NIÊN TRƯỞNG RA ÐI, CHÂN LÝ KHÔN CÙNG

Giao Chỉ, San Jose (Viet Tribune)

(Bài viết về Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu năm 2005, tác giả duyệt lại và đăng tải nhân ngày giỗ lần thứ tám 2009)

 

-“Tại sao miền Nam xụp đổ?”

– “Ðồng minh tháo chạy.   (Nguyễn Tiến Hưng)

-“Sao chúng không chết phứt cho rồi.”          (Kissinger.)

-“Ðời tôi năm nào cũng xấu, tháng nào cũng xấu, ngày nào cũng xấu, giờ nào cũng xấu.”

                                                                                                                                                                 (Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.)

 

-“Nhưng thật ra, niên trưởng Nguyễn Văn Thiệu là người hết sức may mắn. Từ thiếu úy lên trung tướng, binh đoàn là bực thang đưa ông lên danh vọng. Từ quân đội qua chính trị, sóng gió chiến trường lại giữ vững cho ông hai nhiệm kỳ tổng thống. Ðứng trên cả nền dân chủ pháp trị, ông lãnh đạo quốc gia một mình. Khi đất nước tan nát, trong cơn hồng thủy miền Nam, ông ra đi nhẹ nhàng. Bỏ lại phía sau xương máu và tù đầy. Tất cả tội lỗi do đồng minh Hoa Kỳ gánh chịu. Sau cùng ông từ giã cõi đời cũng hết sức êm ái trong lòng đất Hiệp Chủng Quốc, quốc gia của một thời phản bội. Tám năm sau, nhân ngày giỗ của ông, đã có cả ngàn người nhỏ lệ khóc thương. Quả thực niên trưởng là một người tốt số.”

                                                                                                                                                          (Giao Chỉ, San Jose)

-“Cuộc đời và lịch sử như một củ hành,càng bóc càng cay, sau cùng chỉ còn một khuôn mặt đầy nước mắt.”

                                                                                                                                                                                                (Ngụ ngôn Ba Lan).

 

                Lịch sử thường có những diễn biến đặc biệt cần nhắc lại. Tổng thống Ngô Đình Diệm của đệ nhất cộng hòa bị thảm sát tại Việt Nam, hai mươi năm sau người Việt hải ngoại gây dựng phong trào tinh thần Ngô Đình Diệm với hàng ngàn người thương tiếc và oán trach Hoa Kỳ. Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu của đệ nhị cộng hòa, sau khi qua đời gần 10 năm, cũng có hàng ngàn người thương tiếc và oán trách Hoa Kỳ. Trong bộ phim Quảng Trị, mùa hè 1972 chúng tôi có dành riêng một DVD trình bầy về tổng thống Nguyễn vãn Thiệu. Sau đây là bài viết năm 2005 đã được duyệt lại để gửi đến độc giả 2009

Tháng 6-2005, tác giả Nguyễn Tiến Hưng trở lại San Jose ra mắt tác phẩm mới Khi Ðồng Minh Tháo Chạy, chúng tôi có dịp luận bàn về niên trưởng Nguyễn Văn Thiệu.

Ong Thiệu ra đi không để lại hồi ký. Suốt 30 năm lưu vong, trừ một thời gian xuất hiện ngắn tại San Jose, ngoài ra ông hoàn toàn kín tiếng và sống ẩn dật. Không tiếp xúc với báo chí, không để lại các di sản cho lịch sử. Ðặc biệt về vấn nạn số một của quốc gia là câu chuyện bang giao với Hoa Kỳ trong các năm cuối cùng không hề được ghi lại. Niên trưởng Nguyễn Văn Thiệu ôm lấy chuyện đau lòng của đất nước như chuyện của riêng ông. “Mối sầu ôm xuống tuyền đài chưa tan.”

        Vì vậy, mọi dữ kiện bên trong hậu trường, chúng ta chỉ còn trông cậy vào hai tác phẩm của tác giả Nguyễn Tiến Hưng. Từ cuốn Hồ Sơ Mật Dinh Ðộc Lập lại xuất bản năm 1986 cho đến cuốn Khi Ðồng Minh Tháo Chạy xuất bản năm 2005.

        Nói về cuộc đời và lịch sử, người Ba Lan đã có câu ví von rất đặc biệt. Họ nói là chân lý của lịch sử cũng như một củ hành. Càng bóc vỏ càng hăng, và sau cùng là khuôn mặt đầy nước mắt.

        Củ hành đã làm ta cay mắt hay là người viết khóc cho nỗi đoạn trường của cả một dân tộc.

        Hai mươi năm trước, tác giả Nguyễn Tiến Hưng ra mắt cuốn Hồ Sơ Dinh Ðộc Lập tại San Jose vẫn có người chống đối ông Nguyễn Văn Thiệu đã đến đặt vấn đề.

        Hai mươi năm sau, những sôi nổi của thời sự đã lắng đọng. Ông Thiệu không còn nữa. Cuốn sách thứ hai của Nguyễn Tiến Hưng được đón nhận nồng nhiệt.

        Sách nhắc lại một câu hỏi của 30 năm trăn trở. Tại sao Việt Nam Cộng Hòa lại xụp đổ. Và câu trả lời lần này dứt khoát: Bởi vì đồng minh tháo chạy.

        Trong suốt 21 năm chia đôi đất nước từ 54 đến 75, miền Nam xây dựng hai nền Cộng Hòa hoàn toàn lệ thuộc vào Hoa Kỳ từ mọi phương diện. Từ quân sự, chính trị, xã hội, kinh tế đến văn hóa và giáo dục.

        Ðặc biệt là chiến tranh càng khốc liệt thì sự lệ thuộc càng nặng nề. Nhu cầu chiến phí quân viện trở thành yếu tố then chốt vượt lên trên cả tinh thần chiến đấu và đường lối hành quân.

        Vì vậy, khi Hoa Kỳ rút quân, ký hiệp ước đem tù binh về và làm ngơ cho Bắc Việt để lại 150 ngàn quân chiến đấu ở lại trong Nam với một hậu phương Hà Nội an toàn. Các đường giây tiếp liệu đầy đủ với ống dẫn dầu dọc theo Trường Sơn. Số phận miền Nam đã được Kissinger dự đoán là sẽ chỉ cầm cự được một năm rưỡi. Kissinger đã nói như vậy ngay sau khi ký hiệp ước Paris tháng 1-1973.

        Ðây là thời gian tính từ lúc quân lực Hoa Kỳ chính thức rời khỏi Việt Nam chỉ để lại văn phòng tùy viên cạnh tòa đại sứ. Theo sách của ông Hưng thì đây là ngày 29 tháng 3-1973.

        Từ hơn nửa triệu quân tham chiến, nay chỉ còn lại 150 binh sĩ ở lại canh gác tòa đại sứ và 58 ngàn tử sĩ đem về. Cho đến khi ông đại sứ cuối cùng ra đi bằng trực thăng vào sáng 30 tháng 4-1975.

        Ðó là lý do tại sao chiến sử Hoa Kỳ lại có một chương viết về hội chứng Việt Nam.

        Thực ra, ngay sau khi trận chiến Mùa Hè 72 vẫn còn vang tiếng súng và hiệp định Paris chưa bước vào giai đoạn kết thúc thì Ngũ Giác Ðài đã chuẩn bị cho Việt Nam Cộng Hòa cải tổ lại hệ thống Tiếp Vận.

        Một toán chuyên viên cao cấp của Bộ Lục Quân đã được phái qua Sài Gòn để cùng với Bộ Tổng Tham Mưu, Tổng Cục Tiếp Vận Việt Nam thực hiện chương trình tái tổ chức quy mô việc yểm trợ cho toàn thể quân lực. Thành lập các liên đoàn yểm trợ trực tiếp, xây dựng các tổng kho, đồng loạt hóa việc bảo trì quân dụng.

        Vào thời gian đó, chúng tôi vừa thụ huấn xong khóa Chỉ Huy Tham Mưu Cao Cấp tại Ðà Lạt thì được bổ nhiệm đứng đầu tổ chức Pathfinder II với các giới chức quản trị cao cấp của Ngũ Giác Ðài gửi qua Việt Nam.

        Việc cải tổ tuy hoàn tất và thành công nhưng cũng chỉ gọi là hợp lý hóa các đường lối yểm trợ chiến trường với điều kiện phải được tiếp tục nhận quân viện.

        Một cách không chính thức ủy ban Pathfinder II chúng tôi lúc đó cùng với đại tá Sheriff vốn là một chuyên viên Tiếp Vận chiến lược của Ngũ Giác Ðài đã ước tính là khi Mỹ rút quân thì Việt Nam Cộng Hòa cần ít nhất hai tỷ Mỹ kim một năm mới có thể tồn tại. Xin hiểu rằng đây là trị giá ngân sách của năm 1972.

        Tuy nhiên, những bàn tính bên lề của ủy ban không bao giờ có cơ hội trình lên cho hội nghị hỗn hợp Việt ố Mỹ vì bị coi là các đề nghị không tưởng.

        Vào những ngày cuối của cuộc chiến chỉ cần xin Quốc Hội Hoa Kỳ tháo khoán 300 triệu Mỹ kim mà cũng không được cứu xét.

        Qua năm 1973, hiệp định Paris ký kết thì tình trạng Tiếp Vận của Việt Nam đã vô cùng thiếu hụt. Một số lớn bom đạn dầu xăng và tiềm lực Tiếp Vận đã dốc hết vào trận Mùa Hè 1972. Vì vậy đến cuối 1974 dự trữ Tiếp Vận đã rất bi đát. Phi cơ nằm trong bãi đáp vì không có cơ phận thay thế. Quân xa thiếu xăng, đại bác thiếu đạn. Tinh thần binh sĩ đã nao núng vì không được yểm trợ phi pháo và tản thương đầy đủ.

        Tại Bộ Tổng Tham Mưu chúng tôi vẽ sơ đồ trình bày cho phái đoàn Quốc Hội Hoa Kỳ những đường biểu diễn với các tỷ lệ nghịch đầy máu lệ.

        Ðường biểu diễn các con số tử vong lên cao khi tiếp tế đạn dược, nhiên liệu và thuốc men đi xuống.

        Thay vì cứu xét viện trợ thì kết quả của các bài ca đau thương đó là sự quyết tâm của Hoa Kỳ bỏ rơi luôn cho nhẹ gánh.

        Ðó là lý do Kissinger nói ra lời tàn nhẫn bất hủ mà tác giả Nguyễn Tiến Hưng đã trích diễn trên bìa sách: “Sao chúng không chết phứt đi cho rồi.”

        Sự thực không phải chỉ một mình Kissinger nghĩ như vậy mà chính cả Nixon và tiếp theo là Johnson , cùng với phần lớn Quốc Hội Hoa Kỳ cũng nghĩ như thế. Trong hoàn cảnh của thời điểm đầu thập niên 70, Kissinger chỉ là bàn tay đao phủ của nước Mỹ. Dù cho bắt nguồn từ bất cứ lý do nào thì người dân Mỹ nói chung đều muốn bỏ Việt Nam bằng mọi giá. Quốc Hội Mỹ quay lưng lại Việt Nam là chỉ làm theo dân ý. Hành pháp Hoa Kỳ từ tổng thống xuống đến các Bộ Quốc Phòng, Ngoại Giao thảy đều cùng đồng lòng tháo chạy.

        Lẽ dĩ nhiên chúng ta không phủ nhận là một số lớn các tướng lãnh, các sĩ quan cao cấp Hoa Kỳ, các cố vấn Mỹ đã từng sát cánh với Việt Nam Cộng Hòa đều không đồng ý sự phản bội vô trách nhiệm của hành pháp và lập pháp Hoa Kỳ. Ngoài ra, trong giới ngoại giao, ông đại sứ Martin là trường hợp đặc biệt đã tận tụy với Sài Gòn cho đến ngày giờ chót.

        Ðã hơn 30 năm trôi qua với biết bao đau thương và đoạn trường. Người xưa đã nói rằng khi bình luận về con người phải chờ đến lúc áo quan đóng lại.

        Bây giờ cả 4 vị tổng thống của Nam Việt Nam đều đã qua đời. Từ ông Diệm của Thừa Thiên, ông Thiệu – Phan Rang, ông Hương – Vĩnh Long và ông Minh – Long An, tất cả đều ra người thiên cổ. Cả hai nền Cộng Hòa đệ nhất và đệ nhị đều cáo chung. Chúng ta phải đủ can đảm và nhận ra chân lý. Sự lệ thuộc của miền Nam đối với Hoa Kỳ vừa làm mất chủ quyền, mất chính nghĩa và đồng thời hoàn toàn triệt tiêu sức chiến đấu khi quân viện bị cắt đứt.

        Sáng kiến về quỹ tiết kiệm quân đội để dành sức mạnh tự lực cánh sinh lập xưởng làm bom đạn hoàn toàn bị bẻ gẫy từ trong trứng nước. Mọi sáng kiến liên lạc trực tiếp với Hà Nội để tìm giải pháp chính trị đều bị dập tắt.

        Khi cần thay đổi cấp chỉ huy Việt Nam, Hoa Kỳ cho tin báo chí đăng các tài liệu về tham nhũng. Khi muốn khởi dậy cuộc chỉnh lý hay muốn dập tắt một cuộc binh chiến CIA cũng sẵn sàng trực tiếp mua chuộc bằng tiền.

        Trong 20 năm chiến tranh Nam Bắc, dù đánh lớn đánh nhỏ, tất cả đều theo chủ trương bảo vệ miền Nam. Ðịch đánh đâu thì đỡ đó. Không bao giờ chủ động và không bao giờ bàn kế hoạch tấn công ra Bắc.

        Bao nhiêu trận khó khăn chúng ta đều vượt qua từ Tết Mậu Thân 68 đến mùa Hè 72. Ðịch quân thắng thì lấn tới, thua thì rút về nghỉ. Cho đéãn khi chúng ta thua trận cuối cùng 75 là mất tất cả. Chúng ta không còn chỗ nào rút về để dưỡng quân. Chúng ta không có hậu phương và cũng không có mật khu. Chúng ta không thể đánh giặc theo kiểu nhà nghèo, chúng ta không được huấn luyện để đánh du kích. Và thực ra trong những năm sau cùng hai bên đã đánh trận địa chiến cấp sư đoàn chứ không còn là trận chiến du kích lẻ tẻ.

        Tính chất xây dựng quân đội hai phe Nam Bắc cũng khác nhau. Bộ đội từ miền Bắc vào Nam chỉ có một con đường, đánh cho đến chết. Không một ngày phép, không thư từ vợ con, không có điều kiện để lựa chọn. Sống chết không ai hay biết.

        Lính Cộng Hòa với hậu phương tiền tuyến, trại gia binh, với tình yêu đem theo và hòm gỗ trở về. Trước khi thành tử sĩ, người lính đã là một người bình thường, có giây phút anh hùng và có những lúc mềm lòng sợ hãi. Và dù là tướng lãnh cũng chỉ là con người, không ai có thể anh dũng được suốt cả đời.

        Trong trận 75, việc rút quân bi thảm của hai quân đoàn mới thấy rằng chính các điểm mạnh của miền Nam trở thành yếu điểm. Khi lính rút ở đâu là dân ở đó chạy theo.

        Sự sợ hãi, từ bỏ và trốn tránh chế độ cộng sản của dân chúng miền Nam đã từng là niềm hãnh diện của phe quốc gia nay đã trở thành cả một hiểm họa cho các đơn vị lui binh.

        Trên quốc lộ, tại phi trường và các quân cảng tràn ngập người chạy loạn. Lính tráng, gia đình, dân chúng trở thành một khối hỗn loạn nên đã tạo ra biết bao thảm cảnh kinh hoàng và dễ dàng đi đến đoạn cuối nhanh hơn cả khả năng tiếp thu của cộng sản.

        Và chính vì lý do đó, thay vì thỏa hiệp giải pháp chính trị thì vào ngày 28 tháng 4-1975, trung ương đảng cộng sản Hà Nội thay đổi ý kiến vào giờ chót, quyết định dứt điểm Sài Gòn.

        Trong tài liệu về quân viện ngay từ cuối năm 1974, chính các tướng lãnh Hoa Kỳ dựa vào ngân sách quân viện đã đưa ra ý niệm chỉ có thể giữ đất miền Nam theo số viện trợ hàng năm nhằm mục đích đưa ra đề nghị bỏ đất, bỏ dân để tái phố trí.

        Một tỷ 500 triệu thì giữ tuyến Bến Hải. Một tỷ 100 triệu thì cố thủ Ðà Nẵng và Duyên Hải. 900 triệu thì đất nước chỉ còn lại miền ven biển Nha Trang. Xuống đến 750 triệu thì chỉ còn lại hai quân khu miền Ðông miền Tây và thủ đô Sài Gòn. Sau cùng nếu giải tỏa 300 triệu thì chỉ còn đủ tiền lo di tản và định cư 100,000 người dân mất nước.

        Tuy nhiên đây chỉ là quan niệm lý thuyết theo lối quản trị trên kinh tế học. Ðại công ty Hoa Kỳ có thể cho đóng cửa các chi nhánh không đem lại lợi tức. Nhưng đem áp dụng vào chiến trường mà tinh thần binh sĩ và dân chúng là yếu tố then chốt thì không thể bỏ đất bỏ dân dù bất cứ ở chỗ nào.

        Ðứt giây động rừng. Thuyết đỗ vỡ theo kiểu quân cờ Domino đã thể hiện rõ ràng vào tháng 4-1975 tại Việt Nam. Sự đổ vỡ của quân khu I và quân khu II tạo ra một chấn động giây truyền làm cho mọi giải pháp chính trị đều không có cơ hội thực hiện.

        Nhưng trước khi bức màn bi thảm của miền Nam buông xuống thì cuốn sách đầy di sản lịch sử của ông Hưng cho thấy tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã gần như đơn độc chiến đấu với Hoa Kỳ qua mặt trận ngoại giao từ sau khi khói súng trận Mậu Thân vừa tạm yên.

        Trong 9 năm cầm quyền thì ông Thiệu có hơn 4 năm củng cố nội bộ và hơn 4 năm sau là thời gian khổ sở với đồng minh Hoa Kỳ.

        Vào những ngày cuối tháng 4-1975, khi đọc diễn văn từ chức Tổng Thống để giao quyền cho cụ Hương, Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu có than thở một cách hết sức chân thành.

        Ông nói rằng: “Trong suốt 9 năm cầm quyền từ Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia cho đến hai nhiệm kỳ Tổng Thống, tôi chưa bao giờ có được một lúc nào sung sướng. Năm nào cũng xấu, tháng nào cũng xấu, ngày nào cũng xấu, và giờ nào cũng xấu.”

        Nhưng thực ra, cuộc đời của ông Thiệu là một cuộc đời cực kỳ may mắn. Ông đã gặp những thời vận rất tốt. Xuất thân cũng là một sinh viên sĩ quan trung bình như các bạn đồng ngũ. Sau một thời gian, ông có cơ hội là chỉ huy trưởng ngôi trường Võ Bị Ðà Lạt lừng danh Ðông Nam Á. Một cơ hội không phải người sinh viên nào cũng gặp may như vậy.

        Trong suốt những năm chinh chiến, từ cấp úy lên cấp đại tá, ông cũng luôn luôn trong vai trò khiêm nhượng. Giữa thời kỳ đảo chánh liên tiếp, các tướng lãnh tranh chấp hỗn loạn rồi đến khi tạm ổn định, Tướng Kỳ xông ra làm thủ tướng. Trong hàng tướng lãnh cao cấp, quay đi quay lại, chợt không còn ai, Trung Tướng Thiệu bèn lãnh vai trò quốc trưởng.

        Như vậy là trong số cả ngàn sĩ quan các cấp, niên trưởng Nguyễn Văn Thiệu là người từ quân đội bước ra tham chính một cách may mắn nhẹ nhàng nhất. Chẳng phải tranh chấp kèn cựa với ai. Ông Thiệu đóng vai long trọng viên và thoát khỏi mọi trách nhiệm rắc rối. Rồi từ vai trò quốc trưởng hậu trường, ông nhẹ nhàng lên ngôi tổng thóãng suốt hai nhiệm kỳ. Người Mỹ luôn luôn đứng bên cạnh ông. Ðó là người bạn trai Hoa Kỳ hết sức trung thành với cô gái Việt Nam dễ thương không đòi làm hôn thú.

        Cho đến năm 1975, với những lá thư cam kết của Nixon bỏ trong túi áo, ông Thiệu quyết định rút bỏ Vùng 1 và Vùng 2, đánh ván bài tháu cáy hy vọng Hoa Kỳ quay lại cứu. Ðây là hình ảnh bà mẹ trẻ giận dỗi người tình nên đành đoạn đem con bỏ chợ để dọa dẫm, ngóng chờ anh chàng quay lại. Ván bài gây tai hại cho cả miền Nam vì Mỹ ra đi không trở lại.

        Rồi tiếp đến là 30 tháng 4-75. Trong khi tất cả mọi người quân dân chánh đều hoảng loạn muốn tìm cách chạy thoát ách cộng sản, thì số mệnh lại một lần nữa đưa đẩy để ông Thiệu ở vào hoàn cảnh mà sự ra đi lại là một hành động hy sinh cho đất nước.

        Ông đã may mắn khi rời quân đội bước vào chính trường. Ông lại may mắn rời đất nước để đóng vai người tỵ nạn số một của miền Nam. Ông được Hoa Kỳ hộ tống qua Ðài Loan uống trà với Tổng Thống Tưởng Kinh Quốc luận bàn thế sự rồi qua Anh quốc một thời gian trước khi về định cư ở Boston, Hoa Kỳ.

        Và sau cùng ông đã may mắn trong cách rời bỏ cuộc đời trong một chuyến đi nhẹ nhàng vào miền vĩnh cửu. Ông mất về bệnh tim về lúc tuổi thọ đã cao không hề vất vả nhiều về bệnh tật.

        Một năm sau, vào ngày giỗ đầu của ông, tại San Jose lễ tưởng niệm đã diễn ra vô cùng long trọng. Vị cựu Ðệ Nhất Phu Nhân được nghênh đón với đầy đủ lễ nghi quân cách. Trong số hàng trăm người hiện diện có cả nhiều cựu chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã bị ông bỏ lại để phải trải qua nhiều năm trong ngục tù cộng sản. Họ vẫn đến với ông với tấm lòng thương tiếc và ngưỡng mộ.

        Với những sai lầm lớn lao trong vai trò lãnh đạo mà niên trưởng Nguyễn Văn Thiệu đã trách nhiệm, di hại đến biết bao nhiêu cái chết đau thương tức tưởi. Nhưng tại sao chính những nạn nhân vẫn còn có người coi ông như thần tượng.

        Phải chăng vì chúng ta nghĩ rằng mặc dù mang trách nhiệm chính về việc rút quân nhưng đáp số của sự xụp đổ nằm ở Hoa Thịnh Ðốn chứ không phải Sài Gòn.

        Ðiều quan trọng sau cùng đáng trách là sự che dấu. Lịch sử thất bại Mỹ tại Việt Nam in hằn dấu vết của sự bưng bít từ Kissinger qua Nixon. Che dấu đồng minh Việt Nam, che dấu Quốc Hội và che dấu nhân dân Hoa Kỳ. Tuy nhiên, sự che dấu đó rút cục được nước Mỹ tha thứ vì họ rút chân Hiệp Chủng Quốc ra khỏi vũng lầy.

        Trong khi đó, tổng thống của chúng ta hết một lòng tin tưởng ở hơn 10 lá thư cam kết giữ riêng trong Hồ Sơ Mật như cô gái nhẹ dạ ăn ở hết lòng với người tình thề non hẹn biển cho đến khi quá muộn. Anh chàng Sở Khanh Nixon không làm hôn thú, để cho cô gái Phan Rang vốn là người suốt đời ngờ vực thiên hạ nhưng lại hết lòng tin tưởng vào mớ thư tình cam kết sống chết có nhau.

        Xem như thế, thực ra chính tổng thống Nguyễn Văn Thiệu suốt bao nhiêu năm cũng vẫn loay hoay chiến đấu một mình mà không hề tiết lộ sự thực cho những người quan tâm đến vận mệnh đất nước.

        Cho đến khi buộc lòng giao hồ sơ thư tín tối mật của Mỹ cho một ông giáo sư kinh tế lạc đường vào lịch sử đi chạy thuốc vào ngày 14 tháng 4-1975 thì mọi sự đã trở thành quá muộn màng.

        Ông Nguyễn Tiến Hưng được ủy thác lên đường cứu nước vào giờ thứ 25, cầm mớ thư tình hết sức quan trọng lên đường đi Mỹ mà chưa biết đưa ra để cầu cứu ai đây.

        Ông tiến sĩ về kinh tế học vốn đã từng được gọi là người có tác phong Tây con, trở thành người đưa thư cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa. Sau cùng ông đã tìm cách họp báo tại khách sạn May Flower có cái tên định mệnh tại thủ đô Hoa Kỳ.

        Với lá thư tình cam kết của Nixon cho đồng minh Việt Nam, ông Hưng chỉ còn cơ hội chót để kêu nài Tượng Thần Tự Do vốn đứng quay ra Ðại Tây Dương xin ngoái cổ lại Thái Bình Dương mà vớt thêm 100,000 dân tỵ nạn 75.

         Vị tổng thống ngồi trong Dinh Ðộc Lập quanh năm sợ CIA nghe lén từ chung quanh vách tường. Mỗi khi nói chuyện cơ mật lại phải kéo nhau ra đứng ở hành lang. Ngày xưa, đã lâu lắm, đầu thập niên 50, các thanh niên trẻ tập trung ở Sài Gòn trước khi lên đường lên Ðà Lạt. Trung úy Nguyễn Văn Thiệu hiền lành, vui vẻ đại diện trường Võ Bị chào đón anh em. Không ai biết rằng ông trung úy trẻ này sau này sẽ là chỉ huy trưởng trường Võ Bị nổi danh của Ðông Nam Á.

        Năm 1962, tôi là một đại úy của quân khu I, ngồi ăn cơm ở Câu Lạc Bộ Sư Ðoàn 5 Bộ Binh với Ðại tá Tư lệnh Nguyễn Văn Thiệu, nghe ông kể chuyện tiếu lâm. Chuyện quân vụ quanh năm vất vả, nhưng mỗi ngày đều có một niềm vui. Không ai mà biết rằng vị đại tá chuyên nói chuyện tếu sau này sẽ làm tổng thống Việt Nam Cộng Hòa suốt 9 năm mà lại nói là không có được một ngày vui.

        Quả thực định mệnh và chân lý khôn cùng. Lịch sử cứ như là một củ hành, càng bóc càng cay và sau cùng chỉ còn lại những nấm mồ và những khuôn mặt đầy nước mắt. Nước mắt tuôn tràn vì ta khóc thương cho thân phận, khóc thương cho đất nước hay chỉ vì ta đã bóc hết củ hành?

Giao Chỉ, San Jose.

 

 

About the author
Leave Comment