Mỹ không để bọn Tàu chệt lộng hành trên Biển Đông

 

Mỹ không để bọn Tàu chệt lộng hành trên Biển Đông


Tái bố trí lực lượng tàu ngầm, một phần trong Kế hoạch Thái Bình Dương của Quân đội Mỹ

Trước sự lớn mạnh không ngừng của Trung Quốc, Ấn Độ cả về kinh tế và quân sự mà theo ông Lawrence Korb, cựu trợ lý bộ trưởng quốc phòng Mỹ và bây giờ là nhà phân tích quốc phòng thì Trung Quốc và Ấn Độ đang nhanh chóng trở thành cường quốc hải quân, cũng như mối đe doạ từ một số quốc gia khác trong khu vực và nguy cơ bất ổn tại khu vực Châu Á, Chiến lược Quốc phòng mới của Mỹ đã có sự chuyển hướng chiến lược rõ rệt từ, coi Châu Á – Thái Bình Dương là chiến trường trọng điểm trong thế kỷ XXI.

Cùng với kế hoạch tái cơ cấu lại quân đội Mỹ tại tại Nhật Bản, Hàn Quốc và Guam, xây dựng Guam thành một trung tâm hải quân, hải quân lục chiến và không quân chính tại Thái Bình Dương, cũng như tăng cường sự hiện diện liên tục của các loại máy bay ném bom chiến lược B-1, B-2 và B-52 và các loại máy bay tiêm kích thế hệ mới, Quân đội Mỹ cũng đang triển khai kế hoạch tái bố trí lực lượng tàu ngầm tấn công tại đây.
Kế hoạch Quốc phòng Bốn năm một lần 2006 – lộ trình 20 năm của Quân đội Mỹ – đã đưa ra kế hoạch đến năm 2010 sẽ bố trí 60 % lực lượng tàu ngầm tấn công tại Thái Bình Dương và 40 % tại Đại Tây Dương. Theo Hải quân Mỹ thì trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh 60 % lực lượng tàu ngầm tấn công được bố trí ở Đại Tây Dương, sau Chiến tranh Lạnh thì lực lượng này đã được cân bằng 50-50.
Ngày 03 tháng 4, Tàu ngầm tấn công USS Jacksonville lớp Los Angeles đã cập cảng Trân Châu Cảng ở Hawaii.
Ngày 13 tháng 5, tàu ngầm USS Hawaii đã rời Căn cứ Tàu ngầm Hải quân ở Groton, bang Connecticut đến Trân Châu Cảng, theo kế hoạch sẽ đến đây vào tháng 7, và là tàu ngầm lớp Virginia đầu tiên có căn cứ tại Trân Châu Cảng. Đi sau tàu USS Hawaii sẽ là một tàu ngầm lớp Virginia khác, USS Taxas.
Theo kế hoạch, đến cuối năm 2009, sau khi tàu ngầm USS Hawaii và USS Texas đến Trân Châu Cảng, sẽ có 31 trong tổng số 53 chiếc tàu ngầm tấn công của Hải quân Mỹ sẽ có căn cứ chính ở Thái Bình Dương và 22 chiếc khác sẽ có căn cứ chính ở Đại Tây Dương. Trong tổng số 31 chiếc tàu ngầm có căn cứ chính tại Thái Bình Dương thì 13 chiếc có căn cứ tại Trân Châu cảng.
Hải quân Mỹ cho biết hàng chục quốc gia, trong đó có Bắc Triều Tiên và Iran, có tàu ngầm diesel, và hơn 180 tàu ngầm nước ngoài hoạt động tại Thái Bình Dương trong phạm vi các vị trí và các tuyến đường biển quan trọng.
Australia có kế hoạch mua thêm 12 chiếc tàu ngầm mới và Trung Quốc đã có 08 chiếc tàu ngầm lớp Kilo mới và một căn cứ hải quân mới trên Đảo Hải Nam, được gọi là “Hawaii” của Trung Quốc.
Ngọc Linh (Theo Honoluluadvertiser)

Mỹ đã đưa B-2 Spirit tới khu vực Thái Bình Dương, bọn chệt chó chớ có lộng hành

Chiếc máy bay ném bom tàng hình B2 của quân đội Mỹ vượt qua "bức tường âm thanh" giống như một chú cá đuối bứt lên làn nước.
Bộ quốc phòng Mỹ mới công bố bức ảnh máy bay B-2 đạt tốc độ âm thanh trong chuyến bay qua Palmdale, gần Los Angeles. Giới quân sự thường dùng hình ảnh "vượt qua bức tường âm thanh" để nói việc các máy bay loại này vượt ngưỡng tốc độ âm thanh.
Khi máy bay đạt vận tốc lớn hơn hoặc gần bằng vận tốc âm thanh, không khí xung quanh đột ngột giảm, dẫn tới nhiệt độ không khí giảm theo khiến hơi nước tụ lại thành những đám mây… Chuyển động của máy bay khiến các đám máy có hình chóp nón.
Ngăn chặn Trung Quốc, Mỹ chuyển 2/3 số tầu ngầm đến khu vực Thái Bình Dương

HAWAII 12-5 (NV) – Dồn dập một số biến cố trên biển Đông từ đầu năm đến nay, sự tranh chấp chủ quyền các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và sự gia tăng quân sự nhanh chóng của Trung quốc đã thúc đẩy Hoa Kỳ chuyển một loạt tàu ngầm tấn công tối tân nhất từ Đại Tây Dương sang Thái Bình Dương.

__________________

There are three sides to any argument: your side, my side and the right side.

FBI sẽ huấn luyện và trang bị giúp CSVN siết chặt an ninh !!!??????????????!!!

San Francisco – Nguồn tin ẩn danh từ Hoa Thịnh Đốn cho hay một phái đoàn an ninh tình báo cao cấp nhất của CSVN gồm trên 10 tướng lãnh an ninh CSVN đã do Đại Tướng Lê Hồng Anh, Bộ Trưởng Bộ Công An CSVN hướng dẫn đã đến làm việc với các ngành cao cấp nhất về an ninh của Hoa Kỳ trong suốt tuần lễ vừa qua. Phái đoàn nầy hôm Thứ Hai 20-4-2009 đã rời Washington DC bay về San Francisco để nghe Tổng Lãnh Sự CSVN tại San Francisco tường trình về những vấn đề liên quan đến tình hình Cộng Đồng Người Mỹ gốc Việt và các việc thi hành chính sách vận động Việt Kiều mà CSVN coi là “khúc ruột ngàn dặm”.

Tin tiết lộ cho biết phái đoàn cao cấp nhất ngành an ninh của CSVN lần đầu tiên đến Hoa Kỳ theo lời mời của ông Robert Muller, Giám Đốc cơ quan FBI Hoa Kỳ (Federal Bureau of Investigation). Cuộc tiếp đón có cả Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ và các ngành an ninh quốc nội và quốc tế của Hoa Kỳ cùng tham dự. Đại Tuớng Lê Hồng Anh sinh năm 1949 tại tỉnh Kiên Giang là cùng quê với Nguyễn Tấn Dũng. Lê Hồng Anh cũng giữ chức đại biểu quốc hội các khóa 11 và 12.

Trong tình hình Trung Cộng đưa tàu chiến vào biển Đông, ngang nhiên chiếm các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam, muốn tấn công vào tàu thăm dò hải dương của Mỹ và khiêu khích chiến hạm Mỹ; tin nhận định rằng cuộc họp an ninh cao cấp nhất Việt Mỹ trong tuần qua có tính cách cấp bách và làm nổi bật sự hợp tác sâu rộng hơn giữa Hoa Kỳ và Việt Nam.
Cũng theo tin nầy thì Hoa Kỳ và Việt Nam sẽ bắt đầu việc dẫn độ các người phạm án tại Hoa Kỳ bị trả về cố quốc Việt Nam, trong khi những Việt Kiều Mỹ về Việt Nam hoạt động băng đảng, buôn lậu, trốn thuế và những hình thức phạm pháp khác đều sẽ bị an ninh của Bộ Công An bắt và chuyển thẳng cho Hoa Kỳ truy tố trước luật pháp Mỹ.

Tin cũng nóí rằng HK sẽ giúp huấn luyện về nghiệp vụ an ninh, cung cấp cho ngành an ninh cộng sản Việt Nam những trang bị tối tân nhất để chống tội phạm, chống xâm nhập biên giới và sẽ giúp Việt Nam có một hệ thống theo dõi công dân như hiện nay tại Hoa Kỳ. Việt Nam có trên 86 triệu dân, đi đâu cũng phải khai báo, nhưng cuối cùng rất khó theo dõi. Hoa Kỳ sẽ giúp Việt Nam đơn giản hóa và quản lý bằng hệ thống điện tử nối mạng trên toàn quốc.

Việt Nam đang rất lo ngại việc Trung Cộng sẽ tiến thêm nhiều bước xâm lược và hai quốc gia Hoa Kỳ – Việt Nam sẽ cùng hợp tác trong việc chống lại chính sách bá quyền nầy của Trung Cộng. Điều khó khăn là nếu như để cho Trung Cộng tiếp tục khai thác Bauxit thì có thể có những khủng hoảng chính trị trong nội địa Việt Nam và phong trào bài xích từ bên ngoài Việt Nam. Nhưng nếu không để cho Trung Cộng tiếp tục thi hành hợp đồng khai thác Bauxit mà Việt Nam đã đặt bút ký tên, thì có thể có những đụng chạm đưa đến chiến tranh giữa Việt Nam và Trung Cộng. Đó cũng là vấn đề mà theo tin tiết lộ, có thể là nội dung chính của cuộc hội đàm cao cấp Việt Nam và Hoa Kỳ về ngành an ninh trong tuần qua. Việt Nam đang cần Hoa Kỳ che chở trước hiểm họa Trung Cộng bành trướng, trong khi Hoa Kỳ cần Việt Nam như là điểm khai hỏa gần trái tim Trung Cộng nhất. Có thể một ngày gần đây, lá chắn phi đạn vùng Á Châu của Hoa Kỳ sẽ đặt tại phía Bắc Việt Nam.
Trong một bản tin của Tòa Đại Sứ CSVN tại Hoa Thịnh Đốn loan rằng: ”Nhận lời mời chính thức của một số cơ quan Chính phủ Mỹ, đoàn đại biểu Bộ Công an Việt Nam do Đại tướng Lê Hồng Anh, Bộ trưởng Bộ Công an, dẫn đầu thăm và làm việc tại Mỹ từ ngày 12/4 đến ngày 21/4.

Tại các cuộc gặp gỡ, trao đổi với các cơ quan bảo vệ và thực thi pháp luật của Mỹ, hai bên thống nhất cần tiếp tục thúc đẩy và khai triển các quan hệ hợp tác trao đổi thông tin, nghiệp vụ, kinh nghiệm liên quan đến các hoạt động chống khủng bố, các loại tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, tội phạm ma túy, buôn người và rửa tiền.__________________

Kiềm chế bọn chó Chệt mắt hí mất dạy, Mỹ điều Hàng Không Mẫu Hạm USS Ronald Reagan tới Tây Thái Bình Dương

Myoko DDG-175 and the USS Ronald Reagan CVN-76 in the Philippine Sea conducting an underway refueling.

Hạm đội USS Ronald Reagan (CSG-7) sẽ xuất phát từ San Diego vào ngày 27/5/2009 để triển khai đợt hoạt động mới tại khu vực Tây Thái Bình Dương.
Đây được coi là một động thái tăng cường lực lượng quân sự, nhằm bảo vệ các quyền lợi của Mỹ cũng như để kiềm chế sự gia tăng của lực lượng Hải quân Tàu Chệt ở Thái Bình Dương.

Hạm đội (CSG-7) bao gồm tàu sân bay USS Ronald Reagan (CVN-76) chạy bằng năng lượng hạt nhân; Liên đội Không quân hạm số 14 (CVW-14); tuần dương hạm mang hoả tiễn điều khiển USS Chancellorsville (CG 62); các tàu chỉ huy; đội tàu khu trục số 7 (COMDESRON-7) gồm các tàu USS Decatur (DDG-73), USS Howard (DDG-83) và USS Gridley (DDG-101); khinh hạm USS Thach (FFG-43) và một phân đội thuộc đơn vị hậu cần cơ động số 11 (EODMU).

Trong đợt triển khai hoạt động lần này hạm đội Ronald Reagan CSG sẽ thực hiện một nhiệm vụ quan trọng là phục cho nhiệm vụ chiến lược biển của quốc gia nhằm bảo vệ các lợi ích sống còn của Mỹ, cũng như thực hiện các hoạt động duy trì an ninh trên biển và sẵn sàng ngăn chặn những nguy cơ xung đột theo như cam kết với các nước đồng minh thân cận với Mỹ ở khu vực Tây Thái Bình Dương.
Tàu sân bay USS Ronald Reagan thuộc lớp Nimitz chạy bằng năng lượng hạt nhân, Ronald Reagan là mang tên của Tổng thống thứ 40 của Mỹ.
Trong đợt triển khai hoạt động lần trước, CSG-7 đã tiến hành các nhiệm vụ trợ giúp nhân đạo, hỗ trợ cho các lực lượng quân sự của Philippines, cung cấp hơn 519.000 pounds nước ngọt, gạo và thuốc men cho nhân dân Philippines bị ảnh hưởng trong trận bão Fengshen. Liên đội Không quân hạm số 14 của hạm đội cũng đã xuất kích 1150 lượt bay từ vịnh Oman để hỗ trợ cho Liên quân ở Afganistan. Đội tàu khu trục COMDESRON 7 cũng đã yểm trợ các hoạt động duy trì an ninh cho hạm đội số 5.

Trong đợt triển khai hoạt động lần này Liên đội Không quân hạm số 14 được biên chế gồm: 04 phi đội tiêm cường kích "Redcocks" (VFA) 22, "Fist of the Fleet" VFA-25, "Stingers" VFA-113 và "Eagles" VFA-115; 01 phi đội máy bay cảnh báo sớm "Black Eagles" (VAW) 113; 01 phi đội máy bay tác chiến điện tử "Cougars" (VAQ) 139; 01 phi đội hỗ trợ hậu cần "Hustlers" (VRC) 30 và 01 phi đội trực thăng chống ngầm "Black Knights" (HS) 4.

__________________

Hạm Đội USS George Washington (CVN 73) chuẩn bị cho đợt hoạt động mới tại Tây Thái Bình Dương để ngăn ngừa sự lộng hành của bọn chó chệt mắt hí


Theo tin từ hạm đội 7 cho biết, ngày 20/5/2009, Hạm đội USS George Washington (CVN 73) cùng với khoảng 5000 quân đã xuất phát từ Yokosuka, Nhật Bản để bắt đầu tiến hành các hoạt động ở khu vực Tây Thái Bình Dương, nhằm đánh giá khả năng tác chiến của tàu sau khi được trang bị một số thiết bị mới.

__________________

Một quân đội hùng mạnh. đẹp lạ thường..nhất thế giới..ai cũng phải sợ…lính này chắc khó chết lắm… họ không chết.. cho..quê hương họ..mà chết 1 nơi xa lạ .nơi quê hương tôi. Việt Nam.. vùi thây đâu đó..không mồ mả. không nhang khói…tôi tưởng họ không chết chứ..

Hiện nay HKMH và thuỷ thủ đoàn đã cùng với Liên đội Không quân hạm số 5 (CVW-5) đang thực hiện các khoa mục cất hạ cánh trên boong theo như chương trình huấn luyện từ đầu tháng 5/2009.
Theo trung tá Vincent Aiello, sỹ quan chỉ huy Liên đội Không quân hạm số 5 cho biết “Khả năng tác chiến (COE) là đánh giá khả năng hạ cánh trên boong và kỹ năng điều khiển máy bay theo các tiêu trí hoạt động của Hải quân”
Chứng chỉ COE là một dấu mốc quan trọng, bởi nó khẳng định khả năng tác chiến, kỹ năng hạ cánh an toàn trên boong và phục hồi lại các cú hạ cánh trượt của tàu sân bay và Liên đội Không quân hạm. Việc hoàn thiện COE sẽ cho phép Liên đội Không quân hạm và tàu sân bay thực hiện các phi vụ bay trên khắp đại dương mà không cần đòi hỏi phải có một sân bay đúng hướng.

Đồng thời Liên đội Không quân hạm của Biên đội CVN-73 cũng sẽ thực hiện các khoa mục huấn luyện tấn công không-đối-đất từ biển vào. Đây là một hoạt động thử nghiệm tốt của tàu sân bay và khả năng của Liên đội Không quân hạm, nhằm quản lý các loại vũ khí, cài đặt vũ khí lên máy bay và nhắm vào các mục tiêu trên bộ của đất chệt một khi bọn chúng dở trò mất dạy.
Biên đội tàu sân bay USS George Washington được biên chế gồm: tàu sân bay USS George Washington, Liên đội Không quân hạm số 5, đội tàu khu trục số 15, tuần dương hạm mang tên lửa điều khiển USS Shiloh (CG 67) và USS Cowpens (CG 63), đặt dưới sự chỉ huy của đô đốc Kevin M. Donegan; tàu sân bay USS George Washington do đại tá David A- Lausman chỉ huy; Liên đội Không quân hạm số 5 do đại tá Michael S. White chỉ huy.
Liên đội Không quân hạm số 5 (CVW-5) được biên chế các phi đội sau: Phi đội máy bay tiêm kích VF-154 Black Knights (các máy bay F-14A TARRS); các phi đội máy bay tiêm cường kích VFA-27 "Royal Maces" (F/A-18C), VFA-192 "Golden Dragons" (F/A-18C) và VFA-195 "Dambusters" (F/A-18C)va; phi đội máy bay trinh sát điện tử VAW-115 "Liberty Bells" (E-2C), phi đội máy bay cảnh báo sớm VAQ-136 "Gauntlets" (EA-6B), phi đội trực thăng chống ngầm HS-14 "Chargers" (H/SH-60F/H), phi đội máy bay đa chức năng VS-21 "Fighting Redtails" (S-3B) và phi đội máy bay VQ-5 "Shadows" Det A (ES-3Ava.
Căn cứ vào đánh giá COE, Biên đội CVN-73 sẽ bắt đầu đợt triển khai hoạt động đầu tiên vào mùa hè này nhằm bảo đảm an ninh và duy trì ổn định trong khu vực Tây Thái Bình Dương để khống chế sự lộng hành ngày càng gia tăng của bọn chó chệt mắt hí.

 

Một quân đội hùng mạnh. đẹp lạ thường..nhất thế giới..ai cũng phải sợ…lính này chắc khó chết lắm… họ không chết.. cho..quê hương họ..mà chết 1 nơi xa lạ .nơi quê hương tôi. Việt Nam.. vùi thây đâu đó..không mồ mả. không nhang khói…tôi tưởng họ không chết chứ..




GS Sơn Điển Nguyễn Viết Khánh : BÀI HỌC CỦA QUÁ KHỨ

BÀI HỌC CỦA QUÁ KHỨ


Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh

 

Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh




GS Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh: QUAN HỆ ẤN-HỒI


GS Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh: QUAN HỆ ẤN-HỒI

Trước hết cũng nên nhìn qua cuộc bầu cử ở Afghanistan vào ngày Thứ năm tuần trước. Loạn quân Taliban đã đánh phá rất dữ dội, ít nhất đã có 27 người chết trong ngày bầu cử, một số phòng phiếu bị đánh bom, trong khi người đi bầu chỉ có một nửa số 15 triệu cử tri đã ghi danh. Sau cuộc bỏ thăm, hai ứng viên hàng đầu là đương kim TT Hamid Karzai và cựu Ngoại trưởng Abdullah Abdullah đã có sự tranh cãi gay go. Abdullah tố cáo phe Karzai đã gian lận bầu cử ở các phòng phiếu do chính quyền kiểm soát. Kết quả chính thức sẽ được công bố trong hai tuần nữa. Các nhà quan sát cho rằng Karzai có thể tái đắc cử Tổng Thống, nhưng nếu số thăm của ông không đủ 50% cộng thêm 1 phiếu, một cuộc tái bầu cử sẽ được tổ chức vào tháng 10 năm nay. Tóm lại tình thế còn bấp bênh và căng thẳng kéo dài. Và cũng phải ghi thêm rằng Karzai và chính phủ của ông quá yếu, không đủ khả năng xây dựng quân đội và lực an ninh hiệu quả để bảo vệ an toàn cho người dân. Taliban đã chiếm đến 1/3 phần lãnh thổ do chúng cai trị, các phần khác vẫn bị đánh bom khủng bố, kể cả Thủ đô Kabul.

Rồi đây Mỹ và NATO từ từ rút hết quân, nếu Taliban chiếm được Kabul và toàn thể lãnh thổ thì sao? Trước hết phải nói rằng đây sẽ là một cơ may mới của Mỹ trong chiến thuật đánh khủng bố. Từ xưa đến nay Mỹ đem quân vào nước nào đánh khủng bố cũng giống như đánh nhau với một kẻ tàng hình. Chúng không lộ diện để đánh Mỹ. Nay nếu một nhóm khủng bố al-Qaida hay đại diện chính thức của nó ra mặt để thành lập một chính quyền có trụ sở có dinh cơ của các giới chức lớn nhỏ, kể cả những trại binh của chúng, Mỹ có thể tấn công khủng bố bằng mọi thứ vũ khí từ trên không hay từ ngoài biển mà không cần đến quân bộ chiến. Tính hiệu quả của thứ vũ khí này đã được chứng minh từ tháng 6 năm nay khi Mỹ dùng phi cơ không người lái (trên phương diện chính thức Mỹ không hề nói là của ai, từ đâu đến) để bắn phi đạn tấn công rất hiệu quả và chính xác vào những nơi ẩn náu ở nước Hồi (Pakistan), sát biên giới phía Ðông của Afghanistan.

Thứ sáu tuần qua, một nguồn tin chính thức từ Thủ đô Islamabad cho biết một tư lệnh của Taliban là Siraj Haqqani, có liên hệ với al-Qaida, đã bị phi đạn Mỹ bắn chết cùng với 12 tên Taliban khác ở vùng Bắc Waziristan, sát biên giới phía Ðông Afghanistan. Dân làng trong vùng này cho biết những người sống trong căn nhà bị phi đạn đánh đều là người Afghanistan. Trước đó vào ngày 5 tháng 8, một phi cơ không người lái đã bắn chết Baitullah Mehsud, một tay cầm đầu Taliban rất nguy hiểm từng bị Mỹ treo giải thưởng cho ai bắt sống hay giết được hắn. Cho đến nay Mỹ đã thực hiện chiến thuật phi cơ không nguời lái 40 lần tấn công rất hiệu quả bọn Taliban và al-Qaida lén qua Pakistan đánh chiếm vùng nghỉ mát Swat lừng danh ở Tây Bắc nước này. Quân đội chính phủ Pakistan đã mở các cuộc đánh lớn chống bọn ngoại xâm, nên rất tán thưởng chiến thuật đánh bằng phi cơ không người lái.

Nhiều lần xung đột bằng vũ khí bạo lực đã xẩy ra, nhưng rút cuộc vẫn phải có hòa giải tạm thời để hai bên còn bàn thảo đến việc phân chia lãnh thổ này thành 2 phần rõ rệt. Ðến khi Afghanistan có chính quyền Hồi giáo sau khi Liên Sô rút đi, dân đạo Hồi (Islam) đổ sang Kashmir để tranh đoạt toàn bộ lãnh thổ, chống lại người Ấn Ðộ vốn theo Ấn giáo. Những sự rắc rối nghiêm trọng bắt đầu từ đây.Trong các tôn giáo lớn trên Thế giới, đạo Hồi đứng hàng thứ 2 sau đạo Thiên chúa. Hồi giáo có 2 hệ, đông nhất là Sun-ni (80%), và hệ Shi-a (20%). Ðạo Hồi là đạo giảng dạy điều hay lẽ phải rất quý giá cho cuộc sống, chỉ có một thiểu số của hệ Sun-ni lợi dụng tôn giáo để lập ra nhóm khủng bố al-Qaida. Bởi vậy nếu nói vụ tranh chấp Kashmir do xung đột tôn giáo là sai. Sự thật đó là vấn đề hai chủng tộc Pakistan và India đã sống lẫn lộn với nhau từ nhiều thế kỷ qua. Về tôn giáo, những tín đồ Hồi giáo và Ấn giáo ở India đã chung sống rất hòa hợp trong suốt thời bị người Anh cai trị như một thuộc địa gồm cả hai phần Pakistan và India. Sau Thế chiến II, Ấn Ðộ được độc lập và người Hồi xin được tách riêng thành một nước gồm có 2 phần, mảnh phía Tây gọi là Pakistan và mảnh phía Ðông gọi là Ðông Hồi, nhưng về sau mảnh này cũng xin tách riêng để trở thành nước Bangladesh độc lập, một phần lãnh thổ tiếp giáp với Miến Ðiện.

Chính vì tình trạng phức tạp như vậy nên tôi nghĩ nếu Mỹ tìm cách hòa giải được Pakistan và India là có một chiến lược chống khủng bố thuận lợi nhất cho toàn thế giới. Pakistan chống khủng bố vì bọn Taliban đang xâm nhập nước này, khiến quân đội chính quy kể cả du kích và dân quân chính quyền cũng phải xuất trận để bảo vệ lãnh thổ. Còn India căm phẫn nhóm khủng bố al-Qaida từ Pakistan và Kashmir đã lén qua Mumbai gây một cuộc đánh phá và tàn sát làm chấn động cả thế giới hồi cuối năm ngoái. Với sự hợp tác này, Mỹ có thể nhìn đến cả vùng Ðông Nam Á, với Indonesia là nước có đông dân Hồi giáo nhất thế giới. Ðạo Islam truyền đến Indonesia bằng đường biển có vẻ hiền hòa, ít gặp tranh chấp như mối đạo truyền bằng đường bộ từ Trung Ðông qua các nước Trung Á.

Ðổi mới chiến lược chiến thuật về quân sự là điều cần phải làm, càng sớm càng tốt để giảm bớt thương vong cho quân sĩ, đồng thời tiết giảm những chi phí về chiến tranh kéo dài từ gần 10 năm qua tạo một gánh nặng cho ngân sách quốc gia và cũng là một phần của nguyyên do gây ra nạn suy thoái kinh tế trầm trọng nhất trong lịch sử. Ðổi mới chiến lược quân sự còn đem lại một cơ may về một sự hợp tác kinh tế đôi bên cùng có lợi với các nước trong toàn vùng Ðông Á và Ðông Nam Á, để giúp đẩy mạnh sự phục hồi kinh tế Mỹ.

Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh




Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh: Hoán Chúa Cầu An

Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh: Hoán Chúa Cầu An

 Việc bổ nhiệm Jang đã được công bố sau một cuộc họp hiếm có của Quốc hội Tối cao Nhân dân Bắc Hàn, với sự hiện diện cũng hiếm có của Chủ tịch Kim Jong-il mà người ta đã biết đang bị chứng đau tim nặng từ 2 năm nay. Qua màn hình TV Bắc Hàn người ta chỉ thấy thoáng hình ảnh của họ Kim 68 tuổi, nên không rõ tình trạng của ông ta lúc này đã trầm trọng đến độ nào. 
(Ảnh: “Lãnh tụ kính yêu” Kim Chính Nhất và con trai vào 1981)Theo thông lệ ở các nước Cộng sản, Quốc hội Tối cao Nhân dân chỉ là mộtcơ quan “gật đầu đóng triện”, nên mỗi năm họp một lần để “thôngqua” những quyết định của đảng và Nhà nước. Quốc hội này đã họp hồi tháng 4, đến tuần này lại họp nữa nhưng không thấy nói tại sao phải họp thêm?
 

Báo chí trên thế giới không chú ý đến chuyện họp thêm này. Riêng tôi nghĩ chắc là việc cấp bách lắm rồi nên mấy ông cầm đầu CS Bắc Hàn không thể chờ đến sang năm. Cấp bách gì vậy? Bắc Hàn đang trải qua một cơn bĩ cực gay go về kinh tế chẳng thể làm ngơ, trong khi Nam Hàn đang ráo riết vận động LHQ trừng phạt Bắc Hàn về vụ tấn công một chiến hạm Nam Hàn làm chết 45 Hải quân. Cho đến nay Bắc Hàn đã chối cãi vụ này và báo chí nhà nước Bắc Hàn không thấy nói rõ cuộc họp “Quốc hội” Bắc Hàn có bàn thảo vụ này hay không.

Tuy vậy người ta cũng được biết thêm là trong cuộc họp tuần này ở thủ đô Bắc Hàn, nhân vật giữ chức Thủ tướng là Kim Yong Il cũng bị mất chức và được thay thế bởi Choe Yong Rim, một dân biểu Quốc hội. Như vậy các phe nhóm tranh chấp còn tìm cách đưa người vào ngồi ở những chức vụ quan trọng. Việc thay thế Thủ tướng đã được quyết định từ lâu, vì hồi tháng 2 năm nay Kim Yong Il đã làm một việc hiếm có là công khai lên tiếng xin lỗi nhân dân sau khi thất bại trong việc chỉnh đốn lại giá đồng tiền Bắc Hàn đã tạo ra bất ổn xã hội và nạn đói lan tràn.

Vậy các ông Cộng sản đổi tiền như thế nào? Hồi tháng 11 năm 2009, dân chúng Bắc Hàn được lệnh “đổi tiền”, theo thể thức đem một số giấy bạc cũ của Nhà Nước nhưng hạn chế số tiền là bao nhiêu để đổi lấy một số bạc đặt tên lại giấy bạc mới cũng của Nhà Nước. Thế nhưng toàn bộ giấy mới này xuống giá thê thảm vì Nhà Nước đã in ra quá nhiều để trả lương cho quân đội và Công an, khiến đồng tiền bị lạm phát. Kiểu đổi tiền này nghe cũng hơi quen với người dân Việt Nam sau năm 1975.

Các nhà phân tích nước ngoài về thời sự Bắc Hàn nói việc thay ngôi hoán vị người lãnh đạo thường là để chuẩn bị một sự thay đổi ngoạn mục của chế độ. Vậy thay đổi như thế nào? Tất cả còn phải chờ xem, nhưng chúng tôi nghĩ ở một chế độ mà lãnh tụ trường kỳ đau ốm, nội bộ đã ngấm ngầm có biến với những rạn nứt gay go, bởi vì các phe nhóm ở sát cấp thượng tầng đã âm thầm kèn cựa lẫn nhau với mục tiêu tối hậu là cướp lấy quyền lực tối cao để nhất thống giang hồ. Kim Jong-il là người đã nối chức cha từ năm 1994 trong cương vị độc tài tàn bạo, tất nhiên đã nhìn thấy rõ những nguy cơ đó có thể làm tan nát chế độ.

Vậy tại sao Kim không truyền “ngôi” cho con trưởng là Kim Jong Nam năm nay 39 tuổi? Nhưng chính anh Jong Nam này đã “dính trấu” mất rồi. Năm 2001 Jong Nam đã bị thất sủng sau khi bị bắt vì đã đáp một chiếc tầu chở khách đến Nhật Bản với Thông hành giả mạo của nước Cộng hòa Dominican để du hí tại vuờn Disney ở Tokyo. Hôm thứ hai tuần này, một tờ báo của Nam Hàn là Joong Ang Ilbo xuất bản đại đa số kiểu bán chợ trời ở Nam Hàn, cho biết người ta đã tìm thấy tung tích của cậu cả Jong Nam ở một khách sạn tại miền Nam Trung Quốc trên phần đất gọi là Macao.

Trong một cuộc phỏng vấn ngắn ngủi ở trên thang máy, Jong Nam đã cải chính tin nói anh ta đã xin tỵ nạn chính trị ở Âu châu, vì anh ta đã mất hết quyền lực trong vụ đấu đá tranh “vương quyền đỏ” với người em út của anh ta. Jong Nam nói: “Tôi không có kế hoạch qua Âu châu sinh sống. Tại sao tôi phải làm thế? Tôi qua Âu châu là để đi nghỉ hè”. Có lẽ mùa hè ở nước băng tuyết năm nay rực lửa, nên cần phải “nghỉ mát”, thật cũng hợp lý thôi.

Thế còn con trai út của họ Kim thì sao? Anh này tên là Kim Jong Un, 28 tuổi, còn quá trẻ nên 9 năm trước khi anh cả Jong Nam bị quần thần chống đối, Chủ tịch Kim Jong-il đã có định chuẩn bị cho Kim Jang Un lên kế vì. Khốn nỗi lúc đó Jong Un quá trẻ nên bị quần thần dị nghị, nhất là ông đồng hao ngày nay Jang Song Thaek cũng chống đối nên Kim Jong-il phải từ bỏ ý định lập con út kế vị ngai vàng…”đỏ”.

Thế nhưng việc lập ra một tay lãnh đạo mới nghe chừng vẫn chưa đủ. Trước mắt việc khó khăn nhất chế độ Bắc Hàn phải đối phó là vụ bắn chìm chiến hạm của Nam Hàn. Bắc Hàn chối cãi, Nam Hàn đã đưa vấn đề ra trước Hội đồng Bảo an LHQ. Cố nhiên hai bên còn tranh chấp bằng mồm chớ chưa dùng súng, nhưng tình trạng này đã khiến các nhà đầu tư quốc tế thấy ngại ngùng, không muốn bỏ tiền ra làm ăn ở bán đảo này nữa. Ðầu tư hết, mậu dịch cũng hết. Khó cho Bắc Hàn hơn Nam Hàn vì ở Nam Hàn còn có quân Mỹ đóng ở đó, sư giao lưu kinh tế Mỹ-Nam Hàn còn tiếp tục. Quân đội Mỹ và Nam Hàn có kế hoạch thao diễn quân sự trong tháng này, để xem quân đội hai nước đã sẵn sàng đến độ nào nếu Bắc Hàn gây hấn.

Trung Quốc là đồng minh chính của Bắc Hàn và là hội viên thường trực của Hội đồng Bảo an LHQ. Nếu muốn có nghị quyết lên án Bắc Hàn, Hội đồng Bảo an cần phải có lá phiếu của Trung Quốc. Sáng thứ Ba lại có chuyện bất ngờ. Bắc Kinh loan tin quân biên giới Bắc Hàn đã bắn chết 3 người Trung Quốc bị nghi là buôn lậu. Vậy Trung Quốc sẽ có thái độ ra sao tại Hội đồng Bảo an? Tôi thích theo dõi vụ này, để xem Bắc Hàn có chịu biến đổi một chế độ cai trị, từ một chủ thuyết chính trị đã lỗi thời để cập nhật hóa thành một chế độ mới làm việc cho dân, lấy quyền lợi của dân tộc làm ưu tiên, thứ mới đến quyền lợi cho đảng hay bất cứ phe nhóm nào. Tôi tin nhiều người cũng đang theo dõi cuộc thí nghiệm này.

Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh




Tân Cương & Việt Nam

Tân Cương & Việt Nam

Phạm Thanh Phương (Úc Châu)

Trong những ngày qua, cuộc xung đột của sắc tộc Uighur tại Tân Cương đã gợi lại cho người Việt Nam phải nhớ đến dòng lịch sử của dân tộc. Nhớ về lịch sử để hãnh diện và cám ơn tổ tiên và đồng thời cũng lo lắng cho hiện tại của đất mình. Thực sự mà nói, nếu không có cuộc xung đột của người Urumqi vừa qua, có lẽ người Việt Nam chúng ta cũng ít người biết đến họ là ai và bối cảnh lịch sử của họ ra sao.

Nói về Tân Cương, Tân Cương là một vùng chiến lược, sát biên những nước như Nga, Iran, Afghanistan, nhất là các nước Trung Á cùng theo Hồi Giáo và ngôn ngữ và chủng tộc liên hệ với người Uighur. Theo sử sách ghi chép sắc tộc Uighur đã bị đế quốc Mông Cổ thống trị từ thế kỷ mười hai, bắt đầu khoảng năm 1218, sự thống trị này rất dài dưới nhiều hình thức và cho đến thế kỷ thứ mười tám, họ lại tiếp tục bị nhà Thanh chiếm đóng và trở thành Tân Cương, một cái tên mang ý nghĩa một cương giới mới của người Tầu. Trong khoảng thời gian thuộc nhà Thanh, vào thế kỷ thứ mười chín, người Uighur và người Hồi cũng đã có những cuộc nổi dậy giành độc lập, nhưng rất tiếc những tháng ngày độc lập của họ chỉ giữ được từng giai đoạn rất ngắn, và sau cùng đến năm 1949 thì hoàn toàn thúc thủ để trở thành một khu tự trị thuộc quyền khống chế của Trung Cộng cho đến hôm nay.

Hiểu về bối cảnh lịch sử của người Uighur và Tân Cương, chắc chắn người Việt Nam không thể quên được những giai đoạn lịch sử hào hùng nổi bật của dân tộc trong suốt hơn bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước. Cùng trong thời gian thế kỷ thứ mười hai, khi người Uighur bị thúc thủ, thì tại Việt Nam, với truyền thống bất khuất, Hưng Đạo Vương đã anh dũng đánh tan quân Mông với trận Bạch Đằng, giành được chủ quyền để tiếp tục xây dựng bờ cõi… Tiếp theo sau, vua Lê Lợi đại phá quân Minh vào năm 1428 và các cuộc kháng chiến nối tiếp, kéo dài với nhiều thế hệ đến thế kỷ thứ mưới bảy, sau khi Lê Chiêu Thống “Cõng rắn cắn gà nhà”, Quang Trung Đại Đế đã xuất hiện với những chiến tích lẫy lừng và để lại trên dòng lịch sử một “Gò Đống Đa” với hàng vạn xác quân Thanh vào năm 1789. Tiếp nối dòng lịch sử với những thăng trầm, suy, thịnh của nhà Nguyễn và để lại cho con dân Việt Nam một giải giang sơn gấm vóc hôm nay. Một điều đau buồn, khi vận nước suy vi trong thế trận của các cường quốc trên thế giới, đất nước đã bị bọn tham tàn, hèn nhược CSVN chiếm lĩnh, để ngày nay từng phần đất từng được vun, bồi bằng xương máu của biết bao nhiêu anh hùng liệt nữ, đang tức tưởi mất dần trong tay Tầu cộng…

Hôm nay nhìn về Tân Cương, là con dân Việt Nam, chắc chắn ai cũng thấy được những niềm tự hào của lịch sử, nghĩ về những công lao xương máu của tiền nhân. Tuy nhiên, không phải chỉ biết ôm ấp những tự hào ấy một cách thụ động yếm thế. Ngược lại, phải làm sao đoàn kết, vực dậy sức mạnh hào hùng bất khuất, cùng nhau đòi lại quyền tự quyết, hầu có thể giữ vững bờ cõi, bảo vệ và phát huy niềm tự hào ấy trong vĩnh cửu.

Trong hoàn cảnh đau buồn, uất nhục của đất nước dưới ách thống trị dã man và hèn nhược cuả tập đoàn CSVN, nếu người dân Việt Nam, không thể vứt bỏ những vị kỷ thấp hèn của nội tâm, để cùng nhau vùng lên tận diệt bọn sói lang này, chắc chắn Việt nam sẽ là một Tân Cương thứ hai trong một tương lai gần. Bằng chứng hiển nhiên cho thấy những hiện tượng đã và đang xẩy ra, có thể coi như những thông điệp báo trước cho một viễn cảnh uất nhục vong quốc gần kề. Những hiện tượng người dân Trung cộng tràn vào Việt Nam không cần Visa; Trung cộng lấn chiếm biển đông, cấm ngư dân Việt Nam hành nghề trên chính vùng biển của quốc gia mình; Trung cộng khai thác Boxite tại tây Nguyên, và mới đây 200 công nhân Trung cộng tấn công, hà hiếp một làng Việt Nam, nhưng đám lãnh đạo CSVN vẫn cúi đầu ú ớ lấy lệ như một con chó trung thành, khiếp nhược dưới chân ông chủ.

Sự thật hiển nhiên trong cuối tháng sáu vừa qua, bọn lãnh đạo CSVN đua nhau chạy sang Bắc Kinh vuốt ve quan thầy như sự kiện Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng CSVN đã “phấn khởi, hồ hởi” tung hô “16 chữ vàng”; Nguyễn Sinh Hùng, Phó thủ tướng cũng xum xoe với ”Tình hữu nghị truyền thống giữa hai đảng, hai nhà nước và nhân dân hai nước Việt Trung là tài sản qúy báu, cần hết sức giữ gìn và không ngừng phát huy mạnh mẽ..”. Còn Nông Đức Mạnh, nhân vật cao nhất của đảng thì gập mình, ngóc cổ “cảm ơn sự giúp đỡ to lớn mà đảng, nhân dân trung Quốc đã dành cho Việt Nam”. Đó là chưa kể đến hành động bán nước qua công hàm xác nhận chủ quyền của Trung cộng mà Phạm Văn Đồng đã ký năm 1958; Lê Công Phụng thay mặt cho đảng, nhà nước CSVN ký hai Hiệp định, phân định biên giới và đã dâng hiến một phần giang sơn vào năm 1999-2000, để rồi Nam Quan, Bản Giốc đã vĩnh viễn tách rời thân thể mẹ Việt Nam một cách tức tưởi, đau thương…

Nhìn lại hoàn cảnh người Uighur tại Tân Cương hiện tại, có thể nói khó khăn hơn Việt nam rất nhiều, theo nhiều tài liệu cho biết, trong 60 qua qua kể từ năm 1949, sau khi Trung cộng hoàn toàn chiếm đóng và khống chế, con số người Hán ở Tân Cương đã tăng từ 6% lên 40%, chưa kể các lực lượng quân đội đồn trú và gia đình của họ. Như vậy, nếu dân Việt Nam không kết hợp được các lực lượng Tôn giáo, đảng phái, phe nhóm để cùng vực dậy sức mạnh của dân tộc, hầu có thể đòi lại quyền tự quyết từ bàn tay độc tài toàn trị CSVN thì tương lai trong vài chục năm nữa sẽ ra sao???…

Xoay quanh vấn đề xâm lăng chủng tộc, chiếu theo thống kê hiện tại, khoảng 20 triệu thanh niên Tầu cộng không thể lập gia đình vì nạn trai thừa gái thiếu. Vì vậy, hiện nay đã có rất nhiều thanh niên Tầu cộng xin tình nguyện sang Việt làm việc và tìm cách lập gia đình ở lại. Hơn nữa, trong chính sách độc tài toàn trị của CSVN, tham nhũng đã được phát triển rất mạnh như một quốc sách, đại đa số người dân Việt càng ngày càng đói rách tận cùng. Trong khi đó, với bản chất hèn nhược tay sai của CSVN, thanh niên Tầu cộng tất nhiên sẽ được đối xử ưu tiên, o bế như “quốc khách”, phần tài chánh cũng khá hơn người Việt Nam rất nhiều. Như vậy thử hỏi, trong vài chục năm nữa, sẽ có bao nhiêu dân Tầu cư ngụ trên đất nước Việt, và lúc đó hoàn cảnh Việt Nam sẽ có thể thê thảm hơn Tân Cương và Tây Tạng hiện nay.

Sau cùng, trước viễn cảnh đen tối của đất nước, thiết nghĩ người dân Việt Nam hãy cam đảm dứng dậy như người dân Uighur tại Tân Cương trong mọi lãnh vực và mọi hoàn cảnh, chỉ có sức mạnh dân tộc mới có thể cứu nguy cho đất nước như đã từng thể hiện qua những giai đoạn của tiền nhân trên dòng lịch sử. Thực sự mà nói, lý do nổi dậy của người Uighur tại Tân Cương có thể tạm ví như những người dân oan, những trù dập đàn áp tôn giáo, bắt bớ, khủng bố những nhà bất đồng chính kiến tại Việt Nam..v..v… . Vì thế, ngay trong thời gian này, CSVN đang mở cửa bang giao với các nước tự do trên thế giới và nội bộ cũng có nhiều lúng túng. Đồng thời các phong trào đấu tranh đang dâng cao trong và ngoài nước. Đo đó, thiết nghĩ đây là cơ hội tốt nhất để có thể vực dậy được sức mạnh dân tộc, nếu mọi người Việt nam trong và ngoài nước, chúng ta cùng ý thức được trách nhiệm của chính mình với tổ quốc, chắc chắn chế độ tham tàn, dã man, hèn mạt CSVN phai ra đi, đất nước và dân tộc sẽ được an vui trong ánh sáng vinh quang, tự hào của lịch sử.

Phạm Thanh Phương (Úc Châu)

http://nsvietnam. com/online/ binhluan/ 071909-tancuong. html




Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh : Âm Mưu Nguyên Tử Iran

Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh: Âm Mưu Nguyên Tử Iran

ÐSự cảnh giác nói trên cho biết hồi tháng 1 năm 2010 Iran loan báo đã thực hiện được vài lần thí nghiệm thanh lọc uranium mà trên lý thuyết có thể dùng để làm một đầu đạn nguyên tử. Sau đó Iran chối cãi và nói các cuộc thí nghiệm chỉ diễn ra mấy tháng sau. Vào tháng 5 năm nay, khi các thanh sát viên quốc tế đến xem Phòng Thí nghiệm Jaber Ibn Hayan ở Teheran, những dụng cụ thí nghiệm thanh lọc nguyên tử đã bị đem dấu ở nơi khác rồi. Tuy nhiên đến tháng 6, Iran nói không hề thí nghiệm lọc nguyên tử và cũng không hề có việc đem dấu các dụng cụ thanh lọc. Iran ra tuyên bố nói bản báo cáo của Cơ quan Nguyên tử quốc tế là “giả tạo chỉ nhằm gây ảnh hưởng đối với dư luận quốc tế”.

Về vụ cấm hai thanh sát viên, người cầm đầu Tổ chức Nguyên tử năng của Iran, Ali Akbar Salehi nói trên TV Teheran rằng Cơ quan Nguyên tử năng quốc tế đã được thông báo về vụ cấm hai thanh sát viên, như ông ta không chịu nói rõ tên tuổi hai người đó. Salehi nói: “Tuần trước chúng tôi đã nói rõ cho Cơ quan quốc tế tên hai thanh sát viên bị cấm vào nước Iran. Hai người này từ nay không được phép đến Iran. Báo cáo của hai người đó là giả tạo và họ đã tự công bố ra trước khi được Cơ quan quốc tế cứu xét”. Salehi còn nói Iran trung thành với những sự giao ước quốc tế và các thanh sát viên của Cơ quan Nguyên tử năng vẫn được đến thanh tra các phòng thí nghiệm và nhà máy thanh lọc nguyên tử của Iran.

Thiết tưởng cũng nên nhắc lại từ năm 2006, sau khi hồ sơ về vụ nguyên tử của Iran được đệ trình Hội Ðồng Bảo An LHQ, Iran chỉ giới hạn sự hợp tác của họ với quốc tế trong Hiệp ước Cấm sự lan tràn của Vũ khí Hạt nhân. Ðến năm nay từ hồi đầu tháng 6, Hội đồng Bảo An LHQ ra lệnh trừng phạt Iran đến đợt thứ 4 về Chương trình Nguyên tử của nước này. Sở dĩ có lệnh đó là vì Iran đã không chịu ngưng việc thanh lọc chất uranium. Như mọi người đã biết công cuộc thanh lọc này tạo ra hai loại nguyên liệu: uranium để chạy máy tạo ra điện và uranium để làm bom nguyên tử nếu thanh lọc uranium đến độ cao.

Ðến thứ Ba tuần này Iran đã phải đổi giọng và nói sẵn sàng nói chuyện lại với Cơ quan Nguyên tử năng quốc tế theo sự gợi ý của Pháp. Nước Pháp cho đến nay đã 4 lần biểu quyết trừng phạt Iran về âm mưu chế tạo vũ khí nguyên tử. Tổng Thống Pháp Nicolas Sarkozy đề nghị mở cuộc đàm phán giữa Iran và Cơ quan Nguyên tử năng quốc tế, trong đó có đề nghị trao đổi nhiên liệu hạt nhân. Ngoại trưởng Iran Mottaki trong một cuộc phỏng vấn trên đài TV, hoan nghênh đề nghị của TT Pháp và nói: “Chúng tôi tin có những dấu hiệu nghiêm chỉnh do Pháp đưa ra để đưa đến một hành động vô tư”.

Ðiều này trên thực tế cho thấy Iran đã phải lùi một bước vì một lý do dễ hiểu. Iran đang gặp phải những khó khăn kinh tế rất gay go. Trong nội bộ Iran đã có những cuộc biểu tình chống đối lớn và liên tiếp mặc dù đã có những sự đàn áp đẫm máu của bọn Vệ binh Cách mạng và đám “dân quân” làm tay sai của chúng. Ở đây thiết tưởng cũng nên nhìn đến chế độ cai trị của nước này. Tổng Thống Iran Ahmadinejad là người nổi tiếng cho đến nay vì những lời lẽ huênh hoang phách lối đả kích Mỹ và các nước Tây phương, thật ra chỉ là bù nhìn tay sai của bọn Vệ Binh Cách mạng. Chế độ cai trị của Iran sự thật là một chế độ độc tài của một nhóm quân nhân quá khích, chớ không phải là một kẻ độc tài duy nhất như các tên độc tài khét tiếng vào khoảng giữa Thế kỷ 20: Hitler của Ðức Quốc Xã và Stalin của Cộng sản Nga.

Chỗ yếu của Vệ Binh Cách Mạng Iran là chúng không phải một cá nhân duy nhất nắm quyền sinh sát, mà là một tập hợp của một bọn người võ biền cuồng tín, lấy tôn giáo làm cái khiên để che đậy những tham vọng cá nhân của chúng. Nhưng khi đã là một nhóm tham vọng mù quáng, lẽ tất nhiên chúng có sự ghen tị ngấm ngầm lẫn nhau. rút cuộc chỗ yếu nhất của chúng là không tránh được sự tan vỡ. Chúng tôi thiết nghĩ đây là một tấm gương lớn cho các “nhóm” độc tài, độc đảng còn rơi rớt trên thế giới ngày nay.

Riêng đối với Iran, TT Ahmadinejad chỉ là một anh bù nhìn có lẽ cũng muốn thoát ra khỏi cái gông cùm đó, nên rất có thể đang tìm cách thoát ra khỏi sự kiềm chế của Vệ Binh Cách Mạng. Bởi thế Ahmadinejad đã nắm lấy cơ hội đề nghị của Pháp để Iran một mặt giải quyết được vụ phong tỏa kinh tế, một mặt giải quyết được nạn “tập đoàn độc tài” đang lần át quyền hành của một Tổng Thống. Nhưng sẽ là một sai lầm lớn nếu Ahmadinejad âm thầm tự xây dưng một chế độc độc tài cá nhân. Bởi vì dân Iran ngày nay đã thức tỉnh hơn thời xưa rất nhiều, họ sẽ nhân cơ hội này tranh đấu quyết liệt để xây dựng một chế độ tự do dân chủ theo xu thế không thể tránh của Thế kỷ 21.

Cũng vào sáng Thứ ba tuần này, đài TV quốc gia Iran loan báo nước này sẽ gửi một tầu viện trợ đến Gaza mang theo 1,000 tấn đồ viện trợ cho người dân ở đây. Iran coi Israel là kẻ thù không đội trời chung, và cho đến nay vẫn ủng hộ bọn khủng bố Hamas. Có thể chuyến tầu tiếp cứu này sẽ đụng độ vói quân lực Do thái. Theo đài TV Iran thuật lời phát ngôn nhân Adibzadeh, chuyến tầu chở hàng đã khởi hành vào Chủ Nhật trong chuyến đi dự liệu trong 14 ngày. Chuyến tầu được mệnh danh là “Trẻ em của Gaza” chở theo 10 hành khách, trong đó có 5 ký giả, ngoài những thủy thủ trên tầu. Hãy theo dõi chuyến đi này và chúng ta không quên hồi tháng 5, quân đội Israel đã ngăn chặn một đoàn 6 tầu chở đồ tiếp tế của Thổ Nhĩ Kỳ đến Gaza và bắn chết 9 người trên tầu.

Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh




GS Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh: NGUY VÀ CƠ

GS Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh: NGUY VÀ CƠ

Mấy tuần trước, Giáo sư David M. Kennedy dạy lịch sử tại Đại học Stanford, đã nhắc đến từ “nguy cơ” của chữ Hán và tách rời hai chữ “nguy” và “cơ”, để dùng phép ẩn dụ chỉ ra rằng trong hiểm họa cũng có cơ may. Trong lịch sử Mỹ, Franklin. D. Roosevelt (Dân chủ), năm 1920 đã viết một câu nhận định có nhiều ý nghĩa cho đảng ông: “Đảng Dân Chủ không có hy vọng lên cầm quyền, trừ phi đảng Cộng Hòa đưa đất nước đến một thời kỳ suy thoái kinh tế nghiêm trọng”. Mười năm sau, trong thập niên 30, nước Mỹ lâm vào một nạn suy thoái kinh tế nguy hiểm hơn Roosevelt dự tưởng, khiến ngày nay người ta gọi đó là một cuộc “đại suy thoái” của Mỹ. Năm 1933, F. D. Roosevelt được bầu làm Tổng Thống và ông đã từ trần năm 1945 vào giai đoạn chót của Thế chiến II. Ngày nay lịch sử ghi nhận sau TT Lincoln, F. D. Roosevelt là vị Tổng Thống vĩ đại đứng hàng thứ 2 của nước Mỹ.

Từ hơn 80 năm trước, nhận định của Roosevelt đã cho thấy sự tranh chấp chính quyền giữa hai đảng Dân Chủ và Cộng Hòa đã gay gắt như thế nào. Ông đã để lại một bài học quan trọng cho hậu thế: “Hãy tìm sự thỏa hiệp giữa hai đảng để đưa nước Mỹ đi lên, vì chính đảng làm việc cho quyền lợi và hạnh phúc của dân chớ không phải vì quyền lợi riêng tư của đảng”. Thỏa hiệp luỡng đảng hay tinh thần làm việc lưỡng đảng, ai cũng nói được nhưng làm thì rất khó. Bài học của quá khứ ai cũng thích nói, nhưng lịch sử đã cho thấy quá khứ khác với hiện tại, và sẽ còn khác hẳn so với tương lai bởi vì trong chuỗi dài của lịch sử, nếp sống và tư tưởng của người dân tiến hóa hóa mỗi ngày một mạnh. Bởi vậy sự thỏa hiệp lưỡng đảng cần phải đặt trên một căn bản không phải chỉ ký kết một thỏa hiệp nhất thời, mà còn tạo ra một sự “giao ước mới” với người dân (chính trường Mỹ đã có từ gọi là New Deal), để vận động đa số dân chúng ủng hộ. Cái New Deal của đầu Thế kỷ 21 này vỏn vẹn nằm trong một cụm từ duy nhất: “An toàn cho người dân chớ không phải an toàn cho đảng”.

Vậy Tổng Thống Barack Obama ngày nay đã lãnh hội được bài học như thế nào? Và Quốc hội Mỹ đã làm gì để thực hiện sự giao ước xã hội mới với người dân? Ngay sau khi Obama được bầu làm Tổng Thống cuối năm 2008, người ta đã thấy đảng Cộng Hòa lên tiếng chỉ trích như thông lệ, rồi sau các phần tử cực đoan của đảng này đã tổ chức một mặt trận quy mô để chống đối mọi việc làm, mọi quyết định của TT Obama kéo dài trong suốt nửa năm đầu của 2009 mỗi ngày một quyết liệt hơn sau khi đảng Dân Chủ chiếm đa số ở cả hai viện Quốc hội. Nhóm cực đoan này đánh phá mọi chủ trương của đảng Dân Chủ trong các vấn đề đối ngoại, kể cả hai cuộc chiến ở Iraq và Afghanistan, và đặc biệt là các vấn đề đối nội, trong đó quan trọng nhất là tình hình kinh tế và ngân sách quốc gia. Về mặt này phe thiểu số cực đoan có sách lược là cứ phá phách mọi kế hoạch cho bằng được để đến năm 2012 kinh tế vẫn không ngóc đầu lên được là đảng của họ sẽ nắm phần chắc lấy lại được Bạch Ốc trong tay Obama.

Thế nhưng chính nhóm thiểu số này đang làm đảng Cộng Hòa rạn nứt, nhiều đảng viên ôn hòa, có óc cởi mở tỏ ra bực bội với nhóm cực đoan. Đảng Cộng Hòa là đảng bảo thủ, phần lớn những nhân vật quan trọng của đảng đều là những nhà đại tư bản. Những tư tưởng bảo thủ vẫn đáng quý ở một nước như nước Mỹ mới lập quốc có hơn 230 năm, chưa có truyền thống giá trị đạo đức giữ vững cả ngàn năm như các nước khác. Mặt khác chủ nghĩa tư bản đến một mức độ nào đó không phải là xấu, nếu biết tự loại bỏ lòng tham quá trớn và vô trách nhiệm. Tôi nghĩ phần đông người Cộng Hòa sẵn sàng tiếp nhận chủ trương “giao ước xã hội mới” do TT F.D. Roosevelt đề ra.

Nói chung những người Cha tạo ra Hiến pháp để khai sáng Hiệp chúng quốc Hoa Kỳ đã thiết lập một nền trật tự chính trị đặt trên nguyên tắc “kiểm tra và quân bình”. Nguyên tắc này đã có lúc làm tê liệt hệ thống chính trị. Nó cản trở sự thích ứng mau lẹ với những thực tế của những thay đổi về kinh tế và xã hội của con người. Thành ra có khi nó đưa đến một trạng thái mà không một văn bản chính trị nào dư liệu được, đó là sự toa rập tệ hại giữa hiểm họa và cơ hội chủ nghĩa. Nói cách khác đó là nạn song hành của cặp “thí mạng cùi và lòng tham không đáy”.

Vậy Tổng Thống Obama đối phó với tình tình “nguy và cơ” lúc này như thế nào? Ngay lúc chưa hết tuần trăng mật 100 ngày, Obama đã bị các phần tử cực đoan của đảng Cộng Hòa đánh phá tơi bời. Tôi nghĩ một nhà luật học như Obama không ngạc nhiên chút nào trước tình trạng này. Mấy tháng trước, khi một ký giả trên TV hỏi ông có cảm thấy gánh quá nặng vì những cuộc khủng hoảng đang đua nhau đè lên đất nước này hay không, Obama nói “Lúc này đầy hiểm nguy, nhưng cũng đầy khả năng”. Đó là lúc hệ thống chính trị bắt đầu tiến lên một cách hữu hiệu.

Roosevelt thời xưa cũng không có lời phát biểu nào hay hơn thế. Vị Cựu TT vĩ đại của Mỹ đã chủ trương một sự cải cách mà trung tâm điểm là sự an toàn của người dân. Tiếc rằng cuộc Thế chiến II Mỹ lâm vào để đánh nạn độc tài Quốc xã đã khiến Roosevelt không có thời giờ thực hiện cuộc cải cách đó. Thế nhưng muốn được so sánh với Roosevelt, Obama cần được dư luận quần chúng Mỹ phán xét, không phải chỉ riêng việc ông cứu nguy nền kinh tế như thế nào, mà quan trọng nhất là ông đã biết nắm lấy cơ hội để thúc đẩy chúng ta có ý chí vùng lên tự chấn chỉnh và thích ứng với thời thế mới của Thế kỷ 21.

Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh.




Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh: AFGHA:= CHIẾN LƯỢC MỚI

Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh: AFGHA:CHIẾN LƯỢC MỚI

Những quyết định đầu tiên tướng Petraeus ra lệnh sẽ được theo dõi chặt chẽ, không phải bởi dân chúng Afgha mà bởi chính quân đội ngoài mặt trận. Ngay trong buổi lễ tiếp nhận quyền chỉ huy cuộc chiến, ông đã nhấn mạnh sự an toàn của dân chúng tiếp tục là mối quan tâm lớn lao của quân đội. Ông nói khi quân Mỹ và đồng minh NATO cùng với quân đội của chính phủ Afgha mở cuộc hành quân, “mọi lực lượng võ trang phải dùng mọi thủ đoạn để bảo vệ an toàn cho người dân”. Câu nói này có một ý nghĩa ngầm rất quan trọng. Đó là bảo vệ an toàn cho dân tuyệt nhiên không phải bằng cái mạng sống của quân đội.

Trước khi tướng McChrystal tựu chức Tổng tư lệnh chiến trường vào tháng 6 năm 2009, các lực lượng quân đồng minh từ bên ngoài đến đã lỡ tay gây ra nhiều cái chết trong dân chúng cùng với những cái chết của bọn phiến loạn, bởi vì loạn quân đã cố ý dùng dân chúng làm bia đỡ đạn cho chúng. Sau khi tựu chức tướng McChrystal đã thay đổi lệnh hành quân, để dân chúng khỏi chết oan nên số tử vong trong dân chúng đã hạ xuống.

Trong buổi lễ tựu chức trước đám đông tại Đại bản doanh quân NATO, đại tướng Petraeus đã ngợi khen tướng McChrystal như sau: “Những tiến bộ thực hiện được trong mấy tháng qua – trước quân thù luôn luôn liều mạng – là kết quả của sự sáng suốt, nghị lực và quyền chỉ huy. Petraeus còn nói nhiều người đã làm việc cực nhọc dưới quyền chỉ huy của tướng McChrystal trong chiến lược chống phiến loạn. Vậy từ nay chiến lược mới của Petraeus như thế nào? Ở đây thiết tưởng cũng nhắc lại trước đây, khi còn là chỉ huy mặt trận Iraq, Petraeus đã nổi tiếng vì một chiến lược dân quân phối hợp chống phiến loạn và khủng bố, khiến quân Mỹ đã có kế hoạch rút quân bộ chiến ra khỏi nước này vào năm 2011.
Petraeus cũng là người chống lại mọi dư luận hoài nghi hay chủ bại ở chính trường Thủ đô Mỹ. Ông nói chiến tranh Afghanistan ngầy ngật khó khăn, nhưng nhấn mạnh đến những kết quả thực tế: Hơn 7 triệu trẻ em đã được cắp sách đến trường so với con số 1 triệu em từ 10 năm trước đây; trẻ em được chích ngừa nhiễm trùng 70% hay hơn; xây cất thêm nhiều đường lộ mới; kinh tế nở rộ ở nhiều thành phố hay thị trấn. Ông tuyên bố: “Sau nhiều năm chiến tranh, nay chúng ta đã đi đến một thời điểm khẩn trương. Chúng ta cần phải chứng minh cho nhân dân Afgha – và cho cả thế giới
-thấy rằng bọn al-Qaida và nhóm liên minh cực đoan của chúng sẽ không được phép trở lại một lần nữa tái lập các mật khu của chúng ở Afghanistan, để từ đó lại phóng ra các cuộc tấn công đánh vào dân chúng Afgha và tấn công các nước yêu chuộng hòa bình trên thế giới”.

Sáng thứ Hai đầu tuần này, nguồn tin UPI cho biết đại tướng Petraeus đã gửi một bức thư cho quân đội và nhân viên dân sự của Lực lượng Yểm trợ An ninh Quốc tế NATO. Trong thư này Petraeus viết: “Các lực lượng đồng minh ở Afghanistan sẽ không nề hà giết chết, bắt sống hay làm bọn phiến loạn quay đầu trở lại trong khi làm nhiệm vụ bảo vệ dân chúng. Chúng ta không từ nan, không ngại khó khăn, chúng ta quyết đem cuộc chiến đấu đến kẻ thù và chúng ta sẽ tiếp tục làm như vậy”.

Petraeus còn nói với quân sĩ của ông như sau: “Với sự bành trướng của Lực lượng Yểm trợ An ninh Quốc tế NATO và sự tăng trưởng của quân đội quốc gia Afghanistan – với hai thế lực này làm việc chung với nhau – chúng ta sẽ bảo đảm cho người dân Afghanistan “không bao giờ còn bị cai trị bởi những kẻ chủ trương bạo động bừa bãi và bọn cực đoan chủ nghĩa vuợt qua mọi biên giới quốc gia”.

Một tin mới nhất từ Afghanistan cho biết sáng thứ Ba Cảnh sát Bài trừ Ma túy của chính quyền Afgha và các lực lượng An ninh quốc tế đã giết chết 64 người và bắt giam 10 người trong một cuộc hành quân 3 ngày tại tỉnh Helmand ở biên giới ráp ranh Pakistan. Nhà cầm quyền cũng tịch thu được 16,641 kí-lô nha phiến trong cuộc hành quân. Diễn biến này xẩy ra tối Chủ nhật, nhưng đến đầu tuần này chính quyền mới loan báo đầy đủ chi tiết.

Bộ Quốc phòng Afgha loan báo 64 kẻ bị giết đều là bọn “khủng bố”. Trong cuộc hành quân, lực lượng của chính phủ đã giải thoát được 14 người dân bị bọn khủng bố bắt giam. Điều cần lưu ý là nông dân Afghanistan từ xưa vẫn quen trồng ma túy để sinh sống. Số người nghiền ma túy không phải ít. Bọn khủng bố Taliban do al-Qaida huấn luyện và yểm trợ, đã khuyến khích dân miền thôn dã trồng ma túy, bởi vì chúng lấy nhựa nha phiến ngầm đưa ra nước ngoài bán lấy tiền. Tiền đó chúng dùng để mua chuộc dân chúng và cũng là quỹ tổ chức các cuộc đánh bom tự sát hay các trận đánh du kích phá hoại an ninh trật ở các thị trấn, thành phố ở nước này.

Chúng tôi thiết nghĩ cuộc chiến lâu nhất do Tổng Thống Bush khởi sự từ năm 2001 có hy vọng sẽ kết thúc trong một thời gian ngắn với chiến lược của tướng Petraeus. Chiến lược chỉ là lý thuyết, kết quả của một sự suy tư của con người. Suy tư là do trí tuệ trong bộ óc mà có, bởi vậy tôi nghĩ đến luật tiến hóa chung cho cả nhân loại. Ở đâu có con người là có bộ óc tiến hóa, nó không dậm chân đứng lỳ một chỗ, mà với thời gian nó sẽ tiến ngày một nhanh hơn trước. Đánh họa khủng bố là phải đánh bằng bộ óc.

Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh




Chủ đề thay đổi

CHỦ ĐỀ THAY ĐỔI


Trong năm đầu tiên đến định cư ở Mỹ, nhà báo Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh đã viết bài quan điểm này. Chúng tôi nhận thấy bài viết có nhũng điểm phù hợp với tình hình cuộc tranh cử ở Mỹ năm 2008, cũng như những vấn đề đổi mới của các chế độ Cộng Sản trên thế giới, từ Nga cho dến Việt Nam trong cả chục năm qua. Bởi vậy chúng tôi đã xin phép được đăng lại bài báo nay. LTS.

 

 

“Thay đổi” có vẻ là từ ngữ của thời đại, Nói đến thay đổi ai cũng thích, ai cũng đòi thay đổi, đôi khi chẳng cần biết thay đổi cái gì, hay thay đổi thế nào. Có lẽ trừ những người đã cằn cỗi, muốn giậm chân tai chỗ cho qua ngày, trừ những kẻ chỉ muốn ôm lấy vinh quang, tưởng tượng hay có thật của quá khứ để mà sống, hầu hết mọi con người bình thường đều muốn có thay đổi với ước vọng muốn thấy một ngày mai hơn hẳn hôm nay. Còn gì khích lệ hơn cho tiến bộ và phát triển bằng một nềm tin vững chắc là tương lai nhất định sẽ rực rỡ và huy hoàng hơn hiện tại.

 

Trong cuộc tranh cử tổng thống Mỹ năm 1992, chủ đề tranh cử gồm hai chữ đơn giản là “thay đổi” đã có vẻ gần như một phép lạ huyền diệu, bởi vì nó đã làm cho tòa Bạch Cung đổi chủ. Một khi cuộc sống trong hiện tại chỉ toàn những khó khăn chật vật, những thất vọng và bất mãn, sự đòi hỏi thay đổi để mong tìm một cái gì tốt đẹp hơn cũng chỉ là phản ứng tự nhiên của người dân. Ngay tại đất nước Việt Nam của chúng ta, những đợt sóng đòi hỏi như vậy đã cuồn cuộn dâng trào từ bao lâu nay, mỗi ngày một mạnh, mỗi ngày một rõ rệt hơn, và ngay chính tai Liên Sô và các nước Đông Âu trong đầu thập kỷ này, những đợt sóng đó đã đánh gục những chế độ đàn áp khắt khe nhất.

 

Nhưng nếu nói rằng đòi hỏi thay đổi chỉ là nhu cầu tùy lúc của con người thì thật không đúng lắm. Thật ra nhu cầu thay đổi là một trong những bản năng tiềm ẩn của con người và đó cũng là lý do tại sao con người đã sinh tồn được cho đến ngày nay. Vì thế chính những người có cuộc sống no đủ mãn  nguyện với hiện tại của mình, cũng vẫn có ẩn núp trong tiềm thức của mình một nhu cầu thay đổi.

 

Sự thay đổi có những ý nghĩa trọng đại như vậy, nhưng có điều là từ ngữ “thay đổi”, thường khi bị bóp méo và đã bị lạm dụng khá nhiều. Thay đổi không có nghĩa là “có mới nới cũ” như câu tục ngữ châm biếm của người bình dân Việt Nam dùng để mỉa mai những kẻ tham lam, và lại được những kẻ cổ hủ lạc hậu ngày nay lợi dụng dể chỉ trích những đầu óc cầu tiến.  Đồng thời hai chữ “thay đổi” cũng bị lạm dụng và lợi dụng khá nhiều trong thời buổi chính trị phức tạp như trong những năm gần đây.

 

Những người Cộng Sản là nạn nhân đầu tiên của các đợt sóng đòi hỏi thay đổi. Năm 1985, khi ông Mikhail Gorbachev lên cầm quyền ở Liên Sô, những người Cộng Sản đã phải nhìn nhận có một cái gì không ổn trong cái khung giáo điều cứng nhắc ý thức hệ của họ rồi. Thật ra trước đó nhiều năm, những lý thuyết gia sáng suốt của Cộng Sản cũng đã đánh hơi thấy mối nguy đang tiềm ẩn đe dọa đến cỗi rễ lý tưởng của họ, khi mà tri và thức của người dân bị trị đã phát triển mạnh đến độ tức nước vỡ bờ, không có sức mạnh nào cản nổi. Nhưng thời đó, phe giáo diều cứng nhắc còn ngự trị, ai dám hở môi? Kẻ mới manh nha một chút như  Khruschev đã bị tặng ngay nhãn hiệu “xét lại” và bị lật nhào, còn giữ được mạng sống là may. Điều đáng chú ý là kẻ tố cáo Khruschev dữ dội nhất thời đó lại là bọn lãnh đạo Trung Cộng, những người giáo điều ù lỳ nhất dưới trướng của Mao Trạch Đông, có lẽ vì phe giáo điều Trung Cộng còn được bện thêm một cái vỏ thép cứng hơn nữa, rất khôi hài trong ý thức hệ Cộng Sản về vô sản quốc tế là : “sự tự mãn dân tộc tính”, đại khái với quan niệm “tư tưởng Mao-ít còn hơn cả tư tưởng Lê-nin-nít”. Nhưng cũng có thể con cháu của Đức Khổng Phu Tử, quen với ý niệm hình nhi thượng học sâu sắc từ mấy ngàn năm nay, đã nhìn thấy rõ cái nguy của sự thụt lùi, dù chỉ có nửa bước của cái gọi là xét lại đó. Nói một cách nôm na là dân Á Đông đã “thâm” hơn dân da trắng phổi bò của Tây Phương vậy.

 

Dù sao, khi ông Gorbachev lên cầm quyền là thời cơ đã chín mùi để ông mở cái khoá miệng và xác nhận cần phải có sự thay đổi. Nhưng ông đã làm thế nào ? Đây là điểm khôi hài nhất: Ông vừa làm….. vừa run. Có thể ông là người có lý tưởng hơn, nên ông sợ rằng thay đổi có thể làm sụp đổ luôn cái lý tưởng Cộng Sản mà ông muốn cứu vãn cho bằng được. Nhưng cũng có thể ông chỉ là một người như mọi người khác, nghĩa là ông sợ cho cái mạng sống của ông. 

 

Bởi vậy ông đã lợi dụng khát vọng đòi hỏi thay đổi của người dân, bóp méo đi một chút để vừa giữ ý thức hệ, lại vừa giữ được mạng sống của mình. Ông đưa ra chủ trương Glasnot và Perestroika. Theo tiếng Nga, hai chữ đó chỉ có nghĩa là “cởi mở” và “tái cấu trúc”. Cởi mở cũng như mở cửa thêm cho rộng ra để căn nhà Cộng Sản chủ nghĩa khỏi tối tăm, u uất và… rùng rợn như trước nữa, và tái cấu trúc xây lại một vài bức tường, mở thêm vài căn phòng để cho nó hấp dẫn hơn. Tóm lại ông muốn thay đổi, nhưng căn nhà vẵn còn là căn nhà chớ không phải đem phá nó đi, đào cả móng lên và xây căn nhà khác.

 

Người ta đã thấy kết quả của ông. Điều thú vị nhất là chỉ mới mở thêm cửa ra đôi chút và phá đi một bức tường nhỏ mà căn nhà đã sụm luôn. Và điều thú vị hơn nữa cho chính bản thân ông  Gorbachev là ông giữ được mạng sống nhờ cuộc thế đã đổi thay, thế giới đã biến chuyển. Nếu như ông làm việc đó dưới thời Stalin thì chưa kịp trở tay, hồn ông đã du Địa phủ. Hoặc nhẹ nhàng hơn như dưới thời Brejnev, ông đã đi lãnh một chức giám đốc một nông trường tập thể gồm mấy trăm con bò chết đói ở một xứ xa xôi hẻo lánh nào đó trong vùng băng tuyết ở Siberia.

 

Trong số những người Á Đông theo con đường “ngon cờ Mác-Lê bách chiến bách thắng”, ngoài những người Cộng Sản Trung Hoa, rất thâm và độc như những ông quân tử Tàu… Cộng, tất nhiên chúng ta không thể quên những nhà Cộng Sản Việt Nam, cũng rất khôn nhưng không ngoan, nghĩa là cái khôn vặt, khôn láu cá của những dân cờ bạc bịp, cái trí trá tiểu xảo sặc mùi anh lý trưởng với cái nhìn không vượt ra ngoài được lũy tre xanh của làng xóm nhỏ. Vì thế khi các bậc đàn anh Liên Sô bắt buộc phải đi nước cờ Glasnot và Perestroika, ở Việt Nam, ban lãnh đạo Cộng Sản cũng đưa ra một từ rất kêu, nhưng lại rất mập mờ đánh lận con đen là “đổi mới”.

 

Thế nào là đổi mới và đổi mới cái gì, kết quả ra sao ? Trong một dịp khác có lẽ chúng ta cũng nên nhìn kỹ hơn cái trò hề bịp bợm của lá bài đổi mới này. Nhưng ở đây chúng ta chỉ ngắn gọn trong ba chữ “vẫn như cũ” . Thật ra đề tài đổi mới đã được bàn cãi nhiều trong mấy năm qua, nhưng chỉ ở trong giới những người Việt sống ở hải ngoại mà thôi, còn ở trong nước đây là một đề tài tối kỵ, đụng vào nó là có thể đưa bạn vào bóng tối vĩnh viễn hay có thời hạn với cái mũ chụp quen thuộc như phản động hay gián điệp…trừ khi bạn nói đúng theo chiều hướng mà đảng đã quy định. Ý nghĩa và chiều hướng đổi mới theo sách vở của đảng chỉ là không thay đổi gì hết. Đổi mới chính trị ư ? Đây chính là màn lừa bịp dài dài, thay đổi vài lớp lang, hoán chuyển một vài diễn viên chóp bu, biểu diễn thêm một vài trò khác về hiến pháp gọi là bầu cử Quốc hội. Ở vào thời đại dân trí tiến triển như thế này, mà lại đem cái trò tiểu xảo ra dùng như bọn tổng lý ngày xưa để mà mắt dân đen thì thật nực cười. Và còn đem cái trò bịp bợm nhà quê đó để lường gạt quốc tế thì còn gì khôi hài hơn nữa.

 

Còn đổi mới kinh tế thì sao ? Đây là một hành động theo nhu cầu. Khốn thay nhu cầu đó không phải là của dân, mà là của đảng, để cứu nguy cho đảng đang tụt dốc nguy hiểm và nhất là để giữ lại quyền lực thống trị trong tay một thiểu số. Thành ra công cuộc đổi mới kinh tế của đảng Cộng Sản Việt Nam rút cuộc tạo ra một hình ảnh cũng tức cười chẳng kém : Đó là hình ảnh một lũ kiến bị hun nóng ở phía dưới, đang chạy loạn xạcuống cà kê lên. Mở cửa, đi theo kinh tế thị trường, gọi vốn ngoại quốc đầu tư, nghe thì thật đẹp thật hấp dẫn, nhưng thực tế thì mọi suy tư mọi hành động đều lẩn quẩn ở trong một cái vòng tròn có đến hai lần vạch ngăn chặn lại, không thoát ra ngoài được, chẳng khác nào một con quỷ bị hai cái vòng phù thủy cản lối, cứ đụng đầu thì phải dội lại.

 

 Cái vòng đai thứ nhất bằng thép, đó là giáo điều của ý thức hệ. Cởi mở kinh tế mà đụng phải những điều cấm kỵ của ý thức hệ Cộng Sản là phải dội lại. Cái vòng đai thứ hai, tuy không làm bằng thép nhưng nó kiên cố vô cùng: Đó là sự sợ hãi. Mở cửa ra quá trớn, ngộ lỡ phản động nó về, ngoại quốc nó đến lũng loạn, gián điệp nó vô nó xúi giục tạo loạn lật đổ thì sao ? Mọi ý chí đổi mới đụng đến chỗ này là bị co vòi lại. Thật đúng như kiểu con kiến mà leo cành đa, leo phải cành cụt leo ra leo vào..!

   

     Nhìn qua một vài cố gắng gọi là thay đổi đó, không phải để phán đoán hay chỉ trích làm gì cho mất công, mà thật ra để tìm một vài luận cứ cho chủ đề thay đổi của chính chúng ta. Có thể đó là những kinh nghiệm, những cái gương tầy liếp để suy nghĩ đến nhu cầu thay đổi.
  

     Thay đổi trước hết là phải thành thật. Thành thật với người và thành thật với chính bản thân chúng ta. Chúng ta thay đổi không phải vì quyền lợi của cá nhân chúng ta hay của một tập thể nào, mà vì quyền lợi của toàn dân và của đất nước chúng ta.


     Thay đổi là phải can đảm. Không phải dễ dàng gì mà con người có thể dứt khoát từ bỏ được những thành kiến, những tập quán cũ để đi tìm cái mới. Phải có can đảm mới dám từ bỏ được sự an toàn của hiện hữu, dù cho cái hiện có cũng chẳng được thỏa mãn lắm, để đi vào một con đường mới có ít nhiều may rủi. Nhưng thay đổi cũng không phải là nhắm mắt nhẩy vào một cái hố hư không, vô đáy. Với kiến thức cao, với sự suy tính kỹ càng, với sự góp ý để đi tới đồng thuận trong bài toán gồm nhiều ẩn số mà chúng ta đi vào, chúng ta có thể tăng cường rất nhiều xác suất “may” và giảm thiểu đến tối đa cái rủi.


     Thay đổi là phải dứt khoát với quá khứ. Ở đây có thể có sự hiểu lầm, cần xác định cho rõ. Chúng ta không thể ôm lấy quá khứ để mà sống, nhưng chúng ta cũng không nên quên rằng quá khứ có những bài học không thể quên, nhất là có những cái gốc mà bất luận cuộc đổi thay như thế nào, chúng ta cũng phải giữ cho bằng được.


     Cái gốc đó là đất nước chúng ta với ngàn năm uy linh sông núi, là dân tộc với những truyền thống cao đẹp về đạo nghĩa mà ông cha chúng ta để lại.


     Cái gốc đó là lý tưởng của chúng ta, Lý tưởng dân tộc chủ nghĩa, quyết tâm phục vụ cho nước cho dân với một tinh thần ái quốc mãnh liệt.


     Sau hết, chúng ta còn có những cái rễ vô cùng quan trọng để từ đó bắt nguồn cho mọi tư tưởng và hành động của chúng ta. Đó là tinh thần cách mạng. Các đảng phái quốc gia hiện nay hay sau này dù có biến thiên đi để trở thành những chính đảng hay những đoàn thể khác có tính chất tập hợp quần chúng, cũng không nên quên rằng chúng ta đãbắt nguồn từ những đảng cách mạng, hoạt động trong bóng tối trong thời kỳ chống thực dân và chống Cộng Sản. Tinh thần cách mạng là gì,  nếu không phải là tinh thần trách nhiệm quả cảm, hy sinh, chịu đựng, để thực hiện cho bằng được lý tưởng của chúng ta.

 

    Vậy thì thay đổi bắt đầu từ đâu ? Bắt đầu từ chính chúng ta, từ mỗi người chúng ta.

 

Ngày 30 tháng 11 năm 1992

Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh.    


      

 

 

 

 

 

                   

                                                                                                                                                           

  

 




GS Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh: BIÊN CƯƠNG MỚI

GS Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh: BIÊN CƯƠNG MỚI

Trong suốt tuần qua, Trung Quốc đã gặp khó khăn lớn ở Tân Cương vì vụ nổi loạn của dân thiểu số gốc Hồi tại tỉnh này khiến có 180 người chết và 1,680 người bị thương. Ðến đầu tuần này Cảnh sát Trung Quốc lại bắn chết thêm 2 người Hồi và 1 người bị thương, tình thế rất gay go. Tên gọi là Tân Cương tức “Biên giới mới” đã được đặt ra năm 1949 khi quân Cộng Sản Tầu chiếm toàn thể Hoa lục, khiến chính phủ Trung Hoa Quốc dân đảng phải di tản ra đảo Ðài Loan. Tân Cương chiếm một vùng đất rất rộng lớn phần lớn là núi non hiểm trở ở phía Tây Hoa Lục, biên cương chạy dài từ Tây Bắc giáp Mông cổ, xuống đến ranh giới các nước Trung Á như Kazakhstan, Kyrgystan. Kế đó là vùng Tây Nam có khu Tự trị Tây Tạng, giáp ranh giới các nước Afghanistan, Pakistan và Ấn Ðộ. Ngày nay Tân Cương đã trở thành một vùng kinh tế trù phú vì ở dưới vùng núi này có nhiều mỏ dầu lửa. Ngoài ra phong trào du khách đến miền này đã phát triển mạnh, khiến Urumgi, thủ phủ Tân Cương – phía Bắc gần biên giới Mông Cổ – đã trở thành một đô thị hiện đại, với những tòa nhà chọc trời. Hiện nay kỹ nghệ dầu khí của Tân Cương đem về cho Bắc Kinh mỗi năm 61 tỷ đô-la Mỹ, một trong những ngành kỹ nghệ tiến mau nhất của kinh tế Trung Quốc.

Ở Tân Cương từ xa xưa vẫn có nhiều sắc dân thiểu số vùng Trung Á sinh sống, nhưng có một sắc dân gọi là tộc Uighur (đọc theo âm Việt là uây-ghơ) được thế giới sớm biết đến nhiều nhất, vì sắc tộc này sống trên con đường bộ do Marco Polo (Thế Kỷ 13) tìm ra để từ Venice (Ý) giao thương với các nước Trung Á. Tộc “uây-ghơ” theo đạo Hồi từ thế kỷ 7, có điểm đặc biệt là cho đến nay vẫn cách biệt với sự phát triển của Hồi giáo ở Trung Ðông, để giữ được bản sắc hiền lành theo dân tộc tính của họ. Người Trung Hoa thời cổ đã biết đến sắc tộc này khi có con đường “Tơ lụa” giao thương với người Âu châu, nên gọi đó là dân “Hồi” (chữ Hán có nghĩa là trở về), có lẽ đó là những người đã bỏ vùng núi khô cằn ra đi kiếm ăn, nay trở về sống trên đường Tơ Lụa để làm ăn với khách buôn giầu có từ bên ngoài đến. Khi người Tầu thấy họ làm lễ tôn giáo một cách khác các tôn giáo thời đó ở bên Tầu, nên cũng gọi luôn tôn giáo đó là “Hồi giáo” cho tiện.

Tôi đặc biệt muốn nhấn mạnh đến chữ Hồi giáo ở đây, vì từ lâu bao lâu nay tôi vẫn thắc mắc tại sao báo chí Việt ngữ vẫn dùng chữ Hồi giáo để gọi tôn giáo Muslim hay Islam do Ðấng Tiên tri Mohammed thành lập vào Thế kỷ 7 ở Á rập, Trung Ðông. Nguyên nhân chính là vì vào thời điểm trước khi văn hóa Pháp tràn vào Việt Nam đầu thế kỷ 18, các bậc tiền nhân của chúng ta vẫn dùng chữ Hán Nôm để tìm hiểu về thế giới bên ngoài. Bởi vậy khi thấy Hán tự dịch Muslim là đạo Hồi, nên cũng gọi đó là đạo Hồi. Ðến nay trong ngôn ngữ dân gian Việt Nam vẫn có chữ đạo Hồi. Người Tầu gọi cả Pakistan là Hồi Quốc, tiếng Việt vẫn quen dùng tên nước đó như vậy, trong khi trong chữ Pakistan không có gì dính đến tôn giáo, mặc dù đa số người Pakistan cũng theo đạo Hồi. Tôi nghĩ các học giả Việt Nam ngày nay cũng nên sửa chữa lại tên gọi của một số các địa danh ngoại quốc khác bằng những chữ thế giới thường dùng, thay vì dùng theo âm Hán tự, thí dụ như Hoa Thịnh Ðốn, Ba Lê, Luân Ðôn v.v… như thời cổ.

Hãy trở lại câu chuyện “Biên Cương Mới”. Khu Tân Cương do Cộng sản Tầu đặt ra từ năm 1949 đã làm bộc lộ rõ ý đồ thâm độc của chủ nghĩa “bành trướng Bắc Kinh”. Nước Trung Hoa có dân số đông nhất thế giới, sinh sản mau lẹ, nên bắt buộc phải mở rộng bờ cõi từ thời buổi xa xưa nhất của lịch sử. Hiện nay dân số Trung Quốc có 1 tỷ 318 triệu người, người gốc Hán chiếm 92%, còn 8% là những gốc dân thiểu số đủ loại. Dân gốc Hán nhiều như vậy, nhưng lại sống đông đúc nhất ở một dải đất ở miền Ðông Hoa lục, kéo dài xuống theo bờ biển Ðông Hải. Diện tích toàn thể Trung Quốc kể cả các khu tự trị dân thiểu số như Nội Mông, Tân Cương và Tây Tạng, tính chung là 9,572,900 cây số vuông. Bản đồ cho thấy rõ các khu tự trị này chiếm hơn một nửa diện tích toàn thể lãnh thổ, phần còn lại là vùng của dân gốc Hán.

Chế độ Cộng sản Tầu hiện nay chủ trương bành trướng lãnh thổ cho dân Tầu – hiện đã bằng 1/5 dân số cả thế giới – để có đủ đất sống và sinh sản thêm nữa. Nhưng Bắc Kinh khôn ngoan giở trò “bành trướng thầm lặng” bằng cách cho dân gốc người Hán (tức người Tầu) di dân thật nhiều qua các lãnh thổ láng giềng mà họ đã chiếm, gọi là khu “tự trị” nhưng do chính quyền Trung ương trực tiếp cai trị, chẳng khác gì một tỉnh Trung Quốc. Người ta đã thấy hình ảnh khu gọi là “tự trị” Tây Tạng. Khi người gốc Tầu đông hơn người gốc bản xứ, khu tự trị sẽ biến thành một tỉnh Trung Quốc. Tôi nghĩ những nước láng giềng của Trung Quốc có tinh thần dân tộc mạnh đã nhìn thấy rõ ý đồ của Trung Cộng, nên dân chúng phải đề phòng. “Biên cương mới” là bài học cho dân tộc Việt Nam.

Tân Cương hiện nay có tổng số dân là 20 triệu người kể cả dân Tầu, trong đó chỉ có 8 triệu người sắc tộc “uây-ghơ”. Thủ phủ Urumqi đông dân cư nhất có 1.3 triệu người, nhưng đại đa số là dân Tầu thứ thiệt, còn dân bản xứ “uây-ghơ” đã bị gạt ra ngoài rìa thành phố, bởi vì thương gia Tầu Cộng đến đây định cư, dùng tiền bạc mua hết đất ở thành phố. Ngoài Urumqi, tình hình các thành phố khác ở Tân Cương cũng tương tự, chẳng hạn thành phớ lớn thứ hai của Tân Cương là Kashgar và nhiều thành phố nhỏ hơn ở phía Nam cũng có loạn. Trong hơn một tuần qua hàng chục ngàn Cảnh sát mặc áo giáp, nón sắt, võ trang súng liên thanh và cả quân đội chính quy Trung Quốc đã ùn ùn kéo vào Urumqi và các thành phố khác của Tân Cương. Nhà cầm quyền Trung ương ở Bắc Kinh đã đặc biệt cho những hình ảnh đó chiếu trên TV để cảnh cáo các khu vực khác trong nước, đồng thời cũng cho thế giới biết để quy lỗi cho người sắc tộc thiểu số đã nổi loạn đánh phá và giết chóc những người gốc Hoa lương thiện đến làm ăn buôn bán.

Bất chấp sự đàn áp của Cảnh sát võ trang Tầu, phong trào đòi độc lập của dân thiểu số Tân Cương vẫn tiếp tục. Trong thập niên 90, với sự sụp đổ của Liên Sô, phong trào Hồi giáo ở Trung Á đã gia tăng sức mạnh, tinh thần độc lập dân tộc ở các nước Trung Á mỗi lúc một cao. Ngoài ra những người gốc “uây-ghơ” hiện di tản khắp mọi nơi trên thế giới, họp thành những khối nhỏ cũng đã biểu tình kêu gọi sự chú ý của công luận về những vụ đàn áp dã man của Quân đội và Cảnh sát Tầu ở Tân Cương. Mục tiêu của Bắc Kinh là bành trướng lãnh thổ để dân gốc Hán của họ có đủ đất sống, nhưng khi họ chủ trương tiêu diệt văn hóa và ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số, họ đã phạm phải một sai lầm nghiêm trọng.

Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh




Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh: Tính Sổ Chiến Tranh

Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh: Tính Sổ Chiến Tranh

Nước Mỹ đã mắc phải hai cuộc chiến ngay từ lúc khởi đầu Thế kỷ 21, đến nay vẫn kéo dài suốt 10 năm chưa dứt, và cuốn sổ nợ chiến tranh đã báo hại nền kinh tế Mỹ, làm lủng túi tiền của người dân và cũng làm mồi cho chủ nghĩa phe đảng muốn lợi dụng mọi cách để hạ dối thủ trong cuộc bầu cử trung hạn sắp tới. Hai cuộc chiến đó là Afghanistan và Iraq. Chúng tôi muốn nhắc lại vài nét lịch sử bởi vì nếu biết rõ được quá khứ, chúng ta có thể hình dung được tương lai phần nào. Câu hỏi đầu tiên được đặt ra là tại sao Mỹ và cả các đồng minh dính vào hai cuộc chiến nói trên. Sau Thế chiến II, có hai nước chiến thắng nổi bật là Hoa Kỳ và Liên bang Sô Viết đã đánh tan phe trục là Ðức, Ý và Nhật. Sau đó LHQ thành hình nhưng điều đáng buồn là Nga Sô đã gây ra cuộc chiến tranh lạnh đưa đến hậu quả là tình hình thế giới trở nên gai góc như ngày nay.

Chiến tranh lạnh do Liên Sô gây ra với tham vọng bành trướng chủ nghĩa Mác-xít khắp hoàn cầu. Cố nhiên Mỹ đã làm mọi cách để chặn đứng sự bành trướng này. Chúng tôi muốn bỏ qua vấn đề Việt Nam vì chúng ta đã biết quá rõ, để trước hết nói đến Afghanistan hợp với thời cuộc hơn. Ðây là một nước Trung Á, nằm giữa Iran và Pakistan xa về phía Bắc, thành ra không có bờ biển Á Rập mà tiếp giáp với Turkmenistan, vốn là một thành phần của Liên bang Sô Viết thời trước. Khoảng năm 1980 giữa thời chiến tranh lạnh, Liên Sô đã cho một số cán bộ Turkmenistan thu nhận những thanh niên từ Afghanistan qua để truyền bá chủ nghĩa Cộng sản.

Nhóm cán bộ Cộng sản Afgha về nước, ngấm ngầm bành trướng, thu thập những người còn trẻ và khi đã có thanh thế nhờ Cộng sản chuyển giúp vũ khí, chúng đã cướp được chính quyền và lập ra chế độ Mác-xít ở Thủ đô Kabul. Thời này cũng là lúc Mỹ chú ý đến tình hình ở Ðông Nam Á kể cả Trung Nam Á. Khi Cộng sản Afgha chiếm được Kabul, Mỹ lập tức liên lạc chặt chẽ với chính quyền Hồi giáo Pakistan cũng đang lo lắng về vụ nước láng giềng Afgha do Cộng sản cai trị. Tình thế bắt đầu đổi khác khi người Hồi Pakistan qua lại biên giới nói chuyện với người Hồi Afgha. Từ thời xa xưa, đối với những người đạo Hồi ở hai bên không có đường biên giới. Nhiều nơi vùng giữa Pakistan và Afghanistan lại là một làng mạc thôn xóm của người Hồi.

Vì thế khi Cộng sản thành hình ở Afgha, dân Hồi bên này và bên kia biên giới đi lại với nhau như đi chợ. Ðó cũng là lúc CIA và biệt kích Mỹ đến Pakistan để bí mật huấn luyện và trang bị vũ khí cho thanh niên Hồi giáo Afgha có mặt tại Pakistan. Năm 1983 đám thanh niên này về nước, bắt đầu đánh du kích chống quân Chính quyền Cộng sản ở Kabul. Hồng quân Sô viết đàn áp dữ dội, dùng trực thăng và đại bác tiễu trừ “loạn quân”. Nhưng loạn quân cũng có vũ khí tối tân, chẳng hạn rốc kết bắn chiến xa hay trực thăng của địch. Hồng quân chịu không thấu, đến năm 1987 quân đội Nga phải rút hết về nước, kéo theo lũ cán bộ Cộng sản cao cấp Afgha. Và trớ trêu thay, trong số những thanh niên Hồi giáo đánh đuổi Cộng sản Nga, không phải chỉ có những thanh niên Hồi giáo Afgha mà còn có nhiều thanh niên Hồi giáo ở Trung Ðông lén lút qua để tình nguyện đánh Nga cứu đạo Hồi. Trong số những người đi học môn du kích Mỹ lúc đó có một chàng trai tên là Osama bin Laden.

Hãy trở lại Thế kỷ 21 với Tổ chức Khủng bố có tên là al-Qaida. Vào năm 2001, bọn khủng bố đã cướp một phi cơ chở khách ở Mỹ rồi dùng phi cơ đó lao vào tòa nhà Trung Tâm Thương mại Thế giới ở New York gây ra một vụ khủng bố khủng khiếp chưa từng thấy. Hôm sau một ông già xuất hiện trên màn hình TV nói tổ chức đánh bom là al-Qaida do ông ta huấn luyện. Ông già đó chính là Osama bin Laden. Vào tháng 10 năm 2001, TT George W. Bush ra lệnh quân Mỹ tấn công, đổ bộ vào vào Afghanistan để truy lùng bin Laden và đồng bọn là Taliban nhưng không có kết quả. Ba năm sau TT Bush ra lệnh quân Mỹ đổ bộ vào Iraq đánh tan chính quyền của Saddam Hussein vì lý do tên độc tài này có vũ khí giết người hàng loạt (tức bom nguyên tử), nhưng tin tình báo đã sai. Dù vậy Saddam Hussein cũng bị kết án tử hình và bị thắt cổ chết.

Hai cuộc chiến kéo dài đến nay mà vẫn chưa thấy ánh sáng ở cuối đường hầm. Bây giờ là lúc tính sổ chiến tranh. Chiến tranh càng dài sổ nợ càng lớn. Nợ ai vậy? Tiền bạc không phải từ trên trời rớt xuống mà do người dân đóng thuế để chính quyền có tiền chi dùng và quân bình ngân sách. Nếu không làm được như vậy, người dân sẽ lãnh đủ khi kinh tế suy thoái không cách nào gỡ. Thay vì cứu nguy sự sống còn của người dân, người ta chỉ thấy trên chính trường Mỹ hai phe đối nghịch gia tăng các chiêu thế chính trị càng gần ngày bầu cử càng đánh lớn đến độ “xáp lá cà” để ăn thua đủ.

Ðầu tuần này, TT Obama loan báo chương trình rút quân Mỹ khỏi Iraq để trao trách nhiệm cho chính quyền Iraq, ông nói: “Tôi đã nói rõ vào ngày 31-8-2010 sứ mạng chiến đấu của quân đội Mỹ sẽ chấm dứt”. Vụ rút quân này gồm 50,000 quân, so với số quân 144,000 khi Obama tựu chức. Số quân Mỹ còn lại có nhiệm vụ “cố vấn và yểm trợ các lực lượng an ninh Iraq, bảo vệ các viên chức và các cơ sở của Mỹ, tổ chức các cuộc hành quân chống khủng bố”. Sứ mạng của Mỹ thay đổi từ “Hành quân cho Tự do Iraq” thành “Hành quân Bình minh mới”. Số quân Mỹ lưu lại 50,000 người sẽ rút hết vào cuối năm 2011, như TT George W. Bush đã thỏa hiệp với chính quyền Iraq trước ngày ông Bush rời khỏi ghế Tổng Thống.

Chúng tôi nghĩ quyết định rút quân của TT Obama là điều đáng hoan nghênh. Bởi vì xét theo tình thế hiện nay, việc tiễu trừ khủng bố al-Qaida ở nước nào phải là nhiệm vụ của chính quyền và dân chúng nước đó. Mỹ chỉ có thể yểm trợ bằng mọi cách kể cả không lực, chớ không nên đổ quân vào nước có khủng bố hoành hành, bởi vì làm như vậy bọn al-Qaida hay đồng lõa có thể tố cáo quân Mỹ là ngoại xâm để hô hào dân trong nước nổi lên chống đối.

Riêng về tình hình tranh cử ở Mỹ hiện nay, việc tính sổ chiến tranh đang trở thành những trận đánh giáp lá cà để ăn thua đủ giữa các thành phần chính trị, bất chấp những khó khăn kinh tế do hậu quả của hai cuộc chiến tranh ở Iraq và Afghanistan. Ðó là điều đáng buồn.

Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh




Tạo thành lịch sử

TẠO THÀNH LỊCH SỬ

Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh

 

Kết thúc cuộc vận động làm ứng cử viên Tổng Thống, bà Hillary Clinton đã có một diễn từ rất hay về chính trị, nhưng cũng đầy tình cảm chân thành. Đó là một sự phối hợp tuyệt vời giữa khối óc và con tim. Nhìn hình ảnh trên TV cuộc họp ở Thư viện quốc gia Washington đông nghẹt người, nhiều đợt đứng lên vỗ tay hoan hô vang dậy, tôi có cảm tưởng đây là một cuộc họp chào mừng một ứng cử viên đã thắng chớ không phải một người đã thua. Nhận xét này quá đáng chăng? Ngay lúc đó tôi đã có cảm nghĩ bài diễn từ có nhiều ý nghĩa sâu sắc, đáng chiếm một trang sử nước Mỹ làm gương cho hậu thế. Và 18 triệu phiếu trong đảng Dân chủ đã bầu cho bà Clinton cũng đủ là một sự kiện lịch sử. Bà chỉ kém phiếu Obama có một chút ít mà thôi.

 

Sự thật Hillary Clinton đã tạo thành lịch sử từ 8 năm trước. Bà là vị Đệ nhất Phu nhân đầu tiên trong lịch sử Mỹ sau khi chồng hết nhiệm kỳ ra khỏi Bạch Cung, đã có một sự nghiệp chính trị dân cử. Năm 2000 bà đã đắc thắng vẻ vang làm Thượng nghị sĩ New York . Vậy tại sao bà đã thua trong cuộc đấu với Thượng nghị sĩ Barack Obama? Nhắc lại vài chuyện đã qua không phải vô ích, vì kinh nghiệm của quá khứ là bài học của tương lai. Goliath đã bị David hạ chỉ vì người khổng lồ đã quá coi thuờng chú bé nhóc con. Từ tháng 1-07, khi bà Clinton tuyên bố ra ứng cử Tổng Thống, đa số dân Mỹ quá thất vọng về Tổng Thống Bush, đã mong  sẽ có sự thay đổi. Các poll lúc đó chỉ nhìn đến Hillary để xem ưu thế tiến triển như thế nào chớ không lưu ý đến một ông Obama, lính mới ra lò trong làng chính trị cao cấp ở Washington DC . Nhưng từ đầu năm 2008 mọi người mới té ngửa. Obama không phải tầm thường. Đây không phải là một David chỉ bắn lén một phát mà trúng. Đây là một người có nhiều biệt tài về đấu tranh chính trị, nhất là khoa ăn nói.

 

Cố nhiên việc Hillary chấm dứt cuộc vận động làm ứng cử viên Tổng Thống không có nghĩa là sự nghiệp chính trị của bà đã kết thúc. Theo thiển ý sự nghiệp đó nhờ trận đấu này đã vọt lên cao chưa từng thấy. Trong các ưu tiên bà nêu ra có vấn đề “bảo hiểm sức khỏe” cho tất cả mọi người dân, vì hiện nay hàng triệu người vẫn không có bảo hiểm y tế. Nhưng ý kiến của Hillary quan trọng nhất vẫn là việc xóa sạch dấu vết còn lưu cữu của nạn kỳ thị giới tính và mầu da. Trong các sở làm, lương bổng phụ nữ vẫn kém lương lậu đàn ông, mặc dầu có nhiều trường hợp phụ nữ làm việc giỏi hơn, có nhiều sáng kiến hơn và chuyên cần hơn đàn ông. Từ năm 1848 Mỹ đã có phong trào tranh đấu cho nữ quyền, nhưng đến năm 1920 phụ nữ Mỹ mới có quyền đi bỏ phiếu. Sau cuộc chiến tranh Nam-Bắc, Tổng Thống Abraham Lincoln đã ký sắc lệnh giải phóng người da đen khỏi ách nô lệ, nhưng nạn kỳ thị vẫn tiếp tục dai dẳng suốt 200 năm sau. Mãi đến khi nhờ sự tranh đấu quyết liệt của bà Rosa Parks, một phụ nữ da đen năm 1954, người da đen mới được ngồi chung xe buýt với người da trắng. Cũng năm đó trẻ em da đen được học cùng lớp với trẻ em da trắng. Hillary đã kết thúc cuộc vận động làm ứng viên Tổng Thống, nhưng Mỹ vẫn có Phong trào Nữ quyền hiện đại rất mạnh kể cả phụ nữ da mầu vẫn cam kết đứng sau lưng bà.

 

Người ta đã thấy rõ tư cách một người làm chính trị như bà Hillary. Bà ra tranh cử không phải chỉ vì chức vụ vì danh lợi, mà chỉ vì muốn có cơ năng lãnh đạo theo đường hướng mà bà tin là đúng để phục vụ quyền lợi chính đáng của dân của nước. Tháng 5 vừa qua khi thấy Hillary kém phiếu, nhiều ông kể cả các ông da trắng nêu câu hỏi chát chúa: Tại sao Hillary không bỏ cuộc ngay đi cho rồi mà còn tiếp tục đấu với Obama? Câu hỏi thật vô vị, nếu không kiên trì chiến đấu cho đến phút chót, chẳng hóa ra chưa đấu xong đã buông tay đầu hàng, còn gì tư cách một người lãnh đạo? Bây giờ  mọi việc đã rõ rệt. Obama hơn phiếu dù chỉ hơn chút ít, Hillary chính thức tuyên bố kết thúc trận đấu trong nội bộ đảng Dân Chủ chớ không kéo dài đến ngày Đại hội Đảng vào tháng 7. Lý do ưu tiên là tránh cho đảng Dân Chủ khỏi bị chia rẽ thành hai mảnh mà đoàn kết lại để sẵn sàng chờ cuộc đấu với đảng Cộng Hòa tranh chức Tổng Thống vào tháng 11 năm nay. Tuần này khi Hillary cùng chồng và cô con gái đi nghỉ một tuần, một câu hỏi khác lại được đặt ra: Liệu Hillary có đứng chung danh sách ứng cử với Obama làm Phó Tổng Thống hay không? Lúc này còn quá sớm để trả lời.

 

Hai ngày trước lúc tuyên bố ngưng vận động tranh cử, bà Clinton và ông Obama đã họp riêng khoảng một tiếng đồng hồ trong phòng khách tư thất của bà Diana Feinstein. Khi rời khỏi phòng họp hai người đều có bộ mặt tươi cười. Nhưng điều đó không có nghĩa là vấn đề lựa chọn ứng viên Phó Tổng Thống đã giải quyết xong. Chỉ biết chắc là trong diễn từ của bà Hillary dài 30 phút, bà đã nói đến tên ông Obama 14 lần để tuyên bố hoàn toàn ủng hộ ông tranh cử Tổng Thống. Đặc biệt có một câu nói làm tôi suy nghĩ nhiều. Hillary nói: “Trong 40 năm qua đã có 10 lần bầu Tổng Thống nhưng đảng Dân Chủ chỉ trúng cử có ba lần và có hai Tổng Thống. Người đắc cử hai lần làm Tổng Thống 8 năm là người có mặt ở đây với chúng ta hôm nay”. Hillary không nói đến tên ông chồng nhưng toàn thể cử tọa hoan hô vỗ tay rào rào.

 

Hillary cười nói tiếp: “Chúng ta đã đạt được những tiến bộ kỳ diệu trong thập niên 90 dưới quyền một ông Tổng Thống Dân Chủ, bây giờ chúng ta hãy hợp tác giúp Barack Obama làm Tổng Thống sắp tới của chúng ta”. Bà không hề nói bà có thể nhận lời làm ứng viên Phó Tổng Thống trong danh sách của Obama, bởi vì vấn đề lựa chọn một ứng viên Phó Tổng Thống rất phức tạp. Nhưng dù bà có đứng chung danh sách hay không, hoài bão chính trị của bà vẫn cao. Bà nói: “Nếu chúng ta đã phóng được 50 phụ nữ lên không gian quỹ đạo vòng quanh Trái Đất, lẽ nào rồi đây chúng ta không phóng được một phụ nữ qua ngưỡng cửa phòng Bầu dục Bạch Cung”. Tôi nghĩ “chúng ta” ở đây bà muốn nói đến các ông. Bởi vì các ông, nhiều người ở ngay trong đảng Dân Chủ, khi phải chọn môt nữ ứng cử viên Tổng Thống đã ngần ngại vì cho rằng một bà lên làm Tổng Thống tức Tổng Tư Lệnh Quân đội nghe thật kỳ, liệu có làm nên trò trống gì hay không?

 

Tôi chỉ là một người dân gốc Việt, bỗng nghĩ đến Bà Trưng ở Việt Nam và cả bà Jeanne d’Arc ở Pháp. Các ông làm Tổng Tư Lệnh cho đến nay cũng có ông không làm nên trò trống gì mà còn làm khổ cho dân. Bởi vậy tôi xin thưa với mấy đấng đực rựa còn nặng trĩu óc cổ hủ: “Thời nay đã đến lúc phụ nữ vùng lên rồi”.

 

 Bình luận gia Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh




Gs Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh: KỲ THỊ CHỦNG TỘC

Gs Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh: KỲ THỊ CHỦNG TỘC

Nạn kỳ thị chủng tộc là một chương quái đản dài nhất trong lịch sử nhân loại. Nạn này có gốc từ thời xa xưa là thói kỳ thị mầu da khi loài người lan tràn khắp năm châu và có đủ phương tiện giao thông để tiếp xúc với nhau bằng đường bộ và đường thủy vào thời vài thế kỷ trước Tây nguyên. Nhưng loài người nguyên do xuất phát từ đâu? Chúng ta đã biết loài người tiền sử gốc ở Phi châu. Theo các di cốt khảo cổ học tìm được, loài người có trí khôn (homosapiens) đã sinh ra ở vùng ngày nay là nước Ethiopia, cố nhiên đó là người gốc da đen. Khoảng 45,000 năm trước đây, loài người đó bắt đầu từng nhóm kéo nhau di chuyển về phương Bắc. Vùng đất tiên khởi quá nóng, loài thứ dữ quá nhiều, nên họ phải tìm cách thích ứng để sống còn. Họ đi về hướng Bắc khí hậu mát hơn, nhưng lại đụng phải bờ biển Ðịa Trung Hải. Nhưng sau họ tìm được bờ biển Hồng Hải có đường Bắc tiến, dần dần đến một nơi gần kinh đảo Suez ngày nay, họ đã gặp mảnh đất nhỏ nối liền từ Phi châu qua Trung Ðông.

Từ Trung Ðông họ chia ra nhiều chi nhánh, tỏa lên Âu Châu ở phía Bắc và qua Trung Á rồi đến Á châu ở hướng Ðông. Khung cảnh sống khác, khí hậu khác, thực phẩm kiếm được cũng khác nên lâu dần suốt trong mấy chục ngàn năm qua, mầu da họ đổi khác, đó cũng là luật tiến hóa tự nhiên để sống còn. Họ không còn nhớ cái gốc của họ là da đen xuất phát từ Phi Châu. Christopher Columbus tìm ra Mỹ châu vào năm 1492 và trong khoảng thời gian ba thế kỷ sau đó, di dân từ các nước Tây Âu như Anh, Pháp, Ðức, Ðan Mạch…dần dần kéo đến Bắc Mỹ gọi là “Thế giới mới” rất đông để khai khẩn tìm nơi sinh sống. Ðất rộng mênh mông, ở đây vốn đã có những sắc dân thiểu số lúc đó gọi là người Indians, ngày nay chúng ta gọi họ là người “da đỏ”. Cũng trong thời gian này đã nẩy sinh tệ nạn buôn bán người da đen làm nô lệ vô cùng tàn bạo từ Phi châu qua Bắc Mỹ. Người Ðạn Mach thời đó là nhóm người cầm đầu nạn buôn nô lệ. Cùng thời các nước văn minh lớn như Anh và Pháp đều đã có thuộc địa ở vùng ven biển Phi Châu. Các tay buôn bỏ tiền ra mua người hay bắt người da đen ở các vùng rừng rậm đói khổ, rồi cùm lại, bỏ xuống hầm tầu như chở các thú vật để đem qua “tân thế giới” bán cho dân da trắng định cư ở đó. Những nô lệ nổi loạn đều bị bắn chết, quẳng xác xuống biển. Các kẻ da trắng buôn nô lệ tàn bạo đã phản lại cái gốc thủy tổ của họ ở Phi châu là người da đen.

Về phía di dân lúc đầu có người Tây Ban Nha, sau đó dân Anh và Pháp chiếm đa số. Tất cả các di dân đó đều lập thành những “khu thuộc địa” của nước họ. Ở nước Mỹ ngày nay lúc đầu có các vùng của người Anh và Pháp, nhưng người gốc Anh đông hơn nên sau cuộc chiến tranh ngắn, người gốc Pháp rút về Canada ở phía Bắc, còn ở phía Nam chính quyền thuộc địa Pháp rút xuống Mexico. Ở nước Mỹ, vì bất mãn với chính quyền thuộc địa Anh quốc, di dân gốc người Anh đã nổi lên làm Cách mạng năm 1775, đưa đến bản Tuyên ngôn Ðộc lập năm 1776. Chính quyền liên bang Mỹ độc lập bắt đầu từ đây. Kế đó đến thời Tổng Thống Abraham Lincoln (1861-65), ông đã chủ trương cấm nô lệ khi đưa ra Tu chính án 13 được chấp thuận năm 1865. Sự kỳ thị mầu da là trái luật, nhưng cũng giống như sự kỳ thị sắc tộc vẫn còn phảng phất trong dân chúng trong nhiều năm qua.

Bây giờ thì sao? Nước Mỹ đã có một vị Tổng Thống đầu tiên gốc da mầu. Hai tuần trước, Tổng Thống Barack Obama đi thăm Phi châu. Obama có người cha gốc da đen ở Kenya, người ta đã tưởng ông về thăm quê nội. Bất ngờ ông đã đến thăm nước Ghana ở bờ biển Tây Phi. Ghana là một nước dân chủ nhỏ, nhưng ở đây có một đền Tưởng niệm những người da đen đã chết vì nạn mua bán nô lệ. Thời xưa Ghana là nơi tập trung những nguời bị bắt làm nô lệ từ nhiều nơi ở Phi châu đem đến, chờ đưa xuống tầu. Những cảnh đánh đập dã man, có khi làm chết người đã xẩy ra. Các con tầu chở nô lệ vượt biển đến gần Mỹ châu đều ghé đảo nhỏ St Croix thuộc nhóm đảo Virgin trong biển Caribbean gần Puerto Rico. Các đoàn người nô lệ bị trói đưa lên bộ, vào nhà tù ST Croix để cùm hàng tuần hàng tháng, chờ khách hàng đến trả tiền mua nô lệ đem vào đất liền bán cho bọn di dân ở Mỹ. Nhiều người da đen đã chết vì đói, vì bệnh thê thảm ở địa ngục trần gian này. Bọn cai tù coi họ như súc vật hôi thối nhơ bẩn, nên chỉ bồng súng đứng xa, không thèm hỏi han chi hết.

Chúng tôi nhắc lại một giai đoạn đen tối của loài người, không phải để hận thù những kẻ tham tàn đã mất hẳn tính người mà coi đó như những kinh nghiệm của quá khứ để làm gương cho tương lai. Vậy TT Obama phải làm gì để dứt hẳn các tàn dư của nạn kỳ thị mầu da và sắc tộc? Chúng tôi thiết nghĩ những tàn dư đó không còn quan trọng nữa, trước sau nó cũng biến mất với thời gian. Ðiều cần thiết nhất là phải nhìn đến những giới trẻ, những thế hệ kế tiếp của các sắc dân da mầu, bất luận mầu đen, mầu vàng hay mầu nâu hiện sống trong các cộng đồng sắc tộc ở đất nước này. Chúng ta đã có cái may là được sống ở một nước hiện đại hàng đầu của thế giới, một môi trường tốt nhất để con em chúng ta học hỏi mở rộng kiến thức về mọi ngành mọi mặt. Thế nhưng những cám dỗ để đưa đến sa đọa, mất hẳn tính người cũng không phải ít.

Cuối tuần qua TT Obama đã đưa ra một thông điệp rất đáng chú cho những người Mỹ gốc Phi cũng giống như ông. Một thông điệp đầy tình thương nhưng cũng khá cứng rắn cho giới cha mẹ của những đứa trẻ đang lớn lên. Ông nhấn mạnh họ cần phải thúc đẩy các con em của họ có những suy tư trong sáng và thiết thực để vượt qua khỏi những mộng ảo muốn trở thành những ngôi sao sáng màn bạc, thể thao hay ca nhạc. Nhân dịp kỷ niệm 100 năm của NAACP, nhóm tranh đấu cho quyền công dân lâu đời nhất của người Mỹ gốc Phi, ông kêu gọi người da đen hãy gánh lấy trách nhiệm của chính mình thay vì dựa vào những chương trình của chính phủ. Ông nói người da đen phải lấy lại tinh thần tranh đấu kiên trì về quyền công dân từ nửa bán thế kỷ trước để đối phó với những khó khăn trong cuộc sống hiện nay như không có việc làm, tiền chữa bệnh gia tăng và nạn HIV-AIDS.

Obama nói: “Giáo dục là con đường đưa tới tương lai tốt đẹp hơn. Tôi mong con em chúng ta phải có đầu óc ước mơ trở thành các nhà khoa học, kỹ sư, bác sĩ và giáo sư. Tôi mong chúng ước mơ trở thành ông bà Tòa ở Tối Cao Pháp Viện, trở thành Tổng Thống của nước Mỹ”. Vậy trong một cộng đồng đa chủng, làm thế nào để tránh khỏi sự kỳ thị chủng tộc? Với tư cách một người dân gốc Á, tôi xin trả lời: Ðừng để các chủng tộc khác khinh rẻ chủng tộc của chính mình.

Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh.




Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh: Pakistan Hai Mối Họa

Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh: Pakistan Hai Mối Họa

Vào dịp mùa gió bão lớn ở Về vụ bão lụt ở Pakistan, các giới chức cho biết trên toàn quốc có tới 13 triệu dân đã bị ảnh hưởng bởi các trận lụt. Khoảng 1,600 người đã chết, 2 triệu người mất nhà, phần lớn ở Tây Bắc là vùng bị lụt nặng nhất. Hai tuần qua nước lụt đã cuốn đi nhiều đường lộ cầu cống và các tuyến giao thông, làm trở ngại công cuộc cứu trợ của các tổ chức thiện nguyện tư nhân và chính phủ. Những vụ mưa lớn tầm tã đã cản trở các chuyến bay trực thăng, không cất cánh được để cứu người hay chuyển vận đồ tiếp tế.

Trong khi chính phủ Pakistan kêu gọi toàn dân đoàn kết để cứu trợ nạn nhân bão lụt, những người Hồi giáo xưa nay chủ trương cứng rắn đã ào ạt đổ vào tiếp tay với chính quyền trong việc tiếp tế cho nạn nhân. Ðây là điều có ý nghĩa nhất, bởi vì như chúng ta đã biết ngoài mối họa thiên tai, Pakistan còn đang chịu một mối họa nhân tai do bọn khủng bố Taliban gây ra. Bọn này đã từng đánh bom hồi năm ngoái ở một thị trấn có Ðại bản doanh quân đội nằm sát Thủ đô. Từ đó các vụ đánh bom lớn nhỏ xẩy ra liên tiếp. Gần đây vào tháng trước, tại vùng Pashtun tiếp giáp với Afghanistan, 2 kẻ đánh bom tự sát đi trên xe gắn máy đã giết chết 102 người dân kể cả trẻ em và phụ nữ. Hồi năm ngoái Pakistan đã mở hai cuộc tấn công lớn vào vùng có quân Taliban từ Afghanistan vượt biên qua ẩn núp.

Cuối tuần qua Hải quân Pakistan cho ca-nô tiến đến vùng bị lụt và chở nạn nhân còn bị kẹt vì đường xá và cầu cống đã bị nước cuốn trôi hết. Nước lụt còn dâng cao tràn đến vùng Tây Bắc đến tỉnh Punjab, đến miền Nam thị trấn Sindh kéo dài đến hơn 1,000 cây số. Riêng ở phía Ðông tỉnh này, 1,4 triệu acres (mẫu theo số đo lường của Anh) đã bị hủy diệt, 4.2 triệu dân ở đây bị ảnh hưởng. Trong khi đó Tổng Thống Pakistan Ali Zardari lại đi thăm một số nước Âu châu để vận động viện trợ cho kế hoạch trừ diệt nạn khủng bố ở trong nước. Một số dư luận đã lên tiếng chỉ trích, nhưng giới quân sự Pakistan không hề có ý phản đối, họ cho rằng nạn khủng bố là mối họa lớn hơn cho đất nước.

Cho đến nay tình hình kinh tế Pakistan vẫn èo uột xuống thấp vì nạn khủng bố gây loạn, nên chỉ còn trông vào viện trợ của nước ngoài, nhưng vì tình hình chính trị bất ổn nên viện trợ quốc tế chỉ có giới hạn. Quân đội Pakistan chú trọng vào việc tiễu trừ bọn Taliban từ Afghanistan chạy qua ẩn náu, nên quân đội cũng không thể đem toàn lực cứu dân bị bão lụt. Các giới chức lãnh đạo quân đội cho rằng nạn lụt chỉ là nhất thời, nạn khủng bố là mối họa dài hạn, nếu không dốc toàn lực đối phó trường kỳ, Pakistan sẽ lọt vào tay bọn Taliban trong khi chúng đang gây chiến với quân đội Mỹ và đồng minh NATO ở Afghanistan.

Trước tình thế đó Mỹ đã cho các trực thăng bay chính thức lần đầu tiên vào đất Pakistan để cứu trợ nạn nhân bão lụt ở Punjab. Trực thăng Mỹ đã chở đồ cứu trợ khẩn cấp cho các nạn nhân, và đưa hàng trăm nạn nhân bị kẹt trong vùng bão lụt đến nơi an toàn. Phát ngôn nhân tòa Ðại sứ Mỹ cho biết 800 người đã được trực thăng cứu và đồ tiếp tế đã được phân chia cho một số các nạn nhân. Nếu nạn nhân bão lụt trông chờ thế giới bên ngoài đến cứu họ, cho đến nay họ chỉ thấy trực thăng Mỹ. Thường ngày dân Pakistan chỉ được nghe bọn Taliban tuyên truyền “Mỹ đã đem quân chiếm Afghanistan nên sẽ chiếm luôn cả Pakistan”, giờ đây dân chúng Pakistan đã có thể thấy rõ trong lúc hoạn nạn bọn Taliban lẩn trốn, chỉ có Mỹ đến cứu họ.

Trong khi đó tình hình ở Afghanistan cũng khá gay go, một phái đoàn Viện trợ Quốc tế đã bị Taliban tấn công làm chết 10 người. Trong số 10 người này có 6 người Mỹ, 2 người Afgha, 1 người Ðức và 1 người Anh. Tất cả đều là bác sĩ, nữ y tá. Phái đoàn này gồm có Trưởng đoàn Tom Little, bác sĩ nhãn khoa ở New York, đã làm việc ở Afghanistan trên 30 năm; Dan Terry 64 tuổi một người đã từng là cựu chiến binh lâu năm ở Afgha; Bác sĩ Thomas Grams 51 tuổi, đã bỏ nghề chữa răng ở Colorado từ 4 năm trước để làm việc toàn thời gian giúp trẻ em nghèo ở Afgha; Bác sĩ Karen Woo 36 tuổi, công dân Anh duy nhất trong phái đoàn; Glen Lapp 40 tuổi, y tá ở Lancaster đến Afgha từ năm 2008, đã tình nguyện ở lại để giúp Chương trình Nhãn khoa thiện nguyện ở Afgha; bà Cheryl Beskett 32 tuổi, con của một mục sư Knoxville, Tenn. Còn 2 người là người Afgha lo việc hậu cần.

Phái đoàn đã leo núi – không đem võ khí và cũng không có an ninh đi theo. Họ đã đi xe hơi từ thủ đô Kabul đến thung lũng hẻo lánh Parun trong tỉnh Nuristan ở cách Bắc Kabul khoảng 260 cây số. Ðến thung lũng họ xuống xe đi bộ theo đường núi suốt 10 tiếng đồng hồ đem theo thuốc men cho những người dân Afgha sống ở thôn xóm hẻo lánh trên núi. Họ đã làm việc trong hai tuần lễ ở vùng này. Khi trở về chiếc xe đã bị phục kích trên đường. Bọn Taliban đã lên tiếng nhận trách nhiệm, quy lỗi cho những người thiện nguyện này là bọn do thám cho Mỹ và tuyên truyền giảng đạo để những người Hồi giáo bỏ đạo đi theo Thiên chúa giáo. Tổ chức Viện trợ Quốc tế đã cực lực cải chính, nói phái đoàn không đi truyền đạo và cũng không hề khuyên người dân vùng núi bỏ đạo Hồi. Khi họ trở về hết đường núi để lên xe hơi, họ đã bị quân Taliban bắn chết hết. Riêng có tài xế người Afgha sau khi quỳ xuống đọc kinh Coran, được chúng tha không giết.

Bây giờ hãy trở lại thời Chiến tranh lạnh. Năm 1987, sau khi quân đội Liên Sô phải bỏ chạy ra khỏi Afghanistan, một nhóm Hồi giáo cực đoan chiếm được chính quyền trung ương ở Kabul. Họ cai trị bằng luật Hồi giáo duy căn. Xã hội đất nước này hỗn tạp, gồm nhiều thành phần chủng tộc khác nhau, văn hóa xuống dốc vì phụ nữ trẻ em không được đến trường học, còn già trẻ phải đi trồng cây nha phiến theo lệnh của chính quyền. Người dân nghiền thuốc phiện rất nhiều, trở thành yếu ớt, bệ rạc kéo dài đến ngày nay. Văn hóa Afghanistan đã thua xa văn hóa Pakistan trước là thành phần của Ấn Ðộ, nên có một nền văn hóa rất cao. Bản báo cáo mới nhất của LHQ cho biết trong nửa đầu năm 2010, số dân Afgha bị phản loạn giết đã tăng 25% so với cùng thời kỳ năm ngoái.

Xét tình trạng trên, chúng tôi nghĩ Mỹ và cả Liên Hiệp Quốc nên viện trợ bão lụt cho Pakistan, để người dân nước này vốn đã sẵn có kiến thức cao nhìn thấy rõ chân tướng của khủng bố Taliban đã xâm nhập đất nước của họ.

Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh




CƠN ÁC MỘNG GIẤY NỢ

   CƠN ÁC MỘNG GIẤY NỢ
 
    Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh
 Từ mấy tuần qua nước Mỹ đã lâm vào một cơn bão lửa tài chính, một cuộc khủng hoảng tín dụng đe dọa kéo sập cả một tòa lâu đài vĩ đại nhất thế giới là Thị trường Chứng khoán Wall Street New York liên hệ đến các công ty kinh doanh rường cột của toàn bộ nền kinh tế Mỹ. Tín dụng là tiền cho vay có thế chấp theo luật định, các tổ chức hoạt động trong lãnh vực này là các công ty tài chính, các tập đoàn bao gồm các ngân hàng lớn nhỏ, các hãng bảo đảm cho sự thế chấp đó, và các tổ hợp các công ty bảo hiểm đủ mọi mặt kể cả bảo hiểm nhân thọ, tai nạn, đầu tư v.v… Tín dụng bị khủng hoảng vì các món nợ khó đòi, kẻ đi vay không có khả năng trả nợ. Ở đây nổi bật nhất là những món nợ đi vay để mua nhà.
Tín dụng là một tập quán rất quan trọng trong các chế độ tư bản, bởi vì vay tiền để làm ăn sinh lời lớn để có thừa tiền trả nợ và vẫn còn có lời. Đó là đồng tiền đẻ ra tiền vậy. Thế nhưng về mặt giấy nợ mua nhà, nó đã gặp khủng hoảng vì giá nhà xuống thấp trong hoàn cảnh kinh tế Mỹ trì trệ từ nhiều năm qua do nhiều nguyên nhân như ngân sách quốc gia thâm thủng, tổn phí chiến tranh chống khủng bố lên cao, kinh doanh yếu kém, nạn thất nghiệp gia tăng. Nguyên nhân chính của cơn bão hiện nay vẫn là lòng tham của giới kinh tài Mỹ. Thêm vào đó là sự lơ là chấp hành điều lệ nợ thế chấp. Nó gây họa lớn vì cơ cấu tổ chức các công ty tài chính dính liền với nhau trong một mạng lưới vô cùng phức tạp để mua bán đổi chác các giấy nợ, gọi là trái phiếu. Nếu đồng đô-la là tiền, đó cũng chỉ là một tờ giấy. Trái phiếu cũng là một tờ giấy, nhưng đô-la có sự bảo đảm của chính phủ Mỹ, còn trái phiếu chỉ có sự bảo đảm của các công ty tài chính tư doanh. Để làm cho sự bảo đảm trái phiếu có giá trị hơn, các tập đoàn tài chính họp nhau lại thành các tập thể đại công ty hay siêu công ty lừng danh trên thế giới. Họ nâng đỡ lẫn nhau để bảo đảm các món tiền cho vay. Vì thế đã dính là dính cả chùm.
Cơn bão lốc bắt đầu từ hai tuần trước khi hai công ty đầu tư lớn phải khai phá sản vì thua lỗ nặng. Sự liên hệ chồng chéo cái nọ kéo cái kia, vì liền sau đó hai siêu công ty tài chính lâu đời là Freddie Mac và Fannie Mae cũng chuẩn bị khai phá sản vì thua lỗ nặng, chỉ số cổ phiếu của họ tại Thị trường Chứng khoán tụt dốc thê thảm, tình thế này có nghĩa là phản ứng dây chuyền sẽ xẩy ra dữ dội. Chính vì thế chính phủ phải can thiệp cấp tốc trước khi quá muộn. Ngày 7 tháng 9, Bộ Tài chính bơm vào 2 công ty này 200 tỷ đô-la để cứu nguy phá sản, đặt dưới sự bảo hộ của chính phủ. Đây cũng là một hình thức quốc hữu hóa. Chỉ số Thị trường Chứng khoán nói chung chỉ nhích lên một chút nhưng rồi lại tụt xuống ngay. Sau đó một Công ty Bảo hiểm khổng lồ có ảnh hưởng đến các thị trường tiền tệ toàn thế giới là AIG (American Insurance Group) cuối tuần trước cũng chuẩn bị khai phá sản. Bộ Tài chính đã đỡ đòn cho nó ngay lập tức bằng cách bơm đến 85 tỷ đô-la vào công ty với hình thức cho vay trong hai năm, nhưng cũng một là cách quốc doanh hóa.
Tuy nhiên các giới kinh-tài Mỹ nhìn thấy ngay một sự thật phũ phàng. Cả một thành phố lộng lẫy đang bị nạn cháy, nếu chỉ cho lính Cứu hỏa phun vòi rồng dập tắt ngọn lửa cho hai ba căn nhà thì có ích gì? Vì thế chiều chủ nhật vừa qua sau cuộc họp cấp tốc giữa Tổng Thống Bush, Bộ trưởng Tài chính Paulson và Chủ tịch Ngân hàng Dự trữ liên bang Bernake, đã có thông báo cho biết Chính phủ lập một quỹ 700 tỷ đô-la cứu nguy các công ty tài chính sắp khai phá sản. Theo các chuyên gia Mỹ có lẽ phải cần đến 1,000 tỷ mới đủ. Dù sao đề nghị lập quỹ 700 tỷ đã được đưa ra Quốc hội đầu tuần này để thảo luận và biểu quyết thành luật.
Ở đây hãy hỏi các số tiền 700 tỷ hay 1,000 tỷ ở đâu ra mà lắm thế? Nó không phải từ trên trời rớt xuống mà do tiền đóng thuế hàng năm của người dân Mỹ. Và bây giờ lấy hàng tỷ đô-la của dân đóng thuế giúp cho các công ty kinh-tài tiếp tục tồn tại để họ lại tung tiền cho vay thêm nữa hay sao? Vì câu hỏi đó, đạo dự luật 700 tỷ đưa ra trước Quốc hội có kèm theo những cam kết của chính phủ xét lại luật lệ và quy chế cho vay để tránh tệ nạn lạm dụng. Thứ ba tuần này, Ủy ban Ngân hàng Thượng viện họp trong khi chỉ số Dow Jones Thị trường chứng khoán xuống 375.75 điểm, tức mất 3.3%, vì  giới kinh doanh và cả dân chúng Mỹ lo sợ còn nhiều vụ báo nguy phá sản lớn nữa sẽ xẩy ra. Vậy cần phải làm cho lẹ.
Thế nhưng khó khăn không phải nhỏ. Quốc hội Mỹ đã có kinh nghiệm làm cho lẹ rồi. Đó là lúc biểu quyết cấp tốc cho phép TT Bush đem quân đánh Iraq năm 2003. Hậu quả của cái "làm cho lẹ" đó còn kéo dài cho đến ngày nay với tất cả nỗi bi đát của nó, rút ra rất khó. Bởi thế dự luật dùng tiền của dân đóng thuế để cứu các vị tài chủ vỡ nợ cần phải được cứu xét cho kỹ. Tuần này, Ủy ban Ngân hàng Thượng viện họp bàn cãi sôi nổi và có những điều đáng chú ý chẳng hạn như nếu đã muốn cứu nguy cho hệ thống tài chính trên toàn nước Mỹ sắp sụp đổ, tại sao không cứu nguy cho những người dân nợ mua nhà sắp mất nhà? Dự án quốc hữu hóa các công ty sắp vỡ nợ dù là tạm thời nhưng vẫn có nghĩa là chính phủ "mua" những món nợ khó đòi đó bằng tiền của dân đóng thuế, vậy thì dân trở thành chủ các món nợ đó. Dân đã có lỗi lầm gì mà được hưởng cái "diễm phúc" lớn như thế? Bởi vậy sau này nếu hết cơn bão lửa kinh-tài, các công ty cho vay nợ đến khi có lời, số lời đó cũng phải chia cho dân đóng thuế một phần. Đồng thời cũng phải tính đến việc hỏi thăm sức khỏe các vị tài chủ đã vơ vét hàng tỷ đô-la trong cả chục năm trước đây, rồi để lại cả đống bầy nhầy cho hậu thế phải quyét dọn cho sạch. FBI đang diều tra.
Cuộc bàn thảo tại Thượng Viện có thể rất dài, nhưng các nghị sĩ của cả hai đảng nói có thể trong 7 ngày sẽ có biểu quyết. Một một nghị sĩ Cộng Hòa, theo tin AP hôm thứ ba, nói đùa: "Không phải vì Chúa Trời tạo ra Thế giới trong 7 ngày mà chúng ta bắt buộc phải hoàn thành đạo luật trong 7 ngày". Như vậy cơn ác mộng giấy nợ rốt cuộc rồi cũng phải hết chăng? Thời nay dân Mỹ vẫn còn bị ám ảnh về cuộc đại suy thoái kinh tế kinh hoàng nhất trong lịch sử năm 1929. Tôi nghĩ tình thế mỗi thời một khác, nước Mỹ ngày nay đã tiến bộ hơn rất nhiều so với 80 năm trước. Chỉ có điều phiền là chìa khóa để chữa dứt nọc căn bệnh tín dụng là hai chữ …"tín nhiệm". Nó không nằm trong luật pháp, điều lệ hay máy móc. Nó nằm trong lòng người.
 



Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh: CÁCH MẠNG TRUYỀN THÔNG

Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh: CÁCH MẠNG TRUYỀN THÔNG

Cách mạng đi đôi với truyền thông là lẽ tự nhiên. Cách mạng là một biến cố làm thay đổi chế độ cai trị và nếp sống xã hội, văn hóa của cả một dân tộc. Nhưng cách mạng không thể do một cá nhân làm được mà phải có một số người dân đông đảo cùng làm theo. Chính vì thế điều kiện tất yếu là phải có truyền thông, tức là phổ biến cho quần chúng. Riêng ngành truyền thông tự nó cũng có những cuộc cách mạng quan trọng do khoa học kỹ thuật đem lại. Từ thời phát minh ra điện lực, khoa học vào đầu thế kỷ 20 đã tạo ra một bước tiến mới là sử dụng “vô tuyến điện”. Người ta đã thấy những phong trào cách mạng lợi dụng máy radio để tuyên truyền vào khoảng trước và sau Thế chiến II. Rồi đến giữa Thế kỷ 20, ngành tuyền thông lại tiến thêm một bước nữa, đó là kỹ thuật sử dụng chất bán dẫn để thu nhỏ máy radio thành một vật nằm gọn trong lòng bàn tay.

Hãy nhìn xem các “chuyên gia cách mạng” lợi dụng phương tiện mới này như thế nào. Cuộc cách mạng Islam (Hồi giáo) ở Iran năm 1979, lật đổ chế độ Vương quốc đã thành công nhờ Trưởng lão Shi-a Ruhollah Khomeini sống lưu vong ở nước ngoài, dùng radio hô hào dân chúng nước này nổi loạn. Sự kiện đó đã được một người tên là Osama bin Laden, gốc Ả rập ở Arabia (Hồi Giáo Sun-ni) chú ý. Nhưng qua đến cuối Thế kỷ 20, kỹ thuật vô tuyến lại có tiến bộ nữa là truyền hình (television). Bin Laden thành lập đội quân khủng bố al-Qaida, đã nắm ngay lấy kỹ thuật TV để tấn công Mỹ vào đầu Thế kỷ 21, đồng thời tuyên truyền phát triển phong trào khủng bố Hồi giáo đi khắp thế giới. Ngay sau vụ khủng bố tấn công Mỹ ngày 11-9-01, người ta thấy hình ảnh bin Laden xuất hiện trên màn hình TV khắp thế giới.

Nhưng trớ trêu thay, sau cái mặt lợi của TV và video lại có mặt trái của nó là làm hại mọi chủ trương thiết lập chế độ độc tài độc đảng hay tôn giáo toàn trị núp sau cái bình phong gọi là Cộng hòa hay Dân chủ. Cái gương trước mắt là tình hình ở Iran hiện nay. Ahmadinejad tái đắc cử Tổng Thống và được Lãnh tụ Tối cao Ali Khamenei chuẩn y bất chấp sự chống đối của phe ôn hòa đối lập. Nhưng tuần trước người ta thấy có sự rạn nứt trong nội bộ phe cứng rắn là sự bất đồng ý kiến trong việc Ahmadinejad bổ nhiệm chức vụ Ðệ nhất Phó Tổng Thống. Lãnh tụ Tối cao Ali Khamenei đã ra lệnh cho Ahmadinejad hủy bỏ sự bổ nhiệm đó. Iran là một nước theo chế độ Cộng hòa Hồi giáo, chữ Cộng hòa có nghĩa là mọi chức vụ trong chính phủ đều do dân bầu. Lãnh tụ Tối cao không do dân bầu mà do Giáo hội bầu, nhưng lại có quyền lực tối, cao hơn cả Tổng Thống do dân bầu. Vậy ai là chủ thật sự nước Cộng hòa Iran? Làm chủ thật sự là một tổ chức gọi là “Vệ Binh Cách Mạng”, được thành lập từ năm 1979 sau khi cuộc cách mạnh thành công. Cái tên “Vệ Binh” thật hiền lành, nhưng ngày nay nó đã trở thành một sức mạnh quân sự khủng khiếp.

Vệ Binh Cách Mạng có 120,000 quân, gồm đủ quân chủng Hải, Lục, Không quân, các đơn vị phóng hỏa tiễn, võ khí và võ trang nhiều hơn gấp bội quân đội chính quy Iran. “Vệ Binh” còn điều khiển một tổ chức dân quân rộng lớn gồm cả triệu người võ trang, có tên gọi là Basij. Ngoài sức mạnh quân sự ghê gớm, trong những năm gần đây “Vệ Binh” còn tóm thâu một một mạng lưới lớn bao gồm các thế lực kinh tế và chính trị trong mọi khía cạnh đời sống của người dân Iran. Vai trò của nó đã vượt lên trên nhiệm vụ “bảo vệ” để đi đến “ngự trị cách mạng”. Một số chuyên gia bên ngoài cho rằng Lãnh tụ Tối cao Iran ngày nay có thể cũng phải tuân theo lệnh của “Vê Binh”. Các giới chức Mỹ tin rằng “Vệ Binh” làm mũi dùi tiên phong cho Iran liên kết với các nhóm Hồi giáo ở bên ngoài, như nhóm Shi-a ở Iraq, vì thế chính phủ Mỹ vẫn coi “Vệ Binh” là bọn yểm trợ khủng bố.

Ở Iran lãnh tụ đối lập ứng cử viên Tổng Thống Hossein Mousavi đã tố cáo Ahmadinejad gian lận bầu cử, ông cùng các lãnh tụ chủ trương cải cách kêu gọi các trưởng lão Shi-a ngăn cản mọi hành động võ lực chống người biểu tình. Họ cảnh cáo chế độ Cộng hòa Hồi giáo Iran đang mang họa mở rộng “chủ nghĩa bạo chúa”. Các chuyên gia bên ngoài cho rằng “Vệ Binh Cách Mạng” đã nẩy nở từ lâu nên khó lòng ngăn lại được. Frederic Teller, trong nhóm “Nghiên cứu các cuộc khủng hoảng thế giới” ở Brussels, cho rằng cuộc khủng hoảng ở Iran hiện nay chưa chắc đã đưa đến một cuộc đảo chính mà chỉ đưa đến những vụ đàn áp tàn bạo hơn. Tổng tư lệnh “Vệ Binh” còn nói đến việc sử dụng lực lượng dân quân Basij vào những công tác không phải quân sự. Ðiều này có nghĩa là cả triệu dân quân sẽ len lỏi vào trong đám thường dân để làm tai mắt cho bọn chỉ huy “Vệ Binh”.

Như vậy vụ nổi dậy của phe cải cách Iran rút cuộc sẽ bị diệt tan chăng? Tôi muốn trả lời bằng chủ đề “Cách Mạng Truyền Thông”. Kỹ thuật truyền thông bằng hình ảnh đã làm chấn dộng lòng người rất mau lẹ, hơn cả những bài báo viết hay báo nói của các phóng viên có mặt tại chỗ. Các phóng viên nước ngoài hay nguời Iran làm việc cho nước ngoài đều bị cấm đến những khu có biểu tình, nhưng vẫn có hàng chục hàng trăm thanh thiếu niên nam nữ Iran đã tự động làm phóng viên tài tử bằng cell phone của họ để viết nhanh vài hàng chữ kèm theo hình ảnh rồi truyền ra bên ngoài đến các cứ điểm lưới (Website) dàng riêng cho đời sống xã hội toàn cầu như myspace, facebook và twitter. Twitter sinh sau đẻ muộn, nhưng website này đang làm một cuộc cách mạng trong nghề báo viết Bình luận thời cuộc khi nó chấp nhận 140 chữ viết trên cell phone về các biến cố quan trọng đang hay đã xẩy ra. Chỉ một hình ảnh thoáng qua trong một vài giây đồng hồ, thí dụ như hình một cô gái bị bắn chết khi cầm cell phone gọi cũng đủ gây chấn dộng, hay một vài giòng chữ ngắn gọn viết ra để ghi những cảm xúc đầu tiên cũng đủ nói lên tất cả sự tàn bạo của một chế độ độc tài bịt mồm bịt mắt dân chúng. Những ý kiến đó có thể là bồng bột, nhưng trong khoảng khắc vài giây đồng hồ nó được phổ biến cho hàng triệu người trên thế giới cùng đọc và từ đó đưa đến những suy tư khác của một số đông hơn gấp bội và tiếp tục tăng nữa theo cấp số nhân, tạo thành thành một sự trao đổi ý kiến chưa từng có trong lịch sử báo chí quốc tế, do bàn tay và khối óc của thế hệ trẻ ngày nay. Kiến thức nở rộ, kèm theo ý chí của giới trẻ khắp thế giới sẽ thúc đẩy hành động.

Hiến pháp, luật pháp chỉ là những tờ giấy che đậy những gì đen tối nhất. Ở đây các nhân vật chính thức cầm đầu chính quyền sự thật chỉ là những anh hề diễn trò trên sân khấu vở tuồng độc tài độc đảng. Quyền lực trong những cái gọi là “Cộng Hòa” như vậy đều từ mũi súng mà ra, nếu không có súng bảo vệ, “bạo chúa” chỉ có chết. Cách mạng truyền thông đã làm cho giới trẻ ở nhiều nước trên thế giới nhìn thấy rõ chân lý này. Sức mạnh truyền thông sẽ làm trí tuệ giới trẻ mở rộng thêm nữa trong các thế hệ sắp tới. Tôi tin các quái thai thời đại là các chế độ độc tài bất luận từ nguồn gốc nào cũng sẽ sớm sụp đổ trên toàn cầu.

Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh




Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh: IRAN THA TÙ MỸ

Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh: IRAN THA TÙ MỸ

SarahShourd

CANH BẠC CHỨNG KHOÁN (Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh)

 
 
 
Đầu tuần trị giá chứng khoán đã nhẩy lên trở lại. Chỉ số Dow Jones industrials vọt lên đến 936 điểm, tức là lấy lại 1,200 tỷ đô- la nội trong một ngày, một mức tăng có tính lịch sử. Mọi người mừng rơn, con quỷ chứng khoán đã ngóc đầu trở lại thay vì tiếp tục lao xuống vực thẳm. Đó là nhờ chính phủ Mỹ có kế hoạch bơm 700 tỷ đô -la cứu nguy cho nó. Tình trạng này bỗng làm tôi nhớ đến một câu tục ngữ trào phúng của Việt Nam thời đại mới: "Tiền là Tiên là Phật, là sức bật của…chứng khoán". Tuy nhiên nạn xuống dốc chứng khoán vẫn chưa dứt. Qua ngày thứ ba 14-10, trị giá chứng khoán chập chờn để rồi đến cuối ngày nó mất 76 điểm. Đến sáng thứ tư 15-10 có dấu hiệu đáng ngại. Ngay lúc Thị trường Wall Street mới mở cửa, chỉ số Dow Jones mất thêm hơn 36 điểm, kéo theo sự mất giá của các thị trường chứng khoán trên toàn thế giới. Tại sao có tình trạng này?
 
Thiết tưởng cũng nên nhắc lại một vài biến chuyển rất mau lẹ trong những ngày vừa qua. Hôm chủ nhật, sau khi Quốc hội Mỹ chấp thuận kế hoạch 700 tỷ cứu nguy kinh tế, TT Bush đã triệu tập một phiên họp với G7, tức 7 nước giầu nhất thế giới, và 20 nước có nền kinh tế đang phát triển mạnh. Kinh tế Mỹ mạnh nhất thế giới có liên quan chặt chẽ đến các nền kinh tế khác vì mối quan hệ thương mại và tiền tệ, nên coi Mỹ là nước lãnh đạo. Cuộc họp có thành quả tốt, nên ngay sau đó chỉ số chứng khoán của các nước khác đã lên trong hai ngày. Nhưng đến ngày 15-10 khi chỉ số chứng khoán của Mỹ xuống, chỉ số chứng khoán của các nước khác cũng xuống luôn, với những số điểm nhỏ hơn của Mỹ.
 
Vậy tại sao cái đầu tầu là chỉ số của Mỹ lại chập chờn mà không tiếp tục lên nữa? Hôm thứ ba, Mỹ loan báo một kế hoạch mới là sử dụng 250 tỷ trong số 700 tỷ để mua một phần nửa các cổ phần của những ngân hàng lớn nhỏ đang lâm cảnh phá sản. Kế hoạch này có thể đã làm chỉ số chứng khoán New York chỉ tăng mạnh được một ngày rồi lại tụt dốc, dù tụt có một phần nhỏ. Nguyên nhân có thể là sự thiếu niềm tin của dân chúng vì trước mắt sự mua bán, bán buôn và bán lẻ, đang lâm cảnh tụt dốc đáng ngại, cộng thêm với nạn thất nghiệp lan rộng. Sáng thứ tư TT Bush và cả Bộ trưởng Tài chính Henry Paulson đều nói sự tín nhiệm và tiền của chính phủ bỏ ra sẽ phục hồi sự lành mạnh của nền kinh tế, nhưng cần phải có thời gian và sự kiên nhẫn. Cần thời gian là đúng vì không thể có phép lạ làm kinh tế phục hồi ngay tức khắc, nhưng cũng có nghĩa là gánh nặng làm kinh tế đi lên được chuyển qua vị Tổng Thống và chính phủ sắp tới của Mỹ bắt đầu từ năm 2009.
 
Bởi vậy sự cứu nguy kinh tế cũng là một canh bạc chứng khoán. Trong khi chờ đợi kết quả canh bạc này, người ta thấy một tin từ trời Âu đưa lại. Giải thưởng Nobel về kinh tế năm nay đã được Ủy ban chấm giải tại Thụy Điển tặng cho một học giả Mỹ, Tiến sĩ Paul Krugman, về công cuộc phân tích của ông cho thấy kinh tế phát triển từng mức ảnh hưởng như thế nào đến mô hình thương mại và vị trí kinh tế của một nước. Điều đặc biệt là chuyên gia kinh tế này năm nay 55 tuổi được lãnh giải Kinh tế trị giá 1.4 triệu đô-la mà không phải chia sẻ với ai. Từ năm 2000 đến nay ông là người được lãnh giải Kinh tế một mình, bình thường giải này vẫn có đến 2 hay 3 người cùng lãnh. Viện Khoa học Hoàng gia Thụy Điển ca ngợi Krugman đã nêu ra một lý thuyết mới để trả lời các câu hỏi về thương mại tự do, và ghi nhận lý thuyết của ông đã khích lệ cho một lãnh vực khảo cứu rất sâu rộng.
 
Trong bằng tưởng lục của giải Nobel có ghi: Thương mại tự do và tình trạng đô thị hóa trên toàn cầu ảnh hưởng đến những cái gì? Ở đây Krugman đã hợp nhất được nhiều ngành khảo cứu khác nhau trên các lãnh vực thương mại quốc tế và địa dư kinh tế. Ngoài công việc khảo cứu về kinh tế ở Viện Đại học New Jersey, Krugman còn là một nhà báo. Ông chuyên giữ cột mục kinh tế cho báo New York Times. Ông cũng thường viết bài cho một số các tạp chí Mỹ. Về cuộc khủng hoảng tài chính hiện nay ở Mỹ, ông nói: "Thật kinh hoàng", ông so sánh với vụ khủng hoảng tài chính kinh tế Á châu trong thập niên 1990. Trên cột mục của tờ New York Times, Krugman cho đến nay vẫn chỉ trích gắt gao chính sách kinh tế của TT Bush và đảng Cộng Hòa.
 
Ở Mỹ việc cứu nguy chứng khoán đi song song với cuộc tranh cử Tổng Thống. Nhiều đề tài khác nhau đã được cả hai đảng Dân Chủ và Cộng Hòa nêu ra để vận động tranh cử. Nhưng từ hai tháng qua chỉ có một chủ đề nổi bật nhất và cũng là đề tài tranh cãi gay go nhất, còn những màn xuyên tạc và chụp mũ cá nhân chỉ là chuyện bên lề không mấy ai chú ý. Chủ đề đó là kinh tế bởi vì giữa lúc dân Mỹ lo sợ về đồng tiền khó kiếm, tín dụng khó trả và thất nghiệp lan tràn, các màn bới móc cá nhân chỉ quật ngược lại tác giả của nó. Đại đa số dân Mỹ quan tâm đến công việc làm ăn của họ, giới trung lưu cũng như tiểu thương và người dân nghèo đều lo lắng trước tình trạng kinh tế xuống dốc.
 
Vào tối thứ Tư tuần này, có chương trình dự liệu từ trước là cuộc tranh luận hiệp III giữa hai ứng cử viên Tổng Thống Barack Obama và John McCain. Hôm thứ ba ông McCain hiện kém điểm Obama trong các poll thăm dò, cho biết ông cũng có kế hoạch 52 tỷ để cứu nguy kinh tế, ngoài kế hoạch 700 điểm của chính phủ Bush. Đây cũng là cách ngầm cho cử tri Mỹ hiểu ông đã tách rời khỏi TT Bush hiện chỉ được 25% dân chúng tán thưởng. Nhưng đặc điểm của kế hoạch John McCain là tìm cách bớt tiền thuế đánh vào lợi nhuận của các đại công ty Mỹ. Người ta trông chờ cuộc tranh luận của hai vị tranh cử Tổng Thống, coi trận đấu chót này có thể quyết định thắng bại trong cuộc bầu cử sắp tới ngày 4-11. Theo poll của CNN sáng thứ tư, Obama được 50%, McCain 42%. Tuy nhiên không thể xác quyết ai sẽ thắng, vì còn nhiều chuyện bất ngờ có thể xẩy ra. Trước hết hãy chờ xem phản ứng của dư luận Mỹ về cuộc tranh luận hiệp chót tối thứ tư mà người ta cho rằng sẽ quyết định số phận của McCain và cả đảng Cộng Hòa trong cuộc bầu cử sắp tới.
 
Nếu đề tài chính là kinh tế, nguồn gốc của nó hiển nhiên là hai chữ tín nhiệm. Bởi vậy vấn đề đặt ra cho người dân đi bỏ phiếu là giữa Barack Obama và John McCain, cử tri tin ở người nào, mọi vấn đề khác không còn quan trọng nữa.
 



Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh: DI SẢN CHIẾN TRANH LẠNH

Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh: DI SẢN CHIẾN TRANH LẠNH

Sự bất đồng có tính cách cục bộ nhằm vào quyền lợi kinh tế ở các khu vực có nhiều mỏ dầu lửa ở Ðông Bắc Iraq, một vùng nằm sát biên giới của Iran. Hiện nay Mỹ đang thực hiện việc chuyển giao trách nhiệm bảo vệ an ninh cho quân đội, Cảnh sát và lực lượng an ninh của Iraq, nhưng điều đáng ngại là trong nhiều trường hợp chính quyền Iraq đã không cáng đáng nổi nhiệm vụ này. Về việc hòa giải, Maliki có vẻ đã đi một nước cờ chiến lược mới vào chủ nhật vừa qua khi ông đến Bắc Iraq mở một cuộc họp đặc biệt với lãnh tụ Kurd là Masoud Barzani, có danh xưng là Tổng Thống Chính phủ Khu vực Kurd, để tìm một thỏa hiệp về việc khai thác dầu lửa. Kết quả Barzani cho biết một phái đoàn cao cấp Kurd sẽ đến Baghdad. Tuy nhiên vấn đề còn gai góc, vì ở vùng Kurd tiếp giáp với Iraq, còn có người Á rập và sắc tộc Turk sinh sống. Những người này vẫn sợ nạn độc quyền của người Kurd. Ðầu tuần này xe bom nổ làm chết 3 người ở một thị trấn nhỏ của trong tỉnh Anbar ở miền Tây Iraq, nơi có nhiều nguời Sun-ni cư ngụ. Tính từ ngày 20/7 đã có 24 người chết vì vì bom ở tỉnh này. Tuần trước một loạt những vụ đánh bom vào các đền Hồi giáo Shi-a ở thủ đô Baghdad đã giết chết 31 người. Ðó là nạn chém giết lẫn nhau giữa hai hệ phái Sun-ni và Shi-a.

Ở Afghanistan tình thế có vẻ còn khó khăn hơn. Hôm thứ hai một quả bom nổ do điều khiển từ xa đã làm chết 10 người, 30 người bị thương trong chợ rau quả thành phố Herat, thuộc miền Tây gần biên giới Iran. Một phát ngôn nhân của Taliban tuyên bố bom đó nhằm vào Cảnh sát trưởng quận Inji lân cận. Các vụ đánh bom đã gia tăng trong mùa hè năm nay, vì nhóm phiến loạn Taliban đã thề phá rối cuộc bầu cử Tổng Thống vào ngày 20/8. Hiện nay quân đội NATO và Mỹ có 101,000 người ở nước này. Riêng Mỹ đã gia tăng đến 62,000 quân trong tổng số kể trên, tức là Mỹ đã tăng gấp đôi quân số so với một năm trước.

Trong tháng 8 quân đội đồng minh đã có 9 người chết vì giao tranh hay vì bị bom, kể cả 3 quân Mỹ hôm thứ bẩy và thêm 3 người hôm chủ nhật, 2 Gia Nã Ðại và 1 Pháp. Tháng 7 là tháng quân đồng minh chết nhiều nhất kể từ năm 2001 khi quân đội đồng minh do Mỹ lãnh đạo đánh chiếm Afghanistan, lật đổ chính quyền Taliban lúc đó bao che trùm khủng bố Osama bin Laden. Trong tháng 7 vừa qua quân đồng minh có 74 người tử trận, trong đó có 43 Mỹ. Phần lớn quân phiến loạn Taliban dùng bom chôn ngoài đường để tấn công quân đồng minh. Quân đội Mỹ cho biết bọn phiến loan nay sử dụng các loại bom có ít hay không có chất kim loại nên rất khó dò tìm. Bọn Taliban còn dùng cách chôn chồng nhiều quả bom lên nhau, và đặt nhiều bẫy bom trong một khu nhỏ. Các Tư lệnh Mỹ dự liệu các vụ đánh bom còn gia tăng thêm cho đến ngày bầu cử 20/8.

Các cuộc chiến khó khăn ở Iraq và Afghanistan làm nổi bật một vấn đề chiến lược chiến thuật rất quan trọng vào đầu thế kỷ 21. Dùng Bộ binh để đánh khủng bố hay can thiệp vào các vấn đề nội bộ của một nước để giúp xây dựng hòa bình và dân chủ là một sai lầm nghiêm trọng. Bộ binh Mỹ và đồng minh đều là quân đội hiện đại nhất thế giới, nhưng đã bất lực trước các nhóm khủng bố vài ngàn người chỉ vì đó là những kẻ lẩn vào trong dân chúng, thành ra chúng vô hình. Chúng chỉ hiện hình sau khi bom tự sát nổ. Thành ra siêu cường đem đại quân đến đánh nhau với những kẻ vô hình, khác nào đem mỡ đến miệng mèo, để chúng sơi tái từng miếng, tích lũy thành số tổn thất thương vong rất lớn.

Việc siêu cường đem quân ra khỏi nước tham gia các cuộc chiến cục bộ chỉ có trong thời gian chiến tranh lạnh sau Thế chiến II. Ðầu tiên là cuộc chiến tranh Triều Tiên (1950-53), khi Bắc Hàn đem quân đánh Nam Hàn với sự trợ giúp của chí nguyện quân Trung Quốc, Mỹ và đồng minh đã tham chiến chống Cộng sản. Sau khi có ngừng bắn, Quân đội Cộng sản rút về Bắc Hàn, Mỹ và đồng minh không tiến quân lên giải phóng Bắc Hàn, nhìn nhận sự chia đôi Nam Bắc. Kế đó đến cuộc chiến tranh Việt Nam khi quân Cộng sản miền Bắc tấn công miền Nam từ năm 1956. Ðến năm 1965 đại quân Mỹ đổ bộ trực tiếp tham chiến giúp Việt Nam Cộng Hòa. Tuy nhiên đến năm 1972, chính phủ Nixon ký hiệp định ngừng bắn với Bắc Việt để rút hết quân Mỹ khỏi miền Nam Việt Nam, bỏ mặc quân đội và dân chúng vùng này cho Cộng sản Bắc Việt thôn tính.

Tại sao Mỹ làm như vậy? Trước hết ở Việt Nam cũng như ở Bắc Hàn, Mỹ đem quân tham chiến tại chỗ là vì nhu cầu chiến lược của siêu cường. Mục tiêu của Mỹ chủ yếu là ngăn chặn sự bành trướng của khối Cộng sản mà kẻ cầm đầu là Liên Sô, còn chuyện giúp đỡ dân miền Nam Việt Nam chỉ là thứ yếu. Vì thế sau khi Ngoại trưởng Mỹ Henri Kissenger bất ngờ đến Bắc Kinh, TT Nixon bắt tay được với Mao Trạch Ðông, chiến lược chống Cộng của Mỹ đã toại nguyện ở Ðông Nam Á, vì đã chia rẽ được hai anh Cộng sản lớn nhất là Liên Sô và Trung Cộng, mặt trận Việt Nam không còn cần thiết nữa. Binh pháp từ thời cổ ở Âu cũng như ở Á đã có câu “Chia rẽ kẻ thù là thượng sách”.

Chiến tranh lạnh đã để lại cho thế giới một di sản vô giá. Ðó không phải là một tấm gương để các thế hệ mai sau cứ theo đúng như thế mà làm. Di sản chỉ là một khối những kinh nghiệm được tích lũy trong trường đời, có kinh nghiệm tốt có kinh nghiệm xấu, tóm lại đó là những bài học chiến lược cho những kẻ đi sau. Hãy từ từ rút hết quân Mỹ và đồng minh ra khỏi Afghanistan. “Chỉ có Hồi giáo mới trừ được khủng bố Hồi giáo”. Tàn nhẫn quá chăng? Không nên quên “Chia rẽ kẻ thù là thượng sách” câu nói cổ nhân đã dạy chúng ta vẫn còn đó.

Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh




Việt Nam Trước Thế Tam Giác Chiến

Việt Nam Trước Thế Tam Giác Chiến

Lê Văn

 

Thăng trầm quan hệ ngoại giao Mỹ-Trung qua ảnh

(VnMedia) – Năm 1971, đoàn đại biểu bóng bàn Mỹ đến thăm Trung Quốc, mở ra cánh cửa đi lại giữa hai nước. Ngày 1/1/1979, Trung Quốc và Mỹ chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao. Trải qua 30 năm, quan hệ Trung-Mỹ đã trở thành một trong những mối quan hệ song phương quan trọng nhất, giàu sức sống nhất. Tuy vậy, mối quan hệ này đã trải qua không ít thăng trầm.

Lãnh đạo hai nước từ"nhiều năm khó gặp mặt một lần" đến hiện nay đi lại mật thiết. Cuộc đối thoại chiến lược hai nước từ không đến có, hiện nay đã xây dựng hơn 60 cơ chế hợp tác đối thoại. Kim ngạch thương mại hai chiều trong 30 năm đã tăng hơn 120 lần, hai bên đã trở thành đối tác thương mại lớn thứ hai của nhau. Sự đi lại giữa nhân dân hai nước bắt đầu từ số không, phát triển đến hiện nay mỗi ngày có hơn 5.000 người đi lại giữa hai bờ Thái Bình Dương.

Sau đây là chùm ảnh mối quan hệ giữa Mỹ-Trung Quốc 30 năm qua:

 ảnh minh họa

Sau khi đến Trung Quốc hôm 16/11 trong khuôn khổ chuyến công du Châu Á đầu tiên trên cương vị ông chủ Nhà Trắng, Tổng thống Mỹ Barack Obama đã tuyên bố rằng mối quan hệ Mỹ-Trung “không phải không có những bất đồng và khó khăn. Tuy nhiên, hai nước không nên là đối thủ của nhau”.  Bức ảnh chụp Tổng thống Obama đang từ máy bay xuống sân bay ở thành phố Thượng Hải.

 ảnh minh họa

Đầu những năm 1970, Mỹ muốn tìm đến tới Trung Quốc để kiềm chế Liên Xô và giải quyết cuộc chiến tranh Việt Nam. Vì thế, sau màn “ngoại giao bóng bàn” năm 1971 tại Bắc Kinh, Henry Kisinger, cố vấn an ninh quốc gia của Tổng thống Nixon, đã thực hiện các chuyến công cán bí mật tới Bắc Kinh. Các nhà chiến lược của hai nước lần đầu tiên gặp mặt để bàn về các vấn đề thế giới. Ảnh chụp đội tuyển bóng bàn Mỹ đến thực hiện màn"ngoại giao bóng bàn" tại Trung Quốc. 

 ảnh minh họa

 Năm sau, Richard Nixon đến thăm chính thức CHND Trung Hoa và ký Thông cáo chung Thượng Hải 1972, đặt khuôn khổ đầu tiên cho quan hệ chiến lược Mỹ-Trung. Trong ảnh, Chủ tịch Trung Quốc Mao Trạch Đông đang đón tiếp Tổng thống Richard Nixon.

 ảnh minh họa

Năm 1974-1975, khi Chủ tịch Trung Quốc Mao Trạch Đông đang cầm quyền, ông George H. W. Bush (Bush cha) được bổ nhiệm đến Bắc Kinh làm Đại sứ (ảnh trái). Đến tháng 2/1989, ông này đã trở lại Quảng trường Thiên An Môn với tư cách là Tổng thống Mỹ (ảnh phải)

 ảnh minh họa

Năm 1997: Chủ tịch Trung Quốc Giang Trạch Dân đến Mỹ, Đây là chuyến thăm đầu tiên của một người đứng đầu nhà nước Trung Quốc trong suốt hơn 1 thập kỷ.

 ảnh minh họa

 Đáp lại chuyến thăm Mỹ của Chủ tịch Giang Trạch Dân, năm 1998, Tổng thống Mỹ khi đó là Bill Clinton  sang thăm chính thức Trung Quốc. Trong ảnh, Tổng thống Bill Clinton cũng vợ và con gái thăm Vạn Lý Trường Thành.

 ảnh minh họa

Tháng 5/1999, tên lửa của NATO bắn trúng Đại sứ quán Trung Quốc tại Belgrade trong cuộc chiến Serbia. Vụ việc này khiến người Trung Quốc nổi giận, biểu tình và ném đá vào Đại sứ quán Mỹ tại Bắc Kinh.

 ảnh minh họa

Mối quan hệ giữa hai nước càng trở nên xấu đi sau khi một máy bay do thám của Mỹ va chạm với một máy bay của Trung Quốc ở đảo Hải Nam năm 2001. Phi công người Trung Quốc đã thiệt mạng trong vụ này trong khi phi hành đoàn Mỹ bị Trung Quốc bắt giữ. Trung Quốc chỉ thả tự do cho những người này sau khi Tổng thống Mỹ khi đó là George W.Bush nói lời xin lỗi.

 ảnh minh họa

Tháng 12/2001, Trung Quốc gia nhập WTO và Tổng thống G. Bush trao cho Trung Quốc quy chế tối huệ quốc vĩnh viễn, mở ra giai đoạn bùng nổ quan hệ kinh tế, thương mại, tài chính giữa hai nước.

 ảnh minh họa

Ảnh trên ghi lại hình ảnh Tổng thống Mỹ Barack Obama sau bài phát biểu trước các sinh viên Trung Quốc tại Thượng Hải. Tại đây, Tổng thống Obama tuyên bố ông không tìm cách ngăn cản sự vươn lên của Trung Quốc đồng thời kêu gọi cần có sự cân bằng thương mại đôi bên.

Đan Khanh – (Tổng hợp)

 

“> 

Các tin mới khác:




CHIẾN DỊCH TỐ CÁO (Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh)

 
 
Việc cựu Đại tướng Colin Powell quả quyết ủng hộ ứng cử viên Tổng Thống Barak Obama đã gây sửng sốt cho cả hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ. Powell là một trong số những người Cộng hòa được kính mến nhất ở Mỹ. Vị Đại tướng 4 sao này trước đây đã từng là cố vấn an ninh quốc gia của Tổng Ronald Reagan (CH), Chủ tịch Ủy Ban Tham mưu Hỗn hợp Quân lực Mỹ trong lúc có cuộc chiến tranh Vùng Vịnh (thời TT George H.W. Bush) và Ngoại trưởng trong nhiệm kỳ I của TT Bush hiện nay. Trong cuộc tranh cử Tổng Thống năm nay, từ năm ngoái Powell đã ủng hộ ứng cử viên của đảng ông John McCain. Vậy tại sao bây giờ ông đổi ý?
 
Tướng Powell là người Mỹ gốc Phi châu trước đây đã từng có ý định ra tranh cử Tổng Thống. Trong cuộc phỏng vấn dành cho đài NBC hôm chủ nhật Powell nói quyết định của ông ủng hộ Obama không phải vì vấn đề mầu da, như việc ông ủng hộ McCain lúc đầu đã chứng tỏ. Từ 10 tháng trước đây ông đã thấy cần phải lựa chọn giữa hai người. Powell nghĩ Obama là "biểu tượng cho một sự biến đổi của lịch sử nước Mỹ", Obama thuộc một thế hệ mới đang lên trong cuộc diện nước Mỹ và cả thế giới. Ông nói việc bầu Obama làm Tổng Thống Mỹ sẽ như một luồng điện kích thích nước Mỹ và hoàn cầu. Ông nói: "Việc một người Mỹ gốc Phi được bầu làm Tổng Thống Mỹ sẽ là một biến chuyển lịch sử. Việc này sẽ làm người Mỹ hãnh diện, không chỉ riêng người Mỹ gốc Phi, mà tất cả mọi người Mỹ, bất luận mầu da hay sắc tộc nào". Với sự ủng hộ của Powell, Obama nói sau khi đắc cử Tổng Thống ông sẽ mời cựu tướng Colin Powell làm cố vấn cao cấp cho ông về các vấn đề an ninh quốc gia, một chức quan trọng hàng đầu cho Tổng Thống. Như vậy, Obama đã bác bỏ được những lời chỉ trích nông cạn nói ông thiếu kinh nghiệm về chiến tranh và các vấn đề an ninh nội ngoại.
 
Cựu tướng Powell nói ông đã thất vọng vì luận điệu tiêu cực trong cuộc vận động tranh cử của McCain. Ông đã thấy nghi ngại khi McCain chọn bà Sarah Palin, Thống đốc tiểu bang Alaska, đứng chung danh sách ứng cử Phó Tổng Thống. Trong những tuần lễ gần đây khi các polls thăm dò cho thấy Obama vượt trên McCain, một số người Cộng Hòa cực đoan đã cho rằng chương trình tranh cử của Palin có nhiều ưu điểm đưa ra những lời tố cáo kể cả bôi lọ, xuyên tạc cá nhân Obama, bởi vậy họ nhắm đưa Palin lên hàng đầu, biến cuộc vận động tranh cử thành một chiến dịch tố cáo. Chiến dịch này mở đầu bằng những lời rỉ tai, kể cả biểu ngữ ghi Obama "không là người Mỹ" mà là người Á rập theo Hồi giáo. Rồi đến vụ tố cáo Obama có liên hệ với "khủng bố" vì một nhóm phản chiến đã từng cho nổ bom năm 1968 (khi Mỹ tham chiến giúp Việt Nam Cộng Hòa chống cuộc tấn công của Cộng sản Bắc Việt), Obama lúc đó mới có 8 tuổi. Sau đến vụ Palin tố cáo Obama có liên hệ với ACORN, một tổ chức thiện nguyện chuyên giúp người nghèo và người vô gia cư, bị cáo buộc đã cho nhiều dân "hôm-lét" chút tiền còm đi nộp tên giả để lấy quyền được đi bỏ phiếu. Việc này FBI đang điều tra xem nhóm nào đã có âm mưu. Obama rất tán thành cuộc điều tra này.
 
Gần đây nhất, Palin tặng cho Obama danh hiệu mới, gọi là kẻ theo "xã hội chủ nghĩa", làm nhiều người sững sờ vì từ ngữ này làm người ta nghĩ đến Cộng sản. Sự thật chủ nghĩa xã hội chỉ là một trong nhiều lý thuyết và biện pháp nhằm cải cách xã hội cho tốt đẹp hơn, tiên khởi phát sinh ở Pháp vào cuối thế kỷ 19 sau khi các nhà cách mạng Pháp lật đổ chế độ quân chủ đưa nước Pháp đến chế độ Cộng Hòa do dân làm chủ. Vào đầu thế kỷ 20, các nhóm quá khích ở Nga thúc đẩy nông nô nghèo khổ nổi lên làm cách mạng lật đổ Nga hoàng. Sau khi giết được cả gia đình Nga hoàng, các nhóm quá khích cực tả lợi dụng chủ thuyết xã hội, lập ra chế độ vô sản chuyên chính (tức là chính quyền độc tài). Chủ nghĩa cộng sản bắt đầu từ đây để bành trướng thành phong trào vô sản quốc tế, chống chế độ tư bản trên khắp thế giới.
 
Nhưng hãy nhìn đến một khía cạnh ngược chiều của chủ thuyết xã hội ở Đức vào thập niên 30 Thế kỷ trước, Hitler lập ra chế độ Quốc xã, tức quốc gia xã hội chủ nghĩa. Ở đây chữ "quốc" là chủ nghĩa dân tộc (nationalism), bởi vậy là độc tài cực hữu. Chủ thuyết quốc xã của Hitler cao ngạo, cho rằng dân tộc Đức có gốc là bộ tộc Aryan từ thời tiền sử thông minh tài giỏi, nên mục tiêu ưu tiên của Quốc xã là tàn sát người gốc Do thái trong các lò hỏa thiêu man rợ. Sau khi Đức thua trận, Hitler tự sát, những tay cầm đầu Đức quốc xã đã bị tòa án quốc tế xử tử vì tội diệt chủng.
 
Vậy giữa hai thuyết độc tài cực tả và cực hữu có thuyết nào trung dung ở giữa hay không? Chắc chắn là không vì khi đã gọi là "cực", không thể có sự dung hòa nào ở giữa. Nhưng có một chủ thuyết duy nhất có thể chống lại mọi chế độ độc tài dù tả hay hữu. Đó là chế độ dân chủ, tức dân làm chủ mà căn bản là quyền bầu cử tự do, kết quả của sự phối hợp giữa hai chủ thuyết Cộng hòa và Dân chủ. Không phải ngẫu nhiên mà nước Mỹ có hai chính đảng lớn nhất là đảng Cộng Hòa và đảng Dân Chủ, chính vì thế Mỹ trở thành một nước mạnh nhất thế giới, đã từng hy sinh biết bao xương máu và tiền bạc để trừ khử cả hai loại độc tài cực tả và cực hữu. Sau hai cuộc thế chiến và một cuộc chiến tranh lạnh qua đến Thế kỷ 21, bất cứ một dân tộc nào ngày nay cũng biết và ghê tởm các chế độ độc tài.
 
Ở Mỹ chỉ còn 12 ngày nữa đến ngày tổng tuyển cử, nghĩa là bầu Tổng Thống, bầu Hạ Viện và một phần ba Thượng viện. Sáng thứ Tư, các polls thăm dò trên toàn quốc cho thấy Obama đã vọt lên số điểm có hai cột số trên McCain và đảng Dân Chủ có thể chiếm đa số lớn tại Quốc hội. Trong lúc tình hình nguy ngập cho đảng Cộng Hòa, người ta bỗng thấy nẩy ra hiện tượng Sarah Palin. Phe cực đoan trong đảng Cộng Hòa đã đẩy Palin vào cấp lãnh đạo vận động tranh cử cho cả đảng với những màn trình diễn đặc biệt nhẩy múa giống như các ngôi sao nhạc rock hấp dẫn nhiều người đến coi. Nhưng nếu chủ yếu là để nhắn nhủ cử tri Mỹ không nên bầu cho "tên xã hội chủ nghĩa" Obama, điều đó khác nào một sự nhục mạ, đánh giá thấp trình độ trí thức cao và kiến thức rộng của đa số người dân ở Mỹ.
 
Dù với những nỗ lực phi thuờng đó, nếu Barack Obama vẫn trúng cử Tổng Thống thì sao? Không sao hết, chỉ cần chờ 4 năm nữa, đến lần bầu cử Tổng Thống năm 2012, đảng Cộng Hòa có thể sẽ đưa bà Palin ra ứng cử làm Tổng Thống với các màn nhạc giựt gân hơn nữa để lãnh đạo cả thế giới.
 
 



Gs Nguyễn Viết Khánh: ÐỊA BÀN CHỐNG KHỦNG BỐ

Gs Nguyễn Viết Khánh: ÐỊA BÀN CHỐNG KHỦNG BỐ

Vậy bin Laden và bọn al-Qaida có gốc gác như thế nào? Vào cuối năm 1979 Liên Sô đã mở cuộc tấn công đánh chiếm Afghanistan, lập một chính quyền Cộng sản, bị sự phản kháng dữ dội của các nhóm du kích Hồi giáo gọi là “mujahideen”, chủ trương dùng Thánh chiến (jihad) để tiễu trừ bọn ngoại xâm. Ðó là thời kỳ chiến tranh lạnh, Mỹ tìm cách giúp du kích Hồi giáo đánh Nga. Với sự yểm trợ của Pakistan, Mỹ cấp vũ khí, giúp cả việc huấn luyện cho du kích chống Cộng ở Afghanistan. Trong số các du kích này có một người trẻ tuổi từ Á Rập Sê-út ở Trung Ðông đến. Tên anh ta là Osama bin Laden. Năm 1989, Liên Sô chịu không thấu, phải ký kết hòa ước rút quân khỏi Afghanistan, để lại một Tổng Thống thân Cộng. Liền sau đó các nhóm du kích Hồi giáo đánh lẫn nhau để tranh cướp chính quyền. Ðến năm 1996 nhóm Taliban phần lớn gồm những thanh niên Hồi giáo chiếm được thủ đô Kabul, thiết lập một chế độ Thần quyền cai trị theo luật Hồi giáo. Ðến năm 1998 nhóm khủng bố có tổ chức xuất hiện ở một vùng núi hiểm trở phía Ðông Afghanistan gần biên giới Pakistan. Người cầm đầu nhóm này chính là Osama bin Laden, vốn là con nhà triệu phú Á-Rập có nhiều tiền đã lập một căn cứ huấn luyện nhóm khủng bố al-Qaida, dưới sự bao che của chính quyền Taliban.

Vậy tại sao bin Laden ra lệnh cho al-Qaida đánh thẳng vào Mỹ vào tháng 9 năm 2001? Rất có thể bin Laden đã có tư tưởng này ngay sau khi quân Liên Sô phải rút khỏi Afghanistan năm 1989. Hắn thấy một siêu cường tương đương với Mỹ vào lúc đó đã phải thất bại trước sức mạnh của “jihad”, vậy tại sao Hồi giáo không đánh luôn cả Mỹ và các nước Âu châu? Ðó là những nước từ lâu vẫn bị tố cáo lợi dụng di sản thời thuộc địa từ hơn hai thế kỷ trước để áp chế và trục lợi kinh tế ở các nước Trung Ðông. Tổ chức khủng bố al-Qaida lợi dụng việc Mỹ đánh Iraq trước hết để bành trướng thế lực ở Trung Ðông và sau ở nhiều nơi khác trên thế giới. Sở dĩ bin Laden cho tấn công Mỹ trước là để dằn mặt Mỹ không cho can thiệp vào việc nội bộ của Trung Ðông. Ngoài ra khủng bố đánh Mỹ mà Mỹ không ngăn chặn nổi cũng là một cách dằn mặt các nước Tây phương. Người ta đã thấy những gì xẩy ra trên hai mặt trận ở Afghanistan có quân Mỹ và quân khối NATO tham dự, và ở Iraq có quân Mỹ và quÐầu tuần này tình hình Iraq thật đáng quan ngại. Hai bom đặt trên xe vận tải đã nổ ở một làng người Hồi hệ phái Shi-a ở gần thành phố Mosul phía Bắc Iraq làm chết 28 nguòi, trong khi tại Baghdad 9 vụ nổ liên tiếp đã làm chết 22 người. Tính từ 3 ngày qua các vụ đánh bom đã giết chết 100 người Shi-a. Các vụ đánh bom đó do nhóm người Hồi Sun-ni nổi loạn hợp tác với al-Qaida (cũng gốc Sun-ni) thực hiện, nhằm gây lại các cuộc xung đột giữa hai hệ phái Sun-ni và Shi-a đã từng diễn ra khốc liệt trong những năm 2006 và 2007, làm chết hàng chục ngàn người. Vậy quân Mỹ có thể rút ra khỏi Iraq dự liệu vào năm 2011 hay không? Thủ tướng al-Maliki (gốc Shi-a) quả quyết nói các lực lượng an ninh của ông có đủ khả năng kiềm chế nạn bạo động trong khi quân đội Mỹ chuyển dần trách nhiệm an ninh cho chính quyền Iraq. Tôi nghĩ sự xung đột giữa hai phe Shi-a và Sun-ni ở Iraq đã có từ mấy chục năm qua, đây là chuyên nội bộ của Iraq, nên để cho dân nước này giải quyết.

Trong khi đó cuộc chiến ở Afghanistan, có nhiều chuyện phức tạp hơn. Ở đây hiện có 101,000 quân NATO và quân Mỹ tham chiến. Trong số này quân Mỹ có 62,000 quân, tức là Mỹ đã tăng gấp đôi số quân. Từ đầu tháng 7 bọn phiến loạn do Taliban cầm đầu đã gia tăng các cuộc tấn công, khiến tháng đó là tháng thiệt hại nhiều nhất cho quân đồng minh: 74 người chết trong đó có 43 quân Mỹ. Người ta e rằng các trận chiến còn gia tăng hơn nữa trước ngày 20/8 là ngày bầu cử nhiệm kỳ mới của Tổng Thống, hiện vẫn do ông Hamid Karzai tại chức. Tình thế đặc biệt là dân nước này nghèo khổ, ít học, chỉ sống bằng nghề trồng nha phiến, và đa số cũng nghiền nha phiến. Quân NATO theo lệnh của LHQ cấm dân trồng nha phiến, nhưng bọn Taliban lại sẵn sàng cho dân trồng để lấy nha phiến bán ra nước ngoài đem tiền về dùng làm chiến phí. Thành ra quân NATO đi đến đâu, dân làng “nghiền” cũng ngấm ngầm báo động Taliban. Ðây là cuộc chiến rất khó khăn cho Mỹ và NATO.

Tôi đã viết dùng quân đổ bộ vào một nước để đánh khủng bố là một sai lầm chiến lược. Ðịa bàn chống khủng bố nhằm chỉ một khu vực rộng lớn gồm đủ mọi nơi trên thế giới, không phải để tổ chức một thế liên minh quân sự, mà để tìm một sự hòa hợp cộng tác trong hòa bình vì lợi ích chung của cả thế giới. Các thế liên minh quân sự đã hết thời. Ở Iraq, quân Anh đã rút khỏi Iraq. Ở Afghanistan quân đồng minh NATO chỉ có danh nghĩa thời chiến tranh lạnh, còn bây giờ tham chiến chống khủng bố là hời hợt, chính vì thế Mỹ đã phải tăng thêm quân. Với chiến lược hòa hợp cộng tác, Mỹ nhằm vào đâu? Âu châu đã hết thời với NATO, các nước Nam Mỹ chỉ lo chuyện địa phương trên lục địa của họ. Phi Châu phần lớn nghèo khổ, chỉ Bắc Phi có các nước mạnh, dân trí cao, bọn khủng bố không bén mảng tới. Ở Á châu có Trung Quốc và các nước Ðông Nam Á là địa bàn Mỹ có thể nhìn đến để áp dụng chiến lược hòa hợp cộng tác về mặt kinh tế.

Trung Quốc đang phải đối phó với Tân Cương, nhưng không lo người Hồi Trung Á đi theo khủng bố, mà chỉ lo phát triển kinh tế cho 1 tỷ 3 trăm triệu dân khỏi nổi loạn vì nghèo khổ. Trong khi đó ở Nam Á, Ấn Ðộ theo Ấn giáo đã thẳng tay trừng trị bọn Hồi giáo quá khích sau vụ đánh bom ở Mumbai. Ở Ðông Nam Á có khối ASEAN (Hiệp hội các quốc gia Ðông Nam Á) là một thế lực kinh tế đang lên mạnh, tạo thành một thế chân vạc với kinh tế Trung Quốc và Nhật Bản. Xét trên toàn cầu, đây là một địa bàn quan trọng nhất. Mỹ nên tăng cường mối quan hệ hòa hợp với địa bàn này. Và khi Mỹ đã thay đổi địa bàn chiến lược, tất nhiên cũng phải thay đổi cả chiến thuật. Mỹ nên đánh khủng bố từ trên cao hay từ biển, thay vì dùng quân đổ bộ ở những nơi không có trận tuyến rõ rệt.

Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh.