• Bình luận

    Việt Nam Trước Thế Tam Giác Chiến

    Việt Nam Trước Thế Tam Giác Chiến

    Lê Văn

     

    Thăng trầm quan hệ ngoại giao Mỹ-Trung qua ảnh

    (VnMedia) – Năm 1971, đoàn đại biểu bóng bàn Mỹ đến thăm Trung Quốc, mở ra cánh cửa đi lại giữa hai nước. Ngày 1/1/1979, Trung Quốc và Mỹ chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao. Trải qua 30 năm, quan hệ Trung-Mỹ đã trở thành một trong những mối quan hệ song phương quan trọng nhất, giàu sức sống nhất. Tuy vậy, mối quan hệ này đã trải qua không ít thăng trầm.

    Lãnh đạo hai nước từ"nhiều năm khó gặp mặt một lần" đến hiện nay đi lại mật thiết. Cuộc đối thoại chiến lược hai nước từ không đến có, hiện nay đã xây dựng hơn 60 cơ chế hợp tác đối thoại. Kim ngạch thương mại hai chiều trong 30 năm đã tăng hơn 120 lần, hai bên đã trở thành đối tác thương mại lớn thứ hai của nhau. Sự đi lại giữa nhân dân hai nước bắt đầu từ số không, phát triển đến hiện nay mỗi ngày có hơn 5.000 người đi lại giữa hai bờ Thái Bình Dương.

    Sau đây là chùm ảnh mối quan hệ giữa Mỹ-Trung Quốc 30 năm qua:

     ảnh minh họa

    Sau khi đến Trung Quốc hôm 16/11 trong khuôn khổ chuyến công du Châu Á đầu tiên trên cương vị ông chủ Nhà Trắng, Tổng thống Mỹ Barack Obama đã tuyên bố rằng mối quan hệ Mỹ-Trung “không phải không có những bất đồng và khó khăn. Tuy nhiên, hai nước không nên là đối thủ của nhau”.  Bức ảnh chụp Tổng thống Obama đang từ máy bay xuống sân bay ở thành phố Thượng Hải.

     ảnh minh họa

    Đầu những năm 1970, Mỹ muốn tìm đến tới Trung Quốc để kiềm chế Liên Xô và giải quyết cuộc chiến tranh Việt Nam. Vì thế, sau màn “ngoại giao bóng bàn” năm 1971 tại Bắc Kinh, Henry Kisinger, cố vấn an ninh quốc gia của Tổng thống Nixon, đã thực hiện các chuyến công cán bí mật tới Bắc Kinh. Các nhà chiến lược của hai nước lần đầu tiên gặp mặt để bàn về các vấn đề thế giới. Ảnh chụp đội tuyển bóng bàn Mỹ đến thực hiện màn"ngoại giao bóng bàn" tại Trung Quốc. 

     ảnh minh họa

     Năm sau, Richard Nixon đến thăm chính thức CHND Trung Hoa và ký Thông cáo chung Thượng Hải 1972, đặt khuôn khổ đầu tiên cho quan hệ chiến lược Mỹ-Trung. Trong ảnh, Chủ tịch Trung Quốc Mao Trạch Đông đang đón tiếp Tổng thống Richard Nixon.

     ảnh minh họa

    Năm 1974-1975, khi Chủ tịch Trung Quốc Mao Trạch Đông đang cầm quyền, ông George H. W. Bush (Bush cha) được bổ nhiệm đến Bắc Kinh làm Đại sứ (ảnh trái). Đến tháng 2/1989, ông này đã trở lại Quảng trường Thiên An Môn với tư cách là Tổng thống Mỹ (ảnh phải)

     ảnh minh họa

    Năm 1997: Chủ tịch Trung Quốc Giang Trạch Dân đến Mỹ, Đây là chuyến thăm đầu tiên của một người đứng đầu nhà nước Trung Quốc trong suốt hơn 1 thập kỷ.

     ảnh minh họa

     Đáp lại chuyến thăm Mỹ của Chủ tịch Giang Trạch Dân, năm 1998, Tổng thống Mỹ khi đó là Bill Clinton  sang thăm chính thức Trung Quốc. Trong ảnh, Tổng thống Bill Clinton cũng vợ và con gái thăm Vạn Lý Trường Thành.

     ảnh minh họa

    Tháng 5/1999, tên lửa của NATO bắn trúng Đại sứ quán Trung Quốc tại Belgrade trong cuộc chiến Serbia. Vụ việc này khiến người Trung Quốc nổi giận, biểu tình và ném đá vào Đại sứ quán Mỹ tại Bắc Kinh.

     ảnh minh họa

    Mối quan hệ giữa hai nước càng trở nên xấu đi sau khi một máy bay do thám của Mỹ va chạm với một máy bay của Trung Quốc ở đảo Hải Nam năm 2001. Phi công người Trung Quốc đã thiệt mạng trong vụ này trong khi phi hành đoàn Mỹ bị Trung Quốc bắt giữ. Trung Quốc chỉ thả tự do cho những người này sau khi Tổng thống Mỹ khi đó là George W.Bush nói lời xin lỗi.

     ảnh minh họa

    Tháng 12/2001, Trung Quốc gia nhập WTO và Tổng thống G. Bush trao cho Trung Quốc quy chế tối huệ quốc vĩnh viễn, mở ra giai đoạn bùng nổ quan hệ kinh tế, thương mại, tài chính giữa hai nước.

     ảnh minh họa

    Ảnh trên ghi lại hình ảnh Tổng thống Mỹ Barack Obama sau bài phát biểu trước các sinh viên Trung Quốc tại Thượng Hải. Tại đây, Tổng thống Obama tuyên bố ông không tìm cách ngăn cản sự vươn lên của Trung Quốc đồng thời kêu gọi cần có sự cân bằng thương mại đôi bên.

    Đan Khanh – (Tổng hợp)

     

    “> 

    Các tin mới khác:

  • Bình luận

    CHIẾN DỊCH TỐ CÁO (Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh)

     
     
    Việc cựu Đại tướng Colin Powell quả quyết ủng hộ ứng cử viên Tổng Thống Barak Obama đã gây sửng sốt cho cả hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ. Powell là một trong số những người Cộng hòa được kính mến nhất ở Mỹ. Vị Đại tướng 4 sao này trước đây đã từng là cố vấn an ninh quốc gia của Tổng Ronald Reagan (CH), Chủ tịch Ủy Ban Tham mưu Hỗn hợp Quân lực Mỹ trong lúc có cuộc chiến tranh Vùng Vịnh (thời TT George H.W. Bush) và Ngoại trưởng trong nhiệm kỳ I của TT Bush hiện nay. Trong cuộc tranh cử Tổng Thống năm nay, từ năm ngoái Powell đã ủng hộ ứng cử viên của đảng ông John McCain. Vậy tại sao bây giờ ông đổi ý?
     
    Tướng Powell là người Mỹ gốc Phi châu trước đây đã từng có ý định ra tranh cử Tổng Thống. Trong cuộc phỏng vấn dành cho đài NBC hôm chủ nhật Powell nói quyết định của ông ủng hộ Obama không phải vì vấn đề mầu da, như việc ông ủng hộ McCain lúc đầu đã chứng tỏ. Từ 10 tháng trước đây ông đã thấy cần phải lựa chọn giữa hai người. Powell nghĩ Obama là "biểu tượng cho một sự biến đổi của lịch sử nước Mỹ", Obama thuộc một thế hệ mới đang lên trong cuộc diện nước Mỹ và cả thế giới. Ông nói việc bầu Obama làm Tổng Thống Mỹ sẽ như một luồng điện kích thích nước Mỹ và hoàn cầu. Ông nói: "Việc một người Mỹ gốc Phi được bầu làm Tổng Thống Mỹ sẽ là một biến chuyển lịch sử. Việc này sẽ làm người Mỹ hãnh diện, không chỉ riêng người Mỹ gốc Phi, mà tất cả mọi người Mỹ, bất luận mầu da hay sắc tộc nào". Với sự ủng hộ của Powell, Obama nói sau khi đắc cử Tổng Thống ông sẽ mời cựu tướng Colin Powell làm cố vấn cao cấp cho ông về các vấn đề an ninh quốc gia, một chức quan trọng hàng đầu cho Tổng Thống. Như vậy, Obama đã bác bỏ được những lời chỉ trích nông cạn nói ông thiếu kinh nghiệm về chiến tranh và các vấn đề an ninh nội ngoại.
     
    Cựu tướng Powell nói ông đã thất vọng vì luận điệu tiêu cực trong cuộc vận động tranh cử của McCain. Ông đã thấy nghi ngại khi McCain chọn bà Sarah Palin, Thống đốc tiểu bang Alaska, đứng chung danh sách ứng cử Phó Tổng Thống. Trong những tuần lễ gần đây khi các polls thăm dò cho thấy Obama vượt trên McCain, một số người Cộng Hòa cực đoan đã cho rằng chương trình tranh cử của Palin có nhiều ưu điểm đưa ra những lời tố cáo kể cả bôi lọ, xuyên tạc cá nhân Obama, bởi vậy họ nhắm đưa Palin lên hàng đầu, biến cuộc vận động tranh cử thành một chiến dịch tố cáo. Chiến dịch này mở đầu bằng những lời rỉ tai, kể cả biểu ngữ ghi Obama "không là người Mỹ" mà là người Á rập theo Hồi giáo. Rồi đến vụ tố cáo Obama có liên hệ với "khủng bố" vì một nhóm phản chiến đã từng cho nổ bom năm 1968 (khi Mỹ tham chiến giúp Việt Nam Cộng Hòa chống cuộc tấn công của Cộng sản Bắc Việt), Obama lúc đó mới có 8 tuổi. Sau đến vụ Palin tố cáo Obama có liên hệ với ACORN, một tổ chức thiện nguyện chuyên giúp người nghèo và người vô gia cư, bị cáo buộc đã cho nhiều dân "hôm-lét" chút tiền còm đi nộp tên giả để lấy quyền được đi bỏ phiếu. Việc này FBI đang điều tra xem nhóm nào đã có âm mưu. Obama rất tán thành cuộc điều tra này.
     
    Gần đây nhất, Palin tặng cho Obama danh hiệu mới, gọi là kẻ theo "xã hội chủ nghĩa", làm nhiều người sững sờ vì từ ngữ này làm người ta nghĩ đến Cộng sản. Sự thật chủ nghĩa xã hội chỉ là một trong nhiều lý thuyết và biện pháp nhằm cải cách xã hội cho tốt đẹp hơn, tiên khởi phát sinh ở Pháp vào cuối thế kỷ 19 sau khi các nhà cách mạng Pháp lật đổ chế độ quân chủ đưa nước Pháp đến chế độ Cộng Hòa do dân làm chủ. Vào đầu thế kỷ 20, các nhóm quá khích ở Nga thúc đẩy nông nô nghèo khổ nổi lên làm cách mạng lật đổ Nga hoàng. Sau khi giết được cả gia đình Nga hoàng, các nhóm quá khích cực tả lợi dụng chủ thuyết xã hội, lập ra chế độ vô sản chuyên chính (tức là chính quyền độc tài). Chủ nghĩa cộng sản bắt đầu từ đây để bành trướng thành phong trào vô sản quốc tế, chống chế độ tư bản trên khắp thế giới.
     
    Nhưng hãy nhìn đến một khía cạnh ngược chiều của chủ thuyết xã hội ở Đức vào thập niên 30 Thế kỷ trước, Hitler lập ra chế độ Quốc xã, tức quốc gia xã hội chủ nghĩa. Ở đây chữ "quốc" là chủ nghĩa dân tộc (nationalism), bởi vậy là độc tài cực hữu. Chủ thuyết quốc xã của Hitler cao ngạo, cho rằng dân tộc Đức có gốc là bộ tộc Aryan từ thời tiền sử thông minh tài giỏi, nên mục tiêu ưu tiên của Quốc xã là tàn sát người gốc Do thái trong các lò hỏa thiêu man rợ. Sau khi Đức thua trận, Hitler tự sát, những tay cầm đầu Đức quốc xã đã bị tòa án quốc tế xử tử vì tội diệt chủng.
     
    Vậy giữa hai thuyết độc tài cực tả và cực hữu có thuyết nào trung dung ở giữa hay không? Chắc chắn là không vì khi đã gọi là "cực", không thể có sự dung hòa nào ở giữa. Nhưng có một chủ thuyết duy nhất có thể chống lại mọi chế độ độc tài dù tả hay hữu. Đó là chế độ dân chủ, tức dân làm chủ mà căn bản là quyền bầu cử tự do, kết quả của sự phối hợp giữa hai chủ thuyết Cộng hòa và Dân chủ. Không phải ngẫu nhiên mà nước Mỹ có hai chính đảng lớn nhất là đảng Cộng Hòa và đảng Dân Chủ, chính vì thế Mỹ trở thành một nước mạnh nhất thế giới, đã từng hy sinh biết bao xương máu và tiền bạc để trừ khử cả hai loại độc tài cực tả và cực hữu. Sau hai cuộc thế chiến và một cuộc chiến tranh lạnh qua đến Thế kỷ 21, bất cứ một dân tộc nào ngày nay cũng biết và ghê tởm các chế độ độc tài.
     
    Ở Mỹ chỉ còn 12 ngày nữa đến ngày tổng tuyển cử, nghĩa là bầu Tổng Thống, bầu Hạ Viện và một phần ba Thượng viện. Sáng thứ Tư, các polls thăm dò trên toàn quốc cho thấy Obama đã vọt lên số điểm có hai cột số trên McCain và đảng Dân Chủ có thể chiếm đa số lớn tại Quốc hội. Trong lúc tình hình nguy ngập cho đảng Cộng Hòa, người ta bỗng thấy nẩy ra hiện tượng Sarah Palin. Phe cực đoan trong đảng Cộng Hòa đã đẩy Palin vào cấp lãnh đạo vận động tranh cử cho cả đảng với những màn trình diễn đặc biệt nhẩy múa giống như các ngôi sao nhạc rock hấp dẫn nhiều người đến coi. Nhưng nếu chủ yếu là để nhắn nhủ cử tri Mỹ không nên bầu cho "tên xã hội chủ nghĩa" Obama, điều đó khác nào một sự nhục mạ, đánh giá thấp trình độ trí thức cao và kiến thức rộng của đa số người dân ở Mỹ.
     
    Dù với những nỗ lực phi thuờng đó, nếu Barack Obama vẫn trúng cử Tổng Thống thì sao? Không sao hết, chỉ cần chờ 4 năm nữa, đến lần bầu cử Tổng Thống năm 2012, đảng Cộng Hòa có thể sẽ đưa bà Palin ra ứng cử làm Tổng Thống với các màn nhạc giựt gân hơn nữa để lãnh đạo cả thế giới.
     
     
  • Bình luận

    Gs Nguyễn Viết Khánh: ÐỊA BÀN CHỐNG KHỦNG BỐ

    Gs Nguyễn Viết Khánh: ÐỊA BÀN CHỐNG KHỦNG BỐ

    Vậy bin Laden và bọn al-Qaida có gốc gác như thế nào? Vào cuối năm 1979 Liên Sô đã mở cuộc tấn công đánh chiếm Afghanistan, lập một chính quyền Cộng sản, bị sự phản kháng dữ dội của các nhóm du kích Hồi giáo gọi là “mujahideen”, chủ trương dùng Thánh chiến (jihad) để tiễu trừ bọn ngoại xâm. Ðó là thời kỳ chiến tranh lạnh, Mỹ tìm cách giúp du kích Hồi giáo đánh Nga. Với sự yểm trợ của Pakistan, Mỹ cấp vũ khí, giúp cả việc huấn luyện cho du kích chống Cộng ở Afghanistan. Trong số các du kích này có một người trẻ tuổi từ Á Rập Sê-út ở Trung Ðông đến. Tên anh ta là Osama bin Laden. Năm 1989, Liên Sô chịu không thấu, phải ký kết hòa ước rút quân khỏi Afghanistan, để lại một Tổng Thống thân Cộng. Liền sau đó các nhóm du kích Hồi giáo đánh lẫn nhau để tranh cướp chính quyền. Ðến năm 1996 nhóm Taliban phần lớn gồm những thanh niên Hồi giáo chiếm được thủ đô Kabul, thiết lập một chế độ Thần quyền cai trị theo luật Hồi giáo. Ðến năm 1998 nhóm khủng bố có tổ chức xuất hiện ở một vùng núi hiểm trở phía Ðông Afghanistan gần biên giới Pakistan. Người cầm đầu nhóm này chính là Osama bin Laden, vốn là con nhà triệu phú Á-Rập có nhiều tiền đã lập một căn cứ huấn luyện nhóm khủng bố al-Qaida, dưới sự bao che của chính quyền Taliban.

    Vậy tại sao bin Laden ra lệnh cho al-Qaida đánh thẳng vào Mỹ vào tháng 9 năm 2001? Rất có thể bin Laden đã có tư tưởng này ngay sau khi quân Liên Sô phải rút khỏi Afghanistan năm 1989. Hắn thấy một siêu cường tương đương với Mỹ vào lúc đó đã phải thất bại trước sức mạnh của “jihad”, vậy tại sao Hồi giáo không đánh luôn cả Mỹ và các nước Âu châu? Ðó là những nước từ lâu vẫn bị tố cáo lợi dụng di sản thời thuộc địa từ hơn hai thế kỷ trước để áp chế và trục lợi kinh tế ở các nước Trung Ðông. Tổ chức khủng bố al-Qaida lợi dụng việc Mỹ đánh Iraq trước hết để bành trướng thế lực ở Trung Ðông và sau ở nhiều nơi khác trên thế giới. Sở dĩ bin Laden cho tấn công Mỹ trước là để dằn mặt Mỹ không cho can thiệp vào việc nội bộ của Trung Ðông. Ngoài ra khủng bố đánh Mỹ mà Mỹ không ngăn chặn nổi cũng là một cách dằn mặt các nước Tây phương. Người ta đã thấy những gì xẩy ra trên hai mặt trận ở Afghanistan có quân Mỹ và quân khối NATO tham dự, và ở Iraq có quân Mỹ và quÐầu tuần này tình hình Iraq thật đáng quan ngại. Hai bom đặt trên xe vận tải đã nổ ở một làng người Hồi hệ phái Shi-a ở gần thành phố Mosul phía Bắc Iraq làm chết 28 nguòi, trong khi tại Baghdad 9 vụ nổ liên tiếp đã làm chết 22 người. Tính từ 3 ngày qua các vụ đánh bom đã giết chết 100 người Shi-a. Các vụ đánh bom đó do nhóm người Hồi Sun-ni nổi loạn hợp tác với al-Qaida (cũng gốc Sun-ni) thực hiện, nhằm gây lại các cuộc xung đột giữa hai hệ phái Sun-ni và Shi-a đã từng diễn ra khốc liệt trong những năm 2006 và 2007, làm chết hàng chục ngàn người. Vậy quân Mỹ có thể rút ra khỏi Iraq dự liệu vào năm 2011 hay không? Thủ tướng al-Maliki (gốc Shi-a) quả quyết nói các lực lượng an ninh của ông có đủ khả năng kiềm chế nạn bạo động trong khi quân đội Mỹ chuyển dần trách nhiệm an ninh cho chính quyền Iraq. Tôi nghĩ sự xung đột giữa hai phe Shi-a và Sun-ni ở Iraq đã có từ mấy chục năm qua, đây là chuyên nội bộ của Iraq, nên để cho dân nước này giải quyết.

    Trong khi đó cuộc chiến ở Afghanistan, có nhiều chuyện phức tạp hơn. Ở đây hiện có 101,000 quân NATO và quân Mỹ tham chiến. Trong số này quân Mỹ có 62,000 quân, tức là Mỹ đã tăng gấp đôi số quân. Từ đầu tháng 7 bọn phiến loạn do Taliban cầm đầu đã gia tăng các cuộc tấn công, khiến tháng đó là tháng thiệt hại nhiều nhất cho quân đồng minh: 74 người chết trong đó có 43 quân Mỹ. Người ta e rằng các trận chiến còn gia tăng hơn nữa trước ngày 20/8 là ngày bầu cử nhiệm kỳ mới của Tổng Thống, hiện vẫn do ông Hamid Karzai tại chức. Tình thế đặc biệt là dân nước này nghèo khổ, ít học, chỉ sống bằng nghề trồng nha phiến, và đa số cũng nghiền nha phiến. Quân NATO theo lệnh của LHQ cấm dân trồng nha phiến, nhưng bọn Taliban lại sẵn sàng cho dân trồng để lấy nha phiến bán ra nước ngoài đem tiền về dùng làm chiến phí. Thành ra quân NATO đi đến đâu, dân làng “nghiền” cũng ngấm ngầm báo động Taliban. Ðây là cuộc chiến rất khó khăn cho Mỹ và NATO.

    Tôi đã viết dùng quân đổ bộ vào một nước để đánh khủng bố là một sai lầm chiến lược. Ðịa bàn chống khủng bố nhằm chỉ một khu vực rộng lớn gồm đủ mọi nơi trên thế giới, không phải để tổ chức một thế liên minh quân sự, mà để tìm một sự hòa hợp cộng tác trong hòa bình vì lợi ích chung của cả thế giới. Các thế liên minh quân sự đã hết thời. Ở Iraq, quân Anh đã rút khỏi Iraq. Ở Afghanistan quân đồng minh NATO chỉ có danh nghĩa thời chiến tranh lạnh, còn bây giờ tham chiến chống khủng bố là hời hợt, chính vì thế Mỹ đã phải tăng thêm quân. Với chiến lược hòa hợp cộng tác, Mỹ nhằm vào đâu? Âu châu đã hết thời với NATO, các nước Nam Mỹ chỉ lo chuyện địa phương trên lục địa của họ. Phi Châu phần lớn nghèo khổ, chỉ Bắc Phi có các nước mạnh, dân trí cao, bọn khủng bố không bén mảng tới. Ở Á châu có Trung Quốc và các nước Ðông Nam Á là địa bàn Mỹ có thể nhìn đến để áp dụng chiến lược hòa hợp cộng tác về mặt kinh tế.

    Trung Quốc đang phải đối phó với Tân Cương, nhưng không lo người Hồi Trung Á đi theo khủng bố, mà chỉ lo phát triển kinh tế cho 1 tỷ 3 trăm triệu dân khỏi nổi loạn vì nghèo khổ. Trong khi đó ở Nam Á, Ấn Ðộ theo Ấn giáo đã thẳng tay trừng trị bọn Hồi giáo quá khích sau vụ đánh bom ở Mumbai. Ở Ðông Nam Á có khối ASEAN (Hiệp hội các quốc gia Ðông Nam Á) là một thế lực kinh tế đang lên mạnh, tạo thành một thế chân vạc với kinh tế Trung Quốc và Nhật Bản. Xét trên toàn cầu, đây là một địa bàn quan trọng nhất. Mỹ nên tăng cường mối quan hệ hòa hợp với địa bàn này. Và khi Mỹ đã thay đổi địa bàn chiến lược, tất nhiên cũng phải thay đổi cả chiến thuật. Mỹ nên đánh khủng bố từ trên cao hay từ biển, thay vì dùng quân đổ bộ ở những nơi không có trận tuyến rõ rệt.

    Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh.

  • Bình luận

    Phan Lạc Phúc : Qua Cơn Mê

    Biếm họa Bùi Bá: Năm Tân Mão 2011, con mèo châm ngòi cho nổ banh xác pháo.


    Câu Đối Tết Con Mèo.

    Ba Đình tâu với Thiên Đình, thú thật Triều Đình không nói dối. Hà Sĩ Phu (xướng).

    Ái Quốc bám theo Trung Quốc, e gần Phản Quốc có đâu xa.  Hữu Tình (họa).

    Bài đọc suy gẫm: Qua Cơn Mê ( hay Văn Nghệ Tết Trong Trại Tù Yên Hạ) – Phan Lạc Phúc (hình ảnh sưu tầm trên net chỉ có tính cách minh họa)

    …”Bạn ơi nếu tôi có một điều ước, tôi ước mong cho ngày nào trời đất phong quang, chúng ta được trở về đất nước Việt Nam yêu dấu, muốn đi đâu thì đi. Tôi sẽ đi tới những trại tù năm cũ, thăm lại người xưa, thăm lại các bạn tù chúng ta còn nằm lại. Tôi sẽ tới trại Yên Hạ, tới quận Phù Yên hỏi xem ông cụ Việt trại trưởng năm xưa còn sống hay không? Nếu gặp được ông cụ tôi sẽ nầm lấy tay mà nói “Tôi là là cựu tù nhân Yên Hạ đây, cụ còn nhớ tôi không, thưa cụ?”…Một mai qua cơn mê, xa cuộc đời bềnh bồng, tôi lại về bên em…- Trần Trịnh- Nhật Ngân.

    Cả nước làm bạn với khoai mì, khoai lang.

    Còn gần một tháng nữa mới đến Tết nhưng không khí thi đua văn nghệ giữa 2 khu A, B đã lan truyền khắp trại. Anh em khu A đi làm ngoài, có bữa kiếm được củ khoai, miếng sắn lại dấm dúi đem cho. Chúng tôi hiểu được sự chăm lo, kỳ vọng của anh em. Cuộc chiến tranh quân sự tàn rồi, cuộc chiến tranh văn hóa còn đang tiếp diễn.
    Một hôm đang nửa buổi, trại trưởng ông cụ Việt vào hội trường dự khán anh em chúng tôi tập dượt. Thấy gần trưa rồi mà ban Văn nghệ khu A vẫn xuông tình, ông cụ hỏi: “Anh em không nghỉ ăn bồi dưỡng hay sao?” Mấy người có trách nhiệm mới trình bày với trại trưởng là chúng tôi vẫn tập “xuông” không có “bồi dưỡng”. Ông cụ Việt liền cho gọi thi đua (mấy anh tù được cất nhắc lên làm chân chạy việc cho ban giám thị) lên chỉ thị: “Cung cấp ngay chế độ bổi dưong hằng ngày cho đội văn nghệ khu A”. Ông cụ còn dặn thêm: “lệnh trại trưởng cấp thêm cho mỗi đội văn nghệ của A lẫn B mỗi ngày một gói trà. Anh em tập dượt ca, kịch cần thấm giọng”. Thế là hàng ngày, “phụ tá khói lửa” là tôi lại thêm việc đun nước pha trà cho anh em nhấm nháp.

    Đi vào thực hiện kịch lịch sử đối với chúng tôi, nó có ưu điểm nhưng cùng một lúc nó kéo theo nhiều điều phức tạp. Thứ nhất tập dượt cầu kỳ. Người “ngày xưa” ăn nói cử chỉ khác người ngày nay. Một ông quan văn với một ông quan võ chào hỏi, vuốt râu nó khác nhau, không giống nhau. Cách phát âm hay nói theo giọng nhà nghề “đài từ” của kịch lịch sử khác với kịch thời đại. Hơn nữa trang trí sân khấu, cách phục sức cho nhân vật kịch “ngày xưa” nó đòi hỏi nhiều nghiên cứu, nhiều phụ tùng hơn kịch “bây giờ”, cái kho đạo cụ của trại không thỏa mãn được. Vào việc đạo diễn Th. già bấn xúc xích về việc dàn cảnh, về đạo cụ nên bạn già yêu cầu tôi lo giúp về phần tập luyện.

    Bạn Th. già biết dạo xưa tôi có sinh hoạt trong Sông Hồng Kịch Xã ở Hà Nội trước khi động viên vào quân đội, trong khi đó Th. già viết cho báo Giang Sơn. Chúng tôi biết nhau từ ngày ấy. Vả chăng tôi vốn sinh trưởng ở nhà quê mà làng tôi vốn là đất chèo, có một phường chèo thường trực ở trong làng nên tự nhiên tôi quen thuộc với một số ước lệ của tuồng, chèo cổ. Những năm đi kháng chiến ngoài bưng, tôi đi theo một đoàn Tuyên truyền xung phong nên tôi cũng tàm tạm có một số kinh nghiệm về sân khấu. Cho nên nhận lời bạn già, tôi đang là “phụ tá khói lửa” lại thêm một chức vụ nữa “phụ tá đạo diễn”.

    Không gian kịch là tư dinh Đinh Đề Lĩnh, viên quan trấn thủ kinh thành Đông Đô (Thăng Long – Hà Nội). Thời gian là đêm mồng 4 tháng Giêng năm Kỷ Dậu đêm trước của toàn quân vua Quang Trung đại phá quân Thanh. Vở kịch đòi hỏi 5 vai quan trọng: Đinh Đề Lĩnh, trấn thủ Thăng Long; thất vọng trước sự yếu hèn của hôn quân Lê Chiêu Thống, căm hận trước sự tham tàn bạo ngược của quân tướng nhà Thanh nên phút cuối cùng Đinh Để Lĩnh nghe theo lời khuyến dụ của La Sơn Phu Tử, đặc sứ của vua Quang Trung Nguyễn Huệ, mở cửa thành, đốt kho lương thảo khi nghĩa quân tấn công. Vai chính Đinh Đề Linh do Nguyễn Huy T., đại úy đài Tự Do cục Tâm lý chiến đảm trách. T. là một con người tài hoa, hát hay, nhảy giỏi, dáng người cao mà thanh, vừa văn vừa võ, đã nhập vai Đinh Để Linh rất đẹp. Anh chơi kịch từ thời sinh viên nên có đủ bản lĩnh trên sân khấu vừa say mê vừa tỉnh táo.

    Vai La Sơn Phu Tử do Nguyễn T. cũng đại úy bên Tổng cục Chiến tranh Chính trị (người ở Seattle vừa viết thư cho tôi) nhận lãnh. Nguyễn T. vốn là em một người bạn tôi, nên tôi biết T. từ khi chưa bị động viên vào quân đội. T. đi Hướng đạo nên quen thuộc với sân khấu. T. không dám tin ở tài sức của mình nhưng tôi khuyến khích T. nhận vai La Sơn Phu Tử. T. vốn người Thanh Hóa, nói được giọng già, dáng người văn nhã mà cứng cỏi, lại chuyển sang gíọng Nghệ An – Hà Tĩnh rất ngọt nên có đầy đủ dáng vẻ của một mưu sĩ “đàng trong”. Một vai phản diện rất gay là vai tướng nhà Thanh, nói tiếng Việt ngọng líu ngọng lo mà tham dâm hiếu sắc do Trung tá Lê Văn Hóa, Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn văn nghệ Quân đoàn 4 phụ trách. Anh là người tràn đầy kinh nghiệm sân khấu lại thêm là “vua cười” của đội, luôn mồm hát, no cũng hát, đói cũng hát “Ngộ bên Tàu à… ngộ mới sang – sang Nam Việt bán buôn làm giàu…” nên vai tướng Tàu như là vai viết riêng cho anh vậy.

    Người nữ độc nhất, cô chủ quán mê hoặc tướng Tàu do đại úy Tôn Thất L. thủ vai. Anh đi tù cực khổ, đói khát như vậy mà vẫn da trắng tóc dài, mắt sắc như dao làm gái Thăng long rất đẹp. Riêng có một vai quê mùa, vai ông già chăn ngựa thọt chân, luôn luôn say xỉn do một đại úy Cảnh sát đảm nhận vai mà tập mãi chưa vô. Anh có nhân dáng quê mùa, cục mịch, say mê vai diễn nhưng tiếng cười, giọng nói của anh nó văn minh quá, thành thị quá thiếu mất chất nhà quê. Mà đây là vai quần chúng vai đại diện cho nhân dân phản kháng nên trại để ý lắm. Thiếu úy Công an Q. đại diện cho phòng Giáo dục, hằng ngày theo dõi chúng tôi tập dượt, lắc đầu trước vai ông già chăn ngựa mà phê bình đủng đỉnh “chưa được”. Sau rồi, đạo diễn Th. già mới tham khảo ý kiến anh em mà bảo tôi rằng: “Ông khỏi mất công dượt cho anh ấy nữa. Ông thì vừa già, vừa chân tập tễnh, lại vừa có chất quê… thế thì ông chơi ngay cái vai ấy đi cho nó tiện việc sổ sách.” Anh em cũng ồn ào đề nghị nên tôi lại kiêm luôn vai cụ Triệu ông già chăn ngựa. Sở dĩ đạo diễn Th. già và tôi chú ý đến giọng nói là vì khi diễn kịch ở đây, chúng tôi diễn “chay” không có ban nhạc làm nền (background music). Vì vậy phải đặt trọng tâm vào giọng “thoại”, đưa vào đó nhiều màu sắc để phần nào quên đi cái thiếu vắng nhạc nền kia.

    Có giọng Bắc trầm hùng cứng cỏi của Đinh Đề Lĩnh, giọng miền Trung uyển chuyển, sâu sắc của La Sơn Phu Tử, giọng ngọng nghịu của tướng Tàu, giọng Bắc pha Huế đài các của cô chủ quán, giọng quê mùa bạo liệt của ông già chăn ngựa. Nút kịch được thắt khi La Sơn Phu Tử đang đêm được ông già chăn ngựa nhà ở gần bên đưa vào gặp Đinh Đề Lĩnh ở tư dinh, thuyết điều hơn, lẽ thiệt. Kịch được thắt thêm 1 nút khi tướng Tàu sục sạo đi tìm cô chủ quán xinh đẹp bất ngờ xộc vào tư dinh Đinh Đề Lĩnh khi La Sơn Phu Tử còn đang hiện diện. Để tránh cho cơ mưu của “đàng trong” đừng bại lộ, cũng là cởi nút cho vở kịch… ông già chăn ngựa liền dũng cảm nhảy vào đâm chết tướng Tàu rồi cùng chết. Cái chết bất ngờ của ông già chăn ngựa như một giọt nước làm tràn ly khiến Đinh Đề Lĩnh còn đang do dự, chuyển hẳn sang thế nghĩa quân… mở cửa thành, đốt kho lương thảo khi đại quân vua Quang Trung tràn tới. Sau đó, bình minh ngày 5 tháng 1 năm Kỷ Dậu cũng vừa hiển hiện.

    Để lo việc trang trí sân khấu và phục sức cho nhân vật kịch, trung tá Quân cụ Tr., nguyên sinh viên Mỹ Thuật ngày nào bây giờ là trưởng ban đạo cụ liền đem cái tài hoa còn lại của mình sửa chữa mấy đôi bốt hư của cán bộ thành hia cho văn quan, võ tướng nhà Lê , cải biến mấy cái mền dạ cũ màu đỏ, màu xám thành nhung y cho Đinh Đề Lĩnh, cho tướng nhà Thanh. Mấy cái đường kẻ đen trên tấm mền đỏ ngày nào bây giờ dưới bàn tay thần tình của Tr. đã biến thành hoa văn “thủy ba sóng rợn”. Tướng nhà Thanh thì nhung y lẫm liệt, hia mão đàng hoàng. Nhưng khi Đinh Dề Lĩnh, võ quan nhị phẩm triều đình đội mão theo đúng nghi thức thì tôi có ý kiến là Đinh Đề Lĩnh không nên đội mão chỉ nên đội khăn. Đội mão xem ra nó “cải lương” hơn, không truyền thống bằng cái khăn lượt Việt Nam. Đạo diễn Th. già đồng ý. Anh Tr. cũng đồng ý tuy rằng anh rất tiếc chiếc mão “võ quan nhị phẩm” rất công phu của anh.

    Trong thành tích trang trí tư dinh của Đinh Đề Lĩnh ngày Tết, anh Tr. đắc ý nhất là 3 chữ đại tự anh viết trên bức hoành phi (bằng giấy): Huyết do hồng. Tr. vừa là nghệ sĩ vừa là trí thức. Th. già và tôi hiểu ý anh, nắm tay anh thông cảm. Thiếu úy Công an Q. người thường xuyên sinh hoạt với chúng tôi một bữa mới hỏi Th. già về ý nghĩa mấy chữ nho này. Th. giải thích: đây là 3 chữ cuối trong vế đối, nhắc lại chiến công chống xâm lược phương Bắc của tiền nhân “Đằng Giang tự cổ Huyết do hồng” (Nước sông Bạch Đằng từ xưa đến nay vẫn còn đỏ máu). Tôi thấy Thiếu úy Q gật gù, ngẫm nghĩ, và từ đó thái độ đối với chúng tôi có khác. Anh em chúng tôi dù sống kiếp tội đồ khổ sở, đói khát nhưng trong công tác văn nghệ này ai củng cố gắng đóng góp một chút gì, để hi vọng nói lên rằng: chúng tôi thua trận, bị cầm tù, bị lăng mạ nhưng chúng tôi có văn hóa theo cách riêng của chúng tôi.

    Đã đến ngày 30 Tết, năm Tỵ sắp sang năm Ngọ (1977-1978). Nghe anh em lưu cựu ở đây 1âu nói rằng chưa có bao giờ trại ăn Tết to như thế. Có lệnh của trại trưởng là bao nhiêu tiền quỹ của năm cũ chi cho bằng hết nên Tết đến thịt trên 10 con heo, 1 con bò; tát ao lấy cá chắm, cá chép lên ăn Tết. Mấy vườn su hào cũng nhổ “đại trà” làm dưa. Toàn là món “cao cấp” cho toàn trại, toàn thể tù nhân ăn Tết. Trong 10 năm đi tù cải tạo, tôi ngẫm lại chưa có năm nào, ở đâu được ăn một cái Tết tù như vậy. Ngoài các món ăn, anh em tù nhân còn được lĩnh mỗi người hai bánh chưng, thuốc lá, thuốc lào, và đêm 30 đi xem kịch tất niên về toàn trại còn có cháo lòng bò bồi dưỡng. Nghe phong thanh là sau Tết trại trưởng trung tá Trần Việt sẽ nghỉ hưu nên ông xã cảng “cái gì của tù là trả hết cho tù”.

    Vài ngôi mộ của những người tù cải tạo.

    Bữa tổng dượt có mặt đủ ban Giám thị trại, chương trình của khu A chúng tôi được cán bộ giáo dục Nguyễn Hồng L. chăm chút rất kỹ. Y ta để ý rất nhiều đến những sự “đóng góp” của chúng tôi vào vở kịch, hỏi khá kỹ về câu đối “Đằng Giang tự cổ huyết do hồng “. Vốn bản tính đa nghi nên y không muốn đưa vào bất cứ điều gì không có trong kịch bản. Ông cụ Việt, có lẽ ông ta là người rộng rãi kiến văn nên ông cụ nói: “Tư dinh một viên võ tướng có tâm hồn với đất nước mà treo bức hoành Đằng Giang tự cổ huyết do hồng thì được lắm. Để đối phó với cường lân phương Bắc lại càng hay nữa .” Nhưng cán bộ giáo dục tỏ ý ngần ngại, khi chúng tôi định hát đoạn đầu của bài Thăng Long Hành Khúc của Văn Cao vào đoạn kết của vở kịch. Nguyên văn trong kịch bản chỉ có “tiếng hô sát của đại quân ta nhỏ dần rồi màn hạ”. Ỏ đây chúng tôi trong hậu trường sẽ hô “sát, sát” đồng loạt rồi hát từ từ nhỏ đến to dần lên “Cùng ngước mắt về phương Thăng Long thành cao đứng, trông khói sương chiều ám trên dòng sông. Nhị Hà còn kia Nhị Hà còn đó, lũ quân giặc Tôn sập cầu trôi đầy sông.” Màn từ từ khép và đến đó là dứt kịch. Chúng tôi muốn cho cái “coup de rideaư’ nó thêm sức thuyết phục. Đã thử lại lúc màn hạ này mà không có tiếng đồng ca Thăng Long Hành Khúc ở bên trong. Nó nguội đi nhiều lắm. Cán bộ giáo dục cuối cùng chấp nhận “cách đạo diễn” của chúng tôi nhưng nhất quyết không bằng lòng 2 chữ “giặc Tôn” mà phải đổi ra là nhà Thanh “cho nó rõ nghĩa” (chữ của y ta, bởi vì giặc Tôn có thể liên tưởng đến Tôn Đức Thắng chăng?).

    Tối 30 Tết, trại Yên Hạ nôn nả hẳn lên. Mới 7 giờ đêm, mà hội trường đã chật cứng. Phạm nhân khu A ngồi bên phải. Khu B bên trái. Những dãy ghế phía trên là dành cho quan khách, gồm cán bộ khung xã sở tại, huyện ủy Phù Yên, cán bộ Công an và gia đình. Cứ như ý kiến bữa tổng dượt thì đêm 30 Tết, ban Văn nghệ sẽ diễn trong trại. Mồng 4 Tết chúng tôi sẽ ra huyện lỵ Phù Yên diễn cho dân chúng tới xem. Cho nên buổi diễn hôm nay là buổi diễn trong chương trình vui Tết đón Giao thừa, vừa là buổi phúc khảo trước khi ban Văn nghệ “đem chuông đi đấm xứ người”.

    Chương trình khu B, bên hình sự được diễn đầu tiên. Cũng đồng ca, đơn ca, một màn kịch ngắn “đánh Mỹ” và kết bằng màn dân ca Quan họ Bắc Ninh. Anh em hình sự chơi chương trình này đã “thuộc” nên đối đáp, tung hứng rất là nhuần nhuyễn. Nhưng vì “bổn cũ soạn lại” nên nó làm cho tù chính trị chúng tôi chăm chú hơn là khán giả sở tại.

    Bên hình sự có một ca sĩ tên Ng. hát rất hay, rất kỹ thuật; nghe nói anh ta đã tốt nghiệp thanh nhạc nên hát đâu có thua gì ca sĩ trên đài phát thanh. Ca sĩ bị tù mút mùa vì nghe nói anh mắc tội làm tem, phiếu giả. Kịch “đánh Mỹ” thì không có gì mới. Vẫn theo công thức cũ. “Mỹ cút, ngụy nhào, quân ta kẻ thù nào cũng đánh thắng, khó khăn nào cũng vượt qua”. Nhưng phải công nhận anh em hình sự chơi nhạc cảnh Quan họ “Mời trầu, giã bạn” rất đằm thắm, ý nhị và duyên dáng. Đây là một tiết mục hay. Khi anh em cúi đầu chào khán giả, chúng tôi dù ở trên sân khấu, đang sửa soạn “ra trò” mà chúng tôi cũng không ngừng vỗ tay tán thưởng. Đoàn trưởng đoàn kịch khu B. Quách H., đứng ở cánh gà phía bên kia, đứng nghiêm, để tay lên ngực cúi đầu chào lại chúng tôi như một sự cảm thông cái tình tri âm, tri kỷ.

    Có lẽ “cái đinh” của đêm văn nghệ hôm nay đối với khán giả địa phương là Văn nghệ khu A, tù chính trị. Họ chưa bao giờ được biết miền Nam thật sự như thế nào? Miền Nam đã thua, đã tan nát nhưng những tàn dư của miền Nam, lũ tù chính trị chúng tôi, vẫn còn đây. Họ đã được nghe “nhà nước ta” nói rất nhiều về miền Nam, nhưng “trăm nghe sao bằng một thấy”. Văn nghệ, là một thái độ sống. Họ muốn biết thái độ sống của miền Nam thế nào qua những đại diện khốn khổ nhưng trung thực là chúng tôi Chúng tôi cũng cảm nhận được điều đó nhưng trong tình trạng tù đày, bó buộc như thế này, biết ăn, biết nói làm sao? Thôi thì “sức người có hạn, được đến đâu hay đến đó”.

    Qua mấy màn ca nhạc, đồng ca, đơn ca, tôi nghiệm ra là về kỹ thuật, chúng tôi không sánh bằng anh em hình sự. Điều dễ dàng nhận thấy là tù chính trị già hơn, nên hơi hám kém hơn. Nhưng hiệu quả sân khấu thì chưa chắc ai hơn ai. Lấy ví dụ như ca sĩ Văn B . của chúng tôi hát làm sao tốt bằng, khỏe bằng Ng. bên khu B, nhưng khi anh hát xong tiếng vỗ tay có lẽ nhiều hơn, nồng ấm hơn. Ng. hát giọng ngực, lớn, vang nhưng anh hát theo lề lối thường thấy ở ngoài Bắc, không rõ lời. Nhiều khi không biết anh hát cái gì nữa chỉ thấy trước sau giọng ngân vang rền rĩ mà thôi. Còn Văn B. anh là ca sĩ tài tử (ngoài Bắc kêu bằng nghiệp dư, thích thì hát chơi không phải nhà nghề) nên hát bài nào anh phổ tâm tình vào bài hát đó. Anh không trưng bày giọng hát mà như văn nghệ thường thấy ở miền Nam, anh có một tâm sự để mà kể lại. Anh thuộc loại ca sĩ trữ tình (chanteur de charme) không phải ca sĩ Opera như khuynh hướng ngoài Bắc. Cho nên nghe Văn B . ca sĩ miền Nam, hát không giỏi bằng, không khỏe bằng nhưng nó dễ nghe hơn, nó thấm thía hơn, nó con người hơn. Mà cũng có thể vì cách hát của anh khác lạ hơn nên anh được chú ý và tán thưởng.

    Tiết mục gây được nhiều tiếng cười sảng khoái là màn tốp ca. Anh em chúng tôi dựng tiết mục này theo lối AVT, nhằm kiếm được nụ cười trong tình trạng tối ám của nhà tù. Mà điều này cũng là một thực tế. Chúng tôi là phạm nhân nhưng trong đời sống chúng tôi vui cười nhiều hơn cán bộ coi tù. Ở ngoài Bắc, hoặc là người ta sống căng thẳng quá hoặc là người ta phải ngụy trang lối sống cho nên phần đông mọi người mặt khó đăm đăm. Đây là bệnh táo bón tinh thần thường thấy nơi xã hội thiếu tự do. Ba bạn Đỗ H., Văn B., Trịnh P. hát hò, đối đáp với nhau thoải mái. “Cái gì nhúc nhích là ta chén liền “. Tiếng cười đồng cảm vang lên. Từ cánh gà nhìn xuống, tiếng cười lan tỏa chỉ có người cau mặt là cán bộ giáo dục…

    Màn gây ấn tượng sâu sắc là độc tấu Tây ban cầm. Đây là loại đàn nhiều người chơi. Nhưng tập tành đến nơi đến chốn chơi được nhạc cổ điển hay bán cổ điển thì có rất ít người. Người anh em chơi Tây ban cầm của chúng tôi đã có trên 10 năm cầm đàn. Anh bữa ấy độc tấu một bản bán cổ điển. Một cây đàn Tây ban cầm mà như một dàn nhạc. Có lúc réo rắt như violon, lúc nhảy nhót như mandoline, khi rộn rã như piano, khi trầm hùng như một đoàn quân nhạc đón đoàn chiến binh chiến thắng trở về . Tôi nghĩ đám đông khán giả kia chưa chắc đã hiểu hết ý nghĩa của bài vừa diễn tấu nhưng nhìn bàn tay buông bắt đầy kỹ xảo, nghe âm thanh tiết tấu phong phú, họ hiểu rằng chơi đàn như vậy là một kỳ công. Kỳ công ấy là văn hóa.

    Giọt nước mắt người vợ tù cải tạo trong ngày cựu tù Bình Điền họp mặt tại Nam California, ảnh Huy Phương. Hình dưới: triển lãm hình ảnh về trại tù cũ.

    Links:

    read more

  • Bình luận

    Bầu cho tương lai (Sơn Điền Nguyẽn Viết Khánh)

    Bu Cho Tương Lai  
     
    Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh
    Barack Obama đã được bầu làm Tổng Thống Mỹ với đại đa số phiếu. Từ tuần qua, nhìn những người dân xếp hàng chờ đợi từ tảng sáng để sớm bước vào các phòng bầu phiếu, các nhà quan sát có ý thức cao đã thốt ra một câu bất hủ: "Họ đang viết lịch sử". Từ thời xa xưa hơn 200 năm trước, khi nước Mỹ mới thành hình, người da đen Phi châu bị bọn buôn người quốc tế bắt đem sang Mỹ bán làm nô lệ, có ai ngờ sẽ có ngày một người gốc Phi châu lên làm Tổng Thống Mỹ. Một chương sử mới đã bắt đầu. Thật ra từ tuần trước tôi đã có suy nghĩ về việc này nên đặt câu hỏi "Bầu cho ai?" mà không có trả lời rõ rệt "là ai" trước khi có bằng cớ cụ thể. Nhưng câu trả lời đã nằm sẵn trong đầu từ lúc đó, nên tuần này sau khi đã có kết quả bầu cử, tôi đã trả lời bằng tựa đề "Bầu cho tương lai". Bầu cho Thượng nghị sĩ Obama làm Tổng Thống, tại sao lại gọi là bầu cho tương lai?
    Chữ "tương lai" quá thông thường, nên khi nói đến tương lai người ta nghĩ ngay đến những gì sắp tới. Chữ "quá khứ" cũng vậy, đó là những gì đã qua. Như vậy hiện tại cố nhiên là ngày hôm nay. Ở đây tôi muốn nhìn đến những luận lý khoa học, theo đó quá khứ, hiện tại và tương lai chỉ là một chuỗi dài về thời gian theo một quy luật nhất định là thời gian như mũi tên bắn, có đi mà không trở lại. Bởi vậy quá khứ chỉ là những kinh nghiệm, những bài học cho hiện tại để định hướng cho tương lai. Vậy những bài học đó như thế nào? Nó đã được tóm gọn trong một câu châm ngôn của các nhà triết học trời Âu: "Hôm nay hơn hôm qua và kém hẳn ngày mai", có hàm ý nhắc đến sự tiến bộ tất yếu của loài người. Tiến bộ tức tiến hóa.
       Theo các bằng chứng cụ thể của các nhà khoa học, con người từ thời xa xưa nhất sống trên Trái Đất sở dĩ còn tồn tại được đến ngày nay là vì đã biết tiến hóa. Ở điểm này tôi thấy cần phải góp thêm một ý. Sự suy luận của con người từ cổ xưa có hai phần căn bản, một là lý trí hai là tâm linh. Khoa học là lý trí, còn tâm linh là đức tin tôn giáo. Khi nói đến tự nhiên, người ta nghĩ đến một chữ đồng nghĩa là "thiên nhiên". Thiên là Trời, mà bất cứ tôn giáo nào ngày nay đều nhìn nhận là đấng Chí tôn đã sáng tạo ra loài người, ban cho chúng ta một bản năng là tiến hóa để sống còn và phát triển, chớ không ù lỳ đứng nguyên một chỗ, để trở thành nạn nhân của mê tín và đần độn.
    Nhưng làm thế nào con người sống trong hiện tại lại có thể quyết định cho một tương lai chưa thấy? Không thể quyết định, nhưng vẫn có thể chọn một hướng đi có xác suất lớn nhất cho một tương lai sáng lạn. Hãy nhìn đến một hiện tượng thông thường trong cuộc cuộc sống của chúng ta, coi hiện tại là hôm nay và tương lai là ngày mai. Thí dụ một người tham dự trực tiếp vào sinh hoạt xã hội, ngay từ buổi sáng hôm nay bắt buộc phải có dự liệu trước những gì chưa xẩy ra, như việc làm trong ngày để kiếm sống, đồng thời cũng phải dự tính cả đến những ngày mai xa hơn nữa cho sự làm ăn phát đạt để nuôi gia đình. Đó là định hướng cho tương lai. Quá khứ không thể tái diễn y trang trong cuộc sống hiện tại. Chúng ta không thể ôm lấy quá khứ để mà sống, quá khứ chỉ là những bài học kinh nghiệm hữu ích cho ngày nay. Chúng ta đang sống ở Thế kỷ 21, vậy cũng nên hít thở bầu không khí trong lành của Thế kỷ mới, đặt nặng sự tiến bộ chung của loài người, để quên đi một phần của quá khứ từng chìm đắm trong chiến tranh lạnh với khỏi lửa và hận thù. Để thực hiện việc đó, người dân Mỹ ngày nay cần phải hàn gắn sự chia rẽ do tranh chấp đảng phái gây ra, tạo lại đoàn kết nội bộ để chặn đứng nạn suy thoái kinh tế và chống kẻ thù chung là nạn khủng bố. Bởi vậy câu hỏi đặt ra là vị Tổng Thống mới của Mỹ sẽ phải làm gì?
       Ngay sau khi Obama được bầu làm Tổng Thống, người ta đã thấy những hiện tượng hiếm có hầu như cả nước Mỹ đã reo hò mừng rỡ, như hình ảnh đã thấy trên các màn hình TV của đêm thứ ba 4 tháng 11, chứng tỏ đại đa số dân Mỹ tin ở tài đức, trí tuệ và sự khôn khéo của vị Tổng Thống mới mặc dù đến tháng1-2009 ông mới tựu chức. Hãy nhìn lại một vài chi tiết của kết quả cuộc tổng tuyển cử. Obama đã thắng với 349 phiếu cử tri đoàn và 52% phiếu phổ thông, trong khi McCain chỉ được 163 phiếu cử tri đoàn và 47% phiếu phổ thông. Về Quốc hội tức ngành lập pháp, đảng Dân Chủ đã thắng với một đa số rõ rệt hơn trước. Tại Thượng-Hạ viện đảng Dân Chủ đã có thêm ghế, đủ đa số chắc chắn để từ nay loại bỏ được phần nào những màn tranh cãi kéo dài mà không có quyết định.
    Và đặc biệt hơn nữa cũng nên nhìn đến phản ứng của Thượng nghị sĩ John McCain chỉ một giờ sau khi kết quả chính thức được công bố. Ông nhìn nhận sự thất bại của ông trong cuộc tranh cử và tuyên bố: "Người dân Mỹ đã nói lên tiếng nói của họ, một tiếng n&oacut
    e;i thật rõ ràng. Đây là một cuộc bầu cử có tính lịch sử, tôi nhìn nhận ý nghĩa đặc biệt của cuộc bầu cử lần này cho những nguời dân Mỹ gốc Phi châu và niềm hãnh diện của họ cho đêm nay. Lúc này là thời có những khó khăn cho đất nước chúng ta. Đêm nay tôi cam kết với ông Obama, tôi sẽ làm với tất cả khả năng của tôi để giúp ông lãnh đạo chúng ta qua nhiều thử thách mà chúng ta phải đương đầu". Về phía ông Obama ngay sau khi có kết quả bầu cử, đã lên tiếng nhìn nhận việc hàn gắn lại nền kinh tế cũng như đối phó với các vấn đề đối nội và đối ngoại sẽ không thể có kết quả ngay trong một năm hay một nhiệm kỳ Tổng Thống. "Nhưng, ông nói, đêm nay hơn bao giờ hết tôi thấy có nhiều hy vọng nước Mỹ sẽ đạt được những kết quả đó. Tôi hứa với mọi người, chúng ta như một dân tộc sẽ đạt được". Cả hai ông đều có những lời lẽ làm nổi bật tư cách quý giá của những người làm chính trị.
       Tôi thiết nghĩ nước Mỹ hãy làm gương cho các nước trên thế giới thấy rằng các đảng phái chính trị làm việc cho dân chớ không làm việc cho đảng, và cần phải diệt trừ tận gốc nạn độc tài ở bất cứ nơi nào, vốn đã manh nha từ lòng tham không đáy, tính vị kỷ bảo thủ khư khư ôm lấy những gì đã có, từ đó đưa đến thói vô trách nhiệm, buông lỏng kỷ cương của đạo làm người. Người dân Mỹ đã bỏ phiếu bầu cho tương lai. Hy vọng đó cũng là tương lai của cả loài người.
     SƠN ĐIỀN NGUYỄN VIẾT KHÁNH
  • Bình luận

    GS SD Nguyễn Viết Khánh: VĂN HÓA VÀ TÔN GIÁO

    GS SD Nguyễn Viết Khánh: VĂN HÓA VÀ TÔN GIÁO

    Cuộc họp báo của Ðạt Lai Lạt Ma được dự liệu vào ngày thứ hai tuần này bị hủy bỏ sau khi chính quyền Ðài Loan hiện do Quốc dân đảng nắm giữ đã tỏ ý quan ngại, sợ gây rắc rối với Trung Cộng. Cũng vì thế một cuộc thuyết giảng của Lạt Ma dự liệu tổ chức ở Cao Hùng, một đô thị lớn ở Nam Ðài Loan, tại một sân vận động chứa được 15,000 nguời, rút cuộc đã phải chuyển về một căn phòng ở khách sạn Lat Ma trú ngụ, chỉ có 1,200 ghế ngồi. Trong một bản tuyên bố chính thức, Cơ sở Tổ chức Ðạt Lai Lạt Ma ở Ðài Loan nói: “Những người tổ chức vụ này rất quan ngại cho sự an toàn của Ðức Ðạt Lai Lạt Ma”. Ngoài ra theo lời một phát ngôn nhân chính thức, Tổng Thống Ðài Loan Mã Anh Cửu đã từng gặp Lạt Ma hai lần trong các chuyến đi lục địa trước đây, lần này không có dự liệu hội kiến. Ngoài ra Phó Tổng Thống, Thủ tướng và Chủ tịch Quốc dân đảng Ðài Loan cũng không có chương trình gặp gỡ Ðạt Lai Lạt Ma.

    Trước đó chính Ðức Ðạt Lai Lạt Ma cũng đã nói với phóng viên đài TV CNN rằng Ngài không muốn gặp Tổng Thống Ðài Loan vì e rằng sẽ chính trị hóa chuyến đi này. Ngày chủ nhật vừa qua Tân Hoa Xã của Trung Cộng đã nói Bắc Kinh “cương quyết chống” cuộc viếng thăm vì gây ra những ảnh hưởng tiêu cực giữa Hoa lục và Ðài Loan. Tân Hoa Xã còn thuật lại lời một quan chức trong Cơ quan “Ðài loan vụ” nói “Chúng tôi sẽ theo dõi chặt chẽ vụ viếng thăm”. Sự hăm dọa thật trắng trợn. Bắc Kinh vẫn coi Ðài Loan là một tỉnh “ly khai” của Hoa lục và tố cáo Lạt Ma tranh đấu cho sự tách rời của Tây Tạng khỏi Hoa lục để thành một nước độc lập.

    Như vậy phải chăng một nhà tu hành coi như đứng hàng đầu của Phật giáo trên toàn thế giới đã làm chính trị? Tôi muốn trả lời câu hỏi này. Các bậc chân tu nói chung của các tôn giáo lớn trên thế giới ngày nay như Thiên chúa giáo, Hồi giáo, Phật giáo và các hệ phái của các tôn giáo đó đều không làm chính trị. Ở đây cũng nên xác định cho rõ việc làm chính trị (politics) có nghĩa là sự tranh đấu của các chính đảng để tranh dành những ngôi vị cầm quyền, bất luận cấp bực nào trong hành pháp, lập pháp hay tư pháp. Chức tước hay danh vọng thường đi đôi với quyền uy, lợi nhuận, tiền bạc. Thế nhưng khi một nhà tu hành hô hào vận động cho dân chủ, nghĩa là một chế độ do dân làm chủ, chuyện đó lại khác hẳn. Bởi vì dân chủ là nếp sống của người dân được tự do sống có luật pháp che chở. Ðây là văn hóa chớ không phải chính trị.Văn hóa là một nét đặn thù của dân tộc tính, tức phong tục tập quán, cách sống, nề nếp sinh hoạt trong nhà cũng như ngoài xã hội, cách ăn, ở và mặc. Chế độ chính trị cũng như thể chế xã hội do chính dân tộc đó hình thành. Hiển nhiên dân tộc tính của mỗi dân tộc một khác tùy theo hoàn cảnh, kẻ ở bên ngoài không thể dùng bạo lực cưỡng ép một kiểu xã hội nào khác. Ðó là thủ đoạn xâm lược của bọn độc tài, quân phiệt hay tài phiệt. Văn hóa là cái gốc của một dân tộc, bắt nguồn từ thời xa xưa nhất trong lịch sử của họ. Văn hóa của bất cứ dân tộc nào cũng phải đi theo một luật thiên nhiên là luật tiến hóa, bởi vì nếu không có tiến hóa ngày một tiến, mỗi ngày một mới, nền văn hóa đó sẽ chết. Tuy nhiên bất luận tiến cách nào, mỗi dân tộc qua các thế hệ trước sau đều không được quên cái gốc căn bản của mình. Ðó là tiến bộ mà không mất gốc vậy.

    Giữ được gốc có lợi ích gì? Ðó là để không quên quá khứ vì quá khứ là những bài học kinh nghiệm cho cuộc sống hiện tại. Khi đã xác định được chỗ đứng trong hiện tại, chúng ta mới định hướng được bước đường tương lai, sẵn sàng tiến lên nữa, để khỏi bị lạc hậu với thời gian. Nếp sống dân chủ là nếp sống thích hợp nhất cho các dân tộc trên thế giới. Bởi vậy dân chủ bắt buộc phải nằm trong văn hóa của mỗi dân tộc. Ở đây vai trò của tôn giáo như thế nào? Tôn giáo chỉ là một thành phần của nền văn hóa mỗi dân tộc, nên tôn giáo cũng phải theo một định luật căn bản là do dân chúng một nước được tự do lựa chọn theo quy định dân làm chủ, chớ không thể dùng bạo lực hay võ khí cưỡng ép, uy hiếp phải theo đạo.

    Chúng tôi thiết nghĩ: Khác hẳn thời xa xưa hơn hai ngàn năm trước khi xã hội loài người còn sơ khai, thời nay không có tôn giáo nào cầm súng cầm gươm đi truyền đạo. Tuy nhiên cũng phải nhìn nhận một sự thật là có những kẻ lợi dụng đức tin tôn giáo để làm bậy. Những kẻ đó chỉ là một thiểu số, nhưng chúng đã phạm phải những trọng tội mà không một xã hội nào của con người có thể dung thứ. Những tin tức trên báo chỉ hàng ngày thường cho thấy những thiểu số đó đã sa lưới pháp luật và vấy một vết nhơ lên đức tin mà họ rao giảng. Về mặt quốc tế từ đầu Thế kỷ 21, một nhóm khủng bố đã lợi dụng đức tin Hồi giáo để gây ra những cuộc chém giết rùng rợn làm chấn động dư luận toàn thế giới, tạo nhiều khó khăn phức tạp cho các nước lớn.

    Tôn giáo có mục tiêu chủ yếu là thức tỉnh lương tri của con người chớ không phải mê hoặc. Riêng tôi đã biết các học giả và khoa học gia trên Thế giới mới đây đã xác định “Phật giáo gần gụi với Cơ học Lương tử” hơn bất cứ tôn giáo nào khác.

    Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh.

  • Bình luận

    Thiện Ý : TỪ TUNISIA QUA YEMEN, ĐẾN AI CẬP, BAO GIỜ ĐẾN CỘNG SẢN VIỆT NAM?

    TỪ TUNISIA QUA  YEMEN, ĐẾN AI CẬP, BAO GIỜ ĐẾN CỘNG SẢN VIỆT NAM?

     

    Thiện Ý

            

           

            Cảnh sát chống bạo động đã xử dụng vòi rồng và lựu đạn cay cùng các vũ khí chống biểu tình đưa đến những cuộc đụng độ đổ máu. Đến nay, sau sáu ngày bạo động, đã có hàng trăm  người biểu tình bị chết và bị thương, hàng ngàn người bị bắt. Một số xe của cảnh sát có cả xe bọc thép và cơ quan chính phủ, trụ sở của đảng cầm quyền đã bị quần chúng biểu tình đốt cháy. Các cuộc  biểu tình của các giới người dân Ai Cập đã có chiều hướng gia tăng cường đô xung đột và mức độ lan rông khắp nơi với hậu quả khó lường. Chính quyền của Tổng Thống Mubarak đã ban hành  lênh giới nghiêm ở những nơi có biểu tình.

             Người ta được biết biểu tình là chuyện hiếm thấy xẩy ra tại Ai Cập, nơi mà Tổng Thống Mubarak và đảng Dân Chủ Quốc Gia của ông cai trị chuyên chế suốt hơn 30 năm qua và những người bất đồng chính kiến bị đối xử một cách không nhân nhượng, chỉ thua cường độ đàn áp các nhà bất đồng chính kiến tại Việt Nam dưới quyền thống trị độc tôn của đảng Cộng sản Việt Nam trong nhiều thập niên qua. Trước đây vào năm 2005 cũng đã có cuộc biểu tình lớn nhưng đã bị nhà cầm quyền dập tắt. Cuộc biểu tình lần này xuất phát từ các nhà hoạt động cho dân chủ kêu gọi quần chúng nổi dậy trong một thông điệp phổ biến trên mạng internet và đã được hàng chục ngàn người dân Ai Cập hưởng ứng .

            Theo tường thuật và hình ảnh của các hãng thông tấn quốc tế, được phổ biến rộng rãi trên màn ảnh truyền hình khắp thế giới, cho thấy những người tham gia biểu tình không chỉ thuộc giới thanh niên sinh viên nam mà cả phụ nữ, người buôn bán nhỏ; thậm chí cả công chức mang cặp và mặc veston, thắt cà vạt cũng tham dự biểu tình lần này. Mục đích của các cuộc biểu tình là đòi dân chủ, cải tổ chính trị và nhất là đòi Tổng Thống Mubarak phải từ chức vì là nguồn gốc chính yếu của tình trạng bức bách về chính trị, bất công xã hội và đời sống kinh tế khó khăn của nhân dân Ai Cập.

              Nguyện vọng của  người dân Ai Cập được thể hiện qua những biểu ngữ, khẩu hiệu được hô vang trong các cuộc biểu tình, trong đó có việc gọi đích danh Tổng Thống Mubarak là nhà độc tài và đòi ông từ chức lập tức. Vào thứ sáu tuần trước (28-1-2011) Tổng Thống Hosni Mubarak đã giải tán nội các, bổ nhiệm ông Omar Suleiman, phụ trách cơ quan tình báo Ai Cập vào chức  Phó Tổng Thống, một chức vụ bị bỏ trống từ khi Ông Mubarak nắm quyền Tổng Thống Ai Cập vào năm 1981, từ vị thế Phó Tổng Thống, vào thời điểm tổng thống Anouar el Sadate bị ám sát. Đồng thời Tổng Thống Mubarak cũng đã chỉ định tướng Ahmed Shafik, nguyên bộ trưởng bộ Hàng không làm thủ tướng thàng lập nội các mới. Nội các cũ do ông Ahmed Nazif đã bị tổng thống Mubarak giải tán hôm thứ sáu,28/01/2011.Tân phó tổng thống và tân thủ tướng Ai Cập đều là những người thân cận của tổng thống Hosni Mubarak.

             Tất cả nỗ lực cải tổ chính phủ này dường như vẫn không đáp ứng được yêu sách của quần chúng biểu tình, họ không muốn một sự cải tổ vá víu, mà muốn thay đổi hoàn toàn chế độ, với sự ra đi của cá nhân ông Mubarak và đảng cầm quyền chuyên chế, thay vào một chế độ dân chủ.

         Theo nhận xét của giới báo chí, sở dĩ lần biểu tình này có sự tham gia đông đảo,  với quyết tâm cao và không khoan nhượng là vì nhân dân Ai Cập được thúc đẩy từ sự thành công của “Cuộc cách mạng Hoa Nhài”  nổ ra ở Tunisia, cũng là một nước Hội giáo Châu Phi vào đầu tháng này, đã lật đổ được chế độ độc tài  của Tổng Thống Ben Ali. Nhiều người biểu tình ở Ai Cập tuyên bố sẽ tiếp tục cho tới khi lật đổ được chính quyền Mubarak. Chính cuộc “cách mạng Hoa Nhài” ở Tunisia thành công này cũng đã là cảm hứng cho nhân dân một nước Hồi giáo khác là Yemen xuống đường biểu tình rầm rộ ở thủ đô Sanaa,  đòi Tổng Thống  Ali Absullah Saleh phải từ chức cũng sau hơn 30 năm nắm quyền cai trị độc tài.

         Như vậy là chỉ trong một tháng đầu năm 2011 đã có các cuộc biểu tình qui mô lớn của nhân dân ở ba nước Hồi giáo là Tunisia, Yemen và Ai Cập. Tất cả các cuộc xuống đường này đều có nguyên nhân và mục tiêu giống nhau.

          Nguyên nhân là vì  nhân dân cả ba nuớc đều bị thống trị bởi ba nhà độc tài cầm đầu ba đảng độc tôn, cai trị độc quyền kéo dài trong nhiều thập niên. Hệ quả là các nhân quyền và dân quyền căn bản bị hạn chế hoặc bị tước đoạt, kinh tế bất ổn, giá cả leo thang, tỷ lệ thất nghiệp lớn, tham nhũng tràn lan và xã hội đây rẫy bất công, sự cách biết giầu nghèo sâu sắc với thiểu số chức quyền giầu có thống trị trên tuyệt đại đa số nhân dân lao động nghèo khổ. Hệ quả này đã gây bất mãn, phẫn nộ trong mọi tầng lớp nhân dân ở cả ba nước .

          Và do đó mục tiêu tối hậu của các cuộc xuống đường biểu tình của nhân dân ba nước Tunisia, Yemen và Ai cập đều giống nhau là nhằm lật đổ những nhà độc tài đứng đầu nhà nước  và cả các đảng hậu thuẫn cầm quyền ở cả ba nước, để thay thế bằng những người cầm quyền và đảng phái chính trị biết  tôn trọng các quyền tự do, dân chủ, nhân quyền và nhân quyền,  trong một chế độ dân chủ đa nguyên, một xã hội công bằng, đời sống kinh tế ổn định và bảo đảm hơn cho nhân dân lao động nghèo. Mục tiêu tối hậu này đã thành đạt tại Tunisia, một trong ba nước đã và đang muốn giành lại chính quyền bằng sức mạnh của quần chúng nhân dân qua các cuộc xuống đường biểu tình lật đổ chính phủ phản dân chủ.

           Tân chính phủ Tunisia nói là  họ sẽ công nhận các đảng chính trị bị cấm hoạt động, gồm cả tổ chức Hồi giáo…, đồng thời ân xá toàn bộ tù nhân chính trị.Loan báo này được đưa ra khi nội các Tunisia họp phiên đầu tiên, gần một tuần sau khi tổng thống Zine al-Abidine Ben Ali bỏ nước ra đi trước làn sóng phản đối của dân. Điều này có nghĩa là sau cuộc “Cách Mạng Hoa Nhài” thành công Tunisia sẽ đi theo chiều hướng chế độ dân chủ đa nguyên đáp đúng ý nguyện của nhân dân, phù hợp với xu thế thời đại: dân chủ hoá chế độ độc tài các kiểu và thị trường tự do hoá về kinh tế trên phạm vi toàn cầu.

           Trông người lại nghĩ đến ta. Nhân dân Việt Nam tự hỏi: Bao giờ Việt Nam sẽ có cơ hội thực hiện một biến động như thế, để nhân dân Việt Nam bằng sức mạnh “Tức nước vỡ bờ” của mình, vùng lên quật ngã tập đoàn thống trị độc tôn độc quyền là đảng cộng sản Việt Nam, để giành lại quyền làm chủ đất nước, trong một chế độ tư do, dân chủ thực sự?

            Lời giải đáp đã có ngay trong câu tự hỏi, rằng Việt Nam rồi cũng phải có một ngày như thế, nếu như…Cộng đảng Việt Nam vẫn ngoan cố. Bởi vì tiền đề dẫn đến sự nổi dậy của quần chúng thực tế đã có ở Việt Nam từ lâu, không khác mà còn có phần vượt trội các nước Tunisia, Yemen và Ai Cập, về cường độ và mức độ của các nguyên nhân dẫn đến tình trạng “Tức nước vỡ bờ”.

             Thế nhưng, sở dĩ ở Việt Nam “đã tức nước”“chưa vỡ bờ” là vì tập đoàn đảng trị Cộng sản Việt Nam đã khôn lanh quỷ quyệt thực hiện chính sách “mềm nắn rắn buông”, biết “lùi kịp thời” để thoát hiểm trước áp lực của  nhân dân và đòi hỏi của quốc tế, để kéo dài tuổi thọ cho chế độ độc tài toàn trị cộng sản, đồng nghĩa với kéo dài thời gian cho một tập đoàn thống trị khai thác lợi nhuận độc quyền, bảo vệ các ưu quyền đặc lợi của giai cấp thống trị. Nhờ đó, mức độ “tức nước” của người dân khi gần đến biên độ “vỡ bờ”, thì nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam tìm cách “dừng bơm thêm hay xả bớt nước”bằng chiêu bài “hoãn binh chi kế”. Thực hiện chính sách khôn lanh này, có lẽ là hơn ai hết, họ đã thuộc nằm lòng quy luật đấu tranh giai cấp với luận điểm Marxist- Leninnist về tình thế cách mạng chín mùi, rằng:

             Khi mâu thuẫn giữa giai cấp thống trị và giai cấp bị trị phát triển thành mâu thuẫn đối kháng với mọi giai cấp trong xã hội, là lúc “tình thế cách mạng chín mùi”, cuộc cách mạnh của quần chúng nổ ra nhất định thắng lợi. Vì khi đó giai cấp thống trị hoàn toàn bị cô lập, đến ngay các lực lượng nòng cốt bảo vệ giai cấp thống trị là quân đội, công an mật vụ cũng đứng về phía nhân dân, buông vũ khí không còn giám bắn vào người dân nữa.

             Luận điểm này đã như một quy luật được thực tế chứng minh qua sự sụp đổ tan tành từ nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên Liên Xô, kéo theo sự tiêu vong của cả hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu vào cuối thập niên 1980 và đầu thập niên 1990. Luận điểm này cũng đã manh nha trong các cuộc biểu tình của nhân dân Ai Cập hiện nay, với sự tham gia của hầu hết giai cấp bị trị trong xã hội đang có nguy cơ biến thành mâu thuẫn đối kháng (một mất một còn) của toàn xã hội với giai cấp cầm quyền, và một số nơi biểu tình và nhà tù cảnh sát, quân đội đã bỏ nhiệm sở, tù nhân tự phóng thích….Phải chăng “tình thế cách mạng sắp chín mùi” ở Ai Cập, để cuộc cách mạng của quần chúng nhất định sẽ giành được thắng lợi nay mai?

           Có thể nhờ thấm nhuần luận điểm đã như một quy luật về đấu tranh giai cấp Marxist-Lennist trên đây, cùng những bài học thực tiễn về sức mạnh của quần chúng nhân dân, mà Cộng đảng Việt Nam mới có được kinh nghiệm, thủ đoạn kéo dài được sự tồn tại, không chỉ 30 năm như các nhà độc tài ở các nước đang có sự nổi dậy của quần chúng, mà đã kéo dài chế độ độc tài toàn trị CS, áp bức, bất công hơn nửa thế kỷ qua (1954-1975 trên nửa nước và từ 1975- 2011 trên cả nước).

           Tuy nhiên, kéo dài được tuổi thọ cho chế độ, không có nghĩa là không có ngày tận vong, tập đoàn thống trị độc tài, độc tôn và độc quyền CSVN cũng thừa biết điều này. Có điều, rồi dây liệu tập đoàn thống trị này có đủ khôn ngoan để chọn “một cái chết êm ả trong môi trường mật ngọt” (tự nguyện tự giác trao trả lại quyền làm chủ thực sự cho nhân dân) hay chấp nhận “Một cái chết đau đớn trong môi trường mật đắng” ( bằng sức mạnh vùng lên của quần chúng nhân dân bị áp bức, bóc lột tận qua lâu đến tận cùng).

         Câu trả lời chính xác xin dành cho những người lãnh đạo chóp bu chế độ giả hiệu “Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam” bao gồm: Bộ tứ  Nguyễn Phú Trọng, , Nguyễn Tấn Dũng, Trương Tấn Sang, Nguyễn Sinh Hùng, các thành viên Bộ Chính Trị, Ban Bí Thư, Ban Chấp Hành Trung Ương đảng “Cộng Sản Việt Nam” (giả danh)

           Để góp ý thêm cho câu trả lời và hành động phù hợp với thực tiễn của tập đoàn thống trị Cộng sản Việt Nam, xin được lấy cái nhìn của kinh tế gia, nhà nghiên cứu chính trị nổi tiếng của Pháp là Jacques Attali, trong bài viết tựa đề "Tunisia, rồi sau đó?" đăng trên tờ L’Express hôm 19/01/2011, bình luận về sự kiện ở Tunesia mà ông gọi là “Cuộc cách mạnh hoa nhài”, rằng những gì xảy ra tại Tunisia không phải là điều bất ngờ. Cả thế giới biết rằng thực tế trong ít nhất hai mươi năm nay, làn sóng dân chủ đã tràn qua cả thế giới. lý do không phải bởi các diễn biến chính trị, mà chính vì nền kinh tế thị trường. Đất nước Tunisia, chuyển sang kinh tế thị trường, chỉ có thể trở thành một quốc gia dân chủ. Attali viết, “sau đó sẽ là các trường hợp của Ai Cập, của Việt Nam, Trung Quốc, các nước hạ Sahara ở châu Phi; và sau nữa có thể tới Algeria rồi Syria…”.

           Bởi vì, cũng đúng  như chúng tôi đã nhiều lần dùng thuật ngữ “Môi trường mật ngọt kinh tế thị trường” để lý giải về quá trình  tiêu vong của “chế độ độc tài toàn trị cộng sản” tại Việt Nam theo ý nghĩa câu tục ngữ Việt Nam có giá trị như quy luật “Mật ngọt chết ruồi”. Nghĩa là “Con ruồi cộng sản Việt Nam” đã và đang sa vào và sẽ chết dần trong môi trường “ mật ngọt kinh tế thị trường theo định hướng tư bản chủ nghĩa”.

             Vì chính trong môi trường này: các cán bộ đảng viên cộng sản đã và đang được “Tư sản hoá” (thành các nhà tư bản đỏ, các đại gia…)- Nhà nước cộng sản đã và đang được “Tư bản hoá” (Giải tư các ông ty quốc doanh…) và chế độ độc tài toàn trị đã và đang được “dân chủ hoá” từng bước ( Nhà cầm quyền đã phải trả dần các quyền dân chủ, dân sinh, nhân quyền…).

             Vấn để chỉ còn là ở cuối quá trình “diễn biến hoà bình” này, tập đoàn thống trị Cộng sản Việt Nam có biết khôn ngoan hơn, tự nguyện tự giac trả lại đúng lúc toàn bộ quyền làm chủ cho nhân dân (chế độ dân chủ đa nguyên, đa đảng), hay phải để nhân dân nổi giận dùng bạo lực của quần chúng để đạp đổ bạo quyền, giành lại quyền làm chủ, như nhân dân các nước Tunisia, Yeman và Ai Cập đang làm.

    Thiện Ý

    Houston, ngày 31 tháng 1 năm  2011

     

  • Bình luận

    Đấu Tranh Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền VN (Vi Anh)

    Đu Tranh T Do, Dân Ch, Nhân Quyn Vn…  
    Vi Anh

    Công cuộc đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN của người Việt trong ngoài nước có còn hợp thời không? Việt Cộng nói lỗi thời. Nhưng sự thật không phải như Việt Cộng nói .
    Chủ Nhựt 26 tháng Mười, tạp chí điện tử Cộng Sản có đưa ra một bài  "Dân chủ, nhân quyền – chiêu bài đã lỗi thời của các thế lực thù địch với cách mạng VN", của Ô Nguyễn duy Quý, một cán bộ cao cấp của CS theo thông lệ có nhiều chức lắm, Giáo sư, Viện sĩ, Cựu Viện Trưởng Viện Viện Khoa Học Xã Hội VNCS.
    Nhà lý luận CS này có đưa ra một vài luận điểm để biện minh cho quan niệm nhân quyền của Đảng. Thí dụ như Tây và Đông khác nhau, Tây Phương không thể áp đặt quan niệm tự do, dân chủ của mình cho dân tộc VN và Ong còn lôi ra cả nguyên tắc chủ quyền quốc gia, tinh thần độc lập dân tộc Việt để chứng minh quan niệm "nhân quyền cao hơn chủ quyền" là sai.
    Lý luận của nhà lý luận CS trên tạp chí CS này không có  gì mới lạ. Từ khi Thế Giới Đại Đồng của chủ nghĩa CS tan vở theo Đông Au và Liên xô; từ khi cuộc đấu tranh giai cấp vô sản tiến lên Cộng sản trở thành đóng tro tàn sau Chiến Tranh Lạnh; từ khi  hai chế độ CS còn sót lại ở Á châu, Trung Cộng và Việt Cộng, " chuyển hệ tư duy, đổi sang kinh tế thị trường", CS Bắc Kinh và CS Hà nội  thường lợi dụng quốc gia chủ nghĩa để tiếp tục lợi dụng người dân, hoá giải áp lực nhân quyền của xu thế thời đại tư do, dân chủ trên thế giới.  Đó là lý luận mà phát ngôn viên ngoại giao của chế độ CS Hà nội, Lê Dũng, đã ra rả lập đi lập lại không biết bao nhiêu lần rồi khi CS Hà nội bị nhân dân, chánh quyển các nước trên thế giới và các tổ chức quốc tế phê bình, chỉ trích, phản đối vì đã vi phạm tự do, dân chủ, nhân quyền đối với chính người dân của mình.
    Vì tự  do, dân chủ, nhân quyền là vấn đề của Con Người, của thời đại, có giá trị phổ biến, có tính toàn cầu, một tiến hoá của Nhân Loại.
    Quyền sống của Con Người xứng đáng là người không thể nào thấp hơn chủ quyền quốc gia dân tộc mà người dân là người chủ, người làm ra, dựng nước, giữ nước. Không thể lấy chủ nghĩa quốc gia cực đoan để thủ tiêu, hy sinh quyền của người dân là chủ thể như  Trung Cộng và Việt Cộng đang làm sau khi huyền thoại thế giới đại đồng đổ vở sau Chiến Tranh Lạnh.
    Nhưng đừng tưởng những lý sự cùn này của những người CS còn sót lại đang thống trị VN, đã và đang chà đạp nhân quyền  của người dân Việt không có tác dụng đối với ngưòi Việt.
    Ở hải ngoại nếu Tú Xương sống lại thời này ắt sẽ than, "Chống Cộng ngày nay đã hết thời, Mười người chống Cộng chín người thôi. HO về nước tìm bò lạc. Tỵ nạn về quê kiếm sự đời" như nhiều người bi quan đã thấy. "Những điều trông thấy mà đau đớn lòng" những người Việt tỵ nạn CS ở Mỹ, nơi chứa hơn phân nửa tổng số người Việt tỵ nạn CS trên thế giới. Mỗi năm người Việt tỵ nạn CS gởi về nước khoảng 8 tỷ. Mỗi năm không dưới 300 ngàn lượt người Việt hải ngoại đi về VN. Càng ngày Mỹ càng phát triển bang giao giữa Washington – Hà nội. Nhiều người trẻ tỏ ra cấp tiến, hòa nhập sâu sát với Mỹ, chủ trương bỏ quá khứ ra sau nhìn về tương lai phiá trước, muốn "hoà giải hòa hợp" với CS Hà nội. Thương buôn thì len lỏi về làm ăn, lợi dụng việc CS kềm giá tiền công, bóc lột mồ hôi nước mắt đồng bào, "ăn theo" với CS. Một số báo chí tiếng Việt ở hải ngoại đổi chiều, cầu an, núp dưới chiêu bài độc lập, vô tư của nghề  báo, âm thầm đón gió trở cờ hy vọng CS cho về VN ra báo và  cho quảng cáo ở Mỹ.
    Càng ngày càng có nhiều người ở Mỹ, đặc biệt ở Little Saigon thủ đô của người Việt tỵ nạn CS, bớt đi biểu tình chống Cộng, sợ  CS có hình chụp được mình, không được đi VN hay đi VN bị công an làm khó dễ. Càng ngày CS Hà nội càng chiêu dụ Việt Kiều đem chất xám,  giấy xanh về về phục vụ quê hương, miển chiếu khán nhập cảnh, cho tamua nhà đất. Càng ngày CS Hà nội càng mở rộng và làm mạnh Nghị Quyết 36, để lũng đoạn hàng ngũ, phá hoại tinh thần Quốc gia của người Việt hải ngoại.
    Tại sao? Tại vì bên cạnh những lý sự cùn đó, CS Hà nội đã dùng nhiều hư chiêu nhưng thực dụng câu móc và lũng đoạn tập thể người dân Việt trong ngoài nước. Trước Nghị Quyết 36 nhằm nhuộm đỏ VN Hải ngoại, Ô Võ văn Kiệt, Nguyễn tấn Dũng, Nguyễn minh Triết nói nhiều, nhiều chuyện lắm, kể cả kiếm chuyện và vẽ chuyện để chiêu dụ "Việt Kiều.". Nào là chuyện quên quá khứ hướng về tương lai đất nước; chuyện ra quyết định dân sự hóa Nghĩa Trang Quân đội Biên Hòa; chuyện ra quyết định giải tư một số lớn quốc doanh; chuyện Thủ Tướng Nguyễn tấn Dũng đi diện kiến Giáo Hoàng Công Giáo La Mã; chuyện Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng CSVN sẽ xét không cho đảng, quân đội, và Mặt trận Tổ quốc làm kinh tế trong đại hội sắp tới; chuyện có thể mời một số "Việt kiều yêu nước" về làm quan sát viên tại Quốc hội; chuyện phát hành sách trắng về Tôn giáo và chánh sách tôn giáo tại VN; chuyện miển chiếu kh&aa
    cute;n cho Việt kiều về VN; chuyện cho Việt kiều mua nhà ở VN; và chuyện Việt kiều được ứng cử bầu cử không.
    Đừng tưởng những tuyên truyền CS nói trên không có ảnh hưởng trong hàng ngũ người Việt tỵ nạn CS ở hải ngoại. Tin ghi nhận được ở Au châu, có người định đến thảo luận dân chủ với nhân viên sứ quán Cộng Sản Việt Nam ở Hoà Lan vì cho rằng họ rất cởi mở. Có luồng tuyền truyền ngầm về hạ trào chống Cộng "10 người chống Cộng 9 người thôi". Tại sao không về nước nhà cho rõ sự tình, đất nước bây giờ xây dựng lại "giàu mạnh" lắm. CS cũng là người Việt tại sao không đem tiền bạc và kinh nghiệm, kiến thức về xây dựng quê hương. CS bây giờ đâu còn là CS nữa, Mỹ đã vào rồi, tại sao không dựa vào Mỹ về "tham chánh", chia ghế, "dựa vào chánh quyền" phát triển đạo;  chống Cộng làm gì nữa, đấu tranh với CS rồi "tránh đâu." Số ấy tuy tối thiểu số, nhưng có người lén về VN, đi bằng hai đầu gối định xin "chia ghế" nếu không được dân biểu thì làm quan sát viên…
    Thực ra đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN, là một cách nói tích cực của việc chống Cộng,  là sự nghiệp của đời người, công trình của thế kỷ, là sự sống còn của  đất nước dân tộc, tuổi thọ tính bằng đơn vị, trăm hay ngàn năm. Không có chuyện hợp thời hay lỗi thời. Tình hình thay đổi, chiến thuật có thể quyền biến. Nhưng cứu cánh chưa đạt thì không thế nói công cuộc đó hợp thời hay lỗi thời. 75 năm  dai dẳng và âm thầm đấu tranh bằng nhiều cách, người dân Nga, các dân tộc bị Liên xô đồng hoá thành cộng hòa trong Liên bang sô viết, và các nước Đông Au mới lật được chế độ CS, có ai nói lỗi thời hay lạc hậu đâu. 
     
                                                                                                                                   VI ANH
     

  • Bình luận

    GS SD Nguyễn Viết Khánh: VĂN HÓA VÀ TÔN GIÁOTinh Thần Lưỡng Đảng

    Tinh Thần Lưỡng Đảng

    Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh

    Tổng Thống Barack Obama đã từ trại David trở về Bạck Ốc kết thúc vụ nghỉ hè của ông, sẵn sàng đối phó với những khó khăn đang chờ đợi. Quốc hội cũng hết hạn nghỉ hè và tái nhóm thứ Ba tuần này. Đến thứ Tư, Obama sẽ ra trước Lưỡng viện Quốc hội đề cập đến tất cả những khó khăn đối nội cũng như đối ngoại. Trong các vấn đề này về mặt đối ngoại có hai chuyện cấp bách cần phải có quyết định sớm chớ không thể chần chờ để thương lượng như mọi vấn đề ngoại giao thông thường. Đó là hai cuộc chiến tranh Iraq và Afghanistan, nơi số thương vong Mỹ và đồng minh cũng như dân chúng tiếp tục gia tăng.
    Tại Iraq trên toàn quốc hôm thứ Hai đầu tuần có 12 người dân, kể cả 2 trẻ em bị chết vì bom. Trong số này có 8 người chết vì xe bom tự sát ở một trạm kiểm soát tại thị trấn Ramadi, một cứ địa trước đây của al-Qaida. Thị trấn này có 540,000 dân, thuộc tỉnh Anbar nằm ở phía Tây Iraq, tức gần nước Syria. Hồi tháng 9 năm ngoái, Thủy quân Lục chiến Mỹ đã trao quyền kiểm soát bảo vệ an ninh của Anbar cho 28,000 Cảnh sát và 8,000 binh sĩ Iraq. Ngoài ra cũng trong ngày thứ Hai, các vụ tấn công xe hơi ở thủ đô Baghdad đã khiến 2 thường dân chết và 11 người khác bị thương. Đồng thời tại Kirkuk, một thị trấn ít người, hai anh em nhỏ 9 và 14 tuổi đã bị chết vì bẫy mìn trong khi chúng vui chơi. Tính từ ngày 1 tháng 9 đến nay ở Iraq có 450 người Iraq chết – 393 thường dân, 48 Cảnh sát và 15 lính – con số cao nhất từ tháng 7 năm 2008 khi có 465 người chết. Ngày 19 tháng 8 vừa qua, vụ khủng bố tấn công các bộ Ngoại giao và Tài chính của chính phủ Iraq đã giết chết 19 người và làm 600 người bị thương ở ngay Thủ đô Baghdad. Dư luận Mỹ đang đặt câu hỏi liệu chính quyền của Maliki có giữ nổi Baghdad sau khi quân Mỹ rút lui hay không?
    Trong khi đó mặt trận Afghanistan còn tệ hại hơn. Đầu tuần này một nhóm độc lập tranh đấu cho Nhân quyền loan báo một vụ bắn phi đạn của chiến đấu cơ NATO hôm thứ Sáu tuần trước nhắm vào 2 xe bồn chở xăng bị quân khủng bố cướp đi, đã làm chết 70 thường dân khi bồn xăng trúng đạn bị nổ tan. Hai phi cơ này là của Không quân Mỹ đã hành động theo lời yêu cầu của bộ Tư lệnh Đức trong thành phần đồng minh của NATO. Ngay từ tuần trước sau khi đánh phá 2 bồn xăng, bộ Tư lệnh Đức đã nói cần phải đánh ngay các bồn xăng vì e ngại bọn khủng bố sẽ dùng làm xe bom tự sát đánh thẳng vào đồn binh của quân Đức trong tỉnh Kunduz gần đó. Mohammad Omar, Thống đốc tỉnh Kunduz nói ông ủng hộ vụ đánh bồn xăng, vì có đến 72 tay súng Taliban vị chết cùng một lúc. Nhưng bọn Taliban cũng ra một thông cáo kêu gọi Liên Hiệp Quốc điều tra vụ oanh kích vì có đến 500 dân làng chết. Vụ Taliban đưa ra con số dân chết quá lớn hiển nhiên là bịa đặt, nhưng vụ đánh hai xe bồn xăng chỉ có 2 tên khủng bố chết, còn dân làng ùa ra ngoài để múc xăng khi xăng chẩy lênh láng, đến lúc lửa bắt tới làm nổ bồn xăng đã khiến 70 người dân chết.
    Vụ quân đồng minh NATO dùng võ lực quá đáng cũng gây ra sự bất mãn. Một nhóm Từ thiện đầu tuần này tố cáo quân lực Mỹ đã phá cửa xông vào một bệnh viện hàng tỉnh, bắt trói nhân viên bệnh viện và cả những người từ bên ngoài đến bệnh viện thăm người nhà nằm ở đó. Các vụ dùng sức mạnh quá lố như vậy đã làm dân chúng Afghanistan nổi giận và cả dư luận bên ngoài cũng phê phán. Vì thế tướng Mỹ Stanley McCrystal, vị tư lệnh cao nhất của Mỹ và NATO đã đưa ra những lệ luật rõ ràng để tránh gây thương vong cho người dân. Ông hứa sẽ điều tra vụ phi cơ đánh 2 bồn xăng. Trước tình thế đó đa số dư luận Mỹ đã tỏ ý muốn Mỹ rút quân khỏi Afghanistan.
    Vụ tấn công 2 bồn xăng cũng làm dư luận ở Đức phẫn nộ, báo chí Đức loan tin và đưa ra những hình ảnh những người chết nằm la liệt ở gần nơi xẩy vụ không kích, làm gia tăng phong trào chống chiến tranh Afghanistan ở nước Đức. Hiện có 4,200 quân Đức đóng ở Bắc Afghanistan – đây là thành phần quân lớn thứ ba sau Mỹ và Anh trong khối NATO. Đức rất ngần ngại, không muốn gia tăng thêm quân ở nơi này, trái với chủ trương hiện nay của NATO. Dân Đức sợ lính của họ sẽ chết thêm. Đối với dân Đức hiện nay, vụ quân Đức tham chiến ở nước ngoài chỉ gợi lại cho họ những hình ảnh không vui của thời quân phiệt Đức Quốc xã. Tổng Thống Obama đã có quyết định từ trước là sẽ tăng thêm quân Mỹ ở Afghanistan. Nhưng tình thế có vẻ đã có những biến chuyển mới. Ngày 28-8, Afghanistan đã có cuộc bầu cử Tổng Thống, cho đến nay vẫn chưa có kết quả chính thức. Tin mới nhất cho biết cựu Tổng Thống Karzai đã dẫn đầu 54%, nhưng đối thủ Abdullah Abdullah liên tục tố cáo Karzai gian lận trong việc kiểm phiếu. Một Ủy hội kiểm tra độc lập được LHQ ủng hộ đã yêu cầu xét lại kết quả bầu cử. Sự nghi ngờ có gian lận sẽ gây khó khăn cho Tây phương trong nỗ lực ổn định tình hình Afghanistan và tạo sự ủng hộ của dân chúng trong công cuộc tiễu trừ bọn Taliban.
    Về mặt đối nội TT Obama gặp những khó khăn chồng chất về việc biểu quyết ngân sách quốc gia, liên quan đến một vụ đã được dân ch&uacute
    ;ng theo dõi từ lâu qua các màn tranh cãi đối nghịch gay go giữa hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ về Bảo hiểm Y tế. Tối thứ Tư khi ông ra trước Quốc Hội Lưỡng viện, đó là một sự thử thách rất lớn cho 8 tháng đầu của nhiệm kỳ Tổng Thống của ông. Mặc dù đảng Dân Chủ có đa số tại cả hai viện, nhưng cả hai đảng đều có những phần tử cực đoan chống lại sự cải cách Bảo hiểm y tế. Khi còn ở trại David thứ sáu tuần trước, Obama đã nói chuyện với Chủ tịch Hạ viện, bà Nancy Pelosy, và Thượng nghị sĩ Harry Reid, lãnh tụ đa số Dân chủ tại Thượng viện.
    Tại Ủy ban Tài chính Thượng viện hiện nay có một nhóm 6 Nghị sĩ, 3 Cộng Hòa và 3 Dân Chủ, đang nỗ lực tìm một sự dung hòa giữa hai đảng để thông qua đạo luật Cải tổ Bảo hiểm Y tế của TT Obama. Trong nhóm này có TNS Max Baucus (Dân Chủ) đề nghị kế hoạch lập các hãng bảo hiểm không lấy lời để cạnh tranh với những công ty bảo hiểm lấy lợi nhuận như hiện nay vẫn có. Baucus cho biết ông sẽ đưa ra đề nghị này nếu cho đến ngày 15 tháng 9 vẫn không đạt được sự dung hòa giữa hai đảng về Bảo hiểm Y tế. Báo New York Times cũng ghi nhận một yếu tố rõ rệt nhất của đề nghị cải tổ Bảo hiểm Y tế do Obama đưa ra là làm cho kế hoạch của chính phủ cạnh tranh với Bảo hiểm của các đại công ty tư nhân, để bớt gánh nặng cho ngân sách quốc gia. Liệu hai bên Cộng Hòa và Dân Chủ có đi đến sự dung hòa theo tinh thần hợp tác lưỡng đảng không? Chúng tôi mong có chuyện đó. Chúng tôi thiết nghĩ tinh thần lưỡng đảng có nghĩa là làm việc có lợi cho dân, không phải cho bất cứ đảng nào hay cho cả hai đảng. Nếu thiếu yếu tố đó, tinh thần lưỡng đảng sẽ không còn ý nghĩa gì nữa.

     SƠN ĐIỀN NGUYỄN VIẾT KHÁNH

  • Bình luận

    Nguyễn Phúc Bảo Ân : VIETNAM SE BIEN THANH MOT TINH CUA TRUNG-QUOC ?

    VIETNAM SE BIEN THANH MOT TINH CUA TRUNG-QUOC,
    DIEU DO CO THE KHANG-DINH ROI "ME VIETNAM OI" ! !

    XEM KẾ HOẠCH CHIẾM VIỆT NAM TỪNG PHẦN CỦA BỌN TRUNG CỘNG, ĐƯỢC SỰ TIẾP TAY CỦA BỌN VIỆT CỘNG BÁN NƯỚC. THEO KIỂU NÀY THÌ BỌN TÀU CỘNG SẼ TỪ TỪ NHUỘM  HẾT VIỆT NAM CỦA MÌNH RỒI.

     

     

     Một tiểu vương quốc của Thiên Triều của Mao Xếnh Xáng: "China Town" đầu tiên vừa được bác Hồ Cẩm Đào cho khởi công xây dựng tại tỉnh Bình Dương, Việt Nam vào hôm 22 tháng 5 vào đúng dịp bầu cử quốc hội bù nhìn của chư hầu Nam Man.

    Phác thảo thiết kế Chinatown tại tỉnh Bình Dương.

    Báo lề phải cho biết công trình này là một trung tâm thương mại có tên Ðông Ðô được xây dựng tại thành phố Bình Dương trên một diện tích hơn 8,000 m2, cao 3 tầng, “mang đậm nét kiến trúc truyền thống của Trung Hoa Mẫu Quốc”.

    Cũng theo lề phải, Trung Tâm Thương Mại Ðông Ðô là trung tâm điểm của dự án “Ðông Ðô Ðại Phố” – khu thương mại đầu tiên dành cho người Hoa tại Bình Dương, rộng 26 ha với tổng vốn đầu tư lên hơn 6,000 tỉ đồng, tương đương 300 triệu đô la Mỹ.

    Mặc dù chưa xác định chừng nào thì công trình xây dựng hoàn thành nhưng nguồn tin này nói trước rằng Ðông Ðô Ðại Phố sẽ là “khu thương mại phồn thịnh và sung túc nhất của thành phố Bình Dương và là cầu nối thương mại giữa tỉnh Bình Dương và Bắc Kinh, đây là một nổ lực của chính quyền trung ương Bắc Kinh nhằm kéo dài lãnh thổ của Thiên triều xuống tận Vĩ Tuyến 10”.

    Từ xa xưa, khu vực Chợ Lớn được coi là vùng đất qui tụ đông đảo người Việt gốc Hoa đến sinh sống, làm ăn từ trước năm 1975. Sau cuộc chiến tranh giữa mẫu quốc Trung cộng và Việt Nam cộng sản hồi năm 1979 tạo ra một thảm cảnh “nạn kiều – bài Hoa” và các chiến dịch “bài trừ tư sản mại bản” của chế độ Cộng Sản Việt Nam đã đẩy hàng vạn người Hoa cùng với người Việt ào ạt xuống tàu vượt biên đi tìm tự do ở khắp các châu lục.

    Gần đây, cháu con của Mao Chủ Tịch từ Mẫu Quốc Trung Cộng được chính quyền trung ương Bắc kinh đưa đi xây dựng kinh tế mới ở khắp các tỉnh thành của Việt Nam từ ải nam Quang đến tận mũi Cà Mau, với số lượng ngày một đông dần. Người ta ước tính tại tỉnh Bình Dương hiện có khoảng 120,000 “người Hoa mới” đến làm ăn sinh sống, đông nhất là vùng Lái Thiêu, thị xã Thuận An, thị xã Thủ Dầu Một, Tân Uyên…
    Với dân số trên 1 tỷ 300 triệu người như hiện nay, chính quyền Trung Ương Bắc Kinh đang có kế hoạch mở rộng lãnh thổ Đại Hán xuống Đông Dương bằng cách di dân đường dài đến xây dựng các khu kinh tế mới tại hầu khắp các tỉnh thành của Ai Lao, Cam Bốt và An Nam. Với việc khởi công xây dựng khu China Town tại Bình Dương vào sáng 22 tháng 5 vừa qua, lãnh thổ Đại Hán của Bác Hồ Cẩm Đào đã kéo dài xuống tận vĩ tuyến 10.

    Nguyễn Phúc Bảo Ân


    Chuyện Xứ Người:

    Thật khó ai có thể hình dung được rằng vào tháng 10 năm 1949, khi vệ binh Trung Cộng cưỡng chiếm một quốc gia hoàn toàn độc lập chủ quyền – Cộng Hòa Đông Thổ- East Turkistan – của người Duy Ngô Nhĩ – Uyghur để sát nhập vào nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa của Mao Chủ tịch, thì tỷ lệ người Hán trên cả xứ Tân Cương này chỉ xấp xỉ 4% vậy mà chỉ với 60 năm cai trị và áp đặt chính sách Hán hóa trên lãnh thổ tự trị Tân Cương này, đến nay, tỷ lệ người Hán đã lên đến 46%, nghĩa là chiếm gần một nữa dân số của xứ tự trị này.

    HOA LÀI CUỘC CÁCH MẠNG THẦN TIÊN

     

    Cách mạng Hoa Lài chính là bão lửa,

    Ta hãy châm mồi cho lửa cháy bùng lên.

    Kìa lửa thiêng như tiếng trống vang rền,

    Làm nung nấu ngàn trái tim dũng liệt.

    Cách mạng Hoa Lài chính là tiếng thét,

    Hun đúc ta bầu nhiệt huyết Ông Cha.

    Thúc giục ta bừng dậy cứu Sơn Hà,

    Dân tộc thoát can qua cơn quốc nạn.

    Cách mạng Hoa Lài có tôi bên bạn,

    Đứng lên đi hỡi tuổi trẻ Việt Nam.

    Hoa Lài đó bạo quyền đang run sợ,

    Hoa Lài kia nhân loại ở cùng ta.

     

     

    Đừng sợ nữa toàn dân hãy đứng dậy,

    Đừng sợ nữa Hoa Lài khắp đó đây.

    Hoa Lài đó trào lưu của thế giới,

    Hoa Lài ơi ! Tổ quốc gọi ta đi.

    Bao năm sống cuộc đời ô nhục,

    Bao năm rồi sông núi ngả nghiêng.

    Bao năm dài tang thương vì bạo quyền,

    Bao năm dân máu lệ chảy triền miên.

    Trịnh Xuân Tùng chết trong tay bạo quyền,

    Lê Xuân Dũng, Nguyễn Hữu Nam chết oan khiên.

    Và lớp lớp dân oan trong xích xiềng,

    Đây Hoa Lài cuộc cách mạng thần tiên.

     

    LÊ CHÂN

     

    Đứng Lên Việt Nam!

    Đứng Lên Việt Nam!

    Tiếng kêu từ đất Mẹ,

    Đang rên xiết quặn đau.

    Tiếng kêu từ đất nước,

    Sôi sục máu dâng trào.

     

    Tiếng kêu hồn dân Tộc,

    Đạp sóng dử trùng dương.

    Xóa cuộc đời tăm tối,

    Bừng lên ánh thái dương.

     

    Mẹ ! Mẹ Việt Nam ơi!

    Tiếng kêu vang đất trời.

    Tiếng Mẹ kêu quật khởi,

    Hãy trổi dậy con ơi !

    Mẹ gọi con nữ kiệt,

    Mang dòng máu Trưng vương.

    Mẹ gọi con chiến sĩ,

    Hãy mau tiếp lên đường.

    Ôi ! trái Tim của Mẹ,

    Là biển trời bao la

    Mẹ Việt Nam rướm máu,

    Trong con lệ sót xa

    Tuổi trẻ Việt Nam ơi !

    Giờ lịch sử đến rồi,

    Cờ vàng bay phất phới,

    Hồn sông núi rạp trời.

    Hãy trổi dậy con ơi !

    Hãy khắc ghi trong đời

    Quốc gia là tất cả

    Đây xương máu Ông Cha.

    Nhìn non sông nghiêng ngả

    Ai vò nát tim ta.

    Vì tương lai thế hệ

    Là ước vọng vươn xa.

     

    LÊ CHÂN

     


    http://www.youtube.com/watch? v=5MDYMN7DqIk

      read more