GS Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh: NGUY VÀ CƠ

GS Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh: NGUY VÀ CƠ

Mấy tuần trước, Giáo sư David M. Kennedy dạy lịch sử tại Đại học Stanford, đã nhắc đến từ “nguy cơ” của chữ Hán và tách rời hai chữ “nguy” và “cơ”, để dùng phép ẩn dụ chỉ ra rằng trong hiểm họa cũng có cơ may. Trong lịch sử Mỹ, Franklin. D. Roosevelt (Dân chủ), năm 1920 đã viết một câu nhận định có nhiều ý nghĩa cho đảng ông: “Đảng Dân Chủ không có hy vọng lên cầm quyền, trừ phi đảng Cộng Hòa đưa đất nước đến một thời kỳ suy thoái kinh tế nghiêm trọng”. Mười năm sau, trong thập niên 30, nước Mỹ lâm vào một nạn suy thoái kinh tế nguy hiểm hơn Roosevelt dự tưởng, khiến ngày nay người ta gọi đó là một cuộc “đại suy thoái” của Mỹ. Năm 1933, F. D. Roosevelt được bầu làm Tổng Thống và ông đã từ trần năm 1945 vào giai đoạn chót của Thế chiến II. Ngày nay lịch sử ghi nhận sau TT Lincoln, F. D. Roosevelt là vị Tổng Thống vĩ đại đứng hàng thứ 2 của nước Mỹ.

Từ hơn 80 năm trước, nhận định của Roosevelt đã cho thấy sự tranh chấp chính quyền giữa hai đảng Dân Chủ và Cộng Hòa đã gay gắt như thế nào. Ông đã để lại một bài học quan trọng cho hậu thế: “Hãy tìm sự thỏa hiệp giữa hai đảng để đưa nước Mỹ đi lên, vì chính đảng làm việc cho quyền lợi và hạnh phúc của dân chớ không phải vì quyền lợi riêng tư của đảng”. Thỏa hiệp luỡng đảng hay tinh thần làm việc lưỡng đảng, ai cũng nói được nhưng làm thì rất khó. Bài học của quá khứ ai cũng thích nói, nhưng lịch sử đã cho thấy quá khứ khác với hiện tại, và sẽ còn khác hẳn so với tương lai bởi vì trong chuỗi dài của lịch sử, nếp sống và tư tưởng của người dân tiến hóa hóa mỗi ngày một mạnh. Bởi vậy sự thỏa hiệp lưỡng đảng cần phải đặt trên một căn bản không phải chỉ ký kết một thỏa hiệp nhất thời, mà còn tạo ra một sự “giao ước mới” với người dân (chính trường Mỹ đã có từ gọi là New Deal), để vận động đa số dân chúng ủng hộ. Cái New Deal của đầu Thế kỷ 21 này vỏn vẹn nằm trong một cụm từ duy nhất: “An toàn cho người dân chớ không phải an toàn cho đảng”.

Vậy Tổng Thống Barack Obama ngày nay đã lãnh hội được bài học như thế nào? Và Quốc hội Mỹ đã làm gì để thực hiện sự giao ước xã hội mới với người dân? Ngay sau khi Obama được bầu làm Tổng Thống cuối năm 2008, người ta đã thấy đảng Cộng Hòa lên tiếng chỉ trích như thông lệ, rồi sau các phần tử cực đoan của đảng này đã tổ chức một mặt trận quy mô để chống đối mọi việc làm, mọi quyết định của TT Obama kéo dài trong suốt nửa năm đầu của 2009 mỗi ngày một quyết liệt hơn sau khi đảng Dân Chủ chiếm đa số ở cả hai viện Quốc hội. Nhóm cực đoan này đánh phá mọi chủ trương của đảng Dân Chủ trong các vấn đề đối ngoại, kể cả hai cuộc chiến ở Iraq và Afghanistan, và đặc biệt là các vấn đề đối nội, trong đó quan trọng nhất là tình hình kinh tế và ngân sách quốc gia. Về mặt này phe thiểu số cực đoan có sách lược là cứ phá phách mọi kế hoạch cho bằng được để đến năm 2012 kinh tế vẫn không ngóc đầu lên được là đảng của họ sẽ nắm phần chắc lấy lại được Bạch Ốc trong tay Obama.

Thế nhưng chính nhóm thiểu số này đang làm đảng Cộng Hòa rạn nứt, nhiều đảng viên ôn hòa, có óc cởi mở tỏ ra bực bội với nhóm cực đoan. Đảng Cộng Hòa là đảng bảo thủ, phần lớn những nhân vật quan trọng của đảng đều là những nhà đại tư bản. Những tư tưởng bảo thủ vẫn đáng quý ở một nước như nước Mỹ mới lập quốc có hơn 230 năm, chưa có truyền thống giá trị đạo đức giữ vững cả ngàn năm như các nước khác. Mặt khác chủ nghĩa tư bản đến một mức độ nào đó không phải là xấu, nếu biết tự loại bỏ lòng tham quá trớn và vô trách nhiệm. Tôi nghĩ phần đông người Cộng Hòa sẵn sàng tiếp nhận chủ trương “giao ước xã hội mới” do TT F.D. Roosevelt đề ra.

Nói chung những người Cha tạo ra Hiến pháp để khai sáng Hiệp chúng quốc Hoa Kỳ đã thiết lập một nền trật tự chính trị đặt trên nguyên tắc “kiểm tra và quân bình”. Nguyên tắc này đã có lúc làm tê liệt hệ thống chính trị. Nó cản trở sự thích ứng mau lẹ với những thực tế của những thay đổi về kinh tế và xã hội của con người. Thành ra có khi nó đưa đến một trạng thái mà không một văn bản chính trị nào dư liệu được, đó là sự toa rập tệ hại giữa hiểm họa và cơ hội chủ nghĩa. Nói cách khác đó là nạn song hành của cặp “thí mạng cùi và lòng tham không đáy”.

Vậy Tổng Thống Obama đối phó với tình tình “nguy và cơ” lúc này như thế nào? Ngay lúc chưa hết tuần trăng mật 100 ngày, Obama đã bị các phần tử cực đoan của đảng Cộng Hòa đánh phá tơi bời. Tôi nghĩ một nhà luật học như Obama không ngạc nhiên chút nào trước tình trạng này. Mấy tháng trước, khi một ký giả trên TV hỏi ông có cảm thấy gánh quá nặng vì những cuộc khủng hoảng đang đua nhau đè lên đất nước này hay không, Obama nói “Lúc này đầy hiểm nguy, nhưng cũng đầy khả năng”. Đó là lúc hệ thống chính trị bắt đầu tiến lên một cách hữu hiệu.

Roosevelt thời xưa cũng không có lời phát biểu nào hay hơn thế. Vị Cựu TT vĩ đại của Mỹ đã chủ trương một sự cải cách mà trung tâm điểm là sự an toàn của người dân. Tiếc rằng cuộc Thế chiến II Mỹ lâm vào để đánh nạn độc tài Quốc xã đã khiến Roosevelt không có thời giờ thực hiện cuộc cải cách đó. Thế nhưng muốn được so sánh với Roosevelt, Obama cần được dư luận quần chúng Mỹ phán xét, không phải chỉ riêng việc ông cứu nguy nền kinh tế như thế nào, mà quan trọng nhất là ông đã biết nắm lấy cơ hội để thúc đẩy chúng ta có ý chí vùng lên tự chấn chỉnh và thích ứng với thời thế mới của Thế kỷ 21.

Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh.




Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh: AFGHA:= CHIẾN LƯỢC MỚI

Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh: AFGHA:CHIẾN LƯỢC MỚI

Những quyết định đầu tiên tướng Petraeus ra lệnh sẽ được theo dõi chặt chẽ, không phải bởi dân chúng Afgha mà bởi chính quân đội ngoài mặt trận. Ngay trong buổi lễ tiếp nhận quyền chỉ huy cuộc chiến, ông đã nhấn mạnh sự an toàn của dân chúng tiếp tục là mối quan tâm lớn lao của quân đội. Ông nói khi quân Mỹ và đồng minh NATO cùng với quân đội của chính phủ Afgha mở cuộc hành quân, “mọi lực lượng võ trang phải dùng mọi thủ đoạn để bảo vệ an toàn cho người dân”. Câu nói này có một ý nghĩa ngầm rất quan trọng. Đó là bảo vệ an toàn cho dân tuyệt nhiên không phải bằng cái mạng sống của quân đội.

Trước khi tướng McChrystal tựu chức Tổng tư lệnh chiến trường vào tháng 6 năm 2009, các lực lượng quân đồng minh từ bên ngoài đến đã lỡ tay gây ra nhiều cái chết trong dân chúng cùng với những cái chết của bọn phiến loạn, bởi vì loạn quân đã cố ý dùng dân chúng làm bia đỡ đạn cho chúng. Sau khi tựu chức tướng McChrystal đã thay đổi lệnh hành quân, để dân chúng khỏi chết oan nên số tử vong trong dân chúng đã hạ xuống.

Trong buổi lễ tựu chức trước đám đông tại Đại bản doanh quân NATO, đại tướng Petraeus đã ngợi khen tướng McChrystal như sau: “Những tiến bộ thực hiện được trong mấy tháng qua – trước quân thù luôn luôn liều mạng – là kết quả của sự sáng suốt, nghị lực và quyền chỉ huy. Petraeus còn nói nhiều người đã làm việc cực nhọc dưới quyền chỉ huy của tướng McChrystal trong chiến lược chống phiến loạn. Vậy từ nay chiến lược mới của Petraeus như thế nào? Ở đây thiết tưởng cũng nhắc lại trước đây, khi còn là chỉ huy mặt trận Iraq, Petraeus đã nổi tiếng vì một chiến lược dân quân phối hợp chống phiến loạn và khủng bố, khiến quân Mỹ đã có kế hoạch rút quân bộ chiến ra khỏi nước này vào năm 2011.
Petraeus cũng là người chống lại mọi dư luận hoài nghi hay chủ bại ở chính trường Thủ đô Mỹ. Ông nói chiến tranh Afghanistan ngầy ngật khó khăn, nhưng nhấn mạnh đến những kết quả thực tế: Hơn 7 triệu trẻ em đã được cắp sách đến trường so với con số 1 triệu em từ 10 năm trước đây; trẻ em được chích ngừa nhiễm trùng 70% hay hơn; xây cất thêm nhiều đường lộ mới; kinh tế nở rộ ở nhiều thành phố hay thị trấn. Ông tuyên bố: “Sau nhiều năm chiến tranh, nay chúng ta đã đi đến một thời điểm khẩn trương. Chúng ta cần phải chứng minh cho nhân dân Afgha – và cho cả thế giới
-thấy rằng bọn al-Qaida và nhóm liên minh cực đoan của chúng sẽ không được phép trở lại một lần nữa tái lập các mật khu của chúng ở Afghanistan, để từ đó lại phóng ra các cuộc tấn công đánh vào dân chúng Afgha và tấn công các nước yêu chuộng hòa bình trên thế giới”.

Sáng thứ Hai đầu tuần này, nguồn tin UPI cho biết đại tướng Petraeus đã gửi một bức thư cho quân đội và nhân viên dân sự của Lực lượng Yểm trợ An ninh Quốc tế NATO. Trong thư này Petraeus viết: “Các lực lượng đồng minh ở Afghanistan sẽ không nề hà giết chết, bắt sống hay làm bọn phiến loạn quay đầu trở lại trong khi làm nhiệm vụ bảo vệ dân chúng. Chúng ta không từ nan, không ngại khó khăn, chúng ta quyết đem cuộc chiến đấu đến kẻ thù và chúng ta sẽ tiếp tục làm như vậy”.

Petraeus còn nói với quân sĩ của ông như sau: “Với sự bành trướng của Lực lượng Yểm trợ An ninh Quốc tế NATO và sự tăng trưởng của quân đội quốc gia Afghanistan – với hai thế lực này làm việc chung với nhau – chúng ta sẽ bảo đảm cho người dân Afghanistan “không bao giờ còn bị cai trị bởi những kẻ chủ trương bạo động bừa bãi và bọn cực đoan chủ nghĩa vuợt qua mọi biên giới quốc gia”.

Một tin mới nhất từ Afghanistan cho biết sáng thứ Ba Cảnh sát Bài trừ Ma túy của chính quyền Afgha và các lực lượng An ninh quốc tế đã giết chết 64 người và bắt giam 10 người trong một cuộc hành quân 3 ngày tại tỉnh Helmand ở biên giới ráp ranh Pakistan. Nhà cầm quyền cũng tịch thu được 16,641 kí-lô nha phiến trong cuộc hành quân. Diễn biến này xẩy ra tối Chủ nhật, nhưng đến đầu tuần này chính quyền mới loan báo đầy đủ chi tiết.

Bộ Quốc phòng Afgha loan báo 64 kẻ bị giết đều là bọn “khủng bố”. Trong cuộc hành quân, lực lượng của chính phủ đã giải thoát được 14 người dân bị bọn khủng bố bắt giam. Điều cần lưu ý là nông dân Afghanistan từ xưa vẫn quen trồng ma túy để sinh sống. Số người nghiền ma túy không phải ít. Bọn khủng bố Taliban do al-Qaida huấn luyện và yểm trợ, đã khuyến khích dân miền thôn dã trồng ma túy, bởi vì chúng lấy nhựa nha phiến ngầm đưa ra nước ngoài bán lấy tiền. Tiền đó chúng dùng để mua chuộc dân chúng và cũng là quỹ tổ chức các cuộc đánh bom tự sát hay các trận đánh du kích phá hoại an ninh trật ở các thị trấn, thành phố ở nước này.

Chúng tôi thiết nghĩ cuộc chiến lâu nhất do Tổng Thống Bush khởi sự từ năm 2001 có hy vọng sẽ kết thúc trong một thời gian ngắn với chiến lược của tướng Petraeus. Chiến lược chỉ là lý thuyết, kết quả của một sự suy tư của con người. Suy tư là do trí tuệ trong bộ óc mà có, bởi vậy tôi nghĩ đến luật tiến hóa chung cho cả nhân loại. Ở đâu có con người là có bộ óc tiến hóa, nó không dậm chân đứng lỳ một chỗ, mà với thời gian nó sẽ tiến ngày một nhanh hơn trước. Đánh họa khủng bố là phải đánh bằng bộ óc.

Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh




Chủ đề thay đổi

CHỦ ĐỀ THAY ĐỔI


Trong năm đầu tiên đến định cư ở Mỹ, nhà báo Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh đã viết bài quan điểm này. Chúng tôi nhận thấy bài viết có nhũng điểm phù hợp với tình hình cuộc tranh cử ở Mỹ năm 2008, cũng như những vấn đề đổi mới của các chế độ Cộng Sản trên thế giới, từ Nga cho dến Việt Nam trong cả chục năm qua. Bởi vậy chúng tôi đã xin phép được đăng lại bài báo nay. LTS.

 

 

“Thay đổi” có vẻ là từ ngữ của thời đại, Nói đến thay đổi ai cũng thích, ai cũng đòi thay đổi, đôi khi chẳng cần biết thay đổi cái gì, hay thay đổi thế nào. Có lẽ trừ những người đã cằn cỗi, muốn giậm chân tai chỗ cho qua ngày, trừ những kẻ chỉ muốn ôm lấy vinh quang, tưởng tượng hay có thật của quá khứ để mà sống, hầu hết mọi con người bình thường đều muốn có thay đổi với ước vọng muốn thấy một ngày mai hơn hẳn hôm nay. Còn gì khích lệ hơn cho tiến bộ và phát triển bằng một nềm tin vững chắc là tương lai nhất định sẽ rực rỡ và huy hoàng hơn hiện tại.

 

Trong cuộc tranh cử tổng thống Mỹ năm 1992, chủ đề tranh cử gồm hai chữ đơn giản là “thay đổi” đã có vẻ gần như một phép lạ huyền diệu, bởi vì nó đã làm cho tòa Bạch Cung đổi chủ. Một khi cuộc sống trong hiện tại chỉ toàn những khó khăn chật vật, những thất vọng và bất mãn, sự đòi hỏi thay đổi để mong tìm một cái gì tốt đẹp hơn cũng chỉ là phản ứng tự nhiên của người dân. Ngay tại đất nước Việt Nam của chúng ta, những đợt sóng đòi hỏi như vậy đã cuồn cuộn dâng trào từ bao lâu nay, mỗi ngày một mạnh, mỗi ngày một rõ rệt hơn, và ngay chính tai Liên Sô và các nước Đông Âu trong đầu thập kỷ này, những đợt sóng đó đã đánh gục những chế độ đàn áp khắt khe nhất.

 

Nhưng nếu nói rằng đòi hỏi thay đổi chỉ là nhu cầu tùy lúc của con người thì thật không đúng lắm. Thật ra nhu cầu thay đổi là một trong những bản năng tiềm ẩn của con người và đó cũng là lý do tại sao con người đã sinh tồn được cho đến ngày nay. Vì thế chính những người có cuộc sống no đủ mãn  nguyện với hiện tại của mình, cũng vẫn có ẩn núp trong tiềm thức của mình một nhu cầu thay đổi.

 

Sự thay đổi có những ý nghĩa trọng đại như vậy, nhưng có điều là từ ngữ “thay đổi”, thường khi bị bóp méo và đã bị lạm dụng khá nhiều. Thay đổi không có nghĩa là “có mới nới cũ” như câu tục ngữ châm biếm của người bình dân Việt Nam dùng để mỉa mai những kẻ tham lam, và lại được những kẻ cổ hủ lạc hậu ngày nay lợi dụng dể chỉ trích những đầu óc cầu tiến.  Đồng thời hai chữ “thay đổi” cũng bị lạm dụng và lợi dụng khá nhiều trong thời buổi chính trị phức tạp như trong những năm gần đây.

 

Những người Cộng Sản là nạn nhân đầu tiên của các đợt sóng đòi hỏi thay đổi. Năm 1985, khi ông Mikhail Gorbachev lên cầm quyền ở Liên Sô, những người Cộng Sản đã phải nhìn nhận có một cái gì không ổn trong cái khung giáo điều cứng nhắc ý thức hệ của họ rồi. Thật ra trước đó nhiều năm, những lý thuyết gia sáng suốt của Cộng Sản cũng đã đánh hơi thấy mối nguy đang tiềm ẩn đe dọa đến cỗi rễ lý tưởng của họ, khi mà tri và thức của người dân bị trị đã phát triển mạnh đến độ tức nước vỡ bờ, không có sức mạnh nào cản nổi. Nhưng thời đó, phe giáo diều cứng nhắc còn ngự trị, ai dám hở môi? Kẻ mới manh nha một chút như  Khruschev đã bị tặng ngay nhãn hiệu “xét lại” và bị lật nhào, còn giữ được mạng sống là may. Điều đáng chú ý là kẻ tố cáo Khruschev dữ dội nhất thời đó lại là bọn lãnh đạo Trung Cộng, những người giáo điều ù lỳ nhất dưới trướng của Mao Trạch Đông, có lẽ vì phe giáo điều Trung Cộng còn được bện thêm một cái vỏ thép cứng hơn nữa, rất khôi hài trong ý thức hệ Cộng Sản về vô sản quốc tế là : “sự tự mãn dân tộc tính”, đại khái với quan niệm “tư tưởng Mao-ít còn hơn cả tư tưởng Lê-nin-nít”. Nhưng cũng có thể con cháu của Đức Khổng Phu Tử, quen với ý niệm hình nhi thượng học sâu sắc từ mấy ngàn năm nay, đã nhìn thấy rõ cái nguy của sự thụt lùi, dù chỉ có nửa bước của cái gọi là xét lại đó. Nói một cách nôm na là dân Á Đông đã “thâm” hơn dân da trắng phổi bò của Tây Phương vậy.

 

Dù sao, khi ông Gorbachev lên cầm quyền là thời cơ đã chín mùi để ông mở cái khoá miệng và xác nhận cần phải có sự thay đổi. Nhưng ông đã làm thế nào ? Đây là điểm khôi hài nhất: Ông vừa làm….. vừa run. Có thể ông là người có lý tưởng hơn, nên ông sợ rằng thay đổi có thể làm sụp đổ luôn cái lý tưởng Cộng Sản mà ông muốn cứu vãn cho bằng được. Nhưng cũng có thể ông chỉ là một người như mọi người khác, nghĩa là ông sợ cho cái mạng sống của ông. 

 

Bởi vậy ông đã lợi dụng khát vọng đòi hỏi thay đổi của người dân, bóp méo đi một chút để vừa giữ ý thức hệ, lại vừa giữ được mạng sống của mình. Ông đưa ra chủ trương Glasnot và Perestroika. Theo tiếng Nga, hai chữ đó chỉ có nghĩa là “cởi mở” và “tái cấu trúc”. Cởi mở cũng như mở cửa thêm cho rộng ra để căn nhà Cộng Sản chủ nghĩa khỏi tối tăm, u uất và… rùng rợn như trước nữa, và tái cấu trúc xây lại một vài bức tường, mở thêm vài căn phòng để cho nó hấp dẫn hơn. Tóm lại ông muốn thay đổi, nhưng căn nhà vẵn còn là căn nhà chớ không phải đem phá nó đi, đào cả móng lên và xây căn nhà khác.

 

Người ta đã thấy kết quả của ông. Điều thú vị nhất là chỉ mới mở thêm cửa ra đôi chút và phá đi một bức tường nhỏ mà căn nhà đã sụm luôn. Và điều thú vị hơn nữa cho chính bản thân ông  Gorbachev là ông giữ được mạng sống nhờ cuộc thế đã đổi thay, thế giới đã biến chuyển. Nếu như ông làm việc đó dưới thời Stalin thì chưa kịp trở tay, hồn ông đã du Địa phủ. Hoặc nhẹ nhàng hơn như dưới thời Brejnev, ông đã đi lãnh một chức giám đốc một nông trường tập thể gồm mấy trăm con bò chết đói ở một xứ xa xôi hẻo lánh nào đó trong vùng băng tuyết ở Siberia.

 

Trong số những người Á Đông theo con đường “ngon cờ Mác-Lê bách chiến bách thắng”, ngoài những người Cộng Sản Trung Hoa, rất thâm và độc như những ông quân tử Tàu… Cộng, tất nhiên chúng ta không thể quên những nhà Cộng Sản Việt Nam, cũng rất khôn nhưng không ngoan, nghĩa là cái khôn vặt, khôn láu cá của những dân cờ bạc bịp, cái trí trá tiểu xảo sặc mùi anh lý trưởng với cái nhìn không vượt ra ngoài được lũy tre xanh của làng xóm nhỏ. Vì thế khi các bậc đàn anh Liên Sô bắt buộc phải đi nước cờ Glasnot và Perestroika, ở Việt Nam, ban lãnh đạo Cộng Sản cũng đưa ra một từ rất kêu, nhưng lại rất mập mờ đánh lận con đen là “đổi mới”.

 

Thế nào là đổi mới và đổi mới cái gì, kết quả ra sao ? Trong một dịp khác có lẽ chúng ta cũng nên nhìn kỹ hơn cái trò hề bịp bợm của lá bài đổi mới này. Nhưng ở đây chúng ta chỉ ngắn gọn trong ba chữ “vẫn như cũ” . Thật ra đề tài đổi mới đã được bàn cãi nhiều trong mấy năm qua, nhưng chỉ ở trong giới những người Việt sống ở hải ngoại mà thôi, còn ở trong nước đây là một đề tài tối kỵ, đụng vào nó là có thể đưa bạn vào bóng tối vĩnh viễn hay có thời hạn với cái mũ chụp quen thuộc như phản động hay gián điệp…trừ khi bạn nói đúng theo chiều hướng mà đảng đã quy định. Ý nghĩa và chiều hướng đổi mới theo sách vở của đảng chỉ là không thay đổi gì hết. Đổi mới chính trị ư ? Đây chính là màn lừa bịp dài dài, thay đổi vài lớp lang, hoán chuyển một vài diễn viên chóp bu, biểu diễn thêm một vài trò khác về hiến pháp gọi là bầu cử Quốc hội. Ở vào thời đại dân trí tiến triển như thế này, mà lại đem cái trò tiểu xảo ra dùng như bọn tổng lý ngày xưa để mà mắt dân đen thì thật nực cười. Và còn đem cái trò bịp bợm nhà quê đó để lường gạt quốc tế thì còn gì khôi hài hơn nữa.

 

Còn đổi mới kinh tế thì sao ? Đây là một hành động theo nhu cầu. Khốn thay nhu cầu đó không phải là của dân, mà là của đảng, để cứu nguy cho đảng đang tụt dốc nguy hiểm và nhất là để giữ lại quyền lực thống trị trong tay một thiểu số. Thành ra công cuộc đổi mới kinh tế của đảng Cộng Sản Việt Nam rút cuộc tạo ra một hình ảnh cũng tức cười chẳng kém : Đó là hình ảnh một lũ kiến bị hun nóng ở phía dưới, đang chạy loạn xạcuống cà kê lên. Mở cửa, đi theo kinh tế thị trường, gọi vốn ngoại quốc đầu tư, nghe thì thật đẹp thật hấp dẫn, nhưng thực tế thì mọi suy tư mọi hành động đều lẩn quẩn ở trong một cái vòng tròn có đến hai lần vạch ngăn chặn lại, không thoát ra ngoài được, chẳng khác nào một con quỷ bị hai cái vòng phù thủy cản lối, cứ đụng đầu thì phải dội lại.

 

 Cái vòng đai thứ nhất bằng thép, đó là giáo điều của ý thức hệ. Cởi mở kinh tế mà đụng phải những điều cấm kỵ của ý thức hệ Cộng Sản là phải dội lại. Cái vòng đai thứ hai, tuy không làm bằng thép nhưng nó kiên cố vô cùng: Đó là sự sợ hãi. Mở cửa ra quá trớn, ngộ lỡ phản động nó về, ngoại quốc nó đến lũng loạn, gián điệp nó vô nó xúi giục tạo loạn lật đổ thì sao ? Mọi ý chí đổi mới đụng đến chỗ này là bị co vòi lại. Thật đúng như kiểu con kiến mà leo cành đa, leo phải cành cụt leo ra leo vào..!

   

     Nhìn qua một vài cố gắng gọi là thay đổi đó, không phải để phán đoán hay chỉ trích làm gì cho mất công, mà thật ra để tìm một vài luận cứ cho chủ đề thay đổi của chính chúng ta. Có thể đó là những kinh nghiệm, những cái gương tầy liếp để suy nghĩ đến nhu cầu thay đổi.
  

     Thay đổi trước hết là phải thành thật. Thành thật với người và thành thật với chính bản thân chúng ta. Chúng ta thay đổi không phải vì quyền lợi của cá nhân chúng ta hay của một tập thể nào, mà vì quyền lợi của toàn dân và của đất nước chúng ta.


     Thay đổi là phải can đảm. Không phải dễ dàng gì mà con người có thể dứt khoát từ bỏ được những thành kiến, những tập quán cũ để đi tìm cái mới. Phải có can đảm mới dám từ bỏ được sự an toàn của hiện hữu, dù cho cái hiện có cũng chẳng được thỏa mãn lắm, để đi vào một con đường mới có ít nhiều may rủi. Nhưng thay đổi cũng không phải là nhắm mắt nhẩy vào một cái hố hư không, vô đáy. Với kiến thức cao, với sự suy tính kỹ càng, với sự góp ý để đi tới đồng thuận trong bài toán gồm nhiều ẩn số mà chúng ta đi vào, chúng ta có thể tăng cường rất nhiều xác suất “may” và giảm thiểu đến tối đa cái rủi.


     Thay đổi là phải dứt khoát với quá khứ. Ở đây có thể có sự hiểu lầm, cần xác định cho rõ. Chúng ta không thể ôm lấy quá khứ để mà sống, nhưng chúng ta cũng không nên quên rằng quá khứ có những bài học không thể quên, nhất là có những cái gốc mà bất luận cuộc đổi thay như thế nào, chúng ta cũng phải giữ cho bằng được.


     Cái gốc đó là đất nước chúng ta với ngàn năm uy linh sông núi, là dân tộc với những truyền thống cao đẹp về đạo nghĩa mà ông cha chúng ta để lại.


     Cái gốc đó là lý tưởng của chúng ta, Lý tưởng dân tộc chủ nghĩa, quyết tâm phục vụ cho nước cho dân với một tinh thần ái quốc mãnh liệt.


     Sau hết, chúng ta còn có những cái rễ vô cùng quan trọng để từ đó bắt nguồn cho mọi tư tưởng và hành động của chúng ta. Đó là tinh thần cách mạng. Các đảng phái quốc gia hiện nay hay sau này dù có biến thiên đi để trở thành những chính đảng hay những đoàn thể khác có tính chất tập hợp quần chúng, cũng không nên quên rằng chúng ta đãbắt nguồn từ những đảng cách mạng, hoạt động trong bóng tối trong thời kỳ chống thực dân và chống Cộng Sản. Tinh thần cách mạng là gì,  nếu không phải là tinh thần trách nhiệm quả cảm, hy sinh, chịu đựng, để thực hiện cho bằng được lý tưởng của chúng ta.

 

    Vậy thì thay đổi bắt đầu từ đâu ? Bắt đầu từ chính chúng ta, từ mỗi người chúng ta.

 

Ngày 30 tháng 11 năm 1992

Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh.    


      

 

 

 

 

 

                   

                                                                                                                                                           

  

 




GS Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh: BIÊN CƯƠNG MỚI

GS Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh: BIÊN CƯƠNG MỚI

Trong suốt tuần qua, Trung Quốc đã gặp khó khăn lớn ở Tân Cương vì vụ nổi loạn của dân thiểu số gốc Hồi tại tỉnh này khiến có 180 người chết và 1,680 người bị thương. Ðến đầu tuần này Cảnh sát Trung Quốc lại bắn chết thêm 2 người Hồi và 1 người bị thương, tình thế rất gay go. Tên gọi là Tân Cương tức “Biên giới mới” đã được đặt ra năm 1949 khi quân Cộng Sản Tầu chiếm toàn thể Hoa lục, khiến chính phủ Trung Hoa Quốc dân đảng phải di tản ra đảo Ðài Loan. Tân Cương chiếm một vùng đất rất rộng lớn phần lớn là núi non hiểm trở ở phía Tây Hoa Lục, biên cương chạy dài từ Tây Bắc giáp Mông cổ, xuống đến ranh giới các nước Trung Á như Kazakhstan, Kyrgystan. Kế đó là vùng Tây Nam có khu Tự trị Tây Tạng, giáp ranh giới các nước Afghanistan, Pakistan và Ấn Ðộ. Ngày nay Tân Cương đã trở thành một vùng kinh tế trù phú vì ở dưới vùng núi này có nhiều mỏ dầu lửa. Ngoài ra phong trào du khách đến miền này đã phát triển mạnh, khiến Urumgi, thủ phủ Tân Cương – phía Bắc gần biên giới Mông Cổ – đã trở thành một đô thị hiện đại, với những tòa nhà chọc trời. Hiện nay kỹ nghệ dầu khí của Tân Cương đem về cho Bắc Kinh mỗi năm 61 tỷ đô-la Mỹ, một trong những ngành kỹ nghệ tiến mau nhất của kinh tế Trung Quốc.

Ở Tân Cương từ xa xưa vẫn có nhiều sắc dân thiểu số vùng Trung Á sinh sống, nhưng có một sắc dân gọi là tộc Uighur (đọc theo âm Việt là uây-ghơ) được thế giới sớm biết đến nhiều nhất, vì sắc tộc này sống trên con đường bộ do Marco Polo (Thế Kỷ 13) tìm ra để từ Venice (Ý) giao thương với các nước Trung Á. Tộc “uây-ghơ” theo đạo Hồi từ thế kỷ 7, có điểm đặc biệt là cho đến nay vẫn cách biệt với sự phát triển của Hồi giáo ở Trung Ðông, để giữ được bản sắc hiền lành theo dân tộc tính của họ. Người Trung Hoa thời cổ đã biết đến sắc tộc này khi có con đường “Tơ lụa” giao thương với người Âu châu, nên gọi đó là dân “Hồi” (chữ Hán có nghĩa là trở về), có lẽ đó là những người đã bỏ vùng núi khô cằn ra đi kiếm ăn, nay trở về sống trên đường Tơ Lụa để làm ăn với khách buôn giầu có từ bên ngoài đến. Khi người Tầu thấy họ làm lễ tôn giáo một cách khác các tôn giáo thời đó ở bên Tầu, nên cũng gọi luôn tôn giáo đó là “Hồi giáo” cho tiện.

Tôi đặc biệt muốn nhấn mạnh đến chữ Hồi giáo ở đây, vì từ lâu bao lâu nay tôi vẫn thắc mắc tại sao báo chí Việt ngữ vẫn dùng chữ Hồi giáo để gọi tôn giáo Muslim hay Islam do Ðấng Tiên tri Mohammed thành lập vào Thế kỷ 7 ở Á rập, Trung Ðông. Nguyên nhân chính là vì vào thời điểm trước khi văn hóa Pháp tràn vào Việt Nam đầu thế kỷ 18, các bậc tiền nhân của chúng ta vẫn dùng chữ Hán Nôm để tìm hiểu về thế giới bên ngoài. Bởi vậy khi thấy Hán tự dịch Muslim là đạo Hồi, nên cũng gọi đó là đạo Hồi. Ðến nay trong ngôn ngữ dân gian Việt Nam vẫn có chữ đạo Hồi. Người Tầu gọi cả Pakistan là Hồi Quốc, tiếng Việt vẫn quen dùng tên nước đó như vậy, trong khi trong chữ Pakistan không có gì dính đến tôn giáo, mặc dù đa số người Pakistan cũng theo đạo Hồi. Tôi nghĩ các học giả Việt Nam ngày nay cũng nên sửa chữa lại tên gọi của một số các địa danh ngoại quốc khác bằng những chữ thế giới thường dùng, thay vì dùng theo âm Hán tự, thí dụ như Hoa Thịnh Ðốn, Ba Lê, Luân Ðôn v.v… như thời cổ.

Hãy trở lại câu chuyện “Biên Cương Mới”. Khu Tân Cương do Cộng sản Tầu đặt ra từ năm 1949 đã làm bộc lộ rõ ý đồ thâm độc của chủ nghĩa “bành trướng Bắc Kinh”. Nước Trung Hoa có dân số đông nhất thế giới, sinh sản mau lẹ, nên bắt buộc phải mở rộng bờ cõi từ thời buổi xa xưa nhất của lịch sử. Hiện nay dân số Trung Quốc có 1 tỷ 318 triệu người, người gốc Hán chiếm 92%, còn 8% là những gốc dân thiểu số đủ loại. Dân gốc Hán nhiều như vậy, nhưng lại sống đông đúc nhất ở một dải đất ở miền Ðông Hoa lục, kéo dài xuống theo bờ biển Ðông Hải. Diện tích toàn thể Trung Quốc kể cả các khu tự trị dân thiểu số như Nội Mông, Tân Cương và Tây Tạng, tính chung là 9,572,900 cây số vuông. Bản đồ cho thấy rõ các khu tự trị này chiếm hơn một nửa diện tích toàn thể lãnh thổ, phần còn lại là vùng của dân gốc Hán.

Chế độ Cộng sản Tầu hiện nay chủ trương bành trướng lãnh thổ cho dân Tầu – hiện đã bằng 1/5 dân số cả thế giới – để có đủ đất sống và sinh sản thêm nữa. Nhưng Bắc Kinh khôn ngoan giở trò “bành trướng thầm lặng” bằng cách cho dân gốc người Hán (tức người Tầu) di dân thật nhiều qua các lãnh thổ láng giềng mà họ đã chiếm, gọi là khu “tự trị” nhưng do chính quyền Trung ương trực tiếp cai trị, chẳng khác gì một tỉnh Trung Quốc. Người ta đã thấy hình ảnh khu gọi là “tự trị” Tây Tạng. Khi người gốc Tầu đông hơn người gốc bản xứ, khu tự trị sẽ biến thành một tỉnh Trung Quốc. Tôi nghĩ những nước láng giềng của Trung Quốc có tinh thần dân tộc mạnh đã nhìn thấy rõ ý đồ của Trung Cộng, nên dân chúng phải đề phòng. “Biên cương mới” là bài học cho dân tộc Việt Nam.

Tân Cương hiện nay có tổng số dân là 20 triệu người kể cả dân Tầu, trong đó chỉ có 8 triệu người sắc tộc “uây-ghơ”. Thủ phủ Urumqi đông dân cư nhất có 1.3 triệu người, nhưng đại đa số là dân Tầu thứ thiệt, còn dân bản xứ “uây-ghơ” đã bị gạt ra ngoài rìa thành phố, bởi vì thương gia Tầu Cộng đến đây định cư, dùng tiền bạc mua hết đất ở thành phố. Ngoài Urumqi, tình hình các thành phố khác ở Tân Cương cũng tương tự, chẳng hạn thành phớ lớn thứ hai của Tân Cương là Kashgar và nhiều thành phố nhỏ hơn ở phía Nam cũng có loạn. Trong hơn một tuần qua hàng chục ngàn Cảnh sát mặc áo giáp, nón sắt, võ trang súng liên thanh và cả quân đội chính quy Trung Quốc đã ùn ùn kéo vào Urumqi và các thành phố khác của Tân Cương. Nhà cầm quyền Trung ương ở Bắc Kinh đã đặc biệt cho những hình ảnh đó chiếu trên TV để cảnh cáo các khu vực khác trong nước, đồng thời cũng cho thế giới biết để quy lỗi cho người sắc tộc thiểu số đã nổi loạn đánh phá và giết chóc những người gốc Hoa lương thiện đến làm ăn buôn bán.

Bất chấp sự đàn áp của Cảnh sát võ trang Tầu, phong trào đòi độc lập của dân thiểu số Tân Cương vẫn tiếp tục. Trong thập niên 90, với sự sụp đổ của Liên Sô, phong trào Hồi giáo ở Trung Á đã gia tăng sức mạnh, tinh thần độc lập dân tộc ở các nước Trung Á mỗi lúc một cao. Ngoài ra những người gốc “uây-ghơ” hiện di tản khắp mọi nơi trên thế giới, họp thành những khối nhỏ cũng đã biểu tình kêu gọi sự chú ý của công luận về những vụ đàn áp dã man của Quân đội và Cảnh sát Tầu ở Tân Cương. Mục tiêu của Bắc Kinh là bành trướng lãnh thổ để dân gốc Hán của họ có đủ đất sống, nhưng khi họ chủ trương tiêu diệt văn hóa và ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số, họ đã phạm phải một sai lầm nghiêm trọng.

Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh




Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh: Tính Sổ Chiến Tranh

Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh: Tính Sổ Chiến Tranh

Nước Mỹ đã mắc phải hai cuộc chiến ngay từ lúc khởi đầu Thế kỷ 21, đến nay vẫn kéo dài suốt 10 năm chưa dứt, và cuốn sổ nợ chiến tranh đã báo hại nền kinh tế Mỹ, làm lủng túi tiền của người dân và cũng làm mồi cho chủ nghĩa phe đảng muốn lợi dụng mọi cách để hạ dối thủ trong cuộc bầu cử trung hạn sắp tới. Hai cuộc chiến đó là Afghanistan và Iraq. Chúng tôi muốn nhắc lại vài nét lịch sử bởi vì nếu biết rõ được quá khứ, chúng ta có thể hình dung được tương lai phần nào. Câu hỏi đầu tiên được đặt ra là tại sao Mỹ và cả các đồng minh dính vào hai cuộc chiến nói trên. Sau Thế chiến II, có hai nước chiến thắng nổi bật là Hoa Kỳ và Liên bang Sô Viết đã đánh tan phe trục là Ðức, Ý và Nhật. Sau đó LHQ thành hình nhưng điều đáng buồn là Nga Sô đã gây ra cuộc chiến tranh lạnh đưa đến hậu quả là tình hình thế giới trở nên gai góc như ngày nay.

Chiến tranh lạnh do Liên Sô gây ra với tham vọng bành trướng chủ nghĩa Mác-xít khắp hoàn cầu. Cố nhiên Mỹ đã làm mọi cách để chặn đứng sự bành trướng này. Chúng tôi muốn bỏ qua vấn đề Việt Nam vì chúng ta đã biết quá rõ, để trước hết nói đến Afghanistan hợp với thời cuộc hơn. Ðây là một nước Trung Á, nằm giữa Iran và Pakistan xa về phía Bắc, thành ra không có bờ biển Á Rập mà tiếp giáp với Turkmenistan, vốn là một thành phần của Liên bang Sô Viết thời trước. Khoảng năm 1980 giữa thời chiến tranh lạnh, Liên Sô đã cho một số cán bộ Turkmenistan thu nhận những thanh niên từ Afghanistan qua để truyền bá chủ nghĩa Cộng sản.

Nhóm cán bộ Cộng sản Afgha về nước, ngấm ngầm bành trướng, thu thập những người còn trẻ và khi đã có thanh thế nhờ Cộng sản chuyển giúp vũ khí, chúng đã cướp được chính quyền và lập ra chế độ Mác-xít ở Thủ đô Kabul. Thời này cũng là lúc Mỹ chú ý đến tình hình ở Ðông Nam Á kể cả Trung Nam Á. Khi Cộng sản Afgha chiếm được Kabul, Mỹ lập tức liên lạc chặt chẽ với chính quyền Hồi giáo Pakistan cũng đang lo lắng về vụ nước láng giềng Afgha do Cộng sản cai trị. Tình thế bắt đầu đổi khác khi người Hồi Pakistan qua lại biên giới nói chuyện với người Hồi Afgha. Từ thời xa xưa, đối với những người đạo Hồi ở hai bên không có đường biên giới. Nhiều nơi vùng giữa Pakistan và Afghanistan lại là một làng mạc thôn xóm của người Hồi.

Vì thế khi Cộng sản thành hình ở Afgha, dân Hồi bên này và bên kia biên giới đi lại với nhau như đi chợ. Ðó cũng là lúc CIA và biệt kích Mỹ đến Pakistan để bí mật huấn luyện và trang bị vũ khí cho thanh niên Hồi giáo Afgha có mặt tại Pakistan. Năm 1983 đám thanh niên này về nước, bắt đầu đánh du kích chống quân Chính quyền Cộng sản ở Kabul. Hồng quân Sô viết đàn áp dữ dội, dùng trực thăng và đại bác tiễu trừ “loạn quân”. Nhưng loạn quân cũng có vũ khí tối tân, chẳng hạn rốc kết bắn chiến xa hay trực thăng của địch. Hồng quân chịu không thấu, đến năm 1987 quân đội Nga phải rút hết về nước, kéo theo lũ cán bộ Cộng sản cao cấp Afgha. Và trớ trêu thay, trong số những thanh niên Hồi giáo đánh đuổi Cộng sản Nga, không phải chỉ có những thanh niên Hồi giáo Afgha mà còn có nhiều thanh niên Hồi giáo ở Trung Ðông lén lút qua để tình nguyện đánh Nga cứu đạo Hồi. Trong số những người đi học môn du kích Mỹ lúc đó có một chàng trai tên là Osama bin Laden.

Hãy trở lại Thế kỷ 21 với Tổ chức Khủng bố có tên là al-Qaida. Vào năm 2001, bọn khủng bố đã cướp một phi cơ chở khách ở Mỹ rồi dùng phi cơ đó lao vào tòa nhà Trung Tâm Thương mại Thế giới ở New York gây ra một vụ khủng bố khủng khiếp chưa từng thấy. Hôm sau một ông già xuất hiện trên màn hình TV nói tổ chức đánh bom là al-Qaida do ông ta huấn luyện. Ông già đó chính là Osama bin Laden. Vào tháng 10 năm 2001, TT George W. Bush ra lệnh quân Mỹ tấn công, đổ bộ vào vào Afghanistan để truy lùng bin Laden và đồng bọn là Taliban nhưng không có kết quả. Ba năm sau TT Bush ra lệnh quân Mỹ đổ bộ vào Iraq đánh tan chính quyền của Saddam Hussein vì lý do tên độc tài này có vũ khí giết người hàng loạt (tức bom nguyên tử), nhưng tin tình báo đã sai. Dù vậy Saddam Hussein cũng bị kết án tử hình và bị thắt cổ chết.

Hai cuộc chiến kéo dài đến nay mà vẫn chưa thấy ánh sáng ở cuối đường hầm. Bây giờ là lúc tính sổ chiến tranh. Chiến tranh càng dài sổ nợ càng lớn. Nợ ai vậy? Tiền bạc không phải từ trên trời rớt xuống mà do người dân đóng thuế để chính quyền có tiền chi dùng và quân bình ngân sách. Nếu không làm được như vậy, người dân sẽ lãnh đủ khi kinh tế suy thoái không cách nào gỡ. Thay vì cứu nguy sự sống còn của người dân, người ta chỉ thấy trên chính trường Mỹ hai phe đối nghịch gia tăng các chiêu thế chính trị càng gần ngày bầu cử càng đánh lớn đến độ “xáp lá cà” để ăn thua đủ.

Ðầu tuần này, TT Obama loan báo chương trình rút quân Mỹ khỏi Iraq để trao trách nhiệm cho chính quyền Iraq, ông nói: “Tôi đã nói rõ vào ngày 31-8-2010 sứ mạng chiến đấu của quân đội Mỹ sẽ chấm dứt”. Vụ rút quân này gồm 50,000 quân, so với số quân 144,000 khi Obama tựu chức. Số quân Mỹ còn lại có nhiệm vụ “cố vấn và yểm trợ các lực lượng an ninh Iraq, bảo vệ các viên chức và các cơ sở của Mỹ, tổ chức các cuộc hành quân chống khủng bố”. Sứ mạng của Mỹ thay đổi từ “Hành quân cho Tự do Iraq” thành “Hành quân Bình minh mới”. Số quân Mỹ lưu lại 50,000 người sẽ rút hết vào cuối năm 2011, như TT George W. Bush đã thỏa hiệp với chính quyền Iraq trước ngày ông Bush rời khỏi ghế Tổng Thống.

Chúng tôi nghĩ quyết định rút quân của TT Obama là điều đáng hoan nghênh. Bởi vì xét theo tình thế hiện nay, việc tiễu trừ khủng bố al-Qaida ở nước nào phải là nhiệm vụ của chính quyền và dân chúng nước đó. Mỹ chỉ có thể yểm trợ bằng mọi cách kể cả không lực, chớ không nên đổ quân vào nước có khủng bố hoành hành, bởi vì làm như vậy bọn al-Qaida hay đồng lõa có thể tố cáo quân Mỹ là ngoại xâm để hô hào dân trong nước nổi lên chống đối.

Riêng về tình hình tranh cử ở Mỹ hiện nay, việc tính sổ chiến tranh đang trở thành những trận đánh giáp lá cà để ăn thua đủ giữa các thành phần chính trị, bất chấp những khó khăn kinh tế do hậu quả của hai cuộc chiến tranh ở Iraq và Afghanistan. Ðó là điều đáng buồn.

Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh




Tạo thành lịch sử

TẠO THÀNH LỊCH SỬ

Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh

 

Kết thúc cuộc vận động làm ứng cử viên Tổng Thống, bà Hillary Clinton đã có một diễn từ rất hay về chính trị, nhưng cũng đầy tình cảm chân thành. Đó là một sự phối hợp tuyệt vời giữa khối óc và con tim. Nhìn hình ảnh trên TV cuộc họp ở Thư viện quốc gia Washington đông nghẹt người, nhiều đợt đứng lên vỗ tay hoan hô vang dậy, tôi có cảm tưởng đây là một cuộc họp chào mừng một ứng cử viên đã thắng chớ không phải một người đã thua. Nhận xét này quá đáng chăng? Ngay lúc đó tôi đã có cảm nghĩ bài diễn từ có nhiều ý nghĩa sâu sắc, đáng chiếm một trang sử nước Mỹ làm gương cho hậu thế. Và 18 triệu phiếu trong đảng Dân chủ đã bầu cho bà Clinton cũng đủ là một sự kiện lịch sử. Bà chỉ kém phiếu Obama có một chút ít mà thôi.

 

Sự thật Hillary Clinton đã tạo thành lịch sử từ 8 năm trước. Bà là vị Đệ nhất Phu nhân đầu tiên trong lịch sử Mỹ sau khi chồng hết nhiệm kỳ ra khỏi Bạch Cung, đã có một sự nghiệp chính trị dân cử. Năm 2000 bà đã đắc thắng vẻ vang làm Thượng nghị sĩ New York . Vậy tại sao bà đã thua trong cuộc đấu với Thượng nghị sĩ Barack Obama? Nhắc lại vài chuyện đã qua không phải vô ích, vì kinh nghiệm của quá khứ là bài học của tương lai. Goliath đã bị David hạ chỉ vì người khổng lồ đã quá coi thuờng chú bé nhóc con. Từ tháng 1-07, khi bà Clinton tuyên bố ra ứng cử Tổng Thống, đa số dân Mỹ quá thất vọng về Tổng Thống Bush, đã mong  sẽ có sự thay đổi. Các poll lúc đó chỉ nhìn đến Hillary để xem ưu thế tiến triển như thế nào chớ không lưu ý đến một ông Obama, lính mới ra lò trong làng chính trị cao cấp ở Washington DC . Nhưng từ đầu năm 2008 mọi người mới té ngửa. Obama không phải tầm thường. Đây không phải là một David chỉ bắn lén một phát mà trúng. Đây là một người có nhiều biệt tài về đấu tranh chính trị, nhất là khoa ăn nói.

 

Cố nhiên việc Hillary chấm dứt cuộc vận động làm ứng cử viên Tổng Thống không có nghĩa là sự nghiệp chính trị của bà đã kết thúc. Theo thiển ý sự nghiệp đó nhờ trận đấu này đã vọt lên cao chưa từng thấy. Trong các ưu tiên bà nêu ra có vấn đề “bảo hiểm sức khỏe” cho tất cả mọi người dân, vì hiện nay hàng triệu người vẫn không có bảo hiểm y tế. Nhưng ý kiến của Hillary quan trọng nhất vẫn là việc xóa sạch dấu vết còn lưu cữu của nạn kỳ thị giới tính và mầu da. Trong các sở làm, lương bổng phụ nữ vẫn kém lương lậu đàn ông, mặc dầu có nhiều trường hợp phụ nữ làm việc giỏi hơn, có nhiều sáng kiến hơn và chuyên cần hơn đàn ông. Từ năm 1848 Mỹ đã có phong trào tranh đấu cho nữ quyền, nhưng đến năm 1920 phụ nữ Mỹ mới có quyền đi bỏ phiếu. Sau cuộc chiến tranh Nam-Bắc, Tổng Thống Abraham Lincoln đã ký sắc lệnh giải phóng người da đen khỏi ách nô lệ, nhưng nạn kỳ thị vẫn tiếp tục dai dẳng suốt 200 năm sau. Mãi đến khi nhờ sự tranh đấu quyết liệt của bà Rosa Parks, một phụ nữ da đen năm 1954, người da đen mới được ngồi chung xe buýt với người da trắng. Cũng năm đó trẻ em da đen được học cùng lớp với trẻ em da trắng. Hillary đã kết thúc cuộc vận động làm ứng viên Tổng Thống, nhưng Mỹ vẫn có Phong trào Nữ quyền hiện đại rất mạnh kể cả phụ nữ da mầu vẫn cam kết đứng sau lưng bà.

 

Người ta đã thấy rõ tư cách một người làm chính trị như bà Hillary. Bà ra tranh cử không phải chỉ vì chức vụ vì danh lợi, mà chỉ vì muốn có cơ năng lãnh đạo theo đường hướng mà bà tin là đúng để phục vụ quyền lợi chính đáng của dân của nước. Tháng 5 vừa qua khi thấy Hillary kém phiếu, nhiều ông kể cả các ông da trắng nêu câu hỏi chát chúa: Tại sao Hillary không bỏ cuộc ngay đi cho rồi mà còn tiếp tục đấu với Obama? Câu hỏi thật vô vị, nếu không kiên trì chiến đấu cho đến phút chót, chẳng hóa ra chưa đấu xong đã buông tay đầu hàng, còn gì tư cách một người lãnh đạo? Bây giờ  mọi việc đã rõ rệt. Obama hơn phiếu dù chỉ hơn chút ít, Hillary chính thức tuyên bố kết thúc trận đấu trong nội bộ đảng Dân Chủ chớ không kéo dài đến ngày Đại hội Đảng vào tháng 7. Lý do ưu tiên là tránh cho đảng Dân Chủ khỏi bị chia rẽ thành hai mảnh mà đoàn kết lại để sẵn sàng chờ cuộc đấu với đảng Cộng Hòa tranh chức Tổng Thống vào tháng 11 năm nay. Tuần này khi Hillary cùng chồng và cô con gái đi nghỉ một tuần, một câu hỏi khác lại được đặt ra: Liệu Hillary có đứng chung danh sách ứng cử với Obama làm Phó Tổng Thống hay không? Lúc này còn quá sớm để trả lời.

 

Hai ngày trước lúc tuyên bố ngưng vận động tranh cử, bà Clinton và ông Obama đã họp riêng khoảng một tiếng đồng hồ trong phòng khách tư thất của bà Diana Feinstein. Khi rời khỏi phòng họp hai người đều có bộ mặt tươi cười. Nhưng điều đó không có nghĩa là vấn đề lựa chọn ứng viên Phó Tổng Thống đã giải quyết xong. Chỉ biết chắc là trong diễn từ của bà Hillary dài 30 phút, bà đã nói đến tên ông Obama 14 lần để tuyên bố hoàn toàn ủng hộ ông tranh cử Tổng Thống. Đặc biệt có một câu nói làm tôi suy nghĩ nhiều. Hillary nói: “Trong 40 năm qua đã có 10 lần bầu Tổng Thống nhưng đảng Dân Chủ chỉ trúng cử có ba lần và có hai Tổng Thống. Người đắc cử hai lần làm Tổng Thống 8 năm là người có mặt ở đây với chúng ta hôm nay”. Hillary không nói đến tên ông chồng nhưng toàn thể cử tọa hoan hô vỗ tay rào rào.

 

Hillary cười nói tiếp: “Chúng ta đã đạt được những tiến bộ kỳ diệu trong thập niên 90 dưới quyền một ông Tổng Thống Dân Chủ, bây giờ chúng ta hãy hợp tác giúp Barack Obama làm Tổng Thống sắp tới của chúng ta”. Bà không hề nói bà có thể nhận lời làm ứng viên Phó Tổng Thống trong danh sách của Obama, bởi vì vấn đề lựa chọn một ứng viên Phó Tổng Thống rất phức tạp. Nhưng dù bà có đứng chung danh sách hay không, hoài bão chính trị của bà vẫn cao. Bà nói: “Nếu chúng ta đã phóng được 50 phụ nữ lên không gian quỹ đạo vòng quanh Trái Đất, lẽ nào rồi đây chúng ta không phóng được một phụ nữ qua ngưỡng cửa phòng Bầu dục Bạch Cung”. Tôi nghĩ “chúng ta” ở đây bà muốn nói đến các ông. Bởi vì các ông, nhiều người ở ngay trong đảng Dân Chủ, khi phải chọn môt nữ ứng cử viên Tổng Thống đã ngần ngại vì cho rằng một bà lên làm Tổng Thống tức Tổng Tư Lệnh Quân đội nghe thật kỳ, liệu có làm nên trò trống gì hay không?

 

Tôi chỉ là một người dân gốc Việt, bỗng nghĩ đến Bà Trưng ở Việt Nam và cả bà Jeanne d’Arc ở Pháp. Các ông làm Tổng Tư Lệnh cho đến nay cũng có ông không làm nên trò trống gì mà còn làm khổ cho dân. Bởi vậy tôi xin thưa với mấy đấng đực rựa còn nặng trĩu óc cổ hủ: “Thời nay đã đến lúc phụ nữ vùng lên rồi”.

 

 Bình luận gia Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh




Gs Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh: KỲ THỊ CHỦNG TỘC

Gs Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh: KỲ THỊ CHỦNG TỘC

Nạn kỳ thị chủng tộc là một chương quái đản dài nhất trong lịch sử nhân loại. Nạn này có gốc từ thời xa xưa là thói kỳ thị mầu da khi loài người lan tràn khắp năm châu và có đủ phương tiện giao thông để tiếp xúc với nhau bằng đường bộ và đường thủy vào thời vài thế kỷ trước Tây nguyên. Nhưng loài người nguyên do xuất phát từ đâu? Chúng ta đã biết loài người tiền sử gốc ở Phi châu. Theo các di cốt khảo cổ học tìm được, loài người có trí khôn (homosapiens) đã sinh ra ở vùng ngày nay là nước Ethiopia, cố nhiên đó là người gốc da đen. Khoảng 45,000 năm trước đây, loài người đó bắt đầu từng nhóm kéo nhau di chuyển về phương Bắc. Vùng đất tiên khởi quá nóng, loài thứ dữ quá nhiều, nên họ phải tìm cách thích ứng để sống còn. Họ đi về hướng Bắc khí hậu mát hơn, nhưng lại đụng phải bờ biển Ðịa Trung Hải. Nhưng sau họ tìm được bờ biển Hồng Hải có đường Bắc tiến, dần dần đến một nơi gần kinh đảo Suez ngày nay, họ đã gặp mảnh đất nhỏ nối liền từ Phi châu qua Trung Ðông.

Từ Trung Ðông họ chia ra nhiều chi nhánh, tỏa lên Âu Châu ở phía Bắc và qua Trung Á rồi đến Á châu ở hướng Ðông. Khung cảnh sống khác, khí hậu khác, thực phẩm kiếm được cũng khác nên lâu dần suốt trong mấy chục ngàn năm qua, mầu da họ đổi khác, đó cũng là luật tiến hóa tự nhiên để sống còn. Họ không còn nhớ cái gốc của họ là da đen xuất phát từ Phi Châu. Christopher Columbus tìm ra Mỹ châu vào năm 1492 và trong khoảng thời gian ba thế kỷ sau đó, di dân từ các nước Tây Âu như Anh, Pháp, Ðức, Ðan Mạch…dần dần kéo đến Bắc Mỹ gọi là “Thế giới mới” rất đông để khai khẩn tìm nơi sinh sống. Ðất rộng mênh mông, ở đây vốn đã có những sắc dân thiểu số lúc đó gọi là người Indians, ngày nay chúng ta gọi họ là người “da đỏ”. Cũng trong thời gian này đã nẩy sinh tệ nạn buôn bán người da đen làm nô lệ vô cùng tàn bạo từ Phi châu qua Bắc Mỹ. Người Ðạn Mach thời đó là nhóm người cầm đầu nạn buôn nô lệ. Cùng thời các nước văn minh lớn như Anh và Pháp đều đã có thuộc địa ở vùng ven biển Phi Châu. Các tay buôn bỏ tiền ra mua người hay bắt người da đen ở các vùng rừng rậm đói khổ, rồi cùm lại, bỏ xuống hầm tầu như chở các thú vật để đem qua “tân thế giới” bán cho dân da trắng định cư ở đó. Những nô lệ nổi loạn đều bị bắn chết, quẳng xác xuống biển. Các kẻ da trắng buôn nô lệ tàn bạo đã phản lại cái gốc thủy tổ của họ ở Phi châu là người da đen.

Về phía di dân lúc đầu có người Tây Ban Nha, sau đó dân Anh và Pháp chiếm đa số. Tất cả các di dân đó đều lập thành những “khu thuộc địa” của nước họ. Ở nước Mỹ ngày nay lúc đầu có các vùng của người Anh và Pháp, nhưng người gốc Anh đông hơn nên sau cuộc chiến tranh ngắn, người gốc Pháp rút về Canada ở phía Bắc, còn ở phía Nam chính quyền thuộc địa Pháp rút xuống Mexico. Ở nước Mỹ, vì bất mãn với chính quyền thuộc địa Anh quốc, di dân gốc người Anh đã nổi lên làm Cách mạng năm 1775, đưa đến bản Tuyên ngôn Ðộc lập năm 1776. Chính quyền liên bang Mỹ độc lập bắt đầu từ đây. Kế đó đến thời Tổng Thống Abraham Lincoln (1861-65), ông đã chủ trương cấm nô lệ khi đưa ra Tu chính án 13 được chấp thuận năm 1865. Sự kỳ thị mầu da là trái luật, nhưng cũng giống như sự kỳ thị sắc tộc vẫn còn phảng phất trong dân chúng trong nhiều năm qua.

Bây giờ thì sao? Nước Mỹ đã có một vị Tổng Thống đầu tiên gốc da mầu. Hai tuần trước, Tổng Thống Barack Obama đi thăm Phi châu. Obama có người cha gốc da đen ở Kenya, người ta đã tưởng ông về thăm quê nội. Bất ngờ ông đã đến thăm nước Ghana ở bờ biển Tây Phi. Ghana là một nước dân chủ nhỏ, nhưng ở đây có một đền Tưởng niệm những người da đen đã chết vì nạn mua bán nô lệ. Thời xưa Ghana là nơi tập trung những nguời bị bắt làm nô lệ từ nhiều nơi ở Phi châu đem đến, chờ đưa xuống tầu. Những cảnh đánh đập dã man, có khi làm chết người đã xẩy ra. Các con tầu chở nô lệ vượt biển đến gần Mỹ châu đều ghé đảo nhỏ St Croix thuộc nhóm đảo Virgin trong biển Caribbean gần Puerto Rico. Các đoàn người nô lệ bị trói đưa lên bộ, vào nhà tù ST Croix để cùm hàng tuần hàng tháng, chờ khách hàng đến trả tiền mua nô lệ đem vào đất liền bán cho bọn di dân ở Mỹ. Nhiều người da đen đã chết vì đói, vì bệnh thê thảm ở địa ngục trần gian này. Bọn cai tù coi họ như súc vật hôi thối nhơ bẩn, nên chỉ bồng súng đứng xa, không thèm hỏi han chi hết.

Chúng tôi nhắc lại một giai đoạn đen tối của loài người, không phải để hận thù những kẻ tham tàn đã mất hẳn tính người mà coi đó như những kinh nghiệm của quá khứ để làm gương cho tương lai. Vậy TT Obama phải làm gì để dứt hẳn các tàn dư của nạn kỳ thị mầu da và sắc tộc? Chúng tôi thiết nghĩ những tàn dư đó không còn quan trọng nữa, trước sau nó cũng biến mất với thời gian. Ðiều cần thiết nhất là phải nhìn đến những giới trẻ, những thế hệ kế tiếp của các sắc dân da mầu, bất luận mầu đen, mầu vàng hay mầu nâu hiện sống trong các cộng đồng sắc tộc ở đất nước này. Chúng ta đã có cái may là được sống ở một nước hiện đại hàng đầu của thế giới, một môi trường tốt nhất để con em chúng ta học hỏi mở rộng kiến thức về mọi ngành mọi mặt. Thế nhưng những cám dỗ để đưa đến sa đọa, mất hẳn tính người cũng không phải ít.

Cuối tuần qua TT Obama đã đưa ra một thông điệp rất đáng chú cho những người Mỹ gốc Phi cũng giống như ông. Một thông điệp đầy tình thương nhưng cũng khá cứng rắn cho giới cha mẹ của những đứa trẻ đang lớn lên. Ông nhấn mạnh họ cần phải thúc đẩy các con em của họ có những suy tư trong sáng và thiết thực để vượt qua khỏi những mộng ảo muốn trở thành những ngôi sao sáng màn bạc, thể thao hay ca nhạc. Nhân dịp kỷ niệm 100 năm của NAACP, nhóm tranh đấu cho quyền công dân lâu đời nhất của người Mỹ gốc Phi, ông kêu gọi người da đen hãy gánh lấy trách nhiệm của chính mình thay vì dựa vào những chương trình của chính phủ. Ông nói người da đen phải lấy lại tinh thần tranh đấu kiên trì về quyền công dân từ nửa bán thế kỷ trước để đối phó với những khó khăn trong cuộc sống hiện nay như không có việc làm, tiền chữa bệnh gia tăng và nạn HIV-AIDS.

Obama nói: “Giáo dục là con đường đưa tới tương lai tốt đẹp hơn. Tôi mong con em chúng ta phải có đầu óc ước mơ trở thành các nhà khoa học, kỹ sư, bác sĩ và giáo sư. Tôi mong chúng ước mơ trở thành ông bà Tòa ở Tối Cao Pháp Viện, trở thành Tổng Thống của nước Mỹ”. Vậy trong một cộng đồng đa chủng, làm thế nào để tránh khỏi sự kỳ thị chủng tộc? Với tư cách một người dân gốc Á, tôi xin trả lời: Ðừng để các chủng tộc khác khinh rẻ chủng tộc của chính mình.

Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh.




Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh: Pakistan Hai Mối Họa

Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh: Pakistan Hai Mối Họa

Vào dịp mùa gió bão lớn ở Về vụ bão lụt ở Pakistan, các giới chức cho biết trên toàn quốc có tới 13 triệu dân đã bị ảnh hưởng bởi các trận lụt. Khoảng 1,600 người đã chết, 2 triệu người mất nhà, phần lớn ở Tây Bắc là vùng bị lụt nặng nhất. Hai tuần qua nước lụt đã cuốn đi nhiều đường lộ cầu cống và các tuyến giao thông, làm trở ngại công cuộc cứu trợ của các tổ chức thiện nguyện tư nhân và chính phủ. Những vụ mưa lớn tầm tã đã cản trở các chuyến bay trực thăng, không cất cánh được để cứu người hay chuyển vận đồ tiếp tế.

Trong khi chính phủ Pakistan kêu gọi toàn dân đoàn kết để cứu trợ nạn nhân bão lụt, những người Hồi giáo xưa nay chủ trương cứng rắn đã ào ạt đổ vào tiếp tay với chính quyền trong việc tiếp tế cho nạn nhân. Ðây là điều có ý nghĩa nhất, bởi vì như chúng ta đã biết ngoài mối họa thiên tai, Pakistan còn đang chịu một mối họa nhân tai do bọn khủng bố Taliban gây ra. Bọn này đã từng đánh bom hồi năm ngoái ở một thị trấn có Ðại bản doanh quân đội nằm sát Thủ đô. Từ đó các vụ đánh bom lớn nhỏ xẩy ra liên tiếp. Gần đây vào tháng trước, tại vùng Pashtun tiếp giáp với Afghanistan, 2 kẻ đánh bom tự sát đi trên xe gắn máy đã giết chết 102 người dân kể cả trẻ em và phụ nữ. Hồi năm ngoái Pakistan đã mở hai cuộc tấn công lớn vào vùng có quân Taliban từ Afghanistan vượt biên qua ẩn núp.

Cuối tuần qua Hải quân Pakistan cho ca-nô tiến đến vùng bị lụt và chở nạn nhân còn bị kẹt vì đường xá và cầu cống đã bị nước cuốn trôi hết. Nước lụt còn dâng cao tràn đến vùng Tây Bắc đến tỉnh Punjab, đến miền Nam thị trấn Sindh kéo dài đến hơn 1,000 cây số. Riêng ở phía Ðông tỉnh này, 1,4 triệu acres (mẫu theo số đo lường của Anh) đã bị hủy diệt, 4.2 triệu dân ở đây bị ảnh hưởng. Trong khi đó Tổng Thống Pakistan Ali Zardari lại đi thăm một số nước Âu châu để vận động viện trợ cho kế hoạch trừ diệt nạn khủng bố ở trong nước. Một số dư luận đã lên tiếng chỉ trích, nhưng giới quân sự Pakistan không hề có ý phản đối, họ cho rằng nạn khủng bố là mối họa lớn hơn cho đất nước.

Cho đến nay tình hình kinh tế Pakistan vẫn èo uột xuống thấp vì nạn khủng bố gây loạn, nên chỉ còn trông vào viện trợ của nước ngoài, nhưng vì tình hình chính trị bất ổn nên viện trợ quốc tế chỉ có giới hạn. Quân đội Pakistan chú trọng vào việc tiễu trừ bọn Taliban từ Afghanistan chạy qua ẩn náu, nên quân đội cũng không thể đem toàn lực cứu dân bị bão lụt. Các giới chức lãnh đạo quân đội cho rằng nạn lụt chỉ là nhất thời, nạn khủng bố là mối họa dài hạn, nếu không dốc toàn lực đối phó trường kỳ, Pakistan sẽ lọt vào tay bọn Taliban trong khi chúng đang gây chiến với quân đội Mỹ và đồng minh NATO ở Afghanistan.

Trước tình thế đó Mỹ đã cho các trực thăng bay chính thức lần đầu tiên vào đất Pakistan để cứu trợ nạn nhân bão lụt ở Punjab. Trực thăng Mỹ đã chở đồ cứu trợ khẩn cấp cho các nạn nhân, và đưa hàng trăm nạn nhân bị kẹt trong vùng bão lụt đến nơi an toàn. Phát ngôn nhân tòa Ðại sứ Mỹ cho biết 800 người đã được trực thăng cứu và đồ tiếp tế đã được phân chia cho một số các nạn nhân. Nếu nạn nhân bão lụt trông chờ thế giới bên ngoài đến cứu họ, cho đến nay họ chỉ thấy trực thăng Mỹ. Thường ngày dân Pakistan chỉ được nghe bọn Taliban tuyên truyền “Mỹ đã đem quân chiếm Afghanistan nên sẽ chiếm luôn cả Pakistan”, giờ đây dân chúng Pakistan đã có thể thấy rõ trong lúc hoạn nạn bọn Taliban lẩn trốn, chỉ có Mỹ đến cứu họ.

Trong khi đó tình hình ở Afghanistan cũng khá gay go, một phái đoàn Viện trợ Quốc tế đã bị Taliban tấn công làm chết 10 người. Trong số 10 người này có 6 người Mỹ, 2 người Afgha, 1 người Ðức và 1 người Anh. Tất cả đều là bác sĩ, nữ y tá. Phái đoàn này gồm có Trưởng đoàn Tom Little, bác sĩ nhãn khoa ở New York, đã làm việc ở Afghanistan trên 30 năm; Dan Terry 64 tuổi một người đã từng là cựu chiến binh lâu năm ở Afgha; Bác sĩ Thomas Grams 51 tuổi, đã bỏ nghề chữa răng ở Colorado từ 4 năm trước để làm việc toàn thời gian giúp trẻ em nghèo ở Afgha; Bác sĩ Karen Woo 36 tuổi, công dân Anh duy nhất trong phái đoàn; Glen Lapp 40 tuổi, y tá ở Lancaster đến Afgha từ năm 2008, đã tình nguyện ở lại để giúp Chương trình Nhãn khoa thiện nguyện ở Afgha; bà Cheryl Beskett 32 tuổi, con của một mục sư Knoxville, Tenn. Còn 2 người là người Afgha lo việc hậu cần.

Phái đoàn đã leo núi – không đem võ khí và cũng không có an ninh đi theo. Họ đã đi xe hơi từ thủ đô Kabul đến thung lũng hẻo lánh Parun trong tỉnh Nuristan ở cách Bắc Kabul khoảng 260 cây số. Ðến thung lũng họ xuống xe đi bộ theo đường núi suốt 10 tiếng đồng hồ đem theo thuốc men cho những người dân Afgha sống ở thôn xóm hẻo lánh trên núi. Họ đã làm việc trong hai tuần lễ ở vùng này. Khi trở về chiếc xe đã bị phục kích trên đường. Bọn Taliban đã lên tiếng nhận trách nhiệm, quy lỗi cho những người thiện nguyện này là bọn do thám cho Mỹ và tuyên truyền giảng đạo để những người Hồi giáo bỏ đạo đi theo Thiên chúa giáo. Tổ chức Viện trợ Quốc tế đã cực lực cải chính, nói phái đoàn không đi truyền đạo và cũng không hề khuyên người dân vùng núi bỏ đạo Hồi. Khi họ trở về hết đường núi để lên xe hơi, họ đã bị quân Taliban bắn chết hết. Riêng có tài xế người Afgha sau khi quỳ xuống đọc kinh Coran, được chúng tha không giết.

Bây giờ hãy trở lại thời Chiến tranh lạnh. Năm 1987, sau khi quân đội Liên Sô phải bỏ chạy ra khỏi Afghanistan, một nhóm Hồi giáo cực đoan chiếm được chính quyền trung ương ở Kabul. Họ cai trị bằng luật Hồi giáo duy căn. Xã hội đất nước này hỗn tạp, gồm nhiều thành phần chủng tộc khác nhau, văn hóa xuống dốc vì phụ nữ trẻ em không được đến trường học, còn già trẻ phải đi trồng cây nha phiến theo lệnh của chính quyền. Người dân nghiền thuốc phiện rất nhiều, trở thành yếu ớt, bệ rạc kéo dài đến ngày nay. Văn hóa Afghanistan đã thua xa văn hóa Pakistan trước là thành phần của Ấn Ðộ, nên có một nền văn hóa rất cao. Bản báo cáo mới nhất của LHQ cho biết trong nửa đầu năm 2010, số dân Afgha bị phản loạn giết đã tăng 25% so với cùng thời kỳ năm ngoái.

Xét tình trạng trên, chúng tôi nghĩ Mỹ và cả Liên Hiệp Quốc nên viện trợ bão lụt cho Pakistan, để người dân nước này vốn đã sẵn có kiến thức cao nhìn thấy rõ chân tướng của khủng bố Taliban đã xâm nhập đất nước của họ.

Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh




CƠN ÁC MỘNG GIẤY NỢ

   CƠN ÁC MỘNG GIẤY NỢ
 
    Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh
 Từ mấy tuần qua nước Mỹ đã lâm vào một cơn bão lửa tài chính, một cuộc khủng hoảng tín dụng đe dọa kéo sập cả một tòa lâu đài vĩ đại nhất thế giới là Thị trường Chứng khoán Wall Street New York liên hệ đến các công ty kinh doanh rường cột của toàn bộ nền kinh tế Mỹ. Tín dụng là tiền cho vay có thế chấp theo luật định, các tổ chức hoạt động trong lãnh vực này là các công ty tài chính, các tập đoàn bao gồm các ngân hàng lớn nhỏ, các hãng bảo đảm cho sự thế chấp đó, và các tổ hợp các công ty bảo hiểm đủ mọi mặt kể cả bảo hiểm nhân thọ, tai nạn, đầu tư v.v… Tín dụng bị khủng hoảng vì các món nợ khó đòi, kẻ đi vay không có khả năng trả nợ. Ở đây nổi bật nhất là những món nợ đi vay để mua nhà.
Tín dụng là một tập quán rất quan trọng trong các chế độ tư bản, bởi vì vay tiền để làm ăn sinh lời lớn để có thừa tiền trả nợ và vẫn còn có lời. Đó là đồng tiền đẻ ra tiền vậy. Thế nhưng về mặt giấy nợ mua nhà, nó đã gặp khủng hoảng vì giá nhà xuống thấp trong hoàn cảnh kinh tế Mỹ trì trệ từ nhiều năm qua do nhiều nguyên nhân như ngân sách quốc gia thâm thủng, tổn phí chiến tranh chống khủng bố lên cao, kinh doanh yếu kém, nạn thất nghiệp gia tăng. Nguyên nhân chính của cơn bão hiện nay vẫn là lòng tham của giới kinh tài Mỹ. Thêm vào đó là sự lơ là chấp hành điều lệ nợ thế chấp. Nó gây họa lớn vì cơ cấu tổ chức các công ty tài chính dính liền với nhau trong một mạng lưới vô cùng phức tạp để mua bán đổi chác các giấy nợ, gọi là trái phiếu. Nếu đồng đô-la là tiền, đó cũng chỉ là một tờ giấy. Trái phiếu cũng là một tờ giấy, nhưng đô-la có sự bảo đảm của chính phủ Mỹ, còn trái phiếu chỉ có sự bảo đảm của các công ty tài chính tư doanh. Để làm cho sự bảo đảm trái phiếu có giá trị hơn, các tập đoàn tài chính họp nhau lại thành các tập thể đại công ty hay siêu công ty lừng danh trên thế giới. Họ nâng đỡ lẫn nhau để bảo đảm các món tiền cho vay. Vì thế đã dính là dính cả chùm.
Cơn bão lốc bắt đầu từ hai tuần trước khi hai công ty đầu tư lớn phải khai phá sản vì thua lỗ nặng. Sự liên hệ chồng chéo cái nọ kéo cái kia, vì liền sau đó hai siêu công ty tài chính lâu đời là Freddie Mac và Fannie Mae cũng chuẩn bị khai phá sản vì thua lỗ nặng, chỉ số cổ phiếu của họ tại Thị trường Chứng khoán tụt dốc thê thảm, tình thế này có nghĩa là phản ứng dây chuyền sẽ xẩy ra dữ dội. Chính vì thế chính phủ phải can thiệp cấp tốc trước khi quá muộn. Ngày 7 tháng 9, Bộ Tài chính bơm vào 2 công ty này 200 tỷ đô-la để cứu nguy phá sản, đặt dưới sự bảo hộ của chính phủ. Đây cũng là một hình thức quốc hữu hóa. Chỉ số Thị trường Chứng khoán nói chung chỉ nhích lên một chút nhưng rồi lại tụt xuống ngay. Sau đó một Công ty Bảo hiểm khổng lồ có ảnh hưởng đến các thị trường tiền tệ toàn thế giới là AIG (American Insurance Group) cuối tuần trước cũng chuẩn bị khai phá sản. Bộ Tài chính đã đỡ đòn cho nó ngay lập tức bằng cách bơm đến 85 tỷ đô-la vào công ty với hình thức cho vay trong hai năm, nhưng cũng một là cách quốc doanh hóa.
Tuy nhiên các giới kinh-tài Mỹ nhìn thấy ngay một sự thật phũ phàng. Cả một thành phố lộng lẫy đang bị nạn cháy, nếu chỉ cho lính Cứu hỏa phun vòi rồng dập tắt ngọn lửa cho hai ba căn nhà thì có ích gì? Vì thế chiều chủ nhật vừa qua sau cuộc họp cấp tốc giữa Tổng Thống Bush, Bộ trưởng Tài chính Paulson và Chủ tịch Ngân hàng Dự trữ liên bang Bernake, đã có thông báo cho biết Chính phủ lập một quỹ 700 tỷ đô-la cứu nguy các công ty tài chính sắp khai phá sản. Theo các chuyên gia Mỹ có lẽ phải cần đến 1,000 tỷ mới đủ. Dù sao đề nghị lập quỹ 700 tỷ đã được đưa ra Quốc hội đầu tuần này để thảo luận và biểu quyết thành luật.
Ở đây hãy hỏi các số tiền 700 tỷ hay 1,000 tỷ ở đâu ra mà lắm thế? Nó không phải từ trên trời rớt xuống mà do tiền đóng thuế hàng năm của người dân Mỹ. Và bây giờ lấy hàng tỷ đô-la của dân đóng thuế giúp cho các công ty kinh-tài tiếp tục tồn tại để họ lại tung tiền cho vay thêm nữa hay sao? Vì câu hỏi đó, đạo dự luật 700 tỷ đưa ra trước Quốc hội có kèm theo những cam kết của chính phủ xét lại luật lệ và quy chế cho vay để tránh tệ nạn lạm dụng. Thứ ba tuần này, Ủy ban Ngân hàng Thượng viện họp trong khi chỉ số Dow Jones Thị trường chứng khoán xuống 375.75 điểm, tức mất 3.3%, vì  giới kinh doanh và cả dân chúng Mỹ lo sợ còn nhiều vụ báo nguy phá sản lớn nữa sẽ xẩy ra. Vậy cần phải làm cho lẹ.
Thế nhưng khó khăn không phải nhỏ. Quốc hội Mỹ đã có kinh nghiệm làm cho lẹ rồi. Đó là lúc biểu quyết cấp tốc cho phép TT Bush đem quân đánh Iraq năm 2003. Hậu quả của cái "làm cho lẹ" đó còn kéo dài cho đến ngày nay với tất cả nỗi bi đát của nó, rút ra rất khó. Bởi thế dự luật dùng tiền của dân đóng thuế để cứu các vị tài chủ vỡ nợ cần phải được cứu xét cho kỹ. Tuần này, Ủy ban Ngân hàng Thượng viện họp bàn cãi sôi nổi và có những điều đáng chú ý chẳng hạn như nếu đã muốn cứu nguy cho hệ thống tài chính trên toàn nước Mỹ sắp sụp đổ, tại sao không cứu nguy cho những người dân nợ mua nhà sắp mất nhà? Dự án quốc hữu hóa các công ty sắp vỡ nợ dù là tạm thời nhưng vẫn có nghĩa là chính phủ "mua" những món nợ khó đòi đó bằng tiền của dân đóng thuế, vậy thì dân trở thành chủ các món nợ đó. Dân đã có lỗi lầm gì mà được hưởng cái "diễm phúc" lớn như thế? Bởi vậy sau này nếu hết cơn bão lửa kinh-tài, các công ty cho vay nợ đến khi có lời, số lời đó cũng phải chia cho dân đóng thuế một phần. Đồng thời cũng phải tính đến việc hỏi thăm sức khỏe các vị tài chủ đã vơ vét hàng tỷ đô-la trong cả chục năm trước đây, rồi để lại cả đống bầy nhầy cho hậu thế phải quyét dọn cho sạch. FBI đang diều tra.
Cuộc bàn thảo tại Thượng Viện có thể rất dài, nhưng các nghị sĩ của cả hai đảng nói có thể trong 7 ngày sẽ có biểu quyết. Một một nghị sĩ Cộng Hòa, theo tin AP hôm thứ ba, nói đùa: "Không phải vì Chúa Trời tạo ra Thế giới trong 7 ngày mà chúng ta bắt buộc phải hoàn thành đạo luật trong 7 ngày". Như vậy cơn ác mộng giấy nợ rốt cuộc rồi cũng phải hết chăng? Thời nay dân Mỹ vẫn còn bị ám ảnh về cuộc đại suy thoái kinh tế kinh hoàng nhất trong lịch sử năm 1929. Tôi nghĩ tình thế mỗi thời một khác, nước Mỹ ngày nay đã tiến bộ hơn rất nhiều so với 80 năm trước. Chỉ có điều phiền là chìa khóa để chữa dứt nọc căn bệnh tín dụng là hai chữ …"tín nhiệm". Nó không nằm trong luật pháp, điều lệ hay máy móc. Nó nằm trong lòng người.
 



Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh: CÁCH MẠNG TRUYỀN THÔNG

Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh: CÁCH MẠNG TRUYỀN THÔNG

Cách mạng đi đôi với truyền thông là lẽ tự nhiên. Cách mạng là một biến cố làm thay đổi chế độ cai trị và nếp sống xã hội, văn hóa của cả một dân tộc. Nhưng cách mạng không thể do một cá nhân làm được mà phải có một số người dân đông đảo cùng làm theo. Chính vì thế điều kiện tất yếu là phải có truyền thông, tức là phổ biến cho quần chúng. Riêng ngành truyền thông tự nó cũng có những cuộc cách mạng quan trọng do khoa học kỹ thuật đem lại. Từ thời phát minh ra điện lực, khoa học vào đầu thế kỷ 20 đã tạo ra một bước tiến mới là sử dụng “vô tuyến điện”. Người ta đã thấy những phong trào cách mạng lợi dụng máy radio để tuyên truyền vào khoảng trước và sau Thế chiến II. Rồi đến giữa Thế kỷ 20, ngành tuyền thông lại tiến thêm một bước nữa, đó là kỹ thuật sử dụng chất bán dẫn để thu nhỏ máy radio thành một vật nằm gọn trong lòng bàn tay.

Hãy nhìn xem các “chuyên gia cách mạng” lợi dụng phương tiện mới này như thế nào. Cuộc cách mạng Islam (Hồi giáo) ở Iran năm 1979, lật đổ chế độ Vương quốc đã thành công nhờ Trưởng lão Shi-a Ruhollah Khomeini sống lưu vong ở nước ngoài, dùng radio hô hào dân chúng nước này nổi loạn. Sự kiện đó đã được một người tên là Osama bin Laden, gốc Ả rập ở Arabia (Hồi Giáo Sun-ni) chú ý. Nhưng qua đến cuối Thế kỷ 20, kỹ thuật vô tuyến lại có tiến bộ nữa là truyền hình (television). Bin Laden thành lập đội quân khủng bố al-Qaida, đã nắm ngay lấy kỹ thuật TV để tấn công Mỹ vào đầu Thế kỷ 21, đồng thời tuyên truyền phát triển phong trào khủng bố Hồi giáo đi khắp thế giới. Ngay sau vụ khủng bố tấn công Mỹ ngày 11-9-01, người ta thấy hình ảnh bin Laden xuất hiện trên màn hình TV khắp thế giới.

Nhưng trớ trêu thay, sau cái mặt lợi của TV và video lại có mặt trái của nó là làm hại mọi chủ trương thiết lập chế độ độc tài độc đảng hay tôn giáo toàn trị núp sau cái bình phong gọi là Cộng hòa hay Dân chủ. Cái gương trước mắt là tình hình ở Iran hiện nay. Ahmadinejad tái đắc cử Tổng Thống và được Lãnh tụ Tối cao Ali Khamenei chuẩn y bất chấp sự chống đối của phe ôn hòa đối lập. Nhưng tuần trước người ta thấy có sự rạn nứt trong nội bộ phe cứng rắn là sự bất đồng ý kiến trong việc Ahmadinejad bổ nhiệm chức vụ Ðệ nhất Phó Tổng Thống. Lãnh tụ Tối cao Ali Khamenei đã ra lệnh cho Ahmadinejad hủy bỏ sự bổ nhiệm đó. Iran là một nước theo chế độ Cộng hòa Hồi giáo, chữ Cộng hòa có nghĩa là mọi chức vụ trong chính phủ đều do dân bầu. Lãnh tụ Tối cao không do dân bầu mà do Giáo hội bầu, nhưng lại có quyền lực tối, cao hơn cả Tổng Thống do dân bầu. Vậy ai là chủ thật sự nước Cộng hòa Iran? Làm chủ thật sự là một tổ chức gọi là “Vệ Binh Cách Mạng”, được thành lập từ năm 1979 sau khi cuộc cách mạnh thành công. Cái tên “Vệ Binh” thật hiền lành, nhưng ngày nay nó đã trở thành một sức mạnh quân sự khủng khiếp.

Vệ Binh Cách Mạng có 120,000 quân, gồm đủ quân chủng Hải, Lục, Không quân, các đơn vị phóng hỏa tiễn, võ khí và võ trang nhiều hơn gấp bội quân đội chính quy Iran. “Vệ Binh” còn điều khiển một tổ chức dân quân rộng lớn gồm cả triệu người võ trang, có tên gọi là Basij. Ngoài sức mạnh quân sự ghê gớm, trong những năm gần đây “Vệ Binh” còn tóm thâu một một mạng lưới lớn bao gồm các thế lực kinh tế và chính trị trong mọi khía cạnh đời sống của người dân Iran. Vai trò của nó đã vượt lên trên nhiệm vụ “bảo vệ” để đi đến “ngự trị cách mạng”. Một số chuyên gia bên ngoài cho rằng Lãnh tụ Tối cao Iran ngày nay có thể cũng phải tuân theo lệnh của “Vê Binh”. Các giới chức Mỹ tin rằng “Vệ Binh” làm mũi dùi tiên phong cho Iran liên kết với các nhóm Hồi giáo ở bên ngoài, như nhóm Shi-a ở Iraq, vì thế chính phủ Mỹ vẫn coi “Vệ Binh” là bọn yểm trợ khủng bố.

Ở Iran lãnh tụ đối lập ứng cử viên Tổng Thống Hossein Mousavi đã tố cáo Ahmadinejad gian lận bầu cử, ông cùng các lãnh tụ chủ trương cải cách kêu gọi các trưởng lão Shi-a ngăn cản mọi hành động võ lực chống người biểu tình. Họ cảnh cáo chế độ Cộng hòa Hồi giáo Iran đang mang họa mở rộng “chủ nghĩa bạo chúa”. Các chuyên gia bên ngoài cho rằng “Vệ Binh Cách Mạng” đã nẩy nở từ lâu nên khó lòng ngăn lại được. Frederic Teller, trong nhóm “Nghiên cứu các cuộc khủng hoảng thế giới” ở Brussels, cho rằng cuộc khủng hoảng ở Iran hiện nay chưa chắc đã đưa đến một cuộc đảo chính mà chỉ đưa đến những vụ đàn áp tàn bạo hơn. Tổng tư lệnh “Vệ Binh” còn nói đến việc sử dụng lực lượng dân quân Basij vào những công tác không phải quân sự. Ðiều này có nghĩa là cả triệu dân quân sẽ len lỏi vào trong đám thường dân để làm tai mắt cho bọn chỉ huy “Vệ Binh”.

Như vậy vụ nổi dậy của phe cải cách Iran rút cuộc sẽ bị diệt tan chăng? Tôi muốn trả lời bằng chủ đề “Cách Mạng Truyền Thông”. Kỹ thuật truyền thông bằng hình ảnh đã làm chấn dộng lòng người rất mau lẹ, hơn cả những bài báo viết hay báo nói của các phóng viên có mặt tại chỗ. Các phóng viên nước ngoài hay nguời Iran làm việc cho nước ngoài đều bị cấm đến những khu có biểu tình, nhưng vẫn có hàng chục hàng trăm thanh thiếu niên nam nữ Iran đã tự động làm phóng viên tài tử bằng cell phone của họ để viết nhanh vài hàng chữ kèm theo hình ảnh rồi truyền ra bên ngoài đến các cứ điểm lưới (Website) dàng riêng cho đời sống xã hội toàn cầu như myspace, facebook và twitter. Twitter sinh sau đẻ muộn, nhưng website này đang làm một cuộc cách mạng trong nghề báo viết Bình luận thời cuộc khi nó chấp nhận 140 chữ viết trên cell phone về các biến cố quan trọng đang hay đã xẩy ra. Chỉ một hình ảnh thoáng qua trong một vài giây đồng hồ, thí dụ như hình một cô gái bị bắn chết khi cầm cell phone gọi cũng đủ gây chấn dộng, hay một vài giòng chữ ngắn gọn viết ra để ghi những cảm xúc đầu tiên cũng đủ nói lên tất cả sự tàn bạo của một chế độ độc tài bịt mồm bịt mắt dân chúng. Những ý kiến đó có thể là bồng bột, nhưng trong khoảng khắc vài giây đồng hồ nó được phổ biến cho hàng triệu người trên thế giới cùng đọc và từ đó đưa đến những suy tư khác của một số đông hơn gấp bội và tiếp tục tăng nữa theo cấp số nhân, tạo thành thành một sự trao đổi ý kiến chưa từng có trong lịch sử báo chí quốc tế, do bàn tay và khối óc của thế hệ trẻ ngày nay. Kiến thức nở rộ, kèm theo ý chí của giới trẻ khắp thế giới sẽ thúc đẩy hành động.

Hiến pháp, luật pháp chỉ là những tờ giấy che đậy những gì đen tối nhất. Ở đây các nhân vật chính thức cầm đầu chính quyền sự thật chỉ là những anh hề diễn trò trên sân khấu vở tuồng độc tài độc đảng. Quyền lực trong những cái gọi là “Cộng Hòa” như vậy đều từ mũi súng mà ra, nếu không có súng bảo vệ, “bạo chúa” chỉ có chết. Cách mạng truyền thông đã làm cho giới trẻ ở nhiều nước trên thế giới nhìn thấy rõ chân lý này. Sức mạnh truyền thông sẽ làm trí tuệ giới trẻ mở rộng thêm nữa trong các thế hệ sắp tới. Tôi tin các quái thai thời đại là các chế độ độc tài bất luận từ nguồn gốc nào cũng sẽ sớm sụp đổ trên toàn cầu.

Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh




Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh: IRAN THA TÙ MỸ

Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh: IRAN THA TÙ MỸ

SarahShourd

CANH BẠC CHỨNG KHOÁN (Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh)

 
 
 
Đầu tuần trị giá chứng khoán đã nhẩy lên trở lại. Chỉ số Dow Jones industrials vọt lên đến 936 điểm, tức là lấy lại 1,200 tỷ đô- la nội trong một ngày, một mức tăng có tính lịch sử. Mọi người mừng rơn, con quỷ chứng khoán đã ngóc đầu trở lại thay vì tiếp tục lao xuống vực thẳm. Đó là nhờ chính phủ Mỹ có kế hoạch bơm 700 tỷ đô -la cứu nguy cho nó. Tình trạng này bỗng làm tôi nhớ đến một câu tục ngữ trào phúng của Việt Nam thời đại mới: "Tiền là Tiên là Phật, là sức bật của…chứng khoán". Tuy nhiên nạn xuống dốc chứng khoán vẫn chưa dứt. Qua ngày thứ ba 14-10, trị giá chứng khoán chập chờn để rồi đến cuối ngày nó mất 76 điểm. Đến sáng thứ tư 15-10 có dấu hiệu đáng ngại. Ngay lúc Thị trường Wall Street mới mở cửa, chỉ số Dow Jones mất thêm hơn 36 điểm, kéo theo sự mất giá của các thị trường chứng khoán trên toàn thế giới. Tại sao có tình trạng này?
 
Thiết tưởng cũng nên nhắc lại một vài biến chuyển rất mau lẹ trong những ngày vừa qua. Hôm chủ nhật, sau khi Quốc hội Mỹ chấp thuận kế hoạch 700 tỷ cứu nguy kinh tế, TT Bush đã triệu tập một phiên họp với G7, tức 7 nước giầu nhất thế giới, và 20 nước có nền kinh tế đang phát triển mạnh. Kinh tế Mỹ mạnh nhất thế giới có liên quan chặt chẽ đến các nền kinh tế khác vì mối quan hệ thương mại và tiền tệ, nên coi Mỹ là nước lãnh đạo. Cuộc họp có thành quả tốt, nên ngay sau đó chỉ số chứng khoán của các nước khác đã lên trong hai ngày. Nhưng đến ngày 15-10 khi chỉ số chứng khoán của Mỹ xuống, chỉ số chứng khoán của các nước khác cũng xuống luôn, với những số điểm nhỏ hơn của Mỹ.
 
Vậy tại sao cái đầu tầu là chỉ số của Mỹ lại chập chờn mà không tiếp tục lên nữa? Hôm thứ ba, Mỹ loan báo một kế hoạch mới là sử dụng 250 tỷ trong số 700 tỷ để mua một phần nửa các cổ phần của những ngân hàng lớn nhỏ đang lâm cảnh phá sản. Kế hoạch này có thể đã làm chỉ số chứng khoán New York chỉ tăng mạnh được một ngày rồi lại tụt dốc, dù tụt có một phần nhỏ. Nguyên nhân có thể là sự thiếu niềm tin của dân chúng vì trước mắt sự mua bán, bán buôn và bán lẻ, đang lâm cảnh tụt dốc đáng ngại, cộng thêm với nạn thất nghiệp lan rộng. Sáng thứ tư TT Bush và cả Bộ trưởng Tài chính Henry Paulson đều nói sự tín nhiệm và tiền của chính phủ bỏ ra sẽ phục hồi sự lành mạnh của nền kinh tế, nhưng cần phải có thời gian và sự kiên nhẫn. Cần thời gian là đúng vì không thể có phép lạ làm kinh tế phục hồi ngay tức khắc, nhưng cũng có nghĩa là gánh nặng làm kinh tế đi lên được chuyển qua vị Tổng Thống và chính phủ sắp tới của Mỹ bắt đầu từ năm 2009.
 
Bởi vậy sự cứu nguy kinh tế cũng là một canh bạc chứng khoán. Trong khi chờ đợi kết quả canh bạc này, người ta thấy một tin từ trời Âu đưa lại. Giải thưởng Nobel về kinh tế năm nay đã được Ủy ban chấm giải tại Thụy Điển tặng cho một học giả Mỹ, Tiến sĩ Paul Krugman, về công cuộc phân tích của ông cho thấy kinh tế phát triển từng mức ảnh hưởng như thế nào đến mô hình thương mại và vị trí kinh tế của một nước. Điều đặc biệt là chuyên gia kinh tế này năm nay 55 tuổi được lãnh giải Kinh tế trị giá 1.4 triệu đô-la mà không phải chia sẻ với ai. Từ năm 2000 đến nay ông là người được lãnh giải Kinh tế một mình, bình thường giải này vẫn có đến 2 hay 3 người cùng lãnh. Viện Khoa học Hoàng gia Thụy Điển ca ngợi Krugman đã nêu ra một lý thuyết mới để trả lời các câu hỏi về thương mại tự do, và ghi nhận lý thuyết của ông đã khích lệ cho một lãnh vực khảo cứu rất sâu rộng.
 
Trong bằng tưởng lục của giải Nobel có ghi: Thương mại tự do và tình trạng đô thị hóa trên toàn cầu ảnh hưởng đến những cái gì? Ở đây Krugman đã hợp nhất được nhiều ngành khảo cứu khác nhau trên các lãnh vực thương mại quốc tế và địa dư kinh tế. Ngoài công việc khảo cứu về kinh tế ở Viện Đại học New Jersey, Krugman còn là một nhà báo. Ông chuyên giữ cột mục kinh tế cho báo New York Times. Ông cũng thường viết bài cho một số các tạp chí Mỹ. Về cuộc khủng hoảng tài chính hiện nay ở Mỹ, ông nói: "Thật kinh hoàng", ông so sánh với vụ khủng hoảng tài chính kinh tế Á châu trong thập niên 1990. Trên cột mục của tờ New York Times, Krugman cho đến nay vẫn chỉ trích gắt gao chính sách kinh tế của TT Bush và đảng Cộng Hòa.
 
Ở Mỹ việc cứu nguy chứng khoán đi song song với cuộc tranh cử Tổng Thống. Nhiều đề tài khác nhau đã được cả hai đảng Dân Chủ và Cộng Hòa nêu ra để vận động tranh cử. Nhưng từ hai tháng qua chỉ có một chủ đề nổi bật nhất và cũng là đề tài tranh cãi gay go nhất, còn những màn xuyên tạc và chụp mũ cá nhân chỉ là chuyện bên lề không mấy ai chú ý. Chủ đề đó là kinh tế bởi vì giữa lúc dân Mỹ lo sợ về đồng tiền khó kiếm, tín dụng khó trả và thất nghiệp lan tràn, các màn bới móc cá nhân chỉ quật ngược lại tác giả của nó. Đại đa số dân Mỹ quan tâm đến công việc làm ăn của họ, giới trung lưu cũng như tiểu thương và người dân nghèo đều lo lắng trước tình trạng kinh tế xuống dốc.
 
Vào tối thứ Tư tuần này, có chương trình dự liệu từ trước là cuộc tranh luận hiệp III giữa hai ứng cử viên Tổng Thống Barack Obama và John McCain. Hôm thứ ba ông McCain hiện kém điểm Obama trong các poll thăm dò, cho biết ông cũng có kế hoạch 52 tỷ để cứu nguy kinh tế, ngoài kế hoạch 700 điểm của chính phủ Bush. Đây cũng là cách ngầm cho cử tri Mỹ hiểu ông đã tách rời khỏi TT Bush hiện chỉ được 25% dân chúng tán thưởng. Nhưng đặc điểm của kế hoạch John McCain là tìm cách bớt tiền thuế đánh vào lợi nhuận của các đại công ty Mỹ. Người ta trông chờ cuộc tranh luận của hai vị tranh cử Tổng Thống, coi trận đấu chót này có thể quyết định thắng bại trong cuộc bầu cử sắp tới ngày 4-11. Theo poll của CNN sáng thứ tư, Obama được 50%, McCain 42%. Tuy nhiên không thể xác quyết ai sẽ thắng, vì còn nhiều chuyện bất ngờ có thể xẩy ra. Trước hết hãy chờ xem phản ứng của dư luận Mỹ về cuộc tranh luận hiệp chót tối thứ tư mà người ta cho rằng sẽ quyết định số phận của McCain và cả đảng Cộng Hòa trong cuộc bầu cử sắp tới.
 
Nếu đề tài chính là kinh tế, nguồn gốc của nó hiển nhiên là hai chữ tín nhiệm. Bởi vậy vấn đề đặt ra cho người dân đi bỏ phiếu là giữa Barack Obama và John McCain, cử tri tin ở người nào, mọi vấn đề khác không còn quan trọng nữa.
 



Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh: DI SẢN CHIẾN TRANH LẠNH

Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh: DI SẢN CHIẾN TRANH LẠNH

Sự bất đồng có tính cách cục bộ nhằm vào quyền lợi kinh tế ở các khu vực có nhiều mỏ dầu lửa ở Ðông Bắc Iraq, một vùng nằm sát biên giới của Iran. Hiện nay Mỹ đang thực hiện việc chuyển giao trách nhiệm bảo vệ an ninh cho quân đội, Cảnh sát và lực lượng an ninh của Iraq, nhưng điều đáng ngại là trong nhiều trường hợp chính quyền Iraq đã không cáng đáng nổi nhiệm vụ này. Về việc hòa giải, Maliki có vẻ đã đi một nước cờ chiến lược mới vào chủ nhật vừa qua khi ông đến Bắc Iraq mở một cuộc họp đặc biệt với lãnh tụ Kurd là Masoud Barzani, có danh xưng là Tổng Thống Chính phủ Khu vực Kurd, để tìm một thỏa hiệp về việc khai thác dầu lửa. Kết quả Barzani cho biết một phái đoàn cao cấp Kurd sẽ đến Baghdad. Tuy nhiên vấn đề còn gai góc, vì ở vùng Kurd tiếp giáp với Iraq, còn có người Á rập và sắc tộc Turk sinh sống. Những người này vẫn sợ nạn độc quyền của người Kurd. Ðầu tuần này xe bom nổ làm chết 3 người ở một thị trấn nhỏ của trong tỉnh Anbar ở miền Tây Iraq, nơi có nhiều nguời Sun-ni cư ngụ. Tính từ ngày 20/7 đã có 24 người chết vì vì bom ở tỉnh này. Tuần trước một loạt những vụ đánh bom vào các đền Hồi giáo Shi-a ở thủ đô Baghdad đã giết chết 31 người. Ðó là nạn chém giết lẫn nhau giữa hai hệ phái Sun-ni và Shi-a.

Ở Afghanistan tình thế có vẻ còn khó khăn hơn. Hôm thứ hai một quả bom nổ do điều khiển từ xa đã làm chết 10 người, 30 người bị thương trong chợ rau quả thành phố Herat, thuộc miền Tây gần biên giới Iran. Một phát ngôn nhân của Taliban tuyên bố bom đó nhằm vào Cảnh sát trưởng quận Inji lân cận. Các vụ đánh bom đã gia tăng trong mùa hè năm nay, vì nhóm phiến loạn Taliban đã thề phá rối cuộc bầu cử Tổng Thống vào ngày 20/8. Hiện nay quân đội NATO và Mỹ có 101,000 người ở nước này. Riêng Mỹ đã gia tăng đến 62,000 quân trong tổng số kể trên, tức là Mỹ đã tăng gấp đôi quân số so với một năm trước.

Trong tháng 8 quân đội đồng minh đã có 9 người chết vì giao tranh hay vì bị bom, kể cả 3 quân Mỹ hôm thứ bẩy và thêm 3 người hôm chủ nhật, 2 Gia Nã Ðại và 1 Pháp. Tháng 7 là tháng quân đồng minh chết nhiều nhất kể từ năm 2001 khi quân đội đồng minh do Mỹ lãnh đạo đánh chiếm Afghanistan, lật đổ chính quyền Taliban lúc đó bao che trùm khủng bố Osama bin Laden. Trong tháng 7 vừa qua quân đồng minh có 74 người tử trận, trong đó có 43 Mỹ. Phần lớn quân phiến loạn Taliban dùng bom chôn ngoài đường để tấn công quân đồng minh. Quân đội Mỹ cho biết bọn phiến loan nay sử dụng các loại bom có ít hay không có chất kim loại nên rất khó dò tìm. Bọn Taliban còn dùng cách chôn chồng nhiều quả bom lên nhau, và đặt nhiều bẫy bom trong một khu nhỏ. Các Tư lệnh Mỹ dự liệu các vụ đánh bom còn gia tăng thêm cho đến ngày bầu cử 20/8.

Các cuộc chiến khó khăn ở Iraq và Afghanistan làm nổi bật một vấn đề chiến lược chiến thuật rất quan trọng vào đầu thế kỷ 21. Dùng Bộ binh để đánh khủng bố hay can thiệp vào các vấn đề nội bộ của một nước để giúp xây dựng hòa bình và dân chủ là một sai lầm nghiêm trọng. Bộ binh Mỹ và đồng minh đều là quân đội hiện đại nhất thế giới, nhưng đã bất lực trước các nhóm khủng bố vài ngàn người chỉ vì đó là những kẻ lẩn vào trong dân chúng, thành ra chúng vô hình. Chúng chỉ hiện hình sau khi bom tự sát nổ. Thành ra siêu cường đem đại quân đến đánh nhau với những kẻ vô hình, khác nào đem mỡ đến miệng mèo, để chúng sơi tái từng miếng, tích lũy thành số tổn thất thương vong rất lớn.

Việc siêu cường đem quân ra khỏi nước tham gia các cuộc chiến cục bộ chỉ có trong thời gian chiến tranh lạnh sau Thế chiến II. Ðầu tiên là cuộc chiến tranh Triều Tiên (1950-53), khi Bắc Hàn đem quân đánh Nam Hàn với sự trợ giúp của chí nguyện quân Trung Quốc, Mỹ và đồng minh đã tham chiến chống Cộng sản. Sau khi có ngừng bắn, Quân đội Cộng sản rút về Bắc Hàn, Mỹ và đồng minh không tiến quân lên giải phóng Bắc Hàn, nhìn nhận sự chia đôi Nam Bắc. Kế đó đến cuộc chiến tranh Việt Nam khi quân Cộng sản miền Bắc tấn công miền Nam từ năm 1956. Ðến năm 1965 đại quân Mỹ đổ bộ trực tiếp tham chiến giúp Việt Nam Cộng Hòa. Tuy nhiên đến năm 1972, chính phủ Nixon ký hiệp định ngừng bắn với Bắc Việt để rút hết quân Mỹ khỏi miền Nam Việt Nam, bỏ mặc quân đội và dân chúng vùng này cho Cộng sản Bắc Việt thôn tính.

Tại sao Mỹ làm như vậy? Trước hết ở Việt Nam cũng như ở Bắc Hàn, Mỹ đem quân tham chiến tại chỗ là vì nhu cầu chiến lược của siêu cường. Mục tiêu của Mỹ chủ yếu là ngăn chặn sự bành trướng của khối Cộng sản mà kẻ cầm đầu là Liên Sô, còn chuyện giúp đỡ dân miền Nam Việt Nam chỉ là thứ yếu. Vì thế sau khi Ngoại trưởng Mỹ Henri Kissenger bất ngờ đến Bắc Kinh, TT Nixon bắt tay được với Mao Trạch Ðông, chiến lược chống Cộng của Mỹ đã toại nguyện ở Ðông Nam Á, vì đã chia rẽ được hai anh Cộng sản lớn nhất là Liên Sô và Trung Cộng, mặt trận Việt Nam không còn cần thiết nữa. Binh pháp từ thời cổ ở Âu cũng như ở Á đã có câu “Chia rẽ kẻ thù là thượng sách”.

Chiến tranh lạnh đã để lại cho thế giới một di sản vô giá. Ðó không phải là một tấm gương để các thế hệ mai sau cứ theo đúng như thế mà làm. Di sản chỉ là một khối những kinh nghiệm được tích lũy trong trường đời, có kinh nghiệm tốt có kinh nghiệm xấu, tóm lại đó là những bài học chiến lược cho những kẻ đi sau. Hãy từ từ rút hết quân Mỹ và đồng minh ra khỏi Afghanistan. “Chỉ có Hồi giáo mới trừ được khủng bố Hồi giáo”. Tàn nhẫn quá chăng? Không nên quên “Chia rẽ kẻ thù là thượng sách” câu nói cổ nhân đã dạy chúng ta vẫn còn đó.

Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh




Việt Nam Trước Thế Tam Giác Chiến

Việt Nam Trước Thế Tam Giác Chiến

Lê Văn

 

Thăng trầm quan hệ ngoại giao Mỹ-Trung qua ảnh

(VnMedia) – Năm 1971, đoàn đại biểu bóng bàn Mỹ đến thăm Trung Quốc, mở ra cánh cửa đi lại giữa hai nước. Ngày 1/1/1979, Trung Quốc và Mỹ chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao. Trải qua 30 năm, quan hệ Trung-Mỹ đã trở thành một trong những mối quan hệ song phương quan trọng nhất, giàu sức sống nhất. Tuy vậy, mối quan hệ này đã trải qua không ít thăng trầm.

Lãnh đạo hai nước từ"nhiều năm khó gặp mặt một lần" đến hiện nay đi lại mật thiết. Cuộc đối thoại chiến lược hai nước từ không đến có, hiện nay đã xây dựng hơn 60 cơ chế hợp tác đối thoại. Kim ngạch thương mại hai chiều trong 30 năm đã tăng hơn 120 lần, hai bên đã trở thành đối tác thương mại lớn thứ hai của nhau. Sự đi lại giữa nhân dân hai nước bắt đầu từ số không, phát triển đến hiện nay mỗi ngày có hơn 5.000 người đi lại giữa hai bờ Thái Bình Dương.

Sau đây là chùm ảnh mối quan hệ giữa Mỹ-Trung Quốc 30 năm qua:

 ảnh minh họa

Sau khi đến Trung Quốc hôm 16/11 trong khuôn khổ chuyến công du Châu Á đầu tiên trên cương vị ông chủ Nhà Trắng, Tổng thống Mỹ Barack Obama đã tuyên bố rằng mối quan hệ Mỹ-Trung “không phải không có những bất đồng và khó khăn. Tuy nhiên, hai nước không nên là đối thủ của nhau”.  Bức ảnh chụp Tổng thống Obama đang từ máy bay xuống sân bay ở thành phố Thượng Hải.

 ảnh minh họa

Đầu những năm 1970, Mỹ muốn tìm đến tới Trung Quốc để kiềm chế Liên Xô và giải quyết cuộc chiến tranh Việt Nam. Vì thế, sau màn “ngoại giao bóng bàn” năm 1971 tại Bắc Kinh, Henry Kisinger, cố vấn an ninh quốc gia của Tổng thống Nixon, đã thực hiện các chuyến công cán bí mật tới Bắc Kinh. Các nhà chiến lược của hai nước lần đầu tiên gặp mặt để bàn về các vấn đề thế giới. Ảnh chụp đội tuyển bóng bàn Mỹ đến thực hiện màn"ngoại giao bóng bàn" tại Trung Quốc. 

 ảnh minh họa

 Năm sau, Richard Nixon đến thăm chính thức CHND Trung Hoa và ký Thông cáo chung Thượng Hải 1972, đặt khuôn khổ đầu tiên cho quan hệ chiến lược Mỹ-Trung. Trong ảnh, Chủ tịch Trung Quốc Mao Trạch Đông đang đón tiếp Tổng thống Richard Nixon.

 ảnh minh họa

Năm 1974-1975, khi Chủ tịch Trung Quốc Mao Trạch Đông đang cầm quyền, ông George H. W. Bush (Bush cha) được bổ nhiệm đến Bắc Kinh làm Đại sứ (ảnh trái). Đến tháng 2/1989, ông này đã trở lại Quảng trường Thiên An Môn với tư cách là Tổng thống Mỹ (ảnh phải)

 ảnh minh họa

Năm 1997: Chủ tịch Trung Quốc Giang Trạch Dân đến Mỹ, Đây là chuyến thăm đầu tiên của một người đứng đầu nhà nước Trung Quốc trong suốt hơn 1 thập kỷ.

 ảnh minh họa

 Đáp lại chuyến thăm Mỹ của Chủ tịch Giang Trạch Dân, năm 1998, Tổng thống Mỹ khi đó là Bill Clinton  sang thăm chính thức Trung Quốc. Trong ảnh, Tổng thống Bill Clinton cũng vợ và con gái thăm Vạn Lý Trường Thành.

 ảnh minh họa

Tháng 5/1999, tên lửa của NATO bắn trúng Đại sứ quán Trung Quốc tại Belgrade trong cuộc chiến Serbia. Vụ việc này khiến người Trung Quốc nổi giận, biểu tình và ném đá vào Đại sứ quán Mỹ tại Bắc Kinh.

 ảnh minh họa

Mối quan hệ giữa hai nước càng trở nên xấu đi sau khi một máy bay do thám của Mỹ va chạm với một máy bay của Trung Quốc ở đảo Hải Nam năm 2001. Phi công người Trung Quốc đã thiệt mạng trong vụ này trong khi phi hành đoàn Mỹ bị Trung Quốc bắt giữ. Trung Quốc chỉ thả tự do cho những người này sau khi Tổng thống Mỹ khi đó là George W.Bush nói lời xin lỗi.

 ảnh minh họa

Tháng 12/2001, Trung Quốc gia nhập WTO và Tổng thống G. Bush trao cho Trung Quốc quy chế tối huệ quốc vĩnh viễn, mở ra giai đoạn bùng nổ quan hệ kinh tế, thương mại, tài chính giữa hai nước.

 ảnh minh họa

Ảnh trên ghi lại hình ảnh Tổng thống Mỹ Barack Obama sau bài phát biểu trước các sinh viên Trung Quốc tại Thượng Hải. Tại đây, Tổng thống Obama tuyên bố ông không tìm cách ngăn cản sự vươn lên của Trung Quốc đồng thời kêu gọi cần có sự cân bằng thương mại đôi bên.

Đan Khanh – (Tổng hợp)

 

“> 

Các tin mới khác:




CHIẾN DỊCH TỐ CÁO (Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh)

 
 
Việc cựu Đại tướng Colin Powell quả quyết ủng hộ ứng cử viên Tổng Thống Barak Obama đã gây sửng sốt cho cả hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ. Powell là một trong số những người Cộng hòa được kính mến nhất ở Mỹ. Vị Đại tướng 4 sao này trước đây đã từng là cố vấn an ninh quốc gia của Tổng Ronald Reagan (CH), Chủ tịch Ủy Ban Tham mưu Hỗn hợp Quân lực Mỹ trong lúc có cuộc chiến tranh Vùng Vịnh (thời TT George H.W. Bush) và Ngoại trưởng trong nhiệm kỳ I của TT Bush hiện nay. Trong cuộc tranh cử Tổng Thống năm nay, từ năm ngoái Powell đã ủng hộ ứng cử viên của đảng ông John McCain. Vậy tại sao bây giờ ông đổi ý?
 
Tướng Powell là người Mỹ gốc Phi châu trước đây đã từng có ý định ra tranh cử Tổng Thống. Trong cuộc phỏng vấn dành cho đài NBC hôm chủ nhật Powell nói quyết định của ông ủng hộ Obama không phải vì vấn đề mầu da, như việc ông ủng hộ McCain lúc đầu đã chứng tỏ. Từ 10 tháng trước đây ông đã thấy cần phải lựa chọn giữa hai người. Powell nghĩ Obama là "biểu tượng cho một sự biến đổi của lịch sử nước Mỹ", Obama thuộc một thế hệ mới đang lên trong cuộc diện nước Mỹ và cả thế giới. Ông nói việc bầu Obama làm Tổng Thống Mỹ sẽ như một luồng điện kích thích nước Mỹ và hoàn cầu. Ông nói: "Việc một người Mỹ gốc Phi được bầu làm Tổng Thống Mỹ sẽ là một biến chuyển lịch sử. Việc này sẽ làm người Mỹ hãnh diện, không chỉ riêng người Mỹ gốc Phi, mà tất cả mọi người Mỹ, bất luận mầu da hay sắc tộc nào". Với sự ủng hộ của Powell, Obama nói sau khi đắc cử Tổng Thống ông sẽ mời cựu tướng Colin Powell làm cố vấn cao cấp cho ông về các vấn đề an ninh quốc gia, một chức quan trọng hàng đầu cho Tổng Thống. Như vậy, Obama đã bác bỏ được những lời chỉ trích nông cạn nói ông thiếu kinh nghiệm về chiến tranh và các vấn đề an ninh nội ngoại.
 
Cựu tướng Powell nói ông đã thất vọng vì luận điệu tiêu cực trong cuộc vận động tranh cử của McCain. Ông đã thấy nghi ngại khi McCain chọn bà Sarah Palin, Thống đốc tiểu bang Alaska, đứng chung danh sách ứng cử Phó Tổng Thống. Trong những tuần lễ gần đây khi các polls thăm dò cho thấy Obama vượt trên McCain, một số người Cộng Hòa cực đoan đã cho rằng chương trình tranh cử của Palin có nhiều ưu điểm đưa ra những lời tố cáo kể cả bôi lọ, xuyên tạc cá nhân Obama, bởi vậy họ nhắm đưa Palin lên hàng đầu, biến cuộc vận động tranh cử thành một chiến dịch tố cáo. Chiến dịch này mở đầu bằng những lời rỉ tai, kể cả biểu ngữ ghi Obama "không là người Mỹ" mà là người Á rập theo Hồi giáo. Rồi đến vụ tố cáo Obama có liên hệ với "khủng bố" vì một nhóm phản chiến đã từng cho nổ bom năm 1968 (khi Mỹ tham chiến giúp Việt Nam Cộng Hòa chống cuộc tấn công của Cộng sản Bắc Việt), Obama lúc đó mới có 8 tuổi. Sau đến vụ Palin tố cáo Obama có liên hệ với ACORN, một tổ chức thiện nguyện chuyên giúp người nghèo và người vô gia cư, bị cáo buộc đã cho nhiều dân "hôm-lét" chút tiền còm đi nộp tên giả để lấy quyền được đi bỏ phiếu. Việc này FBI đang điều tra xem nhóm nào đã có âm mưu. Obama rất tán thành cuộc điều tra này.
 
Gần đây nhất, Palin tặng cho Obama danh hiệu mới, gọi là kẻ theo "xã hội chủ nghĩa", làm nhiều người sững sờ vì từ ngữ này làm người ta nghĩ đến Cộng sản. Sự thật chủ nghĩa xã hội chỉ là một trong nhiều lý thuyết và biện pháp nhằm cải cách xã hội cho tốt đẹp hơn, tiên khởi phát sinh ở Pháp vào cuối thế kỷ 19 sau khi các nhà cách mạng Pháp lật đổ chế độ quân chủ đưa nước Pháp đến chế độ Cộng Hòa do dân làm chủ. Vào đầu thế kỷ 20, các nhóm quá khích ở Nga thúc đẩy nông nô nghèo khổ nổi lên làm cách mạng lật đổ Nga hoàng. Sau khi giết được cả gia đình Nga hoàng, các nhóm quá khích cực tả lợi dụng chủ thuyết xã hội, lập ra chế độ vô sản chuyên chính (tức là chính quyền độc tài). Chủ nghĩa cộng sản bắt đầu từ đây để bành trướng thành phong trào vô sản quốc tế, chống chế độ tư bản trên khắp thế giới.
 
Nhưng hãy nhìn đến một khía cạnh ngược chiều của chủ thuyết xã hội ở Đức vào thập niên 30 Thế kỷ trước, Hitler lập ra chế độ Quốc xã, tức quốc gia xã hội chủ nghĩa. Ở đây chữ "quốc" là chủ nghĩa dân tộc (nationalism), bởi vậy là độc tài cực hữu. Chủ thuyết quốc xã của Hitler cao ngạo, cho rằng dân tộc Đức có gốc là bộ tộc Aryan từ thời tiền sử thông minh tài giỏi, nên mục tiêu ưu tiên của Quốc xã là tàn sát người gốc Do thái trong các lò hỏa thiêu man rợ. Sau khi Đức thua trận, Hitler tự sát, những tay cầm đầu Đức quốc xã đã bị tòa án quốc tế xử tử vì tội diệt chủng.
 
Vậy giữa hai thuyết độc tài cực tả và cực hữu có thuyết nào trung dung ở giữa hay không? Chắc chắn là không vì khi đã gọi là "cực", không thể có sự dung hòa nào ở giữa. Nhưng có một chủ thuyết duy nhất có thể chống lại mọi chế độ độc tài dù tả hay hữu. Đó là chế độ dân chủ, tức dân làm chủ mà căn bản là quyền bầu cử tự do, kết quả của sự phối hợp giữa hai chủ thuyết Cộng hòa và Dân chủ. Không phải ngẫu nhiên mà nước Mỹ có hai chính đảng lớn nhất là đảng Cộng Hòa và đảng Dân Chủ, chính vì thế Mỹ trở thành một nước mạnh nhất thế giới, đã từng hy sinh biết bao xương máu và tiền bạc để trừ khử cả hai loại độc tài cực tả và cực hữu. Sau hai cuộc thế chiến và một cuộc chiến tranh lạnh qua đến Thế kỷ 21, bất cứ một dân tộc nào ngày nay cũng biết và ghê tởm các chế độ độc tài.
 
Ở Mỹ chỉ còn 12 ngày nữa đến ngày tổng tuyển cử, nghĩa là bầu Tổng Thống, bầu Hạ Viện và một phần ba Thượng viện. Sáng thứ Tư, các polls thăm dò trên toàn quốc cho thấy Obama đã vọt lên số điểm có hai cột số trên McCain và đảng Dân Chủ có thể chiếm đa số lớn tại Quốc hội. Trong lúc tình hình nguy ngập cho đảng Cộng Hòa, người ta bỗng thấy nẩy ra hiện tượng Sarah Palin. Phe cực đoan trong đảng Cộng Hòa đã đẩy Palin vào cấp lãnh đạo vận động tranh cử cho cả đảng với những màn trình diễn đặc biệt nhẩy múa giống như các ngôi sao nhạc rock hấp dẫn nhiều người đến coi. Nhưng nếu chủ yếu là để nhắn nhủ cử tri Mỹ không nên bầu cho "tên xã hội chủ nghĩa" Obama, điều đó khác nào một sự nhục mạ, đánh giá thấp trình độ trí thức cao và kiến thức rộng của đa số người dân ở Mỹ.
 
Dù với những nỗ lực phi thuờng đó, nếu Barack Obama vẫn trúng cử Tổng Thống thì sao? Không sao hết, chỉ cần chờ 4 năm nữa, đến lần bầu cử Tổng Thống năm 2012, đảng Cộng Hòa có thể sẽ đưa bà Palin ra ứng cử làm Tổng Thống với các màn nhạc giựt gân hơn nữa để lãnh đạo cả thế giới.
 
 



Gs Nguyễn Viết Khánh: ÐỊA BÀN CHỐNG KHỦNG BỐ

Gs Nguyễn Viết Khánh: ÐỊA BÀN CHỐNG KHỦNG BỐ

Vậy bin Laden và bọn al-Qaida có gốc gác như thế nào? Vào cuối năm 1979 Liên Sô đã mở cuộc tấn công đánh chiếm Afghanistan, lập một chính quyền Cộng sản, bị sự phản kháng dữ dội của các nhóm du kích Hồi giáo gọi là “mujahideen”, chủ trương dùng Thánh chiến (jihad) để tiễu trừ bọn ngoại xâm. Ðó là thời kỳ chiến tranh lạnh, Mỹ tìm cách giúp du kích Hồi giáo đánh Nga. Với sự yểm trợ của Pakistan, Mỹ cấp vũ khí, giúp cả việc huấn luyện cho du kích chống Cộng ở Afghanistan. Trong số các du kích này có một người trẻ tuổi từ Á Rập Sê-út ở Trung Ðông đến. Tên anh ta là Osama bin Laden. Năm 1989, Liên Sô chịu không thấu, phải ký kết hòa ước rút quân khỏi Afghanistan, để lại một Tổng Thống thân Cộng. Liền sau đó các nhóm du kích Hồi giáo đánh lẫn nhau để tranh cướp chính quyền. Ðến năm 1996 nhóm Taliban phần lớn gồm những thanh niên Hồi giáo chiếm được thủ đô Kabul, thiết lập một chế độ Thần quyền cai trị theo luật Hồi giáo. Ðến năm 1998 nhóm khủng bố có tổ chức xuất hiện ở một vùng núi hiểm trở phía Ðông Afghanistan gần biên giới Pakistan. Người cầm đầu nhóm này chính là Osama bin Laden, vốn là con nhà triệu phú Á-Rập có nhiều tiền đã lập một căn cứ huấn luyện nhóm khủng bố al-Qaida, dưới sự bao che của chính quyền Taliban.

Vậy tại sao bin Laden ra lệnh cho al-Qaida đánh thẳng vào Mỹ vào tháng 9 năm 2001? Rất có thể bin Laden đã có tư tưởng này ngay sau khi quân Liên Sô phải rút khỏi Afghanistan năm 1989. Hắn thấy một siêu cường tương đương với Mỹ vào lúc đó đã phải thất bại trước sức mạnh của “jihad”, vậy tại sao Hồi giáo không đánh luôn cả Mỹ và các nước Âu châu? Ðó là những nước từ lâu vẫn bị tố cáo lợi dụng di sản thời thuộc địa từ hơn hai thế kỷ trước để áp chế và trục lợi kinh tế ở các nước Trung Ðông. Tổ chức khủng bố al-Qaida lợi dụng việc Mỹ đánh Iraq trước hết để bành trướng thế lực ở Trung Ðông và sau ở nhiều nơi khác trên thế giới. Sở dĩ bin Laden cho tấn công Mỹ trước là để dằn mặt Mỹ không cho can thiệp vào việc nội bộ của Trung Ðông. Ngoài ra khủng bố đánh Mỹ mà Mỹ không ngăn chặn nổi cũng là một cách dằn mặt các nước Tây phương. Người ta đã thấy những gì xẩy ra trên hai mặt trận ở Afghanistan có quân Mỹ và quân khối NATO tham dự, và ở Iraq có quân Mỹ và quÐầu tuần này tình hình Iraq thật đáng quan ngại. Hai bom đặt trên xe vận tải đã nổ ở một làng người Hồi hệ phái Shi-a ở gần thành phố Mosul phía Bắc Iraq làm chết 28 nguòi, trong khi tại Baghdad 9 vụ nổ liên tiếp đã làm chết 22 người. Tính từ 3 ngày qua các vụ đánh bom đã giết chết 100 người Shi-a. Các vụ đánh bom đó do nhóm người Hồi Sun-ni nổi loạn hợp tác với al-Qaida (cũng gốc Sun-ni) thực hiện, nhằm gây lại các cuộc xung đột giữa hai hệ phái Sun-ni và Shi-a đã từng diễn ra khốc liệt trong những năm 2006 và 2007, làm chết hàng chục ngàn người. Vậy quân Mỹ có thể rút ra khỏi Iraq dự liệu vào năm 2011 hay không? Thủ tướng al-Maliki (gốc Shi-a) quả quyết nói các lực lượng an ninh của ông có đủ khả năng kiềm chế nạn bạo động trong khi quân đội Mỹ chuyển dần trách nhiệm an ninh cho chính quyền Iraq. Tôi nghĩ sự xung đột giữa hai phe Shi-a và Sun-ni ở Iraq đã có từ mấy chục năm qua, đây là chuyên nội bộ của Iraq, nên để cho dân nước này giải quyết.

Trong khi đó cuộc chiến ở Afghanistan, có nhiều chuyện phức tạp hơn. Ở đây hiện có 101,000 quân NATO và quân Mỹ tham chiến. Trong số này quân Mỹ có 62,000 quân, tức là Mỹ đã tăng gấp đôi số quân. Từ đầu tháng 7 bọn phiến loạn do Taliban cầm đầu đã gia tăng các cuộc tấn công, khiến tháng đó là tháng thiệt hại nhiều nhất cho quân đồng minh: 74 người chết trong đó có 43 quân Mỹ. Người ta e rằng các trận chiến còn gia tăng hơn nữa trước ngày 20/8 là ngày bầu cử nhiệm kỳ mới của Tổng Thống, hiện vẫn do ông Hamid Karzai tại chức. Tình thế đặc biệt là dân nước này nghèo khổ, ít học, chỉ sống bằng nghề trồng nha phiến, và đa số cũng nghiền nha phiến. Quân NATO theo lệnh của LHQ cấm dân trồng nha phiến, nhưng bọn Taliban lại sẵn sàng cho dân trồng để lấy nha phiến bán ra nước ngoài đem tiền về dùng làm chiến phí. Thành ra quân NATO đi đến đâu, dân làng “nghiền” cũng ngấm ngầm báo động Taliban. Ðây là cuộc chiến rất khó khăn cho Mỹ và NATO.

Tôi đã viết dùng quân đổ bộ vào một nước để đánh khủng bố là một sai lầm chiến lược. Ðịa bàn chống khủng bố nhằm chỉ một khu vực rộng lớn gồm đủ mọi nơi trên thế giới, không phải để tổ chức một thế liên minh quân sự, mà để tìm một sự hòa hợp cộng tác trong hòa bình vì lợi ích chung của cả thế giới. Các thế liên minh quân sự đã hết thời. Ở Iraq, quân Anh đã rút khỏi Iraq. Ở Afghanistan quân đồng minh NATO chỉ có danh nghĩa thời chiến tranh lạnh, còn bây giờ tham chiến chống khủng bố là hời hợt, chính vì thế Mỹ đã phải tăng thêm quân. Với chiến lược hòa hợp cộng tác, Mỹ nhằm vào đâu? Âu châu đã hết thời với NATO, các nước Nam Mỹ chỉ lo chuyện địa phương trên lục địa của họ. Phi Châu phần lớn nghèo khổ, chỉ Bắc Phi có các nước mạnh, dân trí cao, bọn khủng bố không bén mảng tới. Ở Á châu có Trung Quốc và các nước Ðông Nam Á là địa bàn Mỹ có thể nhìn đến để áp dụng chiến lược hòa hợp cộng tác về mặt kinh tế.

Trung Quốc đang phải đối phó với Tân Cương, nhưng không lo người Hồi Trung Á đi theo khủng bố, mà chỉ lo phát triển kinh tế cho 1 tỷ 3 trăm triệu dân khỏi nổi loạn vì nghèo khổ. Trong khi đó ở Nam Á, Ấn Ðộ theo Ấn giáo đã thẳng tay trừng trị bọn Hồi giáo quá khích sau vụ đánh bom ở Mumbai. Ở Ðông Nam Á có khối ASEAN (Hiệp hội các quốc gia Ðông Nam Á) là một thế lực kinh tế đang lên mạnh, tạo thành một thế chân vạc với kinh tế Trung Quốc và Nhật Bản. Xét trên toàn cầu, đây là một địa bàn quan trọng nhất. Mỹ nên tăng cường mối quan hệ hòa hợp với địa bàn này. Và khi Mỹ đã thay đổi địa bàn chiến lược, tất nhiên cũng phải thay đổi cả chiến thuật. Mỹ nên đánh khủng bố từ trên cao hay từ biển, thay vì dùng quân đổ bộ ở những nơi không có trận tuyến rõ rệt.

Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh.




Phan Lạc Phúc : Qua Cơn Mê

Biếm họa Bùi Bá: Năm Tân Mão 2011, con mèo châm ngòi cho nổ banh xác pháo.


Câu Đối Tết Con Mèo.

Ba Đình tâu với Thiên Đình, thú thật Triều Đình không nói dối. Hà Sĩ Phu (xướng).

Ái Quốc bám theo Trung Quốc, e gần Phản Quốc có đâu xa.  Hữu Tình (họa).

Bài đọc suy gẫm: Qua Cơn Mê ( hay Văn Nghệ Tết Trong Trại Tù Yên Hạ) – Phan Lạc Phúc (hình ảnh sưu tầm trên net chỉ có tính cách minh họa)

…”Bạn ơi nếu tôi có một điều ước, tôi ước mong cho ngày nào trời đất phong quang, chúng ta được trở về đất nước Việt Nam yêu dấu, muốn đi đâu thì đi. Tôi sẽ đi tới những trại tù năm cũ, thăm lại người xưa, thăm lại các bạn tù chúng ta còn nằm lại. Tôi sẽ tới trại Yên Hạ, tới quận Phù Yên hỏi xem ông cụ Việt trại trưởng năm xưa còn sống hay không? Nếu gặp được ông cụ tôi sẽ nầm lấy tay mà nói “Tôi là là cựu tù nhân Yên Hạ đây, cụ còn nhớ tôi không, thưa cụ?”…Một mai qua cơn mê, xa cuộc đời bềnh bồng, tôi lại về bên em…- Trần Trịnh- Nhật Ngân.

Cả nước làm bạn với khoai mì, khoai lang.

Còn gần một tháng nữa mới đến Tết nhưng không khí thi đua văn nghệ giữa 2 khu A, B đã lan truyền khắp trại. Anh em khu A đi làm ngoài, có bữa kiếm được củ khoai, miếng sắn lại dấm dúi đem cho. Chúng tôi hiểu được sự chăm lo, kỳ vọng của anh em. Cuộc chiến tranh quân sự tàn rồi, cuộc chiến tranh văn hóa còn đang tiếp diễn.
Một hôm đang nửa buổi, trại trưởng ông cụ Việt vào hội trường dự khán anh em chúng tôi tập dượt. Thấy gần trưa rồi mà ban Văn nghệ khu A vẫn xuông tình, ông cụ hỏi: “Anh em không nghỉ ăn bồi dưỡng hay sao?” Mấy người có trách nhiệm mới trình bày với trại trưởng là chúng tôi vẫn tập “xuông” không có “bồi dưỡng”. Ông cụ Việt liền cho gọi thi đua (mấy anh tù được cất nhắc lên làm chân chạy việc cho ban giám thị) lên chỉ thị: “Cung cấp ngay chế độ bổi dưong hằng ngày cho đội văn nghệ khu A”. Ông cụ còn dặn thêm: “lệnh trại trưởng cấp thêm cho mỗi đội văn nghệ của A lẫn B mỗi ngày một gói trà. Anh em tập dượt ca, kịch cần thấm giọng”. Thế là hàng ngày, “phụ tá khói lửa” là tôi lại thêm việc đun nước pha trà cho anh em nhấm nháp.

Đi vào thực hiện kịch lịch sử đối với chúng tôi, nó có ưu điểm nhưng cùng một lúc nó kéo theo nhiều điều phức tạp. Thứ nhất tập dượt cầu kỳ. Người “ngày xưa” ăn nói cử chỉ khác người ngày nay. Một ông quan văn với một ông quan võ chào hỏi, vuốt râu nó khác nhau, không giống nhau. Cách phát âm hay nói theo giọng nhà nghề “đài từ” của kịch lịch sử khác với kịch thời đại. Hơn nữa trang trí sân khấu, cách phục sức cho nhân vật kịch “ngày xưa” nó đòi hỏi nhiều nghiên cứu, nhiều phụ tùng hơn kịch “bây giờ”, cái kho đạo cụ của trại không thỏa mãn được. Vào việc đạo diễn Th. già bấn xúc xích về việc dàn cảnh, về đạo cụ nên bạn già yêu cầu tôi lo giúp về phần tập luyện.

Bạn Th. già biết dạo xưa tôi có sinh hoạt trong Sông Hồng Kịch Xã ở Hà Nội trước khi động viên vào quân đội, trong khi đó Th. già viết cho báo Giang Sơn. Chúng tôi biết nhau từ ngày ấy. Vả chăng tôi vốn sinh trưởng ở nhà quê mà làng tôi vốn là đất chèo, có một phường chèo thường trực ở trong làng nên tự nhiên tôi quen thuộc với một số ước lệ của tuồng, chèo cổ. Những năm đi kháng chiến ngoài bưng, tôi đi theo một đoàn Tuyên truyền xung phong nên tôi cũng tàm tạm có một số kinh nghiệm về sân khấu. Cho nên nhận lời bạn già, tôi đang là “phụ tá khói lửa” lại thêm một chức vụ nữa “phụ tá đạo diễn”.

Không gian kịch là tư dinh Đinh Đề Lĩnh, viên quan trấn thủ kinh thành Đông Đô (Thăng Long – Hà Nội). Thời gian là đêm mồng 4 tháng Giêng năm Kỷ Dậu đêm trước của toàn quân vua Quang Trung đại phá quân Thanh. Vở kịch đòi hỏi 5 vai quan trọng: Đinh Đề Lĩnh, trấn thủ Thăng Long; thất vọng trước sự yếu hèn của hôn quân Lê Chiêu Thống, căm hận trước sự tham tàn bạo ngược của quân tướng nhà Thanh nên phút cuối cùng Đinh Để Lĩnh nghe theo lời khuyến dụ của La Sơn Phu Tử, đặc sứ của vua Quang Trung Nguyễn Huệ, mở cửa thành, đốt kho lương thảo khi nghĩa quân tấn công. Vai chính Đinh Đề Linh do Nguyễn Huy T., đại úy đài Tự Do cục Tâm lý chiến đảm trách. T. là một con người tài hoa, hát hay, nhảy giỏi, dáng người cao mà thanh, vừa văn vừa võ, đã nhập vai Đinh Để Linh rất đẹp. Anh chơi kịch từ thời sinh viên nên có đủ bản lĩnh trên sân khấu vừa say mê vừa tỉnh táo.

Vai La Sơn Phu Tử do Nguyễn T. cũng đại úy bên Tổng cục Chiến tranh Chính trị (người ở Seattle vừa viết thư cho tôi) nhận lãnh. Nguyễn T. vốn là em một người bạn tôi, nên tôi biết T. từ khi chưa bị động viên vào quân đội. T. đi Hướng đạo nên quen thuộc với sân khấu. T. không dám tin ở tài sức của mình nhưng tôi khuyến khích T. nhận vai La Sơn Phu Tử. T. vốn người Thanh Hóa, nói được giọng già, dáng người văn nhã mà cứng cỏi, lại chuyển sang gíọng Nghệ An – Hà Tĩnh rất ngọt nên có đầy đủ dáng vẻ của một mưu sĩ “đàng trong”. Một vai phản diện rất gay là vai tướng nhà Thanh, nói tiếng Việt ngọng líu ngọng lo mà tham dâm hiếu sắc do Trung tá Lê Văn Hóa, Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn văn nghệ Quân đoàn 4 phụ trách. Anh là người tràn đầy kinh nghiệm sân khấu lại thêm là “vua cười” của đội, luôn mồm hát, no cũng hát, đói cũng hát “Ngộ bên Tàu à… ngộ mới sang – sang Nam Việt bán buôn làm giàu…” nên vai tướng Tàu như là vai viết riêng cho anh vậy.

Người nữ độc nhất, cô chủ quán mê hoặc tướng Tàu do đại úy Tôn Thất L. thủ vai. Anh đi tù cực khổ, đói khát như vậy mà vẫn da trắng tóc dài, mắt sắc như dao làm gái Thăng long rất đẹp. Riêng có một vai quê mùa, vai ông già chăn ngựa thọt chân, luôn luôn say xỉn do một đại úy Cảnh sát đảm nhận vai mà tập mãi chưa vô. Anh có nhân dáng quê mùa, cục mịch, say mê vai diễn nhưng tiếng cười, giọng nói của anh nó văn minh quá, thành thị quá thiếu mất chất nhà quê. Mà đây là vai quần chúng vai đại diện cho nhân dân phản kháng nên trại để ý lắm. Thiếu úy Công an Q. đại diện cho phòng Giáo dục, hằng ngày theo dõi chúng tôi tập dượt, lắc đầu trước vai ông già chăn ngựa mà phê bình đủng đỉnh “chưa được”. Sau rồi, đạo diễn Th. già mới tham khảo ý kiến anh em mà bảo tôi rằng: “Ông khỏi mất công dượt cho anh ấy nữa. Ông thì vừa già, vừa chân tập tễnh, lại vừa có chất quê… thế thì ông chơi ngay cái vai ấy đi cho nó tiện việc sổ sách.” Anh em cũng ồn ào đề nghị nên tôi lại kiêm luôn vai cụ Triệu ông già chăn ngựa. Sở dĩ đạo diễn Th. già và tôi chú ý đến giọng nói là vì khi diễn kịch ở đây, chúng tôi diễn “chay” không có ban nhạc làm nền (background music). Vì vậy phải đặt trọng tâm vào giọng “thoại”, đưa vào đó nhiều màu sắc để phần nào quên đi cái thiếu vắng nhạc nền kia.

Có giọng Bắc trầm hùng cứng cỏi của Đinh Đề Lĩnh, giọng miền Trung uyển chuyển, sâu sắc của La Sơn Phu Tử, giọng ngọng nghịu của tướng Tàu, giọng Bắc pha Huế đài các của cô chủ quán, giọng quê mùa bạo liệt của ông già chăn ngựa. Nút kịch được thắt khi La Sơn Phu Tử đang đêm được ông già chăn ngựa nhà ở gần bên đưa vào gặp Đinh Đề Lĩnh ở tư dinh, thuyết điều hơn, lẽ thiệt. Kịch được thắt thêm 1 nút khi tướng Tàu sục sạo đi tìm cô chủ quán xinh đẹp bất ngờ xộc vào tư dinh Đinh Đề Lĩnh khi La Sơn Phu Tử còn đang hiện diện. Để tránh cho cơ mưu của “đàng trong” đừng bại lộ, cũng là cởi nút cho vở kịch… ông già chăn ngựa liền dũng cảm nhảy vào đâm chết tướng Tàu rồi cùng chết. Cái chết bất ngờ của ông già chăn ngựa như một giọt nước làm tràn ly khiến Đinh Đề Lĩnh còn đang do dự, chuyển hẳn sang thế nghĩa quân… mở cửa thành, đốt kho lương thảo khi đại quân vua Quang Trung tràn tới. Sau đó, bình minh ngày 5 tháng 1 năm Kỷ Dậu cũng vừa hiển hiện.

Để lo việc trang trí sân khấu và phục sức cho nhân vật kịch, trung tá Quân cụ Tr., nguyên sinh viên Mỹ Thuật ngày nào bây giờ là trưởng ban đạo cụ liền đem cái tài hoa còn lại của mình sửa chữa mấy đôi bốt hư của cán bộ thành hia cho văn quan, võ tướng nhà Lê , cải biến mấy cái mền dạ cũ màu đỏ, màu xám thành nhung y cho Đinh Đề Lĩnh, cho tướng nhà Thanh. Mấy cái đường kẻ đen trên tấm mền đỏ ngày nào bây giờ dưới bàn tay thần tình của Tr. đã biến thành hoa văn “thủy ba sóng rợn”. Tướng nhà Thanh thì nhung y lẫm liệt, hia mão đàng hoàng. Nhưng khi Đinh Dề Lĩnh, võ quan nhị phẩm triều đình đội mão theo đúng nghi thức thì tôi có ý kiến là Đinh Đề Lĩnh không nên đội mão chỉ nên đội khăn. Đội mão xem ra nó “cải lương” hơn, không truyền thống bằng cái khăn lượt Việt Nam. Đạo diễn Th. già đồng ý. Anh Tr. cũng đồng ý tuy rằng anh rất tiếc chiếc mão “võ quan nhị phẩm” rất công phu của anh.

Trong thành tích trang trí tư dinh của Đinh Đề Lĩnh ngày Tết, anh Tr. đắc ý nhất là 3 chữ đại tự anh viết trên bức hoành phi (bằng giấy): Huyết do hồng. Tr. vừa là nghệ sĩ vừa là trí thức. Th. già và tôi hiểu ý anh, nắm tay anh thông cảm. Thiếu úy Công an Q. người thường xuyên sinh hoạt với chúng tôi một bữa mới hỏi Th. già về ý nghĩa mấy chữ nho này. Th. giải thích: đây là 3 chữ cuối trong vế đối, nhắc lại chiến công chống xâm lược phương Bắc của tiền nhân “Đằng Giang tự cổ Huyết do hồng” (Nước sông Bạch Đằng từ xưa đến nay vẫn còn đỏ máu). Tôi thấy Thiếu úy Q gật gù, ngẫm nghĩ, và từ đó thái độ đối với chúng tôi có khác. Anh em chúng tôi dù sống kiếp tội đồ khổ sở, đói khát nhưng trong công tác văn nghệ này ai củng cố gắng đóng góp một chút gì, để hi vọng nói lên rằng: chúng tôi thua trận, bị cầm tù, bị lăng mạ nhưng chúng tôi có văn hóa theo cách riêng của chúng tôi.

Đã đến ngày 30 Tết, năm Tỵ sắp sang năm Ngọ (1977-1978). Nghe anh em lưu cựu ở đây 1âu nói rằng chưa có bao giờ trại ăn Tết to như thế. Có lệnh của trại trưởng là bao nhiêu tiền quỹ của năm cũ chi cho bằng hết nên Tết đến thịt trên 10 con heo, 1 con bò; tát ao lấy cá chắm, cá chép lên ăn Tết. Mấy vườn su hào cũng nhổ “đại trà” làm dưa. Toàn là món “cao cấp” cho toàn trại, toàn thể tù nhân ăn Tết. Trong 10 năm đi tù cải tạo, tôi ngẫm lại chưa có năm nào, ở đâu được ăn một cái Tết tù như vậy. Ngoài các món ăn, anh em tù nhân còn được lĩnh mỗi người hai bánh chưng, thuốc lá, thuốc lào, và đêm 30 đi xem kịch tất niên về toàn trại còn có cháo lòng bò bồi dưỡng. Nghe phong thanh là sau Tết trại trưởng trung tá Trần Việt sẽ nghỉ hưu nên ông xã cảng “cái gì của tù là trả hết cho tù”.

Vài ngôi mộ của những người tù cải tạo.

Bữa tổng dượt có mặt đủ ban Giám thị trại, chương trình của khu A chúng tôi được cán bộ giáo dục Nguyễn Hồng L. chăm chút rất kỹ. Y ta để ý rất nhiều đến những sự “đóng góp” của chúng tôi vào vở kịch, hỏi khá kỹ về câu đối “Đằng Giang tự cổ huyết do hồng “. Vốn bản tính đa nghi nên y không muốn đưa vào bất cứ điều gì không có trong kịch bản. Ông cụ Việt, có lẽ ông ta là người rộng rãi kiến văn nên ông cụ nói: “Tư dinh một viên võ tướng có tâm hồn với đất nước mà treo bức hoành Đằng Giang tự cổ huyết do hồng thì được lắm. Để đối phó với cường lân phương Bắc lại càng hay nữa .” Nhưng cán bộ giáo dục tỏ ý ngần ngại, khi chúng tôi định hát đoạn đầu của bài Thăng Long Hành Khúc của Văn Cao vào đoạn kết của vở kịch. Nguyên văn trong kịch bản chỉ có “tiếng hô sát của đại quân ta nhỏ dần rồi màn hạ”. Ỏ đây chúng tôi trong hậu trường sẽ hô “sát, sát” đồng loạt rồi hát từ từ nhỏ đến to dần lên “Cùng ngước mắt về phương Thăng Long thành cao đứng, trông khói sương chiều ám trên dòng sông. Nhị Hà còn kia Nhị Hà còn đó, lũ quân giặc Tôn sập cầu trôi đầy sông.” Màn từ từ khép và đến đó là dứt kịch. Chúng tôi muốn cho cái “coup de rideaư’ nó thêm sức thuyết phục. Đã thử lại lúc màn hạ này mà không có tiếng đồng ca Thăng Long Hành Khúc ở bên trong. Nó nguội đi nhiều lắm. Cán bộ giáo dục cuối cùng chấp nhận “cách đạo diễn” của chúng tôi nhưng nhất quyết không bằng lòng 2 chữ “giặc Tôn” mà phải đổi ra là nhà Thanh “cho nó rõ nghĩa” (chữ của y ta, bởi vì giặc Tôn có thể liên tưởng đến Tôn Đức Thắng chăng?).

Tối 30 Tết, trại Yên Hạ nôn nả hẳn lên. Mới 7 giờ đêm, mà hội trường đã chật cứng. Phạm nhân khu A ngồi bên phải. Khu B bên trái. Những dãy ghế phía trên là dành cho quan khách, gồm cán bộ khung xã sở tại, huyện ủy Phù Yên, cán bộ Công an và gia đình. Cứ như ý kiến bữa tổng dượt thì đêm 30 Tết, ban Văn nghệ sẽ diễn trong trại. Mồng 4 Tết chúng tôi sẽ ra huyện lỵ Phù Yên diễn cho dân chúng tới xem. Cho nên buổi diễn hôm nay là buổi diễn trong chương trình vui Tết đón Giao thừa, vừa là buổi phúc khảo trước khi ban Văn nghệ “đem chuông đi đấm xứ người”.

Chương trình khu B, bên hình sự được diễn đầu tiên. Cũng đồng ca, đơn ca, một màn kịch ngắn “đánh Mỹ” và kết bằng màn dân ca Quan họ Bắc Ninh. Anh em hình sự chơi chương trình này đã “thuộc” nên đối đáp, tung hứng rất là nhuần nhuyễn. Nhưng vì “bổn cũ soạn lại” nên nó làm cho tù chính trị chúng tôi chăm chú hơn là khán giả sở tại.

Bên hình sự có một ca sĩ tên Ng. hát rất hay, rất kỹ thuật; nghe nói anh ta đã tốt nghiệp thanh nhạc nên hát đâu có thua gì ca sĩ trên đài phát thanh. Ca sĩ bị tù mút mùa vì nghe nói anh mắc tội làm tem, phiếu giả. Kịch “đánh Mỹ” thì không có gì mới. Vẫn theo công thức cũ. “Mỹ cút, ngụy nhào, quân ta kẻ thù nào cũng đánh thắng, khó khăn nào cũng vượt qua”. Nhưng phải công nhận anh em hình sự chơi nhạc cảnh Quan họ “Mời trầu, giã bạn” rất đằm thắm, ý nhị và duyên dáng. Đây là một tiết mục hay. Khi anh em cúi đầu chào khán giả, chúng tôi dù ở trên sân khấu, đang sửa soạn “ra trò” mà chúng tôi cũng không ngừng vỗ tay tán thưởng. Đoàn trưởng đoàn kịch khu B. Quách H., đứng ở cánh gà phía bên kia, đứng nghiêm, để tay lên ngực cúi đầu chào lại chúng tôi như một sự cảm thông cái tình tri âm, tri kỷ.

Có lẽ “cái đinh” của đêm văn nghệ hôm nay đối với khán giả địa phương là Văn nghệ khu A, tù chính trị. Họ chưa bao giờ được biết miền Nam thật sự như thế nào? Miền Nam đã thua, đã tan nát nhưng những tàn dư của miền Nam, lũ tù chính trị chúng tôi, vẫn còn đây. Họ đã được nghe “nhà nước ta” nói rất nhiều về miền Nam, nhưng “trăm nghe sao bằng một thấy”. Văn nghệ, là một thái độ sống. Họ muốn biết thái độ sống của miền Nam thế nào qua những đại diện khốn khổ nhưng trung thực là chúng tôi Chúng tôi cũng cảm nhận được điều đó nhưng trong tình trạng tù đày, bó buộc như thế này, biết ăn, biết nói làm sao? Thôi thì “sức người có hạn, được đến đâu hay đến đó”.

Qua mấy màn ca nhạc, đồng ca, đơn ca, tôi nghiệm ra là về kỹ thuật, chúng tôi không sánh bằng anh em hình sự. Điều dễ dàng nhận thấy là tù chính trị già hơn, nên hơi hám kém hơn. Nhưng hiệu quả sân khấu thì chưa chắc ai hơn ai. Lấy ví dụ như ca sĩ Văn B . của chúng tôi hát làm sao tốt bằng, khỏe bằng Ng. bên khu B, nhưng khi anh hát xong tiếng vỗ tay có lẽ nhiều hơn, nồng ấm hơn. Ng. hát giọng ngực, lớn, vang nhưng anh hát theo lề lối thường thấy ở ngoài Bắc, không rõ lời. Nhiều khi không biết anh hát cái gì nữa chỉ thấy trước sau giọng ngân vang rền rĩ mà thôi. Còn Văn B. anh là ca sĩ tài tử (ngoài Bắc kêu bằng nghiệp dư, thích thì hát chơi không phải nhà nghề) nên hát bài nào anh phổ tâm tình vào bài hát đó. Anh không trưng bày giọng hát mà như văn nghệ thường thấy ở miền Nam, anh có một tâm sự để mà kể lại. Anh thuộc loại ca sĩ trữ tình (chanteur de charme) không phải ca sĩ Opera như khuynh hướng ngoài Bắc. Cho nên nghe Văn B . ca sĩ miền Nam, hát không giỏi bằng, không khỏe bằng nhưng nó dễ nghe hơn, nó thấm thía hơn, nó con người hơn. Mà cũng có thể vì cách hát của anh khác lạ hơn nên anh được chú ý và tán thưởng.

Tiết mục gây được nhiều tiếng cười sảng khoái là màn tốp ca. Anh em chúng tôi dựng tiết mục này theo lối AVT, nhằm kiếm được nụ cười trong tình trạng tối ám của nhà tù. Mà điều này cũng là một thực tế. Chúng tôi là phạm nhân nhưng trong đời sống chúng tôi vui cười nhiều hơn cán bộ coi tù. Ở ngoài Bắc, hoặc là người ta sống căng thẳng quá hoặc là người ta phải ngụy trang lối sống cho nên phần đông mọi người mặt khó đăm đăm. Đây là bệnh táo bón tinh thần thường thấy nơi xã hội thiếu tự do. Ba bạn Đỗ H., Văn B., Trịnh P. hát hò, đối đáp với nhau thoải mái. “Cái gì nhúc nhích là ta chén liền “. Tiếng cười đồng cảm vang lên. Từ cánh gà nhìn xuống, tiếng cười lan tỏa chỉ có người cau mặt là cán bộ giáo dục…

Màn gây ấn tượng sâu sắc là độc tấu Tây ban cầm. Đây là loại đàn nhiều người chơi. Nhưng tập tành đến nơi đến chốn chơi được nhạc cổ điển hay bán cổ điển thì có rất ít người. Người anh em chơi Tây ban cầm của chúng tôi đã có trên 10 năm cầm đàn. Anh bữa ấy độc tấu một bản bán cổ điển. Một cây đàn Tây ban cầm mà như một dàn nhạc. Có lúc réo rắt như violon, lúc nhảy nhót như mandoline, khi rộn rã như piano, khi trầm hùng như một đoàn quân nhạc đón đoàn chiến binh chiến thắng trở về . Tôi nghĩ đám đông khán giả kia chưa chắc đã hiểu hết ý nghĩa của bài vừa diễn tấu nhưng nhìn bàn tay buông bắt đầy kỹ xảo, nghe âm thanh tiết tấu phong phú, họ hiểu rằng chơi đàn như vậy là một kỳ công. Kỳ công ấy là văn hóa.

Giọt nước mắt người vợ tù cải tạo trong ngày cựu tù Bình Điền họp mặt tại Nam California, ảnh Huy Phương. Hình dưới: triển lãm hình ảnh về trại tù cũ.

Links:

Bầu cho tương lai (Sơn Điền Nguyẽn Viết Khánh)

Bu Cho Tương Lai  
 
Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh
Barack Obama đã được bầu làm Tổng Thống Mỹ với đại đa số phiếu. Từ tuần qua, nhìn những người dân xếp hàng chờ đợi từ tảng sáng để sớm bước vào các phòng bầu phiếu, các nhà quan sát có ý thức cao đã thốt ra một câu bất hủ: "Họ đang viết lịch sử". Từ thời xa xưa hơn 200 năm trước, khi nước Mỹ mới thành hình, người da đen Phi châu bị bọn buôn người quốc tế bắt đem sang Mỹ bán làm nô lệ, có ai ngờ sẽ có ngày một người gốc Phi châu lên làm Tổng Thống Mỹ. Một chương sử mới đã bắt đầu. Thật ra từ tuần trước tôi đã có suy nghĩ về việc này nên đặt câu hỏi "Bầu cho ai?" mà không có trả lời rõ rệt "là ai" trước khi có bằng cớ cụ thể. Nhưng câu trả lời đã nằm sẵn trong đầu từ lúc đó, nên tuần này sau khi đã có kết quả bầu cử, tôi đã trả lời bằng tựa đề "Bầu cho tương lai". Bầu cho Thượng nghị sĩ Obama làm Tổng Thống, tại sao lại gọi là bầu cho tương lai?
Chữ "tương lai" quá thông thường, nên khi nói đến tương lai người ta nghĩ ngay đến những gì sắp tới. Chữ "quá khứ" cũng vậy, đó là những gì đã qua. Như vậy hiện tại cố nhiên là ngày hôm nay. Ở đây tôi muốn nhìn đến những luận lý khoa học, theo đó quá khứ, hiện tại và tương lai chỉ là một chuỗi dài về thời gian theo một quy luật nhất định là thời gian như mũi tên bắn, có đi mà không trở lại. Bởi vậy quá khứ chỉ là những kinh nghiệm, những bài học cho hiện tại để định hướng cho tương lai. Vậy những bài học đó như thế nào? Nó đã được tóm gọn trong một câu châm ngôn của các nhà triết học trời Âu: "Hôm nay hơn hôm qua và kém hẳn ngày mai", có hàm ý nhắc đến sự tiến bộ tất yếu của loài người. Tiến bộ tức tiến hóa.
   Theo các bằng chứng cụ thể của các nhà khoa học, con người từ thời xa xưa nhất sống trên Trái Đất sở dĩ còn tồn tại được đến ngày nay là vì đã biết tiến hóa. Ở điểm này tôi thấy cần phải góp thêm một ý. Sự suy luận của con người từ cổ xưa có hai phần căn bản, một là lý trí hai là tâm linh. Khoa học là lý trí, còn tâm linh là đức tin tôn giáo. Khi nói đến tự nhiên, người ta nghĩ đến một chữ đồng nghĩa là "thiên nhiên". Thiên là Trời, mà bất cứ tôn giáo nào ngày nay đều nhìn nhận là đấng Chí tôn đã sáng tạo ra loài người, ban cho chúng ta một bản năng là tiến hóa để sống còn và phát triển, chớ không ù lỳ đứng nguyên một chỗ, để trở thành nạn nhân của mê tín và đần độn.
Nhưng làm thế nào con người sống trong hiện tại lại có thể quyết định cho một tương lai chưa thấy? Không thể quyết định, nhưng vẫn có thể chọn một hướng đi có xác suất lớn nhất cho một tương lai sáng lạn. Hãy nhìn đến một hiện tượng thông thường trong cuộc cuộc sống của chúng ta, coi hiện tại là hôm nay và tương lai là ngày mai. Thí dụ một người tham dự trực tiếp vào sinh hoạt xã hội, ngay từ buổi sáng hôm nay bắt buộc phải có dự liệu trước những gì chưa xẩy ra, như việc làm trong ngày để kiếm sống, đồng thời cũng phải dự tính cả đến những ngày mai xa hơn nữa cho sự làm ăn phát đạt để nuôi gia đình. Đó là định hướng cho tương lai. Quá khứ không thể tái diễn y trang trong cuộc sống hiện tại. Chúng ta không thể ôm lấy quá khứ để mà sống, quá khứ chỉ là những bài học kinh nghiệm hữu ích cho ngày nay. Chúng ta đang sống ở Thế kỷ 21, vậy cũng nên hít thở bầu không khí trong lành của Thế kỷ mới, đặt nặng sự tiến bộ chung của loài người, để quên đi một phần của quá khứ từng chìm đắm trong chiến tranh lạnh với khỏi lửa và hận thù. Để thực hiện việc đó, người dân Mỹ ngày nay cần phải hàn gắn sự chia rẽ do tranh chấp đảng phái gây ra, tạo lại đoàn kết nội bộ để chặn đứng nạn suy thoái kinh tế và chống kẻ thù chung là nạn khủng bố. Bởi vậy câu hỏi đặt ra là vị Tổng Thống mới của Mỹ sẽ phải làm gì?
   Ngay sau khi Obama được bầu làm Tổng Thống, người ta đã thấy những hiện tượng hiếm có hầu như cả nước Mỹ đã reo hò mừng rỡ, như hình ảnh đã thấy trên các màn hình TV của đêm thứ ba 4 tháng 11, chứng tỏ đại đa số dân Mỹ tin ở tài đức, trí tuệ và sự khôn khéo của vị Tổng Thống mới mặc dù đến tháng1-2009 ông mới tựu chức. Hãy nhìn lại một vài chi tiết của kết quả cuộc tổng tuyển cử. Obama đã thắng với 349 phiếu cử tri đoàn và 52% phiếu phổ thông, trong khi McCain chỉ được 163 phiếu cử tri đoàn và 47% phiếu phổ thông. Về Quốc hội tức ngành lập pháp, đảng Dân Chủ đã thắng với một đa số rõ rệt hơn trước. Tại Thượng-Hạ viện đảng Dân Chủ đã có thêm ghế, đủ đa số chắc chắn để từ nay loại bỏ được phần nào những màn tranh cãi kéo dài mà không có quyết định.
Và đặc biệt hơn nữa cũng nên nhìn đến phản ứng của Thượng nghị sĩ John McCain chỉ một giờ sau khi kết quả chính thức được công bố. Ông nhìn nhận sự thất bại của ông trong cuộc tranh cử và tuyên bố: "Người dân Mỹ đã nói lên tiếng nói của họ, một tiếng n&oacut
e;i thật rõ ràng. Đây là một cuộc bầu cử có tính lịch sử, tôi nhìn nhận ý nghĩa đặc biệt của cuộc bầu cử lần này cho những nguời dân Mỹ gốc Phi châu và niềm hãnh diện của họ cho đêm nay. Lúc này là thời có những khó khăn cho đất nước chúng ta. Đêm nay tôi cam kết với ông Obama, tôi sẽ làm với tất cả khả năng của tôi để giúp ông lãnh đạo chúng ta qua nhiều thử thách mà chúng ta phải đương đầu". Về phía ông Obama ngay sau khi có kết quả bầu cử, đã lên tiếng nhìn nhận việc hàn gắn lại nền kinh tế cũng như đối phó với các vấn đề đối nội và đối ngoại sẽ không thể có kết quả ngay trong một năm hay một nhiệm kỳ Tổng Thống. "Nhưng, ông nói, đêm nay hơn bao giờ hết tôi thấy có nhiều hy vọng nước Mỹ sẽ đạt được những kết quả đó. Tôi hứa với mọi người, chúng ta như một dân tộc sẽ đạt được". Cả hai ông đều có những lời lẽ làm nổi bật tư cách quý giá của những người làm chính trị.
   Tôi thiết nghĩ nước Mỹ hãy làm gương cho các nước trên thế giới thấy rằng các đảng phái chính trị làm việc cho dân chớ không làm việc cho đảng, và cần phải diệt trừ tận gốc nạn độc tài ở bất cứ nơi nào, vốn đã manh nha từ lòng tham không đáy, tính vị kỷ bảo thủ khư khư ôm lấy những gì đã có, từ đó đưa đến thói vô trách nhiệm, buông lỏng kỷ cương của đạo làm người. Người dân Mỹ đã bỏ phiếu bầu cho tương lai. Hy vọng đó cũng là tương lai của cả loài người.
 SƠN ĐIỀN NGUYỄN VIẾT KHÁNH



GS SD Nguyễn Viết Khánh: VĂN HÓA VÀ TÔN GIÁO

GS SD Nguyễn Viết Khánh: VĂN HÓA VÀ TÔN GIÁO

Cuộc họp báo của Ðạt Lai Lạt Ma được dự liệu vào ngày thứ hai tuần này bị hủy bỏ sau khi chính quyền Ðài Loan hiện do Quốc dân đảng nắm giữ đã tỏ ý quan ngại, sợ gây rắc rối với Trung Cộng. Cũng vì thế một cuộc thuyết giảng của Lạt Ma dự liệu tổ chức ở Cao Hùng, một đô thị lớn ở Nam Ðài Loan, tại một sân vận động chứa được 15,000 nguời, rút cuộc đã phải chuyển về một căn phòng ở khách sạn Lat Ma trú ngụ, chỉ có 1,200 ghế ngồi. Trong một bản tuyên bố chính thức, Cơ sở Tổ chức Ðạt Lai Lạt Ma ở Ðài Loan nói: “Những người tổ chức vụ này rất quan ngại cho sự an toàn của Ðức Ðạt Lai Lạt Ma”. Ngoài ra theo lời một phát ngôn nhân chính thức, Tổng Thống Ðài Loan Mã Anh Cửu đã từng gặp Lạt Ma hai lần trong các chuyến đi lục địa trước đây, lần này không có dự liệu hội kiến. Ngoài ra Phó Tổng Thống, Thủ tướng và Chủ tịch Quốc dân đảng Ðài Loan cũng không có chương trình gặp gỡ Ðạt Lai Lạt Ma.

Trước đó chính Ðức Ðạt Lai Lạt Ma cũng đã nói với phóng viên đài TV CNN rằng Ngài không muốn gặp Tổng Thống Ðài Loan vì e rằng sẽ chính trị hóa chuyến đi này. Ngày chủ nhật vừa qua Tân Hoa Xã của Trung Cộng đã nói Bắc Kinh “cương quyết chống” cuộc viếng thăm vì gây ra những ảnh hưởng tiêu cực giữa Hoa lục và Ðài Loan. Tân Hoa Xã còn thuật lại lời một quan chức trong Cơ quan “Ðài loan vụ” nói “Chúng tôi sẽ theo dõi chặt chẽ vụ viếng thăm”. Sự hăm dọa thật trắng trợn. Bắc Kinh vẫn coi Ðài Loan là một tỉnh “ly khai” của Hoa lục và tố cáo Lạt Ma tranh đấu cho sự tách rời của Tây Tạng khỏi Hoa lục để thành một nước độc lập.

Như vậy phải chăng một nhà tu hành coi như đứng hàng đầu của Phật giáo trên toàn thế giới đã làm chính trị? Tôi muốn trả lời câu hỏi này. Các bậc chân tu nói chung của các tôn giáo lớn trên thế giới ngày nay như Thiên chúa giáo, Hồi giáo, Phật giáo và các hệ phái của các tôn giáo đó đều không làm chính trị. Ở đây cũng nên xác định cho rõ việc làm chính trị (politics) có nghĩa là sự tranh đấu của các chính đảng để tranh dành những ngôi vị cầm quyền, bất luận cấp bực nào trong hành pháp, lập pháp hay tư pháp. Chức tước hay danh vọng thường đi đôi với quyền uy, lợi nhuận, tiền bạc. Thế nhưng khi một nhà tu hành hô hào vận động cho dân chủ, nghĩa là một chế độ do dân làm chủ, chuyện đó lại khác hẳn. Bởi vì dân chủ là nếp sống của người dân được tự do sống có luật pháp che chở. Ðây là văn hóa chớ không phải chính trị.Văn hóa là một nét đặn thù của dân tộc tính, tức phong tục tập quán, cách sống, nề nếp sinh hoạt trong nhà cũng như ngoài xã hội, cách ăn, ở và mặc. Chế độ chính trị cũng như thể chế xã hội do chính dân tộc đó hình thành. Hiển nhiên dân tộc tính của mỗi dân tộc một khác tùy theo hoàn cảnh, kẻ ở bên ngoài không thể dùng bạo lực cưỡng ép một kiểu xã hội nào khác. Ðó là thủ đoạn xâm lược của bọn độc tài, quân phiệt hay tài phiệt. Văn hóa là cái gốc của một dân tộc, bắt nguồn từ thời xa xưa nhất trong lịch sử của họ. Văn hóa của bất cứ dân tộc nào cũng phải đi theo một luật thiên nhiên là luật tiến hóa, bởi vì nếu không có tiến hóa ngày một tiến, mỗi ngày một mới, nền văn hóa đó sẽ chết. Tuy nhiên bất luận tiến cách nào, mỗi dân tộc qua các thế hệ trước sau đều không được quên cái gốc căn bản của mình. Ðó là tiến bộ mà không mất gốc vậy.

Giữ được gốc có lợi ích gì? Ðó là để không quên quá khứ vì quá khứ là những bài học kinh nghiệm cho cuộc sống hiện tại. Khi đã xác định được chỗ đứng trong hiện tại, chúng ta mới định hướng được bước đường tương lai, sẵn sàng tiến lên nữa, để khỏi bị lạc hậu với thời gian. Nếp sống dân chủ là nếp sống thích hợp nhất cho các dân tộc trên thế giới. Bởi vậy dân chủ bắt buộc phải nằm trong văn hóa của mỗi dân tộc. Ở đây vai trò của tôn giáo như thế nào? Tôn giáo chỉ là một thành phần của nền văn hóa mỗi dân tộc, nên tôn giáo cũng phải theo một định luật căn bản là do dân chúng một nước được tự do lựa chọn theo quy định dân làm chủ, chớ không thể dùng bạo lực hay võ khí cưỡng ép, uy hiếp phải theo đạo.

Chúng tôi thiết nghĩ: Khác hẳn thời xa xưa hơn hai ngàn năm trước khi xã hội loài người còn sơ khai, thời nay không có tôn giáo nào cầm súng cầm gươm đi truyền đạo. Tuy nhiên cũng phải nhìn nhận một sự thật là có những kẻ lợi dụng đức tin tôn giáo để làm bậy. Những kẻ đó chỉ là một thiểu số, nhưng chúng đã phạm phải những trọng tội mà không một xã hội nào của con người có thể dung thứ. Những tin tức trên báo chỉ hàng ngày thường cho thấy những thiểu số đó đã sa lưới pháp luật và vấy một vết nhơ lên đức tin mà họ rao giảng. Về mặt quốc tế từ đầu Thế kỷ 21, một nhóm khủng bố đã lợi dụng đức tin Hồi giáo để gây ra những cuộc chém giết rùng rợn làm chấn động dư luận toàn thế giới, tạo nhiều khó khăn phức tạp cho các nước lớn.

Tôn giáo có mục tiêu chủ yếu là thức tỉnh lương tri của con người chớ không phải mê hoặc. Riêng tôi đã biết các học giả và khoa học gia trên Thế giới mới đây đã xác định “Phật giáo gần gụi với Cơ học Lương tử” hơn bất cứ tôn giáo nào khác.

Sơn Ðiền Nguyễn Viết Khánh.




Thiện Ý : TỪ TUNISIA QUA YEMEN, ĐẾN AI CẬP, BAO GIỜ ĐẾN CỘNG SẢN VIỆT NAM?

TỪ TUNISIA QUA  YEMEN, ĐẾN AI CẬP, BAO GIỜ ĐẾN CỘNG SẢN VIỆT NAM?

 

Thiện Ý

        

       

        Cảnh sát chống bạo động đã xử dụng vòi rồng và lựu đạn cay cùng các vũ khí chống biểu tình đưa đến những cuộc đụng độ đổ máu. Đến nay, sau sáu ngày bạo động, đã có hàng trăm  người biểu tình bị chết và bị thương, hàng ngàn người bị bắt. Một số xe của cảnh sát có cả xe bọc thép và cơ quan chính phủ, trụ sở của đảng cầm quyền đã bị quần chúng biểu tình đốt cháy. Các cuộc  biểu tình của các giới người dân Ai Cập đã có chiều hướng gia tăng cường đô xung đột và mức độ lan rông khắp nơi với hậu quả khó lường. Chính quyền của Tổng Thống Mubarak đã ban hành  lênh giới nghiêm ở những nơi có biểu tình.

         Người ta được biết biểu tình là chuyện hiếm thấy xẩy ra tại Ai Cập, nơi mà Tổng Thống Mubarak và đảng Dân Chủ Quốc Gia của ông cai trị chuyên chế suốt hơn 30 năm qua và những người bất đồng chính kiến bị đối xử một cách không nhân nhượng, chỉ thua cường độ đàn áp các nhà bất đồng chính kiến tại Việt Nam dưới quyền thống trị độc tôn của đảng Cộng sản Việt Nam trong nhiều thập niên qua. Trước đây vào năm 2005 cũng đã có cuộc biểu tình lớn nhưng đã bị nhà cầm quyền dập tắt. Cuộc biểu tình lần này xuất phát từ các nhà hoạt động cho dân chủ kêu gọi quần chúng nổi dậy trong một thông điệp phổ biến trên mạng internet và đã được hàng chục ngàn người dân Ai Cập hưởng ứng .

        Theo tường thuật và hình ảnh của các hãng thông tấn quốc tế, được phổ biến rộng rãi trên màn ảnh truyền hình khắp thế giới, cho thấy những người tham gia biểu tình không chỉ thuộc giới thanh niên sinh viên nam mà cả phụ nữ, người buôn bán nhỏ; thậm chí cả công chức mang cặp và mặc veston, thắt cà vạt cũng tham dự biểu tình lần này. Mục đích của các cuộc biểu tình là đòi dân chủ, cải tổ chính trị và nhất là đòi Tổng Thống Mubarak phải từ chức vì là nguồn gốc chính yếu của tình trạng bức bách về chính trị, bất công xã hội và đời sống kinh tế khó khăn của nhân dân Ai Cập.

          Nguyện vọng của  người dân Ai Cập được thể hiện qua những biểu ngữ, khẩu hiệu được hô vang trong các cuộc biểu tình, trong đó có việc gọi đích danh Tổng Thống Mubarak là nhà độc tài và đòi ông từ chức lập tức. Vào thứ sáu tuần trước (28-1-2011) Tổng Thống Hosni Mubarak đã giải tán nội các, bổ nhiệm ông Omar Suleiman, phụ trách cơ quan tình báo Ai Cập vào chức  Phó Tổng Thống, một chức vụ bị bỏ trống từ khi Ông Mubarak nắm quyền Tổng Thống Ai Cập vào năm 1981, từ vị thế Phó Tổng Thống, vào thời điểm tổng thống Anouar el Sadate bị ám sát. Đồng thời Tổng Thống Mubarak cũng đã chỉ định tướng Ahmed Shafik, nguyên bộ trưởng bộ Hàng không làm thủ tướng thàng lập nội các mới. Nội các cũ do ông Ahmed Nazif đã bị tổng thống Mubarak giải tán hôm thứ sáu,28/01/2011.Tân phó tổng thống và tân thủ tướng Ai Cập đều là những người thân cận của tổng thống Hosni Mubarak.

         Tất cả nỗ lực cải tổ chính phủ này dường như vẫn không đáp ứng được yêu sách của quần chúng biểu tình, họ không muốn một sự cải tổ vá víu, mà muốn thay đổi hoàn toàn chế độ, với sự ra đi của cá nhân ông Mubarak và đảng cầm quyền chuyên chế, thay vào một chế độ dân chủ.

     Theo nhận xét của giới báo chí, sở dĩ lần biểu tình này có sự tham gia đông đảo,  với quyết tâm cao và không khoan nhượng là vì nhân dân Ai Cập được thúc đẩy từ sự thành công của “Cuộc cách mạng Hoa Nhài”  nổ ra ở Tunisia, cũng là một nước Hội giáo Châu Phi vào đầu tháng này, đã lật đổ được chế độ độc tài  của Tổng Thống Ben Ali. Nhiều người biểu tình ở Ai Cập tuyên bố sẽ tiếp tục cho tới khi lật đổ được chính quyền Mubarak. Chính cuộc “cách mạng Hoa Nhài” ở Tunisia thành công này cũng đã là cảm hứng cho nhân dân một nước Hồi giáo khác là Yemen xuống đường biểu tình rầm rộ ở thủ đô Sanaa,  đòi Tổng Thống  Ali Absullah Saleh phải từ chức cũng sau hơn 30 năm nắm quyền cai trị độc tài.

     Như vậy là chỉ trong một tháng đầu năm 2011 đã có các cuộc biểu tình qui mô lớn của nhân dân ở ba nước Hồi giáo là Tunisia, Yemen và Ai Cập. Tất cả các cuộc xuống đường này đều có nguyên nhân và mục tiêu giống nhau.

      Nguyên nhân là vì  nhân dân cả ba nuớc đều bị thống trị bởi ba nhà độc tài cầm đầu ba đảng độc tôn, cai trị độc quyền kéo dài trong nhiều thập niên. Hệ quả là các nhân quyền và dân quyền căn bản bị hạn chế hoặc bị tước đoạt, kinh tế bất ổn, giá cả leo thang, tỷ lệ thất nghiệp lớn, tham nhũng tràn lan và xã hội đây rẫy bất công, sự cách biết giầu nghèo sâu sắc với thiểu số chức quyền giầu có thống trị trên tuyệt đại đa số nhân dân lao động nghèo khổ. Hệ quả này đã gây bất mãn, phẫn nộ trong mọi tầng lớp nhân dân ở cả ba nước .

      Và do đó mục tiêu tối hậu của các cuộc xuống đường biểu tình của nhân dân ba nước Tunisia, Yemen và Ai cập đều giống nhau là nhằm lật đổ những nhà độc tài đứng đầu nhà nước  và cả các đảng hậu thuẫn cầm quyền ở cả ba nước, để thay thế bằng những người cầm quyền và đảng phái chính trị biết  tôn trọng các quyền tự do, dân chủ, nhân quyền và nhân quyền,  trong một chế độ dân chủ đa nguyên, một xã hội công bằng, đời sống kinh tế ổn định và bảo đảm hơn cho nhân dân lao động nghèo. Mục tiêu tối hậu này đã thành đạt tại Tunisia, một trong ba nước đã và đang muốn giành lại chính quyền bằng sức mạnh của quần chúng nhân dân qua các cuộc xuống đường biểu tình lật đổ chính phủ phản dân chủ.

       Tân chính phủ Tunisia nói là  họ sẽ công nhận các đảng chính trị bị cấm hoạt động, gồm cả tổ chức Hồi giáo…, đồng thời ân xá toàn bộ tù nhân chính trị.Loan báo này được đưa ra khi nội các Tunisia họp phiên đầu tiên, gần một tuần sau khi tổng thống Zine al-Abidine Ben Ali bỏ nước ra đi trước làn sóng phản đối của dân. Điều này có nghĩa là sau cuộc “Cách Mạng Hoa Nhài” thành công Tunisia sẽ đi theo chiều hướng chế độ dân chủ đa nguyên đáp đúng ý nguyện của nhân dân, phù hợp với xu thế thời đại: dân chủ hoá chế độ độc tài các kiểu và thị trường tự do hoá về kinh tế trên phạm vi toàn cầu.

       Trông người lại nghĩ đến ta. Nhân dân Việt Nam tự hỏi: Bao giờ Việt Nam sẽ có cơ hội thực hiện một biến động như thế, để nhân dân Việt Nam bằng sức mạnh “Tức nước vỡ bờ” của mình, vùng lên quật ngã tập đoàn thống trị độc tôn độc quyền là đảng cộng sản Việt Nam, để giành lại quyền làm chủ đất nước, trong một chế độ tư do, dân chủ thực sự?

        Lời giải đáp đã có ngay trong câu tự hỏi, rằng Việt Nam rồi cũng phải có một ngày như thế, nếu như…Cộng đảng Việt Nam vẫn ngoan cố. Bởi vì tiền đề dẫn đến sự nổi dậy của quần chúng thực tế đã có ở Việt Nam từ lâu, không khác mà còn có phần vượt trội các nước Tunisia, Yemen và Ai Cập, về cường độ và mức độ của các nguyên nhân dẫn đến tình trạng “Tức nước vỡ bờ”.

         Thế nhưng, sở dĩ ở Việt Nam “đã tức nước”“chưa vỡ bờ” là vì tập đoàn đảng trị Cộng sản Việt Nam đã khôn lanh quỷ quyệt thực hiện chính sách “mềm nắn rắn buông”, biết “lùi kịp thời” để thoát hiểm trước áp lực của  nhân dân và đòi hỏi của quốc tế, để kéo dài tuổi thọ cho chế độ độc tài toàn trị cộng sản, đồng nghĩa với kéo dài thời gian cho một tập đoàn thống trị khai thác lợi nhuận độc quyền, bảo vệ các ưu quyền đặc lợi của giai cấp thống trị. Nhờ đó, mức độ “tức nước” của người dân khi gần đến biên độ “vỡ bờ”, thì nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam tìm cách “dừng bơm thêm hay xả bớt nước”bằng chiêu bài “hoãn binh chi kế”. Thực hiện chính sách khôn lanh này, có lẽ là hơn ai hết, họ đã thuộc nằm lòng quy luật đấu tranh giai cấp với luận điểm Marxist- Leninnist về tình thế cách mạng chín mùi, rằng:

         Khi mâu thuẫn giữa giai cấp thống trị và giai cấp bị trị phát triển thành mâu thuẫn đối kháng với mọi giai cấp trong xã hội, là lúc “tình thế cách mạng chín mùi”, cuộc cách mạnh của quần chúng nổ ra nhất định thắng lợi. Vì khi đó giai cấp thống trị hoàn toàn bị cô lập, đến ngay các lực lượng nòng cốt bảo vệ giai cấp thống trị là quân đội, công an mật vụ cũng đứng về phía nhân dân, buông vũ khí không còn giám bắn vào người dân nữa.

         Luận điểm này đã như một quy luật được thực tế chứng minh qua sự sụp đổ tan tành từ nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên Liên Xô, kéo theo sự tiêu vong của cả hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu vào cuối thập niên 1980 và đầu thập niên 1990. Luận điểm này cũng đã manh nha trong các cuộc biểu tình của nhân dân Ai Cập hiện nay, với sự tham gia của hầu hết giai cấp bị trị trong xã hội đang có nguy cơ biến thành mâu thuẫn đối kháng (một mất một còn) của toàn xã hội với giai cấp cầm quyền, và một số nơi biểu tình và nhà tù cảnh sát, quân đội đã bỏ nhiệm sở, tù nhân tự phóng thích….Phải chăng “tình thế cách mạng sắp chín mùi” ở Ai Cập, để cuộc cách mạng của quần chúng nhất định sẽ giành được thắng lợi nay mai?

       Có thể nhờ thấm nhuần luận điểm đã như một quy luật về đấu tranh giai cấp Marxist-Lennist trên đây, cùng những bài học thực tiễn về sức mạnh của quần chúng nhân dân, mà Cộng đảng Việt Nam mới có được kinh nghiệm, thủ đoạn kéo dài được sự tồn tại, không chỉ 30 năm như các nhà độc tài ở các nước đang có sự nổi dậy của quần chúng, mà đã kéo dài chế độ độc tài toàn trị CS, áp bức, bất công hơn nửa thế kỷ qua (1954-1975 trên nửa nước và từ 1975- 2011 trên cả nước).

       Tuy nhiên, kéo dài được tuổi thọ cho chế độ, không có nghĩa là không có ngày tận vong, tập đoàn thống trị độc tài, độc tôn và độc quyền CSVN cũng thừa biết điều này. Có điều, rồi dây liệu tập đoàn thống trị này có đủ khôn ngoan để chọn “một cái chết êm ả trong môi trường mật ngọt” (tự nguyện tự giác trao trả lại quyền làm chủ thực sự cho nhân dân) hay chấp nhận “Một cái chết đau đớn trong môi trường mật đắng” ( bằng sức mạnh vùng lên của quần chúng nhân dân bị áp bức, bóc lột tận qua lâu đến tận cùng).

     Câu trả lời chính xác xin dành cho những người lãnh đạo chóp bu chế độ giả hiệu “Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam” bao gồm: Bộ tứ  Nguyễn Phú Trọng, , Nguyễn Tấn Dũng, Trương Tấn Sang, Nguyễn Sinh Hùng, các thành viên Bộ Chính Trị, Ban Bí Thư, Ban Chấp Hành Trung Ương đảng “Cộng Sản Việt Nam” (giả danh)

       Để góp ý thêm cho câu trả lời và hành động phù hợp với thực tiễn của tập đoàn thống trị Cộng sản Việt Nam, xin được lấy cái nhìn của kinh tế gia, nhà nghiên cứu chính trị nổi tiếng của Pháp là Jacques Attali, trong bài viết tựa đề "Tunisia, rồi sau đó?" đăng trên tờ L’Express hôm 19/01/2011, bình luận về sự kiện ở Tunesia mà ông gọi là “Cuộc cách mạnh hoa nhài”, rằng những gì xảy ra tại Tunisia không phải là điều bất ngờ. Cả thế giới biết rằng thực tế trong ít nhất hai mươi năm nay, làn sóng dân chủ đã tràn qua cả thế giới. lý do không phải bởi các diễn biến chính trị, mà chính vì nền kinh tế thị trường. Đất nước Tunisia, chuyển sang kinh tế thị trường, chỉ có thể trở thành một quốc gia dân chủ. Attali viết, “sau đó sẽ là các trường hợp của Ai Cập, của Việt Nam, Trung Quốc, các nước hạ Sahara ở châu Phi; và sau nữa có thể tới Algeria rồi Syria…”.

       Bởi vì, cũng đúng  như chúng tôi đã nhiều lần dùng thuật ngữ “Môi trường mật ngọt kinh tế thị trường” để lý giải về quá trình  tiêu vong của “chế độ độc tài toàn trị cộng sản” tại Việt Nam theo ý nghĩa câu tục ngữ Việt Nam có giá trị như quy luật “Mật ngọt chết ruồi”. Nghĩa là “Con ruồi cộng sản Việt Nam” đã và đang sa vào và sẽ chết dần trong môi trường “ mật ngọt kinh tế thị trường theo định hướng tư bản chủ nghĩa”.

         Vì chính trong môi trường này: các cán bộ đảng viên cộng sản đã và đang được “Tư sản hoá” (thành các nhà tư bản đỏ, các đại gia…)- Nhà nước cộng sản đã và đang được “Tư bản hoá” (Giải tư các ông ty quốc doanh…) và chế độ độc tài toàn trị đã và đang được “dân chủ hoá” từng bước ( Nhà cầm quyền đã phải trả dần các quyền dân chủ, dân sinh, nhân quyền…).

         Vấn để chỉ còn là ở cuối quá trình “diễn biến hoà bình” này, tập đoàn thống trị Cộng sản Việt Nam có biết khôn ngoan hơn, tự nguyện tự giac trả lại đúng lúc toàn bộ quyền làm chủ cho nhân dân (chế độ dân chủ đa nguyên, đa đảng), hay phải để nhân dân nổi giận dùng bạo lực của quần chúng để đạp đổ bạo quyền, giành lại quyền làm chủ, như nhân dân các nước Tunisia, Yeman và Ai Cập đang làm.

Thiện Ý

Houston, ngày 31 tháng 1 năm  2011

 




Đấu Tranh Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền VN (Vi Anh)

Đu Tranh T Do, Dân Ch, Nhân Quyn Vn…  
Vi Anh

Công cuộc đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN của người Việt trong ngoài nước có còn hợp thời không? Việt Cộng nói lỗi thời. Nhưng sự thật không phải như Việt Cộng nói .
Chủ Nhựt 26 tháng Mười, tạp chí điện tử Cộng Sản có đưa ra một bài  "Dân chủ, nhân quyền – chiêu bài đã lỗi thời của các thế lực thù địch với cách mạng VN", của Ô Nguyễn duy Quý, một cán bộ cao cấp của CS theo thông lệ có nhiều chức lắm, Giáo sư, Viện sĩ, Cựu Viện Trưởng Viện Viện Khoa Học Xã Hội VNCS.
Nhà lý luận CS này có đưa ra một vài luận điểm để biện minh cho quan niệm nhân quyền của Đảng. Thí dụ như Tây và Đông khác nhau, Tây Phương không thể áp đặt quan niệm tự do, dân chủ của mình cho dân tộc VN và Ong còn lôi ra cả nguyên tắc chủ quyền quốc gia, tinh thần độc lập dân tộc Việt để chứng minh quan niệm "nhân quyền cao hơn chủ quyền" là sai.
Lý luận của nhà lý luận CS trên tạp chí CS này không có  gì mới lạ. Từ khi Thế Giới Đại Đồng của chủ nghĩa CS tan vở theo Đông Au và Liên xô; từ khi cuộc đấu tranh giai cấp vô sản tiến lên Cộng sản trở thành đóng tro tàn sau Chiến Tranh Lạnh; từ khi  hai chế độ CS còn sót lại ở Á châu, Trung Cộng và Việt Cộng, " chuyển hệ tư duy, đổi sang kinh tế thị trường", CS Bắc Kinh và CS Hà nội  thường lợi dụng quốc gia chủ nghĩa để tiếp tục lợi dụng người dân, hoá giải áp lực nhân quyền của xu thế thời đại tư do, dân chủ trên thế giới.  Đó là lý luận mà phát ngôn viên ngoại giao của chế độ CS Hà nội, Lê Dũng, đã ra rả lập đi lập lại không biết bao nhiêu lần rồi khi CS Hà nội bị nhân dân, chánh quyển các nước trên thế giới và các tổ chức quốc tế phê bình, chỉ trích, phản đối vì đã vi phạm tự do, dân chủ, nhân quyền đối với chính người dân của mình.
Vì tự  do, dân chủ, nhân quyền là vấn đề của Con Người, của thời đại, có giá trị phổ biến, có tính toàn cầu, một tiến hoá của Nhân Loại.
Quyền sống của Con Người xứng đáng là người không thể nào thấp hơn chủ quyền quốc gia dân tộc mà người dân là người chủ, người làm ra, dựng nước, giữ nước. Không thể lấy chủ nghĩa quốc gia cực đoan để thủ tiêu, hy sinh quyền của người dân là chủ thể như  Trung Cộng và Việt Cộng đang làm sau khi huyền thoại thế giới đại đồng đổ vở sau Chiến Tranh Lạnh.
Nhưng đừng tưởng những lý sự cùn này của những người CS còn sót lại đang thống trị VN, đã và đang chà đạp nhân quyền  của người dân Việt không có tác dụng đối với ngưòi Việt.
Ở hải ngoại nếu Tú Xương sống lại thời này ắt sẽ than, "Chống Cộng ngày nay đã hết thời, Mười người chống Cộng chín người thôi. HO về nước tìm bò lạc. Tỵ nạn về quê kiếm sự đời" như nhiều người bi quan đã thấy. "Những điều trông thấy mà đau đớn lòng" những người Việt tỵ nạn CS ở Mỹ, nơi chứa hơn phân nửa tổng số người Việt tỵ nạn CS trên thế giới. Mỗi năm người Việt tỵ nạn CS gởi về nước khoảng 8 tỷ. Mỗi năm không dưới 300 ngàn lượt người Việt hải ngoại đi về VN. Càng ngày Mỹ càng phát triển bang giao giữa Washington – Hà nội. Nhiều người trẻ tỏ ra cấp tiến, hòa nhập sâu sát với Mỹ, chủ trương bỏ quá khứ ra sau nhìn về tương lai phiá trước, muốn "hoà giải hòa hợp" với CS Hà nội. Thương buôn thì len lỏi về làm ăn, lợi dụng việc CS kềm giá tiền công, bóc lột mồ hôi nước mắt đồng bào, "ăn theo" với CS. Một số báo chí tiếng Việt ở hải ngoại đổi chiều, cầu an, núp dưới chiêu bài độc lập, vô tư của nghề  báo, âm thầm đón gió trở cờ hy vọng CS cho về VN ra báo và  cho quảng cáo ở Mỹ.
Càng ngày càng có nhiều người ở Mỹ, đặc biệt ở Little Saigon thủ đô của người Việt tỵ nạn CS, bớt đi biểu tình chống Cộng, sợ  CS có hình chụp được mình, không được đi VN hay đi VN bị công an làm khó dễ. Càng ngày CS Hà nội càng chiêu dụ Việt Kiều đem chất xám,  giấy xanh về về phục vụ quê hương, miển chiếu khán nhập cảnh, cho tamua nhà đất. Càng ngày CS Hà nội càng mở rộng và làm mạnh Nghị Quyết 36, để lũng đoạn hàng ngũ, phá hoại tinh thần Quốc gia của người Việt hải ngoại.
Tại sao? Tại vì bên cạnh những lý sự cùn đó, CS Hà nội đã dùng nhiều hư chiêu nhưng thực dụng câu móc và lũng đoạn tập thể người dân Việt trong ngoài nước. Trước Nghị Quyết 36 nhằm nhuộm đỏ VN Hải ngoại, Ô Võ văn Kiệt, Nguyễn tấn Dũng, Nguyễn minh Triết nói nhiều, nhiều chuyện lắm, kể cả kiếm chuyện và vẽ chuyện để chiêu dụ "Việt Kiều.". Nào là chuyện quên quá khứ hướng về tương lai đất nước; chuyện ra quyết định dân sự hóa Nghĩa Trang Quân đội Biên Hòa; chuyện ra quyết định giải tư một số lớn quốc doanh; chuyện Thủ Tướng Nguyễn tấn Dũng đi diện kiến Giáo Hoàng Công Giáo La Mã; chuyện Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng CSVN sẽ xét không cho đảng, quân đội, và Mặt trận Tổ quốc làm kinh tế trong đại hội sắp tới; chuyện có thể mời một số "Việt kiều yêu nước" về làm quan sát viên tại Quốc hội; chuyện phát hành sách trắng về Tôn giáo và chánh sách tôn giáo tại VN; chuyện miển chiếu kh&aa
cute;n cho Việt kiều về VN; chuyện cho Việt kiều mua nhà ở VN; và chuyện Việt kiều được ứng cử bầu cử không.
Đừng tưởng những tuyên truyền CS nói trên không có ảnh hưởng trong hàng ngũ người Việt tỵ nạn CS ở hải ngoại. Tin ghi nhận được ở Au châu, có người định đến thảo luận dân chủ với nhân viên sứ quán Cộng Sản Việt Nam ở Hoà Lan vì cho rằng họ rất cởi mở. Có luồng tuyền truyền ngầm về hạ trào chống Cộng "10 người chống Cộng 9 người thôi". Tại sao không về nước nhà cho rõ sự tình, đất nước bây giờ xây dựng lại "giàu mạnh" lắm. CS cũng là người Việt tại sao không đem tiền bạc và kinh nghiệm, kiến thức về xây dựng quê hương. CS bây giờ đâu còn là CS nữa, Mỹ đã vào rồi, tại sao không dựa vào Mỹ về "tham chánh", chia ghế, "dựa vào chánh quyền" phát triển đạo;  chống Cộng làm gì nữa, đấu tranh với CS rồi "tránh đâu." Số ấy tuy tối thiểu số, nhưng có người lén về VN, đi bằng hai đầu gối định xin "chia ghế" nếu không được dân biểu thì làm quan sát viên…
Thực ra đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN, là một cách nói tích cực của việc chống Cộng,  là sự nghiệp của đời người, công trình của thế kỷ, là sự sống còn của  đất nước dân tộc, tuổi thọ tính bằng đơn vị, trăm hay ngàn năm. Không có chuyện hợp thời hay lỗi thời. Tình hình thay đổi, chiến thuật có thể quyền biến. Nhưng cứu cánh chưa đạt thì không thế nói công cuộc đó hợp thời hay lỗi thời. 75 năm  dai dẳng và âm thầm đấu tranh bằng nhiều cách, người dân Nga, các dân tộc bị Liên xô đồng hoá thành cộng hòa trong Liên bang sô viết, và các nước Đông Au mới lật được chế độ CS, có ai nói lỗi thời hay lạc hậu đâu. 
 
                                                                                                                               VI ANH
 




GS SD Nguyễn Viết Khánh: VĂN HÓA VÀ TÔN GIÁOTinh Thần Lưỡng Đảng

Tinh Thần Lưỡng Đảng

Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh

Tổng Thống Barack Obama đã từ trại David trở về Bạck Ốc kết thúc vụ nghỉ hè của ông, sẵn sàng đối phó với những khó khăn đang chờ đợi. Quốc hội cũng hết hạn nghỉ hè và tái nhóm thứ Ba tuần này. Đến thứ Tư, Obama sẽ ra trước Lưỡng viện Quốc hội đề cập đến tất cả những khó khăn đối nội cũng như đối ngoại. Trong các vấn đề này về mặt đối ngoại có hai chuyện cấp bách cần phải có quyết định sớm chớ không thể chần chờ để thương lượng như mọi vấn đề ngoại giao thông thường. Đó là hai cuộc chiến tranh Iraq và Afghanistan, nơi số thương vong Mỹ và đồng minh cũng như dân chúng tiếp tục gia tăng.
Tại Iraq trên toàn quốc hôm thứ Hai đầu tuần có 12 người dân, kể cả 2 trẻ em bị chết vì bom. Trong số này có 8 người chết vì xe bom tự sát ở một trạm kiểm soát tại thị trấn Ramadi, một cứ địa trước đây của al-Qaida. Thị trấn này có 540,000 dân, thuộc tỉnh Anbar nằm ở phía Tây Iraq, tức gần nước Syria. Hồi tháng 9 năm ngoái, Thủy quân Lục chiến Mỹ đã trao quyền kiểm soát bảo vệ an ninh của Anbar cho 28,000 Cảnh sát và 8,000 binh sĩ Iraq. Ngoài ra cũng trong ngày thứ Hai, các vụ tấn công xe hơi ở thủ đô Baghdad đã khiến 2 thường dân chết và 11 người khác bị thương. Đồng thời tại Kirkuk, một thị trấn ít người, hai anh em nhỏ 9 và 14 tuổi đã bị chết vì bẫy mìn trong khi chúng vui chơi. Tính từ ngày 1 tháng 9 đến nay ở Iraq có 450 người Iraq chết – 393 thường dân, 48 Cảnh sát và 15 lính – con số cao nhất từ tháng 7 năm 2008 khi có 465 người chết. Ngày 19 tháng 8 vừa qua, vụ khủng bố tấn công các bộ Ngoại giao và Tài chính của chính phủ Iraq đã giết chết 19 người và làm 600 người bị thương ở ngay Thủ đô Baghdad. Dư luận Mỹ đang đặt câu hỏi liệu chính quyền của Maliki có giữ nổi Baghdad sau khi quân Mỹ rút lui hay không?
Trong khi đó mặt trận Afghanistan còn tệ hại hơn. Đầu tuần này một nhóm độc lập tranh đấu cho Nhân quyền loan báo một vụ bắn phi đạn của chiến đấu cơ NATO hôm thứ Sáu tuần trước nhắm vào 2 xe bồn chở xăng bị quân khủng bố cướp đi, đã làm chết 70 thường dân khi bồn xăng trúng đạn bị nổ tan. Hai phi cơ này là của Không quân Mỹ đã hành động theo lời yêu cầu của bộ Tư lệnh Đức trong thành phần đồng minh của NATO. Ngay từ tuần trước sau khi đánh phá 2 bồn xăng, bộ Tư lệnh Đức đã nói cần phải đánh ngay các bồn xăng vì e ngại bọn khủng bố sẽ dùng làm xe bom tự sát đánh thẳng vào đồn binh của quân Đức trong tỉnh Kunduz gần đó. Mohammad Omar, Thống đốc tỉnh Kunduz nói ông ủng hộ vụ đánh bồn xăng, vì có đến 72 tay súng Taliban vị chết cùng một lúc. Nhưng bọn Taliban cũng ra một thông cáo kêu gọi Liên Hiệp Quốc điều tra vụ oanh kích vì có đến 500 dân làng chết. Vụ Taliban đưa ra con số dân chết quá lớn hiển nhiên là bịa đặt, nhưng vụ đánh hai xe bồn xăng chỉ có 2 tên khủng bố chết, còn dân làng ùa ra ngoài để múc xăng khi xăng chẩy lênh láng, đến lúc lửa bắt tới làm nổ bồn xăng đã khiến 70 người dân chết.
Vụ quân đồng minh NATO dùng võ lực quá đáng cũng gây ra sự bất mãn. Một nhóm Từ thiện đầu tuần này tố cáo quân lực Mỹ đã phá cửa xông vào một bệnh viện hàng tỉnh, bắt trói nhân viên bệnh viện và cả những người từ bên ngoài đến bệnh viện thăm người nhà nằm ở đó. Các vụ dùng sức mạnh quá lố như vậy đã làm dân chúng Afghanistan nổi giận và cả dư luận bên ngoài cũng phê phán. Vì thế tướng Mỹ Stanley McCrystal, vị tư lệnh cao nhất của Mỹ và NATO đã đưa ra những lệ luật rõ ràng để tránh gây thương vong cho người dân. Ông hứa sẽ điều tra vụ phi cơ đánh 2 bồn xăng. Trước tình thế đó đa số dư luận Mỹ đã tỏ ý muốn Mỹ rút quân khỏi Afghanistan.
Vụ tấn công 2 bồn xăng cũng làm dư luận ở Đức phẫn nộ, báo chí Đức loan tin và đưa ra những hình ảnh những người chết nằm la liệt ở gần nơi xẩy vụ không kích, làm gia tăng phong trào chống chiến tranh Afghanistan ở nước Đức. Hiện có 4,200 quân Đức đóng ở Bắc Afghanistan – đây là thành phần quân lớn thứ ba sau Mỹ và Anh trong khối NATO. Đức rất ngần ngại, không muốn gia tăng thêm quân ở nơi này, trái với chủ trương hiện nay của NATO. Dân Đức sợ lính của họ sẽ chết thêm. Đối với dân Đức hiện nay, vụ quân Đức tham chiến ở nước ngoài chỉ gợi lại cho họ những hình ảnh không vui của thời quân phiệt Đức Quốc xã. Tổng Thống Obama đã có quyết định từ trước là sẽ tăng thêm quân Mỹ ở Afghanistan. Nhưng tình thế có vẻ đã có những biến chuyển mới. Ngày 28-8, Afghanistan đã có cuộc bầu cử Tổng Thống, cho đến nay vẫn chưa có kết quả chính thức. Tin mới nhất cho biết cựu Tổng Thống Karzai đã dẫn đầu 54%, nhưng đối thủ Abdullah Abdullah liên tục tố cáo Karzai gian lận trong việc kiểm phiếu. Một Ủy hội kiểm tra độc lập được LHQ ủng hộ đã yêu cầu xét lại kết quả bầu cử. Sự nghi ngờ có gian lận sẽ gây khó khăn cho Tây phương trong nỗ lực ổn định tình hình Afghanistan và tạo sự ủng hộ của dân chúng trong công cuộc tiễu trừ bọn Taliban.
Về mặt đối nội TT Obama gặp những khó khăn chồng chất về việc biểu quyết ngân sách quốc gia, liên quan đến một vụ đã được dân ch&uacute
;ng theo dõi từ lâu qua các màn tranh cãi đối nghịch gay go giữa hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ về Bảo hiểm Y tế. Tối thứ Tư khi ông ra trước Quốc Hội Lưỡng viện, đó là một sự thử thách rất lớn cho 8 tháng đầu của nhiệm kỳ Tổng Thống của ông. Mặc dù đảng Dân Chủ có đa số tại cả hai viện, nhưng cả hai đảng đều có những phần tử cực đoan chống lại sự cải cách Bảo hiểm y tế. Khi còn ở trại David thứ sáu tuần trước, Obama đã nói chuyện với Chủ tịch Hạ viện, bà Nancy Pelosy, và Thượng nghị sĩ Harry Reid, lãnh tụ đa số Dân chủ tại Thượng viện.
Tại Ủy ban Tài chính Thượng viện hiện nay có một nhóm 6 Nghị sĩ, 3 Cộng Hòa và 3 Dân Chủ, đang nỗ lực tìm một sự dung hòa giữa hai đảng để thông qua đạo luật Cải tổ Bảo hiểm Y tế của TT Obama. Trong nhóm này có TNS Max Baucus (Dân Chủ) đề nghị kế hoạch lập các hãng bảo hiểm không lấy lời để cạnh tranh với những công ty bảo hiểm lấy lợi nhuận như hiện nay vẫn có. Baucus cho biết ông sẽ đưa ra đề nghị này nếu cho đến ngày 15 tháng 9 vẫn không đạt được sự dung hòa giữa hai đảng về Bảo hiểm Y tế. Báo New York Times cũng ghi nhận một yếu tố rõ rệt nhất của đề nghị cải tổ Bảo hiểm Y tế do Obama đưa ra là làm cho kế hoạch của chính phủ cạnh tranh với Bảo hiểm của các đại công ty tư nhân, để bớt gánh nặng cho ngân sách quốc gia. Liệu hai bên Cộng Hòa và Dân Chủ có đi đến sự dung hòa theo tinh thần hợp tác lưỡng đảng không? Chúng tôi mong có chuyện đó. Chúng tôi thiết nghĩ tinh thần lưỡng đảng có nghĩa là làm việc có lợi cho dân, không phải cho bất cứ đảng nào hay cho cả hai đảng. Nếu thiếu yếu tố đó, tinh thần lưỡng đảng sẽ không còn ý nghĩa gì nữa.

 SƠN ĐIỀN NGUYỄN VIẾT KHÁNH