Trần Mộng Tú : Công Chúa Mùa Xuân

Trần Mộng Tú

 

                                                      CÔNG CHÚA VÀ MÙA XUÂN

 

 

         Khí trời vẫn còn lạnh lắm, sáng tây bắc Mỹ vẫn mù sương. Chiếc hồ chạy dài trước nhà như có như

không, đứng ở tả ngạn không nhìn thấy hữu ngạn, dốc thấp không nhìn thấy đồi cao, xe sau không nhìn thấy

 xe trước. Bình minh, hai tay vẫn phải giấu kỹ vào trong túi áo khoác khi tản bộ trong xóm, những ngón tay

 thỉnh thoảng lại co vào nhau như hỏi xem có ngón nào đã ấm chưa? Đi vòng mấy con dốc vừa hết một bình

 minh, vẫn không hết lạnh.

 

Thế mà buổi trưa, sương vừa tan từng chỗ như lụa được mang cắt chia nhau từng khúc; đoạn dài may áo,

đoạn ngắn may khăn. Nhìn ra vườn sau, trên sườn đá hai con nai ở mé bìa rừng tây nam đang lững thững vào

 vườn, chúng đi tìm nụ non của mấy bụi hồng dại, chúng đi tìm những cánh hoa báo xuân ( Primroses). Hóa

 ra mùa xuân đã thực sự đến rồi.

Chúng lững thững đến, ngơ ngác nhìn quang cảnh, cúi xuống tìm hoa ăn, xong lại lững thững đi. Người

ở trong cửa kính, nín thở, không dám gây tiếng động, người nhìn nai, nai nhìn người. Cuối cùng, có đến,

phải có đi.

 

Nai tìm về vườn sau, có nghĩa là xuân đang đến. Ai đó hấp tấp chạy ra vườn tìm mùa mới. Hai cây đào ngoài

 kia, một cây bên trái, phía tây nam, cao ngang với mái nhà, hoa cánh đơn phơn phớt hồng, có hương thơm rất

 nhẹ; một cây giữa vườn sau, cây chiết, có hai loại hoa khác nhau, mầu hồng cánh kép, và mầu trắng như hoa

mơ. Cả hai cây, chíu chít nụ, những nụ đã nứt ra một chút ở đầu như báo hiệu sự có mặt sắp đến. Đứng hết

dưới gốc cây này, sang gốc cây kia, nhìn lên những cành nụ vươn ra trong nắng mới; không khí ngọt ngào,

 tinh khiết, khe khẽ lạnh; người ngồi xuống, cúi nhìn đất, tìm những nụ hoa Daffodils (thủy tiên đất), hoa

Tulips (kim hương) đang thi nhau chồi lên khỏi mặt đất. Người biết chỉ còn hai tuần nữa thiên nhiên sẽ cho

 những đóa hoa tuyệt đẹp. Hoa Irish (diên vỹ) và Rhododendron (sơn lựu) hoa Peony (mẫu đơn) cũng đang

 chồi lên, ra nụ. Đây là những đóa hoa sẽ nở vào tháng năm.

Cây Magnolia (mộc liên) sát cửa sổ buồng ăn, sẽ cho những đóa hoa như bông sen trắng với những chiếc

 lá dầy xanh biếc như được cắt ra từ một khối ngọc nào đó, vào tháng sáu.

Chao ôi! Nói về hoa thì làm sao kể tên cho hết. Mỗi mùa một loài hoa nở, ngay cả mùa thu, lá thu cũng khác

 gì những cành hoa gấm trên cây, mùa đông lạnh giá cũng còn có hoa xuyên tuyết (Croquets), và ai kia còn

 nhìn sông nước gọi: “Hoa sóng,” nhìn trời gọi: “Hoa mây”

   Mỗi lần người nghe thiên nhiên cựa mình theo gót chân nai trở về, mang mùa xuân vào vườn, bỗng có câu

 thơ cũng chợt trở về:

 

 Huyền Trân Huyền Trân ơi

 Mùa xuân mùa xuân  rồi

 Ngoài kia chín vạn bông trời nở

 Riêng có tình ta khép lại thôi.(Nguyễn Bính)

 

Mấy câu thơ của Nguyễn Bính tả mối tình huyền hoặc của Huyền Trân và Trần Khắc Chung

Cô công chúa ở tuổi xuân và đẹp như hoa xuân đó có đoạn sử nói cô là người yêu của quan Thượng

Tướng Trần Khắc Chung trước khi cô sang Chiêm quốc.  Huyền sử kể lại rằng: Công chúa ngại đường sông,

 sang Chiêm về nhà chồng bằng đường bộ, quan thượng tướng Trần Khắc Chung đi tháp tùng, khi đến đèo

 Hải Vân, đoàn lữ hành dừng lại nghỉ chân, công chúa đã viết bài thơ “Nước Non Ngàn Dậm Ra Đi” để gửi

tâm tình mình cho người yêu vào đó:

 

Cái tình chi !
Mượn màu son phấn,
Đền nợ Ô Ly,
Xót thay vì,
Đương độ xuân thì,
Độ xuân thì,
Số long đong, hay là duyên nợ gì ?
Má hồng da tuyết,
Quyết liều như hoa tàn, trăng khuyết.
Vàng lộn theo chì.
Khúc ly ca,
Sẽ còn mường tượng nghe gì ?
Thấy chim hồng nhạn bay đi,
Tình lai láng,
Hướng dương hoa Quì
Dặn một lời Mân Quân :
Như chuyện mà như nguyện,
Đặng vài phân,
Vì lợi cho dân,
Tình đem lại mà cân,
Đắng cay trăm phần…

 

Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư thì Trần Khắc Chung có mang lòng yêu  công chúa Huyền Trân. Cứ tưởng

 tượng huyền sử trên là có thật thì mối tình của hai người đẹp và đáng thương biết nhường nào; Nhưng

cũng theo quốc sử Trần Khắc Chung lại là một trong những người đồng ý đem gả công chúa cho vua

Chiêm để đổi lấy hai châu Ô, Ly. Tại sao? Có phải Trần Khắc Chung đặt tình yêu nước lên trên tình riêng

hay không? Ta hy sinh tình yêu của ta cho bờ cõi nước Đại Việt được mở mang. Nào ai biết rõ được tâm

tư ấy!

 

Trong dân gian, người ta thương tiếc một vị công chúa sắc nước hương trời, cành vàng lá ngọc, phải

 đem gả cho Chế Mân (còn được coi là Mán) nên đã có câu đồng dao:

 

 Tiếc thay cây quế giữa rừng

 Để cho thằng Mán, thằng Mường nó leo

 

Khi vua Chiêm mất, Trần Khắc Chung sang cứu công chúa khỏi dàn hỏa và hai người lênh đênh trên

 sông nước một năm mới trở về đến quê nhà. Nhưng sử sách của nước non Chiêm phủ nhận điều đó. Ta

 hãy đọc một đoản tài liệu sử Chàm dưới đây:

 

“Vua Champa Jaya Simhavarman đệ tam (tiếng Việt gọi là Chế Mân) đã dâng hiến cho Ðại Việt vào năm

1306 hai vùng Ô và Ly (lãnh thổ của Huế hôm nay) để được kết hôn với công chúa Huyền Trân của Ðại

Việt. Sự kết hôn này đúng là một vở bi kịch tình sử. Vì rằng chưa đầy một năm chung sống với công

chúa Ðại Việt, Jaya Simhavarma đã tử trận trong một khung cảnh vô cùng mờ ám, để rồi Huyền Trân tìm

cách chạy trốn về Thăng Long với Trần Khắc Chung mà chưa ai hiểu được nguyên nhân nào để giải thích

 cho sự hiện diện của Trần Khắc Chung trong bối cảnh lịch sử này. Nhiều câu hỏi thường được nêu ra

vì cái chết đột ngột của vua Jaya Simhavarma đệ tam. Nguyên nhân nào giải thích cho mưu mô chạy

trốn của công chúa Huyền Trân, trong khi ai cũng biết rằng công chúa Ðại Việt này không thể hội đủ

điều kiện để xin lên giàn hỏa. Nếu theo truyền thống Champa, chỉ có bà hoàng hậu chính thức mới được

 phép để hiến thân trên giàn hỏa với chồng của mình.” ( *)

 

    Cũng theo sử, tuân lệnh di ngôn của Thượng Hoàng Trần Nhân Tông, khi về đến hoàng cung

(năm 1308), công chúa được gửi vào chùa để tu đến hết đời (Khi sang Chiêm công chúa 19 tuổi, hơn

một năm sau vua Chiêm mất; lúc Trần Khắc Chung đón công chúa mới 20 tuổi) Lênh đênh sông nước

 một năm, ở tuổi 22, công chúa được đầu gia Phật giáo, tu tại núi Trâu Sơn (nay thuộc Bắc Ninh), năm

 1311 Công Chúa cùng một thị nữ về tu ở dưới chân núi Hổ (Huyện Thiên Bản, Nam Định) công chúa

 qua đời ở tuổi 53.(1287-1340).Hiện nay ở Huế có điện thờ Công Chúa Huyền Trân.

 

Người thời nay, ngẫm lại, chỉ trong vòng ba năm, cuộc đời của công chúa Huyền Trân

đã qua bao nhiêu thay đổi và thay đổi nào cũng là những đánh dấu ngàn thu.

 

 Công chúa Huyền Trân sang làm vợ vua Chiêm để mang về hai châu Ô, Ly (lãnh thổ Huế ngày nay)

là có thật trong quốc sử, nhưng chung quanh bộ ba: Công chúa Huyền Trân, quan thượng tướng

Trần Khắc Chung, và vua chiêm Chế Mân, có rất nhiều huyền sử.

 

Theo huyền sử kể lại:  Khi sang Chiêm gặp chồng là vua Chế Mân, một vị vua oai phong, trẻ đẹp công

 chúa không hề oán ghét, công chúa sanh cho vua một vị hoàng tử, và bình tâm sống trong địa vị và hoàn

cảnh của một bà hoàng hậu nước Chiêm. Nhưng sang năm thứ hai, Trời mở ra một trang đời khác cho công

 chúa không kém phần ngoạn mục, cho nàng được lênh đênh trên sông nước với người yêu hơn 365 ngày

. Trai tài, gái sắc, tình xưa; chắc chẳng còn gì đẹp bằng!(theo huyền sử). Năm thứ ba Trời lật trang sách

 kế tiếp (theo quốc sử.) Công chúa đi vào sau cánh cổng chùa. Nét mặt còn đẹp như hoa mận, tóc còn

 mướt như liễu xanh. Công chúa qùy xuống, cổng chùa đóng lại. Thật may mắn thay khi trang kinh được

 mở ra, những trang quốc sử, tình sử, huyền sử, được Trời đóng lại như gắp một cuốn sách, để lên kệ.

      

Một bài thơ để lại cho hậu thế về cái giá trị của một trang quốc sắc.

 

 

Công Chúa Huyền Trân

 

Đổi chác khôn ngoan khéo nực cười,
Vốn đà không mất lại thêm lời,
Hai châu Ô, Ly vuông ngàn dặm,
Một gái Huyền Trân của mấy mươi !
Lòng đỏ khá khen lo việc nước,
Môi son phải giống mãi trên đời.
Châu đi rồi lại châu về đó,
Ngơ ngẩn nhẩn nhau mấy đứa Hời. (Hoàng Cao Khải)

 

Chỉ sau ba ngày đầy nắng, mùa xuân thực sự đã về trên những cây hoa đào trong vườn nhà, trên những

 con lộ trong làng, chúng nở tung những chùm hoa kiều diễm. Hoa có biết là những người con gái, không

 phải là hoa nhưng nhan sắc của nàng đã viết lên những trang sử diễm lệ hay không?

 

Tháng Tư/2009

 

    (*) Để Hiểu Thêm Về Lịch Sử Champa- TS Po Dhama.

      Tài liệu: Tự Điển Bách Khoa

Trần Mộng Tú : Trùng Dương Ơi !

 Trần Mộng Tú

                                                    TRÙNG DƯƠNG ƠI!

 

                                                   “Gửi Thái, Thiết, Vân, Frank và mùa Hè ở Bandon.”

 

 

  thở nhẹ nhàng, biển mở mắt ra, biển nhắm mắt lại, biển

 an hòa. Sóng xô như gió thổi nhẹ trên cánh đồng mạ

xanh, sóng mềm như mi mắt người tình, bọt sóng như

 một chuỗi hạt trai dài vô tận.

Tám bàn chân từ xa rủ nhau đến, gọi hai bàn chân bạn.

 Mười bàn chân cùng chạy về phía biển.

 Những bàn chân đi bên cạnh nhau, lúc dang xa, rời rạc,

 riêng tư, lúc chập vào nhau ríu rít. Ngửa mặt, nhìn trời,

mây trắng nõn từng cụm trên nền xanh biếc. Mây uốn

 lượn, thay đổi hình dáng, vẽ bức tranh vân cẩu. Cúi xuống,

 nhìn sóng nước. Chao ơi là đẹp! Biển êm như tấm chăn

 vừa tung ra; sóng nhẹ, đánh lên bãi như sữa đổ; cát mịn như

da thịt thanh xuân. Có tiếng ai hỏi:

 

     Muốn đến Hoàng Sa đi lối nào?

 

     Cứ đi thẳng hướng tây.

 

    Nghĩa là cứ dẫm lên sóng nước, cứ băng qua mầu xanh mênh mông này?

 

     Đúng.

 

    Không phải đâu, đừng nghe, cứ rẽ về tay phải, hướng bắc.

 

Một giọng khác cất lên:

 

          Hay mình rẽ trái, về hướng Nam đúng hơn.

 

          Tốt hơn về nhà, vào Map Quest. Điểm khởi hành là Bandon, Oregon- Mỹ, điểm đến là Hoàng Sa, Việt Nam.

 

 Ngập ngừng một chút, tiếng ai chen vào:

 

          Có chắc không, coi chừng gây lúng túng cho Map Quest, Hòang Sa, bây giờ thuộc Trung Quốc chứ.

 

         Im lặng, chỉ có tiếng sóng đánh nhẹ lên những bàn chân. Một tiếng nói thật khẽ lại cất lên:

          Nhưng vào Map Quest rồi, biết đường rồi, có về tìm lại không?

 

Không thấy ai trả lời. Những bàn chân cứ bước song song với biển và tiếng trả lời cứ giữ trong lòng.

 

 

  Cứ thế mà đi trên bãi, những dấu chân mờ dần trong cát theo buổi chiều đang xuống.

 

Những bàn chân của kẻ xa xứ, đang in dấu trên cát của bên này bờ đại dương, trong cái an vui bè bạn, vẫn có

 cái ngậm ngùi riêng mang. Mỗi hồn vọng ra biển, về phía bên kia bờ, một cách khác nhau.

 

 Đêm về, biển gọi bằng những tiếng còi hu…hu…hu…từ Light House (Nhà hải đăng) suốt đêm. Nằm nghiêng

nghe biển gọi, ôm sóng đầy lòng. Sóng không hiền nên mi mắt không khép lại trong đêm. Trở dậy uống ly nước

 lọc. Chao ôi! Làm sao uống được trùng dương vào lòng.

Ngôi nhà nằm song song với biển, đêm tĩnh lặng, không trăng, dán mắt vào khung kính cũng chỉ nhìn thấy những

mái nhà như những vòm nấm khổng lồ, trải dài phía biển. Đêm như những miếng thạch đen, cắt vụn ra từng miếng.

 

Biển sáng nay thức dậy hung hãn, sóng đổ những tiếng gầm nghe xa như tiếng sấm. Rủ nhau xuống bãi xem mặt

 trời lên. Vừa đi vừa xăm xoi nhìn dấu vết tinh khôi đầu ngày mới in xuống, nào hay, đã có những dấu thức dậy

 sớm hơn mình: Dấu bàn chân trần đủ năm ngón và gót lõm xuống cát, bàn chân là dấu vết bước vào đời nguyên

 thủy mong manh đầu tiên của con người; dấu gót giầy thể thao khỏe mạnh vẽ những vạch uốn lượn, vững chắc;

 dấu chân ngựa tròn cái vết móng sắt in sâu một cách tự tin; dấu lượn vòng của lốp xe đạp, như một trò chơi trên

cát; dấu chân chó to, nhỏ, gần gũi, thân mật; nhưng ngoạn mục nhất, nhiều nhất là dấu chân của bầy chim biển,

chúng thanh mảnh, như những cái tăm. Mới nhìn xuống, tưởng như ai tinh nghịch vừa vứt tung ra một nắm tăm

tre trên bãi. Nhìn một lúc, thấy cũng giống như vết cào xước trên lưng cát. Dấu chân chim nhiều lắm. Sóng chưa

 kịp kéo đi hết, đàn chim lại sà xuống in những dấu chân mới. Biển là thế giới của hải âu. Chúng sống và chết với

sóng, với cát. Suốt dọc dài của biển, thỉnh thoảng lại gặp một xác hải âu, chúng chết thế nào, cách nào, ai biết. Chỉ

 thấy cái chết  của chúng thảm quá! Sóng đánh xác vào tận trong bãi, đã bốc mùi. Cánh rời ra từng chiếc, rải rác

 trên bãi. Nhìn xác chúng, khó hình dung được khi còn sống, những cánh chim bay là là trên mặt nước xanh, nô

đùa với sóng là đề tài cho bao nhiêu bài thơ, bản nhạc, bức hình, tranh vẽ. Những cánh chim đó còn bay vào trong

kỷ niệm của những mối tình.

Rồi những con dã tràng nhỏ xíu, chạy thật nhanh, trốn thật nhanh, khi ẩn, khi hiện, không làm sao bắt kịp chúng.

 Chúng xây lâu đài trên cát như loài người xây mộng  lớn, mộng con trong đời. Cũng mong manh, cũng xụp lở,

cũng tiếp tục xây lại từ đầu.

 Trên bãi còn những thân cây nằm ngang dọc, chúng gẫy đổ ở rừng nào, ai biết được! Chỉ biết chúng trôi dạt ra biển,

sóng kéo vào bờ. Chúng mất gần như hết lớp áo mặc ngoài, chúng bị sóng vùi dập, sóng soi mòn, chúng không còn

 giữ được cái vẻ nguyên thủy của cây nữa. Đôi khi trông chúng giống như một bông hoa biển khổng lồ, đôi khi như

vòng tay âu yếm của người mẹ, hay cái đầu ngơ ngác, thất thần của một con vật không rõ hình, ở quá lâu trong

nước biển.

 

Biển hôm nay không hiền nữa, biển đang nổi cơn giận dữ. Vừa đi song song với biển vừa nghe như một nỗi đe

dọa phủ chụp xuống mình. Nhìn con sóng dâng cao, đứng thẳng, rồi đổ xuống một tiếng rầm, những bàn chân

chùn bước lại. Đứng lui vào trong, tránh sóng tràn lên, để rồi chạy không kịp, vẫn ướt gần qua đầu gối. Nhìn ra

 ngoài khơi, không thấy tỏ đường chân trời. Biển khuất lấp một phần, bởi sương phủ kín từ xa, kéo thẳng một

hàng song song với mặt biển; sóng dâng cao, tới tấp, trắng xóa đánh vào bờ, hóa thành một bức tranh với mầu

 xanh của nước ở giữa, mầu trắng của sương và của sóng cùng ôm hai bên.

 

 Ai đó lại chỉ tay ra biển, lên tiếng:

 

       Tưởng tượng đi, tưởng tượng một chiếc thuyền mong manh, với hai, ba chục người. Già có, trẻ con có,

 đang kêu khóc, vật vã trên đó. Làm sao mà không chìm, làm sao mà bơi qua đầu ngọn sóng, để sống còn.

 

    Có đấy, có người Trời cứu, sống còn. Nhưng họ nói, đến chết không bao giờ dám nhìn biển nữa.

 

Câu thơ của Vũ Hoàng Chương được một người đọc lên:

 

        Lũ chúng ta đầu thai nhầm thế kỷ

        Bị quê hương ruồng bỏ giống nòi khinh

 

 Rồi một người khác tiếp theo:

 

        Biển vô tận xá gì phương hướng nữa

        Thuyền ơi thuyền theo gió hãy lênh đênh.

 

  Lạ thật đấy! Thi sĩ có phải tiên tri đâu mà làm câu thơ cho vận vào cả một dân tộc như vậy.

 

          Dân tộc mình bị vận từ thời trứng nước. Khi không cha mẹ chia tay, người đem con lên núi, người mang

 con xuống biển. Rồi bặt tăm, chẳng quay đầu nhìn lại nhau. Cha mẹ không nhìn nhau, nên con cháu, tàn

sát nhau không thấy động tâm, không thấy rung lòng.

 

Im lặng, chỉ có tiếng sóng trả lời. Những bàn chân vẫn bước song song với biển.

 

Những ngày ở biển, có hôm sóng hiền hòa, có hôm sóng giận giữ. Nhưng bầu trời lúc nào cũng trong xanh và

 mây trắng từng mảng lững thững trôi, những đám mây vô xứ.

Những bàn chân vẫn sáng, chiều, rủ nhau ra bãi. Bước song song với biển, nghe sóng đánh trong lòng. Họ vừa đi

 bên nhau, vừa nói chuyện văn chương, chuyện quê nhà, quê người, chuyện sông, chuyện biển.

 Vừa đi vừa ngửa mặt nhìn trời xanh, mây trắng, rồi lại nhìn đường chân trời giáp với biển, tưởng tượng quê

 hương mình ngay đó, ngay cái ngấn mênh mông trời nước đó.

 

    Chia tay, người ở lại với biển. Sáng, chiều nghe sóng động một mình, đuổi theo mây trắng trên trời một mình.

 

 Người về hồ, lặng đứng nhìn những chiếc thuyền nhỏ đang lũng thững dăng buồm, trôi hiền hòa trong dòng nước

 êm ả không một tiếng động. Câu hát nào từ một cõi xa xăm bỗng vọng về:

 

“ Trùng dương ơi, có xót xa cũng hoài mà thôi!” (*)

 

 

 tmt

 Tháng 9/09

 

(*) Ngày Đó Chúng Mình- Phạm Duy

Nguyễn Tầm Thường : Ngày Lễ Bạc

NGÀY LỄ BẠC

 

Tôi chết được 25 năm rồi.  Hôm nay tôi trở lại tảo mộ lần thứ hai.  Tôi gọi là Ngày Lễ Bạc.

 Tôi tảo mộ lần thứ nhất.  Lần đó tôi kể trong tập sách Cô Ðơn và Sự Tự Do, đoản khúc số 59.  Ngày đó mộ tôi không có hoa.  Không có ai đến mộ tôi cả.  Tôi đứng đó hồi hộp suốt buổi chiều. Mây xuống thấp, xám một hoàng hôn.  Rồi trời tắt nắng phía sau hàng cây.  Tôi còn nhớ rõ hôm ấy trời không gió.  Nghĩa trang im lìm.  Sau ba năm tôi chết, vẫn còn ít người nhớ và cầu nguyện cho tôi.  Nhưng không ai ra nhìn mộ tôi.

 

Tôi biết nếu trở lại vào năm sau thì cũng thế.  Thản nhiên như một cánh chuồn chuồn đậu hờ hững trên một bờ giậu thưa nào đó.  Không có gì hồi hộp nữa nên tôi không trở lại. Ðợi 25 năm sau.  Một kỷ niệm đặc biệt hơn.  Ngày Lễ Bạc.

 

Tôi đang đứng trong nghĩa trang, chỗ tôi đứng lần thứ nhất cách đây hơn 20 năm về trước.

Tên tôi vẫn còn.  Tên được khắc vào mộ đá.  Nhưng rêu lắm rồi, dơ bẩn nữa.  Mộ đá không còn sạch như ba năm sau khi tôi chết.  Bây giờ sần sùi, mốc rêu xanh.  Ngày xưa không có cây cổ thụ ở chỗ này. Họ trồng bao giờ thế?  Cả cái nghĩa trang này bây giờ cũng khác.  Ngôi mộ cạnh tôi không còn.  Họ bốc đem đi hồi nào mà bây giờ có một cái tên lạ hoắc.

 

Trên cành cây già, một loại côn trùng nào đó rỉ rả tiếng kêu cuối mùa.  Hôm nay cũng không có gió như lần trước.  Những chiếc lá lặng lẽ.  Nghĩa trang cũng yên tĩnh như ngày xưa.

 

Tôi đến gần mộ, nhìn xác tôi dưới đất sâu.  Chiếc quan tài gỗ mục từ bao giờ?  Ðất sập kín lẫn với xương.  Ðất dưới đó ẩm ướt.  Có bùn sền sệt.  Nước quanh năm.  Tôi không còn hình hài gì cả.  Có những con trùng trườn qua trườn lại trên khúc xương.  Người ta bảo trắng như xương.  Thật không phải thế, xương lấm dơ đen, rỗ những vết bọ ăn, bùn cắn chặt vào những kẽ nứt.  Bọ ăn làm các xương không còn nhẵn nhụi.  Chiếc sọ đầu còn nguyên vẹn hơn cả.  Hai cuồng mắt rất to.  Tôi nhìn xuống, chiếc sọ cũng giống như trăm nghìn chiếc sọ khác.  Tôi không thể phân biệt được.  Ngày còn sống, tôi băn khoăn về làn da.  Nhìn kìa!  Chỉ tuần lễ sau khi chết.  Nó rữa ra.  Ngày còn sống, tôi chải chuốt mái tóc.  Tôi tìm cách nhuộm cho người ta thấy mình trẻ.  Tôi băn khoăn về cái nhìn.  Tôi muốn chinh phục.  Bây giờ cái sọ trọc, rỗng, nhúc nhích loại giun nào trong đó?  Tôi đứng nhìn tôi, tôi nhìn sang tất cả những xác chung quanh và tôi sợ.  Tôi thấy xa lạ với chính mình.  Hình hài thân xác tôi đấy ư? Tôi đang mừng 25 năm, Lễ Bạc sao?  Còn đâu những lúc băn khoăn mùi nước hoa nào, Chanel số 5 hay 8?

 

Tôi biết chắc là không có ai đến mộ tôi 25 năm sau.  Tôi biết là không có hoa ở mộ.  Tôi không hồi hộp gì cả, tôi không chờ đợi gì cả khi trở về đây.  Kỷ niệm 25 năm ngày tôi chết là của riêng tôi. Hôm nay tôi có thì giờ nhìn ngắm tôi và những gì xảy ra nơi đây.

 

Ở một góc kia, người ta đang khóc.  Một đám tang đang chôn.  Có linh mục mặc áo lễ.  Lại cũng có ca đoàn hát.  Sao mà giống tôi 25 năm về trước thế.  Hoa chung quanh mộ, rồi mấy hôm nữa hoa sẽ rữa, người được thuê làm vệ sinh lại hốt đổ vào thùng rác.

 

Có những mộ bia không còn hình dạng.  Họ ra đi trước tôi lâu rồi.  Có người mới chôn vài năm nay, có người mười năm, có người hai mươi năm, có người cả trăm năm.  Ghê nhất là những người mới chôn.  Ngôi mộ này của một người đàn bà.  Chết đã tháng nay.  Áo quần còn mới, nhưng xác rữa rồi, lúc nhúc dòi bọ.  Chiếc quan tài còn cứng, xác trong đó phồng căng, sình rữa.  Tóc bết lại.  Áo nhung và thịt kết dính chặt lại.  Những con dòi trắng cắn loang lổ nhiều vùng vải lỗ chỗ.  Ðấy cũng là hình hài tôi 25 năm về trước.

 

Ngày còn sống tất cả những người đang nằm đây xum xuê từng ngọn tóc, mà bây giờ thế ư?

Tôi đi tìm xem ai là người trí thức.  Không thấy ai cả.  Chết được vài ngày, tất cả sọ người đều nồng nặc hôi thối.

 

Tôi đi tìm xem ai là người nổi tiếng.  Tất cả chỉ là những mảnh xương dính bùn đen đủi và toàn dòi bọ ở trong.

 

Tôi đi tìm xem ai là người giầu có.  Không thấy ai cả.  Tất cả đều trần trụi không còn manh áo che thân.  Tôi không thấy kim cương, vàng bạc.  Tôi tưởng người thân chôn theo, nhưng không, người ta giữ lại hết.  Người ta chỉ chôn xác thôi.

 

Tôi đi tìm xem ai là người lúc sống họ lên tiếng phải xây dựng Giáo Hội thế này, phải cải tổ Giáo Hội thế kia.  Không thấy ai cả.  Lúc đương thời, họ sống chết, ăn thua đủ với nhau chỉ vì “bảo vệ đức tin.”  Trong cái nghĩa trang này thân xác nào cũng hôi tanh.

 

Tôi lại nhìn tôi dưới ngôi mộ sâu.

Cái sọ kia ngày xưa đã bao nhiêu suy nghĩ.  Những giấc mơ ấy bay về đâu?  Còn dưới đó không?  Trái tim ôm ấp bao nhiêu tình cảm.  Cái mùi tanh hôi nồng lên khi nó rữa ra.

 

Tôi lại nhìn tôi dưới ngôi mộ sâu.

Tôi nghe chung quanh tôi, trăm nghìn tiếng động xèo xèo.  Nhiều xác mới chôn đang rữa. Tiếng những con bọ ăn vào xương.  Những xác chết đang xảy ra giống tôi 25 năm về trước.

 

Ở phía kia, đám tang đã xong.  Nhiều người đứng xa mộ để có thể ra về sớm hơn.  Họ còn nhiều việc phải làm.  Họ rất bận rộn.  Họ không muốn ở đây lâu.  Chiều xuống tối rất mau.  Người ta phải về.  Xác mới chôn nằm đó.  Vài ngày nữa sẽ có ai đó tiếc thương đem hoa ra mộ.  Rồi ba năm sau không còn ai.  Rồi 25 năm sau nếu trở về đây cũng sẽ giống tôi bây giờ.  Lần lượt ra đi theo con đường đó.  Giống nhau.

 

**********************************

Bỏ nghĩa trang, tôi đi tìm lại con đường tôi đi năm xưa.  Phần lớn còn đó nhưng chỗ này mới hơn thì chỗ kia cũ kỹ đi.  Nhiều tòa nhà bỏ trống hoang phế.  Tôi không còn gặp mấy người quen.  Một vài người tôi tìm mãi mới thấy.  Vì họ thay đổi quá nhiều rồi.  Họ chậm chạm, đau yếu.  Họ lẩn thẩn. Cái thế giới 25 năm về trước không còn.  Ðất trời còn đó.  Mặt trăng vẫn thế.  Cả gió biển và mầu xanh của sóng nữa.  Nhưng con người và thế giới lúc họ trẻ hết rồi.  Ðời họ bây giờ ai cũng lầm lũi.  Tôi đứng nhìn họ mà không muốn hỏi chuyện vì bắt họ nhớ lại những tháng ngày quá xa.  Bây giờ họ chỉ muốn thầm lặng sống qua ngày thôi.  Vài người sót lại trong viện dưỡng lão, lặng lẽ.  Người tôi quen ngày xưa, chết hầu hết rồi.

 

Những tờ thư cũ, tấm hình năm xưa sau khi tôi chết, có vài người giữ nó ít năm.  Ðến lúc họ chết thì kẻ sau dọn phòng không biết tôi là ai.  Tất cả vào thùng rác sau khi người đó chết ít ngày. Bây giờ tôi không còn dấu vết là bao.

 

Tôi đi tìm những chữ nghĩa ngày xưa tôi học.  Vất vả toan tính.  Ngày ấy nuôi bao nhiêu mộng mị ở miếng bằng ra trường. Bám vào tên tuổi muốn xã hội tặng ban.  Cần treo tấm bằng ở nơi làm việc. Chụp chung tấm hình với nhân vật tiếng tăm.  Bây giờ chả còn gì.

 

Ðã 25 năm rồi, tất cả đồ dùng của tôi đã biến mất.  Chiếc xe ngày xưa tôi đau buồn vì trầy vết sơn.  Ngày ấy không dám cho người khác mượn, tôi lau chùi thật bóng.  Bây giờ là bụi rác ở đâu?  Tôi đứng đây nhìn lại cuộc đời.  Tất cả qua đi như con gió thoảng mà sao ngày ấy lòng tôi bồn chồn, lo lắng, tiếc nuối những thứ này thế.

 

Tôi đi tìm những công trình tôi để lại.  Người để công trình này, người để công trình kia.  Tôi để lại những bài diễn văn.  Ai còn nhớ?  Họ quên ngay khi tôi rời cái mai-cô-phôn cơ mà.  Ngay khi ra khỏi phòng họp, ngay mấy phút sau.  Vậy mà hôm nay tôi đi tìm nó như một công trình để lại sao? Giật mình.  Tôi thấy mình quá ngớ ngẩn.  Vậy tôi đi tìm gì hôm nay?  Còn gì không?  Ngay cả những người tôi quen biết cũng không còn, thì tôi còn gì?  Ai mà giữ những kỷ niệm của tôi khi họ không biết tôi là ai?

 

Tôi không ngờ ngày lễ bạc này buồn tẻ hơn ngày tảo mộ lần thứ nhất.  Ngày ấy sau có ba năm tôi chết.  Ðứng một mình ngoài nghĩa trang, không có ai ra mộ tôi như hôm người ta chôn tôi.  Nhưng ngày ấy trở về tôi còn nhìn thấy nhiều bóng hình tôi quen.  Tôi còn gặp vài tờ thư tôi viết cho họ.  Có kẻ còn giữ tấm hình tôi.  Lần này hoang vu quá.  Trống trải.  Ngày 25 năm Lễ Bạc mà vắng thật vắng.

Bây giờ tôi hiểu, Ngày Lễ Bạc là của chính mình.  Một mình mình thôi.

 

Nhiều điều chết rồi mới thấy rõ.  Lúc sống sao tôi không nhìn thấy.  Chẳng hạn như tôi băn khoăn làm sao để lại công danh cho đời.  Ðời chả cần gì tôi.  Cần hay không, tiếng kêu của một cánh ve trong chiều hè trống trải mênh mông?  Chẳng hạn như tôi lo lắng ngày mai ra sao, tôi phải tích góp bao nhiêu cho đủ?  Bây giờ thấy quá rõ rồi, ngày mai, tức là bây giờ tôi đang đứng đây.  Trong nghĩa trang người ta không không còn nhan sắc, người ta không cần chỗ ở.

 

Nếu bây giờ sống lại kiếp người, tôi sẽ rong chơi, tôi sẽ ca hát với suối xanh, tôi sẽ với mây trời cho trái tim tôi bao dung.  Nhưng trễ quá rồi.

 

**********************************

Tất cả những gì nhìn thấy đều không mang theo được khi tôi chết.  Son phấn.  Sự nghiệp.  Cũng không phải tất cả những gì thuộc tinh thần là mang theo được đâu.  Những điều thuộc tinh thần như tình yêu, lòng thù ghét, niềm kiêu hãnh, sự ghen tị, giận dữ, bao dung cũng tùy đó.  Chỉ những gì tinh thần mà thuộc về Ðức Kitô mới tồn tại.

 

Như vậy cuộc đời người ta phải bỏ lại tới 98 phần trăm.  Chỉ có hai phần trăm mang theo là tình yêu Chúa và bao dung với người đời.

 

Lúc sống, tôi quá vất vả cho 98 phần trăm cái không mang theo được.  Hôm nay nhìn lại trong ngày kỷ niệm 25 năm tôi chết.  Trở về tìm lại những bến bờ đã đi qua.  Chả còn gì.  Nếu tôi được sống lại, tôi sẽ sống như thế nào?

 

Hỏi mình vậy thôi, chứ tôi biết, quá trễ rồi.

Ðường tôi đi, bây giờ lại vẫn chỉ một mình, mình đi. Tôi lại nhủ lòng: Ðường đi một mình.

 

                                                                                                       Nguyễn Tầm Thường

NGƯỜI VỀ TỪ CÕI CHẾT

NGƯỜI VỀ TỪ CÕI CHẾT Phan thanh Vân    Năm 1957, sau khi tiếp thu các phi đoàn vận tải của KQ Pháp giao lại (như các phi đoàn Béarn, Franche- Comté và Sénégal đóng tại TSN), với cấp bực Trung úy, anh làm huấn luyện viên phi công vận tải tại Liên Phi đoàn…

Details

Võ Thị Tuyết : LÁ THƯ TỪ KBC 4297

Truyện ngắn Võ thị Tuyết                                         LÁ THƯ TỪ KBC 4297   ******Xứ Bưởi một ngày mưa, Nhận được mấy dòng chữ quen thuộc của em sáng nay. Đến bây giờ tôi mới viết mấy dòng nầy cho em đây. Viết cho em thì chẳng cần gì phải rỗi rảnh nhưng tôi không biết rồi…

Details

TRÙNG DƯƠNG ƠI!

   Trần Mộng Tú                                                     TRÙNG DƯƠNG ƠI!                                                      “Gửi Thái, Thiết, Vân, Frank và mùa Hè ở Bandon.”         Nguyên ngày hôm qua biển rất hiền, biển nói khẽ, biển thở nhẹ nhàng, biển mở mắt ra, biển nhắm mắt lại, biển an hòa. Sóng xô như gió thổi nhẹ trên…

Details

CÔNG CHÚA VÀ MÙA XUÂN

Trần Mộng Tú                                                         CÔNG CHÚA VÀ MÙA XUÂN              Khí trời vẫn còn lạnh lắm, sáng tây bắc Mỹ vẫn mù sương. Chiếc hồ chạy dài trước nhà như có như không, đứng ở tả ngạn không nhìn thấy hữu ngạn, dốc thấp không nhìn thấy đồi cao, xe sau không…

Details