủa.

    Không được lẫn lộn giữa khái niệm Chương trình tổng thể với chỉ một việc biên soạn chương trình và sách giáo khoa phổ thông.

    Và ngay cả khi rút gọn việc viết sách giáo khoa như là cốt lõi của cái tổng thể thì cũng cần xử lý nghiêm cẩn.

    Thời Khổng Tử, sách giáo khoa nằm trong tay vài ba ông “Tử”, và thế là đủ.

    Thời Pháp thuộc cũng còn đơn giản: những tên tuổi đọng lại không nhiều, Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Ngọc, Phạm Huy Lục, Đặng Đình Phúc, Đỗ Thận, và Dương Quảng Hàm, Nguyễn Văn Tố cùng với Brachet, Don Lafferanderie. Hết.

    Sau năm 1945, cả ngành giáo dục vẫn mới chỉ có một ban thu thư lèo tèo. Dẫu sao, các ban tu thư thời đó đều có uy tín.

    Ngày nay, chẳng ai có đủ uy tín để xử lý riêng một khái niệm tích hợp.

    Và ai có đủ uy tín để bảo đảm sách đang viết chưa xong, có xong cũng chưa qua thực nghiệm… liệu có đủ độ tin cậy để được thực nghiệm và đem dùng theo lối cuốn chiếu.

    Hãy nghĩ lại!

    Hãy để các nhóm và các cá nhân tự do đóng góp để có thêm những người lùn cùng công kênh những người khổng lồ.

    Hãy minh bạch các sản phẩm – mạng internet có sẵn để mọi người lùn cùng bớt lùn.

    Hãy tập sống dân chủ vì dân chủ cũng là cái bất biến trong tư duy người, còn bao trùm lên cả tư duy giáo dục nữa.» (hết dẫn).

    Nếu cảm giác bế tắc không phải là của riêng tôi, thì tôi nghĩ nút mở của nó là cái đã xảy ra với Gíao sư Tương Lai và cựu Đại sứ Nguyễn Trung.

    7/10/2017

    Bùi Quang Vơm

  • Tạp ghi

    Ký ức, thời gian dưới ngòi bút của Kazuo Ishiguro, Nobel Văn Học năm nay

    Thu Hằng 

    RFI   – Phát thứ sáu, ngày 06 tháng 10 năm 2017

    Ký ức, thời gian dưới ngòi bút của Kazuo Ishiguro

    Nhà văn Anh gốc Nhật Kazuo Ishiguro, tân khôi nguyên Nobel Văn Học 2017, trả lời phỏng vấn bên ngoài nhà riêng tại Luân Đôn, ngày 05/10/2017.REUTERS/Toby Melville

    “Bằng những cảm xúc dạt dào, văn chương của ông (Kazuo Ishiguro) đánh thức góc sâu thẳm, huyền bí trong chúng ta về mối liên hệ với thế giới”… “Hãy lấy một chút từ Jane Austen, một chút từ Franz Kafka, thêm một phần của Marcel Proust và bạn có được điều gì đó giống phong cách viết của Kazuo Ishiguro”. Bằng những từ ngữ trên, Viện Hàn Lâm Thụy Điển nhận xét về tân khôi nguyên Nobel Văn Học 2017, nhà văn Anh gốc Nhật Kazuo Ishiguro.

    Theo cha mẹ đến Anh Quốc từ năm 6 tuổi, Kazuo Ishiguro (sinh ngày 08/11/1954 tại Nagasaki) chưa từng nghĩ một ngày sẽ theo nghiệp văn chương. Ông từng mơ biểu diễn ghi-ta trên sân khấu nhạc rock hơn là cầm bút, vì 5 tuổi, cậu bé Kazuo đã biết chơi piano và 14 tuổi, đã chơi thành thạo ghi-ta.

    Suốt thời thanh niên trong những năm 1970, Kazuo Ishiguro không đoái hoài đến văn chương vì “có rất ít nhà văn gây phấn khích, ngoài Kerouac và Beat Generation”, như ông từng thổ lộ với tạp chí L’Express năm 1997 khi giới thiệu với độc giả Pháp cuốn The Unconsoled(tạm dịch : Kẻ không khuây khỏa).

    Cuối cùng, ông chọn con đường văn chương khi bắt đầu “đối chiếu giữa cuộc sống ở Anh với nhiều sự kiện diễn ra trong nước Nhật ngày trước. Năm 23 tuổi, tôi muốn trưởng thành và muốn làm sống lại ký ức của quê hương mình mà tôi có cảm giác đang biến mất”. (L’Express, 1997).

    Tốt nghiệp trường đại học Kent năm 1978 và nhận bằng thạc sĩ khóa sáng tác văn chương của trường đại học East Anglia năm 1980, ông bắt đầu sự nghiệp sáng tác từ năm 1982 với tác phẩm đầu tay A Pale View of Hills (tạm dịch : Những ngọn đồi xa mờ), đoạt giải thưởng Winifred Holtby của Viện Văn Học Hoàng gia Anh, tiếp theo là An Artist of the Floating World(1986). Cả hai tác phẩm gợi lại một nước Nhật thời hậu chiến, chật vật đứng lên từ đống đổ nát, về số phận của các nhân vật bị coi là “phản quốc”.

    Từ đó đến nay, ông viết thêm nhiều cuốn tiểu thuyết khác, với chất lượng khá ổn định : The Remains of the Day (tạm dịch : Tàn dư ngày ấy, 1989, đoạt giải Booker), The Unconsoled (tạm dịch : Kẻ không khuây khỏa, 1995), When We Were Orphans (tạm dịch : Khi chúng ta mồ côi, 2000), Never Let Me Go (Mãi đừng xa tôi, 2005) và The Buried Giant (Người khổng lồ ngủ quên, 2015) và một tập truyện ngắn Nocturnes : Five Stories of Music and Nightfall (Dạ khúc : Năm câu chuyện về âm nhạc và đêm buông, 2009).

    Cuốn tiểu thuyết Never Let Me Go (Mãi đừng xa tôi) được Time Magazine xếp vào danh sách 100 cuốn sách tiếng Anh hay nhất từ năm 1923 đến năm 2005. The Remains of the Day được James Ivory chuyển thể thành phim cùng tên năm 1993 với hai diễn viên chính Anthony Hopkins vào vai quản gia Stevens tận tụy, lịch thiệp chấp nhận chối bỏ và chôn sâu cả tình yêu thầm lặng với cô Kenton (Emma Thompson) dành cho ông. Năm 2010, khát khao tình yêu, hạnh phúc trong thế giới “giả tưởng” của ba nhân vật Kathy, Ruth và Tommy có chung một số phận được định đoạt trong Mãi đừng xa tôi được Mark Romanek đưa lên màn ảnh nhỏ.

    Hai tác phẩm được chuyển thể thành phim này cùng với cuốn The Unconsoled nằm trong danh sách ba tác phẩm cần đọc, theo nhật báo Le Figaro, nhân dịp công bố tân khôi nguyên Nobel Văn Học 2017.

    Bìa ba tác phẩm của nhà văn Kazuo Ishiguro được Nhã Nam xuất bản tại Việt Nam.RFI / Tiếng Việt

    Tác phẩm của Kazuo Ishiguro : 10 năm có mặt tại Việt Nam

    Riêng tại Việt Nam, tiểu thuyết gia Kazuo Ishiguro không phải là một tên tuổi xa lạ. Ba trong số tám tác phẩm của ông đã được Nhà xuất bản Nhã Nam kết hợp với Hội Nhà Văn biên dịch và phát hành : Mãi đừng xa tôi, Dạ khúc : Năm câu chuyện về âm nhạc và đêm buông,Người khổng lồ ngủ quên.

    Trả lời RFI tiếng Việt, anh Nguyễn Xuân Minh, phụ trách bản quyền của Nhã Nam, giải thích thêm về tân khôi nguyên Nobel Văn Học 2017.

    RFI : Nhà xuất bản Nhã Nam dịch và phát hành ba tác phẩm của nhà văn Kazuo Ishiguro từ cách đây vài năm, dĩ nhiên trước khi ông được trao giải Nobel Văn Học 2017. Những điểm nổi bật nào của nhà văn Anh gốc Nhật đã thu hút Nhã Nam ?

    Nguyễn Xuân Minh : Tác phẩm đầu tiên của Kazuo Ishiguro mà Nhã Nam xuất bản là tác phẩm Mãi đừng xa tôi, không phải là vài năm trước mà là 10 năm trước, từ những năm đầu tiên Nhã Nam mới thành lập. Sau đó, đến năm 2015, chúng tôi ra tiếp một tập truyện ngắn của ông tên là Dạ khúc : Năm câu chuyện về âm nhạc và đêm buông. Và gần đây nhất, chúng tôi mới ra tác phẩm, và cũng là tác phẩm mới nhất của ông, Người khổng lồ ngủ quên.

    Tác giả này đã được Nhã Nam khai thác từ những năm đầu tiên. Vì khi đó chúng tôi có quan niệm muốn giới thiệu những tác giả văn chương đương đại, có phong cách đặc biệt, đến với độc giả Việt Nam, bởi vì khi đó, thị trường sách văn học Việt Nam, trong thời điểm 10 năm trước, không được phong phú như bây giờ. Chúng tôi cảm thấy cần có trách nhiệm giới thiệu những tác giả xuất sắc của văn chương thế giới, như Ishiguro, Ian McEwan, Salman Rushdie, Margaret Atwood và Mugakami đến với độc giả Việt Nam.

    Khi đó, cùng với Ian McEwan, Ishiguro là một trong hai tác giả người Anh mà chúng tôi lựa chọn, vì chất văn chương rất đặc trưng của nước Anh. Dù ông là người gốc Nhật, nhưng ảnh hưởng của gốc gác đối với văn chương của ông không nhiều, mà ông viết rất đặc trưng chất Anh. Chính vì thế, chúng tôi đã muốn giới thiệu tác giả này với độc giả Việt Nam từ 10 năm trước.

    RFI : Có nhiều ý kiến cho rằng văn phong của Kazuo Ishiguro mang phong cách cổ điển, đôi khi quá trau chuốt về câu chữ. Liệu điều này có phải là một trở ngại để thu hút nhiều độc giả Việt Nam hơn, khi mà hiện nay nhiều tác phẩm được viết với phong cách nhẹ nhàng đang rất “ăn khách” ?

    Nguyễn Xuân Minh : Về mặt đón nhận, khi chúng tôi xuất bản Mãi đừng xa tôi lần đầu tiên, chúng tôi nhận được nhiều lời khen và nhận xét tích cực từ giới phê bình và độc giả yêu văn chương. Tuy nhiên, cũng như nhiều tác giả văn chương đương đại khác rất nổi tiếng trên thế giới, khi mà xuất bản tại Việt Nam, các tác phẩm này đều khá kén chọn độc giả và không phải có nhiều người biết đến tác phẩm Mãi đừng xa tôi. Một phần cũng do khi đó, công tác truyền thông của Nhã Nam chưa tốt lắm nên chúng tôi lấy làm tiếc là không có nhiều người biết đến tác phẩm này. Đấy cũng là một phần nguyên nhân khiến chúng tôi đã không nghĩ đến xuất bản tiếp các tác phẩm của Ishiguro.

    Đến năm 2013-2014, chúng tôi nhận được một vài tác phẩm mới do người đại diện của tác giả gửi đến, vì Nhã Nam là đơn vị đầu tiên xuất bản Ishiguro tại Việt Nam, nên khi có tác phẩm mới, họ gửi đến. Chúng tôi đọc thử và cảm thấy là văn phong và câu chuyện của ông đều rất tuyệt vời và chúng tôi nghĩ là không thể không tiếp tục xuất bản, nên chúng tôi tiếp tục mua bản quyền thêm ba cuốn của Ishiguro : Dạ Khúc, Người khổng lồ ngủ quên và cuốn nổi tiếng nhất của ông là cuốn được giải Booker là The Remains of Day, tạm dịch là Tàn dư ngày ấy. Cuốn này là cuốn đạt giải cao nhất của ông và khá dầy và tương đối khó dịch nên chúng tôi hy vọng có thể xuất bản được vào năm 2018.

    RFI :Độc giả Việt Nam đón nhận các tác phẩm của nhà văn Anh gốc Nhật này như thế nào ?

    Nguyễn Xuân Minh : Trước khi ông được giải Nobel, cũng có một bộ phận độc giả yêu văn chương nước ngoài, yêu văn chương Anh rất thích tác phẩm này (Xin đừng xa tôi) và cũng có nhiều người đã gửi thư và gửi tin nhắn cho chúng tôi, yêu cầu chúng tôi xuất bản thêm các tác phẩm của ông. Tuy nhiên, như tôi đã nói ở trước là văn chương của ông khá kén độc giả. Con số bán hàng ở Việt Nam cho thấy chưa phải là có nhiều người thực sự đọc và yêu thích Ishiguro.

    Thực ra, mỗi khi có một cuốn sách quan trọng được xuất bản, chúng tôi đều cố gắng tổ chức chương trình tọa đàm, những buổi ra mắt để giới thiệu sách đến với độc giả. Ví dụ khi cuốn Mãi đừng xa tôi được xuất bản lần đầu, chúng tôi cũng có một buổi tọa đàm, giới thiệu tác phẩm này ở Hội Đồng Anh (Hà Nội). Có khá đông đảo phóng viên và bạn đọc đến tham dự buổi ra mắt này. Buổi đó khá là lớn.

    Sau khi ông được giải Nobel, tất nhiên chúng tôi hy vọng rằng cuốn sách này sẽ được nhiều độc giả biết đến hơn và được đọc rộng rãi ở Việt Nam.

    ***

    Kazuo Ishiguro (dịch giả Trần Tiễn Cao Đăng), Mãi đừng xa tôi, NXB Văn Học, Nhã Nam, 2013, 434 trang.

    Kazuo Ishiguro (dịch giả An Lý), Dạ khúc : Năm câu chuyện về âm nhạc và đêm buông, NXB Nhã Nam, 2013, 294 trang.

    Kazuo Ishiguro (dịch giả Lan Young), Người khổng lồ ngủ quên, NXB Văn học, Nhã Nam, 2017, 460 trang.

    *********

    Nguồn:

    http://vi.rfi.fr/viet-nam/20171006-nobel-van-hoc-2017-ky-uc-thoi-gian-duoi-ngoi-but-cua-kazuo-ishiguro

    Cuốn The Remains of the Day có thể mua trên Amazon, paperback,  với giá $9.60:

    https://www.amazon.com/Remains-Day-Kazuo-Ishiguro/dp/0679731725/ref=sr_1_1?s=books&ie=UTF8&qid=1507403861&sr=1-1&keywords=Kazuo+Ishiguro%29

  • Tạp ghi

    Không ai ngăn nổi lời ca

    Sông Lô Lê Nam Sơn

    Chúng tôi 4 người gồm: Thụy Uyển, Lữ Du, Đặng Lâm và tôi được “Hội văn hóa nghệ thuật” người Việt ở thành phố Chemnitz mời đến tham dự buổi sinh hoạt văn hóa giao lưu với chủ đề “Chiều Thơ Tình Thu” được tổ chức vào ngày 15.10.2017 tại thành phố này.

    Chemnitz là một thành phố thuộc Đông Đức cũ đã từng bị đổi tên, như Sài Gòn của VN bị đổi tên thành Hồ Chí Minh, thành phố Chemnitz bị đổi tên thành Karl Marx kể từ 1953 khi chế độ CS đông Đức nắm chính quyền, mãi cho đến 1990 sau khi nước Đức thống nhất, nhà nước Cộng Hòa Liên Bang Đức mới lấy lại tên đích thực của nó. Đây là một thành phố có khoảng 250.000 cư dân và là thành phố lớn thứ ba của tiểu bang Sachsen thuộc Cộng hòa Liên bang Đức, sau thành phố Leipzig và thành phố Dresden. Có khoảng trên 1000 người Việt sinh sống tại đây.

    Nhân đây tôi cũng xin nói thêm để những ai chưa sống ở nước Đức có thể biết về cuộc sống và sinh hoạt của người Việt tại Đức là như thế nào. Có 3 dạng người VN khác nhau sinh sống ở Đức: Dạng thứ nhất là những thuyền nhân, ra đi bằng con đường vượt biên sau năm 1975. Dạng người này cho đến nay có khoảng 40 ngàn người, hầu hết định cư ở Tây Đức cũ và Berlin , nhìn chung họ có đời sống ổn định và con cái của họ đa số học hành giỏi, tương đối thành đạt do được sinh ra và lớn lên ở Đức. Thế hệ thứ hai này được người Đức đánh giá là một điển hình tốt cho sự hội nhập với xã hội, văn hoá Đức hơn cả những cộng đồng ngoại quốc khác sống ở nước này.

    Dạng thứ hai là những người từ phía Bắc và Trung Việt Nam đi lao động tại Đông Đức từ thời Đông Đức còn là một nước xã hội chủ nghĩa. Cho đến nay những người thuộc dạng thứ hai này cũng đã có giấy tờ và có cuộc sống ổn định, nhìn chung, hầu hết họ là những người buôn bán nhỏ, sống loanh quanh trong cộng đồng với nhau, cần cù, chăm chỉ kiếm tiền và cũng như dạng người thứ nhất, họ dồn tất cả tiền bạc vào việc đầu tư cho tương lai của con cái.

    Dạng thứ ba là những người qua Đức từ sau năm 1990, họ ra đi bằng đủ mọi con đường khác nhau nhưng đa số cho đến nay vẫn chưa có giấy tờ hợp pháp. Số người này cũng đã lên đến khoảng 40 ngàn người. Vì không có giấy tờ, không được phép đi làm chính thức nên cuộc sống nhiểu bất ổn, có một số bị trục xuất về nước.

    Số người Việt sinh sống bên phía đông hầu hết còn bị lệ thuộc và chi phối bởi Sứ Quán CSVN tại Đức, họ đã thành lập những hội đoàn như hội Đồng Hương, hội Doanh nghiệp, hội Cựu chiến binh, hội phụ nữ v.v.. theo chỉ thị của Sứ Quán. Nói chung, họ là những người còn “tình nghĩa” với cái gọi là nhà nước CHXHCNVN, nên chi khi khách du lịch VN, nhất là khách du lịch VN đến từ Hoa Kỳ cũng đừng ngạc nhiên khi vào một nhà hàng VN của họ mà thấy có treo cờ đỏ sao vàng và hình ông Hồ một cách trân trọng cũng như cho thực khách nghe những nhạc đỏ.

    Chúng tôi đến với “Hội văn hóa nghệ thuật” để tham dự buổi sinh hoạt văn hóa giao lưu chủ đề “Chiều Thơ Tình Thu” trong hoàn cảnh không mấy thuận cho lắm, nên chi trước khi đồng ý tham dự, chúng tôi có đề nghị ban tổ chức là không treo cờ, không có mặt sứ quán hay đại diện của sứ quán cũng như phô trương những hình ảnh tuyên truyền ca tụng chế độ tại hội trường và không ngờ những đề nghị của chúng tôi được BTC đồng ý.

    Với chủ trương dùng văn hóa văn nghệ để giao lưu, không áp đặt, nhưng mang tính chính nghĩa và thuyết phục là một hình thức đấu tranh trong nhiều cách đấu tranh với những mong muốn sao cho đất nước VN thân yêu của chúng ta thoát khỏi chế độ độc tài CS, sớm có được tự do dân chủ và quyền con người được tôn trọng mà trước sau chúng tôi vẫn luôn tâm niệm như vậy. Thế là ngoài những sáng tác, những giọng ngâm cùng tiếng hát mà 4 anh em chúng tôi lần lượt trình bày cho mỗi tiết mục, đến một tiết mục kế tiếp của mình với giọng ca có sức lôi cuốn lạ thường, Thụy Uyển đã hát vang lên với niềm tin mãnh liệt vào sự thật vào chính nghĩa và cô đã chinh phục được hầu hết khán giả qua một nhạc phẩm đấu tranh mang tình tự quê hương dân tộc “Gánh Cả Quê Hương“ của nhạc sĩ Chiêu Khiêm, bài hát chấm dứt với tràn vỗ tay như không dứt và kể tứ lúc ấy Thụy Uyển đã trở nên nhân vật đầy thiện cảm và gần gũi với hầu hết mọi người. Cảm ơn Thụy Uyển rất nhiều, mong Thụy Uyển luôn chân cứng đá mềm trên bước đường đấu tranh phía trước.

     

  • Tạp ghi

    Biểu tượng của Apple ?

    Tại sao biểu tượng của Apple là quả táo bị cắn dở một miếng?

    Logo của hãng Apple là quả táo có một vết cắn dở, những người thực sự hiểu được hàm ý bên trong nó là rất ít! Tại sao biểu tượng của Apple là quả táo bị cắn dở một miếng, đến ngày hôm nay, tình cờ đọc thấy, mới hiểu, vết cắn trên quả táo, lại ẩn chứ một sự thực đáng buồn, rất đáng buồn!
    http://www.vnhot.net/uploads/76/d/128/14657870147643.jpg
    Logo Apple xuất phát từ một câu chuyện trong chiến tranh thế giới II. Đó là một khởi đầu vĩ đaị: Các nước đồng minh phát ra một mã ULTRA hành động tuyệt mật, hao tổn tâm sức, đã dò ra mã tối cơ mật của máy mật mã Đức, bởi một thanh niên trẻ trường Đại học Cambridge đã sáng chế ra chiếc máy tính đầu tiên của thế giới, hơn nữa còn làm vỡ mật mã bí mật mà Đức luôn cho rằng bất khả xâm phạm, hoàn toàn làm chủ được các lực lượng tàu ngầm bí mật của Đức, và cuối cùng là tiêu diệt lực lượng hải quân Đức, thất bại đầu tiên của Đức, đã góp phần tạo ra tính quyết định。
    http://www.vnhot.net/uploads/76/d/128/14657870146353.jpg
    Turing
    Sau chiến tranh, Turing trở lại Cambridge, sống một cuộc sống đồng tính bí mật, khi đó đồng tính luyến ái được coi là một trọng tội ở Vương quốc Anh. Năm 1952, ông đã có quan hệ tình dục với một người đàn ông 19 tuổi tên Post và đã bị bắt. Chính phủ Anh đã cho ông hai lựa chọn —- hoặc là ở tù hoặc là chấp nhận liệu pháp thí nghiệm hormon y học, để tiêu diệt ‘những kết tinh đồng tính’. Ông đã chọn liệu pháp hormon, nhưng việc điều trị khiến ông đau đớn, hơn nữa vú tiếp tục sưng lên。
    Ngày 08 Tháng Sáu năm 1954, Turing 42 tuổi, là giai đoạn huy hoàng của sáng tạo đỉnh cao. Vào một buổi sáng, khi nữ quản gia đi vào phòng ngủ của ông phát hiện chiếc đèn bàn vẫn sáng, có một quả táo với một vết cắn dở trên đầu giường, Turing ngủ trên giường, tất cả mọi thứ đều rất đỗi bình thường. Nhưng lần này, Turing đã mãi ngủ thiết đi và không thức dậy nữa…..
    Sau khi giải phẫu học, pháp y kết luận rằng cái chết là do nhiễm độc tính quá cao từ xyanua, rằng quả táo đã được ngâm trong dung dịch xyanua. Nhưng thế giới bên ngoài đồn đải rằng, cái chết là một sự tự sát khi Turing không còn chịu đựng được nổi đau đớn và nhục nhã khi ở trong phòng thí nghiệm một mình, nên đã tự bố trí cái chết cho mình bằng cách tiêm chất độc vào quả táo rồi cắn một miếng. Nổi đau chỉ vọn vẹn một vài phút, là ông đã qua đời. Chỉ có bốn người tham dự đám tang của ông, mẹ ông là một trong số họ, một thế hệ thiên tài, và cứ như thế kết thúc một cuộc đời. Ông qua đời khoảng 4 năm sau đó, Anh quốc đã bãi bỏ pháp lệnh định tội đồng tính luyến ái。
    Turing xứng đáng là cái tên luôn được lịch sử nhớ đến, không phải nhờ vào hành động giải mã ULTRA của ông mà quan trọng bởi vì ông là người tiên phòng cho công nghệ máy tính đóng góp xuất sắc để mở ra một thời đại thông tin. Khoảng 20 năm sau khi ông qua đời, Steve Jobs fan của Turing đã đặt cho công ty cái tên là Apple, và dùng biểu tượng trái táo bị cắn dở một miếng làm lô gô
  • Tạp ghi

    Chuyên Một Linh Mục

    CHUYỆN MÔT LINH MỤC

    “Bọn trẻ đã tập họp lại với nhau và bắt đầu khoe những thứ mà chúng đã lượm được. Ngoài những cái bọc nylông thông thường, có đứa khoe lượm được cái chân gà, hay một món đồ ăn được gói kỹ. Bỗng dưng có con bé khoảng 10 tuổi la to:
    – Hôm nay nhà tao không phải đói rồi.!” Sống ở xã hội VNCS làm sao mà đành tâm với cảnh này !!!!!!!!!!!
    Mời đọc câu chuyện có thực của một linh mục hóa thân vào thế giới trẻ em nghèo khổ. DgN

    luom-racluom-rac-1

    Chuyện Một Linh Mục.

    Đây là câu chuyện linh mục gỉa vờ đi bán vé số, ăn xin và lượm rác với các em nhỏ để biết thân phận của các em như thế nào và tìm cách cải thiện đời sống của các em

    Linh mục kể:

    – Tôi bừng tỉnh và như quên đi cái hôi thối, tôi lao vào trong đống rác như bao đứa trẻ khác. Khoảng hơn hai tiếng, chúng tôi đã “quần nát” cái đống rác. Tôi lượm cũng gần đầy cái bao bố. Thế là tôi đã lẽo đẽo theo các em để bán vé số và ăn xin trên các đường phố Sài Gòn được hai ngày! Không biết bao nhiêu lần giở khóc giở cười. Có lẽ giờ này nếu bạn bè hay gia đình có gặp tôi thì họ cũng không thể nào nhận ra được. Tôi đã biến thành một người nghèo nàn, đen đủi, đơ dáy và hôi hám như những mảnh đời bất hạnh lê lết hết từ quán ăn này đến quán ăn khác. Để được theo các em đi ăn xin và bán vé số không phải là dễ. Tôi đã phải lân la làm quen và giúp các em rất nhiều, tôi đã lấy được niềm tin của các em và gia đình các em. Tôi đã ăn và ở chung với họ. Tôi đã cho họ thấy được tôi thực sự muốn sống cảnh màn trời chiếu đất với họ để có thể hiểu và cảm thông nỗi khổ của họ! Tối hôm nay là tối cuối cùng tôi theo các em, như dự tính ban đầu, hôm nay tôi sẽ không ngủ trong các ngôi nhà bằng giấy, trong thế giới của kẻ chết, mà tôi đã chia sẻ ở trên (Bài “Tôi Đến Thăm Em”) nhưng tôi sẽ theo một nhóm trẻ mồ côi lang thang về ngủ ở khách sạn “ngàn sao” toạ lạc dưới chân cầu Chữ Y bên Khánh Hội. Chiều hôm đó tôi đã được phép theo nhóm trẻ mồ côi lang thang. Dẫu tôi cũng đã biết các em từ trước qua hai ngày đi bán vé số và ăn xin, tuy nhiên trước khi tôi đi cụ trưởng làng dặn tôi: – Cháu cẩn thận nhé, tụi nó không có hiền giống như tụi nhỏ bên này đâu! Khoảng 3 giờ chiều, tôi hoà nhập với các em tại công viên bên cạnh Nhà Thờ Đức Bà. Tôi nhập ngay vào với bọn nó một cách dễ dàng. Bọn trẻ đang bàn kế hoạch cho tối hôm nay, chúng quyết định sẽ không đi ăn xin nữa mà sẽ đi lượm ống lon, và ve chai tại đống rác bên quận 4. Nghe chúng nói đến đó tôi đã rùng mình run sợ, tôi thật sự sợ cái mùi hôi thối bốc lên từ rác, nhất là tim tôi thì yếu, không biết có thể sống nổi không. Tôi ngước lên nhìn tượng Mẹ trước nhà thờ đọc một kinh Kính Mừng xin mẹ cầu bầu cùng Chúa cho con.. Trong bóng đêm, cảnh đống rác thật hãi hùng, cao như dãy núi. Tiếng người cười nói, tiếng cãi nhau, tiếng chửi rủa hoà lẫn vào nhau, cả hàng trăm người cứ như là những bóng ma di động. Mùi hôi thối nồng nặc, tôi rùng mình run sợ. Lại đọc thêm một kinh Kính Mừng. Thấy tôi tỏ vẻ ngần ngại, con bé đứng cạnh tôi thét lên: – Nhảy vô đi cha nội, đứng đó là đói, lấy gì ăn.! Tôi bừng tỉnh và như quên đi cái hôi thối, tôi lao vào trong đống rác như bao đứa trẻ khác. Khoảng hơn hai tiếng, chúng tôi đã “quần nát” cái đống rác. Tôi lượm cũng gần đầy cái bao bố. Bọn trẻ đã tập họp lại với nhau và bắt đầu khoe những thứ mà chúng đã lượm được. Ngoài những cái bọc nylông thông thường, có đứa khoe lượm được cái chân gà, hay một món đồ ăn được gói kỹ. Bỗng dưng có con bé khoảng 10 tuổi la to: – Hôm nay nhà tao không phải đói rồi.! Nói xong nó lôi trong cái bao của nó ra một cái đầu chó! Tôi đứng đó mà nước mắt tuôn trào, cứ như là trong mơ. Đến phiên tôi, tôi không kể gì mà chỉ đưa cho thằng bé “trưởng nhóm” cái bao bố và nói là cho hết tụi nó. Em vẫn cười tươi bên… rác Chắc cũng khoảng nửa đêm, khi chúng tôi trở lại chân cầu chữ Y bên Khánh Hội. Các em chắc mệt mỏi, lăn ra ngủ ngay. Riêng tôi không biết vì quá mệt mỏi hay là quá xúc động không tài nào ngủ được. Tôi cứ nằm nhìn trăng chiếu xuyên qua các khe hở của thành cầu. Trăng đêm nay sáng quá, nhưng đời các em thì thật tối! Đêm nay là đêm đầu tiên trong đời tôi hiểu được ý nghĩa của “màn trời chiếu đất”. Tôi trằn trọc, nước mắt cũng không còn để mà rơi. Tôi muốn thét lên, thét lên thật to, nhưng lại dằn lòng đau xót. Sáng hôm sau, tôi thật sự mỏi mệt và kiệt sức. Tôi đứng dậy, lê từng bước nặng nhọc ra khỏi gầm cầu, đón taxi để quay về Khách Sạn, nhưng không một chiếc nào ngừng. Nỗi mệt mỏi và đau nhức trong thể xác tôi, không tài nào so sánh với nỗi đau tinh thần, nước mắt tôi cứ tuôn trào. Nếu như mọi khi, tôi ăn mặc lịch sự thì Taxi đã nối dài thành hàng để chào mời tôi rồi, nhưng hôm nay tôi tiều tụy và nghèo nàn. Cũng chẳng trách gì được những anh lái Taxi, vì họ cũng làm thuê cả mà. Cuối cùng tôi cũng đã thuyết phục được một cụ già chạy Honda ôm chở tôi về. Honda dừng trước cửa khách sạn, tôi vừa bước xuống đã bị anh bảo vệ xua đuổi, nhưng khi nhận ra tôi là khách quen, anh ta cười bẽn lẽn và xin lỗi. Cụ già đứng ngoài chờ tôi vào Khách Sạn lấy tiền. Tôi đến bàn tiếp tân, xin chìa khoá phòng 205. Cô tiếp tân mọi ngày niềm nở với tôi lắm, bỗng dưng hôm nay cáu gắt lạ thường, cô nói và liếc nhìn tôi thật khó chịu: – Ông tìm ai! Chủ nhân phòng 205 đi ra ngoài rồi!! Tôi giở chiếc mũ lụp xụp ra, mùi hôi bốc lên, và mỉm cười nói với cô bé: – Thưa cô, tôi là chủ nhân của căn phòng 205 đây!! Cô nhìn tôi, tí nữa thì té lăn ra khỏi ghế, cô đứng bật giậy và hỏi tôi: – Anh Thông, anh có sao không? Bị cướp giật à?! Tôi nói cho cô biết tôi không sao, chỉ mệt mỏi và muốn lên phòng nghỉ. Cô cầm chìa khoá phòng và còn dẫn tôi lên đến tận cửa… Tôi nhờ cô lấy 50 ngàn trả cho cụ già chạy xe ôm. Tôi lao vào phòng cởi quần áo và lăn ra ngủ! Một giấc ngủ bình yên và hạnh phúc! Lạy Chúa, không có khoảng cách nào lớn hơn giữa lòng người với người, giữa các con tim của nhân loại. Cái hố sâu ngăn cách giữa giàu sang và nghèo đói đã làm cho lòng người chai đá, làm cho con tim họ dửng dưng trước những đau khổ và bất hạnh của người khác. Xin Chúa hãy thay thế quả tim bằng đá khô cằn của chúng con bằng quả tim bằng da bằng thịt, trái tim với những vòng chảy không ngừng của những giọt máu yêu thương. Xin cho chúng con biết chia sẻ với anh em những ân huệ chúng con lãnh nhận từ Chúa, Amen. LM Martino Nguyễn Bá Thông –

  • Tạp ghi

    Tiếng Việt Hiện Đại 1

    Tiếng Việt Hiện Đại 1: Tình Yêu Phai Nhạt

    Tôi nhìn đồng hồ hai cửa sổ không người lái trên tay, bây giờ đã 6 giờ sáng. Bật kênh phát sóng số 3 nghe bản thông tin, TV tiên đoán hôm nay có khả năng mưa. Tình hình Ai-Cập đã bớt căng vì công an, quân đội, kể cả lính gái và lính thủy đánh bộ kiểm soát đường phố khắp nơi.   Một tướng lãnh đọc bài nói loan báo an ninh đã được bảo quản, tình trạng đất nước tốt, báo cáo tốt, các quan chức nhà nước sẵn sàng làm việc nghiêm túc trở lại để phục hồi đất nước. Vẫn còn quá sớm để thức dậy, nhất là hôm nay Thứ Bẩy  tôi không phải động não đi quảng trường quy hoạch quy trình cho nhân viên được quán triệt phương án, thế nhưng tôi vẫn ráng động viên cơ thể đứng dậy,  bước ra khỏi giường.
              Xuống dưới nhà, tôi vào bếp bắc nồi vừa chiên con sâu mỡ, vừa pha cà phê cái nồi ngồi trên cái cốc cùng một lúc cho tranh thủ  thì giờ. Pha xong, tôi vất xác cà phê ngay vào thùng rác, không dám đổ xuống bồn rửa bát sợ gây ra sự cố, ống nước bị ùn tắc. Mang ly cà phê nóng ra sau vườn nhâm nhi trong khi đọc báo, ngắm cây xanh tốt vì đất được phân bón cải cách, hoặc viết lách vào sáng sớm cuối tuần là cái thú thư giãn của tôi. Căn hộ tôi không được hoành tráng mấy thế nhưng nó xa phi khẩu, đảm bảo yên lặng cho chất xám của tôi được tăng trưởng kiệt suất khi tôi muốn viết lách. Nhà tôi ở núi non xa cách thành thị như thế này thì chắc chắn nhà nước chẳng bao giờ giải phóng mặt bằng để xây đường cao tốc.
              Ngày xưa mới lấy nhau thì không sáng nào hai vợ chồng không dậy sớm ngồi thủ thỉ với nhau. Bây giờ sau 27 năm lấy nhau thì căn hộ vắng vẻ, sáng nào tôi cũng ngồi một mình, còn nàng thì vẫn tiếp tục đánh giấc cho đến 8, 9 giờ mới dậy. Sinh hoạt hai vợ chồng vì thế cách ly hẳn.
              Tôi còn nhớ rất rõ tình cảm mật thiết nàng dành cho tôi khi lần đầu tiên chúng tôi mới gặp nhau. Ở cuộc gặp lần thứ hai, nàng đã nhờ chị của nàng ở bên Mĩ (cùng đi nhà thờ với tôi) làm rõ gia cảnh tôi, biết rằng tôi chưa có đối tượng. Vì thế, dù rằng chỉ mới là bạn sơ hữu, nàng nói là nàng muốn liên hệ tình cảm với tôi. Mừng như bắt được vàng, tôi bảo nàng cởi áo ra (lúc ấy đã là buổi đêm). Vừa nghe xong nàng tát cho tôi một bạt tai nháng lửa. Tôi ngạc nhiên quá đỗi nhưng chỉ cần  vài giây suy nghĩ  là tôi đoán ngay lý do tại sao nàng tát tôi: nàng kẹt ở lại Việt Nam tháng 4-1975, chỉ sang Paris năm 1980 nên dùng chữ “liên hệ tình cảm”, có nghĩa là “muốn làm quen với anh”. Tôi thì đi ngày 30-4-1975  nên đâu có bao giờ nghe chữ ấy, chỉ biết chữ “liên hệ tình dục” nên khi nàng nói liên hệ tình cảm, tôi nhanh nhẩu đoảng nghĩ ngay là nàng muốn liên hệ tình dục do đó mới bảo nàng cởi áo ra! Vì vậy mà tôi ăn tát! Đối với các cô khác thì đã  point final tình bạn, không thể nào cho nó triển khai thêm, thế nhưng nàng là người dễ dãi, và nhất là dễ gì tìm được một con trai chảnh như tôi nên sau khi nghe giải thích sự tình, nàng bỏ tất cả bức xức, tha thứ cho tôi.
              Hai chúng tôi giao lưu thư từ và trao đổi điện thoại thường xuyên. Nàng là dân trường Tây, lại ở Paris nên viết thư dùng những từ tiếng Pháp làm nhiều lúc tôi phải tìm tự điển hay tư liệu để tra cứu. Mắt tôi kém, lúc nào cũng cần phải đeo kính để hiển thị thơ nàng. Tuy rằng ởParis, nàng nỗ lực bố trí có cơ hội là sang Mỹ thăm tôi. Khi còn bé tôi ước mơ lớn lên sẽ làm nghệ nhân hay chủ nhiệm, thế nhưng lúc quen nàng thì đời sống tôi thất bại. Tôi không thuộc loại người có đỉnh cao trí tuệ  mà chỉ là một người thợ quèn. Ấy thế mà nàng không sốc khi biết nghề nghiệp thật sự của tôi, còn yêu và xem tôi như tôi là một siêu sao! Xa nhau cả đại dương, tôi năng nổ viết thư cho nàng. Nhận đượcthư tôi nàng phản hồi ngay lập tức. Vài tháng sau, trong một lá thư, tôi đề xuất chúng tôi nên lấy nhau. Câu đáp án của nàng là bằng lòng. Còn sáu tháng nữa mới học xong đại học ở Paris mà nàng bỏ ngang không học nốt làm cho tôi ngạc nhiên khôn xiết khi một tuần sau tôi nhận điện thoại đột xuất của nàng báo hiện đang ở Sân bay Los Angeles! Ra đón nàng ở Sân bay, gần Trung Tâm Quản Lý Bay Dân Dụng, tôi không khỏi trào nước mắt khi thấy nàng đứng một mình với một chiếc valise to tổ bố. Nàng ôm chầm lấy tôi và nói:
              -Em ra trễ vì phải trình giấy tờ ở Hải Quan. Em đi máy bay yên lắm vì tổ lái tốt. Em đăng ký mua vé máy bay hôm kia, bảo cô bán vé khẩn trương tìm vé cho em.  Gia tài em còn lại chỉ có cái hộ chiếu trong tay và cái valise này. Em bỏ học, bỏ việc làm bán phần với thu nhập chẳng là bao nhiêu, bỏ doanh nghiệp xuất khẩu em làm cho người quen, bỏ cả chứng minh nhân dân Tây bên Pháp, bỏ hết tất cả để sang Mĩ thi công sống với anh. Em có mang học bạ bên Pháp sang để chuyển ngữ, em sẽ đi học tiếp bên Mĩ nên anh đừng lo em bỏ học.
              Ngừng một lúc, nàng tiếp:
              -Em muốn anh quản lý đời em. Thế anh có tiếp thu em không?
              Quá cảm động với tình yêu nàng dành cho tôi, dù rằng tôi là người vạm vỡ, ngày xưa là vận động viên của Viện Ung Bứu, vận động viên bóng đá, từng dùng dây thừng kéo những xe đò quá tải, tôi khóc òa và ôm chầm lấy người bạn gái thân thương, hứa rằng sẽ trọn đời yêu và nuôi nấng nàng. Nếu nghề chính của tôi không đủ nuôi hai đứa, tôi sẽ tìm nghiệp dư, tìm đủ mọi cách kiếm sống, quyết không bao giờ để nàng đói. Khi độc thân tôi có một con chó và một chiếc xe gắn máy, mua với một giá bèo. Từ ngày lấy vợ, tôi bán chiếc xe gắn máy để khỏi phải đội mũ bảo hiểm. Tôi giải phóng luôn con chó để có thì giờ tiêu khiển với nàng.
              Những năm tháng đầu và cho cả đến thời gian gần đây, đời sống vợ chồng tôi thật hạnh phúc. Hai chúng tôi lúc nào cũng có ý tưởng nhất quán, không bao giờ gây gỗ nhau.  Nàng mê tôi còn hơn Alain Delon, chiêu đãi tôi ngày này qua ngày khác. Thế nhưng từ ngày nàng bắt đầu xem phim bộ hay Paris By Night, nàng bắt đầu sao lãng, bỏ bê tôi, không thèm đi tham quan với tôi mà chỉ liên hệ với những cô khác cùng sở thích. Đã thế, nàng còn chỉ đạo tôi làm việc nhà nữa chứ!
              Một lần tôi mổ răng về nhà nằm liệt giường có sự cố, cần cứu hộ. Nàng hỏi tôi có muốn ăn cháo thì để nàng nấu. Tính tôi không thích người khác mệt nhọc vì mình, không muốn vợ phải vất vả vì tôi nên tôi mới bảo nàng là không cần nấu, tôi ăn mì gói là món ăn chủ đạocũng được rồi vì mì gói cũng đủ chất lượng. Tôi ăn mì gói một ngày, hai ngày, ba ngày thì không sao, nhưng đến ngày thứ tư, thứ năm thì ngán đến tận cổ, muốn tranh thủ ăn lắm nhưng nuốt không trôi, thế mà nàng vẫn không nấu gì cho tôi ăn. Qua đến ngày thứ sáu, tôi mới hỏi nàng sao không thấy nấu cháo gà, cháo thịt cho tôi ăn thì nàng lý giải chính tôi là người nói  với nàng  không cần nấu nên nàng để dành thì giờ rảnh rỗi xem hát đôi, hát tốp của những ca sỹ trên sân khấu đại trà tiên tiến của Paris By Night! Cứ theo chế độ dinh dưỡng nàng dành cho tôi như thế này, thay vì thổi cơm tốc độ cho tôi ăn thì không nấu niếng gì hết cho tôi đói,  chẳng mấy chốc tôi sẽ là hành khách trong bài “Con đò đưa xác”.
              Hơn 27 năm sống với nhau, sau khi đã tốn bao nhiêu công sức nâng cấp một người ở chợ Bàn Cờ  như tôi (nhà tôi gần Hội Chữ Thập Đỏ), vợ tôi không còn mê tôi nữa. Tôi đã tư duy định leo lên máy bay lên thẳng rồi khi ở trên không, nhẩy ra ngoài máy bay tự tử để cho vợ tôi thấy hệ quả khi nàng không còn yêu tôi. Thế nhưng một ông bạn già Phó Tiến Sĩ của tôi 70 tuổi, đã về hưu, tuần vừa rồi cảnh báo tôi không nên phí đời giai như vậy. Ông ta muốn dẫn tôi  đến nơi này đàn ông có giá trị hơn vàng vì số đàn bà gấp ba lần đàn ông. Tôi đến thì ông ta đảm bảo bao nhiêu bà sẽ hồ hởi tranh giành chém giết nhau để dành lấy tôi. Ông ta làm việc ở ba nơi. Chỗ nào họ cũng  trả tiền ông ta đến nhẩy đầm với mấy bà vì nơi nào đàn ông cũng đều khan hiếm trầm trọng, không đủ người để nhẩy.  Khi đến nơi làm việc, lúc nào ông ta cũng không có thì giờ nghỉ ngơi vì hết bà này đến bà khác dành giật nhẩy với ông ta. Đã thế, họ còn cho ông thêm tiền bồi dưỡng! Tôi không cần nhẩy giỏi, chỉ biết cơ bản là đủ. Nếu tôi nhận lời đi theo ông ta thì tôi nhất định sẽ không còn buồn vì vợ bỏ bê tôi. Ngược lại tôi sẽ hưng phấn  vì các em gái này sẽ thống nhất tranh nhau o bế tôi, không rời tôi nửa bước, không cho tôi về nhà sớm. Ngoài ra, ở đó họ còn dùng máy điện tính, máy quét, thỉnh thoảng hư cần người sửa. Tôi sửa được mọi sự, đến đó vừa nhẩy đầm vừa sửa phần cứng, phần mềm cho họ thì họ lại càng yêu mến, đời sống tôi sẽ được hoàn toàn thoải mái vô tư.
              Tôi chưa biết xử lí ra sao vì hôm qua ông ta mới nói cho tôi biết nơi ông ta làm: Viện Dưỡng Lão Cao Cấp Thành phố với tuổi trung bình của hội viên là 73 tuổi.
    Nguyễn Tài Ngọc
    March 2011
    TaiNgoc
  • Tạp ghi

    Cà phê Sài Gòn xưa

    Cà phê Sài Gòn xưa

       Bạn đã uống cà phê nhiều, bạn biết muốn pha một ly cà phê tuyệt vời đâu có khó. Cà phê loãng nước nhưng đậm mùi thơm, cà phê mít đặc quánh mà vô vị, hãy chọn một tỷ lệ pha trộn thích hợp là đã đi được 70% đoạn đường rồi; muốn kẹo thêm nữa hả? Muốn hưởng cái cảm giác chát chát, tê tê đầu lưỡi phải không? Dễ mà, thêm vào chút xác cau khô là xong ngay. Bạn muốn có vị rhum, thì rhum; bạn thích cái béo béo, thơm thơm của bơ, cứ bỏ chút bretain vào. Bạn hỏi tôi nước mắm nhĩ để làm gì à? Chà, khó quá đi, nói làm sao cho chính xác đây! Thì để cho nó đậm đà. Đậm làm sao? Giống như uống coca thì phải có thêm chút muối cho mặn mà đầu lưỡi ấy mà. Uống chanh đường pha thêm chút rhum cho nó ra dáng tay chơi. Như kẻ hảo ngọt nhưng vẫn cắn răng uống cà phê đen không đường cho lập dị. Thèm đá muốn chết nhưng cứ chốn bạn nhậu thì nằng nặc đòi uống chay không đá cho giống khác người, cho đẳng cấp. Tôi không biết, không tả được, mời bạn hãy thử và tự cảm nhận lấy. Bạn đòi phải có tách sứ, thìa bạc; bạn nói phải nghe nhạc tiền chiến, phải hút Capstan (dộng vài phát hết gần nửa điếu và rít đỏ đầu), Ruby hay Basto xanh mới đã đời, thú vị phải không? Bạn đã có đủ những gì bạn cần, sao lại cứ thích đi uống cà phê tiệm? Tôi không trách bạn đâu. Cà phê ngon chỉ mới được một nửa, nhưng chúng ta đâu chỉ cần uống cà phê, chúng ta còn ghiền “uống” con người tại quán cà phê; “uống” không khí và cảnh sắc cà phê; “uống” câu chuyện quanh bàn cà phê và nhiều thứ nữa. Vậy thì mời bạn cùng tôi trở lại không khí cà phê Sài Gòn những năm cuối 1960 và đầu 1970. 

     

    http://www.baoanhdatmui.vn/vcms/media/photos/2010/3/22.3/P52-55-V2-1.jpg 

     

       Sài Gòn những năm giữa thập niên 1960 đến đầu thập niên 1970 tuổi trẻ lớn lên và tự già đi trong chiến tranh. Những “lưu bút ngày xanh” đành gấp lại; những mơ mộng hoa bướm tự nó thành lỗi nhịp, vô duyên. Tiếng cười dường như ít đi, kém trong trẻo hồn nhiên; khuôn mặt, dáng vẻ tư lự, trầm lắng hơn và đầu óc không thể vô tư nhởn nhơ được nữa. Những điếu thuốc đầu tiên trong đời được đốt lên; những ly cà phê đắng được nhấp vào và quán cà phê trở thành nơi chốn hẹn hò để dàn trải tâm tư, để trầm lắng suy gẫm. Có một chút bức thiết, thật lòng; có một chút làm dáng, thời thượng. Đối với một thanh niên tỉnh lẻ mới mẻ và bỡ ngỡ, Sài Gòn lớn lắm, phồn vinh và náo nhiệt lắm. Phan Thanh Giản đi xuống, Phan Đình Phùng đi lên; hai con đường một chiều và ngược nhau như cái xương sống xuyên dọc trung tâm thành phố giúp định hướng, tạo dễ dàng cho việc di chuyển. Cứ như thế, cái xe cọc cạch, trung thành như một người bạn thân thiết lê la khắp Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định.

     

    http://www.baoanhdatmui.vn/vcms/media/photos/2010/3/22.3/P52-55-V2-4.jpg 

     

       Những ngày này, tôi là khách thường trực của quán Cà phê Thu Hương đường Hai Bà Trưng. Quán nằm ở một vị trí đẹp, chiếm ba lô đất ngó chéo qua phía trại hòm Tobia; nơi đây có một căn phòng hẹp vừa đặt quầy thu tiền, vừa là chỗ ngồi cho những ai thích nghe nhạc với âm thanh lớn, phần còn lại là một sân gạch rộng, có mái che nhưng không ngăn vách, từ trong có thể nhìn rõ ra đường qua những song sắt nhỏ sơn xanh với một giàn hoa giấy phủ rợp. Ngồi đây có thể nghe được văng vẳng tiếng nhạc vọng ra từ bên trong; cảm được chút riêng tư cách biệt, nhưng đồng thời cũng có thể nhận ra được sức sống bừng lên mỗi sáng, dáng vẻ mệt mỏi, u ám mỗi chiều đang lặng lờ chảy qua trên đường phía ngoài.

     

       Chủ quán ở đây là một người đặc biệt: Khó chịu một cách dễ thương. Hình như với ông, bán cà phê chỉ như một cách tiêu khiển và pha cà phê là một nghệ thuật kỳ thú. Ông hãnh diện với tên tuổi của Thu Hương và muốn bảo vệ nó. Bạn là khách uống cà phê phải không? Xin cứ ngồi yên đó. Cà phê được bưng tới, ông chủ sẽ ngồi đâu đó quan sát và sẽ xuất hiện đúng lúc cạn phin, sẽ bỏ đường, khuấy đều cho bạn và sẽ lịch sự “xin mời” khi mọi việc hoàn tất. Ly cà phê như vậy mới là cà phê Thu Hương, đó là cung cách của Thu Hương, đặc điểm của Thu Hương. Trong lãnh vực kinh doanh quán cà phê, có người dùng âm thanh; có người dùng ánh sáng và cảnh trí; có người nhờ sự duyên dáng của tiếp viên; có người dùng phẩm chất của cà phê để hấp dẫn khách. Ông chủ Thu Hương đã chọn cách cuối cùng, cách khó nhất và ông đã thành công. Khách đến với Thu Hương là ai? Nhiều lắm, nhưng dù từ đâu họ đều có điểm giống nhau là tất cả đều trẻ và đều có vẻ “chữ nghĩa” lắm; “ông”, “bà” nào cũng tha tập cours quằn tay, cộng thêm các tập san Sử địa, Bách khoa, Văn và vân vân…

     

    http://www.baoanhdatmui.vn/vcms/media/photos/2010/3/22.3/P52-55-V2-2.jpg 

     

       Bạn thường ăn phở gà Hiền Vương, phở Pasteur; bạn thường đi qua đi lại liếc liếc mấy bộ đồ cưới đẹp ở nhà may áo dài Thiết Lập, vậy bạn có biết cà phê Hồng ở đâu không? Thì đó chứ đâu, gần nhà may Thiết Lập, cách vài căn về phía đường Nguyễn Đình Chiểu, ngó xéo qua mấy cây cổ thụ ở bờ rào Trung tâm Thực nghiệm Y khoa (Viện Pasteur). Tôi phải hỏi vì tôi biết có thể bạn không để ý. Quán nhỏ xíu hà, với lại cái tên Hồng và tiền diện của nó trông ủ ê cũ kỹ lắm, chứ không sơn phết hoa hòe, đèn treo hoa kết gì cả. Từ ngoài nhìn vào, quán như mọi ngôi nhà bình thường khác, với một cái cửa sổ lúc nào cũng đóng và một cánh cửa ra vào nhỏ, loại sắt cuộn kéo qua kéo lại. Quán hẹp và sâu, với một cái quầy cong cong, đánh verni màu vàng sậm, trên mặt có để một ngọn đèn ngủ chân thấp, với cái chụp to có vẽ hình hai thiếu nữ đội nón lá; một bình hoa tươi; một con thỏ nhồi bông và một cái cắm viết bằng thủy tinh màu tím than. Phía sau, lúc nào cũng thấp thoáng một mái tóc dài, đen tuyền, óng ả, vừa như lãng mạng phô bày vừa như thẹn thùng, che dấu.

     

     

    http://www.baoanhdatmui.vn/vcms/media/photos/2010/3/22.3/P52-55-V2-3.jpg 

     

       Cà phê Hồng, về ngoại dáng, thực ra không có gì đáng nói ngoài cái vẻ xuề xòa, bình dị, tạo cảm giác ấm cúng, thân tình và gần gũi; tuy nhiên, nếu ngồi lâu ở đó bạn sẽ cảm được, sẽ nhận ra những nét rất riêng, rất đặc biệt khiến bạn sẽ ghiền đến và thích trở lại. Hồi đó nhạc Trịnh Công Sơn đã trở thành một cái “mốt”, một cơn dịch truyền lan khắp nơi, đậu lại trên môi mọi người, đọng lại trong lòng mỗi người. Cà phê Hồng đã tận dụng tối đa, nói rõ ra là chỉ hát loại nhạc này và những người khách đến quán – những thanh niên xốc xếch một chút, “bụi” một chút (làm như không bụi thì không là trí thức)- đã vừa uống cà phê vừa uống cái rã rời trong giọng hát của Khánh Ly. Không hiểu do sáng kiến của các cô chủ, muốn tạo cho quán một không khí văn nghệ, một bộ mặt trí thức hay do tình thân và sự quen biết với các tác giả mà ở Cà phê Hồng lâu lâu lại có giới thiệu và bày bán các sách mới xuất bản, phần lớn là của hai nhà Trình Bày và Thái Độ và của các tác giả được coi là dấn thân, tiến bộ. Lại có cả Time, Newsweek cho những bạn nào khát báo nước ngoài. Quán có ba cô chủ, ba chị em; người lớn nhất trên hai mươi và người nhỏ nhất mười lăm, mười sáu gì đó. Nói thật lòng, cả ba cô đều chung chung, không khuynh quốc khuynh thành gì, nhưng tất cả cùng có những đặc điểm rất dễ làm xốn xang lòng người: Cả ba đều có mái tóc rất dài, bàn tay rất đẹp và ít nói, ít cười, trừ cô chị. Những năm 1980, Cà-phê Hồng không còn, tôi đã thường đứng lại rất lâu, nhìn vào chốn xưa và tự hỏi: Những người đã có thời ngồi đây mơ ước và hy vọng giờ đâu cả rồi? Còn chị em cô Hồng: những nhỏ nhẹ tiểu thư, những thon thả tay ngà, những uyển chuyển “chim di” giờ mờ mịt phương nào?

     

    http://www.baoanhdatmui.vn/vcms/media/photos/2010/3/22.3/P52-55-V2-5.jpg 

     

       Viện Đại học Vạn Hạnh mở cửa muộn màng nhưng ngay từ những năm đầu tiên nó đã thừa hưởng được những thuận lợi to lớn về tâm lý, cùng với những tên tuổi đã giúp cho Đại Học Vạn Hạnh được nhìn vừa như một cơ sở giáo dục khả tín, vừa như một tập hợp của những thành phần trẻ tuổi ý thức và dấn thân. Tuy nhiên, dường như cái hồn của Đại Học Vạn Hạnh được đặt tại một tiệm cà phê: Quán Nắng Mới ở dốc cầu, ngó xéo về phía chợ Trương Minh Giảng. Quán Nắng Mới có nhiều ưu thế để trở thành đất nhà của dân Vạn Hạnh, trước nhất vì gần gũi, kế đến là khung cảnh đẹp, nhạc chọn lọc và cuối cùng, có lẽ quan trọng nhất là sự thấp thoáng của những bóng hồng, có vẻ tha thướt, có vẻ chữ nghĩa. Các nhóm làm thơ trẻ đang lên và đang chiếm đều đặn nhiều cột thơ trên báo chí Sài Gòn ngồi đồng từ sáng đến tối để… làm thơ. Nhưng đông hơn cả, ấm áp hơn cả là những nhóm hai người, một tóc dài, một tóc ngắn chờ vào lớp, chờ tan trường và chờ nhau. Nắng Mới đã sống với Vạn Hạnh cho đến ngày cuối cùng. Nắng Mới nay không còn. Những con người cũ tứ tán muôn phương.

     

    http://www.baoanhdatmui.vn/vcms/media/photos/2010/3/22.3/P52-55-V2-8.jpg 

     

       Có một quán cà phê thân quen nữa không thể không nhắc đến: Quán chị Chi ở gần đầu đường Nguyễn Phi Khanh, kế khu gia cư xưa cũ, rất yên tĩnh và rất dễ thương, nằm phía sau rạp Casino Đa Kao. Ở đó có những con đường rất nhỏ, những ngôi nhà mái ngói phủ đầy rêu xanh, những hàng bông giấy che kín vỉa hè, trầm lắng cô liêu và im ả tách biệt lắm mà mở cửa ra là có thể nghe người bên trái nói, thấy người bên phải cười và có cảm tưởng như có thể đưa tay ra bắt được với người đối diện bên kia đường. Quán chị Chi độ chín mười thước vuông, chỉ đủ chỗ để đặt ba bốn chiếc bàn nhỏ. Quán không có nhạc, không trưng bày trang trí gì cả ngoại trừ một bức tranh độc nhất treo trên vách, bức tranh đen trắng, cỡ khổ tạp chí, có lẽ được cắt ra từ một tờ báo Pháp. Tranh chụp để thấy một bàn tay giắt một em bé trai kháu khỉnh, vai đeo cặp sách, miệng phụng phịu làm nũng, hai mắt mở to nhưng nước mắt đang chảy dài theo má, phía dưới có hàng chữ nhỏ: “Hôm qua con đã đi học rồi mà”. Khách đến với chị Chi không phải coi bảng hiệu mà vào, cũng không phải nghe quảng cáo, mà hoàn toàn do thân hữu truyền miệng cho nhau để đến, nhiều lần thành quen, từ quen hóa thân và quyến luyến trở lại. Chị Chi có bán cà phê nhưng tuyệt chiêu của chị là trà; loại trà mạn sen, nước xanh, vị chát nhưng có hậu ngọt và mùi thơm nức mũi. Trà được pha chế công phu trong những chiếc ấm gan gà nhỏ nhắn, xinh xinh. Ấm màu vàng đất, thân tròn đều, láng mịn, vòi và quai mảnh mai, cân đối. Mỗi bộ ấm có kèm theo những chiếc tách cùng màu, to bằng ngón tay cái của một người mập, vừa đủ cho hốp nước nhỏ. Ấm có ba loại, được gọi tên ra vẻ “trà đạo” lắm: độc ẩm, song ẩm và quần ẩm, nhưng hồi đó chúng tôi thường “diễn nôm” theo kiểu “tiếng Việt trong sáng” thành ấm chiếc, ấm đôi và ấm bự. Trà được uống kèm với bánh đậu xanh – loại bánh đặc biệt của chị Chi- nhỏ, màu vàng óng và mùi thơm lừng. Nhắp một ngụm trà, khẽ một tí bánh, cà kê đủ chuyện trên trời dưới đất, trông cũng có vẻ phong lưu nhàn tản và thanh cao thoát tục lắm. Quán chị Chi giờ đã biến tướng ít nhiều nhưng dù sao cũng xin cảm ơn chị và xin đại diện cho những anh chị em đã từng ngồi quán chị bày tỏ lòng tiếc nhớ đến chị và đến những ngày khó quên cũ.

     

    http://www.baoanhdatmui.vn/vcms/media/photos/2010/3/22.3/P52-55-V2-6.jpg 

     

       Những năm cuối thập niên 60 Sài Gòn có mở thêm nhiều quán cà phê mới, và thường được trang hoàng công phu hơn, có hệ thống âm thanh tối tân hơn và nhất là quán nào cũng chọn một cái tên rất đẹp, phần lớn là dựa theo tên những bản nhạc nổi tiếng: Cà phê Hạ Trắng, Lệ Đá, Diễm Xưa, Hương Xưa, Hoàng Thị, Biển Nhớ, Hoài Cảm, Da Vàng… Tuy nhiên, ở một con đường nhỏ – Hình như là Đào Duy Từ – gần sân vận động Thống Nhất bây giờ, có một quán cà phê không theo khuôn mẫu này, nó mang một cái tên rất lạ: Quán Đa La. Đa La là Đà Lạt, quán của chị em cô sinh viên Chính Trị Kinh Doanh, có lẽ vừa từ giã thác Cam Ly, hồ Than Thở để về Sài Gòn học năm cuối tại nhà sách Xuân Thu hay sao đó, mở ra. Trường kinh doanh quả là khéo đào tạo ra những môn sinh giỏi kinh doanh: Tin mấy cô sinh viên mở quán thật tình là không được chính thức loan báo ở đâu cả; tuy nhiên, cứ úp úp mở mở như vậy mà tốt, nó được phóng lớn, lan xa, tạo ấn tượng mạnh và quán được chờ đón với những trân trọng đặc biệt, những náo nức đặc biệt. Những cô chủ chắc có máu văn nghệ, đã cố gắng mang cái hơi hướm của núi rừng Đà Lạt về Sài Gòn: Những giò lan, nhưng giỏ gùi sơn nữ, những cung tên chiến sĩ đã tạo cho quán một dáng vẻ ngồ ngộ, dễ thương; rồi những đôn ghế, những thớt bàn được cưa từ những gốc cây cổ thụ u nần, mang vẻ rừng núi, cổ sơ đã giúp cho Đa La mang sắc thái rất … Đa La. Ngày khai trương, Đa La chuẩn bị một chương trình văn nghệ hết sức rôm rả, với những bản nhạc “nhức nhối” của Lê Uyên Phương, Nguyễn Trung Cang, Lê Hựu Hà… Đa La đông vui, chứng kiến sự nở hoa và tàn úa của nhiều mối tình. Nhưng Đa La vắng dần những người khách cũ và đóng cửa lúc nào tôi không nhớ.

     

       Cà phê Hân ở Đinh Tiên Hoàng, Đa Kao là quán thuộc loại sang trọng, khách phần lớn ở lớp trung niên và đa số thuộc thành phần trung lưu, trí thức. Bàn ghế ở đây đều cao, tạo cho khách một tư thế ngồi ngay ngắn, nghiêm chỉnh và bàn nào cũng có đặt sẵn những tạp chí Pháp ngữ số phát hành mới nhất. Câu chuyện ở Hân chắc là quan trọng lắm, lớn lắm; nhìn cái cách người ta ăn mặc; trông cái vẻ người ta thể hiện là biết ngay chứ gì; có lẽ cả thời sự, kinh tế tài chánh, văn chương, triết học đều có cả ở đây. Một chỗ như vậy là xa lạ với dân ngoại đạo cà phê. Nhưng Hân là một nơi hết sức đáng yêu, đáng nhớ của nhiều người, dù ngồi quầy là một ông già đeo kính như bước ra từ một câu chuyện của văn hào Nga Anton Chekov. Về sau, đối diện với Hân có thêm quán cà phê Duyên Anh của hai chị em cô Hà, cô Thanh; cô em xinh hơn cô chị và được nhiều chàng trồng cây si. Hai tiệm cà phê, một sang trọng chững chạc, một trẻ trung sinh động, đã trở thành một điểm hẹn, một đích tới mà khi nhắc đến chắc nhiều anh chị em ở trường Văn Khoa, trường Dược, trường Nông Lâm Súc ngay góc Hồng Thập Tự – Cường Để còn nhớ, cũng như nhớ món bánh cuốn ở đình Tây Hồ bên trong chợ Đa Kao thờ cụ Phan, nhớ quán cơm “lúc lắc” trong một con hẻm nhỏ đường Nguyễn Bỉnh Khiêm mà nữ sinh viên vừa đi lên căn gác gỗ vừa run khi được mấy chàng mời cơm.

     

    http://www.baoanhdatmui.vn/vcms/media/photos/2010/3/22.3/P52-55-V2-7.jpg 

     

       Bạn nào muốn gặp các nhà văn nhà thơ, muốn nhìn họ ngậm ống vố, đeo kính cận nói chuyện văn chương thì mời đến quán Cái Chùa, anh em nào muốn có không khí trẻ trung đầm ấm mời đến Hầm Gió; anh em nào muốn có chỗ riêng tư tâm sự thì cứ theo đường Nguyễn Văn Học chạy tuốt lên Gò Vấp, vào quán Hương Xưa, ở đó có vườn cây đẹp, các cô chủ đẹp và cái cách người ta đối đãi với nhau cũng rất đẹp. Cũng đừng quên nhắc đến quán Chiêu, hẻm Cao Thắng. Rồi còn cà phê hàng me Nguyễn Du, cũng Beatles, cũng Elvis Presley như ai ; và cả pha chút Adamo quyến rũ. Giá ở đây thật bình dân nhưng thường xuyên chứng kiến những pha so găng giữa học sinh hai trường nghề Cao Thắng và Nguyễn Trường Tộ.

     

       Chán cà phê thì đi ăn nghêu sò, bò bía, ăn kem trên đường Nguyễn Tri Phương, góc Minh Mạng hoặc bên hông chợ Tân Định. Phá lấu đã có góc Pasteur-Lê Lợi, nhưng chỉ dành cho các bạn có tiền. Rủng rỉnh tí xu dạy kèm cuối tháng có Mai Hương (nay là Bạch Đằng Lê Lợi). Quán Mù U, hẻm Võ Tánh, chỗ thương binh chiếm đất ở gần Ngã tư Bảy Hiền dành cho những bạn muốn mờ mờ ảo ảo. Muốn thưởng thức túp lều tranh mời đến cà phê dựa tường Nguyễn Trung Ngạn gần dòng Kín, đường Cường Để. Rồi quán cà phê Cháo Lú ở chợ Thị Nghè của một tay hoạ sĩ tên Vị Ý. Cao cấp hơn có La Pagode (đổi thành Hương Lan trước khi giải thể), Brodard, Givral. Thích xem phim Pháp xưa, phim Mỹ xưa và ngồi… cả ngày xin mời vào rạp Vĩnh Lợi trên đường Lê Lợi để chung vai với đám đồng tính nam. Vào Casino Sài Gòn có thể vào luôn hẻm bên cạnh ăn cơm trưa rất ngon tại một quầy tôi đã quên tên. Nhưng rạp Rex vẫn là nơi chọn lựa nhiều nhất của SV, cả nghèo lẫn giàu. Cuộc sống SV cứ thế mà trôi đi trong nhịp sống Sài Gòn. Nghèo nhưng vui và mơ mộng. Tống Biệt hành, Đôi mắt người Sơn Tây sống chung với Cô hái Mơ. Đại bác ru đêm sánh vai với Thu vàng. Ảo vọng và thực tế lẫn vào nhau. Thi thoảng lại pha thêm chút Tội ác Hình phạt, Zara đã nói như thế! Che Guervara, Garcia Lorca. Tất cả những gì tôi nhắc tới là một chút ngày cũ, một chút cảnh xưa, một phần hơi thở và nhịp sống của Sài Gòn trong trí nhớ. Xin tặng anh, tặng chị, tặng em, đặc biệt là tặng tất cả những ai tha hương có lúc bỗng bàng hoàng nhận thấy, dường như một nửa trái tim mình còn đang bay lơ lửng ở cà phê Hồng, Thu Hương, hay đâu đó ở quê nhà.

     

    LƯƠNG THÁI SỸ – AN DÂN

  • Giao Chỉ,  Tạp ghi

    Hãy cứu lấy Nghĩa Trang Biên Hòa! (Giao Chỉ)

    Hãy cứu lấy Nghĩa Trang Biên Hòa!
    Giao Chỉ – San Jose
    Nghĩa tử là nghĩa tận. Nghĩa nào là nghĩa trang.
    Từ muôn trùng xa cách. Nhắn ai về cố hương.
               Ðốt nén nhang viễn xứ. Gửi người dưới mộ sâu.
               Bao nhiêu năm quên lãng. Chợt xót thương một lần…

     
    Thăm nghĩa trang xưa
              Năm nay mới bước vào mùa Lễ Tạ Ơn Hoa Kỳ, vé máy bay về Việt Nam ăn Tết đã bán hết. Kinh tế lên, người ta có tiền, vui vẻ về quê ăn Tết. Kinh tế xuống, thất nghiệp, buồn tình cũng về quê ăn Tết!
              Thôi bạn đã về, xin nhắn bạn về thăm một chỗ,
              Các cháu đã về, xin nhắn cháu về thăm một nơi:
                                 Nghĩa trang Biên Hòa.
              Ngày xưa, lúc mới chạy đi, ông Kỳ viết cuốn sách tựa đề là 20 năm, 20 ngày. Ý ông nói là miền Nam chiến đấu trong 20 năm, nhưng mất trong 20 ngày. Ông hô hào chiến đấu, nhưng ông lại bỏ đi. Hụt hẫng cả đạo quân. Hai mươi năm sau, ông lại ra sách, tự xưng là con của Phật. Rồi ông trở về, cũng thăm lại nghĩa trang. Ngông nghênh, áo xanh, quần xọoc. Ông làm nhục anh em. Ông làm buồn lòng người sống, và ông làm tủi vong linh người chết. Sau khi đóng vai hàng thần lơ láo, ông làm hoen ố hình ảnh nghĩa trang xưa đã hoang phế lại còn thêm ảm đạm.
              Không,
    Tôi không muốn các bạn về thăm như ông Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ.
              Ngày xưa, ông Trung tướng Thiệu có tuyên bố một câu khá ngậm ngùi:
                                 “Mất nước, là mất tất cả”.
    Thật đúng như thế. Chúng tôi và các bạn sĩ quan cao niên, chẳng những mất nước, mất cả binh đoàn, đành mất cả thể diện. Ðám chạy đi mang mối tủi nhục lưu vong, người ở lại gánh nỗi buồn ‘cải tạo’. Nhưng Trung tướng Nguyễn văn Thiệu đã qua đời, ông không biết rằng cho đến ngày nay, ba mươi ba năm sau cuộc chiến, chúng ta chưa mất hết. Chúng ta vẫn còn lại nghĩa trang Biên Hòa.
              Khi cuộc chiến miền Nam đứt phim vào tháng tư phiền muộn, Bắc quân vào tiếp quản miền Nam. Bộ đội ăn cướp theo binh đoàn. Cơ sở ăn cướp theo chính quyền. Nhà, nhà bị chiếm. Ngành, ngành tiếp quản. Trại lính, nhà thương, phòng sở và doanh trại. Tất cả đều bị chiếm đóng. “Giặc từ miền Bắc vô Nam, bàn tay dính máu đồng bào”. Bài ca tiên tri của cục chính huấn như còn vang vọng nơi đây. Nhưng thực ra, có một nơi, giặc chỉ phá phách mà không chiếm đóng. Ðó là nghĩa trang quân đội Biên Hòa. Nơi chúng ta đã bỏ lại 16 ngàn tử sĩ dưới mộ sâu, trong lòng đất nơi quê mẹ. Nơi có đại diện quân dân chính. Có đầy đủ quân binh chủng. Nơi thể hiện thực sự tình huynh đệ chi binh.
              Với tư cách là người biết về nghĩa trang này trước năm 1975 và đã có dịp nghiên cứu suốt 15 năm qua sau cuộc chiến, tôi xin gởi đến các chiến hữu bản tường trình đầu đuôi và các đề nghị cần thiết để cứu lấy nghĩa trang Biên Hòa.
     
    Nghĩa trang ngày gẫy súng
                 Khi miền Nam gẫy súng ngày 30 tháng 4 năm 1975, nghĩa trang Biên Hòa là phòng tuyến rộng 125 mẫu đang trải qua những giây phút sau cùng. 16 ngàn tử sĩ Việt Nam Cộng Hòa nằm dưới mộ sâu, chung quanh ‘Nghĩa dũng đài’ chiếm ngụ hơn 50 mẫu. Từ trung tâm chia ra làm 8 lô theo hình nan quạt. Các cấp chỉ huy nằm trong vòng chính giữa, rồi đến vòng cung mai táng các sĩ quan. Mộ chôn từ năm 68 Mậu thân đến mùa hè Ðỏ lửa 72 đã có bệ ciment. Mộ chiến sĩ tử trận sau này còn đắp đất nằm vòng ngoài. Sáng ngày 1 tháng 5 năm 1975, những người còn lại quanh nghĩa trang đã chôn cất lần chót tất cả di hài quân dân lẫn lộn vào những mộ tập thể. Từ đó đến nay không có ai được chôn cất thêm tại khu nghĩa trang lịch sử nữa. Sau 1975 nghĩa trang quân đội Biên Hòa chỉ có những ngôi mộ cải táng đem đi, không có chôn cất mới.
              Bức tượng ‘Thương tiếc’ ngoài đầu xa lộ bị địch phá bỏ, kéo đi. Nhà máy nước Bình An chiếm đóng giữa con đường từ Ðền Tử Sĩ đến Nghĩa Dũng Ðài. Chung quanh khu nghĩa trang, bộ đội, dân chúng và chính quyền chiếm dụng làm doanh trại và nhà cửa.
              Vì lý do muốn xâm lấn thêm đất vòng ngoài, có lần chính quyền Cộng sản ra lệnh một số ngôi mộ phải cải táng. Ai có thân nhân nằm tại vùng bị giải tỏa phải dọn đi, nếu không, thì chính quyền sẽ giải quyết. Cho đến nay, không ai biết rõ Cộng sản đã giải quyết ra sao, nhưng cụ thể là phía Nam và phía Bắc của vòng tròn chôn cất chung quanh Nghĩa dũng đài đã bị xâm chiếm. Rồi chính quyền cho xây một bức tường theo con đường vòng phía Nam nghĩa trang, chỉ dành lối vào bên hông. Ðường vào cổng chính đã bị nhà máy nước Bình An chắn ngang. Doanh trại bộ đội xây cất thêm phía Bắc. Trồng cây xanh khắp nơi trong nghĩa trang để huấn luyện tân binh. Toàn thể khu vực trở thành vùng quân sự cấm quay phim, chụp hình. Lúc dễ, lúc khó, thân nhân vẫn được vào thăm mộ nhưng phải đi theo bức tường phía Nam và đi ngả sau. Ðó là tình trạng đã xảy ra cho đến tháng 4-1993
    Tảo mộ chui                                                
              Từ khi biết được Nghĩa trang quân đội tại Biên Hòa vẫn còn đó, chúng tôi bắt đầu liên lạc với các gia đình có mộ tử sĩ. Xin hình ảnh tảo mộ, xin copy của cuốn phim quay việc cải táng. Bắt đầu gởi người về thăm viếng từ 1993 đến 1996. Từ năm 1997, tổ chức các toán thương phế binh Saigon, Gia định đi công tác. Nhiều toán nhận nhiệm vụ vừa tảo mộ vừa vẽ bản đồ. Chúng tôi cần tài liệu để làm mô hình nghĩa trang cho Viện Bảo Tàng. Các anh em thương phế binh thăm mộ ngày Tết, thanh minh tháng ba, tháng năm xá tội vong linh, ngày Quân lực tháng sáu, lễ Giáng sinh, rồi tiếp đó lại chào mừng năm mới. Thực sự cũng chẳng tốn kém nhiều. Một chút tiền gởi thêm là đủ cho các chiến binh quê nhà vận động bà con công tác. Hình chụp được rất nhiều. “Before and After”. Cùng một chỗ. Trước là cỏ mọc um tùm, sau là mộ phần quang đãng. Trước là đám đất xác xơ, sau đã vun lên thành ngôi mả mới. Rồi bia được gắn lại với tên kẻ sơn rõ ràng. Người thương binh còn sống vui mừng, anh tử sĩ đã chết cũng ngậm cười nơi chín suối. Công việc diễn tiến đến nay, trước sau đã 15 năm. Những năm sau này có các đoàn thể và gia đình trong nước hay hải ngoại về tảo mộ. Có gia đình sửa sang phần mộ. Có gia đình cải táng. Bà con hai xã Bình An và Bình Thắng có thêm dịch vụ. Hiện có cả danh thiếp phát ra ghi tên bà Hai, ông Ba chuyên nghề trông nom mộ phần lâu dài, hay chỉ dọn dẹp một lần cho tươm tất.
              Cho đến nay, việc tảo mộ tại nghĩa trang Biên Hòa không còn là một công tác tưởng như là điệp vụ khó khăn. Cũng không phải là độc quyền của một cơ quan từ thiện, hay một cá nhân, đoàn thể. Hơn 10 ngàn mộ còn đó, ai cũng có thể tình nguyện vào dọn dẹp. Những người chiến sĩ của chúng ta vẫn mãi mãi nằm chờ dưới đất lạnh nơi quê hương, Anh là bà con thân thuộc của chính chúng ta. Mồ mả đắp xong, cỏ dọn sạch, nén hương viễn xứ đốt lên cho không khí đượm mùi nhang khói. Ðặc biệt mở bao thuốc lá Hoa Kỳ, châm cho mỗi anh một điếu. Một bao là hai mươi điếu. Ðốt cháy đỏ rồi cắm xuống cạnh hai mươi tấm bia ciment đã tàn tạ. Nếu nghe được tiếng động dưới mộ sâu, cũng không phải là chuyện lạ.
              Các bạn lên nghĩa trang buổi sáng, cùng người dân quê, ta dọn dẹp chừng vài chục mộ phần. Tìm khu nào um tùm, hoang vắng nhất mà công tác. Buổi trưa làm một lễ nhỏ đạm bạc. Chọn một chiến sĩ nằm chính giữa làm bà con, chung quanh mộ của anh là xóm giềng. Làm đến đâu quay phim chụp hình đến đó. Buổi chiều, là giây phút thắp hương và hút chung điếu thuốc giã từ. Mặt trời đã lặn sau Nghĩa dũng Ðài. Cảnh nghĩa trang quân đội tuy hoang vắng thê lương nhưng vẫn có vẻ đẹp trang nghiêm và huyền bí. Mỗi người nằm dưới đất đều có một câu chuyện và chính người viếng mộ cũng có một câu chuyện. Câu chuyện tử sinh đôi ngả. Chuyện chinh chiến, tù đầy, vượt biên và cuộc sống còn lại.
              Trong suốt 15 năm tổ chức tảo mộ, chúng tôi có 10 đoạn phim quay từ năm 1997 đến năm 2008, và chúng tôi có hàng ngàn tấm hình. Hình các bia mộ, hình cảnh nghĩa trang trước và sau 75, và hình các công trình kiến tạo.
              Một trong các trưởng toán công tác danh tiếng của chúng tôi là ông Trần Văn Tảo, người đã tổ chức lễ tưởng niệm các chiến sĩ VNCH nhiều lần, có làm lễ truy điệu và có quay phim. Một hôm ông gọi điện cho chúng tôi, báo cáo tấm mộ bia chiến sĩ vô danh trước đây vẫn còn, sau biến mất, nay mới tìm thấy lại. Nếu không cất đi, sẽ bị phá hoại hay đánh cắp. Ông Tảo nói thời gian gần đây, ông bị đau nặng, không biết sẽ ra đi lúc nào. Vậy xin niên trưởng bên Mỹ lo cho cháu nó ra đi. Cháu đây là tấm mộ bia. Ðó là anh chiến sĩ vô danh, không có tên, nhưng có ghi ngày mai táng.
              Chúng tôi cho tin về để bác Tảo cất dấu. Sau đó anh em chúng tôi tìm đường cho bia đá vượt biên. Ðây là mộ bia chiến sĩ vô danh duy nhất và nguyên thủy của nghĩa trang quân đội Biên Hòa từ trước năm 75. Cháu qua Hoa Kỳ vào đầu năm 2004. Ðến tháng 4 năm 2004, trưởng toán công tác Trần Văn Tảo qua đời. Công việc giao cho người khác tiếp tục. Tại nghĩa trang quân đội Biên Hòa ngày nay có một tấm bia chiến sĩ vô danh mới làm lại. Ðây chỉ là phó bản. Bản chính đã đặt tại Viện Bảo Tàng ở San Jose.

     
    Ngày Quân Lực 1975
              Nếu năm 1975 không phải là năm Cộng sản tổng tấn công. Nếu không có trận dò dẫm mở đường đánh Phước long. Nếu không có trận dứt điểm Ban Mê Thuột. Không có cuộc triệt thoái 2 quân đoàn từ hỏa tuyến cho đến cao nguyên. Chúng ta đã tổ chức ngày Quân lực tại Nghĩa trang quân đội Biên Hòa vào 19 tháng 6 năm 1975.
              Ngày đó toàn thể quân đội vẫn còn căng ra khắp bốn vùng đất nước để dành dân giữ đất nên không thể tập trung về Sài Gòn tổ chức diễn hành. Phủ tổng thống và Bộ Tổng tham mưu QLVNCH dồn nỗ lực cho ngày quân lực vinh danh các chiến sĩ đã hy sinh. Tất cả các tiểu khu đều tổ chức lễ chiến sĩ trận vong tại nghĩa trang quân đội riêng của mỗi tỉnh. Trung ương có Bộ Tổng tham mưu phối hợp công tác giữa ba Tổng cục: Tiếp vận, Quân huấn, và Chính trị. 16 ngàn ngôi mộ được hoàn chỉnh với 100% các tấm ciment phải đúc xong, Nghĩa dũng đài với vành khăn tang hoàn tất.
              Một ngàn sáu trăm sinh viên sĩ quan từ các quân trường Hải,Lục, Không quân về tham dự.
              Ngay từ buổi chiều hôm trước, các sinh viên đã chia vùng và lên phiên. Mỗi người phụ trách 10 ngôi mộ. Khi hoàng hôn phủ xuống là hương nến thắp lên. Lễ truy điệu lúc 10 giờ đêm, cũng được gọi là đêm Canh Thức.
              Từ trên Nghĩa dũng đài nhìn xuống hay từ Ðền tử sĩ ngó lên, 16 ngàn ngôi mộ thắp nến một lượt, một ngàn sáu trăm sinh viên sĩ quan cầm đuốc đi lại giữa hàng mộ chí. Ðoàn trực thăng của Phái đoàn Chính phủ, Quốc hội, Tổng thống và các tướng lãnh Tổng tham mưu chiếu đèn đáp xuống. Ðội quân nhạc của Hải, Lục, Không quân cùng rền rĩ tiếng kèn chiêu hồn tử sĩ. Từ phía sau doanh trại của Liên đội chung sự, tiếng nổ vang trời do Công binh đốt mìn và tiếp theo là ngọn lửa bốc cao với các thung dầu thô lấy từ giếng dầu Bạch hổ ngoài khơi biển Ðông. Trên nền trời xám, khói đen bay lên cuồn cuộn như ngọn nấm của bom nguyên tử.
              Ðó là biểu hiện giấc mơ của Tổng thống Thiệu muốn lấy kho dầu biển Ðông thay cho viện trợ Mỹ mà chống giữ miền Nam. Cầu nguyện cho linh hồn 16 ngàn tử sĩ nằm tại nghĩa trang quân đội Biên hòa phù hộ cho miền Nam đang rã rời vì Mỹ bỏ rơi. Nhưng đây chỉ là giấc mơ không bao giờ thành sự thực. Những tháng đầu của năm 1975 là ngày giờ của thảm họa kinh hoàng nối tiếp. Chúng ta không bao giờ có ngày tưởng niệm 19 tháng 6 năm 1975 tại nghĩa trang Biên Hòa. Ngay sau 30 tháng 4-75, tại nghĩa trang với 16 ngàn ngôi mộ, không một ngôi mộ nào được toàn vẹn, không một tử sĩ nào còn được viếng thăm nhang khói. Hàng trăm ngàn quân, dân, chính Việt Nam Cộng Hòa xếp hàng vào trại ‘cải tạo’.
     
    Dân sự hóa
              Tháng 7 năm 2007, chính quyền Cộng sản Hà nội ra lệnh dân sự hóa nghĩa trang Biên hòa. Từ 16 ngàn ngôi mộ đã cải táng, đến nay còn hơn 10 ngàn ngôi mộ. Từ 125 mẫu năm 1975 nay bị chiếm hết đất trống
    nên chỉ còn 52 mẫu. Bức tường phía Nam được xây vào thời kỳ 80. Nay bàn giao xong, bộ đội rút đi. Bức tường phía Bắc xây thêm để ngăn nghĩa trang với khu giao cho Trung tâm giáo dục. Khu phần mộ được gọi là Nghĩa trang nhân dân xã Bình An. Bảng cấm chụp quay phim đã được gỡ bỏ. Việc quản trị chưa có lệnh chi tiết. Cho phép cải táng đem đi nhưng không được phép chôn cất mới, dù rằng tại đây vẫn còn chỗ cho gần 5000 ngôi mộ bỏ trống.
              Cộng sản vào chiếm nhà của dân Saigon vượt biên. Cộng sản vào chiếm ngụ nhà của HO ra đi. Những ngôi mộ tử sĩ miền Nam cải táng về quê. Không có chiến binh Cộng sản qua đời vào nằm thay thế.
              Ngay sau khi lệnh dân sự hóa ban hành, chúng tôi có dịp đặt vấn đề với ông Thủ tướng Việt Nam, qua hình thức đặt câu hỏi trực tuyến bằng Internet. Qua đài BBC chuyển tiếp. Câu hỏi được ghi nhận nhưng không có câu trả lời.
              Tiếp theo, gởi hồ sơ đặt vấn đề đến văn phòng Thủ tướng tại Hà Nội, gởi qua Bộ ngoại giao Hoa Kỳ, qua đại sứ Mỹ tại Việt Nam, qua các dân biểu. Kết quả cho biết tài liệu đã nhận được nhưng cũng chưa có câu trả lời.
     
    Hỏi thăm Thủ tướng
              Với tư cách là một công dân Hoa Kỳ, có chiến hữu nằm tại nghĩa trang, chúng tôi đã xin Thủ tướng chính phủ Việt Nam các điều chính sau đây:
    1) Ban hành quyết định dành nghĩa trang quân đội Biên Hòa là khu di sản lịch sử của quốc gia, cần bảo vệ và duy trì nguyên trạng. Tuyệt đối không được lấn chiếm, phá hoại hay làm hư hỏng các công trình kiến trúc lịch sử và các phần mộ.
    2) Cho điều tra và quy định trách nhiệm cho giới chức nào đã phá hoại 10 thước chiều cao của Nghĩa dũng đài vào năm 2004. Ðây là một công trình có giá trị lịch sử rất quan trọng. Nếu không được bảo vệ sẽ mở đường cho việc phá hoại toàn diện về sau.
    Lời yêu cầu kể trên dựa trên nền tảng văn hóa truyền thống Việt Nam, phản ảnh tính văn minh của nhân loại, được bảo vệ bởi các công ước quốc tế về việc tôn trọng di hài tử sĩ, mồ mả chiến binh. Chính phủ Việt Nam đã ký kết từ Geneve 54 đến Paris 73 cũng như các luật lệ theo công pháp quốc tế mà Việt Nam phải tuân thủ với tư cách là thành viên của Liên hiệp quốc.
     
    Nghĩa trang vẫn còn đó, tại sao?
    Sau 33 năm cuộc chiến, ngày nay nghĩa trang Biên Hòa vẫn còn đó . Lý do chính là vì có sự tới lui thăm viếng của gia đình tử sĩ. Mặc dù bị phá hoại và quên lãng nhưng thực sự vẫn có thể coi như tồn tại. Tuy nhiên không có gì bảo đảm tất cả sẽ bền vững muôn đời. Thời gian, thiên nhiên và chính con người sẽ làm các di tích lịch sử tàn lụi hay được bảo vệ. Vì vậy nhờ sự chia xẻ thông tin, thường xuyên thăm viếng, chúng ta sẽ có nhiều nỗ lực và sáng kiến thích hợp. Nghĩa trang quốc gia Hoa Kỳ tại Arlington là một thí dụ cụ thể. Xin hãy ghi lại những năm lịch sử của một đất nước trẻ trung và hùng cường nhất thế giới. Chiến tranh dành độc lập 1775-1783, tử sĩ chôn khắp mọi nơi. Năm 1864, tử sĩ đầu tiên của cuộc nội chiến Nam Bắc chôn tại Arlington. Khi chiến tranh chấm dứt, miền Bắc chôn tổng cộng 16 ngàn tử sĩ của liên bang tại nghĩa trang quốc gia. Ðồng thời có khu mộ tập thể chôn cất chung binh sĩ của cả hai miền. Trên toàn lãnh thổ của các tiểu bang miền Nam đã có hàng trăm nghĩa trang lớn nhỏ mai táng chiến binh của phe bại trận nhưng đã được xây dựng và bảo toàn bởi luật lệ của liên bang từ phe chiến thắng. Nhưng thực sự phải chờ đến bốn mươi năm sau, mới đến ngày hòa giải dân tộc. Gần 500 ngôi mộ tử sĩ miền Nam được cải táng đem vào chôn tại Arlington, chung quanh tượng đài với hình ảnh bà mẹ chiến sĩ dân quân của phe Liên hiệp thua trận. Tiếp theo, nhiều mộ phần của các chiến sĩ anh hùng hy sinh từ cuộc chiến tranh cách mạng chống Anh Quốc cũng được cải táng đưa vào Arlington. Ðó là phương cách của người Mỹ đối xử với phe thù nghịch sau chiến tranh, dựa trên nền văn hóa trẻ trung của hơn 200 năm lập quốc. Dân tộc Việt Nam chúng ta, với 4,000 năm văn hiến, tiền nhân đã dậy rằng, nghĩa tử là nghĩa tận. Ðến bao giờ nghĩa trang Biên Hòa mới có thể trở thành di sản lịch sử của quốc gia. Ðến bao giờ những di hài các chiến binh miền Nam chết trên chiến trường, trong các trại tù mới được tìm kiếm và đem về cải táng tại Biên Hòa. Lúc đó Nghĩa trang Biên Hòa có còn không?

    Cứu lấy nghĩa trang
              Trên đây là toàn bộ bản tường trình về Nghĩa trang quân đội Biên Hòa. Chúng tôi cũng có một bản tóm lược về lịch sử nghĩa trang đính kèm. Ðể có thể cứu lấy nghĩa trang Biên Hòa một cách cụ thể, xin đề nghị các điểm sau đây:
              Thứ nhất: Không khuyến khích quý vị về thăm quê hương, nhưng hàng triệu người đã về. Chúng tôi xin các bạn, có về Việt Nam, xin một lần đến thăm nghĩa trang Biên Hòa.
              Thứ hai: Viết thơ cho dân biểu địa phương để xin quí vị quan tâm đến vấn đề này. Không cần đặt ra những đề nghị phù phiếm, không tưởng. Không đòi hỏi phải xây cất, trùng tu qui mô lớn lao. Không cần phải tổ chức lễ hội giải oan hay hòa hợp. Chỉ cần xin bảo vệ cho toàn thể 52 mẫu còn lại không bị xâm phạm. Các kiến trúc hiện hữu sẽ không bị hư hỏng thêm. Nhiên hậu những bước kế tiếp sẽ được thời gian giải quyết.
     
    Cho tôi xin một mộ phần
              Cá nhân chúng tôi có một câu chuyện. Năm 1968, chiến tranh khốc liệt, khói lửa lan đến cả Saigon, Chợ lớn. Một lần, tôi và Ðại tá Ðỗ Tùng lên thăm nghĩa trang, gặp Ðại tá Nguyễn tử Ðóa, cục trưởng Quân Nhu. Nửa đùa nửa thiệt, bác Ðỗ Tùng và tôi, xin đặt mỗi người một lô. Bây giờ ông Ðóa qua đời, chôn ở miền Trung Mỹ. Ông Ðỗ Tùng đi trước, chôn ở nghĩa trang Hollywood.
    Trong số ba anh Bắc kỳ ngày xưa lẩm cẩm dành đất nghĩa trang Biên Hòa, chỉ còn một người, có ngày sẽ về nằm lại ở nơi hẹn ước. Nếu có sớm nằm chơi dưới cội hoa trên miền đất tạm dung thì thế hệ tương lai sẽ thi hành di chúc. Ðứa cháu ba đời đem hũ tro tàn leo 65 bậc thang sắt đặt trên đỉnh ngọn Tháp của Nghĩa dũng Ðài. Ngọn gió đông bắc tháng tư sẽ thổi di hài cát bụi của người giao chỉ bay khắp cánh đồng mộ chí. Sống đã chẳng trọn tình chiến hữu, đành tìm con đường chung sự lãng mạn để trả nợ binh đoàn.
              16 ngàn ngôi mộ bỏ lại năm 1975, trên 5,000 tử sĩ đã cải táng về quê khắp 4 vùng chiến thuật. Ðể lại 8 khu nghĩa trang, khu nào cũng còn đất trống. Nếu nghĩa trang được bảo vệ, quý vị thử nghĩ coi, đâu có anh cán bộ cộng sản nào dám vào nằm cạnh nhẩy dù hay thủy quân lục chiến!. Dân chúng cũng không muốn vào đấy nằm. Có chăng là các cựu chiến sĩ VNCH, các thương binh liệt sĩ còn tại Việt Nam. Hay là những người lính tha hương muốn về gởi nắm xương tàn nơi quê hương. Nếu là cựu chiến sĩ, thì vào đó chứ còn đi đâu? Lịch sử nghĩa trang quốc gia Hoa Kỳ cho thấy cả trăm năm sau mà người ta vẫn còn cải táng đem di hài tử sĩ vào Arlington.
    Ðó là lý do tại sao chúng ta phải cứu lấy nghĩa trang Biên Hòa…
    Khi tôi chết, đừng đem tôi ra biển,
    Hãy đem về chôn tại nghĩa trang xưa                                       Giao Chỉ, San Jose.
  • Tạp ghi

    BÁC CHUỒN KHỎI LĂNG (Kỵ Binh)

     

     BÁC CHUỒN KHỎI LĂNG

         Kỵ Binh                                     
      ……     Ngày 23/2/2009
     Cu Tèo cháu,
    Bác biết Cu Tèo của Bác thế nào cũng thắc mắc sao meo này Bác chỉ đề chấm chấm thay vì ghi Hànội ngày tháng năm như mọi khi. Bác đã chuồn khỏi lăng Ba Đình cách đây mấy hôm và đang ở một nơi bí mật, và vì an ninh tính mạng bản thân, Bác không thể tiết lộ hộ khẩu hiện giờ cho ngay cả Cu Tèo là kẻ thân tín cuối cùng còn lại của Bác .
    Đúng lô gích ra thì Bác chưa nên có email này vì các lực lượng an ninh tình báo đang đổ xô đì tìm bắt lại Bác. Không như ở Mỹ ông Tổng Thống Bút hô hoán rùm beng đi bắt Bin Ladin “death or alive”, ở nước Việt Nam ta anh hùng đầy đường hễ ra ngõ là gặp thì âm thầm lặng lẽ. Đám nào đi bắt Bác cứ đi; đám nào canh gác lăng, trục lên trục xuống cái hình nộm Bác cho khách viếng cứ canh, cứ trục. Tuy âm thầm lặng lẽ, nôm na là “như mèo dấu kít”, nhưng lực lượng đi lùng Bác rất hùng hậu, được tăng cường tối đa, đến độ các đồng chí bên Bộ Chính Trị buộc lòng phải cho giảm biên chế các bộ phận chìm nổi có trách vụ theo dõi giáo dân Công Giáo Hànội dịp phái đoàn Vatican qua làm việc với chính phủ ta. Sự giảm biên chế này đã làm mỏng đi lực lượng bao vây, bám sát …địch, khiến cho phái đoàn Vatican hồ hỡi sảng “hy vọng Giáo Hoàng thăm Việt Nam trong năm nay”. Còn lâu mới có chuyện Việt Nam XHCN bang giao với Vatican khi đàn anh láng giềng chưa làm trước chuyện này. Cứ nhìn lại vụ anh hai ra lệnh cho đồng chí tổng bí thư Lê Khả Phiêu chớ có léng phéng ký vào WTO lúc đó được TT Mỹ Clinton chìa ra cho trước mặt …
    Cu Tèo ơi, Bác đi hơi xa mất rồi, trong khi Bác đang phải mày la mặt lét liếc dọc liếc ngang xem ông chủ càphê internet có dòm ngó gì không. Sau khi trốn khỏi lăng, Bác không phải hóa trang gì nhiều, vì con người Bác sau 40 năm (1969-2009; Bác nhớ đi gặp Cụ Mác Cụ Dao năm 1969, không biết có chắc không nữa đây) đâu còn giống Bác như cái xác giả trong hòm kiếng kia; Bác chỉ cần nhổ phách mấy cọng râu quăng mẹ nó đi là không ai nhìn ra Bác..Hồ nữa. Mà quả đúng vậy, từ hôm đi bụi đời đến giờ, nào vào quán ăn, nào vào siêu thị sắm ít đồ dùng lặt vặt, thậm chí Bác nỏ nhịn nổi bia ôm, cũng vào luôn. Bác để ý thăm dò mà chẳng ghi nhận mảy may dấu hiệu , ánh mắt nào nghi ngờ Bác là …Bác Hồ hết ráo . Ông chủ quán cà phê internet này cũng dễ chịu, khống đòi Bác trình Chứng Minh Thư Nhân Dân, khi Bác chưa mua kịp cái giấy dỏm. Ngoại hình thì thoải mái như thế, nhưng lời lẽ I meo, cho CuTèo, Bác đang phải thận trọng kẻo người ta liếc trộm thấy thì chết.
    Bác biết Cu Tèo đang cực kỳ bức xúc muốn biết động cơ nào thúc đẩy Bác…chuồn khỏi lăng trong khi càng ngày các đồng chí lãnh đạo Đảng càng đề cao tư tưởng Bác. Mới đây thôi, sau Tết Con Tru, cán bộ đầu ngành giáo dục ra chỉ thị kể từ này, các cháu thiếu nhi lên năm phải biết nhận diện Bác Hồ.
    Đấy đấy, Cu Tèo ơi, khốn nỗi là ở chỗ nàỵ,. Cái chỗ “mới lên năm” mà đã “nhận diện” ra Bác!. Đây là giọt nước cuối cùng làm tràn ly nước Bác chuồn khỏi lăng! Cu Tèo đừng nóng ruột.Hẵng từ từ. “Nhận Diện Bác Hồ”. Bọn phản động đã nhận diện ra Bác, một số không ít đồng chí đồng hội đồng thuyền nay cũng đã nhận diện ra Bác.. Bác chỉ còn hy vọng vào các cháu nhi đồng là chỗ dựa cuối cùng, là nơi ẩn núp tung tích Bác cuối cùng. Thế mà này các cháu tí teo ấy cũng phải biết nhận diện, tức là nhìn thấy bộ mặt thật của Bác.
    Bác nghe văng vẳng tiếng Cu Tèo : Bác bi quan quá . Bác có tật thì cũng rán thêm thời gian nữa, khoan đã dật mình. Biết đâu “nhân diện” ở đây là biết phân biệt bác Hổ với bác Hồ, là, Bác là người bác của mọi người, bác của bất chấp tuổi tác,bác của của bậc cha chú ông bà, bác của cả tổ tiên dòng tộc nhà bác, bác của muôn đời, “vạn thế bá biểu” kiểu “vạn thế sư biểu” Đức Khổng Tử! Biết đâu “Nhận diện” ở đây là nhận ra bác trinh tiết, bác đạo đức, bác tìm đường kíu nước, bác của “Nhật Ký Trong Tù” thi hào, của “Đời Hồ Chủ Tịch” đức khiêm tốn …
    Thôi thôi, dẹp đi Tèo ! Xưa rồi cái giọng ba que, nay còn đem ra mà xỏ  lá được ai.“Nhận diện bác Hồ`” đây là nhận chân, là thấy rõ cái “Mặt Thật” của bác, cái Đêm Giữa Ban Ngày” của chế độ bác gầy dựng lên trên xương máu và khổ đau của hang triệu sinh linh.
    Bác “trinh tiết”: hết Vũ Thư Hiên , đến Dương Thu Hương  Au Zénith. Vũ Thư Hiên chỉ thuật lại theo lời trối của người cha. Còn con cháu Duong Thu Huong này thế mà thâm. Nó thâm từ gốc thâm đi, thâm từ ngã ba thâm ra . Nó đi bộ đội để giải phóng Miền Nam. Khi Miền Nam bị phỏng …rồi, nó gục mặt xuống vỉa hè đường Lê Lợi Sàigòn, tức tưởi ăn năn, “mọi rợ đã chiến thắng văn minh”; về Bắc nó đòi iả vào mặt các đông chí lãnh đạo đảng; nay ra nước ngoài , đu8ợc tư do viết không cần lách, nó  làm bộ đưa bác lên “Đỉnh Cao Chói Lọi” mà thực ra để ném bác thật đau, thật “chắc cái ịch” xuống cái ..lỗ Nông Thị Xuân. Nông Thị Xuân đẻ ra con của bác là Nguyễn Tất trung, nay là Vũ Trung. Cu Tèo muốn biết điạ chỉ con trai của bác , cứ hỏi ông Bùi Tín bỏ Đảng sang Paris, chứ bác thì ..cha con chẳng dám nhận nhau . Trinh tiết bác đã mất, đạo đức bác đã chết dí thêm lần này nữa nơi cái lỗ Nông Thị Xuân này, sau những cái lỗ Tăng Tuyết Minh, Nguyễn Thi Minh Khai, Đỗ Thị Lạc, chưa tính đến những cái lỗ Pháp, lỗ Nga.
     Bác tìm đường kíu đói mà thành ra kíu nước. Cha bị đuổi việc vì say rượu đánh chết người, Bác lêu bêu không biết đi đâu, xuống tàu Tây xin làm bồi độ nhật,.và quá trình từ đây đến nhà kíu tinh, thế nào hư thực ra sao, ai cũng biết mà cóc dám tin ..
    Tài thi văn thì “Ngục Trung Nhật Ký” thì trước đây đã bị ông Giáo sư Lê Hữu Mục , nay lại nhà học giả Đỗ Thông Minh vạch mặt là hàng chôm chỉa . Đức “khiêm tốn” của Bác thì không ai phải “tốn” khiêm nhường lá mặt lá trái như cánh tay (Trần Dân) Tiên Bác vẽ vời hoa lá !
    Vậy thì cái yêu cầu nhi đồng lên năm phải biết nhận diện Bác là nhận diện ra sự thật như thế. Bác Hồ dạy, à không phải, Bác lại quen mồm chứng nào tật đó, châm ngôn dạy “khôn chết dại chết; biết sống”. Bác đây học hành chẳng bao nhiêu nên không thể gọi được mình khôn, nhưng gọi là dại thì không đúng. Phải nói là Bác nhờ “biết” nên “sống mãi trong sự nghiệp” Cu Tèo đến hôm naỵ. Bác biết lường gạt, tráo trở; Bác biết cười hí hửng khi được CIA Mỹ kêu đứng chụp hình chung ở biên giới Việt Hoa; Bác biết ca bài con cá trong tờ đơn xin Thực Dân Pháp cho vào học trường Thuộc Đia đê được sau này ra phục vụ nước Đại Pháp, Bác biết xuống giọng nỉ non cho cha được đi làm trở lại ; Bác biết oà lên khóc khi vớ được cuốn Tư Bản Luận; Bác biết bán quách cụ Phan Bội Châu cho Pháp vưà được tiền xài vừa khử được một nhà …không chịu theo đường Bi Đát.Bác biệt gom vàng của dân để nạp cho bọn Tàu phù đừng đụng đến Bác; Bác biết phỏng tay trên ngày Thực dân phải trao trả độc lập ; Bác biết cả việc con cái đẻ tùm lum. đứa bên Tây, đứa bên Tàu , đứa trong hang Pắc Bó, đứa giữa lòng thủ đô Hà Nội, mà vẫn giữ được tiếng thơm trọn đời hy sinh chuyện đực cái để lo cứu nước mà thôị .
    Nay Bác cũng biết tụi nhóc tì nhi đồng bây giờ chúng mò vào được internet là chúng “nhận diện” tức biết tỏng Bác thuộc loại con gì rồi.
    Bác biết trước mà không lo chuồn sớm khỏi lăng để chờ chúng vào bạt tai đá đít Bác à ?
    Cu Tèo thân thương,
    Bác vẫn nhớ “điều ước” của Cu Tèo trong Meo Xuân gửi Bác trước đây ,là Bác “ngóc đầu dậy giữa Ba Đình, nhận sai lầm mà sám hối.”. Lâu nay Bác cứ chần chừ rán lê lết câu giờ biết đâu có phép lạ cứu Bác cứu Đảng. Nhưng nay thì không kịp nữa. Đồng chí Lê Khả Phiêu đã để lô cái trống đồng là bảo vật quốc gia trong nhà . Cái vở tuồng diễn cho thái tử Nhật xem công an bắt Huỳnh Ngọc Sỹ mà quên mất cái khâu còng tay quá lỗ liễụ . Hôm qua hôm kia các đồng chí lãnh đạo lại mừng tiệc cắm cọc dâng đất biên giới cho Tàu xong. Vụ Bốc xít, quân Trung quốc đã kéo vào đầy Tây Nguyên. Đồn điền trà, cà phê nhà của làng mạc cả một giải Tây nguyên đồng bào kinh thượng gắn bó bao đời này còn bị đào xốc lên, xá gì cái lăng Ba Đình mà Bác thì giờ đây mười hai con giáp chẳng giống con nào nữa.
    Không kịp nữa rồi . Thôi thì Bác mong Cu Tèo hiểu sự chuồn đi khỏi lăng của Bác như là hành động tạ tội của Bác cùng trăm họ và nước non.
    Bác sì tốp ngay đây, có ai như công an mạng đến kiểm tra blogger !
    Nhớ cầu cho Bác qua khỏi .

                                

  • Tạp ghi

    Mùa Xuân và hoa đào ở Hoa Thịnh Đốn (Tuyết Mai)

    Mùa Xuân và hoa đào ở Hoa Thịnh Đốn
                                                              Tuyết Mai
     
    Hoa đào với sắc hồng phơ phớt, nở rộ rực trời là dấu hiệu của mùa Xuân đến. Hoa đào nở rộ chung quanh the Tidal Basin ở Washignton, D.C. đã trở thành biểu tượng của nét đẹp Thủ đô Hoa Thịnh Đốn, Hoa Kỳ. Hằng năm vào khoảng cuối Tháng Ba đến giữa tháng Tư có hằng triệu du khách từ khắp nơi Hoa Kỳ và thế giới về Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn để ngắm hoa đào nở rộ đẹp tuyệt vời trong công viên chung quanh Thomas Jefferson Memorial và Tidal Basin. Những cây hoa đào ở đây là quà của Nhật Bản tặng cho Hoa Kỳ từ
    năm 1912. 
     
    Năm nay National Park Service tiên đoán hoa đào sẽ nở rộ (peak blooming) với 70% hoa nở, từ 1 đến 4 Tháng Tư, 2009. Mùa hoa năm nay sẽ kéo dài từ 28 Tháng 3 đến 11 Tháng 4, 2009. Tiên đoán chính xác ngày hoa đào nở rộ, không phải là dễ, vì tùy thuộc vào thời tiết, tuyết nhẹ, mưa, gió, nóng bất thường, sẽ làm cho hoa tàn rụng nhanh. Thường thì hoa nở khoảng bảy ngày và mùa hoa từ lúc bắt đầu nở cho đến tàn héo kéo dài mười bốn ngày.
     
     National Park Service Horticulturists theo dõi thật kỹ sự phát triển của
    những nụ hoa để cho tin tức cặp nhật. Theo truyền thống của Nhật thì hoa đào đẹp nhất, được yêu thích nhất khi phản chiếu dưới mặt nước, vì vậy hằng ngàn cây hoa đào ở HTĐ được trồng trong công viên dọc theo Potomac River và chung quanh Tide Basin, phía trước Jefferson Monument, rất thích hơp với truyền thống thưởng thức nét đẹp hoa đào của người Nhật.
    Cùng trong thời gian hoa nở rộ này có Lễ Hội Hoa Đào (Cherry Blossom Festival). Ai cũng mong thời tiết đẹp, ấm áp, không trở lạnh, tuyết, mưa, gió bão bất thường để hoa nở đầy cành vào dịp lễ hội hoa đào .
     
    Được biết có khoảng 3750 cây hoa đào được trồng trong công viên chung quanh Jefferson Memorial và dọc theo bờ hồ Tidal Basin. Hằng ngàn cây đào trong công viên này được chăm sóc bởi những chuyên viên của National Park Service. Một nhóm nhân viên lo việc chăm sóc, trồng tỉa và vô phân bón… mỗi cây có mã số, có một hồ sơ riêng, ghi rõ chi tiết như năm nay tỉa một vài cành cây này, cây kia vừa mới mọc thêm cành v v…
     
    Một vài tuần trước khi hoa nở thì nhóm chuyên viên rất bận rộn, họ quan sát kỹ và sẽ tỉa bớt những cành không trổ hoa. Vào khoảng cuối Tháng Hai, khi nụ hoa bắt đầu hình thành các chuyên viên theo dõi năm giai đoạn nở hoa để thông báo cho dân chúng biết năm nay hoa sẽ nở nhiều hay ít, ngày nào là “ peak blooming”. Theo đó những người yêu hoa cũng như những người yêu nghệ thuật nhiếp ảnh chuẩn bị máy ảnh, máy quay phim đến đây ghi lại những nét đẹp tuyệt vời của Mùa Xuân và hoa đào ở Hoa Thịnh Đốn. 
     
    Khi hoa nở rộ, đi giữa những rặng hoa đào, du khách chỉ thấy một màu hồng nhạt và màu trắng, đẹp không thể diễn tả. Sau khi hoa nở vài ngày,
    lúc gió thổi nhẹ, đủ lay cành thì cánh hoa bay theo gió, như mưa hoa, rơi nhẹ trên tóc, trên áo du khách, rất là thơ mộng. Có nơi dưới đất xác hoa dày một hai phân. Mùa Xuân nắng ấm, trên đầu, duới chân chỉ một màu hoa
    hồng phơn phớt, du khách cảm thấy lâng lâng như đang lạc vào bồng lai, tiên cảnh.
     
    Theo tài liệu, ngày 27 Tháng Ba 1912 Ông Yukio Ozaki, Thị Trưởng của ToKyo đã tặng Hoa Kỳ một món quà là 3020 cây hoa đào để tăng thêm tình hữu nghị giữa hai quốc gia Nhật và Hoa Kỳ. Đệ nhất phu nhân HK Helen Taft và Viscountess Chinda, vợ của Đại Sứ Nhật đã trồng hai cây đầu tiên trong một buổi lễ nhỏ ở phía Bắc Tidal Basin, hướng Tây của công viên Potomac. Năm 1965 Chính phủ Nhật đã tặng thêm 3800 cây đào có tên là Yoshino, Đệ nhất phu nhân Lady Bird Johnson đã cùng Bà Ryuji Takeuchi, phu nhân của Đại Sứ Nhật đã làm lễ trồng cây anh đào giống như năm 1912.
     
    Năm 1981 những chuyên viên Nhật đã đến Washignton, D.C. để cắt những cành cây hoa đào ở đây về gây giống lại cho những cây đào Yoshino của họ đã bị tàn phá bởi nạn lụt. Sự trao đổi qua lại này làm cho cây hoa đào trở thành biểu tượng của tình thân hữu giữa Nhật và Hoa Kỳ.
     
    Gần một thế kỹ, vẽ đẹp của hoa đào đã lôi cuốn hằng triệu du khách đến đây ngắm hoa đào hằng năm. Năm 1935 người dân ở HTĐ thành lập Lễ Hội Hoa Đào như là một lễ hội hằng năm, gồm nhiều chương trình trình diễn văn hóa, thể thao, nghệ thuật và Diễn hành Hoa Đào sẽ đựoc tổ chức qua đưòng phố ở HTĐ.
     Hoa đào được người Nhật chọn làm quà cho Hoa Kỳ vì hoa đào là biểu tượng của nét đẹp đơn giản và cũng tiêu biểu cho sự đoàn kết, công bằng và tự do, là những quan niệm căn bản đã vượt biên giới để là chân lý của nhân loại.
     
    HÌNH ẢNH MÙA XUÂN VÀ HOA ĐÀO Ở HTĐ
    http://www.youtube.com/watch?v=_7gLnAoBKDs

  • Tạp ghi

    “CÁM ƠN ANH, NGƯỜI THƯƠNG BINH VNCH”

           

                    

                   MỘT BÔNG HỒNG CHO NHỮNG AI ĐANG

                   HÁT “CÁM ƠN ANH, NGƯỜI THƯƠNG BINH VNCH”

      Với tư cách cá nhân của một người lính VNCH, cũng đã “một thời” là thương binh, tôi viết những dòng này để bày tỏ lòng cảm phục và tri ân đối với những người đã dự phần vào, bằng cách này hay cách khác, tổ chức, bảo trợ, đóng góp công của sức lực, hoặc đến xem “Ðại Nhạc Hội Cám Ơn Anh, Người Thương Binh VNCH Kỳ 3”, vừa qua tại Hoa Kỳ.

    “Một bông hồng cho những ai đang còn mẹ”, bắt chước lời ai, tôi ước chi những chắp nối chữ nghĩa  mộc mạc này kết thành bông hồng gửi cài lên áo mười ngàn người đã, dưới trời oi bức đổ lửa 105 độ F, hiện diện nơi sân vận động trường Trung học Independence ngày 17 tháng 5, năm 2009, tại thành phố San José, Tiểu bang California.

    Nhà tôi không có kênh SBTN nên chỉ “tham dự” buổi đại nhạc hội, mà tôi cố ý theo dõi từ khi hay tin, qua  mấy tấm hình phổ biến trên trang Vietnamexodus.org.

    Tấm hình cô ca sĩ Thiên Kim đang cầm micro hát làm tôi xúc động và thoáng chốc hồi tưởng những năm tháng cũ thuở thanh xuân

    Các cô ca sĩ xưa đã bất chấp hiểm nguy ra mãi trận tiền hát “ủy lạo” cho các anh chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

    Các cháu ca sĩ nay bỏ “chạy show” cuối tuần qúy báu để về tụ tập hàng trăm cô cậu nơi sân vận động nước non ngàn dặm, nói là hát “cám ơn anh”, mà thực ra hát cho bác, chú, có khi còn là ông , thương binh tận mãi quê nhà xa xăm!

    Có điều khác biệt là đối tượng cho tiếng hát của các cháu hôm nay không chỉ là các anh thương binh VNCH đang ở trong nước, nhưng còn là tất cả các chú, các bác, các ông từng một thời cầm súng chiến đấu bảo vệ Miền Nam thân yêu của chúng ta còn sống sót đến hôm nay, đang trong nước hay tản mác năm châu giờ đây ai cũng là thương binh, thương binh tâm hồn. Có những người mất đi một phần thân thể, và tất cả đều mất đi quê hương. Những người chiến binh năm xưa đều mang chiến thương. Chiến thương thể xác và chiến thương tâm hồn.

    Có lẽ vì thế nên tôi đang ở Bắc Mỹ ,thời tiết 42 độ F, mưa phùn lả tả, mà ngắm hình các em hát, cảm thấy đất trời ấm, lòng tôi ấm làm sao. Tôi nghĩ những anh thương binh bên kia nửa vòng trái đất sẽ còn ấm lòng hơn tôi dường nào.Lòng các anh ấm lại không phải vì món quà có thể mai này nhận được, nhưng vì hơi ấm từ đáy lòng chuyền qua tiếng hát các em, tiếng hát tiếp sinh khí cho những năm tháng còn lại của những mãnh đời không may đang sống trong thiếu thốn vật chất, đau đớn thể xác, và nhục nhã tinh thần ,vốn là, những anh hùng, những người con qúy yêu của Mẹ Việt Nam đã đem máu xương bảo vệ đất nước giờ đây lại bị lạc loài hất hủi và sỉ nhục ngay trên quê hương mình.

    Nhìn qua một vài hình ảnh tượng trưng cho hàng chục hàng trăm ngàn các anh thương binh VNCH

           

    Có lẽ không ít người nghĩ, “kéo lê cuộc sống thế này, thà chết đi thì hơn”. Bản thân tôi cũng từng là một trong số những người này.                                                                       

    Ngày xưa những lần về thành phố, tình cờ gặp những người mang khuyết tật hay cụt tay chân lê lết kiếm sống nơi vỉa hè, tôi nghĩ ngay nếu sau này mình chẳng may bị thương và phải mất đi một phần thân thể, tôi sẽ tự sát để khỏi lâm cảnh huống như họ. Nhưng tôi đã lầm: khi đối diện với cái chết, tội đã cuống quýt bám víu vào sự sống, dù lúc đó nghĩ mình đã mất đi cánh tay mặt.

    Đó là khoảng đầu năm 1970, tại bờ làng Dục Tượng, thuộc quận Rạch Sỏi, tỉnh Kiên Giang. Trong khi điều động chi đội M113 (Chi Đoàn 3, Thiết Đoàn 9 Kỵ Binh) tiến chiếm mục tiêu, một tiếng như bom nổ từ trong người tôi ra, và tôi cảm giác toàn thân tôi đang bị thổi bùng vở vụn tan tành; tức khắc lúc đó tôi nhớ đến cha mẹ anh em tôi, và như mấp máy môi,“thằng Nhâm, thằng Phương ( cùng khóa cùng về chung đơn vị) vừa mới chết, nay tới phiên con “; rồi tôi không biết gì nữa.Tôi tỉnh dậy thấy lờ mờ mình đang nằm sấp người trên rạ lúa , bên cạnh chiếc thiết xa bất động ; giừa tiếng súng giao tranh và lửa khói nghi ngút. Tôi thấy hai mảng đen sà xuống trán, nghĩ là đầu mình đã bể ra và tôi đang trút linh hồn…

    …Sao đầu bể rồi mà đợi mãi chưa chết lại càng tỉnh táo.Tôi nhận ra mình  đang nằm đè lên cánh tay trái; cánh tay phải thì sóng sượt thẳng đuột phía trước máu dầm dề, và máu cứ theo nhịp bắn lên thành vòi. Tôi cố đưa tay phải lên sờ đầu xem bị bể ra sao mà giờ này vẫn còn sống, nhưng cánh tay không nhúc nhích và tôi nghĩ nó đã đứt lìà. Tôi cố bươn bươn mãi mới đưa được cánh tay trái lên phía mặt nhưng phải lấy hết can đảm mãi mới sờ vào cái mảng đen trên trán.Tôi mừng quá khi bàn tay nhận ra cái mảng đen kia là cái nón nghe truyền tin (head set) tôi thường mang choàng qua đầu! Khi đó tôi vẫn chưa biết số phận hai cái chân như thế nào vì tôi không điều khiển được chúng để trườn trở lại phía sau, nhưng khi biết mình còn sống và (nghĩ) còn một cánh tay, tôi mừng lắm.

    Các anh thương binh VNCH, dù đang trong hoàn cảnh, điều kiện nào cũng đều muốn sống, như mọi người bình thường muốn sống.

    Nhưng cuộc đời các anh chắc chắn sẽ được ấm hơn từ tiếng hát của trên dưới một trăm ca sĩ chuyên  nghiệp, cũng vừa là tiếng hát của hàng vạn người trên sân cỏ vân độngTrường Trung Học Independence, San José, California Hoa Kỳ , trong một ngày chan hòa nắng nóng.

    “Một bông hồng cho những ai đang còn mẹ”

    Bao nhiêu đoá hồng mới đủ cho những ai đã, đang và sẽ hát “Cám Ơn Anh, Người Thương Binh Việt nam Cộng Hoà.”

    Chương Khuê,Everett,                                                                                                 WA,Tháng 5/2009.

  • Tạp ghi

    PHỞ DÂM QUÊ BÁC (Kỵ Binh)

    Chào Cu Tèo,

    Đọc meo CuTèo, Bác buồn quá đỗi:Tèo vẫn nghi ngờ lòng bác sám hối trước muôn dân. Bác biết nói gì được để thanh minh, khi người cộng sản mà bác Hồ đầu tàu là lũ thâm căn cố đế xưa nay sống còn nhờ dựa vào cái cẩm nang vừa hồng lại vừa chuyên ăn gian nói dối. Như những vụ việc, từ Giáo xứ Thái Hà Hà Nội, vào Chùa Bát Nhã Đà Lạt, trở ra Nhà thờ Tam Tòa Quảng Bình mới đây. Một nhà nước chiếm độc quyền sinh sát trên cả trăm triệu dân xấp xỉ, đem công an đi trấn áp, đánh đập, cướp của đồng bào, tu sĩ, đã không dám nhận việc mình làm mà đổ cho người khác, khi thì “do bọn côn đồ”, khi thì “do quần chúng tự phát”.

     Trên thế giới này, có nhà cầm quyền nào hành xử với dân mình như vậy không ? Hà Nội ta ngày nay, trái với luận điệu ba hoa chích chòe trước đây là “thủ đô của phẩm giá con người”, thực tế là hang ổ của man rợ, gian manh, dối trá, lọc lưa, ác độc, nhưng lại đê tiện hèn mạt không ai bì trước giặc ngoại xâm phương Bắc, khiến ông nhà báo Bùi Bảo Trúc xưa nay có tiếng hiền hoà, ăn nói nhỏ nhẹ một “bạn ta”, hai “bạn ta” phải viết trên Take2Tango “Thư gửi bọn chó đẻ ở Hà Nội”.Chính bác đây nhiều đêm dật mình, thức giấc, tự hỏi, không biết bác đã thật sự chiêu hồi Tèo chưa ,hay vẫn chứng nào tật nấy !

    Thôi, để bác nói chuyện bác bị ăn“phở dâm” quê bác, may ra Cu Tèo còn can đảm đọc meo lão già khốn nạn này. Nhưng trước khi “ăn” phở …, Tèo chịu khó theo bác cà rỏng cho có ngọn có ngành.

    Số là, như đã meo cho Tèo trước đây, bác đáp chuyến tàu Thống Nhất, với ý định đi một lèo từ Bắc chí Nam.Nhưng mới đến ga Diễn Châu, bác đã chịu không thấu: qua nghe ngóng đối thoại của hành khách, Nam vẫn là Nam, Bắc vẫn là Bắc, không có chi là “thống nhất” cả; chẳng những thế, có khi Bắc trọ trẹ giọng Nghệ An của bác chửi Cộng Sản còn cay độc hơn người miền Nam, chẳng hạn như “cháu ngoan của bác” một thời Trần Ngọc Thành xưa kia được đảng gửi đi du học BaLan nay quay ra …sáng mắt, bỏ đảng chạy l ấy thân, xin đào tỵ tại Balan, nay là nước Tư Bản. Ôi mà thôi, nói “cháu ngoan” ra nước ngoài “bừng con mắt dậy” thấy mình đã ngoan dại ngoan khờ thì nhiều, điển hình là cu cậu Nguyễn Tiến Trung du học Pháp về với bằng Thạc Sĩ đòi Dân Chủ, Đa Nguyên vừa bị bắt, (cô bạn gái Hoàng Lan gì đó coi chừng, cũng sắp đến phiên).

    Bác nghe mà đinh tai buốt óc. Bác cũng tiếc đứt ruột cái vé tàu chen chúc xô lấn, đạp lên nhau, chửi nhau ỏm tỏi mới mua được với cả xưởng tiền do công đi lạy “ông đi qua bà đi lại” hàng tuần quanh quẩn Hà Nội mới có được, nhưng đành phải nhảy khỏi xe lửa đang vun vút lao đi giữa hai hàng.. sân Gofl! 

    Bác đi xe ôm về làng Kim Liên. Đã mon men nửa thếy kỷ, nay bác mới lại về thăm quê (Bác về lần cuối là năm 1961).. Tèo thắc mắc bác cải trang thế nào mà không để lộ tông tích.Tèo quên mất tài biến hóa xưa nay của bác rồi à? Thực ra thì một phần cũng nhờ thương tích khi bác nhảy khỏi hỏa xa, mặt mày trầy trụa, môi mép sưng vù, trán u một cục, lại trật gân cẳng đi cà niễng; đố ai mà nhận diện ra được “bác Hồ”.

    Nhớ lại ngày xưa vinh quy chừng nào thì nay càng tủi nhục vì phải chui rúc chừng đó. Như mới ngày nào. đúng 12 giờ 30 ngày 8 tháng12,1961, máy bay của bác hạ cánh xuống sân bay Vinh. Chính uỷ QK IV Chu Huy Mân, Bí thư Tỉnh uỷ Võ Thúc Đồng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Võ Trọng Ân mời Bác lên chiếc xe kết hoa. Hai bên đường có hàng ngàn người được bố trí sẵn đứng chào đón. Trong đoàn xe rước bác có cụ Lê Nhu là nguyên chủ tịch Ủy Ban Kháng Chiến tỉnh Nghệ An râu tóc bạc phơ cũng gọi bác bằng “bác”, mặc dù bác tuổi hàng ..con cụ ấy …Thế mà nay, bác thua cả thằng ăn mày, về quê lại phải trốn chui trốn nhủi như con …

    Bác lại nhớ trong lần thứ nhất về thăm quê, năm 1957, ngày 14 tháng 6, bác đã “nổ”:

    – Tôi xa quê đã 50 năm rồi. Thường tình người ta xa nhà, lúc trở về thì mừng mừng tủi tủi. Nhưng tôi không tủi mà chỉ thấy mừng. Bởi, khi tôi ra đi, nhân dân ta còn nô lệ, bị bọn phong kiến đế quốc đè đầu cưỡi cổ. Bây giờ tôi về thì đất nước đã được giải fóng, nhân dân đã được tự do.

    Càng nói ra càng xấu hổ, dân “nhà choa” (Nghệ Tĩnh) ta gọi là “hổ ngươi”.Cả 15 đồng chí trong Bộ Chính Trị bây giờ là tay sai đắc lực của Trung Quấc.Nó bảo cắt đất là cắt đất; nó bảo dâng đảo là là dâng đảo; nó kéo vào Tây Nguyên là …”quốc hội đồng thuận”; ai bày tỏ lòng yêu nước là ngay tức thì bị “làm việc” với công an!

    Đó là thứ “đất nước giải fóng, nhân dân được tự do” bác đã trót dại hô hoán trên máu xương hàng triệu sinh linh dân Việt.

    Nhiều chuyện quá, bác kể đến mô rồi hí? À, tiếp chuyện bác trốn về Kim Liên lần này. Bác định lân la về nhà cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc- phải nói là nhà cụ phó bảng Sắc, vì bác bụi đời từ nhỏ làm gì có nhà với cửa ở Kim Liên-nhưng bác sợ quá: đi ngang nhà ai bác cũng nghe người ta bàn tán về cái phim “Sự Thật Về Hồ Chí Minh”, và họ tin đó là sự thật. Có người lại còn nhại bác, hô hoán lên, “Phim Sự thật về Hồ Chí Minh là tài liệu thật. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng sự thật ấy không tài nào thay đổi được”. Lại có người nói bác đây không phải là con cụ Sắc, có ông nội thật là cụ Hồ Sỹ Tạo, mà là người Hẹ, do Tàu cấy vào nên đất nước ngày nay bị Tàu nó tung hoành như chỗ không người.

    Bác sợ quá, giữa đêm phải bám xe tải đi vào Hà Tĩnh. Hà Tĩnh quê Tèo cũng là quê bác: Nghệ An Hà Tĩnh xưa nay dính liền, thành Nghệ Tĩnh, dân “Cá Gộ”cả. Bác biết Tèo xấu hổ lắm khi có tên đồng hương làm hại quê hương, biến quê hương tồi tệ hơn cả thời “một ngàn năm nô lệ giặc Tàu, một trăm năm đô hộ giặc tây”; cũng do vậy mà có kẻ đã nói không ngoa, rằng Việt Nam thời Cộng Sản là “Autocolonization”, là thằng CS VN đang thực dân trên chính xứ sở chúng, nói nôm na là chúng đang ăn thịt đồng bào mình. Tèo xấu hổ lắm, bác biết, nhưng xin Tèo thương hại bác nay đang thật lòng sám hối; hay là để bác đọc kinh “Ăn Năn Tội” với Tèo?

    Xe chạy đến đọan giáp ranh hai huyện Cẩm Xuyên và Kỳ Anh thuộc Hà Tĩnh. Hai bên đường quán phở mọc lên như nấm. Gã lái xe quay sang bác, nheo mắt , miệng tủm tỉm:” đây là “Đoạn đường sung sướng”, còn gọi là “Điểm ngẩn ngơ”. Ta ngừng đây ăn cơm”.

    Từ ngày phim “Sự Thật`Về Hồ Chí Minh” được phổ biến khắp hang cùng ngõ cụt, bác như mèo cắt tai, hết dám hó hé chuyện “sung sướng” hay “ ngẩn ngơ” kia, nên chỉ nghĩ đến chuyện thuần túy ăn uống.

    Ăn xong, lại quầy trả tiền thì người thu ngân trố mắt nói,”cụ ăn đã xong đâu mà đòi trả tiền!”. Bác tưởng mình lãng tai nhưng chưa kịp hỏi lại thì có tiếng quát,” không chịu ăn phở dâm, đừng hòng ra khỏi quán, già rồi còn mất nết”. Bác sợ quá, chưa biết ăn nói làm sao thì may nhờ anh lái xe là thân chủ thường xuyên của quán xin tha cho bác. Bác “được” một phen hú vía.

    Chưa hoàn hồn nhưng thú thật với Tèo, nói gì thì nói, không ăn được Phở Dâm,bác thấy anh ách dưới bụng tế nào, nên leo lên xe là mở labtop lên mạng mần mò tìm .. hiểu Phở Dâm cho đỡ ghiền. Bác gặp website “Pháp Luật TP.HCM”, đọc được như sau:

    “Phở dâm – tệ nạn mới trên quốc lộ 1A

    Trên đoạn giáp ranh hai huyện Cẩm Xuyên và Kỳ Anh (Hà Tĩnh)
    ……………………………………………………………………………………………………Khách vào quán để ăn uống, dù thanh toán tiền sòng phẳng cũng bị nhân viên ở đây kiếm cớ gây sự, đánh trọng thương vì "tội" không chịu mua dâm. Công an huyện Cẩm Xuyên đã bắt giữ một đối tượng do hành hung, bắt một thực khách không ăn "phở dâm" phải ký giấy nợ 2 triệu đồng, để lại xe máy.

    Ngoài việc đánh người, một số phần tử quá khích trong quán "phở dâm" còn sẵn sàng chống người thi hành công vụ. Ban đêm, công an xã Kỳ Phong (Kỳ Anh) và Cẩm Minh (Cẩm Xuyên) đi tuần cũng bị bọn xấu đứng trên núi cao ném đá "củ đậu". Nhiều trường hợp đã bị mẻ đầu bươu trán.

    Tối 14/4, một trong nhiều tụ điểm mại dâm núp bóng cửa hàng ăn uống trên bị phát hiện. Công an huyện Cẩm Xuyên bắt quả tang một đôi trai gái đang mua bán dâm ở nhà Nguyễn Thị Ái (xã Cẩm Trung, Cẩm Xuyên). Chủ chứa Ái khai tổ chức mại dâm trong quán cơm phở để tăng thu nhập. Cô gái bán dâm tên H. cho biết, cô được nhận vào làm nhân viên bán hàng với tiền lương 300.000 đồng/tháng. Bà Ái bảo nếu H. chịu khó bán dâm thì sẽ tăng lương lên 1.000.000 đồng. Vì hám lợi, cô nghe theo. H. chỉ biết tiếp khách sao cho "sành điệu", còn mọi chuyện bên ngoài do bà chủ lo liệu. Mỗi ngày, cô phục vụ 3-5 người, giá bán dâm 30.000-50.000 đồng/khách. Hiện, Công an huyện Cẩm Xuyên đã khởi tố, bắt giữ Ái về tội tổ chức mại dâm.

    Thời gian qua, chính quyền hai huyện Kỳ Anh và Cẩm Xuyên từng mở nhiều đợt truy quét, xử lý hàng chục quán cơm nuôi và chứa mại dâm, đưa hàng trăm gái bán hoa ra khỏi địa bàn. Nhưng quán này bị đóng cửa thì quán khác lại mọc lên để kinh doanh mặt hàng "siêu lợi nhuận" này.”

    Phở Dâm đâm chồi từ quê bác rành rành, chớ làm sao mà nói là do “Văn hóa đồi trụy tàn dư Mỹ Ngụy”. Ngày bác bỏ Làng Sen vô Huế học cũng đi trên Quốc Lộ 1A này, qua chặng Kỳ Anh Cẩm Xuyên, cũng dừng chân lại , ghé túp lều gọi là quán bên đường, ăn cái bánh đúc, uống đọi (bát) nác (nước) chè xanh, sao mà hiền lành chân chất ngọt ngào tình tự.

    Cô thiếu nữ Kỳ Anh ngày trước bán bánh đúc, kẹo lạc với nước chè xanh.Ngày nay cô đã phải bán thân mình

    Vì ai nông nỗi .

    Phở Dâm đâm vạn mũi kim vào tim can bác đây.

    Tèo ơi, hãy để cho bác đọc kinh “Ăn Năn Tội”, nha Tèo .

    Bác Hồ

     

     

    Chào Bác Hồ,

    Lên mạng với bác mãi Tèo cũng nản: không nói chuyện với ai, cứ đè cổ bác Hồ trọ trẹ “Cách Mệnh , Trung Quốc, Giải Phóng …” của người ta 4000 năm văn hiến, thành “Kách Mệnh, Trung Quấc, Fỏng Zái..” kiểu chữ nghĩa chẳng giống con giáp nào.Lại nữa , chuyện trò với bác, trong xưng hô bác bác cháu cháu, Tèo bấm bụng cắn răng dẹp đi hai cái ngoặc kép (“…”), khiến có người chẳng  thấy thâm ý Tèo, trách sao không cum đầu bác trong cái còng “kép” kia; hay, bộ thằng Cu Tèo này vốn là dân “Ngụy” chính hiệu dầu cù là Bà Lang Trọc đã quên gốc gác tổ tiên, hay, nói leo theo ngôn ngữ người ta dành cho đám người- ngợm, mới ngày nào chưa có lệnh buông súng của hàng tướng Dương Văn Minh, đã bu càng máy bay dọt lẹ, nay anh mặt trơ anh trán bóng anh mắt lồi chạy về kiếm chút đỉnh chung ,chẳng những ôm chân cựu thù mà còn quay mồm nhục mạ đồng đội đồng bào chúng, là “bỏ quên căn cước Tỵ nạn Cộng Sản”, sao lại đi xưng là cháu bác Hồ ngon ơ. Mà nói đâu xa, Tèo “bác bác cháu cháu” hoài như vậy, riết rồi bác cũng đâm ra tưởng bở Tèo là cháu ngoan của bác ! Lại nữa có trang web “kết” Bác Cháu Ta Lên Mạng, đao-lốt từ Vietnamexodus , đăng lại nhưng lại cum đầu bác trong cái cùm kép, khiến Tèo không vui. Muốn nhiếc móc ai thì cũng phải để đầu tai ngươi ta thoải mái, “lời lời châu ngọc” mới phê.

    Cháu ngoan gì mà ngoan. Bác ngoan với Tèo thì có! Ai chưa biết “bác” Hồ ngoan với “cháu” Cu Tèo thế nào, ra răng,  chịu khó tìm đọc “Bác Cháu Ta Lên Mạng” bắt đầu từ “Meo Xuân Gửi Bác”.

    Bởi những lý do trên,Tèo định chấm dứt “giao lưu”với bác.Nhưng, lại chữ “nhưng” có lắm lúc vì nó mà thiên hạ lâm cảnh bị gậy ăn mày, Tèo không nỡ. Một phần vì chẳng buồn bỏ công trách người trình độ học hành cỡ …bác, hàng Tiểu học, hay nóí cách khác, với “văn phong” thời đại bác làm đơn xin Tây vàoTrường Thuộc Điạ để làm quan phục vụ Nước Đại Pháp, là học cỡ Primaire, dân Nghệ gọi là đi chăn me (con bê) chăn bò, lại bày đặt ta đây sáng tạo tài tình mà không biết mình là anh ngố ngốc nghếch giở trò hợm hỉnh; phần khác vì có thằng bạnTèo là Cu Long  (không có dấu ớ) dân rau muống lấy vợ đồng hương bác cháu ta thúc đít (tiếng Trung quê ta “muà đông thiếu áo mùa hè thiếu ăn”  là chọt lộ khu) rằng,“nếu còn hơi cứ viết tiếp nữa đi, bởi có rất nhiều “cháu ngoan của bác” khoái đọc “Bác Cháu Ta Lên Mạng”, Tèo đành hy sinh “vì lòng mến Chúa yêu người” tiếp tục “làm việc” với bác, OK Salem!

    Viết “vì lòng mến Chúa yêu người”, Tèo lỡ tay qúa đáng mất rồi bác ơi. Điều răn thứ hai trong Mười Điều Răn của Đức Chúa Trời do ông Môi Sen râu ơi là râu lặn lội lên núi Sinai cao vời vợi , nào dang nắng, nào nhịn đói nhịn khát ròng rã suốt bốn mươi ngày đêm, áo quần tả tơi, mặt mày phờ phạc, tóc râu bờm xờm, mang về, là “không được kêu tên Đức Chúa trời vô cớ”. Mea culpa, mea culpa, mea maxima culpa, Xin Chúa tha tội cho con.Chẳng qua cũng vì thương hại lão già đồng hương lựu đạn nhất lịch sử, chẳng những lịch sử Việt Nam của con mà lịch sử cả thế giới loài người, sắp chết đuối, vớ được cái phao là con đây, Cu Tèo mà chính lão già đệ nhất siêu sao lựu đạn này mới ngày nào xua quân vào Nam phá nát gia cang, chôm  của cướp nhà, bắt bỏ tù, xỉ vả là “thằng Ngụy Quân”

    Chết Cha, Tèo lại làm chuyện” bò trắng răng”. Tội của bác chất ngất đến tận Thiên Đình, ngập đầu gối Chúa, đi đâu cũng vấp; Chúa thì  thông suốt mọi sự. Con kiến đen núp dưới hòn đá đen trong một đêm trời tối đen, mà Đức Chúa Trời vẫn thấy, huống chi những “động thái” như bác chớp chớp mắt, khều tay, véo mông các cháu gái Mường trong hang Pắc Bó không đến nỗi tối om nhờ chút ánh sao khuya hắt vào phản chiếu trên dòng suối bác đặt tên ông cố nội Lê nin có hàm râu dê xồm. Cu Tèo bày đặt “múa rìu trước mặt thợ” khi kể tội bác cho Trời nghe. Đúng là đứa vô duyên.

    Thôi Tèo không hướng thượng nữa; Tèo hướng hạ bác đâỵ

    Bác an tâm đi, Tèo rất thấu nỗi lòng bác hôm naỵ Thiên hạ ngay lành “bỏ của chạy lấy người”, còn đám cháu bác trong đó có ông tướng  từng cầm quân dọa“ đốt cháy Trường Sơn” cho âm miu mà anh chàng Lộ Dún tức Lê Duẩn, cháu ngoan thứ thiệt của bác,  huỵch toẹt ra rằng“ ta đánh Miền Nam là đánh cho Liên Xô”, sau này “cầm quần chị em”,nay chỉ biết ôm cái xác ướp để lấy của, chứ thực tế mũi bọn chúng – qua tiến trình hội nhập kinh tế thị trường,  bươn bươn thuyền thúng Ra Biển Lớn, bén mùiTư Bản – cũng đã ngán ngẩm cái thối tha tanh ôi lâu nay cứ tưởng là mùi hương hí ha hí hửng hít hà. Sáng mắt ra rồi, nặng mũi quá đỗi, nhưng không còn con đường nào khác ngoài núp bóng thây ma đầy huyền thoại phịa sử để lấy của, giữ của ,thống trị muôn dân bằng lọc lừa, gian dối, bạo lực mệnh danh “bạo lực cách mạng”.

    “Bạo lực cách mạng “đang bao trùm lên cả nước, từ người dân chống gậy đi kêu oan vì ruông vượn bị cướp;giáo dân tu sĩ bảo vệ nơi thờ phượng, đếncậu thư sinh mang trên người cái áo màu xanh hiền hoà có chữ “Hoàng Sa Trường Sa là của Việt Nam”, lên hàng trí thức cảnh báo họa đất nước đang bi giặc xâm lăng  .

    Mấy bữa nay, “Bạo lực “cách mạng” đang dồn dí xuống giáo dân xứ đạo nhỏ bé Tam Toà, Quảng Bình, quê hương Võ dại tướng quân, xưa đẹp tiếng yêu nước rủ áo ông thầy giáo sử lên đường  tranh đấu nói là cho nước ông khỏi ách nô lệ giặc Tây, nay cúi gầm mặt, im thin thít miệng làm lơ trước cảnh đồng hương Quảng Bình ông đang bị chính thứ “bạo lực cách mạng” ông góp sức dựng nên dày xéo, từ đứa trẻ lên ông lão bị đánh đập, dày đạp, lôi đi, cách dã man hơn cả súc vật vì cái tội đến cầu nguyện dưới mái nhà thờ đổ nát.

    “Không được đụng đến di tích tội ác Mỹ”. Người Mỹ ở tận bên kia nữa vòng trái đất không lẽ vô cớ mang bom đi bỏ xuống nhà thờ xứ đạoTam Toà cùng thờ chung một Chúa với họ?

    Bộ đội cụ Hồ vác AK vượt sông Bến Hải vào giết hại đồng bào Miền Nam trước khi phi công Mỹ thả bom xuống dàn súng phòng không bố trí trên nóc nhà thờ Tam Toà.

     Di tích lịch sử tội ác đáng ghi lại, phải ghi lại cho dân Việt muôn đời mai sau không phải là ngôi thánh đường chẳng may bị hoạ lây , nhưng chính là những nơi nhưTrường Tiểu Học Cai Lậy, là Núi Đá Bạc Huế Mậu Thân, là Đại lô Kinh Hoàng Quảng Trị, là dãi Trường Sơn trắng xóa xương hàng triệu thanh niên Miền Bắc bị phỉnhi gạt, là hàng trăm ngàn ngôi mộ của lương dân bị giết trong Cải Cách Ruộng Đất, là những trại tập trung khổ sai đày ải xấp xỉ hàng triệu người hai miền từ  Nam Chí Bắc…

    “Bạo lực cách mạng”  hung hăng dữ dằn man rợ quyết liệt với đám giáo dân Tam Toà hiền lành dựng lều làm nơi tụ tập cầu nguyện, để bảo vệ “Di Tích Tội Ác Mỹ”. Nhưng

    “Bạo Lực Cách mạng” lại bủn rủn tay chân, tiu ngỉu tai mèo bị cắt , hột thị ngậm đầy mồm khi người dân sáu tỉnh phía Bắc có hỏi đâu rồi mồ liệt sĩ chống Tàu xâm lược hồi Tháng Hai năm 1979 ! và trong sáu tỉnh lỵ gần như bị lính Trung Quốc cào bằng ấy có bao nhiêu nhà thờ, chuà chiền thánh thất.

                        

    Thương hại bác thì thương hại, tội nghiệp bác thì tội nghiệp, nhưng sức chịu đựng của Tèo cũng có hạn, không biết kham nổi cái nản này đến ngày nào.

    Tèo lại đâm ra hoài nghi bác lâu nay tâm tình như thế với Tèo có chừng chớn chi không, tức có thật lòng sám hối, hay chỉ là trá hàng, rồi mai mốt gặp thời cơ bác lại quậy tiếp.

    Tèo nghi ngờ như vậy là” có cơ sơ” (Nả, nói chuyện với cách mạng, Tèo lại phả ách ách cái bụng khi dùng từ kiểu cách cách kiểu của cách mạng) khi xem phim “Sự Thật về Hồ Chí Minh”, Tèo thấy ông Vũ Ngự Chiêu, dựa theo tài liệu lịch sử ông ta mằn mò khắp nhiều thư viện nổi tiếng trên thế giới, đưa ra nhận định rằng bác hành động với chủ ý của mình theo từng giai đoạn, từng hoàn cảnh và nhu cầu. Bác  dựa vào các thế lực ngay vào thời điểm mà bác cần và lúc đó tư tưởng của bác là tư tưởng của các thế lực đó.

    Giai đoạn 1919, bác ca ngợi chủ trương của Tổng Thống Hoa Kỳ Wilson về chính sách thuộc đia, khi bác mới nhuốm nhém là thành viên của Đảng Xã Hội bên Pháp. Bác gia nhập Đảng Cộng Sản Pháp 1920 nên cái gì của Pháp cũng đẹp. Bác qua Nga 1923 thì tìm thấy thần tượng là chủ nghĩa Marx Lenin, một thứ ánh sáng soi đường, là thứ cẩm nang thần kỳ. Trong giai đoạn phải hợp tác với Tưởng Giới Thạch bên Tàu thì lại tôn vinh Tôn Dật Tiên với thuyết Tam Dân. Khi được OSS (cơ quan tình báo của Hoa Kỳ) mướn làm liên lạc viên đem thông tin qua lại giữa ranh giới Tàu và Việt khi đối đầu với Nhật thì bác đề cao những người Mỹ là “vĩ nhân.” Trơ trẽn hơn hết là sau khi cướp được chính quyền Trần Trọng Kim, ngày 2/9/1945, bác đọc “tuyên ngôn” lại dùng nguyên văn những câu trong Tuyên Ngôn Độc Lập của Hoa Kỳ.

    Tèo chẳng muốn chút nào khi sau này lại đọc được đâu đó ông Vũ Ngự Chiêu, hay một người nào đó viết tiếp: Giai đoạn …Hồ Chí Minh đi theo Cu Tèo rồi gặp Cu Tý, Cu Long khá hơn, lại bỏ Cu Tèo.

     

    Bác ơi, ông Thiệu lại hiện về.

    Thành thử Tèo chưa dám hẹn với bác meo sau.

    Cu Tèo

    Này CuTèo,

    Có phải, sau khi “nhiếc người thiên cổ” bác một trận nên thân, Tèo đoán chắc bác sè bẽ mặt, lặn luôn một mạch, hết dám “bác bác cháu cháu ta “giao lưu trên mạng nữa không nà ?

    Tèo đoán sai!

    Nhận meo hồi âm của bác hôm nay, Tèo khoan vội kết tội bác, đồ thứ mặt dàỵ, chường ra đó làm chi nữa. Tội nghiệp, bác đang mặt dày với Tèo không phải bác cố đấm ăn xôi-xôi gì mà xôi nữa, ăn kít (tiêng Nghệ) thì có: bác đã biết phận mình, không phải như đã ba hoa “đưa năm châu đến đại đồng”, mà là thực sự đã đem dân Việt vào tròng nô lệ; còn tệ hại hơn: xưa có nô lệ thằng Tây, thằng Tàu Minh, Thanh, nhưng đất nước Việt Nam vẫn còn nguyên ranh giới đất liền đảo biển, nay nô lệ thằng Tàu thời hiện đại Hồ Cẩm Đào, đất, biển, đảo teo tóp dần, và cứ cái đà này chẳng bao lâu nữa nước Việt bốn ngàn năm tổ tiên gầy dựng giữ gìn bị xoá tên, dân tộc Việt chỉ là một thứ “người dân tộc” thiểu số của Trung Cuốc …

    Bác chường mặt ra đây,quỳ lạy Tèo, là để xin được Tèo nhiếc bác nữa đi, chửi bác nữa đi! Hồi còn mô` mả Việt Nam Cộng Hòa, tức là  thuở đồng bào Miền Nam ruột thịt chưa bị phỏng ôm giế chạy có cờ, ông Thiệu nói,”làm chính trị cần phải lỳ”. Bác Hồ của Tèo hôm nay đã rơi mặt nạ cái ịch, đâu còn dám bén mảng đến chuyện chính trị chính em nữa để theo sách ông ấy mà lỳ với Tèo.

    Bác chỉ muốn nói theo cách của ông Thiệu, để tạ tội với tổ tiên, với đồng bào, với dân tộc,núi sông, một cách thực lòng, bácHồ phải lỳ, tức là đưa mặt ra cho thiên hạ nhiếc, thiên hạ chửi . Nhiếc bác đi, chửi bác đi! Ẻ vào mặt, đấy lên đầu bác Hồ đi !

    Cu Tèo, cu Tý, Cái He, cái Hĩm, trí phú địa hào, không phải “đào tận gốc trốc tận rễ”mà hãy đứng dậy, người người nhiếc, nhà nhà chửi bác Hô đi cho bác đền tội phần nào. Làm sao bác đền hết tội bác: xương núi, máu sông, văn hiến tiêu tàn, luân thường đảo ngưọc, nòi giống căng lai; đất biển xén cắt làm của lễ triều cống giặc phương bắc.Bản án nào xứng, dành cho bác và băng đảng bác đâyTèo ?

    Hồi trước nhờ tài chôm chỉa, bác đem loè thiên hạ “Bản Án Chế Độ Thực Dân”. So với Bản Án mà loài người văn minh tiến bộ tuyên đọc cho đám tội phạm đang đứng trong vành móng ngựa là Chế Độ Cộng Sản, chỉ là hàng chuột nhắt dưới rặng Thái Sơn.Chỉ cần xem cái hinh vẽ trong “Bản Án Chế Độ Thực Dân”, cảnh một anh Tây cầm roi đánh dân ta, rồi xem hình chụp cảnh “công an nhân dân” CHXHCNVN đánh người Việt.

    Lại bắt chước bà con bên đạo, bác đấm ngực, lỗi tại tôi, lỗi tại tôi, lỗi tại tôi thiên thu vạn dặm đàng!

    Nhiếc bác nưã đi, chửi bác nữa đi.

    Bác mần mò vào Vietnamexodus.org , thấy ông Kiều Phong đã “lên non tìm động” đang nhỡn nhơ “hoa vàng” mà  nghe nhắc đến thế sự nhiễu nhương, các đồng chí trong bộ chính trị đứng đầu là thằng con trai bác lấy mẹ họ Nông đang “cúng dường” Tây Nguyên cho láng giềng kẻ cướp Hồ Cẩm Đào tức khí  chịu không thấu phải“xuống núi” mô tả “Chân Dung Bác Hồ”.

    Ông Kiều Phong này tu tiên sao mà tài quá vậy nà ? Ông tả y chang như đi guốc trong bụng bác, chẳng hạn bác giả dạng Trần Dân Tiên “khiêm tốn nhường ấy” để tự thổi ống đu đủ . Hết chôm chỉa“Nhật Ký Trong Tù”, đến lấy tên người yêu T. Lan “Vừa Đi Vừa Kể Chuyện” sang phịa ra anh chàng Trần Dân Tiên! Bác quất láng sạch, trụi luĩ cả cây đu đủ của người ta trái đang xanh rì mà chưa đã !

     

     

    Đang nhâm nhi ông Kiều Phong- vì ông ấy viết trúng phóc tim đen mình- thì bác lại gặp ông cố đạo Nguyễn Hữu Lề cầm đầu phong trào “Saigon For Saigon”,( tức đòi lại cái tên Saigon bị băng đảng bác cuớp dật của Hòn Ngọc Viễn Đông rồi trét đại tên bác vào đó, rồi bảo là Saigon giải phóng, mà Giải phóng gì kỳ quặc vậy? tên tuổi của người ta cả mấy trăm năm nay rồi, dân Saigon có ai đòi thay đâu. Cướp của người ta, khổ chủ người ta đòi lại là đúng) .

    Ông cố đạo hồi nào  đến giờ chỉ quanh quẩn nhà thờ lo việc phần hồn cho bầy chiên. Thế mà chó sói bác đẻ ra nhiều quá, quậy phá lung tung không chừa ai, chúng còn khiêng tượng ông tổ của chúng là bác đây đặt lên bàn thờ như chuà chi đó ở tỉnh Bình Dương khiến ông sợ quá, vì nghĩ tới biết đâu một ngày nào đó dịp lễ Noel, hang đá Bê Lem với Chúa Hài Đồng truyền thống bị thay thế bằng cái hang Pắc Bó với ông già Hồ ngồi dịch lịch sử đảng Cộng Sản bên Liên Xô; và các cháu gái Mường tủm tỉm nhỡn nha lạng qua lạng lại vuốt râu bácthay vì các chú mục đồng qùy thờ lạy Chúa, bèn  làm đơn xin Chúa thông cảm và được chấp thuận,cho phép ông đi tùm lum khắp thiên hạ lần mò tra cứu tài liệu, sử tích về bác. để may ra tìm cách nếu chưa tiêu diệt đước thì ít ra ngăn chặn không cho chúng nhảy lên bàn thờ Chúa.

    Thế là nhờ  sự  hưởng rầm rộ không những của bà con bên đạo, mà từ mọi người , những ai còn sáng mắt bất kể khác biệt tôn giáo, và  nhờ công lao của nhiều người trong phong trào, “Sự Thật Về Hồ Chí Minh”  đã trình làng. Phim chỉ toàn là hình ảnh và nhân chứng chết có sống có .

    Đúng ông ấy là linh mục có khác.Bác xem đi xem lại nhiều lần mà không hề thấy có chi  bị bóp méo, thêm thắt; lại cho xem miễn phí, và còn khuyến khích mỗi người xem copy thành mười bản,phát không cho thiên hạ (chứ không phải chạy theo lợi nhuận trong cơ chế KinhTếThịTrường Định Hướng XHCN kiểu nhà trường ta bây giờ, xã hội chủ nghĩa cái đách gì lại bắt học trò đóng đủ thứ tiền học, kể cả các cháu mẫu giáo.).

    Chi tiết nào bác cũng nhận tội hết .

    Chỉ có một điều bác ngỡ ngàng , không tin vào con mắt mình . Đó là đoạn phim đen trắng ghi lại rất rõ ràng cảnh bác nhào tới hôn lấy hôn để ông lãnh tụTrung Quốc. Tèo vào đó mà xem, tràn đầy trên nhiều website, chứ làm sao bác tả ra đây được. Đại khái bác lúc đó như đứa con hoang thất lạc lâu năm giờ mới gặp lại được mẹ cha .

    Hay,đúng như khám phá của nhà biên khảo Đài Loan nọ,  bác đích thực là người Hacka, người Hẹ ?

    Nhưng mà bác Hồ đây, dù là Hẹ, là Hành, là Tỏi, Gừng, Riềng chi đi nữa thì,

    Tèo ơi, bác cúi đầu sấp mình xuống đây. Tèo cứ nhiếc bác nữa đi, chửi b ác nữa đi; nhớ k êu thêm Cu Tý , Cái He, cái Hĩm, và  gọi tất thảy “cháu ngoan” của bác, nhớ nghe Tèo.         

     

    Nhớ nha Tèo, bác nhắc lần nữa

    Bác Hồ

    TB. Bác tự nhiếc bác, nên trong meo bác dùng đôi chữ không được trong sáng , như “kít, ẻ, đấy, đách” mà không ngại bị mang tiếng vô văn hoá, xúc phạm thanh danh kẻ khác, nếu có ai đọc được; còn công an mạng đọc thì bác đách sợ .

    —————————————

     

    NHIẾC NGƯỜI THIÊN CỔ

    Chờ mãi, nay Tèo mới nhận được meo Bác hồi âm. Tèo cứ tưởng, chắc bác đã bị các đồng chí công an nhân dân anh hùng túm cổ và đem về nhốt lại hầm lăng Ba Đình mất tiêu rồi.Trước đây bác thổ lộ tâm tình: bắt chước câu hát bên bà con có đạo “bỏ Ngài con biết theo ai,”để “bỏTèo bác biết theo ai”, vậy mà bác bắt Tèo trông meo bác cả tháng .Tèo lại văng vẳng bên tai lời ông Thiệu, “Đừng nghe…”

    Đừng nghe thì hẳn đừng nghe là cái chắc rồi, nhưng Tèo không dám trách bác đâu. Nhớ những năm đầu “cải tạo”, bọn Tèo luôn được lên lớp, rằng thì là “Xã hội nào, con người nấy”. Trong xã hội xã hội chủ nghĩa bác mằn mò tìm gặp, hí hửng ôm về, chui hang Pắc Bó dịch thuật, tôi luyện,xuống núi, cậy vả quan thầy ngoại bang Nga Tàu, trùm lên cả nước, làm gì còn đạo nghĩa, lẽ phải chăng, phép lịch sự tối thiểu…

    Bài học số mấy nhỉ, Tèo quên mất, “Muốn xây dựng CNXH, phải có con người XHCN”. Để có “con người xhcn”, trường học toàn cõi Miền Bắc sau chiến thắng Điện Biên, và cả nước từ sau 1975  đã bị vứt sạch, xoá sạch những “Tiên học Lễ, hậu học Văn; Có Tài phải có Hạnh , Ngày nay học tập ngày mai giúp đời v.v…” ; để thay vào đó là … “bạo lực cách mạng; trí phú điạ hào, đào tận gốc trốc tận rễ; giết, giết, giết cho đồng lúa tốt tươi; tiếng đầu lòng con gọi Xítalin; giết lầm hơn tha lầm; đạo Chúa đạo Phật là thuốc phiện; là đủ  thứ phi nhân phi cầm phi thú.. để “ngày nay học tập, ngày mai hại đời …” nhắc ra thì ai cũng “biết rồi khổ lắm nói mãi người ơi”, Tèo không dài dòng ra đây.

    Con người xã hội chủ nghĩa áp dụng nhuần nhuyển phong cách bác và băng đảng dạỵ Như muốn cướp đất giáo xứ Thái Hà, Hà Nội, thì núp đũng quần bọn côn đồ hành hung giáo dân, linh mục; muốn chiếm tu viện Bát Nhã, Bảo Lộc, Lâm Đồng, thì hóa trang thành đám xã hội đen đập phá cư xá các thầy, xô đuổi tăng sinh, cúp điện, chặn đường; đó là chưa kể đến mặt trơ trán bóng phớt lờ chuyện tu viện Bát Nhã này lại là món quà đáp lễ của đảng cho “thiền sư” Nhất Hạnh  đã có công “bê xác” (Vesak) – Đại hôị Phật Giáo Quốc tế  năm 2008- về làm cò mồi mà lễ khai mạc của tôn giáo lại do ông thủ tướng thấm nhuần đạo đức cách mạng”tôn giáo là thuốc phiện” chủ trì;muốn giải tỏa áp lực quốc tế từ mọi phía dồn dí vào trước việc “bắt khẩn cấp” hết sức vô cớ nhìn vô duyên chi lạ Luật sư  Lê Công Định, thì ngồi chồm hổm ẻ đấy (tiếng Nghệ) tung toé toèm loem lên Hiến Pháp nước CHXHCNVN lẫn Bộ luật Hình sự, cho truyền thanh truyền hình phao Ls Định có tội khi ông ấy chưa… ra toà; muốn bao che cho chú Lê Khả Phiêu “vua chống tham nhũng”, nhà chứa đầy bảo vật kể cả đồ quốc cấm trống đồng ngà voi, thì ra lịnh điều tra anh nào chụp hình lại bạo gan phát tán trên mạng toàn cầu ..

    So với những chuyện hàng hà đa số đại loại như trên thì chuyện bác nhận meo Tèo rồi viện cớ “bác nhìn bác trong gương” thấy mình thê thảm quá, im ỉm mãi đến nay mới trả lời là chuyện nhỏ trong cách hành xử của “con người mới xhcn”. Ai lại bỏ công đi phàn nàn trách quở con cóc chết sao mày thúi quá, bác hỉ !

    Bác đã chết, đáng ra phải được “để người chết nằm yên”. Đó là chút ân huệ đời dành chung cho những đồng loại lúc sống “có vấn đề” với nhân quần xã hội, nhưng không phải cho tất cả mọi người “có vấn đề”. Những tên bạo chúa, đồ tể như Néron,Tần Thủy Hoàng, Hitler…mãi đến bây giờ vẫn tiếp tục bị người ta lôi ra nguyền rủa, hành tội. So với những tên này, tội bác nặng hơn nhiều. Tội của bác đã nặng hơn ai, nay lại tiếp tục tác hại như thứ ung thư di căn đang làm băng hoại dân tộc Việt Nam và tiêu vong đất nước nàỵ

    Bác đã ra người thiên cổ. Nhiếc người thiên cổ Hồ Chí Minh là chuyện chẳng đặng đừng, Tèo cũng đau lòng lắm. “Giọt máu đào còn hơn cả ao nước lã”; Bác với Tèo tuy không họ hàng máu mủ, nhưng cùng uống chung nguồn nước sông Lam, cùng hưởng niềm tự hào là đồng hương với những vị anh hùng hào kiệt văn nhân làm vẻ vang dân Việt; Nam Đàn, Nghệ An với Đức Thọ, Hà Tĩnh lại cách nhau là mấy, có thể như láng giềng gần trong thời đại khoa học kỷ thuật tân tiến ngày nay; cha ông xưa dạy,”Bán chị em xa mua láng giềng gần”.Tình Tèo-Bác do đó mà cũng hơi hơi hướng hướng chút “máu đào”, để ít ra dù gì đi nữa thì cũng đùm bọc lấy nhau. Nhưng “bên tình” là vậy, kẹt nỗi còn có bên lý .

    Cha ông cũng dạy, “Tổ quốc hưng vong, thất phu hữu trách”.Dựng đầu bác dậy mà mắng nhiếc là bổn phận của tất cả những ai còn ngoài vòng lú lẫn u mê. Không phải để trả thù cho hằng triệu người dân Việt đã bị đấu tố,giết hại; oán bác gieo cho muôn dân điệp điệp trùng trùng, ai, đến bao giờ mới báo được.Lại nữa, xưa nay có câu “định luận cái quan”, thành thử, bác càng chẳng có quyền gì để khiếu nại việc Tèo đang định tội bác, mà cứ để yên cho Tèo làm việc. Bác yên trí đi, Tèo làm việc với bác không phải như công an nhân dân phường khóm hay bộ nội vụ làm việc với đồng bào khiếu nại kêu oan, hay với đám thanh niên sinh viên học sinh biểu tình chống Trung Quốc xâm lược không may bị bắt đâu. Các đầy tớ nhân dân ấy toàn ngồi trên Bộ luật Hình sự mà xử mấy ông chủ nhân dân; cònTèo thì ông luật pháp ngồi trên, nên trong khi vừa xử bác, Tèo  vừa ngước lên ông luật xem ông ấy khi nào cũng lườm lườm như muốn bảo,” mày xử tào lao ông ấy, tao cum đầu mày trước”,có quắc mắt trợn mày gì không. Nghĩ tới bị “cum” là tèo tởn rồi, mặc dầu không phải ăn toàn củ sắn, gạo mọt, bo bo hay bột mì đen cho lợn ăn Liên Xô , lao động nặng nhọc cho mày chết luôn, mà mãi đến nay, một phần tư thế kỷ rồi đêm đêm lại lãng vãng mò về cùng những AK,nón cối, dép râu …Bác đừng sợ bị Tèo xử oan bác hí.

    Trong lịch sử cổ kim nhân loại, chưa một bạo chúa nào lại làm hại chính dân mình, nước mình như bác Hồ Chí Minh và băng đảng bác lập ra. Đã thế, bác đã “thiên cổ” 40 năm rồi mà băng đảng bác vẫn luôn mồm viện cớ “làm theo lời bác dạy”, để đưa cả bé gái đi làm nô lệ tình dục năm châu, coi dân như cỏ rác, câu kết với toàn tư bản (“đánh cho) Mỹ cút” và phe” đế quốc”, rước về làm nhục đồng bào, chẳng hạn đám chủ hãng giày Nike đánh đập bắt qùy phơi nắng nhân công Việt trên nước Việt nơi thánh phố mang tên bác; những tội phạm khắp thế giới từ buôn lậu, hối lộ,chuyển ngân trái phép, đĩ điếm, buôn ma túy, trồng cần sa, toàn là xuất xứ từ bầy con cháu bác Hồ và băng đảng của bác. Việt Nam ta là nước nông nghiệp, thế mà nay,người nông dân sáng sáng mở mắt ra là, y như rằng, thửa ruộng này, đám đồng kia lại vừa có lệnh “quy hoạch” làm sân Golf.Sân chơi gì mà lắm thế; chỉ là màn trá hình để các đồng chí của bác cướp đất dân.Ruộng đồng ngày một teo tóp lại khiến mấy cậu mục đồng sợ mai mốt không còn nơi cho trâu bò ăn cỏ nữa đã có ước mơ được chú Cuội bảo lãnh người lẫn trâu bò lên chị Hằng.

     Tèo lại nhớ “bài học cải tạo”. Lịch sử loài người trải qua bốn thời kỳ: cộng sản nguyên thủy- chủ nô-phong kiến-tư bản; “nói đến tư bản là phải nói đến bóc lột”. NhưngTèo cố lục tìm hoài vẫn chưa thấy sách sử nào ghi lại, cảnh dân oan biểu tình nhiều và bị nhân viên công lực đánh đập thảm thương như thời kỳ “đương đại” dưới chế độ “sống và làm việc theo gương bác Hồ vĩ đại”. Theo lịch sử loài người, kể cả lịch sử vượn, vượn-người; cả khoa học động vật, chưa hề có đám tù trưởng, bầy trưởng nào khi nước mình, lãnh địa mình, rừng cây mình bị kẻ lạ xâm lăng lại cấm cản dân mình chống cự. Quỷ quái thaycho một đất nước độc nhất trên hành tinh này đã phá vở cái định luật ấy. Đó là nước mang tên “Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam” dưới sự lãng đạo của đảng CSVN quang vinh muôn năm, và sống mãi trong sự nghiệp Hồ chủ tịch”. Nam Quan, Bản Dốc, Hoàng Sa, trường Sa, Bauxite Tây Nguyên …!

    Thảm họa khủng khiếp đang gieo xuống đầu dân Việt do 15 tên đầu sõ trong băng đảng bác.Bọn 15 này, tùy theo tuổi tác, gia đình xuất thân,hoàn cảnh xã hội, giao dục,v.v.. dầu sao cũng còn chút ảnh hưởng “phi Hồ hoá”, nói cách khác, đám này chưa hẵn đã sinh ra oe oe trong cái nôi “kách mệnh” bác chôm về. Cái đám hậu sinh sau này rồi đây mới khả ố đến chừng nào nữa, khi chúng, bắt đầu năm học 2009, từ lớp năm đã “được” học tập đạo đức Hồ Chí Minh.

    Sự nghiệp bác càng sống mãi, thì dân tộc này, đất nước này càng phải khốn nạn mãi. “…Làm văn hóa sai thì hại muôn đời”. Bác và đám vô loài đang làm công cuộc hại muôn đời dân Việt.

    Thế nên, dù chỉ là đứa thất phu, ngày nào Tổ quốc còn lâm nguy vì di lụy “lời bác Hồ dạy”, ngày đó như mọi người khác chưa chết chút lương thức tối thiểu, Tèo còn có nghĩa vụ mắng nhiếc bác Hồ, dù bác đã ra “người thiên cổ.

    Chào bác,

    Cu Tèo

    TB. Mặc dù bác đã phản tỉnh, chuồn khỏi lăng, chiêu hồi bọn “Ngụy” Tèo, nhưng Tèo viết như thế, nếu nông cạn nghĩ là hơi nặng tay, đã nỡ đánh kẻ chạy lại; cũng tội nghiệp bác. Nhưng Tèo nghĩ, vốn chồn cáo tinh ranh, bác cũng hiểu ý Tèo “nhắm bụi tre, nhè bụi hóp”.Bác lại cười tủm tỉm, như đã có lần, “lại cái thằng cháu cụ tiên sinh làngTiên Điền…!”, chứ gì.

     

  • Tạp ghi

    Những đứa con rơi của Hồ Chí Minh

    Những đứa con rơi của Hồ Chí Minh


    Default
    Ảnh chụp Nguyễn Tất Trung

    Con người huyền thoại: Vũ Trung-Nguyễn Tất Trung 



    Tác giả: Nguyễn Thái Hoàng 


    1. Con người Huyền thoại Vũ Trung-Nguyễn Tất Trung 



    Vì nỗi mong mỏi tha thiết của mọi người muốn biết rõ về thân thế, sự nghiệp của Nguyễn Tất Trung – đứa con rơi của ông Hồ Chí Minh trong vòng tay “nhân ái yêu thương” của các đồng chí – Hoàng nghĩ mình không có quyền né tránh câu hỏi này, khi thực tế đã bày ra trước mắt. 

    Bạn LHA (Hoa Kỳ) viết: “Cám ơn bạn Nguyễn Thái Hoàng đã cho bạn đọc biết về tung tích của anh Nguyễn Tất Trung. Trong cuốn hồi ký "Đêm Giữa Ban Ngày" của nhà văn Vũ Thư Hiên có nói rằng sau khi bà Nông Thị Xuân bị ám hại, thì Nguyễn Tất Trung được giao cho Vũ Kỳ nuôi rồi sau đó không còn biết tin tức gì nữa. Tôi không hiểu tại sao cùng là hậu duệ của ông Hồ lại bị phân biệt đối xử như vậy, anh Trung cũng là con “Vua” như Nông Đức Mạnh, nhưng ông Mạnh lại được làm tổng bí thư, trong khi Trung lại quét lá đa. Cây đắng không thể sinh trái ngọt, hy vọng anh Nguyễn Tất Trung là trường hợp ngoại lệ". 

    Dù không muốn làm mọi người thất vọng, nhưng Hoàng cũng phải nói thật điều này: LHA nói đúng: Cây đắng không thể sinh trái ngọt. Nguyễn Tất Trung không phải trường hợp ngoại lệ mà đã bị Đảng nhuộm đỏ từ đầu đến chân. Rất có thể Hoàng có lỗi trong việc này vì đã thông tin không đầy đủ đến bạn đọc, làm bạn đọc hiểu lầm. Thực tình, cũng như LHA và rất nhiều người Việt Nam khác, Hoàng cũng tràn trề hy vọng về một Tất Trung khác, một Tất Trung vì nỗi đau xé gan xé ruột của mẹ mình, của chú, dì, và họ hàng bên ngoại mà hành xử khác, biết phân biệt đâu là chính nghĩa, đâu là trọng tội, cho dù tội ác ấy được phủ bằng màu cờ đỏ sao vàng đi chăng nữa, thì bàn tay của kẻ cầm cờ chắc gì đã sạch? đã không nhuốm máu mẹ đẻ mình? Như bao nhiêu năm anh đã từng thét vào mặt họ: "Phải làm sáng tỏ cái chết của mẹ tôi, không thằng nào khốn nạn bằng thằng bố tôi, đẻ con ra mà không dám nhận con…v.v".

    Thật không ngờ Đảng đã “vững vàng đường lối, kiên trì quan điểm lập trường cách mạng” đến cùng để biến “Tất Trung” thành “Tất Nhụt”, thiếu hụt niềm tin và bản lĩnh chiến đấu, từ căm thù cái ác, cái xấu trở thành nguội lạnh vô cảm, vô đạo như hiện nay.

    Để giúp mọi người hiểu rõ về Nguyễn Tất Trung, cũng là thanh minh sự lầm lẫn của mình, Hoàng xin nói dông dài một chút như sau: 

    Vì ảnh hưởng nghề nghiệp, trong khi chưa bị Đảng thiến hết nhân cách Hoàng vẫn lê la ở khu vực ga Trần Quý Cáp là nơi bà con từ 60 tỉnh thành trong cả nước đổ về, tụ tập, khiếu kiện vượt cấp, để tìm hiểu , hỏi han, tuy biết chẳng thể giúp được gì cho họ mà chỉ để tìm hiểu xem mức độ đểu giả độc ác của Đảng cộng sản đến đâu thôi? Trong một lần như vậy Hoàng ngồi nghỉ ở quán bia số nhà 62 cùng phố , được anh Mẫn (chủ quán) rỉ tai cho biết là Vũ Trung rất hay đến đây uống bia. Từ hôm đó Hoàng chủ động đến đó nhiều lần để chờ gặp cho bằng được con người huyền thoại này.

    Thú thật lần đầu nhìn thấy anh Trung dựng xe bước vào quán, Hoàng hồi hộp ghê lắm, tim đập, chân run, cái nhìn đầy tinh lực, chăm chú như thể của đôi tình nhân trong thơ Đàm Phố: "Yêu nhau mà mắt nhìn không chớp, thấy nhau rồi chỉ muốn nuốt trôi nhau". Sau cái mỉm cười xã giao, bắt tay với chủ quán, Trung lui về với cốc bia của mình, trở thành người khác hẳn, lặng lẽ u uẩn, câm nín, căm tức, căng thẳng. .. Về hình thể Trung rất đẹp, trẻ hơn cái tuổi 49, 50 của mình rất nhiều. Da trắng, sống mũi cao, lông mi cong vắt, môi đỏ, nói chuyện rất có duyên, miệng cười, mắt cũng cười theo. Nghiã là hoàn toàn giống mẹ, như trong "Đêm giữa ban ngày" của Vũ Thư Hiên: "Cô Xuân 21 tuổi, khá đẹp, nước da trắng hồng, môi đỏ, nụ cười như hoa nở". Tuy cũng có dáng cao dong dỏng, nhưng không hề có dấu vết gì của ông Hồ kể từ dáng vẻ khuôn hình đến các nét trên gương mặt. Về trang phục, Trung ăn vận gọn gàng, lịch sự và bắt mắt, đến mức anh bạn đi cùng Hoàng – vốn quyền cao, chức trọng, phải thầm thì: "Thằng cha đẹp quá, mình mà là con gái, nhất định phải
    chửa hoang với nó, ít nhất là 7 lần".. Qua nhiều lần bí mật quan sát, Hoàng cảm thấy bề ngoài Trung đóng vai lãng tử con nhà giàu, chịu chơi, nhưng bên trong là nỗi đau không lời, nỗi đau khấn bốn phương trời còn đau, thậm chí Hoàng chỉ có thể mượn thơ Thế Lữ để tả: "Ngậm một khối căm hờn trong tim óc…"

    Nghĩ mãi cuối cùng dịp may cũng đến, trong số bạn thân của Hoàng có một anh thuộc diện "con ông cháu cha" vốn trước học cùng trường trung học mang tên Nguyễn Văn Trỗi ở Trung Quốc với Trung. Thế là anh vui vẻ gọi điện thoại hẹn gặp và kéo cả Hoàng đi. Trong suốt buôỉ gặp mặt vui vẻ đó, Hoàng càng củng cố thêm nhận định của mình. Lần ấy đúng dịp ông Vũ Kỳ mất, Trung nhắc đến cái chết của bố nuôi đầy quyến luyến. Từ lúc ông bắt đầu trở bệnh, đến lúc phải thở bằng ô xy, rồi 20 ngày cuối, trong lúc cả nhà xúm vào săn sóc, ông yêu cầu đưa giấy bút, kiên quyết bắt rút ống thở để ra đi, hoàn toàn tỉnh táo, không một chút vật vã đau đớn. Ngay sau đó chính phủ đã ký duyệt cho gia đình 50 triệu để xây mộ ở nghĩa trang Mai Dịch…

    Trong câu chuyện hễ nhắc đến ông Hồ là Trung thay đổi thái độ, mặt cau có, căng thẳng. Mỗi khi anh bạn đưa ra những lời phủ nhận về một số phần tử "quá khích", "nói xấu" ông Hồ, Trung đều gạt đi, bảo: "Ông lạc hậu, quan liêu quá. Chịu khó lên mạng mà đọc đi, không thì nghe lời dân gian nói ấy, ông Hồ mất đi chỉ để lại: "Ba Đồng Chinh Bằng Tôn" (1) có ích mẹ gì đâu…Trong cuộc vui Trung còn đọc cả thơ "cửa mở" của Việt Phương (Thư ký riêng của Phạm Văn Đồng) cho cả hội cùng nghe (đại ý): 

    Đồng hồ Liên Xô tốt hơn đồng hồ Thuỵ Sĩ 
    Trăng Trung Quốc tròn hơn trăng nước Mỹ 
    Mở đài địch như mở toang cách cửa, 
    Nghe nó chửi mà thấy cả ngày mai…


    Sau này trong vài lần gặp lại, Hoàng có đặt thẳng vấn đề với Trung: 

    – Trong cuộc đời có bao giờ anh cảm thấy mình bị đối xử tệ bạc không?

    Trung đáp không hề né tránh:

    – Có chứ, không phải chỉ một lần mà là thường xuyên – Và Trung kết luận: 

    – Đến bom đạn thành cổ Quảng Trị còn không lấy nổi mạng mình, kể cũng lạ…

    Biết được điều lạ lùng này Hoàng vội vã thốt lên: 

    – Tại sao anh phải đi lính, là con Bác Kỳ thì cùng lắm cũng chỉ là lính cậu, lính văn phòng thôi chứ, sao lại phải ra mặt trận ?

    Trung bảo: 

    – Không có đâu, 10 năm trên khắp các chiến trường đông, tây, nam, bắc, nhưng căng thẳng nhất vẫn là thành cổ Quảng Trị và mặt trận Căm-pu-chia.. Trong hai thời điểm khắc nghiệt ấy, trung bình mỗi ngày mình phải chia tay với vài chục thằng bạn, chúng nằm lại thành cổ, bên kia bờ sông Thạch Hãn, hoặc đạp phải mìn bị thương phải chuyển lên quân y viện…

    Hoàng thăm dò: 

    – Có bao giờ anh nghĩ mình là con người của huyền thoại, luôn bao bọc quanh mình cả một lớp huyền thoại hư thực không?

    Trung trả lời, mắt như có lệ:

    – Mình cạn khô nước mắt khóc mẹ từ lâu rồi, đừng hỏi nữa. 

    Lúc này Hoàng mới kịp nghĩ ra là trong tất cả những lần gặp gỡ, chưa khi nào Trung được phép đi một mình mà luôn luôn có các "ông bạn" cặp kè bên cạnh. 

    Thú thật đêm đầu tiên sau lần gặp, Hoàng trằn trọc băn khoăn không ngủ nổi, càng lên mạng càng đọc được thông tin về ông Hồ, Hoàng càng mong muốn được gặp lại, thậm chí Hoàng đã nghĩ, dù có dao kề cổ Hoàng cũng phải viết về con người này…

    Tất nhiên ý nghĩ ấy là viễn vông ở Việt Nam, vì tất cả các tổng biên tập, các giám đốc nhà xuất bản đều đã nhận được một bài học nhớ đời sau vụ tổng biên tập báo Tuổi Trẻ Minh Hạnh mất chức vì đã dại dột đăng tin về người vợ Trung Quốc của ông Hồ.

    Lần cuối cùng Hoàng gặp Trung tại quán cà phê bông giấy 2, đường Lê Thành Nghị, Hà Nội. Người Chủ quán là vợ Trung, trẻ, đẹp, duyên dáng tên Duyên. Tại đây, qua những lời bộc bạch chân tình của chị Duyên về sự quan tâm săn sóc của chú Khải, chú Lương, chú Mười, anh Mạnh v.v., Hoàng biết Trung đã bị Đảng dùng chức tước mua chuộc v&agra
    ve; bị nhuộm đỏ từ đầu đến chân, ít nhất là từ mười năm nay. Trước đó theo lời Trung thú nhận: anh luôn có "cận vệ" theo sát, cấm vận mọi điều, chỉ khoảng 10 năm trở lại đây mới được quyền đi đó đi đây vào Nam thăm bạn hay thăm lại đồng đội xưa", v.v. Hiện ngôi nhà cũng là quán cà phê của anh chính là nhà được phân theo tiêu chuẩn cấp tướng tá của Tổng cục 2, tương đương chức thứ trưởng các bộ, ngành, với diện tích 160 m2 (2). 

    Điều đặc biệt quan trọng mà Hoàng biết được là sau khi gia nhập Tổng cục 2, Trung đã từng cùng Nguyễn chí Vịnh, con Nguyễn Chí Thanh tham gia các phi vụ mua bán máy bay, vũ khí đểu để trang bị cho Tổng Cục bằng nguồn vốn kếch sù của Bộ quốc phòng và phất lên nhanh chóng. Hiện tại Trung là một trong số 7 người giàu nhất Việt Nam (còn goị là nhóm G7) gồm Phan Minh Hoàn (con Phan văn Khải), Nguyễn Hoài Bảo (con bà Lê thị Hoài), Lê Khả Diễn (con Lê Khả Phiêu) v.v. Trong số 5 đứa con của ông Vũ Kỳ gồm: Nhung – Quang – Trung – Vinh – Minh, thì Trung giàu ức vạn lần, kể cả cậu Vinh đang ở Đức cũng chỉ có số tài sản bằng một phần nhỏ của Trung.

    Từ chỗ coi mình là người "ngoài luồng", không chịu mang họ Vũ, không muốn sống cuộc đời thứ 2, lúc nào cũng đòi được Đảng buông tha để đi khắp thế gian, la lớn cho cả thế giới biết về cái chết oan nghiệt của mẹ mình (“Tiếng oan dạy đất, oán ngờ loà mây”!), Trung đã bị Đảng trừng phạt nặng nề trong chính ngôi nhà 66 Thợ Nhuộm Hà Nội. Nào tống đi lính để thành "anh hùng thời đại", nào tiêm thuốc độc cho trí não u mê, tiêm thuốc triệt sản để thành một zôm-bi – vật vờ như một cái bóng, chỉ làm hùng hục như trâu (3) không có trí khôn để nhận biết mình là ai, cũng không biết ai ngoài mình, kể cả chuyện tình ái…. Thấp tay và tàn bạo hơn hẳn các thầy pháp Châu Phi – điểm huyệt cho người chết sống lại để điều khiển, sai khiến như những zôm-bi, Đảng đã làm ngược lại, biến một cơ thể trẻ trung, khoẻ mạnh thành một xác chết biết đi….. cho đến khi liều lượng của thuốc hết tác dụng, Đảng kịp thời dở lại chiêu bài dụ dỗ mua chuộc kèm doạ nạt, cưỡng bức… Sống giữa lòng Đảng, xa rời nhân dân, kết cục Trung đã được nặn tạo lại từ đầu, thành một quan chức cao cấp thành đạt trong quân đội, càng ngày càng cố hợp pháp hoá mình trong vai đứa con ngoan của Vũ Kỳ để yên bề, thoát hiểm, và làm giàu.

    Việc Trung đến các bậc lão thành cách mạng để tìm hiểu về cái chết của mẹ đẻ là việc hoàn toàn có thật, chính Hoàng đã gặp Trung trong ngôi nhà của ông Ngô Thế Nùng – một tướng lĩnh cũ trong quân đội. Chỉ vì anh rể là Hoàng Minh Chính mà cả hai vợ chồng ông Ngô THế Nùng bị trượt dài vì lý lịch, không sao leo lên được nữa. Hôm Hoàng đang ngồi với bác gái – nói chuyện về việc cụ Chính chuẩn bị sang Mỹ chữa bệnh thì Trung lò dò tìm đến, anh Hà ra mở cửa đưa vào, Hoàng vừa kịp nghe Trung nói: "Tôi phải gặp mẹ ông để tìm hiểu về cái chết của mẹ đẻ tôi", vì lý do tế nhị Hoàng buộc phải ra về, sau đó gặp lại ở quán cà phê… Khi đã phát hiện ra chân tướng thật của Trung thì không bao giờ muốn gặp lại nữa (trước đó hỏi về nghề nghiệp, lần nào Trung cũng bảo: Tự mở một công ty trách nhiệm hữu hạn, thu nhập bấp bênh và hoàn toàn không liên quan gì tới đám G7)…

    Bạn Nguyên Cam nhắn tin: Hoàng tìm cách chụp ngay một tấm hình của Nguyễn Tất Trung và chuyển ra hải ngoại để mọi người có thể nhìn thấy đứa con rơi của ông Hồ, hy vọng "Đàn chim Việt" sẽ là nơi đầu tiên đăng ảnh Nguyễn Tất Trung cho toàn thế giới biết…

    Điều này thật dễ lại thật khó, vì cả thế giới khi biết đến "tin mật" này trên mạng thì cánh "solôchôm" của chính quyền sẽ theo sát anh Trung từng bước và mạng sống của Hoàng rất có thể sẽ bị phơi trên "gác bếp" của Đảng ngay, chẳng thể "tung tăng" lên mạng mà tiếp tục gửi ảnh đâu. Hoàng đã nghĩ nhiều cách, kể cả nhờ các bậc bô lão vốn được anh Trung quý mến, tiếp đón niềm nở, nhưng họ cũng sợ lôi thôi với công an Việt Nam nên không dám chụp, đành chờ dịp khác vậy. Trong 4 triệu đồng bào Hà Nội, Hoàng nghĩ, nhất định sẽ có người thay Hoàng làm việc này, thậm chí cả quang cảnh quán cà phê "Bông giấy", cách bày biện trang trí trong nhà và cả gia đình anh Trung gồm chị Duyên và cháu Vũ Thành nữa.

  • Tạp ghi

    Hoàng Thanh : “Chỉ với một nụ cười…”

     
           
     
    Thân chuyển quý Bạn…
    và Thân chúc một Lễ Tạ ơn…
    Vui vẻ và ý nghĩa…
     
    Thiều Vũ
     
     

     

        ( bấm vào file đính kèm, nếu như bạn không đọc được )

      

    Thứ Năm tới, tuần lễ cuối của tháng 11, sẽ là Lễ Tạ Ơn tại Mỹ. Trân trọng mời đọc bài viết đặc biệt cho mùa lễ tạ ơn năm nay của tác giả Hoàng Thanh. Cô tên thật Võ Ngọc Thanh, một dược sĩ thuộc lớp tuổi 30’., hiện là cư dân Westminster, Orange County. Bài viết về Lễ Tạ Ơn của cô mang tựa đề “Xin Cám Ơn Cuộc Ðời” kể lại câu chuyện xúc động, giản dị mà khác thường, bắt đầu từ cái bình thường nhất: “Chỉ với một nụ cười…” Tựa đề mới được đặt lại theo tinh thần bài viết.

    ***
    Thế là một mùa Lễ Tạ Ơn nữa lại đến. Tôi vẫn còn nhớ, lần đầu tiên khi nghe nói về Lễ Tạ Ơn, tôi thầm nghĩ, "Dân ngoại quốc sao mà… "quởn" quá, cứ bày đặt lễ này lễ nọ, màu mè, chắc cũng chỉ để có dịp bán thiệp, bán hàng để người ta mua tặng nhau thôi, cũng là một cách làm business đó mà…"
    Năm đầu tiên đặt chân đến Mỹ, Lễ Tạ Ơn hoàn toàn không có một chút ý nghĩa gì với tôi cả, tôi chỉ vui vì ngày hôm đó được nghỉ làm, và có một buổi tối quây quần ăn uống với gia đình.
    Mãi ba năm sau thì tôi mới thật sự hiểu được ý nghĩa của ngày Lễ Tạ Ơn.
    Thời gian này tôi đang thực tập ở một Pharmacy để lấy bằng Dược Sĩ. Tiệm thuốc này rất đông khách, cả ngày mọi người làm không nghỉ tay, điện thoại lúc nào cũng reng liên tục, nên ai nấy cũng đều căng thẳng, mệt mỏi, dễ đâm ra quạu quọ, và hầu như không ai có nổi một nụ cười trên môi.
    Tiệm thuốc có một bà khách quen, tên bà là Josephine Smiley. Tôi còn nhớ rất rõ nét mặt rất phúc hậu của bà. Năm đó bà đã gần 80 tuổi, bà bị tật ở tay và chân nên phải ngồi xe lăn, lại bị bệnh thấp khớp nên các ngón tay bà co quắp, và bà lại đang điều trị ung thư ở giai đoạn cuối. Cứ mỗi lần bà đến lấy thuốc (bà uống hơn mười mấy món mỗi tháng, cho đủ loại bệnh), tôi đều nhìn bà ái ngại. Vì thấy rất tội nghiệp cho bà, nên tôi thường ráng cười vui với bà, thăm hỏi bà vài ba câu, hay phụ đẩy chiếc xe lăn cho bà. Nghe đâu chồng bà và đứa con duy nhất bị chết trong một tai nạn xe hơi, còn bà tuy thoát chết nhưng lại bị tật nguyền, rồi từ đó bà bị bệnh trầm cảm (depressed), không đi làm được nữa, và từ 5 năm nay thì lại phát hiện ung thư. Mấy người làm chung trong tiệm cho biết là bà hiện sống một mình ở nhà dưỡng lão.
    Tôi vẫn còn nhớ rất rõ vào chiều hôm trước ngày lễ Thanksgiving năm 1993, khi bà đến lấy thuốc. Bỗng dưng bà cười với tôi và đưa tặng tôi tấm thiệp cùng một ổ bánh ngọt bà mua cho tôi. Tôi cám ơn thì bà bảo tôi hãy mở tấm thiệp ra đọc liền đi.
    Tôi mở tấm thiệp và xúc động nhìn những nét chữ run rẩy, xiêu vẹo:



    Dear Thanh,
    My name is Josephine Smiley, but life does not "smile" to me at all. Many times I wanted to kill myself, until the day I met you in this pharmacy. You are the ONLY person who always smiles to me, after the death of my husband and my son. You made me feel happy and help me keep on living. I profit this Thanksgiving holiday to say "Thank you", Thanh.
    Thank you, very much, for your smile…



    Rồi bà ôm tôi và bà chảy nước mắt. Tôi cũng vậy, tôi đứng mà nghe mắt mình ướt, nghe cổ họng mình nghẹn… Tôi thật hoàn toàn không ngờ được rằng, chỉ với một nụ cười, mà tôi đã có thể giúp cho một con người có thêm nghị lực để sống còn.
    Ðó là lần đầu tiên, tôi cảm nhận được cái ý nghĩa cao quý của ngày lễ Thanksgiving.
    Ngày Lễ Tạ Ơn năm sau, tôi cũng có ý ngóng trông bà đến lấy thuốc trước khi đóng cửa tiệm. Thì bỗng dưng một cô gái trẻ đến tìm gặp tôi. Cô đưa cho tôi một tấm thiệp và báo tin là bà Josephine Smiley vừa mới qua đời 3 hôm trước.. Cô nói là lúc hấp hối, bà đã đưa cô y tá này tấm thiệp và nhờ cô đến đưa tận tay tôi vào đúng ngày Thanksgiving. Và cô ta đã có hứa là sẽ làm tròn ước nguyện sau cùng của bà. Tôi bật khóc, và nước mắt ràn rụa của tôi đã làm nhòe hẳn đi những dòng chữ xiêu vẹo, ngoằn nghèo trên trang giấy:

    My dear Thanh,
    I am thinking of you until the last minute of my life.
    I miss you, and I miss your smile…
    I love you, my "daughter".. .

    Tôi còn nhớ tôi đã khóc sưng cả mắt ngày hôm đó, không sao tiếp tục làm việc nổi, và khóc suốt trong buổi tang lễ của bà, người "Mẹ American" đã gọi tôi bằng tiếng "my daughter"…

    Trước mùa Lễ Tạ Ơn năm sau đó, tôi xin chuyển qua làm ở một pharmacy khác, bởi vì tôi biết, trái tim tôi quá yếu đuối, tôi sẽ không chịu nổi niềm nhớ thương quá lớn, dành cho bà, vào mỗi ngày lễ đặc biệt này, nếu tôi vẫn tiếp tục làm ở pharmacy đó.
    Mãi cho đến giờ, tôi vẫn còn giữ hai tấm thiệp ngày nào của người bệnh nhân này. Và cũng từ đó, không hiểu sao, tôi yêu lắm ngày Lễ Thanksgiving, có lẽ bởi vì tôi đã "cảm" được ý nghĩa thật sự của ngày lễ đặc biệt này.

    *
    Thông thường thì ở Mỹ, Lễ Tạ Ơn là một dịp để gia đình họp mặt. Mọi người đều mua một tấm thiệp, hay một món quà nào đó, đem tặng cho người mình thích, mình thương, hay mình từng chịu ơn.. Theo phong tục bao đời nay, thì trong buổi họp mặt gia đình vào dịp lễ này, món ăn chính luôn là món gà tây (turkey).
    Từ mấy tuần trước ngày Lễ TẠ ƠN, hầu như chợ nào cũng bày bán đầy những con gà tây, gà ta, còn sống có, thịt làm sẵn cũng có… Cứ mỗi mùa Lễ Tạ Ơn, có cả trăm triệu con gà bị giết chết, làm thịt cho mọi người ăn nhậu.
    Người Việt mình thì hay chê thịt gà tây ăn lạt lẽo, nên thường làm món gà ta, “gà đi bộ.” Ngày xưa tôi cũng hay ăn gà vào dịp lễ này với gia đình, nhưng từ ngày biết Ðạo, tôi không còn ăn thịt gà nữa. Từ vài tuần trước ngày lễ, hễ tôi làm được việc gì tốt, dù rất nhỏ, là tôi lại hồi hướng công đức cho tất cả những con gà, tây hay ta, cùng tất cả những con vật nào đã, đang và sẽ bị giết trong dịp lễ này, cầu mong cho chúng thoát khỏi kiếp súc sanh và được đầu thai vào một kiếp sống mới, tốt đẹp và an lành hơn.
    Từ hơn 10 năm nay, cứ mỗi năm đến Lễ Tạ Ơn, tôi đều ráng sắp xếp công việc để có thêå tham gia vào những buổi "Free meals" tổ chức bởi các Hôäi Từ Thiện, nhằm giúp bữa ăn cho những người không nhà. Có đến với những bữa cơm như thế này, tôi mới thấy thương cho những người dân Mỹ nghèo đói, Mỹ trắng có, Mỹ đen có, người da vàng cũng có, và có cả người Việt Nam mình nữa. Họ đứng xếp hàng cả tiếng đồng hồ, rất trật tự, trong gió lạnh mùa thu, nhiều người không có cả một chiếc áo ấm, răng đánh bò cạp…để chờ đến phiên mình được lãnh một phần cơm và một chiếc mền, một cái túi ngủ qua đêm.
    Ở nơi đâu trên trái đất này, cũng luôn vẫn còn rất rất nhiều người đang cần những tấm lòng nhân ái của chúng ta…
    Nếu nói về hai chữ "TẠ ƠN" với những người mà ta từng chịu ơn, thì có lẽ cái list của chúng ta sẽ dài lắm, bởi vì không một ai tồn tại trên cõi đời này mà không từng mang ơn một hay nhiều người khác. Chúng ta được sinh ra làm người, đã là một ơn sủng của Thượng Ðế. Như tôi đây, có được ngày hôm nay, ngồi viết những dòng này, cũng lại là ơn Cha, ơn Mẹ, ơn Thầy…
    Cám ơn quê hương tôi -Việt Nam, với 2 mùa mưa nắng, với những người dân bần cùng chịu khó. Quê hương tôi- nơi đã đón nhận tôi từ lúc sinh ra, để lại trong tim tôi biết bao nhiêu là kỷ niệm cả một thời thơ ấu. Quê hương tôi, là nỗi nhớ, niềm thương của tôi, ngày lại ngày qua ở xứ lạ quê người…
    Cám ơn Mẹ, đã sinh ra con và nuôi dưỡng con cho đến ngày trưởng thành. Cám ơn Mẹ, về những tháng ngày nhọc nhằn đã làm lưng Mẹ còng xuống, vai Mẹ oằn đi, về những nỗi buồn lo mà Mẹ đã từng âm thầm chịu đựng suốt gần nửa thế kỷ qua….
    Cám ơn Ba, đã nuôi nấng, dạy dỗ con nên người. Cám ơn Ba, về những năm tháng cực nhọc, những chuỗi ngày dài đằng đẵng chạy lo cho con từng miếng cơm manh áo, về những giọt mồ hôi nhễ nhại trên lưng áo Ba, để kiếm từng đồng tiền nuôi con ăn học….
    Cám ơn các Thầy Cô, đã dạy dỗ con nên người, đã truyền cho con biết bao kiến thức đêå con trở thành một người hữu dụng cho đất nước, xã hội…
    Cám ơn các chị, các em tôi, đã xẻ chia với tôi những tháng ngày cơ cực nhất, những buổi đầu đặt chân trên xứ lạ quê người, đã chia vui, động viên những lúc tôi thành công, đã nâng đỡ, vực tôi dậy những khi tôi vấp ngã hay thất bại..
    Cám ơn tất cả bạn bè tôi, đã tặng cho tôi biết bao nhiêu kỷ niệm – buồn vui- những món quà vô giá mà không sao tôi có thể mua được. Nếu không có các bạn, thì có lẽ cả một thời áo trắng của tôi không có chút gì để mà lưu luyến cả…
    Cám ơn nhỏ bạn thân ngày xưa, đã "nuôi"tôi cả mấy năm trời Ðại học, bằng những lon "gigo" cơm, bữa rau, bữa trứng, bằng những chén chè nho nho,û hay những ly trà đá ở căn tin ngày nào.
    Cám ơn các bệnh nhân của tôi, đã ban tặng cho tôi những niềm vui trong công việc. Cả những bệnh nhân khó tính nhất, đã giúp tôi hiểu thế nào là cái khổ, cái đau của bệnh tật…
    Cám ơn các ông chủ, bà chủ của tôi, đã cho tôi biết giá trị của đồng tiền, để tôi hiểu mình không nên phung phí, vì đồng tiền lương thiện bao giờ cũng phải đánh đổi bằng công lao khó nhọc…
    Cám ơn những người tình, cả những người từng bỏ ra đi, đã giúp tôi biết được cảm nhận được thế nào là Tình yêu, là Hạnh phúc, và cả thế nào là đau khổ, chia ly.
    Cám ơn những dòng thơ, dòng nhạc, đã giúp tôi tìm vui trong những phút giây thơ thẩn nhất, để quên đi chút sầu muộn âu lo, để thấy cuộc đời này vẫn c
    òn có chút gì đó để nhớ, để thương..
    Cám ơn những thăng trầm của cuộc sống, đã cho tôi nếm đủ mọi mùi vị ngọt bùi, cay đắng của cuộc đời, để nhận ra cuộc sống này là vô thường… để từ đó bớt dần "cái tôi"- cái ngã mạn của ngày nào…
    Xin cám ơn tất cả… những ai đã đến trong cuộc đời tôi, và cả những ai tôi chưa từng quen biết. Bởi vì:

    "Trăm năm trước thì ta chưa gặp,
    Trăm năm sau biết gặp lại không?
    Cuộc đời sắc sắc không không
    Thôi thì hãy sống hết lòng với nhau…"

    Và cứ thế mỗi năm, khi mùa Lễ Tạ Ơn đến, tôi lại đi mua những tấm thiệp, hay một chút quà để tặng Mẹ, tặng Chị, tặng những người thân thương, và những người đã từng giúp đỡ tôi. Cuộc sống này, đôi lúc chúng ta cũng cần nên biểu lộ tình thương yêu của mình, bằng một hành động gì đó cụ thể, dù chỉ là một lời nói "Con thương Mẹ", hay một tấm thiệp, một cành hồng. Tình thương, là phải được cho đi, và phải được đón nhận, bởi lỡ mai này, những người thương của chúng ta không còn nữa, thì ngày Lễ Tạ Ơn sẽ có còn ý nghĩa gì không?
    Xin cho tôi được một lần, nói lời Tạ Ơn: Cám ơn lắm, cuộc đời này….

    Hoàng Thanh
    Mùa Thanksgiving 2009

     
     

     

  • Tạp ghi

    Thư Sinh : Một Tuần Tản Mạn

    Bài viết đã được đăng trên tuần báo Tin Việt News số 725 phát hành ngày Thứ Sáu 16/4/2010 tại San Jose

    Một Tuần Tản Mạn

     

    VÀI SINH HOẠT TRONG THÁNG TƯ ĐEN

     

    * Thư Sinh

     

    Ở nước Mỹ, hình như tháng Tư dương lịch là một tháng tươi mát rực rỡ nhất trong năm, với muôn loài  thảo mộc đâm chồi nẩy lộc đơn hoa kết trái. Nhưng đối với người Việt lưu vong, tháng Tư lại nhuốm vẻ ảm đạm, với những tấm lòng trĩu nặng về dĩ vãng 35 năm về trước.

    Riêng tại Thung Lũng Hoa Vàng, chúng ta ghi nhận được một số sinh hoạt liên quan đến tháng Tư đen tối này.

    Trước hết, phải nói đến buổi ra mắt cuốn sách “Nửa Thế Kỷ Việt Nam” của Song Nhị. Tuy mang tính cách văn học nghệ thuật, nhưng buổi RMS này cũng là một cơ hội để tác giả, Ban Tổ Chức, và quí vị yêu sách  đến với nhau, và cùng nhau hồi tưởng lại những năm tháng đầy đau thương tang tóc trên quê hương Việt Nam chúng ta.

    Anh bạn trẻ Lê Văn Hải, trưởng ban tổ chức RMS, cho đó là một “sinh hoạt văn học nghệ thuật nổi lửa để tưởng niệm tháng Tư đen”. Lối ví von đúng lúc đúng thời đó đã đánh trúng tâm lý đồng hương, làm cho buổi RMS thành công tốt đẹp. Dù hôm ấy, ông Trời có sụt sùi bằng một cơn mưa dai dẳng, nhưng vẫn không làm nản lòng nhụt chí gần ba trăm người kéo đến hội trường Học Khu East Side.

    Như vậy, về mặt nhân hòa, cộng với số sách tiêu thụ, chắc cũng đủ để làm ấm lòng tác giả Nửa Thế Kỷ Việt Nam. Và có lẽ, ông Song Nhị còn lên tinh thần hơn nữa, khi nhận được email từ văn hữu Võ Ý, với những lời tỏ bày hết sức chân thành như thế này:

    “Cá nhân chúng tôi đến tham dự RMS Nửa Thế Kỷ Việt Nam, không những để góp lời tán dương sức chịu đựng can trường và chí khí của con ngựa chiến Song Nhị, mà còn nhân thể để nói một lời tạ lỗi với anh là, chúng tôi cảm thấy xấu hổ vì đã lặng thinh không một lời bênh vực khi anh bị hàm oan. Chúng tôi tin rằng, tác phẩm máu lệ Nửa Thế Kỷ Việt Nam sẽ xóa tan những nghiệt ngã và mang lại nhuệ khí mới trên con đường phục vụ văn hóa và lý tưởng quốc gia dân tộc của nhà văn Song Nhị”.

    Ông Song Nhị và Nhóm Cội Nguồn đã bị hàm oan ra sao trong vụ in ấn, phát hành hai cuốn sách của hai nhà văn quốc nội? Bài tản mạn kỳ trước, Thư Sinh tôi đã bàn đến khá đầy đủ rồi. Coi như “tin buồn văn học hải ngoại” đã kết thúc một cách có hậu, với sự nối kết đầy cảm thông và thân ái của hầu hết những người trong cuộc.

    Tuy vậy, vẫn có một “văn hữu” còn ấm ức. Anh ta chuyển nỗi  ấm ức của mình, bằng cách… cầu trời mưa xuống, cho buổi RMS  phải  chịu cảnh…. ế độ!

    Tôi không biết, đối với ban tổ chức buổi RMS và anh văn hữu hẹp lòng hẹp dạ kia, thì thành ngữ “mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên” đã rơi vào phía nào.

    Xem ra, anh ta không được thiện tâm như ông Võ Ý, và không độ lượng như bà Cao Ánh Nguyệt, người đã trả lại sự thật cho Song Nhị, khi đăng đàn giới thiệu cuốn sách Nửa Thế Kỷ Việt Nam. Bài giới thiệu cuốn sách của bà, nói theo cách Lê Văn Hải – đã “Nổi Lửa” cho buổi RMS và những người tham dự. Dù trong lúc hào hứng, ông bạn Lê Văn Hải đã có phần dành dân lấn đất trong bài diễn văn khai mạc, bà vẫn lên diễn đàn với thái độ tự tin, không cần nhìn vào bài viết sẵn, nói thao thao bất tuyệt. Thật đúng là gốc nhà giáo, có khác. Trong gần hai chục phút, bà đã chinh phục được cảm tình của gần ba trăm quan khách, qua những lý luận vững chắc, làm nổi bật toàn bộ nội dung tác phẩm Nửa Thế Kỷ Việt Nam.

    Bảo rằng, tôi khen bà như thế, là quá đáng. Vì bản tính đám mày râu chúng tôi vốn sẵn “ga lăng” với phái nữ. Nhưng đến mấy bà trong nhóm văn nghệ Mây Hồng cũng khen bà một cách nhiệt tình, thì  sự ca ngợi đầy vô tư ấy, đã là một phần thưởng tinh thần cho bà rồi vậy.

    Nhưng không phải chỉ có bà Cao Ánh Nguyệt là vị nữ lưu duy nhất đã “Nổi Lửa” trong tháng Tư đen năm nay. Vì gần cuối tháng, còn một sinh hoạt xem ra còn nổi lửa hơn nữa, cũng do một vị nữ lưu chủ xướng. Đó là cô Hoàng Mộng Thu, với chương trình văn nghệ mang chủ đề “Chân Dung Người Lính Việt Nam Cộng Hòa”. Chương trình này sẽ được diễn ra vào lúc 2 giờ chiều ngày Thứ Bẩy 24 tháng 4, tại trường Trung Học Yerba Buena, số 1807 Lucretia Avenue, thành phố San Jose.

    Qua lá thư ngỏ, cô Hoàng Mộng Thu đã tâm sự rằng: Kể từ sau 30 tháng Tư năm 1975, cô mới biết thế nào là sự hi sinh của những người lính Việt Nam Cộng Hòa, cũng như sự tàn độc của chế độ Cộng Sản sau khi miền Nam rơi vào tay chúng. Do đó, từ khi qua Mỹ, cô đã tự nguyện tham gia vào nhiều sinh hoạt với các hội đoàn quân đội.

    Riêng mùa Quốc Hận năm nay, được sự hổ trợ của một số hội đoàn quân đội, cô sẽ làm một chương trình văn nghệ dựng lại hình ảnh thân thương hào hùng của những người lính năm xưa. Bởi thế, khi nhìn vào tờ chương trình được phổ biến hạn chế, tôi thấy toàn là những bản nhạc lính và được hát bởi những người yêu lính, thương lính.

    Có điều, chương trình văn nghệ đầy ý nghĩa này, lại hoàn toàn miễn phí. Vậy, Hoàng Mộng Thu và các bạn của cô lấy tiền đâu ra để mà thực hiện. Một thân hữu đã trả lời thắc mắc của tôi bằng một thái độ đầy lạc quan: Cô xin được từ các nhà hảo tâm một ít tiền. Từ nay cho tới ngày hát cho lính đó, chắc sẽ còn nhiều vị góp thêm. Hoặc cùng nữa, nếu có lỗ lã chút đỉnh, thì cô và các bạn sẽ gánh chịu.

    Thiệt đúng là, cô Hoàng Mộng Thu này chịu chơi thiệt! Cô đã thổi một ngọn lửa, làm ấm lòng mấy anh chiến sĩ, và khiến cho ngày 30 tháng Tư năm nay bớt đi những nét ảm đạm.

    Tết vừa qua, chị em Hoàng Mộng Thu cũng đã làm cho đám lính tráng chúng tôi tràn đầy niềm vui, với cái quán lính trong Hội Tết.

    Và tôi biết, trong quá khứ, cô còn mang cả sự ấm cúng vào trong nhà tù dành cho mấy đám trẻ Việt Nam phạm pháp.

    Ấy vậy mà, có một lần, cô đã thất bại: Cháu Michelle, đứa con gái đầu lòng yêu dấu của cô. Sau khi cháu Michelle qua đời, người mẹ can trường này vẫn tiếp tục theo đuổi cuộc vận động phong trào hiến tủy trong cộng đồng người Việt, nhằm cứu giúp những người chẳng may bị chứng bệnh ung thư máu, như cháu Michelle. Và khi tôi viết đến những dòng chữ này (ngày thứ tư 14 tháng 4 năm 2010) – thì cô Hoàng Mộng Thu đang điều trần trước lưỡng viện Quốc Hội tiểu bang California, để vận động cho một dự luật – theo đó,  tất cả những công tư chức tiểu bang nếu đi hiến tủy, hoặc hiến các bộ phận khác trong cơ thể – sẽ được hưởng lương trong ngày đi hiến tặng và những ngày nghỉ  dưỡng sức.

    Cũng cần phải  nói thêm rằng, đạo luật này sẽ được áp dụng chung cho mọi sắc dân trên toàn tiểu bang.

    Chúng ta hi vọng dự luật này sẽ thành luật vĩnh viễn. Đó là niềm an ủi cho một người mẹ mất con. Vì nếu được lưỡng viện quốc hội chấp thuận, đạo luật sẽ mang tên đứa con gái yêu dấu của cô: Michelle!

     Vì khi nói đến đạo luật Michelle, chúng ta sẽ liên tưởng đến một bà mẹ chiến đấu bền bỉ, một phụ nữ thích làm những việc xã hội. Nhưng có lẽ, ít ai biết đến một Hoàng Mộng Thu thật mềm yếu trong tình yêu lứa đôi. Tôi chợt nhớ và tìm ra từ trong tủ sách gia đình tập thơ mang tên “Những Vần Thơ Của Tỵ”. Tập thơ mỏng, gồm mấy chục bài thơ tuy không tên (tựa bài thơ), nhưng bài thơ nào cũng man mác nỗi buồn, về một cuộc tình dang dở. Chẳng hạn như những câu thơ sau đây:

    ”Xa anh rồi mưa trời làm ướt tóc

    Không còn ai che tóc ướt trời mưa

    Xa anh rồi mắt khóc ướt như mưa

    Còn ai nữa? Lau mưa cùng mắt ướt”

     

    “Em cắn lệ chia sầu trên đầu bút

    Lời thơ đau sầu mọc ở trong tim

    Bởi tại em hay thơ thẩn đi tìm

    Tình sầu đắng vẽ lên thơ với mộng”

    Tôi nghĩ, nếu tiếp tục làm thơ, cô xứng đáng được gọi là một thi sĩ. Bởi, so với những “thi sĩ” dang tiếp tục gia tăng một cách đáng ngại tại vùng Bắc Cali này, cô vượt trội hơn họ rất nhiềụ! Vì cũng như lão thi sĩ Hà Thượng Nhân, tôi rất thích những câu thơ đầy ẩn ý và đầy tính sáng tạo. Mà mấy câu thơ sau đây, là điển hình:

    “Trái đào còn trên cây

    Để vầng trăng nằm ngửa

    Một cụm mây trắng bay

    Đêm ngày cho qua bữa”.

    Tập thơ đầy nữ tính như thế đấy. Nhưng lạ thay, trong lời tựa, Hoàng Mộng Thu chưa hẳn là một người lụy vì tình. “Vì dòng nước mắt cũng chảy từ hai lỗ trống, xuống ven cánh mũi, trên má, rồi mình quẹt đi” (Những Vần Thơ Của Tỵ – trang 4). Những giòng chữ sau đây, cho chúng ta thấy, cô hướng về tha nhân, hơn là cho chính bản thân mình:

    “Tôi có những người bạn nghèo khốn trong thời niên thiếu, sống hay chết vẫn nằm trong trí nhớ, nằm trong trái tim tôi suốt cả một quãng đời.

    Và tôi có những người em không quen, không thân, nhưng tôi vẫn xót xa khi nhìn thấy các em với những bản án pháp luật mà em vô tình hay cố ý phạm phải”.

    “Những Vần Thơ Của Tỵ được phổ biến trong ngày lễ của Cha (Father’s day) 15-6-97 tại thành phố San Jose California, và để gây quỹ cho anh em Thương Phế Binh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, theo lời kêu gọi thống thiết của một thương phế binh (Ngô Duy Thế) đăng trên báo Thằng Mõ, trang 37, số tháng 4-1997”

    Như vậy, tập thơ tình này đã biến thành tiền, để giúp anh em Thương Phế Binh. Và nếu tính từ số báo Thằng Mõ tháng 4-1997, cho đến tháng 4 năm nay – là đúng 14 năm. Cô Hoàng Mộng Thu vẫn giữ nguyên một tấm lòng chung thủy với những người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

    Riêng chủ đề chương trình văn nghệ mang tên Chân Dung Người Lính Việt Nam Cộng Hòa, làm tôi nhớ lại một chương trình văn nghệ khác cũng nói về lính, do Niên trưởng Giao Chỉ Vũ Văn Lộc thực hiện đã khá lâu. Chương trình này được quay thành video, mà lâu lâu mở ra xem lại, tôi vẫn cảm thấy thích thú. Vì tôi cũng là “diễn viên” trong cuốn video đó.

    Năm nay, lần Quốc Hận lần thứ 35. Một con số có ý nghĩa. Nên niên trưởng Giao Chỉ Vũ Văn Lộc của chúng ta lại thực hiện một chương trình văn nghệ nữa, với chủ đề “35 năm nhìn lại”, sẽ được tổ chức vào lúc 3 giờ chiều Chủ Nhật 23-5-2010, tại đại hí viện Center For The Performing Arts, thành phố San Jose. Căn cừ vào những điều niên trưởng Vũ Văn Lộc viết trên nhật báo Thời Báo, tôi cảm nhận dược tính chất tích cực trong chương trình văn nghệ có tầm vóc vĩ đại này.

    Nếu đúng như vậy, thì tất cả những sinh hoạt liên quan đến ngày 30 tháng 4 năm nay, sẽ không còn mang vẻ u ám đen tối như những năm trước đây – Phải không bạn.

     

    Thư Sinh

  • Tạp ghi

    Giao Chỉ : Nhân lễ Chiến Sĩ Trận Vong Mỹ, nhớ Nghĩa Trang Biên Hòa

    Kính gửi quí thân hữu

    Ngày lễ Chiến sĩ Trận vong tại Hoa Kỳ năm nay (Memorial Day May 31-2010)

    đối với chúng tôi có nhiều ý nghĩa đặc biệt.

    Tôi có cơ hội được anh Chu Hải của VOA phỏng vấn về hiện trạng Nghĩa trang quân đội tại Biên Hòa.

    Bài hỏi chuyện đã được in trên Web. của VOA và được phát thanh về Việt Nam.. Phần in trên Web của VOA trong hai ngày, trở thành một đề tài tranh luận rất nóng, và có số Email đóng góp ý kiến gửi về nhiều nhất. Một số thuộc phe cộng sản hay thân cộng thì không tán thành đề nghị Nghĩa Trang Biên Hòa trở thành khu di tích lịch sử quốc gia. Một số khác thì tán thành. Người trong nước cũng như hải ngoại đều có ý kiến tức giận hằn học hoặc hòa nhã, lịch sự. Ðiều quan trọng nhất là rất nhiều người tại Việt Nam đã nghe được nội dung của đề tài, nhân dịp 35 năm nhìn lại. Ghi nhớ các dữ kiện lịch sủ đã trải qua, trong ý nghĩa của chiến sĩ trận vong. Chúng tôi xin chuyển tiếp Email của VOA đến quí vị. Xin Click vào www1.voanews… sẽ đọc được nội dung đề tài, với rất nhiều tranh luận quốc cộng gửi đến đóng góp ý kiến. Quí vị cũng có thể tìm nghe trực tiếp bài phỏng vấn tên trang Web của VOA.

    Ngoài ra, cùng chung một đề tài, xin gửi đến theo attach những tài liệu liên quan như sau:

    1)    Hãy cứu lấy Nghĩa trang (Tổng kết về hiện trạng và Lịch sử Nghĩa Trang Quân đội Biên hòa.

    2)    Tài liệu về đối thoại trực tuyến với thủ tướng VN năm 2007 bất thành.

    Xin quí vị vui lòng đọc qua. Chúng tôi sẽ bắt đầu chiến dịch vận động với các dân biểu lần thứ hai trong năm 2010 và sẽ xin quí vị tiếp tay.

    Trân trọng.

    Vũ văn Lộc

     

     

    Xin gui den anh bai vua dua len web:
     
    Việt Nam Cập nhật Thứ Bảy, 29 tháng 5 2010 RSS Feeds RSS

    Nhân lễ Chiến Sĩ Trận Vong Mỹ, nhớ Nghĩa Trang Biên Hòa

    Vào ngày thứ Hai cuối cùng của tháng 5, người Mỹ kỷ niệm lễ Chiến Sĩ Trận Vong, tưởng nhớ đến các chiến sĩ đã hy sinh trên khắp các mặt trận kể từ sau cuộc nội chiến Nam Bắc 1860. Ngày này cũng là dịp để người Việt nhớ đến những người đã nằm xuống trong cuộc chiến vừa qua. Ông Vũ Văn Lộc, Giám đốc tổ chức IRCC ở San Jose, California trao đổi với VOA về Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa nơi vẫn còn 16.000 mộ phần quân nhân miền Nam vào tháng 4 năm 1975.

    Tượng “Thương Tiếc” trước cổng Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa bị giật sập sau 1975

    Hình: IRCC

    Tượng “Thương Tiếc” trước cổng Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa bị giật sập sau 1975

    Chia sẻ

    Tin liên hệ

    VOA: Xin ông cho biết sự liên hệ giữa tổ chức IRCC của ông và Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa?

    Ông Vũ Văn Lộc: IRCC là cơ quan định cư của người di dân. Bên cạnh đó, tôi có thực hiện một viện bảo tàng thuyền nhân Việt Nam Cộng Hòa tại San Jose. Trong viện bảo tàng, tôi có nhu cầu thực hiện lịch sử và mô hình của nghĩa trang quân đội Việt Nam Cộng Hòa, thành ra cơ quan này là cái duyên của tôi.

    Trước năm 75 tôi là một trong những người có liên hệ đến việc xây dựng nghĩa trang này, chúng tôi có theo dõi để biết các diễn tiến của nghĩa trang cho đến bây giờ.

    VOA: Cách đây mấy năm, Thủ tướng Việt Nam đã ký quyết định dân sự hóa nghĩa trang này, quyết định này có ý nghĩa gì và kết quả cụ thể cho tới giờ này ra sao?

    Ông Vũ Văn Lộc: Tôi nghĩ các ông ấy đã đến lúc phải làm nhưng tôi nghĩ biến thành nghĩa trang nhân dân thì chẳng đi đến đâu cả, bởi vì cái ý nghĩa quan trọng nhất là những người chiến binh miền Nam, khi người ta nằm xuống trong nghĩa trang đó, người ta không thể biến thành nhân dân được. Các ông ấy làm như vậy là lẩm cẩm, cho nên từ lúc đó chúng tôi đã yêu cầu nó phải là một di tích lịch sử của chiến tranh, vẫn luôn luôn là những ngôi mộ và nghĩa trang của phía quân lực Việt Nam Cộng Hòa, như vậy mới đúng.

    Thực ra thì có vẻ như họ đã nhìn nhận có sự kiện đó, nhưng họ muốn bẻ ngoặt sang phía khác. Trên thực tế có một điểm như thế này: họ chưa có hành động tàn nhẫn là bốc đi chỗ khác hay là di tản.

    Nếu đó là một nghĩa trang nhân dân thì sẽ giống như các nghĩa trang nhân dân khác trên đất nước. Có thể một ngày nào đó, nếu có nhu cầu muốn giải tỏa thì vẫn giải tỏa được. Nhưng nếu là một di tích lịch sử của chiến tranh để lại thì việc giải tỏa có thể không thể thực hiện được.

    Thêm nữa, đã là nghĩa trang nhân dân thì sẽ theo quy chế của nghĩa trang thường, tức là ai muốn bốc mộ đem đi chỗ khác cũng được, muốn chôn thêm người vào đó cũng được. Như vậy chỉ độ vài chục năm sẽ có dân thường chôn ở đó; thế thì ý nghĩa của một nghĩa trang quân đội trong một thời kỳ chiến tranh hoàn toàn mất hết.

    VOA: Cũng cách đây mấy năm, cựu Phó Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Cao Kỳ cũng kêu gọi Việt Nam xét lại vấn đề Nghĩa Trang Biên Hòa khi ông ấy về Việt Nam, ông có ghi nhận kết quả nào về lời kêu gọi này hay không?

    Một góc của Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa trước năm 1975

    IRCC

    Một góc của Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa trước năm 1975

    Ông Vũ Văn Lộc: Tôi có theo dõi nhiều nhưng không thấy kết quả gì cụ thể cả, mà ông Kỳ không có một suy tính tham mưu khoa học đầu đuôi. Ông chỉ nói theo ngẫu hứng, theo nhu cầu chính trị và cá nhân. Ông ấy cũng chẳng biết trong đó còn lại bao nhiêu ngôi mộ, chia lô như thế nào, hoàn cảnh thực tế như thế nào.

    Do nhu cầu nghiên cứu nên chúng tôi biết khi chúng ta bỏ nước ra đi năm 75 thì ở đó có 16.000 ngôi mộ, và do diễn tiến từng ngày một xảy ra thì bây giờ cũng còn vào quãng 11.000. Như vậy đang còn một số đất trống có thể chôn cất thêm được quãng bốn năm ngàn người nữa. Còn nhà máy nước Bình An thì bên cộng sản họ cho đóng vào ngay chính giữa khu nghĩa trang, làm cho con đường đi từ cổng nghĩa trang đi qua Đền Tử Sĩ tới Nghĩa Dũng Đài bị cắt ra. Xong họ mở một cửa hông nhỏ để cho mọi người vào thăm. Tính chất họ làm chẳng có gì gọi là đàng hoàng cả.

    Vì thế tôi nghĩ ông Kỳ cũng chưa tạo được một ảnh hưởng gì và cũng không biết mình đòi hỏi cái gì cho đúng đắn và làm cái gì cho nó rõ ràng cả. Ông chỉ nói có tính cách chính trị mà thôi.

    VOA: Ông vừa nói nghĩa trang bây giờ đã mở cửa cho mọi người vào thăm. Hiện nay việc thăm viếng này đã dễ dàng hay vẫn còn khó khăn như trước?

    Ông Vũ Văn Lộc: Nói một cách công bình thì không khó khăn nhưng cũng rất lẩm cẩm. Chẳng hạn như không giống một nghĩa trang dân sự thực sự, nó vẫn tạo ra sự nghi ngờ và thân nhân vào thăm viếng không thoải mái, phải ghi tên, phải trả lời xem thăm ngôi mộ nào, ở đâu. Những cái đó không giống một di tích lịch sử mà cũng không giống một nghĩa trang thường.

    Còn một điểm quan trọng nhất là bởi vì không có sự gìn giữ đàng hoàng nên có cây mọc giữa ngôi mộ, đường xá có cỏ mọc, thành ra tôi có một ước mong là chẳng cần xây cất bằng một ngân khoản lớn lao gì, chỉ cần giữ cho cây cỏ đừng tàn phá nghĩa trang; rồi nhiên hậu, lịch sử đến một giai đoạn nào người ở hải ngoại hay trong nước còn mồ mả thân nhân có thể có cơ hội chấn chỉnh cho đàng hoàng.

    VOA: Mới đây, nhà sử học Tạ Chí Đại Trường đề nghị Quốc hội Việt Nam công nhận Nghĩa Trang Biên Hòa là chứng tích lịch sử quốc gia, ông nghĩ sao về đề nghị này?

    Bia mộ hư hỏng của Hạ sỉ Lê Văn Cảnh

    IRCC

    Bia mộ hư hỏng của Hạ sỉ Lê Văn Cảnh

    Ông Vũ Văn Lộc: Cái đó phải là một di tích của quốc gia. Đệ nhất, đệ nhị thế chiến, chiến tranh Nam Bắc của Mỹ, hay bất cứ một cuộc chiến tranh nào, khi có một nơi tập trung chôn cất những tử sĩ như vậy thì đương nhiên nó phải là một di sản lịch sử của quốc gia.

    Nhưng thực tình mà nói, cái này nó nằm trong Chính Trị Bộ, chứ còn Quốc hội thì tôi chả có hy vọng gì. Cái này phải do đảng cộng sản phải nhìn ra vấn đề rồi đến chính phủ phải làm.

    Ở hải ngoại này mình phải vận dụng các chính phủ thông qua Quốc hội các nước thì mới có thể được, thành ra tôi cũng có biên thơ cho nhiều ông Dân biểu và Thượng nghị sĩ Mỹ, nói với họ bây giờ chúng tôi là công dân Mỹ, và đó là những mồ mả của thân nhân chúng tôi thì các ông phải lưu ý chứ. Nhưng lẽ dĩ nhiên vấn đề này chưa phải là ưu tiên của họ. Tôi ước mong toàn thể khối hải ngoại và cả người trong nước cùng nhau vận động, bởi vì kể cả các chiến binh đối phương của chúng tôi họ cũng phải nhìn nhận như thế.

    Cuộc chiến tranh Nam Bắc của Hoa Kỳ là một bài học về tính chất văn minh của một nước là luôn luôn phải tôn trọng những người chết, cho nên ba mươi mấy bốn chục năm sau thì tất cả những tử sĩ của miền Nam rải rác đều được đưa vào trong nghĩa trang quốc gia Arlington của liên bang chôn cất. Họ làm cũng đàng hoàng lắm. Việt Nam muốn học đòi văn minh thế giới thì cũng phải làm như vậy.

    VOA: Theo ông, giải pháp lý tưởng đối với Nghĩa Trang Biên Hòa nên theo hướng giải quyết như thế nào?

    Ông Vũ Văn Lộc: Bây giờ tôi nghĩ người cộng sản họ có những khó khăn nội tại, nhưng họ vẫn có thể tiến từng bước một. Thứ nhất là tuyên bố đó là di sản lịch sử quốc gia.

    Thứ hai, các ông ấy phải di tản ngay nhà máy nước đá Bình An đang nằm chình ình ngay giữa nghĩa trang, làm sao một di sản quốc gia mà có một nhà máy chặn đường vào nghĩa trang được.

    Thứ ba, không cần phải xây cất lại cho nó hoành tráng, chỉ cần giữ cho nó có căn bản để nhiên hậu những bước kế tiếp, có thể con cháu của các liệt sĩ đã chết từ từ sẽ làm lại.

    Khi chúng tôi đi khỏi Sài gòn thì ở đó còn 16.000 ngôi mộ, bây giờ đã cải táng được ít nhất 5.000; và cũng còn một số đất trống nữa. Nếu theo đúng kiểu trên thế giới người ta làm, thì những liệt sĩ được chôn rải rác ở khắp nơi, khi tìm được thì họ đem vào cải táng ở đó.

    Bây giờ những chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa chết trong lúc bị tù cải tạo ở các nơi, nếu bây giờ muốn cải táng từ những miền xa xôi thì cũng phải được chôn ở đó. Lẽ dĩ nhiên, gia đình hay bạn bè có thể làm, không cần chính phủ cộng sản phải làm. Như vậy nó mới trở thành một di sản quốc gia một cách rõ ràng, thể hiện được tình người Việt Nam nói chung cho các thế hệ tương lai.

    Cũng có thể ngay cả những người như chúng tôi có thể cải táng đem về chôn ở đó. Tôi cũng sẵn sàng rất mong khi tôi chết trở về nằm ở đó, giống như nhạc sĩ Nam Lộc đã đặt trong một bài hát “xin cho tôi một mộ phần, bên ngàn chiến hữu của tôi.”

  • Tạp ghi

    Nguyễn Tài Ngọc : Xem Paris By Night 99: Tôi Là Người Việt Nam


    Hi Friend,
    Now you have an open mind after reading Topic 1 last week.  Please continue a good trend by reading a
    new "fresh" viewpoint on this Topic 2.
    May be you would not agree with the author on some aspects.  But I still hope that you have an enjoyable reading tonite.
      

    Regards,
    Albert Dong

    =======================================

                         

                                             

    Xem Paris By Night 99: Tôi Là Người Việt Nam

     

     

     

    Tuần vừa rồi nhân dịp chị tôi từ xa đến chơi, chị ấy và vợ tôi xem DVD Thúy Nga Paris By Night số 99, “Tôi là người Việt Nam”. Chủ đề này bắt mắt tôi nên dù biết rằng tinh thần và thể xác sẽ bị tra tấn khủng hoảng còn hơn phi công Mỹ bị bắn rớt ở Việt Nam vào thập niên 1960, 1970, tôi hy sinh vì đại nghĩa, vì tổ quốc, và vì nhân dân, ép mình ngồi xem cả hai DVD 1 và 2 Paris By Night 99 từ đầu đến cuối.

     

    Lần cuối cùng tôi xem DVD nhạc của Asia hay Paris By Night đã  khá lâu (Video số Trừ -458 phát hành năm 1856),  vào thời Tự Đức khi vua bất bình với đạo giáo “quỷ đỏ” Thiên Chúa Giáo, ra lệnh chặt đầu giáo sĩ Pháp vất thủ cấp  trôi sông. Hành động này  làm người Pháp phẫn uất, hai năm sau chính quyền Pháp sai trung tướng Charles Rigault de Genouilly đem 14 chiếc tầu tấn công cửa biển Đà Nẵng, đánh dấu sự bắt đầu của  người Pháp xâm lăng thôn tính Việt Nam và cũng bắt đầu sự thành công về thương mại của Paris by Night vì người Việt hải ngoại cần món ăn giải trí tinh thần bằng tiếng Việt thay vì tiếng Anh, nghe khổ lỗ tai, nói trẹo quai hàm.

     

    Mở màn DVD là cảnh nhiều người Việt khắp nơi trên thế giới tranh nhau phát ngôn câu “Tôi là người Việt Nam”. Tiếp theo đó là bài nhạc mở đầu “Tình Ca Tiếng Nước Tôi” của Phạm Duy:

     

    Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời, người ơi
    Mẹ hiền ru những câu xa vời: À à ơi ! Tiếng ru muôn đời
    Tiếng nước tôi ! Bốn ngàn năm ròng rã buồn vui
    Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơi
    Tiếng nước tôi ! Tiếng mẹ sinh từ lúc nằm nôi
    Thoắt nghìn năm thành tiếng lòng tôi, nước ơi…

     

    Bản nhạc này là một trong những bài hát bất hủ lúc nào cũng nằm trong tiềm thức của một người dân Việt. Điệu  nhạc hay, dễ hát, đằm thắm, ôn hòa. Lời nhạc súc tích, chân thành, tha thiết, cho ta thấy địa lý bao la của Việt Nam (dẫy Trường Sơn, sông Cửu Long, sông Hồng, biển Thái Bình) sự phì nhiêu về tài nguyên (Đất nước tôi ! Núi rừng cao miền Bắc lửa thiêng. Lúa miền Nam chờ gió mùa lên, lúa ơi), cá tính chuyên cần của người Việt (Tấm áo nâu ! Những mẹ quê chỉ biết cần lao) tình người (Và yêu cô gái bên nhà Miệng xinh ăn nói thật thà (à à) có duyên), tình non sông (Đất nước tôi ! Dẫy Trường Sơn ẩn bóng hoàng hôn. Đất miền Tây chờ sức người vươn, đất ơi), tình mẹ con (Tiếng mẹ sinh từ lúc nằm nôi ), và cái mộng ước tuy đơn giản nhưng đánh sâu vào con tim của mỗi người Việt Nam (Làm sao chắp cánh chim ngàn, Nhìn Trung Nam Bắc kết hàng (à hàng) mến nhau).

     

    Sự thành công của bản nhạc này đã được xác nhận về phương diện tài chính khi vào năm 2006,    hãng truyền thông Sơn Ca mua mười nốt đầu của bài nhạc để làm nhạc hiệu với giá 100 triệu đồng Việt Nam (khoảng $6000 dollars, nếu hối xuất 1 dollar = 16,500 đồng Việt Nam) :

    http://www.sonca.com.vn/Default.aspx?Module=ShowNews&Ncid=3&Nid=27.

     

    Sau khi viết bài bình luận Nhạc Sến là gì, nhiều bạn người Nam của tôi đã viết email khen tôi tuy là người Bắc nhưng dám nói sự thật mất bồ là không phải cứ bài nhạc nào do một nhạc sĩ miền Nam làm là Sến, không phải lời nhạc bình dị là Sến. Thừa thắng xông lên, là người Bắc nằm vùng muốn vạch áo cho người xem lưng, tôi muốn cho mọi người biết là người Bắc chúng tôi lúc nào cũng khách sáo, như trong lời nhạc đầu tiên của bài hát này: “Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời, người ơi”. Làm sao vừa mới ra đời mà đã biết xét đoán, yêu tiếng nói của mình được? Mới chào đời thì em bé nào cũng nói tiếng giống nhau: “Oe oe”, ngôn ngữ chưa phân biệt. Vì thế câu này quá vô lý, quá khách sáo, quá…Bắc Kỳ, không thể nào hay ác liệt bằng lời nhạc đơn giản của người miền Nam, thí dụ như lời trong bài Phố đêm: “Phố đêm , đèn mờ giăng giăng, mầu trắng như mầu đen, tắt đèn tối thui…”

     

    Một điểm khách sáo nữa trong bài nhạc này là người Bắc hay chú trọng về hình thức, bên trong có nghèo rớt mồng tơi đến đâu đi nữa nhưng lúc nào cũng phải giấu diếm, giữ cái hình thức sang trọng bên ngoài, che đậy sự khó khăn ở bên trong. Câu “Tôi yêu biết bao người Lý, Lê, Trần… và còn ai nữa”  là một thí dụ điển hình. Lịch sử Việt Nam cho thấy là các đời vua Việt Nam không dung tha cho nhau. Họ vua nào khác lên ngôi là họ đời vua trước phải chạy đôn đáo vào chợ Vườn Chuối  mượn mấy cây vàng đóng ghe ra biển tìm đường lánh nạn, đổi họ để giấu tung tích họ hàng mình cùng vua đời trước, hay vào viện thẩm mỹ bà Hạnh Phước cắt mí, sửa mũi cao dọc dừa vì sợ bị thủ tiêu nếu nhận diện với dung nhan cũ.

    Vào những ngày tàn của vua cuối cùng đời nhà Lý là Lý Huệ Tông đánh nhau với bao nhiêu giặc loạn, một trong những  nguyên phi của vua, Trần Thị Dung, được phong chức Hoàng Hậu. Từ đó thân thuộc họ Trần chiếm hết các chức quan văn võ trong triều. Vua yếu đuối, phát điên lên chùa ở, giao hết quyền hành cho Trần Tự Khánh. Trần Tự Khánh chết, giao quyền cho em là Trần Thủ Độ (sau này là Thái sư cho các vua Trần). Một hôm thấy Lý Huệ Tông nhổ cỏ ở vườn, Trần Thủ Độ nói: “Nhổ cỏ thì phải nhổ tận gốc” . Vua Huệ Tông nghe xong, trả lời: “Điều ngươi nói, ta hiểu rồi”. Sau đó, vua tự tử ở sau vườn. Dân ta tính tình ác đức với nhau như vậy thì trước khi yêu Lý, Lê, Trần, ta cần đặt lại vấn đề đố vui để học.

    Bài “Tình ca” được nhiều nam nữ ca sĩ trình bày. Các cô ca sĩ bây giờ mặc áo dài, áo bà ba, áo bikini hay cả… bao bố ai trông cũng xinh đẹp, thế nhưng nam ca sĩ mặc áo dài truyền thống Việt Nam? Giời ơi, áo dài khăn đóng của đàn ông Việt Nam là một mẫu thời trang tôi chưa bao giờ thấy ghê rợn như vậy, kể từ khi ông Năm đối diện căn nhà cũ Bàn Cờ của tôi sáng nào cũng ra đứng trước cửa với chiếc xà-rông đen như chiếc-áo-bà-ba-là-mầu-cán-bộ.  Nhìn cái áo dài của đàn ông Việt Nam, một người có thể biết ngay tại sao những nhà vẽ kiểu quần áo nổi tiếng thế giới đều là người da trắng như Ralph Lauren, Christian Dior, Armani, Versace, mà không phải là Việt Nam nói riêng hay Á Đông nói chung.  Tôi đố anh nào ngày đầu tiên có hẹn dẫn em đi dạo chơi vườn Tao Đàn  đóng vào bộ áo dài khăn đóng. Bảo đảm anh sẽ ngồi cho đến lần nguyệt thực thứ mười lăm cũng chả em nào dám đến nhận diện vì sợ xấu hổ. Dzĩ dzãng dơ dáy cần giấu diếm, chúng ta quân dân cùng một lòng quyết chiến đấu thủ tiêu cái áo dài khăn đóng, vĩnh viễn đưa nó vào quá khứ cùng với mấy con khủng long diệt chủng.

    Chương trình Paris By Night 99 có ba người hướng dẫn chương trình. Hai MC Nguyễn Ngọc Ngạn và Nguyễn Cao Kỳ Duyên là người Bắc nên phát âm chính xác, giọng nói êm tai. Hai người đều  nói năng hoạt bát, thỉnh thoảng trao đổi vài ý tưởng dí dỏm.  Cô Kỳ Duyên nói chuyện có duyên, nụ cười lúc nào cũng trên gương mặt, dễ gây cảm tình với khán giả. Nguyễn Ngọc Ngạn lúc nào gương mặt cũng đăm chiêu lo ra như sợ hãi sau khi chương trình hoàn tất vợ sẽ cho ăn mì gói ba tháng liên tiếp. Đôi lúc cặp mắt anh có vẻ mất hồn như vừa khám phá tờ vé số mình mua chỉ cần trùng một con số nữa là trúng 300 triệu dollars. Nguyễn Ngọc Ngạn có một kiến thức bao quát về xuất xứ của mỗi bài hát, gây cho khán giả sự thú vị khi nghe ca sĩ hát. Tuy nhiên, khác với Kỳ Duyên nói chuyện có vẻ khiêm nhường (gọi tất cả mọi người là anh, xưng em cho dù không biết người ấy có lớn tuổi hơn mình hay không) , Nguyễn Ngọc Ngạn có vẻ hơi hách-xì-xằng khi xưng hô với khách. Người Bắc khi gặp một người lạ mặt không biết tuổi tác như thế nào thì để tỏ tính khiêm nhường, gọi người ấy theo cấp bậc trên mình: anh chị, cô chú,  và xưng mình là em. Nếu biết chắc người đó nhỏ hơn mình thì xưng mình là tôi. Ngày xưa khi tôi còn bé mang bạn về nhà, bố tôi tuy già với mái tóc bạc thưa, luôn luôn gọi bạn của tôi là “anh”, hay “các anh”. Khi đề cập đến tôi thì gọi là em: “Các anh chờ một chốc, em Ngọc nó ra ngay”. Trong lời đối thoại với tất cả mọi người trong Paris By Night 99, Nguyễn Ngọc Ngạn luôn luôn xưng mình là anh hay chú, gọi người khác là em hay cháu. Để ý là trong buổi đàm thoại với giáo sư Việt Đinh, ngay câu đầu Nguyễn Ngọc Ngạn đã xưng mình là chú, gọi ông kia là cháu. Khi trả lời thì ông kia không biết có bực hay không nhưng không xưng cháu theo ý Nguyễn Ngọc Ngạn muốn mà xưng mình là tôi, chúng tôi.

    Gặp người nào Nguyễn Ngọc Ngạn cũng gọi là em hay cháu, thế nhưng khi gặp ông Giám Mục Canada trẻ tuổi, sinh năm 1966, chỉ mới có 44 tuổi, Nguyễn Ngọc Ngạn tuy lớn hơn  20 tuổi, lại gọi ông ta là Đức Cha, và tự xưng mình là con! Có lẽ đây là phong tục Công Giáo mà vì không phải là người trong đạo nên tôi không biết, thế nhưng một đằng  hách-xì-xằng gọi mọi người là em, là cháu, một đằng thì xưng con với người nhỏ hơn mình hai mươi tuổi, tôi thấy đó không phải là dấu hiệu của một người giữ vững lập trường.  Khi nói về phương diện tự xưng mình lên địa vị cao hơn người khác, Nguyễn Ngọc Ngạn ngày xưa chắc chắn đội sổ trong lớp huấn luyện văn hóa Bắc Kỳ.

    Người MC thứ ba, Trịnh Hội,  nói năng trôi chẩy thế nhưng phát âm không chính xác. Tôi không biết anh

    ta người miền gì nhưng giọng nói không đặc thù người miền Nam và có pha lẫn một tí tiếng Trung hay Quảng Nam (tôi không biết rõ). Tôi hoàn toàn đồng ý chúng ta nói năng khác nhau vì cha sinh mẹ đẻ, thế nhưng khi một người bước vào lãnh vực thông tin phát thanh hay phát hình, không cần biết người xứ nào, phải phát âm đúng ngôn ngữ tiếng của họ. Tiếng Việt cũng thế. Ngày xưa vào những năm đầu Trung học, Thầy dậy Việt Văn của tôi là người Nam. Tuy nhiên Thầy ấy sửa giọng nguyên thủy của Thầy để phát âm chữ chính xác, hỏi ngã, có “g” hay không “g” đâu vào đấy. Vì như thế đối với học trò, Thầy rất có uy tín là người dậy Việt Văn. Đằng này, Trịnh Hội “chín mươi chín” đọc ra “chính mươi chính”, “xin” đọc là “xinh”, âm “ngã” đọc thành âm “hỏi” thì không thể nào đóng vai trò xướng ngôn viên được. Nên nói thêm ở đây không phải tôi là người Bắc nên phê bình giọng nói người Nam: mỗi lần về SàiGòn bật TV lên là hầu như tôi tắt ngay vì giọng người Bắc làm xướng ngôn viên tôi nghe  không chịu được. Họ phát âm những chữ có dấu sắc như là dấu hỏi : “Anh đi đâu thể?”  thay vì “Anh đi đâu thế?”, nghe chói tai như vừa mới bị cô Lan trong chuyện tình Lan và Điệp gióng tiếng chuông chùa ngang tai.

       

    Có lẽ tôi bây giờ già nên không biết thưởng thức mốt tóc mới của các nam ca sĩ. Tôi để ý lắm nhưng không thể nào thấy sự khác biệt về lối chải tóc của mỗi anh vì ai nấy cũng cùng một kiểu tóc giống nhau. Dĩ nhiên là như y phục, tóc tai của họ cũng là do thợ chuyên viên sau sân khấu cắt uốn chải bới thế nhưng tại sao mọi người đều có một kiểu: tóc tua tủa loạn xạ Đông Tây Nam Bắc không chủ định như vừa phải đạp mìn? Cái kiểu này chính là tóc của tôi hai mươi năm trước mỗi lần tối tắm xong không sấy, không chải tóc leo lên giường ngủ khi tóc còn ướt, sáng dậy đi làm là tóc tôi nó y chang như vậy: từng nắm loạn xạ như chòi đập lúa xuất hiện trong đủ mọi tư thế, đủ mọi góc độ, chĩa ra trăm hướng ở trên đầu. Tôi ghét kiểu tóc này đến nỗi từ đó trở đi, tôi cứ lấy tông-đơ cắt rạp hai cm phần trên, nửa cm phần chung quanh đầu để tóc trở thành ngắn, gọn, có quy củ, khỏi chải bới. Kiểu tóc mấy anh nam ca sĩ bây giờ nó vô kỷ luật như thế thì tốn tiền ra tiệm hớt tóc làm gì vì chẳng ai biết tóc nào là mới ngủ dậy, tóc nào là mới cắt ở tiệm hớt tóc?

     

    Ngày xưa còn bé anh em chúng tôi ai cũng hận nhạc không đội trời chung vì hằng ngày cứ mỗi buổi trưa vào khoảng ba giờ chúng tôi phải nghe hát chèo của người Bắc bố tôi mở radio (tệ còn hơn hát bội), và mỗi sáng Chủ Nhật 7 giờ nghe ông Trọng bán tem mở magnétophone phát thanh những bản nhạc của Chế Linh, Thanh Thúy, Thanh Tuyền… Tôi còn nhớ có một dạo ông ta thích nghe Bùi Thiện, Sơn Ca: “Anh đưa em đi về, về quê hương ta đó. Anh đưa em đi về, về quê hương tuyệt vời…” Bùi Thiện là Bắc Kỳ hồi chánh nên giọng không thua gì mấy anh chàng bộ đội, sáng ngủ mơ mơ màng nghe giọng Bùi Thiện tôi tuởng mấy ổng đã tới nên nhiều lần sợ đến vãi đái ra quần. Vì thế nhắc đến nhạc là cả một kỷ niệm hãi hùng tôi không bao giờ muốn nghe lại. Chính vì thế nên tôi không muốn bàn về nhạc vì biết rằng tôi sẽ phê bình trong một cương vị chủ quan. Tôi chỉ có một nhận xét là ca sĩ bây giờ hát ai cũng nhẩy nhót. Cái kiểu hát của các ca sĩ ngày xưa đứng một chỗ trời trồng như Anh Khoa, Duy Quang không còn ăn khách nữa. Các cô ca sĩ thì càng phô trương càng ăn khách, cái đùi đánh chết cái giọng. Đây không phải là lời chỉ trích mà chỉ là một nhận xét thực tế vì không đàn ông nào mà không thích ngắm một cô gái đẹp. Lệ Thu, Khánh Ly, Thanh Tuyền, Phương Dung với quần áo kín đáo thì bây giờ chỉ có thể ăn khách ở câu-lạc-bộ-thanh-niên-không-già-mà-là-nhiều-tuổi.

     

    Chủ đề chính của Paris By Night 99 lần này là giới thiệu những người Việt Nam thành công ở hải ngoại. Cái câu “Tôi là người Việt Nam” có gói ghém một sự hãnh diện nào ở trong đó, vì ngay trong phần đầu DVD, trong số bao nhiêu người tuyên bố lý do tôi là người Việt Nam vì tôi làm việc cần cù, tôi phấn đấu trong đời sống, tôi trải qua bao thử thách khó khăn, tôi hy sinh cho gia đình con cái, tôi tồn trữ văn hóa nước Việt, thì  anh Vũ Minh Tòng, chủ nhân trại nấm ở Vancouver, Canada, “chơi” nổi nhất: Anh ta tuyên bố là nếu kiếp sau anh ta có trở lại làm người thì xin cho anh ta là người Việt Nam một lần nữa!

     

    Rất tiếc là đoạn video cắt ngay sau khi anh nói câu đó vì nếu chiếu tiếp tục, khán giả sẽ thấy anh Tòng đầu óc đang xịn lên xịn xuống, nói năng không minh mẫn vì vừa mới hút xong năm gói Bastos, uống xong ba chai bia 33 và vừa  nghe nhạc Tuấn Vũ / Duy Khánh liên tiếp 24 giờ đồng hồ. Kiếp sau tôi muốn trở lại thành người Việt Nam với nước da đen vàng, chiều cao thiếu hụt, tóc tai đen đuốc, mắt không mí, mũi xẹp hơn bánh dầy, nói tiếng Pháp “đờ-manh ma-tanh”, nói tiếng Anh “Give me a shit of paper” thay vì “Give me a sheet of paper”? N’importe quoi! Hổng dám đâu!

     

    Paris By Night giới thiệu và mời một số người Việt Nam ở hải ngoại thành công ở khắp các lãnh vực khác nhau như tài chính, chính trị, vẽ kiểu y phục, sản xuất máy móc, nhà hàng, phim ảnh, làm đẹp, võ sĩ, múa ballet, từ thiện, hãng điện tử, tôn giáo, khoa học, hoạt họa, buôn bán sản phẩm nail…lên phát biểu ý kiến của họ liên hệ đến vai trò của người Việt Nam thành công ở hải ngoại.

     

    Tất cả đều hãnh diện mình là người Việt Nam. Họ viện dẫn lý do người Việt thành công vì bản năng chăm chỉ, cố gắng, hy sinh, cần cù và thương yêu. Hầu hết mọi người dùng cơ hội này để cảm ơn cha mẹ mình đã hy sinh nuôi nấng con cái cho thành người. Một vài người cảm ơn mình có cơ hội thành công và muốn dùng sự thành công đó để giúp lại những người nghèo còn lại ở quê hương. Tất cả những ai lên phát biểu ý kiến đều được khán giả vỗ tay hoan nghênh nhiệt liệt vì những lời phát biểu gây động niềm hãnh diện dân tộc tính: những người khách Việt họ thấy trên sân khấu hôm nay là những người Việt Nam thành công ở hải ngoại. Người Việt giỏi không thua, và có lẽ hơn hẳn nhiều dân ngoại quốc khác. Vì tôi cũng là người Việt Nam, tôi hãnh diện mang dòng máu của quê hương tôi.

     

    Tôi móc ví xem lại căn cước của tôi: tuy tôi ở Mỹ 36 năm, tên trong căn cước của tôi vẫn là Nguyễn Tài Ngọc mà không phải là David Wynn. Tôi nhìn trong kính: da tôi vẫn vàng, tóc tôi vẫn đen, tôi vẫn là người Việt Nam. Bốn đứa con của tôi sinh ra ở Mỹ, tôi đặt tên chúng nó tên Việt Nam, không phải tên Mỹ vì trong tận đáy lòng của tôi, tôi không muốn chúng nó mất đi cái gốc gác của nó là người Việt Nam. Thế nhưng tôi có hào hứng như những người trong video tuyên bố “Tôi là người Việt Nam” không? Không, nhất định là không.

     

    Trước nhất, tôi không hào hứng vì cũng như bao nhiêu người Việt Nam, rất nhiều người ngoại quốc từ các quốc gia khác cũng thành công như chúng ta. Thứ hai, ngoại trừ một vài người thật giỏi được đi du học trước 1975, phần đông người Việt Nam như tôi được may mắn vì hoàn cảnh chiến tranh nên được sang định cư ở một quốc gia khác.  Thứ ba, nếu tôi còn ở Việt Nam, tôi không ngần ngại vỗ ngực tuyên bố tôi hãnh diện là người Việt Nam vì đó là nhà của tôi. Đằng này, tôi ở nhà người khác nên sự yêu thương quê hương cũ tôi muốn giữ trong lòng, không đánh trống kèn inh ỏi; nhất là bây giờ quê hương cũ thật sự không còn là quê hương tôi nữa vì tôi đã là công dân của một nước khác, Mỹ, Úc, Pháp,  Canada… Thử tưởng tượng nhà của chúng ta ở hải ngoại có láng giềng là Rệp, là Mễ, là Ả-rập, là da đen, là Trung Hoa, là Iran, là Armenian, ai nấy cũng vỗ ngực tuyên bố hãnh diện nước của họ thì nước Mỹ, Úc, Tây, Canada sẽ trở nên như thế nào?

     

    Cái ngạc nhiên lớn nhất, vĩ đại nhất tôi thấy ở đây là mặc dù vài người công nhận họ may mắn có cơ hội sống ở hải ngoại, không một ai trong PBN 99 tuyên bố cảm ơn quê hương thứ hai đã cứu sống họ, đã cho họ thành công về phương diện tài chánh (phần đông những người Việt trong video này ở Mỹ). Họ tuyên bố không bao giờ quên được sự may mắn thành công nước Mỹ mang cho họ, nhưng họ trả cái ơn đó bằng cách giúp cho người ở Việt Nam, không phải ở Mỹ.  Nói như thế có khác gì người Mễ sang Mỹ làm việc nhưng thay vì dùng tiền đó giúp lại nước Mỹ thì gửi lại về Mễ giúp kinh tế nước Mễ? Tổng số tiền người Mễ ở Mỹ gửi về Mễ là 25 tỷ dollars một năm. Số tiền này là tiền ngoại tệ Mễ-Tây-Cơ thu hoạch nhiều thứ nhì, chỉ sau tiền lợi tức dầu hỏa. Trường hợp Việt Nam tôi nghĩ cũng tương tự. Tưởng tượng mình có một căn vi-la, làm việc nghĩa nuôi nhiều người, giờ lại mang thêm 10 người Kampuchea về nuôi cho ăn học. Khi thành tài, thay vì dùng tiền giúp lại những người khác trong vi-la mình thì mười người ấy nói họ thành công là nhờ cha mẹ họ hy sinh, và dùng tiền họ làm ra để  giúp người ở Kampuchea thì mình nghĩ sao?

     

    Không những không mang ơn, anh chàng “vua nail” Quý Tôn còn tuyên bố là anh ta ước ao những người làm nail đoàn kết để nâng cao giá cả. Tôi ngồi nghe há hốc miệng kinh hoàng trong khi cả hí viện vỗ tay ầm ầm, kể cả Nguyễn Ngọc Ngạn! Nước Mỹ theo chế độ tư bản, chính phủ không ấn định giá cả nhưng thị trường, sự cạnh tranh  định đoạt giá tiền món hàng. Khi có cạnh tranh, hàng phải hạ giá, đem lợi cho người tiêu thụ. Tại sao giá cả ở nước Mỹ rẻ, tại sao giá làm nail cứ xuống từ từ? Vì nhiều người thấy làm tiền dễ, nhẩy vào ngành làm nail. Khi số cung gia tăng mà số cầu -số khách hàng- không thay đổi thì các cửa hàng phải tự động giảm giá để khuyến dụ khách hàng. Anh chàng Quý Tôn này muốn các hãng làm nail đoàn kết  không bán phá giá, tất cả bán cùng một giá. Hậu quả của sự bán đồng giá là người tiêu thụ lỗ mà cửa tiệm lời. Bạn có biết ở chính thể nào chính phủ đặt giá đồng nhất hay cho phép các công ty thương mại đặt giá đồng nhất theo tiêu chuẩn của chính phủ không? Chính thể Cộng Sản và Chủ nghĩa Xã hội! Chính thể Cộng Sản thì ai cũng biết, khỏi cần bàn đến. Còn những nước theo chủ nghĩa xã hội như Na-Uy, Phần-Lan, Thụy Điển, thuế má đắt nhất nhì thế giới. Rất hiển nhiên nếu nghiện ngẫm câu anh “vua nail” Quý Tôn nói, không một ai sẽ vỗ tay mà còn chửi bới ý tưởng ngông cuồng nữa là đằng khác!

     

    Lý do cuối cùng và quan trọng nhất tôi không thể nào hào hứng khi nghe những lời khích động “Tôi là người Việt Nam” trong Paris By Night 99: PBN là một cơ cấu  thương mại, tổ chức ca nhạc thu tiền bán vé, bán DVD để lấy lời. PBN tạo ra một chủ đề kích thích dân tộc tính để thu hút khán giả, bán DVD. Nếu là một tổ chức bất vụ lợi, thí dụ như Hiệp Hội Cộng Đồng Việt Nam hải ngoại, hoặc một cơ quan chính quyền Hoa Kỳ -văn phòng Tổng Thống Liên Bang, văn phòng Thống Đốc Tiểu Bang, văn phòng thị trưởng thành phố chẳng hạn- tổ chức vinh danh những người Việt thành công thì tôi hào hứng. Đằng này với mục đích là kiếm lời (khi bắt đầu DVD số 2, Nguyễn Ngọc Ngạn còn nhân cơ hội để quảng cáo bán sách viết mới nhất của mình)  thì cái quan điểm “Tôi là người Việt Nam” của những người trong PBN 99 trình bày không còn hữu hiệu nữa.

     

    Nguyễn Tài Ngọc

    Web:http://saigonocean.com/trangNguyenTaiNgoc/vanNTN.htm