image_pdfimage_print
  • Tạp ghi

    TIÊN TRI VŨ TRỤ TRẦN DẦN TIÊN ĐOÁN VIỆT NAM SẼ THAY ĐỔI RẤT NHANH ÍT ĐỔ MÁU,

    TIÊN TRI VŨ TRỤ TRẦN DẦN TIÊN ĐOÁN VIỆT NAM SẼ THAY ĐỔI RẤT NHANH ÍT ĐỔ MÁU,

    SẼ CÓ MỘT ĐẢNG VIÊN CSVN LÀM “GORBACHOV” VÀ MỘT TÙ NHÂN LƯƠNG TÂM LÀM THỦ TƯỚNG.

     

    Bài 2/3 (VietPress USA – Hạnh Dương ghi): Ngày 22-3-2011, Người tự xưng là “Tiên Tri Vũ Trụ TRẦN DẦN”, “Đệ Nhất Thần Số Học”, “Đệ Nhất Khổng Minh Gia Cát Dần”, “Vua Coi Chữ Ký”  và “Sứ Giả Của God & Jesus” đã gởi đến TT Barack Obama một điện thư thông báo rằng ông nhận được Thiên Lệnh của God & Jesus để tin cho Tổng Thống Hoa Kỳ biết rằng “Việt Nam sẽ có một cuộc Cách Mạng ít đổ máu đưa đến một chế độ mới Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền và Đa Đảng mà theo đó sẽ có một Đảng Viên Cao Cấp CSVN sẽ giữ vai trò như “Gorbachov” và một Tù Nhân Lương Tâm sẽ làm Thủ Tướng. Diễn biến nầy sẽ xảy ra nhanh chóng chứ không phải chờ đến năm 2014”.

     

    "Nhà Tiên Tri Vũ Trụ" và xưng là "Sứ Giả của God & Jesus" có tên thật là TRẦN DẦN, sinh ngày 24-02-1950 Dương Lịch lúc 5:00 giờ sáng, tức đúng giữa Giờ DẦN, Ngày DẦN, Tháng DẦN, Năm CANH DẦN (Giờ Dần (4:00AM – 6:00AM), ngày 06 tháng Giêng năm Canh Dần). Ông tên là Dần và ngày tháng năm sinh, giờ sinh của ông đều là Dần cả nên ông có tới “Ngũ Hổ” (5 con Cọp).


     

    image

    Hình "Tiên Tri Vũ Trụ TRẦN DẦN" trích từ Video Clip của PHỐBOLSATV.COM

    http://www.youtube.com/watch?v=eU7QoMGufjg&feature=related

    Cuộc Đời huyền thoại kỳ thú và Giang Hồ của TRẦN DẦN: 10 bà Vợ !

     

    Vì chân mạng là “ngũ Hổ” nên ông Trần Dần có một cuộc đời ngang tàng, phiêu bạt và khá lý thú. Ông Trần Dần kể với Hạnh Dương: “Tôi là người Việt gốc Hoa. Cha tôi người Hẹ, làm thầy thuốc Đông Y Sĩ hành nghề đã nhiều đời về thuốc Tàu. Mẹ tôi là người Triều Châu. Tôi có 8 chị em, gồm 2 trai và 6 gái. Tôi là Trưởng Nam nhưng là đứa con thứ 6 trong gia đình. Cha tôi nói được nhiều thứ tiếng, còn tôi chỉ vài thứ tiếng Tàu khác nhau như Phúc Kiến, Triều Châu, Quan Thoại. Năm 1966 khi tôi lớn lên được 16 tuổi, cha tôi bảo tôi phải đi học tiếng Việt và tiếng Anh. Tôi đến ghi tên học tại Trường Tàu là Trường Thánh Theresa ở Chợ Lớn. Cô Giáo dạy tôi là một thiếu nữ rất đẹp, sang trọng 21 tuổi con nhà đại phú xuất nhập cảng. Tôi chẳng biết học hành như thế nào nhưng cuối cùng cô Giáo mang bầu với tôi và gia đình cô Giáo bắt cha mẹ tôi phải trách nhiệm. Mẹ tôi hỏi vặn lui vặn tới có phải cái bầu của cô Giáo là con của tôi hay không vì mẹ tôi chẳng thể nào tin được một thằng nhóc 16 tuổi, dốt chữ, con ông thầy thuốc và bói quẻ Khổng Minh Thần Số lại đi lấy được một cô Giáo xinh đẹp, con nhà giàu, và lớn hơn tôi 5 tuổi. Không biết ai dụ ai, nhưng số tôi là vậy và năm 1967 thì tôi có một đứa con trai chào đời. Chúng tôi ở được với nhau hơn một năm trong đầm ấm vợ chống. Nhưng sau khi sinh con xong vài tháng thì cha mẹ cô Giáo bắt cô giao con cho tôi nuôi và đưa cô về Hong Kong để xa tôi ! Người vợ đầu tiên đã đi mất, tôi biết đau khổ từ đó và tôi quyết học tiếng Việt để may ra đổi đời bằng cách kiếm được một người yêu mới là cô gái Việt. Nay tôi nói tiếng Việt thì khá nhưng chữ Việt của tôi đến nay cũng không giỏi lắm.. Viết được ra chữ là may lắm rồi chứ chẳng câu kéo văn vẻ gì cả”.

     

    Cuộc đời của Trần Dần như một cuốn phim hành động nghẹt thở và lãng mạn, ông kể tiếp: “Đến năm 1968 tôi đúng 18 tuổi phải đi quân dịch nên chạy tiền làm lính kiểng ở đơn vị Quân Cụ thuộc Căn cứ 80 Tân Trang Quân Cụ tại Hạnh Thông Tây, Gò Vấp, Sài-gòn. Tuy là lính kiểng nhưng hằng ngày phải tạt qua đơn vị và đầu tuần cũng phải có mặt lúc chào cờ; nhưng tôi ham vui nên thường xuyên bỏ đơn vị. Theo quân luật thì nếu bỏ đơn vị sau 15 ngày sẽ bị báo cáo đào ngũ; nên mỗi lần như vậy tôi chỉ trốn 13 ngày rồi vào trình diện và nhận lệnh phạt giam tù quân 13 ngày ! Khi tổng số các lần phạt lên đến 138 ngày tù quân, tôi bị đưa ra đơn vị tác chiến. Tôi nhớ buổi sáng đầu Xuân vào năm 1969, tôi được lệnh lên văn phòng Chỉ Huy Trưởng là Thiếu Tá Huỳnh Thu T. để nhận lệnh đi tác chiến. Những bạn đồng đội của tôi ai cũng lo ngại cho tôi, nhất là cô bồ mới của tôi cứ đỏ hoe cả hai mắt. Tôi im lặng khấn thầm và chọn một con số. Tôi cười phá lên vì qua môn “Khổng Minh Thần Số”, tôi biết được đời tôi bắt đầu bước qua ngã rẽ may mắn kể từ phút nầy. Cha tôi là thầy thuốc Tàu, rất thông thạo về môn “Khổng Minh Thần Số Học” và cự phách trong môn “Xem Chữ Ký”. Tôi là con trai Trưởng nên mọi uyên thâm của ông đều được truyền dạy cho tôi từ khi tôi còn rất trẻ ở lứa tuổi thiếu niên. Cha tôi đặt hiệu cho tôi là “Khổng Minh Gia Cát Dần”, và ông nói sau nầy tôi sẽ là “Vua Thần Số Học nối gót Khổng Minh”. Thần số học cho người ta chọn một con số trong dãy số từ 001 đến 999. Khi chọn được một con số, sẽ căn cứ vào số đó để giải đoán các quẽ dịch của Khổng Minh tương ứng. Tôi đã khấn và chọn cho tôi một con số và tôi biết rằng nếu lên trình diện với Chỉ Huy Trưởng thì tôi nhất định sẽ gặp may mắn”.

     

    Ông Trần Dần kể tiếp: “Tôi bước vào văn phòng của Thiếu Tá Chỉ Huy Trưởng Huỳnh Thu T., và ông nhìn thẳng vào mặt tôi hỏi gằn giọng: – Mầy tên là Trần Dần hả? Mầy là cháu của Trần Hưng Đạo tao cũng phạt chứ đừng nói cái Trần Dần hay “Trần Đần” của mầy! Mày làm gì mà bỏ đơn vị hoài?”. Trần Dần nói: “Tôi đứng nghiêm, hai tay xuôi xuống hai bên người và năn nỷ cầu may: “Xin Thiếu Tá tha cho em lần nầy vì em có chút nghề đoán Thần Số Học nên những người làm ăn cứ mời em đoán số cho họ.. rồi họ đãi đằng vui chơi nên em lỡ ham vui quên về đơn vị cho đúng ngày giờ ! Xin Thiếu Tá tha cho em lần nầy đừng đưa em ra tác chiến mà tội nghiệp !”. Nghe vậy Thiếu Tá Chỉ Huy Trưởng hỏi tới “Thần số học là gì ? Mầy đoán thử số của tao xem nào.. nếu mầy nói xạo tao cho mầy lãnh hít đất luôn trước khi tống cổ mầy ra tác chiến !”. Thế rồi tôi đoán số cho Chỉ Huy Trưởng của tôi và tôi nói “Thiếu Tá sẽ giàu lớn và người giúp Thiếu Tá giàu chính là em !” Thiếu Tá lắng nghe tôi trình bày: “Hiện nay đấu thầu hàng phế liệu Quân Cụ là do bà quả phụ cố Trung Tá Đoàn Dư Kh., nguyên chỉ huy Căn cứ 80 Tân Trang Quân Cụ, được độc quyền; nhưng bà luôn khai là lỗ và đơn vị không được chia chác gì cả.. và bản thân Thiếu Tá cũng chẳng được gì ! Tôi xin ở lại làm việc với Thiếu Tá.. Các Bang Chủ người Tàu ở Chợ Lớn là bạn của cha tôi.. họ sẽ đứng sau lưng tôi để thu mua và phân phối tất cả. Họ chia lợi cho đơn vị và lúc đó Thiếu Tá cho tôi chút ít là vui rồi. Tôi lo cho Thiếu Tá..!”

     

    Thiếu Tá Chỉ Huy Trưởng gạch tên Trần Dần ra khỏi danh sách quân nhân vô kỹ luật bị đưa ra tác chiến. Ngày hôm sau Trần Dần làm việc trực tiếp tại văn phòng Chỉ Huy Trưởng và trở thành nhà thầu mua tất cả các đồ phế thải của quân đội như vỏ lốp xe, bạc đạn, bình điện Acquits, lò xo, máy xe, máy phát điện, v.v.. Binh nhì Trần Dần đi xe Jeep Quân Đội riêng, và có xe hơi dân sự riêng.. Thiếu Tá Chỉ Huy Trưởng cũng đi xe hơi riêng mới cáu cạnh khi chở vợ con ngoài giờ làm việc ! Cả đơn vị ai cũng thích vì số tiền lời được Trần Dần công bố chia cho anh em trong đơn vị nên ai cũng có cái lộc của trời.. nhưng cái lộc riêng của Trần Dần là lối 80%. Trong thời gian nầy, cả đơn vị và khắp Sàigòn đặt tên cho Trần Dần là “Vua Bạc Đạn”. Khi Cộng Sản Bắc Việt (CSBV) chiếm Sài-gòn ngày 30-4-1975, thì tất cả các kho hàng, bãi chứa 1.5 triệu võ xe cũ, máy xe, xe ủi, xe xúc, quân trang quân dụng cũ và mới của quân đội tại khu căn cứ Hạnh Thông Tây và vài nơi khác đều là của Trần Dần đã qua đấu thầu và có giấy tờ thanh lý, đã trả xong tiền nhưng vì chiến tranh áp vào Sài-gòn nên chưa kịp bán.. Nay tất cả đã bị chính quyền Quân Quản tịch thu và hằng đoàn xe chở ra Hà Nội. Trần Dần nói “Coi như mất hết, nhưng tôi trở về nhà kiểm điểm lại thì vẫn còn hơn 500 lượng Vàng lá. Sau đó, vì là Binh Nhì nên tôi đi tập trung học tập tại Phường trong 3 ngày và được trả quyền công dân !”

     

    Trong sự hỗn loạn của những ngày đầu mới chiếm Sài-gòn và toàn lãnh thổ Miền nam, các cán bộ CSBV cũng như Công An, Bộ Đội đều chú tâm tìm mua “Đồng Hồ Không Người Lái” (Automatic Watches) và xe Honda. Thấy vậy, Trần Dần bắt đầu tung tiền tìm mua và đầu cơ các loại phụ tùng xe gắn máy, các loại đồng hồ đeo tay tự động, những loại mặt hàng cơ khí như bạc đạn, lò xo, vít lửa, bình điện xe đủ loại, đủ kiểu và nhất là “Bougies” các loại xe. Trần Dần kể rằng “Nhiều người Hoa lúc đó sợ, có các kho hàng thì bán tống bán tháo ra vì sợ bị đánh “tư sản mại bản” sẽ bị tịch thu gia sản, lại bị tù tội và bị đuổi đi kinh tế mới. Tôi đến gặp những người nầy và mua hết các kho hàng của họ và chia ra cất dấu nhiều nơi. Các khu chợ trời Kim Biên, Huỳnh Thúc Kháng, chợ Sắt, Gia Long, Bảy Hiên, v.v… và các Tỉnh tìm đến mua hàng của tôi và họ gọi tôi là “Vua Bougies”.

     

    Gom được khá nhiều tiền, Trần Dần cho mở quán “Cà-phê máy lạnh” đầu tiên tại Sài-gòn vào năm 1977. Đó là Cà-phê TUYẾT ở ngã 6 Nguyễn Tri Phương, quận 10 Sài-gòn. Vào năm đó, khách sạn Mini Rex cũng không có máy lạnh; nhưng cà-phê Tuyết của Trần Dần xài tới 6 cái máy lạnh loại công suất lớn. Ông Trần Dần kể rằng, “Lúc đó người uy quyền trong Thành Ủy của Sài-gòn là ông Sáu B.; và Trần Dần đã tìm cách làm quen. Địa điểm mở quán cà-phê là ngôi nhà lầu 2 tầng mặt tiền đường Nguyễn Tri Phương do một người anh rễ làm chủ. Trần Dần đầu tư toàn bộ.. Trước khi qua Phường xin giấy phép, Trần Dần tìm cách mời ông Sáu B. của Thành Ủy đến Ngã 6 Nguyễn Tri Phương ăn sáng. Dọc trên lề đường khu Ngã 6 là các điểm chốt của Công An Phường, Công An Thành Phố ngồi rình rập, theo dõi mọi người. Những nhóm nầy chợt thấy Trần Dần cùng với ông Sáu B. của Thành Ủy bước xuống xe hơi và đứng nhìn quanh quẫn, rồi đi vào quán phở. Lúc đi ra, Trần Dần lại tìm cách mời Sáu B. ghé tạt qua căn nhà của người anh rễ. Ông Sáu B. đứng bên ngoài, nhưng Trần Dần vào bên trong lấy một chai rượu tây và một cây thuốc lá 555 rồi bước ra cùng Sáu B. lên xe hơi bóng loáng phóng đi. Giai đoạn đó xe hơi là hiếm hoi ở Sài-gòn nên xe ông Sáu B. thì ai cũng biết cả. Đám Công An, Dân Phòng khu Ngã 6 lé mắt nhìn Trần Dần quen lớn. Ngày hôm sau Trần Dần mang đơn xin mở quán cà-phê máy lạnh đến nộp tại Phường và các “đồng chí” của Ủy Ban Nhân Dân Phường đã vui vẽ cấp phép cho hoạt động mà không có ý kiến ý cò gì thắc mắc.Trần Dần nói "Tôi tặng riêng các "đồng chí" chỉ đạo ở Phường, Công An Phường, Công An Khu Vực, Quảng Lý Thị Trường, An Ninh Quận… mỗi người ít Vàng và nói nhỏ "Anh Sáu B. gởi tặng" !"

     

    Ngày khai trương tiệm Cà-phê Máy Lạnh TUYẾT ở ngã 6 Nguyễn Tri Phương được quảng cáo quy mô, và dân ăn chơi lúc đó lại phong cho Trần Dần là “Vua Cà-phê Máy lạnh”. Trần Dần nói rằng “Vì chạy tới 6 máy lạnh nên đồng hồ điện không đủ công suất, tôi cho đám đệ tử câu điện đường xài chùa. Mấy tháng sau, phía Điện Lực cho người đến kiểm tra.. Khi họ gạt cầu dao xuống nhưng đèn vẫn sáng, máy lạnh vẫn chạy.. Họ mời tôi vào phòng riêng làm việc.. Tôi đưa cho họ 10 Lượng Vàng và nói nhờ anh em lo cho cái giấy phép xài máy lạnh và tăng công suất đồng hồ lên thì sẽ trả thêm 10 lượng vàng Kim Thành nữa”. Chỉ 3 ngày sau tôi có giấy phép của Điện Lực và được thay đồng hồ công suất lớn hơn. Tiệm cà-phê máy lạnh Tuyết tấp nập từ sáng sớm cho đến đêm khuya”. Trần Dần nói “Dù làm ăn rất khấm khá nhưng tôi biết rằng không thể sống được với Cộng Sản nên tôi dùng tiệm Cà-phê Tuyết làm điểm hẹn với những người tổ chức vượt biển để đưa vợ con đi tìm tự do !”.

     

    Ông Trần Dần kể rằng: “Trước năm 1975, mặc dầu còn trẻ tuổi nhưng vì làm ăn lớn nên tôi chơi thân với những đại tài phiệt như “Vua sắt thép” Lý Long Thân, Trịnh Thái Bình (Sắt vụn), Lâm Huê Hồ (sắt vụn), Trịnh Đức (Gang).. Những người nầy nhiều quyền lực và tôi gặp họ hằng ngày. Họ và tôi đều có giấy phép mang súng cá nhân. Nhưng khi tôi làm “Vua Cà-phê Máy Lạnh” dưới thời CSVN thì tôi là một kẻ giang hồ và tôi tự mua súng để phòng thân chứ chẳng phép tắc gì cả. Tôi quyết định tìm đường vượt biển. Tôi đưa con trai đầu của tôi cùng với gia đình em gái tôi đi qua ngã Hong Kong và đã thoát. Chuyến tiếp theo tôi đưa cha mẹ tôi và vợ thứ nhì cùng 2 con trai của tôi đi qua đến đảo Bidong. Tiếc rằng cha tôi đã mất tại Bidong. Còn vợ thứ nhì và 2 con trai cùng mẹ tôi được đến định cư tại San Diego, California.

     

    Tôi còn lại 3 người vợ, gồm vợ thứ 3 có một con gái với tôi, vợ thứ 4 không con chung; và vợ thứ 5 có 3 đứa con riêng  cùng với cha mẹ anh em của những người vợ nầy cũng muốn ra đi nên tôi phải tìm chiếc tàu lớn hơn để đủ chỗ vượt biển. Tôi tìm gặp một người đang tổ chức đi bằng tàu sắt, anh ta tên là Triệu Bình Th. lúc đó đang làm kinh tài cho ông Mai Chí Thọ của Công An. Ông Triệu Bình Th. trước là Chủ Tịch Hội Lion Club tại Sài-gòn và anh ta nhận của tôi 200 lượng Vàng lá, hẹn ngày bốc người lên Taxi (ghe nhỏ đưa ra Tàu lớn) nhưng anh ta đã trốn mất. Tôi một mình đến gặp Triệu Bình Th. và tôi đưa mũi súng vào ngay ngực anh ta, nhưng tôi không bắn. Triệu Bình Th. nói là anh ta không trốn, nhưng vì tàu sắt lớn quá chưa đủ khách nên đành hoãn lại. Tôi yêu cầu anh ta cho tôi gặp người Tài Công và xem chiếc tàu sắt và tôi sẽ lo đủ khách. Tôi thích thú khi thấy chiếc tàu sắt cao 3 tầng, dài 107 mét được gọi là “Giang Pháo Hạm” của Hải Quân Sài-gòn cũ, nay do Hải Quân CSBV quản lý. Người tài công tên là Phúc nói rằng nhóm của anh đã mua chiếc tàu nầy và nay đồng ý cho Trần Dần đưa đi 100 người với giá chung là 600 lượng. Đã đưa trước 200 lượng cho Triệu Bình Th., số 400 lượng còn lại trả ngay và tàu sẽ xuất hành lúc trời tối cuối tháng 6/1998 tại Bến Nhà Bè. Tính ra họ lấy mỗi người của tôi là 6 Lượng, nhưng tôi lấy của khách là 15 Lượng”. Ông Trần Dần kể tiếp rằng “Vào đêm đổ quân, trời tối đen..Tàu sắt từ Hải Quân Công Xưởng chạy ra chính giữa sông Nhà Bè, các ghe Taxi đưa người lên đầy đủ trên 200 người của cả hai phía, nhưng chờ hơn một tiếng rưởi mà không thấy Tài Công chính nên buộc tàu phải nhổ neo. Người Tài công phụ không quen điều khiển tàu lớn, lại lúc nước cạn xuống nên khi ra đến cửa Vàm Láng thì tàu bị mắc cạn trên cồn cát. Lối gần 2 tiếng đồng hồ sau đó thì thấy 2 tàu nhỏ pha đèn và các khẩu đại liên 12.7 ly nhã đạn liên tiếp vào thành tàu sắt. Một miễng đạn ghim vào cánh tay trái của Trần Dần.. Trên tàu mọi người đều khóc.. Mấy người lấy súng AK và B40 ra, nhưng ông Trần Dần yêu cầu vất súng đạn xuống sông và Trần Dần lấy tấm vải trắng kéo lên cột tàu để ra dấu đầu hàng. Khi Công An Biên Phòng nhảy lên kiểm soát, mọi người để tay lên đầu và họ trói từng người. Ai cũng khai cho Trần Dần là người tổ chức, nhưng Trần Dần nói với Công An Biên Phòng rằng những người tổ chức đã nhảy xuống sông trốn thoát, còn Trần Dần chỉ là người móc nối đưa người đi. Người chỉ huy Công An Biên Phòng dí súng AK 47 vào lưng bắt Trần Dần đi vào Cabin tàu và hỏi “Mày khai thật là có súng không?” Trần Dần trả lời “Không có súng, chỉ có Vàng mà thôi”. Trần Dần yêu cầu không bắn thì sẽ trao đủ số vàng 50 Lượng và sau nầy được thả thì sẽ đưa thêm. Viên chỉ huy Công An Biên Phòng dặn: “Mầy không được khai là tao tịch thu số vàng nầy nghe chưa..!” Trần Dần cam kết và được tha mạng. Tất cả mọi người bị lục xét và Công An tịch thu lối trên 3,000 lượng vàng của trên 200 người. Trần Dần nói số khách dự trù của 2 bên là 200 người, nhưng những ghe Taxi đã chở thêm người nên số người bị bắt khoảng trên 220 người. Trần Dần nói “Tôi mang theo lối trên 1,000 lượng vàng và tôi vất hết xuống cửa sông Vàm Láng; nhưng trên người tôi vẫn còn một chiếc quần dài đang mặc với lối hơn 80 hột xoàn lớn nhỏ được kết vào các lai quần, quai nịt là vẫn còn không bị lục xét. Lý do chiếc quần bị vấy máu từ vết thương trên tay tôi nhỏ xuống nên Công An sợ dơ không mò vào; hoặc họ nghĩ rằng có bao nhiêu vàng tôi đã nạp hết cho họ rồi nên không cần xét gì nữa.”

     

    Trần Dần và mọi người bị đưa lên 2 tàu nhỏ của Biên Phòng và chở về giam tại Mỹ Tho khoảng 1 tháng rưởi. Tại nhà tù Mỹ Tho, Trần Dần làm quen được với ông Dược Sĩ NGUYỄN BÁ LỘC là người bị ở tù trước và được đi ra ngoài lao động. Trần Dần đã đưa chiếc quần có hột xoàn cho Dược sĩ Nguyễn Bá Lộc và nói rằng xin tặng cho ông và nếu ông có lòng tốt thì nhắn với em gái ông Trần Dần đến và chia cho em ông chút đĩnh để chuộc ông ra; nhưng nếu không thì cũng chẳng sao, cứ lấy đi vì ông không muốn để cho Việt Cộng ăn số hột xoàn nầy ! Ông Trần Dần nói rằng, ông Ds Nguyễn Bá Lộc đã chuyển nguyên cái quần có hơn 80 hột xoàn cho em gái của ông mà không hề lấy bất cứ một hột xoàn nào. Nhờ đó em ông đã chuộc ông và các vợ con của ông ra khỏi tù ở Mỹ Tho. Ông nói nghe tin Ds Nguyễn Bá Lộc đã vượt biên đi đến Canada hay Úc và ông đã tìm kiếm nhưng không có tin tức gì. Ông muốn liên lạc để nói lời biết ơn.

     

    Năm 1979 ông Trần Dần lại đưa các vợ và con cái cùng đi vượt biển lần nữa, nhưng lần nầy bà vợ thứ 3 là Cô Giáo dạy Cấp 3 cùng với con gái chung; và bà vợ thứ 4 đã không chịu đi. Thế nên chỉ có Trần Dần cùng người vợ thứ 5 và 3 đứa con riêng của bà đã đến được đảo Bidong và vào năm sau 1980 đã được Mỹ cho đến định cư tại San Diego, Hoa Kỳ. Bà thứ 5 thường được gọi là “Bà Năm” là quả phụ của một sĩ quan VNCH có 3 con riêng và đã tục huyền với Trần Dần nhưng không có con chung với Trần Dần. Khi Trần Dần đưa Bà Năm đến San Diego thì người vợ thứ 2 đã định cư sẵn ở đó bất mãn. Đến năm 1981 thì người vợ thứ 2 do cha mẹ cưới đã để lại 2 con trai cho Trần Dần nuôi và bà ly dị vì những xung khắc với bà 5 ! Cùng năm đó, Trần Dần và bà 5 cùng các con riêng của mỗi bên đã đến Orange County lập hãng Bột Gia Vị mang nhãn hiệu 3 Cái Chuông. Khi hãng phát triễn, ông đã bán hãng nầy cho Phở Hòa để lập hãng Bột Gia Vị lớn hơn mang nhãn hiệu “2 Con Voi”.

     

    Hãng “2 Con Voi” đã hoạt động lớn mạnh từ năm 1982 đến 1997.. Vợ 5 của ông không đồng ý một số vấn đề nên đã ly dị và tranh chấp đòi sở hữu hãng “2 Con Voi” nhưng cuối cùng bà đã thua vụ kiện. Bà đã ra lập riêng hãng Bột Gia Vị mang nhãn hiệu “4 Con Voi”. Còn ông Trần Dần vẫn làm chủ hãng “2 Con Voi” và để vợ chồng người em gái đứng tên. Ông sống cuộc sống đầy đủ và giao dịch rộng. Sản phẩm bán khắp Hoa Kỳ, Canada, khắp vùng Bắc Mỹ và Mexico.. Thời gian nầy, ông có thêm những bà vợ mới là các bà 6, 7, 8 và 9. Những bà nầy chung sống với ông khoảng trên 1 năm, hay 2 năm nhưng không có con chung và cũng dần dần xa ông. Người vợ hiện nay là bà Út tức bà thứ 10 đang sống hạnh phúc với ông trong cảnh ẩn dật theo lệnh của God và Jesus sau khi ông thấy Chúa Jesus hiện ra với ông vào sáng ngày 08-5-2003 lúc 6:30AM khi ông đang uống cà-phê sáng tại hiên nhà và Ngài truyền lệnh cho ông phải đi ẩn dật tại thành phố San Diego nơi mẹ ông đang ở để thi hành lệnh của God & Jesus. So với siêu quậy Vi Tiểu Bảo trong truyện kiếm hiệp "Lộc Đĩnh Ký" có 7 vợ thì nhân vật Trần Dần còn siêu hơn vì có tới 10 vợ chung sống chính thức !

     

    Khởi Đầu Làm Cố Vấn Cho Tổng Thống Hoa Kỳ:

     

    Năm 1991, khi Tổng Thống George H. Bush (Bush bố) đánh thắng chiến trường Iraq, đã đến thăm Orange County và mời Trần Dần đến gặp tại Irwine qua sự giới thiệu đặc biệt của một người bạn báo chí. Dịp nầy ông Trần Dần đã xem chữ ký cho TT Bush Bố và đề nghị TT Bush Bố nên đổi chữ ký vì chữ ký hiện ông đang ký là sẽ thất cử nhiệm kỳ 2. TT Bush Bố nói rằng ông vừa chiến thắng tại chiến trường Iraq, và thành công mở rộng thị trường và quan hệ với Trung Quốc nên số điểm của ông không ai bì kịp. TT Bush Bố mời Trần Dần chụp chung tấm hình và ông nói sẽ ký tên tặng Trần Dần để làm chứng ông sẽ tái đắc cử nhiệm kỳ 2. Tiếc rằng khi nhận được hình có chữ ký tặng của TT Bush Bố, ông Trần Dần khẳng định là nếu không đổi chữ ký thì TT Bush Bố sẽ thất cử nhiệm kỳ 2 ! Vì sự đối xử đặc biệt của TT Bush Bố nên ông Trần Dần gia nhập làm đảng viên Đảng Cộng Hòa và ông đã gởi cho TT Bush Bố một thư riêng khẩn thiết xin ông phải thay đổi chữ ký vì tương lai của Đảng Cộng Hòa; nhưng TT Bush Bố khẳng định không đổi bởi ông là người theo Đạo Tin Lành chỉ tin ở Chúa nên mọi sự chỉ có Chúa mới biết ông sẽ ra sao. Ông Trần Dần nói rằng “Nếu Tổng Thống không chịu đổi chữ ký thì sẽ thất cử nhiệm kỳ 2” ! Điều nầy đã xảy ra khi ông Bill Clinton thuộc Đảng Dân Chủ đã đánh bại TT Bush Bố vào kỳ bầu cử tháng 11/1992. Lúc đó, TT Bush Bố sau khi thất cử mới nói với Trần Dần rằng “Quả thật ông Trần là người biết được những chuyện chưa xảy ra. Ông là Nhà Tiên Tri” !

     

    image

    Trước cuộc bầu cử nhiệm kỳ 2 của TT Bill Clinton vào tháng 11/1996, một nhân vật của Đảng Cộng Hòa mang chữ ký của TT Bill Clinton đến nhờ Trần Dần xem thử ông Bill Clinton có thất bại trước đối thủ Cộng Hòa hay không? Ông Trần Dần xem và quả quyết rằng TT Bill Clinton sẽ đắc cử nhiệm kỳ 2 nhưng rắc rối về “số đào hoa”. Sau đó, ông Trần Dần đã gởi đến TT Bill Clinton và Dệ I Phu Nhân Hillary Clinton một thư chúc mừng ghi rằng “Chữ ký của Ngài là tốt không cần đổi. Ngài sẽ đắc cử nhiệm kỳ 2 nhưng gặp rắc rối về chuyện thị phi liên quan số đào hoa”. Khi vụ Scandale của TT Bill Clinton với cô Monica Lewinsky xảy ra, ông Trần Dần cho biết ông đã gởi đến Đệ I Phu Nhân Hillary Clinton một thư nói rằng bà nên bình tĩnh vì đó là số trời và khẳng định rằng số trời dành cho bà Hillary Clinton là “Sau nầy bà sẽ giữ chức vụ quyền lực mặc dù lúc đó TT Bill Clinton đã hết nhiệm kỳ 2”. Ngày nay bà Hillary Clinton đang là Ngoại Trưởng đầy quyền lực của Hoa Kỳ.

     

    Tháng 11/2000 Ông George W. Bush đang là Thống Đốc Tiểu Bang Texas đã chọn ông Dick Cheney làm Phó để ra tranh cử đối đầu với Phó Tổng Thống Al Gore của Đảng Dân Chủ. Ông Al Gore chọn ông TNS Joe Lieberman của Tiểu Bang Connecticut làm ứng cử viên Phó Tổng Thống. Kết quả cuộc bầu cử 7/11/2000 cho thấy Liên danh Cộng Hòa George W. Bush và Dick Cheney có số phiếu hơn cách biệt quá ít ỏi là 537 phiếu trên 6 triệu cử tri Florida đi bầu. Ban đầu báo chí Hoa Kỳ loan Al Gore thắng ở Florida, sau đó lại nói là Bush Con thắng. Tòa Tối Cao Florida cho lệnh đếm lại phiếu trước hạn cuối cùng là ngày 09-12-2000. Cuộc đếm phiếu gây căng thẳng tột cùng nên ngày 15-11-2000 TT Bush Cha cho mời ông Trần Dần nhờ xem Bush Con có đắc cử không? Trần Dần yêu cầu Bush Cha chọn một con số và trả lời ngay rằng “trong vòng 35 đến 40 ngày thì George W. Bush sẽ làm Tổng Thống thứ 43 của Hoa Kỳ”. Bush con thua Al Gore 543,895 phiếu cá nhân, nhưng thắng Al Gore 271/266 phiếu cử tri đoàn. Tòa Tối Cao phán quyết rằng sự tái kiểm phiếu sẽ không kịp trong thời hạn trước ngày 09-12-2000 và rằng kiểm phiếu như vậy là vi hiến và cuối cùng qua ngày thứ 37 đã quyết định ngưng kiểm phiếu và công bố Liên danh Cộng Hòa George W. Bush và Dick Cheney thắng cử.

     

    Sau khi đắc cử, TT Bush Con mời Trần dần dự lễ đăng quang nhưng nhà Tiên Tri Vũ Trụ Trần Dần không đi dự. Tuy nhiên, TT Bush Con đã liên lạc Trần Dần để nhờ tham vấn trong nhiều vấn đề. Năm đầu tiên của nhiệm kỳ đầu, TT Bush Con gặp nạn khủng bố 911. TT Bush Con đã liên lạc hỏi Trần Dần về vấn đề tấn công Iraq có thuận lợi hay không và có bắt được Saddam Hussein hay không? Ông Trần Dần nói rằng, Hoa Kỳ đã tấn công Iraq đúng ngày mà Trần Dần nói cho TT Bush Con và cũng đã bắt được Saddam Hussein như Trần Dần tiên đoán.

     

    Ông Trần Dần nói rằng, sau khi ông được thấy Chúa Jesus hiện ra ngày 08-5-2003 và bảo ông đi ẩn dật thì ông đã rời bỏ tất cả và trở về ở San Diego cùng với bà vợ thứ 10. Ngày 24-6-2003, Trần Dần nhận được thư của TT Bush Con mà tôi là Hạnh Dương đã đọc thấy nguyên văn như sau:

     

    “The White House

    Washington

    June 24, 2003

     

    Mr. DAN TRAN

    3600 King St.,

    La Mesa , CA  91941

     

    Dear Mr. TRAN

    Thank You for your kind of Support for remembering me in your preyers.

    I appreciate knowing that I can count on your support as my Administration continues to work on issues that are important to Americans.

    Laura joins me in sending our best wishes.

    Sincerely,

    George W. Bush”.

    (Tạm dịch: “Ông Trần thân mến,

    Xin cám ơn về cách hỗ trợ của ông qua việc nhớ đến tôi trong những lời cầu nguyện của ông.

    Tôi cảm kích biết rằng tôi có thể kỳ vọng vào sự hỗ trợ của ông như là Ban Tham Mưu của tôi tiếp tục làm việc trên các vấn đề quan yếu cho người dân Hoa Kỳ.

    Laura cùng với tôi xin gởi lời cầu chúc tốt đẹp nhất của chúng tôi.

    Thành thật,

    George W. Bush).

     

    Một số thư của TT Bush Con gọi Trần Dần là Cố Vấn. Trước đó, các thư từ giao dịch là do ông Trợ Lý Phụ Tá của Tổng Thống kiêm Giám Đốc Sở Chính Trị Tòa Bạch Ốc gởi cho ông Trần Dần. Nhưng sau nầy các thư là do chính Vị Tổng Thống thứ 43 George W. Bush ký tên gởi cho ông Trần Dần.  Một bức thư tôi thấy ông Trợ Lý Phụ Tá của Tổng Thống kiêm Giám Đốc Sở Chính Trị Tòa Bạch Ốc gởi cho ông Trần Dần ghi ngày 20-2-2003 với nội dung như sau:

     

    “The White House

    Washington

    February 20, 2003

     

    Dear Mr. TRAN

    Please know that your views and suggestions are very important to President Bush.

    The President appreciated your continued support.

    Best wishes.

    Sincerely,

     

    KEN MEHLMAN

    Deputy Assistant to The President

    And Director of Political Affairs”.

    (Tạm dịch: “Ông TRẦN thân mến,

    Xin biết rằng các quan điểm và những đề nghị của ông rất quan trọng cho Tổng Thống Bush.

    Tổng Thống đánh giá cao sự hỗ trợ tiếp tục của ông.

    Chúc mọi điều tốt đẹp.

    Thành thật,

    KEN MEHLMAN

    Trợ lý Phụ Tá Tổng Thống

    và Giám Đốc Sở Chính Trị)

     

    Trước tình hình biến chuyển tại các nước độc tài đang bị sụp đổ như lời tiên tri của ông Trần Dần đã được đăng lên báo chí ngày 13-3-2010, tôi là Hạnh Dương hỏi Tiên Tri Vũ Trụ Trần Dần về tình hình Việt Nam sẽ ra sao trong những ngày sắp tới? Ông Trần Dần nói rằng: “Tôi đã từng nói Năm Mão nước Việt đổi cờ thân Mỹ.. Tuy nhiên Đảng Cộng Sản Việt Nam sẽ hoàn toàn sụp đổ vào năm 2014, trong khi các chế độ độc tài và Cộng Sản khác sẽ tuần tự sụp đổ trước năm 2016. Liên-Xô đã sụp đổ nhưng đến nay Đảng Cộng Sản Nga vẫn còn tồn tại.”

     

    Ông Trần Dần cho tôi xem các hình ông chụp với TT George W. Bush tại Vườn Hồng của Tòa Bạch Ốc và nói rằng “Cuộc chiến tranh Iraq đã làm cho số điểm của TT George W. Bush xuống quá thấp nên tôi đã gởi thư đề nghị Tổng Thống phải thay đổi chữ ký để đắc cử nhiệm kỳ 2 hầu bảo vệ nước Mỹ trong tình hình khủng bố đang leo thang. Vì thế TT George W. Bush đã mời tôi đến Tòa Bạch Ốc và gặp Tổng Thống tại Vườn Hồng. Tôi đi vào cổng riêng, phòng an ninh Tòa Bạch Ốc đã đưa ra một tấm hình của tôi thời làm Binh Nhì VNCH để đối chiếu và điều nầy làm tôi vô cùng ngạc nhiên. Người thông dịch viên là một người Mỹ trắng nói tiếng Việt rất giỏi. Tôi không biết tiếng Anh nên những thư đầu tiên thì nhờ con trai tôi dịch giúp; nhưng những thư sau nầy gởi cho các Tổng Thống tôi đều viết tiếng Việt và đều có người dịch ra tiếng Anh.

     

    Ông Trần Dần nói rằng “Từ khi tôi thấy Chúa Jesus thì Ngài giao nhiệm vụ cho tôi làm Sứ Giả truyền đạt những gì tôi nghe được hay thấy được. Tôi đã thông báo cho TT Barack Obama và một số các nguyên thủ Quốc Gia về những điều liên quan đến họ hay quốc gia của họ. Điều mới nhất mà tôi thông báo cho TT Barack Obama biết vào ngày 22-3-2011 về tình hình Việt Nam là Chúa muốn các con của Ngài không sợ hãi và chắc chắn Việt Nam sẽ có thay đổi mau chóng ít đổ máu. Tôi biết rằng sẽ có người trong Đảng Cộng Sản Việt Nam được Chúa chọn đứng ra làm vai trò như “Gorbachov” để thay đổi màu cờ và chế độ tự do, dân chủ và nhân quyền, đa đảng; và có người đang là tù nhân lương tâm sẽ được Chúa nhấc lên làm nhà lãnh đạo như là Thủ Tướng. Việt Nam sẽ có nhiều chuyện thay đổi và sự thay đổi nầy sẽ cứu cả trên 2 triệu Đảng Viên CSVN khỏi bị nhân dân đứng lên giêt hại vì căm tức. Trong số trên 2 Triệu đảng viên CSVN, chỉ có khoảng 10,000 đảng viên cao cấp là có quyền lợi và quyền lực. Hầu hết số nầy giàu có nhờ tham nhũng và họ cũng muốn hạ cánh an toàn. Những ngày tới, chính các Đảng Viên nầy sẽ là những kẻ muốn thay đổi chế độ hơn ai cả và tin chắc rằng vận trời tốt đẹp sẽ đến với Việt Nam rất gần chứ không phải đợi đến năm 2014. Sấm Trạng Trình 500 năm về trước sẽ ứng nghiệm và Thiên Ý của God & Jesus là Việt Nam sẽ có thay đổi mau chóng mà không ai cưỡng lại được. Chúa đã phán “Các con ta đừng sợ hãi” nên mới đây ở Miền Bắc Việt Nam đã có trường hợp người dân bắt giữ mấy Cán bộ Công An và đây là hiện tượng người dân không còn sợ hãi như điều tôi đã cảnh báo gởi đến các Quốc Gia ngày 03-3-2010 và đã đăng báo ngày 13-3-2010 rằng tất cả các chế độ độc tài, Cộng Sản trên toàn thế giới sẽ bị sụp đổ trước năm 2016. Chế độ CSVN cũng không nằm ngoại lệ được”.

     

    Hạnh Dương

    VietPress USA

    26-3-2011.

     

    Xin đọc Bài 1/3 tại Link:

    http://baocalitoday.com/index.php?option=com_content&view=article&id=1234&catid=1:cng-ng&Itemid=49


    Sẽ đăng tiếp Bài 3/3: Tiên Tri Vũ Trụ Trần Dần, TT Barack Obama và Sấm Trạng Trình về tương lai Việt nam.


  • Tạp ghi

    Cuộc hành trình tị nạn chính trị

    Cuộc hành trình tị nạn chính trị
    và sự hình thành cái gọi là Tổ chức “Love Freedoom – Yêu tự do”
    Hồi ký của Lê Thanh Tùng
     
    Sáng ngày 16/10/2002, vợ tôi trở dạ đau bụng nên đã phải đi bệnh viện huyện Sóc Sơn. Tại Bệnh viện Sóc Sơn họ khám và thấy vợ tôi bị bệnh tim độ 3 thì liền giới thiệu cho vợ tôi ra bệnh viện phụ sản Hà Nội.
    Gia đình tôi đã nhờ bà Soạn – là Giám đốc Bệnh viện huyện Sóc Sơn giới thiệu tới các bác sỹ của Bệnh viên Phụ sản Hà Nội giúp đỡ.
    Lúc ấy tôi đang gấp rút tham gia thi công sân vận động Quốc gia Mỹ Đình – Hà Nội, cho nên mãi tới 21 giờ cùng ngày tôi mới tới bệnh viện thì vợ tôi đang quằn quại đau đớn. Tôi cùng gia đình đã đề nghị các bác sỹ mổ đẻ cho vợ tôi nhưng họ cứ phớt lờ đi lời đề nghị của tôi và gia đình bởi không có bác đưa đi (Ý nói cái tấm hình bác Hồ trong đồng tiền của nhà nước cộng sản Việt Nam). Cho tới 24 giờ thì vợ tôi quá yếu, lúc này thì tôi không thể chần chừ được nữa, đành phải móc 800 ngàn đồng trong hầu bao ra đưa cho các lang băm để vợ con của mình được sống.
    Thế là 01 h 19’ sáng ngày 17/10/2002, con gái của tôi được ra đời và thoát khỏi lưỡi hái của tử thần.
    Tôi thấy tấm bảng treo ở trước cửa bệnh viện có đề như sau rất oai, nó giống như trong các đồn bốt công an Việt Nam hiện nay treo la liệt, đỏ chói nội dung 6 điều ông Hồ Chí Minh dậy ngành công an CSVN vậy. Thế nhưng thật mỉa mai là tại các đồn, trụ sở công an này thì là cái hang ổ vi phạm pháp luật, áp bức, thậm chí đánh đập nhân dân vô tội vạ. Tấm bảng ấy viết :  “Những ai đưa và nhận hối lộ tiền của bệnh nhân thì bị xử phạt nghiêm minh theo pháp luật !!! ”.
    Luật đề ra là một chuyện, song nếu gia đình bệnh nhân nào mà làm theo quy định của bệnh viện thì chính bệnh nhân của gia đình đó sẽ trở thành nạn nhân.
    Ấy thế mà chính bà bác sỹ Soạn, Giám đốc bệnh viện huyện Sóc Sơn vẫn kể công ơn cửa các lang băm trong phiên tổ chức đấu tố tôi ngày 25/4/2008 vừa qua.
    Tiếp theo đó là chính quyền xã Phù Lỗ lại đày đoạ tôi suốt nửa tháng trời, tôi mới đặt được cái tên cho con gái tôi. Sau đây là đoạn đối thoại giữa tôi và chính quyền xã Phù Lỗ hồi ấy :
    –  Chào anh Quang –  Tôi cất lời chào
    –  Vâng chào anh. có việc gì không anh ?  Đoàn Quang hỏi lại tôi.
    –  Tôi làm giấy khai sinh cho cháu – Tôi trả lời
    Đúng lúc đó thì đoàn làm phim của “Xưởng phim quân đội” cũng vừa vào tới nơi và ngồi cùng bàn làm việc với tôi phó chủ tịch xã – Nguyễn Xuân Minh bước vào và bắt tay mọi người cùng tôi.
    Sau khi đoàn làm phim quân đội ra về thì ông Đoàn Quang đưa cho tôi hai bản giấy khai sinh, một bản chính và 1 bản sao, bảo tôi điền vào.
    Tôi điền tên con gái của tôi là Lê Lewinsky xong xuôi đâu đấy và đưa cho ông Đoàn Quang xem.
    – Tại sao lại đặt tên con bằng tiếng Tây. Đoàn Quang hỏi.
    – Tôi muốn làm theo ước nguyện ông cố nội của ông. Tôi trả lời.
    – Anh có biết ông cố nội của tôi tên là gì không ?  Đoàn Quang trợn mắt và hỏi.
    – Khoan đã ông đừng vội nóng giận, tôi đã nói là tôi phải biết. Tôi không biết mà tôi nói để cho ông đập vào mặt tôi sao ?  Tôi trả lời.
    – Ông có phải là đảng viên ĐCSVN không ?  Tôi hỏi.
    – Phải và sao nữa ?  Đoàn Quang trả lời và hỏi lại.
    – Thế ông Các Mác là cái gì của ông ?  Muốn hoà nhập được với thế giới thì phải lấy tên tiếng Tây để nay mai cháu nó có sang Mỹ du học thì nó mới dễ hoà nhập được với cộng đồng chứ. Nói cho ông biết nhé, lúc nào tôi cũng đi trước các ông 20 năm. Hai mươi năm nữa thì các ông mới công nhận, rằng tôi là người đi trước thời đại. Tôi hỏi và phân tích.
    Ông Đoàn Quang không trả lời nhưng nét mặt chuyển từ trạng thái hầm hầm sang thái độ mỉm cười tỏ vẻ thán phục trước lý luận của tôi.
    – Nhưng anh là người Việt Nam thì phải đặt tên đúng theo thuần phong mỹ tục của người Việt Nam. Đoàn Quang nói.
    – Ông định nghĩa cho tôi biết thế nào là đúng với thuần phong mỹ tục của người Việt Nam. Tôi hỏi.
    Ông Đoàn Quang loay hoay gãi đầu, gãi tai không trả lời được. Thế là tôi tấn công luôn : 
    – Các ông là cái dạng “nước lụt chó nhảy lên bàn thờ” chứ các ông có tài cán gì, thật đúng là đã dốt nát thì lại hay chơi chữ. Các ông cứ quen cái thói ăn hiếp dân đen quen rồi. Tôi nói cho các ông biết : “Lúc đó có cả chủ tịch Lê Tiến Dũng và phó chủ tịch Nguyễn Xuân Minh ” ở đó. Tôi xấu số hơn các ông, năm 16 tuổi, tôi đã là bí thư chi đoàn rồi, nếu nói về trình độ năng lực của tôi so với các ông thì tôi phải làm bí thư thành uỷ thành phố Hà nội mới phải. Tôi nói.
            Cả ba ông quan CS xã nhíu mắt, mặt tối sầm lại nhìn nhau không nói lên lời nhưng có vẻ cay cú lắm…
    Một hồi lâu, ông Đoàn Quang mới nghĩ ra được lý luận để gây khó khăn cho tôi như thế này :
    – Muốn đặt tên này thì phải được sự đồng ý của gia đình. Anh về bảo vợ anh làm một cái đơn và ký nhận đồng ý đặt tên này đồng thời cũng đừng có mà đổi lại tên nữa nhé. Đoàn Quang nói.
    – Các ông thật là lắm chuyện, nhưng thôi được để cho dân chủ, bình đẳng tôi sẽ về bàn với vợ tôi cho hết ý. Tôi nói.
    Tôi về bàn với vợ và chúng tôi nhất trí ký vào cam kết mang ra UBND xã cho ông Đoàn Quang. Ông Đoàn Quang đã nhất trí và ký vào giấy khai sinh của con tôi rồi đưa cho phó chủ tịch Nguyễn Xuân Minh ký, nhưng Nguyễn Xuân Minh lý do là chữ thiếu dấu cho nên kiên quyết không ký.
    Tôi phải viết lại và phải viết cách ra theo âm tiếng Việt để dễ đọc là Lê Lê Uyn Si Ky. Viết xong tôi mang cho Đoàn Quang ký thì Đoàn Quang nói là đã hết giờ rồi, thôi để đến thứ sáu tuần sau mang ra đây.
    Tôi biết họ đang tức tôi, tôi nghĩ dù mình nói thế nào chăng nữa thì họ cũng không làm cho tôi ngay lúc này, cho nên tôi cũng không thèm nói nữa.
    Chiều thứ sáu tuần sau tôi mang giấy khai sinh của con tôi ra để cho họ ký, nhưng ông Đoàn Quang lại nói : Anh hãy về suy nghĩ cho kỹ chứ đặt tên như thế này, nay mai nó đi học cô giáo cũng không đọc được tên của nó, rồi nó oán trách cha mẹ…
    Trước tình thế như vậy tôi đành nói :
    – Cô giáo mà không đọc được tên của học trò thì là cô giáo dốt mà đã là cô giáo dốt thì đuỏi cổ cô giáo ấy đi, thiếu chi giáo viên mà sợ. Tôi không thích nghe các ông giải thích gì nữa hết. Bây giờ ông có ký hay không ký thì bảo. Nếu ông không ký thì cứ cho tôi mấy chữ và đóng dấu vào đây để tôi lên huyện. Lên huyện không được thì tôi lên tỉnh. Mà lên tỉnh không được thì tôi lên Trung ương và cơ quan nhân quyền Quốc tế. Mà tôi nói cho ông biết, tôi không ngọng đâu nhé. Tôi đã phải lên tới tỉnh thì xin lỗi ông một tuần sau ông không được ngồi cái ghế này nữa đâu đấy nhé.
    Thế là ông Đoàn Quang cán bộ tư pháp phải ký. Song xuôi Đoàn Quang bảo tôi đưa sang phó chủ tịch UBND xã Nguyễn Xuân Minh ký. Tôi đưa cho Nguyễn Xuân Minh thì được ông phó chủ tịch trả lời là : “Hết giờ rồi, để đến thứ sáu tuần sau đi ” .
    Tôi chỉ thẳng vào mặt phó chánh tổng cộng sản xã Nguyễn Xuân Minh và nói : “Anh là một loại cán bộ đảng viên tồi. Chỉ có việc ký dẹc cái là xong vậy mà anh còn gây khó dễ cho tôi. Trong khi đó anh còn có họ với đằng nhà vợ tôi. Nhưng thôi được, tôi cũng không năn nỉ anh đâu, tôi thử xem anh đày đoạ tôi đến đâu ”.
    Thứ sáu ngày 31/10/2002 tuần sau tôi mới làm được cái giấy khai sinh cho bé Lê Lewinsky nhà tôi hết 14 ngày bị chính quyền xã Phù Lỗ độc tài đảng trị đầy đoạ tôi.
    Từ đó chính quyền xã Phù Lỗ trả thù tôi bằng cách trục suất tôi khỏi địa bàn xã Phù Lỗ nếu như tôi không nhập khẩu về Phù Lỗ.
    Tôi về xã Mai Đình quê tôi để cắt hộ khẩu và nhập về Phù Lỗ nhưng cái chính quyền lại oái ăm, chơi xỏ trả thù tôi, nên công an xã Mai Đình lại không cắt hộ khẩu cho tôi. Thế là tôi lại phải xin chính quyền xã Phù Lỗ cắt khẩu vợ tôi để nhập vợ tôi về Mai Đình, nhưng chính quyền xã Mai Đình lại cũng không nhập hộ khẩu cho vợ tôi.
    Đau đớn, căm giận và phẫn nộ chế độ độc tài dù là cấp xã quèn ở nhà quê thôi, nên vợ chồng tôi quyết định phải tìm đường đi định cư ở Cambodia bởi vì không thể hoà nhập được với cái chế độ cộng sản độc tài vô cùng hà khắc, quái dị này được.
    Ngày 25/11/2002 khi con gái tôi còn đỏ hỏn mới đầy 38 ngày tuổi thì vợ chồng con cái tôi khăn gói quả mước lên đường đi tị nạn chính trị tại xứ láng giềng nước Cambodia. Mặc dù trước đó ít ngày cả bốn dòng họ gồm có : Dòng họ nhà tôi, dòng họ nhà mẹ tôi, dòng họ nhà bố vợ và dòng họ nhà mẹ vợ tôi ra sức khuyên ngăn và nói rằng : “80 triệu người dân Việt Nam trong nước còn sống được thì tại sao mình không sống được, vợ chồng mày không nên đi sang bên ấy nữa ?  ”….
     Hơn nữa cả bốn dòng họ nhà chúng tôi còn góp tiền cho vợ chồng tôi vay vốn làm ăn với điều kiện phải ở nhà. Nhưng vợ chồng tôi trả lời dứt khoát rằng : “Chúng tôi ra đi không phải vì lý do kinh tế mà chúng tôi ra đi tị nạn vì lý do chính trị. Tôi đã sống nhiều năm ở thể chế chính trị tự do bên ấy nên quen rồi, nay tôi không thể tái hoà nhập với cộng đồng có thể chế chính trị độc tài cộng sản cai trị được.
    Chúng tôi kiên quyết ra đi làm cho cả bốn dòng họ nội ngoại nhà chúng tôi khóc hết nước mắt vì uất hận cái chế độc độc tài tàn bạo này đã làm cho chúng tôi phải chia ly, rời bỏ quê hương nơi chôn rau cắt rốn.
    Một cuộc hành trình vượt biên hơn 2000 km hết 4 ngày 3 đêm với các phương tiện như ô tô, tàu hoả, ca nô, mô tô, đi bộ và cả xích lô…
    Khi tới Hội thánh Baptist Thánh Linh thủ đô Phnompenh nơi tôi đã từng sinh sống và làm việc tại đây thì trời đã nhá nhem tối. Bà Mục danh Sa Mon ra tiếp tôi và nói : “Trước kia chú có một mình thì ở đây được, còn bây giờ có vợ con thì không thể ở đây được. Bây giờ chú để vợ con ở đây và chú hãy đi tìm nhà trọ ngay đi…
    Trước kia có một mình mà còn chẳng có dư giả gì thì bây giờ còn đèo theo vợ con nữa thì nuôi làm sao được và lấy đâu có thời gian để hầu việc Chúa nữa ? ”.
    Thế là tức tốc tôi phải đi kiếm nhà trọ ngay. Ơn Chúa đã dẫn đường mở lối cho tôi kiếm được phòng trọ ngay trong đêm. Kết thúc cuộc hành trình bốn ngày ba đêm vô cùng gian khổ từ quê nhà Sóc sơn sang nơi đất khách quê người chặng đường dài hơn 2000 km.
    Rồi sau đó, khi tìm hiểu thì được các anh em tín đồ cho biết là,  từ sau khi tôi về nước hồi tháng 7/2001 do không có ai làm cố vấn cho mục sư Danh Sa Mon nữa, dẫn đến Hội Thánh Báptast Thánh Linh đi từ thất bại này đến thất bại khác. Đến nỗi mục sư Danh Sa Mon phải giải thế Hội thánh Baptisti Thanh Linh để ra nhập giáo phái Mặc Môn.
    Chính là lý do này và một phần do đón tiếp vợ chồng tôi một cách tẻ nhạt cho nên tôi quyết định đoạn tuyệt với vợ chồng ông bà mục sư Danh Sa Mon từ đây.
    Sau đó rất nhiều mục sư, giáo sỹ đề nghị tôi hợp tác mở những Hội thánh nhưng tôi thấy toàn là những kẻ buôn thần bán thánh cho nên tôi nhất định kiên quyết chỉ là một tín đồ bình thường thôi chứ không hợp tác với ai cả.
    Sau khi vợ chồng tôi vượt biên sang Cambodia được hai ngày, phước thay cho tôi, tôi nhận được hợp đồng sửa chữa trạm y tế của “Hội Việt kiều Gian” bên Cambodia (tức hội Việt Kiều do đại sứ quán CSVN ở đây chỉ đạo lập ra và điều khiển hoàn toàn).
    Từ khi Hội Việt Kiều Đô Thành Phnombenh phát động phong trảo ủng hộ đồng bào bão lụt đồng bằng sông Cửu Long năm 1997. Nhưng Hội Việt Kiều Gian và đại sứ quán VN tại Phnompenh đã ăn chia với nhau, không gửi tiền về nước để giúp đỡ bà con. Bị chúng tôi phát hiện và từ đó chúng tôi gọi là Hội Việt Kiều ở Cambodia là Hôị Việt Kiều Gian hay “Hội Việt Gian…”
    Nhân đây tôi cũng cho bạn đọc biết luôn một thể sự việc như sau : Cái  diên tích mặt bằng của hội Việt Gian Phnompenh này là đất của đại sứ quán Việt Nam cho nên mọi quyền sát sinh của kiều bào Việt Nam ta tại Cambodia đều nằm trong tay toà sứ quán cộng sản Việt Nam toàn quyền quyết định. Đại sứ quán Việt Nam còn chỉ định ai làm hội trưởng và ai làm hội phó, ai làm thư ký, rồi hệ thống đặc tình an ninh cài cắm trong đó…v.v… Tóm lại tất cả đều do bộ máy an ninh cộng sản nằm vùng trong toà sứ quán CSVN bố trí, tổ chức hết.
    Ông Sum Chi hiện đương kim hội trưởng hội Việt Gian Phnompenh từng than thở với tôi rằng : “Muốn lên giữ chức hội trưởng này cũng phải quà cáp cho đại sứ quán Việt Nam đấy chứ chú tưởng dễ hay sao. Nói thiệt với chú chứ cán bộ hội chúng tôi cũng chẳng có quyền hành gì cả”. Vì thế cho nên hội Việt Gian Phnompenh hoàn toàn lệ thuộc vào đại sứ CS Việt Nam và Hội Việt Gian chỉ là bù nhìn của họ mà thôi.
    Có rất nhiều người khi biết được điều này thì nhảy nhẫng lên nhưng đối với tôi thì không có gì là bất ngờ, xửng sốt cả vì tôi còn biết đến cả ông thủ tướng Cambodia là Hun Sen còn bị nhà cầm quyền độc tài đảng trị cộng sản Hà Nội nắm đầu chứ còn nói gì đến Hội Việt Gian Cambodia tép riu kia.
    Trong thời gian sửa chữa cho trạm y tế cho Hội Việt gian Phnomphenh thì tôi gặp một người có tên là Lê Sỹ Đức, anh ta còn có có bí danh là Sơn Đức trong khi đang chờ việc làm thì có dậy cho các cháu học sinh Việt Kiều ở đây học, nhưng khi làm một bài toán đố thì không biết tiếng Khmer, do các cháu học sinh sanh đẻ ở Cambodia cho nên các không giỏi tiếng Việt mà thầy Đức thì không biết tiếng Khmer cho nên hai bên không hiểu nhau.
    Tôi thấy thế thì mới lại dịch sang tiếng Khmer cho các cháu, Lê Sỹ Đức nghe thấy tôi nói giọng Bắc thì Lê Sỹ Đức mới bắt chuyện làm quen với tôi như thế này :
    – Anh quê ở đâu ?  Đức hỏi tôi.
    – Anh là người Hà Nội. Tôi đáp.
    – Em cũng là người Hà Nội đây, em mới qua đây được mấy bữa. Đức nói.
    Hà Nội thì chú ở chỗ nào, sao anh nghe chú nói đặc sệt giọng Thanh Hoá ?  Tôi hỏi.
    – Em quê gốc ở Thanh Hoá, bố em là liệt sỹ, mẹ đi bước nữa. Em được đưa ra Hà Nội ở làng trẻ mồ côi SOS. Đức trả lời.
     Chú sang đây được bao nhiêu lâu rồi ?  Tôi hỏi.
    – Em cùng với hai thằng bạn mới sang dược ba ngày anh ạ. Hai thằng bạn phải đi sách vữa (phụ hồ xây dựng) còn em thì chưa kiếm được việc gì để làm. Mỗi ngày em chỉ dám ăn một bữa bởi vì không có tiền. Đức nói.
    – Chú bao nhiêu tuổi ?  Tôi hỏi.
    – Em sinh năm 1972. Đức trả lời.
    – Chú có nghề gì ?  Tôi hỏi.
    – Em là Luật sư. Trước em học ở Đại học Luật Hà Nội, sau đó em được đi tu nghiệp ở Ý. Đức trả lời.
    – Thế ăn cơm thì tiếng Ý nói thế nào ?  Tôi hỏi.
    – Ôi thôi để lúc khác em chỉ cho anh, bây giờ có nói anh cũng không hiểu được đâu. Đức nói.
    Mặc dù tôi không biết tiếng Ý nhưng tôi lại thừa kinh nghiệm để kiểm tra bất cứ thứ tiếng gì. Tôi biết Đức nói sai, dối trá, nhưng vì tế nhị cho nên tôi không hỏi nữa.
    Lê Sỹ Đức gặp đượt tôi như đang chết đuối vớ phải cọc. Tôi nghe thấy Đức nói là ngày chỉ dám ăn một bữa thì thấy chạnh lòng thương sót, bởi vì chính cuộc đời mình cũng nhiều khi rơi vào hoàn cảnh đó và cũng được nhiều người sót thương. cho nên tôi đã rút ví ra đưa cho Đức mười ngàn Ria ( tiền Cambidia) bằng 2,5 mỹ kim để ăn cơm.
    Đến chiều tối Đức xin được về nơi vợ chồng tôi trọ ăn uống với vợ chồng tôi xong xuôi, tôi và Đức hàn huyên với nhau. Tôi đưa cho Đức xem quyển vở học tiếng Anh của tôi trong đó có những bản tự viết và dịch sang tiếng Anh của tôi có một đoạn như sau :
    Vợ chồng chúng tôi ra đi tị nạn không phải vì lý do kinh tế mà vì chế độ CSVN không có tự do dân chủ, nhân quyền !
    Dưới thới Pháp thuộc, tuy bị người Pháp cai trị, nhưng nhân dân Việt Nam ta vẫn có quyền tự do báo chí tư nhân, tự do biểu tình, lập hội …v.v…
    Nhưng còn cái thời nay, người Việt cai trị người Việt thì hoàn toàn ngược lại.
    Người dân Việt Nam vẫn thường tự hào về dân tộc của mình như “Nhân dân Việt Nam có truyền thống anh hùng đấu tranh yêu nước nồng nàn…”.
    Nhưng riêng cá nhân tôi lại cho rằng : Nhân dân Việt Nam ta cũng có truyền thống làm nô lệ lâu dài. chúng ta đã chịu làm nô lệ 1000 năm của phong kiến phương Bắc, 117 năm của Pháp và Mỹ ( lúc bấy giờ tôi còn quna niệm là Mỹ xâm chiếm Việt Nam chứ không hiểu được như bây giờ) và 57 năm của cộng sản Việt Nam ( thời gian tính từ 1945 đến 2002 khi ấy ).
    Khi đọc xong đoạn này thì Lê Sỹ Đức chuyển sang nói  một hơi dài như thế này :
     “Em nói thật với anh em sang đây là vì lý do chính trị chứ không phải là kinh tế. Em và Đỗ Ngọc Hải, Nguyễn Khắc Ba, Phạm Hồng Sơn lập ra tổ chức Love Freedom (Yêu tự do). Trong đó Đỗ Ngọc Hải là Trưởng ban tổ chức, em là Phó ban, còn Nguyễn Khắc Ba là chuyên gia vi tính, BS Phạm Hồng Sơn là chuyên gia dịch thuật….
    Tổ chức được hình thành ra đời ở hải ngoại từ cuối năm 1999 và sau đó bọn em về Việt Nam đi vận động ở bốn trường Đại học gồm có : Đại học Luật, Đại học Mở, Đại học Kinh tế Quốc dân và đại học Bách Khoa Hà Nội. Đến đầu năm 2001, thì vận động được 1000 sinh viên của bốn trường đại học đã nêu trên.
    Dự định biểu tình vào ngày 15/3/2001 tại địa điểm số 10 Nguyễn Cảnh Châu (địa điểm này là trụ sở chính của ban chấp hành trung ương ĐCSVN ở thủ đô Hà Nội)
    Mục đích của cuộc biểu tình là đòi tự do, dân chủ và đòi được đối xử giữa các sinh viên con nhà nghèo với các sinh viên con nhà giầu, có chức có quyền.
    Đến sáng ngày 15/3/2001 chưa kịp xuất phát thì đã bị công an bao vây khắp các nẻo đường thế là mọi người mạnh ai người ấy chạy.
    Đỗ Ngọc Hải và bác sĩ Phạm Hồng Sơn bị bắt. Còn em và Nguyễn Khắc Ba thì chạy thoát. Em chạy qua Lào và cho đến bây giờ em mới sang tới Cambodia đây anh ạ ”.
    – Tại sao chú mới gặp anh mà chú đã tin và tiết lộ bí mật của chú cho anh biết ?  Tôi hỏi.
    Tại vì em đọc bản dịch từ tiếng Việt sang tiếng Anh của anh, em biết chắc chắn anh là người bất mãn với chế độ CSVN –  Lê Sỹ Đức nói.
    Tôi nghe cũng có lý và cũng từ đó tôi coi Đức như là anh em ruột thịt. Hai anh em hàn huyên tâm sự với nhau cho đến 22h thì Đức ra về. Tôi đón xe ôm và móc túi ra đưa cho Đức 5 USD mặc dù lúc ấy vợ chồng tôi vô cùng khó khăn.
    Từ đó Lê Sỹ Đức luôn sát cánh bên tôi như hình với bóng. Thế là tôi lại thêm một gánh nặng nữa, nhưng tôi không buồn ngược lại tôi rất vui vì bao nhiêu năm tôi đã cất công đi tìm mà đến hôm nay mới được gặp tổ chức tranh đấu cho Tự do ở Việt Nam mà Đức là đại diện.
    Một hôm vào khoảng đầu tháng 12/2002 âm lịch, Đức dẫn tôi đến phòng Đức ở trọ và nói : “Nếu chiều mai em không về thì anh đến đây lấp cặp số của em mà dùng. Ngày mai Trần Đức Lương từ Việt Nam sẽ sang đây thăm, bọn em sẽ tổ chức ám sát Trần Đức Lương ”.
    Tôi chỉ nghe Đức nói là còn hai người bạn, nhưng cho đến lúc này tôi cũng chưa được biết hai người bạn của Đức thế nào và cũng không biết chính xác có phải Trần Đức Lương sang thăm hay không. Bởi vì thường thường đón các vị nguyên thủ quốc gia nào đó thì đều treo cờ của quốc gia đó. Còn đằng này thì không thấy treo cờ quạt gì cả. Hay là Trần Đức Lương sang thăm không chính thức cho nên không treo cờ chăng ? Tôi nghĩ vậy.
    Chiều hôm sau Đức lại đến nhà tôi và nói : “Bọn em đã phải bán 1 khẩu súng ngắn với giá 200 USD để hối lộ cho ông Sum Chi  (Ông Sum Chi lúc bấy giờ đang giữ chức hội trưởng Hội Việt Gian Phnompenh) để được đi đón Trần Đức Lương nhưng do lộ bí mật cho nên không được đi ”…
    Gần Tết nguyên đán Việt Nam – Trung Cộng, quốc vương Sihanouk mời đoàn ca múa nhạc Thái Lan sang biểu diễn thì cô ca sỹ nổi tiếng của Thái Lan ra điều kiện là “Phải trả đền Angkok nơi biên giới cho Thái Lan thì cô mới sang biểu diễn”. Cô ta cho rằng đền Angkok đó là của Thái Land.
    Chỉ có thế thôi mà sinh viên của Cambodia đêm hôm đó họ đi đập phá tất cả các doanh nghiệp của người Thái Land và đặc biệt hơn ở Phnompenh đến nỗi các nhân viên toà đại sứ Thái phải nhảy qua tường sang tị nạn tại Toà sứ quán Nhật Bản sát bên cạnh và mới thoát chết. Hơn nữa họ kêu gọi toàn dân tẩy chay hàng Thái Land. Sinh viên họ ra chợ mà thấy ai bán đồ Thái Land là họ đập phá hết.
    Đến 10 h 00 đêm hôm đó thì Lê Sỹ Đức ôm một chiếc màn hình vi tính về nhà tôi và nói : “Em hôi được cái này ở toà Đại sứ Thái Land đây này. Dân chúng họ hôi được nhiều lắm anh chị ạ. Mà sao anh hiền thế không đi ra mà hôi của như tụi em đi ”.
    Tôi nói rằng : Anh không quen làm điều đó.
    Sau đó tàu hải quân của Thái Lan kéo sát vào vùng lãnh thổ của Cambodia cùng lục quân Thái Land cũng đưa đến sát biên giới Cambodia, ngay tức khắc và nguy cơ sung đột vũ trang có thể xảy ra. Sau đó ông Thủ tướng Hun sen phải lên đài truyền hình lên tiếng xin lỗi và nhận bồi thường toàn bộ thiệt hại do sinh viên gây lên thì bên phía Thái Land mới chịu rút quân khỏi biên giới.
    Thế mới biết sinh viên Việt Nam ta quá ươn hèn qua sự kiện Trung Cộng tuyên bố thành lập thành phố đảo Tam Sa hồi tháng 12/2007 vừa qua. Nhưng đáng trách nhất ở đây chính là ĐCSVN. Các cơ quan tuyên truyền trong nước oang oang nào là “ĐCSVN quang vinh”, nào là kẻ thù nào cũng đánh thắng, thế mà lại cúi đầu chịu khuất phục trước sự xâm lăng của Trung Cộng. Lẽ ra thì ĐCSVN phải bật đèn xanh cho sinh viên biểu tình mới phải đạo.
    Một hôm đầu tháng 3/2003, Lê Sỹ Đức đưa hai cha con nhà Lê Văn Dũng (bí danh Sáu Bụng) đến nhà tôi và nhờ tôi giúp đỡ. Cậu ta nói đây là anh Lê Văn Dũng sinh 1954 quê gốc Phú Yên, sinh sống tại Đồng Nai. Anh Dũng là sỹ quan trường Võ bị Đà Lạt nhưng chưa kịp ra trường thì đã bị “Việt cộng đè ra giải phóng” nên anh mới phải chạy sang đây tị nạn chính trị được hai ngày. Lê Sỹ Đức nói. Thế là từ đó lại thêm gánh nặng cho tôi.
    Lê Văn Dũng được hưởng quy chế tị nạn. Thấy thế Lê Sỹ Đức cũng chạy vào Cao uỷ tị nạn Liên hiệp Quốc ( UNHCR) và cũng được hưởng quy chế tị nạn mỗi tháng là 80 USD + tiền thuê nhà trọ.
    Từ khi phát hiện ra kẽ hở, Lê Sỹ Đức xúi giục vợ chồng tôi chạy vào Cao uỷ tị nạn để được hưởng tiền quy chế tị nạn của Liên Hợp quốc (LHQ) đồng thời để được đi định cư ở Mỹ. Anh ta :
    – Em đã khai với cao uỷ tị nạn LHQ là trong tổ chức Love Freedom có cả anh Lê Thanh Tùng sinh viên 1968, quê ở huyện Sóc Sơn – Hà Nội. Anh Tùng là y tá chuyên mon đi khám chữa bệnh và cấp phát thuốc cùng tài liệu sinh viên ở tất cả các ký túc xá của các trường đại học ở Hà Nội.
    Đây em đưa cho anh một số tài liệu này để đề phòng khi Cao uỷ tị nạn LHQ họ có hỏi thì anh còn biết đường mà trả lời. Lê Sỹ Đức nói.
    Tài liệu gồm có : “Khát vọng cháy bỏng của dân là dân chủ” của cựu đại tá Vũ Cao Quận, lúc bấy giờ tôi chỉ biết như vậy. Tận mãi đến tháng 11/2007 tôi đến thăm ông Vũ Cao Quận tại Hải Phòng thì được ông cho biết là ông chỉ là trung uý chứ không phải là đại tá như tôi nghĩ và bài “ Tự do tôn giáo hay là chết” của Linh mục Nguyễn Văn Lý….
    Đức còn bảo với tôi là : “Anh phải dấp nước tài liệu và để xuống đất cho nó cũ thì Cao uỷ mới tin là mình đã mang theo số tài liệu này từ đầu năm 2001 cho tới nay”.
    Ngày trước anh lúc nào cũng mong mỏi đi Mỹ, với mục đích để tìm các tổ chức để về Việt Nam đấu tranh cho nhân dân Việt Nam. Nay mình đã tìm được rồi thì còn phải đi đâu nữa ?  Mình ở đây để tập hợp lực lượng là quá thuận lợi rồi. Tiếng Khmer của anh thì gần như tiếng mẹ đẻ rồi, Cambodia cả thảy có 24 tỉnh thành thì anh đã đi 20 tỉnh thành rồi, chúng ta còn phải đi đâu nữa ??? Tôi nói với Đức như vậy.
    Nhưng không thể ở đây được, anh không biết gì về mật vụ an ninh của CSVN. Cộng sản VN nó vừa mới tăng cường thêm 250 mật vụ an ninh sang rải khắp Phnompenh này anh có biết không ?  Lê Sỹ Đức nói.
    – Tại sao chú biết ?  Tôi hỏi lại Đức.
    – Đó là nghề nghiệp của em mà, sao lại không biết ?  Đức trả lời.
    Khoảng nửa tháng sau Đức lại dẫn kỹ sư Đỗ Trí Phim đến và giới thiệu với tôi : “Đây là anh Đỗ Trí Phim, anh là sỹ sư cơ khí. Anh sinh năm 1958 tại Đà Nẵng, anh du học tại Tiệp Khắc và anh đã từng tham gia Đảng nhân dân hành động từ năm 1995 – 1996”.
    Mãi về sau tôi phát hiện thấy Đỗ Trí Phim có những biểu hiện không bình thường và tôi hỏi Sỹ Đức thì được Lê Sỹ Đức cho biết : “Đỗ Trí Phim bị CSVN liệt vào danh sách thần kinh không ổn định,  cho nên CSVN không thèm bắt hồi cuối năm 1996 tại Phnompenh”.
    Tiếp đến Lê Sỹ Đức còn đưa Nguyễn Văn Tư đến giới thiệu với tôi :  “Đây là anh Nguyễn Văn Tư sinh 1954, quê ở miền Tây. Anh có gia đình và nhà ở Soaypas (Soay Pa là km số 11, nơi nổi tiếng về gái mại dâm của Cambodia) anh là đệ tử trung thành của Đỗ Trí Phim và hai người đã từng nằm ở trại tị nạn Thái Land ”.
    Cuối cùng Lê Sỹ Đức giới thiệu ông Hợi Cận (Ông cận đến mức phải đeo kiếng 10 độ) – ông Hợi 70 tuổi, quê ở Hưng Yên và vào Nam sinh sống từ lâu rồi. Ông nói là ông có một trung đoàn quân kháng chiến chống lại chế độ CSVN. Đồng thời ông cũng cho biết là hiện tại ông đang giữ và bảo vệ cho ba quân nhân Mỹ sống bí mật trong rừng rậm ở Việt Nam. Bây giờ ông nhờ chúng tôi đưa ông đến toà đại sứ quán Hoa Kỳ và thông dịch giúp ông.
    Tôi biết ông ta nói sạo cho nên tôi không tiếp ông nữa thì ông Hợi cận quay sang năn nỉ Đỗ Trí Phim :
            Chú hãy giúp đưa tôi vào sứ quán Hoa Kỳ và thông dịch cho tôi là tôi và chú cùng được đi Mỹ. Ông Hợi nói.
          Đỗ Trí Phim tuy là thần kinh không ổn định nhưng lại rất giỏi tiếng Anh và Trí Phim không thể bỏ lỡ cơ hội cho nên đưa ông Hợi cận vào đại sứ quán Hoa Kỳ ở Phnompenh. Vì việc này đã làm cho đại sứ quán Hoa Kỳ ở Cambodia điện ngay cho Tổng thống Bush, sau đó tổng thống Bush nói với đại sứ Hoa Kỳ là hãy cho điều tra gấp, nếu đúng thì hãy đón cả gia đình ông ta sang Hoa Kỳ định cư ngay.
    Trước lúc ra về, sứ quán Hoa Kỳ đã đưa cho ông hợi 200 USD để sài đỡ và hẹn một tuần sau quay lại.
    Đỗ Trí Phim hí hửng mừng rỡ ra mặt. Tuần sau lại rủ ông Hợi cận đến toà sứ quán Hoa Kỳ nhưng bị ông Hợi cáo ốm không đi được. Thế là Đỗ Trí Phim đi một mình đến Toà sứ quán Hoa Kỳ. Nhưng lần này Đỗ Trí Phim bị nhân viên sứ quán Hoa Kỳ chửi cho một trận mất mặt.
    Đỗ Trí Phim trở về than với tôi rằng : “Cái ông Hợi già nói láo làm sứ quán Hoa Kỳ họ chửi tôi quá trời chú Tùng ạ”. Thấy vậy tôi nói luôn :
    Anh là cái thằng thần kinh cho nên mới đưa ông ấy đi chứ ai mà tin ông ấy được. Anh không thấy tôi không thèm tiếp chuyện ông ấy à ?  Thằng Đức nó cũng giỏi tiếng Anh đấy, nhưng tại sao nó lại không đưa ông Hợi đi, nó lại để cho anh đưa ông ấy đi ? Tôi hỏi Trí Phim như vậy.
    Ừ nhỉ, thế mà tôi không nghĩ ra nhỉ. Trí Phim nói.
    Chỉ trong vòng một tháng trời, Lê Sỹ Đức đã đưa bốn nhân vật đối kháng với chế độ CSVN đến giới thiệu với tôi. Thế là cái gọi là “Tổ chức yêu tự do” được chính thức tái hoạt động từ đây…
    Mọi phương pháp hoạt động như thế nào đều do Lê Sỹ Đức và Đỗ Trí Phim cùng Sáu Bụng bàn bạc với nhau, tôi không hề được biết. Bản thân tôi chỉ có nhiệm vụ là kiếm thật nhiều tiền để nuôi tổ chức và đêm đến lại phải cố gắng đi học để nâng cao trình độ Anh ngữ và vi tính và tin học.
    Một hôm vào khoảng 17 h 00 giữa tháng 5/2003, Đức đang dậy Anh ngữ ở Hội Việt gian thì bị mật vụ CSVN bao vây định bắt cóc Đức. Nên Đức phải gọi điện cho Trí Phim và tôi, Trí Phim điện ngay cho anh Dra là người Khmer rất siêu tiếng Việt và Anh. Mấy hôm đó liền, tôi phải đến chố Đức trọ để bảo vệ Đức vì Đức không biết tiếng Khmer.
    Đêm đó tôi nói với Đức là : “Anh sẵn sàng hy sinh tính mạng của mình để bảo vệ chú, chú cần phải được sống để lãnh đạo phong trào đấu tranh. Chú nên sớm thành lập đảng để chúng ta chính công bố cho thế giới biết là đảng của chúng ta đã được ra đời để được cộng đồng trong nước và quốc tế ủng hộ ”.
    – Anh không hiểu về luật thành lập đảng. Anh có biết bao nhiêu % dân số ủng hộ thì mới được thành lập đảng không ?  Lê Sỹ Đức nói và hỏi lại tôi.
    – Thế theo luật thì bao % dân số ủng hộ thì mới được thành lập 1 đảng chính trị ? Tôi hỏi.
    – Ít nhất phải có 10% dân số ủng hộ thì được thành lập đảng, Đức trả lời.
    – Thế ở Cambodia đảng nhân dân cách mạng của Hunsen ( tức CPP) đã chiếm 60% dân số ủng hộ. Chỉ còn lại 40% chia cho 38 chính đảng thì mỗi đảng được bao nhiêu phần trăm dân số ủng hộ ?  Tôi hỏi.
    – Luật của Cambodia nó khác với luật của CSVN.  Đức nói.
    Lúc bấy giờ tôi có hiểu biết gì về luật của CSVN hay luật quốc tế gì đâu và tôi cũng đâu có biết chuyện Hồ Chí Minh thành lập ra đảng cộng sản Đông Dương ở sân bóng tại Ma Cao bên Trung Quốc chỉ có ba người, cho nên tôi cũng tin là Đức nói có lý.
    Quá nửa đêm Đức hỏi tôi : Anh có muốn ăn hủ tiếu hay nhậu không ? (cái khoản rượu, trà, thuốc, cờ bạc, gái gú và đào mỏ thì Sỹ Đức là số một).
    – Giờ này thì kiếm đâu ra rượu và hủ tiếu ?  Tôi hỏi.
    – Anh có tin là em chỉ cần một cú điện thoại là có ngay em út mang thuốc lá thơm, rượu và hủ tiếu để ăn anh có tin không ?  Đức hỏi tôi.
    Thế là Đức nhấc điện thoại Alô, khoảng 15 phút sau thì một cô gái xinh xắn tuổi khoảng 22 – 23 với nước da trắng ngần mang thuốc lá ba số 5 và hủ tiếu cho tôi và Đức ăn và cô ta ngủ với Đức đêm đó.
    Sau này tôi thấy hầu hết các nữ học trò của Đức đều trồng cây si ở nhà Đức và dâng hiến trinh tiết cho Đức. Mà hắn thì bạc như vôi, hắn chỉ mê cờ bạc, trai gái, nhậu nhẹt và đào mỏ thôi.
    Khi vợ tôi bị bệnh nặng mà bệnh viện của Hội Việt Gian không phát hiện được bệnh gì thì Đức giới thiệu tôi đến phòng mạch của bác sỹ Phương là vợ bé ông Bích là lãnh sự quán Việt Nam chi nhánh ở tỉnh Kompongsom.
    Ít lâu sau Đức giới thiệu tôi đến trị bệnh đau lưng ở chỗ bà Nhạn, chữa bệnh bằng phương pháp mát sa và vật lý trị liệu. Tại đây tôi gặp cô Ngân sinh 1969 là người Hà Nội và ở cùng với bà Nhạn, nhưng cô Ngân này không có làm gì cả. Sau vài lần tâm sự, cô Ngân đã cho tôi địa chỉ của anh Hùng làm giám đốc công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) Thương mại ở ngay chợ Olimpic quận Chomeamon, rồi nói “Anh đến đây mà kiếm việc làm ”.
    Tôi tìm tới Công ty của anh Hùng để kiếm việc làm thì được anh Hùng cho biết : “Công ty của chúng tôi là công ty TNHH của Việt Kiều của các nước Anh, Pháp, Mỹ, Canada. Chính tôi là chủ của tờ báo Bình Minh nhưng hiện nay chúng tôi tạm ngừng chưa tiếp tục ra số báo mới được”.
    Tôi nghĩ trong đầu “Đây đúng là tổ chức chính trị của đảng nhân dân hành động hay là tổ chức phục quốc nào đây ”.
    Nghề làm báo cần phải biết được hai điều đó là viết cho ai và ai cho viết, biết được hai điều đó thì sống. Tôi cũng đã đọc cái tờ báo lá cải của anh rồi ( tức Báo Bình Minh) đọc buồn ngủ lắm. Thôi để tôi giới thiệu bạn bè của tôi dã từng du học ở Ý và Tiệp Khắc về viết báo cho anh. Tôi nói.
    – Ai vậy ?  Hùng hỏi.
    – Anh Phim, anh Sáu bụng và Đức. Tôi trả lời
    – Có phải Đỗ Trí Phim kỹ sư cơ khí không ?  Hùng hỏi
    – Sao mà anh biết Đỗ Trí Phim ?  Tôi hỏi.
    – Thì những người quan tâm tới chính trị thì biết chứ sao. Hùng trả lời.
    Tôi về báo tin vui với Đức là đã tìm được đường dây liên lạc với các tổ chức chính trị ở hải ngoại, thì Đức quá mừng. Đức và anh Tư vội vàng tức tốc tìm đến gặp Hùng giám đốc.
    Khi Đức và anh Tư gặp mặt Hùng giám đốc thì anh Tư mới té ngửa ra là “Hùng biên thuỳ” chính là trùm mật vụ của CSVN nằm vùng tại Phnompenh và anh Tư chạy mất dép…
    Anh Tư về tới nhà nói với tôi là : “Tùng đã đưa anh em chúng tôi vào hàng ổ của cộng sản VN. Tên này là “Hùng Biên Thuỳ”, hắn là trùm mật vụ ở Phnompenh – cấp bậc trung tá hắn đã từng đóng giả vượt biên và nằm ở trại tị nạn đồng thời cùng đi họp Đảng nhân dân hành động với chúng tôi ở Thái Land. Chính Hùng Biên Thuỳ nó đã trực tiếp tham gia bắt 27 người của Đảng nhân dân hành động tại Phnompenh cuối năm 1996.”
    Thôi đã lỡ leo lên lưng cọp rồi thì vào hàng bắt cọp luôn. Lê Sỹ Đức nói như vậy.
    Bây giờ tôi sơ qua đôi nét về cô Ngân để quý vị và bạn đọc suy ngẫm xem cô Ngân là ai.
    Cô Ngân sinh năm 1969, không rõ địa chỉ quê quán. Tôi chỉ được nghe cô ta nói là quê ở Hà Nội và mới sang đây chơi và tính chuyện làm ăn lâu dài ở bên này. Cô ta già, xấu xí, không biết tiếng Khmer, tiếng Anh, không nghề nghiệp và không hề thấy làm gì, suốt ngày ăn rồi với đi chơi khắp Phnompenh với điện thoại di động gọi suốt ngày cho những ai đó rất bí ẩn và kín đáo.
    Tại sao cô ta không giới thiệu tôi đến chỗ nào khác mà lại giới thiệu cho Hùng Biên Thuỳ, trong khi đó tôi không hề hỏi han gì đến chuyện kiếm việc làm ?  Mà khi tôi đến với Hùng Biên Thuỳ cũng không hề có việc làm. Phải chăng thị Ngân, Lê Sỹ Đức và Hùng Biên Thuỳ đều là mật vụ của CSVN được cài sang đây để theo dõi từ xa các tổ chức đối kháng với chế độ độc tài CSVN ở trong nước ???
    Vào khoảng tháng 6 hay tháng 7/2003 Đức đến cao uỷ tị nạn LHQ để đổi giấy bảo lãnh của Cao uỷ tị nạn LHQ hàng tháng (LHQ họ chỉ cấp giấy bảo lãnh có giá trị một tháng) thì một người đàn ông tên là Hân, tuổi ngoài 50 làm quen với Đức. Anh ta nói với Đức là : “Tôi là Việt kiều ở Apganixtan chạy tị nạn sang đây. Vội vàng chạy không kịp đem theo thứ gì, chỉ có mang theo được cuốn kinh Coran thôi ”.
    Hân ăn ở mấy ngày ở nhà Đức và tôi cũng có đến trao đổi với Hân được hai lần.
    Cuối cùng Hân nói thẳng với Đức, Hân là mật vụ của CSVN. Hân cũng luận điều như Hùng Biên Thuỳ : “Anh thương chú, không muốn bắt chú đâu”.
    Hân mượn chiếc xe máy Nhật cũ của Đức nhưng không trả lại. Đến khi Đức đòi Hân thì Hân nói là : “Nếu đòi thì Hân sẽ bắt Đức và đưa về Việt Nam”.  Thế là Đức đành phải ngậm đắng nuốt cay với Hân.
    Đến cuối tháng 10/2003 Đức giới thiệu vợ tôi đến làm cho bà Chính chủ dừa trái cây ở chợ Xadamkol.
    Đức thì dạy tiếng Anh cho con gái bà Chính, còn Hùng Biên Thuỳ thì suốt ngày cặp kè bồ bất chính với bà Chính. Tại sao tôi lại khẳng định là bất chính. Bởi vì Hùng Biên Thuỳ đã có vợ con ở trong nước, sang Cambodia lại lấy một bà vợ nữa tên là Vân làm nghề buôn bán mũ nón ở chợ Olimpic. Sau khi bà Vân lấy Hùng Biên Thuỳ thì Hùng Biên Thuỳ mua cho bà Vân một căn hộ 50 m2 ở tầng 2 gần chợ Olimpic ở thủ đô Phnompenh và từ đó Vân đã chở thành bà chủ buôn bán sỉ chứ không còn buôn bán lẻ nữa. Hơn nữa là bà Chính cũng đã có chồng ở Việt Nam.
    Hùng Biên Thuỳ nói với Đức là : “Bảo vợ Tùng cấm không được tiết lộ cho bà Chính trái cây biết là bà Vân bán quần áo mũ nón ở chợ Olimpic là vợ của anh và không cho bà Vân biết là anh có quan hệ với bà Chính trái cây”.
    Có lần Hùng Biên Thuỳ dúi tiền cho Đức bị vợ tôi phát hiện và vợ tôi buột miệng kể với bà Chính, đồng thời cũng cho bà Chính hay là Hùng Biên Thuỳ có vợ là bà Vân buôn bán quần áo ở chợ Olimpic. Còn Đức là một thằng đào mỏ và lôi kéo chồng em hoạt động chính trị để chống lại cái chính quyền cộng sản độc tài Việt Nam hiện nay. Mà anh Hùng thì lại là trùm mật vụ của CSVN, nên em lo lắng cho chồng em quá. Chị nói với anh Hùng là đừng bắt chồng em nhé ?
    Thế là đến tai Đức bởi bà Chính nói với Hùng Biên Thuỳ. Một buổi tối Đức đến nhà tôi hỏi chuyện vợ tôi.
    – Có phải chị nói với bà Chính là anh Hùng cho tôi tiền phải không? Đức hỏi.
    – Có. Vợ tôi trả lời
    – Sao chị lắm mồm hay mách lẻo thế ?  Đức hỏi.
    – Thì có sao thì chị nói vậy chứ chị có nói sai đâu. Vợ tôi nói
    – Còn anh nữa, anh có nói với vợ chồng ông Hoà là tôi nói tiếng Anh không được chuẩn không ?  Đức hỏi.
    – Có, đúng như thế. Tôi trả lời.
    – Cho dù tôi nói không chuẩn thì ông cũng phải nhớ rằng tôi cũng là thầy của ông. Đức nói.
    – Cho dù có là bố của anh mà nói sai thì anh cũng nói là bố nói sai, tính nết của anh là ăn thật nói thẳng, không quen nịnh bợ. Tôi nói.
    Đức mắng nhiếc vợ tôi một hồi lâu rồi bỏ ra về.
    Ba ngày sau cũng vào buổi  Đức mặt hầm hầm vào nhà tôi và nói :
    – Hôm nay tôi với ông là đối thủ của nhau chứ không còn là anh em gì nữa. Đức nói.
    – Có gì thì cứ ngồi xuống đây uống nước đã và từ từ nói chuyện cho có đầu có đuôi xem nào. Nếu sai đâu thì anh chầu đấy, có gì mà phải lớn tiếng. Tôi nói.
    – Tôi nói ông là thằng cộng sản nằm vùng. Ông đã bán tin cho cộng sản với giá mười USD một tin làm cho cộng sản nó bắt hết người trong tổ chức của tôi. Đức nói.
    – Chú có còn nhớ từ buổi đầu chú lang thang đói khổ, anh đã phải nhịn ăn nhịn hút để cưu mang chú không ?  Chú có nhớ những lần chú mượn tiền của vợ anh nhưng không trả làm vợ anh nó nhăn nhó sau đó anh lại phải đưa tiền cho chú để chú trả nợ anh không ?   Tôi hỏi.
    – Cái chuỵên ngày xưa thì tôi không quên ơn của ông nhưng bây giờ ông đã phản bội. Đức nói.
    Vợ tôi xen vào cũng may hôm đấy cháu Lê Văn Tự của tôi nó đi chơi không có nhà chứ nó có nhà thì lại đánh nhau to.
    – Có cái gì thì anh em từ từ nhẹ nhàng giải quyết chứ làm sao phải la lối om sòm như thế. Vợ tôi nói.
    – A cái con kia, mày câm mồm ngay, chính mày là người lắm chuyện gây lên chuyện rắc rối. Đức đổi giọng nói.
    – Trời sinh ra cái mồm để mà nói, mày có quyền gì cấm tao nói ?  Vợ tôi trả lời.
    – Đức xông ra bóp cổ vợ tôi thế là tôi cũng xông vào đẩy thằng thất đức (Đức) ra. Thế là thằng thất đức xô đẩy tôi và nói rằng :
    – Mày có tin là tao bắn chết mày không ?  Đức hỏi.
    – Ở cái đất Cambodia này thì cứ thằng nào đâm được trước, bắn trước và chạy thoát được ra khỏi nhà là thằng đấy thắng, có ai điều tra gì đâu mà tin với không tin. Mày muốn bắn, muốn giết tao thì cứ giết, nhưng mày cứ hãy bình thĩnh hãy ngồi xuống đây để tao phân tích đã. Tôi nói.
    Tổ chức của mày, do mày cầm đầu có đúng không ?  Ngoài mày ra và anh Đỗ Trí Phim, anh Sáu bụng và anh Tư thì tao không hề biết ai nữa có đúng không ?  Tổ chức của mày hoạt động như thế nào, ở đâu chưa bao giờ mày cho tao biết có đúng không ?  Mày là người cầm đầu và các anh Phim, Tư, Sáu bụng không có ai bị bắt đúng không ?  Thế thì những ai bị bắt ?  Tại sao đệ tử của mày bị bắt mà mày vẫn còn được ở đây để đòi giết tao ?
    Nếu giả sử tao có bán tin của mày với cái giá mười USD một tin cho CSVN như chính miệng mày nói thì bao giờ cho đủ cái số tiền mà tao nuôi cái tổ chức ma của mày đây ? Hơn nữa nếu tao là công an của cộng sản VN mà tao lại chịu để cho mày còn đứng được ở đây để đe doạ bắn tao được sao ?  Tao không bắn bể đầu hay xích cổ mày được sao ?
    Tất cả những người này mày đều đưa đến giới thiệu cho tao và bắt tao phải giúp đỡ là thế nào? Rồi là mày đưa tao đến chỗ bà Nhạn để tạo cơ hội cho con nhỏ Ngân làm quen với tao và nhỏ Ngân lại giới thiệu tao đến Hùng Biên Thuỳ. Rồi sau đó để tao giới thiệu mày đến Hùng Biên Thuỳ để cho anh em nghĩ tao là thằng CSVN có đúng không ?
    Mày kết tội tao là CSVN nằm vùng nhưng mày không đưa ra được bằng chứng thuyết phục nào cả.
    Có phải mày căm tức tao, thứ nhất là do vợ tao tiết lộ cho bà Chính biết là thầy của mày có nhiều vợ và chính mày là cái thẳng đào mỏ và từ đấy mày không đào mỏ được bà Chính trái cây nữa.
    Hai là tao cũng biết rõ cái mặt mày là một thằng hoặc là cộng sản hoặc là lưu manh giả danh chính trị dân chủ để thu hút và làm hại những người yêu nước chân chính như tao phải không ?  Cho nên mày mới đến đây để trả thù và các anh Phim, Tư, Sáu bụng rằn mặt vợ chồng tao để tao cùng vợ tao khỏi phanh phui cái bộ mặt lưu manh của mày ra có phải không ? Tôi hỏi một thôi một hồi như vậy. Sau đấy :
    Mày là thằng cộng sản nòi, tao nói cho mày biết cái miệng vợ chồng mày cứ bép xép thì có ngày tao bắn cho bể đầu. Tên Đức đe doạ tôi.
    Sau khi bị tôi dồn cho một hồi không còn đường nữa cãi lý được nữa, thua mẹ thì gỡ bài cào. Cuối cùng nó nói tôi là thằng Việt Nam cộng sản nòi và chống trả yếu ớt đồng thời cài số lui ra về.
    Từ đấy tôi rất là khổ tâm, anh em cùng có một lý tưởng đấu tranh chống lại chế độ độc tài CSVN ở bên đó thì tạm thời tin vào thằng thất đức nói tôi là “cộng sản nòi” và không chơi với tôi nữa. Còn cộng đồng Việt kiều ở Cambodia đặc biệt là dân Bắc sang đây làm ăn hoặc là bộ đội CSVN cũ trước đây đã từng chinh chiến ở xứ xở này. Thế nhưng họ quá nghèo khổ không thể trở về quê hương bản quán cũ ở Việt Nam nữa, thì hầu như tất cả đều nhìn tôi bằng nửa con mắt, vì họ cho rằng tôi chống lại chế độ độc tài đảng trị này là phản bội tổ quốc và đất nước, dân tộc !!!???  Tôi buồn cười cho họ là vì quá dốt nát nên họ đánh đồng ĐCSVN đang thống trị độc đoán ở trong nước cũng chính là tổ quốc, là đất nước, là nhân dân, dân tộc Việt Nam ???!!! Chỉ còn lại ít người bị chế độ cộng sản Việt Nam độc tài ngược đãi phải chạy tị nạn sang đây là yêu mến tôi thôi. Cho nên công việc làm ăn của tôi gặp rất nhiều khó khăn, đôi khi còn nguy hiểm tới cả tính mạng nữa.
    Khoảng 1 tháng sau thì tên thất đức nhắn tin với vợ chồng thầy Hoà cô Huê là ban chuyên giáo của tôi rằng : “Giận vợ chồng Tùng nhưng vẫn còn thương, bào Tùng có muốn làm việc trong Hoàng Cung Sihanouk không, nếu muốn thì bảo đến em, em xin cho ? ”.
    Tôi trả lời với thầy Hoà, cô Huệ rằng: Không bao giờ tôi thèm nhờ cái thằng thất đức ấy. Tôi không thù nó nhưng tôi đã bị nó phản bội một lần rồi thì không bao giờ tôi chấp nhận kết bạn với nó một lần nữa. Tôi coi đây là một nghiệp chướng, kiếp trước tôi mắc nợ nó và bây giờ tôi đã trả hết nợ với nó.
    Đến khoảng tháng tư, tháng năm năm 2004 gì đó thì tên thất Đức này nó còn lừa được cả Cao uỷ tị nạn HCR của LHQ để đi định cư ở Canada. Sau đó nó còn đưa được cả Hùng Biên Thuỳ trốn sang Canada nữa đấy.
    Tên thất Đức nó đi Canada thì tôi biết chính xác còn thông tin Hùng Biên Thuỳ đi Canada thì do Đỗ Trí Phim cung cấp mà anh Đỗ Trí Phim này thì chúng tôi thường gọi anh ta là “Phim đếm chim trên trời” và CSVN liệt vào danh sách “Thần kinh không ổn định” cũng khá là chính xác.
    Đỗ Trí Phim còn nói : “Sau khi Hùng Biên Thuỳ bị phát hiện thì Hùng Biên Thuỳ phải chuồn gấp về VN”. Nguồn thông tin do Đỗ Trí Phim cung cấp thì cần phải xác minh lại ”.
    Sau khi tôi viết bài tựa đề là : “Cuộc gặp gỡ giữa Lê Ái Quốc và Lê Trí Tuệ ở thủ đô Cambidia ngày 6/5/2007 ”, thì những người thân của tôi ở tại Phnompenh cho hay là Lê Sỹ Đức đã về thăm Phnompenh rồi đã đi Nhật Bản ngay. Sau đó mấy ngày bài báo trên của tôi được phổ biến trên Mạng internet toàn cầu thì khoảng vào ngày … tháng 6 năm 2008 này, tôi không còn nhớ chính xác ngày, giờ cụ thể nữa có một số điện thoại từ Nhật Bản đã điện vào số máy của tôi 04 – 2189 – 645 có hiển thị số máy từ mã vùng quốc gia của Nhật Bản. Khi tôi nhấc máy để nghe nhưng ở đường dây bên kia không nói, tôi “có A lô, xin chào” thế rồi bị cúp luôn không còn tín hiệu gì nữa.  Tôi đoán chắc chắn có lẽ tên Lê Sĩ Đức từ Nhật Bản đã gọi cho tôi để kiểm tra xác minh xem có phải thực là tôi đã viết bài bạch hoá một phần sự thật về bộ mặt thật của tên Việt Gian cơ hội chính trị mang bản chất lừa đảo rất có nghề, vừa vô nhân tính, vừa gian trá xảo quyệt nham hiểm. Và đặc biệt rất có thể trong giai đoạn cuối chính hắn đã được cơ quan mật vụ của bộ máy an ninh CSVN bên Cambodia đã tuyển mộ để rồi từ đây y được đánh đi để cài sâu vào hàng ngũ những phong trào đối kháng của đồng bào hải ngoại với âm mưu để phá hoại công cuộc đấu tranh dân chủ của chúng ta từ bên ngoài chăng ?
    Qua hồi ký của tôi, mong các quý vị và mọi bạn đọc xa gần trên địa cầu hãy tìm ra câu trả lời  thực sự đúng đắn nhất về nhân vật Lê Sỹ Đức và cô Ngân là những ai  nhằm đưa chúng ra ánh sáng. Và cũng yêu cầu chính phủ các nước sở tại đã chót cho chúng định cư phải trục xuất ra khỏi lãnh thổ của họ ngay tức khắc tránh hậu hoạ chung do mật vụ CSVN gây ra với cộng đồng người Việt hải ngoại và cho ngay cả với đất nước dân chủ tự do mà chúng đang lẩn lút để hoạt động bất minh !!!
    Viết xong tại Hà Nội, từ ngày 17 – đến 24  tháng 10 năm 2008
    Cựu quân nhân tình nguyện Lê Thanh Tùng
    Địa chỉ nhà ở hiện nay : Khối 13, Phố Chợ, thị trấn Phù Lỗ, huyện Sóc Sơn, ngoại thành Hà Nội
    Số điện thoại cố định : 04 – 2189 – 645
    Email : aiquocle@gmail.com
  • Tạp ghi

    Những bí ẩn về Nguyễn tấn Dũng – Võ văn Kiệt

    Những bí ẩn về Nguyễn tấn Dũng – Võ văn Kiệt
                                      Hoàng Dũng, Cán bộ VPTƯ, 09/10/2006
    Sau ngày 30/04/1975 tôi được phân công nhiệm vụ kiểm soát việc tiêu hủy những thứ mà lúc ấy được người ta gọi là “văn hoá phẩm đồi trụy”. Sài gòn những ngày ấy còn hỗn loạn, bề bộn, lòng người thì hoang mang, bất ổn. Song trong mắt bọn chúng tôi – những kẻ chiến thắng vừa từ rừng núi tiến vào –Sài gòn đúng thật là “hòn ngọc viễn đông”.Nhà cửa thành phố hiện đại, hàng hoá nhiều vô kể, đặc biệt là sách báo, tranh ảnh, băng đĩa và những thứ sản phẩm bị coi là“tàn dư của chế độ cũ”.
    Lúc ấy chúng tôi được ủy ban quân quản bố trí ở tại một ngôi biệt thự bỏ hoang ở khu Phú Thọ. Mặc dù là bỏ không nhưng thật ra đây là một biệt thự mới tinh chưa có người đến ở, chủ nhà có lẽ là một người giàu có, xây dựng mới xong thì bộ đội giải phóng vào nên có thể đã đi di tản hoặc không dám đến nhận nhà. Ngôi nhà có tới 13 phòng, mỗi phòng đều có trang bị đồ dùng đầy đủ và rất sang trọng. Một số những chiến sĩ trẻ lúc ấy thích đọc truyện tranh, truyện tuổi hoa niên thì mang về đầy phòng đủ các loại sách truyện từ Tây Du ký, Tam Quốc chí, đến cả Đát Kỷ- Trụ Vương, rồi chuyện kiếm hiệp không biết cơ man nào. Đối với những người sống ở miền Bắc nghèo khó và những người bao năm hoạt động ở trong rừng núi thiếu thốn thì đúng quả làbị choáng ngợp với các loại sách báo Sài Gòn ngày ấy.
    Trong công việc hàng ngày tôi cũng thỉnh thoảng lần giở xem xét một số những cuốn sách cũ, một số tiểu thuyết lịch sử để hiểu thêm về chế độ Việt Nam Cộng Hoà, đặc biệt nhiều nhất là sách viết về nền đệ nhất cộng hoà như cuốn “Bên giòng lịch sử” của linh mục Cao Văn Luận, hay “Những ngày chưa quên” … Lúc ấy việc đọc sách chẳng qua cũng chỉ để cho dễ buồn ngủ vào mỗi buổi tối chứ thật ra cũng chẳng có ý nghĩa gì. Chúng tôi đều cho rằng đó là những sách báo nhảm nhí, viết không đúng sự thật. Một cuốn sách hình như có tựa đề là “Những bóng ma trong hồng trường” viết về những câu chuyện thâm cung bí sử trong Quảng trường đỏ thời Xô viết, nói về chuyện dâm ô, loạn luân của các lãnh đạo Xô viết, lúc bấy giờ đọc những chuyện ấy chỉ xem như những chuyện tiếu lâm, những hư cấu không có thật, chứ tuyệt nhiên không thể tin được.
    Thế rồi thời gian thấm thoát trôi qua với bao nhiêu biến chuyển, đổi thay của xã hội. Sài Gòn ngày ấy bây giờ chỉ còn trong ký ức của mỗi con người mà đã gắn bó, đã trải qua vào những giai đoạn lịch sử ấy. Tôi cũng đã luân chuyển qua nhiều vị trí, công việc khác nhau. Trong quá trình công tác tôi có may mắn được làm việc một khoảng thời gian ngắn với cố Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh. Khoảng thời gian này không dài nhưng lại là khoảng thời gian rất quý báu đối với tôi bởi vì đã học được nhiều điều và hiểu được nhiều điều từ cơ quan quyền lực cao nhất, từ người đứng đầu bộ máy lãnh đạo Việt nam. Trong đó có những câu chuyện mà qua hàng chục năm giữ kín, “đào sâu chôn chặt”, suy xét, kiểm nghiệm đến ngày hôm nay mới dám nói ra, bởi vì nó có liên quan đến những con người và hoàn cảnh lịch sử của đất nước ta trước đây, ngày hôm nay, và có thể nó sẽ ảnh hưởng đến tương lai dân tộc ngày mai.
    Trước khi giữ chức vụ Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt nam  Nguyễn Văn Linh đã từng hoạt động và làm việc tại miền Nam gần 50 năm (vào Sài Gòn hoạt động từ 1939), và đã từng đảm nhiệm hầu hết các chức vụ lãnh đạo cao nhất tại miền Nam trước và sau chiến tranh. Vì thế dù sinh trưởng trên quê hương Hưng Yên miền Bắc nhưng ông đã thực sự như một người con của Nam bộ. Đến khi lên giữ chức Tổng bí thư  Nguyễn Văn Linh vẫn rất thường xuyên làm việc tại Sài Gòn, sinh hoạt rất giản dị, khiêm tốn và kín đáo. Ông ở trong khu vực riêng của Ban quản trị tài chính Trung ương, gọi là T78, khu vực này là một đoạn đường Trần Quốc Toản được đơn vị cảnh vệ ngăn lại hai đầu phố tiếp giáp với đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa và đường Trần Quốc Thảo, thành một khu vực riêng biệt, có lối ra thông với đường Lý Chính Thắng (sau này mở thêm khách sạn Dạ Lý Hương). Có những hôm ông vẫn xuống ăn cơm chung với cánh cán bộ chúng tôi ở nhà ăn tập thể cũng nằm trong khu vực này, ông ăn uống đơn giản và không đồng ý có thêm bất cứ chế độ đặc biệt gì phục vụ.
    Hồi ấy phương tiện đưa đón ông chỉ là loại xe Vonga đen của Nga sản xuất, mỗi lần xe của ông đi thì trước đó lại có mấy cậu cảnh vệ mặc thường phục ngồi sẵn trên mấy chiếc xe Honda 67 “xoáy nòng” bí mật chạy trước chạy sau để xem xét, bảo vệ, chứ không phải dùng xe Police “còi hụ” hay xe “bồ câu trắng” bảo vệ như các cán bộ lãnh đạo sau này. Thế mà có lần tôi còn nghe ông nhắc anh lái xe “chạy chậm chậm một tí không mấy cậu bảo vệ phải đuổi theo lại đụng vào dân thì khổ”, ông biết và quan tâm đến tất cả những chuyện nhỏ như thế.
    Tôi còn nhớ, vào khoảng năm 1988 có lần phải xuống làm việc với đặc khu ủy Vũng tàu (lúc ấy Vũng tàu vẫn còn là đặc khu Vũng tàu-Côn đảo), làm việc xong vào cuối buổi chiều ông lại muốn đi tắm biển một chút cho khoan khoái. Thế là đám cán bộ địa phương và lực lượng bảo vệ lại phải cuống quýt lo bố trí địa điểm kín đáo, an toàn. Đến khi ông xuống tắm lại phải bố trí hàng chục cán bộ bảo vệ cùng tắm quanh khu vực, thậm chí có người không kịp chuẩn bị đồ tắm đã phải mặc cả đồ lót đi tắm và mặc luôn đồ ướt đi về. Sau khi biết chuyện ấy ông mới tự trách : biết các cậu phải lo lắng kỹ lưỡng như vậy thì tôi tắm luôn trong phòng cho xong.
    Những ai đã sống trong thời điểm đó thì chắc đều không thể quên được chuyên mục “Những việc cần làm ngay” của ông viết ký với bút danh N.V.L. Ngay từ khi những sự việc được báo chí đăng tải ông đã trực tiếp đôn đốc hoặc phân công cho những cán bộ trực tiếp phụ trách theo dõi và phải hàng ngày báo cáo kết quả công việc cho ông biết. Đúng theo tinh thần “Nói Và Làm”.
    Tiếc rằng lãnh đạo đất nước ta từ đó đến nay đã không xuất hiện thêm một ông “Nói Và Làm” nào nữa . Tôi vẫn thường nghĩ rằng nếu các lãnh đạo sau này và các lãnh đạo chính quyền cấp dưới có được quan điểm làm việc, đạo đức và cách sống như ông thì chắc rằng người dân Việt nam sẽ có được cuộc sống no đủ và công bằng hơn rất nhiều.
    Vào khoảng thời gian trước khi về nghỉ, có lẽ nhận thấy sức mình không thể làm thay đổi được cả một bộ máy, một cơ chế cồng kềnh và bảo thủ, cũng lại do hiểu được tính bè phái và sự lộng quyền của những kẻ lãnh đạo cơ hội trong Đảng, ông càng trở nên trầm tư hơn. Nếu ai có điều kiện lui tới gặp ông tại nhà riêng thời gian này sẽ nhận thấy sự thất vọng và u uất thể hiện rõ trên khuôn mặt và thái độ của ông. Ngoài quan hệ công việc tôi lại có quan hệ rất thân tình với cô Bình (Nguyễn Thị Bình) con gái ông, tôi quen Bình từ lúc còn đang học ở Liên Xô, Bình cũng rất quý tôi, coi tôi như người anh . Có lẽ cũng vì thế mà mỗi lần tôi đến nhà ông chơi hay có công việc gì đều thấy tự nhiên như người nhà.
    Sau này khi Nguyễn Văn Linh thôi giữ chức Tổng bí thư Đảng, tôi không còn được làm việc với ông nữa, nhưng thỉnh thoảng có dịp ra vào công tác tôi vẫn ghé thăm ông, hoặc là ghé thăm Bình, vài tháng một lần. Mỗi lần gặp ông lại hỏi thăm tình hình công việc, tình hình tổ chức nội bộ, tình hình các địa phương. Ông tỏ thái độ than phiền với những người kế nhiệm và đặc biệt kêu ca về khâu tổ chức cán bộ và quy hoạch lãnh đạo cao cấp.
    Vài năm sau đó nữa, lúc này sức khỏe của ông tỏ ra đã yếu hơn trước rất nhiều, ông ít đi lại hơn. Một buổi tối tôi đến thăm, thấy ông có vẻ không được khỏe, tôi không dám nói chuyện nhiều, sau khi hỏi thăm ông vài câu tôi định đứng dậy ra về, nhưng ông bỗng khoát tay ra hiệu bảo tôi hãy ở lại chơi và sau đó lại kéo tôi vào buồng trong. Tôi hiểu là ông muốn trao đổi một chuyện gì đó, chắc là quan trọng hơn.
    Vừa ngồi xuống là ông hỏi ngay : mấy hôm nay cậu có theo dõi vụ Tổng công ty Tracodi mà báo chí vừa đưa tin không ?
    Tôi đáp : Dạ, có biết chứ ạ! Nhưng cũng chưa rõ lắm đúng sai thế nào ?
    Ông lại quay sang hỏi : Thế cậu có biết cái tay
    Tổng Giám đốc Phan Thanh Nam là người như thế nào không ?
    Tôi chợt hiểu ra có điều gì đó quanh vấn đề này, thời gian trước đó đã có dư luận xôn xao quanh chuyện Phan Thanh Nam là con rơi của Thủ tướng Võ Văn Kiệt, cánh cán bộ văn phòng chúng tôi đều có nghe nhưng vẫn không biết thực hư thế nào, nên cũng chỉ coi như một tin đồn nhảm.
    Bỗng ông ghé sát gần tôi và nói : Những chuyện này mà tao không nói cho các cậu thì sau này sẽ chẳng có ai được biết đến nữa.
    Thế là bỗng nhiên tôi trở thành một nhân chứng để ghi nhận những sự kiện ghê ghớm thế này, những sự kiện đã gắn liền với lịch sử Cách mạng Việt nam nhưng không bao giờ được chép trong sử sách và nó là một bộ mặt thật hoàn toàn khác với những gì mà nhân dân được biết về lãnh đạo Việt nam, nhất là về lãnh tụ tối cao nhất: Hồ Chí Minh, con người mà bản thân tôi cũng từng ngưỡng mộ và tôn kính từ khi còn rất bé.
    Theo ông Nguyễn Văn Linh kể thì Bộ chính trị lúc bấy giờ, (tất nhiên đứng đầu là Lê Duẩn và Lê Đức Thọ chỉ đạo, điều này thì sau này không ai là không biết), biết rằng bác Hồ đang gặp những thiếu thốn khó khăn về tình cảm cá nhân và tình dục sinh lý, vì không muốn nối lại mối tình duyên với người vợ cũ Tăng Tuyết Minh ở Trung quốc(đây là một câu chuyện có thật đã được phía Trung quốc công bố từ những thập niên 80, 90 của thế kỷ trước. Về việc này tôi lại nhớ về sự kiện bài báo “Bác Hồ có vợ ?” được đăng trên báo Tuổi Trẻ của tác giả Kiến Phước – Trưởng đại diện báo Nhân dân tại TP. Hồ Chí Minh, chính vì bài báo này mà sau đó Tổng biên tập báo Tuổi Trẻ là Nguyễn Kim Hạnh, cũng chính là vợ ông Kiến Phước, bị mất chức. Sau này có lần đến chơi với hai vợ chồng Kiến Phước – Kim Hạnh ở trên đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, cũng gần khu T78, nhắc lại chuyện này họ lại buồn và phản ứng ghê lắm). Do vậy sau đó Bộ chính trị có bí mật sắp xếp nhiều người phụ nữ khác để chăm sóc và phục vụ cụ Hồ về mặt sinh hoạt tình dục. Đặc biệt, từ thuở còn thanh niên bác Hồ đã có một mối tình với một người con gái miền Nam (sự thật này đã được nhà văn Sơn Tùng sưu tầm và công bố trong bài viết “đi tìm Út Huệ”), do vậy bác Hồ có một ấn tượng và ưa thích đặc biệt với những người phụ nữ Nam bộ ????. Biết thế nên Bộ chính trị đã chỉ đạo cho Trung ương cục miền Nam, mà lúc này Nguyễn Văn Linh là Bí thư Trung ương cục, phải kín đáo tìm kiếm trong số những cán bộ, du kích miền Nam, giao liên….một số cô gái còn trẻ, đẹp để đưa ra miền Bắc phục vụ cụ Hồ và các vị trong Bộ chính trị. Thời điểm đó thì Võ Văn Kiệt đang là ủy viên Trung ương cục được ông Nguyễn Văn Linh tin tưởng tuyệt đối và giao cho trực tiếp phụ trách nhiệm vụ ma cô kiếm gái đặc biệt này. Trong số các cô gái tuyển lựa được lúc đó đang chuẩn bị bố trí bí mật đưa ra miền Bắc, có một cô còn trẻ và rất sắc sảo họ Phan. Giữa lúc đó thì tình hình chiến sự đang diễn ra khá ác liệt nên không thể đưa các cô đi ngay được và rồi không hiểu thế nào mà ông Kiệt lại quan hệ dan díu với chính cô gái họ Phan kia. Đến lúc sự việc vỡ lở thì cô gái đã có thai được mấy tháng rồi. Thế là cô ta phải ở lại và cái bào thai đó chính là vị tổng Giám đốc Tracodi : Phan Thanh Nam sau này.
    Nghe đến đây tôi cảm thấy vô cùng sửng sốt và bỗng thấy rùng mình hết cả người. Rõ ràng người đang kể ra những sự việc đó là một người đã từng giữ trọng trách cao nhất trong Đảng cộng sản Việt nam, một người trong số vài ba người được biết rõ nhất, chính xác nhất về câu chuyện này, một người trong số vài ba người hiếm hoi biết được những chuyện thâm cung bí sử nhất trong Trung ương Đảng cộng sản, một người mà cái tuổi đã vượt quá ngưỡng “cổ lai hy” rồi . Như vậy không thể là nói thiếu chính xác hoặc vô căn cứ được, càng không thể là nói xấu tổ chức Đảng và lãnh tụ được. Như vậy những chuyện tày trời kia là có thật ư ?
    Tôi đang bần thần như người ngủ mê và còn chưa biết phải nói thế nào, ông Linh lại nói tiếp : … cũng không phải chỉ riêng có Sáu Dân đâu (bí danh của Võ Văn Kiệt), mấy ông tướng nhà ta cũng đầy con rơi ra đấy, còn thằng Ba Dũng là con Nguyễn Chí Thanh, rồi thằng Trần Nam là con Trần Văn Trà hiện đang làm bên Học viện lục quân ấy.
    Thế là ông lại kể cho tôi biết thêm những sự thật khác.
    Theo ông Nguyễn Văn Linh thì trong thời gian tướngNguyễn Chí Thanhlàm Bí thư liên khu ủy khu IV khoảng từ năm 1948 đến 1950 đã có quan hệ với một cán bộ phong trào ở đây và sinh raNguyễn Tấn Dũng,và ông còn cho biết là sau Nguyễn Tấn Dũng vẫn cònmột người em trai nữa cũng là con của tướng Thanh.
    Còn tướng Trần Văn Trà thì có quan hệ với một người phụ nữ quê ở miền Bắc (hình như là họ Hoàng, điều này tôi không còn nhớ rõ) rồi sinh ra Trần Nam, cũng là một sĩ quan quân đội đang công tác tại Học viện lục quân Đà lạt.
    Về Trần Nam thì hồi đó tôi không hề được biết một thông tin liên quan nào, chưa hề nghe đến danh tính. Rất gần đây tình cờ đọc báo về vụ công ty Rusalka của siêu lừa Nguyễn Đức Chi rồi hỏi thăm cán bộ ở dưới mới được biết Trần Nam chính là giám đốc công ty Lâm Viên thuộc Học viện lục quân – Bộ quốc phòng, có liên quan đến vụ án này.
    Sau buổi tối hôm ở nhà ông Nguyễn Văn Linh ra về tôi bàng hoàng và băn khoăn nhiều lắm. Như vậy những thứ được gọi là tư cách, đạo đức, mẫu mực của các lãnh đạo cao cấp của Đảng ta thật ra chỉ là những thông tin tuyên truyền thôi ư ?Và những kẻ bày ra những trò này chắc cũng không ngoài mục đích nhằm thao túng bác Hồ và thao túng cả Bộ chính trị ? Vậy thì đã có biết bao cô gái trẻ đã bị đánh mất tuổi thanh xuân và sự trinh trắng ở đó, và để đảm bảo tuyệt đối bí mật những thông tin này, dứt khoát phải có nhiều người đã bị thủ tiêu hoặc làm cho mất trí nhớ hoàn toàn. Như vậy những câu chuyện đồn thổi về những bóng ma trong quảng truờng Ba đình phải chăng cũng là có thật ? Thật bi thảm và khủng khiếp quá!
    Bắt đầu từ câu chuyện đó nên sau này tôi đã cố tìm hiểu thêm những thông tin khác liên quan đến Ba Dũng.
    Khoảng năm 2000, trong cuộc trò chuyện với một thiếu tướng Quân đội đã nghỉ hưu có quan hệ khá thân thiết với tôi, ông này có thời gian đã công tác tại liên khu IV và V, ông ta cũng lại khẳng định với tôi rằng Nguyễn Tấn Dũng chính là con của Nguyễn Chí Thanh.Hiện nay vị tướng này vẫn còn sống và là ủy viên của Hội cựu chiến binh Việt nam, để tránh gây phiền phức cho ông nên tôi không dám nêu danh tính cụ thể lên ở đây.
    Tôi đã tìm xem trong số những tài liệu lưu ở văn phòng có liên quan đến Nguyễn Tấn Dũng nhưng không thấy lộ ra chi tiết nào nói về chuyện này. Thế nhưng nhìn vào lý lịch và quá trình công tác của Ba Dũng rõ ràng có những điều bí ẩn sao đó. Ông ta chỉ là một cán bộ tầm trung bình, không có chuyên môn nghiệp vụ (thật ra được đào tạo làm y tá quân đội), trình độ văn hoá thấp, chưa được đào tạo cơ bản chính quy, không có thành tích đặc biệt, không có năng khiếu gì xuất chúng,thế nhưng lại có quá trình thăng tiến nhanh vượt bậc ( ?).
    Sau này, trong những lần làm việc với Nguyễn Tấn Dũng tôi lại càng thấy rõ những điều đó hơn và càng thất vọng rất nhiều. Quả là ông ta là một người năng lực rất kém. Về hình thức bề ngoài, từ trước đến nay ít có lãnh đạo Việt nam nào có được dáng dấp và khuôn mặt sáng láng như Ba Dũng, cái hình thức đó rất dễ làm cho những ai không biết tưởng rằng đó là một người rất thông minh, nhanh nhẹn. Thật ra tương phản với hình thức sáng láng đó là một não trạng rất tối tăm, dốt nát. Hồi mới về Trung ương có những lần nghe ông phát biểu mà mọi người đều không hiểu ông định diễn đạt điều gì, rất lủng củng, tối nghĩa, lại lúng túng, cụt lủn. Nhiều lần tham dự những cuộc họp do Ba Dũng chủ trì, tôi thấy ông ta không dám phát biểu gì, chỉ ngồi nghe các cơ quan cấp dưới phát biểu sau đó ông ta cũng chẳng dám có ý kiến kết luận gì cả. Phải trải qua năm, sáu năm “thực tập” ở cái ghế Phó thủ tướng thì ông ta mới tỏ ra là tự tin, biết chủ trì những cuộc họp lớn của cơ quan Đảng, Chính phủ, nhưng vẫn chỉ là cái kiểu nói lúng túng, nước đôi, nói hùa theo các ý kiến khác chứ không thấy tự tư duy được điều mới mẻ cả. Mặc dù có cả một cơ quan tham mưu giúp việc rất đồ sộ “mớm” cho từng văn bản, từng câu chữ nhưng mỗi lần phải “nói vo” anh ta đều phát biểu rất khó khăn, không có đầu đuôi gì cả. Suốt cả quá trình dài là người đứng đầu Chính phủ và phụ trách tất cả những mảng quan trọng nhất nhưng ông ta chưa làm được một việc gì đáng kể. Đặc biệt, Ba Dũng rất dốt ngoại ngữ, trong cuộc họp mà phát biểu những từ gì tiếng Anh thì toàn nói sai hoặc nói lung tung cho qua. Một con người năng lực yếu kém như vậy mà lại lên đến chức Phó thủ tướng, và nay là Thủ tướng Chính phủ thì quả là không hiểu nổi ? Quả là có một bí ẩn khủng khiếp!
    Một dịp may khác ngẫu nhiên đến để tôi được kiểm chứng thêm lời nói của ông Nguyễn Văn Linh. Đó là khoảng năm 2001, trong một lần tiếp xúc với lãnh đạo TP. Hồ Chí Minh tại ủy ban thành phố có một vị khách đến làm việc theo lịch đã hẹn, và tôi được giới thiệu người khách đó là Tư Thắng (Nguyễn Tiến Thắng), em ruột Ba Dũng. Người này nhìn bề ngoài giống hệt Ba Dũng, từ chiều cao, dáng người đến nét mặt, mái tóc và kể cả giọng nói, thậm chí kể cả cử chỉ, dáng điệu (Ba Dũng hay có thói quen hất cằm và khuôn mặt ra phía trước). TưThắng giống Ba Dũng đến mức chỉ nghe giới thiệu là có thể tin ngay rồi, chỉ khác một chút là nước da đen hơn Ba Dũng một chút và khuôn mặt có vài vết rỗ. Riêng về cách ăn mặc thì ngược hẳn với ông anh, phóng khoáng tự do, thể hiện là người không làm việc trong cơ quan chính quyền. Có lẽ đã nghe tên tôi từ trước, Tư Thắng chủ động tự giới thiệu trước và đưa danh thiếp có số điện thoại cho tôi (tôi vẫn còn giữ danh thiếp ấy và số điện thoại di động là 090845846, lúc ấy ĐTDĐ chỉ có 9 con số, hiện nay đều đã thêm số 3 nên sẽ là 0903845846), sau đó Tư Thắng còn mời tôi lúc nào rảnh rỗi thì đến chỗ anh ta chơi.
    Vì muốn tìm hiểu kỹ sự thật, có một buổi chiều sau giờ làm việc tôi đã lững thững đi bộ đến chỗ Tư Thắng. Theo địa chỉ Tư Thắng cho tôi biết thì đó là một căn nhà mặt tiền đường 3/2, gần ngã tư Cao Thắng (phía bên Nhà hát Hoà Bình), đó là một ngôi nhà lớn, vị trí rất đẹp, nhưng sau này tìm hiểu ra tôi mới được biết Tư Thắng có rất nhiều đất đai và biệt thự ở khắp các tỉnh Nam bộ, ngôi nhà này cũng chỉ là chỗ đi lại mà thỉnh thoảng ở Sài gòn Tư Thắng mới ghé qua. Chính vì Tư Thắng muốn nhờ tôi giới thiệu thêm với một số lãnh đạo để giúp cho các công việc làm ăn của anh ta, tôi mới được biết là có rất nhiều công ty nằm dưới tay anh ta, đa phần là công ty TNHH. Các công ty này đều chỉ dựa vào thế lực và các mối quan hệ của Ba Dũng để tham gia vào rất nhiều lãnh vực khác nhau như : tài chính, ngân hàng, bất động sản, thương mại, xây dựng, tham gia các dự án nhà nước … Điều làm tôi quan tâm nhất là anh ta có quan hệ với rất nhiều người Đài Loan, đặc biệt trong mạng lưới các chân rết của Tư Thắng có một ngân hàng Đài loan hoạt động chui tại Việt nam là First China Bank (một đàn em tin cậy của ông ta được giao phụ trách việc này cũng tên là Dũng có số ĐTDĐ là 0913950661). Như vậy có thể hiểu được đây chính là những “sân sau” của Ba Dũng, và để tránh đụng chạm với các thế lực khác cạnh tranh, anh em ông Ba Dũng đã nhằm vào địa bàn hoạt động chủ yếu ở miền Trung và Nam bộ, sau đó việc rửa tiền và chuyển ngân lậu được thực hiện qua ngả Đài loan. Liệu có thế lực nào khác và bàn tay của cơ quan tình báo Đài loan nhúng vào những chuyện này không ? Chưa ai biết được chuyện đó!
    Như vậy, đường đi và vị thế của ông tân thủ tướng Việt nam quả là có một quá trình đầy bí ẩn, đầy những bàn tay sắp đặt, chắc chắn đứng đằng sau ông ít nhất còn có hai người em là Nguyễn Tiến Thắng và Nguyễn Chí Vịnh (tổng cục trưởng Tổng cục tình báo quân đội, con trai chính thức được thừa nhận của tướng Nguyễn Chí Thanh)để lo thu xếp mọi việc từ tài chính đến an ninh chính trị.
    Lại cũng dễ hiểu khi con đường quan lộ của Nguyễn Tấn Dũng rộng mở song hành với sự thao túng và lộng quyền của Tổng cục hai trong tay Nguyễn Chí Vịnh (sự lộng quyền này, trong mấy năm gần đây có rất nhiều cán bộ cao cấp và cán bộ lão thành đã phản ánh đến các cơ quan Đảng). Nó là hai mệnh đề luôn bổ sung và giải nghĩa cho nhau. Từ mệnh đề đó có thể giải đáp được rất nhiều những câu hỏi khác. Sự liên quan và ràng buộc này nếu nhìn trên góc độ thực tế chắc chắn đã và sẽ gây ra những ảnh hưởng xấu đến tương lai của đất nước. Nhất là trong tình hình hiện nay hai căn bệnh lớn nhất tồn tại trong Đảng đang bị xã hội lên án rất gay gắt và là nguy cơ thật sự , đó là tham nhũng và tranh giành quyền lực.
    Nếu những căn bệnh này còn tồn tại, không được giải quyết triệt để, tập đoàn Dũng – Thắng – Vịnh sẽ đưa đất nước ta đến bờ vực thẳm nào ?
    Những sự việc ông Nguyễn Văn Linh đã kể lại cho tôi chắc chắn cũng phải còn ít nhất là một vài người khác được biết, thế nhưng cho đến nay vẫn chưa có ai dám công khai nêu lên. Trước thực trạng đầy bất ổn của tình hình chính trị đất nước cùng với tấm lòng cảm mến và kính trọng cố Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, tôi nhận thấy chính mình phải có trách nhiệm nói ra những điều này, tôi xin hoàn toàn đảm bảo về tính trung thực và chính xác của sự việc này. Tôi cũng mong rằng sau khi sự thật này được đưa ra ánh sáng thì sẽ có thêm nhiều bằng chứng khác của các vị lão thành Cách mạng, của những ai có may mắn được biết đến những sự việc trên sẽ bổ sung đầy đủ hơn để bạch hoá hoàn toàn những bí ẩn này.
    Thứ nữa, tôi muốn thông báo đến giới trẻ, những người chủ tương lai của đất nước được biết rằng : có rất nhiều những sự thật mà các bạn không có cơ hội được biết đến, mà lẽ ra trong xã hội hiện đại truyền thông đa phương tiện ngày nay các bạn cần phải biết tất cả những sự thật, những điều trắng đen rõ ràng để tự xây dựng cho mình những tư duy sống, những quan điểm tự nhiên chứ không phải những ý thức hệ bị cưỡng bức, những tư tưởng bị chỉ đạo.
    Cuối cùng, tôi muốn gửi thông tin này đến tất cả mọi người dân với mong muốn rằng nhân dân chúng ta đều càng ngày càng được cởi mở hơn trong tiếp nhận thông tin, tiếp nhận sự thật. Những sự thật lịch sử cần phải được tôn trọng và dần dần cần được giải mã trước công chúng. Những sự việc gây ảnh hưởng đến vận mệnh đất nước cần phải được minh bạch và công khai. Từ đó mỗi người dân cần có thái độ và đóng góp trách nhiệm của mình một cách rõ ràng trước những điều hệ trọng của đất nước. Nhân dân cần phải thay đổi thói quen chấp nhận để đời sống chính trị bị lệ thuộc bởi một cá nhân nào, một đảng phái nào, hay một thể chế nào, một chính phủ nào, mỗi người phải có quyền và nghĩa vụ tự quyết định cho riêng mình trong một xã hội văn minh, dân chủ.
    Hà nội ngày 09 tháng 10 năm 2006
    Hoàng Dũng, Cán bộ VPTƯ, 09/10/2006
  • Tạp ghi

    Xin hãy cứu lấy tổ quốc! (Chu Tất Tiến)

    Xin hãy cứu lấy tổ quốc!
    Monday, March 09, 2009



    Chu Tất Tiến
    Lịch sử của dân Việt là một chuỗi những biến cố vừa hùng tráng, oai phong, vừa phẫn nộ và đau đớn chập chùng. Những giai đoạn hùng cứ biển Ðông xen lẫn với những thời gian chịu áp bức của ngoại nhân. Nhưng nổi bật lên trên tất cả và kéo dài hơn 4000 năm là cuộc đối kháng với Bắc Phương, cho đến ngày nay, vẫn chưa ngừng nghỉ. Tùy theo tinh thần và khả năng của giới lãnh đạo mà có lúc dân tộc ta hiên ngang đánh đuổi được quân xâm lược tràn từ phía Bắc xuống, làm kinh động cả thế giới, hay đành chấp nhận tủi nhục làm nô lệ, dù tạm thời, cho các lực luợng Thanh, Minh, Nguyên, hay Mông Cổ. Ðiều kinh sợ nhất là trong khi đất nước ta không thiếu những danh tướng lừng lẫy được toàn thể thế giới ngưỡng mộ từ Hai Bà Trưng, Bà Triệu, đến các đời Ðinh, Lê, Lý, Trần, Lê, với Trần Hưng Ðạo, Lý Thường Kiệt, Phạm Ngũ Lão, theo sau là Quang Trung Ðại Ðế, rồi các vị Vua anh hùng như Hàm Nghi, Duy Tân, cũng có những kẻ hèn hạ, rước voi về dầy mồ tổ tiên, bán nước cho giặc. Những Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống, và cả họ Mạc cũng tỏ ra khiếp nhược, dâng nước cho Tầu. Và, một nhân vật, tuy có tài quản lý, nhưng cũng là một kẻ, cuối cùng, cũng hiện nguyên hình là làm hại đất nước: Hồ quý Ly. Từ cuối thế kỷ 14 sang đầu thế kỷ 15, Nguyễn Trãi đã viết bài hịch hùng tráng “Bình Ngô Ðại Cáo”, vạch tội họ HỒ: “Nhân họ HỒ chính sự phiền hà. Ðể trong nước lòng dân oán hận. Quân cuồng Minh thừa cơ gây loạn. Bọn gian tà còn bán nước cầu vinh. Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn. Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ…”
    Ðau đớn thay, hơn năm trăm năm sau, một người tự xưng họ HỒ lại tái diễn trò bán nước, buôn dân, cống nộp giang sơn ta cho kẻ thù truyền kiếp Bắc Phương. Cũng dưới sự cai trị của họ HỒ, dân đen cũng bị tiếp tục “nướng trên ngọn lửa hung tàn”, con đỏ cũng bị “vùi xuống dưới hầm tai vạ”. Ðau đớn hơn nữa là mặc dù ngày nay, dưới ánh sáng của văn minh đầu thế kỷ 21, khi việc thông tin đã lan tràn trên khắp mọi miền thế giới, khi trình độ hiểu biết của dân ta gấp trăm lần các thế kỷ cu,õ nước ta vẫn tiếp tục bị bán đứng một cách ngang nhiên, trơ trẽn, khốn khổ khốn nạn, bởi những tay lãnh đạo, là con cháu của họ HỒ. Nếu không có biện pháp gì ngăn chặn, thì chỉ trong một thập niên nữa, Việt Nam sẽ trở thành một đất nước nô lệ dưới sự quản lý của Trung Cộng. Nhiều sự việc liên tiếp, công khai, đã chứng minh nhóm lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam đang tiếp tục BÁN NƯỚC, để đổi lấy sự vinh thân phì gia của họ, mặc kệ cho danh dự Tổ Tiên bị chà đạp nhục nhã; mặc kệ vong linh của hàng trăm triệu dân Việt, qua bốn ngàn năm, đã hy sinh bảo vệ từng tấc đất giang sơn; mặc kệ cho những thế hệ sau hứng chịu hậu quả cay nghiệt của đời làm tôi mọi cho Tầu Cộng. Sau việc dâng Hoàng Sa, Trường Sa, và dải đất cực Bắc cho Tầu Cộng, bây giờ Nguyễn Tấn Dũng và đồng bọn đang tiến hành một chương trình bán luôn miền Nam cho giặc, qua kế hoạch khai thác mỏ Bauxít tại Ðắc Nông.
    Tất cả mọi chiến lược gia từ xưa đến nay đều biết rằng miền Cao Nguyên Trung Phần là điểm chiến lược nhìn bao quát toàn bộ ba xứ Ðông Dương: Việât, Miên, Lào. Người Pháp cũng từng đồng ý: “Ai chiếm được Cao Nguyên Trung Phần là chiếm được toàn bộ bán đảo Ðông Dương”. Vậy mà bây giờ, Nguyễn Tấn Dũng, Nông Ðức Mạnh, và Ðảng Cộng Sản đang âm mưu bán đứt miền này cho Trung Cộng, dưới nhãn hiệu “khai thác mỏ Bauxít”.
    Thử nhìn về các vấn đề liên quan đến việc khai thác mỏ Bauxít tại Ðắc Nông:
    1-Về tính chất kinh tế và khoa học
    Bauxít là loại quặng, nằm ngay trên mặt đất, hay ở một độ nông, có mầu đỏ nâu (brown mud), lẫn trong đất và đất sét, được sử dụng từ rất lâu trước khi được chế biến thành Aluminum (nhôm). Ở Guana, từ nhiều thế kỷ trước, người ta dùng loại đất này để làm nhà. Sau khi biết được đặc tính “nhôm” trong bauxít, thì nhiều nước trên thế giới đã khai thác bauxít, và đem lại lợi nhuận khổng lồ cho giới đầu tư, vì nhôm hầu như hiện diện trong khắp mọi đồ dùng, vật dụng, từ thìa, nĩa đến máy xe hơi hay vỏ máy bay. Tùy theo đất đai, trung bình cứ 4 tấn quặng, lấy ra được 2 tấn “alumina”, từ 2 tấn “alumina”, người ta lấy ra được 1 tấn nhôm ròng. Theo ước tính của các “chuyên viên” khoa học của Ðảng Cộng Sản, thì bauxit có nhiều tại miền Bắc, và Cao Nguyên Trung Phần. Riêng tại Ðắc Nông, trữ lượng nhôm có từ 1 đến 2 triệu tấn. Trên thế giới, nơi nhiều Bauxit nhất là Guinê, với hơn 8 triệu tấn, Úc hơn 7 triệu tấn, Hoa Kỳ chỉ có chừng 40,000 tấn. Nhu cầu về nhôm rất cao, tuy nhiên vì tác hại môi trường của nó, nhiều nước đã giảm sự khai thác bauxít và chỉ khai thác bauxít ở những miền sa mạc hoang vắng. Gần đây, chính Trung Cộng đã đóng cửa trên 150 địa điểm khai thác bauxít vì bị các nhà khoa học và dân chúng phản đối kịch liệt. Ðể tiếp tục khai thác lợi nhuận này, Trung Cộng tỏa đi khắp nơi trên thế giới để tìm nhôm. Một trong những nơi mà Trung Cộng đang tiến hành khai thác là Việt Nam.
    2-Về lợi ích kinh tế
    Một khi đã ký nhượng đất cho Trung Cộng sử dụng, lợi nhuận dĩ nhiên là về phía Trung Cộng. Nhà cầm quyền Cộng Sản có thể chỉ được chia phần trăm và tiền thuế. Mà cho dù được chia lãi và tiền thuế, người dân Việt Nam cũng chẳng được hưởng lợi lộc gì. Dưới chế độ được liệt kê vào những nước tham nhũng nhất thế giới, tiền chia này nhất định vào túi lãnh đạo đến 9/10, và chỉ vào quỹ quốc gia một chút xíu. Nếu chia đầu người, chắc không đến chục đô la một năm. Kinh nghiệm Tết năm vừa qua, quỹ xóa đói giảm nghèo của Liên Hiệp Quốc chui gần hết vào túi cán bộ. (Tại sao lại có quỹ xóa đói giảm nghèo khi mà Việt Nam có những sân golf, khách sạn 5 sao, nơi giải trí, ăn chơi vào bậc nhất thế giới? Những lãnh đạo Cộng Sản, từ giai cấp công nông năm 1975, nay ai cũng có tài sản khổng lồ. Nếu công khai tài sản, chắc có nhiều lãnh đạo được kê tên vào danh sách những kẻ giầu nhất thế giới của Forbes. )
    3-Về tác hại của môi trường
    Theo những nhà khoa học, trong đó có Tiến Sĩ Richard Yokel của University of Kentucky School of Pharmacology, nhôm là một chất độc hại gây tổn thương cho óc não và hệ thần kinh. Nhôm gây nên chứng “encephalopathy”, làm hủy mô não, làm mềm xương và gây nên bệnh thiếu máu (anemia), giảm thọ, và có thể gây nên bệnh Parkinson. Nhôm không chỉ hại đến não bộ của con người mà cũng là một vấn nạn lớn trong nông nghiệp ở chỗ làm suy đồi đất đai. Chất nhôm được dẫn qua nước chẩy vào sông ngòi sẽ tiêu diệt tất cả mọi thủy sản. Tôm cá đều chết hết. Với súc vật, nhôm có thể gây ra triệu chứng run rẩy giống như Parkinson, và chết sớm. Sau khi mỏ nhôm được khai thác, đất đai biến thành hàng dẫy những lỗ hố khổng lồ không thể lấp nổi, nước đọng ao tù đỏ quạch, không có sinh vật gì sống sót. Ðiều quan trọng là muốn rửa quặng, kẻ khai thác phải cần đến nước. Với chỉ tiêu khai thác 1 triệu tấn nhôm ở Ðắc Nông, người ta cần đến cả chục đập nước. Như thế toàn bộ nguồn nước tiêu dùng, nước uống cho cao nguyên sẽ bị trưng dụng. Dân Cao Nguyên rồi uống nước ở đâu? Mực nước Sông Cửu Long hiện nay đang bị thấp vì Trung Cộng xây quá nhiều đập nước ở thượng nguồn, nay lại bị trưng dụng để rửa nhôm, thì đất đai hạ nguồn sẽ dần thành sa mạc. Hơn nữa, sau khi rửa quặng xong, nước lại chẩy xuống chỗ đất thấp và ra biển. Toàn bộ dân sử dụng nước để tưới ruộng vườn, sẽ bị ảnh hưởng. Ðời sống nông dân rồi khốn khổ. Cửa biển nơi nước nhôm chẩy ra sẽ không còn cá, vì sẽ chết hết cả. Ðời sống ngư dân rồi cũng khốn khổ.
    Thêm vào đó, khi sử dụng máy để đào xới, độ rung chuyển của những cái máy cạp khổng lồ hoạt động suốt ngày đêm, sẽ làm chấn động địa chất. Cao Nguyên Trung Phần vốn có những núi lửa đang ngủ, nay bị kích thích, có thể hoạt động lại. Riêng phạm vi tiếng ồn phát ra 24 giờ một ngày có thể làm cho những cư dân trong vùng bị điếc tai, hoặc nhức óc kinh niên. Bệnh tật có thể phát ra mà không thể chữa trị. Bụi nhôm cũng là một vấn đề lớn. Người ta chỉ cần hít thở bụi nhôm, cũng bị nhiễm bệnh khó thở, nghẹt phổi và các bệnh về phổi khác. Khi thành phẩm đã xong, kẻ khai thác phải dùng đường bộ và đường biển để chuyển về nước họ. Trên đường đi, các thành phẩm ấy sẽ tiêu diệt nhiều loại côn trùng có ích, đồng thời rải ra rất nhiều vi khuẩn gây nên các sự nhiễm trùng và nhiều căn bệnh quái dị, trong khi giết tôm cá chết hàng loạt.
    Ở Jamaica, các mỏ nhôm đã tàn phá đất đai, biến rừng thành sa mạc. Miền Nam Jamaica, 3 triệu tấn chất thải từ bauxit vẫn còn ảnh hưởng lâu dài đến sông ngòi và đất đai chung quanh. (http://www.jamaicaobserver.com/columns/html/) Ðiều kinh hoàng là trong cuộc nghiên cứu gần đây, các khoa học gia thấy đa số trẻ em sống gần nơi đó, đều bị uể oải và thích tự tử hàng loạt.
    4-Về tác hại xã hội
    Muốn khai thác 1 triệu tấn nhôm, người ta phải cần một diện tích mênh mông. Tùy theo địa chất, có thể từ vài chục ngàn, trăm ngàn, đến cả triệu mẫu rừng tương đương với hàng chục thành phố phải khoanh lại. Như thế, phải đuổi dân đi. Dân chúng quanh vùng sẽ phải di tản. Ði đâu? Vào thành phố lân cận? Có chỗ ở không? Những thành phố lân cận sẽ bị xáo trộn về tài chánh, về xã hội, về kinh tế. Những người bị đuổi có được bồi thường thỏa đáng không? Hay lại như ở Móng Cáy, Hưng Yên, Ðồng Nai, Cần Thơ.. những nơi đầy dẫy Dân Oan bị cướp nhà, cướp đất cho sân Golf, Khách Sạn, Sân Chơi của lãnh đạo? Nếu có bồi thường thì ai bồi thường cho sự rối loạn sinh hoạt của gia đình? Bao nhiêu thanh thiếu niên phải rời xa cha mẹ, đi làm phu mỏ, nô lệ cho Tầu Cộng? Bao nhiêu vợ chồng tan rã? Bao nhiêu oan trái, thương đau với những cô gái phải bán thân, nuôi miệng? Khi chiếm được Cao Nguyên rồi, bọn Trung Cộng sẽ mang văn hóa người Hoa, dụng cụ Hoa, phương tiện Hoa, ngôn ngữ Hoa lấn chiếm những vùng đất chung quanh, tiêu diệt văn hóa người Thượng, người Nam. Trung Cộng sẽ hủ hóa các thiếu nữ quanh vùng, hoặc hãm hiếp, hoặc cho tiền, biến họ thành nô lệ tình dục, rồi đẻ con mang tên Trung Hoa. Có thể một loại thẻ căn cước được cấp riêng cho những người làm việc cho mỏ, và những ai có quan hệ với mỏ, biến họ thành công dân Trung Cộng.
    Ðể giao thông và chuyên chở thuận tiện, nhất định bọn bán nước và quân xâm lược sẽ thực hiện những xa lộ xuyên suốt từ Trung Hoa qua Việt. Cạnh đường đi, sẽ có văn hóa và nhạc Trung Hoa đón tiếp. Dần dần rồi đất nước chỉ còn nghe nhạc Hoa từ Bắc vào Nam. Việt Nam rồi thành thuộc địa của Tầu như ngàn năm trước.
    5-Về tác hại chính trị và quân sự
    Ðắc Nông và những vùng chung quanh vốn là nơi định cư của nhiều sắc tộc Thượng. Trong số những người Thượng hòa bình, cũng có những người Thượng luôn mong ước có một tiểu quốc cho riêng họ. Phong trào đòi Tự Trị đã nhiều lần được châm lửa. Nay, nếu Trung Cộng mang miếng mồi ngon ra chiêu dụ, có thể phong trào đòi ly khai sẽ nổ lên nữa. Một khi phong trào được hỗ trợ của quan thầy Trung Cộng, thì đệ tử Việt Cộng chỉ có khoanh tay đứng nhìn, không dám càn quét như hồi tiêu diệt phong trào đòi tự do tôn giáo của người Tin Lành. Một điều dễ sợ hơn tất cả là lực luợng gọi là “công nhân, kỹ thuật viên” người Hoa đến làm việc, có thể toàn là Công An hay quân nhân Trung Cộng. Với số lượng từ 7,000 người đến 10,000 người Hoa Cộng, tương đương với 2 Sư Ðoàn chiếm đóng ở đây, cộng thêm số thân nhân vợ con đến thăm nuôi đều đặn, và số gián điệp giả dạng báo chí, truyền thanh, truyền hình đến phục vụ cho khu mỏ độc lập này, ước tính thêm cả ngàn người nữa, sẽ không có lực luợng người Việt nào có thể chống cự lại hoặc đuổi chúng đi. Một hệ thống Rada phòng không sẽ được thiết lập. Nhiều cơ quan ngầm dưới đất để làm những chuyện ma quỷ gì đó sẽ được xây dựng trong vòng đai Nội Bất Xuất, Ngoại Bất Nhập này. Chúng có thể nghe lén toàn bộ các cuộc điện đàm tư tình, kiếm “gái gọi”, hoặc buôn bán lậu của các lãnh đạo mà “black mail”, nghĩa là gửi thư hăm dọa, thì các lãnh đạo sẽ phải im như hến, mặc cho Trung Cộng muốn làm gì thì làm. Như thế, MIỀN CAO NGUYÊN VIỆT NAM SẼ MẤT vào tay Trung Cộng một cách rất hòa bình. NƯỚC VIỆT NAM SẼ BỊ CẮT LÀM HAI MẢNH, Ở GIỮA LÀ TRÁI ÐỘN TRUNG CỘNG. Nếu có sự xâu xé, giành ăn giữa các lãnh tụ nẩy ra, Trung Cộng có thể đưa người của chúng vào Ban Lãnh Tụ, từ đó, khống chế toàn bộ Việt Nam. Lúc đó, Việt Nam đương nhiên trở thành tiểu quốc của Trung Cộng, mà không phải tốn phí một viên đạn!
    6-Tính chất cực kỳ lì lợm của Ðảng Cộng Sản Việt Nam
    Gần đây, nhiều nhà khoa học trong nước, nhiều cựu chiến sĩ, tướng lãnh, cán bộ, đảng viên, trong đó có cả Võ Nguyên Giáp và một cựu đại sứ Cộng Sản đã lên tiếng chống đối lại dự án khai thác Bauxit này. Nhưng mặc cho các người này kêu gọi, Nguyễn Tấn Dũng và Nông Ðức Mạnh vẫn cứ chứng tỏ rằng mình là những tên cực kỳ lì lợm, bỏ ngoài tai mọi lời khuyên răn của dân chúng, và tiếp tục cho Trung cộng khai thác khu mỏ. Dũng và Mạnh dư biết rằng tên tuổi và dòng họ của họ sẽ bị phỉ nhổ, khinh miệt, nhưng họ vẫn ngoan cố tuyên bố lếu láo về kế hoạch này, cố tình làm ngơ trước mọi chỉ trích của thế giới và người dân Việt về mọi hành động bán nước, buôn dân của họ. Dũng, Mạnh và Lãnh Tụ Ðảng Cộng Sản Việt Nam chính là tội đồ của dân tộc. Họ đã theo chân Tầu Cộng gây ra cuộc chiến Nam Bắc, làm chết trên 4 triệu người cả hai miền, rồi ký kết dâng đất, dâng biển, nay lại bán đứng Cao Nguyên. Ngày 13 tháng 5 năm 2009, hạn kỳ cuối cùng để Việt Nam bảo vệ chủ quyền biển sắp tới mà Dũng, Mạnh vẫn khoanh tay làm ngơ, mặc cho Trung cộng làm chủ lãnh hải, có nơi vào sát gần bờ, mặc cho ngư dân rồi sẽ bỏ thuyền vì hết chỗ đánh cá. Nếu “xâm nhập vào lãnh hải Trung Cộng sẽ bị bắn chết!” Người Việt rồi sẽ hết cá để ăn!
    7-Việc làm của chúng ta
    Bởi vậy, tất cả những ai có lòng nghĩ đến đất nước phải đồng loạt bắt tay nhau, lên tiếng, hò la, chuyển tin đến mọi miền đất nước, đến những ngõ ngách của thế giới, mong họ cùng giúp chúng ta đòi lại đất tổ đã bao đời gầy dựng với sinh mạng của bao triệu chiến sĩ.
    – Nhân dân Ðắc Nông: xin hãy xuống đường, chống đối việc khai thác mỏ đến cùng. Nhất định không di chuyển, không bỏ đi, và không làm tôi mọi cho Tầu Cộng.
    – Những ai từng ở Tây Nguyên và vùng cao nguyên như Ðà Lạt, Pleiku, KonTum, Ðắc Lắc, Di Linh, Buôn Mê Thuột: Xin hãy cất lên tiếng nói đòi lại đất đai thân yêu đang bị Dũng, Mạnh bán cho Trung Cộng.
    – Sinh viên, học sinh, giới trẻ trong nước: Hãy xuống đường! Xuống Ðường! Ðòi lại danh dự cho dân tộc đang bị bôi nhục bởi một nhóm lãnh tụ hèn nhát, khiếp nhược, công khai làm nô lệ cho kẻ thù! Ðừng sợ bắt bớ, mà nên sợ không dám nhìn vào mặt con cái, phải cúi đầu không trả lời được câu hỏi: “Tại sao cha ông lại hèn nhát để kẻ thù chiếm mất đất ta?” Hãy để “quê hương là chùm khế ngọt” mãi, đừng để quê hương biến thành trái chua của Bắc Phương!
    – Ðồng bào hải ngoại: Xin hãy đoàn kết cùng nắm tay nhau, phổ biến tin tức Bán Nước này đến cùng trời cuối đất, đồng thời lật mặt nạ Bán Nước, buôn dân của Dũng, Mạnh và lãnh tụ đảng Cộng Sản Việt Nam. Kêu gọi công lý nơi những người bạn ngoại quốc có tình cảm với dân Việt, xin họ tiếp tay chận đứng việc bán nước công khai này. Xin phối hợp với những người ở trong nước đang cất lên tiếng nói chống lại Ðảng Bán Nước, bảo vệ họ cho khỏi bị trù dập. Lập những chương trình phát thanh, truyền hình, báo chí liên tục chống lãnh tụ đảng Cộng Sản bán nước. Kêu gọi sự thức tỉnh lương tâm của các đảng viên Cộng Sản, chống lại Dũng, Mạnh, đang vì quyền lợi riêng tư mà tàn hại quê hương.
    Tha thiết mong tiếng kêu đau thương, uất hận này được sự đón nhận và tiếp tay của toàn thể dân Việt, không phân biệt Nam, Bắc, tôn giáo, giai cấp, dân thường, cán bộ hay đảng viên, tư thương hay công nhân viên chức, để cho đất nước được vẹn toàn, để cho lịch sử không ghi lại một khúc quanh nhục nhã, để cho thế hệ sau không đau khổ sống trong sự nô lệ Tầu Cộng.
    Hãy vùng lên, VIỆT NAM ƠI!
    Ðả đảo Dũng, Mạnh, bán nước cầu vinh! Ðả đảo Dũng, Mạnh hèn nhát, khiếp nhược, dâng đất nước cho kẻ thù. Ðả đảo Dũng, Mạnh tiêu diệt nguồn sống của nông dân và ngư dân! Ðả đảo Dũng, Mạnh tàn hại sinh hoạt và đời sống của trăm thế hệ tương lai! Ðả đảo Dũng, Mạnh PHẢN BỘI TỔ QUỐC!
    Ngày 5 tháng 3 năm 2009.
    Chu Tất Tiến
  • Tạp ghi

    BÁC NHÌN BÁC TRONG GƯƠNG (Kỵ Binh)

     

                               BÁC NHÌN BÁC TRONG GƯƠNG

    Cu Tèo mến,

    Nhận meo Tèo gần cả tháng rồi mà mãi đến nay bác mới hồi âm cho Tèo được. Tèo khoan vội trách bác vì lợi dụng mua vé có giường nằm trên Tàu Thống Nhất, giở thói thả dê cụ gạ gẫm được cháu gái ngoan, tối ngày chỉ lo ôm ấp bù khú mà quên Cu Tèo. Nghĩ như vậy là oan cho bác đấy: mặc dầu sở trường  “ấy” của bác vẫn còn sống mãi trong sự nghiệp bác cho đến hôm nay, nhưng chẳng dấu gì Tèo, ngoài cái tai bị rụng và cái mũi có mùi thum thủm do thuốc ướp dỏm lại bị ăn bớt, con chim bác cũng đã tìu nghỉu lâu rồi, chẳng mần ăn trò trống gì được nữa; có chăng thì bác cũng chỉ phạm điều răn thứ sáu- một trong mười điều răn bên đạo Công Giáo mà bác nghe lóm được từ ông cố đạo Lê Hữu Từ hồi ở Bùi Chu Phát Diệm- trong tư tưởng  chút chút mà thôi .

    Meo này đến trể là vì bác thấy xấu hổ vơí Cu Tèo quá. Số là thời gian này nhờ cái laptop, lại trong phòng riêng trên xe lửa, không bị công an chìm hay chủ tiệm đảo qua đảo lại mắt lườm lườm theo dõi như hồi phải vào càphê internet, bác lên mạng và truy cập thoải mái. Đọc tin tức lắm cũng chán; nhất là vụ bauxite nay bị quốc hội nhân dân gù gật “được đồng bào cả nước đồng thuận”,cùng 700 tờ báo chung một tổng biên tập gục mặt không dám hó hé nhìn qua lề trái nhào nặn viên vo bô xít thành bọ xít; vụ dân ta bị Trung Cuốc cấm đánh cá ngoài biển Đông kêu gào khản cổ mới được đảng bảo vê chủ quyền lãnh hải bằng  “đề nghị hủy bỏ lệnh cấm đánh cá” , đọc càng nản , buồn ngủ cách chi.

    Bác quay sang tìm sách báo tài liệu . Đương nhiên là sách báo tài liệu phía “lề trái” ( “lề phải” thì ai lạ gì,nghìn cuốn như một, chưa đọc đã biết), trong đó có sách của miền Nam trước 1975 mà các đồng chí lỡ dại goị là “văn hóa đồi trụy của Mỹ Ngụy”, lại ngu xuẩn cho đốt sạch kiểu Trần Thủy Hoàng đốt sách chôn học trò ngày xưa; để nay đua nhau lùng sục cho được những cuốn còn sót lại đem in nằm chểm chệ trên đầu trên cổ sách …Kách mạng. Bác gặp cái tựa sách “Tôi Nhìn Tôi Trên Vách” hay hay, và tức cảnh sinh tình, bác nảy ra ý nghĩ, hay ta thử nhìn ta trong gương. Thế là bác nhìn bác trên mạng, bằng cách vào hết Gu Gồ lại Ya Hu, rồi click “ Bác Hồ, Uncle Ho, Hô Chí Minh, Nguyễn Ái Quốc, Cháu Ngoan,..”..

    Tèo ơi là Tèo, ai ngờ bài vở chửi bác đủ dạng: tài liệu, thơ văn, âm nhạc , biếm họa, phim ảnh ,phiếm luận, chính luận,hội luận, như thác đổ xuống đầu bác. Ban đầu mới đọc chỉ vài bài có trích dẫn những tài liệu hiện đang nằm trong thư viện Nga, Pháp, Anh..với nét chữ bác rành rành như đơn xin học Trường Thuộc Điạ Pháp, thư viết cho vợ Tăng Tuyết Minh, hay giấy hôn thú với Nguyễn Thị Minh Khai, bác cũng có bị xây xẩm mặt mày. Nhưng nghĩ tới lỡ xỉu lăn quay ra đây để người ta gọi 311 đưa đi cấp cứu, bác sẽ bị lộ chân tướng “Bác Hồ”,và sẽ bị các đồng chí công an nhân dân bây giờ anh nào cũng mặt lợn bụng heo bắt nhốt  trở lại lăng Ba Đình, bác vận dụng khí công do ông bố vợ Tăng Khai Hoa dạy cho hồi ở rể bên Quảng Châu,., bác trấn tỉnh lại được.

    Thấy nhiều quá,tiếp theo bác chỉ đọc qua cái tựa bài thôi , mà đọc mãi không xuể, càng đọc nó lại càng link sang nhiều thêm cái mới, như cấp số nhân. Mệt, bác tạm thôi “bác nhìn bác trong gương” mạng toàn cầu, nhảy sang chỗ khác. Bác “nhìn”vào  Nguyễn Thị Minh Khai, Marie Bière, Tăng Tuyết Minh, Đỗ Thị Lạc, Nông Thị Xuân, lại thấy bác chình ình ở đó với trán u, môi vếu, lỗ mũi ăn trầu. Bác quay đi, click nhìn mấy thằng con Nông Đức Mạnh, Nguyễn Tất Trung, bác lại thấy bác lù lù bộ mặt lem luốc, tóc tai bù xù

    Nhà văn gái Huế “tôi nhìn tôi trên vách” hẵn thấy mình “đã” nên khoái chí viết thành sách khoe thiên hạ. Bác nhìn bác trong gương , sao thấy tá hỏa tam tinh xấu hổ , tìm nơi độn thổ mà sàn tàu cứng ngắt, chỉ tội u đầu.

    Nhưng mà Cu Tèo à, hay chẳng qua đó cũng chỉ là quy luật chung: người của quần chúng , mấy ai  tránh khỏi miệng thế gian , người thương cũng nhiều mà kẻ ghét cũng lắm; nhất l à lại vưà làm lớn vừa làm láo đến như bác Hồ có lúc ngang nhiên bác bác tôi tôi cả với cả Đức Thánh Trần, và nếu tượng ông Liên Xô, bác Đông Âu Cộng Sản đã không bị lôi xềnh xệnh ra vứt ngoài nhị tì không hòm không chiếu, biết đâu bác đã “dẫn năm châu đến đại đồng”, lại càng chịu nhiều thị phi hơn.Có điều kẹt là bây giờ bác được khen thi ít mà bị chửi thì nhiều, nhiều vô vàn. Hay là bác thử đi “nhìn” ông Ngô Đình Diệm , ông Nguyễn Văn Thiệu xem thế nào để “biết người biết ta”.

    Tra cứu đọc về ông Diệm , bác chỉ thấy một vài nơi chê ông là “độc tài, gia đình trị , lê máy chém khắp Miền Nam”;chứ tìm mãi tìm hoài vẫn không thấy ai đề cập đến chuyện vợ con , chuyện chôm thơ của kẻ khác, hay giả dạng Dân Tiên, à quên, giả dạng dân thường, viết sách tự ca ngợi mình “khiêm tốn dường ấy”. Nhưng những bài này bị hóa giải ngay bởi chính những tay tướng ngụy phản trắc theo ngoại bang làm đảo chánh giết anh em ông Diệm nay ăn năn hối hận bày trò hồi ký đổ lõi cho người khác để chạy tội; có tên tướng dòng dõi hoàng tộc nay còn tự ví việc phản loạn của mình như kẻ “dại dột ăn cứt” (sic); bị hoá giải vì chẳng chứng minh được mảy may một bằng chứng cụ thể , như ngày mô nơi mô người mô bị máy chém của ông Diệm ngoài một kẻ duy nhất là lọan tướng Ba Cụt. Những bài viết về sự tàn ác giết người đối lập của ông Diệm cũng bị hóa giải bằng sự việc ông ta tha mạng sống cho chính kẻ đã nổ súng ám sát ông ở Hội Chợ Banmêthuột  hồi đầu thập niên (19) 60 là Hà Minh Trí, người của phía bác. Cũng có một số bài đã kích thậm tệ ông Diệm do những tác giả bất lương , những đứa  ăn cháo đái bát, phản thầy phản chúa như Đậu Mậu, cởi trần Chun Ngược, nguyện Mần Quàng.

    Ai dại gì đi tin một thằng xuất thân lính khố xanh cho Tây, học hành thuộc diện chăn bò chính cống thời trước ở nước ta (chứ bây giờ lắm anh chăn bò có trình độ lắm), đến khi Tây cút, bỏ Tây theo ông Diệm, lại nghe lời Mỹ lời sư hổ mang quay thịt Diệm, được xô lên làm văn hoá cho cả dân Miền Nam; Khi Miền Nam lọt vào CS , đu càng tàu bay Mỹ, sang bên ấy ăn oeo phe riết, trở chứng chê trợ cấp tiền mặt và food stamps ít quá quay ra chửi Mỹ, ca ngợi CS để đưọc về lại Việt Nam đưa đầu cho chúng làm vũ khí tuyên truyền, miễn sao được rượu nồng thịt ngậy quen thói.

    Bác ngu chi đi tin đứa hô hào bảo vệ Phật Pháp bằng cách ném đá vào ông Giê Su chỉ răn dạy chúng sinh lòng tha thứ , thương yêu nhau, bị quân dữ đóng đinh treo trên thập tự giá, đứa vu vạ giáo hội của một nửa nhân loại trên trái đất này theo ông Giê Su.

    Bác có mất trí mới tin thứ “có đạo” xuất thân từ “nhà Chúa” quay ra báng bổ Chúa; tháng Tư 75 chạy tỵ nạn CS sớm hơn ai hết, nhờ có vốn liếng kiến thức hấp thụ từ “nhà Chúa”, đến Mỹ có điều kiện đi học tiếp, rồi được cho đi dạy học ở trường ĐH Mỹ là nơi quyền con người được quảng bá và thể hiện hơn đâu hết; thế mà khi giáo xứ Thái Hà đòi lại đất đai, công an giả dạng côn đồ nghiện ngập kéo đến nhà thờ đánh đập giáo dân, lăng mạ giáo sĩ, quăng đồ ô uế lên tượng thờ, tên này viết kiến nghi về nước ủng hộ việc chiếm đất của nhà cầm quyền Hà nội .

    Bác nằm trong lăng nhưng biết tỏng hết .Cáo già chết thành tinh. Bác là  Hồ ly tinh mà Tèo.

    Lâu lâu bác phải nhắc lại là bác đang phản tỉnh, như nhạc sĩ Tô Hải đang phản tỉnh viết “Hồi Ký Của Một Thằng Hèn”, kẻo Tèo lại quên, rồi “ủa sao bác viết lách sao giống  giọng điệu Cu Tèo vậy” (Ừ thì bác đang học đòi theo …”Ngụy” đó!)

    Kiếm mãi không thấy ông Ngô Đình Diệm nhiều tật và bị chửi như bác, bác mần mò “gõ” vào Nguyễn Văn Thiệu xem sao . Ông này trước sau cũng chỉ một vợ mà thôi.Bác không tin. Chẳng lẽ bên phiá “Ngụy” ông tông thống nào cũng “trong cả” mà chỉ có mình bác Hồ phe Xã hội chủ nghĩa là” đục” sao . Bác nhắp con chuột hoài . Đây rồi : ông Thiệu cũng có tin cặp bồ với cô ca sĩ Kim Loan ! Ồ, mà không phải vậy, hôm nọ xem Paris By Night, bác thấy cô Kim Loan từ bên Đức sang Mỹ lên tiếng đính chính, nói “đó là chuyện hoàn toàn biạ đặt vì cô chỉ gặp ông Thiệu có một lần duy nhất là khi cô theo phái đoàn văn nghệ đi hát trong dinh Độc Lập”.

    Tìm hoài không ai hơn bác về cái mặt tội ác gây ra cho đất nước dân tộc, mặt gian xảo tư cách, mặt lọc lừa tình ái, phụ bạc nhân ngãi, mặt phản quốc, mặt giết hại đối lập lẫn đồng chí. Bác tuyệt vọng. Thôi đàng nào thì minh cũng là sự thật như thế. Đàng nào thì bác cũng đã thấy mặt mày mình lem luốc thảm hại rồi. Thôi nốt thể soi gương thì soi cho suốt mọi nơi mọi chốn.Nghe đâu bên Vietnamexodus có anh chàng HatKa vẽ biếm họa lâu lâu chiếu cố đến bác, bèn vào xem thử anh chàng tô vẽ mặt bác ra sao.

    Chết cha, Bác đang đẩy cày cày mấy ông bà địa chủ bị chôn sống lòi đầụ . Laị có cô nào tóc tai nhìn giống giống con cháu giở hơi Dương Thu Hương đang nhìn bác càỵ đầu bà mẹ một thời nuôi chiến sĩ , chứa chấp cán bộ từ nhỏ đến cao nay là địa chủ Nguyễn Thị Năm. Con Hương mang kính đen; hay nó đang nhìn “những thiên đương mù”; hay nó mù thật rồi ?

     

     

    Bên cạnh lại có cái tựa “… Của Dương Thu Hương”. Đúng là con Hương Honnête rồị. Mở xem ông GS. Xuân Vũ Trần Đình Ngọc viết gì về nó đâỵ .

    Bác đọc.Bác đọc. Bác đọc.Càng đọc tai bác càng ù; bác không còn nghe cả tiếng xe lửa.Cả người bác lạnh tóat. Mồ hôi vả đầy người. Áo bác ướt. Quần bác ướt; bác khua đôi dép râu, nghe nhèm nhẹp dưới sàn tàu.

    Con cháu giở hơi lại làm khổ bác. Viết “Đỉnh Cao Chói Lọi, Món Ăn Chân Lý” làm gì để chọc giận thiên hạ, buộc ông Xuân Vũ Trần Đình Ngọc tuổi xấp xỉ bát tuần đang nghỉ ngơi, chẳng đặng đừng phải lên tiếng. Tiếng của ông giáo sư qua những hàng chữ như ngàn ngàn mũi kim lao vào toàn thân thể bác.(Khổ quá, lại hiện về trước măt bác hàng hàng lớp lớp thanh niên Miền Bắc như con thiêu thân lao đầu vào trước súng đại bác Mỹ đã nạp sẵn đạn chài chống biển người đang hạ nòng chờ đợi, để nay đảng lại “đổi mới” để bắt đầu lại từ con số không mà chạy đua một hai ba không gì bằng USA!).

    Cu Tèo ơi, bác đau lắm. Nhưng đó là sự thật.

    Bác nhìn bác trong gương. Bác là như thế đó. Chỉ có kẻ lú lẫn mơi không chịu nhìn thấy chân dung bác.Như bác đã thấy bác trên mạng là cái gương khổng lồ, chẳng có gì che dấu được .

    Bye Cu Tèo,                                                                                                                       Bác Hồ

     TB.Bác can đảm lắm mới có được meo này cho Tèo. Hay là nhân dịp Father’s Day Tèo thưởng chúc bác cái gì đi. Tèo đừng nhắc gì đến thằng Mạnh, thằng Trung. Cha có nhận con đâu mà đòi con nhận cha.

    ĂN MÀY THỜI ĐẠI

     

                              ĐẾN PHIÊN CHÚ KIỆT

    Chào Bác Hồ,

    Bữa nay, Tèo xin bác cho thất lễ một tị, trước khi “đến phiên chú Kiệt”, dạo vòng ngoài …dăm bảy chữ,  lưu ý bác về việc bác dùng hơi “bị” nhiều tiếng Tàu trong meo bác gửi Tèo tuần rồi.

    Một thí dụ thôi: chỉ “ có chuyện xảy ra bất ngờ”, đơn giản, rõ ràng, rất tiếng Việt trong sáng ai cũng hiểu, thế mà lại đi học theo thằng Xuân Tóc Đỏ thời Tây đụng chi cũng đòi Âu hóa, bác Tàu hóa thành “có sự cố đột xuất”, nghe ngồ ngộ, mất công bóp trán (mới hiểu nghĩa), lại mất gốc!

    Lần mò ra khỏi “sự cố đột xuất” đen thui  “mỏm chó ca dao”, lại đụng đầu “bức xúc” của bác. Bậy nào, không phải độc quyền của bác , mà gần như cả nước, mon men một trăm triệu người, bây giờ “sống và làm việc theo gương bác Hồ” đều ..”bức xúc”. Nhà nhà bức xúc; người người bức xúc; cái gì cũng bức xúc; hoàn cảnh, tình huống nào cũng ..bức xúc.

    Tiếng Việt phong phú, tùy trường hợp mà dùng ..ray rứt, nóng lòng, bồn chồn, lo lắng, âu lo, hồi hộp, đè nén, tức tối, gay cấn, thôi thúc, cấp bách,vân vân và vân vân…Những tỉnh từ, tỉnh tự ấy tưạ muôn màu sắc y phục, tùy hoàn cảnh mà mặc cho phù hợp, chứ không phải chỉ một thứ áo tơi “bức xúc” khi nào cũng choàng vào bất kể nắng mưa, lễ hội Tết nhất hay tang chế !

    Sao mà nó giống hệt như, trong Việt Nam ta c ó cả m ột kho những “ ngàị, cụ, cố, ông, bà, bác, chú, cô, cậu, anh, em, mày, tao, qua, ta, tôi, tớ …”  ta tùy theo tuổi tác, trên dưới, phái tính, họ hàng, mức độ quen thân m à xưng hô, thì Việt Nam ta tùy theo tuổi thì ngườiTàu chỉ có vỏn vẹn hai tiếng “ngộ, nị”.

    Con cháu Hương  tự “Hương Honnête” hậu sinh chưa “ráo máu đầu” giở hơi bày trò ca ngợi bác “ cương quyết không chấp nhận đồng hóa thành một quận huyện hay một tỉnh nhỏ nằm trong đế chế Trung Hoa.”, mà không biết bác của nó đã tiếp tay giặc xâm lăng văn hóa nhằm thực hiện mộng đại đồng ; hậu quả  sờ sờ: sau khi dời mốc biên giới, khi lén lút  khi công khai, lại có khi còn được láng giềng tốt anh em tốt phía Nam quỳ dâng bằng chữ ký hẳn hoi; sau khi lè “lưỡi bò” liếm gần sạch hải đảo của Việt Nam, nay  bọn nhân công Tàu bầy đoàn không cần chiếu khán ào ạt kéo sang, chểm chệ ngồi trên nóc nhà Tây Nguyên với sự phụ họa của đám Ích Tắc ngày nay trong cái gọi là “Cơ quan quyền lực cao nhất”. Bác lên mạng, vào You Tube nhìn, nghe thử cho biết bầy cháu ngoan “đại biểu nhân dân” chúng xuẩn động,lì lợm trâng tráo đến chừng nào  khi cầm giấy đọc từng hàng chữ bênh vực “chủ trương lớn” rước giặc vào nhà của đảng . 

    Thôi bác hỉ, giờ đây, sau khi đáp lời Tèo, về “chiêu hồi”, lòng dạ bác còn tơ vò trăm mối, mặc cảm tội lỗi, ăn năn thống hối sao cho vưà trước bao nông nỗi oan khiên do bác gây nên, cho dầu khi bước xuống tàu Tây, giấc mộng của bác chỉ đơn thuần trong sáng là tìm đường kíu đói!

    Một cách giúp bác nhẹ đi đôi chút theo Tèo là nên tìm về với chữa nghĩa văn hóa dân tộc bằng cách tìm sách báo thời tiền …Kách mệnh, à cách mạng , hay sách báo của Miền Nam trước bị phỏng mà đọc.   

    Xin lỗi bác, vì quan tâm đến bác, tội nghiệp bác, thương hại bạc mà đâm ra dài dòng, suýt quên mất chú Võ Văn Kiệt

    .    Chú Kiệt mới đó (nghe đâu bị cứa cổ) đã tròn một năm, hôm nay, 31 tháng 5, giỗ đầu của chú ấy. Bác năm 1969, chú Kiệt 2008. Bốn chục năm sau mà đảng vẫn y chang, trước sau như một, không chịu làm theo mà làm ngược lại di chúc người chết.

    Trước, bác thì “hãy thiêu bác ra tro, rải trên ba miền”, mà các đồng chí ấy lại vặt cổ bác ra mổ bụng, moi hết ruột gan, hoa mặt phấn da, xây lăng tẩm phơi bác làm cảnh.

    Nay, chú Sáu Võ Văn Kiệt thì, “Tôi chỉ có một yêu cầu: không đặt tên đường, không nhà lưu niệm (như dạng đền thờ), nhưng chú Kiệt về chầu tổ sư mác dao liềm búa mới được vài tháng, các đồng chí tỉnh Quảng Ngãi đã lấy tên Võ Văn Kiệt đặt cho một con đường mới mở trong khu lọc dầu Dung Quất.
    Hôm nay, tròn một năm ngày ông mất. Báo Tuổi Trẻ chạy trên trang nhất bài “Chờ một con đường mang tên ông”, với lời kêu gọi đặt tên đường Võ Văn Kiệt tại TP Sài Gòn

    Cũng hôm nay, báo Thanh Niên đưa tin Ban Thường vụ Tỉnh ủy Vĩnh Long chủ trương xây dựng một khu lưu niệm Võ Văn Kiệt ngay trên quê hương ông- huyện Vũng Liêm. Khu lưu niệm Võ Văn Kiệt (gồm nhà làm việc, nhà nghỉ và… nhà thờ!) sẽ được xây dựng trên khuôn viên rộng 1,7 ha, với tổng kinh phí khoảng 34 tỷ đồng.

    “Sống và làm việc theo lời bác dạy”. Bác dạy thịt cha con Phạm Quỳnh là các cháu thịt ngay cha con Phạm Quỳnh; bác thừa lệnh quan thầy Mao, dạy tìm cho ra 5% dân làng là “địa chủ” ,là các cháu “đôn quân” từ hết phú nông đến trung nông thành địa chủ-có-em-đây cho “đạt chỉ tiêu” đề ra tức thì; bác ra lệnh thịt người tình Nông Thị Xuân là tức khắc chú Hoàn hiếp dâm, bóp cổ, đập đầu rồi dả dạng cho xe cán; bác hô “năm nay thắng lợi vẻ vang”, là tức thì các cháu trùm lên cho thành phố Huế cả dải khăn sô trắng.toát lạnh xương ;bác hô đủ thứ nữa và các cháu đã chấp hành đủ thứ kể cả đốt chạy dãy Trường Sơn ..

    Nhưng làm theo di chúc bác dạy “đốt xác bác” là không được, vì lẽ sống còn của các cháụ. Phải xây lăng cho bác; rước bác vào đó nằm, dù phải chi mỗi năm cả 500 triệu Đô la Mỹ-cút-ngụy- nhào cho các đồng chí ướp xác Liên Xô nay là Nga, vẫn bi năm này bác rụng cái tai, năm sau thúi cái mũị..Lăng là pháo đài cuối cùng cho các cháu núp; các cháu nguyện noi theo anh hung Núp dân tộc thiểu số khi xưa núp bụi bờ rừng núi Tây Nguyên .

    Nay đến phiên di chúc chú Kiệt. Số phận di chúc bác còn bị như  vậy thì di chúc chú Kiệt ăn nhằm gì; các cháu coi ra chi, ai mà ngạc nhiên.

    Trước đây, chú Kiệt khi là tể tướng phán “Nghị định 31CP” là các đồng chí lãnh đạo răm rắp chấp hành ngay,bắt bỏ tù ngang xương 2 năm không cần lệnh toà án hay chứn cớ những ai ho he đòi dân chủ tự do; chú Kiệt ra lệnh làm đường dây điện cao thế 500KvBắc- Nam bất chấp lời bàn hại nhiều hơn lợi, là liền ngay các cháu đồng chí lãnh đạo cắm đâu cắm cổ thi hành cho thím Kiệt, tức bà Phan Lương Cầm, thầu sơn ngần ấy đường dài cột điện.

    Rồi cho dù chú Kiệt có  lỡ mồm “kỷ niệm 30 tháng Tư, có triệu người vui nhưng cũng có triệu người buồn”. Buồn sao mà buồn! Miền Nam được giải phóng mà lại .. buồn! Chú Kiệt có lý của chú Kiệt: có lẽ do bản chất người Miền Nam chất phác “nghĩ sao nói vậy người ơi”, chú Kiệt thấm đòn giải phóng, té ngữa ra dân Miền Nam của chú bị phỏng giái . (Tèo đoán vậy, nhưng không dám chắc, vì dân gian có câu: “Đừng nghe những gì Cộng Sản nói ..” ) cũng không saọ .

    Nhưng di chúc của chú Kiệt thì phải xem lại.” Đừng làm nọ đừng làm kia” như lời chú là không xong. Phải làm cái gi để “biết ơn” chú Kiệt. Ơn chú thì vô bờ, theo bác, theo đảng, diệt sạch tư sản cũ để ngày nay tạo được tư bản mới . Tư bản mới, Tư Bản Đỏ, gian ác và quyền lực gấp ngàn lần, chứ không phải mười lần như lời bác hứa “xây dựng lại đất nước Việt Nam giàu đẹp..”.Thời Cải Cách Ruộng Đất, dân làng có những 5% địa chuso với 30 triệu dân, nay ta Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa chỉ có 15 địa chủ trên đá dân ngót ngét 100 triệu.

    Tiếng khóc than, hò hét của dân oan đang sấm động đất trời,.bác di chúc gì mặc thây bác, chú di chúc gì kệ cha chú .

    Miễn sao kéo dài thêm được ngày nào hay ngày nấy bầy cháu của bác, lỡ theo bác Hồ, chú Kiêt, ngồi trên lưng cọp đang trên đường ra pháp trường .

    Bác Hồ buồn hay vui khi Tèo nhăc “đến phiên chú Kiệt”?.

    Cu Tèo

    —————————————————

    DƯƠNG THU HƯƠNG,

                                   ĐỨA CHÁU DỞ HƠI

    Cu Tèo mến,

    Hích bên này, húc bên kia, bị “đù mẹ , đéo cha”, mãi rồi Bác cũng leo được lên tàu và chen chúc kiếm ra  cái giường theo vé đã mua mà Bác đã khoe với Tèo trong meo vừa rồi.

    Bác tính meo này tả cảnh đi tàu lửa Thống Nhất cho Tèo, nhưng vì có sự cố đột xuất khiến Bác bức xúc quá nên đổi đề tài, viết về con cháu dở hơi Dương Thu Hương

    Số là trên xe lửa tù túng ,Bác muốn đi tới đi lui, thò đầu ra ngoài vừa hóng gió vừa ngắm cảnh …sân golf chạy dọc hai bên ( thay vì đồng ruộng như thời Tây), nhưng sau mấy lần suýt bị u đầu vì cảnh ném đá lên tàu xảy ra liên tục, nhất là khi ngang qua ga Diễn Châu, trong tỉnh Nghệ An có làng Sen quê Bác, Bác tởn quá, co vòi thụt về giường nằm mở laptop, nhảy lên mạng. Bác rà lung tung tìm tin tức Bauxite nhưng thấy vắng. Bác nhảy sang DCVOnline xem biếm họa anh chàng Babụi hay vẽ Bác ở truồng ôm em, ai dè lại gặp phải con Dương Thu Hương. Lại cái con cháu dở hơi.

    Đúng là cái Hương này nó không biết vào Vietnamexodus.org, đọc “Bác Cháu Ta Lên Mạng”. để thấy Bác đã thấm thía cái “Meo Xuân Gửi Bác” của Tèo, phản tỉnh, nhận tội, thống hối, chuồn ra khỏi lăng, và đang trên đường hoàn lương, nên mới dở hơi viết bênh hay là chửi Bác, cũng khó mà hiểu nó. Người thì nói nó bốc Bác, kẻ lại bảo nó xỏ xiên Bác . Bác thì thấy con này có vẻ bất bình thường, có lẽ do ẩn ức gì đó như đồ …dở hơi .

    Đã lâu lắc gi cho cam, nó bợ mông cho Bác leo cây “Đỉnh Cao Chói Lọi” , Bác té cái ịch  chưa hoàn hồn, nay nó lại bồi thêm, nhét đầy mồm Bác “Món Ăn Chân Lý”.

    Nó đã “trét cứt đái” đầy mặt đảng rồi, nay lại quay sang xô Bác “đi trước thời đại”. Làm như cái đảng ấy vì đâu, do ai mà có, chứ không phải tại già Hồ này !. Ngạn ngữ ta có câu “Cha mẹ sinh con, trời sinh tính”; vậy mà khi con cái làm điều xằng bậy, thiên hạ cứ lôi cha mẹ chúng ra mà chửi mắng nhiếc móc. Đàng này, cái ” tính đảng” kia là do ai sinh ra, nếu không phải là từ cái chủ thuyết Cộng Sản do bác “đi trước” rước về! Không lẽ ông Trời lại “sinh” cho đảng của Bác “tính”gọi Trời bằng “thằng” (Thằng trời đứng xuống một bên, để cho Nông Hội đứng lên làm trời); “tính” hổn láo xấc xược với thánh thần ( Tôi anh hùng, bác cũng anh hùng); “Tính”lôi cổ cha mẹ ra qùy dưới chân đấu tố,hỏi “mày có biết tao là ai không”, “tính” cướp trên tay nhà cửa ruộng đồng do công lao bao đời ông cha người ta gầy dựng, “tính” dâng đất đai biển đảo tổ tiên cho giặc …

    Hương ơi, sao cháu ngoan c ủa Bác lại cứ tọng vào mồm Bác “món ăn” phi lý như vậỵ? Bác đã bảo Bác đã lầm đường lạc lối rồi mà cháu không chịu nghe!

    Con cháu còn moi lại chuyện UNESCO dẹp dự tính phong hàm ” Nhà văn hóa dân tộc”, “danh nhân thế giới” của Bác ra làm gi nữa cho xấu mặt Bác. “Văn hóa dân tôc” nào lại trai gái lang chạ lung tung, sinh con không nhận, thậm chí cho giết mẹ, bỏ con để chạy làng; văn hóa dân tộc nào lại “tự sướng” bằng cách giả dạng kẻ khác viết sách để tự ca ngợi mình, chôm thơ thiên hạ làm của mình như.. Bác …“Danh nhân” gì mà danh nhân; ranh nhân thì có. Tao lừa cho cả đám mà nay mới lóp ngóp có mấy tên ra mặt thú nhận là mình bị lừa, mặc dầu phần đông đã biết tẩy tao, à quên, tẩy Bác ! Nó lại đổ tội cho “nhóm Đường Mới do Nguyễn Thế Anh, Bùi Xuân Quang và Huỳnh Bá Yết Dương thành lập năm 1983 với sự tham gia của các nhà văn, nhà báo, sử gia Pháp và Anh như Olivier Tood, Jean–François Revel, Ralph B. Smith.” Đúng là con dở hơi: UNESCO mà nó cứ tưởng như nước CHXHCNVN. Mười lăm đồng chí bí thư đảng hù được mấy trăm ông đại biểu quốc hội, chứ mấy anh Mít kia với vài tên mũi lỏ mắt xanh có hòng mà “đẩy lùi” nổi “chủ trương lớn” của cả một tổ chức quốc tế quyền uy! Và Bác đây cũng nghĩ là những nhà khoa bảng trong ủy ban UNESCO không hèn như mấy ông nghị gật nghị cúi nhà ta!

    Nói đi rồi nói lại, gì thì gì, Bác cũng còn tiếc cái cái mã ”Nhà văn hóa dân tộc” mà con Hương đang giở giọng khiếu …kiện. Hay là con Hương đang tiện ở giữa Kinh Đô Ánh Sáng có cách gì nghiên kíu ra chứng cớ để cãi lại những điều bất xứng mà “Nhóm Đường Mới” trưng ra để “đẩy lùi UNESCO” trong hồ sơ phong thánh Bác,. chẳng hạn như đạo đức Bác Hồ.

    Nhưng mà không được, lỡ con Hương lúc cao hứng đấu tranh cho Bác, quên mất chuyện Bác không còn đồng trinh sạch sẽ nữa mà đã lắm bận bê bối mùi đời, nó đề nghi UNESCO thử DNA cua Bác với thằng Mạnh, anh em thằng Trung (đứa con kế thằng Trung giờ tung tích nơi mô, Bác cũng mù tịt) thì bỏ mẹ cả đám .

    Bác đà lỡ hứng, giờ lại đâm ra sợ. lỡ con Hương lại nhớ ( con này nhớ đó rồi quên đó, nên có khi bài sau viết chửi bài trước) chuyện Bác với mẹ con Cô Nông Thị Xuân nó đã viết huỵch toẹt trong “Đỉnh Cao Chói Mắt” à quên “Lọi”, nó không đòi thử DNA nữa, nhưng cứ khư khư nhì nhằng tung hô Bác, “Ông vua xứ nhỏ, thủ lĩnh một quốc gia nghèo khổ mà tài sản không có gì hơn một sự bướng bỉnh có tính định mệnh, cương quyết không chấp nhận đồng hóa thành một quận huyện hay một tỉnh nhỏ nằm trong đế chế Trung Hoa.” .

    Nó bảo Bác “cương quyết không chấp nhận đồng hoá thành một quận huyện hay một tỉnh nhỏ nằm trong đế chế Trung Hoa”.là ..phản ..cơ sở. Văn khố UNESCO chắc chắn thế nào cũng còn lưu hồ sơ Bác đã từng chỉ chỏ Đức Trần Hưng Đạo rằng “tôi dẫn năm châu đến đại đồng”.

    Tèo này, thà Việt Nam ta thành một quận, huyện hay tỉnh nhỏ của Trung Quốc, còn khá hơn cái Thế Giới Đại Đồng mà thiên hạ Đông Âu mới mấp mé liếc nhìn thấy đã khiếp đảm chạy vãi cả quần bỏ của lấy người, đã tan tành mây khói; trong khi Trung Hoa dầu sao cũng nhờ Đặng Tiểu Bình biết đổi giọng, “mèo trắng, mèo đen gì cũng được, miễn là bắt được chuột”. Mèo Tàu nay cũng đang bắt được ít nhiều chuột mà các đồng chí lãnh đạo đảng đang muốn học đòi nhưng vưà bắt lại vừa run.

    Tèo ơi đến đây,Bác muốn thét lên, “Hương ơi là Hương, cháu nhét đầy mồm Bác “Món Ăn Chân Lý”, Bác đang nghẹn cứng họng; khạc không ra , nuốt  không vô, cháu lại tống thêm khúc tráng miệng “Lịch sử là cuộc chọn lựa tàn khốc, là cuộc dời đổi khôn lường, trong đó không có chỗ cho những kẻ mộng mơ.”

    Đó, vì chính Bác là kẻ mộng mơ thiên đường Cộng sản, và chính Bác đã làm một “cuộc chọn lựa tàn khốc” nhất lịch sử dân tộc Để hôm nay Đất Nước lâm vào nông nổi chưa từng .Thân cháu phải chạy đi ăn nhờ ở đậu chốn đất khách quê người trước đây ta nguyền rủa. Ấyy là cháu còn may hơn triệu kẻ đãTrường Sơn thây vùi, Biển Đông mồi cá, và hàng hàng lớp lớp ngày nay đang đứng xếp hàng chờ được tuyển đi làm lao nô nước ngoaì, kể cả nô lệ tình dục ở tuổi thiếu nhi cho khách nước láng giềng xưa nay dân ta khinh miệt, cho là hạng man di

    Tất cả cũng vì Bác mà “Man rợ đã chiến thắng văn minh” như lời từ của miệng con Dương Thu Hương phát ra khi nó vào được Saigòn giải phóng, sáng mắt ra ngồi gục mặt bên vỉa hè đường Lê Lợi.

    Mà cái man rợ ấy cũng do Bác mang về. Có khi còn tệ hơn rước voi về dày mả tổ

     

    Bác hối hận lắm, Tèo ơi, Hương ơi

    Hãy tha cho Bác,tội nghiệp

    Bác Hồ

    TB. Phần lớn những chữ , câu trong ngoặc kép là lời Bác trích tư “Món Ăn Chân Lý” của DTH

     

     

     

     

     

     

     

     

             Kỵ Binh

                                                               13

                                               CHUYỆN THÁNG NĂM

    Chào Bác Hồ,

    Sau 75, từ khi quân Bác lỡ dzại thắng muà xuân khiến “triệu người buồn và triệu người vui” chưa kịp đã mếu khi, chẳng bao lâu sau, sáng mắt ra “bế” cái…lưà do bác và đảng của bác, người ta gọi tháng Tư là Tháng Tư Đen.

    Chỉ ba chữ “Tháng Tư Đen” thôi mà nghe nhắc đến là hiển hiện ra ngay trước mặt cả một bầu tời sập, một giai đoạn tối tăm ma quái chưa từng có trong lịch sử dân tộc; chúng lộng hành và đang nhởn nhơ biến hóa múa gậy vườn hoang, tiếp tục deo tai ương xuống đầu trăm họ , biết bao giờ nguôi.

    Tháng Tư qua. Tháng Năm đến. Tháng Tư Đen mang lại cho tháng Năm màu Đỏ không phải của đỏ đen nghĩa hên xui may rủi, mà màu đỏ của máu. Chúng hoa mắt  bịp lừa khiến thế giới không thấy cảnh “Sàigòn tắm máu”; nhưng trong thực tế cả Miền Nam máu đổ khắp cùng. Nơi rừng sâu biển cả. Trại tập trung cải tạo; máu chảy ra ngoài thịt da, và máu đổ xối  bên trong nỗi lòng hận uất tức tưởi.

    Thôi bác nhé, chuyện đồng chí cháu ngoan của bác đã “nhuốm máu anh em” ra sao, ở đâu ngày nào, thiên hạ đã kể với chứng cớ hẵn hoi trùng trùng điệp điệp ngút trời xanh được ghi lại phần nào trên mạng lưới toàn cầu. Bác chỉ cần vô Google hay Yahoo, đánh mấy chữ “Tội Ác Cộng Sản” thôi, rồi click một cái tha hồ mà thấm thía “công lao”. đ à n cháu (Bác nhớ chuẩn bị tư thế phòng hờ oan hồn bà Nguyễn Thị Năm năm xưa từng nuôi cả hàng sư đoàn Bộ đội cụ Hồ bị bác cho xách ra đấu tố rồi bắn bỏ; người chết oan, lại oan như bà Nguyễn Thị Năm, đại ân nhân của bác thì linh lắm đó nha bác). Hôm nay Tèo xin hầu bác chuyện Tháng Năm.

    Thú thật với Bác, hồi “cách mạng” vô, khi nhận lệnh đầu hàng, Tèo, dẫu không là tướng, cũng đã định chết theo thành Sài Gòn; nhưng vừa tháo chốt trái lựu đạn thì có tiếng ai như  lệnh bên tai,“Thôi đi, cuộc chiến vừa qua chỉ là cảnh huynh đệ tương tàn; chiến tranh nay đã chấm dứt,  anh em sẽ lại là anh em; chẳng đến nỗi nào đâu; hãy trở về quê, và từ đây làm lại cuộc đời và Nam Bắc nắm tay nhau dựng lại giang sơn”. Tèo không tin gì mấy, nhưng rồi cũng gài lại chốt trái lựu đạn, cam phận “hàng thần lơ láo, bó tay về với triều đinh”.

    Tèo đã buông súng, tìm thay bộ áo quần thường dân. Tèo lần đi bộ vì không đồng xu dính túi (Bác hiểu cho, sĩ quan VNCH như Tèo, từ ngày đám tướng xôi thịt bất trung bất nghì được Mỹ quẳng cho mớ Đô La giết anh em ông Diệm để đem quân vào Miền Nam, đồng Đô la xanh theo nửa triệu quân viễn chinh hoá thân  đô la đỏ khiến xã hội Miền Nam đảo lộn giai tầng; đám chị em ta, đám xưa me Tây rày me Mỹ lên ngôi, rồi tiếp theo là đám ruồi bu nhiều vô kể ăn ké; thế là đồng đô la xanh làm tanh bành đồng lương đám quân nhân công chức và đồng tiền Việt hiền lành xưa nay của đại đa số nhân dân , thành thử chưa hết tháng đã hết tiền; chứ không đúng như về sau quản giáo trại tù kết tội, “sĩ quan Ngụy các anh chuyên cướp của hiếp dâm, thiếu gì tiền bạc, anh khai gian không đúng sự thật”. Tèo đáng ra phải đóng ngoặc  lại ở đây, nhưng thêm vài hàng nữa để nhắc khéo để bác thấy, Tèo của Miền Nam vừa đánh Cộng Sản, vừa tự do chửi Mỹ, chửi cả chính quyền, chứ không như ..)

     Tèo đi trên đường Trần Quốc Toản, bây giờ đổi  thành 3 Tháng 2, thấy xe Molotova chất đầy bô đội. Cu Tèo chẳng lạ gì với bộ đội cụ hồ qua nhiều “diện” khác nhau, thứ chết trong xe PT. 76, T54 chân bị xiềng với pháo tháp, xích vào buồng lái; thứ chết nơi ven rừng bờ ruộng, nơi làng quê chốn thị thành; thứ bị thương hay còn lành lặn bị bắt làm tù binh… Nhưng Tèo không tài nào hiểu được tâm tư của quân chiến thắng sau cuộc trường chinh bao xương máu khi họ vào tiếp thu thành phố thủ đô “Ngụy”…

    Bác hẳn chưa quên phim tài liệu chiếu cảnh quân Đồng minh vào thủ đô Paris sau khi nước Pháp được giải phóng hồi Thế Chiến ll. Có thể nói hết thảy dân Paris đổ ra đường nhảy múa reo hò trèo lên quân xa ôm hôn anh giải phóng quân không cùng chủng tộc, tiếng nói; và đáp lại. anh lính Đồng minh nào cũng tươi vui thân tình.

    Cũng may cho Bác đã đi gặp các cụ tổ những Mác cùng Dao trước 30 Tháng Tư 1975. Chứ còn sống thì bác biết ăn làm sao nói làm sao với các tổ sư ấy khi chứng kiến cảnh ngày Sài Gòn “giải phóng” : quân giải phóng  trên molotova bò vào thành phố, trăm anh như một mặt thì vật ngửa lên trời, mồm thì há hốc, lặng như chết đứng trời trồng, thay vì cúi xuống hớn hở vui mừng rạng rỡ trong vinh quang khải hoàn. Trong khi đó dân Sài Gòn được “giải phóng” lại cúi gầm mặt vội vả, người vào nhà đóng cửa cái rầm , kẻ hối hả tìm đường thoát thân.

    Trên đường về hướng Hòa Hưng, Tèo thỉnh thoảng gặp các anh thương binh phe Tèo còn khoác áo quần bệnh nhân xanh da trời lê lết trên lề đường, có những người chân tay được băng bó bằng đủ màu vải; họ vừa bị  “cách mạng đuổi ra khỏi quân y viện Cộng Hoà.

    Nhớ lúc trước quân đội Miền Nam Tèo bắt đựợc bộ đội cụ hồ bị thương, dù đang giao tranh vẫn lo cứu thương họ. Tèo kể Bác điều này không phải để oán trách đám cháu ngoan của Bác; chỉ kể cho vui thôi: xã hội nào con người nấy mà Bác hỉ !

    Mấy ngày này này Tèo không có gì trong bụng. Trong xe tăng có gạo sấy , thịt hộp nhưng, phần lo “ngoan cố chống đến cùng bánh xe lịch sử” của Bác và băng đảng ở Căn cứ Nước Trong, Long Thành, phần trước vận nước đang cơn hấp hối sờ trước mặt, Tèo đắng miệng quá, không tài nào nuốt được. Trên đường từ Ngã Bảy Chợ Lớn về mãi Ngã ba Ông Tạn, Tèo thấy đói quá. May gặp người bạn xa lâu ngày rủ Tèo ghé quán.

     Khu Chợ Hòa Hưng bộ đội giải phóng đã xuất hiện nhiều.Tèo theo bạn vào một quán phở, thấy khách bộ đội nhốn nháo, ồn ào. Trông cách họ ăn uống chứng tỏ họ còn đói hơn cảTèo nhiều. Tèo không tiện tả chân ra đây, e có thể làm Bác xấu hổ. Cái đồng loạt giống nhau ở họ ngoai quân phục , nón cối giày vải (chứ không thấy dép râu) là anh nào cũng leo lên ghế ngồi chò hỏ, và khi thức ăn trong tô đã sạch thì đều vênh mặt lên oang oang; anh thì “Phở ngoài ấy thịt thái mỏng hơn và nhiều hơn nhiều”, anh thì,” Phở ngoài ấy lước dùng ( nước lèo) trong vắt”. Tèo khi đó nghĩ mình đã là công dân của một nước Việt Nam  thống nhất độc lập dân chủ tự do , nên định quay sang có ý kiến với mấy anh bộ đội : “ Hay là vì ngoài ấy thịt tiêu chuẩn tháng người ba lạng , có đâu nhiều  mà cắt cho dày; nước lèo trong vắt vì chỉ toàn nước lã nấu với muối”, nhưng chưa kịp thì từ bàn sau lưng có tiếng thịnh nộ,” cái bọn lính ngụy ở Căn cứ Lước Trong nà nì nợm ngoan cố ác ôn nhất, chúng gây thiệt hại nớn nao cho cách mạng. Phải trừng trị bọn lày đích đáng”. Tèo nghe ,mất lửa; thôi tránh voi chẳng xấu mặt nào !

    Thú thật với bác, Tèo cũng sợ bi “cách mạng trừng trị đích đáng” nên lo chuồn khỏi Sài Gòn cáng sớm càng tốt. Cách mạng ra thông báo “Ngụy quân Ngụy quyền” phải đi trình diện Ủy ban quân quản.Tèo đến trụ sở quân quản đặt tại trường ĐH Vạn Hạnh, trình diện để có cái giấy cầm tay đi đường. Bác có biết không, người Tèo đến trình diện lại là một anh sĩ quan”Ngụy”, mới cách đây vài năm, cùng Tèo học chung khoá Sĩ quan Căn bản Chiến tranh Chinh trị 2 tháng tại trường ĐHHCTCT ở Dalat! Hai người nhận ra nhau và anh này còn tỏ ra vui vẻ, thân mật bảo Tèo “Hay mày ở lại đây làm việc với tao”. Tèo chẳng bận tâm anh bạn “Ngụy” giác ngộ cách mạng khi nào, người của cách mạng từ lâu, hay là cách mạng 30, Tèo đưa hoàn cảnh cha mẹ già để từ chối và khẩn khoản, “làm ơn ghi rõ trong giấy vài hàng cho tao đi đường bằng an”.

    Bác khoan thói cũ mừng vội, nghĩ,” thấy không, đã bảo là quân ngụy mà”. Không đâu Bác. Hồi cùng học với anh bạn vừa kể, trường ĐH CTCT có ông Trung Úy ( về sau lên Đại úy) Quách Dựơc Thanh, dạy môn “Phê phán Chủ nghĩa Cộng sản”. Mời Bác đọc qua vài hàng đối thoại giữa chính ủy VC Hai Thâu và Đại Úy VNCH tại hội trường trại cải tạo Chi Lăng, Châu Đốc, năm 1976,  trich từ bài viết của Hoành Nguyễn , bạn cùng tù:

    Hai Thâu: Tại sao các anh bôi bác cách mạng qua hình vẽ tuyên truyền, 3 người VC ốm tong teo trèo lên nhánh đu đủ không gãy??

    QDT đáp: Phàm trong Chiến tranh chính trị, bên nào cũng tô vẽ nên hình ảnh kẻ thù mình xấu xí để người dân khinh bỉ chê cười.

    Hỏi tiếp: Theo anh, Nước Campuchia sẽ về đâu?

    Đáp: Nhân dân Campuchia tu theo Phật giáo Tiểu thừa, không thể nào chấp nhận chủ nghĩa Cộng Sản.

    Hỏi: Các tôn giáo nghĩ thế nào, dưới sự lãnh đạo của đảng Cộng Sản Mác – Lênin?

    Đáp: Họ nghĩ, đây là thời kỳ pháp nạn!

    Hỏi: Thế còn người dân miền Nam.

    Đáp: Người dân miền Nam có kinh nghiệm, nhìn và đánh giá một chế độ tốt hoặc xấu là từ nhân cách của người cầm quyền cai trị ngay chính tại địa phương mình; Nhưng hiện nay, nhiều Cán bộ nắm chính quyền đã phát sinh thêm bịnh quan liêu nhũng lạm.

    Không viết ra, Bác cũng đoán ra những người chiến thắng sau đó đã hành xử thế nào với người sĩ quan VNCH đã buông súng. Đại úy Quách Dược Thanh đã bi Thượng úy Chín Sanh dùng dây điện xiết cổ chết trong thùng coneck giữa đêm khuya, tại trại Cải tạo Vường Đào, Cai Lậy, Định Tường;

    Bác khoan thói cũ mừng vội, nghĩ,” thấy không  đã bảo là quân ngụy mà”.

    Bạn cùng khóa có Hải quân Đại Úy Lê Anh Tuấn, về sau là Thiếu tá giữ chức Chỉ huy trưởng Giang Đoàn 43 Ngăn Chặn; ngày 30/4/75  khi giang đòan chở đồng bào di tản bị địch phục vây, lại vừa có lệnh đầu hàng của Dương Văn Minh,

    Trước tình thế đó, trên các chiến đỉnh thì chi chít những đàn bà, trẻ con liều ra thì chết hết…. Do đó, Thiếu TáTuấn ra lệnh cho tất cả chiến đỉnh thi hành lệnh của Sàigòn, ủi bãi vào bờ chiếc soái đỉnh của Tuấn cũng vậy, nhưng khi chiếc soái đỉnh vừa ủi bãi thì cũng là lúc Tuấn dùng súng colt bắn vào đầu tự sát. Tuấn gục ngay trên bàn máu chảy loang cả trên tấm bản đồ hành quân.

    Tèo kể sơ sơ để Bác thấy quân sĩ VNCH đầy khí phách, bất khuất ,có tự do, chứ không như phe “cách mạng”, đầu óc luôn bị trói bởi chính ủy, chân  cẳng bị xích vào chân đại pháo, xe tăng .

    Trên đường về quê, xe phải dừng lại trước liên miên trạm gác. Khách làm gì dám còn vũ khí giờ này. Phải tịch thu hết mọi thự. Cái gì cũng có thể là chiến lợi phẩm cho quân giải phóng . Mới hôm qua “hạt muối phải cắn làm tư để cứu đồng bào Miền Nam ruột thịt bị Mỹ Ngụy kìm kẹp” mà nay mới giải phóngđược mấy ngày mà từng đoàn xe tiếp nối từng đoàn xe chất đầy xe đạp, xe gắn máy, radio TV tủ lạnh nườm nượp trực chỉ phương Bắc. Giải phóng gì kỳ vậy!

    “Khi đất nước tôi thanh bình tôi sẽ…” Đúng rồi, chờ đất nước tôi thanh bình, chứ bây giờ mới hết chiến tranh. chỉ hoà bình. Tôi chưa được đi đâu hết ngoài việc đi …

    Hai ngày sau về đến nhà, du kích đã đến dắt Tèo đi cải tạo. Trong Trung tâm Cải huấn, cầm cái bát cách mạng goị là cơm vừa được chia phần: những hạt cơm hiếm hoicòm cõ cơm nai lưng cõng những lát sắn mì tổ tướng màu đục đục nâu nâu.Tèo đưa mắt nhìn người bạn tù đồng hương đứng bên cạnh, cũng cái bát trên tay. Anh ta lấy ngón tay khều khều miếng khoai, chỉ ngón trỏ vào đó, nói, “Tao chạy mặt mày đựợc hai mươi năm nay, giờ mày lại mò vào đây lại khốn nạn thân tao“.

    1975, Tháng Tư đen, tháng Năm tỏn tèn “giải phóng”, bác nạ !

     

     Cu Tèo

       

    ——————————————————————————————————–

       CHỊ GIỜ TRÔI DẠT NƠI NAO

                                 (Để tưởng niệm cách riêng những phụ nữ Miền Nam lâm nạn sau 30 Tháng Tư,1975)

       

       Chị ơi.,

    Đã ba muơi tư năm rồi, mà chuyện như mới hôm kia hôm qua.

    Chiều 30 Tháng Tư, năm 1975, em đến nhà Chị.Từ ngày vào lính, đã bảy năm, lần đầu tiên không với bộ quân phục, nhưng trong bộ quần áo civil cụt cỡn, lẹt xẹt đôi dép nhỏ hơn chân. Chị ra mở cửa, sững sờ một thoáng rồi cũng nhận ra, ôm lấy em, nói như khóc:

     “Chúng nó vào, chết rồi chú ơi!”.

     

    Em vừa buông súng, bỏ chiến xa; đơn vị tan hàng,sau khi kéo về Ngã Bảy Chợ Lớn, theo lệnh trên, và “từ giờ phút này, con cái ai đi được đâu thì đi”.

     

    Em không đến nhà Th., trên đường Trần Hoàng Quân, chỉ cách mấy phút đi bộ, như trước đây mỗi lần em xuống khỏi xe Lam hay xe buýt nơi trạm Ngã Bảy này. Chẳng phải vì em sợ nàng không còn thấy trên ve áo ba bông mai nàng mới gửi tặng em qua đường bưu điện ngày em được thăng cấp mà em vừa lột xuống, để lại trong lòng chiến xa.

     

     Dựa vào tin tức sụp đổ giây chuyền quá nhanh sau khi Cao Nguyên thất thủ,và nghe được những nhận định tình hình của người cậu Đại tá phục vụ tại Bộ TTM,Th.đã bày tỏ cùng em nỗi lo sợ Việt Cộng không bao lâu nữa sẽ vào đến Sài gòn, nhưng em nghĩ là nàng đã không ngờ được quân đội ta lại bị chiến bại một cách tức tưởi,bẽ bàng, nhục nhã, và người lính chúng em bị bỏ rơi như thệ; em không thể để Th. thấy em trở về trong tình cảnh thê thảm ấy. Nó tàn nhẫn quá đối với tâm hồn người thiếu nữ mà ký ức đã đượm in hình ảnh người “anh hùng kỵ binh” từ lúc nàng mới tuổi mười bốn

     

    Em cùng vài người khác nữa đi theo một đồng đội, Đại úy Trg. ghé nhà anh ta cũng gần đó để xin bộ quần áo dân sự. Ngoài đường đã xuất hiện bọn “hoạt động nội thành”, và lác đác những loạt đạn AK. Người vợ bạn vẫn bình tĩnh, hai tay cầm cái thau chìa ra cho từng người đặt vào đó súng lục, lựu đạn và giấy tờ liên quan đến nhà binh, để nhờ anh chị ấy “thanh toán” cho.

     

    Người ta lột da con thỏ khi nó đã chết. Mấy đứa hàng binh bọn em trút bỏ quân phục như tự lột da của chính mình. Em chợt ân hận đã gài lại chốt trái lựu đạn em đã mở ra để tự sát khi rời khỏi chiến xa và đứng quay mặt về Đại lộ Trần Hoàng Quân, mấp máy môi lời vĩnh biệt Th. và tự hỏi không biết Thg., anh của Th., phi công chiến đấu cơ Ạ37, có đưa gia đình thóat được không.

     

    “Chúng nó vào, chết rồi chú ơi!” Em ngạc nhiên. Trước đây mỗi khi về phép, nhìn thấy em ngày một dạn dày phong sương, nghe em kể tên bạn đồng khóa đứa bị thương đứa chết lần mòn; ra trường về cùng đơn vị, mười ba thằng, chỉ một năm sau, còn phân nửa, và nhất là lần em trở về với một nửa mặt xám xịt, với một cánh tay đeo trước ngực bằng cuộn băng trắng choàng qua cổ, Chị càng thôi thúc em,” đào ngũ đi chú, chị thấy tội nghiệp các chú quá; để Cộng Sản nó vào cũng được.”.

     

     

    “Cộng Sản nó vào cũng được!” Không chỉ vì ”thấy tội nghiệp” đứa em họ của chồng, mà vì tin tức hằng ngày qua báo chí, truyền hinh, những cảnh  pháo kích, đặt mìn xe đò ,tung lựu đạn trong rạp hát, mồ chôn tập thể thể, sự tàn bạo của chiến tranh, dù chúng ta ở phía tự vệ, đã khiến Chị thốt lên lời như thế;Chị quên mất những chuyện trước đây Chị đã được kể. Trên đất Bắc, anh đã bị chúng đến còng tay bắt đi trước con mắt ngơ ngác của đám học trò; anh đi tù rồi trốn đi Nam; chuyện mật khu Dương Minh Châu “lên hồ sơ” anh mà Sư Đoàn 5 hành quân tịch thu được, và vô số những chuyển kể năm.. 1954, kinh hoàng, oan nghiệt trong xã hội Miền Bắc cọng sản.

     

    Chính em đây, dẫu đã nếm mùi lang sói từ bé, cũng có lúc rã rời chán nản; thoáng có ý nghĩ theo Chị,” đào ngũ đi chú”. Đó là những khi từ mặt trận trở về, chứng kiến cảnh vô tình của người hậu phương, cảnh phản bội trắng trợn của không ít đám người mệnh danh trí thức đang sống an bình nơi phố thị. hay bản thân trăn trở trước những điều khó hiểu. Chẳng hạn sự đãi ngộ bất công đầy vô lý ngay từ bộ máy chính quyền đối với những người lính thuộc Binh chủng Thiết Giáp trực diện với địch quân ngoài chiến trường ,lại không được được kể là thành phần chiến đấu, về mặt quyền lợi, như những người lính thuộc binh chủng khác có khi,xung phong vào mục tiêu, còn chạy phía sau! Chẳng hạn, đến bây giờ 34 năm sau cuộc chiến, em vẫn không hiểu được tại sao chính quyền miền Nam thời đó đã chẳng những cho phổ biến thoái mái, mà còn gửi “Đoàn Văn Nghệ Trung Ương” đi ủy lạo chiến trường, hát bài “Nối Vòng Tay Lớn” có nội dung ai cũng rõ tình ý là ngợi ca cổ vũ đoàn quân xâm lược, như đầu tháng Tư (hay cuối tháng Ba?) 1975 tạiTrường Thiết Giáp ở Long Thành, sau trận phản công chiến thắng bọn Đặc Công VC. Không biết cô ca sĩ NM đang khi hát, “Từ Bắc vô Nam nối liền nắm tay…Gặp nhau mừng như bão cát quay cuồng..” có thoang thoảng ngửi thấy mùi xác chết của đám bộ đội cụ Hồ chuyên đi ăn đêm với “chỉ tiêu” trăm trận trăm thắng hôm qua chất đống dưới cột cờ gần đó?( Có người nói,” Hát như thế, nó vô Sài Gòn ngon ơ là phải”).

     

    “Chúng nó vào, chết rồi chú ơi”. Chị đã chết, nhưng Chị không ngờ được cái chết do chúng nó mang từ Bắc vào bi thảm đến ngần ấỵ

     

    “Bọn Ngụy, ta bắt đi tù; nhà chúng, ta ở; vợ chúng ta chơi; con chúng ta

    bắt làm nô lệ”. 

     

    Anh đi lưu đày mãi đất bắc xa xăm; Chị cùng đàn con thơ bị lùa lên chốn rừng thiêng nước độc; những trẻ thơ“đẹp tựa thiên thần” thoắt một cái hóa thành, thân thì bụng ỏng da chì, hồn trí thì ngẩn ngơ đờ đẫn. Phần Chị đã bị bao cán bộ công an đến tán tỉnh, khi thì dụ dỗ ngọt bùi, khi hăm dọa hãm hiếp; chúng cũng không buông tha thân người đàn bà đã phờ phạc vì đừơng xa băng rừng vượt suối đang đêm thao thức trong lán trại chờ sáng gặp thăm chồng. Chị đã bán đến cái gia sản cuối cùng là chiếc áo cưới anh sắm cho để mua được con gà và gói thuốc chuột, với ý định quyên sinh một lần mấy mẹ con, nhưng khi từng tô cháo đã được múc ra, cháu lớn đã “mẹ ơi con còn muốn sống”.

     

    Chị cũng còn muốn sống với đàn con, và theo lời khuyên của anh từ trại tù, tìm đường vượt biên, nhưng đường đi không đến.

     

     Chúng nó đã vào,Chị đã chết. Giữa Biển Đông, Chị tôi có còn lại chút hình hài nào, và giờ trôi dạt về nơi đâu ?

     

     

                                      Chương Khuê, 

             Nước Non ngàn dặm,Tháng Tư 2009

     

     



  • Tạp ghi

    BÀI CA BÁN ÐĨA

               BÀI CA BÁN ÐĨA

               GIAO CHỈ, SAN JOSE (Viet Tribune)

     

    Chuyện trong nhà :

    Hơn 30 năm trước, đến định cư tại tiểu bang Illinois, ngay tại thủ đô Springfield, sống nơi băng giá, tức cảnh sinh tình, tôi bèn cầm bút trở lại viết một loạt tạp ghi và hoàn tất câu chuyện “Chân trời dâu bể.”

    Mấy năm sau, di cư thêm một lần, tây tiến về Cali, in thành cuốn sách “ Cõi Tự Do “.Bèn lấy kinh nghiệm xuất bản tác phẩm tại Hoa Kỳ nên viết thêm được bài văn đặt tên là “ Bài ca bán sách “.Ðược anh em xếp vào loại bài ca con cá. Buồn nhiều hơn vui.

    Tuy nhiên, câu chuyện viết sách, in sách và phát hành sách tại hải ngoại vào thời kỳ 80  cũng là một kinh nghiệm mới lạ và thú vị.

    Ngày nay, hơn 30 năm sau, chúng tôi góp phần vào việc làm vài đĩa DVD gồm cả tổ chức văn nghệ, sưu tầm tài liệu, quay phim, cắt ráp, phát hành .

    Bây giờ đem kể ra hết chuyện trong nhà, gọi là có thêm các kinh nghiệm và những điều thú vị rất mới.

    Trước hết là chúng tôi vốn sẵn có tài liệu sưu tầm rất nhiều năm, đặc biệt là Video về chuyện quê nhà trước 75 và chuyện cộng đồng hải ngoại sau 75. Nếu không khai thác xử dụng thì kho tàng cũng thành vô dụng. Trong nội bộ cơ quan, may có ông Phạm phú Nam là người thấy được các giá trị của di sản nên đã đưa hình ảnh ra ánh sáng.

    Rồi thêm những buổi văn nghệ trình diễn thu hình và các đoạn phim ngắn thời sự dành cho TV được giữ lại. Sự phát triển của Internet, của các chương trình Radio, TV Việt ngữ góp phần quan trọng vào việc sáng tạo. Sau cùng, ông Nam vốn là tay ngang, một mình vừa đạo diễn, vừa quay, vừa cắt ráp để hoàn thành những bộ DVD đã cho phát hành. Ðó chính là chuyện trong nhà, xin kể ra cho hết một lần.Tinh thần chúng tôi rất cao, nhưng khả năng thì lại rất giới hạn.

     

    Vết thương tài chánh :

    Con số người Việt di tản thực sự gọi là tỵ nạn trên thế giới hơn 2 triệu người. Có lẽ không ai lúc ra đi mà lại có ý định sẽ làm một Viện bảo tàng Việt Nam. Chúng tôi cũng vậy. Nhưng cơ duyên và nghiệp dĩ đưa đẩy chúng tôi vào con đường sưu tầm đã dẫn đến việc hoàn thành một ngôi nhà bảo tàng. Trị giá di sản và tác phẩm vừa sưu tầm vừa sáng tạo là 1 triệu mỹ kim tính đến năm 2009. Ngôi nhà cổ tại Kelly Park, San Jose lúc đầu dự trù sửa chữa lối $100 ngàn US. Tính toán quá sai lầm, sửa chửa thực sự suốt 3 năm, bây giờ chi ra gần $400,000 mỹ kim .

    Dư luận thắc mắc lấy tiền đâu mà làm. Thiên hạ đồn đủ mọi kiểu. Vốn là cơ quan thiện nguyện đã nhận tài trợ của chính phủ suốt 33 năm, họ đồn rằng chắc là toàn xoay tiền của nhà nước. Có người lại nói là lấy tiền của tài phiệt hay xin tiền của thành phố. Người giầu tưởng tượng lại nói là tiền của CIA. May thay chưa có ai đồn là cộng sản cho tiền để xây dựng bảo tàng VNCH.

    Sự thực đã tiêu hết tiền quỹ $300,000 mỹ kim của cơ quan để dành trên 20 năm. Phần còn lại gia đình đóng góp, bạn bè cho vay và các ân nhân thân hữu ủng hộ. Tất cã góp lại thành một tài sản là Viện bảo tàng (Viet Museum) cho thế hệ tương lai. Xin cảm tạ hơn một trăm ân nhân góp mỗi người trên $1,000 có tên ghi danh trên bảng đồng vĩnh cửu. Mười ân nhân danh dự mỗi người cho vay từ $10 ngàn đến $30 ngàn. Năm 2007 trả nợ được $50 ngàn. Từ 2008 đến nay anh em đành khất nợ, số phận tài chánh của cơ quan đang nổi trôi theo nhịp thở thoi thóp của toàn cầu. Kinh tế xuống dốc, tấm lòng từ tâm trong thiên hạ đã khép lại. Ðành chờ một ngày mai tươi sáng hơn. Công đức vẫn ghi lòng tạc dạ. Sống để dạ, chết mang theo. Nhà riêng treo bảng bán hai lần vẫn chưa có khách. Nhưng có điều quan trọng hơn cả là, nếu thời gian qua không khởi công liều lĩnh thì sẽ không bao giờ hoàn tất được công trình lịch sử này.

    Ngày nay có được một viện bảo tàng tuy là vô giá, mua không ai bán, nhưng bán cũng chẳng ai mua. Trên thực tế trị giá địa ốc, tác phẩm và di sản của Viện bảo tàng định giá là 3 triệu 500 ngàn mỹ kim. Trước sau Museum này sẽ thuộc về công sản của Thành phố. City of San Jose sẽ nhận lãnh việc bảo toàn lâu dài về sau. Nhưng ngay bây giờ cơ quan vẫn còn có món nợ $300,000 ngàn phải thanh toán. Trong phạm vi nội bộ, ông đạo diễn cũng là nhà sản xuất Phạm Phú Nam của IRCC, Inc. dự trù sẽ tung ra DVD “ Chân dung người lính VNCH “ để lấy tiền trả nợ. Ðược bao nhiêu hay bấy nhiêu.

    Chúng tôi lạc quan và hào hứng tính rằng nếu có được 10 ngàn khán giả ủng hộ, hy vọng sẽ có được 1 số tiền khả quan giải quyết nhu cầu tài chánh, đúng vào thời kỳ kinh tế khó khăn nhất của nước Mỹ.

     

    Thành thực khai báo :

    Có lẽ quý vị từng sống dưới thời cộng sản đã quen với chữ thành thực khai báo. Ðể có kinh nghiệm về việc sản xuất DVD chúng tôi xin kể chuyện riêng tư hết sức thành thực như sau :

    Tổ chức 3 kỳ văn nghệ, coi như thành công, tốn kém cộng chung trên 100 ngàn mỹ kim nhưng kết quả tài chánh rất khiêm nhường. Có chút kinh nghiệm và tiếng tăm nhưng tiền bạc gần như không đáng kể. Các cụ nhà ta vẫn hay nói: Có tiếng nhưng không có miếng. Chúng tôi chỉ còn lại những thước phim rất giá trị. Cơ quan liền cho phát hành DVD “ Những tình khúc thời chinh chiến”

    tiếp theo là DVD “ Lịch sử ngàn người viết”. Cả 2 lần tuy kết quả khích lệ nhưng về tài chánh thì không thể giải quyết được món nợ 300 ngàn mỹ kim. Năm nay, ông Nam tu chỉnh lại các DVD cũ, thực hiện thêm các đĩa DVD mới. Tập trung thành 1 bộ 4 đĩa, dự trù sản xuất và phát hành nhiều đợt, mỗi kỳ in từ 1,000 hay 2,000 bộ. Chúng tôi áp dụng phương pháp trực tiếp. Xử dụng Radio, Internet, TV gửi tin thẳng đến khán thính giả đặt mua.

    Nếu thực sự có được 1,000 đồng hương ủng hộ, thì sẽ có lời $10,000 mỹ kim theo bản “thành thực khai báo” như sau :

    Ðặt in 2000 copies, gồm 4 đĩa, in hình trên đĩa, hình trên hộp, hình quảng bá, đóng gói.. giá thành là 5 mỹ kim một bộ. Tiền gửi đi, bao thư, chi phí văn phòng và bưu phí trung bình trong nước hay ngoại quốc tính chung là 5 mỹ kim. Nếu được ủng hộ 20 mỹ kim 1 bộ, phát hành 1000 bộ sẽ có lời $10,000 mỹ kim để đóng góp cho việc trả nợ Museum. Mục tiêu này xem ra có thể đạt được. Tuy nhiên con đường đi tới 10,000 người ủng hộ, xem ra rất xa vời. Chẳng biết cô Thúy Nga, cậu Asia làm ăn ra sao, phần chúng tôi khả năng phát hành hoàn toàn trông cậy vào tình chiến hữu của bà con ta. Không có các đại lý ngoài chợ đời vì e rằng chân dung người chiến sĩ sẽ bị chìm trong rừng DVD thương mại.

     

    Chan chứa ân tình :

    Mặc dù mục tiêu tài chánh còn xa vời, nhưng sản phẩm của chúng tôi đã được đáp ứng với chan chứa ân tình. Sau đây là những tin tức mới ghi nhận được sau khi xem phim Chân dung người lính VNCH.

     

     

                 

     

     

    Bác Vương Ðình Toàn từ xứ Kansas tâm sự :

    Các ông ơi, tôi là lính chiến nhưng ngày nay mới 68 tuổi đã ngồi xe lăn vì bệnh, chẳng phải vì chiến thương. Nhận được DVD mở ra coi 1 đoạn tôi phải tắt ngay; nói với vợ con, cái này không thể coi một mình. Bảo vợ nấu nồi cháo gà thật lớn, gọi mấy ông bạn nhà binh đem vợ con đến; vừa ăn vừa coi. Anh em cãi nhau xem đĩa nào trước, đĩa nào sau. Tôi nói cứ theo thứ tự người ta làm mà coi. Các ông ơi, chúng tôi coi từ 6 giờ chiều đến gần nửa đêm. Ðàn bà khóc thút thít, đàn ông quên cả uống rượu. Ðau quá các ông ơi ! mình như thế mà lại thua thì đau thật. Tôi biết ý các ông rồi. Ðoạn cuối của đĩa thứ 4 các ông cho bài Hội nghị Diên Hồng vào là đúng quá. Muốn gài độ cho Việt Nam phải đánh Tàu là hợp lòng người, hợp ý Trời.

    Ông bạn khác từ Chicago gọi điện về cho biết ý kiến rất gần với nhà sản xuất. Nói rằng thực chưa có chương trình văn nghệ nào nhiều người diễn xuất như thế . Không nói về khán giả, nói về các khuôn mặt tham dự trên sân khấu trình diễn đã có cả mấy trăm người. Tìm thấy nhiều người quen.

    Một bà viết rằng các ông nói một đằng làm một nẻo, bảo rằng không có ca sĩ tên tuổi, sao lại có Nam Lộc, Ý Lan, Khánh Ly, Như Quỳnh, Nguyễn Ðức Quang, Kiều Chinh, Nguyệt Ánh, Việt Dzũng. Người ta thì quảng cáo có tên danh ca, khi trình diễn lại không có. Ở đây thì quảng cáo không có, lại thấy xuất hiện. Nhưng cô Nguyệt Ánh, Việt Dzũng chỉ nói mà không thấy trình diễn. Ðó là phần trách cứ rất thân tình đã ghi nhận như lời khen tặng.

    Quan trọng hơn hết chúng tôi biết chắc rằng DVD gửi ra đã đem đến món quà rất đặc biệt cho hàng ngàn gia đình.

     

    Ca bài con cá.

    Tin mới nhất cho biết, mặc dù phát hành trực tiếp nhưng cũng đã có thân hữu cho biết thiên hạ bắt đầu sao chép lại đem bán cho các cửa tiệm. Chúng tôi thực sự chưa thấy mặt mũi copy ra sao. Xin kêu gọi quí vị tiếp tay bảo vệ, không phải giúp cho một cơ sở thương mại mà giúp cho sự sống còn của Dân Sinh media và viện Bảo tàng Việt Nam. Bài ca bán Ðĩa này xin kêu goi mỗi gia đình đã xem DVD của chúng tôi trở thành một đại lý phát hành. Hãy kêu gọi thân hữu tiếp tay phổ biến rộng rãi. Viện bảo tàng vẫn còn chào đón các ân nhân ghi tên trên bức tường công đức cho cả trăm năm sau. Có thể nhân danh gia đình ghi danh cho các thân nhân là chiến sĩ và thuyền nhân đã qua đời. Quí vị tặng 100 mỹ kim hay mua nhiều DVD trên 100 mỹ kim đều có tên trong danh sách hội viên danh dự của Museum. Sẽ nhận được bản đặc san Dân Sinh với chủ đề Xuân, Hạ, Thu, Ðông ba tháng một lần, kèm theo CD về các đề tài đã được phát thanh trong thời gian qua.

    Khi quí vị đọc được tin này, nghe những câu chuyện này thì phần lớn thân hữu yêu cầu đã nhận được DVD. Xin hãy dành những giây phút bình tâm lắng đọng. Gác bỏ chuyện bên đường, tạm quên những ưu tư phiền phức quanh mình. Ngồi xuống bên người thân hay các chiến hữu. Máy hiện lên hình ảnh cùng với nhịp quân hành. Lon bia Mỹ hay ly ruợu đỏ trên tay. Thả hồn lính chơi vơi về thời quá khứ.

     

     

                                   

     

    Ðĩa số 1 là tài liệu mới nhất. Chân dung người lính của thời binh lửa. Ngày hội ngộ 30 năm sau. Ðệ nhất và đệ nhị cộng hòa. Mỹ đến rồi Mỹ đi.

    Từ di tản đến tù đầy, vượt biên và sau cùng là đoàn tụ. Hãy cho chúng tôi biết quí vị tâm đắc ở đoạn nào?

     

     

                                     

     

    Ðĩa số 2 là tám câu chuyện về đời lính. Ðủ cả hải lục không quân, nhưng hoàn toàn khác biệt và lôi cuốn. Hãy cho chúng tôi biết quí vị tâm đắc ở chuyện nào.

     

                                    

     

    Ðĩa số 3 là 12 phân cảnh với những khúc quân hành chen lẫn với tình ca thời chinh chiến. Những ca sĩ tên tuổi và những nghệ sĩ vô danh. Hãy cho chúng tôi biết quí vị chọn được bài nào.

     

     

                                     

     

    Ðĩa số 4 với 14 tiết mục dưới danh hiệu Lịch sử ngàn người viết được coi là tài liệu phong phú đầy kỷ niệm lịch sử. Hãy cho chúng tôi biết quí vị đặt trái tim trong đoạn phim nào?

    Một khán giả thân yêu của chúng tôi đã viết rằng, cứ xem xong một đĩa phim là anh lại thắp một nén nhang trên bàn thờ. Nào ai biết, ai là anh lính ngồi xem, ai là người lính ngồi trên bàn thờ. Trong DVD chân dung người lính VNCH 2009 ai là người đã ra đi và ai là người còn ở lại. Qua năm 2010, chúng ta sẽ kỷ niệm ngày quân lực lần thứ 45, tính từ năm 1965. Qua năm 2010, ghi dấu chúng ta tan hàng vừa đủ 35 năm, tính từ năm 1975. Xin cho biết 35 năm qua, đã có được năm nào là năm hạnh phúc, hay chưa bao giờ bạn có được một ngày vui.

     

    Bộ phim DVD gồm 4 đĩa do Dân Sinh Media San Jose sản xuất nhân danh Viện Bảo Tàng Thuyền Nhân và Việt Nam Cộng Hòa, dưới sự bảo trợ của Immigrant Resettlement and Cultural Center, Inc. (E. irccsj@yahoo.com)

     

                     To Order: Sent $20.00 US to:  IRCC, Inc.

                                                                    1445 Koll Circle #110

                                                                    San Jose –  CA. 95112

                                                                                            USA

     

                                                                    Phone : (408) 392-9923

                           

                           

                                              

                        

  • Tạp ghi

    Linh Mục Phê Rô TRƯƠNG BÁ CẦN NỖI NIỀM BIẾT TỎ CÙNG AI

    Xin đọc để rộng đường tham khảo về Linh Mục Phê-Rô Trương Bá Cần.

    ***********************

    Linh Mục Phê Rô TRƯƠNG BÁ CẦN Nỗi miền biết tỏ cùng ai

     

                Linh mục Phê rô Trương Bá Cần, nguyên Tổng tuyên uý Thanh Lao Công, đã vĩnh viễn ra đi.

                Nhìn lại cuộc đời và sự nghiệp của ông luôn là một dấu hỏi đối với nhiều người Công giáo Việt Nam. Đặc biệt là những cộng đoàn công giáo thuộc Tổng Giáo phận Sài gòn. Nhiều người còn gọi ông là Linh mục đỏ, Linh mục quốc doanh…Tôi có nhiều người bạn tù thân thiết cũng nghĩ về ông như vậy. Chính ông cũng biết rõ điều đó. Khi nhà cầm quyền Hà Nội đàn áp tu sĩ, giáo dân trong vụ Toà Khâm sứ cũ và giáo xứ Thái Hà, Hà Nội, đã có nhiều bài báo viết trên mạng phê phán ông gay gắt. Ông cho người cháu in các bài đó đưa cho tôi đọc rồi lắc đầu than thở, không hiểu sao họ chửi mình. Ông còn cho tôi biết, anh Phạm Tất Hanh, nguyên thành viên Ban Chấp hành Trung ương Thanh Lao Công cũng viết bài phê phán ông đăng trong Tạp chí Nhà Chúa ở Hoa Kỳ.

                Lúc này, ông không còn có mặt trên thế gian đầy biến động này nữa. Ông đi về nước Chúa hay đến một nơi nào khác, tôi không biết. Tôi nhắc lại chuyện trên không nhằm phê phán ông. Tôi cũng không xét xem những việc ông làm đúng hay sai. Đúng hay sai đó là việc mà ông phải đối diện với lương tâm, ông sẽ chịu trách nhiệm trước Thiên Chúa, Người đã cho ông ơn kêu gọi để trở thành mục tử, mang sứ mạng rao giảng Tin mừng, dọn đường cho Chúa đến.

                Tôi thực tâm luôn coi ông là người Thầy, người Cha thân thiết, gần gũi nhưng khó hiểu. Ông đã khai mở cho tâm trí tôi dòng suy nghĩ về thế giới hôm nay, về giáo hội, nhất là về thân phận những con người thấp hèn đang sống cơ cực trên quê hương này.

                Tôi đã đến và làm việc ở trụ sở Thanh Lao Công tại số 370 Lê văn Duyệt Sài Gòn vào cuối tháng Năm năm 1972, lúc bấy giờ nhiều thủ lãnh Thanh Lao Công nam bị chính quyền Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu bắt bỏ tù. Tại trụ sở Thanh Lao Công nam chỉ còn vài người gồm các anh Nguyễn Ngọc Hà, Hạ sĩ nhất Không quân, Nguyễn Sinh Tiềm, Y tá Thượng sĩ Quân y viện Ngô Quyền Thủ Đức; các anh Lê Văn Long và Trần Văn Quân là những sinh viên trốn lính; công việc của hai anh sinh viên này là đánh máy và in ronéo tạp chí CHỌN, báo Tin Mừng Hôm Nay và bản tin Thanh Lao Công (đến năm 1974, các anh có đánh máy và in thêm Tạp chí SỰ THẬT do Giáo sư Ngô Văn Ân, Linh mục Trần Thế Luân và tôi chủ trương); Thiếu Uý Phạm Tất Hanh, nguyên giáo viên Trường Sinh ngữ Quân đội và Chuẩn uý Nguyễn Hãy, nguyên Chủ tịch Liên đoàn Thanh Lao Công Nha Trang, thỉnh thoảng tạt qua trụ sở thăm anh em, đôi khi ngủ lại trụ sở; và tôi là thương phế binh Quân đội Việt Nam Cộng Hoà; ngoài ra, cũng còn có một người cháu trai và vài cô cháu gái của Linh mục Trương Bá Cần từ Bảo Lộc xuống ở nhờ để đi học, kết hợp với việc lo cơm nước cho ông.

                Tôi thật may mắn được đích thân Linh mục Trương Bá Cần hướng dẫn việc đọc sách. Những quyển sách phần lớn nội dung viết về Công Đồng Vatican II như Hiến chế Mục vụ trong Thế giới hôm nay, Thông điệp Mẹ và Thầy, Thông điệp Đấng Cứu chuộc Con người, Tuyên ngôn của Đại hội đồng Giám mục Thế giới, Tuyên ngôn và Quyết nghị của Hội đồng Giám mục Á châu họp tại Manila năm 1970…Đó là những quyển sách, những tài liệu mà sau khi đọc xong tôi nhận chân được rằng Giáo hội của tôi đang thực sự hoà nhập vào những hy vọng, lo âu, cùng chia sẻ những nỗi đau của thân phận con người cùng khổ. Đó là những quyển sách gối đầu nằm của tôi. Tôi đã đọc say sưa bất kể ngày đêm. Để am hiểu và đóng góp tích cực cho phong trào Thanh Lao Công, ông đưa tôi đọc quyển Vai trò Tông đồ Giáo dân, Thanh Lao Công và Phương pháp Xem- Xét – Làm. Song song với việc đọc sách, tôi phải đi học đánh máy chữ, sang nhà in Trình Bày học xếp chữ in typo, học tiếng Anh, tiếng Pháp…Ông còn giao cho tôi một công việc mà lúc đó tôi cho rằng quá nhàm chán. Mỗi ngày tôi phải ghi chép vào một quyển sổ khổ lớn tiêu đề các bài báo, tên tác giả viết liên quan đến các vấn đề giáo hội, chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá, giáo dục…đăng trên các tờ nhật báo phát hành tại Sài Gòn. Cũng chính công việc này đã cho tôi nhận thức về một xã hội thật sinh động và nhiều biến động trong xã hội lúc bấy giờ.

                Một buổi sáng, ông gọi tôi lên phòng của ông để trao đổi về Công đồng Vatican II, đặc biệt về Hiến chế Mục vụ trong thế giới hôm nay, về vai trò của chiến sĩ Thanh Lao Công – chất gây men trong cuộc sống – phải dấn thân vào sinh hoạt cộng đồng và môi trường xã hội…Tôi thẳng thắn trình bày những suy nghĩ, hiểu biết của tôi và đề nghị hướng đi mới cho phong trào Thanh Lao Công ở địa phương.

                Sau lần trao đổi đó, ngoài những công việc ở văn phòng, ông giao cho tôi cùng với hai Linh mục tuyên uý là Phan Khắc Từ và Trần Thế Luân đi cơ sở để nắm tình hình hoạt động của các đoàn Thanh Lao Công, cùng sinh hoạt với các anh chị em tại các địa phương như Nha Trang, Cam Ranh, Phan Thiết, Bình Tuy, Căn Cứ II (Long Khánh) và Phước Tỉnh…Linh mục Phan Khắc Từ và tôi thành lập Đoàn Thanh Lao Công mới tại Giáo xứ Tân thái Sơn, Đoàn Học sinh Thanh Lao Công. Đa số các em học sinh sống tại các xứ đạo Vườn Xoài, Tân Phú, Tân Thái Sơn là nòng cốt cho phong trào học sinh lúc bấy giờ. (Hiện nay, nhiều em đã thành đạt ở nước ngoài cũng như ở trong nước). Đồng thời, tôi cùng Linh mục Trần Thế Luân đến Kênh Nước Đen, cù lao Nguyễn Kiệu (Quận 4) tiếp xúc nhằm chuyển hoá các em bụi đời, chích xì ke. (Có nhiều em sau này tham gia tích cực cùng cha Luân xây dựng ngôi nhà nguyện Mẫu Tâm lúc ban đầu chỉ có không đến mười người cho đến ngày cha Luân qua đời (1988) số người theo đạo Công giáo lên tới hai trăm).

                Linh mục Trần Thế Luân và tôi hằng năm có đến ba, bốn lần đi sinh hoạt với các Đoàn Thanh Lao Công Nha Trang, Cam Ranh, Phan Thiết, Bình Tuy. Tôi còn nhớ lần đầu tiên đến Nha Trang, cha Luân dẫn tôi đến trình diện đức Giám mục Nguyễn Văn Thuận. Đức Cha bảo chúng tôi xuống báo cơm với nhà bếp, tắm rửa rồi lên gặp Đức Cha. Cuộc gặp ngài hôm đó thật giản dị, ấm cúng và sậu đậm. Ngài dẫn chúng tôi vào một phòng nhỏ, rồi, nhìn lên tượng Chúa chịu đóng đinh, Đức Cha và chúng tôi cùng làm dấu thánh giá dâng lời cầu nguyện. Ngài đọc bài thánh thư của Thánh Phao Lồ rồi diễn giải ý nghĩa của bài Thánh thư. Cha Luân và tôi cùng chia sẻ với ngài tinh thần của bài Thánh thư đó. Chỉ có thế thôi, ngài không bắt buộc chúng tôi phải làm thế này thế kia. Nhưng tôi vẫn cảm nhận lời chia sẻ bài Thánh thư của ngài như một mệnh lệnh, một huấn dụ cho chúng tôi thực thi sứ vụ tông đồ tại giáo phận mà ngài đang đảm nhận.

                Hàng quý, Linh mục Phan Khắc Từ và tôi đi công tác tại các đoàn Thanh Lao Công ở Căn cứ II (Long Khánh) và Phước Tỉnh. Đến năm 1973, do Linh mục Phan Khắc Từ xin vào làm công nhân Sở Vệ sinh Đô thành, đồng thời tham gia các tổ chức chính trị như Mặt trận Cứu đói, Uỷ ban Bảo vệ Quyền lợi Người Lao động…nên ít có thời gian đi địa phương cùng tôi.

                Cũng trong thời gian Linh mục Phan Khắc Từ đi làm công nhân vệ sinh, tôi có viết một đề án “Thay đổi Số phận Những Người Lượm Rác” và được Linh mục Trương Bá Cần tán thành. Để thực hiện đề án này, tôi đã thực thụ đi lượm rác. Mỗi sáng tinh mơ, tôi có mặt ở bãi rác Thủ Đức, tay cầm hai bao loại 50kg và chiếc cù nèo hoà cùng những người lượm rác tại đây. Sau một tuần lễ cùng lượm rác, cùng ăn cơm, cùng nghỉ trưa tại chỗ như họ, tôi đã tìm được nguyên nhân dẫn đến sự nghèo đói cùng cực của họ. Họ uống rượu như hũ chìm, đánh bài, chơi số đề, con em họ đều không được đến trường…họ thường bị các chủ vựa ve chai, phế liệu thu mua với giá rẻ mạt.

                Để thay đổi số phận của những người lượm rác, Linh mục Trương Bá Cần đồng ý cho chúng tôi dùng trụ sở Lê Văn Duyệt thành lập tổ thu mua rác phế liệu, những người đến bán phế liệu đều được cấp thẻ tổ viên để hàng quý được chia lãi. Để tăng thu nhập cho các tổ viên, ông đã cùng tôi đến công trình xây dựng Cư xá Thanh Đa gặp Kiến trúc sư Nguyễn Thiệp xin các vỏ bao xi măng, gặp ông Đức chủ hãng Cogido để thương lượng mua giấy vụn và gặp các Sơ đang công tác tại các bệnh viện Công giáo xin các vỏ bao thuốc và chai lọ…Đến đâu, chúng tôi cũng được sự đồng tình.

                Trụ sở Thanh Lao Công những ngày sau đó trở thành bãi phế liệu to đùng, người ra vào và đến làm việc tấp nập. Để tôi không bị chi phối bởi công việc của tổ thu mua phế liệu, Ông và Linh mục Phan Khắc Từ cử thầy Nguyễn Ngọc Vần đang giúp xứ Vườn Xoài sang trông coi.

                Cũng nhờ các tổ thu mua phế liệu mà nhiều anh chị em tại các giáo xứ Bùi Phát, Vườn Xoài, Tân Hương, Tân Thái Sơn và một số thanh niên, học sinh khu vực Cống Bà Xếp có việc làm. Nhiều anh chị em đã trở thành nồng cốt cho phong trào Thanh Lao Công như các chị Mai Thị Thìn, Sương, Hoà, Ngọc, Thoa, Hoa, Hà…và các em nam như Hoa, Tài, Sáu…Tất cả các chị em trên đều thuộc hai giáo xứ Bùi Phát và Vườn Xoài. Linh mục Trương Bá Cần cũng đồng ý cho chúng tôi nhận hai em Cu Tý và Bé Xíu mồ côi cha mẹ đang đi lượm rác được đến ở trong trụ sở để chúng tôi bảo bọc, nuôi nấng, dậy dỗ và được cắp sách đến trường như bao trẻ em khác. Một điều không ngờ là sau biến cố 1975, hầu hết giáo dân xứ đạo Tân Hương sống bằng nghề rác phế liệu, nhiều gia đình đã trở nện giàu có nhờ hợp đồng với chủ đất đào bới các bãi rác Mỹ hoặc móc nối với các công ty quốc doanh thầu các hộp carton và nylon phế liệu…

                Để được các chủ hãng chấp nhận thu mua rác phế liệu theo hợp đồng, chúng tôi phải làm công tác phân loại và đóng gói rác. Bao nylon phải được giặt sạch đem bán cho các hãng chế biến phế liệu mà không phải qua trung gian đầu nậu. Lần chia lãi đầu tiên các tổ viên đều nhận được một khoản tiền khá lớn, nhiều tổ viên tâm sự với tôi là trong cuộc đời chưa bao giờ họ cầm số tiền lớn như vậy.

                Nhằm thay đổi số phận những người lượm rác, thầy Vần và tôi soạn nội quy và điều lệ cho các tổ viên. Nội quy chú trọng đến các tật xấu mà họ phải bỏ như: không được uống rượu say sưa, không được đánh bài, không được ghi số đề…ai không biết chữ phải đến trụ sở mỗi tối (trừ thứ Bảy và Chủ nhật) để học cho đến khi biết đọc, biết viết. Chúng tôi nhờ các tổ viên đang học Trung học làm thầy, cô giáo đứng lớp. Tổ thu mua phế liệu phải ngừng hoạt động do ngày 30-4-1975, trụ sở bị một trung đội bộ đội đến chiếm đóng. Thầy Vần cùng các anh chị em trong Ban điều hành tổ phải chuyển về 32 Nguyễn Bỉnh Khiêm, Văn phòng Đại diện Địa phận Vinh do Linh mục Nguyễn Viết Khai quản lý.

                                                                *                      *

                                                                            *

                Hầu như chủ trương, đường hướng phát triển Thanh Lao Công miền Nam Việt Nam do Linh mục Trương Bá Cần là Tổng Tuyên uý đã không được sự đồng tình của nhiều linh mục, giáo dân nhiều xứ đạo. Theo tôi nghĩ, đó là do các linh mục và giáo dân Việt Nam chưa quen với các xu thế tiến bộ như ở các nước Âu châu, chưa thông cảm việc các cha cố xuống đường, nằm tuyệt thực trên lề đường Nguyễn Trãi trong vụ Pin Con Ó hay vụ tai tiếng do một số sinh viên giáo xứ Vườn Xoài lén vào phòng Cha chế tạo bom xăng đốt xe Mỹ …Mà cũng không hẳn như vậy, năm 1989, luật sư Đoàn Thanh Liêm, anh Phạm Tất Hanh và tôi được Đức Cha Nguyễn Văn Nhật (lúc đó là Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam) tiếp tại Tu viện Tông đồ nhỏ đặt tại địa bàn giáo xứ Bạch Lâm. Ngài nói với chúng tôi rằng ngài không hài lòng về nội dung các bài viết của báo Công giáo và Dân tộc; và chính ngài đã thông báo miệng cho các cha trong địa phận không nên đọc báo Công giáo và Dân tộc. Tôi không chia sẻ gì với đức Cha nhưng trong thâm tâm, tôi cũng cảm nhận như vậy. Tôi đã đọc một số bài do Linh mục Trương Bá Cần và Linh mục Huỳnh Công Minh viết đăng trên tuần báo Công giáo và Dân tộc số 40-41 nhận định về Thư chung của Giám Mục Đông Dương năm 1951 và Thư chung 1960 rồi 1964 của Giám mục mền Nam Việt Nam là quá sai lệch, các cha đã không phân biệt được bóng tối và ánh sáng. Các Giám mục ra thư chung trong bối cảnh lịch sử của Đông Dương và Việt Nam vào các thời điểm đó hoàn toàn có lý do và sáng suốt.

                Ngoài ra, Linh mục Trương Bá Cần cũng không được sự đồng thuận của Liên đoàn Thanh Lao Công Nha Trang. Tôi còn nhớ có lần công tác tại Nha Trang, Linh mục René Gautier (tuyên uý Liên đoàn Thanh Lao Công Nha Trang) đã thẳng thắn phê phán cha Cần đẩy phong trào Thanh Lao Công đi quá xa, sai với đường hướng mục vụ. Ông dẫn chứng nhiều thủ lãnh tranh đấu bị chính quyền bắt giam do có người đã vào bưng nhận lệnh của cộng sản. Linh mục Gautier tặng tôi quyển Kiểm Điểm Đời Sống do ngài biên soạn để hướng dẫn các đoàn viên Thanh Lao Công Nha Trang. Tôi đã đọc ngay trong ngày hôm đó và sáng hôm sau tôi trao đổi với ngài rằng, như cha biết đó, Thanh Lao Công được thành lập bởi đức Hồng y Giuse Cardijn, tôn chỉ và mục đích của ngài là huấn luyện tầng lớp công nhân, thợ thuyền đi vào môi trường làm việc bằng đức tin Ki-tô hữu, bằng phương pháp Xem-Xét-Làm. Cha Cần cũng chỉ làm đúng như thế. Còn Cha chú trọng cho đoàn viên sống đời sống tâm linh, đạo đức trong môi trường lao động, điều đó cũng đúng  và cũng rất cần thiết cho mỗi người Ki-tô hữu. Tôi cũng nhìn nhận với ngài rằng, chính cha Cần cho tôi biết Đoàn Khắc Xuyên được cán bộ cộng sản sắp xếp đưa vào mật khu Hố Bò gặp Mai Chí Thọ, vì lẽ đó mà chính quyền không trả lại tự do cha anh ta, trong khi đó tất cả các thủ lãnh Thanh Lao Công bị bắt vài tháng sau đều được trả tự do.

                Những bất đồng trên chỉ được giải quyết khi Linh mục Fernando, Tổng tuyên uý Thanh Lao Công Quốc tế và anh Sergio, Chủ tịch Thanh Lao Công Quốc tế sang Việt Nam tổ chức cuộc họp bất thường tại 12 Yersin Đà Lạt. Trước khi vào cuộc họp căng thẳng này, anh Sergio, anh Nguyễn Hồi (Chủ tịch Liên đoàn Thanh Lao Công  Nha Trang), tôi và vài anh em khác đi uống nước tại quán cà phê Tùng. Tôi cũng thừa nhận với các anh là tại Sài Gòn có một số thủ lãnh và đoàn viên đi quá xa vào con đường chính trị, đó là sự lựa chọn cá nhân của họ, cha Cần không thể cấm họ được. Khi đã biết chắc họ hoạt động cho cộng sản  như trường hợp Nguyễn Xuân Phổ đến trụ sở tuyên truyền, lôi cuốn các đoàn viên Thanh Lao Công, ông đã phản ứng và không cho sinh hoạt Thanh Lao Công nữa.

                Cuối cùng thì cuộc họp đêm đó cũng đã có những tranh luận thẳng thắn trên tinh thần xây dựng và mọi hiểu lầm được giải toả.

     

                                                                *                      *

                                                                            *

    Cho đến lúc này tôi thực sự vẫn không hiểu cặn kẽ về ông. Tôi tự hỏi, Ông là người cộng sản chăng? Chắc chắn là không. Nhưng qua một số việc làm của ông và một số linh mục khác như khi đến gặp Đức Cha Nguyễn Văn Thuận đề nghị ngài đừng nhận nhiệm vụ ở Sài Gòn mà hãy về lại Nha Trang, việc chính quyền cộng sản trục xuất Đức Khâm Sứ Toà Thánh năm 1975 hay trong vụ phong thánh năm 1988…

    Lần cuối cùng, khi đến thăm ông đang điều trị tại bệnh viện Tâm Đức vào tháng Sáu năm 2009, tôi đã đặt thẳng những vấn đề trên với ông. Ông cho rằng mình chỉ là công cụ của Giáo hội và quê hương; quyền lợi của Giáo hội và quyền lợi của quê hương không thể trái ngược nhau. Bởi vì cả hai đều vì con người và cho con người.

    Tôi muốn hỏi ông quê hương nào, của ai. Nhưng đành câm lặng vì sự mệt mỏi đã hiện rõ trên khuôn mặt ông.

    Mãi mãi tôi vẫn luôn nhớ về ông, người thầy, người cha thương kính đã giúp tôi trưởng thành trong một xã hội đầy cạm bẫy và chông gai.

                                                                Lều Gió, đêm 20 tháng Bảy năm 2009.

     

     

     

     

     

     

     

     

    Hát cho người nằm xuống

                      Kính viếng Cha Michel TRẦN THẾ LUÂN
    Thơ TRƯƠNG HÙNG THÁI

     

    1.

    Tôi đã thấy

    quanh cỗ áo quan cha nằm

    dưới huyệt sâu

    Những khuôn mặt người

                cố ngăn dòng nước mắt

    Tội đã thấy

                những người đàn bà lam lũ

                            áo sờn vai

    Rộng tay quờ quạng

                lùa từng miếng đất

                            xuống huyệt sâu

    Tôi đã thấy

                những sư cô màu áo vàng

    nhiều lần đến thăm cha

                thật ân cần

                            cho đến giờ vĩnh biệt

    Tôi đã thấy

                người dân cù lao Nguyễn Kiệu

                            cùng giáo dân nhiều họ đạo

                                        đến dự lễ tang

                chật kín nguyện đường Thánh An tôn

    Họ cúi đầu tiễn biệt cha lần cuối

    Tôi đã thấy điều mới lạ trong tôi

    Khi nắp bàn thiên

                cỗ áo quan cha nằm khép lại

    Tim tôi nhói buốt

    Khi tiếng búa gõ

                gõ trên mặt hòm

    Cổ tôi nghẹn đắng

    Khi từng miếng đất đậm tình

                ném xuống huyệt sâu

    Tôi không thể

                không thể ngăn được dòng nước mắt

    2.

    Cha Michel

    Còn đây giòng nước đen

    Cùng cảnh đời cơ cực

    Nơi cù lao Nguyễn Kiệu

    Đếm làm sao hết

    Người dân lam lũ

    Suốt đời

    Cơm không đủ ăn

    Áo không đủ mặc

    Họ thức khuya dậy sớm

    Ôm giá rét vào đông

    Cha đến cù lao

    Giữa đời sống khó nghèo

    Bằng tấm lòng nhân ái

    Bằng lương tri người tu sĩ

    Cha mở lòng ra cho người cùng khổ

    Cha mở lòng ra

                cho người trôi sông lạc chợ

    cho những em bé bụi đời

                không mẹ

                không cha

    Cha đã chia nỗi đau

                cùng niềm bất hạnh

    để họ có được một lần vui

    3.

    Tôi không thể quên ngày, tháng, năm

    Đầu thập niên 70

    Những dòng đời trôi dạt

    Từng cơn lũ người ào ạt trào dâng

    Họ đình công

    Họ xuống đường

    Họ chống chiến tranh

                đòi hoà bình

                đòi độc lập

                đòi tự do

                đòi cơm áo

    Bươm bướm bay rợp trời

    Lời hát vang dậy nơi nơi

    Cha góp mặt

    Như bao người dân có mặt

    Hôm nay có người nói về Cha

    –          Kìa ông Cha Pin Con Ó

    –          Kìa ông Cha nằm đường tuyệt thực

    –          Kìa ông Cha nhuộm đỏ

    Nhiều khi nhai đi nhai lại

    –          Kìa ông cha quốc doanh

    Họ đưa mắt nhìn Cha

                như có gì ái ngại

    Bằng bức tường ngăn cách, Cha ơi!

    Còn riêng tôi

                Tôi hiểu Cha cách khác

    Bởi đã một thời

                Tôi kề cận bên Cha

    Cùng chung miếng ăn, giấc ngủ

    Cùng chia xẻ cay đắng ngọt bùi

    Cha ơi, nếu họ nghe được

    Lời Cha hằng khuyên nhủ

    “Con ơi hãy sống

    và cống hiến cho đời

    trong tình thương của Chúa

    trong tình yêu của Mẹ

    đừng tham danh cầu lợi

    đừng bao giờ để người

                làm chính trị giật dây”

    Hôm nay tôi mới hiểu

    Vì sao Cha không giải thích

    Vẫn âm thầm bên cuộc sống khó nghèo

    Bên dòng nước đen

    Cùng người dân cù lao Nguyễn Kiệu

    Ôi rái tim người

    Là lễ hiến dâng

    Là ngọn đuốc niềm tin

    Cha chọn cho mình

    Niềm tin bé nhỏ

    Bên ông Ba

                bà Hai

    Ông Sinh

                bên những em bé

    đêm Chúa ra đời

                nơi nguyện đường Mẫu Tâm

    Cha như ông già Noel

    Ban phát tình thương

    Làm sao tôi quên

    Một ngày áng mây vần vũ

                chuyển màu đen

    Cha nằm trên giường bệnh

    Biết bao bà con

                Cùng hai em Diệu – Phượng

                quên ăn

                quên ngủ

                cận kề bên Cha

    cho đến giờ phút cuối

    Làm sao tôi quên

    Thánh lễ an táng cử hành

    Qua lời giảng ngậm ngùi

    Đức Cha Phao-lô nhắc từng câu từng chữ

    “Cha Michel là người

                không có tham vọng cá nhân

    Cha Michel là người

                không có ý đồ chính trị”

    Ôi, những lời ngắn ngủi

    cũng đủ làm cho tôi

                rưng rưng nước mắt

    Sự thật ơi!

    Phải chăng sự thật chỉ có được

    khi con người trở về cõi chết

    Cha Michel,

    đêm Cha nằm xuống

    âm thầm tôi đếm hạt mưa rơi

    Giữa đêm đông trăng soi lạnh cóng

    Đêm Chúa ra đời

    Vẳng tiếng thiên thần hát ngợi khen

    Bài thánh ca tôi hát mừng Cha

    Chan hoà nước mắt

    Nghe vọng về mầu nhiệm phục sinh

                            Sài Gòn, Giáng Sinh 1988

     

     

    NỖI NIỀM BIẾT TỎ CÙNG AI

                                                                                             Trương Hùng Thái

  • Tạp ghi

    ĐÁNH BẺ ĐŨA và THUẦN HÓA

    ĐÁNH BẺ ĐŨA và THUẦN HÓA 

                                                                          Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

     
         Trả lời phóng viên đài VOA tại Budapest ngày 18-9 vừa qua, Nguyễn Tấn Dũng nói Việt Nam sẽ không nhượng bộ Công giáo về vấn đề đất đai. Dũng giải thích chính sách của bọn cầm quyền tại Hànội như sau: “Việt Nam bảo đảm mọi người Việt Nam tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo, có tín ngưỡng hoặc không tín ngưỡng. Việc tài sản đất đai của các tôn giáo ở Việt Nam phải thực hiện đúng theo hiến pháp và pháp luật của Việt Nam . Ở Việt Nam tôi xin nói rõ với các bạn là không có tài sản của Vatican ở Việt Nam . Trên lãnh thổ Việt Nam chỉ có đất đai của đất nước Việt Nam , của dân tộc Việt Nam , của nhà nước Việt Nam . Không có bất cứ một tài sản nào của tôn giáo ở nước ngoài của Vatican là ở Việt Nam . Những cái đòi hỏi cái gọi là tài sản của Vatican là một đòi hỏi vô lý và không phù hợp với hiến pháp và pháp luật của Việt Nam.”

         Phải hiểu thế nào về những câu tuyên bố hỗn xược này của Nguyễn Tấn Dũng?

         Ngoài những mào đầu rỗng tuyếch về việc bảo đảm các quyền tự do tôn giáo và tín ngưỡng, lời của Nguyễn Tấn Dũng trước hết là một sự buộc tội láo khoét, và sau đó là xác định chính sách đối với Tòa Thánh Vatican về vấn đề đất đai.

         Trước hết, Nguyễn Tấn Dũng ngầm cáo buộc Tòa Thánh Vatican tội chiếm đất đai của VN một cách trái phép. Dũng nói: “Không có bất cứ một tài sản nào của tôn giáo ở nước ngoài của Vatican là ở Việt Nam . Những cái đòi hỏi cái gọi là tài sản của Vatican là một đòi hỏi vô lý ……”  Nếu Vatican không có tài sản đất đai gì ở VN mà đòi hỏi thì đúng là vô lý thật. Nhưng những tài sản, đất đai của Công Giáo mà Vatican đòi trả lại là của Giáo Hội VN, Vatican đòi trả lại cho GHVN chứ không phải cho mình. Cái đó là rõ ràng. Nhà nước CS của Nguyễn Tấn Dũng luôn luôn cho rằng giáo dân VN xuống đường đòi đất là do Vatican xúi dục để đòi lại cho mình. Suy diễn như thế nên Nguyễn Tấn Dũng và đồng bọn mới nói rằng các tài sản đất đai đó là của Vatican nên sẽ không được trả lại. Và từ đó chúng coi Tòa Thánh Vatican là kẻ đã xâm chiếm đất của VN. Không thể chối cãi được, Nguyễn Tấn Dũng đã cố ý kết tội Tòa Thánh Vatican là kẻ đi xâm chiếm đất đai của VN.

         Sau đó, căn cứ vào tội trạng chiếm đoạt đất đai của VN, Nguyễn Tấn Dũng mới đẻ ra chính sách quyết liệt là tuyệt đối không nhượng bộ Tòa Thánh gì hết trong vấn đề này.

         Trên đây là ý nghĩa thực của câu tuyên bố của Nguyễn Tấn Dũng. Có một điều hiển nhiên mà đứa con nít lên năm cũng có thể phân biệt được, ngoại trừ tên thủ tướng của cái gọi là nhà nước VGCS. Điều đó là Vatican là Giáo Hội Công Giáo Hoàn Vũ, còn tập thể người công giáo VN là Giáo Hội Công Giáo VN (GHCGVN). Hai thực thể hoàn toàn riêng biệt, độc lập cả trên pháp lý lẫn hoạt động. Tòa Thánh La Mã hay quốc gia Vatican không có tài sản, đất đai tại VN, nhưng những thánh đường, trường học, nhà thuơng, cô nhi viện, viện dưỡng lão v.v. tại VN của người công giáo là tài sản của Giáo Hội Công Giáo VN, một hội đoàn tôn giáo có tư cách pháp nhân đàng hoàng, chứ không phải là tài sản của Tòa Thánh La Mã. Vatican nếu có can dự vào việc này chỉ là thúc dục VGCS trả lại các tiện nghi trên mà chúng đã chiếm đoạt cho GHCGVN để giáo hội này có phương tiện sinh hoạt và phục vụ xã hội mà thôi. Chắc chắn Vatican không đòi trả lại cho mình bất cứ cái gì hết. Nguyễn Tấn Dũng nói Vatican đòi lấy lại những tài sản đó cho mình là xuyên tạc, là nói láo. Dũng muốn buộc tội Toà Thánh Vatican là kẻ đi cưóp đất của VN. Đất đó bị tịch thu, bây giờ còn vô lý đòi lại cho nên hắn mới nhất định không trả lại. Lời của Dũng phải được hiểu là một lời buộc tội có chủ đích. Nó hoàn toàn vô căn cứ, đầy khinh mạn và láo xược. Luận điệu này trùng hợp với những kẻ xưa nay thù ghét đạo Công Giáo.

         Có thể nói dưới chế độ hiện hành, mỗi người dân VN là một dân oan, không oan ức cách này thì oan ức cách khác. GHCGVN với tư cách là một pháp nhân cũng là một dân oan. Các cuộc đấu tranh đòi lại phương tiện để sinh hoạt và phục vụ xã hội của GH luôn diễn ra trong ôn hòa và tuân thủ luật pháp, luật pháp của CS chứ không phải luật pháp của bất cứ quốc gia nào khác.

    Điều 70 Hiến Pháp VGCS viết: Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ.

    Và Điều 27 Pháp Lệnh Tôn Giáo qui định rõ: Ðất có các công trình do cơ sở tôn giáo sử dụng gồm đất thuộc chùa, nhà thờ, thánh thất, thánh đường, tu viện, trường đào tạo những người chuyên hoạt động tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo, các cơ sở khác của tôn giáo được Nhà nước cho phép hoạt động được sử dụng ổn định lâu dài.

         Luật pháp như thế tương đối đã rõ ràng. Không biết Nguyễn Tấn Dũng dựa vào luật Pháp nào để chiếm đoạt vĩnh viễn tài sản của các tôn giáo? Có phải vì mục đích cao đẹp là phục vụ công ích? Tòa Khâm Sứ, nơi hội họp của Hội Đồng Giám Mục, bọn cán bộ chiếm làm chỗ kinh doanh nhảy đầm. Đất Thái Hà, chúng đã toan tính chia lô cho nhau để ở hoặc để bán. Nền nhà thờ Tam Tòa chúng cũng đang mưu toan biến thành khu ăn chơi giải trí. Trường học Loan Lý hiện bị rào cô lập và tương lai cũng trở thành chỗ ăn chơi nhẩy nhót cho những kẻ lắm tiền nhiều của. Như thế thì công ích ở đâu? Thế giới ở đâu người ta cũng chỉ có biến nơi ăn chơi giải trí thành trường học. Không có đất nước nào biến trường học thành chỗ ăn chơi nhẩy nhót ngoại trừ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa VN. Đây là một thảm họa lâu dài cho các thế hệ VN tương lai.

         Sau lời tuyên bố trên, có nhà bình luận cho là Dũng huênh hoang bốc đồng, người khác cho là hắn nổ sảng. Nguyễn Tấn Dũng có bốc đồng hay nổ sảng không, thật khó có ai tin được, nhưng rõ ràng đây là lời xác định dứt khoát chính sách về đất đai của bọn cầm quyền VGCS đối với Giáo Hội Công Giáo. Khi bị các nhà báo quốc tế dồn vào chân tường phải xác nhận dứt khoát Bắc Việt có đưa quân đội vào miền Nam không. Câu trả lời lẽ ra phải là YES or NO, nhưng tên Võ Đông Giang trong Hội Nghị 4 Bên đã lảng tránh một cách rất khôn khéo rằng người VN nào cũng có quyền đánh đuổi quân xâm lược tại bất cứ đâu trên đất nước mình. Nếu chúng ta để ý thì sẽ thấy, những lời tuyên bố, những câu phát biểu chính thức về đường lối, chính sách của bọn đầu sỏ Hànội cho dù chúng ít học cũng đều được đắn đo kỹ lưỡng. Hoàn toàn không có chuyện chúng hớ hênh, bốc đồng, hay nổ sảng. Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố không nhượng bộ Công Giáo về vấn đề đất đai là hắn có chủ đích. Hơn thế nữa, nói ở Hànội sợ xa quá Đức Giáo Hoàng không nghe rõ nên hắn sang tận thủ đô Hungary để nói vào gần tai Giáo Hoàng hơn để Ngài khỏi nhầm lẫn. Đó là cái trò rò lưu manh đểu cáng cố hữu của bọn VGCS.

         Căn cứ vào lời tuyên bố của Nguyễn Tấn Dũng và những bài học rút ra từ các vụ Tòa Khâm Sứ, Thái Hà, Tam Tòa vừa qua, người ta có thể khẳng định rằng cuộc đấu tranh dành lại ngôi trường cho các cháu thiếu nhi tại giáo xứ Loan Lý, Tổng Giáo Phân Huế có nơi học hành rồi cũng sẽ bị chìm xuồng. Hàng chục ngàn giáo dân Thái Hà chịu đựng dùi cui, hơi cay và những chiến dịch xuyên tạc, vu cáo chỉ còn lưu dấu lại một khoảnh đất trống mà thế lực tội ác gọi là vườn hoa nay trở thành nơi chó ỉa. Hàng trăm ngàn giáo dân Tam Tòa đổ máu, hứng chịu đòn thù, bàn thờ bị hất tung và chà đạp, các linh mục bị làm nhục v.v. cũng chỉ còn lại một bức tường gạch vây kín những thê lương, đêm đêm nghe tiếng gió ù ù thổi. Như thế thì với một vài trăm giáo dân mà đa số thuộc loại đầu xanh vô tội thì thử hỏi làm sao chống lại được với đàn sói rừng hung ác hàng ngàn, hàng vạn. Cầm chắc là các em đành phải bó tay để tương lại trở thành vô định. Sau Loan Lý sẽ còn đâu nữa? Chắc chắc còn, và còn nhiều nơi nữa đang chờ đợi đến lượt mình. Nhận định của chúng tôi mang mầu sắc bi quan? Đúng thế. Nhưng sự thực vẫn là sự thực, ít nữa là trong tình hình hiện tại và trong những điều kiện hiện nay. 

         Không phải tự nhiên mà các biến cố lại xẩy đến một cách tuần tự như thế. Mọi sự hình như xẩy ra theo một qui trình nào đó đã có sẵn. Mỗi biến cố được khơi lên bằng một lý do hết sức nhỏ nhặt và tầm thường. Xong hết vụ này rồi tiếp nối đến vụ khác. Người hiểu CS biết ngay rằng đó là lối xé lẻ để tiêu diệt cho dễ. Người viết tạm gọi nó là chiến thuật đánh bẻ đũa. Mục đích là để tiêu diệt cho bằng sạch mọi mầm mống chống đối còn tiềm ẩn trong GHCG. Nếu tiêu diệt tất cả trong cùng một lúc như bẻ cả bó đũa, chắc chắn sẽ không dễ dàng. Tách ra để diệt, chuyện dễ dàng hơn rất nhiều. 

         Câu chuyện bó đũa là một bài học luân lý dậy về tinh thần đoàn kết trong các lớp đồng ấu của nước ta kẻ từ thời Pháp thuộc. Một người cha cầm bó đũa đưa cho người con rồi bảo con cầm bẻ. Người con dùng hết sức bẻ bó đũa nhưng không được. Người cha lấy lại bó đũa từ trong tay người con, tách rời từng chiếc, đưa cho con rồi lại bảo con bẻ. Người con bẻ dễ dàng từng chiếc đũa cha đưa cho đến khi bó đũa bị bẻ hết. Xong rồi người cha giảng giải cho con ý nghĩa của sự hợp quần làm nên sức mạnh. Một bài học luân lý  rất đơn giản nhưng ý nghĩa thật thâm sâu. Bọn VGCS đang áp dụng bài học bẻ đũa để tiêu diệt Giáo Hội Công Giáo VN. 

         Nguyễn Tấn Dũng khẳng định không nhượng bộ vấn đề đòi đất, nhưng thưc tế tại VN công sản cho thấy, không phải là không còn con đường nào khác giúp Giáo Gội có đất đai để phát triển. Lời của Dũng ngầm đưa ra chỉ dẫn về một khuôn thức bất di bất dịch xưa nay tại VN cộng sản là: đòi thì không trả, nhưng xin thì có thể  cho. Xin thì sẽ được và gõ cửa thì sẽ mở cho là nguyên tắc hành sử của Chúa, nay VGCS lấy đem ra áp dụng. Sự khác biệt là ở cách cho. Chúa dậy con cái xin để Ngài cho trong tình cha con, còn VGCS xin để được chúng cho trên quan hệ chủ tớ. Cứ xem như các đức cha Cao Đình Thuyên giáo phận Vinh chỉ đòi lại một cái nền nhà thờ cũ, đức cha Ngô Quang Kiệt Tổng Giám Mục Hànội đòi lại ngôi Tòa Khâm Sứ cũ kỹ mà không được. Thế nhưng đức cha Nguyễn Văn Sang Thái Bình xin đất làm nhà thờ thì có đất làm nhà thờ liền, xin lại tiểu chủng viện Mỹ Đức thì có tiểu chủng viện cho ngài tức khắc, đức cha Nguyễn Văn Nhơn giáo phận Dàlạt chỉ xin có 4 hectares đất xây trung tâm mục vụ, Nguyễn Tấn Dũng hào phóng cho tới những 11 hectares lận. Ai bảo VGCS khó khăn với công giáo? Chỉ cần quí đức cha làm sao biết cách xin và trở thành người xứng đáng được cho. Đấy là vấn đề. Và đấy là chính sách cố hữu VGCS vẫn áp dụng xưa nay, có điều là chúng không công khai tuyên bố mà thôi. Chính sách tinh vi và thâm độc này là phương thức một mặt triệt hết các mầm mống chống đối trong các tôn giáo, mặt khác đưa đến việc thuần hóa rất hiệu quả các nhà lãnh đạo các giáo hội.   

         Chính sách đất đai của VGCS đối với GHCG như vậy đã rõ ràng. Lời tuyên bố của Nguyễn Tấn Dũng không biết đã đủ hiệu lực để mở mắt những đấng bậc trong đạo chủ trương đối thoại với VGCS chưa. Đòi thì không được, mà xin thì mất đi nhiều thứ lắm, chắc chắn là mất đi lòng tự trong của con người cái đã, và thậm chí có khi mất đi cả Chúa nữa. Nhiều vị đức cao trọng vọng còn huênh hoang phải đối thoại với CS để đem Chúa đến với chúng. Thực tế thường thấy là khi Chúa chưa đến được với CS thì quỉ sứ đã đến gần các vị rồi. Trước khi chết, điều Chúa mơ ước nhất là “ chớ gì tất cả anh em trở nên một” (ut unum sint). Nhưng tình trạng “unum sint” trong GHVN hiện nay thật sự không còn nữa nên đã bị bọn gian ác tiêu diệt hoặc làm biến chất rất dễ dàng. Có lẽ tại người thời nay đã không được học bài học bó đũa chăng. Không hiểu tai sao trước năm1975, GHCG tại miền Bắc chẳng bao giờ đòi cũng không bao giờ xin cái gì từ tay CS, thế mà họ sống đạo rất hiên ngang và kiêu hùng. Nhưng từ sau 1975 đến nay, GH thống nhất cả hai miền lại cứ phải quị lụy CS thì mới sống nổi. Đòi thì không được, rồi lại cứ phải ngửa tay xin thì mới xong. Đạo tại tâm hay đạo tại nhà thờ và tại những cơ sở vật chất?

     Duyễn-Lãng Hà Tiến Nhất

  • Tạp ghi

    Cu Tèo : Bác Cháu ta Lên Mạng

      

            Chào Bác,

    Trước hết Tèo xin lỗi bác Tèo hơi “bị” lơ là việc hồi âm meo Bác. Lý do là lúc này, cùng với đồng bào trong lẫn ngoài nước, Tèo cứ mãi mê mẫn mẫn mê với mấy cái video clips  và những bài cực kỳ “hót” (hot) tràn làn trên mạng lưới thông tin toàn cầu, của cả hai “lề” phải lẫn trái.

    Nả nả, chưa chi Bác đã nghĩ bậy rồi. Đây không phải là phim sex quay lén hay giả đò quay lén, hay chuyện vùi hoa dập liễu kiểu Bác đã một thời oanh liệt “dọc ngang nào biết trên đầu có ai”; cũng chẳng phải là chuyện Bauxite, chuyện “Tàu lạ”, chuyện Hoàng Sa Trường Sa, chuyện “côn đồ” lộng hành đánh cha đuổi sư, chiếm đoạt đất đai, cơ sở của các giáo hội, chuyện tham ô…Nhưng là chuyện…Hề.

    Bác lại nghĩ đến anh hề Hoài Linh vốn thuộc hàng “lưu manh đĩ điếm ôm chân đế quốc” từ Mỹ,mới đây được nhà nước ta hí ha hí hững đón tiếp vào hội nghệ sĩ thành Hồ, phải không nả ?

    Nhắc đến anh hề này, Tèo thấy thương cho anh chàng thì ít ,mà tội nghiệp cho Hội Nghệ sĩ Sân khấu Thành Hồ thì nhiều. Hội nghê sĩ sân khấu thành Hồ đã bỏ ra bao công của để mua được anh hề đang lên; tưởng phen này các đồng chí ấy sẽ chẳng mấy hồi lời khẳm nhưng nay chưa lấy lại vốn thì đùng một cái ngôi sao hề Hoài Linh bị lu hẳn đi vì đột ngột xuất hiện không chỉ một mà nhiều ngôi sao hề khác sáng chói hơn nhiều.

    Đó là những ngôi sao như

    Nguyễn Minh Triết. Kẻ không có được cái đầu óc minh thông và kiến thức uyên thâm lý triết của vị đương kim chủ tịch môt nước 85 triệu dân được đảng và “toàn dân” tín nhiệm làm sao dám tuyên bố, trước truyền thông quốc tế, “ Việt Nam- Cu Ba như là trời đất sinh ra, một anh ở phía Đông, một anh ở phía Tây. Chúng ta thay phiên nhau giữ Hoà Bình cho thế giới. Cu Ba thức thì Việt Nam ngủ, Việt Nam gác thì Cu Ba nghỉ”.

    Hai đồng chí ấy, có lẽ, một anh thường xuyên say xì gà La Havana, hay chui đi bẻ mía trộm; một anh khi nào cũng ngắc ngư thuốc lào Cái Sắn, hay rúc đào chôm khoai mì, nên đã để mặc cho “Trời đất”` đến vặn cổ cụ tổ Vô Thần mà “sinh ra” hai anh chàng. Gác xách kiểu ấy hèn chi thiên hạ dật Tường Bá Linh đổ cái rầm làm rung chuyển cả năm châu mà tai không nghe; dân Liên Xô, dân Đông Âu xuống đường hạ bệ “thần tượng” bấy nay, tròng cổ lôi đầu các ngài đi xoành xoạch, kèn kẹt, kít kít ra bãi rác mà mắt chẳng thấy.”Chúng ta thay phiên nhau thịt “ chim Hoà Bình thì có! Chim Angola, chim Congo, chim Viêt, Miên L ào!

     

    Rồi về  nước lên lớp đám dự “Đại Hội Việt Kiều Thế Giới Lần Thứ Nhất”, ngài chủ tịch nước CHXHCNVN khoe thành quả  c ông du,: “Ông Ô-ba-ma ơi, vấn đề này là khó lắm đó ! Tui chúc ông phải nổ lực để thực hiện cho bằng được cái này. – Tôi nói mà tôi nhìn Ô-ba-ma, tôi thấy ổng cũng chăm chú lắm á ! Cũng lắng nghe. Như thế là mình vừa động viên ông Ô-ba-ma nhưng mà mình vừa muốn phân hoá cái nội bộ của ổng“ –

    Ngài Chủ tịch vừa ra tay anh chị, lên lớp tổng thống đệ nhất siêu cường quốc, lại vừa rất khiêm nhượng… “Tôi nói mà tôi nhìn Ô-ba-ma, tôi thấy ổng cũng chăm chú lắm á ! Cũng lắng nghe.” Ngài chủ tịch nói hăng say đến quên mất  bà Nguyễn Phương Nga, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao, luôn mồm chỉ trich Mỹ “chen vào việc nội bộ của Việt Nam mỗi lần họ lên tiếng về nhân quyền, khi khoe “…nhưng mà mình vừa muốn phân hoá cái nội bộ của ổng(Obama)“ –

     

    Đoạn, ngài cắt nghĩa cho cái dĩa dồi (khúc ruột) “ngàn dặm” lý do tại sao nước ta đoạt quán quân tham nhũng:

    "… Chúng ta từ một nước trong chiến tranh, chưa có những cái kinh nghiệm trong quản lý, và ở nước người ta đó thì muốn tiêu cực, muốn tham nhũng cũng khó, vì hệ thống luật pháp nó chặt chẽ. Còn ở Việt nam của mình, thì có khi không muốn tham cũng động lòng tham, cái người thủ quĩ cứ giữ tiền khư khư,ở quĩ lúc nào cũng có số dư, cho nên lúc bí quá thì em mượn một chút, mượn không thấy ai đòi hết,thì em mượn thêm.
    Chứ không phải người Việt nam tham những nhứt thế giới, không phải vậy! Cho nên tui đề nghị quí vị ở nước ngoài khi nghe những thông tin này, rồi nhìn về Việt nam cũng đừng có hốt hoảng, cứ nghĩ rằng trong nước mình tiêu cực quá… Mấy hồi sao mấy ổng óanh giặc sao giỏi thế? Mà bây giờ ổng tiêu cực thế… Đây là qui luật muôn đời.

    Theo “qui luật muôn đời.”của ngài Minh Triết, thì sau Đệ Nhị Thế Chiến, cả thế giới tham nhũng, nhất là nước Nhật, chịu những hai quả bom nguyên tử nên họ còn tham nhũng đế ngày nay, nên nhờ vậy mà mới có vụ PU 18 cho đồng chí Huỳnh Ngọc Sỹ và nhiều đồng chí lãnh đạo có thêm của ăn của để.

    Ngài Chủ Tịch  lại phán, “Con người ta, trong mỗi người, ai cũng có hỉ, nộ, ái, ố hết chơn. Chúng ta là con một nhà. là con Lạc, cháu Hồng, cùng một bọc trứng sinh ra, trên thế giới này ít nơi nào có cái đó lắm…".

    L âu nay ,cũng như mọi người Việt khác, Tèo cứ tưởng chỉ Việt Nam ta là dân tộc duy nhất có nguồn gốc từ cái bọc trứng, nhưng nay thì té ra không phải vậy, vì Chủ Tịch phán “..trên thế giới này ít nơi nào có cái đó lắm…". “Ít ”tức không nhiều bọc, chứ không phải là chỉ có một bọc của tổ tiên ta. Đúng là cha mẹ khéo đặt tên minh triết.

    Như tiến sĩ Nguyễn Hữu Liêm “Trưa ngày 30 tháng 4, 1975, đeo đu đưa trên chân đáp của chiếc trực thăng cuối cùng rời phi trường Cần Thơ, trên vai vẫn đeo súng, và vai kia mang túi xách, tôi đã thoát đi…” ….“Quê nhà đã đón mừng và nhận lại mình. Tôi không còn sợ tổ quốc, sợ chế độ, sợ công an,…”

     “Sợ tổ quốc”? Ông này phạm tội gì đến nông nỗi tổ quốc phải trợn mắt nghiến răng hay hù dọa khiến ông sợ mấy chục năm nay, để nay được “lên xe buýt – có xe cảnh sát hú còi mở đường “, ông mới hết sợ.

    Bây giờ Tổ quốc “sợ” ông thì có. Cơm cha áo mẹ công thầy cho ông thành tiến sĩ để ông đồng hóa Tổ quốc với một đám cầm quyền, của một chế độ mà ông đã biết sợ hãi phải đu đại càng máy bay chạy mặt thoát thân. Xưa nay kẻ thất học c ũng không vô liêm đến thế

    Như giáo sư tiến sĩ Trần Thanh Vân cũng thuộc “đám lưu manh ma cô ma cạo…”xưa, nay được đảng “úm bà là” thành “khúc ruột ngàn dặm” thơm như múi mít, túi rủng rỉnh đồng Euro “không thể thiếu” thì:

    ” Tôi nói thật người Việt mình sống ở nước ngoài như Mỹ, Pháp cũng khổ lắm, đi làm việc cả ngày khi về phải nấu ăn, rửa chén bát, làm hết mọi việc trong gia đình”

    Đọc lời “nói thật” của giáo sư tiến sĩ mà tội nghiệp. Ở nước ngoài “khổ lắm” mà ông vẫn không chịu ở lại Việt Nam luôn cho sướng cái thân. Hay ông giáo sư vẫn còn “sợ tổ quốc”, nên chỉ dám ở lại bên đó những ngày ngồi tên “xe buýt – có xe cảnh sát hú còi mở đường”,  được  thiết đãi linh đình mà không “phải nấu ăn, rửa chén bát, làm hết mọi việc trong gia đình”.

    Như những anh “đại biểu” (không biết cho ai),mang thông hành Mỹ tức là công dân của tổng thống Obama ngồi phía dưới, mắt sáng quắc, há hốc mồm nuốt từng lời ông Chủ Tịch Triết “mình vừa động viên ông Ô-ba-ma nhưng mà mình vừa muốn phân hoá cái nội bộ của ổng“, rồi vổ tay đôm đốp tán thưởng. Hình ảnh mặt mũi mấy anh chị US citizen trong hoạt cảnh tấu hài này, FBI đã nắm trong tay.

     

    Chủ Tịch nước,  Luật sư, Giáo sư Tiến sĩ , Tỵ nạn CS đang mang quốc tịch Mỹ…. …Những hạng ăn nói được như thế, bày tỏ thái độ được đến thế, thì đám hề cỡ Hoài Linh lâu nay ai cũng nghĩ là siêu sao giờ đây bị mất giá, chào thua là phải.

    Tèo viết là viết vậy chứ bất quá cũng chỉ mới múa bút được dăm ba chữ hàng ngoài mà chưa chạm vào bên trong để Bác thấy được cái thâm thúy của những tay siêu hề này. Bác cứ lên mạng nghe đầy đủ, đọc đầy đủ “lời lời châu ngọc hàng hàng gấm thêu” quái đản của các ngài ấy. Tự miệng lưỡi nói, tay các ngài viết ra, mới thấy rõ mặt thật mấy siêu sao Hề vừa xuất hiện nó sẽ…hoành tráng và chất lượng vô tiền khoáng hậu đến chừng nào.  Chứ cứ để Tèo viết ra, không chừng Bác lại quay ra kết tội Tèo là phản động, “diễn biến hoà bình”, thậm chí, là “tự diễn biến”

    Chào Bác,

     CuTèo

  • Tạp ghi

    Hoàng Xuân Sơn : CHẠM MẶT TỬ THẦN

    Tháng Tư đen , xin mời quý vị đọc một bài viết ( mà tác giả gọi là phóng bút ) của một cựu sinh viên văn khoa Saigon , Ô. Hoàng xuân Sơn viết về vụ nổ súng tại trường Đại học Văn khoa Saigon do đơn vị Biệt động thành Cộng sản thi hành theo chỉ thị của Khu uỷ VC Saigon – Chợ Lớn , bắn trọng thương sinh viên quốc gia Ngô vương Toại vào ngày 20/12/1967.

    Lời Giới Thiệu của  cựu Sinh viên Chu Long Hoa – Tác giả bài viêt “Chạm Mặt Tử Thần” là cựu Sinh Viên Đại Học Văn Khoa Saigon, cùng thời với Sinh Viên Ngô Vương Toại (cũng xin đừng lầm với Đoàn Văn Toại, tuy rằng cả hai đều cùng có một tên TOẠI, nhưng trong thời điểm trước năm 1975, hai Toại hoàn toàn đối nghịch nhau. Ngô Vương Toại hoạt trong Hàng Ngũ Sinh Viên Quốc Gia Chống Cộng và Liên Minh Thanh Niên Thế Giới Chống Cộng – Chi Bộ Việt Nam trong khi Đoàn Văn Toại hoạt động trong nhóm Sinh Viên thân Cộng).

    Bài viết này đã được đăng tải trên website  Damau.org ngày 9-4-2010 và được tuần báo Saigon Nhỏ trích đăng trên trang A6 và A7 số báo 961 phát hành ngày Thứ Bảy, 23-4-2010.

    Tác giả  còn được nhiều người biết đến tức là  nhà thơ Hoàng xuân Sơn hiện đang định cư tại Montreal, Canada. Những điều mà Hoàng Xuân Sơn đề cập trong bài “Chạm Mặt Tử Thần” (được trích trong phóng bút “Cũng Cần Có Nhau – Những Kinh Nghiệm Hãi Hùng) hoàn toàn là sự thật 100%.

    Kể từ ngày xảy ra sự việc nổ súng tại trường Đại Học Văn Khoa Saigon vào đêm 20-12-1967 trong đêm văn nghệ Trịnh Công Sơn đến  nay đã 33 năm trôi qua, những người biết và chứng kiến sự việc xảy ra, tuy đã có một số người nay đã vĩnh viễn ra đi và vẫn còn rất nhiều người vẫn còn sống. Những người này hiện sống im lặng ở quê nhà hay sống khắp nơi ở hải ngoại. Ngay tại San Jose vẫn còn nhiều nhân chứng của câu chuyện mà tác giả Hoàng Xuân Sơn đề cập trong bài viết “Chạm Mặt Tử Thần” như Phạm Tài Tấn tức nhà báo Thư Sinh, Phạm Bằng Tường… và hai nhân vật chính trong bài viết của tác giả Hoàng Xuân Sơn là Ngô Vương Toại tự Lùn và Nguyễn Văn Tấn tự Mốc hiện vẫn còn sống và đang định cư tại Hoa Kỳ.

    Nhân vật Nguyễn Văn Tấn tự Tấn Mốc mà tác giả đề cập trong bài viết, một trong hai người bị bắn trong đêm 20-12-1967 hiện là ký giả Cao Sơn, Chủ Biên Tuần Báo Tin Việt News. Thời gian qua nhiều người biết đến Cao Sơn Nguyễn Văn Tấn là một nhà báo. Nhưng ít ai biết Tấn mốc có một bề dày chống Cộng và sống rất… hào hùng.

    Trong câu chuyện mà tác giả Hoàng Xuân Sơn phóng bút kể lại, ngay khi tên đặc công Việt Cộng vừa mới bắn Ngô Vương Toại phát đầu tiên, Tấn Mốc vừa chụp ghế ném vào tên Việt Cộng vừa phóng mình nhảy lên sân khấu để tấn công tên này khiến tên Việt Cộng phải buông tha Ngô Vương Toại để xoay qua bắn Tấn Mốc.

    Cũng cần nhắc, trước vụ Toại -Tấn bị bắn khoảng hơn một năm, khi Sinh Viên Trần Lam Giang một mình vào tham dự một cuộc hội thảo tại Trường Đại Học Dược Khoa Saigon, đối diện với Đại Học Văn Khoa được ngăn cách bởi đường Cường Để,- để chống lại việc kêu gọi sinh viên xuống đường chống chính phủ của nhóm sinh viên thân Cộng, đã bị phục kích đánh gục và đóng đinh 10 ly đóng vào đầu từ phía sau ót. Từ trụ sở Tổng Hội Sinh Viên Saigon ở số 4 Duy Tân, Tấn hay tin do Lê Thành Khôi tức Khôi què, cũng là Sinh Viên Văn Khoa báo, vội một mình lận theo 2 lưỡi lê chạy đến hiện trường để cứu Trần Lam Giang. Trước một rừng du đãng do nhóm Sinh Viên thân Cộng thuê, Nguyễn văn Tấn phải dùng dao đâm hai tên du đảng phụ trách đóng đinh vào đầu anh Trần Lam Giang trên sân khấu để cảnh cáo những người khác trong hội trường rồi dìu Trần Lam Giang ra tận đường Cường Để dưới làn mưa đá do nhóm sinh viên thân Cộng ném vào hai người.  Nhưng họ không dám xáp lai gần để tấn công vì Tấn từng tuyên bố ở trong Hội Trường là “chỉ muốn đưa Trần Lam Giang đi cấp cứu, còn ai muốn ngăn cản thì phải chấp nhận “mạng đổi mạng”.

    Sau tác giả Hoàng Xuân Sơn, Tấn Mốc là người còn nhớ nhiều điều về các sinh hoạt Thanh Niên, Sinh Viên, Học Sinh từ thời 1963 cho đến ngày mất nước. Bạn bè vẫn khuyên Nguyễn văn  Tấn viết lại hồi ký về thời kỳ tranh chấp sống chết giữa những người Sinh Viên Quốc Gia và những người Sinh Viên Thân Cộng hay Cộng Sản nhưng Tấn vẫn im lặng không muốn nhắc đến chuyện quá khứ.

    Trở lại câu chuyện ám sát trong đêm 20-12-1967, sau vụ nổ súng đồng loạt cả hai Đài Phát Thanh của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam Việt Nam và Hà Nội đưa tin đại ý: “Sinh viên Saigon thành công trong việc chào đón bảy năm ngày thành lập Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam Việt Nam. Trong cuộc metting tại Đại Học Văn Khoa, hai tên Việt gian tay sai Mỹ Ngụy là Ngô Vương Toại và Nguyễn Văn Tấn, đội lốt Sinh viên để tìm cách quấy phá cuộc metting. Trước sự phẩn nộ của hàng ngàn sinh viên tham dự cuộc metting,theo yêu cầu của giới sinh viên Saigon, đơn vị Biệt Động Thành đã phải trừng trị bắn trọng thương cả hai tên Việt gian này để ổn định buổi metting”.

    Đài MTGPMNVN và Đài  Hà Nội đã loan  bản tin  lên án tử hình Ngô Vương Toại và Nguyễn Văn Tấn liên tục cả tháng.

    Về phía chính phủ VNCH, sau đó đã tuyên dương hành dụng dũng cảm của Ngô vương  Toại – Nguyễn văn  Tấn và chính phủ quyết định xét hành động dũng cảm này đã ngăn chận không cho cán bộ Việt cộng truyền trước họng súng của Việt cộng, dù cả hai là dân sự, nên đã trao tặng mỗi người một Anh Dũng Bội Tinh với ngành Dương Liểu. Việc gắn huy chương được thực hiện tại Bệnh Viện Bình Dân, nằm trên đường Phan Thanh Giản, Quận 3 Saigon do Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ, đại diện Tổng Thống VNCH và Đại Tướng Cao Văn Viên, với toán Quốc Quân Kỳ của Bộ Tổng Tham Mưu đại diện QLVNCH.

    Cuộc chiến đấu của anh em TNSVHS lập trường quốc gia đối kháng lại nhóm TNSVHS thân Cộng hay Việt cộng dưới sự đỡ đầu của Thành Đoàn Thanh Niên Cộng Sản, có sự bảo vệ của cán bộ Biệt Động Thành. Cán bộ Biệt Động Thành sẵn sàng ám sát những TNSVHS quốc gia theo đề nghị của nhóm TNSVHS thân Cộng hay Việt cộng.

    Trong suốt thời gian từ năm 1963 – 1975 đã xảy biết bao nhiêu vụ ám sát nhắm vào các TNSVHS quốc gia. Điển hình là những vụ:

    –        Vụ SV Lê Khắc Sinh Nhật, Chủ Tịch Ban Chấp Hành Sinh Viên Đoàn Luật Khoa Saigon, em vợ cố Chuẩn Tướng Nguyễn Bá Liên.

    –        Vụ sinh viên Văn Khoa Saigon Bùi Hồng Sĩ, Phó Chủ Tịch Liên Minh Thanh Niên Thế Giới Chống Cộng.

    Bên cạnh đó, còn những vụ hành hung, đập phá trụ sở của Hàng Ngũ Sinh Viên Quốc Gia Chống Cộng tại 14 Phân Khoa, Cao Đẳng Học Viện thuộc Viện Đại Học Saigon.

    Xin mời quý độc giả đọc bài viết “Chạm Mặt TửThần” của tác giả Hoàng Xuân Sơn, một nhân chứng trong vụ ám sát tại Trường Đại Học Văn Khoa Saigon đêm 20-12-1967 dưới đây.

         Chu long Hoa

     

    Trích phóng bút  CŨNG  CẦN  CÓ  NHAU

     

    NHỮNG  KINH  NGHIỆM  HÃI  HÙNG 

     

      . CHẠM MẶT TỬ THẦN

      ( của cựu sinh viên văn khoa Hoàng Xuân Sơn )

     

         Ở đời, không có kinh nghiệm nào mà không phải trả giá . Nhưng kinh nghiệm mà phải trả bằng ngần tính mạng của mình thì quả là đắc giá . Và hãi hùng : Kinh nghiệm Ngô Vương Toại và viên đạn thù phía bên kia .

     

         Cuối hè, đầu thu 1967, nối tiếp sự thành công rực rỡ từ Quán Văn; Trịnh Công Sơn/Khánh Ly (TCS/KL) tái xuất hiện . Địa điểm lần này là Đại học Văn khoa Saigon ( trường mới, ở đường Cường Để ) . Bằng vào sự thiết trí hệ thống âm thanh cực kỳ to lớn của những người bạn văn nghệ Đan Mạch, Đêm TCS/KL tại Đại học Văn khoa hứa hẹn nhiều pha hấp dẫn và sôi nổi . Sôi nổi là vì đêm sinh hoạt này nhằm hỗ trợ cho mùa tranh cử Ban Đại Diện Sinh Viên Văn Khoa niên học mới . Bạn Ngô Vương Toại nhà ta ứng cử vào chức vụ Phó Chủ Tịch Nội Vụ của một liên danh có nhiều khuôn mặt quen thuộc ở Văn khoa như Phạm Tài Tấn, Phạm Đông Bách v. v. Toại kiêm luôn phát ngôn viên và người điều khiển chương trình tối hôm đó . Không khí thật là nhộn nhịp người lui kẻ tới, pha lẫn chút gì căng thẳng . Khán thính giả ngồi kín Giảng đường 1 ( lớn nhất ở trường mới ), đông ken, lan cả ra ngoài hành lang chung quanh . Thậm chí tràn cả dưới sân, nhấp nhô đầu người , tiếng nói cười lao xao . Bầu không khí yên lặng trở lại khi các bạn người Đan Mạch đồng ca một bài hát bằng tiếng nước mình . Nghe cũng kỳ thú . Và rồi TCS/KL tiếp nối . Lại say sưa hát, say sưa thưởng ngoạn . Lại những tràng pháo tay nổ ran . Và đêm trường, một lần nữa chứng kiến sự hòa nhập cao đỉnh của tuổi trẻ và triệu con tim mang cùng nhịp điệu .

     

         Sau một chuỗi ca khúc TCS/KL lóng lánh sáng, trước giờ nghỉ giải lao, anh TCS mời Ngô Vương Toại, Hoàng Xuân Giang và tôi lên sân khấu cùng hát bài Đi Tìm Quê Hương . Dù đã xuất hiện trước đám đông nhiều lần, lần này tôi vẫn cảm thấy run en như thường trước một lượng khán thính giả quá đông đảo . Tất cả ánh sáng  đều được giảm xuống độ mờ tối đa . Chỉ còn những hình nhân nến, lung linh , chao đảo theo từng lời ca .

     

                              Người nô lệ da vàng ngủ quên, ngủ quên trong căn nhà    nhỏ, đèn thắp thì mờ

                              Ngủ quên , quên đã bao năm

                              Ngủ quên, không thấy quê hương

                              Bao giờ đập tan gông cùm xiềng xích nô lệ trói buộc hờn căm

                                . . . . . .

                              Người nô lệ bước đi, đi tìm giòng sông

                              Người nô lệ bước đi, đi về đồi non

                              . . . . . . .

                              Đi cho thấy quê hương ……….

     

         Hát . Nhắm mắt lại . Ngủ quên . Bước đi cơn đau dài du mộng  . Thức dậy . Và đêm . Rồi cũng qua đi .

          Mở bừng mắt . Quê hương vẫn đấy – người vẫn đây . Mà hồn  chìm khuất tận cõi mơ hồ nào . Linh cảm một điều gì không hay sẽ đến ? Người nô lệ – những giọt máu tuôn trên da vàng ?

     

         Khánh Ly hát . Trịnh Công Sơn hát . Hát mãi . Như những mũi tên lao vút . Cho đến khi đèn bật sáng . Đã hết chưa cuộc bể dâu ? Chưa hết đâu . Chỉ là trần gian nửa cuộc về . (Giây phút hãi hùng ấy sẽ đến . Sẽ đến ? Sẽ đi về đâu ? – “ Ta nghiêng tai nghe lại cuộc đời – chợt hãi hùng hoàng hôn trờ tới ”– Trầm Tử Thiêng ).

     

          Giờ giải lao, xuất hiện một đôi nam nữ ăn bận khá lịch sự từ từ tiến lên diễn đàn  . Nam : quần màu sậm, sơ mi trắng, tay thọc túi quần . Nữ : áo dài xanh lá mạ, đeo kính gọng xếch mắt mèo, tay ôm một chiếc cặp lớn, căng phồng  . Ngô Vương Toại đang ở trên sân khấu nói qua về công việc bầu bán ban đại diện sinh viên văn khoa sắp tới .

    Nam ngỏ ý xin được góp lời . Nữ đứng sát bên kéo khóa mở cặp . Và rồi trờ tới . Trờ tới nguyên văn : “ Xin tất cả anh chị em yên chí . Chúng tôi đã bố trí chung quanh cả rồi – Hôm nay, nhân ngày kỷ niệm 7 năm thành lập Mặt trận Giải phóng Miền Nam . . . “ .Cái gì mặt trận !? Nam nói chưa dứt câu,  Toại phản ứng lẹ như chớp; nhanh tay giật lại micro : “Ẩu nà, câm mồm  … !” . Quát : “ Đứng im ! “ . Và đoàng doàng, hai phát súng nổ liên tiếp . Tôi hoa mắt thấy thân hình Toại văng bật vào tường dưới bảng đen . Nhiều phát súng nổ liên tiếp sau đó . Nguyễn Văn Tấn tự Tấn Mốc cầm chiếc ghế nhào lên cứu bạn . Và rồi cũng ăn đạn vào chân té quỵ xuống bục .

         Một cảnh tượng hỗn loạn chưa từng thấy trong đời ! Những thân người chen lấn. đẩy xô núp đạn hòa trong tiếng la hét, khóc lóc rợn người . Đôi nam, nữ bình thản bước xuống bục sân khấu, rẽ đám đông . Và đi mất hút .

     

         Thoát được ra ngoài . Run như cầy sấy ! Giang đâu rồi ? Toại ơi ! Chết ? Chắc chết ! Làm sao chịu thấu hai cú đìa-rếch vào người . Không dám nhìn . Chỉ còn nghe tiếng còi hụ xe cứu thương chở bạn mình đi khuất .

         Trật tự tạm vãn hồi . Những kẻ chạy thoát ra ngoài, nhốn nháo nhìn vào bên trong giảng đường . Chao ôi là la liệt giày dép, nón áo, giấy tờ, sách báo . Ngổn ngang gò đống hệt  một bãi chiến trường . Những người bạn Đan Mạch thu dọn đồ đạc, tháo gỡ hệ thống âm thanh, mặt mày ngơ ngác như vừa được xem xong một vở bi kịch lớn . Một vở kịch với nhiều diễn viên sống động . . .

     

          Leo lên yên sau xe gắn máy của một bạn nào không nhớ . Đèo nhau về trạm Quán Văn bình yên . Đã thấy Trần Hiếu Lai đứng thở hỗn hễn . Hóa ra cu cậu chạy bộ từ văn khoa về nhà . Cái sợ đã làm động cơ thúc đẩy một kẻ bình thường trở thành lực sĩ vô địch điền kinh chạy việt dã !

          Khuya tối hôm đó, TCS phải đi lánh nạn nơi khác . Bọn tôi nằm chờ sáng trong nỗi thấp thỏm , lo âu . Cái gì sẽ xãy ra tiếp ? Nhưng ngày mai rồi thấy lại mặt trời . Mặt trời mặt trời đã lên – Còn nhìn còn nhìn thấy con người .Xế trưa, tin lành cũng đưa đến : Ngô Vương Toại không việc gì nguy hiểm tới tính mạng . Dù viên đạn quái ác đã xuyên qua năm bảy tầng tạng phủ . Đúng là mạng quá lớn bạn ơi . Bạn còn phải nằm viện điều trị lâu dài .

     

          Để kiểm chứng một khúc rẽ quan trọng . Và để rà soát lại trí nhớ tồi tệ của mình, tôi đã liên lạc với bạn Toại để cả hai cùng quay lại khúc phim thời sự gay cấn hãi hùng ấy .

          Khi tôi viết những dòng chữ này, Ngô Vương Toại vừa mới hồi phục sau một cơn tai biến mạch máu não . Bạn ta còn phải tịnh dưỡng, tập tành nhiều để trở lại tình trạng sức khoẻ bình thường như trước . Cầu xin mọi điều an lành đến với bạn mình, người đã gánh chịu muôn ngàn khó khăn mà vẫn luôn luôn yêu đời, yêu người .

         Trong một thư riêng, chữ viết của Toại có hơi run rẩy, nhưng trí nhớ vẫn còn tốt . Sau đây là trích đoạn về nguyên nhân đưa đến cái giây phút hãi hùng để đời ấy của nạn nhân trực tiếp :

     

               . . . “Sau khi bị ba lần stroke cuối năm ngoái, trí nhớ mình rất tồi, cái được cái quên, lẫn lộn và mấy ngón tay phải vẫn còn tê nên viết khó khăn, chữ xấu . Sẽ tập viết lại .

                     Sơn nhớ không, năm 1967 phe sinh viên thân Cộngtìm cơ hội phát triển hoạt động mạnh trong môi trường đại học để có thể sử dụng các cơ chế đại học mở mặt trận gây xáo trộn trong thành phố sau khi đã thành công trong việc bao vây nông thôn . Mình hợp tác với anh em sinh viên quốc gia tại Đại học Văn khoa, Luật, QGHC, Sư phạm . . .để chận sự bành trướng đó . Cách hay nhất ngăn làn sóng đỏ là giữ các ban chấp hành sinh viên .

     

                   Một liên danh gồm các sinh viên quốc gia được thành lập và để tạo cảm tình với sinh viên văn khoa, mình mời TCS và KL hát . Có hai lý do, vào thời kỳ này TCS và KL là hai nghệ sĩ được yêu mến nhất và mình muốn cho thiên hạ thấy rõ Miền Nam tự do nếu có phải can dự trong chiến tranh là vì tự vệ chứ không phải là phía cổ súy chiến tranh và có lý do để không ngại một loại nhạc chống chiến tranh . ” . . .

     

          Sau khi Toại ngã đạn, Trịnh Công Sơn đã sáng tác ca khúc Nhân Danh Ai, dành riêng cho Ngô Vương Toại . Bài ca lên án những ai dùng bạo lực để cố cướp lấy tính mạng của đồng loại . Mặt dù hồi đó thuộc nằm lòng ca khúc này, đã cùng với Khánh Ly và các bạn Giang , Tuấn, Tự  đứng ca trước đầu giường bệnh của Toại đêm Giáng sinh 1967, giờ này tôi cũng chỉ nhớ lỏm bỏm được một câu  : Nhân danh ai anh đến đây bắn vào người – cho máu em cho máu anh tuôn trên da thịt này . . .

         Hỏi Toại thì Toại cũng  chỉ nhớ ngần này :

     

                                    Nhân danh ai anh đến đây bắn vào người

                                    Lũ dơi trời đêm nay vùng biết nói

                                    Nhân danh ai ? anh đến đây bắn vào người

                                    Trong mắt anh, trong mắt em, hãi hùng đầy

                                    Xin nhân loại một ngày, nhủ lòng thương mến nhau thôi

                                    Nhân danh ai, anh đến đây bắn vào người

                                    . . . .

                                    Trong tim anh, mẹ Việt nằm

                                    Trên nôi chung một màu vàng

                                    Một niềm tin, một giận hờn . . .

     

          Ca khúc này cũng không thấy ghi trong danh mục sưu tập nhạc Trịnh Công Sơn sau khi anh qua đời . Toại cũng đồng ý với tôi họa chăng chỉ có Khánh Ly may ra nhớ được toàn bài . Cũng rất cần, để ghi lại làm chứng liệu . ( Nữ Hoàng Sân Cỏ  ở đâu đó ới giùm cho một tiếng ! ) .

           Bài Nhân Danh Ai chứng tỏ TCS không hề là người của riêng một phe phái. Anh lên án sự xiển dương cho bạo lực dù hành động bắn giết hành hạ đồng loại đến từ bất cứ phía nào .

     

          Toại còn nằm viện dài dài cho đến lúc bình phục hẳn (cũng kéo dài khoảng vài tháng ). Hễ rảnh rỗi là bọn tôi đại Cái Bang Mai/ Giang / ( Nhuệ Giang và Hoàng Xuân Giang ) Tuấn /Tự /Sơn/ Lai /Tấn . . . vào Bệnh Viện Bình dân thăm viếng ủy lạo bạn ta, dìu chàng đi làm công tác vệ sinh, thay áo quần, đổ bô . . . và hát cho chàng nghe như buổi nào chúng mình vẫn ca hát với nhau . Ôi tình bạn thắm thiết dưòng bao !

            Tưởng cũng nên nhắc lại, người điền khuyết chức vụ tranh cử trong liên danh của Ngô Vương Toại không ai xa lạ, chính là Nguyễn Ngọc Ngạn , một tên tuổi văn nghệ quen thuộc về sau tại hải ngoại .

             Kể từ khi Ngô Vương Toại bị lãnh kẹo đồng của phía bên kia, tình hình chính trị trong các khuôn viên đại học có mòi căng thẳng, trầm trọng hơn . Chiến tranh nóng, lạnh giữa sinh viên quốc gia và VC nằm vùng đã thò hẵn bộ mặt hung tợn ra bên ngoài : Những vụ bắn giết, thanh toán nhau như cơm bữa đã lần lượt lên khuôn nóng các bản tin thời sự . Những sự việc cụ thể giữa chiến tranh Quốc/Cộng sẽ được thuật lại chi tiết hồi sau .

     

    Viết thêm : Sau khi nhạc sĩ Trịnh Công Sơn qua đời   (1939-2001), rất nhiều cơ quan truyền thông báo chí trong và ngoài Việt Nam đã loan tin, đăng tải những lời chia buồn bày tỏ lòng thương tiếc vô hạn người viết thơ ca tài hoa đoản mệnh này. Nhiều tuyển tập bài viết tưởng niệm TCS cũng đã được ấn hành. Tình cờ, một người bạn cho tôi mượn cuốn sách gồm nhiều người viết mang tựa đề TRỊNH CÔNG SƠN-Rơi Lệ Ru Người do nhà xuất bản Phụ Nữ thực hiện tại Hà Nội-Việt Nam. Trong tuyển tập này có một bài báo viết dưới tiêu đề : Trịnh Công Sơn – Người Hát Rong Trên Cõi Tạm, tác giả : Nguyễn Hồng Lam (từ trang 102 đến 124) trong đó có đoạn viết về cùng một khung cảnh, sự kiện xãy ra buổi trình diễn đặc biệt của TCS/Khánh Ly cùng thân hữu mà tôi đã lượt thuật bên trên, nhưng ngòi viết này đã hoàn toàn được bẻ quặt tới một chỗ bịa đặt hoàn toàn vô căn cứ.

             Đọc bài báo, thoạt đầu tôi rất phẫn nộ vì tất cả sự thật đều bị bóp méo. Nhưng sau đó lại cảm thấy buồn cười và thương hại cho lối viết ngụy tạo sự kiện một cách trắng trợn, tuyên truyền rẽ tiền, thậm chí ngô nghê, ấu trĩ của một loại chuyên viên bồi bút nào đó. Xin quý bạn đọc vui lòng duyệt lại trích đoạn của tác giả Nguyễn Hồng Lam dưới đây để có thể so sánh và dưa đến một thẩm định đúng đắn  :

     

    . . . . . “Sau Sơn, có rất nhiều người hát nhạc của anh. Các ca sĩ Giao Ánh(?!), Thanh Thúy, Thanh Tuyền . . . đều thích hát nhạc Trịnh nhưng thành công hạn chế. Cuối năm 1967, qua bạn bè giới thiệu, Trịnh Công Sơn đã lên Đà Lạt và tìm được Khánh Ly,một ca sĩ phòng trà của xứ sương mù. Với Khánh Ly,nhạc Trịnh nhanh chóng đạt đến đỉnh cao của sự lay động, làm sôi sục lên một tâm trạng căm hờn chán ghét chiến tranh. Để đối phó với phong trào sinh viên phản chiến và tranh đấu, Nguyễn Cao Kỳ đã tung tay chân vào các giảng đường để chỉ điểm bắt bớ và phá hoại. tại Đại học Văn khoa, tên Ngô Vương Toại đã được Nguyễn Cao Kỳ chỉ định làm trưởng một nhóm “thanh niên trừ gian”, thực chất là một tập hợp những tên chỉ điểm mặc áo sinh viên.Toại đã tự đứng ra lập một “Quán văn” tại Đại học Văn khoa(?!)(*), chuyên hát nhạc Trịnh để lôi kéo sinh viên, nhưng chỉ biểu diễn các tình khúc khá ủy mị và đầy nỗi đau thân phận Trịnh viết trước khi vào Sài Gòn tham gia tranh đấu. Để tẩy chay, Trịnh đã dứt khoát không một lần bước lên sân khấu của “Quán văn”, dù Toại nhiều lần cố công nài nỉ. Đêm 20-12-1967,Toại lại tổ chức một đêm ca khúc Trịnh Công Sơn tại “Quán Văn”do Khánh Ly hát. Bất đắc dĩ, Trịnh Công Sơn cũng đến dự đêm biễu diễn này(vì Khánh Ly nài nỉ) . Bất ngờ khi NgôVương Toại vừa giới thiệu xong, một nữ sinh viên đã tiến lên cướp diễn đàn. Trước micrô chị dõng dạc: “ Thưa toàn thể anh chị em sinh viên, hôm nay là 20-12-1967, kỷ niệm 7 năm ngày ra đời của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam . . .” . Khán thính giả ồ lên, reo hò đã khiến mặt nạ “trừ gian” của Ngô Vương Toại rơi xuống. Y lộ nguyên hình là một tên Việt gian phản động, xách một chiếc ghế gỗ nhảy lên sân khấu quật xuống đầu chị nữ sinh. Nhưng anh sinh viên áo trắng đứng sau chị đã nhanh hơn đá văng chiếc ghế trên tay Toại. Điên tiết Ngô Vương Toại hụp xuống vén ống quần, định rút súng. Nhưng, hai phát đạn từ khẩu súng mới xuất hiện trong tay anh thanh niên đã găm thẳng vào bụng y, hất Toại ngã lăn ra sàn sân khấu. sau này, mọi người mới biết, chị sinh viên kia tên là Út Thanh, đã cùng một đội viên khác của Lực luợng vũ trang Thành Đoàn tiến hành phá âm mưu của những tên chỉ điểm. Ngô Vương Toại may mắn thoát chết, nhưng âm mưu lôi kéo sinh viên xa rời tranh đấu của y và quan thầy thì vỡ tan tành.” . . . .

     

     

    Đa tạ,

     

    Hoàng Xuân Sơn

    (*) Về sự hình thành của Quán Văn Sài Gòn, nếu quý bạn đọc có nhã hứng theo dõi tiếp, và Da Màu cho phép, tôi sẽ trình bày trong một kỳ tới, trích đoạn phóng bút khác cóliên quan đến sự việc này .

     

     

  • Tạp ghi

    Lm. Cao Phương Kỷ : Ăn Năn Sám Hối

    Ăn Năn Sám Hối

    Lm. Cao Phương Kỷ

     

    * Tại sao cần Ăn Năn, Sám Hối?

    * ĐẠO và ĐỜI có liên hệ với nhau, có HIỆP THÔNG với nhau không?

    * Thực chất về quyền tự do tôn giáo tại Việt Nam hiện nay như thế nào?

    * Vấn đề quan trọng nhất hiện nay của Đất Nước (ĐỜI) là: toàn dân VN đã được Độc lập, Tự Do, tôn trọng Nhân Quyền, Nhân Phẩm chưa?

    * Phải hiểu thế nào là "Đối Thoại" và thế nào là "Đối Đầu"?


     

    Thuật ngữ "Ăn Năn Sám Hối" . được dùng trong phạm vi lương tâm, tôn giáo, để biểu lộ sự Tỉnh Ngộ trước những hành vi hay ý tưởng trái luân lý, phạm giới, hay phạm tội đối với Thần Linh hay Nhân Loại, Tổ Quốc… Hai danh từ cùng một nghĩa, nhưng trong giới Phật Giáo dùng từ "Sám Hối"(Kinh Sám Hối), còn Công Giáo, thường dùng chữ "Ăn Năn" hơn, (như "Kinh Ăn Năn Tội", Kinh Cáo Mình".. ) mà bất kì một người Công Giáo nào cũng phải thuộc lòng, từ khi có trí khôn để biết phân biệt: Tội/ Phúc, Phải/Trái. .khi chịu Bí tích Rửa Tội, Bí tích Hoà giải (Xưng tội), Bí tích Xức Dầu bệnh nhân. Ăn Năn tội là điều kiện cần thiết, vì nếu thiếu sự thành tâm thống hối, thì việc lĩnh Bí tích không được thành sự.

    Trong buổi tối Khai Mạc "NĂM THÁNH 2010", tại Sở Kiện , lần đầu tiên đã diễn ra Nghi thức Sám Hối của Công Giáo Việt Nam, xin tạ lỗi đối với Dân Tộc Việt Nam và mọi giới đồng hương về những hiểu lầm, thiếu sót và lỗi lầm gây ra. Đây là một nghi thức khá cảm động, đáng khâm phục, vì sự khiêm nhượng thành tâm nhận lỗi.

    -Ngày thứ Ba 1/06/ 2010, cũng tại Nhà Thờ Lớn Sở Kiện, hơn 600 Linh Mục và 14 GM thuộc Tổng Giáo Phận HàNội, đã khai mạc 3 ngày "Thường Huấn" để chia sẻ, học hỏi về những đề tài quan trong, thời sự nóng bỏng của GHVN, trong Năm Thánh.

    Vị GM Bắc Ninh (cũng là vị GM đã đọc bài Văn Tế Kính các Thánh Tử Đạo V.N, trong Lễ Khai Mạc) đã chọn đề tài rất thích hợp cho tình thế hiện nay, để giảng trong Thánh Lễ, lúc 19 giờ 30: ĂN NĂN SÁM HỐI:

    "Bài Huấn Đức của ĐGM Bắc Ninh đã đem tất cả chúng tôi- từ các Huynh Trưởng là G.M. đến mọi L.M. không trừ ai- đều muốn cúi đầu nhận tội và ăn năn thống hối. Dưới sự hướng dẫn của một số cha GP Bùi Chu, tất cả chúng tôi kết thúc một ngày làm việc và bằng việc xét mình và ăn năn rất chân thành và thanh thản. (nguồn: Tgphanoi.org)

    Trong bối cảnh chính trị, xã hội , tôn giáo của Việt nam hiện nay dưới thế chế độc tài, đảng trị, đồng bào Công Giáo chỉ chiếm chừng dưới 10% dân số, nhưng nhờ tinh thần kỉ luật, nhờ tinh thần HIỆP THÔNG trong các phần tử, nên được người đồng hương kính nể, và nhờ uy tín quốc tế hỗ trợ hy vọng có thể đem lại Tự Do, Nhân Phẩm ,Nhân Quyền cho dân tộc. Nhưng qua các biến cố nóng bỏng hiện nay như việc thay đổi cấp lãnh đạo trong Giáo hội một cách nhanh chóng, những âm mưu diễn biến về chiến luợc từ đối kháng đổi ra "đối thoại", thoả hiệp với sự Ác, để mong cầu chút hoà hoãn giả tạo.. Những dàn xếp, đổi chác trong bóng tối của một số vị lãnh đạo, đã làm băng hoại, và chia rẽ một cách trầm trọng khối công dân tín hữu Công Giáo, đồng thời gây hoang mang, mất tín nhiệm của đa số đồng hương, trong Nước cũng như NVHN.

    Để Hiệp Thông với những buổi "Hội Ngộ các giáo sĩ của các Giáo phận, trong Năm Thánh, đặc biệt suy nghĩ về những lời kêu gọi :"Xét mình, ăn năn " của những vị Lãnh đạo còn nhiệt tình với tương lai của Đạo Giáo và Dân Nước, sau đây thử đặt ra mấy vấn nạn cần giải quyết như:

    I/Nguyên lý nào làm nền tảng cho "Căn Tính Thật" của Hội Thánh Công Giáo, và của các phần tử, giúp soi sáng và hưống dẫn để phán đoán, biện phân những điều Phải/Trái trong những lời nói và hành động;

    II/ Những "huyền thoại"nào đã bị phá vỡ, khiến nhận ra được chân gía trị của các bậc giáo sĩ cũng như vị thế của giáo dân trong Giáo Hội.

    III/Một giả thuyết đặt ra: việc thay đổi"chiến lược thỏa hiệp" đối với chế độ độc tài có thể "cảm hóa" cs hay là gây tổn thương cho Hội Thánh và cho Dân Nước Việt không?

    I/-Căn Tính Thật của Hội Thánh và của mọi phần tử: Tinh Thần HIỆP THÔNG

     

    Những bài Giảng của các vị Chức sắc cao cấp luôn kêu gọi Tinh thần Hiệp Thông trong Giáo Hội, vì theo Thần học Thiên Chúa Giáo, như Thánh Phao Lô Tông đồ đã diễn giảng trong Thư gửi Cộng đoàn Corintô (1 Cor 14:40; 1 cor 12:28-30):"Hội Thánh là Thân Mình Mầu Nhiệm của Chúa KYTÔ". Thật vậy, Hội Thánh là một Cộng đồng trật tự, lớp lang (an ordered community), tuy có nhiều chức vụ khác nhau, nhưng mỗi phần tử cần chu toàn phận sự của mình để sinh ích lợi chung cho toàn thể Cộng đồng.

    Chỉ có Chúa Cứu Thế là Vị Thượng Tế độc nhất vô nhị (Heb:4:14-5:10), còn các phẩm trật khác từ ĐGH, hàng GM, các LM, và Giáo hữu (đã chịu Phép Rửa tội), đều Hiệp Thông với Chúa Cứu Thế là ĐẦU, và Hiệp thông với nhau như những Chi thể trong một Thân Mình Mầu Nhiệm của Chúa. Do đó, Đức Giáo Hoàng luôn Hiệp Thông với các Giám Mục, các Giám Mục Hiệp Thông với các Linh Mục và các Linh mục Hiệp Thông với Giáo dân. Trong Hội Thánh không chia thành giai cấp (classes) như một giai cấp cai tri, giáo sĩ trị (clericalism)và một giai cấp bị trị là giáo dân. Thiếu Tinh Thần Hiệp Thông này, thì Hội Thánh sẽ tan rã ra nhiều mảnh, nhiều bè phái như Lịch Sử đã minh chứng.

    (Chú thích: trong cuộc Hội Ngộ của các LM (và 14 GM, thuộc TGP Hà nội vừa qua, tứ 03 tháng 6, tai Sở Kiện và Vĩnh Trị, trong các bài giảng, chia sẻ..hàn huyên, văn nghệ, luôn luôn được nghe cả trăm lần danh từ:HIỆP THÔNG với HIỆP THÔNG.., chứng tỏ các tham dự viên đã thiết tha và cầu mong tinh thần Hiệp Thông đến chừng nào!)

    Một Hệ Luận rút ra từ Nguyên Lý nền tảng trên: ĐẠO và ĐỜI có liên hệ với nhau, có HIỆP THÔNG với nhau không?

     

    Đạo và Đời hay Thực tại Thiêng liêng và Thực tại trần thế khác biệt nhưng liên hệ với nhau như thế nào? Giáo Lý Đức Tin dạy chúng ta tin: chỉ có Một Thiên Chúa là Chủ Tể vạn vật Càn Khôn, và là Cha Chung của Nhân Loại: "Lạy Cha chúng con ở trên Trời" (Kinh Lạy Cha) và toàn thể Nhân Loại là Anh Chị Em với nhau,"tứ hải giai huynh đệ". Do đó, thực tại Đạo và Đời, mọi loài hữu hình và vô hình, vật chất-tinh thần, Hồn và xác,đều do Một Đấng Tao Hóa an bài xếp đặt. Tôn giáo (ĐẠO) và Trần Thế (ĐỜI):hai thực tại đó tuy phân biệt hai phạm vi hoạt động khác nhau, nhưng luôn tương quan liên hệ với nhau,"hiệp thông" với nhau như câu nói "có thực mới vực được Đạo".

    Vấn đề quan trọng nhất hiện nay của Đất Nước (ĐỜI) là: toàn dân Việt Nam đã được Độc lập, Tự Do, tôn trọng Nhân Quyền, Nhân Phẩm chưa? Mọi đoàn thể khác, kể cả các tôn giáo đều là thứ yếu và tùy thuộc vào nền độc lập, TỰ DO của Đất Nước. Nếu Dân tộc sống trong nô lệ, mất tự do, nhân phẩm, thì ĐẠO cũng chẳng còn, hay chỉ sống èo ọ, không phát triển được.

    Hơn nữa, Người là Loại có HỒN và XÁC. Nếu chỉ có xác, là con vật, nếu chỉ có hồn là thiên thần. Do đó, người Công giáo, dầu Tin vào Thiên Chúa độc nhất (ĐẠO), nhưng đồng thời cũng gắn bó với (ĐỜI) là Huyết thống , Tổ tiên, Tổ Quốc, Dân Tộc.

    Từ Hiệp Thông còn hiểu theo ý nghĩa của chữ BÁC ÁI là nền tảng của Đạo Thiên Chúa: Mến Chúa và Yêu Người: cả Hai chỉ là MỘT. Không yêu Người , thì cũng không mến Chúa. Người cận thân nhất mà ta phải yêu mến là ai?-Chính là các bậc Tổ tiên đã có công sinh thành, đã dựng nhà, dựng Nước cho ta được an cư lạc nghiệp trên phần đất chữ S này. Trong thời kì ngoại xâm đô hộ, hay dưới chế độ độc tài, độc quyền dày xéo trên mảnh đất của Tổ tiên, mọi công dân mất quyền tự quyết, mất Nhân Phẩm, Tự Do, thì Đạo càng phải gắn bó và hộ trợ Đời, xây đắp tình HIỆP THÔNG giữa mọi giới đồng hương, tức cũng là thực thi Tình Bác Ái "Mến Chúa Yêu Người", để từ tình đồng Đạo thông suốt lan tỏa sang tình đồng hương, cùng nhau đoàn kết thành một khối chống lại kẻ thù chung.

    "Người Công Giáo tốt cũng là người công dân tốt" (Lời nhắn nhủ của ĐHY Ivan Dias, Tổng Trưởng Bộ Truyền Giáo)

    Giả sử chính quyền độc tài tham nhũng, ban mọi đặc ân cho cho các vị chức sắc trong Đạo (trả lại tài sản bị tịch thu, mở trường, xuất ngoại…) trong khi đối với toàn dân vẫn áp dụng chính sách độc quyền về chính trị, kinh tế, đàn áp đối lập, thử hỏi: các vị lãnh đạo và đồng bào Công giáo có dám chấp nhận không, nếu muốn được gọi thật sự là "người công dân tốt" của Dân Tộc Việt Nam?

    Nói một cách vắn tắt, cũng như không thể mến Chúa mà lại không thương người, thì mỗi công dân Công Giáo không thể giữ Đạo mà lại thiếu bổn phận đối với Tổ Quốc. Điều Tâm Niệm của Liên Đoàn Công Giáo Việt Nam, từ năm 1945 đến ngày nay vẫn là:

    "Phụng sự Thiên Chúa và Tổ Quốc"

    II/-GIẢI HÓA HUYỀN THOẠI và Nhận định một số Vấn Nạn, Thách Đố, hiện nay

     

    Giải hóa -Huyền thoại (Démythification), theo các nhà phân tâm học là phá vỡ những huyền thoại, những chuyện hoang đường do trí óc tưởng tượng hoặc vì sợ hãi , hoặc vì trí khôn chưa được trưởng thành, chưa được mở mang kiến thức về khoa học, về luận lý. Khi dân trí chưa được khai hóa, Nho Học độc tôn, người bình dân thất học thường coi trọng các Nho sĩ như có khả năng làm được hết mọi việc như câu nói"vạn sự xuất ư Nho", chẳng hạn, nếu đậu đạt thì ra làm quan, nếu không, cũng có thể làm Thầy đồ mở lớp dạy học, làm Thầy Ký, hay làm Thầy lang hốt thuốc.

    Đối với giới đồng bào Công giáo, khi nền học chính chưa được mở mang, không có Truờng Công lập, thiếu Trường Tư Thục, nên chỉ những tu sĩ mới được học hành từ cấp Trung học và Cao Đẳng chuyên khoa (6 năm Trung học và 6 năm Triết học, Kinh Thánh, Thần học). Do đó, một vị Linh Mục quản xứ, vừa đủ khả năng để giảng Kinh Thánh, Giáo lý, đồng thời cũng khá đủ kiến thức về phần Đời, hơn các con chiên bổn đạo, nên có thể quán xuyến cả về việc xã hội, tài chánh, xây cất. Nhưng ngày nay, đặc biệt tại các Nước Tân Tiến, vì dân trí mở mang, giáo dân đã có thể theo học Trường Trung Học, Chuyên Khoa, Đại học, nên kiến thức về các khoa học nhân văn hay các chuyên khoa như Luật Pháp, Chính trị, Hành chính, Khoa học, Tài chính, Kinh tế..trổi vượt hơn các vị giáo sĩ nhiều.

    Tại Việt nam cũng như tại các Nước dân chủ trên thế giới, kể cả nơi Tòa thánh Vatican, giới giáo sĩ chỉ còn dành thẩm quyền về các vấn đề liên quan đến Kinh Thánh, Tín Lý và Luân Lý, là những Khoa Chuyên Môn đã được học tập. Theo thần học, các vị giáo sĩ đã lĩnh Chức Truyền Chức Thánh, còn được Ơn Đặc Sủng giúp hiểu biết và giảng dạy những Chân lý Vĩnh cữu, thuộc phạm vi Tôn giáo. Nhưng trong những phạm vi "trần thế"như Chính trị, Kinh tế tài chính, Khoa học, nếu không học hỏi, nghiên cứu, tham khảo những ý kiến của các chuyên viên, thì các vị chức sắc trong Giáo hội vẫn có thể phạm những lỗi lầm, thiếu sót, như Lịch sử đã minh chứng.

    Nếu Bí Tích Truyền Chức Thánh thông Ơn cho các vị Linh Mục được Ơn Đặc Sủng để thi hành Chức Thừa Tác Viên, thì Bí Tích Thêm Sức cũng ban cho các Tin Hữu (đã lĩnh Bí Tích Rửa tội) những Ơn của Chúa Thánh Thần để được Khôn ngoan, can đảm hoạt động Truyền Giáo trong Xã Hội thế tục.

    Bởi vậy, không lạ gì, hiện nay trong và ngoài Việt Nam, về phương diện Truyền thông, bình luận thời cuộc, nhiều vị giáo dân đạo đức, can đảm, lại giầu kinh nghiệm về chính trị đã phân tích các biến cố, nhận dịnh về những giải pháp chính trị, xã hội liên quan đến tiền đồ của Giáo hội và Tổ Quốc, một cách chính xác, kiến thức sâu rộng và lý luận vững chắc đầy sức thuyết phục.

    -Giải hóa Huyền Thoại: Thần Thánh hóa con người phàm tục

     

    Từ khi các vụ "ấu dâm" bùng nổ trên thế giới, đặc biệt tại Hoa Kỳ, Ái Nhĩ lan, thì hào quang "thần thánh hóa" giới tu sĩ đã bị phá tan, hay ít nhất đã bị lu mờ. Thật ra, giới tu sĩ dầu ở cấp bậc nào, cũng chỉ là một con người bình thường, yếu đuối, dễ sa ngã như mọi người khác, nếu không cố gắng đề phòng những cơn cám dỗ, nhất là phải nhờ Ơn Chúa giúp và thực hiện các phương pháp tu thân khắc kỉ. Điều đáng nói ở đây là sự kiện phá vỡ huyền thoại "sợ mất thanh danh" , hay "vạch áo cho người xem lưng" , vì việc che đậy những tội ác về ấu dâm là vi phạm pháp luật và phải bồi thường thiệt hại, gây tổn thất công quĩ của Hội Thánh.

    Ngày nay đa số người giáo dân đã trưởng thành trong Đức Tin vào Chúa, và vào Phúc Âm của Chúa, chứ không "theo Đạo vì Cha Thầy nữa" . Tuy gương xấu đã gây tổn thương, nhục nhã cho thanh danh của Hội Thánh, nhưng các cuộc thăm dò dư luận cho biết: việc đóng góp tiền bạc cho Giáo Xứ không giảm bớt nhiều, và số người tham dự Thánh Lễ vẫn còn đông.

    -Giải hóa Huyền Thoại:" Vâng Lời tối mặt hay mù quáng"

     

    Trong biến cố xáo trộn hiện nay, như để trấn an dư luận sôi nổi muốn biết Sự Thật thế nào, thay vì cùng nhau bàn luận tìm một giải pháp hợp lý, thì một số người quen lối sống, tiêu cực, thụ động thích dùng danh từ: "Vâng Lời", Vâng Phục Thánh Ý Chúa", "Roma đã quyết định" v,v.., mà không cho biết "LÝ DO", Sự Thật, không giải thích các sự kiện, không nhận diện các nhân vật làm trung gian, môi giới báo cáo.

    Thử hỏi: trong việc dạy dỗ, giáo dục một đứa trẻ, phụ huynh có được dùng bạo lực hay uy quyền để bắt ép con trẻ phải "vâng lời một cách tối mặt, mù quáng" , mà không một lời giải nghĩa, phải/trái, thiệt/hơn , để giúp đứa trẻ biết cách sống trưởng thành, tự lập??

    Vậy tại sao các Bề trên trong Giáo Hội lại có thể coi thường Giáo dân bắt phải "vâng lời" trong mọi quyết định về mục vụ, hành chính, thuyên chuyển các chức sắc mà không nêu những lý do chính đáng, chân thật, một cách minh bạch và đã tham khảo những người có trách nhiệm liên hệ. Không ai nghĩ rằng: các Bộ tại Tòa Thánh Vatican hay ĐGH có thể biết tên tuổi, đức hạnh, khả năng của từng vị Giám Mục ở địa phương, khi thuyên chuyển, hay cắt đặt lên chức tước mà không cần những ý kiến làm trung gian phúc trình, đề nghị của HĐGM địa phương hay nhân viên làm việc trong Bộ Ngoại giao, Quốc Vụ Khanh.

    Đối với người có Đức Tin trưởng thành, không thể TIN mà không được giải nghĩa các Lý Lẽ tại sao phải tin. Học sinh các lớp Giáo lý, Thần học đều hiểu biết mối tương quan giữa Đức Tin và Lý Trí. Đức Tin không phản lại Lý Trí, và Lý Trí giúp ta tìm hiểu những Lý lẽ giúp ta tin mạnh mẽ hơn.

    Vâng Lời là PHỤC THIỆN, là tôn trọng Sự Thật, là vui lòng chấp nhận lẽ phải, sau khi được giải thích. Vâng lời là vâng theo những Lý lẽ có sức thuyết phục, chứ không vì nể nang, vì áp lực, "bằng mặt chứ không bằng lòng" . Vâng phục người lớn tuổi, giầu kinh nghiệm, hay người trẻ, miễn là những phát biểu của Sự Thật. Tinh Thần Vâng Phục là khiêm tốn đón nhận những ý kiến đối lập, những góp ý, để cùng nhau, trao đổi bàn luận tìm một giải pháp Dung hòa những khác biệt. Đôi khi cá nhân tự ý chấp thuận hy sinh tư lợi để phục vụ quyền lợi của Công Ích của Giáo Hội, của Quốc gia.

    Trong Thông điệp "Caritas In Veritate" (Bác Ái Trong Chân Lý)của ĐGH Biển Đức XVI, Ngài khẳng định: Tình Yêu phải được Chân Lý, Sự Thật soi sáng. Chân Lý đây là Lý trí tự nhiên và Đức Tin chính là Chúa Cứu Thế, vì Chúa đã phán: "Ta là Đường là Sự Thật và là Sự Sống" . Tình Yêu không ở trong Lẽ Phải và Chân Lý Đức Tin thì Tình Yêu không làm phát triển một xã hội xứng với Nhân Phẩm được.

    III/-Những Thách Đố, Vấn Nạn lớn đối với Giáo Hội Công Giáo Việt Nam

     

    Giáo Hội Công giáo Việt Nam vẫn được tiếng là một khối duy nhất, tinh thần kỷ luật rất cao, đoàn kết theo sự chỉ đạo của Toà Thánh Vatican, và của HĐGM VN, con chiên vâng lời cha Xứ. Nhưng ngày nay, trong và ngoài Nước, những cảnh biểu tình, những rừng biểu ngữ hoan hô, đả đảo chung quanh các vị chủ chăn, diễn ra trong các Thánh Lễ hay rước kiệu vòng quanh Thánh Đường. Thật dị thường khi chứng kiến những vị chức sắc cao cấp trong một tôn giáo, đi tới đâu đều bị người đồng đạo hay khác đạo tẩy chay, đả đảo, vì chính tư cách cá nhân của những vị này đã là một"vấn nạn" gây chia rẽ, thất nhân tâm. Những cảnh tượng lạ lùng này bùng nổ, chẳng qua là hậu quả của việc "tức nước vỡ bờ" , dồn nén tích luỹ lâu ngày những bất mãn, bưng bít do những âm mưu thầm kín, nhất là do thiếu Truyền Thông trong sáng, và tôn trọng Sự Thật. Sau đây, xin nêu ra một vài Thách Đố, Vấn Nạn lớn hiện nay, để những ai còn thiết tha với tiền đồ của Đạo giáo và Tổ Quốc cùng suy nghĩ và tìm phương thế cứu chữa.

    1/HĐGMVN có Ban Thường Vụ, Ban Truyền Thông hay không?

     

    Xã hội ngày nay, các phương tiện truyền thông rất phong phú và đa dạng giúp cung cấp các tin tức một cách nhanh chóng về sinh hoạt quốc gia hay quốc tế. HĐGMVN, mỗi năm, sau hai cuộc họp, thường ra một "Bức Thư Chung" gửi toàn thể Giáo Hội về một vài vấn đề thời sự, đưa ra một vài nguyên tắc chung, định hướng chung. Theo cách tổ chức về hành chánh của các đoàn thể lớn có hằng triệu hội viên, thường trao cho Ban Thường Vụ, thường trực giải đáp các vấn nạn, các khó khăn cụ thể, khi áp dụng đường lối chung.

    HĐGMVN, đặc biệt trong hoàn cảnh phức tạp hiện nay, thiếu cơ quan Ngôn luận đắc lực để thông tin và giải đáp các thắc mắc trong Cộng đồng và trong đời sống xã hội. Cũng thiếu một vị làm Phát ngôn viên chính thức, như các Văn Phòng của các Hội Đồng Giám Mục các quốc gia và của Tóa Thánh, đế cấp thời thông báo, cải chính nhanh chóng những nguồn tin thất thiệt.

    Vì thiếu một Ban Thường Vụ làm việc tích cực, nhanh chóng, hiệu quả để đối phó với những biến chuyển về tôn giáo, chính trị, xã hội trong nước, nên đã gây nên những dư luận trái ngược nhau, chia rẽ nội bộ, hoang mang, không ai nắm biết SỰ THẬT như thế nào? Tai hại hơn nữa, một số bài viết của BBT phụ trách mạng lưới của HĐGM hay UBKT,đã xuyên tạc SỰ THẬT, cắt xén Lời Chúa…

    Cũng vì thiếu một Ban Thường Vụ gồm những chuyên viên thông thạo về các vấn đề thời sự, để giải thích Lập Trường của Giáo Hội về hiện tình chính trị, kinh tế, đất đai, bênh đỡ dân oan khiếu kiện, và các cuộc lùng bắt người dân vô tội.., nên Giáo Hội đã như không còn hăng hái làm tông đồ, rao giảng TIN MỪNG giữa lòng Dân Tộc.

    Vì thiếu những cơ quan chính thức về Truyền Thông trong Giáo Hội và HĐGMVN, nên không có người đủ khả năng chuyên môn, đủ kiến thức để giải nghĩa, phê bình những lời tuyên bố, những "khẩu hiệu" mang tính chất tuyên truyền để lèo lái dư luận theo một khuynh hướng chính trị riêng, không thích hợp với Truyền Thống cố hữu của Toà Thánh và của Các Vị Giáo Hoàng:

    2/"Khẩu Hiệu:"Đối Thoại, nhưng Không Đối Đầu", nghĩa là gì?

     

    Đạo Thiên Chúa, trong căn bản là Đạo Tình Thương, Đạo Bác Ái: Mến Chúa Yêu Người, nên luôn cấm việc bạo động phạm đến sinh mạng con người. Do đó, giết người tự nó là một trọng tội. Chiến tranh là tội ác, trừ trường hợp bất khả kháng là để tự vệ. Đạo Từ Bi của Phật Giáo cũng cấm sát sinh. Ngày nay, trên bình diện quốc tế, cơ quan Liên Hiệp Quốc, hội Đồng Bảo An LHQ, là những cơ quan giúp giải quyết một cách Ôn Hoà những tranh chấp giữa các quốc gia mà không cần dùng võ lực hay chiến tranh. Đường lối, các giải quyết ôn hòa bằng một Diễn đàn để các phe liên hệ, đàm đạo, trình bày ý kiện, biện hộ, biện bác, thông cảm, hầu đi đến Hòa hợp, hòa giải. Sau đây, thử giải nghĩa và phân tích nội hàm ý nghĩa của khẩu hiệu: "Đối Thoại, nhưng không đối đầu" có nghĩa gì?

    "ĐỐI THOẠI" là gì?

     

    Danh từ này dùng trong tiếng Việt, dịch từ chữ "dia-logue". "Thoại" là nói chuyện, trao đổi bằng Lời nói đễ diễn ta ý kiến, ý muốn; đôi khi cũng dùng những cử điệu, cử chỉ để biểu lộ, gọi là "body language". Nhưng tuyệt nhiên "IM LẶNG" nín thinh, không nói lời gì, thì không thể gọi là "đối thoại" được nữa.

    Trong việc "đối thoại", cần cả hai đối tác, hay hai phe phái cùng nói lên, trao đổi lập trường, thảo luận. Nếu chỉ một bên nói, còn bên kia IM LẶNG, thì đấy là "độc thoại", hay theo kiểu nói bình dân: "nói chuyện với đầu gối" , không thể gọi là ĐỐI THOẠI được.

    Giáo Hội Công giáo luôn chủ trương "Đối Thoại". Ngôi LỜI (Logos) Thiên Chúa, mặc lấy xác phàm, để Đối Thoại với Nhân Loại. Các Vị Giáo Hoàng, đặc biệt ĐGH Giáo Hoàng Gioan PhaoLo II. luôn tìm cách đối thoại với thế giới về mọi vấn đề liên hệ đến đời sống của con người, đặc biệt lên tiếng phản đối những chế độ độc tài, vi phạm nhân quyền, Tự Do Tôn Giáo. Trong các cuộc tông du, đến các nước độc tài như Cuba, dầu chính quyền cộng sản không muốn nghe, nhưng ĐGH Gioan PhaoLô "VẪN CỨ NÓI", vì Rao giảng Sự Thật là một giới răn của Chúa Cứu Thế, như Chúa đã phán:

    "Ai có tai để nghe, thì hãy nghe"

    Thánh Phao Lô Tông đồ cũng khuyên nhủ các đệ tử luôn phải công bố Chân Lý, Sự Thật mọi nơi mọi lúc: "thời thuận lợi, cũng như lúc khó khăn, bất thuận lợi" . Bởi vậy, người môn đệ can đảm, không nên thưa với Chúa và than thở với dân Chúa: "chúng con KHÔNG BIẾT NÓI"

    Chế độ độc tài, độc đảng như CS, có Đối Thoại không?- KHÔNG. Vì đã độc tài, độc đảng, độc quyền thì còn muốn chia sẻ, bàn luận với ai nữa? Điều kiện tối quan trọng trong việc đối thoại là "THIỆN CHÍ của đôi bên muốn chia sẻ quyền lợi một cách Công bằng, dựa theo Công lý. Thuyết Mácxit vô thần không tin vào những Luật Luân Lý Tuyệt đối, Khách quan, và Lương Tâm phân biệt Thiện/Ác, thì làm sao có chung một tiêu chuẩn để điều đình, hòa giải, thông cảm với nhau?

    Theo kinh nghiệm Lịch Sử cho biết: trên bình diện quốc tế cũng như tại Việt Nam, phe Cộng Sản thường không tôn trọng các hiệp định mà chúng đã kí kết. Cách đối xử thường xuyên theo lý thuyết Mácxit là: BẠO ĐỘNG, dùi cui, xe tăng, "quần chúng tự phát" , đánh đập và bắt bỏ tù, những ai dám chống đối. Họ chỉ mở miệng theo quỉ kế: "XIN-CHO" , nghĩa là họ luôn ở thế kẻ trên, ban phát ân huệ cho kẻ bề dưới phải lậy lục cầu xin. Ho có thí cho mới được, ít nhiều tùy ý họ, không bao giờ họ công nhận: "Tự Do Tôn Giáo là QUYÊN" của mọi công dân.

    "ĐỐI ĐẦu" LÀ GÌ?

     

    "Đối đầu" là kiểu nói trong Tu từ học (lấy một phần để chỉ toàn thể) như "đối diện" ( face to face ), ám chỉ một thái độ hiên ngang, không "cúi đầu" hàng phục hay sợ hãi, không dám ngẩng đầu lên, nhìn thẳng vào đối phương. Do đó, chữ "đối đầu" không có nghĩa là "bạo động", vì chẳng ai lại dùng đầu để húc nhau, như trâu bò húc nhau, vì loài vật không có trí khôn, lý lẽ để nói lên. Đối với con người, thì chữ "đầu óc" để chỉ con người có những tư tưởng để tranh luận. Chẳng ai dại gì mà dùng hai cái đầu để đập nhau cho bể cả hai. Bởi vậy, "đối đầu" không mang ý nghĩa bạo động, cũng cùng nghĩa với "đối thoại" trong bình đẳng, tự trọng, cũng như "đối diện"; danh từ "chạm trán" (to confront) cũng cùng một nghĩa, tỏ thái độ tự chủ, không rút lui, thụ động xin-cho. Chữ "đối thủ" cũng chưa hẳn là dùng võ lực "thượng cẳng chân, hạ cẳng tay", nhưng cũng tương tự nghĩa như chữ "đối lập". Nói tóm lại, "Đối đầu" là không IM LẶNG, ngoảnh mặt làm ngơ, hàng phục, cúi gầm mặt xuống, lấm lét, lầm lì.

    CẦU NGUYỆN, và hát Kinh HÒA BÌNH, tại Tòa Khâm Sứ, Thái Hà, Đồng Chiêm, Tam Toà.., là cầu xin là "đối thoại "với Đấng Tối Cao có quyền xét xử mọi gian tà, bất công, xin ơn Tha Thứ cho người làm hại mình, nhất là cầu Nguyện cho nền CÔNG LÝ, TỰ DO, ngự trị trên đất nước này. Vậy ai có quyền cấm đoán , hay chỉ trích cách thức biểu lộ niềm tin rất HÒA BÌNH này?

    3/ Một Giả Thuyết đặt ra: "thỏa hiệp"chứ không chống đối mới có thể cảm hóa chế độ độc tài và đem lại Tự Do, Nhân Quyền cho toàn dân ??

     

    Những thắc mắc, nghi vấn sau đây là những lo âu, hoang mang, mất lãnh đạo, mất tin tưởng đang bao phủ giáo dân và đồng bào, đặc biệt trong Tổng Giáo Phận Hà Nội, miền Bắc Việt Nam. Vấn đề tìm hiểu và phân tích các sự kiện thời sự thật khó khăn, vì hầu hết được diễn ra trong bóng tối bưng bít của Âm Mưu, Gian Dối, không dám thảo luận trong quang minh, chính trực. Dư luận hay Báo chí chỉ có thể đoán mò, theo những nguồn tin khác nhau, đối chọi nhau. Do đó, cần nhiều người thiện tâm thiện chí, cộng tác điều tra, và cần theo dõi các Diễn Biến để nhận diện các "Dấu Chỉ Thời Đại", sẽ giúp ta phơi bầy ra ánh sáng những âm mưu đen tối của sự Ác. Thật khó có ai có thể dự đoán được tương lai của Tổng Giáo Phận Hà Nội, của Giáo Hội Việt Nam sẽ đi về đâu? Nhưng dựa vào lời Kinh Thánh, cũng như kho tàng khôn ngoan của Loài Người, ta luôn hy vọng: SỰ THẬT sẽ đuợc phơi bày ra Ánh Sáng của CHÂN LÝ:

    "quidquid latet, apparebit" ( mọi điều ần dấu sẻ hiện ra, Kinh Cầu Hồn)

    "đường đi hay tối, nói dối hay cùng" (ca dao Việt Nam)

    Sau đây chỉ xin nêu lên một số sự kiện, đã và đang xẩy ra trong thời gian gần đây, như DẤU CHỈ, dấu hiệu, giúp ta dự đoán được chiều hướng con thuyền Giáo Hội Việt Nam sẽ đi về đâu? Giáo Hội Công giáo có còn chống lại Cộng sản vô thần hay đang dự tính "thoả hiệp", đồng hành với chế độ vô nhân đạo, phản Dân hại Nước?

    -Giáo Hội Công Giáo còn chống lại Thuyết Mácxit, Cộng sản không?

     

    Trên bình diện Đức Tin, trên lý thuyết, thì ai cũng biết quá rõ: quan điểm kết án Thuyết cộng sản, mácxít vô thần của Công Giáo, từ "Mệnh Lệnh Fatima", đến các Thông Điệp của các Vị Giáo Hoàng, các Thư Chung của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam..vẫn không thay đổi. Một bên là Hữu Thần, bên kia là vô thần; Đạo Công Giáo chủ trương Bác Ái, CS luôn dùng dối trá và bạo lực.

    Những câu phát biểu như: "Ai là người không thích cộng sản, thì đừng bắt chúng tôi phải khích bác họ" . Ta có thể trả lời một cách quả quyết: chính các vị Giáo Hoàng La mã, HĐGMVN là những vị chẳng những không thích mà còn lên án, ra vạ phạt những tín hữu gia nhập hay theo thuyết Mácxít cộng sản vô thần.

    Gần đây nhất, sau Công Đồng Vaticanô II, nhờ lãnh đạo khôn ngoan của Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phao Lô II, đế quốc cộng sản Ðông Âu đã sụp đổ tan tành.

    Từ Rôma sang Viêt nam, chưa thấy những văn kiện chính thức nào của Giáo Hội, Tòa Thánh Vatican, phủ nhận những lời phê bình, kết án chủ thuyết vô thần vô nhân của cộng sản. Trên bàn cờ quốc tế ngày nay, chủ nghĩa cộng sản mácxít đã bị hầu hết các nước tẩy chay, chỉ còn tồn tại ở Trung Hoa Cộng sản, Việt Nam, Bắc Triều tiên, Cuba.

    -Nhưng trên bình diện chiến lược, chiến thuật (strategy, tactics), đặc biệt tại Việt Nam trong những năm gần đây, nhất là từ khi nổi dậy phong trào"Cầu Nguyện Đòi CÔNG LÝ", đòi QUYỀN Tự Do Tôn Giáo, người ta quan sát thấy hình như manh nha một "chiến lược" với những khẩu hiệu tuyên truyền, ý nghĩa mập mờ, "đối thoại, không đối đầu" " hợp tác chân thành" , như ý đồ muốn "thỏa hiệp" với chế độ độc tài đảng trị, đàn áp bằng vũ lực.

    Chiến lược này luôn giữ thái độ "IM HƠI LẶNG TIẾNG" , trước các bất công xã hội, chiếm đất của dân, miễn sao phe phái giành được một vài ân huệ "Xin-cho". Chiến lược này cũng giống chiến lược "Hoa Hồng đỏ" , "khúc ruột ngàn dặm" của Cộng sản để đánh lừa Người Việt Hải Ngoại.

    Theo kinh nghiệm sống chung với cộng sản, thỏa hiệp với chúng để hy vọng cảm hóa được chúng theo Lẽ Phải, là một ảo vọng, trừ một "Phép lạ" xẩy ra.

    Ngoài ra, cũng không được vì chiến thuật muốn hòa hoãn với Trung Cộng, mà đành hy sinh "con tốt" Việt Nam, áp đặt Giáo Hội Việt Nam phải theo chiến lược "thỏa hiệp" ( cách đây mấy năm, một phái đoàn GM Việt Nam thăm Bắc Kinh để chia sẻ kinh nghiệm, nhưng không viếng thăm Giáo Hội thầm lặng, trung thành với Tòa Thánh ).

    Để tiêu khiển, giết thời giờ, các cụ già, các chú mục đồng rất thích đánh cờ tướng. Nhìn vào đối thủ thí quân cờ, hay tiến thoái , xê dịch vị trí quân cờ, thì người chơi cờ đã có thể phỏng đoán được ý đồ, chiến thuật, chiến lược hay "nước cờ’ đang diễn biến theo chiều hướng nào, để kịp thời phòng bị, phản công lại.

    Ngày nay, trên BÀN CỜ VIỆT NAM, mọi người dân Việt, Công Giáo cũng như đồng hương, đều đã nhận thấy, và khám phá ra các quân cờ, "nước cờ" đang diễn biến theo chiều hướng chiến lược THỎA HIỆP với bạo quyền, rất có thể gây nguy hại cho tương lai của Giáo Hội và Dân tộc. Dầu bí mật, bưng bít các hành động trong bóng tối, nhưng nhìn vào cách gài các quân cờ, vào các địa điểm trọng yếu trên Bàn cờ Việt Nam như tại Hànội, Vinh, Nha Trang, Saigon, Mỹ Tho, người giáo dân "hiền lành như chim bồ câu, nhưng khôn ngoan như con rắn", đã tiên đoán được những thua thiệt, đổ vỡ, nếu không hành động kịp thời xóa bỏ bàn cờ cũ, để chơi lại ván bài mới.

  • Tạp ghi

    Hat Ka : ÁC CHÁU TA LÊN MẠNG : ĐẾN PHIÊN CHÚ GIÁP

    BÁC CHÁU TA LÊN MẠNG : ĐẾN PHIÊN CHU GIÁP

                                                      Bác ơi là nhớ!

    Từ sau vụ Đồng Chiêm Xanh Đồng Chiêm Trắng đến giờ, mặc dù Bác-Cháu ta vắng meo cho nhau, lúc nào Tèo cũng nhớ tới Bác. Nhớ cực kỳ, nhớ kinh khủng. Nỗi nhớ càng ngày càng cực kỳ kinh khủng theo tỷ lệ thuận với mức độ kinh khủng cực kỳ do những tội ác băng đảng của Bác, “Đảng Cộng Sản Việt Nam Quang Vinh”. Chỉ có Đảng quang vinh nên cả nước ta mới đầy dẫy những “sự cố” mà năm châu bốn biển-diễn theo “vè Nghệ Tịnh”- không nước mô có được, không tài nào có được.

    Bác chịu khó khó chịu để Tèo kể sơ sơ vài vụ điển hình mới đây: Hai nữ học sinh tuổi vị thành niên Nguyễn Thị Hằng và Nguyễn Thúy Thanh bị Hiệu trưởng Sầm Đức Xương cưỡng dâm xong lại bị thầy chuyền tay cho quan đầu tỉnh Hà Giang tên Nguyễn Trường Tô, rồi quan toà úm bà là biến hóa hai cháu nạn nhân thành thủ phạm “gái mãi dâm”; chuyện công an vừa cướp quan tài bà cụ Đặng Thị Tân,vừa đánh chết anh Nguyễn Thành Năm đang trên đường đưa tiễn người quá cố đến mộ phần mà bà cụ và xứ đạo Cồn Dầu sở hữu từ thuở địa cầu còn vô trùng CS; chuyện cậu thanh niên Nguyễn Văn Khương chở đào đi trên xe máy vì quên đội mũ bảo hiểm mà mất mạng không phải do  tai nạn lưu thông mà do công an nhân dân Tỉnh Bắc Giang bắt đưa vào đồn đánh đập ; chuyện tàu “quen” Vinashin do “đồng chí” Phạm Thanh Bình đại bịp với món “nợ” 80 ngàn tỷ Đồng Bác (không phải Đồng Mark) tức 4,2 tỷ Đồng ông Washington ; Chuyện mới đây nhất là “Đại Hội Vlll Hội Nhà Văn”mà thực chất là ĐH . Vô Văn Hóa, nói theo kiểu giai cấp công nhân tức “đội tiên phong” của Kách Mệnh, là mất dạy.

    Cách đây khoảng 2500 năm (500 năm trước tây lịch), Lão Tử, một triết gia nổi tiếng của Trung Hoa đã nói: "Làm thầy thuốc mà sai lầm thì chỉ giết một người; làm chính trị mà sai lầm thì tàn hại cả đất nước; làm văn hóa mà sai lầm thì gây tai họa cho muôn đời".

     “Làm văn hóa sai lầm thì gây tai họa cho muôn đời”.  Làm văn hóa một cách“sai lầm” mà đã tai họa như thế; làm văn hóa kiểu côn đồ mất dạy như Đại Hội Vlll giữa chốn Văn Vật (mà đảng viên từ cao xuống thấp đang hồ hởi phấn khởi chia chác lẩn dành dật nhau quanh bàn tiệc “Ngàn Năm Thăng Long”) vừa rồi thì tai họa không chỉ “muôn đời” m à đến hàng  “tỷ đời” .

    Người ta làm văn hóa nếu có “sai lầm” là sai lầm chủ trương đường lối, nhưng họ làm với tư cách đàng hoàng, tư cách của những người có văn hóa.

    Đàng này, không nước mô có được, không tài nào có được, Đảng bác đã làm văn hóa sai lầm, bằng cách mạ lỵ ,đạp đổ văn hóa ông cha giống nòi, văn hóa loài người, để thay thế bằng “văn hoá” dưới cả hàng súc sinh ;có loài vật nào mà con cái minh cưu mang lại quay ra đấu tố mẹ cha (TBT Đảng Trường Chinh làm guơng trong CCRĐ);có con vật nào cất tiếng đầu lòng lại âu yếm kẻ lạ xa ( Bộ Trưởng Văn Hóa Tố Hữu với “yêu biết mấy khi con học nói, tiếng đầu lòng con gọi Xít Ta Lin”);Có còn được gọi là người một kẻ khi, “thương cha thương mẹ thương chồng, thương mình thương một, thương ông (Xít) thương mười” .

    “Làm văn hóa” như thế, cứ cho là làm văn hóa đi, dù là thứ văn hóa dưới cấp hàng súc sinh. Cứ cho là lú lẫn mê muội, theo lời dụ dỗ đi; đàng nào thì cũng lỡ dại rồi . Đã thế, đàng này, giữa thời đại văn minh , trong khi đã có lắm nơi con khuyển đi ra đường cũng mặc vào cái quần, con khỉ diễn Sơn Đông Mãi Võ vận vào cái khố, thì tại “cái nôi của loài người, chốn đỉnh cao của trí tuệ”:

    Các đồng chí cháu ngoan của bác, như  Hữu Ước, Hữu Thỉnh..ngồi chủ tọa Đại hội của các nhà văn đã tỏ ra vô văn hóa hơn ai hết, khi giật micro , phá sóng, cúp điện nhằm bịt mồm những ai dám nói sự thật “thực” ( Tèo mượn tạm ngôn từ thời” ..quốc doanh”, sự thật cũng có loại giả loại thực ).Hữu Ước, Hữu Thỉnh là hai vị cán cao trên bục cao chủ tọa lăm le dè chừng khách mon men “lề trái”, lúc nào cũng quyền uy một đống :

    Bắt bịt mồm phải bịt mồm                                                                                                                        Cho micro mới được phần micro                                                                                                     (Thơ Trần Mạnh Hảo)

    Quyền cao chức trọng của ngành văn hóa như thế, nhưng khi bị nạn nhân bịt mồm ,nhà vănTrần Mạnh Hảo, phản đối, đã không dám nhận việc mình làm mà đổ lỗi cho …kỹ thuật. Tư cách chủ tịch ba nhiệm kỳ Hội Nhà Văn như thế thì có hơn gì đám “quần chúng nhân dân tự phát” đi dật kéo áo sư ni chùa Bát Nhã, vào tận nhà thờ Thái Hà mạ lỵ Đức Tổng Giam Mục NQK.v.v….mà mặt thật là công an .

    Mà nào chỉ có hai ngài Song Hữu (Ước và Thỉnh) trên bàn chủ tọa, bầy văn súc không ít ngồi phía dưới thuộc lòng câu “ăn cây nào rào cấy ấy”, đã tận tình rào đảng bằng cách .. vổ tay xỏ lá ba que ,la ó kêu Trần Mạnh Hảo “xuống xuống” ,vì “thằng này” cả gan phản động, nhảy sang “lề Trái”.

    Những kẻ có ăn học mà tư cách như thế, lại làm “nhà văn”. Nhà văn không “làm văn hóa” thì làm gì. Làm văn hóa mác xít không xong, xoay sang  làm văn hóa cướp lừa (vừa ăn cướp vừa la làng).

    Bác Hồ ơi, 2500 sau ông Lão Tử, đứa vô học dốt nát tận cùng như Cu Tèo đây cũng có thể thốt lên mà không sợ ai cho là ngoa ngôn, rằng Băng đảng do bác lập nên đang làm văn hóa không những chỉ sai lầm , mà còn làm văn hóa một cách vô văn hóa. “Làm văn hóa mà sai lầm thì gây hại cho muông đời”. Làm văn hóa đã sai lầm ,lại làm một cách vô văn hóa như băng đảng bác, Dân tộc này đến mấy đời mới hết bị hại ?

    Bác ơi, chú Giáp đã nướng hàng triệu sinh linh Việt để “đánh cho Mỹ cút”, nay tướng quan Bộ đội cụ Hồ hồ hỡi cách chi khi được “mời” lên hàng khâm mẫu hạm USS Georges Washington đậu ngoài khơi Đà Nẵng.Hồ hỡi được ôm chân đế quốc Mỹ.

    Sao Tèo vẫn chưa thấy, chưa nghe lời chú Giáp “phản tỉnh”. Hay chú ấy đang bận bịu đấm ngực sám hối đã bỏ Trường Bưởi mà đi, kéo theo bao học trò, hậu duệ, để khi không tiếp tay đưa Đất Nước Dân Tộc Việt Nam đến nông nỗi thế này.

     

  • Tạp ghi

    Phạm Minh Đức : Lính viết cho Lính đọc

    LÍNH VIẾT CHO LÍNH ĐỌC

    Tác giả : Phạm Minh Đức

     


     

    Tác giả Phạm, Minh-Đức sinh năm 1984 tại Việt Nam, tới Hoa Kỳ lúc 7 tuổi. Tốt nghiệp trường Bộ-Binh Fort Sill ở OK ngày 3/10/2002. Trình diện Sư-Đoàn 3 BB. Từ Kuwait vượt sa mạc 15 ngày đêm, chiếm Phi-Trường và Thủ Đô Bá-Đa. Đã trở về đơn vị tại căn cứ Savannah ở Gorgia. Ngày 13 tháng 8 sắp tới sẽ là sinh nhật thứ 20 của Phạm Minh Đức. Mong Đức sẽ viết tiếp hồi ký của chàng cựu chiến binh khi vào 20.
    *

    Điện thoại reo. Ở đầu giây, tiếng nói của Ba tôi:
    "Ủa, con đi chơi đâu mà hơn 12 giờ đêm chưa về? "
    "Dạ con đang ở trại Fort Sill ở Oklahoma, này Ba!"
    "Con làm gì bên đó?"
    "Dạ con volunteer vô Army".
    " Trời! Ai ký giấy cho con?"
    "Dạ con giả chữ ký của Ba!"
    Tại sao con không đi Không quân, Hải quân mà lựa chi Bộ binh?
    Dạ Air Force hay Navy phải sign up (ký ) 4 năm, mà con không muốn ở lính lâu. Chỉ có Army hay Marine Corp (Thủy Quân Lục-Chiến) là cho 2 năm thôi….

    Tôi sinh ngày Aug 13 th, 1984 nên khi đến trại huấn luyện bộ binh Fort Sill ngày Jul 7 th, 2002 tôi chưa đủ 18 tuổi. Vì vậy, chữ ký "đồng ý "của cha mẹ do chính tôi ký. Đời nào Ba Má tôi chịu ký tên cho tôi đi lính, khi tôi đã học 6 lớp AP (Advanced Placement) trong 3 năm liên tục. Lớp 10-12 tại trường Westminster và tốt nghiệp trung học 4 chấm. Ba má tôi muốn tôi phải học đại học UC Irvine, hay UC Los Angeles để làm một việc gì đó trong phòng lạnh!
    Ngày đầu tiên tại Recruiting Station Center (Trạm Tuyển Mộ) ở Los Angeles. Tôi phải khám sức khỏe tổng quát, phải làm một bài thi mất 4 giờ đồng hồ, nói chuyện với counselor, ký tên vào bản enlistment agreement (tình trạng hiện dịch) là một loại contract (khế ước) nói rõ thời gian phục vụ, những huấn luyện phải trải qua. Trong thời gian Basic Combat Training (BCT: Huấn luyện chiến đấu cơ bản), người lính chỉ được điện thoại về gia đình trong trường hợp khẩn cấp hay khi được khen thưởng đặc biệt mà thôi. Thời gian huấn luyện BCT là 9 tuần lễ. Sau khi chọn ngành, sẽ tiếp tục Advanced Invidual Training (AIT) từ 7 tới 14 tuần lễ nữa ở một nơi khác. Thời gian AIT là được huấn luyện về chuyên ngành đặc biệt gọi là Military Occupational Speciality (MOS)ï. Sau MOS, người lính sẽ được điều đi bất cứ nơi nào tùy theo nhu cầu. Tất cả các điều trên tôi phải biết hết ngay trước khi vô lính.
    Đến ngày hẹn,tôi lặng lẽ mang theo một bộ quần áo và bàn chải đánh răng lên phi trường. Không muốn cho ai biết. Tôi hoàn tất thủ tục nhập ngũ ở Military Entrance Processing Station (MEPS) Los Angeles lúc 5 giờ sáng. Chưa mặc quân phục, tôi đã bắt đầu giả từ đời học sinh qua lời thề: "I do solemnly swear that I will support and defend the Constitution of the United States against all ennemies, foreign and domestic…"(Tôi long trọng thề rằng sẽ bảo vệ Hiến -Pháp Hoa-Kỳ chống lại mọi kẻ thù từ bên ngoài hay trong nước….) Tôi muốn biết phản ứng của bản thân tôi thế nào đối với thế giới này. Tôi không biết việc gì đang xảy ra. Niềm vui, hạnh phúc, buồn phiền, thất vọng, tình yêu, nhớ tiếc…cùng một lúc trong lòng tôi. Máy bay rời phi trường Los Angeles ghé Dallas/ Texas rồi chuyển qua một máy bay nhỏ 12 chỗ ngồi (connecting flight), xuống phi trường quân sự Lawton ở Oklahoma. Nếu bay thẳng thì phải đáp xuống phi trường Oklahoma City, và từ đó lái xe hơn 2 giờ đồng hồ mới tới Fort Sill. Phi đạo của Lawton không đủ chiều dài cho máy bay lớn.
    Ngày đầu tiên khám sức khỏe, số ký của tôi là 105 pounds. Tôi bị loại vì "underweight", nghĩa là trọng lượng dưới mức tối thiểu là 5 cân! Chẳng lẽ xách gói về nhà thì quê quá! Tôi bèn vào gặp một bác sĩ quân y, cấp bậc Đại- úy, để xin giúp. Ổng bảo tôi về nhà làm sao mập thêm 5 cân nữa mới đủ, bởi vì súng đạn và đồ trang bị của tôi có thể nặng tới 100 pounds, làm sao tôi kham nổi? Tôi liền trả lời ông là tôi đã học Kung Fu với Master Hà Quốc Triều-Chung tới đai đen rồi, nên tôi đủ sức. Ổng hỏi Master Chung là ai? Tôi nói Bruce Lee (Lý-Tiểu-Long) là người một thời làm rung chuyển màn bạc với những film đấm đá mà chỉ thắng giải World Martial Championship có 1 lần. Còn Master của tao đã thắng giải ấy 4 lần! Bác sĩ trợn mắt "Really?" Nhanh như chớp tôi chạy vòng ra sau lưng, ôm luôn cái ghế có ổng ngồi, nhấc bổng lên. Ổng không bự con lắm, sức nặng chỉ độ 150 pounds. Tôi đã tự lượng sức mình. Quá bất ngờ, ổng không kịp phản ứng gì, nhưng ổng vẫn nói "wonderful" và ký giấy "Waiver" (miễn trọng lượng) để tôi đem nộp tại Reception Center (Trung-Tâm Tiếp Nhận). Nơi đây, Personel records processing là làm tôi hết hồn nhứt. Computer vừa scane xong, tôi cho tay vào một cái là tiểu sử của tôi xuất hiện đầy đủ. Trước ngày nhập ngũ, tôi lái xe bị 2 cái tickets ngày nào. Ở trung học Westminster có một lần lén hút thuốc trong trường bị bắt ngày nào… Cũng may, là tôi chưa làm điều gì quá đáng!
    Tôi trở thành một hoà thượng, sau khi cái đầu bị cạo trọc lóc. Họ chụp hình lăn tay cấp ID quân nhân. Họ đo mắt cận thị và phát một mắt kiếng đặc biệt. Kiếng này đeo khi đánh giặc. Ném xuống đất, đạp lên chẳng nhằm nhò gì! Họ chích thuốc ngừa cả thảy 9 lần và khám sức khoẻ kỹ lưỡng để bảo đảm tân binh đủ sức khắc phục những huấn luyện vô cùng gian nan.
    Cấp phát y phục là bước đầu. Họ đo đầu để may nón, đo chân để đóng giày thể thao, giày boots, đo ni để may quần áo thun, tập thể thao trong mùa Hè, mùa Đông và uniforms (quân phục). Luôn cả vớ và đồ lót cũng đúng size của mỗi người. Tuần lễ đầu tiên chỉ là introduction: Học thể thao, đi, barracks order là bài học làm sao trải giường cho thẳng và quần áo, giày mũ để vào đúng vị trí nào để thanh tra. Bước tiếp theo là Drill and Ceremony là đi đứng và chào đúng lễ nghi quân cách đồng thời cấp phát vũ khí, cách tháo ráp và bảo trì súng M-16 A2.
    "Fall in "(Đứng vào hàng).
    Tiếng rống của Drill Sergeant (Trung sĩ huấn luyện viên) không thua gì Kim-Mao Sơn-Vương Tạ-Tốn trong truyện Đồ Long Đao của Kim-Dung. Con nít đứng gần chắc té đ&aa
    cute;i ra quần hay chết giấc! "Đức here Drill Sergeant". Tôi phải trả lời bằng tên của mình. Một gương mặt đen thui, lạnh lùng không bao giờ cười, đầy uy quyền, tự tin và chuyên nghiệp. Y ngạo nghễ bước tới nhìn chằm chặp vào đám lính. Bất thình lình cất giọng: "I am your Drill Sergeant and I will teach you how to become a soldier". (Tôi là Trung -Sĩ Huấn Luyện Viên của các bạn và tôi sẽ huấn luyện các bạn làm sao để thành một người lính.). Có lẽ đây là lời giới thiệu suốt 20 năm qua không thay đổi. (Ổng huấn luyện ở trại này hơn 20 năm). Đôi mắt rực lửa cuồng nhiệt đó đã theo tôi vào trong cả giấc ngủ. Huấn luyện viên dạy mặc quân phục như thế nào, đội nón, mang giày ra sao, chào như thế nào, đeo huy chương gì ở đâu, nhận diện cấp bậc như thế nào… ngay cả đi ỉa cũng dạy làm sao giữ vệ sinh chung.
    Tuần đầu tiên huấn luyện cơ bản: Physical Training (PT). Tiêu chuẩn đề ra cho nam từ 17 tới 21 tuổi là Push-Ups (hít đất) tối thiểu 42 cái, tối đa 71. Sit-Ups (nằm thẳng chân, 2 tay trên cổ và ngồi dậy) 53/78. Chạy 2 miles chậm nhất là 15 phút 54, nhanh nhất là 13 phút. Con gái thì Push-Upsø 19/42. Sits-Ups là 53/78 và chạy là 15:36 / 18:54. Bây giờ tôi mới thầm cám ơn thầy Hà-Quốc-Huy vì võ đường của ổng đâu có khác gì trại lính? Hồi đi học võ, ngày nào tôi không bị phạt Push-Ups. Cho nên tối đa 71 cái đối với tôi là chuyện nhỏ!
    Tôi bắt đầu thụ huấn BCT ngày 5/8/2002. Tôi tưởng chừng như đang đóng film. Trung sĩ huấn luyện viên có thể bắt tôi lăn ra đất, lội xuống sình, bắt ăn trưa với bụi dơ, chùi phòng tắm với bàn chải đánh răng. Tôi được huấn luyện không suy nghĩ, chỉ tuân lệnh như một cái máy. Giữa trưa nóng 105 độ F ra lệnh chạy. Chậm một cái là bị chưởi như chó. Mồ hôi chảy vào mắt cay quá, vừa đưa tay lau một cái. Nó chưởi đ. m. có cần vác theo cái máy lạnh cho mày không? Tuần đầu chạy 20 phút. Tuần sau 25. Tuần thứ ba là nửa giờ. Nó có thể hăm dọa, phun nước miếng vào mặt, nhưng tuyệt nhiên không bao giờ huấn luyện viên đụng vào người một tân binh nào. Một hôm, huấn luyện viên thấy đám tân binh mặt lơ đễnh, buồn buồn bèn hỏi: "Who got girl friend at home?" (Bạn nào có bồ bịch ở nhà?). Hơn 1/2 quân số hí hửng đưa tay. Sergeant lạnh lùng phán: "You don’t have to worry about her at home. I f. her the other night at her pussy stank" (Mày khỏi nhớ nó. Tao đã chơi ngay lỗ lông nó bữa hôm kia"! Mặt mày mấy tân binh tiu nghỉu! Mỗi ngày, tắm một lúc 62 tên, mỗi tên 2 phút. Aên sáng, trưa, tối 5 phút. Có thằng đang ngủ nửa đêm vùng dậy chạy. Có lẽ ban ngày khi huấn luyện, nó bị hét to quá nên tối ngủ nhập tâm. Chuông báo thức lúc 4 giờ sáng. Có khi 3.30 am. Ngủ không quá 4 giờ. Vùng dậy, đánh răng, cạo râu, đi cầu… Lúc rời barrack, ra trải giường phải thẳng bóng như gương trong vòng 45 phút.- Thức lúc 4 giờ và 4 giờ 45′ là formation(tập họp). Mỗi ngày làm việc 20 giờ, mồ hôi nhễ nhại. Kẹo bánh, nước ngọt, thuốc lá, âm nhạc, môi hồng của bạn gái… đã lùi vào dĩ vãng, và không thuộc thế giới này.
    Ngày 25.7.2002 tôi viết lá thư đầu tiên từ quân trường gởi về nhà. Địa chỉ của tôi là:
    PVT Phạm, Minh-Đức
    Bldg 6050 NW Rothwell Street
    A-1/22 nd 4 Th Platoon (Steele Dogs)
    Fort Sill, OK 73503.
    Sau Basic Training, tôi phải thi một cái test rất quan trọng. Câu hỏi bao gồm toán, hình học, khoa học, biology, chemistry… Score tối đa là 90. Tôi được 87 điểm. Sĩ quan kêu tôi lên trình diện. Ổng chúc mừng và nói là tôi được chọn đi học intelligence(tình báo). Tôi hỏi intelligence là làm gì? Tại sao tôi được chọn? Ổng nêu ra 3 lý do: Tôi là người có score cao nhứt của platoon (trung đội), nên vinh dự lắm mới được. Tôi nói được 3 thứ tiếng, Anh, Việt và Spanish. Thời gian huấn luyện 2 năm, phục vụ 6 năm. Ổng nói rằng tôi sẽ được huấn luyện chung với ranger (biệt động quân), được học nhảy dù miễn phí. (Ngoài dân sự tốn ít nhất là 50.000 Mỹ kim mới học được bằng dù.) Tôi trả lời là tôi không định ở lính lâu như vậy. Ổng đập bàn một cái và bảo tôi về suy nghĩ lại. Cả barrack nó chưởi, nó f. tôi te tua. Đ.m tao mà được chọn đi intelligence như mày thì chắc chắn con Lynda hàng xóm trắng bóc sẽ cho tao f. lia chia ngày tao về phép. Đ.m ngày từ giã nó, nó chỉ cho tao bóp vú thôi. Kéo quần nó xuống, nó khóc, nó nói mới 16 tuổi sợ mang bầu rắc rối lắm, rồi tao về không cưới nó. Thằng Mỹ đen nằm bên cạnh tôi nói xong nhe răng cười trắng nhỡn để lòi cái lợi đỏ hoét!
    Cũng may, squad (tiểu đội) của tôi vừa được thắng giải nhứt trong CCC (combat conditioning course) nên mỗi đứa được thưởng 10 phút gọi điện thoại về nhà. Tôi hỏi ý kiến của Ba tôi về việc nên hay không nên. Ba tôi cho biết là ở nhà đã nhận được "congratulation" (thư chúc mừng) từ West Point gồm thư và một tập tài liệu, các form cần thiết để tôi phải điền và gởi đi. Ba tôi đọc rất nhanh:
    Department of the Army
    United States Military Academy
    West Point, New York 10996
    …Tôi đã qualified cho USMA vì tôi đã có quốc tịch Hoa-Kỳ, tôi không quá 23 tuổi, tôi chưa có vợ, tôi không mang bầu, tôi chưa từng can á
    n phải ở tù, tôi tốt nghiệp trung học 4 chấm, điểm thi SAT (Scholastic Assessment Test) của tôi hơn 1.300… Tuy nhiên, tôi phải bổ túc gấp nomination, letter of recommendation (thư đề cử) của cả nghị sĩ cùng dân biểu của tiểu bang Cali và của Phó-Tổng Thống. Nếu cha mẹ tôi từng phục vụ cho quân đội Hoa-Kỳ thì miễn sự đề cử nói trên. Người ký tên bức thư là Đại-Úy Clifford M. Hodges. Gia đình quả đã nhận được thư trước tôi! Ý kiến của Ba tôi là nếu phải ở lính 6 năm thì tại sao không đi West Point để làm sĩ quan? Tôi trả lời rằng mặc dù học 4 năm tốt nghiệp, nhưng ít nhứt phải phục vụ thêm 6 năm là thành 10 năm. Lâu quá!
    Ngày hôm sau tôi trình diện và cho biết tôi không đi West Point và cũng không làm tình báo, vì lý do là muốn sau 2 năm quân ngũ sẽ về nhà tiếp tục đại học. Sĩ quan bảo rằng tôi chỉ còn một con đường duy nhất: đó là làm chuyên viên gỡ mìn hay chuyên viên về vũ khí. Nghe gỡ mìn tôi hơi lạnh xương sống, nên chọn ngay chuyên viên vũ khí. Ngay lúc đó tôi được biết là sau tốt nghiệp Fort Sill, tôi sẽ đến tiểu bang Alabama để tiếp tục giai đoạn AIT.
    *
    Thứ Ba, ngày 13.8.2002 Drill Sergeant đem thư đến Barrack và kêu tên tôi. Tụi nó chúc mừng ồn ào. Tôi run run mở thư. Đúng là ngày sinh nhật 18 tuổi của tôi. Tôi vui vô tận. Có cả thư của Dì Tranh và Thanh ở bên Úc. Trong thiệp sinh nhật gởi cho tôi, Má tôi viết: “Ngày xưa, học Chinh Phụ Ngâm Khúc, Má còn nhớ mấy câu thơ:
    "Chí làm trai dặm ngàn da ngựa
    Gieo Thái-Sơn nhẹ tựa hồng mao
    Giã nhà đeo bức chiến bào…"
    Ngày hôm nay Uùt Đức của Má cũng mặc quân phục làm lính. Không phải Ba Má không đủ sức nuôi con lên đại học, nhưng đây là con đường con tự chọn:
    … Má biết rằng con gian khổ nhiều
    Má luôn là gió nhẹ hiu hiu
    Vì con là biển trời nhung nhớ
    Là cả cuộc đời Má chắc chiu.

    Sinh nhật con, Fort Sill xa xôi
    Có biết nơi đây Má bồi hồi?
    Nhớ thuở nằm nôi còn bé nhỏ
    Aúm bồng âu yếm mãi không thôi

    Mười tám mùa Xuân quá tuyệt vời
    Con luôn học giỏi để Má vui
    Vắng con ảm đạm, nghe buồn tủi
    Mỗi lượt thơ về, lệ Má rơi.!"

    Một niềm nhớ thương và cảm xúc đã làm tôi phát khóc. Nước mắt đã rơi xuống hồi nào toÂi không hay. Chưa bao giờ tôi biết thương cha thương mẹ như lúc này. Má tôi lúc nào cũng nấu ăn ngon dọn lên bàn, kêu 5 lần 7 lượt tôi chưa chịu ăn. Là con út trong gia đình lúc nào tôi cũng được thương yêu, chiều chuộng, muốn gì được nấy. Nay cuộc sống hoàn toàn khác. Một lần tôi nuốt vội thêm một miếng thịt bò đúng vào phút thứ 5. Chưa kịp đứng dậy, Huấn Luyện Viên chỉ ngay vào mặt tôi hét lên: "Lần tới mày chỉ cần hưởi vào đít con bò một cái là hết thèm thịt bò! OK? – "Yes. Sir!” Tôi trả lời.
    "Bữa ăn ở trại, phục vụ theo lối all you can eat, hay như buffet. Đồ ăn ngon và nhiều hơn bất cứ buffet nào ở ngoài.. Nào là thịt bò, heo, gà, rau, trái cây tươi đủ thứ, nhưng không ai đủ thì giờ để ăn. Tôi chỉ nuốt lống mà không bao giờ kịp nhai!
    Lúc còn ở Việt-Nam, Ba tôi từ Mỹ viết thơ về dặn dò Má tôi là không cho chúng tôi học tiếng Anh. Chỉ học tiếng Việt mà thôi, vì qua tới Mỹ chúng tôi sẽ quên tiếng Việt. Ba chị em chúng tôi đựợc thầy cô tới nhà dạy kèm tiếng Việt, toán, và học piano. Hàng xóm nào cũng cười Ba tôi là khùng. Nhưng khi qua Mỹ mới 7 tuổi, tôi đã học hết sách tiếng Việt lớp Ba. Nhiều người có hồ sơ bảo lãnh, là cho con nghỉ học để học tiếng Anh. Có khi 10 năm sau mới xuất cảnh. Những người đó tiếng Anh thì nói không giống ai. Tiếp tục học thì không được, vì đã nghỉ từ lâu. Tôi tới Mỹ học lớp 2 ở trường Anderson thành phố Westminster, CA. Năm lên lớp 3 là hết học ESL. (English As Second Language). Năm lớp 6 đã học lớp honor về Anh ngữ ở trường Warner…
    Chỉ mới 3 tuần huấn nhục mà như mền rách, đúng 21 ngày mà tôi đã quên mất tôi là ai. Má tôi cũng gởi kèm theo quà của chị Hiền và thư bé Phi-Phi. Mấy dòng nguệch ngoạc: "Hey, Đức. I can’t believe you’re really a soldier. I’m proud of ya. Try and be a lieutenant! Okey? I miss you! Phi-Phi" (Chào anh Đức. Em không thể tưởng tượng anh đi lính. Rất hãnh diện về anh. Ráng làm Trung úy. OK? Phi Phi nhớ anh)
    Tôi biết ơn em bé vô cùng. Ở cái tuổi lên 8, lẽ ra chỉ biết chơi game hay xem cartoon. Mấy hàng thăm hỏi của em đủ để anh sẵn sàng làm người lính bảo vệ sự bình yên cho cái thành phố nơi em đi học mỗi ngày và hạnh phúc bên cha mẹ của em.
    The 7 core Army Values (7 giá trị tiêu chuẩn của Bộ binh) mà chúng tôi phải rèn luyện, đó là: Loyalty, Duty, Respect, Selfless Service, Honor, Integrity, Personal Courage.

    1/ Loyalty là trung thành với hiến pháp Hoa-Kỳ, với Bộ binh, với đơn vị và các chiến hữu bằng niềm tin tưởng thực sự. Đây là tuần lễ thứ hai, phải học (Hand To Hand Combat Training (chiến đấu không vũ khí,) Pugil Training là đập nhau bằng chày bọc cao su có đội nón an toàn, học cấp cứu, xử dụng địa bàn tìm phương hướng và xử dụng bản đồ, học bivouac là căng lều, cắm trại. Kỷ luật tuyệt đối và teamwork (tinh thần đồng đội) là mục tiêu quan trọng nhất trong huấn luyện. Trên chiến trường, đôi khi "mày sống hay chết là nhờ đồng đội của mày, chớ không phải cha mẹ anh em." Bài test cho niềm tin đồng đội này là Treadwell Tower, tức nhảy ngửa ra sau từ Victory Tower cao 30 feet bằng một sợi giây do bạn giữ từ trên. Chỉ cần giây bị tuột thì người nhảy rơi xuống nát xương sống. Oám như tôi nhảy xuống dễ như chơi. Mấy thằng mập thì không thoải mái chút nào.

    2/ Duty là trách nhiệm phải hoàn thành sứ mạng. Ý thức trách nhiệm mà làm, dẫu không có sự chỉ huy của cấp trên. Chúng tôi tập cận chiến bằng bayonet (lưỡi lê) gắn trên đầu súng M-16 A2 gọi là Rifle Bayonet Fighting Training (FBFT). Ngày 21/8 học về Nuclear Biological and Chemical Welfare là làm sao tự vệ trong cuộc chiến tranh hoá học. Chúng tôi phải đeo một cái mặt nạ tự ráp gồm 17 mãnh tách rời nhau. Nếu ráp sai thì chất độc hại sẽ vào người và hậu qủa có thể đưa tới cái chết. Vũ khí sinh hóa có thể gặp trên chiến trường là Sulfur Mustards, loại hóa chất có thể absorb (thẩm thấu) qua đường hô hấp, mắt và da, gây lở loét da thịt và làm tan biến các tế bào của cơ thể, tác hại tủy xương,hệ thần kinh và hệ thống tiêu hóa. Thương tích xảy ra liên tiếp khi tiếp cận và sự đau đớn kéo dài 4 giờ. Chỉ cần 10 miligram đủ giết chết một người (không có thuốc chữa). Cho nên sau khi trang bị mặt nạ, chúng tôi bị đưa vào Gas Chamber trong vòng 5 phút. Chừng nào ngã xuống 5/10 thì cửa mở và tên nào còn đứng được thì lôi những tên kia ra ngoài. Mặc dù đã trang bị mặt nạ, chúng tôi vẫn bị phỏng rát, ói và xây xẫm mặt mày. Thật là một kinh nghiệm khủng khiếp nhất trong huấn luyện.

    3/ Respect là tự trọng để được người kính trọng. Người lính cư xử tôn kính, trang nghiêm với đồng đội cũng như dân chúng để được mọi người hồi đáp lại tương tự như thế.Tiếp tục bắn basic rifle markmanship với target (bia) 50m,100m,150m,200m,250m. Đến 300m chỉ còn là một cái chấm xa vút. Thi test Army Physical Fitness Test (APFT) lần thứ hai. Tất cả các field (môn) đòi hỏi ít nhất 50 điểm môĩ môn. Nhiều tên rất bự con mà không đủ điểm. Tôi đạt 250 điểm tức là dư 100 điểm. Trong khi tôi là người Việt-Nam duy nhất và nhỏ con nhứt trong battalion (tiểu đoàn) – chiều cao chỉ có 5-04 – Còn tên nào cũng 5-07 trở lên. Có thằng 6-04 là cao như hươu.


    4/ Selfless service là quên mình để phục vụ. Học tập về lịch sử oai hùng của Army. Người lính phải đặt lợi ích của quốc gia, quân đội và đồng đội trên lợi ích bản thân. Đây là tuần lễ thứ 5, thi bắn súng M-16 A2. Ai đủ điểm đậu sẽ được thưởng 1 badge (huy hiệu: giống huy chương). Targets Hits (trúng bia) 23-29 là Marksman. 30-35 là Sharpshooter. 36-40 là Expert (thiện xạ). Huy chương thiện xạ có màu trắng với nhành dương liễu bao quanh trên chữ "Rifle". Ngày 17/8/2002 chúng tôi vượt thắng Combat Conditioning Course (CCC: Đọan Đường Chiến Binh) với nhiều chướng ngại trong thời gian nhanh nhất. Được treo cờ "guide on" và được thưởng 10 phút điện thoại về nhà.

    5/ Honor Danh dự là sống và thực hiện một cách xứng đáng những giá trị của quân đội. Sự hèn hạ còn tệ hơn cái chết. Đây là tuần lễ thứ 6, phải xử dụng nhiều loại vũ khí của Hoa-Kỳ. Học ném lựu đạn, kiểm tra sự an toàn của nó. Cách xử dụng mìn claymore, sự an toàn của firing wire secured (giây kích hỏa). Học và bắn Grenade Launcher (súng phóng lựu) M-203, Squad Assault Weapon (M-249 SAW) 800 rounds/ phút. Bắn súng chống xe tăng AT-4 Light Anti-Tank. Học Camouflage (ngụy trang) là làm sao để quần áo, nón sắt, màu da… thích nghi với môi trường xung quanh. Ví dụ khi di chuyển qua sa mạc mà còn để các nhánh cây xanh tươi bao quanh người là tự sát.

    6/ Integrity là sự công chính, phải làm điều đúng, hợp pháp và không trái với tinh thần đạo đức. Chỉ dùng uy quyền và sức mạnh của mình khi thi hành sứ mạng vì lợi ích chung, không mưu đồ tư lợi cá nhân. Bây giờ đã bước qua tuần thứ 7 có final APFT chứng minh tân binh đã chiến thắng mọi thử thách trong huấn luyện.

    7/ Personal Courage (can đãm). Đã là tuần thứ 8, gần hoàn tất sự huấn luyện với Confidence Obstacle Course để tăng cường hợp tác vượt qua đoạn đường với nhiều chướng ngại. Học tập để đương đầu với sợ hải, hiễm nguy và tai ương bất hạnh. Nhận lãnh trách nhiệm về quyết định hành vi của mình. Warrior Field Training Exercise (WFTE) là kỳ thi đánh gía soldiering skills (kỷ năng tác chiến của lính). Để làm test này, ngày 23/9 chúng tôi phải hành quân vô rừng với tất cả quân trang, quân dụng. Đào hố xong mệt quá, tôi nhảy xuống hố ngủ một giấc. Không biết bao lâu, tỉnh lại vẫn nghe thằng bên cạnh còn hì hục đào vì nó bự con quá phải đào hố to hơn và sâu hơn. Tối đến đại bác nổ rền. Vôi trắng bay tứ tung. Thằng nào ăn gian, đào hố cạn, bị dính vôi thì hồ sơ sẽ bị gạch ngang cái cổ: died! Hay tên nào ngủ quên bị phục kích giật mất súng, cũng có kết quả tương tự. Tiếng nổ lạ càng lúc càng dữ dội. Những tràng đại liên và lựu đạn nổ ầm ầm. Hỏa châu bộc sáng giữa trời. Trong âm thanh cuồng nộ, tôi nghe như có tiếng "xung phong ". Lúc ấy tôi mới khám phá ra những chiếc loa khổng lồ dấu trong rừng và sự giao tranh khốc liệt chỉ là ghi âm đâu ở chiến trường Việt-Nam. Vậy mà tụi nó cũng bị hù té đái luôn! Mấy ngày đêm đói khát, không rãnh để đi ỉa! Rồi thu dọn chiến trường, vác ba lô đi bộ dùng địa bàn và bản đồ mò mẩm hơn 10 Miles về lại đơn vị. Thể xác rả rời. Đôi chân như không còn thuộc về thân thể của mình nữa. Nhiều thằng mập quá chân bị lột da, máu chảy ròng ròng trong giày, không thể lết về tới trại. Bị failed (rớt) là phải huấn luyện 9 tuần khác! Drill Sergeant kể chuyện có một thằng 250 pounds, rớt khoá thứ hai sau 18 tuần tập huấn, chỉ còn 150 pounds. Khoá thứ 3 bị rớt nữa và gảy chân. Fort Sill phải yêu cầu gia đình nó tới nhận về. Khi ra cổng nó nói với trại là nó sẽ trở lại để được làm lính! Tôi kêu trời không thấu, vì 9 tuần tập huấn đối với tôi đã dài như 9 năm! Ngày 30.8.2002 tôi nhận được pay check đầu tiên. Thằng Mỹ già nhứt 31 tuổi ở cuối Barrack nó phát điên lên. Nó hí hửng khoe vợ nó ở nhà lãnh 800 Mỹ-kim / tháng. Bốn đứa con mỗi đứa 400. Tổng cộng mỗi tháng chính phủ phải trả 2.400 $ cho 5 mẹ con nó ở nhà. Vậy là tôi lổ. Từ ngày vô lính tới nay, tôi được 1.600$. Trừ tiền giày, nón, áo quần, bảo hiễm…tứ tung. Chỉ còn 300$. Biết đâu tên lính già vô lính là mưu đồ benefit cho vợ con nó?
    Hôm nay Chủ nhật 1.9.2002. Tôi vào nhà thờ Fort Sill nghe cha giảng. Cây đàn Piano trước bục khiêu khích quá. Cha vừa giải lao, tôi ngứa tay, tới đàn bài Exodus. Tôi không biết có Đại úy (commandant) trong đó. Han khen tôi đàn hay. Tụi lính cũng khoái quá trời. Bởi yêu cầu, tôi trở lại cây đàn với bài Nommé Je t’ aime, rồi Valentine của Jim Brick Man. Những chủ nhật sau đó tụi nó xúm lại rủ tôi đi nhà thờ. Nó nói tôi không đi, tụi nó cũng nằm phòng để viết thư cho ban gái. Tôi là Phật-Tử cũng rán đi nhà thờ để đàn mua vui cho bạn.
    Ngày 14/9 trời mưa tầm tả, chúng tôi phải bò lết dưới sình lầy để thi bắn đêm. Bị ướt lạnh gần 5 tiếng đồng hồ. Run tay nên cả trung đội không ai bắn đạt điểm expert cả. Sau ngày 15/9, bắt đầu cleaning up equipment để chuẩn bị Graduation (Lễ ra trường).
    Cuối cùng, chúng tôi học Flag Ceremony là nghi lễ chào quốc kỳ và xếp cờ trong những ngày không treo cờ. Drill and Ceremony là cầm súng đi diễn hành theo lễ nghi quân cách. Ngày 22/9 Platoon của tôi thi hạng nhất (Title Honor Platoon) nên được chọn để biểu diễn trước mặt quan khách trong ngày lễ ra trường(Thứ Năm 3/10/2002) dưới sự điều khiển của nữ Trung-úy Pháo-Binh Marie Gutierrez.
    Ngày ra trường tại Community Activity Center, tôi đeo 2 huy chương về ném lưụ đạn và cận chiến bayonet. Cùng với tiểu đoàn, tôi đã đọc lớn: "I am an American soldier. I am a member of the United States Army- a protector of the greatest nation on earth- Because I am proud of the uniform I wear, I will always act in ways creditable to the military service and the nation it is sworn to guard
    . . .

    I am proud of my country and its flag. I will try to make the people of this nation proud of the service I represent, for I am an American soldier.
    (Tôi là một người lính Mỹ. Tôi là một thành viên của Bộ Binh Hoa-Kỳ- một người lãnh trách nhiệm bảo vệ một quốc gia vĩ đại nhất trên trái đất. Với niềm kiêu hãnh của bộ quân phục trên người, tôi luôn luôn phải làm vẻ vang trong sứ mệnh của người lính và tổ quốc mà tôi thề phải bảo vệ…
    Tôi hãnh diện về xứ sở và lá cờ của tổ quốc tôi. Tôi sẽ cố gắng làm cho người dân của đất nước này hãnh diện về sự phục vụ mà tôi đang hiến dâng, bởi vì tôi là một người lính Hoa-Kỳ.

    *** Cám ơn kỹ sư Hồ-Thành-Việt, người đã lodge cho tôi bộ VNI sửa lỗi chính tả vào laptop nên mới viết được bài này.
    (Lần tới "Tôi đi đánh Saddam Hussein")

    SPC PHAM, MINH DUC

  • Tạp ghi

    Thảm sát trên đảo Trường Sa: Chuyện chưa bao giờ kể.

    Thảm sát trên đảo Trường Sa: Chuyện chưa bao giờ kể.
    26.10.2008 – Nguyễn Nhân Chứng

    Các em du sinh VN nên đọc câu chuyện này, để hiểu tại sao cộng đồng người Việt hải ngoại không chấp nhận sự xuất hiện của cờ đỏ sao vàng…

    Thảm sát trên đảo Trường Sa: Chuyện chưa bao giờ kể.
    Nguyễn Nhân Chứng – Tâm Thức Việt Nam
      
    Số phận của ghe vượt vượt biên đi tìm đời sống tự do, dân chủ, hạnh phúc, ấm no. Câu chuyện sau đây được viết ra để tưởng niệm hơn 130 đồng bào trên “ghe ông Cộ” trên đường vượt biển tìm tự do đã bị Việt cộng tàn sát dã man vào tháng Tư năm 1979 ở đảo Trường Sa, và cũng để gửi đến các con yêu quý của ba: Chí Dũng, Đông Nghi, Tì Tì.

    Trước khi vào chuyện:
    Thời gian gần đây, dư luận đồng bào trong và ngoài nước vô cùng phẫn nộ trước nguồn tin Trung cộng đã xả súng bắn vào ngư dân Việt Nam đang săn bắt hải sản chung quanh khu vực đảo Trường Sa thuộc lãnh hải Việt Nam, gây thiệt hại về nhân mạng cũng như tài sản cho ngư dân Việt Nam, Đây không phải là lần thứ nhất Trung cộng xả súng bắn vào ngư dân Việt Nam. Cách đây vài năm, Trung cộng cũng đã xả súng bắn vào ngư thuyền Việt Nam khiến cho 8 người bị chết và nhiều khác bị thương, sau đó Trung cộng còn ngang nhiên bắt giam nhiều ngư thuyền và ngư dân Việt Nam một cách trái phép vô cùng ngang ngược, bất chấp công pháp quốc tế về luật hàng hải. Đây là hai vụ điển hình nhất mà dư luận quốc tế có đưa tin và đề cập đến. Dĩ nhiên, là còn có
    nhiều vụ khác đã xảy ra nhưng không có người biết đến. Điều đáng để nói là: nhà cầm quyền Việt cộng đã không có lấy một hành động đáng kể nào được xem là để bảo vệ công dân của mình trước các hành động man rợ của Trung cộng. Thái độ nhu nhược và bất lực của Việt cộng trước việc Trung cộng bắn giết bừa bãi dân lành đã bị đồng bào nguyền rủa.

    Nhưng đâu có ai biết được một câu chuyện đã xảy ra cách đây 28 năm về trước, cũng tại quần đảo Trường Sa này. Một cuộc tàn sát man rợ khác đã diễn ra, máu đào loang thắm cả một vùng biển, xác người trôi vất vưởng làm mồi cho muôn loài cá. Cuộc thảm sát man rợ này đã diễn ra do chính bộ đội Việt cộng, lực lượng trú đóng trên đảo Trường Sa ra tay thực hiện. Và….. nạn nhân là hơn 130 đồng bào vượt biển tìm tự do trên một con thuyền xuất phát từ thành phố Nha Trang. Trung cộng là giống dân ngoại chủng luôn luôn có ý đồ xâm chiếm Việt Nam từ hàng ngàn năm nay. Trung cộng bắn giết ngư dân Việt Nam cũng do bản chất xâm lăng, đồng thời muốn chứng tỏ thế nước lớn của mình đối với Việt Nam. Thế nhưng, bộ đội Việt cộng xả súng
    hàng loạt bắn thẳng vào chính những người cùng một dòng máu, cùng một màu da, cùng một ngôn ngữ, mà họ gọi là đồng bào, chỉ vì những đồng bào này đã bỏ nước ra đi vì không chấp nhận một chế độ độc tài cộng sản. Hành động này của bộ đội Việt cộng đã vượt qua mức tưởng tượng bình thường của con người. Hành vi tội ác này của chúng nó, ngày nay đã được đảng cộng sản xóa bỏ để trở thành quá khứ, và những người sống sót trên con tàu oan nghiệt đó trở thành những khúc ruột xa ngàn dậm theo chủ trương của đảng, cho dù những người này không và sẽ không bao giờ quên dược cái đêm kinh hoàng của tháng 4 năm 1979 của 28 năm về trước. Bộ máy tuyên truyền của đảng Vc giờ đây đang cùng với những cá nhân, đảng phái đón gió
    trở cờ đang cùng nhau diễn xuất kịch bản “xoá bỏ hận thù, hướng tới tương lai ” Người sĩ quan bộ đội cộng sản, người đã trực tiếp ra lịnh thẳng tay tàn sát đồng bào vô tội trên đảo Trường Sa 28 năm về trước, nếu còn sống, có lẽ giờ đây đã biến thành một tay tư bản đỏ giàu sang, và đang ngồi ở vị trí Ủy viên Trung ương đảng cộng sản Việt Nam.

    Tác giả câu chuyện này xin được viết ra đây câu chuyện của 28 năm về trước, như một nén hương lòng thắp muộn để tưởng nhớ đến hơn 130 đồng bào trên “ ghe ông Cộ ” những người bạn đồng hành của tác giả đã bất hạnh gục ngã trước những họng súng oan nghiệt của những tên Việt cộng cuồng sát. Những người còn may mắn sống sót sau cuộc thảm sát trên, nếu có dịp được đọc những dòng chữ này xin hãy cùng nhau dành một phút để cầu nguyện cho những bạn đồng hành xấu số của chúng ta. Những kẻ theo cộng sản là những kẻ cuồng tín, cuồng sát. Cho nên chúng mới xả súng bắn những người chạy đi, dù là đàn bà hay con trẻ, trong tay không tấc sắt. Dù chúng đổi tên, thay áo bộ đội, vất nón cối, bỏ dép râu….

    Nguyễn Nhân Chứng.
     

    Chúa ơi cứu con với !

    Tiếng thét đau thương, hãi hùng của người phụ nữ nằm sát cạnh tôi, cùng lúc với một dòng nước ấm văng vào mặt đã khiến cho tôi phải lấy tay vuốt mặt mình và bàng hoàng nhận ra toàn là má
    u, máu nóng đã ập vào mặt tôi từ người phụ nữ bên cạnh. Tôi ngẩng cao đầu lên một chút để nhìn sang bên cạnh, người phụ nữ đang oằn oại với vết thương một bên đùi vỡ toác do đạn xuyên phá, máu tuôn xối xả. Tôi xót xa nhìn người phụ nữ đang lăn lộn vì đau đớn, nhưng cũng đành bất lực không cứu giúp gì được, vì ngay bản thân tôi cũng đang nằm bẹp dí xuống sàn tàu để tránh đạn.

    Đạn vẫn tiếp tục nổ, tiếng rên xiết, la hét, kêu gào, của những người bị trúng đạn quyện vào nhau tạo thành một thứ âm thanh hỗn loạn đến rợn người, âm thanh giữa biên giới của sự sống và cái chết chỉ diễn ra trong một cái nháy mắt, mới còn nghe rên la đó…. một loạt đạn tiếp theo đã ghim chặt vào thân người, lập tức tiếng rên la im bặt, một con người đã vĩnh viễn ra đi, những người khác tiếp tục rên la, chờ đợi loạt đạn tiếp theo cướp lấy mạng sống của mình. Tôi tự nhủ thầm, muốn sống còn phải rời bỏ con tàu ngay lập tức. Tôi vùng dậy, và nhận ra con tàu đang chìm dần từ phía sau của thân tàu, phía trước của con tàu đã bị đạn pháo bắn gãy, đang chổng lên trời. Trước mặt tôi, chung quanh tôi, máu thịt văng tung tóe,
    thây người nằm la liệt, một cảnh tượng hãi hùng mà tôi chưa từng chứng kiến. Thần kinh tôi tê cứng vì sợ hãi khiến tôi muốn khụy xuống, nhưng bản năng sống còn của con người trong tôi bừng sống dậy, tôi lao mình ra khỏi con tàu phóng xuống biển vừa lúc một cơn sóng biển chụp tới cuốn tôi rời xa con tàu. Thật là may mắn, tôi vừa rời xa con tàu thì dường như cùng một lúc, một trái đạn pháo kích rớt chính xác ngay giữa con tàu khiến con tàu gãy đôi và chìm xuống biển, mang theo toàn bộ số người có mặt trên tàu lên tới trên 130 người.

    Trên mặt biển bây giờ đã không còn thấy bóng dáng con tàu đâu nữa, thay vào đó là những vật dụng bể nát của con tàu, những tấm ván bể nổi trôi lềnh bềnh trên sóng nước. Xác người chết ! xác người chết trôi nổi quanh tôi, phụ nữ, đàn ông, con nít, già có, trẻ có. Tất cả, không một ai còn được toàn vẹn thân thể, không một ai còn sống cả….. Có lẽ tôi là người sống sót duy nhất còn lại của con tàu, ngoài tôi ra thì chỉ còn lại toàn rặt là xác của người chết. Máu, là máu, từng vệt loang dài chảy ra từ vết thương của những xác chết, theo dòng nước trôi quanh tôi. Thủy triều đang lên, tôi rùng mình nghĩ đến đàn cá mập đói đang lẩn quẩn quanh đây chờ thủy triều lên cao sẽ theo mùi máu mà kéo đến, thì cho dù tôi có còn sống thì vẫn
    phải làm mồi cho đàn cá mập như những xác chết kia mà thôi! Tôi vươn tay cố gắng chụp lấy một mảnh ván để bám vào, tôi bám chặt vào mãnh ván, nhắm mắt lại cầu nguyện, dọn mình chờ chết, và trong cái khoảnh khắc tuyệt vọng đó tôi đã nghĩ đến gia đình, nghĩ đến những người thân thương ruột thịt, đã không biết được rằng tôi đã bỏ thây giữa biển cả và làm mồi cho cá mập. Vĩnh biệt tất cả……

    ———— ——— ——— ——— ——— ——— ——— ——— ——— –

    Câu chuyện bắt đầu: Chuẩn bị ra đi tìm tự do, dân chủ, hạnh phúc, ấm no

    3 giờ sáng thành phố Nha Trang vẫn còn chìm trong giấc ngủ, hàng trụ điện bên đường Nguyễn Thái Học tỏa ánh sáng mờ mờ, soi bóng tôi trên đường. Vai mang cái phao (loại ruột xe hơi được bơm căng lên) giả làm dân đi tắm biển sớm (đối với người dân Nha Trang thì việc có người đi tắm biển vào lúc 3- 4 giờ sáng là chuyện thường) tôi rảo bước thật nhanh hướng về phía biển cho kịp giờ hẹn. Xuống tới bãi cát, tôi đưa mắt nhìn quanh dò xét địa thế, bãi biển vắng lặng không một bóng người, tôi yên tâm cởi bỏ áo ra chỉ mặc chiếc quần cụt, giả vờ làm vài động tác thể dục trước khi bước xuống nước. Từ xa, về phía biển có ánh sáng mù mờ của một chiếc thuyền câu đang tiến vào bờ, tôi lại đảo mắt nhìn quanh kiểm soát lần cuối
    trước khi rời bãi cát. Bước xuống nước, tôi nhoài người bơi nhanh về hướng chiếc thuyền câu, trả lời đúng mật mã, một bàn tay vươn ra kéo tôi lên chiếc thuyền. Thuyền lướt nhẹ trên mặt biển hướng về “Hòn Tre” cá nhân tôi thì phải nằm sát xuống khoang thuyền không được ngồi dậy cho đến khi tới chỗ ẩn nấp ngoài đảo Hòn Tre.

    Hòn Tre là một hòn đảo lớn, nằm cách bờ biển và hải cảng Nha Trang khoảng chừng 6 cây số, cư dân trên đảo này rất ít chỉ chừng vài chục gia đình, hầu hết đều sinh sống bằng nghề chài lưới. Nơi đây cũng là nơi ẩn nấp của các tàu thuyền và ngư dân mỗi khi gặp gió bão. Con thuyền chạy được chừng hơn tiếng đồng hồ thì tới một cửa động nằm khuất sâu vào phía trong trên đảo Hòn Tre, rất khó mà tìm thấy nếu không quen thuộc được địa hình nơi đây. Từ phía ngoài nhìn vào, tôi chỉ nhìn thấy một màu tối đen, bằng ánh sáng của cái đèn (pin) do người ngồi trước mũi soi sáng, chiếc thuyền câu từ từ lướt nhẹ vào động. T&oci
    rc;i được bỏ xuống đây để ẩn trốn chờ đêm đến sẽ ra “ tàu lớn ”. Một tốp 5 người đàn ông chạy ra đón
    tôi, ai nấy đều trần như nhộng, không mặc một thứ gì trên người ( sau này thì tôi cũng như họ vì không khí trong động rất oi bức khó chịu ) họ là những người đã đến trước tôi từ đêm hôm trước, cũng để chờ để ra tàu lớn. Trời đã sáng tỏ, nhưng từ phía bên trong động, chúng tôi nhìn ra bên ngoài cũng chỉ nhìn thấy được một vệt ánh sáng rất mờ, yếu ớt chiếu sáng vào trong động. Lúc này trong động chúng tôi cũng đã lờ mờ nhìn thấy được nhau, thật là một cảnh tượng sống động có một không hai mà trong cuộc đời của tôi đã được tận mắt nhìn thấy, 5 ông Adam của thời kỳ hồng hoang, ăn lông ở lỗ, trên người không một mảnh vải che thân, đang đứng giữa một thạch động thiên nhiên thì thào to nhỏ với nhau, vì cứ sợ bên
    ngoài nghe được. Nhưng thật ra thì có hét to lên cũng chẳng có ai người ta nghe thấy. Không khí trong động đã bắt đầu oi bức dần lên, tôi cũng phải lột bỏ cái quần cụt mang trên người để trở thành người tiền sử như những người khác.
     
    Qua câu chuyện, tôi được biết nơi đây là nơi cất giấu dầu chạy máy dùng cho chuyến vượt biển, mỗi ngày một ít số dầu tồn trữ được tăng dần lên theo với thời gian, và đây là giai đoạn chót cho nên 5 người họ đã ở lại luôn trong thạch động, chờ tối nay thì sẽ chuyển sang tàu lớn. Tôi được chia cho một ít cơm với muối mè đã được vắt cục lại với nhau để đỡ đói chờ đêm đến ra tàu lớn, nằm ngả lưng trên mặt đá lởm chởm, tôi liên tưởng đến chuyến vượt biển đêm nay và cầu nguyện ơn trên cho mọi việc được thông suốt, nghĩ đến gia đình, nghĩ đến tương lai không biết rồi sẽ đi về đâu, tôi bồi hồi tấc dạ. Đêm đến, ánh đèn pin từ cửa động chiếu ánh sáng vào, cùng với tiếng người nói chuyện với nhau. Rõ ràng là
    không phải những người trong ban tổ chức, mọi người nín thở chờ đợi, mọi người đều nằm ép sát mình xuống mặt đá, không dám cử động mạnh, cũng may là từ phía ngoài nhìn vào thì chỉ thấy một màu tối đen, nên chúng tôi đã không bị phát giác.
     
    Thời gian chờ đợi tưởng chừng như vô tận, sau cùng thì nhóm người đó cũng bỏ đi, chúng tôi thở ra nhẹ nhõm. Một anh trong nhóm chúng tôi cho biết, đó là những người đi “soi mực” ban đêm và anh đoan chắc rằng họ chỉ vô tình đi lạc vào đây mà thôi. Vào khoảng giữa đêm thì chiếc thuyền câu liên lạc đã trở lại thông báo cho biết là: tối nay không thể khởi hành được vì có sự trục trặc do lý do an ninh. Mọi người lộ vẻ thất vọng, nhưng cũng đành phải nhận lấy phần lương thực cho ngày mai và tiếp tục chờ đợi. Thời gian chờ đợi trong thạch động dường như dài vô tận, chúng tôi chỉ có việc ăn xong rồi nằm hoặc đi lại cho giãn gân cốt, trò chuyện thì hạn chế tối đa vì lo sợ bị phát giác. Một ngày một đêm đã trôi qua, mọi người
    nôn nóng chờ tin từ con thuyền liên lạc, bóng đêm lại phủ đầy bên ngoài cửa động, con thuyền liên lạc đã trở lại và tiếp tục báo tin buồn vẫn chưa thể khởi hành được, chúng tôi nóng ruột thấy rõ, người đưa tin thì chỉ làm nhiệm vụ đưa tin và chuyển lương thực cho chúng tôi xong thì rút lui. Đêm thứ ba, bóng con thuyền đưa tin đã trở lại, lần này có vẻ hối hả hơn hai đêm trước, theo sau nó là ba chiếc thuyền câu khác nối đuôi nhau tiến vào thạch động, tôi đoán là giờ khởi hành đã tới. Quả đúng như tôi dự đoán, chúng tôi được lịnh “bốc” toàn bộ số dầu chạy máy lên bốn chiếc thuyền câu cùng với mọi người rời thạch động ra tàu lớn. Giây phút quan trọng đã đến, chúng tôi lần lượt chuyển hết số dầu lên thuyền, còn
    chúng tôi thì nằm sát xuống thuyền bên trên được phủ một tấm nylon để che kín. Bốn chiếc thuyền câu theo hàng dọc lặng lẽ rời thạch động hướng về tàu lớn. Khoảng nửa giờ sau, chúng tôi đã cập được sát tàu lớn đang bỏ neo chờ chúng tôi.

    “Tàu lớn” là một chiếc ghe đi biển của ngư dân, dài khoảng 15 thước, rộng chừng 3 thước, mà dân trong nghề đi biển gọi là “3 lốc đầu bạc”, dầu được chuyển cấp tốc và nhanh chóng lên tàu lớn, chúng tôi cũng đã lần lượt leo lên tàu lớn. Tàu nhổ neo, chạy ở vận tốc bình thường như là một chiếc tàu đánh cá bình thường khác đang hoạt động quanh đó. Tôi leo lên mui tàu tìm chỗ ngồi, tôi đã giật mình kinh ngạc khi nhìn thấy toàn bộ số người có mặt trên tàu. Đông quá! Chỗ nào cũng có người ngồi chen chúc, nhưng rồi tôi cũng không lấy làm quan tâm cho lắm, miễn sao con tàu cứ tiếp tục hướng mũi ra khơi hướng về Philippines. “Tháng ba bà già đi biển” câu thành ngữ của những người hành nghề đánh cá, rất đúng trong trường hợp của
    chuyến vượt biển đêm nay. Mặt biển phẳng như gương, bầu trời trong vắt với muôn vì sao lấp lánh. Sau khi đã bỏ xa khu vực
    đánh cá trong vùng, con tàu mở hết tốc lực hướng mũi ra khơi. Mặt trời đã ló dạng từ phía chân trời, trời đã dần sáng tỏ, từ trên mui tàu tôi có dịp quan sát rõ hơn toàn bộ khung cảnh trên tàu, điều khủng khiếp đập vào mắt tôi đầu tiên là mặt nước biển chỉ cách bẹ tàu có chừng non 1 thước, chứng tỏ con tàu đang bị khẳm vì chở quá nặng, con tàu như đang oằn mình trườn tới phía trước với sức nặng vượt quá mức cho phép.
     
    Trên khoang tàu la liệt là người, trước mũi, sau khoang, chỗ nào cũng có người. Nắng đã lên cao, tuy mới sáng sớm nhưng nắng giữa đại dương đã mang lại cái nóng khó chịu trong người rồi, vài người đã cởi áo ra cũng như tận dụng hết tất cả những gì khả dĩ có thể che nắng được để tránh cái nắng đã bắt đầu gay gắt. Chỗ duy nhất có thể tránh nắng được là cabin tàu đã được dành riêng cho gia đình chủ tàu, các hầm tàu bình thường dùng để làm nơi chứa cá sau khi thu hoạch được, đã được gỡ bốc nắp hầm đi dùng làm nơi tránh nắng, nhưng có lẽ dưới hầm tàu không khí quá ngột ngạt oi bức nên cứ chốc chốc lại có người trồi lên để hứng lấy khoảng không khí trống trải trên tàu, có người leo lên khỏi miệng hầm thì cũng có
    người lại chui xuống dưới hầm tàu, cái quy trình “cắc cớ” này cứ thế mà tiếp diễn trong suốt cuộc di hành. Vài tiếng khóc của trẻ em đã nổi lên vì khát nước, chủ tàu ra lịnh cung cấp nước uống cho mọi người, người lớn thì được ba nắp “ bi đong “, con nít được gấp đôi trong ngày đầu tiên, cứ cách khoảng chừng 1 giờ đồng hồ thì lại cấp tiếp cho con nít, người lớn thì phải chịu nhịn lâu hơn. Vì ngồi trên mui cabin nên tôi đã nói chuyện được với gia đình chủ tàu, theo như họ cho biết thì chuyến đi đã bị gặp khó khăn do địa điểm bị tiết lộ ra bên ngoài bởi những người chung vàng cho chuyến đi, do đó thân nhân của những người này đã “canh me” rất sát chuyến đi. Đó cũng là lý do khiến chúng tôi phải chờ đợi trong thạch
    động hết hai ngày đêm, đêm thứ ba chủ tàu quyết định phải ra đi bằng mọi giá trước khi việc đổ bể. Tàu cập sát bờ biển nơi “kho gạo” để bốc người, số người dự trù chính thức là gần 60 người. Không ngờ, khi tàu cập vào bờ thì người ở mọi ngõ ngách túa ra leo lên tàu, và vì không muốn bị lộ nên chủ tàu đành phải chở hết số khách không có trong danh sách, sau khi kiểm soát lại thì được biết là con số người đã lên đến hơn 130 người.

    Trời đã vào chiều, gió thổi lạnh, một đàn cá heo “dolphin” bơi cập theo hông tàu trông rất đẹp mắt, mặt trời đỏ ối đang từ từ lặn xuống chân trời, bóng tối bắt đầu phủ xuống, con trăng thượng tuần treo lơ lửng trên đầu, bóng con tàu trông thật cô đơn giữa biển cả mênh mông, con người đã trở nên vô cùng nhỏ bé trước thiên nhiên, đâu đó văng vẳng tiếng cầu nguyện, lúc đầu nhỏ, sau to dần lên, và không hẹn hầu như mọi người trên tàu đều cầu nguyện theo tôn giáo mình. Biển hoàn toàn vắng lặng, không có bóng một con tàu nào qua lại, không gian là một màu đen che phủ đến lạnh người, con tàu vẫn lầm lũi lướt tới, tôi được anh tài công người của chủ tàu đưa cho một “ tấm bạt ” loang đầy dầu mỡ để che lạnh, tôi cùng vài
    người khác quây quần phía bên trong tấm bạt cho bớt lạnh. Một ngày một đêm đã trôi qua trong an bình, mọi người thầm cảm tạ ơn trên đã che chở cho con tàu. Ngày thứ hai, nắng dường như gay gắt hơn, nắng như đổ lửa xuống những tấm thân đã rộp lên vì bị phỏng nắng, tiếng con nít khóc vang trời. Nước ! Nước đã trở thành một thứ quan yếu bật nhất trên tàu, chủ tàu đã cử bốn thanh niên lực lưỡng đứng canh gác khu vực để nước. con nít được ưu tiên tăng lượng nước uống lên từ 6 nắp lên 8 nắp, nhưng người lớn thì bị giảm xuống chỉ còn có một nắp mà thôi.

    Ngày qua đi, đêm lại xuống, tiếng kinh cầu lại vang lên, thỉnh thoảng lại có tiếng nôn oẹ vang lên, đoàn lữ hành nằm dã dượi trân mình hứng chịu khí hậu lạnh lẽo của đại dương về đêm. Ngày hứng chịu cái nắng khủng khiếp, đêm về lại phải đón nhận cái lạnh, chỉ mới có hai ngày mà những con người khốn khổ đã teo hóp lại, sức đề kháng dường như đã không còn nữa. Ngày thứ hai cũng trôi qua bình an, nhưng đoàn người thì đã hoàn toàn đuối sức, ai nằm chỗ đó, phó mặc cho con tàu muốn đưa mình đi tới đâu thì đi. Trưa ngày thứ ba thì sóng gió đã nổi lên, mặt biển đã không còn phẳng lặng nữa, gió đã nổi lên kéo mạnh từng cơn, bầu trời vần vũ, mây đen kéo về đen kịt, từ xa từng ngọn sóng bạc đầu đang kéo tới. Sóng to, gió
    mạnh, khiến con tàu chao đảo liên tục, từng cơn sóng cao vời bốc con tàu lên cao, nhìn xuống dưới là một hố sâu thẳm đến rợn người. Tôi cùng những người khác trên mui phải leo xuống khoang tàu, vì quá nguy hiểm nếu cứ tiếp tục ở lại trên mui tàu. Đang ở giữa trưa mà tôi cứ ngỡ rằng là đang
    lúc chiều tối vì bầu trời tối đen, chủ tàu trấn an mọi người rằng: ”Đây là chuyện thường thôi, chỉ là “gió Nam”, gió Nam thì mấy người làm nghề biển coi như cơm bữa.” Hư thật ra sao không biết, nhưng mọi người đã quá hoảng sợ và trở nên nhốn nháo, khiến con tàu đã bị sóng nhồi chao đảo lại thêm tròng trành như muốn lật úp. Chủ tàu phải hét lớn ra lịnh, không được nhốn nháo, nếu không muốn tàu bị lật thì ai ở đâu ngồi đó. Con tàu
    chuyển mình kêu răng rắc như muốn vỡ ra từng mảnh nhỏ, khiến mọi người đang lúc hoảng sợ càng thêm hoảng sợ, tiếng than khóc, tiếng gọi nhau vang lên thảm thiết, người ta dồn cục vào với nhau như để tìm sự che chở cho nhau.
     
     Mưa đã bắt đầu trút xuống, ngày càng nặng hột hơn, mưa giăng trắng xóa cả một khoảng không gian rộng lớn giữa đại dương, con tàu vẫn trồi lên hụp xuống tưởng chừng như muốn hất văng những thuyền nhân xuống biển. Con tàu đã phải chuyển hướng, không thể nào đi theo hướng đã định mà phải cập theo sóng để tránh cho tàu khỏi bị lật úp, người tài công chính của tàu, người nắm giữ sinh mạng của hơn 130 thuyền nhân, giờ đây đang gồng mình ôm chặt bánh lái với sự giúp sức của hai người khác để giữ cho con tàu khỏi bị lật, giữ cho con tàu khỏi bị lật đã là một việc vô cùng khó khăn lắm rồi, việc nhận rõ phương hướng đã không còn được đặt ra nữa. Con tàu đã thật sự lạc mất phương hướng, mặc cho sóng gió đưa đẩy, mọi
    người chỉ còn biết cầu nguyện và phó mặc số mệnh vào sự may rủi mà thôi. Cơn bão vẫn tiếp tục quần thảo từ trưa đến tối, nhồi con thuyền xoay vòng giữa cơn bão dữ, những người trên tàu giờ đây đa số đã phải chui vào hầm tàu để tránh khỏi bị hất văng xuống biển.
     
    Đến tối thì cơn bão chấm dứt, mọi người ngoi ngóp bò dậy, may mắn thay suốt cơn bão dữ mọi người vẫn được bình an dù đã phải trải qua một ngày kinh hoàng khiến ai nấy không còn lòng dạ nào nghĩ đến việc tiếp tục di hành thêm nữa. Có ánh đèn ! Có ánh đèn ! Một người la to, rồi nhiều người khác cùng la, cứ tưởng như là mơ. Nhưng quả thật, từ hướng bên phải của con tàu có ánh đèn leo lét khi ẩn khi hiện do sự trồi lên hụp xuống của con tàu. Tài công hướng mũi con tàu chạy thẳng vào nơi có ánh đèn, trông thì gần, nhưng thật ra thì tàu phải chạy gần hai giờ đồng hồ mới đến được. Càng đến gần thì mọi người nhận ra đó là một hòn đảo, đảo nhưng có ánh đèn, nghĩa là có người sinh sống trên đảo. Mọi người mừng rỡ quỳ tạ
    ơn trên đã dẫn dắt con tàu đến nơi bình an. Con tàu đang ngon trớn, bỗng nghe đánh….. ầm một tiếng lớn, tiếng máy tàu gầm rú liên hồi, anh tài công la lớn “Ghe mắc rạng”, anh tài công cố gắng bằng mọi cách để xoay chuyển con tàu nhưng đành bó tay đứng nhìn, nhìn mũi tàu ghếch cao ở phía trước, tôi đoán là con tàu đã “cưỡi” lên đá ngầm rồi. Từng đợt sóng mạnh mẽ đánh vào mạng tàu như muốn phá vỡ con tàu ra làm trăm mảnh. Nhìn vào phía trong đảo, thấy không còn xa lắm, từ chỗ con tàu gặp nạn vào đất liền khoảng chừng vài trăm thước. Phải rời tàu đi tìm phương tiện cấp cứu thôi, có người lên tiếng đề nghị. Thế là một số trai tráng khỏang chừng 20 người trong đó có tôi, tình nguyện rời tàu đi vào đảo tìm phương tiện cấp
    cứu, chúng tôi được quấn dây thừng thật chặt rồi lần theo đó mà vào chỗ nông hơn để đi vào bờ, thật may mắn là vào lúc đó thủy triều đang rút xuống cho nên chúng tôi có thể đi bộ vào đảo được, dưới chân tôi là muôn ngàn những con cầu gai cùng với các loại vỏ nghêu, vỏ ốc, mà tôi đã phải giẫm lên khiến cho lòng đôi bàn chân bị cắt đứt ngang dọc, khiến đau rát buốt óc. Chúng tôi lần mò, nối đuôi nhau tiến vào đảo, đặt chân được lên bãi cát trên đảo, chúng tôi nằm nhoài ra nghỉ lấy sức. Hồi tưởng lại cơn bão vừa qua, tôi vẫn còn hãi hùng và thầm cám ơn ơn trên đã che chở, bằng không có lẽ giờ này chúng tôi đã vùi thây giữa lòng biển cả rồi. Lấy lại được sức, đoàn người tiếp tục bước sâu vào trong đảo, riêng tôi
    thì còn quá mệt nên cũng chẳng vội vã bước theo họ. Vì lý do đó, cho nên tôi trở thành người cuối cùng ở sau chót của đoàn người. Bất ngờ, hàng loạt đèn pha từ phía trong đảo bật sáng chiếu thẳng vào chúng tôi. Có tiếng hô to….. ai đó, đứng lại, vào đây làm gì? Lúc đầu chúng tôi nghe không rõ vì gió biển thổi cùng với tiếng sóng, hơn nữa họ lại nói tiếng Việt phát âm giọng Bắc khiến chúng tôi ngỡ là một thứ tiếng ngoại quốc, có thể là tiếng Phi. Chúng tôi đã vô cùng mừng rỡ vì biết được mình đã tới nơi chốn mà mình muốn.
     
    Chúng tôi vừa đưa cả hai tay lên trời, vừa làm dấu cho họ biết rằng chúng tôi đến đây là do thiện chí và cứ thế tiếp tục bước tới. Nhưng càng đến gần thì chún
    g tôi nhận ra rõ ràng là tiếng Việt chứ không phải là tiếng ngoại quốc. Có tiếng hô qua loa phóng thanh. Tất cả đứng lại….. nếu không sẽ bị bắn bỏ. Trời ạ…… chúng tôi đã lạc vào đảo của Việt Nam rồi! Chúng tôi lập tức đứng lại, hai tay vẫn đưa thẳng khỏi đầu, chúng tôi hội ý với nhau là: để qua mặt được họ, chúng tôi phải nói rằng tàu vượt biên do nhà nước tổ chức ra đi. Khi nói như vậy, chúng tôi ngầm hai ngụ ý: Thứ nhất, khi biết là chúng tôi ra đi do nhà nước tổ chức thì họ sẽ tìm phương tiện giúp chúng tôi. Thứ hai, nếu không giúp được gì thì họ cũng
    sẽ không làm khó dễ chúng tôi, trường hợp tệ lắm là họ sẽ bắt trở về đất liền để đi tù, trong trường hợp này thì mọi người sẽ an toàn hơn cả. Giọng nói kia tiếp tục vang lên: Tất cả đứng yên tại chỗ đợi lịnh……Thời gian lặng lẽ trôi qua trong ngột ngạt. Khoảng chừng hơn 10 phút, thì đột nhiên từ phía bờ cát một loạt lửa da cam tóe lên cùng lúc với những tràng súng liên thanh nổ rền trời, tôi giật mình ngó về phía đoàn người. Tôi như bị hoa mắt vì thấy máu từ các thây người phun ra khắp nơi, thây người đổ ập xuống, tiếng rên la thảm thiết vang lên như muốn xé tan màn đêm. Việt cộng giết người….. nghĩ thế xong là tôi vội vàng bò hết tốc lực để tránh ra xa khỏi đoàn người và đứng lên vùng chạy về phía biển, vài
    người khác trong đoàn người cũng cố gắng mang thương tích vùng chạy ngược trở ra biển, một số chỉ chạy được nửa chừng rồi thì ngã xuống nằm lại luôn. Bằng tất cả sức lực còn lại trong người, tôi chạy thẳng và nhào người ra biển, giẫm lên cầu gai, võ nghêu, võ ốc mà chạy càng xa, càng tốt, trong tôi bây giờ không còn có cảm giác đau đớn do bị cầu gai đâm thủng chân nữa, tôi hoàn toàn ở trong trạng thái vô cảm. Sau cùng thì tôi cùng vài người khác cũng đã chạy ra được nơi con tàu mắc cạn. Mọi diễn biến trên đảo đã được chúng tôi tường thuật lại, thực ra thì mọi người đã nghe được tiếng súng nổ tuy không biết chuyện gì đã xảy ra, nhưng cũng phần nào đoán ra được là đã có chuyện không lành. Khi nghe chúng tôi báo cáo lại
    mọi chuyện, mọi người đã vô cùng hoảng sợ. Tất cả đàn ông, trai tráng trên tàu, đều được huy động xuống để đẩy con tàu ra khỏi vùng đá ngầm.
     
    Trời đã phụ lòng người ! Sức của con người làm sao chống chọi lại với sức mạnh của thiên nhiên, chúng tôi cố đẩy được con tàu xê dịch đi một chút, thì lập tức các ngọn sóng lại đánh đẩy con tàu trở về vị trí cũ. Đang lúc tất cả đang cố gắng đẩy con tàu thì súng lại nổ vang rền, đạn bay như rải về phía con tàu. Có tiếng thét kinh hãi… có người trúng đạn… có người trúng đạn, tiếp theo là những tiếng khóc, tiếng kêu gào, khung cảnh rối loạn cả lên, mạnh ai người đó chạy tìm chỗ nấp, nhưng nấp vào đâu bây giờ, giữa trời nước bao la và con tàu khốn khổ đang phải hứng chịu những vết đạn từ những con người tàn bạo? Súng đã thôi nổ liên hồi, nhưng vẫn tiếp tục nổ cầm chừng, và thỉnh thoảng lại có người gào lên kêu
    cứu khi thân nhân mình trúng đạn. Phải ở vào hoàn cảnh trên thì mới có thể cảm nhận được hết cái không khí dã man, tàn bạo, đầy khủng bố mà không thể có ngòi bút nào lột tả được hết. Súng vẫn nổ lai rai, đoàn người vẫn cố gắng trong tuyệt vọng để đẩy con tàu. Nhưng bất lực! Hoàn toàn bất lực! Mọi người đã kiệt sức vì đói lạnh, da thịt mọi người đã thâm tím đi vì lạnh. Tất cả đều buông xuôi leo lại lên tàu phó mặc cho trời. Suốt đêm đạn vẫn nỗ, người tiếp tục chết vì đạn, tiếng kêu khóc vẫn cứ vang lên mỗi khi có người trúng đạn chết. Từ nơi xa xa, có thấp thoáng ánh đèn chiếu sáng từ một hòn đảo khác bên cạnh. ………… ..
     
    Trời sáng dần, tiếng kẻng buổi sáng phía trong đảo vang lên. Đoàn người tội nghiệp dõi mắt về hướng đảo trông chờ phép lạ. Trên đảo nhộn nhịp hẳn lên, bộ đội chạy tới chạy lui, gia đình thân nhân vợ con của bộ đội cũng chạy ra đứng nhìn con tàu nghiêng ngả. Đàn bà, con nít trên tàu được cho lên mui tàu hướng về trong đảo quỳ lạy xin được cứu giúp. Tiếng kêu khóc vang dội trời xanh, những con người Việt Nam khốn khổ đang quỳ lạy những con người Việt Nam khác ngừng tay bắn giết đồng bào mình. Lịch sử Việt Nam từ bao nhiêu ngàn năm nay chưa bao giờ có những trang sử ô nhục như thế này. Ô kìa…. phép lạ xảy ra, có bóng của những bàn tay vẫy phất như báo cho thuyền nhân biết là họ có thể vào bờ được rồi, những cái vẫy tay mời
    gọi từ phía trong đảo đã làm mọi người như sống lại. Ưu tiên cho đàn bà và con nít vào trước, dây thừng được lấy ra quấn chặt vào mình, cùng với sự giúp sức của vài thanh niên, sợi dây thừng dài

    được nối từ con tàu vào thân của những người xuống tàu lôi vào bờ. Đoàn người rời con tàu xa dần dần tiến vào bờ, dây thừng vẫn được quấn chặt vào người, cách bờ chừng 100 mét nhưng vẫn chưa thấy người từ trên bờ ra cứu giúp. Bỗng nhiên súng lại nổ. Trời ơi! súng nổ nhắm vào những người đang quấn chặt dây thừng ngang mình để vào bờ, thế là chỉ còn có chờ chết mà thôi, làm sao mà có thể chạy thoát được khi sợi dây oan nghiệt đang trói mọi người lại với nhau. Không một ai còn sống sót qua trò chơi man rợ của lũ người không
    tim trên đảo. Tiếng kêu gào thảm thiết lại vang lên của những người chồng, người cha, khi nhìn thấy cảnh vợ con mình bị bắn giết vô cùng man rợ như trên. Đàn bà con nít lại được đưa lên mui tàu chấp tay hướng vào đảo mà van lạy xin được buông tha, đáp ứng lại những lời van xin thảm thiết này là những tràng đạn lại nổ tiếp, bóng người đàn bà với tư thế hai tay chấp vào nhau vì đang quỳ lạy ngã chúi xuống biển từ trên mui tàu, cùng lúc với các em trẻ bật ngửa ra sau giẫy chết vì trúng đạn. Tàn bạo, man rợ, không thể nào tả hết.

    Tàu vướng đá ngầm rồi, phải rời tàu thật nhanh.
    Nắng đã lên cao, từ trong đảo bóng dáng bộ đội Việt cộng chạy lại ụ súng được mọi người trên tàu nhìn thấy rõ mồn một. Tấm phông che súng được kéo xuống, nòng súng được hạ xuống. Trời ơi !….. Một cây súng pháo với nòng súng dài có đến 10 thước đang hiện ra trước mắt mọi người trên tàu. Kinh hãi…. hỗn loạn trên tàu đã diễn ra, chỉ cần một trái đạn pháo từ khẩu súng đó mà trúng vào con tàu thì tất cả chỉ còn là tro bụi. Cầu nguyện, và dọn mình chờ chết, vì sẽ không còn ai sống sót sau khi trái đạn được khai hỏa bắn trực xạ vào một mục tiêu cố định là con tàu. Nhưng không, tấm phông đã được kéo lại che đậy khẩu súng, nòng súng đã được nâng lên cao, không còn ở vị trí sẵn sàng nhả đạn nữa. Bóng dáng bộ đội
    lại chạy nhốn nháo, và họ đang lấp ráp chân “ đế ” của cây súng cối. Dã man, tàn bạo, bộ đội cộng sản Việt Nam vì tiếc một quả đạn súng pháo lớn, nên đang thay vào đó là đạn súng pháo nhỏ hơn, và đó là trò chơi giết người của họ.

    Ầm…. quả đạn đầu tiên được bắn ra rớt xuống biển cách con tàu chừng vài thước, mọi người chưa kịp hoàn hồn thì. Ầm…. quả đạn thứ hai rớt chính xác ngay mũi tàu, thịt xương văng tung tóe, máu đổ chan hoà, cùng lúc với hàng loạt đạn lớn nhỏ vang rền khắp nơi, tay chân, máu thịt, vung vãi ở khắp mọi nơi trên tàu, con người lăn lộn, vật vã với vết thương, khung cảnh của địa ngục trần gian đang phơi bày trước mắt tôi. Sau tiếng thét đau thương, hãi hùng của người phụ nữ nằm bên cạnh tôi. Tôi vùng dậy, nhoài mình phóng ra khỏi con tàu, một ngọn sóng cuốn tôi ra xa cùng lúc với một trái đạn khác rớt ngay giữa thân tàu, con tàu gẫy đôi và chìm xuống biển. Tất cả sự kiện xảy ra chưa đầy 1 tiếng đồng hồ, sau khi tiếng kẻng buổi
    sáng trên đảo vang lên.

    Chung quanh tôi xác người chết trôi vất vưởng khắp nơi, những người còn sống sót thì vẫn phải đang lặn hụp với từng cơn sóng biển, và từ trong bờ đảo những tên bộ đội Việt cộng khát máu vẫn giương súng nhắm bắn vào những người sống sót, rất may là nhờ sóng biển nhồi lên hụp xuống mà cái đầu tôi trở thành một mục tiêu khó bắn trúng của những kẻ sát nhân, có người đang cố gắng bơi ra xa khỏi tầm đạn, nhưng nửa chừng thì tôi bỗng thấy nằm bất động trôi vật vờ trên biển, tôi biết rằng họ đã trúng đạn hoặc chết vì vết thương quá nặng. Thủy triều đã lên cao, sóng biển không còn đánh mạnh nữa, và cũng chính vì vậy mà những người sống sót khó tránh khỏi tầm ngắm của lũ sát nhân. Tất cả đã vĩnh viễn ra đi, tôi cũng
    đã trôi ra xa khỏi tầm đạn và đang nằm chơi vơi giữa đại dương bao la, khung cảnh hoàn toàn im lặng đến rợn người. Tôi nhắm mắt lại cầu nguyện, nghĩ đến gia đình đang còn ở lại đất liền xa xôi, chỉ trong chốc lát nữa thôi những con cá mập sẽ kéo tới và tôi sẽ chết vì bị cá mập ăn. Nghĩ tới cá mập, tôi hoảng sợ mở mắt ra. Và kìa, từ hướng xa tôi nhìn thấy một chiếc thuyền câu đang trôi về hướng tôi. Thoạt đầu, tôi cứ tưởng bộ đội công sản Việt Nam hạ quyết tâm đuổi tận, giết tuyệt, nên không dám bơi lại gần. Nhưng nhìn kỹ lại thì tôi nhận ra trên chiếc thuyền đó hoàn toàn im lặng, không có một sự di động của bất cứ người nào trên thuyền, tôi hơi vững tâm và cố gắng bơi lại gần thuyền. Nắm được be thuyền và
    leo lên thì tôi trông thấy có người trên thuyền, nhưng mọi người đang nằm ở tư thế ẩn nấp. Thấy tôi leo lên thuyền họ bèn quay lại sụp lạy tôi và xin tha mạng, tôi không có thời giờ giải thích gì cả, bật ngửa ra nằm bất động trên sàn tàu. Sau khi đã hoàn hồn và hỏi chuyện nhau thì tôi mới vỡ lẽ ra họ cũng trôi dạt vào đây v&agrave
    ; cũng bị bắn như chúng tôi. Thuyền của họ xuất phát từ Phước Tỉnh, Bà Rịa, trên tàu gồm 13 người gồm 11 người đàn ông và 2 đứa trẻ, bé chị vào khoảng 9 tuổi, bé em trai khoảng 6 tuổi. Ba của hai em bé này đã bị bắn vỡ đầu nằm chết ở phía mũi thuyền, một thanh niên khác bị bắn nát mất phần vai hai bên, hai cánh tay chỉ còn dính liền bởi phần da còn lại trên vai, đang nằm thôi thóp thở dưới hầm máy, tình
    trạng cho thấy là anh này sẽ khó thoát chết do vết thương quá nặng. Trong khi con thuyền đang trôi vật vờ như thế thì cũng có được 4 người khác từ chiếc tàu bị bắn chìm trước đó thoát chết, leo lên được con thuyền mà chúng tôi đang có mặt. Như vậy là tổng cộng số người thoát chết của hai chiếc thuyền là 16 người, con số trên 130 người đã bị bắn chết vùi thây dưới lòng biển lạnh.

    Sóng lớn quá, có người rơi xuống biển.
    Con thuyền cứ tiếp tục trôi vật vờ trên biển, nhưng càng lúc càng rời xa khu vực nguy hiểm, lúc này đã vào khoảng 10 giờ sáng, nhìn sang bên trái của con thuyền, chúng tôi nhìn thấy một hòn đảo khác cách chúng tôi không xa lắm. Nghĩa là con thuyền của chúng tôi đang nằm giữa vị trí của hai hòn đảo. Hòn đảo này tôi đoán có lẽ là hòn đảo mà chúng tôi đã thấy thấp thoáng ánh đèn từ đêm hôm trước, đêm hôm bị bộ đội Việt cộng tàn sát. Chúng tôi quyết định phải rời xa hai hòn đảo này càng sớm càng tốt nếu còn muốn sống. (Đây là một quyết định sai lầm mà chúng tôi đã phải trả giá rất đắt, sẽ được nói đến ở đoạn sau) chúng tôi dùng mái chèo cố gắng chèo con thuyền ra khơi, vì bình xăng của con thuyền đã bị bắn vỡ chảy hết
    dầu. Gió đã đổi chiều, thổi con tàu tội nghiệp của chúng tôi trôi vào cõi vô định. Con thuyền này dài chừng 6 thước, rộng gần 2 thước, loại thuyền dùng để đi câu ven bờ biển chứ không thể đi xa hơn. Vậy mà nó cũng đã chở 13 con người vượt được hàng trăm hải lý để đến nơi đây cùng chung số phận như chúng tôi.

    Chiều xuống dần, không gian yên tĩnh, không có một bóng dáng của bất cứ một con tàu nào khác ngoài con thuyền của chúng tôi lạc lõng giữa đại dương. Tối đến, chúng tôi phát giác ra một chuyện chết người khác, con thuyền đang bị vô nước từ phía dưới lườn tàu, thế là chúng tôi tìm cách chặn nước không cho tràn vào, và cử người canh chừng để tát nước liên tục. Cứ hai người cho mỗi phiên trực tát nước, số phận của 16 người sống sót trên con thuyền này sẽ tùy thuộc vào hai người có nhiệm vụ tát nước ra khỏi tàu, nếu chẳng may họ buồn ngủ, hoặc mệt quá mà chểnh mảng thì con thuyền sẽ chìm và mọi người cũng sẽ chìm theo con thuyền, nhưng biết làm sao hơn đây! khi mà tất cả mọi người ai cũng còn mang nét mặt kinh hoàng vì mới vừa
    phải trải qua một biến cố quá đau thương và…. phó mặc mọi việc cho Thượng Đế. Một đêm kinh hoàng trôi qua, người sống phải sống cùng xác chết trên một diện tích vô cùng chật hẹp của con thuyền, vấn đề vệ sinh chung đã được đặt ra, là phải giải quyết cái xác chết vẫn còn ở trước mũi thuyền. Thật là tội nghiệp cho hai đứa trẻ, chúng kêu khóc thảm thiết không cho thủy táng người cha thân yêu của mình. Chúng tôi cũng đành phải chìu lòng của hai em, nhưng sang đến ngày thứ ba thì chúng tôi phải giấu lén hai em mà thủy táng người quá cố để bảo vệ sức khỏe cho những người còn lại. Sau này biết được hai em đã lăn lộn khóc lóc vô cùng bi thảm, chúng tôi chỉ còn biết rớt nước mắt dỗ dành hai em. Tình trạng của anh thanh niên bị
    thương dưới hầm tàu đã trở nên tồi tệ hơn vì không có thuốc men chạy chữa, vết thương đã thối rữa, biết là anh cũng sẽ không qua khỏi, tối ngày thứ ba, sau khi thủy táng người đàn ông ba của hai đứa trẻ, chúng tôi quyết định nấu cho anh chút cháo trộn với đường cát như là bữa ăn tối cuối cùng trước khi ra đi, tôi là người đã đút cháo cho anh ăn, suốt bữa ăn anh cứ liên tục kêu cứu cầu sống, tôi chỉ còn biết gạt lệ an ủi với anh là cố gắng chút cháo, rồi mọi người sẽ được cứu sống. Sáng hôm sau, chúng tôi thấy anh đã nhắm mắt lìa đời, thân thể anh tái xanh vì đã không còn máu. Chúng tôi cũng đã thủy táng anh và cầu nguyện cho linh hồn anh sớm được siêu thoát.

    Đã hơn một tuần lễ lênh đênh trên biển, có một điều thật lạ lùng là chúng tôi không hề nhìn thấy bất cứ một thương thuyền nào qua lại vùng biển này cả. Không lẽ chúng tôi đã lạc vào một vùng biển chết? Lương thực còn được mấy kí gạo sau ngày bị bắn dùng để nấu cháo cầm hơi cũng đã hết, nước uống thì đã hết từ trưa, cơn đói khát đang đốt cháy ruột gan mọi người. Một ngày đói khát đã bắt đầu và sẽ còn tiếp tục không biết kéo dài đến bao lâu. Cầu nguyện, chỉ còn có biết cầu nguyện thôi, tất cả mọi việc đều đã được sắp đặt và an bài do Thượng Đế, con người đã trở th&a
    grave;nh vô cùng nhỏ bé trước thiên nhiên, vũ trụ.

    Lại một ngày đói khát nữa, cái khát làm cho da thịt như muốn bốc khói, môi nứt nẻ, đầu óc lúc nào cũng bị ám ảnh bởi thức ăn, nước uống. Tội nghiệp hai đứa trẻ, suốt ngày chúng cứ nói đến miếng ăn mà trước đây mẹ chúng làm cho chúng ăn, hoặc thứ nước uống mà chúng thích. Mọi người như mê loạn đi vì đói và khát. Dường như lời cầu nguyện của chúng tôi đã thấu tới trời xanh. Chiều hôm đó, trời đổ cơn mưa, những hạt mưa như những nước cam lồ trong chuyện thần tiên, tưới mát thân thể chúng tôi, chúng tôi say sưa ngửa mặt lên trời hứng lấy nước mưa mà uống, lấy thêm “can nhựa” trên tàu hứng lấy nước mưa dự trữ. Nhưng trời mưa lại dẫn đến một vấn đề khác. Thuyền ngập nước, thế là mọi người xúm vào tát nước cho
    thuyền khỏi chìm, rất may là cơn mưa không kéo dài, và còn may hơn nữa là từ đó cho đến ngày được cứu, cứ vài ngày lại có một cơn mưa ngắn giúp chúng tôi có đủ nước uống. Vấn đề nước uống đã được giải quyết, nhưng còn thức ăn? Chúng tôi đã không còn được bất cứ một thứ gì để có thể ăn được. Cơn đói cứ dày vò, ám ảnh chúng tôi liên tục, người chúng tôi đã teo lại chỉ còn lớp da bọc lấy xương, hay nói cho đúng hơn là những bộ xương biết bò, vì chúng tôi không thể nào đứng vững được nữa. Một hôm tôi bò xuống hầm máy để cố gắng kiếm thử xem còn gì có thể ăn được không, tôi trông thấy một chai “ xá xị ” mới nhìn tôi cứ tưởng đó là một chai đựng dầu nhớt gì đó của mấy người thợ máy bỏ quên, nhưng tôi
    cứ cầm lên và ngửi thử. Một mùi thơm ngào ngạt bốc thẳng vào óc tôi, khứu giác tôi dường như mở ra tối đa để hít lấy mùi thơm đó. Mùi thơm của mỡ heo, đúng vậy, chai xá xị kia là một chai dùng để đựng mỡ heo dành để chiên đồ ăn của các ngư phủ. Tôi thọc ngón tay vào miệng chai và đưa lên miệng mút. Trời ạ! Thật là một thứ cao lương mỹ vị mà tôi chưa hề được thưởng thức qua bao giờ, tôi cứ mút lấy mút để cái thứ nước sền sệt nhưng vô cùng tuyệt hảo đó. Chợt nhớ lại những người ở trên, đặc biệt là hai đứa trẻ, tôi bò trở lên với chai xá xị, không ai còn để ý đến tôi vì mọi người đều đã nằm liệt. Tôi bò đến hai đứa trẻ, thò ngón tay tôi móc một ít mỡ heo nhét vào miệng các em, như là một liều thuốc tiên
    các em bừng tỉnh lại, tôi ra dấu cho các em cứ bình tĩnh mà mút mỡ heo, nhắm chừng các em đã dần dần có chút sinh lực trở lại, tôi trút một ít mỡ heo vào cái chén nhựa cho các em, còn lại tôi dùng một chiếc đũa thọt vào chai xá xị có mỡ heo và kêu mọi người lại mút lấy chiếc đũa thần kỳ diệu. Nhờ có chai xá xị mỡ heo mà chúng tôi có được một bữa tiệc sang trọng nhất trong đời. Và cũng nhờ chút mỡ heo tuyệt vời đó mà em bé trai có chút sinh lực ngồi nghịch phá cái máy radio nhỏ xíu bất khiển dụng, cái radio bị vỡ lòi ra mấy sợi dây kẽm nhỏ, một bác lớn tuổi trên thuyền có sáng kiến uốn mấy sợi kẽm nhỏ đó thành những cái móc câu, dùng cước cột các móc câu đó lại, cạy các con ốc nhỏ bám theo be thuyền làm mồi. Kết quả thật
    bất ngờ khích lệ, buổi đầu tiên bác câu được hai con cá lớn độ bằng bàn tay người lớn. Cái cột buồm vô dụng được bác ấy chẻ ra từng miếng nhỏ dùng để nhóm bếp. Cũng may là trên thuyền còn có được cái hộp quẹt còn sử dụng được. Hai con cá được bác nướng lên chia đều cho mỗi người. Từ đó chúng tôi được chia ra làm công việc chẻ cột buồm để giữ lửa, bác ấy làm công việc câu cá. Ngày nào có được vài con cá thì bác chia đều cho mỗi người được một miếng bằng hai ngón tay, ngày nào không câu được thì mọi người nhịn đói uống nước mưa cho qua cơn đói.

    Chúng tôi đã trôi trên biển 20 ngày qua rồi, nhưng vẫn không nhìn thấy bóng dáng của một chiếc thương thuyền nào, mỗi khi chiều xuống tôi thường bò lên trước mũi thuyền nằm trông ngóng bóng dáng một con thuyền. Nằm nhìn những con chim hải âu săn mồi trên biển mà lòng tôi tan nát, không ngờ rằng cuộc đời của mình lại kết thúc trong bi thảm như thế này. Sợ nhất là mỗi khi chiều về, màn đêm chuẩn bị buông xuống, chung quanh là một màu tối đen, không khí chết chóc cứ như lẩn quẩn đâu đây. Hoặc những khi trời nổi cơn giông, từng lượn sóng cao như mái nhà bốc con thuyền lên cao, rồi nhận con thuyền xuống đáy, rồi lại bốc lên, cứ như thế kéo dài hàng mấy giờ đồng hồ liền khiến chúng tôi vô cùng sợ hãi. Tình trạng cô đơn giữa đại dương bao
    la kéo dài cho đến tuần lễ thứ ba thì chúng tôi nhìn thấy con tàu đầu tiên. Thật là không còn gì để diễn tả được nỗi vui mừng của chúng tôi, chúng tôi reo mừng, reo la cầu cứu, vì nghĩ rằng chắc chắn là mình sẽ được cứu. Nhưng, ô kìa ! Chiếc thương thuyền vẫn lạnh lùng rẽ nướ
    c phăng phăng chẳng buồn ngó đến chúng tôi, mặc dù khoảng cách của đôi bên quá gần, gần đến nỗi chúng tôi có thể nhìn thấy thủy thủ trên chiếc tàu buôn đang tập trung trên bong tàu để nhìn chúng tôi. Con tàu khuất dạng ở chân trời, chúng tôi ngỡ ngàng, hụt hẫng, sao lại có chuyện lạ lùng như vậy ? Sao lại có những người vô lương tâm đến như vậy? Thấy người sắp chết sao không cứu? Ngần ấy câu hỏi cứ quay trong đầu tôi cho tôi đến khi tôi lịm người đi
    vì mệt mỏi và thất vọng.

    Lại có thêm bóng dáng một chiếc tàu buôn từ đàng xa, như được tăng thêm sức, tôi cùng vài người khác vùng dậy trèo lên mui ra dấu cầu cứu, và cũng như chiếc tàu thứ nhất, họ lạnh lùng bỏ đi mặc cho chúng tôi kêu gào đến kiệt sức. Từ đó trở đi, mỗi ngày chúng tôi nhìn thấy hàng chục chiếc tàu buôn qua lại trong vùng nhưng không một chiếc nào chịu cứu vớt chúng tôi. Thậm chí, có ngày chúng tôi còn nhìn thấy hạm đội của Mỹ đang thao dượt trên biển với máy bay phản lực lên xuống trên các chiến hạm. Từ dữ kiện này, tôi đoán là chúng tôi đang ở đâu đó trong vùng vịnh Philipines. Chiều ngày thứ 30 trên biển, chúng tôi tuyệt vọng trong mòn mỏi, không còn hơi sức để kêu cứu nữa, mặc cho các tàu buôn vẫn qua lại nhìn chúng tôi sắp chết. Tôi
    nằm xoải trên mui con thuyền đưa mắt hững hờ nhìn chiếc tàu buôn mang hàng chữ Nhật chở đầy những cây gỗ với đường kính hai người ôm, chiếc tàu buôn đó, cũng như những chiếc khác trước đây, cũng lạnh lùng băng qua trước mặt chúng tôi mà đi thẳng, tôi cũng chẳng buồn ngó theo làm chi vì quá chán ngán với thế thái nhân tình. Khoảng độ hai tiếng đồng hồ sau, tôi đang nằm nhìn mặt trời xuống dần thì bỗng giật mình vì tiếng còi hụ ngân dài, tiếng còi hụ giữa biển khơi nghe vang dội, tôi nhổm mình dậy nhìn thì trông thấy từ đàng xa chiếc tàu buôn chở gỗ mà tôi nhìn thấy từ chiều đang tiến về hướng chúng tôi. Và….. Trời ạ ! Thủy thủ trên tàu đang nhộn nhịp với dây thừng và phao cấp cứu, và quan trọng hơn nữa là nó đang giảm dần
    tốc độ để lựa thế lại gần thuyền chúng tôi mà tàu chúng tôi không bị lật do sóng vỗ. Dùng thân tàu to lớn như ngọn núi, chiếc tàu buôn chận lại các ngọn sóng đang vỗ về phía ghe chúng tôi như một bà mẹ đang bảo vệ đứa con bé bỏng của mình, các thủy thủ đang cố gắng quăng các sợi dây thừng sang phía chúng tôi. Họ đã cứu chúng tôi, sau khi đã cột được dây thừng vào thuyền chúng tôi, họ đã kéo được con thuyền cập sát hông chiếc tàu buôn, chiếc thang dây được buông xuống, chúng tôi từng người một dưới sự phụ giúp của các thủy thủ trên chiếc tàu buôn, chúng tôi đã lần lượt lên được chiếc tàu buôn an toàn. Leo lên được bong tàu chúng tôi ngã sóng soài xuống và nằm im không cử động gì được nữa, vì tất cả sinh lực còn lại
    đã được dồn lại cho việc leo lên chiếc tàu buôn to lớn kia sau gần hai tiếng đồng hồ cố gắng thực hiện.

    Con thuyền nhỏ bé tội nghiệp của chúng tôi được kéo theo sau chiếc tàu buôn, nhưng sau đó có lẽ vì lý do an toàn đã được cắt bỏ, nhìn chiếc thuyền bé nhỏ tội nghiệp đã cưu mang chúng tôi một tháng trời ròng rã trên biển đang từ từ chìm xuống biển, chúng tôi không hẹn mà ai cũng bật lên tiếng khóc chào vĩnh biệt con thuyền.

    Tối đến, chúng tôi được cho uống nước mát ướp lạnh, một loại nước uống thông dụng của người Đại Hàn có pha đường. Thật là một cảm giác khó tả, khi cầm ly nước trong tay nhưng chưa uống được vì quá vui mừng vì đã được cứu sống, tất cả xảy ra như một giấc mơ. Sáng hôm sau chúng tôi được cho ăn cháo loãng với nước tương (xì dầu) chúng tôi ăn như chưa bao giờ được ăn. Nhưng vì sợ chúng tôi bị bội thực, thủy thủ trên tàu đã không cho chúng tôi ăn nhiều, vậy mà cũng có người sau khi ăn xong bèn quay qua ói xối xả vì bội thực. Sau khi tìm hiểu, chúng tôi được biết đây là một chiếc tàu chở mướn của một công ty hàng hải Nhật Bản với thủy thủ đoàn và thuyền trưởng là người Đại Hàn, chiếc thuyền đang trên đường chở gỗ
    từ Pakistan về Okinawa, một hòn đảo nằm về phía cực Nam nước Nhật. Viên hoa tiêu cho chúng tôi biết diễn biến của sự việc như sau: Lúc chiều (là lúc mà tôi nhìn thấy chiếc thuyền) ông ta đã thấy con thuyền của chúng tôi và đã báo cáo lên thuyền trưởng xin phép được tiếp cứu, nhưng viên thuyền trưởng cho biết là ông ta không được phép làm vậy, nếu không tất cả nhân viên kể cả ông sẽ bị mất việc và gặp rắc rối, vì vậy mà chiếc tàu vẫn tiếp tục hải trình như tôi đã thấy. Tuy nhiên, viên hoa tiêu vẫn cứ tiếp tục van nài thuyền trưởng với lý do là sẵn sàng bị mất việc, chứ thấy người sắp chết mà không cứu là không được. Hơn nữa, theo tin tức kh&ia
    cute; tượng cho biết thì tối nay bão sẽ kéo tới và chắc chắn rằng con thuyền vượt
    biên sẽ bị nhận chìm xuống biển. Viên thuyền trưởng đã khóc và chấp nhận vớt chúng tôi. Vị trí mà chiếc tàu buôn đã cứu chúng tôi nằm cách đảo Lữ Tống (Luzon) của Philippines khoảng 60 cây số. Và nếu chúng tôi có sống sót qua cơn bão này thì chúng tôi sẽ trôi ra tới Ấn Độ Dương, vì gió đã đổi chiều và chúng tôi sẽ khó có cơ hội được cứu thoát vì đó không phải là hải trình của tàu buôn.

    Chúng tôi cũng đã tường thuật lại chuyến vượt biên kinh hoàng của chúng tôi cho thuyền trưởng và toàn thể thủy thủ trên tàu được biết. Sau khi nghe chúng tôi tường thuật, thuyền trưởng đã đánh điện vào đất liền thông báo cấp tốc, vì trước đó qua tin tức ông cũng đã biết được chuyến vượt biên kinh hoàng này do những người sống sót trước đó tường thuật lại. Số là trong cái đêm kinh hoàng đó, khi chúng tôi bị bộ đội Việt cộng tàn sát dã man, thì có 8 người đàn ông nhìn thấy có ánh đèn trên một hòn đảo ở từ phía xa, cách nơi chiếc thuyền bị nạn chừng vài hải lý, nên thay vì ở lại chờ chết, họ đã lặng lẽ dùng các can nhựa có trên tàu để bơi về phía hòn đảo có ánh đèn đó để tìm sinh lộ. Họ đã tìm đúng sinh lộ, vì đó
    là hòn đảo thuộc chủ quyền của Philippines. Họ được cứu và đưa về đất liền ngay đêm hôm đó. Đêm đó, quân trú phòng trên đảo được lệnh báo động và sẵn sàng để cứu vớt các thuyền nhân mắc nạn, họ cho biết là có nghe tiếng súng nổ suốt đêm, và súng pháo kích sáng hôm đó, nhưng không thể làm gì khác hơn được là đứng nhìn, vì hòn đảo đang diễn ra cuộc tàn sát thuộc chủ quyền của Việt Nam. Tóm lại, trong khi chúng tôi vẫn còn đang lênh đênh trên biển đúng một tháng, thì đã có 8 người trên chiếc “ghe ông Cộ” đã được cứu thoát do bơi sang đảo Phi.

    Nhận được tin từ vị thuyền trưởng, Bộ Nội Vụ Nhật Bản đã đồng ý cho chúng tôi cập bến Okinawa, thuyền trưởng hoan hỷ loan báo tin này cho chúng tôi biết và chúc mừng chúng tôi thoát nạn. Ba ngày sau, chúng tôi cập bến hải cảng Okinawa. Người đầu tiên bước lên tàu để đón chúng tôi là một thông dịch viên tiếng Nhật, anh tên là Nguyễn Gia Hùng, một sinh viên du học tại Nhật Bản trước năm 1975, hiện đang phụ giúp với hội Caritas Nhật lo giúp đỡ những thuyền nhân Việt Nam đang tị nạn tại Nhật Bản. Chúng tôi đã vô cùng xúc động vì nghĩ mình đã được tái sinh lần thứ hai. Chúng tôi bịn rịn bắt tay từ giã các vị ân nhân cứu mạng mình để lên đất liền làm thủ tục tị nạn, những người này cũng đã khóc khi tiễn chúng tôi bước xuống
    cầu tàu. Bước xuống tàu, chúng tôi đã nhìn thấy một rừng phóng viên báo chí, các hãng thông tấn thế giới đang chờ sẵn để lấy tin tức, một cuộc họp báo đã được tổ chức liền tại chỗ dưới sự hướng dẫn và thông dịch của các anh thuộc tổ chức Người Việt Tự Do tại Nhật Bản. Sau đó chúng tôi lên xe bus về trại tị nạn tại quận Motobucho, một trại tị nạn dành cho người Việt tị nạn được coi là lớn nhất nước Nhật với vỏn vẹn chừng 300 người Việt hiện đang tạm trú để chờ các quốc gia đệ tam nhận đi định cư. Ngày hôm sau, tất cả các báo chí, đài truyền hình Nhật Bản đều cho chạy đi bản tin đầu với hình ảnh và tin tức về chuyến vượt biển kinh hoàng do tội ác Việt cộng gây nên, và 30 ngày đói khát lênh đênh trên mặt
    biển của chúng tôi. Cầm trên tay tờ báo, nhìn vào hình ảnh của chính mình, tôi đã rúng động không còn nhìn ra được mình nữa, thay vào đó là một bộ xương với hộp sọ nhô cao lên. Đôi dòng lệ đã âm thầm chảy xuống vì hạnh phúc. Tôi biết mình đã thực sự sống sót.

    Chủ nghĩa cộng sản đã là một thảm họa của nhân loại. Kể từ khi thứ chủ nghĩa này xuất hiện trên thế giới, nó đã giết chết không biết là bao nhiêu nạn nhân vô tội. Cuộc vượt biển tìm tự do đầy bi thảm và kinh hoàng của tôi cũng chỉ là một sự đóng góp vào kho tàng tội ác của chủ nghĩa cộng sản. Điều đáng quan tâm là hiện nay đất nước và dân tộc Việt Nam vẫn còn bị chìm đắm dưới sự độc tài, toàn trị của đảng Việt cộng. Chỉ có một con đường duy nhất là phải chấm dứt cái chế độ man rợ này, không thể nào nói chuyện hoà hợp hòa giải với những con người với đầu óc chai cứng vì đặc quyền, đặc lợi, mà họ đang thụ hưởng trên từng thân xác của những con người Việt Nam bất hạnh.

    February 18, 2008

    người thông tin: Các em du sinh VN nên đọc câu chuyện này, để hiểu tại sao cộng đồng người Việt hải ngoại không chấp nhận sự xuất hiện của cờ đỏ sao vàng. Lá cờ máu đó không phải là quốc kỳ VN (cờ tổ quốc), nó chỉ là biểu tượng của tập đoàn tham nhũng, bạo quyền Việt cộng độc tài. Đừng có dại dột nghe lời xú
    i giục của bọn truyền thông tay sai Vc nằm vùng, mang cờ Vc đi biểu tình ….Làm như vậy là khiêu khích, chọc tức cộng đồng Việt hải ngoại, cựu chiến binh Mỹ và thân nhân của 58,000 tử sĩ Hoa Kỳ. Cố gắng lo học và bảo trọng……
     

  • Tạp ghi

    Huyền thoại về “Nàng Thơ T.T.Kh.” (Quốc Nam)

    Huyền thoại về “Nàng Thơ T.T.Kh.”
    chỉ là giả tạo.
    – Nguyễn Thạch Kiên, thi nhân đấu tranh trong lãng mạn.
    * Tạp ghi QUỐC NAM
    Một buổi tối chớm đông, những sợi mưa tuyết giăng trắng khung trời Cao Nguyên Tình Xanh Washington, tôi lái xe từ đài phát thanh SRBS trở lại nhà. Tôi chợt nghe tiếng chị Nguyễn Thuý Phượng qua điện thoại "Bố tôi vừa mất sáng nay". Lập tức, nỗi buồn nghẹn lại trong tâm hồn tôi. Chị Phượng là trưởng nữ của nhà văn, nhà thơ, nhà báo lão thành Nguyễn Thạch Kiên. Hôm đó là ngày 13 tháng 12 năm 2008. Ông hưởng thọ 83 tuổi.
    Mùa lễ Thanksgiving, tôi về San Diego viếng thăm Chị Cả tôi (năm nay 86 tuổi) đã đau yếu liệt giường. Như một linh tính nhiệm màu, tôi điện thoại thăm nhà văn Nguyễn Thạch Kiên, thì được chị Phượng cho biết ông đã nhập viện mấy ngày nay. Tôi tức tốc lái xe lên Quận Cam đến Garden Grove Hospital vào sáng thứ bảy ngày 30 tháng 11 năm 2008. Tôi gặp chị Thúy-Phượng và anh Long (phu quân của chị) tại phòng đợi. Anh chị hướng dẫn tôi lên phòng nhà văn nằm bệnh. Lúc đó, ông Nguyễn Thạch Kiên đã mê sảng rồi. Tuy vậy, khi chị Phượng nói tên tôi, thì nhà văn hé mở mắt và nói "Quốc Nam ở Seattle hả?". Tôi ghé sát tai ông và nói: "Vâng. Quốc Nam đến thăm anh đây. Luôn luôn Quốc Nam kính mến anh, và vẫn nhớ mãi những ngày đầu làm báo với anh khi Quốc Nam còn rất trẻ’. Nhà văn có vẻ cảm động, nhưng nói lan man điều gì đó mà tôi không nghe rõ.
    Trong cuộc đời cầm bút mưu sinh liên tục ngót nửa thế kỷ qua, tôi đã không có đàn anh hoặc đàn em văn nghệ. Tôi may mắn đứng vững được trên chính đôi chân của mình trong giới truyền thông báo chí và văn học nghệ thuật. Tuy nhiên, tới khi ông Nguyễn Thạch Kiên bỏ tôi ra đi, thì tôi mới cảm nhận rằng: quãng đời sinh hoạt văn chương chữ nghĩa của tôi cũng có một đàn anh. Đó là nhà văn, nhà thơ, nhà báo Nguyễn Thạch Kiên.
    Tôi mưu sinh bằng ngòi bút bắt đầu từ năm 1961, từ lúc nhà xuất bản Trần Văn Phương mướn tôi viết một số truyện nhi đồng hoặc giáo dục thiếu nhi. Tuổi trẻ tôi đã ngụp lặn trong thế giới thần tiên, với những nàng tiên, hoàng tử hoặc công chúa quý phái và xinh như mộng. Niên khóa 1962-1963 tôi học Lớp Đệ Nhất B3 trung học Chu Văn An với những bạn cùng lớp như Hoàng Duy Hiệu, Nguyễn Trọng Nhi, Lê Thiệp, Nguyễn Văn Thiệp, Phí Ích Bành, Nguyễn Vô Lượng v.v… Thì một vài bạn tôi rất ngạc nhiên khi biết tôi viết văn mà được trả nhuận bút để tiêu xài rỉ rả.
    Đến đầu năm 1964, tôi đang học ở Đại Học Khoa Học & Luật Khoa, thì ông Giám Đốc nhà xuất bản Trần Văn Phương giới thiệu tôi với nhà văn Nguyễn Thạch Kiên (dạo đó là Chủ Nhiệm tuần san giáo dục Tinh Hoa), tòa soạn đặt tại nhà in Chấn Hưng đường Lê Văn Duyệt, đô thành Saigon. Nhà văn nhìn tôi đầy thiện cảm, và buột miệng nói: "Cậu nhỏ vậy mà lên Đại Học rồi hả?".
    Tôi lễ phép trả lời: "Dạ, thưa anh. Quốc-Nam không còn nhỏ đâu. 19 tuổi rồi!"
    Ông có vẻ thích thú, nói: "Vậy cậu phụ tôi làm báo Tinh Hoa nhé".
    Thế là tôi trở thành người Thư Ký Tòa Soạn (có lẽ NHÍ nhất) của một tuần báo, giữa thời điểm mà nền báo chí tại Miền Nam Việt Nam chưa phát triển lắm.
    Tôi làm công việc chọn lựa bài vở và thơ văn hàng tuần cho tuần san Tinh Hoa, trình lên cho Chủ Báo Nguyễn Thạch Kiên coi sơ qua, rồi mang xuống nhà in để mấy người thợ làm công việc sắp chữ. Thời đó, các thợ nhà in phải sắp từng con chữ vào những trang báo, rồi làm bản kẽm để đưa vào máy in.
    Ở vai trò chọn bài vở cho tuần san Tinh Hoa, tôi được một số nữ sinh Sài-Gòn hoặc nữ sinh viên Văn Khoa o bế khá nhiều, để mong được có bài đăng trên báo.
    Tháng 9 năm 1996, tôi đặt vé máy bay mời nhà văn nhà thơ Nguyễn Thạch Kiên lên Seattle để giới thiệu tác phẩm mới của ông nhan đề "Về Những Kỷ Niệm Quê Hương". Cố văn sĩ Huy Quang tức cựu Trung Tá Vũ Đức Vinh (nguyên Giám Đốc Đài phát thanh Saigon trước năm 1975), ông Trần Thế Khiêm (Cán Bộ cao cấp của Việt Nam Quốc Dân Đảng) và tôi đã ra tận cửa máy bay tại phi trường Seattle-Tacoma để đón rước ông.
    Buổi ra mắt sách của Tác giả Nguyễn Thạch Kiên được đồng hương tham dự đông đảo. Họ ngồi chật cứng nhà hàng Moonlight đường South Jackson, Seattle.  
    Đề tài nổi cộm trong cuốn sách là “Huyền thoại T.T.Kh.”. Sách dày 260 trang, với một nửa cuốn sách đề cập tới những chi tiết quanh các bài thơ đề tên T.T.Kh. rất lý thú. Một số tiểu mục được Tác Giả Nguyễn Thạch Kiên phân chia như sau: Huyền thoại về Nàng Thơ T.T.Kh., Dưới giàn hoa máu, Tống Biệt Hành, T.T.Kh. Nàng là ai?, Nguyên nhân nào khiến sống dậy huyền thoại T.T.Kh.?, Nguyễn Vỹ viết về T.T.Kh., Thanh Châu nhận định về T.T.Kh., Truyện ngắn “Hoa Ti-gôn” năm 1937 của Thanh Châu, Trong lửa đạn thù…
    Câu chuyện T.T.Kh. bắt đầu từ truyện ngắn “Dưới giàn hoa máu” của nhà văn Thanh Châu đăng trên báo Tiểu Thuyết Thứ Bảy năm 1937 chủ trương bởi nhà xuất bản Tân Dân của ông Vũ Đình Long, nội dung căn cứ vào lời kể về mối tình giữa họa sĩ Nguyễn Tuấn Trình (tên thật của nhà thơ Thâm Tâm) và một thiếu nữ tên Khánh.
    Theo một số nhân chứng sống biết rõ về “huyền thoại T.T.Kh.” (trong số này có văn sĩ Nguyễn Vỹ và Hồ Văn Thông, người bạn chiến đấu cạnh Thâm Tâm trong khu Kháng Chiến Việt Minh gần Thủ đô Hà Nội), chính nhà thơ Thâm Tâm Nguyễn Tuấn Trình đã thố lộ:
    Sau truyện ngắn đó, Thâm Tâm đã sáng tác bài thơ “Hai Sắc Hoa Ti-Gôn” và nhờ cô em họ mang tới tòa báo Tiểu Thuyết Thứ Bảy. Khi bài thơ này phổ biến thì dư luận rất thương cảm người thiếu nữ bất hạnh và muốn biết T.T.Kh. là ai? Trong thời điểm đó, tình trạng báo chí ở Hà Nội đang cạnh tranh gay gắt, nhất là giữa nhà xuất bản Tân Dân (Tiểu Thuyết Thứ Bảy) và Tự Lực Văn Đoàn (báo Ngày Nay do nhà văn Nhất Linh chủ trương). Bỗng dưng, người ta tìm cách tạo dựng huyền thoại T.T.Kh. để bán báo cho nhiều hơn các đồng nghiệp khác. Cũng từ đó, một số bài thơ tầm thường xuất hiện cũng mang tên T.T.Kh. Trong lần tâm sự riêng với Hồ Văn Thông ở chiến khu. Nhà thơ Thâm Tâm thú nhận rằng suốt từ năm 1937 đến 1939, chỉ có 3 bài thơ đề tên T.T.Kh. do chính ông sáng tác là: Hai sắc hoa ti-gôn, Bài thơ thứ nhất & Bài thơ cuối cùng.
    Tâm sự với nhà văn Nguyễn Vỹ, Thâm Tâm kể rằng: Khoảng tháng 2 năm 1936, Tuấn Trình (họa sĩ cho báo Bắc Hà, tên thật của nhà thơ Thâm Tâm) 19 tuổi làm quen đuợc với cô Trần Thị Khánh 17 tuổi sắp thi bằng Tiểu Học. Khi cô viết thư gởi Thâm Tâm báo tin sắp lấy chồng, ông rất đau buồn nhưng cũng biết được rằng nàng không yêu ông nhiều như ông tưởng. Trong bài viết “Thâm Tâm và sự thật về T.T.Kh.”, cố văn sĩ/chủ báo Nguyễn Vỹ viết nguyên văn như sau:
    “Chàng yêu nhớ đơn phương với mặc cảm của một nghệ sĩ nghèo bị nguời yêu bỏ rơi, lại còn bị mấy thằng bạn trẻ chế nhạo đùa bỡn, nhất là Vũ Trọng Can. Vì chút tự ái văn nghệ đối với mấy nguời kia, Tuấn Trình đã phải thức một đêm, theo lời anh, làm một bài thơ đề là HAI SẮC HOA TI GÔN ký T.T.Kh. với thâm ý để Trần Huyền Trân và Vũ Trọng Can tin là của Khánh làm, để thương tiếc mối tình tan vỡ. Muốn giữ tính cách bí mật, Tuấn Trình dán kín bao thư rồi nhờ cô em họ (con gái của người cô ở phố Cửa Nam) mang đến tòa báo. Cũng chính cô em họ đó đã chép giùm bài thơ với nét chữ con gái dịu dàng của cô, để khỏi bị nghi ngờ. Cô Khánh không biết làm thơ. Cô chưa bao giờ làm thơ cả! Và cô đã ghét những bài thơ của Thâm Tâm nữa là đằng khác. Tuấn Trình nói quả quyết với tôi như vậy, sau khi nhận đuợc một bức thư cuối cùng của Khánh, tỏ ý không bằng lòng anh mượn tên cô để làm thơ kể chuyện tình duyên cũ, có thể làm hại đến cuộc đời của cô”.
    Tác giả Nguyễn Thạch Kiên là con nguời rất hiền hòa và rộng lượng. Trong tác phẩm “Về Những Kỷ Niệm Quê Hương”, ông đưa ra khá nhiều bằng chứng thuyết phục về “Huyền thoại T.T.Kh.” chỉ là giả tạo, nàng thơ T.T.Kh. không hề có thật trên đời! Tuy nhiên, đàn anh của chúng tôi vẫn rất dễ thương cho rằng “Huyền thoại, chỉ nên mãi mãi là huyền thoại”. Trong lãnh vực chính trị cũng vậy, ông Nguyễn Thạch Kiên đã hoạt dộng trong Việt Nam Quốc Dân Đảng hơn nửa thế kỷ qua, nhưng tinh thần đấu tranh trong tim óc ông luôn luôn đượm màu lãng mạn. Thế nhưng tôi rất yêu qúy ông, bởi chính tôi từng là đảng viên kỳ cựu của Đại Việt Cách Mạng Đảng và tinh thần cách mạng trong tôi cũng đượm màu lãng mạn như ông. Nói tóm lại, ông Nguyễn Thạch Kiên và tôi đều từng hoạt động chính trị một cách vương đạo, không thể bá đạo và dã man như bọn Việt Cộng đuợc.
    Do đó, khi kết luận tác phẩm “Về Những Kỷ Niệm Quê Hương”, nhà văn của chúng ta viết như sau:
    “Chúng tôi quan niệm huyền thoại hẳn phải là một cái gì đó rất đẹp, rất lý tưởng, và không sao với tới được. Phải, nó làm phong phú trí tưởng con người. Phanh phui, phân tích, tìm hiểu từng chi tiết, khác nào ta bóc trần một cổ vật hằng trân quý. Một người khác phái ta say mê mà không sao được kề cận, vẫn mãi mãi là một ám ảnh, làm suốt đời ta thèm day dứt, tôn thờ. Chuyện tình T.T.Kh. với mấy bài thơ oan trái xuất hiện từ năm 1937, đã trở thành huyền thoại sử thi, góp phần không nhỏ vào sự hình thành nền thơ mới của một thời đại cần đổi mới thơ văn là một thí dụ”.
    Đây là lần đầu tiên tôi không đồng ý với Tác giả Nguyễn Thạch Kiên. Câu chuyện mấy bài thơ mang tên T.T.Kh. đã trải qua hơn 70 năm qua, thế mà vẫn có nhiều người tin rằng có một thiếu nữ đã làm mấy bài thơ ai oán như vậy. Tôi đã vào nghề cầm bút gần nửa thế kỷ qua, nên biết rất rõ khá nhiều người đàn ông làm báo đã núp dưới tên phụ nữ để giải đáp tâm tình hoặc phụ trách mục thơ văn nào đó. Trường hợp báo Tiểu Thuyết Thứ Bảy ở Hà Nội cuối thập niên 1930 đã “câu” độc giả bằng huyền thoại nàng T.T.Kh. cũng là chuyện thuờng tình xảy ra trong làng báo Việt Nam xưa và nay.
    Ngay từ năm 1961, khi bắt đầu mưu sinh bằng ngòi bút, tôi đã thắc mắc về “người thơ T.T.Kh.”. Chỉ cần đọc một bài thơ “Hai Sắc Hoa Ti-Gôn”, tôi đã nghĩ rằng không thể một cô gái 17 tuổi vào thời xa xưa đó lại có thể sáng tác được 1 bài thơ với ngôn từ khá già dặn như vậy. Người làm bài này phải là một thi nhân đã từng biết làm thơ trước đó.
    Nếu người nào suy nghĩ sâu một chút và phân tích từng chữ nơi các câu thơ trong 3 bài thơ ký tên T.T.Kh. nêu trên, sẽ nhận thấy được dòng thơ đó không thể sáng tác bởi một cô gái chưa đậu Tiểu Học ở thời điểm xa xưa ấy. Xin mời quý vị đọc vài đoạn thơ sau đây coi sao:
    – Từ đấy, thu rồi thu lại thu,
    Lòng tôi còn giá đến bao giờ?
    Chồng tôi vẫn biết tôi thương nhớ
    “Người ấy”… Cho nên vẫn hững hờ…
    – Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời,
    Ái ân lạnh lẽo của chồng tôi.
    Và từng thu chết từng thu chết,
    Vẫn giấu trong tim bóng một người…
    – Nếu biết rằng tôi đã lấy chồng,
    Trời ơi! Người ấy có buồn không?
    Có thầm nghĩ tới loài hoa vỡ,
    Tựa trái tim phai, tựa máu hồng?
    Hoặc chữ “HỪ” rất ít người con gái xử dụng trong thơ văn, ở “Bài Thơ Cuối Cùng” đề tên T.T.Kh., nguyên văn như sau:
    Từ đây anh hãy bán thơ anh,
    Còn để riêng tôi với một mình.
    Những cánh hoa lòng… Hừ, đã ghét,
    Thì đem mà đổi lấy hư vinh.
    Và ngày nay, đúng là họa sĩ Nguyễn Tuấn Trình tức thi sĩ Thâm Tâm (tác giả bài Tống Biệt Hành) sáng tác mấy bài thơ đó đề tên Trần Thị Khánh hay Thâm Tâm Khánh (T.T.Kh.) để che dấu nỗi đau nhục bị cô Khánh bỏ rơi!
    Bây giờ thì đàn anh văn nghệ của tôi, Tác giả Nguyễn Thạch Kiên đã về miền vĩnh cửu. Tôi xin cám ơn ông đã lưu lại cho hậu thế một số tài liệu văn học cần thiết, để những nguời tìm hiểu nền văn học nghệ thuật Việt Nam được biết rằng “Huyền thoại T.T.Kh” chỉ là một trò chơi chữ nghĩa bởi một số người cầm bút dối gian hoặc thiếu vương đạo!
    ***
    Ngày 19 tháng 12 năm 2008, tôi về thăm bằng hữu tại Thung Lũng Hoa Vàng (San Jose, Bắc California). Buổi tối đó, tôi được một số Thân Hữu đãi một bữa cơm thân mật, tại nhà hàng Cao Nguyên (đối diện khi thương mại Lion Plaza). Tôi thật sự xúc động gặp gỡ một số nhân vật tên tuổi trong bàn tiệc, gồm: quý thi sĩ Hà Thượng Nhân, Trường Giang (thi văn đoàn Bốn Phương), Đông Anh Nguyễn Đình Tạo & Chinh Nguyên (Cơ Sở Văn Thơ Lạc Việt); quý nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm, Phạm Mạnh Đạt; cựu Đại Tá Lương Văn Ngọ (Trung Tâm Trưởng Tập Thể Chiến Sĩ VNCH Vùng Tây Bắc Hoa Kỳ); nhà báo Duy Văn (chủ nhiệm tuần báo Đời Mới); giáo sư Nguyễn Hùng Tâm (Thứ Nam của cố chủ nhân nhà sách Khai Trí, Saigon ngày cũ).
    Sáng hôm sau, ngày 20/12, tôi dùng điểm tâm với nhà văn nhà thơ Hồ Linh, nhà báo lão thành Sao Biển, nhà thơ Hoàng Ngọc Văn và nhà hoạt động cộng đồng Nguyễn Hữu Lộc (Trưởng Ban Sáng Lập Đại Hội Hoa Hậu Áo Dài Long Beach, CA).
    Hầu hết quý vị nêu trên đều sẵn lòng hỗ trợ Đông-Phương Foundation sẽ tổ chức một chương trình thơ nhạc đặc biệt tại miền Bắc California, để đánh dấu “30 năm Thung Lũng Hoa Vàng” (nhất là Cơ Sở Văn Thơ Lạc Việt và Hội Từ Thiện Sóng Tình Thương của ông Nguyễn Hữu Lộc). Bởi tôi là người đã tình cờ gọi mỹ danh “Thung Lũng Hoa Vàng” cho thành phố San Jose (Silicon Valley) từ năm 1979.
    Tưởng nên nhắc lại, trong bài Tạp Ghi Cuối Năm 2008, tôi nhắc tới 9 nhân vật thân thiết tôi đã khuất bóng trong 1 thập niên qua. Thực ra, nếu chính xác, thì 11 nhân vật văn hóa hoặc chính trị quen thân Quốc-Nam đã bỏ tôi ra đi trong thời gian qua, gồm: quý thi sĩ Nguyên Sa Trần Bích Lan, Hoàng Anh Tuấn, Duy Năng, Phan Lạc Giang Đông, Phương Triều; quý nhạc sĩ Anh Việt Trần Văn Trọng, Nguyễn Hiền; nhà cách mạng Hà Thúc Ký (Đại Việt Cách Mạng Đảng); học giả/giáo sư Vũ Ký; họa sĩ Choé Nguyễn Hải Chí; nhà văn/nhà thơ Nguyễn Thạch Kiên.
    Nhóm Đông-Phương chúng tôi trang trọng tạ ơn quý Ngài, và nguyện cầu Ơn Trên ban cho quý Ngài được thảnh thơi trên cõi vĩnh hằng. Bởi chính quý Ngài đã khích lệ và tặng tôi một mớ hành trang lên đường, tiếp tay làm rạng danh nền văn hóa Việt-Tộc đối với năm châu bốn biển.
    Kính xin Ơn Trên phù hộ chúng ta và cho ngôn ngữ Việt bất diệt trong bất cứ nghịch cảnh nào.
    QUỐC NAM
    (Tháng 2/2009)
     
    Chú thích 3 tấm hình:
    * Seattle-1: Tác giả Nguyễn Thạch Kiên tại phi trường Sea-Tac (Washington) năm 1996. Hình từ trái qua phải: Quý ông Trần Thế Khiêm, Nguyễn Thạch Kiên & Quốc Nam.
    * Orange-2: Thi sĩ Quốc Nam chào vĩnh biệt Tác giả Nguyễn Thạch Kiên tại Garden Grove Hospotal cuối năm 2008. Hình từ trái qua phải: Bà Nguyễn Thúy Phượng, Cụ Nguyễn Thạch Kiên và ông Quốc Nam.
    * SanJose-3: Một số văn nghệ sĩ hội ngộ tại Thung Lũng Hoa Vàng trung tuần tháng 12/2008. Hình từ trái qua phải: (Ngồi) Quý cụ Trường Giang, Hà Thượng Nhân & Vũ Đức Nghiêm; (Đứng) Quý ông Chinh Nguyên, Phạm Mạnh Đạt, Nguyễn Hùng Tâm, Duy Văn, Quốc Nam, Lương Văn Ngọ & Đông Anh.
     
     
  • Tạp ghi

    TRĂM NĂM HOMELESS HOA KỲ (Giao Chỉ)

    TRĂM NĂM HOMELESS HOA KỲ
    Giao Chỉ, San Jose.

    (Viet Tribune)

     

    Lời nói đầu. 
    Mỗi tháng, chiều thứ bảy lần thứ tư, một hội đoàn Việt Nam chính thức luân phiên để dọn 300 phần cơm Việt Nam cho khách hàng homeless tại San Jose. Chương trình này được gọi là Thực đơn thân ái do cơ quan
    RCC phối hợp được 15 năm. Kỳ
    tháng 2- 2009 vừa qua các cựu sinh viên đại học Vạn Hạnh Sài Gòn trước năm 1975 đảm trách.

    Người điều hợp tiếp tế thực phẩm từ phía sau là ông Khổng Trọng Hinh và người phụ bếp dọn ăn ngay trên tuyến đầu là thầy Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh. 
    Trải qua bao nhiêu năm, những đội ngũ chiến sĩ xã hội vẫn còn tiếp tục. Gia đình phật tử Chùa An Lạc, gia đình y khoa với bác sĩ Vũ, nhóm công giáo Phan Triệu, ST Real State, Nhóm gia đình Kiến trúc, Hiệp hội Kim Hoàn, cựu sinh viên Vạn Hạnh, cựu sinh viên tại Nhật Bản, gia đình báo Mõ v.v. Tất cả do sự nhắc nhở phối hợp của ông bà Bùi Quí Ngọc hoàn toàn tự nguyện giúp cho chương trình tồn tại trên 10 năm qua. Bài này viết để thân tặng và tri ân quý vị.

    Cũng xin loan báo thêm là kỳ luân phiên tháng 3 nhằm ngày thứ bảy ngày 28 tháng 03 năm 2009 hiện còn trống. Ðoàn thể đã ghi danh vừa xin chuyển qua kỳ khác nên các quan khách homeless Hoa Kỳ có thể sẽ không được thưởng thức hương vị Việt Nam như đã hẹn ước.

    Xin bà con quan tâm cấp cứu. Cần một tổ chức 10 người với 900 đồng cho 300 phần ăn 4 món. Hoặc góp 30 đồng cho 10 phần ăn. Thư và chi phiếu gởi về: Cơ quan IRCC 1445 Koll Circle, San Jose, Ca 95112 Tel: (408) 392- 9923. 

    Trăm năm Homeless Hoa Kỳ

      Năm 1776 Hoa Kỳ lập quốc, từ miền Ðông di dân Tây tiến, bốn phương đâu cũng là nhà. Chưa có các đô thị và chung cư, nên chưa có người không nhà giữa xã hội đâu cũng là thôn quê và nông trại. Năm 1876 Hoa Kỳ kỷ niệm 100 năm lập quốc, tại các đô thị đã có người không nhà và vấn nạn homeless ra đời. Năm 1976 Hoa Kỳ kỷ niệm 200 năm độc lập. Không một thành phố nào mà không có những khách không nhà. Sống trên đất nước thiên đường mà công dân Mỹ lại thuộc về thành phần đầu đường xó chợ.

    Trải qua hơn 30 năm, những người dân Việt lưu vong đã dự lễ độc lập 200 năm tại Hiệp Chủng quốc cho đến nay, hầu như ai nấy đều tạm thời an cư lạc nghiệp. Trên bản thống kê dân homeless, không thấy ghi tên Việt Nam. Con số quá ít nên có thể người Việt homeless nằm khép nép đâu đó trong phần thống kê khiêm nhường của dân Á Châu Thái Bình Dương. Nhưng các sắc tộc khác con số ngày một gia tăng, gồm cả Mỹ trắng, Mỹ đen và Mễ tây Cơ.

    Tuy nói như vậy nhưng người Việt thực sự cũng có đại diện nhận lãnh niềm đau của nước Mỹ.Năm 2000 khi đi làm kiểm kê dân số chúng tôi có dịp thăm xóm homeless Việt Nam San Jose tại khu rừng thưa góc Senter và Capital Epwy. Kỳ này sẽ trở lại xem lại đường xưa lối cũ. Hai tháng trước, biết tin muộn có một phụ nữ Việt Nam homeless lớn tuổi đã qua đời. Người phụ trách nói là bà già Việt Nam họ Nguyễn. Vậy là Việt Nam chắc quá rồi. Dòng họ Nguyễn thì thực sự đông đảo và danh tiếng. Hai cô gái họ Nguyễn một thời tranh cử chung kết nghị viên tại San Jose. Cô họ Nguyễn giám sát viên tại quận Cam. Biết bao nhiêu nhân tài họ Nguyễn. Chẳng ai biết đến một bà già homeless họ Nguyễn lặng lẽ qua đời. Hoàn cảnh ra sao? Thôi cũng là số phận con người. 

    Vì đâu nên nỗi: 
    Tại các đại học, ghi tên ngành xã hội là phải có học trình về homeless. Có những đại học mà sinh viên ra trường tốt nghiệp chuyên khoa về bộ môn Homeless.
    Vì vậy nỗi niềm cay đắng dù đã được nghiên cứu kỹ lưỡng, nhưng quay đi quẩn lại thì cũng bao gồm các lý do căn bản: rượu chè, cần sa, ma túy, gia đình lục đục, thất nghiệp lâu dài, đầu óc lạng quạng, xuất thân trường tù, cựu chiến binh anh dũng bỗng trở thành những người anh hùng mỏi mệt.
    Nói chung toàn là thành phần về hưu ngoài hè phố. Một thanh niên du đãng ở tù ra thì phần đông không biết về đâu đêm nay. Tự do với màn trời chiếu đất. Tuổi trẻ lớn lên thử một lần hút cần sa cấp trung học, nhẩy ngay lớp đại học để hít bằng mũi và lấy bằng đại học nhẹ nhàng khi chích vào tay. Tốt nghiệp tiến sĩ trường thuốc trở thành homeless. Anh em hè phố gọi đó là “Trường đời”.
    Các kỹ nữ về già và các vị cao niên suốt đời say sưa mối sầu thế kỷ đều về hưu ngoài đường.
    Xã hội đại đô thị càng tiến bộ thì những người đứng bên lề càng gia tăng. Homeless trở thành vấn nạn triền miên không bao giờ giải quyết xong. Biết bao nhiêu vị tổng thống tài ba, mỗi năm Giáng sinh cũng đành đi nhà thờ cầu nguyện buổi sáng rồi phát cơm homeles buổi chiều
    Năm 2000 Hoa Kỳ đi đếm đầu người gọi là kiểm kê dân số. Chuyên viên phải thuê chính người homeless để đi đếm người homeless. Một kế hoạch là 10 năm chấm dứt homeless tại Bắc Cali đã được đưa ra.

     Ðến nay anh em ta lại chuẩn bị đi đếm đầu người cho năm 2010. Kế hoạch 10 năm chấm dứt homeless tổng kết với số khách không nhà tăng lên 20%.

    Riêng tại vùng San Jose và Santa Clara County thống kê ghi nhận được vào khoảng 8,000 homeless trong đó có đến 16% là phụ nữ và 30% trẻ em.

    Khả năng tạm trú của chính quyền chỉ lo được cho một phần ba. Ðây cũng là thành tích đáng kể vì các đô thị khác như San Francisco hay Los Angeles không theo kịp. Số còn lại không có nhà phải sống dọc theo các con suối cạn, gầm cầu, hay khu công viên hẻo lánh.

    Vào những mùa mưa lạnh lẽo, đời sống của homeless là chuỗi dài khổ nạn. Ðặc biệt là đối với trẻ em. Nhưng có điều rất đáng lưu ý là 8,000 khách giang hồ tại thung lũng điện tử thường không thấy xuất hiện đông đảo chung quanh các khu thương mại. Họ kín đáo cất dấu niềm đau ở chỗ nào. 

    Bước vào thế giới homeless. 

    Hoa Kỳ hiện nay có 300 triệu dân và đang ôm mối sầu thiên cổ với 3 triệu 500 ngàn homeless. Ðau thương nhất là trong đó có gần một nửa là trẻ em. Con số ghi nhận là 1 triệu 350 ngàn trẻ em. Hỏi rằng các homeless ở đâu. Khoa địa lý nhân văn thi vị hóa gọi là những con người sống bên lề đô thị. 60% ngủ trong các xe còn chạy được xọc xạch hay là 4 bánh đã xẹp từ lâu. 25% ở trong các lều vải hay các thùng giấy.15% thật sự là màn trời chiếu đất, có thể gọi là khách sạn ngàn sao. Ðêm nằm nhìn lên thấy ngàn sao trên trời. Nếu lại cắc cớ hỏi rằng tại sao lại có nhiều trẻ em như thế. Xin trả lời rằng gia đình lục đục, thất nghiệp lâu dài và không có bà con tương trợ thì cả nhà ra đường là chuyện dễ hiểu. Ngoài ra trai tứ chiếng, gái giang hồ gặp nhau cũng vẫn tình cảm và cũng có sản xuất.

    Những đứa bé sinh ra ở ngoài đường, sống không thấy mái nhà nhưng vẫn là công dân Mỹ bẩm sinh, có đủ điều kiện để ứng cử tổng thống, chuyện đó xem ra mới thê lương làm sao.

    Có những gia đình vẫn cho con cái đi học, chợt mất nhà. Chồng lên đường làm ăn xa. Vợ dẫn con đến nhà tạm trú. Ðứa nhỏ vẫn lôi thôi lếch thếch đi học. Rồi một hôm chị Mary cãi nhau với bà manager tại nhà tạm trú. Ðem hai đứa con ra gầm cầu. Thằng bé trai 8 tuổi còn đi học. Thầy giáo hỏi sao mày không làm homework. Ðể tao phải gọi điện thoại cho cha mẹ. Ðứa bé lặng thinh, tuy còn nhỏ nhưng nó vẫn đủ khôn ngoan để không nói là nhà em đang ở gầm cầu.

    Ðó là câu chuyện của mỗi người trong các quan khách Hoa Kỳ tham dự vào bữa tiệc thực đơn thân ái Việt Nam đã tổ chức hàng tháng, năm này qua năm khác. Trên 70 kỳ tổ chức và hàng chục ngàn phần ăn Việt Nam đã đưa ra.

    Thực đơn thân ái Việt Nam

      Hôm đó là một ngày mưa ở San Jose, tôi vào xếp hàng mua một ổ bánh mì tại tiệm Việt Nam dưới phố. Một tay homeless Hoa Kỳ chính hiệu xếp hàng trước mặt. Quầy hàng nhỏ nhưng trong tiệm cũng có hơn 10 bàn cho khách. Phần lớn mua To go. Ông homeless, trông là biết liền. Quần áo hai ba lớp luộm thuộm . Ðầu tóc bù xù. Trả toàn tiền cắc và giấy một đồng nhàu nát. Cô bán hàng Việt Nam nhỏ bé dịu dàng hỏi ngay: To go? Khách hàng homeless xếp hàng trước mặt tôi hơi ngần ngại ngó quanh các chỗ ngồi. Trời bên ngoài mưa nặng hạt. Có vẻ muốn ngồi ăn bên trong. Nhưng khách homeless Hoa Kỳ cũng biết thân phận nên lại ngần ngại trả lời. Cô gái Việt dịu dàng nói nhỏ: to go please. Special discount 1 dollar. Ông khách homeless Mỹ khẽ gật đầu. Có thể vì được bớt 1 đồng, và cũng có thể muốn làm vui lòng cô bé Việt Nam bán hàng.
    Bước ra ngoài, tôi thấy ông ngồi ngay dưới mái hiên thưởng thức bánh mì và ly cà phê nóng To go. Bên cạnh là một xe chợ chằng chịt các bao nylon của cả một gia tài đồ xộ.
    Về sau tôi còn gặp lại tay homeless này nhiều lần tại các buổi chiêu đãi hàng tháng. Vào một buổi mùa hè. Ông khách quen này mặc áo cụt tay có vết xâm huy hiệu thủy quân lục chiến bên dưới là chữ Chu Lai.
    Như gặp lại người quen, tôi chỉ vào dấu xâm và giơ ngón tay cái lên trời. Người thủy quân lục chiến Hoa Kỳ của căn cứ Chu Lai ngày xưa khẽ gật đầu, mắt xanh mỏi mệt chợt sáng lên trong niềm vui nhẹ.
    Ông là khách hàng của chúng tôi đã hơn 5 năm qua. Chiều thứ bảy, gần 300 khách thưởng thức 4 món Việt Nam: chả giò, gà chiên, cơm trộn, rau trộn, tráng miệng và thức uống. Nghiêm trang trật tự. Hết sức thanh lịch và gọn gàng. Yes Sir, No Sir. Yes Mame, No Mame. Thank you. Welcome.
    Xếp hàng, ghi danh, lấy thực phẩm, dọn bàn. Không khí yên tĩnh như câu lạc bộ sĩ quan Hoa Kỳ. Những người tàn tật được ban thực đơn Việt Nam hộ tống đưa thức ăn ra tận bàn.
    Bỗng nhiên có lời giới thiệu. Hôm nay các bạn được hội A, hội B hay hội C mời ăn, tiếng vỗ tay vang dội. Tuy nhiên, các quan khách của chúng tôi quả thật sẽ không bao giờ nhớ được đây là nhà thờ công giáo hay phật giáo. Ðây là Trưng Vương hay Gia Long, đây là sinh viên Vạn Hạnh hay sinh viên Nhật Bản, đây là nhà thầu Kiến Trúc hay hiệp hội Kim Hòa. Ai là địa ốc, ai là nhà báo, ai là bác sĩ. Mọi người đều giống nhau.Tất cả đều chỉ nhớ có 2 chữ Việt Nam. Những người đàn ông Việt Nam hiền lành đứng tiếp tế từ phía sau. Những người đàn bà Việt Nam tử tế đưa thực phẩm từ phía trước. Những cô gái Việt Nam nhỏ bé chuẩn bị nước uống. Những mái tóc đen Á Châu, những khuôn mặt và nụ cười nhân đạo. Những nguồn thực phẩm vô tận đi hai ba vòng vẫn còn đầy đủ.
    Buổi tối hôm nay, bụng homeless Hoa Kỳ căng đầy, bên cạnh còn một bao giấy To go, nằm dưới khách sạn ngàn sao, tại miền thung lũng điện tử tiền rừng bạc bể, người Mỹ gốc Mỹ có thêm một kỷ niệm êm đềm với người Mỹ gốc Việt tại San Jose.

     

                                                     Giao Chỉ ,San Jose.
    (Viet Tribune)

  • Tạp ghi

    30 NĂM CÙNG BERKELEY TRĂN TRỞ (Giao Chỉ)

    30 NĂM CÙNG BERKELEY TRĂN TRỞ

    GIAO CHỈ, SAN JOSE  – Việt Tribune

     

    Đại Học Berkeley 140 tuổi.

    Ngôi trường đại học nổi tiếng và lâu đời nhất tại miền Tây Hoa Kỳ chính là đại học Berkeley. Thành lập 1868, khai giảng 1869 với 10 giáo sư và 40 sinh viên. Năm sau 1870 lần đầu tiên trường nhận nữ sinh viên. Ngày nay cuối niên khóa 2008 Berkeley có 35 ngàn 400 sinh viên. Ðây là trường đại học đặc biệt tại Mỹ mà số nữ sinh viên đông hơn nam, 53% nữ và 47% nam. Ngay từ khi thành phố San Francisco ra đời 1849 với các đoàn người đổ xô đi tìm vàng thì các trẻ em của di dân bắt đầu đi học. Gần 20 năm sau, nhu cầu đại học thúc đẩy và ngày 23 tháng 3 năm 1868 thống đốc ký nghị định thành lập đại học Berkeley.

    Ngôi trường hết sức hãnh diện của lịch sử giáo dục Hoa Kỳ tại thị trấn Berkeley mệnh danh là thành phố của tri thức ngó xuống Vịnh Cựu Kim Sơn. Dưạ trên ý kiến xây dựng một nền đại học dấn thân vào cuộc sống và vượt khỏi mọi biên giới của con người, Berkeley không còn là tên một địa danh mà đã trở thành tên của nền văn minh đại học.

    Từ căn bản đó tinh thần đại học Berkeley thổi lên ngọn gió tự do tuyệt đối, xây dựng con đường nhân bản, đứng lên cùng thế giới đón chào những tư tưởng mới từ hiện sinh đến phản chiến.

     

     

     

    Berkeley thế kỷ 21.

    Sau 140 năm, kể từ khi khóa đầu tốt nghiệp năm 1873 với 12 nam tân khoa, ngày nay mỗi năm có hàng chục ngàn sinh viên ra trường.

    Số sinh viên Berkeley tính đến khóa mùa thu 2008 là 35 ngàn sinh viên, nữ nhiều hơn nam. Gốc Phi châu da đen có 1,217, da đỏ có 236, gốc Mễ và La Tinh có 3,565, Mỹ trắng 11,998 và Á châu nhiều nhất 12,232. Trong đó chưa biết rõ có bao nhiêu Tàu, Nhật, Ðại Hàn, Phi, dân hải đảo Thái Bình Dương, Ấn Ðộ và Ðông Nam Á. Chúng ta cũng không biết chắc là có bao nhiêu Việt Nam trong số các sắc dân da vàng kể trên. Chắc chắn có thể nhiều hơn 1 ngàn sinh viên Việt Nam.

    Trong số các sinh viên kể trên có 2.961 từ các nước du học. Lại nữa, không biết có bao nhiêu sinh viên từ Việt Nam qua học tại đây.

    Trải qua 140 năm, đại học Berkeley vẫn giơ cao ngọn đuốc tự do, qua bao nhiêu cuộc biểu tình phản chiến, nhưng vẫn còn là một đại học khoa bảng hết sức danh tiếng.

    Ðứng đầu thế giới về nhiều lãnh vực từ khoa học đến xã hội, từ kỹ thuật đến nhân bản và cũng là nơi có một dàn giáo sư uyên bác với con số 20 người đã nhận tước hiệu Nobel. Sau cùng đại học Berkeley không phải chỉ có khuôn viên tại Bắc Cali mà còn có chi nhánh từ San Diego lên đến San Francisco.

     

            Berkeley ngày tháng cũ

    Tuy chẳng bao giờ chúng tôi có cơ hội theo học Berkeley, thậm chí chưa có con cháu là sinh viên ở đây, nhưng thuộc về lớp dân tỵ nạn Việt Nam tại San Jose, ngay từ thập niên 70 đã nhiều phen kéo quân lên Berkeley biểu tình. Vì đại học này là cái nôi phản chiến tại Hoa Kỳ. Họ chuyên mời đại diện chính phủ cộng sản Hà Nội đến nói chuyện.

    Hơn 30 năm trước, có năm hai ba lần người Việt, San Jose đi dọc hai bên đường đại lộ University để biểu dương tinh thần chống Cộng. Chúng tôi dẫn đầu một bên, phía bên kia là ông Mã sanh Nhơn. Có cả hải quân Trần quang Thiệu và không quân Nguyễn quang Vĩnh.

    Và cũng một lần, cách đây 30 năm, đoàn văn nghệ quốc gia San Jose, áo nâu cờ vàng đã tham dự cùng hội sinh viên Việt Nam trong đêm văn nghệ đầu tiên. Giáo sư Bùi văn Phú, cựu sinh viên Berkeley từ năm 77 ghi nhớ rằng hội sinh viên Việt Nam thành lập năm 1979 với 60 sinh viên và 1980 tổ chức văn nghệ lần thứ nhất.

    Biết bao nhiêu giây phút buồn vui bên nhau với thời gian của 1 phần 3 thế kỷ về trước.

    Từ đó đến nay nhiều kỷ niệm đã trôi qua. Những sinh viên làm văn nghệ tháng 4 năm 1980 ngày nay cũng đã ra trường đi khắp bốn phương. Có thể đã là phụ huynh của thế hệ sinh viên mới vào tháng 4 năm 2009.

     

              Berkeley ngày trở lại:

    Cách đây 8 năm, tôi có dịp trở lại dự văn nghệ sinh viên Việt Nam tại Berkeley và được xem một đoản kịch hấp dẫn. Tạm gọi là: Ðiện cho Mẹ. Vở kịch độc thoại của cô sinh viên Việt Nam gọi phone cho Mẹ báo cáo công việc hàng ngày. Rất sống động và hấp dẫn. Ðoản kịch này được trình diễn lại tại San Jose nhân dịp IRCC kỷ niệm 25 năm thành lập.

    Năm 2008, sinh viên Việt Nam Berkeley đã tổ chức văn nghệ 30 tháng 4 lần thứ 29 với nhạc kịch Cánh Hồng Trong Gió (Petals in the wind).

    Ðây là một vở trường kịch về hoàn cảnh người phụ nữ Việt Nam thời chinh chiến trong giai đoạn trước và sau 75. Cựu sinh viên Bùi văn Phú kể lại rằng: “Từ chiến tranh đến hòa bình, tù cải tạo, vượt biên. Kịch bản dùng Việt ngữ nhiều hơn Anh ngữ và câu chuyện tương đối giản dị, diễn viên tuy tài tử nhưng rất nhập vai xuất sắc.”

     Ý nghĩa của kịch “Cánh hồng trong gió” được chính ban tổ chức ghi lại như sau:

    “Những cánh hồng tả tơi giữa cơn gió thời loạn ly. Những người phụ nữ thăng trầm cùng đất nước. Trong họ, tỏa lan ánh sáng thiêng liêng của con người Việt Nam. Những cánh hồng tỏa hương sắc qua phong ba bão táp. Người phụ nữ Việt Nam cố bám víu những hy vọng mong manh, cùng tấm lòng nhẫn nhục, cam chịu để lèo lái gia đình giữa lúc con thuyền dân tộc chao đảo. Xin hãy cùng chúng tôi, những thế hệ đi sau, tôn vinh phẩm chất cao đẹp của những cánh hồng Việt Nam.”

    Ðó là đoạn văn chương rất chải chuốt của một Berkeley đầy tình tự dân tộc Việt Nam

     

     

     

              Berkeley, Văn nghệ năm thứ 30.

    Nhằm mục đích trở lại Berkeley cùng các em sinh viên rất trẻ trung xa lạ, chúng tôi dự đêm văn nghệ 30 tháng 4 lần thứ 30. Lần này đề tài hết sức trăn trở và phức tạp.

    Trên tờ chương trình giới thiệu vở trường kịch Moonsoon tựa đề Việt ngữ là “Gió mùa”

    Ban tổ chức giới thiệu đây là chuyện xưa của Việt Nam nhưng không căn cứ vào sử liệu thực sự mà sáng tác dựa theo các chuyện dân gian.

     

    Xin đọc một đoạn nguyên văn của phần dẫn giải:

    “Sự tồn tại của người Việt Nam được tôn vinh qua những thành quả và hoàn cảnh chung quanh. Khởi đầu bằng sự suy tàn của toàn thể quốc gia, vở kịch kết thúc với những ý chí mãnh liệt của nhiều cá nhân đã sinh tồn và xây dựng một cộng đồng mới. Cội nguồn của con người nhờ những câu chuyện dân gian truyền từ đời này sang đời khác mà có thể duy trì, ghi nhớ và bảo tồn.

    Vì vậy dù trải qua bao giai đoạn đàn áp và loạn ly của chiến tranh nhưng văn hóa của người Việt Nam vẫn phồn vinh”

    Với những lời lẽ khá trừu tượng và nhiều cao vọng đã mở đường cho hơn 1200 khán giả vui lòng hưởng ứng theo dõi chương trình 3 giờ đồng hồ.

    Kịch bản trình diễn bằng Anh ngữ và chỉ thỉnh thoảng chêm vào một vài thành ngữ tiếng Việt. Các ban vũ rất công phu, các ca sĩ trong đoàn phụ diễn rất xuất sắc. Các vai chính thuộc vở rất đáng ngạc nhiên và khán giả thì rất lịch sự vào hào hứng. Dưới hội trường và trên sân khấu có sự thân thuộc quen biết nên luôn luôn được nhiệt thành cổ võ kể cả những giây phút diễn xuất hơi lúng túng vụng về.

    Hầu hết khán giả là sinh viên, cựu sinh viên hay phụ huynh nên tham dự với tinh thần gia đình và kiên nhẫn mặc dù có nhiều đoạn độc thoại quá dài.

    Âm thanh, ánh sáng và phong cảnh có sự chuẩn bị khá vất vả vì nhu cầu đòi hỏi cả 100 người tham dự trên sân khấu.

    Vì kịch bản hoàn toàn bằng anh ngữ nên các khán giả sinh viên theo dõi dễ dàng. Tuy nhiên hiểu rõ vở kịch là một chuyện, còn có thể cảm nhận được thông điệp văn hóa Việt Nam hay không lại là chuyện khác.

    Vượt lên trên những lời bàn về đề tài và việc lựa chọn kịch bản, đêm văn nghệ lần thứ 30 đã có những thành quả hết sức cao quý.

    Các thế hệ sinh viên 30 năm trước và 30 năm sau không hề quen biết. Vậy mà truyền thống của ngọn lửa tinh thần đã được tiếp nối và thắp sáng mỗi độ tháng 4 về.

    Sự tập hợp được cả trăm sinh viên giữa ngôi trường tất bật đèn sách, bài vở tràn ngập, để tập văn nghệ tháng 4 là một công trình hết sức vất vả. Những y trang, điệu vũ liên tiếp thay đổi quần áo của các nam nữ sinh viên còn trẻ và dứt khoát không chuyên nghiệp phải được coi là nỗ lực rất đáng kể. Kịch bản khá dài, học thuộc và diễn xuất trôi chảy là điều khó khăn đã vượt qua. Ban nữ hợp ca hát đệm với y phục hậu giang và giọng hát đầm ấm hết sức Nam kỳ rất xứng đáng được mời về trình diễn tại San Jose.

    Và sau cùng, nỗi niềm khắc khoải trăn trở của hơn 100 sinh viên nam nữ Việt Nam giãi bày vào tháng 4 năm 2009 giữa lòng đại học Berkeley là một điểm son then chốt của đêm văn nghệ lần thứ 30.

    Tháng 4 năm nay, 2009, ba mươi tư năm sau ngày oan nghiệt 75, chợt ngó lại miền đất tạm dung Hoa Kỳ, nay đã trở thành quê hương mới. Bây giờ là mùa Thu. Tháng Tư trên đất Mỹ là tháng mở đầu của mùa Phục sinh. Tiếp theo là tháng của trời cao, biển rộng, đất bao la. Cuối tuần này, tại Kelley Park, San Jose các đoàn thể và tổ chức Hoa Kỳ sẽ họp mặt trong tinh thần bảo vệ môi sinh và tuyên dương mầu xanh của hy vọng.

    Riêng phần chúng tôi, mời các em nhỏ và phụ huynh đến với ngày xanh Hoa Kỳ, thăm viếng viện Bảo tàng Thuyền Nhân và Việt Nam Cộng Hòa. Vẫn mang theo nỗi niềm khắc khoải khôn nguôi của một tháng tư đen. Để cùng chia sẻ tâm tư trăn trở của các sinh viên Việt Nam, tại đại học Berkeley với đêm văn nghệ đi tìm về cội nguồn  dân tộc suốt 30 năm qua.

    Giao Chỉ – San Jose.

     

                                                                          

  • Tạp ghi

    Hoa Thịnh Đốn: Thế hệ trẻ (MAUVSA) đang vươn lên

    Hoa Thịnh Đốn: Thế hệ trẻ (MAUVSA) đang vươn lên

    Tuyết Mai

     

    Virginia.- Thật là một niềm vui lớn cho cộng đồng vùng Hoa Thịnh Đốn, với sự nâng đỡ của nhiều vị lãnh đạo trong cộng đồng, thế hệ trẻ – Liên Hội Sinh Viên MAUVSA (chữ viết tắt của Middle Atlantic Union of Viêtnamese Student Associations) – gồm tám đại học lớn của vùng HTĐ, Maryland và Virgnia đang phát triển  mạnh mẽ. Hội đã tổ chức thật thành công buổi liên hoan  chủ  đề “Tầm nhìn chung” với sự hiện diện của hầu hết đại diện các đoàn thể lớn trong cộng đồng HTĐ vào lúc 7 giờ chiều ngày  20 Tháng 6 , 2009 tại Nhà Hàng Harvest Moon, Falls Church, VA.

     

    Đây là lần thứ hai, hơn hai trăm sinh viên của tám đại học vùng HTĐ, MD và VA họp nhau mở hội để đón tiếp quý vị lãnh đạo trong cộng đồng và vui chơi với nhau sau một năm tích cực hoạt động cho những sinh hoạt văn hóa, xã hội, từ thiện. Không khí thật tưng bừng nhộn nhịp, nhất là mỗi khi Chủ Tịch Long Nguyễn giới thiệu tên của tám đại học, thành  viên của Liên hội,  Univ. of Virginia, Virginia Tech, George Mason Univ., George Washignton Univ, James Madison Univ., Univ of Maryland (College Park) , VA Commonwealth Univ…sinh viên của trường đó reo hò, la hét muốn bay  nóc nhà.

     

    Trong buổi tiệc liên hoan này, Liên Hội MAUVSA hân hạnh đón tiếp Ông Lê Minh Thiệp, đại diện cho Ông Đỗ Hồng Anh, Chủ Tịch Cộng Đồng HTĐ, MD&VA; Ông Đoàn hữu Định, Chủ Tịch Liên Hội Cựu Chiến Sĩ VNCH/HTĐ và Phụ cận; Ông Bà Luật sư Nguyễn Thế Sinh, Cô Ngọc Giao và Ông Lê Tùy, Văn Phòng Thượng Nghị Sĩ Jim Webb; Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích và Ông Nguyễn Mậu Trinh, Nghị Hội Toàn Quốc; Ông Trần Văn Tuấn, Hội trưởng Hội Hải Quân và Hàng Hải Miền Đông Bắc HK; Ông Đàm Văn Hòa, Nhóm Nhớ Biển và hơn ba mươi thành viên của Hội HQ&HHMĐ HK; Ông Bà Nguyễn Hữu Bình, Chủ Nhiệm Báo Gió Mới trước đây; Cô Kiều Thu và quý cô trong Hội Trưng Vương, Ông Nguyễn Kim Hùng, Chủ Tịch Hội Võ Bị Thủ Đức cử người đại  diện và Ông Phan Thanh.

     

    Nhiều nhân vật quan trọng như Khoa Học Gia Dương Nguyệt Ánh, rất quan tâm đến thế hệ trẻ,  cố gắng thu xếp công việc để đến nói chuyện trong ngày hội lớn của các em sinh viên,  nhưng giờ phút chót không thể đi được. Bác sĩ Nguyễn Thể Bình, Chủ Tịch Ủy Ban Yểm Trợ Cao Trào Nhân Bản,  rất quan tâm đến thế hệ trẻ, dự định sẽ đến nói chuyện với các em năm phút nhưng vì công việc khẩn của một bác sĩ  cũng không đến được. Nhiều Hội đoàn không thể đến tham dự nhưng đã gởi tiền ủng hộ các cháu như Bác sĩ Nguyễn Quốc Quân , Cố Vấn của UBYT Cao Trào Nhân Bản; Ông Lê Xuân Sướng, Cố Vấn của Hội Quảng Đà; Cô Chữ nhất Anh, Hội Giáo Dục Trẻ em; Ông Lý Hiền Tài, Phó chủ tịch Liên Minh Dân Chủ Thế Giới; Anh

    David Võ, Chủ Niệm Báo ViệtMỹmagazine, Hội CSV Quốc Gia Hành Chánh, Hội Quảng Đà, Ông Alan Frank, Phó Giám Đốc Trung Tâm Thương Mãi Eden, Bà Khúc Minh Thơ, Giáo Sư Dinh văn Long…Các sinh viên vô cùng phấn khởi trước sự hỗ trợ mạnh mẽ của quý cô, chú bác trong Cộng Đồng HTĐ. 

     

    Buổi lễ được cử hành trang nghiêm với nghi lễ chào quốc kỳ Mỹ Việt. Mặc dầu hầu hết sinh viên trong Liên Hội  được sinh ra và lớn lên ở Hoa Kỳ nhưng bài Quốc ca VN được các em hát rất sống động. Mở đầu Long Nguyễn, Chủ Tịch Liên Hội có vài lời  chào mừng quan khách và sinh viên. Sau đó Long Nguyễn giới thiệu muc đích và tôn chỉ của hội. Anh  cho biết MAUVSA gồm tám đại học lớn, mỗi chi nhánh  hoàn toàn tự trị và độc lập , do đó mang nhiều  sắc thái khác biệt và đặc sắc về mục đích, phương pháp cũng như chưong trình hoạt động.

     

     Long Nguyễn trình bày phương thức hoạt động, MAUVSA liên kết các cộng đồng sinh viên lại bằng cách đem đến cho họ một hướng đi chung có trọng tâm chính, từ đó giúp phát triển khả năng lãnh đạo, đem lại sức mạnh, giúp nâng cao ý thức về văn hóa, giáo dục, khuyến khích sự trao đổi tư tưởng và hợp tác giữa các Hội trong vùng và thúc đẩy sự công bằng trong xã hội.

     

    Anh Long Nguyễn nói tiếp, trong suốt học kỳ các thành viên của MAUVSA nỗ lực rất nhiều để hướng dẫn và phô trương truyền thống qua các trình diễn văn hóa. “Tầm nhìn chung” nhắm vào ba mục tiêu : Kết hợp sinh viên và trí thức trẻ của cộng đồng Việt lại với nhau qua các sinh hoạt của Hội  Sinh Viên. Gây quỹ và tìm thêm các nguồn tài trợ nhằm giúp các trường hội viên và vinh danh những thành viên hay tổ chức có nhiệt tâm và thành công, có khả năng trổi  vượt, nằm trong hay ngoài phạm vi của MAUVSA.

     

    Tiếp theo Cô Lan Anh Nguyễn, Phó Ngoại vụ giới thiệu về những sinh hoạt của Hội trong năm qua. Cô cho biết trong năm 2007 Liên Hội đã gây quỹ được 7,700 mỹ kim, đã chuyển cho Voice để xây một trung tâm ở Cambodia giúp các nạn nhân là phụ nữ, trẻ em bị mua bán nô lệ tình dục. Năm 2009 Liên Hội đã và đang hoạt mạnh trong Cộng Đồng HTĐ, giúp Voice of Vietnamese American (Cô Ngọc Giao) tổ chức “Hành Trình Tìm Tự Do” ở Thư Viện Quốc Hội HK. MAUVSA cũng giúp Nghị Hội Toàn Quốc (Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích) đưa ba mươi sinh viên VN vào Văn Phòng Phủ Tổng Thống Obama , trong khuôn viên Toà Bạch Ốc để học hỏi, tiếp xúc với những nhân vật quan trọng trong ngành Hành Pháp) và vào Tòa nhà chính của Quốc Hội HK ( tiềp xúc với quý vị dân biểu HK), nhằm mục đích  giúp các sinh viênVN quen dần sinh hoạt chính trị, dòng chính HK.

     

    MAUVSA cũng tích cực trong các sinh hoạt an sinh xã hội của Ủy ban Cứu Người Vượt Biển, tổ chức Hội Chợ Y Tế ở HTĐ, tổ chức Triển lãm “Exit Saigon, Enter Little Saigon” (trưng bày hình ảnh về ngừời tỵ nạn ở HK).

     

    Cuối cùng Cô Lan Anh nhấn mạnh: " mặc dầu chúng cháu còn bận học hành, nhưng chúng cháu cố gắng tham gia những sinh hoạt văn hóa, xã hội …trong cộng đồng. Chúng cháu mong được sự hỗ trợ mạnh mẽ của quý cô, chú bác để hội được tồn tại, để chúng cháu có cơ hội đem tài năng ra phục vụ cộng đồng và cho quê hương Việt nam thân yêu. Cuối cùng chúng cháu cảm ơn  quý cô chú bác “lấy “ thì giờ đến tham dự để ủng hộ tình thần cho chúng cháu” .

     

    Lan anh cũng như hầu hềt các sinh viên được sinh ra và lớn lên ở HK, nói tiếng Việt không rành,  giọng  không đúng , nhưng các cháu đã nói lên được  ý chí muốn dấn thân phục vụ cộng đồng và đất nước quê hương VN thân yêu, nên nghe rất dễ thương, làm cho mọi người cảm động.

     

    Mục đích của tổ chức “Tâm Nhìn Chung” không phải để trình diễn văn nghệ vui chơi như những buổi tiệc mừng Xuân ở trường, nên không có nhiều màn văn nghệ, vũ điệu dân tộc, mà một trong ba mục đích của buổi liên hoan này là để vinh danh những thành viên hay tổ chức có nhiệt tâm và thành công vượt trội, nằm trong hay ngoài MAUVSA.

     

     Liên Hội MAUVSA cảm tạ và vinh danh Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích và Nghị Hội Toàn Quốc, Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng và Ủy ban Cứu Người Vượt Biển, Cô Chử nhất Anh và Hội Giáo Dục Trẻ Em vùng HTĐ, Ông Dave Nguyễn, Asian American Success, Ông Quang Lê và tiệm Bánh Hương Bình và VCSMW. Liên Hội cảm tạ và vinh danh việc làm của quý vị trên và tổ chức của họ,  đã đóng góp, đem lại lợi ích cho cộng đồng VN vùng HTĐ…

     

    Trong buổi tiệc liên hoan này, tám sinh viên đại diện tám đại học thành viên của Liên Hội Mauvsa cũng trao một ngân  phiếu $5000 các em đã gây quỹ trong năm nay cho Anh Brian Võ,  Chủ Tịch của Tổng Hội SinhViên Bắc Mỹ (Hoa Kỳ), đến từ New York. Số tiền này được dùng cho việc từ thiện.    

     

    Xen giữa chương trình cảm tạ và vinh danh là những bản đơn ca và hoạt cảnh. Vì bây giờ đang là mùa Hè, nhiều sinh viên đi xa, nên BTC phải trình chiếu video một hai màn vũ và kịch.

     

    Ông Lê Xuân Sướng cũng như Ông Nguyễn Hữu Bình, quan khách tham dự buổi tiệc cho biết họ rất vui khi nhìn thấy có nhiều sinh viên thiện chí tụ họp  nhau với cùng mục đích dấn thân phục vụ cộng đồng và quê hương VN. Ông Bình ao ước làm sao cộng đồng mình có thể tận dụng tài  năng và thiện chí của thế hệ trẻ này. Nếu để các cháu về tay Cộng Sản thì thật là điều đáng tiếc. Giáo sư Nguyễn ngọc Bích cũng rất vui mừng thấy các sinh viên của tám đại học đã đoàn kết,  làm việc hài hòa với nhau. Anh Brian Võ Chủ tịch của Tổng Hội Sinh Viên Bắc Mỹ (Hoa Kỳ) từ New York cũng về tham dự, nhận lãnh ngân phiếu  $5000 do các em  sinh viên MAUVSA đã nỗ lực  gây quỹ cho công tác từ thiện năm nay.

     

    Ông Nguyễn văn Thành, một phụ huynh đã phát biểu,  thế hệ chúng ta đã già, lần lượt ra đi, nếu chúng ta không tiếp tay giúp đỡ những hội trẻ  thì một ngày không xa chúng ta già nua, không hoạt động nổi nữa thì ai sẽ thay thế chúng ta nối tiếp việc gìn giữ văn hóa dân tộc cũng như tranh đấu cho đất nước quê hương ngày mai? Nếu chúng ta không tích cực giúp cho hội trẻ tồn tại và phát triển hôm nay thì ngay mai chúng ta không nên  than thở : ”Tuổi trẻ bây igờ chẳng có đứa nào  quan tâm tới đất nứơc quê hương! ”. Quan tâm, hướng dẫn, tận  tình giúp đỡ  các cháu hôm nay  là một cách “đầu tư” vào thế hệ trẻ, sẽ thay thế chúng ta lãnh đạo cộng đồng mai sau.  

     

    Chương trinh chấm dứt lúc 10 giờ, nhạc rock trổi lên ồn ào chuẫn bị những màn nhảy nhót vô cùng sinh động, hào hứng cho giới trẻ. Rất nhiêù sinh viên đã ngạc nhiên nhận xét có nhiều người lớn ngồi lại rất lâu sau khi chương trình đã chấm dứt. Thường thì người lớn ra về ngay sau khi tiếng nhạc ồn ào trổi lên. Sự ở lại rất lâu của quý vị lãnh đạo cũng như phụ huynh có phải là một dấu hiệu cho thấy họ đã rất cảm kích, rất vui mừng và hãnh diện  khi nhìn thấy tận mắt một thế hệ trẻ đầy tài năng và thiện chí phục vụ đang vươn lên?

     Những thanh niên đầy tài năng và thiện chí trong Liên Hội MAUVSA  là những viên ngọc hiếm quý, là những mầm non đang vươn mình trong nắng ấm, rất cần được sự  giúp đỡ tận tình và hướng dẫn của quý bậc trưởng thượng, những nhà lãnh đạo trong cộng đồng, để thay thế thế hệ cha ông giữ gìn văn hóa dân tộc và tranh đấu cho đất nước quê hương VN mai sau. 

     

  • Tạp ghi

    ‘Vũ Hối 50 Năm Văn Học & Nghệ Thuật’

    ‘Vũ Hối 50 Năm Văn Học & Nghệ Thuật’  TUYẾT MAI 



    Hình ảnh của ‘Vũ Hối 50 Năm Văn Học &Nghệ Thuật.’

    Tuyết Mai

    Virginia – Một nhóm thân hữu vùng Hoa Thịnh Đốn đã tưng bừng tổ chức Chương trình Thơ Nhạc kỷ niệm “Vũ Hối 50 năm Văn Học &Nghệ Thuật” vào lúc 1 giờ trưa ngày 2 Tháng 8, 2009 tại Nhà Hàng Harvest Moon, Falls Church, VA.
    Mặc dầu Virginia là quê huơng thứ hai của Thư Thi Họa sĩ Vũ Hối kể từ khi ông đến định cư tại Hoa Kỳ, nhưng nhiều thành phố lớn như New York, NY; Houston, Texas; San Jose, CA và Dallas, Texas đã trang trọng tổ chức “Ngày Vũ Hối” để vinh danh ông, được đông đảo đồng hương  thương mến đến  tham dự. Bây giờ mới đến lượt Virginia.  Thường những sinh hoạt văn học tổ chức vào trưa Hè cuối tuần rất vắng vẻ vì có nhiều ngừơi đi nghĩ Hè, đi  biển hay đi picnic, nhưng thật là một ngạc nhiên thích thú, Chương trình Thơ Nhạc kỷ niệm 50 năm Văn Học – Nghệ Thuật của Ông Vũ Hối đã thu hút khoảng bốn trăm thân hữu xa gần đến chung vui, chúc mừng ông. Đặc biệt trong số thân hữu có Khoa Học Gia Dương Nguyệt Ánh và  hầu hết các văn nhân thi hữu nỗi tiếng trong vùng HTĐ và nhiều nơi ở Hoa Kỳ.
    Mở đầu Anh Phan Anh Dũng có lời chào mừng quan khách và nói qua ý nghĩa buổi họp mặt là để vinh danh  Thư Thi Họa sĩ Vũ Hối đã đóng góp rất nhiều cho nền Văn Học- Nghệ Thuật VN. Bà Lê Tống Mộng Hoa người cùng quê Quảng Nam với Ông Vũ Hối, đại diện cho BTC có lời tri ân quan khách đến tham dự.  Bà  nhắc lại lời Nhà báo Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh đã ca ngợi  Thư Thi Họa sĩ Vũ Hối là “ một sự phối hợp hiếm có, một thiên tài”,  vì ông có khả năng sáng tạo văn, thơ, thư họa và tranh vẽ. 
    Bà Mộng Hoa cũng ca ngợi Thư  Thi Họa sĩ Vũ Hối ở đức tính khiêm cung. Ngoài biệt tài vẽ đẹp, làm thơ truyền cảm, viết thư họa thần tình đã đưa ông lên đến tuyệt đỉnh thành công, ông còn có một cá tính rất cao quý, đó là khiêm tốn. Ông nhún nhường đến độ có vẽ như  là một bà mẹ quê mùa xứ Quảng. Bên cạnh đức tính đó Thư Thi Họa sĩ Vũ Hối lúc nào cũng ôn tồn, điềm đạm, vui vẽ, hòa đồng với mọi người. Đức tính thứ ba mà Bà Mộng Hoa muốn trang trọng giới thiệu  là chí khí kiên cường của kẻ sĩ. Thư Thi Họa sĩ Vũ Hối luôn theo đuổi lý tưởng tranh đấu cho Nhân Quyền và Tự Do,  Ông đã bị CS tra tấn đến mù một con mắt và bị cùm nên liệt một chân vì ông không chịu khai tên những người “cùng chí hướng”.
    Kế đến Nhà Văn Hải Bằng Hoàng Dân Bình,  đến từ Arizona giới thiệu sơ qua về thân thế và sự nghiệp Văn  Học- Nghệ Thuật của Thư Thi Họa sĩ Vũ Hối. Ông Vũ Hối sinh năm 1932 tại Tam Kỳ, Quảng Nam. Xuất thân là Giáo sư Hội Họa (Trường Thủ Đô, Hậu Giang). Ông là một thi sĩ, có bút hiệu là Hồng Khôi,  là hội viên Hội Văn Bút VN và Hội Nhà Văn VN. Ông cũng là một họa sĩ và là nhà thư họa nổi tiếng trên thế giới.
    Sau năm 1975 Ông Vũ Hối bị CS bắt và bị giam tại nhà tù Phan Đăng Lưu và Nhà tù Chí Hòa. Ông bị tra tấn đến hư một con mắt và bị liệt một chân. Năm 1989 nhờ Cựu Thượng Nghị Sĩ Bob Dole và Đại Tá Fred Hunt  can thiệp với Chính Quyền CS,  Ông Vũ Hối được ra khỏi tù và sang Hoa Kỳ năm 1992.
    Nói về sự nghiệp Văn Học của Thư Thi Họa sĩ Vũ Hối, với tác phẩm “Mộng Hòa Bình.” Ông đoạt Giải Khôi Nguyên Hội Họa Quốc Tế, đựơc tổ chức tại HK năm 1963 , trong đó có 32 quốc gia tham dự. Họa sĩ Vũ Hồi cũng dùng nét vẽ tài hoa họa chân dung Tổng Thống Kennedy và Đại Tướng Creighton W. Abrams. Ông  triển lãm tranh vẽ tại Hoa Kỳ, Pháp, Ý, Anh, Đại Hàn, Phi và Đức.
    Năm 1963 Trung Tâm Vô Tuyến Truyền Hình Columbia mời ông diễn thuyết về Hội Họa và Thi Ca. Tên Ông được ghi trong Văn Học Tự Điển VNCH, trong Vẻ Vang Dân Tộc II,  trong Tự Điển Danh Nhân Thế Giới ấn hành tại Anh Quốc năm 1997, trong cuốn 5000 Personalities of the World của American Biographical Institute 2000, trong Tuyển Tập L’Ar d’Ecriture, Paris, 1993, và Tuyển Tập Thư Đạo của Nhật Bản  năm 2006.
    Thư Thi Họa sĩ Vũ Hối được vinh danh về “Tính sáng tạo trong Nghệ Thuật” tại Atlanta, 5/11/1994. Ông cũng được Quốc Hội HK vinh danh là Chiến sĩ Văn Hóa và Chiến Sĩ Nhân Quyền, Nghị Quyết 322, năm 2007.
    Những tác phẩm của ông đã được xuất bản:
    Mùa Giao Cảm (Thơ , 1958), Vần Thơ Màu Trắng (Thơ, 1959), Những Dấu Chân Đi (Truyện ngắn, 1960, 1963), Chiêm Bao Trở Giấc (Thơ, 1997), Nghìn Thương Đất Mẹ (Thơ và thư họa, 1999), Thơ Nhạc Trong Tranh (CD, 2000), Mây Ngàn (Thơ, Thư Họa, Norway, 2003), Nghệ Thuật Thư Họa (2007). Thư Họa Chuyện Kiều, Nguyễn Du ( 2003). Sẽ xuất bản “Tác Giả và Tác Phẩm”.
    Nhà văn Hải Bằng Hoàng Dân Bình giới thiệu,  Ông Vũ Hối đã dùng ngòi bút để phục vụ cho đại chúng thay vì tự giam mình trong cái “tháp ngà” của cái tôi. Ông rất tâm đắc với hai câu “Văn dĩ tải Đạo”, và "Nghệ Thuật vị nhân sinh”. Đây chính là quan điểm cao quý của những nhà tư tưởng cổ, kim, đông , tây từng đề cập đến.
    Với những ý niệm thăng hoa và bằng những nét vẽ không mang t&ia
    cute;nh quy ước, mô phỏng, hay bắt chước, tranh của ông đã  biểu lộ tinh thần sáng tạo, đột phá và mới lạ. Họa sĩ Vũ Hối vẽ bức tranh “Mộng Hòa Bình” với ba chim  bồ câu trắng và một thiếu nữ Việt mặc áo dài trắng. Với bức tranh đó Họa sĩ Vũ Hối đã chiếm Giải Khôi Nguyên Hội Họa Quốc Tế Hoa Kỳ, 1963. Bức tranh đó được chiếm giải không những chỉ vì nét họa tài tình mà đặc biệt còn nói lên nội dung ước vọng tha thiết nhất của thời đại – uớc vọng của mọi người cho một nền hòa bình chân chính, không phải chỉ ngưng tiếng súng mà còn phải chấm dứt cả hận thù, đàn áp và khủng bố.
    Ngoài hội họa và thư họa, Thi sĩ Vũ Hối còn là một nhà thơ yêu nước và có tâm đạo, ông thường đề cao chữ “Tâm”. Nhà văn Hoàng dân Bình kết luận,  thơ và tranh của Thư Thi Họa Vũ Hối mang những màu sắc triết lý sâu xa và phản ảnh đậm đà những nét tình tự ngàn năm của dân tộcViệt .
    Tiếp theo chương trình là phần tặng hoa. Hoa Hậu Christina Mai Nguyễn đã trao tặng Nhà Thư Thi Họa Vũ Hối một bó hoa tuyệt đẹp, tượng trưng cho tình cảm quý  mến của đồng hương vùng HTĐ và tri ân những đóng góp quý giá của ông cho nền Văn học Nghệ thuật VN. Kế đến Ông Hà Bỉnh Trung, đại diện cho Hội Văn Học Nghệ Thuật vùng HTĐ, Ông Lê Hữu Em, Hội Trưởng Hội Quảng Đà, mỗi người nhân danh hội trao tặng Ông Vũ Hối một đóa hoa.
    Bằng một giọng đầy xúc động Thư Thi Họa sĩ Vũ Hối đã cảm ơn quan khách. Ông nói, cảm động nhất là hôm nay ông được gặp lại nhiều chiến hữu xa gần, trước đây cùng chiến tuyến chống Cộng, đã đồng lao cộng khổ với ông trong các trại tù ác nghiệt của CS. Ông cám ơn các diễn giả  với những lời phát biểu thật ân cần. Niềm vui tha hương ngộ cố tri là bức tranh đẹp, ông sẽ giữ mãi trong tâm khảm. Trong suốt  chiều dài làm nghệ thuật ông không thể tả hết những thiện cảm đồng hương đã dành  cho  ông. Ông tin rằng ngày tàn của CS sẽ không  xa, chúng ta sẽ ngồi lại với nhau trong không khí ấm cúng, nồng nàn như thế này giữa lòng quê hương sạch  bóng Cộng thù, giữa Hà Nội, Huế, Saigon và trong sự toàn vẹn lãnh thổ  với Thác Bảng Dồc, với Hoàng Sa, Trường Sa, với Bình Long anh hùng, An Lộc kiêu dũng,  với đất nước thanh bình, nhân quyền, dân chủ… ngày mai tất thắng.
    Trong dịp này Khoa Học Gia được mời lên phát biểu một vài cảm nghĩ. Khoa Học Gia Dương Nguyệt Ánh  nói về cảm nghĩ khi xem bức tranh “Xóm Nghèo” treo trên tường ở nhà Họa sĩ Vũ Hối. Nét vẽ trên bức tranh giúp cô nghĩ ra, thấy được những nét đẹp của cuộc sống, và đó là nhờ tài năng lỗi lạc của Thư Thi Họa sĩ Vũ Hối. Cô nói, cô đến đây trứơc là để xin đựơc kính chúc Thư Thi Họa sĩ đã thành công rực rỡ trong bước đường phụng sự nghệ thuật và sẽ tiếp tục thành công, và Cô cũng đến để tri ân những thành công rực rỡ của Ông. Cô nói Thư Thi Họa giaVũ Hối chính là niềm hãnh diện của ngưòi Việt qua những giải thưởng quốc tế mà Ông đã đạt được. Với tư cách là một ngưòi Việt Nam Cô bày tỏ sự hân hạnh,sự hãnh diện truớc  những thành công rực rỡ của Ông Vũ Hối và thật là một vinh dự cho Cô đựơc quen biết Ông.
    Chương trình được tiếp nối với phần văn nghệ rất phong phú,  mở đầu là họp ca “Saigon Gần, Xa, (Nhạc sĩ Trần Thiện Thanh  phổ nhạc, thơ của Vũ Hối), Lá Cờ Thiêng của Hoàng Tường do chính tác giả trình bày, rất sinh động, truyền cảm. Về Đây Nghe Em qua giọng ca Thái Hà, Chênh vênh Cầu Khỉ với Mỹ Lan, Cha Mãi mãi Trong Con do Tâm Hảo trình bày. Thúy Vân ngâm thơ, thơ của Nhà Thơ Phan Khâm tặng Vũ Hối.  Đặc biệt là Bé Trần Thiện Anh Chí đã khuấy động không khí với liên khúc nhạc lính do Trần Thiện Thanh sáng tác “Chiều Trên Phá Tam Giang, Hoa Biển và Tuyết Trắng”. Với kỹ thuật trình diễn sôi động,  nhảy nhót theo điệu  nhạc kích động thật dễ thương, đẹp mắt, Trần thiện Anh Chí, bảy tuổi,  đã lôi cuốn cả hội trường lắng nghe, thưởng thức một cách say mê, thích thú. Nhiều khán giả lên sân khấu  lì xì tiền cho cậu bé.
    Chương trình chấm dứt vào lúc 4 giờ chiều, mọi ngừoi ra về mang theo trong tâm một cảm nghĩ thật vui đẹp về Nhà  Thư Thi Họa sĩ Vũ Hối. Ông là  một trong những nghệ sĩ tài hoa hiếm có trong Thế kỷ 20. Vói ngòi bút thần tình về thư họa, Ông đã làm rạng danh dân tộc Việt khắp năm Châu.
    (Nhiều hình ảnh khác:
    www.youtube.com/tuyetmai45)

  • Tạp ghi

    khóa Cương Quyết : 55 NĂM HỘI NGỘ

                                                                         55 NĂM HỘI NGỘ

        Giao Chỉ, San Jose

    Chiến hữu tha hương

    California quả thực là nơi quần hùng hội tụ. Bắt đầu từ thế kỷ 21, người Việt trên toàn thế giới đã tìm về với nhau ngày một nhiều hơn. Có thể về DC, Houston, Seatle, hay Dallas. Tuy nhiên phần lớn kéo nhau về Cali.

    Nếu quận Cam và Litle Saigon là điểm hẹn thì San Jose, San Francisco cũng chẳng hề bị bỏ quên. Từ 2005, sau 30 năm di cư tỵ nạn, đa số đợt cao niên đầu tiên đã bắt đầu về hưu. Mỗi dịp vacation là tìm về với nhau. Và chúng ta đã có nhiều đại hội đồng hương , đồng ngũ và đồng trường. Từ Quảng trị đến Cà mau, tỉnh nào cũng có bảng hiệu Ái hữu. Có lẽ chỉ còn thiếu Hà nội và Saigon. Trường nào cũng có ban chấp hành và đặc san. Tình nghĩa binh chủng lại còn thắm thiết hơn cả. Quân trang, cấp bậc được hồi phục trong những ngày lễ hội. Và tuần qua San Jose chào đón đại hội nhẩy dù toàn thế giới lần thứ 29. Kỳ tới đến lượt thủy quân lục chiến. Rồi đây khóa 1 Thủ đức Nam định sẽ kỷ niệm 60 năm ngày ra trường. Khóa chúng tôi, năm 2004 tổ chức 50 năm hội ngộ. Bây giờ, đầu tháng 10 năm 2009 sẽ gặp nhau sau 55 năm kể từ ngày ra trường năm 1954.

     

    Vài hàng về khóa Cương Quyết :

    Năm 1954, phe quốc gia dưới ảnh hưởng của Liên hiệp Pháp vẫn còn cả 2 miền

    Nam Bắc từ Hà Nội vào Sài Gòn. Nhu cầu thành lập quân đội quốc gia, chính phủ động viên thanh niên vào các khóa trừ bị.

    Ðầu năm 54 khóa 4 Thủ Ðức vào trường, khi tốt nghiệp được đặt tên là khóa Cương

    Quyết. Ba tháng sau vào tháng 3-1954 trường sĩ quan trừ bị Thủ Ðức nhận 6 đại đội sinh viên gọi là khóa tư (4) phụ, tháng 6 ra trường đặt tên là khóa Cương Quyết II ,

    Cùng 1 thời gian, hơn 300 thanh niên Hà Nội do Ðệ Tam quân khu gửi vào Nam cùng 1 lượt với khóa tư phụ, Cương quyết II, tuy là sĩ quan trừ bị nhưng thụ huấn tại Ðà Lạt.

    Hai đại đội Bắc kỳ chúng tôi cũng có 1 vài anh bạn miền Nam và miền Trung lạc bầy. Tuy thụ huấn Ðà Lạt nhưng bao năm qua khi các sĩ quan trẻ trung của trường võ bị vẫn hỏi niên trưởng học khóa nào. Anh em ta đâm ú ớ. Niên trưởng ra trường 54 sao không phải khóa 10. Học Ðà lạt sao chỉ có 6 tháng. Thường ra sĩ quan Ðà lạt là phải học tối thiểu 1 năm.

    Trên thực tế thì nhiều người không biết. Những khóa Ðà lạt từ năm 1950 đến 1955 thường chỉ học từ 6 đến 8 tháng. Dù là SVSQ trừ bị hay hiện dịch cũng học cùng một chương trình, cùng lớp, cùng thầy

    Ðó là câu chuyện lẩm cẩm của khóa Cương Quyết tại Ðà lạt. Tuy mang thân phận học nhờ nhưng vẫn chỉ có một lần Cương Quyết. Trong khi đó bên Thủ Ðức lại có đến 2 khóa Cương quyết nên phải phân biệt thành Cương quyết II và thuộc về khóa Tư phụ. Như thế tên tuổi của anh em Cương Quyết chúng tôi xem ra quả thực là phiền phức.

    Sau 55 năm xa mặt cách lòng, lần này khóa Tư phụ, Cương Quyết II, Thủ đức Ðà Lạt sẽ họp mặt với nhau lần đầu và sẽ gặp nhau 2 lần. Ðầu tháng 10-2009 Ðà Lạt mời Thủ Ðức tại San Jose. Giữa tháng 10-2009 Thủ Ðức mời Ðà lạt tại Quận Cam.

    Nhân dịp anh em về San Jose chúng tôi sẽ có dịp hỏi thăm riêng các chiến hữu về câu chuyện mùa hè 72 tại Quảng Trị.

    Xin hảy tưởng tượng anh em đã từng có mặt tại Quảng Trị 37 năm xưa, nay ngồi lại bên nhau. Tấm bản đồ hành quân của Vùng I chiến thuật, nguyên bản tỷ lệ 1/250.000 được trải lên bàn. Những mái đầu bạc cúi xuống. Ðây là quốc lộ số 1 ở đoạn đại lộ kinh hoàng. Ðây là tuyến sông Mỹ chánh. Anh Phạm văn Chung, sinh viên sỹ quan trung đội 24 nói rằng Lữ đoàn của tôi giữ tuyến này. Anh Trần quốc Lịch, trung đội 21 ngày xưa, nay chỉ huy lữ đoàn Dù đi cánh trái. Anh Ngô văn Ðịnh, trung đội 22, chỉ huy lữ đoàn thủy quân lục chiến đi cánh phải.

    Cùng tiến về Quảng trị. Anh Lê khắc Lý, tham mưu trưởng bộ chỉ huy tiền phương của Quân đoàn I lúc đó đang ở đâu. Nhẩy dù Ngô Lê Tĩnh, thủy quân lục chiến Pham ngoc Thụy ngược suôi chỗ nào trong mùa hè 72. Toàn là sinh viên Cương Quyết cả. Người khách của anh em, sinh viên sĩ quan khóa 5 Thủ đức, đại tá Hà mai Việt, chỉ huy thiết giáp đi với cánh quân nào.

    Khóa chúng tôi sẽ ngồi lại truy điệu anh em vào đêm thứ sáu 2 tháng 10-2009. Sẽ họp mặt và thăm Viện Bảo tàng Việt Nam vào thứ bẩy 3/10/09. Buổi tối sẽ là dạ tiệc hội ngộ hoàng hôn. Cuộc đời của sinh viên sĩ quan Cương quyết với bình minh là tuổi vào đời, đất nước thanh bình với tiếng ca reo vui miền Nam. Rồi đến 1 thời chinh chiến điêu linh, tù đầy và lưu vong quá dài. Ngày nay ai còn. ai mất, ai là người cùng ngồi lại họp mặt lúc hoàng hôn. Hơn 40 năm xưa họp khóa lần đầu tại Saigon, tưng bừng hoa lá, nói chuyện lấp bể vá trời, Bây giờ, tuổi trung bình là 75, quá 10 năm trên tuổi về hưu, gặp nhau lúc hoàng hôn của cuộc đời, chẳng còn đợi chờ chuyện lạ bất ngờ, không mong có văn nghệ xuất sắc, cũng không quan tâm đến thực đơn phong phú. Những người anh hùng ngày nay đã mỏi mệt, tuổi hoa niên đã chìm sâu kỷ niệm, nét phong sương cũng đã phai màu, chỉ còn tuổi cao niên tìm về với nhau trong tình thân hữu thương yêu.

    Nhân dịp này, xin gửi đến các bạn 1 bài thơ họp khóa đã viết năm 2004 kỷ niệm 50 năm họp khóa ngậm ngùi. Kỳ này họp khóa hoàng hôn 55 năm cũng định sáng tác một bài. Nhưng xem ra văn chương cũng đã cạn nguồn. Suốt đời chỉ viết được 1 bài thơ. Bèn sửa đôi ba chữ, gọi là làm mới lại bài thơ cũ. Quí vị đã quen đọc văn Giao Chỉ. Xin một lần đọc thơ của chúng tôi. Có thể thành danh thi sĩ một bài. Bài thơ như sau:

     

     

    BÀI CA HỌP KHÓA

    Viết cho Khóa Cương Quyết Ðà Lạt 54

    55 Năm Họp Khóa Hoàng hôn (1954 – 2009)

    Tháng 10-2009

    Thưa chư liệt vị, Khóa chúng tôi đây.

    Dở giăng, dở đèn. Môn chẳng ra môn, khoai chẳng ra khoai.

    Cầm giấy khai sinh Thủ Ðức, nhưng chẳng phải đấng sinh thành.

    Công ơn dưỡng dục mẹ nuôi, đàn con nhớ về Ðà Lạt.

    Năm hai mươi tuổi, chúng tôi đi quân đội.

    Ngày vào trường, năm năm mươi bốn. Tổ quốc còn đủ hai đầu Sài Gòn-Hà Nội.

    Khi mãn khóa, ngày một tháng mười. Genève cưa đôi đất nước, chia thành hai mảnh Bắc Nam.

    Ðang thụ huấn, Ðiện Biên Phủ, Tây kéo cờ hàng.

    Trong quân trường, điểm trung bình, đôn lên hai nấc.

    Lúc quỳ xuống, vẫn còn sinh viên sĩ quan. Khi đứng lên, có anh mang lon trung sĩ.

    Nhưng rồi sau cùng, dù lính hay quan, cũng chia nhau về ba vùng chiến thuật. (1)

    Anh đội mũ đỏ nhảy dù, tôi về mũ xanh lính thủy. Ði tới đi lui, quanh quẩn Cà Mau-Bến Hải.

    Năm mươi phần trăm lấy vợ Nam kỳ… bỏ lại nửa mối tính đầu Hà Nội.

    Hai mươi mốt năm chinh chiến ngược suôi.

    Bạn đi tàu suốt, tôi ốm yếu xanh xao…nhận sổ quân y ba mươi ngày tái khám.

    Người lên lon lá huy hoàng, ngực đỏ huy chương cứu quốc.

    Riêng anh thuyên chuyển khắp bốn phương trời, dậm chân tại chỗ.

    Nhiều cậu lả lướt dăm bảy mảnh tình. Có anh hiền lành, giữ mãi tơ duyên một mối.

    Vào cuộc chiến, tôi đánh Bình Xuyên… xuống miền Tây, ông vây Hòa Hảo.

    Dứt trận Mậu Thân, bị đánh phủ đầu, quân ta đã huy hoàng đứng dậy.

    Mùa Hè đỏ lửa, bị địch quân đập trúng ngang lưng, lính ta vẫn còn gân mạnh mẽ phi thường.

    Từ Bình Long anh dũng, Nguyễn Kiếm Diệm gan lỳ ngồi trên nóc hầm, đội pháo, ăn cơm. (2) Cho đến khi vào Hạ Lào gian khổ,

    Ngô Lê Tĩnh đái một bãi trên đất Tchepone theo đúng lệnh quân hành ông Thiệu. (3)

    Nhưng chiến tranh đâu phải chuyện đùa. Nhất tướng công thành vạn cốt khô.

    Giữa chốn sa trường Xuân Phan đền xong nợ nước (4)

    Trong hầm hành quân Văn Hiền tự sát hiển linh (5)

    Rồi đến khi hạ thành Quảng Trị.

    Nhảy dù Quốc Lịch thay quân cho mũ xanh Ngô Ðịnh lên phiên. Hào khí ngất trời.

    Cho đến ngày trời sầu đất thảm tháng Tư Ðen.

    Ðỗ Ðình Vượng dẫn trung đoàn về đồn trại thân yêu. (6)

     Ngước nhìn trời Lai Khê thấy cay cay khóe mắt. Người ngậm tăm, súng đeo vai buồn bã.

    Ngồi ăn trưa với ông tư lệnh, cơm nuốt không vô.

    Miếng vải trắng ai đã treo trên nóc ngọn cờ, Lê Nguyên Vỹ đi một đường tự sát.

    Ðỗ Vượng bèn cho quân lính hồi hương. Ðể sĩ quan Cương Quyết xếp hàng, vào tù cải tạo.

    Riêng Ðình Duy tự kết liễu cuộc đời ở Thủ Ðô (7) cùng với thành Sài Gòn xụp đổ.

    *      *      *

    Khóa chúng tôi đây, khóa di cư chạy loạn, từ Bắc vào Nam…

    với nhân dân đã kiến tạo hai nền Cộng Hòa… và hai mươi mốt năm xây nhà, dựng nước.

    Paris ký hiệp ước hòa bình,

    Nguyễn Thế Nhã đón tù binh Nghiêm Kế trở về bến sông Thạch Hãn (8).

    Tưởng rằng phen này trong ấm ngoài êm.

    Chẳng hiểu vì sao, chỉ một tháng trời oan nghiệt, quân cán chánh chạy dài từ dọc đến ngang… để anh em cũng phải chia phần, làm tan đàn xẩy gánh

    Ðám nhanh chân chạy thoát khá nhiều, người ở lại chịu đọa đày cũng lắm.

    Bước chân đi mặt còn ngoảnh lại, phía chân trời xiềng xích trông theo.

    Sau 15 năm lao cải, Hoa Kỳ thỏa hiệp lãnh tù.

    Khi HO qua Mỹ, khóa tổn thất quá phần ba. Gặp lại anh em, vừa yếu lại vừa già.

    Hai mươi mốt năm chinh chiến đã trôi qua, Thêm hai mươi chín năm cải tạo cộng với lưu đày. Là vừa đủ, năm chục năm tròn gian khổ.

    Vì vậy nên mới có hôm nay, tháng mười năm lẻ chín.

    Chúng tôi về đây dành lại một ngày cho năm mươi lăm năm họp khóa ngậm ngùi.

    Ðể đếm đầu người, xem anh em ai còn, ai mất.

    Ba trăm chàng trai đất Bắc, giờ đây chỉ còn lại vài chục vị cao niên.

    Già thật là già. Lão ơi là lão. Nước mắt đã khô rồi. Gặp nhau chỉ cười thôi.

     Chẳng phải lần đầu, nhưng biết đâu đây sẽ là lần cuối.

    Sợ thì ông đếch sợ, nhưng buồn thật là buồn.

    *      *      *

    Thưa cùng chư liệt vị.

    Bầy ong thợ về già sẽ bay đi bốn phương trời… trong cuộc hành trình vĩnh biệt.

    Nhưng con cá hồi suốt đời vùng vẫy biển khơi… nó vẫn phải trở về họp bạn ở nơi nguồn gốc. Khóa chúng tôi không phải lũ ong chơi xong rồi bỏ cuộc.

    Chúng tôi là những con cá hồi lương thiện năm mươi năm sau trở về tìm lại anh em…

    Ðó là ngày hôm nay (01-03-04) ta họp khóa thật ngậm ngùi

    Ðó là ngày hôm nay (01-10-09) ta họp khóa lúc hoàng hôn.

                                                                                                                                     Giao Chỉ – San Jose

    Ghi chú: (1) 1954 Việt Nam tổ chức theo 3 Quân Khu (2) Trung tá Nguyễn Kiếm Diệm,trận Bình Long đã qua đời tại Nam Cali. (3) Hành quân Lam Sơn 119, ông Thiệu lúc tửu hậu trà dư nói với Tướng Phú: “Toa vào Tchepone đái một bãi rồi rút ra.” (4) Trung tá Dù, hy sinh Hạ Lào. (5) Xuân Hiền tự tử tại Hạ Lào .( 6)Tại Sư đoàn 5 bộ binh (7)Trung tá quân báo tự tử tại Sài gòn 1975 (8)Ðại tá Nguyễn Thế Nhã đã hy sinh tại Thừa Thiên.

     

  • Tạp ghi

    Giao Chỉ : QUẢNG TRỊ, hồi sinh vạn dậm.

    QUẢNG TRỊ, hồi sinh vạn dậm.

    Giao Chỉ, San Jose.

     

    Tại sao có DVD “Chân dung người lính VNCH ?

    Hầu hết các viện bảo tàng trên thế giới đều nhỏ bé so với những tài liệu thu nhận được. Viện bảo tàng Thuyền nhân và Việt Nam Cộng Hòa tại San Jose, dù khiêm nhượng và mới ra đời nhưng cũng gặp cùng vấn nạn. Chúng ta có quá nhiều tin tức, hình ảnh và tài liệu muốn lưu lại ngàn đời sau nhưng không gian giới hạn và thời gian của người xem từ thế hệ này qua thế hệ khác cũng rất giới hạn.

    Hàng ngàn tấm hình, hàng ngàn tin tức, hàng ngàn câu chuyện và hàng ngàn nhân chứng, biết để vào đâu cho hết. Lấy chỗ nào mà bày ra cho đủ. Ai mà có thời giờ coi cho hết. Phim ảnh là câu trả lời và thực tế nhất là những tài liệu bằng DVD.

    Vì vậy lần lượt sẽ có các bộ DVD phải thực hiện. Một tấm hình bằng ngàn lời nói. Trăm tấm hình thu lại vào một thước phim.

    Câu chuyện về hơn một triệu chiến binh Việt Nam Cộng Hòa. Cuộc chiến Nam Bắc, qua 20 năm miền Nam vừa xây dựng vừa tự vệ. Biết bao nhiêu trận đánh. Những tác phẩm văn chương đã 1 thời nói lên ý nghĩa của cuộc tương tàn thế kỷ thứ 20. “Chinh chiến điêu linh,” “ Chiến trường tồi tệ,” “ Mùa hè đỏ lửa” của những ngày trước 1975. Và sau này, tại hải ngoại, hàng trăm tác phẩm viết về chiến tranh, tù đầy, vượt biên, trăm đắng ngàn cay . . Tất cả mọi hình ảnh thu vào DVD bốn đĩa 8 giờ, giá ủng hộ $20 mỹ kim phát hành năm 2009 đã là đáp số cho bài toán. Hết sức dè dặt, cơ quan IRCC và Dân Sinh Media cho in mỗi lần là 1.000 bộ. Chưa biết sẽ được thiên hạ đáp ứng ra sao? Tâm huyết và công phu thực hiện không kể, chỉ riêng chi phí sản xuất, đóng gói và bưu tín gửi đi cũng coi như vừa đủ vốn. Ðặc biệt DVD gởi ra ngoài nước Mỹ là cả 1 vấn đề. Ngân hàng Mỹ không nhận chi phiếu cá nhân từ ngoại quốc. Yêu cầu quí vị thân hữu cao niên đi mua chi phiếu ngân hàng lại la ợmột vấn đề khác. Chi phiếu hay money order ngoại quốc nhận được tại Mỹ đôi khi lệ phí lấy hết cả chút ngân khoản ân tình nhận được. Với tất cả những khó khăn lẩm cẩm như vậy, chúng tôi đã in thêm đến 6 lần và gửi ra 6.000 ấn bản. Hy vọng rằng đã có trên hàng chục ngàn khán giả bốn phương xem qua những thước phim lịch sử của người lính Việt Nam Cộng Hòa.

     

    Câu chuyện bên lề:

    Trong khi sưu tầm những thành quả cay đắng của bộ phim cũng cần ghi thêm là nhiều nơi đã in lậu và bán công khai, đặc biệt là các nước ngoài Hoa Kỳ. Ðồng thời toàn bộ ấn bản được các nhà chuyên viên tài tử tự động đưa lên thế giới điện toán (internet) để khán giả tự do thưởng ngoạn, tùy nghi in lại và phổ biến miễn phí hết sức rộng rãi.

    Ngoài ra, cũng có câu chuyện xin nhắc lại. Một cơ sở bán lẻ DVD đã liên lạc với chúng tôi yêu cầu nhận mua số nhiều để phát hành độc quyền trong vùng.

    Trong khi thương lượng chị nói rằng:

    “ DVD này không có được danh tiếng như Thúy Nga, Asia và Vân Sơn.

    Chúng tôi đã có dịp thưa lại:

    “Chị không nên so sánh như vậy. DVD của các hãng danh tiếng đã bán niềm vui, còn DVD của chúng tôi chỉ phổ biến nỗi buồn. Nếu đem cân lên, niềm vui của tất cả các DVD tại hải ngoại cộng lại cũng không nặng bằng nỗi buồn của bộ phim Dân Sinh.”

    Cô đại lý lại nói;

    “Như vậy DVD của bác chắc là loại tôn giáo. Cháu xin mua ủng hộ 5 bộ 20 đĩa, một đồng một đĩa, rồi bà con ai cho bao nhiêu thì cho.

    “Không, chị lại nhầm rồi. Ðây không phải DVD truyền giáo”.

    Chúng tôi lại hỏi chị đã có dịp xem bộ Chân Dung Người Lính VNCH chưa?

    Trả lời rằng :”Cháu làm ăn bận lắm, không có thì giờ xem phim tài liệu”.

    “Thế có đọc bài giới thiêu chưa?

    “Cũng chưa, bận quá bác ơi. Có bộ nào mới thì cứ phát quảng cáo trong tiệm. Coi được đoạn nào thì coi, vậy thôi. DVD của bác có gì hay xin cho cháu biết, để giới thiệu cho bà con. Có văn nghệ không? Có danh ca không?

    Xin trả lời

    ” DVD lịch sử không có gì hay nếu đem so sánh với văn nghệ thường tình. Kỹ thuật còn khiếm khuyết về hình ảnh, âm thanh, ánh sáng, vì tài liệu đã lâu ngày mới tìm lại. Có văn nghệ nhưng không có một bài ca trọn vẹn. Có danh ca nhưng danh ca lại không cất tiếng hát. Có MC nhưng không tên tuổi. Có bình luận nhưng không đủ một câu trọn vẹn. Với tất cả những thiếu xót như vậy, lần lượt các bộ DVD lịch sử của Dân Sinh đến với khán giả và sẽ ở lại mãi mãi trong lòng người.

    Xin gửi biếu chị đại lý một bộ để xem qua. Không thực sự xem DVD của chúng tôi thì không thể có sự rung động để làm đại lý phát hành.

    Còn quý vị độc giả và thính giả của chúng tôi, quý vị đã xem bộ “Chân dung người lính VNCH” rồi, đã cùng chúng tôi chia sẻ nỗi buồn thế kỷ, quý vị có sẵn sàng giới thiệu và phổ biến niềm đau của dân tộc, của lịch sử cho bạn bè thân quyến trên thế giới không?

    “ Chân dung người lính VNCH “ vẫn còn đây, sẵn sàng chờ đợi có thêm khán giả đón coi. Các bạn hãy xử dụng bộ DVD này như 1 món quà xuân vĩ đại của năm mới 2010 ghi dấu 35 năm con đường đã đi qua.

    Phan Nhật Nam, đại úy nhẩy dù, phóng viên chiến trường của quân đội, tác giả Mùa hè đỏ lửa đã mệnh danh Người lính Việt Nam Cộng Hòa là 1 sự nhiệm mầu. Tôi nghĩ rằng đó là chữ nghĩa đầy sáng tạo. Lính miền Nam là con người có tư duy, có lựa chọn, nhỏ bé nhưng đeo trên lưng 1 khối quân dụng nặng nề và mang trong lòng cả trách nhiệm còn nặng hơn cả hành trang chinh chiến.

     

    Quảng Trị, vạn dậm hồi sinh

    Sau “ Chân dung người lính VNCH “ phát hành 2009, bây giờ DVD Quảng Trị gửi đến thân hữu cuối năm 2009 nhưng xin được gọi là sản phẩm của năm 2010.

    Với 4 đĩa dài 8 giờ chia ra làm 4 đề tài nhưng có mối liên quan mật thiết. Xin giới thiệu để quý vị nghe qua tiểu tựa của mỗi đề tài. Tất cả đều thuộc về bộ DVD Quảng Trị mùa hè 72. Ðĩa mở đầu là niềm đau từ trận lui binh bi thảm để lại cả một đại lộ kinh hoàng.

    Ðĩa này bắt đầu bằng lời giới thiệu của 1 thành viên quốc gia nghĩa tử mà cha và anh cô đã hy sinh cho Việt Nam Cộng Hòa. Ông là đại tá tỉnh trưởng Hậu Nghĩa tử trận mùa hè 72 và bào huynh của cô tự vẫn chết ngày 30 tháng 4-1975. Hình ảnh khởi đi bằng các tâm tư của tuổi trẻ miền Nam cho đến khi khói lửa chiến tranh từ Kontum, An lộc ra đến Quảng Trị. Những người dân ở vùng địa đầu đã nói gì về miền Hỏa Tuyến. Rồi Bắc quân tổng tấn công và 300 ngàn dân Quảng trị phải di tản. Những nhân chứng sống trải qua bao nhiêu đoạn trường đã kể lại câu chuyện con đường toàn xác chết trên quốc lộ.

    Ðĩa số 1 là niềm đau thương chất ngất, dù rằng có cả những hành động anh hùng và hình ảnh chiến đấu dũng cảm, nhưng miền Nam cũng phải nhận lấy vết thương cay đắng khi mất toàn tỉnh Quảng Trị trong 1 tháng lui binh.

    Nhưng đĩa số 1 cũng đồng thời là bản cáo trạng lên án Bắc quân giết 3.000 dân trên quốc lộ số 1 vào ngày 1/5/1972.

     

                  

     

    Hình ảnh đàn bà trẻ em trên đại lộ kinh hoàng với bài ca về những xác người và tiếng khóc sau cùng sẽ còn ở lại trong lòng người xem mãi mãi khôn nguôi.

    Ðĩa số 2 qua tựa đề Trận thư hùng Nam Bắc mở ra với Saigon đẹp lắm trong ánh sáng miền Nam, có cả hình ảnh chiêu hồi, ánh đuốc xây dựng nông thôn, nối tiếp bài ca Hội nghị Diên Hồng đưa đến giai đoạn miền Nam tổng phản công.

    Khi cắm được ngọn cờ trên Cổ thành Quảng Trị, chúng ta trở lại với câu chuyện về những gian truân đời lính và nhận diện anh hùng. Hai lãnh vực hết sức dung tục và tế nhị đã được đề cập đến bằng lời lẽ và suy tư của chính từng người lính chiến.

    Sau cùng là ý kiến của chiến binh nhìn lại chiến trường 38 năm sau và lời kết đóng lại với 1 người con gái của quốc gia nói về nghĩa trang quân đội Biên Hòa, nơi đã chôn cất hầu hết chiến binh tổng trừ bị hy sinh tại hỏa tuyến năm 1972.

    Ðến đĩa số 3 quả thực là 1 củ hành lịch sử, càng bóc càng cay, bóc hết là tràn đầy nước mắt. Không thể có tài liệu nào sống động hơn khi đề cập đến vị Tổng thống đệ nhị Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu.

    Những lời thóa mạ trực diện, những câu hỏi tàn nhẫn thay cho lời buộc tội. Và có cả những lời bình luận tốt đẹp. Hình ảnh ngày xưa, hình ảnh ngày nay. Từ đám tang đến lễ giỗ. Từ hội họp bên trong đầy tình chiến hữu, đến biểu tình bên ngoài hết sức căm hận.

    Ðĩa số 4 sẽ đưa lại cho quý vị những hình ảnh êm đềm dịu dàng hơn với những mảnh đời khác biệt. Các chiến binh ngày nay, mỗi gia đình là 1 hoàn cảnh. Từ anh chàng không quân lãng tử cô đơn hát cho quán nhậu Tri Kỷ tại Saigon 25 năm trước, đã được NBC phát hình, ngày nay lại hát nốt những lời ca ngợi tình yêu tại quán Hẹn Hò trên con phố Bolsa.

    Chuyện người trai võ bị trở thành phế nhân gần 40 năm qua còn nằm ở xứ Tây Ninh. Chuyện người vợ ở nuôi chồng ở Nam Cali, đến chuyện 1 nhà đoàn tụ của cựu tù cải tạo Bắc Cali. Và chuyện người lính lực lượng đặc biệt một ngày, nay đã trở thành binh nghiệp một đời. Với hạnh phúc bên đại gia đình hôm nay nhưng vẫn còn nhớ mãi thủa hoa niên, khi mới vào đời, ôm cánh dù đêm nhẩy xuống biệt khu Hải Yến. Ðã tưởng rằng một đi không trở lại…

     

    Những nhân chứng đi vào lịch sử.

    4 đĩa DVD với hàng trăm người góp mặt và lên tiếng. Hình ảnh hết sức độc đáo tưởng rằng không thể nào tìm đâu được. Kèm theo những lời ca tiếng hát tô điểm cho các thước phim tài liệu hiếm quý.

    Những tiếng hát chọn lọc và hết sức giới hạn được chen vào tin tức, bình luận. Tiếng hát của cô con gái ông quận trưởng Cam Lộ hay tiếng hát của cả bà mẹ và người con gái của hai thế hệ Ðông Hà.

    Danh ca Diễm Liên cất lời ca cho tuổi trẻ. Nguyễn đức Quang trình diễn muôn thủa vẫn hào hùng. Nhật Hạ xót xa thương về miền Trung. Khánh Ly xúc động với mối ân tình dành cho người chiến binh mũ xanh Thủy quân lục chiến, một thời trên Phá Tam Giang. Phương Hồng Quế kể lại kỷ niệm hát trong hầm hành quân tiền tuyến. Có cả Thanh Lan, Như Quỳnh, Nguyên Nhu, nhưng đây không phải là DVD thuần túy văn nghệ. Có tiếng đạn bom vang dội nhưng không phải là DVD thuần túy chiến tranh. Có ý kiến bình luận nhưng không phải là DVD thuần túy chính trị.

    Ðây chính là DVD của tâm tình lịch sử.

    Như đã có dịp đề cập đến ở đoạn trên. Ðây là bộ DVD kỷ niệm của chính gia đình quý vị, của quê hương mang theo và cuộc đời bỏ lại.

    Câu chuyện Quảng Trị trong DVD này là câu chuyện của toàn thể miền Nam. Trận hỏa tuyến điển hình tại Quảng Trị đã hy sinh 50 ngàn chiến binh cả 2 bên từ tháng 4 đến tháng 9-1972.

    Hà nội tập trung toàn thể nhân lực nông thôn và thành thị miền Bắc từ 1971 để đưa vào chiến trường mùa hè 72. Có cả những đứa bé 15 và 16 tuổi vác cây súng dài hơn người. Sau 81 ngày chống cự, những chú lính trẻ sống sót đầu hàng đã gọi người sỹ quan cộng hòa gốc Hà nội là ông và xưng là cháu. Ông Hà Nội di cư bèn nghĩ rằng, không biết thằng nào ở ngoài Bắc đã sui cháu vào đây để giết ông.

    Với 4 đĩa DVD trải dài qua 4 đề tài, chúng tôi đã mời được sự tham dự của rất nhiều nhân chứng thuộc đủ mọi thành phần mà kết quả đem lại chính nhà thực hiện bộ phim cũng phải ngạc nhiên. Có hình ảnh tiêu biểu của mọi binh chủng tham gia trận chiến tại quân khu I vào mùa hè 72. Dù, TQLC, pháo binh, thiết giáp, biệt động quân, bộ binh, địa phương quân, xây dựng nông thôn… Hình ảnh 3 vị tư lệnh lữ đoàn nguyên là sinh viên sỹ quan cùng đại đội trong trường Ðà Lạt 1954, mười tám năm sau gặp nhau trên một mặt trận. Người giữ tuyến phòng thủ, người nhận nhiệm vụ tấn công. Vai trò của thiết giáp binh với đại tá mũ đen về làm tỉnh trưởng Quảng Trị trên đống gạch vụn. Những sĩ quan cấp úy can trường của nhẩy dù tiến quân dọc đường số 1 từ Mỹ Chánh lên Thạch Hãn.

    Mỗi thước đất là mỗi hy sinh. Những đại đội trưởng anh hùng của TQLC đã chỉ huy binh sĩ tiến vào cắm cờ trên cổ thành. Những đơn vị trưởng không chịu đầu hàng tại căn cứ Carroll. Tuy nhiên, DVD Quảng Trị không phải thuần túy là một ký sự quân sự. Ðây là thiên bút ký về một vùng đất đặc biệt với khí hậu khắc nghiệt nhưng rất nặng tình tự dân tộc. Chúng ta sẽ khám phá vì sao vùng đất đau khổ như vậy mà đã nẩy sinh quá nhiều tài hoa lỗi lạc. Sau cùng, DVD này sẽ là một tác phẩm dựa vào câu chuyện năm 72 để làm cho kỷ niệm Quảng Trị hồi sinh từ nơi xa xôi vạn dặm.

     

    Lịch sử sẽ phán xét sau cùng. Ngày xưa, khi cuộc đảo chánh tổng thống Ngô Ðình Diệm lần thứ nhất thất bại. Nhà cách mạng Nguyễn Tường Tam bị đưa ra tòa quân sự của Ðệ nhất Cộạng hòa. nhưng ông Nhất Linh đã uống thuốc độc tự tử và để lại câu danh ngôn quen thuộc làm di chúc.

    “ Ðời tôi không ai xét xử được. Ðời tôi để lịch sử phán xét. “

    Lịch sử ở đây có nghĩa là công luận sau khi được gạn lọc và tồn tại với thời gian.

    Trong DVD này, tổng thống Nguyễn văn Thiệu cũng nói 1 câu :

    “ Tất cả sẽ do lịch sử phán xét “

    Cho đến nay , ông qua đời đã 8 năm. Và 35 năm sau năm1975, không biết rằng sự gạn lọc của công luận qua thời gian đã lắng đọng đủ chưa.

    Vì vậy tài liệu trong bộ DVD này là những tin tức cần thiết để công luận phán xét.

    Với bộ DVD trong tay để suy ngẫm, rồi chính quí vị sẽ là công luận phán xét, đồng thời cũng có thể gọi là lịch sử phán xét.

    Xin hãy chiêm nghiệm quá khứ để hướng về tương lai.

    Xin hãy chào đón DVD Quảng Trị bằng một tấm lòng mở rộng trong niềm hy vọng vào thế hệ tương lai.

                                                                                    Giao Chỉ, San Jose.

     

    Xin liên lạc về văn phòng IRCC, Inc.địa chỉ : 1445 Koll Circle, #110 San Jose, CA. 95112.

    Ðiện thoại : ( 408 ) 392 9923   Email:   irccsj@yahoo.com  giaochisanjose@sbcglobal.net

    DVD Chan dung nguoi linh ($20 US) va Quang Tri mua he 72 ($20 US). Payable to IRCC.

     

  • Tạp ghi

    Thanh Thương Hoàng : TỪ CHUYÊN CHÍNH VÔ SẢN…QUÁ ĐỘ SANG CHUYÊN CHÍNH TƯ BẢN ĐỎ!

    Nhân ngày 30 tháng Tư, 35 năm nhìn lại đất nước

     

     TỪ CHUYÊN CHÍNH VÔ SẢN…QUÁ ĐỘ SANG CHUYÊN CHÍNH TƯ BẢN ĐỎ!

     

                                  THANH THƯƠNG HOÀNG

                                                                                                                                                                                                     

         Có lẽ tổ sư cộng sản Các Mác có sống lại cũng phải nổi trận lôi đình, tức ói máu chết  lần nữa vì bè lũ con cháu ông đã trắng trợn phản bội lại chủ trương lý thuyết của ông, đã ngạo ngược làm trái ý ông (?). Ông dạy họ tranh đấu để san bằng bất công xã hội. Tranh đấu để hai giai cấp khốn cùng trong xã hội là công nhân và nông dân có việc làm, có đầy đủ cơm ăn áo mặc và lật đổ bằng được giai cấp thống trị là bọn tư bản địa chủ bóc lột, tiến lên thiên đàng xã hội chủ nghĩa. Thế mà trải qua ngót thế kỷ, CS ngày nay (còn sót lại mấy nước) chẳng những không nghe theo lời dạy của ông tổ, trái lại còn “ôm hôn thắm thiết” bọn tư bản, rước chúng vào hành hạ bóc lột giai cấp công nhân và nông dân tới tận cùng xương tủy! Công nhân không có việc làm, nếu có thì được bố thí đồng lương chết đói nên phải theo bọn buôn người “xuất khẩu lao động”. Xuất khẩu công khai (nhà nước) và xuất khẩu lậu (do bọn lưu manh mánh mung) đã gây bao thảm họa cho những người muốn rời bỏ đất nước để đổi đời, hiện đang sống dở chết dở nơi đất lạ! Còn nông dân sau khi bán vợ đợ con cho người nước ngoài, còn chút đất đai ông bà để lại cũng đem bán nốt cho có cái ăn. Đó là chưa kể cái “họa” nhà nước trưng dụng đất đai (có bồi thường lấy lệ tí chút, coi như cướp không) để “chỉnh trang mở mang đô thị”! Có thể nói từ cổ chí kim chưa có một chế độ nào đối xử với công dân tệ hại tàn nhẫn đến vậy. Chắc ông Các Mác cũng không bao giờ ngờ chủ thuyết của mình phát sinh một giai cấp mới: một giai cấp nhân danh vô sản làm cách mạng, khi thành công lại bóc lột giai cấp vô sản tàn bạo gấp trăm lần bọn địa chủ, tư bản. Cách đây trên nửa thế kỷ, một nhà trí thức đồng thời cũng là đảng viên, lãnh tụ cao cấp của CS Ý đã phản tỉnh viết một cuốn sách dầy kết tội chủ nghĩa CS đẻ ra giai cấp mới với tất cả đặc quyền đặc lợi trong xã hội. Do đó, như trên tôi đã viết: nếu tổ sư Các Mác có sống lại cũng phải chết (vì quá uất ức) lần thứ hai! Bây giờ giai cấp mới tiến lên một bậc nữa trên nấc thang xã hội: đó là giai cấp tư bản đỏ – một tập hợp tất cả những xấu xa, bất công, phi lý, tồi tệ nhất của hai chế độ phong kiến và tư bản. Ở Bắc Hàn cha truyền con nối ngôi vị chủ tịch nước. Ở Trung Quốc sư phụ truyền cho đệ tử (ruột) độc quyền thống trị dân. Ở Cu Ba anh nhường ngôi “lãnh tụ” cho em. Còn ở VN thì tiếp tục cái trò “nỗi dõi tông đường”: con vua lại làm vua, dù là con rơi (Nông Đức Mạnh con rơi Hồ Chí Minh), con tướng lại làm tướng (con trai tướng Nguyễn Chí Thanh là Nguyễn Chí Vịnh tiếp tục làm tướng, thứ trưởng quốc phòng đầy quyền uy và tham nhũng khét tiếng (như đồng bọn) cả nước đều biết. Nếu ai còn chút liêm sỉ can đảm lên tiếng “kêu ca”, “góp ý” (chỉ mới thế thôi) là bị đảng áp dụng“chiêu”chuyên chính thẳng tay đàn áp tàn khốc liền. Trước đây đảng dùng “chiêu” chuyên chính vô sản  để cướp chính quyền, để đàn áp nhân dân. Bây giờ họ dùng“chiêu” chuyên chính tư bản đỏ cũng để đàn áp giữ độc quyền cai trị và độc quyền “sử dụng” tài sản quốc gia cùng những thứ bóc lột, những thứ cướp được (và cả độc quyền làm tay sai ngoại bang). Anh nào “liều” lên tiếng kêu ca hay phản đối là bị vu cáo bắt nhốt tù và bị hành hạ một cách dã man trắng trợn, bất chấp dư luận quốc tế lớn tiếng phản đối. Họ trừng trị dân tàn ác hơn “bọn phản động phong kiến” thời trung cổ nhiều. Còn về phía nhân dân: công nhân và nông dân, hai giai cấp chủ yếu nòng cốt xã hội của CS?.

       Nay nhân ngày 30 tháng tư, ngày CSVN “giải phóng miền Nam thống nhất đất nước”, chúng ta “vô tư” nhìn lại 35 năm qua xem xét đảng và nhà nước lãnh đạo đất nước, dẫn dắt nhân dân “tiến mau tiến mạnh lên xã hội chủ nghĩa” như thế nào?

       Theo thống kê của báo chí trong nước thì nông dân có mức thu nhập bình quân trên nửa triệu đồng/tháng (tiền trong nước). Còn ở thành thị công nhân có mức thu nhập bình quân khoảng trên dưới triệu đồng/tháng. Một người nông dân phơi nắng dầm sương, ngày đêm đánh vật với đất đai sản xuất lúa gạo, đổi bát mồ hôi mà cơm vẫn không được ăn no. Họ khổ sở đến nỗi viên chủ tịch Hội Nông dân VN phải kêu lên tại diễn đàn Quốc hội “sau mấy chục năm thống nhất đất nước, nông dân VN vẫn còn quá khổ!”. Còn ở thành thị, ngoài một số thuộc giai cấp tư bản đỏ ra và bọn phe phẩy mánh mung, tất cả đều từng bữa chạy ăn toát mồ hôi. Thử hỏi với đồng lương hàng tháng như vậy thì chỉ có cơm với nước tương là may rồi, nói gì tới miếng thịt khúc cá! Vật giá khắp nước ngày càng leo thang vùn vụt (thêm đồng bạc thường xuyên bị phá giá) với số lương của đại bộ phận nhân dân như kể trên thì chẳng mấy lúc nhân dân ta tiến mau tiến mạnh lên thiên đường xã hội chủ nghĩa thật! (Một nhân sĩ tên tuổi trong nước trước đây đã thốt lên:“Thà rằng cứ sống đời nô lệ thực dân Pháp còn tốt đẹp hơn nhiều!”)

      Có lẽ “thành tích vĩ đại” nhất của CSVN (sau mấy chục năm trị vì) là đã làm xã hội VN tha hóa tận cùng, đã làm biến chất con người VN với tất cả đức tính quý báu tốt đẹp từ ngàn xưa ông cha để lại, trở thành con người khác với tất cả xấu xa, gian manh, đàng điếm, quỷ quyệt, tham lam, bỉ ổi. Đi tới đâu làm nhục quốc thể tới đó. Dân thì vậy, còn quan thì thi nhau tham nhũng, hối lộ, chà đạp công lý, nhân quyền, tôn giáo, tự do, dân chủ…Về “đối ngoại” thì các quan hết đi lạy Mỹ tới lạy Trung Quốc, Liên Sô (để tạo uy thế cá nhân phe đảng?). Và mua luôn dụng cụ chiến tranh của 3 nước này (với số tiền rất lớn) để tự vệ hay để hưởng tiền “cò”?. Rồi còn bất chấp lòng dân “dâng cúng” đất đai, biển (vô điều kiện) cho kẻ thù truyền kiếp của dân tộc khai thác. Ai lên tiếng phản đối là vào tù ngay. Sang năm đại hội đảng mới họp mà giờ này các quan đã chia bè kết cánh: phe theo Tầu, phe theo Mỹ, phe theo Nga “đấm đá” nhau tưng bừng để giành ghế tranh ăn. (Phen này chắc gà nhà bôi mặt đá nhau chết bỏ) .

       Dưới đây xin nêu một bằng chứng (nhỏ?) về việc nhà nước sử dụng ngân quỹ quốc gia (xương máu nhân dân) một cách lãng phí vô tội vạ như thế nào. Một bài báo do chính người viết là Phùng Văn Mùi, Huyện ủy Con Cuông, tỉnh Nghệ An (đồng hương với “bác” đấy nhé) đăng trên báo Tuổi Trẻ Chủ nhật số ra ngày 4.11.2007 nói về nghịch lý lương và bổng. Đại ý bài viết là nếu áp dụng chế độ khoán xe công, ngân sách nhà nước sẽ tiết kiệm được 1.000 tỷ đồng mỗi năm! Bao năm nay ngân sách nhà nước đã tốn hàng ngàn ngàn tỷ đồng để “phục vụ” việc đưa đón cán bộ từ cấp thứ trưởng và tương đương trở lên ngày hai buổi đi về, chưa kể đi công tác và làm việc xa! Một quan chức nếu không sử dụng xe công đưa đón thì được hưởng khoản trợ cấp 4.500.000 đồng/tháng. Số tiền này gấp mười lần lương tối thiểu của một công chức, và gấp 80 lần mức phụ cấp cho một cán bộ y tế thôn bản hiện nay (Y tế thôn bản hiện đang hưởng trợ cấp 60.000 đồng/người/tháng). 

       Qua nội dung bài viết của một viên chức huyện ủy (vua con một huyện) chúng ta thấy chỉ mới có cái việc xe đưa rước các cán bộ lớn ở Thủ đô đi làm và về nhà thôi đã ngốn công quỹ nhà nước cả ngàn tỷ đồng 1 năm! Còn các khoản chi tiêu khổng lồ khác vô cùng lãng phí, phi lý, kể sao cho hết. Lương tổng bí thư đảng, chủ tịch nước, thủ tướng chính phủ và các bộ trưởng, thứ trưởng, cục trưởng được báo chí (trong nước) đăng chỉ trên dưới hai trăm đô /tháng. Vậy các “ngài” lấy tiền đâu ra để mua xe hơi xịn, xây nhà lầu 4, 5 tầng, biệt thự, nhà nghỉ mát ngoài bãi biển, trên núi cao vv…và cho con cháu du học tại các trường đại học danh tiếng của các nước đại tư bản? Mọi người đều biết muốn theo học các trường đại học ở Mỹ rất tốn kém tiền bạc.Vậy thì các “ngài đầy tớ nhân dân” lấy tiền đâu để chi cho các “dịch vụ” này? Rồi những việc cả thế giới đều biết là các quan ông quan bà CS (lũ lượt) đem đô la sang Mỹ, sang Pháp, sang Anh tậu nhà cửa dinh thự và các cơ sở thương mại to lớn hàng trăm triệu ở Cali, Texas, Paris, London vv… Tất nhiên những số tiền này không phải tiền mồ hôi nước mắt do họ khổ nhọc làm ra mà là bổng lộc, phe phẩy, tham nhũng, hối lộ, ăn chặn tiền viện trợ, đánh cắp tiền vay nước ngoài… Chẳng trách mấy chục năm trước có một gã ngoại quốc khi tới “tham quan” thủ đô Hà nội đã phát ngôn một cách hùng hồn rằng “ước gì sáng hôm sau thức dậy trở thành người Việt Nam!”. Tất nhiên cái sự ước ao của anh chàng này phải là đảng viên CS, chứ làm công dân chỉ có nước theo trâu gặm cỏ ngoài đồng và uống nước bùn!

       Việc đảng nhà nước mấy năm qua rầm rộ phát động phong trào bài trừ tham nhũng và kiểm kê tài sản cán bộ viên chức nhưng rồi mọi sự “vũ như cẩn”. Nạn tham nhũng hối lộ ngày càng công khai bành trướng, trở thành “quốc sách” hầu như vô phương chữa trị. Và cả các trự tư bản Mỹ, Nhật, Úc, Đại Hàn, Đài Loan…cũng phải hối lộ mới được làm ăn. Đất nước thì tụt hậu (so với thế giới sau cả mấy chục năm) và nhân dân thì ngày càng đói rách khốn cùng. Trong khi đó các “đầy tớ nhân dân” (giờ đã trở thành tư bản đỏ) thi nhau phô trương sự giầu có, phây phây “ngự” trên các xe hơi “đờ luých”, mỗi tối ăn nhậu (đặc sản) và “chơi bời” tại các nhà hàng khách sạn cao cấp tốn hàng chục triệu bạc. Mỗi năm đất nước “phát triển” thêm biết bao “đại gia”, biết bao tư bản đỏ! Đã có “đại gia” mua máy bay thuê phi công ngoại quốc, để cuối tuần bay sang Sinh Ga Po, Băng Cốc, Hồng Kông, Ma Cao ăn sáng, ăn tối, đánh bài bạc và…gái. Bọn tư bản đỏ này tiêu bạc triệu (đô la) như bạc triệu (tiền Hồ)! Họ còn thi nhau sắm toàn loại “xế độc” sang và mắc tiền nhất thế giới, giá trên triệu đô la một chiếc. Đúng là bầy lang sói đang đú đởn nhẩy múa trên sự đói khổ của nhân dân. 35 năm trời đất nước tiến mau tiến mạnh lên xã hội chủ nghĩa như thế đấy! Khi tôi đang viết những dòng này tình cờ được đọc một tờ báo trong nước đăng tin (có cả ảnh) về sự đói khổ cùng tận của đồng bào dân tộc thiểu số vùng cao, một năm đói rã họng tới…9 tháng (thực phẩm chỉ toàn là bắp xay và không có cả rau ăn, phải ăn lá cây rừng) .                                                                                                                                   

       Đảng cộng sản VN đã “thay hồn đổi xác” từ lâu, từ ngày 30 tháng 4 năm 1975, sau khi cướp được “biển vàng rừng bạc” của miền Nam VN. Bây giờ phải gọi cho chính danh là đảng cướp (giả danh) giai cấp vô sản đang thời kỳ “quá độ” tiến sang giai cấp tư bản đỏ! Còn nhân dân thì vẫn cứ sống nhăn răng trong kìm kẹp đói khổ! Thế mà trong hội nghị trung ương đảng vừa rồi “lãnh tụ” Nông Đức Mạnh vẫn tiếp tục “cả tiếng dài hơi” kể công “tài” lãnh đạo và thành tích vĩ đại của đảng và lớn tiếng hô hào nhân dân tiếp tục tiến mau, tiến mạnh, tiến…“quá độ” lên xã hội chủ nghĩa! Có lẽ “ngài” tổng bí thư đang lên đồng hay như văn hào Victor Hugo nói “cũng có lúc người ta say vì đã uống máu (người)” (On est ivre parfois quand on a bu du sang).

    Tấn bi hài kịch này không biết còn kéo dài tới bao giờ với bọn đào kép không tim, lẻo mép, bất lương, ngoan cố, chỉ giỏi tài bóc lột, đàn áp dân và hại nước!

     

        Viết tới đây những ngày tháng cũ VNCH, những ngày tháng cũ Saigon mến yêu bừng bừng sống dậy trong tôi. Tim như thắt lại, nước mắt muốn trào ra. Biết đến bao giờ ngày 30 tháng 4 không còn là bóng ma ám ảnh, không còn là nỗi đau, không còn là niềm phẫn uất, không còn là sự khốn cùng của dân tộc trùm phủ trên quê hương? Ôi Tổ quốc Việt Nam với thiên đường đã mất…

    Nhưng dù thế nào chăng nữa, dù 35 năm đã trôi qua tôi vẫn tin, tin một cách mãnh liệt : “Chân lý đang tiến bước, không gì có thể ngăn chặn” (La vérité est en marche; rien ne peut plus l’arrêter – Émile Zola) . Theo tôi, những kẻ (nhân danh) vô sản làm cách mạng  không mất gì ngoài xiềng xích như Mác – Ăng ghen nói. Họ không có gì nên không mất gì, đã dùng bạo lực vô sản chuyên chính trấn áp đoạt được tất cả. Và cũng chính vì những cái đoạt được này giờ đây lại trở thành xiềng xích đang siết chặt vào cổ họ. 

         Lịch sử nhân loại đã chứng minh những chế độ độc tài, độc ác, tàn bạo, tham lam, quỷ quyệt, cai trị dân bằng sắt máu gông cùm tù ngục, không thể tồn tại mãi. Đó là chân lý…

     

                                                                                                   THANH THƯƠNG HOÀNG