• Tham luận

    Joyce Anne Nguyen : TIN VÀ KHÔNG TIN TRONG XÃ HỘI VN

    TIN VÀ KHÔNG TIN TRONG XÃ HỘI VN

    Joyce Anne Nguyen 

      
        Khi viết bài này trong chuyến tàu đi từ Prague đến Warsaw, tôi không có hy vọng sẽ tạo nên 1 sự thay đổi về quan điểm của người đọc, không hy vọng lớp trẻ VN đang sống tại VN có thể có cách nhìn khác hơn về hệ thống xã hội VN, đơn thuần là tôi viết chỉ để viết, viết quan điểm và cách nhìn của tôi. Tôi đã cố gắng để không bị xem là phiến diện nhưng quan điểm cần rõ ràng hoặc bên này hoặc bên nọ, không có thói quen đứng dạng chân cùng lúc 2 quan điểm.
        Không hẳn mọi điều ta cần phải tin đều là sự thật và chân lý. Cũng có khi đó chỉ là tuyên truyền. Tôi không tin vào điều tôi nghe và đọc, tôi không tin vào những lời người khác nói và ép buộc tôi phải nghe. Tôi chỉ tin vào những gì tôi đã tận mắt thấy, quan sát và trải nghiệm. Từ thực tế tôi tiếp nhận nhiều luồng và lối nghĩ khác nhau để rút ra kết luận riêng của mình. Dù là tuyên truyền hay không, đó cũng vẫn là cách nhìn và cách nói của những người khác, không phải của tôi.
     
        Tôi sinh ra ở Sài Gòn, và lớn lên ở Sài Gòn. Và tôi rời Sài Gòn ngày 22/4/2009 (đến Na Uy ngày 23/4). Tương đối đủ để hiểu về cuộc sống của con người tại VN, để thấy những ngóc ngách khía cạnh khác nhau của xã hội VN mà nhiều người VN sinh tại nước ngoài chỉ về 1 vài lần không thể thấy hết được. Trong cách nghĩ của tôi, sống trong 1 thời gian dài và ghé thăm vài lần, mỗi lần vài tuần là 2 việc hoàn toàn khác nhau. Những người sống trong nước có thể không biết nhiều về chính trị nhưng thấy rõ những mặt xấu và hạn chế trong môi trường mình đang sống.
        Ở đây tôi nói về việc tin và không tin trong xã hội VN.
        Khi tôi sinh ra và bắt đầu đến trường, tôi đã được dạy về Bác Hồ, được dạy đó là vị Thánh sống hoàn hảo không vợ không con cả đời hy sinh vì quốc gia dân tộc, không 1 xu trong tay rời khỏi nước tìm đường cứu nước.
        Tôi đã được dạy xã hội VN tốt đẹp tự do và tôn trọng con người ra sao.
        Tôi đã được dạy về những điều vỹ đại siêu việt của chủ nghĩa Marx- Lenin tôi phải học trong môn triết tại trường, được dạy về chiến tranh, về tinh thần đấu tranh bền bỉ bất khuất của con người VN đánh đuổi ngoại xâm.
        Khi ấy tôi vẫn còn nhỏ và tôi tin những gì tôi đã học tại trường. Tôi không nghĩ ta có thể lừa gạt con nít và nhồi nhét những điều dối trá cho trẻ thơ. Tôi đã nghĩ dân tộc VN là dân tộc hào hùng không bao giờ nhún nhường trước bọn xâm lược. Tôi đã nghĩ những điều ấy thật tuyệt vời và đáng tự hào. Tôi đã nghĩ…
        Cho đến lúc này, thật khó để tôi có thể thẳng thừng tuyên bố về chiến tranh hay con người Hồ Chí Minh.  Tôi có thể nói, nhưng như đã nói, tôi là 1 con người, 1 cá nhân, tôi không phải 1 con vẹt hay 1 cái máy cassette chỉ sáo rỗng lặp lại những gì tôi đã đươc đọc hoặc được nghe không qua kiểm chứng. Tôi không thể nói về những gì tôi không tận mắt chứng kiến hoặc trải qua. Có rất nhiều bằng chứng còn sót lại nhưng vẫn rất khó để có thể thuyết phục mọi người, nên tôi quyết định sẽ không nói gì về chiến tranh và lịch sử, mẹ tôi đã trải qua, đúng, nhưng mẹ tôi là mẹ tôi, tôi là tôi, và tôi không muốn trả bài.
    Tôi chỉ nhìn vào những gì đang diễn ra. Và nói về những gì đang diễn ra.
    Tôi đã được học về sự ưu việt và tốt đẹp của chế độ cộng sản, về những lý tưởng cao cả của người cộng sản cùng với chủ nghĩa Marx- Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
    Tôi đã nghe giáo viên phân tích về sự rệu rã của chế độ tư bản đang giãy chết bên bờ vực thẳm, bên ngoài giàu có đẹp đẽ nhưng bên trong đang chết dần chết mòn.
    Nhưng rồi tôi được đến nước ngoài. Tôi sống tại Na Uy, tôi đi qua Pháp, qua Đức, qua Tiệp Khắc và sắp tới sẽ là Ba Lan. Tôi phải tự hỏi, nếu chế độ này hoàn mỹ đến thế, tại sao nó lại sụp đổ ở hàng loạt các nước Đông Âu và trên Thế Giới  chỉ còn lại 4 nước là VN, TQ, Bắc Hàn và Cuba theo chế độ này ? 
    Tôi tự hỏi, nếu nhà nước cộng sản luôn lo cho dân và cho dân sự tự do, tại sao họ phải nổi dậy đấu tranh lật đổ, và bây giờ ở 4 nước này cũng có rất nhiều người đã chán ghét chế độ?   Tôi tự hỏi, xã hội ngày càng phát triển và tiến bộ, vậy tại sao từ năm 1975, sau 34 năm mọi người vẫn tìm rất nhiều cách khác nhau để rời khỏi nước như vượt biên, lấy chồng ngoại, lao động hợp tác, môi giới lao động….?
     
        Ở những nước Đông Âu đã từ bỏ chế độ cộng sản, tôi có thể thấy rõ cuộc sống của họ trở nên tốt hơn rất nhiều so với trước kia. Phát triển rõ rệt. Con người không dễ dàng bằng lòng chấp nhận số phận 1 cách thụ động mà chủ động đứng lên đấu tranh vì nh&acir
    c;n quyền và tự do dân chủ, khi họ được quyền đến sự thật thay vì những lời tuyên truyền dối trá và được phản kháng và cất lên tiếng nói của mình.
    Và khi tôi được học về chủ nghĩa xã hội, tôi nhận ra xã hội VN không hề đi theo chủ nghĩa ấy. Theo chủ nghĩa xã hội, mọi thứ thuộc về nhà nước, sự phân chia giai cấp gần như không có, không có tư hữu. ****
    Xã hội VN hay TQ có thể tiếp tục tồn tại vì họ từ lâu đã từ bỏ chủ nghĩa xã hội ban đầu – cái xã hội lý tưởng không giai cấp, và đi theo nền kinh tế tư bản. Rất nhiều người đã nói với tôi về công nghiệp hoá, hiện đại hoá định hướng xã hội chủ nghĩa và đất nước ta đang đi theo con đường xây dựng xã hội chủ nghĩa, thế nhưng họ đã bênh vực mù quáng mà không nhìn lại 1 chút để nhận ra sự tương phản 180 độ giữa mô hình chủ nghĩa xã hội và những gì nhà nước đang thực hiện. Kêu gọi công nghiệp hoá, hiện đại hoá và khuyến khích mọi người làm giàu, ấy là tư bản. Đó là lý do TQ, VN có thể tồn tại.
    Tôi tiếp tục tin và không tin trong xã hội VN. Tôi sinh ra là 1 con người và tôi sống như 1 con người, không muốn làm con rối để bị giật dây.
     
        Tôi đã được dạy về tinh thần yêu nước không khuất phục của con người VN.  Nhưng khi cuộc biểu tình của sinh viên nổ ra chống đối TQ liên quan đến vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa, họ bị đàn áp và bắt giữ.  Mẹ tôi cũng đã bị bắt vì biểu tình chống TQ. Chỉ vì yêu nước.  Những công an bắt giữ mẹ tôi và những người khác nói rằng mẹ tôi bị bắt vì lý do tụ tập không xin phép (không dùng từ “biểu tình”), nhưng không nói được muốn tụ tập phải xin phép ở đâu. Và từ sau đó họ bắt đầu chú ý đến gia đình tôi.  Họ đọc mail, họ nghe điện thoại, họ theo dõi… 1 lần mẹ tôi nhận ra 1 con cá và bảo “Tôi trông anh quen lắm !”, con cá bảo “Không, làm sao quen được.”  Không lâu sau khi chính thức gặp tại phường, người công an PA35 bước ra, chính là con cá, hỏi mẹ tôi “Sao, thấy quen không?”
    Khi mẹ tôi bắt đầu viết blog, tình hình trở nên khác đi.  Đôi khi công an đến nhà tôi và hỏi về giấy tờ và hộ khẩu, 1 cách bất thường.  Và đôi khi công an gọi mẹ tôi thuyết phục, bảo biểu tình như thế là ảnh hưởng đến an ninh, đến quan hệ ngoại giao của VN và TQ.  1 người công an khi ở quán cà phê cũng nói thẳng, thật ra những gì mẹ tôi viết là không có gì sai, nhưng không nên viết trên blog như thế cho người khác thấy, nếu bức xúc mẹ tôi có thể viết nhật ký.
        Tình hình không đủ nghiêm trọng để ảnh hưởng đến việc học của tôi. Tôi vẫn được đến trường như bình thường và cũng không ai xuất hiện để dạy dỗ và gây khó dễ.  Tôi cũng không nghĩ họ có nói gì với các giáo viên hoặc nhân viên trong trường. Không tới mức nghiêm trọng.
        Nhưng mẹ tôi không thể tiếp tục làm việc. Công việc đang làm dở bị ngưng nửa chừng, không 1 lý do rõ ràng, chỉ vài lời giải thích nhập nhằng mơ hồ khoả lấp. Có 1 giai đoạn mẹ tôi hoàn toàn không có việc làm, và nợ càng lúc càng dồn. Mỗi khi mẹ tôi đến 1 nơi làm mới, họ đều đến nói đôi lời với tổng giám đốc để dặn dò.
    Có lẽ người khác sẽ không tin và cho rằng đó là điều dối trá. Trong xã hội VN, người ta có câu  “1 điều dối trá nói trăm lần, ngàn lần sẽ trở thành sự thật.”  Những điều nhà nước bắt ta phải tin, dần dần ta tin không cần đắn đo suy nghĩ để kiểm chứng mức độ xác thực.  Ta tin vì ta đang sống trong xã hội này, ta tin vì ta đang ở dưới chế độ này.  Ta tin để tiếp tục sống.  Còn nhiều điều khó tin rút cuộc lại là sự thật.  Những điều tôi vừa kể, nếu được nghe từ ai đó xa lạ, có lẽ tôi sẽ không bao giờ tin.  Nhưng vì đó là những chuyện đang thực sự xảy ra và tôi đã tận mắt có mặt, chứng kiến và trải qua.
        Tôi cũng đã thấy họ bôi nhọ danh dự mẹ tôi cùng những người khác bất đồng chính kiến bằng những lời bôi xấu trước báo chí hoặc trên chính báo chí.  Tôi đã được học trong chính nền giáo dục VN về xã hội phong kiến khi người phụ nữ không được nói lên suy nghĩ của mình, không được đặt câu hỏi thắc mắc và phản kháng.  Nhưng ngày nay rút cuộc trong chính xã hội hiện tại, không chỉ phụ nữ mà tất cả mọi người nói chung không được phép tự do nói lên cách nghĩ của họ, không được phản kháng và biểu tình chống đối.
     
        Chẳng hạn như về dự án bauxite, bất chấp bản kiến nghị của rất nhiều người không ủng hộ ký vào, họ vẫn tiến hành dù biết rõ mức độ nguy hại của khai thác bauxite đến môi trường, đến đất và nguồn nước, đến cây cối xung quanh.  Khai thác bauxite, không loài sinh vật nào dưới nước có thể sống được và con người mắc bệnh lạ, TQ đã đóng cửa 1 loạt các nhà máy bauxite tại nước họ và sang VN tiến hành.  Khai thác bauxite, cá
    c cây như chè, cà phê.. đặc trưng ở vùng Tây Nguyên không thể trồng và mất vài trăm năm để có thể trồng lại.  Chưa kể đến việc khi tiến hành dự án bauxite, nhà nước TQ đưa nhân dân TQ sang làm việc dẫn tới việc người dân VN thất nghiệp. Về kinh tế, bauxite trước khi thành nhôm sẽ được làm thành alumina, VN không đủ điện để từ alumina luyện thành nhôm, và theo giá thị trường, alumina rất rẻ so với nhôm.  Nhưng điều quan trọng nhất mọi người đều phải cảnh báo là vấn đề an ninh đất nước.  Có thể quan điểm chính trị khác nhau, nhưng đa phần người VN đều căm ghét TQ (như cách TQ căm ghét VN).  Nhìn những gì TQ đã làm với Tây Tạng và Tân Cương và tham vọng bá quyền lấn sang cả lục địa đen, tôi không nghĩ TQ có thể bỏ qua thẻo thịt thừa VN.
    Nhà nước VN hoàn toàn không quan tâm đến bản kiến nghị.  Vẫn đồng ý ký và tiến hành dự án bauxite.
     
        Tôi đã được học về tinh thần đấu tranh bất khuất không nhún nhường và lòng yêu nước của người VN. Nhưng tôi đã thấy họ bắt giữ, đàn áp và gây khó dễ cho những người biểu tình chống TQ vì ảnh hưởng đến an ninh và ngoại giao giữa 2 nước. Tôi đã thấy nhà nước hăng hái lên tiếng ngay khi 2 cảnh sát Mỹ đánh 1 sinh viên VN vì anh này không đủ tiếng Anh và 2 bên không hiểu nhau.  Họ lên tiếng và thổi phồng sự việc, trong khi đó với những gì TQ đã làm với ngư dân VN, họ trì hoãn 1 thời gian trước dư luận và sự bức xúc của dân chúng mới rụt rè lên tiếng chút ít và sau đó tiếp tục giữ im lặng. 
    Tạp chí Du Lịch khẳng định chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa thuộc VN bị đình chỉ.  Trong giờ học, khi các học sinh  lên tiếng nhắc đến Hoàng Sa, Trường Sa và công hàm của Phạm Văn Đồng, giáo viên của tôi đã nói, theo cách các công an khác vẫn nói, đây là vấn đề “nhạy cảm” không nên bàn đến.  Rất nhiều lúc họ chỉ trả lời vu vơ, “Đấy là vấn đề “nhạy cảm” để nhà nước lo.”  Nhưng rút cuộc tôi chẳng thấy chút hành động rõ rệt nào của nhà nước.  Họ không cho phép người dân được quan tâm.
     
        Tôi đã sống trong lòng chế độ này.  Bây giờ tôi đang sống trong 1 nước khác và thời gian vừa qua may mắn tôi đã có cơ hội đến thăm 1 số nước tại Châu Âu.  Tôi đã nhìn, đã thấy, đã quan sát và so sánh.  Tại Na Uy, Pháp, Đức, Tiệp Khắc và Ba Lan, giáo dục đều miễn phí và học sinh không phải tốn 1 xu khi đến trường. Ở VN mọi người đều than thở chuyện học phí tăng càng lúc càng cao, dẫn đến việc bỏ học của nhiều người nghèo vì không có điều kiện để đi học.
        Tôi thấy họ tôn trọng mạng sống, tôn trọng dân họ.  Tại Na Uy, người thất nghiệp không thể tìm việc làm, dân tỵ nạn, người điên, chậm phát triển, tàn tật, người già… đều được nhà nước cấp tiền nuôi.  Có những trường hợp người bệnh, nhà nước bỏ tiền đưa người mẹ từ nước khác sang săn sóc con.  Họ cấp tiền cho người tâm thần mua rượu và thuốc lá, nghe có lẽ hơi kỳ lạ, nhưng theo cách họ nghĩ, đó là nhu cầu bình thường của người tâm thần.  Tôi đã từng cười việc họ thổi phồng, viết báo và phỏng vấn con gái 1 người đàn ông bị tù 3 ngày trong Thế chiến thứ 2, nhưng rút cuộc nó chỉ bắt nguồn từ nguyên nhân: họ tôn trọng dân họ, từng cá nhân trong đất nước họ, và số lượng người chết quá ít.
        Tại 1 nước Bắc Âu, 1 lần 1 thị trưởng phải đứng lên xin lỗi nhân dân trong thành phố vì 1 con đập mở ra và đóng lại đều đặn mỗi ngày, 1 lần sớm hoặc trễ vài phút chẹt chết 1 con thiên nga, ảnh hưởng đến sinh thái.
    Tại Pháp, mỗi khi giá cả xuống thấp, nông dân đi biểu tình và nhà nước đền bù 1 số tiền nhất định cho họ.
    Tại Đức, 1 lần các ôtô đều được thông báo về việc có trẻ con trên tuyến đường dành riêng cho xe ôtô chạy tốc độ cao, đây là 1 cậu bé 9 tuổi trễ xe buýt quyết định tự đi bộ đến trường, sau vài phút xe cảnh sát đến và đưa thẳng cậu bé đến trường học.   v.v…
        Tại VN. Cháy nhà. Sập nhà khi vừa thi công công trình. Lũ và dự báo thời tiết sai. Sập cầu. Cây đổ. Dây điện rớt. “Lô cốt” chắn đường. Tai nạn giao thông. Ung thư vì thức ăn kém vệ sinh và môi trường ô nhiễm. Vướng vào cột điện và ngắt điện quá trễ… Người ta có thể chết vì hàng trăm hàng nghìn cách khác nhau.
        Ở đây tôi không muốn chê bai chỉ trích đất nước tôi và vọng ngoại tâng bốc nước ngoài. Đơn thuần tôi chỉ nói lên sự thật. Nói lên những gì tôi đã nhìn thấy, đã quan sát tận mắt. Và tôi tự hỏi, 1 nhà nước có tốt không khi mạng người xem như cỏ rác, bao nhiêu người chết họ không quan tâm, đôi khi vì số lượng quá lớn họ phải đứng ra nói vài lời sáo rỗng cho qua và đền bù vài triệu cho xong ?  1 nhà nước có tốt không khi họ hoàn toàn không quan tâm đến đời sống v&agrave
    ; quyền lợi của nhân dân họ ?  1 nhà nước có tốt không khi họ ký tiến hành 1 dự án nhân dân đã ký kiến nghị phản đối ?  1 nhà nước có tốt không khi sau dự án bauxite họ chuyển sang dự án điện hạt nhân ?  1 nhà nước có tốt không khi họ đàn áp từ công nhân đến nông dân, từ Công giáo sang Phật giáo ?  1 nhà nước có tốt không khi họ phải theo dõi, bôi xấu, vu khống, chặn đường kinh tế, đàn áp và bắt giữ những người bất đồng chính kiến ? 
        1 bộ lãnh đạo có tốt không khi họ có thể tuyên bố trên báo chí họ là nô bộc của dân nhưng với báo chí nước ngoài họ bảo dân chúng là con cái nhà nước, con hư họ đóng cửa dạy riêng trong gia đình họ, không cần hàng xóm phải gõ cửa can thiệp ?  1 bộ lãnh đạo có tốt không khi chủ tịch nước sang Cuba tuyên bố VN và Cuba đang thay phiên canh giữ hoà bình cho Thế Giới, nhưng bản thân họ không dám lên tiếng về việc các ngư dân bị bắt giữ và cướp bóc trên biển Đông và không dám đề cập đến Hoàng Sa, Trường Sa với lời nói mơ hồ đó là vấn đề “nhạy cảm”, đừng bàn tới, đã có chính sách của nhà nước?
        (Ở những nước khác theo quan niệm của họ, ban lãnh đạo là do nhân dân bầu ra và đóng thuế nuôi, họ phải đại diện cho dân và tôn trọng quyền lợi của dân, không thích, dân có quyền thay 1 ban lãnh đạo khác).
        Nếu xã hội tốt, tại sao từ năm 1975 – được gọi là Thống nhất, cho đến nay trong suốt 34 năm, mọi người đều kéo nhau ra đi để tiếp tục sống bằng hàng trăm hàng nghìn cách khác nhau và người Việt ở khắp nơi trên TG? Nếu xã hội tốt, tại sao những người ra đi đa phần đều không muốn về ? Tôi đã đi, đã gặp và trò chuyện với rất nhiều người Việt ở Đông Âu, và họ đều chỉ muốn về chơi chứ không muốn về sống. Và rất nhiều người VN tôi biết không muốn trở về. 
    Đó không phải là không yêu nước.
        Nói thẳng thắn, tôi cũng không muốn về.  Tôi không về được và cũng không muốn về.  Đó không phải là không yêu nước. Đó không phải là không muốn góp phần xây dựng đất nước. Tôi đã từng viết 1 bài về vấn đề đó. Mỗi người chúng ta đều muốn làm gì đó cho đất nước, nhưng rút cuộc công sức sẽ chỉ tan thành tro bụi và đổ sông đổ biển vì bạn có thể xây dựng được gì trong xã hội 1 thằng xây 9 thằng phá này ? 
        Ông thủ tướng đeo trên tay cái đồng hồ vài chục ngàn đô, trong khi nhân dân phải cực khổ làm việc mưu sinh để có đủ tiền cho con đóng học phí, các công nhân phải làm việc cực khổ chỉ có vài trăm ngàn 1 tháng, các nông dân bị chèn ép giá đất đến độ phải kéo đi biểu tình…
        Đây không phải là xã hội chủ nghĩa như cái họ đang rao giảng nhồi nhét tuyên truyền cho mọi người, khi có những người làm việc cực khổ, nợ nần chất đống đến độ phải tìm những công ty môi giới tìm cách sang các nước Đông Âu làm việc cho nhà máy (tôi đã gặp họ) trong khi có những người có thể bay 1 chuyến từ Hà Nội vào Sài Gòn chỉ để ngủ 1 đêm để đổi không khí, có những người đồng hồ 800 đô mỗi tuần thay 1 cái và đến sinh nhật tặng bạn bè mỗi đứa 1 cái @.
     
        Và tôi tự hỏi. Tại sao chúng ta lại phải cam chịu chấp nhận ?  Tại sao chúng ta không thể lên tiếng phản đối ?  Tại sao chúng ta không thể đứng lên đấu tranh cho cuộc sống tốt đẹp hơn ?  Tại sao chúng ta không làm gì đó cho đất nước, thay vì chịu đựng hoặc bỏ sang nước ngoài và không cần quan tâm đến VN nữa ?
    Tại Ba Lan công nhân đình công và thổi bùng cách mạng với sự dẫn dắt của Giáo Hoàng.  Quân cờ domino đổ đầu tiên dẫn đến hàng loạt các quân cờ khác đổ 1 loạt tại các nước Đông Âu.  Người dân biểu tình hoà bình vì nhân quyền và tự do dân chủ, và người lính hạ súng từ chối bắn vào nhân dân họ.  Tại Đức, khao khát tự do người ta tìm cách vượt qua bức tường từ Đông sang Tây (như dân VN trước đây hàng loạt kéo nhau vượt biên gây chấn động Thế Giới) dẫn đến kết quả cuối cùng là giật đổ cả bức tường (vừa rồi tôi đã có cơ hội dự lễ tưởng niệm 20 năm bức tường Berlin sụp đổ).
     
    –   Vì tự do.  
     
    –   Vì quyền sống.  
     
    –   Vì tương lai.    
     
        Họ đã đứng lên. Nổi dậy.  Phản kháng . Cất lên tiếng nói và đòi hỏi cho tự do dân chủ.
    Nhưng liệu nhân dân VN sẽ tranh đấu cho cuộc sống tốt đẹp hơn hay tiếp tục cam chịu những mục ruỗng thối nát của chế độ với quan niệm đánh đồng yêu quê hương Tổ quốc và yêu nhà nước và suy nghĩ an ủi xã hội đang dần dần phát triển ?  (Ồ vâng, xã hội đang tiến bộ, đứng thứ 169 trong danh sách về những nơi có điều kiện sống tốt trên Thế Giới, và cách đây vài năm 1 tờ báo chính thống của VN đã viết, VN mất 175 n
    ăm để đuổi kịp Singapore với điều kiện Singapore đứng yên – điều này là không thể có).  Nhân dân VN sẽ đứng lên tự quyết định cho số phận dân tộc, hay chỉ vô vọng chờ đợi sự can thiệp của Mỹ (tại sao Mỹ phải can thiệp ?  Hãy nhìn cách Obama không dám tiếp Dalai Lama chỉ vì sợ phật lòng TQ) và hèn nhát khiếp nhược  (có lẽ sợ VN sẽ như TQ trong sự kiện Thiên An Môn đã cho xe tăng cán qua số sinh viên biểu tình ?)  với lời nguỵ biện VN là nước nhỏ không đánh lại TQ nên phải cúi đầu ?  (Đài Loan , Singapore … có phải nước nhỏ không ?  Tại sao những nước này không sợ TQ ?)
        Nhà nước này và những người tự nhận mình yêu nước hơn người khác chỉ vì bênh vực Đảng và chế độ luôn tìm ra cách giải thích và biện minh cho mọi sự kiện và vấn đề, nhưng tại sao thay vì tìm cớ, tìm cách giải thích khoả lấp cho qua chuyện, chúng ta không tìm giải pháp và làm gì đó để cải thiện những mặt không tốt ấy ?
    Tại sao thay vì chờ đợi cho 1 điều không bao giờ đến – sự can thiệp của 1 nước khác, chúng ta không tự quyết định cho số phận của chính mình ?
        Tại sao thay vì cam chịu sống cùng những mục ruỗng lũng đoạn của xã hội và những lời giải thích khập khiễng, chúng ta không đấu tranh cho cuộc sống tốt đẹp hơn ?
     
    Tôi buộc phải tin.  Tôi muốn tin.  Nhưng khác nhiều người, máu phản kháng đã có sẵn trong tôi.
    Tôi đọc những cách nghĩ khác nhau.  Tôi so sánh.  Tôi phân tích.  Tôi đặt câu hỏi.  Tôi nhìn vào thực tế.
    Tôi xem xét vấn đề.  Tôi kết luận.
     
    1 tờ brochure giới thiệu về buổi triển lãm tội ác cộng sản tại Tiệp Khắc.
    Museum of communism Dream Reality Nightmare.
     
        Những điều tôi đã nói, các bạn không tin và hỏi tôi bằng chứng thuyết phục đâu, thế các bạn đã bao giờ thắc mắc và nghi vấn về những điều các bạn đã được dạy dỗ bao lâu nay chưa ?  Các bạn có bao giờ nghi ngờ tính xác thực của những điều ấy hay trong quan niệm của bạn nhà nước không thể tuyên truyền áp đặt dối trá cho dân chúng và với bạn sống trong đất nước này, các bạn cần phải đặt lòng tin tuyệt đối vào nhà nước này và bạn tin (hoặc thuyết phục bản thân phải tin) rằng ban lãnh đạo đều đang cố gắng hết sức mình để làm những điều tốt đẹp nhất cho xã hội VN ? 
     
    Joyce Anne Nguyen
    ( Nguyễn Đắc Hải Di )

  • Tham luận

    Tân Đức :KINH CÁO MÌNH CHO CÁC GIÁM MỤC VIỆT NAM

    KINH CÁO MÌNH CHO CÁC GIÁM MỤC VIỆT NAM
     

    Tân Đức

    Làm Chính trị Sai: Giết chết một Dân tộc.
    Làm Giáo dục Sai: Giết chết một Thế hệ.
    Làm Tôn giáo Sai: Giết chết Đức Tin Giáo hữu.

    Vấn đề: Những câu chuyện cũ – mặc dầu cũ – nhưng vẫn còn phải nhắc lại nhất là khi hậu quả của nó  còn tồn tại. Hiện trạng rối mù và xáo trộn trong GHCGVN chính là hậu quả khởi đi từ những sai trái của HĐGMVN trong nhiều năm qua. Người viết không có ý nhắc lại để tô đen Giáo hội Mẹ, nhưng ngược lại đưa vấn đề lên bàn mổ theo lăng kính Đức Tin và Xã hội Công giáo mong góp phần cứu chữa một cơn bệnh trầm kha đang đe dọa sự Thánh thiện, Hợp nhất, và Vững bền của Giáo hội Mẹ trong những năm tháng trước mắt.

    Dâng Thánh Lễ là một nghi thức mỗi ngày các LM và Giám Mục trang trọng cử hành, hoặc trước cộng đoàn hay âm thầm riêng tư trong phòng nhà nguyện. Mồi lần tham dự Thánh lễ, tôi vô cùng xúc động nhìn vị Chủ tế  kính cẩn đọc KINH CÁO MÌNH. Ngài khiêm cung đánh ngực ba lần “ LỖI TẠI TÔI MỌI ĐÀNG” thú nhận cùng Thiên Chúa và “anh chị em” giáo hữu những tội “ĐÃ PHẠM” cùng với “những điều thiếu sót”. Thực ra câu “NHỮNG ĐIỀU THIẾU SÓT” không đủ diễn ý mà phải dùng sát nghĩa như câu tiếng Anh  “WHAT  I HAVE FAILED TO DO” là những “VIỆC PHẢI LÀM” mà tôi “ĐÃ KHÔNG LÀM“.   Dĩ nhiên người giáo dân không biết được những tội riêng các Ngài đã phạm, nhưng phần thứ hai thì sao?

    Vậy những tội nào là tội “ĐÁNG LẼ PHẢI LÀM”. Các việc đó tùy đứng bực trong Giáo hội và nặng hay nhẹ tùy mức độ của các hành động đó:

    1- Khi người dân lành, những đồng bào đói khổ của mình, THEO LẼ CÔNG BẰNG XÃ HỘI, đứng lên đòi lại quyền lợi hợp pháp trên tài sản đã bị các chức quyền chiếm đoạt bằng vũ lực và bá đạo để làm của riêng.. Dân chúng phải nghèo đi để các viên chức nhà nước trở thành tư bản đỏ
    Sau khi linh mục Rutilo Grande – một người đấu tranh cho dân nghèo bị ám sát- ngày 12 tháng 3, Đức Tổng Giám mục Oscar Arnulfo Romero của San Salvador đã lên tiếng đòi buộc chính quyền của Arturo Armando Molina phải làm rõ vụ việc, và ngày hôm sau, 24-3-1980, Ngài đã bị ám sát ngay trên tòa giảng.  Ngài nói: “Thiên Chúa cần đến người dân để cứu lấy thế gian… Thế giới của người nghèo dạy chúng ta rằng giờ giải thoát đến chỉ khi nào người nghèo không còn ngửa tay ăn xin chính quyền và giáo hội, nhưng họ trở thành người làm và người chủ động trong cuộc chiến để giải thoát chính mình.”
    …“Anh có thể nói với dân chúng rằng nếu họ (chính quyền) có giết được tôi, thì tôi tha thứ và chúc phúc cho những người giết tôi. May thay, họ sẽ ý thức rằng họ mất thì giờ vô ích. Một giám mục chết đi, nhưng Dân của Chúa, nghĩa là người dân     đen, sẽ không bao giờ chết cả.”
    HĐGMVN đã bao giờ lên tiếng bênh vực cho những người dân thấp cổ bé miệng?
    “Tôi cáo mình ….
    …..  “NHỮNG ĐIỀU TÔI ĐÃ KHÔNG LÀM”.

    2- Khi phải sống trong một chế độ mà độc tài mà đàn áp là pháp trị, tham nhũng là quốc sách, Nhân phẩm bị chà đạp, Tự do bị tước đoạt, Công lý bị chối bỏ, người dân lành – hình ảnh của Thiên Chúa –  đứng lên đòi “quyền sống và quyền được làm người” – một ân sủng tối thượng mà Ngài đã  ban cho:
    Cha Jerzy Popieluszko – một Linh mục Ba lan 37 tuổi đã bị mật vụ cộng sản sát hại  dã man  – vì  đã “không đầu hàng cám dỗ sống sót trong trại tử thần” và đòi hỏi tự do lương  tâm cho các công dân và linh mục”.
    Tôi cáo mình ….
    ….. “NHỮNG ĐIỀU TÔI ĐÃ KHÔNG LÀM”.

    3- Khi người giáo dân đứng lên cùng máu đổ, xương gãy, thịt nát và tù tội để đòi lại tài sản Giáo hội (KHÔNG phải của giáo dân) đã bị cường quyền nhà nước chiếm đoạt cả hàng chục năm  nay và nhất định không trả lại  Hồng Y Phạm Minh Mẫn khi mới lên làm Tổng Giám mục Sài Gòn, đã ra văn thư chính thức ký ngày 31 tháng năm 2001, phản đối nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam ngang nhiên xây dựng trên các phần đất là tài sản hợp pháp của giáo hội công giáo Việt Nam,và khẳng định dứt khoát rằng: "trách nhiệm của mỗi người công giáo là phải bảo vệ tài sản của giáo hội." (Thế nhưng sau khi lên chức Hồng y, thì Ngài im lặng!!).
     HĐGMVN đã có bao giờ lên tiếng nói bênh vực con chiên của mình khi họ thực thi trách nhiệm của người công giáo?
    “Tôi cáo mình ….
    …..  “NHỮNG ĐIỀU TÔI ĐÃ KHÔNG LÀM”.

    4- Khi người Linh mục anh em, LM thuộc quyền, người giáo dân, công dân đồng bào bị bắt, bị tù đày bất công trong nhiều năm vì đã lên tiếng đòi hỏi Tự do tôn giáo, Tự do ngôn luận, Dân chủ và Nhân quyền…
    Thật vô cùng xấu hổ khi nhìn sang nước Zimbabwe, Phi châu.  Giữa  cảnh đàn áp bất công, Tổng Giám Mục Pius Ncube đã cùng với Liên Hội Đồng Giám Mục Phi Châu và Madagascar, tố cáo: “Áp bức là tội lỗi và là điều không thể tương nhượng. Nó phải bị khuất phục.”  và  Ngài đã dẫn đầu đoàn biểu tình chống lại chính quyền Mugabe. Thế mà, HĐGMVN đã bao giờ lên tiếng nói bênh vực cho họ không?
    Tôi cáo mình ….
    …..  “NHỮNG ĐIỀU TÔI ĐÃ KHÔNG LÀM”.

    5- Khi guồng máy cầm quyền tham nhũng đã đẩy người dân vào cùng cực nghèo đói, kéo theo sự băng hoại trầm trọng của đạo đức xã hội : Buôn bán trẻ em và phụ nữ ra nước ngoài làm nô lệ tình dục, xuất cảng lao nô để vơ vét lợi nhuận cho đầy túi tham cán bộ ….
    HĐGMVN đã dám lên tiếng nói của lương tâm Công giáo?
    “Tôi cáo mình ….
    …..  “NHỮNG ĐIỀU TÔI ĐÃ KHÔNG LÀM”.

    6- Đức Maria, dầu dưới tước hiệu nào, cũng là Mẹ Thiên Chúa, là biểu tượng Niềm Tin cao trọng sau Thiên Chúa. Thế mà tượng Mẹ Sầu bi tại Phát diệm đã bị các thế lực cầm quyền địa phương đập nát. Chắc hẳn tượng Mẹ đã được làm phép và cung nghinh trang trọng vào vị trí – có thể là do một Giám mục hay một chức sắc cao trong Giáo hội – chứ đâu chỉ là một cục đá hay ngẫu tượng bên đường – Thế
    “Tôi cáo mình ….
    …..  “NHỮNG ĐIỀU TÔI ĐÃ KHÔNG LÀM”.

    7- THÁNH GIÁ là tượng trưng cao cả nhất cho Niềm Tin Kito giáo. Trong nghi thức ngày thứ Sáu Tuần Thánh, cây Thánh Giá đã được các Giám mục, Linh mục, giáo dân khắp thế giới long trọng cung nghinh và hôn kính. Thế mà cây Thánh Giá  tại Đồng chiêm đã bị các thế lực cầm quyền địa phương kéo xuống và đập nát. Thánh Giá – biểu tượng cứu rỗi của nhân loại –đã viết những trang sử máu tôn vinh bao nhiêu Thánh Tử đạo từng anh dũng từ chối không bước qua (Các GM Ba lan, Canada đã lên tiếng phản đối. Thế mà nhà mình cháy, mình ngồi thản nhiên, để cho hàng xóm cứu chữa – Có thể như vậy được sao?).
    …“Tôi quan tâm một cách sâu sắc về việc gia tăng bách hại người công dân Công giáo tại Quý quốc, và cách riêng các vụ bạo hành xẩy ra gần đâytại Giáo xứ Đồng chiêm…” (Tổng Giám mục Thomas Collins, Toronto).
    Ngược lại, HĐGMVN còn “nối giáo cho giặc” bằng bản tuyên cáo “LÊN TIẾNG HAY KHÔNG LÊN TIẾNG” đẩy con cái mình vào tay bạo quyền để họ thẳng tay hành hạ, có khác chi Phi-la-tô rửa tay giao Chúa Giêsu cho kẻ thù mang đi dóng đinh?
    Và cứ thế thì mai ngày, số phận của Đức Mẹ Bãi dâu, tượng Chúa Kitô Vũng tàu và….  sẽ? ai biết?
    HĐGMVN đã qúa hèn nhát không dám nửa lời lên tiếng!!!?
    “Tôi cáo mình ….
    …..  “NHỮNG ĐIỀU TÔI ĐÃ KHÔNG LÀM”.

    8- Trong khi các giáo dân tại Tòa Khâm sứ, giáo xứ Thái hà, Tam tòa, Đồng chiêm, Loan lý ….;    đã bất chấp đãn áp và đã đổ máu chống đỡ cho GHCGVN; Đức TGM Ngô quang Kiệt đã anh dũng đứng lên bênh vực và đã bị các thế lực chức quyền cùng đám “đầu gấu, du đãng” đe dọa tính mệnh qua bao nhiêu năm tháng, Ngài đã cô đơn trong khổ đau giữa đàn sói và sư tử bạo quyền Hà nội.  Thế mà,
    ….. “NHỮNG ĐIỀU TÔI ĐÃ KHÔNG LÀM”.

    9- Gần đây nhất, TGM Ngô Quang Kiệt đã bị gấp rút trục xuất khỏi Hà nội, ra khỏi Việt nam vào thời điểm “KHÔNG GIỜ” trong cô đơn và đắng cay chỉ vì sự uy dũng của một mục tử chân  chính dám đứng lên bênh vực con chiên mình trước bạo quyền cộng sản. Một Nguyễn thế Thảo năm 2010 cũng chỉ là một Cao đăng Chiếm 1975 – người đã vội vàng đẩy TGM Nguyễn văn Thuận ra khỏi Tòa GM Sàigòn. Nhưng mãi đến giờ phút này – sau hơn hai tháng – nào ai hay TGM Ngô Quang Kiệt phiêu bạt nơi nao? Số phận sống chết ra sao? Ai đã trả ơn một Mục tử như vậy? Giáo quyền và thế quyền ô trọc bẩn thỉu đâu có khác gì nhau?
    HĐGMVN có dám lên tiếng NÓI LÊN MỘT SỰ THẬT đau thương và bỉ ổi?
    “Tôi cáo mình ….
    …..  “NHỮNG ĐIỀU TÔI ĐÃ KHÔNG LÀM”.

    Chắc hẳn còn nhiều nữa, nhưng làm sao người giáo dân thấy được trong cái bóng tối dày đặc bưng bít bằng quyền uy qua cái vỏ ốc “Giáo phẩm và Giáo quyền”?

    NHẬN ĐỊNH:

    – Nhìn vào hiện trạng khủng hoảng và chia rẽ đau thương trong GHCGVN,
    – Nhìn vào hệ thống Đức tin của Giáo dân bị chao đảo, Niềm kính trọng  và tín thác của tín hữu nơi hàng lãnh đạo Giáo Hội bi xói mòn trầm trọng,
     – Phải vô tư mà nhận rằng:  Đó là  hậu quả những sai trái trầm trọng của hàng lãnh đạo là HĐGMVN.
    – Là tín hữu công giáo, chúng ta tin vào sự quan phòng của Thiên Chúa, vào sự can thiệp của Chúa Thánh linh để giữ Giáo hội vững bền; nhưng HĐGM đừng thử Ngài như lời cảnh cáo của Chúa Giê su khi bị cám dỗ trên núi cao. HĐGM phải thành tâm tự cứu trước, không phải chỉ ngồi không “chờ sung rụng.”, hay một phép lạ.. Ai là người gieo gió? Ai sẽ gặt bão?
    – Cổ nhân đã từng dạy “TRI HÀNH HỢP NHẤT”. Vậy Kinh Cáo mình còn ý nghĩa gì nữa không đối với các “Linh Mục Giuda và Giám mục xé rào”?

    Chúa Giêsu đã phán “TA LÀ ĐƯỜNG, LÀ SỰ THẬT”. Vậy các “Mục tử xé rào”  còn liêm sỹ cầm  Gậy Mục tử trong khi đã hèn nhát bỏ đàn chiên chạy để được ngủ yên trong quyền lực và danh vọng ban phát từ đám tà ma? Do đó, BAO LÂU CÁC NGÀI CÒN CHE DẤU SỰ THẬT, THÌ GIAN TÀ CÀNG ĐƯỢC CỔ VÕ.

    Theo kinh nghiệm dân gian:  “THƯỢNG BẤT CHÍNH, HẠ TẮC LOẠN”  là nguyên tắc bất biến  trong bất cứ cơ cấu xã hội nào (kể cả các cộng đồng sơ khai). Thế thì trang mạng của HĐGM còn tư cách gì để lên tiếng kẻ cả “mắng mỏ, xỉ vả” giáo dân là “hỗn xược, bất kính” đối với giáo quyền? Sao lại chửi bới truyền thông tự do trong khi họ đã chuyển tải sự thật? Vì sao thóa mạ “Nữ vương Công lý” là kẻ bịa đặt và phao tin vô căn cứ, là kẻ xách động đầu độc dư luận trong khi tin của họ là chính xác?   Các Ngài sợ “SỰ THẬT”?
    “ĐỒNG CẢM NHƯNG KHÔNG ĐỒNG THUẬN”. Ngoài các “GM xé rào”, chẳng lẽ trong HĐGM không còn các Mục tử chân chính nào đủ can trường dơ cao Cây Gậy Mục Tử để chăn dắt đàn chiên trong ĐƯỜNG CÔNG CHÍNH như lời các Ngài đã trịnh trọng thề hứa khi lãnh chức GM sao? Chẳng lẽ chỉ có một Nguyễn Kim Điền, một Nguyễn Văn Thuận, một Ngô Quang Kiệt và một Cao Đình Thuyên? Các Ngài đã quên bài học giáo dục vỡ lòng “BÓ ĐŨA” trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư rồi sao? Các Ngài quên rằng sau lưng còn có 6 triệu giáo dân sẵn sàng hy sinh cho Lẽ phải và Đức Tin? Chả lẽ GHCGVN vô phúc hơn thành Sô-dô-ma, vì trong HĐGMVN không còn một người sạch? NGƯỢC LẠI, NGƯỜI GIÁO DÂN CHÚNG TÔI TIN RẰNG TRONG HĐGMVN VẪN CÒN ĐA SỐ CÁC VỊ MỤC TỬ CHÂN CHÍNH, NHƯNG CHẲNG LẼ VÌ E SỢ KHIẾP NHƯỢC, NÊN ĐÀNH ĐỂ BỊ KHỐNG CHẾ DO MỘT THIỂU SỐ CÓ CHỨC QUYỀN ĐANG NẤP BÓNG THẾ QUYỀN?

    KẾT LUẬN:

    Những lỗi lầm của HĐGMVN trong thời gian qua – với cấp bực Hồng Y, Tổng Giám Mục, Giám Mục – không còn ở mức độ khinh suất, mà là môt trọng Tội.  Đã là Tội thì phải Sám Hối, Chừa bỏ và Đền tội. Đã đành Lịch sử là một Quá khứ đã sang trang, nhưng không thể để nó tái diễn. Xin đừng tiếp tục làm những “con chó câm” để khỏi đắc tội với GHCGVN và dân tộc. (Lời của  Đức Thánh Cha Benedicto XVI- Hồng Y Ratzinger – trong cuốn “Muối Cho Đời”, kịch liệt lên án những vị mục tử cam tâm làm “chó câm” trước bất công và bạo lực)

    Với truyền thống người công giáo nói chung – đặc biệt là người công giáo VN, chúng ta luôn tôn trọng hàng Giáo sỹ và tuân phục – nhiều lúc gần như  mù quáng. Thế  nhưng các Mục tử đừng để giáo dân mất đi Niềm Tin Cậy của họ. Khi đã mất NIỀM TIN, thì RẤT KHÓ LẤY LẠI, VÀ ĐÓ SẼ LÀ MỘT ĐẠI HỌA CHO GHCG VIET NAM của chúng ta. Xin hãy bỏ thái độ hống hách “cả vú lấp miệng em” qua những lời hù dọa ấu trĩ thiếu tính thuyết phục “CHỐNG CHA LÀ CHỐNG CHÚA”. Luận điệu rẻ tiền đó đâu có khác gì luận điệu độc tài của đám người vô học kêu gào “YÊU NƯỚC LÀ PHẢI YÊU XÃ HỘI CHỦ NGHĨA”??

    Người giáo dân có lý do để lo, để sợ:
    “Chúng tôi sẽ không giết ông đâu! Chúng tôi chỉ cần để cho Giám mục các ông giết nhau thôi.” (Lời một người đứng đầu cục An ninh đã nói với tù nhân Nguyễn Văn Thuận – theo lời kể lại của một linh mục thân tín của Ngài). Xin đừng để câu nói phũ phàng đó thành sự thực . Lại thêm một câu đau đớn từ một công an nói với một Linh mục Việt kiều:  ….”Chúng tôi ở đây chỉ cần ‘nắm’ các giám mục là đủ rồi !”
    Sự thực đang ló dạng?

    XIN CHÚA THÁNH THẦN THỔI THẦN KHÍ CAN ĐẢM “CÁC CON ĐỪNG SỢ” VÀO CÁC VỊ MỤC TỬ CHÂN CHÍNH ĐỂ CÁC NGÀI LÊN TIẾNG NÓI PHÁ VỠ NHỮNG MƯU TOAN BẤT CHÍNH ĐANG CHI PHỐI HĐGMVN HIỆN NAY.

    Đền trả:
    Khi đã nhận lỗi lầm và trách nhiệm, thì theo lẽ công bằng cáo nhân phải đền trả . Đền trả lại thiệt hại đã gây ra, nhất là thiệt hại về tinh thần và danh dự. Qua những lỗi lầm trên, HĐGMVN đã gây thiệt hại trầm trọng đối với danh dự của GHCGVN, của cộng đồng dân tộc VN. Vậy đã đến lúc HĐGMVN phải lên tiếng trả món nợ đó bằng một lời công khai nhận lỗi và xin lỗi. Hãy can đảm noi gương Đức Thánh Cha Gioan Phao lo II đã lên tiếng xin lỗi về những lỗi lầm của Giáo Hội Công Giáo trong quá khứ. Một Lãnh Tụ Giáo Hội hoàn vũ còn có can đảm đó, thì tại sao HĐGMVN lại không dám??? Làm được như vậy thì chắc chắn HĐGMVN sẽ lấy lại được thế đứng và uy tín của mình trong cộng đồng giáo dân Việt nam tại quốc nội cũng như hải ngoại, và GHCGVN sẽ  hiên ngang ngững mặt lên với cộng đồng dân tộc.

    Hành động can đảm đó cũng sẽ là câu trả lời cho thế lực cầm quyền phi nhân và phi nghĩa tại Việt nam để họ ngưng tay đàn áp tôn giáo, chính trị và các phong trào nhân quyền như họ đang lì lợm leo thang tại Việt nam hiện nay.

    Tân Đức

  • Tham luận

    Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất :HƯ hay THỰC

    hay THỰC

     

     

                                                                               Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

     

         Đối với cộng đồng tỵ nạn người Việt trên thế giới, biến cố gây sôi nổi nhất lúc này là việc con hát Đàm Vĩnh Hưng (ĐVH) bị xịt hơi cay vào mắt ngay trên sân khấu lúc nó đang trình diễn. Vấn đề đã được báo đài tường thuật đầy đủ, và còn tiếp diễn dài dài, chúng tôi không cần lặp lại, chỉ xin nêu một vài cảm nghĩ sơ khởi sau:

     

    Những Nhận Định

     

        Giả thiết Lý Tống (LT) không xịt hơi cay mà xịt acit chẳng hạn, con hát ĐVH sẽ bị tắt tiếng suốt đời. Cuộc đời nó sẽ đi vào tối tăm. Nhưng kết quả cuộc đấu tranh của ngưòi Việt tỵ nạn sẽ rất bất lợi, vì trước dư luận thế giới, chúng ta không những không chứng minh được VGCS đang tấn công chúng ta, mà chúng ta sẽ trở thành kẻ khủng bố. Nhờ xịt hơi pepper, tên ĐVH có thể hát trở lại trong vòng 15 phút sau, tội trạng của LT được chứng minh rằng đây chỉ là đòn cảnh cáo chứ vô hại. Hơn nữa về mặt chính nghĩa đấu tranh, chúng ta gặt hái được nhiều thành quả đáng kể. Sự kiện này:

     

    1.  Làm dấy lên phong trào chống văn hóa vận của VGCS rất sôi nổi trong cộng đồng tỵ nạn mà lâu nay tưởng chừng như đã tắt ngấm. Từ đó thấy được tinh thần chống cộng của đại đa số đồng bào tỵ nạn vẫn rất cao và rất kiên cường, bắt buộc bọn VGCS phải e ngại và dè chừng, không dám lấn lướt chúng ta như trước.

     

    2.  Làm lộ diện những tên bầu show vì tham đồng tiền nhơ bẩn đã bán rẻ lương tri và bán đứng đồng bào, những tên MC mặt dầy hơn thớt chuyên đưa người cửa trước rước người cửa sau để kiếm tiền như những mụ tú bà trong động điếm. Chắc chắn những bọn này phải e ngaị và chùn bước.

     

    3.  Đủ tác dụng để cảnh cáo bọn con hát trong nước còn mơ tưởng ra tuyên truyền và hốt bạc tại hải ngoại này, và nhiều khi còn hỗn láo nhục mạ người tỵ nạn. Chúng tôi không nhớ rõ nhưng biết có một con hát nào đó đã đe dọa chôn sống người tỵ nạn kia đấy. Thật ngông cuồng và khốn kiếp. Tất nhiên cũng còn cảnh cáo luôn bọn xướng ca vô loài mang danh tỵ nạn nhưng vẫn nuôi mộng trở về lòn trôn bọn VGCS.

     

    4.  Cho biết những ai là người thích đi nghe bọn này hát? Một người bạn lăn lộn trong giới báo chí cho biết đại đa số đám khán thính giả là thành phần du sinh và thân nhân ở hải ngoại, còn lại là “ĐƯỢI tha phương cầu thực, vì người tỵ nạn CS thực sự và có liêm sỉ không bao giờ mất tiền đi nghe bọn này hét cả.

     

    5.  Tự nhiên vạch ra lằn ranh giữa những người chống cộng dứt khoát và những kẻ chủ trương hòa hợp hòa giải với VGCS bởi một sự thật hiển nhiên là, hầu như tất cả mọi tổ chức, mọi nhóm, mọi cá nhân xưa nay kêu gọi đa nguyên đa đảng, bỏ điều 4 Hiến Pháp v.v. đều im lặng trước chiến dịch NQ36 của VGCS mà cụ thể là vấn đề tên ĐVH bị xịt hơi cay xẩy ra rất sôi nổi trong cộng đồng.

     

    6.  Còn làm lộ diện những tờ báo, những tên viết báo “hồnTrương Ba, da hàng thịt”. Tờ báo nào đã quảng cáo show ĐVH? Tờ báo nào đã cung cấp chỗ cho tên ĐVH mở cuộc họp báo? Nhà báo nào đến chầu chực để nghe tên này nói láo. Không nghe thì cũng biết nó nói gì rồi thì hà tất phải đến chầu chực để nghe nó nói. Có bao giờ nó nhận nó sai đâu? Ngày xưa bọn Bắc Việt xua quân xâm chiếm miền Nam rành rành như thế mà chúng còn chối leo lẻo, thì thử hỏi tên con hát đảng viên tự nhận nó đi tuyên truyền NQ36 sao? Một điều đáng lư ý khác nữa là tên ĐVH họp báo tại Anaheim hay Westminster gì đó có vi phạm luật lệ của thành phố này không. Người đứng ra tổ chức có vi phạm không. Chúng tôi nhớ không lầm là hình như luật lệ thành phố có cấm những tên CS lai vãng đến các thành phố này thì phải. ĐVH là một đảng viên CS, nó mở họp báo ở đây mà không phạm luật sao? Xin bà con coi lại vấn đề này.

    7.  Kết quả quan trọng nhất có thể đạt được nếu LT, các luật sư, và những vị dấn thân trực tiếp trong vụ này biết làm và làm khéo, là biến cố này có thể làm cho dư luận Mỹ hiểu được chính nghĩa chống cộng của người tỵ nạn để họ bằng lòng ủng hộ chúng ta.

         Đừng tưởng rằng người Mỹ sáng suốt về các vấn đề chính trị thế giới, nhất là các vấn đề của VN. Xin đan cử một thí dụ để dẫn chứng người Mỹ ngu dốt lắm. Tuần qua, bà dân biểu Sheila Jackson Lee, người da đen, đơn vị 18 Texas, thành viên Ủy Ban Đối Ngoại, và Tiểu Ban Trung Đông và Nam Á Hạ Viện Hoa Kỳ đã tuyên bố tại cuộc họp khoáng đại Hạ Viện một cách quái đản thế này: Ngày nay chúng ta có 2 nước VN Bắc và Nam vai sánh vai trao đổi và làm việc chung với nhau. Chúng ta có thể không đồng ý với các việc mà miền Bắc làm, nhưng họ sống trong thanh bình. Tôi hy vọng miền Bắc có được một thành tích về nhân quyền hoàn hảo hơn, nhưng dù sao họ cũng đang sống đề huề bên cạnh nhau (Today we have two Vietnams, side by side, North and South, exchanging and working. We may not agree with all that North Vietnam is doing, but they are living in peace. I would look for a better human rights record for North Vietnam , but they are living side by side.) (The Washington Times 7-18-2010). Một dân biểu trong Ủy Ban Đối Ngoại Hạ Viện mà hiểu biết về VN như vậy thì thử hỏi giới bình dân Mỹ biết gì về CSVN và về vấn đề người Việt tỵ nạn chúng ta. Làm cho dư luận Mỹ hiểu chúng ta là điều hết sức cần thiết chứ không coi thường được.

    8.  Điểm so sót của chúng ta là phần đông chúng ta đã thổi tên ĐVH lên hơi quá đáng. Báo chí đến nghe nó họp báo là không nên. Có gì phải thông tin về những điều nó nói láo. Gọi nó là ca SĨ là đề cao nó quá. Trong văn hóa VN, chữ SĨ và chữ SƯ trong cái title để gọi một người nào đó rất quan trọng. Người đó cần hội đủ ít nhất 2 điều kiện: một là người đó phải đạt tới cảnh giới cao nhất về chuyên môn, khả năng, hay nghề nghiệp. Hai là phải có tư cách, đức hạnh đúng với phẩm giá của nghề nghiệp đó. Những người viết nhạc chỉ viết một vài bài tình ca rẻ tiền thứ “mì ăn liền” chẳng nên gọi là nhạc sĩ. Con hát nếu phải giở những trò tiểu xảo khoe vú phơi rốn, hay nhẩy choi choi như khỉ ăn ớt trên sân khấu để ăn xin cảm tình của khán giả thì nhất định không thể gọi là ca sĩ. Tên ĐVH không có 2 tiêu chuẩn để gọi là sĩ nên không nên gọi nó là ca sĩ. Gọi nó là ca công hay con hát được rồi.

    Những Việc Nên Làm

       Xin có vài ba ý kiến sau đây nhân cơ hội này:

    1.  Nếu LT và các luật sư khéo lèo lái được các quan tòa (xử sau này) chấp nhận hành động pepper spraying của LT là do động cơ chính trị và thắng kiện thì tức là chúng ta đã dành được chính nghĩa. Từ đó các đảng phái, đoàn thể, và các cá nhân chống cộng thực sự dựa trên sự kiện cụ thể này để phát động chiến dịch mở mắt các thành phần Mỹ khác từ thượng tầng đến hạ tầng xã hội. Đoạt lấy sự chủ động mà hiện nay đang ở trong các thành phần chủ trương hòa hợp hòa giải với VGCS.

    2.  Vận động cộng đồng tỵ nạn embargo và boycott giới văn nghệ sĩ và bọn trung gian thông đồng làm ăn với VGCS như không coi các show có các con hát đã về đầu hàng CS, không mua đĩa nhạc của chúng v.v. Cô lập bọn hòa hợp hòa giải. Nếu thành công chiến dịch sẽ lan dần sang đến các lãnh vực khác. Và cuối cùng là cộng đồng tỵ nạn hải ngoại sẽ tự mình đơn phương embargo và boycott tập đoàn VGCS trong nước như không gởi tiền, không về VN, không mua hàng của VGCS, trừ những trường hợp thật sự cần thiết mà thôi. 

    3.  Trong cuộc biểu tình tại San Jose ngày 18-7 vừa qua, chúng tôi thấy có sự tham dự của DB Cao Quang Ánh. Chúng tôi rất cảm kích và hoan nghênh ông. Tuy nhiên, chúng tôi thiết nghĩ, ở cương vị một dân biểu liên bang, ông có thể làm một chuyện gì đó thiết thực và hữu ích hơn là chuyện tham gia biểu tình nhiều. Chẳng hạn ông có thể đưa ra QH một dự thảo luật cấm các show có mặt các con hát trong nước, nếu các show này bị nhiều (vài ba trăm chẳng hạn) người complain vì lý do nó quấy nhiễu và làm xáo trôn sự an vui của cộng đồng, hơn nữa còn làm tốn hao công quĩ vì cảnh sát phải tăng cường an ninh v.v. Nếu nhà hàng xóm của ông nuôi một con chó cứ sủa ban đêm làm ông mất ngủ, ông có quyền nhờ luật pháp bắt người hàng xóm phải khóa mõm con chó lại. Hoặc nếu ông có lòng muốn xây một ngôi chuà hay thánh đường trong một khu vực, nhưng bị cư dân ở đấy phản đối với chính quyền địa phương vì Chùa hay nhà thờ sẽ làm họ phải mất sự yên lặng trong cuộc sống, hẳn nhiên ông không thể đạt được ý muốn dù là việc công đức. Tôi không rành về luật, nhưng cũng thử đề nghi một thí dụ, còn tùy theo sáng kiến của ông. Nếu được thì đồng bào sẽ đỡ phải biểu tình. Tốt biết mấy.

    Cảm Nghĩ Cuối Cùng

         Ông bà ta thường nói “Mưu sự tại nhân, thành sự tại Thiên”. Ở cái mảnh đất San Jose này mà cứ khẳng định mưu sự tại nhân, thành sự tại Thiên là sai bét. … dĩ vãng giờ đã xa rồi … nhưng người ta còn nhớ, đã có nhiều chuyện xẩy ra ở đây mưu sự do con người, nhưng bất thành sự cũng lại do con người cả. Đổ cái thất bại lên đầu ông Trời thì oan cho Ổng lắm. Việc chống văn hóa vận của VGCS hiện nay cần rất “cẩn tắc vô ưu” để tránh cái kết cuộc bất thành sự tại nhân như trong quá khứ mà ông LT góp phần chủ động và trực tiếp. Lại còn một điểm này nữa. Ông LT ra khỏi nhà tù vẫn còn mặc bộ đồ giả đàn bà trông ngộ ghê vậy đó. Nhìn ông, người ta thắc mắc không hiểu ông làm chuyện đại sự quốc gia hay đang mần tuồng tranh đấu. Hư hay thực chẳng biết đâu mà mò. Rõ khổ.

    Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

    ——————————————————————-

    KHẢ TỬ, BẤT KHẢ NHỤC

                                                                                     Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

     

         Để nắm vững cái thường gọi là chuyên chính vô sản, VGCS phải triệt hạ không nhân nhượng tất cả mọi cá nhân hay tổ chức nào mà chúng cho là nguyên nhân có thể dẫn đến sự sụp đổ của chế độ. Đó là nguyên tắc không thay đổi của CS. Trường hợp đức TGM Ngô Quang Kiệt là một thí dụ điển hình. Bằng mọi cách và bằng mọi giá, chúng phải đẩy ngài đi. Cái may cho ngài là, chúng chỉ đẩy ngài đi ngoại quốc mà không thủ tiêu ngài như chúng đã thủ tiêu đức TGM Nguyễn Kim Điền, hay như mật vụ Balan thủ tiêu Lm Jerzy Popieluszko. Tình thế và hoàn cảnh hiện nay của VGCS không cho phép chúng hành sử lỗ mãng như trước nữa. Đơn giản chỉ có thế. Đừng tưởng rằng VGCS bây giờ văn minh hơn hay nhân đạo hơn. Lầm to.

     

         Sau khi đẩy được đức TGM Ngô Quang Kiệt đi rồi, và đã đặt được người của chúng thay thế rồi, VGCS “lại quả” một chút để rửa mặt cho Tòa Thánh theo thông lệ ngoại giao quốc tế: bánh ích quăng đi, bánh qui quăng lại, bằng cách cho phép Tòa Thánh được cử một phái viên không thường trú tại VN. Vấn đề này, báo chí loan tin như sau: ngày 23-24/6/2010 phái đoàn Việt Nam đã đến Vatican để tiến hành khóa họp thứ 2 của Nhóm Làm Việc chung giữa Việt Nam và Tòa Thánh. Khóa họp được hai đồng chủ tọa là Đức Ông Ettore Balestrero, thứ trưởng ngoại giao Tòa Thánh làm trưởng đoàn, và Nguyễn Quốc Cường, thứ trưởng ngoại giao, trưởng đoàn Việt Nam. Mục đích việc đặt phái viên không thường trú của Tòa Thánh là nhằm tăng cường quan hệ giữa Vatican và Việt Nam , cũng như quan hệ giữa Vatican và Giáo hội Công giáo VN. Đối với VGCS thì sự kiện này chẳng là cái gì cả. Trong chỗ riêng tư, một nhân viên bộ Ngoại Giao VGCS đã nói: Nó (việc đặt phái viên không thường trực) chẳng có gía trị gì cả. Nhưng với Tòa Thánh thì đây lại là một thành công lớn. Nó là công khó của hàng mấy thập niên thương lượng và trông đợi, là kết quả của việc phải cắn răng chịu nhục để thay đổi hàng ngũ lãnh đạo GHVN một cách đầy tai tiếng. Nó còn là việc dám liều mạng đánh đổi lòng tin của giáo dân VN vào Tòa Thánh với một cái gì đó rất mơ hồ, chưa hình thành và chưa lấy gì làm bảo đảm.

     

         Kết cục chuyện xẩy ra tại VN không phải ngẫu nhiên, nhưng là do đường lối ngoại giao hiện nay của Tòa Thánh đem lại. Vấn đề đặt ra là trong vụ TGM Ngô Quang Kiệt, Tòa Thánh hành động vì lợi ích của Giáo Hội hay của quốc gia Vatican . Thật sự rất khó trả lời. Nhưng suy luận thế này, nếu bảo rằng Tòa Thánh làm việc vì giáo hội thì e rằng không hợp lý, bởi vì không thể nào Tòa Thánh, vì để thỏa mãn đòi hỏi của một nhà nước ma quỉ, lại đi hy sinh tâm tư, tình cảm, cùng là khát vọng chính đáng của giáo dân như thế. Còn nếu cho rằng Tòa Thánh làm theo đường lối ngoại giao thông thường trong mối quan hệ giữa các quốc gia với nhau, thì phải giải thích làm sao lời Chúa đã xác định trước mặt toàn quyền Pilate: Nước của Tôi không thuộc về thế gian này. Nói tóm lại thì Tòa Thánh trong nhiều trường hợp đã lẫn lộn việc đạo với việc đời. Có thể nói đó là tính đặc thù của Tòa Thánh Vatican . Không biết phải gọi nó thế nào cho đúng, thôi thì cứ tạm gọi là “Tính Quốc Tế” hy vọng có thể được chấp nhận. Tính Quốc Tế xóa đi mọi lằn ranh quốc gia. Đây chính là điểm không hẹn mà gặp giữa công giáo và cộng sản. Cả hai đều mang tính quốc tế cả trong chủ thuyết lẫn hành động. Do từ bản chất sẵn mang tính quốc tế, nước Nga trở thành đế quốc đỏ. Các nước CS khác như VN đều là chư hầu của Nga Sô. Quốc Tế III Cộng Sản là tổ quốc của tất cả mọi người CS trên toàn thế giới. Đảng CSVN chỉ là một chi bộ đảng của QT3. Không còn quốc gia VN hay dân tộc VN nữa, mà chỉ còn đảng cộng sản tại VN thay mặt QT3 cai trị người VN. Điều này không còn cần phải chứng minh vì chính Hồ Chí Minh đã tự xác nhận rồi. Bút tích còn nằm ngay trong các văn kiện đảng mà chúng tôi và nhất là nhà báo Việt Thường đã nhiều lần trưng dẫn. Do đó, những ai nói rằng Hồ Chí Minh yêu nước, đảng CSVN đem lại độc lập cho dân tộc v.v. đều là nói láo, hoặc họ không hiểu biết gì về CS.

     

         Giáo Hội Công Giáo vì mang quốc tế tính nên trở thành chị em song sanh với CS. Có lẽ bạn đọc cho rằng chúng tôi quá khiên cưỡng, vì tôn giáo nào mà không có tính quốc tế. Đều đó đúng, nhưng chỉ đúng một phần, vì như chúng ta thấy, đạo Phật, đạo Hồi đều hiện diện ở rất nhiều nước trên thế giới. Hiện nay cả đạo Cao Đài, đạo Hòa Hảo cũng đã có cơ sở tại Mỹ, tại Pháp, Úc v.v.. Nhưng còn một phần khác không hẳn đúng, vì phải xét xem giáo hội Trung Ương với các giáo hội địa phương liên hệ với nhau trên cơ sở nào mới đủ yếu tố để khẳng định. Các tôn giáo khác, các giáo hội lớn, nhỏ đều bình quyền và bình đẳng về mọi phương diện. Nhưng với công giáo, Tòa Thánh là một trung tâm quyền lực. Các giáo hội địa phương chỉ đóng vai vệ tinh. Đó mới là yếu tố xác định. Tình hình công giáo VN chứng minh GHVN là một đơn vị luôn lệ thuộc vào Tòa Thánh. Tòa Thành đề ra đường lối đối thoại với VGCS cho các Giám Mục VN để giải quyết các vấn đề của giáo hội. Điều này HY Phạm Minh Mẫn, các GM Nguyễn Văn Nhơn, Nguyễn Văn Đọc v.v. đã công khai xác nhận rõ ràng. Nói theo thuật ngữ chính trị, Tòa Thánh là một mẫu quốc, và GHVN là một tiểu quốc phiên thuộc.

     

         Với các giáo hội khác, Tòa Thánh cũng thi hành cũng thi hành cùng đường lối, chỉ có là sự cởi mở hay gò bó có hơn kém khác nhau. Xin nêu một sự kiện xẩy ra đồng thời và gần như tương tự trường hợp VN để minh chứng. Đó là việc TGM Dominique Francois Joseph Mamberti, thứ trưởng ngoại giao Tòa Thánh viếng thăm nhà nước CS Cuba cuối tháng 6 vừa qua.

     

         Trong bài báo nhan đề “Cuba & Vatican Diplomacy: Mediation or Rescue do WND (WorldNetDaily) gởi đi ngày 29-6-2010, ông Armando F. Valladares đã tường thuật và nhận định về chuyến viếng thăm Cuba của TGM Mamberti một cách cay đắng. Ngài kể ra nhiều thành quả mà nhà nước và Giáo Hội Cuba đạt được trong liên hệ sống chung và cộng tác, nhưng lại không nói rõ những thành quả đó là những thành quả gì. Tuy nhiên theo ông Valladares, thành quả mà giới chức cao cấp Tòa Thánh muốn nhắc nhở là sự hòa giải (mediation) với chế độ CS Cuba của vị TGM Habana, Hồng Y Jaime Lucas Ortega y Alamino, một người nổi tiếng về thành tích cộng tác với chế độ. Cụ thể là HY Alamino đã can thiệp cho khoảng trên dưới mười tù nhân được chuyển về giam ở nhà tù gần gia đình hơn, và tha có cam kết (parole) cho Ariel Sigler, một lực sĩ nổi tiếng mà nay đã phải ngồi xe lăn vì đói khát và bị hành hạ. Vỏn ven chỉ có thế.

     

         Thành quả trên đây cũng phải mất nhiều thập niên mới đạt được do các vị Sứ Thần Tòa Thánh (Nuncio) phải uốn lưỡi tâng bốc lãnh tụ không ít. Chẳng hạn TGM Cezare Zacchi ca tụng nhà độc tài Fidel Castro có nhiều nhân đức của người Thiên Chúa Giáo (Christian virtues), TGM Agnostino Casaroli khen người công giáo Cuba sống hạnh phục. Tất cả đều như thế cả cho đến đời HY Tarcisio Bertone là người mạnh mẽ chủ trương đối thoại với chế độ Cuba . Bài báo của ông Valladares đưa ra một cái nhìn đáng thất vọng về chuyến viếng thăm Cuba của TGM Mamberti như sau: Tóm lại, nhà ngoại giao Tòa Thánh chỉ tươi cười niềm nở với chế độ CS, nhưng lại cau có nhăn mặt nhăn mày với những người đối lập, sau cùng là với dân chúng Cuba nô lệ. (In short, the Vatican diplomat was all smiles toward the communist regime while frowning on the opposition and, ultimately, on the enslaved Cuban people.) Bài báo cho rằng, thực tế, hiện nay người ta được chứng kiến Tòa Thánh và các giám mục Cuba đang giải cứu (rescue) chế độ Cuba trên cả hai bình diện quốc tế và quốc nội chứ không phải chỉ là hòa giải (mediation). Trên bình diện quốc tế, Liên Hiệp Âu Châu bị kích thích và tin tưởng do sự giải cứu của Tòa Thánh nên đã trì thoãn đưa ra đường lối mạnh bạo hơn đối với chế độ độc tài Cuba cho đến tháng 9-2010. Trên bình diện quốc nội, sự giải cứu làm thối chí những người công giáo trên bán đảo còn trung thành với GH, và những người Cuba đang phải anh dũng đối đầu với những vị chủ chăn của họ cộng tác với bè lũ CS lang sói. Bài báo còn cảnh cáo, với sự bảo lãnh ngoại giao (diplomatic bailout) này,  Tòa Thánh và các giám mục Cuba không những chỉ làm lợi và hồi sinh chế độ Fidel Castro, mà theo nguyên tắc bình thông đáy ( communicating vessels) còn củng cố thêm các chế độ tại Venezuela, Ecuador, Bolivia, và Nicaragua là những đồng minh của Cuba. Vì thế, trách nhiệm của các giới chức của Tòa Thánh trước mặt Thiên Chúa và trước lịch sử thật sự không phải là nhỏ.

     

         Nên nhớ rằng tác giả bài báo, ông Armando F. Valladares, là một cựu tù nhân chính trị Cuba, từng giữ chức Đại Sứ Mỹ tại Ủy Ban Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc ở Genève dưới thời các TT Reagan và Bush (cha). Do đó ông là người có đủ hiểu biết, kinh nghiệm và thẩm quyền để viết về các vấn đề hiện nay của Cuba .

     

         Trở lại với vấn đề GHVN. Như trên đã nói, “đối thoại” là con đường mà Tòa Thánh đặt ra cho Hội Đồng Giám Mục (HĐGM) VN đi theo để giải quyết các vấn đề của Giáo Hội. Không thể phủ nhận sự thật là đường lối này chưa thấy đem lại được ích lợi cụ thể nào, nhưng đã gây ra nhiều hậu quả rất đáng tiếc. Những hậu quả tai hại nhất phải kể đến là: Tòa Thánh mất uy tín đối với giáo dân, ngược lại, giáo dân hết còn tin tưởng vào Giáo Hội, đặc biệt là nhiều biểu hiện tiêu cực phát sinh trong lối sống của các giám mục. Xin nhấn mạnh là tiêu cực trong hàng ngũ giám mục.

     

    1.  Các hậu quả một và hai có liên hệ nhân quả, nghĩa là có cái này không thể không có cái kia. Khi Tòa Thánh và các giám mục không còn giữ uy tín với giáo dân thì giáo dân hết tin tưởng vào giáo hội là lẽ đương nhiên. Uy tín của Tòa Thánh và của HĐGM thực sự bị giảm sút khi đức hồng y Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh Bertone, người triệt để chủ trương đối thoại, gởi văn thư yêu cầu đức TGM Ngô Quang Kiệt phải chấm dứt phong trào giáo dân tụ tập đốt nến cầu nguyện đòi công bình và công Lý. Giáo dân tự hỏi, một việc làm ôn hòa và chính đáng như thế tại sao phải dẹp bỏ? Từ các cấp thẩm quyền của GH, không có lấy một lời giải thích cho giáo dân. Lệnh Tòa Thánh, chỉ có việc là phải vâng lời. Giáo dân giải tán nhưng trong lòng bất phục. Cho đến vụ GM Nguyễn Văn Nhơn ra Hànội thay thế Đ/C Ngô Quang Kiệt một cách đột ngột khó hiểu. Liền ngay sau đó Đ/C Kiệt bị tống xuất ra khỏi nước ban đêm ban hôm một cách mờ ám thì sự nghi ngờ và phẫn uất của giáo dân đã lên đến tột đỉnh. Cả Tòa Thánh và HĐGM không còn uy tín gì đối với giáo dân, và giáo dân cũng hầu như mất hết mọi sự tin tưởng vào lãnh đạo của Giáo Hội. Tình trạng này làm phát sinh ra các hệ lụy giây chuyền không tránh được là sự phân hóa trong trong tất cả các thành phần trong GH, đi đến nghi kỵ và công kích nhau. Sự phân hóa trầm trọng đến độ xẩy ra ngay trong hàng ngũ giám mục với giám mục, và giám mục với linh mục. Rất nhiều người không hiểu đoạn Phúc Âm Chúa nói Ngài đến không phải đem hòa bình cho trái đất, nhưng đem sự chia rẽ, cha con trong nhà chống nhau v.v., nay nhìn vào nội tình GHVN chắc họ đã hiểu được Chúa muốn nói gì.

     

    2.  Sự lãnh đạo độc đoán của Tòa Thánh đối với các giáo hội địa phương trên các vấn đề trần tục ngoài thẩm quyền và việc phong chức giám mục theo đường lối “Tòa Thánh lựa, CS chọn” đã làm nẩy sinh ra rất nhiều hiện tượng tiêu cực mà trước đây không hề có. CS chọn giám mục, tất nhiên chúng phải chọn người chúng có thể khống chế được. Kết quả như ta thấy, GHVN hiện nay có quá nhiều giám mục quốc doanh. Giáo hội Balan hậu CS chỉ khám phá ra một GM Stanislaw Wielgus làm mật báo viên cho CS. Nhưng có nhiều giám mục VN chẳng cần kín đáo, họ công khai làm việc cho VGCS. GM Châu Ngọc Tri, tôi không dám nói ngài câm, nhưng nói theo GM Bùi Văn Đọc thì “Lậy Chúa chúng con không biết ăn nói.” Chúng con chỉ biết ăn tiền, chỉ biết xin xỏ xin xỏ, chỉ biết biện bạch để chối quanh những sự thật không thể chối cãi, chỉ biết kết tội những giáo dân dám nói lên sự thật, và chúng con chỉ biết im lặng trước các vấn đề cần phải lên tiếng. Con chiên của ngài bị công an đánh chết, giám mục ít ra phải lên tiếng yêu cầu nhà nước điều tra để làm sáng tỏ sự việc. Ngài vẫn thản nhiên thủ khẩu như bình. Trong thánh lễ truyền chức linh mục, HY Phạm Minh Mẫn vui vẻ nhắm mắt cho ban kèn đồng tấu khúc “Cùng nhau đi Hồng Binh” để thúc dục các tân linh mục lên đường đồng hành cùng CS. Đúng đường lối. Đúng chính sách. Quan chức CS tham dự chắc hỉ hả lắm. Nhưng đó là chuyện nhỏ. Chuyện lớn là chuyện rưóc kiệu tại giáo xứ Dị Nậu, Hưng Hóa. Cuộc rước tượng Đức Mẹ chiếu  trên trang mạng Nữ Vương Công Lý phải được đánh gía là quá lố lăng và quái dị. Chẳng có cuộc rước Đức Mẹ nào lại đặt tượng Đức Mẹ trơ trọi trên một chiếc xe truck không mui, một thanh niên phất cờ máu đàng trước tượng, dăm sáu thanh niên khác lố nhố cười dỡn trên xe, một thanh niên khác hình như mặc quần xà lỏn ôm đứa bé chừng vài tuổi ngồi ngay bên cạnh tượng Đức Mẹ như ôm đứa con đi du ngoạn. Chiếc truck trong đoàn xe 4-5 chiếc cũng cảnh tượng đó chạy lòng vòng chung quanh nhà thờ. Đó không phải là một cuộc rước tôn giáo nếu không có tượng Đức Mẹ và cây Thánh Giá. Bàn thờ Hồ Chí Minh cũng giống như bàn thờ Đức Mẹ (không phải tượng trên xe truck) có kết đèn giăng hoa. Thế này mà đức cha Vũ Huy Chương cho là bái vọng thì vui thật. Có phải Hồ Chí Minh đã được Đ/C Chương phong thánh nên tượng hắn mới được chễm chệ trên bàn thờ ngang hàng bàn thờ Đức Mẹ. Trần Khuê mới gọi Hồ Chí Minh là thánh Hồ, nhưng Khuê chưa rước thánh Hồ. Dù đồng bào Phật giáo có bái vọng, người ta cũng chỉ đặt bàn trải khăn, bình hoa, cây nến, cùng với lư hương, chứ không bao giờ họ nghinh tượng Phật ra bái vọng cả, nói chi tượng thằng chó đẻ Hồ Chí Minh. Đ/C Vũ Huy Chương chống chế cũng không gột rửa được tính cách lễ hội vui chơi như thường thấy của nhà nước CS. Trước đây khi chùa Đại Nam Quốc Tự ở Bình Dương đem Hồ đặt lên bàn thờ Phật trong chùa thì có người e sợ sẽ có ngày Hồ cũng sẽ được đem vào nhà thờ. Tính lo xa của con người thật dễ nể. Quả thật việc phải đến nó đã đến.

     

         Còn nhiều lắm không nói hết được. Những hiện tượng tiêu cực và phản đạo nói trên khi bị dư luận và báo chí phê phán, các chức sắc liên hệ trong GH đã không dám nhìn nhận sự thật, trái lại còn bao biện, chối quanh, đổ lỗi, đe dọa, và còn tỏ thái độ hằn học vói giáo dân. Tại sao???  Muốn tìm câu trả lời chăng. Dễ lắm. CS đã nói rồi: nắm giám mục là nắm được tất cả. CS chẳng dại gì nắm lưỡi dao, mà chúng nắm cán dao mới không bị đứt tay. Cái cán dao là gì thì mụ chằng lửa cán bộ Ngô Thị Thanh Thủy (Tư Liên), vợ chính thức có 2 con của linh mục Phan Khắc Từ, chánh xứ Vườn Xoài, Saigon đã mí ra cho thấy rồi không thấy sao. Mụ nói: Chuyện gia đình tôi là chuyện riêng tư, đến Tòa Thánh còn không dám treo chén nữa là … Anh Từ là linh mục, nhưng còn là một đảng viên … Còn những ông giám mục, linh mục, đang sờ sờ trước mắt kia, đang thậm thụt vợ nọ con kia, gái bao đủ thứ chuyện. Tôi không sợ gì mà không nói, nhưng bây giờ chưa phải lúc … À thì ra vậy. Mụ còn răn đe một câu xanh dờn: Vụ ông Ngô Quang Kiệt, những ai chống lại đảng đều phải chịu chung một số phận như thế cả.

     

         Một con đàn bà lăng loàn, vợ một ông linh mục đảng viên đang coi họ đạo Vườn Xoài ở Saigòn, nó lăng nhục và thách thức cả Giáo Hội CG như thế đấy. Xưa nay, các kiếm khách, hiệp sĩ, sĩ phu v.v. nói chung là kẻ sĩ thường chọn cái chết để chứng minh sự trong trắng của mình khi bị lăng nhục, vu oan: Sĩ Khả Tử Bất Khả Nhục. Con đàn bà kia nếu nó vu khống, lăng nhục cá nhân một vị hồng y, giám mục nào đó, quí vị trong sạch nhưng im lặng để giữ đức nhịn nhục vì Chúa là điều đáng khâm phục. Giáo dân kính phục quí vị. Nhưng nó quá quắt lăng nhục và thách đố cả Tòa Thánh, GHVN và HĐGM (Tòa Thánh còn không dám treo chén chồng nó nữa kia mà) thì lại là chuyện khác, chuyện uy tín và danh dự của cả tập thể GH. Quí vị nào bị VGCS nắm cán. Còn những quí vị không có cán cho VGCS nắm thì sao? Các vị hồng y, giám mục là giáo sĩ, đều mang chữ SĨ trên người cả. Giáo dân không dám kêu gọi các ngài “tử” để rửa nhục, mà chờ xem HY Phạm Minh Mẫn xử trí chuyện này ra sao, có biện pháp gì đối với linh mục thuộc quyền là đảng viên CS Phan Khắc Từ, chồng có hôn thú của con Vẹm cái Tư Liên, xem HĐGM có phản ứng gì không. Nếu tất cả quí vị lại vẫn im lặng, vậy thì còn gì để mà nói nữa đây!

     

    Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

  • Tham luận

    Hoàng Huy Hùng : Bà Clinton đến Việt Nam để làm gì?

    Bà Clinton đến Việt Nam để làm gì?

    Gửi tới BBC từ Houston, Hoa Kỳ

    Ngoại trưởng Hillary Clinton đến Hà Nội dự hội nghị ARF

    Chuyến viếng thăm của Ngoại Trưởng Hillary Clinton đến Hà Nội làm tôi liên tưởng đến chuyến viếng thăm của Thủ Tướng Singapore Lý Hiển Long đến Houston vào ngày 12/07/2010.

    Asia Society hợp tác với Greater Houston Partnership tổ chức một buổi tiếp đón long trọng Thủ Tướng Lý Hiển Long tại khách sạn sang trọng Hyatt. Tôi được hân hạnh tham dự buổi hội luận này, ngồi cùng bàn với các vị Tổng Lãnh Sự của Nhật, Nam Hàn, Nam Dương, Ấn Độ…
    Đề tài bàn thảo là Viễn Đông Trong Thế Kỷ Tới (Far East In The Next Century). Nội dung bài nói chuyện của Thủ Tướng Lý Hiển Long nói đến sự phát triển của thế giới và đặc biệt là Viễn Đông trong 100 năm tới.
    Theo ông, thế kỷ tới là thế kỷ của Châu Á và Viễn Đông đóng một vai trò rất quan trọng. Ông cho rằng trong tương lai sự cạnh tranh về kinh tế giữa các quốc gia sẽ có cường độ mạnh hơn cả sự cạnh tranh chính trị và quân sự. Về kinh tế, ai đã mở hàng trước thì có lợi điểm hơn, khách hàng quen thuộc nên sự thành công dễ dàng hơn.
    Ông cho rằng hiện nay có “Four Great P” gồm có Hoa Kỳ, Bấm Trung Quốc, Ấn Độ, và Brazil. Tôi chưa kịp nghe rõ P ở đây là Pacific hay là Partners. Tôi nghĩ Partners thì chính xác hơn vì ông nói đến sự cạnh tranh trong đối tác hơn là cạnh tranh trong kẻ thù tiêu diệt lẫn nhau. Nhưng ông nhận định trong thế kỷ tới sẽ có 8 P và nếu quốc gia nào có lãnh đạo giỏi thì sẽ là thành viên mới.
    Tôi ngó sang bên cạnh thì thấy các Tổng Lãnh Sự Nhật, Nam Hàn, Ấn Độ và Nam Dương ghi chép vào sổ tay những điểm quan trọng mà Thủ Tướng Lý Hiển Long trình bày, mặt người nào người nấy đăm chiêu suy nghĩ. Tôi băn khoăn vô cùng vì thấy “người ta” bàn luận và đặt những kế hoạch cho quốc gia của họ cả hàng trăm năm sau, còn chúng ta, chúng ta loay hoay ba cái chuyện cỏn con trong Cộng Đồng không xong thì làm sao mà đòi đưa đất nước đến hùng cường?
    Đoàn kết để thành công
    Đang băn khoăn thì tôi lại nghe Thủ Tướng Lý Long Hiển nói dân tộc nào mà đoàn kết thì có cơ hội đưa đến sự thành công hơn, dân tộc nào mà sự phân hóa nặng nề, càng kéo dài bao nhiêu thì càng thất bại bấy nhiêu. Và ông cho rằng đó là lý do tại sao Trung Quốc và Đài Loan, dầu có sự khác biết về ý thức và hệ thống chính trị, các vị lãnh đạo của họ đã và đang tìm cách bước qua sự ngăn cách đó như Tổng Bí Thư Trung Hoa Quốc Dân Đảng đã từ Đài Loan về Trung Quốc tạo gạch nối cho sự đối thoại và hài hòa, và đó là lý do tại sao Đài Loan là một trong những quốc gia đứng hàng đầu trong việc đầu tư vào Trung Quốc.
    Những người từ chối đối thoại là những người mới nhìn ra một khía cạnh đấu tranh mà quên đi khía cạnh khác, đối thoại hoặc nhập cuộc không có nghĩa là đầu hàng.

    Hoàng Duy Hùng

    Ý thức hệ Quốc Gia hoặc Cộng Sản đã bị phai mờ trước quyền lợi chung của dân tộc Trung Hoa. Với tinh thần mã thượng đầy dân tộc tính này, Trung Quốc đã và sẽ là siêu cường của thế giới. Trung Quốc rất thích những quốc gia khác như Việt Nam, càng có xung đột ý thức hệ chính trị và phân hóa trầm trọng thì Trung Quốc càng có cơ hội thành công.
    Sau khi tham dự buổi hội luận với Thủ Tướng Lý Hiển Long, lòng tôi nặng trĩu vì trong nước thì chưa có tự do dân chủ thật sự, và ở ngoài này thì sự phân hóa trầm trọng như tương tàu.
    Tôi gặp gỡ một vài vị dân cử trong Thành Phố đề nghị Thành Phố nên gởi một văn thư cho Ngoại Trưởng Hillary Clinton khi đến Việt Nam nhắc nhở đến việc trả tự do cho các nhà đấu tranh dân chủ cũng như CSVN hãy tôn trọng nhân quyền mở ra cho người dân được tự do ngôn luận hơn. Tôi hỏi họ tại sao thập niên qua và nhất là gần đây Hoa Kỳ chú tâm đến Việt Nam rất nhiều, điển hình như chuyến đi của TNS James Webb và bà Hilary Clinton, nhưng sao Hoa Kỳ lại không làm áp lực mạnh hơn về vấn đề nhân quyền như sự mong mỏi của những người Mỹ gốc Việt?
    Những vị này nói với tôi đây không phải là việc của thành phố, nhưng họ tin rằng Hoa Kỳ đang hỗ trợ cho Cách Mạng Trắng tại Việt Nam. Tôi mở mắt tròn xoe thì được góp ý như sau: “Ông có nghe câu châm ngôn của Hoa Kỳ đó là ‘nếu không thắng được họ thì hãy nhập với bọn họ’ chưa? (If you cannot beat them, join them). Mới nghe qua thì tưởng là đầu hàng nhưng không phải vậy, đó là nương theo chiều gió để thắng kẻ thù.”
    Họ cho tôi một thí dụ cụ thể: Người da đen bị người da trắng sang tận châu Phi bắt về đây làm nô lệ. Đã hơn vài trăm năm người da đen làm nô lệ khổ sở trăm bề. Các vị sáng lập nên nước Hoa Kỳ này viết Tuyên Ngôn Độc Lập như Thomas Jefferson xác định nhân quyền là đặc ân cơ bản Thượng Đế ban cho con người nhưng họ vẫn giữ người da đen làm nô lệ cho họ mãi cho đến thời Tổng Thống Abraham Lincoln!
    Nhiều nhóm da đen đã nổi loạn và đã không thành công. Họ đã bị bắt, bị tra tấn đánh đập hoặc bị giết chết cách dã man. Thời gian đó, trong lòng mỗi người da đen đều muốn nổi loạn (revolt) nhưng họ không nổi loạn nổi. Ước muốn là một chuyện, làm được hay không là chuyện khác. Không nổi loạn nổi, dần dà người da đen học bài học là phải nương theo chiều gió, họ nhập vào hệ thống sinh hoạt chính trị của người da trắng, họ phát động Phong Trào Đấu Tranh Nhân Quyền (Civil Rights Movement) mà Martin Luther King là lãnh tụ của họ.
    Họ thành công, bây giờ người da đen có mặt trong chính quyền Hoa Kỳ từ hạ tầng cho đến thượng tầng và ngôi vị cao cả nhất là Tổng Thống đã ở trong tay họ. Người da đen hiện nay trở thành một thế lực chính trị mà ai ai cũng phải kiêng nể. Đây chính là Cách Mạng Trắng, nghĩa là nhập cuộc để biến sức mạnh của người thành của ta.

    Thủ tướng Lý Hiển Long từng đưa ra những viễn kiến cho châu Á

    Một chính khách lão luyện của Đảng Cộng Hòa góp ý với tôi: Việt Nam hãy học bài học Cách Mạng Trắng của Mông Cổ thì cơ hội thành công mới cao. Nếu không đi con đường Cách Mạng Trắng này, những người yêu nước dễ bị nhà cầm quyền trù dập, sát hại, hoặc họ chỉ đứng bên lề lịch sử mà thôi. Lực Lượng Dân Chủ của Việt Nam còn rất yếu, cần phải bảo toàn lực lượng để khi chín mùi thì họ góp sức đưa Việt Nam đi lên.
    Nhưng, trước khi nói đến đấu tranh cho dân chủ, người Việt cần phải hiểu dân chủ là gì cái đã. Dân Chủ không phải là một chủ thuyết, nó là một tập quán sinh hoạt trong đó nguyên tắc đa số thắng thiểu số. Để cho tập quán này lớn mạnh và trưởng thành đòi hỏi nhiều yếu tố. Đa đảng chỉ là một yếu tố mà thôi vì đa đảng như ở Campuchia bây giờ không phải là dân chủ mà nhiều khi còn là hỗn loạn.
    Tự do ngôn luận là linh hồn của dân chủ nhưng hồn mà không có xác thì là hồn ma. Không phải tự do thì muốn làm gì thì làm. Bây giờ vào phi trường mà hô hoán giỡn chơi “có bom, có bom” thì bị bắt đi tù ngay. Tự Do phải có giới hạn. Để hiểu và thi hành điều này cần có sự tự trọng và dân trí cao. Dân trí và sự tự trọng được nuôi dưỡng trong một xã hội có các cơ chế dân sự (civil institutions) như hệ thống học đường và các tổ chức vô vị lợi vững mạnh.
    Một quốc gia có nền dân chủ thật sư gồm có đa đảng chính trị, tự do ngôn luận, dân trí cao, và cơ chế dân sự vững mạnh. Thiếu một trong những yếu tố trên thì dân chủ bị khập khiễng.
    Hiểu được như vậy rồi thì ai có khiếu về chính trị thì đấu tranh chính trị, ai có khiếu về kinh tế thì làm kinh tế, ai có khiếu về truyền thông thì làm truyền thông. Đừng thấy người khác làm không giống mình mà chỉ trích đâm thọt – đó là bào mòn dân chủ. Hiện giờ Việt Nam chưa có đa đảng và tự do ngôn luận thì hãy khéo léo đấu tranh dân chủ ở các mặt khác để từng bước một làm cho ĐCSVN phải chấp nhận những yếu tố đó.
    Cách Mạng Trắng
    Cách Mạng Trắng của Mông Cổ được thế giới gọi là The Peaceful Democratic Revolution. Từ năm 1921, Đảng Cộng Sản Mông Cổ (Mongolian People’s Revolutionary Party, viết tắt là MPRP) nắm quyền ở nước này. Sau khi Cộng Sản sụp đổ ở Đông Âu, một nhóm người trẻ tụ tập ở Trung Tâm Văn Hóa Giới Trẻ và sau này ở Bảo Tàng Viện Lenin tại Thủ Đô Ulan Bator yêu cầu nhà cầm quyền Cộng Sản tại nơi này thay đổi.
    Con số tham dự biểu tình lúc đầu chỉ khoảng 100, sau đó tăng dần lên vài ngàn người. Lãnh đạo của những cuộc biểu tình tự phát này bắt đầu bắt tay nhau để thành lập đảng đối lập.
    Ngày 9 tháng 3/1990, chính phủ do Đảng Cộng Sản Mông Cổ lãnh đạo tuyên bố chấp thuận tổng tuyển cử vào tháng 7 năm đó. Cuộc tổng tuyển cử tháng 7 đến, phe đối lập không đủ tiền, đủ người, đủ người lãnh đạo nên chỉ có một số người được bầu vào Quốc Hội. Đương nhiên có những người lên tiếng cho rằng cuộc bầu cử có những gian lận. Hoa Kỳ vẫn công nhận kết quả của cuộc bầu cử. Đảng Cộng Sản Mông Cổ tiếp tục cầm quyền với tư cách độc đảng.
    Đầu phiếu tại Mông Cổ

    Sau thời cộng sản, Mông Cổ đã có bầu cử dân chủ

    Nhưng đến cuộc bầu cử năm 1993, ông Punsalmăgin Orchibat của phe đối lập được bầu làm Tổng Thống. Ông Orchibat sinh ngày 23/1/1942, là một đảng viên Đảng Cộng Sản Mông Cổ. Ông được cử sang du học tại St. Petersburg nước Nga, theo học ngành kỹ sư hầm mỏ. Trở về nước, ông từng giữ những chức vụ quan trọng trong chính phủ do Đảng Cộng Sản Mông Cổ lãnh đạo.
    Tháng 7 năm 1990, ông được Đảng Cộng Sản Mông Cổ đề cử tranh cử chức Tổng Thống và ông được đắc cử. Ông là Tổng Thống đầu tiên của Mông Cổ do dân bầu. Tháng 7 năm 1993, Đảng Cộng Sản Mông có một số bất đồng với ông, họ đề cử ông L. Tudev, chủ nhiệm báo Unen của Đảng, ra tranh cử chức vụ này. Ông Orchibat liền được hai đảng đối lập là Đảng Dân Chủ Quốc Gia (National Democratic Party) và Đảng Dân Chủ Xã Hội (Social Democratic Party) mời ra tranh cử cho họ. Ông Orchibat đắc cử với 58% tổng số phiếu.
    Sau khi ông Orchibat đắc cử Tổng Thống với tư cách ở đảng đối lập và dầu Quốc Hội hoàn toàn ở trong tay Đảng Cộng Sản, ông lèo lái để cho các đảng đối lập có cơ hội lớn mạnh và nhanh hơn. Năm 1996, phe đối lập thắng đa số, họ lập tức đổi Hiến Pháp, Quốc Kỳ, Quốc Ca, và màu đỏ của Đảng Cộng Sản cũng dần dần biến mất. Hiện nay, Mông Cổ có nhiều Đảng, Đảng Cộng Sản cũng sinh hoạt như một trong các chính đảng đối lập. Tổng Thống đương nhiệm của Mông Cổ là ông Tsakhiagin Elbegdori, 47 tuổi, thuộc Đảng Dân Chủ.
    Người Mông Cổ đã nhập cuộc vào cơ chế cầm quyền của Đảng Cộng Sản để rồi làm Cách Mạng Trắng từng bước một thay đổi bộ diện đất nước của họ không còn màu đỏ của Cộng Sản mà không tốn giọt máu. Chính những người từng là cán bộ cao cấp của Cộng Sản lại nhìn ra được vấn đề, nhờ phe đối lập đoàn kết, những người này đã đứng về phe đối lập tạo sự biến chuyển nhanh chóng.
    Khi bàn đến chuyện Cuộc Cách Mạng Trắng của Mông Cổ và những đảng viên Cộng Sản nhảy sang phía đối lập, tôi nhớ lại những buổi thẩm cung của tôi khi tôi còn ở trong tù CSVN năm 1992 – 1993. Khi ấy, công an chấp pháp thụ lý hồ sơ của tôi là Thiếu Tá Nguyễn Văn Chánh và trại trưởng trại tù P.A 24 là Thượng Tá Nguyễn Hải Phận.
    Trong những buổi hỏi cung, tôi đánh động lòng ông Chánh: “Tôi là một thanh niên từ Mỹ về, tôi đã có đầy đủ, tôi chỉ muốn dân chúng mình có dân chủ tự do và đất nước mình hùng mạnh. Trước năm 1975, Sài Gòn là Hòn Ngọc Viễn Đông hơn xa Thái Lan và Mã Lai. Nhưng bây giờ dưới chế độ Cộng Sản thì Việt Nam thua rất xa những quốc gia đó.”
    Có một lần ông Chánh nói với tôi: “Anh Hùng à, tôi tin rằng đã là người Việt thì ai cũng yêu nước. Như anh, chúng tôi cũng muốn cho dân giàu nước mạnh. Nhưng dân chủ như thế nào đây? Các anh là những người hoạt động, nhất là người ở nước ngoài, các anh không có bị mất mát bao nhiêu. Nhưng chúng tôi ở trong này, chúng tôi mà không khéo thì mất tất cả. Tù đày thì cũng không sao, nhưng vợ con gia đình dòng họ thì không biết hệ quả sẽ như thế nào. Chúng tôi rất trọng những người đấu tranh thật như anh, lòng chúng tôi rất nể trọng các anh. Nhưng các anh cũng phải nghĩ cho những người như chúng tôi.”
    Thượng Tá Nguyễn Hải Phận nói riêng với tôi: “Ở trong Đảng Cộng Sản có rất nhiều người muốn thay đổi nhưng bên phía Quốc Gia cũng không đoàn kết, đầy sự nghi kỵ và quá khích nên chúng tôi không còn con đường nào là phải theo Đảng để mà bản thân và gia đình được yên thân.”
    Sau khi tôi được trả tự do được vài tháng thì Thiếu Tá Chánh qua đời vì tai nạn xe và ông Thượng Tá Nguyễn Hải Phận cũng bị mất chức luôn.
    Lời Kết
    Người bạn Đảng Cộng Hòa tiếp tục góp ý với tôi: Tôi rất trọng những người đấu tranh chống Cộng chỉ vì chống Cộng. Họ có lý tưởng. Nhưng, đấu tranh thì phải tính tới cơ hội thành công. Theo tôi, phần trăm thành công cho Lực Lượng Dân Chủ Việt Nam là Cách Mạng Trắng. Cách Mạng Trắng thì phải nhập cuộc, phải sáp lá cà và đương nhiên là phải trực diện và đối thoại.
    Những người từ chối đối thoại là những người mới nhìn ra một khía cạnh đấu tranh mà quên đi khía cạnh khác. Đối thoại hoặc nhập cuộc không có nghĩa là đầu hàng. Có những người chưa gặp mặt kẻ thù mà lòng chỉ muốn hưởng lấy ân lộc của kẻ thù thì đã là đầu hàng rồi. Lương tâm của mỗi người là vị phán quan, không phải dư luận quần chúng.
    Do đó, nếu CSVN mở rộng Quốc Hội cho những người đối lập tranh cử, anh hãy nói với họ là hãy mạnh dạn ra tranh cử, hãy vào trong Quốc Hội. Hãy vào Quốc Hội với cả lòng yêu nước và sự trong sáng. Lúc đầu có thể phe đối lập không có tiếng nói gì trong Quốc Hội hoặc bị mang tiếng cuội hoặc bù nhìn, không sao, lòng ngay thẳng, những người đối lập cứ xoáy vào những tệ nạn tham nhũng, tranh đấu cho quyền lợi quốc dân thực sự thì dần dà những người đối lập sẽ có sức mạnh.
    Tôi biết có những người e sợ những sự lừa dối của Cộng Sản sẽ lập lại như họ đã từng bị ở trong Chính Phủ Liên Hiệp năm 1945, nhưng thời đại này là thời đại của điện toán, mạng lưới thông tin toàn cầu cách nhanh chóng không còn để cho ĐCSVN dễ dàng làm chuyện đó. Bài học lịch sử cần được ôn để cẩn trọng không có nghĩa là cắt tuyệt giải pháp khả thi duy nhất này.
    Mông Cổ đã làm được thì Việt Nam cũng làm được. Tôi quên nói một điều, những người Việt ở hải ngoại đã hưởng không khí dân chủ rồi, họ không có nhu cầu cho bản thân họ, họ hãy đoàn kết tạo một sức mạnh tổng hợp hỗ trợ cho những người trong nước thì Dân Chủ mới mau thành công.
    Theo tôi, đó là lý do tại sao có chuyến đi của TNS James Webb và Ngoại Trưởng Hillary Clinton đến Việt Nam, hỗ trợ cho Việt Nam vào dòng chính của thế giới ngăn chặn áp lực của Trung Quốc nhưng cũng là hỗ trợ cho một Cách Mạng Trắng tại Việt Nam do chính dân Việt nhận thức và chọn lựa.
    Bài viết thể hiện quan điểm riêng của Luật sư Hoàng Duy Hùng, một nhà hoạt động chính trị gốc Việt tại Houston, Texas.
  • Tham luận

    Song Chi : Thương Nhớ Sài Gòn.

    Thương Nhớ Sài Gòn.
    Song Chi
     
    Tặng những người bạn văn nghệ của tôi – những người cũng yêu mến và nhiều lần trăn trở, muốn làm một cái phim “chân dung Sài Gòn”, như tôi…

    Cho đến ngày rời Sài Gòn, rời Việt Nam ra đi bắt đầu lại ở xứ người, tôi đã sống ở Sài Gòn gần 40 năm – 34 năm liên tục kể từ 1975 đến 2009 và một vài năm không liên tục trước 1975. Một quãng thời gian đủ dài cho một đời người để thành phố này, với tôi, đã trở thành gắn bó mãi mãi. Khi nói chuyện với mọi người bao giờ tôi cũng nhận mình là người Sài Gòn, cho dù tôi không sinh ra và có thể, cũng sẽ không sống những ngày cuối đời tại đây.
    Bao nhiêu năm sống ở Sài Gòn, hàng chục lần tiễn bạn bè, người thân rời bỏ thành phố và cũng hàng chục lần đón những người đi xa trở về, để cuối cùng chính mình cũng ra đi, chưa biết đến khi nào mới quay về, để cuối cùng chính mình cũng trở thành một người ôm nỗi thương nhớ Sài Gòn da diết trong nỗi nhớ thương chung một dải đất Việt Nam đã trở thành xa ngái.
    Với tôi, Sài Gòn bao giờ cũng là… Sài Gòn, cái tên thành phố Hồ Chí Minh, khi còn ở Việt Nam, chỉ là cái tên tôi buộc phải sử dụng trên những giấy tờ, đơn từ… Với tôi, Sài Gòn luôn luôn là một thành phố đặc biệt, mà quả thật, từ vị trí địa lý, lịch sử cho đến văn hóa Sài Gòn, tính cách con người Sài Gòn… đã làm nên cái đặc biệt của thành phố này so với những thành phố khác của Việt Nam.
    1. Sài Gòn bề nổi. Một thành phố đầy những mặt đối lập, mâu thuẫn, bộn bề, ngổn ngang.
    Đối với những ai chỉ tình cờ ghé qua Sài Gòn rồi lưu lại trong một thời gian ngắn, những người đi xa nhiều năm mới trở về thăm lại thành phố, hay những du khách nước ngoài dạo bước qua Sài Gòn trong một chuyến du lịch… thường chỉ cảm nhận được Sài Gòn trong cái bề nổi của nó. Đó là một thành phố ồn ào, đông đúc, xô bồ, bụi bặm, với những con đường luôn luôn đông nghẹt xe cộ, người đi lại ngược xuôi hối hả. Nạn kẹt xe, rồi tai nạn giao thông ở thành phố này và trên cả đất nước này nói chung, đã thật sự trở thành một nỗi ưu tư cho tất cả mọi người, khi con số nạn nhân tử vong vì tai nạn giao thông hàng năm lên đến hơn 13.000 người trên tổng dân số khoảng 86.000.000 người! Những con đường dầy đặc mật độ xe cộ, những vĩa hè đầy đặc người buôn bán, đi lại, ăn uống, xả rác… từ sáng sớm đến đêm khuya… Hầu hết mọi con đường trong thành phố đều trở thành những khu phố kinh doanh, hầu hết mọi ngôi nhà ngoài mặt tiền cho đến trong những con hẻm sâu đều mở cửa buôn bán, làm dịch vụ… Rất hiếm hoi để tìm thấy một con đường yên tĩnh hay những ngôi biệt thự villa có sân vườn một thời là niềm tự hào của “Sài Gòn-hòn ngọc Viễn Đông”. Những ngôi biệt thự ấy phần lớn đã trổ cửa, cơi nới, thành các loại nhà phố, cửa hàng, quán xá, showroom…
    Người đi xa lâu năm trở về bâng khuâng nhớ lại những con đường với hai vòm lá me xanh như ngọc hoặc thơm ngát hương ngọc lan thuở nào của Sài Gòn. Đường xá mở rộng nhiều, đường mới làm cũng không ít, nhưng hầu như chẳng ai quan tâm đến việc trồng thêm nhiều cây xanh trên đường, ngược lại cây cũ bị tỉa trụi nhánh, đốn bỏ nhiều, thành phố đã nắng nóng càng thêm nóng. Không chỉ những con đường xanh bóng me, sự lãng mạn dường như cũng ngày càng trở nên hiếm hoi trong cuộc sống của người Sài Gòn hôm nay. Còn mấy ai bây giờ vì yêu hình ảnh của một người con gái “ em tan trường về ôm nghiêng tập vở, tóc dài tà áo vờn bay” để rồi “em tan trường về anh theo Ngọ về trưa trưa chiều chiều…” mãi mà chẳng dám nói một câu?
    Sài Gòn, đó là một thành phố bộn bề, ngổn ngang, đã và đang thay đổi từng ngày. Những buiding, cửa hàng, căn hộ mới không ngừng mọc lên với đủ loại kiến trúc xấu có đẹp có. Những con đường hết đào lên lại lấp xuống, hết mở rộng lại phân luồng, hết “thử nghiệm” lát gạch con sâu một thời lại đến thử nghiệm trồng cau, làm dải phân cách mới rồi lại phá bỏ, trụ đèn giao thông mới lắp chưa kịp hư đã lại thay mới… Toàn những “thử nghiệm” lãng phí tiền tỉ của dân mà cũng chẳng thấy ai đứng ra chịu trách nhiệm gì và thành phố thì cũng chẳng đẹp đẽ gì hơn.
    Sài Gòn, đó là một thành phố đầy những mặt đối lập, mâu thuẫn-như hầu hết các thành phố lớn trong những quốc gia đang trên đà phát triển, đổi thay. Đối lập giữa cũ và mới – vẫn còn lại đây những ngôi nhà có tuổi thọ hàng trăm năm, những khu phố cổ Chợ Lớn, những dinh thự, nhà thờ được xây từ thời Pháp bên cạnh những building kiến trúc mới hiện đại; trên đường phố người ta vẫn nhìn thấy những chiếc xe Vespa cổ, xe Velosolex, xe honda 67, xe hơi mui trần kiểu cổ bên cạnh những chiếc @, Dylan, Mescedes đời mới nhất; những nhà hàng sang trọng với những người bồi ăn mặc lịch sự cài nơ trên cổ áo bên cạnh những tiệm chạp phô, tiệm ăn nhỏ của người Hoa với ông chủ cởi trần, mặc chiếc quần lửng và cung cách phục vụ như từ bao nhiêu năm trước; những chiếc áo dài thiếu nữ thướt tha với mái tóc dài e ấp bên cạnh những chiếc áo hai dây, hở rốn đi cùng mái tóc nhuộm đủ màu… Đối lập giữa động và tĩnh – bên cạnh thế giới của những vũ trường, café nhạc trẻ, quán nhậu ồn ào là không gian yên tĩnh của những ngôi chùa, thư viện, một khoảng không gian buổi sáng trong công viên nơi các ông cụ về hưu bình thản ngồi đọc báo nghe chim hót… Đối lập trong sự giàu-nghèo, sang trọng-bình dân tồn tại ở khắp nơi. Kề bên những khách sạn, nhà hàng, vũ trường sang trọng ở đó người ta có thể đốt hàng đống tiền cho một bữa ăn nhậu hay một cuộc vui với rượu ngoại, thuốc lắc tính giá hàng trăm dolla là hình ảnh những người lao động nghèo với gánh ve chai lặc lè giữa trưa nắng gắt, gánh khoai lang đậu phọng rẻ tiền hay những em bé với một xấp vé số trên tay lang thang cả ngày kiếm được chừng mươi ngàn chưa bằng một lon bia lạnh người khác đang uống, hay hình ảnh những người phải leo lên những cây me cao chót vót bên đường hái me bán để kiếm ít ngàn tiền gạo, những người ngày đêm cắm mặt trên những bãi rác khổng lổ, kiếm sống từ rác… Kề bên những beauty salon sang trọng, dịch vụ massage, chăm sóc da, tắm Spa… ở đó khách hàng bỏ tiền triệu và được chăm sóc nâng niu với đủ mọi tiêu chuẩn cầu kỳ, là dịch vụ đấm bóp dạo lề đường nơi khách hàng chỉ phải bỏ ra năm, mười ngàn, ngồi hoặc nằm ngay trên lề đường! Và không ít con đường ở Sài Gòn, bên ngoài là dãy nhà phố sang trọng lịch sự, vào bên trong là những con hẻm lao động ngoằn ngoèo với mức sống khác hẳn như thuộc về hai thế giới khác.
    Sài Gòn – một thành phố cái gì cũng có. Từ cái đắt nhất đến cái rẻ nhất, sang trọng nhất đến bình dân nhất, đáp ứng mọi nhu cầu đa dạng khác nhau trong xã hội. Từ ăn uống vui chơi giải trí đến học hành. Ở Sài Gòn học cái gì cũng có người dạy và dạy cái gì cũng có người học, với đủ loại bằng cấp, khoá học, giá cả và chất lượng khác nhau. Nhưng có những cái nhiều khi kiếm mãi không ra mà không ai có thể hình dung nổi một điều phi lý như vậy lại tồn tại – chẳng hạn như đi tìm một cái toilet công cộng ở Sài Gòn! Xin thưa với bạn, không dễ dàng gì đâu. Lại thắc mắc: chính quyền nhiều việc quá nên quên đã đành, còn người Sài Gòn vốn rất nhạy trong kinh doanh sao không ai nghĩ đến việc kinh doanh toilet công cộng ở Sài Gòn nhỉ.
    Sài Gòn – một thành phố năng động, đầy sức sống, ở đó mọi cái mới đều được tiếp nhận học hỏi rất nhanh. Những lĩnh vực nghề nghiệp mới: quảng cáo, thiết kế đồ hoạ, tổ chức event, thiết kế thời trang, hoạt động đa truyền thông… Những mặt hàng tiêu dùng, tiện nghi mới: từ các đời điện thoại di động cho đến trò giải trí hip-hop của giới trẻ… Người Sài Gòn dễ chấp nhận cái mới và cũng dễ chấp nhận sự đa dạng, khác nhau trong quan điểm, cách sống cách nghĩ của người khác. Một quan chức, một người trí thức, và một anh đạp xích lô có thể ngồi bằng vai phải lứa với nhau trong cuộc nhậu, tranh luận với nhau và nếu ý kiến có khác nhau thì “cũng có sao đâu”. Tinh thần phóng khoáng dân chủ đó là một nét đáng quý của người Sài Gòn. Cảm nhận chung về Sài Gòn còn là một thành phố có đầy đủ những chuẩn mực của một thành phố hiện đại: điện thoại di động và internet được sử dụng ở khắp mọi nơi, dẫu rằng có những mặt tiêu cực của nó. Dưới cái nhìn của số đông bây giờ, giá trị của một con người nhiều khi không nằm ở nhân cách, tri thức thực sự của người đó mà mà lại được xét trên giá trị cái điện thoại di động họ đang dùng, chiếc xe họ đang đi, hay ngôi nhà họ đang ở! Lớp học tiếng Anh mở ra ở khắp nơi, gần 50% người Sài Gòn có thể giao tiếp bằng tiếng Anh, nhất là ở những khu phố thường xuyên có người nước ngoài như khu phố Tây balô trên đường Phạm Ngũ Lão, Bùi Viện. Và trên hết là sự luân chuyển rất nhanh của đồng tiền – cũng là một tiêu chuẩn của một thành phố hiện đại.
    Nhưng tất cả những cảm nhận đó cũng chỉ là Sài Gòn bề nổi mà thôi. Sài Gòn mang trong lòng nó một chân dung khác hẳn, những vẻ đẹp khác hẳn mà chỉ khi ở lâu tại thành phố này người ta mới cảm nhận được.
    2. Sài gòn bề sâu. Sức sống thật sự của Sài Gòn. Tính cách, đời sống nội tâm của con người Sài Gòn.
    Sài Gòn không chỉ là những buiding mới xây, những nhà hàng, vũ trường, khu ăn chơi hào nhoáng… Sài Gòn cũng không chỉ là một bề mặt đang bộn bề ngổn ngang. Sài Gòn còn là đời sống vỉa hè muôn mặt, là những con hẻm nhỏ ngoằn ngoèo, những khu xóm lao động bên kênh rạch hay nằm sâu trong khu vực Chợ Lớn, quận 6, quận 8, quận 11… nơi những người dân lao động cần cù chạy ăn từng bữa, cần cù làm ra đủ loại sản phẩm, vật dụng nho nhỏ khác nhau cho thành phố.
    Nếu nước Mỹ vẫn được gọi là một “melting-pot của thế giới” thì Sài Gòn, có thể gọi là một “melting-pot của Việt Nam” và sức sống thực sự của Sài Gòn nằm trong cái đặc điểm này, được thể hiện ngay từ “diện mạo” kiến trúc bên ngoài. Sài Gòn là nơi hội tụ của rất nhiều phong cách kiến trúc khác nhau – có thể tìm thấy ở Sài Gòn, những toà nhà dinh thự mang bản sắc kiến trúc Đông Dương do người Pháp xây dựng từ cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 như Nhà thờ Đức Bà, UBND thành phố, Bảo tàng Cách mạng, trường Marie-Curie, Nguyễn thị Minh Khai, Lê Quý Đôn, Lê Hồng Phong…, những khu chùa cổ rất đặc trưng của người Hoa, người Ấn, những công trình kiến trúc do các kiến trúc sư người Việt thiết kế những năm 60-70 vừa hiện đại vừa rất Á Đông và đặc biệt phù hợp với khí hậu của một xứ nhiệt đới như Dinh Độc Lập, Thư viện Tổng Hợp, Trường Đại Học Y Khoa, trung tâm IDECAF… cho đến những công trình, nhà ở có kiến trúc hiện đại mới xây sau này… Đi sâu vào đời sống muôn mặt của Sài Gòn, càng thấy rõ tính chất “melting pot” đó – thành phố dung nạp tất cả, thâu nhận tất cả mọi nguồn nhân lực đến từ mọi nơi trên đất nước, tạo cơ hội bằng nhau cho tất cả mọi người. Có thể kể ra rất nhiều con người gốc gác từ nơi khác, đã đến kiếm sống, lập nghiệp và thành danh trong nhiều lĩnh vực khác nhau tại Sài Gòn, đặc biệt là trong lĩnh vực văn học nghệ thuật. Kể từ sau năm 1975 cho đến nay, dòng thác người từ ngoài Bắc nói chung và từ Hà Nội tiếp tục đổ vào Sài Gòn – dân nghèo ở nông thôn, tỉnh lẻ thì vào Sài Gòn lao động kiếm sống, tạo thành từng nhóm đồng hương cùng làm một nghề như bán mì gõ, đậu hũ gánh, bắp xào…, người Hà Nội thì vào Sài Gòn mở công ty tư nhân, giới văn nghệ thì tìm công danh trên con đường ca hát, làm người mẫu, đóng phim…
    Sức sống của Sài Gòn được tạo nên còn bởi vì không một nơi nào khác ở VN có một khu vực kinh tế tư nhân mạnh mẽ như ở đây và một cơ chế xã hội hóa được thực thi nhanh chóng nhất, hiệu quả nhất như ở đây.
    Sài Gòn là đất hội tụ. Người Sài Gòn từ lâu đã quen với việc chung sống hoà bình giữa những người tạm gọi là khác xứ, khác quê. Do vậy người Sài Gòn có tính cách cởi mở, không bảo thủ, dễ hoà đồng, bình dân, hào phóng, rộng rãi. Người Sài Gòn gần như luôn luôn đi đầu trong mọi phong trào có tính cách xã hội từ thiện – từ một trường hợp thương tâm được đưa lên báo, một hoàn cảnh cần được giúp đỡ, một sinh viên cần được tiếp sức đến trường, cho đến lũ lụt ở miền Trung, thiên tai ở đâu đó, hay phong trào ký tên vì công lý, vì các nạn nhân chất độc màu da cam… Bên dưới cái vẻ bề ngoài như vô tình không ai để ý đến ai của người Sài Gòn – rất dễ làm chạnh lòng những người nhập cư mới đến Sài Gòn, người Sài Gòn bao giờ cũng mau mắn, sẵn lòng chia xẻ nỗi đau của người khác. Nhưng người Sài Gòn cũng hời hợt mau quên. Cả nỗi đau lẫn sự bất công, mới hôm qua còn làm người ta đau đớn bừng bừng phẫn nộ thì ngày hôm sau, cuộc sống bộn bề đã cuốn người ta đi. Cái sự mau quên đó còn thể hiện ngay trong thái độ với chính những giá trị tài sản vật chất lẫn tinh thần của Sài Gòn mà các thế hệ đi trước đã tạo dựng nên và để lại – như người ta sẵn sàng đập bỏ không thương tiếc những khu nhà, biệt thự xưa để xây lên những công trình mới chẳng hạn. Cộng thêm cái thói nghĩ ngắn mà không nhìn xa trong kiến trúc quy hoạch và nhiều mặt khác của giới lãnh đạo đã tạo nên hệ quả một thành phố bộn bề, ngổn ngang, chắp vá như hiện tại.
    Trong đời sống văn hóa nghệ thuật của Sài Gòn, có một bề nổi với những tụ điểm ca nhạc tràn ngập loại nhạc trẻ, nhạc “thời trang”, những quán bar phòng trà, sân khấu tấu hài lẫn chính kịch vẫn sáng đèn đêm đêm, những show diễn thời trang, các cửa hàng sách vẫn đầy ắp sách mới in các loại, là những tác phẩm văn học “chính thống” hay “lề phải” được công nhận bởi nhà nước… Và có một đời sống văn hoá nghệ thuật khác, lặng lẽ, âm thầm sinh sôi và tồn tại, nhưng phong phú, hiện đại và rất dữ dội. Đó là những tác phẩm văn học nghệ thuật “ngoài luồng” hay “lề trái”, với những nhà thơ, nhà văn, hoạ sĩ… mà tác phẩm của họ không (hoặc chưa) thể công bố rộng rãi, chỉ trong giới biết với nhau hoặc chỉ xuất hiện trên mạng internet, ở bên ngoài nước. Đó là những Cung Tích Biền, Nguyễn Viện, Trần Tiến Dũng, Thận Nhiên, Nguyễn Quốc Chánh, Lý Đợi, Bùi Chát v.v…
    Cũng chỉ có Sài Gòn mới có những nhà xuất bản “ngoài luồng” theo kiểu người sáng tác tự in, tự xuất bản như nhà xuất bản Giấy Vụn của nhóm Lý Đợi-Bùi Chát, nhà xuất bản Cửa của nhóm Trịnh Cung, nhà xuất bản Gió của nhạc sĩ Tuấn Khanh… Ở đây, một lần nữa, người ta lại bắt gặp cái tính chất giao thoa, “melting pot” trong đời sống vật chất lẫn văn hoá tinh thần của Sài Gòn. Văn chương hội hoạ của Sài Gòn (và của miền Nam) may mắn có được sự giao thoa giữa nhiều luồng nhiều dòng khác nhau – dòng miền Nam trước 1975, dòng miền Bắc trước 1975, dòng văn chương nghệ thuật thống nhất sau 1975, dòng văn học nghệ thuật hải ngoại sau 1975…
    3. Sài Gòn trong tôi
    Người nước ngoài mới đến Sài Gòn có thể thấy thành phố này sao mà xô bồ, hỗn độn. Nếu so với Hà Nội có cây, hồ, phố cổ… hay Huế có thiên nhiên tĩnh lặng, lăng tẩm phai màu thời gian… Sài Gòn dường như không có gì để nhớ. Và cũng thật khó cho người dân Sài Gòn mỗi lần có khách phương xa đến chơi, xin được giới thiệu những thứ và nơi “chỉ Sài Gòn mới có”. Tôi đã nhiều lần rơi vào tâm trạng như vậy. Bởi cái đẹp của Sài Gòn là nằm trong sức sống của thành phố, trong tính cách, văn hóa, lối sống… của con người Sài Gòn, là những cái mà phải sống và gắn bó với thành phố này mới cảm nhận được. Chỉ riêng từ sau 1975 đến nay, chính thành phố này đã luôn luôn là nơi đi tiên phong trong mọi đổi mới về kinh tế cho đến mọi hình thức “cởi trói”, xã hội hóa trong lĩnh vực văn hóa văn nghệ, chính thành phố này đã thường xuyên gánh vác vai trò đầu tàu về kinh tế, đóng góp nhiều nhất vào ngân sách quốc gia, đi đầu trong những phong trào từ thiện, cứu trợ, là vùng đất mở, đất hứa cho bao nhiêu thế hệ trong Nam ngoài Bắc tìm đến sinh sống, thành đạt lẫn thành danh. Nhưng thành phố này cũng chịu nhiều thiệt thòi. Bởi Hà Nội là thủ đô nên trong các chủ trương đầu tư, xây dựng, mở rộng, nâng cấp… đều phải được ưu tiên trước, điều đó đã hẳn. Ngay trong khía cạnh “tinh thần”, thành phố dường như cũng chưa được ứng xử một cách công bằng. Một ví dụ nhỏ: có rất nhiều bài hát, bài thơ, tác phẩm văn học, hội họa, phim tài liệu… nói về Hà Nội, Huế… nhưng chả có mấy tác phẩm như vậy về Sài Gòn.
    Mang một món nợ tinh thần với thành phố, đã có vài lần tôi và một vài người bạn trong giới văn nghệ muốn làm một cái phim tài liệu về Sài Gòn. Về diện mạo Sài Gòn. Văn hóa Sài Gòn. Con người Sài Gòn. Tính cách Sài Gòn… Bằng cái nhìn của người Sài Gòn, thương yêu và đau lòng trước những thay đổi, mất mát, biến dạng… của Sài Gòn và của những con người Sài Gòn hôm nay. Nhưng rồi vì rất nhiều lý do – trong đó có lý do cái nhìn và cách đặt vấn đề của chúng tôi về Sài Gòn đã tạo nên sự e ngại của những quan chức văn nghệ trong việc xét duyệt đề tài. Cho đến khi chúng tôi buộc phải chuyển sang phim tài liệu truyền hình nhiều tập, làm giảm nhẹ vấn đề, chuyển sang tính chất văn hóa lịch sử nhiều hơn thì cái đề cương đó mới được thông qua. Nhưng chưa kịp triển khai thì lại xảy ra vụ tôi “có vấn đề về chính trị” theo quan điểm của các vị công an PA25 (tức công an văn hóa), mọi dự án phim tài liệu, phim truyện đang hoặc sắp thực hiện liền bị ngừng lại. Hình như sau này khi tôi đã ra đi, ở cái đài truyền hình nơi chúng tôi đã giao đề cương phim tài liệu về Sài Gòn, người ta vẫn tiếp tục thực hiện một phim tài liệu về Sài Gòn, nhưng với một ê-kíp khác, và tất nhiên, với một cái nhìn khác, quan điểm khác.
    Bây giờ tôi đã xa Sài Gòn. Món nợ với thành phố như vậy là chưa trả được và cũng không biết đến bao giờ trả. Mỗi lần có dịp ghé qua những thành phố xinh đẹp của nước người, nhớ về cái bộn bề, ngổn ngang, chắp vá, cùng vô vàn những cái phản thẩm mỹ, phi văn hóa… đang tồn tại của Sài Gòn – hệ quả của sự yếu kém, vô trách nhiệm của giới lãnh đạo, quản lý thành phố nói riêng và của cả một thể chế chính trị xã hội nói chung gây nên, chỉ còn biết thở dài… Sài Gòn ơi!
    Song Chi
    8.7.2010.
  • Tham luận

    Huy Phương : Chống văn công?

                                      VNCH - USA Flag

     
                                                           
     Mời quí vị thưởng thức những tiết mục dưới đây. Chúc quí vị an vui gia đình hạnh phúc.Cám ơn quí thân hữu đã chia sẻ một trong những tiết mục trân quí này với bạn bè.

    NTN 

    Hãy nhìn bản đồ của nước Tàu!

     
    1) Nếu Tân cương & Tây Tạng độc lập thì Tàu chỉ còn 1 nửa
    2) Nếu Hoa Nam tách ra thì Tàu chỉ còn 1/4 
    3) Nếu Nội mông & Mãn châu tách ra thì Tàu chỉ còn 1/8 diện tích hiện nay 
    Tức là Tàu chỉ còn bằng diện tích của 3 nước Đông Dương gộp lại . 
    Cho nên Tàu sẽ tìm mọi cách, kể cả phải chiến tranh tận diệt với Mỹ để
    mà cố gắng không bị vỡ ra từng mảnh. Vì vỡ ra có nghĩa là bọn Tàu Hán
    tộc sẽ đi tới tận diệt.
     
    Chúc vui
    VHH

    Chống văn công? (Huy Phương)
    Saturday, July 17, 2010 
    "Chúng ta buồn vì cứ nghĩ có khi con trẻ ngồi xem trong rạp mà cha mẹ già đứng ở ngoài biểu tình. Các bậc cha mẹ đã giáo dục được con trẻ chưa? Các đoàn thể đã giáo dục được quần chúng chưa? Cộng đồng hải ngoại đã đoàn kết chưa? Lại còn những con cái của những cựu tù nhân chính trị, quên quá khứ của cha ông, chấp nhận ca hát bên các ca sĩ do Cộng Sản đưa ra nước ngoài, chỉ vì mùi thơm của đồng đô la, thật đáng xấu hổ."

    Việt Cộng xem những người trình diễn văn nghệ như những người thợ không hơn không kém. Thợ hát, thợ đàn, thợ múa tập họp thành những toán văn công, được điều động làm việc theo chỉ thị và đường lối của đảng, để hoặc là tuyên vận, hoặc để giải trí cho đám đông. Vì vậy chúng ta cũng quen gọi những người này là văn công. Văn công phải được huấn luyện tư tưởng chính trị, có lý lịch, có lập trường, được nuôi dưỡng và nhận công tác theo nhu cầu của từng chiến dịch. Ngày nay văn công được đưa ra nước ngoài trình diễn dưới visa du lịch, dù là dưới hình thức kiếm ăn riêng của cá nhân, do nhu cầu hay được sự cho phép của các cơ quan trách nhiệm trong nước, do đường lối của đảng đều có lợi cho chế độ. Dù những ca sĩ này không hát những bài ca tụng bác hay đảng như hồi chiến tranh “chống Mỹ” hay lúc mới vào Saigon, nhưng những khuôn mặt này vẫn tượng trưng một đám ca hát đang được trọng dụng của chế độ hiện nay ở Saigon.

    Chúng ta cũng không thể xem những khuôn mặt này chỉ là cá nhân, “đồng bào” ruột thịt không liên quan gì với chế độ Cộng Sản, nên sẵn sàng giang tay đón nhận. Việc cấm cửa những thể thao gia, nghệ sĩ của một quốc gia khác đến trình diễn là một sự cấm vận, trừng phạt kinh tế đối với một quốc gia thù nghịch. Ca sĩ trong nước không sang Mỹ, Úc hay Canada để trình diễn cho dân bản xứ các nước này xem, mà là cho những người Việt Nam di dân, trong nước “dốt chữ” gọi là Việt kiều, đa số là những người tỵ nạn Cộng Sản đã bỏ nước ra đi vì chế độ Cộng Sản. Vậy chuyện “trừng phạt” này không phải là không hợp lý. Chúng ta không có chính phủ hay đường lối để đối phó, mặc nhiên chấp nhận sự tự do hỗn tạp, tùy tiện, mở cửa cho những “văn công” được gởi đi từ trong nước.

    Câu hỏi của chúng ta là có phải tất cả ca nhạc sĩ hiện nay của chúng ta tại hải ngoại đều có cơ hội đồng đều để về trình diễn ở Việt Nam không, hay phải qua những giai đoạn sát hạch về đường lối chính trị, và mỉa mai thay, cả tài năng trước một ban giám khảo như theo tiết lộ của một vài ca sĩ đã xin về nước trình diễn trước đây? Những nghệ sĩ này trước đây đã được cộng đồng hải ngoại nuôi sống từ khi đặt chân đến Mỹ, nay về nước gặp gỡ giới báo chí, trở thành những kẻ cơ hội, ca tụng chế độ đương thời, nói xấu hải ngoại coi mình như “con không cha”, nay về nhận bố đẻ Cộng Sản ở Saigon, khi trở lại đây vẫn được khán giả đồng bào chấp nhận. Bây giờ chúng lại đứng trên sân khấu hải ngoại, cười khẩy vào mặt chúng ta.

    Nghệ sĩ trong nước ra trình diễn trước hết là cạnh tranh với ca sĩ hải ngoại, vì mỗi nghệ sĩ đều có sân chơi riêng của mình. Xin dành cho những ca sĩ đã cùng hoàn cảnh sống chết với chúng ta chứ không phải tất cả đều “cá mè một lứa”. Cách đây vài năm những ca sĩ trong nước ra hải ngoại trình diễn đều gặp nhiều sự phản đối, dai dẳng nhất là trường hợp Bằng Kiều, cho đến lúc Bằng Kiều “xin nhận nơi này làm quê hương”. Không phải những giới chức trách nhiệm về vấn để đưa ca sĩ ra nước ngoài lưu diễn không biết đến việc này, nên họ dùng kế hoạch “tằm ăn dâu” hay “vết dầu loang”. Trước tiên “những ông bầu” cho thử nghiệm bằng cách chỉ để các ca sĩ này chỉ hát thuần túy ở những sòng bài, xen lẫn với những ca sĩ hải ngoại. Khi thấy không có sự phản đối của người nước ngoài, trái lại còn được báo chí, truyền thông quảng cáo, phỏng vấn, các ca sĩ này bắt đầu hiện diện trong những show hát tại các thành phố lớn có nhiều người Việt, bước tiếp theo là tổ chức những buổi trình diễn toàn là những ca sĩ từ trong nước ra. Vì hải ngoại vẫn mua vé đi xem, một số người muốn đổi món ăn, thiếu ý thức chính trị, nên có lúc báo chí trong nước đã loan tin con số thù lao của một hai ca sĩ ra hải ngoại đã lên đến con số $10,000.00 đô la, số tiền mà ca sĩ hạng nhất ở đây cũng không bao giờ với đến.

    Trong chủ trương đem văn hóa thâm nhập cộng đồng người Việt ở hải ngoại, trước đây, Cộng Sản đã tổ chức những chuyến lưu diễn “Duyên Dáng Việt Nam” quy mô và tốn kém, nhưng không có kết quả vì sự chống đối của đồng bào hải ngoại, Cộng Sản xoay qua chiến thuật đánh du kích bằng cách gởi đi những ca sĩ được nuôi dưỡng và ưu đãi từ trong nước, với tính cách cá nhân đi du lịch ra nước ngoài để tránh danh nghĩa là do các cơ quan trong nước tổ chức. Một nguồn tin từ cơ quan thuế vụ Hoa Kỳ cho biết các nghệ sĩ ngoại quốc đến trình diễn tại Hoa Kỳ phải thông báo cho cơ quan IRS ít nhất là 30 ngày trước khi lưu diễn và ký thỏa thuận CWA (Central Withholding Agreement) để tránh lỗi lầm không đóng thuế. Sở thuế Hoa Kỳ hiện nay để ý rất kỹ về các cuộc lưu diễn của các nghệ sĩ ngoại quốc, nhất là ở đây lại dưới visa du lịch, vì nhiều năm qua Hoa Kỳ đã thất thu trong các trường hợp này. Các ca sĩ Việt Nam ra kiếm ăn ở ngoại quốc rồi đây sẽ sợ sự thăm hỏi của sở thuế hơn là sợ bị biểu tình phản đối.

    Hiện nay có nhiều tổ chức chính trị tại hải ngoại đã hô hào biểu tình “chống văn công”, nghĩa là chống những ca sĩ “con cưng” của chế độ trong nước ra trình diễn. Những cuộc biểu tình này nhiều lúc cũng khiến cho buổi trình diễn phải dẹp bỏ, nhưng cũng đôi lúc, “trong vỗ tay, ngoài la hét”, ai mua vé đi xem thì cứ việc đi xem, ai biểu tình phản đối thì cứ biểu tình, vì người biểu tình không được vào rạp để bị kết tội phá rối và ông bà bầu, ca nhạc sĩ thì được nhân viên an ninh hoặc cảnh sát bảo vệ chặt chẽ.

    Cũng có những cuộc biểu tình nhắm sai mục đích hay thiếu cơ sở không được nhiều người hưởng ứng như cuộc biểu tình chỉ vì một cái khuy nịt có hình ngôi sao trắng chỉ thấy in trên poster, cuộc biểu tình chống một trung tâm ca nhạc chỉ vì ngày trình diễn có xa gần với ngày sinh của Hồ Chí Minh (thì đã sao?) Chúng ta đã từng phung phí, tiêu hao quá nhiều năng lực không đúng chỗ, đúng lúc.

    Chúng ta buồn vì cứ nghĩ có khi con trẻ ngồi xem trong rạp mà cha mẹ già đứng ở ngoài biểu tình. Các bậc cha mẹ đã giáo dục được con trẻ chưa? Các đoàn thể đã giáo dục được quần chúng chưa? Cộng đồng hải ngoại đã đoàn kết chưa? Lại còn những con cái của những cựu tù nhân chính trị, quên quá khứ của cha ông, chấp nhận ca hát bên các ca sĩ do Cộng Sản đưa ra nước ngoài, chỉ vì mùi thơm của đồng đô la, thật đáng xấu hổ. Nhiều ca sĩ hải ngoại đã có lập trường trước đây, không muốn hay không được về Việt Nam trình diễn, nay trước luật đào thải và thị hiếu của quần chúng cũng đành đứng chung sân khấu với những “văn công”, mà không hề thấy hổ thẹn.

    Ba mươi lăm năm rồi, Cộng Sản chưa thao túng hay chưa có khả năng khống chế sân chơi hải ngoại vì chúng ta tuy không có chính phủ, không có quân đội, không có công an trấn áp, không có một tổ chức đại diện duy nhất, nhưng còn giữ vững được tinh thần của những người đã bỏ đất nước ra đi vì chế độ Cộng Sản đương thời. Nhờ tinh thần đó, mà hôm nay, Cộng Sản Việt Nam mặc dầu có tòa đại sứ, lãnh sự trên đất Mỹ nhưng chưa treo nổi một lá cờ trong khu phố của cộng đồng người Việt hải ngoại. Tuy vậy trên mặt trận văn hóa, sản phẩm băng nhạc, báo chí, phim ảnh và nhất là ca sĩ trong nước ồ ạt tuôn ra nước ngoài, đến những địa điểm từng hãnh diện mang danh là thủ đô chính trị, thủ đô tỵ nạn… Lý do là vì cộng đồng người Việt của chúng ta chưa đoàn kết đúng mức, chưa một lòng, chưa nhìn rõ lại mình, nên mãi vẫn còn có cảnh “trống đánh xuôi kèn thổi ngược.”

    Muốn loại bỏ ảnh hưởng nghị quyết 36 của Cộng Sản trong công tác văn hóa tư tưởng, hải ngoại có một kho vũ khí tuyệt đối, khá lớn mà không chịu sử dụng. Vũ khí đó là đồng đô la. Trong nước đang cần đô la, chúng ta lại tiếp tế đô la cho trong nước. Các ca sĩ trong nước ra hải ngoại cần đô la chúng ta lại xếp hàng mua vé đi xem. Hải ngoại phải biết nói không và quyết định “không”: đó là không mua vé các buổi trình diễn có văn công, đại lý nhà buôn không nhận bán vé, báo chí truyền hình không chạy quảng cáo thì ca sĩ trong nước không còn đất dụng võ.

    Khi hải ngoại chúng ta đồng tình nói được chữ “không”, trong rạp hát vắng người xem thì ngoài rạp không cần phải giăng cờ treo biểu ngữ, hay chịu mưa, dang nắng đi biểu tình nữa.

  • Tham luận

    Duy Ái: Quê hương Việt Nam sau 1975

    "Quê hương Việt Nam sau 1975 là quê hương để nhớ, để thương nhưng không phải để sống !


    30 Tháng Tư và Hòa giải dân tộc.

                Duy Ái , April 30, 2010 
    LTS: Chúng tôi vừa nhận được bài phỏng vấn của đài VOA với anh Trần Trung Đạo, do chính anh gửi tới. Sau khi đọc qua, thấy nội dung rất đáng suy nghĩ, nên chúng tôi xin đăng lại để qúy độc giả tìm hiểu thêm vấn đề rất quan trọng này.

    VOA – Tháng Tư năm nay, cũng như những tháng Tư của hơn 30 năm qua, giới hữu trách Việt Nam đã tưng bừng tổ chức ngày kỷ niệm mà họ gọi là “chiến thắng vĩ đại ngày 30-4-1975.” Họ cũng không quên nhắc tới sự kiện mà họ mô tả là “ở một số nơi trên thế giới, đặc biệt là ở Mỹ, một số nhóm phản động cực đoan thường tổ chức ‘ngày quốc hận’ để hoài niệm một chế độ tàn bạo ở miền nam Việt Nam đã sụp đổ, hoài niệm thời kỳ đất nước bị chia cắt, tìm cách bôi nhọ những gì tốt đẹp đang diễn ra ở Việt Nam” (Quân Đội Nhân Dân, 18-04-2010). Trong khi đó, một số văn nghệ sĩ ở Việt Nam mới đây đã cho đăng tải trên mạng internet những bài viết kêu gọi mọi người hãy có một cái nhìn mới về biến cố lịch sử này để tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc hòa giải dân tộc, nổi bật là bài “Tùy Bút Tháng Tư” của nhà văn Vũ Ngọc Tiến được phổ biến rộng rãi trên mạng. Ban Việt Ngữ đài VOA đã tiếp xúc với nhà thơ Trần Trung Đạo, một blogger ở Mỹ (trantrungdao. com) có nhiều bài bình luận về văn học và chính trị Việt Nam được nhiều người ưa thích, để tìm hiểu thêm về vấn đề đáng chú ý này. Mời quí vị theo dõi cuộc phỏng vấn do Duy Ái thực hiện sau đây.

    VOA: Thưa anh Trần Trung Đạo, là người theo dõi sát tình hình Việt Nam, đặc biệt trong các lãnh vực văn hóa xã hội, chắc anh cũng biết là trong vài tuần nay, các tờ báo do nhà nước kiểm soát đã cho đăng nhiều bài viết dưới dạng “nhìn lại 35 năm” và hô hào cho việc “hòa hợp dân tộc, hàn gắn lòng người”. Trước hết, xin anh chia sẻ với thính giả và độc giả đài Tiếng Nói Hoa Kỳ quan điểm của anh về “hòa giải hòa hợp dân tộc”?

    Trần Trung Đạo: Tuần trước tôi có dịp đến thăm viện bảo tàng lịch sử Mỹ tại Washington DC, trong đó có một khu dành riêng cho Tổng Thống thứ 16 của Mỹ, Tổng Thống Abraham Lincoln. Ngay trước cổng của khu tưởng niệm TT Lincoln, có treo một tấm bảng nhỏ, trong đó ghi một câu trong Tân Ước mà ông yêu thích và thường hay trích dẫn "A house divided against itself cannot stand”, nghĩa là “Một căn nhà phân hóa chống lại chính nó, căn nhà đó không thể đứng vững”.

    Tổng Thống Lincoln quan niệm tinh thần đoàn kết, hòa giải giữa các thành phần quốc gia là điều kiện quyết định giúp quốc gia vượt qua những khó khăn, cũng như dẫn đến sự vững mạnh, thăng tiến lâu dài. Sự phát triển vượt bực của Hoa Kỳ, từ thuộc địa của Anh trở thành cường quốc hàng đầu thế giới đã chứng minh câu Tổng Thống Lincoln trích dẫn là một chân lý. Chân lý đó cũng đã được thử nghiệm và xác định tại nhiều quốc gia khác như Nam Phi, Cộng Hòa Đức, v.v..

    Tổng thống Lincoln nhấn mạnh đến tinh thần hòa giải trong diễn văn nhậm chức tổng thống nhiệm kỳ 2, 1865, nghĩa là sau khi quân đội miền bắc đã kết thúc cuộc nội chiến bằng chiến thắng, và TT Nelson Mandela cũng chỉ lập Ủy Ban Sự Thật Và Hòa Giải Quốc Gia sau khi đã đắc cử Tổng Thống Cộng Hòa Nam Phi. Nếu TT Lincoln bỏ tù hết các cấp sĩ quan, viên chức chính quyền miền nam, chắc chắn quân đội của tướng Robert Lee đã không buông súng dễ dàng, và nước Mỹ có thể không có ngày hôm nay. Tương tự, nếu TT Nelson Mandela bắt thiểu số da trắng phải trả giá bằng những cực hình đầy đọa giống như dân da đen đã từng chịu đựng dưới ách phân biệt chủng tộc Nam Phi thì hòa hợp hòa giải đã không đến cho quốc gia này.

    Từ những bài học quý giá đó, tôi quan niệm hòa giải không chỉ là một tình cảm mà phải dựa trên các nền tảng chính trị, kinh tế, xã hội cần thiết, và các nền tảng đó chính là sự thật, tự do, dân chủ và bình đẳng giữa những con người cũng như giữa các thành phần trong xã hội.

    Giới lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam có tất cả những phương tiện để thực thi hòa giải hòa hợp dân tộc nhưng họ đã không làm. Lý do, nếu làm thì họ đã không phải là Cộng Sản. Hòa giải hòa hợp dân tộc đặt cơ sở trên sự bao dung, bình đẳng vốn đi ngược lại mục tiêu Cộng Sản hóa Việt Nam bằng các phương tiện bạo lực mà đảng đã và đang dùng.

    Do đó, ngày nào chế độc độc tài đảng trị, dù tồn tại dưới bất cứ hình thức nào tại Việt Nam, ngày đó chuyện hòa giải chỉ là một chuyện để bàn cho có và cũng sẽ qua đi theo mỗi tháng Tư.

    VOA: Thưa anh Trần Trung Đạo, một câu nói của ông Võ Văn Kiệt liên quan đến vấn đề “hòa giải hòa hợp” được các bên trích dẫn khá nhiều là “một triệu người vui, một triệu người buồn”. Xin anh chia sẻ về câu nói này của ông Võ Văn Kiệt cũng như các ý kiến tương tự khác mà anh đọc trong dịp 30 tháng 4 năm nay ?

    Trần Trung Đạo: Câu nói của ông Võ Văn Kiệt, ngày 30 tháng 4 “có hàng triệu người vui, mà cũng có hàng triệu người buồn” có lẽ là câu nói tích cực nhất mà chúng ta được nghe từ một người từng đóng vai trò lãnh đạo đảng và nhà nước Cộng Sản Việt Nam trong một thời gian dài sau 1975.

    Như tôi đã có lần viết trong một tiểu luận về những lời phát biểu của ông Võ Văn Kiệt, tôi tin đó là một câu nói chân thành, kết quả của nhiều đêm trăn trở.

    Tôi vui mừng bởi vì ông đã góp phần tạo nên một môi trường thảo luận những vấn đề sinh tử của đất nước mà trước đây không có được. Các thế hệ trẻ Việt Nam, qua những lời phát biểu của ông, có cơ hội biết đến một quãng lịch sử dân tộc đen tối do chính một trong những người chịu trách nhiệm lớn nhất của đảng và nhà nước trong giai đoạn đó kể ra. Con đường mà dân tộc đã trải qua trong suốt hơn 30 năm không phải là “con đường vinh quang” như các em đang học ở trường, những ngày mà cha chú các em đã sống không phải là “những ngày đẹp nhất dù mai sau đời vạn lần hơn”, nhưng là con đường nhuộm bằng máu và nước mắt, trong đó, “có hàng triệu người vui, mà cũng có hàng triệu người buồn” như ông Võ Văn Kiệt đã nhắc lại.

    Ngoài ông Võ Văn Kiệt đã qua đời, một số cán bộ Cộng Sản nổi bật trong giai đoạn chiến tranh như cựu đại sứ Cộng Sản Việt Nam tại Pháp Võ Văn Sung trong buổi phỏng vấn dành cho VietNamNet mới đây cũng nhấn mạnh đến tinh thần hòa giải bằng những câu phát biểu thật “thắm thía”: “Lúc này nếu ai đó trong chúng ta dù từng đứng từ phía nào mà vẫn nuôi lòng thù hận, cản trở hòa hợp dân tộc thì sẽ dần trở nên lạc lõng và thật sự có lỗi với tương lai của chính con cháu mình.”

    Thế nhưng cả ông Võ Văn Kiệt lẫn ông Võ Văn Sung, về khái niệm, đều lầm lẫn giữa hòa giải và đầu hàng, giữa hòa hợp và phục tùng, giữa bao dung dân tộc và thương xót người chiến bại. Hòa giải hòa hợp là con đường hai chiều, là chiếc cầu nhiều nhịp. Và như tôi đã phát biểu ở trên, phải dựa trên nền tảng bình đẳng, tự do, dân chủ. Không ai có quyền bắt người khác phải bơi qua sông để hòa giải với mình !  Những người lính miền nam cần công lý chứ không cần thương xót.

    VOA:Trong hai tuần qua, nhiều độc giả của các trang blog không do nhà nước kiểm soát đã xôn xao bàn tán về bài viết “Tùy Bút Tháng Tư” của nhà văn Vũ Ngọc Tiến, cũng như mới đây bài viết của nhà văn Nguyễn Trọng Tạo “Đừng Thêm Những Tháng Tư”. Xin anh cho biết ý kiến của anh về hai bài viết này?

    Trần Trung Đạo: Trong lúc tôn trọng sự khác biệt về cách giải thích nguyên nhân của cuộc chiến Việt Nam, tôi thông cảm những trăn trở của nhà văn Vũ Ngọc Tiến trong bài viết mới đây Tùy Bút Tháng Tư “Trong số 3,2 triệu người Việt định cư ở hải ngoại hiện nay, số ra đi trước ngày 30/4/1975, kể cả số di cư từ thời thuộc Pháp chỉ khoảng 1 triệu, số còn lại hơn 2 triệu người chủ yếu rời bỏ đất nước từ nửa cuối thập niên 70 và cả thập niên 80 của thế kỷ trước. Thế hệ chúng tôi “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, sao những người được chúng tôi giải phóng lại ào ào bỏ nước mà đi đông đến vậy ?”

    Tôi nghĩ câu hỏi này nhà văn nên đặt ra cho giới lãnh đạo đảng CSVN chứ không phải cho độc giả của ông. Tuy nhiên, với tư cách là một trong số hơn hai triệu người ra đi sau 1975, tôi nghĩ, lý do cũng rất là đơn giản. Họ ra đi sau 1975 là vì tự do. Nếu Liên Hiệp Quốc và các quốc gia Đông Nam Á không đóng cửa các trại tỵ nạn đầu thập niên 90 thì không chỉ 2 triệu mà có thể 4 triệu, 6 triệu hay nhiều hơn nữa đã bỏ xứ ra đi.

    Quê hương Việt Nam sau 1975 là quê hương để nhớ, để thương nhưng không phải để sống !

    Và sau 35 năm, ngoài trừ một số rất ít, 300 ngàn người thành đạt như nhiều nguồn ước tính và nhà văn Vũ Ngọc Tiến có trích dẫn trong bài viết của ông, đã không về phục vụ đất nước. Nhà văn thắc mắc tại sao họ lại không về. Câu trả lời cũng không khó lắm. Thứ nhất, dù chia rẽ, kèn cựa, chống đối lẫn nhau, về căn bản họ vẫn là
    những người chống lại chế độ độc tài Cộng Sản, và thứ hai, họ không muốn thấy những đóng góp của họ chỉ để làm giàu thêm
    giai cấp tư bản đỏ đang như dòi bọ sinh sôi từ xương máu nhân dân chứ không đem lại lợi ích gì cụ thể cho đại đa số đồng bào đang sống trong nghèo khó.

    Tôi cũng rất tâm đắc với suy nghĩ của nhà văn Nguyễn Trọng Tạo trong bài viết Đừng Thêm Những Tháng Tư: “Một dân tộc mà lũ trẻ không biết mơ mộng và người già không biết sám hối, đó là một dân tộc bất hạnh. Hãy trân trọng sự sám hối.” và “Hòa giải là nguyện vọng cấp thiết của người Việt Nam dù trong hay ngoài nước”.

    Đúng vậy, những ai có trách nhiệm cho điêu tàn, đổ nát, đói nghèo, lạc hậu, mất đất, mất biển phải sám hối trước tiên linh ông bà và xin lỗi trước nhân dân.

    Về hòa hợp hòa giải. Trải qua một cuộc chiến dài với quá nhiều những hy sinh xương máu, tôi tin, không một người Việt Nam yêu nước nào không muốn sống trong cảnh hòa bình, không mong đất nước mình cường thịnh, hội nhập vào dòng phát triển của cộng đồng nhân loại. Không chỉ những người lính miền nam, người dân miền nam mà ngay cả những người lính miền bắc, người dân miền bắc, cũng chỉ mong có cơ hội được trở về căn nhà xưa, với ruộng lúa nương dâu, với cha mẹ già đang chờ đợi.

    Cuối cùng, như các chúng ta thấy, không ai thương dân tộc Việt Nam bằng chính người Việt Nam. Bên trong những vòng hoa chiến thắng, mặt trái của những tấm huân chương là máu thịt của hàng triệu người Việt Nam đổ xuống, là đói nghèo lạc hậu.

    Việt Nam phải vượt qua. Việt Nam phải thăng tiến. Nhưng chướng ngại lớn nhất trên con đường dẫn tới một tương tốt đẹp, tự do, dân chủ, giàu mạnh không phải vì thiếu hòa giải, hòa hợp mà quan trọng hơn vì cơ chế độc tài đảng trị như một bức tường đang chắn ngay trước lối đi lên. Và một khi cơ chế độc tài sụp đổ, hòa giải hòa hợp tự nhiên sẽ đến dù lúc đó chưa chắc còn cần thiết nữa.

    VOA:  Xin cám ơn anh Trần Trung Đạo.

     

  • Tham luận

    Nguyễn Ðạt Thịnh : Cuộc chiến Biển Ðông

     
     

    Tình hình Biển Ðông (Nam Hải) và Ðông Hải đang thay đổi theo chiều hướng thuận lợi cho Việt Nam, nếu Việt Cộng nhân cơ hội căng thẳng giữa Trung Cộng và Hoa Kỳ để dành lại quyền lợi trên Biển Ðông.
    Hoa Kỳ bán trên 6 tỉ mỹ kim chiến cụ cho Ðài Loan, việc này làm Trung Cộng tức giận phản đối, cho là Hoa Kỳ chen lấn vào nội tình nước Tầu, vì họ vẫn chủ trương Ðài Loan chỉ là một tỉnh của Tầu.
    Ðể trả đũa và làm nhục Hoa Kỳ, Trung Cộng hủy bỏ chuyến thăm viếng Trung Cộng của ông Robert Gates, tổng trưởng quốc phòng Hoa Kỳ. Gates dự định sẽ thực hiện cuộc viếng thăm này ngay sau hội nghị an ninh vùng Ðông Nam Á nhóm họp tại Singapore, và được mệnh danh là cuộc đối thoại Shangri-La, một địa danh giả tưởng tại Singapore.
    Nhà văn người Anh, ông James Hilton trong quyển tiểu thuyết Lost Horizon, đã tạo ra thung lũng Shangri-La, một thiên đàng địa giới, nơi mọi người không thù hằn, không tranh chấp với nhau.
    Nhưng Gates đã đối diện với thù hằn và tranh chấp ngay tại Shangri-La: tại đây ông nhận được tin là Trung Cộng không tiếp ông, và hủy bỏ cuộc viếng thăm của ông, vì Hoa Kỳ bán vũ khi cho Ðài Loan.
    Gates cho rằng, Trung Quốc không hề xa lạ với việc Hoa Kỳ bán vũ khí cho Đài Loan, việc làm này liên tục diễn ra từ hơn ba thập kỷ vừa qua. Chỉ tính từ khi Hoa Kỳ thiết lập quan hệ ngoại giao với Trung Quốc năm 1979 cho đến nay, Hoa Kỳ cũng đã bán vũ khí cho Đài Loan 53 lần.
    Không những thế, trong chuyến viếng thăm Trung Quốc hồi tháng 11 năm ngoái, Tổng thống Obama cũng đã thông báo là Hoa Kỳ sẽ bán vũ khí cho Đài Loan, và Trung Quốc đã biết trước điều đó.
    Ðại diện cho Trung Cộng tại hội nghị Shangri-La là đại tướng Mã Hiếu Thiên, tổng tham mưu phó quân đội Trung Cộng. Ông này đáp từ cũng gay gắt không kém.
    Thái độ và ngôn từ của hai viên chức cao cấp quân sự Hoa – Mỹ tại Singapore hôm thứ bảy mùng 5 tháng Sáu cho thấy, quan hệ quân sự giữa hai nước đang thật sự có vấn đề, và vấn đề không nẩy sinh, như Gates nói, từ việc Hoa Kỳ bán vũ khí cho Đài Loan mà thôi.
    Nhiều quan sát viên cho là căng thẳng nẩy sinh vì Trung Cộng đang hiện đại hóa quân đội, tạo ra một lực lượng hải quân có thể sắp có khả năng đương đầu với haỉ quân Hoa Kỳ. Việc này làm Hoa Kỳ lo ngại.
    David Shambaugh, chuyên gia nghiên cứu về Đảng Cộng sản và Quân đội Trung Quốc tại Đại học George Washington, ông nói: “Hiện đang có sự thay đổi lớn và thái độ cứng rắn trong suy nghĩ của chính phủ Trung Quốc về mối quan hệ với Hoa Kỳ trong vòng sáu hoặc tám tháng qua. Trong bối cảnh này, Washington cần phải tiến hành đánh giá toàn bộ các chính sách và chiến lược của Hoa Kỳ đối với Trung Quốc, từ trên xuống dưới”.  
    Phải chăng cuộc “đánh giá toàn bộ” này đang diễn ra?
    Trong cuộc đối thoại kéo dài 3 ngày tại Shangri-La thái độ của Hoa Kỳ tỏ ra quan tâm đến Biển Ðông hơn; Gates hỏi đại biểu Trung Cộng, “phải chăng chỉ ngư dân Trung Quốc mới được đánh cá trên Biển Ðông?”
    Câu hỏi gay gắt của Gates đề cập đến lệnh cấm của Trung Cộng cấm ngư dân các quốc gia sống quan Biển Ðông không được đánh bắt cá hai tháng rưỡi mỗi năm -từ ngày 16 tháng 5 đến ngày 1 tháng 8- và gửi tàu ngư chính đến tuần tra trong khu vực, với lý do bảo vệ nguồn lợi thủy sản; nhưng Trung Cộng chỉ áp dụng lệnh cấm này với ngư dân các nước khác, mà không áp dụng với ngư dân Trung Cộng.
    Thuyết trình viên của các quốc gia Ðông Nam Á chứng minh chủ trương của Trung Cộng dành độc quyền đánh cá trên Biển Ðông, bằng cách dẫn chứng chính bản tin của Tân Hoa xã ngày 2 tháng 6, theo đó 9 ngư dân thuộc tỉnh Hải Nam, Trung Quốc, bị nhà chức trách Philippines giam giữ, do các ngư dân này đánh cá ở bãi ngầm Half Moon, cách đảo Palawan của Philippines khoảng 80 km, trong thời gian 2 tháng rưỡi cấm đánh cá. Cũng theo tin từ Tân Hoa xã, 28 ngư dân khác của Trung Quốc đã bị các nước láng giềng bắt giữ từ ngày 12 tháng 5 đến ngày 21 tháng 5, khi họ đang đánh cá ở Biển Đông.
    Việc các quốc gia Biển Ðông đồng loạt bắt giữ ngư phủ Trung Hoa hành nghề trong thời gian Trung Cộng cấm đánh cá, có thể cũng không phải là tình cờ. Nhiều người nói đến chiếc đũa nhạc trưởng của Hoa Kỳ.
    Giới chuyên gia cho rằng, lệnh cấm đánh bắt cá của Trung Quốc nhắm tới mục tiêu chiến lược lớn hơn lý là bảo vệ nguồn lợi thủy sản. Ông Lyle Goldstein, một học giả thuộc Trường Cao đẳng Hải chiến Hoa Kỳ cho rằng, việc cấm đánh bắt cá và gửi các tàu ngư chính Trung Quốc tuần tra trong khu vực chỉ phục vụ mục đích khẳng định chủ quyền Trung Cộng trên khu vực hàng hải rộng lớn vốn không phải là hải phận Trung Cộng.
    Giáo sư Carl Thayer, chuyên gia nghiên cứu về Việt Nam, thuộc Học viện Quốc phòng Úc cũng viết: “Sau mười năm, chúng ta có thể thấy Trung Cộng ngày càng thêm cứng rắn trong việc bảo vệ và thực thi điều mà họ cho là chủ quyền và quyền lợi kinh tế của mình. Việc sử dụng tàu ngư chính để tuần tra là một thủ đoạn tuyệt vời vì đây không phải tàu chiến, nó sơn màu trắng chứ không phải màu xám. Nhưng chớ có lầm tưởng, những con tàu này đều được trang bị vũ khí đầy đủ”.
    Robert Gates kêu gọi sự tự do tiếp cận ở khu vực Biển Đông, ông chính sách của Hoa Kỳ đối với Biển Đông là sự ổn định, quyền tự do đi lại và tự do phát triển kinh tế mà không bị ngăn cản.
    Gates còn nói Hoa Kỳ sẽ không đứng về phía nào trong các tranh chấp và kêu gọi tất cả các nước giải quyết tranh chấp lãnh thổ thông qua các phương thức hòa bình, có nghĩa là các nước nên tuân theo luật pháp quốc tế.
    Cũng trong phát biểu hôm thứ bảy mùng 5 tháng Sáu, ông Gates cho biết thêm, Hoa Thịnh Ðốn phản đối bất kỳ sự hăm dọa nào đối với các công ty năng lượng Hoa Kỳ trong khu vực.
    Trong một cảnh báo gửi tới Trung Quốc được giữ kín, ông Gates ám chỉ các mối đe dọa mà Bắc Kinh sử dụng đối với các công ty dầu khí của Mỹ về việc thăm dò ngoài khơi, trên vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam. Ông nói: "Chúng tôi phản đối bất kỳ nỗ lực nào nhằm đe doạ các công ty Hoa Kỳ, hoặc các công ty thuộc bất kỳ quốc gia nào tham gia vào các hoạt động kinh tế hợp pháp".
    Liên quan tới việc Trung Quốc đe dọa các công ty dầu khí khai thác trên Biển Đông, tháng bảy năm ngoái, một viên chức Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ nói với Ủy ban Quốc hội rằng, Trung Quốc yêu cầu một số công ty năng lượng Hoa Kỳ và các công ty năng lượng nước ngoài chấm dứt các dự án với các công ty Việt Nam, nếu không sẽ phải đối mặt với sự trả đũa thương mại ở Trung Quốc.
    Việc Hoa Kỳ khẳng định lập trường trong cuộc tranh chấp Biển Ðông đang làm cho cuộc chiến dành chủ quyền trên vùng biển này thay đổi. Trung Cộng đã có dấu hiệu thôi, không đóng vai trò cảnh sát phạt vi cảnh ngư dân Việt Nam hành nghề trên biển Việt Nam nữa; dấu hiệu đầu tiên là chúng đổi áo, vứt bỏ mầu áo “nhà cầm quyền” để mặc lên bộ áo hải tặc gây khủng bố cho ngư dân bằng những tai nạn hải hành.
    Biến chuyển đầu tiên đánh dấu tình trạng đổi thay này là việc sáng sớm ngày thứ Bẩy 12 tháng Sáu một chiếc “tầu lạ” đến từ phía sau, chạy nhanh đến mức đâm chìm tầu cá của ông Võ Xuân Tiền, một ngư dân Việt Nam, ngụ tại xã An Hải, huyện đảo Lý Sơn tỉnh Quảng Ngãi.
     
     
    Tầu cá Việt Nam bị đâm chìm
     
    Việc “tầu lạ” đâm chìm tầu cá Việt Nam không phải chuyện mới xẩy ra lần đầu; trên 3 tháng trước, hôm mùng 9 tháng Ba 2010, chiếc tàu cá mang số QNg 96516 TS của Ông Dương Thành Phú cũng đã bị “tàu lạ” đâm chìm hôm 9/3/2010, cũng đã bị “tàu lạ” đâm chìm, và năm ngoái “tầu lạ” cũng gây ra nhiều tai nạn tương tự.
    Tuy nhiên lần này nó đánh dấu một giai đoạn mới, và một chiến thuật mới của Trung Cộng; mới vì có thể kể từ nay chúng không còn dám công khai bắt ngư thuyền, giam ngư dân Việt Nam để rồi thả ra sau khi đã đòi được “tiền phạt”.
     
    Tầu “ngư chính” 311 của Trung Cộng
     
    Hai ngày sau việc tàu cá của ông Tiền bị nạn, ông Nguyễn Dự, chủ tịch xã An Hải, công bố chi tiết về “dzụ dziệc”: “Họ về xã hồi 10 giờ sáng ngày 13 tháng 6, chỉ có 15 người về, còn hai người ở lại chăm sóc cho người bị thương gãy tay phải giải phẫu ghép xương. Theo báo cáo của họ: khi trên đường về từ cách Cù Lao Xanh vào sáng sớm ngày 12, tàu cá của họ bị một tàu lạ lớn đi phía sau đâm vào. Những người đang ngủ phải gạt nước cửa cabin để thoát ra ngoài. Tất cả bám vào một cái thúng còn nổi. Trong tàu có mười mấy điện thoại di động nhưng chỉ còn mấy chiếc bọc trong bao nylon là còn dùng được vì chưa bị ướt. Họ sử dụng máy này gọi về gia đình. Sau khi nhận được tin, tàu cứu nạn ra tìm, nhưng cả mấy tiếng đồng hồ vẫn chưa tìm được; sau đó, nhờ có một tàu đi ngang và có máy định vị cho biết rõ vị trí, tàu cứu nạn đến cứu họ và đưa về Qui Nhơn.”
    Nhưng tướng Việt Cộng Phùng Quang Thanh sau cuộc họp an ninh khu vực ở Shangri-la, Singapore, về lại khẳng định là Việt Cộng không để Hoa Kỳ chen vào tình hình Biển Ðông.
    Ông không cần nghe ngư dân Quảng Ngãi trách móc, “Chúng tôi đi làm nghề mà bị Trung Quốc bắt nộp tiền chuộc thì tự mình chịu thôi. Còn đi làm trên biển thì một năm chỉ gặp tàu hải quân Việt Nam có mấy lần. Trong tình hình khó khăn hiện nay vẫn chưa thấy có gì hơn.”
    Là những người tự lực đương cự với Trung Cộng, ngư dân không tin vào thiện chí của chính phủ Việt Cộng hổ trợ họ. Ông Nguyễn Dự than phiền thế cô đơn như con bà phước của ngư dân, “gặp tai nạn về đến bờ, ngư dân chỉ được Bảo hiểm Bình Định hỗ trợ tiền ăn hôm mới được đưa về tới Qui Nhơn; sau đó tự túc và làm thủ tục xin trợ cấp.”
    Ðược hỏi về tổ chức ngư dân tại Quảng Ngãi đứng ra thành lập đội tự quản để ra khơi hành nghề, ông Nguyễn Dự cho hay: “Họ chỉ lo an ninh trật tự tại bến bãi, còn khi ra khơi đi làm mỗi người mỗi đường; đến khi về thì hẹn nhau cùng về; chỉ có thế thôi.”
     
    Chính phủ Việt Cộng không từ nhân dân Việt Nam mà ra, không vì nhân dân Việt Nam mà có, và do đó không phục vụ cho nhân dân Việt Nam; chúng từ Bắc Kinh ra, nhờ Bắc Kinh mà tồn tại, và luôn luôn kiên trì phục vụ Bắc Kinh.

    Nguyễn Đạt Thịnh

    ———————————————–

    Trung Cộng lũng đoạn toàn diện Việt Nam


    Trung Cộng lũng đoạn toàn diện VN, từ Bộ Chánh trị Đảng CS Hà nội đến con tôm VN. Người dân Việt lâm vào thế lưỡng đầu thọ địch, chống ngoại xâm lẫn nội xâm.

    Chánh trị gia Tây Phương thường nói không có thù muôn thuở bạn muôn đời. Tây Phương có thể tin như vậy vì trong dòng lịch sử Tây Phương, trong đó tính luôn Âu, Mỹ và Úc, đa số các nước không bị ngoại bang xâm chiếm hay thực dân cai trị lâu dài như VN với 1000 năm ba lần Bắc thuộc. Do hoàn cảnh lịch sử và địa lý chiến lược đặc biệt, VN có lý do để không hẵn phải tin như Tây Phương. Nếu lịch sử có 4000 năm thì bị Bắc thuộc, tức là Tàu cai trị 1000 năm, tức cứ 4 năm thì người Việt bị Tàu cai trị hết 1 năm. Người Việt có thể thay đổi triều đại, chế độ chánh trị, nhưng người Việt không thể thay đổi người láng giềng khổng lồ ở phương Bắc lúc nào cũng dòm hành người VN và vua quan Tàu coi như dị tộc, dã man, “ô nàm nán”, thằng an nam xấu. Và người VN ở phiá Nam không còn nơi nào để đi nữa, con đường nam tiến đã đến biển rồi, nên lúc nào cũng coi chừng “mấy anh Ba Tàu” ở phương Bắc. Lúc nào họ mạnh là muốn chiếm VN.

    Nhưng nhờ tinh thần đề cao cảnh giác, tánh bất khuất, VN “thà núi xương sông máu chớ không chịu đầu hàng”. Nhờ sẵn sàng đoàn kết tạo nội lực dân tộc khi đất nước lâm nguy, sơn hà nguy biến, tuy đất hẹp người ít, VN đất nước có lúc thịnh suy nhưng anh hùng hào kiệt đời nào cũng có. Nên dân tộc VN là dân tộc duy nhứt ở Đông Nam Á được thế giới sử ghi điểm son — là dân tộc từng đánh đuổi quân Tàu qua ba lần Bắc thuộc, là dân tộc duy nhứt ở Đông Nam Á đã đánh bại quân Nguyên bách chiến bách thắng ở Bắc Á lẫn Đông Âu.

    Và bây giờ vào đầu thiên niên kỷ thứ ba, đầu thế kỷ 21 Công Nguyên, chế độ đô hộ, thực dân mới, thực dân cũ đã lỗi thời. Nhưng dân tộc Việt Nam đang đứng trước một đại hoạ. Hoạ ngoại xâm do Trung Cộng lấn đất, lấy biển, chiếm đảo. Và hoạ nội xâm do CS Hà nội thần phục TC như một thái thú của Tàu Cộng, như bọn “tự thực dân” là CS Hà nội do TC dùng người Việt dùng làm nanh vuốt của Tàu Cộng để trị người Việt. Báo Financial Times, ngày 06-05-2009 gọi bauxite Cao Nguyên VN là vật triều cống của Nguyễn tấn Dũng dâng cho Tàu Cộng. CS Hà nội là chế độ duy nhứt đã để mất đất mất biển mà không một tiếng rút gươm, một tiếng súng nổ. CS Hà nội là nhà cầm quyền duy nhứt bắt dân, giải tán biểu tình của dân chống quân xâm lược là TC.

    Bị hai mặt giáp công, người dân Việt muốn cứu nguy giang sơn gấm vóc cũng khó. Thời CS Hà nội là thời người dân vừa mới lên tiếng, nhốm đứng lên bảo vệ Tổ Quốc là đã bị CS Hà nội sợ quan thầy TC giận dữ, ra tay trấn áp người dân của mình. Nhưng đất nước VN, dân tộc VN không bao giờ là của riêng một triều đại hay một chế độ nào. Triều đại, chế độ nào cũng qua đi, chỉ có quốc gia dân tộc VN mới tồn tại. Nhà cầm quyền CS Hà nội nhu nhược không chống Tàu Cộng thì người dân Việt chống. Chống ngoại xâm lẫn nội xâm. Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh. Xua đuổi quân thù, cây dao bửa cau ăn trầu cũng sử dụng. Phải nói từ khi CS Hà nội gồm thâu được cả nước VN, suốt gần 34 năm người dân Việt trong ngoài nưóc đấu tranh không ngừng nghỉ. Qua nhiều giai đoạn, nhiều mặt trận, nhiều mục tiêu, cuộc đấu tranh bảo toàn đất Tổ, là cuộc đấu tranh nổi bật nhứt, được nhiều người ủng hộ nhứt, bền vững với nhiều hình thái sáng tạo và sinh động nhứt.

    Trong phạm vi hạn chế của bài này, xin phép phân tích một sự chống đối nhỏ của người dân Việt nhưng ảnh hưởng quần chúng lớn – là phong trào tẩy chay hàng hoá của TC. Lâu nay ở hải ngoại nhờ có thừa tin tức, và lợi tức cũng khá, người Việt hải ngoại đi chợ hay tiệm của Tây, Tàu, Mỹ, Mễ hễ cầm món hàng dù là thực phẩm, dược phẩm hay quần áo, giày dép, nồi chảo có chữ Made in China là để xuống. Do tinh thần chống TC cũng có mà do sợ nguy hại cho sức khoẻ cũng có. Made in China đồng nghĩa với Nguy Hại.

    Tội nghiệp đồng bào trong nước không có tin tức, lại nghèo lâu nay phải xài đồ TC vì rẻ. Đâu có biết rõ TC tuồn hàng hoá qua bán rẻ như cho là để giết nông nghiệp, kỷ nghệ VN. Đâu có biết Đảng Nhà Nước CS Hà nội dắt voi về dày mả tổ. Cho người Tàu qua VN không cần chiếu khán nhập cảnh. Ở Lâm đồng và Đắc nông, trụ sở công ty Trung quốc Chalco trương toàn cờ Tàu, trương bảng lớn toàn chữ Tàu, công nhân Trung quốc coi dân VN là “ô nàm nán”. kéo cả bầy ra chưởi bới, đánh đập chủ quán VN và bà con VN ở gần đó. Mà không phải chỉ có ở hai tỉnh Cao Nguyên này, cái nhục mà người dân Việt phải chịu do CS Hà nội cõng rắn cắn gà nhà xảy ra khắp nước. Ở Hải phòng, ở Thanh hoá, ở Bình thuận… đầy những làng Tàu tro
    ng lòng đất nước VN như thế!

    Mấy năm nay do kinh tế thế giới suy thoái, xuất cảng TC giảm, hàng hoá made in China bị Liên Âu, Bắc Mỹ chê hàng giả, hàng gian, hàng độc, xuất cảng TC giảm 26.6% (theo The Wall Street Jouranal, ngày 13-05-2009). TC tuồn những thứ đó vào VN, CS Hà nội cúi đầu nhận. Gần đây trái cây, rau củ của TC được chở bán tại các chợ bán khắp nước, tận các chợ Miền Tây, thậm chí Cà mau. Bán rẻ như cho, giá mấy lần thấp hơn giá chuyên chở. Bề ngoài trông rất tươi ngon, nhưng bên trong thì thủm thủm, tức ung thúi. TC dùng hoá chất độc để làm tưoi bên ngoài. Bánh trái, phó phẩm làm từ sữa của TC cũng vậy, quốc tế tố cáo có độc chất melamine, nhà cầm quyền CS Hà nội kiểm, tịch thu, không nghe phá hủy, có thể bị tuồn ra ngoài bán lại. Sau một đợt công tác có tánh phong trào, rồi đâu lại vào đấy. Giày vớ TC, dây nịch cũng rẻ, nhưng mang vào đụng da, di ứng, nổi mề đay, ngứa ngáy, có người bị mưng mủ. Còn cái gọi là “thuốc Bắc” thì bán đầy đường, đầy chợ, không qua cơ quan kiểm soát dược, thực phẩm VN.

    Từ khi sau khi TC chiếm đảo Hoàng Sa, Trường sa lập thành huyện Tam sa của TC, đồng trong nước mới bắt đầu tẩy chay mạnh hàng hoá TC. Đau lòng báo chí dù của Đảng Nhà Nước tương kế tựu kế “viết lách” thì CS Hà nội bị “tham tán kinh tế – thương mại” của Sứ quán Trung quốc ở Hànội là Hồ Tỏa Cẩm, “quở rầy” liền, “bảo” những người lãnh đạo CS Hà nội phải chấn chỉnh các báo chí. Chưa đủ Sứ quán Tàu Cộng ở Hà nội còn nói sẽ đưa ngay một đoàn báo chí Tàu sang để uốn nắn báo chí Hà nội.

    Nhưng người dân Việt, theo đài RFA hỏi nhiều người Việt tiêu biểu trong nước – có âm chứng – ai cũng tránh hàng hoá TC. Phong trào này đang lan toả trong nước thành phong trào nhân dân VN tẩy chay hàng hoá TC sẽ gây một tác dụng lớn ở hạ tầng cơ sở xã hội VN trước âm mưu của TC lũng đoạn toàn diện kinh tế chánh trị VN.

    Vi Anh
    (Vietchange)

     

     


     

    ———————————————————

    Cuộc chiến Biển Ðông

    Việt Cộng kiên trì giữ lập trường chư hầu

    Nguyễn Ðạt Thịnh

  • Tham luận

    NNS, Sơn Nguyễn : Thi ca Việt Nam có 3 bài

    Chúc Thân Hữu một ngày mới Bình Yên & Hạnh Phúc.
    Có thể nói trong Thi ca Việt Nam có 3 bài "Hành" được nhiều người cho là hay nhất là:
    1. Tống Biệt Hành, của Thâm Tâm.
    2.  Bài Hành Phương Nam của Nguyễn Bính
    3. Bài Hành Tuổi 40 của Thanh Nam.
    Mời Thân Hữu cùng đọc lại..nhiều lần vẫn thấy… hay làm sao…
    Thêm vào đây, Nhạc dạng pps hôm nay:
    Mộng Ban Đầu.
    Nhạc: Hoàng Trọng
    (Được phong là vua viết Tango)
    Lời: Hồ Đình Phương
    Ca sĩ: Lưu Hồng
    Tình Thân,
    Kính.
    NNS
    ……………………………………………………………………………….
    Thơ: 
     
    Tống biệt hành
    Đưa người, ta không đưa qua sông
    Sao có tiếng sóng ở trong lòng
    Bóng chiều không thắm, không vàng vọt
    Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong ?
    Đưa người ta chỉ đưa người ấy
    Một giã gia đình một dửng dưng…
    -Li khách! Li khách! Con đường nhỏ,
    Chí lớn chưa về bàn tay không
    Thì không bao giờ nói trở lại!
    Ba năm mẹ già cũng đừng mong.
    Ta biết người buồn chiều hôm trước,
    Bây giờ mùa hạ sen nở nốt,
    Một chị, hai chị cũng như sen,
    Khuyên nốt em trai dòng lệ sót.
    Ta biết người buồn sáng hôm nay:
    Giời chưa mùa thu tươi lắm thay
    Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc
    Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay…
    Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực!
    Mẹ thà coi như chiếc lá bay.
    Chị thà coi như là hạt bụi,
    Em thà coi như hơi rượu say.
    1940
    Thâm Tâm
    Chú Thích:
     
    Tống biệt hành  là một bài thơ do Thâm Tâm (1917-1950) sáng tác vào khoảng năm 1940.
    Năm 1940, báo Tiểu thuyết thứ bảy đăng bài Tống biệt hành của Thâm Tâm, thì ngay tháng mười năm sau, nó là bài duy nhất được Hoài Thanh & Hoài Chân chọn in trong Thi nhân Việt Nam, kèm theo đôi dòng giới thiệu nhà thơ trẻ này, như sau:
    Thơ thất ngôn của ta bây giờ thực có khác thơ thất ngôn cổ phong. Nhưng trong bài dưới đây (Tống biệt hành) lại thấy sống lại cái không khí riêng của nhiều bài thơ cổ. Điệu thơ gấp. Lời thơ gắt. Câu thơ gắn rỏi, gân guốc. Không mềm mại uyển chuyển như phần nhiều thơ bây giờ. Nhưng vẫn đượm chút bâng khuâng khó hiểu của thời đại.

    Vào những năm 60, khi soạn bộ Việt Nam Thi nhân Tiền chiến, Nguyễn Tấn Long & Nguyễn Hữu Trọng, một lần nữa, đã nhắc lại cái “mới lạ” của bài thơ vừa nói:

    Bài thơ Tống biệt hành của Thâm Tâm đã được giới yêu thơ tiếp đón như những gì mới lạ, và nhận thấy một sự thay đổi trong ý thơ và một biến chuyển tâm hồn của thi sĩ Thâm Tâm.
    Khác với những bài thơ Gửi T.T.Kh, Màu máu tygôn, Dang dở …khóc than cho câu chuyện tình đôi lứa. Ở đây Thâm Tâm trút bỏ cái vỏ ủy mị cố hữu, đổi giọng điệu rắn rỏi, cương quyết để nói lên cái chí khí của người trai trong thời chinh chiến. 

    Trong sách Tuyển chọn & giới thiệu Ngữ văn ở bậc Trung học, có đoạn:

    Bài thơ Tống biệt hành vừa thể hiện tâm trạng chung của một lớp người vào buổi ấy đang “tìm đường”, vừa thể hiện được dấu ấn riêng của tác giả bởi hơi thơ trầm hùng, bi tráng…

    Kể từ khi ra đời cho đến nay, dù đã trên 70 năm, Tống biệt hành vẫn luôn được giới yêu thơ yêu thích. Thâm Tâm là một người đa tài, ngoài tài thơ, ông còn vẽ tranh, viết truyện, soạn kịch, minh họa sách báo, nhưng thơ vẫn được biết đến nhiều hơn cả.

    ………………………………………………………………..

    Hành Phương Nam

    Đôi ta lưu lạc phương Nam này,
    Trải mấy mùa qua én nhạn bay .
    Xuân đến khắp trời hoa rượu nở;
    Riêng ta với ngươi buồn vậy thay .

    Lòng đắng sá gì muôn hớp rượu,
    Mà không uống cạn mà không say ?
    Lời thề buổi ấy cầu Tư Mã,
    Mà áo khinh cừu không ai may .

    Người giam chí lớn vòng cơm áo,
    Ta trói chân vào nợ nước mây .
    Ai biết thương nhau từ buổi trước,
    Bây giờ gặp nhau trong phút giây .

    Nợ tình chưa trả tròn một món,
    Sòng đời thua đến trắng hai taỵ
    Quê nhà xa lắc xa lơ đó,
    Ngoảnh lại tha hồ mây trắng bay .

    Tâm giao mấy kẻ thì phương Bắc,
    Ly tán vì cơn gió bụi này .
    Ngươi đi buồn lắm mà không khóc,
    Mà vẫn cười qua chén rượu đầy .

    Vẫn dám tiêu hoang cho đến hết,
    Ngày mai ra sao rồi hãy hay .
    Ngày mai sáng lạn màu non nước,
    Cốt nhất làm sao tự buổi nay .

    Rẫy ruồng châu ngọc thù son phấn,
    Mắt đỏ lên rồi cứ chết ngay .
    Hỡi ơi! Nhiếp Chính mà băm mặt,
    Giữa chợ ai người khóc nhận thây .

    Kinh Kha giữa chợ sầu nghiêng chén,
    Ai kẻ dâng vàng kẻ biếu tay ?
    Mơ gì Ất Tiết thiêu văn tự,
    Giầy cỏ, gươm cùn ta đi đây .

    Ta đi nhưng biết về đâu chứ ?
    Đã dấy phong yên lộng bốn trời .
    Thà cứ ở đây ngồi giữa chợ,
    Uống say mà gọi thế nhân ơi!

    Thế nhân mắt trắng như ngân nhũ .
    Ta với nhà ngươi cả tiếng cười .

    Ngươi ơi ! Hề ngươi ơi!
    Ngươi sang bên ấy sao mà lạnh,
    Nhịp trúc ta về lạnh mấy mươi …

    Nguyễn Bính

    Chú Thích:

    Theo Cô Hồng Cầu, con gái nhà Thơ Nguyễn Bính thì Nhân vật được Nguyễn Bính gọi "nhà ngươi" trong bài Hành Phương Nam là Nhà văn Hoàng Tấn, một bạn rất thân của Nguyễn Bính.

    Nhà văn Hoàng Tấn kể, khoảng năm 1939 ông vào Sài Gòn thử thời vận bằng cách dấn thân vào “trường văn, trận bút”. Khi đã có công việc ổn định, tháng 8.1943 ông gửi thư về Bắc rủ Nguyễn Bính, Trúc Đường (anh ruột Nguyễn Bính) và Thâm Tâm vào Nam để chuẩn bị cho “bộ khung” tờ Hạnh phúc do Võ Tuấn Khanh làm chủ nhiệm sắp ra đời. Khoảng một tháng sau thì Nguyễn Bính xuất hiện ở Sài Gòn lần thứ hai. Lần đầu Nguyễn Bính vô Nam vào những năm cuối thập niên 30, thế kỷ trước, cùng đi với ông không phải là Trúc Đường, Thâm Tâm mà là Tô Hoài và Vũ Trọng Can.

    Ở Sài Gòn, Hoàng Tấn cùng với hai người bạn thuê một căn nhà lợp ngói, nằm trong một vườn cây ăn trái ở khu vực chợ Nancy (Nguyễn Văn Cừ, ngày nay). Họ đón Nguyễn Bính về ở chung. Nguyễn Bính rất thích ngôi nhà này và đặt tên là “Lan Chi Viên”. Từ đó, Lan Chi Viên trở thành câu lạc bộ Tao đàn, thường xuyên là nơi họp mặt của một bộ phận thuộc giới trí thức, văn nghệ sĩ Sài Gòn thời bấy giờ với những cái tên: Thiếu Sơn, Lê Tràng Kiều, Khổng Dương, Nam Châu, Thiện Minh, Xuân Miễn, Ngân Hà, Nguyễn Đức Hinh… Ngoài ra còn có một số thân hữu, sinh viên học sinh yêu mến thi tài của Nguyễn Bính vẫn thường lui tới. Hồi đó, hầu như dân Sài Gòn đều ăn cơm tiệm cho tiện, khỏi phải củi lửa nồi niêu, đỡ tốn thời gian để còn làm việc. Cho nên, mỗi chủ nhật ở Lan Chi Viên đều tổ chức nấu cơm gia đình, họp mặt bạn bè trong không khí thơ văn ấm cúng. Những buổi như thế, việc bếp núc đều do Nguyễn Bính đảm trách. Không chỉ sành sõi trong việc nấu nướng, Nguyễn Bính còn rất am hiểu về cách pha trà, chọn rượu… Những bữa cơm gia đình như thế thường kéo dài bất kể thời gian, miễn sao tửu lượng vẫn còn, thi hứng vẫn dào dạt và… tiền trong túi chưa cạn.

    Nguyễn Bính ra đi vào một ngày giáp Tết Bính Ngọ (1966), chính xác là ngày 29 Tết (tháng chạp này không có ngày 30).

    Nhà văn Chu Lai thuật lại: “Mùng sáu tháng giêng ta, tôi lên Hội Nhà văn thông báo về việc anh Bính mất. Gặp Tô Hoài, cùng ngậm ngùi nói chuyện về người bạn mới mất. Sau đó, tôi tìm đến nhà Trần Lê Văn. Nghe tin Bính mất, Trần Lê Văn tròn xoe mắt kinh ngạc: “Bính chết thật ư? Bao giờ?”. “Ba mươi Tết, trước giao thừa”. Trần Lê Văn bỗng xịu mặt, đấm vào đùi bình bịch: “Biết mà! Biết mà! Chết trước mồng một, đã lường thấy từ bao giờ”. Tôi gặng hỏi: “Sao anh lại nói vậy?”. Trần Lê Văn nói như gắt: “Ô kìa! Năm mới tháng giêng mồng một Tết. Còn nguyên vẹn cả một mùa xuân”, rồi “… Giờ đây chín vạn bông hoa nở/Riêng có tình ta khép lại thôi” . Nó (Nguyễn Bính) để mùa xuân nguyên vẹn cho người. Nó đi mà”. Tôi sực nhớ bài tập Kiều Lời lời lệ sa máu rỏ đăng trân trọng trong số báo Tết. Ôi, thương quá! Chẳng lẽ trong thơ có quỷ, có ma thật chăng?”…

    ……………………………………………………………………….

     Thanh Nam

    BÀI HÀNH ĐÓN TUỔI BỐN MƯƠI

    Én nhạn về nam, xuân rồi đây
    Chợt thèm ly rượu, chút mưa bay
    Gọi về trong đáy hồn lưu lạc
    Những bước chân xưa nhạt dấu giầy
    Bạn cũ hãy nương theo rét lạnh
    Về đây cùng nhập một cơn say.
    Uống ly thứ nhất mừng tao ngộ
    Cho tiếng cười lên vỡ tháng ngày

    Vào cuộc hành hương tìm gập lại
    Cõi trời xanh ngắt tuổi thơ ngây
    Trong veo cặp mắt chưa vương bụi
    Chăn chiếu còn thơm ngát mộng trai
    Chí lớn chia nhau đầy gác nhỏ
    Bụi hồng chưa khiến toc xanh phai
    Đồng tiền mừng tuổi ngày Nguyên Đán
    Canh bạc đời chưa lột trắng tay.
    Dăm bẩy lòng sông ôm biển cả
    Coi đời dưới mắt nhẹ không ai
    Cơn mê nhập cuộc sầu chưa bén
    Thân thế chưa đau cát bụi này
    Gió nổi mười phương trời buổi đó
    Với ngày như tháng, lá như mây.
    Lầu sương từng buổi đùa nhan sắc
    Giấc ngủ thềm khuya rộn tiếng hài.

    Chiều xuống đã nghe lòng rộn rã
    Gió lên hồn ngỏ phố vui mời
    Ca trường, hý viện, xuân như hạ
    Đời thả trôi vào nhịp phách lơi
    Lãng đãng khói sương trời tưởng nhớ
    Ly này xin cạn hết chua cay
    Mười lăm năm đó từ phiêu bạt
    Đứa vợ con yên, đứa lạc loài
    Viết mướn đã bao thằng mệt mỏi
    Sang giàu đếm được những ai đây?
    Lưới đời chân đã bùn nhơ vướng
    Mắt vẫn trời cao rướn cánh tya
    Cuộc chiến nay chừa dăm bẩy mạng
    Thôi thì rượu đó uống cho say
    Rót thêm ly nữa chào năm cũ
    Tuổi bốn mươi rồi, thương lắm thay.

    Lận đận lý nào theo trọn kiếp
    Tối tăm không lẽ mãi đêm dài ?
    Niềm thê nhi đó giờ an phận
    Nợ áo cơm này nặng trĩu vai
    Năm tháng sức trai mòn mỏi mãi
    Nụ xuân đời đã lánh tầm tay
    Vở tuồng nhạt nhẽo màn chưa hạ
    Vai kép hề kia vẫn riễu hoài
    Nhìn lại trời xuân vừa khép kín
    Thơ hồng, tuổi ngọc tiếc thương ai.
    Nghiêng chai thêm một ly này nữa
    Trên vách sầu ta đối bóng gầy
    Chợt tiếng con thơ cười lảnh lót
    Nhìn con, lòng bỗng thấy xuân đầy
    Lại đây con nhỏ, con yêu dấu
    Bố uống cho con ly rượu này
    Ly rượu mừng con tròn mộng đẹp
    Niềm vui hoa nở tháng năm dài
    Ngủ đi, con hỡi, mai khôn lớn
    Đời sẽ bình yên không lửa gai
    Trong vắt hồn con nguyên khối ngọc
    Lượng xuân đời chẳng khép vòng tay
    Nhìn con giây phút lòng tan biến
    Những chuyện ân thù, những đắng cay
    Tiếng bạc đời cha gieo đã lỡ
    Chiều tà khôn gỡ nước cờ sai
    Trắng tay nhìn lại còn con đó
    Hy vọng đời cha mẹ kiếp này
    Tăm tối căn phần cha đã chịu
    Cánh hồng con hẳn sẽ xa bay!
    Ngủ đi con, ngủ đi yên giấc
    Cha ru con bằng hơi rượu say
    Cha ru con bằng lời thống khổ
    Trong nhục nhằn mê sảng đêm nay.

    Chếnh choáng lòng khuya men đã ngấm
    Nghe ngoài đêm tối tiếng mưa rơi
    Vọng lời sao xác hồn năm tháng
    Chuyển nhịp mùa xanh lại đất trời
    Bắt chước cổ nhân nâng chén rượu
    Mừng xuân thay áo mới cho đời.
    Mười năm thêm một bài thơ nữa
    Viết tặng riêng mình tuổi bốn mươi…
    (Sàigòn 1970).

     Chú Thích:

    1. Công Tử Hà Đông viết:

    "…Thanh Nam làm những lời thơ đón tuổi Bốn Mươi ở Sài Gòn năm 1970, khi anh bốn mươi tuổi. Anh hẹn mười năm — năm 1980 — anh sẽ làm bài thơ nữa khi anh tròn năm mươi tuổi, anh không làm được việc đó. Ngày 30 Tháng Tư 1975 sầm sập đến…

    Năm 1970 khi đọc Bài Hành Đón Tuổi Bốn Mươi tôi thấy hay, thấy não nùng nhưng tôi không xúc động, không cảm khái bao nhiêu. Phải đến những năm sau 1975 — và đến những năm này, những năm 1999, 2000, 2005… hai mươi bốn, hai mươi nhăm, ba mươi mùa thu lá bay sau, tôi thấy lời thơ thật hay và càng ngày càng hay. Những lời thơ tuyệt đẹp:

    …Gió nổi mười phương trời buổi đó
    Với ngày như lá, tháng như mây…

    2. Hồ Trường An viết:

    "…Thanh Nam đặt lời cho “Hoa Bướm Ngày Xưa” của Nguyễn Hiền, “Đẹp Giấc Mơ Hoa” của Hoàng Trọng. “Mưa Trên Phím Ngà” của Văn Phụng, “Thuyền Trăng” của Nhật Bằng… Thanh Nam là một nhà văn chuyên viết tiểu thuyết ướt át, hợp với cảm quan mềm mại và mẫn cảm của phụ nữ. Tâm hồn của anh lai láng nguồn thơ. Tập truyện Buồn Ga Nhỏ của anh là một một tập thơ bằng văn xuôi thì đúng hơn. Khi ra hải ngoại, anh cho xuất bản tập thơ Đất Khách và trở thành ngôi sao thi ca hàng đầu ở hải ngoại bên cạnh Cao Tần, Mai Thảo.
    Cách đặt lời cho bài hát của anh cũng lạ đời. Nhà soạn nhạc chỉ cần nói với anh ý của bài nhạc rồi ghi ở mỗi câu hát nốt nhạc nào nên viết bằng tiếng có dấu sắc, nốt nào nên viết bằng tiếng có dấu huyền, hoặc dấu hỏi hay dấu nặng. Thanh Nam cứ cày cục nương theo cách bỏ dấu ở mỗi tiếng tương ứng với nốt nhạc rồi liên tưởng đến tình ý của tác giả mà đặt lời, lời nào cũng thấm nhuần chất thơ, không kém lời của hát của Hồ Đình Phương chút nào. 

    3. Nguyễn Đình Toàn viết:

    Trước 1954, ở Hà Nội, người ta đọc “Cuộc Ðời Một Thiếu Nữ” của Thanh Nam, “Nhìn Xuống“của Sao Mai, “Cánh Hoa Trước Gió” của Nguyễn Minh Lang, “Mẹ Tôi Sớm Biệt Một Chiều Thu“của Hoàng Công Khanh… Năm đó Thanh Nam còn rất trẻ, mới chỉ trên dưới hai mươi. Ông nổi tiếng rất sớm.

    Thanh Nam bỏ Hà Nội vào Nam trước khi xảy ra hiệp định Geneve, nên ông có dịp làm quen và chơi thân với hầu hết các nhà văn, miền Nam, nhất là những người làm việc trực tiếp tại các tòa báo.
    Khi được tin Lê Xuyên mất mới đây, hầu hết những người quen biết Thanh Nam đều liên tưởng tới ông và những ngày Sài Gòn cũ là vì vậy.

    Cuộc lưu vong 30 Tháng Tư 1975 Thanh Nam coi như là:

    Chấp nhận hai đời trong một kiếp
    Ðành cho giông bão phũ phàng đưa
    Ðầu thai lần nữa trên trần thế
    Kéo nốt trăm năm kiếp sống nhờ
    Ðổi ngược họ tên cha mẹ đặt
    Tập làm con trẻ nói ngu ngơ

    Có thể lấy cái buồn của người ở lại để hiểu nỗi khắc khoải của người ra đi và ngược lại chăng?
    Giả thử rằng được, giả thử rằng không, rồi sao?
    Mọi sự có gì khác với những gì đã xảy ra?
    Hai mươi chín năm rồi ba mươi năm.
    Những ai, còn ai mất?

    “Ðất nước” người ta có trở về được cũng vẫn chỉ là những cuộc viếng thăm.
    Những người “cùng một lứa bên trời lận đận” còn lại bao nhiêu ngày à còn có thể làm được gì nữa đây?

    Ngoài trên một chục cuốn tiểu thuyết, Thanh Nam còn viết kịch thơ, làm rất nhiều thơ, viết lời ca cho nhiều ca khúc của các nhạc sĩ bằng hữu, từng phụ trách biên tập nhiều tuần san văn nghệ, biên tập cho nhiều chương trình phát thanh.

    Ông sống đôn hậu với tất cả bạn bè và được mọi người yêu mến.

    Ở Hoa Kỳ mới vào Xuân. Tết Việt Nam qua đã khá lâu rồi, có còn cũng chỉ còn cái rét Tháng Ba. Liệu có đủ lạnh để ta cùng nghe lại “Thơ Xuân Ðất Khách” của Thanh Nam không nhỉ:

    Canh bạc chưa chơi mà hết vốn
    Cờ còn đánh phải đàn thua
    Muốn rơi nước mắt khi tàn mộng
    Nghĩ đắt vô cùng giá Tự Do!
    Bằng hữu qua đây dăm bảy kẻ
    Ðứa nuôi thù hận, đứa phong ba
    Ðứa nằm yên phận vui êm ấm
    Ðứa nhục nhằn lê kiếp sống thừa
    Mây nước có phen còn hội ngô
    Thâm tình viễn xứ lại như xa
    Xuân này đón tuổi gần năm chục
    Ðối bóng mình ta say với ta

    Ðọc thơ mới giật mình: Thanh Nam mất mới ở tuổi năm mươi. Còn quá trẻ!
    Thế nhưng, có biết bao người như ông, có thể coi như đời đã mất từ nhiều năm trước đó, đứt ngang trước đó.

    Bao giờ Tháng Tư sẽ không còn là viết thương của lịch sử chúng ta nữa nhỉ?

    Nguyễn Ðình Toàn 
     
    ……………………………………………………

    Kính.

    NNS

  • Tham luận

    Thomas Việt : Thưa mục tử: giáo dân đã chết, ngài đang ở đâu?

    Thưa mục tử: giáo dân đã chết, ngài đang ở đâu?

    5/07/10 6:34 PM
    Thưa mục tử: giáo dân đã chết, ngài đang ở đâu?

    Trong thư mục vụ của Đức Giám mục Đà Nẵng gửi giáo dân về vụ Cồn Dầu có đoạn: “Trong cuộc đấu tranh cho công lý và công bằng xã hội, Anh Chị Em giáo dân đừng nghĩ rằng các mục tử không đứng về phía mình. Các Ngài có cách thế riêng do vị trí, ơn gọi, sứ vụ và đặc sủng của các Ngài… Hãy kính trọng và lắng nghe tiếng nói của các mục tử ! Hãy biết “tôn sư trọng đạo” đúng mức như bài học vỡ lòng của mọi người dân Việt”.
    Đến nay, chiên đã bị đàn sói lang cắn chết, vậy mục tử đang ở đâu? truớc đòan chiên, giữa đòan chiên hay trong bụi rậm? Xin Ngài hãy lên tiếng để đàn chiên biết họ còn có một mục tử.
    Cũng xin đuợc lưu ý mục tử là muốn đuợc “sự kính trọng” và để đàn chiên biết “tôn sư trọng đạo” điều cần thiết hơn là mục tử phải thực sự xứng đáng với tên gọi đó thì sự kính trọng, yêu mến sẽ tự đến mà không cần kêu gọi.

    Ngày 3/7/2010 vừa qua một giáo dân nhiệt thành ở giáo xứ Cồn Dầu ông Nguyên Năm đã chết vì bị bức cung (tra tấn) dẫn đến việc không thể ăn uống gì được rồi chết.

    Tôi có điện đến công an thành phố Đà Năng (0511-3822300) vào 7 giờ tối 4/7/2010 để hỏi nguyên nhân thì lúc đầu họ trả lời là do đột qụy mà chết. Tôi không bằng lòng với câu trả lời đó nên điện thoại lần hai thì viên công an trực ngày 4/7/2010 mới lấy giấy lên đọc là “một giờ chiều ngày 3/7/2010 ông Nguyên Nam tại Cồn Dầu chết. Nguyên nhân: không rỏ nguyên nhân.” Sau đó điện thoại và hỏi nửa thì anh ta nói “gia đình người ta không thưa kiên thì thôi chứ cớ gì mày ở SàiGòn mà chĩa mồm vào”. 3 giờ ngày 5/7/2010 điện lại hỏi nửa thì gập một anh công an trực khác trả lời: “Gia đình anh Nguyên Năm báo cáo là anh Năm bị bịnh hoang tưởng và nhịn ăn vài ngày rồi chết”. Tôi hỏi trước đó anh Năm có bị tra tấn không thì viên công an này liền cúp điện thoại.

    Sáng 5/7/2010 tôi điện đến công an hình sự quận Cẩm Lệ (0511-3673026) , tôi cũng xin hỏi về cái chết của giáo dân Cồn Dầu thì viên công an hỏi ở đâu gọi đến tôi thưa từ Sài Gòn – một đồng đạo của ông Năm. Thì viên công an không trả lời “đồng đạo thi điện về Cồn Dầu mà hỏi chứ hỏi tôi chi rưa hè  (hỏi tôi làm gì)”. Cán bộ là đầy tớ của dân mà khi “ông chủ hỏi” thì “đầy tớ” không chịu trả lời.

    11giờ 30 ngày 5/7/2010 tôi có liên lạc được với viên thanh tra thành phố Đà Nẵng (0913402769) tôi có hỏi về thông tin cái chết của giáo dân Cồn Dầu thị được trả lời là “Tôi đang bận(không rảnh), có gì thì hỏi bí thư hay chủ tịch của tôi ấy”. Nhưng tôi xin số điện thoại của chủ tich hay bí thư thì viên thanh tra cứ nói là “tôi đang bận, tôi đang bận, tôi đang bận”. Thế là một “đầy tớ” nữa từ chối trả lời của “ông chủ” và đá trái banh tội ác đến “đầy tớ khác".

    Tôi cố gắng liên hệ với giáo xứ Cồn Dầu  (0511-3688006) và Tòa giám mục Đà Nẵng (0511-3826628) từ 11giờ ngày 5/7/2010 đến 15giờ 20 thì gặp được một ông thầy ở tòa giám mục Đà Nẵng thầy có hỏi tên, tôi nói rồi hỏi về cái chết của giáo dân xứ Cồn Dầu thì thầy này nói “không biết gì”, rồi hỏi khi nào có thông báo của tòa giám mục thì cũng nhận được câu “không biết”. Tôi có nói với thầy “nếu để đến đám giỗ mới thông báo thì quá kỳ cục” thầy này cùng cười với tôi rồi cúp máy luôn. Liền sau đó thì liên hệ được với cha chánh xứ Cồn Dầu được trả lời “Không có chi, cũng bình thường thôi”. Tôi hỏi “ông Năm bị bịnh hoang tưởng, nhịn ăn rồi chết, nhưng trước đó ổng bị bắt, cha có thấy trên mặt, tay, chân hay mình của ổng có gì khác thường không” thì vị linh mục trả lời “không biết” rồi cúp máy.

    1giờ40 tôi liên hệ được với phó công an huyện Cẩm Lệ – Trần Mươu – nhưng anh ta nói là “không có trách nhiệm trả lời” xin liên hệ với ủy ban. Tôi nói “anh là phó công an huyện Cẩm Lệ tại sao lại không có trách nhiệm trả lời”. Thì anh Mươu cúp điện thoại. Sau đó tôi điện lại và hỏi về cái chết của ông Nguyên Năm thì anh ta trả lời “tôi không biệt biết biết” một cách chầm chậm. Tôi nói anh là phó công an huyện mà sao không biết. Tiếp tục nhận được câu trả lời là “không biết, không biết, không biết” rồi cúp
    máy.

     

    1giời50 tôi lại gọi lại công an hình sự Cẩm Lệ (0511-3673026) , anh này hỏi tôi là ai, tôi trả lời là một công dân, anh ta nói tôi gọi lộn số rồi. Tôi nói “chính xác đây là số của công an hình sự Cẩm Lệ, và anh phải có trách nhiệm trả lời”. Ảnh nói “dọa thưa …”, tôi hỏi tên anh là gi thì anh ta “uh ơ, uh ơ ơ …” rồi cúp điện thoại.

    Đó là vài thông tin cho quý vị biết về trách nhiệm trước cái chết của một công dân công giáo trên quê hương chúng ta như thế nào. Thiếu trách nhiệm cả ở “chính quyền” lẫn giáo quyền.

    Thomas Việt