MẤT NƯỚC, MẤT ĐẢNG

MẤT NƯỚC, MẤT ĐẢNG

Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh

Trung Quốc muốn cải thiện bang giao với Mỹ nên đã phái Ngoại trưởng Dương Khiết Trì đến Washington để chuẩn bị cho cuộc hội kiến giữa Chủ tịch Hồ Cẩm Đào và TT Barack Obama vào tháng tới khi họ Hồ đến viếng thăm Mỹ. Nhưng xui xẻo làm sao, vào lúc họ Dương đến Mỹ, giữa chính phủ Mỹ và chính quyền Cộng sản Bắc Kinh lại xảy ra hai chuyện rắc rối lớn. Trước hết là vào dịp kỷ niệm 50 năm nổi dậy của dân chúng Tây Tạng đưa đến vụ đàn áp đẫm máu của Trung Cộng, khiến Đức Đạt Lai Lạt Ma phải chạy qua Ấn Độ. Vụ thứ hai nghiêm trọng hơn là 5 chiến hạm Trung Cộng vây chặn và hăm dọa một tàu Hải quân Mỹ trong vùng biển ở phía Nam đảo Hải Nam ngoài khơi bờ biển Trung phần Việt Nam, phía Tây quần đảo Hoàng Sa, tức bên trong hải phận Việt Nam nơi Bắc Kinh vẫn tự nhận là lãnh thổ và lãnh hải của họ.
Vụ đàn áp Tây Tạng đã khiến Bộ Ngoại giao Mỹ ngay từ tuần trước lên tiếng nhắc nhở Bắc Kinh rằng Mỹ vẫn quan tâm đến những vụ Trung Cộng vi phạm nhân quyền. Nhưng trước mắt vẫn là việc chiến hạm của Trung Cộng bao vây và hăm dọa chiếc tầu của Hải quân Mỹ. Tầu này, có tên là Impeccable vốn là tầu không võ trang. Mỹ nói tầu này chỉ có nhiệm vụ thăm dò các hoạt động của tầu ngầm dưới biển (ngụ ý của Trung Cộng) và quả quyết tầu Mỹ hoạt động trong vùng biển quốc tế. Còn Bắc Kinh cãi lại, nói đó là vùng biển của họ. Vậy tại sao tầu Mỹ dù không võ trang lại đến phía nơi gần Hoàng Sa để thăm dò? Các giới chức bộ Quốc phòng Mỹ nói vì vùng đó là nơi có tranh cãi về quyền hải phận nên Mỹ phải quan tâm và sẽ tiếp tục làm nữa, bất chấp sự phản đối của Bắc Kinh. Đến tuần này vẫn không có việc gì đáng tiếc xẩy ra, nhưng vụ cãi cọ gay go đã tạo ra một một đám mây u ám trước khi họ Hồ đến Mỹ. Xét ra muốn cải thiện bang giao với Mỹ cũng không phải chuyện dễ.
Ở đây chúng tôi muốn nhìn đến khía cạnh của Việt Nam vì đó hiển nhiên là hải phận của nước này. Vậy chế độ Cộng sản Hà nội nói sao? Năm xưa khi chỉ mới chiếm được mảnh đất miền Bắc, chính quyền Cộng sản chưa vững chắc, Phạm Văn Đồng đã ký công văn mặc nhiên nhìn nhận Hoàng Sa và Trường Sa là của "người anh em phương Bắc". Nhưng về sau khi đã chiếm đươc cả miền Nam, Cộng sản Hà Nội đã "đổi mới" để mở cửa đón đô-la, bằng cách công khai nói các đảo nhỏ đó là của Việt Nam. Khi sự rắc rối về vụ tầu Impeccable của Mỹ xẩy ra tuần trước, theo tin đài BBC, phát ngôn nhân bộ Ngoại giao Hà nội tuyên bố: "Việt Nam có đầy đủ cơ sở pháp lý và bằng chứng lịch sử về chủ quyền của mình đối với hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Mọi hành động của các bên liên quan đến vụ này mà không có sự đồng ý của Việt Nam đều là vi phạm chủ quyền của Việt Nam và không có giá trị pháp lý". Phía Bắc Kinh, phát ngôn nhân bộ Ngoại giao, trong một cuộc họp báo thường kỳ tuyên bố: "Các đảo Hoàng Nham (tức Hoàng Sa) và Nam Sa (tức Trường Sa) luôn luôn là lãnh thổ của Trung Quốc. Trung Quốc có chủ quyền không thể chối cãi đối với các đảo này và và bất cứ tuyên bố chủ quyền nào của nước khác cũng là bất hợp pháp và vô giá trị". Câu này hiển nhiên ám chỉ lời tuyên bố của Hà Nội, kèm theo một sự hăm dọa trắng trợn.
Thế nhưng chính Bắc Kinh đã có một tham vọng quá lớn đi ngược lại luật lệ quốc tế về vùng biển. Với các nước ở ven biển ngoài lãnh hải thường lệ, các nước đó còn được hưởng một vùng kinh tế đặc biệt khai thác tài nguyên dưới biển, chạy dọc theo bờ biển với chiều rộng là 200 hải lý. Nếu nước nào có thềm lục địa xa hơn nữa, vùng khai thác tài nguyên cũng xa hơn. Tài nguyên ở đây là những mỏ dầu mỏ khí nằm ở dưới đáy biển. Có lẽ vì thế mà tầu Impeccable của Mỹ cần phải thăm dò khá kỹ hơn về khoản này và còn thăm dò nhiều nơi khác ở Nam Hải. Khi có "hơi hám vàng đen" ai mà chẳng mê, chờ đến lúc thấy rồi là tranh dành nhau và đánh nhau chí mạng. Mỹ phải đo lường trước để tránh hậu họa, sợ cũng giống như lò lửa ở như Trung Đông.
Hãy nhìn bản đồ do Bắc Kinh ấn hành, đường lãnh hải Trung Quốc tự nhận ở Nam Hải  bắt đầu từ dưới đảo Hải Nam chạm cả vào đường vạch của vùng kinh tế đặc biệt Việt Nam, từ đó kéo dài xuống phía Nam theo dọc đường hình chữ S của hải phận Việt Nam thu gọn nhóm đảo Hoàng Sa vào hải phận Trung Quốc, rồi chạy xuống đến gần Mã Lai Á, bao trùm cả nhóm đảo Trường Sa, kế đó chạy vòng lên bám sát hải phận Phi Luật Tân đến gần hải phận Đài Loan. Như vậy là tất cả miền Đông của Nam Hải đều thuộc Trung Quốc của mấy anh Tầu Cộng. Và họ còn cao ngạo nói "bất cứ tuyên bố chủ quyền nào của nước khác cũng là bất hợp pháp và vô giá trị". Nhưng người ta cũng nhìn thấy rõ lời tuyên bố của Bắc Kinh chỉ là lời của một phát ngôn nhân bộ Ngoại giao, rõ rệt để chọi lại lời của Hà Nội cũng do phát ngôn nhân bộ Ngoại giao nói ra. Tóm lại đây chỉ là lời mấy anh Bắc Kinh dằn mặt mấy anh Hà Nội.
Trong c&aacut
e;c cộng đồng Việt Nam ở hải ngoại, đã có câu loan truyền về tình hình rất thực tế mà mấy anh lãnh đạo CSVN đã lâm phải từ lâu. Đó là câu: "Đi với Tầu thì mất nước, đi với Mỹ thì mất đảng". Cố nhiên nếu đi với Mỹ, mấy anh lãnh đạo Cộng sản Việt Nam làm sao còn giữ được đảng. Một khi đã mở của rước tư bản vào nhà, đảng Cộng sản chỉ còn cái vỏ như cái thùng rỗng, đánh thì kêu lớn nhưng bên trong chẳng còn cái gì. Rồi đến khi dân trí lên cao, tuổi trẻ nhìn ra thế giới bên ngoài và đòi hỏi, cái thùng rỗng chẳng bao lâu sẽ bị liệng bỏ nốt. Nếu đi với Tầu thì mất nước, vậy còn giữ được đảng chăng? Hãy quên đi cái ảo tưởng đó.
Mất nước là vì nước Việt Nam Xã hội chủ nghĩa sẽ không còn, mà biến thành một chư hầu của Nhân dân Trung Quốc, y hệt các chư hầu của Liên Sô trước đây. Dù vậy vẫn còn đảng của mấy anh lãnh đạo Hà Nội chăng? Cái ảo tưởng này còn lớn hơn và nguy hiểm hơn nữa. Lúc đó đảng Cộng sản Việt Nam chỉ còn cái tên, thực tế nó sẽ là một chi bộ của Trung ương đảng Trung Cộng.

Còn các anh lãnh đạo đảng Cộng sản VN hiện nay, may lắm là được cho về hưu đuổi gà, nuôi heo, tiền của bị lột sạch băng, bọn bành trướng Bắc Kinh không quên thái độ của mấy đồng chí Việt Nam khi các đồng chí có quyền trong tay. Còn nếu không may, các đồng chí có thể còn mất cả chỗ đội nón. Bởi vậy chớ dại ôm lấy đảng mà bỏ nước.




GS Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh: TRÁCH NHIỆM LIÊN HIỆP QUỐC

Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh: TRÁCH NHIỆM LIÊN HIỆP QUỐC

Hội Ðồng Bảo An LHQ năm nay họp có một điểm đặc biệt. Ðó là cuộc họp Thượng đỉnh. Kể từ khi LHQ thành lập năm 1945, đây là lần thứ 5 HÐBA họp trên cấp tối cao như vậy. TT Obama là vị Tổng Thống Mỹ đầu tiên ngồi ghế chủ tọa cuộc họp này, ông đã tuyên bố “dự thảo nghị quyết đã được đồng thanh chấp thuận”. Từ tuần trước báo chí đã loan nội dung nghị quyết này nhằm “loại bỏ vũ khí hạt nhân trên thế giới”. Nga, Trung Quốc và các nước đang phát triển tán thành bản nghị quyết do Mỹ chủ trương, tạo ra một thế mạnh và một sự yểm trợ toàn cầu. Bản nghị quyết kêu gọi tăng cường nỗ lực ngăn ngừa sự lan tràn của vũ khí hạt nhân, khích lệ giải giới và “tiết giảm hiểm họa khủng bố hạt nhân”.

Sau cuộc bầu phiếu, TT Obama tuyên bố: “Bản nghị quyết lịch sử chúng ta vừa chấp thuận đã nêu cao sự gắn bó của chúng ta đối với mục tiêu là một thế giới không có bom hạt nhân và cũng tạo ra sự thỏa hiệp của Hội Ðồng Bảo An về một khuôn khổ hành động để làm giảm bớt hiểm họa hạt nhân khi chúng ta tiến đến mục tiêu đó”. Obama còn nói: “Chỉ một vũ khí hạt nhân nổ ở một thành phố lớn trên thế giới cũng đủ gây ra một sự phá hoại lớn lao”. Ông cho biết một nỗ lực toàn cầu sẽ nhằm “khóa chặt lại mọi vật liệu hạt nhân trong 4 năm”. Ông nhấn mạnh: “Nỗ lực toàn cầu không phân biệt một nước riêng nào. Luật quốc tế không phải là một sự hứa hẹn rỗng không, hiệp ước quốc tế cần phải được thi hành. Chúng tôi giã từ cuộc họp này với một ý chí cương quyết gia tăng”.

Tổng Thư Ký LHQ Ban Ki-moon hoan nghênh các nhà lãnh đạo quốc gia đã tới dự phiên họp thượng đỉnh Hội Ðồng Bảo An về vũ khí hạt nhân và nói “Ðây là giờ phút lịch sử, khởi đầu cho một tương lai mới của thế giới”. Tổng Thống Nga Dmitry Medvedev nói mục tiêu chung của chúng ta là “cởi mở vấn đề những nút rối” giữa những quốc gia tìm kiếm sự giải giới và chống lan tràn vũ khí nguyên tử. Trước cuộc họp HÐBA, trong phiên họp chung của các nước hội viên LHQ, với các hàng ghế đầy chật người tại Ðại sảnh đường, TT Obama đã hô hào các nhà lãnh đạo thế giới hãy kề vai tiếp sức để gánh những gánh nặng quốc tế khẩn trương, ông hứa sẽ có một sự hợp tác mới của Mỹ, Nhưng Obama cũng nhẹ nhàng nhắc nhở các nước khác không còn có thể chỉ trích Mỹ là nước cậy sức mạnh của mình để tự tung tự tác, trong khi các nước đó vẫn đòi hỏi Mỹ cứu nguy những mối họa chung của Thế giới.

Obama nói: “Những ai thường chỉ trích Mỹ một mình tự tung tự tác, nay không thể đứng ngoài mà chờ nước Mỹ một mình giải quyết các vấn đề của cả thế giới. Bây giờ là lúc tất cả chúng ta phải gánh vác phần trách nhiệm của mình để có một giải pháp chung trước những thử thách trên toàn cầu”. Ông hứa nước Mỹ sẽ tiến tới “một thời đại mới căn cứ trên quyền lợi chung và sự kính trọng lẫn nhau”. Obama đặc biệt muốn nói đến các nhà lãnh đạo thế giới trước đây đã từng dùng các cuộc họp quốc tế để nặng lời lên án nước Mỹ. Ông nói “hầu như có một sự bài Mỹ rộng lớn” đã bao trùm cả thế giới dưới thời vị tiền nhiệm của ông là TT George W. Bush. Và TT Obama nói tiếp: “Ðiều đó không thể biện minh cho thái độ chỉ biết khoanh tay ngồi nhìn mà không chịu làm gì cả”.

Vậy bây giờ có chuyện gì cần phải làm ngay? Hôm thứ Năm HÐBA chấp thuận nghị quyết “loại trừ vũ khí hạt nhân” của TT Obama, thì hôm sau thứ Sáu các nhà ngoại giao và giới chức Tình báo Tây phương bỗng tiết lộ tin “Iran có một trung tâm bí mật, trung tâm thứ hai, thanh lọc chất Uranium, ở thành phố Thánh Hồi giáo Qom, trong một vùng núi non hiểm trở”. Lập tức TT Obama, Thủ tướng Anh Gordon Brown và Tổng Thống Pháp Nicolas Sarkozy tố cáo Iran có một trung tâm bí mật mà các thanh sát viên quốc tế không biết. Khối Liên hiệp Âu châu cũng lên án gắt gao. Thấy bị rơi vào bẫy của LHQ và cả Tây Âu khiến kế hoạch mật làm bom bị “dính chấu” không còn rồ máy được nữa, hôm Thứ bẩy vừa qua Iran đành phải tuyên bố chấp nhận cho các thanh sát của Cơ quan Nguyên tử năng LHQ được đến nhà máy này để điều tra.

Nhưng đến Chủ nhật, Iran lại có một trò chơi chiến tranh khác để hù dọa thiên hạ. Iran phóng thí nghiệm 3 loại phi đạn tầm ngắn, Fateh (120 dậm), Tonda (93 dậm) và Zelzal (130 dậm). Một ngày sau, tức Thứ hai tuần này theo đài TV nhà nước Iran, bộ Tư lệnh Vệ Binh Cách Mạng, lực lượng quân sự mạnh nhất của Iran, đã phóng thử thành công hai loại phi đạn tầm trung mới được nâng cấp, Shahab-3 và Saijil. Cả hai đều là loại phi đạn hai tầng có thể phóng đầu đạn xa đến 1,200 dậm, tức là đặt Israel, các căn cứ của Mỹ ở Trung Ðông và một phần của Âu châu vào tầm bắn của phi đạn Iran. Không thể hù dọa bằng bom nguyên tử vì bị LHQ xiết chặt, bây giờ Lãnh tụ quân sự Iran cầm quyền trong bóng tối chơi trò chiến tranh mới. Liệu nó có làm ai sợ không?

Về bom nguyên tử, theo sự ước lượng của Mỹ, Iran phải mất từ 1 đến 5 năm nữa mới chế tạo được một quả bom, mặc dù các giới chức tình báo tin rằng các nhà lãnh đạo Iran chưa quyết định chế tạo bom nguyên tử. Ðiều này cũng có lý vì trên thực tế chỉ cần một đầu đạn nguyên tử Iran bắn vào Israel hay một căn cứ quân sự Mỹ, lập tức Thủ đô Teheran hay cả nước Iran sẽ lãnh đòn trả đũa bằng những vũ khí nguyên tử mạnh gấp 10 lần hơn. Không ông Iran nào dám chơi trò đùa dai đến độ đó. Vậy Iran bắn phi đạn để làm gì?

Mục tiêu chính của Vệ Binh Cách Mạng Iran vẫn luẩn quẩn nằm trong mối lo sợ bị mất quyền hành tối cao trong nội bộ. Theo Thông tấn bán chính thức Fars của Iran, tướng Abdollah Araqi, tư lệnh cao cấp của Vệ Binh Cách Mạng tuyên bố: “Các phi đạn của Iran có thể bắn đến bất cứ nơi nào đã hăm dọa Iran”. Phát ngôn nhân bộ Ngoại giao Iran Hasan Qashqavi nói “các cuộc thí nghiệm phi đạn không liên hệ gì đến sự căng thẳng về vụ trung tâm thanh lọc Uranium ở ngầm sâu dưới đất đã được công bố mới đây”.

Mặt khác, theo nguồn tin AP, vụ trung tâm hạt nhân của Iran mới bị phát giác đã khiến có một cuộc họp cấp bách vào thứ Năm tuần này ở Geneva giữa Iran và 6 nước lớn để tìm cách chấm dứt ngay chương trình vũ khí hạt nhân của Iran. Savier Solana, người cầm đầu ngành Ngoại vụ của Liên hiệp Âu châu, nói ông rất quan ngại các vụ thí nghiệm phi đạn của Iran. Cuộc họp cấp bách tuần này ở Geneva sẽ nằm trong “một bối cảnh mới”. Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton nói bà không tin trong cuộc họp sắp tới Iran sẽ có thể thuyết phục Mỹ và các đại cường khác trên thế giới là chương trình hạt nhân của Iran chỉ có mục tiêu hòa bình. Xét ra Iran đã bị đưa vào trò hát xiệc mới rồi.

Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh




Vi Anh : Cộng Sản Sợ Internet, Blog


Cộng Sản Sợ Internet, Blog

(03/10/2012) (Xem: 1870)
Tác giả : Vi Anh

Cộng sản Trung Quốc và Việt Nam đều sợ Internet, sợ blog chánh trị do xa lộ thông tin tòan cầu Internet chuyển tải.
 Tin mới đây của thông tấn xã Pháp AFP, lợi dụng được một trục trặc kỹ thuật của búc tường lửa do  CS Trung Cộng bố thiết để ngăn chặn không cho người dân Trung Quốc tham khảo các trang mạng không hợp ý chế độ, rất nhiều người dân TQ đã bất ngờ vào được trang Google+ của Tổng thống Mỹ Barack Obama, để lại những lời bình luận về chua cay về tình trạng nhân quyền và tự do tại Trung Quốc. Đọc rất thấm thía, “nghe sao ngậm đắng nuốt cay thế nào.”

Như lời ca của hai bài hát của Việt Khang “Anh Là Ai, Việt Nam Tôi Đâu” đang làm rúng động lòng người dân Việt ở hải ngọai khiến cả một trăm bốn mươi mấy ngàn người Mỹ gốc Việt ký thỉnh nguyện thư gởi vào trang web We the People của Phủ Tổng Thống Mỹ, yêu cầu TT Obama áp lực CS Hà nội thả tù chánh trị và không mở rộng giao thương với chế độ CS Hà nội nếu không cải thiện nhân quyền.

Những người dân TQ đã bất ngờ vào được trang Google+ của Tổng thống Mỹ Barack Obama đã có  những lời đau đớn của  phận người dân Trung Hoa là một dân tộc có một trong vài nền văn minh lớn cỗ đại – văn minh Sông Hòang Hà — lâu đờì  nhưng còn tồn tại tới ngày nay. Thuở xưa khi  người Âu châu còn sống trong rừng, chưa có quốc gia đô thị thì người Trung Hoa đã có đường sá, lữ quán, triều đình, triều cương, triều nghi rồi.

Nhưng trong thời CS thống trị nước Trung Hoa trong nửa thế kỷ, thì người Trung Hoa một dân tộc của một nền văn minh tốt đẹp và ảnh hưởng lớn ở Á châu, lại nói trong trang Google+ của Tổng thống Mỹ Barack Obama, như vầy nè. «Nhiều người không hiểu vì sao có đông đảo người Trung Quốc muốn qua Mỹ định cư. Chúng tôi ao ước có được nền dân chủ và quyền tự do mà nhân dân Mỹ được hưởng ». «Chúng tôi không phải là dân man di mọi rợ, chúng tôi chỉ đơn thuần là một dân tộc bị bóp nghẹt». Có người yêu cầu Tổng thống Mỹ «hãy qua giải phóng Trung Quốc».

Cũng trong khỏang thời gian ểm tường lửa của CS ở Trung Quốc bị trục trặc kỹ thuật, thì đàn em CS VN thô bạo siết an ninh mạng mạnh hơn nữa, chặt hơn nữa. Tin đài VOA  của Mỹ cho biết chỉ trong vài tháng qua, có tới 9 nhà báo và 33 blogger bị bắt giam. Ông Phil Robertson thuộc Tổ chức Human Rights Watch nhận định Hà nội cảm thấy bị đe dọa vì các công dân Việt Nam gia tăng sử dụng mạng internet. Số người Việt Nam sử dụng Internet  tăng nhiều. Năm 2000, chưa tới 1% dân số truy cập được internet. 10 năm sau, con số ấy đã tăng vọt lên tới 27%, và có phần chắc sẽ tăng cao hơn nữa ngay tại thời điểm này. Thêm vào đó điện thọai cầm tay bây giờ như một máy computers di động, gởi tin, hình nhanh như ánh sáng. Công an trấn áp dân thì trong nháy mắt hình ảnh có trên mạng, loan truyền khắp nơi trên thế giới. VN dân số 86 triệu nhưng có tới 111 triệu điện thoại cầm tay chánh thức ghi danh sử dụng. Đó là chưa nói những người gọi điện thọai bằng thẻ, rất kín đáo, khó cho nhà cầm quyền kiếm sóat, điều mà đài Á châu Tự do của Mỹ khéo léo khuyên khán thính giả trong nước VN gọi vào đài nên sử dụng “vừa rẻ vừa thuân tiện”. 

Hơn nữa, các cuộc nổi dậy ở các nước Á rập, đa số người dân dùng tiến bộ khoa học kỹ thuật Tin Học để loan truyền tin tức và nghị luận cũng như vận động, huy động biểu tình lật đổ độc tài. Nên Ông Robertson nói  những gì xảy ra trong thế giới Ả rập đã gây rất nhiều quan tâm cho nhà cầm  quyền VNCS nên họ siết mạnh Internet.

CS siết thô bạo Internet và blog vì sợ Internet và blog giải thóat con người ra khỏi vòng kềm kẹp của chế độ.

Nhưng mãnh hổ nan địch quần hồ. Đảng Nhà Nước CS Hà nội có công an đông như kiến cỏ trang bị tận răng, cái gì cũng dám làm dù phi pháp, phi nhân nhứt. CS Hà nội cũng  có hàng ngàn “báo đài” làm cái loa tuyên truyền cho Đảng Nhà Nước. Nhưng CS Hà Nội thua  lực lượng  bloggers chánh trị của người dân, được tiến bộ khoa học tin học yểm trợ, giúp cho một vũ khí êm nhưng rất thấm trong việc chống độc tài, làm CS bị tự “diễn biến hòa bình” thành  diễn biến không còn hòa bình nữa, như vụ kỹ sư Đòan văn Vươn dùng súng và mìn tự chế bảo vệ tài sản mình khi công an đến cướp chế.

Vì blog nguy hại cho nhà cầm quyền CS độc tài, nên CS thường xuyên đánh phá blog, kiểm soát Internet. Đặc biệt trước đại hội Đảng  CSVN vào tháng 1 năm 2011, vì sợ blog khui thâm cung bí sử, những bế bối, đấu đá nhau thúi cả Đảng Nhà Nước, CS Hà nội  mở chiến dịch đánh phá blog khốc liệt..

CS sợ blog vì trong đấu tranh chánh trị trường kỳ có những thứ êm mà thấm đau lắm, chẳng những ê ẩm cả mình mẫy mà còn bầm gan tím ruột, lồng phổi trụy tim  nhà cầm quyền nữa. Nó ép phê hơn bạo động và võ lực thường là chuyện xảy ra sau cùng kết thúc của cuộc đấu tranh.

Nên CS mở chiền dịch đánh phá blog khốc liệt. Cơ quan chuyên môn an ninh mạng SecureWorks, ở thành phố Atlanta, Hoa Kỳ, đã từng tố cáo vũ khì CS xài là virus tin học có tên là Vecebot. Nó đã phá  hơn 10 ngàn máy tính kết nối vào các diễn đàn trên mạng phê bình, chỉ trích Đảng CSVN.

Thoạt kỳ thủy, blog trên phương diện khoa học, kỹ thuật  tin học chỉ là những trang nhựt ký trên mạng Internet. Những người dân yêu nước thương dân, những nhà báo có đức nghiệp, có trách nhiệm với độc giả đồng bào và có lương tâm Việt với nước nhà VN đã biến phát minh khoa học của thời đại là blog thành blog chánh trị, thành khẩu thần công nã vào  chế độ độc tài CS.

Những người viết blog chánh trị đó đã dùng tình yêu nước, thương dân, hận cái nhục do nhà cầm quyền gây ra cho quốc gia dân tộc làm thuốc nổ. Loại thuốc nổ bằng tinh thần quốc gia, tình tự dân tộc, tình yêu  Tổ quốc, quê hương, tánh ghét kẻ mạnh hiếp yếu, tình thần kiến nghĩa bất vi vô dõng dã, lâm nguy bất cứu mạc anh hùng, tạo thành sức xuyên phá tuy êm mà rất thấm cho đảng và nhà cầm quyền CS. Nhờ những đức tính đó mà người Việt trong 4000 năm lịch sử đã chống chọi, đánh đuổi giặc Tàu 1000 năm, đã chiến thắng đội quân Tàu Nguyên Mông sừng sõ nhứt đã chiếm cả Á Châu và Đông Âu.

CS Hà nội sợ Internet,  blog vì càng ngày càng nhiều người viết blog chánh trị. Nhiều tổ chức theo dõi báo chí toàn cầu như Phóng Viên Không Biên Giới bản doanh ở Pháp và Ủy ban Bảo vệ các Nhà báo CPJ ở New York và người Việt ở Bắc, ở Nam, ở Trung và ở hải ngoại nhận thấy càng ngày càng có nhiều những người Việt, nhà báo, trí thức, đấu tranh, trẻ già, suốt từ Bắc chí Nam viết blog chính trị va blog chánh trị tràn ra hải ngoại VN. Theo tìm hiểu mới dây của trang mạng xã hội Facebook, việc viết blog đã phát triển rất nhanh tại Việt Nam kể từ 2005. Hiện có tới 24 triệu người dùng internet.

CS Hà nội phải cầu viện “Anh Cả Đỏ TC” giúp kiểm soát internet, xa lộ chuyên chở những phát minh thông tin nghi luận trong đó có blog giải thoát con người ra khỏi ách độc tài. Các cơ quan an ninh của CS Hà nội đã học, đã nhờ sự giúp đỡ của TC để đối phó mặt với những đe dọa đến từ các nhà ly khai dùng internet. Trước đây, họ cố gắng ngăn chặn truy cập, giờ đây, họ tìm cách đánh sập các website.

Nhưng CS Hà nội bắt một blogger thì hai ba người xông tới. CS Hà nợi chận nẻo này thì blogger quay sang nẻo khác, mới hơn. Xu thế thời đại và tiến bộ khoa học kỹ thuật đứng về phía dân blog, giải toả con người khỏi vòng kềm toả và tuyên truyền giả dối  của độc tài./.

Ý KIẾN ĐỘC GIẢ (3)
 Được gửi bởi Ba D (Guest) vào 03/10/2012

Nghĩ mà tức thật ! Mình là TT của 3 triệu đảng viên và là "đầy tớ " của 85 triệu dân VN , xin vào Tòa Bạch Ốc thì họ lại cho mình đi cửa hậu…Còn chúng nó chỉ là nhóm nhỏ mà có đến 148 ngàn người xin vào, họ lại cho cả 200 người mang cờ xí rợp trời vào khắp nơi từTòa Bạch Ốc và Quốc Hội mà vào cửa chính những 2 ngày cơ ! Rõ là nhân quyền ! Internet lợi hại đến thế này cơ ! Các đ/c công an đâu?(ủa sao mà hô có ít vậy?) bắn hết " in- tờ- nết "cho tui! 
 Được gửi bởi Lối Mòn (Guest) vào 03/10/2012

Cộng sản sợ internet là phải rồi.Cũng như quỷ xứ mà sợ Trơì ,Phật vậy thôi.
 Được gửi bởi Việt (Guest) vào 03/10/2012


Đúng vậy Vi Anh ! 
CSVN sợ Internet, Blog ! Nếu hàng trăm ngàn Việt Kiều chống Cộng đã về Việt Nam mà trực diện với chính quyền CSVN…có lẽ họ sẽ càng sợ hơn ! Nhưng rất tiếc là mới chỉ có vài người dám nói, dám làm !



THỊNH NỘ VÌ TIỀN

THỊNH NỘ VÌ TIỀN

Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh

Tuần trước người ta đã chứng kiến một cơn thịnh nộ lan rộng từ Quốc hội cho đến đại đa số dân chúng Mỹ vì có tin Tổ hợp AIG, sau khi lãnh 170 tỷ đô-la gọi là tiền cứu nguy các ngân hàng, đã dùng 165 triệu để tặng thưởng (bonus) những cấp lãnh đạo của tổ hợp. Điều khó coi nhất là tiền cứu nguy đó là tiền của dân chúng đóng thuế, thay vì lo thay đổi cấu trúc và sách lược để sống còn, AIG tiếp tục dùng tiền đó để thưởng công cho những cấp lãnh đạo đã vì tham lam, vô trách nhiệm gây ra cơn khủng hoảng tài chính hiện nay ở Mỹ và cả thế giới. Ngay sau đó Quốc hội đã đưa ra đề án lấy lại những món tiền thưởng đó để làm dịu cơn giận của người dân.

Đầu tuần này chính phủ Obama đã loan báo một nỗ lực mới nhằm chấm dứt tình trạng tê liệt của hệ thống ngân hàng không muốn cho vay tiền để dân chúng làm ăn. Nỗ lực chủ yếu là chính phủ sẽ hợp tác với các nhà đầu tư để góp tiền thành một ngân quỹ 500 tỷ đô-la mua lại những những tài sản xấu, nói chung là những món nợ khó đòi. Loan báo kế hoạch này Bộ trưởng Tài chính Timothy Geithner nói dân chúng hãy kiên nhẫn để chính phủ cứu nguy các ngân hàng, trong khi dân chúng tức giận vì AIG đã dùng tiền cứu nguy để cấp tiền thưởng cho nhân viên lãnh đạo của mình từ năm ngoái khi chính phủ Bush đưa ra ngân quỹ 700 tỷ để cứu nguy ngân hàng. Từ lúc đó cái tên AIG đã nổi bật. AIG (American Insurance Group.Inc) là một Công ty Bảo hiểm và đã trở thành một công ty tài chính quốc tế từ lâu. AIG thành lập cách đây 90 năm ở Thượng Hải, nó lớn lên rất mau lẹ vì năm 1919 là thời nhà Mãn Thanh mới bị lật đổ, chính phủ Cách Mạng của Tôn Dật Tiên ra đời, nhưng mấy năm đầu Trung Hoa gặp nạn nội chiến, đến đầu thập niên 20, chính phủ Tưởng Giới Thạch lên cầm quyền, nạn tranh chấp nội bộ vẫn chưa dứt hẳn, nhưng dân chúng đã có dịp làm ăn buôn bán và Thượng Hải là nơi kinh doanh lớn nhất. Đã làm ăn là cần có tiền và cần có bảo hiểm, công ty Mỹ AIG mở cửa ở đó là chọn đúng thời điểm để làm ăn phát đạt mau lẹ.

Nhưng đến năm 1939 trước họa Thế chiến, Tổ hợp AIG phải dọn trụ sở chính về New York và tiếp tục trong mấy chục năm sau AIG đã hoàn tất một hệ thống quốc tế có mặt ở nhiều nước Âu châu để rồi sau Thế chiến đến năm 2005 AIG đã trở thành một trong những tập đoàn công ty lớn nhất thế giới, liên hệ đến nhiều ngân hàng và tài chính quốc tế. Bây giờ khi nói đến cứu nguy ngân hàng, lẽ tất nhiên ngoài AIG còn nhiều ngân hàng khác như Golden Sachs, Société Générale, Deustche Bank, Barclays, Merryll Lynch, Bank of America, UBS, BNP Paribas, HSBC, Dresdner Bank, cũng được nhận tiền cứu nguy tùy theo mức lớn nhỏ của mỗi ngân hàng. Nói chung một khi hệ thống ngân hàng tê liệt, nền kinh tế không có cách nào ngóc đầu lên được. Bây giờ nói đến việc chính phủ chủ trương lấy lại những khoản bonus tất nhiên các ngân hàng khác cũng phải chịu, không riêng gì AIG.

Theo dự định tiên khởi loan báo từ cuối tuần trước, chính phủ sẽ lấy lại đến 90% những khoản tiền bonus mà AIG và một số các Ngân hàng khác đã trả cho cấp lãnh đạo của họ. Nhưng ngay sau đó trong Quốc hội có những sự dè dặt bởi vì tính chung như vậy có thể sẽ bất công. Nhất là các dân biểu Cộng Hòa chỉ trích luật lệ đó chỉ nhắm đánh vào những người giầu có, nên phản đối. Đầu tuần này khi Bộ trưởng Tài chính Geithner ra trước Ủy ban Tài chính Hạ viện trình bày chi tiết về đạo luật cứu nguy ngân hàng, nói đến việc lập ra ngân quỹ 500 tỷ, có thể lên đến 1,000 tỷ để mua những món nợ khó đòi. Chiều thứ hai tuần này, chỉ số Chứng khoán Dow Jones ở Walt Street đã vọt lên đến gần 500 điểm, điểm vọt cao nhất nội trong một ngày kể từ hơn một năm qua. Đến sáng thứ ba, chỉ số Dow Jones khựng lại và đến chiều xuống 50 điểm. Trong khi đó có tin cho biết 15 trong số 20 cấp lãnh đạo của AIG sẽ trả lại món tiền bonus họ đã lãnh.

Chưởng lý New York Andrew Cuomo tỏ ý hy vọng sẽ có thêm nhiều nhân viên khác của AIG sẽ đem trả lại tiền bonus. Tính chung các nhân viên của AIG quốc tế sẽ trả lại khoảng 50 triệu trong số 165 triệu tiền thưởng mà tổ hợp này đã phát từ đầu tháng. Sáng thứ ba, Chủ tịch Ngân hàng Dự trữ Liên bang Ben Bernanke ra điều trần trước Ủy Ban Tài chính Hạ viện nói ông muốn đưa AIG ra Tòa về tội cấp hàng triệu đô la tiền thưởng, nhưng ông không muốn làm Tổ hợp Quốc tế này tan vỡ. Ông nói AIG là người khổng lồ quốc tế, nó có 74 triệu khách hàng trên thế giới và hành sự mọi việc ở 130 quốc gia. Nếu AIG tan vỡ, cả một hệ thống toàn cầu về tài chính và kinh tế cũng tan luôn với tất cả những hậu quả của nó. Cũng vào dịp này, Bộ trưởng Geithner đã yêu cầu Hạ viện cho phép ông có quyền tương đương với quyền của Tổ hợp Liên bang Ký thác Bảo hiểm là quyền được kiểm soát các Ngân hàng, tịch thu tài sản xấu và bán lại tài sản tốt cho những hãng cạnh tranh.

Tối thứ ba, vào giờ cao điểm của tin tức trên các đài TV, TT Obama mở cuộc họp báo tại Bạch Ốc có rất nhiều ký giả tham dự. Ông đã trình bày toàn bộ kế hoạch làm việc của ông về các mục tiêu như tạo thêm công ăn việc làm, giải quyết các vụ nợ thế chấp mua nhà, tăng thêm quỹ để nâng cấp nền giáo dục, bảo hiểm y tế cho mọi người dân, tìm nguồn năng lượng mới v.v…Để thực hiện những chương trình đó, TT Obama dự liệu cần phải chi đến 3.6 ngàn tỷ đô-la, trong khoảng 5 năm tới. Đây là một con số khổng lồ, Mỹ đang lâm nạn kinh tế khủng hoảng, ngân sách đã sẵn thâm thủng hơn 1,000 tỷ, làm sao chịu nổi? Số chi quá lớn này được loan truyền từ cuối tuần trước đã làm Quốc hội Mỹ dội lại, đảng Cộng Hòa và một số phần tử ôn hòa của Dân Chủ cũng không tán thành.

Vào những giờ đầu của sáng thứ tư 25-3, chỉ số Dow Jones đã vọt lên trở lại đến 150 điểm. Trong khi đó TT Obama đến Quốc hội để bàn thảo về dự chi ngân sách 1 năm cho tài khóa từ 10-09 đến 10-10. Quốc hội do Dân Chủ nắm đa số sẽ quyết định về ngân sách quốc gia, nên Chủ tịch Ủy ban Ngân sách Thượng viện Ken Conrad (Dân Chủ) hứa sẽ giảm bớt thâm thủng 1.7 ngàn tỷ năm nay xuống còn 508 tỷ năm 2014. Tại Hạ viện, Chủ tịch Ủy ban Ngân sách là John Spratt (Dân Chủ) nói Konrad sẽ dùng biện pháp biểu quyết cấp tốc, tránh thủ đoạn kéo dài thảo luận của Cộng hòa để dự án cải tổ hệ thống bảo hiểm sức khỏe cho người dân của TT Obama được thông qua.

Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh




GS Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh: Canh Bạc Nguyên Tử

Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh: Canh Bạc Nguyên Tử

iranCuộc họp ở Geneva tuần trước giữa đại biểu của Iran và các đại biểu của 6 nước: Anh, Trung Quốc, Pháp, Ðức, Nga và Mỹ là cuộc họp đầu tiên sau 15 tháng ngừng trệ về vấn đề này. Các nước thỏa thuận sẽ họp lại vào ngày 19 tháng 10 để thảo luận tiếp về chương trình nguyên tử của Iran. Tuần này Phát ngôn nhân Hassan Ghashghavi của bộ Ngoại giao Iran trong một cuộc họp báo ở Teheran nhắc lại rằng chương trình nguyên tử năng của Iran là một chương trình hòa bình, song lại không nhắc đến lời yêu cầu của Tây phương là Iran phải cam kết bảo đảm cho mục tiêu đó. Phát ngôn nhân nói ông ta không có nhiệm vụ “phán xét” về các cuộc họp lần tới sẽ đi về chiều hướng nào, nhưng quả quyết Iran sẽ “tiến mạnh về mục tiêu tích cực đó”. Ông ta nói: “Chúng tôi nghĩ là tích cực vì các cuộc thương lượng đã có tiến bộ. Sự tiến hành thảo luận cho thấy có chất lượng để bàn bạc trong các cuộc thảo luận tiếp trong tương lai. Chúng tôi không thấy có lý do gì để bi quan.”. Các cuộc thảo luận kế tiếp ngày 19-10 chỉ nhằm mục đích giúp Iran thanh lọc quạng Uranium tốt hơn. Hai năm trước đây, các cơ quan tình báo Mỹ công bố một báo cáo đầy dủ chi tiết kết luận Teheran đã đình chỉ nỗ lực đặt kế hoạch làm một quả bom hạt nhân vào năm 2003. Nhưng trong những tháng gần đây, Anh, Pháp, Ðức và cả Israel đã đưa ra những tranh cãi bất đồng về kết luận nói trên để nói rằng Iran đã tiếp tục trở lại kế hoạch làm bom. Tuần vừa qua một giới chức cao cấp Mỹ cho biết hiện nay Mỹ đang xét lại những kết luận tình báo của năm 2007. Cơ quan Nguyên tử quốc tế cũng đưa ra những chứng cớ cho thấy ngoài việc thâu thập những tiến bộ về cách làm bom do các tay chuyên gia bất lương đưa ra cách thức chế tạo bom đem bán chợ đen để vơ vét tiền bạc, Iran đã tự khảo cứu và thử những máy móc làm nổ hạt nhân. Cuối tuần qua, Chủ tịch Cơ quan Nguyên tử năng LHQ ông Mohamed ElBaradei đã đến thăm Teheran để thảo luận với nhà cầm quyền Iran về thủ tục cho các thanh sát viên LHQ đến điều tra cơ sở thanh lọc Uranium mới bị tiết lộ ở Qom. Sau mộl loạt hội họp với các giới chức Iran, ElBaradei cho các phóng viên biết các chuyên gia LHQ sẽ đến nhà máy nói trên vào ngày 25 tháng 10. Ông cũng cho biết sự tranh cãi về vụ Iran làm bom nguyên tử cũng sẽ được giải quyết vào dịp đó. Ông nói về mối quan hệ giữa Iran và cơ quan Nguyên tử năng như sau: “Hiện nay chúng tôi đã chuyển đổi từ thế đối đầu qua thế hợp tác và tôi đã yêu cầu Iran mọi việc cần phải công khai hóa cho minh bạch. Lúc này chúng tôi đã theo con đường thích hợp nhất. Cơ quan chúng tôi, cộng đồng thế giới và Iran đã có những cuộc thảo luận xây dựng”. Dù vậy, một câu hỏi quan trọng nhất vẫn còn: Lần này Iran có giở trò “tháu cáy” trong canh bạc xì phé quốc tế để chế tạo bom hay không? Chúng tôi nghĩ Iran không dám bịp bợp như trước, vì 3 nguyên nhân. Trước hết là luật lệ quốc tế, thứ hai là sự trói buộc của khoa học kỹ thuật và thứ ba là một thực tế đơn giản: Nếu có “bom”, Iran định làm gì với quả bom đó? Về mặt luật pháp quốc tế, LHQ hôm nay đã khác LHQ hôm qua. Sau khi Hội đồng Bảo An LHQ gồm 5 nước lớn vì lý do sống còn của chính mỗi nước đã biểu quyết “chống sự lan tràn của vũ khí hạt nhân, nghĩa là cấm nước nào chưa có bom, không được bí mật làm bom nguyên tử”. Ðể trừng phạt kẻ vi phạm HÐBA sẽ ra lệnh cấm vận, phong tỏa. Một nước như Iran vốn yếu kém về kinh tế, trong nước lại có mầm mống chia rẽ, khi bị phong tỏa tất nhiên trong nước sẽ có nội loạn. Hiện nay đa số dân Iran không muốn có bom nguyên tử, họ chỉ muốn được hít thở không khí trong lành, thay vì bị nghẹt thở trong bầu không khí u ám tàn bạo của bọn Vệ binh Cách mạng. Chế độ đương quyền sẽ sụp đổ, Vệ Binh Cách Mạng Iran đang sợ bị mất quyền nên không dám chơi trò lừa bịp lần này. Về mặt khoa học kỹ thuật có lẽ còn nhức nhối hơn. Muốn có một quả bom nguyên tử, trước hết anh phải có đủ dụng cụ và vật liệu làm ra nó. Rồi sau khi làm ra bom, anh có thể chôn ngầm nó dưới đất và xoa tay thoải mái chăng? Kỹ thuật học không cho làm như vậy, nó bắt buộc anh phải cho nổ thử một quả xem có đúng là bom không hay chỉ là một cái túi phóng xạ làm hại mọi người sống quanh nó, kể cả kẻ làm ra “quả” phóng xạ. Chính vì lý do đó nên Bắc Hàn đã phải cho nổ thử một quả bom thô sơ, làm cả thế nổi lên phản đối. Hơn nữa dù đã có bom rồi, anh còn cần phải có khí cụ để phóng nó đi. Iran đã thử các loại phi đạn tầm ngắn và tầm trung. Nhưng bắn được phi đạn vẫn chưa đủ, mà còn phải làm thế nào chế tạo một đầu đạn nguyên tử nhỏ xíu để gắn vào phi đạn. Và sau hết một vấn đề nhỏ nhưng nhức nhối vô cùng. Ðó là vấn đề điều khiển phi đạn cho nó bay đi trúng đích, không bay lạc hướng để trúng nơi khác, nhất là không bị những lá chắn chống phi đạn của nước thù nghịch bắn hạ nó trên đường bay. Sau hết một lý do rất thực tế. Phi đạn bom nguy&ecirc
;n tử của Iran nhắm bắn ai? Bất cứ nhằm vào Israel hay một căn cứ quân sự nào của Mỹ hay một nước Tây Âu đã sẵn có cả kho bom nguyên tử, kẻ đánh bom sẽ lãnh đòn trả đũa nguyên tử thê thảm. Chiến tranh hạt nhân đã hết thời rồi.

Hồi cuối Thế kỷ 20, chiến tranh nguyên tử là hình bóng một con quái vật hăm dọa toàn thế giới. Nhưng qua Thế kỷ 21, con quái vật chiến tranh hạt nhân đã chết, bởi vì từ nước lớn cho đến nước nhỏ với các kho vũ khí hạt nhân hiện nay đã được tích lũy ở 5 nước lớn trong Hội Ðồng Bảo An, người ta đã biết chắc đánh bom nguyên tử chỉ là một cách tự sát không hơn không kém.

Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh




Cơn đói cá của Trung Quốc và thảm họa

Cơn đói cá của Trung Quốc và thảm họa

Lữ Giang

Hôm 23.11.2013 khi Trung Quốc công bố quyết định lập vùng nhân diện phòng không (ADIZ) bao trùm lên vùng trời trên quần đảo Senkaku/Điếu Ngư đang tranh chấp với Nhật, ông Minh Hiền, Giám đốc Sở nghiên cứu Chiến lược và sự vụ quốc tế thuộc Đại học Đạm Giang của Đài Loan đã nói với Thông tấn xã Đài Loan rằng việc Bắc Kinh tuyên bố ADIZ trên Hoa Đông chỉ là cái cớ Trung Quốc nghi binh, Biển Đông mới thực sự là chuyện phiền phức. Cách đó một năm, tờ Wall Street Journal ngày 27.12.2912 đã đăng một bài dưới đầu đề “China’s Hunger for Fish Upsets Seas” (Trung Quốc đói cá làm biển rối tung) nói về những tai họa do cơn đói cá của Trung Quốc gây ra. Tiến sĩ Ian Storey, một nhà nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu Đông Nam Á ở Singapore, còn nói rõ hơn: năng lượng và nguồn cá là nguyên nhân chính của các cuộc tranh chấp. Như vậy Trung Quốc có ý đồ gì trên Biển Hoa Đông và Biển Đông, các chuyên gia đều thấy trước. Nói một cách tổng quát, Trung Quốc đang đói cả thực phẩm lẫn nhiên liệu và đang biến Biển Đông thành nguồn cung cấp riêng cho họ.

Ngày 26.11.2013, Trung Quốc cho hàng không mẫu hạm hạng bét Liêu Ninh rời cảng Thanh Đảo ở Hoàng Hải đi qua biển Hoa Đông và xuống Biển Đông để thực hiện cái gọi là “sứ mệnh huấn luyện và nghiên cứu khoa học”. Khi tàu Liên Ninh vừa trở lại cảng Thanh Đảo vào ngày 1.1.2014, Trung Quốc bắt đầu công bố lệnh cấm đánh cá trên một vùng rộng lớn ở Biển Đông.

 

LỆNH CẤM ĐÁNH CÁ CỦA TRUNG QUỐC

Theo các bài báo đăng trên một số trang web của tỉnh Hải Nam hôm 3/12/2013, lệnh ngư nghiệp Trung Quốc được chính quyền tỉnh Hải Nam ban hành ngày 29/11/2013 và có hiệu lực từ ngày 1/1/2014, tàu cá nước ngoài phải xin phép trước khi đánh bắt hay dò tìm trong khu vực rộng tới 2 triệu cây số vuông, chiếm 2/3 diện tích Biển Đông. Lệnh này được coi là một phần của chính sách thực thi Luật Thủy sản của Trung Quốc.

 

Vùng cấm đánh cá do Trung Quốc thiết lập

 

Như vậy Trung Quốc đã “địa phương hóa” Biển Đông, biến nó thành một vùng nước thuộc tỉnh Hải Nam của Trung Quốc (xem bản đồ sẽ thấy rõ).

Ngày 24.12.2013, Bộ Nông Nghiệp Trung Quốc còn ra thông báo về thời gian nghỉ đánh bắt cá bằng lưới tại một số khu vực, bao gồm cả khu vực quyền chủ quyền của Việt Nam ở Biển Đông.

Theo quy định của Trung Quốc, các tàu cá nước ngoài tự ý đi vào vùng nước trên Biển Đông mà họ tuyên bố do tỉnh Hải Nam quản lý để thực hiện sản xuất ngư nghiệp và các hoạt động điều tra tài nguyên nghề cá sẽ bị buộc phải rời khỏi khu vực, bị phạt 500.000 nhân dân tệ (tương đương 82.600 USD) và số cá đánh bắt sẽ bị tịch thu. Trong một số trường hợp, tàu đánh cá nước ngoài còn có thể bị tịch thu và thủy thủ đoàn bị truy tố theo luật pháp Trung Quốc.

Dĩ nhiên, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Phi Luật Tân, Việt Nam và cả Đài Loan đã lên tiếng phản đối lệnh cấm của Trung Quốc vì nó không phù hợp với quốc tế công pháp. Nhưng Trung Quốc đã dựa vào căn bản nào để đưa ra quyết định nói trên?

Như chúng tôi đã nói nhiều lần, Trung Quốc đã dựa vào lý thuyết “vùng nước lịch sử” (historic waters) được học lý và án lệ về luật biển cũ công nhận, đó là vùng nước sinh tồn đã lâu đời của một quốc gia, để thiết lập đường 9 đoạn và coi đó là ao nhà của Trung Quốc. Nhưng vì lý thuyết “vùng nước lịch sử” quá phức tạp, nên Luật Biển 1982 không còn công nhận lý thuyết đó nữa mà thay bằng “vùng đặc quyền kinh tế” dành cho mỗi quốc gia là một vùng 200 dặm tính từ đường cơ sở. Nói cách khác, Trung Quốc đã dựa vào một lý thuyết không còn tồn tại trong Luật Biển 1982 để tuyên bố chủ quyền của mình. Trung Quốc biết rõ như thế là sai nhưng cứ cãi chày cãi cối rồi dùng sức mạnh để áp đặt. Trung Quốc lại biết Mỹ chỉ phản đối lấy lệ chứ không can thiệp nên làm tới.

 

THẢM HỌA CHO NHÂN LOẠI

Trong bài “China’s Hunger for Fish Upsets Seas” nói trên, hai chuyên gia là Chuin-Wei Yap và Sameer Mohindru đã mở đầu bài nhận định của mình như sau: Cơn đói cá ngày càng trầm trọng của Trung Quốc đang thử thách quan hệ với nhiều nước khác nhau, đồng thời làm cho các viên chức và các khoa học gia ngoại quốc lo lắng về tiềm năng thiệt hại mà đội tàu cá khổng lồ của nước này có thể gây ra cho khối lượng cá tồn trữ trên toàn cầu”

Tài liệu chính thức của Trung Quốc, một nước có số lượng tiêu thụ cá cao nhất thế giới, cho biết đến năm 2015 Trung Quốc sẽ sản xuất 60 triệu tấn hải sản, so với 57,3 triệu tấn của hai năm trước. Tuy nhiên nhu cầu hải sản của Trung Quốc rất lớn và ngày càng tăng. Theo ước tính của ngân hàng Rabobank của Đức, vào cuối thập nhiên này trị giá khối lượng hải sản nhập cảng của Trung Quốc sẽ lên đến 20 tỷ USD thay vì 8 tỷ USD như hiện nay. Peru là nước bán nhiều hải sản cho Trung Quốc, nhưng nguồn hải sản của Peru ngày càng cạn kiệt.

Để có đủ cá cung cấp cho nhu cầu trong nước, Trung Quốc đã tung ra 2300 tàu đánh cá xa bờ, tới tận Nam Mỹ và Tây Phi, trong khi Mỹ chỉ có 200 chiếc. Tài liệu của Trung Quốc cho biết trong 2 năm 2010 và 2011 các tàu đánh cá xa bờ của họ chỉ bắt được có 368.000 tấn hải sản, nhưng các chuyên gia nói rằng con số đó lên tới 4,6 triệu tấn.

Riêng trong Vịnh Bắc Việt, một cuộc nghiên cứu cho thấy kể từ thập niên 1960, các loài cá trong vùng này đã giảm từ 487 loại xuống 238 loại. Khối lượng dự trữ chạm đến mức thấp nhất năm 1998, chỉ bằng 16,7% so với năm 1962!

Trước đây Trung Quốc có trên 200.000 tàu đánh cá, nhưng năm 2004 đã loại đi trên 8.000 tàu nên hiện nay còn khoảng 192.000 tàu. Đây là một khối lượng tàu đánh cá khổng lồ.

 

THẢM HỌA CHO VIỆT NAM

Với vùng cấm đánh cá mà Trung Quốc vừa vạch ra, vùng đặc khu kinh tế 200 hải lý của Việt Nam không còn. Muốn đánh cá xa bờ trong Biển Đông, Việt Nam phải xin phép Trung Quốc.

Lực lượng Hải Giám của Trung Quốc đang kiểm soát các tàu thuyền đánh cá trên Biển Đông. Lực lượng này là một bộ phận của Cục Quản Lý Biên Phòng thuộc Bộ Công An, được tổ chức theo mô hình của Liên Xô cũ. Hiện nay lực lượng này có khoảng 40.000 quân nhân với 304 thuyền nhỏ trên 100 tấn, 149 tàu tuần tra nhỏ trên 500 tấn, 19 tàu tuần tra vừa trên 1500 tấn và 8 tàu tuần tra lớn trên 3.500 tấn. Tàu tuần tra cao tốc của Trung Quốc có tên là Hải cẩu HP1500-2 với thủy thủ đoàn từ 6 đến 8 người, có thể đạt tốc độ lên đến 52 hải lý và tầm hoạt động trong khoảng 250 km. Chúng ta chưa nói đến lực lượng của Hải Quân Trung Quốc.

So với Mỹ hay Nhật, lực lượng hải giám của Trung Quốc chẳng có nghĩa lý gì, nhưng với các nước trong khối ASEAN, khó có lực lượng nào có thể địch nổi. Học giả Đinh Kim Phúc, nhà nghiên cứu biển Đông của Việt Nam, nói với phóng viên đài RFA  rằng với lực lượng tàu hải giám hùng mạnh, Trung quốc hoàn toàn có khả năng thực thi quy định mới của mình. Trong thời gian qua chúng ta nhìn diễn biến trên biển Đông thì chúng ta thấy rõ là Trung Quốc đưa nhiều tàu hải giảm để ức hiếp ngư dân, phạt tiền… mà phản ứng của các nước như thế nào chỉ là phản ứng cho có, mà chủ yếu là không làm gì được với Trung Quốc. Sự đoàn kết của các nước ASEAN trước tham vọng bá quyền của Trung Quốc là không có.

Ngày 25.12.2000, Việt Nam và Trung Quốc đã ký kết một hiệp định hợp tác nghề cá trong Vịnh Bắc Việt với tổng diện tích là 33.500 km², chiếm khoảng 27,9% diện tích vùng Vịnh. Một vùng đệm cho các tàu đánh cá nhỏ qua lại ở ngoài cửa sông Bắc Luân đã được thiết lập. Nếu phát hiện tàu cá loại nhỏ của bên kia vào hoạt động nghề cá trong vùng đệm, có thể cảnh cáo và áp dụng các biện pháp cần thiết để buộc tàu đó rời khỏi vùng nước đó, nhưng nên kiềm chế: không bắt bớ, giam giữ, xử phạt hoặc dùng vũ lực. Thế nhưng tàu đánh cá Trung Quốc vẫn đánh cá trên vùng nước của Việt Nam. Ngày 3.11.2013, tỉnh Thanh Hóa còn khám phá ra 276 dân Việt Nam đang làm việc cho các tàu đánh cá bất hợp pháp đó.

Chuyện Trung Quốc cho tàu họ húc tàu đánh đá Việt Nam đã trở thành“chuyện thường ngày ở huyện.”  Việc Việt Nam mua tàu ngầm của Nga cũng chỉ để bảo vệ vùng đặc khi kinh tế 200 hải lý của Việt Nam chứ không phải để khai chiến với Trung Quốc. Với việc Trung Quốc quy định vùng đánh cá mới, Lê Thanh Nghị, phát ngôn viên của Bộ Ngoại Giao Hà Nội chỉ nói: “Việt Nam yêu cầu Trung Quốc hủy bỏ những việc làm sai trái nói trên, đóng góp thiết thực vào việc duy trì hòa bình, ổn định tại khu vực.”

Đài Á Châu Tự Do (RFA) đang xúi Hà Nội đi kiện Trung Quốc trước các tòa án quốc tế. Đây là vấn đế chúng tôi sẽ nói sau.

Ngày 16.1.2014

Lữ Giang




BẮT TAY KẺ THÙ

BẮT TAY KẺ THÙ
Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh

Trong cuộc họp thượng đỉnh các nước Mỹ châu tại Port-Of-Spain, Trinidad, Tổng Thống Barack Obama đã nêu rõ sự bớt găng trong mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và nước Cộng sản Cuba và cả nước Venezuella thiên tả. Đại biểu Cuba không có mặt vì Cuba đã bị loại ra khỏi tổ chức này từ năm 1962, nhưng tuần trước Obama đã giải tỏa sự cấm đoán việc gửi tiền giúp đỡ thân nhân cũng như sự thăm viếng của những công dân Mỹ và dân gốc Cuba. Có thể Mỹ sẽ lập lại quan hệ ngoại giao với Cuba . Cũng trong cuộc họp này Obama đã bắt tay niềm nở với Hugo Chavez, Tổng Thống Venezuella, khi ông này lên chào hỏi và tặng quà kỷ niệm. Chavez là người thiên tả, khi ông Bush còn cầm quyền, Tổng Thống của Venezuella, vốn thuộc loại hăng tiết vịt, đã từng lên tiếng đả kích Bush dữ dội trước Hội đồng LHQ họp ở New York.
Bây giờ thấy Obama thân thiện với kẻ thù, mấy ông cực đoan trong đảng Cộng Hòa phản đối và Newt Gingrich, cựu Chủ tịch Hạ viện, kêu ré lên: “Làm như vậy là hợp thức hóa nó rồi!”. Sự thật chẳng cần chờ đến bây giờ, Chavez đã được LHQ công nhận là Tổng Thống từ lâu rồi. Kể cả Cuba , Mỹ đã đoạn giao từ 52 năm qua, chế độ Cộng sản vẫn không chết. Một bài báo Mỹ lấy tin của AP, nêu lên tựa đề hấp dẫn: “Obama: Đưa tay ra với kẻ thù làm nước Mỹ mạnh hơn”. Để nêu rõ chủ trương đặc biệt của ông về chính sách đối ngoại, Obama nói ông “tăng cường sức mạnh cánh tay của chúng ta” bằng cách với tới những kẻ thù của nước Mỹ, để cho thấy chúng ta là một nước lãnh đạo, chớ không phải ông thầy diễn giảng về dân chủ. Riêng tôi rất thích câu nói này. Từ lâu tôi vẫn nghĩ dân chủ không phải từ bên ngoài áp đặt cho một nước, dân chủ phải do chính người dân của nước đó quyết định. Đem dân chủ “dạy” cho nước đó là sai. Nhưng dân chúng ở nước đó bị đàn áp đẫm máu không thể ngóc đầu lên được thì sao? Kinh nghiệm của mấy năm gần đây đã cho thấy có nhiều cách – chớ không chỉ có một – làm sụp đổ một chế độ độc tài độc đảng.
Tuần này lại có chuyện đặc biệt nữa. Đó là cuộc Hội nghị của LHQ chống nạn kỳ thị chủng tộc, họp ở Geneva . Cuộc họp này đã bị rắc rối ngay từ đầu, vì Tổng Thống Iran Mahmoud Ahmadinejad, đích thân đến trong khi phần lớn các nước khác chỉ có các phái đoàn đến tham dự. Các vị trưởng phái đoàn có lệ đọc diễn văn trong buổi lễ khai mạc nên các bài diễn văn đó đều được dịch ra Anh ngữ trước để tiện bề theo dõi. Trong bài diễn văn của TT Iran có những đoạn thóa mạ Israel rất dữ dội, chẳng hạn nói Holocaust (lò hỏa thiêu của Đức quốc xã thời Thế chiến II để đốt sống dân Do Thái) là chuyện mơ hồ, đáng hoài nghi. Ahmadinejad còn tố cáo các nước Tây phương dùng chuyện Holocaust làm “cái cớ” để gây hấn chống dân Á rập Palestine .
Sáng thứ ba lễ khai mạc bắt đầu, hàng loạt các đại biểu của các nước Liên Âu đã đứng dậy lũ lượt kéo nhau ra ngoài. Nhưng các đại biểu của các nước khác, kể cả đoàn đại biểu của Vatican đã ngồi lại, vì có tin Ahmadinejad đã sửa lại vào giờ chót đoạn chối bỏ Holocaust. Riêng phái đoàn Mỹ và 8 nước Âu châu khác đã tẩy chay lễ khai mạc, vào dịp đêm trước là Ngày Tưởng niệm Holocaust, nơi hơn 2 triệu người Do thái bị đốt sống, và tỏ ý quan tâm về tính vô tư công bằng của buổi họp. Trong lễ khai mạc tại Geneva có tin diễn văn của Ahmadinejad đã được sửa lại, nhưng cả LHQ và phái bộ Iran ở Geneva cũng không cho biết tại sao có thay dổi. Người ta chỉ biết Tổng Thư Ký Ban Ki-moon hôm thứ hai nói ông đã gặp TT Iran, trước khi ông này đọc diễn văn, và nhắc nhở ông ta rằng LHQ đã từng chấp thuận các nghị quyết “bác bỏ quan niệm coi chủ nghĩa Zionism (đề cao dân tộc tính Do thái) là chủ nghĩa kỳ thị sắc tộc”, và xác nhận những sự kiện lịch sử kể cả vụ Holocaust.
Lúc mở đầu phiên họp, cả hội trường đã nhốn nháo, vì hai người phản đối đã ném lên diễn đàn những lỗ mũi mầu đỏ, đồ trang sức quen thuộc của mấy anh hề sân khấu, khi Ahmadinejad mở đầu bài diễn văn bằng một câu tụng kinh Hồi giáo. Nhóm sinh viên gốc Do thái từ Pháp đến, nói đó là họ muốn vạch trần một sự lừa bịp. Một số người phản đối bị đuổi ra khỏi phòng họp. Thói ba hoa chính chòe của Ahmadinejad không xa lạ gì với thế giới, nhưng ông ta chọn đúng thời điểm này để ra trò cứng rắn, có thể sẽ gây khó khăn cho những nỗ lực của Mỹ muốn làm bớt tình trạng đông lạnh trong mối quan hệ với Teheran. Tại Teheran trước đó một ngày, Tòa án Cách mạng đã lên án 8 năm tù một nữ ký giả 31 tuổi, Roxana Saberi, bị tố cáo làm gián điệp cho Mỹ. Nhưng qua ngày thứ ba tuần này, phát ngôn nhân Tư pháp Iran nói “bản án có thể được xét lại nếu chống án” – ý nói bản án có thể giảm. Trước đó các giới chức Mỹ nói Iran sẽ được hưởng thiện chí của Mỹ, nếu đáp ứng cụ thể điều Mỹ muốn là phóng thích nữ ký giả.
Hồi đầu tháng Tư, khi Mỹ đề nghị cải thiện bang giao với Iran Ahmadinejad đã nói: “Nước Iran hoan nghênh bàn tay chìa ra của Mỹ, nhưng nó phải chân thật và phải căn cứ trên trung thực, công bằng và tôn trọng lẫn nhau”. Nhưng chưa đầy một tuần sau, Ahmadinejad lại trở giọng chống Mỹ và tại Hội nghị Geneva, tuy đã bỏ đoạn nói đến Holocaust, nhưng vẫn tố cáo Israel là “kỳ thị chủng tộc”. Tại sao vậy? Đó là vì đến ngày 12-6, Iran sẽ có cuộc bầu cử Tổng Thống, Ahmadinejad hết nhiệm kỳ, sẽ ra tranh cử lại. Đối thủ của ông ta là cựu Thủ tướng Mir Hossein Mousavi, một người chủ trương cải cách và ủng hộ mối quan hệ tốt hơn với Mỹ. Mousavi có hy vọng thu được nhiều phiếu của giới trẻ, chiếm 40% cử tri. Những người ủng hộ Ahmadinejad đều thuộc phe phái cực đoan, nhưng tình hình kinh tế Iran hiện nay rất khó khăn, vì nạn lạm phát và thất nghiệp lan tràn, nên phe cực đoan càng ngày càng giảm. Tuy nhiên Ahmadinejad vẫn phải tỏ ra cứng rắn để vớt vát được phần nào hay phần nấy vào giờ chót.
Như vậy TT Obama chìa tay ra với cộng đồng thế giới, bạn cũng như thù,là…"hòa cả làng” chăng? Xin đừng tưởng bở. Cái chìa tay đó là thực tâm không phải giả dối, nhưng nó cũng có một ý nghĩa thật sâu sắc. Đó là Obama muốn mớm cho một chút tinh thần trách nhiệm, mỗi nước phải gánh vác lấy một phần đóng góp của mình vào việc giải quyết những khó khăn chung của thế giới, từ khủng hoảng kinh tế, môi sinh cho đến nạn binh đao mà có địa phương đang xẩy ra hay có thể sẽ xẩy ra vì bất cứ lý do gì. Nếu có mấy anh ngang bướng lấy le, không chịu thì sao? Dễ dàng thôi. Mấy anh cò con xé lẻ đó sẽ bị gạt ra ngoài sự quan tâm của cộng đồng quốc tế. Vận mạng sống chết ra sao, mấy anh hãy ráng chuốc lấy mối họa do chính mấy anh đã gây ra.
Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh.



GS Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh: Bom Tự Sát Ở Iran

Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh: Bom Tự Sát Ở Iran

Bom nổ ở thành phố Pishin, trong tỉnh Sistan-Baluchi thuộc miền Ðông Nam của Iran, nơi tiếp giáp với Pakistan. Hôm chủ nhật nhà cầm quyền Iran đã chính thức loan báo tin này và cho biết có 6 Tư lệnh của Vệ Binh Cách mạng, trong đó có Phó Tổng Tư lệnh và 26 người khác bị chết, ít nhất có 28 người bị thương. Vụ đánh bom xẩy ra vào lúc có cuộc họp cao cấp của các giới chức Iran và những người cầm đầu cư dân địa phương.

Gốc dân Baluchi ở vùng này sống rải rác trên một miền đất rộng lớn bao trùm cả hai bên biên giới Iran và Pakistan. Ðầu tuần này Ðại tướng Mohammad Ali Jafari, Tổng tư lệnh Vệ Binh Cánh Mạng, một lực lượng quân sự lớn nhất của Iran, đã tố cáo ba nước Mỹ, Anh và Pakistan, có liên hệ với dân quân Hồi giáo Sun-ni gây ra vụ đánh bom tự sát, theo kiểu thường thấy là khủng bố cột bom vào người rồi trà trộn vào đám đông, nhấn nút cho bom nổ, tóm lại là “bom người” của al-Qaida. Jafari thề sẽ trả đũa dữ dội.

Ðây là lần đầu tiên Iran nói 3 nước Mỹ, Anh và Pakistan đã xúi dục khủng bố. Nhưng Jafari tố như vậy chỉ nhằm vào một nhóm dân quân nhỏ ở trong nước. Từ nhiều năm qua Iran gặp rắc rối nghiêm trọng ở tỉnh Baluchi. Dân thiểu số Sun-ni sống ở đây có nhóm tranh đấu địa phương gọi là Judallah tức Thánh Quân (cũng giống như Jihad là Thánh Chiến). Nhóm này xuất hiện năm 2002, đã tố cáo từ bao thế hệ qua, dân Baluchi hệ Sun-ni đã bị đa số gốc Shi-a ở Iran ngược đãi. Theo một cứ điểm lưới (website) của đạo Hồi vẫn thường đưa ra những lời tuyên bố của bọn al-Qaida, một bản tin nhân danh nhóm Judallah đã nhìn nhận trách nhiệm đánh bom tự sát. Không thể kiểm chứng sự nhìn nhận này là thật hay giả, nhưng cũng không hề thấy nói đến có sự tiếp trợ từ bên ngoài.

Hiện nay nội tình Iran đang có chuyện bất ổn lớn kể từ khi kẻ độc tài Ahmadinejad được tái đắc cử Tổng Thống vào tháng 6 năm nay, mặc dù phe đối lập có đa số dân ủng hộ đã nhiều lần biểu tình chống đối. Sự đàn áp dữ dội bằng vũ lực đã dẹp tan các vụ chống đối, nhưng niềm bất mãn vẫn âm ỷ trong đa số quần chúng. Bây giờ nếu nhóm Judallah mồi thêm ngọn lửa bùng lên, tình thế sẽ nguy hiểm vô cùng. Vào lúc này đại diện của hai nước Tây phương đang hội họp với đại diện Iran ở Vienna để thảo luận kín về chương trình hạt nhân của chính quyền Teheran. Ðại diện Iran đã hăm dọa gây khó khăn, nói Iran có thể không chấp nhận thỏa hiệp mới đạt được là Iran sẽ chuyển ra nước ngoài 3/4 kho dự trữ nhiên liệu nếu Tây phương không cung cấp cho Iran những loại nhiên liệu mới. Ngoài ra Iran cũng có một ý đồ khá độc đáo khi tố cáo bọn khủng bố đã từ Pakistan xâm nhập Iran.

Sự thật tin tức cho biết đây chỉ là hành động riêng của nhóm Judallah gốc Baluchi ở miền Nam, chớ không liên hệ đến nhóm Taliban và al-Qaida hoạt động ở miền Bắc Pakistan. Theo đài TV chính thức của Iran, Ahmadinejad đã điện đàm với Ali Zardari, Tổng Thống Pakistan, để nói: “Sự hiện diện của bọn khủng bố ở Pakistan là điều không thể chấp nhận được. Chính phủ Pakistan cần phải giúp vào việc bắt giữ chúng và trừng phạt bọn tội phạm càng sớm càng tốt”. Vẫn theo TV trên, Ahmadinejad còn nói: “Chúng tôi nghe nói một vài giới chức của Pakistan đã hợp tác với các phần tử gây ra các cuộc tấn công chúng tôi, nên chúng tôi có quyền đòi bắt các phần tử đó giao cho chúng tôi”.

Theo môt bản tuyên bố từ Phủ Tổng Thống Pakistan trong cuộc điện đàm, Zardari đã lên án gay gắt vụ đánh bom tự sát ở Iran và nói vụ này là “một hành động ghê tởm và mọi rợ, mang dấu tích của những bọn thù nghịch đang trốn chạy”. Thiết tưởng cũng nên nhắc lại từ hơn tuần qua quân đội chính quy Pakistan đã mở trận đánh dữ dội nhằm vào bọn khủng bố al-Qaida và Taliban ở vùng núi Nam Waziristan, tiếp giáp với Afghanistan. Vùng này ở phía Bắc cách xa với vùng Baluchi tiếp giáp với biên giới Iran ở phía Nam. Từ cuối tuần qua 30,000 quân chính quy Pakistan tăng cường tấn công khoảng 10,000 loạn quân, gồm có các nhóm khủng bố Taliban và al-Qaida ở Afghanistan đã xâm nhập từ lâu. Mỹ đã đặc biệt quan tâm tới trận đánh này. Ðầu tuần Ðại tướng Mỹ David Patreus, Tư lệnh vùng Trung Nam Á, đã hội kiến với Thủ tướng Raza Gilani và Tư lệnh quân đội Pakistan ở Islamabad. Tướng Artar Abbas, phát ngôn nhân quân đội cho biết 78 tên phiến loạn đã bị giết. Cuộc hành quân chủ yếu nhằm loại trừ bọn Taliban trên lãnh thổ Pakistan, bọn này liên kết với bộ lạc Mehsud đang kiểm sót lối một nửa vùng núi Nam Waziristan. Chính bọn này đã gây ra lối 80% vụ đánh bom tự sát ở Pakistan. Hôm thứ hai Abbas cho biết quân đội Pakistan chia ra làm ba mặt tiến quân sâu vào vùng bọn phiến loạn kiểm soát, tấn công chúng bằng rốc-kết, các chiến đấu cơ bắn phá và thả bom ở các khu phiến loạn như Ladha và Makeen. iranTheo tin tức dân chúng địa phương di tản, lần này bọn phiến loạn kháng cự dữ dội hơn so với cuộc hành quân ở Thung lũng Swat miền Bắc hồi đầu năm nay. Các giới chức Pakistan cho biết cuộc hành quân này có thể kéo dài hai tháng, khi mùa Ðông tới các hoạt động quân sự sẽ trở thành khó khăn. Trong khi đó Mỹ gửi gấp các chiến cụ đến giúp quân đội Pakistan, trong đó có cả kính nhìn ban đêm. Về mặt viện trợ Mỹ, ông John Kerry, cựu ứng viên Tổng Thống năm 2004, đã đồng bảo trợ một đạo dự luật viện trợ mỗi năm 1.5 tỷ đô-la cho các chương trình kinh tế và xã hội của Pakistan, trong 5 năm liền. Tổng Thống Obama dã ký đạo luật này tuần vừa qua. Chính phủ Pakistan tán dương luật viện trợ này, nhưng các phe đối lập và quân đội than phiền một số khoản viện trợ lại có những sự trói buộc khiến Mỹ có thể can thiệp vào việc nội bộ của nước này. Trói buộc gì vậy? Không có tin nào nói về khoản này, nhưng chúng tôi thiết nghĩ nó có thể liên hệ đến nỗ lực hòa giải giữa Pakistan và Ấn Ðộ, để quân đội Pakistan bớt canh phòng biên giới miền Ðông tiếp giáp với Ấn Ðộ, dồn sức mạnh vào biên giới miền Tây tiếp giáp với Afghanistan, nhất là để truy lùng bọn khủng bố len lỏi vào vùng Kashmir, nơi có sự tranh chấp lâu đời về lãnh thổ giữa Ấn và Hồi. Hôm thứ hai Cảnh sát Pakistan cho biết họ đã bắt sống được tên cầm đầu nhóm Taliban ở Karachi. Xét những diễn biến như trên, người ta có cảm tưởng cuộc chiến chống khủng bố đang trở thành phức tạp. Chống khủng bố là nhằm loại trừ những thành phần Taliban và al-Qaida của hệ phái Hồi giáo Sun-ni. Nay Iran theo hệ phái Shi-a chỉ muốn lợi dụng chiến dịch chống khủng bố al-Qaida để loại trừ nhóm Judallah ở trong nước, với mục tiêu tối hậu là củng cố chế độ độc tài ở Iran, đó chỉ là ảo tưởng.

Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh




Tiến sỹ Alan Phan và làm ăn ở Việt Nam

Tiến sỹ Alan Phan và làm ăn ở Việt Nam

gocnhinalan.com – được ra mắt tại hội quán báo Thằng Mõ ở San Jose vào trưa Chủ nhật 23/8.
Trên 100 khách đã đến tham dự, trong đó có nhiều doanh nhân vùng Vịnh San Francisco như ông David Dương, Tổng giám đốc California Waste Solution; ông Trần Hồng Phúc Chủ tịch Phòng Thương mại Việt Nam Oakland; ông Đỗ Vẫn Trọn của Truyền hình Viên Thao; ông Nguyễn Xuân Nam của TV và báo Calitoday; ông Huỳnh Lương Thiện của Tuần báo Mõ SF.
Ngoài ra còn có cựu phó thị trưởng Madison Nguyễn, kĩ sư Đỗ Thành Công và ủy viên giáo dục Vân Lê, là ba ứng viên cho chức Dân biểu Tiểu bang Địa hạt 27 vào năm tới.
Còn lại đa số là các bạn trẻ, trong đó có những sinh viên du học đến từ Việt Nam.
Tình hình còn mù mờ

Mỹ không để bọn Tàu chệt lộng hành trên Biển Đông

 

Mỹ không để bọn Tàu chệt lộng hành trên Biển Đông


Tái bố trí lực lượng tàu ngầm, một phần trong Kế hoạch Thái Bình Dương của Quân đội Mỹ

Trước sự lớn mạnh không ngừng của Trung Quốc, Ấn Độ cả về kinh tế và quân sự mà theo ông Lawrence Korb, cựu trợ lý bộ trưởng quốc phòng Mỹ và bây giờ là nhà phân tích quốc phòng thì Trung Quốc và Ấn Độ đang nhanh chóng trở thành cường quốc hải quân, cũng như mối đe doạ từ một số quốc gia khác trong khu vực và nguy cơ bất ổn tại khu vực Châu Á, Chiến lược Quốc phòng mới của Mỹ đã có sự chuyển hướng chiến lược rõ rệt từ, coi Châu Á – Thái Bình Dương là chiến trường trọng điểm trong thế kỷ XXI.

Cùng với kế hoạch tái cơ cấu lại quân đội Mỹ tại tại Nhật Bản, Hàn Quốc và Guam, xây dựng Guam thành một trung tâm hải quân, hải quân lục chiến và không quân chính tại Thái Bình Dương, cũng như tăng cường sự hiện diện liên tục của các loại máy bay ném bom chiến lược B-1, B-2 và B-52 và các loại máy bay tiêm kích thế hệ mới, Quân đội Mỹ cũng đang triển khai kế hoạch tái bố trí lực lượng tàu ngầm tấn công tại đây.
Kế hoạch Quốc phòng Bốn năm một lần 2006 – lộ trình 20 năm của Quân đội Mỹ – đã đưa ra kế hoạch đến năm 2010 sẽ bố trí 60 % lực lượng tàu ngầm tấn công tại Thái Bình Dương và 40 % tại Đại Tây Dương. Theo Hải quân Mỹ thì trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh 60 % lực lượng tàu ngầm tấn công được bố trí ở Đại Tây Dương, sau Chiến tranh Lạnh thì lực lượng này đã được cân bằng 50-50.
Ngày 03 tháng 4, Tàu ngầm tấn công USS Jacksonville lớp Los Angeles đã cập cảng Trân Châu Cảng ở Hawaii.
Ngày 13 tháng 5, tàu ngầm USS Hawaii đã rời Căn cứ Tàu ngầm Hải quân ở Groton, bang Connecticut đến Trân Châu Cảng, theo kế hoạch sẽ đến đây vào tháng 7, và là tàu ngầm lớp Virginia đầu tiên có căn cứ tại Trân Châu Cảng. Đi sau tàu USS Hawaii sẽ là một tàu ngầm lớp Virginia khác, USS Taxas.
Theo kế hoạch, đến cuối năm 2009, sau khi tàu ngầm USS Hawaii và USS Texas đến Trân Châu Cảng, sẽ có 31 trong tổng số 53 chiếc tàu ngầm tấn công của Hải quân Mỹ sẽ có căn cứ chính ở Thái Bình Dương và 22 chiếc khác sẽ có căn cứ chính ở Đại Tây Dương. Trong tổng số 31 chiếc tàu ngầm có căn cứ chính tại Thái Bình Dương thì 13 chiếc có căn cứ tại Trân Châu cảng.
Hải quân Mỹ cho biết hàng chục quốc gia, trong đó có Bắc Triều Tiên và Iran, có tàu ngầm diesel, và hơn 180 tàu ngầm nước ngoài hoạt động tại Thái Bình Dương trong phạm vi các vị trí và các tuyến đường biển quan trọng.
Australia có kế hoạch mua thêm 12 chiếc tàu ngầm mới và Trung Quốc đã có 08 chiếc tàu ngầm lớp Kilo mới và một căn cứ hải quân mới trên Đảo Hải Nam, được gọi là “Hawaii” của Trung Quốc.
Ngọc Linh (Theo Honoluluadvertiser)

Mỹ đã đưa B-2 Spirit tới khu vực Thái Bình Dương, bọn chệt chó chớ có lộng hành

Chiếc máy bay ném bom tàng hình B2 của quân đội Mỹ vượt qua "bức tường âm thanh" giống như một chú cá đuối bứt lên làn nước.
Bộ quốc phòng Mỹ mới công bố bức ảnh máy bay B-2 đạt tốc độ âm thanh trong chuyến bay qua Palmdale, gần Los Angeles. Giới quân sự thường dùng hình ảnh "vượt qua bức tường âm thanh" để nói việc các máy bay loại này vượt ngưỡng tốc độ âm thanh.
Khi máy bay đạt vận tốc lớn hơn hoặc gần bằng vận tốc âm thanh, không khí xung quanh đột ngột giảm, dẫn tới nhiệt độ không khí giảm theo khiến hơi nước tụ lại thành những đám mây… Chuyển động của máy bay khiến các đám máy có hình chóp nón.
Ngăn chặn Trung Quốc, Mỹ chuyển 2/3 số tầu ngầm đến khu vực Thái Bình Dương

HAWAII 12-5 (NV) – Dồn dập một số biến cố trên biển Đông từ đầu năm đến nay, sự tranh chấp chủ quyền các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và sự gia tăng quân sự nhanh chóng của Trung quốc đã thúc đẩy Hoa Kỳ chuyển một loạt tàu ngầm tấn công tối tân nhất từ Đại Tây Dương sang Thái Bình Dương.

__________________

There are three sides to any argument: your side, my side and the right side.

FBI sẽ huấn luyện và trang bị giúp CSVN siết chặt an ninh !!!??????????????!!!

San Francisco – Nguồn tin ẩn danh từ Hoa Thịnh Đốn cho hay một phái đoàn an ninh tình báo cao cấp nhất của CSVN gồm trên 10 tướng lãnh an ninh CSVN đã do Đại Tướng Lê Hồng Anh, Bộ Trưởng Bộ Công An CSVN hướng dẫn đã đến làm việc với các ngành cao cấp nhất về an ninh của Hoa Kỳ trong suốt tuần lễ vừa qua. Phái đoàn nầy hôm Thứ Hai 20-4-2009 đã rời Washington DC bay về San Francisco để nghe Tổng Lãnh Sự CSVN tại San Francisco tường trình về những vấn đề liên quan đến tình hình Cộng Đồng Người Mỹ gốc Việt và các việc thi hành chính sách vận động Việt Kiều mà CSVN coi là “khúc ruột ngàn dặm”.

Tin tiết lộ cho biết phái đoàn cao cấp nhất ngành an ninh của CSVN lần đầu tiên đến Hoa Kỳ theo lời mời của ông Robert Muller, Giám Đốc cơ quan FBI Hoa Kỳ (Federal Bureau of Investigation). Cuộc tiếp đón có cả Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ và các ngành an ninh quốc nội và quốc tế của Hoa Kỳ cùng tham dự. Đại Tuớng Lê Hồng Anh sinh năm 1949 tại tỉnh Kiên Giang là cùng quê với Nguyễn Tấn Dũng. Lê Hồng Anh cũng giữ chức đại biểu quốc hội các khóa 11 và 12.

Trong tình hình Trung Cộng đưa tàu chiến vào biển Đông, ngang nhiên chiếm các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam, muốn tấn công vào tàu thăm dò hải dương của Mỹ và khiêu khích chiến hạm Mỹ; tin nhận định rằng cuộc họp an ninh cao cấp nhất Việt Mỹ trong tuần qua có tính cách cấp bách và làm nổi bật sự hợp tác sâu rộng hơn giữa Hoa Kỳ và Việt Nam.
Cũng theo tin nầy thì Hoa Kỳ và Việt Nam sẽ bắt đầu việc dẫn độ các người phạm án tại Hoa Kỳ bị trả về cố quốc Việt Nam, trong khi những Việt Kiều Mỹ về Việt Nam hoạt động băng đảng, buôn lậu, trốn thuế và những hình thức phạm pháp khác đều sẽ bị an ninh của Bộ Công An bắt và chuyển thẳng cho Hoa Kỳ truy tố trước luật pháp Mỹ.

Tin cũng nóí rằng HK sẽ giúp huấn luyện về nghiệp vụ an ninh, cung cấp cho ngành an ninh cộng sản Việt Nam những trang bị tối tân nhất để chống tội phạm, chống xâm nhập biên giới và sẽ giúp Việt Nam có một hệ thống theo dõi công dân như hiện nay tại Hoa Kỳ. Việt Nam có trên 86 triệu dân, đi đâu cũng phải khai báo, nhưng cuối cùng rất khó theo dõi. Hoa Kỳ sẽ giúp Việt Nam đơn giản hóa và quản lý bằng hệ thống điện tử nối mạng trên toàn quốc.

Việt Nam đang rất lo ngại việc Trung Cộng sẽ tiến thêm nhiều bước xâm lược và hai quốc gia Hoa Kỳ – Việt Nam sẽ cùng hợp tác trong việc chống lại chính sách bá quyền nầy của Trung Cộng. Điều khó khăn là nếu như để cho Trung Cộng tiếp tục khai thác Bauxit thì có thể có những khủng hoảng chính trị trong nội địa Việt Nam và phong trào bài xích từ bên ngoài Việt Nam. Nhưng nếu không để cho Trung Cộng tiếp tục thi hành hợp đồng khai thác Bauxit mà Việt Nam đã đặt bút ký tên, thì có thể có những đụng chạm đưa đến chiến tranh giữa Việt Nam và Trung Cộng. Đó cũng là vấn đề mà theo tin tiết lộ, có thể là nội dung chính của cuộc hội đàm cao cấp Việt Nam và Hoa Kỳ về ngành an ninh trong tuần qua. Việt Nam đang cần Hoa Kỳ che chở trước hiểm họa Trung Cộng bành trướng, trong khi Hoa Kỳ cần Việt Nam như là điểm khai hỏa gần trái tim Trung Cộng nhất. Có thể một ngày gần đây, lá chắn phi đạn vùng Á Châu của Hoa Kỳ sẽ đặt tại phía Bắc Việt Nam.
Trong một bản tin của Tòa Đại Sứ CSVN tại Hoa Thịnh Đốn loan rằng: ”Nhận lời mời chính thức của một số cơ quan Chính phủ Mỹ, đoàn đại biểu Bộ Công an Việt Nam do Đại tướng Lê Hồng Anh, Bộ trưởng Bộ Công an, dẫn đầu thăm và làm việc tại Mỹ từ ngày 12/4 đến ngày 21/4.

Tại các cuộc gặp gỡ, trao đổi với các cơ quan bảo vệ và thực thi pháp luật của Mỹ, hai bên thống nhất cần tiếp tục thúc đẩy và khai triển các quan hệ hợp tác trao đổi thông tin, nghiệp vụ, kinh nghiệm liên quan đến các hoạt động chống khủng bố, các loại tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, tội phạm ma túy, buôn người và rửa tiền.__________________

Kiềm chế bọn chó Chệt mắt hí mất dạy, Mỹ điều Hàng Không Mẫu Hạm USS Ronald Reagan tới Tây Thái Bình Dương

Myoko DDG-175 and the USS Ronald Reagan CVN-76 in the Philippine Sea conducting an underway refueling.

Hạm đội USS Ronald Reagan (CSG-7) sẽ xuất phát từ San Diego vào ngày 27/5/2009 để triển khai đợt hoạt động mới tại khu vực Tây Thái Bình Dương.
Đây được coi là một động thái tăng cường lực lượng quân sự, nhằm bảo vệ các quyền lợi của Mỹ cũng như để kiềm chế sự gia tăng của lực lượng Hải quân Tàu Chệt ở Thái Bình Dương.

Hạm đội (CSG-7) bao gồm tàu sân bay USS Ronald Reagan (CVN-76) chạy bằng năng lượng hạt nhân; Liên đội Không quân hạm số 14 (CVW-14); tuần dương hạm mang hoả tiễn điều khiển USS Chancellorsville (CG 62); các tàu chỉ huy; đội tàu khu trục số 7 (COMDESRON-7) gồm các tàu USS Decatur (DDG-73), USS Howard (DDG-83) và USS Gridley (DDG-101); khinh hạm USS Thach (FFG-43) và một phân đội thuộc đơn vị hậu cần cơ động số 11 (EODMU).

Trong đợt triển khai hoạt động lần này hạm đội Ronald Reagan CSG sẽ thực hiện một nhiệm vụ quan trọng là phục cho nhiệm vụ chiến lược biển của quốc gia nhằm bảo vệ các lợi ích sống còn của Mỹ, cũng như thực hiện các hoạt động duy trì an ninh trên biển và sẵn sàng ngăn chặn những nguy cơ xung đột theo như cam kết với các nước đồng minh thân cận với Mỹ ở khu vực Tây Thái Bình Dương.
Tàu sân bay USS Ronald Reagan thuộc lớp Nimitz chạy bằng năng lượng hạt nhân, Ronald Reagan là mang tên của Tổng thống thứ 40 của Mỹ.
Trong đợt triển khai hoạt động lần trước, CSG-7 đã tiến hành các nhiệm vụ trợ giúp nhân đạo, hỗ trợ cho các lực lượng quân sự của Philippines, cung cấp hơn 519.000 pounds nước ngọt, gạo và thuốc men cho nhân dân Philippines bị ảnh hưởng trong trận bão Fengshen. Liên đội Không quân hạm số 14 của hạm đội cũng đã xuất kích 1150 lượt bay từ vịnh Oman để hỗ trợ cho Liên quân ở Afganistan. Đội tàu khu trục COMDESRON 7 cũng đã yểm trợ các hoạt động duy trì an ninh cho hạm đội số 5.

Trong đợt triển khai hoạt động lần này Liên đội Không quân hạm số 14 được biên chế gồm: 04 phi đội tiêm cường kích "Redcocks" (VFA) 22, "Fist of the Fleet" VFA-25, "Stingers" VFA-113 và "Eagles" VFA-115; 01 phi đội máy bay cảnh báo sớm "Black Eagles" (VAW) 113; 01 phi đội máy bay tác chiến điện tử "Cougars" (VAQ) 139; 01 phi đội hỗ trợ hậu cần "Hustlers" (VRC) 30 và 01 phi đội trực thăng chống ngầm "Black Knights" (HS) 4.

__________________

Hạm Đội USS George Washington (CVN 73) chuẩn bị cho đợt hoạt động mới tại Tây Thái Bình Dương để ngăn ngừa sự lộng hành của bọn chó chệt mắt hí


Theo tin từ hạm đội 7 cho biết, ngày 20/5/2009, Hạm đội USS George Washington (CVN 73) cùng với khoảng 5000 quân đã xuất phát từ Yokosuka, Nhật Bản để bắt đầu tiến hành các hoạt động ở khu vực Tây Thái Bình Dương, nhằm đánh giá khả năng tác chiến của tàu sau khi được trang bị một số thiết bị mới.

__________________

Một quân đội hùng mạnh. đẹp lạ thường..nhất thế giới..ai cũng phải sợ…lính này chắc khó chết lắm… họ không chết.. cho..quê hương họ..mà chết 1 nơi xa lạ .nơi quê hương tôi. Việt Nam.. vùi thây đâu đó..không mồ mả. không nhang khói…tôi tưởng họ không chết chứ..

Hiện nay HKMH và thuỷ thủ đoàn đã cùng với Liên đội Không quân hạm số 5 (CVW-5) đang thực hiện các khoa mục cất hạ cánh trên boong theo như chương trình huấn luyện từ đầu tháng 5/2009.
Theo trung tá Vincent Aiello, sỹ quan chỉ huy Liên đội Không quân hạm số 5 cho biết “Khả năng tác chiến (COE) là đánh giá khả năng hạ cánh trên boong và kỹ năng điều khiển máy bay theo các tiêu trí hoạt động của Hải quân”
Chứng chỉ COE là một dấu mốc quan trọng, bởi nó khẳng định khả năng tác chiến, kỹ năng hạ cánh an toàn trên boong và phục hồi lại các cú hạ cánh trượt của tàu sân bay và Liên đội Không quân hạm. Việc hoàn thiện COE sẽ cho phép Liên đội Không quân hạm và tàu sân bay thực hiện các phi vụ bay trên khắp đại dương mà không cần đòi hỏi phải có một sân bay đúng hướng.

Đồng thời Liên đội Không quân hạm của Biên đội CVN-73 cũng sẽ thực hiện các khoa mục huấn luyện tấn công không-đối-đất từ biển vào. Đây là một hoạt động thử nghiệm tốt của tàu sân bay và khả năng của Liên đội Không quân hạm, nhằm quản lý các loại vũ khí, cài đặt vũ khí lên máy bay và nhắm vào các mục tiêu trên bộ của đất chệt một khi bọn chúng dở trò mất dạy.
Biên đội tàu sân bay USS George Washington được biên chế gồm: tàu sân bay USS George Washington, Liên đội Không quân hạm số 5, đội tàu khu trục số 15, tuần dương hạm mang tên lửa điều khiển USS Shiloh (CG 67) và USS Cowpens (CG 63), đặt dưới sự chỉ huy của đô đốc Kevin M. Donegan; tàu sân bay USS George Washington do đại tá David A- Lausman chỉ huy; Liên đội Không quân hạm số 5 do đại tá Michael S. White chỉ huy.
Liên đội Không quân hạm số 5 (CVW-5) được biên chế các phi đội sau: Phi đội máy bay tiêm kích VF-154 Black Knights (các máy bay F-14A TARRS); các phi đội máy bay tiêm cường kích VFA-27 "Royal Maces" (F/A-18C), VFA-192 "Golden Dragons" (F/A-18C) và VFA-195 "Dambusters" (F/A-18C)va; phi đội máy bay trinh sát điện tử VAW-115 "Liberty Bells" (E-2C), phi đội máy bay cảnh báo sớm VAQ-136 "Gauntlets" (EA-6B), phi đội trực thăng chống ngầm HS-14 "Chargers" (H/SH-60F/H), phi đội máy bay đa chức năng VS-21 "Fighting Redtails" (S-3B) và phi đội máy bay VQ-5 "Shadows" Det A (ES-3Ava.
Căn cứ vào đánh giá COE, Biên đội CVN-73 sẽ bắt đầu đợt triển khai hoạt động đầu tiên vào mùa hè này nhằm bảo đảm an ninh và duy trì ổn định trong khu vực Tây Thái Bình Dương để khống chế sự lộng hành ngày càng gia tăng của bọn chó chệt mắt hí.

 

Một quân đội hùng mạnh. đẹp lạ thường..nhất thế giới..ai cũng phải sợ…lính này chắc khó chết lắm… họ không chết.. cho..quê hương họ..mà chết 1 nơi xa lạ .nơi quê hương tôi. Việt Nam.. vùi thây đâu đó..không mồ mả. không nhang khói…tôi tưởng họ không chết chứ..




GS Sơn Điển Nguyễn Viết Khánh : BÀI HỌC CỦA QUÁ KHỨ

BÀI HỌC CỦA QUÁ KHỨ


Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh

 

Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh




GS Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh: QUAN HỆ ẤN-HỒI


GS Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh: QUAN HỆ ẤN-HỒI

Trước hết cũng nên nhìn qua cuộc bầu cử ở Afghanistan vào ngày Thứ năm tuần trước. Loạn quân Taliban đã đánh phá rất dữ dội, ít nhất đã có 27 người chết trong ngày bầu cử, một số phòng phiếu bị đánh bom, trong khi người đi bầu chỉ có một nửa số 15 triệu cử tri đã ghi danh. Sau cuộc bỏ thăm, hai ứng viên hàng đầu là đương kim TT Hamid Karzai và cựu Ngoại trưởng Abdullah Abdullah đã có sự tranh cãi gay go. Abdullah tố cáo phe Karzai đã gian lận bầu cử ở các phòng phiếu do chính quyền kiểm soát. Kết quả chính thức sẽ được công bố trong hai tuần nữa. Các nhà quan sát cho rằng Karzai có thể tái đắc cử Tổng Thống, nhưng nếu số thăm của ông không đủ 50% cộng thêm 1 phiếu, một cuộc tái bầu cử sẽ được tổ chức vào tháng 10 năm nay. Tóm lại tình thế còn bấp bênh và căng thẳng kéo dài. Và cũng phải ghi thêm rằng Karzai và chính phủ của ông quá yếu, không đủ khả năng xây dựng quân đội và lực an ninh hiệu quả để bảo vệ an toàn cho người dân. Taliban đã chiếm đến 1/3 phần lãnh thổ do chúng cai trị, các phần khác vẫn bị đánh bom khủng bố, kể cả Thủ đô Kabul.

Rồi đây Mỹ và NATO từ từ rút hết quân, nếu Taliban chiếm được Kabul và toàn thể lãnh thổ thì sao? Trước hết phải nói rằng đây sẽ là một cơ may mới của Mỹ trong chiến thuật đánh khủng bố. Từ xưa đến nay Mỹ đem quân vào nước nào đánh khủng bố cũng giống như đánh nhau với một kẻ tàng hình. Chúng không lộ diện để đánh Mỹ. Nay nếu một nhóm khủng bố al-Qaida hay đại diện chính thức của nó ra mặt để thành lập một chính quyền có trụ sở có dinh cơ của các giới chức lớn nhỏ, kể cả những trại binh của chúng, Mỹ có thể tấn công khủng bố bằng mọi thứ vũ khí từ trên không hay từ ngoài biển mà không cần đến quân bộ chiến. Tính hiệu quả của thứ vũ khí này đã được chứng minh từ tháng 6 năm nay khi Mỹ dùng phi cơ không người lái (trên phương diện chính thức Mỹ không hề nói là của ai, từ đâu đến) để bắn phi đạn tấn công rất hiệu quả và chính xác vào những nơi ẩn náu ở nước Hồi (Pakistan), sát biên giới phía Ðông của Afghanistan.

Thứ sáu tuần qua, một nguồn tin chính thức từ Thủ đô Islamabad cho biết một tư lệnh của Taliban là Siraj Haqqani, có liên hệ với al-Qaida, đã bị phi đạn Mỹ bắn chết cùng với 12 tên Taliban khác ở vùng Bắc Waziristan, sát biên giới phía Ðông Afghanistan. Dân làng trong vùng này cho biết những người sống trong căn nhà bị phi đạn đánh đều là người Afghanistan. Trước đó vào ngày 5 tháng 8, một phi cơ không người lái đã bắn chết Baitullah Mehsud, một tay cầm đầu Taliban rất nguy hiểm từng bị Mỹ treo giải thưởng cho ai bắt sống hay giết được hắn. Cho đến nay Mỹ đã thực hiện chiến thuật phi cơ không nguời lái 40 lần tấn công rất hiệu quả bọn Taliban và al-Qaida lén qua Pakistan đánh chiếm vùng nghỉ mát Swat lừng danh ở Tây Bắc nước này. Quân đội chính phủ Pakistan đã mở các cuộc đánh lớn chống bọn ngoại xâm, nên rất tán thưởng chiến thuật đánh bằng phi cơ không người lái.

Nhiều lần xung đột bằng vũ khí bạo lực đã xẩy ra, nhưng rút cuộc vẫn phải có hòa giải tạm thời để hai bên còn bàn thảo đến việc phân chia lãnh thổ này thành 2 phần rõ rệt. Ðến khi Afghanistan có chính quyền Hồi giáo sau khi Liên Sô rút đi, dân đạo Hồi (Islam) đổ sang Kashmir để tranh đoạt toàn bộ lãnh thổ, chống lại người Ấn Ðộ vốn theo Ấn giáo. Những sự rắc rối nghiêm trọng bắt đầu từ đây.Trong các tôn giáo lớn trên Thế giới, đạo Hồi đứng hàng thứ 2 sau đạo Thiên chúa. Hồi giáo có 2 hệ, đông nhất là Sun-ni (80%), và hệ Shi-a (20%). Ðạo Hồi là đạo giảng dạy điều hay lẽ phải rất quý giá cho cuộc sống, chỉ có một thiểu số của hệ Sun-ni lợi dụng tôn giáo để lập ra nhóm khủng bố al-Qaida. Bởi vậy nếu nói vụ tranh chấp Kashmir do xung đột tôn giáo là sai. Sự thật đó là vấn đề hai chủng tộc Pakistan và India đã sống lẫn lộn với nhau từ nhiều thế kỷ qua. Về tôn giáo, những tín đồ Hồi giáo và Ấn giáo ở India đã chung sống rất hòa hợp trong suốt thời bị người Anh cai trị như một thuộc địa gồm cả hai phần Pakistan và India. Sau Thế chiến II, Ấn Ðộ được độc lập và người Hồi xin được tách riêng thành một nước gồm có 2 phần, mảnh phía Tây gọi là Pakistan và mảnh phía Ðông gọi là Ðông Hồi, nhưng về sau mảnh này cũng xin tách riêng để trở thành nước Bangladesh độc lập, một phần lãnh thổ tiếp giáp với Miến Ðiện.

Chính vì tình trạng phức tạp như vậy nên tôi nghĩ nếu Mỹ tìm cách hòa giải được Pakistan và India là có một chiến lược chống khủng bố thuận lợi nhất cho toàn thế giới. Pakistan chống khủng bố vì bọn Taliban đang xâm nhập nước này, khiến quân đội chính quy kể cả du kích và dân quân chính quyền cũng phải xuất trận để bảo vệ lãnh thổ. Còn India căm phẫn nhóm khủng bố al-Qaida từ Pakistan và Kashmir đã lén qua Mumbai gây một cuộc đánh phá và tàn sát làm chấn động cả thế giới hồi cuối năm ngoái. Với sự hợp tác này, Mỹ có thể nhìn đến cả vùng Ðông Nam Á, với Indonesia là nước có đông dân Hồi giáo nhất thế giới. Ðạo Islam truyền đến Indonesia bằng đường biển có vẻ hiền hòa, ít gặp tranh chấp như mối đạo truyền bằng đường bộ từ Trung Ðông qua các nước Trung Á.

Ðổi mới chiến lược chiến thuật về quân sự là điều cần phải làm, càng sớm càng tốt để giảm bớt thương vong cho quân sĩ, đồng thời tiết giảm những chi phí về chiến tranh kéo dài từ gần 10 năm qua tạo một gánh nặng cho ngân sách quốc gia và cũng là một phần của nguyyên do gây ra nạn suy thoái kinh tế trầm trọng nhất trong lịch sử. Ðổi mới chiến lược quân sự còn đem lại một cơ may về một sự hợp tác kinh tế đôi bên cùng có lợi với các nước trong toàn vùng Ðông Á và Ðông Nam Á, để giúp đẩy mạnh sự phục hồi kinh tế Mỹ.

Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh




Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh: Hoán Chúa Cầu An

Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh: Hoán Chúa Cầu An

 Việc bổ nhiệm Jang đã được công bố sau một cuộc họp hiếm có của Quốc hội Tối cao Nhân dân Bắc Hàn, với sự hiện diện cũng hiếm có của Chủ tịch Kim Jong-il mà người ta đã biết đang bị chứng đau tim nặng từ 2 năm nay. Qua màn hình TV Bắc Hàn người ta chỉ thấy thoáng hình ảnh của họ Kim 68 tuổi, nên không rõ tình trạng của ông ta lúc này đã trầm trọng đến độ nào. 
(Ảnh: “Lãnh tụ kính yêu” Kim Chính Nhất và con trai vào 1981)Theo thông lệ ở các nước Cộng sản, Quốc hội Tối cao Nhân dân chỉ là mộtcơ quan “gật đầu đóng triện”, nên mỗi năm họp một lần để “thôngqua” những quyết định của đảng và Nhà nước. Quốc hội này đã họp hồi tháng 4, đến tuần này lại họp nữa nhưng không thấy nói tại sao phải họp thêm?
 

Báo chí trên thế giới không chú ý đến chuyện họp thêm này. Riêng tôi nghĩ chắc là việc cấp bách lắm rồi nên mấy ông cầm đầu CS Bắc Hàn không thể chờ đến sang năm. Cấp bách gì vậy? Bắc Hàn đang trải qua một cơn bĩ cực gay go về kinh tế chẳng thể làm ngơ, trong khi Nam Hàn đang ráo riết vận động LHQ trừng phạt Bắc Hàn về vụ tấn công một chiến hạm Nam Hàn làm chết 45 Hải quân. Cho đến nay Bắc Hàn đã chối cãi vụ này và báo chí nhà nước Bắc Hàn không thấy nói rõ cuộc họp “Quốc hội” Bắc Hàn có bàn thảo vụ này hay không.

Tuy vậy người ta cũng được biết thêm là trong cuộc họp tuần này ở thủ đô Bắc Hàn, nhân vật giữ chức Thủ tướng là Kim Yong Il cũng bị mất chức và được thay thế bởi Choe Yong Rim, một dân biểu Quốc hội. Như vậy các phe nhóm tranh chấp còn tìm cách đưa người vào ngồi ở những chức vụ quan trọng. Việc thay thế Thủ tướng đã được quyết định từ lâu, vì hồi tháng 2 năm nay Kim Yong Il đã làm một việc hiếm có là công khai lên tiếng xin lỗi nhân dân sau khi thất bại trong việc chỉnh đốn lại giá đồng tiền Bắc Hàn đã tạo ra bất ổn xã hội và nạn đói lan tràn.

Vậy các ông Cộng sản đổi tiền như thế nào? Hồi tháng 11 năm 2009, dân chúng Bắc Hàn được lệnh “đổi tiền”, theo thể thức đem một số giấy bạc cũ của Nhà Nước nhưng hạn chế số tiền là bao nhiêu để đổi lấy một số bạc đặt tên lại giấy bạc mới cũng của Nhà Nước. Thế nhưng toàn bộ giấy mới này xuống giá thê thảm vì Nhà Nước đã in ra quá nhiều để trả lương cho quân đội và Công an, khiến đồng tiền bị lạm phát. Kiểu đổi tiền này nghe cũng hơi quen với người dân Việt Nam sau năm 1975.

Các nhà phân tích nước ngoài về thời sự Bắc Hàn nói việc thay ngôi hoán vị người lãnh đạo thường là để chuẩn bị một sự thay đổi ngoạn mục của chế độ. Vậy thay đổi như thế nào? Tất cả còn phải chờ xem, nhưng chúng tôi nghĩ ở một chế độ mà lãnh tụ trường kỳ đau ốm, nội bộ đã ngấm ngầm có biến với những rạn nứt gay go, bởi vì các phe nhóm ở sát cấp thượng tầng đã âm thầm kèn cựa lẫn nhau với mục tiêu tối hậu là cướp lấy quyền lực tối cao để nhất thống giang hồ. Kim Jong-il là người đã nối chức cha từ năm 1994 trong cương vị độc tài tàn bạo, tất nhiên đã nhìn thấy rõ những nguy cơ đó có thể làm tan nát chế độ.

Vậy tại sao Kim không truyền “ngôi” cho con trưởng là Kim Jong Nam năm nay 39 tuổi? Nhưng chính anh Jong Nam này đã “dính trấu” mất rồi. Năm 2001 Jong Nam đã bị thất sủng sau khi bị bắt vì đã đáp một chiếc tầu chở khách đến Nhật Bản với Thông hành giả mạo của nước Cộng hòa Dominican để du hí tại vuờn Disney ở Tokyo. Hôm thứ hai tuần này, một tờ báo của Nam Hàn là Joong Ang Ilbo xuất bản đại đa số kiểu bán chợ trời ở Nam Hàn, cho biết người ta đã tìm thấy tung tích của cậu cả Jong Nam ở một khách sạn tại miền Nam Trung Quốc trên phần đất gọi là Macao.

Trong một cuộc phỏng vấn ngắn ngủi ở trên thang máy, Jong Nam đã cải chính tin nói anh ta đã xin tỵ nạn chính trị ở Âu châu, vì anh ta đã mất hết quyền lực trong vụ đấu đá tranh “vương quyền đỏ” với người em út của anh ta. Jong Nam nói: “Tôi không có kế hoạch qua Âu châu sinh sống. Tại sao tôi phải làm thế? Tôi qua Âu châu là để đi nghỉ hè”. Có lẽ mùa hè ở nước băng tuyết năm nay rực lửa, nên cần phải “nghỉ mát”, thật cũng hợp lý thôi.

Thế còn con trai út của họ Kim thì sao? Anh này tên là Kim Jong Un, 28 tuổi, còn quá trẻ nên 9 năm trước khi anh cả Jong Nam bị quần thần chống đối, Chủ tịch Kim Jong-il đã có định chuẩn bị cho Kim Jang Un lên kế vì. Khốn nỗi lúc đó Jong Un quá trẻ nên bị quần thần dị nghị, nhất là ông đồng hao ngày nay Jang Song Thaek cũng chống đối nên Kim Jong-il phải từ bỏ ý định lập con út kế vị ngai vàng…”đỏ”.

Thế nhưng việc lập ra một tay lãnh đạo mới nghe chừng vẫn chưa đủ. Trước mắt việc khó khăn nhất chế độ Bắc Hàn phải đối phó là vụ bắn chìm chiến hạm của Nam Hàn. Bắc Hàn chối cãi, Nam Hàn đã đưa vấn đề ra trước Hội đồng Bảo an LHQ. Cố nhiên hai bên còn tranh chấp bằng mồm chớ chưa dùng súng, nhưng tình trạng này đã khiến các nhà đầu tư quốc tế thấy ngại ngùng, không muốn bỏ tiền ra làm ăn ở bán đảo này nữa. Ðầu tư hết, mậu dịch cũng hết. Khó cho Bắc Hàn hơn Nam Hàn vì ở Nam Hàn còn có quân Mỹ đóng ở đó, sư giao lưu kinh tế Mỹ-Nam Hàn còn tiếp tục. Quân đội Mỹ và Nam Hàn có kế hoạch thao diễn quân sự trong tháng này, để xem quân đội hai nước đã sẵn sàng đến độ nào nếu Bắc Hàn gây hấn.

Trung Quốc là đồng minh chính của Bắc Hàn và là hội viên thường trực của Hội đồng Bảo an LHQ. Nếu muốn có nghị quyết lên án Bắc Hàn, Hội đồng Bảo an cần phải có lá phiếu của Trung Quốc. Sáng thứ Ba lại có chuyện bất ngờ. Bắc Kinh loan tin quân biên giới Bắc Hàn đã bắn chết 3 người Trung Quốc bị nghi là buôn lậu. Vậy Trung Quốc sẽ có thái độ ra sao tại Hội đồng Bảo an? Tôi thích theo dõi vụ này, để xem Bắc Hàn có chịu biến đổi một chế độ cai trị, từ một chủ thuyết chính trị đã lỗi thời để cập nhật hóa thành một chế độ mới làm việc cho dân, lấy quyền lợi của dân tộc làm ưu tiên, thứ mới đến quyền lợi cho đảng hay bất cứ phe nhóm nào. Tôi tin nhiều người cũng đang theo dõi cuộc thí nghiệm này.

Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh




Tân Cương & Việt Nam

Tân Cương & Việt Nam

Phạm Thanh Phương (Úc Châu)

Trong những ngày qua, cuộc xung đột của sắc tộc Uighur tại Tân Cương đã gợi lại cho người Việt Nam phải nhớ đến dòng lịch sử của dân tộc. Nhớ về lịch sử để hãnh diện và cám ơn tổ tiên và đồng thời cũng lo lắng cho hiện tại của đất mình. Thực sự mà nói, nếu không có cuộc xung đột của người Urumqi vừa qua, có lẽ người Việt Nam chúng ta cũng ít người biết đến họ là ai và bối cảnh lịch sử của họ ra sao.

Nói về Tân Cương, Tân Cương là một vùng chiến lược, sát biên những nước như Nga, Iran, Afghanistan, nhất là các nước Trung Á cùng theo Hồi Giáo và ngôn ngữ và chủng tộc liên hệ với người Uighur. Theo sử sách ghi chép sắc tộc Uighur đã bị đế quốc Mông Cổ thống trị từ thế kỷ mười hai, bắt đầu khoảng năm 1218, sự thống trị này rất dài dưới nhiều hình thức và cho đến thế kỷ thứ mười tám, họ lại tiếp tục bị nhà Thanh chiếm đóng và trở thành Tân Cương, một cái tên mang ý nghĩa một cương giới mới của người Tầu. Trong khoảng thời gian thuộc nhà Thanh, vào thế kỷ thứ mười chín, người Uighur và người Hồi cũng đã có những cuộc nổi dậy giành độc lập, nhưng rất tiếc những tháng ngày độc lập của họ chỉ giữ được từng giai đoạn rất ngắn, và sau cùng đến năm 1949 thì hoàn toàn thúc thủ để trở thành một khu tự trị thuộc quyền khống chế của Trung Cộng cho đến hôm nay.

Hiểu về bối cảnh lịch sử của người Uighur và Tân Cương, chắc chắn người Việt Nam không thể quên được những giai đoạn lịch sử hào hùng nổi bật của dân tộc trong suốt hơn bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước. Cùng trong thời gian thế kỷ thứ mười hai, khi người Uighur bị thúc thủ, thì tại Việt Nam, với truyền thống bất khuất, Hưng Đạo Vương đã anh dũng đánh tan quân Mông với trận Bạch Đằng, giành được chủ quyền để tiếp tục xây dựng bờ cõi… Tiếp theo sau, vua Lê Lợi đại phá quân Minh vào năm 1428 và các cuộc kháng chiến nối tiếp, kéo dài với nhiều thế hệ đến thế kỷ thứ mưới bảy, sau khi Lê Chiêu Thống “Cõng rắn cắn gà nhà”, Quang Trung Đại Đế đã xuất hiện với những chiến tích lẫy lừng và để lại trên dòng lịch sử một “Gò Đống Đa” với hàng vạn xác quân Thanh vào năm 1789. Tiếp nối dòng lịch sử với những thăng trầm, suy, thịnh của nhà Nguyễn và để lại cho con dân Việt Nam một giải giang sơn gấm vóc hôm nay. Một điều đau buồn, khi vận nước suy vi trong thế trận của các cường quốc trên thế giới, đất nước đã bị bọn tham tàn, hèn nhược CSVN chiếm lĩnh, để ngày nay từng phần đất từng được vun, bồi bằng xương máu của biết bao nhiêu anh hùng liệt nữ, đang tức tưởi mất dần trong tay Tầu cộng…

Hôm nay nhìn về Tân Cương, là con dân Việt Nam, chắc chắn ai cũng thấy được những niềm tự hào của lịch sử, nghĩ về những công lao xương máu của tiền nhân. Tuy nhiên, không phải chỉ biết ôm ấp những tự hào ấy một cách thụ động yếm thế. Ngược lại, phải làm sao đoàn kết, vực dậy sức mạnh hào hùng bất khuất, cùng nhau đòi lại quyền tự quyết, hầu có thể giữ vững bờ cõi, bảo vệ và phát huy niềm tự hào ấy trong vĩnh cửu.

Trong hoàn cảnh đau buồn, uất nhục của đất nước dưới ách thống trị dã man và hèn nhược cuả tập đoàn CSVN, nếu người dân Việt Nam, không thể vứt bỏ những vị kỷ thấp hèn của nội tâm, để cùng nhau vùng lên tận diệt bọn sói lang này, chắc chắn Việt nam sẽ là một Tân Cương thứ hai trong một tương lai gần. Bằng chứng hiển nhiên cho thấy những hiện tượng đã và đang xẩy ra, có thể coi như những thông điệp báo trước cho một viễn cảnh uất nhục vong quốc gần kề. Những hiện tượng người dân Trung cộng tràn vào Việt Nam không cần Visa; Trung cộng lấn chiếm biển đông, cấm ngư dân Việt Nam hành nghề trên chính vùng biển của quốc gia mình; Trung cộng khai thác Boxite tại tây Nguyên, và mới đây 200 công nhân Trung cộng tấn công, hà hiếp một làng Việt Nam, nhưng đám lãnh đạo CSVN vẫn cúi đầu ú ớ lấy lệ như một con chó trung thành, khiếp nhược dưới chân ông chủ.

Sự thật hiển nhiên trong cuối tháng sáu vừa qua, bọn lãnh đạo CSVN đua nhau chạy sang Bắc Kinh vuốt ve quan thầy như sự kiện Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng CSVN đã “phấn khởi, hồ hởi” tung hô “16 chữ vàng”; Nguyễn Sinh Hùng, Phó thủ tướng cũng xum xoe với ”Tình hữu nghị truyền thống giữa hai đảng, hai nhà nước và nhân dân hai nước Việt Trung là tài sản qúy báu, cần hết sức giữ gìn và không ngừng phát huy mạnh mẽ..”. Còn Nông Đức Mạnh, nhân vật cao nhất của đảng thì gập mình, ngóc cổ “cảm ơn sự giúp đỡ to lớn mà đảng, nhân dân trung Quốc đã dành cho Việt Nam”. Đó là chưa kể đến hành động bán nước qua công hàm xác nhận chủ quyền của Trung cộng mà Phạm Văn Đồng đã ký năm 1958; Lê Công Phụng thay mặt cho đảng, nhà nước CSVN ký hai Hiệp định, phân định biên giới và đã dâng hiến một phần giang sơn vào năm 1999-2000, để rồi Nam Quan, Bản Giốc đã vĩnh viễn tách rời thân thể mẹ Việt Nam một cách tức tưởi, đau thương…

Nhìn lại hoàn cảnh người Uighur tại Tân Cương hiện tại, có thể nói khó khăn hơn Việt nam rất nhiều, theo nhiều tài liệu cho biết, trong 60 qua qua kể từ năm 1949, sau khi Trung cộng hoàn toàn chiếm đóng và khống chế, con số người Hán ở Tân Cương đã tăng từ 6% lên 40%, chưa kể các lực lượng quân đội đồn trú và gia đình của họ. Như vậy, nếu dân Việt Nam không kết hợp được các lực lượng Tôn giáo, đảng phái, phe nhóm để cùng vực dậy sức mạnh của dân tộc, hầu có thể đòi lại quyền tự quyết từ bàn tay độc tài toàn trị CSVN thì tương lai trong vài chục năm nữa sẽ ra sao???…

Xoay quanh vấn đề xâm lăng chủng tộc, chiếu theo thống kê hiện tại, khoảng 20 triệu thanh niên Tầu cộng không thể lập gia đình vì nạn trai thừa gái thiếu. Vì vậy, hiện nay đã có rất nhiều thanh niên Tầu cộng xin tình nguyện sang Việt làm việc và tìm cách lập gia đình ở lại. Hơn nữa, trong chính sách độc tài toàn trị của CSVN, tham nhũng đã được phát triển rất mạnh như một quốc sách, đại đa số người dân Việt càng ngày càng đói rách tận cùng. Trong khi đó, với bản chất hèn nhược tay sai của CSVN, thanh niên Tầu cộng tất nhiên sẽ được đối xử ưu tiên, o bế như “quốc khách”, phần tài chánh cũng khá hơn người Việt Nam rất nhiều. Như vậy thử hỏi, trong vài chục năm nữa, sẽ có bao nhiêu dân Tầu cư ngụ trên đất nước Việt, và lúc đó hoàn cảnh Việt Nam sẽ có thể thê thảm hơn Tân Cương và Tây Tạng hiện nay.

Sau cùng, trước viễn cảnh đen tối của đất nước, thiết nghĩ người dân Việt Nam hãy cam đảm dứng dậy như người dân Uighur tại Tân Cương trong mọi lãnh vực và mọi hoàn cảnh, chỉ có sức mạnh dân tộc mới có thể cứu nguy cho đất nước như đã từng thể hiện qua những giai đoạn của tiền nhân trên dòng lịch sử. Thực sự mà nói, lý do nổi dậy của người Uighur tại Tân Cương có thể tạm ví như những người dân oan, những trù dập đàn áp tôn giáo, bắt bớ, khủng bố những nhà bất đồng chính kiến tại Việt Nam..v..v… . Vì thế, ngay trong thời gian này, CSVN đang mở cửa bang giao với các nước tự do trên thế giới và nội bộ cũng có nhiều lúng túng. Đồng thời các phong trào đấu tranh đang dâng cao trong và ngoài nước. Đo đó, thiết nghĩ đây là cơ hội tốt nhất để có thể vực dậy được sức mạnh dân tộc, nếu mọi người Việt nam trong và ngoài nước, chúng ta cùng ý thức được trách nhiệm của chính mình với tổ quốc, chắc chắn chế độ tham tàn, dã man, hèn mạt CSVN phai ra đi, đất nước và dân tộc sẽ được an vui trong ánh sáng vinh quang, tự hào của lịch sử.

Phạm Thanh Phương (Úc Châu)

http://nsvietnam. com/online/ binhluan/ 071909-tancuong. html




Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh : Âm Mưu Nguyên Tử Iran

Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh: Âm Mưu Nguyên Tử Iran

ÐSự cảnh giác nói trên cho biết hồi tháng 1 năm 2010 Iran loan báo đã thực hiện được vài lần thí nghiệm thanh lọc uranium mà trên lý thuyết có thể dùng để làm một đầu đạn nguyên tử. Sau đó Iran chối cãi và nói các cuộc thí nghiệm chỉ diễn ra mấy tháng sau. Vào tháng 5 năm nay, khi các thanh sát viên quốc tế đến xem Phòng Thí nghiệm Jaber Ibn Hayan ở Teheran, những dụng cụ thí nghiệm thanh lọc nguyên tử đã bị đem dấu ở nơi khác rồi. Tuy nhiên đến tháng 6, Iran nói không hề thí nghiệm lọc nguyên tử và cũng không hề có việc đem dấu các dụng cụ thanh lọc. Iran ra tuyên bố nói bản báo cáo của Cơ quan Nguyên tử quốc tế là “giả tạo chỉ nhằm gây ảnh hưởng đối với dư luận quốc tế”.

Về vụ cấm hai thanh sát viên, người cầm đầu Tổ chức Nguyên tử năng của Iran, Ali Akbar Salehi nói trên TV Teheran rằng Cơ quan Nguyên tử năng quốc tế đã được thông báo về vụ cấm hai thanh sát viên, như ông ta không chịu nói rõ tên tuổi hai người đó. Salehi nói: “Tuần trước chúng tôi đã nói rõ cho Cơ quan quốc tế tên hai thanh sát viên bị cấm vào nước Iran. Hai người này từ nay không được phép đến Iran. Báo cáo của hai người đó là giả tạo và họ đã tự công bố ra trước khi được Cơ quan quốc tế cứu xét”. Salehi còn nói Iran trung thành với những sự giao ước quốc tế và các thanh sát viên của Cơ quan Nguyên tử năng vẫn được đến thanh tra các phòng thí nghiệm và nhà máy thanh lọc nguyên tử của Iran.

Thiết tưởng cũng nên nhắc lại từ năm 2006, sau khi hồ sơ về vụ nguyên tử của Iran được đệ trình Hội Ðồng Bảo An LHQ, Iran chỉ giới hạn sự hợp tác của họ với quốc tế trong Hiệp ước Cấm sự lan tràn của Vũ khí Hạt nhân. Ðến năm nay từ hồi đầu tháng 6, Hội đồng Bảo An LHQ ra lệnh trừng phạt Iran đến đợt thứ 4 về Chương trình Nguyên tử của nước này. Sở dĩ có lệnh đó là vì Iran đã không chịu ngưng việc thanh lọc chất uranium. Như mọi người đã biết công cuộc thanh lọc này tạo ra hai loại nguyên liệu: uranium để chạy máy tạo ra điện và uranium để làm bom nguyên tử nếu thanh lọc uranium đến độ cao.

Ðến thứ Ba tuần này Iran đã phải đổi giọng và nói sẵn sàng nói chuyện lại với Cơ quan Nguyên tử năng quốc tế theo sự gợi ý của Pháp. Nước Pháp cho đến nay đã 4 lần biểu quyết trừng phạt Iran về âm mưu chế tạo vũ khí nguyên tử. Tổng Thống Pháp Nicolas Sarkozy đề nghị mở cuộc đàm phán giữa Iran và Cơ quan Nguyên tử năng quốc tế, trong đó có đề nghị trao đổi nhiên liệu hạt nhân. Ngoại trưởng Iran Mottaki trong một cuộc phỏng vấn trên đài TV, hoan nghênh đề nghị của TT Pháp và nói: “Chúng tôi tin có những dấu hiệu nghiêm chỉnh do Pháp đưa ra để đưa đến một hành động vô tư”.

Ðiều này trên thực tế cho thấy Iran đã phải lùi một bước vì một lý do dễ hiểu. Iran đang gặp phải những khó khăn kinh tế rất gay go. Trong nội bộ Iran đã có những cuộc biểu tình chống đối lớn và liên tiếp mặc dù đã có những sự đàn áp đẫm máu của bọn Vệ binh Cách mạng và đám “dân quân” làm tay sai của chúng. Ở đây thiết tưởng cũng nên nhìn đến chế độ cai trị của nước này. Tổng Thống Iran Ahmadinejad là người nổi tiếng cho đến nay vì những lời lẽ huênh hoang phách lối đả kích Mỹ và các nước Tây phương, thật ra chỉ là bù nhìn tay sai của bọn Vệ Binh Cách mạng. Chế độ cai trị của Iran sự thật là một chế độ độc tài của một nhóm quân nhân quá khích, chớ không phải là một kẻ độc tài duy nhất như các tên độc tài khét tiếng vào khoảng giữa Thế kỷ 20: Hitler của Ðức Quốc Xã và Stalin của Cộng sản Nga.

Chỗ yếu của Vệ Binh Cách Mạng Iran là chúng không phải một cá nhân duy nhất nắm quyền sinh sát, mà là một tập hợp của một bọn người võ biền cuồng tín, lấy tôn giáo làm cái khiên để che đậy những tham vọng cá nhân của chúng. Nhưng khi đã là một nhóm tham vọng mù quáng, lẽ tất nhiên chúng có sự ghen tị ngấm ngầm lẫn nhau. rút cuộc chỗ yếu nhất của chúng là không tránh được sự tan vỡ. Chúng tôi thiết nghĩ đây là một tấm gương lớn cho các “nhóm” độc tài, độc đảng còn rơi rớt trên thế giới ngày nay.

Riêng đối với Iran, TT Ahmadinejad chỉ là một anh bù nhìn có lẽ cũng muốn thoát ra khỏi cái gông cùm đó, nên rất có thể đang tìm cách thoát ra khỏi sự kiềm chế của Vệ Binh Cách Mạng. Bởi thế Ahmadinejad đã nắm lấy cơ hội đề nghị của Pháp để Iran một mặt giải quyết được vụ phong tỏa kinh tế, một mặt giải quyết được nạn “tập đoàn độc tài” đang lần át quyền hành của một Tổng Thống. Nhưng sẽ là một sai lầm lớn nếu Ahmadinejad âm thầm tự xây dưng một chế độc độc tài cá nhân. Bởi vì dân Iran ngày nay đã thức tỉnh hơn thời xưa rất nhiều, họ sẽ nhân cơ hội này tranh đấu quyết liệt để xây dựng một chế độ tự do dân chủ theo xu thế không thể tránh của Thế kỷ 21.

Cũng vào sáng Thứ ba tuần này, đài TV quốc gia Iran loan báo nước này sẽ gửi một tầu viện trợ đến Gaza mang theo 1,000 tấn đồ viện trợ cho người dân ở đây. Iran coi Israel là kẻ thù không đội trời chung, và cho đến nay vẫn ủng hộ bọn khủng bố Hamas. Có thể chuyến tầu tiếp cứu này sẽ đụng độ vói quân lực Do thái. Theo đài TV Iran thuật lời phát ngôn nhân Adibzadeh, chuyến tầu chở hàng đã khởi hành vào Chủ Nhật trong chuyến đi dự liệu trong 14 ngày. Chuyến tầu được mệnh danh là “Trẻ em của Gaza” chở theo 10 hành khách, trong đó có 5 ký giả, ngoài những thủy thủ trên tầu. Hãy theo dõi chuyến đi này và chúng ta không quên hồi tháng 5, quân đội Israel đã ngăn chặn một đoàn 6 tầu chở đồ tiếp tế của Thổ Nhĩ Kỳ đến Gaza và bắn chết 9 người trên tầu.

Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh




GS Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh: NGUY VÀ CƠ

GS Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh: NGUY VÀ CƠ

Mấy tuần trước, Giáo sư David M. Kennedy dạy lịch sử tại Đại học Stanford, đã nhắc đến từ “nguy cơ” của chữ Hán và tách rời hai chữ “nguy” và “cơ”, để dùng phép ẩn dụ chỉ ra rằng trong hiểm họa cũng có cơ may. Trong lịch sử Mỹ, Franklin. D. Roosevelt (Dân chủ), năm 1920 đã viết một câu nhận định có nhiều ý nghĩa cho đảng ông: “Đảng Dân Chủ không có hy vọng lên cầm quyền, trừ phi đảng Cộng Hòa đưa đất nước đến một thời kỳ suy thoái kinh tế nghiêm trọng”. Mười năm sau, trong thập niên 30, nước Mỹ lâm vào một nạn suy thoái kinh tế nguy hiểm hơn Roosevelt dự tưởng, khiến ngày nay người ta gọi đó là một cuộc “đại suy thoái” của Mỹ. Năm 1933, F. D. Roosevelt được bầu làm Tổng Thống và ông đã từ trần năm 1945 vào giai đoạn chót của Thế chiến II. Ngày nay lịch sử ghi nhận sau TT Lincoln, F. D. Roosevelt là vị Tổng Thống vĩ đại đứng hàng thứ 2 của nước Mỹ.

Từ hơn 80 năm trước, nhận định của Roosevelt đã cho thấy sự tranh chấp chính quyền giữa hai đảng Dân Chủ và Cộng Hòa đã gay gắt như thế nào. Ông đã để lại một bài học quan trọng cho hậu thế: “Hãy tìm sự thỏa hiệp giữa hai đảng để đưa nước Mỹ đi lên, vì chính đảng làm việc cho quyền lợi và hạnh phúc của dân chớ không phải vì quyền lợi riêng tư của đảng”. Thỏa hiệp luỡng đảng hay tinh thần làm việc lưỡng đảng, ai cũng nói được nhưng làm thì rất khó. Bài học của quá khứ ai cũng thích nói, nhưng lịch sử đã cho thấy quá khứ khác với hiện tại, và sẽ còn khác hẳn so với tương lai bởi vì trong chuỗi dài của lịch sử, nếp sống và tư tưởng của người dân tiến hóa hóa mỗi ngày một mạnh. Bởi vậy sự thỏa hiệp lưỡng đảng cần phải đặt trên một căn bản không phải chỉ ký kết một thỏa hiệp nhất thời, mà còn tạo ra một sự “giao ước mới” với người dân (chính trường Mỹ đã có từ gọi là New Deal), để vận động đa số dân chúng ủng hộ. Cái New Deal của đầu Thế kỷ 21 này vỏn vẹn nằm trong một cụm từ duy nhất: “An toàn cho người dân chớ không phải an toàn cho đảng”.

Vậy Tổng Thống Barack Obama ngày nay đã lãnh hội được bài học như thế nào? Và Quốc hội Mỹ đã làm gì để thực hiện sự giao ước xã hội mới với người dân? Ngay sau khi Obama được bầu làm Tổng Thống cuối năm 2008, người ta đã thấy đảng Cộng Hòa lên tiếng chỉ trích như thông lệ, rồi sau các phần tử cực đoan của đảng này đã tổ chức một mặt trận quy mô để chống đối mọi việc làm, mọi quyết định của TT Obama kéo dài trong suốt nửa năm đầu của 2009 mỗi ngày một quyết liệt hơn sau khi đảng Dân Chủ chiếm đa số ở cả hai viện Quốc hội. Nhóm cực đoan này đánh phá mọi chủ trương của đảng Dân Chủ trong các vấn đề đối ngoại, kể cả hai cuộc chiến ở Iraq và Afghanistan, và đặc biệt là các vấn đề đối nội, trong đó quan trọng nhất là tình hình kinh tế và ngân sách quốc gia. Về mặt này phe thiểu số cực đoan có sách lược là cứ phá phách mọi kế hoạch cho bằng được để đến năm 2012 kinh tế vẫn không ngóc đầu lên được là đảng của họ sẽ nắm phần chắc lấy lại được Bạch Ốc trong tay Obama.

Thế nhưng chính nhóm thiểu số này đang làm đảng Cộng Hòa rạn nứt, nhiều đảng viên ôn hòa, có óc cởi mở tỏ ra bực bội với nhóm cực đoan. Đảng Cộng Hòa là đảng bảo thủ, phần lớn những nhân vật quan trọng của đảng đều là những nhà đại tư bản. Những tư tưởng bảo thủ vẫn đáng quý ở một nước như nước Mỹ mới lập quốc có hơn 230 năm, chưa có truyền thống giá trị đạo đức giữ vững cả ngàn năm như các nước khác. Mặt khác chủ nghĩa tư bản đến một mức độ nào đó không phải là xấu, nếu biết tự loại bỏ lòng tham quá trớn và vô trách nhiệm. Tôi nghĩ phần đông người Cộng Hòa sẵn sàng tiếp nhận chủ trương “giao ước xã hội mới” do TT F.D. Roosevelt đề ra.

Nói chung những người Cha tạo ra Hiến pháp để khai sáng Hiệp chúng quốc Hoa Kỳ đã thiết lập một nền trật tự chính trị đặt trên nguyên tắc “kiểm tra và quân bình”. Nguyên tắc này đã có lúc làm tê liệt hệ thống chính trị. Nó cản trở sự thích ứng mau lẹ với những thực tế của những thay đổi về kinh tế và xã hội của con người. Thành ra có khi nó đưa đến một trạng thái mà không một văn bản chính trị nào dư liệu được, đó là sự toa rập tệ hại giữa hiểm họa và cơ hội chủ nghĩa. Nói cách khác đó là nạn song hành của cặp “thí mạng cùi và lòng tham không đáy”.

Vậy Tổng Thống Obama đối phó với tình tình “nguy và cơ” lúc này như thế nào? Ngay lúc chưa hết tuần trăng mật 100 ngày, Obama đã bị các phần tử cực đoan của đảng Cộng Hòa đánh phá tơi bời. Tôi nghĩ một nhà luật học như Obama không ngạc nhiên chút nào trước tình trạng này. Mấy tháng trước, khi một ký giả trên TV hỏi ông có cảm thấy gánh quá nặng vì những cuộc khủng hoảng đang đua nhau đè lên đất nước này hay không, Obama nói “Lúc này đầy hiểm nguy, nhưng cũng đầy khả năng”. Đó là lúc hệ thống chính trị bắt đầu tiến lên một cách hữu hiệu.

Roosevelt thời xưa cũng không có lời phát biểu nào hay hơn thế. Vị Cựu TT vĩ đại của Mỹ đã chủ trương một sự cải cách mà trung tâm điểm là sự an toàn của người dân. Tiếc rằng cuộc Thế chiến II Mỹ lâm vào để đánh nạn độc tài Quốc xã đã khiến Roosevelt không có thời giờ thực hiện cuộc cải cách đó. Thế nhưng muốn được so sánh với Roosevelt, Obama cần được dư luận quần chúng Mỹ phán xét, không phải chỉ riêng việc ông cứu nguy nền kinh tế như thế nào, mà quan trọng nhất là ông đã biết nắm lấy cơ hội để thúc đẩy chúng ta có ý chí vùng lên tự chấn chỉnh và thích ứng với thời thế mới của Thế kỷ 21.

Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh.




Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh: AFGHA:= CHIẾN LƯỢC MỚI

Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh: AFGHA:CHIẾN LƯỢC MỚI

Những quyết định đầu tiên tướng Petraeus ra lệnh sẽ được theo dõi chặt chẽ, không phải bởi dân chúng Afgha mà bởi chính quân đội ngoài mặt trận. Ngay trong buổi lễ tiếp nhận quyền chỉ huy cuộc chiến, ông đã nhấn mạnh sự an toàn của dân chúng tiếp tục là mối quan tâm lớn lao của quân đội. Ông nói khi quân Mỹ và đồng minh NATO cùng với quân đội của chính phủ Afgha mở cuộc hành quân, “mọi lực lượng võ trang phải dùng mọi thủ đoạn để bảo vệ an toàn cho người dân”. Câu nói này có một ý nghĩa ngầm rất quan trọng. Đó là bảo vệ an toàn cho dân tuyệt nhiên không phải bằng cái mạng sống của quân đội.

Trước khi tướng McChrystal tựu chức Tổng tư lệnh chiến trường vào tháng 6 năm 2009, các lực lượng quân đồng minh từ bên ngoài đến đã lỡ tay gây ra nhiều cái chết trong dân chúng cùng với những cái chết của bọn phiến loạn, bởi vì loạn quân đã cố ý dùng dân chúng làm bia đỡ đạn cho chúng. Sau khi tựu chức tướng McChrystal đã thay đổi lệnh hành quân, để dân chúng khỏi chết oan nên số tử vong trong dân chúng đã hạ xuống.

Trong buổi lễ tựu chức trước đám đông tại Đại bản doanh quân NATO, đại tướng Petraeus đã ngợi khen tướng McChrystal như sau: “Những tiến bộ thực hiện được trong mấy tháng qua – trước quân thù luôn luôn liều mạng – là kết quả của sự sáng suốt, nghị lực và quyền chỉ huy. Petraeus còn nói nhiều người đã làm việc cực nhọc dưới quyền chỉ huy của tướng McChrystal trong chiến lược chống phiến loạn. Vậy từ nay chiến lược mới của Petraeus như thế nào? Ở đây thiết tưởng cũng nhắc lại trước đây, khi còn là chỉ huy mặt trận Iraq, Petraeus đã nổi tiếng vì một chiến lược dân quân phối hợp chống phiến loạn và khủng bố, khiến quân Mỹ đã có kế hoạch rút quân bộ chiến ra khỏi nước này vào năm 2011.
Petraeus cũng là người chống lại mọi dư luận hoài nghi hay chủ bại ở chính trường Thủ đô Mỹ. Ông nói chiến tranh Afghanistan ngầy ngật khó khăn, nhưng nhấn mạnh đến những kết quả thực tế: Hơn 7 triệu trẻ em đã được cắp sách đến trường so với con số 1 triệu em từ 10 năm trước đây; trẻ em được chích ngừa nhiễm trùng 70% hay hơn; xây cất thêm nhiều đường lộ mới; kinh tế nở rộ ở nhiều thành phố hay thị trấn. Ông tuyên bố: “Sau nhiều năm chiến tranh, nay chúng ta đã đi đến một thời điểm khẩn trương. Chúng ta cần phải chứng minh cho nhân dân Afgha – và cho cả thế giới
-thấy rằng bọn al-Qaida và nhóm liên minh cực đoan của chúng sẽ không được phép trở lại một lần nữa tái lập các mật khu của chúng ở Afghanistan, để từ đó lại phóng ra các cuộc tấn công đánh vào dân chúng Afgha và tấn công các nước yêu chuộng hòa bình trên thế giới”.

Sáng thứ Hai đầu tuần này, nguồn tin UPI cho biết đại tướng Petraeus đã gửi một bức thư cho quân đội và nhân viên dân sự của Lực lượng Yểm trợ An ninh Quốc tế NATO. Trong thư này Petraeus viết: “Các lực lượng đồng minh ở Afghanistan sẽ không nề hà giết chết, bắt sống hay làm bọn phiến loạn quay đầu trở lại trong khi làm nhiệm vụ bảo vệ dân chúng. Chúng ta không từ nan, không ngại khó khăn, chúng ta quyết đem cuộc chiến đấu đến kẻ thù và chúng ta sẽ tiếp tục làm như vậy”.

Petraeus còn nói với quân sĩ của ông như sau: “Với sự bành trướng của Lực lượng Yểm trợ An ninh Quốc tế NATO và sự tăng trưởng của quân đội quốc gia Afghanistan – với hai thế lực này làm việc chung với nhau – chúng ta sẽ bảo đảm cho người dân Afghanistan “không bao giờ còn bị cai trị bởi những kẻ chủ trương bạo động bừa bãi và bọn cực đoan chủ nghĩa vuợt qua mọi biên giới quốc gia”.

Một tin mới nhất từ Afghanistan cho biết sáng thứ Ba Cảnh sát Bài trừ Ma túy của chính quyền Afgha và các lực lượng An ninh quốc tế đã giết chết 64 người và bắt giam 10 người trong một cuộc hành quân 3 ngày tại tỉnh Helmand ở biên giới ráp ranh Pakistan. Nhà cầm quyền cũng tịch thu được 16,641 kí-lô nha phiến trong cuộc hành quân. Diễn biến này xẩy ra tối Chủ nhật, nhưng đến đầu tuần này chính quyền mới loan báo đầy đủ chi tiết.

Bộ Quốc phòng Afgha loan báo 64 kẻ bị giết đều là bọn “khủng bố”. Trong cuộc hành quân, lực lượng của chính phủ đã giải thoát được 14 người dân bị bọn khủng bố bắt giam. Điều cần lưu ý là nông dân Afghanistan từ xưa vẫn quen trồng ma túy để sinh sống. Số người nghiền ma túy không phải ít. Bọn khủng bố Taliban do al-Qaida huấn luyện và yểm trợ, đã khuyến khích dân miền thôn dã trồng ma túy, bởi vì chúng lấy nhựa nha phiến ngầm đưa ra nước ngoài bán lấy tiền. Tiền đó chúng dùng để mua chuộc dân chúng và cũng là quỹ tổ chức các cuộc đánh bom tự sát hay các trận đánh du kích phá hoại an ninh trật ở các thị trấn, thành phố ở nước này.

Chúng tôi thiết nghĩ cuộc chiến lâu nhất do Tổng Thống Bush khởi sự từ năm 2001 có hy vọng sẽ kết thúc trong một thời gian ngắn với chiến lược của tướng Petraeus. Chiến lược chỉ là lý thuyết, kết quả của một sự suy tư của con người. Suy tư là do trí tuệ trong bộ óc mà có, bởi vậy tôi nghĩ đến luật tiến hóa chung cho cả nhân loại. Ở đâu có con người là có bộ óc tiến hóa, nó không dậm chân đứng lỳ một chỗ, mà với thời gian nó sẽ tiến ngày một nhanh hơn trước. Đánh họa khủng bố là phải đánh bằng bộ óc.

Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh




Chủ đề thay đổi

CHỦ ĐỀ THAY ĐỔI


Trong năm đầu tiên đến định cư ở Mỹ, nhà báo Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh đã viết bài quan điểm này. Chúng tôi nhận thấy bài viết có nhũng điểm phù hợp với tình hình cuộc tranh cử ở Mỹ năm 2008, cũng như những vấn đề đổi mới của các chế độ Cộng Sản trên thế giới, từ Nga cho dến Việt Nam trong cả chục năm qua. Bởi vậy chúng tôi đã xin phép được đăng lại bài báo nay. LTS.

 

 

“Thay đổi” có vẻ là từ ngữ của thời đại, Nói đến thay đổi ai cũng thích, ai cũng đòi thay đổi, đôi khi chẳng cần biết thay đổi cái gì, hay thay đổi thế nào. Có lẽ trừ những người đã cằn cỗi, muốn giậm chân tai chỗ cho qua ngày, trừ những kẻ chỉ muốn ôm lấy vinh quang, tưởng tượng hay có thật của quá khứ để mà sống, hầu hết mọi con người bình thường đều muốn có thay đổi với ước vọng muốn thấy một ngày mai hơn hẳn hôm nay. Còn gì khích lệ hơn cho tiến bộ và phát triển bằng một nềm tin vững chắc là tương lai nhất định sẽ rực rỡ và huy hoàng hơn hiện tại.

 

Trong cuộc tranh cử tổng thống Mỹ năm 1992, chủ đề tranh cử gồm hai chữ đơn giản là “thay đổi” đã có vẻ gần như một phép lạ huyền diệu, bởi vì nó đã làm cho tòa Bạch Cung đổi chủ. Một khi cuộc sống trong hiện tại chỉ toàn những khó khăn chật vật, những thất vọng và bất mãn, sự đòi hỏi thay đổi để mong tìm một cái gì tốt đẹp hơn cũng chỉ là phản ứng tự nhiên của người dân. Ngay tại đất nước Việt Nam của chúng ta, những đợt sóng đòi hỏi như vậy đã cuồn cuộn dâng trào từ bao lâu nay, mỗi ngày một mạnh, mỗi ngày một rõ rệt hơn, và ngay chính tai Liên Sô và các nước Đông Âu trong đầu thập kỷ này, những đợt sóng đó đã đánh gục những chế độ đàn áp khắt khe nhất.

 

Nhưng nếu nói rằng đòi hỏi thay đổi chỉ là nhu cầu tùy lúc của con người thì thật không đúng lắm. Thật ra nhu cầu thay đổi là một trong những bản năng tiềm ẩn của con người và đó cũng là lý do tại sao con người đã sinh tồn được cho đến ngày nay. Vì thế chính những người có cuộc sống no đủ mãn  nguyện với hiện tại của mình, cũng vẫn có ẩn núp trong tiềm thức của mình một nhu cầu thay đổi.

 

Sự thay đổi có những ý nghĩa trọng đại như vậy, nhưng có điều là từ ngữ “thay đổi”, thường khi bị bóp méo và đã bị lạm dụng khá nhiều. Thay đổi không có nghĩa là “có mới nới cũ” như câu tục ngữ châm biếm của người bình dân Việt Nam dùng để mỉa mai những kẻ tham lam, và lại được những kẻ cổ hủ lạc hậu ngày nay lợi dụng dể chỉ trích những đầu óc cầu tiến.  Đồng thời hai chữ “thay đổi” cũng bị lạm dụng và lợi dụng khá nhiều trong thời buổi chính trị phức tạp như trong những năm gần đây.

 

Những người Cộng Sản là nạn nhân đầu tiên của các đợt sóng đòi hỏi thay đổi. Năm 1985, khi ông Mikhail Gorbachev lên cầm quyền ở Liên Sô, những người Cộng Sản đã phải nhìn nhận có một cái gì không ổn trong cái khung giáo điều cứng nhắc ý thức hệ của họ rồi. Thật ra trước đó nhiều năm, những lý thuyết gia sáng suốt của Cộng Sản cũng đã đánh hơi thấy mối nguy đang tiềm ẩn đe dọa đến cỗi rễ lý tưởng của họ, khi mà tri và thức của người dân bị trị đã phát triển mạnh đến độ tức nước vỡ bờ, không có sức mạnh nào cản nổi. Nhưng thời đó, phe giáo diều cứng nhắc còn ngự trị, ai dám hở môi? Kẻ mới manh nha một chút như  Khruschev đã bị tặng ngay nhãn hiệu “xét lại” và bị lật nhào, còn giữ được mạng sống là may. Điều đáng chú ý là kẻ tố cáo Khruschev dữ dội nhất thời đó lại là bọn lãnh đạo Trung Cộng, những người giáo điều ù lỳ nhất dưới trướng của Mao Trạch Đông, có lẽ vì phe giáo điều Trung Cộng còn được bện thêm một cái vỏ thép cứng hơn nữa, rất khôi hài trong ý thức hệ Cộng Sản về vô sản quốc tế là : “sự tự mãn dân tộc tính”, đại khái với quan niệm “tư tưởng Mao-ít còn hơn cả tư tưởng Lê-nin-nít”. Nhưng cũng có thể con cháu của Đức Khổng Phu Tử, quen với ý niệm hình nhi thượng học sâu sắc từ mấy ngàn năm nay, đã nhìn thấy rõ cái nguy của sự thụt lùi, dù chỉ có nửa bước của cái gọi là xét lại đó. Nói một cách nôm na là dân Á Đông đã “thâm” hơn dân da trắng phổi bò của Tây Phương vậy.

 

Dù sao, khi ông Gorbachev lên cầm quyền là thời cơ đã chín mùi để ông mở cái khoá miệng và xác nhận cần phải có sự thay đổi. Nhưng ông đã làm thế nào ? Đây là điểm khôi hài nhất: Ông vừa làm….. vừa run. Có thể ông là người có lý tưởng hơn, nên ông sợ rằng thay đổi có thể làm sụp đổ luôn cái lý tưởng Cộng Sản mà ông muốn cứu vãn cho bằng được. Nhưng cũng có thể ông chỉ là một người như mọi người khác, nghĩa là ông sợ cho cái mạng sống của ông. 

 

Bởi vậy ông đã lợi dụng khát vọng đòi hỏi thay đổi của người dân, bóp méo đi một chút để vừa giữ ý thức hệ, lại vừa giữ được mạng sống của mình. Ông đưa ra chủ trương Glasnot và Perestroika. Theo tiếng Nga, hai chữ đó chỉ có nghĩa là “cởi mở” và “tái cấu trúc”. Cởi mở cũng như mở cửa thêm cho rộng ra để căn nhà Cộng Sản chủ nghĩa khỏi tối tăm, u uất và… rùng rợn như trước nữa, và tái cấu trúc xây lại một vài bức tường, mở thêm vài căn phòng để cho nó hấp dẫn hơn. Tóm lại ông muốn thay đổi, nhưng căn nhà vẵn còn là căn nhà chớ không phải đem phá nó đi, đào cả móng lên và xây căn nhà khác.

 

Người ta đã thấy kết quả của ông. Điều thú vị nhất là chỉ mới mở thêm cửa ra đôi chút và phá đi một bức tường nhỏ mà căn nhà đã sụm luôn. Và điều thú vị hơn nữa cho chính bản thân ông  Gorbachev là ông giữ được mạng sống nhờ cuộc thế đã đổi thay, thế giới đã biến chuyển. Nếu như ông làm việc đó dưới thời Stalin thì chưa kịp trở tay, hồn ông đã du Địa phủ. Hoặc nhẹ nhàng hơn như dưới thời Brejnev, ông đã đi lãnh một chức giám đốc một nông trường tập thể gồm mấy trăm con bò chết đói ở một xứ xa xôi hẻo lánh nào đó trong vùng băng tuyết ở Siberia.

 

Trong số những người Á Đông theo con đường “ngon cờ Mác-Lê bách chiến bách thắng”, ngoài những người Cộng Sản Trung Hoa, rất thâm và độc như những ông quân tử Tàu… Cộng, tất nhiên chúng ta không thể quên những nhà Cộng Sản Việt Nam, cũng rất khôn nhưng không ngoan, nghĩa là cái khôn vặt, khôn láu cá của những dân cờ bạc bịp, cái trí trá tiểu xảo sặc mùi anh lý trưởng với cái nhìn không vượt ra ngoài được lũy tre xanh của làng xóm nhỏ. Vì thế khi các bậc đàn anh Liên Sô bắt buộc phải đi nước cờ Glasnot và Perestroika, ở Việt Nam, ban lãnh đạo Cộng Sản cũng đưa ra một từ rất kêu, nhưng lại rất mập mờ đánh lận con đen là “đổi mới”.

 

Thế nào là đổi mới và đổi mới cái gì, kết quả ra sao ? Trong một dịp khác có lẽ chúng ta cũng nên nhìn kỹ hơn cái trò hề bịp bợm của lá bài đổi mới này. Nhưng ở đây chúng ta chỉ ngắn gọn trong ba chữ “vẫn như cũ” . Thật ra đề tài đổi mới đã được bàn cãi nhiều trong mấy năm qua, nhưng chỉ ở trong giới những người Việt sống ở hải ngoại mà thôi, còn ở trong nước đây là một đề tài tối kỵ, đụng vào nó là có thể đưa bạn vào bóng tối vĩnh viễn hay có thời hạn với cái mũ chụp quen thuộc như phản động hay gián điệp…trừ khi bạn nói đúng theo chiều hướng mà đảng đã quy định. Ý nghĩa và chiều hướng đổi mới theo sách vở của đảng chỉ là không thay đổi gì hết. Đổi mới chính trị ư ? Đây chính là màn lừa bịp dài dài, thay đổi vài lớp lang, hoán chuyển một vài diễn viên chóp bu, biểu diễn thêm một vài trò khác về hiến pháp gọi là bầu cử Quốc hội. Ở vào thời đại dân trí tiến triển như thế này, mà lại đem cái trò tiểu xảo ra dùng như bọn tổng lý ngày xưa để mà mắt dân đen thì thật nực cười. Và còn đem cái trò bịp bợm nhà quê đó để lường gạt quốc tế thì còn gì khôi hài hơn nữa.

 

Còn đổi mới kinh tế thì sao ? Đây là một hành động theo nhu cầu. Khốn thay nhu cầu đó không phải là của dân, mà là của đảng, để cứu nguy cho đảng đang tụt dốc nguy hiểm và nhất là để giữ lại quyền lực thống trị trong tay một thiểu số. Thành ra công cuộc đổi mới kinh tế của đảng Cộng Sản Việt Nam rút cuộc tạo ra một hình ảnh cũng tức cười chẳng kém : Đó là hình ảnh một lũ kiến bị hun nóng ở phía dưới, đang chạy loạn xạcuống cà kê lên. Mở cửa, đi theo kinh tế thị trường, gọi vốn ngoại quốc đầu tư, nghe thì thật đẹp thật hấp dẫn, nhưng thực tế thì mọi suy tư mọi hành động đều lẩn quẩn ở trong một cái vòng tròn có đến hai lần vạch ngăn chặn lại, không thoát ra ngoài được, chẳng khác nào một con quỷ bị hai cái vòng phù thủy cản lối, cứ đụng đầu thì phải dội lại.

 

 Cái vòng đai thứ nhất bằng thép, đó là giáo điều của ý thức hệ. Cởi mở kinh tế mà đụng phải những điều cấm kỵ của ý thức hệ Cộng Sản là phải dội lại. Cái vòng đai thứ hai, tuy không làm bằng thép nhưng nó kiên cố vô cùng: Đó là sự sợ hãi. Mở cửa ra quá trớn, ngộ lỡ phản động nó về, ngoại quốc nó đến lũng loạn, gián điệp nó vô nó xúi giục tạo loạn lật đổ thì sao ? Mọi ý chí đổi mới đụng đến chỗ này là bị co vòi lại. Thật đúng như kiểu con kiến mà leo cành đa, leo phải cành cụt leo ra leo vào..!

   

     Nhìn qua một vài cố gắng gọi là thay đổi đó, không phải để phán đoán hay chỉ trích làm gì cho mất công, mà thật ra để tìm một vài luận cứ cho chủ đề thay đổi của chính chúng ta. Có thể đó là những kinh nghiệm, những cái gương tầy liếp để suy nghĩ đến nhu cầu thay đổi.
  

     Thay đổi trước hết là phải thành thật. Thành thật với người và thành thật với chính bản thân chúng ta. Chúng ta thay đổi không phải vì quyền lợi của cá nhân chúng ta hay của một tập thể nào, mà vì quyền lợi của toàn dân và của đất nước chúng ta.


     Thay đổi là phải can đảm. Không phải dễ dàng gì mà con người có thể dứt khoát từ bỏ được những thành kiến, những tập quán cũ để đi tìm cái mới. Phải có can đảm mới dám từ bỏ được sự an toàn của hiện hữu, dù cho cái hiện có cũng chẳng được thỏa mãn lắm, để đi vào một con đường mới có ít nhiều may rủi. Nhưng thay đổi cũng không phải là nhắm mắt nhẩy vào một cái hố hư không, vô đáy. Với kiến thức cao, với sự suy tính kỹ càng, với sự góp ý để đi tới đồng thuận trong bài toán gồm nhiều ẩn số mà chúng ta đi vào, chúng ta có thể tăng cường rất nhiều xác suất “may” và giảm thiểu đến tối đa cái rủi.


     Thay đổi là phải dứt khoát với quá khứ. Ở đây có thể có sự hiểu lầm, cần xác định cho rõ. Chúng ta không thể ôm lấy quá khứ để mà sống, nhưng chúng ta cũng không nên quên rằng quá khứ có những bài học không thể quên, nhất là có những cái gốc mà bất luận cuộc đổi thay như thế nào, chúng ta cũng phải giữ cho bằng được.


     Cái gốc đó là đất nước chúng ta với ngàn năm uy linh sông núi, là dân tộc với những truyền thống cao đẹp về đạo nghĩa mà ông cha chúng ta để lại.


     Cái gốc đó là lý tưởng của chúng ta, Lý tưởng dân tộc chủ nghĩa, quyết tâm phục vụ cho nước cho dân với một tinh thần ái quốc mãnh liệt.


     Sau hết, chúng ta còn có những cái rễ vô cùng quan trọng để từ đó bắt nguồn cho mọi tư tưởng và hành động của chúng ta. Đó là tinh thần cách mạng. Các đảng phái quốc gia hiện nay hay sau này dù có biến thiên đi để trở thành những chính đảng hay những đoàn thể khác có tính chất tập hợp quần chúng, cũng không nên quên rằng chúng ta đãbắt nguồn từ những đảng cách mạng, hoạt động trong bóng tối trong thời kỳ chống thực dân và chống Cộng Sản. Tinh thần cách mạng là gì,  nếu không phải là tinh thần trách nhiệm quả cảm, hy sinh, chịu đựng, để thực hiện cho bằng được lý tưởng của chúng ta.

 

    Vậy thì thay đổi bắt đầu từ đâu ? Bắt đầu từ chính chúng ta, từ mỗi người chúng ta.

 

Ngày 30 tháng 11 năm 1992

Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh.    


      

 

 

 

 

 

                   

                                                                                                                                                           

  

 




GS Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh: BIÊN CƯƠNG MỚI

GS Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh: BIÊN CƯƠNG MỚI

Trong suốt tuần qua, Trung Quốc đã gặp khó khăn lớn ở Tân Cương vì vụ nổi loạn của dân thiểu số gốc Hồi tại tỉnh này khiến có 180 người chết và 1,680 người bị thương. Ðến đầu tuần này Cảnh sát Trung Quốc lại bắn chết thêm 2 người Hồi và 1 người bị thương, tình thế rất gay go. Tên gọi là Tân Cương tức “Biên giới mới” đã được đặt ra năm 1949 khi quân Cộng Sản Tầu chiếm toàn thể Hoa lục, khiến chính phủ Trung Hoa Quốc dân đảng phải di tản ra đảo Ðài Loan. Tân Cương chiếm một vùng đất rất rộng lớn phần lớn là núi non hiểm trở ở phía Tây Hoa Lục, biên cương chạy dài từ Tây Bắc giáp Mông cổ, xuống đến ranh giới các nước Trung Á như Kazakhstan, Kyrgystan. Kế đó là vùng Tây Nam có khu Tự trị Tây Tạng, giáp ranh giới các nước Afghanistan, Pakistan và Ấn Ðộ. Ngày nay Tân Cương đã trở thành một vùng kinh tế trù phú vì ở dưới vùng núi này có nhiều mỏ dầu lửa. Ngoài ra phong trào du khách đến miền này đã phát triển mạnh, khiến Urumgi, thủ phủ Tân Cương – phía Bắc gần biên giới Mông Cổ – đã trở thành một đô thị hiện đại, với những tòa nhà chọc trời. Hiện nay kỹ nghệ dầu khí của Tân Cương đem về cho Bắc Kinh mỗi năm 61 tỷ đô-la Mỹ, một trong những ngành kỹ nghệ tiến mau nhất của kinh tế Trung Quốc.

Ở Tân Cương từ xa xưa vẫn có nhiều sắc dân thiểu số vùng Trung Á sinh sống, nhưng có một sắc dân gọi là tộc Uighur (đọc theo âm Việt là uây-ghơ) được thế giới sớm biết đến nhiều nhất, vì sắc tộc này sống trên con đường bộ do Marco Polo (Thế Kỷ 13) tìm ra để từ Venice (Ý) giao thương với các nước Trung Á. Tộc “uây-ghơ” theo đạo Hồi từ thế kỷ 7, có điểm đặc biệt là cho đến nay vẫn cách biệt với sự phát triển của Hồi giáo ở Trung Ðông, để giữ được bản sắc hiền lành theo dân tộc tính của họ. Người Trung Hoa thời cổ đã biết đến sắc tộc này khi có con đường “Tơ lụa” giao thương với người Âu châu, nên gọi đó là dân “Hồi” (chữ Hán có nghĩa là trở về), có lẽ đó là những người đã bỏ vùng núi khô cằn ra đi kiếm ăn, nay trở về sống trên đường Tơ Lụa để làm ăn với khách buôn giầu có từ bên ngoài đến. Khi người Tầu thấy họ làm lễ tôn giáo một cách khác các tôn giáo thời đó ở bên Tầu, nên cũng gọi luôn tôn giáo đó là “Hồi giáo” cho tiện.

Tôi đặc biệt muốn nhấn mạnh đến chữ Hồi giáo ở đây, vì từ lâu bao lâu nay tôi vẫn thắc mắc tại sao báo chí Việt ngữ vẫn dùng chữ Hồi giáo để gọi tôn giáo Muslim hay Islam do Ðấng Tiên tri Mohammed thành lập vào Thế kỷ 7 ở Á rập, Trung Ðông. Nguyên nhân chính là vì vào thời điểm trước khi văn hóa Pháp tràn vào Việt Nam đầu thế kỷ 18, các bậc tiền nhân của chúng ta vẫn dùng chữ Hán Nôm để tìm hiểu về thế giới bên ngoài. Bởi vậy khi thấy Hán tự dịch Muslim là đạo Hồi, nên cũng gọi đó là đạo Hồi. Ðến nay trong ngôn ngữ dân gian Việt Nam vẫn có chữ đạo Hồi. Người Tầu gọi cả Pakistan là Hồi Quốc, tiếng Việt vẫn quen dùng tên nước đó như vậy, trong khi trong chữ Pakistan không có gì dính đến tôn giáo, mặc dù đa số người Pakistan cũng theo đạo Hồi. Tôi nghĩ các học giả Việt Nam ngày nay cũng nên sửa chữa lại tên gọi của một số các địa danh ngoại quốc khác bằng những chữ thế giới thường dùng, thay vì dùng theo âm Hán tự, thí dụ như Hoa Thịnh Ðốn, Ba Lê, Luân Ðôn v.v… như thời cổ.

Hãy trở lại câu chuyện “Biên Cương Mới”. Khu Tân Cương do Cộng sản Tầu đặt ra từ năm 1949 đã làm bộc lộ rõ ý đồ thâm độc của chủ nghĩa “bành trướng Bắc Kinh”. Nước Trung Hoa có dân số đông nhất thế giới, sinh sản mau lẹ, nên bắt buộc phải mở rộng bờ cõi từ thời buổi xa xưa nhất của lịch sử. Hiện nay dân số Trung Quốc có 1 tỷ 318 triệu người, người gốc Hán chiếm 92%, còn 8% là những gốc dân thiểu số đủ loại. Dân gốc Hán nhiều như vậy, nhưng lại sống đông đúc nhất ở một dải đất ở miền Ðông Hoa lục, kéo dài xuống theo bờ biển Ðông Hải. Diện tích toàn thể Trung Quốc kể cả các khu tự trị dân thiểu số như Nội Mông, Tân Cương và Tây Tạng, tính chung là 9,572,900 cây số vuông. Bản đồ cho thấy rõ các khu tự trị này chiếm hơn một nửa diện tích toàn thể lãnh thổ, phần còn lại là vùng của dân gốc Hán.

Chế độ Cộng sản Tầu hiện nay chủ trương bành trướng lãnh thổ cho dân Tầu – hiện đã bằng 1/5 dân số cả thế giới – để có đủ đất sống và sinh sản thêm nữa. Nhưng Bắc Kinh khôn ngoan giở trò “bành trướng thầm lặng” bằng cách cho dân gốc người Hán (tức người Tầu) di dân thật nhiều qua các lãnh thổ láng giềng mà họ đã chiếm, gọi là khu “tự trị” nhưng do chính quyền Trung ương trực tiếp cai trị, chẳng khác gì một tỉnh Trung Quốc. Người ta đã thấy hình ảnh khu gọi là “tự trị” Tây Tạng. Khi người gốc Tầu đông hơn người gốc bản xứ, khu tự trị sẽ biến thành một tỉnh Trung Quốc. Tôi nghĩ những nước láng giềng của Trung Quốc có tinh thần dân tộc mạnh đã nhìn thấy rõ ý đồ của Trung Cộng, nên dân chúng phải đề phòng. “Biên cương mới” là bài học cho dân tộc Việt Nam.

Tân Cương hiện nay có tổng số dân là 20 triệu người kể cả dân Tầu, trong đó chỉ có 8 triệu người sắc tộc “uây-ghơ”. Thủ phủ Urumqi đông dân cư nhất có 1.3 triệu người, nhưng đại đa số là dân Tầu thứ thiệt, còn dân bản xứ “uây-ghơ” đã bị gạt ra ngoài rìa thành phố, bởi vì thương gia Tầu Cộng đến đây định cư, dùng tiền bạc mua hết đất ở thành phố. Ngoài Urumqi, tình hình các thành phố khác ở Tân Cương cũng tương tự, chẳng hạn thành phớ lớn thứ hai của Tân Cương là Kashgar và nhiều thành phố nhỏ hơn ở phía Nam cũng có loạn. Trong hơn một tuần qua hàng chục ngàn Cảnh sát mặc áo giáp, nón sắt, võ trang súng liên thanh và cả quân đội chính quy Trung Quốc đã ùn ùn kéo vào Urumqi và các thành phố khác của Tân Cương. Nhà cầm quyền Trung ương ở Bắc Kinh đã đặc biệt cho những hình ảnh đó chiếu trên TV để cảnh cáo các khu vực khác trong nước, đồng thời cũng cho thế giới biết để quy lỗi cho người sắc tộc thiểu số đã nổi loạn đánh phá và giết chóc những người gốc Hoa lương thiện đến làm ăn buôn bán.

Bất chấp sự đàn áp của Cảnh sát võ trang Tầu, phong trào đòi độc lập của dân thiểu số Tân Cương vẫn tiếp tục. Trong thập niên 90, với sự sụp đổ của Liên Sô, phong trào Hồi giáo ở Trung Á đã gia tăng sức mạnh, tinh thần độc lập dân tộc ở các nước Trung Á mỗi lúc một cao. Ngoài ra những người gốc “uây-ghơ” hiện di tản khắp mọi nơi trên thế giới, họp thành những khối nhỏ cũng đã biểu tình kêu gọi sự chú ý của công luận về những vụ đàn áp dã man của Quân đội và Cảnh sát Tầu ở Tân Cương. Mục tiêu của Bắc Kinh là bành trướng lãnh thổ để dân gốc Hán của họ có đủ đất sống, nhưng khi họ chủ trương tiêu diệt văn hóa và ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số, họ đã phạm phải một sai lầm nghiêm trọng.

Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh




Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh: Tính Sổ Chiến Tranh

Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh: Tính Sổ Chiến Tranh

Nước Mỹ đã mắc phải hai cuộc chiến ngay từ lúc khởi đầu Thế kỷ 21, đến nay vẫn kéo dài suốt 10 năm chưa dứt, và cuốn sổ nợ chiến tranh đã báo hại nền kinh tế Mỹ, làm lủng túi tiền của người dân và cũng làm mồi cho chủ nghĩa phe đảng muốn lợi dụng mọi cách để hạ dối thủ trong cuộc bầu cử trung hạn sắp tới. Hai cuộc chiến đó là Afghanistan và Iraq. Chúng tôi muốn nhắc lại vài nét lịch sử bởi vì nếu biết rõ được quá khứ, chúng ta có thể hình dung được tương lai phần nào. Câu hỏi đầu tiên được đặt ra là tại sao Mỹ và cả các đồng minh dính vào hai cuộc chiến nói trên. Sau Thế chiến II, có hai nước chiến thắng nổi bật là Hoa Kỳ và Liên bang Sô Viết đã đánh tan phe trục là Ðức, Ý và Nhật. Sau đó LHQ thành hình nhưng điều đáng buồn là Nga Sô đã gây ra cuộc chiến tranh lạnh đưa đến hậu quả là tình hình thế giới trở nên gai góc như ngày nay.

Chiến tranh lạnh do Liên Sô gây ra với tham vọng bành trướng chủ nghĩa Mác-xít khắp hoàn cầu. Cố nhiên Mỹ đã làm mọi cách để chặn đứng sự bành trướng này. Chúng tôi muốn bỏ qua vấn đề Việt Nam vì chúng ta đã biết quá rõ, để trước hết nói đến Afghanistan hợp với thời cuộc hơn. Ðây là một nước Trung Á, nằm giữa Iran và Pakistan xa về phía Bắc, thành ra không có bờ biển Á Rập mà tiếp giáp với Turkmenistan, vốn là một thành phần của Liên bang Sô Viết thời trước. Khoảng năm 1980 giữa thời chiến tranh lạnh, Liên Sô đã cho một số cán bộ Turkmenistan thu nhận những thanh niên từ Afghanistan qua để truyền bá chủ nghĩa Cộng sản.

Nhóm cán bộ Cộng sản Afgha về nước, ngấm ngầm bành trướng, thu thập những người còn trẻ và khi đã có thanh thế nhờ Cộng sản chuyển giúp vũ khí, chúng đã cướp được chính quyền và lập ra chế độ Mác-xít ở Thủ đô Kabul. Thời này cũng là lúc Mỹ chú ý đến tình hình ở Ðông Nam Á kể cả Trung Nam Á. Khi Cộng sản Afgha chiếm được Kabul, Mỹ lập tức liên lạc chặt chẽ với chính quyền Hồi giáo Pakistan cũng đang lo lắng về vụ nước láng giềng Afgha do Cộng sản cai trị. Tình thế bắt đầu đổi khác khi người Hồi Pakistan qua lại biên giới nói chuyện với người Hồi Afgha. Từ thời xa xưa, đối với những người đạo Hồi ở hai bên không có đường biên giới. Nhiều nơi vùng giữa Pakistan và Afghanistan lại là một làng mạc thôn xóm của người Hồi.

Vì thế khi Cộng sản thành hình ở Afgha, dân Hồi bên này và bên kia biên giới đi lại với nhau như đi chợ. Ðó cũng là lúc CIA và biệt kích Mỹ đến Pakistan để bí mật huấn luyện và trang bị vũ khí cho thanh niên Hồi giáo Afgha có mặt tại Pakistan. Năm 1983 đám thanh niên này về nước, bắt đầu đánh du kích chống quân Chính quyền Cộng sản ở Kabul. Hồng quân Sô viết đàn áp dữ dội, dùng trực thăng và đại bác tiễu trừ “loạn quân”. Nhưng loạn quân cũng có vũ khí tối tân, chẳng hạn rốc kết bắn chiến xa hay trực thăng của địch. Hồng quân chịu không thấu, đến năm 1987 quân đội Nga phải rút hết về nước, kéo theo lũ cán bộ Cộng sản cao cấp Afgha. Và trớ trêu thay, trong số những thanh niên Hồi giáo đánh đuổi Cộng sản Nga, không phải chỉ có những thanh niên Hồi giáo Afgha mà còn có nhiều thanh niên Hồi giáo ở Trung Ðông lén lút qua để tình nguyện đánh Nga cứu đạo Hồi. Trong số những người đi học môn du kích Mỹ lúc đó có một chàng trai tên là Osama bin Laden.

Hãy trở lại Thế kỷ 21 với Tổ chức Khủng bố có tên là al-Qaida. Vào năm 2001, bọn khủng bố đã cướp một phi cơ chở khách ở Mỹ rồi dùng phi cơ đó lao vào tòa nhà Trung Tâm Thương mại Thế giới ở New York gây ra một vụ khủng bố khủng khiếp chưa từng thấy. Hôm sau một ông già xuất hiện trên màn hình TV nói tổ chức đánh bom là al-Qaida do ông ta huấn luyện. Ông già đó chính là Osama bin Laden. Vào tháng 10 năm 2001, TT George W. Bush ra lệnh quân Mỹ tấn công, đổ bộ vào vào Afghanistan để truy lùng bin Laden và đồng bọn là Taliban nhưng không có kết quả. Ba năm sau TT Bush ra lệnh quân Mỹ đổ bộ vào Iraq đánh tan chính quyền của Saddam Hussein vì lý do tên độc tài này có vũ khí giết người hàng loạt (tức bom nguyên tử), nhưng tin tình báo đã sai. Dù vậy Saddam Hussein cũng bị kết án tử hình và bị thắt cổ chết.

Hai cuộc chiến kéo dài đến nay mà vẫn chưa thấy ánh sáng ở cuối đường hầm. Bây giờ là lúc tính sổ chiến tranh. Chiến tranh càng dài sổ nợ càng lớn. Nợ ai vậy? Tiền bạc không phải từ trên trời rớt xuống mà do người dân đóng thuế để chính quyền có tiền chi dùng và quân bình ngân sách. Nếu không làm được như vậy, người dân sẽ lãnh đủ khi kinh tế suy thoái không cách nào gỡ. Thay vì cứu nguy sự sống còn của người dân, người ta chỉ thấy trên chính trường Mỹ hai phe đối nghịch gia tăng các chiêu thế chính trị càng gần ngày bầu cử càng đánh lớn đến độ “xáp lá cà” để ăn thua đủ.

Ðầu tuần này, TT Obama loan báo chương trình rút quân Mỹ khỏi Iraq để trao trách nhiệm cho chính quyền Iraq, ông nói: “Tôi đã nói rõ vào ngày 31-8-2010 sứ mạng chiến đấu của quân đội Mỹ sẽ chấm dứt”. Vụ rút quân này gồm 50,000 quân, so với số quân 144,000 khi Obama tựu chức. Số quân Mỹ còn lại có nhiệm vụ “cố vấn và yểm trợ các lực lượng an ninh Iraq, bảo vệ các viên chức và các cơ sở của Mỹ, tổ chức các cuộc hành quân chống khủng bố”. Sứ mạng của Mỹ thay đổi từ “Hành quân cho Tự do Iraq” thành “Hành quân Bình minh mới”. Số quân Mỹ lưu lại 50,000 người sẽ rút hết vào cuối năm 2011, như TT George W. Bush đã thỏa hiệp với chính quyền Iraq trước ngày ông Bush rời khỏi ghế Tổng Thống.

Chúng tôi nghĩ quyết định rút quân của TT Obama là điều đáng hoan nghênh. Bởi vì xét theo tình thế hiện nay, việc tiễu trừ khủng bố al-Qaida ở nước nào phải là nhiệm vụ của chính quyền và dân chúng nước đó. Mỹ chỉ có thể yểm trợ bằng mọi cách kể cả không lực, chớ không nên đổ quân vào nước có khủng bố hoành hành, bởi vì làm như vậy bọn al-Qaida hay đồng lõa có thể tố cáo quân Mỹ là ngoại xâm để hô hào dân trong nước nổi lên chống đối.

Riêng về tình hình tranh cử ở Mỹ hiện nay, việc tính sổ chiến tranh đang trở thành những trận đánh giáp lá cà để ăn thua đủ giữa các thành phần chính trị, bất chấp những khó khăn kinh tế do hậu quả của hai cuộc chiến tranh ở Iraq và Afghanistan. Ðó là điều đáng buồn.

Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh




Tạo thành lịch sử

TẠO THÀNH LỊCH SỬ

Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh

 

Kết thúc cuộc vận động làm ứng cử viên Tổng Thống, bà Hillary Clinton đã có một diễn từ rất hay về chính trị, nhưng cũng đầy tình cảm chân thành. Đó là một sự phối hợp tuyệt vời giữa khối óc và con tim. Nhìn hình ảnh trên TV cuộc họp ở Thư viện quốc gia Washington đông nghẹt người, nhiều đợt đứng lên vỗ tay hoan hô vang dậy, tôi có cảm tưởng đây là một cuộc họp chào mừng một ứng cử viên đã thắng chớ không phải một người đã thua. Nhận xét này quá đáng chăng? Ngay lúc đó tôi đã có cảm nghĩ bài diễn từ có nhiều ý nghĩa sâu sắc, đáng chiếm một trang sử nước Mỹ làm gương cho hậu thế. Và 18 triệu phiếu trong đảng Dân chủ đã bầu cho bà Clinton cũng đủ là một sự kiện lịch sử. Bà chỉ kém phiếu Obama có một chút ít mà thôi.

 

Sự thật Hillary Clinton đã tạo thành lịch sử từ 8 năm trước. Bà là vị Đệ nhất Phu nhân đầu tiên trong lịch sử Mỹ sau khi chồng hết nhiệm kỳ ra khỏi Bạch Cung, đã có một sự nghiệp chính trị dân cử. Năm 2000 bà đã đắc thắng vẻ vang làm Thượng nghị sĩ New York . Vậy tại sao bà đã thua trong cuộc đấu với Thượng nghị sĩ Barack Obama? Nhắc lại vài chuyện đã qua không phải vô ích, vì kinh nghiệm của quá khứ là bài học của tương lai. Goliath đã bị David hạ chỉ vì người khổng lồ đã quá coi thuờng chú bé nhóc con. Từ tháng 1-07, khi bà Clinton tuyên bố ra ứng cử Tổng Thống, đa số dân Mỹ quá thất vọng về Tổng Thống Bush, đã mong  sẽ có sự thay đổi. Các poll lúc đó chỉ nhìn đến Hillary để xem ưu thế tiến triển như thế nào chớ không lưu ý đến một ông Obama, lính mới ra lò trong làng chính trị cao cấp ở Washington DC . Nhưng từ đầu năm 2008 mọi người mới té ngửa. Obama không phải tầm thường. Đây không phải là một David chỉ bắn lén một phát mà trúng. Đây là một người có nhiều biệt tài về đấu tranh chính trị, nhất là khoa ăn nói.

 

Cố nhiên việc Hillary chấm dứt cuộc vận động làm ứng cử viên Tổng Thống không có nghĩa là sự nghiệp chính trị của bà đã kết thúc. Theo thiển ý sự nghiệp đó nhờ trận đấu này đã vọt lên cao chưa từng thấy. Trong các ưu tiên bà nêu ra có vấn đề “bảo hiểm sức khỏe” cho tất cả mọi người dân, vì hiện nay hàng triệu người vẫn không có bảo hiểm y tế. Nhưng ý kiến của Hillary quan trọng nhất vẫn là việc xóa sạch dấu vết còn lưu cữu của nạn kỳ thị giới tính và mầu da. Trong các sở làm, lương bổng phụ nữ vẫn kém lương lậu đàn ông, mặc dầu có nhiều trường hợp phụ nữ làm việc giỏi hơn, có nhiều sáng kiến hơn và chuyên cần hơn đàn ông. Từ năm 1848 Mỹ đã có phong trào tranh đấu cho nữ quyền, nhưng đến năm 1920 phụ nữ Mỹ mới có quyền đi bỏ phiếu. Sau cuộc chiến tranh Nam-Bắc, Tổng Thống Abraham Lincoln đã ký sắc lệnh giải phóng người da đen khỏi ách nô lệ, nhưng nạn kỳ thị vẫn tiếp tục dai dẳng suốt 200 năm sau. Mãi đến khi nhờ sự tranh đấu quyết liệt của bà Rosa Parks, một phụ nữ da đen năm 1954, người da đen mới được ngồi chung xe buýt với người da trắng. Cũng năm đó trẻ em da đen được học cùng lớp với trẻ em da trắng. Hillary đã kết thúc cuộc vận động làm ứng viên Tổng Thống, nhưng Mỹ vẫn có Phong trào Nữ quyền hiện đại rất mạnh kể cả phụ nữ da mầu vẫn cam kết đứng sau lưng bà.

 

Người ta đã thấy rõ tư cách một người làm chính trị như bà Hillary. Bà ra tranh cử không phải chỉ vì chức vụ vì danh lợi, mà chỉ vì muốn có cơ năng lãnh đạo theo đường hướng mà bà tin là đúng để phục vụ quyền lợi chính đáng của dân của nước. Tháng 5 vừa qua khi thấy Hillary kém phiếu, nhiều ông kể cả các ông da trắng nêu câu hỏi chát chúa: Tại sao Hillary không bỏ cuộc ngay đi cho rồi mà còn tiếp tục đấu với Obama? Câu hỏi thật vô vị, nếu không kiên trì chiến đấu cho đến phút chót, chẳng hóa ra chưa đấu xong đã buông tay đầu hàng, còn gì tư cách một người lãnh đạo? Bây giờ  mọi việc đã rõ rệt. Obama hơn phiếu dù chỉ hơn chút ít, Hillary chính thức tuyên bố kết thúc trận đấu trong nội bộ đảng Dân Chủ chớ không kéo dài đến ngày Đại hội Đảng vào tháng 7. Lý do ưu tiên là tránh cho đảng Dân Chủ khỏi bị chia rẽ thành hai mảnh mà đoàn kết lại để sẵn sàng chờ cuộc đấu với đảng Cộng Hòa tranh chức Tổng Thống vào tháng 11 năm nay. Tuần này khi Hillary cùng chồng và cô con gái đi nghỉ một tuần, một câu hỏi khác lại được đặt ra: Liệu Hillary có đứng chung danh sách ứng cử với Obama làm Phó Tổng Thống hay không? Lúc này còn quá sớm để trả lời.

 

Hai ngày trước lúc tuyên bố ngưng vận động tranh cử, bà Clinton và ông Obama đã họp riêng khoảng một tiếng đồng hồ trong phòng khách tư thất của bà Diana Feinstein. Khi rời khỏi phòng họp hai người đều có bộ mặt tươi cười. Nhưng điều đó không có nghĩa là vấn đề lựa chọn ứng viên Phó Tổng Thống đã giải quyết xong. Chỉ biết chắc là trong diễn từ của bà Hillary dài 30 phút, bà đã nói đến tên ông Obama 14 lần để tuyên bố hoàn toàn ủng hộ ông tranh cử Tổng Thống. Đặc biệt có một câu nói làm tôi suy nghĩ nhiều. Hillary nói: “Trong 40 năm qua đã có 10 lần bầu Tổng Thống nhưng đảng Dân Chủ chỉ trúng cử có ba lần và có hai Tổng Thống. Người đắc cử hai lần làm Tổng Thống 8 năm là người có mặt ở đây với chúng ta hôm nay”. Hillary không nói đến tên ông chồng nhưng toàn thể cử tọa hoan hô vỗ tay rào rào.

 

Hillary cười nói tiếp: “Chúng ta đã đạt được những tiến bộ kỳ diệu trong thập niên 90 dưới quyền một ông Tổng Thống Dân Chủ, bây giờ chúng ta hãy hợp tác giúp Barack Obama làm Tổng Thống sắp tới của chúng ta”. Bà không hề nói bà có thể nhận lời làm ứng viên Phó Tổng Thống trong danh sách của Obama, bởi vì vấn đề lựa chọn một ứng viên Phó Tổng Thống rất phức tạp. Nhưng dù bà có đứng chung danh sách hay không, hoài bão chính trị của bà vẫn cao. Bà nói: “Nếu chúng ta đã phóng được 50 phụ nữ lên không gian quỹ đạo vòng quanh Trái Đất, lẽ nào rồi đây chúng ta không phóng được một phụ nữ qua ngưỡng cửa phòng Bầu dục Bạch Cung”. Tôi nghĩ “chúng ta” ở đây bà muốn nói đến các ông. Bởi vì các ông, nhiều người ở ngay trong đảng Dân Chủ, khi phải chọn môt nữ ứng cử viên Tổng Thống đã ngần ngại vì cho rằng một bà lên làm Tổng Thống tức Tổng Tư Lệnh Quân đội nghe thật kỳ, liệu có làm nên trò trống gì hay không?

 

Tôi chỉ là một người dân gốc Việt, bỗng nghĩ đến Bà Trưng ở Việt Nam và cả bà Jeanne d’Arc ở Pháp. Các ông làm Tổng Tư Lệnh cho đến nay cũng có ông không làm nên trò trống gì mà còn làm khổ cho dân. Bởi vậy tôi xin thưa với mấy đấng đực rựa còn nặng trĩu óc cổ hủ: “Thời nay đã đến lúc phụ nữ vùng lên rồi”.

 

 Bình luận gia Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh




Gs Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh: KỲ THỊ CHỦNG TỘC

Gs Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh: KỲ THỊ CHỦNG TỘC

Nạn kỳ thị chủng tộc là một chương quái đản dài nhất trong lịch sử nhân loại. Nạn này có gốc từ thời xa xưa là thói kỳ thị mầu da khi loài người lan tràn khắp năm châu và có đủ phương tiện giao thông để tiếp xúc với nhau bằng đường bộ và đường thủy vào thời vài thế kỷ trước Tây nguyên. Nhưng loài người nguyên do xuất phát từ đâu? Chúng ta đã biết loài người tiền sử gốc ở Phi châu. Theo các di cốt khảo cổ học tìm được, loài người có trí khôn (homosapiens) đã sinh ra ở vùng ngày nay là nước Ethiopia, cố nhiên đó là người gốc da đen. Khoảng 45,000 năm trước đây, loài người đó bắt đầu từng nhóm kéo nhau di chuyển về phương Bắc. Vùng đất tiên khởi quá nóng, loài thứ dữ quá nhiều, nên họ phải tìm cách thích ứng để sống còn. Họ đi về hướng Bắc khí hậu mát hơn, nhưng lại đụng phải bờ biển Ðịa Trung Hải. Nhưng sau họ tìm được bờ biển Hồng Hải có đường Bắc tiến, dần dần đến một nơi gần kinh đảo Suez ngày nay, họ đã gặp mảnh đất nhỏ nối liền từ Phi châu qua Trung Ðông.

Từ Trung Ðông họ chia ra nhiều chi nhánh, tỏa lên Âu Châu ở phía Bắc và qua Trung Á rồi đến Á châu ở hướng Ðông. Khung cảnh sống khác, khí hậu khác, thực phẩm kiếm được cũng khác nên lâu dần suốt trong mấy chục ngàn năm qua, mầu da họ đổi khác, đó cũng là luật tiến hóa tự nhiên để sống còn. Họ không còn nhớ cái gốc của họ là da đen xuất phát từ Phi Châu. Christopher Columbus tìm ra Mỹ châu vào năm 1492 và trong khoảng thời gian ba thế kỷ sau đó, di dân từ các nước Tây Âu như Anh, Pháp, Ðức, Ðan Mạch…dần dần kéo đến Bắc Mỹ gọi là “Thế giới mới” rất đông để khai khẩn tìm nơi sinh sống. Ðất rộng mênh mông, ở đây vốn đã có những sắc dân thiểu số lúc đó gọi là người Indians, ngày nay chúng ta gọi họ là người “da đỏ”. Cũng trong thời gian này đã nẩy sinh tệ nạn buôn bán người da đen làm nô lệ vô cùng tàn bạo từ Phi châu qua Bắc Mỹ. Người Ðạn Mach thời đó là nhóm người cầm đầu nạn buôn nô lệ. Cùng thời các nước văn minh lớn như Anh và Pháp đều đã có thuộc địa ở vùng ven biển Phi Châu. Các tay buôn bỏ tiền ra mua người hay bắt người da đen ở các vùng rừng rậm đói khổ, rồi cùm lại, bỏ xuống hầm tầu như chở các thú vật để đem qua “tân thế giới” bán cho dân da trắng định cư ở đó. Những nô lệ nổi loạn đều bị bắn chết, quẳng xác xuống biển. Các kẻ da trắng buôn nô lệ tàn bạo đã phản lại cái gốc thủy tổ của họ ở Phi châu là người da đen.

Về phía di dân lúc đầu có người Tây Ban Nha, sau đó dân Anh và Pháp chiếm đa số. Tất cả các di dân đó đều lập thành những “khu thuộc địa” của nước họ. Ở nước Mỹ ngày nay lúc đầu có các vùng của người Anh và Pháp, nhưng người gốc Anh đông hơn nên sau cuộc chiến tranh ngắn, người gốc Pháp rút về Canada ở phía Bắc, còn ở phía Nam chính quyền thuộc địa Pháp rút xuống Mexico. Ở nước Mỹ, vì bất mãn với chính quyền thuộc địa Anh quốc, di dân gốc người Anh đã nổi lên làm Cách mạng năm 1775, đưa đến bản Tuyên ngôn Ðộc lập năm 1776. Chính quyền liên bang Mỹ độc lập bắt đầu từ đây. Kế đó đến thời Tổng Thống Abraham Lincoln (1861-65), ông đã chủ trương cấm nô lệ khi đưa ra Tu chính án 13 được chấp thuận năm 1865. Sự kỳ thị mầu da là trái luật, nhưng cũng giống như sự kỳ thị sắc tộc vẫn còn phảng phất trong dân chúng trong nhiều năm qua.

Bây giờ thì sao? Nước Mỹ đã có một vị Tổng Thống đầu tiên gốc da mầu. Hai tuần trước, Tổng Thống Barack Obama đi thăm Phi châu. Obama có người cha gốc da đen ở Kenya, người ta đã tưởng ông về thăm quê nội. Bất ngờ ông đã đến thăm nước Ghana ở bờ biển Tây Phi. Ghana là một nước dân chủ nhỏ, nhưng ở đây có một đền Tưởng niệm những người da đen đã chết vì nạn mua bán nô lệ. Thời xưa Ghana là nơi tập trung những nguời bị bắt làm nô lệ từ nhiều nơi ở Phi châu đem đến, chờ đưa xuống tầu. Những cảnh đánh đập dã man, có khi làm chết người đã xẩy ra. Các con tầu chở nô lệ vượt biển đến gần Mỹ châu đều ghé đảo nhỏ St Croix thuộc nhóm đảo Virgin trong biển Caribbean gần Puerto Rico. Các đoàn người nô lệ bị trói đưa lên bộ, vào nhà tù ST Croix để cùm hàng tuần hàng tháng, chờ khách hàng đến trả tiền mua nô lệ đem vào đất liền bán cho bọn di dân ở Mỹ. Nhiều người da đen đã chết vì đói, vì bệnh thê thảm ở địa ngục trần gian này. Bọn cai tù coi họ như súc vật hôi thối nhơ bẩn, nên chỉ bồng súng đứng xa, không thèm hỏi han chi hết.

Chúng tôi nhắc lại một giai đoạn đen tối của loài người, không phải để hận thù những kẻ tham tàn đã mất hẳn tính người mà coi đó như những kinh nghiệm của quá khứ để làm gương cho tương lai. Vậy TT Obama phải làm gì để dứt hẳn các tàn dư của nạn kỳ thị mầu da và sắc tộc? Chúng tôi thiết nghĩ những tàn dư đó không còn quan trọng nữa, trước sau nó cũng biến mất với thời gian. Ðiều cần thiết nhất là phải nhìn đến những giới trẻ, những thế hệ kế tiếp của các sắc dân da mầu, bất luận mầu đen, mầu vàng hay mầu nâu hiện sống trong các cộng đồng sắc tộc ở đất nước này. Chúng ta đã có cái may là được sống ở một nước hiện đại hàng đầu của thế giới, một môi trường tốt nhất để con em chúng ta học hỏi mở rộng kiến thức về mọi ngành mọi mặt. Thế nhưng những cám dỗ để đưa đến sa đọa, mất hẳn tính người cũng không phải ít.

Cuối tuần qua TT Obama đã đưa ra một thông điệp rất đáng chú cho những người Mỹ gốc Phi cũng giống như ông. Một thông điệp đầy tình thương nhưng cũng khá cứng rắn cho giới cha mẹ của những đứa trẻ đang lớn lên. Ông nhấn mạnh họ cần phải thúc đẩy các con em của họ có những suy tư trong sáng và thiết thực để vượt qua khỏi những mộng ảo muốn trở thành những ngôi sao sáng màn bạc, thể thao hay ca nhạc. Nhân dịp kỷ niệm 100 năm của NAACP, nhóm tranh đấu cho quyền công dân lâu đời nhất của người Mỹ gốc Phi, ông kêu gọi người da đen hãy gánh lấy trách nhiệm của chính mình thay vì dựa vào những chương trình của chính phủ. Ông nói người da đen phải lấy lại tinh thần tranh đấu kiên trì về quyền công dân từ nửa bán thế kỷ trước để đối phó với những khó khăn trong cuộc sống hiện nay như không có việc làm, tiền chữa bệnh gia tăng và nạn HIV-AIDS.

Obama nói: “Giáo dục là con đường đưa tới tương lai tốt đẹp hơn. Tôi mong con em chúng ta phải có đầu óc ước mơ trở thành các nhà khoa học, kỹ sư, bác sĩ và giáo sư. Tôi mong chúng ước mơ trở thành ông bà Tòa ở Tối Cao Pháp Viện, trở thành Tổng Thống của nước Mỹ”. Vậy trong một cộng đồng đa chủng, làm thế nào để tránh khỏi sự kỳ thị chủng tộc? Với tư cách một người dân gốc Á, tôi xin trả lời: Ðừng để các chủng tộc khác khinh rẻ chủng tộc của chính mình.

Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh.