• Tin tức

    Cử tri Mỹ sắp hàng đi bỏ phiếu sớm

    Nhiều cử tri Mỹ chấp nhận xếp hàng nửa ngày để bỏ phiếu trước 3 tuần, do lo ngại các phương thức bầu cử khác không an toàn giữa Covid-19.

    Johnta Austin, một cử tri ở bang Georgia, hôm 13/10 chia sẻ lên Twitter video cho thấy anh đã xếp hàng suốt 11 tiếng để được bỏ phiếu sớm. “Một hành trình dài nhưng sẽ không ở nơi nào khác! Mọi người hãy đi bầu!”, Austin viết.

    Georgia cùng với Texas là hai bang tuần này bắt đầu tổ chức bỏ phiếu sớm, với nhiều hạt ghi nhận số phiếu kỷ lục trong ngày. Các bang khác như Virginia thậm chí bắt đầu bỏ phiếu sớm trực tiếp từ tháng 9 và cũng ghi nhận những số liệu tương tự.

    Có 39 bang của Mỹ cho phép bỏ phiếu sớm trực tiếp, với khung thời gian tổ chức khác nhau. Đây là cách thức bầu cử thông dụng với công dân Mỹ, do ngày bầu cử chính thức luôn rơi vào thứ ba và chưa bao giờ là ngày nghỉ lễ.

    Năm 2016, khoảng 36% cử tri Mỹ đã bỏ phiếu trước ngày bầu cử. Năm nay, cách thức bỏ phiếu này dường như trở nên phổ biến hơn cả. Theo số liệu của Dự án Bầu cử Mỹ thuộc Đại học Florida hôm 12/10, gần 10,3 triệu người Mỹ đã bỏ phiếu bầu tổng thống sớm, cao gấp nhiều lần so với cùng thời điểm này năm 2016.

    Tuy nhiên, sự nhiệt tình của cử tri cũng dẫn tới sự cố. Các máy bỏ phiếu mới ở bang Georgia bị lỗi kỹ thuật, một số điểm bỏ phiếu thiếu nhân viên, trong khi hạt đông dân nhất ở Texas chỉ có một điểm bỏ phiếu duy nhất sau quyết định gây tranh cãi của tòa án.

    Đại dịch Covid-19 hoành hành khiến nhiều cử tri e ngại cảnh đông đúc vào ngày bầu cử, thúc đẩy họ đi bầu cử sớm. Ngoài ra, sự chia rẽ của chính trị Mỹ đang truyền cảm hứng cho nhiều người đi bầu hơn.

    Một lý do nữa khiến nhiều người đi bỏ phiếu sớm là những lo ngại xung quanh việc bầu cử qua đường bưu điện. Nhiều vụ kiện tụng, chủ yếu từ phía đảng Cộng hòa và chính quyền Tổng thống Donald Trump, đang diễn ra khắp nước Mỹ về một loạt vấn đề thủ tục với việc bỏ phiếu vắng mặt và qua thư.

    Tại bang Wisconsin, đó là tranh cãi về ngày hết hạn kiểm đếm phiếu bầu qua thư. Tại Texas, đó là kéo dài thời gian bầu cử sớm. Bang Ohio đang đòi thêm hòm phiếu và bang Bắc Carolina đang tranh cãi về việc yêu cầu người làm chứng cho phiếu bầu vắng mặt.

    Tổng thống Trump luôn phản đối việc bỏ phiếu qua thư vì cho rằng hình thức này dễ dẫn tới gian lận, dù dữ liệu cho thấy điều này hiếm khi xảy ra trong bầu cử Mỹ.

    Những cử tri chọn bỏ phiếu sớm trực tiếp có thể phải chờ đợi tới 11 tiếng, nhưng các chuyên gia cho rằng nên thận trọng khi đánh giá tình hình thực tế.

    “Nguồn lực bầu cử có hạn, nhất là trong đại dịch”, Rick Hasen, giáo sư luật bầu cử ở đại học California-Irvine, cho hay hôm 12/10. “Sự nhiệt tình trong ngày đầu bỏ phiếu sớm dẫn tới những hàng người dài không có nghĩa là hệ thống có vấn đề. Hãy chờ thêm vài ngày nữa. Những gì xảy ra vào ngày đầu tiên có thể không tái diễn vào các ngày tiếp theo”.

    Nghiên cứu cho thấy những dòng người xếp hàng dài chủ yếu phổ biến ở những khu vực nhiều người thiểu số và cử tri thu nhập thấp. Các nhà nghiên cứu đã dùng dữ liệu điện thoại di động năm 2019 để theo dõi sự chênh lệch trong thời gian chờ đợi và phát hiện ra rằng các khu dân cư với đa số là người da màu có thời gian chờ đợi bỏ phiếu lâu hơn 29%.

    Khả năng những cử tri da màu chờ đợi từ một giờ trở lên so với cử tri da trắng cao gấp 7 lần. Cử tri da màu cũng ít tin tưởng hơn vào hình thức bỏ phiếu bầu qua thư. Nghiên cứu cho thấy phiếu bầu qua thư của họ thường bị từ chối nhiều hơn.

    Tại hạt Fulton đông dân nhất bang Georgia, giám đốc bầu cử Rick Barron khuyến khích các cử tri đã yêu cầu phiếu bầu vắng mặt sử dụng hình thức này, gửi phiếu bầu qua đường bưu điện hoặc trong ở hòm phiếu bất kỳ, thay vì trực tiếp đi bầu.

    Khi một người ban đầu yêu cầu bỏ phiếu qua thư, nhưng sau đó lại đến điểm bỏ phiếu để bầu trực tiếp, họ sẽ gây mất nhiều thời gian hơn vì phiếu bầu qua thư phải bị hủy. Điều này khiến những người khác chờ đợi lâu hơn, ông Barron giải thích.

    Khoảng 1,6 triệu người dân Georgia đã yêu cầu phiếu bầu vắng mặt, trong đó, gần 474.000 phiếu đã được bỏ và chấp nhận.

    Estela Cisneros, 33 tuổi, ở thành phố Houston, bang Texas, cho hay những lo ngại về Covid-19 trong kỳ bầu cử này rất nghiêm trọng, đặc biệt với các cộng đồng da màu và thiểu số, những người chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của đại dịch. Tuy nhiên, cuộc bầu cử năm nay cũng rất quan trọng.

    “Tất cả những gì tôi thực sự có thể nói với mọi người là hãy đi bỏ phiếu. Tôi sinh ra ở đây và thông qua phiếu bầu, tôi sẽ nói lên tiếng nói của những người giống tôi”, Cisneros nói.

    Theo Internet

  • Tin tức

    Ba bảng hiệu làm lung lay nền Quân Chủ Vương Quốc Thái Lan

    Thái Lan là một quốc gia có một nền quân chủ lâu đời tại Đông Nam Á, 90% dân chúng tôn sùng giáo lý đạo Phật, một lòng tôn kính Quốc vương và triều đình. Vào tháng 6 năm 1932, một cuộc cách mạng đã lật đổ chế độ

    Quân chủ phong kiến, hình thành một cơ cấu chính trị hợp hiến, do dân bầu ra. Bốn năm rưỡi sau, một trong những nhà lãnh đạo của cuộc cách mạng và thủ tường đầu tiên sau cách mạng Phraya Phahol đã tổ chức một buổi lễ

    nhỏ, đặt một tấm bảng nhỏ vào vị trí nơi ông đã tuyên bố kết thúc chế độ quân chủ lập hiến.

    Trên đó có giòng chữ: “ Tại đây, vào rạng sáng ngày 24 tháng 6 năm 1932, đảng Nhân Dân đã công bố hiến pháp vì sự tiến bộ của đất nước “ Nhưng đến tháng 4 năm 2017, tấm bảng này đã bị thay thế một cách bí mật. Được thay thế bởi một tấm bảng mới với một thông điệp khác : “ Yêu mến và tôn trọng ba ngôi nhà Phật, quốc gia, gia đình mình và một lòng trung thành với Quốc vương, sẽ mang lại thịnh vượng cho đất nước “.

    Hình ảnh một tấm bảng mới được lắp đặt ở Bangkok vào tháng 4 năm 2017

    Vào tháng bảy vừa qua, những người biểu tình đã gắn một tấm bảng đồng trên Sanam Luang gần cung điện hoàng gia. Trên tấm bảng đã có giòng chữ :” Thái Lan thuộc về nhân dân, không phải của Quốc Vương “

    Chế độ quân chủ Thái Lan đã được bảo vệ bởi Điều 112 của bộ luật Hình sự của nước này, quy định bất cứ ai xúc phạm hoặc đe doạ nhà vua, hoàng hậu và triều đình sẽ bị bỏ tù từ 3 đến 15 năm .

    Tháng sáu, Thủ tường Thái Lan Prayuth đã cho biết luật này không còn được áp dụng vì “ Lòng thương xót cuả bệ hạ “

    Bảng hiệu mới do những người biểu tình đã là một thách thức cho nên quân chủ lâu đời.

    Tấm bảng mới cuả những người biểu tình “ Thái lan là của Nhân dân, không thuộc về nhà vua “

    Nhưng ngày thứ Hai 21 tháng 9 năm 2020, không đầy 24 tiếng sau, tấm bảng đã bị gỡ bỏ.

    Sau khi tấm bảng bị gỡ bỏ, các cuộc biểu tình càng ngày càng đông, rầm rộ.

  • Văn Thơ

    Lá Thu

    Theo lẽ tuấn hoàn, năm nào cũng có bốn muà , chuyển dần từ nóng sang lạnh , rồi lại trờ lại từ lạnh sang nóng, có lẽ để dễ dàng thích hợp với những chuyền động đổi thay , tạo hoá đã ban cho ta những khoảng thời gian chen giữa hai thái cực, mà người đời chọn cho hai cái tên Xuân và Thu , rối cũng vì hai cái tên đó mà lòng người cứ mãi vấn vương dao động . nhưng hơn cà, Thu vẫn gieo vào lòng nhân thế những nỗi buồn nhè nhẹ man mác, không  biết từ tiết trời đổi thay, từ những tiếng lá lao sao lay động vào nhau trong cơn gió nhẹ, từ những sắc lá đổi mầu lẫn lộn , cũng có thể lả hình ảnh những chiếc lá khô lìa cành, bay lượn đong đưa trước gió, là người đa sầu đa cảm , làm sao tránh khỏi những rung động cảm xúc, nhũng lần xa cách , biệt ly, những mất mát lại ẩn hiện trở lại trong ánh mắt xa săm thẫn thờ. Lâu lắm rồi, trong những vần cổ thơ, còn nói :

    “ Một lá Ngô đồng rơi

    Cả thiên hạ biết Thu đến … ”

    Quả là hơi quá, chốn trần gian nhộn nhịp , chỉ có những tâm hồn nghệ sĩ

    lãng mạn mới dành thì giờ ngắm hoa tươi nhìn lá rụng, hồn lặng đi mà

    quên đi chuyện thế sự.

    Một lần thơ thẩn ngồi đợi nắng lên bên bờ giòng suối, nhìn những

    chiếc lá muôn màu, đuổi rượt nhau miệt mài trên giòng nước quanh

    co, lúc trồi lên lúc hụp xuống, tưởng chừng như bị cuón hút mất đi.

    Nhưng chợt thấy , bên bờ suốí, cũng có những chiếc lá gặp duyên,

    trôi giạt vào bên bờ suối, “Đến bờ kia “ thảnh thơi nằm phơi nắng Thu

    xen cùng những tảng đá rêu phong, thoát khỏi trầm luân

    Còn trong cõi nhân gian sinh tử vô thường, nếu vượt qua được giòng

    đời phiền nào, là đến được chốn thảnh thơi , an nhiên tự tại ./.

    ***

    Thu tịch lữ hoài

    “ Tối muà Thu nhớ nhà “ thơ Lý Bạch, cụ Tản Đà dịch

    Lạnh lùng gió vượt bể thu,

    Hồn quê theo gió như vù vù bay.

    Chạy dài dãy núi liền mây,

    Nước trôi trôi mãi có ngày về chăng?

    Đám mây vút mắt xa chừng,

    Đứt tươm khúc ruột dưới vừng trăng soi.

    Cỏ thơm đẹp mướt thôi rồi,

    Áo may mặc rét giục người móc sa!

    Giấy mơ rơi giải Ngân hà,

    Sao thưa lác đác tỉnh ra khắp trời.

    Đoái thương nước cũ ngậm ngùi,

    Khóc thương giọt lệ lau chùi đố ai?

    Năm nay, 2020 là một năm lắm nỗi đau thương trên cõi trần gian, vốn dĩ đã mang nhiều gian truân nhọc nhằn. Theo ngày tháng, Thu sang đã gần một tháng rồi, trần gian như chưa sẵn sàng đón rước nàng Thu trở lại với chúng ta. Tiết trời chưa hạ giảm cơn nóng nực của muà hè “ lovely summer“ của bà thị trưởng Seattle, vẫn chưa nghe tiếng lá vàng bay lượn lao sao trong từng cơn gió, vẫn chưa thấy lá khô chạy đuổi từng cơn trên hè phố. Hay nàng Thu còn e dè chuyện cảm cúm lăng nhăng, hay quên mang theo khẩu trang, phải trở lại lấy mang theo cho hợp thời trang chốn trần thế.Vượt lên trên, lặng nhìn chuyện thế gian, dọc ngang khó mà phân biệt , đúng sai khó lường, lầm lạc trong chốn thức tình. Mê lầm che khuất nhân tình, tối tăm không biết đường ra lối vào. Tranh cãi chuyện hơn thua nhất thời. Mờ mịt, nổi trôi trong những cảm xúc vô minh. Nhưng rồi cùng với sự chuyển động không ngừng của vũ trụ, mọi chuyện đều phải đổi thay trong từng phút giây, không một điều gì tồn tại mãi mãi trong chốn vô thường.

    Ao Thu

    Tóc trắng xoã ê chề

    Sầu đời dài lê thê

    Gương trong mà mù mịt

    Sương Thu che lối về

    ( thơ Lý Bạch )

    ***

  • Tài liệu

    HỐ THIÊN THẠCH 50000 NĂM TUỔI

     Nhìn từ trên cao , hố thiên thạch khổng lồ này thường bị nhầm là núi lửa .

     Hố thiên thạch Barringer là một trong những hố sâu khổng lồ trên trái đất , hình thành do va chạm với thiên thạch .

     Hố này nằm ở phía bắc sa mạc Arizona , cách thành phố Las Vegas – Mỹ khoảng 300 dặm .

     Hố nằm ở độ cao trên mặt nước biển khoảng 1.740 m .

     Đường kính 1.200 m , sâu 170 m và được bao quanh bởi vành đai 45 m so với đồng bằng xung quanh .

     Hố sâu này được tạo nên , một trong những vụ rơi thiên thạch Vevivs hego 300.000 tấn và bay với vạn tốc khoảng 45 đến 60.000 km / giờ .

     Bởi kích thước khổng lồ . Trước năm 1960 , mọi người tưởng nhầm đây là miệng núi lửa .

     Một trong những đặc điểm thú vị của hố thiên thạch 50.000 năm tuổi này là , định dạng hình vuông của nó . Có thể thấy rõ nếu nhìn từ trên cao .

     Điều này được cho là do các mối nối khu vực hiện tại ( các vết nứt ) ở tầng địa chất tại nơi đây tác động .

     Sở hữu địa hình gồ ghề , khắc nghiệt đáng sợ . Được ví như mặt trăng trên trái đất .

     Khu vực hố thiên thạch là một trong những nơi đào tạo các phi hành gia , trước khi lên mặt trăng .

     Hố thiên thạch cũng là điểm du lịch nổi tiếng của Arizona , thuộc sở hữu tư nhân Barringer .

     Tại đây , du khách có thể ghé thăm các triển lãm về thiẻn thạch , tiểu hành tinh , không gian , hệ mặt trời và Sao Chổi .

     Điều thú vị là du khách có thể thấy thiên thạch nặng 637 pound , được tìm thấy trong khu vực cũng như các mãnh vỡ của miệng núi lửa thiên thạch , được tìm thấy ở Arizona .

     Thiên thạch nặng 637 pound được trưng bày tại điểm du lịch hố thiên thạch Barringer .

     Người dân địa phương thường đồn đại về sự xuất hiện của UFO ở khu vực này .

  • Tạp ghi

    Lại nói chuyện người tử tế

    !0/3/2020

    Tho Nguyen

    Ngày bức tường Berlin bị phá bỏ 9.11.1989 và cả ngày thống nhất nước Đức 3.10.1990 tôi đang ở Việt Nam. Thiếu thông tin nên tôi có cảm giác lẫn lộn. Mừng vì đất nước Đức mà tôi đã gắn bó từ năm 1967 nay thống nhất mà không tốn xương máu. Khi còn là cậu thanh niên 16-17 tuổi, tôi đã chứng kiến sự chia ly của các gia đình Đức nên hiểu nỗi đau của họ.

    Tuy biết Đức sẽ khác xa Việt Nam sau 1975, nhưng tôi vẫn lo, không biết số phận của thầy cô và bạn bè tôi sẽ ra sao trong tình hình mới. 

    Ngay từ khi sang Đức định cư 1991, tôi lập tức lần mò tìm lại gần hết những thầy cô, bạn bè xưa. Điều hạnh phúc nhất là không ai trong số đó phải bất hạnh vì số phận, kể cả những người từng hợp tác với STASI để theo dõi đồng nghiệp.

    Con người và cuộc sống ở CHDC Đức (Đông Đức) trong bốn năm 1967-1971 đã để lại cho tôi nhiều kỷ niệm đẹp. Nay tôi hay rủ bạn bè trở về trường cũ ở thị trấn nhỏ Königs Wusterhausen để thăm lại những ông bà giáo già. Mỗi lần như vậy, họ lại có dịp được gặp nhau, ăn cơm Việt Nam, nghe nhạc Việt nam. Người nào không tự đi được, chúng tôi cử nhau đón đưa. Nhiều người trước kia không hề thân nhau, giờ đây trở nên thân thiết, gắn kết với nhau.

    Họ bảo: Học sinh Việt Nam các em đã trở thành cầu nối của chúng tôi.

    Họ đã thành người thân của tôi. Có chuyện gì các ông bà đều gọi cho tôi để tâm sự. Ôn lại chuyện hơn 50 năm trước, chúng tôi vui, cười bò vì những trò ấu trĩ. Các thầy cô thì tự hào về những gì họ đã làm được cho kỹ nghệ điện tử phát thanh truyền hình trong điều kiện bế quan tỏa cảng với phương tây hồi đó.

    Hôm nay, trong khi dân cư mạng xôn xao về vụ tranh cử đầy bùn ở Mỹ, về vụ ông Trump bị ám Covid-19, tôi chỉ viết về những người Đông Đức tử tế mà tôi được biết.

    Chính những người dân Đông Đức bình dị đã tự tay xóa bỏ bức tường, chính họ là người đã mở đường cho công cuộc thống nhất trong hòa bình chứ không phải thế lực phương tây nào. Điều này được cả nước Đức khẳng định hàng năm, mỗi khi nói đến ngày 9.11, hay 3.10.

    Trước mùa thu 1989, những người Đông Đức này đều là công nhân, viên chức, bộ đội, cảnh sát, giáo viên, mậu dịch viên v.v. trong một nhà nước mà quyền công dân bị thu hẹp đến mức tối thiểu. Áp bức, lừa dối, xuyên tạc ngự trị sinh hoạt xã hội. Mọi người dân vẫn sống và thực hiện nghĩa vụ công dân trong cái khuôn đó. Nhưng cái khuôn khổ chật hẹp, đầy rẫy dối trá đó không thể tiệu diệt được hết mầm mống của sự tử tế trong đa số người dân.

    Mọi việc bắt đầu vào ngày 7.5.1989, khi một số sinh viên Leipzig phát hiện ra vài vụ gian lận bầu cử hội đồng địa phương. Các bạn kêu gọi biểu tình và tối hôm đó chỉ có 50 bạn trẻ đến dự ở quảng trường thành phố. Lập tức cảnh sát ra tay đánh đập đám sinh viên. Không ngờ bên cạnh đó có rất đông dân chúng đang dự một lễ hội. Chứng kiến cảnh đông đảo cảnh sát đánh đập một nhóm thanh niên nhỏ ôn hòa, dân chúng bỗng thịnh nộ đứng về phía 50 sinh viên. Sự áp đảo của dân chúng khiến cảnh sát phải lùi bước. Ngay tối hôm sau 8.5, sự việc tái diễn. Lần này dân chúng không ai bảo ai kéo đến bảo vệ những người làm lễ thánh trong nhà thờ Nikolai bị công an bao vây. Lý do bao vây vẫn là đề tài „Gian lận bầu cử“ được thuyết trình trong nhà thờ.

    Ngọn lửa từ những người bất đồng chính kiến ít ỏi đã lây sang đám đông quần chúng xưa nay chẳng quan tâm đến thời cuộc. Cứ như thế làn sóng dâng lên dần, dẫn đến các cuộc „Biểu tình ngày thứ hai“[1].

    STASI càng ra tay, sự tức giận càng tăng. Lúc đầu chỉ có 1.200 người đi biểu tình, dần tăng lên đến hàng trăm ngàn người. Đỉnh điểm là cuộc biểu tình ngày 6.11.1989 tại quảng trường Alexander ở Berlin với gần 1 triệu người tham dự [2].

    Ba ngày sau bức tường „sập“.

    Bức tường sập, đơn giản chỉ vì có nhiều người Đông Đức bình thường không muốn công an đánh con cháu mình, đơn giản vì nhiều nhà giáo không muốn phải nói dối mãi về lịch sử, đơn giản vì những cô cậu thanh niên không muốn cứ phải nghe kết quả bầu cử 99% năm này qua năm khác, vì có những phóng viên truyền hình đã quyết nói lên sự thật, bất chấp lệnh trên[3].

    Trong khi đó, không ít kẻ ác tìm mọi cách phá hoại hạnh phúc của nhân dân, chỉ để giữ quyền lực. Những kẻ này không tiếc máu.

    Nhưng bức tường sập mà không đổ máu vì có những sỹ quan STASI như Harald Jäger, tuy trung thành với đảng SED nhưng chấp hành đúng kỷ luật của Đức. Anh chỉ cho phép nổ súng khi bị tấn công[4]. Ở vào những giây phút quyết định, sự tử tế lương thiện cuối cùng đã thắng. Chỉ cần cái thiện nhỉnh hơn cái ác là van được mở. Đó chính là phẩm chất của một dân tộc.

    Phẩm chất đó được hình thành lâu dài qua nếp sống văn minh, có kỷ cương. Ngày nay nước Đức thống nhất ca ngợi 14 cầu thủ Đông Đức đã trung thành với nghĩa vụ công dân đến cùng trong trận đấu ngày 12.9.1990 với Bỉ [5]. Không phải cầu thủ nào của Đức cũng như vậy, nhưng cái chất của dân tộc này đủ tập hợp 14 người con. Ở đâu cũng có người tử tế. Nhưng nếu chỉ có 9 hoặc 10 cầu thủ thì đã không có cuộc đấu lịch sử để chứng tỏ phẩm chất của dân tộc.

    Phẩm chất đó không phải của chế độ nào.

    Sau ngày 3.10.1990, nước Đức vật vã chuyển mình. Nhưng mối lo của tổng thống Pháp F.Mittrand và thủ tướng Anh M.Thatcher về môt chủ nghĩa Xô-Vanh Đức chỉ dẫn đến một nước Đức hòa bình đến mức nhũn nhặn.

    Thiên đường TBCN mà một số người Đông Đức hy vọng đã trở thành hiện thực buồn bã. Nạn thất nghiệp ở Đông Đức tuy nay đã xuống mức 7% (so với 5% ở miền Tây), nhưng trong những năm 1990 đã từng ở mức 23%. „Bức tường trong đầu“ phân chia Đông-Tây dần dần thay thế bức tường thép gai.

    Khoảng cách về tích lũy của từng gia đình Đông và Tây Đức hiện tại là 60.000 – 21.000 EURO. Lý do: Tư hữu ở miền Đông bị xóa bỏ suốt 45 năm, nay phải làm lại từ đầu, trong khi quá trình này liên tục từ nhiều thế kỷ ở miền Tây. Nhưng điều đó không cản trở miền Đông vươn lên đạt 76% năng lực công nghiệp của miền Tây. Năm 1990, năng suất lao động miền Đông khoảng 30% của miền Tây, nay đã đạt 86% (quy ra lương). Tuy nhiên do giá sinh hoạt ở miền Đông rẻ hơn nên không có chênh lệch nhiều về mức sống.

    Có một nghịch lý nhỏ là dân Đông Đức lĩnh lương hưu nhiều hơn các cụ phía Tây. Một phần vì trước kia họ làm viên chức nhiều và phụ nữ đa số đi làm.

    Trong quá trình cải tạo miền Đông, người dân Tây Đức đã bỏ ra khoản tiền khổng lồ hàng ngàn tỷ EURO để giúp đỡ đồng bào mình trong suốt 30 năm qua. Thay vào đó, nền quản lý và chính trị miền Tây đã được tạo dựng ở miền Đông. Chỉ có một số ít thành tựu của miền Đông được đưa sang miền Tây.

    Tôi có thể đưa ra nhiều con số khác nữa để chứng tỏ bức tường trong đầu dân Đức là có cơ sở.

    Nhưng dù sao có đến 75% người Đức coi qua trình thống nhất đất nước là một thành công, chỉ 23% coi đó là thất bại.

    Cái đáng nói ở một xã hội dân chủ, tử tế là ở chỗ: Đa số cảm thấy có trách nhiệm phải làm sao hiểu và giúp đỡ 23% kia. Không ai coi họ là phản động hay bất mãn.

    Köln 3.10.2020

    [1] Montagsdemonstration https://en.wikipedia.org/…/Monday_demonstrations_in…

    [2]Ủy viên bộ chính trị đảng SED Günter Schabowski hôm đó cũng thay mặt đảng SED đến đối thoại với phe đối lâp. Phe đối lập thì chưa hình thành, chẳng có ai lãnh đạo cả

    [3] Trung tâm truyền hình Rostock bắt đầu đưa tin về các cuộc biểu tình từ tháng 10.1989, bất chấp lệnh của đài chủ quản từ Berlin.

    [4] https://www.facebook.com/tho…/posts/1414934981857904

    [5] https://www.facebook.com/tho.nguyen.9231/posts/4734892423195460

    Gặp gỡ các thầy cô hè 2019

    Gặp gỡ các thầy cô hè 2004

    Tích lũy trung bình của các gia đình Đông và Tây tính theo đơn vị nghìn EUR

  • Thơ

    Nhớ người


    Nhớ người từ chốn nghìn trùng
    Nhớ người tan nát tận cùng thịt da
    Nhớ hoang sơ, nhớ thật thà
    Nhớ yêu dấu rất mặn mà tháng năm
    Nhớ thương dáng đứng, ngồi, nằm
    Nhẹ như gió thoảng, thì thầm trăng sao
    Nhớ trong giấc ngủ, chiêm bao
    Nhớ trong tiếng hát gọi chào bình minh
    Nhớ từ thuở rất điêu linh
    Nhớ đời những lúc gập ghềnh, gian nan
    Tay trong tay vẫn dịu dàng
    Ta chưa một phút bẽ bàng cho nhau
    Nhớ người, nhớ trước, nhớ sau
    Nhớ trăm năm đã đi vào trăm năm


    NK-TNC

  • Tham luận

    “LUẬT” CHO PHẠM DOAN TRANG

    11-10-2020 

    TUẤN KHANH

    Trong những ghi chép của tôi về Phạm Đoan Trang, có rất nhiều chi tiết mà hôm nay khi lật xem lại, nối kết với nhau, chợt thấy đã đủ trở thành một cuốn sách biểu trưng, mô tả hành trình một thanh niên lớn lên từ nền giáo dục xã hội chủ nghĩa, bật ra nhận thức giữa những vòng thép gai tuyên truyền, lên tiếng và trở thành một biểu tượng của thế hệ Việt Nam sau 1975, quyết dấn thân cho một lý tưởng vì đất nước mình.

    Nhưng điều quan trọng là hành trình đó đã cùng lúc giúp mô tả rõ luật pháp Việt Nam, tương tự như một loại vàng mã được đốt quanh năm để nhảy múa, ma mị trước mắt nhân dân, nhưng vô nghĩa. Và dù không cố tình, nhưng chính Phạm Đoan Trang đã trở thành nhân vật chính, dẫn dắt một câu chuyện hấp dẫn khiến mọi thứ lộ ra rõ ràng trong máu và nước mắt của cô, về cái gọi là luật pháp. Tôi mở lại lịch sử cuộc tranh đấu cá nhân ngắn ngủi ấy trong đêm, rồi tần ngần trước ba cột mốc chính của Phạm Đoan Trang, dự báo nhiều điều cho hôm nay của cô, mà tôi chép lại sau đây.

    Phạm Đoan Trang chủ trương đấu tranh bằng lý lẽ, chữ nghĩa. Nhưng vây quanh cô thì rất khác, rất “luật pháp”. Cột mốc đầu tiên, đó là tháng 4-2017. Sự căng thẳng vây quanh Trang đã dâng cao. Giới công an viên Hà Nội đã cất sự mềm mỏng, vui vẻ vào hộc bàn, họ dùng đến các phương tiện khác, đời thật hơn. Cuộc diễu hành bằng xe đạp tưởng niệm một năm chuyện Formosa gây cá chết ở các bờ biển miền Trung bị công an ngăn cản ở Hà Nội. Và dù không có mặt trong đoàn xe, Phạm Đoan Trang cũng bị đưa về cơ quan làm việc.

    “Địt mẹ con mặt l.!” – Trang kể rằng một công an viên trẻ, sau khi không nói được lý do vì sao đưa Trang vào đồn, đã chỉ mặt Trang, quát. Khi bị Trang phản ứng lại, anh này cũng không nói gì được, lại quát “Thứ mày thì tao đái vào mồm ấy”. Sự việc diễn ra trước mặt vài viên công an, và cả những phụ nữ của ngành ngồi nơi đấy. Nhưng tất cả đều im lặng. Câu chuyện khi ấy, nó giới thiệu cho biết sự khởi đầu của giai đoạn phía an ninh không còn đối xử với Trang là một người dân phản ứng vấn đề xã hội bình thường nữa. Sau cuộc bắt giữ không luật ấy, cuộc đời nhà báo Phạm Đoan Trang bắt đầu đối diện với những điều còn khốc liệt hơn.

    Cột mốc thứ hai, tháng 6-2018, khi Sài Gòn và Hà Nội liên tiếp nổ ra những cuộc biểu tình để nhắc lại tình hình môi trường bị tàn phá, cũng như phản đối luật an ninh mạng và luật đặc khu. Trang cũng xuống đường đi bộ cùng mọi người. Sự kiện đáng nhớ là lần ấy, một thanh niên trẻ khỏe im lặng cứ đi bên cạnh Trang. Dù có chút nghi ngờ, nhưng Đoan Trang nghĩ rằng chắc là sẽ không làm gì có hại, ngoài việc theo dõi.

    Nhưng không. Vào lúc ồn ào, chộn rộn, bằng một cú dẫm vào bàn chân Trang hết sức nghiệp vụ để giữ lại, tay thanh niên lại đạp bồi thêm một cú vào phía dưới đầu gối khiến Trang quỵ xuống lập tức, kết quả là ngay lập tức khớp chân sưng lên ngay, tổn thương nặng. Anh thanh niên biến mất. Cứ tưởng là một chấn thương nhỏ và sẽ sớm hết trong vài ngày, nhưng rồi vì tình hình đau đớn kéo dài khiến Trang phải đi bệnh viện. Không thể giải thích nổi là vì sao cả hai nơi Trang đến khám, sau khi chụp X-quang, các bác sĩ đều bảo đó là chuyện không có gì để đáng quan tâm. Cho đến khi cảm thấy mọi thứ quá bất thường, Trang chạy vào Nam và đến bệnh viện của một bác sĩ quen, mới biết cú đạp rất có nghề ấy đã khiến cô bị đứt dây chằng chéo, chỉ còn vướng một sợi cơ sắp hoại tử. Chỉ trễ một ngày, Trang sẽ phải ngồi xe lăn suốt đời.

    Dây chằng chéo là gì? Vị bác sĩ giải thích cho biết những dây chằng chéo này nối kết xương đùi (ở trên) và xương chày (ở dưới) để giữ cho trục chi dưới thẳng, chịu được sức nặng của cơ thể mà vẫn co duỗi được ở khớp gối. Khi bị đứt dây chằng chéo, hai xương này sẽ không bám vào nhau mà như hai đoạn xương lủng lẳng, không thể liên kết được để chịu trọng lượng cơ thể khi đi đứng. Cú đạp vào đầu gối từ phía bên sẽ làm cho khớp gối bẻ quặt vào trong, gây đứt hoặc giãn dây chằng chéo. Tình huống thường gặp nhất là một cú đạp chơi xấu trên sân cỏ hoặc cầu thủ tennis bị khuỵu xuống trong tư thế gối gập vào trong, hay do một cú đạp mạnh từ phía bên đầu gối do một tay nhà nghề, giỏi võ thuật và biết rất rõ hậu quả gây tàn phế của cú đạp này theo luật – luật của đường phố. Dù được cứu không bị mất hẳn một chân nhưng Trang đã phải chịu tàn phế suốt đời. Mãi mãi cô không bao giờ có thể lấy lại bước đi thanh thoát ngày xưa của mình.

    Cột mốc thứ ba là buổi ca nhạc của ca sĩ Nguyễn Tín vào tháng 8-2018. Không có tiếng đàn hát nào trong câu chuyện này mà chỉ có tiếng bôm bốp của chiếc nón bảo hiểm được dùng làm công cụ để đánh liên tục vào đầu của Đoan Trang. Bốn thanh niên nói giọng Bắc đặc sệt, đi xe máy đeo khẩu trang, đánh một cách chăm chỉ và toàn tâm, cho đến khi chiếc nón ấy vỡ làm đôi. Đoan Trang nói rằng, trước đó, cô bị một chiếc xe bảy chỗ với những nhân viên an ninh đưa đi, đến đoạn đường vắng. Một người có vẻ là chỉ huy ra lệnh Đoan Trang đi xuống xe. Lúc này, đường vắng và xa lạ, giấy tờ và tư trang của Đoan Trang đã bị tịch thu ngay ở chỗ định biểu diễn, nên cô phản ứng về việc không thể về được nếu bỏ lại đây. Lúc ấy, người ra lệnh bèn lấy tờ 200.000 đồng đưa cho Trang và nói cô bắt taxi về.

    Trang trong một chuyến đi lặng lẽ, thoát từ nhà chạy vào Nam trong đêm

    Trang đứng ở về đường, còn hoang mang vì chưa hiểu chuyện gì. Cô vẫn còn đau vì khi ngăn cản buổi diễn, những nhân viên an ninh đã đánh cô liên tục trước đó. Cô cũng nhìn thấy xe bảy chỗ ấy không đi luôn mà chạy ra xa khoảng  vài trăm thước rồi quay đầu, đậu lại, nhìn về phía chỗ Trang đứng. Cũng vừa lúc ấy, hai chiếc xe với bốn thanh niên ập đến, không nói lời nào, tấn công ngay lập tức, dĩ nhiên, có cả “địt mẹ” kèm theo mỗi cú giáng. Khi họ bỏ đi, thì là lúc Trang cố gắng lết đi, nhờ người đưa cấp cứu…

    Trong câu chuyện với ba cột mốc mà tôi ghi lại ở trên, cho thấy có vô số chi tiết không hề nằm trong khung luật pháp. Bạn có thể hình dung mọi thứ giống như là cách của các băng đảng sử dụng để ra uy, kiểm soát khu vực bảo kê của mình. Những cuộc tấn công một cách có hệ thống và rừng rú vào một phụ nữ đã được tổ chức hoàn hảo đến mức bất kỳ công dân nào có lòng tin vào luật pháp đều có thể trở thành nạn nhân. Và rồi Phạm Đoan Trang hôm nay thì bị bắt bởi những điều luật được đưa ra rất mơ hồ. Vàng mã lại được đốt lên, múa may ở sân khấu “luật” Việt Nam.

    Theo Internet

  • Tài liệu

    Nữ sinh Đồng Khánh nói về bài thơ ‘Hai sắc hoa ti gôn’

    Một mùa thu trước, mỗi hoàng hôn

    Nhặt cánh hoa rơi chẳng thấy buồn,

    Nhuộm ánh nắng tà qua mái tóc,

    Tôi chờ người đến với yêu đương.

    Người ấy thường hay ngắm lạnh lùng

    Dải đường xa vút bóng chiều phong,

    Và phương trời thẳm mờ sương, cát,

    Tay vít dây hoa trắng chạnh lòng.

    Người ấy thường hay vuốt tóc tôi,

    Thở dài trong lúc thấy tôi vui,

    Bảo rằng: “Hoa, dáng như tim vỡ,

    Anh sợ tình ta cũng vỡ thôi!”

    Thuở ấy, nào tôi đã hiểu gì

    Cánh hoa tan tác của sinh ly,

    Cho nên cười đáp: “Màu hoa trắng

    Là chút lòng trong chẳng biến suy”

    Đâu biết lần đi một lỡ làng,

    Dưới trời đau khổ chết yêu đương.

    Người xa xăm quá! – Tôi buồn lắm,

    Trong một ngày vui pháo nhuộm đường…

    Từ đấy, thu rồi, thu lại thu,

    Lòng tôi còn giá đến bao giờ

    Chồng tôi vẫn biết tôi thương nhớ…

    Người ấy, cho nên vẫn hững hờ.

    Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời

    Ái ân lạt lẽo của chồng tôi,

    Mà từng thu chết, từng thu chết,

    Vẫn giấu trong tim bóng “một người”.

    Buồn quá! hôm nay xem tiểu thuyết

    Thấy ai cũng ví cánh hoa xưa

    Nhưng hồng tựa trái tim tan vỡ.

    Và đỏ như màu máu thắm pha!

    Tôi nhớ lời người đã bảo tôi

    Một mùa thu trước rất xa xôi…

    Đến nay tôi hiểu thì tôi đã,

    Làm lỡ tình duyên cũ mất rồi!

    Tôi sợ chiều thu phớt nắng mờ,

    Chiều thu, hoa đỏ rụng chiều thu

    Gió về lạnh lẽo chân mây vắng,

    Người ấy sang sông đứng ngóng đò.

    Nếu biết rằng tôi đã lấy chồng,

    Trời ơi! Người ấy có buồn không?

    Có thầm nghĩ tới loài hoa… vỡ

    Tựa trái tim phai, tựa máu hồng?

    Tác giả: TTKH

    Nguồn:

    1. Tiểu thuyết thứ bảy, số 179, 30-10-1937

    2. Thi nhân Việt Nam, NXB Văn học, 2005

    Tác giả bài thơ “Hai sắc hoa ti gôn” là người Phủ Lý?

    Vietnamnet vừa đăng bài viết “Giai nhân Hà thành tiết lộ về tác giả bài thơ “Hai sắc hoa ti gôn“, theo đó, một cựu nữ sinh trường Đồng Khánh đã tiết lộ tác giả bài thơ nổi tiếng trên là người Phủ Lý. Xin giới thiệu bài viết này.

    Giai nhân Hà thành tiết lộ về tác giả bài thơ ‘Hai sắc hoa ti gôn’

    Một ngày cuối tháng 5, tại căn nhà nằm khuất sâu trong con ngõ nhỏ Võ Thị Sáu, Hai Bà Trưng, Hà Nội, chúng tôi có dịp gặp gỡ bà Viên Thị Thuận, năm nay 94 tuổi, một trong những nữ sinh Đồng Khánh thuở nào.

    Trường nữ sinh Đồng Khánh – Hà Nội (College de Jeunes Filles) được thành lập năm 1917, nay là trường THCS Trưng Vương – Hà Nội, là ngôi trường duy nhất của miền Bắc dành riêng cho nữ sinh tới cấp trung học.

    Lớp của bà Viên Thị Thuận khóa 1934 – 1942.

    Ngôi trường được xây dựng vào những thập niên đầu thế kỷ 20, khi vấn đề nữ quyền đang gặp nhiều rào cản của tư tưởng phong kiến.

    Từ đây, nhiều tiểu thư khuê các nhanh chóng bước ra khỏi chốn “màn che trướng rủ” để nhập cuộc với thời đại, trở thành những nữ sinh Đồng Khánh có tiếng duyên dáng và nết na.

    Trong số họ có rất nhiều người là bậc kỳ nữ tài hoa sau này, như giáo sư Lê Thi (Dương Thị Thoa) con gái GS Dương Quảng Hàm, nhà giáo Hoàng Xuân Sính – nữ tiến sĩ toán học đầu tiên ở Việt Nam…

    Bên cạnh đó, trường Đồng Khánh còn được nhiều người biết đến là ngôi trường của những giai nhân…

    Ngôi trường của những giai nhân

    Trong tâm trí người Hà Nội xưa, trường nữ sinh Đồng Khánh nổi tiếng với những cô học trò xinh đẹp đầy mộng mơ, hồn thiên thướt tha trong tà áo dài đã trở thành một miền kí ức khó phai.

    Một ngày cuối tháng 5, tại căn nhà nằm khuất sâu trong con ngõ nhỏ Võ Thị Sáu, Hai Bà Trưng, Hà Nội, chúng tôi có dịp gặp gỡ bà Viên Thị Thuận, năm nay 94 tuổi, một trong những nữ sinh Đồng Khánh thuở nào.

    Thời gian dẫu nhuốm màu tuổi tác, nhưng vẻ quý phái, thanh tao của giai nhân Hà thành ngày đó vẫn toát ra từ người đàn bà ở tuổi cửu thập cổ lai hy này.

    Bằng chất giọng nhỏ nhẹ với phong thái đoan trang, bà Thuận kể: “Muốn vào trường Đồng Khánh học, các học trò phải vượt qua các kỳ thi gắt gao, chỉ ai thực sự học giỏi mới đỗ được vào trường Đồng Khánh”.

    Theo bà Thuận, ngày xưa nữ sinh Đồng Khánh được học toàn diện, họ không chỉ được dạy văn hóa, dạy tiếng Pháp mà còn được dạy nữ công gia chánh, hát, đàn piano, thể dục thể thao.

    Bên cạnh đó, trường còn dạy thêu thùa may vá, cách tắm và chăm sóc cho trẻ sơ sinh, cách chi tiêu sao cho hợp lý bằng cách phân loại ra tiền điện, tiền nước, tiền ăn…

    Ngày đó, nữ sinh Đồng Khánh nổi tiếng không chỉ thông minh, xinh đẹp mà còn hết sức nết na thuỳ mị. Ai cũng dịu dàng đài các, rất đỗi đa cảm nhưng vô cùng kín đáo, tế nhị. Dù có thích ai họ cũng chỉ giữ kín trong lòng hoặc gửi gắm vào những trang lưu bút.

    Cựu nữ sinh Đồng Khánh cho biết: “Ngày đó cuộc sống của chúng tôi nói riêng và các tiểu thư đương thời nói chung rất lãng mạn. Chúng tôi thường đọc thơ và chép thơ vào những quyển lưu bút”.

    Một cô bạn cùng lớp bà Thuận, so với các bạn có phần cá tính, mạnh mẽ hơn nhưng tâm hồn cũng không kém phần lãng mạn, cô là con gái một bác sĩ.

    Cô bạn này có tình cảm với thầy giáo dạy thể thao người Pháp, đẹp trai và phong độ. Bị các bạn trong lớp phát hiện, trêu đùa, cô thường hay ngượng ngùng.

    Rồi mối tình đơn phương đó cũng sớm kết thúc khi thấy giáo kết hôn cùng người phụ nữ khác. Còn cô thì gửi nỗi buồn da diết của mối tình đầu tan vỡ vào những quyển sổ lưu bút.

    Bà Viên Thị Thuận cho biết thêm, các nữ sinh Đồng Khánh thường mặc áo dài thướt tha, thả mái tóc dài mượt, gọn gẽ đến trường.

    Đặc biệt, theo nội quy nhà trường, không ai được phép trang điểm khi đi học. Thế mà các nữ sinh Đồng Khánh lại rất đẹp, đẹp đến hút hồn khiến bao trái tim nam sinh các trường THPT, ĐH phải si mê, ngơ ngẩn. heo đó nam nữ học riêng, buổi chiều tan học, nam sinh từ các trường khác thường mon men đến cổng trường Đồng Khánh, đứng ngắm, nhìn trộm từ xa lúc các cô gái tan học về. Hầu như chàng trai nào cũng mơ được làm quen với một nữ sinh Đồng Khánh.

    Họ coi đó là niềm hãnh diện, tự hào để khoe với bạn bè, nhưng điều này quả là chuyện khó, bởi mấy nữ sinh Đồng Khánh luôn lạnh như băng, thâm trầm như biển sâu. Với họ nữ sinh Đồng Khánh luôn là… một ẩn số.

    Tác giả bí ẩn của bài thơ “Hai sắc hoa ti gôn”

    Bà Thuận cho biết, học sinh nữ từ các tỉnh miền Bắc về đây học tập, phần lớn là con gái gia đình trung lưu, có địa vị trong xã hội. Vào thời gian bà Thuận học năm 3 ở trường Đồng Khánh, có người bạn rất xinh đẹp, tên là Phạm Thị Lý (SN 1922, quê ở Phủ Lý).

    Người bạn này của bà được mệnh danh là hoa khôi trường Đồng Khánh, xinh đẹp, thông minh nhưng gia đình muốn bà lấy một người chồng bà không có tình cảm. Vốn có tâm hồn đa sầu, đa cảm nên khi phải lấy người mình không yêu, bà rất buồn bã.

    Bà Viên Thị Thuận chia sẻ: “Cũng có thể trong lòng bà ấy đã có ý trung nhân nào khác nhưng ở thời kỳ nữ quyền vừa bắt đầu những bước đi đầu tiên, vẫn mang nặng tư tưởng phong kiến thì việc dành tình cảm cho người con trai nào đó, dẫu “tình trong như đã, mặt ngoài còn e” là điều không thể. Nên khi phải về lấy chồng bà ấy rất buồn… Trước khi lấy chồng, bà Phạm Thị Lý đã sáng tác bài thơ ‘Hai sắc hoa ti gôn’ gửi đăng báo bằng bút danh TTKH, với mục đích giấu tên.

    Bà không ngờ được bài thơ mình sáng tác trong cái giây phút ngẫu hứng lại trở nên nổi tiếng cho đến ngày nay. Hôm đó, bà Lý cùng tôi đến tòa soạn gửi bài thơ rồi đi thẳng nên chẳng ai tìm được tác giả”.

    Bà Thuận cũng cho biết thêm: “Trước khi gửi đăng báo, bà Lý từng đọc cho các bạn trong lớp nghe…”.

    Sau này, rất nhiều giả thiết được đưa ra để xác định tác giả thực sự nhưng đều dừng lại ở mức độ nghi vấn, vì tác giả bài thơ chưa bao giờ lên tiếng xác nhận.

    Hình như, dù là cuộc hôn nhân “ép buộc” nhưng cuộc đời bà lại vô cùng hạnh phúc. Có thể vì thế, những cảm xúc đầu đời cùng bài thơ “Hai sắc hoa ti gôn” được bà Lý cất gọn trong kí ức.

    Vợ chồng bà sinh được 10 người con, sau này bà theo chồng sang Mỹ định cư và mất ở tuổi 80. Và, tác giả của một bài thơ nổi tiếng giờ vẫn là bí ẩn trong văn đàn.

    Một nữ sinh nổi tiếng khác của trường Đồng Khánh, không thể không nhắc đến là GS Lê Thi tên thật là Dương Thị Thoa, con gái của cố GS Dương Quảng Hàm.

    Bà cùng các anh chị em được cha mẹ cho ăn học tử tế ngay từ khi còn nhỏ. Bà chính là một trong hai nữ sinh đã kéo cờ trong ngày độc lập đầu tiên tại Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày 2/9/1945.

    Gần 80 năm đã trôi qua, nữ sinh trường Đồng Khánh cùng khóa bà Thuận chỉ còn lại vài người. Nhưng mỗi dịp có cơ hội gặp gỡ, họ vẫn tranh thủ ngồi lại hàn huyên và ôn lại những kỉ niệm vàng son thủa nào…

    —-

    (Theo : Vietnam.net)

  • Thơ

    ĐỪNG TƯỞNG

    Thi sĩ Bùi Giáng

    Đừng tưởng cứ núi là cao

    Cứ sông là chảy cứ ao là tù

    Đừng tưởng cứ dưới là ngu

    Cứ cao là sáng cứ tu là hiền.

    Đừng tưởng cứ đẹp là tiên

    Cứ nhiều là được cứ tiền là xong

    Đừng tưởng không nói là câm

    Không nghe là điếc không trông là mù

    Đừng tưởng cứ trọc là sư…

    Cứ vâng là chịu cứ ừ là ngoan

    Đừng tưởng có của đã sang…

    Cứ im lặng tưởng là vàng nguyên cây

    Đừng tưởng cứ uống là say…

    Cứ chân là bước cứ tay là sờ

    Đừng tưởng cứ đợi là chờ…

    Cứ âm là nhạc cứ thơ là vần

    Đừng tưởng cứ mới là tân…

    Cứ hứa là chắc cứ ân là tình

    Đừng tưởng cứ thấp là khinh…

    Cứ chùa là tĩnh cứ đình là to

    Đừng tưởng cứ quyết là nên…

    Cứ mạnh là thắng cứ mềm là thua

    Đừng tưởng cứ lớn là khôn….

    Cứ bé là dại, cứ hôn… là chồng

    Đừng tưởng giàu hết cô đơn…

    Cao sang hết ốm, tham gian hết nghèo

    Đừng tưởng cứ gió là mưa…

    Bao nhiêu khô khát trong trưa nắng hè

    Đừng tưởng cứ hạ là ve…

    Sân trường vắng quá ai khe khẽ buồn…

    Đừng tưởng thu lá sẽ tuôn…

    Bao nhiêu khao khát con đường tình yêu.

    Đừng tưởng cứ thích là yêu…

    Nhiều khi nhầm tưởng bao điều chẳng hay

    Đừng tưởng vua là anh minh…

    Nhiều thằng khốn nạn, dân tình lầm than.

    Đừng tưởng đời mãi êm đềm…

    Nhiều khi dậy sóng, khó kềm bản thân.

    Đừng tưởng cười nói ân cần…

    Nhiều khi hiểm độc, dần người tan xương.

    Đừng tưởng trong lưỡi có đường…

    Nói lời ngon ngọt mười phương chết người

    Đừng tưởng cứ chọc là cười…

    Nhiều khi nói móc biết cười làm sao

    Đừng tưởng khó nhọc gian lao…

    Vượt qua thử thách tự hào lắm thay

    Đừng tưởng cứ giỏi là hay…

    Nhiều khi thất bại đắng cay muôn phần.

    Đừng tưởng nắng gió êm đềm…

    Là đời tươi sáng hóa ra đường cùng

    Đừng tưởng góp sức là chung…

    Chỉ là lợi dụng lòng tin của người

    Đừng tưởng cứ tiến là lên…

    Cứ lui là xuống, cứ yên là nằm

    Đừng tưởng rằm sẽ có trăng…

    Trời giăng mây xám mà lên đỉnh đầu

    Đừng tưởng cứ khóc là sầu…

    Nhiều khi nhỏ lệ mà vui trong lòng

    Đừng tưởng cứ nghèo là hèn…

    Cứ sang là trọng, cứ tiền là xong.

    Đừng tưởng quan chức là rồng

    Đừng tưởng dân chúng là không biết gì.

    ☆☆☆

    Đời người lúc thịnh, lúc suy

    Lúc khỏe, lúc yếu, lúc đi, lúc dừng.

    Bên nhau chua ngọt đã từng

    Gừng cay, muối mặn, xin đừng quên nhau.

    Ở đời nhân nghĩa làm đầu

    Thủy chung sau trước, tình sâu, nghĩa bền.

    Ai ơi nhớ lấy đừng quên…!

    BÙI GIÁNG

  • Tài liệu

    Vua Thành Thái thiết lập Quốc Học

    Chỉ dụ Hoàng Đế Thành Thái thiết lập Quốc Học

    Emperor Thành Thái’s Edict to Establish the Quốc Học, 1896

    Lê Minh Khai / Tôn Thất Tuệ dịch

    Năm 1896, Triều Nguyễn thiết lập một học đường ở Kinh Đô để dạy Pháp Văn, là Quốc Học từ tên gốc là Quốc học trường 國學場; tên tiếng Pháp là Collège National (thời ấy “national” – quốc gia – có nghĩa học tiếng Pháp).

    Chính quyền thuộc địa Pháp đã có sáng kiến nầy và được vua Thành Thái (TT) chấp thuận qua sự đồng ý của triều đình.

    Để chính thức thành lập Quốc Học, TT đã ban hành một chỉ dụ bằng chữ Hán, nói rõ vua thuận phê chuẩn sự thiết lập nầy. Ít lâu sau, toàn quyền Paul Armand Rousseau ký một nghị định thi hành công lệnh ấy tức là thiết lập ngôi trường, kèm theo bản dịch tiếng Pháp chỉ dụ nêu trên.

    So sánh công lệnh Hán Việt và bản tiếng Pháp, thì người dịch đã bỏ nhiều điều. Nếu đọc nguyên văn chỉ dụ nầy, chúng ta có thể biết cái nhìn của vua và triều đình về thế giới rất sâu sắc, không có trong bản đính kèm nghị định của Rousseau.

    Chỉ dụ Thành Thái mang nhiều chi tiết thực tiển như cách chọn giáo sư, cách tuyển học sinh thì được dịch chính xác và đầy đủ. Nhưng phần mở đầu của chỉ dụ không được như thế.

    Công lệnh bắt đầu với lời giải thích vì sao cần có một trường dạy Pháp ngữ. Bản dịch và bản chính có sự khác biệt to lớn. Sự khác biệt nầy giúp người đọc thấy rằng Hán Văn cổ điển và tiếng Pháp không những thuần túy chỉ là hai ngôn ngữ tách biệt, mà chúng còn cho chúng ta một ý niệm rõ ràng về sự khác nhau giữa hai nền văn hóa và hai thế giới quan khác nhau.

    Trích bản dịch: Quand on veut donner un développement sérieux à l’instruction, on ne se borne pas à un enseignement exclusif, de même que pour assurer la régularité de l’enseignement, il est indispensable de créer des cours d’études. Or, eu dehors des livres sacrés de Chine, il existe d’autres ouvrages des divers pays et le mandat de porter la parole est chose très importante dans les relations internationales. ngưng.

    Diễn qua chữ Việt: Nếu muốn đem lại cho nền giáo dục một sự phát triển đứng đắng thì không nên tự giới hạn trong sự dạy dỗ chuyên biệt độc quyền. Cũng giống vậy, để bảo đảm tính cách điều hòa của ngành giáo huấn, cần mở thêm các ngành học mới. Ngày nay ngoài những Thánh Điển từ bên Tàu và tác phẩm từ nhiều nước khác nhau, khả năng nói, đàm thoại là điều vô cùng quan trọng trong các mối liên lạc quốc tế.

    諭學無常師, 欲其博也。教必立學, 欲其專也. 蓋六經之外別有方書,列國之交,重在辭命。Dụ học vô thường sư, dục kỳ bác giả. Giáo tất lập học, dục kỳ chuyên dã. Cái lục kinh chi ngoại biệt hữu phương thư, liệt quốc chi giao trọng tại từ mệnh.

    (Trong phương cách học mà không cần có thầy giáo thường xuyên, thì người học tự tìm cách mở rộng kiến thức. Nhưng trong việc giáo huấn, cần có một học đường dạy những phần chuyên môn hóa. Ngoài “Lục Kinh” còn có sách vở từng khu vực địa phương. Nhưng trong việc giao thiệp giữa các nước cần có khả năng biện thuyết, đàm thoại).

    Những danh tự sau đây cho thấy thế giới quan của TT. Học vô thường sư 學無常師; học không cần thầy thường xuyên; Lục Kinh 六經 và phương thư 方書, sách vở từng vùng; từ mệnh 辭命, khả năng thuyết giải, đàm thoại, và liệt quốc chi giao 列國之交, giao tiếp giữa các quốc gia. Nhưng chúng không có trong bản dịch.

    Học vô thường sư 學無常師, tìm tòi cầu đạt những kiến thức một cách rộng rãi, nhiều nơi chứ không với một ông giáo kỳ cựu “sỉa rẹn” một chỗ. Ý nầy trước đây học giả Hàn Dũ 韓愈 nhà Đường đã nêu trong luận văn danh tiếng nhan đề sư thuyết 師說.

    聖人無常師:孔子師郯子、萇弘、師襄、老聃。郯子之徒,其賢不及孔子。孔子曰:「三人行,則必有我師」。是故弟子不必不如師,師不必賢於弟子。聞道有先後,術業有專攻,如是而已。

    Thánh nhân vô thường sư: Không Tử sư Đam Tử, Trương Hoằng, Sư Tướng, Lão Đan. Đam Tử chi đồ kỳ hiền bất cập Khổng Tử. Khổng Tử viết: Tam nhân hành tất tắc hữu ngã sư. Thị cố đệ tử bất tất bất như sư. Sư bất tất hiền vu đệ tử. Văn đạo hữu tiên hậu, thuật nghiệp hữu truyền công. Như thị nhi dĩ.

    Thánh nhân không có thầy cố định. Khổng Tử chọn làm thầy những ông Đam Tử, Trương Hoằng, Sư Tướng, Lão Đan, nhóm người như Đam Tử không giỏi, không khôn bằng Khổng Tử. Khổng Tử nói: ba người đi trước mặt ta, nhất định có một người là thầy ta. Như vậy đệ tử không nhất thiết kém hơn thầy; và thầy không nhất thiết giỏi hơn khôn hơn đệ tử. Chuyện là một kẻ đã học đạo trước một kẻ khác; hoặc một người nào đó có kỹ năng chuyên môn hóa. Chỉ chừng đó thôi.

    TT mở đầu như vậy để giải thích với quần thần vì sao vua đã ra lệnh thiết lập một trường dạy tiếng Tây. Hẵn rõ TT đang gặp sự chống đối của các học sĩ chính thống cửa Khổng sân Trình; nhóm nầy xem người Pháp là man rợ có kiến thức kém. Do đó vua dùng Khổng học mà biện luận. Khi nói Khổng Tử và các hiền giả đều học với bất cứ ai, TT muốn nói con các quan, con triều thần có thể học với người Pháp.

    Vua giải thích rằng kiến thức của người Pháp nằm ngoài Lục Kinh (Lục Kinh chi ngoại 六經之外) nhưng nằm trong sách vở từng vùng khác nhau ngoài nước Tàu (phương thư 方書). Người Tây viết về điểm nầy như sau: Or, eu dehors des livres sacrés de Chine, il existe d’autres ouvrages des divers pays. Ngoại trừ những thánh điển của Tàu, còn có những tác phẩm khác từ nhiều xứ khác nhau.

    Khi TT chỉ nói Lục Kinh thì bản dịch là các sách linh thiêng của Tàu (les livres sacrés de Chine). Người Tây xem những chương sách người An Nam học là sách Tàu, của Tàu, nhưng TT chỉ đơn giản nói Lục Kinh. Xa hơn tí nữa, trong bản dịch, người Pháp xem Lục Kinh và sách ngoài (phương thư 方書) cùng mức giá trị như nhau; nhưng bản Hán tự của TT không xem như vậy. Thay vào đó, Lục Kinh và phương thư có hệ cấp giá trị không tương đồng.

    “Phương” xem như nghịch với trung ương, thủ đô. Phương thư ở cấp tỉnh, Lục Kinh ở kinh đô. Một sự so sánh khác nữa sẽ được dùng là Khổng học phân chia văn 文, viết và ngôn 言 nói; văn giá trị hơn ngôn. Kinh đô là nơi mình có thể thấy vua và quần thần, tức là nhóm người có tài và sính diễn đạt tư tưởng bằng cách viết và tự cho mình là gương mẫu nêu cao nền luân lý trong Lục Kinh. Ở vùng xa kinh đô, dân chúng mù chữ chỉ có khả năng diễn tả ý nghĩ bằng lời nói, do đó người đô hội xem họ thấp kém nhiều phương diện.

    Thế giới quan Khổng học đậm đặc như vậy không thể giúp TT nhìn một cách trung hòa bình đẳng Pháp ngữ, là một ngôn ngữ nói (language parlé).

    Thứ nhất, khi ghép tiếng Pháp vào phương thư, TT đã truyền đạt ý niệm thấp kém, bởi vì chỉ có dân quê mới diễn tả tư tưởng bằng lỗ miệng, bằng cách nói; có nghĩa tiếng Pháp không thể đứng ngang với Lục Thư.

    Thứ hai, khi nói từ mệnh 辭命, khả năng nói, là rất quan trọng trong mối liên lạc giữa các xứ khác nhau, TT đã cho thấy so sánh cao thấp. Hai chữ nầy nằm trong một đoạn danh tiếng trong sách Mạnh tử 孟子. Vài môn đệ của Khổng Tử nói rất hay (thiện vi thuyết từ 善爲說辭). Nhưng Khổng Tử cho biết ông không giỏi nói. 我於辭命則不能也, ngã ư từ mệnh bất năng dã.

    Những câu chuyện nhỏ thế này đã nuôi giữ trong đầu các học giả Á Châu hệ cấp bất bình đẳng giữa viết và nói. Khổng Tử không giỏi nói có hề chi vì nói không phải là giá trị hàng đầu. Lập lại, TT gặp khó khăn khi phải giải thích sự cần thiết một ngôi trường dạy Pháp ngữ. TT giải thích vì sao chấp nhận ổn thỏa phải học ở những người một mặt đặt “nói” cao hơn “viết” trên nất thang giá trị, đồng thời thuộc hàng tỉnh chứ không phải trung ương.

    Chỉ dụ thành lập QH có nhiều điều hấp dẫn. TT phải đương đầu với những thay đổi khó tin xẩy ra quanh mình. Thế giới đổi thay nầy được phản ảnh qua ngôn từ đã dùng như phương thư và liệt quốc chi giao 列國之交, giao tiếp giữa các quốc gia.

    Ngày nay có thành ngữ quan hệ quốc tế 國際關係 (international relations) nhưng chưa có vào thời TT cũng như danh từ ngoại giao 外交, diplomacy chưa có. Trước khi người Pháp đến vào thế kỷ 19, VN chỉ có danh từ bang giao 邦交, liên lạc cấp vùng (domainal relations). Danh tự nầy dùng cho một hệ thống đẳng cấp Đông Á giữa chính quốc (Tàu) và các nước nhỏ chung quanh, những tiểu quốc chư hầu. Thành ngữ nầy xuất hiện 500 năm trước Tây lịch, và thời chiến quốc Xuân Thu. Sách lễ ký 禮記 ghi trong đoạn nói về các nghi lễ triều cống của chư hầu dâng lên vua nhà Chu. Ở VN trước thế kỷ mười chín, danh tự nầy biểu lộ đẳng cấp trong tương quan chính quốc và tiểu quốc giữa nhà Thanh và nhà Nguyễn.

    Liệt quốc chi giao 列國之交, interrelations between various countries, người VN bắt đầu dùng vào thế kỷ 19 để nói về sự liên lạc mới có đối với các dân tộc tây phương; đâu đó giữa bang giao và ngoại giao. Trong lúc ấy, liệt quốc chi giao đòi hỏi một kỹ năng mới là nói tiếng Tây; mà lại vào thời 1896, người Việt không sành món nầy.

    Do đó phát sinh nhu cầu chính đáng phải mở trường QH năm 1896. Nhưng đó cũng là thách thức của TT: làm sao thuyết phục các học vị trong triều, tức là những người học cách khinh thị những thành phần như người Pháp, khinh thị kiến thức và cách thông tri của họ. Nhưng nay phải đồng ý cho con cháu học những kiến thức ấy, học với những kẻ thấp hèn ấy.

    Người Pháp không đủ sức hiểu và không cần hiểu những suy tư thâm sâu và bác học của vua Thánh Thái. Ngày nay với những người thông hiểu Hán tự, chiếu chỉ của Hoàng Đế Thành Thái sẽ cung hiến cái nhìn đầy đủ về thời đại của vua và những khó khăn vua phải đương đầu.–

    Bản tiếng Anh gốc: https://leminhkhai.blog/emperor-thanh-thais-edict-to…/

    ———————————————————–

    Vài ghi nhận của người dịch

    1.- Một Facebook về lịch sử đăng một bài nhan đề Chiếu Chỉ vua Thành Thái Lập QH, không nói dịch từ chỗ nào. Nhưng xem mấy hàng đầu, độc giả có thể biết từ bản dịch người Pháp kèm vào nghị định của Toàn Quyền Rousseau; tức là bản dịch mà Lê Minh Khai cho thấy sai lạc thiếu sót.

    Quand on veut donner un développement sérieux à l’instruction, on ne se borne pas à un enseignement exclusif, de même que pour assurer la régularité de l’enseignement, il est indispensable de créer des cours d’études. Or, eu dehors des livres sacrés de Chine, il existe d’autres ouvrages des divers pays et le mandat de porter la parole est chose très importante dans les relations internationales. (xem hình)

    Muốn cho việc giáo dục được hoàn bị, không nên hạn chế học vấn trong khuôn khổ hẹp hòi. Trái lại, để đảm bảo cho việc giáo huấn được điều hòa cần mở ra các lớp học thường xuyên. Nay ngoài những thánh kinh, hiền truyện của Trung Hoa lại còn nhiều sách trước tác ở các nước khác và trách nhiệm của người đại diện phát ngôn trong lúc giao thiệp trên trường quốc tế rất là quan trọng.

    Thánh Kinh? The Bible? “Trách nhiệm người phát ngôn?”. Tôi không tin người dịch có một ý niệm căn bản về Hán Tự và Pháp ngữ. “Mandat” trong ngữ cảnh nầy chỉ là khả năng, kỹ năng. “Porter la parole”, một động từ và danh từ bổ túc, là lối nói văn hoa dành cho công việc hằng ngày là phát ra tiếng nói bằng mồm, hoặc cao hơn như biện thuyết, diễn thuyết. Ở đây không có phát ngôn viên. Porte-parole mới là spokeman.

    2.- Theo Võ Hương An, người biết rất nhiều về Huế qua các sách khảo cứu, Quốc Học là tên rút ngắn từ bốn chữ Quốc Gia Học Đường; 4 chữ nầy ghi trên một bức hoành nghi hiện treo tại trường. VHA làm rể nhà thầy Nguyễn Đình Hàm, hiệu trưởng đầu tiên khi trường mang tên cũ QH, tiếp theo tên Quốc Học Ngô Đình Diệm 1955. Nguyễn Phúc Bá, lang quân của Lương Thúy Anh, cho biết hiện nay trường còn lưu giữ một văn kiện ghi tên trường Quốc Gia Pháp Tự Học Đường. Về sau còn có tên nhiều người biết là Khải Định. Khải Định, QH nói chung, là những tên về sau. Quốc học trường là tên trên chiếu chỉ nhà vua. Ba chữ nầy nằm ở góc trái trên hình chữ Hán đính kèm.

    3. Nhiều người sẽ ngạc nhiên về thuở ban đầu QH là một trường ngôn ngữ. Không rõ lúc nào trường trở nên một học đường đầy đủ. Tham luận với tác giả Lê Minh Khai, tôi cho rằng QH là một Sorbonne của Trung Kỳ, sản xuất một phần lớn thành phần trí thức, cho đến 1975. Nhiều người đã có tú tài QH Khải Định mà chưa một ngày ở trong trường này vì quân lính Pháp đồn trú từ 1946 đến 1954 theo hiệp ước sơ bộ ký với Sainteny. Trường chia làm hai, một nửa xuống trường Việt Anh sau thành Nguyễn Tri Phương cũ, một nửa gởi rể bên Đồng Khánh.

    Cách mạng “bài phong” 1954 đã hất cẩm bào Gia Long khỏi đường ngã giữa, tuột áo Khải Định nhưng không tuột … Đồng Khánh để còn giữ cho đến 1975.

    4. Vua Thành Thái đề cập “lục kinh” có ý khác “tứ thư ngũ kinh” của Tàu diễn tả Khổng Học. Công thức nầy có từ thời Chu Hy nhà Tống (gọi là Tống Nho), chỉ dùng ngũ kinh, tuy từ trước là lục kinh. Bớt đi kinh nhạc, vì kinh nầy đã mất khi Tần Thùy Hoàng cho đốt sách, chỉ còn đôi chương không quan trọng, nay ghép vào kinh lễ thành tiểu mục nhạc ký. Ngũ kinh là: kinh thi, kinh thư, kinh dịch, kinh lễ và kinh Xuân Thu. Tứ thư: Đại Học, Trung Dung, Khổng Tử và Mạnh Tử. Đa số các sách tiếng Anh thì theo vua Thành Thái và gọi lục kinh là Six Classics.

    5. Sau 1954, theo quan điểm chính thức của trường, người sáng lập là ông Ngô Đình Khả, thân sinh của ông Ngô Đình Diệm. 1972, tôi tình cờ gặp thầy cựu hiệu trưởng 1956 Nguyễn Đình Hàm đi họp chi đó nơi tôi làm việc, thầy cho một nội san “Quốc Học” theo đó người sáng lập là toàn quyền Paul Armand Rousseau. Sự thật là ông Ngô Đình Khả được chỉ định thúc đẩy việc xây trường, xem như hiệu trưởng. Toàn quyền Paul Armand Rousseau có ký nghị định thành lập nhưng là một văn kiện thi hành chiếu chỉ của vua Thành Thái; nghị định nầy đã tham chiếu chỉ dụ của vua. Trong hành chánh, nghị định thấp hơn chỉ dụ. Như vậy phải nói người sáng lập QH là Hoàng Đế Thành Thái.

    Hình ghép vua Thành Thái và trường QH, dãy lớp học nầy từ ngoài vào nằm bên trái.

    Chỉ dụ của vua Thành Thái. Ba chữ Hán ở góc trái phía trên là Quốc Học Trường

    Điều 13.- Thành phần trẻ nào đã đậu kỳ thi ra trường sẽ hưởng các quyền lợi, đặc quyền dự trù trong Chỉ Dụ hoàng triều đính kèm nghị định nầy.

    Điều 14.- Chi phí nhân viên, vật liệu, xây cất và bảo trì trường ốc sẽ do Chính Phủ An Nam đài thọ.

    Điều 15.- Khâm Sứ tại An Nam, Cơ Mật Viện chiếu nhiệm vụ thi hành nghị định nầy.

    Hà Nội, ngày 18 tháng Nov, 1896. Ký tên A. Rousseau.

    Phó thự bởi Khâm Sứ An Nam., Brière

    Kinh đô thành thị coi trọng việc viết (writing); ngoại ô và thôn quê chỉ sành nói (speech).

    Theo FB