Kỵ Binh : EM VỀ HÁT NGỌN DAO ĐÂM

EM VỀ HÁT NGỌN DAO ĐÂM

                                                  ( Riêng gửi Ca sĩ Ý Lan)

KỴ BINH

Đã bao nhiêu năm qua, sau ngày “Bọn đĩ điếm ma cô bám bã đế quốc Mỹ” bổng một sớm một chiều nhờ lá bùa xanh in hình ông Oa Sinh Tơn úm ba la thành “khúc ruột ngàn dặm không thể tách lià”, mỗi lần đọc tin tức về các cậu/ cô/ anh/ chị/ ông/ bà ca sĩ “tị nạn cộng sản” từ hải ngoại về Việt Nam ca hát tôi không hề mảy may một thoáng bận tâm. Tôi không bận tâm chẳng phải vì xem đó là việc của hàng “xướng ca vô loại” như nhiều người hạ mục; tôi không bận tâm, bởi biết mình đang được hưởng đầy đủ tự do thì cũng phải  tôn trọng quyền tự do của kẻ khác.

Nhưng hôm nay đang trong tâm trạng u uẩnTháng Tư Đen nơi đất khách quê người, đọc thấy trên trang web BBC ngày 26/4/2011 bản tin Ý Lan biểu diễn ở Hà Nội trong Tháng Năm”, tôi giật mình đau nhói, như bị một cú dáo nhọn đâm thấu tim can.

Từ sau biến cố Tháng Tư 1975, ai cũng biết Tháng Năm là mùa lễ hội của phe chiến thắng. Hội thảo, tiệc tùng ,cờ phướn, khẩu hiệu, băng rôn, báo đài, phim ảnh, kịch trò, ca hát v.v… đều nhắm vào mục đích ca ngợi “đại thắng mùa xuân”, và tiếp theo là mừng “sinh nhật bác Hồ”.

Người ta vui thì người ta ca, người ta mừng; không ai có quyền cấm cản. Kẹt một nỗi là cùng một ngày đó, bên “hàng triệu người vui lại có hàng triệu người buồn”, như lời thú nhận của một “người vui” là ông cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, cái vui của “người vui” lại chính là nỗi đau của “người buồn”.

Để cho “người vui” càng được vui một cách có lý do chính đáng , “người buồn” lại càng bị “người vui” tận tình chiếu cố. Những lời đường mật như “hoà hợp hoà giải, khúc ruột ngàn dặm, máu của máu Việt Nam không thể tách rời ..” tạm thời miệng khép, để nhường chỗ cho “Tội ác mỹ ngụy” được lôi ra xào đi xáo lại ,chế biến thêm thắt cho mỗi năm một mới lạ món“đặc sản” ngày càng vắng  khách giữa chốn sơn đông mãi võ.

Tội ác mỹ ngụy hay là tội ác ai thì thời gian 36 năm đã soi sáng rõ ràng đen trắng trước con mắt lương thiện, chứ không phải bằng phán quyết bởi những “phiên toà lưu manh, ô nhục, có một không hai”. Tôi chẳng còn phải phí sức phí giờ để bận tâm đến những chuyện “người vui” múa may mỗi độ tháng Năm.

Ca sĩ Ý Lan, BBC

Nhưng tháng Năm năm nay , 2011, có Em trong số “triệu người buồn “ quay về ca hát cho “triệu người vui”.Tôi vừa đọc vừa nhìn em trên trang web BBC, và bổng chốc thấy màn hình computer nhoà đi bởi những dòng nước quyện với máu. Nước mắt em đã đổ xuống bao lần khi em hát cho “người vừa nằm xuống”; em hát cho “người tình không chân dung”; em hát “kỷ vật cho em”; em hát cho “người chiến sĩ vô danh” … ?

Và nếu tôi nhớ không lầm thì, mới đây thôi , Em đứng trên sân khấu Paris By Night rưng rưng lệ nức nở “ Hỡi người chiến sĩ ..”

Em hỡi,  đây tôi là một trong những người chiến sĩ bại trận đang mang trên mình thương tích thể xác lẫn tâm hồn.  Tôi đọc tin Em“… về biểu diễn ở Hà nội Tháng Năm” để ca hát cho  “triệu người vui” bên nỗi nhục nhằn tủi hận của bao đồng đội và triệu đồng bào tôi là “hàng triệu người buồn”, mà tê tái buốt nhức tâm can.Như một lần nữa máu tôi lại đổ, nhưng lần này không phải do đạn địch, mà vì:

Tháng Năm, Em Về Hát Ngọn Dao Đâm .

Kỵ Binh

 




LỄ TẠ ƠN TẠI HOA KỲ

LỄ TẠ ƠN TẠI HOA KỲ 
Giao chỉ – San Jose -2008
 
                                                
 
       Quả thực người Mỹ đã có đầy đủ lý do để giữ gìn truyền thống với ngày lễ tạ ơn vào tháng 11 mỗi năm.
       Lịch sử ghi rằng vào năm 1620 có một nhóm gia đình người Anh theo Tin Lành đã đi tìm đất mới  để sống đời tự do tín ngưỡng.  
  
       Con tàu May Flower nổi danh vượt Đại Tây Dương chở di dân với các niềm tin giáo lý khác nhau đến vùng Playmouth Rock của tiểu bang Massachusets bây giờ.  Nhóm gia đình người Anh chỉ có hơn ba chục, số còn lại là phần đông thủy thủ đoàn. Tổng số 102 người. 
       Đây là con tàu chính thức của di dân vì gồm cả gia đình vợ con.  Trải qua một năm đầu với mùa đông khắc nghiệt, không đủ thực phẩm, không có đủ quần áo, không có nơi cư trú nên di dân đã phải chôn cất 46 người.  Qua năm sau, mùa gặt 1621 thành công, di dân cùng dân da đỏ bản xứ tổ chức tiệc mừng lễ tạ ơn trên đất Mỹ.  
  
        Đó là ngày lễ hội đầu tiên tại Mỹ Châu và truyền thống còn mãi đến ngày nay.  Không dựa theo 1 đạo giáo nào, lễ tạ ơn trải qua gần 400 năm đã thành ngày hội của cả quốc gia cảm ơn trời đất cho mọi người đủ cơm áo để sinh tồn. 
       Trong bữa tiệc lễ tạ ơn năm đầu tiên di dân đã ăn thịt gà rừng, ăn bánh làm bằng trái bí đỏ và thực đơn này đã trở nên món ăn truyền thống ngày lễ hội của Mỹ quốc cho tới ngày nay.
       Tuy nhiên để trở thành 1 ngày quốc lễ chính thức thì phải tới năm 1863, vị tổng thống thứ 16 của Hoa Kỳ là ông Lincoln mới ban hành luật.  Từ đó lễ tạ ơn được chính phủ công nhận vào ngày thứ năm của tuần lễ thứ ba tháng 11 hàng năm.         
  
       Bây giờ Hiệp Chủng Quốc đã trở thành quê hương mới của các sắc dân.  Từ 102 di dân trên tàu Hoa Tháng Năm,Hoa Kỳ đã có 300 triệu dân và trở thành quốc gia hùng cường nhất thế giới.  Nước Mỹ có tiềm lực lớn hơn tất cả quốc gia Âu Châu gộp lại.  Và điểm đặc biệt nhất, Hoa Kỳ chính là miền đất của cơ hội.
       Hãy đưa ra một thí dụ cụ thể tại quốc gia dù tiến bộ như Nhật Bản nhưng không bao giờ một di dân nước ngoài có thể trở thành triệu phú, chính khách, khoa học gia, hay tài tử tại đất nước của Thiên Hoàng.  Nhưng tại Mỹ thì bất cứ chuyện gì cũng có thể xẩy ra cho người ngoại nhập.
 
       Một tài tử điện ảnh gốc Áo là ông Arnold đã trở thành thống đốc California. Ngoại trưởng Hoa Kỳ vốn là một người da đen sinh trưởng ở Hải Đảo thuộc Mỹ.  Tướng Collin Powell trước khi làm ngoại trưởng đã từng là tham mưu trưởng liên quân.  Mới đây khi ông Powell đệ đơn từ chức, tổng thống Bush đã đưa bà Condoleezza Rice lên kế nhiệm.  Báo chí thân mật gọi bà là Condi.Cần phải biết là chức vụ ngoại trưởng ở vị trí quan trọng thứ 4 trong guồng máy hành pháp Hoa Kỳ.  Nếu xảy ra biến động thì người thay thế tổng thống là phó tổng thống kiêm chủ tịch thượng viện.  Người thứ ba là chủ tịch Hạ Viện và rồi đến ngoại trưởng Hoa Kỳ. Vị trí thứ 4 của bậc thang trong quốc gia đầy quyền lực trên thế giới nằm trong tay
một phụ nữ da đen độc thân 50 tuổi đã từng nổi danh trong giới khoa bảng tại đại học Stanford California.
       Trước khi được mời về làm cố vấn an ninh Bạch Cung, nàng Condi da đen đã làm giám hiệu đại học y khoa danh tiếng nhất thế giới với ngân sách 1 tỷ rưỡi mỹ kim, 1400 giáo sư với nhiều tước hiệu Nobel dạy 14,000 sinh viên ưu tú trên toàn thế giới. Không phải vì là bà Rice có khả năng nói tiếng Nga với tổng thống Putin mà bởi vì bà may mắn sống ở miền đất Hứa nơi đã tạo cơ hội cho tất cả mọi người. Cho đến mùa lễ tạ ơn 2008 thì một huyền thoại đã thành sự thực. Một người con của di dân da đen, thượng nghị sĩ Obama đã được bầu làm tổng thống Hoa Kỳ.
       Không nước nào trên thế giới có thể dành cho người di dân nhiều cơ hội như thế.
  Là quốc gia được thành lập và xây dựng bởi các sắc dân, tiền nhân của Mỹ quốc đã viết nên các bản văn bất hủ là hiến pháp và tu chính án Dân Quyền.
 
       Đạo luật quốc tịch của Hoa Kỳ ban hành 1790, hơn 200 năm trước đã có những lời vàng ngọc như sau:
       Bất cứ ai tị nạn đến Hoa Kỳ, sau khi được xác nhận sẽ hưởng quy chế nhập cư.
       Như vậy chúng ta hiểu một cách giản dị là nếu đã đến Mỹ thì sẽ có cơ hội trở thành người Mỹ.
       Căn cứ vào điều khoản của luật 1790, một đạo luật khác đã ra đời năm 1975 có tên là Indochina Migration and Refugee Act. 
       Sau đây là
đoạn văn năm 75 mà di dân Việt Nam cần đọc lại trong mùa tạ ơn năm 2008.
       Tổng thống Hoa Kỳ sẽ làm bất cứ điều gì để mở rộng cánh cửa đón người tị nạn đến từ 3 quốc gia Đông Dương.  Các viên chức trách nhiệm tại Mỹ sẽ đưa ra tất cả mọi phương tiện để giúp cho người dân tị nạn định cư.  Phải nỗ lực làm giảm những đau khổ kinh hoàng của người tị nạn đến từ Đông Nam Á.
       Vào tháng 7-1977 sau 2 năm đầu giúp đỡ người tỵ nạn Đông Dương di tản đợt 75, Hoa Kỳ ban hành luật gia hạn việc cứu trợ về tài chánh, y tế, và dịch vụ.
       Tháng 3-1980 Mỹ ban hành thêm luật quy chế tỵ nạn vĩnh viễn và đề ra một chính sách tỵ nạn áp dụng chính thức tại Mỹ. Suốt 33 năm qua, khi nhiều khi ít, khi khó khăn, khi dễ dàng, Hoa Kỳ đã dành ra những cấp khoản lớn lao cho người Việt đến Mỹ để trở thành 1 cộng đồng di dân đông đảo nhất trong cuối thế kỷ thứ 20.
 
       Trong buổi bình minh của lịch sử Hoa Kỳ lập quốc, di dân vượt Đại Tây Dương đến Mỹ Châu đa số gốc Âu Châu.  Sau đó, Thái Bình Dương đưa đến Mỹ dân Tầu và Nhật.
       Từ bao lâu nay hoàn toàn không có người Việt đến Mỹ cho đến khi gặp cơn hồng thủy 1975.  Truyền thống của dòng giống Việt tộc thường không khích lệ con đường tha phương cầu thực.  Vì vậy ngoại trừ số nhỏ qua lập nghiệp bên Miên, Lào và Thái, phần lớn người Việt đều ở lại với quê hương ven biển Nam Hải.
       Khi miền Nam xụp đổ tháng 4-1975 đợt di tản đầu tiên của người Việt đã mở ra một đầu cầu quan trọng cho lịch sử di dân từ Châu Á.  Những chuyến đi vô cùng mạo hiểm của thuyền nhân đã làm thành thiên anh hùng ca của con đường đi tìm tự do với hàng ngàn con tàu May Flower của dân Việt đã ra đi không bao giờ đến được miền đất Hứa.   
            
       Cũng nhân dịp ghi dấu 30 năm định cư tại Hoa Kỳ 1975-2005.  Bảo tàng viện do cơ quan IRCC gây dựng đã hoàn thành hai tác phẩm.  Đóng lại con tàu Vượt biên có tên là Tân Phát đúng kích thước và chi tiết con tàu thật.  Đồng thời họa sĩ thực hiện bức hình sơn dầu vĩ đại cao 10 feet và dài 15 feet mô tả con tàu Tân Phát đang lướt sóng trên biển Đông.   
            
       Đây là con tàu thực sự đã đưa được nhóm gia đình Việt Nam vượt biển thành công hiện định cư tại Úc Châu và Bắc Mỹ.
       Những người di dân Việt Nam định cư tại Hoa Kỳ trong đợt đầu khi xây dựng cuộc đời đã ăn những con gà Tây cùng với các gia đình bảo trợ, với các họ Đạo trên 50 tiểu bang Hoa Kỳ.
       Rồi những bức hình và những lá thơ gửi về cho thân quyến tại quê nhà đã trải qua suốt 10 năm khốn khổ sau 75.  Miền Bắc là nơi giam giữ tù cải tạo.  Miền Nam là những khu kinh tế mới.
       Khi di dân Việt Nam trải qua 10 lần dự tiệc tạ ơn tại Hoa Kỳ thì những thùng quà gửi về đã làm cho cả đất nước hồi sinh.  Từ cây kim sợi chỉ, từ chai thuốc tây đến thước vải.  Những tờ giấy Mỹ Kim nằm trong hộp thuốc đánh răng với lời thư dặn dò đầy nước mắt.  Thư viết rằng thuốc đánh răng này tốt lắm.  Cố sức giữ lại mà dùng, đừng bán đi. Vỏ cũng xài được, đừng vất đi.  Người ở lại đã phải nát óc vò đầu để tìm ra được ý nghĩa mật thư là trong tuýp thuốc có tiền.  Có khi lá thư viết rằng nếu đói quá thì bán vải, bán đá lửa, bán bút bi đi mà ăn, nhưng cố giữ lấy cái thùng giấy đựng quà mà dùng.  Hiểu được ý nghĩa lá thơ, người Saigòn phải lần mò tháo hết vỏ thùng để tìm thấy giấy 100 đô
giữa hai lớp bìa cứng 
 
       Và cứ như thế dưới nhiều hình thức những con gà Tây của lễ tạ ơn Hoa Kỳ đã về đến Việt Nam.  Quà và tiền gửi về thể hiện cho hình ảnh vật chất đầy đủ ở phía chân trời và đồng thời cũng là hình ảnh cuộc sống tự do rực rỡ nở hoa với chan hòa ánh sáng.
       Và dù 5 ăn 5 thua con tàu May Flower đã ra đi từ khắp miền duyên hải Việt Nam có khi chỉ là những chiếc ghe nhỏ bé mong manh.
       Người Việt đã vì nhiều lý do để ra đi suốt bao nhiêu năm qua.  Và danh từ Boat People trong tự điển thế giới đã không còn cùng ý nghĩa xưa cũ để chỉ những người sinh sống ở trên thuyền.
       Boat People ngày nay có nghĩa là người Việt đã đi tìm tự do bằng thuyền vượt biển Nam Hải.
Lịch sử các cuộc di dân của nhân loại đã đưa đến nhận định rằng Ta không thể lựa chọn sinh quán, nhưng ta có thể chọn lựa để sống ở miền đất mà chúng ta yêu quý.
       (You cannot choose the land you birth, but you can choose the land you love)
       Thực đúng như vậy, chúng ta đã sinh ra đời trên quê hương không hề có sự lựa chọn nhưng nếu phải trả giá với sự sống chết thì chúng ta vẫn có cơ may lựa chọn nơi sinh sống.

       Vì vậy không phải là chỉ người Mỹ hậu duệ của con tàu Hoa Tháng Năm đến từ Đại Tây Dương mới có quyền ăn gà Tây tháng 11.   
                                                         
       Dân Việt tỵ nạn cũng có đủ tư cách để cúng trời đất vào mùa lễ hội tạ ơn hàng năm.  Xem chuyện Do Thái và Palestin tranh chấp đẫm máu ở miền Trung Đông để biết rằng cả hai dân tộc này đã khốn khổ biết chừng nào.  Năm ngàn năm trước người Do Thái vì lý do tôn giáo đã bỏ nước ra đi đến bốn phương trời.  Họ thành công trên khắp thế giới nhưng vẫn hướng về đất thánh Jelusalem đầy huyền thoại.  Sau khi bị Đức Quốc Xã bức hại dã man tại Âu Châu, khi đại chiến kết thúc, thế giới mở đường cho Do Thái trở về quê xưa dựng nước. 
 
       Bây giờ lại đến lượt người dân của đất Palestime phải ra di.  Và cuộc đấu tranh dành đất giữa 2 mối cựu thù vì niềm tin tôn giáo bắt đầu.  Hận thù chất ngất đến nỗi có hàng ngàn người quyết đổi mạng sống để giết hết sắc dân thù nghịch gồm cả đàn bà và trẻ con vô tội.
 
       Mối hận thù truyền kiếp đã đưa đẩy Hoa Kỳ và cả thế giới vào cơn Hồng Thủy của cuộc chiến chống khủng bố hiện nay. 
 
       Đã từ lâu miền Trung Đông không hề có những ngày lễ tạ ơn với cuộc sống bình yên.  Và cũng không có triển vọng sẽ có một tương lai bình yên ở một nơi đầy dầu hỏa được gọi là vàng đen trong lòng đất.
 
       Người Việt tại Hoa Kỳ đang sống bình yên ở miền đất cơ hội nhưng điều quan trọng hơn hết là chúng ta có dịp mở rộng viễn kiến để nhìn ra thế giới đầy thảm họa và biến động.
       Với các tin tức, với các hình ảnh ghi nhận được, mỗi công dân Hoa Kỳ dù là bổn sinh hay ngoại nhập đều dễ dàng trở thành người dân có tri thức, có sự hiểu biết, có tấm lòng rộng lượng, có đức tính tha thứ, để sống với nhau tử tế.  Đặc biệt có đủ hạnh phúc căn bản với cơm no áo ấm và tự do để cùng nhau dâng lễ tạ ơn với các niềm tin tôn giáo khác nhau.                           
  
       Nhân dịp Thanksgiving 2008, xin gửi đến quý vị lời chúc mừng một lễ tạ ơn đầy hạnh phúc.
Giao Chỉ – San Jose




HỌP KHÓA MÙA XUÂN (Khoá Cương Quyết, Giao Chỉ)

  HỌP KHÓA MÙA XUÂN
  Giao Chỉ San Jose  

Khóa Cương Quyết của anh em chúng tôi mới họp mặt tất niên vào thứ Bảy ngày 24 tháng 1 năm 2009. Còn phải dành ngày Chủ nhật cuối năm về cúng ông bà. Thứ Hai là mùng một TẾT.

Anh em cùng khóa vào trường Ðà Lạt tháng 3/1954 và ra trường tháng 10/1954. Chỉ sáu tháng phù du là ra trường đeo lon quan một . Đa số chưa có tình yêu nói gì đến chuyện vợ con. Mới ra trường ai cũng hiền lành. Sau cuộc binh đao, đi tù hay di tản, vượt biên hay HO. Ba chìm bảy nổi chín lênh đênh. Người nào cũng trở thành tinh ma quỷ quái. Chẳng còn ai hiền lành như thuở di cư 54. Chỉ duy có Phùng văn Xuân một đời hiền lành tử tế. Anh ra đi khi trời vừa sáng vào ngày đầu năm tại San Jose, 76 tuổi. Mới còn bắt tay nhau chúc tết 3 ngày trước. Bây giờ đã mồ yên mả đẹp.

 Lúc họp mặt cuối năm vào buổi trưa ngay tại Viện Bảo Tàng San Jose, quân số cả khóa của miền Bắc tham dự chừng 60%. Phần còn lại khai bệnh hoặc không có phương tiện chuyển vận. GMC cũng không có mà trực thăng cũng chẳng còn chiếc nào.

        Cũng may có Ðoàn Thi từ Sacramento về được và Nguyễn Ðức Chung cũng về từ San Francisco. Anh em ngồi bàn chuyện thời sự địa phương. Recall or not recall. Obama, Obama. Việt Nam ,Việt Nam vân vân … nhưng xem ra chuyện thế sự không đáng quan tâm. Phần nhiều chia sẻ nhau về kinh nghiệm y khoa. Anh nào cũng thương tích đầy người. Trình độ kiến thức về bệnh tật thuốc men phần lớn đều đã lên cấp ngang với sinh viên trường thuốc sắp tốt nghiệp. Mấy nhà thương ở San Jose chúng tôi đều có ra vào thực tập. Nhiều anh đã lên học lớp cao cấp tại nhà thương Stanford. Có anh vào nhà thương San Francisco nằm giảng bài cho sinh viên hàng tuần. Sau cùng điểm danh quân số, anh em ai cũng chắc chắn rằng sẽ vượt qua năm Mậu Tý. Hai hôm nữa là qua năm Kỷ Sửu. Chắc là sẽ bình yên. Vậy mà lời bình luận đúng như đinh đóng cột. Ðầu năm Kỷ Sửu anh bạn hiền lành nhất là ông tiểu đoàn trưởng công binh Phùng Văn Xuân mới ra đi. Khóa chúng tôi trong thời chiến tranh có mặt khắp quân khu và khắp các binh chủng. Sống và chết ở mọi nơi. Nhưng hiện nay vẫn còn hiện diện ngay tại Việt Nam và các nơi trên thế giới.

Cả khóa toàn Bắc kỳ vào Ðà Lạt học có 300 sinh viên. Lạc loài thêm vài anh miền Trung và miền Nam . Còn toàn là dân di cư đi sớm trước cả hiệp định Geneve. Ngày nay chúng tôi cũng lần lượt ra đi từ khắp nơi trên thế giới. Tại Bắc Cali, anh Ðỗ Hữu Bài ra đi sau 12 năm được hết đầm Mỹ rồi đầm Phi săn sóc trong nhà an dưỡng. Quân cảnh Trần Văn Tước ra đi bỏ lại cả đống máy hình và cây cảnh. Rồi đến anh Nguyễn văn Ðông và bây giờ và bạn Phùng Văn Xuân.

 

Chị Phùng Văn Xuân tuy thương tiếc ông chồng hiền lành nhưng xem ra còn rất bình tĩnh đứng ra chỉ huy đơn vị toàn gia đâu ra đấy. Ðại gia đình con cháu đông đảo từ các nơi quy tụ về lo cho ông già nằm xuống yên giấc ngàn thu. Trong số anh em chúng tôi, Phùng Văn Xuân lãnh chức tiểu đoàn trưởng công binh rất sớm và hết sức thanh liêm, đôi khi bị coi là quá sạch sẽ. Ông giữ của cho quân đội từ thùng sơn đến lít dầu không cho dùng ở nhà, nên chắc chắn là không có tẩu tán bán ra ngoài. Và anh là người rất hiếu học. Trước khi mất nước Phùng Văn Xuân đã tốt nghiệp thẩm phán còn đang chờ bổ nhiệm.

Chuyện tang gia, chung sự mà tôi kể lại như thế xem ra không thích nghi với hoàn cảnh. Chưa thực sự đau thương buồn tủi. Nhưng quả thực khi mà khóa của chúng tôi tuổi trung bình trên 75 thì cuộc sống đang over time. Mỗi ngày qua là một ngày bonus. Biệt ly, sinh tử không phải là chuyện vui nhưng cũng không còn thê thảm như thời chiến tranh.

Khi tiễn đưa ông Phùng Văn Xuân vào buổi sáng thứ Bảy, sương mù bao phủ ngọn đồi Oak Hill. Trên sườn đồi dốc của khu nghĩa trang Á châu nhìn xuống, phía tay trái là chỗ của Trần Văn Tước, trung đội 24 đại đội 6 và bây giờ bên phải là Phùng Văn Xuân, trung đội 20 đại đội 5.Hop mat khoa

Ðại tá công binh Nguyễn Thiện Nghị đọc một bài ai điếu kể rõ tiểu sử của người sỹ quan công binh ra đi. Phần tôi đại diện anh em cùng khóa gọi tên các bạn hiện diện . Tưởng như 55 năm về trước, sinh viên sỹ quan Vũ Văn Lộc tại sân trường võ bị Ðà Lạt, trong trách nhiệm trực nhật gọi tên anh em, Vũ Thượng Tôn, có mặt; Ngô Sỹ Hùng, có mặt; Nguyễn Xuân Hòa, Nghiêm Kế, Lê Văn Bang, Phạm Ngọc Thụy, Ðinh Trọng Ất … Nguyễn Ðình Tạo … có mặt có mặt … Nằm trong áo quan, dưới mộ phủ đầy hoa, Phùng Văn Xuân vẫn còn nghe từng tên gọi.

Rồi những người con trai gái của một gia đình đông đảo với các cháu chít khăn tang trắng bắt đầu cất tiếng khóc, khi quan tài từ từ hạ thấp. Nhìn những người con đã trưởng thành từ 40 đến 50 tuổi đồng loạt quỳ xuống đất lạy bố, chúng tôi thấy rõ ràng sự khác biệt văn hóa với tang lễ tây phương.

Có một vẻ gì hết sức Việt Nam đã thể hiện trong một khoảng khắc đặc thù. Những người đàn ông Hoa Kỳ gốc Việt áo đen khăn trắng, quỳ xuống đồng loạt, nước mắt chảy dài, lạy bố ra đi.

Trong khi chờ lấp đất và chia tay, bạn bè hỏi nhau về lý lịch y khoa của anh Phùng Văn Xuân. Thì ra Xuân đã bị ung thư và chạy điện cả năm. Xem ra còn có thể cầm cự được thời gian nữa. Nhưng bất ngờ chính trái tim đột quỵ đã hạ anh trong một thời gian thật ngắn. 911 cũng không cứu kịp.

Chuẩn bị một đằng lại bị địch đánh chỗ khác. Nhưng gia đình cũng như chính anh đều chấp nhận để tránh khỏi những ngày tháng sau cùng đối diện với bệnh ung thư vô cùng đau đớn.

Dừng chân trên ngọn đồi Oak Hill của San Jose miền Bắc California , chúng tôi lại nhắc đến những người bạn cùng khóa đã ra đi trong chiến tranh.

Một anh chợt hỏi, khóa Cương Quyết 54 chúng ta có ai chết ở ngoài Bắc không?

Có đấy chứ, một anh bạn rất nổi tiếng và là người duy nhất của khóa chết trong tù cải tạo. Chết sớm nhất là Trung tá Vũ Văn Sâm tức là nhà thơ Thục Vũ.

Anh chết ngày 17 tháng 11 năm 1976. Anh Sâm thuộc về trung đội 19 đại đội 5. Ðể tiễn đưa Phùng Văn Xuân cũng của đại đội 5 ra đi 32 năm sau, tôi xin nhắc lại sự ra đi của nhà thơ Vũ Văn Sâm. Anh Sâm ra đi sau khi chiến tranh đã chấm dứt, mới bước chân vào tù trong niềm cay đắng của một đất nước thống nhất và hòa bình.

SVSQ Vu van Sam

Trung Uy Sam cung gia dinhDai Uy Sam cung gia dinh

Nhân điện đàm qua Úc, chúng tôi nói chuyện với bác Phan Lạc Phúc, năm nay 82 tuổi, người đã viết về chuyện sống chết của Thục Vũ. Ông bạn tù đã làm thợ vịn cho thầy Thích Thanh Long khắc tên người ra đi trên bia đá. Bác Phan Lạc Phúc khi viết về Thục Vũ có nhắc đến các bạn tù Suối Máu như Vũ Ðức Nghiêm, Phạm Xuân Ninh hiện còn ở San Jose, và các bạn cùng khóa với chúng tôi là Nguyễn Hữu Luyện, Vũ Thế Quang ở miền Ðông

Ðặc biệt bạn Vũ Văn Sâm tự Thục Vũ nổi danh với tác phẩm văn nghệ là bài thơ phổ nhạc mang tựa Kiếp Lưu Ðày. Một sáng tác từ trại tù Suối Máu trong Nam đã được đem ra các trại tù ngoài Bắc và sau cùng hiện nay được phổ biến sâu rộng tại hải ngoại. Bài thơ có những lời than thở vô cùng thương cảm trong số phận tù đày nghiệt ngã. Bài ca trữ tình não nùng gởi về cho vợ con, xin được ghi lại nguyên văn. Nhạc sĩ San Jose , người bạn tù Vũ Ðức Nghiêm đã viết thêm lời ca đoạn hai và phổ biến cho anh em.

Kèm theo bài này là những tấm hình chị Thục Vũ hiện ở Canada gởi cho chúng tôi lưu giữ trong các di vật của anh em cùng khóa.Chính cũng nhờ mộ bia có tên trên đá góp phần kiến tạo của bác Phạm Lạc Phúc mà sau này chị Thục Vũ đã tìm được nơi yên nghỉ của Vũ Văn Sâm. Gia đình đã tảo mộ và đem di hài qua hũ tro tàn đặt trong chùa tại Saigon .

Thieu Ta Sam va gia dinh

Trung Ta SamMo anh Sam

 

 

 

 

 

 

 

  Như vậy lần họp khóa cuối cùng của Vũ Văn Sâm là tại Saigon năm 1973, và lần họp khóa cuối cùng của Phùng Văn Xuân là đầu năm 2009. Vào tháng 10 năm 2009, khóa Cương Quyết chúng tôi dự tính sẽ tổ chức 55 năm họp khóa ngậm ngùi. Chúng tôi sẽ đếm đầu người và báo cáo cho toàn quân được rõ.

Có lẽ năm nay họp mặt quân số đức Ông trong hàng ngũ các trung đội sẽ phải có đoàn nữ binh mùa thu thay chồng trình diện trước hàng quân. Theo luật tạo hóa thường tình, phần lớn quý ông ra đi trước quý bà. Người đã đi rồi, nhưng tình yêu còn ở lại.

Khi chúng ta ở tuổi cao niên nhưng vẫn có thể vui đùa với chuyện tử sinh thì cuộc sống đã nhẹ nhàng đi rất nhiều. Rồi đây khắp bốn phương trời , anh em mỗi lần gặp nhau sẽ là một lần họp khóa. Sẽ chẳng bao giờ biết được ai là người sẽ họp khóa một mình.

Giao Chỉ San Jose

 
 
 
Tái bút

Sau đây là lời thơ của bài ca nổi tiếng Kiếp Lưu Ðầy. Xin gởi đến quý vị nhân dịp tiễn đưa 2 người bạn cùng khóa của đại đội 5. Từ Vũ Văn Sâm chết 1976 đến Phùng Văn Xuân mất năm 2009.

 

 

       

        Em ở Saigon anh ở đây.
        Đồi cao cát trắng kẽm gai dày

        Ngẩn ngơ dăm chuyến tàu xuôi ngược.
        Gọi nhớ nhung về che lấp mây
        Anh vẫn hằng đêm thương nhớ con.
        Thương em tình nghĩa vẫn vuông tròn

        Thương mình day dứt từng đêm trắng
        Thương bạn anh trong chuyện mất còn …

        Anh ở đây, bạn bè anh cũng ở đây 
       
Áo rách xác xơ thân gầy.
       Cùng chung một kiếp lưu đày
 

      

       Anh ở đây .
       Sớm chiều cơm chia vài chén

       Ngày ngày ra trông đàn én.
       Kiếm mồi thấp thoáng bay qua

       Anh ở đây, bạn bè anh cũng ở đây 
       Vẫn giếng nước sâu bên cầu. 
       Nhìn trăng trăng vướng dây gầu
 
                                                                       
       Anh ở đây,
       Sớm chiều bên trong rào sắt

       Cuộc đời ưu tư chồng chất. 
       Giữa lòng núi cũ sông xưa

  Thục Vũ, 1975, Suối Máu




Bác Cũng Lỡ Rồi (Kỵ Binh)

 
                                   

                                      (7)
1. Meo Xuân Gửi Bác 1;2.Meo Xuân Gửi Bác 2;3.Meo Xuân Của Bác;4. Meo Xuân Gửi Bác 3  5. Bác Chuồn Khỏi Lăng;6.Bác Hồ Thanh Minh
                    BÁC CŨNG LỠ RỒI
                  TP. Hồ Chí Minh, Ngày 10 tháng Ba, 2009
 Bác ơi,
Tin Bác chuồn khỏi lăng Ba Đình không làm cháu ngạc nhiên: cái gì phải đến đã đến. Lòng dân đang sôi sục trước hành động công khai bán nước của các đồng chí lãnh đạo chóp bu, học trò của Bác, trong đó có hoàng thái tử Đức Mạnh mang họ mẹ của cháu gái Nông Thị Trưng do Bác gieo giống trên “hòn đá chênh vênh viết sử đảng” giữa tiếng suối Lênin róc rách dưới chân hòn Mác trong hang Pắc Bó. Chính đồng chí trưởng nam (vì có em là Vũ Trung tức Nguyễn Tất Trung) Đức cạn Sức cũng cạn này mà khu Ba Đình đang dậy lửa…Bô xít. Khoa hoc gia, Địa chất gia, Môi trường gia, Tướng tá gia Ất Giáp gì kêu gào khuyên dạy, chỉ chỏ, can ngăn, phản đối, bất chấp ! Đồng chí Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng không trả lời, chỉ cần..muối mặt, phán, “đó là kế hoạch lớn của Đảng”.
Đã là “Kế hoạch lớn” của Đảng rồi thì chính phủ của chú Dũng có ..chú phỉnh chút đỉnh cũng chẳng hề chi. “Vox populi vox Dei”, Ý dân là ý Trời , “thằng Trời” của bọn mê tín dị đoan không dính dáng gì với  đồng chí Thiên Triều láng giềng anh em núi chiếm núi (Lão Sơn) đảo liếm đảo (Trường Sa, Hoàng Sa) môi hở ra là “dạy cho bài học” 17 tháng 2 năm 1979 và “hãy đợi đấy” những bài học dài dài nếu còn hỗn… Ý Thiên Triều mới là ý Đảng; Đảng thì ngồi trên đầu dân, nên Ý Đảng là ý.. dân có nhất trí đồng ý hay không thây kệ chúng bay. Ý Đảng là thế này :
Ngày 3 tháng 12 năm 2001, Tổng bí thư đảng CSVN, tức con trai trưởng Bác đi chầu Thiên Triều phương bắc và đã ra “Tuyên Bố Chung Việt Nam—Trung Quốc”, trong đó có điểm thứ 6 như sau:
“…Nhân dịp này, hai bên đã ký Hiệp định khung giữa Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam và Chính phủ nước CHND Trung Hoa về việc Trung Quốc cung cấp cho VN khoản tín dụng ưu đãi và Hiệp định hợp tác kinh tế kỹ thuật giữa Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam và nước CHND Trung Hoa, và nhất trí sẽ tích cực thúc đẩy các doanh nghiệp hợp tác lâu dài trên dự án bô xít nhôm Đắc Nông”
Tháng 11 năm 2006, Hồ Cẩm Đào sang Việt Nam, trong cái gọi là “Tuyên bố chung”, hở môi ban lệnh :” Từng bước cải thiện cơ cấu mậu dịch, cố gắng thực hiện phát triển cân bằng và tăng trưởng bền vững thương mãi hai chiều. Tích cực ủng hộ và thúc đẩy doanh nghiệp hai nước hợp tác lâu dài và cùng có lợi trong các lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng, công nghiệp chế tạo, khai thác nguồn nhân lực, năng lượng, chế biến khoáng sản và các lãnh vực quan trọng khác. Khẩn trương bàn bạc các dự án lớn như bô xít Đắc Nông “
Thế là vì hai chữ “khẩn trương” Đào “môi hở”,đầu năm 2007, chú Dũng lo cúi đầu cắm cổ ký cái rẹc Quyết định số 167 với nội dung “phê duyệt quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến sử dụng quặng bô xít giai đoạn 2007 đến 2015, có xét đến năm 2025”, tức là hợp thức hoá chuyện đã rồi.
Trong số những người rướn cổ rống vào tai trâu, Cu Tèo thấy tội nghiệp nhất chú Giáp, “thiều quang” trăm tuổi đã ngoài chin mươi, tay chân lẩy bẩy còn rán vịn thành giường  ngồi dậy cho vợ con khoác lên mãnh thân gầy gù y phục tướng công trọn bộ mão hia, lon sao lấp lánh, huân chương lủng lẳng; thở không ra hơi mà chú Giáp cứ nghĩ tiếng nói của chú vào tai chú Dũng còn..nổ như tiếng pháo Điện Biên năm nảo năm nao.
“Thì tau đã bảo, tau biết trước lăng Ba Đình bị ủi đên nơi, nên tau chuồn rồi đó”.
Bac ơi, đến đây, Tèo mới sực nhớ hỏi thăm Bác nay ra sao? Bác vẫn quanh quẩn gầm cầu Long Biên, hay đã không cao bay được nhưng xa chạy? .Bác có tính về lại hang Pắc Bó? Ồ, mà nghe đâu cái hang luyện ác ma ấy đã bị các đồng chí Trung Quốc cho nổ sập hồi 1979 rồi. Hay Bác về lại Kim Liên Nam Đàn? Bác mò về đó,Tèo lo không biết người ta có nhận Bác hay lại đi tố cáo Bác là Bác Hồ giả, là người Hẹ như chú Chệt Đài Loan Hồ Tuấn Hùng nào đó biên khảo à …chế ra thì khốn . Mà Bác sẽ vào nhà họ Nguyễn hay họ Hồ? Cu Tèo nghe mấy ông lão Làng Sen của Bác nói chắc nhưTường Bá Linh đã bị dân Đông Bá Linh đập đổ, nịch như tượng tổ Lênin đã bị dân Nga tròng đầu, rằng ông nôị của Bác không phải là ông Nguyễn Sinh Nhâm, mà ông nội của Bác là ông Hồ Sĩ Tạo.
Cháu nghe tiếng Bác quát, “thằng Tèo này chỉ biết nói leo, tau biết quá chư răng , đổi tên đảng, tên nước ra răng cũng được ; tên đảng khi thì Cộng Sản, khi thì Lao Động; tên nước, khi thì Việt Nam đứng trước Dân Chủ Cộng Hòa, khi thì Việt Nam lẻo đẻo làm cái đuôi sau Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa; nhưng tên họ thì phải biết …”lá rụng về cội” chứ Tèo .”
Phục Bác, phục Bác. Nghiên kíu lịch sử Bác, hết trích dọc rồi lại trích ngang, trích ngữa, có khi lại trích xéo, Tèo thấy chuyện Bác làm toàn tào lao hai dân hại nước,.Nay mới thấy Bác làm được một việc đúng, là lấy lại họ ông nội ruột Hồ Sĩ Tạo .
Nêú về quê mà bị cả hai họ Nguyễn cũng như Hồ đều từ, Bác nên nhảy xe lửa Thống Nhất vào quách trong Nam nhìn cái thành phố mang tên Bác một lần cho sướng. Đời Bác đúng là lúc lên xe lúc xuống chó ha Bác. Mới ngày nào khố rách áo ôm ăn nói trọ trẹ, thất tha thất thểu, lêu bêu không kế sinh nhai giữa Saigon, lang thang tới bến Nhà Rồng may gặp được cái tàuTây, làm liều nhảy xuống, phúc đức ông bà được ông Tây nhận cho làm chân bồi bàn; thế mà cái thành phố từ đó ta xuất dương tìm đờng rửa chén, nay mang tên ta, nhưng mà bỏ mẹ rồi, thiên hạ càng ngày càng gào thét “hãy trả ta Saigon”,Bác nhớ khẩn trương lên, cho kịp trước khi người ta lấy lại tên cũ Sàigòn, như dân Nga đã bôi tên Stalingrad, Leningrad để trả cho Volgograd và Saint Petersburg …
Vô Nam mà không quen ai thì Tèo sẽ dẫn Bác đến nhà một người vừa là đồng chí, vừa đồng hương với Bác ở đường lúc trước Ngụy gọi là Gia Long ngay sau chợ Bến Thành. Đó là chú Lê Văn Th. Chú Th. người Thanh Chương ngày xưa Bác dụ khị đi theo đó. Hồi kháng chiến, chú Th. vô Nam họat động, phụ trách vùng Saigòn Chợ Lớn, bị Tây bắt và lãnh án tử hình; may đảng CS Việt Nam lạy lục đảng Cộng Sản Pháp năn nỉ xin Toàn quyền Pháp ở Đông Dương ân xá, chú Th.được tha chết, giảm xuống khổ sai chung thân, nhưng phải chịu cắt gân sau hai cổ chân, đày ra Côn Đảo. Năm 1954, theo Hiệp định Genève, chú ấy được trao trả về Hà nội. Đến mùa xuân Dễ Thắng 1975, sau khi Miền Nam được hoàn toàn giải phóng, dân Saigòn bị phỏng.. bỏ của chạy lấy người, chú Th. được cấp cái- nhà- là- nhà -của -ta –ông- cố- ông- Ngụy –làm- ra cao năm lầu, cực kỳ sang trọng (Tèo đã vào nhà, đã gặp chú Th.). Chú Th. có người em gái lấy chồng Ngụy nếm mùi “Cách Mạng” từ lâu, tay bồng tay dắt ba đứa con dại theo tàu há mồm vào Nam 1954, sống ở Tây Nguyên. Một hôm bà cụ tuôi thất tuần, vốn ngồi quen xe đò trước kia bị Mỹ Ngụy đàn áp bắt chạy bằng xăng bắt chạy một lèo, leo lên xe được Cách mạng cải tiến tự do chạy bằng than, được tự do dừng trước trăm trạm kiểm soát. Bà cụ cũng nghe bao lời ca thán khiếp đảm về con đường “trần ai” gian ác trên dưới bảy trăm cây số, nhưng cứ nhắm mắt đi đại thăm ông anh đã mấy chục năm xa không gặp. Anh em lâu ngày, hàn huyên ngàn lẻ điều. Có điều Cu Tèo ghi được:
Chú Th. hỏi em:
–Cô có mang theo cà phê cho anh đó không?
Bà cụ đang vui vẻ đứng phắt dậy. giận dữ:
–Cà phê mô mang theo được cho anh. Qua thời Tây, thời Nhật, tôi chưa thấy cái chế độ nào tồi tệ như cái chế độ của anh; đi một chặng đường lại bị lôi xuống kiểm soát, sờ bóp cùng người, lục lọi tận trong cái quân lót đàn bà.Tôi kinh tởm cái chế độ khốn nạn này quá.
Chú Th. đỏ tía tai, đập bàn:
–Cái bọn này, anh đã bảo chúng nó dẹp ngay đi cái trò ngăn sông cấm chợ này lâu rôi mà chúng không nghe.
Sau này Tèo biết chú Th. nói thế ,vì chú làm rất lớn, nhưng “chúng nó không nghe”, bởi chú ấy đã về hưu chỉ làm…cố vấn.
Thực ra chú Th. đã ngán con đường Bác đi tư lâu lắm rồi.1954, khi gia đình người em trốn từ huyện Đức Thọ của chú Trần Phú, ra Hà Nội để đi Nam, ghé thăm anh Th. vừa về từ Côn Đảo.
Chú Th. nói với vợ chồng người em:
–Các em đưa gia đình con cái vào trong đó đi. Anh thì lỡ rồi.
Bác ơi, ngày nay thì lắm đồng chí thấy mình “lỡ rồi” như chú Th.
Bác cũng thấy mình “lỡ rồi” đó, ha.
Chào Bác,
Cu Tèo



Nỗi Buồn mang tên Việt Nam (Song Chi)

Lời giới thiệu : Tin từ Sài Gòn cho biết ngày 24/4/2009, nữ đạo diễn điện ảnh Song Chi, đã tới một thành phố biển Na Uy xin tỵ nạn chính trị.

Nữ đạo diên Song Chi là tác giả của phim truyện dài 18 tập mang tựa đề Nữ bác sĩ do Hãng phim truyền hình Sài Gòn (TFS) sản xuất hiên đang trình chiếu trên VTV4, kênh truyền hình đối ngoại của Đài Truyền hình Việt Nam.

Song Chi đã tham gia cuộc biểu tình ở Sài Gòn đầu năm 2008 lên án nhà cầm quyên cộng sản Trùng Quốc xâm lược lãnh hải Việt Nam. Cuộc biểu tình này đã bị nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam đàn áp. Chị và nhiều người tham gia biểu tình đã bị công an cộng sản ở Sài Gồn liên tục theo dõi, thẩm vân, đe doạ. Nữ đạo diễn Song Chi đã bị Hãng phim truyền hình Sài Gòn và các Hãng phim quốc doanh khác căt hợp đồng lam việc


Nhân sự kiện nữ đạo diễn Song Chi xin tỵ nạn chính trị tại Na uy, xin giới thiệu bài viết của nữ đạo diễn Song Chi mang bựa đề: Nỗi buồn mang tên Viêt Nam. Bài này đã đăng trên blog của chị sau khi tham gia biểu tình phản đối Trung Quốc năm 2008.. 
                     

Nỗi buồn mang tên Việt Nam

Đạo diễn Song Chi

Tôi biết rằng đối với tôi và những người bạn đã tham gia cuộc biểu tình tưởng niệm 34 năm ngày Hoàng Sa bị mất vào tay Trung Quốc ngày 19.1.2008 (19.1.1974-19. 1.2008) – một cuộc biểu tình ngắn ngủi trước khi bị dập tắt nhanh chóng, nỗi buồn lớn nhất, sự chua xót lớn nhất đó là vì sao chúng ta không được phép lên tiếng? Nỗi buồn đó tôi cũng đã đọc thấy trong những đôi mắt ngơ ngác của những em sinh viên học sinh trong những ngày 9.12, 16.12 vừa qua khi những cuộc biểu tình của sinh viên học sinh và một số văn nghệ sĩ phản đối nhà cầm quyền Trung Quốc xâm lược Trường Sa, Hoàng Sa đã bị cản trở, làm khó dễ và sau đó là đủ mọi biện pháp đã được áp dụng để ngăn chặn ngay từ đầu. Vì sao? Vì sao chúng ta không được phép lên tiếng ngay cả khi lẽ phải thuộc về dân tộc ta? Có những lúc tình cờ đôi mắt ngơ ngác của một em sinh viên nào đó rơi trúng vào tôi, tôi nhìn thấy nỗi buồn trong đôi mắt em như em cũng đọc thấy sự chua xót trong tôi, và càng chua xót hơn nữa là cả hai cùng có câu trả lời nhưng thể nói lên lời. Thôi em ơi hãy về nhà lo học hành, làm một đứa con ngoan của ba mẹ thậm chí không lo học hành cứ vui chơi tiêu xài tiền của ba mẹ thời gian và tuổi trẻ của chính mình, tham gia vào mấy chuyện này làm gì không có lợi. Còn tôi ơi tôi cũng nên đi về nhà làm công việc của mình lo kiếm tiền lo kiếm danh, tham gia vào mấy chuyện này làm gì không có lợi.

Chính cách xử sự của Nhà Nước VN trong suốt những ngày qua đã làm cho bất cứ người dân Việt Nam nào nếu còn quan tâm đến vận mệnh đất nước đều cảm thấy chua xót, cay đắng, nhục nhã. Đồng thời, những ai nếu còn rơi rớt chút ngây thơ do đã được giáo dục theo kiểu một chiều, bưng bít thông tin quá lâu, ắt hẳn cũng tỉnh ngộ ra ít nhiều. À thì ra ngay cả biểu tình bộc lộ lòng yêu nước và là một phản ứng tối thiểu cần phải có của một dân tộc trước họa xâm lăng rành rành trước mắt của một nước khác mà còn “không được phép”, còn bị ngăn cấm thì hy vọng gì biểu tình để phản kháng trước bất cứ chuyện gì là nguyên nhân gây nên sự phi lý, bất công trong xã hội, hoặc đụng chạm đến quyền tự do, dân chủ, quyền con người trong xã hội, hoặc kéo lùi tiến trình phát triển của đất nước và có hại cho vận mệnh của quốc gia, của dân tộc…?

Hình đáng ghi nhớ: Song Chi và sinh viên biểu tình chống Trung quốc

Trong những ngày này, trái tim của bao người Việt Nam đang rỉ máu. Nỗi đau bị cướp đất cướp biển ngay trước mắt, nỗi lo họa xâm lăng lâu dài, nhưng đau đớn hơn là thái độ hèn nhát đến không hiểu nổi của chính quyền và sự vô cảm, dửng dưng của rất nhiều người cùng là đồng bào với mình. Có một điều nghĩ cũng lạ lùng, bao nhiêu năm qua, máu xương của dân tộc này đã phải đổ xuống quá nhiều, và những vết thương trong lòng người còn nhiều hơn, một dân tộc như vậy lẽ ra phải ngộ ra, tỉnh ra với một lực phản tỉnh cực kỳ mạnh mẽ để không được phép sai lầm nữa. Vậy mà…chưa bao giờ trong lịch sử, những người lãnh đạo đất nước lại hèn nhát, bảo thủ đến cùng như lúc này-thà mất nước chứ nhất định không chịu từ bỏ con đường sai, không chịu mất quyền lực, và chưa bao giờ mỗi lần con số ít ỏi những người dân Việt dám cất lên tiếng nói lương tâm lại cảm thấy cô đơn, lẻ loi giữa cộng đồng và bất lực như lúc này!

Nếu nói tính cách của con người làm nên số phận thì tính cách của một dân tộc cũng tạo nên số phận của chính dân tộc đó. Dân tộc tôi, bất hạnh thay, là một dân tộc cạn nghĩ, cục bộ, hay chia rẽ, lại thêm chưa hề được hưởng một nền dân chủ thực sự bao giờ nên cũng chưa hề biết sử dụng đúng nghĩa quyền công dân và quyền làm người của mình. Dân tộc tôi, bất hạnh thay, trong mọi lĩnh vực đểu hiếm hoi người tài, chính trị cũng vậy, không có nổi ít nhất một nhân vật biết (hoặc dám) chọn một con đường đi khôn ngoan hơn rộng rãi hơn cho dân tộc, biết (hoặc dám) đặt vận mệnh đất nước, vận mệnh dân tộc lên trên quyền lợi của một giai cấp một đảng phái.

Dân tộc tôi, bất hạnh thay, là một dân tộc cạn nghĩ, cục bộ, hay chia rẽ, lại thêm chưa hề được hưởng một nền dân chủ thực sự bao giờ nên cũng chưa hề biết sử dụng đúng nghĩa quyền công dân và quyền làm người của mình. Dân tộc tôi, bất hạnh thay, trong mọi lĩnh vực đểu hiếm hoi người tài, chính trị cũng vậy, không có nổi ít nhất một nhân vật biết (hoặc dám) chọn một con đường đi khôn ngoan hơn rộng rãi hơn cho dân tộc, biết (hoặc dám) đặt vận mệnh đất nước, vận mệnh dân tộc lên trên quyền lợi của một giai cấp một đảng phái.

Nguồn tin mới nhất cho biết vào ngày Thứ Năm, Ngày 7 tháng 5-2009, thông tín viên SB-TN từ trong nước gởi ra bản tin cho biết nữ đạo diễn Song Chi đã đào tỵ và xin tỵ nạn chính trị tại Na Uy (nguồn: http://www.sbtn.net/default.aspx?LangID=38&tabId=170&ArticleID=37142).

(Nguồn: Blog Song Chi, http://360.yahoo.com/profile-xHHl4WUidKhoJ3Ce.agDycCVSA–?cq=1)

Về con người và sự nghiệm Song Chi, xin mời xem: http://www.yxine.com/forum/forum.php?action=showmsg&box_id=3&msg_id=2795)

Vì biểu tình chống Trung quốc, nên đã bị mất hợp đồng với đài truyền hình HTV (TP.HCM) http://clbnbtd.com/modules.php?name=News&op=viewst&sid=524

 


Song Chi

 

 




Đáp Từ Của nhà báo Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh

Đáp Từ Của Nhà Báo Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh  SƠN ĐIỀN NGUYỄN VIẾT KHÁNH . Việt Báo Thứ Năm, 6/11/2009, 12:00:00 AM

Đáp Từ Của nhà báo Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh Trong buổi họp Chúc mừng 88 tuổi tối Thứ Tư June 3-09 ở San Jose

Tôi xuất thân làm báo từ năm 1948 ở Hà Nội, viết cho tuần báo Thanh Niên, chủ nhiệm là anh Trần Việt Sơn nay đã quá cố từ lâu. Lúc đầu tôi chỉ làm người phiên dịch các bản tin của Thông tấn xã Pháp AFP. Lúc đó là thời quân đội Pháp đã lâm chiến với Việt Minh. Năm 1951 tôi vào Huế làm thông tín viên chiến tranh cho AFP (Pháp tấn xã). Thời đó là thời của người Pháp. Năm 1952 người cầm đầu Văn phòng AFP ở Saigon là ông Norjeu đã giúp chính quyền lâm thời ở Nam Việt Nam vốn là thuộc địa của Pháp, do ông Trần Văn Hữu làm Thủ tướng, thành lập Thống tấn xã Việt Nam, gọi là Viet Nam Press (VP hay VTX). Năm 1952 tôi được gọi từ Huế vào Saigon, làm phóng viên cho VTX ở Saigon. Lúc đó Tổng Giám đốc đầu tiên của VTX là cụ Đoàn Quang Tấn vốn là Thạc sĩ Văn phạm tiếng Pháp, Quản thủ Thư viện ở Saigon, còn Norjeu là cố vấn của VTX, nên tôi vẫn phải chịu sự điền khiển của ông này. Sau, từ năm 1952 đến năm 1953, ông Nguyễn Văn Tâm làm Thủ tướng, ông Hoàng Văn Cơ, từ Pháp về làm Tổng Thư ký đầu tiên của VTX. Đến năm 1954 Hoàng Thân Bửu Lộc làm Thủ tướng (1954), Norjeu hết làm cố vấn.
Năm 1954, cụ Ngô Đình Diệm trở về nước, tôi với tư cách phóng viên đã ra tận Phi trường đón cụ, và được cụ cho tôi bài diễn văn đầu tiên của cụ để đăng trên VTX. Năm 1956, cụ Ngô lên làm Tổng Thống, tôi trở thành phóng viên đặc trách Phủ Tổng Thống và đi theo cụ trong mọi cuộc kinh lý. Năm 1963 cụ Ngô bị ám sát, tôi trở về Văn Phòng VTX ở Saigon làm Trưởng ban Pháp ngữ. Đến năm 1965 ông Nguyễn Ngọc Linh từ Mỹ trở về làm Tổng Giám đốc VTX, ông cử tôi làm Tổng thư ký Tòa soạn VTX. Đây là thời điểm đáng chú ý nhất, vì ông Linh đã chuyển đổi nghề làm báo ở Việt Nam đã cũ theo thời Pháp, sang nghề làm báo về cách viết tin cũng như về kỹ thuật sang nghề làm báo có tính quốc tế hiện đại. Ông gọi tôi lên Văn phòng của ông và bàn với tôi về sự chuyện đổi đó. Ông muốn tổ chức một lớp huấn luyện phóng viên cấp tốc ngay tại VTX. Tôi ghi ơn ông Linh ở điểm này vì tôi phụ trách lớp huấn luyện đó nên tôi được ông Linh dạy tôi và cho tôi sách để học về nghề làm báo hiện đại ở Mỹ cũng như nghề làm báo nói chung ở các nước tân tiến trên thế giới.
Vài tháng sau hai trường Đại học Việt Nam là Viện đại học Vạn Hạnh và trường Chính trị Kinh doanh Viện Đại học Dalat cũng mở Phân khóa báo chí để sinh viên theo học 4 năm, khi ra trường sẽ được cấp bằng Cử nhân Báo chí. Rất nhiều sinh viên đã theo học ngành này. Đây lần đầu tiên nước Việt Nam có trường Đại học Báo chí và tôi là Tổng Thư ký VTX, tôi được mời làm giáo sư đầu tiên dạy ở hai trường này.Các sinh viên được đào tạo đó đã  góp phần xây dựng nền tảng nghề làm báo hiện đại của Việt Nam. Từ lâu tôi đã nói cuộc đời tôi có hai sự may mắn. Thứ nhất là tôi đi vào nghề báo mặc dù thời còn trẻ khi mới vào đại học tôi đã học môn Khoa học, chú trong đến Vật lý học. Và cũng vào những năm đó, tôi không thể nào ngờ có một ngày nào đó, tôi sẽ đứng trên Giảng đường của trường Đại học để dạy về môn Báo Chí.
Vừa rồi anh Lê Phú Nhuận cựu nhân viên VTX, đã nói mấy câu thật bất ngờ, làm tôi rưng rưng nước mắt. Đó là năm 1974, vì lý do riêng tôi phải rời bỏ VTX, sau đó anh Lê Phú Nhuận được cử thay thế tôi và anh Bùi Ngọc Dung làm phụ tá. Anh Nhuận vừa rồi đã nói cả hai anh, không anh nào muốn ngồi vào trong cái lồng kính, nơi có đặt bàn giấy của tôi ở VTX, để tỏ lòng kính trọng tôi. Các cựu nhân viên nam nữ VTX năm xưa ở Việt Nam có mặt ở nơi đây tối hôm nay, những ân tình của các em đối với anh, người anh cả trong gia đình Việt Tấn Xã của chúng ta, đã làm anh vô cùng xúc động.
Sau đó anh Khổng Trọng Hinh đại diện các cựu sinh viên Đại học Vạn Hạnh năm xưa đã lên chúc mừng tôi. Hinh thân mến và tất cả các cựu sinh viên Vạn Hạnh, những người con của Thầy có mặt nơi đây để chúc mừng Thầy, những lời Hinh vừa trình Thầy thật quý giá và đặc biệt những lời sau chót của Hinh làm Thầy cảm kích và trong trái tim Thầy rộn lên một niềm vui. Sau này khi Thầy ra đi vĩnh viễn khỏi dương thế này, các con vẫn nhớ đến Thầy, nhớ đến những lời Thầy dạy như thời Thầy đứng trên bục giảng đường thời Thầy còn sống. Thật không ngờ tình nghĩa Thầy Trò của chúng ta lại sâu đậm đến thế này. Thầy rất cảm động và hãnh diện được có những người học trò, những người con xứng đáng như các con có mặt ở nơi đây tối nay.
Các em Cựu nhân viên VTX, các Cựu sinh viên Vạn Hạnh, Thầy cám ơn tất cả các con.
Tôi cũng xin thành thật cám ơn các nhà báo, những đồng nghiêp của tôi đến dự cuộc họp măt này.
Từ lâu tôi đã nói đời tôi có hai sự may mắn. Một là tình cờ tôi được bước chân vào nghề làm báo, trong khi lúc còn niên thiếu, tôi chỉ ước mơ trở thành một nhà khoa học suốt ngày cặm cụi trong phòng thí nghiệm. Hai là tôi đã trở thành một giáo sư Đại học để có những người học trò, như các con tôi, đã dành cho tôi những ân tình thật thắm thiết, làm ấm lòng tôi khi tuổi đã về già.
Giờ đây lòng tôi đã thanh thản. Tôi sẵn sàng chờ lệnh của đấng Tối Cao ở trên cao thẳm đó. Khi Người gọi: "Khánh!". Tôi sẽ đứng nghiêm thưa: "Có con đây". Khi Người phán " Về đi". Tôi cúi đầu "Dạ". Và tôi ra đi với một nụ cười. vì tôi đã mãn nguyện với cuộc sống của tôi trên Trái Đất này.

Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh




Buồn Cười Chả Được : ĐIỀU 4 HIẾN PHÁP

Buồn Cười Chả Được

 

 

ĐIỀU 4 HIẾN PHÁP

"Các đồng chí CHẠY ĐI ĐÂU ?"

 

L.V.

 

Nhân đọc bản văn tài liệu "Cán bộ TC họp tại Hoa Nam bàn việc chiếm VN" đăng trên VTVN-tháng bảy 2009

 

 

–Hiến Pháp 1946 không ban hành

–Hiến Pháp 1959 Tôn Đức Thắng ký, ngày 31-12-1959

— Hiến Pháp 1980, Nguyễn Hữu Thọ ký, ngày 18-12-1980 : Điều 4 : Đảng Cộng sản Việt Nam, … được vũ trang bằng học thuyết  Mác-Lênin, là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội…

–Hiến Pháp 1992 : Nông Đức Mạnh ký, ngày 15-4-1992, Điều 4 : Đảng Cộng sản Việt Nam … là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội.

–Hiến pháp 2001 : Nguyễn văn An ký, ngày 25-12-2001, điều 4 Đảng Cộng sản Việt Nam …là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội.

 

Năm bản Hiến pháp trong nửa thế kỷ họa hại, đem tang tóc khủng khiếp lại cho dân tộc và Lịch Sử Việt Nam , ba bản hiến pháp 1980-1992-2001 do ba ông Nguyễn Hữu Thọ, Nông Đức Mạnh và Nguyễn Văn An ký, sửa đổi các điều khoản, trong đó chủ yếu là lập dựng và giữ chặt điều 4, đưa đảng Cộng sản Việt nam vào thế là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội, nhưng chỉ một hiến pháp do tên giặc trí thức Nguyễn Hữu Thọ phản quốc ngu xuẩn là có chữ quyết chắc "Đảng Cộng sản VN là lực lượng duy nhất lãnh đạo nhà nước và xã hội ", thế thì trong giai đoạn cần thiết điều 4 yêu nghiệt này vẫn dễ dàng sửa đổi được, ba bản hiến pháp dành độc quyền cai  trị cho đảng Cộng sản vẫn để "cửa không khóa", đợi khi cần mở thì vẫn mở được, cửa không khóa chứ không phải là "hàn chặt lại không có chỗ mở", dù vậy, ở đây cũng không bàn đến chuyện mở đóng ; ở đây , chỉ nói về một chuyện vu cáo (!!!???)  nghe buồn cười mà cười chả được !                    

                  Sau một thời gian dài nước không có hiến pháp chính thức , tức hoàn toàn không có pháp luật nhưng tràn ngập mọi biến loạn chết chóc tan hoang , tự mình tiếm quyền độc tôn cho mình lãnh đạo đất nước theo chủ nghĩa ngoại lai một mình mình chọn, thứ chủ nghĩa yêu nghiệt phản nhân loại đã bị cả nhân loại  chế giễu gạt bỏ,  đảng cộng sản VN làm công việc rõ ràng là áp đặt buộc toàn thể người VN phải theo cộng sản, suốt hơn nửa thế kỷ đày đọa dân tộc, phá tan hoang đất nước, giết ngưới quá nhiều, lại phạm vào tội khủng khiếp lịch sử VN chưa có trường hợp nào như thế, là: bán, giao biển, đảo, đất cho giặc ngoài, bị toàn dân chống trả thì đàn áp thẳng tay rồi lén đưa giặc vào giữa giang sơn đất nước , ẩn danh dưới áo công nhân đào mỏ , cho giặc phục sẵn để chờ cơ hội thuận tiện là ra tay thôn tính ! Bảo rằng đấy là vu cáo cho đảng cộng sản, những người lãnh đạo cộng sản ư ? Bằng chứng rõ ràng và đầy đủ ai cũng biết ! Bảo rằng đấy là lời lẽ hục hặc của bọn xấu "phản động" đầu óc hoang tưởng chống lại đất nước ư ? Phải chi bọn phản động trong ngoài nước nói ra thì có thể bảo là bôi bẩn , vu cáo được, đằng này lại chính thầy của các ông, khách mua nước của các ông là bọn ngoại thù đại nghịch nghìn đời của dân tộc ta nói ra, nó là bọn Tầu ở phương bắc nói , thái độ đểu cáng , hành động " dã man " này của chúng chẳng khác gì thằng hãm hiếp nàng Kiều của ông Nguyễn Du đã đời rồi đi rêu rao vùi dập cô nàng có ý báo cho cả thiên hạ hay biết, cái này mới thật là buồn cười chả được !

 

Vậy, chúng nó, bọn giặc thù truyền kiếp của dân tộc ta, nó nói gì ?

 

Trước khi nghe nó nói, ta hãy nghe xem " ta " nói gì đã, đây là phép ăn ở tốt đẹp, ta xét ta trước rồi hãy xét thiên hạ sau.

 

Ta, là mấy lần lời ngài chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết nói, ngài bảo :"… bỏ điều 4 hiến pháp, ấy là ta quyết định tự sát ", cái điều 4 này trong ba bản hiến pháp nó đem lại quyền uy tuyệt đối độc tôn cho đảng cộng sản của ngài, sao lại là một trong " tam ban triều điển" ghê gớm ấy là thế nào ? Điều 4 hiến pháp của các ngài, có do toàn dân VN bắt các ngài phải ghi vào đấy đâu, mà chính các ngài chọn, thích, mê quá rồi tự mình viết vào, chứ hai bản hiến pháp đầu tiên (không chính thức ban hành) có nói thế đâu, vậy có lẽ nào điều 4 hiến pháp lại là thanh gươm bén, chén thuốc độc, giải lụa ban cho kẻ trọng tội để tự kết liễu đời mình !? Nghe ba cái thứ ấy, thấy ớn quá !

 

Ngài chủ tịch khả kính thật lòng đã nhận ra điều 4 ấy là một họa hại khủng khiếp không thể tránh khỏi được dành cho đảng cộng sản và các đồng chí đảng viên của ngài, nó là ba "món tự chết" thật ! Có nhẽ nào 2 triệu con người cộng sản đồng chí của ngài, lại duy nhất chỉ một mình ngài ngộ ra như thế ! chắc là nhiều, nhiều lắm, có khi tất cả !

 

Nhưng, đại công cứu nước dựng nước , đem lại phúc trạch cho muôn dân, thì phải được ca tụng, ca tụng đời đời, lập miếu dựng đền quanh năm hương khói phụng thờ mới phải, chứ sao chỉ nhẹ nhàng nhấc bỏ một vài chữ mà lại là cái họa khủng khiếp đến như vậy cho các công thần cứu quốc hộ dân ? Đại tội tày trời mới " bị " vua  bắt phải nhận "tam ban triều điển" — tức là được ơn huệ tự chết chứ không phải ra pháp trường chịu chém ngang lưng, bốn ngựa xé xác –, thế thì điều 4 hiến pháp nhất định phải là nguồn gốc của tất cả mọi tội ác trời không dung đất không tha , ngài chủ tịch đã ngộ ra, ngộ rất kỹ nữa là khác !? Có lẽ nào lại có việc vu khoát đến như vậy, mà lại do chính ngài chủ tịch nói ra công khai cả và nhân loại đều nghe thấy !

 

Chả thế, mà ngay đến cả đứa người ngoài, bọn địch thù truyền kiếp nghìn đời của dân tộc ta nó cũng nhìn thấy, nó cũng lại biết rõ nguồn cơn, cho nên nó mới hỏi các ngài : "…trong tình thế hiện nay, Việt Nam không còn lựa chọn nào khác, không còn con đường nào khác hơn là trở về với tổ quốc Trung Hoa vĩ đại. Đi với Mỹ chăng ? Thì các đồng chí chạy đi đâu ? Trở về với tổ quốc thì các đồng chí mới tiếp tục tồn tại như những ông chủ duy nhất trước hiểm họa của bọn dòi bọ đang tích cực phản công nhằm tống cổ các đồng chí ra khỏi chỗ ngồi của mình " đấy là một câu trong cái bản văn rất đáng kinh hoàng kia !

 

Nghe khiếp quá ! Hãi thật ! Thế là thế nào ? Thế thì họa hại sinh ra từ điều 4 là có thật !!!??? Đã là họa hại, thì tìm cách dứt bỏ nó đi, trì hoãn làm gì cho thêm tai họa, mà dứt bỏ nó thế nào ? Ngài Chủ tịch quyết liệt giữ nó làm gì , ngài và "chúng ta" của ngài sợ cái " tam ban triều điển " chăng ? Có sợ, bọn phía bắc nó mới nói mới dọa như thế và ngài chủ tịch cứ đòi giữ cho chắc điều 4 ấy chứ !

 

Theo lời bọn bắc thù bảo , thì bọn nào là dòi bọ, dòi bọ nó đòi cái gì ? Sao chúng nó, bọn dòi bọ,  lại đang tích cực phản công nhằm tống cổ các đồng chí ra khỏi chỗ ngồi của mình ? Mấy tên giặc thù nghìn đời của ta nó đang vu cáo, hù dọa các ân nhân của cả dân tộc ta, các thủ lĩnh cộng sản tinh hoa của đỉnh cao trí tuệ, đang vinh quang dẫn dắt cả nước ta đi xuống thiên đường cộng sản, sao bọn dòi bọ nào lại phản động đến độ sắp tống cổ các ân nhân ra khỏi chỗ ngồi của các ngài là thế nào? Bọn thù phương bắc đang dối trá, vu cáo, bịa đặt, dọa nạt các ân nhân của ta để âm mưu gì đây !? Nhà nước ta lẽ ra phải có lệnh "bắt khẩn cấp bọn này" khẩn cấp gấp trăm lần bắt khẩn cấp những tên dòi bọ Lê Công Định, Trần Anh Kim, Nguyễn Tiến Trung mới phải !

 

 

 

                             

       

       Mà rồi nó lại nói có ý bảo trở về với tổ quốc, là thế nào ? Tổ quốc Việt nam ta ta ở, thế là trước sau ta vẫn trung thành với tổ quốc ta, sao nó lại xui dại, kêu gọi các ngài trở về với tổ quốc nào nữa , xem ra nó bảo nước Tầu là tổ quốc của các ngài chứ không phải Việt Nam là tổ quốc của các ngài cộng sản ! Nó nhắc các  ngài nên trở về với tổ quốc thực của các ngài là nước tầu ! Lạ !

 

Nó lại rêu rao vẫn trong cái bản văn ấy : nước Việt Nam là đất đai của nó, nay nó đưa đất đai ấy và các ngài trở về với tổ quốc cũ, thế là phải, và : nó chẳng cướp chẳng xâm đoạt đất đai của ai, hai bên Trung Việt thương thuyết công khai thuận mua vừa bán , ai bán ai mua cái gì trên bàn thương thuyết, có nhẽ nào mua bán ở bàn thương thuyết công khai là bán nước và mua nước ??? Nếu không phải thế, thì thuận mua vừa bán là "thuận mua vừa bán" cái gì? Hội nghị thương thuyết việc quốc gia lớn đến thế, mà lại là việc " thuận mua vừa bán " như mua mớ rau con cá ở chợ sao ? Đúng là nó vu cáo ! Đại vu cáo ! Nếu cái gì là của nó như nó quả quyết, thì nó cứ đòi mà lấy lại , sao nó lại phải " thuận lòng mua với cái giá mà bên bán đưa ra ", rõ là đại vu cáo , bọn này từ nghìn xưa vẫn nức danh về tài vu cáo, cứ vô liên sỉ mà vu cáo, mấy nghìn năm rồi mà thói tật cũ vẫn không chừa , thời buổi này mà vẫn còn sống và nghĩ theo cái cách hồi nghìn năm xưa để vu cáo các thủ lĩnh cộng sản VN là bán nước ! Láo toét !

 

Thôi thì, trước khi xét người , lần nữa ta lại xét ta trước đã xem sao ! Thiên hạ xầm xì to nhỏ , hay lớn giọng hô hoán, có khi cũng có vài phần đúng trong muôn vàn phần của việc.

 

Ta bình tâm suy nghĩ .

 

Ít ra cũng là đã hai lần, ngài chủ tịch nước khả kính công khai nói :" bỏ điều 4 Hiến pháp là ta tự sát ", điều 4 Hiến pháp nói cái gì, ai tự sát, tại sao lại tự sát, ai cũng biết ! Nước Việt nam ta anh hùng, nhờ có đảng mà đang từ súc vật được đứng lên làm người như lời đại thi sĩ thiên hạ bảo là đồ tể văn nô Tố Hữu viết, ơn tày trời như thế viết rõ vào điều 4 hiến pháp tự mình trao quyền cho mình khoe là … được vũ trang bằng học thuyết Mác-Lênin, là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội… là phải quá rồi , bỏ điều 4 này đi làm gì, việc gì phải bỏ ? Cái gì hư, hỏng, thối, nát, cũ kỹ không còn dùng được việc gì nữa , để thì chỉ thêm chật chỗ làm hư thối lây sang các cái bên cạnh, thì mới đáng phải bị loại bỏ đi ; cái gì là tai hại, họa hại, gây độc, phá hại, chết chóc, đáng kinh tởm thì mới phải loại bỏ đi ; kẻ xấu xa đầy tội ác không thể nào cải tạo lại được nữa, thì phải loại bỏ nó ra khỏi cộng đồng xã hội, nghĩa là đem nó ra cho nó "tựa cột" ; lớn rộng ra và cao hơn tất cả là chế độ cai trị lạc hậu, chuyên quyền độc đoán hung tàn ác độc như bọn quân chủ láo lếu ngày xưa thì phải loại bỏ ; chế độ tham tàn lấy chém giết làm châm ngôn chỉ đạo như đám bọn Hitler, Mussolini, Togo, rồi Honecker, Saddam Hussein…, là bọn cầm đầu của nghiệt chế cai trị ngày nay phải tiêu diệt nó đi là đúng, và nhân loại đã làm, đã tiêu diệt nó rồi.

 

Còn đảng ta, một đảng ân nhân của Việt Nam, theo chủ nghĩa đầy thèm ước " làm theo khả năng, hưởng thụ theo nhu cầu" , dân chủ hơn thiên hạ dân chủ triệu lần, là chủ nghĩa ân nhân đi giải phóng cho cả nhân loại, hiến pháp nước ta dân chủ nhất thế giới đã ghi rõ ràng trong điều 4 về quyền độc tôn cai trị vĩnh viễn của đảng ta là rất phải , bọn dòi bọ dân chủ (lời của bọn Tầu) nào lại đòi bỏ điều 4 là sao ?

 

Khổ một nỗi : bọn đại thù phương bắc chính chúng nó cũng đang lâm nguy về cái nghĩa của điều 4 trong hiến pháp của các ông cộng sản VN, nó đang hết sức chạy chọt để làm theo hiểm kế của tể tướng Vương An Thạch xưa : đánh chiếm Đại Việt để hưng khởi lòng người , thoát cái nạn bị Hạ, Liêu áp bức…, nhưng nó hiểm độc gấp trăm lần tể tướng Vương An Thạch thời nhà Tống, nó hiểu rõ và không dám, không thể dùng đến trò gươm giáo mà công khai cướp Việt Nam được, cho nên nó xoay xở đủ trăm phương ngàn quỷ kế trong đó có cái kế "miếng thịt Tây Thi" để làm cho được cái việc nó nói là "thuận mua vừa bán" mà chẳng phải là thuận mua vừa bán một mớ rau trong gánh , mà tài tình ở chỗ mua một mớ rau được cả ruộng rau ba mẫu, mua con săn sắt được cả con cá ngừ đại dương 5 tạ ! Có mụ bán hàng nào lại tài giỏi về việc mua bán đến vậy, các cụ xưa có câu "buôn b… bỏ xọt " cũng không đến nỗi như thế ! Vậy mà nó nói có (và có thật) , nhâng nhâng mà nói như vậy ! Rõ buồn cười chả được !

 

Mưu hiểm của giặc nó chẳng thèm giấu kín, nhưng công khai mà tiến hành, lẽ nào các thủ lĩnh cộng sản anh hùng , đỉnh cao trí tuệ của ta lại không biết, không hiểu ra, không triệt tiêu nó đi, không cãi " Không ! Không ! No ! No ! Mẩu hẩu ! Mẩu hẩu!", mà lại " Ừ ! Iét ! Hảo lớ ! " để cứ nói mãi "Bỏ điều 4 hiến pháp là ta tự sát ", bọn đại thù của dân tộc ta nó còn vênh mặt hỏi " đểu " các ông : "… các đồng chí chạy đi đâu ? " Sao lại phải chạy , nước ta ta ở, kẻ tội phạm mới phải chạy trốn lệnh truy nã như bọn năm xưa bỏ của chạy lấy người ra biển đi trốn các ngài, các ngài có công lao đối với nước vẫn nói là nhiều hơn cả sao trên trời, công đức được thờ chung với đức Phật ở đền chùa, thế thì mấy con dòi bọ dân chủ là cái gì mà đến nỗi phải sợ mà chạy !? , để cho bọn tầu nó hỏi đểu " các đồng chí chạy đi đâu ?"

 

Nó xui các ngài chạy sang Tầu, nó bảo nước Tầu là tổ quốc của các ngài ! Không chạy sang Tầu như thầy trò ông vua Lê Chiêu Thống năm xưa, thì chạy đi đâu !?

 

Các ngài thủ lĩnh cộng sản, giả thử các ngài bỏ chạy sang tầu thật, thì 2 triệu đồng chí của các ngài phải tính sao ? Lẽ nào lại bỏ nhau trong cơn hoạn nạn vì dòi bọ dân chủ ! Bầu đoàn thê tử lôi thôi lốc nhốc đông đến vậy đường nào mà đi cho khỏi bị kẹt lối, xe nào mà kịp chở cho hết ! Bọn tầu nó bắt chước tổ tiên ta đánh " đòn tâm công " để làm cái việc "mua mớ rau được cả ruộng rau, mua con sắt để được con ngừ" , sao lại có thể để nó lừa được !

 

Chúng nó còn nói nhiều, nhiều điều nhiều việc lắm , nay chỉ nói một việc " các đồng chí chạy đi đâu ", để bênh các ngài !

 

Cũng lại nhắc để các ngài nhớ, vì trong cơn hoạn nạn vừa mua bán tấp nập vừa vì sợ hãi bấn quá thành ra các ngài u mê đi rồi quên mất, rằng : cánh cửa lớn, lớn lắm của dân tộc Việt Nam lúc nào cũng vẫn mở rộng để thương xót đón lại những đứa con hư hỏng tội lỗi, biết hối tội ăn năn quay đầu trở về với Tổ quốc Việt nam của nó, dân ta có câu "chín bỏ làm mười "  chứ thật ra năm bảy cũng sẵn sàng bỏ làm mười đấy . Đừng để cho câu hỏi đểu của giặc thù nghìn năm ám ảnh nữa " các đồng chí chạy đi đâu?",  mà hãy núp sau lưng mẹ Việt Nam , tình nghĩa bao la như trời biển của mẹ sẽ bảo vệ cho tất cả, dù là con ngoan hay con ngỗ ngược từng gây trọng tội rủa xả đào mồ cuốc mả tổ tiên, vu cáo chửi cha là đồ hiếp dâm uống máu bần nông , chửi mẹ là thứ quen lười biếng nghiện thói đĩ điếm, rồi đánh giết anh em… đối với mẹ thì những thằng nghịch tử ấy cũng đều dễ dàng được mẹ tha thứ ban phước bình an cho , việc gì cũng là chưa muộn, mà sẽ chỉ là quá muộn khi phải thực sự trả lời thuận theo câu hỏi đểu các đồng chí chạy đi đâu !? của bọn tầu đại thù phương bắc, về với mẹ chứ đừng chạy theo bọn đểu cáng ! Đừng làm trò cười nghìn năm cho người đời khiến các đời sau con cháu phải bảo : buồn cười chả được, như buồn cười chả được cảnh vợ chồng Honecker tan thây bên tường biệt  thự, như Saddam chui đầu vào dây thừng thòng lọng to tướng chứ không phải là dải lụa tam ban triều điển !

L.V.

…………………………………………………

BUỒN CƯỜI CHẢ ĐƯỢC

 

Xem Hoa Ngửi Hương

hay

Bát Cơm Cà

 

L.V.

 

 

Mưa như trút nước, đất trời mù mịt, thế mà ông già nhà quê ”Buồn Cười Chả Được"  cũng tới, tay cụp ô gãy 3 nan gọng, chân bê bết bùn đất khoắng khoắng vào vũng nước mưa, vào nhà bỏ khăn chữ "nhân" đội đầu gián nhấm , cởi khuy áo the thâm, ề à bảo Mưa quá, ngồi nhìn mãi bụi tre rũ rượi như con mẹ đi đánh ghen, xem tây-uy ngẫm nghĩ chẳng biết làm gì , mới lấy bút giấy của thằng cháu nội viết vài chữ , ý muốn đệ trình lên vua… vừa nói ông vừa luồn tay vào trong áo cánh cổ lá sen, lấy từ chỗ cạp quần ra xấp giấy mấy tờ cong cong theo vòng bụng phệ nóng hơi người, bảo Đọc đi xem sao !

 

Bảo đọc thì đọc, bèn mở giấy, hóa ra ông lão viết bằng bút chì, chữ lên chữ xuống, lại có những chỗ chắc là lấy ngón tay dấp chút nước bọt tẩy tẩy rồi viết lại, ông lại nói : Ông cha chữ nghĩa bia làng còn đề tên, rõ buồn cười đến đời mình đói ăn chữ nghĩa lại càng đói, nghĩ thẹn cả mặt ông cha !

 

Ông đói ăn đói chữ viết :

 

-một là, vững gốc nước, diệt tham bạo thì yên lòng người

-hai là, giữ đúng quy định, bỏ xách nhiễu thì kỷ cương không rối

-ba là, loại kẻ quyền thần để tránh họa cho nước

-bốn là, đuổi những kẻ tham nhũng , trừ tệ khoét đục của dân

-năm là, chấn chỉnh học hành, làm cho đạo lý sáng tỏ đất trời 

-sáu là, mở đường cho người nói thẳng, mở rộng cửa đón lời can ngăn như mở rộng cửa thành

-bảy là, kén quân chú trọng vào dũng lực không cần đẹp dáng

-tám là , phong tướng lấy người thao lược, không căn cứ vào thân phận

-chín là, khí giới  quý về bền sắc, không cần hoa mỹ lòe loẹt

-mười là, trận pháp cốt cho chỉnh tề, không cần khoa trương.

 

" Đấy là 10 điều bà cung phi Nguyễn Cơ, tự là Bích Châu, của vua Trần Duệ tông (1372-1377), bà là con quan Đại Thần, được phong Tả Cung Quý Phi, cung hiệu là Phù Dung, dâng lên vua, bà đã nhìn thấy triều chính suy vi, vận nước sắp đi vào đen tối, vua đọc rồi khen hay quá, ban khen chẳng hết lời, nói rằng: " không ngờ một người đàn bà lại thông tuệ đến thế, quả xứng đáng là một Quý phi tài ba của Trẫm !" , khen thì cứ khen , nhưng vua lại chẳng làm gì cả, mọi việc tồi tệ cứ tiếp tục !

 

Hậu thế bảo : bà là người phụ nữ đầu tiên dâng biểu can vua . Rồi vua muốn đem binh tướng đi đánh Chiêm Thành, bà hết sức can gián dẫn các truyện xưa để nói đại ý : nên lấy đức mà thu phục thiên hạ, tránh dụng bạo lực để ổn định nhân luân , vua vẫn không nghe, bà thở dài xin được theo quân "cho vẹn nghĩa vợ chồng" ; quân thủy của vua đến cửa biển Kỳ Hoa (Kỳ Anh) thì dông bão dữ dội, vua nằm mộng thấy Thủy thần xin vua ban cho một người vợ nếu không sẽ tác quái, bà Bích Châu tình nguyện hiến thân, khóc mà tâu vua : " Cái nguy sóng gió kia, chứng nghiệm đã báo trước; nếu không phải là oan khiên ngày cũ, tất cũng chướng nghiệp ngày nay; thiếp  không dám tham luyến hồng hoa, tiếc thân bồ liễu, xin được trả cho xong cái nợ trước mắt kia…" bà đã tình nguyện để vua và các binh tướng được bình yên, rồi bà nhẩy xuống nước tự trầm, dông bão tan ngay, biển yên sóng lặng, sách ghi hôm ấy là ngày 27 tháng Giêng năm Đinh Tỵ.

 

Gần một thế kỷ sau, vào năm 1470 vua Lê Thánh tông đem quân đi đánh Chiêm Thành, lại đến biển Kỳ Hoa, Bích Châu hiện lên dâng ngọc báo mộng kể việc xưa, xin được theo vua đi trận trợ giúp, truyện lạ là biển nổi sóng thi hài phu nhân gần trăm năm lại nổi lên dung nhan vẫn tươi đẹp, vua cảm động cho mai táng theo lễ hoàng hậu, lại phong thần là " Chế Thắng linh thần" , lập miếu để cho dân địa phương hàng năm có lễ tưởng kính người xưa."

                                                                                                        

Đấy là tóm lược một truyện trong Truyền Kỳ Tân Phả của bà Đoàn Thị Điểm (có tất cả 7 truyện), truyện người phụ nữ duy nhất trong quốc Sử tự cầm bút ngự sử , lại sẵn sàng hi sinh cả cuộc đời trẻ trung đầy phúc trạch để " giúp vua giúp nước ".

 

Mười điều khuyên vua — Kê Minh Thập Sách — không kể 4 điều nói về việc quân, 6 điều chính sự xưa nói cách xa sáu bảy thế kỷ nghe sao giống quá với những việc hôm nay ! Vẫn những " tai họa " ngàn đời không đổi khác ! Sáu điều tai họa triền miên cùm chân trói tay bịt miệng nhân dân , nhìn ra bốn phương hoàn vũ thấy các vua thiên hạ vâng lời dạy bảo của Tả Cung phi Bích Châu của vua Trần Duệ Tông thì quả nhiên nước yên, dân tình sung sướng , quốc gia được thiên hạ kính ngưỡng. Lại nhớ xưa , thời nửa trời cao mây đỏ rực, lê dân cũng đứng trên địa cầu mà hóa ra là sống trong địa ngục, ấy cũng bởi các bạo-đế lấy việc bịt miệng cùm chân trói tay bách tính làm quốc sách bạo tàn, để đến nông nỗi nhân loại lầm than, oán khổ ngút trời không con số nào ghi được hết !

 

Thế rồi, lưỡi rìu bén ngọn búa nặng tưởng là đốn ngã đập nát được hết ý chí của lê dân, thì lại một ngày hóa ra búa ấy đập sập tường ô nhục phá tan ngục tai ương, rìu ấy chặt đứt cùm chân xích cột tay, cạo sạch keo dán miệng, lê dân lại đứng lên bước đi giơ cao tay hát vang bài ca tự do . Bạo đế tan thây nát thịt, chết gục trong ngục tù, nghìn đời mang mãi tiếng ô uế.

 

Mây đỏ nửa trời nhạt hẳn chuyển sang xanh ngắt, nhân loại tưởng khắp nơi đã cười được cả, miệng nào cũng được nói tiếng nói của người, chân nào cũng được bước đi theo kiểu đi riêng hai chân của giống người, tay người tài hoa làm nên được cuộc sống hạnh phúc của bàn tay năm ngón tinh hoa của vũ trụ giữa muôn loài, nhưng " ráng chiều còn đỏ rực ở phương đông ", miệng mồm lại bị khóa chặt, bước đi vẫn bắt phải theo cách đi của thú vật, bàn tay phải bắt quyết kiểu yêu ma lạy phục, vì thế sáu điều khuyên vua về chính sự của đấng nữ thần hóa ra lại vẫn còn dội ầm ầm đến tận hôm nay !

 

Đời Trần bậc nữ lưu ngự sử tự nguyện nói : vững gốc nước, diệt tham bạo thì yên lòng người, đời Lê có học sĩ bảo : việc chính trị cốt ở chỗ yên dân , khuyên dạy của tiền hiền nay chẳng bằng gió thoảng, cho nên hiến pháp như sơn, quy định rành rành thế mà không giữ, tha hồ sửa đổi , kỷ cương nát bét, trên dưới một hành động tham lam nhũng nhiễu , con dân có khác gì như thỏ non nhốt chung lang sói ; cung phi tiền hiền nói vào tai vua : loại kẻ quyền thần để tránh họa cho nước, đuổi những kẻ tham nhũng , trừ tệ khoét đục của dân , danh sĩ Chu An dâng sớ hạch tội đòi chém 7 đứa gian nịnh thần để yên phép nước, vua điếc thì bỏ mũ cởi áo dài đai rộng về quê , ngày nay quan quyền tham nhũng nhiều như cỏ gặp mưa nhìn đâu cũng thấy; bậc nữ lưu cung phi còn biết dạy vua chấn chỉnh học hành, làm cho đạo lý sáng tỏ đất trời , hiền nho còn có lúc phải chấn chỉnh việc học hành để đạo lý soi tỏ trời đất, thì làm sao ngày nay xã hội nhiễu nhương khinh bạc kẻ sĩ mua chữ bán danh đến thế lại chẳng dẫn đến suy đồi đạo lý cho được, khiến cho đất trời tăm tối âm u , vua mắt không nhìn thấy việc nước việc dân, tai không nghe thấy trăm họ oán than gào thét, cứ một mực thiên hạ sai chỉ mình ta đúng mà quên Lê Ninh Tổ sư dạy bảo kẻ cầm quyền : ta bảo điều ấy của thiên hạ là sai, chính là ta đang sai…

 

Sai lầm cứ như cát ở đáy sông cuồn cuộn kéo đi với đủ thứ ô uế bồi dầy mãi lên, không làm sao xúc hết đi được nữa, tới lúc ấy thì làm sao tránh khỏi được tai họa nước tràn , sao lúc này lại vẫn còn cứ cố đi ngược lại điều ngày xưa đấng cung phi rót vào tai vua : mở đường cho người nói thẳng, mở rộng cửa đón lời can ngăn như mở rộng cửa thành , nói thẳng thì cho là nghe nhức tai buốt óc, can ngăn thì giận mà thấy chẳng khác gì như chịu dao sắc cắt vào da thịt ; tham tàn quen thói, bạo ngược thành tính, nợ nần chất cao như trăm núi, dài như trăm sông, đành là cửa ngục lại mở rộng thay vì mở cửa thành , xích lại khóa tay, cùm lại giam chân, miệng lại gắn nhựa trám thay vì quan lộ thênh thang thành không khép cửa tha hồ cho thiên hạ tự do đi lại ; mọi việc lỡ rồi, ngài Thích Ca bảo : quay đầu lại là thấy bến , nhưng biển ác đào mãi thì mênh mông mà bến ở xa quá chẳng thấy đâu, nên tiếng gọi dịu dàng của sĩ phu nghe xa xôi mơ hồ không làm sao hiểu được, mắt người vốn bị thay bằng mắt quỷ nhìn ra chỉ thấy sĩ phu lẫn đám dân đen toàn là phản động lăm le cướp ngai vàng, khu trục yêu ma, sợ mà không làm cách nào để dẹp được, thế là đành cửa thành lại đóng kỹ, gươm dao lại mài cho bén !

 

Đương đại sao chẳng nhớ việc xưa tổ tiên ta từng dụng đến tâm công để hàng phục thiên hạ, tổ tiên đời nào cũng ban ân sủng cho giặc cướp nước được sống mà về, lại cung cấp cho chúng cả thuyền ngựa tiền bạc , đối với giặc thù còn thế thì sao đối với con dân hiền hòa lại chỉ một mực cho vào ngục tù chỉ vì con dân đòi bỏ cùm chân tháo xích tay gỡ bỏ keo dán miệng !? Việc làm của người xưa vừa hiển hiện được đức lớn của người quân tử, vừa cho thấy trí sáng của nhà cầm quyền, ngày nay sao vua quan lại tàn nhẫn giam ngục tù chính những ưu tú mọc từ vùng đất hoang dã của các ngài lên thành những bông hoa quý, họ là những Nguyễn văn Đài, Lê Thị Công Nhân, Tạ Phong Tần, rồi mới đây là Lê Công Định…, rõ ràng họ không phải là " bọn ngụy miền Nam phá hoại" mà là những hạt nẩy mầm mọc lên từ bùn tanh Mác-Lê mà lại tỏa hương thơm ngát! Sao lại muốn tru diệt những bông hoa quý ấy ? Cũng mới đây , bông hoa Cù Huy Hà Vũ con nhà nòi mọc từ đất Mác Lê nói gì, liệu tinh hoa này có sắp đi gặp Lê Công Định hay không ? Mai, mốt, còn những ai ?                

             

Tất cả những con người ấy chỉ có cái bút trong tay, không biết gì đến súng đạn, nhưng họ lại dũng mãnh đứng lên, vòi vọi như trẻ nhỏ làng Gióng ngày xưa, trong khi ấy thì vua quan có binh hùng tướng mạnh nức danh hoàn vũ, thì im lặng trước thế nước nghiêng ngửa vì giặc ngoài, không khéo lại sa vào trái ngược với 4 điều việc quân của Cung phi ngày xưa dạy vua : quân chú trọng vào dũng lực , tướng thao lược, khí giới bền sắc, trận pháp chỉnh tề . Quân thiện chiến, tướng thao lược, khí giới lợi hại, trận pháp huyền nhiệm thì giặc nào dám đụng đến nước ta, an bình thịnh trị vẻ vang thì phản động nào lại dám chống lại minh quân lương tướng !

 

Vua xưa có quý phi hi sinh tự trầm bảo là để  : Cái nguy sóng gió kia, chứng nghiệm đã báo trước ; nếu không phải là oan khiên ngày cũ, tất cũng chướng nghiệp ngày nay; thiếp  không dám tham luyến hồng hoa, tiếc thân bồ liễu, xin được trả cho xong cái nợ trước mắt kia… , nguy sóng gió nào, chứng nghiệm nào báo trước ? Oan khi ngày cũ là oan khiên nào, Chướng nghiệp ngày nay là những chứng nghiệp nào ? Vua quan ngày nay nhất định không hiểu chăng ??? Xưa có cung phi không tiếc thân bồ liễu thay vua để trả cho xong cái nợ trước mắt kia, nay là ai ?

 

Nhìn lại chẳng có ai làm cung phi trả nợ này thay được ! Lời phổ độ của Thích Ca xem ra còn thua cả gió thoảng đêm hè !

 

Nhái chữ người hiền xưa mà rằng : Than ôi ! Càn khôn trước đã bĩ, nay lại càng bĩ hẹp xấu thêm ; Nhật nguyệt trước đã tối, nay lại càng đen hơn mực đặc, muội đèn ; Từ đây dài thêm nguy cơ tháng ngày loạn lạc ; Từ đây nặng thêm nữa mối sỉ nhục vô cùng !  *

……

 

Đọc xong, ngơ ngác hỏi : Vậy chứ tiên sinh toan tính gì đây ? Ông già vơ khăn đội đầu gián nhấm chụp lên mái tóc hoa râm rễ tre, tay cài nút khuy sừng áo the thâm, xoa xoa bụng hơi to , bảo : Tính ăn nhờ bát cơm cà, nghe hỏi đâm đầy cả ruột, chả thiết ăn gì nữa ! Thế mà cũng đòi học trò, thế mà cũng không hiểu, rõ là học trò học troẹt .

 

Ông già đi bộ bốn năm chục cây số đội mưa lội bùn về Hà nội, hí hửng với suy tư của mình, lại nghĩ bát cơm cà pháo , thế mà chỉ một câu hỏi chẳng ra gì cũng thấy đầy cả ruột , ai nỡ để ông về, bèn cười nịnh : Học trò thì không hiểu, học troẹt thì hiểu chứ ! Chắc tiên sinh muốn đi xem mặt, ngửi hương mấy bông hoa quý chắc ! Ông lão cười " hì " một tiếng, bảo : Chả cần xem với ngửi ! Với lại ai cho xem. Muốn ăn bát cơm cà pháo thôi ! Rõ buồn cười chả được !

 

Rồi lại bỏ khăn, cởi áo.

 

* Càn khôn trước đã bĩ, nay lại mở rộng đẹp sao

   Nhật nguyệt trước bị tối, giờ đây trở lại sáng trong

   Từ đây mở ra thời cơ vạn đời thịnh trị

   Từ đây sạch hết nỗi sỉ nhục vô cùng…

     (Bình Ngô Đại Cáo – Nguyễn Trãi)

 

17-6-2009

L.V.

 

 

 




Trần Đức Trạch : Hố chôn người ám ảnh


Trần Đức Thạch

http://www.x-cafevn.org/forum/showthread.php?t=16055

*

     Thời gian lặng lẽ trôi, tôi một chàng lính trẻ măng ngày nào bây giờ đã là một ông già với mái đầu hoa râm đốm bạc. Vậy mà tôi chưa nói được câu chuyện lẽ ra phải nói . Đôi lúc tôi âm thầm kể lại cho một số bạn bè tin cậy. Nghe xong ai cũng khuyên “Nói ra làm gì, nguy hiểm lắm đấy”. Và quả thật, sống trong xã hội chủ nghĩa quái đản này, người ta quen thói bưng bít sự thật. Sự thật không có lợi cho Đảng, cho Nhà nước chớ dại mà nói ra, bị thủ tiêu hoặc vào tù là điều chắc.
Tháng 04/1975, đơn vị chúng tôi (Sư đoàn 341 thường gọi là đoàn Sông Lam A) phối hợp với sư đoàn khác đánh vào căn cứ phòng ngự Xuân Lộc. Trận chiến quyết liệt kéo dài 12 ngày đêm. Tiểu đoàn 8 chúng tôi do hành quân bị lạc nên được giao nhiệm vụ chốt chặn. Nhằm không cho các đơn vị quân lực Việt Nam cộng hoà tiếp viện cũng như rút lui. Phải công nhận là sư đoàn 18 của phía đối phương họ đánh trả rất ngoan cường. Tôi tận mắt chứng kiến hai người lính sư đoàn 18 đã trả lời gọi đầu hàng của chúng tôi bằng những loạt súng AR15. Sau đó họ ôm nhau tự sát bằng một quả lựu đạn đặt kẹp giữa hai người. Một tiếng nổ nhoáng lửa, xác họ tung toé giữa vườn cam sau ấp Bàu Cá. Hình ảnh bi hùng ấy đã gây ấn tượng mạnh cho tôi. Tinh thần của người lính đích thực là vậy. Vị tướng nào có những người lính như thế, dù bại trận cũng có quyền tự hào về họ. Họ đã thể hiện khí phách của người trai nơi chiến trận. Giả thiết nếu phía bên kia chiến thắng chắc chắn họ sẽ được truy tôn là những người anh hùng lưu danh muôn thủa. Nhưng vận nước đã đi theo một hướng khác. Họ đành phải chấp nhận tan vào cõi hư vô như hơn 50 thuỷ binh quân lực Việt Nam Cộng Hoà bỏ mình ngoài biển để bảo vệ Hoàng Sa.
… Nghe tiếng súng nổ ran, tôi cắt rừng chạy đến nơi có tiếng súng. Đấy là ấp Tân Lập thuộc huyện Cao Su tỉnh Đồng Nai bây giờ. ấp nằm giữa cánh rừng cao su cổ thụ. Đạn súng đại liên của các anh bộ đội cụ Hồ vãi ra như mưa. Là phân đội trưởng trinh sát, tôi dễ dàng nhận ra tiếng nổ từng loại vũ khí bằng kỹ năng nghiệp vụ. Chuyện gì thế này? Tôi căng mắt quan sát. Địch đâu chẳng thấy, chỉ thấy những người dân lành bị bắn đổ vật xuống như ngả rạ. Máu trào lai láng, tiếng kêu khóc như ri. Lợi dụng vật che đỡ, tôi ngược làn đạn tiến gần tới ổ súng đang khạc lửa.
– Đừng bắn nữa! Tôi đây! Thạch trinh sát tiểu đoàn 8 đây!
Nghe tiếng tôi, họng súng khạc thêm mấy viên đạn nữa mới chịu ngừng.
Tôi quát:
– Địch đâu mà các ông bắn dữ thế? Tý nữa thì thịt cả mình.
Mâý ông lính trẻ tròn mắt nhìn tôi ngơ ngác. Họ trả lời tôi:
– Anh ơi! đây là lệnh.
– Lệnh gì mà lệnh, các ông mù à? Toàn dân lành đang chết chất đống kia kìa!
– Anh không biết đấy thôi. Cấp trên lệnh cho bọn em “giết lầm hơn bỏ sót”. Bọn em được phổ biến là dân ở đây ác ôn lắm!
– Tôi mới từ đằng kia lại, không có địch đâu. Các ông không được bắn nữa để tôi kiểm tra tình hình thế nào. Có gì tôi chịu trách nhiệm!
Thấy tôi cương quyết, đám lính trẻ nghe theo. Tôi quay lại phía hàng trăm người bị giết và bị thương. Họ chồng đống lên nhau máu me đầm đìa, máu chảy thành suối. Một cụ già bị bắn nát bàn tay đang vật vã kêu lên đau đớn. Tôi vực cụ vào bóng mát rồi dật cuốn băng cá nhân duy nhất bên mình băng tạm cho cụ. Lát sau tôi quay lại thì cụ đã tắt thở vì máu ra quá nhiều. Một chỗ thấy 5 người con gái và 5 người con trai bị bắn chết châu đầu vào nhau. Tôi hỏi người lính trẻ đi theo bên cạnh:
– Ai bắn đấy?
– Đại đội phó Hường đấy anh ạ!
– Lại nữa, tôi ngó vào cửa một gia đình, cả nhà đang ăn cơm, anh bộ đội cụ Hồ nào đó đã thả vào mâm một quả lựu đạn, cả nhà chết rã rượi trong cảnh cơm lộn máu. Tôi bị sóc thực sự. Hình ảnh anh bộ đội cụ Hồ “Đi dân nhớ ở dân thương” mà thế này ư? Cứ bảo là Mỹ nguỵ ác ôn chứ hành động dã man này của chúng ta nên gọi là gì? Tâm trạng tôi lúc đó như có bão xoáy. Mặc dù vậy, tôi vẫn nhận ra ngay những việc cân làm. Tôi tập trung những người sống sót lại. Bảo chị em Phụ nữ và trẻ con ra rừng tổ chức ăn uống nghỉ tạm. Cốt là không cho mọi người chứng kiến lâu cảnh r&ugrav
e;ng rợn này. Đàn ông từ 18 đến 45 tuổi có nhiệm vụ ra sau ấp đào cho tôi một cái hố. Trong ấp ai có xe ô tô, xe lam, máy cày phải huy động hết để chở người bị thương đi viện. Mọi người đồng thanh:
– Xe thì có nhưng dọc đường sợ bị bộ đội giải phóng bắn lắm!
– Không lo, có tôi đi cùng!
Tôi giao cho Nghê, một du kích dẫn đường vừa có bố bị bộ đội cụ Hồ sát hại:
– Việc lỡ như thế rồi, chú nén đau thương lại giúp anh. Thu hồi căn cước tư trang của những người đã chết sau này còn có việc cần đến.
Thế là suốt chiều hôm đó, tôi lấy một miếng vải đỏ cột lên cánh tay trái. Lăm lăm khẩu AK ngồi trên chiếc xe dẫn đầu đoàn lần lượt chở hết người bị thương ra bệnh viện Suối Tre. Tối hôm ấy, tôi cho chuyển hết xác người bị chết ra cái hố đã đào. Không còn cách nào khác là phải chôn chung. Trưa ngày hôm sau người ta mới dám lấp. Đây là ngôi mộ tập thể mà trong hoàn cảnh ấy tôi buộc lòng phải xử lý như vậy. Trời nắng gắt, để bà con phơi thây mãi không được. Một nấm mồ chung hàng trăm người lẫn lộn, không hương khói, không gì hết. Tôi cho dọn vệ sinh sạch sẽ những chỗ mọi người bị tàn sát. Xong, mới dám cho đám phụ nữ và trẻ con ở ngoài rừng về. Tôi vượt mặt cả cấp trên để làm việc theo tiếng gọi lương tâm của mình. Bằng mọi lỗ lực có thể để cứu giúp đồng bào. Tưởng thế là tốt, sau này nghĩ lại mới thầy hành động của mình giống như sự phi tang tội ác cho những anh bộ đội cụ Hồ. Thú thật lúc ấy tôi vẫn còn một phần ngu tín. Cũng muốn bảo vệ danh dự cho đội quân lính cụ Hồ luôn luôn được ca ngợi là tốt đẹp. Tuy vậy tôi bắt đầu nghi ngờ “Tại sao người ta giết người la liệt rồi bỏ mặc. Chẳng lẽ họ mất hết nhân tính rồi sao?”

Công việc xong tôi gặp Nghê để chia buồn. Tôi không tránh khỏi cảmgiác tội lỗi. Nghê đã đưa xác bố về chôn tạm ở nhà bếp. Tội nghiệp Nghê quá. Lặn lội đi theo cách mạng, ngày Nghê dẫn bộ đội về giải phóng ấp lại là ngày bộ đội cụ Hồ giết chết bố Nghê. Nghê “mừng chưa kịp no” đã phải chịu thảm cảnh trớ trêu đau đớn. Nghê buốn rầu nói với tôi:
Hôm qua nghe lời anh. Em thu được hai nón đồng hồ, tư trang và căn cước của những người bị giết. Sau đó có một anh bộ đội bảo đưa cho anh ấy quản lý. Em giao lại hết cho anh ấy để lo việc chôn ba.

– Em bị thằng cha nào đó lừa rồi. Thôi quên chuyện đó đi em ạ. Anh thành thật chia buồn với em. Chiến tranh thường mang đến những điều không may tột cùng đau đớn mà chúng ta không thể lường trước được. Anh cũng đang cảm thấy có lỗi trong chuyện này.

 

* *

Click the image to open in full size.
Nhà thơ yêu nước Trần Đức Thạch

Ông Trần Đức Thạch, sinh năm 1952, sinh sống tại tỉnh Nghệ An. Ông là nhà thơ, Hội viên hội nhà văn tỉnh Nghệ An. Ông bộc lộ những tư tưởng dân chủ từ những năm 1990 và nhiều sáng tác của ông đã đi thẳng vào đề tài đòi hỏi tự do sáng tác cho văn nghệ sĩ, phê phán chế độ chính trị độc đảng, đòi hỏi dân chủ, nhân quyền cho nhân dân. Một trong những tác phẩm của ông được nhiều người chú ý là hồi ký có tên ”Hố Chôn Người Ám Ảnh”, kể lại trận đánh ở ấp Tân Lập, vào cuối tháng 4 năm 75, mà ông đã tham dự với vai trò đội trưởng trinh sát Quân đội Nhân dân.
Để biết thêm lý do tại sao chính hệ thống tòa án Hà Nội lại vi phạm chính các điều khoản trong luật tố tụng hình sự của chế độ đối với nhà thơ Trần Đức Thạch, quí thính giả / độc giả có thể gọi đến Chánh Văn Phòng Tòa Án Nhân Dân Thành Phố Hà Nội, ông Nguyễn Việt Hưng, ở số +844-3825

 




Trang Hiền Võ : Hãy quên quá khứ… Hãy xoá bỏ hận thù… Hướng về tương lai…

Hãy quên quá khứ… Hãy xoá bỏ hận thù… Hướng về tương lai…

Trang Hien Vo

Tôi đã đọc câu này ra rất nhiều lần – cả trăm lần – để chắc mình không hiểu lầm!

Hãy quên quá khứ…

 

Tại hải ngoại, CSVN không ngừng kêu gọi người Việt hãy quên quá khứ để hướng về tương lai. Trong Tâm Sinh Lý học, quên quá khứ là chuyện không thể làm được. Cái gì đã đi vào bộ não thì sẽ ở đó cho đến khi con người lìa đời? Một đôi khi chấn thương sọ nảo hay tinh thần có thể làm gián đoạn dẫn truyền của hệ thống thần kinh. Nhưng khi hồi phục thì người ta vẫn nhớ lại. … Ngày nay, với tất cả thành tựu của con người trong mọi lãnh vực, văn minh trong cả khía cạnh vật chất lẫn tinh thần là nhờ quá khứ đấu tranh cả mấy ngàn năm – không chỉ qua những thành công mà chính là nhờ những thất bại. Thế thì tại sao phải quên quá khứ?

Nhưng “hãy” quên cái quá khứ nào? – Có phải người cọng sản muốn nói đến cái quá khứ tù đày trong những trại học tập không biết ngày mai, bị sĩ nhục mỗi ngày mà vẫn phải cám ơn “cách mạng” đã khoan hồng? Có phải người cọng sản muốn nói đến cái quá khứ của gia đình bị hăm dọa đẩy lên vùng kinh tế mới để nhà cửa còn lại cho cách mạng tịch thâu và khi trở về phải ngũ dưới hầm cầu, trên vĩa hè của chính nhà của mình? Quá khứ hải hùng hể bị chụp mũ là tư sản thì đời kể như tiêu tùng, thân bại danh liệt, tài sản tịch thu, thân tù đày? Quá khứ hải hùng trên biển cả, khiếp đãm trong bìa rừng Thái, Lào mà mỗi gia đình người Việt ngày nay ở hải ngoại đều có 1 câu chuyện như là một phần đời… xa hơn nữa, có phải người cọng sản muốn nói đến cái quá khứ của cuộc cách mạng địa chủ năm 1954 đã hành quyết hàng chục ngàn người hay là cuộc chôn sống tập thể cả 5 ngàn người vào Tết Mậu Thân tại Huế năm 1968? Ngược lại, có những quá khứ không nên quên bao giờ chẳng hạn như cuộc cách mang muà Thu, Đại Thắng Mùa Xuân, những hy sinh vô bờ bến của Hồng Quân Liên Sô và Trung Quốc…?

Mỗi lần nghĩ về lịch sữ oai hùng của dân tộc và những hy sinh của tiền nhân trong công cuộc dựng nước và giữ nuớc là tôi thấy hãnh diện và sung sướng. Không phải quá khứ nào cũng huy hoàng – và không có lý do gì tôi chỉ nên nhớ những huy hoàng ấy và bỏ qua những sai lầm như một trốn chạy. Còn như để quên quá khứ như một người mất trí thì hướng về tương lai để làm gì?

Ngay tại Việt-Nam ngày nay, nhiều người đã muốn quên quá khứ như mượn rượu để giải sầu. Có người còn muốn quên cả hiện tại. Phải chăng đây cũng là phản ảnh của hiện tượng hút xách, ăn nhậu, chơi ngông ? – thêm vào đó chính quyền còn giúp cho đại đa số dân chúng một cuộc sống phải vật lộn với miếng cơm manh áo hàng ngày một – và một hệ thống giáo dục tẩy não để họ không có thời giờ nhớ về quá khứ hay phương tiện để tra cứu?

Hãy xoá bỏ hận thù…

Có lẻ người nói câu hãy quên quá khứ để hướng về tương lai muốn nói là hãy xóa bỏ hận thù để hướng về tương lai? Vì quá khứ là một “hiện thực” khách quan nên không thể quên được. Nhưng hận thù là sản phẩm của tâm tư con người nên con người có thể khắc phục được. Hận thù đưa đến trả thù sẽ làm cuộc sống máu me dơ bẩn. Hận thù làm tâm linh ta khốn khổ, cuộc sống mất đi cái hồn nhiên vô gía và hướng thượng… và ngay cả sau khi trả được mối thù, cái bàn tay nhuốm máu ấy vẫn không bao giờ rữa sạch…

Nhưng chính người cọng sản Việt-Nam đã lấy hận thù để làm cách mạng. Có cái lòng hận thù nào để giáo dục cho con cháu như thế này: hôm qua dân quân ta bắn rơi 2 máy bay của Mỹ Nguỵ. Hôm nay dân quân ta lại bắn rơi thêm 3 chiếc nữa. Vậy tổng cọng ta đã bắn rơi bao nhiêu chiếc cả thảy? Họ đã lấy hận thù để tiêu diệt tất cả các đảng phái không cùng chính kiến với họ. Sau khi toàn thắng ở miền Nam , thay vì dùng cái cơ hội bằng vàng này để nêu cao chính nghĩa dân tộc và hoà giải quốc gia, họ nhìn ở đâu cũng thấy toàn kẻ thù. Cái tâm lý bệnh hoạn và sợ hải củng cố chế độ đã làm họ phải quyết định bế môn tỏa cảng trong cả 10 năm đầu. Hậu quả thì như ai cũng biết, nước Việt-Nam đã trở thành 1 trong 10 nước nghèo đói nhất của thế giới. Đánh động được lương tâm của con người qua những việt trợ nhân đạo, chính họ cũng phải nới lỏng nền kinh tế chỉ huy thiếu hiện thực, như đã từng được chứng minh qua các cuộc cách mạng ở Liên Sô và Trung Quốc. Nhưng khi tình hình đã được khả quan hơn nhờ những trao đổi với bên ngoài, họ trở lại nhìn thấy thêm kẻ nội thù, từ chính người dân của họ, những đồng chí mà cách đâu không lâu đã hy sinh cuộc đời cho sự nghiệp “giải phóng” dân tộc do họ chủ xướng. Ngoài những lực lượng thù nghịch, họ đã đặt để thêm những kẻ thù trong những “diễn tiến hoà bình” – nỗi lo sợ và lời buộc tội đã mâu thuẩn với chính danh xưng của những biến chuyển mà nghe ra rất khách quan trong phát triển tự nhiên của con người. Họ khuyên người ta hảy quên quá khứ, xóa bỏ hận thù nhưng chính họ thì không bao giờ, vì hận thù vốn là sức sống, là linh hồn, là nền tảng của sự an toàn trong tư tuởng và lý luận của những người cọng sản Việt-Nam khi đi làm các mạng!

Nhưng có những hận thù nào ta không nên quên chăng? – cho dù cả ngàn năm sau? – như hận thù của 2 bà Trưng Trắc Trưng Nhị trước cảnh nước mất nhà tan mà rồi cuối cùng vẫn phải nhảy xuống sông tự vẫn?, Trong đấu tranh cho Chủ Nghĩa Xã Hội, người vô sản có nên quên mối thù không đội trời chung với bọn tư bản bóc lột? Không hận thù thì làm gì có cách mạng? những ai còn phân vân với tính chuyên chính vô sản này thì cứ tìm đến ông Tô Huy Rứa để nghe lời giải thích. … Hay là chỉ có người cọng sản mới được quyền hận thù?

Mới đây thôi, trong bài diễn văn đọc trước Quốc-Hội Hoa Kỳ, bà Thủ Tướng nước Đức đã nói gì? Cần nhắc lại, bà Merkel đã sống và lớn lên trong xã hội cọng sản Đông Đức mà vẫn trở thành Thủ Tướng của nước Đức thống nhất là một bằng chứng của sự xóa bỏ hận thù: “Nhưng đừng có ai nhầm lẫn: Khoan dung không có nghĩa là thế nào cũng được. Không khoan dung với những ai không tôn trọng và chà đạp các quyền vô giá của con người”.

Xóa bỏ hận thù không có nghĩa là đồng lõa với tội ác. Không chịu nhìn thẳng vào cái gì đã gây ra hận thù nhưng chỉ biết kêu gọi xoá bỏ, cũng như họ kêu gọi đoàn kết nhưng không chỉ cho thấy cái gì đã gây ra chia rẽ là một sự lường gạt ấu trĩ và rẽ tiền !.

Hướng về tương lai…

Có ai trong chúng ta sống mà không để hướng về tương lai?. Ngay cả trong tu dưỡng cá nhân cũng đễ cho một sự ra đi thanh thảng khi từ giả cuộc đời. Tất cả người Việt chân chính đều mong muốn thấy được một nước Việt-Nam giàu mạnh, công bằng và nhân bản. Nhưng một lần nữa chúng ta đang nói về một tương lai nào? Một sự thành cộng của chủ nghĩa xã hội tại Việt-Nam và trên toàn thế giới? Quên quá khứ để hướng về tương lai trong diễn dịch của nhà cầm quyền CSVN là quên hết (như người mất trí?) và chấp nhận trở về làm việc cho họ. “Bằng lòng đi em về với quê hương”. Những người cọng sản Việt-Nam đã nói rõ ràng rồi: yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội. Danh từ “đoàn kết” có nghĩa là từ bỏ vị trí chống đối hoặc không đồng chính kiến để trở về dưới sự lãnh đạo của họ. Không có hòa hợp hòa giải gì cả. Hãy thành thật với nhau như chút liêm sĩ còn lại mà chúng ta đều hiểu: không ai có tư cách mặc cả với chế độ CS hiện nay cả!

Tôi không tin là cho đến bây giờ những người gọi là Việt Kiều Yêu Nước vẫn chưa biết mình đang nói cái gì? Xin các Việt-Kiều Yêu Nước đừng lừa dối thế hệ trẻ ngày nay vì họ không có cơ hội để kiểm chứng. Xin đừng tiếp tục làm dơ bẩn những ý tưởng cao đẹp của lòng nhân đạo, tình quê hương là những giá trị cao quí của dân tộc. Nhắm mắt lại như con đà điểu chui đầu vào cát? – những người tự gọi là Việt Kiều yêu nước đi về Việt-Nam xây vài lớp học, đào vài cái giếng rồi giáo dục những người Việt khác cũng nên yêu nước như mình… Chính người viết bài này cũng đã và đang gởi tiền về Việt-Nam để giúp đở bạn bè thân nhân khốn khổ của mình… nhưng yêu nước và “chỉ là” lòng nhân đạo khác nhau rất nhiều!. Hãy nhìn cho rõ cái nguyên nhân chính đã đưa đến tình trạng hiện nay. Đó là hậu quả của một chế độ chính trị lỗi thời đang ngự trị trên cái quê hương khốn khổ này. Con đường đi đã sai lầm rồi thì càng đi càng xa cái đích dù đi bằng cách nào đi nữa. Trong mặt tiêu cực, càng đi càng lãng phí, càng phá hoại như chúng ta đã nhìn thấy xã hội hiện nay. Dù có bao nhiêu nghị quyết, bao nhiêu “rà sát” cũng chỉ là “mị dân” mà thôi.

Chính cái chế độ chính trị này trong hơn 30 năm qua đã đưa đất nước thụt lùi, cụ thể là so với các nước khác trong vùng. Trong lãnh vực xã hội, chính cái chế độ chính trị này đã tạo ra 1 giai cấp thống trị mà giờ đây chẳng khác gì một loại băng đảng, bao che cho nhau và sống trên mồ hôi nước mắt của tuyệt đại đa số người dân còn lại. Cái hậu quả của chế độ chính trị này đã và đang thấy tại các quốc gia đi theo cùng một chế độ chính trị. Tại Việt Nam, để bảo tồn quyền lực, băng đảng này đối với các thế lực cường quốc thì lạy dạ run sợ nhưng đối với chính người dân khốn khổ của mình thì thẳng tay đàn áp. Người cọng sản nói rất rõ: chế độ nào cũng là chế độ độc tài của giai cấp thống trị. Trong chế độ XHCN, đó là giai cấp vô sản. Cho nên chế độ XHCN là chế độ độc tài của giai cấp vô sản. Người cọng sản cười thầm khi những kẻ theo đuôi họ cứ ráng giải thích tính dân chủ tư sản của chế độ cọng sãn.

Nhưng thực tế chúng ta thấy gì? – chế độ của họ ngày nay quả là chế độ độc tài của 1 giai cấp lãnh đạo, nhưng không phải vô sản mà là 1 loại siêu tư sản, được bảo vệ một cách công khai bởi hệ thống chính trị và chính quyền. Điều này không chỉ thấy ở Việt-Nam mà trong hiện thực của tất cả các nước cọng sản ngày nay. Trong kinh tế, nhờ vào quyền lực sẵn có, họ hội tụ tài sãn của cả quốc gia vào trong tay tập đoàn lảnh đạo của họ. Cho nên nhóm bè đãng lãnh đạo của bọn họ rất giàu trong khi quốc gia thì vẫn èo ọt và tuyệt đại đa số người dân thì vẫn nghèo đói. Trong chính trị, băng đảng của họ có quyền lực không khác mấy thời của những lãnh chúa… cái chế độ như cha truyền con nối là những ngạo mạn, thách thức đối với lương tri của con người. Nếu họ vẫn còn đó – và có lẻ phải còn chờ lâu nữa cho đến khi trình độ dân trí của dân ta đủ mạnh để chiến thắng những khó khăn và sợ hải của cuộc sống – thì xã hội sẽ tiếp tục như vậy. Đó là cái tương lai mà Người Việt Yêu Nước muốn hướng về? Còn nếu không, hãy quên bất cứ quá khứ nào cũng được để hướng về 1 tương lại vô định thì nếu người nói không mù quáng là có ý xem thường khả năng phán đoán của người nghe rồi. Một số người Việt khác quả quyết họ vẫn yêu quê hương bằng một con đường hợp tác khác, như con đường của một Tôn thọ Tường thì tôi chỉ còn biết tặng họ lại hai câu thơ của cụ Phan văn Trị:

Anh hởi Tôn Quyền anh có biết?

Trai ngay thờ chúa gái thờ chồng…

Vào lứa tuổi của tôi có bạn đã chết, đang bị đày đoạ trên chính quê hương của mình, đã vùi thây trong Thái Bình Dương bao la, trong những bìa rừng âm u ở Thái, Lào hay đang lạc lỏng trên những mãnh đất xa lạ nào đó ở Châu Phi, ở Trung Đông… so với họ tôi may mắn hơn nhiều. Hơn 30 năm đã qua. Vì nhiều lý do: an ninh bản thân và gia đình, an toàn khi có dịp về thăm quê nhà, miếng cơm Tây, manh áo gấm khiến tôi đã vô tình im lặng và tránh né. Giờ đây tóc đã hai màu, còn chút tình mà vẫn không dám nói thì đợi đến bao giờ? Riêng đối với các chiến sĩ VNCH trong đó có hàng cha anh chú bác của tôi, những người đã chết cho cho một chính nghĩa đã bị chối bỏ và chưa bao giờ được nhìn nhận, họ sẽ được những người CSVN viết lại trong lịch sữ như những tội đồ … tôi có thể nào quên họ, quên cái quá khứ có sự hy sinh vô bờ và cô đơn của họ? Trong tự do của hôm nay tội vẫn nên tiếp tục “hy sinh”, không nên nói lên những khát vọng của những người bạn, của đại đa số đồng bào kém may mắn hơn tôi đễ giữ an toàn và phồn vinh cho thiểu số còn lại chấp nhận đổi đời? Tôi không có tư cách để khuyên mọi người nên nói như tôi nói. Nhưng tôi sẽ cảm thấy hổ thẹn khi khuyên họ không nên làm như thế bởi vì với tôi, viết là để công bằng trả lại cho đời chút ân tình mà tôi đã nhận, dù chỉ là ngọn lữa của một que diêm, như một người bạn của chúng tôi có nói, sẽ không đủ sức để sưởi ấm cho cả một mùa đông băng giá này!.

 

Trang Hien Vo




Thư Khanh : LAO ĐỘNG LÀ VINH QUANG ,LANG THANG LÀ CHẾT ĐÓI, HAY NÓI LÀ ĐI TÙ

" LAO ĐỘNG LÀ VINH QUANG …( 2 )
Cả nước đói ! Chỉ còn cán bộ là sung sướng ! Họ có quyền nên họ có của .
Trường học , thày cô đói , học trò đói .
Một hôm giờ ra chơi và sau giờ ra chơi lại có đoàn kiểm tra cấp Thành Phố về thăm trường .
Đang giờ ra chơi bỗng một em học sinh lớp bốn bị ngất xỉu ở sân trường- em tên Lan  !
Ban Giám Hiệu rất lo , vội cùng các thày cô chạy lại coi . Vì sợ rằng em này mới bị cô giáo phạt hay sao ? ! – Vì Lớp quá đông sĩ số trên năm chục lận , e cô đánh không ? !
Nhưng khi hỏi cô và học trò cùng lớp thì Lan không bị phạt !
– Nhìn em xanh m&eacu
te;t , nhắm mắt ! – Cô giáo đang sức dầu gió cho Lan .
Khi vạch áo lên sức dầu thấy BỤNG BÉ LAN lép kẹp …- Chắc tại đói .
Mẹ em cũng được gọi tới hỏi về vấn đề gia đình thì bà cho hay : " Từ sáng cháu chưa ăn gì – Nhà tôi không có gạo . Sáng sớm luộc khoai cho mỗi cháu một củ đi học . Trưa nhịn . Tối về mới ăn cơm vì chờ bố cháu đi đạp xích lô cả ngày , chiều tối  mới có tiền ít đong gạo may ra đủ bữa tối ! ".
Ông Hiệu trưởng bảo cô giáo ra mua cho bé Lan ngay một ly sữa nóng .
Khi mang vào … cô nâng đầu cháu , lay cháu mở mắt , há miệng cho uống từng muỗng sữa .
Uống đến đâu bé Lan tỉnh dần đến đó . Uống cạn ly sữa , bé đã nói ngay : " Con đói quá  và mệt . Củ khoai lang mẹ cho con ra chơi mải vui nên chưa ăn ! " .
Mọi người cười : " Ố ! tại đói ! Tưởng cô đánh bé thì Ban thanh Tra sắp về tới nơi rất kẹt ! " .
– Một em ngồi cạnh bé Lan đã đang xách cái cặp của bé Lan mang tới cho Lan . Cô mở cặp ra thì còn nguyên củ khoai lang …- nhỏ bằng nửa trái bắp !
– Trống vào học ! Bé Lan được theo mẹ về … bỏ dở buổi học !!!!!!!!!!!!
* Thày cô đói . Trò đói !
Trong lớp chỉ đầy những khẩu hiệu :
" Giáo Viên :  Kỹ Sư  Tâm Hồn " .
" Học Tạp Tốt là Cháu Ngoan của Bác Hồ "
" Yêu Đảng là Yêu Nước " .
" Lao động là Vinh Quang " .
***
Kết quả học tập cuối năm làm sao đủ chất lượng để cho lên lớp đã đề  ra từ đầu năm học là lớp nào cũng được lên lớp 100% .
– Vậy mà cứ phải cho lên đủ 100%.
Trong phiên họp-  tôi là giáo viên chủ nhiệm một lớp lại kiêm thêm phụ trách Hiệu Phó Chuyên Môn ( Vì có bằng Sư Phạm Cũ và dạy lâu năm ! ) nên tôi đã  không chịu vấn đề cứ đủn hết học sinh lên lớp100 %  như vậy .
Hiệu Trưởng bảo : CHO lên 100% là lệnh của Thành Phố đã ra chỉ tiêu .
Quận đã HẠ QUYẾT TÂM chỉ thị cho chúng ta PHẢI ĐẠT ĐƯỢC 100 % lên lớp ! Ai không nghe sẽ không được danh hiệu Tiên tiến ! .
– Tôi trả lời :
" Tôi không cần Danh Hiệu Tiên Tiến . Tôi chỉ dạy đạt có 60 % thôi ! ".
Hiệu Trưởng trả lời :
Chị không cần Tiên Tiến thì Tổ chị cần Tiên Tiến . Tổ không cần Tiên Tiến thì Nhà Trường cần Tiên Tiến . Nhà Trường không cần Tiên Tiến thì QUẬN cần TIÊN TIẾN " .
 Và Hiệu Trưởng nhắc nhở : " Chị cần Tiên Tiến vì chị đang chưa được vào biên chế – không vào biên chế bị sa thải ! " .
– Tôi hết cãi !!!!!!!!!!!! !
Vì tôi sực nhớ ra câu Ca Dao Mới :
" LAO ĐỘNg LÀ VINH QUANG .
LANG THANg LÀ CHẾT ĐÓI .
HAY NÓI LÀ ĐI TÙ  " .
Tôi đành xin một quyển sổ mới tinh mang về .
Thôi đành về thức trắng hai đêm sửa lại toàn bộ điểm cho học sinh . Đứa nào kém nhất cũng ở điểm trung bình = 5 .
Và lời phê về hạnh kiểm trò nào cũng Tốt . Đứa nào điểm trung bình thì hạnh kiểm Phê KHÁ !!!!!
THẾ LÀ ÊM !

***Trồng cây 10 năm . Trồng người 100 năm " .
Lời Hồ CHÍ MINH dạy như vậy đấy  !!!
– Trồng NGƯỜI kiểu NÀY ,  Các Cháu BÁC HỒ tương lai chỉ đi đến BÁN NON SÔNG thôi !!!
THƯ KHANH





Cô Gái Đồ Long : Phạm Duy Giấc Mơ Hồi Hương Sụp Đổ


PHẠM DUY : "Giấc mơ hồi hương" sụp đổ.
 
Cô Gái Đồ Long 
 
Trong phạm vi nào đó, âm nhạc và chính trị là hai phạm trù đối kháng với nhiều cá nhân coi âm nhạc đơn giản chỉ vị nghệ thuật và không – với những người dùng các sáng tác để ca tụng chế độ mình phục vụ hay bày tỏ chính kiến, quan điểm, tâm trạng về thời cuộc. Và như thế, Phạm Duy là một trường hợp mà hầu như ai cũng tỏ tường lý lịch và không nhất thiết phải mổ xẻ thêm nữa. Ở đây chỉ đề cập tới vài chuyện trong những năm qua khi ông quay về… 
 

 
 Phạm Duy 2005. 
 
Phàm làm người, nhất là một nhân vật văn nghệ đặc biệt như Phạm Duy thì chuyện bỏ đi rồi lại quay về rất có nhiều cái dở nếu bàn về lập trường và quan điểm sống. Ở vào thời điểm tháng 5/2005, khi ông chính thức định cư Việt Nam sau 30 năm tha hương, hầu hết các báo đều hết lời ca tụng, tâng bốc Phạm Duy lên tận mây xanh. Người ta nhắc ông như người bạn thân thiết với nhạc sĩ Quốc ca Văn Cao và cùng Văn Cao sáng tác nhiều ca khúc trong thời kháng chiến chống Pháp, người ta khẳng định chắc nịch lần nữa rằng ông chính là một trong những cây đại thụ hiếm hoi còn lại của nền tân nhạc Việt Nam. Người ta cũng chỉ nói me mé rằng Phạm Duy đã sáng tác gần 1.000 ca khúc nói lên niềm vui, nỗi buồn, vinh quang, tủi nhục của người Việt trong suốt các thời kỳ sôi động nhất của lịch sử và lờ đi những chuyện phản phé, cũng như tư tưởng chống Cộng công khai của ông trước đây. Báo chí Việt Nam đã làm đúng vai trò và trách nhiệm của mình, trong xu thế cởi mở xem sự kiện Phạm Duy là động thái lên dây cót cho nhiều Việt kiều vứt bỏ e ngại rào cản mà quay về, ông trở thành nhịp cầu nối quê hương với người Việt xa xứ. Nếu nói theo cách khác, Phạm Duy đã trở thành con bài cho công cuộc vận động kiều bào và là điển hình hoàn hảo của chính sách hòa hợp dân tộc. 
 

 

 Trong suốt 5 năm qua, nếu theo dõi sẽ thấy có 70 bài hát, 7 album cùng nhiều sách của Phạm Duy đã được cấp phép, in ấn đẹp mắt xuất bản đến với công chúng, không bỏ bèn gì đối với gia tài của ông. Nhưng, thật là chẳng nên mơ mộng thêm điều gì nếu nhìn qua vài nhân vật cũng có nhân thân khá đặc biệt khác như Hoàng Thi Thơ, Trần Thiện Thanh, Vũ Thành An – 10 bài Không tên hiện vẫn chưa được phép lưu hành, cho dù nhạc sĩ này nghe đâu đã bỏ đời đi tu. Công lao đó không thể không nói tới Phương Nam Phim, nơi độc quyền khai thác các sản phẩm trí tuệ của Phạm Duy. Với những live show hoành tráng và nhiều mỹ cảm thực hiện tại Sài Gòn – Hà Nội như Ngày trở về, Con đường tình ra đi…trong đó có chương trình và album còn được để cử giải thưởng Cống Hiến. Ngày nào còn ngồi rung đùi nheo mắt ngắm nắng ở Mỹ có lẽ Phạm Duy cũng chẳng thể mơ được đến như thế! Phạm Duy còn có nhiều trường ca và tổ khúc viết trong 30 năm nay, ông thường ước ao giá được phổ biến nữa thì còn gì bằng. Mới tháng trước, Phạm Duy tự thực hiện tổ khúc Bên kia sông Đuống để tặng nhà thơ Hoàng Cầm khi bạn già này từ giã thế gian. Ông nhờ Mỹ Linh hát và Duy Cường hòa âm phối khí, xong mang tặng cho gia đình Hoàng Cầm …để lên bàn thờ. Kiểu này gọi là đĩa lậu đây! Khi kể xong chuyện, Phạm Duy còn bảo rằng nếu trước khi ông ra đi như Hoàng Cầm mà nghe được những tổ khúc của mình được công bố rộng rãi trên sân khấu thì đời mới thật mãn nguyện lắm lắm. Làm người ai chẳng tham lam! 

 

 

 

 Hôm rồi gặp, nghe Phạm Duy tâm sự: “Tôi ngày nào cũng đi bộ 3 tiếng đấy. Khỏe ra lại ăn được nhiều, cô giúp việc nhà nấu ngon lắm. Hiện Duy Minh đang sống với tôi, bố con chuyện trò rất hiểu ý nhau nên tinh thần cũng thoải mái. Buồn thì đi gặp vài người bạn khề khà thôi cũng hết buổi. Lâu rồi tôi không đi qua Mỹ nữa, năm ngoái chỉ sang để chữa bệnh đau ruột, mãn tính chữa mãi không khỏi nên thôi giờ không đi nữa. Tôi đã về Việt Nam 5 năm rồi, đây là nơi cuối cùng tôi chọn để ở và chết, không ưng đi đâu cả…”. Ở tuổi 91 như vậy coi cũng đã bằng an! Nhưng đó là chuyện cá nhân ông, còn người l&ag
rave;m kinh doanh lại không có lệ an phận như vậy, nhất là khi đã bỏ nhiều công sức và tiền bạc để Phạm Duy được đường hoàng trở về. Trong chừng thời gian đó là live show, các ấn phẩm sách báo rồi băng đĩa…cứ mỗi lần ra mắt, muốn bán vé bán đĩa bán sách thì phải PR, tiếp thị, phải lên báo đánh trống khua chiêng la làng để người ta còn biết đường mà mua hàng. Nếu theo dõi báo chí trong nước, sẽ không khó nhận ra ngoại trừ vài tờ báo lớn như Thanh Niên, Tuổi Trẻ có những mối quan hệ thân thiết với PNF thì các tờ báo mang tính định hướng chính trị – xã hội cao như SGGP, Nhân Dân, Công An sau khi ồn ào với sự kiện “Trở về” của Phạm Duy đã không còn đăng tải tin, bài về ông nữa. Mọi sự không tự nhiên mà như thế! Còn nhớ sau liveshow “Ngày trở về” tôi có bài review trên một trong những tờ báo đó và kết quả là ban biên tập đã được cấp trên gọi xuống nhắc nhở. Lần khác, khi bão Chanchu tàn phá miền Trung phòng trà Văn Nghệ có kết hợp với báo Công An tổ chức show “Phạm Duy – Về miền Trung” để quyên góp tiền cho nạn nhân lũ lụt. Thế nhưng giờ chót đã phải tháo băng rôn và gỡ tên báo ra vì có lệnh xuống là không được nhắc nhở gì tới Phạm Duy nữa, muốn tổ chức hát hò gì cứ âm thầm mà làm. Nói như giọng hằn học của ông NSND Trọng Bằng: “Bàn đến Phạm Duy những người chân chính ở Việt Nam đã biết cả rồi, biết Phạm Duy như thế nào trong quá khứ, Phạm Duy có cái gì tốt, cái gì chưa tốt, bản chất của Phạm Duy và giá trị thật âm nhạc của anh người nghe đều hiểu cả. Sự trở về của Phạm Duy là sự ưu ái của Đảng và Nhà nước, sự rộng lượng của nhân dân ta, nên đừng đặt mình ở vị trí cao, cứ nên im lặng mà làm việc thôi. Có những tác phẩm anh sáng tác đầu kháng chiển rất tốt, bây giờ Cục biểu diễn người ta khuyến khích cho phép anh trở về biểu diễn, thì cứ thế mà cống hiến thôi. Dư luận chúng ta hơi dễ dãi và nhẹ dạ. Nhưng vấn đề là Phạm Duy phải tỉnh táo. Vì ông hoàn toàn hiểu ông là ai, quá khứ đối với dân tộc của Phạm Duy là một tội lỗi. Ông không thể so sánh ông với bất cứ một nhạc sỹ nào đã tham gia cách mạng, vì thế ông không thể nào so sánh với nhạc sỹ Văn Cao. Không thể ví được. Văn Cao là một con người có trình độ, là một nhà nghiên cứu dân tộc, ông Văn Cao là một người toàn diện, và ông Văn Cao còn biết tôn trọng những người nhạc sỹ đàn em đi vào con đường âm nhạc bác học, một người rất khiêm nhường biết mình, biết ta. Giả sử có một nhạc sỹ X, Y, Z nào đó hỏi: Khi chúng tôi đi đánh Mỹ giải phóng dân tộc thì ông làm gì? Chắc chắn rằng nếu là người hiểu biết đều hiểu rõ khi đó ông là tác giả của các bài hát chống lại cách mạng, chống lại nhân dân, chống lại công cuộc giải phóng dân tộc…”. 

Nhưng không ít ý kiến phản biện lại: Đánh kẻ chạy đi ai đánh kẻ chạy lại. Đã bảo hòa hợp mà sao lại nửa mùa như thế… Và người ta phỏng đoán rồi suy ra rằng: “À, Thì ra họ gia ơn cho về là may mắn lắm rồi!”. Có người còn hài hước qui cho bản chất không thay đổi của mấy anh Việt Cộng với ưu điểm – nhớ dai & khuyết điểm – thù dai. Trong cuộc trao đổi với những nhà văn Mỹ tổ chức tại Việt Nam tháng 6 vừa qua, nhà thơ Nguyễn Duy còn hào hứng nói:“ Vấn đề gì chính trị chưa giải quyết được thì văn hóa giải quyết”. Nhưng hình như đó chỉ là những định kiến và là chuyện nhạy cảm mà hai bên đều mơ mộng sẽ vượt qua được. 


 
 Duy Minh. 
 
Về mặt trận báo chí là thế. Nhưng suy cho cùng, Phạm Duy cũng chẳng vì vài bài báo tâng bốc mà nổi tiếng hơn hay cát-xê tăng cao hơn như kiểu thường tình showbiz. Cái quan trọng – mà riêng cá nhân tôi vẫn dõi theo ông, là những ca khúc Phạm Duy viết sau khi trở về đã không còn hay nữa. Đã cố nghe vài bài nhưng thú thật là bây giờ rặn óc mãi vẫn không nhớ nổi cái tựa. Với Phạm Duy bây giờ chỉ có thể gói gọn lại một câu: Cái mới không hay và cái hay thì lại không mới. Và người ta vẫn cứ say mê những ca khúc đã thuộc về dĩ vãng, bíu lấy cái vầng sáng cũ kỹ kia. Lớp khán giả này hiện đa phần đã lớn tuổi và không hứa hẹn gì nhiều cho tương lai của nhạc Phạm Duy. 
 
Những ngày đầu tuần không yên ả, khi sáng ra hàng chục cuộc gọi tới hỏi về cái lệnh miệng của Ban tư tưởng Văn hóa yêu cầu không cho quảng bá liveshow Mơ giấc mộng dài của Phạm Duy – diễn ra vào hai ngày 17&18 tại nhà hát Hòa Bình cuối tuần này. Mặc dù có tổ chức họp báo nghiêm túc, nhưng coi như Phương Nam Phim đành ngậm đắng nuốt cay khi biết nhiều bài viết đã
lên khuôn nhưng bị lột ra. Chưa hết, sáng nay không hiểu từ đâu có nguồn tin đồn: Mơ giấc mộng dài bị hủy show vì không xin giấy phép được, khiến nhà tổ chức xiểng niểng. 


 Giấy phép tổ chức của Mơ giấc mộng dài. 
Kinh doanh tên tuổi Phạm Duy quả là chơi với lửa, đó cũng thể là những chuyện mà có lẽ PNF đã lường được khi quyết định đổ tiền vào ông. Lấy ý tưởng từ ca khúc nổi tiếng Tôi đang mơ giấc mộng dài, xuyên suốt chương trình sẽ là lời tự sự về dĩ vãng, về những cảm xúc đắm say mà những người sống trong tình yêu không bao giờ muốn để mất đi trong đời. Tất cả nối kết lại thành những giai đoạn của đời người: Tuổi ấu thơ – Tuổi yêu đương – Tuổi day dứt – Tuổi đá vàng. Thực tế hiện nay chỉ mới có 70 ca khúc của Phạm Duy được cấp phép lưu hành, trừ những bài hát trong hai chương trình đã diễn ra, thì muốn chọn lọc trong số còn lại để làm một show mang chủ đề lớn là điều rất nan giải. 

 

 Ca sĩ 16 tuổi Xuân Nghi 

 

 Các ca sĩ tham gia Mơ giấc mộng dài. 

Trong đám đông ca sĩ hiện nay, Phạm Duy đánh giá cao những người hát nhạc ông: Mỹ Linh, Đức Tuấn, Năm Dòng Kẻ, Nguyên Thảo, Khánh Linh và lần này, trong Mơ giấc mộng dài sẽ có thêm vài gương mặt bổ sung vào danh sách là Tấn Minh và Hà Anh Tuấn. Ngoài ra là hai tên tuổi gắn bó nhiều năm với các nhạc phẩm Phạm Duy: Ý Lan và Duy Quang. Giá vé đang bán ở Hòa Bình: từ 300.000 đến 1.500.000 VNĐ. 


 

 
Với vợ chồng nhạc sĩ Xuân Hùng – chủ PT Văn Nghệ 

P/s: 
Người ta thường xài hai chữ Nhạy cảm khi muốn từ chối bàn thẳng về một vấn đề có thể gây tác động đến dư luận. Không chỉ Phạm Duy thuộc chủ đề nhạy cảm chính trị, mà gần đây vài nghệ sĩ hải ngoại cũng nằm trong danh sách đó. Ngày 6-6 vừa qua, chương trình Thắp sáng niềm tin – do Ngân hàng ACB thực hiện nhân kỷ niệm thành lập ACB; nhằm quyên góp tiền ủng hộ quỹ từ thiện Chung một tấm lòng. Đêm diễn đặc biệt có mời Ý Lan về hát và mua sóng phát trực tiếp trên HTV7. Tuy nhiên, vào giờ chót Đài truyền hình TP.HCM đã yêu cầu gạch tên Ý Lan ra khỏi chương trình – cùng với lý do trên: nhạy cảm. Do đó, người hâm mộ chỉ có thể xem Ý Lan tại các phòng trà hay những show diễn không ghi hình phát sóng cho đại chúng. 

Ông Nguyễn Cao Kỳ chia vui trong tiệc mừng nhà Lý Huỳnh. Kế bên là nhạc sĩ Hồ Bông, người ngồi là NSND Huy Thành và Đoàn Dũng. Chụp ngày 26-6-2010 trong dịp Sách kỷ lục VN công nhận Tây Sơn hào kiệt là Bộ phim Điện ảnh – thể loại dã sử võ thuật, đầu tư quy mô và hoành tráng nhất Việt Nam. Đây cũng là một nhân vật nhạy cảm và không còn được nhắc tới nữa, mặc dù ông vẫn thường xuyên về thăm quê hương. Thật ra, một đất nước giàu mạnh và một chế độ đã vững vàng…người người trên dưới một lòng thì không cần đặt ra lằn ranh giữa nhạy cảm chính trị và văn nghệ thuần túy! Thường thì ta chỉ e ngại những kẻ khỏe – giàu – đẹp hơn mình…Haizaaa!!!




Số 7 Kỳ Diệu

Số 7 Kỳ Diệu

 
1. Bảy chú lùn trong truyện "Nàng Bạch Tuyết và bảy chú lùn" làm việc ở mỏ kim cương và có tên tiếng Anh là :

1. Dopey (lơ mơ, thẫn thờ)
2. Bashful (rụt rè, xấu hổ)
3. Sneezy (hắt hơi)
4. Sleepy (ngái ngủ)
5. Happy (vui vẻ)
6. Grumpy (gắt gỏng, cục cằn)
7. Doc (thầy thuốc)

2. Có bảy "lỗ" trên đầu là :
– 2 mắt
– 2 lỗ mũi
– 2 lỗ tai
– 1 (lỗ) miệng 

3. Chiến thắng lớn nhất trong trò quay số Slot Machine là 777 (đôi khi là 77777).

4. Bảy thiên thể (sao, hành tinh, vệ tinh,…) mà mắt thường có thể nhìn thấy trong Hệ Mặt Trời là (bắt đầu từ số 1 trên cùng, đi theo đường xiên phải xuống phía dưới) :
  

1, Sun – Mặt Trời
2, Moon – Mặt Trăng
3, Mars – Sao Hỏa
4, Mercury – Sao Thủy
5, Jupiter – Sao Mộc
6, Venus – Sao Kim
7, Saturn – Sao Thổ
 

5. Bảy thiên thể này tương ứng với bảy ngày trong tuần là :
1, Sunday – Chủ nhật
2, Monday – Thứ hai
3, (Pháp) Mardi – Thứ ba
4, (Pháp) Mercredi – Thứ tư
5, (Pháp) Jeudi – Thứ năm
6, (Pháp) Vendredi – Thứ sáu
7, Saturday – Thứ bảy

6. Số 7 là một số nguyên tố (Prime number).

7. Tổng của 2 mặt đối nhau trên một quân xúc xắc chính cống là 7.

Nói cách khác, không có 2 mặt nào trong số 3 mặt mà chúng ta nhìn thấy trên 1 quân xúc xắc có tổng bằng 7.

8. Cuốn tiểu thuyết cuối cùng của nhà văn Kim Dung là "Lộc đỉnh ký" (1972). Nhân vật chính tên là Vi Tiểu Bảo – một anh chàng bất tài, văn dốt vũ dát nhưng lại có đến tận… 7 cô vợ đẹp như tiên. Bảy người vợ đó là :

1- Song Nhi
2- Phương Di
3- Tô Thuyên
4- Tăng Nhu
5- A Kha
6- Tiểu quận chúa Mộc Kiếm Bình
7– Kiến Ninh công chúa

Vi Tiểu Bảo và 7 người vợ (Tân Lộc Đỉnh Ký, 2007)

9. (Phật giáo) Lúc mới ra đời, Phật Tổ đã đi 7 bước trên 7 đóa sen vàng.

10. Có 7 "nhánh" trên vương miện của tượng Nữ thần Tự do.

11. Bạn không bao giờ gập đôi được một mảnh giấy bất kỳ quá 7 lần.

12. Nước tinh khiết nhận giá trị là 7 (trung tính) trên thang đo độ pH.

13. Cả thế giới đã lên "cơn sốt số 7" vào thứ 7 ngày mùng 7 tháng 7 năm 2007. Hôm đó, 7 kỳquan của thế giới mới được công bố tại Lisbon, Bồ Đào Nha; chương trình hòa nhạc "Live Earth" diễn ra tại 7 châu lục cũng như hàng chục ngàn cặp tình nhân tổ chức hôn lễ với những tiêu chuẩn "hoàn hảo" như 7 phù dâu, 7 phù rể, bánh gâteau 7 tầng, hoa 7 loại, tiệc 7 món, v…v…

14. Một số điện thoại địa phương có 7 chữ số.

15. Ánh sáng trắng – Cầu vồng : gồm 7 sắc

1- Đỏ
2- Cam
3- Vàng
4- Lục
5- Lam
6- Chàm
7– Tím

16. Âm nhạc có 7 nốt :

1- Đồ
2- Rê
3- Mi
4- Pha
5- Son
6- La
7– Si

17. Trong cuốn sách “7 thói quen của người thàn
h đạt” (7 habits of Highly Effective People) củaStephen R. Covey – một cuốn sách đã nổi tiếng từ hàng chục năm nay trên khắp thế giới, như tiêu đề, gồm 7 thói quen.


1, Thay đổi từ trong ra ngoài 
2, Luôn chủ động 
3, Bắt đầu bằng định hướng tương lai 
4, Việc quan trọng làm trước 
5, Lợi người – lợi ta 
6, Hiểu rồi được hiểu 
7, Cùng hiệp đồng

18. Bí số của James Bond là 007.

19. Bảy điều lạ ở Thụy Sĩ : 

1- Có nước Thụy Sĩ mà không có tiếng Thụy Sĩ. Ngôn Ngữ chính của nước này là Đức, Ý, Pháp.

2- Người dân của nước này là do người dân của 3 nước Đức, Ý, Pháp hợp thành.

3- Nhiệm kỳ của nguyên thủ nhà nước và người đứng đầu nhà nước chỉ có 1 năm.

4- Thụy Sĩ tuy là nước trung lập vĩnh cữu nhưng có lực lượng quân đội rất quy củ. Đây là một loại chính sách trung lập vũ trang. 

5- Thụy Sĩ có diện tích rất nhỏ, tài nguyên khan hiếm nhưng thu nhập ngoại tệ khá nhiều, mức sống củangười dân khá cao. 

6- Tuổi đến trường của học sinh không đồng nhất, thời gian khai giảng cũng không giống nhau, chế độ giáo dục và nội dung giảng dạy trong nhà trường của từng bang cũng khác nhau.

7– Thụy Sĩ không gia nhập Liên Hợp Quốc nhưng tổng bộ của Liên hợp quốc lại được đặt ở Genève (Thụy Sĩ). Ngoài ra, tổng bộ của Hội chữ thập đỏ quốc tế và tổ chức lao động quốc tế cũng được đặt tại đây. 
  
20. Bảy thứ quý báu (Thất Bảo) : 
1- Vàng bạc 
2- Ngọc 
3- Hổ Phách 
4- Mã Não 
5- Xà Cừ 
6- San Hô 
7– Lưu Ly

21. Có 7 vị chính :

1- Chua 
2- Cay 
3- Mặn 
4- Ngọt 
5- Đắng 
6- Chát 
7– Nồng

22. Có 7 ngành nghệ thuật :

1- Hội họa
2- Điêu khắc
3- Chạm trổ
4- Kiến trúc
5- Sân khấu
6- Âm nhạc
7– Điện ảnh

23. Số 7 kỳ diệu trong phép nhân và chia :

Phép chia 1/7  = 0,142857

142857 * 1 = 142857
142857 * 2 = 285714
142857 * 3 = 428571
142857 * 4 = 571428
142857 * 5 = 714285
142857 * 6 = 857142

Khi ta nhân 142857 với 7, kết quả là:

142857 * 7 = 999999

24. Phép khai căn bậc 7 kỳ diệu :

25. Có 32 quân trên bàn cờ tướng, gồm 7 loại quân khác nhau là :

1- Tướng
2- Sĩ
3- Tượng
4- Xe
5- Pháo
6- Mã
7– Tốt

26. Bảy ngôi sao sáng nhất trong chòm sao Đại Hùng (Ursa Major) tạo thành mảng sao Bắc Đẩu(Big Dipper), còn được gọi là Bắc Đẩu thất tinh. 7 ngôi sao đó là :

1- Dubhe – Sao Tham Lang
2- Merak – Sao Cự Môn
3- Phecda – Sao Lộc Tồn
4- Megrez – Sao Văn Khúc
5- Alioth – Sao Liêm Trinh
6- Mizar – Sao Vũ Khúc
7– Alkaid – Sao Phá Quân

27. Nữ tác giả người Anh Joanne Kathleen Rowling đã trở thành 1 trong những người giàu có nhất thế giới với bộ truyện lừng danh Harry Potter. 

Bộ truyện gồm 7 cuốn là:
1- Harry Potter and the Philosopher’s Stone – Harry Potter và Hòn đá phù thủy.
2- Harry Potter and the Chamber of Secrets – Harry Potter và Phòng chứa bí mật.
3- Harry Potter and the Prisoner of Azkaban – Harry Potter và Tên tù ngục Azkaban.
4- Harry Potter and the Goblet of Fire – Harry Potter và Chiếc cốc lửa.
5- Harry Potter and the Order of the Phoenix – Harry Potter và Hội phượng hoàng.
6- Harry Potter and the Half-Blood Prince – Harry Potter và Hoàng tử lai.
7– Harry Potter and the Deathly Hallows – Harry Potter và các Tử thần tích.

Số 7 được coi là con số có ma lực mạnh mẽ nhất trong truyện và được lặp lại nhiều lần. Nhân vật nam chủ chốt của truyện là Harry James Potter, sinh ngày 31 tháng 7. Ginny là đứa con thứ 7 trong gia đình Weasley (con gái út). Chương trình học tại Học viện Hogwarts kéo dài trong 7 năm. Chúa tể hắc ám Voldemort chia tâm hồn mình ra làm 7 phần và gửi vào 7 chiếc Trường Sinh Linh Giá… vv… và vv…

28. Có 7 vị thần mang đến may mắn cho con người trong nền văn hóa Nhật Bản. Họ được gọi làShichifukujin, thường được miêu tả, phác họa với vẻ ngoài khá ngộ nghĩnh, ngồi trên chiếc thuyền Takarabune chở đầy kho báu và bảo bối.

Thất Phúc Thần gồm có :

1- Ebisu: thần phù hộ người đi biển và nhà nông. Bạn có thể thấy Ebisu là vị thần đầu tiên đội mũ đỏ, cầm cần câu và ôm cá trong hình. 

2- Daikoku: thần của thương nghiệp và của cải, mùa màng; là cặp bài trùng với thần Ebisu. Thần Daikoku thích Phật-Pháp-Tăng và ăn uống, có thể mang đến may mắn và biến điều ước thành sự thật; hay cầm một cái bao và chiếc vồ nhỏ bằng gỗ.

3- Bishamon: thần bảo vệ Phật giáo và hòa bình; ban phát của cải và may mắn cho người nghèo hoặc những người xứng đáng. Thần là người mặc quân phục màu xanh lá và cầm mâu trong hình.

4- Benten: vị thần nữ duy nhất. Bà là thần của kiến thức, tài biện luận, âm nhạc và cái đẹp.

5- Fukurokuju: thần Phúc-Lộc-Thọ, là vị thần của những điều may mắn, tiền tài, trí tuệ, công danh và sức khỏe. Thần đứng thứ 3 trong hình vẽ, đội mũ văn nhân, cầm gậy.

6- Jurojin: phiên âm Hán-Việt là "Thọ lão nhân", thần của sức khỏe, sự trường sinh và trí tuệ. Thần được vẽ với cái đầu rất dài, râu dài bạc phơ, cầm trượng dài, trên trượng có gắn bí kíp trí khôn nhân loại, đặc biệt có phần nói về cách sống lâu. 

7– Hotei: thần của tiền tài, phước lộc và sự thịnh vượng. Ông là một vị thần mập mạp, hay cầm quạt tre (hay lá chuối gì đó ), thường được người Việt Nam gọi là "Phật cười".

29. Bảy công trình kiến trúc và điêu khắc được người xưa cho là vĩ đại nhất hợp lại thành danh sách "Bảy kỳ quan của thế giới cổ đại", gồm có :

1- Đại kim tự tháp Giza (Ai Cập) – kỳ quan duy nhất trong danh sách còn tồn tại đến ngày nay.
2- Vườn treo Babylon (Iraq)
3- Tượng thần Zeus ở Olympia (Hy Lạp)
4- Đền thờ nữ thần Artemis ở Ephesus (Thổ Nhĩ Kỳ)
5- Lăng mộ Mausolus ở Halicarnassus (Thổ Nhĩ Kỳ)
6- Tượng thần mặt trời Helios ở Rhodes (Hy Lạp)
7- Hải đăng Alexandria (Ai Cập)

30. Quidditch là một môn thể thao hư cấu dành riêng cho giới phù thủy, do nữ nhà văn người Anh J.K. Rowling sáng tạo ra cho bộ truyện Harry Potter của bà. Một đội Quidditch có 7 cầu thủ, gồm :

3 chasers (truy thủ)
1 keeper (thủ quân)
2 beaters (tấn thủ)
1 seeker (tầm thủ)


Harry Potter là một seeker, có nhiệm vụ đuổi bắt trái bóng vàng Snitch để kết thúc trận đấu (và chiến thắng, dĩ nhiên!).

31. Bức tranh vui dưới đây minh họa 7 giai đoạn tiến hóa của con người.

32. Bà Sofia A. Tolstaya từng copy bản thảo cuốn tiểu thuyết "Chiến tranh và Hòa bình" của chồng mình là tiểu thuyết gia người Nga Leo Tolstoy những 7 lần, mà lại là copy bằng cách… ch
ép tay.

33. Nếu bạn biết rằng trong tiếng Thụy Điển :

7 = sju
10 = tio
100 = hundra
1000 = tusen

thì bạn có viết được số 7777 bằng chữ không ?

Quá đơn giản, chỉ việc viết gộp các thành phần của nó lại là xong . Tức là :

7777 = 7000 + 700 + 70 + 7 = sjutusensjuhundrasj uttiosju

34. Thế giới có thể được phân chia thành nhiều nhất 7 lục địa: Bắc Mỹ, Nam Mỹ, Âu, Á, Phi, Úc, Nam Cực.




BB-Siu tầm : Tháng 5, cỏ lá đong đưa

  Muguet Tình 
 


Mời nghe nhạc
trong hình

Trời tháng 5
Mây mù giăng khắp lối..
Con tim nào
Còn bối rối không anh..
Tình mong manh
Một mình trong đêm vắng..
Giọt nắng vàng
Trên cỏ lá đong đưa..
Mùi hương xưa
Nghe chừng như xa lạ..
Muguet tình
Sao lòng dạ bâng khuâng..
Tháng 5 ơi
Cho ta chào nỗi nhớ..
Chuyện hôm nào
Nay chỉ là chiêm bao..
Cũng một chút hư hao..

 Broken heart

 DesireeThanhBinh

Hoa Muguet, còn gọi là Linh Lan hay Lan chuông, loài hoa mầu trắng ,nhỏ, có mùi thơm ngọt, rất thanh nhã thường được dùng để kết thành vòng tay hoặc trang trí trong lễ hội. Nếu bạn thích Muguet, Hoa lan chuông nói rằng bạn là mẫu người ngọt ngào, vui vẻ và khá cầu toàn. Rất sáng tạo trong công việc, bạn thường tìm con đường đi riêng của mình. Bạn thích sự thay đổi và dễ thích nghi…(giống.. tui.. )

Sự tích Hoa Linh Lan

Hoa này trong tiếng Anh còn được gọi là Our Lady’s tears (Nước mắt của Mẹ) do, theo một truyền thuyết, từ những giọt nước mắt của Eva rơi xuống, khi bị đuổi ra khỏi thiên đàng, đã trở thành hoa linh lan . Một thuyết khác cho rằng linh lan xuất hiện từ những giọt nước mắt của Đức Mẹ đồng trinh Mary khi chúa Jessus bị đóng đinh câu rút . Theo một truyền thuyết khác, hoa linh lan cũng đã xuất hiện từ máu của Thánh Leonard trong trận chiến của ông với con rồng. Các tên gọi khác trong tiếng Anh là May Lily (huệ tháng Năm), May Bells (hoa chuông tháng Năm), Lily Constancy (huệ chung thủy), Ladder-to-Heaven (thang tới thiên đường), Male Lily and Muguet v.v.
Theo truyền thống, hoa linh lan được bán tại Pháp trên các đường phố vào ngày 1 tháng 5. Kể từ năm 1982, hoa linh lan là quốc hoa của Phần Lan. Nó là loài hoa chính thức của các hội đoàn như Pi Kappa Alpha, Kappa Sigma và của liên đoàn các bà Sơ Alpha Epsilon Phi tại Hoa Kỳ.
Tên gọi "lily of the valley" ("linh lan") cũng được sử dụng trong một số bản dịch ra tiếng Anh của Kinh Thánh phần Nhã ca 2:1, mặc dù từ trong tiếng Hêbrơ là "shoshana" nguyên thủy được dùng tại đó không chắc chắn có phải để chỉ loài hoa này hay không.
 
Nhiều truyền thuyết về Muguet qúa, nhưng câu chuyện cảm động dưới đây có lẽ là thật..làm tui nhớ đến chàng gù  Quasimodo bạn của Chúa đảo đào bông ( Hawaii)…
 

Thời xa xa có một chàng Gù bất hạnh, sống đơn độc, không biết cha mẹ mình là ai, anh em thân thuộc cũng không có, chẳng ai coi chàng là bạn. Ðối với tình yêu, chàng chỉ biết qua sách vở. Chàng mang máng hiểu rằng tình yêu cũng giống như một hơi thở nhẹ luôn ve vuốt trái tim, hoặc như ngọn lửa thiêu cháy nó, rằng tình yêu có thể nâng con người lên chín tầng mây, và cũng có thể quăng họ xuống địa ngục.

Chàng Gù còn tin ràng dù là hơi thở nhẹ hay sức nóng của lửa cũng không thể làm lay chuyển được con tim đau đớn đang đập loạn lên của chàng.

Ai có thể đem lòng yêu một con người như vậy, một khi trên đời này còn có biết bao chàng trai tuấn tú và khôn ngoan khác? Vả lại, làm sao chàng có thể yêu được một người khác giới khi chàng mang trái tim như vậy trong lồng ngực? Không, trái tim chàng chỉ biết căm ghét, đố kỵ; đôi môi chàng chỉ quen mấp máy một số từ thô thiển; cặp mắt ti hí của chàng không nhìn rõ được, dù là một tia nắng dịu dàng hay một ánh trăng mỏng mảnh; đôi mắt ấy lúc nào cũng chỉ nhìn xuống và chỉ thấy toàn những thứ thối tha, nhơ nhuốc; cái mũi nhọn hoắt của chàng không thể phân biệt được những điều kỳ diệu trong hương thơm của các loài hoa, mà chỉ biết đánh hơi được mùi hôi thối của xác súc vật và lá cây rữa nát.
Chàng bị người đời xem thờng và xa lánh.

Thế rồi một hôm, thật tình cờ, chàng nhìn thấy công chúa Rôda đang dạo chơi trên công viên.

Mọi người dừng lại, ngã mũ chào nàng, chỉ có chàng là cứ lóng nga lóng ngóng, cặp mắt hấp háy, không sao hiểu được trên đời này lại có thể có một người đẹp nhường kia. Cặp má hồng, đôi mắt nâu, đôi môi đỏ thắm cùng với tấm thân tròn lẳn tràn đầy sức sống của nàng, khiến những ai được gặp nàng cũng đều cảm thấy lòng thanh thản, nhẹ nhõm. Nhiều cụ già đã vượt qua những chặng đường xa lắc, lắm chông gai để mong được gặp nàng, dù chỉ là một lần, và lúc ra về thấy đời như trẻ lại.

Rôda đáp lại sự ngưỡng mộ của mọi người bằng một nụ cười thật cởi mở và chân tình. Chỉ có một người không cất tiếng chào nàng, không ngã mũ, đó là chàng Gù gầy gò, xấu xí đứng bên vệ đường nheo mắt nhìn công chúa đang nhẹ nhàng bước. Ðối với Rôda, đấy là cả một sự lạ và rất khác thường. Nàng bèn dừng lại và nhìn sâu và cặp mắt không mấy thiện chí của chàng Gù. Con người khốn khó này sao cô đơn và đáng thương làm vậy! Rôda cảm thấy thương chàng vô hạn, và đã ban tặng cho chàng nụ cười ấm áp nhất của mình.

Chỉ sau khoảnh khắc ấy thôi, cuộc đời chàng Gù bỗng thay đổi hẳn! Bây giờ, cặp mắt chàng luôn ngước nhìn lên, chàng đã thấy những bông hoa Tử Ðinh Hương tím nhạt và trắng xoá khoe sắc màu sặc sỡ, những bông hoa Sơn Trà đỏ tươi đang nở hết cỡ, và những đám cây tuyệt diệu có những tán lá lung linh giọt mặt trời. Những hơi gió nhẹ đem theo những làn hương kỳ diệu cứ phả mãi vào mặt chàng! Và đây, ngay bên mép đường, những bông hoa tim tím đã mọc lên. Vì sao những bông hoa nhỏ xíu này lại có đủ sức cảm hoá làm vui lòng người qua đường như vậy?

Chàng Gù bối rối, không thể hiểu được vì sao cặp mắt nhìn cũng như đôi tai nghe của chàng lại thay đổi như vậy, và sao bỗng nhiên giờ đây chàng lại biết yêu vẻ đẹp của thế giới quanh chàng "Biết hỏi ai bây giờ" – Chàng tự hỏi.

– Hãy hỏi ta đây này! – trái tim đáp.

– Ôi, trái tim của ta, mi chỉ là kẻ bất hạnh, lúc nào cũng u tối như màn đêm vậy, mi có thể giải đáp được gì cho ta, chàng Gù cằn nhằn.

– Ta đang cảm thấy đời thật là vui, bởi lẽ lúc này, ta mới hiểu cái gì, đã khiến hoa phải nở, giục giã chim phải hót; ta hiểu rằng cái gì đã mở cặp mắt và tai nghe của chàng! – Trái tim điềm tĩnh nói.

– Vậy là cái gì? Hãy nói ta nghe chàng Gù dò hỏi.

– Cái đó là tình yêu. Tình yêu vừa dịu dàng vừa khắc nghiệt, vừa êm đềm vừa sóng gió, vừa ấm áp vừa dữ dội! Chính vì chàng đang yêu! Chàng đã yêu công chúa Rôda!

– Yêu công chúa Rôda ? – Chàng Gù sợ hãi – Ta mà dám cả gan phải lòng công chúa Rôda!

– Ai có thể ngăn cấm chàng yêu công chúa Rôda được? – Trái tim tranh cãi với chàng – Sáng sáng, chàng hãy đến đây, như mọi người, chàng hãy chào nàng đi.

Chàng Gù nghe lời khuyên của chàng trái tim. Ngày lại ngày, chàng đến gặp Rôda, khi nàng đến gần, chàng cúi đầu xuống chào vẻ lịch thiệp. Nàng đi rồi, gương mặt chàng như được ve vuốt bởi một hơi thở nhẹ.

Và thời kỳ tuyệt diệu nhất trong đời chàng đã tới. Vì sao chàng lại có đủ sức mạnh để tàn đêm, tận ngày ngồi đập từng tảng đá? Vì sao ch&ag
rave;ng lại có thể cao giọng hát đua cùng Sơn Ca và Hoạ Mi? Chàng Gù không hiểu Sơn Ca và Hoạ Mi hót gì, còn chàng, chàng chỉ hát về Rôda, về sắc đẹp của nàng và về tình yêu của mình thôi.

Chàng Gù bất hạnh đâu hiểu được rằng, cơn bão bất thần có thể đổ sập xuống đầu chàng bất kỳ lúc nào! Quả nhiên, cơn bão đã bất thần ập đến thật. ấy là vào một buổi sáng, khi chàng tới công viên để được ngắm công chúa, để được hưởng không khí trong lành; chàng đã thấy thành phố được trang hoàng lộng lẫy, phố xá đông nghẹt những người. Người nào cũng mang nhạc cụ, chỉ có một cô gái nhỏ nhắn là cầm trên tay một cái chuông con: Cô gái ấy tên là Maia bất hạnh, chuyên nghề chăn súc vật. Nàng không tìm đâu được đàn và sáo, nàng đành lấy cái chuông trên cổ một con dê là nhạc cụ. Nàng muốn bộc lộ, niềm vui của mình trong ngày hội trang trọng này.

Lúc đó chàng Gù hỏi một người gặp trên đường xem thành phố được trang hoàng đẹp như vậy để đón mừng ai, và vì sao phố xá lại đông người đến thế.

Người qua đường đáp:

– Chàng từ đâu đến mà không biết hôm nay là ngày công chúa của chúng tôi sẽ đi lấy chồng?

– Công chúa ? Công chúa nào? – Chàng Gù lúng túng lắp bắp.

– Chẳng nhẽ chàng không biết thành phố chúng tôi chỉ có một công chúa, đó là nàng Rôda sao?

Chàng Gù khuỵu ngay xuống đống đá lạnh lẽo, nhưng rồi chàng vụt đứng dậy, bởi vì chàng có cảm giác như vừa bị ngã vào một bếp lửa đang cháy hừng hực. Như kẻ bị bỏng lửa, chàng chạy như bay về phía công viên, nơi mà ngày nào chàng cũng được gặp Rôda.

– Rôda của ta! Rôda của ta!

Chàng vừa hét to vừa cảm thấy trái tim mình đang bốc lên một ngọn lửa hừng hực và những giọt nước mắt chảy thành suối trên hai gò má chàng cũng không thể dập tắt nổi.

Dân chúng hoan hỉ đón chào Công Chúa và Hoàng Tử xứ lạ; cặp trai tài gái sắc ấy đang ban phát cho đám thần dân của họ những nụ cười ấm áp. Say sưa với hạnh phúc, họ đâu có ngạc nhiên khi thấy một chàng Gù lách qua đám đông tới quỳ mọp dới chân công chúa Rôda, miệng lảm nhảm cầu xin:

– Rôda ơi, em là của ta cả mà! Hãy tống cỏ kẻ lạ mặt này đi và hãy theo ta!

– Thằng điên! Dân chúng hét to – Mi không biết thế nào là liêm sỉ khi xuất hiện trước mặt nàng công chúa Rôda trong bộ quần áo rách rưới thế kia ?

– Ta đã tìm được người ta yêu.

– Tốt nhất là nên cầu hôn cái chổi ấy!

Ðám đông giận dữ đứng che lấp hẳn chàng Gù. Dù có răn đe, dù có nhạo báng cũng không làm chàng tỉnh lại được.

Ngọn lửa tình yêu đã khiến chàng dần trở nên mù quáng, mất hết lý trí. Chàng rút con dao găm từ trong vạt áo ra và đâm thẳng vào trái tim công chúa.

Mọi người cúi gằm mặt xuống, vẻ đau buồn. Khi ngước mắt lên, ai nấy đều ngạc nhiên trước một tiếng kêu sửng sốt. Từ mảnh đất thấm đầy máu, mọc lên một bông hoa thanh cao có những cái cánh nhỏ màu đỏ lửa tỏa hương thơm. Nhưng nếu ai cố tình chạm vào nó thì sẽ bị những cái gai sắc như mũi dao đâm vào tay đau nhói.

– Ðây là Rôda của chúng ta, – Dân chúng bàn tán – ngay cả sau khi đã chết rồi, nàng vẫn gửi lại cho chúng ta niềm vui sáng láng.

Theo luật pháp xứ này, hung thủ giết người tình của mình chỉ về ghen tuông sẽ bị loại trừ ra khỏi cộng đồng, do vậy chàng Gù phải lưu đày lên một vùng núi hẻo lánh, kéo theo sau là những cơn mưa đá và những lời nguyền rủa.

Từ đó không ai thấy chàng Gù nữa. Mãi đến mùa Xuân năm sau, Maia, cô gái chăn cừu nhỏ nhắn trong lúc đi tìm chú dê con bị lạc bầy, đã phát hiện dưới chân núi một trái tim bị nứt nẻ.

Cô gái bỗng nhớ tới chàng Gù bất hạnh đã chết vì tình yêu điên dại, nàng bèn cúi xuống trước trái tim ta vỡ và khóc nức nở, vì nàng cũng là kẻ đơn độc, không được yêu.


 Mời thưởng thức ngâm thơ trong hình

 
Thật là kỳ lạ, những giọt nước mắt của Maia cứ thấm sâu vào lòng đất, và ngay trên chỗ đó mọc lên hai bông hoa, một bông có những cái cánh nho nhỏ màu hồng quấn quanh thân cành giống như những trái tim nhỏ xíu bị nứt nẻ….( ..bảo rằng hoa dáng như tim vỡ..Anh sợ tình ta cũng thế thôi…)


 Mời nghe nhạc trong hình

 
Còn bông kia thì nở ra những cái chuông nhỏ màu trắng treo lơ lửng trên cành hệt như những giọt nước mắt trong suốt.( Giọt lệ này em cho anh hơn tất cả….Giọt lệ sầu em đã giết trọn tim anh…)

Sau này, nhân gian đã đem những bông hoa đó vào trồng trong vườn và gọi bông hoa màu hồng là hoa Trái Tim Tan Vỡ, còn bông hoa màu trắng là Hoa Linh Lan.

 
(BB-Siu tầm)



NGƯỜI HỌA SĨ ÐẤT VĨNH LONG

NGƯỜI HỌA SĨ ÐẤT VĨNH LONG

GIAO CHỈ , SAN JOSE

(VIET TRIBUNE)

 

Hội họa, ngôn ngữ vượt không gian.

Sáu mươi lăm năm về trước, tôi chỉ là cậu bé hơn 10 tuổi. Cùng lũ bạn nhỏ ngồi xuống lề đường lấy gạch đỏ vẽ những tác phẩm trên hè phố Nam Ðịnh. Những mặt người hình tròn thơ dại. Những con chó có đủ bốn chân. Hơn 60 năm qua, trải bao nhiêu là dâu bể, ngày nay trình độ hội họa của tôi vẫn không tiến bộ. Cuối tháng tư vừa qua, tổ chức cuộc thi vẽ cho trẻ em, tôi ước mơ mình có khả năng hội họa để biểu diễn cho các em nhỏ. Những đứa bé Việt Nam ra đời trên đất Mỹ. Ðối với thế hệ cao niên, dù Việt ngữ hay Anh ngữ cũng không phải là phương tiện truyền đạt hữu hiệu với con cháu. Hội họa chính là nhịp cầu liên lạc hữu hiệu nhất. Con người, trước khi biết viết đã dùng nét vẽ để giãi bầy tư tưởng. Và ngày nay dù khác biệt sắc tộc và ngôn ngữ. Cứ nhìn hình vẽ là hiểu nhau liền. Hội họa là nghệ thuật vượt không gian. Dù vậy, nhân loại cũng đã sáng tác và để lại nhiều danh họa bí hiểm hết sức đắt giá. Nhưng nếu là người Việt Nam muốn trở thành danh họa thì bạn có thể chọn Bùi Xuân Phái với Hà Nội Phố hay Nguyễn Gia Trí với Sơn mài. Riêng tôi, tôi chỉ muốn vẽ được như ViVi, người họa sĩ muôn đời của tuổi hoa niên. Xin hiểu rằng trình độ thưởng ngoạn của tôi rất bình dân đối với những danh họa thế giới không khác gì khi nghe nhạc hòa tấu nhạc cổ điển tây phương.

 

 

Thông điệp của tuổi Xanh..

Nhưng trước khi giới thiệu với các thân hữu về ViVi, người họa sĩ Việt Nam, đất Vĩnh Long, chúng tôi muốn nhắc qua về những bức vẽ của tuổi xanh Việt Nam vào cuối tháng tư đen vừa qua.

Hàng năm người Mỹ gọi tháng tư là tháng Xanh, bao gồm ngày của trái đất, ngày trồng cây, ngày bảo vệ môi sinh.

Năm nay, viện bảo tàng Việt Nam nằm trong vườn lịch sử của thành phố San Jose, nên nhập gia tùy tục, chúng tôi tổ chức ngày Xanh chung với người Mỹ và các sắc tộc. Kết quả khá lạ lùng là lần đầu tiên có đông đảo các em nhỏ và thân hữu Hoa Kỳ đến với Việt Nam để cùng tưởng niệm ngày 30 tháng Tư Ðen đau thương của chúng ta.

Ðể ngày bảo vệ môi sinh có thêm phần hấp dẫn, ban tổ chức chuẩn bị cho các em thi vẽ. Cô giáo Hằng của trường Việt Ngữ hết sức sốt sắng cổ võ để các phụ huynh đem con em tham dự. Họa sĩ Ðào Hải Triều cấp tốc mở một lớp dạy vẽ trên đá gọi là Thạch Họa cho các em sáng tạo một tác phẩm ngay tại chỗ. Họa sĩ Quế Hương và các giáo sư hội họa trong ban giám khảo theo dõi cuộc thi để lựa chọn các giải trong số 12 tác phẩm tham dự.

Cùng một lúc ở phía Nam vườn Kelley các em Hoa Kỳ cũng hoàn tất tác phẩm hội họa mà đề tài là vẽ cỗ xe ngựa của tiền nhân Hoa Kỳ 200 năm trước đã đi từ miền Ðông qua miền Tây. Ðề tài của các em Mỹ là “ Westward ” nhắc lại câu chuyện đoàn di dân đến từ Ðại Tây Dương. Phía Bắc vườn Kelley một em bé Việt Nam vẽ con tàu vượt biên của viện bảo tàng mang ý nghĩa của thuyền nhân đến từ phía Thái Bình Dương. Ðó là bức tranh của em Sandra Ly (15 tuổi) vẽ bằng bút chì được chấm giải ba.

 

 

Giải nhất là em Emily Nguyễn (9 tuổi) vẽ đúng đề tài trồng cây, bảo vệ môi sinh.

Giải nhì là em Julie Lê (5 tuổi) vẽ hình trẻ em chơi trong vườn.

Và giải ba đồng hạng là em Aline Hoàng (11 tuổi) vẽ đề tài Save the planet.

Hầu hết các em đều có đôi chút thiên bẩm về hội họa nhưng chưa từng đến tuổi để theo học một chương trình vẽ nghiêm túc. Trong các em này, cháu nào có thể là một Vivi tương lai.

Võ Hùng Kiệt, họa sĩ năm 13 tuổi.

Những bậc phụ huynh tại Việt Nam vào thập niên 60 nếu thường mua báo Tuổi Xanh, Tuổi Hoa về cho con gái là bắt đầu làm quen với nét vẽ của ViVi. Lúc đó ít người biết về anh chàng họa sĩ của phòng 7, bộ Tổng tam mưu, Quân lực Việt Nam Cộng hòa với tên Võ Hùng Việt.

Thực ra cho đến nay, tìm trong internet (hoasivietnam.com) mới biết ViVi là chử tắt của Việt Nam và Vĩnh Long. Gia đình chúng tôi có các cháu học trường Trần Quý Cáp do cụ Bùi Văn Bảo làm hiệu trưởng. Mẹ của các cháu là hội trưởng hội phụ huynh học sinh nên được cụ Bảo tặng cho các số báo Tuổi Hoa và Tuổi Xanh do cụ phát hành với sự cộng tác của họa sĩ ViVi lúc đó còn rất trẻ. Nét vẽ hồn nhiên, đôn hậu, đầy nữ tính của ViVi, đã tràn ngập trên trang sách của tuổi học trò. Những cô nữ sinh bé nhỏ, ngày nay đã trở thành bà mẹ Việt Nam ở tuổi 50.

Trong lúc Việt Nam khói lửa và chiến tranh tang tóc, thế giới hội họa của ViVi đem đến sự yên vui thanh bình cho tuổi thơ Việt Nam.

Nét vẽ của ViVi phản ảnh sự tốt đẹp của con người. Dù vẽ cho thiếu niên hay vẽ cho người lớn, cho tôn giáo hay cho xã hội, nét họa của ViVi đơn giản và không có hận thù. Từ lúc còn là cậu bé 13 tuổi đam mê hội họa, vào học trong chủng viện cho đến khi trở thành sinh viên cao đẳng mỹ thuật, Võ Hùng Kiệt mãi mãi vẫn là họa sĩ của tuổi trẻ, của Việt Nam, và của quê mẹ Vĩnh Long.

Sau những năm phục vụ trong đơn vị tình báo, phòng 7 Tổng Tham Mưu, Võ Hùng Kiệt cũng vẫn mãi mãi là họa sĩ ViVi của miền sông nước Cửu Long..

Một trong những thành tích hết sức quan trọng là ông đã tham dự hầu hết các kỳ thi vẽ tem Bưu chính Việt Nam và được giải thưởng đến 40 lần.

Vẽ tem bưu chính là một đề tài hết sức cô đọng, đòi hỏi nhu cầu sáng tạo. Những bộ tranh bưu họa phản ánh nhiều sinh hoạt của chính quyền và xã hội. Ghi dấu các ngày lịch sử, nhân vật lịch sử bao gồm mọi lãnh vực chính trị, văn hóa, kỹ thuật. Mỗi con tem góp lại làm thành tập bưu họa ghi dấu nền văn minh của đất nước qua từng giai đoạn.

Với bốn mươi tác phẩm đoạt giải vẽ tem bưu chính, quả thực là niềm hãnh diện chưa có họa sĩ nào đạt được.

Ngoài lãnh vực hội họa tuổi thơ của ViVi và thành quả vẽ tem của Võ Hùng Kiệt, trong phạm vi tôn giáo ông là người đã hoàn tất nhiều danh họa và tượng đài.

Vốn xuất thân là tu sĩ dòng sư huynh La San, họa sĩ đã đóng góp rất nhiều tác phẩm ca ngợi Thiên Chúa mà trong đó nổi tiếng là hình vẽ 117 Thánh tử đạo Việt Nam.

Sau 1975 vì là quân nhân ngành tình báo, ông cũng nếm mùi cải tạo rồi vượt biên đến Canada năm 1982. Qua Mỹ năm 1995 và lập gia đình với ca sĩ Diễm Châu cư ngụ tại San Diego.

Ảnh hưởng gia đình và nghệ thuật không biết theo chiều hướng nào mà Diễm Châu không làm cho ViVi trở thành ca sĩ mà chính cô ngày nay lại trở thành họa sĩ với nét vẽ trẻ trung của tuổi thơ. Nữ họa sĩ này lấy tên hiệu là Cát Ðơn Sa, hạt Cát của làng Ðơn Sa từ quê hương Quảng Bình miền trung Việt Nam. Tranh của cô vẫn nằm khép nép, bên cạnh những tác phẩm lớn, và bộ sưu tập tranh đủ loai của ViVi. Hòa nhịp theo cuộc sống của di dân hội nhập, Võ hùng Kiệt còn có những tác phẩm vẽ ông Regan và tượng đài tổng thống Hoa Kỳ cùng với tranh vẽ về thảm kịch 911 tại Nữu Ước năm 2001. Tất cả đều là những tác phẩm ghi dấu lịch sử. Ngoài ra, đối với những cựu chiến binh Việt Nam Cộng Hòa, bức tranh Tượng Ðài Thương tiếc xụp đổ là tác phẩm gây xúc động đã được phổ biến trên điện báo cho cả triệu người xem.

 

50 năm hội họa, triển lãm tại San Jose.

Trong một chuyến viễn du sau 50 năm một đời cầm cọ, người họa sĩ đất Vĩnh Long sẽ đem theo hạt Cát làng Ðơn Sa đến San Jose vào trung tuần tháng 5 năm 2009.

Phòng tranh ViVi khai mạc lúc 1 giờ chiều chủ nhật ngày 17/05/2009 tại Nguyện đường La San số 248 Kirk Ave, San Jose, CA. 95127.

Sẽ mở cửa tiếp tục trong ba ngày 18/19 và 20 tháng 5 năm 2009, mỗi ngày từ 11:00 AM đến 5:00 PM.

Chúng tôi rất hân hạnh có dịp giới thiệu đồng hương đến xem tranh của người họa sĩ Việt Nam đất Vĩnh Long (ViVi)

 

Quí vị sẽ có dịp thưởng thức những bức họa hết sức sống động. Gần mà xa. Xa mà gần. Những tác phẩm ghi dấu một thời đã qua. Tranh kỷ niệm của tuổi thơ thập niên 60, hình ảnh linh động của thế giới tôn giáo, của màu sắc âm dương hòa hợp, của thế tục và siêu nhiên. Trong thế giới muôn màu và nhiều chuyện của cộng đồng Việt Nam hải ngoại, hội họa là một thế giới của tĩnh lặng và rất cần được lưu tâm. Họa sĩ Việt Nam tại hải ngoại không thể bị lãng quên….

Ðến với ViVi là đến với tuổi thơ quá khứ và đến với sự yên tĩnh của tâm hồn. Hy vọng khách thưởng lãm sẽ đem về một mảnh trời quê hương Vĩnh Long….

Giao Chỉ, San Jose.

(Viet Tribune)




Câu chuyện cảm động về con tàu mang số hiệu MT065

Câu chuyện cảm động về con tàu mang số hiệu MT065

2008-11-07

Vấn đề thuyền nhân một lần nữa lại được khơi dậy, khi vào ngày thứ Tư 12-11, Chương trình Phóng sự Nước Ngoài trên hệ thống Đài ABC ở Úc sẽ cho chiếu một phim tài liệu về Thuyền Nhân Việt Nam, và bi cảnh ấy cũng sẽ được Đài truyền hình CNN ở Hoa Kỳ phổ biến.

courtesy UNHCR

Tàu vượt biên mong manh trên biển

Ni dung phim do Đài ABC thc hin nhân chuyến “V Bến T Do” vào tháng 9 va qua, do Văn Kh Thuyn Nhân Vit Nam tr s ti Úc t chc, nói v chuyến tàu đnh mnh MT065 ch hơn 300 thuyn nhân Vit Nam b chìm b bin Malaysia hi đu tháng 12 năm 1978, khiến hơn 170 người thit mng.

Trong khi gần một triệu thuyền nhân đã đến được các trại tỵ nạn, thì cũng chừng ấy số người đã vùi thây giữa biển khơi, hay trên núi đồi rừng rậm.

Văn khố Thuyền nhân VN

Những cơn ác mộng

Nhng ai đã tr v các nước vùng Đông Nam Á, nht là đến Malaysia và Indonesia, dng chân ti nhng nghĩa trang thuyn nhân, đu cm thy bùi ngùi thương cm cho nhng người khước t mt thiên đường huyn hoc, đành gt l ri b quê hương làng mc, rung vườn, người thân… đ liu mình vượt trùng dương tìm đường sng trong cái chết.

Trong khi gần một triệu thuyền nhân đã đến được các trại tỵ nạn, thì cũng chừng ấy số người đã vùi thây giữa biển khơi, hay trên núi đồi rừng rậm.

Cũng trong chuyện bỏ nước ra đi đó, ngày 26-11-1978 tàu Kim Hoàng MT065- tức Mỹ Tho 065, chở trên 300 Hoa Kiều đăng ký bán chính thức vượt biên rời Việt Nam. Sau 5 ngày lênh đênh trên biển cả, khoảng 5 – 6 giờ chiều ngày 30-11-1978 thì tàu tới bờ biển Malaysia.

Vì chính sách đẩy tàu thuyền ra biển, lính biên phòng Mã Lai bắn ra không cho tàu cặp bến, tàu phải bỏ neo cách bờ khoảng 200 thước chờ trời sáng tìm phương cách giải quyết. Nửa đêm bão tới. Khoảng 5 giờ sáng thì tàu chìm khiến trên 170 người thiệt mạng. Tử thi được mai táng trong hai ngôi mộ tập thể tại tiểu bang Kelantan ở Malaysia.

080505-BoatPeople_nguoiviethaingoai.org
Chiếc thuyền con đến Hồng Kông, nơi thuyền nhân bị cưỡng bức hồi hương khốc liệt nhất. Hình từ nguoiviethaingoai.org

Tháng 8-2005, lần đầu tiên phái đoàn người Việt hải ngoại, do Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam (VKTNVN) trụ sở ở Úc tổ chức, đã đến thăm viếng và cúng tế ở nơi này.

 

Tháng 9-2008 vợ chồng tài công tàu Kim Hoàng theo phái đoàn VKTNVN trở về thắp nén nhang cầu nguyện cho hai đứa con, một đứa cháu và tất cả những người không may mắn đã vĩnh viễn gửi thân nơi xứ lạ quê người ròng rã trên 30 năm qua.

Sau 5 ngày lênh đênh trên biển cả, khoảng 5 – 6 giờ chiều ngày 30-11-1978 thì tàu tới bờ biển Malaysia. Vì chính sách đẩy tàu thuyền ra biển, lính biên phòng Mã Lai bắn ra không cho tàu cặp bến

Hi tháng 4 năm 2000, bài viết ca nhà văn Nguyn Ngc Ngn v chuyến vượt biên ca mình, được đang ti và ph biến mi nơi. Trong chuyến đi kinh hoàng đó, v và con ca anh đã thit mng.

Qua bài viết, nhà văn mô tả khá chi tiết về chuyến tàu định mệnh này, và cho thấy phe tài công, chủ tàu cùng gia đình đã bỏ tàu lên bờ; vì không người điều khiển nên tàu chìm, khiến trên 170 người mạng vong.

Những uẩn khúc trên tàu MT065

Anh Trn Đông, Giám Đc Văn Kh Thuyn Nhân Vit Nam rt băn khoăn v vn đ này. Gn đây anh tìm gp anh Phm Văn Hoàng, tng là tài công MT065 va nói, và ra sc tìm hiu chi tiết biến c sáng mùng 1-12-1978 này.

Thưa quý thính giả, chúng tôi liên lạc được với anh Trần Đông, Giám đốc Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam, cùng tài công Phạm Văn Hoàng của tàu MT065, hiện cư ngụ tại Melbourne, nước Úc.

Qua cuộc trao đổi sau đây, câu hỏi đầu tiên mà chúng tôi nêu lên với anh Trần Đông là làm sao anh có thể tìm ra được ngôi mộ tập thể mai táng 123 thuyền nhân tàu Kim Hoàng MT065 ? Và làm sao anh biết chắc đó chính là mộ của những nạn nhân này ? Anh Trần Đông giải thích:

Trần Đông:  Thưa qúi vị, tháng 8 năm 2005, trong chuyến trở về thăm Malaysia, chúng tôi được đưa đến thăm khu nghĩa trang ngôi mộ tập thể thuyền nhân VN ở Cherang Ruku thuộc bang Kelantan phía Bắc Malaysia.

Chúng tôi thấy trên ngôi mộ này có 5 tấm bia, ghi ngày mai táng là mùng 1 tháng 12-1978, và danh sách tên 123 người đó có ghi rõ thuộc tàu MT065. Lúc đó chúng tôi chưa biết MT065 là tàu nào, và vấn đề đưa đến tai nạn chìm tàu xảy ra như thế nào.

Chúng tôi chỉ thắp nhang cầu nguyện để ghi nhận bi cảnh ấy thôi. Mãi về sau chúng tôi mới được biết chi tiết nhiều hơn.

Chúng tôi thấy trên ngôi mộ này có 5 tấm bia, ghi ngày mai táng là mùng 1 tháng 12-1978, và danh sách tên 123 người đó có ghi rõ thuộc tàu MT065. Lúc đó chúng tôi chưa biết MT065 là tàu nào, và vấn đề đưa đến tai nạn chìm tàu xảy ra như thế nào.

Trần Đông

Thanh Quang: Thưa anh, có gần 180 người thiệt mạng trên tàu MT065, nhưng tại nghĩa trang Cherang Ruku vừa nói thì chỉ mới có 123 người. Như vậy những thi thể còn lại được mai táng ở đâu ?

Trần Đông: Trong chuyến về thăm Malaysia hồi tháng 8 vừa nói, tại mạn Bắc của bang Kelantan, chúng tôi có đến một nghĩa trang khác cách nghĩa trang Cherang Ruku khoảng 30 cây số về phía Bắc, thì chúng tôi phát hiện một ngôi mộ tập thể thuyền nhân ở đó, tên Balai Bachok, nơi mai táng 46 người, gồm 43 thuyền nhân người lớn và 3 thuyền nhân trẻ em.

Và trong những chuyến đi Malaysia sau này, chúng tôi cũng tìm hiểu xem chiếc tàu nào bị chìm ở Balai Bachok. Nhưng tất cả cư dân địa phương mà chúng tôi dò hỏi đều không ai biết 46 thuyền nhân mai táng ở Balai Bachok thuộc tàu nào.

Chúng tôi chỉ ghi nhận được sự kiện là ngôi mộ này được thành lập hồi mùng 4 tháng 12-1978, tức 3 ngày sau tai nạn chìm tàu MT065 ở  Cherang Ruku.

Mãi sau này, khi đúc kết nhiều sự kiện khác nhau, thì chúng tôi mới suy ra và chắc chắn rằng những nạn nhân được mai táng tại ngôi mộ tập thể Balai Bachok đó thuộc tàu MT065.

chúng tôi phát hiện một ngôi mộ tập thể thuyền nhân ở đó, tên Balai Bachok, nơi mai táng 46 người, gồm 43 thuyền nhân người lớn và 3 thuyền nhân trẻ em.

Trần Đông

Thanh Quang: Vừa rồi là lời anh Trần Đông, Giám đốc Văn Khố Thuyền Nhân VN. Và bây giờ, chúng tôi xin được hỏi anh Phạm Văn Hoàng, tài công chuyến tàu định mệnh này. Thưa anh Hoàng, đầu năm 1978, anh là chủ tàu Kim Hoàng MT065 ?

Phạm Văn Hoàng: Dạ phải.

Thanh Quang: Tàu dài bao nhiêu thước, tàu biển hay đi sông, thưa anh ?

Phạm Văn Hoàng: Dạ tàu dài 18 thước, đi biển hồi đó tới giờ.

Thanh Quang: Trang bị máy gì ?

: Máy Rey 6 (Rey 671).

 

Thanh Quang: Thưa anh, khi vượt biển thì tàu này là tàu đăng ký. Như vậy anh vẫn còn là chủ tàu, hay đã bán tàu cho người khác ?

Phạm Văn Hoàng: Dạ đi đăng ký thì người Việt mình không đăng ký được, phải người Tàu mới được đăng ký. Chiếc tàu này có người giới thiệu nên tôi bán cho hai anh Tàu ở Saigòn xuống mua. Một anh tên Lu Uởn, còn anh kia người ta kêu là Tư Lùn.

Thanh Quang: Như vậy nhiệm vụ của anh trong chuyến đi này là gì ?

Phạm Văn Hoàng: Tài công.

Thanh Quang: Xin anh tóm lược những gì đã xảy ra vào chiều ngày 30 tháng 11 và sáng mùng 1 tháng 12-1978.

Phạm Văn Hoàng: Chiều đó, khoảng 5 giờ thì tụi tôi tới sát bờ đất Mã Lai thuộc tiểu bang Kelantan, bị lính biên phòng bắn, không cho tụi tôi lội vô bờ. Lúc đó tàu tôi neo cách bờ từ 100 tới 200 thước, để chờ đợi Cao Ủy LHQ tới.

Nhưng không may, tới khoảng 1 giờ khuya thì bão tới. Đến 5 giờ sáng, tụi tôi cho một số người lội vô bờ để thương lượng, nhưng vẫn có một đoàn xe Mã Lai pha đèn ra, rồi nó bắn ra, không cho tụi tôi vô.

Nhưng rồi tôi thấy chiếc tàu không thể nào chịu nỗi nữa, vì càng lúc bão càng lớn, sóng càng to, mưa gió quá chừng. Lúc đó tôi mới nói là bây giờ mình cứ ôm phao lội vô bờ. Khi một số người lội được vô bờ thì trong vòng nửa tiếng đồng hồ, tàu bể ra, chìm. Tôi bị chết 2 đứa con.

Thanh Quang: Thưa anh, có người cho là tài công, rồi cả chủ tàu, bỏ mặc bà con trên tàu, trong khi họ lo tìm đường thoát thân, bất kể tình cảnh của bà con đi trên tàu, anh có ý kiến gì về vấn đề này không ?

Nhưng rồi tôi thấy chiếc tàu không thể nào chịu nỗi nữa, vì càng lúc bão càng lớn, sóng càng to, mưa gió quá chừng. Lúc đó tôi mới nói là bây giờ mình cứ ôm phao lội vô bờ. Khi một số người lội được vô bờ thì trong vòng nửa tiếng đồng hồ, tàu bể ra, chìm. Tôi bị chết 2 đứa con.

Phạm Văn Hoàng

Phạm Văn Hoàng: Có một số người, đại khái như nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn, tôi có nghe đã kể vụ này trên Internet. Nhưng thực sự những người đó là khách, ngồi dưới hầm tàu thì không hiểu bên trên tụi tôi điều hành như thế nào. Cũng như trong 2 người chủ tàu thì có một người chủ tàu đã chết luôn cả vợ lẫn con.

Còn chủ tàu kia – là Tư Lùn, thì một vợ và 4 đứa con gái của anh cũng chết hết, còn lại một thằng con trai thôi. Tôi thì chết 2 đứa con. Em gái vợ tôi, là thợ máy, chết một đứa con. Như vậy không thể nào tụi tôi bỏ tàu chạy vô bờ. Vì cố ý chạy trước, thì tụi tôi đâu có chết người nào ?

Thanh Quang:  Cám ơn anh Phạm Văn Hoàng rất nhiều.

Phạm Văn Hoàng: Dạ, cám ơn anh.

Đâu là sự thật?

Thanh Quang: Xin tr li vi anh Trn Đông, thưa anh, qua phn tìm hiu ca anh vi anh Nguyn Ngc Ngn, tài công Phm Văn Hoàng cùng mt s người khác na, thì đến hôm nay, anh có nhn xét gì v biến c tàu Kim Hoàng MT065 ?

Trần Đông: Thưa quý thính giả, sau khi nghiên cứu kỹ bài viết của anh Nguyễn Ngọc Ngạn, và tìm hiểu qua tài công Phạm Văn Hoàng cùng một số người khác, thì chúng tôi rút ra được một số kết luận.

Thứ nhất, về bài viết của anh Ngạn, anh Ngạn có ghi là “Khi tôi tĩnh lại trên bờ thì thấy mình nằm sấp trên đống xác chết ngổn ngang. Nước từ trong bụng ọc ra giúp cho tôi hồi sinh”.

Như vậy anh Ngạn từ lúc bị ngất xỉu cho đến khi bị trôi dạt lên bờ thì khoảng thời gian đó không quá 5 phút, vì quá 5 phút, tế bào não sẽ chết và nạn nhân sẽ chết luôn. Do đó, kết luận thứ nhất là từ chỗ tàu bị đắm cho tới bãi biển, khoảng cách đó cũng rất là ngắn, mà theo anh Hoàng là không quá 200 mét, thì điều đó là đúng.

080505-BoatPeople_hongKong_UNHCR.jpg
Người tị nạn ở Hồng Kông chờ đi định cư. PHOTO by UNHCR

Điểm thứ hai, trong bài văn của anh Ngạn, anh Ngạn có viết là “Tôi vùng đứng dậy, đưa mắt nhìn quanh. Lính Mã Lai đang quay những người sống sót vào gốc dừa. Họ cũng như tôi là những người được sóng đẩy vào bờ và may mắn thoát khỏi tử thần.

 

Nhưng họ không được phép cứu những người ngộp nước như tôi. Nếu được cấp cứu thì tôi chắc là trong đám người kia, ít lắm cũng có cả chục người được sống dậy”. Phần này, theo chỗ chúng tôi tìm hiểu thì cũng không được đúng hẳn.

Theo như lời anh Hoàng thì trong số những người sống sót, cũng có nhiều người tham gia vào việc cấp cứu những người còn sống, thí dụ như sốc nước hay làm những động tác hồi sinh để cho nạn nhân được sống lại.

Điểm thứ ba trong bài viết này là “Lính Mã Lai không cho cứu là bởi vì những kẻ xa lạ và bất nhân ấy đang lột quần áo người chết để lấy vàng và đô-la giấu trong gấu quần, gấu áo, cổ áo, vạt áo .v.v…”. Vấn đề những người chết, khi xác họ dạt vào bờ thì lính Mã Lai có lục soát, lấy giấy tờ và lấy vàng bạc thì phần này có đúng, theo ghi nhận của những người mà chúng tôi tìm hiểu được.

Về điểm thứ tư trong bài viết của anh Ngạn, là “Hôm sau, từ trại tạm cư, chúng tôi được đưa trở lại bãi biển, thả bộ dọc xuống hướng Thái Lan, tìm thêm được một số xác chết nữa nhưng cũng không thấy vợ tôi”.

Khi liên kết sự kiện này cho đến sự kiện ngôi mộ tập thể Balai Bachok, cũng như theo lời một nhân chứng nữa, thì nhân chứng thứ hai này cho biết là 3 ngày hôm sau, cảnh sát Mã Lai có vào trại và đưa một số người ra để giúp việc mai táng.

Vấn đề những người chết, khi xác họ dạt vào bờ thì lính Mã Lai có lục soát, lấy giấy tờ và lấy vàng bạc thì phần này có đúng, theo ghi nhận của những người mà chúng tôi tìm hiểu được.

anh Trần Đông

Riêng trong phn viết ca anh Ngn, anh y đưa mt chi tiết thú v, đó là đi b xung hướng Thái Lan. Tht ra là đi lên, vì đi xung là phía Nam, còn đi lên là v hướng Bc, giáp vi Thái Lan. Đi b dc lên phía trên và tìm kiếm thêm mt s xác chết na.

Như vậy tức là sóng biển nó dập hướng lên trên, và ngôi mộ tập thể Balai Bachok, nơi chôn 46 thuyền nhân, cách hướng Bắc của mộ tập thể Cherang Ruku khoảng 30 cây số, tức cũng hướng về phía trên.

Vậy khuynh hướng lúc xảy ra vụ chìm tàu MT065, là một số xác bị đẩy lên trên mạn Bắc. Cho nên 3 ngày hôm sau – tức ngày 4 tháng 12-1978, 46 xác chết của tàu MT065 đã trôi dạt vào bờ Balai Bachok, và người ta vớt chôn tại ngôi mộ tập thể thứ nhì gồm 43 người lớn và 3 trẻ em như vừa nói.

Do đó, khi nối kết các sự kiện lại với nhau, chúng ta có thể biết được chính xác là nghĩa trang ở Balai Bachok cũng là nạn nhân của tàu MT065.

Điểm thứ 5, qua những bài viết và qua lời kể của anh Phạm Văn Hoàng cùng nhiều người khác nữa, thì chúng ta thấy phần lớn những người phụ nữ và con nít được ở trên boong tàu, còn thanh niên và người lớn phần lớn ở dưới hầm. Cho nên khi tàu bị lật, thì những người trên boong ngã xuống nước hết. Những người trong hầm khó có thể thoát ra được.

Tính theo số tuổi của những người đã chết thì chúng tôi sơ kết như vầy: Có 3 người không biết tuổi là bao nhiêu. 26 người tuổi từ 30 trở lên. 43 người tuổi từ 15 tới 30. Và 51 người tuổi dưới 15. Như vậy phần lớn những người chết có tuổi từ 15 trở xuống.

Thưa quý vị, phần kết luận chung của chúng tôi là trong tình cảnh như vậy, việc quy kết trách nhiệm là ai – của chủ tàu hay tài công hoặc của người nào ?

Phần lớn những người còn sống sót, sau khi vào trại, theo lời kể của một số người, thì rất nhiều người, vì gia đình, thân nhân bị chết nên họ cũng có tố cáo với Cao Ủy và cảnh sát Mã Lai rằng chủ tàu và tài công bỏ tàu, đưa gia đình vào bờ, khiến tàu không người điều khiển nên bị lật và chìm.

Tính theo s tui ca nhng người đã chết thì chúng tôi sơ kết như vy: Có 3 người không biết tui là bao nhiêu. 26 người tui t 30 tr lên. 43 người tui t 15 ti 30. Và 51 người tui dưới 15. Như vy phn ln nhng người chết có tui t 15 tr xung.

Trần Đông

Nhưng qua li anh tài công Hoàng cho biết rõ ràng thì chính phe ch tàu và tài công cũng đu là nn nhân ca bi cnh này. Hơn na, theo li h k, thì h vào b là đ thương lượng vi cnh sát Mã Lai nhm tìm cách giúp đ cho c tàu, ch không phi h vào b đ b tàu.

Thưa quý vị, đó là thảm cảnh đã xảy ra. Và thảm cảnh này một phần phát xuất từ lỗi lầm của nhà cầm quyền cộng sản VN khiến rất nhiều người bỏ nước ra đi. Một phần nữa là ở Malaysia, do chính sách đẩy tàu thuyền ra biển, và chính sách này không chỉ Mã lai áp dụng, mà cũng ở tại Thái Lan nữa.

Chúng tôi biết là đa phần mồ mả của thuyền nhân tại Malaysia đều là nạn nhân được mai táng trong khoảng thời gian 1978-1979.

Thanh Quang: Vừa rồi là lời của anh Trần Đông, Giám Đốc Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam.

Thưa quý vị, mới đó mà đã 30 năm trôi qua. Câu chuyện được ghi lại, không phải cố ý khơi lại một nỗi buồn quá khứ, không nhất thiết để hằn thêm một nét hận thù, cũng không phải nhằm nhắc lại một tội ác, mà chủ yếu là để tìm hiểu thêm và làm sáng tỏ một uẩn khúc, để những người vĩnh viễn nằm xuống trong 30 năm qua, biết đâu họ mòn mõi trông chờ người thân, nay được người thân biết đến.

080505-boatpeople2_HongKong_by fence_.jpg
Tình cảnh người tị nạn đang xếp hàng chờ cơm ở Hồng Kông, chụp năm 1989, là một trong những trưng bày ở Vancouver, Canada.

Phạm Văn Hoàng




Hãy cảnh giác với Bắc Triều


Hãy cảnh giác với Bắc Triều

Thứ tư ngày 5/9/2001, một ngày đầu thu, trời nắng nhẹ, không khí dịu mát như thể ủng hộ học sinh trong ngày khai giảng năm học mới. Nhưng ngược lại với thời tiết, một bầu không khí chính trị oi nồng, gay gắt đã xuất hiện ngay từ sàng sớm. Từ các cơ quan bảo vệ pháp luật, từng đoàn xe đặc chủng, ôtô, mô tô, nối đuôi nhau toả về mọi ngóc ngách của thành phố, trong một chiến dịch vây bắt những người dân chủ tại Hà Nội, chỉ vì họ ngây thơ dám xin thành lập hội: "Nhân dân Việt Nam ủng hộ Ðảng và nhà nước chống tham nhũng"( Hội này do hai ông Phạm Quế Dương và Trần Khuê xin thành lập ngày 2/9/2001) . 6 giờ 30 phút sáng. Tốp CA đầu tiên ập vào nhà ông Ðại tá Phạm Quế Dương, khi ông còn chưa ngủ dậy. Họ áp giải ông đi lên CA. Nhà ông bị lục soát, một số đĩa mềm máy tính bị lấy mất và họ còn cho ém khoảng 10 CA tại nhà ông để phục tất cả những người đến chơi nhà ông hôm đó; 8 giờ sáng, một tốp CA ập vào nhà ông Hoàng Minh Chính, và ông cũng bị đưa lên CA. 9 giờ 15 phút, ông Trần Khuê và bạn ông là bà Nguyễn Thị Thanh Xuân cũng chung số phận, sau đó họ bị chục xuất về TP HCM. 9 giờ 30 phút, Nguyễn Vũ Bình từ nhà tôi đến chơi nhà ông Chính cũng bị triệu tập lên CA. 14 giờ 20 chiều cùng ngày đến lượt tôi, cũng vinh dự được xe đặc chủng của CA ghé tận cổng, đưa lên CA quận Ðống Ða. Tất cả những người trên, trong giấy triệu tập của CA đều ghi rõ : "…Hỏi việc có hoạt động liên quan đến an ninh quốc gia".

Cả thẩy những người bị triệu tập và được mời lên CA để làm việc trong ngày hôm đó, và những ngày tiếp theo là khoảng 20 người. Những người được mời là người thân trong gia đình hoặc bạn bè đến thăm những người có tên nêu trên. Họ được mời dưới hình thức, CA viết giấy ngay tại chỗ, hoặc đến tận nhà, và nếu không đi thì lập tức họ bị áp giải ngay. Cũng trong ngày hôm đó điện thoại ngà các ông Hoàng Minh Chinh, Nguyễn Thanh Giang, Hoàng Tiến, Nguyễn Ðắc Kính, Trần Dũng Tiến, Và Nguyễn Vũ Bình bị cắt. Ngày thứ tư 5/9 được gọi là ngày thứ tư đỏ

Tại sao cơ quan CA lại phải huy động một chiến dịch rộng lớn nhất từ trước đến nay để câu lưu những người chủ trương thành lập và tham gia "Hội chống tham nhũng". Việc làm này, trước tiên xét dưới góc độ pháp lý, thì đây là việc làm trắng trợn vi phạm pháp luật VN, cụ thể là: Xâm phạm quyền tự do lập hội của công dân, theo điều 69 của Hiến Pháp, điểu 123 và 129 của bộ luật Hình sự, ( Tội xâm phạm quyền tự do dân chủ của công dân), đã vi phạm công ước về nhân quyền mà VN đã tham gia ký kết ngày 24/9/1982.

Nếu chống tham nhũng là hợp ý Ðảng, lòng dân, đúng chủ trương của Ðảng và nhà nước, thì tại sao cơ quan CA lại cho câu lưu họ ?. Hay là vì những người này là những người dân chủ tiến bộ, đã có nhiều bài viết công khai góp ý, phê phán nhiều đường lối sai làm của Ðảng và nhà nước, mà bị CA cho là bọn diến biến hoà bình nên đã liệt kê họ trong sổ đen…!

Tại sao xin thành lập Hội để "giúp Ðảng và nhà nước chống tham nhũng" và "không hoạt động chính trị" mà lại bị CA đàn áp dữ dội như vậy ?. Xin hãy nghe ý kiến của Tiến sỹ Nguyễn Thanh Giang, trả lời phỏng vấn đài RFI hôm 10/9 ta sẽ thấy rõ:

Thứ nhất: Ðây là việc làm của những lực lượng bảo thủ trong nội bộ Ðảng muốn dằn mặt tân Tổng bí thư Nông Ðức Mạnh, và những gương mặt trẻ chung sáng suốt và tiến bộ trong Bộ chính trị là chớ có tìm cách thoát ra khỏi ảnh hưởng của họ.
Thứ hai: Việc làm này nhằm phá hoại Hiệp định thương mại Việt Mỹ, phá hoại quan hệ Việt-Mỹ và làm xấu mặt VN trên trường quốc tế để thế giới tẩy chay VN hòng làm VN chui vào ống tayáo của TQ.
Thứ ba: Họ (tức những người chủ trương thành lập hội chống tham nhũng) hơi ngây thơ khi thành lập hội vì chống tham nhũng là chống ai? Là chống lại những kẻ lợi dụng Ðảng để tham nhũng và vơ vét là chống lại họ, làm quyền lực của họ có thể bị lung lay nên họ phải ra taymột cách hoảng hốt. Ðảng kêu gọi chống tham nhũng là để mỵ dân thôi, một khi, có một tổ chức thực sự muốn chống tham nhũng, thì họ sẽ đàn áp ngay.

Những nhận xét, phân tích trên của Tiến sỹ Thanh Giang là hoàn toàn chính xác. Riêng đối với luận thuyết thứ 2 theo suy đoán của tôi là có một thế lực đen tối đứng đằng sau chỉ đạo và dật giây, đó là chính quyền Bắc Kinh. Họ đang chỉ huy các thế lực tay sai được cài sâu trong nội bộ Ðảng, nhằm không chỉ phá hoại quan hệ Việt- Mỹ, mà còn làm cản trở sự hội nhập của VN vào nền kinh tế thế giới, làm chúng ta khủng hoảng trầm trọng, phá sản về kinh tế, từ đấyTQ dễ bề nô dịch rồi thôn tính VN.

Những mưu đồ của Trung Quốc.

Lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam chủ yếu gắn liền với công cuộc chống xâm lăng và mưu đồ đồng hoá của Bắc Triều. Từ hàng nghìn đời nay, không một thế kỷ nào, không một triều đại nào mà TQ không tìm các đô hộ VN. Ngay cả khi mà tình đoàn kết tưởng như keo sơn nhất, TQ vẫn tìm mọi cách thức để làm suy yếu nhằm mục đích thôn tích VN. Như chúng ta đều đã biết. Hiệp định Gơnevơ làm chia cắt hai miền Nam- Bắc 1954 là do Chu An Lai và Dalles thông đồng với nhau cùng xúi VN và Pháp ký. Sau đó TQ lại xúi ta mang quân đội vào Nam, gây nên cuộc nội chiến Nam-Bắc. Họ viện trợ từng viên đạn, gói lương khô, từng bộ quần áo cho ta để anh em một nhà đánh lẫn nhau, trong khi đó họ thu hồi Hồng Kông, Ma Cao họ lại không tốn một viên đạn… Nhân lúc anh em một nhà đánh nhau, lợi dụng lúc Miền Nam sơ hở, họ chiếm quần đảo Hoàng Sa tháng 1/1973. Năm 1975 khi QÐ Miền Bắc đánh gần đến Sài Gòn thì tại Anh Quốc một vị Ðại Sứ TQ có đến gặp Ðại Sứ VNCH là Vương Văn Bắc hỏi rằng "…Có cần chúng tôi đưa Chí nguyện quân sang đánh HN để giúp VNCH không." (Hồi ký của Vương Văn Bắc-Từ toà Bạch ốc đến Dinh Ðộc Lập). Tại Cămpốt, sau năm 1975 họ xúi Khơ Me Ðỏ tàn sát đồng bào mình để một ngày nào đó họ đưa người TQ sang chiếm Cămpốt. Năm 1978 một quan chức ngoại giao TQ đã có lần ngỏ lời muốn mở con đường từ TQ qua VN sang Cămpốt chính là ý đồ đó. Việc này không thực hiện được khi ngày 15/1/1979 quân đội VN tiến vào giải phóng Nômpênh. Trong cơn tức tối ngày 17/2/1979 TQ mang quân xâm lược nước ta tại 6 tỉnh biên giới phía Bắc. Rất may cho ta lúc đó ta được dư luận thế giới ung hộ, và nhất là Liên Xô. Ông Brêgiơnhép tuyên bố "Nhà cầm quyền TQ hãy dừmg tay lại nếu còn chưa muộn" Không thực hiện được ý đồ trên bộ, năm 1982 lợi dụng lúc ta suy yếu TQ cho Hải quân chiếm một phần quần đảo Trường Sa. Cũng từ đó quan hệ VN và TQ xấu đi. Ðến năm 1991 khi hai nước bình thường hoá quan hệ ngoại giao và kinh tế thì cũng là lúc TQ chuyển sang ý đồ thôn tính VN bằng KT.

Lịch sử xa xưa hễ cứ lúc nào các triều đại phong kiến VN suy yếu, là Phương Bắc, nhân cơ hội đó xâm chiếm nước ta. Nhưng những lúc đó bao giờ dân tộc ta cũng xuất hiện những Anh hùng dân tộc, phất cao nhọn cờ khởi nghĩa, cùng toàn thể dân tộc đánh đuổi ngoại xâm, thu hồi non sông về một cõi. Tên tuổi của họ sáng mãi ngọn lửa tranh đấu giải phóng dân tộc. Các triều đại phong kiến của ta chưa bao giờ ta phải mất một tấc đất nào cho TQ. Ngay cả những kẻ hèn nhát như Mặc Ðang Dung quỳ gối xin hàng, hay Lê Chiêu Thống cõng rắn cắn gà nhà cũng chưa giám dâng đất cho TQ. Thế mà giời đây, khi cộng đồng nhân loại đã văn minh hơn, "cá lớn không thể nuốt cá bé" dễ dàng như xưa thì ai đó lại can tâm cúi đầu xin dâng phần lãnh thổ, lãnh hải cho TQ để mong bán đất cầu vinh, mong sự bảo trợ cho quyền lãnh đạo độc tôn của mình. (Thàng 12/1999 VN và TQ thông qua Hiệp định biên giới trên bộ, và tháng 12/2000 thông qua HÐ Vịnh Bắc Bộ, làm thiệt hại cho nước ta khoảng 720 km2 trên bộ và 10% diện tích Vịnh Bắc Bộ, những diện tích mà ta bị mất tại vịnh Bắc Bộ, đều là những khu vực giàu tài nguyên hải sản, khí đốt và giàu mỏ ). Xưa kia Họ Mạc, họ Lê đã bị lịch sử lên án thì giờ đây những Mạc "Ðỏ", Lê "Ðỏ" đang bán nước, cầu vinh, lại đang được tung hô như những anh hùng dân tộc .

Kể từ khi Liên Bang Xô Viết tan rã và giải thể, nước Nga suy yếu vì lâm vào khủng hoảng kinh tế, TQ tỏ rõ với thế giới muốn thay thế vị trí siêu cường của Nga trước đây để trở thành cực kia của thế giới và sẵn sàng đối đầu trực tiếp với Mỹ.

Về Ngoại giao:

Gây sức ép với các tổ chức quốc tế và các quốc gia trên thế giới để buộc họ phải công nhận Ðài Loan là một tỉnh của TQ. Liên minh và viện trợ cho các nước thuộc thế giới thứ 3 để gây ảnh hưởng với các nước này. Ðầu tư trực tiếp vào các nước đang phát triển nhất là những nước không có quan hệ thân thiện với Mỹ. Liên minh với các quốc giaTrung á thuộc Liên Xô cũ, bằng Hiệp ước Mậu dịch tự do Thượng Hải. Ðầu tư trực tiếp vào Lào, CămPốt. và một số các nước tại khu vực Nam á. Từ năm 2000-2001 TQ đầu tư hơn 200 triệu USD vào Cămpốt; Trong năm 2000 và 2001 TQ tiến hành hàng loạt các chuyến uý lạo tại các nước tại các nước Nam và Tây á như Lào, Căm pốt, Nê Pan, Miến Ðiện… Riêng trong một năm trở lại đây, tất cả các nhân vật hàng đầu của TQ như: Dang Trạch Dân; Trì Hạo Ðiền; Thạch Quảng Sinh; Lý Bằng đều đã đến thăm Cămpốt.

Về Quân sự :

Tăng cường khả năng quốc phòng, bằng việc hiện đại hoá lực lượng tên lửa hạt nhân. Phóng vệ tinh nhân tạo phục vụ mục đích do thám. Tự đóng tầu sân bay, tăng số lượng tàu ngầm hạt nhân, hiện đại hoá Hải quân, Không quân, và các hệ thống thông tin liên lạc phục vụ quân đội. Cấm bay tại eo biển đài loan. Củng cố và xây dựng các căn cứ tại các quần đảo Hoàng sa và Trường Sa đã chiếm của VN, và thường xuyên cho tập trận tại khu vực này .Trong Năm 2001 TQ liên tục xâm phạm vào khu vực lãnh hải của Philipin và Nhật Bản. Và gần đây nhất TQ đã cho hạ thuỷ tại Biển Ðông 20 tầu tuẫn tiễu, nhằm bảo vệ những khu vực mà TQ đã chiếm của VN.

Về Kinh Tế :

Ðến nay Sau 15 năm đấu tranh, tháng 11/2001 TQ sẽ là thành viên chính thức của tổ chức thương mại TG, nó sẽ gây tác động to lớn đối với các nước Ðông Nam á , trong đó có VN.

Hiện nay, những mặt hàng xuất khẩu quan trọng của VN, cũng gần giống với TQ. Với trình độ công nghệ còn thấp, hàm lượng công nghệ chưa cao, chủ yếu là các mặt hàng tập chung nhiều lao động, như nông sản, giày dép, dệt may…. đang là những mặt hàng xuất khẩu chủ chốt và mang tính chiến lược của VN. Thị trường tiêu thụ những mặt hàng này là Nhật Bản, EU và một số nước trong khu vực. Tuy nhiên đây là một trong nhưng mảng mạnh của hàng xuất khẩu TQ. Sau khi ra nhập tổ chức WTO, với những lợi thế được ưu đãi về thuế quan, được bình đẳng trong giải quyết tranh chấp thương mại … chắc chắn hàng hoá TQ với giá rẻ hơn nhiều lần sẽ chiếm uy thế cạnh tranh, để đánh bật sản phẩm cùng chủng loại của VN trên thị trường QT. dự tính kim ngạch trao đổi thương mại của TQ sẽ tăng mạnh từ 324 tỷ USD năm 1998 lên 600 tỷ USD năm 2005. Bên cạnh đó, TQ cũng phải mở cửa thị trường đối với các thành viên của WTO . Hàng rào thuế quan được nới lỏng, hàng nông sản của các nước phát triển với giá thành hạ, chất lượng cao, sẽ tràn vào TQ, tạo ra sức ép cạch tranh rất lớn đối với hàng nông sản của VN.

Về vốn đầu tư nước ngoài:

TQ sẽ cải tổ cơ cấu và cải tiến các thể chế tài chính, cho phù hợp với quy định của WTO, phải nới lỏng các quy chế đầu tư cho các nhà đầu tư nước ngoài. Từ đó, môi trường đầu tư sẽ được cải thiện, Ngày càng hấp dẫn và có tính cạch tranh hơn, như vậy các dòng vốn quốc tế sẽ chuyển mạnh sang TQ, thay vì VN và các nước khác. Dự tính vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài sẽ tăng từ 45 tỷ USD năm 1998 lên 100 tỷ USD năm 2005. Các thống kê về đầu tư QT cho thấy, riêng lượng vốn FDI do các nước phát triển đầu tư vào nhau đã chiếm tới 2/3 tổng số FDI toàn thế giới, còn các nước đang phát triển phải cạnh tranh nhau để được nhận 1/3 số còn lại. Nếu TQ thu hút được nhiều đầu tư hơn có nghĩa là cơ hội cho VN ta sẽ ít đi. Ðầu tư vào VN giảm liên tục trong năm nay cũng là vì lý do đó. Khủng hoảng KT tại Ðài Loan và Singapo Mã Lai, Hàn QUốc hiện nay là bởi các nguồn vốn ồ ạt chảy vào TQ, và hàng hoá của TQ có sức cạnh tranh mạnh với hàng hóa của hai nước trên.

Một vài dự đoán

Theo dự tính của Ngân Hàng thế giới WB đến năm 2010 TQ sẽ nuốt hết thặng dư nông nghiệp của toàn Châu Âu. bởi vậy mục tiêu có tính chiến lược và trước mắt là tiến xuống và làm suy yếu các nước ở phía nam trong số đó các VN. Việc xâm lấn 2 quần đảo của VN cũng là không ngoài mục đích đó. Năm 1997 đầu tư vào ÐNA của TQ chỉ chiếm 20% tổng vốn đầu tư nước ngoài, đến nay đầu tư vào ÐNA của TQ đã chiếm 80% tổng vốn đầu tư nước ngoài. VN trong con mắt của TQ là một miếng mồi ngon Có vị trí chiến lược về địa chính trị, lại là miếng mồi dễ nuốt nhất vì được sự hậu thuẫn của các thế lực đen tối, bảo thủ, và tay sai luồn sâu leo cao trong bộ máy nhà nước.

Theo dự tính của tôi, nếu VN không gia nhập được WTO vào 2006 tức là năm hiệp định AFTA có hiệu lực thì nền kinh tế VN sẽ phá sản, bởi những lý do sau:

Ðầu tư nước ngoại vào VN trong mấy năm qua liên tục giảm, vì do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế của các nước trong khu vực. (TQ lại không nằm trong nhóm các nước này nên TQ không bị ảnh hưởng).
TQ sẽ gia nhập WTO vào tháng 11 ngày. nên đã thu hút nhiều nguồn vốn hơn.
Do sự mất giá của các đồng tiền của các nước trong khu vực, tạo lợi thế cạch tranh rất lớn đối với hàng xuất khẩu của các nước đó với VN.

Nền Kinh tế VN hiện nay là một nền KT bong bóng với những chỉ số giá hàng tiêu dùng liên tục giảm (thiểu phát gia tăng vì cung đã vượt quá cầu), báo hiệu một nền kinh tế đang bị chững lại ,cái bong bóng có thể vỡ bất cứ lúc nào. Bởi bất cứ một nền kinh tế nào, có lạm phát thì mới có phát triển (lạm phát ở đây là mức lạm phát thấp, và có kiểm soát được, nó báo hiệu chỉ số cung không đủ cầu) Nông sản, cà fê, gạo, hoa quả xuất khẩu mấy năm nay bị rớt giá liên tục, thậm trí ta phải chặt bỏ 185 nghìn Ha cafe.

Thử dạo qua hàng hoá tại thị trường VN ta sẽ thấy rõ, hàng hoá TQ, hoặc của TQ giả nhãn hiệu của các nước khác chiếm đến 60-70 % tại thị trường VN. Từ các đồ gia dụng đến các máy móc công nghiệp. Xe máy TQ tràn nập thị trường VN, văn hoá, phim ảnh TQ được quảng cáo không công trên các thương tiện tông tin đại chúng từ sáng tới tối.

Ðến năm 2006 Hiệp định AFTA có hiêụ lực, hàng hoá của các nước trong khu vực sẽ ùa vào VN, vì các hàng rào thuế quan đã được gỡ bỏ, sẽ đánh bật các hàng hoá của VN ngay tại thị trường VN. Hàng hoá của chúng ta thông thường có giá cao hơn từ 5%-40% các mặt hàng cùng loại của các nước trong khu vực. Mà không chỉ hàng hoá của các nước trong khu vực, hàng hoá của các nước thứ ba, nhập cảng vào các nước ASEAN đóng gói và xuất sang VN miễn là có 40% định lượng được sản xuất tại nước đó cũng được miễn thuế Hải quan, vì đó là quy định của AFTA. .

Vào lúc đó hàng hoá của VN sẽ không xuất khẩu được sang các nước trong khu vực, cũng như sang các nước EU, hoặc Nhật Bản,bởi những lý do đã nêu trên. Công nhân sẽ mất việc làm, nông dân không bán được nông sản, các khu chế xuất sẽ giải thể….sinh viên ra trường sẽ thất nghiệp.

Ðó chính là lúc TQ sẽ nhảy vào đầu tư, mua lại các công ty, các khu chế xuất, các nông trường, đồn điền…. toàn bộ nền KT của ta sẽ phụ thuộc rất nhiều vào TQ. Trong xã hội ngày nay, ai nắm quyền lực về KT, người đó sẽ nắm luôn quyền lực về chính trị (theo dự đoán của Ngân hàng TG đến năm 2005 lượng dự trữ ngoại tệ của TQ sẽ đạt 180 tỷ USD), TQ hoàn toàn có khả năng khống chế được nền kinh tế nước ta . Lúc đó ta sẽ trở thành một bang hay một tỉnh của TQ.

Và lực lượng này đang tìm cách cho TQ tiếp cận thị trường VN. Gần đây nhất chúng ta được biết họ đã bật đèn xanh cho nhà thầu HISG chúng thầu sân vận động Mẽ Trì. Ðể mỵ dân và báo chí, họ cũng tạo ra một cuộc đấu thầu công khai, nhưng tất cả chỉ là một trò hề kệch cỡm, không đãnh lừa nổi ai. Một nhà thầu không đủ tư cách pháp nhân, cũng như các thủ tục đấu thầu cần thiết, và thiết kế thì chắp vá, thay đổi đến hàng chục lần mà vẫn không đạt yêu cầu nhưng vẫn được chúng thầu mặc dù báo chí và hội kiến trúc, hội xây dựng đã lên tiếng phản đối, nhưng chính ông Khải tuyên bố một câu xanh rờn: "…Ðấu thầu lại thì phức tạp lắm, cái nào rẻ thì cho làm…". Ðể xoa dịu báo chí và nhân dân Bộ chính trị và ban Tư Tương Văn Hoá TW đã cho họp các Tổng biên tập các báo và loan báo rằng: " Nhà thầu HISG là một công ty của Ban tài chính TW Ðảng CSTQ, đây là sự hợp tác của hai Ðảng anh em." Một tên Mafia TQ lại trở thành đồng chí của Ðảng thì cũng không có gì lạ cả, Hẳn nhiều người còn nhớ những kẻ dao búa như Khánh Trắng và chủ chứa như Lê Tân Cương cũng từng được họ giới thiệu là đồng chí rồi còn gì…. Gần đây nhân chuyến thăm của Lý Bằng hôm 7/9, họ lại bật đèn xanh cho một Cty của TQ khai thác quặng nhôm ở Ðắk-Lắk, và nhân hội nghị của EMM 3 tại HN, họ tìm cách đưa VN vào quỹ đạo của TQ bằng cách nâng kim ngạch buôn bán của hai nươc lên 5 tỷ USD vào năm 2005. Và theo nhiều nguồn tin thì TQ cũng đang mon men đến dự án thuỷ điện Sơn La của VN.

Ðôi khi tôi cứ nghĩ không biết có phải người ta đang ngủ mơ hay không. Khi xưa, trong cuộc nội chiến Quốc-Cộng, TQ đã từng lợi dụng việc giúp VN xây dựng đường xá và nhiều công trình XD khác họ đã bí mật cho đào hầm bí mật chứa vũ khí để một ngày tìm cách quay lại xâm lược VN. Giờ đây lại cho TQ vào những vùng có tính nhậy cảm như tại Tây Nguyên hay Sơn La, thì không hiểu họ còn nghĩ gì đến an ninh quốc gia hay không.

Cách tốt nhất để kứu vãn nền kinh tế nước ta hiện nay là đưa VN sớm hội nhập vào nền KT thế giới và để thoát khỏi ảnh hưởng của TQ là: Tổng Thống Mỹ nhanh chóng thông qua Hiệp định thương mại Việt- Mỹ ( xin đưa 1 ví dụ :chỉ riêng lượng tôm mà VN xuất khẩu sang Mỹ hàng năm đạt 300 triệu USD) ,và VN sớm được gia nhập tổ chức thương mại thế giới., vì tại đó các doanh nghiệp VN có cơ hội mở rộng thị trường buôn bán được ưu đãi với 134 quốc gia, và cơ hội đầu tư nước ngoài vào VN sẽ rộng lớn hơn. Và người VN tại Hải ngoại nếu còn yêu dân tộc VN thì hãy trở về để XD đất nước.

. Ðương nhiên chính quyền Bắc kinh biết được những lợi ích đó nên họ luôn tìm cách phá hoại sự hội nhập của VN vào thế giới văn minh.

Chính vì những lý do đó, khi biết được VN và Mỹ đàm phán để thông qua hiệp định thương mại Việt- Mỹ .TQ luôn luôn dật dây cho các lực lượng bảo thủ trong Ðảng trì hoãn việc ký kết và thông qua Hiệp định, và ở trong nước họ luôn luôn đật giây cho các thế lực tay sai đàn áp những người dân chủ.

Cuộc vật lộn gay go

Ngay trước chuyến thăm của Tổng Thống Clinton tới VN 11/2000. Trước đó, Chủ tich TQ là Giang Trạch Dân có lời mời cấp tốc ông Trần Ðức Lương sang TQ. để thăm dò thái độ của VN với Mỹ. Tại đây TQ đề nghị cho VN vay 53 triệu USD, trong đó chỉ phải trả lãi 1/3. Và TQ còn hứa sẽ cho VN vay tiếp 300 triệu USD với lãi xuất thấp. (một sự tử tế bất ngờ chưa từng sảy ra). Nhưng kèm theo đó, phía TQ muốn ta ký hiệp định Vịnh Bắc Bộ ngay sau khi Tổng thống Mỹ rời khỏi VN. Trước và sau chuyến thăm của TT Mỹ, ban TTVH TW đã cho họp Tổng biên tập các báo trí và loan báo rằng phải đăng ảnh của ông Clinton nhỏ hơn ảnh của ông Giang Trạch Dân đã từng được đăng trên báo trong chuyến thăm VN trước đây.

Trước thềm Ðại hội Ðảng lần thứ IX một phái đoàn ngoại giao của TQ đã bí mật sang VN nằm để ủng hộ cho ông Phiêu được ở lại thêm 1 nhiệm kỳ nữa, vì họ nghĩ rằng họ Lê, là đồng minh của mình, nhưng sự việc không đơn giản như vậy:

Lê Khả Phiêu, tuy là cánh tay phải của Lê Ðức Anh ở quân khu 9 và Căm pốt, nhưng trước khi được Lê Ðức Anh đặt vào chiếc ghế Tổng bí thư đó, Ông Phiêu, đã có thời làm trưởng ban kiểm tra TW. Trong thời gian này ông Phiêu được tiếp súc với nhiều hồ sơ mật, nên ông Phiêu đã có nhiều nhận thức về nhiều bộ mặt trong Ðảng. Ông đã nhiều lần gặp tướng Trần Ðộ, và ông Hoàng Minh Chính. Càng về thời gian cuối sau này, ông Phiêu càng bừng tỉnh và nhận thức được nhiều vấn đề. Nhất là sau khi ông bị các lực lượng tay sai dật giây để đàm phán ký các hiệp định bán nước đã nêu trên.Cuối cùng trong hội nghị trù bị ông đã đi nước cờ liều. Ðược sự ủng hộ của cánh quân đội cụ thể là Lê Thanh Ngân và Phạm Văn Trà, Ông đã quyết định tổ chức cuộc họp tại thành HN, (Phố Lý Nam Ðế) thay vì tại Hội trường Ba Ðình như các kỳ họp trước, và sử dụng lữ đoàn 144 là lữ đoàn tinh nguệ của QÐ để bảo vệ đại hội thay vì lực lượng cảnh vệ quốc gia của bộ CA như trước đây, để hòng gây sức ép với phe bảo thủ và tay sai trong Ðảng. Theo nhiều nguồn tin được tiết lộ từ thâm cung :Trong hội nghị đã có lúc ông Phiêu chỉ mặt LÐA và ÐM mà bảo rằng: " Các ông bảo tôi ngu, thế lúc các ông đặt tôi vào chiếc ghế này, sao các ông không bảo tôi ngu …".

Cuộc họp diễn ra rất căng thẳng, mà không đi đến ngã ngũ. Mà cũng bởi Ông Phiêu còn non gan nên không dám dùng QÐ để ra tay, nên phải mất 4 kỳ họp trù bị mới đi đến ngã ngũ. Ðến những ngày cuối cùng, không hiểu sao PVT, lại đứng về phe bảo thủ. Mất chố dựa vào QÐ, ông Phiêu như hổ mất nanh vuốt, đành đi đến thoả hiệp. Như chúng ta đã thấy, các vị cố vấn phải rút lui, ông Phiêu và ông Ngân cũng mất chức.

Ông Nông Ðức Mạnh, một người thuộc phái chung dung, ôn hoà được bầu làm Tổng bí thư một cách đầy bất ngờ. Sau đại hội trù bị ông Phiêu đã chỉ mặt PVT mà bảo rằng: "Ðồ phản bội". Bởi thế PVT vẫn còn được giữ nguyên chức vụ, mặc dù trước đó đã bị Bộ Chính Trị cảnh cáo vì không làm tròn nhiệm vụ.

Muốn kứu vãn tình thế, trong kỳ Ðại hội Ðảng đích thân Hồ Cẩm Ðào một nhân vật quan trọng thứ hai trong Ðảng CSTQ bay sang tận nơi để dự, nhưng sự việc đã ngã ngũ. Cứ nhìn bộ mặt của họ Hồ trong đại hội và khi ra về ta cũng thấy rõ.

Trong một cuộc họp báo sau Ðại hội Ðảng, khi được hỏi về quan hệ Việt-Trung, ông Nông Ðức Mạnh có nhắc lại 16 chữ vàng " Láng giềng hữu nghị. Hợp tác toàn diện. ỏn định lâu dài. Hướng tới tương lai". Sau đó ông Mạnh có lời mời tới các nhà lãnh đạo TQ sang thăm VN. Lúc đầu phía TQ từ chối họ lấy cớ, khi nào ông Nông Ðức Mạnh sang TQ trước rồi họ mới sang VN sau ( khi xưa các vua chúa VN khi lên ngôi đều phải sang TQ báo công và xin được nhận làm chư hầu, ngày nay họ cũng muốn ông Nông Ðức Mạnh làm như vậy).

Tuy nhiên ông Nông Ðức Mạnh không dễ đầu hàng ngay. Ông Mạnh đã đi nước cờ xuất Mã bằng chuyến thăm uý lạo đồng minh thân cận của VN là Lào, để cùng cố tình đoàn kết. Sau đó ông Mạnh ngồi chờ các nhà lãnh đạo TQ.

Tuy bị mất những con át chủ bài nhưng những lực lượng tay sai còn được cài lại trong Ðảng vẫn còn khá đông .Sau kỳ Ðại hội Ðảng như muốn làm hài lòng các quan thầy tại TQ, và cũng muốn để ra uy với Tân Tổng Bí thư Nông Ðức Mạnh "ta vãn kiểm soát được tình hình" chỉ hai ngày sau Ðại Hội, họ cho tiến hành ngay việc bắt giam và khám nhà ông Vũ Cao Quận một con chim đầu đàn trong phong trào dân chủ tại Hải Phòng. Và về phần mình, chính quyền CSTQ tức tốc gửi những thông điệp đón chào tân Tổng bí thư bằng việc cấm tàu đánh cá của ta được hoạt động tại khu vực quanh đảo Hoàng Sa, và cho cấm biển để bắn đạn thật, nhằm mục đích ủng hộ lực lượng bảo thủ trong Ðảng và để cảnh cáo ông NÐM "chớ có tìm các thoát khỏi ảnh hưởng của họ.".

Tiếp sau đó là hàng loạt các hành động đàn áp những tiếng nói dân chủ tại VN, như việc câu lưu Tướng Trần Ðộ lên CA, tịch thu tập bản thảo của Ông, cùng hàng loạt các vụ đàn áp tôn giáo như Nguyễn Văn Lý; Thích Quảng Ðộ; Thích Huyền Quang; Lê Quang Liêm;…

Vụ Thứ tư đỏ xảy ra hôm 5/9/01 cuối cùng đã bóc trần bản chất của họ. Họ làm việc đó ngay khi Hạ Viện Mỹ đang họp để thông qua HÐTM. Họ không cần đến HÐTM Việt Mỹ nữa, vì họ đã có TQ rồi, và TQ sẽ giúp cho họ giữ mãi được địa vị thống trị. Họ làm việc đó như thế là để trải tấm thảm đỏ nhân quyền kiểu TQ để đón quan thầy của họ là Lý Bằng . Họ tưởng rằng làm như vậy là thực hiện được mưu đồ đó.

Như đã nói ở trên ông Nông Ðức Mạnh là người ôn hoà sáng suốt và không bè phái nên ông không tiến hành thăm TQ ngay mà ngồi chờ TQ sang thăm VN. Không thể đợi được hơn, nhà cầm quyền TQ bèn xuống thang cử Chủ tịch QH Lý Bằng sang thăm VN. nhưng thực chất họ xuống thang theo kiểu Mao Trạch Ðông, "Lùi một bước để tiến ba bước" Chuyến thăm đó là để củng cố quan hệ KT Việt-Trung, nhưng thực chất là để lên dây cót tinh thần cho cỗ máy tay sai đã rệu rã và già nua phải chạy nhanh hơn nữa trong lòng TQ, và cũng để hà hơi tiếp sức cho các lực lượng đó chống phá những người yêu dân chủ tiến bộ tại VN, hòng làm mất uy tín của ông Nông Ðức Mạnh và các gương mặt trẻ trong Bộ Chính Trị, phá hoại khẩu hiệu Dân chủ, đoàn kết, đổi mới, phát triển vừa được đại hội thông qua .Cùng chuyến thăm này ta thấy có Lưu Bằng Bộ trưởng VH TQ. Lưu Bằng đã họp với ban Tư tưởng VH TW để rồi họ cùng đồng ca bản thánh ca đã lạc lõng với thế giới văn minh là ý thức hệ CSCN và định hướng XHCN.

Trong nội bộ Ðảng hiện nay đang chia làm hai phe. Phe cấp tiến chủ yếu là những lực lượng trẻ, thông minh và sáng suốt muốn VN có quan hệ tốt đẹp với tất cảc các quốc gia kể cả Mỹ, còn phe kia là các lực lượng bảo thủ già nua vẫn chưa từ bỏ ý nghĩ "Mỹ là kẻ thù số một, và Mỹ vẫn chưa từ bỏ giã tâm xâm lược VN". Lực lượng này lại đang giữ một số vị trí quan trọng trong Ðảng và trong QÐ cho nên họ đã quyết định ngả sang TQ.

Liệu một lần nữa dân tộc ta có lỗi hẹn với thế giới văn minh không ?.

Liệu ông Nông Ðức Mạnh là người không bè phái, vây cánh không được QÐ ủng hộ, không hiểu Ông có đứng vững được trước làn sóng Phương Bắc này không ?.

Liệu giờ đây 16 chữ vàng trong quan hệ Việt-Trung có thể trở thành câu thần chú của chiếc vòng kim cô dân chủ mang mầu sắc Thiên An Môn, có thể siết vào đầu hơn 76 triệu đồng bào VN không ?.

Liệu dân tộc ta có phải chịu thêm một tầng áp bức, mới mà tầng áp bức này còn tàn khốc hơn tầng áp bức trước không ?.

Thế đấy, cuộc vật lộn sẽ còn rất cam go. Chỉ mong sao Ban chấp hành Trung Ương mới với nhiều gương mặt trẻ trung hơn, học thức hơn, tỉnh táo hơn, hãy sáng suốt cảnh giác với Bắc Triều, đừng để cái hoạ nô dịch nghìn năm ngày nào lại oan nghiệt tròng vào cổ nhân dân ta một lần nữa… Hãy thức thời chủ động hội nhập vào thế giới tiên tiến, thực hiện chủ trương đề xuất của nhà trí thức yêu nước lỗi lạc Nguyễn thanh Giang : "Tựa vào sức nâng toàn cầu mà phát huy nội lực" , xây dựng đất nước dân chủ, giầu mạnh đủ sức tự cường dõng dạc tuyên bố:

"… Như hà nghịc lỗ lai xâm phạm
nhữ đẳng hành khan thủ bại hư "

Tôi viết bài này khi đang bị kìm kẹp trong vòng vây nghiệt ngã của các lực lượng bảo thủ và tay sai cho Bắc Triều. Biết rằng, bài viết này không làm cho hào quan lấp lãnh trên đầu tôi mà trái lại càng đẩy tôi lún sâu thêm vào vòng nguy hiểm. Ngay như đối với một công thần của cách mạng , mà họ còn ngang nhiên tuyên bố xanh rờn: "… Sẵn sàng hy sinh Hoàng Minh Chính để bảo vệ chế độ". Huống chi tôi chỉ là con tốt đen dễ dàng bị biến thành vật tế thần cho bàn thờ Bắc Triều. Dẫu sao trước hiểm hoạ khôn lường của tồn vong đất nước, tôi dám nề hà xả thân, bởi tôi tâm niệm câu nói của Hàn Phi Tử: : " Nước mất, mà không biết là bất tri; biết mà không lo liệu, là bất trung; lo liệu, mà không liều chết là bất dũng." Chỉ mong sao tấc lòng nhỏ mọn này, được lương tri dân tộc trong và ngoài nước soi thấu, và hết lòng, hết sức chỉ giáo.

Hà Nội ngày 1 / 10 / 2001.
Lê Chí Quang
Ðịa chỉ 22 phố Trung Liệt ÐÐ. HN
Ðiện thoại : 8.514000.



Trịnh Công Sơn & Tham Vọng Chính Trị (Trịnh Cung)

Trịnh Công Sơn & Tham Vọng Chính Trị
Trịnh Cung
Xin phép gửi đến các anh, chị một bài viết về Trịnh Công Sơn, do họa sĩ Trịnh Cung viết, đăng trên tạp chí Da Màu.

B.Vu
“Trịnh Công Sơn & Tham Vọng Chính Trị” của họa sĩ Trịnh Cung nhất định sẽ được đón nhận với nhiều phản ứng khác nhau từ nhiều tầng lớp độc giả. Bài viết đưa ra một số nhận xét của cá nhân Trịnh Cung về người nhạc sĩ tài hoa, sống và sáng tác trong một giai đoạn vô cùng điêu linh của đất nước, cùng với một số tư liệu đã được công bố ở một số nơi. Tác giả Trịnh Cung tất nhiên đã dự kiến được những gì bài viết này có thể mang đến cho chính ông khi ông viết: “Bài viết này chắc chắn sẽ gây ra sự mất mát tình cảm, sự đổ vỡ các mối quan hệ vốn có của tôi, vì một số những nhân vật được đề cập nay đang còn hiện diện trong cuộc đời. Sự thật bao giờ cũng gây mất lòng, tôi đã tự hỏi mình nhiều lần trong nhiều
năm qua: có nên viết nó ra, giải thoát cho nó khỏi ngục tù trong tôi suốt hơn 30 năm qua? Sự quằn quại của nó trong cái nhà tù ký ức cũng làm tôi đau buồn đến không chịu nổi. Giải phóng cho nó là giải phóng cho chính tôi, dù có phải bị trả giá.”

Tạp chí Da Màu trân trọng ghi nhận tinh thần trách nhiệm của hoạ sĩ Trịnh Cung, và bài viết được đăng tải với ước muốn tạo cơ hội làm sáng tỏ những ngóc ngách trong đời sống của một nghệ sĩ tài hoa nay đã thành người thiên cổ.

Đã 8 năm kể từ ngày mất của Trịnh Công Sơn, 01-4-2001. Đã có rất nhiều bài và sách viết về người nhạc sĩ tài hoa xuất chúng này. Tất cả đều chỉ nói về 2 mặt: tình yêu (con người, quê hương) và nghệ thuật ngôn từ trong ca khúc Trịnh Công Sơn, tuyệt nhiên không thấy ai đề cập đến vấn đề Trịnh Công Sơn có hay không tham vọng chính trị. Phải chăng như Hoàng Tá Thích, ông em rể của người nhạc sĩ “phản chiến” huyền thoại này đã minh định trong bài tựa cuốn sách Như Những Dòng Sông của mình nói về âm nhạc và tình người của ông anh rể Trịnh Công Sơn, do nhà Xuất Bản Văn Nghệ và Công Ty Văn Hoá Phương Nam ấn hành năm 2007: “…Anh không bao giờ đề cập đến chính trị, đơn giản vì anh không quan tâm đến chính trị”? Hay như nhận định của
một người bạn không chỉ rất thân mà còn là một “đồng chí” (trong ý nghĩa cùng một tâm thức về chiến tranh VN) của Trịnh Công Sơn, hoạ sĩ Bửu Chỉ (đã mất) đã viết: “Trong dòng nhạc phản chiến của mình, TCS đã chẳng có một toan tính chính trị nào cả” (Trích bài viết: “Về Trịnh Công Sơn và Những Ca Khúc Phản Chiến Của Anh”, in trong Trịnh Công Sơn, Cuộc Đời, Âm Nhạc, Thơ, Hội Hoạ & Suy Tưởng do Nhà Xuất Bản Văn Hoá Sài Gòn ấn hành năm 2005)?

Sự thực có đúng như câu khẳng định chắc nịch ở trên của ông Hoàng Tá Thích và hoạ sĩ quá cố Bửu Chỉ? Chắc chắn là sai 100% rồi nếu như Trịnh Công Sơn không là tác giả của 3 tập nhạc phản chiến (Ca Khúc Da Vàng, Kinh Việt Nam và Ta Phải Thấy Mặt Trời), và cũng chưa từng tham gia vào Phong trào Đấu tranh Đô thị của Thanh niên Sinh viên Học sinh để chống Mỹ và chính quyền Sài Gòn mà chính cuốn sách của Hoàng Tá Thích và bài viết của Bửu Chỉ vừa nhắc đến ở trên đã có nhiều tiết lộ. Mặt khác, trong bài viết “Có Nghe Ra Điều Gì” Trịnh Công Sơn gửi cho bác sĩ Thân Trọng Minh tức nhà văn Lữ Kiều năm 1973 có đoạn như sau: “…Chưa bao giờ tôi có ý nghĩ tự đề nghị với mình một trách nhiệm quá lớn, nhưng khi đã lỡ nhận chịu những cảm
tình nồng hậu từ đám đông, thì những tình cảm kia phải được đền bồi…”. Và trong thư TCS gửi cho Ngô Kha – người bạn cùng chí hướng chính trị và cũng là người em rể, đồng thời là lãnh tụ của Chiến đoàn Nguyễn Đại Thức này đã bị Công An Huế bắt (1972-1974) – chúng ta sẽ dễ nhận ra ý thức làm chính trị chống chế độ Sài Gòn của Trịnh Công Sơn. Nhất là trong đoạn Lê Khắc Cầm nói về mối quan hệ giữa TCS và tổ chức cơ sở thành uỷ Huế do Lê Khắc Cầm bí mật phụ trách trước 1975 như thế nào, thì không thể nói là TCS không có toan tính chính trị như nhận định của hoạ sĩ Bửu Chỉ (Xin xem thêm Thư TCS gửi Ngô Kha và đoạn trao đổi về lá thư này giữa Nguyễn Đắc Xuân và Lê Khắc Cầm trong phần tư liệu đính kèm bài).

co-nghe-ra-dieu- gi
Thủ bút Trịnh Công Sơn trong bài “Có Nghe Ra Điều Gì”
gửi cho bác sĩ Thân Trọng Minh tức nhà văn Lữ Kiều năm 1973

Trước khi nêu thêm những dẫn cứ quan trọng hơn để chúng ta có cái nhìn rõ hơn về thái độ chính trị của TCS thời chiến tranh VN, và cũng nhằm cung cấp thêm tư liệu để làm rõ các mối quan hệ có tính dính líu vào hoạt động chính trị phản chiến thân Cộng của TCS, tác giả xin kể một kỷ niệm với Ngô Kha và vì sao Ngô Kha lấy tên cho lực lượng đấu tranh của mình là Chiến đoàn Nguyễn Đại Thức.

Vào năm 1971, tôi có mời Ngô Kha tới dự bữa cơm đầy năm Vương Hương, con đầu lòng
của tôi tại nhà ở Phú Nhuận. Sau tàn tiệc, tôi đưa Ngô Kha ra về. Chúng tôi đi bô từ ngã tư Phú Nhuận về hướng cầu Kiệu, khi gần đến chân cầu, Ngô Kha nói với tôi: “Cậu vào chiến khu với mình đi, có người dẫn đường đang chờ”. Tôi không ngờ lại bị Ngô Kha đưa vào thế kẹt. Lúc này, tôi đang là Trung Úy biệt phái dạy tại Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Huế, vừa bị Nha Mỹ Thuật Học Vụ trả về lại Bộ Quốc Phòng vì được Mỹ cấp học bổng tu nghiệp mỹ thuật tại Trung Tâm Đông và Tây, Hawaii, Hoa Kỳ (Sau 1975 tôi mới biết ông Nguyễn Văn Quyện, kiến trúc sư, Giám đốc Nha Mỹ Thuật Học Vụ, người ký quyết định không cho tôi đi Mỹ và trả tôi lại quân
đội theo đề nghị của hoạ sĩ Vĩnh Phối – Hiệu trưởng Trường CĐMT Huế, cả 2 đều là Việt cộng nằm vùng), và Ngô Kha đang là em rể của Trịnh Công Sơn, cũng mang cấp bậc thiếu uý Quân lực VNCH có tư tưởng phản chiến, nhưng tôi không biết gì về hoạt động ly khai của anh cho tới lúc này. Thật bất ngờ và căng thẳng, làm sao tôi có thể đi về phía bên kia chiến tuyến? Tôi không hề tham gia vào phong trào phản chiến, tôi chơi với Trịnh Công Sơn, Ngô Kha, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Đinh Cường khi họ chưa là người chống lại chế độ Việt Nam Công Hoà. Ngay cả tại “túp lều cỏ” Tuyệt Tình Cốc ở Huế, nơi mà nhà văn Thế Uyên trong một bài viết của anh có tên “Cuộc Hành Trình Làm Người Việt Nam Qua Trịnh Công Sơn” đã tự bạch anh từng đến dự
những cuộc họp bàn về đấu tranh chính trị do nhóm Hoàng Phủ Ngọc Tường, Trần Quang Long, Nguyễn Đắc Xuân và Trịnh Công Sơn đứng ra tổ chức, tôi cũng chưa bao giờ đặt chân đến đó và thậm chí không hề biết có những việc như thế. Đơn giản vì tôi rời Huế vào sống ở Sài Gòn sau khi tốt nghiệp Mỹ thuật năm 1962, mối quan hệ giữa tôi và họ chỉ là một tình bạn văn nghệ thuần tuý. Để thối thác lời đề nghị ghê gớm này của Ngô Kha, tôi dừng lại trong bóng đêm bên này cầu Kiệu và nói với anh:”Ông thấy con mình vừa đầy năm, bà xã còn quá trẻ và yếu đuối, làm sao mình bỏ nhà đi vào căn cứ với bạn được. Hơn nữa mình không đồng ý cách giết người của họ ở Huế hôm Tết Mậu Thân… thôi chúc bạn lên đường may mắn!”. Thế nhưng,
sự việc sau đó lại đưa Ngô Kha đến một hoàn cảnh khác. Anh không đi vào rừng mà về Huế rồi bị bắt và chịu một cái chết bi thảm.

Về Nguyễn Đại Thức là ai mà Ngô Kha dùng đặt tên cho lực lượng đấu tranh của mình?

Theo Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Đại Thức nguyên là một hạ sĩ quan quân lực VNCH ly khai đã bắn hụt tướng Huỳnh Văn Cao khi ông dùng trực thăng kiểm soát tình hình Phật giáo xuống đường ở Đà Nẵng và Huế, và đã bị lính Mỹ bắn hạ. Hành động và cái chết của Nguyễn Đại Thức đã đưa Ngô Kha đến sự chọn lựa Nguyễn Đại Thức là tên và biểu tượng cho nhóm quân nhân ly khai đấu tranh chống Mỹ Nguỵ do anh tổ chức. Sau đây là đoạn viết của Hoàng Phủ Ngọc Tường trong Căn Nhà Của Những Gã LangThang: “…Theo tin tức quân báo của Kha nhận từ đoạn Đà Nẵng, thì lực lượng thuỷ quân lục chiến của Kỳ sẽ chĩa mũi nhọn vào những người của phong trào mà họ cho là nguy hiểm, ngay từ lúc họ đặt chân đến Huế để tránh hậu hoạ. Ngô Kha cùng đi
với chiến đoàn ly khai của anh sẽ kéo dài cuộc cầm cự trên đèo Hải Vân, để tạo điều kiện cho tôi thoát…”. Đối với cá nhân tôi, nhờ tiết lộ kinh khủng này của Hoàng Phủ Ngọc Tường, những năm gần đây, tôi mới biết mình đã từng bị Ngô Kha dùng tình bạn để đưa vào cái gọi là Chiến đoàn ly khai Nguyễn Đại Thức mà không biết khi anh rủ tôi đi vào cứ như đã nói ở trên. May mà tôi đã từ chối.

Với bao nhiêu sự việc gắn kết với nhau, hoà quyện, ăn khớp, như thế mà chúng ta vẫn còn hoài nghi, vẫn biện bạch đây chỉ là một thứ tình cảm hồn nhiên hay hoa mỹ hơn, đấy là ý thức về thân phận dân tộc, tiếng nói đòi hoà bình đậm tính nhân bản cho quê hương của một người nghệ sĩ tài hoa như TCS, thì chi tiết sau đây đã được Nguyễn Đắc Xuân tiết lộ và đã xác nhận lại với tác giả bài viết này như sau: “Vào đêm ngày 29-5-1966, trên đường Trần Bình Trọng-Đà Lạt, Trần Trọng Thức (nhà báo), Nguyễn Ngọc Lan (linh mục, đã chết), Nguyễn Đắc Xuân và Trịnh Công Sơn đã cùng nhau bàn về một giải pháp chính trị cho trí thức yêu nước và người đưa ra sự chọn lựa rất quyết đoán và hợp ý với 3 bạn đồng hành với mình: “Không có con
đường nào khác cho anh em mình ngoài Mặt trận Giải Phóng Miền Nam!”.
Vậy là đã quá rõ về khuynh hướng chính trị của Trịnh Công Sơn!

Từ Chính Trị Phong Trào đến Chính Trị Cầm Quyền?

Vỡ mộng chính trị cầm quyền

Những ngày trước 30-4-75, Sài Gòn rơi vào tình trạng hỗn loạn. Người thân cộng thì hí hửng, người quốc gia thì lo âu và tìm đường bỏ nước. Mọi thứ sinh hoạt đều tê liệt, tôi nằm trong số người chịu trận, bế tắc, no way out. Trong thời điểm tinh thần sa sút này, tôi thường
ghé qua nhà TCS để tìm một thông tin tốt lành vì anh có nhiều mối quan hệ, nhưng cũng không được gì vì TCS từ chối ra đi và cho biết sắp nhận chức Quốc Vụ Khanh đặc trách văn hoá trong chính phủ Dương Văn Minh lên thay Thiệu-Kỳ, em trai TCS là đại uý Trịnh Quang Hà sẽ được giao làm Cảnh sát Trưởng quận 2 (nay là quận 1). Thế là xong, TCS sẽ tham gia chính quyền được chuyển từ tay Nguyễn Văn Thiệu để thương lượng hoà bình với quân GP đang bao vây Sài Gòn và doạ sẽ tắm
máu Sài Gòn nếu VNCH không buông súng.

Thế nhưng, TCS và người em không có tên trong thành phần chính phủ Dương Văn Minh khi các hệ thống thông tin quốc gia công bố ngày 27-4-75 và cũng không có tên kiến trúc sư Nguyễn Hữu Đống trong vai đệ nhất Phó Thủ Tướng – người bạn chính trị không lộ diện của TCS từ trước sự kiện Tết Mậu Thân 1968, một cố vấn chính trị, một công trình sư cho sự nghiệp chính trị của TCS, đã vận động cho TCS vào chính phủ này như là đại diện của phe Phật giáo. Và với kết quả này, nhà hoạt đầu chính trị trẻ tuổi Nguyễn Hữu Đống đã phải rời khỏi nhà TCS ngay sau đó, sau khi đã ăn ở trong nhà TCS nhiều tháng trước như một người em rể.
Sau này, trong thời Lý Quí Chung còn sống, tôi có hỏi về sự việc này. Với tư cách là một Bộ trưởng Thông Tin và người rất thân cận với tướng Dương Văn Minh, Lý Quí Chung đã xác nhận: không hề có một đề cử nào cho TCS và Nguyễn Hữu Đống vào chính phủ Dương Văn Minh cả. TCS và gia đình đã bị Nguyễn Hữu Đống lừa rồi! Và từ đó TCS đã coi Nguyễn Hữu Đống là kẻ ghê tởm.

Một chút về Nguyễn Hữu Đống

Nguyễn Hữu Đống tốt nghiệp thủ khoa Trường Kiến Trúc Sài Gòn khoảng năm 1964 nhưng không hành nghề kiến trúc sư, bắt đầu chơi thân công khai với Trịnh Công Sơn vào khoảng 1970. Tôi không được biết gì nhiều về nhân vật này ngoài việc chứng kiến sự xuất hiện thường xuyên trong nhà TCS những tháng trước 4/1975 với tư cách em rể TCS, giữa lúc Sài Gòn liên tiếp nhận những thông tin về các tỉnh Tây Nguyên thất thủ, và cũng được biết từ TCS vào những ngày cuối của tháng 4/1975 là: chính quyền mới sẽ vẫn giữ nguyên chiếc ghế Đệ nhất Phó Thủ Tướng của chính phủ đầu hàng Dương Văn Minh (tức ghế của Nguyễn Hữu Đống). Sau đó, Nguyễn Hữu Đống đã vượt biên và định cư ở Pháp.

Thế nhưng, vào khoảng năm 1992, Nguyễn Hữu Đống về Sài Gòn và tìm thăm tôi. Tôi tiếp anh tại nhà và cùng ăn trưa. Thật ra, giữa tôi và Nguyễn Hữu Đống không đủ thân để anh tìm thăm, chẳng qua là chỗ để anh trút hết những gì TCS và gia đình không tiếp khi anh tìm đến thăm họ sau hằng chục năm ly gián từ ngày ấy. Trong những thổ lộ của Nguyễn Hữu Đống có 2 chi tiết đáng chú ý: Một là: Ý tưởng và mô hình kiến trúc Ngôi Đền Tình Yêu có hình quả trứng (lấy từ truyền thuyết Âu Cơ đẻ ra 100 trứng) để TCS chủ trì như một giáo đường là của Nguyễn Hữu Đống; Hai là: để Ngôi Đền Tình Yêu này mang đậm sắc thái TCS, Nguyễn Hữu Đống lập ý cho TCS viết Kinh Việt Nam. Dự án này tôi đã được TCS cho biết trước năm 1975 và sẽ xây dựng trên
ngọn đồi của Bác sĩ Bùi Kiện Tín ở Thủ Đức, nằm đối diện với nghĩa trang quân đội Sài Gòn cũ. Xét về mặt tài năng kiến trúc và con người đầy tham vọng làm chính trị của Nguyễn Hữu Đống cũng như mối quan hệ mang tính chính trị giữa anh và TCS thì thông tin này đáng tin hơn là gần đây có nghe dư luận từ Phạm Văn Hạng là dự án này của Phạm Văn Hạng và TCS được ông Võ Văn Kiệt ủng hộ?

(Để biết thêm mối quan hệ chặt chẽ giữa TCS và Nguyễn Hữu Đống, xin độc giả đọc thêm đoạn trích dẫn trong phần ghi chú cuối bài viết này, câu Lê Khắc Cầm trả lời phỏng vấn Nguyễn Đắc Xuân về TCS).

Bài Học Lớn Cho Người Làm Chính Trị Tự Phát Trong Xã Hội CSVN

Những Gáo Nước Lạnh Ngày “anh em ta về”

Tuy nhiên, sau sự thất bại ấy, TCS lại đứng lên vui mừng vì Sài Gòn của anh trong ngày 30-4-75 đã xuất hiện: “Cờ bay trăm ngọn cờ bay” và“anh em ta về mừng như bão cát quay cuồng…”. Từ sự kiện tại Đà Lạt mà Nguyễn Đắc Xuân đã nhắc đến ở trên cho đến ngày 30-4-75 không có một chỉ dấu nào cho thấy có mối liên lạc về mặt tổ chức giữa Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và Trịnh Công Sơn. Thậm chí khi anh được kiến trúc sư Nguyễn Hữu Thái đưa đến Đài Phát Thanh Sài Gòn để hát bài Nối Vòng Tay Lớn mừng chiến thắng lịch sử 30-4-75, TCS, tác giả của ca khúc có tính dự báo cho ngày huy hoàng này của quân Giải phóng và bi thảm cho phía VNCH, cũng bị Tôn Thất Lập, một nhạc sĩ chủ chốt trong phong trào Hát Cho Đồng Bào đã thoát ly đi theo MTGPMN,
đuổi ra khỏi phòng thu: ”Mày có tư cách gì mà hát ở đây!”…

Bị bất ngờ với cú ra đòn khá tàn nhẫn này của người “anh em”, TCS thật sự choáng váng và sợ hãi, mọi niềm hân hoan trong anh về giấc mơ hoà bình cho đất nước của mình nay đã thành hiện thực bỗng chốc tan thành mây khói. Niềm vui tưng
bừng reo ca “…Mặt đất bao la / anh em ta về / Gặp nhau mừng như bão cát quay cuồng trời rộng/ Bàn tay ta nắm nối tròn một vòng Việt Nam…” (Nối Vòng Tay Lớn) hôm ấy không thuộc về TCS, và thay vào đó là nỗi ám ảnh sắp bị thủ tiêu và phải làm thế nào chạy trốn khỏi “người anh em” càng sớm càng tốt.

Thật ra, tai nạn chính trị này đã có nguồn gốc từ quan điểm chính về tính hai mặt trong âm nhạc và con người TCS của Ban Văn Hoá Tư Tưởng-Trung Ương Cục Miền Nam do Ông Trần Bạch Đằng phụ trách. Chính nhạc sĩ Trần Long Ẩn đã kể lại rằng đã có một cuộc họp kiểm điểm TCS trong Cứ trước 1975 với thành phần tham dự gồm có hầu hết các văn nghệ sĩ thoát ly theo MTGPMN như: Tôn Thất Lập, Trần Long Ẩn,… dưới sự chủ trì của ông Trần Bạch Đằng.

Và Cuộc Chạy Trốn Khỏi Sài Gòn

Sự sợ hãi càng tăng cao khi TCS nhận được tin mình sẽ bị thanh toán. Chỉ vài ngày sau, TCS đã âm thầm cùng mẹ rời khỏi Sài Gòn bằng xe đò, trực chỉ ra Huế, nơi anh cũng đang có những ”người anh em” thân thiết cũ vừa chiến thắng trở về như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân, Thái Ngọc San,… hy vọng chắc được yên thân.

Trở lại sống trong căn hộ cũ 11 Nguyễn Trường Tộ – Huế, TCS quây quần với bạn bè cũ và mới không được bao lâu thì cả thành phố Huế lên cơn sốt đả đảo TCS và Phạm Duy. Các biểu ngữ được giăng ở các trường đại học và TCS phải lên Đài truyền hình Huế đọc bài tự kiểm điểm. Sự cố lần này cũng lại do một nhạc sĩ tổ chức, nhạc sĩ Trần Hoàn, Giám đốc Sở VH&TT tỉnh Bình Trị Thiên. Thế là TCS đã tránh được vỏ dưa SG nay lại găp vỏ dừa Huế! Sự bé cái lầm lần này, có lẽ do TCS đã kỳ vọng ở bạn mình quá nhiều nhưng thực tế vai trò trong lực lượng tiếp quản Huế của Hoàng Phủ Ngọc Tường và Nguyễn Đắc Xuân rất khiêm tốn, chính họ cũng đang phải cố gắng phấn đấu để được kết nạp vào đảng thì làm sao bao che cho tác
giả của 2 ca khúc từng bị người CSVN kết án (Ca khúc Gia Tài Của Mẹ với câu: “Hai mươi năm nội chiến từng ngày” đã xúc phạm đến đại cuộc chống Mỹ cứu nước của người CSVN và ca khúc Cho Một Người Nằm Xuống để thương tiếc Lưu Kim Cương – đại tá không lực VNCH chết bởi đạn của quân GPMN – người bạn một thời đã từng dùng máy bay không quân đưa TCS lên Đà Lạt thăm Khánh Ly hoặc ngược lại, đón Khánh Ly về hát với TCS) tại Sài Gòn?

Lần này ở Huế, tính tẩy chay TCS nghiêm trọng và công khai hơn hẳn vụ ở Đài Phát Thanh SG vừa qua. Tình bạn cũ trong trái tim TCS sụp đổ đã đành mà giấc mơ “Khi đất nước tôi thanh bình/Tôi sẽ đi thăm…” tưởng dễ thực hiện của anh cũng bị dập tắt. Những tháng ngày tiếp theo ở Huế, TCS sống như một con tin trong Hội Văn Nghệ Bình Trị Thiên, thường xuyên được tổ chức bố trí đi lao động thực tế trên những cánh đồng vào mùa khô cũng như mùa lụt, không hơn gì một người phải chịu cải tạo.

Cuộc Chạy Trốn Lần Thứ 2

Tuy nhiên, đang kẹt trong cái thế “tiến thoái lưỡng nan” này ở tại chính quê nhà, nơi mình từng tham gia hoạt động đấu tranh chống Diệm rồi chống Mỹ-Thiệu trong Phong Trào Đô Thị Huế với Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ng K, Nguyễn Đắc Xuân,… cũng không xong mà về lại Sài Gòn thì càng nguy hiểm thì một vị cứu tinh kịp xuất hiện, ông Võ Văn Kiệt – nhà lãnh đạo công sản cao cấp tiếp quản Sài Gòn lúc bấy giờ. Một cuộc vượt biên nội địa đưa TCS vào lại Sài Gòn sau khoảng 1 năm anh phải “đi thực tế” tại các vùng quê tỉnh Bình Trị Thiên được bí mật tổ chức do ông Kiệt uỷ thác cho nhà văn cộng sản Nguyễn Quang Sáng thực hiện thành công. Từ đây, dưới sự ưu ái của ông Kiệt và nhà văn Nguyễn Quang Sáng được uỷ nhiệm của thượng cấp chăm
sóc TCS, cái hạn bị hăm doạ hay trù dập với người nhạc sĩ lãng mạn cách mạng này đã kết thúc.
Qua những “sự cố” như thế, có thể thấy TCS đã mắc những sai lầm với người CS như sau:

– Thiếu minh bạch trong suy nghĩ về chiến tranh VN và tính hai mặt trong quan hệ xã hội.
– Không ở trong một đường dây của tổ chức và chịu sự lãnh đạo của tổ chức đó.
– Không dám thoát ly đi theo MTGPMN.

Và những sai lầm của TCS với phía VNCH:

– Kêu gọi phản chiến nhưng chỉ nhằm vào phía VNCH.
– Thiên về phía người CSVN ngay cả sau khi bị họ giết hụt trong vụ Tết Mậu Thân ở Huế.
– Chống lại phía đã tạo cho mình điều kiện học hành và tự do sáng tác, kể cả tự do tư tưởng dù có bị chế độ SG hạn chế và kiểm duyệt, nhưng không quyết liệt tiêu diệt như đã được thổi phồng (dùng giấy của Hoàng Đức Nhã cấp để đi đường do Phùng Thị Hạnh trung gian, nhiều sĩ quan VNCH che dấu,…) để có một nhạc sĩ Trịnh Công Sơn tồn tại lừng lẫy như thế cho đến ngày 30-4-75. Dù ý thức chính trị ra sao, Trịnh Công Sơn vẫn là sản phẩm của chế độ VNCH đúng như Đặng Tiến đã nhận định trong một bài viết ở đâu đó mà tôi không còn nhớ tên.

Bước Ngoặt “Mỗi Ngày Tôi Chọn Một Niềm Vui”

Sa Lầy vào Rượu và Xu Nịnh

Cuối tháng 5-1978, tôi ra khỏi trại cải tạo, gặp lại TCS. Lần nào đến nh&agra
ve; anh ở 47c Phạm Ngọc Thạch-Sài Gòn, sáng hay chiều, cũng thấy TCS ngồi nhậu rượu Ararat, một loại cô-nhắc Nga (sau “đổi mới” chuyển qua rượu chát đỏ của Pháp, và sau cùng là Whisky Chivas) với Nguyễn Quang Sáng và một số bạn “mới”. Tôi cảm thấy có một điều gì đó không ổn, hình như tôi, một thằng sĩ quan Nguỵ đi tù về, không còn được TCS và gia đình coi là người thân như ngày xưa. Thái độ khó chịu của tôi mỗi lần ngồi trước mặt những người bạn “mới” này của Sơn đã khiến tôi bị TCS và gia đình tẩy chay ngầm.

Thực ra, tôi đã bị TCS và nhóm bạn Huế cũ loại ra từ những năm tháng tôi đi lính VNCH mà tôi không hề biết. Sau này, hoạ sĩ Tôn Thất Văn (đã chết) đã kể lại cho tôi rằng có những cuộc họp ở Huế vào những năm 60-70, TCS và những người mà tôi đã coi là bạn thân tình đã đem tôi ra để phê phán, tẩy chay vì tôi đã không trốn lính và đứng về phía Quốc Gia. Rất tiếc, trong số này lại có cả Đinh Cường, người đã từng học cùng trường mỹ thuật, ở cùng nhà, và do tôi giới thiệu làm quen với TCS, do tôi kết nối với anh bạn Thọ giàu có ở Đà Lạt để có những tháng ngày cùng TCS rong chơi thơ mộng khi lưu lại căn phòng anh Thọ đã thuê cho tôi tại biệt thự số 9 đường Hoa Hồng hay ở trong căn nhà sàn gỗ thơ mộng bên một dòng suối róc rách trong
một hóc núi của thị trấn Đơn Dương từ trước khi tôi rời Đà Lạt về Sài Gòn năm 1964 theo giấy gọi vào quân trường sĩ quan trừ bị Thủ Đức khoá 19. Và cả những tháng ngày nhàn nhã làm sinh viên sĩ quan tại đây vào năm 66 hay 67, lúc này tôi là sĩ quan huấn luyện CTCT và phụ trách một phần nguyệt san “Bộ Binh”. Sau ngày 30-4-75, với cấp bậc Trung uý ngành Công binh VNCH, Đinh Cường trở lại Trường Mỹ Thuật Huế và được miễn đi học tập cải tạo nhờ vào việc đã tham gia các hoạt động đấu tranh chống VNCH của nhóm Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngô Kha, Nguyễn Đắc Xuân, TCS,.., nhiều năm trước.

Có một kỷ niệm đặc biệt với Đinh Cường mà tôi cũng muốn nói ra luôn sau bao nhiêu năm cố giữ chặt trong lòng, để lòng mình thôi nặng trĩu và cũng minh chứng cho một tình bạn không hề có thật mà anh ấy đã dành cho tôi, mà tôi đã hằng chục năm cố nghĩ khác đi, cố không tin. Sự việc xảy ra như thế này: Ngày 1-5-75, 8g sáng tôi đến nhà Đinh Cường ở đường Nguyễn Đình Chiểu cũ, gần chợ Tân Định để xem tình hình như thế nào. Như thường lệ tôi vẫn đến đây dễ dàng như người trong nhà nên rất tự nhiên bước lên cầu thang dẫn lên căn gác của bạn mình. Thế nhưng chị TN, vợ Đinh Cường đã chặn tôi lại ở giữa cầu thang và nói Đinh Cường đi khỏi rồi. Tôi không tin và nói lớn là có hẹn trước, lúc đó Đinh Cường mới nói vọng xuống để
tôi lên. Khi lên tới nơi thì đã có mặt của Bác sĩ Trương Thìn, Nhạc sĩ Miên Đức Thắng cùng ngồi đó. Tôi gượng gạo ngồi xuống và Đinh Cường nói với 2 vị khách kia như hỏi ý: “Mình cấp cho TC cái giấy chứng nhận thuộc Thành Phần Thứ 3 nhé!”. Lập tức tôi đứng lên và từ chối: “Không, hãy để tôi chịu trách nhiệm với họ, và Thành Phần Thứ 3, Thứ 4 gì họ cũng dẹp sạch thôi!”…

Với TCS, gia đình cùng các “đồng chí” rượu của anh, tôi lúc này là một kẻ xa lạ, một người lạc hướng, môt cái gai khó chịu, một con kỳ đà làm cho cuộc vui hoan lạc của họ không được hoàn hảo, tôi nên biến đi. Nhưng tôi lại là một gã ngoan cố, tự cho mình nhiệm vụ phải ngồi lại để làm Sơn tỉnh táo hơn, để những tiếng nói bớt đi những lời xu nịnh. Ý thức được rượu, phụ nữ và xu nịnh là một loại ma tuý tổng hợp đang nhấn chìm TCS được nguỵ danh dưới khẩu hiệu “Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui” nên tôi cố chiụ đựng sự khó chịu của họ và vẫn không tìm cách lấy lại chỗ đứng thân thiết vốn có với TCS thủa còn trai trẻ ở Huế bằng rượu chè, quà cáp đắt tiền và những tán tụng nuông chìu. Tôi vẫn đứng trên đôi
chân liêm sỉ và theo đuổi một thứ nghệ thuật tri thức, đó là chỗ mà TCS, trong thâm sâu của tâm hồn anh, không thể loại bỏ tôi cho dù có khác nhau về quan điểm chính trị và cách sống. Đó cũng là điều mà TCS trong những lúc cô đơn nhất đã đến gõ cửa nhà tôi bất kể đêm khuya hay khi bình minh vừa ló dạng để hàn huyên hoặc khoe và hỏi ý kiến tôi về bức tranh mà anh vừa vẽ.

Điều Đáng Tiếc

Trong thời buổi sống như một kẻ bên lề của một Sài Gòn đã bị đổi tên và những người bạn thân một thời hồn nhiên như thế nay cũng đã cúi mình, ngoan ngoãn làm những con rối của chế độ mới, quay lưng lại với thân phận khốn đốn của đồng loại, tự huỷ tri thức, lương tâm, thứ một thời nhờ nó đã làm nên những ca khúc tranh đấu cho thân phận và tự do con người, nay chọn cho mình con đường sa lầy vào rượu, thuốc và phụ nữ, tôi thấy mình thật sự cô độc và bất lực trước sự sụp đổ từng ngày của một người bạn tài hoa nhất mà tôi từng yêu quí. Nhiều khi t&o
circ;i muốn nói với bạn mình: “Tại sao cậu lại sa đà vào những cuộc chơi phù phiếm? Tại sao cậu không viết những ca khúc cho thân phận VN 2 đang bị một thứ xiềng xích vô hình
nhưng vĩnh cửu, vì nó được khoá bởi chính người VN chứ không phải ngoại bang? Hay ít ra thì cậu nên sống yên lặng như một cái bóng, một hòn đá tảng vì cái giấc mơ hoà bình, thống nhất quê hương của cậu dù không phải nguyên nhân chính gây ra sự sụp đổ hoàn toàn nền Cộng Hoà trẻ tuổi MNVN, nhưng về mặt tâm lý cũng đã ít nhiều làm lợi cho phía bên kia, vô tình đồng loã với kẻ đã gây ra cái bi kịch thảm khốc cho hằng triệu người Việt từng ái mộ, tôn thờ cậu nay phải bỏ nước ra đi bằng giá của cái chết không được chôn cất, bằng sự tật nguyền tinh thần, nếu may mắn đến được bờ tự do thì bạn cũng đáng được cảm thông… Vì tôi biết chắc chắn một điều là tất cả những trí thức thiên tả VN như cậu cũng đều không chờ đợi
một kết cuộc cho đất nước theo cách như đang diễn ra…”. Nhưng có lẽ trực giác của tôi đã mách bảo rằng điều ấy nằm ngoài khả năng của TCS, cứ để cuộc sống của anh phụ thuộc vào bản năng, đã tiêu vong rồi một TCS mạnh mẽ dấn thân, mạnh mẽ ca hát cho hoà bình đất nước, cho dân tộc ấm no, bình đẳng, tự do và hạnh phúc như ngày nào. Thời cuộc làm ra TCS đấy thôi, anh không phải là người làm ra thời cuộc, nên tôi đã nghẹn họng.

Ảo Tưởng Cuối Cùng

Dần dà rồi TCS cũng tìm lại cho mình một phần phong độ sáng tác nhờ hấp thụ những ngọn lửa nhỏ từ những nhan sắc phụ nữ và sự trân trọng (theo chủ trương) của những nhạc sĩ thuộc Hội Âm Nhạc TP HCM như Xuân Hồng, Hoàng Hiệp, Thanh Tùng, Tôn Thất Lập, Trần Long Ẩn,… và một nhóm nhạc do họ tổ chức có tên “Những Người Bạn” ra đời khoảng thập niên 90, và TCS được coi là đầu đàn. Anh trở thành nhân tố quan trọng nhất trong việc thu hút sự chú ý của công chúng mỗi khi anh có mặt trong các show diễn của nhóm. TCS cũng là một tiếng nói có trọng lượng nhất đối với nhiều tên tuổi hàng đầu của nhạc cách mạng VN như Văn Cao, Trọng Bằng, Hồng Đăng,… trừ ông nhạc sĩ Bộ Trưởng Bộ VH&TT Trần Hoàn (đã nghĩ hưu), người từng mở chiến
dịch đả đảo anh một thời ở Huế, là vẫn tiếp tục nhìn TCS như một kẻ xấu.

Dù gì thì thế đứng chính trị của TCS cũng đã được tốt hơn trước rất nhiều, có phải vì thế mà anh đã chủ quan nghĩ mình là người đến lúc nên đứng vào hàng ngũ của đảng?

Sơn đem ý định này nói với tôi, tôi liền can:“Không nên Sơn ơi, cậu đang là một nhân vật âm nhạc lớn, người ta nể trọng vì ảnh hưởng của cậu đối với công chúng rất lớn cũng như quốc tế. Nay cậu trở thành đảng viên mới tò te còn ai coi trọng nữa. Nếu ông Hoàng Hiệp chống lai là may cho cậu lắm đó!”. Tôi đã nói với TCS như thế và TCS im lặng. Tuy nhiên không phải nhờ sự phân tích ấy mà TCS không trở thành đảng viên Đảng CSVN, mà bởi sự ngăn cản của nhạc sĩ Hoàng Hiệp, người giữ vai trò chính trị của Hội Âm Nhạc TP HCM và cũng là cán bộ có trách nhiệm quản lý TCS. Trong một lần bất bình vời Hoàng Hiệp về việc bị kiểm điểm, TCS đã chửi thẳng vào mặt Hoàng Hiệp ngay tại trụ sở Hội Âm Nhạc TP HCM:”Mày là thằng mặt ***!”.

Đã không những không được vào đảng, TCS còn được cho về hưu để vĩnh viễn kết thúc giấc mơ – ảo tưởng cuối cùng của anh.

Cái Chết – Vinh Quang Đích Thực

Nếu con đường chính trị đối với TCS là một con đường dẫn anh xuống vực thẳm thì cái chết là một kết thúc hoàn hảo. Hay nói một cách khác, nó đã giải cứu và trả lại vinh quang đích thực cho anh – vinh quang dành cho di sản ca khúc TCS.

Không chỉ niềm vinh quang này bừng sáng huy hoàng bởi hàng chục ngàn người yêu âm nhạc của anh ở trong nước tiễn đưa anh đến nơi an nghỉ cuối cùng, mà người Việt trên khắp thế giới cũng nhỏ lệ tiếc thương, nhất là người Việt ở Mỹ, nơi mà Trịnh Công Sơn lúc sinh tiền không dám đặt chân đến dù không ít lời mời. Một lễ tưởng niệm long trọng được tổ chức tại Hội trường báo Người Việt với sự tham dự đông đảo của nhiều giới khác nhau trong cộng đồng ở cả Nam và Bắc California ngay trong đêm 1-4-2001, điều mà trước đó không ai dám nói công khai về tình cảm của mình với TCS ở chỗ đông người tại Mỹ.

Lời Kết

Sau 8 năm Trịnh Công Sơn ra đi, mọi cảm xúc thương tiếc sau cái chết của anh trong mỗi chúng ta cũng đã phần nào chìm lắng, hôm nay, tôi quyết định và chọn lựa thời điểm này để viết về một góc khác, một phương diện khác của Trịnh Công Sơn mà chưa ai viết hoặc viết một cách có hệ thống.

Bài viết này chắc chắn sẽ gây ra sự mất mát tình cảm, sự đổ vỡ các mối quan hệ vốn có của tôi, vì một số những nhân vật được đề cập nay đang còn hiện diện trong cuộc đời. Sự thật bao giờ cũng gây mất lòng, tôi đã tự hỏi mình nhiều lần trong nhiều năm qua: có nên viết nó ra, giải thoát cho nó khỏi ngục tù trong tôi suốt hơn 30 năm qua? Sự quằn quại của nó trong cái nh&agrave
; tù ký ức cũng làm tôi đau buồn đến không chịu nổi. Giải phóng cho nó là giải phóng cho chính tôi, dù có phải bị trả giá.

Đó là về phần cá nhân tôi, còn đối với TCS, bài viết này tôi muốn bổ sung thêm những điều mà trong các cuộc nói chuyện về TCS ở Mỹ tôi đã không thể nói hết được. Một nửa sự thật cũng chưa phải là sự thật. Tôi tin vào điều tốt đẹp của sự thật. Nó có thể sẽ làm tan đi hình ảnh một TCS được tô vẽ bởi những huyền thoại và ảo ảnh lấp lánh trong lòng ai đó, nhưng sẽ trả lại một TCS thiên tài đích thực của âm nhạc như nó vốn có, để mọi người nếu đến với nhạc Sơn thì sẽ có được cơ may yêu mến trọn vẹn một con người có thực, chứ không phải một thứ tượng đài được nhào nặn, tô vẽ và dựng lên vì một mục đích riêng. Đã đến lúc sự thật đó cần được trả lại cho những người Việt đã, đang và sẽ mãi còn coi
nhạc Trịnh là lẽ sống của mình, mang nó theo mình như một thứ tài sản vô giá dù đi đến bất kỳ đâu, dù ở chiến tuyến nào.

Tất nhiên, những lập luận và lời kể trong bài viết này dựa vào những gì tôi đã trải qua, những tư liệu riêng và những tư liệu của những người bạn cũ của TCS mà họ đã công khai phổ biến trên các phương tiện truyền thông, và vì thế chắc chắn còn thiếu sót tất yếu, vì tôi biết còn nhiều sự thật đang được cất dấu bởi những người có quan hệ cận kề với TCS trong từng giai đoạn của lịch sử VN từ 1954 đến hôm trước khi TCS qua đời mà họ vì những lý do nào đó chưa tiện nói ra. Tôi xin cám ơn những ai sẽ đóng góp thêm những gì giúp cho bài viết này được hoàn hảo hơn, kể cả những phản biện.

Sau cùng, mỗi con người Việt Nam đã trải qua và sống sót sau cuộc chiến tranh khốc liệt vừa qua đều giữ trong mình những sự thật riêng, một gốc nhân chứng riêng, xin quí vị hãy trả lại nó cho lịch sử, nếu được như thế thì tấm gương lịch sử VN mới trong sáng được. Cũng vì điều này, cho tôi xin lỗi những gì mà bài viết có làm tổn thương đến một ai đó cũng là vì không còn sự lựa chọn nào khác.

Sài Gòn 29/3/2009
TRỊNH CUNG

Tư liệu tham khảo:
1. Như Những Dòng Sông, Hoàng Tá Thích, Nhà Xuất Bản Văn Nghệ 2007.
2. Trịnh Công Sơn, Cuộc đời, Âm nhạc, Thơ , Hội hoạ & Suy tưởng, Nhà Xuất Bản Văn Hoá Sài Gòn, 2005.
3. Thư TCS gửi Ngô Kha, nguồn:
http://www.gio- o.com
4. Sự thực Thư Gửi Ngô Kha, Nguyễn Đắc Xuân, phần phỏng vấn Lê Khắc Cầm, nguồn: http://www.gio- o.com
5. Có nghe ra điều gì, Thủ bút của TCS nói về trách nhiệm của mình với đám đông (Tư liệu của Bác sĩ, nhà văn Thân Trọng Minh – Lữ Kiều).
Trịnh Công Sơn: Tên Phản Bội:
Những năm tháng Trinh công Son dược sống được hít thở không khí tự do thoải mái của miền Nam (VNCH), y mới có thể viết dưđược những bản nhạc hay và nhiều, từ khi bọn Việtcộng cưỡng chiếm miền Nam, y không còn viết dược bài nào ra hồn, chỉ viết dược vài bài nịnh đảng "Mùa Thu Hà Nội" hoạc nịnh gái HồngNhung: Bống bống bang bang" không ra gì. Rồi rượu cie2 be bét, gái nào cũng bỏ . Thật là một tên vô đạo đức và hèn hạ. Nhưng vẫn có những băng đảng hè nhau ca tụng hắn.
HH
Kèm hình tòa án nhân dân mà trịnh công sơn (tcs)chủ tọa và tuyên án.

Phóng viên báo AP đã thu vào ống kính hình ảnh tàn bạo và dã man của chế độ csvn sau khi cưỡng chiếm miền Nam VN mà nhạc sĩ tcs tay sai nằm vùng đã hồ hởi ghi công đầu cho đảng gian ác bằng chủ tọa và tuyên đọc "bán án" xử bắn một thanh niên.

Tôi không hiểu tại sao nhiều ca nhạc sĩ vẫn còn tâm trí để hát hay ca tụng nhạc của tcs hay có nhiều tác giả viết sách và trích dẫn những lời trong những bài hát của tcs.

Trân trọng,
dangbao
2-4-2009




THOÁT (Ed. Oshio, MPH)

THOÁT

Ed. Oshiro, MPH
(Trần Trúc Lâm chuyển ngữ)

Ba mươi phút sau khi chuyến bay của hãng Hàng Không Việt Nam chở chúng tôi rời khỏi phi trường Tân Sơn Nhất, chúng tôi nhìn xuống những đồng bằng màu đỏ trơ trụi của xứ Cambodia, tôi và vợ tôi bỗng dưng có một cảm giác kỳ lạ của sự thoải mái và tự do. Hú vía, chúng tôi thực sự đã thoát khỏi những sự sách nhiễu, hăm dọa và tham nhũng thường nhật của các giới chức Việt Nam, và cái gánh nặng đè trên vai trong ba tháng qua chợt trút mất.

Mọi chuyện như bắt đầu từ mùa thu năm ngoái, khi tôi nhận làm quản lý hải ngoại vụ cho Cơ Sở Đông Gặp Tây (East Meets West Foundation) hiện đang trông coi một bệnh xá toàn khoa cho “kẻ nghèo nhất trong đám nghèo” và một cô nhi viện với 125 trẻ em ở ngoại ô thành phố Đà Nẵng, Việt Nam. Tôi đã quyết định chụp lấy cơ hội hưu trí sớm với đầy đủ cấp dưỡng do Group Health đề nghị và về hưu vào đầu tháng Giêng với ý định đi phục vụ tình nguyện khoảng một đến hai năm tại Việt Nam, bắt đầu vào giữa tháng Giêng.
Công tác của tôi là giúp bệnh xá hoạt động được hữu hiệu hơn và hướng dẫn những chương trình về giáo dục y tế công cộng cho bốn làng hẻo lánh. Vợ tôi thì được giao việc ở cô nhi viện như là giáo viên mỹ thuật và dạy Anh ngữ cho các nhân viên.
Một điều báo trước cho những việc sẽ gặp ở trong nước Việt Nam thực ra đã bắt đầu khi chúng tôi bay xuống San Francisco để nhận giấy chiếu khán đi Việt Nam. Khi đến San Francisco thì chúng tôi được báo rằng viên chức Bộ Ngoại Giao (Việt cộng) muốn chúng tôi phải thuê căn phòng của y ở Đà Nẵng với giá 700 đô la mỗi tháng, với sáu tháng tiền nhà đưa trước. Chúng tôi phản đối và y không chịu cấp giấy nhập cảnh nữa, chúng tôi đành phải quay về lại Seattle để chờ Cơ sở tiếp tục thương lượng. Cuối cùng đến tháng Hai, sau khi đồng ý với vụ sắp xếp, trả cho y 4,200 đô la, và dấu nhập cảnh cho ba tháng thay vì một năm, chúng tôi bay đi Việt Nam. Khi đến nơi thì căn phòng, hỡi ôi! còn đang sửa chữa và chúng tôi đành ở khách sạn với giá 15 đô la một ngày.
Vừa vào đến Việt Nam thì tất cả đĩa điện toán của chúng tôi đều bị tịch thâu ngay, và mãi đến ba tuần mới được trả sau khi đóng 40 đô la gọi là “lệ phí bảo quản” và có cả khối bản phụ được sao chép (để bán về sau).
Ngày đầu làm việc trong văn phòng, tôi nhắc máy điện thoại để gọi con gái tôi ở Seattle và đã có thể nghe rõ tiếng nhạc quân hành văng vẳng trong máy suốt cuộc điện đàm. Tôi nhắc lại chuyện đó với nhân viên người Việt thì được họ cho biết là công an và quân đội luôn theo dõi nghe trộm mọi cuộc điện đàm.
Chúng tôi được khuyến cáo là ngay cả thư từ cũng được mở ra đọc ngang xương, cho nên phải cẩn thận khi viết. Có một lần công an gọi tôi phải đem tờ báo cáo tài chính cuối tháng cho họ xem để họ quyết định cho gởi hay không.
Vài ngày sau khi tôi bắt đầu làm việc, thì cô kế toán viên bay đi Florida để làm đám cưới với anh bác sĩ Mỹ mà cô đã quen trong thời gian anh ta phục vụ tình nguyện cho bệnh xá. Khi chúng tôi rao tuyển người thay thế thì viên Bộ Trưởng chuyển đến một danh sách ứng viên mà y muốn chúng tôi thâu dụng. Chúng tôi bác ngay vì họ không biết tí gì về kế toán và chẳng có chút năng khiếu gì về Anh ngữ. Chúng tôi tuyển được một cô có bằng kế toán và nói giỏi tiếng Anh, nhưng viên Bộ trưởng và Sở Công An lại trì hoản việc chuẩn y thâu dụng, cho mãi đến khi tôi nghĩ rằng, có chút tiền đút lót hoặc cô ta chịu chia một phần lương của cô.
Chúng tôi được biết rằng tất cả nhân viên người Việt đều buộc phải đóng một phần tiền lương cho công an, các viên chức nhà nước, đảng viên, v.v… Đã mấy lần công an đến văn phòng chúng tôi hạch hỏi vì sao chúng tôi không dùng người của họ.
Bất ngờ có một bác sĩ người Việt lại nộp đơn xin làm kế toán bởi vì anh đã thất nghiệp đến hơn 5 năm nay. Quả có hàng trăm bác sĩ thất nghiệp mặc dù họ thuộc hạng lao động có lương thấp nhất ở Việt Nam… 30 đô la một tháng. Tôi chẳng thể nào hiểu được vì sao lại có quá nhiều bác sĩ thất nghiệp tại Việt Nam. Tôi được nghe kể rằng họ buộc phải ghi danh quỹ 1,500 đô la để được thực tập và lấy kinh nghiệm ở bệnh viện sau khi học xong. Không có kinh nghiệm ở bệnh viện là thất nghiệp. Tôi lại được biết có một sự kỳ thị nặng nề đối với dân trong Nam, đặc biệt là những người đã từng phục vụ cho chế độ cũ. Hầu hết những bác sĩ thất nghiệp mà chúng tôi đã gặp là dân miền Nam.
Trong phần họp định hướng tại Hoa Kỳ, chúng tôi được báo cho biết rằng các bác sĩ tại bệnh xá làng Hòa Bình rất lười và ù lì, vì họ chỉ biết có một điều là viết toa cho thuốc bổ sinh tố. Sau khi làm việc với họ vài ngày, tôi nhận thấy họ rất thông minh, rất ham học để hành nghề tốt và sẵn sàng đón nhận những sự giúp đỡ để trở thành thầy thuốc giỏi. Điều đáng tiếc là sự đào tạo của họ tệ quá, cho nên họ chỉ giỏi viết toa sinh tố cho mọi bệnh trạng.
Mỗi ngày trong một tuần, các bác sĩ đi khám bệnh ở một trong những làng lân cận. Tôi đi theo họ vài lần và nhận thấy rằng sinh tố được cấp cho mọi chứng: sốt rét, mù lòa, sốt nóng, bệnh ký sinh trùng, tiểu ra máu, tiêu chảy, v.v… Họ đâu có thể làm gì khác hơn được? Họ chẳng có món thuốc nào ngoài vài lọ Ampicilin. Mấy bác sĩ bảo rằng ít ra cũng nên cho bệnh nhân món gì để đem về nhà, và họ cấp sinh tố. À ra thế! Trụ sinh thì ai cũng có thể mua được chẳng cần toa cho nên nhà nào cũng có vài lọ trữ sẵn. Ngay cả thông dịch viên của tôi cũng dùng trụ sinh cho nhức đầu, cảm, tiêu chảy, đau lưng, hoặc khi cô ta cảm thấy không được khỏe.
Một bác sĩ Sản Phụ Khoa từ San Diego đã làm việc vài ngày tại bệnh xá và bà chỉ cho các bác sĩ cách sử dụng mỏ vịt đế khám âm đạo. Năm sau, ông ta quay lại và bất bình vì các bác sĩ không dùng mỏ vịt. Ông ta báo cáo với Ban Quan Trị Cơ Sở Đông Gặp Tây ở San Francisco rằng các bác sĩ ở bệnh xá ù lì và lười biếng. Tôi báo cáo về Ban Quản Trị chất vấn sự giám định của ông ta. Các bác sĩ tại bệnh xá không thể nào học khám và chữa bệnh phụ khoa trong vài ngày được, và kỹ thuật viên phòng thí nghiệm chỉ làm được dăm ba xét nghiệm đơn giản mà thôi. Cho dù họ có khám ra được điều gì đi nữa thì cũng chẳng có thuốc men và dụng cụ để điều trị. Tại sao phải đi học những chuyện mà dù có biết mình cũng đành bó tay? Tôi cảm thấy rằng bác sĩ Mỹ tình nguyện làm việc tại bệnh xá làng Hòa Bình thiếu nhạy bén và làm hại nhiều hơn là giúp đỡ.
Sau khi ổn định công việc, tôi liền gặp viên Bộ trưởng Y Tế (Việt Cộng) để đề nghị xúc tiến dự án hướng dẫn y tế công cộng cho bốn làng, và ông ta cũng thích thú về ý kiến đó. Ông ta nhận bản dự án đó và bảo rằng ông ta sẽ thảo luận với Ủy Ban Nhân Dân rồi cho tôi biết sau, hai tuần sau, ông ta gửi cho chúng tôi một lá thư nói rằng bản dự án đó đã được chấp thuận và Bộ sẽ thi hành, nhưng họ lại muốn tôi tài trợ 25 ngàn đô la. Tôi trả lời rằng tôi không có tiền mà chỉ có sự hiểu biết, thời giờ và lòng nhiệt thành muốn huấn luyện và làm việc với các nhân viên y tế mà thôi, nhưng họ chẳng tha thiết mấy đến sự tham gia của tôi – mà chỉ nghĩ đến tiền của tôi thôi. Tôi không được mời trở lại Bộ Y Tế nữa.
Khi tôi đi thăm ngôi làng đầu tiên để lượng định về y tế thì tôi được gặp Chủ Tịch Nhân Dân xã và y dẫn tôi đi thăm những gia đình nghèo nhất. Tại mỗi nhà y đòi tôi giúp cho những món mà gia đình đó cần như một mái nhà mới, tiền mua gạo, áo quần, xe lăn, v.v… Đến khi tôi nhắc đi nhắc lại rằng tôi đến đây không phải để cho tiền, y liền bảo thông dịch viên dẫn tôi ra khỏi làng ngay.
Ở một làng khác, các viên chức đòi tôi phải cấp một ngân khoản để xây một ngôi chợ mới, và khi họ biết tôi không thể làm được, họ bắt giữ tôi lại tại chỗ rồi ra lệnh cấm tôi rời khỏi trụ sở ủy ban. Đêm đó tôi bị buộc phải ngủ trên sàn gỗ bẩn thỉu với một mảnh mền rách, và một tên an ninh nằm ngủ bên cạnh canh phòng tôi trốn. Cho thêm phần khốn khổ, tên an ninh này lại bị cụt tay vì mìn, y đặt cánh tay cụt lên bụng tôi suốt đêm mà ngủ. Còn tôi thì làm sao mà ngủ được, nằm nghĩ ngợi lung tung, mấy ai tin được rằng tôi lại ngủ trên sàn nhà một văn phòng đảng Cộng Sản, cạnh một tên công an Cộng Sản, mà cánh tay cụt của hắn lại đặt trên bụng tôi! Đó là một trong những đêm kinh dị và hãi hùng nhất trong đời. Tôi cứ ngỡ mình bị ác mộng.
Vì tôi trú trong khách sạn nên phải đi ăn tiệm. Chỉ có một nơi mà chúng tôi và hầu hết các du khách đến ăn mà không sợ bệnh là nhà hàng mang tên Christies. Mỗi đêm chúng tôi gặp nhóm Thủy Quân Lục Chiến và quân nhân Mỹ đến Việt Nam tìm kiếm lính mất tích trong cuộc chiến (MIA’s). Họ bảo ràng mỗi làng đều có mánh khóe làm ăn trong vụ này. Chức sắc ở làng có thể báo cáo là đã chôn hai hay ba xác lính Mỹ ngoài ruộng. Thế là Hoa Kỳ phải mất khoảng 10 ngàn đô la cho việc đào xới và mướn phu phen địa phương.
Các giới chức Mỹ mà tôi chuyện trò bảo rằng từ năm 1991, họ chẳng tìm ra cái gì ráo và cũng chẳng mong mỏi tìm thêm cái gì khác. Họ được yêu cầu trú tại khách sạn của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam với giá 75 đô la một đêm và phải thuê phi cơ trực thăng chở họ đến các làng, mà giá của một giờ bay trực thăng là 750 đô la. Có khoảng 30 quân nhân Hoa Kỳ tìm kiếm MIAs tại Đà Nẳng và ở mỗi thành phố lớn đều có một nhóm như vậy. Dĩ nhiên là Hoa Kỳ tốn hàng triệu đô la vào túi các viên chức người Việt!
Sau hai tháng rõ ràng là chẳng ai cần đến chúng tôi tại Việt Nam. Cô nhi viện thì đã được Chính Phủ Hoa Kỳ tài trợ dồi dào và nhân viên Việt Nam thì làm việc xuất sắc. Trẻ em học ở trường nhà nước, được dạy nghề mộc, may vá, điện toán, v.v… và một bác sĩ toàn thời chăm sóc sức khỏe cho chúng. Chúng có cả sân bóng rổ, bóng bàn, máy truyền hình, máy chiếu hình, xe đạp, máy điện toán, một nông trại trồng rau, chúng nuôi gà và lợn để sinh lợi. Ai cũng biết rằng chúng sống khá hơn đại đa số trẻ con khác ở Việt Nam! Tôi đã tìm cách tăng lương cho tất cả các bác sĩ và nhân viên (Việt Nam) tại bệnh xá từ 30 đô la đến 50 đô la mỗi tháng. Nhà cầm quyền lại đòi rằng ai cũng được trả đồng hạng dù là bác sĩ hay y công.
Tôi cũng đã giúp vào một chương trình phát triển dài hạn giáo dục liên tục cho các bác sĩ. Một bác sĩ tim mạch ở Nhật chịu đỡ đầu hàng năm, trong nhiều năm về sau, cho một bác sĩ của bệnh xá luân phiên qua tu học tại bệnh viện Okasa khoảng sáu tháng. Người đầu tiên đi Osaka đã rời hồi tháng Sáu. Tôi cũng đã bắt liên lạc với bệnh viện Huế xin các bác sĩ của bệnh viện thực tập và chúng tôi chịu trả tiền phí tổn huấn luyện. Tôi đã đệ trình dự án này với Ban Quản Trị Cơ Sở Đông Gặp Tây vào ngày công tác cuối cùng của tôi ở Việt Nam. Hy vọng rằng Ban Quản Trị sẽ biểu quyết tán đồng chương trình này. Tôi cảm thấy quá rẻ để huấn luyện một bác sĩ với giá 1,500 đô la.
Vài tuần sau khi đến Đà Nẵng, viên chức Bộ Ngoại Giao đòi thêm tiền để dứt điểm việc tu bổ căn phòng và mua đồ bày biện. Nhưng chúng tôi được biết rằng một bác sĩ Việt Nam kiếm được 30 đô la một tháng và đã trả, có lẽ từ 10 đến 15 đô la tiền thuê căn phòng như thế nên chúng tôi đã lịch sự phất lờ đòi hỏi thêm tiền của y. Y bèn trở mặt chèn ép, đòi chúng tôi phải báo cáo trước chi tiết lộ trình mỗi hai tuần, không cứu xét yêu cầu gia hạn chiếu khán và làm khó dễ các nhân viên người Việt của bệnh xá.
Ba tháng sau khi đến Việt Nam viên chức Bộ Ngoại Giao bảo rằng chúng tôi có thể vào ở được rồi, và chúng tôi chỉ trú – có mỗi một đêm. Căn phòng chỉ được tu sửa nửa chừng với dây điện còn lòng thòng từ trần nhà, tường được sơn một phần, ống nước chưa được nối vào, không có bàn ghế và gián thì ôi thôi, bò lổn ngổn khắp nơi. Chỉ trong mấy phút mà tôi xài hết một lọ xịt côn trùng và sàn nhà đầy la liệt cả gián dài khoảng 2 đốt tay đang nằm ngửa ngo ngoe.
Chúng tôi dọn trở lại khách sạn sau đúng một đêm. Viên chức Bộ Ngoại Giao rất bực dọc và gay gắt bảo chúng tôi nên rời khỏi nước nếu không hài lòng. Lần đầu tiên chúng tôi cảm thấy sợ hãi, chúng tôi biết rằng y có thể bỏ tù chúng tôi hoặc dàn cảnh một tai nạn mà chẳng ai có thể làm gì được.
Biết rõ rằng chẳng ai muốn và cần đến chúng tôi tại Việt Nam, sự đóng góp của chúng tôi cũng nhỏ nhoi, và có một sự đe dọa đến an ninh của chúng tôi, chúng tôi quyết định rời khỏi Việt Nam. Chúng tôi cũng bị dằn vặt bởi quyết định này vì chúng tôi đã đến và mến yêu trẻ mồ côi, những người làm việc chung và cái bệnh xá làng Hòa Bình. Chúng tôi mang theo một tình cảm rất nồng nàn đối với dân Việt, đối với đất nước tuyệt đẹp này, và mong một ngày nào đó sẽ trở lại để hoàn tất những công tác đã phát khởi.
Một ngày kia, cái thế hệ lãnh đạo hiện nay sẽ trao quyền lại và Việt Nam sẽ vươn mình như con bướm sặc sỡ của vùng Đông Nam Á.

(Ed Oshiro hiện về hưu và ngụ tại Mereer Island, thành phố Seattle, tiểu bang Washington; nguyên là Phụ Tá Giám Đốc Chương Trình Giáo Dục Y Tế của Group Health Cooperatives).
http://www.canhthep.com/modules.php?op=modload&name=Forum&file=view&bn=70a_binhluan&key=1242616118



BÀI HỌC VÀ HY VỌNG CHO NGÀY MAI

BÀI HỌC VÀ HY VỌNG CHO NGÀY MAI

 

Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

      Chỉ ít ngày trước tết Nguyên đán Mậu Thân 1968, sinh viên Saigon rầm rộ xuống đường kéo về học viện Quốc Gia Hành Chánh trên đường Trần Quốc Toản để bầy ra cái mà bọn trẻ này gọi là ăn mừng tết Quang Trung.  Người Việt Nam ai có cắp sách đến trường đều biết rằng vua Quang Trung Nguyễn Huệ, khi dẫn quân thủy bộ từ Nam ra đến Nghệ An thì dừng lại dưới chân núi Tam Điệp ngày 20 tháng Chạp năm Mậu Thân 1788.  Ngài cho quân sĩ ăn tết trước để đến ngày 30 tiến đánh thành Thăng Long.

      Sinh viên Trương Thìn thét lớn giữa nhạc cảnh Tiếng Trống Hào Hùng trên sân khấu trước Học Viện: “Trước nhục nước nên hòa hay nên chiến?”  Bên dưới, đám con nít khán gỉa cò mồi cùng gào lên đáp lại : “Quyết chiến.”

      Đó không phải là chuyện ngẫu nhiên do lòng hăng say vô tội vạ của tuổi trẻ, mà là một chỉ dẫn báo hiệu sự khởi đầu của một chiến dịch quân sự rộng khắp trên qui mô toàn quốc, mà người ta thường gọi là Tấn Công Tết Mậu Thân. Trận đánh bắt đầu ngay sau màn văn nghệ ăn tết Quang Trung ít ngày, đúng vào đêm giao thừa.

      Song song với mũi tấn công quân sự, tập đoàn cầm quyền Hanoi còn đẩy mạnh những cuộc xuống đường đuổi Mỹ, đòi hòa bình.  Người ta ngạc nhiên là những cuộc xuống đường  này không phát xuất từ Hanoi, Mạc Tư Khoa hay Bắc Kinh, mà là từ thủ đô Hoa Thịnh Đốn của nước Mỹ, rồi mới lây lan qua Saigon. Hiện tượng này được giải thích là bước khởi đầu kế hoạch của phản chiến Mỹ đòi rút lui khỏi Việt Nam .

      Từ năm 1968 trở đi, đường phố Saigon nhộn nhịp hẳn lên với những cuộc xuống đường đòi hòa bình.  Ngày 11-7-1970, ba nhà báo Mỹ, trong đó có John Steinbeck Jr.,con trai đại văn hào John Stainbeck, cùng với mấy sinh viên Mỹ thuộc giáo hội Quaker, khiêng một chiếc quan tài rỗng đi nhong nhong trên đường Tự Do Saigon.  Theo sau là một đám sinh viên Việt Nam luôn miệng hô Peace, Peace Now.  Trước sự thể đó, những người hiểu biết đều tin rằng chiến tranh rồi sẽ phải kết thúc, và Việt Nam sẽ phải có hòa bình.

      Nhưng hòa bình như thế nào, và bằng cách nào thì đó còn là vấn đề.

      Sau thất bại quân sự tết Mậu Thân và những năm sau đó, tập đoàn Hanoi bằng lòng ký kết Hiệp Ước Paris 1973 để dưỡng quân, bổ túc và tái tổ chức lại các đơn vị đã bị thiệt hại hoặc tan rã.  Sau 2 năm hoàn tất công tác đó, mùa xuân 1975, CS bất chấp những gì đã ký kết, lại tung ra một trận tấn công  quyết tử khác mang tên là chiến dịch Hồ Chí Minh.  Chiến dịch này được những người tự nhận là thành phần thứ ba tại Saigon xuống đường hết lòng yểm trợ. Cuối cùng CS Bắc Việt đã kéo được lá cờ của chúng trên nóc dinh Độc Lập tại Saigon .

      Trước khi ông Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vào lúc 10 giờ sáng ngày 30-4 thì xe tăng, đại pháo, và quân đội CS miền Bắc đã vây kín mọi cửa ngõ vô Saigon .  Người ta nói ông Minh đầu hàng CS để tránh một cuộc đổ máu vô ích cuối cùng. Vô ích bởi vì chắc chắn thế nào rồi cũng thất bại nếu Saigon muốn đối đầu. Hầu hết các tư lệnh, chỉ huy trưởng quân đội đã tự động bỏ hàng ngũ trước khi có lệnh đầu hàng.  Trong tình trạng đó, ông Minh có muốn đánh cũng không còn quân để đánh.  Tình trạng rã ngũ tập thể đó đã giúp cho ông Tổng Thống 3 ngày, cũng là tổng tư lệnh quân đội, có lý do để rũ bỏ trách nhiệm. Nhưng cái lý do để tránh đổ máu vô ích này xem ra không đủ sức để rửa tội cho ông Minh, bởi vì đầu hàng cách nào thì cũng vẫn là đầu hàng. Từ lâu trước đó, ông Minh đã từng có những liên lạc kín đáo với CS để hy vọng bắt tay hòa hợp với chúng.  Với tư cách, lập trường, và thực lực riêng của ông Minh nằm trong nhóm tự xưng là thành phần thứ ba, hòa hợp với CS chỉ có một định nghĩa duy nhất đúng là đầu hàng CS mà thôi.

      Thế là kết thúc một cuộc chiến dai dẳng và đẫm máu.  Việt Nam đã có hòa bình, một nền hòa bình như mong muốn của ông Dương Văn Minh và nhóm thành phần thứ ba của ông.  Đối với chánh quyền Mỹ, tuy mất mặt nhưng họ cũng cảm thấy nhẹ nhõm vì đã trút được một gánh nặng.  Còn CS thì khỏi nói, chúng mừng như người nằm mơ lượm được vàng.

      Việc ông Dương Văn Minh đầu hàng CS tránh được một cuộc đổ máu tức thì, nhưng đã không tránh được một cuộc tắm máu nội tâm của hàng triệu đồng bào miền Nam, nhất là của những người lính QLVNCH. Người chiến sĩ QLVNCH không hèn nhát.  Họ không hề đầu hàng CS mà chỉ tuân lệnh buông vũ khí của cấp chỉ huy.  Lệnh đầu hàng của Dương Văn Minh được CS ghi công và tưởng thưởng cho ông, nhưng đã đẩy hàng trăm ngàn thuộc cấp của ông vào các trại tập trung cải tạo, và làm tan nát hầu hết gia đình của họ. Đó là hệ qủa đầu tiên của một nền hòa bình đến từ nòng súng của tập đoàn CS Hanoi tráo trở, lưu manh, bất lương và vô luân.

      Con người chẳng ai mong muốn chiến tranh, trừ ra lũ chính khách vô luân và bọn lái súng bất lương.  Trải qua 3 chục năm giặc gĩa triền miên, Hòa Bình là khát vọng, và là niềm mơ ước của mọi người dân Việt Nam .  Nhưng nền hòa bình đó đã đem lại được những gì cho dân tộc?

      Suốt mấy thập niên qua kể từ ngày hòa bình trở lại trên quê hương, nhân dân Vietnam được chứng kiến không phải là “xây lại bằng 10 lần đẹp hơn” như Hồ Chí Minh vẽ ra trong trí tưởng  tượng của hắn, mà là một Việt Nam sụp đổ toàn diện và tuyệt đối.

      Ngay sau khi chiếm được miền Nam, việc làm đầu tiên của tập đoàn thống trị Hanoi là dồn tất cả sĩ quan QLVNCH và các cấp chính quyền miền Nam vào các trại tập trung để trả thù. Khi vấn đề trị an đã vững, bước kế tiếp của chúng là thi hành chính sách cào bằng để mau chóng tiến lên xã hội chủ nghĩa nghèo đói.  CS bần cùng hóa người dân miền Nam qua một loạt các chiến dịch tàn bạo như đổi tiền, đánh tư sản, tập thể hóa sản suất ở nông thôn, dồn gia đình các thành phần quân cán chính VNCH đi vùng kinh tế mới. Hậu quả của những chính sách sai lầm này là toàn dân không phân biệt nam nữ già trẻ, đều trở thành ăn mày hết thẩy.  Không thể sống nổi dưới gót giầy xâm lăng của CS miền Bắc, đồng bào miền Nam ai nấy tìm cách bỏ nước ra đi.  Hàng triệu người đi thoát được, nhưng cũng có hàng trăm ngàn người phơi thây nơi rừng xanh, hay chìm sâu dưới đáy biển. Đây chính là một cuộc bỏ phiếu bằng chân cho một tập đoàn cầm quyền phản dân hại nước. Tập đoàn Hànội thừa thắng xông lên, kiêu căng đến độ xua quân sang xâm chiếm Cao Miên. Trước kia chúng tự hào đánh đuổi xâm lược.  Bây giờ chúng lại hiện hình là một tên xâm lược thô bạo, có khác gì ai đâu.  Hành động ngu xuẩn này đưa đến kết qủa là chúng bị Trung Cộng dậy cho một bài học để đời, và cả thế giới khinh khi ruồng bỏ. 

      Khi đường lối kinh tế chỉ huy đã chứng tỏ bị phá sản, với sức người sỏi đá không thể thành cơm được, tập đoàn Hanoi buộc phải mở cửa giao thương với bên ngoài. Chúng phải cắn răng xếp xó ba cái mớ lý thuyết không tưởng đã lỗi thời, để cho người dân được quyền làm ăn sinh sống.  Được thể, bọn đảng viên đói khát lâu ngày, với lòng tham vô đáy, từ trên xuống dưới bỗng trở thành những tên phản đảng, phản Mác-xít hết cả.  Chúng vơ vét mọi thứ cho đầy túi tham, và nghiễm nhiên trở thành một giai cấp mới, một thứ mafia tư bản đỏ. 

      Miền Nam trước năm 1975 mặc dầu có chiến tranh, nhưng không thua kém gì các nước Đông Nam Á.  Sau hơn 3 thập niên, bất cứ ai, kể cả bọn trong tập đoàn cầm quyền Hànội đều phải nhìn nhận rằng Việt Nam nay là một quốc gia nghèo nàn và lạc hậu vào bậc nhất trên thế giới, mặc dầu tài nguyên phong phú, trí thông minh tuyệt vời. Cuộc sống tinh thần lẫn vật chất của người dân đều bị phá sản. Đại đa số sống trong cảnh nghèo khổ bần cùng.  Trừ ra bọn đảng viên và lẻ tẻ một số rất ít người dân thường chịu làm tôi tớ cho VC lại hưởng thụ mức sống rất dư thừa. Khoảng cách biệt giầu nghèo đang trở thành thách đố lớn lao không tưởng được hiện nay tai Việt Nam . Cán bộ đảng giầu bạc triệu dollars là chuyện thường. Bọn lãnh đạo có thể giầu bạc tỷ.  Trong khi đó một viên chức nhà nước lương thiện lương tháng 100 dollars đã kể là cao.  Người dân lao động còn dưới mức đó nữa. Do nghèo đói và do chủ trương của CS triệt hạ mọi gía trị tinh thần của Dân Tộc, có thể nói đa số người Việt Nam ngày nay xem ra đã mất hết cả lương tri.  Tại vùng quê Hậu Giang, miền trù phú nhất nước, có rất nhiều gia đình nghèo qúa đã phải bán con gái vị thành niên vào những ổ điếm khắp vùng Đông Nam Á. Về mặt tinh thần, các phong tục tập quán cổ tuyền và đạo đức con người đều băng hoại: xì ke ma túy, đĩ điếm tràn lan không kiểm soát, tham nhũng bóc lột hoành hành, bất công cùng cực, trẻ em thất học, người dân mất hết quyền sống và quyền làm người. Tôn giáo trở thành công cụ cho đảng CS sai khiến.  Tóm lại, trong suốt lịch sử Dân Tộc, chưa bao giờ người dân Việt Nam cảm thấy đau đớn và tủi nhục như hiện nay.

       Đàng khác, tập đoàn Hanoi luôn khoe khoang là đã đem lại tự do dân chủ cho đất nước.  Một câu hỏi đặt ra cho bọn chúng là nếu Việt Nam thực đã có tự do dân chủ rồi thì hà tất chúng còn phải rêu rao cởi trói cho dân. Hà tất chuyện gì lớn nhỏ cũng đều phải xin phép. Ngay cả đến các sinh hoạt tôn giáo cũng phải xin phép mới được. Như thế thì đâu còn là tự do, là dân chủ? 

      Hơn nữa, vấn đề quan trọng nhất đối với một dân tộc là độc lập Tổ Quốc. VC tự hào là đã đánh đuổi được 3 đế quốc sừng sỏ, dành được độc lập cho dân tộc.  Nhưng đó chỉ là nói láo.  Ai cũng biết rằng chính Hồ Chí Minh từng tuyên bố Việt Nam đi theo chủ nghĩa quốc tế, tức là tự đặt mình làm chư hầu của đệ tam quốc tế CS Liên Sô. Đây rõ ràng là đem vận mệnh đất nưóc đặt dưới sự điều khiển và chi phối của ngoại bang. Đó không phải là bán nước thì là cái gì ?  Chuyện VC bán nước còn được chứng minh rõ ràng hơn  qua việc làm của Phạm Văn Ddồng ngày 14-9-1958 gởi công hàm cho Chu Ân Lai xác nhận chủ quyền của Trung Cộng trên lãnh hải Việt Nam . Việc này đem lại hệ qủa tai hại là Trung Cộng có cớ để đòi chủ quyền trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của ta. Vẫn chưa hết, hiện nay bọn hậu duệ của Hồ còn ngang nhiên bán nước trắng trợn hơn nữa.  Lũ bù nhìn được gọi là quốc hội của chúng tháng 12-1999 đã thông qua Hiệp Định Biên Giới bán đất, và tháng 12-2000 lại thông qua Hiệp Định Vịnh Bắc Bộ bán biển cho Tầu Công. Hành đông bán nước trắng trợn này cả đến Lê Chiêu Thống cũng chưa dám làm. Lịch sử Vietnam sẽ không quên những tội ác tầy trời này của tập đoàn Hànội, và công lý cũng sẽ không dung tha cho chúng.

      Tập đoàn CS Hanoi có tội trước lịch sử và trước nhân dân đã đành.  Nhưng còn người tỵ nạn chúng ta cũng không phải không có những điều đáng chê trách.  Cứ nhìn vào chính mình mà coi.

      Kiểm điểm lại sau mấy thập niên lưu lạc xứ người, đáng tiếc là người Việt tỵ nạn xem ra vẫn chưa học được bài học EXODUS của dân Do Thái.  Cũng chưa rút tỉa được kinh nghiệm của người Tầu trên đảo quốc Đài Loan. Chúng ta thiếu đủ những cái đáng lẽ cần phải có. Chỉ xét về mặt sinh hoạt cộng đồng thôi, khẳng định chúng ta thiếu tinh thần đoàn kết, và một tầng lớp lãnh đạo giỏi. Ngược lại, lại dư thừa những thứ chúng ta không cần tới.  Đó là thừa đoàn thể, thừa tổ chức, và thừa các lãnh tụ dổm.

      Về vấn đề đoàn kết   Chúng ta nghe người Nhật nói trong cuộc đọ sức giữa một người Việt Nam và một người Nhật thì chắc chắn người Việt Nam sẽ thắng. Nhưng trong cuộc đấu giữa hai người Việt Nam với hai người Nhật thì người Việt Nam dứt khoát phải thua. Tại sao thế?  Người Nhật muốn ám chỉ sự thiếu tinh thần đoàn kết của người Vietnam . Người Nhật còn đưa ra một so sánh khác nữa để mô tả tình trạng chia rẽ của người Việt Nam . Họ nói người Nhật ví như một nắm đất sét dẻo muốn nặn thành hình gì cũng được, và càng khô càng cứng.  Còn người Vietnam giống như một nắm cát, mặc dầu cát rất cứng nhưng rời rạc, không nặn thành hình thù gì được cả.

       Nhận xét có vẻ hữu lý, nhưng xem ra người Nhật đã không đọc lịch sử Việt Nam . Người Việt không có tinh thần đoàn kết thì làm sao Lê Lợi thắng được giặc Minh, Trần Quốc Tuấn đánh tan đơợc quân Nguyên, Quang Trung Nguyễn Huệ đuổi được Thoát Hoan về Tầu? Lịch sử đã chứng minh, mỗi lần đất nước bị ngoại xâm là mỗi lần tinh thần đoàn kết quốc gia lại được chứng tỏ. Hội nghị Diên Hồng đời Trần mãi mãi là một thí dụ điển hình cho tinh thần đoàn kết của dân tộc Việt Nam .  Trong phong trào chống thực dân Pháp dành độc lập, rất tiếc sau khi thắng người Pháp,CSVN đã dùng thủ đoạn lừa bịp để tròng lên cổ người dân Việt cái ách nô lệ tệ hại còn  hơn dưới thời thực dân Pháp gấp trăm lần. 

      Tình trạng chia rẽ trong cộng đồng ngày nay khẳng định chính là do CS gây ra chứ không phải ai khác. Bọn đầu sỏ Hanoi tỏ ra kém cỏi về nhiều mặt, nhưng lại xứng đáng là thầy thiên hạ trên phương diện lưu manh và xảo trá. Chính sách chia để trị là cẩm nang hàng đầu của mọi chế độ độc tài độc đoán. Tập đoàn Hànội áp dụng nhuần nhuyễn và thật tài tình cẩm nang này trong cách cai trị của chúng.  Hiện nay dân chúng trong nước đói ăn, nhưng chúng lại thừa tiền bạc gởi ra nước ngoài mua chuộc bọn tay sai hầu lũng đoạn và khống chế các cộng đồng tỵ nạn chúng ta. Nghi quyết 36-NQ/TU của CS là một chúng minh hùng hồn cái dã tâm chia để trị của CS. Nhìn vào sinh hoạt của các tôn giáo trong nước chúng ta càng thấy rõ cái dã tâm này hơn.  Chúng ban ơn huệ cho tôn giáo này nhưng lại bắt bớ đàn áp tôn giáo khác. Lý do nào vậy, nếu không phải là cố tình gây chia rẽ giữa các tôn giáo để dễ bề nắm đầu nắm cổ.

      Về vấn đề lãnh đạo    Với bất cứ một tập thể nào dù lớn hay nhỏ, lãnh đạo luôn luôn là một vấn đề quan trọng hàng đầu. Phải công tâm nhìn nhận rằng sau khi chế độ đệ nhất Cộng Hòa bị sụp đổ, người quốc gia đã không còn lãnh đạo nữa.  Đất nước chỉ còn được cai trị mà không còn được lãnh đạo. Từ đó có thể kết luận rằng nguyên nhân chính làm mất nước chính là chúng ta thiếu lãnh đạo.  Tại hải ngoại, nếu được lãnh đạo hẳn hoi, người tỵ nạn đã không sa vào tình trạng hỗn loạn như hiện nay. Đáng lẽ khi di tản ra xứ người, tâm lý “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu” là một yếu tố đủ để đoàn kết toàn thể mọi người về một mối. Lợi dụng tâm lý này để đoàn kết đồng bào, rồi từ đó học hỏi kinh nghiệm từ những cộng đồng thiểu số khác để phát huy sức mạnh tập thể trong chính trường Mỹ, rồi mới nói đến chuyện giải phóng quê hương mới phải. Chưa gì bọn bịp bợm đã hô hào đóng góp tiền bạc, lập chiến khu giả, quân đội ma để về kháng chiến thì thật là điên rồ và ngu xuẩn.  Tình hình thế giới lúc này đâu cho phép làm chuyện đó. Riệng nước Mỹ cũng đã sợ chiến tranh Việt Nam quá sức rồi.  Họ để yên sao?  Kháng chiến mà không có một hậu phương vững mạnh yểm trợ, thất bại là chuyện đương nhiên.  Điều tai hại nhất là nó càng ngày càng xói mòn niềm tin của đồng bào vào chính nghĩa giải phóng quê hương.

      Trong chiến tranh Vietnam , QLVNCH có dư cái dũng để đương đầu với kẻ thù, nhưng thiếu cái trí của lãnh đạo, hóa ra chết mà uổng cả xương máu. Hiện nay tại hải ngoại cũng thế, không thiếu những chiến sĩ tràn đầy tâm huyết và dũng cảm, mà chỉ thiếu người lãnh đạo có cái đầu biết vận dụng người và biết liệu thời mà thôi, cho nên cũng chẳng làm nên cơm cháo gì. Công cuộc chống cộng của người Việt tỵ nạn hiện nay xem ra mờ mịt chính vì tình trạng bất cân xứng đó. Mong rằng người cựu quân nhân QLVNCH tại hải ngoại cần nhìn thấy rõ điều đó.

      Quân đội nước nào cũng đều có nhiệm vu bảo quốc an dân.  QLVNCH đã làm tròn trách nhiệm Tổ Quốc trao phó.  Để đất nước rơi vào tay CS không phải lỗi của người quân nhân, mà là do nhiều yếu tố, trong đó có yếu tố lãnh đạo bất tài và bất lực. Hôm qua họ là lính.  Hôm nay họ cũng vẫn là những người lính kiên cường và bất khuất. Có thể nói rằng, nếu không có người lính QLVNCH thì VC đã chiếm trọn hải ngoại này từ lâu rồi. Vận mệnh của dân tộc và tương lai của đất nước vẫn nhiều phần tùy thuộc vào sự trưởng thành ý thức của người quân nhân QLVNCH.

 

            Duyên-Lãng  Hà Tiến Nhất




“Cho Em Niềm Ước Mơ”: VOICE

   

“Cho Em Niềm Ước Mơ”: VOICE gây quỹ giúp nạn nhân nô lệ tình dục ở Cambodia

Tuyết Mai


Trong buổi gây quỹ “Cho Em Niềm Ước Mơ”.

Virginia.-  VOICE đã tổ chức buổi gây quỹ “Cho Em Niềm Ước Mơ”  để giúp nạn nhân phụ nữ, trẻ em bị buôn bán nô lệ tình dục ở Cambodia, vào lúc 7 giờ chiều ngày 9 Tháng 8, 2009 tại Nhà hàng Thần Tài, Falls Church, VA.
Tổ chức  VOICE được thành lập năm 1977 ở Manila, để  giúp những người Việt tỵ  nạn  ở  Phi Luậ t Tân. Hội do một số chuyên gia, sinh viên người Việt lớn lên ở hải ngoại, có tấm  lòng  muốn đem tiếng nói, đem  sự may mắn của họ chia sẻ với những người kém may mắn. Năm 2007 Hội nới rộng tầm hoạt động  ra khỏi phạm vi giúp người tỵ nạn, nay đang giúp những phụ nữ và trẻ em bị buôn bán làm nô lệ tình dục ở Cambodia. Hiện VOICE  đã có văn phòng ở Washington,  D.C. và ở hải ngoại như Cambodia, Australia, Canada, United Kingdom…Hội  có những chương trình trợ giúp về pháp lý và xã hội cho đồng bào người Việt ở Cambodia.
Buổi gây quỹ này có hơn bốn trăm ngừơi tham dự, trong đó có rất nhiều người trẻ. Mở đầu BTC có  chiếu một đoạn phim ngắn do International Organization Migration (IOM) thực hiện, đưa ra những hình ảnh rất thương tâm của những cô gái làm nghề mãi dâm, để nhắc nhở những cha mẹ Việt Nam ở Cambodia đừng  bán “trinh” con của mình, đừng đưa con mình vào những ổ mãi dâm. Trong phim có em kể lại nhiều bạn bè của em trong lứa tuổi hai mươi bị chết vì bệnh AIDS.
Cô Thùy Dương, Giám Đốc Điều Hành của Văn Phòng VOICE ở Washington- DC nói rõ hơn về tệ nạn mãi dâm ở Camodia.  Cô cho biết,  dân số ở  Cambodia có mười lăm triệu người, trong đó có một triệu người Việt. Trong số các  cô gái trong nghề bán thân, mãi dâm ở Cambodia  có 30% là thiếu nữ và trẻ em VN. Theo thống kê thì ít nhất là 50%  gia đình đã bán “trinh” con của mình. Thật ra con số này lên tới 70-80% , nhưng trong những bản thống kê của các tổ chức NGO thì 50%.
Ở Cambodia, nếu một gia đình có một cô con gái 13 tuổi mà chưa bán trinh  cô con gái,  thì gia đình đó rất là kỳ lạ, tại sao không bán trinh con để được ba trăm, bốn trăm đô. Đó là cách suy nghĩ của người Việt ở Cambodia.
Ở Cambodia có sự kỳ thị  rất lớn giữa nguời Miên và ngừơi Việt, người Việt ở đây phần nhiều không có giấy tờ hợp pháp nên luôn bị đối xử tệ, không được đi học, không được hưởng sự trợ giúp xã hội của Chính Phủ, và  vì có rất ít việc làm nên một trong những nghề các  thiếu nữ và trẻ em Việt Nam làm là nghề bán thân. Cô Thùy Dương nhấn mạnh, con đường giúp đỡ các gia đình Việt Nam ở Cambodia là con đường rất dài và cần sự kiên nhẫn. Người Việt ở đó khổ đến nổi chỉ biết sống ngày nay, ngày mai chứ không có nghĩ đến tương lai. Cha mẹ không cần cho con đi học, việc học hành không quan trọng.  Họ chỉ nghĩ đến việc cho con bán thân, đi vào nghề bán thân là một cái gì họ  ước mơ, vì các cô gái bá n thân có  vòng vàng và rất đẹp với son phấn. Cha mẹ mơ một ngày nào đó con gái của họ sẽ trở thành những cô gái bán thân như vậy.   Cô Thùy Duơng hy vọng, người Việt ở hải ngoại sẽ dang tay ra giúp ngừơi Việt của chúng ta ở Cambodia. Có đến Cambodia mới thấu hiểu được người Việt của chúng ta ở đó khốn khổ như thế nào. 
Sau đó Giám Đốc Điều Hành  của Hội VOICE là Anh Maxwell Võ, cũng là Chủ Tịch Cộng Đồng ngừơi Việt Tự Do ở Toronto, Canada có vài lời chào mừng quan khách và chia sẽ với mọi ngừơi lý do vì sao anh tha thiết giúp những trẻ em Việt nam ở Cambodia.
Theo tài liệu của những tổ chức như International Organization Migration (IOM), Chab Dai, IJM… đang làm việc chống nạn buôn bán trẻ em ở Cambodia, thì Phnom Penh (Thủ đô của Cambodia) có khoảng một triệu dân, trong đó có khoảng 15 ngàn gái mãi dâm,  52%  gái mãi dâm  là  thiếu nữ và trẻ em Việt Nam.
Những thiếu nữ và trẻ em từ VN có thể là những người đã sinh sống ở Cambodia từ lâu, có thể mới được đưa qua từ VN. Họ là những người, có thể do chính  cha mẹ vì nghèo khó mà bán con, có thể họ bị lừa gạt, dụ dỗ đi ra nước ngoài có việc làm như chạy bàn trong những quán cà phê, hay nhà hàng…sẽ kiếm được nhiều  tiền,  có thể gởi  về giúp gia đình ở VN.  Phần nhiều các thiếu nữ, trẻ em đến từ  miền Nam VN là t ừ Long An, An Giang, Kiên Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ và Thành phố Saigon…Khi qua đến Phnom Penh thì các cô gái VN bị giữ ở một khách sạn cho đến khi có khách, hay có thể họ được  chuyển đi  nhiều nước khác như Macao, Đài Loan, Thái Lan, Đại Hàn…
Giá trung bình mua một cô gái đẹp  16 tuổi hay nhỏ hơn là từ $350 – 450(mỹ kim.  Cô nào  không có nhan sắc hay lớn tuổi hơn thì giá từ $150 – 170 (mỹ kim).   Nhưng các cô  phải trả nhiều  chi phí trung gian nên còn lại chừng một nửa. Những cô gái này  thuờng cha mẹ phải ký nhận mộ
t số nợ trước khi vào nghề hay trước khi được đưa ra ngoại quốc. Mỗi khi họ đi khách, người trung gian sẽ  trừ  số tiền họ làm  vô số nợ. Thường thì cô gái  trả hoài  không hết nợ vì người  môi giới lấy rất nhiều tiền và trừ tiền ăn, tiền quần áo, thuốc men và phá thai…Cô gái  sẽ làm nghề này cho đến già, yếu  không còn hấp dẫn với khách hàng nữa.  Dần dần giá tiền đi khách  thấp xuống, mỗi lần cô gái chỉ còn  được 2-3 mỹ kim.
 Một trong những khu mãi dâm có tiếng ở Cambodia là Svay Pak, ngoại ô Phnom Penh, khu phố này có những quán bia ôm, quán Karaoke , quán cà phê, nhìn bề ngoài khó biết nhưng những tài xế Taxi có thể giới thiệu cho khách tiệm nào có nhiều gái trẻ. Gái trẻ ở đây có em chỉ mới 5 tuổi , 8 tuổi..các em bé dùng những ngôn ngữ riêng như “yum yum” là (oral sex), “boom boom” là (sex). Theo  những báo cáo từ các cơ quan điều tra  thì  bà chủ sẽ hỏi khách muốn gì, nếu muốn trẻ em thì hai em bé 6-8 tuổi  là $60(mỹ kim)… 
Khi một cô gái được tú bà mua vô,  các cô được đưa về ở một phòng ngủ địa phương chờ cho đến khi có khách thì người môi giới đưa tới. Có cô bị lừa, nếu không tiếp khách thì  bị đánh đập, nhưng các cô bị cô lập không thể thưa kiện, kêu cứu với ai được.
Những lúc sau này internet đã đưa nhiều khách làng chơi  trên thế giới đến Cambodia tìm gái tơ để tránh bệnh truyền nhiểm như AIDS, HIV.  Càng ngày  càng có nhiều người  muốn các cô gái thật trẻ, còn “trinh”. Thêm vào đó những thương gia người Nhật, Người Trung Hoa, người Đài Loan và rất nhiều người Cambodia (49%)   tin rằng ăn ngủ với gái còn trinh thì được “may mắn”, công việc làm ăn sẽ được phát đạt, và họ cũng tin là họ sẽ được  trẻ trung , nhiều khí lực hơn, vì vậy mà  nhu cầu mua gái còn "trinh” gia tăng. Nhưng vì nghèo khó nay có nhiều trẻ em  bán trinh nên giá thị trường  càng ngày càng xuống thấp.
 Thường các cô gái bán trinh là trong lứa tuổi mười ba, mười bốn. Mỗi cô được trả với giá $300-400 mỹ kim, và họ sẽ đi với khách trong một hay hai tuần ở một khách sạn nào đó  do người chủ (tú bà) chọn lựa.   Theo những thống kê thì khoảng 20% các em trong lúc hành nghề không biết gì, mê man, vì bị cho uống rượu hay cho uống thuốc.
Thường là vì nghèo cha mẹ bán trinh con…nếu trong gia đình có chị lớn hay bạn đã làm nghề mãi dâm rồi thì  dễ cám dỗ đứa trẻ trong gia đình vào nghề này. Muốn bán trinh con thì bà mẹ đi  tìm người môi giới, có thể tới quán cà phê, tiệm tắm hơi, quán Karaoke, quán bia ôm hay nhà hàng…
Một trẻ em mới mười ba mười bốn tuổi mà bị bán trinh thì  sẽ để lại một chấn thương trong đời sống thể chất cũng như tinh thần  các em. Nhưng vì Cambodia có nhiều người nghèo, họ chấp nhận đây là phương cách kiếm tiền. Có em sau khi đi khách hai ba tuần,  trở lại đời sống bình thường, tiếp tục đi học, đi bán hay giúp việc nhà. Có em thì xấu hỗ không thể trở về xóm cũ mà đi nơi khác sống,  phần đông thì  đây là bước đầu đưa các em  vào nghề mãi dâm.  
 Phần đông người Việt Nam sinh sống  ở Cambodia không có giấy tờ hợp pháp,  nên rất khó khăn xin việc  làm, đi học  cũng như xin trợ giúp xã hội,  đó cũng là một yếu tố làm cho ngưòi Việt nghèo ở Cambodia dễ đi vào con đường thương tâm này. Hiện nay có rất ít cơ quan từ  thiện giúp người Việt ở Cambodia . VOICE là một nhóm chuyên gia, sinh viên trẻ người VN ở Mỹ, Úc, Canada đang cố gắng gây quỹ  giúp đỡ người Việt ở đây. Nếu  đồng hương muốn giúp VOICE có phương tiện giúp đồng bào  mình ở Cambodia thì xin gởi ngân phiếu về
7491 Tallbert Ave. Suite 2000, Hungtington Beach, CA 92648, USA
info@vietnamvoice.org, www.Vietnamvoice.org,

 Video Clip chương trình gây quỹ này: www.youtube.com/tuyetmai45  




TRƯỜNG XUÂN – TRƯỜNG XUÂN

TRƯỜNG

    TRƯỜNG XUÂN – TRƯỜNG XUÂN                                                                          

Giao Chỉ – San Jose (#42-2009)

 
Tháng 4 năm 1975-Saigon /   “ Một con tàu ngơ ngác ra khơi ” (Nam Lộc) /   Một thuyền trưởng tuyệt vọng /   Gần 4 ngàn hành khách của định mệnh /   Cuộc hành trình không bờ bến /   Vỏn vẹn 3 ngày hải hành trôi nổi /   Hai người tự tử thủy táng /   Hai đứa trẻ ra đời / Con tàu kéo Song An, cứu tinh số 1 / Thương thuyền nhân đạo Ðan Mạch, cứu tinh số 2 /   Sau cùng, tàu Trường Xuân không chìm được kéo về Hồng Kông với thi hài của người khách cuối cùng : Ðại tá Wong A Sáng, sư đoàn 5 bộ binh /   Câu chuyện 34 năm trước được kể lại vào dịp ghi dấu 35 năm sau (1975-2010 ). /   Và giới thiệu người con gái của biển Ðông: Chiêu Anh. (Shining Light)

* * *

           

      Truong Xuan                             Captain Pham Ngoc Luy        Song An & Truong Xuan

Có con tầu nằm trên bến đỗ…

Ngày xưa tại Việt Nam gần như chỉ có 1 hãng thương thuyền hàng hải lớn nhất là Vishipcoline của chủ nhân Trần đình Trường. Hiện ông Trường là nhà tư bản có nhiều tài sản và hotel tại Nữu Ước.

Một trong các thương thuyền của hãng là tàu Trường Xuân, vị thuyền trưởng lúc đó là ông Phạm Ngọc Lũy. Ông Lũy sinh quán tại Nam Ðịnh, ra đời năm 1919. Vào tháng 5-1975 thuyền trưởng Phạm Ngọc Lũy đã có 30 năm kinh nghiệm hàng hải.

Ngày 26 tháng 4 năm 1975, Trường Xuân đã xuống hàng hoàn tất chuẩn bị chở sắt vụn đi Manila. Một chuyến đi vô thưởng vô phạt. Thuyền trưởng Phạm Ngọc Lũy lúc đó 56 tuổi, Bắc kỳ di cư, quyết không ở lại sống với cộng sản. Ông tìm đường ra đi bằng mọi giá. Ông ước mong dùng được Trường Xuân chở đồng bào tỵ nạn. Trên đống sắt vụn của Trường Xuân lần này phải là sinh mệnh của những con người. Ông cần có thủy thủ đoàn và ông cần cả hành khách. Trải qua bao nhiêu là gian nan phức tạp vào cái tuần lễ cuối cùng của cái tháng 4 đen oan nghiệt. Sau cùng tới 29 tháng 4-1975 thuyền trưởng Phạm Ngọc Lũy viết lên tàu hàng chữ định mệnh. Tàu Trường Xuân khởi hành 12 giờ trưa 30/4/75.

Lúc đó thủy thủ đoàn gần 30 người nhưng ông chỉ có vỏn vẹn 5 người. Có lẽ ông cần chừng 300 hay 400 hành khách, nhưng chưa có người nào.

Con tàu Trường Xuân ngủ yên trên bến Saigon giữa đêm 29 rạng ngày 30 tháng 4-1975.

 

Saigon hấp hối :

Tại Saigon mặt trận Long Khánh đã tan vỡ, tất cã 3 quân khu đều nằm trong tay giặc. Chỉ còn miền tây vẫn yên tĩnh. Sáu sư đoàn cộng quân 3 mặt tiến về Saigon. Các đơn vị pháo của Bắc quân đã chuẩn bị trận địa pháo vào thủ đô. Các tiền sát viên chỉ điểm cộng sản đã có mặt tại các vị trí quân sự.

Phi cơ trực thăng Hoa Kỳ đang bay di tản những phi vụ cuối cùng.

Nội các mới của Việt Nam Cộng Hòa họp bàn về việc bỏ súng và bàn giao. Ðài phát thanh Saigon chuẩn bị đọc những lời tuyên bố đau thương của tổng thống Dương văn Minh gửi người anh em phía bên kia , xin mời vào nói chuyện. Thủ tướng Vũ văn Mẫu kêu gọi người anh em đồng minh Hoa Kỳ phía bên này, xin vui lòng ra đi.

Giữa mùa hè chói chang, radio của quân đội Hoa Kỳ chơi bài Tuyết Trắng, một ám hiệu kêu gọi ra đi lúc trái gió trở trời. Ðài quân đội Việt Nam Cộng Hòa hát nhạc quân hành trong tuyệt vọng.

Ðó là Saigon của đêm 29 rạng ngày 30 tháng 4-1975. Con tầu Trường Xuân bụng đầy sắt vụn vẫn nằm ngủ yên trên bến sông Khánh Hội. Lửa bắt đầu bốc cháy bên kho đạn Thành Tuy Hạ.

 

               

    MS Clara Maersk (Denmark)                 Mother and children

Cô gái thuyền nhân trong bụng mẹ :

Cũng vào cái tuần lễ sau cùng của tháng 4 nghiệt ngã đó, có bà sản phụ vào nhà thương ngày 27/4/1975 để chuẩn bị sanh đứa con thứ hai.

Bà dược sĩ trẻ tuổi có mang 9 tháng 10 ngày. Ðứa bé sẽ ra đời bất cứ lúc nào. Bây giờ tính sao đây. Xin mổ để sanh sớm rồi chạy, hay là tìm đường chạy rồi muốn ra sao thì ra. Chợt có được giấy phép di tản bèn bỏ nhà thương vào tòa đại sứ Mỹ. Nhưng rồi máy bay không trở lại. Cộng sản vào đến cửa ngõ Saigon. Gia đình tìm đường xuống Khánh Hội. Tìm ghe chạy ra tàu Trường Xuân sáng 30 tháng 4-75. Bà bầu cùng gia đình, mẹ già, con trai nhỏ 2 tuổi leo giây lên Trường Xuân.

Gia đình bà dược sĩ Saigon, mới ra trường năm 1972 đã thành những người khách không mời của chuyến hải hành vô định trên tàu Trường Xuân, ra đi xế chiều 30 tháng 4-1975.

Ðứa bé gái hoài thai từ Saigon tự do, nhưng gan lì nằm trong bụng mẹ hay sợ súng đạn nên không chịu chào đời. Cho đến khi Trường Xuân ra đến hải phận quốc tế. Ðứa bé mới chịu ra đời. Ðó là câu chuyện 34 năm trước viết lại cho ngày kỷ niệm 35 năm sau vào tháng năm 2010.

 

Trở lại với Trường Xuân :

Vào chiều 30 tháng 4-1975, con tàu Trường Xuân sau khi đã thành lập xong 1 thủy thủ đoàn tình nguyện và có gần 4,000 hành khách ngẫu nhiên đã lên đường hết sức vất vả trong điều kiện kỹ thuật tồi tệ và bị phá hoại mọi bề.

Hành khách không vé của Trường Xuân gồm đủ tất cả hai ba thế hệ Việt Nam Cộng Hòa, mọi thành phần, mọi giai cấp, mọi hoàn cảnh. Ðủ cả ba ngành lập, hành và tư pháp. Có mặt sĩ nông công thương binh. Không hề thiếu nam phụ lão ấu. Các nghệ sĩ sáng tác và nghệ sĩ trình diễn. Chuyến hải hành vào chân trời vô định với một ông thuyền trưởng nhân đạo và hết sức kiên định. Những tay phụ tá tình nguyện rất xuất sắc và sau cùng định mệnh đã đưa 3,628 con người đi tìm tự do đến được bến tự do.

Thuyền trưởng Phạm Ngọc Lũy đã nói rằng Trường Xuân sẽ không thoát được nếu không có Song An. Song An là ai ? Ðây chỉ là tên con tàu kéo nhỏ bé đang trên đường từ Vũng Tàu về cảng Saigon. Anh già Trường Xuân đang mắc cạn bèn túm lấy đứa bé Song An đòi nó kéo. Vậy mà nó kéo được. Ra đến hải phận, cho đến lúc anh già Trường Xuân tự chạy được bác cháu mới chia tay. Lẽ dĩ nhiên câu chuyện hải hành của đêm dài 30 tháng 4-75 không giản dị như thế !

Với lửa cháy ngập trời Thành Tuy Hạ và tiếng súng đuổi theo trên sông Lòng Tào, đêm hôm đó là đêm dài nhất của cuộc đời Trường Xuân.

Khi anh già Trường Xuân từ giã cậu bé Song An trên đại dương, khách Trường Xuân góp tiền cho Song An trở về Saigon. Hai, ba bị tiền hàng chục triệu đồng Việt Nam đưa qua. Lái tàu Song An nói 1 câu kỳ diệu “ Thôi ! tiền nhiều quá, đủ rồi. Ðừng đưa nữa “.Trong đời chúng ta hiếm khi nào nghe được những lời nói đó.

Với tâm tình như vậy, tàu kéo Song An từ giã Trường Xuân. Tiếng còi tạm biệt trên trùng khơi nghe những nghẹn ngào.

Có vài hành khách bỏ Trường Xuân nhẩy theo Song An trở về Saigon. Trên 3,600 khách Trường Xuân ngó theo Song An nhỏ dần trên đường trở lại quê hương. Khóe miệng chợt thấy vị mặn. Ðây là nước biển sóng đánh bên thành tàu hay là nước mắt biệt ly.

Rồi con tàu Trường Xuân chạy 1 mình. Gần 4,000 hành khách. Không đủ nước, không có thức ăn. Máy móc trục trặc. Nước tràn vào khoang tàu. Sắt vụn vô tri dưới hầm tầu. Con người tuyệt vọng ở trên boong.

Hai người tự tử được thủy táng. Việt cộng phá hoại chỗ này. Máy tàu hư hỏng chỗ kia.

Con tàu vô định có thể sẽ là quan tài nổi. Một hỏa diệm sơn chưa nổ. Các tin tức bi quan được lệnh của thuyền trưởng phải dấu kín. Trường Xuân nín thở, ỳ ạch tiếp tục chạy. Chợt có tiếng kêu : “Có người rớt xuống biển.”

Ông thuyền trưởng Nam Ðịnh đứng im trên đài chỉ huy lặng người bất động. Nửa giờ trôi qua như 1 thế kỷ. Captain Phạm ngọc Lũy sau cùng ra lệnh quay tàu lại vớt người. Một quyết định vô vọng. Hành khách nói. Một quyết định sai lầm. Hành khách nói. Hy sinh 4,000 người để cứu 1 người là nhầm lẫn. Hành khách nói. Captain điên rồi.              

Tại sao ? Thuyền trưởng sau này trả lời. Tìm vớt 1 người để cứu 4,000 người.

Như vậy có thể hiểu rằng con tàu Trường Xuân đang là một hỏa diệm sơn sẵn sàng phun lửa nổi loạn. Hành động bình tĩnh quay tầu lại tìm 1 người là bài học nhân đạo cho mọi người và giữ cho được sự bình an của toàn thể con tàu.

Có thể Thượng Ðế trên cao đã nhìn thấy chuyện vớt người giửa biển của Trường Xuân nên đã đem lại vị cứu tinh số hai. Ðó là con tàu Ðan Mạch. Tiếng Trường Xuân kêu cứu vọng trên đại dương. Tàu Ðan Mạch trên đường viễn du hỏi rằng thế đã kêu hạm đội Mỹ chưa? Trả lời : “Có số đâu mà kêu.” Ðan Mạch thở dài. “Thôi chờ đó, chúng tôi sẽ đến tiếp tế và rước chừng 1,500 đàn bà trẻ con.”

 

Ra đời giữa trời biển mênh mông :

Trước đó vài giờ đồng hồ, sáng ngày 2/5/75, bà dược sĩ họ Bùi đau đẻ. Gần 4,000 con người phải chừa ra 1 chỗ trống cho sản phụ. Ðứa bé gái ra đời khoảng 2 giờ sáng. Con bé gốc Saigon Việt Nam, nằm trong bụng mẹ trên Trường Xuân, được kéo đi bởi Song An. Sanh ra giữa biển Ðông, Thái bình dương. Không sữa, không nước, không cơm, không cháo. Một người dúi vào tay sản phụ miếng cam thảo.

Bà nhai ra rồi lấy nước miếng bôi vào miệng con gái. Tiếng khóc chào đời vang trên biển rộng mênh mông. Một thanh niên nhấc bổng đứa bé đưa qua tàu Ðan Mạch. Bà mẹ nhìn theo bóng con vươn lên trời xanh, nước mắt một lần nữa lại như vị mặn của biển khơi.

Khai sanh của cháu đề ngày 2/5/1975 trên tàu Ðan Mạch, tên cháu là Chiêu Anh.

 

Trường Xuân: Ôi, Trường Xuân !

Như vậy là tổng cộng ba ngàn sáu trăm hai mươi tám ngưới đến bến tự do, bây giờ định cư ở bốn phương trời. Một thế hệ Trường Xuân ra đời và nối tiếp.

Thoạt tiên tất cả được đưa về tạm trú ở Hồng Kông. Nhà chức trách Hương Cảng hứa hẹn sẽ không trả về Việt Nam.

Trước khi rời con tàu, thuyền trưởng Phạm Ngọc Lũy đi thanh sát một vòng. Hình ảnh cảm động sau cùng là một người đàn ông mệt mỏi cúi xuống cõng bà mẹ già tê liệt. Trên khoang tàu mênh mông hiện chỉ còn là bãi rác. Một người đàn ông ạch đụi cõng mẹ qua tàu Ðan Mạch, quả thực là hình ảnh hết sức ngậm ngùi. Ðó là ông thiếu tá nhẩy dù Phan Huy Hoàng, sau này đưa mẹ về định cư tại Texas.

Khi vị thuyền trưởng rời tàu Trường Xuân thì nước đã tràn vào khoang máy. Vẫn còn dưới hầm, thân xác 1 ông già sẽ thủy táng theo con tàu.

Nhưng sau này được biết, khi người lên hết tàu Ðan Mạch, Trường Xuân ngập nước nhưng không chìm. Hai tháng sau được kéo về Hồng Kông, đi theo hành khách của nó.

Con rể của ông già nằm trên Trường Xuân đã nhận xác cha. Di hài vị dân biểu gốc Nùng của Việt Nam Cộng Hòa : Ðại tá Wong A Sáng của sư đoàn 5 bộ binh, một thời đồn trú tại Sông Mao. Con người và con tàu, cả hai đều làm xong nhiệm vụ cuối cùng cho hai chữ tự do.

 

 

Một thế hệ tương lai ;

Bà dược sĩ trẻ tuổi họ Bùi bây giờ định cư tại Montreal, Canada và học lại nghề cũ từ 1977. Pharmacie BUI tại Gia nã Ðại có từ ngày đó.

Ðứa bé gái Chiêu Anh ra đời giữa Thái Bình Dương tháng 5-75, hai mươi tư năm sau vẽ 1 bức tranh họa cảnh tàu Trường Xuân nộp cho trường đại học Parkson school of Design, New York. Cô được nhận vào học và tốt nghiệp danh dự với huy chương vàng về ngành sáng tạo y phục thời trang. Hiện Chiêu Anh còn độc thân và làm việc tại San Francisco Hoa Kỳ. Trong một bản văn tự thuật bằng Anh ngữ, Chiêu Anh kể chuyện mình như sau.

 “Con là Trường Xuân Baby. Từ biển cả, con là một thuyền nhân sống xót. Khi Sài Gòn thất thủ, cha mẹ chạy xuống tầu Trường Xuân của thuyền trưởng Phạm Ngọc Lũy. Trong cái đêm dài sâu thẳm, vào lúc 2 giờ sáng 2 tháng 5-75 con sanh ra đời. Ðó là giây phút của hãi hùng và hy vọng. Ðời con khởi sự vất vả. Mắt hài nhi không mở. Xương quai bị gẫy, vai bị cụp. Mẹ đói không có sữa cho con. Vị cam thảo ngọt bôi vào miệng sơ sinh vẫn còn ghi nhận cho đến ngày nay. Tầu Danish của thuyền trưởng Ðan Mạch Anton Martin Olsen đã cứu gia đình con và đưa vào nhà thương Anh Quốc tại Hồng Kông. Khai sanh của con với chứng chỉ công dân Denmark trên tầu MS Clara Maersk. Vì những giấy tờ này, tòa đại sứ Ðan Mạch lo cho cả gia đình định cư tại Canada trong 21 ngày. Con đã tiếp tục sống trong những ngày thơ ấu khó khăn vất vả như những gia đình tỵ nạn khác. Cùng với người anh hơn con 2 tuổi, chúng con cố sức học hành để xây dựng tương lai. Con xin được học bổng để theo ngành sáng tạo thời trang và tốt nghiệp 1998 với bằng danh dự tại đại học hàng đầu New York. Con bắt đầu làm việc cho các hãng thời trang nổi tiếng tại Paris, New York và San Francisco. Con đã có dịp đi đến tất cả các đô thị lớn nhỏ từ Âu châu, Á châu, Mỹ châu trong thế giới của ngành sáng tạo thời trang. Nhưng con luôn luôn nhớ rằng mãi mãi vẫn là một thuyền nhân sống xót, một Trường Xuân Baby.”

 

35 năm nhìn lại :

Kể từ tháng 4-75 cho đến tháng 4-2010 chúng ta có 35 năm nhìn lại. Mỗi năm chúng tôi sẽ chọn 1 nhân vật hay 1 sự kiện để giới thiệu.

Trên sân khấu CPA của San Jose tháng 5-2010, người đầu tiên được giới thiệu sẽ là cô Chiêu Anh, Shining Light.

Cô sẽ hiện diện với thân mẫu từ Canada, với bác thuyền trưởng Phạm ngọc Lũy 91 tuổi, với hình ảnh của Trường Xuân, của Song An, và của con tàu Ðan Mạch.

 

Khởi đầu từ năm 75 trở đi, qua 76, 77 cho đến 2009 và 2010. Lịch sử giở lại từng trang. Bi thảm, hào hùng, tuyệt vọng và hy vọng. Nhưng mở đầu vẫn là chuyến hải hành ngắn ngủi nhưng hết sức đặc thù.

 

Chuyến đi của Trường Xuân.

 

Trường Xuân, ơi Trường Xuân,    Saigon tháng 4 đen

Bốn ngàn người vượt biển,    Bỏ đất nước điêu linh.    Trên con tàu vô định

 

Trường Xuân, ơi Trường Xuân.    35 năm nhìn lại

Xem ai còn ai mất,   Lệ tuôn khắp dặm trường.    Bốn phương trời thế giới

 

Trường Xuân, ơi Trường Xuân.    Gần bốn ngàn người sống.

Với ba mạng tử vong.    2 đứa bé lọt lòng.    Giữa mênh mông trời biển

 

Trường Xuân, ơi Trường Xuân.   Một thế kỷ vừa qua…

Tương lai rồi sáng chói.    Chuyện này cần kể lại…

 

Trường Xuân, ơi Trường Xuân,    Ngàn năm còn nhớ mãi…

Giao Chỉ, San Jose

 




Duyên Lãng Hà Tiên Nhất : TẢN MẠN VỀ CHRISTMAS

TẢN MẠN VỀ CHRISTMAS

 

                                                                                                                                       

                                                         Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

 

     Christmas năm nay lạnh hơn mọi năm. Nhiều người nói thế. Mà đúng thế thật. Ngay cả những ngày có nắng, ngoài trời vẫn rét căm căm. Có khi gió thổi rát mặt. Ra đường không trùm cái mũ lên đầu là không chịu được. Mấy ngày trước lễ, sáng dậy thấy tuyết rơi phủ trắng các ngọn núi chung quanh thành phố. Tôi đi lễ chiều cho xong bổn phận rồi chạy lẹ về nhà để cố vớt vát cái sự huyền diệu của đêm Chúa ra đời với những bản nhạc xưa còn tích đầy kỷ niệm, cùng một lúc đi chu du đây đó qua màn hình của cái máy computer. Ấy thế mà lại hay. Tôi có thể thưởng thức không khí ngày lễ của rất nhiều nơi trên thế giới, từ Đông sang Tây, từ Âu đến Á. Cái lạnh da diết của mùa Giáng Sinh năm nay đã là chuyện khác thường. Sự nô nức đón mừng lễ Giáng Sinh ở khắp nơi còn là điều khác thường hơn nữa. Chuyện khác thường rõ rệt nhất lại xẩy ra ở những nơi trước đây người ta chẳng biết Christmas hay Noel là gì. Lấy cái thí dụ thực tế là Hànội, Việtnam.

 

     Dân Hànội nô nức đón mừng lễ Giáng Sinh không thua kém hay còn hơn cả Tây phương nữa. Ai không tin  cứ rà trên các mạng lưới toàn cầu thì biết. Các cửa hàng trang trí thật đẹp mắt. Cây Christmas chưng đèn sáng trưng. Người ta tấp nập mua sắm. Các nhà hàng sang trọng bầy biện cực kỳ xa hoa. Các nhà thờ 30 năm về trước vắng như cái chùa Bà Đanh, nay thấy khởi sắc hơn nhiều. Ai dám bảo VGCS là vô thần, và VN không có tự do tôn giáo? Cách đây không lâu lắm, dân Hànội nhất định không biết lễ Giáng Sinh là gì. Tôi quả quyết như thế, bởi vì chính người Hànội cho biết như thế. Ngày Christmas 1980 tôi còn nằm trong trại tù K3 Tân Lập, tỉnh Vĩnh Phú. Trong giờ giải lao ngoài đồng, chúng tôi lân la nói chuyện với tên cán bộ bảo vệ và hỏi thăm hắn về các sinh hoạt bên ngoài, nhất là về ngày lễ Chúa Giáng Sinh ở miền Bắc. Tên lính ú ớ không hiểu lễ Giáng Sinh là lễ gì. Hắn chỉ biết trong năm có các ngày tết Nguyên Đán, ngày cách mạng 19-8, ngày Độc Lập 2-9, ngày Lao Động 1-5 và ngày Mừng Công khác nhau của từng đơn vị sản xuất. Hắn còn tỏ vẻ thương hại chúng tôi và lên mặt dậy dỗ: “Bây giờ mà các anh còn tin vào Chúa nữa à, sao mà lạc hậu thế.” Hắn cho biết, hôm nay (25-12-1980) ngay ở thủ đô Hànội nơi gia đình hắn ở, mọi người đều lao động bình thường. Công nhân đến nhà máy. Nhân viên đến sở làm. Học sinh đến trường học v.v. Tóm lại là một ngày như mọi ngày.

 

     Không biết sự trở quẻ trong lãnh vực tôn giáo của bọn vô thần đáng vui hay đáng buồn. Niềm vui được tự do tôn giáo của người dân thì mới nhìn thấy được ở cái bên ngoài, còn sợi giây thắt cổ bên trong phải nhìn kỹ mới thấy được. Chẳng thế mà giáo dân cứ phải nổi lên tranh đấu hoài, hết nơi này đến nơi khác, mà cũng chẳng được cái gì. Vẻ tưng bừng của ngày Giáng Sinh tại cái xứ sở công sản này hoàn toàn không mang tinh thần tôn giáo, mà chỉ là hình thức thương mại. Vì thế khi CS cho phép người dân đón mừng lễ Giáng Sinh không có nghĩa là chúng nhìn nhận tín ngưỡng như một nhân quyền. Trái lại, chúng sử dung Chúa như một thương hiệu đắt khách để làm ăn kiếm tiền. Chỉ có thế thôi, và đấy không phải là điều đáng buồn lắm sao?

 

     Bài thánh ca quan trọng nhất trong ngày lễ Giáng Sinh là lời cầu chúc của các Thiên Thần cho nhân loại: Gloria in excelsis Deo, et in terra Pax hominibus bonae voluntatis (vinh danh Chúa trên trời, và bằng an dưới thế cho con người có lòng ngay chính). Lời cầu chúc trên bằng tiếng latinh, nhưng người Mỹ đã dịch ăn bớt, do đó ý nghĩa không được chính xác. Tiếng Mỹ dịch là: Glory to God in the highest, and peace to his people on earth (vinh danh Chúa trên trời, và bằng an cho dân của Chúa trên trái đất). Dịch một cách phiến diện như thế có lẽ không cắt nghĩa được đoạn Kinh Thánh sau đây. Chúa giảng công khai cho dân chúng thế này: “Anh em tưởng rằng Thầy đến để ban hòa bình cho trái đất sao? Thầy bảo cho anh em biết: không phải thế đâu, nhưng là đem sự chia rẽ. Vì từ nay, năm người trong cùng một nhà sẽ chia rẽ nhau, ba chống lại hai, hai chống lại ba. Họ sẽ chia rẽ nhau, cha chống lại con trai, con trai chống lại cha; mẹ chống lại con gái, con gái chống lại mẹ; mẹ chồng chống lại nàng dâu, nàng dâu chống lại mẹ chồng (Lc 12, 51-53).” Từ tiếng latinh, ta thấy các Thiên Thần chúc bình an, nhưng chỉ bình an cho những người có lòng ngay chính (hominibus bonae voluntatis) mà không phải cho bất cứ ai. Điều quan trọng là chỉ có những người có tâm thiện mới được hưởng sự bình an. Đó cũng là tâm lý tự nhiên thôi. Những con người khư khư ôm tham, sân si trong lòng chẳng bao giờ cảm thấy mình được bình an, chứ chưa nói đến được hưởng sự an bình thật. Những người luôn vơ vét làm giầu bất chính chắc chắn không bao giờ thư thái trong lòng. Những kẻ chỉ mải mê tranh dành quyền lợi càng không thể được bình an trong tâm hồn. Như thế thì lời Thiên Thần chúc quả có ý nghĩa, và Chúa nói cũng không sai. Bản tính Thiên Chúa trái nghịch với tham, sân, si của người đời, nên Ngài là nguyên nhân của xung đột, hay nói cách khác, Ngài đem đến sự chia rẽ, và sự an bình của trời cao như Thiên Thần cầu chúc chỉ có tác dụng đối với những con người ngay thẳng.

 

     Cái thảm họa của nhân loại thiếu công chính thể hiện rõ rệt nơi Chúa sinh ra là sự xung đột giữa Israel và Palestine . Hiện nay sự xung đột đó còn đang có cơ nổ bùng giữa khối người Hồi Giáo quá khích với các quốc gia theo Thiên Chúa Giáo phương Tây. Những việc Thiên Chúa an bài theo thượng trí của Ngài con người không thể hiểu được. Nhưng cứ theo cách suy nghĩ thiển cận của con người thì việc Chúa chọn sinh ra làm người Do Thái quả là một sai lầm lớn. Thứ nhất, giả như Chúa sinh ra làm một người dân tộc nào đó, ở Phi Châu chẳng hạn, thì có lẽ đã tránh được tình trạng phân hóa chủng tộc tại phần đất Trung Đông vốn dĩ đã phân hóa về vấn đề chủng tộc xưa kia, và càng ngày sự phân hóa càng trầm trọng thêm kể từ ngày Chúa ra đời. Giả sử nếu Chúa là người Congo chẳng hạn, thì người Hồi Giáo và Thiên Chúa Giáo không có lý do gì để sinh chuyện với nhau. Thứ hai, chủng tộc Do Thái có cái gì hay ho đâu, ngoại trừ chỉ số IQ của họ cao hơn so với nhiều sắc dân khác. Lịch sử Do Thái cho thấy ngay từ thời lập quốc, dân tộc này là một giống dân chẳng ra gì.

  Hèn nhát:    ngay như chính ông tổDo Thái,  thà nói láo chịu mất vợ để tự cứu mạng còn hơn là bảo vệ vợ mình.

 Vô luân:      loạn luân giữa cha ruột và con gái.

  Không có tình cảm gia đình:    trong nhà ruột thịt mưu giết nhau. Anh em bán nhau cho bọn buôn nô lệ nước ngoài v.v.

  Phản bội:   Moise cứu dân khỏi làm nô lệ Ai Cập, nhưng dân vẫn nổi lên chống lại ông.

  Tệ hơn hết là không có tinh thần dân tộc:    Khi Chúa bị bắt và bị nộp cho tổng trấn Pilate. Trước nghị trường, dân chúng đòi giết Chúa. Pilate nói với dân: “Chẳng lẽ ta lại đóng đinh vua (Chúa Giêsu) của các người sao?” Họ đáp: “Chúng tôi không có vua nào cả, ngoài Caesar.” (Caezar là hoàng đế La Mã, quốc gia thống trị Do Thái vào lúc đó, ghi chú của người viết). Chỉ một câu trả lời như trên với viên toàn quyền đại diện quốc gia xâm lược đủ nói lên tinh thần nô lệ của người Do Thái. Họ thà chấp nhân thân phận nô lệ hơn là một cách nào đó phô bầy ý chí độc lập tự chủ của mình.

 

     Khi mất nước và bị phân tán, người Do Thái đi đến đâu cũng chuyên lo vơ vét làm giầu và gây họa cho dân địa phương đến đó. Nhìn vào những chuyện chung quanh đây thôi, chúng ta thấy rõ. Chẳng hạn hai tập đoàn tư bản ngành ngân hàng và ngành truyền thông Mỹ gốc Do Thái, họ lũng đoạn nước Mỹ đến cỡ nào.

  Chuyện ngày trước:   Nếu không có tên Do Thái Kissinger đẻ ra chính sách tháo chạy tại khỏi Đông Đương để bắt tay với Trung Cộng, và nếu bọn truyền thông bất lương Mỹ gốc Do Thái không cổ võ và thổi phong trào phản chiến lên, thì chúng ta đâu có đến nỗi phải trở thành người dân bị mất nước?

  Chuyện hiện nay:   Sự việc không thể chối cãi là nếu bọn truyền thông Do Thái bất lương không ra mặt thiên vị và thổi Obama lên quá đáng thì liệu ông ta có khả năng vào nổi tòa Bạch Ốc và ngồi lên cái ghế tổng thống không? Bọn tư bản Do Thái nhất định đưa Obama lên làm tổng thống để làm gì? Có thể đây là đòn “Hồi mã thương” (giả bộ thua chạy rồi quay dáo lại giết địch thủ). Ở đây, tôi không phê phán các chính sách của ông Obama, tốt hay xấu, thành công hay thất bại, cũng không kỳ thị ông là người da đen, mà chỉ nêu lên điểm nghi ngờ về thân thế của ông. Ông Obama có đủ điều kiện luật định để trở thành Tổng thống của nước Mỹ không, đó là điều dư luận Mỹ đang đặt ra. Hiến Pháp Mỹ bắt buộc làm Tổng Thống phải là người đương nhiên là công dân Mỹ lúc sinh ra (natural born citizen). Để chứng minh là natural born citizen, ông Obama phải có tờ giấy khai sanh (long form birth certificate). Cho đến nay đã có trên 9 triệu người Mỹ nạp thỉnh nguyên thư (gọi là Pink Slip) lên Quốc Hội để đòi ông Obama xuất trình giấy khai sanh của ông, nhưng Tòa Bạch Ốc lươn lẹo, chỉ xuất trình giấy chứng nhận khai sanh (Certification of birth) mà thôi. Tại sao thì đấy là câu hỏi rất nhiều người đặt ra mà không thấy ai trả lời. Bọn truyền thông gốc Do Thái im thin thít về chuyện này. Thử tượng tượng thế này, nếu một ngày nào đó người ta khám phá ra ông Obama không phải là một người Mỹ natural born citizen, thì chuyện gì sẽ xẩy ra? Có phải tất cả mọi đạo luật, sắc lệnh, hay gì gì đó một ông Tổng Thống illegal ký đều không có giá trị và vô hiệu lực không? Chuyện này nếu là thật thì nước Mỹ sẽ đi về đâu? Nếu ông Obama là một natural born citizen thì chuyện không có gì đáng nói. Nhưng nếu không thì ai là người mang trách nhiệm nhiều nhất đưa ông Obama và Tòa Bạch Ốc, nếu không phải là bọn truyền thông bất lương tả phái Do Thái?

 

     Một dân tộc đáng ghê tởm như thế mà được Chúa chọn làm dân riêng của Ngài. Có mà Trời hiểu. Nước Do Thái đã bị xóa tên trên bản đồ thế giới hơn hai ngàn năm trăm năm rồi, thế mà các nước phương Tây còn xúm nhau lại phục quốc cho nó. Đây lại là một chuyện lạ nữa. Biết bao nhiêu quốc gia đã bị xóa tên trên bản đồ: Chiêm Thành, Chân Lạp, Tấn, Sở, Tề, Yên v.v. Tại sao thế giới không phục quốc cho họ? Người ta bảo đó là Chúa muốn, sấm ký của các Tiên Tri gần 26 thế kỷ trước đã nói như thế. Hai tác giả Dr John Ankerberg và Dr Jimmy DeYoung trong cuốn Israel Under Fire đã trích dẫn lời tiên tri như sau: “God told the prophet Ezekiel in 570 B.C. what He will do in the future (Ezekiel 37: 21-22 NASB):

1. He “will take the sons of Israel from among the nations where they have gone.”

2. He “will gather them from every side and bring them into their own land.”

3. He “ will make them one nation in the land.”

Và các ông khẳng định: “wenty five hundred years later, there can be no doubt that these three prophecies have come true in our generation.”

 (tạm dịch: Năm 570 trước công nguyên, Chúa nói với tiên tri Ezekiel về những điều Ngài sẽ làm trong tương lai:

1. Ngài sẽ đưa về các con cái Israel từ những dân tộc mà chúng đã đến.

2. Ngài sẽ tập hợp chúng lại từ mọi phía và đem chúng về đất riêng của chúng.

3. Ngài sẽ biến chúng thành một dân tộc trên mảnh đất này.

     2500 năm sau, không còn hồ nghi được là 3 lời tiên tri trên nay đã thành hiện thực trong đời chúng ta.)

 

     Hai tác giả cũng còn nêu lời tiên tri khác nữa để dẫn chứng: “I will bring them back to this place ( Jerusalem ) and let them live in safety” (Jeremiah 32: 37) (Ta sẽ đem chúng về Jerusalem để cho chúng được sống trong an bình.)

 

     Những bằng chứng về sự phục quốc Israel mà hai tác giả John và Jimmy trích dẫn đều là lời của các tiên tri từ trong Cựu Ước. Lời tiên tri Do Thái cũng đại loại giống như Sấm Trạng Trình của Việt Nam . Người VN tin sấm Trạng Trình và người Do Thái tin sách tiên tri của họ. Biết tường tận sự việc theo như lời sấm nói trước khi nó xẩy ra lại là chuyện khác, khó lắm. Dân Do Thái bị lưu đầy nhiều lần và cũng đã trở về gầy dựng lại đất nước nhiều lần trước đây, một lần từ Ai Cập, và một lần nữa từ Babylon (thành phố cựu thủ đô của xứ Babylonia, khoảng 55 miles S. Baghdad hiện nay). Vấn đề đặt ra là một dân tộc mà tính tình thì tham lam và phản bội, xử sự lại nham hiểm và tàn nhẫn, trước một đối thủ nuôi đầy thù hận và sắt máu vây quanh, liệu đất nước Do Thái có thể sống an bình được sau khi tái lập như lời tiên tri cho biết không? Câu trả lời có lẽ ở ngay trong biến cố Giáng Sinh: nếu mọi người đều có cái tâm ngay chính thì an bình sẽ được như lời Thiên Thần chúc. Trái lại, nếu ai nấy cứ giữ mãi cái tâm man trá thì Chúa đến, Ngài mang đến sự chia rẽ và thanh gươm chứ không phải sự bình an, hoan lạc.

 

      Christmas 2009

Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất