…Mày biết không? Nhà tao ở phía sau đường Bạch Đằng mà dân Đà Lạt hay gọi là cây số bốn, chắc có lẽ từ đó ra chợ Đà Lạt chừng bốn cây số. Từ đường Bạch Đằng vô nhà tao phải đi gần cả cây số nữa mới đến, nằm gần phi trường Cam Ly, lúc đi học tao phải đạp xe trên con đường đất nhỏ, bề ngang chừng hơn thước rồi mới đến đường Bạch Đằng nơi giáp với đầu dốc La Sơn Phu Tử. Con đường này dài chưa đến cây số và ở cuối đường, nếu quẹo phải là đường Phan Đình Phùng, quẹo trái đi lên Mả Thánh nhưng nếu cứ đạp thẳng trên đường nhựa sẽ đến trường Trần Hưng Đạo, đường này mang tên Nguyễn Hoàng, phía bên phải là ấp Hà Đông chuyên trồng dâu tây và bên trái là một quả núi toàn mồ với mả…không biết chôn từ đời thuở nào mà nhiều vô kể. Nhiều lần tao đạp xe đi ngang đây vào chặp nhá nhem tối, đôi lúc cũng thấy rợn cả người. Nhưng chuyện tao kể cho mày nghe không phải là chuyện ma ở Mả Thánh mà là chuyện có vẻ như là ma…mày có tin không?
Mày biết không? Đường La Sơn Phu Tử dài chưa đầy cây số mà một phần ba đường này là một đoạn dốc cao giáp với đường Bạch Đằng. Lúc đi học thì tao xổ dốc, còn lúc về thì năm khi mười họa mới đạp nổi lên dốc, thường phải xuống xe dắt bộ lên cho hết đoạn dốc ngắn này. Vừa xuống hết dốc thì gặp đường Hai Bà Trưng. Mày biết không? Tao học lớp sáng nên hôm nào tao cũng dậy sớm mà trời Đà Lạt dạo đó hầu như lạnh quanh năm, phải mặc có khi hai ba chiếc áo ấm mới bớt lạnh và đi học buổi sáng thì lại có sương mù nên cả người tao, nếu không mưa ướt thì sương mù cũng làm áo quần lẫn tóc tai tao đẫm sương. Tao học ở trường Trần Hưng Đạo từ những năm đệ thất, lúc học sáng lúc học chiều và tao chưa bao giờ vắng mặt một buổi học hay đi học trễ, thế mà…
Mày biết không? Có một buổi sáng, trời lạnh và sương mù dày đặc, tao đạp hết đoạn đường đất đỏ từ nhà đến đường Bạch Đằng thì tự nhiên như có người bảo bên tai: “quẹo qua đường Phan Đình Phùng đến ngả ba chùa” và tao nghe như thế nhiều lần. Khi tao đạp đến cuối đường La Sơn Phu Tử lại nghe “quẹo qua Phan Đình Phùng đến ngả ba chùa”. Chung quanh tao lúc đó chỉ thấy sương mù dày đặc và trời thì tối om khiến tao không còn thấy đường đi trước mặt. Trong đầu tao cứ nghĩ “thế này thì làm sao đến trường không bị trễ học…”. Đầu thì muốn đạp xe đến trường mà chân cứ đạp xe đi hướng khác. Bình thường tao cũng hay đạp xe trên đoạn đườngnày và nhớ có một fontaine nước nằm bên tay phải, nơi có con đường mòn băng qua đường Hai Bà Trưng. Tao cố nhìn nhưng chẳng thấy cái fontaine nước đâu cả. Trong đầu lại nghĩ “tại sao mình không đạp xe đến trường mà lại đi đường này…”. Nhiều lần muốn quay trở lại nhưng chân vẫn cứ đạp xe về hướng ngả ba chùa. Đạp thêm một đoạn nữa thì phía bên trái là một dãy nhà mười căn nơi có gia đình người bác của tao ở số 256 nhưng tao không còn thấy dãy nhà này nữa, nó biến đi đâu mất và trong tai tao vẫn còn nghe: “đến ngả ba chùa…đến ngảba chùa…”. Mọi khi vẫn có sương mù nhưng tao vẫn còn nhìn thấy đường để đi, vẫn còn lờ mờ thấy nhà cửa xe cộ hai bên thế nhưng hôm đó tao không còn thấy gì cả mà sương mù hình như mỗi lúc một nhiều thêm. Có một điều lạ là tao cứ đạp xe như thế gần giống như đạp trong bóng tối mà không đụng vào một ai và cũng chẳng có người nào chạm vào tao. Quả là kỳ lạ! Tao không biết thời gian đạp xe trên đoạn đường này là bao lâu cho đến khi hình như có một vật gì rất lớn tông vào chiếc xe đạp của tao khiến tao ngả nhào xuống mặt đường, khi hoàn hồn thì thấy cả người lẫn xe nằm chỏng gọng trước cây xăng ở ngả ba chùa. Tao hoảng kinh vội đứng dậy nhìn quanh như người mất hồn. Có mấy người bu quanh và hỏi chuyện nhưng tao thật sự chẳng biết chuyện gì đã xảy ra. Có người cho tao hay: “cậu đang đạp xe phía bên phải bỗng xe đâmsang bên trái rồi ngả xuống đường, may mà không bị thương tích gì…”. Tao đứng dáo dát đâu chừng vài phút và nhận thấy quanh tao không có tí sương mù nào cả, bầu trời trong vắt sau những tia nắng ban mai rọi xuống khắp nơi…Khi tỉnh hẳn tao mới biết là mình đang trên đường đi học. Thế là tao vội vã nhảy lên xe đạp đến trường. Biết mình trễ nên tao đi thẳng vào văn phòng xin giấy cho vào lớp.
Mày biết không? Chuyện xảy ra như thế nhưng tao cứ nghĩ: “chắc mình bị sương mù chenên đi lạc đấy thôi…”. Chuyện này tao không kể cho ông bô bà bô nghe, sợ bị rầy là chuyện hoang đường bịa đặt.
Mày biết không? Ngày hôm sau và ngày tiếp sau đó, khi vừa đến đầu dốc La Sơn Phu Tử thì chuyện lại diễn ra như ngày hôm trước. Hậu quả là tao đến trường trễ và bị đuổi về, không cho vào lớp. Tao không thể hiểu được chuyện gì khiến tao lâm vào tình cảnh như thế. Tao có đặt câu hỏi “hay làma bắt!”. Nếu ma thì phải xảy ra ở Mả Thánh chứ sao lại trên đường đi…mà tao thì chưa bao giờ bước chân lên đến Mả Thánh hay là làm điều gì trái khuấy đối với những người đã nằm sâu dưới những ngôi mộ kia. Sự việc xảy ra làm cho tao sợ vì nếu cứ tiếp tục xảy ra nữa, thế nào tao cũng bị đuổi học. Đến ngày thứ ba khi tao vừa ló đầu vào nhà thì liền bị bà bô phán liền cho một câu: “Mày sao vậy?Giống người người mất hồn,sao không đi họcmà trở về? Bị ma bắt hả?”. Nghe hai tiếng “ma bắt” tao càng hoảng kinh hơn và cả ngày hôm đó tao không ăn uống gì và ngủ li bì. Ông bà bô tưởng tao bị bịnh nên cứ để cho tao ngủ suốt ngày hôm đó và qua đêm luôn.
Mày biết không? Tối hôm đó tao ngủ thấy chiêm bao chuyện xảy ra trước đó. Thế này. Lớp tao có thằng bạn tên Nguyễn Mại học khá giỏi và hiền lành, không bạn bè, không đàn đúm, đến trường vào lớp, tan học lủi thủi về nhà và chỉ có một mình tao chơi với hắn nên hắn cũng mến và nhiều lần rủ tao về nhà hắn chơi. Nhà hắn ở tận dưới ấp Cô Giang và đi học bằng xe đạp mỗi ngày. Hắn có người anh học trên hắn hai lớp. Đến nhà chơi nhiều lần và biết anh hắn có một tủ sách chừng năm sáu chục cuốn nên nhiều lần tao tò mò đến đọc các tựa đề sách. Có lần tao thấy ở gáy một cuốn sách có tựa ghi “Liêu Trai Chí Dị” của Bồ Tùng Linh. Tao từng nghe một người chị nói về sách “Liêu Trai Chí Dị” kể toàn những chuyện ma quái kì ảo lạ thường rất hấp dẫn của tác giả người Trung Hoa viết vào thời nhà Thanh ở cuối thế kỷ thứ 17. Một hôm tao bạo miệng bảo hắn lấy cho tao mượn cuốn “Liêu Trai Chí Dị” để đem về đọc. Lúc đó không có anh hắn ở nhà nên hắn lén lấy cuốn sách đưa cho tao. Về nhà tao đọc một hơi hết cuốn truyện chỉ trong một đêm, đúng là toàn những chuyện thần tiên, ma quái, hồ ly, lang sói cọp beo khỉ rắn…chẳng hạn như chuyện “Thiến Nữ U Hồn” kể chuyện chàng trai họ Ninh trên đường đi vào tá túc trong một ngôi chùa, tình cờ quen Yến Xích Hà. Cô này đã chết 18 năm trước bị yêu tinh khống chế bắt phải quyến rũ người để giết. Chuyện “Họa Bì” kể về một chàng trai đi đường gặp một cô gái nói là bị lâm nạn, chàng trai cứu nàng rồi mang về nhà để sống chung. Một đạo sĩ phát hiện nơi chàng có tà khí nhưng chàng không tin. Về nhà lén nhìn cô gái thì phát hiện ra đó là con quỷ khoác tấm da người. Chuyện “Họa Bích” kể chuyện hai chàng trai họ Mạnh và họ Chu vào chơi một ngôi chùa. Chu thấy trong phòng có một bức tranh vẽ trên tường và thấy một cô gái rồi cùng nhau yêu đương. Mạnh đi tìm không thấy Chu nên hỏi vị sư già. Vị sư liền gọi Chu từ bức vẽ đi ra. Mạnh và Chu hãi sợ bèn bái biệt nhà sư ra về…Đại khái có cả hàng trăm truyện nội dung tương tự như thế.
Mày biết không? Một hôm có thằng bạn tao đến nhà chơi thấy cuốn “Liêu Trai Chí Dị” để trên bàn học mà tao chưa kịp trả lại cho Mại. Tên này năn nỉ mượn, nói đọc xong ngày mai mang trả liền. Tin lời nên tao đưa cho hắn mượn. Hôm sau không thấy hắn mang trả. Tao có nhắc nhiều lần mà không biết vì cớ gì mà hắn cứ hẹn hết ngày này sang ngày khác. Sau đó tao quên bẳng luôn việc đòi sách và cũng quên luôn việc tao đã mượn cuốn đó của thằng Mại.
Mày biết không? Một hôm vừa vào đến sân trường thì mấy thằng cùng lớp cho hay là sáng hôm trước thằng Mại bị xe nhà binh đụng chết tại ngả ba chùa gần cây xăng. Tao nhớ ngay là chưa trả cuốn “Liêu Trai Chí Dị” cho hắn. Tối hôm đó tao ngủ thấy thằng Mại hiện về đòi sách. Trong chiêm bao hắn bảo: “vì cho mày mượn cuốn “Liêu Trai Chí Dị” không trả nên khi anh tao thấy trong kệ sách mất cuốn đó thì hạch hỏi tao. Tao khôngdám nói cho mày mượn và bị anh tao tát cho hai bạt tai…” Bẳng đi cả tuần lại xảy ra việc tao đi học nhưng không đi đến trường mà lại đạp xe đến ngả ba chùa liên tiếp trong ba buổi sáng. Tao nghĩ đến việc phải tìm cách trả lại cuốn “Liêu Trại Chí Dị” cho hắn.
Mày biết không? Không biết trời xui đất khiến thế nào mà thằng bạn lại mang cuốn “Liêu Trai Chí Dị” trả lại và tao tìm đến nhà để trả cho anh hắn. Đến nơi thì hàng xóm cho biết gia đình hắn đã dời đi nơi khác. Đạp xe từ ấp Cô Giang để về nhà thì trời đã chập choạng tối và suơng mù không biết nơi đâu kéo về che cả đường đi. Tao đạp xe ngang qua ngả ba chùa, đến cây xăng nơi tao bị vật té ba lần thì dừng lại, vào hỏi người bán xăng là mấy hôm trước có người học trò bị đụng xe ở đây phải không? Người bán xăng nhìn tao và đưa tay chỉ phía trái cây xăng nơi có mấy nhánh hoa glaieul đã héo nằm bên vệ cỏ. Lúc đó bên tai tao nghe tiếng của thằng Mại: “Hãy đưa sách chotao…hãy đưa sách cho tao…”. Thế là tao cầm cuốn “Liêu Trai Chí Dị” đến đặt ngay bên mấy nhánh hoa tàn xong vội vã phóc lên xe đạp một mạch về nhà. Cả người tao ướt đẫm mồ hôi mặc dầu trời lúc ấy rất lạnh.
Người kể câu chuyện trên tên Lê Văn Hải học cùng lớp nhưng khác ban với kẻ viết lại câu chuyện này. Hải đi Võ Bị khóa 19. Noel năm 1971 tình cờ gặp Hải trong quán Brodard trên đường Tư Do ở Sài Gòn khi Hải về phép. Sau vài câu thăm hỏi, chúng tôi nhắc vài mẫu chuyện xưa khi còn đi học và Hải đã kể cho tôi nghe câu chuyện trên và lúc nào Hải cũng bắt đầu câu nói bẳng “Mày biết không? Mày biết không?” khiến tôi nhớ mãi. Hải tử trận vào ngày 26 tháng giêng năm 1973, một ngày trước hiệp định Paris được ký kết!
Phong Châu
Chúc Mừng Chiều Nhạc Mùa Thu 2025
VĂN THƠ LẠC VIỆT bốn phương về
Sân khấu rực vàng gợi luyến mê
CHIỀU NHẠC MÙA THU hồn trải khắp
Đêm thơ lá đỏ cảm muôn bề
Mênh mang tiếng hát lòng hoài cổ
Réo rắt cung đàn dạ ái quê
Biết đến khi nào châu hiệp phố
Mừng THU đất Mẹ sẽ đề huề.
Phương Hoa – OCT 16, 2025
TIN LƯỜNG GẠT RÚNG ĐỘNG CỘNG ĐỒNG! CUỐI THÁNG 10 CÓ GÌ LẠ?
Mùa Thu đến! Mùa của yêu thương , mùa dậy lên những cảm giác bâng khuâng, tâm hồn thường xao động bởi màu nắng nhạt hắt hiu trên chòm cây xóm lá bắt đầu đổi sắc ngả vàng, rồi những cơn gió lay nhẹ. Lá bay, lá rơi cho lòng ai buồn hiu hắt. Nỗi buồn không tên hay có tên trong khoảnh khắc ru say đời ảo ảnh…
Lá đổ muôn chiều ôi lá úa
Phải chăng là những cánh đời em
Đêm đêm lìa xuống trần
tình vương hoen úa ôi những cánh đời mong manh
Than tiếc mà chi chiếc lá vàng bay về cuối trời
làm lòng anh nhớ mãi người ơi
Nhớ nhau từ làn môi đôi mắt
đành tìm trong nét bút xa xôi
“Lá Đổ Muôn Chiều” (Đoàn Chuẩn & Từ Linh)
Bao nhiêu ca từ viết về mùa thu càng làm lòng người ngây ngất yêu say đắm khung trời Hà Nội từng được miêu tả trong những tiểu thuyết của Tự Lực Văn Đoàn.
Có bóng mùa thu thức ta lòng sang mùa
Một ngày về xuôi chợt ghé Thăng Long buồn
Có phải em là mùa thu Hà Nội
Ngày sang thu anh lót lá em nằm
Bên trời xa sương tóc bay
……….
Có phải em là mùa thu Hà Nội
Nghìn năm sau ta níu bóng quay về
Ơi mùa thu của ước mơ
“Có Phải Em Mùa Thu Hà Nội”
(nhạc: Trần Quang Lộc, thơ: Tô Như Châu)
Thi nhân mặc khách chắc hẳn cũng mong chờ mùa thu
Anh mong chờ mùa Thu
Dìu thế nhân dần vào chốn Thiên Thai
Và cánh chim ngập ngừng không muốn bay
Mùa Thu quyến rũ Anh rồi
“Thu Quyến Rũ” (Đoàn Chuẩn & Từ Linh)
Khi người nhạc sĩ nuốt vào tim hình ảnh mùa thu, thì tình yêu bao la như mây trời dịu vợi, say sưa bất tận
Gửi gió cho mây ngàn bay
Gửi bướm đa tình về hoa
Gửi thêm ánh trăng màu xanh lá thư
Về đây với thu trần gian
“Gởi Gió Cho Mây Ngàn Bay” (Đoàn Chuẩn & Từ Linh)
Hãy hát, hãy say theo lời nhạc đầy trữ tình ẩn sâu nỗi niềm chất chứa điều tuyệt vọng, mà vẫn bám nó như thú của đau thương thoát thai bằng âm nhạc
Giòng sông nào đưa người tình đi biền biệt
Mùa thu nào đưa người về thăm bến xưa
Hoàng hạc bay, bay mãi bỏ trời mơ
Về đồi sim ta nhớ người vô bờ
Ta vẫn chờ em dưới gốc sim già đó,
Để hái dâng người một đóa đẫm tương tư
Đêm nguyệt cầm ta gọi em trong gió
Sáng linh lan hồn ta khóc bao giờ
Ta vẫn chờ em trên bao la đồi nương,
Trong mênh mông chiều sương
Giữa thu vàng, bên đồi sim trái chín
Một mình ta ngồi khóc tuổi thơ rơi
Thời gian nào trôi bềnh bồng trên phận người.
Biệt ly nào không muộn phiền trên dấu môi
Màu vàng lên, biêng biếc ánh chiều rơi
Nhạc hoài mong, ta hát vì xa người
Thu hát cho người, Thu hát cho người, người yêu …ơi
“Thu Hát Cho Người” (Vũ Đức Sao Biển).
Mùa thu được ví như người yêu bên cạnh, say đắm và ấm áp, níu kéo rồi buông lơi ru nỗi buồn lên thơ lên nhạc
Có yêu nhau, có tan vỡ nơi mùa thu đang ngự trị giữa thế gian thì cũng đừng nên đổ lỗi tại vì mùa thu
Thôi đừng hát ru, thôi đừng ray rứt
Lá trút rơi nhiều đâu phải bởi mùa thu
“Đâu Phải Bởi Mùa Thu” nhạc: Phú Quang, lời: Giáng Vân)
Thật là hạnh phúc khi ngoài trời êm dịu, thỉnh thoảng bắt gặp vầng mây tím phiêu bạt, lá vàng rơi nhẹ. Được uống trà thơ chữ nhạc lồng ý tưởng thật lãng mạn, lối văn trong sáng cuốn hút sự đam mê mãnh liệt. Dù còn vô số bài về mùa thu rất tuyệt vời như:
Thu Cô Liêu ( Văn Cao )
Mùa Thu Cho Em ( Ngô Thụy Miên )
Con Thuyền Không Bến ( Đặng Thế Phong )
Buồn Tàn Thu ( Văn Cao )
Mùa Thu Ru Em ( Đức Huy )
Nhìn Những Mùa Thu Đi ( Trịnh Công Sơn)
Chiếc Lá Cuối cùng ( Tuấn Khanh ) v…v…
Được thể hiện qua các giọng ca Thái Thanh, Mai Hương, Khánh Ly, Lệ Thu, Ánh Tuyết, Hà Thanh, Sĩ Phú, Anh Ngọc, Tuấn Ngọc và nhiều ca sĩ nữa. “Tre tàn măng mọc”, bây giờ có được Thiên Tôn, Ánh Tuyết, Ngọc Hạ, Ý Lan, Vũ Khanh thật là điều đáng mừng.
*********
Chiều 12 tháng 10 năm 2025 tại quán cà phê Lovers tọa lạc số 1855 trên đường Aborn RD. San Jose (bắc Cali) tổ chức chương trình nhạc “ Em Không Nghe Mùa Thu “ do ông Lê Văn Hải (Hội Trưởng hội Văn Thơ Lạc Việt) tổ chức cùng ban nhạc Thúy Nga đảm trách.
Tôi được nghe nhạc chủ đề mùa thu với bài ruột “Đâu Phải Bởi Mùa Thu”, “Mùa Thu Cho Em” do ca sĩ Hạnh Thảo hát thật tuyệt vời. Chị Thúy Nga (trưởng ban văn nghệ) cất lên giọng trầm ấm chuyển tải tiếng lòng của tác giả nghe buồn xa vắng :
Thu mang cho tình yêu Một thời đã qua
Thu mang cho người yêu
Một đời xót xa
Mùa thu đã xóa hết cơn mong chờ
Mùa thu sẽ cất dấu chân ơ thờ
Một người bước đi, lệ tình ướt mi
“Anh Đã Quên Mùa Thu” Tùng Giang, Nam Lộc).
Chị ca sĩ Thùy Nga chất giọng liêu trai giống ca sĩ Thanh Thúy dìu dắt hồn người bước vào cảnh thu nghe buồn ảo não
Hồn thu tới nơi đây gieo buồn lây
Lòng vắng muôn bề không liếp che gió về
Ai nức nở thương đời
Chân buông mau
dương thế bao là sầu …
“Giọt Mưa Thu” (Đặng Thế Phong)
Ngoài ra còn có nhiều ca sĩ khác nối tiếp bước vào chiều thu êm dịu đầy lãng mạn.
Đặc biệt có sự hiện diện của Thi Văn Nhạc sĩ Yên Sơn (thành viên của VTLV) từ Houston qua tham dự chiều nhạc, đã góp phần văn nghệ bằng bản “Khúc Thu Ca” do chính ông sáng tác, dù tuổi trên 80 nhưng giọng ông thật tốt, thật mạnh thả hơi diễn đạt theo lời nhạc nghe ngọt ngào.
Cám ơn Hội Trưởng VTLV. Cám ơn chị My (bà xã anh Hải đã đem hai ổ bánh Cake, bánh Thạch mừng hội viên có sinh nhật quý tư cũng như chả giò, bánh Patê-Chaud chiêu đãi từng bàn. Cám ơn các ca sĩ đem giọng ca tiếng hát chuyên chở mùa thu vào lòng người trong không gian tuyệt vời (cũng nói thêm vẫn như bao lần khách vào quán được nhận ticket uống nước free và ticket xổ số trúng thưởng).
Cám ơn thêm lần nữa anh Lê Văn Hải hội trưởng hội Văn Thơ Lạc Việt, cũng là chủ báo Thằng Mõ, Trưởng ban Truyền Thông Bắc Cali luôn tổ chức những sinh hoạt giải trí đem niềm vui đến mọi người.
Riêng với bạn nào đọc bài này, và nhất là với các nhạc sĩ, cho phép tôi nói vài dòng: Dẫu thấp kém về sự hiểu biết trong âm nhạc, chưa đủ khả năng cảm nhận và phân tích lời nhạc, xin các nhạc sĩ hoan hỷ tha lỗi cho nhé nếu ý tưởng sai lạc . Vì yêu thơ nhạc nên muốn lan man lời như mấy câu thơ dưới đây :
“Người đời ai cảm? Ta không biết
Ta cảm thương ai viết mấy lời
Thôi thì: Cùng thu tạm biệt
Thu hãy tạm lui
Chỉ để khách đa tình đa cảm
Một mình thay cảm những ai ai “
(Trích: Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu )
Minh Thúy Thành Nội
Tháng 10/2025
ĐỨC CHA NGUYỄN CHÍ LINH VÀ CHA ĐỖ MINH TUẤN ĐẾN ORANGE COUNTY-Kiều Mỹ Duyên
Buổi lễ Phát Động Phong Trào Vinh Danh Cờ Vàng – Westminster, California, 5/10/2025
Buổi lễ Phát Động Phong Trào Vinh Danh Cờ Vàng – Westminster, California, 5/10/2025 / Launch Ceremony of the Movement to Honor the Yellow Flag – Westminster, California (Oct. 5, 2025)
Xin trân trọng chia sẻ cùng Quý vị bài tường trình và một số hình ảnh trong Buổi Lễ Phát Động Phong Trào Tôn Vinh Cờ Vàng được tổ chức tại Tượng Đài Chiến Sĩ Việt–Mỹ, Westminster, California, vào Chủ Nhật, ngày 5 tháng 10 năm 2025, với sự tham dự đông đảo của các hội đoàn, tổ chức tôn giáo, binh chủng trong quân phục và đồng hương Việt Nam.
Xin kính mời Quý vị đọc bài viết và xem một số hình ảnh tiêu biểu bên dưới. (Ở cuối email có link album hình đầy đủ để Quý vị thưởng lãm thêm.)
BẢN TIẾNG VIỆT
Tôi rất vinh dự được tham dự Buổi Lễ Phát Động Phong Trào Tôn Vinh Cờ Vàng tại Tượng Đài Chiến Sĩ Việt–Mỹ, Westminster, California vào sáng Chủ Nhật vừa qua (từ 10 giờ sáng đến 1 giờ trưa). Buổi lễ quy tụ đông đảo các hội đoàn, tổ chức tôn giáo, binh chủng trong quân phục và đồng hương Việt Nam, trong không khí trang nghiêm, xúc động giữa rừng cờ vàng tung bay phất phới.
Một điểm đặc biệt làm nên ý nghĩa thiêng liêng của buổi lễ là sự hiện diện của Linh mục Nguyễn Hữu Lễ, 82 tuổi, từ New Zealand sang tham dự và ủng hộ phong trào. Cha Lễ, cùng với các vị lãnh đạo tôn giáo và các đoàn thể chính trị chân chính hải ngoại, là linh hồn và biểu tượng tinh thần của Phong Trào Tôn Vinh Cờ Vàng. Trải qua 13 năm tù đày trong lao tù cộng sản Việt Nam, chịu nhiều gông cùm và khổ nhục, ngài vẫn giữ vững đức tin và ý chí sống kiên cường. Khi được tự do và định cư tại New Zealand, Cha đã viết và xuất bản hồi ký “Tôi Phải Sống” (2003) — một tác phẩm chan chứa lòng yêu nước, niềm tin và tinh thần đấu tranh bất khuất — được tái bản năm lần và lan tỏa sâu rộng trong cộng đồng người Việt hải ngoại
Cha Lễ không chỉ kiên cường đấu tranh để bảo vệ Lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ — biểu tượng thiêng liêng của Tự Do và Dân Chủ Việt Nam — mà còn bền bỉ vận động để khôi phục tên Sài Gòn, thay cho tên Thành phố Hồ Chí Minh mà chế độ cộng sản đã áp đặt từ ngày 2 tháng 7 năm 1976. Sự hiện diện của ngài, một người từng chịu nhiều đọa đày vì đức tin và dân tộc, đã mang lại cho buổi lễ chiều sâu tinh thần đặc biệt, gợi nhớ những ký ức lớn lao và thiêng liêng trong lòng người Việt yêu nước.
Một kỷ niệm riêng khiến tôi vô cùng xúc động là vào năm 2005, khi Cha Lễ đến thăm tôi tại nhà ở Hawaii. Chúng tôi ngồi trên balcony nhìn ra Vịnh Kaneohe, và Cha đã chia sẻ rất nhiều về ước vọng của ngài trong công cuộc lấy lại tên Sài Gòn cho Việt Nam. Hơn 20 năm sau, khi chúng tôi tái ngộ, Cha vẫn nhận ra tôi ngay, còn nhắc đến cảnh đẹp Vịnh Kaneohe và tên ông xã quá cố của tôi — khiến tôi vô cùng cảm động và trân quý tình thân, cũng như lý tưởng kiên định của Cha.
Buổi lễ này không chỉ là một nghi thức phát động mà còn là tuyên ngôn tinh thần, nhắc nhở rằng: dù ở hải ngoại, người Việt vẫn trân trọng di sản của cha ông, vẫn hướng về quê hương trong tư thế kiêu hãnh, không quỵ lụy. Lá Cờ Vàng tung bay giữa không gian Westminster chính là ánh sáng biểu tượng cho lòng tự do, tinh thần đoàn kết và ý chí kiên cường của người Việt yêu nước.
Chương trình gồm phần cầu nguyện trước bàn thờ Tổ quốc do Hòa thượng Thích Minh Tuyên chủ lễ; các bài phát biểu sâu sắc của Hòa thượng Thích Huyền Việt, Linh mục Nguyễn Hữu Lễ, Thị trưởng Charlie Nguyễn Mạnh Chí, Dân biểu Tạ Đức Trí cùng nhiều vị thân hào nhân sĩ khác, xen kẽ với các tiết mục văn nghệ đặc sắc của các ca sĩ địa phương. Đặc biệt, các đoàn ca vũ thuộc Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ do nhạc sĩCao Minh Hưng phụ trách đã mang đến bầu không khí tươi vui và xúc động. Bàn thờ Tổ quốc được trang trí trang nghiêm, đẹp mắt, góp phần làm nổi bật tinh thần thiêng liêng và ý nghĩa trọng đại của buổi lễ.
Tôi rời buổi lễ trong lòng nghẹn ngào — nhìn từng lá cờ vàng bay cao, nghe từng lời phát biểu chan chứa niềm tin, tôi cảm nhận rằng di sản cha ông không hề mai một. Sự hy sinh, niềm tin và khát vọng của Linh mục Nguyễn Hữu Lễ mãi là ngọn đuốc soi đường. Xin cầu chúc cho phong trào này lan rộng, cho tinh thần dân tộc Việt luôn mạnh mẽ và tận hiến.
Trân trọng, Phạm Phan Lang
ENGLISH VERSION
It was my great honor to attend the Launch Ceremony of the Movement to Honor the Yellow Flag at the Vietnamese–American War Memorial in Westminster, California, on Sunday, October 5, 2025, from 10 a.m. to 1 p.m. The event brought together numerous community organizations, religious leaders, and veterans in uniform, as well as a large gathering of Vietnamese compatriots, in a solemn and deeply emotional atmosphere beneath a sea of yellow flags fluttering proudly in the breeze.
A truly meaningful highlight of the ceremony was the presence of Father Nguyễn Hữu Lễ, 82 years old, who traveled from New Zealand to attend and support the movement. Father Lễ, along with other religious leaders and righteous political organizations of the overseas Vietnamese community, stands as the spiritual heart and symbol of the Movement to Honor the Yellow Flag. Having endured 13 years of imprisonment under the Vietnamese communist regime, suffering hardship and humiliation, he remained steadfast in his faith and indomitable will to live. After regaining his freedom and resettling in New Zealand, he wrote and published his memoir, “Tôi Phải Sống” (“I Must Live”), in 2003 — a powerful testament of patriotism, conviction, and resilience, which has been reprinted five times and continues to inspire Vietnamese communities worldwide.
Father Lễ has not only fought tirelessly to defend the Yellow Flag with Three Red Stripes — the sacred emblem of Vietnamese freedom and democracy — but has also persistently advocated for restoring the name “Saigon,” replacing “Ho Chi Minh City,” which the communist regime imposed on July 2, 1976. His presence, as one who has suffered profoundly for his faith and his nation, lent the ceremony a deep spiritual resonance, awakening powerful memories and stirring hearts with national pride.
On a personal note, I was deeply moved to see him again after more than twenty years. Back in 2005, during one of his visits to Hawaii, Father Lễ came to my home. We sat together on the balcony overlooking Kaneohe Bay, where he spoke passionately about his dream of restoring the name Saigon to Vietnam. When we met again this year, he immediately recognized me and fondly recalled the beauty of Kaneohe Bay — and even remembered my late husband’s name — a moment that touched me profoundly and filled me with admiration for his enduring spirit and friendship.
This ceremony was not merely an official event but a spiritual declaration — a reminder that, even in exile, Vietnamese people continue to cherish their heritage, honor their ancestors, and uphold freedom with dignity and pride. The Yellow Flag flying high over Westminster stands as a radiant symbol of liberty, unity, and the unyielding Vietnamese spirit.
The program began with a prayer before the Altar of the Fatherland led by Venerable Thích Minh Tuyên, followed by insightful speeches from Venerable Thích Huyền Việt, Father Nguyễn Hữu Lễ, Mayor Charlie Nguyễn Mạnh Chí, Assemblyman Tạ Đức Trí, and other distinguished community leaders. The ceremony was interwoven with inspiring musical performances by local artists, including a touching performance by the dance troupes of the Artists’ Friendship Club directed by musicianCao Minh Hưng, which brought youthful energy and heartfelt emotion to the gathering. The Altar of the Fatherland, beautifully and reverently decorated, served as a spiritual centerpiece, emphasizing the sacredness and significance of the ceremony.
As I left the event, my heart was filled with emotion. Watching the yellow flags soaring high and listening to the heartfelt words of faith and unity, I realized that our national heritage remains alive. The courage, faith, and devotion of Father Nguyễn Hữu Lễ continue to shine as a guiding light. May this movement grow stronger and may the Vietnamese spirit of freedom endure forever.