image_pdfimage_print
  • Tạp ghi

    Thư Khanh : MỘT VÀI NÉT VỀ ÔNG NGUYỄN CAO KỲ

    MỘT VÀI NÉT VỀ ÔNG NGUYỄN CAO KỲ


    Tôi còn nhớ ! ngày ông Nguyễn Cao Kỳ lái máy bay ra Bắc ném bom !
    Tôi đang ngồi lo lắng không biết làm sao mua được sữa cho con tôi bây giờ vì các cửa tiệm tạp hoá thì đóng cửa chặt hết rồi . Tiệm tạp hoá đầu đường nhà tôi – của bà BảY Búa cũng đóng chặt ! Không sao gọi được để bà ấy thương tình là mình khách mua quen từ lâu mà bán cho vài hôp sữa Ông Thọ hay sữa Trái núi !
    Đường phố : vắng tanh !
    Trong xóm nhà ai cũng chỉ còn ôm cái radio ghe tin tức và lo lắng . Quân đội thì cấm trại 100%.
    Tôi đang lo lắng ! Trường thông báo cho nghỉ học . Tôi được ở nhà . Người giúp việc muốn đòi về quê vì sợ loạn …
    Tôi chả biết sao thì may quá ông xã tôi từ trại Không Quân TânSơn Nhất  về !
    Mặt mày chồng tôi :Phan Lạc  Giang Đông- đầy vẻ  hớt hải nghiêm trọng trong bộ Quân Phục Sẵn Sàng Chiến Đấu . Giang Đông bảo tôi :
    " Ông Kỳ ra ném bom ngoài Bắc rồi ! Anh về báo cho em hay là Sắp có chiến tranh lớn !  Máy bay ngoài Bắc chúng sẽ trả đũa -Anh phải cấm trại dài dài và sẽ ra TUYẾN ĐầU TỐ QUỐC làm Đài Phát Thanh cùng một số anh em , có cả  Nguyễn Đình Thiều  . Anh báo để em phải tự lo cho con   ! ".
    – Đài Phát thanh vẫn oang oang đang thông báo và ca ngợi NGUYỄN CAO KỲ : ANH HÙNG !
    Tôi bảo chồng tôi :
    " Cấm trại 100% sao anh lọt về được ? ! ".
    Giang Đông :
    " Anh có thẻ báo chí ! Đưa Quân Cảnh …- Quen cả mà . Mình nói đi làm phóng sự- ra nhà in  ! Em nhớ  Vũ Đức Thọ hay ra ăn cơm nhà mình không – anh ấy là đại uý Quân Cảnh coi vòng đai Phi Trường mà  ".
    Tôi nói :
    Em đang lo  không mua nổi sữa cho con !
    Giang ông thở dài :
    " Rối ! để anh vào lại trại – sẽ quay về ngay ! "
    – Tôi chờ ! Trong vòng một giờ sau Giang Đông về cười toe . Mở ba cái nút  áo TREIZY ra bảo :
    " Nè anh đẻ ra sữa đây này –  Miệng đếm từng hộp sữa lấy ra để xuống bàn : 1- 2- 3 …10 .
     Mười hộp – sữa Tráì Núi đấy ! Đủ chưa ? ! ".
    GIANG ĐÔNG nói : " Không Quân mà ! Huyng Đệ Chi Binh là số một ! – Anh phải chạy xuống Quân Tiếp Vụ gặp trung Sĩ Mô , người cùng Quê ở Hải Dương cũ – Anh Mô bảo lấy Mười hộp thì phải ghi tên 10 bạn anh vào danh sách NHƯỜNG SỮA này để anh Mô có lý do tổng kết sữa . Và anh ấy dặn NHỚ NÓI LẠI với CáC Bạn một tiếng nhé kẻo họ  tự ái ! ".
    Tôi mừng có sữa nhưng lại hỏi vặn :
    " Tại sao có vụ Sữa NHƯỜNG này ? ! "
    Giang Đông :
    " À thì vì vụ ông Nguyễn Cao Kỳ ra Bắc ném bom . Sữa khan nên không được mua nhiều như trước . Mỗi quân nhân Độc Thân chỉ được mua một hộp thôi ! Em đừng lo , có thằng nào bạn anh mà cần mua một hộp sữa  đâu ! HUNH ĐỆ CHI BINH mà ! ".
    Giang Đông lo xong sữa cho vợ con ! lại đi …và còn ca nho nhỏ diễu cợt :
    " Một trăm phần trăm em ơi !
    Giờ đây lại cấm trại rồi .
    Lính ! Lính …mà em ! ".
    *
    Rồi tuần sau thì Giang Đông cùng một vài ba anh em trong ban Biên Tập của tờ báo LÝ Tưởng – Ban Chính Huấn của Không Quân đã lên đường ra ĐÀ NẴNG làm  ĐàÌ Phát Thanh  Đà Nẵng và đi làm phóng sự  .
    Nơi đây Đài Phát ong óng tin tức và ca tụng Ngyễn Cao Kỳ …HEROE !
    Khi trở lại Bộ Tư Lệnh KHÔNG QUÂN ở Tân Sơn Nhất Sài Gòn …
    Ông Nguyễn Cao Kỳ được BAN CHÍNH HUẤN ra cấp tốc một Tuyển Tập Không Quân . Quy tụ nhiều cây viết .
    Tuyển Tập Không Quân mang tên :   ĐẦU GIÓ .
    Phan Lạc Giang Đông " Gáy " cho ông Nguyễn Cao Kỳ bài thơ in ngay trang đầu , có tựa là : 
                             TRƯỜNG CA  BẮC PHẠT  .
    Nội dung bài thơ  : Nguyễn Cao Kỳ : MỘT NGUYỄN HUỆ !!!!!!!!!!!! !!
    +++
    Năm 1975 – Sau THÁNG TƯ ĐEN , cũng vì bài thơ này mà PHAN LẠC TUYÊN đã tức hộc máu  và viết thư vào trại cải tạo đề nghị CÁN BỘ Trại GIA TĂNg MỨC ĐỘ CảI TẠO cho PHAN LẠC GIANG ĐÔNG ! .
    –  Thằng VIỆT CỘNG nằm Vùng LÊ TRƯỜNg ĐẠI ( trung sĩ Không Quân = cán bộ cơ sở tại Bộ Tư Lệnh Không Quân và Sư Đoàn Năm Không Quân ! – Tân Sơn Nhất ). Lê Trường Đại cháu ruột của LÊ CHÍ ( Cộng Sản ) . Hắn trực thuộc P16 mà Phan Lạc Giang Đông không hề hay , thường xuyên ghé nhà tôi rình mò , bám xát !!!!Tới  30 tháng Tư Đen …tôi mới biết rõ Nó là VIỆT CỘNg NẰM Vùng !

    Sau ngày Phạm Phú Quốc và Ông Nguyễn Cao Kỳ lái máy bay ra ném bom ngoài Bắc thì :
    1- Bài ca : ca tụng anh hùng Phạm Phú Quốc phát thanh hoài hoài …
    Hầu như không ai không thuộc . Ví phi công Phạm Phú Quốc đã hy sinh ! Và lời ca ngọt ngào sầu buồn nỉ non khiến khi nghe rất dễ chảy nước mắt !
    Còn ông Nguyễn Cao Kỳ ! Máy bay mới ra đến Vinh thôi . Bị trúng đạn ngay phía đuôi , máy bay về Phi Trường đáp xuống an toàn .( Hú v&
    iacute;a nhé nên chuyện ông Kỳ còn dài cho tới nay chưa hết !!!!!!!!!!! ) .
    Không Quân QĐVN CỘNG HOÀ rất hãnh diện và tinh thần hăng hái lắm .
    Các chàng phi công trẻ , trí thức , đẹp trai : " Vai năm tấc rộng thân mười thước cao " trong bộ đồ bay , khăn quàng tím – Huy hiệu đeo trước ngực : hình in bản đồ Việt Nam với hàng chữ : Tổ Quốc Không Gian  . Các em gái hậu phương mê tít thò lò . Mê các anh cả về cái tính Hào Hoa và ăn nói lịch sự nữa !
    Các anh phi công gần như ai cũng can đảm  : " Ra đi không ai tìm xác rơi " , sẵn sàng chiến đấu .
    Có nhiều anh phi công hay cả các anh ở dưới đất đều thay đổi Cái Bộ RÂU . Hầu như Bộ Râu Kẽm của ông Kỳ là MODEL của họ đấy !
    Ông xã tôi tuy không đi bay – làm công tác chính huấn nhưng cũng muốn để bộ ria giống ông Kỳ . Giang Đông mấy lần bảo tôi :
    " Nè em ! anh để Ria giống ông Kỳ nhé ! trông đẹp và gợi cảm nữa ! " .
    Tôi cản ngay :
    " Anh à ! nhà mình hay ăn mắm tôm ! và anh hay bận lắm . Nhiều khi anh ăn cơm vội vàng là lại đi ngay vào trại . Anh chả kịp đánh răng rửa mặt gì cả . Và trước khi đi bao giờ anh cũng hôn em thắm thiết ! Em cũng ráng hôn lại thắm thiết . Nhưng bây giờ anh để Râu Kẽm như ông Kỳ  , anh ăn mắm tôm nó sẽ  dính nhiều hơn vào , không kịp rửa thì em không dám cho anh hôn đâu – Giang Đông nghe có lý nên thôi bỏ mộng để Râu Kẽm .

    Tình trạng cấm trại vẫn dài dài …
    Không Quân lại được Tuyển Thêm vào rất nhiều cho Tập San Lý Tưởng – Những cây viết có khả năng nhưng với lương Trung Sĩ đồng hoá như nhà văn Thế Phong . Dù nhà văn Thế Phong có là bạn của Tướng Trần Văn Minh chăng nữa thì cũng phải chấp nhận chức vụ khiêm nhường vậy thôi !
    Số anh em viết báo cũ như nhà văn Dê Húc Càn ( Dương Hùng Cường ) , Kiêm Thêm . Các cây  viết ủng hộ như tướng Trần Văn Minh , nhà văn Đào Vũ Anh Hùng , Hoằng Hương Trang .
    Lo về hình ảnh , phó nhòm : Đặng Khuyến .
    Lo về nhà in : Đặng văn Xuyên .
    Hoạ sĩ cũng mấy tay : Cao Bá Minh( dòng dõi  Cao Bá Quát thì phải )  , Thụy Kha .
    Ngoài ra còn ĐỘI QUÂN TRÌNH DIỄN VĂN NGHỆ …cũng khá đông và gồm những ca sĩ như vợ chồng July Quang , Anh Khoa …Tâm Đan .
    – Về lính thì gồm nhiều thành phần . Có trường hợp lính kiểng vào để tránh gọi Động viên . Loạ này có chàng nhà giàu lái xe hơi –  đi làm như một công chức bự .
    – Nói tóm lại : Ông Nguyễn Cao Kỳ uy thế đã bay cao rất nhanh .
    Không Quân khí thế đang hăng hái .
    Các em gái hậu Phương gửi quà cả cho Giang Đông từ xa về qua địa chỉ tìm được ở tập san  Lý Tưởng !
    nào là khăn quàng tím thêu nguyên bài thơ của Giang Đông ! ( Cao Bá Minh phải nhận và quàng dùm vì sợ THƯ KHANH biết thì Giang Đông …không ổn ! ) .
    * Tướng Kỳ đã được một người đẹp nhất của  CHÊU ĐÃI VIÊN HÀNG KHÔNG ưng ý là đúng lắm .
    Một cái máy bay để dành riêng với hàng chữ kẻ dài thật lớn bên hông máy bay :
                                           KỲ DUYÊN MAI
    đã là hình ảnh đẹp trong mỗi giấc mơ của các em gái hậu phương !!!!!!!!!!!! !

    Tướng Kỳ được ngưỡng mộ như một HEROE  !
    Ông lại còn cùng phu nhân chụp chung một tấm hình mặc nguyên bộ đồ bay đen . Cả Hai đều mặc Đồ bay .
    Ý ông muốn cho mọi người thấy rằng PHU NHÂN và Ông là ĐÔI UYÊN ƯƠNG như HẠNG VÕ và NGU CƠ thời nhà Tây Hán .
     – Tôi thầm suy nghĩ : " Chết rồi ! Kiểu này Miền Nam sẽ  bị thất bại như HẠNG VÕ đã đến đường cùng bên BẾN Ô GIANG – trên xứ GIANG ĐÔNG BÊN TÀU thôi ! " .
    Tôi thầm suy nghĩ :
    VŨ DŨNG mà VÔ MƯU thì làm sao LÃNH ĐẠO MIỀN NAM để đánh thắng CỘNG SẢN BẮC VIỆT đây ? !
    Phía Cộng Sản Bắc Việt : HỒ CHÍ MINH là Một Con Cáo Già Chính Trị mà đằng sau là NGA TÀU – hai nước CỘNG SẢN ủng hộ VŨ KHÍ ĐẠN DƯỢC và CỐ VẤN .
    Bên cạnh cái ưu điểm là TINH THẦN KHÔNG QUÂN từ trên chí dưới đều hăng say chiến đấu .
    Những buổi thuyết trình từ hết không đoàn này tới không đoàn khác cùng với Đoàn Trình Diễn Văn Nghệ …
    Những bài báo viết Nẩy Lửa  trên Tập San Lý Tưởng phát hành đều đều được gần xa đón tiếp .
                                                                     NHƯNG
     Bên cạnh đó là CÂU LẠC BỘ SĨ QUAN :  HÙYNH HƯŨ BẠC
                           đã là nơi phản tuyên truyền !
    Hàng cuối tuần đều có tổ chức vui chơi thả dàn .
                                                      VŨ SEXTY
    – Quân sĩ ngoài tiền tuyến đang cùng các Bạn Đồng Minh ( Mỹ ) phải cam go đánh giặc thì chính : GIỮA SÀI GÒN – tại Câu Lạc Bộ Huỳnh Hữu Bạc – xát Bộ Tư Lệnh Không Quân – Tân Sơn Nhất .
    Tướng Kỳ đang vi vút nhảy đầm cùng các Em !!!!!!!!!!!! !!!!!!!!! !!!!!!
                Hầu như Tướng RÂU KẼM này không hay NGOÀI TIỀN TUYẾN các anh chiến sĩ của Tất Cả CáC BINH CHỦNG đang vật lộn với tử thần ?????!!!!!!! !!!!!
    DO ĐÓ VIỆT CỘNG đã đang thắng …mà chúng ta khônghay sao ? !
    Tôi đọc báo liên miên vì lúc đó ở miền Nam có nhiều tờ nhật báo lắm . Ngoài thì giờ đi dạy học về tôi chúi đầu đọc báo : Chính Luận , Tia Sáng , Tiền Tuyến , Sống , Con Ong  v. v .
    Một hôm Giang Đông bảo tôi :
    "Anh nản quá ! Đi thuyết trình ở các không đoàn . Có không Đoàn – Chỉ huy vỗ vai anh bảo :  Nè nghe cậu thuyết mãi chán  quá rồi . Bữa nào đem cho tụi này một tối ăn chơi như TƯỚNg RÂU KẼM ĐI : Vũ SEXY đi ! ".
    – Đó là một trong những nguyên nhân đưa đến thất bại cho Miền Nam !!!

    Giang Đông đi làm ngoài nhà in  và luôn luôn bị cấm trại !
    Lính mà cấm trại thì ăn ghi câu lạc bộ làm gì còn đồng nào cho gia đình . Anh nào Hiền Như MA SOEUR thì may ra . Còn ông xã t&ocirc
    ;i bị thiếu câu lạc bộ nữa kìa ! Nhưng cái may mắn là tôi đi dạy học , hai con  ăn theo lương tôi ! Do đó tôi còn đỡ lo kinh tế gia đình .

    Hội QUÁN HUỲNH HỮU BẠC là nơi Giải Trí của Tướng RÂU KẼM : Nguyễn Cao Kỳ ! và một số Sĩ Quan thân cận của ông Kỳ đã PHẢN TUYÊN TRUYỀN cho CHÍNH NGHĨA QUỐC GIA và làm NẢN LÒNG CÁC CHIẾN SĨ  CỦA MọI BINH CHỦNG đang hăng say , gian lao đánh giặc ngoài tiền tuyến !
    Vâng đúng vậy !
    – Một hôm Giang Đông bảo tôi :
    " Em à ! Dân tộc mình 90 % là dân nghèo ! Từ thành  thị đến nông thôn …Dân từ đồng quê bị chiến tranh phải bỏ lên thành thị đói khát ! Vợ con lính , chồng đi trận ở nhà sống thiếu thốn về mọi mặt . Trong trại anh , lính còn đặt vè ngồi cấm trại có những chàng bất mãn cảnh ông Kỳ ăn chơi ngay trước mắt ! Vũ SEXY thì SĨ QUAN Thân cận của ổng thi nhau NHÉT GIẤY 500 đồng  vào Sì líp và áo Sú Chiêng mấy con Điếm ! Lính  làm vè đọc cho nhau nghe :
    " Lính Không Quân , Anh có cái quần anh cũng bán đi ! – Bán đi anh mặc bằng gì , Anh mặc cái áo anh đi khòm khòm…. ! " .
    – Tinh thần của Không Quân là Không Bỏ Anh Em Không Bỏ Bạn Bè !
    Mà ông Kỳ có nghe thấy những lời xỉ vả sau ông ấy không .
    – Thế rồi …
    Tình trạng cấm trại vẫn liên miên vì Việt Cộng đánh rát quá ! Tin từ các mặt trận tôi đọc từ nhật báo  muốn điên đầu !
    Đêm đêm nằm một mình  với hai con nhỏ tôi cứ sợ một ngày nào đó mình sẽ thành goá phụ !!
    Giang Đông – một tối lọt về bảo tôi :
    " Em à ! Hôm nay trong Hội Quán Hùynh Hữu Bạc , Tướng Kỳ mở party lớn mời  một số Sĩ Quan Thân Cận của ổng và các PHU NHÂN của Qúy Vị này ! Thằng 9 Thân nên gọi bằng thằng ) ĐẶNG KHUÝẾN chụp hình cho Tập San Lý Tưởng – nó bảo :Anh Em mình tối nay được RỬA MẮT  ! Anh bảo anh không đi nhưng dặn nó phải chụp hình để anh đưa vào báo Lý Tưởng cho Tướng -báo  đang chờ lên khuôn . Vậy tối em ngủ nhớ đắp chăn rồi sáng mai anh mang hình cho coi – chắc nhiều mỹ nhân lắm ! ".
    – Giang Đông vào trại ! Tôi tắt đèn cố giỗ giấc ngủ !
    Bỗng vừa ngủ lơ mơ thì nghe tiếng trái pháo kích bay rú qua nhà và nổ chát chúa nghe rất gần –  Rung cả mái tôn !
    Tôi ôm chặt con tôi vì nó giật mình khóc ! Trên nhà bố mẹ chồng tôi mở cửa gọi tôi bảo ôm chặt cháu kẻo nó sợ .
    Ông bố chồng tôi nói : Chắc Việt Cộng bắn vào SÂN BAY ! Chả hiểu Giang Đông ra sao …? !
    Thế rồi hoả châu soi sáng gần suốt đêm …- Mất ngủ luôn .
    – Tới tờ mờ sáng Giang Đông về ! Cả nhà tôi mừng quá . Giang Đông bảo :
              " Đúng lúc HỘI QUÁN HUỲNH HỮU BẠC đang VUI NHẤT – Tướng Kỳ đang mặc Áo Đuôi Tôm dìu vợ bé một TÊN ĐẠI TÁ đẹp như mơ – NHẢY VI VÚT thì VIỆT CỘNG PHÁO KÍCH – chúng pháo một trái pháo cỡ 75 ly !
    Ông bố chồng tôi hỏi :
    " Có ai bị chết không ? ! "
    Giang Đông : " May không ai chết cả ! " .
    Nổ ngay gần Bộ Tư Lệnh Không Quân !!!
    – Giang Đông quay qua tôi :
    " Hình thằng Đặng Khuyến chụp đây – Nó chịu khó thức đêm rửa . Anh coi sơ sơ rồi . Nhưng có 2 tấm nó phóng lớn . Nè em coi : Hình ông Kỳ đang nhảy với Vợ Bé thằng Đại TÁ ( XIN không nói tên ) –
    Tôi nhìn kỹ : " Ồ đẹp quá ! Nè bà này đang tư thế nằm ngửa ngửa gần xát đất – Chân co chân dũi – Ông Kỳ đang kéo nè ! . Còn hình kia chụp rò toàn bộ cái lưng trần nõn nường . Và Bốn Mắt đang Say Mê chìm đắm trong nhau nè ! " .
    Giang Đông : " Anh bỏ 2 tấm này !Đưa lên báo cho mà thiên hạ chửi à ! " .
    Tôi năn nỉ : Thôi cho em đi – Em thích giữ .
    Giang Đông : Không được em à .
    Rồi Giang Đông uống vội tách cà phê sữa và ôm hết hình ra nhà in Minh Ý .
    – Sự việc này xảy ra xong – ngay hôm sau mấy tờ NHẬT BÁO bán đắt như tôm tươi .
    TIN VIỆT CỘNG PHÁO KÍCH vào BỘ TƯ LỆNh KHÔNG QUÂN giữa lúc TƯỚNG KỲ cùng Một SỐ Cấp Tá Thân Cận đang nhẫy đầm Đớp Hít ! .
    HÌNH chụp không có như hình Giang Đông cầm về ! NHƯNG : HÌNH VẼ HÍ HỌA ….!!!!!!!! !!mớ ghê gớm .
    Tỉ dụ :
    Hình vẽ TƯỚNg RÂU KẼM mặc ÁO ĐUÔI TÔM Đang Chui Xuống Gầm Sàn Nhảy  cùng Người Đẹp Khi Bị Pháo Kích !!!!!!!!!!!! !

    ***
    Vâng ! Không lâu sau vụ này thì TẾT MẬU THÂN xảy ra !!!
    TRÁI PHÁO KÍCH của Việt Cộng đã BÁO TRƯỚC Chăng  ???????????? ???????!! !!!!!!!!! !!!!!!!!! !!!!!!!!! !!!
    LÀ SẼ tới TỔNG TẤN CÔNG của VIỆT CỘNG !
    Mà TƯỚNG RÂU KẼM không TIÊN ĐOÁN được !!!!
    THƯ KHANH ( Còn tiếp )

  • Tạp ghi

    Giáo Sư Nguyễn Văn Phú : Thư Gửi Con Cháu –

    Hi Friends,
    Since we are not going hiking this week, I am doing some extra reading.  As before, I share my reading with you guys if I think it is interesting.
     
    This time I read about "Fresh View Points on Life Topics".  These topics were written by different authors.  Two of their ages were 40 years apart! The key factor is Fresh, i.e. NOT the type of copy/paste without knowing whether it is real or fake that many people blindly published on Internet!  The ideas presented by these authors worth all the time it takes for us to think and to understand.  Once you understand it, you can delete if you dont like it; but if you like it please keep it for future reference.
     
    My friend reminded me that my Philosophy teacher in TuTai2 was TranTheHien.  From his teaching, I learned that there are many angles to view an object. Therefore, one must keep an open mind when evaluating a serious topic.

    Now, you are an open minded person, so please read the first topic as shown below. 

     

    Also note that a section was highlighted with blue color, i.e. you will see more next week.

    At the end of this email, I also included the website address in case you want to dig more into this subject.

     

    Regards,
    Albert Dong

    ————————————————————————————————-

    GS NGUYỄN VĂN PHÚ

    nguyên Hiệu trưởng
    trường Trung học Tư thục Hưng Đạo Sài Gòn 
     

      
     


    Giáo sư Nguyễn Văn Phú nguyên hiệu trưởng trường Trung Học Tư Thục Hưng Đạo Sài Gòn, Giáo sư Toán và là tác giả nhiều sách Toán bậc Tú Tài trước năm 1975.

     

    Thư Gửi Con Cháu – Giáo Sư Nguyễn Văn Phú

    Xin đa tạ công sức của tilun và Sake đã bỏ công sức ra type lại bài viết rất hay này của GS Nguyễn Văn Phú. Chúng tôi xin chuyền giữ lại để các bạn trẻ có cơ hội tham khảo và tìm hiểu thêm lời nhắn gửi bậc tiền bối đi trước.

    Thư Gửi Con Cháu – Giáo Sư Nguyễn Văn Phú 

    Thưa lão hữu,

    Trong những dịp chuyện trò với nhau ở trụ sở trong khi chờ đợi các con đến đón, chúng ta đã đồng ý với nhau về 1 số vấn đề và lão hữu bảo tôi nên viết các điều ấy ra để cho con cháu đọc, vì lão hữu tay run quá, muốn viết cũng không được. Đặc biệt là năm nay tròn 30 năm tỵ nạn, cho nên cần làm sáng tỏ một số việc cho các con, nhất là các cháu, hiểu. Mấy tháng vừa qua rồi, tôi đã gắng tuân theo lời của lão hữu; nay coi như việc làm đã tạm xong. Để dễ trình bày ý kiến, tôi viết dưới dạng một bức thư của bố mẹ gửi cho các con. Kính mời lão hữu nhàn lãm, rồi sửa đổi và bổ túc cho, đa tạ.

    ***

    Các con thân yêu,

    Nay, bố mẹ tuổi đã 80, thế cũng là khá thọ so với các thế hệ trước bố mẹ. Bố mẹ đã nhiều lần nói chuyện với các con về một số vấn đề, nhưng không phải lúc nào cũng có đủ các con cùng nghe. Hơn nữa, không chắc các con đã nhớ hết những lời nói của bố mẹ. Vì thế mới có lá thư này để tóm tắt những ý kiến chính mà bố mẹ muốn gửi đến các con. Còn các cháu thì chỉ nói mà ít đọc được tiếng Việt, nên các con hãy liệu cách truyền đạt lại ý của bố mẹ và giảng giải cho các cháu biết, chẳng những biết mà phải hiểu kỹ những điều bố mẹ viết ra đây ngày hôm nay.

    Biết Ơn. Các con ạ, trên đường tỵ nạn Cộng sản, tìm tự do, chúng ta dã bỏ lại tất cả, tài sản, bàn thờ và mồ mả tổ tiên. Khi đến định cư nơi quê hương thứ hai này, chúng ta đã được chính quyền và dân chúng đón tiếp và giúp đỡ. Hiện nay, đời sống của chúng ta đã ổn định. Chúng ta phải biết ơn đất nước này và hãy tìm cách góp phần làm cho đất nước này tươi đẹp hơn, giàu mạnh hơn để đền đáp phần nào cái ơn đó.

    Lý Do Tỵ Nạn. Các con cần giảng rõ cho các cháu biết lý do nào đã khiến cho gia đình chúng ta tới đây cùng với hàng vạn gia đình khác, đó là: chúng ta tỵ nạn Cộng sản, đi tìm Tự Do. Các cháu được sống trong xã hội dân chủ, tự do từ lúc sinh ra nên không thể tưởng tượng nổi tính dối trá và các thủ đoạn nham hiểm của Cộng sản. Các cháu khó có thể tin được tại sao con người đối với nhau mà lại tàn ác như vậy (có thể cho các cháu coi phim "Journey from the Fall-Vượt Sóng", do Trần Hàm đạo diễn, khởi chiếu 30-4-2005). Cộng sản hành động rất ác nhưng nói rất khéo và che đậy rất giỏi! Vì thế phải giải thích cho các cháu hiểu, không phải để hận thù mà là để biết sự thật. Có một câu mà nhiều người hay nhắc: “Đừng nghe những gì Cộng sản nói, mà hãy nhìn những gì Cộng sản làm.”

    Quê Cha Đất Tổ. Dù công việc bận rộn đến mấy, các con hãy dành thì giờ nghiền ngẫm những trang lịch sử và địa lý Việt Nam, để biết nguồn gốc dân tộc, sự hình thành đất nước, những bước thăng trầm, những nỗi vinh nhục, những khôn ngoan và lầm lỗi của ông cha ta. Và từ đó chúng ta rút ra những bài học. Có những trang lịch sử oai hùng, mà cũng có những trang lịch sử đẫm nước mắt. Có khi nước ta bị đô hộ khổ nhục cả ngàn năm, mà cũng nhiều khi dân ta anh dũng vùng lên phá xiềng xích, giành tự chủ. Lại cũng có khi người mình đi xâm chiếm tàn phá nhiều nước khác, thí dụ gần đây nhất là mười năm tàn phá Cao Miên, gây nên căm hờn của nước láng giềng và để lại cái nghiệp nặng mà các thế hệ sau sẽ còn phải gánh chịu!

    Lịch Sử Gần Đây. Nuớc ta bị Pháp đô hộ từ cuối thế kỷ 19. Khoảng 1940, đại chiến thế giới bùng nổ. Ở nước ta, Nhật đảo chánh Pháp 9-3-45. Vua Bảo Đại tuyên bố hủy bỏ hiệp ước bảo hộ ký với Pháp, rồi giao cho Ông Trần Trọng Kim thành lập chính phủ đâu tiên của nước Việt Nam độc lập. Phe Trục gồm Đức, Ý, Nhật thua Đồng minh gồm Anh, Pháp, Mỹ, Liên Xô, Trung Hoa. Ngày 19-8-45, Việt Minh cướp chính quyền của chính phủ Trần Trọng Kim, tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà. Nhưng không được bao lâu, Pháp tìm cách quay lại. Cuộc toàn quốc kháng chiến chống Pháp bắt đầu ngày 19 tháng 12, 1946. Khi phe Việt Minh lộ rõ bản chất Cộng sản, các đảng phái quốc gia trước nguy cơ bị họ tiêu diệt dần, đã trở về vùng quốc gia là nơi đã thiết lập một chính quyền khác với chính quyền vùng kháng chiến mà thực chất là cộng sản. Sau trận Điện Biên Phủ, Hiệp định Genève 1945 chia đôi đất nước: miền Bắc là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, miền Nam là Việt Nam Cộng Hòa. Miền Bắc công khai theo khối Cộng sản, tiến hành xâm lăng miền Nam bằng võ lực và che mắt thế giới bằng con b
    ài Mặt Trận Giải Phóng Mìên Nam. Miền Nam được Hoa Kỳ và đồng minh của khối tự do ủng hộ đê ngăn sự bành trướng của Cộng sản. Khi quân xâm lăng mạnh thì Hoa Kỳ đổ quan vào miền Nam, bắt đâu vào 1960, và chiến tranh trở nên khốc liệt.

    Năm 1972, sau khi Liên Xô và Trung Quốc trở thành đối nghịch thì tổng thống Nixon đến Trung Quốc ký Thỏa hiệp Thượng Hải. Hoa Kỳ không cần đến “tiền đồn chống Cộng” nữa nên bỏ rơi Việt Nam Cộng Hòa! (Soạn phẩm khi đồng minh tháo chạy của tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng cho biết những sự thật phũ phàng về sự bội ước và tháo chạy của Mỹ.) Theo Hiệp định Paris 1973: Hoa Kỳ rút quân khỏi miền nam Việt Nam, chỉ để lại một số cố vấn mà thôi, còn quân Bắc Việt vẫn ở lại! Cộng sản Bắc Việt tiếp tục xâm lăng miền Nam với nhiều viện trợ của cộng sản quốc tế. Việt Nam Cộng hoà dù tự vệ can trường đến mấy, mà không đủ vũ khí, xăng dầu… thì chắc chắn là kém thế. Ngày 30 tháng tư 1975, thủ đô Sài Gòn thất thủ. Cuộc di cư tỵ nạn cộng sản, tìm Tự Do bắt đầu. Từ đây trở đi, chính các con biết khá nhiều chi tiết.

    Suy Sét Thông Tin và Sử Liệu. Thời buổi này, thông tin rất nhiều, quá nhiều. Người ta viết về Việt Nam, về chiến tranh Việt Nam nhiều lắm, có cả phim ảnh nữa, nhưng trung thực thì chẳng được bao nhiêu. Có người viết trung thực nhưng chỉ nhìn được một khía cạnh của vấn đề, hệt như “những anh mù sờ voi”. Có người cố ý bẻ cong sự thật, nhằm đạt mục đích riêng của mình. Có người – kể cả nhà tu – còn bịa đặt thêm chuyện để vu khống người khác! Tệ nhất là khi kẻ cầm quyền hay tay sai của họ viết sử. Nhà văn Alex Haley đã viết ở dòng cuối tác phẩm "Roots" (Nguồn Cội): “Rốt cuộc, chính kẻ chiến thắng là kẻ viết sử.” Cho nên, bố mẹ ân cần dặn các con và nhất là các cháu rằng khi đọc tài liệu, sách vở và coi phim về Việt Nam thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21, dù là của tác giả nào, kể cả Âu-Mỹ, cũng phải hết sức thận trọng và suy sét thông minh.

    Theo bố mẹ thì cuộc chiến 1954-1975 ở nước ta là chiến tranh Nam Bắc, là nội chiến, là chiến tranh ủy nhiệm, là đối đầu giữa hai khối Cộng sản và Tự do; khí giới nước ngoài, máu dân Việt mình. Đối với người việt nam, đó là chiến tranh tự vệ. Còn cộng sản Bắc Việt thì tuyên truyền và giáo dục quần chúng rằng đó là chiến tranh chống Mỹ-Ngụy và thống nhất đất nước. Kẻ thắng kiêu ngạo và tàn ác, người thua uất hận trong tủi nhục. Mấu chốt của sự chia rẽ trầm trọng trong dân tộc ta nằm ở điểm ấy (kể ra thì dân tộc ta còn nhiều sự chia rẽ khác nữa). Chưa thay đổi được hai cách nghĩ đó thì chưa nói tới hòa hợp dân tộc được! Hàng triệu người đã chết, tuy đất nước được thống nhất mà lòng người đến nay vẫn còn chia rẽ.

    Về Thăm Việt Nam. Có vài vị hỏi bố mẹ đã về thăm Việt Nam chưa. Câu trả lời là chưa, vì lý do sức khoẻ. Đã có rất nhiều người về Việt Nam, mỗi người một lý do, mỗi người một mục đích, mỗi người một cách nhìn! Về để chăm sóc cha già mẹ yếu, thăm nuôi người thân, về để sửa sang phần mộ tổ tiên, về để giảng dạy cho sinh viện, để nhìn lại quê hương, những điều ấy là chính đáng. Về để cứu trợ nạn dân của các thiên tai hay giúp đỡ đồng bào nghèo túng mà không vì danh vì lợi, cũng là việc tốt. Về để ăn chơi, để du lịch rẻ tiền, để cầu danh lợi, để xin vài tấm bằng khen, thì không nên.

    Sau này, khi trong nước thay đổi thật sự, các con có thể đưa các cháu về thăm quê hương. Bố mẹ biết trước rằng các cháu sẽ không xúc động lắm đâu vì con người ta phải có kỷ niệm, phải có gắn bó thì mới xúc động được. Các con hãy cố hướng dẫn các cháu yêu đất nước, dân tộc và đồng bào Việt Nam, đừng để cho các cháu chỉ là những khách du lịch bình thường. Còn việc các con hay các cháu sẽ về làm ăn sinh sống tại Việt Nam thì bố mẹ nghĩ rằng điều đó khó xảy ra.

    Hiện tình đất nước. Nếu có ai nói rằng Việt Nam nay đã tiến bộ (đa số người dân nay đã được ăn cơm thay vì ăn cơm trộn bo bo, có nhiều xe gắn máy và xe hơi thay cho xe đạp…; chẳng lẽ sau 30 năm im tiếng súng mà không có tiến bộ!) thì đó là một vài tiến bộ so với chính Việt Nam chứ nếu đem so sánh Việt Nam với các nước láng giềng thì đáng xấu hổ về nhiều mặt (như Cao Miên mà cũng còn có đảng đối lập). Muốn biết sự thật ở Việt Nam đằng sau những "binh đinh" cao ngất, những "ô-tô con" bóng loáng, những khách sạn năm sao, những sân "gôn" tân kỳ, thì phải theo rõi tin tức trong nước để thấy sự băng hoại trầm trọng về nhiều phương diện (nhất là về giáo dục), sự hiện diện của Tư bản đỏ, của quốc nạn tham nhũng, sự phung phí tài nguyên quốc gia, và phải đích thân đến thăm đồng bào nơi các vùng xa xôi nghèo khó. Chúng ta cần biết sự thật, không tô hồng mà cũng chẳng bôi đen!

    Để tạm hiểu hiện trạng nước ta, các con tìm đọc bài nói của tiến sĩ Lê Đăng Doanh, nguyên viện trưởng Viện Nghiên Cứu Quản lý Trung ương Hà Nội. Ông ta thuyết trình các sự thật cho các cán bộ cao cấp nhất của cộng
    sản Việt nam nghe. Bài nói này gần đây mới được tiết lộ ra ngoài. Bài giới thiệu viết: "Mọi người phải chú ý tới những con số cho thấy sự thật phũ phàng về nền kinh tế Việt Nam. Ông Doanh cho thấy cả tình trạng yếu kém của nền kinh tế lẫn tính chất phi dân chủ của chế độ cộng sản ở Việt Nam. Từ đó ông dám nói thẳng cả cơ cấu chính trị cũng hỏng, phải thay đổi" (Ngô Nhân Dụng, nhật báo Người Việt, ngày 30-3-2005).

    Ông Doanh kể lại rằng một chuyên viên tài chánh quốc tế đã đặt câu hỏi với ông như sau: "Chúng mày giỏi thế mà chúng mày nghèo lâu đến thế, là thế nào? Trí tuệ như thế này, truyền thống như thế này, sao mày ăn xin hoài thế? Chúng mày cứ đề ra mục tiêu là đến bao giờ chúng mày đừng đi ăn xin nữa, có được không?" Thật là mối nhục chung cho cả nước! Nước ta đâu có hèn kém, dân ta đâu có lười biếng. Do đâu mà khổ nhục đến thế? Do độc tài đảng trị !

    Thái Độ Chính Trị. Không những đồng bào hải ngoại đòi bãi bỏ độc đảng, thiết lập đa nguyên đa đảng, mà ngay cả những đảng viên cùng những phần tử tiến bộ ở trong nước cũng đòi như vậy. Cần hiểu rằng: chống độc tài, độc đảng, chống tham nhũng, chống đường lối sai lầm của cộng sản, không phải là chống nước Việt Nam mà là mong cho nước Việt Nam khá hơn, tiến hơn.

    Nếu ai có nghĩ rằng cộng sản ngày nay đã "đổi mới" một chút thì nên biết rằng do sự sụp đổ của cộng sản Đông Âu, do sự đấu tranh ở trong và ngoài nước, do áp lực quốc tế và do nguy cơ tan rã của đảng nên cộng sản Việt Nam bắt buộc phải đổi mới về kinh tế (mà không đổi mới về chính trị)! Tuy mình không làm chính trị nhưng mình phải có thái độ chính trị, mình phải tiếp tục ủng hộ các cuộc đấu tranh sao cho đất nước có dân chủ Tự Do thật sự.

    Tổng bí thư của cộng sản Việt Nam đã nhận rằng cộng sản Việt Nam có "phạm nhiều sai lầm". Chúng ta hỏi: sai lầm sao không sửa, sao không công khai xin lỗi các quốc dân, sao không trả lại ruộng đất nhà cửa cho các tư nhân và các giáo hội, sao không bồi thường cho các nạn nhân của vụ cải cách ruộng đất, của vụ Nhân Văn Giai Phẩm, của các đợt cải tạo công thương nghiệp, sao không bồi thường và xin lỗi những người bị bắt đi tù "học tập cải tạo"? Sự thực thì ai ai cũng muốn xóa bỏ hận thù, nhưng cộng sản Việt Nam cần phải hành động cụ thể cho nhân dân trông thấy. Nói "xóa bỏ hận thù, khép lại quá khứ, nhìn về tương lai" xuông thôi thì ích gì? Nói "đại đoàn kết" mà lại do đảng lãnh đạo (điều 4 hiến pháp Cộng sản) thì ai mà tin được!

    Chuyện trong gia đình. Bây giờ, nói chuyện trong nhà. Bố mẹ thuộc thế hệ trước, nuôi nấng các con theo quan niệm thời bố mẹ, cũng như ông bà nuôi nấng bố mẹ thời ông bà. Một vài lúc nào đó, các con có thể nghĩ rằng bố mẹ đã quá khắc khe với các con. Thời buổi ấy là như vậy. Mong các con quên đi những gì mà bố mẹ đã vô tình làm các con buồn lòng. Hãy nhớ rằng bố mẹ không đua đòi ăn chơi, không chi tiêu hoang phí, lúc nào cũng giữ đời sống mực thước, và bố mẹ đã cố gắng làm việc và dành dụm để các con được sống đầy đủ, được học hành cẩn thận, dưới mái ấm của gia đình.

    Vì tài sản bố mẹ đã bị CS cướp hết rồi nên khi sang tới đất mới này, đời sống của chúng ta khá khó khăn. Bố mẹ đã nhận làm những công việc thật mệt nhọc. Các con đã chịu khó đi làm vất vả trong các dịp hè, và đã cố gắng học hành chăm chỉ, đến nay thì "đâu vào đấy" cả. Các con không bao giờ được tự mãn, nghĩ rằng mình tài, mình giỏi. Cái tài, cái giỏi nếu có chỉ là một phần thôi, còn các phần khác là nhờ các thuận duyên, nhờ âm đức của tổ tiên và của chính mình, từ các kiếp trước và kiếp này. Các con phải luôn luôn sống đạo đức để bồi đắp cho cái nghiệp lành của mình, hệt như người dùng xe hơi phải lo "sạc điện" cho cái bình ắc-quy vậy. Gieo nhân lành thì sẽ hái quả lành. Luật nhân quả là một luật của trời đất, không sai được !

    Trong gia đình riêng của các con, bố mẹ khuyên: vợ chồng phải cư xử với nhau trong sự tương kính, phải nhường nhịn lẫn nhau. Không thể tránh được vài đụng chạm đâu, hãy khéo léo và bình tĩnh mà giải quyết mọi việc. Nóng giận là hỏng.

    Còn đối với con phải thương yêu nhưng không được nuông chiều. Cần phải kiểm soát bạn bè của các cháu và phải liên lạc với cha mẹ của bạn bè các cháu để tìm hiểu cho chắc chắn: hư hỏng vì bạn bè trong xã hội này là một sự kiện rất phổ biến ! Tivi, "ghêm", chat… phải hạn chế, còn thể dục thể thao thì nên khuyến khích. Bản thân các con phải lo xếp thì giờ tập thể dục, sống một cuộc sống thăng bằng. Hãy rút kinh nghiệm của bố: lúc trẻ, bố miệt mài làm việc nhiều quá nên nay về già, bị cơ thể "hỏi tội," đau lên đau xuống hoài.

    Trong đời sống hàng ngày
    , phải luôn tiết kiệm và bảo vệ môi trường sinh hoạt vì tài nguyên thế giới chỉ có hạn, chúng ta cần nghĩ đến thế hệ mai sau. Dùng thứ gì cũng không được phí phạm, kể từ tờ giấy lau tay! Thỉnh thoảng, hãy cho các cháu coi hình chụp hay phim ảnh những trẻ em đói rét và cho các cháu biết rằng trên trái đất này còn rất nhiều người cực khổ.

    Khi anh chị em cư xử với nhau, phải nhớ kỹ mấy câu "anh em như thể tay chân", "chị ngã em nâng", "một giọt máu đào hơn ao nước lã", "một con ngựa đau, cả tàu không ăn cỏ". Bí quyết áp dụng chữ "xả." Hãy bỏ qua hết mọi khuyết điểm của anh chị em mình. Các con mà chia rẽ thì bố mẹ sẽ đau khổ vô cùng.

    Trong xã hội này, vì bận rộn quá, người ta chỉ đủ thời giờ lo cho gia đình riêng nên có khi lơ là với đại gia đình, dù thâm tâm không muốn như vậy. Các con hãy đề cao tình đoàn kết trong đại gia đình. Với các con gái và con dâu, bố mẹ nhắc: các con hãy giúp chồng giữ liên lạc tốt đẹp với anh chị em và họ hàng nội ngoại.

    Tiếng Việt tại nước ngoài. Có vài điều đáng bàn. Các cháu là công dân nước này, với mọi bổn phận và quyền lợi của một công dân. Cuộc sống thực tế trong trường học cũng như ngoài xã hội bắt buộc các cháu phải nói Anh hay Pháp ngữ, và phải nói và viết thật giỏi, nếu không thì sẽ khó hoà đồng, bị lạc lõng và bị thua kém! Đi học, các cháu nói tiếng Anh hay tiếng Pháp (hay cả hai). Về nhà, các cháu thường nói với nhau bằng hai thứ tiếng ấy. Tuy các con thường bắt các cháu nói tiếng Việt trong gia đình, bố mẹ vẫn cảm thấy tiếng Việt các cháu hãy còn kém. Nói tiếng Việt đã yếu, viết tiếng Việt còn tệ hơn, vì các cháu có tập đọc và viết chữ Việt thường xuyên đâu! Một vài giờ tiếng Việt vào cuối tuần ở trung tâm Việt ngữ với các cô giáo rất tận tâm chưa đủ các cháu khá hơn. Chỉ riêng việc học cách xưng hô theo tiếng Việt đã là khó nhất thế giới rồi!

    Đồng bào ta ở hải ngoại luôn luôn nhắc đến việc bảo tồn tiếng Việt. Bố mẹ cũng nghĩ như vậy. Nhưng xét cho cùng, một đứa trẻ không thể kể là hai đứa trẻ (Việt & Canada hay Việt & Mỹ) nhập lại làm một được! Nếu ép quá thì sức của chúng chịu không nổi. Còn thể thao, còn âm nhạc nữa chứ. Vậy ta phải khéo chọn đúng liều lượng, đừng biến đứa trẻ thành "cái máy học"! Các cháu sẽ phải vươn lên ở đất nước này. Các con cần phải chuẩn bị sao cho chúng sống thích hợp với môi trường và sống thoải mái tại đây.

    Xã Hội Âu Mỹ. Xã hội này là một xã hội tiêu thụ quá mức. Các con không nên để mình bị lôi cuốn dễ dàng vào các trò tiếp thị khéo léo nhằm xúi giục chúng ta mua hàng thả dàn. Chúng ta dễ bị ảnh hưởng của quảng cáo, ngay cả trong khi chúng ta đang bị các nhà băng và các hãng bảo hiểm bao vây, chi phối. Các con cần "thiểu dục, tri túc" tức là "ít ham, biết đủ", chỉ mua thứ cần thiết, không có không được mà thôi! Nhà, xe cũng vậy: an toàn và đủ dùng cho sinh hoạt hàng ngày là được rồi. Tránh nợ nhiều. Thảnh thơi thì hơn! Bố mẹ không nói lý thuyết xuông đâu, xã hội bây giờ xuống dốc về đạo đức, về tâm linh, chỉ vì hướng ngoại nhiều quá, lo về vật chất nhiều quá, ích kỷ quá, chẳng tìm thấy hạnh phúc ở đâu cả! Bớt ích kỷ, hãy nghĩ đến đồng loại, phải biết chia sẻ với đồng loại.

    Riêng Phần Bố Mẹ. Già thì bệnh, bệnh rồi sẽ . . . ra đi! Quy luật tự nhiên là vậy. Đến ngày ấy, các con hãy lo tổ chức tang lễ cho bố mẹ được trang nghiêm nhưng đơn giản. Nếu chôn cất mẹ ở một nghĩa trang thì sau này, khi phải đi làm ăn nơi khác, các con sẽ thắc mắc vì ở xa không trông nom được phần mộ. Bố mẹ chọn cách hỏa táng, thuận tiện hơn, mà khỏi phải chiếm đất, vì đất rất cần thiết cho các thế hệ sau. Có thể đem rải tro của bố mẹ lên núi hay xuống sông, xuống biển. Cát bụi trở về cát bụi, có gì đâu! Thay vì đãi đằng ăn uống, các con hãy dùng tiền bạc đóng góp vào việc có ích lợi chung. Đừng e thẹn thiên hạ chê cười; mọi người sẽ hiểu và tán thành. Có một chi tiết như thế này, nếu chẳng may, bố mẹ ngã bệnh và phải chịu một "đời sống thực vật," các con hãy can đảm chọn giải pháp rút ống trợ sinh; kéo dài làm chi, chỉ gây khổ cho mọi người!

    Bàn thờ gia đình. Trong hoàn cảnh ngày nay, khó lập bàn thờ ngay trong nhà. Nhớ đến tổ tiên, ông bà nội ngoại, cha mẹ, các con có thể bày nơi trang trọng nhất ở trong nhà để tỏ lòng tôn kính và để tự hứa không bao giờ tổn hại gia phong. Đến ngày giỗ, xếp một bàn nhỏ, bày một chén nước trong, vài bông hoa thơm, mấy trái cây tươi và một nén nhang (nhang điện cũng đư
    ợc) là đủ, vì lòng thành các con, các cháu mới là quý. Bố mẹ nói "các cháu" là có ý nhắc các con cần cho các cháu biết ý nghĩa ngày giỗ của dân tộc Việt Nam. Vào những ngày giỗ, các con hãy nghĩ thiện, làm lành nhiều hơn các ngày khác, hãy chia sẻ chút đỉnh cho người nghèo, hãy gom quần áo dư để dành cho các hội từ thiện. Nếu anh chị em nhân ngày giỗ mà về họp mặt một nơi thì thật là tốt vì tình thân gia đình sẽ nhờ đó mà tăng lên.

    Mong các con đọc kỹ thư này, suy nghĩ đến nơi và cố gắng thực hành những lời dặn.

    Hôn các con của bố mẹ!

    Bố mẹ cám ơn các con đã luôn luôn tận tâm săn sóc bố mẹ từ bao nhiêu năm nay và đã lo toan đầy đủ để cho bố mẹ được thoải mái, vui hưởng tuổi già.

    Hôn các con thật lâu!
    Hôn các cháu thật lâu!

     

    Ref:

    http://www.datviet.com/threads/93186-Th%C6%B0-G%E1%BB%ADi-Con-Ch%C3%A1u-Gi%C3%A1o-S%C6%B0-Nguy%E1%BB%85n-V%C4%83n-Ph%C3%BA

    http://www.vietbao.com/?ppid=45&pid=5&nid=50292

  • Tạp ghi

    Vu Sơn : Mơ về Thăng-Long.

    Mơ về Thăng-Long.

       Giấc mơ trở về Thăng-long đi theo tuổi đời đã hơn 60 năm. vì thời cuộc, vì chiến tranh nhất là vì hoàn cảnh nên chuyến đi chưa thực hiện được, nay có người anh đả động viên và hổ trợ thực hiện giấc mơ, chúng tôi chuẩn bị về Thăng-long 1000 năm,
       Trong lòng rộn rã với những tính toan, lo âu . Không âu lo sao được khi mình về đất tổ mà lạc lỏng giửa biển người không cùng chính kiến! Nghĩ đến lòng se thắt lại, Những lần Bắc tiến không thành, giờ Thăng-long đang nằm trong tay của những kẻ tham quyền cố vị, phô trương thanh thế qua những lễ hội long trọng. Nhưng lòng họ nghĩ gì, toan tính gì?
        Nơi đây ,sử xanh đã ghi đậm những chiến công lẫy lừng của đất Việt hùng anh,Từ thời Âu-Cơ Lạc Long, đến các đời vua Đinh, Lê, Lý, Trần, Nguyễn…Bao nhiêu xương máu của tổ tiên đã tô bồi một Thăng-Long hùng tráng.Thăng Long còn đây nhưng ải Nam-Quan và Hải-đảo với bao chiến công hiển hách đã đi về đâu? Dần dần những mảnh đất đầy xương máu này rồi sẻ vào tay ai ?
        Xót xa quá, bỗng nhiên nghĩ đến là muốn chùn chân khi chính đất nước mình mà mình lại trở thành một lữ khác xa lạ ….Dầu sao 35 năm qua đã là một chứng nhân cho lịch sử giờ trở về Thăng-Long cũng sẻ là một nhân chứng cho một sự kiện. Mong đai lễ Thăng-Long sẻ thức tỉnh lòng người, biết hy sinh cái Tôi, tìm về cội nguồn tìm về dòng máu lạc hồng đang cuồn cuộn sục sôi quyết đấu tranh bảo vệ bờ cõi…..Gò Đống đa một núi xương , sông Bạch-đằng máu tàu cộng đã nhuộm đỏ đến ngày nay .
       Người đợi người trong ngày hội trùng tu , Người đợi người Thăng-Long một tối……Âm vang rộn rã trong tầm thức.Cầu mong Đại-Lễ Thăng-Long được tổ chức lấy từ những giọt mồ hôi, nước mắt của những nông dân VN nghèo khổ ….ít nhiều cũng thức tỉnh được lòng người. Biết rằng mong ước đơn thuần chỉ là ước mong nhưng với ý chí quật cường bất khuất của người dân Việt sẻ đập tan những tham vọng làm giàu cho bản thân một cách vô nhân bản.
      Tôi sẻ về – Không phải về Saigon như lời bài hát,Tôi sẻ về Hà-nội, tôi sẻ về Thăng-Long.
      …………Tôi sẻ về đòi lại quê hương đã mất, tôi sẻ về cùng em lau khô dòng nươc mắt…………
             
                                                                                                Thu 2010.
                                                                                                    V.S.

    —————————————————————————————————

    Mời xem "Ngàn năm Thăng Long"

    http://www.youtube.com/watch?v=jG7CtqnbNys

     

    ————————————————————————————

    THƯ HÀ NỘI.

    Hà Nột, Ngày 28-8-2010

    Bất cứ Người Việt Nam nào thường xuyên theo dõi hiện tình đất nước thì đều nhận thấy rất rõ rằng lòng dân trên khắp mọi miền đất nước đã quá chán ngán, căm phẫn đa số các cán bộ của Đảng và nhà nước Cộng Sản Việt Nam đương quyền. Bất cứ cương vị cán bộ nào từ thôn, ấp, xã, phường, huyện, tỉnh, trung ương đang ngày đêm vơ vét, ăn quỵt, cướp bóc, hoành hành làm điêu đứng cả xã hội, nhân quyền và tự do tôn giáo bị vi phạm nghiêm trọng, cộng đồng dân tộc bị chia rẽ sâu sắc. Thậm chí, những người dân càng hiền lành, chất phát, lao động chân chính bao nhiêu thì lại càng bị những kẻ thống trị trấn áp, cướp giật nhà  cửa đất đai, bị đẩy đến tận cùng của sự nghèo đói, oan khuất và ly  tán.

    Xã hội gần như là rơi vào tình trạng vô chính phủ, từ trung ương tập
    quyền tới địa phương cát cứ, quốc nạn tham nhũng tràn lan, tính dối
    trá và sợ hãi sự thật bao trùm lên cả nước. Tinh thần quốc gia dân tộc  bạc nhược. Người dân sống ở đâu cũng lo sợ nhân tai, nhân họa đến từ  các Cơ quan công quyền, đi đâu cũng phải lo tiền đút lót, hối lộ cho  nhân viên từ hộ lý, y tá, bác sỹ trong bệnh viện đến giáo viên trong  trường học, hay các ngành, các cấp, các cơ quan dịch vụ, truyền thông, công quyền. Cả dân tộc đang phải sinh tồn trong bất ổn trước sự lộng  hành của lưc lượng công an, an ninh, mật vụ. Và, chưa biết bao giờ  nhìn thấy được ánh sáng tương lai tốt đẹp thật sự.

    Sự mua bán chức, quyền, bằng, cấp gần như công khai. Nếu muốn mua chức  Cục trưởng, Vụ trưởng, Sư đoàn trưởng hay muốn được phong cấp tướng  phải mất vài tỷ đồng. Chạy chức thứ trưởng phải mất 5-7 tỷ đồng. Chức  Bộ trưởng phải tính tiền triệu đô la Mỹ. Dư luận ở Hà Nội biết rõ việc  Ông Lê Thế Thảo chạy chức Chủ Tịch UBND Thành phố Hà Nội mất hơn 30 tỷ  đồng. Rồi chuyện các Lãnh đạo cấp cao của ĐCSVN có nhiều triệu đô la  Mỹ. Mỗi ủy viên trung ương Đảng CSVN hàng năm cũng vơ vét được vài  chục triệu đô la Mỹ là chuyện thường. Cái danh sách tên 300 vị có chức, quyền của đảng và nhà nước CHXHCNVN đã và đang có hàng trăm  triệu đôla đến hơn vài tỷ đô la Mỹ mà rất nhiều người đều biết được loan tải trên mạng internet lâu nay. Rồi chuyện Cựu Bộ trưởng Lê Ngọc
    Hoàn có hơn 50 cái Vi-la khắp cả nước, có con riêng 7-8 tuổi. Và mấy  ông Bộ trưởng về hưu khác cũng có con riêng nhưng báo chí cấm được viết về những hiện tượng này. Rồi chuyện ông Trịnh Trọng Quyền – Cựu bí thư tỉnh ủy Thanh Hóa lập Công ty riêng cho con trai để tham gia các thầu xây dựng đường sá trong tỉnh và luôn thắng thầu (theo tin từ Cán bộ đảng viên cao cấp của ĐCSVN). Sau đó bán lại thầu ngay tức khắc lấy 5% tổng giá trị gói thầu. Rồi chuyện lãnh đạo Công ty Gang thép Thái Nguyên cho con mua lại nhà máy thép cũ như là cướp luôn cả nhà máy để bán sắt vụn kiếm tiền. Chuyện Thượng tướng, thứ trưởng Bộ Quốc Phòng, UV TƯ ĐCSVN Nguyễn Huy Hiệu bị một phụ nữ đưa con đến Cơ quan Bộ Quốc Phòng đòi ông Hiệu nhận là con đẻ.

    Trong nhiều năm qua, công luận Việt Nam lưu truyền sự kiện ông Đỗ Mười nhận 1 triệu USD hối lộ của một Công ty Hàn Quốc. Chuyện ông Lê Đức Anh bị xuất huyết não và nhà cầm quyền Bắc Kinh cử một phái đoàn bác sỹ đặc biệt sang cứu sống. Từ đó ông Lê Đức Anh mang nặng thâm ơn CS Trung Quốc. Hàng năm Trung Quốc vẫn cử một đoàn cán bộ y tế sang kiểm tra, bồi dưỡng sức khỏe cho ông Lê Đức Anh để bằng mọi giá giúp ông Lê  Đức Anh sống lâu hơn. Đây là hành động thể hiện “Thiên Triều” bảo  dưỡng một “tên Thái Thú – Chư Hầu”.

    Chính ông Lê Đức Anh là người quyết định toàn bộ quá trình bình thường hóa quan hệ giữa ĐCSVN với ĐCSTQ, nó hoàn toàn bất thường tới mức:
    Lãnh đạo ĐCSVN phải xin ý kiến Bắc Kinh và hướng giải quyết vấn đề để đàm phán trước khi đàm phán,,,. Đây là bằng chứng rõ ràng Lãnh đạo ĐCS Việt Nam chịu làm Chư hầu, Thái thú, đàn em, làm một tỉnh của TQ hay TQ bảo gì phải nghe nấy. Theo các vị Lão thành cách mạng từng lãnh đạo, cấp trên của ông Lê Đức Anh như ông Phạm Văn Xô (Cựu phó ban Tổ chức TƯ ĐCSVN), Đồng Văn Cống (Cựu phó Tổng Thanh tra QĐNDVN) và Nguyễn Văn Thi (Cựu chủ nhiệm hậu cần Bộ tư lệnh Miền Nam) thì ông Lê Đức Anh đã khai man lý lịch cá nhân và khai man tư cách Đảng viên đảng CS: “Lê Đức Anh không phải là công nhân cao su như tự khai mà là người giúp việc thân cận cho chủ đồn điền De Lalant-một sỹ quan phòng nhì của Pháp. Ông Lê Đức Anh chưa bao giờ được kết nạp vào ĐCSVN”, ấy thế mà tự khai là Đảng viên ĐCSVN từ trước năm 1940, nay đã hơn 70 năm tuổi đảng. 

    Ông Lê Đức Anh, ông Đỗ Mười và Nguyễn Chí Vịnh cũng đã từng cùng dựng ra vụ Sáu Sứ-Năm Châu để vu khống Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Thượng tướng Trần Văn Trà cùng với tay chân định lật đổ Bộ Chính Trị và chính quyền trong dịp Đại hội 7 ĐCSVN, năm 1991. Còn vụ T4 thì ba ông trên đã dựng chuyện quy kết Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Thượng tướng Trần Văn Trà, TT Võ Văn Kiệt, TT Phan Văn Khải, CT QH Nguyễn Văn An, bà Võ Thị Thắng,,, là tay sai của tình báo CIA-Mỹ nhằm mục đích triệt hạ uy tín các đối thủ để xây dựng Phe thân CS Trung Quốc, làm tay sai cho Bắc Kinh. Thời kỳ ông Lê Đức Thọ còn sống mỗi khi ông Lê Đức Anh là đệ tử ruột được truyền ngôi đến thăm và đi ra khỏi nhà ông Thọ đều phải đi thụt lùi không dám quay lưng vào nhà ông Lê Đức Thọ. Có ý kiến, nhận định rằng hầu như 100% các sỹ quan
     quân đội cao cấp của CHXHCN Việt Nam hiện nay đều rất căm ghét „cha con“ ông Lê Đức Anh – Nguyễn Chí Vịnh (con nuôi). Nhưng, hầu hết các cấp tướng lĩnh lại rất quý trọng Đại tướng Võ Nguyên Giáp – Người Anh cả của QĐNDVN. Nhiều nhân sỹ, trí thức, các cựu cán bộ cao cấp của ĐCSVN và nhân dân khắp nơi phải lên tiếng, thậm chí kêu gọi “lật đổ, đảo chính quân sự” thì mới đây Lãnh đạo ĐCSVN đã phải mời Mỹ và Nga vào hợp tác với ASEAN. Ngay lập tức cách đây vài tuần trên Vietnamnet ông Lê Đức Anh có bài viết có nội dung rằng Ông là người đầu tiên bảo trợ cho quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ từ những năm 1986 qua việc cứu giúp một ông Bác Sỹ. Chuyện này có thật hay không?

    Chuyện con dâu ông Lê Đức Anh là bà Nguyễn Thị Doan cũng nhờ cậy thế thần của bố chồng hiện nắm giữ chức Phó Chủ tịch nước. Qua những chứng cứ trên cho thấy rằng ông Lê Đức Anh là trụ cột cho quan hệ CS Việt  Nam – CS Trung Quốc sau năm 1991. Ông Lê Đức Anh, một con người gian trá, xảo quyệt, vu khống dựng chuyện nói xấu các Đại Công Thần thời Cách mạng tháng 8 còn sống đồng thời đẩy đất nước vào tình trạng bị Trung Quốc thôn tính toàn diện, một người hoàn toàn không có tư tưởng triết lý, lý luận gì, mà chỉ có ít mưu mô quỷ quyệt. Hiện tại đất nước ta vẫn  nghèo đói, chậm tiến mọi mặt. Hệ thống chính trị độc tài, tham nhũng thối nát �» Ÿ khắp mọi nơi. Lê Đức Anh đã sống và làm việc chỉ vì lợi ích cho cá nhân và chính con cháu ông ấy, chứ hoàn toàn không vì đất nước, vì dân tộc gì cả. Nhân dân Việt Nam không thể chấp nhận một “Nhà chính trị” độc ác và tàn bạo, xấu xa như vậy được. Phe đảng của ông Lê Đức Anh – Đỗ Mười thực sự đã hết thời, cần phải chấm dứt một hệ thống cai trị cổ hủ, độc quyền trên đất nước Việt Nam một cách sớm nhất!

    Ông Nông Đức Mạnh có một khu trang trại rộng lớn ở tỉnh Thái Nguyên. Ông Mạnh thường xuyên đuổi vợ về quê, hàng ngày ông Mạnh sống ở Villa tại Hồ Tây có diện tích 500 m2, có „gái chân dài“ vào phục dịch hàng ngày (nguồn tin khá tin cậy cung cấp rằng Tổng Cục II bảo kê 100%).

    Bên cạnh có khu Villa của em ruột cùng cha khác mẹ là Nguyễn Tất Trung có diện tích là 150m2. Cộng Sản Bắc Kinh khẳng định rằng ông Nông Đức Mạnh đã tự nhận mình là người dân tộc Choang của Trung Quốc. Trong nhiều chỉ thị của lãnh đạo đảng, ông Nông Đức Mạnh nêu v/đ “đất rừng VN chưa dùng đến thì để cho người khác thuê cũng được chứ sao?”. Hầu hết các trí thức và người dân Việt Nam ai cũng phê phán và chán ghét ông Mạnh. (Một tiến sỹ, cựu giảng viên ĐHBKHN và ĐH Mỏ Địa chất, nguyên thành viên Ban hiến kế cho Bộ chính trị nói: Ông Nông Đức Mạnh trí tuệ kém lắm, suy nghĩ và nói năng không có một chút lô-gíc nào cả.

    Ý kiến của  một anh nông dân, lái xe ở Nghi Lộc, Nghệ An nói: Ông Nông Đức Mạnh đầu óc tối tăm, không có sáng kiến gì, không làm được gì cho dân, cho nước. Các Cụ Lão thành thì khẳng định “ Nông Đức Mạnh đã ngả hẳn vào lòng Trung Quốc rồi”) .  Ông Nông Đức Mạnh đã câu kết chặt chẽ cùng với Nguyễn Chí Vịnh là hai nhân vật quyết định cho TQ vào Tây Nguyên khai thác Bauxite nhôm tạo nên một „cửa ngõ” thuận lợi và,hợp pháp“ để cho CS Trung Quốc tiến hành xâm lược và thôn tính nước ta. Đây là một trọng tội không thể tha thứ được! Con trai ông Nông Đức Mạnh là Nông Quốc Tuấn sinh năm 1963, đã đi xuất khẩu lao động ở Đông Đức mà khi trở về VN lại làm đến chức Chủ tịch Hội Liên Hiệp Thanh Niên Việt Nam, rồi Bí thư Tỉnh ủy Bắc Giang, để dọn đường chuẩn bị vào Bộ chính trị Trung Ương ĐCSVN, rồi kế tục ông Mạnh chăng? Mấy ngày vừa qua hàng chục nghìn người dân Bắc Giang biểu tình đòi giải quyết vụ một thanh niên bị CA đánh chết và chứng kiến Nông Đức Tuấn, Bí thư Tỉnh Ủy Bắc Giang vẫn đưa 2 đầu bếp từ Hà Nội về để nấu món thịt cừu, ăn nhậu phả phê, thiết đãi bạn bè thì thử hỏi ý thức và trí tuệ của một “chính trị gia” vì nhân dân ở chỗ nào? Vậy Phe cánh của cha, con ông Nông Đức Mạnh có xứng đáng là những “chính trị gia” và lãnh đạo đất nước có hơn 4000 năm văn hiến hay không?

    Ông Nguyễn Phú Trọng, Chủ Tịch Quốc Hội, là một “Lý thuyết gia” của ĐCSVN, một tiến sỹ triết học Mác-Lê-Mao nhưng nói năng không có một chút triết lý hay lý luận gì. Một Nhà chính trị phải có tư tưởng
    riêng, lý luận riêng, chính kiến riêng, có chí khí, có lòng dũng cảm,
    có nhiều sáng kiến, có tư duy lô-gíc và sâu sắc, có ý thức luôn giữ
    cho mình trong sạch nhất có thể và phải đạt quyền lợi của đất nước và dân tộc mình lên trên hết. Nhưng, thực tế thì ông Nguyễn Phú Trọng không làm được gì cả, ông chưa thể hiện được giá trị gì cho đất nước. Ông Nguyễn Phú Trọng còn công khai ủng hộ  cho Trung Quốc vào Tây Nguyên khai thác Bauxite nhôm, ý kiến vô trách nhiệm của ông Trọng:
    Quyết „Ngăn cản không cho QHVN  bàn về dự án bauxite,…và lừa rối rằng:

    “Dự án Bauxite có vốn đầu tư chỉ dưới 600 triệu USD”. Vậy thử hỏi ông Nguyễn Phú Trọng vì quyền lợi của đất nước và quyền lợi của dân tộc ở chỗ nào? Ông và ông Phạm Quang Nghị cũng là hai người được cử sang Trung Quốc thực tập làm Tổng bí thư của ĐCSVN khóa này. Đây rõ ràng là để  bằng chứng làm tay sai cho Trung Quốc, chịu thua Trung Quốc, Trung Quốc can thiệp vào nội bộ của dân tộc Việt Nam chúng ta. Nếu hai Ông ấy là những Chính trị gia tài giỏi thì không bao giờ chấp nhận sang TQ thực tập để làm Tổng Bí Thư giả tưởng – đó là hành động nhục nhã, cúi đầu quy phục Trung Quốc! Trong dịp ĐH ĐCSVN năm 2006 ông Giả Khánh Lâm là Ủy viên BCT, CT QH Trung Quốc còn sang Hà Nội đặt một „ Bộ chỉ huy“ để theo dõi và chỉ đạo ĐH của ĐCSVN (theo tin của cán bộ cao cấp của ĐCSVN). Hiện nay còn có tin BCT ĐCSVN phải báo cáo tình hình nhân sự từ cấp tỉnh hay các cấp bí thư từ cấp quận, huyện đều phải sang Trung Quốc tập huấn chính trị. Ở các tỉnh Biên giới giáp với TQ thì phải báo cáo nhân sự từ cấp huyện trở lên đối với những huyện giáp biên giới với TQ. Vậy Bộ Chính Trị và Ban Chấp Hành Trung Ương ĐCSVN đã hoàn toàn là bù nhìn!

    Ông Nguyễn Tấn Dũng nguyên là một viên cứu thương trong một đơn vị địa phương quân ở chiến khu Cà Mau. Khi còn là một người lính, với tin đồn khá chính xác là con của một Đồng chí của ông Võ Văn Kiệt (nhưng cũng có tin là con rơi của cựu Đại tướng Nguyễn Chí Thanh). Ông Nguyễn Tấn Dũng nguyên trình độ chưa học hết cấp I, sau năm 1975, học tại chức mà đỗ đạt tới cử nhân luật (không rõ từ năm nào đến năm nào, ở trường nào, ai là thầy dạy?), ông ta tự khai, thân thể mang tới 32 vết thương. Một người bạn của ông Dũng nay làm quan lớn ở tỉnh Thanh Hóa nói rằng ngày trước phải luôn giúp làm hộ bài, chép bài thế cho ông Dũng vì ông Dũng không biết gì cả. Vậy một Chính trị gia lại học dốt, để cho bạn chép bài hộ à? Nhân dân Việt Nam chưa nghe thấy ông Dũng không có tư duy riêng, cũng chẳng có lý luận gì hết. Ông chưa nói được câu nào chúng ta thấy có giá trị, thấy có lô-gíc, hoàn toàn không có tố chất chính trị gì cả. Ông lại là một người ba phải. Khi ông Võ Văn Kiệt còn sống thì ông Dũng có chỗ dựa nên còn dám chống lại Phe tay sai Trung Quốc của ông Nông Đức Mạnh. Khi ông Kiệt chết thì ông Dũng ngả hẳn theo Phe ông Nông Đức Mạnh + Nguyễn Chí Vịnh. Gần đây, ông
     Dũng đi ký hợp tác làm ăn với mấy địa phương trực thuộc mấy tỉnh của Trung Quốc. Rõ ràng là hành động của “một chính trị gia rừng tràm U Minh hạ”. Đất nước ta, dân tộc ta chỉ ngang hàng với một địa phương, một tỉnh của Trung Quốc hay sao? Làm như vậy TQ sẽ „phỉ nhổ“ và mặt ông Dũng – Thủ tướng CHXHCN Việt Nam . TQ  chỉ xem Việt Nam như một tỉnh, một địa phương nhỏ của họ, sẽ vô cùng thiệt hại, tai hại cho các ngành, nghề giao thương, hàng hoá Việt Nam ”. Đây là một hành động thiển cận phục vụ ý đồ thôn tính nước ta của TQ. Ông Dũng lại cho xây dựng nhà thờ họ ở quê tốn tới 40 tỷ VNĐ, trong khi dân chúng đói khổ và thiếu việc làm khắp nơi, trẻ em thiếu trường, lớp học, bệnh nhân không gường nằm, người ốm đau thiếu thuốc men, dân chúng sinh sống không điện, nước. Trong nội bộ cơ quan Trung ương loan tin rằng “Doanh nghiệp nào muốn ông Dũng đến thăm thì phải chi 1, vài trăm triệu đồng cho ông Dũng và cho trợ lý của ông Dũng cũng phải 50 triệu đồng là ít”. Nghe tin con ông Dũng ở Tây Nguyên hay đứa ở lấy chồng ở Mỹ đang sống như đế vương vậy. Các quan sếp tỉnh hay cac cơ, ngành… làm gì cũng phải chạy đến hỏi con ông Dũng. Và, mỗi lần hỏi, cậy nhờ là phải có „bao thư xanh“.

    Dũng vẫn tưởng trò ranh ma hơn người là gả con gái cho con của sĩ quan VNCH  "kẻ thù  không đội trời chung  với CS“ đã vượt biên hiện đang cư ngụ ở Hoa Kỳ để  làm phương tiện hay cứu  cánh cho hành động ăn cướp và bỏ chạy khi lâm nguy.  Nhà chính trị phải chứng tỏ mình thông minh, tài trí, cao siêu, cao thượng để nhân dân và thế giới nể phục, chứ như ông Dũng thì không ai có thể nể trọng được.  

    Ông Phùng Quang Thanh nghe tin đồn thổi là con cháu mấy đời của ông Phùng Khắc Khoan, cũng  như các vị Ủy viên BCT ĐCSVN khác chẳng có gì đặc biệt. Từ lúc 17-18 tuổi vào bộ đội làm lính binh nhì thì làm sao có thể trở thành một chính trị gia giỏi được? Ông Thanh cho TGĐ Công ty xăng dầu Quân đội bán xăng dầu dự trữ quốc phòng để kiếm chênh lệch bỏ túi hàng trăm tỷ đồng, để khi quân đội cần xăng diễn tập thì không có mà dùng. Ông Thanh còn nhận hối lộ của một Tỉnh đội trưởng hàng tỷ đồng để được phong lên cấp tướng. Trong dịp đi thăm Trung Quốc vừa rồi Báo QĐND viết: “Đồng chí Phùng Quang Thanh lên báo cáo Đồng Chí Từ Huy Hậu”. Ông Từ Huy Hậu chỉ là một viên tướng của Trung Quốc, phó chủ tịch quân ủy TQ, ngang hàng với Thứ trưởng Bộ QP Trung Quốc mà ông Thanh là Bộ trưởng BQP Việt Nam lại phải đến “báo cáo”. Như vậy Bộ trưởng BQP Phùng Quang Thanh chỉ như một Tỉnh đội trưởng lên báo cáo với Thứ trưởng BQP? Đây là một động thái mạt nhược, ươn hèn hiếm có trong lịch sử dân tộc Việt Nam . Tổng biên tập báo QĐND và cá nhân đưa tin đó lên rõ ràng đã bị bàn tay của bọn Tay sai – Thái thú của TQ chèn ép, chỉ đạo hay tự nguyện làm tay sai cho TQ rồi.

    Nhân vật, Nguyễn Chí Vịnh ai cũng biết là con Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, một đối trọng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp ngày xưa, thuộc phe ông Lê Duẩn-Lê Đức Thọ. Vì vậy ông Nguyễn Chí Vịnh được nhận là con nuôi của ông Lê Đức Anh. Ngày trước đi học tuy là con nhà quyền uy, giàu có nhưng vẫn đi ăn trộm, ăn cắp Kho Quân Nhu của Học viện Kỹ thuật Quân Sự nên bị đuổi học cùng với một số đồng sự khác. Ăn cắp, ăn trộm trong Trường Sĩ Quan-khi đã là người trưởng thành- là chuyện quá ti tiện, hèn mạt, xấu xa, phi đạo đức không ai có thể chấp nhận được thế mà đòi đi làm chính trị, lại còn nhăm nhe lên tới chức Tổng Bí Thư. Một tên ăn cắp thuở nào là thứ trưởng, trung tướng thì ảnh hưởng vô cùng xấu xa đến toàn bộ binh sỹ, sỹ quan QĐND Việt Nam, chưa nói  tới là Ủy viên BCT hay Bộ Trưởng Bộ QP, dự định còn làm TBT ĐCSVN thì sẽ gây nguy hại đạo đức của các Đảng viên ĐCSVN còn có lương tri, nhân cách. Nhưng,  CS TQ- với tư cách là nước muốn thôn tính Việt Nam và muốn biến Việt Nam ta thành nước chư hầu- lại rất cần những kẻ làm tay sai. Chỉ có những kẻ xấu xa, gian trá, dốt nát mới chịu làm tay sai-thái thú cho nước khác để phản lại lợi ích của dân tộc mình, của đồng bào mình để bản thân, gia đình vợ con được hưởng sung sướng, bổng lộc trước mắt của kẻ tay sai-thái thú.

    Nguyễn Chí Vịnh như đã ghi nhận ở trên đã tham gia cùng ông Lê Đức Anh, Đỗ Mười và Nông Đức Mạnh những chuyện rất xấu xa, thiếu nhân cách. Nguyễn Chí Vịnh là người đã gọi điện cho ông Nguyễn Tấn Dũng năm nào nói ông Dũng cho TQ thắng thầu xây sân Mỹ Đình với giá 55 triệu USD, trong khi đó CHLB Đức bỏ thầu chỉ có 50 triệu USD thì thua thầu.Thức tế thì Vịnh và Dũng đã nhận “ tiền lót tay“ của nhà thầu TQ là
     bao nhiêu, có ai biết được? ) Nguyễn Chí Vịnh còn trực tiếp sang Trung Quốc chọn gái tên là Trương Vỹ Hoa cho ông Lê Khả Phiêu chơi bời một tuần để sinh đẻ ra một đứa con nay đã mười mấy tuổi để rồi ông Lê Khả Phiêu phải hạ bút ký Hiệp định Biên giới năm 1999.

    Nguyễn Chí Vịnh là „con thoi“ „cầu nối“ giữa ông Nông Đức Mạnh với Bắc Kinh để cho TQ vào VN khai thác Bauxite. Tay chân của Nguyễn Chí Vịnh trong TC2 toàn là những kẻ hư đốn và ăn cắp năm nào ở Học viện Kỹ thuật Quân sự. Nguyễn Chí vịnh đã cung cấp cho phía Trung Quốc danh sách cán bộ lãnh đạo Việt Nam có cảm tình và không có cảm tình với Trung Quốc. Dựa vào danh sách này Trung Quốc đã mua chuộc và gây ảnh hưởng lên hàng ngũ lãnh đạo của ĐCSVN hiện nay để từng bước biến lãnh đạo ĐCSVN trở thành tay sai-thái thú. Đây rõ ràng là một hành động làm chỉ điểm cho nước ngoài, một hành động làm tay sai cho Trung Quốc, một hành động tội phạm, phản bội Tổ Quốc của Nguyễn Chí Vịnh. Nhiều nguồn tin khác nói rằng còn nhiều cá nhân khác trong nội bộ ĐCSVN làm như Nguyễn Chí Vịnh. Theo các sỹ quan quân đội cao cấp ở Hà Nội thì vừa qua 18 tỉnh cho Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông (thực chất là người TQ tất cả) thuê đất rừng đều có sự chỉ đạo của Tổng Cục 2 của Nguyễn Chí Vịnh. Với những việc làm bất hảo và phạm pháp như nêu trên Nguyễn Chí Vịnh có xứng đáng là Trung Tướng, Thứ trưởng Bộ Quốc Phòng hay không? Và đây cũng là bằng chứng chứng tỏ rằng Phe đảng của ông Lê Đức Anh, Đỗ Mười và Nông Đức Mạnh chủ đích nâng đỡ Nguyễn Chí Vịnh- tên tay sai của TQ, có nhiều điều xấu xa, bất hảo- chẳng hiểu biết gì chính trị cả, mà cốt vì bảo vệ quyền lợi ích kỷ của các ông ấy. Họ không xứng đáng một chút nào là những “Nhà chính trị”, nhà lãnh đạo đất nước hay có trách nhiệm với nhân dân!

    Còn các Vị Ủy viên Trung Ương ĐCSVN khác như ông Hoàng Trung Hải hay Nguyễn Thiện Nhân, các Bí thư tỉnh ủy khác thì „chỉ ngậm miệng“ ăn tiền chia chác hay cũng chỉ như cái đuôi, cái bóng của ông Nguyễn Tấn Dũng, Nông Đức Mạnh, Nguyễn Phú Trọng và một số UV BCT mà thôi,Quốc Nạn tham nhũng, hối lộ, cướp bóc, trấn lột, đánh, bắn, giết người xẩy ra 24/24 trên toàn cõi Việt Nam. Xin mạn phép hỏi toàn thể 85 triệu đồng bào Việt Nam có thể mãi cúi đầu chịu đựng hết đời mình, đời con, cháu chúng ta được chăng?  liệu có thể tiếp tục chấp nhận sự bất công, nghèo đói và vô vọng một khi mà các “Nhà chính trị,  lãnh đạo” của hệ thống độc tài toàn trị CSVN bất tài, vô dụng đang bủa vây, khép kín, đè đầu cưỡi cổ  nhân dân ta hay không? Chắc chắn là không – Toàn dân cẩn phải thức tỉnh và đứng dậy khi thấy cần thiết.

    Ở CHLB Đức trong những năm 90 của Thế kỷ trước, ông Engholm- Chủ tịch đảng đối lập SPD, Thống đốc bang, Ứng cử viên tranh chức Thủ tướng với ông Helmut Kohl- bị phát hiện gian lận về việc đóng thuế thu nhập đã phải họp báo xin chấm dứt sự nghiệp chính trị, trở về làm một ông Luật sư quèn. Từ đó vĩnh viễn không bao giờ nói tới chính trị nữa. Còn ông Sharping – nguyên là một người hoạt động chính trị từ thời học sinh cấp 3, Thống đốc bang, có lần ra tranh cử Thủ tướng, là Bộ trưởng Quốc phòng dưới thời Thủ tướng của CHLB Đức là Gehart Shreoder (thỉnh thoảng bây giờ Ông vẫn đến Việt Nam) –  Ông ấy chỉ bị phát hiện “cầm nhầm” có 1000 EURO (một nghìn EU ) mà phải tuyên bố từ chức Bộ trưởng BQP, chấm dứt sự nghiệp chính trị  về làm dân thường, không bao giờ dám xuất hiện trước công chúng nữa. 

    Qua những dẫn chứng như trên chúng ta có thể kết luận rằng Phe đảng của ông Lê Đức Anh, Nông Đức Mạnh, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Phú Trọng, Tô Huy Rứa, Phùng Quang Thanh, Phạm Quang Nghị, Hoàng Trung Hải, Nguyễn Chí Vịnh và các UV TƯ ĐCSVN khác hoàn toàn không xứng đáng là các “chính trị gia” của Dân Tộc ta, không xứng đáng giữ các vị trí lãnh đạo đất nước, cần phải rút lui càng sớm càng tốt! Nếu không biết điều sớm thì e rằng sẽ chuốc lấy hậu họa như ông Ceaucescu-cựu Tổng bí thư ĐCS Rumani- và Honecker- cựu Tổng bí thư ĐCS Đông Đức năm 1989, hay ông Escada-cựu Tổng thống Philippin- tham nhũng 1 triệu USD và bị kết án 20 năm tù giam. Bài học gianh ma của cựu Thủ tướng Thái lan, Thalshin  không thoát khỏi “lưới trời“ đã bị tịch thu tài sản và lệnh
     truy nã toàn cầu… 

    Tình hình quốc tế và khu vực hiện hiện nay đang diễn ra khá thuận lợi cho hướng đi đúng đắn của cuộc đấu tranh giành tự do, dân chủ, nhân quyền, công bằng và bác ái cho dân tộc Việt nam chúng ta. Lực lượng đối lập chính nghĩa với Phe đảng chóp bu cầm quyền phi nghĩa nêu trên (họ chỉ là một bộ phận nhỏ trong số đảng viên ĐCSVN) Toàn dân Việt Nam cả trong lẫn ngoài nước sẽ có đủ khả năng trí tuệ, nhân tài, vật lực đối trọng đã và đang hình thành là đòi hỏi bức thiết trong nước. LL đối lập với bốn vị tướng đứng đầu là Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Trung Tướng Đồng Sỹ Nguyên, Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh và Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh với hàng chục tướng lĩnh khác cùng các vị Lão thành cách mạng kết hợp với các lực lượng trí thức, quân đội, cảnh sát, sinh viên, quần chúng yêu nước đang khát khao Tự Do – Dân Chủ và Phát Triển Việt Nam thực sự sẽ phải cương quyết đấu tranh bằng mọi giá để giành lại vận mệnh Tổ Quốc đang lâm nguy đứng trước bờ vực thẳm, quyết tranh
     đấu giành nắm quyền lãnh đạo đất nước và đẩy Phe đảng cầm quyền hiện nay vào thế đối lập.  Để chuẩn bị cho việc thành lập một lực lượng đối lập có mặt trên toàn quốc nhằm cạnh tranh ôn hoà với Phe đảng của ông Lê Đức Anh, Nông Đức Mạnh, Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Chí Vịnh thì ngay từ lúc này từ mỗi Thôn, Ấp, Bản, Khu phố hãy kết nối các công dân yêu nước có cùng chí hướng thành những nhóm nhỏ 2-5 người. LL đối lập yêu cầu Phe đảng cầm quyền hiện nay chấp nhận Tổng Tuyển Cử tự do, bầu lại Quốc Hội và Người đứng đầu đất nước trong thời gian sớm nhất.  Nhân dân cả nước đều nhận thấy rằng Hiến pháp và Pháp luật hiện nay là của Phe đảng cầm quyền, chứ hoàn toàn không phải của toàn thể Nhân dân Việt Nam . Lực lượng đối lập lấy phương châm ôn hoà, đối thoại  làm chủ thuyết đấu tranh. Tuy nhiên, thời gian và hiệu qủa không đạt được thì bắt buộc phải kêu gọi toàn dân xuống đường cùng các phương sách tương ứng để biểu dương sức mạnh và hào khí dân tộc. Đó là những hành động thực tế nhất để cứu nguy cho đất nước của chúng ta. 
    Chúng tôi cũng kêu gọi tất cả lực lượng võ trang trong  đó có những chiến  sĩ, sĩ quan Công an, Quân đội đang tại ngũ, và  lực  lượng cựu chiến binh từ hai phía của hai miền Nam – Bắc trước 1975  còn có lương tri trong tình tự dân tộc, nghĩa đồng bào đồng thời kêu gọi toàn thể các Tôn giáo  Việt Nam  hãy tiếp tay, hỗ  trợ. Đó là những hành động thực tế nhất để cứu  nguy cho đất nước của chúng  ta. 

    LL đối lập xin kêu gọi toàn thể đồng bào hải  ngoại, các đảng phái,  chính  khách, hiệp hội, phương tiện truyền thông quốc tế hãy  tiếp
     giúp và yểm trợ  cho sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa của dân tộc Việt Nam  chúng tôi.

    Tổ Quốc Việt Nam sẽ ghi ơn tất cả sự hy sinh, cống hiến của các Quý vị và các bạn! 

    Độc tài cộng sản đã hết thời, Tự do dân chủ cho Việt Nam , Tổ quốc trên hết! 

  • Tạp ghi

    Blog BaoMai : Cảm nghĩ của anh bộ đội sau 35 năm giải phóng Sài Gòn.

    Cảm nghĩ của anh bộ đội

    image
    Hình minh họa
    Cảm nghĩ của anh bộ đội sau 35 năm giải phóng Sàigòn
    Chúng tớ, bộ đội miền Bắc vào giải phóng miền Nam phải nói thật, nói thẳng là chúng tớ bị đảng cộng-sản Việt-Nam dối gạt. Họ bảo chúng tớ rằng dân miền Nam đói khổ và bị đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai Thiệu Kỳ, tra tấn, hành hạ, bóc lột đến tận xương tủy! cơm không có đủ ăn, quần áo không đủ mặc…Nhưng sau khi Tên Dương Văn Minh đầu hàng, chúng tớ từ trong rừng chiến khu tiến về và vào Sàigòn, chúng tớ mới thấy Sàigòn sao mà đẹp thế, nhà cao, cửa rộng, thật khang trang, hoa lệ…dân chúng ăn mặc bảnh bao không như dân tụi tớ ngoài miền Bắc chỉ đội nón cối, áo xanh lao động, hầu như ai cũng ăn mạc giống ai vì chỉ tiêu chỉ được:
    “Một năm hai thước vải thô,
    làm sao che nổi cụ Hồ đảng ơi!”

    image
    Đơn vị của tớ tới trú đóng tại cao ốc Đời Tân đường Phan Thanh Giản, Sàigòn. Phòng nào cũng giường nệm trắng tinh, quạt máy, máy lạnh…ôi sướng làm sao tả hết. Nhưng vì không có củi thổi cơm, nên tụi tớ đập hết cửa sổ, lấy gỗ làm củi. Bây giờ nghĩ lại, thấy làm như vậy là bố láo quá sức, phá hoại tài sản quốc gia mà không biết, cứ cho là tàn dư của Mỹ ngụy nên đập phá cho thoả thích. Tụi tớ còn nuôi lợn, nuôi gà trong sân nữa chứ.
    Sau hai năm đánh tư sản mại bản, dân Sài gòn tan tác như gà mất mẹ. Tụi tớ biết dân Sàigòn căm thù tụi tớ cộng sản miền Bắc lắm, nhưng họ không dám ho hoe, vì sợ bị tóm, đưa đi cải tạo! họ sợ tụi tớ hơn sợ hùm beo cọp báo; có người còn gọi tụi tớ là quỷ đỏ v.v…
    Tớ thích nhất là được lang thang ra chợ Bến Thành, chợ cũ để mua đài mang về miền Bắc…tớ mua được 1 cái đài Philip màu cà phê sữa, chơi được cả băng nhựa làm quà miền Nam cho bố tớ…ông cụ sướng rên người luôn vì đã lâu ông cụ muốn có 1 cái đài để nghe mà cũng không thể nào mua nổi.
    image
    Xe gắn máy bình bịch đầy rẫy, đủ kiểu, đủ hiệu, tớ mua luôn 1 xe mô-bi-lét cũ màu xanh lơ, đã tróc sơn! leo lên đạp mãi mới nổ máy. Hôm về Hà-Nội, tớ chạy ra ga xe lửa Hoà Hưng đưa lên tàu Thống Nhất, về tới thủ đô, oai quá sức, bà con lé mắt. Đấy là quà miền Nam , hàng xóm tới chào và xem một cách thích thú. Ai cũng muốn vào Sàigon một chuyến để xem Sài gòn như thế nào!
    Sau những đợt đánh tư sản, đổi tiền, đuổi dân đi kinh tế mới…dân Sàigòn tìm cách vượt biên để tìm tự do nơi hải ngoại. Nhà cửa bị đập phá và bỏ hoang rất nhiều. Những cán bộ cao cấp thì tịch thu những villa tráng lệ để ở hoặc làm văn phòng phường, xã hay đồn công-an. Càng ngày dân miền Nam càng chửi cộng-sản một cách thâm tệ, tụi tớ biết thế khi tới thăm ông chú bà bác di cư vào Nam năm 1954. Ông chú tớ bảo:” tao đã chạy cộng sản mấy chục năm bây giờ nó lại bắt được! bây giờ sống làm sao đây?” tôi bảo chú tôi rằng họ bắt cháu phải đi bộ đội nếu không họ cúp tem phiếu và tịch thu hộ khẩu, bố mẹ cháu sẽ chết đói…cháu có muốn đi vào Nam đâu…làng ta đi bao nhiêu là chết bấy nhiêu, cháu cũng sợ lắm!…
    image
    Hình minh họa
    Đã 35 năm trôi qua, Sàigòn hôm nay đường phố tràn ngập xe gắn máy, chạy bừa bãi vô trật tự…dân Hànội chiếm đa số những nhà mặt tiền để làm ăn buôn bán; quán ăn, nhà hàng mọc lên như nấm, tệ nạn xã hội đĩ điếm tràn ngập mọi hang cùng ngõ hẻm, xì ke, ma túy, cướp giựt, móc túi hoành hành như chỗ không người…Dân bây giờ đếch sợ công an nữa, họ oánh bỏ mẹ công an luôn vì họ coi công an là kẻ thù của họ…Lãnh đạo cao cấp thì tham nhũng nên giàu có không ai bằng, người dân lao động khổ vẫn hoàn khổ. Đất nước thì Trung Quốc lăm le xâm lược, chiếm đất, chiếm đảo, chiếm biển và bắn giết ngư dân thoả thích mà đảng ta không dám hé môi; sợ buồn lòng anh Cả Thiên Triều, láng giềng tốt, hữu nghị bền vững muôn năm. Người dân đấu tranh chống giặc Hán xâm lược thì bị bắt bỏ tù, dân khiếu kiện đòi ruộng đất bị nhà nước tịch thu cũng bị quẳng lên xe đưa về nghỉ ở Hoả-Lò…Phải nói thẳng là VN người dân không có tự do và nhân quyền; vì đảng chủ trương tiến nhanh tiến mạnh lên XHCN nên VN hiện nay đứng gần chót trong bảng xếp hạng các nước trên thế giới.
    Dân TQ vào tràn ngập VN, họ xây nhà, xây làng, cưói gái Việt, đẻ con và cắm bảng cấm người Việt lai vãng tới gần làng của họ ngay trên đất Việt, hỏi có ức không chứ??? VN sớm muộn gì cũng trở thành một tỉnh hay một quận của Trung Quốc mà thôi vì những nhà lãnh đạo VN hiện nay đều là người của TQ???
    Nếu muốn có tự do, dân chủ và nhân quyền và có đủ sức mạnh bảo vệ tổ quốc trước hiểm họa bị nô lệ giặc Hán…Toàn thể nhân dân VN phải hành động ngay trước khi quá muộn.
    Loại bỏ chế độ CS độc tài, thành lập chính phủ qua bầu cử tự do, tìm người có TÀI, có ĐỨC ra lãnh đạo đất nước thì mới hy vọng đưa VN tới bến bờ độc lập, tự-do, hạnh phúc thực sự.
    Nhân dân VN khẳng định rằng CSVN không thể đem lại cơm no áo ấm cho toàn dân nên cần phải thay đổi càng sớm càng tốt.
    Trần-Văn-Hát

    Vũ khí tán gái thời bao cấpTui thuộc con nhà nghèo nên rất hiếm khi có vũ khí để tán gái. Dưới đây là những gì tui biết, tui nhớ chứ chưa khi nào tui có để dùng ( là nói vũ khí mode từng thời, chứ thời sau thiên hạ có cả thì tui cũng có). Vì vậy có thể tui nhớ không hết, biết không  hết. Hoặc có khi nhớ nhưng không sao tìm được ảnh minh hoạ. Ví dụ áo bay Liên Xô, áo Nato, quần áo Tô Châu chẳng hạn. Ngay cả dép tông Lào tui không tìm ra hình, chỉ tìm được hình tương đối gần với dép tông Lào thời đó thôi. Mong bà con ai có ảnh về vũ khí tán gái thì email cho tui để giúp cho tui có đủ bộ sưu tập, vô cùng cảm ơn.

    image

    Thời trang  cũng là đồ khoe của, vũ khí tán gái thời bao cấp, tính từ dưới chân lên đến đầu phải bắt đầu từ đôi dép. Dép đúc Trung Quốc được coi là một loại dép sang. Thời mà người ta đi chân đất, guốc mộc và dép cao su xỏ bốn quai thì ai đi dép đúc  đều được coi là dân quí phái.

     image

    Thoạt kì thuỷ nó được cấp phát cho bộ đội vượt Trường Sơn hành quân vô Nam. Đi dép này không sợ bị sút quai dọc đường, về sau trở thành mode sang trọng của thanh niên tỉnh lẻ miền Bắc trong chiến tranh.

    image

    Ở Hà Nội và các thành phố lớn thì dép nhựa Tiền Phong mới đúng là mode. Trong suốt thời trai trẻ của tui, chưa khi nào tui có được một đôi dép nhựa Tiền Phong. Muốn có để đi tán gái thì phải đi mượn, hi hi.Có dép nhựa Tiền phong trắng, phải biết cách “khệnh khạng” nữa. Thí dụ quần phải xắn cao đến nửa gối, không được xỏ quai hậu của dép mà luôn luôn phải đi dép “Dẫm quai” cho sành điệu , he he.

    image

    Sau chiến tranh thì dép Tông Lào mới thực sự là mode sang trọng, dép có đế càng dày càng sang.

    image

    Đồng hồ Pôljot Liên Xô là một loại vũ khí đắc địa để tấn công các cô gái xinh đẹp. Trước 1975 đồng hồ poljot Liên Xô tuồng như là khát vọng cháy bỏng của các chàng trai. Có nó thì không cần phải nhiều lời, chỉ cần đưa tay lên xem đồng hồ là tim nàng đã rung rinh.

    image

    Anh nào giàu có mua tặng nàng chiếc đồng hồ poljot nữ thì cuống tim nàng đứt ngay lập tức, nàng đổ cái rầm, xong ôm!

    image

    Sau 1975 bọn Tư bản khốn kiếp đem đồng hồ Seiko tấn công ra miền Bắc XHCN tươi đẹp của chúng ta, lập tức đồng hồ poljot mất giá. Đồng hồ Seiko chạy tự động, không phải lên giây, lại hiện ra thứ, ngày, tháng… thật quá sang trọng.

    Một yêu anh có sen kô
    hai yêu xe đạp Pơ giô đón nàng.
    Còn có câu nói về xe máy hiệu Peugeot: 
    Một yêu anh có sen kô
    hai yêu anh có Pơ giô cá vàng

    image

    Bút cũng là một vũ khí tán gái. Trong ảnh bút nắp trắng là bút Hồng Hà, năp vàng là bút Kim Tinh. Các loại khác là bút Trường Sơn. Bút Kim Tinh trước 1975 là là một vật trang sức đắt giá, chỉ có dân giàu có mới có loại bút này. Chỉ cần giắt cái bút Kim Tinh vào túi áo trên, chưa cất lời mắt nàng đã long lanh… dễ sợ!

    image

    Mũ cối Trung Quốc đương nhiên là một vũ khí, bởi vì nó rất đắt. Những năm 80 nó có giá 80 đồng, bằng một chỉ vàng. Khi cao điểm lên tới 150 đồng, gần bằng 2 chỉ. Thời này đi dép tông Lào, mặc quần bò Thái, áo bay Liên Xô, đeo đồng hồ Seiko, đội mũ cối thì có thể tán đổ cả hoa hậu.

    image

    Xe đạp là cả một gia tài. Ai có xe đạp thì đương nhiên kẻ đó không thể gọi là nghèo. Một chiếc xe đạp mất cả làng, cả khu phố đều biết. Xe sang nhất là xe Peugeot-“Đẹp trai đi bộ không bằng mặt rỗ đi Lơ”, xe Lơ là xe Peugeot ( Cũng có người bảo đó là xe máy Mobylette). Xe Favorite sang trọng thứ nhì, sau Peugeot: ” Làm trai cho đáng nên trai/ có Pha vơ rít, có đài dắt lưng”

    image

    Trước 1980, sang trọng và quí phái số 1 là xe Babeta, nó còn quí hiếm gấp nhiều lần xe mercedez bây giờ. Ngay cả bộ trưởng cũng khó lòng mua được chiếc xe này. Đó là xe của bậc đại gia số 1 của Hà Nội và các thành phố lớn.

    image

    Sau 1980 là thời đại của honda, đầu tiên là honda cup 50. Khi đó lập tức truyền tụng câu: ” Một trăm lời nói không bằng ống khói hon đa”

    image

    Sau đó là cup 70, một “vũ khí giết gái hàng loạt”. Đến nỗi nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo phải kêu lên:“Bây giờ yêu nghĩa là vèo xe cúp/ Xe đạp anh xịt lốp cả tư mùa.”

    image

    Xe cup 82 đời chót, kim vàng gọt lệ là thứ vũ khí nguy hiểm cuối cùng của thời bao cấp, không có vũ khí nào nguy hiểm như vũ khí này. Mặc dù nhà thơ Bùi Chí Vinh ra sức ca ngợi tình yêu thời xe đạp, nhưng hầu như chẳng có tác dụng gì, hi hi.“Anh chở tình anh trên xe đạp/ Mặc ai kia ngó, mặc ai dòm/ Dễ gì mang một cô công chúa/ Đặt vào xe rồi khẽ cúi hôn/ Anh chở em đi bằng xe đạp/ Mồ hôi ra đẫm hết vai gầy/ Thương ghê ngọn gió sau lưng ấy/ Thổi mát đời anh trong cánh tay./ Cảm ơn em dám ngồi xe đạp/ Để cho anh quên mất mình nghèo/ Cảm ơn em đã không đánh phấn/ Nhìn anh bằng con mắt trong veo.” ( Bùi Chí Vinh)

    Chuyện trai gái thời bao cấp

    image

    Bây giờ trai gái yêu đương ôm vai hót cổ thoải mái, hôn hít ngay giữa đường giữa chợ cũng không ai lấy đó làm điều. Ngay việc quan hệ tình dục cũng không còn là vấn đề gì nếu là trai chưa vợ gái chưa chồng. Ngày xưa thì khiếp lắm, cấm kị đủ đường. Là nói cái thời bao cấp thôi, chứ trước đó nữa lại càng kinh khủng khiếp. Cái thời mà trai gái yêu nhau chỉ được đánh mắt đưa mày, muốn  cầm tay cầm chân, ôm vai hót cổ phải vào nơi kín đáo, nếu để cho người khác nhìn thấy thì bị coi là yêu đương không đứng đắn. Chàng đạp xe đạp chở nàng trên đường, nàng chỉ có việc hai tay nhét đùi ngồi yên như khúc gỗ. Cô nào bạo lắm cũng chỉ nắm hờ ngang thắt lưng, chẳng có cô nào ôm eo áp ngực chàng như các cô gái thời nay. Những chiều mùa hạ, trai gái  hẹn hò nhau ra bờ đê ngồi, chỗ này một cặp, chỗ kia một cặp rủ rỉ tâm tình. Nàng nhổ cỏ chàng bẻ ngón tay, nói chuyện chán thì về, chẳng dám làm gì.
    image 

    Hôn hít thời này bị liệt vào hành vì giao cấu, rất xấu xa. Đừng nói ngày xưa, ngay bây giờ vẫn còn quan niệm như thế. Năm ngoái Nguyễn Quang Thiều chả kêu ầm lên về dự luật cấm hôn nơi công cộng, may có ông Thiều kêu, báo chí làm ầm ầm người ta mới dẹp đi, nếu không thế nào luật cấm ấy cũng lọt vào top ten những luật cấm hài hước.
     Thời bao cấp những chuyện cụ thể chẳng có luật lệ gì, đa phần làm theo chỉ thị khi thì bằng văn bản khi thì chỉ thị mồm. Đôi khi một xếp nào đó ngồi nhậu chợt nhớ chuyện gì đó nhắc khẽ một câu, thế là thành chỉ thị. Chuyện trai gái yêu đương các xếp cũng nhắc nhở nhẹ nhàng thôi nhưng xuống cơ sở thành ra chuyện rất nghiêm trọng. Chuyện hôn hít cũng vậy, không chỉ cấm nơi công cộng mà cấm khắp nơi, sách báo phim ảnh tuyệt cấm kị. Nếp sống thời này cho đó là hành vi thiếu đứng đắn, không lịch sự. Cầm tay nhau cũng đã quá đáng lắm rồi, hi hi.

    image
    Mình nhớ xem phim, khi nào trai gái nhìn nhau đắm đuối, “mắt trong mắt tay trong tay âu yếm”, thì cả rạp lặng ngắt, nín thở chờ. Nhưng rồi đến khi môi này sắp dính môi kia là màn hình tối mò. Người chiếu phim đã che ống kính. Anh naò ngứa mồm la làng, nói thả tay ra cho người ta xem, lập tức có năm bảy người khác mắng cho là vô văn hoá. Sau đó thế nào cũng có người báo về cơ quan, đoàn thế, thế nào anh ta cũng bị “ cạo” cho một mẻ. Suốt cả năm đó chuyện anh ta luôn được đem ra làm ví dụ một khi các xếp nói về nếp sống mới, nói có đồng chí còn dám yêu cầu chiếu phim thả tay ra để xem cảnh hôn hít, rất đáng xấu hổ. Một câu đó thôi xếp có thể đem ra “ ví dụ” cả trăm lần. Khốn khổ thế đó.
    Thành thử cái gì cũng lén lút, đọc sách xem phim ảnh cũng phải lén lút. Nơi mình học là trường cấp 3 Bắc Quảng trạch, một trường tiên tiến, nhiều năm liền là lá cờ đầu giáo dục tỉnh Quảng Bình, những năm 1969- 1970 bỗng đâu xuất hiện cuốn sách Bí mật thành Paris. Truyện chẳng có gì, chỉ kể chuyện anh chàng cắt móng tay yêu đương mấy mụ nạ dòng giàu sang phú quí. Mấy màn yêu đương chỉ tả sơ sịa, thế mà học trò đua nhau bí mật chép tay lại cả cuốn, bí mật truyền tay nhau thì thà thì thầm vô cùng nghiêm trọng. Nhà trường ra sức truy bắt, may không bắt được ai, nếu thầy cô túm được cuốn sách trong cặp đứa nào thì đứa đó bị đuổi học là cái chắc.
    image

    Anh Thắng, anh trai của mình, hồi đó nổi lên như một thanh niên xuất sắc, mới lớp 10 đã được kết nạp Đảng, làm đến chức phó bí thư đoàn trường, uy danh lừng lẫy. Anh yêu chị L.A đẹp nhất trường. Nói thật từ bé đến giờ mình chưa thấy ai đẹp như chị L.A. Mình đang học lớp 7, mới bé tí nhưng toàn sưu tầm mấy chuyện “ bậy bạ” lén lút đọc say sưa. Đa phần sách đó đều là sách chép tay, chị L.A cho mượn. Một hôm anh Thắng tóm cổ được mình đang nằm tùm hum trùm chăn đọc cuốn  Bí mật thành Paris. Anh hỏi sách của ai, mình khai của chị L.A cho mượn. Tưởng khai thế thì anh Thắng sẽ cho qua, ai dè anh tịt thu luôn cuốn sách. Anh không đưa chị L.A anh ra chi đoàn kiểm điểm nhưng gọi chị L.A ra riêng “xạc” cho một trận và cắt đứt chị luôn. Hi hi ngu thế không biết.
    Sau này chị L.A yêu anh H rất đẹp trai. Đêm trăng hai người rủ nhau ra bãi cát chơi, hai người nằm hai góc, lăn qua lăn lại, ném cát đùa nhau, chỉ thế thôi chứ chẳng có gì bậy bạ cả. Chẳng ngờ ông nông dân xách quần  ra bãi cát đi ngoài, bắt được hai người, liền báo cho nhà trường. Từ đó anh H và chị L.A được Nhà trường mô tả như cặp học sinh sa đoạ, đàng điếm nhất trong lịch sử của Nhà trường. Kinh. Hi hi.
    Trai gái muốn yêu nhau đàng hoàng thì phải báo cáo tổ chức, gia đình muốn báo thì báo chả báo thì thôi nhưng tổ chức thì phải báo cáo, nếu không thì bị coi là yêu đương bất chính. Dù yêu đương đàng hoàng, cả tổ chức lẫn gia đình đều biết vẫn hết sức ý tứ, vì biết đằng sau lưng mình luôn có người theo dõi. Ngồi nói chuyện bình thường thì không sao, chẳng có ai sau lưng mình hết. Máu lên ngồi dịch lại sát nhau cũng không sao, máu nữa mà quàng vài nàng kéo nàng vào lòng là lập tức có tiếng đằng hắng phía sau cảnh cáo. Nếu không biết hoặc bất chấp cái đằng hắng cảnh cáo kia, cứ ẩn nàng nằm xuống vệ cỏ rồi hôn hít sờ soạng thì chỉ một phút sau đã thấy ba bốn người đứng vây quanh, nói yêu cầu hai người về uỷ ban giải quyết.
    Hồi đầu mình không hiểu ở đâu ra lực lượng này. Chính quyền không hề tổ chức, đoàn thể cũng không. Trừ một vài người có “ lối sống bê tha”, “ chậm tiến” họ cần phải theo dõi để “giúp đỡ”, còn lại chẳng ai hơi sức đâu đi theo dõi hết lượt trai gái yêu nhau. Về sau mới biết ở đâu cũng có những người rất nhiệt tình làm việc này, họ tự thấy trách nhiệm cuả mình ở khắp mọi nơi, đặc biệt việc giữ gìn nếp sống mới thì họ nhiệt tình lắm, hăng hái lắm.
    Mình có ông thầy dạy thể dục cấp 3 rất hăng say làm chuyện này. Nhà trường không hề giao nhiệm vụ cho thầy, tự thầy tập hợp một số học sinh lập thành một đội gọi làĐội săn bắt hủ hoá. Tối nào cũng vậy, thầy dắt cả đội đi đi bò bò vào rừng trâm bầu, cồn hoang, bãi cát, bờ đê… săn lùng các “cặp đối tượng”. Từ năm 1965 đến 1975, trong vòng mười năm hàng trăm “ cặp đối tượng” bị Đội săn bắt hủ hoácủa thầy hoặc tóm gọn hoặc đuổi chạy bán sống bán chết.
    Có lần mình rủ thằng Thuỷ, con cậu ruột của mình, lừa Đội Săn bắt hủ hoá cái chơi. Trong nhà mình có mấy đứa con gái ở trọ, mình lấy áo quần chúng nó mặc vào, lấy giẻ độn ngực rồi đeo cooc sê vào, đội nói lên để che cái đầu trọc. Tối đó trăng sáng, mình khoác tay thằng Thuỷ đi ra rặng trâm bầu. Vừa vào rặng trâm bầu đã thấy vài cái bóng bám theo sau lưng. Mình và thằng Thuỷ cứ đi sâu vào rặng trâm bầu, rồi chui vào bụi rậm. Hai đứa ôm nhau vờ rên rỉ giọng Bắc, nói anh ơi xướng xướng, em ơi  xướng xướng. Thầy và mấy đứa học trò nhảy đại đến bụi cây, lên đạn đánh rốp, nói yêu cầu anh chị ra khỏi bụi ngay. Mình giả giọng con gái Bắc, nói em xợ nắm, xin nhà chường tha cho em. Thầy hét lên, nói các đồng chí, bắt sống khẩn trương bọn dâm ô truỵ lạc. Mấy đứa học trò lôi cổ mình và thằng Thuỷ ra. Có thằng còn tranh thủ bóp hai nùi giẻ trên ngực mình mấy bóp. Biết bị mắc lừa thầy tức lắm, nói học sinh mất dạy, dám lừa cả thầy. Nói rồi thầy phủi đít quần đi một mạch về nhà. Từ đó cho đến khi mình rời trường cấp 3 thầy không bao giờ nhìn sửa mặt mình, hi hi.

     Bây giờ thầy già rồi, mỗi lần gặp thầy mình đều nhắc lại chuyện đó trêu thầy. Thầy nhăn răng cười, nói thừa nhận tui ngu, có ai yêu đương chỉ bằng nước bọt không đâu, sao lại bắt người ta mấy chuyện đó chớ. Mình nói giả sử cấp trên bảo thầy đi bắt thì cũng không sao, đằng này thầy tự nguyện  tự giác đi làm mấy chuyện đó mới tức cười. Thầy cười cái hậc, nói rứa mới ngu, tui nghèo khó từ hồi đó đến giờ cũng vì mấy cái ngu đó thôi, suốt đời ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng, ngu chi ngu tàn bạo.

    image
    Một ngàn năm nô lệ giặc tầu
    một trăm năm đô hộ giặc tây
    bao nhiêu năm cộng sản đoạ đầy
    gia tài của mẹ, để lại cho ai
    gia tài của mẹ, là nước Việt này?

    Một ngàn năm nô lệ giặc tầu
    một trăm năm đô hộ giặc tây
    bao nhiêu năm cộng sản đoạ đầy
    gia tài của mẹ, một đàn tham – ô
    gia tài của mẹ, một cái nhà mồ

    Dạy cho dân tiếng nói lọc lừa
    dạy cho dân chόng quên màu da
    dân chόng quên màu da, nước Việt xưa
    cộng trung hoa đưa rước vào nhà
    cộng mong dân lũ dân nghèo ngu
    ôi lũ dân nghèo ngu, quên giặc thù

    Một ngàn năm nô lệ giặc tầu
    một trăm năm đô hộ giặc tây
    bao nhiêu năm cộng sản đoạ đầy
    gia tài của mẹ, ruộng thành sân gôn
    gia tài của mẹ, làng xόm bùi ngùi

    Một ngàn năm nô lệ giặc tầu
    một trăm năm đô hộ giặc tây
    bao nhiêu năm cộng sản đoạ đầy
    gia tài của mẹ, một bọn buôn dân
    gia tài của mẹ, một lũ "+" hèn.
    Hát ngọng zọng "nà-hội"
    na ná na na ná na na na ná na nà nà…….."Fầu -Tù"
    http://baomai.blogspot.com/

  • Tạp ghi

    Hà Thượng Nhân với bài thơ : Trăng Thu

    Hà Thượng Nhân với bài thơ : Trăng Thu  
    ( trích trasonthidan.com)

    Năm 1935 tôi được ông Nguyễn Tiến Lãng, chuyên viết văn Pháp hỏi: “Cậu có muốn đi dự hội thơ không?” . Tôi mừng quá liền thưa ngay : rất muốn . Trung Thu năm đó tôi theo ông lên Vỹ Dạ. Biệt thự của nhà thơ Ưng Bình. Tôi đi theo chứ không được mời nên không có chỗ ngồi . Khách toàn vào hạng trung, lão niên , hầu hết đều mặc quốc phục và đeo bài ngà. Ðầu đề bài thơ hôm đó là Trăng Thu, nhưng có một điều cấm kỵ : trong bài tuyệt đối không được dùng chữ Trăng cũng như chữ Thu – bài thơ của tôi như sau:
     
    Sương mỏng manh canh vắng lặng tờ
    Buồn xưa náo động mấy vần thơ
    Rưng rưng mắt lệ chàng mong nhớ
    Phơi phới mây xa thiếp hững hờ
    Bến quạnh lau già người chểnh mảng
    Rượu tàn canh vắng khách bơ vơ
    Lầu cao ai đó mây rèm tím
    Hồn lẻ đêm nay có thẫn thờ

    Ðến tháng chín ngày Rằm hội thơ lại họp để tuyên bố kết quả. Lần ấy tôi cũng bất ngờ trúng giải . khi gọi đến tên thì thấy một cậu học trò đi lên đầu tóc cắt ngắn húi carê . Cụ Ưng Bình vừa thoạt thấy hơi ngỡ ngàng . Bỗng cụ đọc :

    Trăm mặt thẹn thua chàng trẻ tuổi
    Một bài cũng đủ gọi thi ông

    Tôi nhanh nhẩu vội đáp ngay :

    Bảy bước dám thua Tào Thực trước
    Một lời xin gửi tạ tôn ông

    Bấy giờ trong hội nghị có cụ Kỉnh Chỉ là Bác sĩ mà cũng là thi sĩ . Sau này cụ làm tổng trưởng y tế trong chính phủ Trần Văn Hữu hay Nguyễn Văn Tâm, tôi không nhớ rõ . Cụ Kỉnh Chỉ nói lớn : “Tào Thực thất bộ thành thi, cháu không chịu thua à ?Kiêu ngạo nhỉ !Tào Thực phải bảy bước mới thành thi, cháu chỉ cớ một bước đã thành thi, thế thì cháu nói đúng. Nhưng cháu à : “Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ tài” . Khi đi qua cụ Kỉnh Chỉ, tôi khoanh tay cúi đầu , thưa khẽ để cụ nghe : “cháu xin vâng lời dạy bảo của cụ . Ðó cũng là lý do, tuy đã viết rất nhiều thơ , hàng mấy chục tập, tôi vẫn không chịu xuất bản dù có dư điều kiện .
    Bây giờ đọc lại bài thơ tôi mới thấy mình không công bằng. Ngày ấy vì nghe chuyện tình của một đàn anh mà hạ một câu :

     
    Phơi phới mây xa thiếp hững hờ

    Nay tôi xin sửa lại là :

    Phơi phới mây xa thiếp đợi chờ

    Cụ Kỉnh Chỉ có người con trai là trung tá Phan Văn Cẩm là học trò của tôi năm đệ ngũ , hiện giờ ở Santa Ana. Khi tôi ra tù gặp Cẩm . Anh mời tôi ghé nhà vì hôm ấy là ngày húy nhật cụ . Tôi đến, khi vái lạy cụ ở bàn thờ thì cả nhà lạy lại để đáp lễ trong đó vài người ở vào tuổi cha chú tôi . Tôi cảm động lắm có viết một bài thơ để lại, hiện gia đình cụ Kỉnh chỉ còn cất giữ .

    Người phụ trách quán thơ Trà Sơn có đọc cuốn sách của Tôn Nữ Hỷ Khương , nhà thơ con gái cụ Ưng Bình có nhắc đến giai thoại này nên hỏi tôi . Tôi xin thuật lại và hết lòng xin lỗi những lời ngạo mạn của mình lúc vào tuổi “ ăn chưa no lo chưa tới”

    Hà Thượng NhânSan Jose 12 01 2008 

    thơ họa trích mục Bình Luận trasonthidan.com

    LTĐQB đăng ngày 12/09/08 – 11:02 AM

    Cám ơn Đại Ca đã cho đọc một giai thi thoại ,Đệ muốn xin phép nhân cơ hội này mời các thi văn hữu cũng dùng đề tài vịnh TRĂNG THU nhưng không được dùng chữ TRĂNG & THU để mừng tuổi CHƯỞNG MÔN năm KỶ SỬU mạnh hơn trâu :
    Dệ xin liều họa trước :

    VINH TRĂNG THU

    Giữa ngàn sao sáng lặng như tờ
    Một mảnH gương trong đẹp tựa thơ
    Chiếu sáng đầu xanh lòng hớn hở
    Loang mờ tóc bạc dáng ơ hờ
    Nhi đồng đèn rước vui ca hát
    Bô lão trà châm nhớ vẩn vơ
    Cung Quảng trạnh thương ai giá lạnh
    Biết rằng chú Cuội có tôn thờ ?

    LTĐQB

    Chiêu Quân đăng ngày 12/10/08 – 8:59 AM

    Thuận ý Đỗ huynh , CQ liều mạng vậy ! Tuy nhiên Hà Chưởng Môn đã sửa lại một câu " phới phới mây xa thiếp đợi chờ" , thế nên CQ làm theo nhé !

    Trăng Thu

    Đêm im tiếng trẻ học i tờ
    Mây nước hiền hòa lộng ý thơ
    Lá giật mình khuya mành gió động
    Lòng neo cánh úa bút nghiên chờ
    Song thưa dễ gặp tình lai láng
    Nỗi vắng khôn cầm mộng vẩn vơ
    Cả đến bên kia người ẩn sĩ
    Tàn canh thao thức khó ơ thờ

    Kính bút
    CQ

    Trần Vấn Lệ đăng ngày 12/10/08 – 2:50 PM

    TRĂNG THU
    (họa thơ với bác Hà Thượng Nhân)

    Trước án phơi ra giấy một tờ
    Nghiêng đầu chửa trút được hồn thơ
    Bèn thôi cắn bút ngồi tư lự
    Ai nhỉ cầm tay nỗi hững hờ?
    Vận nước chẳng sao mà gỡ rối
    Chuyện nhà có đó để vung vơ?
    Lẽ nào mình đã sinh lầm cõi
    Gò mối khi không cứ phải thờ! (*)

    (*) Tục ngữ: Mồ cha không khóc, khóc gò mối
    Thời Lao Dộng Cải Tạo, ai cũng nói thế, nhưng
    vẫn cắm cúi “vượt chỉ tiêu, tăng năng suất”.

    Trần Vấn Lệ

    Cổ Trúc đăng ngày 12/11/08 – 12:39 AM
    Cổ Trúc phụng hoạ:
    Trăng Thu

    Phòng đêm vắng ngắt lặng như tờ
    Hơi gió heo may lạc ý thơ
    Tin nhạn đưa về thêm khắc khoải
    Canh dài mang đến nỗi mong chờ
    Ngoài hiên xao xác sương đêm lạnh
    Tiếng dế canh trường nhớ vẩn vơ
    Lữ khách dừng chân bên bến vắng
    Hình như cung quãng cũng bơ thờ !

    Cổ Trúc

    huệ thu đăng ngày 12/11/08 – 12:34 AM huệ thu kính hoạ:

    Trăng Thu Nhớ Bạn
    (bài thơ không được dùng 2 chữ
    Trăng và Thu)

    Mùa này hoa cúc chẳng im tờ
    Ðã trổ bông vàng trổ ý thơ
    Chàng ở biên cương lòng khắc khoải
    Thiếp nơi phòng lẻ dạ trông chờ
    Ánh vàng gió đuổi bay tan tác
    Nỗi nhớ tình về mộng vẩn vơ
    Chén rượu tiễn đưa sao dễ cạn
    Ðêm Rằm cung quảng tứ ơ thờ

    Huệ Thu

     
    Tài Thơ Niên Thiếu
    Viết cho “chàng thiếu niên tóc ngắn”, người Hà Thượng mà chúng tôi hay gọi là Thần Ðồng Thơ!
     
    Leo lắt đèn khuya đọc mấy tờ
    Ngàn sao chiếu rọi một bài thơ
    Mâm trên khoa bảng tay mời mọc
    Sàn dưới thư sinh bút nạp hờ
    Trắng toát Hàn san sương lạnh lẽo
    Xanh rờn uyển ngự gió vu vơ
    Mới đi một bước năm vần trọn
    Tháng Tám bình thơ nguyệt thẫn thờ
    Ðông Anh
     
     

  • Tạp ghi

    PRESIDENT’s DAY (NV Giao Chỉ)

                                              
     PRESIDENT’s DAY
                                           NGÀY TỔNG THỐNG HOA KỲ
                                                 Giao Chỉ San Jose
     
    Tình tự dân tộc ở đâu?
    Bài này viết nhân ngày President tại nước Mỹ, nhưng xin kèm đến quý độc giả một câu hỏi: Tổng thống Hoa Kỳ có phải là tổng thống của chúng ta hay không. Chúng ta đây là người Việt mang quốc tịch Hoa Kỳ. Trên pháp lý thì đúng đấy, nhưng trên thực tế thì dân ta có vẻ lạnh lùng hờ hững lắm. Như vậy có vẻ bất công với đất nước mà chúng ta đã hưởng phúc lợi khá nhiều.
     
    Vẫn còn nhớ khởi đi từ cuối thập niên 70, anh em gặp nhau trên con đường xuôi ngược tìm nơi định cư. Tay bắt mặt mừng, hỏi rằng bây giờ bạn làm gì ở đâu. Câu trả lời nhẹ nhàng lý thú: trước làm hãng Ford, mới đây thì lãnh lương Carter. Check Carter lãnh đủ 4 năm, rồi qua làm việc với tổng thống Reagan. Cho đến bây giờ có nhiều bạn cao niên chúng tôi sắp sửa lãnh tiền già của vị Tổng thống mới mà vẫn quen mồm gọi là thằng Obama. Hết sức là tự do dân chủ.
    Dân ta ở Mỹ đã 10, 20 hay thậm chí 30 năm. Ðã đứng lên nghe đọc lời thề vào quốc tịch. Vui vẻ giơ tay thề bỏ hết những giây mơ rễ má với quê hương cũ, sẽ một lòng cầm súng chiến đấu cho Tổ Quốc mới, nhưng thật sự tấm lòng không hề rung động với Hiệp Chủng quốc Hoa Kỳ.
    “Lòng quê gởi áng mây Tần xa xa.”
    Người thì làm ăn cật lực để gởi tiền về quê. Mua đất, cất nhà. Người thì đi về như đi chợ. Người thì đốt lửa, thổi gió đấu tranh về quê hương. Hết năm này qua năm khác. Bao nhiêu là đám cưới, bao nhiêu lần khai sinh, bao nhiêu đám ma. Ở trên miền đất đầy cơ hội đã hơn một phần ba thế kỷ mà sao vẫn mang tâm trạng lưu đầy, mãi mãi làm người lưu vong trong hoàn cảnh tạm dung.
    Bài học lịch sử và tình tự dành cho Tổ Quốc mới, khi thi xong nhập tịch là buông xuôi hết. Như vậy, phải chăng chúng ta đối xử với nước Mỹ dường như không phải đạo.
    Kể từ năm 75 cho đến nay là năm hai không lẻ chín. Qua năm tới 2010 là 35 năm dâu bể. Có lẽ đã đến lúc chúng ta phải dành cho cái đất nước tử tế này một chút tình dân tộc mới.
    Xin vui lòng đọc bài viết về ngày President’s Day với mối chân tình.
    Xin đọc lại bài học quốc tịch bằng tấm lòng thành.
    President’s Day:
    Ðây là ghi dấu lịch sử đầu tiên dành cho vị tổng thống thứ nhất George Washington. Ông là vị khai quốc công thần, là cha già dân tộc, là quốc phụ của Hoa Kỳ. Vị tướng chỉ huy cuộc tranh cách mạng chống Anh quốc. Thành lập Hiệp chủng Quốc và lên làm tổng thống 2 nhiệm kỳ.
    Ông sinh ngày 22 tháng 2 năm 1796. Vì vậy President’s Day cũng gọi là Washington’s Birthday.
    Sau đó người ta cũng ghép chung vào ngày lịch này để kỷ niệm thêm ngày sinh nhật của vị tổng thống thứ 16 là Abraham Lincoln. Ông sinh ngày 12 tháng 2-1809
    Cho đến nay ngày President trở thành ngày quốc lễ và nước Mỹ chọn ngày Thứ hai của tháng Hai, nằm giữa sinh nhật của hai vị tổng thống vĩ đại. Một người lãnh đạo kháng chiến thành lập quốc gia. Một người chiến thắng cuộc nội chiến, thống nhất đất nước.
    Nếu hỏi rằng, ngoài hai vị kể trên trong tất cả 44 vị tổng thống Hoa Kỳ suốt 220 năm qua thì còn có tổng thống nào xếp hạng cao trong lịch sử. Hoa Kỳ có ngay câu trả lời.
    Các tổng thống vĩ đại của nước Mỹ.
    Câu trả lời không phải bằng văn bản mà bằng cả 1 công viên quốc gia. Không phải là vườn cảnh, tượng đài mà bằng núi đá.
    Tại tiểu bang South Dakota có hình tượng khắc trên đá. Các hình tượng vĩ đại của 4 ông tổng thống vĩ đại.
    Trái núi chiếm diện tích 1,300 mẫu tây, với tượng đài cao 60 bộ nằm trên khu đất cao 5,700 feet trên mặt biển. Từ trái qua phải là hình tổng thống Washington , Jefferson, Roosevelt, và Lincoln .
    Tổng thống Jefferson là người nhậm chức thứ ba, nhưng là cha đẻ của bản Tuyên ngôn độc lập và Hiến pháp Hoa Kỳ.
    Ông đã viết ra những câu bất hủ trong các bản văn lịch sử để làm khuôn vàng thước ngọc cho đời đời. Ðó là câu: Con người sinh ra bình đẳng và ai cũng có quyền mưu cầu hạnh phúc.
    Vị sau cùng là tổng thống Roosevelt , người đã lãnh đạo nước Mỹ khi nhân loại bước vào thế kỷ 19. Tượng đài khắc trên núi Rushmore là công trình thực hiện cha truyền con nối của gia đình điêu khắc gia Borglum. Ngày nay có hai triệu du khách đến thăm hàng năm.
     
     
    Tinh hoa của dân chủ:
    Với hơn 220 năm lập quốc, nền dân chủ của Hoa Kỳ không một lần nào thay đổi người lãnh đạo mà có rối loạn binh đao. Hoàn toàn không có đảo chính, cách mạng, binh biến. Ngay cả những lúc chiến tranh sóng gió hay lúc các vị tổng thống bị truất phế, từ chức thì việc thay đổi cũng tuần tự theo luật lệ hoàn tất rất nhẹ nhàng và an toàn tuyệt dối.
         Theo hiến định, khi vị tổng thống tại chức qua đời hay từ chức thì ông phó lên thay. Nếu không có phó tổng thống hay vì lý do gì, ông phó không lên thay thì người thứ ba là chủ tịch hạ viện và kế tiếp là bộ trưởng ngoại giao. Trong thể chế dân chủ, quyền hạn do các chính trị gia nắm giữ nên vai trò bộ trưởng quốc phòng và tham mưu trưởng liên quân thuộc phe quân sự không nằm trong danh sách được giao quyền lãnh đạo đất nước.
          Trong hoàn cảnh thuộc về đợt di dân Việt Nam đến Hoa Kỳ vào cuối thế kỷ thứ 20, nếu chúng ta tìm hiểu về cuộc đời của tất cả 44 vị tổng thống Hoa Kỳ sẽ tìm thấy rất nhiều chi tiết lý thú.
     
         Tuy nhiên, nói đến mối giao tình Việt Mỹ phải kể lại câu chuyện sử liệu từ thời tổng thống thứ 18 của Hiệp Chủng Quốc là ông Grant vào năm 1869.
         Việt sử ghi lại rằng vào năm 1870, ông Bùi Viện gốc làng Trình Phố, tỉnh Thái Bình dưới triều Tự Ðức được cử đi sứ qua Hồng Kông rồi nhân dịp này theo tàu viễn dương qua Hoa kỳ vào triều đại Tổng thống Ulysses Grant. Tổng thống Mỹ tiếp kiến hứa hẹn viện trợ cho Việt Nam canh tân. Ông Bùi Viện về nước trình lên kết quả và lại trở lại Mỹ quốc lần thứ hai. Tuy nhiên, kỳ này Hoa Kỳ lại đổi ý nên việc viện trợ không thành.
         Dù sao thì đây cũng là một ghi dấu về những ngày bang giao Việt Mỹ đầu tiên.
         Nhưng suốt một trăm năm từ thời kỳ1850 đến 1950 miền Ðông Nam Á vẫn trong vòng ảnh hưởng của Pháp nên Việt Nam không có cơ hội liên hệ với Hoa Kỳ. Cho đến năm 1975, cựu đại sứ Bùi Diễm, thuộc giòng họ Bùi Viện, đại diện Việt Nam Cộng Hòa lại thất bại trong lần xin viện trợ cuối cùng.
         Tổng thống Hoa Kỳ và chiến tranh Việt nam.
    Cho đến thời kỳ 1954 của tổng thống thứ 34 là ông Eisenhower, Việt Nam mới có cơ hội đóng vai trò 
       
    trong lịch sử Hiệp Chủng Quốc.
         Vào cuối thập niên 50, trong chuyến đi Mỹ, chúng ta thấy hình ảnh ông Eisenhower đón chào tổng thống Ngô Ðình Diệm và ca ngợi vị nguyên thủ Việt Nam là vĩ nhân của Ðông Nam Á.
         Và chẳng bao lâu sau đó, vị tổng thống thứ 35 của Hoa Kỳ là ông Kennedy đã gián tiếp trách nhiệm về cuộc đảo chánh và hạ sát anh em ông Diệm năm 1963 tại Sài Gòn. Ông Kennedy tuy giải tỏa được một chế độ cản đường nhưng cũng rất ân hận về cái chết của ông Diệm. Cả hai ông Ngô Ðình Diệm và Kennedy đều là Thiên Chúa Giáo.
         Nhưng niềm ân hận cũng không lâu, chỉ sau một thời gian ngắn đến lượt ông Kennedy bị ám sát chết tại Dallas , Texas .
                       
    Cái chết của cả hai vị tổng thống đều vẫn còn nhiều bí ẩn cho đến ngày nay. Ông Johnson lên thay trong vai trò tổng thống thứ 36 với gánh nặng chiến tranh Việt Nam . Ông là người quyết tâm nhưng vẫn không thành công và để cho ông Nixon lên thay với chiêu bài Việt Nam hóa chiến tranh, rút quân về bằng mọi giá.
         Năm 1974, Nixon, vị tổng thống thứ 37 vì Watergate phải từ chức. Ông Gerald Ford thứ 38 lên thay, thể theo lòng dân và quốc hội, quay lưng cuộc chiến tranh Việt Nam . Từ nay đối với Hoa Kỳ, Việt Nam chỉ còn là vấn đề nhân đạo. (Evacuation 75)
    Với 5 vị tổng thống can dự vào chiến tranh Việt Nam, bắt đầu từ Eisenhower, Kennedy, Johnson, Nixon và Ford, người Mỹ gọi đây là The War of the 
     
       
    Presidents. Ý nói là cuộc chiến riêng tư của các vị tổng thống, không can dự gì vào nước Mỹ và dân Mỹ. Làn sóng chống chiến tranh của dân Mỹ dâng cao với các cuộc xuống đường hàng triệu người.
         Bây giờ sống tại đây chúng ta mới có thể hiểu được là lòng dân của Mỹ quốc thực sự ảnh hưởng đến chính quyền ra sao. Không cần đúng hay sai, không cần giữ lời cam kết. Ðối với dân chúng Hoa Kỳ, lòng kiên nhẫn và sự chịu đựng, hy sinh rất giới hạn. Ðánh không xong thì rút, sống chết mặc bay. Từ các quan niệm đó, định mệnh đưa chúng ta đến Hoa Kỳ.
         Tổng thống Hoa Kỳ và dân tỵ nạn Việt Nam .
    Sau ông Ford, dân tỵ nạn lần lượt sống với 5 vị tổng thống của thời hậu chiến. Bắt đầu từ ông Carter, tổng thống thứ 39, ông già hiền lành đạo đức chính là vị ân nhân đầu tiên mở cửa nước Mỹ cho thuyền nhân từ các trại tỵ nạn vào Hoa Kỳ.
         Khi đoàn biểu tình Việt Nam thắp nến đi trước Bạch Cung để than khóc cho thuyền nhân thì ông Carter đã mở cửa ban công ngó xuống vẫy tay chào. Nước mắt dân tỵ nạn Việt Nam di tản đợt đầu, nhỏ giọt xuống đại lộ Constitution đã làm động lòng ông tổng thống chuyên cất nhà Homeless.
         Lệnh tổng thống ban ra từ đây các tàu chiến của hạm đội số Bảy bắt đầu xua đuổi hải tặc và vớt người di tản. Các phái đoàn Mỹ lên đường đến phỏng vấn tại trại tỵ nạn Ðông Nam Á.
         Rồi tiếp đến ông thứ 40 là Reagan suốt 8 năm đưa ra các đạo luật tỵ nạn, khởi sự các buổi thảo luận thả tù, để sau này ông Bush số 41 tiếp tục mở rộng tấm lòng nhân đạo.
         Bước qua thập niên 90, triều đại Bill Clinton, tổng thống thứ 42 là thời kỳ của hòa giải và hàn gắn. Clinton mở đường hiệp thương, giải tỏa cấm vận, đưa tay dắt đường cho Hà Nội trở về với thế giới tự do. Sau cùng ông Clinton chấm dứt nhiệm kỳ bằng một chuyến công du cuối cùng dưới hình thức qua Việt Nam để trình diễn một màn Workshop dân chủ đi từ Hà Nội đến Sài Gòn.
     
         Qua đến ông Bush hiện nay, vị tổng thống thứ 43 của Hoa Kỳ đã đem bài học Việt Nam ra để đánh trận Trung Ðông, nhưng đã gặp nhiều cay đắng. Bây giờ đến lượt tổng thống Obama, với hoàn cảnh thế
    giới điên đảo, nợ nần chồng chất, ông có quá nhiều mối bận tâm. Hồ sơ Việt Nam và hồ sơ di dân tỵ nạn sẽ còn lâu mới đem ra thảo luận.
    *   *   *
         Xem như vậy, lịch sử cận đại của Hoa Kỳ từ 1954 đến nay có 11 vị tổng thống. Năm vị tham dự vào cuộc chiến Việt Nam . Ba triệu lính lần lượt tham chiến. 58 ngàn người chết. Mỗi vị tổng thống khi nhắc đến Việt Nam đều mang một kỷ niệm cay đắng khôn nguôi.
         Kể từ 1975 đến nay, 5 vị tổng thống liên quan đến dân Việt Nam hậu chiến, qua các lãnh vực di dân tỵ nạn và nhân đạo. Cả 5 người đã mang một quan niệm mới mẻ về hai chữ Việt Nam . Ðã bớt phần đau thương cay đắng. Trong những năm gần đây, sự thành công của người Việt tại Hoa Kỳ trong tất cả các lãnh vực đã đem đến cho các ứng cử viên tổng thống một ý niệm mới mẻ tốt đẹp của chúng ta tại quê hương mới. Riêng tổng thống Obama, trong bài diễn văn nhậm chức đã nhắc đến Việt Nam qua trận Khe Sanh.
         Bây giờ sẽ đến lượt con cháu chúng ta sẽ làm quen với vị tổng thống da mầu đầu tiên thứ 44 với niềm tự hào của một thế hệ di dân gốc Việt góp phần xây dựng đầy hưng phấn trong tương lai. Biết đâu sẽ có ngày Hoa kỳ chào mừng một tổng thống Việt Nam da vàng. Mặc dù ngày đó có thể còn rất xa, nhưng bây giờ xin vui lòng nhận chấp nhận tổng thống của chúng ta. Trong niềm tin mới, chúng ta cùng đón ngày President’s Day 2009 của Hoa Kỳ.
    Dù rằng nghĩa trang Việt Nam tại Los Gatos có treo đôi câu đối: “Trăm năm xác tục gửi quê người, Vạn dặm hồn thiêng về cố quốc.” Tôi cũng chẳng biết còn nhớ đúng hay sai, nhưng xin nhắc lại hai bài học trăm năm của các di dân đến trước chúng ta. Một văn hào Nga đã nói rằng: “Nơi nào tôi sống có tự do, nơi đó chính là quê hương”. Một chính khách Ba Lan tỵ nạn lại nói rằng: “Muốn đấu tranh hữu hiệu cho quê hương cũ, hãy làm một công dân tốt trên quê hương mới” Trong tinh thần đó, chúng ta chào mừng President’s Day.
                                                                                                           Giao Chỉ – San Jose
     
     
     
  • Tạp ghi

    Hành trình một linh mục Việt Nam đầu tiên của giáo phận Osaka Nhật Bản

    Giọt lệ buồn…
    Tôi vô tình đọc Hành trình một linh mục Việt Nam đầu tiên của giáo phận Osaka Nhật Bản
    của tác giả Huỳnh Thế Hy. Năm chữ Kim Châu/BanMêThuột đã làm tôi xúc động rơi lệ, bởi
    Kim Châu/Kim Phát Ban Mê Thuột là nơi tôi ôm lấy màu đất đỏ có mưa rừng bùn lầy, nắng bụi 
    với sự chăm sóc của Linh Mục Võ Quốc Ngữ đối với dân tỵ nạn Cộng Sản từ Bắc vào Nam 1954.
         Kim Châu với những kỷ niệm của đưá con trai 11 tuổi bỏ Hà Nội theo gia đình tỵ nạn Cộng Sản, bỏ cả sách vở để cầm cuốc bổ
    xuống đất những nhát cuốc đầu đời để tìm sống giữa rừng hoang. Sáng vào rừng tìm măng, nấm hương và đùa vui với những con vượn bạc má chuyền cành hú vang cả khu rừng, đôi khi bị heo rừng đuổi chạy thục mạng trong rừng tre mênh mông …
       Chiều về theo cha gánh nước tưới vào những gốc cà-phê hầu mong một tương lại bé nhỏ là tới trường học làm người tử tế.
        Tôi hiểu được nỗi cơ cực của những người dân trong những khu dinh điền của những ngày phá rừng hoang tìm mạch sống vòng quanh Ban Mê Thuột, và chính những người dân tỵ nạn này đã đưa Ban Mê trở thành một tỉnh trù phú năng động.
    Mầu đất đỏ đã làm tôi không quên và mang vào nỗi nhớ trong bước đường lưu vong hơn ba mươi năm dài khắc khoải nhớ quê…!

        Nhắc tới Kim Châu/Ban Mê là lòng tôi rạo rực niềm thương, xốn đau nỗi buồn và mắt thấy cay, môi cảm thấy mặn với những niềm vui nỗi buồn giăng mắc.. Tưởng mình đã quên… nhưng nhớ thật nhiều…!
    Lòng tôi như cuốn nhật ký, kỷ niệm như chữ viết trên những trang nhật ký gởi gấm trong góc tâm hồn như sóng ngầm … 
    Ban Mê rồi sẽ mất dần cái đẹp hoang vu sơn dã thác ngàn Gia Long, TraySap, Trinh Nữ Và Traylinh, bằng bước đầu Cộng Sản VN dâng khu Dark Nong cho Trung Cộng làm khu đặc nhiệm khai thác Bô-Xít nhôm, rồi từ Ban Mê Thuột sẽ dần lan như vết dầu loang toàn Cao Nguyên Trung Phần những người lính Trung Cộng giả dân lao công giữa ngã ba biên giới Việt Miên Lào … Cao Nguyên mất, bình nguyên dần sẽ mất…!
     
         Sau cùng VN sẽ mất về tay Trung Cộng bởi những kẻ bán nước và sự thẩm thấu xoi mòn của Trung Cộng chiếm đất bằng đường lối vết dầu loang…
    Tôi đã khóc Ban Mê, và thương anh em dân tộc thiểu số hiền lành học cùng trường đã mất hút trong rừng sâu sau ngày 1975…  

        Đọc Hành trình một linh mục Việt Nam đầu tiên của giáo phận Osaka Nhật Bản cũng làm tôi nhói đau nhớ tới những đêm, ngày tầu Trường Xuân lênh đênh trên biển mênh mông trời mây nước …của ngày 30/4/75. Thấm thoát đã hơn ba mươi năm dài quặn đau.. !

    Khi đi tóc cuộn mây trời
    Bây giờ tóc đã bạc đời gió sương
    Khi đi lệ tủi đau thương
    Bây giờ mắt mỏi tìm đường nhớ quê…

      Chúng ta sẽ đi về đâu khi VN vẫn còn Cộng Sản phản dân hại nước lộng hành..?????

    Xin kính chúc linh mục Cửu người con của Ban Mê luôn được an bình và xin ngài nhớ về Ban Mê trong những buổi lễ Misa…! Xin ngài cầu nguyện cho những người trọn biển làm mồ… và linh hồn họ đã gối sóng về quê.
    Chinh Nguyên
    —————————————————————— 
     

    Hành trình một linh mục Việt Nam đầu tiên của giáo phận Osaka Nhật Bản
    VietCatholic News (20 Mar 2009 15:17)
    OSAKA, NHẬT BẢN – Mùa hè năm 1981, chiếc thuyền con mong manh chở 34 con người, già trẻ lớn bé, phát xuất từ một làng chài ở Vũng Tàu đi tìm tự do. Hầu hết những người trên con tàu này xuất thân từ giáo xứ Kim Châu- Ban mê Thuột, một khu vực tập trung những người di cư có đời sống đức tin vững mạnh. Trong đó có một thiếu niên 15 tuổi.

    Photos: Nguyễn văn Tuynh
    Không ai ngờ… chuyến ghe trở nên kinh hoàng… thê thảm khi lênh đênh hơn 40 ngày trên biển.

    Bao nhiêu tàu đi qua nhưng không đoái hoài, cũng không cho được một miếng nước. Từng người, từng thây người chết đói… chết khát được vứt xuống biển. Ban đầu người sống còn nước mắt cho người chết… sau đó thì không còn một giọt nước mắt nào cho nhau… người họ đã cạn nước và nghĩ rằng trước sau gì cũng đến phiên mình.

    Tuy nhiên, tiếng cầu kinh vẫn cất lên không một lời oán than Thiên Chúa… Ngày thứ 41, anh R. Trưởng thuyền… cũng là anh ruột của cậu trai 15 tuổi thều thào với mẹ, vợ và những đứa em: -Con sắp ra đi, con có lỗi với Chúa, với mọi người… là đã không đưa tất cả đến được bến bờ bình an. Tuy nhiên sau khi con chết, những người còn lại sẽ được tàu đến cứu.

    Nói xong anh R. nhắm mắt Cậu thiếu niên… lấy chút sức lực còn sót lại, cùng mọi người thả xác anh nhẹ nhàng xuống biển. Dường như không nỡ bỏ hai đứa con và cái bào thai nhỏ bé đang trong bụng vợ… Anh R. nhấp nhô người dọc thẳng theo làn nước, bám theo con thuyền; một hồi rồi mới trôi ra xa.

    Nửa tiếng sau, một chiếc tàu lớn tiến lại chiếc ghe đang vật lộn cùng sóng biển… mọi người không còn sức mà vẫy tay ra hiệu kêu cứu. Những đứa bé nhanh chóng được bế lên tàu, cậu thiếu niên cũng được đưa lên theo. Trong đầu cậu văng vẳng tiếng cầu kinh, tiếng người anh đã mất, và dường như trong cơn mê man cậu hình dung được con đường tiếp nối mà đấng trên cao đã sắp đặt.

    Đúng như anh R. đã trăn trối… anh là người cuối cùng trong chuyến ghe 10 người chết. Sau này người viết được biết trong những người ra đi vĩnh viễn, còn có cậu H. là em của Cha T. Giáo xứ Giang Châu.

    Số người sống sót được chuyển tới một cảng thuộc miền Bắc Nhật Bản; nhanh chóng trở thành một tin lớn truyền khắp cả xứ Phù Tang và trong cộng đồng còn rất nhỏ bé của ngưởi Việt Nam. Cha Harrie, giám đốc trại tị nạn Caritas-Himeji ở miền Nam, vội đi đón họ để đưa về trại. Gương mặt và ánh mắt của hơn 20 con người vẫn còn thất thần… dường như họ chưa cảm được cái hạnh phúc tồn tại sau chuyến đi vì những mất mát quá lớn.

    Thời gian trôi qua… đại gia đình của cậu trai 15 tuổi định cư ở một thành phố gần Osaka, thuộc giáo xứ Sonoda. Người viết trở nên một thành viên của gia đình này. Hai anh em có nhiều cơ hội gần gũi, trò chuyện nhau nhưng chưa bao giờ người viết được cậu ta bày tỏ gì về dự định tương lai. Người trong nhà hoặc bạn bè đôi lúc đòi giới thiệu cô này, cô nọ, nhưng cậu chẳng tỏ vẻ hứng thú với chuyện lập gia đình. Có điều, thỉnh thoảng sau thánh lễ ngày Chủ Nhật, một bà sơ Nhật già tiến tới nói với cậu: “Chúa cho Sơ biết là đang gọi anh đó”… Nghe xong cậu ta chỉ cười trừ…

    Cho tới năm 2001; đúng 20 năm sau chuyến ghe kinh hoàng, cậu mới thố lộ cùng gia đình, đã chuẩn bị hành trang để dâng mình cho Chúa. Ai nấy đều vui mừng mặc dù biết con đường trước mắt còn lắm nhiều khó khăn. Riêng người viết, từng là một tiểu chủng sinh, thì niềm vui đó còn kèm theo nhiều cảm xúc khó tả. Thế rồi chuyện đi tu theo dòng nào hoặc theo địa phận -mà VN còn gọi là Triều, được đặt ra… Vì thật sự với vốn liếng tiếng Nhật vừa đủ sống và tiếng Anh còn bập bõm, cậu phải cố gắng nhiều lắm mới đủ tiêu chuẩn để vào chủng viện. Nghe tin, người cha tinh thần Harrie phán một câu: “ Đi vào Dòng Thánh Tâm của cha, không cần phải biết nói tiếng Anh hay Nhật, chỉ cần hiểu và nghe được tiếng Chúa!

    Cám ơn cha vô cùng.

    Tuy nhiên, do sự thiếu hụt linh mục địa phận Osaka, cậu được nhận cách riêng với một năm đầu phải lên miền bắc giá lạnh Akita để thử thách. Ở đây sau những giờ lao động tay chân, trồng trọt trong tu viện, tân chủng sinh được học những điều căn bản, chuẩn bị cho chương trình triết-thần học trên đại chủng viện Tokyo. Những thú vui cá nhân bỏ lại, những lo toan đời thường gác qua… để chỉ còn con đường chông gai thánh giá đang chờ đợi trước mắt.

    Thế rồi 6 năm trôi qua, cậu tân chủng sinh ngày nào trở thành phó tế Lưu Vĩnh Cửu. Cái tên cha mẹ đặt, dường như đã được Chúa sắp sẵn con đường và tình yêu nói lên sự vĩnh cửu của Ngài. Thầy Cửu rời khỏi nước Nhật để đi giúp xứ bên Philiippine một năm. Đầu năm 2009, thầy trở về và ngày 20-3… trong vòng tay yêu thương của gia đình, của giáo xứ Nhật đã đùm bọc, cậu thiếu niên của chuyến tàu định mệnh 28 năm trước, trở thành chứng nhân của Thiên Chúa; trở thành Linh mục Việt Nam đầu tiên của giáo phận Osaka và là linh mục triều đầu tiên xuất thân từ giáo xứ có truyền thống Sonoda.

    34 người ra đi năm xưa với một bào thai nhỏ, sống sót 24 người… một số trong 24 người cũng đã về nước Chúa, trong đó có mẹ và chị của cậu.
    .. hai người thân hơn ai hết mong mỏi có mặt trong ngày trọng đại của đứa con –đứa em mình. Tuy nhiên thay vào đó là gần 1000, những người cha, người mẹ, anh em… con cháu trong giáo hội Chúa đã đến nhà thờ chính tòa Osaka để tham dự lễ tấn phong tân linh mục trong niềm vui tràn ngập.

    Người viết cũng xin được gởi những dòng chữ này để chia sẻ niềm vui riêng của gia đình, của cá nhân, trong đó gói ghém ước mơ thầm kín của một “chú tiểu” ở ngôi trường Sao Biển những ngày còn thơ, xa lắc xa lơ.

    Cầu xin Thiên Chúa với sự gìn giữ của Mẹ Maria, ban cho tân L.m Cửu thêm nhiều sức mạnh và can đảm, biết hy sinh cho tha nhân như người anh của Linh Mục đã xả thân bỏ mình trên biển cả năm nào.

    Huỳnh thế Hy SB71
  • Tạp ghi

    Nha Trang trong mắt tôi (Nguyễn Xuân Hoàng)

     

     Nhatrang trong mắt tôi

     

    Tặng những người Nhatrang,

    Tặng những người yêu Nhatrang

     

    NGUYỄN XUÂN HOÀNG

     

    1.

               

     

    Mỗi chúng ta ai mà chẳng có một quê hương. Khi bỏ nước ra đi, chúng ta mang theo trong lòng một [những] khuôn mặt, một giọng nói, một màu áo, một tiếng rao quà … mà chúng ta không hề ngờ tới. Chỉ khi nào trái tim ta đau buốt vì thương cảm, hoặc nổ tung ra vì hạnh phúc ta mới chợt nhớ ra quê hương đang ở trong lòng ta. Cũng có khi quê hương sống dậy vì một chút nắng, hay một giọt mưa, một bãi cát [vàng] hay một con sóng biển, một mầu trời hay một tiếng nói mang âm hưởng của vùng quê ta, …lúc đó ta biết rằng không có chi ngăn nổi trí nhớ nóng bỏng của ta làm hiện ra những hình ảnh cũ. Bởi vì thật bất ngờ, đôi khi chỉ thoảng một “mùi hương” cũng đủ khơi dậy trong ta biết bao kỷ niệm quê hương.

               

    Đối với tôi, thời tiết giá buốt những ngày cuối đông đầu xuân ở California gợi lại trong tôi biết bao điều về thành phố quê hương, nơi đã nhìn tôi lớn lên, đã thêu dệt trong tôi biết bao mộng ảo, đã đày đọa tôi tới chín tầng địa ngục.

               

    Nhatrang, đó là một thành phố của tình yêu và chia biệt, thành phố của những mối tình mùa hè, của những con sóng biển vô tình, những con dã tràng trên cát, những dấu chân bị nước cuốn đi không để lại một vết tích nào như thể trước đó nó không hề tồn tại …

               

     

     

     

    2.

               

    Tôi là người có hai quê: cha tôi ở bên Thành, mẹ tôi ở N.H. Nhatrang nằm ở giữa. Đường đi lên Thành-Citadelle gần, nhưng đường từ Nhatrang đi N.H. xa hơn, cách nhau tới hai ngọn đèo, đèo Rù Rì và đèo Rọ Tượng. Mẹ tôi người Minh Hương. Và N.H. có thể nói là thị trấn của những người Minh Hương. Tính chất Minh Hương ấy hiện lên rất rõ trong những ngày lễ lạc. Cả một thị trấn chiếm một khúc ngắn trên quốc lộ Một và tỉnh lộ Hai Mươi Mốt này gặp ngày lễ lớn người ta thấy bay rợp trời những lá cờ Trung Hoa, họa hoằn lắm mới thấy một vài lá cờ Việt Nam. Và ngay cả những người dân sống trên con lộ chính này cũng là những người Hoa. Bà dì tôi đúng là một người Hoa, Hoa một trăm phần trăm, Hoa từ mái tóc ngắn kiểu “bôm bê” đến giọng nói, từ cách sống đến lối nghĩ, từ quần áo của bà mặc đến lối trang trí nhà cửa … Thế nhưng mẹ tôi, lạ thay không có chút mảy may Tàu. Trái lại bà có cái vẻ bề ngoài của một phụ nữ tây phương hơn là một người Á đông. Chỉ có y phục, cách ăn uống, cách dạy con, sự xuề xòa, giọng nói của bà là Việt Nam mà thôi. Bà giống một phụ nữ Việt nghèo khổ hơn là một người Hoa giàu có. [Những người Hoa trong thị trấn nhỏ này chỉ có người giàu chớ không có người nghèo].

     

    Nhưng thời gian tôi ở với mẹ và cha tôi ít hơn là thời gian tôi ở với chú thiếm tôi ở thành phố Nhatrang. Và làng Quang Thạnh, quê của cha tôi, nơi tôi còn có những thân thích ruột thịt khác, những ông chú hiền lành, những ông bác khó tính, những bà cô khắc nghiệt, những người anh em họ hàng cùng lứa tuổi tôi gần gũi một cách nhạt nhẽo,… Tôi là một người khách lạ trong ngôi nhà trọ.

     

    Cô Tám tôi, tên Hương là một người đàn bà khắc nghiệt. Bà có một hàm răng rất trắng, rất nhỏ và rất khít. Bà không ăn trầu như những người phụ nữ cùng thời với bà. Cô có một ngôi nhà lớn năm gian, đầy những bàn ghế tủ trang thờ bằng gỗ cẩn xà cừ, sạch sẽ như lau như ly, với một vườn cây ăn trái rộng như một khu rừng. Bà có hai người con gái, nhưng mỗi lần gặp tôi bao giờ bà cũng bảo “mày có muốn về ở với cô không?”. Tôi thưa với bà là tôi không hề muốn ở với bà, và tôi cũng chưa hề có ý định sống dưới một mái nhà với bà. Tại sao, tôi không biết. Mặc dù cô có hai người con, tôi có cảm tưởng như cô tôi không chồng, bởi vì tôi cũng không bao giờ nhìn thấy bóng ông Dượng tôi, và tôi cũng chẳng bao giờ nghe bà nói về ông Dượng của tôi. Tôi muốn biết tại sao nhưng không bao giờ dám hỏi. Cô tôi thường nói: “Tao muốn một đứa con trai cho nó ấm nhà ấm cửa. Mày có muốn làm con tao không?” Và tôi nhớ câu trả lời dứt khoát của tôi lúc đó là “Không!” “Tại sao?” Tôi không biết trả lời cô tại sao, nhưng tôi biết là tôi rất không thích cô. Hình ảnh của cô còn trong trí nhớ tôi đó là một phụ nữ nhỏ thó, ăn mặc rất sạch sẽ gọn gàng, da dẻ hồng hào và “ưa kiện tụng”. Gần như suốt đời cô là một chuỗi tháng năm lên toà xuống huyện. Hai người con gái của cô, mà tôi gọi là em, là những đứa bé gái xinh đẹp dễ thương. Sau này lớn lên, đôi khi tình cờ gặp lại hai cô em tôi, hai thiếu nữ duyên dáng, lạnh lùng, nhìn tôi như nhìn một người xa lạ.

     

    Gần như cả ngôi làng đó chỉ gồm toàn những người trong dòng họ nhà tôi. Cái bánh xe nước trong phim “Chúng Tôi Muốn Sống” do Lê Quỳnh đóng với Mai Trâm và Thu Trang thuộc vùng đất nhà từ đường phía cha tôi.

     

    Tôi không ở với cha tôi, mà cũng không ở với mẹ tôi. Tôi xa gia đình từ nhỏ. Tôi ở nhà chú tôi vì cha tôi muốn tôi ở nhà quê, và vì mẹ tôi muốn tôi “phải đi học”. Chú tôi làm việc ở toà tỉnh Nhatrang, lúc đầu nhà ở đường Hoàng Tử Cảnh, sau dọn về đường Yersin. Ông chỉ là một công chức thường, lương ba cọc ba đồng, còn thiếm tôi thì vì sức khoẻ kém, gần như chỉ suốt ngày quanh quẩn trong nhà lo cho đàn con. Vậy mà chú thiếm tôi phải nuôi thêm một miệng ăn ngoài một đàn con gần mười đứa, không một lời than vãn. Chú thiếm tôi rất thương tôi, những đứa em tôi, con của chú thiếm tôi, cũng tử tế với tôi như một người anh ruột. Nhưng tôi sớm nhận ra mình chỉ là một đứa bé lạc loài, một kẻ ăn nhờ ở đậu, một miệng ăn gây nhiều khó khăn cho một gia đình đông đúc. Và thế đó mà tôi lớn lên, lớn lên trong một đời sống tâm hồn khốn khổ, giữa một thành phố thơ mộng và đẹp đẽ là Nhatrang. Tôi không ở lâu trong một ngôi nhà nào. Mỗi nhà chứa tôi trong một thời gian ngắn. Tôi là đứa bé báo cơm, một cậu học trò thiếu sách vở, một thằng nhóc lẫn vào những đứa trẻ bụi đời… Ở lớp học ra, tôi không biết về đâu. Ngọn đèn buổi tối vàng om không chiếu sáng những trang chữ. Những bữa cơm nuốt trong vội vã, đôi đuã không biết thế nào là cá và thịt. Đêm luôn luôn dài hơn ngày. Bóng tối bao giờ cũng nhiều hơn ánh sáng. Mọi người cười cười nói nói với tôi, nhưng mỗi câu nói cho tôi biết tôi là gánh nặng của gia đình nơi tôi ở trọ. Ai cũng nói “con ở đây, cứ tự nhiên như nhà của con”, nhưng người nghe đủ thông minh để nhận ra “con là gánh nặng mà ta không bỏ xuống được…” Những cuốn sách mượn của bạn, những tập vở xin của một thầy giáo, những cây bút nhặt được từ một đống rác… và…. Tôi hiểu vì sao tôi yêu những khóm dương trên biển hơn ngôi nhà, yêu bãi cát trên biển hơn chiếc giường tôi nằm chung với một đứa khác mỗi đêm…

     

    3.

               

    Nhatrang, thành phố của biển xanh, và cát trắng, của rừng dương, rừng dừa, của Hòn Chồng, Cầu Đá, của cầu Hà Ra, Xóm Bống, của Tháp Bà, của Lương Sơn, Đồng Đế, …Nhatrang, thành phố ấy bao giờ cũng dính chặt vào trí nhớ tôi.

     

    Ngôi trường tiểu học là thiên đường của tuổi thơ, nơi đã cho tôi những tình bạn trong sáng mà giờ đây khi hồi tưởng lại tôi vẫn thấy ấm áp cả trái tim. Những Đoàn Lân, Lê Văn Quyền, Tôn Thất Lưu, Trần Lâm Cao, và Hà Thúc Nhơn, Duy Năng, Trần Ngọc Bích, Dương Hồng Ngọc, Trương Hồng Sơn, Nguyễn Đức Sơn, Huỳnh Tấn…những người bạn gái như Bích Ngô, Bích Hường, Hoàng Thị Ngọc Táo, Minh Nguyệt, …những ông anh bà chị như Như Phú, Tuý Hoa, Dạ Khê, Nguyễn Hữu Trí, …những đứa em Hoàng Bắc, Ngọc Trúc, Liên Châu, Chúc, …và cả những người “yêu” Odette, Bạch Mai, Bích nếu tôi được phép gọi như thế. Những bạn ấy có người vẫn còn ở thành phố này nơi tôi đang sống, cũng có người đang ở những tiểu bang khác, những quốc gia khác…. Có người còn sống có người đã chết, nhưng dù đang có mặt tại đây nơi xứ lạ quê người, hay vẫn còn ở quê nhà bao giờ gặp lại hay nhắc đến cũng đều gợi lại trong tôi những tình cảm tốt đẹp, trong sáng, và thơ dại, như thể chỉ có trong những chuyện cổ tích hơn là ngoài đời.

     

    Nhatrang, tên gọi đó với tôi không phải chỉ một thành phố, đó là một gia đình. Không phải gia đình được định nghĩa là một tổ ấm gồm cha mẹ con cái và anh em. Gia đình tôi trong những ngày cắp sách đến trường là những ngôi nhà luôn luôn thay đổi. Có khi là nhà bà Dì trên Xóm Mã Lạng; có khi là nhà bà Cô ở Rạch Rau Muống. Có khi là nhà ông Chú ở Hoàng Tử Cảnh. Nếu những bữa cơm gia đình tôi đói tình thương thì chính những giờ học làm tôi no nê kiến thức và tình cảm. Những ông thầy bà cô tôi là những khuôn mẫu đẹp đẽ không bao giờ phai trong trí nhớ tôi. Cả một thành phố Nhatrang là gia đình tôi. Lớp học, bãi biển, rừng dương, bầu trời, ngọn gió, tình bạn,…. Đó mới chính là gia đình tôi…

     

     

    4.

               

    Nhatrang, thành phố đó đã dạy cho tôi bài học đầu tiên về lòng nhân ái. Ông chú bà thiếm tôi là những người nhân ái như thế. Những người con của chú thiếm tôi cũng là những người nhân ái như thế. Nhưng tôi giống như một con vật bị săn đuổi vì thiếu cha, thiếu mẹ, chui rúc vào những hang động của tuổi thơ. Bãi biển đẹp nhất trên thế giới là nơi tôi tìm đến những ngày trốn học. Núp dưới bóng những gốc cây dừa, nằm giữa lùm cây trong rừng dương, hay ẩn mình trong hốc đá Hòn Chồng, tôi khám phá ra đời sống là một chuỗi những hạnh phúc và đớn đau, hay những đớn đau-hạnh phúc. Tôi thấy sự cô đơn trong đám đông và thấy cả nỗi ấm áp tình người trong sự cô độc. Tôi không phải là học sinh giỏi. Tôi càng không phải là một học sinh thông minh. Tôi chỉ là một đứa bé thấy thích thứ gì thì cố mà đi tìm hiểu cho ra thứ đó. Thủa đó tôi không tìm ra chữ nào phù hợp với suy nghĩ của tôi, nhưng gần đây tôi giật mình đọc được tựa đề một cuốn truyện dịch từ tác phẩm của Colleen McCullogh, The Thorn Birds, mà tôi rất “thích”: Tôi là một trong “Những con chim ẩn mình chờ chết”.

     

    Tôi vẫn còn nhớ những ông thầy bà cô của tôi, những người đầu tiên dạy tôi đọc chữ, những người dạy tôi cách hiểu nghĩa và nhắc đến Nhatrang là nhắc đến một thành phố với lòng biết ơn của những đứa con. Thầy Cung Giũ Nguyên dạy tôi lòng yêu văn chương, thầy Điểm hội hoạ dạy tôi lòng yêu mầu sắc, thầy Dưỡng dạy tôi thế nào là âm nhạc, …Biển Nhatrang dạy tôi thế nào là vẻ đẹp và sự tàn bạo của thiên nhiên. Nó cũng dạy cho tôi sự nhỏ bé của con người trước sự vĩ đại của trời đất. Biển Nhatrang là một cuốn sách mà tôi sẽ đọc hoài trong suốt cuộc đời tôi. Đọc tiểu thuyết kiếm hiệp của Kim Dung tôi thích nhất là câu “ngoài trời còn có trời”, tôi nhìn ra “ngoài biển còn có biển.”

     

    5.

               

     

    Tôi xa Nhatrang đã lâu. Lâu lắm. Tôi đã đi nhiều nơi, nhiều thành phố, nhiều nước. Tôi đã gặp gỡ nhiều người. Những người thông minh, khôn ngoan, đẹp đẽ, giàu có, sang trọng. Những người nghèo khó, vô gia cư, vô nghề nghiệp. Những người tha phương cầu thực. Tôi đã sống với họ, đã chia xẻ nỗi đau với họ. Tôi khám phá ra hình như tôi gần gũi hơn với những ngưòi cùng khổ. Tôi cũng là nạn nhân của bọn người hãnh tiến, bọn ăn xổi ở thì. Nhưng thật ra, họ giàu hay họ nghèo, họ có chức tước danh vọng hay họ chỉ là những người thường dân vô danh …bao giờ tôi cũng yêu thương họ. Yêu thương những con người bị đọa đày và tội nghiệp cho sự hãnh tiến của những kẻ số đỏ. Yêu thương sự chân thật lòng nhân ái của người này, và tha thứ những dối trá lọc lừa của người kia. Yêu thương cả những người trưóc đây từng chà đạp lên nỗi đau khổ của tôi. Cũng như tôi đã từng yêu thương những lằn roi xé thịt của cha tôi nhiều lần giáng xuống thân thể run rẩy của tôi, yêu thương những giọt nước mắt của mẹ tôi từng khóc vì tôi làm mẹ khổ.

                 

    Chính thành phố Nhatrang với biển khơi mênh mông của nó, rừng dương xanh đầy gai góc của nó, …đã trở lại với tôi. Nhatrang ở trong trái tim tôi. Nó nhắc tôi nhìn ra sự phù du và phù phiếm, nó chỉ cho tôi “ngoài trời có trời”, “ngoài biển có biển”. Chiều nay, tôi đi một mình đến Huntington Beach, một chút biển ở Cali để tìm ra một chút biển Nhatrang. Trên chiếc cầu bắc cao trên bờ cát một buổi tối tôi đã nhìn thấy biển đêm, nhìn thấy quê hương tôi mờ mịt. Tôi quên mất quá khứ, tôi không có tương lai. Và hiện tại? Tôi là “con chim ẩn mình chờ chết”…

     

    Nguyễn Xuân Hoàng

    California 1 tháng Ba, 1996

     

  • Tạp ghi

    Đi tìm người Mỹ Gốc Việt (Giao Chỉ)

     NHÂN LỄ ÐỘC LẬP HOA KỲ  

     
     ĐI TÌM NGƯỜI MỸ GỐC VIỆT

    GIAO CHỈ, SAN JOSE  –  (Viet Tribune)

     

     

     

    Ngày Quốc khánh của nền dân chủ.-

    Sau khi chiến thắng Anh quốc tại tân thuộc địa, Hoa Kỳ tuyên bố lập quốc, đưa ra bản Tuyên Ngôn Ðộc Lập, một áng văn chương lịch sử tuyệt tác của nhân loại. “ Con người sinh ra bình đẳng… ”.

    Ðó là ngày 4 tháng 7 năm 1776, ngày lễ độc lập của Hoa kỳ năm thứ nhất. Vào thời đó dân số Hiệp chủng quốc có trên 3 triệu người, đa số là di dân đến từ Âu châu.

    Năm 1976, nước Mỹ tổ chức ghi dấu 200 năm lập quốc với sự có mặt của 130 ngàn di dân Việt Nam bỏ nước ra đi từ 1975. Ðến năm 2000, người Mỹ đứng lên đếm lại đầu người, đã có gần 300 triệu dân với hơn 1 triệu người là di dân gốc Việt.

    Tính theo hồ sơ thống kê, trong thập niên cuối của thế kỷ 20, người Việt là sắc dân đến Mỹ đông đảo nhất. Di tản, vượt biên, thuyền nhân, HO, con lai, sở Mỹ, đoàn tụ, đầy đủ cả.

    Lịch sử ghi rằng, thập niên 60 nước Mỹ đã đem quân cứu miền Nam, thập niên 70 quay lưng bỏ rơi đồng minh, rồi thập niên 80 trở lại vớt người trên biển, đón người từ trại tỵ nạn. Thậm chí vẫn còn người Việt mới đến vào cuối tháng 6/2009 để kịp thời ăn tiệc gà tây độc lập Hoa Kỳ vào đầu tháng 7. Tính đến năm nay, chuẩn bị kiểm kê dân số 2010, Hoa kỳ mừng lễ độc lập lần thứ 233 với một triệu 300 ngàn tân công dân gốc Việt.

    Chúng ta sẽ chia sẻ với dân Mỹ về một kỳ nghỉ cuối tuần 3 ngày, sẽ coi pháo bông, tham dự bữa ăn ngoài trời nhưng không biết đã hội nhập vào lịch sử của đất nước này được bao nhiêu.

    Người Việt mang quốc tịch Hoa Kỳ đã thực sự trở thành người Mỹ gốc Việt hay mãi mãi vẫn là người lưu vong suốt đời trên miền đất tạm dung.

    Khi về thăm lại quê hương, quý vị đã phải mang danh hiệu Việt kiều, mà coi chừng bạn có vẻ đã Việt kiều ngay cả khi đang sống tại Hoa Kỳ. Ðọc báo Việt, nghe đài Việt, xem TV Việt, ăn cơm Việt, đi chợ Việt, nói tiếng Việt, thưởng thức văn nghệ âm nhạc Việt và sau cùng cũng chia phe gây nội chiến giữa người Việt ở khắp mọi nơi.

    Ðôi khi ta đứng lên cất tiếng dõng dạc với chính giới Hoa Kỳ, ta nói rằng, chúng tôi là người Mỹ gốc Việt, là công dân có đóng thuế và sẵn sàng hy sinh cho Hoa Kỳ. Xem ra lời tuyên bố có vẻ cay đắng mỉa mai. Nói xong nghĩ lại có khi thấy hổ thẹn . Bởi vì, nói vậy chứ không phải vậy.
     
    Sắc dân di cư đến muộn.-

    Người Việt là di dân đến muộn nhất vào đoạn cuối của thế kỷ 20, nhưng lại được hưởng thành quả đấu tranh của các sắc dân tiền phong để lại. Thế kỷ trước, da đen đã đổ máu chan hòa trên cánh đồng bông gòn, mới có chỗ ngồi bình đẳng trên xe bus và trong trường học.

    Rồi đến dân da đỏ chịu bao nhiêu khổ nạn vì phải di tản vào khu tập trung, tiếp đến dân da vàng bị kỳ thị trên con đường Tây tiến về miền duyên hải Thái Bình dương.

    Khi chúng ta đến đây, dù đeo nặng quá khứ chiến tranh, tù đày và thảm cảnh biển đông, nhưng khi bước chân vào Mỹ thì đất nước này đã chan hòa tự do, dân chủ, bình đảng với muôn vàn cơ hội.

    Thậm chí người Việt còn đẩy lùi cả người Mễ và người da đen vào những khu tối tăm để chiếm lĩnh thị trường trên mọi lãnh vực.

    Nhưng chúng ta vẫn chưa thực sự là người Mỹ gốc Việt.

    Trải qua hơn 30 lần lễ Ðộc lập, các khối quần cư Việt Nam đã hình thành vững chắc và tiến bộ. Từ các đơn vị gia đình nhỏ bé trong chung cư, người Việt đã bung ra thành chủ nhà, chủ các thương xá, các hãng xưởng và các đại lý, các công ty dịch vụ.

    Nhưng chúng ta vẫn chưa thực sự là người Mỹ gốc Việt.

    Có lẽ hồn Mỹ sẽ chỉ thấy lớn dần trong lòng của đám trẻ thơ Việt Nam. Ðám nhỏ không thông thạo Việt ngữ, không theo được văn hóa truyền thống Việt có thể sẽ là một thế hệ gốc Việt thực sự trong tương lai.

    Còn trong giới phụ huynh, đặc biệt các bậc cao niên e khó tìm được một người Mỹ gốc Việt đích thực. Ða số sống như Việt kiều trên đất nước người. Dù có người đã quay lưng lại quê hương hay mãi mãi vẫn ngóng trông về cố quốc.
     
    Ði tìm người Mỹ gốc Việt tại Hoa Kỳ.-

    Ngày 19 tháng 6 năm 2009 vừa qua, tại tiểu bang Washington, ban tổ chức của Hội Cựu Chiến Binh VNCH có ý muốn đi tìm 1 nhân vật để làm biểu tượng, đứng bên cạnh vị quan khách số 1 của Hoa Kỳ .

     

                    

                                   Cựu Trung Tướng Jim Vaught và Phu Nhân

     

    Ngày Quân Lực năm nay, Seattle mời được vị Tướng Nhảy dù Mỹ 3 sao về dự. Tướng Jim Vaught, đã từng là Cố vấn trưởng của Sư đoàn Nhảy dù Việt Nam lên diễn đàn nói 1 câu bất hủ . Với tư cách là 1 Trung tướng Hoa Kỳ, ông xin lỗi đã bỏ rơi Việt Nam và các chiến hữu Việt Nam Cộng Hòa. Vị tướng Hoa Kỳ ngoài 80 tuổi, đã hồi hưu, đi đứng khó khăn nhưng lời tâm huyết làm cử tọa Việt Nam hết sức xúc động.

     

                     

    Tiếp theo, ban tổ chức giới thiệu 1 cụ già Việt Nam, một cựu Đại tá mũ đỏ, một mục sư về hưu từ tiểu bang Missouri lên nói chuyện. Cụ Nguyễn thọ Lập 92 tuổi là người nói sau cùng. Vóc dáng nhỏ bé nhưng lưng thẳng đứng, đi lại gọn gàng, từ tốn bước lên khán đài. Cử tọa Việt Nam rất hồi hộp, không biết cụ già cao niên của chúng ta sẽ nói năng ra sao.

    Sau đây là đoạn văn mà báo chí địa phương đã ghi lại về bài nói chuyện của đại tá nhảy dù Nguyễn Thọ Lập.

    Bài nói chuyện hoàn toàn khác với hàng ngàn lời tuyên bố của các quan khách Việt Nam trên diễn đàn hải ngoại từ 30 năm qua.

    Bác Lập đã nói nguyên văn như sau:

    “Trước hết tôi xin gửi lời chào Trung tướng Jim Vaught, người đại diện cho Mũ Ðỏ Hoa Kỳ đã đến với chúng ta hôm nay.

    Tôi xin cầu nguyện cho 152 cố vấn Nhẩy dù Hoa Kỳ đã hy sinh bên cạnh các chiến binh mũ đỏ Cộng Hòa, trên chiến trường Việt Nam cùng với 58 ngàn binh sĩ Hoa Kỳ có tên trên bức tường tưởng niệm tại thủ đô. Chúng tôi không bao giờ quên ơn các bạn.

    Hôm nay là ngày Quân lực thứ 44 của QLVNCH, đồng thời là ngày vinh danh các chiến binh trong gia đình mũ đỏ, tôi xin nhân danh một cựu quân nhân mũ đỏ cao niên, lấy chút kinh nghiệm từ cuộc đời của mình thưa chuyện với quí vị.

    Nguyễn Thọ Lập sinh năm 1917, cách đây 92 năm. Khi tôi ra đời, tất cả quí vị hiện diện tại đây đều chưa có mặt. Vì vậy, tôi phải cảm ơn thượng đế rất nhiều, vì hôm nay vào năm 2009, vẫn còn được đứng ở đây với các bạn.

     

                    

    Nếu quý vị hỏi tôi từ đâu đến, xin trả lời từ Joplin, Missouri. Tại Missouri, người ta hỏi tôi từ đâu đến, tôi trả lời, đến từ New Zeland. New Zeland đã hỏi tôi từ đâu đến. Trả lời đến từ trại tỵ nạn Indonesia. Tại Indo, tôi đến từ SongKla, Thái Lan. Trong trại tỵ nạn, tôi khai đã đến từ Việt Nam.

    Với ơn phước của thiên chúa, đối với tôi, đâu cũng là quê hương.

    Hỏi rằng Nguyễn Thọ Lập đã làm công việc gì. Xin trả lời rằng tùy vào thời gian. Lớn lên từ Tân Uyên, Biên Hòa là kháng chiến quân chống Pháp. Rồi trở thành Sĩ quan Võ bị Ðà Lạt chống cộng sản. Khi giải ngũ đi lái taxi. Cộng sản vào Sài Gòn thì đi tù, rồi vượt biển thành thuyền nhân. Làm thông dịch viên trong trại rồi học để trở thành mục sư và hôm nay tôi trở lại thành người chiến binh của gia đình mũ đỏ, chỉ riêng trong Ngày Quân Lực.

    Ngày mai, khi trở lại Missouri, tôi vẫn là một mục sư về hưu. Tôi sẽ cầu nguyện cho tất cả quí vị. Những người bạn Missouri sẽ hỏi tôi mới ở đâu về. Sẽ trả lời rằng mới về từ Seattle, ở đó có rất nhiều bạn rất tốt. Họ cũng cầu nguyện cho tôi. Vì vậy, tôi cảm ơn quí vị".
     
    Bài phóng sự viết về cụ Nguyễn Thọ Lập tả thêm rằng : Vị niên trưởng của Việt Nam mang vẻ ung dung, thanh thoát, minh mẫn và lạc quan.

    Cuộc đời của ông là bản trường ca đầy bão tố trong khói lửa chiến tranh, trong ba đào biển cả. Ông là điển hình của 1 tầng lớp sĩ phu xả thân lo việc nước. Từ chiến đấu chống thực dân Pháp đến cuộc chiến chống chủ nghĩa cộng sản vong nô.

    Nổi trôi theo mệnh nước, ông chịu đọa đày trong ngục tù cộng sản. Gót chân nổi trôi khắp xứ người, khởi đi từ quê hương Việt Nam đến các trại tỵ nạn Ðông Nam Á, Tân Tây Lan và Missouri Hoa Kỳ.

    Ông nói : “ Với ơn phước của Thiên Chúa, đối với tôi, đâu cũng là quê hương “ .

    Tôi xin chép lại đoạn bình luận của nhà báo nhưng rất tiếc không biết tên tác giả.
     
    Nguyễn Thọ Lập, bác là ai ?

    Chúng tôi rất hãnh diện là người biết nhiều về cuộc đời của người thanh niên đất Tân Uyên, Biên hòa. Xin khoe với các bạn rằng tôi mới đón thầy Lập từ Seattle về thăm San Jose. Cũng nhân dịp lễ Ðộc lập Hoa Kỳ 2009, xin kể chuyện với quý vị về 1 người Mỹ gốc Việt thực sự mà tôi ghi nhận được.

    Năm 1954, Khóa Cương Quyết Ðà Lạt đa số Bắc Kỳ vào trường. Tuổi trung bình 20. Ông thầy đại đội trưởng của chúng tôi là Trung úy Nguyễn Thọ Lập, về sau lên Đại úy. Lúc đó thầy Lập đã gần 40 tuổi. Vốn là cựu Tiểu đoàn trưởng Việt Minh nên dáng dấp nhanh nhẹn và kiến thức hành quân tác chiến rất hấp dẫn đám sinh viên trẻ.

     

                     

    Thấy Lập xuất thân Võ bị khóa 5, ra đơn vị một thời gian rồi được gọi về trường dạy sinh viên hiện dịch Ðà Lạt từ khóa 8. Làm cán bộ Trung đội trưởng khóa 3 phụ trừ bị. Tiếp theo là cán bộ Đại đội khóa 4 phụ Cương Quyết của chúng tôi.

    Học trò khóa 3 phụ của thầy Lập có ông Ðặng văn Tiếp, đã chết trong trại tù Bắc việt và ông Bùi thế Xương hiện định cư tại Pháp. Năm 1954. mãn khóa 3 phụ, ông Xương Bắc kỳ dẫn thầy Lập ra thăm Hà Nội. Hỏi chuyện xưa, thầy Lập với trí nhớ phi thường còn nhắc lại chuyện có gặp 1 anh học trò trên đường Hàng bông Thợ nhuộm. Lúc đó thiếu úy Xương và Trung úy Lập mặc quân phục dạo phố mùa đông.

    Thầy Lập nói rằng anh học trò Hà Nội thắc mắc vì nhận giấy động viên nhưng lại trình diện Ðà Lạt. Chỉ vì từ năm 1954 nhiều khóa trừ bị chia đôi, học cả Thủ Ðức lẫn Ðà Lạt. Anh học trò sau này vào trường lại gặp thiếu úy Xương và trung úy Lập. Ðó là Sinh viên sỹ quan Vũ Thượng Ðôn. Ðôn không hề nhắc nhở đến mối duyên tao ngộ qua đường nhưng chẳng dè thầy Lập vẫn còn nhớ cho đến hôm nay.

    Tại San Jose, thầy Lập gặp lại bạn cùng khóa 5 Ðà lạt và đồng tù là Đại tá Lại Ðức Chuẩn và cả ông xếp cũ là Thiếu tướng Bùi Hữu Nhơn. Từ khi đặt chân lên đất Mỹ vào đầu thập niên 80, thầy Lập mang sứ mạng truyền giáo nên không có dịp gặp bạn cũ và học trò trong cộng đồng Việt Nam. Chúng tôi đã tổ chức buổi tao ngộ để thầy gặp mọi người đủ mọi thành phần gồm 70 thân hữu tại nhà hàng Ánh Hồng của ông bà Lê văn Phụng. Quan trọng nhất là có dịp mời thầy mở lời cầu nguyện cho buổi tiệc hội ngộ thân mật sau 55 năm xa cách.

    Bao nhiêu năm sống cô đơn tại Missouri, bỗng gặp lại học trò và đồng hương bao quanh, ông thầy 92 tuổi hết sức cảm động. Chúng tôi đã giới thiệu thầy là 1 chiến binh kháng chiến chống Pháp. Là cán bộ huấn luyện viên võ bị Ðà Lạt. Là quân nhân giải ngũ đi lái taxi Saigon. Tái ngũ làm Tỉnh trưởng nhiều nơi với cấp bậc Đại tá. Tốt nghiệp Chỉ huy Tham mưu Hoa kỳ. Ði làm ruộng ở miền Ðông, đi tù ở miền Bắc, vượt biên ở miền Nam. Từ thông dịch viên trong trại tỵ nạn trở thành mục sư Tin Lành ở Hoa Kỳ.Thầy đặc trách họ đạo Ðông nam Á tại tiểu bang Missouri. Hội thánh lại cử đi làm mục sư cho dân Việt tại Tân tây Lan. Trở về họ đạo Missouri lại tiếp tục mục vụ. Sau cùng về hưu tại thị trấn Joplin. Và thầy Lập quyết định sẽ sống ở đây cho tới ngày cuối cùng.

    Hai năm trước, người vợ chung thủy suốt đời theo thầy gần 70 năm đã ra đi. Ðể tưởng niệm vợ, cụ già 90 tuổi lái xe xuyên bang 1 mình năm 2007 từ Missouri về Los Angeles thăm cháu ngoại. Trên chiếc xe Hoa Kỳ cũ, tự sửa chữa và bảo toàn, ông cụ già Việt nam đã thực sự sống độc lập và cô đơn như 1 người Mỹ về già.

     
    Người về từ trăm năm.-

    Trải qua 1 phần tư thế kỷ, thầy Lập không sống gần cộng đồng Việt Nam. Hội thánh địa phương giao cho ông mục sư gốc quân đội cộng hòa trông nom các tín hữu thiểu số. Việt Nam,Cam Bốt, Lào và các sắc tộc.

    Thầy Lập học về lịch sử địa lý Hoa Kỳ để làm hành trang hướng dẫn mọi người hội nhập. Nơi ông ở là 1 tiểu bang quê mùa nhỏ bé. Ông lại sống ở 1 nơi xa xôi hẻo lánh nhất của Missouri. Quê hương mới của các tín hữu không phải là sông Cửu Long hay con sông Hồng phù sa đất đỏ. Ðây là miền đất của 2 con sông dài nhất Hoa kỳ gặp nhau tại đô thị St. Louis. Ðó là sông Missouri và Mississippi.

    Khi ông về hưu tại Joplin thì họ đạo sắc tộc với đa số người Việt cũng dần dần tản mát bốn phương trời. Thị trấn Joplin nằm ở miền tây nam của Missouri, cạnh biên giới của các tiểu bang Kansas, Arkansas và Oklahoma. Cả thị xã chỉ có trên 30 ngàn dân. Một số ít trên 90 tuổi, trong đó có 2 vợ chồng ông mục sư Việt Nam. Bây giờ bà đã đi rồi, chỉ còn lại 1 mình ông. Buổi sáng ông đi cắt cỏ, buổi chiều ông ngồi thẳng lưng nghe tin tức CNN. Bao năm nay không hề có khách đến thăm viếng, không có ngày Tết, không có ngày quốc hận, không có ngày quân lực. Một ngày như mọi ngày và mọi ngày như 1 ngày.

    Ðóng vai phóng viên, chúng tôi tâm tình với ông thầy mà ngày xưa sinh viên rất sợ. Bây giờ ông ngồi đó, bình thản như cậu bé con. Hỏi rằng đời thầy có điều chi ân hận. Thầy nói rằng không có chi. Hỏi thầy có bao nhiêu mối tình. Thầy chớp mau đôi mắt già nua mà nói rằng, chỉ có 1.

    Cuộc đời binh nghiệp của thầy hết sức éo le và phải chịu đựng biết bao oan nghiệt bất công nhưng không 1 lời phàn nàn. Ðám học trò chúng tôi, ai là người biết chuyện cũng phải đồng ý rằng thầy xứng đáng làm tướng tư lệnh quân đoàn, và thậm chí làm tổng tham mưu trưởng. Nhưng số mạng đã bắt thầy có lúc phải chờ ra tòa án quân sự, nhưng rồi vụ án bất thành vì không đủ yếu tố buộc tội.

    Ngày nay thầy không còn các con, nhưng có cháu ngoại ở nam Cali. Tuy nhiên khu Bolsa của Little Sài Gòn không phải là xứ Tân Uyên của thầy Nguyễn thọ Lập. Sau bao nhiêu năm ba chìm bảy nổi, người thanh niên của miền Ðồng nai, xứ bưởi Biên Hòa quyết chọn miền đất quê mùa Joplin làm nơi an nghỉ cuối cùng. Mắt vẫn còn tinh tường, chính phủ còn cho phép lái xe. Tai vẫn còn nghe tiếng chim hót trong vườn. Buổi sáng ăn Oatmeal, đọc tin tức trên báo địa phương, buổi chiều lái xe Hoa kỳ đi chợ Mỹ. Mỗi tháng lãnh tiền hưu của hội Thánh nghèo được hơn 700. Thầy nói là phải sống tần tiện vì còn phải gửi chi phiếu cho các tổ chức từ thiện và hội Hồng thập tự Hoa Kỳ.

    Ðến ngày chia tay tại San Jose, nhà tôi mua cho thầy một đĩa bánh Khọt, đặc sản của xứ Nam Kỳ. Ai mà biết được bánh trên đường Story San Jose khác biệt ra sao với hương vị bánh chợ Thủ ngày xưa. Chúng tôi hẹn nhau ngày tái ngộ năm 2010. Thách thức ông Thầy lái xe từ Missouri về Cali. Thầy Lập cam kết sẽ về tu bổ chiếc xe Chevrolet để trở lại thăm học trò vào dịp kỷ niệm 35 năm bỏ nước ra đi.
     
                    

    Tuy nhiên, trước giờ chia tay, thầy Lập ôm lấy chúng tôi với nước mắt tràn đầy. 55 năm mới có một lần gặp lại. Học trò cũng đã là niên trưởng, thầy là đại niên trưởng. Tuy cùng là di dân tại Hoa kỳ, nhưng đất nước bao la, hy vọng gặp lại rất mong manh. Khó lòng gặp lại ông thầy, một người Mỹ gốc Việt thứ thiệt. Ông tư duy như một người quân tử Á châu, tác phong chính trực như một nhà giáo dục Tây phương. Ông là nhà truyền giáo được đồng hóa từ cuộc đời, học thánh kinh nhưng giải thích theo lý trí của kinh nghiệp sống. Sau cùng thầy Lập vẫn muôn đời mang phẩm chất cao quí của một nông dân hết sức chân thật. Sinh ra từ Tân Uyên, bên cạnh sông nước Ðồng Nai, Thầy sẽ sống những ngày cuối cùng tại Joplin, bên cạnh các phụ lưu của con sông Missouri. Trong niềm tin ở thượng đế, thầy cho rằng nơi nào ta sống và phụng sự, nơi đó chính là quê hương. Cuộc sống cũa thầy là một thí dụ mạnh mẽ của con đường hội nhập vào giòng chính của Hoa Kỳ để hy sinh  cho tha nhân.
     
                        
                  Lưu bút của Thầy Nguyễn Thọ Lập trước khi từ giã học trò.

    Thầy Lập của tôi xứng đáng là một người Mỹ gốc Việt. Con người tử tế như ông, phải trải qua hơn ba mươi kỳ lễ độc lập ta mới gặp được một lần. 92 tuổi mà còn khỏe mạnh tinh tường như vậy, ai bảo là trời không có mắt ?
    GiaoChi, SanJose
  • Tạp ghi

    SẼ CÓ MÙA XUÂN PRAGUE VIỆT NAM

    SẼ CÓ MÙA XUÂN PRAGUE VIỆT NAM    

     

       Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất 

         Trong phong trào các quốc gia Đông Âu đấu tranh dành lại tự do dân chủ từ tay cộng sản trước đây, thế giới được chứng kiến một biến cố quan trọng quen gọi là Mùa Xuân Prague (Prague Spring). Prague là thủ đô của Tiệp Khắc ( Czechoslovakia ). Mùa Xuân Prague là giai đoạn giải phóng chính trị của nhân dân Tiệp trong thời gian nước này sau Thế Chiến II bị Liên Sô thống trị. Cuộc Cách Mạng khởi đầu từ ngày 05-1-1968 khi nhà cải cách Alexander Dubcek lên cầm quyền tại Tiệp và kéo dài cho tới ngày 21-8-1968 khi hồng quân Liên Sô và các nước trong Hiệp Ước Warsaw tràn vào dập tắt công cuộc cải cách của Tiệp Khắc. Cuộc đấu tranh của nhân dân Tiệp vẫn kiên trì kéo dài dưới hình tức bất bạo động cho đến khi chế độ cộng sản bị hoàn toàn sụp đổ trong biến cố gọi là cuộc Cách Mạng Nhung (Velvet Revolution) ngày 29-11-1989. Tiệp Khắc trở thành nước độc lập tự chủ, dân chủ và tự do. 

         Có hay không có Mùa Xuân Prague Việt Nam ? Ý “Mùa Xuân Prague” trong chủ đề tập chú vào việc Liên Sô xua quân xâm lăng Tiệp Khắc, biến nước này thành một thuộc địa của Liên Sô. Do đó, nhóm chữ “Mùa Xuân Prague VN” được hiểu là việc quân đội Tầu cộng tràn xuống chiếm đóng nước ta, giống như Liên Sô chiếm Tiệp Khắc, biến Việt Nam thành quận, huyện của Tầu như trong các thời Bắc Thuộc trước kia. Dựa trên cơ sở nào để trả lời rằng có hoặc không có việc quân Tầu cộng sẽ tràn xuống xâm lược VN. Bài phân tích dưới đây rút ra từ kinh nghiệm học hỏi được của nước Tiệp Khắc bên Đông Âu để trả lời cho câu hỏi mà tiêu đề trên đặt ra và ước đoán rằng một Mùa Xuân Prague sẽ đến với Việt Nam trong một ngày nào đó, có thể không xa lắm. 

    I.   Biến cố Mùa Xuân Prague tại Tiệp Khắc.  

         Đảng CS Tiệp thắng trong cuộc bầu cử Quốc Hội năm 1946. Hai năm sau tức là vào tháng 2-1948 với sự hậu thuẫn của Liên Sô, đảng này đã hoàn toàn nắm quyền cai trị Tiệp Khắc, áp đặt nền chuyên chính vô sản kiểu Stalin (Stalinization *) trên toàn quốc, và tuyên bố nền cộng hòa nhân dân Tiệp (people’s  republic), mặc dầu trên nguyên tắc Tiệp Khắc vẫn còn là một chế độ đa đảng. Theo giáo điều Marxit, đây là bước đầu tiến tới xã hội chủ nghĩa và sau cùng là cộng sản chủ nghĩa. Chế độ chính trị tại Tiệp Khắc rập khuôn như Liên Sô. Người VN hẳn không ai không biết chuyên chính vô sản kiểu stalin (stalinization) là cái gì, vì từng người chúng ta ít nhiều đã có kinh nghiệm bản thân. Tuy nhiên việc đảng CS Tiệp thi hành chuyên chính đã không gặp thuận lợi. Lý do là vì thứ nhất, chủ trương kỹ nghệ hóa nước Tiệp theo mô hình của Liên Sô của đảng CS Tiệp là một việc làm đi thụt lùi với thực tế nền kinh tế Tiệp Khắc. Nền kỹ nghệ của Tiệp trước Thế Chiến II sánh ngang với các nước Tây Âu, hơn hẳn các nưóc Đông Âu kể cả Nga. Lúc đó, Liên Sô chỉ được đánh giá là một nước kém mở mang trong khi Tiệp Khắc đang trên đường kỹ nghệ hóa đất nước rồi. Thứ hai, tham vọng thay đổi đường lối kinh tế của chủ tịch đảng CS Tiệp Antonin Novotny đụng phải sức cản là khơi dậy đòi hỏi phải có cải tổ chính trị. Tự do dân chủ đã là một nếp sống đã có sẵn của người dân Tiệp Khắc. Đường lối chuyên chính kiểu stalin của CS đi ngược lại nếp sống đó nên gặp phải sức chống đối quyết liệt của các tầng lớp dân chúng, nhất là của Hội Các Nhà Văn, của sinh viên và tầng lớp trí thức. 

         Từ đầu thập niên 1960, nền kinh tế Tiệp Khắc bước vào thời kỳ trì trệ nghiêm trọng, và sự chống đối của dân chúng trở nên gay gắt hơn. Đảng CS buộc phải dần dần giải trừ chuyên chính vô sản (de-stalinization *) và nới lỏng các quyền tự do dân chủ. Tháng giêng 1968, Alexander Dubcek, một người có tinh thần cải cách, thay thế Novotny làm bí thư thứ nhất đảng CS Tiệp. Ông đưa ra một đề án gọi là Chương Trình Hành Động (Action Program) để tự do hóa Tiệp với sự cam kết thi hành những việc làm cụ thể như ban hành quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận, bãi bỏ kiểm duyệt, tự do hội họp, có thể thành lập chính phủ đa đảng, và nền kinh tế đặt căn bản trên việc sản xuất hàng hóa tiêu dùng hơn là dựa vào nền kỹ nghệ nặng, sức lao động, và nguyên liệu thô. Tuy nhiên chương trình cải cách của Dubcek cũng chỉ mới là những hứa hẹn và có tính cách vá víu, không đi từ căn bản là dứt bỏ luôn chủ nghĩa CS, vì độc tài toàn trị luôn luôn và hoàn toàn đối kháng với tự do dân chủ cả về mặt lý thuyết lẫn hành động. Dubcek vẫn chủ trương tuyệt đối trung thành với chủ nghĩa Marxit-Leninit, vẫn đứng chân trong Hiệp Ước Warsaw và khối Comecon. Ông chủ trương cải tổ là để giữ cho đảng CS Tiệp có một bộ mặt nhân bản hơn được gọi là mô hình mới xã hội chủ nghĩa Tiệp (new model of Czechoslovak socialism).  

         Việc bãi bỏ kiểm duyệt báo chí đã đưa tình thế đi nhanh hơn việc thi hành các cam kết cải cách của Dubcek và vuột khỏi bàn tay kiểm soát của ông ta. Trước tình hình đó, đảng CS Tiệp không còn cách giải quyết nào khác hơn là dùng biện pháp trấn áp để tái lập uy quyền. Nhưng kết quả ngược lại. Tình hình càng ngày càng rối ren hơn, nhất là sau khi có sự ra đời của Hiến Chương 77 vào đầu năm 1977. Lãnh đạo Liên Sô Leonid Brezhnev và các lãnh tụ CS Đông Âu khác lo sợ vị thế của khối CS bị suy yếu đi, nên Brezhnev phải cố gắng chấm dứt hay ít nhất giới hạn sự thay đổi tại Tiệp Khắc. Nhưng ông ta không thành công vì mọi sự đã trễ rồi. Cuối cùng quân đội của khối Warsaw do Liên Sô lãnh đạo đã tiến vào đất Tiệp ngày 21-8-1968 chấm dứt chương trình cải cách của Alexander Dubcek. 

     II.   Chuyên Chính Vô Sản Tại Việt Nam  

         Có thể phân chia chính sách chuyên chính của VGCS ra làm 2 giai đoạn: giai đoạn 1 là chuyên chính triệt để từ khi CS chiếm được miền Nam từ 1975 cho đến 1986. Giai đoạn 2 gọi là thời kỳ mở cửa từ năm 1986 đến nay. (Xin lưu ý, trong bài này, chúng tôi chỉ khảo sát chế độ CS tại VN từ 1975 trở về sau). 

    1.  Giai Đoạn Chuyên Chính Triệt Để 

              Như đã thấy trên đây, đảng CS Tiệp Khắc áp dụng chuyên chính vô sản chỉ 12 năm (1948 – 1960) họ đã tự nhận ra mình lạc hướng và tìm biện pháp điều chỉnh. Biện pháp là làm theo ý nguyện của nhân dân Tiệp, trở về với con đường tự do dân chủ. Điều bất hạnh cho họ là  tự do và dân chủ lại là những khái niệm mâu thuẫn với giáo điều Marxit. Bởi lẽ đó, Liên Sô rất lo sợ nên phải đem quân trấn áp và dập tắt ngay cuộc cải cách tại Tiệp.  

         Vấn đề VN thì có khác. Đảng cộng sản VN cũng biết rất rõ khát vọng tự do dân chủ của nhân dân, nhưng không những chúng đã không đáp ứng như Tiệp Khắc, mà còn luôn luôn dùng biện pháp đàn áp để tiêu diệt. Có thể nói rằng trong suốt 34 năm kể từ ngày chiếm được miền Nam, VGCS chưa hề bao giờ chứng tỏ một hành động cụ thể nào được coi là có ý tháo gỡ nền chuyên chính (de-stalinize), trái lại chúng luôn dùng mọi thủ đoạn để xiết chặt thêm sức mạnh của chuyên chính mà chúng gọi là bạo lực cách mạng. Xin dẫn chứng một số các thí dụ điển hình sau đây như những việc:

    –  Tập trung cải tạo quân cán chính chế độ VNCH và tất cả những thành phần bị chúng nghi ngờ là nguy hiểm sau khi chúng chiếm được miền Nam .

    –  Đổi tiền VNCH, cải tạo công thương nghiệp, hợp tác hóa nông nghiệp, đuổi dân thành thị miền Nam đi vùng kinh tế mới. Tất cả đều có mục đích bần cùng hóa người dân, biến nhân dân miền Nam thành nô lệ cho đảng CS.

    –  Cô lập, uy hiếp, và răn đe lãnh đạo giáo hội của tất cả các tôn giáo để tách giáo dân, tín đồ ra khỏi tôn giáo. Quốc doanh hóa các giáo hội.

    –  Quốc hữu hóa toàn ngành giáo dục, toàn bộ truyền thông đại chúng. Bỏ tù hầu hết những nhà văn nhà báo của chế độ VNCH. 

        Với những chính sách chuyên chính cơ bản trên, chỉ 4 năm sau khi VGCS chiếm được miền Nam thì mọi gia đình đã trở thành khánh kiệt, đất nước xơ xác. Xã hội miền Nam không mấy chốc đã bắt kip bước lùi của xã hội miền Bắc. Gia đình tan rã. Nhân tâm ly tán. Mọi người trở thành vô sản đồng đều. Toàn bộ sinh hoạt xã hội được các nhà văn nhà báo mô tả là một xã hội trại lính. VGCS đã thực sự nhìn thấy chúng thất bại. Nhưng thay vì tháo gỡ chuyên chính như Tiệp Khắc, chúng lại càng chuyên chính triệt để hơn và đưa ra những chính sách lừa bịp tinh vi hơn.  

    2.   Giai Đoạn Đổi Mới hay Mở Cửa 

         Chuyên chính (Stalinization) mục đích là để củng cố chế độ và giữ vững đảng. Đứng trước những bế tắc chính trị và xã hội, đảng CS Tiệp đã can đảm gỡ bỏ chuyên chính (de-stalinization) để cứu nguy đất nước. VN thì không thế, trong hoàn cảnh nào đảng CSVN cũng nắm vững chuyên chính. Với chính sách mở cửa, việc chuyên chính của VGCS có biến thái, nhưng thay đổi một cách rất tinh vi ngõ hầu lòe bịp dư luận. 

         Năm 1986, đứng trước nguy cơ bị diệt vong, Nguyễn Văn Linh, tổng bí thư đảng lúc đó, đưa ra chính sách cởi trói với khẩu hiệu “đổi mới hay là chết”. Ý nghĩa như người ta hiểu là gỡ bỏ chuyên chính (de-stalinize) để cứu đảng. Nhưng hoàn toàn không phải vậy. Sự cởi trói của Linh là một quả lừa vĩ đại. Bọn báo nô trong nước chưa kịp vui mừng vì tưởng được tha hồ ăn nói thì đã lại bị khóa mõm liền tức thì. Trong khi VGCS đổi mới về kinh tế, chúng lại bóp nghẹt hơn về nhân quyền và các quyền chính trị. Và, thay vì trả lại quyền tư hữu cho toàn dân, đảng VGCS lại chỉ lo tư bản hóa các đảng viên của chúng. Chính sách đổi mới của VGCS đưa đến kết quả là đảng viên càng ngày càng trở thành giầu sụ, ngược lại dân chúng càng ngày càng nghèo kiết. Ngày nay các đảng viên đảng CS đứa nào cũng giầu sụ. Bọn này kết hợp lại thành một tầng lớp mà người dân đặt cho cái tên là “tư bản đỏ”. Lũ tư bản đỏ nắm hết mọi nguồn huyết mạch kinh tế trong nước và hoạt động y hệt như Mafia. Nói đến Mafia người ta đã sợ. Mafia nắm quyền cai trị đất nước thì người dân làm sao mà sống nổi. Đặc thù này của VGCS là một tai họa khủng khiếp nhất nhân dân VN phải gánh chịu kể từ ngày lập quốc. Bọn tư bản đỏ càng ngày càng bóc lột tàn nhẫn đến tận xương tủy người dân. Nhân dân VN vì thế càng càng càng trở nên lầm than, kiệt quệ. So sánh với Tiệp Khắc, từ đầu thập niên 1960, nền kinh tế Tiệp bị đình trệ khiến đời sống người dân Tiệp trở nên khó khăn. Mới chỉ là khó khăn thôi chứ chưa đến nỗi đói khổ. Ở VN, thanh niên phải bán sức lao động ở nước ngoài để nuôi gia đình. Con gái bán thân tứ xứ hầu kiếm miếng ăn. Ngay tại đồng bằng sông Cửu Long, nơi xưa kia người dân có tiếng là làm chơi ăn thiệt, thế mà hiện nay nhiều gia đình trở thành thiếu ăn, thiếu mặc. Theo thống kê của một số cơ quan nước ngoài, trong những năm gần đây quả thật kinh tế VN có phát triển, nhưng sự phát triển chỉ tập trung tại một số thành thị và cho một số người nhất định là các đảng viên đảng CS và thân nhân của họ. 90% dân chúng không hưởng được lợi ích gì từ sự phát triển, trái lại họ càng ngày càng trở nên vô sản đích thực. Khoảng cách giầu nghèo càng ngày càng trở nên trầm trọng đúng với câu dân gian thường nói: kẻ ăn không hết người lần không ra.  Ngay chính trong bọn cán bộ CS, có người nhận định, chỉ có trở lại chuyên chính vô sản (re-stalinize) thì mới giải quyết được vấn đề.   

         Từ tình trạng nghèo đói, xã hội VN rơi vào thảm trạng băng hoại đạo đức chưa từng thấy. Nền móng gia đình bật tung từ gốc rễ, trật tự xã hội hoàn toàn bị đảo lộn, những giá trị tinh thần từ hàng ngàn năm nay mất sạch, học đường là nới buôn bán chữ nghĩa và bằng cấp, tinh thần tôn sư trọng đạo đã trở thành lỗi thời, con ngưòi trong xã hội sống và cư xử với nhau bằng dối trá, lừa đảo, và bịp bợm. Một xã hội mất gốc và tan nát không có một bàn tay nào ngăn cản từ giới cầm quyền như thế, chỉ còn cách giải thích duy nhất đây chính là chính sách và đường lối của đảng VGCS. Ngu dân và lưu manh hóa người dân để dễ cai trị đã tỏ ra có một số tác dung nào đó. Cụ thể là việc VGCS sử dụng những thành phần đầu trộm đuôi cướp để trấn áp những người dân lương thiện đứng lên đòi quyền sống như chúng ta thấy trong các cuộc tranh đấu của giáo dân tại Thái Hà và Tam Tòa hiện nay. Công an lùa bọn thanh niên đầu gấu từng có tiền tích và cả chính công an mặc thường phục xông vào tấn công và hành hung những giáo dân tập trung cầu nguyện một cách hòa bình. Chủ đích của công an là khiêu khích giáo dân bạo động đánh trả bọn đầu gấu để chúng có lý do ra tay đàn áp mạnh. có thể gọi đây là phương pháp “lấy độc trị độc” trong y học cổ truyền. VGCS tạo ra một tầng lớp xấu trong xã hội và dùng nó để chế ngự những người đối lập với cường quyền. Về lâu về dài phương pháp lấy độc trị độc này không biết hiệu nghiệm đến đâu, nhưng bè lũ VGCS không có đứa nào học những lời dậy bảo của tiền nhân: nuôi ong tay áo, hay gậy ông đập lưng ông. Tất cả đó là thành quả của chính sách đổi mới. Tất cả mọi đường lối chính sách chỉ là để bảo vệ và duy trì quyền hành, nhưng đồng thời gây tác dụng ngược là tạo ra bất công và từ đó đưa đến tranh đấu. 

    III.   Nguy Cơ Mất Nước Trước Mặt 

         Đặt căn bản lý luận trên định đề chân lý của Marx: đâu có bất công, ở đó có đấu tranh, chúng ta có thể khẳng định rằng dưới chế độ cộng sản hiện nay, cuộc đấu tranh của nhân dân VN là tất yếu, và càng ngày càng trở nên gay gắt và quyết liệt hơn chứ không thể nào giảm cường độ, bởi lẽ dễ hiểu là bất công tại VN càng ngày càng chồng chất theo thời gian chứ không bao giờ vơi đi cả. Mọi diễn biến của tình hình tự nó đi theo cái qui luật luẩn quẩn là càng đấu tranh thì càng đàn áp, và càng đàn áp lại càng đấu tranh quyết liệt hơn. Yếu tố thúc đẩy cuộc đấu tranh của nhân dân VN rõ ràng bắt nguồn từ việc áp dụng mù quáng chuyên chính vô sản (Stalinization) của đảng VGCS. Chuyên chính hay mở cửa cũng vậy, đều là con đường một chiều không có lối rẽ, thô bạo, triệt để, tàn nhẫn, và rừng rú khiến cho người dân không thể chịu đựng nổi phải đứng lên tranh đấu. Đường lối chuyên chính tại VN gay gắt và thúc bách hơn rất nhiều nếu so sánh với của Tiệp Khắc vào thời điểm Mùa Xuân Pruague. Cuộc tranh đấu này vì thế chắc chắn sẽ rất cam go.  

         Mặc dầu VGCS nhận thức rất rõ nguy cơ, chúng cũng đã có đề ra những biện pháp hóa giải, nhưng tựu trung chỉ là trò lừa gạt. Thí dụ như để chấn hưng đạo đức xã hội và lấy lại lòng tin của quần chúng, chúng lại bắt buộc người dân phải học tập đạo đức của Hồ Chí Minh. Muốn làm hòa với đồng bào miền Nam, nhất là những người đã bỏ nước ra đi, chúng triệt hạ nghĩa trang Quân Đội Biên Hòa, áp lực chính quyền Indonesia phá bỏ trại tỵ nạn Galang. Thay vì dân chủ hóa đất nước, chúng dựng lên các tổ chức ma, những tên tranh đấu cuội ở trong cũng như ngoài nước để vô hiệu hóa các hoạt động cứu quốc của những người yêu nước chân chính. 

         Các cuộc tranh đấu ở trong nước, đặc biệt của GH Công Giáo theo thời gian đang dần dần lớn lên trông thấỵ, từ các vụ lẻ tẻ rải rác nhiều nơi, đến Thái Hà là một xứ đạo lớn tại thủ đô, và nay đến Tam Tòa với qui mô giáo phận. Tam Tòa là một dilemma lớn đối với VGCS. Chúng không thể nào giải quyết nổi. Nếu nhưọng bộ, đảng CS chứng tỏ thế yếu. Hàng ngàn, hàng vạn Tam Tòa khác sẽ nổ ra vì người dân không còn sợ nữa. Cũng chẳng có ai sợ kẻ yếu bao giờ. Nếu VGCS thắng và thắng bằng đàn áp thì lòng căm thù CS sẽ càng được nuôi dưỡng và càng lớn lên. Một ngày nào đó lửa Tam Tòa sẽ lại bùng cháy lại. Cần làm sao tinh thần TamTòa tồn tại. Ngọn lửa Tam Tòa chắc chắn sẽ dần dần lan rộng sang các giáo xứ, giáo phận khác. Tiếp theo là đến công nhân chống bất công, đòi quyền lợi, phong trào dân oan khắp nơi đòi đất, đòi nhà, trí thức, sinh viên, học sinh xuống đường chống Tầu cộng xâm lược v.v. Cho đến khi công an và quân đội VGCS phải run sợ trước sức mạnh của nhân dân và không còn khả năng đàn áp được dân nữa thì vấn đề VN sẽ đi vào con đường cùng là quân đội Tầu cộng bắt buộc phải can thiệp.  

         Một câu hỏi cần đặt ra là tại sao Tầu lại phải (chữ PHẢI nhấn mạnh) đem quân vào can thiệp. Có nhiều lý do, nhưng cái lý do chính là miếng mồi VN quá béo bở nuốt đã gần xong, không thể nhả ra được nữa. Và thứ hai là hiện nay không có một thế lực quốc tế nào có đủ khả năng can thiệp vào chuyện này của Tầu. Chỉ có nước Mỹ, nhưng Mỹ đang sa lầy tại nhiều nơi trên thế giới. Nhất là vào lúc này khuynh hướng phóng túng chủ bại đang nắm quyền tại Mỹ. Việc Tầu đem quân vào VN như thế là tất nhiên, nhưng có thể là do VGCS yêu cầu, và cũng có thể không. 

    1.   Tầu can thiệp do VGCS yêu cầu –  Cả cộng sản Tầu lẫn VGCS đều có nhu cầu gắn bó liên hệ với nhau mặc dầu trên căn bản chủ tớ. Điểm này thiết tưởng khỏi cần phải giải thích thêm vì đã quá hiển nhiên rồi. Có 3 lý do khiến đảng VGCS phải cầu cứu quận đội Tầu che chở. Thứ nhất, Chúng ta đã rõ, đối với VGCS thì thà để mất nước chứ không bao giờ chịu mất đảng. Nếu VGCS đã dám bán đất bán biển để mưu sự tồn tại thì tại sao chúng không dám yêu cầu Tầu đưa quân bảo vệ khi sinh mạng đảng của chúng bị lâm nguy?  Thứ hai, VGCS đã phạm quá nhiều tội ác đối với nhân dân VN, cái tội ác lớn nhất là tội bán nước, cho nên chúng không còn con đường quay trở lại với Tổ Quốc nữa vì sợ nhân dân trả thù. Thứ ba, mỗi tên VGCS, nhất là từ cấp ủy trở lên hiện nay đều là triệu phú dollar. Chúng rất sợ mất cái đầu, sợ mất tiền bạc, và sợ gia đình khó tránh họa, nước đến chân không còn chạy đi đâu được nữa.  

         Hiện nay quân đội Tầu đã sẵn sàng ở biên giới, ở Hải Nam , ở Trường Sa và Hoàng Sa. 375.000 lính tầu dưới cái vỏ công nhân đang làm việc tại VN chỉ cần thay áo mang súng vào là thành một đạo quân hùng mạnh rồi. Các làng Tầu ở Móng Cái, Hải Phòng, Hội An, Đà Nẵng, Chợ Lớn, Hà Tiên cũng có thể là những trại lính Tầu sẵn sàng hữu dụng khi cần đến. Tuy nhiên cũng có thể là cả Tầu lẫn VGCS sẽ cần đến một tờ giấy lộn quen gọi là “Hiệp Ước An Ninh Hỗ Tương” để một bên tránh bị mang tiếng xâm lược, và bên kia không bị mang tiếng bán nước. Hiệp ước này có thể đã có sẵn, cũng có thể sẽ có trong tương lai. VGCS sẽ dựa vào cơ sở pháp lý này để cầu cứu với Tầu cho có hình thức phải đạo. Nên biết rằng có tới trên 2/3 thành viên Trung Ương đảng CS Tiệp biểu quyết chống việc Liên Sô chiếm đóng Tiệp. VGCS hẳn sẽ không được như thế.

     

    2.   Tầu tự động can thiệp không do VGCS yêu cầu –   Cho dù vạn nhất VGCS không yêu cầu can thiệp thì Tầu cộng cũng sẽ đem quân chiếm đóng VN vì lý do như đã trình bầy trên. Còn có lý do khác mang nét đặc thù Hán tính là tham vọng bành trướng của người Tầu. Tầu không bao giờ bỏ lỡ cơ hội xâm lăng VN. Xưa nay người Tầu vốn coi VN là một phần lãnh thổ của Tầu, là cửa ngõ giao thương, cũng là bức tường giống như Tây Tạng, Tân Cương, Triều Tiên che chắn cho nước Tầu được kín đáo. Vì thế, nhân cơ hội này Tầu không can thiệp mới là chuyện lạ. Xưa nay lý của kẻ mạnh bao giờ cũng hữu lý. Trong bến cố Mùa Xuân Prague, Brezhnev đã tự đưa ra học thuyết (doctrine) riêng để đem quân vào Tiệp Khắc: Liên Sô có quyền can thiệp bất cứ khi nào một quốc gia trong khối Đông Âu có ý định chạy theo chủ nghĩa tư bản (U.S.S.R has the right to intervene whenever a country in the Eastern Bloc appeared to be making a shift towards capitalism). Tại sao Hồ Cẩm Đào lại không biết đưa ra một học thuyết tương tự? Như chúng tôi vừa nói, lý của kẻ mạnh luôn luôn là có lý kia mà. 

    IV.   Kết Luận 

         Đã có người la lên: mất nước rồi! Mất nước rồi! Tiếng kêu la thảm thiết này không phải là không có lý do. Xét về nhiều mặt, VN thực tế kể như đã mất nước rồi. Về kinh tế, dân ta xài đồ Tầu tới 70%. Về văn hóa, người Việt đọc truyện Tầu, xem phim ảnh Tầu từ thành thị đến thôn quê. Về chủ quyền quốc gia, các vi phạm lãnh thổ, lãnh hải, bắn giết ngư dân không lãnh đạo VN nào dám mở miệng. Người Tầu ra vô VN không cần giấy tờ gì hết. Về lãnh đạo, chóp bu là một thằng Nùng ngu si ngốc nghếch, con rơi của thằng Hồ bán nước, hai thằng nắm thực quyền điều hành đất nưóc hiện nay là Nguyễn tấn Dũng thủ tướng, và Nguyễn Chí Vịnh tổng cục trưởng T2 an ninh tình báo là anh em ruột, con của thằng Nguyễn Chí Thanh, một tên tay sai trung thành tuyệt đối của Tầu cộng. Như thế không mất nước thì còn là gì? Có hai cách mất nước. Mất nước êm thấm như kiểu mưa dầm thấm đất, và mất nước qua một cuộc xâm lăng ồ ạt. Mất nước kiểu mưa dầm thấm đất thì hiện chúng ta thấy rồi đấy. Chỉ còn chuyện này là một ngày nào đó Bộ Quốc Gia Giáo Dục VGCS bắt các thầy cô dậy con em: Tổ tiên chúng ta là người Hán thì chỉ chừng ba, bốn thế hệ nữa, con Rồng cháu Tiên sẽ biến thành con cháu Văn, Võ Đế là xong thôi. Rất tiếc trước đây Thống Chế PéTain dậy trẻ nít Annam : tổ tiên ta là người Gaulois (nos ancêtres sont des Gaulois) trễ quá. Nếu ông cầm quyền nước Pháp lâu tí nữa thì có lẽ chúng ta biến thành tây Phú Lãng Sa hết rồi. Còn như mất nước qua việc quân Tầu ồ ạt tràn sang chiếm đóng nước ta thì không chừng lại là cái may. Chắc chắn sẽ có chết chóc, sẽ có tàn phá, và sẽ có khổ đau. Nhưng thà là thế, chúng ta sẽ có được nhiều lợi thế. Lợi thứ nhất là cái biến cố sẽ làm thức tỉnh toàn dân Việt để mọi người đoàn kết cứu nước. Ai yêu nước, ai theo giặc sẽ lòi ra hết thôi. Lợi thứ hai là chúng ta có bằng chứng cụ thể để đánh thức lương tri và lương tâm thế giới. Họ sẽ giúp đỡ chúng ta. Cho dù mất nước cách nào thì cũng là Mùa Xuân Prague đến với Dân Tộc VN. Nhân dân Tiệp Khắc phải mất 22 năm (1968 – 1990) mới dành lại được độc lập tự chủ. Còn VN thì bao lâu chưa thể biết trước được. Cha ông ta chiến đấu chống Tầu cả ngàn năm kia mà.

     

    Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất 

    (*)  Trong bài này quí bạn đọc gặp các chữ Chuyên Chính hoặc Chuyên Chính Vô Sản và Tháo Gỡ Chuyên Chính mà chúng tôi dịch từ các chữ Stalinization và de-Stalinization trong tiếng Anh. Thật ra Chuyên Chính, chữ tương đương trong tiếng Anh ngưòi ta thường dùng là Totalitarianism hoặc Dictatorship, và Tháo Gỡ Chuyên Chính tức Dân Chủ Hóa, chữ tương đương là Democratize. Ở đây chúng tôi dịch chữ theo cái ý của sự việc, nếu có sai ngữ pháp thì xin quí vị thứ lỗi cho. Thành thật cám ơn. 

    Nhân dân Tiệp Khắc phải mất 22 năm mới dành lại được độc lập tự chủ, còn VN thì không thể biết được là bao lâu.

  • Tạp ghi

    Bác Cháu Lên Mạng

    Chào Cu Tèo,

    Đọc “Đơn Xin Côn Đồ Khoan Hồng”, Bác đây nhột quá, xấu hổ qúa, mặc dầu Bác đà thú tội nhiều lần với Tèo, con đuờng Bác đi là cực kỳ Bi Đát. Bác viết hoa hai chữ “Bi Đát”, vì trên thế gian này, đã có không ít lãnh tụ đưa nước đưa dân họ vào con đường bi đát, nhưng con đường bi đát của họ chỉ hẹp, ngắn, vì họ sớm nhận ra con đường họ đang đi là bi đát, nên họ hè cổ chạy rẽ sang ngà khác mà đi. Chứ không vĩ đại và trường kỳ như con đường bi đát do Bác dẫn đi.Như thế gian này chỉ có một ông Giáo Hoàng, nên khi nào người ta cũng phải viết hoa chữ Pope, thế gian này cũng chỉ có con đường Bác đi nó bi đát đến độ không giống ai, không ai có, nó độc nhất vô nhị, nên bác phải viết hoa là vậy. Rồi Tèo sẽ thấy Việt Nam ta sau này, nhà nhà sẽ treo ngay bàn thờ bốn chữ đại tự cho con cháu nhớ mãi đời đời, “BÁC ĐI BI ĐÁT”.

    Nó bi đát như Bác đang trên đường vô Nam. Hết ăn Phở Dâm ở Kỳ Anh nay lại ặp Cơm Tù ở Quảng Bình, quê của Đại Tướng Võ Nguyên Giáp. Ôi làm sao Bác kể cho đầy đủ được, mắt  Bác thì kèm nhèm, đánh máy thì như mổ cò, làm sao tả cho Tèo đâỵ .Thôi để Bác chôm tạm bài phóng sự của báo của Tuổi Trẻ, mô tả giống như tình huống Bác đang…chịu trận. Tèo chịu khó đọc nha . 

     

    “Chủ quán thuê côn đồ lập “hàng rào người” chặn đầu, khóa đuôi xe, đếm khách và xua khách vào quán. Bọn đầu gấu xô ngã và dọa đánh cả người già chỉ vì không ăn “cơm tù”.

    Với những thủ đoạn dằn mặt nhà xe, hầu như tất cả xe khách xuất phát từ Bến xe Lam Hồng đều phải đưa khách vào ăn “cơm tù” ở quán Khánh Hòa II (Tuy Phong, Bình Thuận) và quán Khánh Hòa ở Quảng Bình.

    Những gì diễn ra ở quán cơm tù Khánh Hòa tại Quảng Bình còn kinh khủng hơn tại Bình Thuận.

    Đếm người, nhốt khách

    Ngày 28-6, phóng viên cải trang thành hành khách trên xe 37H-7838 từ Nghệ An đi TP.HCM. Khoảng 11 giờ trưa, xe tấp vào quán cơm Khánh Hòa nằm trên địa bàn xã Thanh Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Xe vừa vô sân, sáu nhân viên mặt lạnh như tiền khóa đuôi xe, hai đứa khác đứng chắn ngay cửa xe đếm người.

    Sau một chặng đường dài nắng nôi, khách lục tục bước xuống. Chờ người cuối cùng ra khỏi xe, hai đầu gấu nhảy lên kiểm tra. Biết chắc không còn ai ở lại, nhà xe mới đóng cửa. Khoảng hơn 60 hành khách, phần lớn là dân nghèo, chưa kịp vươn vai, duỗi chân đã bị lùa vào quán. Một vài người chưa kịp vào liền bị chúng chửi: “Đ.M., vào quán đi. Bọn bay đứng ở đây làm gì?”. Mọi người cun cút làm theo.

    Một cụ già mặc áo lính định bước qua đường. Hai tên đầu gấu một mặc áo đỏ, một áo vàng nhanh như chớp nhảy theo, chụp hai cánh tay cụ, gằn giọng: “Đi đâu? Đ.M., mày ra đường tai nạn ai chịu trách nhiệm?”. Cụ già vừa vùng vẫy thoát khỏi hai gọng kềm vừa la to: “Tôi đi ra đường hóng mát là quyền của tôi!”. Ngay lập tức, hai tên này xô cụ ngã chỏng chơ dưới đất. Hai nhân viên nữ của quán chạy ra, nắm hai tay cụ già lôi xềnh xệch trở vô. Cụ vùng vẫy và la to: “Bớ làng! Hai con cave này nó đánh tôi!”.

    Hơn chục nhân viên trong quán nhào ra, vây tròn quanh cụ già. Trên 400 người khách trong quán không ai dám can ngăn. Cụ nhìn quanh thấy vậy đành ngoan ngoãn đứng dậy đi vào quán, không nói thêm lời nào nữa. Sau này, chúng tôi xác định tên côn đồ mặc áo đỏ là Bình – bà con với chủ quán. Trước khi xảy ra vụ xô ngã cụ già, tên này đã đòi đánh một hành khách trên một chiếc xe khác và người này đã điện thoại báo Công an huyện Lệ Thủy.

    Những bữa cơm tủi nhục

    Quán Khánh Hòa có mặt tiền hơn 100 mét, bên cạnh quốc lộ 1A, nằm trong một cụm dân cư nhỏ gần ngã ba Cam Liên. Sức chứa của quán ước chừng 1.000 người. Bên trong quán chia làm hai khu. Khu nhà ăn rộng, bẩn thỉu dành cho hành khách. Khu nhà ăn nhỏ, sạch sẽ hơn dành cho nhà xe, hai bên liên thông với nhau.

    Cùng với hơn 400 hành khách đang đói khát, chúng tôi chen vào khu vực nhà ăn lớn. Cũng như quán “cơm tù” Khánh Hòa II ở Bình Thuận, tại đây, hành khách được bán ba loại vé. Vé cơm giá 30 ngàn đồng, vé phở, bún 25 ngàn đồng. Sau khi mua vé, khách tự động lấy đĩa hoặc bát bằng nhựa ở chồng bát đặt trên quầy đi tới quầy bán thức ăn.

    Trên tay chúng tôi đã có một cái vé, một cái bát nhựa. Phải khó khăn lắm mới chen chân vào được quầy bán thức ăn. Cô gái phục vụ nhìn vé, thò tay bốc một ít bánh phở, rồi thò tay bốc thịt đã xắt mỏng bỏ vô bát, sau đó cầm cái xô nhỏ, chẳng biết nước gì đục đục đổ vào bát. Sau khi nhận được phần thức ăn, một thanh niên là hành khách buột miệng nói nhỏ: “Cơm tù! Cơm tù!”.

    Nắng nóng, mùi phở, bún đã chua hòa trộn với mùi mồ hôi ngột ngạt nhưng ai nấy lầm lũi ngồi ăn. Không một ai nói to với ai một tiếng. Quán đông nghịt, tuy nhiên tất cả hành khách ở đây đều bị kiểm soát chặt chẽ. Hàng chục nhân viên cả nam lẫn nữ chia đều các khu vực, soi mói cử chỉ của từng người.

    Trấn áp đến mức… mắc nghẹn

    Ngồi trước bát phở nước lờ nhờ, sợi bánh đã bốc mùi, thịt cũng có mùi, chúng tôi phát hiện phở ở đây nấu bằng thịt heo ôi. Đang lưỡng lự chưa biết có nên ăn hay không thì một nhân viên nữ trạc tuổi 40 xuất hiện lù lù trước mặt. “Ăn đi! Không ngon à?”. Chúng tôi vội lảng tránh, bảo đi đường mệt chưa ăn vội và gọi thêm một chai bia. Chừng năm phút sau, nhân viên nữ đó lại xuất hiện với giọng lạnh lùng: “Ăn đi! Không hợp khẩu vị à?”. Đành phải ngậm miếng thịt ôi vào miệng, chờ bọn nó ngó lơ để nhả ra.

    Hai mươi phút sau, giả vờ đi toilet chúng tôi trốn ra sân. Vừa tới mép đường lộ, bỗng thấy cánh tay trái tê nhức. Tên mặc áo đỏ (sau này biết tên là Bình) cảnh giới hàng rào bên ngoài nhào tới lúc nào không biết. “Đ.M., mày đi đâu?”. Tôi nói muốn sang bên kia đường mua bao thuốc lá. Nó bảo: “Thuốc trong quán có, mày muốn tao đập chết à?”. Hai nhân viên nữ lại chạy ra, lại chửi: “Thằng kia, mày chê cơm, chê phở không ăn thì thôi, đừng có lộn xộn!”. Không muốn dây dưa, những hành khách đã ăn cơm xong đứng gần đấy vội lảng tránh ra xa.

    Dường như tất cả hành khách đều đã ngầm hiểu luật ở quán cơm Khánh Hòa. Khi có chuyện xảy ra, mọi người ai nấy đều tỏ ra dửng dưng, coi như không biết y như trường hợp cụ già bị xô ngã và kéo đi. Giờ cao điểm, hàng trăm người tự giác xuống xe, tự giác vào quán, lặng lẽ mua vé, xếp hàng, lặng lẽ ăn. Những bộ áo quần nhàu nát, những mái đầu ngồi trong nhà ăn lớn ghé sát vào nhau rì rầm. Khung cảnh y hệt chốn địa ngục trong một cuốn phim ma. “

    Bác nhục quá đổi. Bác chịu không thấu con đường Bác đi sao mà Đại Bi Đại Đát thế  này.

    Cho Bác ngừng meo nơi đâỵ

    Không quên mừng Tèo đã sớm thoát khỏi con đương Bi Đát Bác đi.

    Bác Hồ

  • Tạp ghi

    Thiếu Phụ : GẶP GỠ ĐẦU NĂM CỌP

    Hi Cúc Vàng, Thanh Yến.

     

    Hôm qua đi với Phan Tưởng Niệm ra bến Bạch Đằng ngồi nhìn sông nước.

    Chợt viết bài thơ Buồn xưa, gởi hai nàng thơ để đọc cho vui.

    Tiếc rằng anh không biết E-mail của Nhật Hạ.

     

    Buồn Xưa.

     

    Ba mấy năm rồi tóc đã phai
    Mộng xưa trăn trở đớn đau hoài
    Bến xuân ước cũ không quay lại
    Chua xót biển đời ai gọi ai…!

     

    Ba mấy năm rồi tôi đợi ai !!!
    Chiều ngồi trên bến lệ ngắn dài
    Dòng nước xôn xao bào kỷ niệm
    Nhớ người tóc bím chửa nguôi ngoai.

     

    Nhìn sóng dập dềnh lục bình trôi

    Thời gian bóng cũ một mình tôi
    Lăn tăn bóng nước em ẩn hiện
    Em khóc hay cười, tôi mặn môi.

     

    Em hỡi tình hoang ! hồn trở lại !!!
    Nhớ anh không, bến cũ sông xưa ?
    Nhớ mang về ngọn triều năm đó
    Và tình người đã khóc tay đưa.  

    Nhìn lục bình trôi nhớ mặt người
    Chiều xưa tóc rũ chỉ đôi mươi
    Đớn đau em nhận… thương yêu gởi
    Ngọn sóng xô tầu em biệt tôi… 
     

    Tạ ơn em một nụ môi hồng
    Cám em mật ngọt ngóng trông

    Bên kia sương tỏa mờ tâm ảnh
    Bên này ngớ ngẩn ánh đèn mong 

     

    Một buổi chiều ngồi nhìn lục bình trôi trên bến Bạch Đằng Sài Gòn.
    Jan. 25,2010.

    ————————————————————————————————————-

    Anh Chinh Nguyên oi

    Cám ơn anh bài thơ Buồn Xưa với chút man mác buồn nhưng hay lắm .

    Em cũng gởi anh xem bài viết của chi Thiếu Phụ về buổi gặp mặt hôm vừa rồi . Luôn vui anh nhé . Tối thứ 6 anh nhớ về chơi cùng tụi em .

     

    GẶP GỠ ĐẦU NĂM CỌP

    Đang ngồi làm việc, cell phone "reng …" vang dội, nhìn tên người gọi là NHẬT HẠ SG, ồ, chắc có chuyện gì đặc biệt rồi, nên người đẹp Sài Gòn mới gọi phone, hay là Nhật Hạ từ giã đi Mỹ ??? Ý nghĩa thoáng qua, thiếu phụ vội bấm nút
    – Alo, nghe người đẹp ơi, có chuyện gì đặc biệt ha ?
    – Nói nghe nè, tối nay thiếu phụ rảnh không, đến phòng trà "Tình Ca" trên đường Phổ Quang đi nha, ở đó vừa có hát với nhau, vừa có khiêu vũ nữa – có người từ San Jose về nè, là anh Phan Tưởng Niệm đó, anh nhờ NHạ mời thiếu phụ, đến chơi cho vui nha

    Woa, giọng nói ngọt ngào mời mọc như vậy, làm sao thiếu phụ nói "không rảnh" được chứ, lại thêm có anh Phan Tưởng Niệm về nữa

    – Rồi, D’acord, gặp nhau mấy giờ ?
    – 8g00 tối ha, nếu từ đây đến tối Hạ không gọi gì nữa, thì chị cứ vậy mà đến đó nha
    – D’acord, d’acord

    Đến 6g00 chiều, không nghe Nhật Hạ gọi gì nữa, nhưng, linh cảm thấy cần hỏi lại cho chắc ăn, thiếu phụ gọi lại cho NHạ
    – Sao hả Nhật Hạ ui, kế hoạch có gì thay đổi không ?
    – Hihihi, dạ có, Hạ cũng vừa định gọi cho chị hay, vì ngày mai anh PTN đã phải về Mỹ, nên tối nay, mình đổi chỗ gặp, ra Sài Gòn phố uống cafe trò chuyện, đến 10g00 đêm thì về nha
    – Ủa, chứ nếu đi Tình ca, thì mấy giờ về ?
    – 12g00 đêm
    – Hả ??? Thôi vậy đi Sài gòn phố đi, vì trễ nhất 10g00 thiếu phụ phải về để rước con gái á
    – Rồi 7g30 tối gặp ở SGòn phố nha – có 3 chị em mình, với anh PTN và anh LTPhong nữa đó
    – Ja, 7g30 tối gặp nhau há

    "Lọ mọ" tìm ra được Sài Gòn phố, nhìn đồng hồ đã 7g45, thôi chết, mình trễ giờ rồi, nhìn quán cafe, nửa tin, nửa ngờ, thiếu phụ lấy cell phone gọi Nhật Hạ – Một câu chào cất lên, tiếng đàn ông

    – Thôi chết, mình có bấm nhầm tên không ?

    Nhìn lại cell phone, đúng tên Nhật Hạ rồi, ngập ngừng thiếu phụ còn chưa biết nói gì, thì đã nghe giọng nói tiếp tục hỏi "thiếu phụ đến chưa ?" – Một tia sáng "loé lên"

    – A, dạ, anh Niệm phải không ạ – Thiếu phụ đến Cafe Góc phố rồi nè
    – Không phải Góc phố – Sài Gòn phố

    Thiếu phụ vội tìm tấm biển tên – "dạ, đúng rồi, Sài Gòn phố, anh và các bạn đang ngồi ở đâu vậy". Sau lời "chỉ dẫn " của anh PTN, Tphụ tìm đường đi vào, còn đang ngơ ngác "trước ngã 3 quán" thì nghe tiếng chị Cúc vàng gọi, thì ra không yên tâm, nên chị Cúc Vàng đã chạy ra để dẫn thiếu phụ vào

    Sau "màn tay bắt, miệng chào", vừa ngồi xuống thì thức ăn, nước uống cũng vừa được mang ra, sẵn có service, chị Cúc Vàng nhờ chụp luôn 4 anh em "1 pô" làm kỷ niệm

    Hình chụp xong, thiếu phụ quay qua nhìn kỹ anh PT.Niệm
    – Anh Niệm nè, hôm tháng 7, họp mặt bến SM ở San Jose, xem hình thấy anh ốm quá, nghe nói anh bênh. hôm nay anh sao rồi
    – Ừ, lúc đó, đúng là vừa bệnh xong, hôm nay anh khoẻ, không sao
    – Dạ, hôm nay nhìn lại sau một năm gặp mặt, thiếu phụ thấy anh Niệm như trẻ ra hơn năm trước đó
    – Đẹp trai hơn nữa chứ

    Tiếng chị Cúc Vàng vang lên, làm một tràng cười vỡ ra, mọi người vừa ăn, vừa uống, vừa thăm hỏi, trò chuyện với nhau, vì thật ra chị Cúc Vàng, Nhật Hạ, thiếu phụ cũng lâu lắm rồi mới có dịp gặp lại, nhưng đối tượng được thăm hỏi nhiều nhất vẫn là anh Phan Tưởng Niệm

    Anh kể chúng tôi nghe một vài kỷ niệm khi anh về SGòn, nhất là đêm giao thừa đầu tiên, anh về lại Việt Nam trong dịp tết Nguyên Đán, 1g00 đêm, một mình anh ngồi lặng lẽ trong Lăng Ông – chợ Bà Chiểu mà "ôm sầu mênh mông"

    – ủa, vậy sao lúc đó anh không gọi cho Nhật Hạ ra trò chuyện cho vui

    Sau tràng cười giòn tan, Nhật hạ nói "Lúc đó, Hạ và anh PTN chưa biết nhau"

    Nói đến tết, phong tục được nhắc đến, anh PTN đã lì xì cho 3 chị em mỗi người một tờ "đô la may mắn".

    – Woa, hồm rày, ở Sgòn râm ran chuyện tìm tờ 2USD để lấy may năm mới
    – Thiệt hả
    – Dạ phải, tuy thiếu phụ không hiểu vì sao – nhưng thấy báo đăng mọi người đổ xô tìm tờ 2USD, vì tờ 2USD sẽ đem lại may mắn cho mọi người, nay thiếu phụ cũng có may mắn rồi, thiếu phụ cảm ơn anh PTN nhiều nha.

    Qua chuyện lì xì, chúng tôi lại nhắc đến những kỷ niệm của lần gặp trước, nhắc đến bến SM … một chút không khí chùng xuống khi chúng tôi nhắc đến anh Phạm Sĩ Trung, và Thiều Nhiên, hai người bạn thơ đã ra đi … nhưng rồi khi nhắc đến dịp "Tam nương OC" về SGòn vào tháng 10 vừa qua, với biệt tài "hài hước" chị Cúc Vàng luôn làm cho 4 ACE chúng tôi có những nụ cười vui trở lại trong niềm thân ấm tình bạn bè.

    Đến 9g00 đêm, thì anh CHINH NGUYÊN – cũng là một cư dân của vùng "Săn Hô Zê", BẠN THƠ VĂN của anh PTN xuất hiện, anh Chinh Nguyên vốn đã quen với NHạ và chị CVàng từ trước, nên dù anh chưa kịp ngồi xuống thì tiếng cười đùa từ anh đã râm ran rồi, và kh
    ông khí trò chuyện lại thêm rộn rã

    Nửa tiếng sau, anh Lã Thế Phong xuất hiện, một màn chào hỏi giới thiệu diễn ra, dù đã biết "danh tánh" của nhau, nhưng anh PTN và anh LTP lần đầu gặp mặt, nên một chút thời gian lắng đọng, để hai anh làm quen với nhau, và anh LTP làm quen với anh Chinh Nguyên

    Đây rồi, "túm" được cậu bé service, chị Cúc Vàng nhờ "em" chụp giùm các anh chị "1 pô" đi nè, ngôi xoay lại, xoay lại

    Í, khoan, khoan, chụp cái nữa cho chắc ăn

    Chiếc máy được chuyền tay cho nhau xem, câu chuyện lại tiếp tục, đề tài lần này là xoay quanh các bài thơ, văn phong, con chữ trong thơ, chữ nôm, chữ Hán … Anh Chinh Nguyên, anh PTN, anh LTP đều là những "lão làng", từng "chinh chiến" nhiều năm trên các diễn đàn thơ văn hải ngoại, nên xem ra câu chuyện ngày càng thêm rôm rã

    Chết, 10g00 đêm rồi, nhớ đến con gái đang đợi, thiếu phụ vội xin phép cáo từ các anh chị, thiếu phụ ra về trước, những bàn tay giơ ra nắm tay thiếu phụ, những câu chào, những lời dặn dò được các anh chị em nhắn gởi – Anh Phan Tưởng Niệm đưa chân thiếu phụ ra đến cửa rồi mới quay vào, với lời chúc nhau "một năm mới an lành, nhiều may mắn" và lời hứa hẹn "năm sau gặp lại" …

    Trên đường chạy về, gió Xuân thổi nhè nhẹ bên tai, dư âm cuộc gặp mặt làm thiếu phụ bổng dưng nhớ đến, cũng một ngày cuối tháng giêng năm trước, khi Xuân cũng sắp về, một cuộc họp mặt đông đúc hơn, đầy đủ hơn, có chị Hà Khánh Phương, có anh Đông Hoà … cùng nâng ly chúc mừng sinh nhật Nhật Hạ … Mới đó đã một năm rồi, bữa nay, tuy chưa đến ngày sinh nhật của NHạ, nhưng cũng vài bữa nữa thôi, chị HKP năm nay đã ở xa xôi tận San Jose … không biết giờ này chị đang làm gì, có nhớ đến chúng tôi bên này không …

    Mãi suy nghĩ, suýt nữa thiếu phụ "chạy luôn", may mà gần đến ngã tư, xe cộ đông đúc, thiếu phụ rà thắng lại, và … thấy con gái đang đứng nhìn mẹ một cách trông ngóng. Ui chà, thiệt "tội llỗi, tấp xe vào, rước con gái, thiếu phụ vừa chạy, vừa kể cho con gái nghe về cuộc họp mặt với các cô, các chú, các bác … như một "lời tạ lỗi" vì sự trễ nãi, nhưng cũng như một sự giải toả cảm xúc trong lòng …

    Chiều nay, mở mailbox, thấy thư chị Cúc vàng gởi kèm những tấm hình chụp hồi hôm, ngắm nhìn lại những gương mặt thân quen, thiếu phụ lại thấy bồi hồi … Một chút vui với thân tình của Nhật Hạ, của chị Cúc Vàng đã không quên gởi hình cho thiếu phụ, một chút bâng khuâng khi nghĩ đến anh PTN giờ này chắc đang ngôi trên bầu trời cao …

    Cảm ơn anh PTN đã giành thời gian hiếm hoi ở Sgòn để gặp gỡ NHạ, chị CVàng, TPhụ … Cảm ơn tình thân của các anh chị, các bạn đã đem lại cho cuộc sống thêm một niềm vui nhỏ

    Mong là, tất cả các anh chị em, các bạn sẽ luôn bình an, mạnh khoẻ, nhiều may mắn trong cuộc đời để có lúc chúng ta lại có thể gặp nhau, giành cho nhau một chút tình thân quý hiếm, trong cõi sống vô thường này

    rose1c.gif rose1c.gif rose1c.gif rose1c.gif rose1c.gif rose1c.gif rose1c.gif rose1c.gif rose1c.gif rose1c.gif rose1c.gif rose1c.gif rose1c.gif rose1c.gif rose1c.gif rose1c.gif rose1c.gif

    Thiếu Phụ
    Tue Jan 26, 2010 4:36 am

  • Tạp ghi

    TS Trần An Bình : Vạ Tuyệt Thông cũa GHCG dành cho người theo Cộng Sãn

    "Anh em không dược làm tôi hai chũ !!"

     


    Ts Trần An Bài:

    Vạ Tuyệt Thông cũa GHCG dành cho người theo Cộng Sãn

          

    Thánh lễ tạ ơn và chào đón Đức Tân Tổng Giám Mục Phó Hà Nội Phêrô Nguyễn Văn Nhơn
     
            Vạ Tuyệt Thông của Giáo Hội dành cho người theo Cộng Sản

     

     
    Học thuyết Cộng Sản (CS) là một quái thai của nhân loại trong thế kỷ 19 và 20. Bất cứ cá nhân nào, tổ chức xã hội nào, quốc gia nào hoặc tôn giáo nào cũng đều có bổn phận và trách nhiệm tiêu diệt cái quái thai này, để bảo vệ thế giới của con người, vì học thuyết CS không nhằm phục vụ con người mà nhằm tiêu hủy con người.

    Các quốc gia Đông Âu đã nhận ra điều này và đã thành công trong việc tiêu trừ nó vào trước lễ Giáng Sinh năm 1989. Điều trớ trêu và đáng buồn là hiện nay trên thế giới chỉ còn 4 quốc gia theo chủ nghĩa CS và Việt Nam lại là một trong số những quốc gia ấy: Trung Cộng, Cuba và Bắc Hàn.

    Ngay khi tà thuyết CS ra đời, Giáo Hội Công Giáo (GHCG) là một trong những tôn giáo đã chống lại nó một cách mạnh mẽ nhất. Đức Giáo Hoàng Piô XII vào năm 1949 đã ra Sắc Luật chống chủ thuyết Cộng Sản và tuyên bố áp đặt vạ tuyệt thông cho tất cả những người Công Giáo nào hợp tác với các tổ chức Cộng Sản (The Decree against Communism is a 1949 Catholic Church document (by Pope Pius XII) which excommunicates all Catholics collaborating in communist organizations. ) Sắc Luật này đã tạo nên một hậu quả khủng khiếp nhất chưa hề có trong lịch sử GHCG là số người bị khai trừ khỏi GH lên tới cả triệu người. Dù biết rõ hậu quả như vậy, nhưng GH vẫn tiến tới, vì hai học thuyết Công Giáo và Cộng Sản không thể đội trời chung với nhau.

    Tưởng cần nhắc lại là Sắc Luật nghiêm khắc này chỉ là để thi hành một Thông Điệp chống Cộng đã có từ năm 1937, với tên là "Divini Redemptoris" (Của Đấng Cứu Thế Thần Linh).

    Vào ngày 15-7-1948, báo L’Obsservatore Romano, cơ quan ngôn luận chính thức của Toà Thánh đã đăng tải một Sắc Luật chống Cộng, nhằm công bố vạ tuyệt thông cho tất cả những ai "tuyên truyền các học thuyết Cộng Sản nhằm cổ võ thuyết duy vật và chống báng Kitô giáo". Vào thời điểm đó, Sắc Luật có chủ đích ra vạ tuyệt thông cho các đảng viên Đảng CS Ý.

    Có thể nói: ngược dòng lịch sử GHCG suốt 100 năm qua, các vị Giáo Hoàng Piô IX, Lêô XIII, Thánh Giáo Hoàng Piô X, Piô XI, Piô XII, Gioan XXIII, Phaolô VI, Công Đồng Vatican II và Đức Gioan Phaolô II đều liên tục lên án chế độ Cộng Sản một cách mãnh liệt. Đức Chân Phước Giáo Hoàng Gioan XXIII đã ban hành án vạ tuyệt thông cho Fidel Castro, lãnh đạo cuộc Cách Mạng CS Cuba mà CSVN vẫn nhận là anh em nối khố để canh chừng thế giới: "Anh ngủ, em thức". Chỉ có ĐGH Bênêdictô XVI mới lên ngôi được 5 năm và có lẽ đang dồn nỗ lực vào việc phục hồi các Giáo Hội tại Âu Châu và Mỹ Châu, nên đã lơ là trong việc chống lại 3 quái thai CS đang hoành hành tại Á Châu là Trung Quốc, Bắc Hàn và VN thôi.

    Các văn kiện của Toà Thánh minh định rằng tất cả những tín hữu nào bảo vệ hay cổ võ học thuyết Cộng sản thì "đương nhiên" bị khai trừ khỏi Giáo Hội. (Q.4 If Christians declare openly the materialist and antichristian doctrine of the communists, and, mainly, if they defend it or promulgate it, “ipso facto”, do they incur in excommunication ("speciali modo") reserved to the Apostolic See? R. Affirmative) .

    Ngoài ra, những tín hữu nào bỏ phiếu cho đảng CS hoặc gia nhập đảng này hoặc viết lách cho các báo chí CS thì cũng cùng chung số phận như vậy.

    Tất cả những luật lệ trên cho tới nay vẫn còn hiệu lực, vì chưa hề có một văn thư nào của Toà Thánh hủy bỏ, tu chính hoặc sửa chữa nội dung các Sắc Luật chống Cộng kể trên. Cho nên, một tín hữu Công Giáo – bất kể thuộc thành phần nào: từ Giáo Hoàng, Hồng Y, Tổng GM, Giám Mục, Linh Mục, tu sĩ nam nữ đến giáo dân – mà hợp tác, ca ngợi, tán đồng học thuyết và chế độ CS dưới bất cứ hình thức nào, đều đương nhiên bị vạ tuyệt thông, tức không còn phải là phần tử trong Giáo Hội Công Giáo nữa.

    LẬP TRƯỜNG HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM
    Thái độ của Hội Đồng Giám Mục VN đối với chế độ CS kể từ khi Hồ Chí Minh và các đồng chí của ông đặt ách thống trị trên Quê Hương Việt Nam như thế nào? Một cách tổng quát, chúng ta có thể tóm lược lập trường chống Cộng khác nhau của HĐGM/VN như sau:

    – Dưới thời Đức Hồng Y Trịnh Văn Căn, Tổng GM Hà Nội, Hội Đồng GMVN không muốn có bất cứ liên hệ nào với Nhà Nước CSVN. Đó là một tinh thần chống Cộng quyết liệt.

    – Đến thời Đức Cha Nguyễn Minh Nhật, Giám Mục Xuân Lộc, làm Chủ Tịch HĐGM thì các Giám Mục viết kiến nghị yêu cầu Nhà Nước thỏa mãn các yêu sách của Giáo Hội, ví dụ: xin gia tăng chiêu sinh, tự do truyền chức linh mục, trả lại tài sản cho Giáo Hội, v.v… Các bản kiến nghị đó cũng được gửi cho các cơ quan ngôn luận trong và ngoài nước để tạo sức ép trên Nhà Nước. Kết quả, Giáo Hội không được gì, vì Nhà Nước không bao giờ cứu xét các kiến nghị đó.

    – Đến thời ĐC Nguyễn Văn Hòa, Giám Mục Nha Trang, làm Chủ Tịch HĐGM thì cũng có kiến nghị, nhưng không công bố mà đến gặp thẳng các viên chức Nhà Nước để đặt vấn đề. Nói cách khác, HĐGM tìm cách đối thoại thay vì đối đầu. Kết quả là Nh&ag
    rave; Nước áp dụng chế độ "Xin-Cho". Trên thực tế, có một vài kết quả trong chế độ "Xin – Cho" này. "Xin" có điều kiện thì "Cho" cũng có điều kiện. Hai bên đều có lợi.

    – Khi ĐC Nguyễn Văn Nhơn, Giám Mục Đà Lạt, làm Chủ Tịch HĐGM thì chính sách đối thoại vẫn được duy trì và còn được thăng hoa bằng "lý thuyết thực dụng" nữa.

    Kể từ khi Hoa Kỳ – Trung Cộng bắt tay nhau và thoả thuận cho Cộng Sản Bắc Việt cưỡng chiếm miền Nam và đặt ách thống trị trên toàn lãnh thổ VN, Vatican vẫn thường xuyên gửi các phái đoàn đến thương thuyết với Hà Nội, mặc dù hai quốc gia Vatican và VN chưa thiết lập quan hệ ngoại giao.

    Giai đoạn đầu, với Trưởng phái đoàn là Đức Ông Celli, cuộc gặp gỡ đôi lúc rất căng thẳng, đến nỗi có lần đã phải đập bàn đập ghế. Nhưng đến thời Đức Ông Migliore làm trưởng phái đoàn thì bầu không khí có vẻ dịu hơn và cho đến thời Đức Ông Parolin thì cuộc đối thoại mang nhiều nụ cười cởi mở. Mới đây nhất, khi Đức Ông Nguyễn Văn Phương – người liên tục có mặt trong phái đoàn Vatican đối thoại với Ủy Ban Tôn Giáo Nhà Nước – chuẩn bị về hưu thì xuất hiện một khuôn mặt mới, trẻ trung, hoạt bát hơn. Đó là Đức Ông Cao Minh Dung. Có người để ý theo dõi và ghi nhận rằng: Nhà Nước tiếp đãi phái đoàn cũng như cá nhân Đức Ông Dung một cách nồng hậu khác thường. Qua cách ứng xử của Đức Ông Dung với Đức Tổng Kiệt trong những ngày qua, có dư luận còn cho rằng CSVN đã "cài" được Đức Ông vào trong guồng máy của Vatican rồi. Dư luận đúng sai tới đâu thì chưa rõ, nhưng xưa nay, những trò tiểu xảo cài gián điệp của Bắc Việt vào guồng máy VNCH vẫn còn làm nhiều người khiếp sợ!

    Người ta thấy rõ bầu khí "đối thoại" giữa Vatican và CSVN cùng chung một nhịp với mối quan hệ giữa HĐGMVN và guồng máy cai trị của Hà Nội.

    Tưởng cần phải ghi nhận một điểm khá đặc biệt và rất nghịch thường ở đây là Giáo Hoàng vừa là Giáo Chủ Đạo Công Giáo, kế quyền Thánh Phêrô và Đại Diện Đức Kitô trên trần gian này vừa là Quốc Trưởng của quốc gia Vatican, một quốc gia mà diện tích chỉ rộng bằng khuôn viên Dinh Độc Lập của VNCH thôi. Với quyền uy Giáo Hoàng, các ngài có hàng trăm triệu tín đồ trên khắp thế giới và đã ra vạ tuyệt thông cho hàng triệu tín đồ "thiên Cộng". Nhưng với tư cách Quốc Trưởng Vatican, các ngài chỉ có khoảng 800 công dân mang quốc tịch Vatican, nhưng Sứ Thần Toà Thánh hiện diện ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Cho nên, mặc dầu Fidel Castro đang mang án vạ tuyệt thông mà Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II vẫn đến thăm, bắt tay Fidel Castro, cử hành Thánh Lễ công khai mà không ai phân biệt được ngài đến Cuba trong tư thế Giáo Hoàng hay Quốc Trưởng Vatican. Biết được điểm nghịch thường này, người ta mới hiểu được tại sao Giáo Hoàng có lúc quyết liệt ngoảnh mặt đi, nhất định không nói chuyện với CS, nhưng có lúc lại tay trong tay, niềm nở với Cộng Sản. Hiểu được nét độc đáo này, người ta mới không thắc mắc tại sao trong khi các giáo dân VN đọc câu kinh của cha Trinh Cát: "Xin cho gia đình con thoát ách Cộng Sản vô thần" thì Chủ Tịch Nhà Nước CS và Thủ Tướng CSVN vênh váo bước vào Điện Vatican bắt tay Đức Giáo Hoàng.

    VÀI TRƯỜNG HỢP CỤ THỂ Ở VIỆT NAM
    Lệnh của Giáo Hội cấm hợp tác và ca tụng Cộng Sản vẫn còn hiệu lực, nhưng có vài trường hợp cụ thể đã và đang xảy ra tại VN mà nhiều người vẫn đề cập đến, vẫn thắc mắc, vẫn hoang mang, nhưng rồi vấn đề đâu vẫn còn đó, suốt năm này qua năm khác.

    Trường hợp thứ nhất: LM Huỳnh Công Minh. Ông là người mang thẻ Đảng CSVN và đã có thời là Dân Biểu trong Quốc Hội của Nhà Nước CS. Theo Luật hiện hành của Giáo Hội, ông Linh Mục Cộng Sản này đương nhiên đã bị dứt phép thông công. Mọi người cùng biết, cả nước đều biết, Giáo Hội La Mã cũng biết. Vậy mà ông vẫn thản nhiên cử hành các bí tích công khai như một linh mục bình thường. Điều đáng nói và quan trọng hơn nữa là ông Huỳnh Công Minh còn được ngồi trong chức vụ quan trọng số 2 của Tổng Giáo Phận Saigon, đó là chức Tổng Quản hay còn gọi là Cha Chính Địa Phận. Chức vụ này quyền uy chỉ sau chức Tổng Giám Mục Saigon thôi. Ở các địa phận khác, chức này được thay đổi thường xuyên, nhưng không hiểu sao ông Huỳnh Công Minh ngồi ở chức này từ suốt 35 năm qua. Đã có người hỏi ĐHY Phạm Minh Mẫn về việc này thì Ngài trả lời: "Khi tôi về nhận chức thì đã có cha Huỳnh Công Minh rồi. Có sao tôi cứ để vậy!" Một câu trả lời được đánh giá là rất "huề vốn"!

    Trường hợp thứ nhì: LM Phan Khắc Từ. Ông linh mục này mang biệt danh "linh mục hốt rác", vì ông đã nhân danh những công nhân hốt rác xách động biểu tình gây rối chế độ VNCH để làm lợi cho CS Bắc Việt. Chính ông này đã công khai kể công với Đảng CSVN là ông đã dùng nhà thờ để chế bom đánh M
    ỹ. Ông cũng có thẻ Đảng CS. Ông đã công khai phế bỏ luật Giáo Hội bắt linh mục phải sống độc thân, vì ông đã có vợ, có con. Ông còn tổ chức ăn thôi nôi con linh đình ngay tại Giáo Xứ Vườn Xoài, nơi ông được bổ nhiệm làm Linh Mục Chánh Xứ. Thời gian ông giữ chức Chánh Xứ cũng lâu như ông Huỳnh Công Minh ngồi ở ghế Tổng Quản vậy. Giáo Xứ Vườn Xoài ở ngay Trung Tâm Saigon và cũng thuộc quyền cai quản của ĐHY Phạm Minh Mẫn.

    Không biết đến bao giờ những sự thực chung quanh hai ông linh mục CS bị vạ tuyệt thông mới được phanh phui. Chắc chắn sau lưng hai ông phải có cả một thế lực Búa Liềm, khiến Giáo Hội phải nể sợ. Ngoài ra, các nhà thần học của GHCG sau này phải giải thích làm sao cho những giáo dân đã nhận những phép bí tích từ nơi những ông linh mục đã bị án tuyệt thông này? Những bí tích này có thành không? Tại sao thành? Thành ở chỗ nào? Giá trị của bí tích sẽ phải cắt nghĩa thế nào khi giáo dân cứ lãnh nhận từ tay một người mà họ biết là linh mục đã bị đuổi khỏi Giáo Hội và đã có vợ con? Chính những ông linh mục này cũng biết rõ họ không còn phải là linh mục nữa. Và hơn hết, Tổng Giám Mục Saigon là người đã bổ nhiệm một-linh-mục-không-phải-linh-mục về ban bí tích cho giáo dân, có khác nào Tổng GM Saigon đã cho giáo dân ăn bánh mà biết rằng trong bánh có con bọ cạp. Tổng GM Saigon biết, HĐGMVN biết, Giáo Hội La Mã cũng biết. Nhưng tất cả đều im lặng. Thế nghĩa là sao?

    CHÚA THÁNH THẦN SOI SÁNG
    Có người giải thích rằng: Mọi việc của Giáo Hội đã có Chúa Thánh Thần soi đường chỉ lối. Các Đấng cầm quyền trong Giáo Hội đều nhận ơn Chúa Thánh Thần cách đặc biệt. Hãy cứ vâng lời và tuân phục, vì Chúa đã chọn các ngài thì Chúa dẫn đường cho các ngài. Đặt vấn đề này ra làm chi?

    Tôi cho rằng luận cứ này là mê tín, phản đạo, xúc phạm tới Chúa Thánh Thần. Mọi tín hữu, dù ở phẩm trật nào trong Giáo Hội, kể cả giáo dân, đều lãnh nhận MỘT BÍ TÍCH THÊM SỨC, MỘT ƠN CHÚA THÁNH THẦN NHƯ NHAU. Chúa Thánh Thần soi sáng cho hết mọi thành phần dân Chúa, trong đó có cả thành phần chiếm đại đa số là giáo dân. Đừng ai tưởng nhầm là chỉ có các chức sắc Giáo Hội mới có ơn Chúa Thánh Thần. Chính nhờ Chúa Thánh Thần soi sáng, tăng sức mạnh, mà các nạn nhân tình dục của một số giáo sĩ mới có can đảm đứng lên tố cáo, trong lúc vẫn có những chức sắc cao cấp trong GH lại cố tình bao che. Hành động bao che tội ác này mà lại dám biện minh rằng có Chúa Thánh Thần hướng dẫn thì quả là phạm Thánh, là xúc phạm tới Chúa Thánh Thần, là gán cho Thiên Chúa đồng hành với tội ác. Chính nhờ ơn Chúa Thánh Thần tác động nơi các giáo dân mà những mụn ghẻ (tức những giáo sĩ dâm ô) bị trừ khử khỏi Giáo Hội và làm cho bộ mặt Giáo Hội được xinh đẹp trở lại. Chính nhờ ơn Chúa Thánh Thần tác động nơi các giáo dân mà hình ảnh đẹp của các tu sĩ thanh sạch được rạng ngời, chiếu sáng. Chính nhờ ơn Chúa Thánh Thần tác động nơi các nạn nhân của những vụ ấu dâm mà họ vẫn còn vững vàng tin yêu Giáo Hội và trung thành giữ đạo Thánh Chúa. Như vậy, Chúa Thánh Thần tác động ở khắp mọi thành phần dân Chúa, không nhất thiết phải là ở các chức sắc cao cấp trong Giáo Hội.

    Đối với Đảng CSVN, Hồ Chí Minh tự xưng là một đảng viên CS. Ông đã theo chỉ thị của Cộng Sản quốc tế để thành lập Đảng CSVN, gây nên biết bao hệ lụy tang thương cho đất nước và dân tộc này. Những người cầm quyền hiện tại đều là đảng viên CS. Do đó, Giáo Hội VN không có lý do gì để bắt tay, hợp tác và duy trì chế độ này. Giáo Hội Ba Lan đã có một Tổng GM Stanislaw Wielgus, được Đức Thánh Cha Bênêdictô XVI tín nhiệm, bổ về cầm quyền giáo phận lớn vào bậc nhất Balan là Warsaw. Vậy mà cuối cùng Chúa Thánh Thần đã không soi sáng cho Đức Giáo Hoàng nhận ra con người thâm hiểm, lang sói này, mà lại soi sáng cho Ủy Ban Nhân Quyền Ba Lan phát giác ra một tin động trời là TGM Wielgus trước đây đã từng là gián điệp cho cơ quan tình báo CS Ba Lan. Sau đó, Chúa Thánh Thần cũng không soi sáng cho Đức Thánh Cha thu hồi lệnh bổ nhiệm tên điệp viên Cộng Sản này về giữ chức Tổng GM Warsaw, mà lại soi sáng cho chính đương sự biết nhận tội và từ nhiệm!

    Hầu như chắc chắn rằng trong tương lai gần đây, khi Đảng CSVN sụp đổ, người ta sẽ khám phá ra nhiều chuyện động trời nơi Hội Đồng GMVN. Thực tế tang thương tới đâu, chưa rõ. Nhưng hiện tại, đã có rất nhiều điềm báo khác thường về những nanh vuốt Satan Cộng Sản đang hoành hành nơi các chức sắc của Giáo Hội VN. Điển hình là hai trường hợp cụ thể khó hiểu nhất vừa nói ở trên là Huỳnh Công Minh và Phan Khắc Từ, rồi đến văn thư "Cờ Đỏ, Cờ Vàng" của ĐHY Phạm Minh Mẫn; những lời tuyên bố mang tính cách lạc quan hồ hởi giữa Đạo và Đảng của ĐC Nguyễn Văn Nhơn; bài viết
    "Sự kiện, thông tin và những góc nhìn" đăng trên Web chính thức của Hội Đồng GMVN. Có tin nói bài viết đó là của Giám Mục này, của GM kia. Sự thực chỉ có ĐC Nhơn và tác giả thật của nó biết, nhưng điều chắc chắn khi đọc lên thì đúng là tư tưởng, lời lẽ và mạch văn của một đảng viên Đảng Cộng Sản, chứ không phải của một giám mục chính danh. Chưa hết, một Chủ Tịch HĐGM, 73 tuổi, được bổ nhiệm về làm phó với quyền kế vị cho một Giám Mục, 58 tuổi, mà rồi lại được chính Hội Đồng GM đăng lời chúc mừng rầm rộ, y như là một "chiến thắng" lừng lẫy của một trận chiến cam go? Trong khi đó, GH không có gì để chiến thắng mà chỉ đang phải đối đầu với nhiều tang thương. Có chăng là Đảng CSVN đang reo mừng chiến thắng và chúc mừng nhau mà thôi.

    Phải chờ cho đến ngày những tín hiệu bất thường này được giải mã và sự thật được phơi bày trước công luận.
    Và ngày ấy chỉ đến khi Đảng CSVN và các bộ hạ của nó bị khai tử.

    KẾT LUẬN:
    Biến cố GM Nguyễn Văn Nhơn về làm Giám Mục Phụ tá, bề ngoài tưởng rằng Đức Tổng Kiệt được tăng quyền, nhưng bên trong, đó là một sự tước quyền. Trong lúc tôi ngồi viết những dòng này thì tại nhà thờ Chánh Toà Hà Nội đang diễn ra một cuộc chuyển quyền mặt ngoài tưởng như êm ái, nhưng mặt trong rất ngột ngạt. Sở dĩ tôi mường tượng nó ngột ngạt, căng thẳng vì chưa bao giờ Ban Tổ Chức một Thánh Lễ tôn giáo lại "yêu cầu giáo dân khi đến dự lễ không nên mang theo bất cứ một thứ gì không phù hợp với thánh lễ mừng Đức Tổng Phó Nguyễn Văn Nhơn". Có phải Ban Tổ Chức sợ giáo dân mang cà chua, trứng thối đến hay sao? Thì ra, các giáo dân hôm nay chỉ được quyền "mừng" mà không có quyền "buồn" hay "phẫn nộ".

    Là một tín hữu tin Chúa, tôi phải tâm niệm rằng Giáo Hội không phải là Đức TGM Ngô Quang Kiệt này hay Đức GM Nguyễn Văn Nhơn nọ. Giáo Hội chính là Bàn Thánh mà TGM Ngô Quang Kiệt và GM Nguyễn Văn Nhơn đang đứng bên nhau, cùng dự một Bàn Tiệc, cùng ăn một Bánh Thánh, cùng uống một Chén Thánh, cùng tôn thờ một Thiên Chúa và phục vụ một Giáo Hội.

    Thế nhưng, chiếc Bàn Thánh hôm nay hình như có những đệ tử của Karl Marx và Lénin đang thập thò đâu đó, khiến cho chiếc bàn có vết nứt ra làm đôi: Một bên cười rạng rỡ, có pha lời chúc mừng. Một bên buồn ray rứt, có dòng lệ hoen mi.

    Những Sắc Luật ra vạ tuyệt thông cho tín hữu thiên Cộng nằm ngổn ngang trước mặt đã làm tôi thực sự hoang mang khi nghĩ về Tổng Giáo Phận Hà Nội giờ này. Đức TGM Ngô Quang Kiệt phải "chống Cộng" tới mức nào để Toà Thánh cho là không đi quá đà và khỏi bị thay thế theo yêu sách của Nhà Nước VN? Còn Đức GM Nguyễn Văn Nhơn phải "giao hảo" với CS tới mức nào mới không bị "đương nhiên" mắc vạ tuyệt thông để có đủ tư cách kế vị Đức TGM Kiệt?

    Tôi chỉ còn biết ngửa mặt lên Trời cầu xin Thánh Thần Chúa ngự đến, ban cho tôi một Đức Tin bằng nửa hạt cải thôi, để tôi có được một giấc ngủ yên hàn đêm nay.

    San Jose, ngày 6 tháng 5, 2010 (8 giờ tối)
    TS Trần An Bài

    HỢP  TÁC VỚI CỘNG SẢN LÀ ĐƯƠNG NHIÊN BỊ KHAI TRỪ KHỎI GIÁO HỘI

     

     

     

  • Tạp ghi

    Trần Khải Thanh Thủy : Tôi Gánh Ở Trong Trái Tim Này

    Trần Khải Thanh Thủy

     

    Tôi Gánh Ở Trong Trái Tim Này … (3)

     

    “… các bạn trẻ hãy mạnh dạn từ bỏ quá khứ "tốt đẹp", để đi vào con đường… phạm tội như tôi, con đường mà cả dân tộc sẽ phải đi trong nay mai …”

     

    5.

    Cái giá của tự do, của quyền làm người vô cùng đắt, nhưng ngược lại cái giá của sự can đảm cũng vô cùng lớn. Cứ mỗi lần đảng dùng mưu ma, chước quỷ, đòn phép, thủ đoạn để đánh vỗ mặt tôi, vật chết tươi tư tưởng của tôi, dù ở trong hay ở ngoài tù thì lập tức đảng nhận được bàn thua trông thấy. Bao nhiêu tiếng gà gáy sáng vọng về từ bên kia bờ đại dương, bắt đảng phải chui lủi vào trong bóng đêm ma quỷ. Bao nhiêu bàn tay nhân hậu chìa ra đỡ đần, che chắn, khiến đảng dù lợi dụng cảnh tranh tối tranh sáng để triệt hạ người ngay lại lộ ra giữa thanh thiên bạch nhật, bị chửi bới, la ó khắp thế giới. Cứ liên tục vấp vào bức tường nhân ái của bà con Hải ngoại che chắn như vậy. Từ hội bảo vệ, hội văn bút quốc tế, nhóm bạn hữu, đến đường dây, tổ chức mà tôi hân hạnh được ngồi vào, cùng cả triệu đồng bào có lương tri trên toàn thế giới nên đảng chán, đành phải coi tôi như một kẻ bất trị, một thứ nước lớn giữa dòng, một thứ thép đã tôi trong lò lửa cộng sản… không những không chịu mòn, gỉ, mà càng tôi luyện càng hồng rực lên, chặt không đứt, dứt chẳng ra, bẻ không cong, nhốt không yên… đành phải tha… làm phúc.

     

    Thế là tôi thành kẻ bất tử, cứ chọc thẳng vào gan ruột đảng, nhè vào tư tưởng nhân danh, vô cùng phản động của đảng mà vạch trần ra cho mọi người biết rõ chân tướng, chưa đủ còn xông vào triều đình mà "cởi khố" đảng ra – đó là tư tưởng Hồ Chí Minh, là búa liềm cờ đỏ, là tà thuyết Mác Lê – những thứ đã làm ô nhiễm môi trường của 87 triệu đồng bào, làm bầu khí quyển của nước nhà trở nên khắm lặm. Thử hỏi một thứ khố mục ruỗng, 39 năm trời không thay, giặt, phơi phóng, thì bẩn tưởi, lạc mốt đến mức nào? (tư tưởng Hồ Chí Minh) không kể tà thuyết Mác Lê đã bị lịch sử ném vào sọt rác nhân loại cả 200 năm, còn cờ đảng thì sặc tanh mùi máu, máu đồng bào đồng chí, anh em trong các cuộc cải cách ruộng đất, chỉnh huấn, chỉnh quân cải tạo công thương nghiệp tư bản tư nhân. Búa liềm cào và đập nát bao khối óc trái tim con người thuộc đủ các thành phần công, nông binh sĩ nguỵ Sài Gòn, đặc biệt là sau ngày miền Nam bị cưỡng chiếm. Tất cả đầu độc cuộc sống của 87 triệu dân, làm điêu linh bao số phận hiền lành, vô tội trên khắp 64 tỉnh thành cả nước.

     

    Để dọn đường cho dư luận, trước khi tống tôi vào tù, đảng ra cả một chiến dịch đánh phá, bôi nhọ tôi trên mặt báo cũng như phương tiện truyền thông. Nào "Trần Khải Thanh Thuỷ và con đường phạm tội", nào "kẻ suy đồi đạo đức, làm tay sai cho lưu vong phản động nước ngoài", nào "từ bỏ quá khứ tốt đẹp", nào "kẻ đội lốt dân oan", rồi "mặt thật của Trần Khải Thanh Thuỷ" v.v và v.v song cũng nhờ tất cả những điều này, nhờ đi ngược lại lợi ích đảng, mà được bà con Hải ngoại biết tới, không những la ó, kêu gào kịch liệt phản đối, mà còn nối dài cánh tay nhân hậu tới các tổ chức nhân quyền thế giới, như thủ tướng Úc, Đaị sứ quán Mỹ, Pháp, Thụy Điển ở Việt Nam v.v. Chính vì thế, ngồi sau song sắt tôi làm thơ:

     

    Nơi ngục tối là nơi sáng nhất

    Nơi ta tìm ra sức mạnh cộng đồng

    Vần thơ chắp cánh tung bay

    Tâm hồn sải cánh đợi ngày tự do.

     

    Sau 9 tháng 10 ngày thai nghén đau thương trong tù ngục, để sinh nở cái oai hùng giữa lòng đảng độc tài, tôi đã được bạn bè săn sóc thuốc men, cũng như đời sống, được kê chỗ đứng giữa lòng cộng đồng, được thành người có ích, có thu nhập ổn định, ngoài việc chữa bệnh, nuôi mình còn là chỗ dựa cho cả nhà, và bây giờ sau bảy năm "kỷ nguyên chó nằm gầm trạn", 12 năm "Hà Nội mở rộng", "Hà Nội quá đà" (1996-2008) hôm nay tôi đã được về lại giữa thủ đô, gần mẹ, gần em trai, như lời cầu nguyện gần 20 năm, ngay sau khi lập gia đình. Còn sống giữa lòng đảng, đi theo tiếng gọi của đảng, còn bám vào "quá khứ tốt đẹp" do đảng dựng tạo, tôi tin mình không bao giờ có được điều vinh hiển này, trái lại, đúng như lời bài hát tôi viết khi vừa tròn 33 tuổi, đang là phóng viên báo đảng:

    Đời mình

    (Theo điệu: "Đời mình là một khúc quân hành")

     

    Đời mình là một vũng ao tù

    Đời mình là mưu sinh khốn khó

    Ta kêu lên: Trời ơi đất nước này

    Làm sao ta có thể sống như là người ?

     

    Điệp khúc:

    Mãi mãi đời chúng ta

    Giam cầm trong ngục tối

    Mãi mãi lòng chúng ta

    Trong quẩn quanh nghèo đói …

     

    II

    Đời mình là một khúc ca buồn

    Đời mình là bài thơ chán ngán

    Ta than van: Trời ơi thân xác tàn…

    Rồi ngày sau có được hoá thân đổi đời???

     

    Điệp khúc:

    Mãi mãi chỉ thế thôi

    Dăm đồng lương nghèo đói

    Mãi mãi đành mất đi

    Bao tài hoa, đạo lý

     

    III

    Đời mình là một kiếp tu hành

    Còn họ là những vua chúa mơí

    Bao thơm tho

    Nào đâu có đến lượt chúng ta mà chờ

    Mãi mãi đành thế thôi Không tự do hạnh phúc

    Mãi mãi là nhân danh

    Xin đừng tin bạn hỡi

     

    Có nơi nào khá hơn

    Tôi sẽ xin cùng đi

    Thà là ra nước ngoài mà sống như là người

    Còn hơn bần hàn chìm trong tăm tối

     

    Điệp khúc:

    Mãi mãi đời chúng ta

    Ca bài ca cởi trói

    Mãi mãi đảng chúng ta

    Luôn già nua mục ruỗng

    Đừng trông vào những nghị quyết kia mà lầm.

     

    6.

    Nhờ trườn mình ra biển lớn, dìm lăng Hồ Chí Minh giữa hội nhập toàn cầu, nâng niu những số phận khổ đau, bất hạnh, tôi đã được cộng đồng đón nhận, được Cơ sở thi văn Cội Nguồn và Nhà xuất bản Tân Văn phát hành ba cuốn sách: Đó là Viết từ hang đá, nhỏ lệ cùng dân (khi còn ở trong tù, ngày – 15 tháng 9-2007) và Hồ Chí Minh nhân vật trăm tên nghìn mặt, Nghĩ cùng thế sự (sau khi đã ra khỏi tù, ngày 3-12-2008). Chính nhờ số tiền nhuận bút sách này (11.000 USD) cùng dăm bảy giải thưởng trong lĩnh vực nhân quyền, quốc hận, cộng với số lương hàng tháng do báo Người Việt và đường dây trả, tiền hỗ trợ của các tổ chức yêu nước, đấu tranh trong các đợt tôi bị đảng hành, đảng cướp phương tiện làm việc, đảng giam giữ trong tù, hoặc bà con cho khi tôi ốm phải nằm bệnh viện cả trước và sau khi vào tù v.v. mà trong vòng 30 tháng tôi đã gom đủ số tiền 300 triệu đồng để đổi từ "Hang đá" ven ngoại ô thành một ngôi nhà đúng nghĩa giữa lòng Hà Nội, trong sự sặc tiết ghen tuông của đảng cướp sạch. Ơn này sống để dạ chết mang theo, không biết nói gì hơn, tôi chỉ biết bày tỏ bằng cách viết lại tâm trạng mình:

     

    Tôi gánh ở trong tim này

    Niềm biết ơn suốt đêm ngày… Bạn ơi

     

    Từng viên gạch, mảng tường, hành lang, tay vịn cầu thang đang hiện hình trong căn nhà 39 m2 của tôi đều là dấu ấn tình thương của bà con mình, những người đối với tôi còn hơn cả máu mủ ruột già, từ anh Nguyễn Hải, Trần Hùng, Song Nhị, Đỗ Thông Minh (những anh hùng cứu mỹ nhân khỏi tay đảng độc tài, đểu giả) đến anh Trúc Lê, Phương Duy, Phùng Mai, trong Hội bảo vệ – những người đã thầm lặng ở bên tôi từ những ngày cam go nhất trong cuộc đấu tranh chống lại độc tài, ác đảng, kể từ 18-11-2006, cho đến tận bây giờ và mãi mãi về sau (khi chế độ độc đảng bất nhân, phi lý chấm dứt trên mảnh đất nghèo nàn cằn cỗi của Việt Nam).

     

    Không những lên tiếng với Thủ tướng Úc trong thời gian tôi bị cầm tù, còn kêu gọi những tấm lòng bạn bè cùng sẻ chia, đùm bọc hỗ trợ tôi về mặt sức khoẻ, tinh thần sau khi tôi ra khỏi tù, đồng thời cùng xúm tay lại để hàn gắn bể khổ trong lòng chị Trần Thị Lệ – mẹ Lê Thị Công Nhân thông qua việc đưa Nhân vào danh sách bảo vệ của hội. Mỗi lần các nhà dân chủ bị bắt, bị đàn áp dã man là hội – với khả năng bé nhỏ và khiêm nhường của mình lại đứng ra kêu gọi hỗ trợ từ Bạch Ngọc Dương, đến anh Nguyễn Xuân Nghĩa, Lê thị Kim Thu, Phạm Thị Thanh Nghiên, Vũ Hùng…

     

    Chú Nguyên Hoàng Bảo Việt – người đã bắc cầu vồng ngũ sắc đưa tôi từ đáy ao ngầu bọt vì yếm khí, đến tận đỉnh cao lung linh chói lọi là trung tâm Văn bút quốc tế, để tôi có thể vượt vũ môn hoá rồng. Bắt cá chép trong ao xã hội chủ nghĩa thật dễ song bắt rồng bay phương múa trên bầu trời dư luận, quả là vượt xa tầm với của đảng, vì thế dù đảng có rắp tâm bắt tôi phải sống trong cảnh "rồng vàng tắm nước ao tù" đi chăng nữa, cũng đành trơ mắt ếch, phải mở cửa tù thả tôi ra về với nắng nỏ trời cao rợn ngợp cả tâm hồn, sau 9 tháng trời giam giữ.

     

    Còn biết bao tấm lòng nhân ái khác trên toàn thế giới mà trong phạm vi một bài viết tôi không thể nào kể và nhớ hết được.

     

    Trong số 5000 USD tiền nhuận bút sách anh Đỗ Thông Minh gửi về lần đầu có tới 3.000 USD là tiền của các tổ chức và bạn bè ủng hộ, từ người anh hùng Lý Tống đến anh Quốc Thắng, chị Phan Khanh, chị Ngô Thị Hiền, chị Hoà, chị Cúc v.v., những người vì phong trào dân chủ của Việt Nam, cũng vì căm ghét tội đồ dân tộc Hồ Chí Minh mà thưởng cho lòng dũng cảm của tôi, khi sinh ra giữa lòng đảng, bác, lại không chịu để "cha mẹ sinh con, đảng, đoàn, chủ nghĩa xã hội sinh tính" mà ngược lại dám "sinh tính" cho đảng độc tài, còn chỉ rõ bộ mặt thật gian giảo của cha già dâm tặc Hồ Chí Minh với dân với nước, dù biết mọi điều tồi tệ có thể xảy ra.

     

    Nén nhang đầu tiên tôi thắp trong căn nhà mới của mình, xin dành cho con người tôi yêu quý và cũng biết ơn sâu nặng nhất, đó là chú Đoàn Văn Linh- người đã đứng ra quyên góp giúp tôi và một số nhà dân chủ Việt Nam như anh Trần Anh Kim (Thái Bình) Đỗ Nam Hải (Sài Gòn) Lê Thị Công Nhân (Hà Nội) trong suốt thời gian tôi bị ốm và phải vào tù. Tất cả câu chuyện của chú kể về người vợ nghĩa tình của mình, tôi đều không quên. Từ việc chú là phóng viên mặt trận, được cử sang Pháp công tác và bị kẹt lại sau ngày 30-4-75, rồi một mình trước toà đại sứ yêu cầu cộng sản phải để cho vợ con sang Pháp đoàn tụ, nếu không sẽ tự tử… đến việc chú khuyên tôi không nên quá đau buồn vì bệnh lao phổi, ho ra máu do lao lực, vì chính chú từ hồi trong nước đã mắc căn bệnh hiểm nghèo đó sau một thời gian phải làm việc quá sức…

     

    Tuy ở xa nửa vòng trái đất, song mỗi lời nói của cô chú, như những mảnh bông gạc thấm đẫm e te, chườm vào chỗ đau đớn, nhức buốt nhất nơi bản thể tôi. Trong tù tôi luôn nghĩ về chú với tấm lòng đặc biệt yêu mến, mà không thể ngờ chú lại ra đi nhanh đến thế, trong khi điều linh cảm không lành tôi lại cảm nhận vô cùng chính xác về sự ra đi của bác Hoàng Minh Chính.

     

    Chính sự đường đột này đã được cô Linh – vợ chú xác nhận trong thư gửi chồng tôi:

    Tân mến!

    Cô xin lỗi vì hồi âm chậm trễ.

    Cô mỏi mệt quá Tân ơi! Chú ra đi quá bất ngờ

    Cô lặng người, cô ngẩn ngơ như kẻ không hồn,

    Nỗi đau mất nước cộng nỗi đau mất người chồng kính yêu,

    Cô trở thành kẻ khùng khùng điên điên trên cõi đời này…

     

    Là nhà báo, đồng cảm sâu sắc với tôi trong việc cầm bút, ông tin cậy tôi có thể dùng ngòi bút của mình (cùng sự hợp lực của các cây bút dân chủ khác) làm đòn xoay chế độ cộng sản thối nát, bất công, nên đã không ngần ngại tuổi già, sức yếu cũng như lấn cấn về uy tín danh dự, hay sự hiểu lầm để đặt mình vào mối quan hệ con người đề nghị, cầu xin con người, quyên góp giúp tôi, mong tôi dù có bị công an cộng sản gây khó dễ, cũng vẫn có người giúp, không đến nỗi gục ngã giữa đời thường, vì con người là một thực thể vật chất, cần phải có vật chất mới tồn tại, nhất là trong điều kiện bị bao vây hay triệt hạ kinh tế. Việc làm nhỏ nhưng ý nghĩa thật lớn, tôi hiểu là mình mắc nợ ông từ lần đầu tiên nhận được món quà ân nghĩa đó. Vậy mà, khi ông từ giã cõi đời này, tận ngày ra tù tôi mới biết? Để rồi phải cay đắng thốt lên:

    Buốt lòng cháu lắm chú ơi

    Nỗi đau khấn… Bốn phương trời còn đau (!)

     

    Giờ thì ông đã yên nghỉ được gần hai năm rồi, dù tiếng kèn nhân quyền của ông tôi chưa một lần được nghe, nhưng mỗi lần nghĩ đến ông cả trong song sắt trại tù cũng như khi viết những dòng chữ này tôi vẫn thấy như đang văng vẳng đâu đây…

     

    7.

    Thay cho lời kết: Viết lại câu chuyện này tôi chỉ muốn nói rõ một điều. Cuộc đời tôi chính là một minh chứng cụ thể nhất cho những gì ông bà đã đúc kết: "Gieo gì gặt nấy". Nhờ gieo yêu thương cho bà con dân oan, vạch sự ác độc, dã man của đảng độc tài giữa thanh thiên bạch nhật, trong dư luận quốc tế, mà tôi đã gặt về sự vinh quang cho mình, theo đúng lời ông bà dạy: gieo đức hạnh gặt vinh quang, gieo tai ương, gặt quả báo…

     

    Từ hang đá lạnh lẽo bao năm, hay trong ngăn tù bẩn thỉu, âm u tà khí, bao nhiêu hạt giống, mầm ươm tư tưởng, dân chủ, tự do của tôi đều vùng thoát ra ngoài, nơi ba triệu đồng bào hải ngoại sinh sống và luôn hướng về manh chiếu rách quê hương, với một niềm yêu thương, xót xa và căm phẫn khôn nguôi. Nơi không hề có bóng dáng độc tài, nên tư tưởng "phạm tội" của tôi đã được "phản động" chấp nhận, ủng hộ và khích lệ tận tâm, giúp tôi không những đứng thẳng làm người, còn vượt hẳn lên so với tầm kích thật của mình… Khiến bao nhiêu làn gió quẩn, gió đen, gió độc của đảng và lũ công an đốn mạt đều phải nằm lại dưới cánh diều tư tưởng bay bổng của tôi, đầy hậm hực tức tối.

     

    Nếu được phép đưa ra một lời khuyên hay sự nhắn nhủ cho thế hệ sau đang phải sống trong ách kìm kẹp, bưng bít dối lừa của đảng, tôi xin nói thật lòng mình: Hỡi các bản trẻ hãy mạnh dạn từ bỏ quá khứ "tốt đẹp", để đi vào con đường… phạm tội như tôi, con đường mà cả dân tộc sẽ phải đi trong nay mai… chính nhờ con đường này mà tôi đã gặt hái vinh quang tột đỉnh cho mình. Trở thành hội viên hội văn bút quốc tế, cùng 5 đầu sách (cả in chung lẫn riêng) ở hải ngoại – những viên ngọc toả sáng lung linh mà bất kể hội viên hội nhà văn Việt Nam nào cũng ao ước, song khó lòng có được vì sự đớn hèn, bạc nhược hiện tại…

     

    Ngoài hàng loạt các giải thưởng cả trong lĩnh vực dân chủ cũng như báo chí, văn học, tôi còn được sống trong muôn vạn trái tim, từ người Việt Hải ngoại đến bạn bè quốc tế như Marie-Louise Thaning (Thuỵ Điển), Ben Stocking (Mỹ), Chirstian Marchant (Mỹ), Peter Gitmark (Na uy), Aude Genet (Pháp) v.v. , không kể những người bạn trong trung tâm văn bút tại Anh Quốc, nơi tôi là hội viên mà tôi không thể nào nhớ hoặc viết hết tên của họ… dù đã bao lần nhận được thư từ khắp các nẻo đường họ đặt chân tới, từ Đài Loan, Úc, Pháp, Singapore.

     

    Nếu Lê Thị Công Nhân có cả một ô tô thư từ của bạn bè bốn phương tám hướng gửi tới, thì tôi cũng có một góc nho nhỏ, đủ để làm tâm hồn mình xao động, lâng lâng, xua tan những độc khí hàng ngày nơi bầu khí quyển ô nhiễm vị đảng… Còn gì vui hơn khi giữa lòng đảng độc tài mình trở thành bất tử, được sống thật với lòng mình và chứng kiến những giờ phút trọng đại của dân tộc, như điều mình đã viết và đang chiêm nghiệm:

     

    Nhân dân sau phút thở dài

    Xắn tay đóng vội quan tài thật to

    Người đông đất chật chẳng lo

    Triệu người xúm lại mà cho đảng vào.

     

    Ngày ấy, Ngày ấy sẽ không xa và chính tôi là người chiến thắng. Còn đảng cướp sạch phải chết theo hồ, cả theo nghĩa đen và nghĩa bóng, như lời thơ tôi từng đúc kết sau khi xem lại cả trăm câu thơ của Sấm Trạng Trình và những gì đã và đang hiển hiện phơi bày:

     

    Đảng tan năm sửu, cung đoài

    Tuổi thọ bác với độc tài như nhau

    Bác đi trước, đảng theo sau

    Bảy mươi chín tuổi …vùi sâu đáy mồ (4)

    Việt Nam gây dựng cơ đồ

    Toàn dân thoát ách cộng hồ từ đây.

     

    Sau tất cả những gì đã trải nghiệm, tôi tin độc lập tự do sẽ đến với mảnh đất này cũng như tin rằng niềm biết ơn trong tôi là có thật, luôn vĩnh hằng, bất biến, dù thời thế thay đổi ra sao, trong tôi vẫn tràn đầy lòng nhiệt huyết và sự biết ơn:

     

    Tôi gánh ở trong tim này

    Niềm biết ơn suốt đêm ngày… Bạn ơi

     

    Khâm Thiên 1-1- 2009, Khai bút đầu xuân

    Trần Khải Thanh Thủy

     

    Chú :

    (1) Các đối tượng hợp tác lao động đều phải nộp lại 70% lương cho nhà nước, chưa kể khi ra đi phải chịu nhiều khoản tiền đóng góp phi lý, hoặc chạy cửa

    (2), (3): Đảng cộng sản Liên Xô và Trung Quốc

    (4) Tuổi Đảng (1930 – 2009), Bác (1890-1969)

  • Tạp ghi

    Hồng Nguyên : THĂNG LONG 1000 NĂM, THẮP LÊN NGỌN LỬA NIỀM TIN.

    THĂNG LONG 1000 NĂM, THẮP LÊN NGỌN LỬA NIỀM TIN.

    Cả thế giới đang nhìn vào Đại Lễ 1000 năm Thăng Long . Đang đọc lại những trang sử hào hùng của người dân việt . Đây cũng là cơ hội của lãnh đạo thắp sáng lên niềm tin cho dân Việt .

       Hãy thẳng thắn nhìn vào thực tế , 35 năm qua đã làm đuợc gì cho dân VN ? Lãnh thổ VN cha ông ta đã tốn bao xương máu cho con cháu thừa hưởng ? Ai đúng ? Ai sai ? Chúng ta đã làm được gì cho dân Việt ? Đất đai , ruộng vườn của người dân chiếm đoạt làm của riêng ? Làm giàu trên xương máu của giai cấp nông dân ! Chúng ta đừng vì cái danh hão huyền : Đảng – để rồi bao che cho nhau vắt nặn lên những thần tượng bẩn thỉu , không còn cái thời Nam Bắc phân chia để lừa bịp dân chúng – Những người Mẹ nghèo khổ đã dành những củ khoai ngon nhất để chi viện chiến trường Miền Nam , chỉ dám ăn những củ khoai sùng, những rễ khoai sống qua ngày vì thương người dân Miền Nam quá " nghèo khổ " . Không thể , không thể tuyên truyền lối này nữa, giờ lại thẳng tay ăn cướp . Dùng nhà tù , súng đạn đàn áp những ân nhân đã nuôi mình 35 năm trước !!
         Xã hội đã tiến bộ . Sao giờ này còn đưa cái thời Vua quan  ra  để nối dõi " tông đường "! Sao lại đưa cái thuyết Quân chủ ra để trị dân . Đừng khóac lác che đậy những tội phạm lịch sử . Hãy mạnh dạn nhìn vào sự thật . Những bài học của thế giới , của các nước láng giềng lấy danh dự đất nước làm trọng . Thẳng thắn nhìn vào đàn anh Liên Xô vĩ đại . Sự xụp đổ của Liên Xô đã tạo ra bao quốc gia độc lập . Đã cho nhân dân đời sống ấm no hơn . " Môi hở răng lạnh " những ngày ấm êm giúp đỡ của Tàu Cộng chỉ là thủ đoạn đê hèn " Tin bạn thì mất vợ " chân đã vấy bùn không tẩy rửa sẽ không còn kịp . Mất vợ thì còn lấy được vợ khác chứ cháy nhà thì ra đường mà ở .
        Trở về với chính sách : độc đảng – Ai nói sẽ bị ở tù . Bao nhiêu người đã can đảm vào tù " Chết vinh hơn sống nhục " đã nói lên cái nhân quyền báo đài ngày nào cũng rêu rao . Tại sao các vị lãnh đạo VN không có tai để nghe ? Không có mắt để nhìn  ?
         Bao nhiêu phản ứng về chủ quyền lãnh thổ . Bao nhiêu nhà đất bị chiếm đoạt làm của riêng. Bao nhiêu cuộc biểu tình đòi hỏi sự công bằng …. chắc chắn có tổ chức đại lễ 1000 năm Thăng Long  long trọng mấy cũng không che đậy được tội ác với nhân dân , với hương hồn của Lạc Long Quân , của Âu Cơ .
         "Nhà dột tại nóc" Xã hội VN được coi là cái nôi của đạo đức . Chúng ta lấy chữ Tâm làm Trọng. VN có rất nhiều tôn giáo . Tôn giáo nào cũng dạy ăn ngay ở lành . Không cần phải dựng lên một đạo đức Hồ Chí Minh nữa . Trái lại , càng dựng lên càng phản tác dụng . Cái nóc đạo đức Hồ Chí Minh nhân dân cả nước ai cũng biết . Cái nóc của Tổng bí thư đảng ai cũng biết : Con hoang là con hư . Con không cha là con hoang . Biết đứa con hư đó rồi sao còn đưa lên lãnh đạo một đảng cầm quyền ? Lần theo dấu vết lịch sử . Đứa con hoang đó có cha, nhưng cha không thừa nhận . Vậy người cha đó trách nhiệm hay không ? Có đạo đức hay không ? Từ Liên Xô – Trung Quốc đến VN  người cha đó đã cập bao nhiêu bến ? Đã vậy còn phản bạn . Một Lê Hồng Phong được cho là một nhà cách mạng mẫu mực . Khi vào tù đã để lại một người vợ hiền: Nguyễn thị Minh Khai – Bác cũng xơi luôn . Cái luân lý , cái đạo đức của xã hội VN sẽ suy đồi nếu lúc nào cũng đưa cái đạo đức Hồ Chí Minh ra giảng dạy tại các trường lớp bắt con cháu noi theo .
         Tạm kết thúc với câu chuyện của một đôi vợ chồng trẻ .
         – Mai anh đưa em đến BV phụ sản khám thai định kỳ nha anh .
         – Ngày mai anh bận học chính trị để hôm khác đi .
         – Chính trị , chính trị . Lúc nào cũng chính trị . Học gì mà học hoài vậy .
         – Học làm theo đạo đức Hồ Chí Minh em ạ . Quan trọng lắm .
         – Thôi đi anh ơi . Học đã chết , bắt làm theo nữa chắc tan cửa nát nhà mất . Xin nghỉ việc thôi anh ạ . Có mắm ăn mắm , có muối ăn muối mà gia đình hạnh phúc , con cái nên người . Anh nghỉ việc đi nghe anh .

    Hồng Nguyên .

    —————————————————————————————————–

    1000 Năm Thăng Long, tìm lại những

    nỗ lực bảo vệ biên cương của cha ông

    *

    Ải Nam Quan 1887-1895 

     Trong thời gian từ 1010 đến 1225, dưới triều Lý, bên Trung-quốc là triều Tống. Đại-Việt là nước nhỏ, hằng năm phải tiến cống Trung-quốc một số sản vật tượng trưng: Voi, ngà voi, hương liệu, đôi khi một vài vật dụng bằng vàng, bạc. Trong thời gian trên, trước sau có 18 lần đụng độ, tranh chấp biên giới. Trong 18 lần đó, có 6 lần đánh lớn, 5  lần quân Việt vượt biên đánh sang Trung-quốc để triệt phá cơ sở vật chất tiềm tàng của Tống- triều nhằm chuẩn bị xâm lăng Đại-Việt. Cuộc tiến quân năm 1075-1076, quân Việt tiến tới vùng thuộc Quảng-Đông, Quảng-Tây, Quý-châu, Hồ-Nam hiện thời. Và 1 lần Trung-quốc mang 40 vạn quân và 50 vạn dân phu sang trả thù. Quân Trung-quốc đã tiến chiếm lãnh thổ Đại-Việt tới cách thủ đô Thăng-long (Hà-nội) có 25 cây số, rồi bị đánh bật về biên giới.

     
    Lần thứ nhất

    Năm 1022, do vua Lý Thái-tổ ban chỉ, Khai-Thiên vương tổng chỉ huy, đánh sang trại Như-hồng của Tống đốt kho đụn rồi rút về. Cuộc xuất chinh để trừng phạt quân Tống tại đây thường vượt biên sang trấn Triều-dương của Đại-Việt cướp bóc. Trấn Triều-dương nay thuộc vùng Hạ-long. Trại Như-hồng thuộc Quảng-Tây Nam-lộ. Đại-Việt toàn thắng. Cuộc chiến tranh có tính cách trừng phạt một khê-động.

    Lần thứ nhì

    Năm 1028, tướng Tống là Lý Tự đem quân vượt biên, cướp phá trên lãnh thổ Việt. Việt ra quân đánh tràn sang châu Thất-nguyên của Tống. Cuộc ra quân do Khai-Quốc vương lãnh đạo, tổng chỉ huy là công chúa Lĩnh-Nam Bảo-Hòa và phò-mã Thân Thừa-Quý. Mục đích chiếm lại mấy châu động đã mất về Tống, do các biên thần Tống chủ trương. Giết chết Lý Tự. Toàn thắng. Cuộc chiến có tính cách tự vệ, dằn mặt các biên thần Quảng-Tây.

    Lần thứ ba

    Dưới thời vua Thái-tông, do Khai-Quốc vương lãnh đạo (1053), mục đích chiếm lại lãnh thổ thời vua Hùng, vua An-Dương, vua Trưng, bị người Hán chiếm mất (Nay thuộc Quảng-Đông, Quảng-Tây, Vân-Nam, Quý-châu, Hồ-Nam), rồi đẩy dân Việt về sống ở vùng Bắc-cương thành 207 trang-động. Cuộc khởi binh thành công, đưa Nùng Trí-Cao lên làm vua, lấy lãnh thổ vùng Quảng-Đông, Quảng-Tây, Quý-châu lập thành nước Đại-Nam. Nhưng khi Nùng Trí-Cao thành công, y lại trở mặt với Đại-Việt. Nên khi quân Tống đánh Cao, Đại-Việt không tiếp cứu, Cao bị bại. Cuộc chiến tranh có tính cách toàn diện. Đại-Việt không ra mặt khai chiến với Tống.

    Lần thứ tư

    Cũng do Khai-Quốc vương lãnh đạo, diễn ra dưới thời vua Thánh-tông. Vùng tấn công là Khâm-châu. Người tổng chỉ huy là công-chúa Bình-Dương với phò mã Thân Thiệu-Thái (1059-1060). Mục đích cuộc Bắc phạt này là chiếm lại một số trang động do các bộ tộc thiểu số tự trị; bị Tống lấn chiếm, hoặc chiêu dụ các động chủ phản Việt, đem cả đất lẫn dân theo Tống. Sau khi chiếm lại các trang đã mất, trả đất cho các tộc bị mất, quân Việt tiến sâu vào vùng Tả-giang, Hữu-giang, chiếm hơn mười ải, giết nhiều tướng Tống. Tống cực kỳ phẫn uất, nhiều đại thần khuyên vua Tống Nhân-tông đem quân sang đánh Đại-Việt để trừng phạt; nhân đó chiếm nước đặt làm quận huyện. Ngặt vì bấy giờ phía Tây, Tống đang mắc họa với Hạ, phía Bắc thì Liêu chiếm đất, đòi cống vàng lụa; vả vua Tống cũng sợ binh hùng tướng mạnh của Đại-Việt, nên bàn hòa. Công-chúa Bình-Dương đòi nhiều điều kiện khắt khe mới chịu rút quân. Tống cũng phải nhượng.

    Lần thứ năm

    Diễn ra dưới thời vua Nhân-tông vào năm 1075, bấy giờ vua mới chín tuổi, Linh-Nhân hoàng thái hậu phụ chính. Vua còn thơ, chư sự lớn nhỏ đều do Linh-Nhân hoàng thái hậu quyết định. Nguyên do: Vua Tống Thần-tông dùng những cải cách về kinh-tế, nông-nghiệp, binh-bị, tài-chánh của Vương An-Thạch từ năm 1066, đã được chín năm, khiến binh lực trở thành hùng hậu, quốc-sản sung túc. Nhà vua muốn nhân đó tiến quân lên Bắc đánh Liêu, chiếm lại đất cũ, để rửa nhục. Nhưng Vương An-Thạch lại khuyên nên đánh Đại-Việt trước. Sau khi bại Đại-Việt, thì Chiêm-thành, Chân-lạp, Ai-lao, Xiêm-la, Đại-lý phải quy hàng. Bấy giờ dùng nhân lực, tài lực sáu nước, đem lên Bắc, thì thắng Liêu dễ dàng. Vua nghe theo, bí mật cho các châu Nam biên luyện binh, tích trữ lương thảo. Cuộc chuẩn bị được ba năm, thì bị Đại-Việt biết được. Linh-Nhân hoàng thái hậu quyết định: Ngồi yên đợi giặc, sao bằng mình ra tay trước. Mục đích cuộc hành quân là phá hết các kho lương thảo, vũ khí, thành trì, cầu cống, diệt các đạo quân mới huấn luyện của Nam thùy Tống. Thế là cuộc Bắc phạt nổ ra vào cuối năm 1075. Quân Việt tiến đánh 18 ải dọc biên thùy Tống, rồi công phá các  châu Khâm, Liêm, Ung, Dung, Nghi, Bạch, cùng diệt viện quân ở núi Đại-giáp (Nay thuộc lãnh thổ Quảng-Đông, Quảng-Tây, Quý-châu, Hồ-Nam). Nhiệm vụ chu toàn rồi, quân Việt rút về. Thắng toàn diện. Đến đây Đại-Việt ra mặt khai chiến với Tống. Cả hai bên cùng đem toàn lực ra đối phó với nhau. Cuộc ra quân của Việt lần này quá lớn lao, phá nát kế hoạch cải cách của Tống ở Giang-Nam. Quá uất hận, Tống chịu nhục; nhường Hạ ở phía Tây, cắt đất dâng cho Liêu ở phương Bắc… để cho rảnh tay, rồi họ mang quân nghiêng nước sang định chiếm Đại-Việt đặt làm quận huyện (1076-1077). Nhưng Tống lại bị thất bại phải rút quân về, và chịu hòa. Người có hùng tâm, tráng-chí, lãnh đạo là một thiếu phụ ở tuổi ba mươi, đó là Linh-Nhân hoàng thái hậu (Ỷ-Lan). Còn người Tổng chỉ huy cuộc vượt biên Bắc phạt là Lý Thường-Kiệt, Tôn Đản, Lý Hoằng-Chân, Lý Chiêu-Văn, Lý Kế-Nguyên.

    Lần thứ sáu

    Sau cuộc Bắc phạt, và giữa lúc cuộc kháng Tống của Đại-Việt, chiến cuộc đang diễn ra cực kỳ khốc liệt (1076), Vương An-Thạch bị cách chức Tể-tướng, giáng xuống tri Giang-ninh phủ, lĩnh Trấn-Nam quân tiết độ sứ, Đồng-bình chương-sự. Lúc Vương độ giang, bị một nhân sĩ bắt con sâu bỏ lên xe rồi làm bài thơ mỉa mai như sau:

    Thanh-miêu, trợ-dịch lưỡng phương nông,
    Thiên hạ ngao ngao oán tướng công.
    Ðộc hữu hoàng trùng thiên cảm đức,
    Hữu tùy xa giá, quá Giang-Ðông.

    Dịch nghĩa:

    Thanh-miêu trợ dịch hại canh nông,
    Thiên hạ nhao nhao oán tướng công.
    Chỉ có sâu vàng theo tiễn biệt,
    Cùng trên xa giá, quá Giang-Ðông.

    Có người ví cái thất bại của Vương An-Thạch cũng đau đớn như cái thất bại của Hạng Võ xưa, khuyên Thạch nên tự tử: Khi Hạng-Vương mưu đuổi hươu ở Trung-nguyên, bị thất bại, lui về Nam; lúc qua sông này tự cảm thấy xấu hổ, đã tự tử, mà hậu thế kính phục. Còn Vương An-Thạch không đủ can đảm.

    Tiếc thay, một cuộc cải cách về kinh-tế, binh-bị, tài-chánh, xã-hội, nông nghiệp của Vương An-Thạch như vậy, đang trên đường thành công rực rỡ; bị tan vỡ, bị hủy bỏ chỉ vì tham vọng đánh Đại-Việt. Mà đau đớn biết bao, khi người phá vỡ chỉ là một thiếu phụ Việt ở tuổi ba mươi. Giá như Thạch không chủ trương Nam xâm, chỉ cần mười năm nữa, toàn bộ xã hội Trung-quốc thay đổi; rồi với cái đà đó, thì Trung-quốc sẽ là nước hùng mạnh vô song, e rằng muôn đời mặt trời vẫn ở phương Đông, chứ không ngả về Tây như hồi thế kỷ thứ 18 cho đến nay và bao giờ..???…???
    Sau cuộc ra quân của Đại-Việt, trên từ vua Tống Thần-tông cho tới các quan đều uất hận. Tống xuất quân nghiêng nước, 40 vạn binh, 50 vạn dân phu (phụ lực quân) sang đánh trả thù (1066-1067). Nhưng khi quân Tống do Quách Quỳ, Triệu Tiết, Yên Đạt, Tu Kỷ tiến đến cách Thăng-long 50 dặm (25 cây số) thì bị đánh bật về Bắc. Sau đó Tống rút quân chịu hòa.

    Tuy Tống chịu hòa, nhưng còn giữ của Đại-Việt các châu Quảng-nguyên, Tô-mậu mà bọn động trưởng Lưu Kỷ, Vi Thủ-An đem cả dân lẫn đất theo Tống. Quan trọng nhất là châu Quảng-nguyên có mỏ vàng. Năm 1078, Việt sai sứ sang Tống đòi đất. Tống không trả. Mãi năm 1081, Việt trả tù binh trong trận 1075-1077, Tống mới trả châu Quảng-nguyên. Năm 1084, Việt sai Binh-bộ thị-lang Lê Văn Thịnh sang nghị hòa với các đại thần Tống, Tống chịu trả cho Việt thêm 6 huyện, 3 động. Việt tặng Tống con voi lớn. Danh sĩ Trung-quốc nhân chuyện này làm thơ than:

    Nhân tham Giao-chỉ tượng,
    Khước thất Quảng-nguyên kim.
    ______________________________________________________________

    Tư Liệu Tham khảo về Ải Nam Quan (?)

    Có tất cả  có 5 "Nam-quan"
     

    NAM QUAN THỨ NHẤT – 1558-1885 (TQ xây)

    Hình ải Nam-quan 1558-1885.

    Vua Gia-Tĩnh, triều Minh ban chỉ kiến tạo năm 1558, mang tên Trấn Nam-quan, nhưng thường gọi bằng danh tự Nam-quan. Trấn Này nằm giữa hai ngọn núi nhỏ, chặn ngang đường từ Lạng-sơn đi Ung-châu (Nam-ninh). Nằm về phía Nam trấn này 2 dặm là ải Phả-lũy của Việt-Nam. Biên giới Hoa-Việt được kể từ chân ải Nam-quan. Tháng 6 năm Đinh Hợi 1406, tại phía Nam ải này có cuộc tiễn đưa lịch sử giữa Nguyễn Phi Khanh và Nguyễn Trãi, rồi có suối Phi-Khanh.

    Năm 1884, triều đình Nguyễn ký hiệp ước chịu sự bảo hộ của Pháp. Thiếu-tướng Francois Oscar De Négrier được cử làm tư  lệnh vùng biên giới phía Đông của Hoa-Việt. Trong lúc giao thời Pháp-Việt, ải Phả-lũy bỏ không. Quân Thanh tràn sang phá ải, rồi cướp phá vùng Đồng-đăng. Ngày 24 tháng 3 năm 1884, Thiếu-tướng De Négrier tổ chức cuộc hành quân đánh đuổi quân Thanh.  Quân Thanh đại bại, Tổng-binh Sầm Quang Anh bị giết. Ngày đầu năm 1985, Tổng-binh Nùng Mặc Sơn, đem một trung đoàn Thanh tấn công, chiếm đồn Phả-lũy rồi tràn vào Lạng-sơn cướp phá. Tướng De Négrier đem 3 tiểu đoàn (2 tiểu đoàn Pháo-thủ, một Tiểu-đoàn bộ binh thuộc địa), đánh đuổi quân Thanh, giết Nùng Mặc Sơn. Ngày 5-1-1885, chiếm ải Nam-quan, đặt chất nổ san bằng.

    NAM QUAN THỨ NHÌ – 1886-1952 (TQ&VN cùng xây dựng)

    Sau khi thỏa ước Pháp-Thanh ký, Nam-quan được xây lại bằng ngân sách của chính phủ Đông-dương và  Thanh-triều. Ải xây bằng đá mài, mái cong rất đẹp. Trong ải một nửa thuộc Pháp, một nửa thuộc Thanh. Mỗi bên đều có cơ quan Cảnh-sát, lính biên phòng, quan thuế. Tiền tu bổ hằng năm, do ngân sách tỉnh Quảng-Tây và Lạng-sơn đài thọ.  

    Biên giới Hoa-Việt được kể từ giữa ải: Nam của Việt, Bắc của Hoa. Thời gian này VN soạn thảo sách giáo khoa Việt-ngữ, bởi vậy mới có câu:

    "Nước Việt-Nam hình chữ S từ ải Nam-quan đến mũi Cà-mâu"

    Trong chiến tranh Quốc-Cộng 1949, ải này bị phá hủy.

    NAM QUAN THỨ BA (MỤC NAM QUAN, TQ xây) – 1952-2001

    Hồi chiến tranh Việt-Pháp (1946-2001), sau chiến dịch Cao-Bắc-Lạng, Việt Nam và Trung Hoa trở thành "núi liền núi sông liền sông". Trung-quốc cho xây Mục Nam-quan, lùi vào lãnh địa Việt-Nam. Hình trên, không thấy hai ngọn núi và suối Phi-Khanh đâu. Mục đích việc lùi biên giới này như sau: Vùng phía Bắc Mục Nam-quan tuy là lãnh thổ Việt-Nam, nhưng bây giờ tạm cắt sang là của Trung-quốc. Như vậy Pháp không dám xâm nhập hay bắn phá vùng đất do Trung Quốc mới tiếp quản này. Đó chính là an toàn khu để Hồng-quân lập các trung tâm huấn luyện và tập kết các kho vũ khí giúp cho quân Việt-Minh. Sau chiến tranh (1954) Trung-quốc giữ luôn. Trong chiến tranh 1960-1975, nơi đây cũng là các trạm trung chuyển các nguồn viện trợ vũ khí, khí tài cũng như quân trang quân dụng, lương thực thực phẩm từ các nước XHCN theo tuyến đường xe lửa chi viện cho chiến tranh với Mỹ. Vì Trung Quốc kéo cờ chủ quyền, nên không quân Hoa-kỳ cũng ngại va chạm với Trung Quốc, không dám oanh tạc khu vực này.

    NAM-QUAN THỨ TƯ – (1952-1979)

    Phía Nam Mục Nam-quan mấy trăm thước, chính phủ Việt-Nam Dân-chủ Cộng-hòa cũng cho xây một cửa ải nữa, mang tên cửa Hữu-nghị. Tại đây có đầy đủ các cơ quan như: Công-an biên phòng, Hải-quan, Bưu-điện v.v. Trong chiến tranh 1979, Trung-quốc san bằng cái cửa Hữu-nghị của Việt Nam, chiếm lĩnh tất cả các điểm cao, đặt thành các đài quan sát quân sự kiên cố, dù đó vốn là đất cũ của Việt nam.

    Sau chiến tranh, VN cho xây lại một cửa Hữu-nghị khác. Nhưng từ khi ký hiệp định 1999, thì cái Hữu-nghị này phá bỏ. Việt Nam xây cửa Hữu-nghị mới lùi lại sau mấy trăm thước nữa.

    NAM-QUAN THỨ NĂM (2001- ?)

    Cửa Hữu-nghị mới xây lại năm 2001

    Ảnh chụp tháng 8-2001, cửa Nam-quan cũ lùi lại sau,
    Cửa Hữu-nghị mới!!!

    Cột cây số 0 – Địa đầu tổ quốc Việt Nam

    Cái cây số không đó là cây số 1,5 cũ đấy. Cột cây số Zéro bây giờ ở nằm giữa Mục Nam-quan và cửa Hữu-nghị mới. (Từ cây số Zéro đến cây số 1 cũ,  nay thuộc Trung-quốc)

    Sát Mục Nam-quan, phía bên Trung-quốc cũng như Việt-Nam, đều có nhiều cơ sở:

    • Cơ sở Hải-quan

    • Bãi đậu cho hằng trăm xe tải, để chờ kiểm soát, chờ làm thủ tục nộp thuế

    • Cơ sở di trú của Công-an để kiểm soát Passeport

    • Đồn của quân đội để tuần phòng, bảo vệ lãnh thổ

    • Hằng chục cơ quan, khác như Bưu-điện, Ngân-hàng, công ty điện, nước

    • Về phía dân chúng, hằng trăm cửa hàng ăn, nhà ngủ, khách sạn

    Các cơ sở phía Nam thuộc Việt-Nam, trong chiến tranh Hoa-Việt 1979, quân đội Trung-quốc đã san bằng hết. Kể cả cây cột biên giới.

    Tuy vậy sau chiến tranh, đã xây dựng lại hoàn toàn. Từ khi có phong trào mở cửa, đổi mới chính trị, dân chúng cả hai bên đã xây dựng lại khang trang hơn cũ, rộng lớn hơn cũ, và hiện đại hơn  cũ. Nhưng từ khi hiệp định 30-12-1999 ký thì toàn bộ khu này thuộc Trung-quốc. Những cơ sở đó bây giờ được thay bằng một tòa nhà duy nhất. (Hình đính kèm)

    Ảnh chụp tháng 8-2001, cửa Nam-quan cũ lùi lại sau,
    Cửa Hữu-nghị mới!!!

     

     

    Ải Nam Quan 1979

    Huu Nghi Quan

    Ải Nam Quan (Hữu Nghị Quan) 2005

    友谊关-摄于东侧城墙

    Quốc kỳ CHND Trung Hoa tung bay trên Ải Nam Quan

    *

    Tài Liệu: Thác Bản Giốc
     
    Thác Bản Giốc
     
     


      

    *Biên-bản ghi bằng tiếng Hán   *Cột 53 tên Bách-Nga Khẩu    *Biên-bản tiếng Pháp

     

    Cột mốc 53 hiện tại nằm ở đâu?

     

    Theo ông Lê Công Phụng, cột mốc hiện tại nằm ở "một cồn nhỏ ở giữa suối, cách đấy khoảng mấy trăm mét". Nhưng theo vị trí đánh dấu trên Google Earth, cột mốc nằm ở bên bờ bên kia suối, thuộc lãnh thổ Trung Quốc.

     

    Ảnh vệ tinh chụp từ Google Rarth, với vòng vàng đánh dấu

    vị trí cột mốc 53, hai vòng đỏ đánh dấu thác Bản Giốc

    Hình chụp cận cảnh cột mốc 53 ở gần thác Bản Giốc


    Vị trí cột mốc phù hợp với tấm hình do khách du lịch chụp cận cảnh cột mốc.

    Dưới góc nhìn thuận lợi này, chúng ta có thể thấy cột mốc nằm sát chân núi dốc đứng, chứ không phải cồn giữa suối như ông Lê Công Phụng nói.

     

    Nếu cột mốc 53 nằm ở cồn thật thì sao?

     Thì thác Bản Giốc chia làm đôi:

    Thác lớn thuộc Trung Quốc và thác bé thuộc Việt Nam

     

     

     

    ———————————||———————————

    Phần thác nằm bên Việt Nam

     

    Phần thác nằm bên Trung Quốc

     

     

    Phần Bản Giốc Nằm bên Việt Nam

     

     

    Phần Bản Giốc nằm bên Trung Quốc

     

     
     

        Bản đồ Thác Bản Giốc hướng dẫn du lịch của công ty du lịch Trung Quốc

     

     

    Tài liệu năm 1887 do nhà nghiên cứu Trương Nhân Tuấn tìm thấy trong văn khố của Pháp ghi rất rõ thác Bản Giốc nằm 2km sâu bên trong nội địa Việt Nam

         *   *   *

    Thác Bản Giốc

    Thác Bản Giốc nằm trên biên giới Việt – Trung, thuộc xã Đàm Thủy, huyện Trùng Khánh, cách thị xã Cao Bằng 89 km theo tỉnh lộ 206 về phía Bắc, cách thị trấn Trùng Khánh 26 km. Sau dòng thác là dòng sông, bạn có thể đi du thuyền trên sông.

    Bờ sông với cảnh quan đẹp nên thơ, trong lành với thảm cỏ, rừng núi xanh ngắt, mây trắng bồng bềnh. Với độ cao 53 m, rộng 300 m, thác có 3 tầng gồm nhiều ngọn thác lớn nhỏ khác nhau. Những khối nước lớn đổ xuống qua nhiều bậc đá vôi, tạo thành một màn bụi nước trắng xóa.

    Ngay từ xa, du khách đã có thể nghe thấy tiếng ầm ào của thác vang động cả một vùng rộng lớn. Giữa thác có một mô đá rộng phủ đầy cây đã xẻ dòng sông thành ba luồng nước như ba dải lụa trắng.

    Theo HTV, vào những ngày hè nắng nóng, không khí ở đây vẫn mát lạnh, mỗi buổi sáng khi ánh mặt trời chiếu qua làn hơi nước tạo thành dải cầu vồng lung linh huyền ảo. Thác Bản Giốc với những vẻ đẹp, ưu thế riêng đang ngày càng thu hút nhiều khách tham quan trong và ngoài nước.

     
     
     

    *

    Các hình ảnh quảng cáo du lịch của CHND Trung Hoa

    Ở khu vực thác Bản Giốc thuộc phía Trung Quốc

    Trang web của công ty du lịch Trung Quốc giới thiệu về thác Bản Giốc:

    Daxin County is under the jurisdiction of Nanning City, Guangxi Zhuang Autonomous Region, and shares over 40 kilometers of its southern border with Vietnam. Formerly an undeveloped area, it is famous for its Detian Scenic Zone, which boasts a variety of fantastic landscapes.

    Along with the enhancement of friendly ties between China and Vietnam, the Detian Scenic Zone was established several years ago, and was so named for its spectacular Detian Waterfall.

    The Detian Waterfall is over 200 meters wide and has a drop of more than 70 meters. Its water rushes down a three-tiered cliff with tremendous force. It is the largest waterfall in Asia, and the second largest transnational waterfall in the world, connecting with a waterfall in Vietnam. The fall is awe-inspiring, and its thunder is audible before it even comes into view.

    The changing seasons transform the natural scenery of the waterfall throughout the year. In spring, the flame-red blossoms of the kapok trees that surround the fall are in full bloom, symbolizing success. Throughout the autumn months, though, the area around the waterfall turns golden-yellow, creating a harvest scene. In the summer, visitors feel a complete freedom of mind and ease of spirit as they see the waters of the fall cascade with the momentum force of an avalanche. During winter, on the other hand, the fall’s clear water drops slowly, making visitors feel even-tempered and good-humored. The Detian Waterfall appears to be a sculpture made by nature.

    Fifty-three kilometers away from the county seat of Daxin is the Mingshi Tourist Attraction, a state-level scenic spot known as the Lesser Guilin. The Mingshi River winds its way through green hills and flat land, and its banks are dotted with groves of bamboo. The tranquil waters of the river, along with the green hills, terraced fields, and farmers’ houses around the Mingshi Bridge, form a beautiful countryside scene.

    The Heishui (Black Water) River Tourist Attraction is another state-level scenic spot that is 33 kilometers away from the county seat of Daxin. It is located in a 45.5-kilometer section of the river between Shatundie Waterfall in Shuolong Township and the Leipingnaan Hydropower Station. By the river, there are a number of trees and odd-shaped pinnacles, whose inverted reflection in the river’s blue water is the color black, hence the name of the river. With pinnacles, groves of bamboo and longan trees, and farmers’ houses, this section of the river looks like an elegant Chinese ink and wash painting throughout the seasons.

    Shatundie Waterfall, also known as Niandi Waterfall, is 55 kilometers away from the county seat of Daxin. The fall has seven tiers; and if you view it from afar, it looks like a flight of steps made of water. Compared with the Detian Waterfall, it is moderate and calm.

    Visitors from other parts of the country can travel by air, train, or long-distance bus to Nanning, the capital city of the Guangxi Zhuang Autonomous Region. From Nanning, they can take scheduled buses, dispatched every 20 minutes, to the county seat of Daxin. There are tourist buses to every scenic spot in the county.

     
     

    图集:超级美景:中越边境的山水画廊--德天瀑布
    2005年07月20日 08:42  

     

    详细行程: 超级美丽的瀑布;超级漂亮的景色;超级值得一去的地方。(点小图看大图)

      》》德天瀑布位于中越边境广西大新县大新县硕龙乡德天村,距离县城78公里,距首府南宁市仅140多公里。为国家特级景点。横跨中国越南两个国家,是亚洲第一、世界第二大的跨国瀑布。它源起广西靖西县归

    春河,终年有水,流入越南又流回广西,经大新县德天村处遇断崖跌落而成瀑布。 

     

      这次去德天真的是不虚此行,虽然从深圳座车到德天景区需要12个小时,但因在晚上出发,一路聊天、看碟、听歌很快晚上进入梦乡。

      第二天早晨抵达服务站梳洗过后,在小店吃碗桂林米粉,味道真的好。吃完米粉再行车30分钟就进入我们的行车的第一站:归春河徒步,观看归春河美景--沙屯叠瀑。沿归春河河畔,观看两岸的青山绿水,轻松惬意。整个徒步时间越1个半小时,沿途路况很好轻松。

      》》归春河的青山秀水,让人心旷神怡。

     

     》》沿着河岸行走,可以从不同的角度拍摄景色。这是沙屯叠瀑

     

    》》因前段时间雨水充沛,所以沙屯叠瀑的感觉更加浓了

     

    》》河畔小路

     

     》》近景

     

    》》垂钓的小孩

     

     

    徒步归春河整个约1小时30分钟,当我们行走到大马路时,车会直接开到终点接我们。接着我们驱车到了德天瀑布景区用中餐,考虑到德天瀑布在早晨去看,光线最好,所以我们决定下去先去看通灵大峡谷。通灵大峡谷位于靖西县,距离德天瀑布30公里的路程,盘山公路过去,行车约1小时。通灵大峡谷有中国单级落差最大的瀑布。

      沿着石壁修造的台阶可以直下谷底。沿途树阴浓密,即使外面炎炎烈日,峡谷之内却凉气袭人。

      游览完通灵大峡谷回到硕龙镇住宿。

      提示:在以德天为中心,以15km为半径的圈子里面,散落着各种不同档次的酒店。价格从15-100元\人不等。大可自行选择。不过最好还是在出发之前说明需要定房。我们这次比较被动,到了当地才找房子。虽然大家最后都找到了住的地方,但却分开好几个地方。第三天早晨集合的时候有点拖延。另进入德天瀑布景区之后才发现,原来在景区内有个酒店,运气好住的房间,竟可直接看到瀑布,坐在房间内欣赏美景,爽阿。可惜开始不知道。

      晚上可以三五成群,散落在小镇的各处自行FB。

      当地的名菜--青竹鱼、蚂蚁蛋(真的是蚂蚁生的蛋哦,油炸出来,吃起来有点想春卷,呵呵,味道还不错)等酒菜,酒饱饭足,睡觉去也……。

      第三天,我起了个大早。

      俺以前的经验告诉俺,这些小山村的清晨别有一番味道。想当年,俺自行到张家界游玩,那时候张家界还没有索道呢。俺住在索溪峪也是早晨起来,走在河畔,那看到的清晨美景,俺到现在都无法忘记呢。

      》》清晨的硕龙镇

    》》听说那边是越南

     

     》》恍如仙境

     

      在镇上的小店吃了碗正宗桂林米粉,进入到我们此次行程的主题--德天瀑布,早已经按耐不住心情了,哈哈。

      》》先来个全面滴!(这是俺站在景区内酒店的旁边照滴呢,要是住在这里,那多爽ING。)

     

     》》这边是中国滴!

     

    》》这边是越南滴,国家小,瀑布都小滴。

     


    在沿着下山的小路从不同的角度观看德天瀑布,一直行到河谷底部。最好玩的是租了大大的竹排到江中玩,拍照或游泳,一不小心就出国了。过江到越南那边拍照是允许的,但是要自觉,停留时间不可太长。江水有深有浅,浅处才到腰部。可以请撑排的将竹排尽量撑向瀑布,去感受弥漫着的水雾。微风吹来,水花飞舞,飘在脸上,非常清爽。

      》》乘坐竹筏10元\人

    看完大瀑布,已是中午11:00。恋恋不舍滴离开德天瀑布。考虑到要在周一早晨7点之前回到深圳,不耽误上班,所以我们决定早点用早餐,然后驱车前往名仕田园景区。在名仕田园,香港无线电台有好几部片子是以这里为背景拍摄的,如:《酒是故乡醇》《牛郎织女》等片子。可见这里风景的独特和漂亮

      》》去名仕田园途中经过的盘山公路

    》》到达名仕田园,主要的项目是乘船游览名仕河。竹筏漂流在清水秀水之间,如果运气还可以看到美丽的倒影。竹筏20元\人,因为我们人多讲价到10元\人。

     

     》》当时拍戏时留下来的水车

     

    》》老太太的独木舟。在乘船游览的途中,有当地的小姑娘或是老太太拿着新鲜的莲蓬乘着小竹筏到我们的船上来卖,尝一颗,清香四溢呢。

     

    》》漂亮吧

     

    看完名仕田园,我们此次行程的的游览部分就已经全部结束了。我们从名仕田园赶往大新县,在这里买了水、水果、小吃等物品。接着就出发返回深圳。我们决定在兴业用晚餐。约在晚上10点左右,我们抵达了兴业,按照原计划我们在这里吃完炒粉。继续我们的回程。第四天早餐7:00我们准时抵达了深圳,结束了此次四天之旅。回来迫不及待的看这照片,现在还觉得兴奋呢,哈哈哈哈……!

      》》行车图

    》》行程  第一天:深圳晚上八时出门,经广深高速--广肇高速公路直抵云浮(刚开通的高速)--梧州--罗定--玉林--兴安上南梧高速公路到南宁,路程600多公里(六小时),住车上。

      第二天:南宁--(146km)大新--归春河徒步(沙屯叠瀑)--德天用中餐--下午去通灵大峡谷(30公里)--晚上回到硕龙镇住宿(或是选择在德天景区内住宿)。

      第三天:早餐后游览德天瀑布--德天用中餐--驱车30km去名仕田园--下午到大新--原路回程。

      第四天:早晨7:00抵达深圳。

      》》路况提示:

      整个行程下来往返路程约2200km。深圳到梧州均为高速公路。梧州到南宁段有一段是国道,不过路况良好。南宁–大新约150公里,路况基本良好,二级路已通车。德天–通灵,此路段为油山路,路面好,约30公里山水风景很美。名仕田园到大新段正在修路(大约50km左右),不过基本都没有什么问题。到了大新县城路就好走了。

     

     》》景区地图

     

    注意事项:

      8月1日起,德天瀑布门票由30元涨至80元

      广西旅游网通讯员:在全国很多大景区的一遍涨价声中,广西的大景区在沉默了几个月后,终于打破了沉静,德天瀑布率先涨价,并且涨幅巨大,达到160%多,由原价30元涨至80元。

      据了解,这次的涨价已酝酿很久,之所以选择在8月1日涨价,是因为这个季节是德天水量最丰富,景观最壮观的时间,同时,又是暑期的旅游旺季,涨价可能会影响短暂的客源数量,但估计对景区的全年总收入影响不大。涨价究竟会对客源数量的影响有多大?还要看市场的反应。

    _________________________
     

    "Đường biên giới hiện nay

    cách Ải Nam Quan 160 mét về phía Nam"

    Monday, 23 February 2009

    01.jpg

    Cột mốc 836/2 ở thác Bản Giốc, được đổ móng bằng khối bê tông lớn. Foto: LÊ QUANG NHẬT

    Hai chính phủ CHXHCN Việt Nam và CHND Trung Quốc hôm nay tổ chức lễ mừng hoàn thành cắm mốc biên giới trên đất liền. Theo RFA, Thứ trưởng Ngọai giao VN là ông Vũ Dũng cho hay đường biên giới hiện nay cách ải Nam Quan 160 mét về phía Nam.

    Như vậy kể từ nay lãnh thổ Việt Nam không còn được minh định như trong sách vở giáo khoa xưa “Tổ Quốc Việt Nam kéo dài từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau”!

    Buổi lễ đựơc long trọng tổ chức tại cửu khẩu gọi là “hữu nghị” Lạng Sơn vào hồi 3 giờ rưỡi chiều, với sự tham gia của khỏang 400 viên chức hai chính phủ hai nước Việt, Trung.

    Về phía Việt Nam, có Phó thủ tướng Phạm Gia Khiêm và  Thứ trưởng ngọai giao Vũ Dũng. Về phía Trung quốc, có thành viên quốc vụ viện Đới Bình Quốc và thứ trưởng ngọai giao Vũ Đại Vĩ.

    Phát biểu tại buổi lễ, ông Đới Bỉnh Quốc nhấn mạnh đến điều được gọi là “kết quả cùng thắng” của hai bên, trong lúc như lời ông Vũ Dũng nói: biên giới mới đã lùi cách ải Nam Quan 160 mét về phía Nam và Thác bản Giốc của Việt Nam nay chì còn một nữa.

     

    Ngoại trưởng VN Phạm Gia Khiêm (phải) và Thứ trưởng ngoại giao TQ Vũ Đại Vĩ tại lễ chào mừng hòan thành cắm mốc biên giới trên đất liền hôm 23-2-2009. AFP PHOTO

    Báo Tuổi Trẻ online cũng trích dẫn lời ông Dũng cho biết trong quá tình đàm phán, những khu vực nhậy cảm nhất là thác Bản giốc và các khu vực cửa khẩu.

    Quá trình phân giới cắm mốc kéo dài gần 7 năm, kết thúc ngay truớc giao thừa Dương lịch 2008. 1971 cột mốc đã được cắm, trong đó có 1549 cột mốc chính và  422 cột mốc phụ.

    Tác giả Huy Đức ở trong nước, trong bài viết “Biên giới cứng, biên giới mềm” đã nhắc đến những giọt nước mắt của những người lính biên phòng Việt Nam trước cảnh biên giới tổ quốc bị di dời. Bài viết cũng cho biết nhiều nhà cửa, ruộng đất dân Việt bị cắt nhập vào phía TQ.

    *

    BBCVietnamese.com
    Ăn mừng hoàn thành cắm mốc Việt-Trung
    23 Tháng 2 2009 – Cập nhật 15h45 GMT
     
     
     
    Giới chức Việt Nam và Trung Quốc vừa tổ chức Lễ Chào mừng hoàn thành công tác phân giới, cắm mốc biên giới trên đất liền.
    Thứ trưởng Ngoại giao Vũ Dũng tại cột mốc biên giới

    Việc phân định cắm mốc kết thúc vào cuối năm 2008

     

    Buổi lễ bắt đầu lúc 3:30 chiều tại cửa khẩu Hữu nghị Quan giữa Lạng Sơn và tỉnh Quảng Tây.

    Hơn 400 quan chức chính phủ hai bên cùng nhiều người dân đã tham dự buổi lễ.

    Trong số các khách mời có ông Đới Bỉnh Quốc, Ủy viên Quốc vụ viện , và thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Vũ Đại Vỹ.

    Về phía Việt Nam có phó thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Phạm Gia Khiêm và thứ trưởng Ngoại giao Vũ Dũng.

    Ông Đới được Tân Hoa Xã trích lời nói: "Việc hoàn tất phân giới cắm mốc là sự kiện quan trọng trong quan hệ song phương, với ý nghĩa lịch sử sâu xa".

    Ông nói thêm: "Điều này không chỉ tạo điều kiện cho hai nước phát triển hợp tác chiến lược, mà còn đóng góp cho hòa bình, ổn định và phát triển trong khu vực".

    Trung Quốc và Việt Nam loan báo hoàn tất phân giới cắm mốc chỉ vài tiếng trước khi năm 2008 kết thúc.

    Buổi lễ ăn mừng kéo dài 45 phút có các màn văn nghệ của cả hai nước.

    Những việc cần làm

    Thứ trưởng Ngoại giao VN Vũ Dũng, Trưởng đoàn đàm phán cấp Chính phủ về biên giới lãnh thổ, cũng đã phát biểu trước báo chí Việt Nam nhân sự kiện này.

    Ông Dũng cho hay hai bên cắm cột mốc đầu tiên tại cửa khẩu Móng Cái (Việt Nam) – Ðông Hưng (Trung Quốc) hồi tháng 12/2001.

    Từ tháng 10/2002, việc phân giới cắm mốc được triển khai đồng loạt trên toàn tuyến biên giới giữa hai bên.

    Cho tới 2004, do hai bên còn có nhận thức khác nhau về cách thức triển khai, nên công tác này tiến triển chậm, và chỉ sau khi thỏa thuận triển khai theo phương thức "dễ làm trước, khó làm sau", quá trình phân giới cấm mốc mới tiến triển nhanh hơn.

    Hết năm 2006, hai bên thỏa thuận giải quyết các vấn đề nhạy cảm tồn đọng theo phương thức "cả gói".

    Ông Vũ Dũng được TTXVN trích lời nói: "Sự kiện này cũng là cơ sở để mỗi bên quản lý và duy trì sự ổn định ở vùng biên giới, thực hiện chủ trương xây dựng biên giới Việt Nam – Trung Quốc hòa bình, hữu nghị, hợp tác và ổn định lâu dài".

    Ông thứ trưởng cho biết, trong năm 2009, Việt Nam và Trung Quốc tiếp tục thảo luận nhằm hoàn chỉnh nội dung của Nghị định thư về phân giới cắm mốc và các phụ lục kèm theo, bao gồm bản đồ, hồ sơ ghi nhận những kết quả mà hai bên đã đạt được trên thực địa trong những năm qua.

    Một trong các việc cần làm là thương lượng và ký kết Quy chế quản lý biên giới mới và Hiệp định quản lý hoạt động qua các cửa khẩu quốc tế.

    Hai bên cũng sẽ thảo luận và ký Hiệp định về việc hợp tác khai thác tiềm năng du lịch thác Bản Giốc; Quy định về việc đi lại ở khu vực cửa sông Bắc Luân.

    ____________________

    BBC Copyright Logo

    "Cái cây tìm sự cô đơn ở trên cao/Ngọn cỏ tìm sự đông đảo ở dưới đất"

    Biên Giới Cứng, Biên Giới Mềm

     
    Hôm nay, 23-2, Trung Quốc và Việt Nam sẽ làm lễ hoàn tất công trình Phân giới cắm mốc, kết thúc 8 năm triển khai trên thực địa, kết thúc những tranh cãi căng thẳng, kéo dài. Nhưng, những tranh chấp không chỉ diễn ra trong vòng 8 năm ấy. Biết bao câu chuyện xứng đáng ghi vào lịch sử kể từ khi hai nước ký Hiệp định tạm thời, 07-11-1991.

    Gió Chi Ma

    Cho đến tận hôm nay, đường lên cửa khẩu Chi Ma, huyện Lộc Bình, Lạng Sơn, vẫn phải ngưng lại dở dang trước đường Biên 63m. Năm 1993, khi tỉnh Lạng Sơn cho rải đá, lực lượng vũ trang từ phía Ái Điểm, Trung Quốc, tràn sang ngăn cản, “bạn” cho rằng đấy là phần đất thuộc về Trung Quốc cho dù cột mốc 44 vẫn còn. Từ ngày 28-5 cho đến 11-6-1993, hàng trăm binh sỹ có vũ trang từ Ái Điểm tới, theo sau là 15 xe chở đá. Trong khi phía Việt Nam chưa kịp phản ứng, 2 xe “vượt biên” sang đổ đá chồng lên đoạn công nhân Việt Nam đang thi công. Ngay lập tức bộ đội Biên phòng, Hải quan, công nhân, đặc biệt là bà con nông dân Chi Ma xuất hiện. Họ rút.

    Kể từ hôm đó, tổ cột mốc 44 được thành lập, 7 cán bộ Biên phòng có nhiệm vụ canh giữ cho mốc 44 trụ vững ở đúng vị trí mà nó đã đứng, kể từ sau Công ước Pháp- Thanh 1887 và 1895. Các anh phải túc trực 24/24, trong gió Chi Ma thổi bạc mặt; trong rét Chi Ma có khi xuống dưới độ Không; dưới một túp lều dựng bằng 6 cọc tre và những thùng giấy carton nằm sâu bên lãnh thổ Việt Nam 5m (vì bị ngăn cản không thể dựng nhà).

    “Nhật ký” của tổ ghi nhận 32 sự kiện tiêu biểu xảy ra xung quanh mốc 44: một lần biên phòng Ái Điểm, Trung Quốc, cho dựng một nhà tạm lấn sang đất Việt Nam 2m; 22 lần lực lượng vũ trang Trung Quốc xâm nhập sâu vào đất Việt Nam từ 5-35m; 7 lần xâm canh; 1 lần lén chôn một bia đá sang đất Việt Nam 20m… Chiều 6-2-2009, chúng tôi có mặt ở Chi Ma, phía bên kia mốc 44 là một bức tường đá dày 1m cao 3m, bao bọc đồn Ái Điểm. Trên bức tường đó, sâu hoắm những lỗ châu mai, nhìn sang.

    Thiếu tá Lục Văn Moong, người từng là đồn phó Chi Ma 4 năm, nói: “Có rất nhiều chuyện không được ghi chép, đó là những cục đá được ném sang từ phía bên kia lúc nửa đêm. Trận ‘đá kích’ cuối cùng xảy ra là vào năm 2003”. Theo thượng tá Nguyễn Anh Tuấn, phó chủ nhiệm chính trị Biên phòng tỉnh Lạng Sơn: “Anh em đã bám trụ trong điều kiện như thế suốt 15 năm, từ tháng 6-1993 đến tháng 1-2009. Khi viết đề nghị tặng huân chương Chiến công (hạng Ba) cho tổ cột mốc 44, có nhiều câu chuyện đã làm tôi khóc”.

    Bản Giốc

    Mãi cho tới ngày 14-1-2009, mốc 836 mới được cắm bên triền Bản Giốc. Thác Bản Giốc và cửa Bắc Luân cùng nằm chung trong một “gói đàm phán”, được phân giới sau cùng. Sông Quây Sơn chảy vào đất Việt ở cột mốc 67 (cũ) vòng qua các ngọn núi ở Trùng Khánh, Cao Bằng, khoảng 20km rồi chạy ra mốc 53 (cũ), thành con sông Biên giới dài 15km trước khi chảy sang Trung Quốc ở cột mốc 49 (cũ).

    Thác Bản Giốc là một trong những thác đẹp nhất Việt Nam, nằm tại xã Đàm Thuỷ, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng.

    Giờ này, cánh đồng dưới chân Bản Giốc trơ rạ. Chưa tới mùa nước, thác chưa đầy như bức ảnh mà Võ An Ninh đã chụp. Nhưng, cảm giác về một Bản Giốc trọn vẹn vẫn nghèn nghẹn. Theo thứ trưởng Ngoại giao Vũ Dũng: “Ta và Trung Quốc đã thoả thuận đường biên giới đi từ mốc 53 cũ, qua cồn Pò Thoong, đến điểm giữa của mặt thác chính”.

    Trong khoảng thời gian “gói Bản Giốc- Bắc Luân” đang đàm phán, Trung Quốc mấy lần định làm đường trên cồn Pò Thoong, mấy lần bị người dân Đàm Thủy đứng ra ngăn cản. Xưa nay, Pò Thoong vẫn nằm trong vùng quản lý của Biên phòng Việt Nam, người dân vẫn canh tác và lấy đá cát quanh đó. Trận “đá kích” sau cùng mà các cán bộ Biên phòng ghi nhận xảy ra là vào ngày 24-7-2007. Giờ đây, mốc đôi 835 đã được cắm thay thế cho mốc 53: 835/1 nằm bên bờ Trung Quốc của sông Quây Sơn; 835/2 nằm trên cồn, “phần thuộc về Việt Nam bây giờ là ¼ cồn Pò Thoong”.

            

            Khu lán sơ sài bán đồ lưu niệm của Việt Nam     Khu kinh doanh du lịch mới xây của Trung Quốc

    Theo ông Vũ Dũng: “Ta và Trung Quốc nhất trí sẽ cùng hợp tác để phát triển tiềm năng du lịch, kinh tế tại khu vực thác Bản Giốc”. Cũng theo thỏa thuận ấy, thuyền du lịch có thể chở khách từ hai phía sang sát bờ của nhau ngắm thác, miễn là khách của bên này không lên bờ của phía bên kia. Từ xa, có cảm giác, Bản Giốc vẫn quay mặt về. Bên bờ Nam, một thung lũng mênh mông vừa có thể cấy cày vừa có chỗ cho khách tham quan hạ trại. Bên Trung Quốc, bờ sông dốc. Nhưng, nếu như phía Việt Nam chỉ có những lều lán tạm thì phía Trung Quốc, có nhà nghỉ Sơn Trang được xây khá hoành tráng trên một ngọn đồi. Có thể ngồi ở Sơn Trang mà ngắm cùng lúc cả thác cao và thác thấp. Nghe nói trong mấy ngày Tết, khách Việt Nam thăm thác cũng đông nhưng so với Trung Quốc thì không đáng kể. Hôm chúng tôi tới Bản Giốc, ngày 10 tháng Giêng, phía bờ Việt Nam vắng lặng trong khi phía Trung Quốc khách vẫn phải chờ để lên thuyền.

    Biên Giới

    Ngày 13-12-2008, hai nhóm phân giới Việt Nam và Trung Quốc đã đặt mốc 1224 vào đúng vị trí mốc 44. Nước mắt không thể cầm được trên gương mặt của các chiến sỹ Biên phòng Chi Ma. Các anh đã góp phần giữ được đường biên Hiệp ước 1999 đi cách nơi mà “Trung Quốc muốn” 63m. Tuy nhiên, đường phân giới mới vẫn cắt đi một phần thung ruộng cũ của 3 gia đình ở Chi Ma. Tại Hà Giang, 54 gia đình ở Lũng Cú cũng giao lại cho Trung Quốc 188ha và nhận từ phía Trung Quốc 66ha ở một khu vực khác. Trung tá đồn phó Lũng Cú Nông Minh Thạch nói: “Tất nhiên là bà con tâm tư nhưng chúng tôi động viên bà con tin vào Đảng và Nhà nước”. Đường biên giới mới cũng cắt ngang khu 13 nóc nhà của người dân Trung Quốc ở gần Lạng Sơn. Có tới 164 khu vực “có tranh chấp, hoặc có nhận thức khác nhau về hướng đi” như trường hợp của Lũng Cú và Chi Ma, rộng khoảng 227km2. Sau đàm phán, “quy thuộc khoảng 114,9 km2 cho Việt Nam và khoảng 117,2 km2 cho Trung Quốc”. Phó thủ tướng phụ trách ngoại giao thời kỳ đàm phán Hiệp ước Biên giới, ông Nguyễn Mạnh Cầm, cho rằng: “Kết quả đó là thỏa đáng”.

    Hy vọng cột mốc cắm xong, hiệp định phân định đường biên ký kết,

    dân Việt sẽ yên tâm ổn định cuộc sống.

     

    Nhiều nước trên thế giới cho đến nay vẫn còn những đường biên tranh chấp, thậm chí tranh chấp biên giới vẫn xảy ra với cả những nước như Mỹ và Canada. Không phải chính quyền nào cũng đủ dũng cảm đương đầu với sự phán xét của lịch sử để đặt bút ký vào bản phân chia từng tấc đất của tiền nhân, bởi thương lượng thì phải có đi có lại. Tất nhiên, cho dù có một đường biên chưa phân, nhiều nước vẫn có thể giữ nguyên hiện trạng mà hòa bình chung sống. Họ không phải đối phó với một con sông bị nắn dòng chảy xói vào đất mình; Họ không có một đoạn đường ray, một con đường “vô tư” vòng sang rồi trở thành nơi tranh chấp; họ không gặp những chiến dịch mua râu ngô, mua móng trâu, mua mèo… Biên giới của họ, cả sông núi và lòng người, không gặp phải quá nhiều hiểm trở.

    Biên giới đất liền Việt – Trung dài 1.406km, nhưng: “thời Pháp- Thanh cắm mốc rất thưa; lời văn Công ước mô tả thì đơn giản, bản đồ tỷ lệ nhỏ, nhiều địa danh không thể hiện như bãi Tục Lãm, Tài Xẹc, Dậu Gót…”. Đường Biên giới Hiệp ước 1999, thay vì chỉ cắm 341 cột mốc như thời Pháp- Thanh, có hơn 1500 cột mốc chính và hơn 400 cột mốc phụ (tổng cộng 1971 cột mốc). Nơi nào đường Biên đi qua giữa sông thì mốc được cắm ở hai bờ; nơi nào đường phân giới có những khúc quanh thì cắm thêm mốc phụ.

    Tại khu vực Cô Muông, Đàm Thủy, Cao Bằng, đôi bên cắm tới 26 mốc cho một đoạn núi dài chưa tới 2km. So với cột mốc thời Pháp- Thanh, cột mốc hiện nay làm bằng đá granid, có mốc nặng tới gần 1 tấn. Khi chúng tôi tới, mốc 836/2 ở thác Bản Giốc vẫn đang làm dở dang, nhờ thế mà nhìn thấy dàn móng bê tông mới được đổ vô cùng kiên cố.

    Những ngày cuối năm, công tác cắm mốc đang tất bật. Chủ Tịch tỉnh Cao Bằng Lô Ích Giang (bìa phải) thân chinh đến kiểm tra, đốc thúc công việc xây dựng cột mốc mới.

    Nhưng, sở dĩ qua bao nhiêu trắc trở Biên giới Công ước Pháp Thanh vẫn là nền tảng cho công trình đàm phán, phân giới, cắm mốc kéo dài suốt 17 năm qua; bởi, ngoài những cột mốc thấp bé, vẹt mòn theo năm tháng, còn có những ngôi mộ của cha ông, những nương khoai, nương sắn của người dân hai nước. Cũng tại khu vực Đàm Thủy, ở thôn Lũng Phiăc, đồng tiền mà bà con người Tày, người Nùng vẫn dùng ở đây là Nhân Dân Tệ. Lừa ngựa từ Trung Quốc được dắt sang để thu mua quặng. Lũng Phiăc với hơn 1000 khẩu, có hơn 100 phụ nữ lấy chồng bên Trung Quốc. Dọc theo Biên giới, từ Phong Thổ tới Móng Cái, nhiều gia đình ở bên này có bà con, hoặc bạn bè thâm giao ở bên kia. “Đường biên” ấy không thể nào rành mạch phân chia như đá và bê tông cốt thép.

    Tất bật bên nồi thắng cố, mặt Mừng Thìn Pín đỏ au. Phiên “chợ cột mốc” mùng 8 Tết rất đông: người từ hương Giàng Vản, tỉnh Vân Nam sang; người từ xã Bạch Đích, huyện Yên Minh, Hà Giang, đến. Mốc 358 vừa mới cắm, nhà chợ xây chửa xong, giao thương đã bắt đầu nhộn nhịp. Theo thượng tá Dương Văn Thịnh, đồn trưởng Biên phòng Bạch Đích: “Trước phân giới cắm mốc, đôi bên vẫn căng thẳng”. Nay thì bà con đã có thể tới chợ. Nay, những nông dân như Mừng Thìn Pín đã có thể xây nhà và bưng nồi thắng cố lên đặt sát đường Biên. Một đường Biên giới mà cho tới năm 1991 vẫn phải rào dậu bằng mìn; một Biên giới mà cho tới trước tháng 1-2009, nhiều nơi bộ đội Biên phòng vẫn còn phải đứng canh cho người dân cày cấy… Khi đang ngồi viết những dòng này, tôi nhận được điện thoại từ Hà Giang, trung tá Thạch cho biết, những cây đào Lũng Cú đã đâm hoa, cho dù, ở Biên giới mùa này vẫn chưa hết những đợt gió lạnh tràn về từ phương Bắc.

    Huy Đức

    Osin’s Blog Full Post View | List View Tags: biengioi

    Monday February 23, 2009 – 10:17am (ICT) Permanent Link | 44 Comments
    _______________________________

     
     

     

          

    1. sahadin08

      sahadin08

      20:55 25-02-2009

      em dang nghien ngam bai viet cua bac pham thi hoai.cung dang nghien ngam 16 chu ve quan he viet trung..de xem ho co choi xo chu nghia gi voi minh khong..bai cua bac pham thi hoai thi doc lien tuc nhung van chua co gi de noi ..ma tren comment nay khong viet dai duoc…ro chan..cac su viec bac neu tren em cung da chui vao trang chinh cua bbc xem roi..ngheden thi buot ruot..nhung cu than khoc mai the a?? em nhieu luc phai tu nhac minh the ..nhung chua tim duoc loi giai dap bac a\…

    2. gocomay

      gocomay

      22:03 25-02-2009

      Đây không phải là than khóc, mà là hiểu cho đúng với sự thật khách quan thôi. Điều cần tránh nhất là các luận điệu tuyên truyền hay thù hận một cách vô lối. Dù là ai. Và làm điều đó với mục đích như thế nào.
      Có như vậy dân tộc mình mới lớn lên được sau những "thương hải biến vi tang điền" này!

    3. sahadin08

      sahadin08

      20:31 21-02-2009

      Di ngang qua ngon thac.
      Gio van hat ri rao..
      Nuoc van tuon tuon chay..
      Nhu long nguoi nao nao…

      Men ….Em oi .. 

      “ Thac ve ben do co buon khong .
      Chuyen hai ta da cach xa roi.
      Gan ngay ma sao xa xoi the.
      Tinh cu phai roi phai chang em.”

      Women….
      “Tinh co phai dau anh biet khong.
      Chi trach “ong troi” mong be dau.
      Chia lia doi lua khi vua chom.
      Em cach anh ma van thay anh.”

      Women..
      “Chang biet bao gio ve ben Anh.
      De cho hai dua ke chuyen xua.
      Ngay con dam duoi trong tinh mong.
      Anh voi Em ..doi lua . luc xuan xanh.”

      Audience….
      “Nghe chuyen giong thac ..long triu nang
      Mong chi co ngay hai dua co doi.
      Thac oi xin thac thoi dung(stop) chay.
      Vi long nguoi tan nhan “da” chia doi..”
       
      Bai karaoke nay ..bac nghe thay the nao…vi trong hai ngonthac bay gio chia lia roi ..Cung thay hoi giong co thieu nu voi mai toc dai ..va anh trai trang noi suc voc khoe manh..voi doi vai phong tran that rong.Nen chot nay ra y tho nay.Nhung cay dang trong long.

    4. gocomay

      gocomay

      23:45 21-02-2009

      "…giong co thieu nu voi mai toc dai .."
      Chà chà sahadin08   có một con mắt khá tinh tế. Nhìn thác mà thấy như mái tóc của nàng thiếu nữ thì còn gì đẹp hơn. Tiếc thay cô gái ấy nhan sắc ấy đã bị ép duyên, gả bán trong một cuộc hôn phối khá tù mù ..hu hu!

    5. sahadin08

      sahadin08

      18:46 21-02-2009

      Doc lai thay thieu mot cau trong kho thu hai cho em xin viet lai.
      Van vuong Co May
      Buon qua bac oi chuyen tich xua.
      Sao de day dua den tan gio..
      Nhu mang nang long ..cung song nui..
      Ngoi goc co may than cung ai…
      Nhung van vuong cu van vuong thoi ..
      Buon lam sao chuyen da roi.
      Nhu..bong co may …mang mam song..
      Gui gam ke qua ..khap do day.

    6. gocomay

      gocomay

      18:49 21-02-2009

    7. sahadin08

      sahadin08

      18:21 21-02-2009

      buon qua bac oi chuyen tich xua.
      sao de day dua den tan gio..
      nhu mang nang long ..cung song nui..
      ngoi goc co may than cung ai…
      nhung van vuong cu van vuong thoi ..
      nhu bong co may …mang mam song..
      gui gam ke qua ..khap do day.

      BAi nay muon viet ve cai ten GOCOMAY cua bac..ma mai den gio moi co mot bai..em se lam tiep bai khac cho tho mong hon…nhung hen luc khac bac nhe..trong quan vang nay chi co em voi ong "chu" quan …lang thang cho khac kiem ti kien thuc cuoc doi….bac vui len nhe…nhu bong co may ai di qua cu vuong lay ..chang phai nho thuong gi dau ,…chinh cay muon minh mang di nhung dua con yeu dau de su song cua no mai sinh ton thoi..kinh bac 

    8. gocomay

      gocomay

      18:45 21-02-2009

      Cám ơn sahadin08  đã tặng thơ. Quán mới mở, thì vắng vẻ cũng thường tình thôi. Mình có bán niềm vui hay nỗi sầu cho ai đâu!
      "Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ
      Người khôn người tới chốn xôn xao"
      Nhưng khốn nỗi cái tâm lý "phò chính thống" thì vẫn luôn thịnh trị, nếu không muốn mốc mép treo niêu. Nhưng nếu không "phải quấy" một chút cho công bằng thì cũng có tội với công nghiệp của tiền nhân!
      "mặc dù gần chạng vạng
      Nắng được thì cứ nắng"
      Cho tổ tiên đỡ quạnh quẽ thôi!

    9. sahadin08

      sahadin08

      16:09 21-02-2009

      Va day la ca tam long cua nguoi xem tranh:
      Troi dat minh day .."song" cung "thac".
      Nhung sao lai thay ..chu dau nay.
      Ho viet chac la hay ho lam..
      Nhung phan con "nha\n" nup bong cay.
      Hieu chi mo chu nghia …xa xoi…
      Long ni chi muon .."song " …chung cung …"thac".
      "Dat" nuoc minh lai nhu vet dao dam.
      Dong long lam tho ma nghi ngoi.
      "Song"cung "thac"..tan..bao gio….. day.
      Bao gio "sapa" ve voi ho?  (day la cau hoi cho moi nguoi-nhung den luc do thi…)

      "Song "o tren nay "Thac" vut di..

    10. gocomay

      gocomay

      16:57 21-02-2009

      "Dat" nuoc minh lai nhu vet dao dam.
       Tấm lòng son với non sông gấm vóc như thế là qúi lắm qúi lắm

    11. sahadin08

      sahadin08

      15:56 21-02-2009

      Vua xem tranh vua lam tho…khong ngai bi nguoidoi cuoi che,,…cotamlong cung song nui ..noi ra bang cach gi cung khong biet then..(may cau  nay viet thanh kho tho nho duoc day nhi – chi can thay "khong biet then "="cung ha he")

      Troi dat minh day .."song" cung "thac".
      Nhung sao lai thay ..chu (word charactor) dau nay.
      Ho viet chac la hay ho lam..
      Nhung phan con "nha\n" nup bong cay.
      Hieu chi mo chu nghia cao sau…
      Long ni cung muon phoi …."song " voi  "thac".
      "Dat" nuoc minh  lai nhu vet dao dam.
      Dong long lam tho ma nghi ngoi.
      "Song"cung "thac"..tan..bao gio….. day..
      *co le lan nay phai giai thich ngay may tu "song"="river" nhung "song" cung = "live"
      "thac"=falling water nhung "thac" cung = "die" de moi nguoi hieu het ..
      bai tho lam ngay xong khi xem het tranh cua tac gia.(<5phut).khongphai tu khen hoac tu quang cao dau ..ma chinh la quang cao cai tam cua minh voi non song dat nuoc.

    12. gocomay

      gocomay

      17:01 21-02-2009

      Cám ơn sự chia sẻ của sahadin08  không ai được độc quyền yêu nước cả! Bày tỏ tấm lòng với đất nước là nhu cầu chính đáng! Không ai được phép cười chê hay ghen ghét cả!

    13. sahadin08

      sahadin08

      19:48 20-02-2009

      em xin cam on bac..kien thuc lich su trong bac nhieu nen em muon hoc hoi qua..nhung thoi gian lai khong cho phep .,nen xin bac cu tu tu ..vi em chi duoc cai can cu bu thong minh thoi…co trang blog nay chang biet bac da vo chua..nhung van xin dung no de dap lai thinh tinh cua bac.moi bac vo ….

      http://vn.myblog.yahoo.com/le-te

    14. gocomay

      gocomay

      19:53 20-02-2009

    15. sahadin08

      sahadin08

      05:50 20-02-2009

      Bac a ..nguoi viet minh co cau ..”biet thithua thot..khong biet thi dua cot ma nghe”
      Chi’ phai..bai ve 6 lan “no luc bao ve bien cuong” cua bac..qua that lam em tron xoe doi mat…vi da duoc nghe den dau.Bac chua nhac em cung da mo ngay wikipedia ra roi..Qua la loi cua minh ..chua doc thau het lich su nuoc nha..mac du trong nuoc emcam doan voibac khong co nhung dieu bac viet duoc in trongsachgiao khoa lich su vietnam.cai nua ten va thoi gian qua xa la..lam em thay nhu bac PHAM THI HOAI ..noi trong bai viet :”tu cach cua tri thuc vietnam” co doan “người Việt chẳng buồn học ai cả, chẳng buồn ngưỡng mộ ai cả.”….
      Nen cang to mo muon hoi bac thoi..co duy nhat mot lan duoc nghe ve chuyen Vua Quang Trung sau khi chien thang quan nha Thanh TQ thi duoc nha Thanh hua ga cong chua de giu tinh giao hao..roi cat dat ..(khong nho tinh nao bay giocua TQ )lam cua hoi mon..chuyen do the nao em cung tuong tan dau.Vi ban chat cua nguoi Viet roi ma..(tho thi chang phai ..thay cung khong)..cho nen cang thay la lam voi 6 lan bac phat..ma tim hieu duoc trong cac tang thu thi khong the cho het lich su chien tranh vietnam vao trong dau duoc ..vi no qua rong.
      Cung nhu trong may entry bacvua post..em chi biet them vai kho tho cho vui thoi..chu de tai qua rong ..va khong the ngay mot ngay hai la co the hieu het y cua tac gia duoc..them nua trong khuon kho vn.blog nay cang comment dai co khi khong load het duoc.Nen chung vui voi may cau tho tang cong suc cua bac ..da goi mo cho nguoi doc ..de tim toi them kien thuc thoi ..lan sau em xin dua cot ma nghe vay..Nhung xin bac cho em biet them chuyen ve VUA Quang Trung the nao ve viec xoa so Polpot (san sau cua Trung Quoc thoi do.)co duoc ghi them vao chien tich “bao ve bien cuong “to quoc khong. Kinh bac 

    16. gocomay

      gocomay

      16:37 20-02-2009

      Thưa bạn sahadin08  ! Như bạn biết đấy. Lịch sử do con người làm ra. Mặc dù chép sử là một ngành khoa học đòi hỏi sự khách quan rất lớn. Nhưng nó vẫn luôn tồn tại cả chính sử lẫn dã sử. Các sử gia ở các xứ toàn trị Phương Đông xưa dù có tâm tới mức nào thì cũng không thể thoát khỏi cái ngưỡng phải "Phò chính thống" (như lời của Phạm Thị Hoài). Vậy để tìm hiểu về một vấn đề nào đó, chưa chắc ở sách giáo hay trên Wikipedia tiếng Việt mà đã giải quyết được vấn đề. Vậy xin giới thiệu với bạn một tài liệu để tham khảo thêm ở điạ chỉ sau:
      Khi xem xong thì bạn có thể tìm thêm các nguồn khác để đối chiếu và tự tìm cho mình câu trả lời….!
      Rất cám ơn sahadin08  đã ưu ái và cùng quan tâm tới vấn đề vốn đang có nhiều nhạy cảm này.

    17. sahadin08

      sahadin08

      03:40 20-02-2009

        Ruou moi day roi ta lai say.
      O nay ong chu ruou lai thay.
        Bo coi non song dai rong the.
      Co that the khong ..phai khong
      ONG.

    18. gocomay

      gocomay

      04:05 20-02-2009

      Co that the khong ..phai khong ONG.

      Thật hay không thì phải chịu tìm tòi về Lịch sử. Và tự trả lời lấy thôi chứ có nhân chứng nào còn sống được tới bây giờ đâu mà trả lời được cái câu móc "Co that the khong"?

      Những tư liệu này đã được lưu trữ rất kỹ, rất hệ thống ở các thư tịch lớn bên Trung Quốc, Pháp. Nên nếu muốn và có điều kiện thuận lợi thì ai cũng có thể tiếp cận được. 

  • Tạp ghi

    Lan Phương : CHÚNG TÔI KHÔNG NGÂY THƠ

    CHÚNG TÔI KHÔNG NGÂY THƠ

    Ngày hôm nay, suốt hơn bốn tiếng đồng hồ biểu tình và một tuần trước đó, chúng tôi đã nhận được nhiều lời khuyên răn, nhắc nhở. Có lẽ phải viết cái note này gửi tặng quý vị.

    Trước ngày biểu tình, trên nhiều diễn đàn, FB của các cá nhân, FB của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã có nhiều người khuyên răn không nên biểu tình. Họ cho rằng đó là lời xúi giục của Việt Tân. Dạ xin thưa, ở xứ này, hiếm hoi lắm trên báo chí mới thấy từ “Việt Tân”, còn hai từ “tàu lạ” thì xuất hiện liên tục. Và chúng tôi xuống đường vì chúng tôi không chấp nhận hành vi xâm lược của Trung Quốc, chủ nhân của những chiếc “tàu lạ” đó. Nhiều anh chị cũng cho rằng chúng tôi bị bọn xấu lợi dụng, kích động. Cảm ơn anh chị đã lo cho chúng tôi. Chắc anh chị nghĩ chúng tôi dễ bị nhồi sọ quá. Mà anh chị cũng quên rằng ngoài cái đầu, chúng tôi còn có trái tim, còn biết xót xa khi nhân dân mình bị bắn chết ngoài biển Đông. Chúng tôi không thể để trái tim mình nguội lạnh bằng cách ngày ngày cầu nguyện: “tiền, chứng khoán, xe hơi, nhà lầu, túi xách, giày dép”.

    Khi chúng tôi xuống đường, mấy chị của hội liên hiệp phụ nữ liên tục khuyên răn. “Chuyện đó của nhà nước lo. Mấy em về đi. Biểu tình thì phải do nhà nước tổ chức chứ!” Dạ thưa các chị, cái Thành Đoàn nằm chành ành bên Phạm Ngọc Thạch, nhà Văn hóa Thanh niên cũng nằm kế đó, cách lãnh sự quán Trung Quốc có vài chục bước chân thôi ạ. Bao nhiêu năm qua, đã có lần nào Thành Đoàn tổ chức cho chúng tôi một cuộc biểu tình chưa? Nếu có chăng là treo cờ sau xe, cùng Đàm Vĩnh Hưng làm từ thiện, uống trà xanh không độ thôi. Kiểu biểu tình ấy, chúng tôi xin nhường cho Thành Đoàn. Chúng tôi làm phận sự một công dân, khi thấy kẻ thù xâm lược, chúng tôi phải lên tiếng. Chúng tôi có nhảy qua Singapore làm thay việc của tướng Vĩnh đâu mà quý vị phải lo. Khuyên răn không được thì các chị chuyển sang điều tra coi ai là kẻ cầm đầu cuộc biểu tình này. Với suy nghĩ các chị, hành vi biểu tình vô vụ lợi, nhiều nguy cơ như chúng tôi hẳn phải có lợi lộc gì đó mới đi, hoặc có kẻ nào xúi giục xúi dại thì mới vác xác ra đường. Hồi nào tới giờ, tôi nghĩ các chị bị tẩy não, ai dè các chị còn bị thay máu nữa.

    Trên FB của tôi, có bạn khá giàu có, lấy chồng tây, đi xe hơi, ăn cheese cake, uống rượu vang lên than vãn. Biểu tình đã khiến các bạn ấy không đi spa được, không tập gym được, kẹt xe, biểu tình làm ảnh hưởng đến các bạn. Dù bạn nói đùa hay nói thật, tôi cũng thấy shock. Và tôi hiểu ra, với các bạn, ông chồng ngon, cái xe lành, nhà penthouse và rượu vang chất chồng thì cũng khó để các bạn từ bỏ mà xuống đường biểu tình. Và bởi chưng, các bạn tự thấy mình không liên quan gì đến hành vi xâm lược Trung Quốc, ngư trường đánh bắt của ngư dân. Nếu ngày mai Trung Quốc không ở biển Đông nữa mà tràn vô Sài Gòn, các bạn cũng vẫn ấm thân. Các bạn có thể đi Mỹ do gia đình bảo lãnh, đi Châu Âu theo chồng con và tiếp tục cuộc đời cheese cake, rượu vang, gym, massage, spa, chồng tây. Các bạn quên rằng các bạn vẫn ăn cá, ăn nước mắm. Con các bạn ăn cơm ở Việt Nam. Ai trồng lúa, ai bắt cá, ai làm nước mắm cho bạn và con bạn ăn vậy?

    Người được “khinh bỉ” nhất trước khi biểu tình có lẽ là Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghiệp. Với công văn cấm sinh viên đi biểu tình, nổi nhục này của ông Hiệu trưởng không biết bao giờ mới rửa nổi. Nhưng không sao, ông không lẻ loi. Ở cuộc biểu tình hôm nay, cùng đứng bên ông còn có giảng viên trường ĐH KHXH và NV, cùng vị tướng Hải quân nữa. Những người đáng tuổi cha chú của chúng tôi đứng đó, lặp lại những điều bà Phương Nga đã nói (có khi bà Phương Nga cũng lặp lại của ai đó, tôi đoán vậy). Thưa các thầy, chúng tôi nghe đủ rồi. Các thầy cứ nói, cứ thuyết, rồi được gì? Các thầy sẽ lên chức ư? Hay được khen đã có công giải tán biểu tình? Các thầy ạ, các thầy già rồi, thế cũng đủ cho một đời danh vọng rồi. Tôi không biết ngày đầu tiên cắp sách đi dạy, các thầy đã hứa với lòng mình điều gì? Đào tạo một thế hệ tài đức hay đào tạo một thế hệ hèn nhát? Thầy muốn chúng tôi học Đại học xong, ôm đống kiến thức cũ mèm đó đi làm mướn và cắm cúi làm mướn trọn đời, đừng ngước mặt lên, đừng nhìn xung quanh mình làm gì. Nếu Trung Quốc đến cảng Sài Gòn, chắc thầy vẫn còn ra rả khuyên chúng tôi về đi, họ mới ở cảng Sài Gòn, đã vào Dinh Độc Lập đâu mà sợ. Giờ thì tôi sợ thầy rồi đó!

    Sáng nay khi chúng tôi xuống đường, những người từng tham gia biểu tình năm 2007 hoặc bị mời đi uống trà, hoặc bị canh gác. Họ còn phá sóng điện thoại tại khu vực biểu tình. Tôi nghĩ họ sai rồi. Tình yêu nước không truyền qua đường truyền internet hay điện thoại di động. Nó ăn trong máu chúng tôi rồi, truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Dù nhạc sĩ Tuấn Khanh, nhà thơ Trần Tiến Dũng, nhà thơ Bùi Chát có bị đuổi ra khỏi Sài Gòn, chúng tôi vẫn xuống đường. Chúng tôi xuống đường vì ông nội tôi từng là cảm tử quân, giờ chỉ có mộ gió. Chúng tôi xuống đường vì xung quanh chúng tôi, ai cũng có cha, chú, ông, bà đổ xương máu cho đất nước này. Chúng tôi xuống đường vì chúng tôi không chấp nhận hành vi ngang ngược của chính phủ Trung Quốc. Cách hành xử hàm hồ của họ có thể thành công ở Trung Quốc nhưng nó chắc chắn bị phản đối ở Việt Nam. Tôi thật nể phục một anh trung niên người miền Trung khi anh ta đặt câu hỏi cho những anh công an: “Nếu chiến tranh xảy ra, ai sẽ là người cầm súng đánh kẻ thù? Chúng tôi hay các anh? Để bảo vệ ai? Bảo vệ con tôi, và con của các anh nữa!”

    Cuộc biểu tình sáng nay tan từ trưa cũng nhờ vào phần lớn công lao chia rẽ nội bộ của mấy anh chị Thành Đoàn. Có thể nói dù không lãnh đạo thanh niên đi biểu tình nhưng Thành Đoàn rất xuất sắc trong việc dẫn dắt anh em ra về. Viết đến đây, tôi thấy rùng mình khi nghĩ về một cái vòng lẩn quẩn. Một sinh viên sau khi ra trường, hoặc làm cho Thành Đoàn rồi leo lên chức Bí thư Đoàn và mang theo đống tư duy ấy. Già rồi thì chắc lại ra thuyết phục thanh niên như bác tướng Hải Quân kia. Hoặc là tốt nghiệp xong rồi được giữ lại trường, lại thành ông giảng viên trường Nhân văn hoặc ông Hiệu trưởng trường Công nghiệp.

    Ối giời, thế thì tôi còn mong chờ gì ở quý vị nữa!

    von Lan Phương, Sonntag, 5. Juni 2011 um 19:09

    Nguồn: http://www.facebook.com/notes/lan-ph%C6%B0%C6%A1ng/ch%C3%BAng-t%C3%B4i-kh%C3%B4ng-ng%C3%A2y-th%C6%A1/10150333285888504 

    Những link biểu tình chống Trung Cộng

    Video này thật tuyệt! Người dân lý luận với công an về việc chống TQ:
    http://www.youtube.com/watch? v=DEAGaRjZ1M4

    Phần 1 – CA ngăn chặn người dân biểu tình:
    http://www.youtube.com/watch? v=akV_k0h6IWQ&NR=1

    Ông thầy này không thể thuyết phục sinh viên:
    http://www.youtube.com/watch? v=FJwZ-uaxoZs

    http://www.facebook.com/nhatkyyeunuoc1

    http://www.facebook.com/media/set/?set=a.220497987974052.64605.100000415584390

    http://www.facebook.com/vt4democracy 

    Cách Mạng Hoa Lài Đang Diễn Biến Tại Việt Nam

     
    Qúy vị hãy vào trang nhà Cách Mạng Hoa Lài trên, để có thể chứng kiến những hình ảnh video clips hào hùng của thanh niên sinh viên Việt Nam, xuống đường Chống Giặc Tàu Xâm Lược tại Sài Gòn và Hà Nội vào ngày 5/6/2011 vừa qua. Theo những hãng thông tấn Reuters, AP, AFP, số người tham dự cuộc biểu tình tại Hà Nội và Sài Gòn chỉ vào khoảng vài trăm, chắc các ký gỉa này làm biếng, ngồi trong quán cà phê rồi đưa tin qúa. Nhưng nếu qúy vị coi lại những hình ảnh video clips, sẽ có thể biết ngay sự thật, con số người tham dự cuộc biểu tình có thể lên đến trên 10.000 người tại Sài Gòn, như bản tin ước lượng của Đài Á Châu Tự Do (

    http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/anti-china-demonstration-update-mlam-06052011115102.html) là chính xác, cuộc biểu tình tại Hà Nội khoảng 2 ngàn người và ở Sài Gòn gấp 5 lần, tức 10 ngàn người, theo những hình ảnh video clips được ghi nhận, có thể con số còn cao hơn. Những đoạn phim tuyệt vời từ trong nước được gởi ra đã cho chúng ta có thể khẳng định: Bắt đầu một cao trào cho cuộc Cánh Mạng Hoa Lài đang diễn biến tại Việt Nam.
     
    Vài năm trước đây, chế độ Nguyễn Tấn Dũng đặt mua từ Nga 6 chiếc tàu ngầm, trị gía đến 1.8 tỉ USD, và 12 chiếc máy bay Sukhoi trị gía 600 triệu USD với mục tiêu bảo vệ đất nước, lãnh thổ. Thật ra, làm sao chúng ta biết gía cả đích thực của nó là bao nhiêu, chỉ thấy mất đi 2.4 tỉ USD. Thí dụ thôi nhá, Dũng có thể đưa gía lên cao 2.4 tỉ USD, nhưng khi trả tiền, Dũng chỉ trả có 2 tỉ USD thôi, còn 400 triệu USD bỏ túi, ai biết được. Cách làm ăn này, rất thông dụng trong hệ thống làm ăn của các cán bộ nhà ta, bằng chứng điển hình là vụ Vinashin, 90 ngàn tỉ đồng, tức 4.5 tỉ USD bay mất, chỉ còn lại là những con tàu cũ, như một đống sắt vụn. Sự thật, những vũ khí như tàu ngầm, máy bay, chỉ là những vũ khí phụ, vũ khí chính yếu vẫn là sự đoàn kết toàn dân, của hào khí Diên Hồng trong lịch sử, đã chứng minh, biết bao nhiêu trận, dân ta đều oanh liệt chiến thắng quân Tàu. Và giang sơn gấm vóc này, đã được gìn giữ cho đến ngày hôm nay, lại bị phá nát trong bàn tay của những chế độ CS vừa qua, khi đất nước bị mất dần những phần lãnh thổ, lãnh hải… về tay Giặc Tàu.
     
    Trong suốt 36 năm qua, chúng ta chưa bao giờ thấy được một cuộc biểu tình vào khoảng 10 ngàn người ở Sài Gòn như thế. Đây là một biến cố lớn có thể được ghi vào lịch sử. Cuộc biểu tình được xem như tự phát. Gần như tất cả các tổ chức đấu tranh, và các trang mạng, trang blogs cá nhân, đều đồng lòng chuyển tải cùng ngày, cùng giờ và cùng địa điểm biểu tình. Đoàn biểu tình xuất phát từ những nhóm nhỏ, đã đi khắp nhiều nơi trong thành phố Sài Gòn, đi đến đâu dân theo đông đảo đến đó. Một vài lá cờ đỏ sao vàng, một vài chiếc áo mang cờ đỏ sao vàng, có một vài người mang tấm hình Hồ Chí Minh, rồi cũng có những bài ca được hát vang lên: "Việt Nam – Hồ Chí Minh"… Đấy, những tuổi trẻ hôm nay vẫn còn ôm giữ lá cờ đỏ sao vàng, ôm hình HCM, rồi còn ca vang bài hát tôn sùng HCM. Đấy, toàn là biểu tượng cộng sản đấy, ấy thế mà dường như những tên cầm quyền đã run sợ đến té…, dzui thiệt, kể cả những tên công an quèn đang thi hành những chỉ thị của cấp trên. Qủa là một tuyệt chiêu, tuổi trẻ hôm nay thật sự đã trưởng thành, mỗi khi sắp bị công an tấn công, chúng ta nghe tiếng hô vang mãnh liệt:  "Việt Nam – Hồ Chí Minh", hay "Như có bác hồ trong ngày vui đại thắng" đã làm mấy anh công an cuốn quít lên, mở những barriers (vật cản) cho đồng bào vào khu vực biểu tình, dzui thiệt. Khốn nạn thay cho lá cờ búa liềm của Đảng, lấy từ Liên Sô về, dzui thiệt, chẳng thấy ở đâu, có lẽ nó muốn vất vào thùng rác theo Liên Sô rồi.
     
    Chúng ta hãy lắng nghe thanh niên trả lời tên trung tướng Phó Đô Đốc Đỗ Xuân Công, Tư lệnh Binh Chủng Hải Quân, kiêm Ủy Viên Trung Ương Đảng ra sức chiêu dụ tuổi trẻ bằng những lời nói vô cùng nhục nhã như (http://www.youtube.com/watch?v=giJcu5QPA_0)
     
    – Chúng ta đấu tranh bằng thương lượng, hòa bình, và đàm phán… để ổn định, phát triển… Chúng ta biểu tình đến đây là đủ thể hiện lòng yêu nước rồi… xin các em giải tán.
     
    Lời nó hèn nhát của tướng Công đã bị thanh niên phản đối dữ dội.
     
    Thực ra, mục đích lưu manh của tên trung tướng này và của một ông giáo sư nữa, là mong sao câu giờ để bọn công an được huy động tới bao vây khu vực biểu tình, và đã giải tán được cuộc biểu tình. Ai lại không muốn đất nước hòa bình ??? Nhưng vừa phải thôi chứ, có khi cần phải tìm hòa bình trong chiến tranh, tướng Công dư biết điều đó mà. Cái kiểu nói chuyện của tướng Công nó giống y hệt như một con rùa rút cổ, còn rút luôn cả cái đuôi. Lòng yêu nước còn phải có giới hạn à, tại sao chỉ yêu nước đến đây là đủ ??? Ai mà nghe cũng muốn tát vào mặt ông tướng Công này. Lòng yêu nước của chúng tôi không đủ đâu, phải tát cho ông một cái tát để ông hiểu được lòng yêu nước như thế nào. Những thanh niên đã khí khái phản đối bằng những lời hét to:
     
    – Tại sao Trung Quốc cứ bắn phá tàu đánh cá của VN ???
    – Lúc đó Hải Quân Việt Nam ở đâu ???
    – Nói quan tâm, mà không làm gì hết.
    – Dân Việt Nam chết ông có biết không ???
     
    Toàn là những câu bắt bí ngay vị tướng Công này. Làm sao tướng Công có thể trả lời được, đâu phải sự việc chỉ xảy ra từ ngày hôm nay. Sự việc đã lập đi lập lại hàng trăm lần, kể từ 2005, ngày 8 tháng 1, tàu chiến của Giặc Tàu đã giết hại 9 ngư dân của Việt Nam, có một con tàu bị truy sát tới trên 400 vết đạn, không biết ông tướng Công có còn nhớ chăng ???
     
    Rồi ông giáo sư hiệu trưởng trường Đại Học Khoa Học và Phổ Thông kia, cũng cầm loa kêu gọi các thanh niên giải tán, cũng với ý nghĩ tương tự (http://www.youtube.com/watch?v=FJwZ-uaxoZs&NR=1):
     
    – Chúng ta phải đấu tranh bằng con đường ngoại giao… dựa vào luật pháp quốc tế… Lòng yêu nước của các em tới đây là đầy đủ rồi.
     
    Phải nói tên giáo sư này lưu manh thiệt, nếu gọi rằng Nhà nước CS muốn dựa vào luật pháp quốc tế, tại sao Việt Nam không kiện Tàu Cộng ra trước Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, trong khi đó VN làm Chủ Tịch Hội Đồng Luân Phiên của LHQ ??? Toàn là những luận điệu láo khoét để lường gạt thanh niên, nhưng đã bị thanh niên phản đối quyết liệt.
     
    Ngoài ra qúy vị nên thưởng lãm những video clips sau, để thấy những giòng máu nóng chạy rần trong cơ thể, đôi hình ảnh có thể làm cho qúy vị xúc động và có thể bật khóc:
     
    http://www.youtube.com/watch?v=akV_k0h6IWQ (Sức Mạnh Của Dân, người dân đã xô hàng rào cản trở vào Tòa Lãnh Sự Tàu Cộng tại Sài Gòn)

    http://www.youtube.com/watch?v=ycLTxxxWr6U&NR=1 (Không Bao Giờ Chịu Khuất Phục, đoạn video này quay cảnh một anh thanh niên khỏe mạnh đòi quyết tử bảo vệ Hoàng Sa, Trường Sa)

     
    http://www.youtube.com/watch?v=DEAGaRjZ1M4&NR=1 (Hoan Hô Các Anh Công An, ở đoạn video đặc biệt này, qúy vị sẽ thấy người dân đã chiêu dụ các anh công an mở rào cản. Rải rác trong phim, qúy vị thấy những anh sỹ quan công an mang cấp tá (2 gạch), cấp úy (1 gạch), đâu có khác chi Cách Mạng Hoa Lài ở Tunisia, ở Ai Cập, những người an ninh đứng về phía người dân)
     
    Cuộc biểu tình ngày 5/6/2011đã bị giải tán, nhưng dư âm, hay hậu chấn của nó, chẳng khác nào một hỏa diệm sơn, chựt chờ có cơ hội là sẽ bộc phát mãnh liệt. Ngày hôm nay, đã có nhiều trang mạng đăng tải "Toàn dân tiếp tục biểu tình vào ngày 12/6/2011. Làm người Việt Nam, chúng ta hãy tích cực loan tin này cho toàn thể đồng bào được biết, bằng mọi hình thức, truyền đơn, qua các trang mạng Facebook, Multiply, Twitter, điện thoại… Mỗi người một tay, không ai lãnh đạo ai, hãy nắm tay nhau xuống đường Chống Giặc Tàu Xâm Lược để giành lại những phần đất đai, hải đảo và lãnh hải của Việt Nam đang bị mất.
     
    Xem chừng cuộc xuống đường biểu tình 12/6/2011 này sẽ mãnh liệt hơn gấp bội, xảy ra tại bất cứ địa điểm nào, không nhất thiết phải ở Tòa Lãnh Sự và Tòa Đại Sứ Tàu Cộng, và cũng có thể nhiều tỉnh lớn cũng sẽ bộc phát những cuộc biểu tình tương tự.
     
    Ngày 6 tháng 6 năm 2011
    Xin phổ biến tự do
     

  • Tạp ghi

    Giáng Sinh Thời Thơ Ấu

    Giáng Sinh Thời Thơ Ấu
     
                                                                                                                            Mỗi năm Giáng Sinh về trên đất khách quê người tôi lại nhớ tới những năm Giáng Sinh thời thơ ấu ở bên nhà. Thời đó nối dài tới bây giờ ngót nghét cũng đã 55 năm ròng. Mà dạo đó, gia đình nội ngoại tôi đã là những Phật tử thuần thành, chủ nhật nào cũng theo ba má tôi đi chùa nên hai anh em tôi được Gia Đình Phật Tử chùa Khải Đoan hoan hỉ đón nhận vào đoàn Phật Tử Chim Non, rồi dần dà thành Oanh Vũ, Mở Mắt, Chân Cứng v.v… Đồng phục nam muôn năm vẫn áo sơ-mi cụt tay màu lam, quần sọt xanh, nón nỉ lam rộng vành. Đồng phục nữ cũng áo sơ-mi cụt tay, váy đầm xanh có quai. Gọi là Phật tử đi chùa tụng kinh niệm Phật hằng tuần, nhưng cứ đến ngày lễ Giang Sinh thì anh em tôi lại đi… nhà thờ Tin Lành, cạnh nhà hộ sanh Thanh Bình cất xeo xéo trước mặt nhà ba má tôi ngó qua. Đi chùa chẳng hiểu Phật là ai, thì đi nhà thờ có thiết gì đến Chúa. Sở dĩ trẻ con chúng tôi hè nhau trốn chùa đi nhà thờ là chỉ để chực được phát cho mỗi đứa một tấm cạt Noel sau giờ cầu nguyện, vậy thôi. Những tấm cạt đó trẻ con chúng tôi quí lắm. Mùa đông ở Việt Nam làm gì có tuyết rơi trắng trời trắng đất; làm gì có ba Vua cỡi lạc đà hướng về ngôi sao Phương Đông chiếu sáng thành Bethlehem; làm gì có Chúa Hài Đồng nằm trong máng lừa; làm gì có những con sóc lông xù, hay những lũ chim hồng tước, cà cưỡng, gõ kiến, hoành oanh líu lo trên những cây thông ngoài cửa sổ lốm đốm tuyết rơi; làm gì có những gói quà Noel thắt nơ xanh xanh đỏ đỏ; cũng chẳng hề thấy ông già Noel râu trắng bóc, mập ú trong bộ đồ mùa đông đỏ chói, viềng lông trắng vai mang túi quà nửa đêm nhờ mấy con tuần lộc chở đi phát quà cho trẻ con vân vân. Tất cả những hình ảnh xinh đẹp đó chỉ sống trong những tấm cạt Noel mà suốt thời thơ ấu tôi chẳng hề may mắn được phát cho một tấm, trừ những tấm xấu ơi là xấu. Đi nhà thờ Tin Lành, tôi nhớ hoài lần nào cũng như lần nào, cứ đến phiên mình thì được phát cho cái cạt Noel nhỏ nhất và xấu nhất trong hàng chục tấm xinh xắn, lộng lẫy nằm óng ánh trong tay những tín đồ người lớn thuần thành. Thiệp Noel mà tôi chê xấu mỗi năm đó không phải tại tôi xui xẻo mà là người đại diện ông Mục Sư lúc phát thiệp, thấy tôi nhỏ nhít nên thay vì tới phiên tôi được phát cho cái đẹp thì bị đổi lấy cho cái xấu một cách trắng trợn, hết sức bất công. Rõ ràng nụ cười nhân ái kia chợt tắt ngấm và bàn tay chìa ra tấm thiệp đầy màu sắc quyến rũ kia chợt khựng lại, rụt về rồi nhanh chóng lựa, lựa, lựa, lựa tới lúc hài lòng nhận thấy tấm nào bết nhất thì dành cho thằng con nít mũi dãi lòng thòng là cái thằng tôi. Lúc đó, cái đầu óc bé nhỏ của tôi chợt nảy ra một ý nghĩ trẻ con là ước gì người phát thiệp kia chính là ông già Noel rộng lượng, thành tâm và vui tính. Tiếng cười hô hô hô của ông sẽ mang cho đời sống của trẻ em biết bao niềm vui và cái đẹp trinh tuyền.
     
    Bây giờ tôi ở đây, xa cảnh chùa xưa và ngôi nhà thờ nọ đến hơn nửa vòng trái đất; xa những tấm thiệp Giáng Sinh thời thơ ấu kia ngót 55 năm dài. Và để bù đắp sự thiệt thòi đáng buồn một cách trẻ con kia, mỗi năm, tôi âm thầm lội tuyết đi tới cửa tiệm bách hóa chọn hai tấm thiệp Giáng Sinh mà tôi cho là đẹp nhất, ý nghĩa nhất, mua về. Một cái gởi cho Má tôi; cái còn lại trao tận tay cho người bạn đời hiền lành, yêu dấu nhất của đời tôi.

     

                                                 PHAN NI TẤN

  • Tạp ghi

    BÀI HỌC NẶNG KÝ TỪ VIỆT NAM.(Thai Quang)

    BÀI HỌC NẶNG KÝ TỪ VIỆT NAM.

                        Anderson Thai Quang.

                        Tác giả là một trí thức
    Việt kiều Mỹ  từng  mang bạc triệu về Việt Nam đầu tư và… chào thua.
    Xin trân trọng giới thieu những "bài học nặng ký" của  ông: 

                        "Hai vị anh hùng thời còn đi học của tôi có rất nhiều bí mật xấu xa. 
    Hồ Chí Minh không nhìn nhận cha mẹ cũng như không ngó ngàng gì đến ít nhứt là 12 đứa con . Võ Nguyên Giáp thì có ông con rể Trương Quang Bình  là người giàu nhất nước… Tất cả mọi con người, mọi con số đều là giả dối."

                        *

                 Saigon những ngày cận Tết mát lạnh và mang chút không khí của những ngày Giáng Sinh nơi Âu Mỹ. Mọi người chuẩn bị mua sắm cho nhà cửa và quà cáp cho người quen. Đường Nguyễn Huệ và quanh khu du lịch của trung tâm thành phố, hoa đang rộn rịp trang điểm cho mùa xuân, luôn luôn là biểu tượng của niềm hy vọng mới và vào một thay đổi nào đó tốt đẹp hơn, tươi sáng hơn cho năm tới. Nhung nếu du khách rẽ vào ngõ hẻm từ một con đường lớn, những con chuột to bằng con mèo, những con dán biết bay cùng ruồi muỗi, những ổ rác lộ thiên, những vũng nước ao tù… cho thấy một bộ mặt khác của Saigon. Bộ mặt của nghèo khó, bất hạnh và tù túng 9 1ã không hề thay đổi suốt 70 năm qua, mặc cho bao nhiêu mùa xuân của hy vọng trong quá khứ.

                      * CÁI TÔI ĐÁNG GHÉT.

                         Một chút ít về cái "tôi" để người đọc cảm thông thêm về chủ quan của lá thư này.. Tôi đến Mỹ năm 1975 cùng làn sóng người tỵ nạn Cộng Sản sau khi miền Nam sụp đổ. Cha tôi là một đại úy của quân đội miề n Nam (ở đây, nay gọi là Mỹ Ngụy), và tôi chỉ mới 5 tuổi, chưa hiểu biết chút gì về lịch sử hay chính trị. Cha mẹ tôi làm đủ mọi nghề, vất vả ngư ợc xuôi, từ lao động chân tay đến mua bán tiểu thương, để nuôi gia đình. Sau 30 năm, ông bà đã lo xong cho con cái, đã về hưu với căn nhà nhỏ và cuộc sống ổn định. Tôi lớn lên như một trẻ Mỹ, đi học, chơi đùa và coi xứ Mỹ như một quê hương chính thức, dù vẫn biết nói tiếng Việt theo thói quen của cha mẹ. Tốt nghiệp Thạc Sĩ về điện tử, tôi có công việc tốt, lấy vợ và sống đời trung lưu như trăm ngàn người khác. Cha tôi và các bạn ông thường tụ họp và bàn luận nhiều về tình hình Việt Nam, về những thù ghét của họ với nhà cầm quyền Cộng Sản, nhưng tất cả đều rất xa lạ với tôi. Khi học lịch sử ở trung học, tôi
    chỉ thấy có chút hãnh diện về Việt Nam, một quốc gia nhỏ bé đã đánh bại được hai cường quốc là Pháp và Mỹ. Hai ông Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp là hai anh hùng trong ký ức của tôi.

                        Cuộc sống bình lặng đó thay đổi hoàn toàn khi vợ tôi qua đời vì tai nạn xe cộ ba năm về trước. Không có con, thừa hưởng một số tiền bảo hiểm hơn 1 triệu đô la, cộng với giá nhà đang tăng cao vụt và một khoản tiền tiết kiệm lớn, tôi không còn thấy nhu cầu phải kéo cầy 11 tiếng mỗi ngày trước máy vi tính. Tôi quyết định trở về lại Việt Nam để làm ăn và tạo dựng một sự nghiệp mới. Tất cả những gì tôi đọc cho thấy một Việt Nam đổi mới với những con số an tượng về đầu tư của nước ngoài, về xuất khẩu, về cơ hội đầy tiềm năng của một "con rồng mới". Cha tôi không phản đối, ông chỉ cho một lời khuyên," Đừng nghe những gì Cộng Sản nói, mà coi những gì Cộng Sản làm."

                        
                  * HƯNG PHẤN VÀ THẤT VỌNG.

                     Tôi dọn về lại Saigon vào tháng Mười năm 2007. Chỉ số VNI của chứng khoán Việt khoảng 1,000 và đề tài thời thượng khắp nơi là cơn sốt địa ốc và số thu nhập của các đại gia. Số tiền 2.5 triệu đô la của tôi thật nhỏ bé khiêm tốn khi bàn chuyện đầu tư. Dường như ai cũng đầy tiền mặt và dự án, nhiều gấp mười lần khả năng của tôi. Dù vậy, tôi cũng rất hưng phấn cảm nhận niềm lạc quan vô bờ bến về sự thịnh vượng của nền kinh tế quốc gia.

                         Trong khi đó, dựa theo truyền thống khoa học từ đại học Mỹ, tôi nghiên cứu kỹ hơn các con số từ các doanh nhân cũng như từ chánh phủ. Có rất nhiều điều sai trái và nghịch lý từ các con số, cũng như sự kiện thực tế về kết quả hoạt động. Sự nghi ngờ của tôi được xác nhận khi so sánh và địn
    h chuẩn theo mức sống thực sự của người dân, giàu cũng như nghèo. Chung đụng với mọi thành phần xã hội giúp tôi nhìn rõ hơn về thực trạng của quê hương. Những lời nói hoa mỹ, cũng như những biểu ngữ dăng kín thành phố, là một lớp son phấn rẻ tiền, che dấu một bộ mặt điêu tàn và thê thảm.

                         Tôi nhận ra rằng cái cơ chế "kinh tế thị trường" mà nhà cầm quyền hứa hẹn khi ký văn bản gia nhập WTO chỉ là hình thức. Tất cả những miếng mồi béo bở đều nằm trong tay quan chức và cán bộ Đảng Cộng Sản, cũng như bà con thân thuộc trong gia đình. Bộ Chánh Trị trung ương thì nắm chặt các công ty quốc doanh va bán quốc doanh, quan chức địa phương thì có những đặc lợi về ruộng đất, giấy phép, dịch vụ nhu yếu. Lãnh vực tư nhân chỉ được phép làm trong địa bàn nhỏ, nhiều rủi ro và những ai có lời đều phải chia xẻ lại cho các quan chức bằng nhiều phong bì lớn nhỏ. Tầng lớp quan chức và gia đình họ, qua hệ thống tham nhũng tinh vi, đã thâu tóm phần lớn lợi tức quốc gia và có quyền hành không kém các quan lại của triều đại phong kiến.

                        Tôi nhận ra rằng cuộc chiến tranh dành độc lập với bao nhiêu xương máu của người dân chỉ là một cái cớ để Đảng Cộng Sản cướp chánh quyền. Những quốc gia láng giềng như Singapore, Mã Lai, Indonesia, đã dành độc lập không cần hy sinh và giờ đây, dân họ (nhờ một nền dân chủ minh bạch) đã trở nên giàu có. Họ đang cấu kết với nhà nước Việt để trở thành những chủ nhân lớn của nhiều đơn vị kinh tế bằng cách dùng đồng tiền để mua lao động rẻ và tài nguyên định giá qua gầm bàn.                    

                         Tôi nhận ra rằng chế độ to mồm này thực sự sống nhờ phần lớn vào những khoản viện trợ nhân đạo của các nước tư bản (mà họ từng lên án và đánh duổi); vào khoản tiền kiều hối của các cựu thuyền nhân (mà họ đã từng giam giữ tù đày khi kết tội phản quốc); vào mồ hôi nước mắt của những nô lệ mới qua danh từ xuất khẩu lao động hay qua các cuộc hôn nhân mua bán áp đặt; vào những khoản lệ phí va sưu thuế đầy phi nghĩa, cũng như một con số khổng lồ về hối lộ, đối với những người dân còn kẹt lại trong nước.   

                        Tôi nhận ra rằng hai vị anh hùng thời còn đi học của tôi có rất nhiều bí mật xấu xa mà chế độ đã dùng mọi thủ đoạn để biến họ thành thần thánh, giúp cho chúng giữ vững địa vị và quyền hành. Đọc kỹ tiểu sử của ông Hồ Chí Minh sẽ tìm thấy một chính trị gia quỷ quyệt, nhiều mờ ám, hoàn toàn không có một chút chân thật gì, dù nhìn ở bất cứ góc cạnh nào.  Con người của ông có rất nhiều tên gọi; ông tự viết cả tiểu sử để ca tụng mình (Trần Dân Tiên); ông không nhìn nhận cha mẹ cũng như không ngó ngàng gì đến ít nhứt là 12 đứa con sinh rơi rớt từ các cuộc tình khắp thế giới; ông viết đơn cầu xin thực dân Pháp với những lời tâng bốc trơ trẽn (lá thư gởi Quan Toàn Quyền Pháp năm 1912); ông làm mật vụ cho Nga khi Pháp không đáp ứng lời khẩn cầu (chuyện của cựu Giám Đốc KGB Nga Vladimir Kryuchkov ); ông bỏ Nga theo Tàu khi có lợi (hồi ký của Li Zhi Sui); ông khoe là trọn đời độc thân để phục vụ tổ quốc trong khi có ít nhứt ba người vợ và bao nhiêu người tình, kể cả một tình nhân là vợ của một thuộc cấp (bà Nguyễn Thị Minh Khai, vợ ông Lê Hồng Phong). Gần đây, nhiều tài liệu lịch sử kết tội ông ra lệnh giết bà Nông thị Xuân và cô em, vì hai người này muốn tạo xì căng đan về mối tình khi chung sống với ông (cuốn  sách ‘Ho Chi Minh: A Life’ bởi William Duiker và cuốn ‘Đỉnh Cao Chói Lọi’ cua Ba Dương Thu Hương). Chuyện ông thủ tiêu không biết bao nhiêu là đối thủ chánh trị có thể hiểu được vì ông làm chánh trị kiểu Cộng Sản, chỉ biết theo gương bậc thầy như Mao hay Stalin. Nhưng tôi thật khó chịu khi phải đi khắp Việt Nam và nhìn những biểu ngữ ca tụng "tấm gương đạo đức của BC3c Hồ".                    

                         Còn đại tướng Võ Nguyên Giáp thì tôi không biết nghĩ sao khi đọc cuốn sách ‘China and the Vietnam wars’ của Qiang Zhai. Ông cho biết là một tướng Tàu, Wei Gouqing, nguyên cố vấn quân sự của tướng Giáp, khẳng định là chiến thắng Điện Biên thực sự là do ông cố vấn đặt chiến lược và điều khiển; ông Giáp và ông Hồ đã định đánh Pháp tại khu vực sông Hồng. Tướng Wei cũng tiết lộ là năm 1953, H Chí Minh muốn thỏa hiệp với Pháp để đình chiến, nhưng Mao Trạch Đông ra lệnh cho Hồ là phải đánh đến cùng.
    Cuối cùng, Giáp và Hồ được nhận lãnh công lao ve=2 0chuyện xảy ra trên đất Việt, tướng Tàu không thể công khai xuất hiện. Một câu hỏi khác gây bàn tán l&agrave
    ; tài sản của con rể ông Giáp (Trương Quang Bình, người giàu nhứt nước) có bao phần là của ông tướng?                    

                         Sau 1 năm ở Việt Nam, tôi hiểu được một sự thât căn bản của xã hội: tất cả mọi con người, mọi con số đều là giả dối. Quan chức nói dối để giữ quyền hành bổng lộc; doanh nhân nói dối vì quan chức đòi hỏi; người dân nói dối vì nói sự thực sẽ làm mình đau khổ rồi còn bị công an bắt. Nói dối trở thành một hiện tượng tự nhiên, như ăn uống; và không ai suy nghĩ thêm về khía cạnh đạo đức của hiện tượng này.                    

                         Trong môi trường đó, tôi đã không làm ăn gì được như dự tính. Suot 14 tháng chạy theo các dự án đầu tư, các cơ hội dài và ngắn hạn, tôi đành chịu thua. Thêm vào đó, những thủ tục hành chánh rươm rà, bất cập và luôn thay đổi, tạo cơ hội cho tham nhũng, đã làm tôi nản lòng. Cũng may, tôi chỉ mất hơn 200 ngàn đô la; một giá quá rẻ cho bài học nặng ký. Tôi không tiếc than gì cho cá nhân; chỉ thấy chua xót và thương hại cho những người kẹt lại.

                          Anderson Thai Quang

  • Tạp ghi

    Tôi viết về Hồ Chí Minh (Trần Khải Thanh Thủy)

    Tôi viết về Hồ Chí Minh
    Như mọi đứa trẻ ở Việt Nam khác, tôi sinh ra chỉ biết có bác Hồ, lên 2 đã nghe các bài hát véo von trên đài: Ai yêu bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên nhi đồng, Ai yêu bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên Việt Nam, rồi: Bác chúng em dáng cao cao người thanh thanh, bác chúng em mắt như sao, râu hơi dài. Bác chúng em thề cứu nước trả thù nhà. Hồ Chí Minh bác Hồ Chí Minh sống muôn năm… Lại: Đêm qua em mơ gặp Bác Hồ v.v. Nghiã là có cả một phong trào sáng tác các bài hát về bác, để bọn trẻ chúng tôi tha hồ được nhồi sọ, tha hồ ê a hát theo…
    Lên 5, tôi theo gia đình đi sơ tán, giữa vùng quê nghèo đói, người dân coi giấc ngủ bữa ăn, củ khoai, cây lúa quan trọng hơn việc nhồi nhét chữ nghiã trong đầu, tôi nhanh chóng nổi bật lên chinh phục bọn trẻ làng; vừa là con cán bộ sơ tán, đi học có áo trắng, quần lửng để mặc, trong khi bọn trẻ quê đi học còn phải mặc áo rách, hở khuy, tòi ra cả một đống bụng màu nâu xỉn. Chỉ riêng việc ấy thôi cũng đủ để tôi được các thầy cô cảm tình trở thành cháu ngoan Bác Hồ, tôi lấy làm kiêu hãnh về điều ấy lắm. Khi trở lại Hà Nội, tuy danh hiệu cháu ngoan không còn vì có vô vàn đứa trẻ khác giỏi và ngoan ngoãn hơn tôi, nhưng hình ảnh bác vẫn còn in dấu mãi trong tôi. Mở mắt là nghe tiếng thơ phát trên đài:

    Nhà em treo ảnh bác hồ,
    Bên trên là một lá cờ đỏ tươi
    Ngày ngày bác mỉm miệng cười
    Bác nhìn các cháu vui chơi trong nhà…

    Mười năm học phổ thông, tôi bị đúc khuôn nhồi sọ bởi đủ thứ tư tưởng nội quy, quan điểm, lập trường, đúng như lời nhận định của nhà bác học Tôn Thất Tùng: Trẻ em Việt Nam là một sinh vật ngủ đêm quá ngắn còn ban ngày phải đối phó với đủ mọi quy định nghiệt ngã của nhà trường. Nào nội quy, quy chế, nào thi cử nặng nề, rồi chương trình dài lê thê. Suốt 15 năm học (từ vỡ lòng đến khi tốt nghiệp Đại học), chúng tôi chỉ biết có "Học, học nữa, học mãi" theo lời dạy của Lê Nin. Không ít đứa trẻ trong số chúng tôi học đến mức… đau tim, hộc máu chỉ vì muốn đua chen một chỗ đứng trên giải đường đại học. 15 năm học với tôi như một cực hình tra tấn, trong khi nhà nước cho tiêu chuẩn mỗi tháng 13 kg gạo, một lạng thịt, dăm bìa đậu, mà chúng tôi phải đạp xe 8-10 cây số tới trường xa lơ lắc, người vêu vao như những đon mạ còi không lớn nổi vì thiếu dinh dưỡng. Nhiều đứa trong bọn tôi nói vui nhưng cũng đầy ngậm ngùi cay đắng: Hình như nhà nước càng hạn chế bán gạo, tớ càng ăn khỏe. Ba bát cơm một bữa chả là cái quái gì, mà ăn hơn thì bố mẹ lại phải nhìn nhau, nhịn ăn để nhường phần cho. Thật không biết sau khi ra trường có nên ông nên bà gì không mà nhìn ánh mắt mẹ buồn buồn trong bữa ăn, tế nhị nhắc các em trong nhà bớt ăn thức ăn đi một chút vì anh nó sắp thi học kỳ là thấy thương quá. Không biết sau này phải trả nghiã bố mẹ ra sao?

    Tốt nghiệp ra trường với số điểm ưu, tôi những tưởng sẽ được trọng dụng, ai ngờ nhận quyết định đi Lai Châu, mẹ ôm lấy tôi, nước mắt lã chã: ở nhà thôi con ạ, lên trên ấy nước độc, rừng thiêng, không sống nổi đâu.

    Nhà nghèo 4 năm trời tôi vẫn không xin được việc, rồi không thể ăn bám bố mẹ trong khi túi tiền bị Đảng "bao" nhiều "cấp" ít, tôi đành phải trốn mẹ ra đi. Mẹ tôi khóc còn hơn ngày ông ngoại bị đội trưởng đội cải cách đến bắt, phải rạch ruột bằng mắt kính bẻ đôi để tử tự. Lên rừng đang thời điểm 1986, cả nước ngắc ngoải trong cơn đói, tầng lớp trí thức chúng tôi được Đảng ưu tiên chỉ đạo tự túc lương thực 3 tháng. Hết ba tháng này lại ba tháng khác, quả thật tôi không hiểu làm sao mình qua được những ngày dài đói lả ấy. Câu thơ của nhà thơ Duy Phi cứ khoan sâu trong óc:

    Đời ông lặp lại đời cha
    Đời con cháu nối mãi đời cụ kỵ
    Quý khoai sắn hơn là sâm với quế
    Rau muống ơi, xin hãy muộn mùa hoa.

    Anh chủ nhà, quê Ninh Bình, lên khai hoang kinh tế mới, nơi chúng tôi thường xuyên qua lại để trò chuyện, giải thích: – Mong rau muống muộn mùa hoa để làm bánh đấy các cô chú ạ.

    Có lẽ chúng tôi sống được là nhờ bà con – những phụ huynh học sinh gốc kinh lên nông trường theo tiếng gọi của Đảng, đùm bọc bằng tất cả tấm lòng trân quý nhất. Mở cửa ra, thấy nặng tay, cố ảy, chợt có vài trái bí mán lăn long lóc xuống tận chân đồi. Tử tế hơn là cân sắn, cân khoai, nải chuối, quả đu đủ rừng. Học bác sĩ Tôn Thất Tùng trong những ngày theo kháng chiến, có ngày tôi phải ăn 20-30 quả chuối thay cơm. Đói cồn cào xót ruột đến mức nhìn thấy chuối là sợ nhưng nhà nước đã cố tình cắt cơm chúng tôi thì biết làm thế nào? Chả lẽ lại vác cái dạ dày thõng thẹo hình dấu phẩy lên sở giáo dục mà bảo: Chúng tôi đói lắm, trả lương, cấp gạo cho chúng tôi ăn đi, đừng bắt tự túc lương thực mãi thế? Vì kế hoạch trăm năm chúng tôi phải lên rừng trồng người rồi, đừng bắt chúng tôi phải vì kế hoạch 1 năm trồng lúa nữa. Bao nhiêu thầy cô giáo chúng tôi đói quá phải bỏ qua cả "lợi ích một đêm" là… làm tình rồi. Trước ba đêm không gặp nhau một lần thì khí dồn lên não, bây giờ ba tháng tự túc lương thực, đói cơm, rét cật làm sao chúng tôi "dậm dật" được?

    Trong tôi lúc ấy không hề có khái niệm nổi loạn, đêm đêm chong mắt chấm bài cho học trò
    , rồi vẩn vơ nghĩ về nhân tình thế thái. Sáng ra nghe tiếng ru của anh chủ nhà vọng sang mà thêm nẫu ruột:

    Con ơi con ngủ cho lâu,
    Mẹ mày đi chợ cơm đâu mà đòi
    Đói no thì đã tỏ rồi
    Cha đành lấp lửng những lời ru suông.

    Thằng bé con út của anh chị mới được hai tháng mà bố mẹ đã lăn lê ngoài đồng bãi nương rẫy kiếm ăn. Thức ăn duy nhất là nước đường loãng đựng trong chai thay sữa giao cho bà nội cứ mút chùn chụt. Cả ngày chỉ được ăn thêm 2 đĩa bột muối. Không hiểu sao nó vẫn cứ lớn lên được?

    Buồn, đói, chả còn cách nào giải khuây, trong khi hội bạn lao vào chơi "tú lơ khơ" giết thời gian thì tôi lao vào những mê cung rắc rối của ngôn từ. Không ngờ những vần thơ đầu tiên về Đảng cộng Sản thân yêu của tôi lại là những vần thơ tiên đoán về thời thế:

    Nhầm lẫn rồi hỡi bác kính yêu
    Chủ nghĩa xã hội đang trên đường tắt lụi
    Giữa đất nước của Lê nin vĩ đại
    Cách mạng Nga làm Lịch sử thụt lùi

    Thế kỷ nghèo sinh sản bác vĩ nhân
    Bày con cháu gắng gánh tròn hậu quả
    Là ngư dân bác chỉ lo được thế
    Đất nước đói nghèo nhờ di chúc thiêng liêng.

    Bài thơ dài 11 khổ, giữa tuổi đời 29, tưởng tràn căng sức sống mà lại nặng trĩu những âu lo. Lúi húi chép lại thành 5, 7 bản để tặng cho những người thân yêu nhất không ngờ, đáp lại thái độ chân tình của tôi họ xua tôi như đuổi tà:

    – Thôi thôi, tôi không nghe cái thứ thơ chính trị, chính em ấy đâu. Bạn không định biến tôi thành thằng phản động chứ?

    Trong khi bao bài thơ trữ tình trước đó, hầu như bài nào tôi cũng được khen, có chị còn nghiện thơ của tôi, mượn về nhà cho con cái chép lại vào sổ tay.

    Bây giờ nó nằm trong tình trạng "im lặng đáng sợ" với ai cũng chỉ có một thái độ duy nhất "không biết, không nghe, không thấy."

    – Cái gì phải đến đã đến, 3 năm sau toàn bộ hệ thống Đông Âu sụp đổ. Điều mà tôi dự đoán trong thơ đã hoàn toàn linh nghiệm. Bạn bè bắt đầu nhìn tôi bằng một con mắt khác, dè dặt hơn, thận trọng hơn, như thể tôi là một kẻ nổi loạn thực sự và nếu chơi với tôi sẽ có ngày mất đoàn, mất Đảng như chơi.

    Năm 1994 tôi mới được về Hà Nội lo chuyện lập gia đình. Đám cưới của hai trí thức nghèo cùng làm nghề gõ đầu trẻ chỉ toàn ảnh đen trắng. Khi hạch toán, toàn bộ số tiền mừng vừa khoẳn các khoản thuê. Cho dù phải ngửa tay xin mẹ tiền mua xe đạp nhưng tất nhiên tôi vui lắm, rốt cục tôi cũng biết thế nào nghiã vợ tình chồng, là áo đơn, áo kép không bằng da nọ nép da kia, là vợ chồng hoà thuận là tiên trên trần (Ban ngày) còn ban đêm ắt hẳn phải thành "tiên ở trần" rồi.

    Sự nghèo đói cứ lẽo đẽo theo chân chúng tôi từng bước, thay vì gõ đầu trẻ chúng tôi bắt đầu gõ vào đầu nhau chan chát (như chó đốm với mèo khoang). Vì đồng lương chết đói không thể nào bôi đủ cho ba người từ đầu đến cuối tháng. Trong khi còn mẹ già, em dại. Quả là kiếp trí thức trong thời đại Hồ Chí Minh – nơi thiên đường xã hội chủ nghĩa do bác du nhập từ Nga về khổ hơn kiếp lợn, kiếp chó. Suốt thời sinh viên và thời lên rừng khai sáng văn minh cho đồng bào dân tộc, cho đến tận lúc này chúng tôi vẫn bị Đảng bỏ quên. Không "đào tận gốc trốc tận rễ" như khẩu hiệu năm 1930, 1931 là còn may chán.

    Nhờ thừa hửơng hệ gien của dòng họ: "Trứng rồng lại nở ra rồng" tôi được chuyển nghề, từ gõ đầu trẻ sang gõ đầu mình. Rồi thường xuyên có mặt trong đội ngũ viết thuê cho các nhà xuất bản. Nhờ vinh dự đặc biệt này, mà tôi thường xuyên được tiếp xúc với các nhà văn nhà báo lão thành, những cây đa cây đề, bậc tiên chỉ trong làng báo và làng văn xã hội chủ nghĩa. Tuổi già là kho báu. Tiếp cận với họ tôi thực sự được tắm trong suối nguồn hào phóng của tri thức, trong đó có cả đề tài về bác. Tôi hết sức ngạc nhiên khi thấy họ có những nhận định táo bạo về vị cha già dân tộc, chẳng hề tôn kính chút nào như nhà nước và Đảng đã đầu độc họ. Không hề sợ phạm huý, giữa những người cầm bút với nhau. Họ bộc lộ thẳng thắn: "xì ông cụ nhà mình toàn đạo trích, giỏi giang cái đếch gì". Để chứng minh, họ lôi ra tràng giang đại hải những tiếng Nôm tiếng Hán, tôi nghe mà ù cả tai, rồi người khác tiếp tục khẳng định: Cả tập "Ngục trung nhật ký" có phải của cụ đếch đâu, trình độ cụ biết chó gì mà đòi làm thơ chữ Hán, chẳng qua cụ ăn cắp của người khác thôi, điều này thì có ông Từ Mục hay Hữu Mục gì đó ở Hải Ngoại chứng minh rồi… Và: Sao cái lớp trẻ dễ tin thế nhỉ, người như cụ Hồ mà giản dị, độc thân sao được? Rồi: Thằng bé Trung, con ông cụ không biết giờ này sao rồi. Đảng mình ác thật… Những lời tiên tri ấy lập tức găm sâu vào đầu óc tôi như r
    êu xanh bám chặt vào tảng đá.Suốt cả đêm tôi lúi húi chép lại từng lời từng chữ vào trang sổ của mình, sáng ra có điều gì không rõ lại phải làm như vô tình hỏi lại để tăng tính xác thực cho tư liệu… Trước đó qua số bạn bè cùng dạy, tôi may mắn gặp nhà viết chèo Tào Mạt, nổi tiếng với "bài ca giữ nước", sau khi mối quan hệ trở nên thân mật, ông bộc lộ: Tôi được trung ương giao cho viết một vở chèo về bác, thú thật lúc đầu tôi thấy vinh dự lắm liền vào ngay thư viện ôm một đống sách về để nghiềm ngẫm, vào tận quê ông cụ để lấy thêm tư liệu, đọc cả sách nước ngoài ca ngợi cụ, rồi để cả năm trời kiểm chứng, cuối cùng phải bỏ, vì cụ Hồ là người người hoàn toàn không tin được, đầy gian giảo, xảo quyệt, khác hẳn với những điều bịa đặt trong sách. Bây giờ để có tác phẩm thay thế, tôi phải chuyển sang viết về Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn.

    Tôi ngỡ ngàng nhìn ông như nhìn một tên nghịch tặc, nhưng tôi tin trong ông phải có ẩn ức sâu sa lắm mới nói được những lời nguy hiểm chết người như thế. Không bao lâu sau tôi nghe tin ông bị người của Đảng rình bắt tại khu vực 51 Trần Hưng Đạo, 65 phố Nguyễn Du, 9 Nguyễn Đình Chiểu, 19 Hàng Buồm [1] những nơi ông thường xuyên lui tới để gặp gỡ anh chị em trong giới "tối" tác. Cũng may bà Trần thị Bát, một người đàn bà vô cùng quê mùa nhưng lại rất "tỉnh đòn" trong những việc bắt bớ, rình rập này đã lăn xả vào giữ chân chồng suốt một thời gian dài không cho ông ra Hà Nội, nên vụ vây bắt không thành. Sau đó không bao lâu ông bị bệnh và chết, nhưng ấn tượng từ câu nói của ông về bác Hồ làm tôi không thể nào quên. Tết 2003 tôi đến nhà bác Chương Thâu, người bỏ tiền của sang Nhật, tìm tư liệu để viết 14 tập về nhà yêu nước Phan Bội Châu. Ông không nói lộ ra ngoài nhưng đọc trong mắt ông, tôi biết ông chẳng ưa gì người cha già của dân tộc mình. Ông bảo: Nếu cho phép treo ảnh lãnh tụ, ông chỉ treo ảnh một mình cụ Phan Bội Châu thôi. Tôi nghĩ phải có lý do gì thôi thúc lắm ông mới bỏ gần cả cuộc đời để nghiên cứu và hoàn thành một tác phẩm kinh điển 14 tập về cụ Phan như thế. Dày dặn và trang trọng hơn tác phẩm "Tư bản luận" của Mác hay "Chước tác" Hồ Chí Minh. Tôi tin trong quá trình nghiên cứu Phan Bội Châu ông thừa biết tội của cha già đã bán đứng nhà yêu nước họ Phan cho thực dân Pháp lấy tiền như thế nào. Vì thời thế ông không tiện bộc lộ, mà bắt chúng tôi phải tự mò mẫm tìm hiểu lấy mà thôi.

    Năm 2005, tình cờ tập "Nhật ký trong tù" rơi vào tay tôi. Trước đó tuy phải học, phải nhồi sọ về bác nhưng tôi chẳng nhớ điều gì cụ thể ngoài nỗi đắng cay vì thi tốt nghiệp bị 2 điểm môn văn (suýt trượt) trong khi phân tích bài "Giải đi sớm" của người. Lần này tôi đọc kỹ lưỡng hơn, như sợi tóc chẻ làm tư, một khối quay ru bích quay đủ 7 mặt. Tôi ngạc nhiên vì một câu bác nhận xét tập thơ của Cù Huy Cận lại rất đúng trong trường hợp này: Bài hay xen lẫn với bài thường. Như thơ của hai người khác nhau cùng làm vậy. Cái hay thì vượt trội hẳn lên, còn bài thường thì ngô ngọng, chả có vẻ gì là thơ cả. Trong tôi loé lên sự nghi ngờ và quyết định phải làm rõ sự nghi ngờ của mình dù phải mất bao nhiêu thời gian đi chăng nữa.

    Nhìn một cây không thể thấy cả cánh rừng, tôi mò vào thư viện mượn hai cuốn: Thơ Hồ Chí Minh và Những mẩu chuyện về cuộc đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch, cùng rất nhiều tác phẩm của các nhà thơ lớn viết về người như Tố Hữu, Chế lan Viên… Càng đọc tôi càng tin vào nhận định sắc sảo của những ông bạn già. Đúng là thơ văn đích thực của cụ chả có gì đáng nói cả, nếu so với những bài thơ của người dân oan bị mất đất mất nhà thì thơ họ làm còn hay hơn vạn lần (cho dù đa phần là mù chữ), ít nhất nó cũng có tâm trạng buồn phiền đau xót, có sự việc cụ thể mà tôi tin dưới bầu trời mặt đất này không nơi nào còn tồn tại những cảnh đời khổ ải như ở Việt Nam, vì thế mà lay động tâm trí, lương tâm người đọc (trừ bọn quan tham, vua điếc) điều khiến tôi phẫn nộ là cụ rất ảo tưởng về mình, trừ mảng thơ chúc tết mà tôi đã mạo muội dự đoán: Lượng thơ không đáng kể, tầm nhìn xa không quá bản thân mình. Và: Thật là một sự xúc phạm ngôn từ quá lớn nếu gọi đó là thơ vì lổn nhổn các lời chúc khẩu hiệu gói trong nền cờ cách mạng v.v và v.v, còn một mảng thơ tuyên truyền gồm 30 bài. Quả thực chưa lần nào đọc thơ (kể cả thơ của tác giả nghiệp dư, đem đến nhờ tôi đọc để nâng cấp hy vọng được xuất hiện trên văn đàn) tôi phải phẫn nộ như lần này. Thơ như đấm vào lỗ tai như thế mà bắt anh chị em dân vận phải học thuộc lòng rồi đi tuyên truyền vận động bà con. Cụ còn bảo hễ ai thuộc nhiều sẽ được trọng thưởng. Chả trách lớp lãnh đạo đàn em cụ đều thuộc diện khinh học cả, vẫn lãnh đạo đất nước như thường, khiến 81
    triệu dân Việt Nam được thể "thiến" nhanh, "thiến" thẳng, "thiến" vững chắc lên chủ nghĩa xã hội (bỏ qua giai đoạn giãy chết là chủ nghĩa tư bản). Nghĩa là bị đảng thiến là sẽ chết ngay chứ không cần giẫy chết như kiểu thiến của chế độ tư bản chủ nghĩa…

    Trong nỗi bức xúc tột cùng ấy tôi bắt tay vào viết bài đầu tiên:Phát hiện thêm về Hồ chủ tịch, tuy được bạn đọc hưởng ứng hết sức nhiệt tình, nhưng tôi tâm đắc với một nhận xét chẳng ưu ái gì về đứa con tinh thần của mình "Gọi là phát hiện thêm nhưng thực chất chẳng có gì mới cả, quan trọng chỉ là một tiếng nói trung thực ở trong nước". Thú thực lúc đầu tôi hơi tự ái, vì 20 năm cầm bút, kể cả khi còn phải lấp ló sau cánh màn sân khấu, tôi chưa khi nào bị nhận xét theo kiểu kỳ cọ, coi thường như thế. Sau khi sục sạo vào cả kho tư tưởng, xưởng ý kiến của tất cả 256 người, đặc biệt là bản di chúc cuối cùng của cụ do báo Thức Tỉnh San Jose đăng lại từ tờ Con Ong ở Pháp, tôi hiểu là tác giả những lời nhận định cực đoan đó hoàn toàn có lý. Chỉ là mới và thêm so với những người trong nước bị Đảng kìm kẹp, đầu độc tư tưởng thôi, còn với độc giả Hải Ngoại thì họ biết tỏng ra rồi. Thế mà tôi nhớ trước khi lên mạng, tôi bí mật cho một vài người bạn thân thiết trong nước đọc, họ rất lo ngại. Người bảo tôi sinh phải giờ liều, gan to hơn trái núi, người dặn cẩn thận với cánh PA25 đấy. Họ quan niệm "bắt nhầm hơn bỏ sót". Bắt một người để cả triệu phải khiếp lây rồi ai nuôi con v.v và v.v. Chứng tỏ với người Việt Nam thế hệ trung niên như chúng tôi – tất cả những mặt trái của tấm huân chương (trong đó có bác) đều bị bưng bít, ai nói khác đi một chút là bị kẹp chì ngay, kẹp tư tưởng không được thì tổ chức cho kẹp xe để kẹp đầu luôn.

    Nhờ các tư liệu quý báu mà bạn đọc Hải Ngoại cung cấp (gấp trăm nghìn lần những điều tôi nghe lỏm từ các lão làng hôm nào), tôi quyết định phải dựng lại chân dung Hồ Chí Minh, để thế hệ cháu con không bao giờ bị đầu độc nữa. Có sách mới áo hoa là nhờ ơn ông bà bố mẹ chứ Đảng bóc lột con dân còn hơn tư bản, thiến dân theo kiểu thiến nhanh, thiến mạnh, thiến vững chắc lên địa ngục xã hội chủ nghĩa thì không chết là may rồi lấy đâu ra mà "vui tung tăng em ca có đảng cuộc đời nở hoa". Trong vương quốc tối tăm này tiền bạc của cải chỉ giành cho những kẻ độc tài, mù loà về đạo lý, lương tâm, kiến thức, còn tầng lớp trí thức chúng tôi, những người may mắn sinh ra từ những quả trứng rồng lại phải chịu cảnh thất nghiệp, tù túng, chết mòn trong vây, nhục hơn cả Từ Hải chết đứng. Như câu thơ tôi đã viết:

    Đất nước chìm trong cảnh mù loà
    Bao nhiêu Từ Hải chết trong vây
    Trời xanh biển rộng đâu mà vẫy
    Đành làm mọi tôi ở xứ này.

    Nghiã là làm mọi tôi cho những kẻ xuất thân từ dòng giống liu điu khác như Nông Đức Mạnh, Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Nguyễn Văn An v.v.

    Suy xét cả bốn đời từ đời ông bà nội ngoại đến đời bố mẹ rồi đời tôi và đời con tôi, chúng tôi không những không hề được lợi lộc gì từ Đảng mà còn bị Đảng bóc lột đến trắng mắt, trắng tay. Ông nội tôi xuất thân trong một gia đình giàu có ở thôn quê, 2 tháng rưỡi đã được bố mẹ bế lên Hà Nội ở, được nuôi ăn học đầy đủ, sau khi tốt nghiệp trường hậu bổ trở thành quan thông ngôn, chuyên phiên dịch tiếng pháp cho nhà nước Đại Pháp. Nếu các cụ tôi còn bao nhiêu cánh đồng thẳng cánh cò bay ở quê, thì ông nội tôi cũng giàu ức vạn. Trong nhà có tới 13 gia nhân, người ở, từ vú nuôi, con sen, đến người ở, người giúp việc bán hàng, người kéo xe tay, tài xế chuyên buôn vải và gạo tấm từ Nam Định lên cho bà tôi bán tại cửa hàng riêng của gia đình. Vào tay cách mạng, ông tôi mới 48 tuổi bị đột quỵ mà chết, cả nhà lẫn xe hiến hết cho nhà nước. Bác tôi học trường An-Ba-se-ro không chịu nổi cảnh mấy con mẹ bán xôi ngoài cửa trường mình hôm trước một điều cậu hai điều con, nay lên làm tổ trưởng dân phố, mặt vênh như bánh đa nướng chuyên săm soi vào tận gầm giường người khác để tìm vàng tâng công, liền bỏ vào Nam. Bố tôi học trường Bưởi được "giác ngộ" cách mạng từ bé. Nên khi 14, 15 tuổi đã lên giọng chửi bố và anh là bám đit đế quốc đòi từ để một lòng một dạ theo Cách mạng. Sinh ra là con quan, có gia nhân theo hầu từng li từng tí mà khi trở thành anh bộ đội cụ hồ khổ hơn trâu, chó. Từ một thư sinh trắng trẻo khôi ngô thành khỉ Trường Sơn, rồi chết trong mòn mỏi kiệt quệ, trong ngờ vực đớn đau giữa mùa hè 1986. Thời kỳ khốn khó nhất của Việt Nam, sau mười năm phỏng giái, lãnh đạo miền Bắc tiếp quản, thu gom hết tài sản của miền Nam trù phú cho riêng mình nên cả nước ôm nhau ngắc ngoải trong từng ô tem phiếu. Từ lúc theo cách mạng không được ăn no lấy một ngày,
    ngược hẳn với quãng đời trước đó. Bà ngoại tôi dù có công nuôi cả đại đội trong nhà vẫn bị quy thành địa chủ. Goá chồng lúc 55 vì ông tôi tự tử trong trại giam, 9 đứa con mạnh đứa nào đứa ấy chạy. Cứ chị cả tha em út, anh hai cõng em 5 v.v. người lên rừng, người xuống biển người vô Nam. Bác cả tôi, vì muốn gặp lại ông bà và các em nên sau khi giải phóng Miền Nam, kiên quyết không di tản, dù có 6 người con là lính cộng hoà, cấp bậc trung tướng, thiếu tá, đem xe về tận nhà rước má… cuối cùng phải trả bằng cái giá đớn đau nhất: Chết trong nghèo đói bệnh tật, con cái thất nghiệp, nhà cửa tiêu điều xơ xác. Chị họ tôi đỗ thủ khoa, từng được bà Trần Lệ Xuân vợ của ông cố vấn Ngô Đình Nhu đội vương miện trên đầu, 8 lần vượt biển cùng người yêu không thành, cuối cùng đành để anh ra đi trước, nếu còn sống thì thu xếp đón vợ mới cưới sang sau… vậy mà cho đến năm 47 tuổi ước mơ mới thành hiện thực. Sống bên nhau vì nghiã thôi còn tình thì quá date rồi, đúng như bài hát mà các thành viên trong trại tù của chị vẫn nghêu ngao hát: Tù lâu quá đi thôi, L… tôi teo hết rồi, Đảng ơi [2].

    Mẹ tôi 16 tuổi đã phải ra khỏi nhà trở thành Thanh niên xung phong. Làm đường tàu, tuyến đường Hà Nội Thái Nguyên, dưới bóng tối của Đảng, lại dính thêm thành phần là con đại địa chủ, cho dù có là địa chủ kháng chiến đi chăng nữa cũng khổ và nhục hơn triệu triệu lần thời thực dân pháp xâm lược. Tôi được học hành nhờ mẹ thắt lưng buộc bụng, cộng thêm những cẳng cải già, cuống súp lơ, bắp cải trước nhà của bếp trường đại học thải ra, mẹ tôi tiếc rẻ nhặt lại, lược bỏ hết phần xơ phía ngoài lấy lõi bên trong làm rau ăn quanh năm. 15 năm học không một ngày học thêm, toàn vịn câu nói của bố mà vươn lên: Khả năng con người là vô tận, hãy biết khai thác bản thân mình con ạ. Thế là từ lúc lên 9, lên 10 đã biết gõ vào đầu mình để nắm bắt kiến thức và bây giờ liên tục gõ vào đầu mình để viết, lặn ngụp trong câu chữ kiếm ăn, nuôi con và nuôi gia đình nhỏ của mình, không hề nhận được bất cứ đặc ân nào của Đảng, vì ngay sau khi chuyển từ miền núi về Hà Nội đã bị người của Đảng tống ra khỏi biên chế để thế chân con em cháu cha vào. Bắt đầu có chút của ăn của để là nhờ sự giới thiệu, dẫn dắt, kê chỗ đứng của các nhà dân chủ và bây giờ hoàn toàn trông vào tấm lòng của bà con anh em Hải Ngoại, những người biết được cái tài của tôi mà trọng dụng. Nếu không hẳn tôi đã chết rũ trong ngôi nhà xã hội chủ nghĩa tồi tàn vì không công ăn việc làm hoặc phải tự thiêu như bà Phạm thị Trung Thu để đòi lại quyền lợi cho con cái. Vì thế bắt tôi ơn Đảng, ơn bác sao được? Nhà bác học Lê Quý Đôn người đi trước Mác 300 đã nói: Người tài không dùng, sĩ phu ngoảnh mặt kia mà. Nếu Đảng kết tội tôi ngoảnh mặt với Đảng cũng là lẽ đương nhiên. Hơn nữa Đảng nào có tốt đẹp gì, bắt tôi phải đồng loã với cái ác, cái xấu của Đảng sao được? Ngay Hồ Chí Minh trong di chúc của mình cũng nói rõ sự sai lầm của mình vì đã đưa đất nước đi theo con đường của Liên Xô, Trung cộng cơ mà. Ngày 14-8-1969, trước khi đi tìm Lê Nin Các Mác để hỏi tội, cụ đã từng tuyên bố trong di chúc cho cô con gái lai Pháp của mình rằng: Chủ nghĩa này chẳng qua chỉ là giả bộ. Họ lừa dối nhân dân để chiếm lấy chính quyền cho nước Nga khi đó".

    Trước khi biết mình bị đầu độc bằng mũi tiêm của bác sĩ Tôn Thất Tùng, cụ đã mong ước cho nước ta và các nước khác trong hệ thống xã hội chủ nghĩa sớm ra khỏi ách cộng sản.

    Nhưng thôi tội của Đảng kể muôn năm không hết, mình tôi kể chỉ là giọt nước trong biển cả, sẽ đến ngày 81 triệu dân Việt Nam vùng lên kể tội Đảng, trả Đảng về đúng nơi mà Đảng đã chui ra. Đó là bóng đêm, là hang tối, là khe sâu, vực cao… không khác được.

    Hà Nội, cuối năm 2005

    Ghi chú:
    [1]- Trụ sở hội liên hiệp văn hoá nghệ thuật, nhà xuất bản tác phẩm mới hội nhà văn Hà Nội và hội nhà Văn Việt Nam.
    [2]. Nhại lời bài: Mặt trời bé thơ của Trần Tiến.

  • Tạp ghi

    ĐÊM VIỆT NAM (Hà Thúc Sinh)

    Một chút về Hà Thúc Sinh

     

    Tôi quen biết và sinh hoạt văn học nghệ thuật với Hà Thúc Sinh đã 1/4 thế kỷ. Anh là một ngưòi đa tài, với hơn 20 tác phẩm, từ Thơ, Văn, Nhạc đến Dich Thuật. Trí Nhớ Đau Thương là tập thơ đầu tay của anh, xuất bản năm 1967, nhưng tập Dạo Núi Mình Ta  (thơ 1972, tái bản 1973) mới thực sự tạo nên tên tuổi một Hà Thúc Sinh.

    Là cựu sĩ quan QLVNCH, sau ngày mất nước anh bị bắt đi tù cải tạo 5 năm. Vượt biên đến Mỹ năm 1980, tiếp tục cầm bút viết Đại Học Máu, một trong những hồi ký cải tạo gây tiếng vang trên văn đàn hải ngoại, đồng thời là một cái gai gây nhức nhối cho bạo quyền Hà Nội lúc bấy giờ. Nhưng âm nhạc vẫn là "tiếng động" của Hà Thúc Sinh, một phương tiện truyền thông dễ đi vào lòng người. Đặc biệt tập nhạc Tủi Nhục Ca của Hà Thúc Sinh được anh thực hiện qua giọng hát "gọi hồn" của Khánh Ly, nói lên thân phận nghiệt ngã của một kiếp người sinh tử dưới gông cùm của bạo quyền Hà Nội.

    Để nhìn rõ hơn về con người đa tài này, kính mời Quí vị đọc Đêm Việt Nam (đính kèm), một bài nhận định bằng sự mẫn cảm sâu sắc, một cảm xúc chân thành của Phạm Tự Trọng, người bạn tù cải tạo một thời với Hà quân.

    Trân trọng

     

    Lão Ngoan

    ĐÊM VIỆT NAM

              

      

    Phạm Tự Trọng

     

           Cũng như hầu hết mọi người, trong một nghĩa nào đó, âm nhạc là điều không thể thiếu trong đời sống hàng ngày của tôi. Kiến thức âm nhạc của tôi tất nhiên chỉ giới hạn trong vị trí của một người mê nghe nhạc, và dùng âm nhạc như cái thước đo cảm xúc của chính mình trong đời sống pha trộn giữa niềm vui và nỗi buồn.

           Tôi lại có thể được may mắn hơn nhiều người là vì từng được cảm nhận âm nhạc không chỉ giữa cái vui buồn, mà ở ngay giữa thời điểm tuyệt vọng nhất trong cuộc đời, gần như là sự chết không chỉ cho riêng mình mà cả số phận những người thân yêu của mình : giữa trại tù cải tạo CSVN. Tôi không định viết về “Tù Cải Tạo” vì đã có quá nhiều người kể về nó. Bắt người ta nghe đi nghe lại một chuyện ai cũng biết sẽ trở thành nhàm hóa nhảm. Tôi chỉ muốn nói đến cảm xúc về những dòng thơ nhạc một người đã viết và hát cho tôi nghe trong hoàn cảnh này.

            Đúng thế, có một nhạc sĩ, có một ca sĩ, có một đêm tối, có chung quanh là rình rập bắt bớ; một tiếng hát thì thào cất lên trần truồng từ tăm tối. Ngoài tiếng hát tất cả đều im lặng, sự im lặng như phát thành tiếng thay cho tiếng đàn đệm. Người ca nhạc sĩ đó chính là Hà Thúc Sinh với những bản Tủi Nhục Ca mà "Đêm Việt Nam" của anh là một, tôi nói không sai, đã được hoàn thành và hát cho bạn bè nghe ngay trại tù Trảng Lớn vào đêm Giáng Sinh 1975.

     

          Đêm hôm đó rét lắm, cái rét mà người miền Nam bảo là “bộ đội cụ Hồ” đem từ Bắc vào. Riêng đám tù, cái rét còn kinh khủng hơn, vì khi ra đi nộp mình ít người mang theo  chăn mền áo ấm. Và trong cái giá lạnh đó, chúng tôi sáu, bảy đứa co ro ở một góc tối nhất trong cái hội trường làm từ những tấm “ghi” sắt, để ăn “Réveillon !” bằng “gô” nước chùm bao với một nhúm thuốc lào. Ở đấy, chúng tôi “bình luận thời cuộc”, đoán mò tình hình gia đình, và trao đổi nhau những câu thơ đắng ngắt. Nguy hiểm lắm, chết như chơi, vì bọn vệ binh quản giáo có thể ập tới bất cứ lúc nào, chưa kể vài cái cần ăng-ten không tránh khỏi; hơn nữa trong bọn lại có Xuân Ròn tức HTS, người đã bị “ghim” ngay vài tuần đầu sau ngày nhập trại vì tội “mười năm ra rả chửi cách mạng”  ( Câu chửi thường được Chính Trị Viên tên Môn dùng để xỉ vả Xuân.). Nhưng thây kệ, trời rét nhưng máu tuổi trẻ không bao giờ biết rét, mọi người ai làm được câu thơ nào đều đưa ra, trừ anh chàng ròn nhất vẫn im lìm. Có tiếng nói hơi lớn, “Thằng Xuân nãy giờ chỉ ‘ăn không’, có gì đi chứ.”. Một tiếng suỵt khe khẽ cất lên, “Khẽ chứ. Câm hết, nghe đây.”. Ngay khi nghe HTS hát vài câu đầu tiên bài “Đêm Việt Nam”, người nghe cảm thấy như đang chìm vào nỗi dằn vặt trong tủi nhục :

                                               

                                  Đêm thế giới đang dồn một lần

                                  Trên đất nước tôi gọi Việt Nam

                                  Đêm bát ngát những khu trại giam

                                  Đời thênh thang thu hẹp dần dần

     

                                  Đêm em bé lên mười cùm gần

                                  Anh chiến sĩ gốc Biệt Động Quân

                                  Đêm thiếu nữ áo đơn tạm thu

                                  Ngồi kề vai gái giang hồ lo

     

                                  Đêm đấu tố và thủ tiêu

                                  Đêm săn bắt cho đầy chỉ tiêu

                                  Người chết nhanh…Người phát điên

                                  Đêm cáo chung tự do nhân quyền

     

                                  Đêm nhức buốt phang bằng chầy vồ

                                  Vang tiếng thét sau cùng “Tự Do”

                                  Đêm có tiếng súng sau trại giam

                                  Người tù binh chết bên bìa rừng

     

                                  Đêm thế giới đang dồn một lần

                                  Trên miếng đất đã thừa lầm than

                                  Đêm trút xuống hố sâu diệt vong

                                  Là Việt Nam nước tôi buồn tênh

                                 

            Tiếng hát không lớn nhưng mạnh như một luồng điện cao thế đâm bổ vào mọi người. Anh hát hai lần. Tiếng hát đã dứt mà im lặng vẫn đóng cục,  một lúc mới có những tiếng thở ra rồi hít vào như bị hụt hơi. Phải mang thân phận đó và trong thời gian không gian đó, người nghe mới cảm nhận hết được thế nào là “cảm xúc đo âm nhạc lẫn âm nhạc đo cảm xúc”.

     

           Bài Đêm Việt Nam, có lẽ là một trong hai tủi-nhục-ca đầu tiên của HTS, đã được hoàn thành và hát trong cái Tình cái Cảnh như thế đó. Bài kia là “Trại Biến Hình”, mô tả một “quyền uy điên cuồng” nuôi người trong những Trại Chăn Nuôi, nơi mà Chúa đã phải “ngậm ngùi vì khi xưa đặt người lên trên mọi loài”  mà không đóng chặt cánh cửa Hỏa Ngục, để thoát ra thứ quyền uy Lucifer toan tính biến hình và tẩy sạch chất người khỏi người. Và từ cái mưu toan quỉ quái đó, người tù đã thấy không còn hình tượng thậm chí có lúc đã quên mình từng là con người. Bài thơ Người Về bất chợt truyền tai nhau trong cư dân Trại Biến Hình như lan truyền ước vọng có ngày “người về hát một câu nhỏ, hôm nay ta lại làm người”.

     

    Người Về

     

    Người về giữa mùa hoa nở

    Trên môi ngậm một nụ hồng

    Dòng đời dừng chân soi bóng

    Mái tóc như gọi buồn lên

     

    Người về như dòng sông mỏi

    Chân xưa xin lạy đường dài

    Ngọn đời dù cho le lói

    Cũng có tay vòng ấm vai

     

    Người về như dòng mưa lũ

    Tưới trên vườn hồn em khô

    Người về như là ngăn giữ

    Hóa đá thân em từng giờ

     

    Người về thắp lại ánh lửa

    So dây chơi một đoạn buồn

    Cuộc đời tự dưng thấy ấm

    Tiếng hát xanh ngời lòng em

     

    Người vê hát một câu nhỏ

    Hôm nay ta lại làm người

    Cành đời vào Xuân thay lá

    Áo cũ xin gởi gió bay

     

           “Người Về” lúc đầu là  thơ, sau đó khi tác giả tự phổ nhạc vẫn giữ tên “Người Về” với nguyên văn lời thơ và được lan truyền qua nhiều trại tù. Những năm tiếp theo, khi tôi đã chuyển đi nhiều trại không còn ở chung với tác giả nữa, tôi thấy nhiều anh em hát bài này và bài “Đêm Việt Nam”. Gần 20 năm sau, khi mới tới Mỹ và lần đầu nghe Khánh Ly hát hai bài này tôi thấy thật xúc động nhưng cũng hơi ngỡ ngàng vì “người” đã thành “mộng”.Tất cả những chữ “người” trong bài “Người Về” đều được đổi sang “mộng” để   có tình ca “Mộng Về”, và hơi tiếc là chữ “Mộng” lại được người hát hiểu là một ước muốn thể hiện trong giấc ngủ giới hạn trong tình yêu đôi  lứa, vì “Mộng” ở đây hàm y  một ước ao thực tại hơn là cơn mơ trong giấc ngủ. “Người về” lúc ấy mang y nghĩa là chất người được trả về con người. Người là mùa Xuân và chỉ có người mới biết cười trong cái “mùa Xuân” ấy, và thật rõ ràng khi đoạn kết thúc bản nhạc có câu “Người về hát một câu nhỏ. Hôm nay ta lại làm người”. Với “Mộng Về”, tác giả cũng thật khéo khi chỉ biến “người thành mộng” mà cả bản nhạc khác hẳn nội dung thành một tình ca mượt mà trong cay đắng, mượt và đắng như “Mộng về như là ngăn giữ hóa đá thân em từng giờ” hay “Ngọn đời dù cho le lói, cũng có tay vòng ấm vai.”

       

           Thỉnh thoảng hát cho bạn bè nghe “Đêm Việt Nam”, tôi mạn phép tác giả sửa “chết bên bìa rừng” thành “xác bêu hàng rào” vì tôi đã thấy một người tù chết xác bêu trên hàng rào. Trong tù, ban đêm người tù muốn ra khỏi “lán” để đến khu nhà vệ sinh phải cầm theo một cái đèn bão treo sẵn gần cửa, vừa đi vừa la “báo cáo các anh tôi đi vệ sinh”, khi xong quay lại lán thì “báo cáo anh tôi đi vệ sinh về”. Có một người tù kiết lỵ phải lập đi lập lại chuyện đó nhiều lần trong một đêm, tới khi mệt quá câu báo cáo rút ngắn  còn “vệ sinh”, lúc quay lại lán chỉ còn sức kêu tiếng “Về”, và lần đi vệ sinh cuối cùng không có tiếng báo cáo “Về” của người tù kiết lị nữa, đã “có tiếng súng sau trại giam” thay cho tiếng “Về” của người tù ấy. Sáng ra, vài người được lệnh ra khiêng xác người tù kiết lỵ thấy cái xác nằm vắt ngang hàng rào với nhiều vết đạn, và được cho biết “bị bắn trong lúc leo rào trốn trại”. Kiết lị gần chết còn sức đâu mà trốn trại ? Không biết ! Chỉ thấy trên tay xác người tù thiếu cái nhẫn và chiếc đồng hồ. Tôi đã nghe tiếng súng sau trại giam và thấy cả xác tù vắt ngang hàng rào. Tôi hát “Đêm có tiếng súng sau trại giam. Người tù binh xác bêu hàng rào” mới cảm thấy một cảm xúc trọn vẹn.

     

            Dân Việt Nam nghèo đói đến nỗi trước khi chết nhiều người chỉ xin được ăn một bát cơm trắng, mà người Bắc gọi là “ăn giối” (giối = trối, trối trăn, trối chết), còn “ốm dậy ăn giả bữa” để chỉ những người khỏe lại sau cơn bệnh và  thường ăn được nhiều vì cơ thể đòi bù lại những ngày chê cơm trên giường bệnh. Có người chưa kịp nuốt xong miếng cơm giối đầu tiên đã trợn mắt chết vì không còn sức nuốt. Người chết chỉ một lần, cơn hấp hối cũng chỉ một lần và được tính trong giây phút. Những người tù sống dở chết dở, không được sống và không được chết. Họ phải sống trong cơn hấp hối bất tận năm này qua năm khác. Những bát cơm giối đã đến với Hà Thúc Sinh trong sự hấp hối triền miên đó, và anh đã viết “Tủi Nhuc Ca” như những lời để lại. Những dòng thơ nhạc tủi nhục của anh sống và thật như những tấm hình chụp. “Đám Ma Văn Hóa” được kể qua tiếng hát Khánh Ly thật gợi hình gợi cảm. Người trong kiếp trâu bò trên đường rừng quanh co dưới trời mưa, có chàng trai chết bên bờ suối,có lũ người mà người ta chỉ cần trăm tay không cần tim. Những hình ảnh đó mang hồn bơ vơ Phạm Công Văn Hóa, có oan hồn Cúc Hoa Việt Nam và thân phận đọa đầy côi cút của  những Nghi Xuân, Tấn Lực trong bàn tay độc ác mụ dì ghẻ Chế Độ.  Hồn Phạm Công trong cổ tich còn có chỗ để đòi công ly. Hồn Phạm Công bây giờ bị gặm nhấm không nơi đến đành bơ vơ dật dờ ngọn cỏ.

     

           Lịch sử VN có 2 cuộc di cư vĩ đại, 1954 và 1975, mà cả hai cuộc di cư có họ máu với nhau. Cuộc di cư lần đầu xẩy ra cũng là khi Hà Thúc Sinh ở vào cái tuổi còn chạy rong nghêu ngao “Em Bé Di Cư”, một bài “tếu ca” được sửa lời từ “Em Bé Quê” của Phạm Duy : “Ai bảo di cư là khổ. Di cư sướng lắm chứ. Ngồi tàu bay với lại ô-tô miệng thì hát bi bô. Vui thú xi- nê cả ngày. Tiền nhiều tiêu cho đã. Ước mong sao khi túi không xu ta có lại di cư…”. Như những đứa trẻ di cư khác, tuổi thơ của anh cũng gỡ gạc được vài năm “Nắng Đẹp Miền Nam” trong hòa bình, rồi sau đó lại phải lớn lên trong khói lửa và rồi lao mình vào cuộc khói lửa đó. Bài hát tếu năm xưa không ngờ lại là một lời tiên tri thê thảm, “Khi hết tiền ta lại ước mong có cuộc di cư”, và cuộc di cư lần hai đã đến khi quê hương “hết tiền”, nhưng  không nằm trong “ước mong” mà trong kinh hoàng. Hàng loạt những bài ca tủi nhục của anh đã ra đời từ sự kinh hoàng đó.

     

           Tủi Nhục Ca HTS gồm khoảng gần 30 ca khúc, trong đó phần lớn được sáng tác trong tù. Những bản nhạc này không bắt người ta phải phùng mang trợn mắt lên mà hát, không phải gân cổ lên như khi hoan hô đả đảo. Thật hiền hòa, nó chỉ là những tiếng kêu cứu từ vực sâu tăm tối đánh động lòng người.

     

           Có một thời chất liêu trai trong tiếng hát Khánh Ly đã như cuộn giây đưa con diều Phản Chiến Trịnh Công Sơn bay bổng. Cuộn dây tuy dài nhưng con diều chỉ thả được tới một độ cao giới hạn nào đó, và khi trời hết gió con diều hết bay. Nói như thế không có nghĩa là chê nhạc Trịnh không ra gì. Người ta có thể “chê” TCS, nhưng tất nhiên chưa ai dám xúc phạm đến huyền thoại âm nhạc của một Tài Danh Thế Kỷ như ông. Riêng Nhạc Phản Chiến TCS, nó đã có thể vượt được khoảng không gian nào đó nhưng không vượt được thời gian. Thời gian càng qua đi người thich nghe loại nhạc này càng ít hơn kể cả trong nước, vì nó càng ngày càng trở thành nạn nhân của chế độ hiện tại ở VN. Nếu đồng y Nhạc Phản Chiến TCS đã có góp phần cho chiến thắng tạo ra một chế độ càng ngày càng trở thành tội ác, thì người ta sao lại không thể càng ngày càng không thích cái phương tiện tạo ra chế độ diệt dân hại nước đó.Tủi Nhục Ca của Hà Thúc Sinh thì lại có một giá trị lâu dài vì tính trung thực và tính lịch sử của nó, và dĩ nhiên cái hồn thơ hồn nhạc của tác giả là yếu tố quan trọng ắt có để xúc động lòng người. Thử nghe tiếng hát Khánh Ly với “Đoạn Đường Núi Sọ” vẫn thấy thật xúc động, vẫn thấy thật xót xa khi con “đường gai xưa Chúa bước” vẫn còn đang đeo đuổi đất nước và con người Việt Nam. Rồi một mai dẫu “con đường gai” không còn nữa, người ta vẫn ghi nhớ “Đoạn Đường Núi Sọ” để mà sợ hãi. Có thể nói Nhạc Phản Chiến Trịnh Công Sơn là sự trang trí cho thật thơ mộng con đường dẫn đến một khu vườn cằn cỗi không sự sống. Tủi – Tình Ca Hà Thúc Sinh lại là chiếc máy ghi những tấm hình thê lương trong khu vườn chết đó. Nếu Nhạc Phản Chiến TCS thúc đẩy một sự đầu hàng tội ác thì Tủi Nhục Ca HTS chính là tiếng tha thiết kêu gọi lương tâm con người vậy.

     

            Nhà báo Frank J. Green của The San Diego Union trong Troubadour of Freedom số ra ngày 27-5-1986 đã nhắc lại cái nhìn không hoàn toàn lắm của một số người Mỹ về Hà Thúc Sinh, “…Ha – who has been called the Bob Dylan of Vietnam – is something of a superstar among the international Vietnamese community…”. Đối với Hà Thúc Sinh, “Bob Dylan của Việt Nam” chỉ đúng với anh vê “Phương Tiện”. Nếu dành cho Trịnh Công Sơn, sự đánh giá này chính xác cả về Phương Tiện lẫn Mục Đích như Joan Bazer đã từng phát biểu.

     

           Bob Dylan là một ca nhạc sĩ Mỹ, tay phản chiến hạng nặng, từng đoạt nhiều giải cao quí như Golden Globe, Grammy, và Academy Awards. Thời thập niên 60, nhiều bài hát của ông đã được dùng như “Thánh Ca” trong các Phong Trào Phản Chiến và Đấu Tranh Dân Quyền tại Mỹ, điển hình như “Blowing In The Wind” và “The Times They Are A-Changing”, kiểu thánh ca “Nối Vòng Tay Lớn”, “Hát Trên Những Xác Người”… của Trịnh Công Sơn ở Việt Nam. Hà Thúc Sinh không phải là người phản chiến và cũng không là người hiếu chiến. Chưa ai tìm được một nét phản chiến nào trong Văn Thơ Nhạc của anh. Anh cũng chưa hề hiếu chiến bao giờ. Sự gia nhập Quân Đội trước 1975 của anh là một việc làm thi hành bổn phận công dân trong y niệm tự vệ trước một hiểm họa. Đọc thơ Nghinh Địch Hành của anh sẽ thấy thái độ của anh cũng là của mọi người lính miền Nam đối với chiến tranh và những người lính bên kia :

     

                                                              Nghinh Địch Hành                               

     

                                                             Giao thừa đâu mà vội        

                                                             Hãy khoan đã chú mày      

                                                             Cứ đóng xa vài dặm           

                                                             Mà ăn uống cho say           

     

                                                             Ta cũng người như chú       

                                                             Cũng nhỏ bé trong đời       

                                                             Có núi sông trong bụng      

                                                             Mà bất lực hôm nay

                

                                                             Chiến chinh trời cũng sợ

                                                              Chỉ còn lại hai bên

                                                              Vội vàng chi cho cực

                                                              Cứ thong thả nghỉ đêm

     

                                                                Vì nói thật cùng chú

                                                                Trăm năm có là bao

                                                                Binh đao sao biết được

                                                                Sinh tử ở nơi nào

     

     

                                                                Nếu chú có cha mẹ            

                                                                Ta chẳng những người thân   

                                                                Còn mang thêm lắm nợ          

                                                                Với rượu và gió trăng

                 

                                                                 

                                                                Chú cứ ăn cho đủ

                                                                Mai chết sẽ chết no

                                                                Ta cũng cần đêm cuối

                                                                Từ giã gió trăng xưa

     

           Đúng quá Nghinh Địch Hành. “…Tay bóp cò lòng xót hơn muối xát. Thương thân mình thương cả địch quân…”.

     

            Bob Dylan và Trịnh Công Sơn giống nhau ở chỗ cả hai có cùng tư tưởng phản chiến và đều dùng âm nhạc làm phương tiện thực hiện chung một mục đích khích động quần chúng đem tai họa đến cho cả một dân tộc. Hà Thúc Sinh chỉ giống 2 người này trong việc lấy âm nhạc làm phương tiện, nhưng mục đích thì khác hẳn, anh chỉ hiền hòa khơi động tình yêu và lương tâm con người qua thơ nhạc như những tiếng kêu oan cho những kẻ đang bị bức tử. Con đường đi của Bob và Trịnh thật êm chân và được hàng triệu người tung hô hỗ trợ. Đường đi của những Tù Cải Tạo CSVN thật cô đơn và đầy những hầm chông với thú dữ, mà phía trước chỉ là bóng đêm dầy đặc đầy chết chóc. Xem ra Sinh chỉ giống Bob và Trịnh phần nào ở “Cách” chứ không về “Lối”.

     

           Căn cứ vào nhạc đã xuất bản tại Mỹ, có thể phân loại Nhạc Hà Thúc Sinh như sau :

           –Nhạc Sinh Hoạt : Trên 10 bài viết riêng cho Hướng Đạo.

           –Lưu Lạc Ca : Hơn 20 bài, nói lên thân phận lạc loài bơ vơ trước cảnh nước mất nhà tan. Nhiều người lầm tưởng Lưu Lạc Ca được viết nơi đất khách quê người. Thực ra phần lớn những bản nhạc này được viết ngay trên quê hương và ngay cả khi tác giả còn trong các Trại Tù Cải Tạo, chỉ một số ít được sáng tác tại đảo Bidong và Mỹ. Không hẳn chỉ khi ra khỏi nước mới mang kiếp lưu lạc, tác giả đã nhìn thấy chính mình cùng với hàng triệu người khác trong phút chốc đã trở thành những kẻ xa lạ mang kiếp lưu lạc ngay trên chính quê hương mình.

           –Tủi Nhục Ca : Khoảng 30 bài, hầu hết được sáng tác trong nước. Như đã mô tả ở trên, đây là những bản nhạc rất hiền lành, từ âm điệu đến nội dung.

           -Tình Ca : Gần 50 ca khúc, phần rất lớn được sáng tác ở hải ngoại.

     

           Sính Lễ là 1 trong 12 tình khúc trong CD “Người Em Quận Cam” do Hồng Hạnh hát. Bài này tôi được nghe lần đầu do chính tác giả hát vào Mồng Một Tết đầu tiên của đời tù. Tôi nhớ rõ như vậy vì Sính Lễ độc ác quá. Chỉ riêng cái tên của bài hát cũng đủ để bắt những anh chàng có vợ phải nhớ về ngày cưới. Nó còn nhắc tôi tới ngày Mồng Một Tết năm trước, người vợ mới cưới của tôi phải đi “Tết Mới” một mình, vì đúng ngày đó tôi cùng đơn vị đang bận quần nhau với địch tái chiếm một vùng đất ở Long Khánh. Sính Lễ làm tôi nhớ vợ, nhớ ngày cưới trước đó không lâu tôi cũng có sính lễ như Sính Lễ, bây giờ người vợ mới vừa đôi mươi lại phải một mình nuôi đứa con đầu lòng mới vài tháng tuổi. Tôi thấy thật tội lỗi khi Sính Lễ chì chiết nhắc lại những gì tôi đã tuyên hứa với tình yêu :

     

           “xin tặng em khung cửa anh mở về phía tương lai

           “xin tặng em hoan lạc anh từng tìm kiếm lâu dài

           “xin tặng em con đường hoa hẹn hò ta đi tới

           “nơi không gần không xa quá loài người  

     

           …Cái “khung cửa” mà anh tặng em để “mở về phía tương lai” có ai ngờ đâu là khung cửa nhà tù giam giữ hết cả mọi thứ tình yêu, và “con đường hoa” chỉ còn là ngõ tối đầy gai nhọn em đang một mình ôm con nghiến răng dẫm lên bằng những bước chân trần… Tôi diễn tả xúc cảm của mình khi nghe Sính Lễ cũng cải lương ra phết, nhưng không phải, chất “cải lương” chảy ra từ “xúc cảm” thì đúng hơn.

     

           Thiên Thai của Văn Cao đưa người vượt Thế vào cõi Bồng Lai, nơi xa hẳn loài người, du dương cùng bầy Tiên Nữ. Sính Lễ của Hà Thúc Sinh lại đưa người vào “nơi không gần không xa quá loài người” ngay tại Thế, vì loài người sẽ trốn hết vào lúc “thế giới chỉ còn đôi ta”, và chỉ lúc này thôi mới quên được những gì đang tại Thế. Bài này tác giả viết để hát tặng một người bạn ngày tân hôn năm 1973 khi Hiệp Định Paris bắt đầu được giả vờ thực hiện. Không biết y của tác giả thế nào chứ tôi thấy Sính Lễ có lớp mây đen dưới lớp vải điều, hay tại tình yêu của tôi bị trúng đạn từ cái hiệp định giả vờ đó cũng không biết, mà khi vừa mở Sính Lễ ra đã thấy đầy chất đắng bên trong :

     

                                    Xin tặng em đây mùa Xuân một buổi sáng vươn vai

                                    Bông Hồng gai chiếc bàn vuông vừa từ giã đêm dài

                                    Xin tặng em những giọt sương vừa chợt khô trên kính   

                                    Con chim xanh cuống quit mái Tây hiên….

     

           Hiệp Định Paris đến, dù không vừa lòng, người ta cũng phải chấp nhận nó như một số phận và cứ coi đó như mùa Xuân bắt đầu hé mở. Hòa Bình khác gì bông Hồng dầy gai đặt trên chiếc bàn vuông cho “4 bên” chụp giựt, bàn tay anh nào cũng tóe máu đầy vết gai đâm. Những dòng nước mắt tạm ngưng chờ chảy như “những giọt sương vùa chợt khô trên kính” chỉ biết ngơ ngác chờ xem, và chưa gì những “con chim xanh” tình yêu đã vội “cuống qúi‎t” dồn về “mái Tây hiên” đón cầu may chút nắng hoàng hôn, hoặc xa hơn nữa nếu tiên trí hóa Sính Lễ thì “mái Tây hiên” vài năm sau phải chăng là cái hiên nhà tận phương Tây chờ lũ chim xanh cuống quít tìm tới ?  Ôi Mẹ ơi ! sính lễ gì mà đắng quá, dầu nó cũng có “vui tiệc vui, người đầy hết chỗ ngồi” nhưng chỉ là những niềm vui gỡ gạc. Lại nữa, đang “Tặng em tia nắng ngày mới , miệng cười tươi đến nụ cuối…” chợt phang ngang “một hồn say đắm dẫu mưng vết thương. Tặng em u ám chiều tối. Dầu cho giông gió gởi tới… “. Tiên tri chứ còn gì nữa. Nhưng cũng từ cái vị đắng đậm đó mới thấy được giá trị cái vị ngọt lịm hiếm hoi của tình yêu, khác gì muối mặn càng làm ngọt lịm ngụm nước lã đến sau. Sính Lễ chẳng viết cho riêng ai, cùng với Người Về tức Mộng Về, nó là Thiên Tình Sử Bi Thảm của nhiều thế hệ cộng chung.

     

           Những ngụm nước ngọt lịm chính là những Tác Phẩm HTS ồ ạt ra đời sau khi anh vượt thoát ngoi khỏi cái ao tù đầy muối mặn. Từ Bidong rồi sang tới Mỹ, anh lao đầu vào việc như người “ốm dậy ăn giả bữa” sau cơn bệnh dài đằng đẳng. Chép lại những tác phẩm đã có sẵn trong đầu, làm báo, viết văn, sáng tác thơ nhạc…, anh xông xáo không ngừng nghi trong mọi bộ môn văn nghệ. Trong lãnh vực âm nhạc, Phạm Duy từng nói và viết về anh, “…người tiếp nối và thắp sáng nền Tân Nhạc VN.”. Đây không phải là lời khen “có qua có lại cho toại lòng nhau”, nhưng là lời làm chứng công bằng từ một người có quá đủ tư cách làm chứng. Những năm đầu sau biến cố 1975, nói chung, nền Tân Nhạc VN khác gì ngọn đèn bị rút hết dầu. Ỏ trong nước, “nhạc vàng” đã trở thành thứ quốc cấm. Tại hải ngoại, mọi người bở hơi tai vì cơm gạo thì còn tai nào mà dành cho âm nhạc, còn người sáng tác thì khi bỏ chạy đã để quên mất cảm hứng nơi quê nhà mất rồi còn đâu. Tân nhạc Việt Nam đang trong cơn hoạn nạn đó thì Sinh vượt thoát tìm tới và “…thắp lại ánh lửa, so dây chơi một đọan buồn.”. Phạm Duy quả thật không quá đáng khi nói anh là người “tiếp nối và thắp sáng nền Tân Nhạc VN.”.

       

           Sau 5 năm với những bát cơm giối, người “ốm dậy” HTS nghiến ngấu ăn giả bữa. Chỉ trong 5 năm đầu từ khi tới Mỹ, anh vừa trông coi một tờ báo ở San Diego vừa cho ra đời Đại Hoc Máu và hàng trăm tác phẩm thơ – văn khác, cùng với hàng loạt những tình khúc nở rộ. Mới tới Mỹ không lâu, “Tủi Nhuc Ca” được cho thu băng năm 1981 với tiếng hát Khánh Ly, Lưu Lạc Ca trong “Hẹn Em Sài Gòn” thu băng năm 1986 qua các giọng trong nhóm Hưng Ca VN, rồi tiếp theo là những CD’s “Lạy Em Mênh Mông” trích từ 30 tình khúc của tập nhạc cùng tên và CD “Người Em Quận Cam” gồm những tình khúc trong Tình Ca Hà Thúc Sinh, lần lượt được mọi người nồng nhiệt đón nhận. Tính chung cho tới nay anh đã cho xuất bản hơn 100 ca khúc các loại, hơn 20 cuốn sách gồm hàng trăm truyện ngắn, truyện ky, truyện dài, và nhiều tập thơ trong đó chỉ riêng tập “Thơ Viết Giữa Đường” đã có 123 bài dài ngắn đủ loại. Nếu thơ nhạc không thực sự là hơi thở, khó ai có thể đa mang được như vậy.

                                                                                                                    

            Truyền thuyết loài Hummingbird, nguời Da Đỏ kể rằng,” Có chàng trai yêu nàng con gái thuộc một bộ lạc thù địch,và họ thường lén lút hẹn hò nhau bên bờ suối. Cha nàng biết được, bắt nàng lấy một người khác cùng bộ lạc. Nàng buồn quá bèn một mình đến bên bờ suối khóc lóc xin thần linh giúp và vị thần đã biến nàng thành 1 bông hoa đỏ bên bờ suối, để khỏi phải lấy người mình không yêu. Còn chàng, đêm đêm vẫn ra bờ suối ngồi chờ người yêu, Thần Mặt Trăng thấy tội nghiệp và cho biết nàng đã hóa thành 1 bông hoa đỏ. Chàng hỏi làm sao tìm được nàng, Thần Trăng biến  chàng thành con chim nhỏ để có đôi cánh bay đi tìm nàng, và từ đấy bông hoa đỏ nào chàng cũng nhào đến hôn thử trong khi đôi cánh bé nhỏ đập liên hồi phát ra tiếng vi vu gọi tên người yêu. Và cứ vậy cả đời gặp đâu hôn đó mà chàng vẫn không tìm được mùi vị quen thuộc của nụ hôn đầu… ”. Kể ra anh chàng Humming này cũng may, bông hồng  nào cũng được nếm thử. (Phỏng theo chuyện kể từ một người hàng xóm cũ của tôi, thuần giống Native Americans.)

     

            Một số Tình Ca HTS nghe như có tiếng vi vu từ đôi cánh mỏng manh loài Hummingbird, mà khi hát lên thấy cái gì nghèn ngẹn nơi cổ và nghe như tiếng đập liên hồi của đôi cánh mong manh phát tiếng vo ve mất mát. Tuổi trẻ nào khi vào đời mà chả mang theo một giấc mơ tình yêu. Nhưng dù chỉ là giấc mơ thôi Tuổi Trẻ Việt Nam Thời Chinh Chiến cũng không dám, sự “không dám” tự nguyện mà người thanh niên thời chiến nào cũng nghĩ đến. Lửa đạn đã đốt sạch biết bao nhiêu thế hệ, để rồi khi có thứ “hòa bình nhảy múa tìm đến” lại còn thê thảm hơn, vì cái thế hệ út ít trong cuộc chiến còn tí tuổi trẻ sót lại cũng bị cướp đoạt đem đày đọa tan nát trong giam cầm. Tuổi trẻ gắn liền với tình yêu, tình yêu lại là một thứ đạo cho tuổi trè tôn sùng.Tuổi còn thanh niên, HTS đã viết tình ca như những lời sám hối của một kẻ “lỗi đạo” bằng  âm hưởng tiếc nuối, một tâm trạng “tiếc của” phải chăng có từ khi tuổi trẻ nhận ra rằng sự hy sinh của bao lớp người đang trở thành “công dã tràng” ?    

     

                                           Ôi xa thật rồi

                                           Những lá thu mơ hồ đùa chơi theo gót son đời…

                                       …Hồn anh nuôi mùa xưa nghiêng nắng xuống

                                           Đường hoa Cúc ngồi tiếc nhớ một mình…

                                          (Niệm Khúc Thu Xa, 1973)

     

           Bóng hình mà anh tìm kiếm chính là cái tình yêu tuổi trẻ đã mất mát, nó không hẳn là một bóng hình cụ thể người Nữ nào. Và cho tới bây giờ khi tóc đã đổi mầu, âm hưởng tiếc của trong Tình Ca HTS vẫn không thay đổi.

     

                                           Tôi với em tan bầy lạc đàn

                                           Sầu hoa rơi khi chớm hoa tươi

                                           Tôi với em trôi một dòng đôi

                                           Khóc ai nghe, ơi bèo bọt ơi….

                                       …Tôi mơ hoài một ngày thu mưa

                                           Em quay về bàn chân năm xưa

                                           (Tôi Với Em, 1992)

     

           Đối với Đấng Tạo Ra Trời Đất, tôi thường làm dấu thánh giá sau mỗi bữa ăn thay cho lời tạ ơn đã ban cho tôi của ăn hàng ngày, một thói quen tôi vần thường làm kể cả khi còn trong tù mà Cán Bộ Kỷ Luật Cao-Văn-Liên của Trại CT Xuyên Mộc đã biếm nhẽ xỉ vả “Tại sao trước sau khi ăn lại phải ‘chỉ thiên chỉ địa’, đồ mê tín dị đoan. Cấm tiệt nghe chưa.”. Đối với Đời, tôi cám ơn tất cả những gì mà đời đã cho dù ngọt hay đắng. Khi nghe một bản nhạc và tôi xúc động, tôi thầm cám ơn tác giả cũng như ca sĩ hát bản nhạc đó. Tôi không ủng hộ Trịnh Công Sơn về Nhạc Phản Chiến, chưa hẳn tôi đã ghét ông. Khi nghe “Ướt Mi” hay những bản không phải là Nhạc Phản Chiến, tôi cám ơn cả Khánh Ly lẫn tác giả; cũng như tôi vô cùng cảm kích Từ Công Phụng khi được nghe chính ông hát Mùa Thu Mây Ngàn hay Mắt Lệ Cho Người …,  v.v… Trong trường hợp này,tôi luôn luôn phân minh giữa cảm tình và cảm súc. Với Hà Thúc Sinh cũng thế, tôi kể lại sự xúc động của mình khi được nghe anh hát trong tù cũng chỉ vì không muốn mình là kẻ vô ơn với những dòng thơ nhạc của anh. Cảm tình của tôi dành cho Sinh đến sau một cảm xúc, và tôi đã viết bài này không vì cái đến sau đó.

     

              Có lần tôi được trực tiếp nghe một ca sĩ, nổi tiếng tương đối, nói kiếm được năm ngàn đô-la cho một show hát hai bản nhạc, tính ra mỗi lần hát một bản nhạc kiếm được hai ngàn năm trăm. Bản nhạc đó có thể được người ca sĩ đó hát nhiều trăm lần trong đời, nghĩa là kiếm được nhiều trăm lần hai ngàn năm trăm. Đó chỉ là lợi tức cho một bản nhạc. Trong khi người nhạc sĩ làm ra bản nhạc đó chưa chắc đã có đồng nào, mà nếu có thì cũng chỉ chút đỉnh tượng trưng. Còn những tràng vỗ tay sau mỗi bài hát nữa, khán giả chỉ dành cho người ca sĩ, chứ có mảy may nghĩ tới người làm ra bản nhạc đâu. Cứ tưởng tượng, trong lúc những tràng pháo tay như bất tận đang đưa vinh quang và cuộc sống thừa bứa vật chất đến những người trình diễn nói chung, thì tại một góc tối nghèo nàn hôi hám nào đó có kẻ cũng đang đưa bàn tay xương xẩu chỉ vào chiếc TV sờn mép nơi góc nhà mà miệng ú ớ “Hình như là nhạc của mình.”, mới thấy thật bất công và bất hạnh cho thân phận người nhạc sĩ Việt Nam Lưu Lạc. Thậm chí có những bản nhạc khi được giới thiệu trước khi hát đã không hề nhắc nhở gì tới người sáng tác ra nó nữa. Mỗi lần nghe tin có buổi tổ chức Đêm …cho một nhạc sĩ nào đó là y chang có Cáo Phó theo sau, và sau Cáo Phó thì linh hồn người nhạc sĩ nào thật nổi tiếng mới được hưởng một chương trình vinh danh thật lớn, vì có nổi tiếng mới … bán được vé giá cao. Chưa thấy một văn nghệ sĩ chân chính nào, người đã hiến dâng cả đời cho Nghệ Thuật cũng như góp công vun xới cho Nền Văn Hóa Dân Tộc, được “vinh danh” khi còn đủ tỉnh táo để biết được những gì mình đã làm ! ? Xin đừng làm ma cúng ruồi. Xin đừng cúng giỗ linh đình những người quá vãng đã bị bỏ đói lúc sinh thời !

     

            Đặc biệt bài viết này, xin vinh danh và cám ơn tất cả những người đã làm ra những dòng nhạc, những áng văn hay vần thơ mang sức sống và làm đẹp thêm cho đời, trong đó có cả những tác giả sáng tác trong tù còn được nhớ hay đã quên tên nhưng còn sống ngày hôm nay. Ngày mai  còn gì nữa đâu, khi…

                                                        

    Phạm Văn Trọng  

    Chandler, AZ.  4/2009      

     

     

  • Tạp ghi

    CHÍNH CHỊ CHÍNH EM

    CHÍNH CHỊ CHÍNH EM

    Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh

     

     

    Suốt tuần qua một vụ ngoại tình trên cấp cao của chính quyền Mỹ đã được báo chí đưa tin sôi nổi khiến dư luận Mỹ và cả thế giới đặc biệt chú ý. Thống đốc tiểu bang South Carolina, ông Mark Sanford 41 tuổi của đảng Cộng Hòa, sau bao năm lén lút che đậy mối tình vụng trộm, phản bội vợ và lừa gạt cả niềm tin của người dân mà ông cai trị, đã phải ra trước ống kính TV, ngậm ngùi ứa nước mắt thú nhận mối tình tội lỗi đó. Mối tình đó không phải là chuyện qua đường của mấy gã đàn ông đã có vợ con rồi nhưng vẫn “thèm của lạ” như thế thường vẫn thấy, mà là một sự say đắm đến độ không thể nào dứt bỏ được. Người tình của ông là một phụ nữ đẹp, sống ở Buenos Aires Argentina, bà Maria Belen Chapur 41 tuổi, cựu phóng viên TV. Bà này đã ly dị chồng và có 2 con. Sanford đã quen Chapur này từ 8 năm trước, nhưng ông nhấn mạnh bà chỉ trở thành nguời tình của ông từ giữa năm 2008.

    Câu chuyện vỡ lở vì Sanford quá nhớ người yêu nên đã đi một nước cờ liều… trước khi quá muộn. Thứ tư tuần trước bỗng nhiên ông Thống đốc đi vắng, không ai biết ông đi đâu, cả chính quyền tiểu bang và ông Phó Thống đốc cũng không biết. Nhưng thư ký riêng của ông nói ông đi leo núi ở dãy núi Appalachian, thuộc miền Tây nước Mỹ. Thật ra ông đã bí mật leo lên phi cơ bay đến Thủ đô Argentina để đến với bà Chapur và khóc với bà trong thời gian suốt 5 ngày. Chuyện tình vụng trộm của ông đã vỡ lở vì bà vợ của ông đã biết và yêu cầu ông phải rời ngay khỏi căn nhà ông đang sống với vợ và 4 người con.

    Vợ của ông, Đệ nhất phu nhân tiểu bang South Carolina , tuy đã biết chuyện phản bội của ông chồng Thống đốc từ nhiều tháng trước nhưng vẫn im lặng, cuối tuần qua bà Jenny Sanford mới chính thức lên tiếng. Bà Sanford nói sau khi bà biết chồng ngoại tình, bà đã bắt buộc ông phải chấm dứt chuyện đó, coi như bà đã tha thứ. Nhưng có ngờ đâu ông đã nói dối bà về vụ đi chơi núi để lén đi Argentina . Bà nhấn mạnh: “Tôi tha thứ tội ngoại tình, nhưng tha thứ không có nghĩa là dung dưỡng”. Bà Jenny không phải là một phụ nữ tầm thường, bà đã học ở Đại học Georgetown, đã từng làm Phó Chủ tịch Wall Street và nếu không có bà giúp đỡ, ông Sanford cũng khó lòng làm Thống đốc South Carolina đến nhiệm kỳ thứ hai.

    Sanford là người nổi danh và có uy thế nhất trong đảng Cộng Hòa. Ông là Chủ tịch Hội đồng các Thống đốc Cộng Hòa ở Mỹ. Trước khi “vụ ăn vụng” bị lộ, nhiều người trong đảng còn nói ông có thể sẽ ra ứng cử Tổng Thống cho đảng Cộng Hòa năm 2012. Nhưng lúc này cuộc đời chính trị của ông đã tàn lụi chỉ vì một người đẹp ở Nam Mỹ. Ông đã phải từ chức Chủ tịch Hội đồng Thống đốc Cộng Hòa và nhiều Nghị sĩ cũng như các ông Thống đốc Cộng Hòa các tiểu bang khác đều nói ông phải từ chức ngay cả chức Thống đốc chớ không chờ đến hết nhiệm kỳ vào đầu năm 2011. Cố nhiên các giới chính trị đều sợ chuyện tình vụng trộm của Sanford gây tai tiếng chung cho cả những người đang giữ các chức vụ cao cấp của nước Mỹ. Sự thật chuyện các ông lớn đi ăn vụng ở Mỹ cũng không phải là hiếm.

    Các nhà báo Mỹ sinh trưởng ở Mỹ, nên đã biết rõ hơn những người chỉ mới đến định cư ở nước này. Nói đến lãnh vực đó, họ kể ra một loạt những chuyện tình bê bối đã bị bật mí của các ông ở cả hai đảng, như Thượng nghị sĩ John Ensight, CH-Nev., TNS David Vitter, CH La., cựu Chủ tịch Hạ Viện Newt Gingrich, CH-Ga. Ngoài ra có hai vị trước đây đã lãnh đạo đảng DC, rồi sau đã có lần dự định ra tranh cử TT cho đảng là các ông John Edwards và Gary Hart, nhưng không thành chỉ vì đã có tội đi ăn vụng, lại thêm vị cựu Thống đốc New York Eliot Spitzer, cựu Thị trưởng New York và cả Thống đốc New York đương nhiệm là David Paterson. Những chuyện “ăn vụng” qua mặt vợ đó có thể đã làm sụp đổ một ông cựu Thống đốc là Jim McGreevey – hoặc đưa đến bão tố lớn như trường hợp Quốc hội trước đây đã bổ nhiệm một Công tố viên đặc biệt để đưa TT Bill Clinton ra đàn hặc, suýt làm bay cả chức Tổng Thống, chỉ vì Clinton bị tố là đã “ăn vụng” với người đẹp Monica Lewinsky ngay tại Bạch Ốc.

    Về vụ ông Clinton bị lôi ra đàn hặc, người ta không quên Sanford thời đó là một trong những người đã công kích Clinton nặng nề nhất ở Quốc hội. Vậy tại sao Clinton không bị truất phế? Tôi đã theo dõi vụ này và không quên hình ảnh ông Clinton ra trước Quốc hội. Trước ống kính TV, Clinton đã tuyên bố một câu xanh rờn và chắc nịch cho dân Mỹ và cả thế giới nghe: “Tôi không hề có quan hệ tình dục với người đàn bà đó”. Chỉ một câu như vậy đã khiến Clinton thoát nạn vì ông đã nói đúng sự thật chớ không phải chối cãi. Mấy chữ “quan hệ tình dục” làm tôi thắc mắc. Tôi nghĩ các nhà luật học cũng như các nhà làm luật Mỹ nên xác định cho rõ cái gọi là “quan hệ tình dục” gồm có những hành động như thế nào cho hậu thế được nhờ.

    Vào đầu Thế kỷ 21, tư tưởng dân Mỹ đã tiến bộ hơn trước rất nhiều. Các học giả hóm hỉnh đã nhắc đến lịch sử, cho biết các chính trị gia thời xưa – kể cả vị hai Tổng Thống vĩ đại nhất nước Mỹ là John F. Kennedy và Franklin D. Roosevelt – đều đã ăn vụng, nhưng họ khôn khéo biết chùi mép, nên không xẩy ra chuyện gì. Các nhà tâm lý học thời nay còn phụ họa thêm, họ nói cái kiếp làm chính trị trước sau đều mang một mối họa như vậy tiềm ẩn trong người. Tại sao vậy? Không một nhà phân tâm học nào xác định được nguyên nhân. Người ta chỉ có thể nói những người ra làm chính trị để tranh chấp quyền hành và danh vọng đều có chung căn bệnh là hành động liều lĩnh, tất cả đều có tài thuyết phục, quyến rũ, rồi khi có danh vọng lớn – kể cả các ông Tổng Thống – những tham vọng và tài năng đó kết hợp thành một khuynh hướng khó coi nhất: đó là thèm muốn chuyện làm tình với người lạ. Có thể đó cũng là một khía cạnh thầm kín nhất của lòng tự đắc, cao ngạo: Ta khác người thường, ta muốn cái gì cũng được.

    Đến đây tôi chợt nhớ đến câu khôi hài Việt ngữ “Chính chị chính em”. Làm chính trị nắm quyền cao cấp nhất, vậy mà khi đã có “chị” rồi lại đèo bòng thêm “em” làm chi nữa cho khổ? Làm chính trị, ham danh, ham quyền là chuyện thường tình, nhưng lại ham cả sắc dục là có khi nổ lớn, thân bại danh liệt. Vì thế các cụ già Việt Nam, các “khứa” lão của giới ăn chơi, đã hóm hỉnh đá giò lái đổi chữ trị thành chữ “chị”, ngụ ý chế diễu đã có chị tất nhiên phải có cả “em” nữa. Tục ngữ sặc mùi gốc Việt ngày nay đã trở thành túi khôn hiện đại trên chính trường Mỹ. Kẻ nào bội phản gia đình của chính mình cũng là đã bội phản lòng tin của dân chúng Mỹ. Một ông Tổng Thống mất lòng tin của dân, siêu cường Mỹ sẽ mất luôn uy tín trên khắp thế giới, không cách nào gỡ lại được.

    Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh

     

  • Tạp ghi

    Cánh Chim Lạc Lìa Đàn : Tịnh Nguyệt Anh Nương (1922-2009)

    Cánh Chim Lạc Lìa Đàn

    Tịnh Nguyệt Anh Nương (1922-2009)

     

    Tháng 11 năm 1946 vở kịch thơ Kiều Loan của thi sĩ Hoàng Cầm được trình diễn lần đầu tiên tại nhà hát lớn Hà Nội. Nghệ sĩ Tuyết Khanh đóng vai Kiều Loan rất sống động. Sau buổi diễn kịch này nghệ sĩ và thi sĩ gắn bó không rời. Đến năm 1950 một Kiều Loan thực sự là tác phẩm của hai người ra đời. Mối tình lãng mạn ấy đành chấm dứt cùng với hiệp định Geneve chia đôi đất nước. Nhà thơ Hoàng Cầm ở lại miền Bắc, nghệ sĩ Tuyết Khanh bồng con theo đoàn người di cư vào Nam, từ đó nàng vừa làm thơ vừa dạy con làm thơ và diễn kịch thơ. Nhà thơ nữ lại có một bút hiệu trùng với một pháp danh, để sau này làm thơ dưới bóng mát bồ đề, bút hiệu Diệu Lộc theo mãi đến ngày nay.

    Trong tập thơ Hương Sen xuất bản năm 1991, Hòa Thượng Thích Tâm Châu đã cho lời cảm tưởng như sau:

    “Là con Phật đã có sẵn lòng từ bi, lại thêm có tâm hồn khoáng đạt, phật tử Diệu Lộc bâng khuâng trước cảnh vật sắc không vô thường; .. than thở trước kiếp sống lưu đày, đau khổ, chia lìa xa cách…  Nhìn vào tâm, tâm viên ý mã. Tâm vẫn chưa yên. Nhớ lại cảnh chùa xưa, bóng trăng xưa, lúa vàng thơm, bóng người sư nữ… tất cả là hoài tưởng. Thức tỉnh. Quy hướng. Trông vào giọt nước cành dương. Nhất tâm sám nguyện. Nhất tâm cầu nguyện. Tưởng niệm hồng ân trong mùa vu lan thắng hội. Noi gương tín nữ Thắng-Man. Ngước nhìn Hoa-Nghiêm ảnh hiện. Hướng theo mười Đại Nguyên Vương. Tâm nguyện giữ vững niềm tin, quán tâm, thiền hành, thấm nhuần hạt mưa cam lộ, nguyện mau chứng quả bồ đề. Biết rõ đường về, hoa vàng trải lối, ngát hương giải thoát, đem lại sự an vui như mùa xuân Di Lặc. Đó là hương sen tỏa từ tâm hồn an tịnh và trong sáng.”

     

    Năm 1990, nữ sĩ Tịnh Nguyệt Anh Nương đã khuyến khích con gái mình là nghệ sĩ Kiều Loan diễn lại vở kịch ngày xưa đã làm tên tuổi của Tuyết Khanh vang lừng cả Sài Gòn Hà Nội. Bà chỉ vẽ cho Kiều Loan từng bước đi, điệu bộ, từng lời nói giọng ngâm để Kiều Loan thời nay làm sống lại Kiều Loan của Hoàng Cầm ngày xưa. Năm 1946 ở Hà Nội. Năm 1990 tại San Jose, Hoa Kỳ vở kịch thơ Kiều Loan đã làm say mê giới thưởng ngoạn, đã làm cho kịch thơ bừng sống lại. Năm xưa người mẹ là Tuyết Khanh, ngày nay người con là Kiều Loan đều đã xuất thần trong trình diễn. Cả hai vai nhập một làm điên đảo cả hội trường.

    Giai thoại về thời xuân sắc, người ta thường nhắc đến những mối tình giữa các nhà thơ. Lúc đó Vũ Hoàng Chương và Tuyết Khanh cũng có khoảng thời gian “đôi mắt cùng liếc, đôi tình cùng ưa” Sau này khi sống tại hải ngoại, nữ sĩ viết bài thơ Đường nhan đề Gửi Gió Cho Hương đề tặng “gửi cố nhân VHC”.

    Gưi Gió Đưa Hương

    Gửi cố nhân VHC

     

    Ngọn gió đưa hương đến suối đào

    Nhắn rằng thế sự lắm gian lao

    Duyên thơ se kết bây nhiêu đó

    Nợ bút ràng thêm tự thuở nào

    Lá thắm chưa ngưng dòng ảo mộng

    Cờ hoa đã khép cánh chiêm bao

    Sương thu mờ xóa đôi bờ thẳm

    Bóng nguyệt lênh đênh sóng dạt dào

     

    Trong tập Hương Sen, thượng tọa Thích Giác Lượng, bút hiệu Tuệ Đàm Tử viết lời tựa có ý giới thiệu tác giả.

    Thật là Hương Sen tỏa ngát bầu trời, không gian vô tận, thời gian vô cùng. Người Phật tử so duyên phát nguyện, giữ giới thọ trì. Tam quy hướng trọn, vững chí định lòng, huệ thông tâm sáng thì lâng lâng hồn bay bổng tuyệt vời. Hương giải thoát quyện dâng lên Tam Bảo.

    Hương Sen là tập thơ chứa đầy niềm tin chân chính của người phật tử tại gia, là một nữ thi sĩ, Tịnh Nguyệt Anh Nương đã trải lòng hiến tâm cầu đạo pháp mà lòng hướng về đất tổ quê cha cùng mẹ Việt Nam đang ngụp lặn dưới ách thống trị bạo tàn vời vợi xót đau”.

     

    Hơn ba năm sống trong một viện dưỡng lão, nhà thơ sáng tác thưa thớt. Lúc mới vào đây bà đã viết bài Ngậm Ngùi để tưởng nhớ đến cố nhân, một người tự nhận là Thi Vương với một tình yêu mong manh khi còn tuổi xuân thời, nay đã nằm yên trong lòng đất lạnh tại quê nhà. Một tình yêu hơn nửa thế kỷ qua nay là nguồn an ủi vô biên trong những đêm vắng lặng. Muốn có một cái gì cho nhau, nhưng sáu chục năm qua rồi, nay đâu còn gì để tặng, để trao. May ra còn nỗi Ngậm Ngùi…

     

    Ngậm Ngùi

     

    Chiều nay bỗng nhớ cố nhân

    Cảm thương thì đã âm phần cách xa

    Người xưa lòng nặng thiết tha

    Thờ ơ ta chẳng chung hòa chén xuân

    Người xưa đã khuất cõi trần

    Thôi còn đâu nữa một lần cảm thông

    Cuộc đời thì vẫn mênh mông

    Còn ta thì vẫn cô phòng bấy lâu

    Bóng câu đã xế ngang đầu

    Vắng tanh tri kỷ bỗng đâu trạnh lòng

    Bừng lên một chút nắng hồng

    Trái tim khép kín lạnh lùng bấy lâu

    Chẳng còn chi để tặng nhau

    Vài dòng tưởng niệm đôi câu tạ lòng

     

    Năm 2007 cơ sở Văn Thơ Lạc Việt trong chương trình Tiếng thơ Lạc Việt, đã mượn làn sóng phát thanh để gửi hương cho gió bay khắp bốn phương những lời thơ của nữ sĩ Tịnh Nguyệt Anh Nương để cầu chúc nhà thơ được an bình hạnh phúc bên bóng Kiều Loan là hậu duệ của chính mình. Tính ra đã hơn hai năm rồi.

     

    Nhà thơ Tịnh Nguyệt Anh Nương, bút hiệu Diệu Lộc, tức nghệ sĩ Tuyết Khanh tên th?t là Bùi Thị Khanh, sinh năm 1921 tại Hải Phòng, Việt Nam. Mất tại San Jose, California ngày 15 tháng 8 năm 2009. Hưởng thọ 88 tuổi. Linh cửu đựơc quàn tại

    Chapel of Flowers, 900 South 2nd Street, San Jose , Ca 95112

    Chương trình tang lễ và thăm viếng ???c ?n ??nh nh? sau:

                                                    Thu Tư ngày 19 tháng 8 năm 2009:

                                                    9:30 am 10:00am Lễ Nhâp quan và phát tang 

                                                    10:00am đến 3:30 pm Giờ thăm viếng

                                                    3:30pm đến 4:15 pm Cầu Siêu  

                                                    4:15 pm đến 8:00pm Giờ thăm viếng

     

                                                    Thứ Năm ngày 20 tháng 8 năm 2009:

                                                    8:30am đến 10:00am: Thăm viếng, lễ tưởng niệm,

                                                    10:00am: Lễ di quan đến nơi hỏa thiêu

                                  Irvington Memorial Creamatory  41001 Chapel Way, Fremont 94538

     

    Nhà Thơ Tịnh Nguyệt Anh Nương đã từng hoạt động với Cơ Sở Văn Thơ Lạc Việt và tham gia trong 2 Tuyển Tập Lạc Việt 2006 và 2007.  Tập Hương Sen, xuất bản năm Tân Mùi 1991 với bút hiệu Tịnh Nguyệt Anh Nương. Ngoài ra bà còn viết nhiều cho các tạp chí Phật Giáo với bút hiệu Diệu Lộc.

     

    Hôm nay Văn Thơ Lạc Việt nhận được tin buồn là nhà thơ Tịnh Nguyệt Anh Nương đã từ biệt trần thế vào lúc 3 giờ chiều ngày 15 tháng 8 năm 2009 nhằm ngày 25 tháng sáu năm Kỷ Sửu. Một cánh chim Lạc lìa đàn lên cõi Niết Bàn để lại muôn vàn thương tiếc cho gia đình và cho tất cả anh chị em thuộc cơ sở Văn Thơ Lạc Việt. Xin nguyện cầu hương linh nhà thơ tác giả tập Hương Sen với pháp danh Diệu Lộc ngao du nơi tiên cảnh bên ánh hào quang sáng ngời của Đức Phật.

     

    Văn Thơ Lạc Việt