Tượng nhà Bác Ngữ Học Petrus Trương Vĩnh Ký
Phạm Thế Trung Sculptor
TƯỢNG nhà Bác Ngữ Học Petrus Trương Vĩnh Ký bản chánh bằng thạch cao trên giai đoạn hoàn tất cao 7f rưỡi và sẽ đưa vào hãng đúc đồng vào tuần lễ đầu tháng 11.2017

TƯỢNG nhà Bác Ngữ Học Petrus Trương Vĩnh Ký bản chánh bằng thạch cao trên giai đoạn hoàn tất cao 7f rưỡi và sẽ đưa vào hãng đúc đồng vào tuần lễ đầu tháng 11.2017

Văn Quang
Viết từ Sài Gòn

Thật ra 99.9% ca khúc “bất hủ” của Trịnh Công Sơn được sáng tác vào thời trước 75 ở Sài Gòn và Huế. Cho nên ngày nay khi người ta “vinh danh” Trịnh Công Sơn chính là vinh danh nền văn hóa của Miền Nam VN vào thời trước 75.
Bây giờ là mùa thu ở Sài Gòn và cũng là mùa lá rụng ở Rừng Phong trên đất Mỹ. Buổi chiều ngồi trong căn chung cư nhỏ hẹp nghèo nàn nhìn mưa dăng nhẹ ngoài khung trời ngoài kia, tôi bỗng muốn thoát khỏi mình trở lại sống với những ngày xưa. Những ngày xưa có bạn bè, có mộng ước xa vời, có yêu thương giận hờn, có quá nhiều thứ như ở một thế giới khác.
Tôi ngồi vào computer đi tìm dĩ vãng. Gõ bàn phím vào những bài hát về Mùa Thu, bỗng hiện ra đầy đủ cả lời ca tiếng hát, những cuốn phim xưa, những danh ca tài tử đi mãi vào lòng người, đi mãi vào bất tận trong ký ức. Tôi bay bổng vào đó để gặp lại những người tôi đã từng quen, đã từng là bạn, đã từng kề vai nhau một thời xa vắng. Ở đây, tôi chỉ gặp những người đã từng có mặt trên các sân khấu ca nhạc và trong những cuốn phim đã từng chiếu ở VN trước năm 1975, gọi chung là những người trong “làng giải trí” mà tôi đã quen hay đã từng coi nhau như bạn bè.
14 giờ ngày 25.6.1962, danh ca Dalida đến phi trường Tân Sơn Nhất bằng máy bay phản lực của Hãng Air France. Không rõ từ nguồn tin nào, các fan đã có mặt đón tiếp nồng nhiệt “giữa tiếng vỗ tay đượm nhiều thân ái”.
Tuần báo Kịch ảnh số 18 phát hành ngày 30.6.1962 cho biết thêm: “Dalida cao chừng 1,65 m, mặc bộ đồ xanh giản dị, đôi bông tai lớn kiểu Y Pha Nho nổi bật trên nền tóc hung đỏ bới cao. Cặp mắt màu nước biển và đôi môi son lợt đều ngời sáng”. Đáng chú ý, chuyến đi này, ngoài 4 nhạc công, còn có cả chàng họa sĩ đẹp trai Jean Sobieski mới 25 tuổi, người gốc Ba Lan nhưng sinh tại Pháp, chưa nổi tiếng gì. Cả hai cặp kè như hình với bóng. Họ có mối quan hệ thế nào? Thiên hạ tha hồ đồn đoán bởi trước đó, ngày 25.4.1961, Dalida đã ly dị chồng là Lucien Morisse.
Ngay chiều tối hôm đón Dalida quay lại Sài Gòn, ông L’Épine – đại diện khách sạn Caravelle, đã mời Ban Biên tập báo Kịch ảnh, gồm nhà báo Quốc Phong, nhà văn Mai Thảo và đạo diễn Hoàng Anh Tuấn đến khách sạn nhằm mục đích “nghệ sĩ gặp nghệ sĩ” có tính cách “trong nhà với nhau”.
Từ sân bay, Dalida cùng Sobieski về đến khách sạn Caravelle lúc 20 giờ, niềm nở mời mọi người lên phòng riêng số 606 ở lầu 6. “Bây giờ các anh đang ở trong nhà của tôi, tôi là chủ nhà, nay, các anh có thể tự tiện vì chủ nhà Dalida rất quý khách”, cô nói. Trong lúc trò chuyện, cô cho biết dù đã chia tay Lucien Morisse, không còn là vợ chồng nhưng là “hai người bạn thân nhau nhất trên đời”. Chuyện ly dị của họ xem ra cũng “ngớ ngẩn” lắm: sau 5 năm yêu nhau, họ chính thức kết hôn tại Tòa hành chính Quận 13 Paris, nhưng chỉ sau 3 tháng, do chồng bận việc, một mình Dalida đi Côte d’Azur biểu diễn. Tại đây, cô đã gặp Sobieski trong một hộp đêm và “tiếng sét ái tình” đã nổ ra. Biết chuyện, Lucien Morisse chủ động đề nghị ly dị. Dalida “phải lòng” Sobieski cũng rất lạ đời. “Trong khi mọi người xem Dalida là nhân vật quan trọng, một minh tinh ghê gớm thì Sobieski chỉ đặt nàng vào địa vị người mà chàng yêu”, đạo diễn Hoàng Anh Tuấn nhận định.

Nhà báo Quốc Phong hỏi: “Dalida cho biết bí mật thành công của cô, để tôi nói lại cho các ca sĩ Vietnam nghe”. Dalida trả lời: “Bí quyết gồm 2 điểm: luyện giọng và gặp dịp may. Con số đem lại may mắn cho tôi là 421”. Tại sao? Cô giải thích: “Tháng 4.1956, tôi đến hát thử cho Bruno Coquatrix – Giám đốc Nhà hát tạp kỹ Olympia và ban giám khảo nghe. Lúc đó, Eddie Barclay – nhà sản xuất băng đĩa, Lucien Morisse – Giám đốc điều hành Đài Europe 1 đang nhậu nhẹt trong một quán cà phê trên đường Caumartin, gần Olympia. Bruno lôi họ đến nghe tôi hát cho vui nhưng họ không chịu. Cuối cùng, Bruno đánh cá nếu họ thua Bruno trong một ván gieo xúc xắc kiểu 421 thì phải tới nghe; bằng không, Bruno sẽ đãi thêm một chầu rượu nữa. Bruno thắng. Cả hai phải đến nghe, khi tôi ca bản L’Étranger au paradis, họ chịu liền. Thế là một “vị” chọn bài hát, còn một “vị” thâu đĩa. Nhờ những đĩa hát của Eddie Barclay mà tôi nổi tiếng”.
Dalida (1933 – 1987) tên thật là Yolanda Cristina Gigliotti sinh tại Ai Cập trong gia đình gốc Ý. Năm 1954, Dalida đoạt giải Hoa hậu Ai Cập và đến Paris thử “thời vận” bằng nghề ca hát trong các phòng trà Villa d’Este và Drap d’Or. Rồi sau đó, cô cực kỳ nổi tiếng cả thế giới với hàng loạt ca khúc: Besame Mucho, Bambino, Histoire d’un amour, Paroles… Paroles… đoạt vô số giải thưởng âm nhạc. Dalida có thể hát bằng rất nhiều thứ tiếng, không chỉ tiếng Pháp, Ý và còn cả tiếng Đức, Ả Rập, thậm chí là tiếng Nhật. Tổng cộng hơn 125 triệu đĩa hát của Dalida đã được bán ra trên toàn thế giới trong đó Bambino đã trở thành đĩa bạch kim vào năm 1964 và đĩa kim cương năm 1981. Cô cũng tham gia rất nhiều phim: Parlez-moi d’amour, Ménage à L’Italienne, Comme sur des roulettes…
Những ngày tại Sài Gòn, Dalida đã thực hiện 4 chương trình “dạ hội” chủ đề: “Tất cả cái đẹp trong cái mới”, diễn ra tại rạp Rex và khách sạn Caravelle. Trong buổi diễn đầu tiên tại rạp Rex, với giá vé là 250 đồng/chiếc, ký giả của báo Kịch ảnh đã đến thưởng thức, sau đó, có bài tường thuật trên báo Kịch ảnh số 19 ra ngày 7.7.1962: “Dalida mặc cái “robe” rất giản dị màu hoa cà, tóc để xõa và không có món trang sức nào cả. Với dàn nhạc 5 người, suốt 13 bài liền Dalida đã chiếm trọn lòng tôi, nắm lấy con tim tôi và dìu tôi đến những bến bờ rung cảm mới lạ… Khán giả vỗ tay tán thưởng, Dalida lại trở ra, cười rất tươi và gửi đến tất cả một nụ hôn gió thật duyên dáng. Không một phút trống, Dalida lại tiếp tục hát luôn 5 bài nữa, trong số có bài Parlez-moi d’amour quen biết. Dalida đã thấm mệt nhưng không vì thế mà kém phần linh động và không “hết mình” cho khán giả. Hát hết bài, Dalida chạy vào hậu đài rồi lại chạy ra cười, hôn gió gửi chúng tôi, rồi chắp tay xá, rồi cười, rồi lại hát nữa. Không nói mà thật ý nhị, thật thiện cảm. Dành bản nhạc Bambino quen biết để kết thúc, Dalida đã làm hài lòng tất cả mọi người. Ngay sau đó, đại diện Hội Hồng Thập tự lên nói lời cảm ơn, ca sĩ Thanh Lan cũng xuất hiện với bó hoa tươi thắm tặng Dalida. Tấm màn nhung buông xuống giữa lúc pháo tay nổ ran, nổ mãi không thôi. Bất ngờ, màn lại kéo lên, Dalida lại trở ra, hát thêm bài Les Gitans rất hay”.
Dù chỉ đến biểu diễn tại Sài Gòn một lần, nhưng Dalida đã chinh phục được tình cảm của công chúng, tất nhiên do tài năng, ngoài ra còn gì nữa? Đạo diễn Hoàng Anh Tuấn cùng nhà văn Mai Thảo dạy cô tập phát âm tiếng Việt để có thể thưa gửi với mọi người bằng tiếng Việt đã kể lại: “Nhìn Dalida chăm chú theo dõi, đoạn tròn miệng đọc lại những tiếng có, không, cám ơn, chào mạnh giỏi… người ta thấy toát ra một khía cạnh đẹp đẽ nữa của tâm hồn Dalida. Cái khía cạnh chân thực, tha thiết và nồng nàn, cộng với một niềm vui sống tràn đầy và một bản chất hồn nhiên, cởi mở của Dalida, tạo thành bí quyết thành công rực rỡ. Điều mà người ta nhận thấy – và điều này là châu báu quý giá nhất của Dalida, còn quý giá hơn cả tiếng hát của nàng – là danh vọng không hề đổi khác con người Dalida, danh vọng không đẩy nữ danh ca quốc tế này vào một cái thứ tháp ngà kiêu hãnh, là cái mặt trái đáng ghét thường thấy ở phần lớn những nghệ sĩ được đông đảo quần chúng ái mộ. Ở điểm này, Dalida xứng đáng là Dalida, xứng đáng với cái phong thái, cái tư cách, cái thái độ phải có của một danh ca quốc tế”.
Thêm một điều lý thú cũng ít ai ngờ là bấy giờ, người Sài Gòn đã rất nhanh nhạy nhằm đáp ứng nhu cầu ái mộ của công chúng bằng dịch vụ: “Ai muốn có lưu bút kỷ niệm của Dalida trên đĩa hát hay hình ảnh, có thể tới tiệm Alpha Radio, 157 đường Tự Do, Sài Gòn từ 16 – 18 giờ ngày 3.7.1962”.
Về sự kiện, nữ danh ca Dalida – người đã từng được thành phố Paris lấy tên đặt cho một quảng trường gần nhà, đã đến Sài Gòn trong thập niên 1960, khi lướt web, tôi còn tìm thấy một vài hình ảnh ghi lại khoảnh khắc đó. Với tôi, thú vị vẫn là bức cô điều khiển chiếc xe bò, ngồi cạnh một nông dân miền Nam, chụp tại Gò Vấp, Sài Gòn.

Dalida điều khiển xe bò tại Gò Vấp, Sài Gòn
Với nhiều người bản xứ , hình như dư âm của cuộc chiến tranh Việt Nam vẫn còn nên văn chương và văn hóa Việt nam được đặc biệt chú ý.
Tôi có một người bạn cùng lớp Creating & Writing học viết văn người Mỹ gốc Ý rất thích thú với văn chương Việt Nam. Một bữa anh khoe với tôi tuyển tập “Việt Nam: A traveler’ s literary companion” do John Balaban và Nguyễn Quý Đức chủ biên và rất đặc biệt chú ý tới nhà văn Doãn Quốc Sỹ với truyện ngắn “The Stranded Fish” ( Con cá mắc cạn). Anh còn khoe đã được dự một cuộc seminar với hai giáo sư Doãn Quốc Sỹ và Lê Hữu Mục tháng 6 năm 1999 tại University St Thomas ở Houston với đề tài “ Living Two Cultures: A conference for Vietnamese – Americans”. Và anh hỏi tôi một câu: Bạn nghĩ thế nào về nhà văn Doãn Quốc Sỹ. Nhà văn? Nhà giáo? Một người hoạt động chính trị? Hay một người yêu nước bị chế độ đương thời đầy ải khi ở trong nước? Và một nhà văn luôn hướng về tương lai ở hải ngoại …

Hữu Loan
Tôi sinh ra trong một gia đình nghèo, hồi nhỏ không có cơ may cắp sách đến trường như bọn trẻ cùng trang lứa, chỉ được cha dạy cho dăm chữ bữa có bữa không ở nhà. Cha tôi tuy là tá điền nhưng tư chất lại thông minh hơn người. Lên trung học, theo ban thành chung tôi cũng học tại Thanh Hóa, không có tiền ra Huế hoặc Hà Nội học. Đến năm 1938 – lúc đó tôi cũng đã 22 tuổi – Tôi ra Hà Nội thi tú tài, để chứng tỏ rằng con nhà nghèo cũng thi đỗ đạt như ai. Tuyệt nhiên tôi không có ý định dấn thân vào chốn quan trường. Ai cũng biết thi tú tài thời Pháp rất khó khăn. Số người đậu trong kỳ thi đó rất hiếm, hiếm đến nỗi 5-6 chục năm sau những người cùng thời còn nhớ tên những người đậu khóa ấy, trong đó có Nguyễn Đình Thi , Hồ Trọng Gin, Trịnh văn Xuấn , Đỗ Thiện và …tôi – Nguyễn Hữu Loan.
Với mảnh tú tài Tây trong tay, tôi rời quê nhà lên Thanh Hóa để dạy học. Nhãn mác con nhà nghèo học giỏi của tôi được bà tham Kỳ chú ý, mời về nhà dạy cho hai cậu con trai. Tên thật của bà tham Kỳ là Đái thị Ngọc Chất, bà là vợ của của ông Lê Đỗ Kỳ, tổng thanh tra canh nông Đông Dương, sau này đắc cử dân biểu quốc hội khóa đầu tiên. Ở Thanh Hóa, Bà tham Kỳ có một cửa hàng bán vải và sách báo, tôi thường ghé lại xem và mua sách, nhờ vậy mới được bà để mắt tới.Bà tham Kỳ là một người hiền lành, tốt bụng, đối xử với tôi rất tốt, coi tôi chẳng khác như người nhà.
Nhớ ngày đầu tiên tôi khoác áo gia sư, bà gọi mãi đứa con gái – lúc đó mới 8 tuổi- mới chịu lỏn lẻn bước ra khoanh tay, miệng lí nhí: ” Em chào thầy ạ!” Chào xong, cô bé bất ngờ mở to đôi mắt nhìn thẳng vào tôi. Đôi mắt to, đen láy, tròn xoe như có ánh chớp ấy đã hằn sâu vào tâm trí tôi, theo tôi suốt cả cuộc đời. Thế là tôi dạy em đọc, dạy viết. Tên em là Lê Đỗ Thị Ninh, cha làm thanh tra nông lâm ở Sài Gòn nên sinh em trong ấy, quen gọi mẹ bằng má. Em thật thông minh, dạy đâu hiểu đấy nhưng ít nói và mỗi khi mở miệng thì cứ y như một “bà cụ non”. Đặc biệt em chăm sóc tôi hằng ngày một cách kín đáo: em đặt vào góc mâm cơm chổ tôi ngồi ăn cơm lúc thì vài quả ớt đỏ au, lúc thì quả chanh mọng nước em vừa hái ở vườn, những buổi trưa hè, nhằm lúc tôi ngủ trưa, em lén lấy áo sơ mi trắng tôi treo ở góc nhà mang ra giếng giặt …..
Có lần tôi kể chuyện ” bà cụ non” ít nói cho hai người anh của em Ninh nghe, không ngờ chuyện đến tai em, thế là em giận! Suốt một tuần liền, em nằm lì trong buồng trong, không chịu học hành… Một hôm bà tham Kỳ dẫn tôi vào phòng nơi em đang nằm thiếp đi. Hôm ấy tôi đã nói gì, tôi không nhớ nữa, chỉ nhớ là tôi đã nói rất nhiều, đã kể chuyện em nghe, rồi tôi đọc thơ… Trưa hôm ấy, em ngồi dậy ăn một bát to cháo gà và bước ra khỏi căn buồng. Chiều hôm sau, em nằng nặc đòi tôi đưa lên khu rừng thông. Cả nhà không ai đồng ý: “Mới ốm dậy còn yếu lắm, không đi được đâu” Em không chịu nhất định đòi đi cho bằng được. Sợ em lại dỗi nên tôi đánh bạo xin phép ông bà tham Kỳ đưa em lên núi chơi …..Xe kéo chừng một giờ mới tới được chân đồi. Em leo đồi nhanh như một con sóc, tôi đuổi theo muốn đứt hơi. Lên đến đỉnh đồi, em ngồi xuống và bảo tôi ngồi xuống bên em.Chúng tôi ngồi thế một hồi lâu, chẳng nói gì. Bất chợt em nhìn tôi, rồi ngước mắt nhìn ra tận chân trời, không biết lúc đó em nghĩ gì. Bất chợt em hỏi tôi:- Thầy có thích ăn sim không ?- Tôi nhìn xuống sườn đồi: tím ngắt một màu sim. Em đứng lên đi xuống sườn đồi, còn tôi vì mệt quá nên nằm thiếp đi trên thảm cỏ …
Khi tôi tỉnh dậy, em đã ngồi bên tôi với chiếc nón đầy ắp sim. Những quả sim đen láy chín mọng.- Thầy ăn đi.Tôi cầm quả sim từ tay em đưa lên miệng trầm trồ:-Ngọt quá.Như đã nói, tôi sinh ra trong một gia đình nông dân, quả sim đối với tôi chẳng lạ lẫm gì, nhưng thú thật tôi chưa bao giờ ăn những quả sim ngọt đến thế! Cứ thế, chúng tôi ăn hết qủa này đến qủa khác. Tôi nhìn em, em cười. Hai hàm răng em đỏ tím, đôi môi em cũng đỏ tím, hai bên má thì….tím đỏ một màu sim. Tôi cười phá lên, em cũng cười theo! Cuối mùa đông năm ấy, bất chấp những lời can ngăn, hứa hẹn can thiệp của ông bà tham Kỳ, tôi lên đường theo kháng chiến. Hôm tiễn tôi, em theo mãi ra tận đầu làng và lặng lẽ đứng nhìn theo. Tôi đi… lên tới bờ đê, nhìn xuống đầu làng ,em vẫn đứng đó nhỏ bé và mong manh. Em giơ bàn tay nhỏ xíu như chiếc lá sim ra vẫy tôi. Tôi vẫy trả và lầm lũi đi…Tôi quay đầu nhìn lại… em vẫn đứng yên đó … Tôi lại đi và nhìn lại đến khi không còn nhìn thấy em nữa.
Những năm tháng ở chiến khu, thỉnh thoảng tôi vẫn được tin tức từ quê lên, cho biết em vẫn khỏe và đã khôn lớn. Sau này, nghe bạn bè kể lại, khi em mới 15 tuổi đã có nhiều chàng trai đên ngỏ lời cầu hôn nhưng em cứ trốn trong buồng, không chịu ra tiếp ai bao giờ …
Chín năm sau, tôi trở lại nhà…Về Nông Cống tìm em. Hôm gặp em ở đầu làng, tôi hỏi em , hỏi rất nhiều, nhưng em không nói gì, chỉ bẽn lẽn lắc hoặc gật đầu. Em giờ đây không còn cô học trò Ninh bướng bỉnh nữa rồi. Em đã gần 17 tuổi, đã là một cô gái xinh đẹp….Yêu nhau lắm nhưng tôi vẫn lo sợ vì hai gia đình không môn đăng hộ đối một chút nào. Mãi sau này mới biết việc hợp hôn của chúng tôi thành công là do bố mẹ em ngấm ngầm ” soạn kịch bản”.
Một tuần sau đó chúng tôi kết hôn. Tôi bàn việc may áo cưới thì em gạt đi, không đòi may áo cưới trong ngày hợp hôn, bảo rằng là: ” yêu nhau, thương nhau cốt là cái tâm và cái tình bền chặt là hơn cả”. Tôi cao ráo, học giỏi, Làm thơ hay…lại đẹp trai nên em thường gọi đùa là anh chồng độc đáo. Đám cưới được tổ chức ở ấp Thị Long, huyện Nông Công, tỉnh Thanh Hóa của gia đình em, nơi ông Lê Đỗ Kỳ có hàng trăm mẫu ruộng. Đám cưới rất đơn sơ, nhưng khỏi nói, hai chúng tôi hạnh phúc hơn bao giờ hết! Hai tuần phép của tôi trôi qua thật nhanh, tôi phải tức tốc lên đường hành quân, theo sư đoàn 304, làm chủ bút tờ Chiến Sĩ.
Hôm tiễn tôi lên đường, em vẫn đứng ở đầu làng, nơi chín năm trước em đã đứng. Chỉ có giờ em không còn cô bé Ninh nữa mà là người bạn đời yêu quý của tôi. Tôi bước đi, rồi quay đầu nhìn lại…..Nếu như chín năm về trước, nhìn lại chỉ thấy một nỗi buồn man mác thì lần này, tôi thật sự đau buồn. Đôi chân tôi như muốn khuỵu xuống. Ba tháng sau, tôi nhận được tin dữ: vợ tôi qua đời! Em chết thật thảm thương: Hôm đó là ngày 25 tháng 5 âm lịch năm 1948, em đưa quần áo ra giặt ngoài sông Chuồn (thuộc ấp Thị Long, Nông Cống), vì muốn chụp lại tấm áo bị nước cuốn trôi đi nên trượt chân chết đuối! Con nước lớn đã cuốn em vào lòng nó, cướp đi của tôi người bạn lòng tri kỷ, để lại tôi tôi nỗi đau không gì bù đắp nỗi. Nỗi đau ấy, gần 60 năm qua, vẫn nằm sâu thẳm trong trái tim tôi.Tôi phải giấu kín nỗi đau trong lòng, không được cho đồng đội biết để tránh ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu của họ. Tôi như một cái xác không hồn …
Dường như càng kềm nén thì nỗi đau càng dữ dội hơn. May sao, sau đó có đợt chỉnh huấn, cấp trên bảo ai có tâm sự gì cứ nói ra, nói cho hết. Chỉ chờ có thế, cơn đau trong lòng tôi được bung ra. Khi ấy chúng tôi đang đóng quân ở Nghệ An, tôi ngồi lặng đi ở đầu làng, hai mắt tôi đẫm nước, tôi lấy bút ra ghi chép. Chẳng cần phải suy nghĩ gì, những câu những chữ mộc mạc cứ trào ra: “Nhà nàng có ba người anh đi bộ đội… Những em nàng có em chưa biết nói. Khi tóc nàng đang xanh…” Tôi về không gặp nàng…Về viếng mộ nàng, tôi dùng chiếc bình hoa ngày cưới làm bình hương, viết lại bài thơ vào chiếc quạt giấy để lại cho người bạn ở Thanh Hóa… Anh bạn này đã chép lại và truyền tay nhau trong suốt những năm chiến tranh.
Đó là bài thơ Màu Tím Hoa Sim. Đến đây, chắc bạn biết tôi là Hữu Loan, Nguyễn Hữu Loan, sinh ngày 2-4-1916 hiện tại đang “ở nhà trông vườn” ở làng Nguyên Hoàn – nơi tôi gọi là chỗ “quê đẻ của tôi đấy” thuộc xã Mai Lĩnh, huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa. Em Ninh rất ưa mặc áo màu tím hoa sim. Lạ thay nơi em bị nước cuốn trôi dưới chân núi Nưa cũng thường nở đầy những bông hoa sim tím. Cho nên tôi viết mới nổi những câu : “Chiều hành quân, qua những đồi sim… Những đồi sim, những đồi hoa sim.. Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết.. Màu tím hoa sim, tím cả chiều hoang biền biệt…Và chiều hoang tím có chiều hoang biết…Chiều hoang tim tím thêm màu da diết.”
Mất nàng, mất tất cả, tôi chán đời, chán kháng chiến, bỏ đồng đội, từ giã văn đàn về quê làm ruộng, một phần cũng vì tính tôi” hay cãi, thích chống đối, không thể làm gì trái với suy nghĩ của tôi”. Bọn họ chê tôi ủy mị, hoạch hoẹ đủ điều, không chấp nhận đơn từ bỏ kháng chiến của tôi. Mặc kệ! Tôi thương tôi, tôi nhớ hoa sim của tôi quá! Với lại tôi cũng chán ngấy bọn họ quá rồi!
Đó là thời năm 1955 – 1956, khi phong trào văn nghệ sĩ bùng lên với sự xuất hiện của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm chống chính sách độc tài, đồng thời chống những kẻ bồi bút đan tâm lừa thầy phản bạn, dốc tâm ca ngợi cái này cái nọ để kiếm chút cơm thừa canh cạn. Làm thơ thì phải có cái tâm thật thiêng liêng thì thơ mới hay. Thơ hay thì sống mãi. Làm thơ mà không có tình, có tâm thì chả ra gì! Làm thơ lúc bấy giờ là phải ca tụng, trong khi đó tôi lại đề cao tình yêu, tôi khóc người vợ tử tế của mình, người bạn đời hiếm có của mình. Lúc đó tôi khóc như vậy họ cho là khóc cái tình cảm riêng….Y như trong thơ nói ấy, tôi lấy vợ rồi ra mặt trận, mới lấy nhau chưa được hơn một tháng, ở nhà vợ tôi đi giặt rồi chết đuối ở sông …
Tôi thấy đau xót, tôi làm bài thơ ấy tôi khóc, vậy mà họ cho tôi là phản động. Tôi phản động ở chỗ nào? Cái đau khổ của con người, tại sao lại không được khóc? Bọn họ xúc phạm đến tình cảm thiêng liêng của tôi đối với người vợ mà tôi hằng yêu quý, cho nên vào năm 1956, tôi bỏ đảng, bỏ cơ quan, về nhà để đi cày. Họ không cho bỏ, bắt tôi phải làm đơn xin. Tôi không xin, tôi muốn bỏ là bỏ, không ai bắt được! Tôi bỏ tôi về, tôi phải đi cày đi bừa, đi đốn củi, đi xe đá để bán. Bọn họ bắt giữ xe tôi, đến nỗi tôi phải đi xe cút kít, loại xe đóng bằng gỗ, có một bánh xe cũng bằng gỗ ở phía trước, có hai cái càng ở phía sau để đủn hay kéo. Xe cút kít họ cũng không cho, tôi phải gánh bộ. Gánh bằng vai tôi, tôi cũng cứ gánh, không bao giờ tôi bị khuất phục. Họ theo dõi, ngăn cản, đi đến đâu cũng có công an theo dõi, cho người hại tôi …
Nhưng lúc nào cũng có người cứu tôi! Có một cái lạ là thơ của tôi đã có lần cứu sống tôi! Lần đó tên công an mật nói thật với tôi là nó được giao lệnh giết tôi, nhưng nó sinh ở Yên Mô, thường đem bài Yên Mô của tôi nói về tỉnh Yên Bình quê nó ra đọc cho đỡ nhớ, vì vậy nó không nỡ giết tôi. Ngoài Yên Mô, tôi cũng có một vài bài thơ khác được mến chuộng. Sau năm 1956 , khi tôi về rồi thấy cán bộ khổ quá, tôi đã làm bài Chiếc Chiếu, kể chuyện cán bộ khổ đến độ không có chiếc chiếu để nằm!
Định mệnh đưa đẩy, dắt tôi đến với một phụ nữ khác, sống cùng tôi cho đến tận bây giờ. Cô tên Phạm Thị Nhu, cũng là phụ nữ có tâm hồn sâu sắc. Cô vốn là một nạn nhân của chiến dịch cải cách ruộng đất, đấu tố địa chủ năm 1954, 1955. Lúc đó tôi còn là chính trị viên của tiểu đoàn. Tôi thấy tận mắt những chuyện đấu tố. Là người có học , lại có tâm hồn nghệ sĩ nên tôi cảm thấy chán nản quá, không còn hăng hái nữa.
Thú thật, lúc đó tôi thất vọng vô cùng. Trong một xã thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, cách xa nơi tôi ở 15 cây số, có một gia đình địa chủ rất giàu, nắm trong gần năm trăm mẫu tư điền. Trước đây, ông địa chủ đó giàu lòng nhân đạo và rất yêu nước. Ông thấy bộ đội sư đoàn 304 của tôi thiếu ăn nên ông thường cho tá điền gánh gạo đến chổ đóng quân để ủng hộ. Tôi là trưởng phòng tuyên huấn và chính trị viên của tiểu đoàn nên phải thay mặt anh em ra cám ơn tấm lòng tốt của ông, đồng thời đề nghị lên sư đoàn trưởng trao tặng bằng khen ngợi để vinh danh ông.
Thế rồi, một hôm, tôi nghe tin gia đình ông đã bị đấu tố. Hai vợ chồng ông bị đội Phóng tay phát động quần chúng đem ra cho dân xỉ vả, rồi chôn xuống đất, chỉ để hở hai cái đầu lên. Xong họ cho trâu kéo bừa đi qua đi lại hai cái đầu đó cho đến chết. Gia đình ông bà địa chủ bị xử tử hết, chỉ có một cô con gái 17 tuổi được tha chết nhưng bị đội Phóng tay phát động đuổi ra khỏi nhà với vài bộ quần áo cũ rách. Tàn nhẫn hơn nữa, chúng còn ra lệnh cấm không cho ai được liên hệ, nuôi nấng hoặc thuê cô ta làm công. Thời đó, cán bộ cấm đoán dân chúng cả việc lấy con cái địa chủ làm vợ làm chồng. Biết chuyện thảm thương của gia đình ông bà địa chủ tôi hằng nhớ ơn, tôi trở về xã đó xem cô con gái họ sinh sống ra sao vì trước kia tôi cũng biết mặt cô ta. Tôi vẫn chưa thể nào quên được hình ảnh của một cô bé cứ buổi chiều lại lén lút đứng núp bên ngoài cửa sổ nghe tôi giảng Kiều ở trường Mai Anh Tuấn. Lúc gần tới xã, tôi gặp cô ta áo quần rách rưới, mặt mày lem luốc. Cô đang lom khom nhặt những củ khoai mà dân bỏ sót, nhét vào túi áo, chùi vội một củ rồi đưa lên miệng gặm, ăn khoai sống cho đỡ đói. Quá xúc động, nước mắt muốn ứa ra, tôi đến gần và hỏi thăm và được cô kể lại rành rọt hôm bị đấu tố cha mẹ cô bị chết ra sao. Cô khóc rưng rức và nói rằng gặp ai cũng bị xua đuổi; hằng ngày cô đi mót khoai ăn đỡ đói lòng, tối về ngủ trong chiếc miếu hoang, cô rất lo lắng, sợ bị làm bậy và không biết ngày mai còn sống hay bị chết đói. Tôi suy nghĩ rất nhiều, bèn quyết định đem cô về làng tôi, và bất chấp lệnh cấm, lấy cô làm vợ.
Sự quyết định của tôi không lầm. Quê tôi nghèo, lúc đó tôi còn ở trong bộ đội nên không có tiền, nhưng cô chịu thương chịu khó , bữa đói bữa no…. Cho đến bây giờ cô đã cho tôi 10 người con – 6 trai, 4 gái – và cháu nội ngoại hơn 30 đứa! Trong mấy chục năm dài, tôi về quê an phận thủ thường, chẳng màng đến thế sự, ngày ngày đào đá núi đem đi bán, túi dắt theo vài cuốn sách cũ tiếng Pháp, tiếng Việt đọc cho giải sầu, lâu lâu nổi hứng thì làm thơ, thế mà chúng vẫn trù dập, không chịu để tôi yên. Tới hồi mới mở cửa, tôi được ve vãn, mời gia nhập Hội Nhà Văn, tôi chẳng thèm gia nhập làm gì.
Năm 1988, tôi ” tái xuất giang hồ” sau 30 năm tự chôn và bị chôn mình ở chốn quê nghèo đèo heo hút gió. Tôi lang bạt gần một năm trời theo chuyến đi xuyên Việt do hội văn nghệ Lâm Đồng và tạp chí Langbian tổ chức để đòi tự do sáng tác, tự do báo chí – xuất bản và đổi mới thực sự. Vào tuổi gần đất xa trời, cuối năm 2004, công ty Viek VTB đột nhiên đề nghị mua bản quyển bài Màu Tím Hoa Sim của tôi với giá 100 triệu đồng. Họ bảo đó là một hình thức bảo tồn tài sản văn hóa. Thì cũng được đi. Khoản tiền 100 triệu trừ thuế đi còn 90 triệu, chia “lộc” cho 10 đứa con hết 60 triệu đồng, tôi giữ lại 30 triệu đồng, phòng đau ốm lúc tuổi già, sau khi trích một ít để in tập thơ khoảng 40 bài mang tên Thơ Hữu Loan. Sau vụ này cũng có một số công ty khác xin ký hợp đồng mua mấy bài thơ khác, nhưng tôi từ chối, thơ tôi làm ra không phải để bán.
Màu tím hoa sim
(Nguyên văn của tác giả)
Nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng
Có em chưa biết nói
Khi tóc nàng xanh xanh
Tôi người Vệ quốc quân
xa gia đình
Yêu nàng như tình yêu em gái
Ngày hợp hôn
nàng không đòi may áo mới
Tôi mặc đồ quân nhân
đôi giày đinh
bết bùn đất hành quân
Nàng cười xinh xinh
bên anh chồng độc đáo
Tôi ở đơn vị về
Cưới nhau xong là đi
Từ chiến khu xa
Nhớ về ái ngại
Lấy chồng thời chiến binh
Mấy người đi trở lại
Nhỡ khi mình không về
thì thương
người vợ chờ
bé bỏng chiều quê…
Nhưng không chết
người trai khói lửa
Mà chết
người gái nhỏ hậu phương
Tôi về
không gặp nàng
Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối
Chiếc bình hoa ngày cưới
thành bình hương
tàn lạnh vây quanh
Tóc nàng xanh xanh
ngắn chưa đầy búi
Em ơi giây phút cuối
không được nghe nhau nói
không được trông nhau một lần
Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím
áo nàng màu tím hoa sim
Ngày xưa
một mình đèn khuya
bóng nhỏ
Nàng vá cho chồng tấm áo
ngày xưa…
Một chiều rừng mưa
Ba người anh trên chiến trường đông bắc
Được tin em gái mất
trước tin em lấy chồng
Gió sớm thu về rờn rợn nước sông
Đứa em nhỏ lớn lên
Ngỡ ngàng nhìn ảnh chị
Khi gió sớm thu về
cỏ vàng chân mộ chí
Chiều hành quân
Qua những đồi hoa sim
Những đồi hoa sim
những đồi hoa sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim
tím chiều hoang biền biệt
Có ai ví như từ chiều ca dao nào xưa xa
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh chưa có mẹ già chưa khâu
Ai hỏi vô tình hay ác ý với nhau
Chiều hoang tím có chiều hoang biết
Chiều hoang tím tím thêm màu da diết
Nhìn áo rách vai
Tôi hát trong màu hoa
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh mất sớm, mẹ già chưa khâu…
Màu tím hoa sim, tím tình trang lệrớm
Tím tình ơi lệ ứa
Ráng vàng ma và sừng rúc điệu quân hành
Vang vọng chập chờn theo bóng những binh đoàn
Biền biệt hành binh vào thăm thẳm chiều hoang màu tím
Tôi ví vọng về đâu
Tôi với vọng về đâu
Áo anh nát chỉ dù lâu…
(1949, khóc vợ Lê Đỗ Thị Ninh)
Hữu Loan
© Hữu Loan
Bùi Quang Vơm
Đọc bài viết của nhà báo Phạm Toàn được báo Vietnamnet trích đăng với tựa đề:
“Không nên quá kiêu ngạo nghĩ mình mãi là thầy“, thú thật là tôi có cảm giác bế tắc như đụng đầu vào bức tường chặn lối lên phía trước, trông thấy ẩn hiện, nhưng không có cách nào qua để bắt lấy nó. Loáng thoáng hiểu điều ông muốn nói, chờ để được giải thích, hoặc sẽ có gì rõ hơn ở phía sau, nhưng đọc mãi, cho đến hết, cuối cùng không thấy có và cảm giác bế tắc tới uất ức, bất lực. Những triết lý trừu tượng, tối nghĩa, những khái niệm mông lung lơ lửng.
Có thể một nhà giáo uy tín và nổi tiếng mà có khó khăn trong cách diễn đạt ý tưởng của mình? Thế thì làm sao là làm nghề giáo được? Làm sao truyền dậy?
Câu trả lời nằm ở chỗ khác?!
Làm thế nào để có một nền giáo dục đa chiều trong một chế độ chính trị độc quyền chân lý? Làm sao khai phóng tư duy trong một thế giới thông tin bị sàng lọc một chiều? Làm sao thông với vũ trụ trong một không gian đóng kín?
Ông Phạm Toàn cố diễn đạt một cái gì đó. Người ta cố gắng hiểu rằng cái gì đó là cái vĩnh cửu vượt ra khỏi giới hạn của thời gian, nghĩa là nền giáo dục không lấy triết lý đương thời làm khung khổ. Cái đương thời rồi sẽ chết, hoặc ít nhất cũng biến hoá, trong khi nền tảng của nền giáo dục có căn bản bất biến. Cái bất biến đó là bản năng tự hoàn thiện mình bằng năng lực tự nhiên của con người. Năng lực tự nhiên và bản năng tự hoàn thiện là cái vẫn tồn tại sau tất cả những áp lực nhân tạo chỉ xuất hiện trong một không gian và thời gian nhất định có hạn.
Nói cho rõ ra thì là thế này: Hãy vượt ra ngoài sự trói buộc bởi tư duy giáo dục cộng sản để quay trở lại với bản chất con người. Có phải Nhà giáo định nói vậy không?
Đấy có thể là điều mà nhà giáo Phạm Toàn muốn «bắn» tới những đồng nghiệp có trách nhiệm của ông? Nhưng giáo dục là sự minh bạch, rành mạch, rõ ràng và chuẩn xác về phương pháp tư duy. Ông muốn mọi người phải hiểu và phải làm một điều đang bị cấm kỵ bởi những thế lực quyết định sinh mệnh của họ và của chính ông. Nhưng ngay nói thẳng những điều đó ra, ông cũng còn chưa dám. Nói những điều không giám nói, thì những điều nói ra trở thành tối nghĩa và khó hiểu. Muốn nói về màu đen, nhưng sử dụng ngôn ngữ dùng để diễn tả một mầu không đen, và lại muốn trách người xem sao không thấy nó đen. Đó là bi kịch cuả ước vọng khai phóng, cũng chính là bi kịch của nền giáo dục thờicộng sản hiện đại trong lốt nhà giáo dục.
Không biết có ai cùng cảm giác bế tắc khi đọc bài viết của nhà giáo Phạm Toàn không, xin đọc ở đây:
Nhà giáo Phạm Toàn đã khẳng định như vậy trong bài viết gửi tới hội thảo giáo dục 2017 do Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng Quốc hội tổ chức sáng 23/9. VietNamNet xin trích đăng bài viết này.
Vấn đề
Chúng ta đang bàn bạc về sự nghiệp giáo dục của dân tộc.
Chúng ta đang bàn bạc về công việc lớn lao này trong nỗi lo lắng và tinh thần trách nhiệm.
Lo lắng và trách nhiệm đè nặng lên vai từng cá nhân có mặt ở hội thảo này và chúng ta còn gánh nặng cả những nỗi ưu tư của biết bao con người vắng mặt tại đây, trong đó có những nhà khoa học và có cả những phụ huynh có con em đi học.
Và không chỉ có thế, vắng mặt hôm nay nhưng luôn luôn có mặt, còn là tổ tiên chúng ta, những ân nhân đã giao lại đất nước này cho chúng ta và còn là cả những bé em sẽ ra đời trên mảnh đất thiêng liêng này, những thế hệ của trăm năm, của nghìn năm sau.
Không ai buộc chúng ta phải lo lắng và phải có trách nhiệm như vậy. Tự chúng ta từng người từng người mang nỗi lo và trách nhiệm đó, đơn giản vậy thôi.
Chúng ta nhất trí trong nỗi lo và tinh thần trách nhiệm.
Nhưng chúng ta lại rất khó nhất trí trong giải pháp cứu nguy, chấn hưng sự nghiệp giáo dục của dân tộc.
Và nỗi bất đồng to lớn nhất lại rơi vào một điều cốt lõi của mọi điều cốt lõi: tư duy về giáo dục.
Cái bất biến của giáo dục
Chọn lựa thứ nhất là đi tìm một cái nút bấm mà nếu tác động vào điều bất biến đó thì mọi việc sẽ hanh thông.
Chọn lựa thứ hai là sa đà vào những điều khả biến với vẻ ngoài đầy hấp dẫn, nhưng sẽ làm ta rơi vào một cái bẫy mê hồn trận.
Chọn lựa thứ nhất dẫn nhà giáo dục và các lực lượng xã hội khác đến với trẻ em – người học như một mục tiêu bất biến. Nó bất biến vì nó nằm trong tầm tay xử trí của nhà giáo dục.
Chọn lựa thứ 2 dẫn các nhà cải cách đến những vấn đề thuộc về thể chế, nằm ngoài tầm tay xử lý của nhà giáo dục.
Cả hai lựa chọn đều là hai cuộc đại phiêu lưu. Không có lựa chọn nào dẫn đến thành công “thần tốc” hết. Nhưng chọn lựa thứ nhất sẽ tạo ra một sự thâm canh – cũng hệt như thâm canh trong sản xuất nông nghiệp – trong khi chọn lựa thứ 2 cũng tương tự như đi tìm cách thay đổi chế độ tô thuế.
Có điều “thâm canh” trong sự nghiệp giáo dục sẽ tạo ra một cái nền màu mỡ, để một trăm năm nữa (có khi lâu hơn thế) sẽ có những sản phẩm mà những bậc thầy ngày hôm nay không sánh kịp. Con hơn cha, trò hơn thầy, đó là mơ ước của công cuộc thâm canh vào cái bất biến cần được tư duy đổi mới giáo dục nhận ra ngay ngày hôm nay: trẻ em.
Nghịch lý cõng người khổng lồ
Nhà cải cách giáo dục đúng sẽ thành công nếu trong tư duy giáo dục và dạy học họ luôn nghĩ rằng mình đang cõng trên vai những người khổng lồ. Không nên quá kiêu ngạo để luôn luôn nghĩ mình mãi là thầy, mãi mãi là người khổng lồ để các em đứng lên vai.
Ấy thế nhưng, ở nơi đây và vào lúc này, họ vẫn đang là thầy. Nghịch lý là ở chỗ đó. Khi tư duy để tìm cách cứu nguy nền giáo dục hiện thời, chúng ta luôn luôn đứng trước hai cách chọn lựa.
Diễn đạt theo cách khác sẽ nói như sau: nhà cải cách giáo dục như những chú lùn có sứ mệnh tạo ra những con người cao ráo hơn mình. Khi chúng ta đang nhắc lại những khái niệm như tự do hoặc khai phóng vô tình hay hữu ý, ta đang thực hiện một phương thức bất biến chi phối công việc đào tạo những người khổng lồ.
Vì thế, đừng có nghĩ nền giáo dục được ta lên kế hoạch chấn hưng sẽ đào tạo những học trò có vài ba năng lực nào đó cộng với dăm bẩy giá trị nào đó rập theo tiêu chuẩn biến động của những chốn vu vớ nào đó.
Một cách khiêm nhưng đủ tự tin như một nghịch lý, chúng ta hãy tổ chức sự trưởng thành của cái đối tượng bất biến mà chúng ta đang phục vụ bằng việc vun trồng bằng chính bàn tay tầm thường của chúng ta ở đây và ngay lúc này.
Mục tiêu tổ chức sự trưởng thành của trẻ em, đến lượt nó, cũng thành một điều bất biến trong tư duy giáo dục. Không phải là tổ chức cuộc chạy đua học giỏi mà tổ chức sự trưởng thành về tâm hồn, về trí tuệ, về lối sống của một nhân cách đúng nghĩa.
Những sản phẩm mang tầm vóc trưởng thành đó sẽ phải là những con người có một năng lực bất biến – năng lực tự học – và tự học để tự lập thành người Việt Nam chính hiệu.
Lộ diện giải pháp
Cuối cùng, “trăm dâu đổ đầu tằm”, dù chọn đi theo cách tư duy nào và theo lý thuyết trời biển gì đi nữa thì cũng phải trình ra xã hội bộ chương trình và bộ sách giáo khoa.
Đến lượt chúng, những công cụ này cũng sẽ phải thể hiện một tầm tư duy giáo dục dựa trên những điều bất biến.
Đặt câu hỏi đơn giản hơn: chương trình và sách giáo khoa có tuổi thọ dài, thậm chí rất dài hay là chúng cứ bị thay đổi luôn soành soạch theo tuổi đời từng dự án?
Xin nói luôn để đỡ mất công chờ đợi: Chương trình và sách giáo khoa cũng phải bất biến. Điều này hoàn toàn trái với những phát ngôn đương thời cho rằng sách giáo khoa trên thế giới cũng chỉ tuổi thọ dăm mười năm.
Ta hãy cùng lý giải về tính bền vững của chương trình giáo dục phổ thông và sách giáo khoa cho học sinh phổ thông. Chúng sẽ bền vững và có tuổi thọ dài vì những lý do sau:
– Chúng thể hiện cách học của người học, cách học thể hiện ở các thao tác tư duy, là điều bất biến.
– Những vật liệu dùng để tổ chức cách học của học sinh đều mang tính phổ thông và đó là điều bất biến.
– Sách giáo khoa phải giúp giáo viên dễ thực hiện nhiệm vụ tổ chức việc học của trẻ em – một định nghĩa khác về nghề “dạy học” xưa nay.
Tư duy sáng sủa
Càng dấn thân vào sự nghiệp giáo dục, càng thấy mọi chuyện không dễ dàng và càng không thể xong trong ngày một ngày hai.
Vì thế, việc tư duy về giáo dục cần phải rất sáng sủa.
Không được lẫn lộn giữa khái niệm Chương trình tổng thể với chỉ một việc biên soạn chương trình và sách giáo khoa phổ thông.
Và ngay cả khi rút gọn việc viết sách giáo khoa như là cốt lõi của cái tổng thể thì cũng cần xử lý nghiêm cẩn.
Thời Khổng Tử, sách giáo khoa nằm trong tay vài ba ông “Tử”, và thế là đủ.
Thời Pháp thuộc cũng còn đơn giản: những tên tuổi đọng lại không nhiều, Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Ngọc, Phạm Huy Lục, Đặng Đình Phúc, Đỗ Thận, và Dương Quảng Hàm, Nguyễn Văn Tố cùng với Brachet, Don Lafferanderie. Hết.
Sau năm 1945, cả ngành giáo dục vẫn mới chỉ có một ban thu thư lèo tèo. Dẫu sao, các ban tu thư thời đó đều có uy tín.
Ngày nay, chẳng ai có đủ uy tín để xử lý riêng một khái niệm tích hợp.
Và ai có đủ uy tín để bảo đảm sách đang viết chưa xong, có xong cũng chưa qua thực nghiệm… liệu có đủ độ tin cậy để được thực nghiệm và đem dùng theo lối cuốn chiếu.
Hãy nghĩ lại!
Hãy để các nhóm và các cá nhân tự do đóng góp để có thêm những người lùn cùng công kênh những người khổng lồ.
Hãy minh bạch các sản phẩm – mạng internet có sẵn để mọi người lùn cùng bớt lùn.
Hãy tập sống dân chủ vì dân chủ cũng là cái bất biến trong tư duy người, còn bao trùm lên cả tư duy giáo dục nữa.» (hết dẫn).
Nếu cảm giác bế tắc không phải là của riêng tôi, thì tôi nghĩ nút mở của nó là cái đã xảy ra với Gíao sư Tương Lai và cựu Đại sứ Nguyễn Trung.
7/10/2017
Bùi Quang Vơm
Thu Hằng
RFI – Phát thứ sáu, ngày 06 tháng 10 năm 2017
Nhà văn Anh gốc Nhật Kazuo Ishiguro, tân khôi nguyên Nobel Văn Học 2017, trả lời phỏng vấn bên ngoài nhà riêng tại Luân Đôn, ngày 05/10/2017.REUTERS/Toby Melville
“Bằng những cảm xúc dạt dào, văn chương của ông (Kazuo Ishiguro) đánh thức góc sâu thẳm, huyền bí trong chúng ta về mối liên hệ với thế giới”… “Hãy lấy một chút từ Jane Austen, một chút từ Franz Kafka, thêm một phần của Marcel Proust và bạn có được điều gì đó giống phong cách viết của Kazuo Ishiguro”. Bằng những từ ngữ trên, Viện Hàn Lâm Thụy Điển nhận xét về tân khôi nguyên Nobel Văn Học 2017, nhà văn Anh gốc Nhật Kazuo Ishiguro.
Theo cha mẹ đến Anh Quốc từ năm 6 tuổi, Kazuo Ishiguro (sinh ngày 08/11/1954 tại Nagasaki) chưa từng nghĩ một ngày sẽ theo nghiệp văn chương. Ông từng mơ biểu diễn ghi-ta trên sân khấu nhạc rock hơn là cầm bút, vì 5 tuổi, cậu bé Kazuo đã biết chơi piano và 14 tuổi, đã chơi thành thạo ghi-ta.
Suốt thời thanh niên trong những năm 1970, Kazuo Ishiguro không đoái hoài đến văn chương vì “có rất ít nhà văn gây phấn khích, ngoài Kerouac và Beat Generation”, như ông từng thổ lộ với tạp chí L’Express năm 1997 khi giới thiệu với độc giả Pháp cuốn The Unconsoled(tạm dịch : Kẻ không khuây khỏa).
Cuối cùng, ông chọn con đường văn chương khi bắt đầu “đối chiếu giữa cuộc sống ở Anh với nhiều sự kiện diễn ra trong nước Nhật ngày trước. Năm 23 tuổi, tôi muốn trưởng thành và muốn làm sống lại ký ức của quê hương mình mà tôi có cảm giác đang biến mất”. (L’Express, 1997).
Tốt nghiệp trường đại học Kent năm 1978 và nhận bằng thạc sĩ khóa sáng tác văn chương của trường đại học East Anglia năm 1980, ông bắt đầu sự nghiệp sáng tác từ năm 1982 với tác phẩm đầu tay A Pale View of Hills (tạm dịch : Những ngọn đồi xa mờ), đoạt giải thưởng Winifred Holtby của Viện Văn Học Hoàng gia Anh, tiếp theo là An Artist of the Floating World(1986). Cả hai tác phẩm gợi lại một nước Nhật thời hậu chiến, chật vật đứng lên từ đống đổ nát, về số phận của các nhân vật bị coi là “phản quốc”.
Từ đó đến nay, ông viết thêm nhiều cuốn tiểu thuyết khác, với chất lượng khá ổn định : The Remains of the Day (tạm dịch : Tàn dư ngày ấy, 1989, đoạt giải Booker), The Unconsoled (tạm dịch : Kẻ không khuây khỏa, 1995), When We Were Orphans (tạm dịch : Khi chúng ta mồ côi, 2000), Never Let Me Go (Mãi đừng xa tôi, 2005) và The Buried Giant (Người khổng lồ ngủ quên, 2015) và một tập truyện ngắn Nocturnes : Five Stories of Music and Nightfall (Dạ khúc : Năm câu chuyện về âm nhạc và đêm buông, 2009).
Cuốn tiểu thuyết Never Let Me Go (Mãi đừng xa tôi) được Time Magazine xếp vào danh sách 100 cuốn sách tiếng Anh hay nhất từ năm 1923 đến năm 2005. The Remains of the Day được James Ivory chuyển thể thành phim cùng tên năm 1993 với hai diễn viên chính Anthony Hopkins vào vai quản gia Stevens tận tụy, lịch thiệp chấp nhận chối bỏ và chôn sâu cả tình yêu thầm lặng với cô Kenton (Emma Thompson) dành cho ông. Năm 2010, khát khao tình yêu, hạnh phúc trong thế giới “giả tưởng” của ba nhân vật Kathy, Ruth và Tommy có chung một số phận được định đoạt trong Mãi đừng xa tôi được Mark Romanek đưa lên màn ảnh nhỏ.
Hai tác phẩm được chuyển thể thành phim này cùng với cuốn The Unconsoled nằm trong danh sách ba tác phẩm cần đọc, theo nhật báo Le Figaro, nhân dịp công bố tân khôi nguyên Nobel Văn Học 2017.

Tác phẩm của Kazuo Ishiguro : 10 năm có mặt tại Việt Nam
Riêng tại Việt Nam, tiểu thuyết gia Kazuo Ishiguro không phải là một tên tuổi xa lạ. Ba trong số tám tác phẩm của ông đã được Nhà xuất bản Nhã Nam kết hợp với Hội Nhà Văn biên dịch và phát hành : Mãi đừng xa tôi, Dạ khúc : Năm câu chuyện về âm nhạc và đêm buông,Người khổng lồ ngủ quên.
Trả lời RFI tiếng Việt, anh Nguyễn Xuân Minh, phụ trách bản quyền của Nhã Nam, giải thích thêm về tân khôi nguyên Nobel Văn Học 2017.
RFI : Nhà xuất bản Nhã Nam dịch và phát hành ba tác phẩm của nhà văn Kazuo Ishiguro từ cách đây vài năm, dĩ nhiên trước khi ông được trao giải Nobel Văn Học 2017. Những điểm nổi bật nào của nhà văn Anh gốc Nhật đã thu hút Nhã Nam ?
Nguyễn Xuân Minh : Tác phẩm đầu tiên của Kazuo Ishiguro mà Nhã Nam xuất bản là tác phẩm Mãi đừng xa tôi, không phải là vài năm trước mà là 10 năm trước, từ những năm đầu tiên Nhã Nam mới thành lập. Sau đó, đến năm 2015, chúng tôi ra tiếp một tập truyện ngắn của ông tên là Dạ khúc : Năm câu chuyện về âm nhạc và đêm buông. Và gần đây nhất, chúng tôi mới ra tác phẩm, và cũng là tác phẩm mới nhất của ông, Người khổng lồ ngủ quên.
Tác giả này đã được Nhã Nam khai thác từ những năm đầu tiên. Vì khi đó chúng tôi có quan niệm muốn giới thiệu những tác giả văn chương đương đại, có phong cách đặc biệt, đến với độc giả Việt Nam, bởi vì khi đó, thị trường sách văn học Việt Nam, trong thời điểm 10 năm trước, không được phong phú như bây giờ. Chúng tôi cảm thấy cần có trách nhiệm giới thiệu những tác giả xuất sắc của văn chương thế giới, như Ishiguro, Ian McEwan, Salman Rushdie, Margaret Atwood và Mugakami đến với độc giả Việt Nam.
Khi đó, cùng với Ian McEwan, Ishiguro là một trong hai tác giả người Anh mà chúng tôi lựa chọn, vì chất văn chương rất đặc trưng của nước Anh. Dù ông là người gốc Nhật, nhưng ảnh hưởng của gốc gác đối với văn chương của ông không nhiều, mà ông viết rất đặc trưng chất Anh. Chính vì thế, chúng tôi đã muốn giới thiệu tác giả này với độc giả Việt Nam từ 10 năm trước.
RFI : Có nhiều ý kiến cho rằng văn phong của Kazuo Ishiguro mang phong cách cổ điển, đôi khi quá trau chuốt về câu chữ. Liệu điều này có phải là một trở ngại để thu hút nhiều độc giả Việt Nam hơn, khi mà hiện nay nhiều tác phẩm được viết với phong cách nhẹ nhàng đang rất “ăn khách” ?
Nguyễn Xuân Minh : Về mặt đón nhận, khi chúng tôi xuất bản Mãi đừng xa tôi lần đầu tiên, chúng tôi nhận được nhiều lời khen và nhận xét tích cực từ giới phê bình và độc giả yêu văn chương. Tuy nhiên, cũng như nhiều tác giả văn chương đương đại khác rất nổi tiếng trên thế giới, khi mà xuất bản tại Việt Nam, các tác phẩm này đều khá kén chọn độc giả và không phải có nhiều người biết đến tác phẩm Mãi đừng xa tôi. Một phần cũng do khi đó, công tác truyền thông của Nhã Nam chưa tốt lắm nên chúng tôi lấy làm tiếc là không có nhiều người biết đến tác phẩm này. Đấy cũng là một phần nguyên nhân khiến chúng tôi đã không nghĩ đến xuất bản tiếp các tác phẩm của Ishiguro.
Đến năm 2013-2014, chúng tôi nhận được một vài tác phẩm mới do người đại diện của tác giả gửi đến, vì Nhã Nam là đơn vị đầu tiên xuất bản Ishiguro tại Việt Nam, nên khi có tác phẩm mới, họ gửi đến. Chúng tôi đọc thử và cảm thấy là văn phong và câu chuyện của ông đều rất tuyệt vời và chúng tôi nghĩ là không thể không tiếp tục xuất bản, nên chúng tôi tiếp tục mua bản quyền thêm ba cuốn của Ishiguro : Dạ Khúc, Người khổng lồ ngủ quên và cuốn nổi tiếng nhất của ông là cuốn được giải Booker là The Remains of Day, tạm dịch là Tàn dư ngày ấy. Cuốn này là cuốn đạt giải cao nhất của ông và khá dầy và tương đối khó dịch nên chúng tôi hy vọng có thể xuất bản được vào năm 2018.
RFI :Độc giả Việt Nam đón nhận các tác phẩm của nhà văn Anh gốc Nhật này như thế nào ?
Nguyễn Xuân Minh : Trước khi ông được giải Nobel, cũng có một bộ phận độc giả yêu văn chương nước ngoài, yêu văn chương Anh rất thích tác phẩm này (Xin đừng xa tôi) và cũng có nhiều người đã gửi thư và gửi tin nhắn cho chúng tôi, yêu cầu chúng tôi xuất bản thêm các tác phẩm của ông. Tuy nhiên, như tôi đã nói ở trước là văn chương của ông khá kén độc giả. Con số bán hàng ở Việt Nam cho thấy chưa phải là có nhiều người thực sự đọc và yêu thích Ishiguro.
Thực ra, mỗi khi có một cuốn sách quan trọng được xuất bản, chúng tôi đều cố gắng tổ chức chương trình tọa đàm, những buổi ra mắt để giới thiệu sách đến với độc giả. Ví dụ khi cuốn Mãi đừng xa tôi được xuất bản lần đầu, chúng tôi cũng có một buổi tọa đàm, giới thiệu tác phẩm này ở Hội Đồng Anh (Hà Nội). Có khá đông đảo phóng viên và bạn đọc đến tham dự buổi ra mắt này. Buổi đó khá là lớn.
Sau khi ông được giải Nobel, tất nhiên chúng tôi hy vọng rằng cuốn sách này sẽ được nhiều độc giả biết đến hơn và được đọc rộng rãi ở Việt Nam.
***
Kazuo Ishiguro (dịch giả Trần Tiễn Cao Đăng), Mãi đừng xa tôi, NXB Văn Học, Nhã Nam, 2013, 434 trang.
Kazuo Ishiguro (dịch giả An Lý), Dạ khúc : Năm câu chuyện về âm nhạc và đêm buông, NXB Nhã Nam, 2013, 294 trang.
Kazuo Ishiguro (dịch giả Lan Young), Người khổng lồ ngủ quên, NXB Văn học, Nhã Nam, 2017, 460 trang.
*********
Nguồn:
Cuốn The Remains of the Day có thể mua trên Amazon, paperback, với giá $9.60:
Chúng tôi 4 người gồm: Thụy Uyển, Lữ Du, Đặng Lâm và tôi được “Hội văn hóa nghệ thuật” người Việt ở thành phố Chemnitz mời đến tham dự buổi sinh hoạt văn hóa giao lưu với chủ đề “Chiều Thơ Tình Thu” được tổ chức vào ngày 15.10.2017 tại thành phố này.
Chemnitz là một thành phố thuộc Đông Đức cũ đã từng bị đổi tên, như Sài Gòn của VN bị đổi tên thành Hồ Chí Minh, thành phố Chemnitz bị đổi tên thành Karl Marx kể từ 1953 khi chế độ CS đông Đức nắm chính quyền, mãi cho đến 1990 sau khi nước Đức thống nhất, nhà nước Cộng Hòa Liên Bang Đức mới lấy lại tên đích thực của nó. Đây là một thành phố có khoảng 250.000 cư dân và là thành phố lớn thứ ba của tiểu bang Sachsen thuộc Cộng hòa Liên bang Đức, sau thành phố Leipzig và thành phố Dresden. Có khoảng trên 1000 người Việt sinh sống tại đây.
Nhân đây tôi cũng xin nói thêm để những ai chưa sống ở nước Đức có thể biết về cuộc sống và sinh hoạt của người Việt tại Đức là như thế nào. Có 3 dạng người VN khác nhau sinh sống ở Đức: Dạng thứ nhất là những thuyền nhân, ra đi bằng con đường vượt biên sau năm 1975. Dạng người này cho đến nay có khoảng 40 ngàn người, hầu hết định cư ở Tây Đức cũ và Berlin , nhìn chung họ có đời sống ổn định và con cái của họ đa số học hành giỏi, tương đối thành đạt do được sinh ra và lớn lên ở Đức. Thế hệ thứ hai này được người Đức đánh giá là một điển hình tốt cho sự hội nhập với xã hội, văn hoá Đức hơn cả những cộng đồng ngoại quốc khác sống ở nước này.
Dạng thứ hai là những người từ phía Bắc và Trung Việt Nam đi lao động tại Đông Đức từ thời Đông Đức còn là một nước xã hội chủ nghĩa. Cho đến nay những người thuộc dạng thứ hai này cũng đã có giấy tờ và có cuộc sống ổn định, nhìn chung, hầu hết họ là những người buôn bán nhỏ, sống loanh quanh trong cộng đồng với nhau, cần cù, chăm chỉ kiếm tiền và cũng như dạng người thứ nhất, họ dồn tất cả tiền bạc vào việc đầu tư cho tương lai của con cái.
Dạng thứ ba là những người qua Đức từ sau năm 1990, họ ra đi bằng đủ mọi con đường khác nhau nhưng đa số cho đến nay vẫn chưa có giấy tờ hợp pháp. Số người này cũng đã lên đến khoảng 40 ngàn người. Vì không có giấy tờ, không được phép đi làm chính thức nên cuộc sống nhiểu bất ổn, có một số bị trục xuất về nước.
Số người Việt sinh sống bên phía đông hầu hết còn bị lệ thuộc và chi phối bởi Sứ Quán CSVN tại Đức, họ đã thành lập những hội đoàn như hội Đồng Hương, hội Doanh nghiệp, hội Cựu chiến binh, hội phụ nữ v.v.. theo chỉ thị của Sứ Quán. Nói chung, họ là những người còn “tình nghĩa” với cái gọi là nhà nước CHXHCNVN, nên chi khi khách du lịch VN, nhất là khách du lịch VN đến từ Hoa Kỳ cũng đừng ngạc nhiên khi vào một nhà hàng VN của họ mà thấy có treo cờ đỏ sao vàng và hình ông Hồ một cách trân trọng cũng như cho thực khách nghe những nhạc đỏ.
Chúng tôi đến với “Hội văn hóa nghệ thuật” để tham dự buổi sinh hoạt văn hóa giao lưu chủ đề “Chiều Thơ Tình Thu” trong hoàn cảnh không mấy thuận cho lắm, nên chi trước khi đồng ý tham dự, chúng tôi có đề nghị ban tổ chức là không treo cờ, không có mặt sứ quán hay đại diện của sứ quán cũng như phô trương những hình ảnh tuyên truyền ca tụng chế độ tại hội trường và không ngờ những đề nghị của chúng tôi được BTC đồng ý.
Với chủ trương dùng văn hóa văn nghệ để giao lưu, không áp đặt, nhưng mang tính chính nghĩa và thuyết phục là một hình thức đấu tranh trong nhiều cách đấu tranh với những mong muốn sao cho đất nước VN thân yêu của chúng ta thoát khỏi chế độ độc tài CS, sớm có được tự do dân chủ và quyền con người được tôn trọng mà trước sau chúng tôi vẫn luôn tâm niệm như vậy. Thế là ngoài những sáng tác, những giọng ngâm cùng tiếng hát mà 4 anh em chúng tôi lần lượt trình bày cho mỗi tiết mục, đến một tiết mục kế tiếp của mình với giọng ca có sức lôi cuốn lạ thường, Thụy Uyển đã hát vang lên với niềm tin mãnh liệt vào sự thật vào chính nghĩa và cô đã chinh phục được hầu hết khán giả qua một nhạc phẩm đấu tranh mang tình tự quê hương dân tộc “Gánh Cả Quê Hương“ của nhạc sĩ Chiêu Khiêm, bài hát chấm dứt với tràn vỗ tay như không dứt và kể tứ lúc ấy Thụy Uyển đã trở nên nhân vật đầy thiện cảm và gần gũi với hầu hết mọi người. Cảm ơn Thụy Uyển rất nhiều, mong Thụy Uyển luôn chân cứng đá mềm trên bước đường đấu tranh phía trước.

Tại sao biểu tượng của Apple là quả táo bị cắn dở một miếng?
Logo của hãng Apple là quả táo có một vết cắn dở, những người thực sự hiểu được hàm ý bên trong nó là rất ít! Tại sao biểu tượng của Apple là quả táo bị cắn dở một miếng, đến ngày hôm nay, tình cờ đọc thấy, mới hiểu, vết cắn trên quả táo, lại ẩn chứ một sự thực đáng buồn, rất đáng buồn!
Logo Apple xuất phát từ một câu chuyện trong chiến tranh thế giới II. Đó là một khởi đầu vĩ đaị: Các nước đồng minh phát ra một mã ULTRA hành động tuyệt mật, hao tổn tâm sức, đã dò ra mã tối cơ mật của máy mật mã Đức, bởi một thanh niên trẻ trường Đại học Cambridge đã sáng chế ra chiếc máy tính đầu tiên của thế giới, hơn nữa còn làm vỡ mật mã bí mật mà Đức luôn cho rằng bất khả xâm phạm, hoàn toàn làm chủ được các lực lượng tàu ngầm bí mật của Đức, và cuối cùng là tiêu diệt lực lượng hải quân Đức, thất bại đầu tiên của Đức, đã góp phần tạo ra tính quyết định。
TuringSau chiến tranh, Turing trở lại Cambridge, sống một cuộc sống đồng tính bí mật, khi đó đồng tính luyến ái được coi là một trọng tội ở Vương quốc Anh. Năm 1952, ông đã có quan hệ tình dục với một người đàn ông 19 tuổi tên Post và đã bị bắt. Chính phủ Anh đã cho ông hai lựa chọn —- hoặc là ở tù hoặc là chấp nhận liệu pháp thí nghiệm hormon y học, để tiêu diệt ‘những kết tinh đồng tính’. Ông đã chọn liệu pháp hormon, nhưng việc điều trị khiến ông đau đớn, hơn nữa vú tiếp tục sưng lên。Ngày 08 Tháng Sáu năm 1954, Turing 42 tuổi, là giai đoạn huy hoàng của sáng tạo đỉnh cao. Vào một buổi sáng, khi nữ quản gia đi vào phòng ngủ của ông phát hiện chiếc đèn bàn vẫn sáng, có một quả táo với một vết cắn dở trên đầu giường, Turing ngủ trên giường, tất cả mọi thứ đều rất đỗi bình thường. Nhưng lần này, Turing đã mãi ngủ thiết đi và không thức dậy nữa…..Sau khi giải phẫu học, pháp y kết luận rằng cái chết là do nhiễm độc tính quá cao từ xyanua, rằng quả táo đã được ngâm trong dung dịch xyanua. Nhưng thế giới bên ngoài đồn đải rằng, cái chết là một sự tự sát khi Turing không còn chịu đựng được nổi đau đớn và nhục nhã khi ở trong phòng thí nghiệm một mình, nên đã tự bố trí cái chết cho mình bằng cách tiêm chất độc vào quả táo rồi cắn một miếng. Nổi đau chỉ vọn vẹn một vài phút, là ông đã qua đời. Chỉ có bốn người tham dự đám tang của ông, mẹ ông là một trong số họ, một thế hệ thiên tài, và cứ như thế kết thúc một cuộc đời. Ông qua đời khoảng 4 năm sau đó, Anh quốc đã bãi bỏ pháp lệnh định tội đồng tính luyến ái。Turing xứng đáng là cái tên luôn được lịch sử nhớ đến, không phải nhờ vào hành động giải mã ULTRA của ông mà quan trọng bởi vì ông là người tiên phòng cho công nghệ máy tính đóng góp xuất sắc để mở ra một thời đại thông tin. Khoảng 20 năm sau khi ông qua đời, Steve Jobs fan của Turing đã đặt cho công ty cái tên là Apple, và dùng biểu tượng trái táo bị cắn dở một miếng làm lô gô


Chuyện Một Linh Mục.
Đây là câu chuyện linh mục gỉa vờ đi bán vé số, ăn xin và lượm rác với các em nhỏ để biết thân phận của các em như thế nào và tìm cách cải thiện đời sống của các em
– Tôi bừng tỉnh và như quên đi cái hôi thối, tôi lao vào trong đống rác như bao đứa trẻ khác. Khoảng hơn hai tiếng, chúng tôi đã “quần nát” cái đống rác. Tôi lượm cũng gần đầy cái bao bố. Thế là tôi đã lẽo đẽo theo các em để bán vé số và ăn xin trên các đường phố Sài Gòn được hai ngày! Không biết bao nhiêu lần giở khóc giở cười. Có lẽ giờ này nếu bạn bè hay gia đình có gặp tôi thì họ cũng không thể nào nhận ra được. Tôi đã biến thành một người nghèo nàn, đen đủi, đơ dáy và hôi hám như những mảnh đời bất hạnh lê lết hết từ quán ăn này đến quán ăn khác. Để được theo các em đi ăn xin và bán vé số không phải là dễ. Tôi đã phải lân la làm quen và giúp các em rất nhiều, tôi đã lấy được niềm tin của các em và gia đình các em. Tôi đã ăn và ở chung với họ. Tôi đã cho họ thấy được tôi thực sự muốn sống cảnh màn trời chiếu đất với họ để có thể hiểu và cảm thông nỗi khổ của họ! Tối hôm nay là tối cuối cùng tôi theo các em, như dự tính ban đầu, hôm nay tôi sẽ không ngủ trong các ngôi nhà bằng giấy, trong thế giới của kẻ chết, mà tôi đã chia sẻ ở trên (Bài “Tôi Đến Thăm Em”) nhưng tôi sẽ theo một nhóm trẻ mồ côi lang thang về ngủ ở khách sạn “ngàn sao” toạ lạc dưới chân cầu Chữ Y bên Khánh Hội. Chiều hôm đó tôi đã được phép theo nhóm trẻ mồ côi lang thang. Dẫu tôi cũng đã biết các em từ trước qua hai ngày đi bán vé số và ăn xin, tuy nhiên trước khi tôi đi cụ trưởng làng dặn tôi: – Cháu cẩn thận nhé, tụi nó không có hiền giống như tụi nhỏ bên này đâu! Khoảng 3 giờ chiều, tôi hoà nhập với các em tại công viên bên cạnh Nhà Thờ Đức Bà. Tôi nhập ngay vào với bọn nó một cách dễ dàng. Bọn trẻ đang bàn kế hoạch cho tối hôm nay, chúng quyết định sẽ không đi ăn xin nữa mà sẽ đi lượm ống lon, và ve chai tại đống rác bên quận 4. Nghe chúng nói đến đó tôi đã rùng mình run sợ, tôi thật sự sợ cái mùi hôi thối bốc lên từ rác, nhất là tim tôi thì yếu, không biết có thể sống nổi không. Tôi ngước lên nhìn tượng Mẹ trước nhà thờ đọc một kinh Kính Mừng xin mẹ cầu bầu cùng Chúa cho con.. Trong bóng đêm, cảnh đống rác thật hãi hùng, cao như dãy núi. Tiếng người cười nói, tiếng cãi nhau, tiếng chửi rủa hoà lẫn vào nhau, cả hàng trăm người cứ như là những bóng ma di động. Mùi hôi thối nồng nặc, tôi rùng mình run sợ. Lại đọc thêm một kinh Kính Mừng. Thấy tôi tỏ vẻ ngần ngại, con bé đứng cạnh tôi thét lên: – Nhảy vô đi cha nội, đứng đó là đói, lấy gì ăn.! Tôi bừng tỉnh và như quên đi cái hôi thối, tôi lao vào trong đống rác như bao đứa trẻ khác. Khoảng hơn hai tiếng, chúng tôi đã “quần nát” cái đống rác. Tôi lượm cũng gần đầy cái bao bố. Bọn trẻ đã tập họp lại với nhau và bắt đầu khoe những thứ mà chúng đã lượm được. Ngoài những cái bọc nylông thông thường, có đứa khoe lượm được cái chân gà, hay một món đồ ăn được gói kỹ. Bỗng dưng có con bé khoảng 10 tuổi la to: – Hôm nay nhà tao không phải đói rồi.! Nói xong nó lôi trong cái bao của nó ra một cái đầu chó! Tôi đứng đó mà nước mắt tuôn trào, cứ như là trong mơ. Đến phiên tôi, tôi không kể gì mà chỉ đưa cho thằng bé “trưởng nhóm” cái bao bố và nói là cho hết tụi nó. Em vẫn cười tươi bên… rác Chắc cũng khoảng nửa đêm, khi chúng tôi trở lại chân cầu chữ Y bên Khánh Hội. Các em chắc mệt mỏi, lăn ra ngủ ngay. Riêng tôi không biết vì quá mệt mỏi hay là quá xúc động không tài nào ngủ được. Tôi cứ nằm nhìn trăng chiếu xuyên qua các khe hở của thành cầu. Trăng đêm nay sáng quá, nhưng đời các em thì thật tối! Đêm nay là đêm đầu tiên trong đời tôi hiểu được ý nghĩa của “màn trời chiếu đất”. Tôi trằn trọc, nước mắt cũng không còn để mà rơi. Tôi muốn thét lên, thét lên thật to, nhưng lại dằn lòng đau xót. Sáng hôm sau, tôi thật sự mỏi mệt và kiệt sức. Tôi đứng dậy, lê từng bước nặng nhọc ra khỏi gầm cầu, đón taxi để quay về Khách Sạn, nhưng không một chiếc nào ngừng. Nỗi mệt mỏi và đau nhức trong thể xác tôi, không tài nào so sánh với nỗi đau tinh thần, nước mắt tôi cứ tuôn trào. Nếu như mọi khi, tôi ăn mặc lịch sự thì Taxi đã nối dài thành hàng để chào mời tôi rồi, nhưng hôm nay tôi tiều tụy và nghèo nàn. Cũng chẳng trách gì được những anh lái Taxi, vì họ cũng làm thuê cả mà. Cuối cùng tôi cũng đã thuyết phục được một cụ già chạy Honda ôm chở tôi về. Honda dừng trước cửa khách sạn, tôi vừa bước xuống đã bị anh bảo vệ xua đuổi, nhưng khi nhận ra tôi là khách quen, anh ta cười bẽn lẽn và xin lỗi. Cụ già đứng ngoài chờ tôi vào Khách Sạn lấy tiền. Tôi đến bàn tiếp tân, xin chìa khoá phòng 205. Cô tiếp tân mọi ngày niềm nở với tôi lắm, bỗng dưng hôm nay cáu gắt lạ thường, cô nói và liếc nhìn tôi thật khó chịu: – Ông tìm ai! Chủ nhân phòng 205 đi ra ngoài rồi!! Tôi giở chiếc mũ lụp xụp ra, mùi hôi bốc lên, và mỉm cười nói với cô bé: – Thưa cô, tôi là chủ nhân của căn phòng 205 đây!! Cô nhìn tôi, tí nữa thì té lăn ra khỏi ghế, cô đứng bật giậy và hỏi tôi: – Anh Thông, anh có sao không? Bị cướp giật à?! Tôi nói cho cô biết tôi không sao, chỉ mệt mỏi và muốn lên phòng nghỉ. Cô cầm chìa khoá phòng và còn dẫn tôi lên đến tận cửa… Tôi nhờ cô lấy 50 ngàn trả cho cụ già chạy xe ôm. Tôi lao vào phòng cởi quần áo và lăn ra ngủ! Một giấc ngủ bình yên và hạnh phúc! Lạy Chúa, không có khoảng cách nào lớn hơn giữa lòng người với người, giữa các con tim của nhân loại. Cái hố sâu ngăn cách giữa giàu sang và nghèo đói đã làm cho lòng người chai đá, làm cho con tim họ dửng dưng trước những đau khổ và bất hạnh của người khác. Xin Chúa hãy thay thế quả tim bằng đá khô cằn của chúng con bằng quả tim bằng da bằng thịt, trái tim với những vòng chảy không ngừng của những giọt máu yêu thương. Xin cho chúng con biết chia sẻ với anh em những ân huệ chúng con lãnh nhận từ Chúa, Amen. LM Martino Nguyễn Bá Thông –

LỄ TẠ ƠN TẠI HOA KỲ
Giao chỉ – San Jose -2008
Quả thực người Mỹ đã có đầy đủ lý do để giữ gìn truyền thống với ngày lễ tạ ơn vào tháng 11 mỗi năm.
Lịch sử ghi rằng vào năm 1620 có một nhóm gia đình người Anh theo Tin Lành đã đi tìm đất mới để sống đời tự do tín ngưỡng.
Con tàu May Flower nổi danh vượt Đại Tây Dương chở di dân với các niềm tin giáo lý khác nhau đến vùng Playmouth Rock của tiểu bang Massachusets bây giờ. Nhóm gia đình người Anh chỉ có hơn ba chục, số còn lại là phần đông thủy thủ đoàn. Tổng số 102 người.
Đây là con tàu chính thức của di dân vì gồm cả gia đình vợ con. Trải qua một năm đầu với mùa đông khắc nghiệt, không đủ thực phẩm, không có đủ quần áo, không có nơi cư trú nên di dân đã phải chôn cất 46 người. Qua năm sau, mùa gặt 1621 thành công, di dân cùng dân da đỏ bản xứ tổ chức tiệc mừng lễ tạ ơn trên đất Mỹ.
Đó là ngày lễ hội đầu tiên tại Mỹ Châu và truyền thống còn mãi đến ngày nay. Không dựa theo 1 đạo giáo nào, lễ tạ ơn trải qua gần 400 năm đã thành ngày hội của cả quốc gia cảm ơn trời đất cho mọi người đủ cơm áo để sinh tồn.
Trong bữa tiệc lễ tạ ơn năm đầu tiên di dân đã ăn thịt gà rừng, ăn bánh làm bằng trái bí đỏ và thực đơn này đã trở nên món ăn truyền thống ngày lễ hội của Mỹ quốc cho tới ngày nay.
Tuy nhiên để trở thành 1 ngày quốc lễ chính thức thì phải tới năm 1863, vị tổng thống thứ 16 của Hoa Kỳ là ông Lincoln mới ban hành luật. Từ đó lễ tạ ơn được chính phủ công nhận vào ngày thứ năm của tuần lễ thứ ba tháng 11 hàng năm.
Bây giờ Hiệp Chủng Quốc đã trở thành quê hương mới của các sắc dân. Từ 102 di dân trên tàu Hoa Tháng Năm,Hoa Kỳ đã có 300 triệu dân và trở thành quốc gia hùng cường nhất thế giới. Nước Mỹ có tiềm lực lớn hơn tất cả quốc gia Âu Châu gộp lại. Và điểm đặc biệt nhất, Hoa Kỳ chính là miền đất của cơ hội.
Hãy đưa ra một thí dụ cụ thể tại quốc gia dù tiến bộ như Nhật Bản nhưng không bao giờ một di dân nước ngoài có thể trở thành triệu phú, chính khách, khoa học gia, hay tài tử tại đất nước của Thiên Hoàng. Nhưng tại Mỹ thì bất cứ chuyện gì cũng có thể xẩy ra cho người ngoại nhập.
Một tài tử điện ảnh gốc Áo là ông Arnold đã trở thành thống đốc California. Ngoại trưởng Hoa Kỳ vốn là một người da đen sinh trưởng ở Hải Đảo thuộc Mỹ. Tướng Collin Powell trước khi làm ngoại trưởng đã từng là tham mưu trưởng liên quân. Mới đây khi ông Powell đệ đơn từ chức, tổng thống Bush đã đưa bà Condoleezza Rice lên kế nhiệm. Báo chí thân mật gọi bà là Condi.Cần phải biết là chức vụ ngoại trưởng ở vị trí quan trọng thứ 4 trong guồng máy hành pháp Hoa Kỳ. Nếu xảy ra biến động thì người thay thế tổng thống là phó tổng thống kiêm chủ tịch thượng viện. Người thứ ba là chủ tịch Hạ Viện và rồi đến ngoại trưởng Hoa Kỳ. Vị trí thứ 4 của bậc thang trong quốc gia đầy quyền lực trên thế giới nằm trong tay
một phụ nữ da đen độc thân 50 tuổi đã từng nổi danh trong giới khoa bảng tại đại học Stanford California.
Trước khi được mời về làm cố vấn an ninh Bạch Cung, nàng Condi da đen đã làm giám hiệu đại học y khoa danh tiếng nhất thế giới với ngân sách 1 tỷ rưỡi mỹ kim, 1400 giáo sư với nhiều tước hiệu Nobel dạy 14,000 sinh viên ưu tú trên toàn thế giới. Không phải vì là bà Rice có khả năng nói tiếng Nga với tổng thống Putin mà bởi vì bà may mắn sống ở miền đất Hứa nơi đã tạo cơ hội cho tất cả mọi người. Cho đến mùa lễ tạ ơn 2008 thì một huyền thoại đã thành sự thực. Một người con của di dân da đen, thượng nghị sĩ Obama đã được bầu làm tổng thống Hoa Kỳ.
Không nước nào trên thế giới có thể dành cho người di dân nhiều cơ hội như thế.
Là quốc gia được thành lập và xây dựng bởi các sắc dân, tiền nhân của Mỹ quốc đã viết nên các bản văn bất hủ là hiến pháp và tu chính án Dân Quyền.
Đạo luật quốc tịch của Hoa Kỳ ban hành 1790, hơn 200 năm trước đã có những lời vàng ngọc như sau:
Bất cứ ai tị nạn đến Hoa Kỳ, sau khi được xác nhận sẽ hưởng quy chế nhập cư.
Như vậy chúng ta hiểu một cách giản dị là nếu đã đến Mỹ thì sẽ có cơ hội trở thành người Mỹ.
Căn cứ vào điều khoản của luật 1790, một đạo luật khác đã ra đời năm 1975 có tên là Indochina Migration and Refugee Act.
Sau đây là
đoạn văn năm 75 mà di dân Việt Nam cần đọc lại trong mùa tạ ơn năm 2008.
Tổng thống Hoa Kỳ sẽ làm bất cứ điều gì để mở rộng cánh cửa đón người tị nạn đến từ 3 quốc gia Đông Dương. Các viên chức trách nhiệm tại Mỹ sẽ đưa ra tất cả mọi phương tiện để giúp cho người dân tị nạn định cư. Phải nỗ lực làm giảm những đau khổ kinh hoàng của người tị nạn đến từ Đông Nam Á.
Vào tháng 7-1977 sau 2 năm đầu giúp đỡ người tỵ nạn Đông Dương di tản đợt 75, Hoa Kỳ ban hành luật gia hạn việc cứu trợ về tài chánh, y tế, và dịch vụ.
Tháng 3-1980 Mỹ ban hành thêm luật quy chế tỵ nạn vĩnh viễn và đề ra một chính sách tỵ nạn áp dụng chính thức tại Mỹ. Suốt 33 năm qua, khi nhiều khi ít, khi khó khăn, khi dễ dàng, Hoa Kỳ đã dành ra những cấp khoản lớn lao cho người Việt đến Mỹ để trở thành 1 cộng đồng di dân đông đảo nhất trong cuối thế kỷ thứ 20.
Trong buổi bình minh của lịch sử Hoa Kỳ lập quốc, di dân vượt Đại Tây Dương đến Mỹ Châu đa số gốc Âu Châu. Sau đó, Thái Bình Dương đưa đến Mỹ dân Tầu và Nhật.
Từ bao lâu nay hoàn toàn không có người Việt đến Mỹ cho đến khi gặp cơn hồng thủy 1975. Truyền thống của dòng giống Việt tộc thường không khích lệ con đường tha phương cầu thực. Vì vậy ngoại trừ số nhỏ qua lập nghiệp bên Miên, Lào và Thái, phần lớn người Việt đều ở lại với quê hương ven biển Nam Hải.
Khi miền Nam xụp đổ tháng 4-1975 đợt di tản đầu tiên của người Việt đã mở ra một đầu cầu quan trọng cho lịch sử di dân từ Châu Á. Những chuyến đi vô cùng mạo hiểm của thuyền nhân đã làm thành thiên anh hùng ca của con đường đi tìm tự do với hàng ngàn con tàu May Flower của dân Việt đã ra đi không bao giờ đến được miền đất Hứa.
Cũng nhân dịp ghi dấu 30 năm định cư tại Hoa Kỳ 1975-2005. Bảo tàng viện do cơ quan IRCC gây dựng đã hoàn thành hai tác phẩm. Đóng lại con tàu Vượt biên có tên là Tân Phát đúng kích thước và chi tiết con tàu thật. Đồng thời họa sĩ thực hiện bức hình sơn dầu vĩ đại cao 10 feet và dài 15 feet mô tả con tàu Tân Phát đang lướt sóng trên biển Đông.
Đây là con tàu thực sự đã đưa được nhóm gia đình Việt Nam vượt biển thành công hiện định cư tại Úc Châu và Bắc Mỹ.
Những người di dân Việt Nam định cư tại Hoa Kỳ trong đợt đầu khi xây dựng cuộc đời đã ăn những con gà Tây cùng với các gia đình bảo trợ, với các họ Đạo trên 50 tiểu bang Hoa Kỳ.
Rồi những bức hình và những lá thơ gửi về cho thân quyến tại quê nhà đã trải qua suốt 10 năm khốn khổ sau 75. Miền Bắc là nơi giam giữ tù cải tạo. Miền Nam là những khu kinh tế mới.
Khi di dân Việt Nam trải qua 10 lần dự tiệc tạ ơn tại Hoa Kỳ thì những thùng quà gửi về đã làm cho cả đất nước hồi sinh. Từ cây kim sợi chỉ, từ chai thuốc tây đến thước vải. Những tờ giấy Mỹ Kim nằm trong hộp thuốc đánh răng với lời thư dặn dò đầy nước mắt. Thư viết rằng thuốc đánh răng này tốt lắm. Cố sức giữ lại mà dùng, đừng bán đi. Vỏ cũng xài được, đừng vất đi. Người ở lại đã phải nát óc vò đầu để tìm ra được ý nghĩa mật thư là trong tuýp thuốc có tiền. Có khi lá thư viết rằng nếu đói quá thì bán vải, bán đá lửa, bán bút bi đi mà ăn, nhưng cố giữ lấy cái thùng giấy đựng quà mà dùng. Hiểu được ý nghĩa lá thơ, người Saigòn phải lần mò tháo hết vỏ thùng để tìm thấy giấy 100 đô
giữa hai lớp bìa cứng
Và cứ như thế dưới nhiều hình thức những con gà Tây của lễ tạ ơn Hoa Kỳ đã về đến Việt Nam. Quà và tiền gửi về thể hiện cho hình ảnh vật chất đầy đủ ở phía chân trời và đồng thời cũng là hình ảnh cuộc sống tự do rực rỡ nở hoa với chan hòa ánh sáng.
Và dù 5 ăn 5 thua con tàu May Flower đã ra đi từ khắp miền duyên hải Việt Nam có khi chỉ là những chiếc ghe nhỏ bé mong manh.
Người Việt đã vì nhiều lý do để ra đi suốt bao nhiêu năm qua. Và danh từ Boat People trong tự điển thế giới đã không còn cùng ý nghĩa xưa cũ để chỉ những người sinh sống ở trên thuyền.
Boat People ngày nay có nghĩa là người Việt đã đi tìm tự do bằng thuyền vượt biển Nam Hải.
Lịch sử các cuộc di dân của nhân loại đã đưa đến nhận định rằng Ta không thể lựa chọn sinh quán, nhưng ta có thể chọn lựa để sống ở miền đất mà chúng ta yêu quý.
(You cannot choose the land you birth, but you can choose the land you love)
Thực đúng như vậy, chúng ta đã sinh ra đời trên quê hương không hề có sự lựa chọn nhưng nếu phải trả giá với sự sống chết thì chúng ta vẫn có cơ may lựa chọn nơi sinh sống.
Vì vậy không phải là chỉ người Mỹ hậu duệ của con tàu Hoa Tháng Năm đến từ Đại Tây Dương mới có quyền ăn gà Tây tháng 11.
Dân Việt tỵ nạn cũng có đủ tư cách để cúng trời đất vào mùa lễ hội tạ ơn hàng năm. Xem chuyện Do Thái và Palestin tranh chấp đẫm máu ở miền Trung Đông để biết rằng cả hai dân tộc này đã khốn khổ biết chừng nào. Năm ngàn năm trước người Do Thái vì lý do tôn giáo đã bỏ nước ra đi đến bốn phương trời. Họ thành công trên khắp thế giới nhưng vẫn hướng về đất thánh Jelusalem đầy huyền thoại. Sau khi bị Đức Quốc Xã bức hại dã man tại Âu Châu, khi đại chiến kết thúc, thế giới mở đường cho Do Thái trở về quê xưa dựng nước.
Bây giờ lại đến lượt người dân của đất Palestime phải ra di. Và cuộc đấu tranh dành đất giữa 2 mối cựu thù vì niềm tin tôn giáo bắt đầu. Hận thù chất ngất đến nỗi có hàng ngàn người quyết đổi mạng sống để giết hết sắc dân thù nghịch gồm cả đàn bà và trẻ con vô tội.
Mối hận thù truyền kiếp đã đưa đẩy Hoa Kỳ và cả thế giới vào cơn Hồng Thủy của cuộc chiến chống khủng bố hiện nay.
Đã từ lâu miền Trung Đông không hề có những ngày lễ tạ ơn với cuộc sống bình yên. Và cũng không có triển vọng sẽ có một tương lai bình yên ở một nơi đầy dầu hỏa được gọi là vàng đen trong lòng đất.
Người Việt tại Hoa Kỳ đang sống bình yên ở miền đất cơ hội nhưng điều quan trọng hơn hết là chúng ta có dịp mở rộng viễn kiến để nhìn ra thế giới đầy thảm họa và biến động.
Với các tin tức, với các hình ảnh ghi nhận được, mỗi công dân Hoa Kỳ dù là bổn sinh hay ngoại nhập đều dễ dàng trở thành người dân có tri thức, có sự hiểu biết, có tấm lòng rộng lượng, có đức tính tha thứ, để sống với nhau tử tế. Đặc biệt có đủ hạnh phúc căn bản với cơm no áo ấm và tự do để cùng nhau dâng lễ tạ ơn với các niềm tin tôn giáo khác nhau.
Nhân dịp Thanksgiving 2008, xin gửi đến quý vị lời chúc mừng một lễ tạ ơn đầy hạnh phúc.
Giao Chỉ – San Jose
HỌP KHÓA MÙA XUÂN
Giao Chỉ San Jose
Khóa Cương Quyết của anh em chúng tôi mới họp mặt tất niên vào thứ Bảy ngày 24 tháng 1 năm 2009. Còn phải dành ngày Chủ nhật cuối năm về cúng ông bà. Thứ Hai là mùng một TẾT.
Anh em cùng khóa vào trường Ðà Lạt tháng 3/1954 và ra trường tháng 10/1954. Chỉ sáu tháng phù du là ra trường đeo lon quan một . Đa số chưa có tình yêu nói gì đến chuyện vợ con. Mới ra trường ai cũng hiền lành. Sau cuộc binh đao, đi tù hay di tản, vượt biên hay HO. Ba chìm bảy nổi chín lênh đênh. Người nào cũng trở thành tinh ma quỷ quái. Chẳng còn ai hiền lành như thuở di cư 54. Chỉ duy có Phùng văn Xuân một đời hiền lành tử tế. Anh ra đi khi trời vừa sáng vào ngày đầu năm tại San Jose, 76 tuổi. Mới còn bắt tay nhau chúc tết 3 ngày trước. Bây giờ đã mồ yên mả đẹp.
Lúc họp mặt cuối năm vào buổi trưa ngay tại Viện Bảo Tàng San Jose, quân số cả khóa của miền Bắc tham dự chừng 60%. Phần còn lại khai bệnh hoặc không có phương tiện chuyển vận. GMC cũng không có mà trực thăng cũng chẳng còn chiếc nào.
Cũng may có Ðoàn Thi từ Sacramento về được và Nguyễn Ðức Chung cũng về từ San Francisco. Anh em ngồi bàn chuyện thời sự địa phương. Recall or not recall. Obama, Obama. Việt Nam ,Việt Nam vân vân … nhưng xem ra chuyện thế sự không đáng quan tâm. Phần nhiều chia sẻ nhau về kinh nghiệm y khoa. Anh nào cũng thương tích đầy người. Trình độ kiến thức về bệnh tật thuốc men phần lớn đều đã lên cấp ngang với sinh viên trường thuốc sắp tốt nghiệp. Mấy nhà thương ở San Jose chúng tôi đều có ra vào thực tập. Nhiều anh đã lên học lớp cao cấp tại nhà thương Stanford. Có anh vào nhà thương San Francisco nằm giảng bài cho sinh viên hàng tuần. Sau cùng điểm danh quân số, anh em ai cũng chắc chắn rằng sẽ vượt qua năm Mậu Tý. Hai hôm nữa là qua năm Kỷ Sửu. Chắc là sẽ bình yên. Vậy mà lời bình luận đúng như đinh đóng cột. Ðầu năm Kỷ Sửu anh bạn hiền lành nhất là ông tiểu đoàn trưởng công binh Phùng Văn Xuân mới ra đi. Khóa chúng tôi trong thời chiến tranh có mặt khắp quân khu và khắp các binh chủng. Sống và chết ở mọi nơi. Nhưng hiện nay vẫn còn hiện diện ngay tại Việt Nam và các nơi trên thế giới.
Cả khóa toàn Bắc kỳ vào Ðà Lạt học có 300 sinh viên. Lạc loài thêm vài anh miền Trung và miền Nam . Còn toàn là dân di cư đi sớm trước cả hiệp định Geneve. Ngày nay chúng tôi cũng lần lượt ra đi từ khắp nơi trên thế giới. Tại Bắc Cali, anh Ðỗ Hữu Bài ra đi sau 12 năm được hết đầm Mỹ rồi đầm Phi săn sóc trong nhà an dưỡng. Quân cảnh Trần Văn Tước ra đi bỏ lại cả đống máy hình và cây cảnh. Rồi đến anh Nguyễn văn Ðông và bây giờ và bạn Phùng Văn Xuân.
Chị Phùng Văn Xuân tuy thương tiếc ông chồng hiền lành nhưng xem ra còn rất bình tĩnh đứng ra chỉ huy đơn vị toàn gia đâu ra đấy. Ðại gia đình con cháu đông đảo từ các nơi quy tụ về lo cho ông già nằm xuống yên giấc ngàn thu. Trong số anh em chúng tôi, Phùng Văn Xuân lãnh chức tiểu đoàn trưởng công binh rất sớm và hết sức thanh liêm, đôi khi bị coi là quá sạch sẽ. Ông giữ của cho quân đội từ thùng sơn đến lít dầu không cho dùng ở nhà, nên chắc chắn là không có tẩu tán bán ra ngoài. Và anh là người rất hiếu học. Trước khi mất nước Phùng Văn Xuân đã tốt nghiệp thẩm phán còn đang chờ bổ nhiệm.
Chuyện tang gia, chung sự mà tôi kể lại như thế xem ra không thích nghi với hoàn cảnh. Chưa thực sự đau thương buồn tủi. Nhưng quả thực khi mà khóa của chúng tôi tuổi trung bình trên 75 thì cuộc sống đang over time. Mỗi ngày qua là một ngày bonus. Biệt ly, sinh tử không phải là chuyện vui nhưng cũng không còn thê thảm như thời chiến tranh.
Khi tiễn đưa ông Phùng Văn Xuân vào buổi sáng thứ Bảy, sương mù bao phủ ngọn đồi Oak Hill. Trên sườn đồi dốc của khu nghĩa trang Á châu nhìn xuống, phía tay trái là chỗ của Trần Văn Tước, trung đội 24 đại đội 6 và bây giờ bên phải là Phùng Văn Xuân, trung đội 20 đại đội 5.
Ðại tá công binh Nguyễn Thiện Nghị đọc một bài ai điếu kể rõ tiểu sử của người sỹ quan công binh ra đi. Phần tôi đại diện anh em cùng khóa gọi tên các bạn hiện diện . Tưởng như 55 năm về trước, sinh viên sỹ quan Vũ Văn Lộc tại sân trường võ bị Ðà Lạt, trong trách nhiệm trực nhật gọi tên anh em, Vũ Thượng Tôn, có mặt; Ngô Sỹ Hùng, có mặt; Nguyễn Xuân Hòa, Nghiêm Kế, Lê Văn Bang, Phạm Ngọc Thụy, Ðinh Trọng Ất … Nguyễn Ðình Tạo … có mặt có mặt … Nằm trong áo quan, dưới mộ phủ đầy hoa, Phùng Văn Xuân vẫn còn nghe từng tên gọi.
Rồi những người con trai gái của một gia đình đông đảo với các cháu chít khăn tang trắng bắt đầu cất tiếng khóc, khi quan tài từ từ hạ thấp. Nhìn những người con đã trưởng thành từ 40 đến 50 tuổi đồng loạt quỳ xuống đất lạy bố, chúng tôi thấy rõ ràng sự khác biệt văn hóa với tang lễ tây phương.
Có một vẻ gì hết sức Việt Nam đã thể hiện trong một khoảng khắc đặc thù. Những người đàn ông Hoa Kỳ gốc Việt áo đen khăn trắng, quỳ xuống đồng loạt, nước mắt chảy dài, lạy bố ra đi.
Trong khi chờ lấp đất và chia tay, bạn bè hỏi nhau về lý lịch y khoa của anh Phùng Văn Xuân. Thì ra Xuân đã bị ung thư và chạy điện cả năm. Xem ra còn có thể cầm cự được thời gian nữa. Nhưng bất ngờ chính trái tim đột quỵ đã hạ anh trong một thời gian thật ngắn. 911 cũng không cứu kịp.
Chuẩn bị một đằng lại bị địch đánh chỗ khác. Nhưng gia đình cũng như chính anh đều chấp nhận để tránh khỏi những ngày tháng sau cùng đối diện với bệnh ung thư vô cùng đau đớn.
Dừng chân trên ngọn đồi Oak Hill của San Jose miền Bắc California , chúng tôi lại nhắc đến những người bạn cùng khóa đã ra đi trong chiến tranh.
Một anh chợt hỏi, khóa Cương Quyết 54 chúng ta có ai chết ở ngoài Bắc không?
Có đấy chứ, một anh bạn rất nổi tiếng và là người duy nhất của khóa chết trong tù cải tạo. Chết sớm nhất là Trung tá Vũ Văn Sâm tức là nhà thơ Thục Vũ.
Anh chết ngày 17 tháng 11 năm 1976. Anh Sâm thuộc về trung đội 19 đại đội 5. Ðể tiễn đưa Phùng Văn Xuân cũng của đại đội 5 ra đi 32 năm sau, tôi xin nhắc lại sự ra đi của nhà thơ Vũ Văn Sâm. Anh Sâm ra đi sau khi chiến tranh đã chấm dứt, mới bước chân vào tù trong niềm cay đắng của một đất nước thống nhất và hòa bình.
Nhân điện đàm qua Úc, chúng tôi nói chuyện với bác Phan Lạc Phúc, năm nay 82 tuổi, người đã viết về chuyện sống chết của Thục Vũ. Ông bạn tù đã làm thợ vịn cho thầy Thích Thanh Long khắc tên người ra đi trên bia đá. Bác Phan Lạc Phúc khi viết về Thục Vũ có nhắc đến các bạn tù Suối Máu như Vũ Ðức Nghiêm, Phạm Xuân Ninh hiện còn ở San Jose, và các bạn cùng khóa với chúng tôi là Nguyễn Hữu Luyện, Vũ Thế Quang ở miền Ðông
Ðặc biệt bạn Vũ Văn Sâm tự Thục Vũ nổi danh với tác phẩm văn nghệ là bài thơ phổ nhạc mang tựa Kiếp Lưu Ðày. Một sáng tác từ trại tù Suối Máu trong Nam đã được đem ra các trại tù ngoài Bắc và sau cùng hiện nay được phổ biến sâu rộng tại hải ngoại. Bài thơ có những lời than thở vô cùng thương cảm trong số phận tù đày nghiệt ngã. Bài ca trữ tình não nùng gởi về cho vợ con, xin được ghi lại nguyên văn. Nhạc sĩ San Jose , người bạn tù Vũ Ðức Nghiêm đã viết thêm lời ca đoạn hai và phổ biến cho anh em.
Kèm theo bài này là những tấm hình chị Thục Vũ hiện ở Canada gởi cho chúng tôi lưu giữ trong các di vật của anh em cùng khóa.Chính cũng nhờ mộ bia có tên trên đá góp phần kiến tạo của bác Phạm Lạc Phúc mà sau này chị Thục Vũ đã tìm được nơi yên nghỉ của Vũ Văn Sâm. Gia đình đã tảo mộ và đem di hài qua hũ tro tàn đặt trong chùa tại Saigon .
Như vậy lần họp khóa cuối cùng của Vũ Văn Sâm là tại Saigon năm 1973, và lần họp khóa cuối cùng của Phùng Văn Xuân là đầu năm 2009. Vào tháng 10 năm 2009, khóa Cương Quyết chúng tôi dự tính sẽ tổ chức 55 năm họp khóa ngậm ngùi. Chúng tôi sẽ đếm đầu người và báo cáo cho toàn quân được rõ.
Có lẽ năm nay họp mặt quân số đức Ông trong hàng ngũ các trung đội sẽ phải có đoàn nữ binh mùa thu thay chồng trình diện trước hàng quân. Theo luật tạo hóa thường tình, phần lớn quý ông ra đi trước quý bà. Người đã đi rồi, nhưng tình yêu còn ở lại.
Khi chúng ta ở tuổi cao niên nhưng vẫn có thể vui đùa với chuyện tử sinh thì cuộc sống đã nhẹ nhàng đi rất nhiều. Rồi đây khắp bốn phương trời , anh em mỗi lần gặp nhau sẽ là một lần họp khóa. Sẽ chẳng bao giờ biết được ai là người sẽ họp khóa một mình.
Giao Chỉ San Jose
Sau đây là lời thơ của bài ca nổi tiếng Kiếp Lưu Ðầy. Xin gởi đến quý vị nhân dịp tiễn đưa 2 người bạn cùng khóa của đại đội 5. Từ Vũ Văn Sâm chết 1976 đến Phùng Văn Xuân mất năm 2009.
Em ở Saigon anh ở đây.
Đồi cao cát trắng kẽm gai dày
Ngẩn ngơ dăm chuyến tàu xuôi ngược.
Gọi nhớ nhung về che lấp mây
Anh vẫn hằng đêm thương nhớ con.
Thương em tình nghĩa vẫn vuông tròn
Thương mình day dứt từng đêm trắng
Thương bạn anh trong chuyện mất còn …
Anh ở đây, bạn bè anh cũng ở đây
Áo rách xác xơ thân gầy.
Cùng chung một kiếp lưu đày
Anh ở đây .
Sớm chiều cơm chia vài chén
Ngày ngày ra trông đàn én.
Kiếm mồi thấp thoáng bay qua
Anh ở đây, bạn bè anh cũng ở đây
Vẫn giếng nước sâu bên cầu.
Nhìn trăng trăng vướng dây gầu
Anh ở đây,
Sớm chiều bên trong rào sắt
Cuộc đời ưu tư chồng chất.
Giữa lòng núi cũ sông xưa
Thục Vũ, 1975, Suối Máu


Lời giới thiệu : Tin từ Sài Gòn cho biết ngày 24/4/2009, nữ đạo diễn điện ảnh Song Chi, đã tới một thành phố biển Na Uy xin tỵ nạn chính trị.
Nữ đạo diên Song Chi là tác giả của phim truyện dài 18 tập mang tựa đề Nữ bác sĩ do Hãng phim truyền hình Sài Gòn (TFS) sản xuất hiên đang trình chiếu trên VTV4, kênh truyền hình đối ngoại của Đài Truyền hình Việt Nam.
Song Chi đã tham gia cuộc biểu tình ở Sài Gòn đầu năm 2008 lên án nhà cầm quyên cộng sản Trùng Quốc xâm lược lãnh hải Việt Nam. Cuộc biểu tình này đã bị nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam đàn áp. Chị và nhiều người tham gia biểu tình đã bị công an cộng sản ở Sài Gồn liên tục theo dõi, thẩm vân, đe doạ. Nữ đạo diễn Song Chi đã bị Hãng phim truyền hình Sài Gòn và các Hãng phim quốc doanh khác căt hợp đồng lam việc
Nhân sự kiện nữ đạo diễn Song Chi xin tỵ nạn chính trị tại Na uy, xin giới thiệu bài viết của nữ đạo diễn Song Chi mang bựa đề: Nỗi buồn mang tên Viêt Nam. Bài này đã đăng trên blog của chị sau khi tham gia biểu tình phản đối Trung Quốc năm 2008..
Nỗi buồn mang tên Việt Nam
![]() |
| Đạo diễn Song Chi |
Tôi biết rằng đối với tôi và những người bạn đã tham gia cuộc biểu tình tưởng niệm 34 năm ngày Hoàng Sa bị mất vào tay Trung Quốc ngày 19.1.2008 (19.1.1974-19. 1.2008) – một cuộc biểu tình ngắn ngủi trước khi bị dập tắt nhanh chóng, nỗi buồn lớn nhất, sự chua xót lớn nhất đó là vì sao chúng ta không được phép lên tiếng? Nỗi buồn đó tôi cũng đã đọc thấy trong những đôi mắt ngơ ngác của những em sinh viên học sinh trong những ngày 9.12, 16.12 vừa qua khi những cuộc biểu tình của sinh viên học sinh và một số văn nghệ sĩ phản đối nhà cầm quyền Trung Quốc xâm lược Trường Sa, Hoàng Sa đã bị cản trở, làm khó dễ và sau đó là đủ mọi biện pháp đã được áp dụng để ngăn chặn ngay từ đầu. Vì sao? Vì sao chúng ta không được phép lên tiếng ngay cả khi lẽ phải thuộc về dân tộc ta? Có những lúc tình cờ đôi mắt ngơ ngác của một em sinh viên nào đó rơi trúng vào tôi, tôi nhìn thấy nỗi buồn trong đôi mắt em như em cũng đọc thấy sự chua xót trong tôi, và càng chua xót hơn nữa là cả hai cùng có câu trả lời nhưng thể nói lên lời. Thôi em ơi hãy về nhà lo học hành, làm một đứa con ngoan của ba mẹ thậm chí không lo học hành cứ vui chơi tiêu xài tiền của ba mẹ thời gian và tuổi trẻ của chính mình, tham gia vào mấy chuyện này làm gì không có lợi. Còn tôi ơi tôi cũng nên đi về nhà làm công việc của mình lo kiếm tiền lo kiếm danh, tham gia vào mấy chuyện này làm gì không có lợi.
Chính cách xử sự của Nhà Nước VN trong suốt những ngày qua đã làm cho bất cứ người dân Việt Nam nào nếu còn quan tâm đến vận mệnh đất nước đều cảm thấy chua xót, cay đắng, nhục nhã. Đồng thời, những ai nếu còn rơi rớt chút ngây thơ do đã được giáo dục theo kiểu một chiều, bưng bít thông tin quá lâu, ắt hẳn cũng tỉnh ngộ ra ít nhiều. À thì ra ngay cả biểu tình bộc lộ lòng yêu nước và là một phản ứng tối thiểu cần phải có của một dân tộc trước họa xâm lăng rành rành trước mắt của một nước khác mà còn “không được phép”, còn bị ngăn cấm thì hy vọng gì biểu tình để phản kháng trước bất cứ chuyện gì là nguyên nhân gây nên sự phi lý, bất công trong xã hội, hoặc đụng chạm đến quyền tự do, dân chủ, quyền con người trong xã hội, hoặc kéo lùi tiến trình phát triển của đất nước và có hại cho vận mệnh của quốc gia, của dân tộc…?
![]() |
| Hình đáng ghi nhớ: Song Chi và sinh viên biểu tình chống Trung quốc |
Trong những ngày này, trái tim của bao người Việt Nam đang rỉ máu. Nỗi đau bị cướp đất cướp biển ngay trước mắt, nỗi lo họa xâm lăng lâu dài, nhưng đau đớn hơn là thái độ hèn nhát đến không hiểu nổi của chính quyền và sự vô cảm, dửng dưng của rất nhiều người cùng là đồng bào với mình. Có một điều nghĩ cũng lạ lùng, bao nhiêu năm qua, máu xương của dân tộc này đã phải đổ xuống quá nhiều, và những vết thương trong lòng người còn nhiều hơn, một dân tộc như vậy lẽ ra phải ngộ ra, tỉnh ra với một lực phản tỉnh cực kỳ mạnh mẽ để không được phép sai lầm nữa. Vậy mà…chưa bao giờ trong lịch sử, những người lãnh đạo đất nước lại hèn nhát, bảo thủ đến cùng như lúc này-thà mất nước chứ nhất định không chịu từ bỏ con đường sai, không chịu mất quyền lực, và chưa bao giờ mỗi lần con số ít ỏi những người dân Việt dám cất lên tiếng nói lương tâm lại cảm thấy cô đơn, lẻ loi giữa cộng đồng và bất lực như lúc này!
Nếu nói tính cách của con người làm nên số phận thì tính cách của một dân tộc cũng tạo nên số phận của chính dân tộc đó. Dân tộc tôi, bất hạnh thay, là một dân tộc cạn nghĩ, cục bộ, hay chia rẽ, lại thêm chưa hề được hưởng một nền dân chủ thực sự bao giờ nên cũng chưa hề biết sử dụng đúng nghĩa quyền công dân và quyền làm người của mình. Dân tộc tôi, bất hạnh thay, trong mọi lĩnh vực đểu hiếm hoi người tài, chính trị cũng vậy, không có nổi ít nhất một nhân vật biết (hoặc dám) chọn một con đường đi khôn ngoan hơn rộng rãi hơn cho dân tộc, biết (hoặc dám) đặt vận mệnh đất nước, vận mệnh dân tộc lên trên quyền lợi của một giai cấp một đảng phái.
Dân tộc tôi, bất hạnh thay, là một dân tộc cạn nghĩ, cục bộ, hay chia rẽ, lại thêm chưa hề được hưởng một nền dân chủ thực sự bao giờ nên cũng chưa hề biết sử dụng đúng nghĩa quyền công dân và quyền làm người của mình. Dân tộc tôi, bất hạnh thay, trong mọi lĩnh vực đểu hiếm hoi người tài, chính trị cũng vậy, không có nổi ít nhất một nhân vật biết (hoặc dám) chọn một con đường đi khôn ngoan hơn rộng rãi hơn cho dân tộc, biết (hoặc dám) đặt vận mệnh đất nước, vận mệnh dân tộc lên trên quyền lợi của một giai cấp một đảng phái.
Nguồn tin mới nhất cho biết vào ngày Thứ Năm, Ngày 7 tháng 5-2009, thông tín viên SB-TN từ trong nước gởi ra bản tin cho biết nữ đạo diễn Song Chi đã đào tỵ và xin tỵ nạn chính trị tại Na Uy (nguồn: http://www.sbtn.net/default.aspx?LangID=38&tabId=170&ArticleID=37142).
(Nguồn: Blog Song Chi, http://360.yahoo.com/profile-xHHl4WUidKhoJ3Ce.agDycCVSA–?cq=1)
–Về con người và sự nghiệm Song Chi, xin mời xem: http://www.yxine.com/forum/forum.php?action=showmsg&box_id=3&msg_id=2795)
–Vì biểu tình chống Trung quốc, nên đã bị mất hợp đồng với đài truyền hình HTV (TP.HCM) http://clbnbtd.com/modules.php?name=News&op=viewst&sid=524
Song Chi
| Đáp Từ Của Nhà Báo Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh SƠN ĐIỀN NGUYỄN VIẾT KHÁNH . Việt Báo Thứ Năm, 6/11/2009, 12:00:00 AM |
|
Đáp Từ Của nhà báo Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh Trong buổi họp Chúc mừng 88 tuổi tối Thứ Tư June 3-09 ở San Jose
Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh |
Buồn Cười Chả Được
ĐIỀU 4 HIẾN PHÁP
"Các đồng chí CHẠY ĐI ĐÂU ?"
L.V.
Nhân đọc bản văn tài liệu "Cán bộ TC họp tại Hoa Nam bàn việc chiếm VN" đăng trên VTVN-tháng bảy 2009
–Hiến Pháp 1946 không ban hành
–Hiến Pháp 1959 Tôn Đức Thắng ký, ngày 31-12-1959
— Hiến Pháp 1980, Nguyễn Hữu Thọ ký, ngày 18-12-1980 : Điều 4 : Đảng Cộng sản Việt Nam, … được vũ trang bằng học thuyết Mác-Lênin, là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội…
–Hiến Pháp 1992 : Nông Đức Mạnh ký, ngày 15-4-1992, Điều 4 : Đảng Cộng sản Việt Nam … là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội.
–Hiến pháp 2001 : Nguyễn văn An ký, ngày 25-12-2001, điều 4 Đảng Cộng sản Việt Nam …là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội.
Năm bản Hiến pháp trong nửa thế kỷ họa hại, đem tang tóc khủng khiếp lại cho dân tộc và Lịch Sử Việt Nam , ba bản hiến pháp 1980-1992-2001 do ba ông Nguyễn Hữu Thọ, Nông Đức Mạnh và Nguyễn Văn An ký, sửa đổi các điều khoản, trong đó chủ yếu là lập dựng và giữ chặt điều 4, đưa đảng Cộng sản Việt nam vào thế là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội, nhưng chỉ một hiến pháp do tên giặc trí thức Nguyễn Hữu Thọ phản quốc ngu xuẩn là có chữ quyết chắc "Đảng Cộng sản VN là lực lượng duy nhất lãnh đạo nhà nước và xã hội ", thế thì trong giai đoạn cần thiết điều 4 yêu nghiệt này vẫn dễ dàng sửa đổi được, ba bản hiến pháp dành độc quyền cai trị cho đảng Cộng sản vẫn để "cửa không khóa", đợi khi cần mở thì vẫn mở được, cửa không khóa chứ không phải là "hàn chặt lại không có chỗ mở", dù vậy, ở đây cũng không bàn đến chuyện mở đóng ; ở đây , chỉ nói về một chuyện vu cáo (!!!???) nghe buồn cười mà cười chả được !
Sau một thời gian dài nước không có hiến pháp chính thức , tức hoàn toàn không có pháp luật nhưng tràn ngập mọi biến loạn chết chóc tan hoang , tự mình tiếm quyền độc tôn cho mình lãnh đạo đất nước theo chủ nghĩa ngoại lai một mình mình chọn, thứ chủ nghĩa yêu nghiệt phản nhân loại đã bị cả nhân loại chế giễu gạt bỏ, đảng cộng sản VN làm công việc rõ ràng là áp đặt buộc toàn thể người VN phải theo cộng sản, suốt hơn nửa thế kỷ đày đọa dân tộc, phá tan hoang đất nước, giết ngưới quá nhiều, lại phạm vào tội khủng khiếp lịch sử VN chưa có trường hợp nào như thế, là: bán, giao biển, đảo, đất cho giặc ngoài, bị toàn dân chống trả thì đàn áp thẳng tay rồi lén đưa giặc vào giữa giang sơn đất nước , ẩn danh dưới áo công nhân đào mỏ , cho giặc phục sẵn để chờ cơ hội thuận tiện là ra tay thôn tính ! Bảo rằng đấy là vu cáo cho đảng cộng sản, những người lãnh đạo cộng sản ư ? Bằng chứng rõ ràng và đầy đủ ai cũng biết ! Bảo rằng đấy là lời lẽ hục hặc của bọn xấu "phản động" đầu óc hoang tưởng chống lại đất nước ư ? Phải chi bọn phản động trong ngoài nước nói ra thì có thể bảo là bôi bẩn , vu cáo được, đằng này lại chính thầy của các ông, khách mua nước của các ông là bọn ngoại thù đại nghịch nghìn đời của dân tộc ta nói ra, nó là bọn Tầu ở phương bắc nói , thái độ đểu cáng , hành động " dã man " này của chúng chẳng khác gì thằng hãm hiếp nàng Kiều của ông Nguyễn Du đã đời rồi đi rêu rao vùi dập cô nàng có ý báo cho cả thiên hạ hay biết, cái này mới thật là buồn cười chả được !

Vậy, chúng nó, bọn giặc thù truyền kiếp của dân tộc ta, nó nói gì ?
Trước khi nghe nó nói, ta hãy nghe xem " ta " nói gì đã, đây là phép ăn ở tốt đẹp, ta xét ta trước rồi hãy xét thiên hạ sau.
Ta, là mấy lần lời ngài chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết nói, ngài bảo :"… bỏ điều 4 hiến pháp, ấy là ta quyết định tự sát ", cái điều 4 này trong ba bản hiến pháp nó đem lại quyền uy tuyệt đối độc tôn cho đảng cộng sản của ngài, sao lại là một trong " tam ban triều điển" ghê gớm ấy là thế nào ? Điều 4 hiến pháp của các ngài, có do toàn dân VN bắt các ngài phải ghi vào đấy đâu, mà chính các ngài chọn, thích, mê quá rồi tự mình viết vào, chứ hai bản hiến pháp đầu tiên (không chính thức ban hành) có nói thế đâu, vậy có lẽ nào điều 4 hiến pháp lại là thanh gươm bén, chén thuốc độc, giải lụa ban cho kẻ trọng tội để tự kết liễu đời mình !? Nghe ba cái thứ ấy, thấy ớn quá !
Ngài chủ tịch khả kính thật lòng đã nhận ra điều 4 ấy là một họa hại khủng khiếp không thể tránh khỏi được dành cho đảng cộng sản và các đồng chí đảng viên của ngài, nó là ba "món tự chết" thật ! Có nhẽ nào 2 triệu con người cộng sản đồng chí của ngài, lại duy nhất chỉ một mình ngài ngộ ra như thế ! chắc là nhiều, nhiều lắm, có khi tất cả !
Nhưng, đại công cứu nước dựng nước , đem lại phúc trạch cho muôn dân, thì phải được ca tụng, ca tụng đời đời, lập miếu dựng đền quanh năm hương khói phụng thờ mới phải, chứ sao chỉ nhẹ nhàng nhấc bỏ một vài chữ mà lại là cái họa khủng khiếp đến như vậy cho các công thần cứu quốc hộ dân ? Đại tội tày trời mới " bị " vua bắt phải nhận "tam ban triều điển" — tức là được ơn huệ tự chết chứ không phải ra pháp trường chịu chém ngang lưng, bốn ngựa xé xác –, thế thì điều 4 hiến pháp nhất định phải là nguồn gốc của tất cả mọi tội ác trời không dung đất không tha , ngài chủ tịch đã ngộ ra, ngộ rất kỹ nữa là khác !? Có lẽ nào lại có việc vu khoát đến như vậy, mà lại do chính ngài chủ tịch nói ra công khai cả và nhân loại đều nghe thấy !
Chả thế, mà ngay đến cả đứa người ngoài, bọn địch thù truyền kiếp nghìn đời của dân tộc ta nó cũng nhìn thấy, nó cũng lại biết rõ nguồn cơn, cho nên nó mới hỏi các ngài : "…trong tình thế hiện nay, Việt Nam không còn lựa chọn nào khác, không còn con đường nào khác hơn là trở về với tổ quốc Trung Hoa vĩ đại. Đi với Mỹ chăng ? Thì các đồng chí chạy đi đâu ? Trở về với tổ quốc thì các đồng chí mới tiếp tục tồn tại như những ông chủ duy nhất trước hiểm họa của bọn dòi bọ đang tích cực phản công nhằm tống cổ các đồng chí ra khỏi chỗ ngồi của mình " đấy là một câu trong cái bản văn rất đáng kinh hoàng kia !
Nghe khiếp quá ! Hãi thật ! Thế là thế nào ? Thế thì họa hại sinh ra từ điều 4 là có thật !!!??? Đã là họa hại, thì tìm cách dứt bỏ nó đi, trì hoãn làm gì cho thêm tai họa, mà dứt bỏ nó thế nào ? Ngài Chủ tịch quyết liệt giữ nó làm gì , ngài và "chúng ta" của ngài sợ cái " tam ban triều điển " chăng ? Có sợ, bọn phía bắc nó mới nói mới dọa như thế và ngài chủ tịch cứ đòi giữ cho chắc điều 4 ấy chứ !
Theo lời bọn bắc thù bảo , thì bọn nào là dòi bọ, dòi bọ nó đòi cái gì ? Sao chúng nó, bọn dòi bọ, lại đang tích cực phản công nhằm tống cổ các đồng chí ra khỏi chỗ ngồi của mình ? Mấy tên giặc thù nghìn đời của ta nó đang vu cáo, hù dọa các ân nhân của cả dân tộc ta, các thủ lĩnh cộng sản tinh hoa của đỉnh cao trí tuệ, đang vinh quang dẫn dắt cả nước ta đi xuống thiên đường cộng sản, sao bọn dòi bọ nào lại phản động đến độ sắp tống cổ các ân nhân ra khỏi chỗ ngồi của các ngài là thế nào? Bọn thù phương bắc đang dối trá, vu cáo, bịa đặt, dọa nạt các ân nhân của ta để âm mưu gì đây !? Nhà nước ta lẽ ra phải có lệnh "bắt khẩn cấp bọn này" khẩn cấp gấp trăm lần bắt khẩn cấp những tên dòi bọ Lê Công Định, Trần Anh Kim, Nguyễn Tiến Trung mới phải !

Mà rồi nó lại nói có ý bảo trở về với tổ quốc, là thế nào ? Tổ quốc Việt nam ta ta ở, thế là trước sau ta vẫn trung thành với tổ quốc ta, sao nó lại xui dại, kêu gọi các ngài trở về với tổ quốc nào nữa , xem ra nó bảo nước Tầu là tổ quốc của các ngài chứ không phải Việt Nam là tổ quốc của các ngài cộng sản ! Nó nhắc các ngài nên trở về với tổ quốc thực của các ngài là nước tầu ! Lạ !
Nó lại rêu rao vẫn trong cái bản văn ấy : nước Việt Nam là đất đai của nó, nay nó đưa đất đai ấy và các ngài trở về với tổ quốc cũ, thế là phải, và : nó chẳng cướp chẳng xâm đoạt đất đai của ai, hai bên Trung Việt thương thuyết công khai thuận mua vừa bán , ai bán ai mua cái gì trên bàn thương thuyết, có nhẽ nào mua bán ở bàn thương thuyết công khai là bán nước và mua nước ??? Nếu không phải thế, thì thuận mua vừa bán là "thuận mua vừa bán" cái gì? Hội nghị thương thuyết việc quốc gia lớn đến thế, mà lại là việc " thuận mua vừa bán " như mua mớ rau con cá ở chợ sao ? Đúng là nó vu cáo ! Đại vu cáo ! Nếu cái gì là của nó như nó quả quyết, thì nó cứ đòi mà lấy lại , sao nó lại phải " thuận lòng mua với cái giá mà bên bán đưa ra ", rõ là đại vu cáo , bọn này từ nghìn xưa vẫn nức danh về tài vu cáo, cứ vô liên sỉ mà vu cáo, mấy nghìn năm rồi mà thói tật cũ vẫn không chừa , thời buổi này mà vẫn còn sống và nghĩ theo cái cách hồi nghìn năm xưa để vu cáo các thủ lĩnh cộng sản VN là bán nước ! Láo toét !
Thôi thì, trước khi xét người , lần nữa ta lại xét ta trước đã xem sao ! Thiên hạ xầm xì to nhỏ , hay lớn giọng hô hoán, có khi cũng có vài phần đúng trong muôn vàn phần của việc.
Ta bình tâm suy nghĩ .
Ít ra cũng là đã hai lần, ngài chủ tịch nước khả kính công khai nói :" bỏ điều 4 Hiến pháp là ta tự sát ", điều 4 Hiến pháp nói cái gì, ai tự sát, tại sao lại tự sát, ai cũng biết ! Nước Việt nam ta anh hùng, nhờ có đảng mà đang từ súc vật được đứng lên làm người như lời đại thi sĩ thiên hạ bảo là đồ tể văn nô Tố Hữu viết, ơn tày trời như thế viết rõ vào điều 4 hiến pháp tự mình trao quyền cho mình khoe là … được vũ trang bằng học thuyết Mác-Lênin, là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội… là phải quá rồi , bỏ điều 4 này đi làm gì, việc gì phải bỏ ? Cái gì hư, hỏng, thối, nát, cũ kỹ không còn dùng được việc gì nữa , để thì chỉ thêm chật chỗ làm hư thối lây sang các cái bên cạnh, thì mới đáng phải bị loại bỏ đi ; cái gì là tai hại, họa hại, gây độc, phá hại, chết chóc, đáng kinh tởm thì mới phải loại bỏ đi ; kẻ xấu xa đầy tội ác không thể nào cải tạo lại được nữa, thì phải loại bỏ nó ra khỏi cộng đồng xã hội, nghĩa là đem nó ra cho nó "tựa cột" ; lớn rộng ra và cao hơn tất cả là chế độ cai trị lạc hậu, chuyên quyền độc đoán hung tàn ác độc như bọn quân chủ láo lếu ngày xưa thì phải loại bỏ ; chế độ tham tàn lấy chém giết làm châm ngôn chỉ đạo như đám bọn Hitler, Mussolini, Togo, rồi Honecker, Saddam Hussein…, là bọn cầm đầu của nghiệt chế cai trị ngày nay phải tiêu diệt nó đi là đúng, và nhân loại đã làm, đã tiêu diệt nó rồi.
Còn đảng ta, một đảng ân nhân của Việt Nam, theo chủ nghĩa đầy thèm ước " làm theo khả năng, hưởng thụ theo nhu cầu" , dân chủ hơn thiên hạ dân chủ triệu lần, là chủ nghĩa ân nhân đi giải phóng cho cả nhân loại, hiến pháp nước ta dân chủ nhất thế giới đã ghi rõ ràng trong điều 4 về quyền độc tôn cai trị vĩnh viễn của đảng ta là rất phải , bọn dòi bọ dân chủ (lời của bọn Tầu) nào lại đòi bỏ điều 4 là sao ?
Khổ một nỗi : bọn đại thù phương bắc chính chúng nó cũng đang lâm nguy về cái nghĩa của điều 4 trong hiến pháp của các ông cộng sản VN, nó đang hết sức chạy chọt để làm theo hiểm kế của tể tướng Vương An Thạch xưa : đánh chiếm Đại Việt để hưng khởi lòng người , thoát cái nạn bị Hạ, Liêu áp bức…, nhưng nó hiểm độc gấp trăm lần tể tướng Vương An Thạch thời nhà Tống, nó hiểu rõ và không dám, không thể dùng đến trò gươm giáo mà công khai cướp Việt Nam được, cho nên nó xoay xở đủ trăm phương ngàn quỷ kế trong đó có cái kế "miếng thịt Tây Thi" để làm cho được cái việc nó nói là "thuận mua vừa bán" mà chẳng phải là thuận mua vừa bán một mớ rau trong gánh , mà tài tình ở chỗ mua một mớ rau được cả ruộng rau ba mẫu, mua con săn sắt được cả con cá ngừ đại dương 5 tạ ! Có mụ bán hàng nào lại tài giỏi về việc mua bán đến vậy, các cụ xưa có câu "buôn b… bỏ xọt " cũng không đến nỗi như thế ! Vậy mà nó nói có (và có thật) , nhâng nhâng mà nói như vậy ! Rõ buồn cười chả được !
Mưu hiểm của giặc nó chẳng thèm giấu kín, nhưng công khai mà tiến hành, lẽ nào các thủ lĩnh cộng sản anh hùng , đỉnh cao trí tuệ của ta lại không biết, không hiểu ra, không triệt tiêu nó đi, không cãi " Không ! Không ! No ! No ! Mẩu hẩu ! Mẩu hẩu!", mà lại " Ừ ! Iét ! Hảo lớ ! " để cứ nói mãi "Bỏ điều 4 hiến pháp là ta tự sát ", bọn đại thù của dân tộc ta nó còn vênh mặt hỏi " đểu " các ông : "… các đồng chí chạy đi đâu ? " Sao lại phải chạy , nước ta ta ở, kẻ tội phạm mới phải chạy trốn lệnh truy nã như bọn năm xưa bỏ của chạy lấy người ra biển đi trốn các ngài, các ngài có công lao đối với nước vẫn nói là nhiều hơn cả sao trên trời, công đức được thờ chung với đức Phật ở đền chùa, thế thì mấy con dòi bọ dân chủ là cái gì mà đến nỗi phải sợ mà chạy !? , để cho bọn tầu nó hỏi đểu " các đồng chí chạy đi đâu ?"
Nó xui các ngài chạy sang Tầu, nó bảo nước Tầu là tổ quốc của các ngài ! Không chạy sang Tầu như thầy trò ông vua Lê Chiêu Thống năm xưa, thì chạy đi đâu !?
Các ngài thủ lĩnh cộng sản, giả thử các ngài bỏ chạy sang tầu thật, thì 2 triệu đồng chí của các ngài phải tính sao ? Lẽ nào lại bỏ nhau trong cơn hoạn nạn vì dòi bọ dân chủ ! Bầu đoàn thê tử lôi thôi lốc nhốc đông đến vậy đường nào mà đi cho khỏi bị kẹt lối, xe nào mà kịp chở cho hết ! Bọn tầu nó bắt chước tổ tiên ta đánh " đòn tâm công " để làm cái việc "mua mớ rau được cả ruộng rau, mua con sắt để được con ngừ" , sao lại có thể để nó lừa được !
Chúng nó còn nói nhiều, nhiều điều nhiều việc lắm , nay chỉ nói một việc " các đồng chí chạy đi đâu ", để bênh các ngài !
Cũng lại nhắc để các ngài nhớ, vì trong cơn hoạn nạn vừa mua bán tấp nập vừa vì sợ hãi bấn quá thành ra các ngài u mê đi rồi quên mất, rằng : cánh cửa lớn, lớn lắm của dân tộc Việt Nam lúc nào cũng vẫn mở rộng để thương xót đón lại những đứa con hư hỏng tội lỗi, biết hối tội ăn năn quay đầu trở về với Tổ quốc Việt nam của nó, dân ta có câu "chín bỏ làm mười " chứ thật ra năm bảy cũng sẵn sàng bỏ làm mười đấy . Đừng để cho câu hỏi đểu của giặc thù nghìn năm ám ảnh nữa " các đồng chí chạy đi đâu?", mà hãy núp sau lưng mẹ Việt Nam , tình nghĩa bao la như trời biển của mẹ sẽ bảo vệ cho tất cả, dù là con ngoan hay con ngỗ ngược từng gây trọng tội rủa xả đào mồ cuốc mả tổ tiên, vu cáo chửi cha là đồ hiếp dâm uống máu bần nông , chửi mẹ là thứ quen lười biếng nghiện thói đĩ điếm, rồi đánh giết anh em… đối với mẹ thì những thằng nghịch tử ấy cũng đều dễ dàng được mẹ tha thứ ban phước bình an cho , việc gì cũng là chưa muộn, mà sẽ chỉ là quá muộn khi phải thực sự trả lời thuận theo câu hỏi đểu các đồng chí chạy đi đâu !? của bọn tầu đại thù phương bắc, về với mẹ chứ đừng chạy theo bọn đểu cáng ! Đừng làm trò cười nghìn năm cho người đời khiến các đời sau con cháu phải bảo : buồn cười chả được, như buồn cười chả được cảnh vợ chồng Honecker tan thây bên tường biệt thự, như Saddam chui đầu vào dây thừng thòng lọng to tướng chứ không phải là dải lụa tam ban triều điển !
L.V.
…………………………………………………
BUỒN CƯỜI CHẢ ĐƯỢC
Xem Hoa Ngửi Hương
hay
Bát Cơm Cà
L.V.
Mưa như trút nước, đất trời mù mịt, thế mà ông già nhà quê Buồn Cười Chả Được" cũng tới, tay cụp ô gãy 3 nan gọng, chân bê bết bùn đất khoắng khoắng vào vũng nước mưa, vào nhà bỏ khăn chữ "nhân" đội đầu gián nhấm , cởi khuy áo the thâm, ề à bảo Mưa quá, ngồi nhìn mãi bụi tre rũ rượi như con mẹ đi đánh ghen, xem tây-uy ngẫm nghĩ chẳng biết làm gì , mới lấy bút giấy của thằng cháu nội viết vài chữ , ý muốn đệ trình lên vua… vừa nói ông vừa luồn tay vào trong áo cánh cổ lá sen, lấy từ chỗ cạp quần ra xấp giấy mấy tờ cong cong theo vòng bụng phệ nóng hơi người, bảo Đọc đi xem sao !
Bảo đọc thì đọc, bèn mở giấy, hóa ra ông lão viết bằng bút chì, chữ lên chữ xuống, lại có những chỗ chắc là lấy ngón tay dấp chút nước bọt tẩy tẩy rồi viết lại, ông lại nói : Ông cha chữ nghĩa bia làng còn đề tên, rõ buồn cười đến đời mình đói ăn chữ nghĩa lại càng đói, nghĩ thẹn cả mặt ông cha !
Ông đói ăn đói chữ viết :
-một là, vững gốc nước, diệt tham bạo thì yên lòng người
-hai là, giữ đúng quy định, bỏ xách nhiễu thì kỷ cương không rối
-ba là, loại kẻ quyền thần để tránh họa cho nước
-bốn là, đuổi những kẻ tham nhũng , trừ tệ khoét đục của dân
-năm là, chấn chỉnh học hành, làm cho đạo lý sáng tỏ đất trời
-sáu là, mở đường cho người nói thẳng, mở rộng cửa đón lời can ngăn như mở rộng cửa thành
-bảy là, kén quân chú trọng vào dũng lực không cần đẹp dáng
-tám là , phong tướng lấy người thao lược, không căn cứ vào thân phận
-chín là, khí giới quý về bền sắc, không cần hoa mỹ lòe loẹt
-mười là, trận pháp cốt cho chỉnh tề, không cần khoa trương.
" Đấy là 10 điều bà cung phi Nguyễn Cơ, tự là Bích Châu, của vua Trần Duệ tông (1372-1377), bà là con quan Đại Thần, được phong Tả Cung Quý Phi, cung hiệu là Phù Dung, dâng lên vua, bà đã nhìn thấy triều chính suy vi, vận nước sắp đi vào đen tối, vua đọc rồi khen hay quá, ban khen chẳng hết lời, nói rằng: " không ngờ một người đàn bà lại thông tuệ đến thế, quả xứng đáng là một Quý phi tài ba của Trẫm !" , khen thì cứ khen , nhưng vua lại chẳng làm gì cả, mọi việc tồi tệ cứ tiếp tục !
Hậu thế bảo : bà là người phụ nữ đầu tiên dâng biểu can vua . Rồi vua muốn đem binh tướng đi đánh Chiêm Thành, bà hết sức can gián dẫn các truyện xưa để nói đại ý : nên lấy đức mà thu phục thiên hạ, tránh dụng bạo lực để ổn định nhân luân , vua vẫn không nghe, bà thở dài xin được theo quân "cho vẹn nghĩa vợ chồng" ; quân thủy của vua đến cửa biển Kỳ Hoa (Kỳ Anh) thì dông bão dữ dội, vua nằm mộng thấy Thủy thần xin vua ban cho một người vợ nếu không sẽ tác quái, bà Bích Châu tình nguyện hiến thân, khóc mà tâu vua : " Cái nguy sóng gió kia, chứng nghiệm đã báo trước; nếu không phải là oan khiên ngày cũ, tất cũng chướng nghiệp ngày nay; thiếp không dám tham luyến hồng hoa, tiếc thân bồ liễu, xin được trả cho xong cái nợ trước mắt kia…" bà đã tình nguyện để vua và các binh tướng được bình yên, rồi bà nhẩy xuống nước tự trầm, dông bão tan ngay, biển yên sóng lặng, sách ghi hôm ấy là ngày 27 tháng Giêng năm Đinh Tỵ.
Gần một thế kỷ sau, vào năm 1470 vua Lê Thánh tông đem quân đi đánh Chiêm Thành, lại đến biển Kỳ Hoa, Bích Châu hiện lên dâng ngọc báo mộng kể việc xưa, xin được theo vua đi trận trợ giúp, truyện lạ là biển nổi sóng thi hài phu nhân gần trăm năm lại nổi lên dung nhan vẫn tươi đẹp, vua cảm động cho mai táng theo lễ hoàng hậu, lại phong thần là " Chế Thắng linh thần" , lập miếu để cho dân địa phương hàng năm có lễ tưởng kính người xưa."
Đấy là tóm lược một truyện trong Truyền Kỳ Tân Phả của bà Đoàn Thị Điểm (có tất cả 7 truyện), truyện người phụ nữ duy nhất trong quốc Sử tự cầm bút ngự sử , lại sẵn sàng hi sinh cả cuộc đời trẻ trung đầy phúc trạch để " giúp vua giúp nước ".
Mười điều khuyên vua — Kê Minh Thập Sách — không kể 4 điều nói về việc quân, 6 điều chính sự xưa nói cách xa sáu bảy thế kỷ nghe sao giống quá với những việc hôm nay ! Vẫn những " tai họa " ngàn đời không đổi khác ! Sáu điều tai họa triền miên cùm chân trói tay bịt miệng nhân dân , nhìn ra bốn phương hoàn vũ thấy các vua thiên hạ vâng lời dạy bảo của Tả Cung phi Bích Châu của vua Trần Duệ Tông thì quả nhiên nước yên, dân tình sung sướng , quốc gia được thiên hạ kính ngưỡng. Lại nhớ xưa , thời nửa trời cao mây đỏ rực, lê dân cũng đứng trên địa cầu mà hóa ra là sống trong địa ngục, ấy cũng bởi các bạo-đế lấy việc bịt miệng cùm chân trói tay bách tính làm quốc sách bạo tàn, để đến nông nỗi nhân loại lầm than, oán khổ ngút trời không con số nào ghi được hết !
Thế rồi, lưỡi rìu bén ngọn búa nặng tưởng là đốn ngã đập nát được hết ý chí của lê dân, thì lại một ngày hóa ra búa ấy đập sập tường ô nhục phá tan ngục tai ương, rìu ấy chặt đứt cùm chân xích cột tay, cạo sạch keo dán miệng, lê dân lại đứng lên bước đi giơ cao tay hát vang bài ca tự do . Bạo đế tan thây nát thịt, chết gục trong ngục tù, nghìn đời mang mãi tiếng ô uế.
Mây đỏ nửa trời nhạt hẳn chuyển sang xanh ngắt, nhân loại tưởng khắp nơi đã cười được cả, miệng nào cũng được nói tiếng nói của người, chân nào cũng được bước đi theo kiểu đi riêng hai chân của giống người, tay người tài hoa làm nên được cuộc sống hạnh phúc của bàn tay năm ngón tinh hoa của vũ trụ giữa muôn loài, nhưng " ráng chiều còn đỏ rực ở phương đông ", miệng mồm lại bị khóa chặt, bước đi vẫn bắt phải theo cách đi của thú vật, bàn tay phải bắt quyết kiểu yêu ma lạy phục, vì thế sáu điều khuyên vua về chính sự của đấng nữ thần hóa ra lại vẫn còn dội ầm ầm đến tận hôm nay !
Đời Trần bậc nữ lưu ngự sử tự nguyện nói : vững gốc nước, diệt tham bạo thì yên lòng người, đời Lê có học sĩ bảo : việc chính trị cốt ở chỗ yên dân , khuyên dạy của tiền hiền nay chẳng bằng gió thoảng, cho nên hiến pháp như sơn, quy định rành rành thế mà không giữ, tha hồ sửa đổi , kỷ cương nát bét, trên dưới một hành động tham lam nhũng nhiễu , con dân có khác gì như thỏ non nhốt chung lang sói ; cung phi tiền hiền nói vào tai vua : loại kẻ quyền thần để tránh họa cho nước, đuổi những kẻ tham nhũng , trừ tệ khoét đục của dân , danh sĩ Chu An dâng sớ hạch tội đòi chém 7 đứa gian nịnh thần để yên phép nước, vua điếc thì bỏ mũ cởi áo dài đai rộng về quê , ngày nay quan quyền tham nhũng nhiều như cỏ gặp mưa nhìn đâu cũng thấy; bậc nữ lưu cung phi còn biết dạy vua chấn chỉnh học hành, làm cho đạo lý sáng tỏ đất trời , hiền nho còn có lúc phải chấn chỉnh việc học hành để đạo lý soi tỏ trời đất, thì làm sao ngày nay xã hội nhiễu nhương khinh bạc kẻ sĩ mua chữ bán danh đến thế lại chẳng dẫn đến suy đồi đạo lý cho được, khiến cho đất trời tăm tối âm u , vua mắt không nhìn thấy việc nước việc dân, tai không nghe thấy trăm họ oán than gào thét, cứ một mực thiên hạ sai chỉ mình ta đúng mà quên Lê Ninh Tổ sư dạy bảo kẻ cầm quyền : ta bảo điều ấy của thiên hạ là sai, chính là ta đang sai…
Sai lầm cứ như cát ở đáy sông cuồn cuộn kéo đi với đủ thứ ô uế bồi dầy mãi lên, không làm sao xúc hết đi được nữa, tới lúc ấy thì làm sao tránh khỏi được tai họa nước tràn , sao lúc này lại vẫn còn cứ cố đi ngược lại điều ngày xưa đấng cung phi rót vào tai vua : mở đường cho người nói thẳng, mở rộng cửa đón lời can ngăn như mở rộng cửa thành , nói thẳng thì cho là nghe nhức tai buốt óc, can ngăn thì giận mà thấy chẳng khác gì như chịu dao sắc cắt vào da thịt ; tham tàn quen thói, bạo ngược thành tính, nợ nần chất cao như trăm núi, dài như trăm sông, đành là cửa ngục lại mở rộng thay vì mở cửa thành , xích lại khóa tay, cùm lại giam chân, miệng lại gắn nhựa trám thay vì quan lộ thênh thang thành không khép cửa tha hồ cho thiên hạ tự do đi lại ; mọi việc lỡ rồi, ngài Thích Ca bảo : quay đầu lại là thấy bến , nhưng biển ác đào mãi thì mênh mông mà bến ở xa quá chẳng thấy đâu, nên tiếng gọi dịu dàng của sĩ phu nghe xa xôi mơ hồ không làm sao hiểu được, mắt người vốn bị thay bằng mắt quỷ nhìn ra chỉ thấy sĩ phu lẫn đám dân đen toàn là phản động lăm le cướp ngai vàng, khu trục yêu ma, sợ mà không làm cách nào để dẹp được, thế là đành cửa thành lại đóng kỹ, gươm dao lại mài cho bén !
Đương đại sao chẳng nhớ việc xưa tổ tiên ta từng dụng đến tâm công để hàng phục thiên hạ, tổ tiên đời nào cũng ban ân sủng cho giặc cướp nước được sống mà về, lại cung cấp cho chúng cả thuyền ngựa tiền bạc , đối với giặc thù còn thế thì sao đối với con dân hiền hòa lại chỉ một mực cho vào ngục tù chỉ vì con dân đòi bỏ cùm chân tháo xích tay gỡ bỏ keo dán miệng !? Việc làm của người xưa vừa hiển hiện được đức lớn của người quân tử, vừa cho thấy trí sáng của nhà cầm quyền, ngày nay sao vua quan lại tàn nhẫn giam ngục tù chính những ưu tú mọc từ vùng đất hoang dã của các ngài lên thành những bông hoa quý, họ là những Nguyễn văn Đài, Lê Thị Công Nhân, Tạ Phong Tần, rồi mới đây là Lê Công Định…, rõ ràng họ không phải là " bọn ngụy miền Nam phá hoại" mà là những hạt nẩy mầm mọc lên từ bùn tanh Mác-Lê mà lại tỏa hương thơm ngát! Sao lại muốn tru diệt những bông hoa quý ấy ? Cũng mới đây , bông hoa Cù Huy Hà Vũ con nhà nòi mọc từ đất Mác Lê nói gì, liệu tinh hoa này có sắp đi gặp Lê Công Định hay không ? Mai, mốt, còn những ai ?
Tất cả những con người ấy chỉ có cái bút trong tay, không biết gì đến súng đạn, nhưng họ lại dũng mãnh đứng lên, vòi vọi như trẻ nhỏ làng Gióng ngày xưa, trong khi ấy thì vua quan có binh hùng tướng mạnh nức danh hoàn vũ, thì im lặng trước thế nước nghiêng ngửa vì giặc ngoài, không khéo lại sa vào trái ngược với 4 điều việc quân của Cung phi ngày xưa dạy vua : quân chú trọng vào dũng lực , tướng thao lược, khí giới bền sắc, trận pháp chỉnh tề . Quân thiện chiến, tướng thao lược, khí giới lợi hại, trận pháp huyền nhiệm thì giặc nào dám đụng đến nước ta, an bình thịnh trị vẻ vang thì phản động nào lại dám chống lại minh quân lương tướng !
Vua xưa có quý phi hi sinh tự trầm bảo là để : Cái nguy sóng gió kia, chứng nghiệm đã báo trước ; nếu không phải là oan khiên ngày cũ, tất cũng chướng nghiệp ngày nay; thiếp không dám tham luyến hồng hoa, tiếc thân bồ liễu, xin được trả cho xong cái nợ trước mắt kia… , nguy sóng gió nào, chứng nghiệm nào báo trước ? Oan khi ngày cũ là oan khiên nào, Chướng nghiệp ngày nay là những chứng nghiệp nào ? Vua quan ngày nay nhất định không hiểu chăng ??? Xưa có cung phi không tiếc thân bồ liễu thay vua để trả cho xong cái nợ trước mắt kia, nay là ai ?
Nhìn lại chẳng có ai làm cung phi trả nợ này thay được ! Lời phổ độ của Thích Ca xem ra còn thua cả gió thoảng đêm hè !
Nhái chữ người hiền xưa mà rằng : Than ôi ! Càn khôn trước đã bĩ, nay lại càng bĩ hẹp xấu thêm ; Nhật nguyệt trước đã tối, nay lại càng đen hơn mực đặc, muội đèn ; Từ đây dài thêm nguy cơ tháng ngày loạn lạc ; Từ đây nặng thêm nữa mối sỉ nhục vô cùng ! *
……
Đọc xong, ngơ ngác hỏi : Vậy chứ tiên sinh toan tính gì đây ? Ông già vơ khăn đội đầu gián nhấm chụp lên mái tóc hoa râm rễ tre, tay cài nút khuy sừng áo the thâm, xoa xoa bụng hơi to , bảo : Tính ăn nhờ bát cơm cà, nghe hỏi đâm đầy cả ruột, chả thiết ăn gì nữa ! Thế mà cũng đòi học trò, thế mà cũng không hiểu, rõ là học trò học troẹt .
Ông già đi bộ bốn năm chục cây số đội mưa lội bùn về Hà nội, hí hửng với suy tư của mình, lại nghĩ bát cơm cà pháo , thế mà chỉ một câu hỏi chẳng ra gì cũng thấy đầy cả ruột , ai nỡ để ông về, bèn cười nịnh : Học trò thì không hiểu, học troẹt thì hiểu chứ ! Chắc tiên sinh muốn đi xem mặt, ngửi hương mấy bông hoa quý chắc ! Ông lão cười " hì " một tiếng, bảo : Chả cần xem với ngửi ! Với lại ai cho xem. Muốn ăn bát cơm cà pháo thôi ! Rõ buồn cười chả được !
Rồi lại bỏ khăn, cởi áo.
* Càn khôn trước đã bĩ, nay lại mở rộng đẹp sao
Nhật nguyệt trước bị tối, giờ đây trở lại sáng trong
Từ đây mở ra thời cơ vạn đời thịnh trị
Từ đây sạch hết nỗi sỉ nhục vô cùng…
(Bình Ngô Đại Cáo – Nguyễn Trãi)
17-6-2009
L.V.
Trần Đức Thạch
http://www.x-cafevn.org/forum/showthread.php?t=16055
*
Thời gian lặng lẽ trôi, tôi một chàng lính trẻ măng ngày nào bây giờ đã là một ông già với mái đầu hoa râm đốm bạc. Vậy mà tôi chưa nói được câu chuyện lẽ ra phải nói . Đôi lúc tôi âm thầm kể lại cho một số bạn bè tin cậy. Nghe xong ai cũng khuyên “Nói ra làm gì, nguy hiểm lắm đấy”. Và quả thật, sống trong xã hội chủ nghĩa quái đản này, người ta quen thói bưng bít sự thật. Sự thật không có lợi cho Đảng, cho Nhà nước chớ dại mà nói ra, bị thủ tiêu hoặc vào tù là điều chắc.
Tháng 04/1975, đơn vị chúng tôi (Sư đoàn 341 thường gọi là đoàn Sông Lam A) phối hợp với sư đoàn khác đánh vào căn cứ phòng ngự Xuân Lộc. Trận chiến quyết liệt kéo dài 12 ngày đêm. Tiểu đoàn 8 chúng tôi do hành quân bị lạc nên được giao nhiệm vụ chốt chặn. Nhằm không cho các đơn vị quân lực Việt Nam cộng hoà tiếp viện cũng như rút lui. Phải công nhận là sư đoàn 18 của phía đối phương họ đánh trả rất ngoan cường. Tôi tận mắt chứng kiến hai người lính sư đoàn 18 đã trả lời gọi đầu hàng của chúng tôi bằng những loạt súng AR15. Sau đó họ ôm nhau tự sát bằng một quả lựu đạn đặt kẹp giữa hai người. Một tiếng nổ nhoáng lửa, xác họ tung toé giữa vườn cam sau ấp Bàu Cá. Hình ảnh bi hùng ấy đã gây ấn tượng mạnh cho tôi. Tinh thần của người lính đích thực là vậy. Vị tướng nào có những người lính như thế, dù bại trận cũng có quyền tự hào về họ. Họ đã thể hiện khí phách của người trai nơi chiến trận. Giả thiết nếu phía bên kia chiến thắng chắc chắn họ sẽ được truy tôn là những người anh hùng lưu danh muôn thủa. Nhưng vận nước đã đi theo một hướng khác. Họ đành phải chấp nhận tan vào cõi hư vô như hơn 50 thuỷ binh quân lực Việt Nam Cộng Hoà bỏ mình ngoài biển để bảo vệ Hoàng Sa.
… Nghe tiếng súng nổ ran, tôi cắt rừng chạy đến nơi có tiếng súng. Đấy là ấp Tân Lập thuộc huyện Cao Su tỉnh Đồng Nai bây giờ. ấp nằm giữa cánh rừng cao su cổ thụ. Đạn súng đại liên của các anh bộ đội cụ Hồ vãi ra như mưa. Là phân đội trưởng trinh sát, tôi dễ dàng nhận ra tiếng nổ từng loại vũ khí bằng kỹ năng nghiệp vụ. Chuyện gì thế này? Tôi căng mắt quan sát. Địch đâu chẳng thấy, chỉ thấy những người dân lành bị bắn đổ vật xuống như ngả rạ. Máu trào lai láng, tiếng kêu khóc như ri. Lợi dụng vật che đỡ, tôi ngược làn đạn tiến gần tới ổ súng đang khạc lửa.
– Đừng bắn nữa! Tôi đây! Thạch trinh sát tiểu đoàn 8 đây!
Nghe tiếng tôi, họng súng khạc thêm mấy viên đạn nữa mới chịu ngừng.
Tôi quát:
– Địch đâu mà các ông bắn dữ thế? Tý nữa thì thịt cả mình.
Mâý ông lính trẻ tròn mắt nhìn tôi ngơ ngác. Họ trả lời tôi:
– Anh ơi! đây là lệnh.
– Lệnh gì mà lệnh, các ông mù à? Toàn dân lành đang chết chất đống kia kìa!
– Anh không biết đấy thôi. Cấp trên lệnh cho bọn em “giết lầm hơn bỏ sót”. Bọn em được phổ biến là dân ở đây ác ôn lắm!
– Tôi mới từ đằng kia lại, không có địch đâu. Các ông không được bắn nữa để tôi kiểm tra tình hình thế nào. Có gì tôi chịu trách nhiệm!
Thấy tôi cương quyết, đám lính trẻ nghe theo. Tôi quay lại phía hàng trăm người bị giết và bị thương. Họ chồng đống lên nhau máu me đầm đìa, máu chảy thành suối. Một cụ già bị bắn nát bàn tay đang vật vã kêu lên đau đớn. Tôi vực cụ vào bóng mát rồi dật cuốn băng cá nhân duy nhất bên mình băng tạm cho cụ. Lát sau tôi quay lại thì cụ đã tắt thở vì máu ra quá nhiều. Một chỗ thấy 5 người con gái và 5 người con trai bị bắn chết châu đầu vào nhau. Tôi hỏi người lính trẻ đi theo bên cạnh:
– Ai bắn đấy?
– Đại đội phó Hường đấy anh ạ!
– Lại nữa, tôi ngó vào cửa một gia đình, cả nhà đang ăn cơm, anh bộ đội cụ Hồ nào đó đã thả vào mâm một quả lựu đạn, cả nhà chết rã rượi trong cảnh cơm lộn máu. Tôi bị sóc thực sự. Hình ảnh anh bộ đội cụ Hồ “Đi dân nhớ ở dân thương” mà thế này ư? Cứ bảo là Mỹ nguỵ ác ôn chứ hành động dã man này của chúng ta nên gọi là gì? Tâm trạng tôi lúc đó như có bão xoáy. Mặc dù vậy, tôi vẫn nhận ra ngay những việc cân làm. Tôi tập trung những người sống sót lại. Bảo chị em Phụ nữ và trẻ con ra rừng tổ chức ăn uống nghỉ tạm. Cốt là không cho mọi người chứng kiến lâu cảnh r&ugrav
e;ng rợn này. Đàn ông từ 18 đến 45 tuổi có nhiệm vụ ra sau ấp đào cho tôi một cái hố. Trong ấp ai có xe ô tô, xe lam, máy cày phải huy động hết để chở người bị thương đi viện. Mọi người đồng thanh:
– Xe thì có nhưng dọc đường sợ bị bộ đội giải phóng bắn lắm!
– Không lo, có tôi đi cùng!
Tôi giao cho Nghê, một du kích dẫn đường vừa có bố bị bộ đội cụ Hồ sát hại:
– Việc lỡ như thế rồi, chú nén đau thương lại giúp anh. Thu hồi căn cước tư trang của những người đã chết sau này còn có việc cần đến.
Thế là suốt chiều hôm đó, tôi lấy một miếng vải đỏ cột lên cánh tay trái. Lăm lăm khẩu AK ngồi trên chiếc xe dẫn đầu đoàn lần lượt chở hết người bị thương ra bệnh viện Suối Tre. Tối hôm ấy, tôi cho chuyển hết xác người bị chết ra cái hố đã đào. Không còn cách nào khác là phải chôn chung. Trưa ngày hôm sau người ta mới dám lấp. Đây là ngôi mộ tập thể mà trong hoàn cảnh ấy tôi buộc lòng phải xử lý như vậy. Trời nắng gắt, để bà con phơi thây mãi không được. Một nấm mồ chung hàng trăm người lẫn lộn, không hương khói, không gì hết. Tôi cho dọn vệ sinh sạch sẽ những chỗ mọi người bị tàn sát. Xong, mới dám cho đám phụ nữ và trẻ con ở ngoài rừng về. Tôi vượt mặt cả cấp trên để làm việc theo tiếng gọi lương tâm của mình. Bằng mọi lỗ lực có thể để cứu giúp đồng bào. Tưởng thế là tốt, sau này nghĩ lại mới thầy hành động của mình giống như sự phi tang tội ác cho những anh bộ đội cụ Hồ. Thú thật lúc ấy tôi vẫn còn một phần ngu tín. Cũng muốn bảo vệ danh dự cho đội quân lính cụ Hồ luôn luôn được ca ngợi là tốt đẹp. Tuy vậy tôi bắt đầu nghi ngờ “Tại sao người ta giết người la liệt rồi bỏ mặc. Chẳng lẽ họ mất hết nhân tính rồi sao?”
Công việc xong tôi gặp Nghê để chia buồn. Tôi không tránh khỏi cảmgiác tội lỗi. Nghê đã đưa xác bố về chôn tạm ở nhà bếp. Tội nghiệp Nghê quá. Lặn lội đi theo cách mạng, ngày Nghê dẫn bộ đội về giải phóng ấp lại là ngày bộ đội cụ Hồ giết chết bố Nghê. Nghê “mừng chưa kịp no” đã phải chịu thảm cảnh trớ trêu đau đớn. Nghê buốn rầu nói với tôi:
Hôm qua nghe lời anh. Em thu được hai nón đồng hồ, tư trang và căn cước của những người bị giết. Sau đó có một anh bộ đội bảo đưa cho anh ấy quản lý. Em giao lại hết cho anh ấy để lo việc chôn ba.
– Em bị thằng cha nào đó lừa rồi. Thôi quên chuyện đó đi em ạ. Anh thành thật chia buồn với em. Chiến tranh thường mang đến những điều không may tột cùng đau đớn mà chúng ta không thể lường trước được. Anh cũng đang cảm thấy có lỗi trong chuyện này.
* *

Nhà thơ yêu nước Trần Đức Thạch
Ông Trần Đức Thạch, sinh năm 1952, sinh sống tại tỉnh Nghệ An. Ông là nhà thơ, Hội viên hội nhà văn tỉnh Nghệ An. Ông bộc lộ những tư tưởng dân chủ từ những năm 1990 và nhiều sáng tác của ông đã đi thẳng vào đề tài đòi hỏi tự do sáng tác cho văn nghệ sĩ, phê phán chế độ chính trị độc đảng, đòi hỏi dân chủ, nhân quyền cho nhân dân. Một trong những tác phẩm của ông được nhiều người chú ý là hồi ký có tên ”Hố Chôn Người Ám Ảnh”, kể lại trận đánh ở ấp Tân Lập, vào cuối tháng 4 năm 75, mà ông đã tham dự với vai trò đội trưởng trinh sát Quân đội Nhân dân.
Để biết thêm lý do tại sao chính hệ thống tòa án Hà Nội lại vi phạm chính các điều khoản trong luật tố tụng hình sự của chế độ đối với nhà thơ Trần Đức Thạch, quí thính giả / độc giả có thể gọi đến Chánh Văn Phòng Tòa Án Nhân Dân Thành Phố Hà Nội, ông Nguyễn Việt Hưng, ở số +844-3825
Trang Hien Vo
Tôi đã đọc câu này ra rất nhiều lần – cả trăm lần – để chắc mình không hiểu lầm!
Tại hải ngoại, CSVN không ngừng kêu gọi người Việt hãy quên quá khứ để hướng về tương lai. Trong Tâm Sinh Lý học, quên quá khứ là chuyện không thể làm được. Cái gì đã đi vào bộ não thì sẽ ở đó cho đến khi con người lìa đời? Một đôi khi chấn thương sọ nảo hay tinh thần có thể làm gián đoạn dẫn truyền của hệ thống thần kinh. Nhưng khi hồi phục thì người ta vẫn nhớ lại. … Ngày nay, với tất cả thành tựu của con người trong mọi lãnh vực, văn minh trong cả khía cạnh vật chất lẫn tinh thần là nhờ quá khứ đấu tranh cả mấy ngàn năm – không chỉ qua những thành công mà chính là nhờ những thất bại. Thế thì tại sao phải quên quá khứ?
Nhưng “hãy” quên cái quá khứ nào? – Có phải người cọng sản muốn nói đến cái quá khứ tù đày trong những trại học tập không biết ngày mai, bị sĩ nhục mỗi ngày mà vẫn phải cám ơn “cách mạng” đã khoan hồng? Có phải người cọng sản muốn nói đến cái quá khứ của gia đình bị hăm dọa đẩy lên vùng kinh tế mới để nhà cửa còn lại cho cách mạng tịch thâu và khi trở về phải ngũ dưới hầm cầu, trên vĩa hè của chính nhà của mình? Quá khứ hải hùng hể bị chụp mũ là tư sản thì đời kể như tiêu tùng, thân bại danh liệt, tài sản tịch thu, thân tù đày? Quá khứ hải hùng trên biển cả, khiếp đãm trong bìa rừng Thái, Lào mà mỗi gia đình người Việt ngày nay ở hải ngoại đều có 1 câu chuyện như là một phần đời… xa hơn nữa, có phải người cọng sản muốn nói đến cái quá khứ của cuộc cách mạng địa chủ năm 1954 đã hành quyết hàng chục ngàn người hay là cuộc chôn sống tập thể cả 5 ngàn người vào Tết Mậu Thân tại Huế năm 1968? Ngược lại, có những quá khứ không nên quên bao giờ chẳng hạn như cuộc cách mang muà Thu, Đại Thắng Mùa Xuân, những hy sinh vô bờ bến của Hồng Quân Liên Sô và Trung Quốc…?
Mỗi lần nghĩ về lịch sữ oai hùng của dân tộc và những hy sinh của tiền nhân trong công cuộc dựng nước và giữ nuớc là tôi thấy hãnh diện và sung sướng. Không phải quá khứ nào cũng huy hoàng – và không có lý do gì tôi chỉ nên nhớ những huy hoàng ấy và bỏ qua những sai lầm như một trốn chạy. Còn như để quên quá khứ như một người mất trí thì hướng về tương lai để làm gì?
Ngay tại Việt-Nam ngày nay, nhiều người đã muốn quên quá khứ như mượn rượu để giải sầu. Có người còn muốn quên cả hiện tại. Phải chăng đây cũng là phản ảnh của hiện tượng hút xách, ăn nhậu, chơi ngông ? – thêm vào đó chính quyền còn giúp cho đại đa số dân chúng một cuộc sống phải vật lộn với miếng cơm manh áo hàng ngày một – và một hệ thống giáo dục tẩy não để họ không có thời giờ nhớ về quá khứ hay phương tiện để tra cứu?
Có lẻ người nói câu hãy quên quá khứ để hướng về tương lai muốn nói là hãy xóa bỏ hận thù để hướng về tương lai? Vì quá khứ là một “hiện thực” khách quan nên không thể quên được. Nhưng hận thù là sản phẩm của tâm tư con người nên con người có thể khắc phục được. Hận thù đưa đến trả thù sẽ làm cuộc sống máu me dơ bẩn. Hận thù làm tâm linh ta khốn khổ, cuộc sống mất đi cái hồn nhiên vô gía và hướng thượng… và ngay cả sau khi trả được mối thù, cái bàn tay nhuốm máu ấy vẫn không bao giờ rữa sạch…
Nhưng chính người cọng sản Việt-Nam đã lấy hận thù để làm cách mạng. Có cái lòng hận thù nào để giáo dục cho con cháu như thế này: hôm qua dân quân ta bắn rơi 2 máy bay của Mỹ Nguỵ. Hôm nay dân quân ta lại bắn rơi thêm 3 chiếc nữa. Vậy tổng cọng ta đã bắn rơi bao nhiêu chiếc cả thảy? Họ đã lấy hận thù để tiêu diệt tất cả các đảng phái không cùng chính kiến với họ. Sau khi toàn thắng ở miền Nam , thay vì dùng cái cơ hội bằng vàng này để nêu cao chính nghĩa dân tộc và hoà giải quốc gia, họ nhìn ở đâu cũng thấy toàn kẻ thù. Cái tâm lý bệnh hoạn và sợ hải củng cố chế độ đã làm họ phải quyết định bế môn tỏa cảng trong cả 10 năm đầu. Hậu quả thì như ai cũng biết, nước Việt-Nam đã trở thành 1 trong 10 nước nghèo đói nhất của thế giới. Đánh động được lương tâm của con người qua những việt trợ nhân đạo, chính họ cũng phải nới lỏng nền kinh tế chỉ huy thiếu hiện thực, như đã từng được chứng minh qua các cuộc cách mạng ở Liên Sô và Trung Quốc. Nhưng khi tình hình đã được khả quan hơn nhờ những trao đổi với bên ngoài, họ trở lại nhìn thấy thêm kẻ nội thù, từ chính người dân của họ, những đồng chí mà cách đâu không lâu đã hy sinh cuộc đời cho sự nghiệp “giải phóng” dân tộc do họ chủ xướng. Ngoài những lực lượng thù nghịch, họ đã đặt để thêm những kẻ thù trong những “diễn tiến hoà bình” – nỗi lo sợ và lời buộc tội đã mâu thuẩn với chính danh xưng của những biến chuyển mà nghe ra rất khách quan trong phát triển tự nhiên của con người. Họ khuyên người ta hảy quên quá khứ, xóa bỏ hận thù nhưng chính họ thì không bao giờ, vì hận thù vốn là sức sống, là linh hồn, là nền tảng của sự an toàn trong tư tuởng và lý luận của những người cọng sản Việt-Nam khi đi làm các mạng!
Nhưng có những hận thù nào ta không nên quên chăng? – cho dù cả ngàn năm sau? – như hận thù của 2 bà Trưng Trắc Trưng Nhị trước cảnh nước mất nhà tan mà rồi cuối cùng vẫn phải nhảy xuống sông tự vẫn?, Trong đấu tranh cho Chủ Nghĩa Xã Hội, người vô sản có nên quên mối thù không đội trời chung với bọn tư bản bóc lột? Không hận thù thì làm gì có cách mạng? những ai còn phân vân với tính chuyên chính vô sản này thì cứ tìm đến ông Tô Huy Rứa để nghe lời giải thích. … Hay là chỉ có người cọng sản mới được quyền hận thù?
Mới đây thôi, trong bài diễn văn đọc trước Quốc-Hội Hoa Kỳ, bà Thủ Tướng nước Đức đã nói gì? Cần nhắc lại, bà Merkel đã sống và lớn lên trong xã hội cọng sản Đông Đức mà vẫn trở thành Thủ Tướng của nước Đức thống nhất là một bằng chứng của sự xóa bỏ hận thù: “Nhưng đừng có ai nhầm lẫn: Khoan dung không có nghĩa là thế nào cũng được. Không khoan dung với những ai không tôn trọng và chà đạp các quyền vô giá của con người”.
Xóa bỏ hận thù không có nghĩa là đồng lõa với tội ác. Không chịu nhìn thẳng vào cái gì đã gây ra hận thù nhưng chỉ biết kêu gọi xoá bỏ, cũng như họ kêu gọi đoàn kết nhưng không chỉ cho thấy cái gì đã gây ra chia rẽ là một sự lường gạt ấu trĩ và rẽ tiền !.
Có ai trong chúng ta sống mà không để hướng về tương lai?. Ngay cả trong tu dưỡng cá nhân cũng đễ cho một sự ra đi thanh thảng khi từ giả cuộc đời. Tất cả người Việt chân chính đều mong muốn thấy được một nước Việt-Nam giàu mạnh, công bằng và nhân bản. Nhưng một lần nữa chúng ta đang nói về một tương lai nào? Một sự thành cộng của chủ nghĩa xã hội tại Việt-Nam và trên toàn thế giới? Quên quá khứ để hướng về tương lai trong diễn dịch của nhà cầm quyền CSVN là quên hết (như người mất trí?) và chấp nhận trở về làm việc cho họ. “Bằng lòng đi em về với quê hương”. Những người cọng sản Việt-Nam đã nói rõ ràng rồi: yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội. Danh từ “đoàn kết” có nghĩa là từ bỏ vị trí chống đối hoặc không đồng chính kiến để trở về dưới sự lãnh đạo của họ. Không có hòa hợp hòa giải gì cả. Hãy thành thật với nhau như chút liêm sĩ còn lại mà chúng ta đều hiểu: không ai có tư cách mặc cả với chế độ CS hiện nay cả!
Tôi không tin là cho đến bây giờ những người gọi là Việt Kiều Yêu Nước vẫn chưa biết mình đang nói cái gì? Xin các Việt-Kiều Yêu Nước đừng lừa dối thế hệ trẻ ngày nay vì họ không có cơ hội để kiểm chứng. Xin đừng tiếp tục làm dơ bẩn những ý tưởng cao đẹp của lòng nhân đạo, tình quê hương là những giá trị cao quí của dân tộc. Nhắm mắt lại như con đà điểu chui đầu vào cát? – những người tự gọi là Việt Kiều yêu nước đi về Việt-Nam xây vài lớp học, đào vài cái giếng rồi giáo dục những người Việt khác cũng nên yêu nước như mình… Chính người viết bài này cũng đã và đang gởi tiền về Việt-Nam để giúp đở bạn bè thân nhân khốn khổ của mình… nhưng yêu nước và “chỉ là” lòng nhân đạo khác nhau rất nhiều!. Hãy nhìn cho rõ cái nguyên nhân chính đã đưa đến tình trạng hiện nay. Đó là hậu quả của một chế độ chính trị lỗi thời đang ngự trị trên cái quê hương khốn khổ này. Con đường đi đã sai lầm rồi thì càng đi càng xa cái đích dù đi bằng cách nào đi nữa. Trong mặt tiêu cực, càng đi càng lãng phí, càng phá hoại như chúng ta đã nhìn thấy xã hội hiện nay. Dù có bao nhiêu nghị quyết, bao nhiêu “rà sát” cũng chỉ là “mị dân” mà thôi.
Chính cái chế độ chính trị này trong hơn 30 năm qua đã đưa đất nước thụt lùi, cụ thể là so với các nước khác trong vùng. Trong lãnh vực xã hội, chính cái chế độ chính trị này đã tạo ra 1 giai cấp thống trị mà giờ đây chẳng khác gì một loại băng đảng, bao che cho nhau và sống trên mồ hôi nước mắt của tuyệt đại đa số người dân còn lại. Cái hậu quả của chế độ chính trị này đã và đang thấy tại các quốc gia đi theo cùng một chế độ chính trị. Tại Việt Nam, để bảo tồn quyền lực, băng đảng này đối với các thế lực cường quốc thì lạy dạ run sợ nhưng đối với chính người dân khốn khổ của mình thì thẳng tay đàn áp. Người cọng sản nói rất rõ: chế độ nào cũng là chế độ độc tài của giai cấp thống trị. Trong chế độ XHCN, đó là giai cấp vô sản. Cho nên chế độ XHCN là chế độ độc tài của giai cấp vô sản. Người cọng sản cười thầm khi những kẻ theo đuôi họ cứ ráng giải thích tính dân chủ tư sản của chế độ cọng sãn.
Nhưng thực tế chúng ta thấy gì? – chế độ của họ ngày nay quả là chế độ độc tài của 1 giai cấp lãnh đạo, nhưng không phải vô sản mà là 1 loại siêu tư sản, được bảo vệ một cách công khai bởi hệ thống chính trị và chính quyền. Điều này không chỉ thấy ở Việt-Nam mà trong hiện thực của tất cả các nước cọng sản ngày nay. Trong kinh tế, nhờ vào quyền lực sẵn có, họ hội tụ tài sãn của cả quốc gia vào trong tay tập đoàn lảnh đạo của họ. Cho nên nhóm bè đãng lãnh đạo của bọn họ rất giàu trong khi quốc gia thì vẫn èo ọt và tuyệt đại đa số người dân thì vẫn nghèo đói. Trong chính trị, băng đảng của họ có quyền lực không khác mấy thời của những lãnh chúa… cái chế độ như cha truyền con nối là những ngạo mạn, thách thức đối với lương tri của con người. Nếu họ vẫn còn đó – và có lẻ phải còn chờ lâu nữa cho đến khi trình độ dân trí của dân ta đủ mạnh để chiến thắng những khó khăn và sợ hải của cuộc sống – thì xã hội sẽ tiếp tục như vậy. Đó là cái tương lai mà Người Việt Yêu Nước muốn hướng về? Còn nếu không, hãy quên bất cứ quá khứ nào cũng được để hướng về 1 tương lại vô định thì nếu người nói không mù quáng là có ý xem thường khả năng phán đoán của người nghe rồi. Một số người Việt khác quả quyết họ vẫn yêu quê hương bằng một con đường hợp tác khác, như con đường của một Tôn thọ Tường thì tôi chỉ còn biết tặng họ lại hai câu thơ của cụ Phan văn Trị:
Anh hởi Tôn Quyền anh có biết?
Trai ngay thờ chúa gái thờ chồng…
Vào lứa tuổi của tôi có bạn đã chết, đang bị đày đoạ trên chính quê hương của mình, đã vùi thây trong Thái Bình Dương bao la, trong những bìa rừng âm u ở Thái, Lào hay đang lạc lỏng trên những mãnh đất xa lạ nào đó ở Châu Phi, ở Trung Đông… so với họ tôi may mắn hơn nhiều. Hơn 30 năm đã qua. Vì nhiều lý do: an ninh bản thân và gia đình, an toàn khi có dịp về thăm quê nhà, miếng cơm Tây, manh áo gấm khiến tôi đã vô tình im lặng và tránh né. Giờ đây tóc đã hai màu, còn chút tình mà vẫn không dám nói thì đợi đến bao giờ? Riêng đối với các chiến sĩ VNCH trong đó có hàng cha anh chú bác của tôi, những người đã chết cho cho một chính nghĩa đã bị chối bỏ và chưa bao giờ được nhìn nhận, họ sẽ được những người CSVN viết lại trong lịch sữ như những tội đồ … tôi có thể nào quên họ, quên cái quá khứ có sự hy sinh vô bờ và cô đơn của họ? Trong tự do của hôm nay tội vẫn nên tiếp tục “hy sinh”, không nên nói lên những khát vọng của những người bạn, của đại đa số đồng bào kém may mắn hơn tôi đễ giữ an toàn và phồn vinh cho thiểu số còn lại chấp nhận đổi đời? Tôi không có tư cách để khuyên mọi người nên nói như tôi nói. Nhưng tôi sẽ cảm thấy hổ thẹn khi khuyên họ không nên làm như thế bởi vì với tôi, viết là để công bằng trả lại cho đời chút ân tình mà tôi đã nhận, dù chỉ là ngọn lữa của một que diêm, như một người bạn của chúng tôi có nói, sẽ không đủ sức để sưởi ấm cho cả một mùa đông băng giá này!.
Trang Hien Vo
" LAO ĐỘNG LÀ VINH QUANG …( 2 )
Cả nước đói ! Chỉ còn cán bộ là sung sướng ! Họ có quyền nên họ có của .
Trường học , thày cô đói , học trò đói .
Một hôm giờ ra chơi và sau giờ ra chơi lại có đoàn kiểm tra cấp Thành Phố về thăm trường .
Đang giờ ra chơi bỗng một em học sinh lớp bốn bị ngất xỉu ở sân trường- em tên Lan !
Ban Giám Hiệu rất lo , vội cùng các thày cô chạy lại coi . Vì sợ rằng em này mới bị cô giáo phạt hay sao ? ! – Vì Lớp quá đông sĩ số trên năm chục lận , e cô đánh không ? !
Nhưng khi hỏi cô và học trò cùng lớp thì Lan không bị phạt !
– Nhìn em xanh m&eacu
te;t , nhắm mắt ! – Cô giáo đang sức dầu gió cho Lan .
Khi vạch áo lên sức dầu thấy BỤNG BÉ LAN lép kẹp …- Chắc tại đói .
Mẹ em cũng được gọi tới hỏi về vấn đề gia đình thì bà cho hay : " Từ sáng cháu chưa ăn gì – Nhà tôi không có gạo . Sáng sớm luộc khoai cho mỗi cháu một củ đi học . Trưa nhịn . Tối về mới ăn cơm vì chờ bố cháu đi đạp xích lô cả ngày , chiều tối mới có tiền ít đong gạo may ra đủ bữa tối ! ".
Ông Hiệu trưởng bảo cô giáo ra mua cho bé Lan ngay một ly sữa nóng .
Khi mang vào … cô nâng đầu cháu , lay cháu mở mắt , há miệng cho uống từng muỗng sữa .
Uống đến đâu bé Lan tỉnh dần đến đó . Uống cạn ly sữa , bé đã nói ngay : " Con đói quá và mệt . Củ khoai lang mẹ cho con ra chơi mải vui nên chưa ăn ! " .
Mọi người cười : " Ố ! tại đói ! Tưởng cô đánh bé thì Ban thanh Tra sắp về tới nơi rất kẹt ! " .
– Một em ngồi cạnh bé Lan đã đang xách cái cặp của bé Lan mang tới cho Lan . Cô mở cặp ra thì còn nguyên củ khoai lang …- nhỏ bằng nửa trái bắp !
– Trống vào học ! Bé Lan được theo mẹ về … bỏ dở buổi học !!!!!!!!!!!!
* Thày cô đói . Trò đói !
Trong lớp chỉ đầy những khẩu hiệu :
" Giáo Viên : Kỹ Sư Tâm Hồn " .
" Học Tạp Tốt là Cháu Ngoan của Bác Hồ "
" Yêu Đảng là Yêu Nước " .
" Lao động là Vinh Quang " .
***
Kết quả học tập cuối năm làm sao đủ chất lượng để cho lên lớp đã đề ra từ đầu năm học là lớp nào cũng được lên lớp 100% .
– Vậy mà cứ phải cho lên đủ 100%.
Trong phiên họp- tôi là giáo viên chủ nhiệm một lớp lại kiêm thêm phụ trách Hiệu Phó Chuyên Môn ( Vì có bằng Sư Phạm Cũ và dạy lâu năm ! ) nên tôi đã không chịu vấn đề cứ đủn hết học sinh lên lớp100 % như vậy .
Hiệu Trưởng bảo : CHO lên 100% là lệnh của Thành Phố đã ra chỉ tiêu .
Quận đã HẠ QUYẾT TÂM chỉ thị cho chúng ta PHẢI ĐẠT ĐƯỢC 100 % lên lớp ! Ai không nghe sẽ không được danh hiệu Tiên tiến ! .
– Tôi trả lời :
" Tôi không cần Danh Hiệu Tiên Tiến . Tôi chỉ dạy đạt có 60 % thôi ! ".
Hiệu Trưởng trả lời :
Chị không cần Tiên Tiến thì Tổ chị cần Tiên Tiến . Tổ không cần Tiên Tiến thì Nhà Trường cần Tiên Tiến . Nhà Trường không cần Tiên Tiến thì QUẬN cần TIÊN TIẾN " .
Và Hiệu Trưởng nhắc nhở : " Chị cần Tiên Tiến vì chị đang chưa được vào biên chế – không vào biên chế bị sa thải ! " .
– Tôi hết cãi !!!!!!!!!!!! !
Vì tôi sực nhớ ra câu Ca Dao Mới :
" LAO ĐỘNg LÀ VINH QUANG .
LANG THANg LÀ CHẾT ĐÓI .
HAY NÓI LÀ ĐI TÙ " .
Tôi đành xin một quyển sổ mới tinh mang về .
Thôi đành về thức trắng hai đêm sửa lại toàn bộ điểm cho học sinh . Đứa nào kém nhất cũng ở điểm trung bình = 5 .
Và lời phê về hạnh kiểm trò nào cũng Tốt . Đứa nào điểm trung bình thì hạnh kiểm Phê KHÁ !!!!!
THẾ LÀ ÊM !
***Trồng cây 10 năm . Trồng người 100 năm " .
Lời Hồ CHÍ MINH dạy như vậy đấy !!!
– Trồng NGƯỜI kiểu NÀY , Các Cháu BÁC HỒ tương lai chỉ đi đến BÁN NON SÔNG thôi !!!
THƯ KHANH
PHẠM DUY : "Giấc mơ hồi hương" sụp đổ.
Cô Gái Đồ Long
Trong phạm vi nào đó, âm nhạc và chính trị là hai phạm trù đối kháng với nhiều cá nhân coi âm nhạc đơn giản chỉ vị nghệ thuật và không – với những người dùng các sáng tác để ca tụng chế độ mình phục vụ hay bày tỏ chính kiến, quan điểm, tâm trạng về thời cuộc. Và như thế, Phạm Duy là một trường hợp mà hầu như ai cũng tỏ tường lý lịch và không nhất thiết phải mổ xẻ thêm nữa. Ở đây chỉ đề cập tới vài chuyện trong những năm qua khi ông quay về…

Phạm Duy 2005.
Phàm làm người, nhất là một nhân vật văn nghệ đặc biệt như Phạm Duy thì chuyện bỏ đi rồi lại quay về rất có nhiều cái dở nếu bàn về lập trường và quan điểm sống. Ở vào thời điểm tháng 5/2005, khi ông chính thức định cư Việt Nam sau 30 năm tha hương, hầu hết các báo đều hết lời ca tụng, tâng bốc Phạm Duy lên tận mây xanh. Người ta nhắc ông như người bạn thân thiết với nhạc sĩ Quốc ca Văn Cao và cùng Văn Cao sáng tác nhiều ca khúc trong thời kháng chiến chống Pháp, người ta khẳng định chắc nịch lần nữa rằng ông chính là một trong những cây đại thụ hiếm hoi còn lại của nền tân nhạc Việt Nam. Người ta cũng chỉ nói me mé rằng Phạm Duy đã sáng tác gần 1.000 ca khúc nói lên niềm vui, nỗi buồn, vinh quang, tủi nhục của người Việt trong suốt các thời kỳ sôi động nhất của lịch sử và lờ đi những chuyện phản phé, cũng như tư tưởng chống Cộng công khai của ông trước đây. Báo chí Việt Nam đã làm đúng vai trò và trách nhiệm của mình, trong xu thế cởi mở xem sự kiện Phạm Duy là động thái lên dây cót cho nhiều Việt kiều vứt bỏ e ngại rào cản mà quay về, ông trở thành nhịp cầu nối quê hương với người Việt xa xứ. Nếu nói theo cách khác, Phạm Duy đã trở thành con bài cho công cuộc vận động kiều bào và là điển hình hoàn hảo của chính sách hòa hợp dân tộc.


Trong suốt 5 năm qua, nếu theo dõi sẽ thấy có 70 bài hát, 7 album cùng nhiều sách của Phạm Duy đã được cấp phép, in ấn đẹp mắt xuất bản đến với công chúng, không bỏ bèn gì đối với gia tài của ông. Nhưng, thật là chẳng nên mơ mộng thêm điều gì nếu nhìn qua vài nhân vật cũng có nhân thân khá đặc biệt khác như Hoàng Thi Thơ, Trần Thiện Thanh, Vũ Thành An – 10 bài Không tên hiện vẫn chưa được phép lưu hành, cho dù nhạc sĩ này nghe đâu đã bỏ đời đi tu. Công lao đó không thể không nói tới Phương Nam Phim, nơi độc quyền khai thác các sản phẩm trí tuệ của Phạm Duy. Với những live show hoành tráng và nhiều mỹ cảm thực hiện tại Sài Gòn – Hà Nội như Ngày trở về, Con đường tình ra đi…trong đó có chương trình và album còn được để cử giải thưởng Cống Hiến. Ngày nào còn ngồi rung đùi nheo mắt ngắm nắng ở Mỹ có lẽ Phạm Duy cũng chẳng thể mơ được đến như thế! Phạm Duy còn có nhiều trường ca và tổ khúc viết trong 30 năm nay, ông thường ước ao giá được phổ biến nữa thì còn gì bằng. Mới tháng trước, Phạm Duy tự thực hiện tổ khúc Bên kia sông Đuống để tặng nhà thơ Hoàng Cầm khi bạn già này từ giã thế gian. Ông nhờ Mỹ Linh hát và Duy Cường hòa âm phối khí, xong mang tặng cho gia đình Hoàng Cầm …để lên bàn thờ. Kiểu này gọi là đĩa lậu đây! Khi kể xong chuyện, Phạm Duy còn bảo rằng nếu trước khi ông ra đi như Hoàng Cầm mà nghe được những tổ khúc của mình được công bố rộng rãi trên sân khấu thì đời mới thật mãn nguyện lắm lắm. Làm người ai chẳng tham lam!




Hôm rồi gặp, nghe Phạm Duy tâm sự: “Tôi ngày nào cũng đi bộ 3 tiếng đấy. Khỏe ra lại ăn được nhiều, cô giúp việc nhà nấu ngon lắm. Hiện Duy Minh đang sống với tôi, bố con chuyện trò rất hiểu ý nhau nên tinh thần cũng thoải mái. Buồn thì đi gặp vài người bạn khề khà thôi cũng hết buổi. Lâu rồi tôi không đi qua Mỹ nữa, năm ngoái chỉ sang để chữa bệnh đau ruột, mãn tính chữa mãi không khỏi nên thôi giờ không đi nữa. Tôi đã về Việt Nam 5 năm rồi, đây là nơi cuối cùng tôi chọn để ở và chết, không ưng đi đâu cả…”. Ở tuổi 91 như vậy coi cũng đã bằng an! Nhưng đó là chuyện cá nhân ông, còn người l&ag
rave;m kinh doanh lại không có lệ an phận như vậy, nhất là khi đã bỏ nhiều công sức và tiền bạc để Phạm Duy được đường hoàng trở về. Trong chừng thời gian đó là live show, các ấn phẩm sách báo rồi băng đĩa…cứ mỗi lần ra mắt, muốn bán vé bán đĩa bán sách thì phải PR, tiếp thị, phải lên báo đánh trống khua chiêng la làng để người ta còn biết đường mà mua hàng. Nếu theo dõi báo chí trong nước, sẽ không khó nhận ra ngoại trừ vài tờ báo lớn như Thanh Niên, Tuổi Trẻ có những mối quan hệ thân thiết với PNF thì các tờ báo mang tính định hướng chính trị – xã hội cao như SGGP, Nhân Dân, Công An sau khi ồn ào với sự kiện “Trở về” của Phạm Duy đã không còn đăng tải tin, bài về ông nữa. Mọi sự không tự nhiên mà như thế! Còn nhớ sau liveshow “Ngày trở về” tôi có bài review trên một trong những tờ báo đó và kết quả là ban biên tập đã được cấp trên gọi xuống nhắc nhở. Lần khác, khi bão Chanchu tàn phá miền Trung phòng trà Văn Nghệ có kết hợp với báo Công An tổ chức show “Phạm Duy – Về miền Trung” để quyên góp tiền cho nạn nhân lũ lụt. Thế nhưng giờ chót đã phải tháo băng rôn và gỡ tên báo ra vì có lệnh xuống là không được nhắc nhở gì tới Phạm Duy nữa, muốn tổ chức hát hò gì cứ âm thầm mà làm. Nói như giọng hằn học của ông NSND Trọng Bằng: “Bàn đến Phạm Duy những người chân chính ở Việt Nam đã biết cả rồi, biết Phạm Duy như thế nào trong quá khứ, Phạm Duy có cái gì tốt, cái gì chưa tốt, bản chất của Phạm Duy và giá trị thật âm nhạc của anh người nghe đều hiểu cả. Sự trở về của Phạm Duy là sự ưu ái của Đảng và Nhà nước, sự rộng lượng của nhân dân ta, nên đừng đặt mình ở vị trí cao, cứ nên im lặng mà làm việc thôi. Có những tác phẩm anh sáng tác đầu kháng chiển rất tốt, bây giờ Cục biểu diễn người ta khuyến khích cho phép anh trở về biểu diễn, thì cứ thế mà cống hiến thôi. Dư luận chúng ta hơi dễ dãi và nhẹ dạ. Nhưng vấn đề là Phạm Duy phải tỉnh táo. Vì ông hoàn toàn hiểu ông là ai, quá khứ đối với dân tộc của Phạm Duy là một tội lỗi. Ông không thể so sánh ông với bất cứ một nhạc sỹ nào đã tham gia cách mạng, vì thế ông không thể nào so sánh với nhạc sỹ Văn Cao. Không thể ví được. Văn Cao là một con người có trình độ, là một nhà nghiên cứu dân tộc, ông Văn Cao là một người toàn diện, và ông Văn Cao còn biết tôn trọng những người nhạc sỹ đàn em đi vào con đường âm nhạc bác học, một người rất khiêm nhường biết mình, biết ta. Giả sử có một nhạc sỹ X, Y, Z nào đó hỏi: Khi chúng tôi đi đánh Mỹ giải phóng dân tộc thì ông làm gì? Chắc chắn rằng nếu là người hiểu biết đều hiểu rõ khi đó ông là tác giả của các bài hát chống lại cách mạng, chống lại nhân dân, chống lại công cuộc giải phóng dân tộc…”.
Nhưng không ít ý kiến phản biện lại: Đánh kẻ chạy đi ai đánh kẻ chạy lại. Đã bảo hòa hợp mà sao lại nửa mùa như thế… Và người ta phỏng đoán rồi suy ra rằng: “À, Thì ra họ gia ơn cho về là may mắn lắm rồi!”. Có người còn hài hước qui cho bản chất không thay đổi của mấy anh Việt Cộng với ưu điểm – nhớ dai & khuyết điểm – thù dai. Trong cuộc trao đổi với những nhà văn Mỹ tổ chức tại Việt Nam tháng 6 vừa qua, nhà thơ Nguyễn Duy còn hào hứng nói:“ Vấn đề gì chính trị chưa giải quyết được thì văn hóa giải quyết”. Nhưng hình như đó chỉ là những định kiến và là chuyện nhạy cảm mà hai bên đều mơ mộng sẽ vượt qua được.


Duy Minh.
Về mặt trận báo chí là thế. Nhưng suy cho cùng, Phạm Duy cũng chẳng vì vài bài báo tâng bốc mà nổi tiếng hơn hay cát-xê tăng cao hơn như kiểu thường tình showbiz. Cái quan trọng – mà riêng cá nhân tôi vẫn dõi theo ông, là những ca khúc Phạm Duy viết sau khi trở về đã không còn hay nữa. Đã cố nghe vài bài nhưng thú thật là bây giờ rặn óc mãi vẫn không nhớ nổi cái tựa. Với Phạm Duy bây giờ chỉ có thể gói gọn lại một câu: Cái mới không hay và cái hay thì lại không mới. Và người ta vẫn cứ say mê những ca khúc đã thuộc về dĩ vãng, bíu lấy cái vầng sáng cũ kỹ kia. Lớp khán giả này hiện đa phần đã lớn tuổi và không hứa hẹn gì nhiều cho tương lai của nhạc Phạm Duy.
Những ngày đầu tuần không yên ả, khi sáng ra hàng chục cuộc gọi tới hỏi về cái lệnh miệng của Ban tư tưởng Văn hóa yêu cầu không cho quảng bá liveshow Mơ giấc mộng dài của Phạm Duy – diễn ra vào hai ngày 17&18 tại nhà hát Hòa Bình cuối tuần này. Mặc dù có tổ chức họp báo nghiêm túc, nhưng coi như Phương Nam Phim đành ngậm đắng nuốt cay khi biết nhiều bài viết đã
lên khuôn nhưng bị lột ra. Chưa hết, sáng nay không hiểu từ đâu có nguồn tin đồn: Mơ giấc mộng dài bị hủy show vì không xin giấy phép được, khiến nhà tổ chức xiểng niểng.


Giấy phép tổ chức của Mơ giấc mộng dài.
Kinh doanh tên tuổi Phạm Duy quả là chơi với lửa, đó cũng thể là những chuyện mà có lẽ PNF đã lường được khi quyết định đổ tiền vào ông. Lấy ý tưởng từ ca khúc nổi tiếng Tôi đang mơ giấc mộng dài, xuyên suốt chương trình sẽ là lời tự sự về dĩ vãng, về những cảm xúc đắm say mà những người sống trong tình yêu không bao giờ muốn để mất đi trong đời. Tất cả nối kết lại thành những giai đoạn của đời người: Tuổi ấu thơ – Tuổi yêu đương – Tuổi day dứt – Tuổi đá vàng. Thực tế hiện nay chỉ mới có 70 ca khúc của Phạm Duy được cấp phép lưu hành, trừ những bài hát trong hai chương trình đã diễn ra, thì muốn chọn lọc trong số còn lại để làm một show mang chủ đề lớn là điều rất nan giải.

Ca sĩ 16 tuổi Xuân Nghi

Các ca sĩ tham gia Mơ giấc mộng dài.
Trong đám đông ca sĩ hiện nay, Phạm Duy đánh giá cao những người hát nhạc ông: Mỹ Linh, Đức Tuấn, Năm Dòng Kẻ, Nguyên Thảo, Khánh Linh và lần này, trong Mơ giấc mộng dài sẽ có thêm vài gương mặt bổ sung vào danh sách là Tấn Minh và Hà Anh Tuấn. Ngoài ra là hai tên tuổi gắn bó nhiều năm với các nhạc phẩm Phạm Duy: Ý Lan và Duy Quang. Giá vé đang bán ở Hòa Bình: từ 300.000 đến 1.500.000 VNĐ.

Với vợ chồng nhạc sĩ Xuân Hùng – chủ PT Văn Nghệ
P/s:
Người ta thường xài hai chữ Nhạy cảm khi muốn từ chối bàn thẳng về một vấn đề có thể gây tác động đến dư luận. Không chỉ Phạm Duy thuộc chủ đề nhạy cảm chính trị, mà gần đây vài nghệ sĩ hải ngoại cũng nằm trong danh sách đó. Ngày 6-6 vừa qua, chương trình Thắp sáng niềm tin – do Ngân hàng ACB thực hiện nhân kỷ niệm thành lập ACB; nhằm quyên góp tiền ủng hộ quỹ từ thiện Chung một tấm lòng. Đêm diễn đặc biệt có mời Ý Lan về hát và mua sóng phát trực tiếp trên HTV7. Tuy nhiên, vào giờ chót Đài truyền hình TP.HCM đã yêu cầu gạch tên Ý Lan ra khỏi chương trình – cùng với lý do trên: nhạy cảm. Do đó, người hâm mộ chỉ có thể xem Ý Lan tại các phòng trà hay những show diễn không ghi hình phát sóng cho đại chúng.
Ông Nguyễn Cao Kỳ chia vui trong tiệc mừng nhà Lý Huỳnh. Kế bên là nhạc sĩ Hồ Bông, người ngồi là NSND Huy Thành và Đoàn Dũng. Chụp ngày 26-6-2010 trong dịp Sách kỷ lục VN công nhận Tây Sơn hào kiệt là Bộ phim Điện ảnh – thể loại dã sử võ thuật, đầu tư quy mô và hoành tráng nhất Việt Nam. Đây cũng là một nhân vật nhạy cảm và không còn được nhắc tới nữa, mặc dù ông vẫn thường xuyên về thăm quê hương. Thật ra, một đất nước giàu mạnh và một chế độ đã vững vàng…người người trên dưới một lòng thì không cần đặt ra lằn ranh giữa nhạy cảm chính trị và văn nghệ thuần túy! Thường thì ta chỉ e ngại những kẻ khỏe – giàu – đẹp hơn mình…Haizaaa!!!
Số 7 Kỳ Diệu
2. Có bảy "lỗ" trên đầu là :
– 2 mắt
– 2 lỗ mũi
– 2 lỗ tai
– 1 (lỗ) miệng
3. Chiến thắng lớn nhất trong trò quay số Slot Machine là 777 (đôi khi là 77777).
4. Bảy thiên thể (sao, hành tinh, vệ tinh,…) mà mắt thường có thể nhìn thấy trong Hệ Mặt Trời là (bắt đầu từ số 1 trên cùng, đi theo đường xiên phải xuống phía dưới) :
1, Sun – Mặt Trời
2, Moon – Mặt Trăng
3, Mars – Sao Hỏa
4, Mercury – Sao Thủy
5, Jupiter – Sao Mộc
6, Venus – Sao Kim
7, Saturn – Sao Thổ
5. Bảy thiên thể này tương ứng với bảy ngày trong tuần là :
1, Sunday – Chủ nhật
2, Monday – Thứ hai
3, (Pháp) Mardi – Thứ ba
4, (Pháp) Mercredi – Thứ tư
5, (Pháp) Jeudi – Thứ năm
6, (Pháp) Vendredi – Thứ sáu
7, Saturday – Thứ bảy
6. Số 7 là một số nguyên tố (Prime number).
7. Tổng của 2 mặt đối nhau trên một quân xúc xắc chính cống là 7.
Vi Tiểu Bảo và 7 người vợ (Tân Lộc Đỉnh Ký, 2007)
9. (Phật giáo) Lúc mới ra đời, Phật Tổ đã đi 7 bước trên 7 đóa sen vàng.
10. Có 7 "nhánh" trên vương miện của tượng Nữ thần Tự do.
11. Bạn không bao giờ gập đôi được một mảnh giấy bất kỳ quá 7 lần.
12. Nước tinh khiết nhận giá trị là 7 (trung tính) trên thang đo độ pH.
13. Cả thế giới đã lên "cơn sốt số 7" vào thứ 7 ngày mùng 7 tháng 7 năm 2007. Hôm đó, 7 kỳquan của thế giới mới được công bố tại Lisbon, Bồ Đào Nha; chương trình hòa nhạc "Live Earth" diễn ra tại 7 châu lục cũng như hàng chục ngàn cặp tình nhân tổ chức hôn lễ với những tiêu chuẩn "hoàn hảo" như 7 phù dâu, 7 phù rể, bánh gâteau 7 tầng, hoa 7 loại, tiệc 7 món, v…v…
14. Một số điện thoại địa phương có 7 chữ số.
15. Ánh sáng trắng – Cầu vồng : gồm 7 sắc
16.
Âm nhạc có 7 nốt :17. Trong cuốn sách “7 thói quen của người thàn
h đạt” (7 habits of Highly Effective People) củaStephen R. Covey – một cuốn sách đã nổi tiếng từ hàng chục năm nay trên khắp thế giới, như tiêu đề, gồm 7 thói quen.
18. Bí số của James Bond là 007.
19. Bảy điều lạ ở Thụy Sĩ :
1- Có nước Thụy Sĩ mà không có tiếng Thụy Sĩ. Ngôn Ngữ chính của nước này là Đức, Ý, Pháp.
2- Người dân của nước này là do người dân của 3 nước Đức, Ý, Pháp hợp thành.
3- Nhiệm kỳ của nguyên thủ nhà nước và người đứng đầu nhà nước chỉ có 1 năm.
4- Thụy Sĩ tuy là nước trung lập vĩnh cữu nhưng có lực lượng quân đội rất quy củ. Đây là một loại chính sách trung lập vũ trang.
5- Thụy Sĩ có diện tích rất nhỏ, tài nguyên khan hiếm nhưng thu nhập ngoại tệ khá nhiều, mức sống củangười dân khá cao.
6- Tuổi đến trường của học sinh không đồng nhất, thời gian khai giảng cũng không giống nhau, chế độ giáo dục và nội dung giảng dạy trong nhà trường của từng bang cũng khác nhau.
7– Thụy Sĩ không gia nhập Liên Hợp Quốc nhưng tổng bộ của Liên hợp quốc lại được đặt ở Genève (Thụy Sĩ). Ngoài ra, tổng bộ của Hội chữ thập đỏ quốc tế và tổ chức lao động quốc tế cũng được đặt tại đây.
20. Bảy thứ quý báu (Thất Bảo) :
21. Có 7 vị chính :
23. Số 7 kỳ diệu trong phép nhân và chia :
Phép chia 1/7 = 0,142857
142857 * 1 = 142857
142857 * 2 = 285714
142857 * 3 = 428571
142857 * 4 = 571428
142857 * 5 = 714285
142857 * 6 = 857142
Khi ta nhân 142857 với 7, kết quả là:
142857 * 7 = 999999
24. Phép khai căn bậc 7 kỳ diệu :
25. Có 32 quân trên bàn cờ tướng, gồm 7 loại quân khác nhau là :
1- Tướng
2- Sĩ
3- Tượng
4- Xe
5- Pháo
6- Mã
7– Tốt
26. Bảy ngôi sao sáng nhất trong chòm sao Đại Hùng (Ursa Major) tạo thành mảng sao Bắc Đẩu(Big Dipper), còn được gọi là Bắc Đẩu thất tinh. 7 ngôi sao đó là :
1- Dubhe – Sao Tham Lang
2- Merak – Sao Cự Môn
3- Phecda – Sao Lộc Tồn
4- Megrez – Sao Văn Khúc
5- Alioth – Sao Liêm Trinh
6- Mizar – Sao Vũ Khúc
7– Alkaid – Sao Phá Quân
27. Nữ tác giả người Anh Joanne Kathleen Rowling đã trở thành 1 trong những người giàu có nhất thế giới với bộ truyện lừng danh Harry Potter.
Bộ truyện gồm 7 cuốn là:Số 7 được coi là con số có ma lực mạnh mẽ nhất trong truyện và được lặp lại nhiều lần. Nhân vật nam chủ chốt của truyện là Harry James Potter, sinh ngày 31 tháng 7. Ginny là đứa con thứ 7 trong gia đình Weasley (con gái út). Chương trình học tại Học viện Hogwarts kéo dài trong 7 năm. Chúa tể hắc ám Voldemort chia tâm hồn mình ra làm 7 phần và gửi vào 7 chiếc Trường Sinh Linh Giá… vv… và vv…
28. Có 7 vị thần mang đến may mắn cho con người trong nền văn hóa Nhật Bản. Họ được gọi làShichifukujin, thường được miêu tả, phác họa với vẻ ngoài khá ngộ nghĩnh, ngồi trên chiếc thuyền Takarabune chở đầy kho báu và bảo bối.
Thất Phúc Thần gồm có :
1- Ebisu: thần phù hộ người đi biển và nhà nông. Bạn có thể thấy Ebisu là vị thần đầu tiên đội mũ đỏ, cầm cần câu và ôm cá trong hình.
2- Daikoku: thần của thương nghiệp và của cải, mùa màng; là cặp bài trùng với thần Ebisu. Thần Daikoku thích Phật-Pháp-Tăng và ăn uống, có thể mang đến may mắn và biến điều ước thành sự thật; hay cầm một cái bao và chiếc vồ nhỏ bằng gỗ.
3- Bishamon: thần bảo vệ Phật giáo và hòa bình; ban phát của cải và may mắn cho người nghèo hoặc những người xứng đáng. Thần là người mặc quân phục màu xanh lá và cầm mâu trong hình.
4- Benten: vị thần nữ duy nhất. Bà là thần của kiến thức, tài biện luận, âm nhạc và cái đẹp.
5- Fukurokuju: thần Phúc-Lộc-Thọ, là vị thần của những điều may mắn, tiền tài, trí tuệ, công danh và sức khỏe. Thần đứng thứ 3 trong hình vẽ, đội mũ văn nhân, cầm gậy.
6- Jurojin: phiên âm Hán-Việt là "Thọ lão nhân", thần của sức khỏe, sự trường sinh và trí tuệ. Thần được vẽ với cái đầu rất dài, râu dài bạc phơ, cầm trượng dài, trên trượng có gắn bí kíp trí khôn nhân loại, đặc biệt có phần nói về cách sống lâu.
7– Hotei: thần của tiền tài, phước lộc và sự thịnh vượng. Ông là một vị thần mập mạp, hay cầm quạt tre (hay lá chuối gì đó
), thường được người Việt Nam gọi là "Phật cười". 29. Bảy công trình kiến trúc và điêu khắc được người xưa cho là vĩ đại nhất hợp lại thành danh sách "Bảy kỳ quan của thế giới cổ đại", gồm có :1- Đại kim tự tháp Giza (Ai Cập) – kỳ quan duy nhất trong danh sách còn tồn tại đến ngày nay.
2- Vườn treo Babylon (Iraq)
3- Tượng thần Zeus ở Olympia (Hy Lạp)
4- Đền thờ nữ thần Artemis ở Ephesus (Thổ Nhĩ Kỳ)
5- Lăng mộ Mausolus ở Halicarnassus (Thổ Nhĩ Kỳ)
6- Tượng thần mặt trời Helios ở Rhodes (Hy Lạp)
7- Hải đăng Alexandria (Ai Cập)
thì bạn có viết được số 7777 bằng chữ không ?
Quá đơn giản, chỉ việc viết gộp các thành phần của nó lại là xong
. Tức là :7777 = 7000 + 700 + 70 + 7 = sjutusensjuhundrasj uttiosju
34. Thế giới có thể được phân chia thành nhiều nhất 7 lục địa: Bắc Mỹ, Nam Mỹ, Âu, Á, Phi, Úc, Nam Cực.