• Tham luận

    Nguyễn Vĩnh Long Hồ : Đại họa cho nước Mỹ & Việt Nam và nhân loại

    Đại họa cho nước Mỹ & Việt Nam và nhân loại

    image

    Theo tài liệu được công bố trên “TẬP CHÍ CÁC VẤN ĐỀ CHIẾN LƯỢC” của Ấn Độ phát hành ngày 15/4/2009: Xin trích một vài điểm quan trọng, phản ảnh một số vấn đề thuộc tư duy chiến lược của Trung Cộng qua bài phát biểu của Trì Hạo Điền – nguyên Bộ Trưởng Quốc Phòng Trung Cộng – tại Hội nghị các tướng lãnh bàn về “CHIẾN LƯỢC CHIẾN TRANH TƯƠNG LAI” được tổ chức vào năm 2005. Xin trích đoạn liên quan đến nước Mỹ:

    I. PHẢI TIÊU DIỆT HOA KỲ BẰNG VŨ KHÍ SINH HỌC:
    Số phận lịch sử đã quyết định rằng Trung Quốc và Mỹ sẽ không khỏi đối đầu nhau trên một con đường nhỏ và chiến đấu chống lại nhau! Mỹ, không giống như Nga và Nhật Bản, Mỹ chưa bao giờ làm tổn thương Trung Quốc và cũng giúp Trung Quốc chống lại cuộc chiến đấu chống Nhật Bản. Tuy vậy, Mỹ tất yếu sẽ là trở ngại, trở ngại lớn nhất! Về lâu về dài sẽ là đấu tranh một mất một còn.
    Tất nhiên, hiện giờ không phải là thời gian thích hợp để phá vỡ quan hệ với Mỹ. Chánh sách cải cách và mở cửa ra thế giới bên ngoài của chúng ta còn phải dựa vào TIỀN VỐN và CÔNG NGHỆ của họ. Chúng ta còn cần tới nước Mỹ. Do vậy, chúng ta cần phải nỗ lực tăng cường quan hệ của chúng ta với Mỹ, học tập nước Mỹ trên mọi lãnh vực và sử dụng Mỹ làm tấm gương cho việc tái thiết đất nước.
    image
    PHẢI QUÉT SẠCH NƯỚC MỸ:
    Trong lịch sử, khi một nước bị đánh bại và chiếm đóng một nước khác, họ không thể giết hết dân chúng của nước bị chinh phục bằng gươm giáo, bằng súng tiểu liên, súng máy. Bởi vì, không thể giữ vùng đất rộng lớn mà không duy trì người của mình trên vùng đất đó. Tuy nhiên, chúng ta chinh phục nước Mỹ theo kiểu đó, chúng ta không thể đưa nhiều người Trung Hoa di cư tới Mỹ. Chỉ sử dụng những biện pháp đặc biệt để quét sạch nước Mỹ và sau đó, chúng ta mới có thể đưa nhân dân Trung Quốc tới đó. Đây là cách lựa chọn duy nhất đối với chúng ta. Những biện pháp đặc biệt nào chúng ta có thể thực hiện để quét sạch nước Mỹ? Chúng ta không ngu ngốc đến nỗi cùng tự hủy diệt với Mỹ bằng cách sử dụng “vũ khí hạt nhân”.
    image
    Chúng ta chỉ có thể sử dụng loại vũ khí không hủy diệt, nhưng có khả năng giết nhiều người, chúng ta mới có thể giành lấy nước Mỹ cho chúng ta. Đó là VŨ KHÍ SINH HỌC, một loại vũ khí tàn ác chưa từng thấy. Chúng ta không để lãng phí thời gian, trong những năm qua, chúng ta đã nắm được khả năng trở thành chủ nhân của các loại vũ khí nầy và chúng ta có khả năng đạt được mục tiêu QUÉT SẠCH NƯỚC MỸ một cách hoàn toàn bất ngờ. Khi đồng chí Đặng Tiểu Bình còn sống, Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng đã sáng suốt đưa ra quyết định sáng suốt đúng đắn là không phát triển các nhóm tàu sân bay (HKMH) và thay vào đó tập trung phát triễn các loại vũ khí sinh học, có thể thủ tiêu hàng loạt dân chúng của nước thù địch. Tuy nhiên, xét về mặt nhân đạo, chúng ta cần phải cảnh báo cho dân chúng Mỹ và thuyết phục họ rời khỏi nước Mỹ và để lại vùng đất họ từng sinh sống trên đó cho người Trung Quốc. Hoặc là ít nhất họ phải rời khỏi một nửa nước Mỹ để nhường phần đất đó cho người Trung Quốc, bởi khám phá đầu tiên chính là người Trung Quốc.
    image
    Nếu chúng ta không thuyết phục được họ thì khi đó chúng ta chỉ còn một sự lựa chọn duy nhất, tức là sử dụng những biện pháp kiên quyết để quét sạch nước Mỹ và giành lấy nước Mỹ cho chúng ta ngay lập tức. Thực tế, lịch sử của chúng ta cho thấy, chừng nào chúng ta thực hiện được điều đó, sẽ không có nước nào trên thế giới có khả năng ngăn cản chúng ta. Hơn nữa, một nước Mỹ với tư cách lãnh đạo thế giới bị mất đi thì tất cả các kẻ thù khác buộc phải đầu hàng chúng ta.
    Phải quét sạch nước Mỹ bằng vũ khí sinh học. Nếu không, nhân dân Trung Quốc sẽ bị hủy diệt trên diện tích đất đai hiện nay thì sự sụp đổ hoàn toàn của xã hội Trung Quốc chắc chắn sẽ xảy ra. Theo tác giả Yellow Peril; hơn một nửa dân Trung Hoa sẽ chết và con số đó sẽ hơn 800 triệu người. Chúng ta cần phải chuẩn bị sẵn sàng hai phương án:
    • Nếu chúng ta thành công trong việc sử dụng vũ khí sinh học bất ngờ tấn công nước Mỹ, chúng ta có thể giảm thiểu thiệt hại về nhân mạng trong cuộc chiến tranh với Mỹ.
    • Nếu trong trường hợp cuộc tấn công đó thất bại và kích động một cuộc phản công bằng vũ khí hạt nhân từ nước Mỹ thì Trung Cộng sẽ gánh chịu một thảm họa và trong đó hơn một nửa dân số sẽ chết. Bởi vậy, chúng ta cần phải sẵn sàng với các hệ thống phòng không để bảo vệ các thành phố lớn và vừa của Trung Quốc. (ngưng trích)
    II. KHÁI NIỆM VỀ VŨ KHÍ SINH HỌC: (Biological Warfare)
    Vũ khí sinh học là một loại vũ khí kinh hoàng nhất, nó gồm các virus, vi trùng, côn trùng…để gây bệnh dịch, truyền nhiễm để hủy diệt dân chúng, đất đai canh tác của đối phương trên qui mô rộng lớn, làm tê liệt bộ máy chiến tranh và tàn phá mùa màng, tài nguyên làm cho đối phương không thể kéo dài chiến tranh.
    Xin liệt vài loại vũ khí sinh học tượng trưng:
    ĐẬU MÙA:
    Trong cuộc chiến tranh giữa Anh và Pháp để giành thuộc địa năm 1763, vũ khí sinh học chỉ là một cái chăn tẩm virus đậu mùa do tướng Jeffrey Amherst của Anh dùng để triệt hạ các bộ lạc thổ dân tại Ottawa ở Bắc Mỹ, lúc đó là đồng minh của Pháp. Virus gây bệnh đậu mùa là VARIOLA, ước đoán có khoảng 30% thổ dân tại Ottawa vướng phải bệnh nầy.
    image
    BỆNH THAN:
    Mùa thu năm 2001, các chuyên viên chống độc có mặt tại tòa nhà Hart Building của TNS Hoa Kỳ sau khi một bức thư chứa vi khuẩn bệnh THAN được gởi tới văn phòng của TNS Tom Daschle. Thủ phạm gây truyền nhiễm bệnh than chết người là vi khuẩn Bacillus anthracis. Các ca nhiễm bệnh than qua tiếp xúc ngoài da và vào đường hô hấp gây các triệu chứng sốt, rối loạn đường hô hấp, nôn mửa, sưng hạch bạch huyết và tử vong. Năm 1942, quân đội Anh đã làm thí nghiệm với bom “vi khuẩn than” làm cho dân trên đảo Gruinard bị nhiễm khuẩn cho đến 44 năm sau, người ta phải dùng đến 280 tấn formaldehyde để khử trùng đảo nầy.
    image
    SỐT XUẤT HUYẾT EBOLA:
    Ebola vốn là tên của một địa danh tại Congo nơi virus nầy được tìm thấy lần đầu tiên, khi dịch sốt xuất huyết xảy ra vào năm 1970, giết chết hàng trăm người tại Zaire (Congo) và Sudan. Đến thập niên 1980, dịch nầy xảy ra khắp Châu Phi, nó thể hiện sức truyền nhiễm đáng sợ, thậm chí ngay cả trong điều kiện được kiểm soát chặt chẽ tại các trạm y tế hoặc các bệnh viện. Dấu hiệu bị nhiễm virus Ebola gồm các triệu chứng đau đầu, đau cơ bắp, đau họng, tiêu chảy, nôn mửa và sẽ tử vong trong vòng từ 7 đến 16 ngày.
    image
    DỊCH HẠCH:
    Dịch hạch đã giết hại nột nửa dân dân số châu Âu vào thế kỷ XIV. Bệnh dịch nầy còn có cái tên “cái chết dữ dội”. Dịch hạch do vi khuẩn Yersinia Petis được lây lan qua các vết cắn từ loại bò chét mang mầm bệnh, có thể truyền nhiễm từ người sang người qua tiếp xúc trực tiếp với dịch cơ thể. Các triệu chứng xuất hiện trong vòng từ 2 tới 3 ngày, các hạch quanh vùng nách, cổ và háng sưng vù lên, bệnh nhân sẽ lên cơn sốt, đau đầu dữ dội, suy kiệt nhanh chóng và sẽ tử vong trong vòng từ 1 tới 6 ngày. Năm 1940, Nhật Bản đã gây ra một đợt dịch hạch tại Trung Hoa Lục Địa bằng cách thả các túi chứa bọ chét mang mầm bệnh từ trên phi cơ xuống.
    image
    SỐT TULAREMIA: (sốt thỏ)
    Vi khuẩn gây mầm bệnh là Francisella Tularensis phát sinh ra từ 50 loại sinh vật gặm nhấm, thỏ rừng và thỏ nhà. Con người bị nhiễm vi khuẩn nầy khi tiếp xúc với con vật mang mầm bệnh cắn phải, ăn thịt con vật bị nhiễm vi khuẩn hoặc hít phải vi khuẩn nầy trong không khí. Vì thế, bịnh sốt tularemia lây lan nhanh chóng và khủng khiếp.
    image
    CHẤT ĐỘC BOTULIUM:
    Vi khuẩn Clostridium Botulium không mùi, không sắc. Con người sau khi hít thở bởi chất độc nầy sau 12 đến 36 giờ, các triệu chứng sau đây sẽ xuất hiện: nôn mửa, cổ họng sưng, đau khiến việc ăn uống khó khăn. Sau đó, bệnh nhân sẽ bại liệt, hệ thống hô hấp sẽ bị hủy hoại và tử vong trong vòng từ 24 đến 72 giờ.
    image
    NẤM ĐỘC PYRICULARIA ORYZAE:
    Còn có tên gọi là Magnaporthe grisea dùng để phá hoại mùa màng, triệt nguồn lương thực của kẻ thù, gây nên nạn đói toàn diện, xã hội sẽ hỗn loạn. Những cánh đồng lúa mì, lúa mạch, ngô…nếu lá bị nhiễm phải chất độc nầy, sẽ xuất hiện những vết xước màu xám chứa hàng ngàn vi khuẩn nấm pyricularia oryzae, theo gió thổi bay tràn lan trên cánh đồng…
    image
    VIRUS NIPAH:
    Lần đầu tiên xuất hiện tại vùng Nipath của Malaysia làm 265 người bị nhiễm và chết 105 người. Căn bệnh này kéo dài từ 6 tới 10 ngày, gây các triệu chứng như dạng cúm, sốt cao và đau cơ cho tới viêm não.
    ***
    Tại Hội Nghị Toàn Cầu về nguyên tử 5 năm một lần do LHQ tổ chức vào tháng 5/2010 ở New York với 189 nước tham dự do TTK – LHQ Ban Ki Moon chủ tọa. Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton công bố trước hội nghị: Hoa Kỳ hiện có 5113 đầu đạn nguyên tử và trong chiến tranh lạnh, Hoa Kỳ có tới 31,255 đầu đạn nguyên tử được dàn trải khắp đại dương, trong khi Trung Cộng chỉ có 187 đầu đạn nguyên tử. Bà Ngoại Trưởng Hillary Clinton muốn cảnh báo bọn lãnh đạo Trung Nam Hải hãy từ bỏ tham vọng thống trị thế giới. Không biết tên tướng ngông cuồng Trì Hạo Điền đã nhận thức ra điều nầy chưa? Nếu như, Hoa Kỳ bị Trung Cộng tấn công bằng vũ khí sinh học để quét sạch nước Mỹ. Chắc chắn, Hoa Kỳ sẽ trả đũa tàn khốc và biến Trung Hoa Lục Địa thành một Hiroshima hay Nagasaki, đó là cái giá phải trả cho ảo tưởng điên rồ muốn thống trị thế giới của Trung Cộng…
    image
    III. DEATH BY CHINA:
    Tiến sĩ PETER NAVARRO – giáo sư Kinh Tế Học tại trường Đại học University of California, Irvine đã gióng lên tiếng chuông cảnh báo dân Mỹ và thế giới hiểm họa nầy trong tác phẩm bán chạy nhất trước đây, có tựa đề là “THE COMING WARS”. Ông đồng tác giả với GREG AUTRY – một chuyên gia khác về Trung Cộng – cùng viết cuốn sách “DEATH BY CHINA – CONFRONTING THE DRAGON – A GLOBAL CALL TO ACTION” (Chết bởi Trung Cộng – Đối Phó với Con Rồng – Lời Kêu Gọi Toàn cầu Hành Động” do nhà xuất bản Pearson Prentice Hall phát hành tháng 5, 2011.
    Trong buổi tọa đàm có trên 200 người gồm sinh viên ngành kinh tế, giới trí thức và các nhà đầu tư, vừa ra mắt chiều ngày 7/6/ 2011 tại phòng họp lớn của Bechman Center tại Irvine. Buổi hội thảo mang tên của tác phẩm “Death By China – Confronting the Dragon – A Global Call to Action”.
    Ngoài Tiến sĩ Peter Navarro & Greg Autry, còn có những người rất hiểu rõ chính sách của Bắc kinh như:
    image
    BAIQIAO TANG – nhà bất đồng chánh kiến – ông là một trong những sinh viên sống sót trong cuộc thảm sát Thiên An Môn đã trốn thoát được qua Hoa Kỳ. Ông còn là tác giả cuốn sách nổi tiếng: “MY TWO CHINAS”. Baiqiao Tang phát biểu trong buổi hội thảo: “Cuốn sách nầy sẽ giúp cho quý vị chánh sách tàn ác của nhà cầm quyền Bắc Kinh, một mặt bóp chặt tiếng nói trong nước, một mặt ĐẦU ĐỘC CẢ THẾ GIỚI VỚI NHỮNG SẢN PHẨM NGUY HIỂM, mặt khác ngày càng đầu tư lớn lao vào quốc phòng với giấc mơ thống trị toàn cầu.”
    image
    LI FENGZHI – một cựu gián điệp Trung Cộng trốn lại Hoa Kỳ – phát biểu làm mọi người xúc động: “Tôi thú nhận đã tìm cách hack vào hệ thống của Hoa Kỳ, nhưng một ngày kia tôi thấy mình không thể tiếp tục là khí cụ của một chế độ tàn nhẫn như vậy. Và tôi quyết định ở lại mảnh đất tự do nầy, hy vọng tìm được cách mạng tự do đến cho dân tộc tôi.”
    image
    GORDON CHANG là tác giả cuốn sách “THE COMING COLLAPSE OF CHINA” phát biểu: Quyết tâm lớn mạnh bằng mọi giá, kể cả bóp miệng người dân và vi phạm tất cả mọi luật thương mại quốc tế, tuôn HÀNG HÓA GIẢ và ĐỘC HẠI ra nước ngoài. Trung Cộng không chỉ giết hại thế giới mà còn giết hại chính dân của họ.”
    image
    IAN FLETCHER – nhà phân tích kinh tế lão thành – là tác giả cuốn “FREE TRADE DOESN’T WORK: WHAT SHOULD REPLACE IT AND WHY” thì khẳng định rằng: Chúng ta không thể chơi trò “tự do kinh doanh” với những kẻ không tôn trọng luật chơi.”
    image
    Để trả lời câu hỏi: “Nhưng chết dưới tay Trung Cộng như thế nào?” Tiến sĩ Peter Navarro nói: Nhiều cách lắm, bằng hàng hóa độc hại, bằng cạnh tranh bất chánh, bằng cách cướp công ăn việc làm của nhiều quốc gia, bằng các hoạt động gián điệp, chiếm tài nguyên thiên nhiên của các nước láng giềng, chiếm lãnh nhiều thuộc địa bằng mặt trận kinh tế, đánh cắp bí mật quốc phòng và tăng đầu tư vào quân đội toàn là những thủ đoạn hiểm độc.”
    Câu hỏi khác: “Có biện pháp nào để tránh hiểm họa “Chết dưới tay Trung Cộng không?” Tiến sĩ Peter Navarro đáp: “Có chứ! Nhưng, nó đòi hỏi Hoa Kỳ phải có một chánh sách khác và người dân Hoa Kỳ phải hiểu rõ thảm họa lớn nhất thế giới nầy!”. Trong cuốn “Death By China” đưa ra một số thống kê tiêu biểu:
    – Trung Cộng hiện cung cấp cho Hoa Kỳ 60% nước táo đặc, 50% tỏi, 70% thuốc trụ sinh Penicillin, 50% aspirin, 33% thuốc, Tylenol và 99% vitamin C.
    – Vật liệu xây dựng “drywall” của Trung Cộng chứa chất Sulfurous gas bốc mùi trứng thối làm cho người cư ngụ bị sưng phổi, ngứa cổ, nghẹt thở mà còn làm hư hỏng các ống nước làm hệ thống HVAC như máy lạnh, máy sưởi không làm việc được. Mỗi năm, hàng 100.000 căn nhà của dân Mỹ phải tốn tiền sửa chửa khoảng 15 tỉ USD.
    – Về mặt gián điệp, “Death by China” cảnh báo rằng: mỗi năm có khoảng 750.000 người Hoa ngành tình báo vào Hoa Kỳ, đánh cắp kỹ thuật quốc phòng đưa về Hoa Lục.
    IV. VŨ KHÍ SINH HỌC DƯỚI HÌNH THỨC HÀNG ĐỘC:
    Rõ ràng Trung Cộng đã và đang dùng “vũ khí sinh học” dưới hình thức “hàng độc” để đầu độc nhân loại và dân chúng Hoa Kỳ, đó là loại vũ khí hủy diệt con người một cách tiệm tiến. Hiện nay, nghành công nghệ sinh học đang nở rộ tại Trung Hoa Lục Địa và phát triển nhanh chóng, các sản phẩm độc hại được xuất khẩu ồ ạt, tràn ngập trên khắp thế giới. Xin liệt kê vài hàng độc đã được tìm thấy:
    THUỐC TÂY GIẢ:
    – Tại PANAMA: hơn 300 người tử vong vì uống thuốc ho Made in China có độc chất gây bệnh là “”, một loại độc chất cao thường tìm thấy trong nước chống đông đặc của xe hơi.
    image
    – Tại HAITI: trên 76 trẻ em, phần lớn dưới 5 tuổi chết vì thận bị hủy hoại một cách kỳ lạ giống như nạn nhân ở Panama. Nhờ sự giúp đở của Hoa Kỳ, người ta khám phá ra nạn nhân tử vong vì thuốc trị sốt cho trẻ em có độc chất “Diethylene Glycol” phát xuất từ Xingang và qua công ty giao dịch Sinochem International.
    – Không chỉ trong dược phẩm có chất Diethylene Glycol, còn được Tàu đưa độc chất nầy vào kem giả mạo dưới nhãn hiệu Colgate. Chính quyền Canada khuyến cáo dân chúng ngưng sử dụng kem đánh răng giả mạo độc hại Made in China.
    Dưới chủ đề “TRUY LÙNG THUỐC CỦA TỬ THẦN” phóng viên của tạp chí Le Nouvel Observateur, kể lại cuộc điều tra của một nhân viên bào chế dược phẩm Thụy Sĩ hầu tóm cổ những kẻ sát nhân đã giết hại hàng ngàn bệnh nhân bằng thuốc giả đến từ Trung Cộng. Cuộc săn lùng chỉ trên địa bàn các quốc gia Cận Đông: Ai Cập, Jordanie, Syrie.
    Mở đầu bài viết, phóng viên Jean Paul Mari kể lại câu chuyện của ADEL, một người Palestine: Vợ của anh bị ung thư vú, nhờ biết bệnh rất sớm và các bác sỹ lạc quan sẽ chữa được bệnh. Vấn đề thuốc “Imanitib” rất đắc, giá 2000 USD hộp. Để chữa trị cho vợ, Adel đã huy động gia đình bạn bè giúp đỡ đưa vợ sang Israel điều trị, Thời gian đầu, bệnh của vợ anh có vẻ ổn định. Sau đó, anh đưa vợ trở lại Palestine vào bệnh viện tối tân ở Ramallah. Bác sỹ Baker sử dụng loại thuốc nói trên, nhưng giá thành chỉ có một nửa thôi. Vợ của Adel chết 6 tháng sau đó vì thuốc sử dụng tại đây là thuốc giả được pha chế chỉ có nước, pha một ít đường, phẩm màu và một ít aspirine. Giá thành của mỗi họp thuốc nầy là 2 USD.
    Điều nầy đã thúc giục JEAN LUC mở cuộc điều tra. Nhân vật trung tâm mạng lưới mà Jean Luc tìm ra được tên WAJEE ABU ODEH, một người Jordanie, đến từ Thẩm Quyến ở Hoa Lục. Tại vùng Cận Đông, mạng lưới do Wajee Abu Odeh điều khiển, cung cấp thuốc giả cho Jordanie, Ai Cập, Syrie…họ cung cấp thuốc giả tới 50% thuốc chữa trị ung thư. Không kể các loại thuốc giả chết người nầy tràn lan ở những vùng ngoại ô nghèo và qua nhiều môi giới nó hiện diện tại những bệnh viện có uy tín ở thủ đô.
    image
    TRÀ TÀU TẨM CHẤT ĐỘC CHÌ:
    Theo The New Chenese Take Out – Michael E. Telzrow cho biết: Kỹ nghệ sấy khô lá trà tại Trung Cộng đã đạt tới trình độ tinh vi chưa từng có: Các hãng sản xuất trà dùng khí thải từ xe ô tô để làm khô lá trà nhanh chóng bằng cách trải lá trà tươi trên sàn của nhà kho, rồi lái những xe vận tải vào trong, nổ máy để khí thải từ ống khói xe làm khô lá trà. Vấn đề là xăng pha chì và những chất chì độc hại thoát ra theo khói xe bám trên lá trà. Chất độc chì sẽ ngấm dần dẫn đến việc hủy hoại thận và còn nhiều nguy cơ khác.
    image
    NƯỚC TƯƠNG LÀM BẰNG TÓC:
    Bài viết nầy của GS, Tse – Yan Lee, B.H.Sci nhằm trình bày cho độc giả biết về một loại nước tương được sản xuất tại Hoa Lục không an toàn và được bày bán khắp nơi tại Hoa Lục và trên thế giới.
    Nước tương được chế biến từ đậu nành, gồm có hợp chất protein, carbohydrate không chất béo, dồi dào chất riboflavin (B2) và các chất khoáng như sodium, calcium, phosphorus, sắt, selenium và chất kẽm. Hàng năm, trên khắp thế giới người ta đã sản xuất ra hàng ngàn triệu tấn nước tương để cung ứng cho thị trường tiêu thụ.
    image
    Vào năm 2003, tại Trung Cộng người ta sản xuất hàng loạt nước tương mang nhãn hiệu “HONGSHUAI SOY SAUCE”, áp dụng theo phương pháp sinh hóa và kỹ thuật tân tiến bởi một nhà máy chế biến thực phẩm gia vị không theo phương pháp chế biến cổ điển bằng đậu nành và lúa mì nên giá thành rất rẻ và được các nhà hàng và nhà trường sử dụng rất nhiều.
    Tháng giêng năm 2004, viên quản lý cho một nhóm ký giả của chương trình TV “Weekly Quality Report” biết thành phần của nước tương gồm có “amino acid”, “sodium hydroxide”, “hydrochloric acid” và mật đường (loại dung dịch phế thải sau khi đã quay ly tâm thành đường cát trắng) và vài chất hóa học khác hòa tan với nước. Nhu cầu chế biến nước tương, hàng tháng nhà máy phải sử dụng đến hàng chục ngàn tấn “amino acid” dưới dạng bột từ một nhà máy sản xuất hóa chất khác.
    Sau đó các ký giả đã tìm ra nguyên liệu để bào chế ra loại xi-rô amino acid này tại một nhà máy sinh hóa ở tỉnh Hồ Bắc. Họ trả lời các ký giả rằng “amino acid” chủ yếu chế biến từ tóc con người, thu nhặt được từ các tiệm hớt, uốn tóc và từ các đống rác thải ra ở các bệnh viện khắp nơi trong nước rất dơ bẩn và mang nhiều loại vi khuẩn gây nhiều mầm bệnh khác nhau. Tóc con người chứa nhiều loại hóa chất độc hại như thạch tín “arsenic” và chì “lead” sẽ gây phương hại trầm trọng đến hệ thống tiêu hóa, gan, thận, tim mạch, hệ thần kinh và sinh dục.
    Sau khi tin tức ghê tởm nầy được phổ biến trên toàn thế giới khiến Hiệp Hội Các Quốc Gia Châu Âu, Hong Kong, Đài Loan, Nhật, Hoa Kỳ…đã từ chối nhập cảng một số hiệu nước tương và nhiều loại thực phẩm khác sản xuất từ Trung Hoa Lục Địa vì lý do an toàn cho sức khỏe dân chúng.
    image
    TỎI BỘT, ỚT BỘT NHIỄM PHÓNG XẠ:
    Do khả năng công nghệ bảo quản thực phẩm quá kém nên tỏi bột và ớt bột là sản phẩm nổi tiếng của quận Qixian, tỉnh Henan do cơ xưởng Limin sản xuất phải sử dụng chất phóng xạ Cobalt-60 để giữ lâu cho tỏi bột và ớt bột khỏi bị hư hỏng. Ngày 7/6/ 2009, chất Cobalt-60 bị rò rỉ thấm qua quần áo bảo hộ của công nhân và chất phóng xạ Cobalt-60 tuôn ra ngoài không khí, xưởng Limin bị phát hỏa, gây chết chóc cho nhiều người. Có khoảng 800.000 người trong vòng bán kính 50 km đã bỏ của chạy lấy thân. Hàng quán tại Qixian đóng cửa, đường xá vắng tanh như một thành phố chết.
    HOA KỲ BÁO ĐỘNG NHIỀU MẶT HÀNG NHẬP TỪ HOA LỤC CÓ CHẤT ĐỘC:
    Hoa Kỳ liên tiếp báo động về hàng hóa nhập cảng từ Trung Cộng có chứa kim loại Cadmium độc hại tiềm ẩn trong những kiểu trang sức thời trang. Quốc Hội Mỹ đã cấm các sản phẩm chứa chì nhập cảng vào Mỹ dưới dạng nữ trang cho trẻ em. Nhưng, cadmium còn độc hại hơn chì nhiều. Cadmium có thể gây bệnh ung thư. Thượng Nghị Sĩ Mark Pryor báo động: “Sẽ có nhiều phụ huynh tức giận khi biết nữ trang nhập cảng như thế có thể làm tổn hại sức khỏe con em họ.”
    Nhiều sản phẩm may mặc dành cho trẻ em không bảo đảm an toàn, chứa nhiều hóa chất “formaldehyde”, “cadmium” và “chromium” độc hại vượt mức cho phép, gây nhiễm trùng da và đường hô hấp cho trẻ em.
    Trong khuôn khổ bài báo nầy, chỉ liệt kê những mặt hàng độc có tính cách tượng trưng mà thôi, còn nhiều mặt hàng độc khác như trái cây có tẩm hóa chất bảo quản Carbendazim hoặc còn dính thuốc trừ sâu, đũa ngâm hóa chất…một khi các hóa chất độc hại nầy bám vào các bộ phận trong cơ thể con người sẽ công phá tiến trình thoái hóa và tăng trưởng tế bào tự nhiên mà sinh ra nhiều TẾ BÀO DỊ HÌNH không cần thiết dư thừa, đan kết vào nhau, tích tụ lại làm thành bướu độc, cục u…là tiến trình của nguy cơ dẫn đến nhiều căn bệnh ung thư.
    image
    Vì thế, tất cả mặt hàng tươi, khô, đông lạnh hoặc đóng gói mang nhãn hiệu MADE IN CHINA là người tiêu thụ rùng mình kinh sợ. Trung Cộng thay đổi chiến lược để lừa người tiêu thụ bằng cách thay thế nhãn hiệu “Made in China” bằng nhãn hiệu mới trên các bao bì của thực phẩm, hàng hóa…là “MADE IN P.R.C” đó là chữ viết tắt “People Republic of China” (Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc).
    Nhưng, nhãn hiệu “Made in P.R.C” đánh lừa giới tiêu thụ không được bao lâu thì bị phát giác làm mức tiêu thụ hàng hóa Trung Cộng lại bị thế giới tẩy chay, tụt dốc thê thảm. Trung Cộng lại giở thói gian manh, tiếp tục đánh lừa người tiêu thụ, không nhận diện được các mặt hàng độc của Trung Cộng bằng những phương cách xảo quyệt khác. Một thí dụ điễn hình: WAL-MART là một trong những siêu thị lớn nhất nước Mỹ. Nếu nhập hàng từ Trung Cộng do công ty Wal-Mart đặt mua. Trung Cộng sẽ ghi “MADE FOR WAL-MART USA” hoặc “PACKAGED IN USA”. Hàng hóa nhập từ Trung Cộng bằng những kiện hàng lớn, được ghi rõ ràng xuất xứ “Made in China” đúng theo qui định của chánh phủ Hoa Kỳ. Nhưng, khi những kiện hàng được tháo ra bán lẽ trên các quày hàng thì mang nhãn hiệu khác như “MADE FOR WALMART USA” hoặc “PACKEGED IN USA” và hàng chữ nhỏ li ti như “Made in China” hoặc “Made in P.R.C” nằm ở gốc nào đó rất khó nhìn thấy. Xin hãy cẩn thận khi mua hàng để đừng bị Trung Cộng lừa bằng những mánh khóe bẩn thỉu nầy.
    BÀI HỌC CỦA ĐÀI LOAN TẨY CHAY HÀNG ĐỘC CỦA TRUNG CỘNG:
    Một thành phố Đài Loan, thị trấn Chitung, nơi trận bão Morakot ập vào làm 500 người chết trong một vụ lở đất lớn và 700 người phải di tản sau cơn bão nhiệt đới tồi tệ nhất trong vòng 50 năm qua, đã xảy ra vào ngày 8/8/ 2009. Chánh quyền địa phương đã từ chối nhận 100 “nhà lưu động” lấp ráp nhanh do Trung Cộng viện trợ vì lo sợ hóa chất độc hại, vì những căn nhà nầy có chứa chất “formali”, một loại hóa chất nguy hiểm. Phó Quan Hành Chánh quận tên Chung Chia nói: “Mặc dầu những ngôi nhà là trợ giúp nhân đạo, nhưng chúng tôi cần phải đặt an toàn làm ưu tiên hàng đầu.” Ngoài ra, họ cũng từ chối hàng viện trợ của Trung Cộng gồm: 10.000 túi ngủ, 10.000 chăn đấp cùng với 176 triệu nhân tệ (26 triệu USD).
    image
    Người dân Đài Loan đã mất tin tưởng vào hàng hóa Trung Cộng từ năm trước khi sản phẩm sữa bột của Trung Cộng của một số hãng Trung Cộng bị tìm thấy nhiễm melamine làm chết ít nhất 6 trẻ em và khiến hàng chục nghìn trẻ em lâm trọng bệnh. Đây là một cái tát vào mặt bọn lãnh đạo Trung Nam Hải.
    V. VIỆT NAM THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ HÀNG ĐỘC CỦA TRUNG CỘNG:
    Tất cả mặt hàng độc chết người do Trung Cộng sản xuất bị thế giới tẩy chay và vất vào thùng rác. Những con chó lãnh đạo Trung Nam Hải dùng Việt Nam làm thị trường tiêu thụ những hàng độc nầy vừa để thu lợi nhuận và vừa dùng nó làm vũ khí giết người thầm lặng, không tiếng súng để giết dân Việt Nam chết dần chết mòn. Sách lược dã man nầy, Trung Cộng chia ra làm hai giai đoạn:
    GIAI ĐOẠN I:
    Ngày 30 tháng 6 vừa qua, nhiều tờ báo trong nước đồng loạt lên tiếng báo động về hiện tượng nầy, từng đoàn doanh nhân Tàu Cộng vượt biên giới bỏ ngỏ, ào ạt sang Việt Nam từ Bắc vào trong Nam, tung tiền mua giá cao, vơ vét hàng nông sản, thu hút hàng sạch nhu yếu phẩm từ thủy sản, đường cát, heo, gà, vịt, trứng gà, vịt cũng bị thu mua chất hàng đống. Đặc biệt là vịt sống là sản phẩm bị chiếu cố tận tình nhất, khiến giá mỗi con từ 60.000 đồng/ con tăng vọt lên 120.000 đồng, tức tăng gấp đôi. Cho đến nay, chiến dịch vét hàng đã lên đến cao điểm, nhưng chưa biết chừng nào mới chấm dứt. Hiện tượng nầy, khiến vật giá trong nước tăng tốc leo thang không ngừng vì thiếu hàng để bán, làm dân nghèo khốn đốn.
    Theo nhận định của bà Nguyễn thị Thu Sắc, Phó chủ tịch Hiệp hội Hàng Xuất Cảng Thủy Hải Sản VN (VASEP) nói rằng: những năm trước thương gia Tàu sang VN thu mua tôm trực tiếp từ các trại nuôi tôm của người Việt mình. Còn bây giờ, họ ra tận bến cá, đón tàu đánh cá vừa từ ngoài khơi vào, tung tiền thu mua trực tiếp, gôm sạch các loại hải sản. Các công ty VN chế biến thủy, hải sản thiếu hàng xuất cảng, nâng giá mua lên để cạnh tranh mà vẫn chào thua các doanh nhân Tàu Cộng lắm tiền nhiều bạc nầy. Tại miền Trung, các tay thương gia Tàu Cộng nầy chiếu cố tận tình. Hậu quả, là giá tôm trắng hồi nằm ngoái chỉ có 57.000 đồng/ kí bây giờ vọt lên 90.000 đồng/ kí.
    Bà Sắc báo động, tình trạng nầy sẽ giết các công ty xuất cảng thủy sản và hải sản trong nước. Từ đầu năm đến giờ đã có 147 công ty loại nầy ở VN đã phải đóng cửa vì không mua được hàng. Bà Sắc cho biết đã đến lúc chánh phủ VN nên bắt chước Indonesia, vì quốc gia nầy đã cấm xuất cảng nguyên liệu thủy, hải sản kiểu đó. Việt Nam cần phải bảo vệ thị trường nội địa. Nhưng, biết bao giờ Đảng và nhà nước CSVN học được bài học khôn nầy?
    Ngoài ra, các tên thương gia trọc phú nầy còn nhắm vào hồ tiêu. Theo lời ông Đỗ Hà Nam, Chủ tịch Hiệp Hội Tiêu VN (VPN), cho biết: đã có 20% toàn bộ sản lượng tiêu VN bị thương lái Tàu Cộng thu vét. Cao su cũng vậy, có đến 70% số cao su làm ra ở VN đã vượt biên vào Hoa Lục.
    GIAI ĐOẠN II:
    Sau khi hút hết “HÀNG SẠCH” của thị trường Việt Nam, bọn Trung Nam Hải cho các thương buôn Tàu Cộng tuôn “HÀNG ĐỘC” vượt qua biên giới vào Việt Nam bán với giá rẻ mạt vừa túi tiền của đại đa số đồng bào lao động để đầu độc dân Việt Nam trên qui mô cả nước, gây ra hiện tượng “GIÀU ĂN SẠCH, NGHÈO ĂN ĐỘC”. Xin liệt kê một số hàng độc của Trung Cộng tượng trưng:
    image
    GẠO NHỰA TÀU:
    Sau khi tung tiền vơ vét cả triệu tấn gạo của VN chở sang Tàu. Liền sau đó, “gạo nhựa Tàu” được Trung Cộng tung vào VN đã xuất hiện trên thị trường, đó là một loại giả làm bằng khoai lang / khoai tây xay nhuyển rồi trộn với bột nhựa (resin). Gạo nhựa Tàu nấu trên 30 tiếng vẫn không làm hạt gạo nát nhừ, hột cơm vẫn nguyên vẹn và không dính vào nhau. Tất cả các gạo nhựa Tàu đều cùng kích thước và màu sắc giống nhau.
    image
    SỮA ĐỘC MELAMINE:
    Melamine là hóa chất dùng để sản xuất nhựa, được trộn vào các sản phẩm sữa để chúng trông giàu protein hơn để dánh lừa thị giác giới tiêu thụ khiến các em nhỏ uống vào sẽ mắc bệnh “sạn thận”. Các hãng thông tấn nước ngoài đưa tin scandal về sữa độc melamine làm tử vong 4 em bé và làm hơn hàng trăm ngàn trẻ em khác bị bệnh vào năm 2008. Sau đó, chánh quyền Trung Cộng đã tìm thấy và tịch thu 170 tấn sữa bột độc hại nầy.
    Số 170 tấn sữa độc melamine không được Trung Cộng thiêu hủy và tái phối trí lại để đưa vào thị trường Việt Nam tiêu thụ với giá rẻ khoảng 62.000 đồng/kí so với sữa bột Tân Tây Lan rẻ hơn 20.000 đồng /kí. Nguồn tin cho biết, sữa độc melamine tràn ngập ở các chợ biên giới phía Bắc, đưa vào bán ở các chợ đầu mối tại Sài Gòn như chợ Kim Biên, Bình Tây và các đại lý chuyên doanh phân phối thực phẩm.
    image
    LỤC PHỦ NGŨ TẠNG CỦA GIA SÚC VÀ GIA CẦM:
    Ngộ độc thực phẩm diễn biến ngày càng phức tạp tại Việt Nam. Mỗi năm đã xẩy ra hàng ngàn vụ ngộ độc thực phẩm chết người. Nguyên nhân là ăn phải hàng độc, nhập lậu qua biên giới Việt – Trung bỏ ngỏ, kẻ qua người lại, nhập cảnh không cần visa . Hàng ngày, con buôn người Tàu lợi dụng nhập cảnh không cần chiếu kháng, để đưa hàng ngàn tấn hàng độc ồ ạt vượt qua biên giới vào Việt Nam tiêu thụ. Phần lớn hàng độc được con buôn VN chiếu cố nhiều nhất như: tim, cật, thận, lòng heo, chân gà, vịt, cánh cổ, trứng non, lòng mề…được con buôn người Hoa ngâm tẩm và ướp bằng hóa chất như formol (dùng để ướp xác chết) để giữ tươi được lâu ngày, chống thối rữa. Những món hàng độc nầy khi vượt qua biên giới, được con buôn VN cho vào thùng xốp chuyển đi khắp nước tiêu thụ. Một người đi chào hàng nói với đối tác: “Yên chí đi! Có để đến nửa tháng nữa cũng chưa thối đâu! Đã tẩm ướp thứ đó rồi thì có chôn xuống đất tới cả tháng, đào lên vẫn còn tươi nguyên!”. Thị xã Hà Khẩu (Hoa Lục) là nơi tập trung nguồn hàng độc loại nầy, cung cấp cho chợ Tả Cái và Tả Xéo cách đó 1km để con buôn chuyển về VN tiêu thụ bằng vạn nẽo đường khác nhau.
    image
    TRỨNG GÀ, VỊT NHIỄM MELAMINE CỦA TRUNG CỘNG:
    Loại hàng độc nầy tập trung tại “tổng kho trứng” chợ Sẻo Cái ở Hà Khẩu, muốn mua bao nhiêu cũng có, nếu cần giao hàng ở bên Việt Nam cũng OK! Đây là một chợ khá lớn, bày bán mọi loại thực phẩm tươi, vệ sinh rất kém, bẩn thỉu và lầy lội, tấp nập nhiều con buôn VN đến mua bán hàng, đặc biệt là trứng gà các loại ở chợ nầy. Khu bán trứng gà nằm ngay bên ngoài gần đường vào chợ, hàng đống các thùng trứng gà, vịt xếp chồng chất lên nhau. Giá cả tại chỗ như sau: khoảng 31.000 đồng/1 kg, khi chở về đến chợ Cốc Lếu ở Lào Cai bên VN là 47.000 đồng/1kg, quả là siêu lợi nhuận.
    Tại thành phố Lào Cai có chợ Cốc Lếu, Gốc Mít, Kim Tân bày bán rất nhiều trứng gà nhiễm melamine của Trung Cộng đã qua công đoạn vỏ trứng được đánh màu, chờ con buôn phân phối đi khắp nơi. Trong khi trận bão melamine trong sữa Trung Cộng chưa lắng dịu thì tìm thấy trứng gà nhiễm melamine của Trung Cộng đang ồ ạt xâm nhập vào thị trường VN.
    image
    TRÁI CÂY NHẬP LẬU TỪ TRUNG CỘNG:
    Hầu hết tất cả trái cây nhập cảng từ Trung Cộng đều có tẩm hóa chất bảo quản là mối quan tâm của người tiêu dùng như:
    TÁO: Quả táo nhập từ Tàu, được bọc trong một một lưới xốp. Lưu ý, khi bốc lưới xốp ra thì thấy hạt trắng mịn đọng trên vỏ quả, đó là do hóa chất bảo quản bị bốc hơi.
    CAM: Hiện nay, cam nhập lậu từ Trung Cộng, loại cam nầy quả rất to, bọc trong lưới, có màu vàng tươi do tẩm hóa chất và bị đánh bóng.
    QUÝT: Quýt Trung Cộng vỏ dày, bị đánh bóng và bóc vỏ, hai đầu múi quýt thường khô.
    HỒNG: Hồng Tàu rất dễ nát nên hàng nhập lậu thường được tẩm nhiều hóa chất bao quản hình dáng. Ngoài ra, hồng Tàu có vỏ rất đẹp, màu vỏ đỏ đậm do bị bôi phẩm màu.
    DƯA HẤU: Phần lớn dưa hấu bán trên thị trường loại vỏ vàng, ruột cũng màu vàng là của Trung Cộng, nhưng lại lấy nhãn hiệu của New Zealand. Loại dưa hấu nầy hay bị tiêm nước đường hóa học vào trong ruột nên khi bổ ra sau vài tiếng, ruột sẽ bị mềm nhũn.
    image
    VI. ĐỀ CAO CẢNH GIÁC VŨ KHÍ SINH HỌC CỦA TRUNG CỘNG:
    Tin Saigon cho biết: Căn bệnh tay chân và miệng đang hoành hành dữ dội tại VN trong 6 tháng vừa qua với 15.000 người mắc bệnh đa số là trẻ em, trong đó có 50 trẻ em tử vong. Theo phúc trình của viện Pasteur Saigon: tại thành phố Saigon và các tỉnh lân cận như Đồng Nai, Bình Dương, Long An và Tiền Giang có tỉ lệ trẻ em nhiễm bệnh cao nhất Việt Nam. Theo Trung Tâm Y Tế Dự Phòng thì 99% trẻ em tử vong vì chứng bệnh kỳ lạ nầy. Trẻ nhiễm bệnh nầy bị sốt cao, nổi mụt nước khắp cơ thể, thân thể đau nhức dữ dội và dẫn tới tử vong.
    Việc nầy, làm chúng ta liên tưởng tới khoảng thời gian đầu tháng 3 năm 2003, những ca bệnh SARS đầu tiên xuất hiện tại tỉnh QUẢNG ĐÔNG, miền Nam Hoa Lục. Từ đó, bệnh SARS bắt đầu lây truyền nhanh chóng các nước trên thế giới. Đây là căn bệnh truyền nhiễm mới đầu tiên của thế kỷ XXI. Người ta đặt nghi vấn: “Có phải virus gây bệnh Sars có nguồn gốc từ cái LAB bí mật nào đó của Trung Cộng bị rò rỉ và phát tán ra ngoài, gây khốn đốn cho nhân loại?” Chắc chắn là như vậy rồi!
    Trung Cộng ngày nay đang lâm vào 4 cơn khát: KHÁT ĐẤT – KHÁT DẦU – KHÁT NƯỚC – KHÁT MÁU. Cho dù Tập đoàn lãnh đạo Đảng CSVN đã bán nước cho bọn Trung Nam Hải, đưa dân tộc vào vòng nô lệ cho ngoại bang, biến Việt Nam thành một quận huyện của tên đế quốc Trung Cộng để được vinh thân phì gia: “Thà mất nước, chớ không chịu mất Đảng!” Nhưng, dã tâm của bọn Trung Nam Hải là không bao giờ từ bỏ tham vọng “DIỆT CHỦNG DÂN VIỆT NAM” chết càng nhiều, càng tốt bằng VŨ KHÍ SINH HỌC để đưa dân Tàu ồ ạt di dân sang Việt Nam chiếm đất đai, tài nguyên của đất nước chúng ta. Vì vậy, xin đồng bào phải luôn luôn đề cao cảnh giác vũ khí sinh học của bọn quái vật Trung Cộng!
    Nếu như, tỉ lệ trẻ em nhiễm căn bệnh kỳ lạ nầy tiếp tục tăng cao, nguy cơ biến thành dịch lan tràn khắp nước, Trung Tâm Y Tế Dự Phòng Sàigòn cần phối hợp với Viện Pasteur Saigon báo động với Tổ Chức Y TẾ Thế Giới (WHO) và Cơ quan Kiểm soát và Ngăn ngừa bệnh Dịch Hoa Kỳ (Centers for Disease Control and Prevention) viết tắt “CDC” để tìm biện pháp giúp đỡ, xác định đặc điểm của loại virus nầy, nhằm chận đứng kịp thời, trước khi quá muộn.
    VII. KẾT LUẬN:
    Trước khi chấm dứt bài viết nầy, tôi xin nhắc lại lời của ông WINSTON CHURCHILL (1946) để thay cho lời kết: “Thế chiến thứ II đã không bao giờ xảy ra trong lịch sử nếu có những hành động ngăn chận đúng lúc…nhưng không một ai muốn lắng nghe. Chúng ta phải chắc chắn điều nầy không tái diễn.”(There was never a war (WW II) in all history easier to prevent timely action…but no one would listen…we surely must not let that happen again.
    image
    Và ông MICHAEL SCROCCARO – Giám đốc Sterling Communication – có viết bài bình luận “COMMENTARY: CHINA SIGNALS WAR, WILL THE WORLD LEARN FROM HISTORY?” Ông đã cảnh báo cảnh báo Phương Tây: “Tại sao Phương Tây đang tiếp tục làm ngơ trước những tín hiệu và bài học của lịch sử nữa chăng? Có phải vì những tin tức trong Trung Hoa Lục Địa không rõ ràng, không đủ sức thuyết phục để chúng ta lưu tâm sao?”(So, why is the West ignoring the signs and lessons of history yet again? Could it be that news out of China is not clear or compelling enough to grasp our attention?”)
    Viết theo các tài liệu tổng hợp, phân tách và nhận định.
    Nguyễn Vĩnh Long Hồ
  • Tham luận

    Hạ Đình Nguyên : Lời tuyên bố của Ngài tân Chủ tịch Quốc hội

    Về một lời tuyên bố của Ngài tân Chủ tịch Quốc hội

    August 21st, 2011

    Quan cảnh vua Lê Chiêu Thống sang Tàu cầu viện

    Quan cảnh vua Lê Chiêu Thống sang Tàu cầu viện

    Cụm từ này không phải của nhân dân

    Hạ Đình Nguyên

    Đọc trên mạng tôi thấy Ngài tân Chủ tịch Quốc hội tuyên bố: “TA và TQ cần hòa bình, hữu nghị, HỢP TÁC – ĐOÀN KẾT –  ĐỂ HAI DÂN TỘC CÙNG TIẾN LÊN CNXH“.

    Tôi rà lại nhiều lần xem có chính xác không, hay là bọn “rác rưởi’ trên báo mạng vu cáo?

    Không, đúng thật, ngài đã nói đúng như thế!

    Tôi tắt máy, đi ra phòng ngoài pha một ấm trà và châm một điếu thuốc lá.

    Tôi giảm thuốc lá lâu nay, nhưng mỗi khi có điều gì bức xúc, như vui buồn, giận dữ chẳng hạn, thì phải châm một điếu. Vẫn thấy trong người có điều gì không ổn, tôi không dứt ra khỏi ý nghĩ và miệng cứ lẩm bẩm… cụm từ này không phải của nhân dân! Dù ông ấy đang mang danh là đại diện cao nhất của nhân dân. Sau khi trở lại được trạng thái thăng bằng, tôi ngồi vào máy.

    Tôi sực nhớ anh Tương Lai. Anh vừa nhập viện. Mổ cái gì đấy. Trước khi đi, anh nhắn lại lời tạm biệt với anh em. Anh nói mình trói gà không chặt nhưng tay còn cầm bút được, sẽ ra viện sớm để tiếp tục chăm cái Web và gặp gỡ anh em, không nản chí. Anh nhắc lại câu thơ khẩu khí: “đâm mấy thằng gian bút chẳng tà”!

    Tôi lan man nhớ các vị bô lão, nhân sĩ, trí thức trụ cột của nhóm Bauxite Việt Nam, ai nấy cũng già, tóc bạc hết, đứng đi lưng không còn thẳng thớm nữa, nhưng tinh thần rất khang kiện, lặn lội đi biểu tình ở Hà Nội bao phen. Quý vị có còn kịp để nhìn thấy “tương lai” của cái “hợp tác, đoàn kết, cùng nhân dân TQ tiến lên CNXH”? Thời gian quý vị còn quá ít, so với lời tuyên bố quá vững chắc hùng hồn của ngài Chủ tịch!

    Tôi ngồi bình tĩnh kiểm tra lại cái đầu mình, cố hiểu cái gì đang diễn ra, nhất là cái gì đã diễn ra trong Ông ấy, chỉ thấy từ ngữ đang nhảy múa và mình thì đang bội thực.

    HỢP TÁC được thì sướng quá, nếu hợp tác trong bình đẳng, minh bạch, đạo lý thì có gì bằng! Nhưng hợp tác như trong tình thế ĐANG DIỄN RA thì từ HỢP TÁC này đang thoái hóa, biến chất trầm trọng, phải loại ra khỏi từ điển tiếng Việt.

    ĐOÀN KẾT ư? Liệu họ có cho đoàn kết không? Làm sao đoàn kết nhỉ, với cái kẻ cướp đang thượng cẳng tay, hạ cẳng chân, chỉ muốn ăn tươi nuốt sống mình, với cái bụng đói khát tham vọng xú uế bốc đầy trời. Cả thế giới đều biết, các bác xe ôm trên khắp VN cũng biết, không tin cứ hỏi thử mà xem! Cái từ ĐOÀN KẾT như thế này cũng mang đầy xú uế, cũng phải loại luôn.

    Có ý kiến cho rằng Ông ấy nói ngoại giao vì cương vị của Ông phải thế!

    Tôi nhớ, có một nhà ngoại giao người Anh từng nói một câu rất nổi tiếng:

    “Nghệ thuật cao nhất của ngoại giao là nói thật”.

    Vì nói không thật, chẳng lừa được ai, dù là đối phương, dù là nội bộ. Nhân dân hè phố Sài Gòn sẽ nói ngoại giao rất chân thực với TQ rằng: Việt Namrất mong muốn Hòa bình, Hữu nghị, Hợp tác, Đoàn kết… nhưng kiên quyết giữ vững Độc lập, Chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải VN. Mấy ngàn năm lịch sử VN đã chứng minh điều ấy mà nhân dân TQ cũng từng hiểu rõ!

    Nếu Ông ấy nói thế, dân hè phố sẽ vỗ tay suốt ba ngày không biết mỏi, chắc chắn mọi người dân Việt đều tán thưởng Ông, và bọn bành trướng sẽ không dám coi thường một ai, vì lẽ Ông là người cuối cùng… cũng đã nói!

    Nhắc chuyện ngoại giao xưa: Sứ thần Đỗ Khắc Chung đi sứ sang Tàu, diện kiến Ô Mã Nhi. Ô Mã Nhi đập bàn hét lớn: Vua An Nam các ngươi to gan, dám cho quân sĩ khắc hai chữ Sát Thát vào cánh tay, là coi thường Thiên triều quá thể!

    Đỗ Khắc Chung dõng dạc thưa: Vua AnNamđâu sai bảo thế, chỉ do quân sĩ căm giận mà tự khắc đó thôi, như hạ thần đây, là tướng quân, lẽ nào không có! Bèn nghiêng vai, vạch áo cho lộ ra hai chữ “Sát Thát” trước mặt Ô Mã Nhi.

    Ô Mã Nhi nói với nội bộ: Sứ thần nầy đã không làm nhục quốc vương của họ. Nước An Nam còn có những con người như thế, ta chưa thể tính (xâm lăng) được đâu!

    Đó chỉ mới là Sứ thần thôi… đã không làm nhục nhân dân!

    Còn cụm từ này nữa: “CÙNG NHÂN DÂN TQ TIẾN LÊN CNXH”?

    Trước hết, có thể khẳng định rõ ràng, nhân dân TQ không có CNXH để tiến lên! Ở TQ hiện chỉ có tư tưởng Đại hán ngông cuồng, đang chà đạp man rợ lên các dân tộc khác. Ở TQ hiện chỉ có chủ nghĩa bá quyền, bành trướng, đang xâm thực các nước láng giềng, đang gặm nhấm biển Đông. Nhân dân TQ đang quằn quại dưới sự cai trị của bọn chúng, với một thứ chủ nghĩa hổ lốn mang danh CNXH. Thế giới đã thấy rõ, nhân dân TQ cũng thấy rõ!

    Trong tình thế này, chỉ còn một mình nhân dân VN và ngài Chủ tịch tiến lên CNXH vậy!

    Tiến lên CNXH theo ĐỊNH HƯỚNG XHCN!

    Nhân dân và hàng triệu đảng viên hiện không hiểu gì hết, chỉ thấy xà quần sự hoán vị cho nhau giữa hai danh từ và tính từ, không rõ đâu là đông, tây, nam, bắc! Không biết ai trong số những vị lãnh đạo Đảng thật sự nắm giữ cái La bàn bí hiểm này?

    Dù sao thì tôi vẫn nghĩ rằng cái cụm từ ngữ nói trên KHÔNG PHẢI LÀ CỤM TỪ NGỮ CỦA NHÂN DÂN, vì lòng dân đã quá khác! Lẽ nào nó là sản phẩm phụ của 16 chữ vàng của ngài Giang Trạch Dân đã trao tặng?

    Trao tặng bằng chữ nghĩa thì quá sang, nhưng rất rẻ tiền!

    Xin đọc một trích đoạn nhỏ nói lên bối cảnh mà trong đó diễn ra sự “Hợp tác-Đoàn kết-Cùng Tiến Lên…”

     

    Đoạn trích (http://www.viet-studies.info/kinhte/ThienY_DoiMoiDang.htm):

    “Nhầm lẫn trước năm 1954 còn có thể thông cảm, nhưng từ khi Bắc Kinh liên tục gây chiến tranh biên giới với tất cả quốc gia láng giềng Ấn Độ, Liên Xô, Việt Nam, mà vẫn cho rằng “từng là XHCN với nhau vẫn tốt hơn” thì thật là mù quáng. Năm 1974 chúng đã chiếm Hoàng Sa, năm 1984 chúng đánh chiếm Lão Sơn, giết chết 3700 chiến sĩ VN, năm 1988 chúng đánh chiếm đảo Gạc Ma thuộc Trường Sa, giết chết 64 chiến sĩ hải quân VN. Chúng liên tục tấn tới, lập cơ quan hành chánh Tam Sa gồm 2 đảo Hoàng Sa và Trường Sa, liên tiếp bắn giết, cướp thuyền, bắt ngư dân đánh cá trên vùng biển của mình. Những ai có trái tim yêu nước đều nhận ra chúng chỉ chực thời cơ đánh úp chiếm đoạt cả Trường Sa của ta.

    Từ tháng 3 năm 2009 đến nay, cả nước sôi sục đòi hủy bỏ dự án Bauxite mở đường cho hùm dữ vào nhà. Các bậc đại công thần của chế độ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên, các Thiếu tướng Nguyễn trọng Vĩnh, Lê Văn Cương, hàng ngàn trí thức lên tiếng cảnh báo những người có trách nhiệm lãnh đạo đất nước phải thức tỉnh. Kỹ sư Doãn Mạnh Dũng viết: năm 2008, tập đoàn Tân Tạo đưa TQ vào quần đảo Nam Du xây dựng cảng than. Cũng năm 2008, Đài Loan cũng thành công với dự án xây dựng khu luyện thép bên vịnh Sơn Dương. Cuối 2008, việc xây dựng nhà máy luyện nhôm Tân Rai, Nhân Cơ giúp TQ cài quả bom bùn độc trên thượng nguồn sông Đồng Nai. Nếu một ngày nào đó thực hiện kịch bản chiến tranh bất ngờ như năm 1979, họ cho nổ quả bom bùn độc Tân Rai này làm cho các tỉnh miền Đông và TP HCM chết khát. Họ chiếm Sơn Dương – Hà Tĩnh, chặn cả đường bộ lẫn đường biển từ Nam ra Bắc. Họ chiếm quần đảo Nam Du cắt đường biển quốc tế đến VN. Một tình huống vô cùng nguy khốn hiện ra trước mắt.

    Báo chí và người phát ngôn VN không dám nêu tên tàu TQ mà gọi là “tàu lạ”. Trong khi đó, báo mạng Hoàn Cầu thuộc Tân hoa Xã bình luận rằng: TQ nên giải quyết tranh chấp biển đảo (với VN) bằng quân sự. Vậy mà nhà nước VN vẫn sợ mất lòng TQ, không dám đưa vụ bắt ngư dân ra Hội đồng Bảo an LHQ…

     

    Tài liệu nêu trên đây đã cũ, nhưng vẫn còn nguyên giá trị, hiện nay tình hình còn nóng hơn thế nữa! Tháng 8 này, chúng đang tập trung đại quân ở phía bắc biên giới nước ta…

     

    Sài Gòn, tháng Tám

    H.Đ.N.

    Nguồn: http://www.boxitvn.net/bai/27520

    Mời bấm vô đây xem Cấm Yêu Nước :

    Demonstration Against China August 21/ Biểu Tìn…

     

  • Tham luận

    Nguyễn Ngọc Chính : Góp nhặt buồn vui thời điêu linh: Bao cấp

    Bắt ở trần phải ở trần

    Cho may-ô mới được phần may-ô

     

    Hai câu ca dao ‘lẩy Kiều’ vừa dẫn là một trong những bức biếm họa xác thực nhất vẽ lại hình ảnh của thời bao cấp. Đối với những người đã sống qua thời kỳ này, tưởng không cần phải giải thích loại ca dao ‘tức cảnh sinh thời’ đại loại như trên. Tuy nhiên, đối với các thế hệ sau, con cháu của chúng ta không thể nào tưởng tượng được áo may-ô, một loại áo lót dùng cho đàn ông, cũng thuộc một trong số hàng chục mặt hàng do nhà nước sản xuất và cung cấp cho nhân dân. Vì thế mới gọi là… bao cấp.

     

    Từ điển tiếng Việt xuất bản trước thời bao cấp hoàn toàn không có mục từ Bao cấp. Phải đến Từ điển tiếng Việt của tác giả Hoàng Phê (1), bao cấp mới được chính thức xuất hiện trên sách vở. Từ điển giải thích: “Bao cấp là cấp phát phân phối, trả công bằng hiện vật và tiền mà không tính toán hoặc không đòi hỏi hiệu quả kinh tế tương ứng”. Đối với người dân bình thường, đó là một định nghĩa rườm rà, khó hiểu với những từ ngữ ‘dao to búa lớn’. Người dân chỉ cần hiểu một cách đơn giản: Bao cấp là tất cả đều do nhà nước đứng ra bao hết, từ cây kim, sợi chỉ, que diêm cho đến lương thực hàng ngày…

     

    Đường phố Hà Nội năm 1973

     

    Trên thực tế, thời bao cấp kéo dài từ năm 1954 đến 1986 tại miền Bắc và từ năm 1975-1986 tại miền Nam. Theo cách gọi của tôi, một người miền Nam, đó là thời kỳ điêu linh sau khi Sài Gòn hoàn toàn sụp đổ.

     

    Tại miền Bắc, trước khi bước vào thời kỳ bao cấp, Hà Nội đã sống trong ‘cảm giác no đủ’ của những ngày đầu tiếp quản từ tay thực dân Pháp. Nhà văn Tô Hoài (2) kể lại trong hồi ký Cát bụi chân ai:

     

    Chín năm ở rừng, không có lương, quần áo phát theo mùa, xà phòng tắm và giặt cũng lấy ở kho từng miếng, cơ quan sắm dao kéo húi đầu cho nhau. Trở lại thành phố, khó đâu chưa biết, nhưng thức ăn hàng hóa ê hề. Chiều chiều, uống bia Đức chai lùn bên gốc liễu nhà Thủy tạ. Nhà hàng Phú Gia vang đỏ, vang hồng, vang trắng… vỏ còn dính rơm như vừa lấy ở dưới hầm lên. Áo khoác da lông cừu Mông Cổ ấm rực, người ta mua về phá ra làm đệm ghế. Hàng Trung quốc thôi thì thượng vàng hạ cám. Kim sào, kim khâu, chỉ mầu, củ cải, ca la thầu, sắng xấu, mỳ chính, xe đạp cái xe trâu cao ngồng. Ca xi-rô ngọt pha vào bia cho những người mới tập tọng uống bia. Bắt đầu được lĩnh lương tháng. Không nhớ bao nhiêu, nhưng tối nào cũng la cà hàng quán được. Có cảm tưởng cả loài người tiến bộ đổ của đến mừng Việt Nam Điện Biên Phủ”.

     

    Cái cảm tưởng ‘cả loài người tiến bộ ‘đổ của’ đến mừng Việt Nam Điện Biên Phủ’ chỉ là một giấc ngủ ngày, bất ngờ thiếp đi trong khoảnh khắc để rồi bừng con mắt dậy với thực tế phũ phàng của đêm đen. Hàng hóa nhiều như Tô Hoài liệt kê không phải do Hà Nội sản xuất mà vì mới tiếp quản thành phố nên có sẵn trong kho của thực dân. Thế cho nên, nguồn hàng không phải tự mình làm ra ấy cạn kiệt một cách nhanh chóng. Đó cũng là lý do của sự khởi đầu một thời kỳ trì trệ kéo dài hơn 30 năm tại miền Bắc và hơn 10 năm tại miền Nam.

     

    Cửa hàng mậu dịch thời bao cấp

     

    Ngay từ năm 1955, công báo Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã đưa tin: công nhân viên, trên nguyên tắc, mỗi năm được cấp từ 5 đến 7 mét vải, khi sinh đẻ được cấp thêm 5 mét diềm bâu khổ 7 tấc. Bình quân cứ 10 người người dân đọc một tờ báo Nhân dânCứu quốc. Các quan chức từ cấp Thường vụ Ban thường trực Quốc Hội, Bộ trưởng, Thứ trưởng, các chuyên gia nước ngoài, các đoàn ngoại giao được hưởng tiêu chuẩn nua quạt điện.

     

    Tất cả mọi hình thức kinh doanh đều được quản lý theo ‘mô hình xã hội chủ nghĩa’, hoàn toàn do nhà nước nắm giữ. Nhân viên làm việc trong các cơ quan hay người lao động trong các doanh nghiệp quốc doanh sẽ chỉ được nhận một phần lương rất nhỏ bằng tiền mặt, số tiền còn lại sẽ được quy ra tem phiếu, riêng gạo được mua bằng sổ.

     

    Sổ đăng ký mua lương thực

     

    Theo Kinh tế Việt Nam 1955-2000, nhà xuất bản Thống kê, so với năm 1978, mức lương năm 1980 chỉ bằng 51,1%  và năm 1984 chỉ còn 32,7%. Một sự tụt hậu đáng kể về giá-lương-tiền của thời bao cấp. Về kinh tế, sách đã dẫn mô tả: “Thời bao cấp không có thị trường tự do về buôn bán cũng như về trao đổi các mặt hàng, cụ thể như lạc [đậu phụng] chỉ để lại vừa đủ làm giống cho vụ sau. Người sản xuất không tiêu dùng là tốt, người trồng lạc không ăn lạc, không dùng lạc để làm kẹo hay luộc để bán … Đối với nông sản dùng để chế biến thực phẩm cho nhân dân thì nhà nước phải quản lý chặt chẽ trên thị trường, không để ai buôn bán kiếm lời”.

     

    Cái gì cũng có thể và cần phải quản lý chặt chẽ. Tư tưởng chính làm nền tảng cho sự quản lý này đã biến cả xã hội lẫn con người thành một thứ đất sét, muốn nhào nặn thế nào cũng được. Nhà nước phân phối vài chục mặt hàng thiết yếu cho cuộc sống như gạo, thực phẩm, chất đốt, vải vóc cho đến các tiêu chuẩn phân phối được mua bổ sung như xà phòng giặt, giấy dầu, xi măng, khung, săm, lốp xe đạp…

     

    Giấy chứng nhận sở hữu xe đạp

     

    Mỗi hộ gia đình công nhân viên được cấp 1 sổ mua gạo có số lượng hàng tháng tương đương với tiêu chuẩn của các cá nhân từ 16 đến 21 kg mỗi tháng đối với người lớn, tùy theo mức độ lao động, lao động nặng thì được hưởng nhiều gạo hơn. Cán bộ có chức tước thì phiếu gạo ít vì lao động nhẹ hơn nhưng lại được cấp phiếu mua các mặt hàng thiết yếu nhiều hơn.

     

    Trẻ em ngày ấy được gọi là ‘hộ ăn theo’ căn cứ theo tiêu chuẩn của bố mẹ sẽ được hưởng khoảng từ 10-14 kg/tháng. Để mua được gạo cũng là cả một vấn đề. Mỗi khu vực dân cư sẽ được quy định mua gạo tại 1 cửa hàng lương thực, cửa hàng lại phân lịch bán cho từng tổ theo lịch bán luân phiên. Hình ảnh thường thấy là người lớn, trẻ em đi xếp hàng mua gạo từ 3, 4 giờ sáng để giữ chỗ, phòng khi cửa hàng bán nửa chừng hết gạo. Người ta dùng những cục gạch, chiếc dép, mảnh gỗ để ‘xí chỗ’ khi cửa hàng chưa mở cửa và người thật sẽ đứng vào hàng khi mở cửa.

     

    Dù xếp hàng đầu nhưng cũng không bảo đảm là sẽ được mua trước nếu có những sổ thuộc dạng ‘ưu tiên’ hoặc ‘chen ngang’ do có móc ngoặc với nhân viên thương nghiệp. Thời bao cấp người ta chỉ nghĩ đến miếng ăn nên việc quản lý của nhà nước theo hộ khẩu và sổ gạo là chính sách rất hữu hiệu. Thuật ngữ ‘buồn như mất sổ gạo’ xuất hiện trong thời kỳ này: mất sổ gạo còn quan trọng hơn cả việc mất tiền vì có tiền cũng không mua được gạo, dù là gạo đỏ, đầy thóc và sạn!

     

    Chưa hết, gạo đỏ lại được thường xuyên được thay thế bằng những loại lương thực khác như bột mì, sắn khô sắt lát, ngô (bắp), bo bo (hạt lúa mì) hay gạo tấm. Tấm là thứ gạo nhỏ xíu bung ra từ những đầu khuyết của hạt gạo, ăn rất hay bị đầy bụng và "tốn" vì gạo tấm nấu không nở, khi thành cơm thì 1 lon tấm chỉ bằng 1/3 lon gạo thường!

     

    Phiếu mua đường, loại 500 gam/tháng, năm 1979

     

    Những câu vè dưới đây nói lên giá trị của những mặt hàng trong thời bao cấp:

     

    Nhất gạo nhì rau

    Tam dầu tứ muối

    Thịt thì đuôi đuối 

    Cá biển mất mùa

    Đậu phụ chua chua

    Nước chấm nhạt thếch

    Mì chính có đếch

    Vải sợi chưa về

    Săm lớp thiếu ghê

    Cái gì cũng thiếu

     

    Phiếu cung cấp thịt ‘cơ động’ (?) dành cho bộ đội

     

     

    Mậu dịch viên bán thịt

     

    Chế độ bao cấp ngoài việc khiến người dân lúc nào cũng đói còn hủy hoại những giá trị đạo đức căn bản của con người. Trong Cát bụi chân ai, Tô Hoài kể lại: “Ở một cửa hàng ăn rất sang hồi ấy, những chiếc đĩa đựng bánh ngọt phải bắt vít xuống mặt bàn. Một sự thực nhiều người tuổi tôi còn nhớ: các quán mậu dịch giải khát (kể cả cà phê) loại tầm tầm cũng “thống nhất” đục một lỗ thủng các thìa nhôm để đánh dấu. Vì sao ư, đơn giản lắm, vì sợ ăn cắp…” 

     

    Quả thật, trong xã hội bao cấp, càng ngày nạn ăn cắp càng phổ biến, dù chỉ là ăn cắp vặt. Ăn cắp bởi quá thiếu thốn và cũng bởi ăn cắp quá nhiều nên không bị coi là hành động xấu nữa. ‘Cái khó không bó cái khôn’, nhưng chỉ là ‘khôn vặt’ theo kiểu ‘đói ăn vụng, túng làm liều’:

     

    Chính sách em học đã thông

    Chỉ vì túng thiếu xin ông ít nhiều

     

    Thời bao cấp, xã hội bị phân hóa. Đó là điều nghịch lý trong xã hội chủ nghĩa vốn hướng đến một Thế giới Đại đồng. Số liệu ghi trong cuốn Kinh tế Việt nam 1945-2000: “Trong khi người dân thường mỗi tháng chỉ được 150 gram thịt, thì cán bộ cao cấp được 6kg, tức là bốn chục lần nhiều hơn. Và tính ra chênh lệch là 100 đồng. Ngoài ra còn thuốc lá, chè, đường, sữa, len dạ, cũng tạo ra khoản chênh lệch khoảng 100 đồng nữa”.

     

    Nhiệt tình cách mạng của cán bộ thời kháng chiến ngày nào giờ chỉ xoay quanh vấn đề… ăn. ‘Ăn’ được hiểu theo cả nghĩa bóng lẫn nghĩa đen, người ta ‘ăn’ theo nhiều kiểu, tùy vào cấp bậc, địa vị:

     

    Cán bộ cao ăn cung cấp

    Cán bộ thấp ăn chợ đen

    Cán bộ quen ăn cổng hậu

     

    Thời bao cấp, xe hơi ở Hà Nội rất hiếm, nên chỉ cần nhìn một chiếc ‘xe con’ đi qua người ta biết ngay cán bộ cấp nào ngồi trong đó. Xe Pobeda, và sau này là Vonga màu đen, dành cho  cấp bộ trưởng trở lên. Các thứ trưởng và cấp tương đương đi những chiếc nhỏ hơn, loại Moskovits. Có người ‘sành điệu’ còn quả quyết: chỉ cần nhìn cách trang trí xe cũng có thể thấy được vai vế của người chủ.

     

    Cán bộ cấp càng cao càng có dịp đi công tác ở các nước Đông Âu và con cái họ, những ‘cậu ấm, cô chiêu’, được đi lao động hoặc đi học tập bên Tây. Đến khi về nước họ rước về những mặt hàng của các nước anh em như Liên Xô thì có tủ lạnh Saratov, xe Minsk, đồng hồ Pôljot, nồi áp suất… Đông Đức thì có xe máy SimSon, xe đạp Dianond, Mifa; Tiệp Khắc có xe gắn máy Bebetta, xe đạp Favorit… Tầng lớp ‘tinh hoa’ của chế độ tạo thành một nhóm đặc quyền, đặc lợi trong thời kỳ bao cấp.

     

    Một gia đình cán bộ thời bao cấp

     

    Bàn về con người và tư tưởng thời bao cấp, Vương Trí Nhàn (3) phân tích: “Cái hèn mà ta vốn khinh ghét, cái hèn đó ngấm ngầm ăn vào máu ta. Hèn theo nhiều nghĩa. Lúc nào cũng lo lắng, sợ sệt. Và chỉ có những niềm vui tầm thường. Mua được cân gạo không bị mốc, vui. Cưới cho con trai cô vợ làm ở cửa hàng lương thực nên cả họ mua bán dễ dàng, quá vui. Đi bộ mấy cây để đến nghe nhờ đài [radio] ở một nhà bạn, cũng đã vui lắm. Vui đấy rồi thấy sự khốn khổ của mình ngay đấy, và ngày mai, lại vẫn tiếp tục cái tầm thường dễ thương đó”. 

     

    Tôi trích đoạn văn trên qua một bài viết nhan đề Nhân cuộc trưng bày về cuộc sống Hà Nội 1975-1986. Cuộc trưng bày này được tổ chức tại Bảo tàng Dân tộc học, tập trung vào các tư liệu, hiện vật của Hà Nội trong khoảng thời gian từ 1975-1986. Viện Khoa học Xã hội Việt Nam đứng ra tổ chức nhưng điều khá thú vị là được sự tài trợ của Chương trình phát triển Liên hiệp quốc (UNDP), Quỹ SIDA (Thụy Điển), Quỹ Ford (Hoa Kỳ).

     

    Cuộc trưng bày sử dựng đồng thời các hiện vật gốc do người dân hiến tặng, được kết hợp với việc tái tạo và phục dựng một số bối cảnh của cuộc sống thời bao cấp. Trọng tâm của cuộc trưng bày nói lên tiếng nói của cộng đồng thông qua những câu chuyện, những ký ức những suy nghĩ, đánh giá của người dân về cuộc sống của mình trong thời kỳ ‘đêm trước’ Đổi mới.

     

    Theo tôi, thiếu thốn về cái ăn, cái mặc chỉ là phần nổi của tảng băng chìm, điều quan trọng hơn cả là không gian sống của các gia đình.  Ký ức của một người ở Nam Định về thời bao cấp:

     

    Mẹ tôi phải tính đến chuyện làm thêm, tăng gia sản xuất, cắt gốc rau muống, rau khoai trước ruộng muống nuôi lợn, bóc lạc thuê cho Ngoại thương. Bốn mẹ con chỉ có một cái giường để ngủ. Lạc chất trong nhà hàng bao cao đến nóc, lợn hai con ăn ở với người ngay dưới gầm giường. Mỗi một trận mưa to, một trận bão, giấy dầu lợp mái, ngói vỡ bay tứ tung … bốn mẹ con và lợn ngồi ôm nhau, vài cái xô đặt để hứng nước, nước dưới chân giường chảy qua như suối, cá rô đi hàng đàn, ba ba bò lổm ngổm. Mỗi một lần như vậy chỉ thấy mẹ khóc và rồi cả ba anh em khóc theo. Lo lắng, sợ nước ngấm vào lạc làm lạc mốc thành thành phẩm loại B loại C và phải đền. Sợ hai con lợn lăn ra ốm thì không biết cuối năm bấu víu vào đâu mà trả nợ…”.

     

    Gian bếp kiêm chuồng lợn

     

    Tại miền Nam, đồng bằng sông Cửu Long vốn là vựa thóc nhưng trong thời bao cấp chính sách ‘ngăn sông cấm chợ’ không cho phép nông sản được xuất tự do ra khỏi địa phương. Tất cả đều được nhà nước ‘thu mua’ với hàm ý ‘vừa tịch thu, vừa mua lại’.

     

    Dưới mắt người nông dân đó là hình thức ‘mua như cướp’ theo ‘giá nghĩa vụ’ hoặc ‘giá khuyến khích’… Ngược lại, đến khi nhà nước bán cho người tiêu dùng, họ ‘bán như cho’, người mua có cảm tưởng được cửa hàng… bố thí chứ không thực sự là đi mua với đồng tiền của mình! 

     

    Thu mua lúa hay thu mua các mặt hàng khác đều giống nhau. Năm 1978, giá thành 1m2 vải ‘calicot’ sản xuất tại Công ty Dệt Thành Công là 1,5 đồng nhưng phải bán cho nhà nước với giá 1,2đ/m2. Giá thành 1m2 vải dệt theo kiểu oxford tính ra hết 10đ nhưng công ty phải bán cho Nhà nước giá 9đ. Nhìn cảnh đóng hàng xuất cho nội thương với giá thấp hơn thực tế, người công nhân phải rơi nước mắt.

     

    Giá của hai thứ vải trên nếu bán ở thị trường tự do thì cao gấp 10-12 lần. Cũng vì thế, người dân và cả cơ quan nhà nước cũng chạy theo thị trường tự do để hình thành một nền kinh tế ‘ngầm’ song hành cùng nền kinh tế do nhà nước quản lý. Người dân buôn gạo từ địa phương này sang địa phương khác, chỉ vài ký mỗi chuyến nhưng cũng hưởng chênh lệch để ‘cải thiện’ cuộc sống gia đình.

     

    Tại Sài Gòn, một số cơ quan, xí nghiệp ‘lách’ luật, bung ra trong việc ‘đi đêm’ với xí nghiệp bạn hoặc với tư thương, Công ty Kinh doanh Lương thực của bà Ba Thi (Nguyễn Thị Ráo) là một trường hợp điển hình của một ‘huyền thoại’. Năm 1980, với trình độ lớp 4 trường làng, bà Ba Thi được bổ nhiệm làm giám đốc công ty để lo cung cấp lương thực cho gần 4 triệu dân với ‘giá kinh doanh’ không ‘bù lỗ’ nhưng cũng không nhằm thu lãi cao.

     

    Có thể đó là cách giải quyết của những lãnh đạo có ‘tâm’ trước sự thiếu thốn trong đời sống của nhân dân nhưng cũng không loại trừ những ‘phi vụ’ chạy vào túi riêng của những người trong cùng băng nhóm. Xã hội bắt đầu hình thành những ‘Mafia kinh tế’ để sau này tạo ra một giai cấp mới là ‘tư sản đỏ’.

     

    Năm 2006, báo Tiền Phong dùng cụm từ Màu thời gian xám ngắt (nhại chữ của Đoàn Phú Tứ Màu thời gian tím ngát trong bài thơ Hương thời gian) để nhắc lại cái bóng kinh hoàng của thời bao cấp. Đối với người miền Nam vốn đã quen sống trong nền kinh tế tư bản, thời bao cấp chắc không ‘xám ngắt’ mà phải là ‘đen tối’.

     

    Cũng may, người ta ngộ ra đó là một sai lầm chết người nên mới có… thời kỳ ‘đổi mới tư duy kinh tế’. 

     

    ===

     

    (1) Giáo sư Hoàng Phê sinh tại làng Bảo An, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam nay là xã Điện Quang, Điện Bàn, Quảng Nam. Cháu đời thứ 11 của Tổng đốc Hoàng Diệu. Thuở thiếu thời, ông học tại quê nhà rồi theo học ở Hội An, Huế, Sài Gòn. Sau cách mạng tháng 8/1945, ông tham gia kháng chiến chống Pháp ở Hà Nội, Việt Bắc. Năm 1954, ông làm cán bộ nghiên cứu ở Viện Ngôn ngữ học, và tạp chí Ngôn ngữ học, giảng dạy tại Đại học Tổng hợp Hà Nội. Hoàng Phê (1919 – 2005) là một nhà từ điển học, chuyên gia về chính tả tiếng Việt. Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, Nhà xuất bản Khoa học xã hội xuất bản năm 1998.  

     

    (2) Tô Hoài tên thật là Nguyễn Sen, sinh năm 1920 tại quê nội ở Thanh Oai, Hà Đông trong một gia đình thợ thủ công. Bút danh Tô Hoài gắn với hai địa danh: sông Tô Lịch và phủ Hoài Đức. Đến với văn chương ông nhanh chóng được người đọc chú ý, nhất là với truyện Dế Mèn phiêu lưu ký. Năm 1943, Tô Hoài gia nhập Hội Văn hóa Cứu quốc. Trong kháng chiến chống Pháp, ông chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực báo chí, nhưng vẫn có một số thành tựu quan trọng như Truyện Tây Bắc. Từ năm 1954 trở đi, ông có điều kiện tập trung vào sáng tác. Tính đến nay, sau hơn sáu mươi năm lao động nghệ thuật, ông đã có hơn 100 tác phẩm thuộc nhiều thể loại khác nhau: truyện ngắn, truyện dài kỳ, hồi ký, kịch bản phim, tiểu luận và kinh nghiệm sáng tác.

     

    (3): Vương Trí Nhàn là một nhà nghiên cứu văn hóa, văn học đồng thời là nhà phê bình văn học. Các bài viết của ông xuất hiện trên báo Văn Nghệ từ tháng 3/1965, sau đó ông viết đều đều trên các báo Văn Nghệ, Văn Nghệ quân đội. Lúc đầu VTN chỉ tập trung về mảng văn học đương đại cho đến đầu thập niên 1980, ông có ý thức dần dần trở lại với văn học sử, nhất là giai đoạn nửa đầu thế kỷ 20 và đã viết một số bài nghiên cứu về các nhà văn tiền chiến như Thạch Lam, Vũ Trọng Phụng…

     

     

    (Trích Hồi Ức Một Đời Người, Chương 6 – Thời điêu linh)

     

    Hồi Ức Một Đời Người gồm 9 Chương:

     

    1. Chương 1: Thời thơ ấu (từ Hà Nội vào Đà Lạt)
    2. Chương 2: Thời niên thiếu (Đà Lạt và Ban Mê Thuột)
    3. Chương 3: Thời thanh niên (Sài Gòn)
    4. Chương 4: Thời quân ngũ (Sài Gòn – Giảng viên Trường Sinh ngữ Quân đội)
    5. Chương 5: Thời cải tạo (Trảng Lớn, Trảng Táo, Gia Huynh)
    6. Chương 6: Thời điêu linh (Sài Gòn, Đà Lạt)
    7. Chương 7: Thời mở lòng (những chuyện tình cảm)
    8. Chương 8: Thời mở cửa (Bước vào nghề báo, thập niên 80)
    9. Chương 9: Thời hội nhập (Bút ký những chuyến đi tới 15 quốc gia và lãnh thổ) 

    Tác giả còn dự tính viết tiếp một Chương cuối cùng sẽ mang tên… Thời xuống lỗ (thập niên 2000 cho đến ngày xuống lỗ)!

     


    11 Comments

    yeuhanoi wrote on Jun 25, edited on Jun 25

    Chào bạn. Đã xem hết entry này. Chỉ xin ghi vào đây vài câu đồng cảm:

    Tất cả các phiếu "bao cấp" có trong bài mình đã dùng qua. Thực tế còn có những loại tem, bìa khác nữa như : phiếu mua vải (quy định số mét được mua trong 1 năm có những ô ghi rõ loại vải như ka ki, phin, dự phòng..), bìa "nghiện thuốc lá", tem lương thực (từ loại 200gram, phiếu mua đặu (khi không có thịt), giấy giới thiệu của cơ quan khi được bình trong những đợt phân phối hàng, ví dụ cơ quan nọ được phân 5 chiếc xe đạp Thống nhất (hay Phương Hoàng, Vĩnh Cửu) hoặc 3 chiếc đồng hồ đeo tay Pôn -Jốt thì cán bộ công nhân viên cơ quan đó phải họp để bình xét ai sẽ được mua ). v.v… Trong thời "bao cấp" thì cuốn sổ gạo của gia đình là quan trọng bặc nhất. Nó là công cụ quản lý con người bằng cách quản cái dạ dày (đói, no, sống chết). Với uy lực của nó VNDCCH có thể huy động con người ở mức tối đa kể cả đem thanh niên ra chiến trường… Xin kể mẩu chuyện nhỏ:

    Thằng em trai mình (1979) chiến đấu chống giặc TQ ở Lạng Sơn bị thương. Khi tỉnh lại ở bệnh viện trung đoàn thì câu đầu tiên của nó : " Ôi, mình mất hết số tem gạo rồi." Sau khi hồi phục sức khỏe, nó đã trở lại trận địa cũ tìm lục trong đường hào …. cốt để tìm lại số tem gạo mà nó nghi rằng vẫn còn ở chỗ nó đã tác chiến (không tìm thấy)

     

    cuuphansinh wrote on Jun 25
    Nhìn lại mà phát sốt ! Khủng khiếp thật ! Cám ơn NGOC CHINH đã tổng hợp !
    Xin kể một chuyện thật có liên quan, không biết nên khóc hay nên cười :
    Sau 75 , mỗi năm người dân "chỉ được" mua 2m vải . Tối đó họp dân . Trước khi họp có chào cờ "Đoàn quân VN đi…" Ai cũng đứng nghiêm , một cụ già ngồi ! Chào cờ xong , cán đến hỏi " Sao chào cờ mà ngồi ?" – "Tôi không có quần !" – " Sao đi họp không mặc quần ?" – "Nhà nước bán 2 thước vải may áo hết rồi !"

    uyenvan wrote on Jun 25
    Đó là cái thời sản sinh ra nhiều cạch nói mà chỉ có người-đương-thời mới hiểu: nhăn nhó=> mất sổ gạo; thông báo: hôm nay có thịt giáo viên, mai có thịt bộ đội…

    walkinclouds wrote on Jun 25
    nhớ lại mà còn kinh hoàng. dịp tết có mấy kí lòng heo mà cũng phải bắt thăm, ai trúng được mua ăn tết, có năm gặp phải lòng đã bị thiu, bó tay…. haizzzz, lạy trời, đất nước này đừng quay lại cái thời đó

    bayhoang79 wrote on Jun 26
    Cám ơn anh Chính đã nhắc lại một cách suất sắc thời kỳ Bao Cấp mà chúng tôi đã coi như một giấc mơ hãi hùng trong cuộc đời !

    thahuong82 wrote on Jun 26
    Nghe kể lại cũng rợn người,cũng ‘may" khoảng thơỉ gian đó tôi được ‘sự khoan hồng nhân đạo" của đảng và nhà nước cho đi học tập chỉ phải tự túc 10 ngày thôi,còn năm mười năm sau thậm chí mấy chục năm đều do nhà nước lo từ A-Z chẳng bận tâm cái ăn caí mặc chỉ có lao động là vinh quang thôi.Làm ngày kô đủ tranh thủ làm đêm,làm thêm giờ nghỉ.làm kô nổi thì húi nhị tì

    penseedl wrote on Jun 27
    Tưởng đã quên hết những cảnh nhục và hèn của thời bao cấp, không ngờ tác giả còn nhớ tỉ mỉ quá, bái phục !.

    huynhhai wrote on Jun 30, edited on Jul 10
    Bài nầy được viết công phu do tác giả chịu khó sưu tầm, tra cứu. Thật ra còn rất nhiều điều để nói về thời bao cấp, thời mà lần đầu tiên (và cầu mong là lần cuối cùng) người nông dân miền Nam mất ruộng (vì bị buộc phải vào tập đoàn hoặc hợp tác xã) và đói ngay trên đồng ruộng mênh mông. Giới trẻ bây giờ có thể chỉ hình dung thời đó qua lời kể của cha mẹ họ, nhưng di chứng của thời bao cấp vẫn hiện diện trong họ đấy thôi. Những ai có độ tuổi dậy thì hoặc sinh ra và lớn lên trong giai đoạn 1976-1991 thường nhỏ con, thiếu thước tấc vì thiếu ăn lúc đang sức lớn. Thời bao cấp cũng là thời của những bế tắt trong cuộc sống, vì thế cuộc đấu tranh sinh tồn giữa người và người trở nên quyết liệt. Một số chuẩn mực đạo đức cũ bị mất đi. Nhiều người vượt biên để mưu tìm cuộc sống mới. Nhiều gia đình lâm vào cảnh khốn khó, cùng quẫn. Nhiều người nếu không bị bệnh lao thì cũng bị tâm thần nặng hoặc nhẹ (nhớ thời đó các phòng khám tâm thần trong các bệnh viện thường rất đông) v.v… Thời bao cấp và những di chứng của nó đến cuộc sống tinh thần và vật chất của toàn dân Việt rất cần được nghiên cứu tường tận, khách quan, khoa học để nhận rõ hệ quả của một chính sách kinh tế ngu xuẩn và rút kinh nghiệm cho mai sau.
    (Có một chi tiết nhỏ ở 2 câu đầu mà tôi nghĩ không phải là ca dao, chỉ là nhái của 2 câu dưới trong 4 câu gần cuối trong Truyện Kiều của Nguyễn Du:
    "Ngẫm hay muôn sự tại trời,
    Trời kia đã bắt làm người có thân.
    Bắt phong trần phải phong trần,
    Cho thanh cao mới được phần thanh cao."
    Mặc dù có những câu lúc đầu là thơ, sau biến thành ca dao do người ta truyền miệng cho nhau mà quên mất tên tác giả (như vài câu thơ của Bàng Bá Lân chẳng hạn), nhưng 2 câu ở đầu bài nầy chưa đến mức để gọi là ca dao.
    Thời bao cấp cũng là thời của nhiều câu ca dao, như:
    "Mất mùa là bởi thiên tai.
    Được mùa là bởi thiên tài Đảng ta".
    Hoặc:
    "Nam Kỳ Khởi Nghĩa phi Công Lý.
    Đồng Khởi đây rồi mất Tự Do".
    (nói về đổi tên đường ở Sài Gòn sau 30/4/1975) v.v…. và v.v…
    Thời bao cấp có lẽ cũng là thời mà lần đầu tiên trong lịch sử nước ta nhà cầm quyền đề ra phong trào sáng tác ca dao "ca ngợi lãnh tụ, ca ngợi cuộc sống XHCN tươi đẹp". Giờ có vị nào còn nhớ những câu gọi là "ca dao" bị sáng tác ấy không???).

    nguyenngocchinh wrote on Jun 30, edited on Jun 30

    (Có một chi tiết nhỏ ở 2 câu đầu mà tôi nghĩ không phải là ca dao, chỉ là nhái của 2 câu dưới trong 4 câu gần cuối trong Truyện Kiều của Nguyễn Du:
    "Ngẫm hay muôn sự tại trời,
    Trời kia đã bắt làm người có thân.
    Bắt phong trần phải phong trần,
    Cho thanh cao mới được phần thanh cao."

    Xin cám ơn bạn huynhhai về phần comment khá dài nhưng rất xúc tích. Riêng về 2 câu ‘ca dao’ dẫn ở đầu bài viết tôi đã chỉnh lại là ca dao thuộc loại ‘lẩy Kiều’ cho chính xác hơn.Đa tạ.

    yeuhanoi wrote on Jul 8, edited on Jul 8
    @huynhhai:
    Mình nghe đọc là:

    "Nam Kỳ Khởi Nghĩa đâu Công Lý.
    Đồng Khởi Vùng Lên mất Tự Do".

    "đâu" – hỏi?
    "mất" – đáp.
    "Khởi nghĩa" = "Vùng lên" (đối lại)

    Rõ ràng đây là hai vế đối rất chỉnh theo luật thơ Đường.

    huynhhai wrote on Jul 8, edited on Jul 8
    @yeuhanoi
    Hai câu:
    "Nam Kỳ Khởi Nghĩa phi Công Lý.
    Đồng Khởi đây rồi mất Tự Do".
    tôi đã nghe chỉ ít tháng sau khi đường phố Sài Gòn đổi tên. Nghe nhiều lần, chợt nhớ nhiều lần mỗi khi đi trên 2 con đường ấy và rồi nhớ đến nay. Tôi biết 2 câu đó có nhiều dị bản và không rõ bản nào xuất hiện trước. Mỗi bản có nét riêng nhưng vẫn giữ được ý nghĩa (đen và bóng) ban đầu (hai câu bạn đưa ra cũng vậy). Tuy nhiên, tôi vẫn thích 2 câu đã nêu ở trên vì:
    Thứ nhất: Chữ "phi" ở câu đầu thật dứt khoát, phủ định mạnh mẽ.
    Thứ hai: Hai câu nói lên tâm trạng của một người khá lâu không vào khu trung tâm Sài Gòn nay ngỡ ngàng khi thấy tên đường đã đổi thay (chữ "đây rồi" nói lên sự ngỡ ngàng ấy).
    Thứ ba: Kết nối tài tình giữa đổi tên đường với phủ định công lý, tự do.
    Và thứ tư: Nó gắn với những kỷ niệm trong "thời ốm đói" của tôi.

    Hai câu:
    "Nam Kỳ Khởi Nghĩa đâu Công Lý.
    Đồng Khởi Vùng Lên mất Tự Do".
    cũng hay về ý nghĩa. Nếu xét riêng về đối theo luật thơ Đường, tôi thấy:
    – "Nam kỳ" và "Đồng khởi" đối không chỉnh vì một bên là địa danh, một bên chỉ một phong trào.
    – "Khởi nghĩa" và "vùng lên" cũng như "Công lý" và "Tự do": đối tốt.
    – "đâu" và "mất": Khác từ loại nên đối không chỉnh.
    Nhưng vấn đề không phải ở những hình thức như vừa nói. Càng có nhiều dị bản chứng tỏ nó càng được nhiều người thích hoặc quan tâm. Cốt lõi của vấn đề chính là tính phản kháng mạnh mẽ của 2 câu mà nay đã thành ca dao do sức lan tỏa sâu rộng cả trong và ngoài VN của nó.

    ( Xin nói thêm: Thời bao cấp xuất hiện khá nhiều câu nói về chế độ mới XHCN mà người ta thì thầm truyền miệng cho nhau, không ai dám viết ra giấy vì nếu bị phát giác sẽ bị gán cho nhiều tội như bôi bác chế độ, xuyên tạc, thậm chí phản động. Những tội danh ấy ai đã từng ở VN sau 30/4/1975 đều nghe nói đến, nhất là vào thời bao cấp, thời hoàng kim của CNXH ở VN và cũng là thời đen tối của đại đa số dân Việt).

    Xin quí vị đọc tiếp :

    Cải tạo Công thương nghiệp trong thời điêu linh trên:
     
  • Tham luận

    Quỳnh chi : Washington không thể dựa vào ASEAN trong vấn đề Biển Đông

    Washington không thể dựa vào ASEAN trong vấn đề Biển Đông

    2011-08-13

    Ông Walter Lohman, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Châu Á tại tổ chức The Heritage Foundation vừa có một bài viết trong đó cho rằng Hoa Kỳ không thể trông chờ vào ASEAN giải quyết vấn đề Biển Đông với Trung Quốc bởi vì “ASEAN luôn thắng trong việc tạo ra những cam kết nhưng thua trong nội dung cam kết”.

    AFP

    Hội nghị các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN bên lề hội nghị trên đảo Bali vào ngày 22 Tháng Bảy năm 2011.

     

    Nếu Hoa Kỳ không tin cậy vào ASEAN trong vấn đề Biển Đông và có thể sẽ có những hướng đi khác, câu hỏi đặt ra là Việt Nam có là một nhân tố trong hướng đi mới đó? Quỳnh Chi tường trình trong bài sau.

    Luôn để Trung Quốc lấn lướt

    Bài viết của ông Walter cho thấy sự nản lòng của Hoa Kỳ đối với ASEAN khi Trung Quốc liên tiếp “chiến thắng” trước ASEAN trong vấn đề giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông. Cụ thể ông Walter nói rằng Trung Quốc luôn phản đối một qui tắc ứng xử có tính ràng buộc pháp lý, phản đối đàm phán đa phương trong vấn đề Biển Đông và cho đến bây giờ Trung Quốc đã đạt được các yêu cầu ấy.

    Năm 2002, bản Tuyên bố về Qui tắc ứng xử giữa các bên ở Biển Đông (DOC) được ký tên giữa ASEAN và Trung Quốc. Tuy nhiên, đây không phải là một bản qui tắc mang tính ràng buộc pháp lý. Thêm vào đó, DOC ghi rằng các vấn đề tranh chấp phải được giải quyết bằng những tham vấn và đàm phán bởi các nước có liên quan chủ quyền trực tiếp. Điều này đã giúp Trung Quốc tránh được các cuộc đàm phán đa phương.

     

    luoi-bo-250.jpg
    Bản đồ biển Đông với vùng "Lưỡi Bò" của Trung Quốc áp đặt. RFA graphic map.

    Trong hội nghị các bộ trưởng diễn ra tại Bali vào tháng 7 vừa qua, cái mà ASEAN và Hoa Kỳ ca ngợi là “thành công”, thực chất chỉ là bản hướng dẫn thực hiện DOC không có tính ràng buộc pháp lý và theo ông Walter, đây càng không phải là một bước tiến đến bộ qui tắc ứng xử giữa các bên ở Biển Đông (DOC).

    Một điều nữa mà ông Walter gọi là chiến thắng của Trung Quốc tại Bali hồi tháng 7 vừa qua. Đó là bản thảo hướng dẫn muốn ghi rằng một số thành viên ASEAN có liên quan tranh chấp gặp nhau trước khi gặp Trung Quốc, nhưng câu này đã bị lấy ra khỏi bản hướng dẫn.

    Hoa Kỳ luôn xem mình có lợi ích quốc gia ở Biển Đông và xem ASEAN đóng một vai trò trọng tâm trong chính sách Hoa Kỳ tại Đông Á. Trong buổi họp báo về “Sự can dự của Hoa Kỳ tại vùng Châu Á – Thái Bình Dương” tại Honolulu vào tháng 10 năm ngoái, Ngoại trưởng Hoa Kỳ cũng đã nói ASEAN là điểm tựa của cấu trúc các nước mới nổi trong khu vực. Và theo bà Ngoại trưởng, ASEAN đóng vai trò không thể bỏ qua trong các vấn đề chính trị, kinh tế và chiến lược.

    Trung Quốc cảm thấy rằng họ làm chủ gần trọn Biển Đông. Đó là điểm bắt đầu của họ như là cách xác định ranh giới lãnh hải.

    Ông Dean Cheng

    Theo bài viết của ông Walter, phong cách đàm phán của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Trung Hoa là không tìm cách gặp nhau ở giữa đường mà tìm những điều kiện để ASEAN đồng ý với yêu cầu của phía Trung Quốc. Theo ông Walter, phong cách đàm phán của ASEAN là muốn giải quyết cho xong vấn đề này nên muốn tìm một cam kết của các bên mà không quan tâm đến nội dung trong cam kết đó là gì. Cũng theo ông này, ASEAN thắng trong việc đạt được cam kết, nhưng thất bại trong nội dung cam kết. Và theo ông Walter, đây không phải là cách đàm phán của Hoa Kỳ.

    Về vấn đề này, ông Dean Cheng, chuyên gia về quan hệ của Hoa Kỳ và các nước Châu Á tại tổ chức The Heritage Foundation cho biết:

    “Trung Quốc cảm thấy rằng họ làm chủ gần trọn Biển Đông. Đó là điểm bắt đầu của họ như là cách xác định ranh giới lãnh hải. Cách thức đàm phán của Trung Quốc là tuyên bố chủ quyền toàn bộ, sau đó miễn cưỡng bỏ chỗ này một chút, chỗ kia một ít để tạo ảnh hưởng đến từng nước có tranh chấp. Tôi cho rằng cách thức đàm phán này không giống với các nước có tranh chấp khác. Nói cách khác, các nước này có mục đích và tuyên bố chủ quyền có giới hạn hơn.”

    Vai trò của VN

     

     

    Hoa Kỳ luôn nói rằng mình có lợi ích cốt lõi ở Biển Đông và dĩ nhiên vấn đề Biển Đông được giải quyết như thế nào sẽ ảnh hưởng rất lớn đến Hoa Kỳ. Để tìm hiểu thêm, chúng tôi đã liên lạc với ông Dean Cheng để có những câu hỏi cần thiết về vấn đề này. Khi được hỏi “Nếu Washington không thể dựa vào ASEAN trong vấn đề Biển Đông, vậy Việt Nam có đóng một vai trò nào trong phương hướng Hoa Kỳ giải quyết vấn đề này hay không”, ông Dean Cheng cho biết:

    Dean Cheng: Việt Nam có thể tạo ảnh hưởng để khối ASEAN, gắn kết đến Hoa Kỳ, chẳng hạn như tự do thủy lộ. Việc này có thể củng cố thêm lòng tin của Hoa Kỳ vào ASEAN. Thêm vào đó, Việt Nam có thể phát triển quan hệ với Hoa Kỳ trong vấn đề an ninh, quân sự và cả ngoại giao nữa.

    Quỳnh Chi: Vâng, vậy sau 15 năm bình thường hóa quan hệ, cả Việt Nam và Hoa Kỳ đều gọi nhau là bạn. Tuy nhiên, tình bạn của hai nước thắm thiết đến cỡ nào và ông nghĩ rằng trong tương lai mối quan hệ này sẽ phát triển đến đâu?

    Tuy nhiên, rất có khả năng hai nước có một mối quan hệ quân sự sâu sắc hơn mà không cần thiết phải trở thành đồng minh mới thực hiện được.

    Ông Dean Cheng

    Dean Cheng: Vẫn còn nhiều hạn chế trong quan hệ Việt – Mỹ, đặc biệt trong vấn đề an ninh. Câu hỏi của cô rất thú vị nhưng tôi không chắc là có câu trả lời chắc chắn cho vấn đề này. Tuy nhiên, tôi cho rằng Việt Nam có thể sẽ mở rộng cảng để mời tàu quân sự Hoa Kỳ, hay hàng không mẫu hạm đến một cách thường xuyên. Mặt khác, Việt Nam cũng có thể tăng cường những cuộc trao đổi quân sự với các nước đồng minh và đối tác của Hoa Kỳ như Phillipines, Úc hay Hàn Quốc chẳng hạn. Đây cũng là cách tạo tiền đề cho mối quan hệ Việt – Mỹ.

    Quỳnh Chi: Xin lỗi, tôi cắt lời ông một chút, ông nói như vậy có phải vì những gút mắc chính trị trong quá khứ của hai nước?

    Dean Cheng: Ngoài vấn đề chính trị giữa hai nước trong lịch sử, còn có những vấn đề khác. Ví dụ, Việt Nam vẫn là quốc gia một đảng và đây là một quan ngại cho một số dân biểu trong quốc hội Hoa Kỳ.

    Quỳnh Chi: Vâng, trở lại quan hệ Việt Nam và Hoa Kỳ, giới quan sát cho rằng sẽ rất khó, ít ra là trong một thời gian ngắn, Hoa Kỳ và Việt Nam có thể trở thành đồng minh. Bởi vì việc này yêu cầu có sự tin tưởng tuyệt đối và hợp tác trong an ninh và quân sự…Không biết ý kiến của ông như thế nào?

    Dean Cheng: Đồng minh có một ý nghĩa rất cụ thể. Nó bao gồm những hiệp ước chính thức, những hiệp ước quốc phòng chính thức. Tại thời điểm này, rất khó nếu không muốn nói là không thể để hai nước có một mối quan hệ đồng minh chính thức. Tuy nhiên, rất có khả năng hai nước có một mối quan hệ quân sự sâu sắc hơn mà không cần thiết phải trở thành đồng minh mới thực hiện được. Chẳng hạn, Hoa Kỳ có quan hệ quân sự thân thiết với Singapore nhưng đó không phải là mối quan hệ như Hoa Kỳ có với Nhật Bản hay Nam Hàn.

     

    Các Tư lệnh Hải quân Malaysia, Việt Nam, Singapore đàm đạo - AFP photo
    Các Tư lệnh Hải quân Malaysia, Việt Nam, Singapore đàm đạo – AFP photo

    Quỳnh Chi: Câu hỏi cuối thưa ông, một khi Hoa Kỳ không thể trông chờ vào ASEAN trong vấn đề biển Đông; vậy Việt Nam có nên trông chờ gì không?

     

    Dean Cheng: A`…tôi nghĩ là Việt Nam phải “làm việc trong ASEAN và với ASEAN” để giải quyết vấn đề Biển Đông. Thực ra Việt Nam có thể áp lực nội bộ ASEAN lên tiếng mạnh mẽ hơn, phối hợp chặt chẽ hơn về vấn đề Biển Đông. Tuy nhiên, nếu nội bộ ASEAN vẫn còn những bất đồng, Việt Nam nên phụ thuộc vào chính họ và gia tăng quan hệ với các nước khác để cân bằng tình huống trong vấn đề Biển Đông.

    Với những động thái có thể gọi là yếu ớt cùng với thành quả quá ít mà khối ASEAN đạt được trong gần 10 năm sau khi bắt đầu đàm phán với Trung Quốc, đã có ý kiến cho rằng Hoa Kỳ không thể trông chờ vào ASEAN để giải quyết vấn đề Biển Đông. Có lẽ sự bất mãn này cũng làm những nước có tranh chấp phải suy nghĩ.

    Thông thường, dựa vào chính nội lực quốc gia vẫn là việc đầu tiên khi giải quyết vấn đề đất nước, như ông Dean Cheng đã nói. Hôm 10 tháng 8, trao đổi với cử tri Hà Nội về vấn đề Biển Đông, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng cho biết “Việt Nam đang tăng cường lực lượng tự vệ”.

    Có lẽ đây là một khởi đầu tốt, nhưng khởi đầu với tuyên bố và có tính khẩu hiệu trong khi nội lực thật sự không được khai thác và phát huy thì Việt Nam vẫn chưa thể tự mình bảo vệ mình một cách hiệu quả trước một sức mạnh hơn mình hàng trăm lần.

    Theo dòng thời sự:

     

  • Tham luận

    Lê Trung Thành : Còn Cờ Đỏ Sao Vàng Thì Không Bao Giờ Có Độc Lập Tự Do Hạnh Phúc

    Còn Cờ Đỏ Sao Vàng Thì Không Bao Giờ Có Độc Lập Tự Do Hạnh Phúc

    SV Lê Trung Thành

    Bài nói chuyện

    Sinh viên Lê Trung Thành, ngoài 20 tuổi, người đã bay qua Thái Lan trước đây để chống ngọn đuốc Olympic 2Photobucket008. Mặc dù sinh ra và lớn lên trong nước, bị nhồi sọ nhưng tuổi trẻ ngày nay với internet đã không còn "ngu" như tôi ngày trước. Đọc bài này mới thấy rằng các em bây giờ đã hiểu hết.

    Đài Loan 13/03/2009

    – Viết cho “bác” ở dưới địa ngục để báo cho “bác” biết dù tôi đã bị Đảng của “bác” nhồi sọ suốt 2 chục năm nhưng đầu óc vẫn còn tỉnh táo.
    – Viết cho dì của tôi đang vất vã kiếm kế sinh nhai nuôi đàn con nhỏ.
    – Viết cho dượng của tôi đang ngày đêm canh giữ trên hòn đảo Trường Sa “còn sót lại”.
    – Viết cho anh chị tôi đang hăng hái dấn thân “vì sự nghiệp dân giàu nước mạnh xã hội công bằng văn minh”.
    – Viết cho bạn tôi tốt nghiệp đại học loại khá, thất nghiệp, đóng tiền nhà thì hết tiền ăn, muốn ăn thì hết đóng tiền nhà.
    – Cũng viết cho bạn tôi, con một gia đình quan chức giàu có nhưng đang sống mất phương hướng trong xã hội lộn ngược này.
    – Và viết cho thằng em tội nghiệp của tôi đang ngồi trên ghế nhà trường, miệng đọc ê a, mặt mày ngơ ngác.

    Ngày mùng 02/09/1945, Hồ Chí Minh tuyên bố “độc lập” để rồi hàng năm vào cái ngày tối tăm đó đất nước mình dẫu đói nghèo vẫn phải oằn mình tổ chức “quốc khánh” rình rang tốn không biết bao nhiêu là tiền của, phô diễn cờ hoa rợp trời, quan chức đua nhau đọc diễn văn với các bữa tiệc xa xỉ vô tội vạ, cùng lúc đó thì hàng triệu người khác đang còng lưng trên những cánh đồng cằn cỗi với cái bụng đói meo, tất cả chỉ với một mục đích ca ngợi sự vẽ vang của Đảng đã lãnh đạo nhân dân đánh đuổi thực dân Pháp dành “độc lập” cho dân tộc.

    Nhưng giờ đây nhân loại đã bước vào kỹ nguyên tin học với tốc độ truyền tải thông tin vô cùng khủng khiếp mà chắc chắn ông Hồ không thể nào tưởng tượng nỗi, người Việt Nam giờ có thể dễ dàng tiếp cận hơn với nhiều “thông tin ngoài luồng”, nhiều anh chị mặt đỏ bừng bừng khi vô tình đi lạc vào một “website phản động” nào đó, một người bạn cũ còn kín đáo gởi tin nhắn vào blog của tôi với nội dung như sau: “lâu rồi mới vô đọc blog của mi, phản động quá, tau không có đủ can đảm để đọc hết bài nữa, lo học đi mi, việc nước đã có nhà nước lo ”. Và nhiều lần tôi đã cố giải thích cho bạn tôi hiểu rằng thực ra sau mùng 02/09/1945 nước ta không hề có độc lập, đó chỉ đơn giản là việc thay thế Chủ Nghĩa Thực Dân bằng Chủ Nghĩa Cộng Sản, mà chính ông Hồ là tay sai và lá cờ đỏ sao vàng mà ông ta mang về ngang nhiên bay trên bầu trời nước ta từ đó. Bài học năm xưa, lợi dụng người dân ít học ông Hồ đã khéo léo che đậy Chủ nghĩa Cộng Sản bằng cách kích động lòng yêu nước, bao nhiêu triệu người đã bỏ lại tuổi thanh xuân trong cuộc chiến “chống Mỹ cứu nước”, chữ “cứu nước” là chữ linh thiêng nhất của Dân Tộc chúng ta vì nó gắn liền với suốt chiều dài lịch sử của Dân Tộc. Vì hai chữ đó người Việt Nam sẵn sàng hy sinh tất cả.

    Nhưng than ôi, tất cả đã bị lừa và ngày hôm nay vẫn tiếp tục bị lừa. Dân tộc ta đâu thiếu người tài, Phan Bội Châu, Nguyễn Thái Học, Lý Đông A, Huỳnh Phú sổ … nhưng chỉ có Hồ Chí Minh là người gặp thời, thời của quỷ, chính xác là thời “quỷ đỏ” lộng hành, với tham vọng nhuộm đỏ cả địa cầu. Chúng ta hãy tưởng tượng xem nếu như ngày hôm nay khắp hoàn vũ này nước nào cũng bị áp bức bởi Chủ Nghĩa Cộng Sản thì sẽ ra sao ? Xin thưa tất cả hơn 6 tỷ người sẽ sống trong “ thế giới đại đồng”, lúc đó kinh đô ánh sáng Paris sẽ tăm tối như Bắc Hàn, và người dân Newyork cũng sẽ chèo thuyền đánh cá trên phố giống như Hà Nội của chúng ta. Tất cả sẽ bình đẳng, ai sinh ra cũng đói khổ như nhau, ai cũng mất nhân quyền như nhau, cũng được Đảng nhồi sọ như nhau, sẽ không còn ai ganh tỵ ai, tất cả sẽ không còn đấu tranh, cứ như thế sinh ra làm nô lệ, không chết vì già thì cũng chết vì kiệt sức. Đó là viễn cảnh một trái đất màu hồng của máu và nước mắt.

    Chính vì hiểu được hiểm hoạ đó nên nước Mỹ với vai trò là một siêu cường có trách nhiệm phải đi tiên phong lãnh đạo các nước khác trong việc chặn đứng sự bành trướng của khối Cộng Sản trên thế giới, thế nên việc “ngụy Hồ” kêu gọi “chống Mỹ cứu nước” trên thực chất phải được hiểu đúng đắn là chống Mỹ cứu Chủ Nghĩa Cộng Sản. Chỉ có người dân quê thật thà chất phác là mù quáng tin theo những khẩu hiệu ngụy tạo đó, và có lẽ nếu tôi sinh ra dưới xã hội miền Bắc vào thời đó tôi cũng sẽ yêu nước mù quáng, sẽ cầm súng đi đánh Mỹ, sẽ nuôi giấu cán bộ, sẽ liều chết trong các cuộc xung phong, và nếu không bỏ mạng thì sẽ may mắn được sống cuộc sống ‘hoà bình” với tay cụt, chân cụt, đang ngồi chờ khách bơm xe ở dọc đường, hay về nhà đi cày với mảnh ruộng bé hơn hồi còn chiến tranh, vì hoà bình rồi thì người ta biến nó thành sân gôn hay các khu rì sọt để “sánh vai với các cường quốc năm châu”, rồi đời sống quá khổ, quá oan ức tôi cũng sẽ đi khiếu kiện như bao người khác, tôi sẽ kêu “thủ tướng ơi cứu dân”, “quốc hội ơi cứu dân”, đến một lúc kêu hoài chúng nó không nghe thì có khi với bản tính ngông cuồng cộng với việc hết đường sống, tôi lại đánh bom cảm tử cũng nên … Chính vì thế nên tôi muốn nói rằng nếu không có lá cờ đỏ của ông Hồ mang về thì sẽ không có quá nhiều bi kịch trên đất nước như ngày hôm nay. Tất nhiên lịch sử không bao giờ nói nếu.

    Và ngày 30/04/1975, là ngày mà triệu người vui, triệu người buồn, nhưng triệu người vui kia thì cũng mếu máo không lâu sau đó. Từ đây nửa nước Việt Nam tự do đã chìm vào biết bao nhiêu khổ đau mà kể cho hết. Vết thương lịch sử này ngoài trách nhiệm của người Việt, cũng không thể không nhắc đến việc Mỹ đã phản bội đồng minh, vì cục diện chính trị lúc đó và vì chiến lược lâu dài, Mỹ đã để cho màu đỏ của máu loang lổ trên khắp miền Nam sau khi ký kết hiệp định Paris 1973, hiển nhiên Mỹ không thể thả nổi cho khối Cộng Sản bành trướng sang đến Mỹ nhưng ở một chừng mực nào đó vì lợi ích của nước Mỹ được cân nhắc kỹ càng thì Mỹ sẳn sàng thoả hiệp với Cộng Sản cho dù thoả hiệp đó sẽ giết chết hàng triệu người hay cả một dân tộc khác. Gần đây nhất trong bộ phim “Việt Nam Việt Nam“ của đạo diễn John Ford được công bố sau 37 năm bị giấu kín, thượng nghị sĩ Ronald Reagan đã thừa nhận ".. chấm dứt chiến tranh không đơn thuần là chỉ rút quân về nhà là xong. Vì lẽ, cái giá phải trả cho loại hoà bình đ&o
    acute; là ngàn năm tăm tối cho các thệ hệ sinh tại Viêt Nam về sau". Mỹ đã thua Cộng Sản trên chiến trường Việt Nam, nhưng trên chiến trường thế giới thì Mỹ đang thắng sau khi một loạt khối Cộng Sản Đông Âu và Nga Xô xụp đổ, đến trong tương lai gần thì Trung Cộng, Bắc Hàn và Việt Cộng cũng sẽ chịu chung số phận với ông tổ của chúng mà thôi.

    Biết chắc chắn là Cộng Sản phải đến hồi suy vong nhưng cái hậu quả của nó để lại sau 33 năm hà hiếp dân tộc mới ghê gớm thay, biết bao nhiêu năm nữa mới phục hồi được môi trường sống đang bị phá hoại, bao nhiêu năm nữa mới cải thiện được nòi giống đang ngày một bệnh hoạn, và bao nhiêu năm nữa mới làm sáng lại đạo đức nhân phẩm của người Việt khi ngày một băng hoại. Tôi cảm thấy tiếc nuối vô cùng, tiếc cho cơ hội được sống tự do hạnh phúc của người Việt đã vỡ tan tành, tiếc cho những ai chưa từng và đã từng được “ghé bến sài gòn, là nơi du khách dập dồn từ 5 châu tới viếng thăm thủ đô, dòng sông chen chúc tàu đò, ngựa xe buôn bán hẹn hò, người dân no ấm sống đời tự do”, tự do thì đã mất,tiếc nuối cũng đã muộn, mong sao con cháu thế hệ sau sẽ khắc cốt ghi tâm bài học của một nước nhược tiểu phải gánh chịu.

    Sau mùng 02/09/1945, ông Hồ đã đưa đất nước vào con đường khánh kiệt với những cuộc chết chóc triền miên chỉ vì ích kỷ thủ đắc riêng cho cái bản ngã đầy ắp tính man rợ của Quốc Tế Cộng Sản. Ở thời chiến thì người dân chết theo kiểu của thời chiến, nay thời bình thì chết theo kiểu thời bình, ví như giết “cường hào ác bá” trong cuộc cải cách ruộng đất, thảm sát hàng ngàn người dân vô tội ở Huế trong trận Mậu Thân, hay trên đại lộ kinh hoàng Việt Cộng đã hả hê mở một bửa tiệc thịt người khi nả đại pháo 130 ly và hoả tiễn 122 ly vào người dân Quảng Trị đang rồng rắn kéo nhau dài hàng chục kilômét vào Huế để lánh nạn Cộng Sản, còn giờ đây thì người dân mất đất mất ruộng đói mà chết, ra đường sập hố ga hay xe đụng mà chết, ăn uống ngộ độc mà chết, đi làm giấy tờ bị hành lên hành xuống tức mà chết … & … rất nhiều kiểu chết và cứ ở đâu có Cộng Sản thì ở đó có phi lý, có bất công, có mùi tanh của máu, có xú uế của xác người nên người ta còn gọi cờ đỏ sao vàng với một cái tên dễ nhớ khác : Cờ Máu.

    Ngày hôm nay vui mừng lắm khi ngày càng có nhiều người trẻ yêu nước chống Cộng quyết liệt, nhiều người không chống Cộng nhưng cũng yêu nước quyết liệt, nhưng tất cả nên là những người chịu khó tìm hiểu lịch sử trước đã.

    Hãy nhìn xem cả thế giới đều rùng mình khi nghe nhắc đến Chủ Nghĩa Cộng Sản, và Quốc Tế Cộng Sản bị toà án thế giới lên án với tội ác chống lại hoà bình thế giới, tội ác chiến tranh, và tội ác chống lại con người. Những năm gần đây người Tàu Tự Do đã ra mắt tác phẩm Cửu Bình (9 bài bình luận về Đảng Cộng sản Tàu), tác phẩm đã phơi bày những tội ác những cuộc giết người man rợ mà Trung Cộng đã gây ra và vạch trần bản chất lưu manh tà giáo, phản con người, phản vũ trụ của Chủ Nghĩa Cộng Sản, người đọc sẽ không khỏi kinh hoàng và thương cảm cho dân tộc Trung Hoa luôn vổ ngực xưng hùng xưng bá giờ đây thê thảm đến như vậy, thật là khủng khiếp khi nhận được con số thống kê của thời báo Đại Kỷ Nguyên từ ngày 03/12/2004 cho tới nay 13/03/2009 chỉ vỏn vẹn 4 năm 3 tháng mà đã đã có 51.193.607 người ký tên ủng hộ việc dẹp bỏ Đảng Cộng Sản, tính ra trung bình một ngày gần 10 ngàn người thức tỉnh, điều đó như như báo trước cái chết của Chủ Nghĩa Cộng Sản trên đất nước Tàu chỉ còn là vấn đề thời gian. Còn ở Nga từ sau năm 1991 đã thay lá cờ búa liềm bằng lá cờ ba sọc trắng xanh đỏ có từ thời Nga Hoàng, những tượng đài Lênin đã bị tháo bỏ, viện Lênin nay đã đổi tên là Medical Biological Technologies, và nước Nga đã có kế hoạch sẽ mai táng cái xác ướp Lênin vào năm 2010, trong khi ở Việt nam thì trẻ con cứ thắc mắc rằng “ ông Lênin ở nước Nga, sao ông lại đứng vườn hoa nước mình …”, tất cả các lĩnh vực nghệ thuật, hội hoạ, văn thơ, phim ảnh, âm nhạc … “trăm hoa đua nở” thoả sức vạch trần tội ác Cộng Sản cho người dân được biết, người ta cũng đã đưa tội ác của chủ nghĩa cộng sản vào chương trình giáo dục học đường và rất nhiều lần trong những tiết học các em bé đã phản đối kịch liệt vì cho rằng làm sao mà con người có thể đối xử với nhau còn tệ hơn cầm thú như thế được ?! Thầy giáo chỉ biết nhăn mặt mỉm cười, đã qua rồi các em yêu mến ! qua rồi “thời đại của những lời nói dối tuyệt vời”.

    Photobucket

    Tôi nêu lên những điều này vì muốn nói rằng xã hội Việt Nam rồi cũng sẽ phải trãi qua những giai đoạn y như thế, lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ chắc chắn sẽ lại tung bay ngạo nghễ trên quê hương Việt Nam, quốc ca sẽ không còn “xây xác qu&acir
    c;n thù”, lăng Hồ Chí Minh sẽ bị phá bỏ, tiền Việt Nam sẽ phải có hình hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo … tất cả 64 tỉnh thành mỗi tỉnh sẽ có một viện bảo tàng tội ác Cộng Sản, cả Dân Tộc sẽ bừng tỉnh, cả Dân tộc sẽ xót xa đau đớn chen lẫn hạnh phúc trước quá nhiều sự thật sẽ được phơi bày, tất cả sẽ phải tiếp tục đấu tranh lâu dài và gam go trước là để lập lại trật tự xã hội, sau là để hoàn thiện dần dần nền dân chủ mà những nước láng giềng như Thái Lan, Singapore, Đài Loan, Nam Hàn, Nhật Bản đã bỏ quá xa rồi. Càng nhìn lại lịch sử rồi đối chứng với hiện tại thì tôi lại càng căm phẫn tột cùng, khi gần 40 ngàn người Việt Nam đã hi sinh dưới lá cờ đỏ sao vàng trong cuộc chiến biên giới với Trung Cộng vào những năm 1979, để rồi hôm nay vì quy phục quan thầy Bắc Kinh mà những hy sinh mất mát đau thương đó trở thành đề tài cấm kỵ trên tất cả các phương tiện truyền thông trong nước, học sinh thì không được học, sử gia thì không được đào sâu phân tích, nhà văn nhà thơ thì không được tự do xuất bản, ngay đến cả những người đồng đội anh dũng năm xưa, giờ đây cũng chỉ dám “đặt vòng hoa trong tâm tưởng”. Trong khi đó lại có đến 40 nghĩa trang “Đời đời nhớ ơn các liệt sỹ TC” trên đất nước Việt Nam. Tác phẩm Ma Chiến Hữu của nhà văn Tàu Mạc Ngôn viết về cuộc chiến biên giới 1979, được phát hành trong nước với lời giới thiệu của nhà xuất bản như ca tụng về chủ nghĩa anh hùng của những người lính TC đã xâm lược giết hại người dân Việt Nam. Và gần đây với “Vụ án Bôxít ” Trung Cộng đã âm thầm hủy diệt môi trường sống của người Việt đồng thời ngang nhiên đưa hàng ngàn công nhân chiếm đóng Tây Nguyên và những công nhân đó sẳn sàng cấm súng bất kỳ lúc nào, và tôi dám chắc rằng một ngày rất gần đây thôi chúng ta sẽ được nghe phát ngôn bộ ngoại giao Việt Cộng Lê Dũng hùng hồn lên tiếng “ Việt Nam có đầy đủ cơ sở pháp lý và bằng chứng lịch sử về chủ quyền của mình đối với "Tây Nguyên”, rồi cũng giống như Hoàng Sa Trường Sa, Vịnh Bắc Bộ, Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc mà thôi, việc của báo chí thì cứ lu loa khẳng định chủ quyền, còn việc mất đất mất biển là chuyện quốc gia đại sự nên chỉ một mình Đảng biết Đảng giải quyết.

    Nói như thế để thấy rõ bản chất vong nô của Việt Cộng và bản tính bá quyền lưu manh của Trung Cộng, dù chúng nó thân thiết với nhau hay chúng nó quay sang đánh nhau thì chỉ có nước mình nhiễm độc, nước mình mất, dân mình khổ, dân mình chết thôi, chứ nhà nó vẫn to, xe nó vẫn sang, trương mục ngân hàng vẫn kếch xù từ sức lao động của nhân dân, và dù bè lũ chính trị bộ có chạy theo Tàu hay theo Mỹ đi nữa nhưng chắc chắn rằng không có tên nào theo Dân Tộc mình, đối với chúng là nước Tàu hay nước Việt Nam có khác gì nhau, Tố Hữu đã báo trước rồi mà : “bên kia biên giới là nhà, bên đây biên giới cũng là quê hương”.

    Tôi biết nói những điều này với những người đã bị Đảng nhồi sọ quá lâu sẽ bị họ đấu tố là việt gian phản động, họ sẽ dùng những lý lẽ như nhờ ơn “bác” ơn Đảng mà mới có ngày hôm nay độc lập tự do hạnh phúc, nhưng việc tôi sinh ra và lớn lên dưới lá cờ đỏ sao vàng không có nghĩa là nhờ lá cờ đó mà tôi được sống được học tập … mà đúng ra vì “nó” mà tôi phải mất đi rất nhiều thứ vốn dĩ là quyền cơ bản của một con người. Nói dễ hiểu cũng giống như việc người ta nuôi nhốt những con chim từ lúc nó lọt lòng, khi lớn lên nó sẽ quanh quẩn với cái lồng, sống với “tư tưởng ăn ỉa có người dọn” trong khuôn khổ của cái lồng, được quyền tự do hót nhưng thường thì khi từ nhỏ người ta sẽ dạy cho nó hót những câu “đúng đắn và lặp đi lặp lại ” đại loại như “líu lo líu lo, Vì Tổ Quốc Xã Hội Chủ Nghĩa – vì lý tưởng của bác Hồ vĩ đại – sẵn sàng” hay “ huýt, huýt, vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh xã hội công bằng văn minh” … những chú chim hót hay này sẽ được người ta cho hưởng những đặc quyền đặc lợi, thức ăn ngon, chổ ở đẹp … Còn tất nhiên biện pháp tốt nhất dành cho những con chim suốt ngày gào thét “két két, tự do, dân chủ, nhân quyền ” điếc tai thì sẽ bị đưa vào những “chuồng cải tạo ” với những tội danh rất lạ tai như “Phản động” “thế lực thù địch” “chống phá nhà nước XHCN” “âm mưu diễn biến hoà bình” … và cải tạo đến chừng nào chịu hót đúng bài thì thôi, còn không thể cải tạo thì tìm mọi cách loại bỏ khỏi đời sống của loài chim. Cũng vì hoàn cảnh sống trong lồng tù túng cứt cơm lẫn lộn như thế, nên khi nghe thấy những chú chim khác hót ca kể về đời sống văn minh của loài chim tự do, nhiều chú chim trong lồng rất hoang mang không biết có thật mình đã bị đánh lừa suốt quãng đời qua không ? dù sao may mắn thay cho nòi giống của loài chim vẫn còn nhiều những con chim đại bàng k
    hao khát tự do, phá cũi xé lồng oai hùng tung cánh tìm về với bầu trời xanh lơ. Này bạn tôi ơi ! đất nước mình có độc lập không khi đất nước bị lèo lái bởi những thái thú của Tàu Cộng, tự do là gì khi đến lòng yêu nước cũng bị tước đoạt, và hạnh phúc ở đâu khi hàng chục triệu người trên đất nước mình vật lộn kiếm ngày 2 bữa ăn không nỗi.

    Khi nhìn thấy các mẹ các chị cầm cờ đỏ ảnh “bác” đi khiếu kiện, thấy sinh viên học sinh yêu nước mang cờ đỏ đi biểu tình chống Tàu Cộng, thấy các anh lính gìn giữ tổ quốc nơi biên ải xa xôi hay trên các vùng hải đảo mang theo lá cờ đỏ sao vàng, tôi đã thốt lên, các anh ơi ! các chị ơi ! các mẹ ơi ! Còn cờ đỏ sao vàng thì không bao giờ có độc lập tự do hạnh phúc.

    Lê Trung Thành.
    Sinh viên du học ngành kiến trúc

    Để nghe audio về bài viết này, xin click vào link ở bên dưới:

    http://www.congdongnguoiviet.fr/FilesAudio/BaiViet&NoiRatHayCua1DuSinh.mp3

  • Tham luận

    ĐẶNG XUÂN KHÁNH : ĐÂU LÀ SỰ THẬT?

    Một Kho Tàng Hình Ảnh về Chính Quyền CSVN !!  

     
     

    http://video.search.yahoo.com/search/video?p=cong+an+danh+dan

    Cùng qúy vị, Đảng cộng sản Việt Nam hiện đang cai trị đất Việt.  Đó là một sự thật, một sự thật tàn hại sẽ chóng được thay đổi. Nhưng hầu hết người Việt sống dưới chế độ cộng sản không phải là đảng viên cộng sản hay "người cộng sản."  Đó là một sự thật, sự thật duy nhất sẽ làm biến đi "sự thật tàn hại" nói trên.  Mời qúy vị đọc bài dưới đây của thế hệ trẻ Việt Nam, trong đó có những sự thật lịch sử được nêu lên, gồm cả sự thật về địa-chính-trị trong bang giao quốc tế trong thời gian 1960’s mà đã đưa đến việc chính quyền Mỹ ra lệnh cho tướng lĩnh VNCH lật đổ chính phủ Ngô Đình Diệm và tàn sát gia đình ông Diệm để Mỹ có thể trực tiếp đưa quân vào miền Nam Việt Nam trong chương trình địa-chính-trị (geopolitics) Tân Biên Cương do JFK lập ra.  Thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay nhìn thấy và hiểu được sự thật lịch sử này, trái với sự chối bỏ sự thật lịch sử đó của một số những người "có ăn có học" và "to mồm chống cộng" thuộc phe "nắm độc quyền chống cộng cho Mỹ" ở miền Nam Việt Nam vào trước tháng 4/1975 và hiện còn lác đác ở vài nơi trên thế giới dù ngày nay chính sách về địa-chính-trị của Mỹ đã thay đổi.  Thế hệ trẻ cho thấy họ thực sự là những người chống cộng, và họ sẽ thành công trong công cuộc dẹp tan chế độ cộng sản ở Việt Nam. Cám ơn ông Phu Nguyen đã chuyển tiếp tài liệu này đến tôi.  Nguyên văn tài liệu đã được chuyển đến qúy vị, ngoại trừ việc highlighting và underlining trong đề tài (6) là do tôi làm ra. CN ——————————————–  

    Fw: [ChinhNghiaViet] Fw: ĐÂU LÀ SỰ THẬT? (BAI RAT HAY-MOI XEM)

       

    Việt Nam Cộng Hòa và Cộng sản VN:
    Ai Tự Do Nhân Đạo? Ai Khát Máu Bạo Tàn?

    ĐÂU LÀ SỰ THẬT?


    Là Sự Thật? Ðặng Xuân Khánh
    (Sinh viên trẻ đang sống trong thiên đàng XHCN VN)

    Giới trẻ chúng tôi, thành phần lớn lên sau chiến tranh không hiểu biết lý do tại sao đã có cuộc chiến Ðông Dương lần thứ 2 (1954-1975), mà báo chí ngoại quốc thường gọi là chiến tranh Việt Nam (Vietnam War).
    Chúng tôi đã được học tập dưới hệ thống nhà trường xã hội chủ nghĩa (XHCN) về lý do tại sao có cuộc chiến tranh Việt Nam qua những cụm từ như “chế độ khát máu Mỹ-Diệm”, ”miền Nam bị Mỹ, nguỵ kìm kẹp”, “đánh cho Mỹ cút đánh cho Ngụy nhào”, “ách thống trị thực dân kiểu mới của Mỹ”, “giải phóng miền Nam” v.v…
    Nhưng ngày nay, với sự phổ biến của công nghệ thông tin, chúng tôi đã biết nhiều hơn trước. Về lý do tại sao đã có và do ai gây ra cuộc chiến Việt Nam 1954-1975, hoàn toàn không phải như chúng tôi đã được tuyên truyền trong nhà trường.
    Tuy nhiên, chúng tôi cũng còn vài thắc mắc rất đơn giản. Kính mong các bác, các chú, là những người đã và đang phục vụ cho đảng và nhà nước Việt Nam và những người vẫn khư khư cho rằng chiến tranh Việt Nam là cần thiết để “giải phóng miền Nam” thoát khỏi sự “kìm kẹp của Mỹ, Ngụy” v.v giải thích giùm:

    1. Sau năm 1954, sau chiến thắng Ðiện Biên Phủ, Hiệp định Geneve đã được ký kết ngày 27/10/1954 chấm dứt chiến tranh Ðông Dương lần thứ nhất. Trong thời gian chủ tịch Hồ Chí Minh (HCM) lãnh đạo chính quyền miền Bắc, tại sao 1 triệu người miền Bắc đã phải lên tàu đua nhau bỏ chạy vào miền Nam để cho “Mỹ – Diệm kìm kẹp” mà không ở lại cùng nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà và chủ tịch HCM? Số 1 triệu người này có thể còn nhiều lần hơn nếu nhà nước không dùng bạo lực ngăn chặn, không cho họ ra đi!


    Tại sao ngoại trừ một số các cán bộ đảng viên cộng sản (CS) tập kết ra Bắc, người dân miền Nam lại không đua nhau chạy ra Bắc theo chế độ CS của chủ tịch HCM, mà tuyệt đại đa số cứ nhất quyết ở lại cho “Mỹ – Diệm kìm kẹp”? Theo hiệp định Geneve thì lúc đó mọi người được hoàn toàn tự do lựa chọn đi ra miền Bắc hay ở lại miền Nam cơ mà ??
    2. Tại sao hồi còn chiến tranh Việt Nam (trước 30/4/1975), mỗi khi có giao tranh giữa quân đội miền Nam (VNCH) và bộ đội “giải phóng” thì dân chúng đều chạy về phía có lính miền Nam trú đóng, chứ không chạy về phía bộ đội “giải phóng”? Nếu dân miền Nam bị “Mỹ, Ngụy kìm kẹp”, cần phải được “giải phóng”, thì lẽ ra họ phải hồ hởi mà chạy về phía các “đồng chí bộ đội”, tay bắt mặt mừng và cám ơn “được giải phóng”, chứ sao lại bồng bế nhau mà chạy trối chết để xa lánh các “đồng chí” ấy? Ðua nhau chạy vế phía có lính miền Nam để tiếp tục bị “kìm kẹp”, không lẽ họ ngu đần đến nỗi chỉ thích bị “Mỹ, Ngụy kìm kẹp” chứ không muốn được “giải phóng” à?
     
    3. Năm 1975, sau khi chiến tranh chấm dứt, “bộ đội giải phóng” chiếm toàn bộ miền Nam, đất nước thống nhất, Mỹ đã cút, Ngụy đã nhào. Tại sao dân miền Nam lại lũ lượt trốn chạy ra đi, bất chấp nguy hiểm, bão tố, cá mập, hải tặc mà vượt Biển Ðông; bất chấp các bãi mìn, hay bị Khơ-me Ðỏ chặt đầu; để bằng đường bộ băng qua Campuchia sang Thái Lan?

    Bia Đài tưởng niệm những đồng bào chết trên đường vượt biển bị Cộng sản Việt Nam cho người đập phá.
    Giống như các Đài tưởng niệm đồng bào ở Huế bị Việt cộng thảm sát Tết Mậu Thân 1968

     

    Đài tưởng niệm,Bia khắc tên những nạn nhân bị Việt cộng thảm sát tại KHE ĐÁ MÀI

    Đã bị CS đập phá cũng như tất cả những nghĩa trang chôn tập thể ở Huế ngay từ những ngày đầu 30 tháng 4 1975.
    Việt Nam Cộng Hòa – Cộng sản. Ai “Tự-Do Nhân-Đạo” ? Ai “Khát máu, Bạo Tàn” .?.?.. ĐÂU LÀ SỰ THẬT ?


    [Không có lý do gì !! Cũng là người Việt mà thù ,hận nhau … ] NTD
    Chúng tôi đã được học tập là “Mỹ- Diệm đã ban hành đạo luật 10/59 tố Cộng, diệt Cộng, lê máy chém đi khắp miền Nam”, nào là “bè lũ tay sai quân phiệt Nguyễn Văn Thiệu”, nào là “ghi khắc tội ác dã man của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai”… v.v…. Khi học xong, đọc hay nghe những dòng chữ như thế, thì chúng tôi nghĩ, chắc hẳn chế độ ở miền Nam dù với Diệm hay Thiệu thì cũng tàn ác kinh khủng lắm, thế nhưng tại sao lại suốt từ 1954 cho thời điểm ngày “Giải phóng” 30/4/1975 – 20 năm trời, không hề có hiện tượng người dân miền Nam từ bỏ, trốn khỏi miền Nam để xuống tầu đi vượt biên?


    Tù binh Bô đội CS biểu tình đòi ở lại miền Nam vì “được” trả tự do để trở về Bắc và xin được hồi chánh VNCH .
    Thay vì đến khi bộ đội ta từ miền Bắc vào Nam “giải phóng”, lẽ ra phải ở lại mừng vui, thì họ lại kéo nhau ra đi là thế nào? Thế thì có tréo cẳng ngỗng không? Tại sao hàng ngàn dân miền Bắc, nhất là từ Hải Phòng, đã có kinh nghiệm sống dưới sự lãnh đạo của Bác và Ðảng hơn 20 năm, cũng bỏ miền Bắc XHCN, vượt vịnh Bắc Bộ sang Hong Kong mong có cơ hội được sống với thế giới tư bản, chứ nhất định không ở lại miền Bắc XHCN “tươi đẹp”?


     
    4. Năm 2005, sau khi hoà bình đã về trên quê hương được 30 năm, đảng CS đã lãnh đạo đất nước được 30 năm, (chính quyền Sài Gòn chỉ lãnh đạo miền nam có 20 năm thôi, 1954-1975), thì tại sao dân chúng vẫn còn lũ lượt tìm cách rủ nhau ra đi. Trai thì đi lao động cho nước ngoài, rồi tìm cách trốn ở lại, gái thì cắn răng chịu đựng tủi nhục lấy toàn đàn ông (già cả, tàn tật, hết thời, …) của Ðài Loan, Singapore, Ðại Hàn, để có cơ hội thoát khỏi Việt Nam ???
    Phụ nữ VN cởi truồng để được tuyển chọn làm ” vợ “Đài loan, Hàn quốc

    Phụ nữ Việt Nam xếp hàng trước Lãnh sự Hàn Quốc…

    Tại sao du học sinh, thành phần gọi là tương lai của đất nước vẫn luôn tìm mọi cách (ngay cả khi chưa học xong) để ở lại nước ngoài, như lập hôn thú (giả có mà thật cũng có) với người Việt hải ngoại, chứ nhất định không chịu trở về Việt nam???

     


    Việc Thạc sĩ Tin học Nguyễn Tiến Trung Du học sinh đậu Ưu hạng, sau khi trở về quê hương.


    Được Nhà nước tuyển dụng gấp vào Quân đội Nhân dân Việt Nam là một “bước tiến mới” của chế độ
    5. Những năm gần nay, những người Việt trước nay đã trốn đi vượt biên, chạy theo để “bám gót đế quốc”, là “rác rưởi trôi dạt về bên kia bờ đại dương”, là “thành phần phản động”, là “những kẻ ăn bơ thừa, sữa cặn” như nhà nước Việt Nam vẫn từng đã nói. Nay được chào đón hoan nghênh trở về Việt Nam làm ăn sinh sống và được gọi là “Việt kiều yêu nước”, “khúc ruột ngàn dặm”? Có đúng họ “yêu nước” không? Tai sao họ không dám từ bỏ hoàn toàn quốc tịch Mỹ, Pháp, Canada, Úc, xé bỏ hộ chiếu nước ngoài và xin nhập lại quốc tịch Việt Nam và vĩnh viễn làm công dân nước Cộng Hoà XHCN Việt Nam???

     

     Việt Nam Cộng Hòa – Cộng sản. Ai “Tự-Do Nhân-Đạo” ? Ai “Khát máu, Bạo Tàn” .?.?.. ĐÂU LÀ SỰ THẬT ?

    6. Trong bộ môn lịch sử chương trình lớp 12, chúng tôi được giảng dạy rằng, “Mặt trận Giải phóng Miền Nam” thành lập ngày 20/12/1960 với mục tiêu “đấu tranh chống quân xâm lược Mỹ và chính quyền tay sai, nhằm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước”. Theo như chúng tôi tìm hiểu, năm 1961 khi Ngô Ðình Diệm ký Hiệp ước quân sự với Mỹ, thì miền Nam lúc ấy chỉ có các cố vấn Mỹ và một ít quân mang tính yểm trợ (US Support Troopes) với nhiệm vụ chính là xây dựng phi trường, cầu cống, đường xá…


     
    Mỹ chỉ bắt đầu đưa lính vào miền Nam từ năm 1965, sau khi lật đổ và giết Ngô Ðình Diệm do cương quyết từ chối không cho Mỹ trực tiếp can thiệp quân sự. Quân Mỹ thực sự đổ quân vào miền Nam sau sự kiện vịnh Bắc Bộ năm 1964. Vậy thì vào thời điểm 20/12/1960, làm gì có bóng dáng lính Mỹ nào ở Miền Nam, làm gì đã có ai xâm lược mà chống?? Các bác, các chú chống ai, chống cái gì vào năm 1960 ???


    “KHÁT MÁU”
    Khủng bố đồng nghĩa với Việt cộng.
    Khủng bố đồng nghĩa với “hoạt động cách mạng”
    Khủng bố đồng nghĩa với Hồ Chí Minh


    “Sát cánh cùng nhân dân Việt Nam đánh đuổi đế quốc Mỹ tàn bạo,bất lương”


    HỒ đang học MAO sách lược sử dụng trẻ em làm vật TẾ THẦN = VÔ NHÂN

     

    CHÍNH SÁCH TỰ DO NHÂN ÁI CỦA VNCH VÀ TÍNH NHÂN ĐẠO

    TRONG LÒNG NGƯỜI LÍNH MIỀN NAM TỰ DO


    “CƯƠNG QUYẾT TẬN DIỆT TRUNG CỘNG KẺ THÙ TRUYỀN KIẾP CỦA DÂN TỘC”

    (Hình :Tù binh Cộng sản Bắc Việt (Các em xếp hàng mặc áo trắng)

    đang chuẩn bị được VNCH trao trả về miền Bắc)

    Tù binh CS biểu tình đòi ở lại miền Nam vì được thả tự do để trở về miền Bắc và xin được hồi chánh

    (Nếu trao trả cho cộng sản thì chúng tôi tự sát tập thể)
    Xem clip để thấy tình nhân ái của người lính VNCH
     Nhẩy Dù Của QLVNCH
     
     

     

    và cho dù đó là những ngày cuối cùng cuộc chiến
    Lính QLVNCH trong những ngày cuối – RVNAF soldiers during their last days

    =======================================================

    Trung Cộng "Chuyển Ngân"
     150 Triệu Đô cho Nguyễn Tấn Dũng
     
    Theo các nguồn tin đáng tin cậy trong nội bộ đảng cộng sản Việt nam
     thì từ tháng 10 năm 2008 phía Tàu cộng đã chuyển ngân cho gia đình thủ
     tướng Nguyễn Tấn Dũng số tiền hơn 150 triệu Mỹ Kim, thông qua hệ thống
     ngân hàng nhà nước Việt nam.
     
    Nguồn tin đã được khẳng định một cách độc lập từ các nhà ngoại giao
     đến từ nhiều quốc gia khác nhau tại đang tác nghiệp tại Hà nội. Người
     ta tin rằng số tiền khổng lồ này hiện đang được ký gởi ở đâu đó bên
     ngoài lãnh thổ của Việt nam
     
    Theo nguồn tin mà Đài phát thanh Chân Trời Mới thu thập được thì đây
     là số tiền mà phía đối tác Trung cộng
     phải chi trả "trọn gói" cho Thủ
     tướng Việt Cộng Nguyễn Tấn Dũng để được tên cộng nô này phê chuẩn và
     tiếp tục ủng hộ cho một tổng công ty Nhôm của Tàu cộng khai thác Bô
     Xít ở hai địa điểm là Đắc Nông và Tân Rai, tại Tây nguyên của Việt
     nam. Các dự án này vẫn đang được tiếp tục tiến hành bất chấp sự phản
     kháng quyết liệt của công chúng Việt nam, cũng như của các nhà môi
     trường học và các sỹ quan quân đội.
     
    Các thông tin chi tiết về những bất cập trong việc thực hiện các dự án
     này đã được rò rỉ đến tận các cộng đồng cư dân Việt nam trong nước và
     hải ngoại.
     
    Trong một nổ lực nhằm bưng bít sự rò rỉ và lan truyền các thông tin
     này, nhằm tránh sự phẩn nộ của đại chúng, Thủ tướng Việt
     Cộng Nguyễn
     Tấn Dũng đã ra lệnh "bắt giam khẩn cấp" nhiều người trong mấy ngày gần
     đây, và có khả năng là việc bắt giữ sẽ lại tái tục trong vài ngày tới.
     
    Nguyễn Phùng Phong biên dịch
     
    Vietnamese PM Nguyen Tan Dung
     received $150 million payoff from China
     
    According to high-level sources within the Vietnamese Communist Party,
     China has transferred over US$150 million to the family of prime
     minister Nguyen Tan Dung, through its state-controlled banking network
     since October 2008. The information has been seperately confirmed by
     several Hanoi-based foreign diplomats. The bulk of this money is
     believed to be held outside of Vietnam.
     
    Radio New Horizon has learned that this monetary payoff came in
     exchange for Nguyen Tan Dung’s approval and continued support for
     bauxite mining by the Aluminum Corporation of China at two locations,
     Dac Nong and
     Tan Rai, in Vietnam’s Central Highlands. These projects
     have continued despite strong protests from the Vietnamese public,
     environmentalists and military officers.
     
    The details surrounding the misconduct have already leaked to the
     local Vietnamese and expat American business communities. In an effort
     to halt the spread of this information and avoid public outrage,
     Nguyen Tan Dung ordered the “urgent arrest” of several people in
     recent days. It is possible that more arrests will occur in the coming
     days.
     
    Make your browsing faster, safer, and easier with the new Internet
     Explorer® 8. Optimized for Yahoo! Get it Now for Free!
     
    Offrez un compte Flickr Pro à vos amis et à votre famille. Allez-y!

     

  • Tham luận

    Lữ Giang : Chỉ Là Những Con Bài Thí

    Người Mỹ xữ dụng các “French trained sergeants in Generals’ uniforms” vì họ cần có người thi hành chính sách mà không cần người có đầu óc riêng. Chữ “seageant” nghĩa là “servant” trong Middle English. 

     

    Có vài sự kiện lịch sử còn chưa sáng tỏ:

    1. Vai trò của Tướng Nguyễn Văn Thiệu trong việc thuyết phục Tướng Nguyễn Khánh ra đi?  
    2. Sự thật về chi phiếu $1.000.000 Tướng Thiệu đã trao cho Tướng Khánh trước khi Tướng Khánh lên phi cơ lưu vong. 
    3. Chi phiếu nầy Tướng Khánh không lảnh được khi đến Tokyo vì chi phiếu không tiền bảo chứng.

     

     

    Chỉ là những con bài thí

    Lữ Giang

    Trong tháng 7, sự ra đi của hai cựu tướng lãnh VNCH đã được dư luận bàn tán khá nhiều, đó là Trung Tướng Đặng Văn Quang qua đời hôm 15.7.2011 tại Sacramento, California, hưởng thọ 82 tuổi, và Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ mệnh chung ngày 23.7.2011 tại Kuala Lumpur , Malaysia , hưởng thọ 81 tuổi.

    Hình như ít ai muốn bàn đến Tướng Quang, vì cựu viên chức CIA Frank Snepp đã viết quá nặng về ông rồi. Đa số tập trung vào Tướng Kỳ. Ngoài cá tính, cuộc sống, những việc làm của ông dưới thời VNCH, nhiều người phê phán rất nặng chủ trương “hoà giải hòa hợp dân tộc” của ông. Nhưng nhìn chung, đa số đều viết hay nói theo cảm tính, theo xu hướng chung của người Việt chống cộng ở hải ngoại…, chưa ai nói lên được vai trò thật sự của hai tướng này trong ván bài chiến tranh Việt Nam của Hoa Kỳ. Đây mới là vấn đề cần bàn để rút bài học lịch sử.

    CON ĐƯỜNG MỸ ĐI

    Chúng tôi xin nhắc lại, trước cuộc đảo chánh lật đổ ông Diệm năm 1963 hai ngày, Đại Sứ Cabot Lodge đã gởi về Washington một công điện trình rằng chiều 25.10.1963, ông Trần Trung Dung, cựu Phụ Tá Bộ Trưởng Quốc Phòng, đã nói với viên chức CIA rằng ông được biết các tướng lãnh dự định làm đảo chánh trong vòng 10 ngày. Theo ông biết các tướng lãnh không tiếp xúc với các nhà lãnh đạo dân sự. Ông ta bày tỏ một vài sự quan tâm về khả năng và ý định của các Tướng Lãnh. Ông ta coi đa số các Tướng Lãnh không gì khác lơn là các trung sĩ được Pháp huấn luyện trong quân phục Tướng Lãnh (He consider majority of Generals no more than French trained sergeants in Generals’ uniforms”)… Các Tướng Lãnh thiếu kinh nghiệm chính trị cần thiết để điều hành chính phủ. (FRUS, Volume IV, tr. 457 – 458. Document 229).

    Khi nói với CIA như vậy, có lẽ ông Trần Trung Dung tưởng rằng Mỹ không biết khả năng của các tướng mà họ đang dùng để làm đảo chánh. Nhưng ông đã lầm. Người Mỹ biết rất rõ chuyện đó, nên họ đã quyết định dùng các tướng này để làm công cụ thi hành chính sách của họ ở Việt Nam .

    Sau khi lật đổ ông Diệm, người Mỹ cho Tướng Dương Văn Minh và ông Nguyễn Ngọc Thơ (Phó Tổng Thống của ông Diệm) làm chính phủ trái độn và để cho tình hình trở nên tồi tệ đến mức không còn cứu vãn được, rồi viện vào lý do đó, Mỹ cho hai tay chân bộ hạ là Tướng Nguyễn Khánh và Tướng Trần Khiêm lật đổ chính phủ Dương Văn Minh, lên cầm quyền và mở đường cho cho Mỹ đổ quân vào miền Nam. Sử gia George McT. Kahim của Mỹ đã gọi cuộc “chỉnh lý” ngày 30.1.1964 của Tướng Nguyễn Khánh là “The Pentagon’s coup”!

    Theo tài liệu, Mỹ chỉ muốn Nguyễn Khánh làm quốc trưởng bù nhìn còn Trần Thiện Khiêm, một agent của Mỹ, làm thủ tướng và nắm thực quyền. Nhưng Tướng Khánh không muốn làm bù nhìn, bắt Tướng Khiêm phải đi ra ngoại quốc, và ông làm quốc trưởng kiêm luôn thủ tướng.

    Lúc đầu người Mỹ rất bực mình về chuyện này. Nhưng khi thấy Tướng Khánh tỏ ra muốn trao quyền hành cho người Mỹ, Đại Sứ Lodge đã báo cáo về Washington rằng Tướng Khánh đã nói với ông: “Chúng tôi người Việt Nam muốn người Mỹ chịu trách nhiệm với chúng tôi chứ không phải chỉ là những cố vấn”. (We Vietnamese want the Americans to be responsible with us and not merely be advisers).

    Nhưng khi đi nước cờ này, Mỹ đã gặp sự chống đối rất mạnh của Phật giáo vì hai lý do chính: (1) Phật giáo tưởng rằng Mỹ đã để cho “Cần Lao tái xuất giang hồ” vì Tướng Khánh và Tướng Khiêm vốn được coi là “con cưng của ông Diệm”. (2) Mỹ đã phá hỏng kế hoạch thành lập một chính phủ Phật giáo tại miền Nam của nhóm Thích Trí Quang. Thích Trí Quang đã nói với ông Lodge rằng “ông ta không coi Khánh như là một “Phật tử tốt” (good Buddist)!

    Những trò múa rối của Tướng Khánh đã làm cho tình hình rối tung. Tướng Khánh phải đi ra ngoại quốc và một chính phủ dân sự do Phan Huy Quát làm thủ tướng và Phan Khắc Sửu làm quốc trưởng được đưa ra làm trái độn trong khi chuẩn bị cho nhóm tay sai của Mỹ trở lại nắm chính quyền.

    Khi tình hình rối loạn đến một mức không còn cứu vãn được, ngày 11.6.1965 Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu và Thủ Tướng Phan Huy Quát ra tuyên cáo giao trả Quân Đội trách nhiệm và quyền lãnh đạo quốc gia.

    Lúc đó, có 4 “candidats” thuộc nhóm “Young Turks” có thể được chọn làm lãnh đạo quốc gia là Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ, Nguyễn Hữu Có và Chung Tấn Cang. Mỹ quyết định chọn Nguyễn Văn Thiệu thay Nguyễn Khánh và đưa Trần Thiện Khiêm về làm thủ tướng. Tuy nhiên, lúc đó nhóm Thích Trí Quang đang chủ trương tạo bạo loạn để cướp chính quyền nên Mỹ phải dùng Nguyễn Cao Kỳ dẹp loạn xong mới thực hiện được.

    Ngày 19.6.1965, Hiến Ước mới được ban hành. Tướng Nguyễn Văn Thiệu được bầu làm Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia (quốc trưởng) và Tướng Nguyễn Cao Kỳ làm Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương (thủ tướng).

    Tướng Đặng Văn Quang chỉ là một “agent” mới được CIA tuyển chọn sau này đưa vào làm phụ tá cho Tổng Thống Thiệu để theo dõi ông Thiệu.

    Nhưng đau hơn cả là Tướng Dương Văn Minh, đã bị cả Đại Sứ Mỹ lẫn Đại Sứ Pháp dụ ra làm Tổng Thống trong những giờ cuối cùng của miền Nam, được nói là để thương lượng với Bắc Việt và thành lập một chính phủ trung lập ở miền Nam, nhưng thật sự là để tuyên bố đầu hàng.

    CON CHỐT ĐẶNG VĂN QUANG

    Bài viết về Tướng Đặng Văn Quang rất ít, mặc dầu tài liệu nói về sự lộng quyền và tham những của Đặng Văn Quang khá nhiều. Trong cuốn “Decent Interval”, Frank Snepp, trưởng phân tích của CIA tại Sài Gòn trước 30.4.1975, đã phê phán Đặng Văn Quang rất nặng. Ông nói rất tiếc là Mỹ đã biến Đặng Văn Quang thành “người giàu có và có thế lực”“trở thành những biểu tượng về tham nhũng và thoái hóa theo lối Mỹ, điều đó sau cùng đã cung cấp cho Cộng Sản vũ khí tốt nhất để tuyên truyền”. Ông lên án Đặng Văn Quang là “kẻ phản bội”. Người Mỹ đã trả cho ông nhiều tiền để lấy tin tức từ dinh Độc Lập, nhưng nhận được rất ít tin từ Quang. Nhờ các máy nghe lén gắn trong dinh Độc Lập, Mỹ mới theo dõi được các hoạt động của ông Thiệu. Ngay cả khi Thiệu họp tại Cam Ranh ngày 14.3.1975 đưa ra quyết định rút khỏi Cao Nguyên, Quang cũng không báo cho Mỹ biết. Vì thế Quang bị sa thải ngay và số phận trở thành bi thảm.

    Trong cuốn “Việt Nam Nhân Chứng” Tướng Trần Văn Đôn nói tại miền Nam, Tướng Đặng Văn Quang đứng hàng thứ 4 sau Tổng Thống Thiệu, Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm và Tổng Tham Mưu Trưởng Cao Văn Viên, nhưng trong thực tế Quang có quyền lực gần như vô giới hạn. Ngoài nhiệm vụ lo săn tin cho CIA, Đặng Văn Quang đã lợi dụng các chức vụ của mình để “kinh tài” cho ông Thiệu, trong đó có hai nghiệp vụ chính là đi thu hụi chết và buôn lậu. Quang được coi như một hung thần ở miền Nam và lúc đó chẳng ai dám động đến Quang. Khi cuộc điều tra buôn lậu bạc Việt Nam và thuốc tây… bán cho Việt Cộng đang được tiến hành, các viên chức điều tra phát hiện ra người cầm đầu đường dây là tay chân bộ hạ của Đặng Văn Quang, ngày hôm sau có lệnh phải ngưng điều tra ngay.

    Trong bài “Drugs, Corruption, and Justice in Vietnam and Afghanistan: A Cautionary Tale”  đăng trên New York Times ngày 27.10.2009, khi viết về chuyện tham nhũng ở Afghanistan, Merle L. Pribbenow, một cựu viên chức CIA, đã nhắc lại chuyện tham nhũng của Đặng Văn Quang ở Việt Nam như sau: “He was a paid agent of the CIA; and that he was Thieu’s “bag-man” for collecting corruption payments.”

    Đài BBC ngày 21.7.2011 có phổ biến bài “Đời bi kịch của một vị tướng VNCH” do ông Đặng Văn Phú ở San Jose viết theo lối “huề cả làng” để gỡ gạc phần nào Tướng Quang, nhưng chẳng nói lên được gì. Chuyện Đặng Văn Quang quá nhiều, chúng tôi chĩ xin trích lại dưới đây một đoạn của Tướng Trần Văn Đôn nói về chuyện tham nhũng của Đặng Văn Quang:

    “Lúc còn là dân biểu, chưa tham gia chính phủ tôi có một người bạn tên là Nguyễn Xích Hào. Ông Nguyễn Xích Hào có chức vụ khá quan trọng ở văn phòng Trung ương Air Việt Nam . Con ông Hào đủ điều kiện du học, nhưng sợ kẹt lời phê của ông Quang nên ông Hào nhờ tôi nói giùm với ông Quang. Tôi điện thoại yêu cầu ông Quang nếu không gì trở ngại thì phê cho họ đi cho kịp nhập học đầu niên khóa tại Mỹ. Ông Quang xin tên họ, số điện thoại, và hứa sẽ phê chuẩn. Khoảng mười ngày sau có dịp dự lễ mãn khóa trường Sĩ quan Cảnh Sát, gặp Quang tôi nhắc đến việc tôi nhờ, yêu cầu ông ấy lưu ý xét cho sớm. Ông Quang trả lời:

    – Được! Được! Không có gì đâu!

    Tôi về nhà, điện thoại cho ông Hào biết tin con ông ấy sẽ được phép đi. Ông Hào nói:

    – Tôi cũng biết rồi! Tôi đã được giấy phép.

    Mấy tháng sau, gặp tôi ông Hào nói:

    – Tin cho anh biết thằng con tôi đã đi rồi! Tôi phải đưa một gạch (một triệu bạc Việt Nam ) nó mới được đi chứ đâu phải dễ.”

    CON BÀI THÍ NGUYỄN CAO KỲ

    Nguyễn Cao Kỳ bị gọi nhập ngũ Khoá 1 Nam Định năm 1951. Ngày 23.12.1950, Nghị Định thành lập Trừơng Sỉ Quan Trừ Bị Thủ Đức ở miền Nam, và Trừơng Sỉ Quan Trừ Bị Nam Định ở miền Bắc. Khóa 1 sĩ quan trừ bị được gọi là Khóa 1 Lê Văn Duyệt đã diển ra tại 2 nơi vào cùng ngày 1.10.1951. Nguyễn Cao Kỳ đi nhập ngũ ở Nam Định, có 218 sĩ quan tốt nghiệp. Sau khi tốt nghiệp, ông được chọn đi đào tạo tại trường không quân Marrakech ở Maroc.

    Trong cuộc đảo chánh năm 1963, vai trò của Nguyễn Cao Kỳ không có gì đáng nói. Vai trò của ông chỉ nổi bật khi Mỹ quyết định dùng ông làm thủ tướng để dẹp cuộc nổi loạn của Phật giáo. Để tăng thêm uy tín cho Tướng Kỳ, ngày 8.11.1965, Tướng Kỳ được mời qua thăm Nam Hàn, nơi đây ông được cấp Tiến Sĩ Danh Dự đại học Kyughui ở Hán Thành.

    Tôi đã phỏng vấn Tướng Nguyễn Cao Kỳ trong 6 buổi tối liên tiếp, có anh Lê Vũ, chủ website Ký Con, quay phim thu hình. Tôi muốn tìm hiểu thêm cuộc dẹp loạn miền Trung và việc ông tranh chấp với Tướng Thiệu trong cuộc bầu cử năm 1967. Ông Kỳ đúng là ruột ngựa, có gì nói hết. Nhưng rất tiếc ông biết rất ít, những điều ông kể tôi đã biết hết rồi.

    Tôi hỏi ông tại sao lúc đó Việt Nam lại đoạn giao với Pháp, ông ngập ngừng rối nói không hiểu tại sao lúc đó mình đã làm như vậy. Tôi hỏi về quyết định và kế hoạch hành quân dẹp Phật Giáo miền Trung, ông cho biết quyết định là do ông, còn kế hoạch hành quân giao cho Nguyễn Ngọc Loan!

    Với chức vụ Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc gia kiêm Giám Đốc An Ninh Quân Đội, Nguyễn Ngọc Loan nắm trong tay lực lượng an ninh và giải quyết các biến cố đã xẩy ra tại miền Nam. Tướng Kỳ chỉ nghe báo cáo và gật đầu mà thôi.

    Tướng Nguyễn Ngọc Loan học trường Providence (Thiên Hữu) ở Huế, vừa đậu Tú Tài xong thì đi động viên, học khoá 1 Lê Văn Duyệt ở Thủ Đức, còn Nguyễn Cao Kỳ học ở Nam Định. Nguyễn Ngọc Loan được đi thụ huấn khóa phi công tại Trường Không Quân Salon-de-Provence ở Pháp.

    Năm 1967, Tướng Kỳ lập liên danh với Luật sư Nguyễn Văn Lộc ra tranh cử Tổng Thống với Tướng Nguyễn Văn Thiệu. Ngoài ra còn 10 liên danh khác.

    Tướng Trần Văn Đôn cho biết, trong phiên họp tiền hội nghị, các tướng lãnh quyết định hai liên danh Thiệu – Kỳ phải nhập chung, Kỳ làm Tổng Thống, Thiệu làm Phó Tổng Thống. Nhưng tối đó Mỹ đi gặp một số tướng lãnh để bàn thảo và thuyết phục các tướng rằng Tướng Kỳ bồng bột, bốc đồng… không làm Tổng Thống được, nên sáng hôm sau các tướng lại quyết định Tướng Thiệu làm Tổng Tống vì lớn tuổi hơn và thâm niên hơn. Bù lại, Tướng Thiệu đồng ý giao cho người của Tướng Kỳ là Luật sư Nguyễn Văn Lộc làm Thủ Tướng. Ngoài ra, theo đề nghị của Tướng Nguyễn Đức Thắng, Hội Đồng Tướng Lãnh được thành lập do Tướng Kỳ làm chủ tịch. Hội đồng này có nhiệm vụ giám sát hành pháp. Nhưng khi đắc cử rồi, Tướng Thiệu không cần biết Hội Đồng Tướng Lãnh và nói chỉ thi hành Hiến Pháp. Tướng Thiệu tập trung mọi quyền hành nên chính phủ Nguyễn Văn Lộc chẳng làm được gì. Sau đó, Mỹ đưa Tướng Trần Thiện Khiêm về làm Bộ Trưởng Nội Vụ rồi làm Thủ Tướng thay Luật sư Nguyễn Văn Lộc.

    (Xem Việt Nam Nhân Chứng, 1989, tr. 379 – 382).

    Trong cuốn “Decent Interval” Frank Snepp nói rõ người được Mỹ chọn làm tổng thống “phải tuân theo chính sách của chính chúng tôi, vừa có những tay sai (agents) có chất lượng để thi hành chính sách đó.” Sở dĩ tướng Thiệu được chọn vì là “một viên tướng miền Nam bình thường và coi như phi chính trị (modest, supposedly non-political)”. Frank Snepp cho biết Mỹ đã “củng cố bằng mọi giá chính phủ Thiệu, để cho nước Mỹ có thế rút quân ra khỏi Việt Nam mà không sợ nổ ra một cuộc khủng hoảng chính trị mới”.

    Với Tướng Kỳ, Frank Snepp viết: “Đại sứ Bunker không hề lo sợ về Kỳ và phe cánh của Kỳ. Dần dần, ông gạt được họ ra và chỉ nói về những vấn đề chính trị với Thiệu mà thôi. Một “cú ân huệ” (coup de grâce) đã đến với Kỳ trong cuộc tấn công của Cộng Sản năm 1968 khi một số trong các đồng minh thân tín đầy quyền lực của ông ta bị giết.”

    Đó là một thái độ rất phủ phàng của người Mỹ đối với Tướng Kỳ, Tháng 6 năm 1968 tôi đang ở Washington và thường đến chơi với Tướng Nguyễn Chánh Thi. Một buổi sáng, ông kêu điện thoại cho tôi rất sớm và bảo tôi qua ăn sáng nói chuyện, Khi tôi vừa qua, ông vứt tờ Washington Post cho tôi và nói: “Tướng lãnh mình làm ăn như vậy đó, chẳng còn ra thể thống gì”. Tôi xem và thấy có bài loan tin Tướng Kỳ buôn thuốc phiện lậu. Tôi xem xong và nói với Tướng Thi: Chuyện này không có đâu. Mỹ muốn loại Tướng Kỳ nên nói như vậy. Trước đây Trung Tướng có đau mũi đâu, thế mà họ loan tin Trung Tướng đau mũi và bắt đi Hoa Kỳ chửa bệnh. Tướng Thi suy nghĩ một lúc và nói: “Anh nói đúng!”. Ngày 7.5.1968, khi đang chỉ huy hành quân ở khu đường Tự Đức, Đa Cao, Tướng Nguyễn Ngọc Loan bị cộng quân bắn trọng thương, gảy cả hai chân, con đường sự nghiệp của Tướng Kỳ và Tướng Loan coi như chấm dứt từ đó.

    Ra hải ngoại, cuộc sống của Tướng Kỳ đã được đàn em và những người thân tín của ông mô tả khá đầy đủ. Ông chỉ tham gia vào chính trị khi lấy bà vợ thứ ba là bà Lê Hoang Kim Nicole, một người đàn bà được báo chí mô tả là “người buôn tổng thống”.

    Trong những lần ngồì nói chuyện riêng với ông, tôi đã phân tích cho ông thấy, dù đối đầu với CSVN bằng chiến tranh lạnh hay bằng “diễn biến hòa bình”, người Việt quốc gia cũng đều bị Mỹ xử dụng như công cụ, mình chẳng làm được gì đâu. Ông cũng đồng ý với tôi như vậy, nhưng tướng quân khó “qua ải mỹ nhân”.

    Bà Kim đã dẫn ông về Việt Nam dưới chiêu bài “sứ giả cho sự hoà giải và kết hợp đại đoàn kết dân tộc”, nhưng trong thực tế là đi làm “affair”. Bước đầu là đưa hai tập đoàn Andy Dye và Three về Việt Nam thiết lập sân golf ở khu du lịch Tuần Châu, Quảng Ninh, sau đó vận động mở sòng bài, v.v.

    Dĩ nhiên, báo trong nước khai thác ngay sự ngây thơ của Tướng Kỳ để chơi đòn phản gián. Báo Tuổi Trẻ và báo Thanh Niên đã phỏng vấn ông tại khách sạn Sheraton ở Sài Gòn vào cuối năm 2004, và đăng lại trên hai tạp chí này. Căn cứ vào các bài phỏng vấn đó, các báo khác đưa ra những lời bình luận rất nặng nề, như Tướng Kỳ nói “Chúng tôi là những kẻ đánh thuê” hay “Quân đội miền Nam , không có ai đáng giá cả, kể từ ông Nguyễn Văn Thiệu…”, v.v.

    Đọc những lời này ông Kỳ đã viết một lá thư yêu cầu báo Thanh Niên cãi chính, trong đó ông nói: “Chưa bao giờ và sẽ không bao giờ tôi lại căn cứ vào một số ít phần tử xấu để mạ lỵ cả một tập thể to lớn đã từng chia xẻ ngọt bùi với tôi, mà tôi biết về họ một cách đầy đủ và tường tận.” Ông cho rằng “người viết bài báo trên quá ấu trĩ, không đủ tư cách, không đủ hiểu biết để đề cập đến một lãnh vực hết sức hệ trọng và tế nhị có liên quan đến một giai đoạn lịch sử của dân tộc”.

    Chẳng có báo nào trong nước đăng bài cãi chính của ông. Ở hải ngoại tôi chỉ tìm thấy trên DCVOneline ngày 24.4.2005. Ông Kỳ vốn bạo mồn bạo miệng, nên khó mà biết chuyện gì đã thật sự xầy ra. Dĩ nhiên, người Việt chống cộng vốn tự xưng là “đi guốc trong bụng cộng sản”, đã chụp lấy ngay và “dạy cho ông Kỳ một bài học”.

    NHÌN CON BÀI MỸ CHỌN

    Nếu so sánh ông Kỳ với ông Thiệu, chúng tôi thấy hai ông đều yếu kém như nhau: Cả hai biết rất ít về cả chính trị lẫn quân sự, không có tầm nhìn chiến lược và không biết làm việc theo phương pháp khoa học.

    Nhưng ông Kỳ hơn ông Thiệu là luôn hành động theo quyết định của tập thể. Mọi quyết định quan trọng đều được đưa ra ban tham mưu và ban cố vấn bàn rồi mới quyết định phải hành động như thế nào. Ông Kỳ không sợ Mỹ. Nhưng ông Kỳ có khuyết điểm nặng là không theo sát việc thi hành, để đàn em muốn làm gì thì làm.

    Ông Thiệu trái lại, luôn bị ám ảnh bởi cái chết của ông Diệm mà ông là một trong những nguời có trách nhiệm chính, nên luôn sợ bị Mỹ giết. Có nhiều khi ông tranh luận với Mỹ rất gay cấn nhưng cuối cùng ông cũng làm theo ý họ.

    Ông Thiệu lại có thói quen suy nghĩ và hành động theo cảm tính, hỏi ý kiến chỉ để lấy lệ, mọi chuyện đều do ông quyết định theo ý nghĩ riêng của mình, không cần biết tình trạng thật sự đang diễn biến như thế nào. Ông lại thường tìm cách tránh né trách nhiệm bằng cách đưa ra những chỉ thị mập mờ và nếu thất bại sẽ đổ trách nhiệm cho thuộc cấp.

    Lúc 2 giờ chiều ngày 7.9.1963, Đại Sứ Cabot Lodge đã gởi cho Bộ Ngoại Giao một công điện kể lại lời ông Ngô Đình Nhu đã nói với ông như sau:

    Tôi báo động về những gì sẽ xẩy ra trong Quân Lực. Nếu tôi ra đi, Quân Lực sẽ nắm chính quyền. Bọn cóc nhái của CIA và USIS này sẽ phá hoại nỗ lực chiến tranh.”

    Lời tiên báo này đã trở thành hiện thực. VNCH có một quân đội thiện chiến, có tinh thần chiến đấu cao, được trang bị đầy đủ, nhưng đã bị thất trận một cách nhanh chóng vì những tướng mà người Mỹ đưa ra lãnh đạo họ là những thành phần thiếu khả năng, thiếu tinh thần trách nhiệm, chỉ biết nhận viện trợ và thi hành chính sách của Mỹ.

    Ngày 26.7.2011

    Lữ Giang

     

    Công hàm Phạm Văn Đồng

    Lữ Giang

    Ngày 20.7.2011, báo Đại Đoàn Kết ở trong nước đã cho phổ biến bài “Công hàm 1958 với chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam” của nhóm PV Biển Đông. Bài này được các báo chí trong nước đăng lại và phổ biến rộng rãi. Nội dung của bài báo gồm hai điểm chính:

    Trước hết, bài báo phản bác lập luận của Trung Quốc cho rằng bằng công hàm ngày 14.9.1958 chính phủ Việt Nam đã công nhận Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung Quốc. Bài báo nói Trung Quốc đã “giải thích xuyên tạc Công hàm 1958 là một trong chuỗi những hành động có tính toán nhằm tạo cớ, từng bước hợp thức hóa yêu sách chủ quyền phi lý của họ đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.”

    Sau đó, bài báo gián tiếp trả lời bài “Trở lại chuyện bán đất” của chúng tôi phổ biến ngày 13.7.2011, trong đó chúng tôi dựa vào hai luật lý để nói rằng công hàm của Thủ Tướng Văn Đồng có tính cách ràng buộc. Bài báo cho rằng công hàm đó không hội đủ điều kiện để áp dụng thuyết “promissory estoppel” (sự ràng buộc của lời hứa) mà chúng tôi đưa ra.

    Từ trước đến nay, nhà cầm quyền CSVN và báo chí trong nước đã tránh né không đề cập đến công hàm ngày 14.9.2011 của Thủ Tướng Phạm Văn Đồng, mặc dầu đây là một vấn đề không thể không làm sáng tỏ. Bài “Trở lại chuyện bán đất” của chúng tôi đặt nhà cầm quyền vào tình trạng phải lên tiếng vì chúng tôi dựa vào những luật lý có tính cách thuyết phục để phân tích.

    Bài lên tiếng của báo Đại Đoàn Kết tuy không phải là một tuyên bố chính thức, nhưng nó phải được sự chấp thuận của nhà cầm quyền mới được phổ biến, nên cũng có thể coi đó là tiếng nói của nhà cầm quyền. Qua bài này, chúng ta có thể biết được lối giải thích của nhà cầm quyền. Chúng tôi rất hoan nghênh về sự lên tiếng này vì nó có thể giúp chúng ta làm sáng tỏ vấn đề hơn và tìm ra được lối thoát để bảo vệ quyền lợi của tổ quốc tại Biên Đông.

    Để độc giả dễ dàng theo dõi, trước tiên chúng tôi xin tóm lược nội dung của bài báo, sau đó sẽ phân tích các sự kiện và lý luận được bài báo nêu ra.

    NÓI VÒNG VO TAM QUỐC

    Vì các sự kiện và lý luận được đưa ra thiếu chính xác nên bài báo không được xây dựng theo một hệ thống chặt chẽ mà viết theo lối “hỏa mù”. Chúng tôi xin tóm lược 4 điểm sau đây được nêu ra trong bài báo:

    1.- Bài báo đã đưa ra những bối cảnh "phức tạp và cấp bách" đối với Trung Quốc vào thập niên 1950s như chiến tranh Triều Tiên bùng nổ, Chu Ân Lai tuyên bố giải phóng Đài Loan, Hoa Kỳ dự tính tấn công Trung Quốc bằng võ khí nguyên tử, v.v. Từ đó bài báo dẫn lời của Hoàng Việt thuộc Quỹ Nghiên cứu Biển Đông ở trong nước để giải thích lý do tại sao có công hàm 1958: Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng ra đời trong bối cảnh quan hệ đặc thù VNDCCH – Trung Quốc lúc đó "vừa là đồng chí vừa là anh em".

    2.- Theo bài báo. nội dung Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng được thể hiện rất thận trọng, đặc biệt là không hề có việc tuyên bố từ bỏ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Theo Hiệp định Genève 1954, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm phía Nam vĩ tuyến 17 tạm thời thuộc quyền quản lý của Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa (VNCH).

    3.- Tại Hội nghị San Francisco 1951, các quốc gia tham dự đã bác bỏ yêu sách về chủ quyền của Trung Quốc trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Cũng tại hội nghị này, Việt Nam đã long trọng tuyên bố chủ quyền lâu đời và liên tục của mình trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

    4.- Theo luật quốc tế, không có một văn bản pháp lý nào có thể gắn cho những lời tuyên bố đơn phương một tính chất bó buộc, ngoại trừ thuyết "estoppel" (mà chúng tôi đã đưa ra). Lời tuyên bố của VNDCCH, thiếu 2 điều kiện nên không thể áp dụng thuyết này được.

    MỘT VÀI NHẬN XÉT

    Bài “Công hàm 1958 với chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam” của nhóm PV Biển Đông là một bản “biện minh trạng”, chỉ đưa đưa ra những sự kiện và những lý luận giúp cho việc biện hộ cho chế độ, nên thiếu giá trị khách quan.

    1.- Bối cảnh thật sự của Hà Nội lúc đó.

    Bối cảnh “phức tạp và cấp bách” của Hà Nội lúc đó không phải là các vấn đề của Trung Quốc mà Hà Nội đã nêu ra. Bối cảnh thật sự của Hà Hội lúc đó là cần có viện trợ của Trung Quốc để đánh chiếm miền Nam. Nhưng theo Hà Nội, lúc đó Trung Quốc chủ trương “trường kỳ mai phục”, “tích trử lương thực” “chờ đợi thời cơ”… chứ không cho đánh liền. Vì thế, Hà Nội phải chấp nhận trao hai quần đảo Hoàng Sa và Truờng Sa cho Trung Quốc để đổi lấy viện trợ đánh chiếm miền Nam. Sau khi có sự hứa hẹn của Trung Quốc, tháng 1 năm 1959, Hội Nghị lần thứ 15 của Trung Ương Đảng đã họp và đưa ra quyết định “giải chóng miền Nam”.

    Tài liệu của Trung Quốc cho biết trong chuyến bí mật viếng thắm Bắc Kinh vào tháng 4/1965 cùng với Võ Nguyên Giáp, Lê Duẩn đã nói với Lưu Thiếu Kỳ, đại diện Trung Ương Đảng CSTQ rằng Việt Nam "luôn luôn tin tưởng rằng Trung Quốc là người bạn đáng tin cậy nhất của Việt Nam," và "sự giúp đỡ của Trung Quốc cho Việt Nam luôn đứng đầu về số lượng cũng như chất lượng." Lưu Thiếu Kỳ cám ơn Lê Duẩn và nói với Lê Duẩn rằng "chính sách của Đảng Trung Quốc trước sau như một, và Trung Quốc sẽ thỏa mãn tối đa những gì mà mà Việt Nam cần." Tiếp theo, ngày 16.5.1965, Hồ Chí Minh lại qua Trung Quốc gặp gặp Mao Trạch Đông tại Trường Sa, tỉnh lỵ của tỉnh Hồ Nam, và nói với Mao về những gì Việt Nam cần để có thể gửi người đi chiến đấu tại miền Nam. Mao hứa sẽ cung cấp "bất cứ sự trợ giúp nào mà Việt Nam cần."

    Báo Đại Đoàn Kết nhìn nhận: “Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng xuất phát từ mối quan hệ rất đặc thù với Trung Quốc trong thời điểm VNDCCH đang rất cần tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ của các quốc gia trong khối xã hội chủ nghĩa bấy giờ.”

    Nói tóm lại, không có viện trợ của Trung Quốc, sẽ không có ngày 30.4.1975.

    2.- Công hàm 1958 đã gián tiếp công nhận chủ quyền của Trung Quốc.

    Chỉ cần đăng lại nguyên văn tuyên bố ngày 4.9.1958 của Trung Quốc và Công Hàm ngày 14.9.1958 của Thủ Tướng Phạm Văn Đồng, chúng ta có thể thấy rõ ngay Hà Nội đã gián tiếp công nhận của quyền của Trung Quốc trên Hoàng Sa và Trường Sa.

    Ngày 4.9.1958, nước CHNDTQ đã đưa ra lời tuyên bố gồm 4 điểm. Sau đây là điểm 1 liên hệ đến Hoàng Sa và Trường Sa

    Bề rộng lãnh hải của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc là 12 hải lý. Điều lệ này áp dụng cho toàn lãnh thổ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, bao gồm phần đất Trung Quốc trên đất liền và các hải đảo ngoài khơi, Đài Loan (tách biệt khỏi đất liền và các hải đảo khác bởi biển cả) và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa), quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa (Trường Sa), và các đảo khác thuộc Trung Quốc.”

    (Bản dịch của Trung Tâm Dữ Kiện)

    Tài liệu của Trung Quốc cho biết sáng ngày 21.9.1958, ông Nguyễn Khang, Đại sứ Việt Nam tại Trung-quốc, đã đến gặp ông Cơ Bàng Phi, Thứ Trưởng Ngoại Giao Trung Quốc, chuyển giao công hàm ngày 14.9.1958 của Thủ Tướng Phạm Văn Đồng có nội dung như sau:

    Chính phủ nước Việt nam dân chủ cộng hoà ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ nước Cộng hoà nhân dân Trung-hoa, quyết định về hải phận của Trung-quốc.

    Chính phủ nước Việt nam dân chủ cộng hoà tôn trọng quyết định ấy và chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung-quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà nhân dân Trung-hoa trên mặt biển.”

    Nhóm “PV Biển Đông” cho rằng Công Hàm của Thủ Tướng Phạm Văn Đồng đã viết rất thận trọng, không tuyên bố từ bỏ chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Lập luận này không đứng vững: Khi Trung Quốc tuyên bố hải phận của Trung Quốc bao gồm cả hải phận của hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, chính phủ VNDCCH chẳng những không phản đối về điểm này mà tuyên bố “ghi nhận và tán thành” toàn bản tuyên bố của Trung Quốc. Điều này có nghĩa là Hà Nội đã gián tiếp công nhận Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung Quốc.

    3.- Hội Nghị San Francisco 1951.

    Báo Đại Đoàn Kết cho rằng tại Hội Nghị Hội nghị San Francisco 1951 Việt Nam đã long trọng tuyên bố chủ quyền lâu đời và liên tục của mình trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và cộng động quốc tế đã thừa nhận chủ quyền lịch sử và pháp lý của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

    Đây là lối viết theo kiểu lập lờ đánh lận con đen. Hội Nghị San Francisco tại California, Hoa Kỳ, được tổ chức từ ngày 5 đến 8.9.1951, còn được gọi là Hội Nghị Cựu Kim Sơn, do 51 nước đồng minh trong Thế Chiến II họp lại để bàn về vấn đề chấm dứt chiến tranh tại Châu Á-Thái Bình Dương và quan hệ với Nhật Bản thời hậu chiến. Cả Trung Quốc lẫn Đài Loan đều không được mời tham dự vì giữa Mỹ và Nga không đồng ý ai đại diện cho nước Trung Hoa. Dĩ nhiên là VNDCCH cũng không được tham dự, trái lại, Chính Phủ Quốc Gia Việt Nam do Bảo Đại lãnh đạo đã đại diện cho Việt Nam tại hội nghị.

    Trong hội nghị này, Thủ Tướng Trần Văn Hữu đại diện cho Chính phủ QGVN tuyên bố:

    Và vì cần phải thành thật lợi dụng tất cả mọi cơ hội để dập tắt những mầm mống tranh chấp, chúng tôi xác nhận chủ quyền đã có từ lâu đời của Việt Nam trên quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa”.

    (Et comme il faut franchement profiter de toutes occasions pour estouffer les germes de discorde, nous affirmons nos droits sur iles Spratly et Paracels qui de tout temps ont fait partie du Viet-Nam).

    Ông Andrei A. Gromyko, Ngoại trưởng Liên Xô, đại diện cho Trung Quốc, yêu cầu ghi vào Hiệp ước Hòa bình với Nhật một điều khoản nói “Nhật nhìn nhận chủ quyền của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đối với đảo Hoàng Sa và những đảo xa hơn nữa dưới phía Nam”. Với 48 phiếu chống và 3 phiếu thuận, Hội nghị đã bác bỏ yêu cầu này của Liên Xô.

    Chúng ta cần biết rằng trong thế chiến thứ hai, năm 1938, Nhật Bản đã chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa và đổi tên thành Hirata gunto. Năm 1939, quân đội Nhật Bản đổ bộ lên đảo đảo Ba Bình thuộc quần đảo Trường Sa và đổi tên thành Itu Aba. Ngày 31.3.1939, Bộ Ngoại giao Nhật Bản tuyên bố rằng ngày 30-3-1939 chính phủ Nhật Bản quyết định đặt quần đảo Trường Sa dưới sự kiểm soát của Nhật Bản.

    Việt Nam đã chấp hữu Hoàng Sa và Trường Sa từ 1884 đến 1951 dưới họng súng của Pháp. Nhật chỉ chiếm đoạt hai quần đảo này trong khoảng 5 năm, nên Hội Nghị San Francisco không phản đối lời tuyên bố về chủ quyền của Thủ Tướng Trần Văn Hữu, nhưng hội nghị này không phải là một cơ quan tài phán, có thể xác định chủ quyền thuộc về ai. Điều oái oăm là năm 1972, khi quyết định bỏ Miền Nam VN, Hoa Kỳ đã đem Miền Nam giao cho Bắc Kinh chứ không giao cho Hà Nội, vì biết rất rõ Hà Nội chỉ là cánh tay nối dài của Bắc Kinh.

    4.- Sự ràng buộc của lời hứa

    Báo Đại Đoàn Kết đã lặp lại hai lý do mà chúng tôi đã đưa ra từ lâu để cho rằng Công Hàm của Thủ Tướng Phạm Văn Đồng không có giá trị pháp lý.

    Lý do thứ nhất: Lúc đó hai đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc VNCH. Tục giao pháp lý Latin có câu: “Nemo dat quod non habet”, tức không ai cho cái mình không có. Hoàng Sa và Trường Sa không thuộc miền Bắc nên Đảng CSVN không thể giao cho Trung Quốc được.

    Lý do thứ hai: Điều 23 của Hiến Pháp ngày 9.11.1946 quy định: “Nghị viện nhân dân (tức quốc hội)… chuẩn y các hiệp ước mà Chính phủ ký với nước ngoài.” Công hàm ngày 14.9.1958 không được quốc hội phê chuẩn nên không có giá trị.

    Tuy nhiên, sau khi nghiên cứu lại luật lý, chúng tôi thấy Công Hàm của Thủ Tướng Phạm Văn Đồng chỉ là một lời hứa bán (promesse de vente): Hà Nội hứa với Bắc Kinh rằng nếu Bắc Kinh viện trợ cho Hà Nội đầy đủ phương tiện để chiếm miền Nam, sau khi chiếm được, Hà Nội sẽ giao Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc.

    Trong bài “Trở lại chuyện bán đất”, chúng tôi đã đưa ra hai học lý để chứng minh rằng trên một khía cạnh, công hàm ngày 14.9.2011 có thể bị coi như có giá trị cưỡng hành, đó là nguyên tắc “Promesse de vente vaut vente” (Hứa bán có giá trị như bán) trong hệ thống Roman Law và nguyên tắc “promissory estoppel” (sự ngăn chận việc làm trái với lời hứa) trong Common Law.

    Báo Đại Đoàn Kết nhìn nhận theo luật quốc tế, không có một văn bản pháp lý nào có thể gắn cho những lời tuyên bố đơn phương một tính chất bó buộc, ngoại trừ thuyết "estoppel", nhưng cho rằng lời tuyên bố của VNDCCH thiếu 2 điều kiện nên không thể áp dụng thuyết này được, đó là: (1) Quốc gia nại "estoppel" phải chứng minh rằng mình đã dựa trên những lời tuyên bố hoặc hoạt động của quốc gia kia, mà có những hoạt động nào đó, hoặc không hoạt động; (2) Quốc gia nại "estoppel" cũng phải chứng minh rằng, vì dựa vào lời tuyên bố của quốc gia kia, mình đã bị thiệt hại, hoặc quốc gia kia đã hưởng lợi khi phát biểu lời tuyên bố đó.

    Nếu lý luận kiểu này, Trung Quốc có thể chứng minh dễ dàng hai điều kiện nói trên đã hội đủ: Dựa vào Công Hàm của Phạm Văn Đồng, Trung Quốc đã viện trợ cho Hà Nội đầy đủ để đánh chiếm Miền Nam và Trung Quốc đã bị thiệt hại lớn khi Việt Nam không thực hiện lời hứa sau khi đã chiếm Miền Nam. Sợ Hà Nội sẽ lật lộng, Trung Quốc đã chiếm Hoàng Sa trước khi Hà Nội chiếm Miền Nam.

    NHÌN VÀO THỰC TẾ TRƯỚC MẮT

    Hôm 29.7.2011, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Philippines Raul Hernandez cho báo chí biết Philippines muốn phân định vùng tranh chấp Biển Đông. Ông nói: "Nếu chúng ta có thể xác định những phần tranh chấp, chúng ta sẽ có khả năng khai thác chung. Các khu vực không có tranh chấp thì đương nhiên thuộc quyền quản lý của quốc gia có chủ quyền”. Giải pháp này nghe rất giản dị, nhưng làm thế nào để phân biệt vùng tranh chấp và vùng không tranh chấp?

    1.- Trung Quốc coi chủ quyền Biển Đông là không thể tranh cãi.

    Trong vụ kiện về khu vực đánh cá giữa Anh và Na Uy năm 1951. Na Uy coi vùng biển Anh đòi chủ quyền là vùng biển mà Na Uy đã khai thác qua nhiều thế kỷ và không có nước nào tranh chấp, nên phải coi đó là “vùng nước lịch sử” (historic water) và Na Uy có “quyền sở hữu lịch sử” (historic title). Lý thuyết này đã bị Công Ước LHQ về Luật Biển 1982 bác bỏ và thay vào đó vùng đặc quyền kinh tế rộng 200 hải lý của mỗi quốc gia.

    Mặc dầu bị Luật Biển 1982 bác bỏ, Trung Quốc vẫn dùng lý thuyết “vùng nước lịch sử” để coi Biển Đông là ao hồ của họ, tuy Trung Quốc không chứng minh được trong lịch sử họ đã chấp hữu một cách hợp pháp vùng Biển Đông trong “đường lưởi bỏ”. Nếu Trung Quốc tiếp tục xử dụng lý thuyết không được chấp nhận này, toàn Biển Đông trở thành “vùng tranh chấp” và không còn khu vực nào cho các quốc gia khác khai thác.

    2.- Xác định quyền sở hữu về các đảo đá và đảo đá ngầm.

    Các đảo thuộc hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đều là đảo đá (rocks) hay đảo đá ngầm (reefs), không thể có cuộc sống tự nhiên được, nên rất khó chứng minh quyền sở hữu theo các điều kiện luật định.

    Luật “Corpus Juris Civilis” của La Mã được ban hành giữa năm 527 và 565 đã xác định chủ quyền về các hải đảo nổi lên ở biển (Insula in mara nata) như sau:

    “Một hải đảo nổi lên ở biển là vật vô chủ (nó không thuộc về ai) và vì thế nó trở thành tài sản của người chiếm hữu đầu tiên”

    [An island which arose in the sea was res nullius (it belonged to nobody) and as such it become the property of the first occupant].

    Điều luật này đã gây ra những tranh chấp không giải quyết được vì quốc gia nào cũng đưa ra những tài liệu chứng minh họ đã chiếm đầu tiên và bác bỏ tài liệu của phe đối kháng. Đây là trường hợp tranh chấp về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và nhiều nơi khác trên thế giới. Sau này, học lý và án lệ đưa ra những tiêu chuẩn về “sự thụ đắc bằng chiếm hữu”“sự thụ đắc theo thời hiệu” để xác định chủ quyền đồi với các đảo trên biển. Gần như không quốc gia nào trong Biển Đông đáp ứng được các tiêu chuẩn này nên Trung Quốc phải dùng bạo lực để chiếm hữu. Hiện nay, các quốc gia thuộc khối ASEAN đang cố gắng đưa ra một Bộ Luật Ứng Xử (Code of Conduct) để giải quyết các tranh chấp này.

    3.- Vấn đề quần đảo Hoàng Sa

    Trung Quốc không những đã chiếm hữu bằng võ lực quần đảo Hoàng Sa mà còn biến đảo này thành một đảo có thể có vùng đặc quyền kinh tế.

    Theo khoản 3, điều 121 Công ước Luật biển 1982, các đảo đá không thích hợp cho con người đến ở hoặc cho một đời sống kinh tế riêng thì chỉ được có vùng lãnh hải tối đa 12 hải lý, không được phép có vùng thềm lục địa và vùng đặc quyền về kinh tế. Đảo Hoàng Sa ở trong tình trạng này.

    Tuy nhiên, sau khi chiếm Hoàng Sa, Trung Quốc đã xây dựng đảo này thành một đảo mà con người có thể ở với những phương tiện phải đem từ bên ngoài đến và tuyên bố đảo này có vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý. Đây là một sự nguỵ tạo.

    Vì Hoàng Sa chỉ cách Cù lao Ré (đảo Lý Sơn) của Việt Nam khoảng 200 hải lý và cách đảo Hải Nam của Trung Quốc khoảng 230 hải lý, nên vùng đặc quyền kinh tế của Hoàng Sa do Trung Quốc tuyên bố đã chồng lên vùng đặc quyền kinh tề của Việt Nam và ngăn chận Việt Nam đánh cá trong khu vực này.

    Theo nguyên tắc, khi vùng đặc quyền kinh tế của hai nước tiếp giáp chồng lên nhau như trên, phải chia đôi bằng một đường trung tuyến. Do đó, dù Hoàng Sa có vùng đặc quyền kinh tế, Trung Quốc cũng không thể lấn chiếm qua giới hạn luật định. Nhưng Trung Quốc có súng lớn, Việt Nam chỉ có súng nhỏ, nên Trung Quốc đã tự áp đặt quyền lợi của mình trên quyền lợi của Việt Nam.

    ooOoo

    Nhìn chung, Đảng CSVN đã coi việc đánh chiếm Miền Nam quan trọng hơn bảo vệ Hoàng Sa và Trường Sa thì đảng phải chịu trách nhiệm trước dân tộc và lịch sử. Để cứu vãn tính thế, phải bám lấy Bộ Luật Ứng Xử (Code of Conduct) về Biễn Đông mà ASEAN sắp đưa ra để bảo vệ quyền lợi của Việt Nam. Chịu áp lực và ký riêng với Trung Quốc bản Tuyên Bố về Ứng Xử (Declaration of Conduct) như mới đây, Việt Nam sẽ bị Trung Quốc đè bẹp.

    Ngày 2.8.2011

    Lữ Giang

     

                                              

    Pentagon Papers

     

    All files in the "Title" column are in PDF format. 
    Due to the large file sizes, we recommend that you save them
    rather than try to open them directly.
     
     
     
     
     
    Sau 40 Năm Bí Mật
    Hoàng Duy Hùng
     
     
    Đầu mùa hè năm 2011, thế giới lên cơn sốt về việc Trung Cộng tạo căng thẳng ở Biển Đông thì ai nấy đều ngóng trông nơi Hoa Kỳ với niềm hy vọng Hoa Kỳ sẽ là cứu tinh giúp họ đối phó với mộng bành trướng của Trung Cộng.  Nhưng ngày 14/6/2011, Văn Khố Quốc Gia (National Archives) của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ cho giải tỏa (declassify) 7000 trang hồ sơ về những vấn đề của Việt Nam và Đài Loan hơn 40 năm trước làm cho niềm tin của nhiều người nơi Hoa Kỳ tan thành mây khói.  Sau đó, National Security Archive ở George Washington University đưa ra thêm 28,000 trang hồ sơ, trong đó có những mẫu đối thoại đi vào chi tiết giữa hai Ngoại Trưởng Henry Kissinger và Chu Ân Lai càng làm cho nhiều người nhìn ra sự thật phũ phàng Hoa Kỳ đã bán đứng Việt Nam Cộng Hòa và Đài Loan để đổi lấy sự làm hòa và giao thương với Trung Cộng.
    Tài liệu này tung ra làm cho hồi ký của Kissinger xuất bản năm 1979 (The Memoirs) không còn giá trị vì nhiều điều trong hồi ký của Henry Kissinger viết đều sai với những chi tiết trong tài liệu này. Hồi ký của Henry Kissinger viết là để đánh bóng cá nhân và để chạy tội cho bàn thân. Tài liệu lịch sử của Văn Khố cho thấy chính sách của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ là đặt quyền lợi nước Mỹ là tối thượng cho dầu chính sách này đưa đến sự phản bội những đồng minh cũng như phải dấu diếm và lừa cả chính dân chúng và Quốc Hội Hoa Kỳ.
    Đầu thập niên 1970s, Hoa Kỳ thay đổi sách lược bắt tay với Trung Cộng đối phó với Liên Xô buộc Hoa Kỳ phải hất Đài Loan ra khỏi Liên Hiệp Quốc và đưa Trung Cộng vào thay thế vị trí này. Cách đây 40 năm, Hoa Kỳ đã công nhận chỉ có một nước Trung Quốc, và Đài Loan cũng chỉ là một tỉnh của Trung Quốc với một thể chế đặc biệt!! Hoa Kỳ đã theo đuổi chính sách này 40 năm và sẽ tiếp tục theo đuổi chính sách này cho đến khi Đài Loan danh chính ngôn thuận thống nhất với Trung Quốc, và thường thì khi sự thống nhất xảy ra, Trung Quốc lúc đó có thể chế đa đảng. 
    Tài liệu cũng cho thấy Trung Cộng đặt điều kiện giải quyết vấn đề Đài Loan đi đôi với giải quyết chiến tranh Việt Nam. Hoa Kỳ quyết định bỏ rơi Việt Nam Cộng Hòa, để cho Cộng Sản Việt Nam chiếm cả nước, và Hoa Kỳ phủi tay trong một thời gian vài thập niên bỏ ngõ Đông Nam Á và Biển Đông cho Trung Cộng tạo ảnh hưởng. Tài liệu cho thấy khi ấy Bắc Việt rất bối rối và chuẩn bị đầu hàng vì không chịu nổi B52 bỏ bom ở Hà Nội, và nếu Hoa Kỳ tiếp tục bỏ bom thêm 2 tuần nữa thì Hà Nội có lẽ đã đầu hàng, nhưng vì đã thỏa thuận với Bắc Kinh nên Henry Kissinger và Tổng Thống Richard Nixon ngưng bỏ bom như một hình thức vất đi chiến thắng đang ở trong tầm tay!   Cũng vì chính sách này nên tháng Giêng năm 1974, Trung Cộng đưa hải quân đánh Hoàng Sa, Hải Quân VNCH chiến đấu và kêu gọi Đệ Thất Hạm Đội của Hải Quân Hoa Kỳ đang ở gần đó tiếp cứu nhân đạo thôi thì Đệ Thất Hạm Đội nhận đủ tín hiệu xin cấp cứu nhưng vẫn làm ngơ để mặc cho các thương binh VNCH chết đau thương và oan ức tại Biển Đông.
    Tại sao Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ tiết lộ những bí mật này?  Có phải họ có lòng thành tiết lộ những bí mật đầy lừa lọc và phản trắc đối với các đồng minh của họ?  Bí mật lịch sử đã vén màn, liệu những đồng minh của Hoa Kỳ có còn tin tưởng nơi Hoa Kỳ như họ đã có trước đây?
    Thật ra Hoa Kỳ ở trong tình thế không thể giữ bí mật lâu dài được nữa vì trước đây những chi tiết này đã rò rỉ ra ngoài hầu hết rồi và nếu cứ tiếp tục dấu diếm những điều mà mọi người đã đoán biết thì hệ quả của nó còn tai hại hơn cả việc tiết lộ.  Cách đây 40 năm, ông Daniel Ellsberg đã tiết lộ những bí mật này cho The Washington Post, the Times, New York Times, và nhiều cơ quan truyền thông khác tạo một cú sốc trong quần chúng Hoa Kỳ.  Ngày hôm nay, Văn Khố Quốc Gia tung ra những tài liệu cách đây 40 năm chỉ là để xác nhận cách chính thức những tài liệu ông Daniel Ellsberg tung ra trước đó là chính xác, thôi, mọi người đừng đoán già đoán non nữa.
     
    Ông Daniel Ellsberg là  người gốc Do Thái, sinh trưởng tại Chicago (sinh ngày 7/4/1931), là một người phân tích tình báo chiến thuật chiến lược của quân đội.  Ông từng là nhân viên của RAND Corporation.  Rand là chữ viết tắt của Research and Development, một công ty bất vụ lợi chuyên phân tích tình hình cho Quân Đội Hoa Kỳ và Doughlas Air Company là một công ty chế tạo các vũ khí cho Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ.  Rand có 1600 nhân viên và trong 1600 nhân viên này có những người làm cho tình báo Hoa Kỳ.
    Năm 1954, sau khi tốt nghiệp ở Harvard, Daniel Ellsberg gia nhập Hải Quân Hoa Kỳ.  Ông ra trường đứng đầu lớp cả 1000 người.  Mang lon Thiếu Uý, ông trở thành tiểu đội trưởng.  Sau 2 năm phục vụ cho Hải Quân, ông được trở về công việc dân sự, ông tiếp tục học ở Harvard và tham gia giúp Rand chuyên phân tích tình hình quân sự.  Năm 1964, ông chính thức làm cho Bộ Quốc Phòng và ông tham gia biến cố hạm đội USS Maddox xảy ra ở Vùng Vịnh Bắc Việt (Gulf of Tonkin) năm 1964. Khi ấy Hoa Kỳ nói rằng Bắc Việt tấn công hạm đội USS Maddox để lấy cớ đó tấn đánh Bắc Việt nhưng bây giờ tài liệu đã giải mã, chính Hoa Kỳ dàn dựng vụ này hơn là Bắc Việt.  Năm 1965, ông được chuyển sang làm Bộ Ngoại Giao đặc trách phân tích tình hình Việt Nam.  Năm 1967, ông trở về làm cho Rand và cho Bộ Quốc Phòng, trực tiếp chịu trách nhiệm với Bộ Trưởng Quốc Phòng.
    Năm 1969, ông không có thiện cảm sách lược của Hoa Kỳ với Cuộc Chiến Việt Nam và sau khi nghe Randy Kehler (sinh năm 1944), một trong những người phản chiến thuyết trình cách hùng hồn, ông Daniel Ellsberg trở thành một trong những người chống chiến tranh. Sau khi đã có thiện cảm với nhóm phản chiến và ở cương vị là một người có thể tiếp xúc được những tài liệu tối mật của quốc gia, cùng với Anthony Russo (1934-2008) làm ở Rand, Daniel Ellsberg bí mật sao lại (copy) nhiều tài liệu tối mật và rò rỉ ra ngoài cho báo chí biết. Tài liệu rò rỉ bí mật này được giới truyền thông Hoa Kỳ đặt tên cho là Pentagon Papers. Năm 1970, Daniel Ellsberg cố gắng ảnh hưởng trên các Thượng Nghị Sĩ bằng cách thuyết phục các đổng lý văn phòng (chiefs-of-staff) của các Thượng Nghị Sĩ những tàn hại về Chiến Tranh Việt Nam.
    Chủ Nhật ngày 13/6/1971, lần đầu tiên báo Times đăng trích đoạn từng phần 7000 trang   .  Tổng Thống Richard Nixon và Henry Kissinger bị cú đấm bất ngờ, lập tức phản ứng cách hung hãn, cách chức nhiều người họ nghi hoặc. Tổng Thống Nixon nói: “Hãy cách chức ngay những tên đầu não.”  Nội các của Tổng Thống Nixon nộp đơn khẩn cấp xin Tối Cao Pháp Viện ngăn cấm không cho Times và các báo chí tiếp tục đăng tải những tin tối mật của Quốc Phòng.  Times và các cơ quan truyền thông báo chí nhất quyết không chịu tiết lộ Daniel Ellsberg là nguồn gốc nhận tin của họ.  Daniel Ellsberg phải trốn chui trốn nhủi trong bí mật cả 2 tuần.  Sau 2 tuần, Tối Cao Pháp Viện phán quyết Times có quyền tiếp tục đăng tải những thông tin tối mật của Bộ Quốc Phòng được rò rỉ tới họ vì đây là Tự Do Ngôn Luận được bảo vệ bởi Tu Chính Án Thứ Nhất.  Phán quyết này như một cú tát tai vào mặt nội các của Tổng Thống Richard Nixon.
    Ngày 28/6/1971, Daniel Ellsberg và bạn đồng nghiệp Anthony Russo nộp mình cho FBI ở Boston Massachussett.  Chính phủ Liên Bang Hoa Kỳ truy tố 2 người vi phạm Đạo Luật Tình Báo Năm 1917 (Espionage Act 1917).  Sau 2 năm điều tra và nhiều biến chuyển, vào tháng 5 năm 1973, chánh án William M. Byrne, Jr. ra lệnh bãi nại vụ án này. Sau vụ án này, Daniel Ellsberg đi thuyết trình nhiều nơi về các đề tài chính trị cũng như những bí mật lịch sử liên quan đến Việt Nam và Đài Loan. 
    Daniel Ellsberg và Anthony Russo đã tiết lộ những bí mật cách đây hơn 40 năm và hiện nay Daniel Ellsberg còn sống và còn đi thuyết trình những vấn đề đó nên Văn Khố Quốc Gia chấp nhận bạch hóa hồ sơ.  Khi bạch hóa hồ sơ thì một hình thức nào đó họ cũng xác nhận chính sách của Hoa Kỳ là “quyền lợi của Hoa Kỳ là tối thượng” nên sẵn sàng bất chấp cả sự phản bội đối với đồng minh để đạt mục tiêu. Trong tương lai, những ai muốn làm đồng minh với Hoa Kỳ thì phải biết điều này mà trong luật họ gọi đó là caveat emptor – let the buyer beware, làm bạn với Mỹ và nếu Mỹ đâm sau lưng cách bất ngờ thì đừng có than trời trách đất.
    Lời Kết: Hoa Kỳ là siêu cường số 1 trên thế giới hiện nay nên không giao dịch hoặc làm bạn với Hoa Kỳ thì thiệt hại rất nặng nề. Làm bạn với Hoa Kỳ thì phải biết được ưu và khuyết điểm của Hoa Kỳ, đừng đặt quá nhiều kỳ vọng nơi Hoa Kỳ để rồi không biết tự xây dựng thực lực cho chính bản thân mình thì có ngày vì quyền lợi của Hoa Kỳ, họ bán đứng không kịp trở tay thì đau lòng vô cùng.   Trở lại vấn đề Biển Đông,  chắc Hoa Kỳ và Trung Cộng đã có một thỏa thuận ngầm gì ở đàng trong rồi nên Bộ Trưởng Quốc Phòng của Trung Cộng là Trì Hạo Điền mới dám mạnh miệng tuyên bố với Hoa Kỳ là “hãy chia đôi Thái Bình Dương” và trong tháng 6/2011 Bắc Kinh đổ hơn 1000 tỷ Mỹ Kim mua công khố phiếu của Hoa Kỳ.  Chỉ có chế độ đa đảng và sự đoàn kết của người Việt trong và ngoài nước thì mới có đủ sức mạnh để bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Thiếu một trong 2 yếu tố này, nguy cơ mất nước của Việt Nam rất là gần kề./.

  • Tham luận

    Tôn Thất Sơn : HT Thích Quảng Đức có là việt cộng không???

     

    Thưa Quý Vị,
    Viết điều này ra thì nhúm Cư sĩ Phá hoại PG và những vị phật tử  tranh đấu hoặc quá khích khác sẽ la làng Tôn-thất Sơn này đánh phá Phật giáo, nhưng tôi trọng sự thật, ghi ra đây : Năm 1963 khi nhìn hình qua báo chí thời đó cũng như nghe tin rầm rộ khắp nơi ” Hòa thượng Quảng tự thiêu phản kháng cố T.T Ngô Đình Diệm đàn áp PG ”, tôi tin và yên trí là như thế.
    Thời gian sống lưu vong nước người, qua đài VTV4 tôi được biết chiếc xe Anh hiệu Austin chở HT Quảng Đức đến ngã tư Phan Đình Phùng với đường gì đó, được trang trọng nằm triển lãm tại Chùa Linh Mụ ở Huế. Mới đây, đọc trên các D.Đ Việt ngữ rồi xem hình ảnh ” tự thiêu ” của HT Quảng Đức cùng lời chú giải được phổ biến, cho thấy Nguyễn Công Hoan, một tên VC, đã ra tay thiêu HT Quảng Đức. Rồi hình ảnh chóp bu VC thành ủy Th.p.Saigon làm tượng thờ phụng và vinh danh HT Quảng Đức.
    Kết luận: bao nhiêu dữ kiện cho tôi hiểu rằng VC đã giết HT Quảng Đức bằng cách thiêu sống.
    Tôi tự hỏi : nếu HT Quảng Đức không bằng lòng thì VC mần răng
    thi hành vụ giết người này ?
    Tôi không dám tự tiện trả lời : HT Quảng Đức có phải là VC ???
    tôn-thất sơn 

     

     

    LTS: Tại thành phố Sài gòn, sau khi việt gian cộng sản cưỡng chiếm trọn miền Nam, chúng chỉ lập tượng đài của tên đại việt gian Hồ chí Minh và Tôn Đức Thắng. Mới đây chúng lại tạc tượng Thích Quảng Đức???!!!

     

    Nhóm Phật giáo Ấn Quang, hiện nay là Phật giáo VN Thống Nhất vẫn luôn tự cho mình là chống cộng từ Thích Đôn Hậu đến bây giờ là Thích Quảng Độ, người chủ trương và kêu gọi dân Việt "biểu tình tại gia".

     

    VGCS không bao giờ lập tượng đài cho kẻ chống chúng. Vậy Thích Quảng Đức là ai, chúng tôi xin dành câu trả lời cho quý độc giả.

     

    Thích Quảng Đức có là việt cộng không???

     

     

    Aladin Nguyen:

    Chuyện trọng đại như thế này mà sao không thấy văn phòng hóa đạo của Võ văn Ái ở Paris và nhóm tiên sinh nick lytranlenguyen cùng với bà Phạm Hoàng Vương, Trần văn Thưởng hoặc Phạm hoài Việt,  tay sai chuyên chuyển bài chửi bới Cần Lao và VNCHI/NĐD rất hăng máu, và bè lũ lên tiếng và phổ biến tin tức của ông sư hổ mang nằm vùng Quảng Đức dưới đây vậy cà..

    Cả lũ nêu trên lên tiếng đi chớ, nên ăn mừng và hồ hởi phấn khởi với tin tức nhà sư Quảng Đức của mình được đúc tượng và được nhà nước ta, đảng ta ghi công..

     

    Khánh thành tượng đài Thích Quảng Đức

    TTO – Ngày 18-9, tại ngã tư Nguyễn Đình Chiểu – Cách Mạng Tháng Tám, UBND TP.HCM, Thành hội Phật giáo TP.HCM đã tổ chức lễ khánh thành công trình tượng đài Bồ tát Thích Quảng Đức.

     

     

    Quang cảnh lễ khánh thành công trình tượng đài Bồ tát Thích Quảng Đức sáng 18-9 – Ảnh : Minh Đức

     

    Chân dung tượng đài Bồ tát Thích Quảng Đức – Ảnh : Minh Đức

     

    Chính tại nơi đây, vào mùa Phật đản năm 1963 lịch sử, trước sự đàn áp dã man của chính quyền Ngô Đình Diệm, Hòa thượng Thích Quảng Đức đã phát thiện thiêu thân để phản đối chế độ độc tài, gia đình trị, kỳ thị tôn giáo và áp bức các phong trào đấu tranh vì hòa bình, dân chủ và dân sinh.

     

    Chính từ ngọn lửa thiêng của Bồ Tát đã thổi bùng lên tinh thần đấu tranh dũng cảm của đông đảo Tăng ni phật tử và bao lớp người yêu nước, thúc đẩy phong trào cách mạng của miền Nam, dẫn đến nhiều thắng lợi to lớn.

     

     

    Bí thư Thành ủy TP.HCM Lê Thanh Hải (thứ 3 từ phải sang) cùng với các vị lãnh đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Thành Hội TP.HCM, lãnh đạo HĐND TP.HCM cắt băng khánh thành công trình tượng đài Bồ tát Thích Quảng Đức – Ảnh: Minh Đức

     

     

     

    Bí thư Thành ủy TP.HCM Lê Thanh Hải, Chủ tịch UBND TP.HCM Lê Hoàng Quân cùng các lãnh đạo TP.HCM tham quan bức phù điêu tái hiện phong trào đấu tranh Phật giáo chống lại chế độ Mỹ ngụy tại công trình tượng đài Bồ tát Thích Quảng Đức – 

    Ảnh : Minh Đức

     

    Ông Nguyễn Thành Tài – phó chủ tịch thường trực UBND TP.HCM – nhấn mạnh việc xây dựng tượng đài Bồ tát Thích Quảng Đức ngay tại địa điểm ghi lại dấu ấn lịch sử hào hùng năm xưa mang một ý nghĩa đặc biệt. Đó chính là sự ghi nhận công lao, thể hiện sự tôn vinh cao nhất của lãnh đạo và nhân dân thành phố đối với tấm gương hy sinh cao cả của một bậc chân tu đã hiến trọn đời mình cho đạo pháp và dân tộc.

     

    "Chúng tôi tin tưởng rằng hình ảnh sống động của tượng đài Bồ tát Thích Quảng Đức sẽ tác động trực tiếp và giáo dục tinh thần yêu nước đến mọi tầng lớp nhân dân, khơi dậy lòng tự hào của các thế hệ đi sau", ông Tài phát biểu.

     

    Công trình Tượng đài Bồ tát Thích Quảng Đức được khởi công xây dựng từ tháng 11- 2007.

    Hãy nhìn xem: « Lửa Từ Bi ». 

       Download this file

     

             

     Bây giờ, là những ngày đầu của mùa Xuân Canh Dần, 2010.  Đã bốn mươi bảy năm dài trôi qua, nhưng có lẽ không riêng tôi, mà rất nhiều người trong chúng ta khi nghe đến tên « Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu », với ngọn « Lửa Từ Bi » đã bừng bừng đốt cháy một người đã hôn mê qua những tấm hình trên các trang báo. Có những tấm hình người ta đã cho thấy « Hòa thượng Thích Quảng Đức » đang bốc cháy, hoặc có tấm hình cho thấy có một người cầm can xăng đang đổ từ vai xuống người của  Hòa thượng Thích Quảng Đức.

     

      Nhưng, hôm nay, tôi mới vừa nhìn thấy một đoạn phim trên: You Tube video: Bo Tat Quang Duc ( Monge Budista suicidio ). Đoạn phim này, đã được quay ngay lúc Hòa thượng Thích Quảng Đức đang bị Phật giáo Ấn Quang bức tử.

     

         Cách đây, bốn mươi bảy năm, vào lúc 7 giờ sáng ngày 11-6-1963, ( nhằm ngày 20-4 âm lịch ) những kẻ sát nhân này; trong đó có Trần Quang Thuận đã chở Hòa thượng Thích Quảng Đức đến ngã tư Lê Văn Duyệt – Phan Đình Phùng, Sài Gòn, để đốt chết. Ngoài Trần Quang Thuận còn có Nguyễn Công Hoan là dân biểu lưỡng triều. Nghĩa là trước 30-4-1975, Nguyễn Công Hoan là dân biểu của Việt Nam Cộng Hòa và sau ngày mất nước Nguyễn công Hoan cũng tiếp tục là dân biểu tỉnh Phú Khánh của bọn việt-gian-cộng-sản. Nguyễn Công Hoan là người đồng hương với Hòa thượng Thích Quảng Đức;

     

       Theo những tài liệu cũ, thì suốt trong thời gian cuối đời của Hòa thượng Thích Quảng Đức, sau khi đã « được » Phật giáo Ấn Quang đã ra lệnh phải bức tử, Nguyễn Công Hoan luôn luôn ở bên cạnh Thượng tọa Thích Quảng Đức, để « theo dõi sức khỏe ». Nhưng, thực ra, là mỗi ngày Nguyễn Công Hoan đóng vai là một y tá đã chích cho Hòa thượng Thích Quảng Đức bằng  « thuốc trợ tim » đến nỗi đã khiến cho Hòa thượng Thích Quảng Đức từ từ biến thành một kẻ vô hồn. Bởi vậy, nên mọi người đều thấy khi được dìu đến nơi để phải chịu đốt, thì Hòa thượng Thích Quảng Đức đã hoàn toàn hôn mê, bất động và ngồi như một bức tượng đá trong ngọn « Lửa Từ Bi ».

     

     
     
     
     

     

      

      Và, chính Nguyễn Công Hoan là tên giả sư đã tự tay cầm một can xăng để tưới từ trên vai xuống người của Hòa thượng Thích Quảng Đức. Rồi cũng chính Nguyễn Công Hoan đã dùng chiếc Zipo loại lớn để bật lửa rồi đốt cháy Hòa thượng Thích Quảng Đức trong lúc ông đã  bị hôn mê hoàn toàn, theo: Lệnh  Bức Tử của Phật Giáo Ấn Quang.

     

        Trước đây, tôi đã viết về cái chết của Hòa thượng Thích Quảng Đức và tên dân biểu lưỡng triều Nguyễn Công Hoan, là lúc Nguyễn Công Hoan đang có mặt tại nước Mỹ.

     

        Tưởng cũng nên nhắc lại: Vào năm 1977, trong lúc đương là Dân biểu của bọn việt-gian-cộng-sản của tỉnh Phú Khánh, Nguyễn Công Hoan đã cùng Trần Bình Nam, tức Trần Văn Sơn, cựu Trung tá Hải Quân – cựu dân biểu VNCH; nhưng Trần Bình Nam vì là người thân của Dương Văn Minh, và là bạn chí thiết của Nguyễn Công Hoan, nên không bị vào tù « cải tạo » mà vẫn sát cánh kề vai bên Nguyễn Công Hoan là Dân biểu của việt-gian-cộng-sản. Cả nguyễn Công Hoan và Trần Bình Nam đã dùng một chiếc thuyền chỉ có hai người là bạn thân thiết với nhau cùng với người tài công, để lên đường « vượt biển » tại bãi biển Nha Trang.

     

        Sau đó, cả Nguyễn Công Hoan và Trần Bình Nam đã đến nước Mỹ. tôi nhớ lúc đó, đã có nhiều tờ báo; trong đó, có Văn Nghệ Tiền Phong của Ông Nguyễn Thanh Hoàng đã  lên tiếng và đặt nghi vấn về chuyện « vượt biển » của hai người này. Song rồi theo thời gian, mọi chuyện cũng đã đi vào quên lãng.

     

       Nguyễn Công Hoan hiện đang sống trên đất Mỹ, nhưng y không hề ra mặt hay lên tiếng. Riêng Trần Bình Nam, tức Trần Văn Sơn là thường xuyên viết bài đưa lên nhiều trang điện báo.  Xin mọi người đừng quên: Trần Bình Nam là bạn thân thiết của Nguyễn Công Hoan, từng hoạt động với nhau, và cũng cùng nhau lên thuyền « vượt biển » vào tháng 5 năm 1977, là thời điểm bọn việt-gian-cộng-sản đang kềm kẹp người dân trong trong bàn tay sắt thép một cách kinh hoàng nhất; nhưng Nguyễn Công Hoan và Trần Bình Nam đã thuận buồm xuôi gió trên một chiếc thuyền du lịch để sang nước Mỹ.

     

         Trở lại với đoạn phim trên:  You tube video: Bo Tat Quang Duc ( Monge Budista suicidio ) ». Tôi thật hết sức kinh hoàng khi nhìn thấy những tên sư sãi của Ấn Quang, tất cả đã đều vô cảm trước ngọn « Lửa Từ Bi » đang đốt cháy đồng môn!!!

     

     

     

     

       

    Nhưng, tôi lại càng khiếp đảm hơn nữa, khi nhìn thấy thái độ của những nhân viên cảnh sát Việt Nam Cộng Hòa. Bởi tất cả họ cũng đều dửng dưng trước hành vi phạm pháp của Phật giáo Ấn Quang, khi họ ngang nhiên tưới xăng đốt người giữa thanh thiên bạch nhật. Họ đã đồng lõa với tội ác, vì thấy chết mà không ngăn cản, không cứu người. Chẳng những thế, mà họ còn đưa cả hai cánh tay ra ngăn cản những người khác để không cho ai được cứu người. Họ là ai? Xin thưa,  họ là những nhân viên cảnh sát đã theo lệnh của Phật giáo Ấn Quang, vì phải giết chết Hòa thượng Thích Quảng Đức, mới mong làm sụp đổ Nền Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa.

     

        Đến đây, tôi xin được trích đoạn lại về cuộc đốt người này, qua cuốn sách Trong Lòng Địch của Tác giả Trần Trung Quân, từ trang số 99 đến trang 114, đã  xuất bản vào năm 1984, như sau. Kính mời quý vị cùng theo dõi:

     

          « Vào khoảng 4 giờ rưỡi sáng, Vũ Mạnh Trường mới đi vào công tác cụ thể. Trung úy Dương Quang Lâm, phụ tá của Vũ Mạnh Trường chăm chú ghi từng tên một, và tên người được trao phó cho công tác. Chính Vũ Mạnh Trường cũng đã thấm mệt. Nhấp một ngụm trà cho thấm giọng, Trường đưa đôi mắt đỏ lừ gườm gườm nhìn Thích Trí Quang:

     

      Làm cách mạng không thể không có máu đổ. Nếu là máu nhà sư thì càng tốt nữa. Sự thù hận của dân chúng đối với Diệm-Nhu càng ngùn ngụt bốc cao hơn không còn sức mạnh nào ngăn chặn nỗi nữa. Bộ chính trị trung Ương đảng đã nhận rõ tình hình và quyết định rằng, chỉ vài nhà sư chết thảm là bọn Diệm-Nhu sẽ sụp đổ vô phương cứu vãn. Cho nên Đảng đã quyết định là phải giết sư để xúc tiến công cuộc thống nhất đất nước.  Đồng chí Kiều Tuấn Cương ( bí danh của Thích Trí Quang ) nghĩ thế nào?

     

       Thích Trí Quang ấp úng:

        Dạ … dạ …

         Vũ Mạnh Trường quắc mắt đập mạnh tay xuống bàn giận dữ:

        Tôi yêu cầu đồng chí phát biểu ý kiến về sự thực hiện kế hoạch của đảng, có yêu cầu đồng chí tán thành hay phản đối đâu mà đồng chí dạ …

     

       Thích Trí Quang ngồi im, gục mặt xuống. Cả hội trường không ai phát biểu ý kiến nào. Trường đắc chí, hất mặt lên, lớn tiếng dõng dạc:

          Đảng ta đã trù liệu cả rồi. Bộ Chính Trị ủy ban Trung ương Đảng đã là những « đỉnh cao trí tuệ của loài người ». Chúng ta bì sao kịp! mà địch cũng không thể nào chống đỡ nỗi. Đảng có lệnh chúng ta phải khích động hoặc tạo điều kiện khích động các sư tự thiêu để cúng dường tam bảo! Có thế mới hấp dẫn được dư luận thế giới, mới gây căm thù sâu sắc trong dân chúng đối với chính quyền miền Nam được. Này, đồng chí Cương, thằng Giác Đức nó dám tự thiêu không?

        Chắc là không đâu, đồng chí. Nó nói thì hăng lắm, nhưng chỉ ba hoa thôi. Nó là học trò tôi, tôi biết rõ nó lắm. Háo danh, nhưng rất hèn.

       Thế còn Thích Hộ Giác?

       Hộ Giác cũng vậy, háo danh. Cái mộng của nó là mò lần lên chiếm ghế Viện Trưởng Viện Hóa Đạo đặng nở mặt với đời. Cái thứ như thế mà đòi hỏi nó hy sinh thì thật là khó. Chỉ có ai hy sinh cho nó leo lên thì chắc nó ký cả hai tay mà thôi.

       Thích Thanh Từ thế nào?

       Thích Thanh Từ là đệ tử của Thích Thiện Hoa. Thầy Thích Thiện Hoa còn ở Bến Tre chưa lên. Không có lệnh của thầy thì hắn chắc không chịu làm việc gì.

     

       Đến đây, Cao Đăng Chiếm mới lên tiếng:

       Việc này, đồng chí Hằng có thể làm được.

       Hằng, tức Thích Thiện Minh giật mình đánh thót, vội nhỏm dậy:

       Thưa đồng chí …

       Nhưng Chiếm đã khoát tay ra dấu cho Hằng ngồi xuống, cười nhạt:

     

       Tôi không bảo đồng chí tự thiêu đâu mà lo ngại. Đồng chí còn đắc dụng vào nhiều việc khác. Tôi chỉ nói rằng, với tài miệng lưỡi của đồng chí và lòng tín cẩn của Thích Quảng Đức nơi đồng chí, chắc đồng chí thừa sức cải tạo tư tưởng của Thích Quảng Đức, để hắn tình nguyện tự thiêu.

     

       Thích Thiện Minh cười tít mắt. Cao Đăng Chiếm đã gãi đúng chỗ ngứa của tên đội lốt thầy chùa để làm chính trị và có nhiều anh hùng tính cá nhân này. Thích Thiện Minh vặn mình mấy lượt cho khắp hội trường phải ngó lại nhìn hắn, rồi mới lên tiếng:

     

        Cái đó, thì mấy anh khỏi lo. Quảng Đức đã bị tôi thuốc nước rồi. Ngày hôm kia trả lời cuộc phỏng vấn của tụi báo chí ngoại quốc, tôi đã gài cho Quảng Đức kẹt cứng rồi. Tôi đã nhân danh Thích Quảng Đức mà tuyên bố như vầy: “ Nếu Diệm không phóng thích tất cả tù nhân chính trị, không ban hành một chế độ đặc biệt cho các tôn giáo, trong đó có Phật Giáo được treo cờ Phật Giáo ngang hàng với quốc kỳ, thì thầy Thích Quảng Đức nguyện sẽ tự thiêu để gióng lên tiếng chuông báo động với thế giới về những hành động kỳ thị tôn giáo, nhằm tiêu diệt Phật giáo của chính phủ Diệm-Nhu. Và Hội đồng Ấn quang sẽ đưa vấn đề ra trước Liên Hiệp Quốc”.

     

      Trường gật gù có vẻ tán thưởng:

      Thái độ của Quảng Đức lúc ấy như thế nào?

     

      Quảng Đức không nói gì, chỉ cúi đầu nhìn xuống. Nhưng tôi biết hắn có vẻ hơi thất vọng. Tuy nhiên, tính Quảng Đức rất ôn hòa và vị tha, lại dễ xiêu lòng, nên sau đó, tôi đã thêu dệt cả một tòa sen rực rỡ trên niết bàn đang chờ đợi ông ta, nhờ ông ta hy sinh vì Phật Pháp. Ông ta sẽ đắc đạo, sẽ thành Phật, và bức chân dung của ông sẽ được thờ phượng ở khắp các chùa sau này …

     

       Kết quả có đến 80 phần trăm là Quảng Đức nghe tôi và sẵn sàng hy sinh. Điều tôi lo ngại là chúng ta không ra tay gấp, rủi gặp Hộ Giác, gặp những tên ba hoa như Hộ Giác lỡ miệng xúi bậy ông ta bỏ ý định thì hỏng hết.

     

       Ngày tự thiêu của thầy Quảng Đức gần kề bao nhiêu, thì sức khỏe của thầy sa sút bấy nhiêu. Tim thầy mệt cầm canh. Gần như cả ngày thầy không hề nói một câu, ngoài việc tụng kinh niệm Phật. Ý thầy đã quyết chết và sẵn sàng “ vị pháp vong thân” rồi, nên tùy thân xác còn lưu lại nơi trần thế, hồn thầy đã bay vào thế giới khác. Lúc này, Thích Thiện Minh ra lệnh cho Huỳnh Văn Thạnh phải suốt ngày cận kề bên thầy Quảng Đức, không được rời thầy nửa phút. Không phải hắn lo cho sức khỏe của thầy, nhưng là đề phòng mật vụ VNCH bắt mất thầy thì thực là xôi hỏng bỏng không. Cộng sản đã mất bao nhiêu thì giờ để thuyết phục vừa áp lực thầy tự thiêu cúng dường, thì không thể sơ hở trong phút chót được. Thích Trí Quang đã thức trắng mấy đêm liền để dọn tinh thần cho thầy, trong khi Huỳnh Văn Thạnh nâng giấc thầy còn hơn cha mẹ, lo giặt giũ quần áo, lo từng miếng ăn tới ngụm nước uống cho thầy. Để về sau, chính hắn đã tưới xăng lên người thầy và châm lửa đốt thầy.

     

        Huỳnh Văn Thạnh theo cộng sản từ năm 1959, nhưng hắn không tập kết ra Bắc. Cộng sản để hắn ở miền Nam làm công tác tình báo cho Việt cộng ở khu 5. Tới năm 1962, hắn được biệt phái qua khu Dương Minh Châu, cho xâm nhập vào Sài Gòn hoạt động trong chiến dịch giáo vận. Năm 1964, cho phù hợp với đường lối và chính sách mới của Việt cộng là “gây ung thối trong hàng ngũ quốc gia” Thạnh được triệu ra khu, ẩn bóng một thời gian và sau đó Việt cộng làm hộ tịch giả cho hắn mang tên mới là Nguyễn Công Hoan, và cho hắn về Sài Gòn hoạt động chính trị công khai, đứng phe đối lập với chính quyền Nguyễn Văn Thiệu. Năm 1966 tới năm 1972, nhiều lần cán bộ nằm vùng vận động tối đa rồi mới đưa hắn ra ứng cử dân biểu quốc hội VNCH, và hắn đắc cử tại đơn vị Phú Yên.

     

       Sau ngày cộng sản chiếm Sài Gòn tên Huỳnh Văn Thạnh, tức Nguyễn Công Hoan, xuất đầu lộ diện nguyên hình, tích cực tuyên truyền cho cộng sản và chỉ điểm cho công an việt cộng bắt không biết bao nhiêu chiến sĩ quốc gia chân chính. Để trả công cho hắn, việt cộng cho hắn vào quốc hội của cộng sản, để lừa bịp dư luận rằng cái quốc hội của cộng sản không hoàn toàn chỉ gồm những đảng viên hay tay sai của cộng sản, mà còn gồm cả một số dân biểu, nghị sĩ “ Ngụy” đã biết ăn năn hối cải trở về với “cách mạng”.

     

        Tuy nhiên, Nguyễn Công Hoan vào múa may ở quốc hội của cộng sản một thời gian, thì những tên chủ nhân việt cộng của hắn thấy cũng không lừa bịp nỗi ai, nên bèn cho hắn “ vượt biên tỵ nạn” để ra nước ngoài làm công tác kiều vận. Nguyễn Công Hoan đã vượt biển sang Nhật, sau đó, nhờ thủ đoạn và móc nối chính trị hắn đã tới được nước Mỹ một cách ngon lành. Nhưng cái mác dân biểu lưỡng trào của hắn và cuộc tỵ nạn mờ ám của hắn đã bị đồng bào nghi kỵ, cho nên hắn chẳng làm được trò trống gì. Hiện nay, hắn trùm mền núp bóng một tên sư hổ mang để chờ một cơ hội khác.

     

        Đó là những chuyện  xảy ra về sau, mà đa số chúng ta, nhất là bạn đọc của Văn Nghệ Tiền Phong đều biết rõ. Nay xin trở lại với chuyện “ tự thiêu của thầy Thích Quảng Đức”. vấn đề mà việt cộng lo ngại nhất là làm sao mang một thùng xăng khá lớn để có thể đốt cháy thầy Quảng Đức ngay tức khắc để các cơ quan công quyền không kịp cứu. Mang một thùng xăng lớn tới nơi mà chúng định thiêu thầy Quảng Đức cho trót lọt không phải dễ, vì an ninh VNCH đã rõ mưu đồ của việt cộng. Huỳnh Văn Thạnh, tức Nguyễn Công Hoan, chính là tên đã được việt cộng trao cho trọng trách cung cấp xăng đốt thầy Thích Quảng Đức, và Thích Thiện Minh là người được đề cử để giám sát vụ này, nên hắn rất lo lắng. Đêm hôm trước khi xảy ra vụ “tự thiêu”, chính Thích Thiện Minh biểu tài xế lái xe chở đi gặp Huỳnh Văn Thạnh để cho biết rằng xăng đã được giấu trong hai thùng nhỏ đựng dầu hôi trong gánh hàng của một nữ cán bộ việt cộng đóng vai người đi bán hàng rong buổi sớm.

     

       Bao nhiêu lít? Thích Thiện Minh hỏi.

       15 lít, thưa thầy. Thạnh trả lời.

       15 lít đủ đốt không con?

       Dư sức mà thầy, 5 lít cũng đủ chết bà Quảng Đức rồi.

       Phần kế hoạch F2 con cẩn thận nhé.

       Thầy yên tâm, trước khi “ xuất hành”, con sẽ gửi thêm một mũi Trenxinne nữa. sau đó, con sẽ bồi thêm hai mũi trợ tim Haldol là đủ.

       Vậy à. Tốt lắm, công con to lắm …

     

       Bảy giờ sáng, ngày 20 tháng 4 năm 1963 ( ngày âm lịch ) dương lịch là ngày 11-6-1963, không khí bên trong chùa buồn như đám ma. Tăng ni ai nấy đều mặt mày ủ rũ thương cho thầy Quảng Đức chỉ chốc lát nữa đây sẽ bị đưa lên giàn hỏa để “ bảo vệ đạo pháp”. Ngoại trừ một số ít cán bộ việt cộng và tay sai núp áo cà sa giết người cho cộng sản, là hăm hở chờ đợi giờ phút xảy ra biến cố.

     

       Ngay từ lúc 4 giờ sáng, Huỳnh Văn Thạnh đã vô giường thầy Quảng Đức, lật mông thầy lên để chích cho thầy một mũi Trenxinne, mà hắn thỏ thẻ thưa là “thuốc trợ tim” để thầy mau bình phục sức khỏe. Thầy Quảng Đức ngủ mê man, ngủ say sưa như một đứa trẻ thơ trong nôi, sau khi đã no sữa, ống thuốc Trenxinne thấm, cơ thể thầy Thích Quảng Đức bỗng mềm nhũn, ngắt véo, thầy cũng không biết đau.

     

       Lúc ấy, Huỳnh Văn Thạnh, tức Nguyễn Công Hoan, mới ra dấu cho đàn em chạy vào lau mình mẩy cho thầy, và thay cho thầy bộ áo cà sa mới toanh. Thế là việt cộng đã chuẩn bị xong để đưa thầy Thích Quảng Đức  ra cúng tổ … Các … Mác!!!

     

       Trên đây, là những trích đoạn về lệnh bức tử Hòa thượng Thích Quảng Đức của Phật giáo Ấn Quang, tiền thân của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất và  bọn việt-gian-cộng-sản, trong cuốn sách Trong Lòng Địch của tác giả Trần Trung Quân.

     

      Tôi cũng cần phải nhắc lại:

     

       Vào tháng 5-1977,  Nguyễn Công Hoan, tức Huỳnh Văn Thạnh đã cùng Trần Bình Nam lên một chiếc thuyền và rời bãi biển Nha Trang, chỉ có hai người này và tài công, và cả hai hiện đang có mặt trên đất Mỹ.

     

       Và, vì đây là một bài viết có liên quan đến đoạn phim vừa đưa lên: You Tube video: Bo Tat Quang Duc ( Monge budista suicidio ). Nên một lần nữa, tôi lại phải mời quý độc giả hãy cùng đọc lại những lời của cựu Đại đức Thích Huệ Nhật, tức Mục sư Tin Lành Nguyễn Huệ Nhật, trong cuốn sách “Từ Áo Cà Sa Đến Thập Tự Giá”. Ông đang có mặt tại Đức quốc, để cùng nhau suy gẫm:

     

     

      

    “Cái  chết tự nguyện là gì?  Những người tự thiêu cho đạo pháp:

        

     Nguyễn Huệ Nhật

     

     

       “ Tôi xin giới hạn trong phạm vi hiểu biết của cá nhân mình, và những gì tôi viết sau đây cũng là một số kinh nghiệm và nhận xét của riêng tôi, sau ba lần tưởng đã chết nhưng nay tôi còn sống trong Ơn Cứu Rỗi của Thiên Chúa, nên xác tín hơn, rộng mở hơn.

     

        Người tự thiêu đầu tiên trong thời kỳ Phật giáo đấu tranh chống lại kỳ thị tôn giáo dưới thời chính phủ Ngô Đình Diệm là Hòa thượng Thích Quảng Đức. Ngài là một vị tu sĩ bán thế xuất gia, nghĩa là có vợ con trước khi đi tu. Con ruột ngài cũng là đệ tử nổi tiếng của ngài sau khi ngài hy sinh. Ngài chỉ nổi tiếng sau khi hy sinh.

     

       Cũng như tất cả các vị thánh tăng đã nối tiếp tự thiêu cho Đạo Pháp, bản thân Hòa Thượng Thích Quảng Đức không hề biết rằng kết quả tốt do sự hy sinh của ngài chỉ là nhất thời  từ 1-11-1963, còn hậu quả xấu do sự hy sinh của ngài là lâu dài từ mùa hè 1966 đến nay. Vì sau khi chính phủ Ngô Đình Diệm bị lật đổ, Phật giáo Việt Nam chỉ thắng thế nhất thời, để rồi càng bị CSVN lợi dụng sâu sắc hơn, và đưa những cuộc đấu tranh kế tiếp đến ngày 30-4-1975, cho cộng sản Việt Nam lên cướp chính quyền.

     

        Nhìn lại quá trình, chỉ hai năm đầu sau khi chính phủ Ngô Đình Diệm sụp đổ, Hội Phật Học VN đã trở thành GHPGVNTN nổi như cồn, nhưng đó là thời gian manh nha đưa GHPGVNTN đến tình trạng suy đồi và phân rẽ ngay trên đỉnh cao thế lực của họ. Năm 1966, GHPGVNTN chia rẽ thảm khốc giữa hai phe Việt Nam Quốc Tự và Ấn Quang. Chưa bao giờ lịch sử Phật giáo Việt Nam có sự căm thù nhau, phân rẽ nhau tệ hại như thế. Vụ đem bàn thờ Phật ra đường để đấu tranh trong mùa hè 1966, là một bằng chứng suy tàn nhất của tinh thần và tổ chức Phật giáo Việt Nam. Nếu tôi kể ra những bất đồng của các vị lãnh đạo PG trong vụ Đem Phật Ra Đường, thì rất phiền. Những cuộc tranh giành đẫm máu trong khuôn viên Việt Nam Quốc Tự cho đến nay vẫn còn giữ kín, trừ vụ kéo sập dãy nhà do Đại đức Thích Đức Nghiệp xây lên sát lề đường Trần Quốc Toản là không thể dấu diếm được. Tôi ngẫm nghĩ Thượng tọa Thích Trí Quang chỉ là một mẹ mìn rất đắc lực của cộng sản Bắc Việt. Ông bắt cóc niềm tin của đa số Phật tử, để biến họ thành phương tiện hữu hiệu nhất cho cộng sản Bắc Việt vào xâm chiếm miền Nam, và ông đã cho cộng sản Bắc Việt vắt chanh bỏ vỏ tất cả nhân, tài, vật lực do niềm tin ấy mà có. Khi công việc bắt cóc ấy hoàn thành, mẹ mìn Thích Trí Quang ngồi im lặng rung đùi và được cộng sản Việt Nam bảo vệ kỹ, không ai dám động một sợi lông chân của ông.

     

        Tôi tin chắc rằng Hòa thượng Thích Quảng Đức đã không hình dung nổi hậu quả tang thương về sau nầy, đối với Phật giáo nói riêng, và dân tộc nói chung, qua sự hy sinh của ngài. Chính người con trai ruột của ngài, người đã trở thành một vị Thượng tọa ni tiếng tại ngôi chùa của ngài để lại trên đường Trương Minh Giảng, đã sống ba chìm bảy nổi mang nhiều tăm tiếng và cũng bị tù đày trong chế độ cộng sản.

     

         Lần tự thiêu thứ nhất tại Sài Gòn là lần tôi hoàn toàn chờ đợi theo sự sắp xếp và tổ chức của Ủy Ban Liên Phái, nhưng không thực hiện được, vì tình hình sao đó.

     

         Một người khác là thầy Lưu Bổn đệ tử của Hòa Thượng T.M.H chùa TL, Huế, cũng đã nhảy xuống giếng sâu tự tử tại chùa Phật giáo Đà Nẵng, vào mùa hè 1972, sau khi bị nghi ngờ một chuyện xấu. Mười lăm phút trước khi nhảy xuống giếng, thầy Lưu Bổn ngồi ăn trưa với tôi một cách lặng lẽ.

     

       Một người bạn khác của tôi tên T. An, cũng đi tu ở chùa Phổ Đà tại Đà Nẵng, ông mở một trường Bồ Đề ở gần ga xe lửa Đà Nẵng, cũng đã tự thiêu vì một chuyện riêng, nhưng sau đó được dư luận báo chí cho là tự thiêu vì ý nghĩa lớn lao khác. Trong thế giới tôn giáo đã lâm lụy vào những cơ mưu chính trị thời Việt Nam Cộng Hòa, một vài trường hợp các tu sĩ tự tử bằng cách tự thiêu đã được gán cho những ý nghĩa cao cả “Ý nghĩa cao cả” ấy được áp đặt cho mục đích khác, mà người tự thiêu không đặt ra, nhưng sau cùng những người bà con của họ cũng được hưởng tiếng thơm “Thánh Tử Đạo”. Cũng có nhiều vụ tự thiêu do ý định tự tử để giải quyết chuyện riêng, nhưng khi thực hiện, họ lại nêu lý do thiêng liêng để che đậy chuyện bậy bạ. Hoặc là người tự tử bằng cách tự thiêu xong rồi, sau đó mới được gán cho một ý nghĩa thiêng liêng. Thời đó, nhiều vụ tự thiêu đã bị lạm dụng. Người tình nguyện tự thiêu thì đông, nhưng người đáng được chấp nhận thì ít. Vì một người có đời sống không sáng sủa, nếu được chấp nhận cho tự thiêu, sẽ có nguy cơ làm mất niềm tin của nhiều người khác. Tất cả những người tình nguyện tự thiêu đều là những người không sáng giá khi còn sống. Những người sáng giá nghĩ rằng mình cần sống để làm việc có kết quả hơn.

     

       Những người nêu trên đều quen thân với tôi, nên tôi biết một số lý do tại sao họ đã tự thiêu. Giống như những người thất tình, những thí sinh thi rớt, những đứa con giận cha mẹ, những người bị thất bại làm ăn … Họ không còn thiết sống nữa. Họ tìm đến cái chết để trốn chạy một thực tại bất đắc chí bằng cái chết tự sát”

     

        Quý độc giả vừa đọc qua những trang sách của tác giả Trần Trung Quân và cựu Đại đức Thích Huệ Nhật. Nên biết, sau khi chiếm được miền Nam tự do cho đến hôm nay, thì bọn việt-gian-cộng-sản đã trả công cho Phật giáo Ấn Quang bằng rất nhiều hình thức; trong đó, có nhiều con đường mang tên Thích Quảng Đức.

     

        Riêng tôi, vì đã vô cùng căm phẫn trước những hình ảnh của Hòa thượng Thích Quảng Đức đã bị cả lũ người bất lương, vô nhân tính và tàn ác, khi đem sinh mạng của Hòa thượng Thích Quảng Đức ra để làm phương tiện cho cứu cánh. Bởi vậy,  nên tôi phải viết lên bài này, với tất cả tâm thành, tôi ước mong cho mọi người đừng bao giờ đem sinh mạng của bất kể người đó là ai để làm vật hy sinh. Bởi mỗi sinh mạng của một con người trên thế gian này, đều do Trời sinh, thì xin mọi người hãy để cho Trời diệt.

     

          Nhưng, những việc làm của Phật giáo Ấn Quang; trong đó có: Lệnh Bức Tử: Hòa thượng Thích Quảng Đức, đã được xác tín hơn nữa, qua những lời của chính Hòa thượng Thích Quảng Độ qua cuốn sách:

          « Nhận định những sai lầm tai hại của đảng cộng sản Việt Nam đối với dân tộc và Phật giáo Việt Nam Thống nhất». Cuốn sách này đã do Võ Văn Ái viết lời giới thiệu và phát hành vào năm 1995; và Thích Quảng Độ đã có những lời viết  như sau:

       « Chính quyền ông Ngô Đình Diệm càng ngày càng trở nên độc tài, gia đình trị và có tính kỳ thị tôn giáo, nên ít được lòng dân. Sau khi đã tiêu diệt các tôn giáo khác, như Cao Đài, Hòa Hảo, năm 1963, ông Ngô Đình Diệm ra tay đàn áp Phật giáo, toàn thể tăng ni Phật tử miền Nam đã phải đứng lên chống lại để bảo vệ đạo pháp. Đến tháng 11-1963, chế độ ông Ngô Đình Diệm bị lật đổ ». 

     

         Và đến cuốn ngụy thư thứ hai lại cũng do Võ Văn Ái viết lời giới thiệu và đã đăng trên báo «  Quê Mẹ » số 113, trang 06, tháng 06 năm 1995, với cái tựa đề:

        « Bằng đôi chân của mình mời người hãy đi lên », của Thích Đức Nhuận « nguyên Tổng thư ký Viện Tăng Thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất » tức Ấn Quang.

     

        Mở đầu Thích Đức Nhuận đã viết:

       « Tôi viết những dòng chữ dưới đây thân gửi những tâm hồn luôn luôn thao thức đến tiền đồ Dân tộc và Đạo pháp, dù bạn hiện ở trong nước hay ở ngoài nước, xin hãy hướng lên Đức Phật từ bi cao cả nguyện cầu cho Tổ quốc và đồng bào thân yêu của chúng ta: sớm chấm dứt mọi hận thù, biết tha thứ và yêu thương nhau để cùng chung sức chung lòng góp phần xây dựng đất nước Việt Nam Quang Vinh ».

     

        Đến trang số 09, Thích Đức Nhuận viết tiếp:

       « Năm 1963, Phật giáo Việt Nam phát khởi cuộc vận động chống chế độ độc tài gia đình trị Ngô Đình Diệm, đòi tự do và bình đẳng tôn giáo và được toàn dân từ Bắc chí Nam ủng hộ. Bạo quyền mang đặc tính kỳ thị tôn giáo sụp đổ. Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất được thành lập ».

     

         Nên ghi nhớ, vào đại hội thống nhất Phật giáo năm 1981, Thích Đức Nhuận đã được bầu lên ngôi « Pháp chủ Giáo hội Phật giáo Việt Nam cộng sản ».

     

        Qua những lời của chính Thích Đức Nhuận đã viết. Thì rõ ràng là Thích Đức Nhuận đã công khai nhận trách nhiệm của Phật giáo Ấn Quang với câu nói: « Phật giáo Việt Nam phát khởi cuộc vận động chống chế độ… »  là để đánh đổ Nền Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa. Điều quan trọng hơn cả là: « đã được toàn dân từ Bắc chí Nam ủng hộ ». Như thế, đã quá rõ ràng, đã quá sáng tỏ, để cho mọi người hiểu được rằng: Phật giáo Ấn Quang « phát khởi cuộc vận động chống chế độ và đã được toàn dân từ Bắc chí Nam ủng hộ ». Nghĩa là gồm cả cộng sản Bắc Việt.

     

       Như vậy, căn cứ theo những lời của chính hai người đã và đang đứng đầu của GHPGVNTN, tức Ấn Quang ), thì cả hai đã công khai nhận trách nhiệm về cái chết của Hòa thượng Thích Quảng Đức, và kéo theo là sự sụp đổ của Nền Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa và hệ lụy là ngày mất nước: 30-4-1975, với các sư sãi của Phật giáo Ấn Quang đã công khai đưa từng đoàn xe ra tận núi rừng, để đón rước cộng quân vào các thành phố tại miền Nam tự do, cùng với những màn bắn giết các vị là Quân-Cán-Chính Việt Nam Cộng Hòa, vào trước ngày 30-4-1975, để trả thù và để lập công với bọn việt-gian-cộng-sản.

     

       Chính vì thế,  Phật giáo Ấn Quang cho dù có ngụy biện bằng cách nào  chăng nữa, thì vẫn không bao giờ xóa được những tội ác của một thời « tranh đấu » có bàn thờ Phật xuống đường, có máu đổ đầu rơi. Chẳng những vậy, mà qua cái « Thông bạch của hàng giáo phẩm đang đứng đầu Phật giáo Việt Nam đang hành đạo tại Hoa Kỳ », những người này đã bênh vực cho Thích Trí Dũng, người đã công khai trên sách báo là: « Vào Tết Mậu Thân, 1968, chùa Phổ Quang là nơi khai hỏa đánh sân bay Tân Sơn Nhất ».

     

       Vậy, để biết thêm một cách tường tận hơn, xin kính mời quý vị hãy đọc lại bài: Tưởng Niệm Bốn mươi Năm Cuộc thảm Sát Mậu thân: 1968-2008; hiện vẫn còn lưu giữ trên trang điện báo: Hồn Việt: hon-viet.co.uk

  • Tham luận

    Duyên Lãng Hà Tiến Nhất : Từ Mặt Trận đến Việt Tân

    V.A., một bạn trẻ ở Việt Nam viết cho chúng tôi hỏi về Việt Tân. Thư có đoạn viết:

    "Con đang sống ở Việt Nam, ngay tại Sài Gòn  ………. con đã vô tình đọc được một bài viết của bác cảnh báo việc phong trào biểu tình đang bị lợi dụng và "dàn dựng", trong đó bác có đề cập đến đảng Việt Tân theo chiều hướng tiêu cực. Con hơi ngạc nhiên vì xưa nay con chỉ biết đảng Việt Tân là một đảng chống cộng. Con tự tìm hiểu thêm và biết được nhiều thông tin về mặt trái của đảng Việt Tân. Sau đó con thử post một bài thăm dò trên nhóm Xuống Đường Trên Mạng, đại ý kêu gọi mọi người nên can đảm nhìn vào thực tế và kết hợp biểu tình lên án chính quyền với biểu tình chống Trung Cộng, thay vì chỉ hô hào chống Trung Cộng mà không dám hó hé một tiếng đụng chạm tới chính quyền. Ngay lập tức, có người đề nghị xóa bài post của con.

    Hiện nay, đảng Việt Tân đang đứng sau lưng nhóm Xuống Đường Trên Mạng, mà nhóm này thì đã phần nào chi phối được phong trào biểu tình và thu phục được lòng tin của nhiều người (thậm chí trong nhóm có nhiều thành viên ủng hộ đảng Việt Tân). Con muốn xin bác vài thông tin chi tiết về việc đảng Việt Tân cấu kết với đảng Cộng Sản để chiêu dụ và chụp lưới những người đấu tranh dân chủ, vì con đang cần những chứng cứ cụ thể để cảnh báo tới những nhóm khác trước khi đảng Việt Tân liên kết luôn với những nhóm này và kiểm soát hoàn toàn phong trào biểu tình.

    Có một điều con hơi thắc mắc, đảng Việt Tân ăn theo phong trào biểu tình là để dàn dựng kịch bản theo tinh thần hợp tác với đảng Cộng Sản hay đảng Việt Tân đang có tham vọng dựa vào sự ủng hộ của những người "dân chủ vô tư" để lật đổ đảng Cộng Sản và trở thành một đảng cầm quyền mới ở Việt Nam?"

         Hiện tại, bác chưa có thì giờ để giải đáp mọi thắc mắc của cháu VA. Tức thời, bác xin gởi đến cháu một bài viết cũ của bác. Mong rằng nó sẽ giải tỏa được phần nào thắc mắc cho cháu. Nếu có thì giờ bác sẽ viết thêm và gởi về cho cháu theo phương thức mà bác đang làm đây. Hy vọng cháu VA bằng lòng. Cám ơn cháu.

     

     

            MÀN LỘT XÁC CỦA LOÀI VE

     

     

                                                      Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

     

         Mặt trận Hoàng Cơ Minh (MT) đã được chính thức khai tử để trở thành đảng Việt Tân kể từ ngày 19-9-2004. Full name của nó là Việt Nam Canh Tân Cách Mạng Đảng, được gọi tắt là Việt Tân (VT). Từ sự thay tên đổi họ của Mặt Trận (MT), đất bằng lại một phen dậy sóng trong cộng đồng người Việt tỵ nạn tại hải ngoại. Lần này thì có lẽ phải gọi là sóng thần mới đúng. Sức mạnh của nó có thể chẳng thua kém gì ngọn sóng thần Tsunami. Búa rìu dư luận giáng xuống đầu đứa trẻ đẻ muộn này tưởng như sắt đá cũng khó lòng chịu đựng nổi. Thật vậy, sự thể rất dễ nhận thấy qua qúa nhiều ý kiến, bài viết bầy tỏ sự giận dữ chống đối, có khi đến cuồng nộ, được phóng lên Net và đăng trên báo. Chỉ một vài ý kiến rụt rè bao che cho VT, nhưng người đọc có thể dễ dàng nhận ra ngay tác gỉa là gà nhà tự chũa lửa chứ không phải tiếng nói vô tư. 

         Trước sự thể đó, không ai không thắc mắc và tự hỏi tại sao? Có lẽ câu trả lời ngắn gọn và đúng nhất là quả báo. 

         Thật vậy. Gieo gío thì gặt bão. Đó là luật Trời. Nếu trước kia MT không chơi trò điếm đàng, không lừa gạt đồng bào thì ngày nay VT đâu phải gánh chịu cái hậu quả thê thảm này. Nhưng MT chơi xấu thế nào, lừa gạt ra sao, chuyện đó đã được dư luận và truyền thông phơi bầy tường tận rồi, người viết thấy không cần thiết phải nhắc lại. Ở đây chúng tôi chỉ có ý tìm hiểu lý do tại sao MT lại bỗng dưng biến thành VT trong lúc này, và tiện thể xem là sự dàn dựng trò ảo thuật này nhắm mục đích gì, nó thần thông tới mức nào mà thôi.  

     

    Ém Quân Chờ Thời 

         Qua ba cuộc hành quân Đông Tiến kéo dài từ 1986 đến 1990, lãnh tụ Hoàng Cơ Minh của MT và toàn thể bộ phận tác chiến của ông đều bị tiêu tùng. Kẻ bị giết. Người bị bắt. Chỉ còn lại bộ phận tham mưu lèo lái bởi một người mới gia nhập MT là ông Nguyễn Xuân Nghĩa, người đã từng công khai thú nhận là cháu tổng bí thư CS Nguyễn Văn Linh. Hai cuộc hành quân Đông Tiến I và II do đề đốc Hoàng Cơ Minh soạn kế hoạch và trực tiếp chỉ huy, nhưng đều bị thất bại. Sau hai lần thất bại, đáng lẽ MT không nên làm Đông Tiến III nữa vì bấy giờ ông Minh đã chết, tàn quân còn lại ngo ngoe, con số đếm được trên đầu ngón tay. Không hiểu tại sao MT đã không rút kinh nghiệm và thay đổi kế hoạch mà lại cứ mù quáng thực hiện Đông Tiến III để đút đầu vào chỗ chết? Cuộc hành quân này diễn ra ngoài dự liệu và khuôn khổ của tất cả mọi binh thư, binh pháp cùng là thực tế của tình hình. Chuyện này có lẽ chỉ có Trời biết?  

         Đây là một bí mật chưa ai khám phá ra. Nhưng chủ trương và những thay đổi về sau trong đường lối của MT có thể cho người ta thấy được tia sáng của vấn đề. Ít người có thể tưởng tượng nổi mục tiêu của cuộc hành quân Đông Tiến III không phải là để xâm nhập về trong nước, mà là để dứt điểm các thành phần của bộ phận tác chiến còn lại. Chỉ có như thế MT mới có thể dễ dàng thay đổi từ chủ trương đối đầu sang chủ trương đối thoại với CS được. Thật vậy, trong khung tổ chức của MT lúc đó, MT bao gồm hai bộ phận, một tác chiến và một tham mưu. Bộ phận tác chiến qui tụ hầu như toàn thể là quân nhân QLVNCH và những người trẻ còn sôi sục bầu nhiệt huyết giải phóng quê hương khỏi tay bạo quyền CS. Trái lại, bộ phận tham mưu đa số là những khoa bảng và chính khách cơ hội chủ nghĩa. Chủ điểm của kế hoạch hành quân Đông Tiến III là phải tiêu diệt toàn bộ bộ phận chủ chiến thì mới có thể dễ dàng thay đổi chủ trương từ cách mạng võ trang sang cái mà bà Trần Diệu Chân, phát ngôn viên của MT gọi một cách bóng bẩy là tổng nổi dậy hòa bình. Đây là công tác trọng điểm và bắt buộc để thay đổi đường lối và hoàn thành những mục tiêu chiến lược của giai đoạn ém quân chờ thời của MT.  

         Sau khi đã hoàn tất kế hoạt tự diệt cần thiết nói trên, MT rút vô "bưng" để ém quân và chờ thời. Tôi dùng cụm từ rút vô bưng – theo lối nói của người miền Nam – vì một thực tế rõ ràng là trong giai đoạn ém quân, MT hầu như không bao giờ công khai ra mặt làm bất cứ cái gì. Tất cả mọi hoạt động chìm, nổi của MT đều nhân danh thừa sai là các tổ chức ngoại vi cả. Trong thời gian dài ém quân này, MT đã thực hiện được ba nhiệm vụ chiến lược quan trọng sau đây:  

    1.   Củng cố và phát triển các cơ sở hạ tầng – Có hai loại cơ sở, một là các đơn vị kinh doanh và hai là những tổ chức quần chúng mà người ta thường gọi là ngoại vi của MT, như Hội Chuyên Gia, Liên Minh VN Tự Do, đoàn thanh niên Phan Bội Châu v.v.. MT phát triển các tổ chức ngoại vi khá nhanh và khá thành công do lợi điểm là đã tích lũy được dồi dào tiền bạc do quyên góp và do các cơ sở kinh tài được dựng nên để sinh lợi.  

    2.   Khoa trương thanh thế – MT núp trong bóng tối, xử dụng đoàn viên bí mật hoặc tổ chức ngoại vi quậy nát các đoàn thể quốc gia hầu nước đục thả câu để gây thanh thế. Dân gian gọi là chôm credit. MT thi hành độc kế này vì lý đương nhiên là muốn thành công theo đuổi đường lối riêng (ngược với đường lối chung của tập thể người tỵ nạn), MT cần phải triệt hạ tất cả những tổ chức khác không cùng lập trường, quan điểm, và đường lối. Xưa nay chính trị vẫn là thế. Sự thể các tổ chức cộng đồng, các đoàn thể quốc gia bị chia năm sẻ bẩy như hiện nay nếu đổ tội lên đầu CS mới chỉ đúng có một phần. MT cũng là một nguyên nhân không kém quan trọng trong đó. Bằng chứng là chỗ nào có phân hóa, chỗ đó có người của MT xen vào. Cũng vì có nhiều tiền bạc nên MT đã rất thành công trong các kế hoạch khuynh đảo của họ.  

    3.   Tung hoạt động dò đường – Các hoạt động có tính cách dò đường của MT trong giai đoạn này nằm trong chính sách dân vận "mưa lâu cứt trâu hóa bùn". MT từng bước, từng bước tung ra một số các hoạt động nhằm mục đích tẩy não và hướng dẫn đồng bào làm quen tư tưởng quên đi qúa khứ để chấp nhận hoà hợp hòa giải với VC. Những sự kiên Hội Chuyên Gia đề nghị mang kỹ thuật về giúp nước, đoàn thanh niên Phan Bội Châu thả bồ câu, chiếu hình phản chiến trong vụ Trần Trường, Liên Minh Vietnam Tự Do đề cao Hồ Chí Minh và đặt CSVN lên hàng số một trong liệt kê xếp loại các thành phần dân tộc, báo đài của MT quảng cáo cổ động các  sinh hoạt giao lưu văn nghệ một chiều của CS v.v. đều nằm trong kế hoạch có tính toán của MT. Có thể nói đây chỉ là những trận đánh du kích lẻ tẻ, đánh nhanh và rút nhanh, nhưng xem ra MT cũng đã phần nào thu đạt kết qủa.  

         Sau 22 năm, thời kỳ ém quân đã chấm dứt và nay đã đến lức MT ra quân.

     

    Ve Sầu Thoát Xác 

         Ve sầu thoát xác hay việc thay tên đổi họ của MT chỉ là bước đầu  trong một âm mưu to lớn của họ. Theo tài liệu chính thức của đảng, VT được thành lập từ ngày 10-9-1982.  Câu hỏi đặt ra là tại sao đảng VT đợi cho mãi đến 22 năm sau, một thời gian khá dài trong một đời người, mới ra mắt xuất hiện? Ông Lý Thái Hùng, tổng bí thư (TBT) VT, giải thích đại ý nói rằng MT là một tập hợp nhiều tổ chức, còn VT chỉ là một đảng thành viên (của MT). Giải thể MT để VT ra đời nhằm huy động toàn bộ sức lực và tâm huyết của toàn dân trong một liên minh dân tộc vào công cuộc vận động canh tân đất nước. Ý của ông TBT là cho rằng vì nằm chung trong một tổ chức nhiều thành viên, nạn "nhiều thầy thối ma" khiến MT khó làm được việc, nên VT phải tách ra hoạt động cho hữu hiệu hơn? Giải thích như thế quyết không ổn. Vấn đề là nếu MT là một tập hợp nhiều tổ chức thì ai có quyền giải thể MT? Một tập hợp nhiều thành viên ít nhất giữa họ phải có một cái kết ước (agreement), và theo cái kết ước này ai là người có quyền giải tán tập thể. Nếu MT tự ý giải thể thì trước khi giải thể, có những tổ chức nào còn đứng chung trong MT, và trong đó, tổ chức nào đồng ý, tổ chức nào không đồng ý? Còn nếu việc giải thể MT là một quyết định đơn phương của VT thì việc làm này của VT mang nặng tính chuyên quyền độc đoán có khác nào việc đảng CSVN giải tán các đảng Dân Chủ và Xã Hội ở trong nước trước đây? 

        Nêu vấn đề trên, thực ra chúng tôi không nhằm mục đích đi tìm sự thật, vì sự thật đã qúa rõ ràng, mà chỉ có ý chứng minh sự thiếu ngay thẳng và trí trá của những người lãnh đạo đảng VT mà thôi. Ông Lý Thái Hùng nói MT là một tập hợp nhiều thành phần là một chuyện nói láo hoàn toàn. Chuyện lố bịch hơn nữa là nếu MT qủa thực là một tập hợp nhiều thành phần thì tại sao VT lại giải thể MT để tiến hành cho ra đời một tập hợp nhiều thành phần khác? Điều này cũng chính ông Lý Thái Hùng xác nhận khi ông tuyên bố: "VT ra đời huy động toàn bộ sức lực và tâm huyết của toàn dân TRONG MỘT LIÊN MINH DÂN TỘC. Cái Liên Minh Dân Tộc này không lý chỉ có đảng VT solo hay cũng lại gồm nhiều thành phần khác như MT trước đây? 

         Rõ ràng lý do ông Lý Thái Hùng đưa ra trong việc giải tán MT chỉ là chuyện lấp liếm để bịp dư luận, nhưng vải thưa không che được mắt thánh. Phải có một lý do khác, hay nói đúng hơn, một mưu đồ. Chẳng nói thì ai cũng đã biết, kế ve sầu thoát xác này chính là bước khởi đầu nằm trong âm mưu giọn đường về nước của VT để làm ăn với VC. Xin nhấn mạnh, chúng tôi nói "làm ăn với VC" chứ không nói "hòa hợp hòa giải" với VC. Chuyện này chúng tôi sẽ có giải thích sau.  

         Có hai lý do khiến MT thi hành kế ve sầu thoát xác vào lúc này.  

    1.   Dựa trên lý luận –  Xưa nay đấu trường chính trị có một nguyên tắc như sau: Không tiêu diệt nổi kẻ thù thì tốt nhất là nên thỏa hiệp với nó. Thí dụ điển hình nhất và cũng là bần tiện, hạ cấp, và thô lỗ nhất là trường hợp Nguyễn Cao Kỳ, nhưng đây chỉ là thí dụ cá nhân. Các đảng phái cũng không đi ra ngoài qui luật đó. Cũng trong chính trị, không có vấn đề hòa hợp hòa giải theo nghĩa thông thường. Các đảng phái chính trị dù đứng bên nhau, nhưng họ luôn tìm mọi cách tiêu diệt nhaụ. Do đó không có chuyện hòa giải giữa họ với nhau. Khi không tiêu diệt được đối phương, các đảng chính trị mới tính chuyện hòa hợp. Thực trạng hiện nay là chỉ có những lê dân bá tánh chống cộng  không mưu đồ mới còn chống và miệt mài chống, chống tới chiều, chống qua đêm, và chống luôn tới sáng hôm sau nữa chưa thôi. Trong khi đó, một số nhà khoa bảng, nhiều tổ chức chính trị xôi thịt hoặc gà mờ, trong đó có VT, nghĩ rằng chống không nổi thôi thì hòa hợp hòa giải với CS cho xong. Họ mơ ước và trông đợi VC cho đa đảng để về nước làm đối lập, mà thực tế đối lập với CS trong tình thế hiện nay chỉ là mặt trái của thỏa hiệp, hay đúng hơn là đầu hàng. 

    2.  Xét trên thực tế –   Khát vọng đầu hàng trá hình này thực ra cũng không phải là không có cơ sở. MT tính toán rằng tình hình và bối cảnh Vietnam lúc này có thể nói là thuận lợi nhất cho họ nhẩy vào đánh hôi canh bạc VN. Tính toán này dựa vào các yếu tố sau đây:  

    a/   Xu hướng dân chủ hóa toàn cầu đặc biệt là tại những nước CS còn sót lại, là một trào lưu không thể đảo ngược.  

    b/   Áp lực của Trung Cộng càng ngày càng đè xuống Hanoi cho đến một lúc nào đó rất gần đây thôi, những chiếc đầu bình vôi và cứng cỏi nhất của bọn lãnh đạo VC cũng phải ý thức rằng chúng đã đến bước đường cùng nên buộc phải chấp nhận cởi trói hoặc chết. Để tìm đường thoát thân, khôn ngoan và an toàn nhất cho chúng là phải chấp nhận đa đảng để trút trách nhiệm cho người khác rồi lui về hưởng thụ với túi bạc đã đầy ắp. 

    c/   Nạn phân hóa trong cộng đồng tỵ nạn đã tới mức khiến hầu như mọi người đều chán nản buông xuôi, không còn thiết tha với công cuộc chống cộng nữa. Đây là yếu tố cơ bản để bọn lãnh đạo Hanoi tin rằng dù có đa đảng chúng cũng không sợ bị trả thù. Trong bối cảnh này, sự ra đời của một tổ chức chính trị thực dụng như VT phải được đánh gía là đúng, hoàn toàn đúng. 

         Để đạt mục đích trở về nước làm đa đảng, MT phải xử dụng kế ve sầu thoát xác này. Lý do rất dễ hiểu. Thử hỏi, nếu VT giữ nguyên danh xưng Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Vietnam với cương lĩnh lật đổ công sản bằng võ lực thì liệu CS có chấp nhận cho họ về trong nước mà lập đảng không? Vì thế, MT buộc phải thay đổi thân phận, trở thành đảng VT với cương lĩnh là chỉ dùng nước bọt (không dùng súng đạn), để canh tân đất nước. Như thế nghe mới lọt tai. 

          Đa đảng hiện nay tại Vietnam thì không có, nhưng trước kia thì đã có rồi. Đó là các đảng Dân Chủ và Xã Hội. Thực tế cho thấy, các đảng Dân Chủ và Xã Hội tại VN đều là các chi nhánh đảng CS trá hình, vì người lãnh đạo các đảng đó đều là đảng viên công sản được biệt phái. Từ đó suy ra, điều kiện tất yếu để được lập đảng tại VN là người lãnh đạo phải là đảng viên CS. Sự thể đưa đến kết luận là đa đảng ở VNCS nếu có thì chỉ là đa đảng bịp, và đối lập chỉ là đối lập cuội cho vui mà thôi. Tuy nhiên việc này xem ta không khó đối với VT, vì VT đã có ông TBT Lý Thái Hùng rồi. Nếu mai ngày VT có được cho phép trở về hoạt động thì thực tế là về góp vốn làm ăn với VC, hay nói một cách mầu mè là canh tân đất nước, chứ không thể nói là làm đối lập được.

     

    Màn Xiệc Hào Hứng 

         Có một chi tiết trong tuồng ve xầu thoát xác, tuy là vụn vặt, nhưng nếu đã nói đến lập danh thì nó lại trở thành đáng quan tâm. Đó là sự tréo cảng ngỗng trong cái danh xưng chính thức của VT. Thật thế, MT đổi thành Việt Nam Canh Tân Cách Mạng đảng xem ra có điều gì không được ổn. Rõ ràng là có vấn đề. Hai chữ Canh Tân và Cách Mạng là hai từ hán nôm. Hiện nay hai chữ này đã trở thành "quốc ngữ chữ nước ta" rồi. Ai cũng hiểu cả, chẳng cầu đến các ông khoa bảng. Đối với lớp hậu sinh nếu cần cho chúng hiểu, chỉ việc dịch sang tiếng Mỹ là xong ngay. Thế mà các ông chóp bu của VT phần lớn là những tay chữ nghĩa bề bề, bằng cấp cùng mình, sao lại có chuyện tréo cẳng ngỗng đến thế này được?  Theo ngu ý thì canh tân nghĩa là sửa sang, làm mới những gì đã cũ, đã lỗi thời. Còn cách mạng là bỏ đi cái cũ đã hư hỏng và thay thế bàng cái khác tốt hơn. Chỗ khác nhau của hai từ này một đàng thì giữ lại cái cũ, chỉ sửa chữa nó thôi. Còn một đàng thì bỏ hẳn đi cái cũ và thay thế bằng cái khác hoàn toàn. Hai chữ, hai ý nghĩ khác hẳn nhau như vậy làm thế nào cùng đứng chung để chỉ cùng một mục đích được? Đã canh tân thì làm sao còn cách mạng. Ngược lại, đã cách mạng rồi thì đâu còn cần đến canh tân làm gì?  

              Nói đi thì cũng còn phải nói lại. Chữ nghĩa có sai đối với VT không thành vấn đề. Vấn đề chính là mục đích mà chữ nghĩa nhắm tới, đó là được xí phần tại VN, hay canh tân VN cũng thế. Phải thành thực nhìn nhận rằng VT đẻ ra kế Ve Sầu Thoát Xác này là chuyện đáng khâm phục. Đáng phục ở chỗ kế hoạch chứa đựng rất nhiều điều mơ hồ, nhưng đồng thời lại cũng rất sáng nghĩa. Tài xử dụng thuật ngữ chính trị ở đây thật sự đã tới mức thần thông. Nó vừa bịt mắt được những người cần che dấu, lại vừa minh thị nói cho người muốn nghe hiểu được vấn đề. Những hành động và những văn kiện phổ biến trong buổi ra mắt đảng VT tại Đức đưa đến hai kết luận sau đây:
     

    1.   VT  đoạn tuyệt với qúa khứ  

    a/  Chứng minh 1.   Đọc toàn bộ các bài diễn văn chính thức, các bài tường thuật buổi lễ ra mắt, người ta không hề thấy các từ ngữ quen thuộc như "chống cộng" hay "giải thể chế độ CS". Sự kiện này cho thấy là đảng VT đã hoàn toàn từ bỏ chủ trương chống cộng hay đối kháng, quay sang đối lập với CS, dù chi" là đối lập cuội .  

    b/  Chứng minh 2.   VT trong buổi ra mắt, đã không tổ chức lễ truy điệu cố lãnh tụ Hoàng Cơ Minh và các đồng chí của ông đã hy sinh trong 3 cuộc Đông Tiến. Xét về mặt tình cảm đồng đội cũng như cả về mặt nghi lễ thì việc làm lễ truy điệu trong buổi lễ ra mắt của VT là chuyện bắt buộc. Sự bỏ qua nghi thức quan trọng này, dù vô tình hay cố ý, cũng chứng tỏ các lãnh đạo đảng VT đã chôn vùi lương tri và lương tâm của họ. Không tưởng niệm chính là để nói lên quyết tâm đoạn tuyệt với qúa khứ vậy. 

    2.   Gởi tín hiệu đầu hàng –   Người ta dễ dàng nhìn thấy được việc đảng VT gởi những tín hiệu đầu hàng CS qua những lời nói và việc làm sau đây của ho : 

    a/   Việc chọn địa điểm ra mắt –   Một câu hỏi được nhiều người nêu trên các phương tiện truyền thông là tại sao VT không ra mắt tại đâu khác, nhất là những nơi có đông đồng bào tỵ nạn, mà lại kéo nhau qua bên Đức ra mắt tại đó? Lý do chính là vì ở Đức có nhiều Việt kiều, thần dân của chế độ CS Hanoi.  Cái lợi nhỏ là VT dễ dàng nhận được sự ủng hộ và tránh được bị chống đối. Ra mắt tại nơi có đông Việt kiều cư ngụ, VT muốn nói lên ý nghĩa họ là người Vietnam sinh sống ở nước ngoài, là Việt kiều, chứ không phải là người Vietnam  tỵ nạn CS. Đó mới là lợi ích lớn, nó tô điểm cho VT cái  tư thế chính danh. Ít ra VT cũng còn biết rằng sự xác nhận lý lịch và thế đứng này quan trọng cho một đảng chính trị. Nhưng chính danh hay ngụy danh thì còn phải đợi xem những việc làm sau này của VT mới biết được. 

    b/  Tự nguyện đặt dưới sự lãnh đạo của các tổ chức khác –   Như trên chúng tôi đã viết, trong qúa khứ CSVN đã có thời cho đa đảng. Tuy nhiên, thực tế cho thấy đây chỉ là những chi bộ CS trá hình, vì lãnh tụ của các đảng phái đó đều là đảng viên đảng CS. Chủ trương của VT tự nguyện đặt đảng dưới sự lãnh đạo của các tổ chức khác phải chăng ngầm bắn tiếng chấp nhận qui luật đa đảng của CS? Nghĩa là sẵn sàng chấp nhận trở thành chi nhánh của đảng CS với lãnh đạo là người của CS biệt phái? 

    c/  Không chủ trương nắm quyền bằng mọi gía –   Điều này có nghĩa là không chủ trương lật đổ đảng CS bằng bất cứ phương tiện nào. Đây phải hiểu là một tín hiệu nhắm trấn an bọn VC đang cầm quyền. 

    d/   Soi sáng sự thật của lịch sử cận đại –   Nếu CSVN bị người dân lật đổ như các chế độ CS Đông Âu thì chắc chắn lịch sử VN cận đại sẽ không cần gì phải soi sáng, vì sự thật của lịch sử dân tộc đã rõ ràng như ban ngày được viết trên giấy trắng mực đen cả rồi: Hồ Chí Minh là tên tội đồ của Dân Tộc, và đảng CSVN thuần túy là một bọn bán nước hại dân.  VT định xét lại sự thật của lịch sử nào? Có phải là muốn rửa tội cho Hồ Chí Minh và đảng CS của y không? Chẳng cần trả lời thì âm mưu của VT cũng đã hiện nguyên hình từ lâu. Thật ra, Liên Minh VN Tự Do, bộ phận ngoại vi của VT đã làm điều đó rồi qua việc họ xác nhận công trạng của Hồ Chí Minh và xếp CSVN đứng hàng số một trong các thành phần dân tộc. Việc này đã bị cộng đồng tỵ nạn chống đối quyết liệt một thời gian. 

    e/   Quan khách đến từ VN dự lễ ra mắt –   Hẳn bạn đọc khó có thể tưởng tượng được chuyện người trong nước xuất ngoại để tham dự lễ ra mắt của một đảng phái chính tri của người Việt rồi lại ung dung trở về mà không bị làm khó dễ gì? Thật là Tề Thiên Đại Thánh, nhưng lại là chuyện có thật, được VT công bố và tường thuật rõ ràng. Nếu những vị khách đó không phải là đảng viên CS, một ngàn phần trăm là họ đã không thể yên ổn khi trở về. Chắc chắn cũng chẳng có người dân nào có gan cóc tía dám liều mạng như vậy. Còn nếu những vị "khách quí" đó trở về bình an vô sự thì phải là thứ khách đặc biệt, và họ là ai thì có lẽ người viết không cần đoán mò.  Nên coi đây là con dấu APPROVED VC đóng trên đơn xin việc của đảng VT. Chỉ có cách giải thích duy nhất này mà thôi.

       

    Bước Ra Quân 

         Kế ve sầu thoát xác mới chỉ là bước đầu của kế hoạch tổng nổi dậy hòa bình. Bước kế tiếp là bước "Ra Quân". Bước này mới thực sự là bước quan trọng có tính quyết định. Ý thức điều đó nên các đầu lãnh của VT mới đẻ ra sáng kiến tổ chức thật long trọng rình rang ngày 30-4. Họ thừa biết nếu tự mình đứng ra tổ chức thì chẳng có ma nào theo, nên mới tính kế "bổn cũ soạn lại" để xài . Không biết bên trong VT mời chào ra sao nhưng họ phổ biến một danh sách trên một trăm các nhân vật tai to mặt lớn và các đoàn thể trong cái gọi là ban cố vấn cho họ. Cái trò mượn đầu heo nấu cháo này Mặt Trận trước đây đã diễn đi diễn lại nhiều lần rồi nên xem ra hết linh và bị phản ứng ngược. Thực ra nếu chỉ có chuyện đổi tên đảng rồi hè nhau với các đoàn thể khác tổ chức ngày Quốc Hận thôi thì có lẽ ai nấy cũng hỷ xả bỏ qua cho xong chuyện. Nhưng VT muốn chơi nổi, và hẳn nhiên là có âm mưu. Họ tự tiện đổi tên Ngày Quốc Hận thàng Ngày Tự Do Cho VN, và dự định tổ chức một cuộc biểu dương lực lượng vĩ đại kéo đến trụ sở Quốc Hội tại Washington DC. Cuộc biểu dương lực lượng đó đặt tên Mỹ là Freedom March to Capitol Hill.  

        Ngày 30-4, như mọi người đều biết, từ ba chục năm qua, vốn được toàn thể đồng bào tỵ nạn gọi là ngày Quốc Hận. Thế nhưng Việt Tân lại xập xí xập ngầu đổi thành Ngày Tự Do Cho Vietnam. Ý định đó vừa đưa ra đã bị lật tẩy và bị chống đối rất quyết liệt. Bị chống đối quá , ngày "Tự Do Cho VN" lại một lần nữa được phù phép biến hóa thành ngày "Đấu Tranh Cho Tự Do VN". Cũng vẫn còn bị chống, VT chơi trò nửa nạc nửa mỡ, vừa Quốc Hận, vừa Tự Do Cho VN. Như trên đã nói, chủ điểm của ngày này là một cuộc tuần hành vĩ đại của người Việt tại thủ đô nước Mỹ, dĩ nhiên do Việt Tân tổ chức và hướng dẫn. Có hai câu hỏi đặt ra là: thứ nhất, tại sao phải đổi Ngày Quốc Hận thành ngày Tự Do Cho VN. Và thứ hai, diễn hành tới điện Capitol để làm gì? 

    1.  Ngày Quốc Hận thành Ngày Tự Do Cho VN –   Chuyện tưởng niệm ngày quốc hận từ mấy chục năm nay đã trở thành nếp sống của cộng đồng, và cái nếp sống này đã có cái lý đương nhiên của nó. Đó là để nhắc nhở toàn dân VN, nhất là những người tỵ nạn tại hải ngoại phải luôn ghi nhớ biến cố đau thương tang tóc này của lịch sử dân tộc. Ghi nhớ lịch sử đất nước để ôn cố tri tân là truyền thống tốt đẹp của mọi dân tộc. Lấy chuyện Do Thái làm một thí dụ biện lý. Bức tường cổ đền thờ Jerusalem chỉ là một mảng tường xây cũ kỹ của ngôi đền thờ đã đổ nát. Nó ghi dấu một trang sử mất nước của người Do Thái và dân tộc này phải phân tán khắp nơi trên thế giới. Các chánh quyền Do Thái ngày nay họ có thừa phương tiện và khả năng phá bỏ mảng tường đổ nát kia đi và thay vào đó, xây một đền thờ nguy nga tráng lệ hơn gấp bội cho dân tộc của họ. Thế mà họ vẫn không làm, mà cứ giữ nguyên trạng mảng tường cũ với dụng ý nhắc nhỏ người dân Do Thái đừng quên mối nhục mất nước của họ. Đó là cái lý của người Do Thái. Một chuyện khác bên Tầu, Chu Nguyên Chương, người sáng lập nên triều đại nhà Minh, nguyên là một tên ăn mày. Khi trở thành hoàng đế nước Tầu khổng lồ, nhà vua giữ lại chiếc bị gậy và bộ đồ ăn xin ngày trước, treo thường trực trong cung điện cho con cháu và triều thần ra vào được thấy. Tại sao người Do Thái và người Tầu làm thế? Xin thưa những chí lớn thường không quên bài học qúa khứ để tự rèn luyện mình, và chỉ có những nhà chính trị có tầm nhìn xa mới thấy được xa hơn đầu mũi. Những ông đầu mục của đảng Việt Tân không phải là Sharon ngày nay, cũng chẳng phải là Chu Nguyên Chương ngày xưa. Họ chỉ là Việt Tân, do đó không thể hiểu nổi chuyện thiên hạ nên mới cứ loay hoay thay tên đổi họ hoài, hết tên mình đến tên đảng, và còn đến cả tên biến cố của Dân Tộc nữa. Trên đời chỉ có hạng đầu trộm đuôi cướp mới cần phải thay tên đổi họ để trốn tránh pháp luật. Và chỉ có CS mới đổi đi đổi lại tên đảng để bịp thiên hạ mà thôi. Các lãnh tụ VT nếu có tư cách sao lại bắt chước Hồ Chí Minh và bọn đầu trộm đuôi cướp? MT Hoàng Cơ Minh nếu đàng hoàng sao lại rập khuôn đảng bịp VC? Ngày Quốc Hận có gì không đúng mà phải đổi thành ngày Tự Do Cho VN? 

         Nhưng nghĩ cho cùng thì chuyện thay đổi này chưa hẳn đã là sáng kiến của những bộ óc heo, mà xem ra ẩn chứa một âm mưu thâm độc bên trong. Chuyện đã xẩy ra, VT có những mưu toan thầm kín muốn dấu nhưng không thể bưng bít được. Qua việc đổi danh xưng ngày 30-4, VT muốn nhắm hai mục đích. Thứ nhất, nếu thành công, nghĩa là được đa số đồng bào hưởng ứng, chủ trương xóa bỏ hận thù, quên đi qúa khứ, hướng về tương lai của VT sẽ được chứng minh là đúng. Thứ hai, điều này quan trọng, VT muốn bôi xóa đi hàng chữ "TỴ NẠN CỘNG SẢN" trên lý lịch của những đồng bào Vietnam tại hải ngoại, nạn nhân của ngày 30-4-1975. Theo quan niệm của VT thì phải xóa bỏ đi hoàn toàn dấu vết tỵ nạn thì mới dễ dàng hòa nhập với CS được. VC vẫn muốn thế, chúng không nhìn nhận người VN ở nước ngoài như chúng ta là tỵ nạn CS, mà là khúc ruột ngàn dặm của chúng. CS chiếm được miền Nam đã 30 năm, chúng thống nhất được giang sơn, nhưng vẫn không thống nhất được Dân Tộc. Mơ ước thống nhất mọi thành phần dân tộc, CS đã cố gắng rất nhiều nhưng không sao đạt được. CS đã phải vận động cả những tay sai của chúng trong một đại học danh tiếng của Hoa Kỳ giúp thực hiện điều này, nhưng chắc chắn sẽ không thành công. Nay chúng tại nhờ đến bàn tay đảng VT, nhưng một lần nữa chắc chắn sẽ lại thất bại, bởi vì mưu toan của VT vừa ló ra đã bị lật tẩy ngay tức thì. Chỉ việc so sánh hai chủ đề Ngày Quốc Hận của cộng đồng và Ngày Tự Do Cho VN của VT, ta sẽ nhìn thấy rõ ràng âm mưu này vì hai nội dung hoàn toàn khác nhau. 

    a/   Khác nhau về lập trường –   Chủ đề Ngày Quốc Hận mang sắc thái chống cộng rõ rệt. Đồng bào tỵ nạn chủ trương Ngày Quốc Hận xác tín rõ ràng lập trường không chấp nhận chế độ CS.  Trái lại, chủ đề Ngày Tự Do Cho VN của VT gắn liền với ý nghĩa một cuộc vận động đòi hỏi quyền lợi của người dân, không nhắm mục đích chống đối lại phỉ quyền CS.   

    b/   Khác nhau về mục đích –   Đồng bào tỵ nạn tưởng niệm ngày 30-4 nhằm hun đúc ý chí đấu tranh giải trừ chế độ CS tại quê nhà. Đảng VT với chủ đề Ngày Tự Do Cho VN để kỷ niệm ngày 30-4 nhắm mục đích gì, thật sự không người ngoài nào biết rõ, nhưng nhất quyết không phải là để nâng cao tinh thần chống cộng.   

    c/   Khác nhau trên cương vị người chủ trương –   Vì lập trường và mục đích khác nhau nên hai bên đứng trên hai cương vị khác nhau. Đồng bào tỵ nạn  tưởng niệm ngày 30-4 trên cương vị là những nạn nhân của chế độ CSVN. Trong khi đó VT kỷ niệm 30-4 với chủ đề Ngày Tự Do Cho VN đứng trên cương vị của người dân VN đối với phỉ quyền VC mà họ ngầm thừa nhận.  

    2.   Mục đích March To Capitol Hill –   Nhiều người thắc mắc là tại sao lại "March to Capitol Hill"? Cái đó mới thật là lạ, nhưng thực ra chẳng có gì lạ cả. Nên nhớ điện Capitol là nơi quyết định tất cả các chính sách đối nội cũng như đối ngoại của nước Mỹ. Tập hợp được một rừng người kéo đến điện Capitol để nói lên nguyện vọng, đó là cách thức vận động hữu hiệu nhất ở Hoa Kỳ này. Các ông Mẽo đâu cần biết ất giáp gì, thấy VT được quần chúng ủng hộ chắc chắn sẽ "endorse" VT thôi.  Trước đây nghe đâu đã có lần ông Bush cha kiếm đỏ con mắt mà không tìm ra được một người Việt có thể đại diện cộng đồng để ông nói chuyện. Nay ông Bush con có muốn nói gì thì đã có sẵn VT đấy rồi. Cho đến khi nào Mỹ và CSVN thực sự bắt tay vào làm diễn biến hoà bình thì với credit đã chôm chĩa được, VT chắc chắn sẽ là nhân tuyển thích hợp nhất được cả hai bên chấp nhận. 

        Có một kinh nghiệm lịch sử mà người viết không thể không nhắc lại ở đây. Ngày 19-8-1945, một cuộc mít tinh đông hàng trăm ngàn người diễn ra trước nhà hát lớn Hanoi để ủng hộ chính phủ. Bấy giờ VN không có chính phủ nào khác ngoài chính phủ Trần Trọng Kim ở Huế. Đây là cuộc biểu tình tự phát của dân chúng Hà Thành. Có chừng vài chục tên cán bộ Vẹm trà trọn len lỏi vào trong rừng người. Chúng lợi dụng lòng hăng say và sự dốt nát của đồng bào tung ra dăm ba biểu ngữ, bắn vài ba phái súng lục thị uy, phất cờ đỏ sao vàng, cướp máy phóng thanh hoan hô Hồ Chí Minh. Thế là Vẹm cướp được chính quyền ngon ơ. Trò chôm credit của Vẹm đã thành công.  

         Như đã nói ở trên, cuộc tuần hành Freedom March to Capitol Hill do VT khởi xướng, nhưng vì sợ không có ma nào tham gia, VT đã phải mời chào những tổ chức và cá nhân có uy tín trong cộng đồng tham dự. Trên nguyên tắc tổ chức là tổ chức chung, VT chỉ là một thành phần. Nếu cuộc diễn hành thành công và VT sẽ giữ mãi vai trò kéo màn nhắc tuồng thôi thì chắc sẽ không có gì để nói. Nhưng việc đời đâu có dễ dàng thế. Với bản chất chuyên chôm credit của VT, không biết rồi sự thể sẽ ra sao. Người viết sợ rằng lịch sử ngày 19-8-45 sẽ lại tái diễn.

     

    Lịch Sử Tái Diễn 

        VC thoạt đầu có danh xưng chính thức là đảng Cộng Sản Đông Dương. Khi thiên hạ nhận ra chúng là lũ siêu lưu manh bịp bợm, chúng bèn đổi tên thành đảng Lao Động Vietnam. Sau khi chiếm được quyền hành trong tay, đảng Lao Động hết còn muốn lao động, mà chỉ biết ngồi mát ăn bát vàng. Bị dân chửi đến tắt bếp, chúng phải đổi lại tên cũ là đảng CS, nhưng không còn là Đông Dương, mà là Vietnam, đảng CSVN. Bây giờ xem ra lịch sử lại tái diễn màn đổi tên đổi họ này. MT Hoàng Cơ Minh khi đã hết sáng (minh là sáng) nên đổi thành VT. Có lẽ mai này VT không còn mới (tân là mới) nữa, VT sẽ lại trở về với cái tên cũ chưa biết chừng. Nhưng có thể cũng giống như VẹM, nghĩa là trở lại na ná giống tên cũ mà thôi, chứ không giống hoàn toàn tên cũ. Cộng sản Đông Dương qua chặng đường hóa kiếp thành ra Cộng sản Vietnam.  Cũng vậy, Mặt Trận qua chặng đường hóa kiếp có thể sẽ thành Mặt Mo, Mặt Mẹt, Mặt Giầy, Mặt Mâm, Mặt Thịt, Mặt Thớt, Mặt Trơ Trán Bóng, hay Mặt gì gì khác hay hơn? Người viết xin mượn ước đoán này để kết thúc bài viết. Kiếp ve sầu, lột xác trở thành sâu bọ là bản tính trời sanh của nó.

     

    Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất       

     

  • Tham luận

    Đ.K.P. : Bức công hàm của TT Phạm Văn Đồng

    Bức công hàm của TT Phạm Văn Đồng là lá bài tẩy trong tình hữu nghị Việt-Trung?

    Theo tờ Xinhua ngày 14-6-2011, dẫn theo tờ Quân Giải phóng hàng ngày, chính phủ Trung Quốc phản đối nỗ lực để quốc tế hóa vấn đề Biển Đông, mà cho rằng chỉ nên giải quyết song phương thông qua hiệp thương hữu nghị giữa các bên tham gia.
    Trong bài báo này có đoạn viết:
    “Trong một tuyên bố chính thức vào năm 1958, chính phủ Trung Quốc đã tuyên bố rõ ràng các đảo ở biển Nam Trung Hoa như là một phần của lãnh thổ chủ quyền của Trung Quốc, và sau đó Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng cũng bày tỏ sự thỏa thuận”.(1)
    Những luận cứ và luận chứng của chính phủ Trung Quốc không có gì mới.
    Ngày 17-11-2000, Bộ Ngoại giao Trung Quốc phát đi bản tin với cái gọi là “Sự thừa nhận của quốc tế về chủ quyền của Trung Quốc trên quần đảo Trường Sa”:
    “ 5. Việt Nam
    a) Thứ trưởng ngoại giao Dung Văn Khiêm [Ung Văn Khiêm] của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa khi tiếp ông Li Zhimin, xử lý thường vụ Toà Ðại sứ Trung Quốc tại Việt Nam đã nói rằng “theo những dữ kiện của Việt Nam, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là môt bộ phận lịch sử của lãnh thổ Trung Quốc”. Ông Le Doc [Lê Lộc], quyền Vụ trưởng Á châu Sự vụ thuộc Bộ Ngoại giao Việt Nam, cũng có mặt lúc đó, đã nói thêm rằng “xét về mặt lịch sử thì các quần đảo này đã hoàn toàn thuộc về Trung Quốc từ thời nhà Ðường”.
    b) Báo Nhân Dân của Việt Nam đã tường thuật rất chi tiết trong số xuất bản ngày 6/9/1958 về Bản Tuyên bố ngày 4/9/1958 của Nhà nước Trung Quốc, rằng kích thước lãnh hải của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là 12 hải lý và điều này được áp dụng cho tất cả các lãnh thổ của phía Trung Quốc, bao gồm tất cả các quần đảo trên biển Nam Trung Hoa. Ngày 14/9 cùng năm đó, Thủ tướng Phạm Văn Ðồng của phía nhà nước Việt Nam, trong bản công hàm gởi cho Thủ tướng Chu Ân Lai, đã thành khẩn tuyên bố rằng Việt Nam “nhìn nhận và ủng hộ Bản Tuyên bố của Nhà nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trong vấn đề lãnh hải”.
    c) Bài học về nước CHND Trung Hoa trong giáo trình cơ bản của môn địa lý của Việt Nam xuất bản năm 1974, đã ghi nhận rằng các quần đảo từ Trường Sa và Hoàng Sa đến đảo Hải Nam và Ðài Loan hình thành một bức tường phòng thủ vĩ đại cho lục địa Trung Hoa”(2).
    Ở đây chúng ta phải hiểu vấn đề này như thế nào?
    Cần nhắc lại rằng ngày 4 tháng 9 năm 1958, trong bối cảnh của thời kỳ chiến tranh lạnh, lúc bấy giờ đang xảy ra cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan. Đài Loan lúc đó còn giữ hai đảo nằm giáp lãnh thổ Trung Quốc là Kim Môn và Mã Tổ. Hải quân Mỹ đến vùng eo biển Đài Loan, khiến Trung Quốc lo sợ rằng Mỹ có thể tấn công xâm phạm chủ quyền của Trung Quốc. Trung Quốc phải lập tức ra tuyên bố lãnh hải của mình là 12 hải lý.
    Sau đây là toàn văn tuyên bố:
    “Tuyên bố của Chính phủ Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về Lãnh hải (Ðược thông qua trong kỳ họp thứ 100 của Ban Thường vụ Đại hội đại biểu Nhân dân toàn quốc ngày 4 tháng 9 năm 1958)
    Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa nay tuyên bố:
    (1) Chiều rộng lãnh hải của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là 12 hải lý. Ðiều lệ này áp dụng cho toàn lãnh thổ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, bao gồm phần đất Trung Quốc trên đất liền và các hải đảo ngoài khơi, Ðài Loan (tách biệt khỏi đất liền và các hải đảo khác bởi biển cả) và các đảo phụ cận, quần đảo Bành Hồ, quần đảo Ðông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc.
    (2) Các đường thẳng nối liền mỗi điểm căn bản của bờ biển trên đất liền và các đảo ngoại biên ngoài khơi được xem là các đường căn bản của lãnh hải dọc theo đất liền Trung Quốc và các đảo ngoài khơi. Phần biển 12 hải lý tính ra từ các đường căn bản là hải phận của Trung Quốc. Phần biển bên trong các đường căn bản, kể cả vịnh Bohai và eo biển Giongzhou, là vùng nội hải của Trung Quốc. Các đảo bên trong các đường căn bản, kể cả đảo Dongyin, đảo Gaodeng, đảo Mazu, đảo Baiquan, đảo Niaoqin, đảo Ðại và Tiểu Jinmen, đảo Dadam, đảo Erdan, và đảo Dongdinh, là các đảo thuộc nội hải Trung Quốc.
    (3) Nếu không có sự cho phép của Chính Phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, tất cả máy bay nước ngoài và tàu bè quân sự không được xâm nhập hải phận Trung Quốc và vùng trời bao trên hải phận này. Bất cứ tàu bè nước ngoài nào di chuyển trong hải phận Trung Quốc đều phải tuyên thủ các luật lệ liên hệ của Chính Phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
    (4) Ðiều (2) và (3) bên trên cũng áp dụng cho Ðài Loan và các đảo phụ cận, quần đảo Bành Hồ, quần đảo Ðông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc.
    Ðài Loan và Bành Hồ hiện còn bị cưỡng chiếm bởi Hoa Kỳ. Ðây là hành động bất hợp pháp vi phạm sự toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Ðài Loan và Bành Hồ đang chờ được chiếm lại. Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa có quyền dùng mọi biện pháp thích ứng để lấy lại các phần đất này trong tương lai. Các nước ngoài không nên xen vào các vấn đề nội bộ của Trung Quốc”.
    Phê chuẩn của hội nghị lần thứ 100 của Ban Thường vụ
    Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc ngày 4-9-1958
    Đáp lại tuyên bố này, Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi bức công hàm cho Thủ tướng Chu Ân Lai nguyên văn như sau:
    “Thưa đồng chí Tổng lý
    Chúng tôi xin trân trọng báo tin để đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc.
    Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa trên mặt biển.
    Chúng tôi xin gửi đồng chí Tổng lý lời chào trân trọng”.(3)
    Theo Tiến sĩ Balazs Szalontai, một nhà nghiên cứu về châu Á đang sống ở Hungary đã giải thích: “Trong các năm 1955-1958, ban lãnh đạo Bắc Việt chưa đạt tới mục tiêu thống nhất đất nước vì phải đối phó với khó khăn nội bộ và thiếu ủng hộ của quốc tế. Đồng minh chính của họ lúc này là Trung Quốc. Trong hoàn cảnh này, Hà Nội không thể hy vọng xác lập quyền kiểm soát đối với Hoàng Sa và Trường Sa trong tương lai gần, và vì vậy họ không thể có sự bất đồng lớn với Trung Quốc về các hòn đảo. Lúc này, chính phủ Bắc Việt tìm cách có được giúp đỡ của Trung Quốc, và họ chỉ cố gắng tránh đưa ra tuyên bố công khai ủng hộ những tuyên bố chủ quyền cụ thể của Trung Quốc hay ký vào một văn kiện bắt buộc mà sẽ công khai từ bỏ chủ quyền của Việt Nam đối với các đảo này.
    Sang năm 1974, tình hình hoàn toàn khác. Việc thống nhất Việt Nam không còn là khả năng xa vời. Giả sử Trung Quốc có không can thiệp, Hà Nội có thể dễ dàng lấy các đảo cùng với phần còn lại của miền Nam. Từ 1968 đến 1974, quan hệ Việt – Trung đã xuống rất thấp, trong khi Liên Xô tăng cường ủng hộ cho miền Bắc. Trong tình hình đó, quan điểm của Bắc Việt dĩ nhiên trở nên cứng cỏi hơn trước Trung Quốc so với thập niên 1950.
    Vì những lý do tương tự, thái độ của Trung Quốc cũng trở nên cứng rắn hơn. Đến năm 1974, Bắc Kinh không còn hy vọng Hà Nội sẽ theo họ để chống Moscow. Thực sự vào cuối 1973 và đầu 1974, Liên Xô lại cảm thấy sự hòa hoãn Mỹ – Trung đã không đem lại kết quả như người ta nghĩ. Washington không từ bỏ quan hệ ngoại giao với Đài Loan cũng không bỏ đi ý định tìm kiếm hòa hoãn với Liên Xô. Ngược lại, quan hệ Xô – Mỹ lại tiến triển tốt. Vì thế trong năm 1974, lãnh đạo Trung Quốc lại một lần nữa cảm thấy bị bao vây. Vì vậy họ muốn cải thiện vị trí chiến lược ở Đông Nam Á bằng hành động chiếm Hoàng Sa, và tăng cường ủng hộ cho Khmer Đỏ và du kích cộng sản ở Miến Điện.
    Tiến sĩ Balazs Szalontai phân tích tiếp hoàn cảnh ra đời của bức công hàm mà Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã gửi cho Chu Ân Lai: “Trước tiên, ta nói về tuyên bố của Trung Quốc. Nó ra đời trong bối cảnh có Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Luật Biển năm 1956 và các hiệp định được ký sau đó năm 1958. Lẽ dễ hiểu, Trung Quốc, mặc dù không phải là thành viên của Liên Hiệp Quốc, cũng muốn có tiếng nói về cách giải quyết những vấn đề đó. Vì lẽ đó ta có tuyên bố của Trung Quốc tháng 9 năm 1958.
    Như tôi nói ở trên, trong những năm này, Bắc Việt không thể làm phật ý Trung Quốc. Liên Xô không cung cấp đủ hỗ trợ cho công cuộc thống nhất, trong khi Ngô Đình Diệm ở miền Nam và chính phủ Mỹ không sẵn sàng đồng ý tổ chức bầu cử như đã ghi trong Hiệp định Geneva. Phạm Văn Đồng vì thế cảm thấy cần ngả theo Trung Quốc.
    Dẫu vậy, ông ấy có vẻ đủ thận trọng để đưa ra một tuyên bố ủng hộ nguyên tắc rằng Trung Quốc có chủ quyền đối với hải phận 12 hải lý dọc lãnh thổ của họ, nhưng tránh đưa ra định nghĩa về lãnh thổ này. Mặc dù tuyên bố trước đó của Trung Quốc rất cụ thể, nhắc đến toàn bộ các đảo bao gồm Trường Sa và Hoàng Sa mà Bắc Kinh nói họ có chủ quyền, thì tuyên bố của Bắc Việt không nói chữ nào về lãnh hải cụ thể được áp dụng với quy tắc này.
    Dù sao trong tranh chấp lãnh thổ song phương này giữa các quyền lợi của Việt Nam và Trung Quốc, quan điểm của Bắc Việt, theo nghĩa ngoại giao hơn là pháp lý, gần với quan điểm của Trung Quốc hơn là với quan điểm của miền Nam Việt Nam.
    Còn lời phát biểu của Thứ trưởng Ngoại giao Ung Văn Khiêm đưa ra năm 1956, Tiến sĩ Balazs Szalontai đã có ý kiến: “Theo trang web của Bộ Ngoại giao Trung Quốc, vào giữa năm 1956, Ung Văn Khiêm đã nói với đại biện lâm thời của Trung Quốc rằng Hoàng Sa và Trường Sa về mặt lịch sử đã thuộc về lãnh thổ Trung Quốc. Ban đầu tôi nghi ngờ sự chân thực của tuyên bố này. Năm 2004, Bộ Ngoại giao Trung Quốc thậm chí xóa đi những chương tranh cãi của lịch sử Triều Tiên khỏi trang web của họ. Tức là họ sẵn sàng thay đổi quá khứ lịch sử để phục vụ cho mình.
    Tôi cũng chấp nhận lý lẽ rằng nếu ông Khiêm quả thực đã nói như vậy, thì có nghĩa rằng ban lãnh đạo Bắc Việt thực sự có ý định từ bỏ chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa. Nhưng nay tôi nghĩ khác, mà một lý do là vì tôi xem lại các thỏa thuận biên giới của Mông Cổ với Liên Xô.
    Tôi nhận ra rằng tuyên bố của Ung Văn Khiêm thực ra không có tác dụng ràng buộc. Trong hệ thống cộng sản, tuyên bố của một quan chức như ông Khiêm được coi như đại diện cho quan điểm chính thức của ban lãnh đạo. Nhưng ban lãnh đạo cũng có thể bỏ qua ông ta và những tuyên bố của ông ta bằng việc sa thải theo những lý do có vẻ chả liên quan gì. Đó là số phận của Ngoại trưởng Mông Cổ Sodnomyn Averzed năm 1958. Trong lúc đàm phán về biên giới Liên Xô – Mông Cổ, ông ta có quan điểm khá cứng rắn, và rất có thể là vì ông ta làm theo chỉ thị của ban lãnh đạo. Nhưng khi Liên Xô không chịu nhả lại phần lãnh thổ mà Mông Cổ đòi, và chỉ trích “thái độ dân tộc chủ nghĩa” của Averzed, Mông Cổ cách chức ông ta.
    “Trong trường hợp Ung Văn Khiêm, ông ta khi ấy chỉ là thứ trưởng, và chỉ có một tuyên bố miệng trong lúc nói riêng với đại biện lâm thời của Trung Quốc. Trong hệ thống cộng sản, tuyên bố miệng không có cùng sức mạnh như một thông cáo viết sẵn đề cập đến các vấn đề lãnh thổ. Nó cũng không có sức nặng như một tuyên bố miệng của lãnh đạo cao cấp như thủ tướng, nguyên thủ quốc gia hay tổng bí thư. Rõ ràng các lãnh đạo Bắc Việt không ký hay nói ra một thỏa thuận nào như vậy, vì nếu không thì Trung Quốc đã công bố rồi.
    Vậy thì, bức công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng có ý nghĩa pháp lý nào không?
    Tiến sĩ Balazs Szalontai bày tỏ: “Nó khiến cho quan điểm của Việt Nam bị yếu đi một chút, nhưng tôi cho rằng nó không có sức nặng ràng buộc. Theo tôi, việc các tuyên bố của Trung Quốc nhấn mạnh nguyên tắc “im lặng là đồng ý” không có mấy sức nặng. Chính phủ miền Nam Việt Nam đã công khai phản đối các tuyên bố của Trung Quốc và cố gắng giữ các đảo, nhưng họ không ngăn được Trung Quốc chiếm Hoàng Sa. Trung Quốc đơn giản bỏ mặc sự phản đối của Sài Gòn. Nếu Hà Nội có phản đối lúc đó, kết quả cũng sẽ vậy thôi.
    Tiến sĩ Balazs kết luận, do lá thư của Phạm Văn Đồng chỉ có giá trị pháp lý hạn chế, nên một sự thảo luận công khai về vấn đề sẽ không có hại cho cả Việt Nam và Trung Quốc. Nhưng dĩ nhiên chính phủ hai nước có thể nhìn vấn đề này theo một cách khác.(4)
    Còn theo Tiến sĩ Luật Từ Đặng Minh Thu của Đại học Sorbonne, Pháp Quốc, thì cho rằng những lời tuyên bố trên của Thủ tướng Phạm văn Đồng không có hiệu lực vì trước năm 1975, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không quản lý những đảo này. Lúc đó, những đảo này nằm dưới sự quản lý của Việt Nam Cộng hòa; mà các chính phủ Việt Nam Cộng hòa luôn luôn khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo. Còn Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam cũng không tuyên bố điều gì có thể làm hại đến chủ quyền này cả. Tác giả Monique Chemillier-Gendreau đã viết như sau:
    “Dans ce contexte, les declarations ou prise de position éventuelles des autorités du Nord Vietnam sont sans consequences sur le titre de souveraineté. Il ne s’agit pas du gouvernement territorialement competent à l’égard des archipels. On ne peut renoncer à ce sur quoi on n’a pas d’autorité…”
    (Có thể dịch là: “Trong những điều kiện này, những lời tuyên bố hoặc lập trường nào đó của chính quyền miền Bắc Việt Nam không có hiệu lực gì đối với chủ quyền. Đây không phải là chính quyền có thẩm quyền trên quần đảo này. Người ta không thể chuyển nhượng những gì người ta không kiểm soát được…”).
    Một lý lẽ thứ hai nữa là đứng trên phương diện thuần pháp lý, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lúc đó không phải là một quốc gia trong cuộc tranh chấp. Trước năm 1975, các quốc gia và lãnh thổ tranh chấp gồm: Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam Cộng hòa và Philippines. Như vậy, những lời tuyên bố của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa xem như lời tuyên bố của một quốc gia thứ ba không có ảnh hưởng đến vụ tranh chấp.
    Nếu đặt giả thuyết Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là một thì dựa trên luật quốc tế, những lời tuyên bố đó cũng không có hiệu lực. Tuy nhiên, có tác giả đã nêu thuyết “estoppel” để khẳng định những lời tuyên bố đó có hiệu lực bó buộc đối với Việt Nam, và Việt Nam bây giờ không có quyền nói ngược lại.
    Theo luật quốc tế, không có một văn bản pháp lý nào có thể gắn cho những lời tuyên bố đơn phương một tính chất bó buộc, ngoại trừ thuyết “estoppel”. Điều 38 Quy chế Tòa án Quốc tế không liệt kê những lời tuyên bố đơn phương trong danh sách những nguồn gốc của luật pháp quốc tế. Estoppel là một nguyên tắc theo đó một quốc gia không có quyền nói hoặc hoạt động ngược lại với những gì mình đã nói hoặc hoạt động trước kia. Câu tục ngữ thường dùng để định nghĩa nó là “one cannot at the same time blow hot and cold.” Nhưng thuyết estoppel không có nghĩa là cứ tuyên bố một điều gì đó thì quốc gia tuyên bố phải bị ràng buộc bởi lời tuyên bố đó.
    Thuyết estoppel bắt nguồn từ hệ thống luật quốc nội của Anh, được thâu nhập vào luật quốc tế. Mục đích chính của nó ngăn chặn trường hợp một quốc gia có thể hưởng lợi vì những thái độ bất nhất của mình, và do đó, gây thiệt hại cho quốc gia khác. Vì vậy, estoppel phải hội đủ các điều kiện chính:
    1. Lời tuyên bố hoặc hành động phải do một người hoặc cơ quan đại diện cho quốc gia phát biểu, và phải được phát biểu một cách minh bạch (clair et non equivoque).
    2. Quốc gia nại “estoppel” phải chứng minh rằng mình đã dựa trên những lời tuyên bố hoặc hoạt động của quốc gia kia, mà có những hoạt động nào đó, hoặc không hoạt động. Yếu tố này trong luật quốc nội Anh-Mỹ gọi là “reliance”.
    3. Quốc gia nại “estoppel” cũng phải chứng minh rằng, vì dựa vào lời tuyên bố của quốc gia kia, mình đã bị thiệt hại, hoặc quốc gia kia đã hưởng lợi khi phát biểu lời tuyên bố đó.
    4. Nhiều bản án còn đòi hỏi lời tuyên bố hoặc hoạt động phải được phát biểu một cách liên tục và trường kỳ. Thí dụ: bản án “Phân định biển trong vùng Vịnh Maine”, bản án “Những hoạt động quân sự và bán quân sự tại Nicaragua”, bản án “Ngôi đền Preah Vihear”,…
    Ngoài ra, nếu lời tuyên bố đơn phương có tính chất một lời hứa, nghĩa là quốc gia tuyên bố mình sẽ làm hoặc không làm một việc gì, thì quốc gia phải thực sự có ý định muốn bị ràng buộc bởi lời hứa đó, thực sự muốn thi hành lời hứa đó.
    Thuyết estoppel với những điều kiện trên đã được án lệ quốc tế áp dụng rất nhiều. Trong bản án “Thềm lục địa vùng biển Bắc” giữa Cộng hòa Liên bang Đức và Đan Mạch, Hà Lan, Tòa án quốc tế đã phán quyết rằng estoppel không áp dụng cho Cộng hòa Liên bang Đức, mặc dù quốc gia này đã có những lời tuyên bố trong quá khứ nhằm công nhận nội dung của Công ước Genève 1958 về thềm lục địa, vì Đan Mạch và Hà Lan đã không bị thiệt hại khi dựa vào những lời tuyên bố đó.
    Trong bản án “Những hoạt động quân sự và bán quân sự tại Nicaragua” giữa Nicaragua và Mỹ, Toà đã phán quyết như sau: “… ‘Estoppel’ có thể được suy diễn từ một thái độ, những lời tuyên bố của một quốc gia, nhằm chấp nhận một tình trạng nào đó; thái độ hoặc lời tuyên bố không những phải được phát biểu một cách rõ rệt và liên tục, mà còn phải khiến cho một hoặc nhiều quốc gia khác dựa vào đó mà thay đổi hoạt động, và do đó phải chịu thiệt hại”.
    Áp dụng những nguyên tắc trên của estoppel vào những lời tuyên bố của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, chúng ta thấy thiếu điều kiện 2 và 3 đã nêu ở trên. Năm 1956, năm 1958 và năm 1965, Trung Quốc đã không có thái độ nào, hoặc thay đổi thái độ vì dựa vào lời tuyên bố của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Và Trung Quốc cũng không thể chứng minh được rằng mình bị thiệt hại gì do dựa vào những lời tuyên bố đó. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng không được hưởng lợi gì khi có những lời tuyên bố đó. Lúc đó hai dân tộc Việt Nam và Trung Hoa rất thân thiện, “vừa là đồng chí, vừa là anh em”. Những lời tuyên bố của Thủ tướng Phạm Văn Đồng hoàn toàn do tình hữu nghị Hoa-Việt.
    Hơn nữa, lời văn của bản tuyên bố không hề nói rõ ràng minh bạch là công nhận chủ quyền của Trung Quốc trên Hoàng Sa. Bức công hàm chỉ nói: “Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy (quyết định ấn định lãnh hải 12 dặm của Trung Quốc), và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc…”.
    Lời tuyên bố của Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng có thể hiểu là một lời hứa đơn phương, một lời tuyên bố ý định sẽ làm một việc gì (declaration d’intention). Thật vậy, đây là một lời hứa sẽ tôn trọng quyết định của Trung Quốc trong việc ấn định lãnh hải của Trung Quốc, và một lời hứa sẽ ra lệnh cho cơ quan công quyền của mình tôn trọng lãnh hải đó của Trung Quốc.
    Một lời hứa thì lại càng khó ràng buộc quốc gia đã hứa. Tòa án Quốc tế đã ra thêm một điều kiện nữa để ràng buộc một lời hứa: đó là ý chí thực sự của một quốc gia đã hứa. Nghĩa là quốc gia đó có thực sự muốn bị ràng buộc bởi lời hứa của mình hay không. Để xác định yếu tố “ý chí” (intention de se lier), Toà xét tất cả những dữ kiện xung quanh lời tuyên bố đó, xem nó đã được phát biểu trong bối cảnh, trong những điều kiện nào (circonstances). Hơn nữa, nếu thấy quốc gia đó có thể tự ràng buộc mình bằng cách ký thoả ước với quốc gia kia, thì lời tuyên bố đó là thừa, và Tòa sẽ kết luận là quốc gia phát biểu không thực tình có ý muốn bị ràng buộc khi phát biểu lời tuyên bố đó. Vì vậy, lời tuyên bố đó không có tính chất ràng buộc.
    Trong bản án “Những cuộc thí nghiệm nguyên tử” giữa Úc, New Zealand và Pháp, Pháp đã tuyên bố là sẽ ngừng thí nghiệm nguyên tử. Toà án đã phán quyết rằng Pháp bị ràng buộc bởi lời hứa vì Pháp thực sự có ý muốn bị ràng buộc bởi lời hứa đó.
    Trong trường hợp Việt Nam, Thủ tướng Phạm Văn Đồng, khi tuyên bố sẽ tôn trọng lãnh hải của Trung Quốc, không hề có ý định nói đến vấn đề chủ quyền trên Hoàng Sa và Trường Sa. Ông đã phát biểu những lời tuyên bố trên trong tình trạng khẩn trương, chiến tranh với Mỹ bắt đầu leo thang, Hạm đội 7 của Mỹ hoạt động trên eo biển Đài Loan và đe doạ Trung Quốc. Ông đã phải lập tức lên tiếng để ủng hộ Trung Quốc nhằm gây một lực lượng chống đối lại với mối đe doạ của Mỹ.
    Lời tuyên bố năm 1965 của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng như vậy. Động lực của lời tuyên bố đó là tình trạng khẩn trương, nguy ngập ở Việt Nam. Đây là những lời tuyên bố có tính chính trị, chứ không phải pháp lý.
    Nếu xét yếu tố liên tục và trường kỳ thì ba lời tuyên bố của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng không hội đủ tiêu chuẩn này. Estoppel chỉ đặt ra nếu chấp nhận giả thuyết Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một; và cả Pháp trong thời kỳ thuộc địa, và Việt Nam Cộng hòa trước năm 1975 cũng là một đối với Việt Nam hiện thời. Nếu xem như Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia riêng biệt với Việt Nam hiện thời, thì estoppel không áp dụng, vì như đã nói ở trên, lời tuyên bố sẽ được xem như lời tuyên bố của một quốc gia không có quyền kiểm soát trên lãnh thổ tranh chấp. Như vậy, nếu xem Việt Nam nói chung như một chủ thể duy nhất từ xưa đến nay, thì ba lời tuyên bố của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chỉ là một sự phát biểu có ý nghĩa chính trị trong đoản kỳ thời chiến, so với lập trường và thái độ của Việt Nam nói chung từ thế kỷ XVII đến nay.
    Tóm lại, những lời tuyên bố mà chúng ta đang phân tích thiếu nhiều yếu tố để có thể áp dụng thuyết estoppel. Yếu tố “reliance” (tức là quốc gia kia có dựa vào lời tuyên bố của quốc gia này mà bị thiệt hại), và yếu tố “ý chí” (tức là quốc gia phát biểu lời hứa có ý muốn bị ràng buộc bởi lời hứa đó) rất quan trọng. Không có “reliance” để giới hạn sự áp dụng của estoppel thì các quốc gia sẽ bị cản trở trong việc hoạch định chính sách ngoại giao. Các quốc gia sẽ phải tự ép buộc cố thủ trong những chính sách ngoại giao lỗi thời.
    Khi điều kiện chung quanh thay đổi, chính sách ngoại giao của quốc gia kia thay đổi, thì chính sách ngoại giao của quốc gia này cũng phải thay đổi. Các quốc gia đổi bạn thành thù và đổi thù thành bạn là chuyện thường.
    Còn những lời hứa đơn phương trong đó quốc gia không thật tình có ý muốn bị ràng buộc, thì nó chẳng khác gì những lời hứa vô tội vạ, những lời hứa suông của các chính khách, các ứng cử viên trong cuộc tranh cử. Trong môi trường quốc tế, nguyên tắc “chủ quyền quốc gia” (état souverain) rất quan trọng. Ngoại trừ tục lệ quốc tế và những điều luật của Jus Congens, không có luật nào ràng buộc quốc gia ngoài ý muốn của mình, khi mà quốc gia này không gây thiệt hại cho quốc gia nào khác. Vì vậy ý chí của quốc gia đóng một vai trò quan trọng trong việc quyết định tính chất ràng buộc của một lời hứa đơn phương.(5)
    Ông Lưu Văn Lợi, cựu Chánh văn phòng-Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao, Trưởng ban Biên giới thuộc Hội đồng Bộ trưởng (1978-1989) đã nhận xét: “Công hàm của ông Phạm Văn Đồng chỉ là một cử chỉ tốt đẹp về tình hữu nghị, ủng hộ Trung Quốc trong lúc Mỹ đưa hạm đội 7 tới eo biển Đài Loan mà thôi”.(6)
    Từ những phân tích trên, theo chúng tôi là xác đáng nhưng cần phải nhấn mạnh rằng tất cả những hành động ngoại giao của Thủ tướng Phạm văn Đồng không phải là ông không nhìn thấy mọi ý đồ của Trung Quốc đối với cách mạng Việt Nam vì ông đã có kinh nghiệm và đã trả giá trong bàn đàm phán Geneve năm 1954, khi bàn về việc chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Đông Dương. Nhưng kinh nghiệm ấy cũng không ngăn ông được khi giải quyết các vấn đề biên giới, lãnh thổ với Trung Quốc vì Việt Nam đã tạo nên ấn tượng rằng Việt Nam đã tự nguyện chấp nhận những hy sinh vì lợi ích của đường lối chung về “cùng tồn tại hòa bình” đang thịnh hành trong thế giới xã hội chủ nghĩa lúc bấy giờ.
    Nhưng quan trọng hơn hết, từ năm 1945 đến nay, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Quốc hội nước Việt Nam Cộng hòa, Mặt trận DTGPMN Việt Nam và sau đó là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt và hiện nay là Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam chưa bao giờ lên tiếng hoặc ra nghị quyết từ bỏ chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa.
    Tất cả những chứng cứ mà phía Trung Quốc đưa ra đều vô hiệu!
    Đ. K. P.
    Nguồn: Bauxite
    —————————————
    Chú thích:
    (1) Nguồn:
    (2) www.fmprc.gov.cn, ngày 17/11/2000
    (3) Lưu Văn Lợi, Cuộc tranh chấp Việt-Trung về 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, NXB Công an, Hà Nội, 1995, trang 105.
    (4) BBC ngày 24-1-2008 và tổng hợp ý kiến của Tiến sĩ Balazs.
    (5) Từ Đặng Minh Thu, Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa – Thử phân tích lập luận của Việt Nam và Trung Quốc, Thời Đại Mới, số 11/7/2007.
    (6) BBC Vietnamese.com ngày 18/09/2008. Bài “Trung Quốc xuyên tạc cử chỉ hữu nghị”.

    Nhìn Lại 50 Năm Công Hàm Phạm Văn Đồng

    Lê Vĩnh

     

    JPEG - 63 kb

    Ngày 4 tháng 9 nam l958 Chính Phủ Trung Quốc ra tuyên cáo mở rộng lãnh hải của họ từ 3 hải lý thành 12 hải lý, áp dụng cho tất cả các lãnh thổ và hải đảo của Trung Quốc, trong đó họ bao gồm cả Tây Sa và Nam Sa (tức Hoàng Sa và Trường Sa của Việt nam). Mười ngày sau, ông Phạm Văn Đồng, thủ tướng cộng sản Việt Nam, gửi công hàm cho thủ tướng Chu Ân Lai của Trung Quốc, tán thành tuyên cáo nói trên, mà không hề có lời phản bác nào trước việc Trung Quốc ngang nhiên xem Hoàng Sa và Trường Sa thuộc lãnh thổ của họ. Hơn một tuần sau, báo Nhân dân ra ngày 22 tháng 9 đăng toàn văn công hàm vừa kể, để toàn đảng, toàn dân và thế giới biết hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ nay không còn là của Việt Nam nữa.

    Bức công hàm tuy chỉ dài 121 chữ, nhưng nói rất rõ là chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa, tức Cộng sản Việt nam, chẳng những “ghi nhận”, “tán thành” mà còn chỉ thị cho các cấp “triệt để tôn trọng” hải phận của Trung Quốc bao gồm cả Hoàng Sa lẫn Trường Sa. Như vậy, ngay trên văn bản này, ông Phạm Văn Đồng đã không nhân danh cá nhân ông, mà thay mặt cho chính phủ cộng sản Việt Nam ký kết. Trên thực tế, trong cương vị Thủ tướng, ông Phạm văn Đồng phải là người ký công hàm. Nhưng người ta đều biết, ông ta không phải là người tự quyết định, mà chỉ thừa hành quyết định chung của 11 người trong Bộ Chính trị hồi đó, mà người đứng đầu là ông Hồ Chí Minh. Sau 32 năm ngồi ghế thủ tướng, khi về vườn, ông Phạm Văn Đồng đã gián tiếp xác nhận điều này qua lời than thở rằng, ông chẳng có quyền hành gì cả.

    JPEG - 64 kb

    Sau này, vào những năm cuối đời, ông Phạm Văn Đồng biện bạch cho việc ông phải ký công hàm bán nước năm 1958 là vì lúc đó đang thời chiến. Nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm cũng đã đưa ra những lời biện bạch tương tự, và được Thông tấn xã Việt Nam loan ngày 3 tháng 12 năm 1992. Ông Nguyễn Mạnh cầm cho rằng, việc Cộng Sản Việt Nam ủng hộ Trung Quốc công bố chủ quyền của họ trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là cần thiết , vì nó phục vụ cho cuộc chiến bảo vệ tổ quốc. Cả hai lời biện bạch này vừa là những lời nói dối, vừa cho thấy sai lầm to lớn của đảng cộng sản Việt Nam, căn nguyên đưa đến sự bại liệt của nước ta hiện nay. Vào năm 1958 không có cuộc chiến tranh nào cả. Lúc đó miền Nam chỉ có một ít cố vấn Mỹ, không nhiều gì hơn số cố vấn Nga, Tàu ở miền bắc. Nhưng đảng cộng sản Việt Nam đã hoạch định cuộc xâm lăng miền Nam, gọi là cuộc chiến “chống Mỹ cứu nước” tại đại hội đảng lần thứ 3, năm 1959. Chính cuộc chiến mà ông Hồ Chí Minh và nhóm lãnh đạo cộng sản nhất định phải tiến hành cho bằng được, dù có phải “đốt cháy cả dãy Trường Sơn”, đã tàn phá đất nước, làm kiệt quệ sinh lực dân tộc. Rồi sau đó, với những sai lầm liên tiếp khác, đảng cộng sản Việt nam đã đưa đất nước xuống hố sâu của sự khánh kiệt mọi mặt; đành phải thúc thủ trước sự hung hăng của Trung Quốc. Ngày nay người ta đều phải thừa nhận là, miền nam trước kia, dù phải chịu đựng chiến tranh, nhưng cũng đã phát triển ngang hàng hoặc hơn các nước trong vùng. Nếu Hà Nội đừng gây ra cuộc chiến (*) (*), thì đến nay chắc chắn miền Nam đã phát triển, hùng cường không thua kém gì Đại Hàn. Trong tình hình đó, liệu Trung Quốc có dám khinh thường Việt Nam như hiện nay không?

    Trở lại bức công hàm bán nước năm 1958; 20 năm sau; bộ ngoại giao của Hà Nội ra tuyên bố cho rằng, công hàm đó chỉ mang tính chất ngoại giao. Cùng năm đó, báo chí đăng tin ông Lý Tiên Niệm, phó thủ tướng Trung Quốc nói rằng: “80 năm sau Trung Quốc mới nói chuyện Hoàng sa, Trường Sa với Việt Nam”. Lời tuyên bố này khiến người ta phải tự hỏi, liệu còn những mật ước dâng nhượng đất đai khác của Hà Nội mà Bắc Kinh chưa tiết lộ không? Nhìn vào sự thậm thụt của cộng sản Việt Nam trong các hiệp định trên bộ năm 1999 và trên biển năm 2000, thì nghi vấn vừa kể không phải là vô căn cứ. Thỉnh thoảng, khi không bằng lòng đàn em ở Hà Nội, Bắc Kinh lại xì ra thêm một vài dữ kiện, mà Hà Nội phải ngậm bổ hòn làm ngọt.

    JPEG - 22.3 kb

    Thực ra ,công hàm năm 1958 không phải là dữ kiện duy nhất về sự bán nước của cộng sản Việt Nam. Tháng 02 năm 1972, cục Đo Đạc và Bản Đồ thuộc phủ thủ tướng Cộng Sản Việt Nam, khi ấn hành bản đồ thế giới đã xóa tên Hoàng Sa và Trường Sa, thay vào đó là tên Tây Sa và Nam Sa . Trong khi đó, thư viện của trung Hoa Dân Quốc (tức Đài Loan) vẽ bản đồ Việt Nam từ năm 1947, có cả Hoàng sa và Trường Sa. Tháng 5 năm 1976 báo Saigon Giải Phóng, trong bài bình luận việc Trung Quốc chiếm Hoàng Sa bằng võ lực hồi tháng giêng năm 1974, đã viết rằng: “Trung Quốc vĩ đại đối với chúng ta không chỉ là người đồng chí, mà còn là người thầy tin cẩn đã cưu mang chúng ta nhiệt tình để chúng ta có ngày hôm nay. Vì vậy chủ quyền Hoàng Sa thuộc Việt Nam hay thuộc Trung Quốc cũng vậy thôi!”. Sách địa lý xuất bản năm 1974; trong bài "Nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa" có viết rằng "chuỗi hải đảo từ Nam Sa (Trường Sa) và Tây Sa (Hoàng Sa) tới Hải Nam và Đài Loan là bức tường thành bảo vệ lục địa Trung Quốc".

    Nhìn lại năm mươi năm, khởi đi từ bức công hàm bán nước năm 1958 , và các hành vi bán nước khác của đảng cộng sản Việt Nam sau đó, cùng với những sai lầm nghiêm trọng, đã làm cho đất nước suy vong, dân tộc mất sức đề kháng ngoại xâm, điều người ta khẳng định được là, không ai khác, chính Đảng Cộng Sản Việt Nam phải chịu trách nhiệm trước dân tộc và lịch sử về tình trạng này. Trong đó, dù muốn dù không, công hàm năm 1958 tự nó đã vô hiệu hoá chủ quyền chính đáng của Việt nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Kéo theo những thiệt hại khác của dân tộc. Do đó, văn bản này cần phải được huỷ bỏ. Đây là điều cộng sản Việt Nam phải thực hiện, hầu phần nào chuộc tội bán nước mà đảng đã làm từ nửa thế kỷ qua.

    Lê Vĩnh

    (*) Vào năm 1970, hai năm sau biến cố tết Mậu Thân, lực lượng cộng sản tại miền nam gần như bị tiêu giệt. Hạ tầng cơ sở của việt cộng cài cắm tại miền Nam hoàn toàn bị bị bật gốc . Chương trình bình định phát triển của Việt Nam Cộng Hoà tiến triển tốt đẹp. Tổng thống Việt Nam Cộng Hoà Nguyễn Văn Thiệu lúc đó đã đưa ra lời kêu gọi miền bắc hãy ngưng chiến tranh. Hai miền nam bắc thi đua phát triển đất nước, thi đua đem lại phúc lợi cho người dân . Nhưng cộng sản Việt Nam đã đáp ứng lời kêu gọi này bằng việc tăng cường xâm nhập người và vũ khí vào miền Nam, gia tăng cường độ chiến tranh vào những năm sau đó.

    – Nghe bài này : http://www.radiochantroimoi.com/spip.php?article4326

                  

      

    __._,_.___