Chùm Thơ CAO MỴ NHÂN – VĂN: MÙA XUÂN BẤT TẬN

THƠ CAO MỴ NHÂN

MẦU HOANG THẦN THOẠI.      CAO MỴ NHÂN        

Em để lẫn thời gian hoà nước mắt

Từng giọt sầu lấp lánh rơi mê man

Anh như đại dương nổi sóng bạt ngàn 

Vừa mới đó mà tháng năm chồng chất 

*

Rồi thấy được tuổi thơ dần mất mát

Mới biết rằng biển mặn thoắt tan nồng

Lệ tình đầy như lũ chảy thành sông

Nhìn khổ luỵ mịt mùng trong mây nước

*

Con đò nát chở đầy hồn mơ ước 

Anh ngậm ngùi : ” thôi nhé mình xa nhau “

Không có gì phụ bạc xưa hay sau

Trời đất vẫn một mầu hoang thần thoại 

*

Giọt nước mắt mang thời gian tồn tại 

Đến bao giờ tan loãng hết thương yêu

Cho nhân gian không phải xót xa nhiều

Ôi bất tận, những phút giây huyền diệu 

*

             CAO MỴ NHÂN

ĐỒNG LOÃ .      CAO MỴ NHÂN 

Trước khi vào giấc ngủ

Anh có đọc thơ tình

Như một người đầu thú 

Tội yêu đương của mình

*

Khi vào giấc ngủ rồi 

Anh có thấy hồn vơi

Ảnh hình em trong đó

Vừa trốn anh rong chơi

*

Ngủ một đêm thảnh thơi

Sáng dậy như mất mát

Giấc mơ đẹp tuyệt vời 

Lời thơ và tiếng hát

*

Em là tên tội phạm 

Soi mói cuộc tình anh

Chẳng phải tình riêng anh 

Chúng ta cùng đồng loã

*

Nên, trước khi đi ngủ

Nhớ đọc lại thơ tình

Để tâm hồn bỏ ngỏ

Cho cuộc tình phiêu linh …

    CAO MỴ NHÂN 

THỦA NÀY.  –   CAO MỴ NHÂN

Tình chưa thật hết người yêu cũ

Sao đã cho lòng thổn thức ai

Sao đã bâng khuâng bao nỗi nhớ

Nửa khuya trằn trọc, vấn vương hoài

*

Kẻ đến, người đi, buồn điệp điệp

Ngọn sầu lay lắt, gió lưa thưa

Hoang liêu trùm kín hồn len lén

Chuyện đã pha phôi còn vẩn vơ

*

Ngàn năm sự nghiệp là hư ảo

Thành thử người yêu cũng chán mình

Tuổi chất đầy vai, tràn sống áo

Nghênh tân, tống cựu, nghĩ mà kinh

*

Giấc mộng hoang đường nay đã thực

Ngồi ôm kỷ niệm trong vòng tay

Mai sau ai sẽ hồi quyền chức

Cho một người chung thuỷ thủa này…

CAO MỴ NHÂN (HNPD)

                              17 – 8 – 2022

KHI TA GIÀ ĐI.    CAO MỴ NHÂN  

Khi ta đã già đi

Chẳng còn suy nghĩ gì

Làm theo lời quán tính

Không vướng bận điều chi

*

Khi ta đã già đi

Vui, buồn nhỏ tí ti

Chân trời xa tít tắp

Hình, bóng đứng từ ly

*

Mầu sắc mây huyền vi

Trên không gian mê si

Thuyền tình trôi hờ hững

Khi ta đã già đi

*

Có phải người vô tri

Vở kịch hài hay bi

Màn nhung đang kéo lại

Khi ta đã già đi…

       CAO MỴ NHÂN   

ĐIỀU GÌ LÚC TẬN THẾ.      CAO MỴ NHÂN 

Anh định nói với em

Điều gì lúc . ..tận thế 

Em sợ nhất trái tim 

Đang rò rỉ muốn bể 

*

Nhưng quả đất chai lì 

Như em nhiều mất mát

Đã không còn sợ gì 

Khi anh lên tiếng hát 

*

Tim sẽ cất nơi xa 

Dấu vào trong bóng tối 

Có thật anh xót xa

Nghe bước chân em vội 

*

Hình như bao mỏi mệt 

Đã chìm xuống đại dương

Trên đỉnh đời yêu mến 

Chỉ còn một nguồn thương

*

Chắc là em đùa rỡn 

Để quên cuộc tình buồn 

Ôi lửa tình quá lớn 

Đốt cháy cả hoàng hôn …

     CAO MỴ NHÂN 

ĐỪNG  CHỜ TẬN THẾ.       CAO MỴ NHÂN 

Phải yêu nhau đi thôi

Đừng chờ tận thế nữa 

Mặt trời đang tan vỡ 

Hàng tỷ mảnh vụn đen

*

Phải yêu nhau nhanh lên

Không còn thì giờ thở

Trái đất thôi êm đềm 

Đừng băn khoăn, bỡ ngỡ 

*

Mọi sự sẽ tan hoang

Đâu còn vẻ điêu tàn 

Để làm thơ thống khổ

Mà sợ chuyện dở dang

*

Tại sao anh ngần ngại 

Bởi vì còn nán đợi 

Một giây phút hồi sinh

Tất cả cùng tái thế…

*

   CAO MỴ NHÂN 

ĐIÊU TÀN.      CAO MỴ NHÂN

Em hiện thân của chiến tranh

Mắt, môi rực sáng, quách thành ngả nghiêng

Anh mang trọn nỗi ưu phiền

Từ khi lửa đạn đã nghiền ngẫm thân

Bây giờ tất cả phù vân

Đường anh đi cũng trăm năm nghĩa tình

Em không có được hoà bình

Trái tim tan nát đao binh lỡ làng

Em hiện thân của dở dang

Son phai, phấn lạt, điêu tàn núi sông

Làm sao anh hỡi bạn lòng

Bao phen bão nổi , mưa giông, gió cuồng

Một mình ôm khối tình suông

Quê hương biền biệt khói sương mơ hồ

Bây giờ anh cũng hư vô

Không gian vời vợi đắp mồ xuân xanh…

Hawthorne  21 – 7 – 2023

CAO MỴ NHÂN 

=

THÁNG NGÀY.      CAO MỴ NHÂN

Có lần anh nói với em

Rằng hãy quên đi tất cả

Tháng ngày sẽ được dài thêm

Cuộc đời vô cùng êm ả

Em hỏi :  ” Để làm gì anh

Cuộc đời dài thêm ngày tháng ? “

Nhưng em vẫn thấy xuân xanh

Tình càng mông mênh, say đắm

Em cũng nói với anh rằng

Vui gì tháng ngày trống vắng

Đời em sẽ mất thăng bằng

Tưởng như không còn sức sống

Và rồi ngày tháng trôi qua

Mấy mươi năm chưa kết thúc

Mùa xuân vĩnh viễn trong thơ

Có anh mặt trời mới mọc …

  CAO MỴ NHÂN

-=

TÌM MẶT TRỜI.     CAO MỴ NHÂN

Ngày không có mặt trời

Em tìm anh khắp chốn

Anh ở đâu khắp nơi

Hay là anh đi trốn

*

Ta trốn gì cuộc đời

Đã an bài lẽ sống

Dù không có mặt trời

Biển vẫn tràn dâng sóng

*

Đó là điều tuyệt vời

Anh muốn nói với em

Thật rõ ràng một lời

Chữ “ yêu  “ bừng sáng lên

*

Không gian đang tối đen

Làm sao có mặt trời

Anh lẫn vào bóng đêm

Đừng gọi bình minh đến …

Rancho Palos Verdes  4 – 1 – 2026

          CAO MỴ NHÂN

=

BOLSA MẤY NẺO XA GẦN.     CAO MỴ NHÂN

Con đường độc đạo Bolsa

Vừa dài, vừa rộng, vừa xa, vừa gần

Vừa đầy bạn lính, bạn văN

Vừa tân, vừa cổ, vừa cần, vừa dư

Thủ đô tị nạn bây chừ

Đầy người chân giả, thực hư, chính tà

Nơi nào cũng có bóng ta

Chỗ nào cũng thấy ba hoa chích choè

Bao nhiêu “chiến hữu ” ê hề

Bấy nhiêu ” chính khách ” bộn bề lưu vong

Bolsa đến ở, đi mong

Thủ đô tị nạn đã không lưu đầy

Bây giờ bạn với ai đây

Đầu hôm hỗn loạn, cuối ngày lao đao

Bầy chim vỡ tổ xôn xao

Cánh buồn khép lại, hồn chao dập dồn

Bình minh lẫn với hoàng hôn

Một màn bi kịch đang còn diễn ra

Bolsa tới hội, khó hoà

Làm sao dựng lại sơn hà cố hương …

  Rancho Palos Verdes  1 – 4 – 2023

            CAO MỴ NHÂN 

VĂN- MÙA XUÂN BẤT TẬN

MÙA XUÂN BẤT TẬN.      CAO MỴ NHÂN 

Thế là năm mới đã xong 10 cái mùng rồi ( từ mùng 1 tới mùng 10 Tết đó), mười một là chính thức ra giêng, tức tháng giêng , thêm cái rằm lớn đầu năm: thượng nguyên, hay nguyên tiêu, rồi thì là, thì là…

Rồi thì là sao, anh hỏi, cứ đem ba cái chấm ra để dứt một câu ngang phè …

Ngang phè thế nào được, một câu văn hoa che lấp những điều khó nói, những chuyện còn băn khoăn, nên nói thế nào cho khỏi mất lòng nhau. 

Hay chính là một câu dang dở, cả trong chữ viết lẫn ngoài ngôn ngữ . 

Thế anh có bao giờ viết hay nói như vậy không ? 

Tôi á hả? ” Thằng này ” là lính, nói là phải ngay ngắn từng câu , lính mà giấu giếm quanh co, thì làm sao chỉ huy, làm sao thi hành ?

Nè , định nói gì trong 3 cái chấm đó ? Hay ra giêng rồi thế nào? 

Chẳng thế nào cả, ý nói xong tháng giêng rồi là năm sẽ cũ lại như năm ngoái vv… 

Lại vv…3 chấm tiếp . 

Là thế này này, chúng ta đang bắt đầu một năm mới tinh khôi, nó, cái năm mới đó, nó sẽ chỉ còn 11 tháng, nhưng không nguyên vẹn đâu. Nó sẽ cũ thoạt thì còn lịch sự lai rai, sau nó cũ thiệt nhanh …

Nó cũ tới tháng chạp, là chu choa, mọi nhà lại chuẩn bị đưa ông Táo , đón ông bà từ khắp nơi âm phủ trở về . 

Nhưng quý ông bà đang tàng hình bên ta, chung quanh ta, nên ta chẳng thấy gì,  ta còn sợ ông bà soi thấu các sơ sót, lỗi lầm của ta nữa . 

Trở lại 10 mùng cơ bản của mùa tết nhất Việt Nam. 

Bản danh sách quý bậc trưởng thượng và quý thân hữu của tôi, e đã xén bớt 1/4 vì quá date Xuân , quý vị đương nhiên bước vô lâu đài cổ xứ thần tiên rồi. 

Tôi định lười biếng, lấy bút gạch một dấu X chéo trên cái ô ghi chép tên tuổi, địa chỉ, tel, email, fax nếu có …

Nhưng sau thấy mặt giấy ô dề quá, tôi ngồi chép lại ” danh sách ” thủa ban đầu,ta gặp nhau,rồi buổi cuối cùng ta đưa tiễn, đoàn tầu đã ngắn dần, ngắn dần …

Rứa tên tôi đang ở khoảng nào ? Anh hỏi . 

Tôi nhìn kính viễn vọng, thấy anh ngoan hiền quá, tại sao anh lại ngoan, lại hiền thế nhỉ ? 

Tôi nhớ ở hải ngoại này, có một chữ mà chỉ sau cuộc đổi đời 

Khốn nạn nhất, 30- 4 – 1975 mới thấy cộng đồng ta xử dụng, ấy là ” ngoan cường ” . 

Tôi hỏi anh rằng ngoan thì đi đôi với hiền , còn kiên mới đi đôi với cường. Vậy anh thích tôi chúc mừng năm mới anh ngoan hiền hay kiên cường ? 

Anh bảo ở bên Mỹ không cần chúc, vì chúc suốt mấy ngày  tết mệt quá, ta hãy yên lặng nhìn nhau …say đắm là đủ rồi . 

Chu choa, lạ hoắc lạ hươ mà say đắm gì cho tổn thương ngôn ngữ . 

Cả năm ngoái quen miệng cứ say đắm, đắm say cố sát, khiến có nên thân nên phận gì đâu. Năm nay phải thận trọng để vạn sự tốt lành, may mắn trong thơ, ngõ hầu gửi lại 

 cho đời những tập thơ tình đúng nghĩa tình thơ nhé. 

Chứ anh không biết là mình vừa bâng khuâng đình lại cuộc ra mắt tập thơ ” Tình Muộn ” vào giữa tháng 3 sắp tới,  chỉ vì mùa xuân lụp chụp quá. 

Nói tới thơ là phải phong, hoa, tuyết, nguyệt …trái với phương châm: ” thừa thắng xông lên, tái chiếm lãnh thổ “, cho dẫu tác giả cũng là lính nhé. 

Anh không tin hẳn điều mình vừa nói về cuốn thơ 

” Tình Muộn ” mình chưa đưa nó đi giới thiệu với làng xóm thơ ca, và khách mộ điệu…chỉ vì mình không thích tình anh đối với mình là một thứ tình muộn, mặc dầu nó muộn đến mấy chục năm . 

Trưa nay ngồi ăn cơm một mình ở cái view từ bếp ngó ra đường. Cứ mỗi muỗng cơm là một giọt nước mắt rơi…

Tại sao thế ? Vì ăn cơm một mình, vì nhớ nhung anh, hay vì không ra mắt tập thơ ” Tình Muộn ” đẹp tuyệt vời đó ?

Mình cảm thấy không tất cả 3 cái lý do trên, hay tổng hợp cả 3 cái lý do rất ” người ” đó , lồng trong khuôn sáo của trời đất, là chúng ta không thoát khỏi lẽ … vô thường . 

Lẽ vô thường hay vạn sự vạn điều đều ở trong quy ước của Thượng Đế, cuộc sống hữu hạn mà vạn vật không thể tách rời …

Chắc anh ngoan hiền của …mình cũng chỉ thở dài thôi, anh sẽ nói rằng: ” Hãy sống cho hôm nay thật trọn vẹn ” . 

Mình nhớ rất không quên một sự kiện, là ngày gặp anh, không phải tình cờ, mà giống như …bất định. Hoá cho nên cũng chẳng nhìn nhau, mà lại thấy …tất cả, sao mình chủ quan thế, anh chỉ cười duy nhất một lần, rất bình thường, khi anh quay lại đằng sau…

Chẳng lẽ anh cười chung với mọi người, mình cũng đứng ở phía sau, vừa nhớ lại giây phút đó, mình thoắt rơi nước mắt nữa . Ô lạ, nếu cứ duy trì ” thảm cảnh” này, mình sẽ trầm cảm nặng thôi. 

Tại sao anh ngoan hiền thế, như một người lính chất phác, mặc dầu anh không là người chất phác …Hình như anh không muốn làm lớn dậy  con người anh ở một khía cạnh khác . 

Thôi thì thôi, như một lời ca trong bài Thánh vịnh dành cho người cùng khổ, mà lời lẽ lại rất cao vời. 

Với Thượng Đế có nhiều mâu thuẫn trầm trọng mà tín hữu tin là hợp lý lắm . 

Mình cũng tin những mâu thuẫn đó họp lại thành bản tình ca không cần chứng minh hay giải thích, Thượng Đế cho ta sự mặc khải lạ lùng, mà thanh thoát làm sao. 

Rồi năm sẽ cũ đi, nhưng tình anh lại cứ mới hoài, khiến mình chạy theo không kịp …thở. 

Thì cứ nín lặng, vì tình đó từ thiên nhiên đem tới, tự bao giờ nó chứa đầy trong trái tim, những phế nang căng phồng dưỡng khí để dự trữ cho một lần thở dồn dập, rồi bặt đi giữa nụ cười …bất định, cũng sẽ bình thường lại, như khi hạnh ngộ anh, vô thường, đừng nói thêm, anh tiếp tục tịnh ngôn đối với mình, mùa xuân an lạc quá chứ. 

Ôi thiên nhiên bình yên, an vui …chúng ta sẽ lại gặp nhau trong những mùa xuân trước mặt, những mùa xuân được kết bằng ngàn vạn sắc hoa tươi thắm mà người khiếm thị  cũng nhận ra, đừng nói là đôi mắt còn sáng rỡ, linh diệu thế kia …

Hỡi anh thân kính, mùa xuân còn bất tận trong đời …               

CAO MỴ NHÂN  




KIỀU MỸ DUYÊN -VĂN: ƯỚC MƠ NĂM MỚI & CHƯƠNG TRÌNH CÁI NHÀ LÀ NHÀ CỦA TA.




GS/TS MAI THANH TRUYẾT -Đọc Thi Phẩm Lao Trung Lãnh Vận Của Cụ Trần Văn Hương




NHƯ NINH NGUYỄN HỒNG DŨNG- THĂNG HOA CUỘC ĐỜI.

THĂNG HOA CUỘC ĐỜI
Kỳ 140 Qua Sông Bỏ Bè

Như Ninh Nguyễn Hồng Dũng

Trong pháp hội thù thắng tại thành Tỳ Da Ly nơi đức Thế Tôn cùng đại chúng Thanh văn, Bồ Tát quang lâm giảng bày pháp vi diệu thì bấy giờ Cư sĩ Duy Ma Cật thị hiện mang bệnh. Bệnh ấy không phải do nghiệp báo thông thường, mà là phương tiện thiện xảo nhằm khai thị Chánh pháp sâu xa cho hàng hữu học và vô học. Trước đó, khi Phật lần lượt sai các vị đại Thanh văn đến thăm bệnh, tất cả đều khéo bạch rằng mình không đủ năng lực, vì từng bị Cư sĩ Duy Ma Cật dùng trí tuệ Đại thừa phá tan những chấp trước vi tế nơi tự chứng và pháp tu.

Giờ đây, đức Phật chuyển sang yêu cầu các vị Bồ Tát là những bậc đã phát tâm rộng lớn, hành đạo lợi sinh đặng đến thăm bệnh cư sĩ. Tuy nhiên, điều kỳ diệu thay là từng vị Bồ Tát cũng lần lượt bạch Phật xin được từ chối, không phải vì thoái tâm hay bất kính mà vì tự nhận thấy trí tuệ và phương tiện của mình vẫn chưa thể sánh kịp với biện tài và thần lực bất khả tư nghì của Cư sĩ Duy Ma Cật.

Trước hết, Phật bảo Bồ Tát Di Lặc thay Ngài đến thăm bệnh. Di Lặc là vị Bồ Tát được thọ ký sẽ thành Phật trong tương lai liền bạch rằng mình không đủ năng lực; rồi ngài kể lại một nhân duyên sâu xa rằng, thuở ấy khi đang ở cung trời Đâu suất giảng pháp cho chư thiên về hạnh bất thối chuyển, Cư sĩ Duy Ma Cật bỗng hiện đến và nêu câu hỏi xoáy thẳng vào gốc rễ của mọi chấp trước về thời gian và chứng đắc.
Cư sĩ Duy Ma Cật hỏi rằng, sự thọ ký của Phật dành cho Di Lặc là nhắm vào đời nào? Nếu là quá khứ thì quá khứ đã diệt; nếu là vị lai thì chưa đến; nếu là hiện tại thì hiện tại không dừng trụ. Ngay nơi một sát na, sinh, già, diệt đã đồng thời hiện hữu; vậy thì lấy gì làm chỗ đứng cho sự thọ ký? Nếu nói vô sinh mà được thọ ký, thì trong vô sinh vốn không có kẻ được thọ ký, cũng không có pháp để chứng đắc. Xa hơn nữa, Cư sĩ Duy Ma Cật chỉ bày rằng Như tánh vốn không sinh không diệt, không hai không khác; đã là

Như thì hết thảy chúng sinh, hết thảy pháp, hết thảy Hiền Thánh đều đồng một thể. Nếu Di Lặc được thọ ký thì cũng đồng nghĩa với việc tất cả chúng sinh đều được thọ ký chăng?
Lời khai thị ấy không nhằm phủ nhận hạnh nguyện của Bồ Tát Di Lặc, mà để phá tan tận gốc ý niệm về một “người riêng biệt” chứng đắc chánh giác. Bồ đề không phải là quả vị để nắm bắt bằng thân hay tâm, mà chính là tịch diệt các tướng, lìa mọi phân biệt đối đãi bởi Bồ đề là bất nhị, bình đẳng như hư không, vô vi, vô thủ, vô xứ, vô tỷ; là trí liễu tri tâm hành của hết thảy chúng sinh mà không rơi vào hội hiệp hay phân ly. Khi Cư sĩ Duy Ma Cật giảng xong pháp này, hai trăm thiên tử chứng được vô sinh pháp nhẫn. Tự thấy mình chưa đủ thâm nhập cảnh giới ấy, Bồ Tát Di Lặc xin được miễn thăm bệnh.

Kế đó, Phật gọi Quang Nghiêm Đồng Tử thì vị này cũng bạch rằng mình không đủ năng lực. Quang Nghiêm kể lại lần gặp Cư sĩ Duy Ma Cật nơi cửa thành Tỳ Da Ly. Khi được hỏi từ đâu về, Cư sĩ Duy Ma Cật đáp: “Từ đạo tràng về.”

Nhưng khi được hỏi đạo tràng ở đâu, ông đã khai mở một chân lý làm rung động tận gốc mọi quan niệm hình thức: đạo tràng không phải là một nơi chốn vật lý, mà chính là toàn bộ đời sống tỉnh thức của Bồ Tát. Tâm chính trực là đạo tràng; tâm bồ đề là đạo tràng; bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ đều là đạo tràng. Từ, bi, hỷ, xả là đạo tràng; phiền não, chúng sinh, tất cả pháp cũng đều là đạo tràng, nếu được thấy bằng trí tuệ vô ngã và tính không. Ngay cả ba cõi sinh tử cũng là đạo tràng, vì Bồ Tát không còn chỗ để đi, cũng không còn nơi để trụ.

Từng bước chân của Bồ Tát, nếu tương ưng Ba la mật và lợi ích hữu tình thì đều từ đạo tràng mà đến, đều an trú trong Pháp Phật. Lời pháp ấy khiến năm trăm trời người phát tâm cầu giác ngộ vô thượng nên Quang Nghiêm con tự thấy mình chưa đạt được cái nhìn viên dung ấy nên con xin từ chối.
Tiếp theo, Phật bảo Trì Thế Bồ Tát đi thăm bệnh thì Trì Thế cũng bạch rằng mình không đủ năng lực, rồi thuật lại câu chuyện Ma Ba Tuần giả dạng Đế Thích mang theo mười hai ngàn thiên nữ đến cám dỗ. Khi Trì Thế còn đang phân biệt và khước từ theo giới luật hình tướng thì ngay lúc đó Cư sĩ Duy Ma Cật đã xuất hiện, chỉ rõ đó là ma, rồi dùng chính phương tiện nghịch thường để hàng phục ma và hóa độ các thiên nữ.

Cư sĩ Duy Ma Cật chẳng những không bị nhiễm trước bởi sắc dục, mà còn khiến các thiên nữ phát tâm Bồ đề, biết quay lưng với ngũ dục để tìm niềm vui nơi Chánh pháp. Cư sĩ ấy giảng cho họ thế nào là “vui trong Pháp” do vui vì tín Phật, văn Pháp, hộ Tăng; vui vì đoạn trừ tham dục, thấy rõ ngũ uẩn như kẻ thù, bốn đại như rắn độc; vui vì nhổ gốc phiền não, trang nghiêm Phật độ, thành tựu vô lượng công đức. Cao hơn nữa, Ngài còn dạy pháp môn “Vô tận đăng” tức ánh sáng giác ngộ của một Bồ Tát có thể mồi sáng vô lượng ngọn đèn khác mà không hề suy giảm. Thấy rõ trí tuệ và phương tiện ấy nên Trì Thế biết mình chưa thể sánh kịp nên con xin từ chối.

Sau đó, Phật gọi Thiện Đức, con trai một vị trưởng giả thì Thiện Đức cũng bạch rằng mình không đủ năng lực. Anh kể lại việc từng tổ chức một đại hội bố thí suốt bảy ngày để cúng dường khắp mọi tầng lớp. Nhưng Cư sĩ Duy Ma Cật đã đến và chỉ rõ rằng, đó chỉ là tài thí, chưa phải đại hội chân thật. Đại hội chân thật là Pháp thí, là trong một niệm mà khởi đầy đủ tâm Bồ đề, từ, bi, hỷ, xả; là hành lục Ba la mật, tứ nhiếp pháp, tam giải thoát môn; là lấy vô ngã, vô tướng, vô tác làm nền; là vì lợi ích chúng sinh mà khởi nghiệp trí và nghiệp tuệ.

Pháp thí ấy không phân trước sau, không chọn đối tượng, không cầu báo đáp. Người an trú nơi Pháp thí là đại thí chủ, là ruộng phước tối thượng của thế gian. Khi Cư sĩ Duy Ma Cật thị hiện đem vòng trân châu chia cho người hành khất nghèo nhất và cúng dường Như Lai thì tất cả đại chúng đều thấy rõ là bố thí với tâm bình đẳng, vô cầu, chính là đồng với công đức của Phật. Ngay cả người ăn xin thấp hèn nhất cũng phát tâm Bồ đề. Chứng kiến và nghe pháp như vậy nên Thiện Đức biết mình chưa đạt được chiều sâu ấy nên con xin từ chối.

Cuối cùng, tất cả các Bồ Tát đều lần lượt bạch Phật rằng họ không đủ năng lực đi thăm bệnh Cư sĩ Duy Ma Cật. Điều này không làm giảm uy đức của các Ngài, mà trái lại, làm hiển lộ trọn vẹn dụng ý sâu xa của phẩm kinh rằng, Cư sĩ Duy Ma Cật không đại diện cho một cá nhân vượt trội, mà là biểu tượng sống động của trí tuệ Bất Nhị và hạnh Bồ Tát nhập thế.

“Bệnh” của Cư sĩ Duy Ma Cật chính là tấm gương soi chiếu mọi chấp trước vi tế còn ẩn tàng nơi hàng tu học vì còn chấp thời gian, chấp chứng đắc, chấp đạo tràng, chấp bố thí, chấp thanh tịnh. Khi những chấp ấy được tháo gỡ, thì bệnh và thuốc đều không còn. Đó chính là tinh thần bất khả tư nghì của Đại thừa: lấy phương tiện làm cửa ngõ, lấy trí tuệ làm cứu cánh, và lấy đại bi làm nhịp cầu đưa tất cả chúng sinh cùng đi vào con đường giác ngộ viên mãn.
T

oàn bộ Kinh nêu bật vị trí siêu việt của trí tuệ Bồ tát đạo được thể hiện nơi cư sĩ Cư sĩ Duy Ma Cật hầu phá chấp hình tướng, địa vị và ngôn ngữ trên con đường giác ngộ. Khi Phật yêu cầu các vị Thanh văn đi thăm bệnh, họ đều từ chối vì từng bị Cư sĩ Duy Ma Cật chỉ ra rằng giải thoát không nằm ở hình thức tu tập, vai trò hay sở đắc cá nhân. Đến lượt các

Bồ Tát, tuy ở địa vị cao hơn, các ngài cũng lần lượt từ chối bởi chính họ đã từng bị Cư sĩ Duy Ma Cật khai thị pháp sâu xa vượt ngoài đối đãi, phân biệt. Quả vị Bồ đề không phải là một cái gì để chứng đắc, vì nếu còn thấy “ta chứng” thì chưa phải Bồ đề. Giác ngộ chân thật vốn là Bồ đề, sẵn đủ nơi tự tâm chứ không phải một đối tượng ở bên ngoài để tìm kiếm hay chiếm hữu. Khi còn khởi niệm “ta đang tu”, “ta đã chứng”, thì cái “ngã” vi tế vẫn còn hiện diện, mà nơi nào còn ngã thì nơi đó chưa thể là giác ngộ viên mãn. Bồ đề chỉ hiển lộ khi mọi chấp trước về người tu, pháp tu và quả chứng đều buông rơi; lúc ấy không có kẻ chứng đắc, cũng chẳng có pháp để được chứng mà chỉ còn trí tuệ sáng suốt tự nhiên hiện tiền.
Tất cả pháp đều là “Như” nên không có người được thọ ký riêng lẻ, không có chúng sinh nào thật sự sinh hay diệt bởi mọi hiện tượng đều đồng một tánh chân thật, không sai khác trong bản thể. Vì đã là Như nên không có pháp nào cao thấp để phân biệt, cũng không có một cá nhân riêng lẻ nào được thọ ký theo nghĩa tuyệt đối. Cái gọi là chúng sinh diệt hay sanh chỉ là hiện tướng do duyên tan duyên hợp như sóng nổi rồi lặng trên mặt nước. Bản tánh Như của các pháp thì chưa từng sinh, cũng chưa từng diệt, luôn lặng lẽ thường trụ.

Đạo tràng không ở một nơi chốn, mà chính là nơi tâm hành chánh trực, nơi mỗi hành động lợi tha đều là Phật sự, nó không bị giới hạn bởi chùa chiền hay không gian vật lý, mà được thiết lập ngay nơi tâm ngay thẳng, không tà vạy, không vụ lợi. Khi tâm hành chánh trực, mỗi lời nói, việc làm đều thuận với chánh pháp. Lúc ấy, đi đứng nằm ngồi đều là tu, tiếp người xử việc đều là hành đạo. Bất cứ hành động nào khởi từ lòng từ bi, trí tuệ và lợi ích cho người khác, thì hành động ấy chính là Phật sự. Đạo tràng vì thế hiện diện khắp nơi, theo từng bước chân của người tỉnh thức.

Pháp thí vượt trên tài thí vì chỉ khi khai mở trí tuệ và tâm Bồ đề cho người khác thì phước đức mới viên mãn. Pháp thí là đem chánh pháp, hiểu biết đúng đắn và con đường tỉnh thức chia sẻ cho người khác, giúp họ tự chuyển hóa khổ đau từ gốc rễ. Tài thí chỉ giải quyết nhu cầu trước mắt, còn Pháp thí khai mở trí tuệ, nuôi lớn tâm Bồ đề khiến người nhận có khả năng tự vượt thoát sinh tử và tiếp tục lợi ích cho nhiều người khác. Khi trao truyền ánh sáng hiểu biết, người cho không mất mà phước càng sâu dày. Vì vậy mà pháp thí được xem là vượt trên tài thí, đưa phước đức đến chỗ lâu dài và viên mãn.

Ma và Phật không ở ngoài tâm, nếu có trí tuệ và phương tiện thì ngay nơi cảnh ma cũng hóa độ chúng sinh bởi vì Ma và Phật không phải hai thực thể đối lập ở bên ngoài, mà đều phát sinh từ tâm con người. Khi tâm mê lầm, tham chấp thì cảnh hiện ra thành ma; khi tâm sáng suốt, từ bi thì ngay hoàn cảnh ấy liền hiện Phật đạo. Người có trí tuệ thấy rõ bản chất các pháp, lại có phương tiện thiện xảo, sẽ không sợ cảnh ma, mà dùng chính nghịch duyên để giáo hóa chúng sinh.

Vì vậy, không cần trốn tránh hay tiêu diệt, chỉ cần chuyển hóa tâm, thì nơi nào cũng có thể thành đạo tràng. Niềm vui chân thật là vui trong chánh pháp, không phải trong dục lạc hay phước báu hữu lậu. Niềm vui chân thật không lệ thuộc vào cảm giác khoái lạc hay phước báu đời sau, vì những thứ ấy đều vô thường và dễ dẫn đến tham chấp.

Vui trong Chánh pháp là niềm vui của sự hiểu biết, buông xả và an ổn nội tâm. Khi sống đúng chánh kiến, chánh niệm, chánh hạnh, tâm nhẹ nhàng, không bị lôi kéo bởi được mất hơn thua. Niềm vui ấy không làm người say đắm mà càng khiến trí tuệ sáng hơn, từ bi lớn hơn, và tự do hơn trước mọi biến động của cuộc đời. Việc tất cả Bồ Tát đều từ chối đi thăm bệnh Cư sĩ Duy Ma Cật không nhằm tôn vinh cá nhân cư sĩ mà để làm nổi bật tinh thần then chốt của kinh này rằng, trí tuệ giác ngộ không bị giới hạn bởi hình thức xuất gia hay tại gia. Cư sĩ Duy Ma Cật dùng bệnh làm pháp môn, dùng đời sống thế tục để hiển bày đạo lý sâu xa khiến hàng Bồ Tát nhận ra chỗ còn chấp pháp, chấp vai trò của mình; qua đó khẳng định rằng giác ngộ chân thật nằm ở trí tuệ và tâm vô ngã, không ở địa vị hay hình tướng.

Chân lý tối hậu, như phẩm kinh này khéo hiển bày, không phải là điều có thể đạt được bằng sự tích lũy tri thức, bằng công phu tu tập hình tướng hay bằng bất cứ danh xưng thánh thiện nào, bởi hễ còn thấy có cái để nắm bắt, có người để thành tựu, thì chân lý vẫn còn bị che mờ vì đối đãi. Chân lý chỉ hiển lộ khi tâm an trụ trong trí tuệ bất nhị nơi không còn phân chia phàm và thánh, bệnh và lành, sinh tử và Niết-bàn… và khi lòng đại bi vận hành một cách tự nhiên, không điều kiện, không cầu báo đáp.

Trong ánh sáng ấy, “bệnh” của Cư sĩ Duy Ma Cật không còn là một trạng thái thân xác, mà trở thành một pháp môn sống động. Ông mượn thân bệnh để làm tấm gương soi chiếu lại căn bệnh thầm kín của người tu vốn hay chấp vào pháp mình hành, chấp vào cái “ta” đang tu, và chấp vào quả chứng mà mình mong đạt. Chính những chấp thủ vi tế ấy mới là nguồn gốc khiến đạo chưa viên mãn, trí chưa rốt ráo, bi chưa trọn vẹn.

Khi trí tuệ soi thấu, người tu nhận ra rằng bệnh vốn không thật có, thuốc cũng chỉ là phương tiện. Pháp như ghe thuyền dùng để qua sông thì không nên đội trên đầu; đến bờ rồi, cả bệnh lẫn thuốc đều buông xuống thì lúc ấy, không còn người dạy, kẻ học; không còn người bệnh, kẻ thăm mà chỉ còn sự tỉnh thức lặng lẽ, viên dung, đang hiện hữu ngay giữa đời sống thường nhật. Đó chính là ý nghĩa rốt ráo mà kinh này muốn trao truyền rằng, sống đạo ngay trong đời, giác ngộ ngay trong vô thường, và giải thoát ngay khi mọi chấp trước đều tan biến.

Nguyện đem những lời này, hướng đến tất cả vạn loài, mong chúng sanh khắp vũ trụ đều an vui, giải thoát.

Như Ninh Nguyễn Hồng Dũng
1-1-2026




TRUYỆN NGẮN SỎI NGỌC: Buông Tay & TIẾNG HÁT NGỌC HUYỀN – CA KHÚC THÔI NHÉ ĐỪNG YÊU – ST Yên Vy.

Buông tay cũng là một cách ta yêu thương

Buông tay cho lòng thôi hết vấn vương

Buông tay như là ta hy sinh cho nhau

Buông tay để một cuộc sống mới bắt đầu

(Buông tay- Đức Thành và Phúc Chinh)

Ngắm dáng chàng nằm ngủ thật yên trên chiếc giường rộng của hai vợ chồng, đôi mi khép thật bình an, chiếc miệng hơi mở như một nụ cười toại nguyện. Tôi rúc đầu vào lồng ngực rộng của chàng, đã rất lâu tôi mong có được sự chở che này trong giấc ngủ. Cái hạnh phúc giản dị ấy, rất dễ với mọi người nhưng với chúng tôi, thật khó lắm!

o O o

Cách đây trên 25 năm, hồi chúng tôi học trung học ở Sài Gòn, tuổi ô mai 15-16 ăn chưa no, lo chưa tới, chàng đã từng chơi u, quay dây nhảy, ăn hàng với bọn con gái chúng tôi. Tiếng cười hồn nhiên theo tôi mãi trong ký ức cho đến khi tôi theo gia đình định cư tại Cali, miền đất ấm áp, nơi rất đông người Việt. Kỷ niệm ấy chôn vùi tận sâu trong ký ức với tuổi đời ngày càng lớn, bận rộn cuộc sống.

Sau khi ra trường với mảnh bằng kế toán, tôi được một người quen đưa vào làm ở một công ty may mặc, nơi ấy tôi quen với ông chủ hãng, giàu có, lớn hơn tôi gần 20 tuổi, anh lại là con trai của một người bạn thân của ba tôi khi còn ở quê nhà, và chúng tôi mau chóng tiến đến hôn nhân theo sự thúc giục của ba mẹ hai bên; ba tôi lúc đó sức khỏe không khả quan mấy, ông ta muốn tôi có nơi nương tựa, để nếu ông ra đi cũng yên lòng nơi chín suối, tôi chưa yêu ai nên đã chấp thuận để trả chữ hiếu cho tròn đầy.

Chúng tôi có với nhau một con gái thật ngoan và kháu khỉnh sau một năm, anh ít có thì giờ với nó, sự có mặt của anh ở nhà rất hiếm, với lý do công việc. Tôi tuy cũng bận công việc sở, nhưng phải về nhà đúng giờ để bù đắp sự vắng lặng thiếu sót của cha đối với con bé.

5 năm sống bên cạnh nhau, số ngày thì nhiều, nhưng những cuộc nói chuyện, tâm sự của chúng tôi như đếm trên đầu ngón tay, chúng tôi thực sự không hiểu nhau; mỗi lần bàn chuyện là to tiếng, làm cho bé Hiên bịt tai, lúc đó bé mới 3 tuổi, cả người nó co rúm lại mỗi lần gặp cha nó, nó núp dưới gầm bàn, hoặc sau bức tường, giọng nói lí nhí, bé ít ăn, người gầy nhom, bác sĩ nói:

– Bé có triệu chứng trầm cảm.

Tôi xót xa, chảy nước mắt mỗi khi nhìn thấy con ngày càng xuống cân, đôi mắt sợ hãi nhìn cha, nửa đêm ngủ mớ, rồi cả thân người co rúm lại như con tôm, hai tay bịt tai.

Tôi suy nghĩ rất nhiều, muốn đem con xa khỏi cái không khí thiếu tình gia đình này. Tôi đưa ra quyết định…ly hôn!

Tôi tưởng anh sẽ chống lại, bào chữa, hay tự sửa mình; nhưng không!… Anh cầm bút nhẹ nhàng ký vào đơn ly hôn; anh không đòi nuôi con, cũng chả làm khó dễ gì, hình như anh đang chờ đợi lời đề nghị này của tôi lâu lắm rồi vậy!

Anh trợ cấp cho tôi và con một số tiền kha khá để mua một căn condo gần Bolsa. Trước khi ra đi, anh còn nói một câu:

– Có thể từ nay trở đi, tôi sẽ không về thăm… Hãy sống và dạy bảo con cho tốt.

Đôi mắt tôi ráo hoảnh, hững hờ nhìn dáng anh khuất sau cánh cửa.

o O o

Mười mùa lá vàng trôi qua, tôi 42 tuổi, mẹ đơn thân, một mình kiên cường với cuộc sống, bé Hiên là mục đích, hy vọng duy nhất. Tôi làm việc ngày đêm để quên thời gian, để dành tiền nuôi con ăn học. Con gái Hiên đã 14 tuổi, cái tuổi mà tôi đã từng trải qua, hồn nhiên thánh thiện và bắt đầu bước vào đời.

Giáng Sinh năm ấy, sở tôi tổ chức đi ăn ngày cuối năm, giữa những tiếng cười, tiếng ly chạm nhau, những lời chúc kết thúc một năm cũ, tôi nghe tiếng nói trầm ấm bên tai:

– Cô… Cô ơi, chiếc áo khoác của cô rơi xuống đất rồi…

Tôi quay lại, người đàn ông dáng cao với khuôn mặt thanh tú nhặt giùm chiếc áo dưới đất lên, đưa cho tôi mỉm cười; ánh mắt chàng thật quen lắm, và nhất là kiểu tóc mái rũ…Chàng và tôi nhìn nhau không chớp mắt.

Một lúc, chàng lên tiếng:

– Có phải… hồi xưa cô học ở… Lê Quý Đôn không?

-… Phải rồi… hình như anh là Thiện phải không?

-…Bích Mai phải không?… lúc này làm gì? ở đâu? Gia đình ra sao?…

Chúng tôi rất vui mừng gặp lại bạn xưa, hỏi tin nhau dồn dập.

Thiện nhắc lại kỷ niệm cũ làm chúng tôi cười thật vui như sống lại thuở học trò:

– Mai có nhớ hồi đó Thiện bị mất dép không?… các bạn nữ đã giấu đôi dép mình tuốt trên ngọn cây bồ kết trong sân trường, làm kỳ đó bên đội nam phải chịu thua, cõng từng cô bên đội nữ một vòng sân. Kỳ đó Thiện cõng Mai đó nhớ không?

– Nhớ chứ, mấy tên kia cõng đi nhanh là hết một vòng sân rồi, ai như Thiện cõng Mai đi từ từ, bị chọc là cõng đi ngắm hoa hay sao đó mà lâu mới về đích!

– Ngàn năm một thuở mà, phải tận dụng chớ!

Đã rất lâu, tôi mới được cười hả hê đến thế!

o O o

Thiện cũng như tôi, đã ly dị và có một cháu trai 16 tuổi.

Tình bạn từ trung học ngày xưa làm chúng tôi gắn kết lại một cách dễ dàng, nhanh chóng, nhiều khi không cần nói, chỉ nhìn trong ánh mắt nhau, chúng tôi hiểu đối phương muốn nói gì. Những buổi hẹn hò đi uống nước cuối tuần, chúng tôi như đôi chim sẻ, huyên thuyên kể chuyện, hạnh phúc, quên tất cả mọi mỏi mệt của cuộc sống.

Một buổi chiều, sau 2 năm qua lại, ngồi trong góc một tiệm ăn tối, Thiện bỗng đan tay chàng vào bàn tay tôi, hôn nhẹ lên tóc tôi, dưới ngọn nến lung linh lãng mạn, chàng lướt chiếc nhẫn kim cương lóng lánh sáng vào ngón tay áp út, đề nghị một cách giản dị và chân tình:

– Em và con gái về sống với cha con anh nhé, mình cùng nhau xây lại tổ ấm…

Hơi chút bất ngờ, cảm động, nhưng tôi vẫn ghẹo vui:

– Ủa! sao anh nói ở một mình có cái hạnh phúc riêng mà?

– Nhưng sẽ không hạnh phúc bằng khi có hai người!… Cuối tuần sau anh sẽ đến đón em và con gái nhé?… Không cần mang theo gì đâu, đi tay không là được!

– Ôi sao nhanh thế?… Để em hỏi ý con bé đã, xem nó có chịu cho mẹ nó …đi lấy chồng không đã!

– Chắc chắn con bé sẽ hoan nghênh ngay đấy!

– Anh tự tin quá há!…còn nếu không thì sao?

– Ôi thế thì… người ba dượng này sẽ phải nhanh tay lo đút lót cho con bé mới được!

o O o

Bé Hiên nhìn mẹ vui và hạnh phúc bên chú Thiện, nó không nỡ làm trái ý mẹ, nó đành miễn cưỡng gật đầu theo mọi người về bên chú ấy sống.

Ngày đầu tiên bước vào nhà Thiện, phòng khách và phòng ăn liền nhau, rộng rãi, sáng sủa; nhà có 3 phòng ngủ trên lầu, chàng đã sửa soạn cho bé Hiên một phòng màu hồng xinh xắn, với một cửa sổ nhỏ nhìn xuống sân sau; bên cạnh là phòng của Huy, con trai chàng, căn phòng xanh dương nhẹ, có tầm nhìn xuống góc trái của căn nhà, ánh sáng rộng từ cửa sổ hắt vào làm căn phòng đầy sức sống và cuối dãy là phòng của chúng tôi.

Tôi và con gái cảm thấy vui, hạnh phúc, nghĩ đây chính là gia đình mơ ước cuối đời của chúng tôi.

Buổi tối đầu tiên, bữa ăn còn gượng gạo của hai đứa trẻ, chàng gắp đồ ăn cho bé Hiên, cho tôi, rồi cho Huy, tôi cũng chọn miếng gà nạc cho Huy, miếng cá ngon cho Hiên, chúng cúi đầu ăn nhanh, không nói gì, rồi chuồn vào phòng riêng.

Những ngày tháng tiếp theo, tôi và Thiện thật hạnh phúc, mỗi buổi chiều về nhà đều có tiếng cười, tiếng nói của nhau, đã 10 năm hơn tôi mới được người lo lắng chăm chút, làm tôi thật cảm động, trân quý từng phút giây, nhưng điều làm tôi áy náy nhất là Huy vẫn khuôn mặt không cười và Hiên với cặp mắt chỉ nhìn xuống đất, chúng vẫn không hợp được với nhau! Tôi vẫn giữ hy vọng chúng sẽ hiểu nhau hơn sau này.

Một buổi chiều khi tôi đi làm ra, vội vàng ghé qua chợ mua một giỏ thức ăn, định về nhà sẽ làm món cá chiên chấm nước mắm mà bé Hiên rất thích, và cả tôm càng cho Huy. Vừa mở cửa ra, tôi đã nghe tiếng Huy giận dữ:

– Trả lại cái remote control đây!

-…Em xem TV trước mà… Em…

Thằng bé nhào đến giật cái remote trên tay Hiên:

– TV là của ba tao mua! Về phòng mày đi!

Nghe thấy tiếng “mày tao” của Huy, tôi bỏ giỏ thức ăn ngay ngoài cửa, vội vàng đến cạnh bé Hiên, ôm con gái vào lòng, nói với Huy:

– Sao con lại gọi em bằng mày?… Nó đang xem trước mà, con đến sau phải chờ chứ!

Bỗng Thiện xuất hiện ngay trước cổng nhà, chàng vừa đi làm về, cũng nói:

– Huy nhường em đi, con đi học bài trước rồi lát xem cũng được!

Huy vùng vằng, chạy vội vào phòng, vừa nói:

– Ba lại bênh nó!

Tôi nghe tiếng đóng cửa rầm trên lầu. Bé Hiên không còn lòng dạ nào ngồi xem TV nữa, nó tắt TV và trốn về phòng.

Thiện giúp tôi làm bếp, chàng rửa rau, tôi nấu nồi soup, chàng nói:

– Thằng Huy đã thiếu tình thương của mẹ từ khi nó mới 6 tuổi, anh chỉ có mình nó, nên bao nhiêu tình thương đều dồn cho nó cả, nay anh san sẻ tình thương này cho em và con gái, nên chắc nó tủi thân, em đừng giận hành động vừa qua của nó nhe, hãy bỏ qua cho nó, tìm cách gần gũi để bù đắp cho nó sự thiếu thốn tình mẫu tử.

– Vâng! Em đang cố gắng cân bằng cho cả hai đứa… con trai thật khó, nó không chịu mở lòng, nhưng em sẽ ráng hết sức…

o O o

Một buổi sáng đầu tuần, chúng tôi ai nấy bận rộn sửa soạn bữa sáng và lấy đồ ăn đem đi làm, tôi nghe tiếng đập cửa inh ỏi trên lầu, cả tôi và Thiện bỏ hết mọi thứ, chạy lên xem, thấy Huy đang đập cửa nhà tắm, giọng vang lên:

– Có ra ngay không, ngủ trong đó sao lâu vậy?…trễ rồi đây, mở cửa ra!

Không có tiếng đáp lại từ bên trong.

Thiện lên tiếng giải quyết:

– Con có thể vào buồng tắm của ba dùng cũng được mà, chắc em Hiên đang bận trong ấy.

– Không! Đây là buồng tắm của con, có bàn chải, khăn và đồ dùng của con trong đó mà, tại sao nó lúc nào cũng chiếm đồ của người khác mà không biết xấu hổ vậy!

Hiên mở cửa phòng tắm bước ra, mắt nhìn xuống đất, miệng lí nhí:

– Xin lỗi… không cố ý.

Con bé chạy ngay về phòng, thay đồ đi học, nó chạy như trốn khỏi chúng tôi, tôi gọi:

– Hiên! Hiên! Con quên lấy đồ ăn nè!

Bóng nó đã lao vút ra khỏi nhà như không muốn đem theo bất kỳ cái gì từ «căn nhà của ba tao» nữa.

Huy lê chiếc ba lô từ trên lầu xuống nhà, mặt tỏ vẻ vô cùng tức giận:

– Từ ngày hai mẹ con nó vào nhà này, ba chỉ bênh mẹ con nó thôi, con không muốn về đây nữa nếu họ còn ở đây ngày nào!

Quay sang tôi, nó ngước lên, giọng gay gắt:

– Tôi xin Bà và con Hiên hãy trả lại sự ấm êm cho cái nhà nầy! Hãy…cút về nhà bà đi!

Tôi còn đang chôn chân ở một chỗ, bàng hoàng với thái độ hỗn láo của thằng bé 16 tuổi.

Thiện hùng hổ tiến tới, «bốp» giáng cho Huy một cái tát nẩy lửa!

Thằng bé lấy tay ôm má, nhìn ba nó lạnh lùng, không một giọt nước mắt, cặp mắt lì lợm:

– Ba vì mẹ con bà ấy đánh con!… Được rồi, mọi người cứ vui vẻ hạnh phúc ở đây đi, con sẽ không về nữa!

Nó hấp tấp, khuôn mặt đỏ gay, chạy ra khỏi nhà, đóng sầm cánh cửa lại sau lưng.

Tôi vẫn đứng chết trân tại chỗ, tay bám chặt vào thành!

Thiện bỏ hộp cơm vào giỏ, lặng lẽ ra khỏi nhà, không nói với tôi lời nào.

Tôi ngồi thụp xuống ghế, nước mắt ràn rụa, bẽ bàng, đau khổ tột cùng!

Tôi phone vào sở xin nghỉ một ngày. Tôi muốn một mình suy nghĩ cho thật kỹ để đừng quyết định lầm lỡ, bước lại vào vết xe đổ như với người chồng trước.

Tôi ngắm ngôi nhà xinh xắn hạnh phúc này, tôi ngỡ sẽ trải qua phần cuối đời nơi đây, tôi tưởng sẽ chắp nối một cách yên lành cho con gái tôi có thêm một người anh trai, có người bố dượng tốt, có gia đình yên ấm để sau này sẽ không phải cô đơn trong cuộc sống! Nhưng chỉ mới có 4 tháng thôi!

Bốn tháng vỏn vẹn để biết rằng … có hợp rồi có tan!

Nước mắt tuôn chảy không ngừng, mệt quá, tôi gục xuống thành ghế sofa thiếp đi hồi nào không hay.

Tôi tỉnh dậy khi nghe tiếng thét trên lầu của Hiên, mới biết nó vừa đi học về, tôi chạy ba chân bốn cẳng lên lầu.

Trước mắt tôi cả căn phòng bừa bộn, mấy tấm ảnh chụp của bé Hiên treo trên tường bị ném hết xuống đất, tấm nào cũng có bút mực đỏ, đen gạch chéo trên đó, tôi nhìn lên tấm gương to ở bên cạnh, vết viết bằng cây son môi đỏ chói:

– Hãy cút về nhà mày! Trả lại ba cho tao!

Tôi và Hiên sững sờ, nhìn cảnh tan hoang của căn phòng, đoán được rằng hồi sáng trước khi ra khỏi nhà, Huy đã phá nát tan căn phòng của con bé!

Hiên sà vào lòng, ôm lấy tôi, gào to:

– Mẹ ơi, con không ở đây đâu, con không muốn ở nhờ nhà người ta để bị xỉa xói mỗi ngày, con không thể sống nổi nữa đâu mẹ ơi!… Mình về nhà mình đi mẹ! con xin mẹ!

Tôi vuốt tóc con, nước mắt đầm đìa, trấn an:

– Mẹ lúc nào cũng ở bên con, mẹ xin lỗi, mẹ đã sai rồi, mẹ đã làm điều không đúng!

o O o

Hai tháng trôi qua trong ngôi nhà cũ thân thương, yên ấm, bé Hiên đã lấy lại được nụ cười hồn nhiên, con bé vẽ những bức tranh có bầu trời ngập ánh nắng, hoa đủ màu nở rộ và những chú bướm bay lượn; tôi không còn bận rộn làm những bữa cơm cầu kỳ nữa, tôi có nhiều thì giờ bên con gái hơn, xem bài vở, nói chuyện và hướng dẫn con bước vào đời qua những mẩu chuyện con gái kể về bạn bè trong lớp học.

Thiện có text cho tôi:

– Anh xin lỗi em và con gái, thằng bé Huy chưa chuẩn bị tâm lý để có mẹ kế cũng như em gái, hãy cho các con của chúng ta thêm thời gian em nhé. Thằng Huy bỏ nhà đi theo mấy thằng bạn hư hỏng mấy ngày nay, anh gọi phone nó cũng không bắt; anh không muốn làm nó bị tổn thương hơn nữa, xin em hãy thông cảm cho anh, mong em và con gái nhiều sức khỏe và anh không dám hứa điều gì cho tương lai. Bye em!

Tôi không trả lời Thiện, 2 tháng nay chúng tôi không hẹn gặp mặt, ít nhiều gì lòng tự trọng cũng đã bị tổn thương, tôi nhớ chàng đã từng nói:

– Dù gì cuộc đời mình cũng coi như xong, bây giờ anh chỉ muốn cho thằng Huy cũng như con gái em một gia đình có cha, có mẹ, hòa thuận, để sau này chúng ra đời sẽ vững chãi hơn…

Ai ngờ…

Đặt dấu chấm không viết về anh nữa

Đem thu xưa gửi lại thuở bên người

Năm tháng ấy thuộc về miền quá vãng

Vé khứ hồi không hẹn chuyến tàu xưa.

(Buông- thơ Hoàng thị Bích Hà)

Sỏi Ngọc

Montreal, Nov’25




SƯƠNG LAM – Có Những Niềm Vui Năm Mới




KIỀU MỸ DUYÊN – CÁI NHÀ LÀ NHÀ CỦA TA




ĐẦU NĂM KHAI BÚT- CÔ GÁI VIỆT PHIẾM – PHƯƠNG HOA

CÔ GÁI VIỆT PHIẾM – ĐỘI QUÂN TÓC DÀI HAI BÀ TRƯNG 2026

CGV Phương Hoa

Tui là một CÔ GÁI VIỆT.  Kính xin thưa thiệt, Năm Mới tới rùi, nhưng tui bị xui, cúm hành tới lui, mấy ngày nằm vùi, bút treo đầu bếp.  Trộm nghĩ: Dù tẻ hay nếp, năm mới năm me, bút bi hay bút tre, cũng cần khai bút, nếu không muốn bị …lụt nghề.  Thôi thì…ngồi dậy đi tề! Khăn áo đề huề, tìm đề mà… tám! Đây là đề tài: ĐỘI QUÂN TÓC DÀI – NGỰA PHI NƯỚC ĐẠI NĂM 2026.

Đầu năm 2026, “đạo quân” hùng hậu gần 70 Cô Gái Việt nhóm tui – úi  giời ui! tóc dài phấp phới – xinh đẹp rạng ngời – tui dám chắc ai nhìn cũng phải mê tơi, mê đến… chới với chơi vơi!  Các cô toàn là dân chơi thứ thiệt, rành mọi việc, giỏi mọi bề, thơ dzăn thì hay khỏi chê, nấu nướng chụp hình khoe trên mạng nhìn mê đến … chảy cả nước miếng.  Nhóm tui còn có nhiều tóc dài rất có máu tếu máu hài.

Chưa viết được chữ nào tui đã tự cười dài. Nhớ lại trước đây trong đội quân của tui ai đó đã cho đọc những câu thơ “lộn ruột” kiểu như:

 “Chị Hai vừa mới sửa ti

  vi hết năm triệu cũng vì lỗi ngu

 Anh Ba vừa mất con cu

gáy mua nghìn rưởi bù lu khóc òa…”

Dẫn đầu cái nhóm “gây bão” này là một Bà Bầu. Bầu ta thiệt là ngầu, gồm thâu dzăn dzõ, vào vườn ra ngõ, chữ tốt thơ hay, chính tả đọc tài, tranh thơ độc lạ. Rồi thì là họa thơ thơ họa, Đường Thi Muối Thi… gì gì cũng có.  Ai làm Đường Thi mà bị té lật gọng gãy giò cũng đều được Bà Bầu của tui phụ… sửa lưng cho. Rồi nào là cùng nhau làm thơ liên hoàn, chọc phá, móc nghéo để mà vui. Quan trọng hơn cả là chia sẻ những sưu tầm giá trị “lời hay ý đẹp” học làm người tốt, những kinh nghiệm đời thường, bấm huyệt trị bệnh, diệt gián chùi xooong, những bài thuốc kỳ diệu nằm lòng, và các loại thức ăn trường sinh bất lão…

Bên dưới boss BB là cả một “triều đình” rộn ràng: Chị Cả Minh Nguyệt hoa khôi đẹp nhất làng, đẹp mặn mà như… mắm nhĩ Phú Quốc, chị nói câu nào là như hoa xuân nở rộ, cả nhóm “dạ răm rắp” đầy yêu thương. Chị Hai Ngọc Hạnh tính tình hiền lương, chuyên đi du lịch và làm… nhiệm vụ tường thuật cho mọi người xem nhiều phong cảnh hữu tình, chị viết nhiều và nhanh như lá mùa thu bay lả tả. Chị Ba Hồng Thủy văn hay chữ tốt vừa xinh đẹp vừa có tâm từ, thương yêu hết mọi người, ai ở xa về Thủ Đô đều được chị chào đón, các em đều yêu quý chị.  Chị Sương Lam tâm từ, người thông đạo hạnh, chị chuyên viết chủ đề một cõi thiền nhàn, ai đọc vô cũng thấy lòng nhẹ tênh, muốn …đi tu cho thoát vòng khổ não.  Chị Sao Khuê dược sĩ, hễ ai than “đau đầu” là chị hỏi liền: “Đau vì thiếu ngủ hay vì thiếu… người thương?” rồi bày thuốc, bày luôn cả cách sống khỏe, sống vui, chị còn chuyên “trị” nhiều bài phân tích những loại thuốc tốt xấu dở hay, cùng sẻ chia nhiều mẹo vặt tuyệt vời hữu ích.  Chị Hội Đồng Tiểu Thu văn chương mượt mà thiết tha diết da như “Hồ Biểu Chánh” ngày xưa, văn chị khiến người đọc rồi còn ngẩn ngơ …cả buổi.  CGV Nguyễn Thị Thanh Dương thơ truyện đời thường nhưng làm cho độc giả yêu thương và vấn vương không ít. Tác phẩm của Thanh Dương lưu truyền xoay tít, xoay vòng vòng cuối cùng người ta chuyển về cho…chính tác giả! Chị chuyên viết thư họa Đỗ Dung, văn chương hay mịt mùng, luôn tìm mây… túm gió.  Phạm Phan Lang Trung Tá, nhà nhiếp ảnh đại tài, nhà du lịch khắp trời mây, hết đi đông tới đi tây, bởi vì “sinh nhằm nơi đầu gối ông Hoàng Đế!”  Nữ dịch giả Thái Lan tuy chuyện dịch ngắn vài trang nhưng là đều truyện hay đáng đọc.  Thúy M được bầu là “nhà bác học” chuyên tra cứu “Fake News”. Chị Ngọc Hà kỹ sư rất quý yêu bè bạn.  Anh gà Phương Lan hay … quờ quạng, nên “dê Chúa” là biệt danh, nhưng tình tình rất lành, ai chọc ghẹo đều cười hi hí.  Hoàng Dung chuyện tếu không bao giờ bí, từ bà bán thịt “Lộn em 4 lạng” tới rao bán giọng Huế mỏi mệt về khuya, “Ai mua đu đủ, bánh tét, vịt lộn…”

Ui! Nhìn đi nhìn lại thì còn khá bộn các CGV nhà nầy.  Làm sao tui… túm cả vào đây? Cái điện thoại dung lượng đã bị đầy, mà cái tay nầy cũng đà quá…mỏi.  Xin cho tui chỉ đếm “quý danh” những “gương mặt thường nổi” với bài vở thường xuyên: Kim Loan, Kim Oanh, Ngọc Huyền, Minh Thúy, Hồng Thúy, Ngọc An, Chị Thêm Nguyễn, Mỹ Hoàn, Quỳnh Hoa, Ý Nga, Thu Hương, Hoàng Thục Uyên, Hoài Niệm, Ngân Bình, Minh Giang, Hoàng Quân Ngọc Thúy, Song Thy, Tuyết Phan nhạc sĩ, Kim Phú, Thúy Vinh, Tường Thúy, Vi Vân, Tố Phương, Nguyễn Nghĩa, Mỹ Nga, bội Hằng nhà ta, Tưởng Dung, Linh Đắc, Mắt Nâu, Mẫu Đơn từ lâu chưa hiện.  Còn ai chưa “trình diện” xin hãy trình làng, bài gửi vài trang cho mọi người dễ nhớ.

Xin thưa …các mợ, mời hãy tham gia. Vì còn hằng hà số người lặn hút. Năm mới 2026, chia sẻ văn thơ, mẹo vặt đợi chờ, sưu tầm lời hay ý tốt, cùng nhau tán dóc, từ sáng tới khuya. Mỗi ngày mỗi giờ, tíu ta tíu tít, vui như chợ Tết, lả tả thơ bay, chuyện vui rớt đầy, tiếng cười vang ngõ.  Hàng xóm hàng gió, làn sóng Wi-Fi cũng phải lung lay, rung rinh và rủng rỉnh…

Đầu năm 2026: Nhóm Cô Gái Việt con cháu Hai Bà, không cần trống đồng, không cần gươm giáo — chỉ cần bàn phím, cộng tình người ấm áp là đủ khuấy động cả mùa xuân.  Ai bước vô nhóm này rồi là xác định: Cười hoài – thương hoài – ĐỘI QUÂN TÓC DÀI PHI NƯỚC ĐẠI NĂM CON NGỰA

Lộc cộc lộc cộc…

Năm Bính Ngọ 2026, đoàn Ngựa Đội quân tóc dài CÔ GÁI VIỆT không cần yên cương, không cần roi ngựa — chỉ cần tình chị em, chút duyên trời cho, và những trái tim thiện lành, những cái miệng cười không ngưng nghỉ, là đủ phi thẳng vào mùa xuân.  Năm 2026, ngựa có thể phi khắp bốn phương, nhưng tiếng cười của các Cô Gái Việt thì phi thẳng vô tim, ai đọc bài này rồi mà không… cười lộn ruột, không quên luôn tuổi tác, quên cả deadline… thì đó là người có trái tim…. RAU MUỐNG! (Vô Tâm Thảo)

Phương Hoa – Khai bút Tân Niên 2026.




VTLV – TRANG ĐẶC BIỆT: CHÙM TRANH VẼ Của Họa Sĩ TUYẾT NHUNG & NHỮNG BÌNH HOA NGHỆ NHÂN TUYẾT NHUNG CẮM.

*

*

*

*’

*

*

*

*

*

*TUYET NHUNG CẮM HOANHỮNG BÌNH HOA ĐẸP MÊ HỒN




VĂN CAO MỴ NHÂN – HỘI TRĂNG QUỲNH & QUÂN LỰC VNCH – AI CÒN NHỚ …AI ĐÃ QUÊN…

HỘI TRĂNG QUỲNH

Nói tới người Việt Nam làm thơ thì rất nhiều, từ cổ chí kim, từ đông sang tây, nơi nào có người Việt Nam cư ngụ, là y như có thi sĩ, vì quý vị vẫn thường ví mỗi người Việt Nam là có có một thi sĩ trong tâm hồn, đến nỗi thơ ca tràn ngập đều khắp các sinh hoạt cuộc sống nhân dân ta.

Người Việt Nam làm thơ nhiều đã đành, không dành hẳn cho riêng giới văn nhân, tài tử, thích nhả ngọc, phun châu, mà thơ ca đã ưu ái cả giới bình dân, suốt ngày làm việc chân tay, vẫn có thể thở ra những câu thơ thay cho điều cần bày tỏ ý kiến, hoặc quan niệm của mình.

Đã thế, tôi còn cảm thấy phái nữ làm thơ nhiều hơn phái nam nữa, có lẽ phái nam vốn mạnh mẽ, hào sảng, nên muốn làm thơ là phải viết thế nào cho có vẻ… thơ. Còn phái nữ vốn đã thơ từ nhân dáng, tâm tư, tình cảm, nên chỉ cần thốt ra lời lẽ êm đềm, vần điệu, là trở thành thi sĩ tự bao giờ!

Vì thế cho nên mới có cái làng quan họ ngoài Bắc, quý chị em đầu cần phải biết kỹ thuật thuật thơ đâu, vậy mà ngôn ngữ chứa chan thơ thơ, mộng mộng, khiến bên nam, hoặc bất cứ ai nghe được, cũng thầm vương vấn.

Vẫn chuyện phụ nữ làm thơ, tôi xin phép giới thiệu một hội thơ cận đại, có danh xưng là Hội thơ Quỳnh Dao, quý vị ngoài hội còn gọi Thi đàn Quỳnh Dao, hay Thi đoàn Quỳnh Giao nữa.

Nguyên khoảng giữa thế kỷ 20 vừa qua, quý vị làm thơ trên, là những bậc nữ lưu xuất thân từ những gia đình có gốc gác văn chương, văn học, được giới mộ điệu thi ca biết đến khá nhiều.

Thí dụ: nữ sĩ Cao Ngọc Anh là ái nữ cụ cố Cao Xuân Dục, một vị quan triều Nguyễn . Nữ sĩ Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội là phu nhân thi sĩ Đông Hồ Lâm Tấn Phác, nữ sỹ Hồng Thiên là hậu duệ cụ cố Nguyễn Khuyến…

Khởi thủy, 4 nữ sĩ thủa bấy giờ, các năm đầu, các năm …. đầu thập niên 60 thế kỷ trước, thường xướng họa thi ca trên các báo, quý vị đã tìm gặp nhau để phát họa hình thành một hội thơ nữ lưu, gồm 4 vị sáng lập: Mai Oanh, Thu Nga, Đinh Thị Việt Liên và Vân Nương.

4 vị vừa nêu đồng ý trong hoàn toàn nguyên tắc là thâu nhận hội viên qua 2 điiều kiện sau:

– Quý vị sống trong hoàn cảnh binhg thường

– Biết sáng tác, xướng họa thơ luật Đường.

Đọc tới đây, quý vị độc giả sẽ mỉm cười, hỏi rằng “hoàn cảnh bình thường” là thế nào?

Xin thưa, là một phụ nữ đang làm vợ, làm mẹ, hay đã làm bà nội, ngoại, tức các vị nữ lưu ấy không bị kéo sốc lên bởi những éo le, của tình tang trong gia đình về phương diện tình cảm. Tất nhiên có những quả phụ, danh chính, ngôn thuận như nữ Quỳ Hương, Uyển Hương…

Buổi đầu “chơi thơ” chưa hề đặt vấn đề Hội trưởng, trưởng đoàn… mà chỉ chuyên chú vào chuyện xướng họa tao nhã. Nên hội thơ chỉ họp vào mỗi buổi tối “đêm trăng tròn 16”. Các khuôn viên liên hệ của các nhà thơ nữ đương nhiên khuôn viên nào được tổ chức, thì thi sĩ chủ nhân “đăng cai” đài thọ hết chi phí trà nước, tiệc tùng.

Thí dụ: khuôn viên Minh Minh Thư Uyển thưởng trăng 16 tháng giêng thì nữ sĩ Như Hiên đãi khách thơ tham dự, tùy phương tiện và sáng kiến tiếp tân của chủ nhân kỳ đó.

Đã đến lúc hội thơ cần đặt cho chi lan, tỷ muội một tên chung, quý vị đã đặt tên Hội Thơ Quỳnh Dao. Nhưng tùy cảm nghĩ của mỗi vị khi sáng tác, lại thả vần cho buổi họp ấy, nào là hội trăng Quỳnh, trăng tròn, trăng 16, vườn Quỳnh, đài Dao v.v…

Thế rồi thì danh tiếng hội thơ Quỳnh Dao đã quy tụ được trên 50 vị nữ sĩ, đa phần là cao tuổi, am tường Hán học và Pháp ngữ, đến tai cụ bà Cao Ngọc Anh, một danh thơ Đường từ đầu thế kỷ thứ 20 (cụ sinh vào cuối thế kỷ 19), nên nữ sĩ Cao Ngọc Anh được mời tham dự, cụ đã gia nhập Hội thơ Quỳnh Dao năm sau đó, khi cụ đã ngoài bảy chục, vì thế, nếu tính đến nay, cụ 120 tuổi hơn.

Ngay thủa đó, các nữ sĩ trong hội thơ Quỳnh Dao tôn phong đại lão nữ sĩ Cao Ngọc Anh là niên trưởng Quỳnh Dao. Noi theo thời đại này, cụ là đệ nhất niên trưởng vậy.

Người kế vị,  nữ sĩ Cao Ngọc Anh khi cụ mãn phần, là nữ sĩ Đào Vân Khanh, thân mẫu của ông Vũ Khánh đại sứ ở Nhật, nhạc sĩ Vũ Thành và nữ sĩ Uyển Hương, quý ông Vũ Khánh, Vũ thành (nhạc sĩ) đã mất từ lâu, cụ cố, Đào Vân Khanh chung cuộc khi 103 tuổi (1988) hiện còn tại thế, ái nữ của cụ là nữ sĩ Uyên Hương cũng đã khoảng 95 tuổi.

Nữ sĩ Đào Vân Khanh mất ở hải ngoại, tức sau cuộc di tản 1975.

Bây giờ sau 1975, hội thơ Quỳnh Dao đã thất tán đi khắp nơi, quý cụ theo con cháu ra hải ngoại, theo con cháu về quê, bệnh, già… còn lại ở tại Saigon mười mấy vị,  nữ sĩ Mộng Tuyết bước vòa thất thập cổ lai hy vài năm, chúng tôi phong tặng chức niên trưởng Quỳnh Dao quốc nội, mặt khác, nữ sĩ Trùng Quang giữ chức niên trưởng Quỳnh Dao hải ngoại.

Nữ sĩ Mộng Tuyết mất ở Hà Tiên đã là gần chục năm, còn nữ sĩ Trùng Quang mất ở San Jose cách đây vài tháng, thọ 103 tuổi.

Tại sao hôm nay, tôi lại đề cập tới một hội thơ mà rải rác suốt bài, toàn các cụ đại thọ, và tin tức không còn biết tại thế, số là như đứng trước một buổi chợ chiều Hội thơ Quỳnh Dao, quý vị nữ sĩ đang ở tuổi thất, bát, cửu thập… nên chuyện ra đi về cỗi vô cùng, chỉ như những chặng đường dài, ngắn tùy theo  tuổi tác và sức khỏe.

Cái lý do gần nhất, cũng không phải chuyện vừa viết ở đoạn trên, mà vì trở lại lời kể ban đầu, rằng 4 vị sáng lập  hội thơ, nay đã, đang sao rồi.

Xin thưa, ngay vài thập niên đầu, nữ sĩ Mai Oanh từ giã chi lan, tỷ muội sớm nhất ở Saigon, mới đây, độ vài năm, nữ sĩ Thu Nga San Jose Bắc Cali. Như vậy, chỉ còn một vị đang ngẩn ngơ bên nước Pháp xa vời là nữ sĩ Vân Nương.

Thật buồn, chỉ trong 2 tháng, 2 cụ Quỳnh Dao xa rời thung lũng hoa vàng, niên trưởng Trùng Quang, sáng lập viên Đinh Thị Việt Liên vào cuối tuần này sẽ mãi an nghỉ trên đồi cao.

Buổi trưa nay, điên thoại reo, tôi nhấc máy Thắng, đứa con trai út của nữ sĩ Đinh Thị Việt Liên nói:

– Thưa, tôi muốn gặp cô Cao Mỵ Nhân

– Dạ, tôi đây.

– Thưa cô, cháu là Thắng, báo tin cô hay là bà Đinh Thị Việt Liên, mẹ cháu đã mất.

Tin cho nhau về một cụ già đã thất lộc là chuyện thường, nhưng lòng tôi ngổn ngang quá đỗi, Thắng nhờ tôi thông báo cho quý vị, thành viên hội thơ Quỳnh Dao, tôi nhận lời, nên xin gửi tâm tư tình cảm vào bài viết này, kính chuyển đến quý vị nữ sĩ hội thơ Quỳnh Dao ở Việt Nam và khắp nơi trên thế giới hay, để quý vị tưởng niệm trong lòng, và nếu còn sáng tác thì mượn thơ  chia xẻ tâm tình, cùng nhớ lại những đêm trăng Quỳnh mười sáu ở quê hương xưa.

Trước khi chấm dứt cuộc điện đàm, Thắng con trai út nữ sĩ Đinh Thị Việt Liên đã 62 tuổi, nhưng vẫn thường xưng “cháu” với chúng tôi, vì bạn thơ của mẹ cậu, nên chẳng những Thắng mà tất cả các quý nam, ái nữ của các cụ nữ sĩ Quỳnh Dao đều thưa gởi với chúng tôi như thế, Thắng hỏi:

– Ô cô ơi, cháu muốn hỏi là tại sao cô hiện diện trong thi đàn Quỳnh Dao, toàn quý cụ cao niên, 8,9 chục tuổi hơn, có vị cả trăm tuổi vậy.

Tôi cười hiu hắt:

– Trong hội thơ Quỳnh Dao hiện nay, chỉ có 3 người thuộc thế hệ ngoài bảy chục, theo thứ tự từ nhiều hơn, tới ít; là nữ sĩ Tuệ Nga, Tôn Nữ Hỷ Khương, và út của hội là cô, cô sẽ chuyển tin buồn này, xin chia buồn với cháu và gia đình các anh chị cháu nhé”.

Hawthorene

25-12-2025

QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA – AI CÒN NHỚ …AI ĐÃ QUÊN…

-Sinh tháng 11 năm 1933 tại Hải Dương

– Nhập ngũ ngày 13-5-1952

– Xuất thân trường sĩ quan Võ Bị Đà Lạt Khóa 7

– Liên Đoàn trưởng Liên Đoàn 2 BĐQ

– Tỉnh Trưởng Pleiku

– Tư Lệnh Phó Sư Đoàn 106 Biệt Động Quân (tháng 4/1975)

MỘT THỜI ĐÃ YÊU

Một trong số rất hiếm vị sĩ quan cao cấp phải đi bộ từ PHÚ BỔN về TUY HÒA, nhưng tôi thật nhớ rõ ràng, anh tôi đại tá CAO VĂN ỦY, chức vụ sau cùng là Liên Đoàn trưởng Liên Đoàn 2 BIỆT ĐỘNG QUÂN, trong cuộc triệt thoái cao nguyên mùa xuân năm 1975, chính là người thầm lặng nhất, khi tôi hỏi anh sau này, từ Úc qua Mĩ năm 1999, rằng anh là một chứng nhân sống nhất, anh thấy chung quanh anh, trên quốc lộ 21 ấy, tất nhiên không có cấp tướng rồi, thì còn bao nhiêu đại tá tiếp sức ngày đêm để chia sẻ gian lao cùng với lính, rời CHUDRON đất đỏ, về ĐÀ RẰNG cát nổi mơ hồ.

Đại tá CAO VĂN ỦY cười hòa đồng với tất cả những ai muốn biết thêm về chuyện lui quân thuộc vùng 2 lãnh thổ:

– Cô đã có lần rời nhà ở BAN MÊ THUỘC lên PLEIKU cô có nhớ cái cánh rừng già, lá cây được phủ bụi mù như mặc áo, vô sâu bên tay mặt, và tấm bảng nhỏ, đề chữ PHÚ BỔN, đó là quận lỵ CHUDRON thời PHÁP đấy.

Tới sau năm 1956, nếu tôi nhớ không lầm, thì Tổng Thống NGÔ ĐÌNH DIỆM đã nâng vùng đất đai này lên hàng Tỉnh,tỉnh PHÚ BỔN từ ngọn nguồn phía tây, chạy ngang, xuống tới quốc lộ 1, gặp tỉnh PHÚ YÊN tức TUY HÒA.

Quốc lộ số 21, xem như một vĩ tuyến nối liền 2 trạm tây, đông nêu trên, nó,quốc lộ số 21 ấy được kể song song với 2 quốc lộ xẻ ngang đất nước, là đường 19 nối từ PLEIKU xuống QUI NHƠN, và đường 23 nối từ BAN MÊ THUỘC xuống NINH HÒA.

– Trên bản đồ thì biết vậy nhưng ngoài thực tế, và trọng điểm là cuộc rút quân đương nêu, được bắt đầu và kết thúc làm sao?

– Thì sao không đọc cuộc triệt thoái cao nguyên của PHẠM HUẤN, ông sĩ quan chiến tranh chính trị đã mở màn cho cuốn phim lịch sử đó lâu nay rồi.

– Thưa anh, đại tá CAO VĂN ỦY, tất nhiên là ai cũng đã đọc, thậm chí còn đọc trên nhiều trang báo từ khi bắt đầu cuộc triệt thoái khi quân và dân ta rời phố núi về duyên hải, từ 1975 ở trong nước kia, nhưng biết anh hiện diện nơi đoàn người lũ lượt đó, em muốn anh kể lại xem có gì khác lạ không?

– Khác lạ về phương diện gì, cô nên nhớ là với 17, 18 năm tù của tôi, đại tá ỦY, tôi đã bị mài món trí nhớ, đến nỗi đôi khi tôi muốn có dịp nào, đi lại con đường đó.

– Để làm gì?

– Để xem thử mình có khác được không? Khóc thế nào, khóc thống thiết, hai mắt căng ra, cho lệ chảy thành sông, khổ lắm, hận lắm, tủi lắm. Nói chung thì cường độ đau buồn với tôi lúc này, nó đã tiềm ẩn thành khối băng, lạ lắm, không mừng và không tất cả, không, không, thôi đừng hỏi nữa.

– Tại sao vậy, lẽ ra anh phải viết lại cho thật rõ.

– À, thì cô cứ nhớ điều này nhé, ông tướng PHẠM TẤT của binh chủng BIỆT ĐỘNG QUÂN chúng tôi, là người duy nhất trên trực thăng, theo sát đoàn lữ hành di tản, cứ 15 phút thì lại đậu xuống một lần, để quan sát tình hình, khích lệ ngay trong buổi đầu, tôi không biết ví như thế nào, bởi vì tiền bạc hay hứa thăng thưởng không cần thiết nữa, chúng tôi chỉ muốn đi mau đi nhanh về vùng trời…an nghỉ, phải nói là mệt, mệt đứt hơi ra.

Tôi dẫn đầu đoàn người khổ nhục đó. Nhìn lại đằng sau, lính và dân sát cánh nhau, nhưng sắc áo lính nhiều hơn, có thể đoan chắc là không ai chỉ huy ai, nhưng vẫn nghe lời dẫn giảng, đề nghị nếu cần.

Con đường vẫn có đoạn còn dấu vết tráng nhựa xa xưa, nhưng nó đã bị bỏ quên lâu rồi, vì không cần thiết lắm ,nhưng có đoạn cây, giây leo cuộn rối như ở giữa lòng rừng, nên giống như mọi người vừa đi, vừa khai phá, y hệt một đoàn thám hiểm khổng lồ.

– Thế anh còn nhớ ai đã đồng hành với anh năm đó, hiện đang ở đây?

– Để cô tìm gặp người ta à, tôi đã nói với mọi người khi họ phỏng vấn tôi, là chúng ta nếu có điều kiện, một phải nói rõ hơn, hai đừng nói gì hết. Bạn đồng hành của tôi ở đây nhiều lắm, và hồi đó, chết cũng nhiều lắm.

– Nói rõ hơn như thế nào,theo ý anh?

– Lẽ ra phải quay trọn một cuốn phim, suốt thời gian di chuyển đó, nhưng chúng tôi có định đóng phim đâu. Ồ, mà ngoài cô, cũng có những cuộc di tản chiến thuật sôi nổi, như dân chúng ở HUẾ đổ xô vào ĐÀ NẴNG, hay từ QUẢNG NGÃI đổ ngược về CHU LAI v.v… nhất là 21 cây số đường đèo HẢI VÂN, người ta đã đẩy xe, và đẩy cả nhau xuống vực, để giành nhau thoát chạy nhanh hơn, sao cô không ghi lại và hỏi tôi về hành trình rút bỏ cao nguyên? Thật vô cùng bi thảm.

– Tại anh hiện diện trên hành trình đó, thì hỏi thăm cho chắc thôi. Vả chăng chúng ta còn đợi một người chép sử chính xác.

– Tất cả quân nhân VIỆT NAM CỘNG HÒA đều nên chép lại giai đoạn lịch sử này, trước, trong , và sau ngày 30-4-1975 trên khắp ngả đường đất nước miền nam VIỆT NAM.

Đại tá CAO VĂN ỦY, LIÊN ĐOÀN trưởng LIÊN ĐOÀN 2 BIỆT ĐỘNG QUÂN, xuất thân từ khóa 1 sĩ quan NAM ĐỊNH, đã từng tham gia tác chien trên nhiều chiến trường Nam, Bắc.

Có thời ông làm chỉ huy trưởng trường Hạ Sĩ Quan Nha Trang, là người đoạt chức vô địch súng trường của toàn quân QUÂN LỰC VNCH, bên cạnh đó, bạn tôi, võ sư thiếu úy HẠ QUỐC HUY vô địch súng colt, nên mỗi lần nhắc tên 2 vị vô địch tác xạ, tôi thường kể ra để không thiếu xót.

Đại tá CAO VĂN ỦY là một trong các vị thuộc Bộ Tham Mưu hành quân trực chiến, bị bắt ở PHAN RANG-khi vừa tan cuộc binh đao.

Rồi quý vị nêu trên bị tù đầy xuyên suốt tháng năm cải tạo,từ chớm mùa gọi là tập trung học tập,cho tới khi khai thông chiến dịch HO,để đa số tái định cư ở HOA KỲ, nhưng ông không đi MỸ mà tới ÚC, vì gia đình đang cư ngụ ở đó.

Hơn 20 năm, kể từ 1953 tới 1975, đại tá CAO VĂN ỦY sớm xếp bút nghiên, rời trường CHU VĂN AN HÀ NỘI, lên đường gia nhập Quân lực VNCH để theo việc đao cung. Song, ông đã sinh nghề kiếm đạo, mà lại không tử nghiệp, như không chết ở sa trường, lao tù với nhiều năm khổ sai, biệt giam, ông lại chết giữa bầu trời ấm áp nơi cuộc sống đã tạm yên, chỉ vì một mũi kim chích vô tình chạm thần kinh tọa.

Ngày ông qua Mỹ thăm họ hàng, và chủ yếu là chiến hữu các cấp binh chủng BIỆT ĐỘNG QUÂN, ông đã phải chống một cây gậy do bệnh viện X.ÚC cấp. Ông nói người ta đang lập hồ sơ giùm ông, để kiện cái sự việc vô tình làm chân ông suy thoái, nhưng ông nôn nóng gặp lại anh em đã từng đội mũ nâu, mang huy hiệu cọp rừng-nhe răng trên tay áo, ôi, một thời đã yêu, và một thời nhớ mãi. Ông hẹn ngày gặp lại, sẽ không lệ thuộc chiếc ba toong, tha hồ bay nhẩy.

Nhưng chẳng còn dịp nào nữa, vì ít lâu sau, đại tá CAO VĂN ỦY, đã âm thầm trở về cát bụi, con đường quốc lộ 21 hoang hóa buồn tênh kia, chắc có một lần trước khi nhắm mắt, anh thấy lại nó trong tâm tư người lính già trên tuổi tác, tai ương…, song, trẻ mãi cùng hồn thiêng sông núi.

Và, những người lính cảm thấy: có bổn phận phải hy sinh xương máu, để hồn thiêng sông núi linh hiển đến muôn sau.

Hawthorne 15-3-2011 CAO MỴ NHÂN




TRUYỆN NGẮN PHONG CHÂU: ĐỒI GIÓ HÚ




THƠ XƯỚNG HỌA – KHAI BÚT ĐẦU NĂM 2026 – Quang Hà & Phương Hoa. ĐỖ CHIÊU ĐỨC – NHƯ THU – PHƯƠNG HOA

THƠ XƯỚNG HỌA – QUANG HÀ – PHƯƠNG HOA

TẾT TÂY – QUANG HÀ (Xướng)

Hai ngàn lẻ sáu tới rồi đây

Dẫu nắng hay mưa cũng một ngày

Mở thiệp online tìm cánh gió

Vào thơ trang web mượn đường mây

Cả trời góp lại hình khung nhỏ

Lưng chén không vơi rượu giọt đầy

Bởi thiếu bạn lòng chia ấm lạnh

Cùng ngồi đón tết – Tết phương Tây.

Quang Hà, ngày đầu năm 2026

**

**

QUANG HÀ – NỐI ĐIÊU KÍNH BÚT

(Tự họa -tung hoành trục khoán)

Nét họa giải bày vơi nẻo nhớ

Câu thơ trăn trở đọng niềm tây

NÉT Xuân cùng vẽ với ai đây

HỌA bút mua vui đoạn tháng ngày

GIẢI lụa buông lơi đầu góc biển

BÀY tơ ràng buộc cuối chân mây

KHƠI lên ngõ hạnh vời trăng khuyết

NẺO xuống vườn mơ ủ mộng đầy

NHỚ Tết quê nhà thương biết mấy

CÂU THƠ TRĂN TRỞ ĐỌNG NIỀM TÂY.

                      Quang Hà, 02.02.2026

**

Kính Họa – Gửi Bác NGUYỄN HUY KHÔI

(4 vần)

Duyên bút đưa người đến gặp đây

Niềm vui xướng họa đẹp bao ngày !

Lao xao góc bến buồm căng gió

Rạng rỡ chân trời nắng vén mây

Thi hữu chưa từng phen hạnh ngộ

Tình thơ  như đã cuộc sum vầy

Kỳ thanh hữu xạ chờ tương kiến

Hẹn bác mai về nhắm rượu Tây ?

                 Quang Hà, 08/01/2026

**

Không đáp họa – dạ chẳng đành! Xin có khẩu thơ thô mộc cẩn họa, gởi bác Quang Hà đọc nhàn lãm, khuây già:

TRÓT MÀ HAY -(Hoa)

(Kính tân sư – thư pháp)

                      Quang Hà!

Trót rồi, biết bầy tỏ sao đây

Tuổi Hạc Luống mong sớm hẹn…ngày?

Duyên bén – lòng đâu cần lụy gió,

Tình trao – dạ vốn chẳng cầu mây?!

Trà châm HƯƠNG CHỮ hồn phiêu bổng,

Tửu cất MEN THƠ ý chất đầy!

Chén tạc chén thù!…cùng tấu xướng…

Tương cà…đạm bạc… thế gà Tây”?”

                                        Kính bút!

                                Nguyễn Huy Khôi

                                       11-01-2026

KHAI BÚT ĐẦU NĂM – PHƯƠNG HOA (Họa)

Năm Mới Hai Nghìn Hai Sáu đây

Niềm vui mong đợitrải bao ngày

Tri âm xướng họa xao đồi núi

Tri kỷ thơ đề lộng gió mây

Tay lướt hoành câu, câu chửa trọn

 Bút nâng lùa chữ, chữ khôn đầy

Sương khuya mành chắn mờ tâm khảm

Rượu thấm môi mềm dưới mái Tây

Phương Hoa – Mồng Một Tết Dương Lịch 2026

**

**

THƠ XUÂN GỞI BÁC QUANG HÀNGUYỄN HUY KHÔI (Họa)

Khởi tứ nghinh xuân kính bác đây

Hồn xanh nắng mới mở sang ngày 

Bông Mai e ấp phong hương sắc

Thoi nhạn ngẩn ngơ quyện gió mây?  

Trà ngóng Sư Tân …lòng xao xuyến

Tửu mong Thi Hữu…dạ vơi đầy?! 

Biết ai tri ngộ?…vui đàm đạo

Chạnh tưởng Người Thơ…bặt…xứ Tây?!

          Nguyễn Huy Khôi -05-01-2026

 **

 HỮU DUYÊN TƯƠNG NGỘ – (Họa)

             (Gởi Bác Quang Hà)

Tương thức mãn thiên…trải đó đây

Tri âm đắc kỷ…kiếm bao ngày?

Gần?…thì hùa hợt, lòa sương khói

Xa?…lại díu dan, ấm gió mây?!

Thư pháp khởi thần bừng nắng rỡ

Niềm thơ mở sáng rạng trăng đầy!

Hẹn ngày hội ngộ xôm đàm đạo…

Quốc Lủi giao tình…”địch”…tửu Tây.

                                Kính bút!

            Nguyễn Huy Khôi  09-01-2026

                 

      

Screenshot

THƠ XƯỚNG HỌA – ĐỖ CHIÊU ĐỨC – PHƯƠNG HOA – NHƯ THU

 TỜ LỊCH ĐẦU NĂMĐỖ CHIÊU ĐỨC (Xướng)

Tờ lịch đầu năm cảm khái nhiều,

Có thêm năm nữa để thương yêu.

Cám ơn trời đất thương bao biện,

Tạ hết người đời giúp bấy nhiêu.

Nhân ái tương thân đôi lúc khó,

Khoan dung tương trợ biết bao điều.

Cầu mong Bính Ngọ thêm đoàn kết,

Mã đáo… thương yêu, cảm khái nhiều !

   Đỗ Chiêu Đức – 01-02-2026

XÉ LỊCH ĐẦU NĂMPHƯƠNG HOA (Họa)

(Kính cẩn họa cùng thầy Đồ)

Đầu năm xé lịch xuyến xao nhiều 

Liệu thế giới này vẫn đáng yêu?

Mây trải gấm hòa xinh biết mấy

Núi chào hoa dệt đẹp bao nhiêu

TÂN NIÊN nhân loại thêm hoàn hảo

TẾT MỚI trần gian tốt mọi điều

Cầu nguyện nhà nhà luôn hạnh phúc

Tình thương gắn kết tỏa lan nhiều…

        PhươngHoa – JAN 2, 2026

MỪNG XUÂN MỚI  NHƯ THU (Họa)

Tân niên Bính Ngọ hẳn vui nhiều!

Cảnh trí tươi màu thật đáng yêu

Phố thị bình yên nhà hạnh phúc 

Quê làng hớn hở ruộng phì nhiêu

Chờ mong thuận nẻo hòa muôn sắc

Khấn nguyện tròn năm thỏa vạn điều 

Tảng sáng đi chùa xem hái lộc 

Từ nay tấc dạ hẳn vui nhiều! 

Như Thu –

01/03/2026




GS/TS MAI THANH TRUYẾT – Cảm Nhận Về Niết Bàn




VTLV – TRANG ĐẶC BIỆT MỪNG NĂM MỚI 2026

*CÁC BÀI HỌA

**

HỌA THƠ KHAI BÚT QUANG HÀ

Reng reng… nhạc ngựa gõ trên đồng

Còn đợi giao mùa có nắng trong

Đến trước, Tết Tây muôn kẻ đợi

Liền sau, Bính Ngọ tỷ người mong

An Cư Lạc Nghiệp vui nghìn dạ

Ngũ Phước Lâm Môn đẹp vạn lòng

Nhân loại thanh bình xây cuộc sống

Tin rằng Ngựa Đến chắc Thành Công !

              Quang Hà, New Year’s Eve 2026

**

**

**

ĐẤT NƯỚC MỪNG XUÂN MÃ ĐÁO – (Họa)

Nguyễn Huy Khôi(Họa 4 vận)

Mã đáo tiễn Xà chí nhất đồng

Thoi cò chớp trắng sáng trời trong!

Hoa bừng rực rỡ chào xuân cảm

Pháo nổ râm ran đón tết mong!

Kiến Quốc hanh thông tin vững dạ

Nguyên Niên thái thịnh ấm yên lòng!

Cơ thời vận hội sang trang mới

Đất nước hồi sinh rạng núi sông!

         Nguyễn Huy Khôi5-01-2026

KHAI BÚT TẾT TÂY 2026ĐỖ CHIÊU ĐỨC (Họa)

MÃ ĐÁO THÀNH CÔNG khắp cộng đồng,

Xuân về Bính Ngọ sắc trời trong.

Đồng hương cùng đạt bao mơ tưởng,

Thân hữu đều tròn mọi ước mong.

Thế giới nơi nơi đều thỏa chí,

Năm châu chốn chốn thảy vui lòng.

“Mã đề dương cước anh hùng tận”

Cộng hưởng thái bình NGỰA lập công!

              Đỗ Chiêu Đức – 01-01-2026

***

**

  NGỰA VỀ  – CAO MỴ NHÂN (Họa)

      “Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi“.      

                     cmn

Ngựa về, chủ khách thoắt tâm đồng

Mở cửa tàu xưa vẫn sạch trong

Yên vó biên cương ai mãi đợi

Chinh y trận mạc người hằng mong

Lão phu điềm đạm vun tươi cỏ

Võ tướng ung dung tạm thỏa lòng

Cười mỉm : thắng , thua giờ vỡ lẽ

Ngàn năm chính sử sẽ ghi công …

      Hawthorne  1 – 1 – 2026.

              CAO MỴ NHÂN 

**

BÊN LỊCH CŨ MỚI.     CAO MỴ NHÂN

                      m

Bây giờ ngày Một vẽ ngang tường

Có nghĩa gì chuyên chở xót thương

Sáu chục cộng năm con số ngã

Thắng, thua thời khắc cũng vô thường

                     m

Nhật , nguyệt nhìn lên lịch lắt lay

Rồi đây chiu chắt được bao ngày

Đến như thành quách còn nghiêng đổ

Thì có gì hơn năm tháng thay

                     m

Nước cũng trôi theo cảnh sắc không

Hóa thân thành lịch chút xao lòng

Đỉnh cao núi đứng chờ  xuân đấy

Khắc khoải thời gian tạ vãn đông …

                     m

Rancho Palos Verdes   31 – 12 – 2025

              CAO MỴ NHÂN

    (Hoạ thơ Giáo Sư Mai Lộc)

*

*

*

*

CA KHUC Tình Mưa – Nhạc: Lê Hữu Nghĩa – Lời : Hồng Thúy – Hòa âm & hát SUNO AI

TỜ LỊCH CUỐI NĂMMINH THÚY

Tờ lịch cuối năm xé thả rồi 

Mưa ngoài khung cửa khiến buồn thôi

Tay run đống giấy nhìn ngơ ngẩn 

Xúc cảm dâng trào nhớ mẹ tôi 

*

Đã hết một năm trải nỗi gì 

Vui buồn diễn tiếp kéo nhau thi

Thu đông xuân hạ qua lần lữa 

Níu bóng thời gian được những gì 

*

Pháo nổ đì đùng tiếng rộn ơi 

Sắc tung sáng tỏ khắp khung trời 

Đồng hồ chỉ điểm qua giờ mới 

Thêm tuổi xuân nay lại đón mời 

*

Giấy mực tràn lan góp tiếng lòng 

Như người yêu dấu chứa đầy đong 

Tâm tư lắng đọng giờ đưa tiễn 

Năm mới nhiều điều sẽ nguyện mong 

*

Minh Thúy Thành Nội 

Tháng 1/1/2026

TỜ LỊCH CUỐI NĂMNGUYỄN THỊ THANH DƯƠNG

Tôi vẫn xé mỗi tờ lịch mỗi ngày,

Tờ lịch mỏng tưởng hững hờ vô nghĩa,

Vo tròn tờ lịch tôi vô tình qúa,

Một ngày của tôi đã mất đi rồi.

*

Hôm nay tôi nhìn tờ lịch bồi hồi,

Tờ  lịch cuối của một năm sắp hết,

Như chiếc lá cuối cùng mùa Thu chết,

Tờ lịch là những chiếc lá thời gian.

*

Tờ lịch ghi ngày tháng của âm dương,

Ngày tây ngày ta theo cơn gió thoảng,

Tôi biết tìm đâu những ngày hôm trước?

Tôi biết tìm đâu tuổi đời đã  qua?

*

Bàn tay tôi chạm tờ lịch ngẩn ngơ,

Không nỡ xé sợ lòng mình khô héo,

Không nỡ xé sợ lòng mình tiếc nuối,

Bao nhiêu tờ lịch đã vào hư không.

*

Tờ lịch vui buồn theo tôi cả năm,

Có những ngày đẹp lòng tôi kỷ niệm,

Có những ngày tôi không chờ mong đến,

Tờ lịch ghi từng hơi thở cuộc đời.

*

Đêm nay đêm cuối cùng tháng mười hai,

Tờ lịch mỏng lẻ loi  còn ở lại,

Trên màn hình countdown  chờ năm mới,

Tờ lịch ơi có khóc lúc giao thừa?

*

Pháo hoa tưng bừng ”Happy New Year”,

Rượu sâm banh tràn trề và khiêu vũ,

Tờ lịch cuối cùng bàn tay tôi xé,

Tờ lịch ơi tôi khóc lúc giao thừa.

*

Nguyễn Thị Thanh Dương.

ƯỚC  MONG

Cuối năm thời tuyết cũng dần tan
Hoa búp đầy cành nhú khẻ khàng
Trời đất khởi bừng lên mạch sống
Lòng người phơi phới đón xuân sang

Ước mong vận thế đời thay đổiĐem đến tương lai đẹp rỡ ràng
Bởi Tết muôn vàn niềm hạnh phúc
Khơi nguồn hưng phấn bước thênh thang

Hoàng Mai Nhất
       1/1/2026

   

NỐI KẾT

Cõi trần nào phải giấc mơ
Đẹp thay câu chữ ầu ơ dệt lời
Nhìn xem gió thoảng mây lơi
Hợp cùng ánh nắng sáng ngời lững lơ
Thảnh thơi nối kết duyên tơ
Tha hương cách trở vẫn chờ đợi nhau
Nhớ chăng lần gặp ban đầu
Tình làng nghĩa xóm đậm câu trông chờ
Hiển nhiên chẳng phải ơ thờ
Thỏa lòng mộng ước vần thơ trao người
Việt Nam chữ nghĩa tuyệt vời
Cháu con truyền giữ muôn đời về sau

Hoàng Mai Nhất




NGẮM BĂNG TRÔI VÙNG Nam Cực Từ Trên Du Thuyền – PhạmPhanLang.




VTLV TRÂN TRỌNG THIỆU TÁC PHẨM ĐẶC SẮC – VƯƠNG THANH.




KIỀU MỸ DUYÊN – CHƯƠNG TRÌNH MỚI NHẤT CUỐI NĂM 2025: CÁI NHÀ LÀ NHÀ CỦA TA




TẢN MẠN – SAO KHUÊ: TRÈO LÊN CÂY BƯỞI HÁI HOA




VTLV- TRANG ĐẶC BIỆT Mừng GIÁNG SINH 2025

**

**

         Bài thơ sau đây :
      
ALBUM THÁNH CA TUYẾT NHUNG

*

**

***

NOEL BUỒN

(Cuộc đối thoại giữa hai người bạn)

**

*

Em than thở Giáng sinh này buồn quá,
Đang một mình không biết tính sao đây…

-Thì xin mời em qua Mỹ chơi đi
Khi nào tới nhắn tin anh đưa rước
Chúa thì chắc không dễ gì gặp được
Nhưng giáo đường nhiều vô kể em ơi

Giáng sinh này em qua Mỹ thăm chơi
Tiền phí tổn đi về coi cũng rẻ
Thấy thiên hạ đi về như đi chợ
Em một lần nên thử độ xem sao

-Nghe anh mình nói chuyện giống chiêm bao
Anh cứ tưởng ai cũng giàu vậy á
Gốc nông dân em bùn lầy vất vả
Hột lúa mùa này đổi hột lúa mùa sau

-Xem ti-vi anh có biết gì đâu
Nghe nói bển bây giờ sang trọng lắm
Đường phố đẹp dập dìu người mua sắm
Nên nghĩ là tiền bạc đủ tiêu hoang

-Anh lầm rồi, giàu có chỉ nhà quan
Còn vô sản như em toàn cơ cực
Chạy miếng ăn đã tàn hơi mệt sức
Không mong gì du lịch được đâu anh

-Giáng sinh này em sẽ lại loanh quanh
Tiền không có mà tình càng chẳng có
Đời vốn dĩ không thương người nghèo khó
Em thở dài, anh chả biết nói sao đây!

-Đông Ry Nguyễn

CHÚA VÀ EM

Em một đời tin Chúa
Ta một đời tin em
Có thể nào em để
Ta lạc loài đức tin

Chúa yêu em thánh thiện
Ta yêu em nồng nàn
Chúa lẽ ra phải khiến
Ta sớm thành chiên ngoan

Mỗi lần em đi lễ
Đọc bao nhiêu lời kinh
Là hiên ngoài ta cũng
Tụng bấy nhiêu thơ tình

Em không là gỗ đá
Sao cứ hoài lặng câm
Để buồn trên thánh giá
Chúa nhìn ta ngại ngần

Hai ngàn năm Chúa vẫn
Cứu rỗi người trần gian
Em lẽ nào cứ để
Linh hồn ta đi hoang

Em một đời yêu Chúa
Ta một đời yêu em
Lẽ nào em không thể
Mở đôi vòng tay ngoan…

Đông Ry Nguyễn

THƠ XƯỚNG HỌA – PHƯƠNG HOA – NGUYỄN HUY KHÔI

*

*

**

*

BÀI VIẾT CỦA TÁC GIẢ SƯƠNG LAM – MỘT CÕI THIỀN NHÀN

Bây giờ là mùa Giáng Sinh.  Mọi người mọi nơi hân hoan chào đón Chúa sinh ra đời. 

Người viết tuy là một Phật tử nhưng vẫn luôn luôn chia sẻ niềm vui ngày Giáng Sinh với bạn bè thân hữu Công Giáo của tôi vì đối với tôi, Chúa giáng trần hay là Phật đản sinh đều đem tin vui  đến cho tất cả mọi người, trong đó có tôi vì tôi vẫn nghĩ:

“Con của Phật hoặc là con của Chúa

Đều tin rằng có một Đấng Toàn Năng

Dạy con người phải luôn nghĩ nhớ rằng:

“Sống đạo đức, từ bi và bác ái”

và chúng ta luôn luôn ghi nhớ:

“Lời Chúa, Phật như suối từ ngọt mát

Chúa giáng trần hay là Phật đản sinh

Để dạy ta sống với một chữ Tình:

“Tình Nhân Loại với Thiện Tâm sẵn có”

 Chữ Phúc Đức chúng ta đều hiểu rõ

Khi con người sống đạo đức thiện tâm

Thì phúc duyên là dòng nước chảy ngầm

Mang an lạc, thiện lành cho ta đó”

(Trích bài thơ Bình An Dưới Thế Cho Người Thiện Tâm của Sương Lam)

Tôi lắng nghe những bài thánh ca đêm Noel với sự trân trọng, tôi thấy lòng mình lắng đọng lại khi ngắm nhìn tuyết trắng rơi rơi vào đêm Giáng Sinh và tôi chia sẻ niềm vui với trẻ thơ khi nhìn những Papa Noel hay Santa Claus áo thụng đỏ, bụng bự, râu trắng vai quảy túi quà đi phân phát cho các em bé.

Tình thương yêu quý mến nhau đâu có phân biệt tôn giáo, phải không Bạn?  Chúng ta đến với nhau với trái tim tình cảm, với nụ cười thân mến, với sự tôn trọng lẫn nhau. Tôi vẫn nghĩ thế.!

Một ngày cuối Thu cách đây năm năm, khi Đông còn đang ngập ngừng nơi ngưỡng cửa, PL đã viết bài thơ Đông Ơi Đừng Vội.

Đông ơi đừng vội

*

Lìa cành lá rơi
Thu qua mất rồi
Đông buồn sắp về
Hồn nghe tái tê

*

Đông ơi chậm thôi
Ta đang vẫn ngồi
Bên dòng nước cạn
Nghe chiều nhẹ trô
i

*

Mây bay lững lờ
Thu buồn hắt hiu
Trời chiều dịu êm
Ta ngồi đợi đêm

*

Xa xa tiếng chuông
Nghe thăm thẳm buồn
Con chim lẻ loi
Nhìn quanh ngó quanh

*

Thu chưa muốn đi
Đông buồn vội về
Ta ngồi đợi mưa
Nghe cơn gió đùa….

Phạm Phan Lang
2/12/2020

Bài thơ Đông Ơi Đừng Vội đã được nhạc sĩ Mai Hoài Thu ưu ái phổ nhạc và biến thành một ca khúc sâu lắng, trữ tình. Ca khúc được trình bày bởi ca sĩ Đông Nguyễn, với giọng hát truyền cảm, nồng nàn.

Cũng từ bài thơ này và cũng với giai điệu Blues nồng nàn này của nhạc sĩ Mai Hoài Thu, nhạc phẩm Đông Ơi Đừng Vội đã tiếp tục được ca sĩ Nhất Chi Mai trình bày. Giọng hát đầy cảm xúc kết hợp với giọng bè nhẹ nhàng, lâng lâng ở cuối mỗi đoạn, khiến người nghe không khỏi xao xuyến và bồng bềnh trong một không gian cảm xúc rất riêng.

      Xin chân thành gửi lời tri ân sâu sắc đến nhạc sĩ Mai Hoài Thu, ca sĩ Đông Nguyễn và ca sĩ Nhất Chi Mai, những người đã thổi hồn vào bài thơ mộc mạc này bằng những giai điệu và giọng ca tuyệt vời, giúp nó thăng hoa và đến gần hơn với người nghe.

      Nhân ngày đầu Đông, xin mời quý vị cùng nghe lại bài hát cũ và kính chúc an vui.

Thân kính,
Phạm Phan Lang

***

MỜI CLICK VÀO LINK BÊN DƯỚI ĐỂ NGHE CÁC CA KHÚC TRỮ TÌNH TỪ TRANG NHÀ THÂN HỮU CỎ THƠM:

:

https://cothommagazine.com/wp/tho-nhac-than-huu-co-thom-thang-12-2021/

:

:
https://cothommagazine.com/wp/tieng-hat-nua-voi-le-da-va-dong-nhac-cua-tran-trinh-1937-2012/

:
https://cothommagazine.com/wp/wp-content/uploads/2025/12/TiengHatNuaVoi-DongNhacCuaNSTranTrinh-PAD.pdf

THƯ PHÁP QUANG HÀ

TRUYỆN DICH – THÁI NỮ LAN


Câu Chuyện Về Cây Giáng Sinh Kỳ Diệu
(Tháng 10, 2015)

Một người cha đặt cây thông Giáng Sinh trong nhà cho các con trai và không bao giờ đem bỏ đi…

Đây là một truyện cổ tích đời nay làm cho ta càng yêu thích sự kỳ diệu của mùa Giáng Sinh. 

Ngày xưa có một gia đình người Mỹ sinh sống ở thành phố nhỏ Wausau ở tiểu bang Wisconsin, miền Đông Bắc Hoa Kỳ. Cha mẹ nuôi dạy sáu đứa con trai thật đáng yêu, sáu cậu đều thích đi câu cá trên thuyền với cha . Khi mùa Đông đến, chúng chạy ùa ra vui thích trượt băng trên cái hồ cạnh nhà suốt buổi chiều ,rồi tranh nhau chạy về nhà để thưởng thức ly sữa sô cô la nóng một cách ngon lành. Rich, người em nhỏ nhất luôn trân quý vô số những kỷ niệm yêu dấu như thế.

Nhưng, từ nhiều năm nay, kỷ niệm thường trở về với cậu ta là cây thông Giáng Sinh được đặt ở góc phòng khách trong ngôi nhà tuổi thơ của cậu. Vào một ngày đẹp trời của tháng mười hai, lúc đó Rich chỉ mới 14 tuổi, cậu và các anh cùng với cha mẹ họ đem một cây thông vào nhà . Neil, người cha luôn tôn trọng tập tục về cây thông Giáng Sinh này, và không gì có thể thay đổi được việc ấy, cho dù các con đều đã trưởng thành. Cây chễm chệ ngự trong phòng khách, đó là cây thông thuộc giống Epica xinh đẹp cao hai mét rưỡi.

Rich vẫn còn nhớ mình đã treo những quả châu đầu tiên lên cây thông Giáng Sinh. Nhưng vài hôm trước ngày Giáng Sinh, một thư thông báo tin không vui giáng xuống gia đình họ: đó là hai anh lớn bị gọi đi nhập ngũ vào thời kỳ chiến tranh ở Việt Nam. Người cha từng là cựu quân nhân của Thế Chiến Thứ Hai và Chiến Tranh Triều Tiên biết rằng thử thách ấy sẽ gay go như thế nào cho các con. Thế là ông đặt ngay một lời nguyền: 

“Tôi chỉ dẹp bỏ cây thông Giáng Sinh khi mà tất cả các con tôi đều trở về sum họp trong ngôi nhà này.”

Neil đã tuyên bố lời nguyền đó từ năm 1974. Rich, người em út của gia đình, nay đã 55t và anh ta đã kể lại câu chuyện này một cách cảm động. Và vì lý do đã kể trên, cây thông Giáng Sinh của gia đình vẫn giữ nguyên vị trí ở phòng khách, đến nay đã được bốn mươi năm. Hai người anh đi lính đã an toàn trở về Mỹ từ cuộc chiến, nhưng một anh là thương binh hạng nặng và đang sống ở tiểu bang Washington, ở đầu mút bên kia của đất nước.

Tình trạng sức khỏe của anh chưa cho phép anh thực hiện chuyến trở về gặp mặt gia đình. Về phần cây thông Giáng Sinh, nó vẫn hiện ngang sừng sững và qua bao nhiêu năm tháng vẫn giữ được nguyên vẹn tất cả những đồ vật trang trí trên mình nó, không sót một món nào. Còn chàng Rich từ nay rất hãnh diện về cha mình cùng với “truyền thuyết” này của gia đình, anh ta còn đùa rằng cây thông Giáng Sinh trở nên thân quen như bàn ghế trong nhà và anh cũng không thèm để ý đến nó nữa.

Phần lớn những cây thông Giáng Sinh lần lượt rụng hết lá sau nhiều tháng không được ở ngoài khí trời, nhưng cây thông của Neil, tất nhiên cũng có vài lá thông bị vàng úa, nhưng cây gần như vẫn y nguyên. Ngay cả những vật trang trí và đèn đóm đều gần 100 tuổi rồi. Đó là một trong những cây thông Giáng Sinh hiếm hoi có chiều dài lịch sử. Và người cha giải thích sự kiện này một cách hết sức đơn giản: 

“Những cành lá của cây thông Giáng Sinh của chúng tôi vẫn còn xanh tốt chỉ vì một nguyên do, đó là chúng chờ đợi con trai tôi trở về. Thật kỳ diệu thay! Nhưng tôi dám cá cược với quý vị là ngày mà con tôi về thì tất cả lá thông ấy sẽ rụng xuống.”

Ta hãy hy vọng rằng Giáng Sinh năm 2015 này, tất cả gia đình sẽ được sum họp đông đủ quanh cây thông Giáng Sinh kỳ diệu ấy.

Câu chuyện tuyệt vời trên đây nhắc cho chúng ta nhớ rằng Giáng Sinh chính là thời điểm để gặp lại người thân và sum họp để gia đình hưởng được những giờ phút đầm ấm bên nhau, và biết đâu, tin vào sự thần diệu của Giáng Sinh…

Nguồn: Eliane Hong,( tháng 10, 2015)- Thái Lan/ Nữ Lan dịch

THƠ MINH THÚY THÀNH NỘI

MỪNG MÙA SAO SÁNG 
*
Lê Hải đầu Văn Thơ Lạc Việt 
Hằng năm tổ chức hiến từ tâm
Dâng lên ý nghĩa mùa sao sáng 
Đón Chúa niềm tin đẹp nở mầm 
*
Chiều nhạc “ Mừng Mùa Sao Sáng “diễn 
Như vừa có Chúa hiện quanh đây 
Thiêng liêng trang trí hình Thiên Chúa 
Trình diễn không gian ấm áp đầy 
*
Gợi nhớ tình quê nhiều kỷ niệm 
Năm mươi năm viễn xứ xa nhà 
Hài Đồng Cứu Thế thương nhân loại 
Nuôi dưỡng loài người góp tiếng ca 
*
Giai điệu ngữ ngôn hòa trống nhạc 
Ca đoàn giáo xứ nhịp nhàng xinh
Thời trang quốc tế màn phong phú 
Hợp tác đàn tranh uyển chuyển tình 
*
Gió lạnh mùa đông vừa chạm ngõ 
Vui mừng nguyện Chúa xuống trần gian 
Bình yên thế giới mùa lễ hội 
Rực rỡ đèn hoa kết mọi đàng 
Minh Thúy Thành Nội 
Mùa lễ Noel 2025

TRUYỆN DỊCH ĐÊM CHÚA GIÁNG TRẦN – THÁI NỮ LAN




VĂN TỪ “CÔ GÁI VIỆT” Nguyễn Thị Thanh Dương: BABY SIT.

BABY SIT

     Nguyễn thị Thanh Dương

“Cần người baby sit ở tại nhà, trông 3 đứa trẻ 7, 6, và 5 tuổi, làm vài công việc vặt. Có phòng riêng, lương hậu hỉ. Xin mời ”.

Đọc hàng loạt mục cần người đến nhà giữ trẻ, tôi dừng lại ở đây, sao mà thích hợp với tôi đến thế, tôi đang tìm một nhà có đông trẻ con để đến giúp việc, vì tôi cô đơn quá đổi. Cái nghề baby sit này tôi đã nghĩ tới với rất nhiều hứng thú sau những tháng năm dài mấy lần vấp ngã trong cuộc đời.

Tôi gọi phone ngay:

– Hello, chào chị, tôi có đủ điều kiện để xin làm baby sit cho nhà chị đây.

Giọng hớn hở bên kia đầu dây:

– Chị trẻ không? Khỏe không? Em có 3 thằng con trai quậy dữ lắm, đến nỗi bác Ba hiện thời đang baby sit tụi nó chịu không thấu, bác quá mệt đòi thôi việc nên em mới đăng báo kiếm người thế vô, bác Ba làm nốt 2 tuần nữa cho tròn tháng rồi mới ra…

Chị ta nói dài quá tôi phải ngắt lời :

– Tôi hiểu rồi, năm nay tôi 40 tuổi, sức khỏe tốt. Được không?

– Vậy thì tốt quá, coi như em nhận lời mướn chị, bữa nào mời chị đến nhà, coi những công việc bác Ba làm sao chị làm vậy.

Tôi đồng ý, hai tuần nữa tôi lại có một cuộc sống khác.

Một cuốn tiểu thuyết có bao nhiêu trang buồn vui thì cuộc đời tôi cũng có bấy nhiêu trang. Tôi là một đứa trẻ không có cha ngay từ trong bụng mẹ, nghèo khổ và lam lũ tôi sống với mẹ bữa đói bữa no trong một xóm lao động ở Việt Nam, năm tôi 12 tuổi mẹ tôi bị bệnh chết, không thân bằng quyến thuộc. Tôi bơ vơ.

Tôi được một bà hàng xóm tốt bụng mang tôi đến một gia đình họ hàng của bà. Đó là chủ hãng nước mắm ở bến Chương Dương, Sài Gòn, để tôi làm việc vặt gì thì làm, mục đích chính là họ nuôi tôi làm phước.

Ông bà chủ có hai người con gái tuổi mười tám đôi mươi, đa số tôi làm việc vặt cho hai cô. Biết thân phận mình tôi làm việc rất chăm và ngoan ngoãn nên cả ông bà và hai cô đều thương. Được sống ở thành phố, bên cạnh hai cô chủ, tôi phổng phao khoẻ mạnh và đầu óc khôn ra, những sinh hoạt của họ cũng cho tôi nhiều kiến thức. Lúc nào rảnh hai cô thay phiên nhau dạy tôi học chữ.

Tôi quý mến ông bà chủ hãng nước mắm lắm, tôi hay nói với ông bà con mong mau lớn con sẽ khuân nước mắm từ kho ra xe, ông bà đỡ phải mướn người ta. Nhưng chưa đến cái ngày tôi được làm công việc đó để đền ơn đáp nghĩa chủ, thì năm 1980 cả nhà ông bà tổ chức vượt biên, và tôi nghiễm nhiên đã là một thành viên của gia đình họ nên cũng được đi theo. Năm đó tôi 18 tuổi.

Sang đến Mỹ tôi vẫn tiếp tục làm người giúp việc cho họ. Vài năm sau hai cô học hành xong và lập gia đình, cuộc sống của tôi vẫn êm đềm theo gia đình chủ, nhưng hai cô nói tôi không thể suốt đời làm thuê làm mướn cho nhà cô mãi được, tôi đã trưởng thành cấn có một cuộc sống riêng, có vợ có chồng như người ta. Hai cô thương tôi mà nói thế, chia tay hai cô tôi buồn lắm và không tự tin chút nào, vừa xấu vừa không trình độ thì ai dám lấy tôi?

Thế mà có người thương tôi, lấy tôi, làm tôi vừa mừng vừa ngạc nhiên, anh quê ở Long Đất, Vũng Tàu, làm tài công chở người vượt biên từ ghe nhỏ ra ghe lớn, một hôm anh liều mình lên ghe lớn đi luôn, qua đây tứ cố vô thân. Anh cũng bơ vơ.

Gia đình ông chủ hãng nước mắm ở California, còn tôi và chồng rủ nhau về Tiểu bang Texas, nghe nói cũng đông người Việt Nam và nhà cửa thì rất rẻ so với Cali.

Sau này tôi hỏi chồng tôi với vẻ cảm động và vô vàn biết ơn rằng em xấu, em quê mùa thế tại sao anh lấy em, anh yêu em ở điểm nào ? Anh đáp thản nhiên thời điểm đó ít người Việt Nam, đàn ông thì thừa, đàn bà thì thiếu, thà lấy em còn hơn ở giá, chứ có yêu thương gì đâu!

Sự thật mất lòng, nhưng chứng tỏ là anh thành thật, thôi thì “ bèo dạt mây trôi” gặp nhau, cho đời bớt buồn, bớt khổ. Chúng tôi an phận sống bên nhau và mong muốn có một đứa con, nhưng chờ hoài hết năm nọ, năm kia, hai vợ chồng tôi mới đi bác sĩ để biết một sự thật đau lòng tôi không có khả năng sinh con. Chồng tôi thất vọng, chán nản sinh ra nhậu nhẹt say sưa, một hôm tôi biết được anh đã ăn ở với một cô gái, và cô đang mang bầu, tôi hiểu phận mình thua thiệt, tự nguyện rút lui, trả anh cho cuộc đời mới đang mở ra cho anh.

Vài năm sau tôi lập gia đình với một ông lớn tuổi, bị vợ bỏ, ông chấp nhận hoàn cảnh tôi, không cần con cái, hình như ông dị ứng với vấn đề này, ông nói con cái ở Mỹ chỉ là một lũ mất dạy. Tôi an lòng sống với ông, tưởng sẽ được hạnh phúc cho đến tuổi già. Nhưng ông bị chết đột ngột vì bệnh tim, không kịp một lời trăn trối, nhưng cũng kịp để lại cho tôi một món tiền khá lớnphải trả nợ cho credit card, không biết ông đã vay mượn từ lúc nào, mang tên hai vợ chồng, chỉ để đánh cá football (sau này tôi mới biết đó chính là nguyên nhân ông bị vợ bỏ, con khinh, và vất va vất vưởng như lục bình trôi sông rồi tấp vào đời tôi, để tôi phải trả một giá rất đắt cho cái hạnh phúc mà tôi chưa hề được hưởng).

Tôi đã cần cù đi làm lương vài đồng một giờ trong vài năm để trả món nợ đó, tôi suy luận theo thuyết nhà Phật, có lẽ kiếp trước mình mắc nợ ông ta? Bây giờ nợ trả hết rồi, tôi không oán hận gì ông đâu, ông hãy thanh thản an giấc ngàn thu, chỉ mong rằng kiếp sau nếu có tái sinh , dù lấy ai cũng xin ông chừa thói cờ bạc, chừa đánh cá football cho vợ con ông nhờ.

Vừa xấu người, vừa xấu số, qua hai đời chồng mà chẳng được gì ngoài thất vọng khổ đau.Tôi quyết tâm an hưởng cuộc sống độc thân, tưởng rằng sẽ thanh thản mà sao buồn thế! đơn độc thế! Đôi lúc tôi muốn quay về tìm hai cô chủ cũ đang sống ở California, nhưng lại tự ái, và phụ lòng tin tưởng của người ta nên đành thôi.

Tôi cũng là một người đàn bà như bao nhiêu người đàn bà khác, cũng thèm khát một mái gia đình, những đứa trẻ thơ, để được săn sóc chúng, thương yêu chúng. Thế là tôi nghĩ đến nghề baby sit, tôi muốn được ở tại nhà chủ, sống hàng ngày với họ, để hưởng lây không khí gia đình, để gần gũi những đứa trẻ mà đáng lẽ tôi cũng có.

***

Tôi đã đến nhà cô chủ mới để quan sát tình hình, vợ chồng chú An giới thiệu tôi với bà Ba và 3 đứa trẻ rồi họ vội vã rời khỏi nhà, họ đang kinh doanh một nhà hàng lớn rất đông khách nên bận túi bụi, việc nhà cửa, con cái giao phó hết cho người baby sit.

Lần đầu nhìn 3 thằng ranh tôi đã thích, còn chúng nhìn tôi với vẻ tò mò .Hôm nay ngày nghỉ nên chúng ở nhà đủ, bà Ba vừa làm việc vừa nói chuyện với tôi, bà hơn 65 tuổi, nhưng chưa có quốc tịch nên chưa được hưởng tiền già. Ôi, ở cái tuổi này mà phải quản lý 3 thằng vừa ăn khoẻ vừa nghịch ngợm như thế kia thì mệt thật! Tôi bỗng thấy mình còn trẻ quá, sẽ đủ sức làm nữ tướng điều khiển 3 thằng lính quèn đó.

Tôi tiếp tục công việc của bà Ba không khó khăn gì, sáng dậy lo cho 3 đứa đi học, trưa lần lượt đón về, chiều nấu cơm, tắm rửa cho chúng, rồi dọn dẹp nhà cửa… Tôi vừa nghiêm vừa thân thiện để chúng không ăn hiếp và không quá sợ tôi. Ai như bà Ba muốn làm cái gì cũng phải năn nỉ nào ăn cơm đi, nào tắm đi, nào thay đồ đi.v.v… rồi bà thương, chúng nó đâu cần cái tình thương hứa hẹn của bà để phải đánh đổi những trò chơi hứng thú của chúng.

Mỗi lần cho lũ trẻ tắm là một cuộc chơi “trốn tìm” và “đuổi bắt” đầy ngoạn mục, quần áo dơ thay ra, chúng không để vào rổ trong phòng tắm mà cố tình quẳng vào kẹt tủ, gầm giường, hay góc bếp cho bà Ba tìm mệt nghỉ, bà Ba đi khắp nhà tìm quần áo dơ của chúng như tìm chiến lợi phẩm sau một cuộc giao tranh. Xong, thì 3 thằng lại xổng mất, bà phải chạy từ phòng nọ đến phòng kia, từ tầng lầu xuống tầng dưới, và ngược từ tầng dưới lên tầng lầu để tóm chúng lôi vào phòng tắm…

Bà mệt và căng thẳng đến nỗi có đêm bà thấy ác mộng, 3 đứa chạy nhảy bừa bộn trong phòng tắm, nước văng tung toé, nước tràn lan lênh láng, trôi bà đi khắp nhà… Giật mình tỉnh dậy người bà còn đẫm mồ hôi, bà không tin là mình vừa ngủ mê, lò dò bật đèn ra phòng tắm, thấy mọi sự yên tịnh bình thường bà mới yên tâm vào ngủ tiếp.

Khi bố mẹ chúng ra khỏi nhà, căn nhà rộng 4,000 sqft, đẹp đẽ sang trọng, trên khu đất rộng, vườn tược xinh tươi, hàng tháng có người đến làm vườn cắt cỏ này là của tôi, tôi tha hồ ra mà đi trên cỏ non xanh mướt, ngắm hoa lá, nhìn chim bay… Những giây phút thú vị đó, tôi tin chắc rằng vợ chồng cô chủ chưa bao giờ biết đến.

Vào nhà tủ lạnh đầy ngập đồ ăn, tôi muốn ăn, muốn bày món gì có mà trời biết. Tôi đã làm những món ăn, bánh trái khiến lũ trẻ thích mê, tôi kể cho chúng nghe những đứa trẻ bằng tuổi chúng đang ở Việt Nam, đang thiếu ăn, thiếu mặc, hay không được học hành gì cả… tôi kể về tuổi thơ nghèo khổ của tôi, chúng cảm động nghe tôi kể như nghe chuyện cổ tích, tôi dạy chúng phải biết quan tâm và giúp đỡ người khác, biết nhường nhịn thương yêu nhau.

Dần dần 3 đứa đều quý mến tôi, ngoan ngoãn nghe lời tôi, chúng không nghịch phá nữa, tự mình làm những gì có thể được, tôi không phải hầu hạ chúng như bà Ba, trái lại tôi còn sai chúng làm được khối việc vặt, khi quần áo đã sấy khô, chúng gấp lại, của đứa nào đứa nấy mang về phòng, chúng vui thích vì được tự tay xếp quần áo vào tủ theo ý mình.

Tôi sai chúng nó lấy báo cho tôi đọc hay rót nước cho tôi uống là chuyện thường tình ở nhà, không biết bố mẹ chúng nhìn thấy có xót ruột không? Chứ chúng làm với tất cả lòng hăng hái, mà tôi cũng thương yêu chúng biết bao nhiêu, không phải là nhiệm vụ của một baby sit đâu, mà bằng tấm lòng của một người mẹ.

Tôi và 3 đứa trẻ đã có những ngày êm đềm hạnh phúc, những bữa cơm chiều đầm ấm, những buổi trưa 3 đứa thì ngủ, còn tôi nằm khểnh nghe nhạc, thảnh thơi như một kẻ vô công rỗi nghề, tôi mở máy nghe Chế Linh và Tuấn Vũ, hai giọng ca mùi mẫn là thần tượng của tôi, họ hát bài gì tôi cũng thuộc dù tôi không nhớ tên tác giả, nhưng chắc chắn là không có nhạc Trịnh công Sơn, dù ai cũng khen nhạc ông ta, có nhiều câu nhạc của Trịnh công Sơn nghe “mơ hồ” quá tôi không hiểu nổi: “Tóc em từng sợi nhỏ rớt xuống thành hồ nước lênh đênh.” Hay “Mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ. Dài tay em mấy thuở mắt xanh xao…” thà cứ cụ thể, huỵch toẹt như “Đời tôi cô đơn nên yêu ai cũng cô đơn…” hay “Đêm đêm một mùi hương, mùi hoa sứ nhà nàng…” nghe mà thấm tới tim tới phổi, nghe mà rơi lệ.

Nằm nghe nhạc đã, tôi ngủ thiếp đi, tỉnh dậy 3 đứa trẻ vẫn nằm ngủ bên tôi trong căn nhà sạch sẽ thơm tho, chẳng có chuyện gì phải làm, tôi vẩn vơ nghĩ tới vợ chồng cô An, không biết ngay giây phút này họ đang làm gì nhỉ ? Tội nghiệp ! chắc chú An đang bù đầu trong khói bếp mịt mù, trước kia chú có thuê đầu bếp, nhưng đứa thì làm mình làm mẩy, đi trễ về sớm, đứa thì chuyên môn ăn cắp mang về nhà toàn những món đồ biển đắt tiền.

Thế là chú vừa là ông chủ vừa kiêm luôn chức đầu bếp cho chắc ăn, khỏi phải trả tiền công đầu bếp mà lại quản lý được cả đám nhân viên dưới bếp, không thất thoát hao phí đồ ăn, thực phẩm. Còn cô An cũng bù đầu không kém, như tất cả những người Châu Á làm kinh doanh, khâu tiền nong thì chỉ có ngưòi nhà hay chính chủ nhân quản lý, cô An ngồi trong quầy thu tiền, mỗi ngày phải mỉm cuời không biết bao nhiêu lần, phải Hello, Thank you với không biết bao nhiêu người, kể cả những người có bộ mặt đáng ghét nhất.

Chín mười giớ tối cô chú An mới về tới nhà, tắm rửa và hỏi thăm con cái qua loa xong là lăn vào phòng ngủ, nếu có động đất hay trời sập chắc họ cũng không biết.

Làm gì cô chú An dám mơ tới một giấc ngủ trưa thanh bình nhàn hạ như tôi? Nằm nghe nhạc lâm ly sướt mướt như tôi?

Làm chủ nhà hàng, khách tới ăn tấp nập, nhưng cô chú An thường không ăn nổi những món ăn của mình, ngày nào cũng ngửi, cũng nhìn thấy, họ ngán quá rồi, cô An thường mang đồ ăn do tôi nấu ở nhà , tôi làm món dưa cải muối chua với củ hành đỏ thật thơm ngon, cô An rất thích.

Từ ngày làm baby sit, ăn, ở, chủ bao nên đồng lương tôi hầu như không dùng tới, dư được bộn tiền, tôi không có họ hàng gần xa ở Việt Nam để mà giúp họ. Tôi nghĩ đến những đứa trẻ nghèo – như tôi ngày xưa – và muốn đồng tiền của tôi được hữu ích tôi liên lạc với một ngôi chùa ở Việt Nam, thông qua đó, hàng tháng tôi gởi tiền về để chùa mang đến những Cô nhi viện, những Nhà nuôi trẻ em khuyết tật, cho các em được thêm manh áo mới, thêm miếng ăn ngon.

Nếu quả thật kiếp này làm điều lành kiếp sau được hưởng thì tôi mong sẽ có một mái gia đình và những đứa con như 3 thằng mà tôi đang baby sit là đủ rồi, chẳng mong giàu có sang trọng gì.

Một hôm cô An mang về một tờ báo xuất bản ở Việt Nam, do người bạn cô mới đi chơi Việt Nam và mang về. Cô An chỉ cho tôi bài viết về một bà người Việt sống ở Mỹ có lòng từ tâm, hàng tháng gởi cả ngàn đô về Việt Nam để giúp các trẻ em nghèo.

Cô An chặc lưỡi:

– Làm điều thiện mà dấu tên, ngu thật. Người ta đâu biết mình là ai, thì hãnh diện với ai đây?

Rồi cô so sánh, nửa đùa nửa thật:

– Chắc bà này giàu lắm mới chi ra như thế. Mà có giàu hơn tôi được không?

Mỗi ngày nhìn vợ chồng cô An ra đi, lao vào cuộc sống, tôi biết họ kiếm ra rất nhiều tiền, bằng sức lực mồ hôi và bằng cả sự khôn ngoan sống ở đời như cô An đã từng hãnh diện khoe với tôi, chị biết không, buôn bán kiếm lời là chuyện dĩ nhiên, ngoài ra phải biết kiếm thêm, mỗi bill tính tiền ăn của khách đều cộng thuế, nhưng tôi đâu có ngu mà khai thật lợi tức của mình với sở thuế, nên hầu hết tiền lời, tiền thuế của người ta trả đều vô túi mình.

Còn tôi, lương tháng 1,200 đồng, không kiếm thêm được đồng nào như vợ chồng cô chủ. Nhưng nếu so sánh giữa tôi và họ ai giàu hơn? Thì …tôi chứ ai! Vì tôi còn có tiền phân phát cho người khác. Và ai sướng hơn? Thì… cũng tôi chứ ai! vì tôi có niềm vui khi đã mang lại niềm vui cho người khác…

Nguyễn thị Thanh Dương




CHUYỆN SƯU TẦM – Người phụ nữ gốc Việt hành khất ở Paris

Người phụ nữ gốc Việt hành khất ở Paris

Mỗi ngày hai buổi đi, về sở làm, Quốc phải đi qua ga xe điện-ngầm Montparnasse làm trạm trung chuyển.

Có một ngày, đường xe điện ngầm về nhà Quốc tạm ngừng hoạt-động để sửa chữa, Quốc phải xử dụng đường xe điện ngầm khác trên cùng một ga trung chuyển, nhưng phải mượn lối đi qua hai thảm thang máy khá dài…

Khi vừa qua khỏi thảm thang máy thứ hai vài bước, Quốc thoáng thấy có một người phụ nữ ngồi xin tiền. Một chân bà bị teo nhỏ co quặp lai, ngắn hơn chân kia, một cặp nạng bằng kim loại sáng bóng sạch-sẽ nằm hai bên. Bà có vóc dáng của một người Á-châu và ánh mắt của bà khiến Quốc cảm nhận như đã nhìn thấy ánh mắt nầy ở một nơi nào đó rất mơ hồ…

Dòng người phía sau Quốc thúc đẩy Quốc tiến về phía trước. Quốc vẫn đi, lòng tự hỏi, tại sao giữa Paris của nước Pháp lúc nầy lại có người khuyết tật ăn xin ?

Chính-sách an-sinh xã-hội của Pháp không thể để sự việc như thế nầy xẩy ra, trừ trường hợp người nhập-cư bất hợp-pháp chưa được chính-quyền chấp thuận cho cư-trú dài hay ngắn hạn. Người khuyết tật là ưu-tiên của chính-sách an-sinh xã-hội Pháp.

Những ngày sau đó, buổi chiều đi làm về, khi bước ra khỏi thảm thang máy thứ hai Quốc vẫn thấy người đàn bà khuyết tật ngồi ngay tại một địa-điểm như những ngày hôm trước, dưới đất, trước mặt là một hộp giấy nhỏ để người hảo-tâm bỏ tiền vào. Bà ngồi im-lặng, không một lời hỏi xin khách đi ngang qua. Có lúc Quốc nhìn bà, mỉm cười. Quốc định ngừng lại bỏ tiền vào hôp giấy. nhưng một ý-nghĩ chợt dến, Quốc tiếp tục đi Quốc tự nhủ: “những người như bà nầy được xã-hội ưu-tiên giúp đỡ, không đến nổi nào phải xin ăn… làm ê mặt nước Pháp quá ! “.

Một ngày giữa tuần, sở làm có công việc cần giải-quyết gấp, tám giờ tối Quốc mới ra khỏi sở làm. Khi đến cuối thảm thang máy thứ hai Quốc không nhìn thấy người đàn bà khuyết tật ngồi nơi chỗ cũ. Sau giờ cao-điểm trong hành lang ga rất thưa người, Quốc có thể nhìn thấy bà nếu bà đang di-chuyển một nơi nào gần đó…

Nhưng khi đến bến xe điện, Quốc thấy người đàn bà khuyết-tật đang đứng chờ chuyến xe đến, trên cùng hướng của tuyến đường Quốc xử-dụng. Quốc đến bên cạnh bà, cũng vừa lúc xe đến. Quốc đưa tay đẩy nhẹ sau lưng bà bước lên tàu. Một hành-động tự phát nhân-cách của một nguời trước một đồng-loại khuyết tật dù không được yêu-cầu.

Xe thưa thớt khách. Vừa ngồi xuống ghế, người đàn bà khuyết tật xếp hai nạng chung với nhau để qua phiá bên chân bị tật. Quốc ngồi vào ghế đối -diện. Bà mỉm cười nhìn Quôc, nói bằng tiếng Pháp:

  • Cám ơn ông.
  • Thưa bà không có gì. Quốc trả lời.

Bà nhìn Quốc, hai mắt mở lớn, Quốc vẫn thấy ánh mắt nầy mình đã gặp ở một nơi nào đó. Bà hỏi:

  • Nhìn ông, nhận ra ông là người Châu-Á, nhưng không biết ông là người nước nào ?.
  • Tôi là người Việt-nam.

Bà cười, giọng cười đầy thiện-cảm :

  • Tôi cũng là người Việt-nam như ông, tiếc rằng tôi không nói được tiếng Việt, còn ông, ông nói được tiếng Việt không?.

Quốc gật đầu:

  • Tôi qua đây không lâu lắm nên còn nói được tiếng Việt như người trong nước.

Vẻ mặt bà thoáng suy-tư:

  • Mình người Việt, không nói được tiếng Việt, cũng thiệt-thòi phải không ông ? .

Quốc chưa kip trả lời câu hỏi thì loa phát-thanh trên tàu điện ngầm thông báo trạm đến để Quốc đổi tàu.

Quốc hỏi:
– Bà xuống trạm nào ?
– Tôi sẽ xuống trạm cuối của đường tàu nầy, nhà tôi gần đó.

Đúng lúc, cửa tàu tự động mở, Quốc xuống xe. Khách xuống xe và khách lên xe che khuất tầm nhìn của Quốc đang quay người lại để chào bà.

Ngày hôm sau, đường xe điện ngầm tạm ngừng lưu-thông để sửa chữa hoạt động trở lại, Quốc xử dụng đường xe điện ngầm cũ nên không còn gặp, nhìn lại người đàn bà khuyết tật, tuy nhiên lòng Quốc vẫn phân-vân: “Bà ta, người gốc Viêt-nam, không biết nói tiếng Việt, chỉ nói được tiếng Pháp, đi xin tiền giữa thủ-đô nước Pháp, không bị người Pháp có lòng tự ái dân-tộc pha lẫn bản chất kỳ-thị màu da xua đuổi ! Ngay chính bản thân, khi nhìn thấy người đàn bà khuyết-tật nầy xin tiền Quốc cũng cảm thấy khó chịu… bà làm tổn thương đến chính sách an sinh xã hội nước Pháp.! “Quốc nghĩ, không biết có cần-thiết gặp lại người đàn bà nầy không ?. Vì bà là đồng-hương cơ-cực ? Vì sao bà bị tật nguyền như vậy ?


Thời gian trôi qua, Quốc đã không còn nhớ gì đến người đàn bà khuyết-tật. Khoảng sáu tháng sau, buổi tối ngồi xem tin-tức thời-sự của đài truyền-hình France 3, một đài địa-phương của thủ-đô Paris và vùng phụ cận, một bản tin được phát ra với hình ảnh người đàn bà khuyết tật xin tiền trong hầm xe điện ngầm đang trao một phong bì cho cho một người, cùng lời của người phát tin: “Hôm nay là năm thứ sáu, bà Thérèse Tran một người tàn-tật, đã trao tặng cho hội Chữ Thập Đỏ nước Pháp 5.000 Frances Pháp, số tiền nầy do bà quyên được hàng ngày của khách lai vãng trong những hầm xe điện ngầm của thành phố Paris. Quý khán thính giả của đài đã từng được xem bảng tường trình bằng hình ảnh công việc của bà trong một chương-trình ĐÓNG GÓP CHO TỔ CHỨC NHÂN-ĐẠO trước đây trên đài truyền hình của chúng tôi. Bác-sĩ đại-diện hội Chữ Thập Đỏ Pháp đang nhận số tiền nầy từ tay bà”.

Bản tin tức khích-động trí tò mò của Quốc. Ngày hôm sau trên dường từ sở làm trở về nhà, Quốc chọn tuyến đường xe điện ngầm thời gian trước đây đã cùng bà xử dụng chung một chuyến. Khi đi qua khỏi thám thang máy thứ hai, Quốc nhìn thấy bà vẫn còn ngồi tại chỗ. Quốc tiến thẳng vào hành lang đường hầm, đến tuyến đường xe điện, cố ý ngồi chờ gặp bà. Gần mười chuyến tàu ngừng cho khách lên xuống rồi tiếp tục chạy… Quốc nhìn thấy bà đang chống nạng xuất hiện đầu đường hầm, Quốc đi nhanh về phía bà ngỏ lời chào. Bà chào lại và đưa tay bắt tay Quốc. Bà cười rất tươi, nói với Quốc:

  • Lần đầu tiên gặp ông cùng trên tuyến xe nầy cũng khá lâu, tưởng là không còn gặp lại ông nữa, Paris có hơn mười tuyến đường xe điện ngầm và hàng vài chục ga trung chuyển… gặp nhau lại trên cùng tuyến xe rất hiếm. Gặp ông lúc đó, thấy ông lạnh lùng đối diện với một người ăn xin vì đói ăn và tàn tật như tôi. Hôm nay có khác, thấy nét mặt ông tươi vui và còn chờ tôi để trể mấy chuyến xe ? Nếu tôi đoán không sai, ông muốn gặp tôi hôm nay vì đêm qua ông đã nhìn và nghe được mẫu tin-tức về tôi trên đài truyền-hình France 3: một người đàn bà Pháp gốc Việt, tật nguyền ăn xin để làm việc thiện ? Và rất tiếc phải để ông chờ… vì tôi có thấy ông đi qua chỗ tôi vừa rồi… giờ nầy ông vẫn còn ở đây ?

Quốc cảm thấy bối-rối trước những lời khẳng định và nhạy bén của bà, Quốc chưa kịp đáp lời thì chiếc tàu điện ngừng, cửa mở, hành khách lên tàu. Một hành khách lịch-sự nhường chỗ cho bà. Quốc đứng bên cạnh và có dịp quan sát khuôn mặt thanh tú của bà, mái tóc đen chen lẫn vài sợi trắng hai bên thái dương.

Cặp mắt của bà có một sức lôi cuốn kỳ lạ, người nhìn cảm thấy như bản thân mình bị thâu nhỏ lại như bị hút vào bên trong… cặp mắt mà Quốc đã nhìn thấy một nơi nào đó vào một thời kỳ rất xa, và rất xa. Xe ngừng. Khách xuống, không có khách lên. Quốc ngồi xuống chiếc ghế trống bên cạnh bà. Hai người không nói gì với nhau cho đến lúc loa tàu báo tên trạm ngừng sắp tới, bà hỏi Quốc:

  • Chắc ông xuống trạm này vì kỳ trước ông đã xuống đây ?

Quốc cười, lắc đầu:

  • Hôm nay tôi không xuống đây, xin được theo bà để được nghe bà cho nghe chuyện bà đi quyên xin tiền làm từ thiện.

Bà cười, hai tay ôm hai chiếc nạng vào người, nói:

  • Ông thấy đó, vừa rồi tôi nói có sai đâu, hôm nay ông đón gặp tôi chỉ vì tin tức về tôi trên đài truyền-hình tối hôm qua. Có lẽ trước đây ông không theo dõi tin-tức trên truyền hình France 3 nên không biết. Tàu chạy ồn quá, vậy hãy đợi đến trạm cuối, bên ngoài ga có quán nước, chúng ta đến đó nói chuyện thoải mái hơn, và đây cũng là người Việt-nam đầu tiên trực tiếp muốn biết chuyện nầy. Mong rằng ông không phải là người của tòa Đại-sứ Việt-nam, phỏng vấn, ghi âm lén rồi tráo trở chỉnh sửa, viết lại… trái với trung thực rồi họ cho là đài France 3 tuyên truyền, hư cấu, giàn dựng… Chuyện của tôi là chuyện của tôi, chỉ vậy thôi.

Hai người đi vào một quán nước gần kế lối ra của hầm xe điện ngầm. Thời tiết đang vào cuối tháng tư nhưng vẫn còn se lạnh, bà chọn một bàn bên ngoài quán và nói với Quốc:

  • Chắc là hôm nay tôi sẽ về nhà trễ, mẹ tôi sẽ phải đi tìm đón về, ngồi bên ngoài để bà dễ tìm thấy, trời còn lạnh, nếu ngồi bên trong thì ấm hơn. Tôi vẫn có thói quen, những chiều tối không việc gì làm, ở nhà buồn lắm hay ra ngồi đây uống cà-phê nhìn người qua lại, về nhà trễ, bà cụ đi tìm đón về… lại nghe những lời trách hàm chứa yêu thương… đã trở thành thói quen không bỏ được. Nhà cũng gần đây nhưng cũng tội cho bà cụ, vào mùa đông, khi có tuyết rơi, bà cũng đội tuyết đi tìm đứa con tàn tật nầy !

Hai tách cà-phê được mang đến, bà đưa tay phải lấy viên đường. Quốc nhìn thấy bàn tay của bà bị co quắp trừ ngón cái và ngón trỏ còn cử động được, ba ngón còn lại áp chặt vào lòng bàn tay. Bà cầm muỗng khuấy tách cà-phê nhẹ nhàng và rất bình thường, không vướng víu… Quốc thấy lòng dâng lên nỗi ái-ngại khi vừa khám phá thêm bàn tay của bà, Quốc quên đi ly cà-phê của mình… đến khi cà-phê được nhấm nháp rồi để xuống bàn, Quốc đang tìm lời để vào câu chuyện thì bà nói như để nhắc Quốc:
– Không biết tôi phải gọi ông là gì đây ? Còn tên tôi thì ông đã biết rồi, trên đài truyền-hình France 3, nay giới thiệu thì quá trễ. Khỏi cần lặp lại phải không ông ?

Bà cười vui vẻ, tự nhiên. Quốc nhận ra sự vụng về của mình, ấp-úng trả lời:

  • Được gặp bà hôm nay, lòng tôi phấn khởi vô cùng, nên quên giới thiệu tên, mong bà thông cảm. Xin bà gọi tôi là Nguyễn… Nguyễn-minh Quốc.
  • Việt-nam mình sao nhiều Nguyễn thế ! Đi đâu trên xứ Tây nầy cũng gặp Nguyễn. Bà cười, hai mắt nhíu lại nhìn Quốc, tay bị tật cầm chiếc muỗng gõ nhẹ vào thành miệng tách cà-phê.

Quốc vui theo cái vui của bà, đề cập thẳng vào chuyện:

  • Bà Trần có thể kể cho tôi câu chuyện về trường hợp nào đưa bà vào việc làm ăn xin để có tiền giúp cho Hội Từ Thiện ?

Bà trầm ngâm một chốc rồi bắt đầu câu chuyện:

  • Tôi rời Việt-nam vào năm tôi được sáu tuổi vì lý do thương tật của tôi. Vào thời đó Việt-nam đang có chiến tranh và tôi cũng là một nạn-nhân của chiến tranh. Tôi là nạn nhân của chiến-tranh, nhưng bị thương tật do bị tra-tấn, không phải do bom đạn. Lúc đó ba tôi lái xe cho bịnh-viện Grall của Pháp ở Sài-gòn, trong khi mẹ tôi và tôi sống ở quê nhà, thị trấn Vĩnh-điện, miền trung Việt-nam, chí cách xa thành phố cổ Hội An không tới mười cây số. Mẹ tôi có một tủ kính nhỏ buôn bán vòng vàng trong chợ. Buổi sáng tôi theo mẹ ra chợ, buổi chiều tan chợ, theo mẹ về nhà. Buổi tối, thỉnh-thoảng mẹ tôi dạy tôi đọc và tập viết chữ a, b,c,đ. Tôi chưa đến trường, mẹ nói tôi còn quá nhỏ, chưa đủ tuổi đến trường. Đêm nằm ngủ với mẹ, tôi nghe có tiêng ì-ầm từ xa xa vọng vào nhà, tôi hỏi mẹ đó là tiếng gì thì nghe mẹ thở dài, giọng buồn buồn trả lời:
  • Đó là tiếng súng đại-bác, chắc là hai bên đang đánh nhau một nơi nào đó, chiến tranh ngày một rộng ra, dân ở quê bắt đầu khổ rồi, buôn bán ế-ẩm.

Nói xong, mẹ ôm tôi vào lòng, im lặng, tôi nghe tiếng đập của tim mẹ.

“ Rồi một đêm đang ngủ, tôi giật mình thức dậy vì nghe tiếng súng nổ “cắc bùm”,..”tạch… tạch”, tiếng “chéo chéo” của đạn bay… tiếng gà kêu “cục tác” “cục cục” tiếng heo kêu “ụt…ụt”, có tiếng trẻ con khóc ré lên có lẽ vì sợ… rồi có tiếng ai đó nói to: ” Chắc mấy Ổng đang đánh úp quận. Ở đâu mà mấy Ổng về tứ bề, đông thiệt là đông ?”.

Mẹ lôi tôi ra khỏi giường, đẩy tôi xuống bên dưới giường, mẹ nằm bên cạnh. Người mẹ tôi run rẩy, tôi cũng run như mẹ.

Trước đấy không lâu, nghe lời khuyên của bạn bè trong chợ, mẹ đã nhờ người ta mua bao cát nhỏ chất quanh giường ngủ thay vì đào hầm để tránh đạn… nay hai mẹ con tôi có chỗ nằm để tránh đạn.

Rồi tiếng súng im bặt. Tiếng chân người chạy vội vã, tiếng đập cửa liên hồi, tiếng gọi tên người nầy rồi người khác… tiếng năn nỉ, ấm-ức khóc… Lại một tiếng la to: ” bắn “…một tiếng súng nổ… tiếng đàn bà con nít khóc ré lên nghe thảm thiết. Mẹ ôm chặt tôi rồi. Mẹ kéo nhẹ tôi ra khỏi gầm giường vừa lúc có tiếng đập cửa ầm ầm, tiếng chân đá vào cửa rầm rầm… Có tiếng ra lệnh: “Mở cửa ! mở cửa ! Nếu không tuân lệnh, quân Giải-phóng sẽ phá cửa… nếu không mở, chống đối, quân Giải phóng sẽ bắn tại chỗ ! ”

Mẹ khóc, run lẩy bẩy tiến về phía cửa, trả lời lập cập:

  • Tôi mở… tôi mở… nhà không có đàn ông, con trai, chỉ có hai mẹ con tôi là đàn bà con gái.!

Cửa mở, ánh sáng tràn vào. Tôi nhìn thấy có mấy người ùa vào nhà. Mẹ tôi co rúm người lại. Những người nầy có mang súng chạy tìm kiếm, lục lạo khắp nơi trong nhà, họ nhìn xuống hầm giường mẹ con tôi ngủ và hét lên: “Có còn ai trốn trong đó không thì ra ngay, bắt được quân Giải phóng sẽ không tha!”

Áo quần họ mặc không giống như áo quần quân lính Quốc gia ở quận. Người mặc quần ngắn, kẻ mặc quần dài, áo tay ngắn, tay dài. Người đi chân không, người mang dép vỏ lốp xe. Đàn ông mang súng, con gái có nguời cầm gậy, có người tay không.

Sau khi lục soát nhà xong, một người trong toán lục soát tiến ra cửa nói lớn:

  • Báo cáo đồng chí, đã lục soát xong, không có gì khả nghi.

Một người đi vào. Lưng có đeo một súng ngắn. Tôi nhận ra ngay là anh Kéo vì anh mặc cái quần kaki đen có cái lỗ bị cháy nơi đầu gối. Cái quần kaki đen nầy ba tôi mua ở Sài-gòn tặng anh Kéo nhân dịp về ăn Tết với gia-đình hơn một năm trước đây mặc dầu anh đội cái mũ tai bèo che phủ hơn nửa phần mặt. Cái lỗ bị rách của cái quần nơi đầu gối là do anh Kéo tạo ra một phần, một phần do tôi. Ngày hôm đó mồng bốn tết mẹ mở cửa hàng, sau tết nên có không ít người đến mua bán. Anh Kéo làm việc cho tiệm vàng của mẹ. Anh thử vàng thật hay giả, anh làm nhẫn, làm giây chuyền. 

Hôm đó khách hơi đông, anh Kéo quên tắt lửa ống hàn xì khi anh đang trao đổi chuyện với khách hàng, vô-ý, mỏ hàn xì làm quần anh bị cháy thủng một lỗ nơi đầu gối, cái quần kaki đen ba tôi mua tặng mặc dịp tết. Khi không còn khách hàng, tôi tinh-nghịch cho ngón tay trỏ vào cái lỗ bị cháy của ống quần kéo mạnh tay, cái lỗ bị cháy rách rộng ra, anh Kéo không nói gì, chỉ cúi xuống vuốt vuốt chỗ bị thủng rách. Nhưng tôi bị mẹ phát cho mấy bàn tay vào mông vì cái tội tinh-nghịch.

Mặt trời đã mọc. Anh Kéo lôi mẹ vào góc nhà, anh rút khẩu súng đeo bên hông dí vào trán mẹ. Mẹ tựa lưng vào tường, người khụy xuống nhưng đứng vững bằng hai tay chống trên hai đầu gối. Miệng mẹ hả ra, hai mắt mở to, đầy nước mắt. Anh Kéo hỏi lớn:

  • Vàng để đâu, đem hết ra đây đóng góp cho Mặt-Trận.

Mẹ ngồi bệt xuống đất, hai tay chấp lại, vừa vái anh Kéo liên hồi vừa chỉ cái bình hoa cắm hoa giấy trên bàn thờ, nói không thành tiếng:

  • Có bao nhiêu tôi giấu hết trong cái bình hoa đó, lạy ông, ông lấy hết đi và tha cho hai mẹ con tôi.

Lúc anh Kéo đi đến bàn thờ cầm cái bình hoa lên, vứt những bông hoa giấy rồi trút hết những vòng vàng trong bình xuống mặt bàn thờ, tôi thấy hai mắt anh sáng lên, mặt mất dần vẻ hung ác. Trong lúc anh Kéo đang lấy những chiếc nhẫn vàng đeo vào những ngón tay, tôi bò đến ngồi bên cạnh mẹ, khóc ấm-ức.

Khi anh Kéo lấy hết vàng trên bàn, anh quay lại đứng trước mẹ, lúc nầy mặt anh trở lại hung dữ như trước.

Anh dí mũi súng vào trán mẹ hét lên:

  • Vàng còn dấu nơi nào nữa hãy chỉ mau, nếu còn dấu diếm Cách-mạng sẽ không tha chết đâu !

Mẹ lại khóc, lại chấp tay vái lạy anh Kéo. Lần nầy mẹ quỳ hai gối, đầu rạp xuống trước chân anh Kéo, mẹ nói đứt từng hơi một:

  • Ông biết rồi mà, trước đây ông làm việc với tôi, ông biết tôi chỉ có vốn liếng ba lượng vàng, làm thành mẫu mà bày trong tủ kiếng. Khi bán gần hết tôi phải vào Hội-An mua thêm vàng cho đủ số vốn ba lượng. Nay còn bấy nhiêu đã chỉ cho ông rồi đó, ông đã lấy hết rồi, đâu còn mô nữa mà giấu.

Anh Kéo ra dấu tay kêu hai người cùng trong nhóm rồi ra lệnh:

  • Hãy trói con mẹ nầy lại hỏi còn vàng giấu đâu, nó ngoan cố, thay mặt chinh quyền Cách-mạng bắn bỏ.

Tôi nghe nói bắn chết mẹ, tôi vùng đứng lên chạy đến ôm cánh tay anh Kéo, nước mắt chan hòa, tôi xin anh Kéo tha cho mẹ, đừng bắn mẹ. Anh Kéo vung tay thật mạnh làm tôi té nhào xuống đất. Anh ra lệnh:

  • Các đồng chí cột chân con nhỏ nầy lại treo lên sà nhà để xem mẹ nó còn ngoan cố tới đâu, còn giấu vàng mà không chịu khai báo.

Tôi bị hai người đè xuống nền đất, họ cột một chân của tôi rồi kéo lên treo lơ lững giữa nhà. Tôi vùng vẫy, kêu la trong sự đau đớn. Mẹ nằm co rúm trên nền nhà, dường như sự sợ hãi chen lẫn đau đớn tột cùng làm mẹ mất trí, mẹ lảm nhảm:

  • Anh làm cho tôi, anh biết mà, vốn liếng của tôi chỉ có ba lượng làm mẫu cho khách lựa chọn… khi gần hết hàng… phải vào Hội-an mua thêm vàng cho đủ ba lượng… nay anh làm Cách-mạng, anh lấy hết rồi… còn đâu nữa mà giấu ! Anh tha cho con tôi, nó còn nhỏ, nó có biết gì đâu ! .

Tôi nghe có tiếng họ nói với nhau:

  • Con mẹ nầy còn ngoan cố, không nên tha cho nó, các đồng chí đồng ý không ?
  • Đồng-ý… đồng-ý !

Cái chân bị cột của tôi càng lúc càng làm tôi đau thêm. Tiếng đồng-ý, đồng-ý làm tôi khiếp người. Đến một lúc tôi nghe từ cái chân bị cột căng đến tột cùng, tôi nghe từ khớp xương mông phát ra một âm thanh nhu một cành cây khô có ai dẫm lên làm gãy, tôi hét lên và không còn nghe biết gì quanh tôi.

Rồi tôi nghe có tiếng gọi nhau, tiếng chân chạy rầm rập, tiếng súng nổ thưa thớt, tiếng trẻ con gọi cha, gọi mẹ, gọi anh, gọi chị. Tiếng khóc rưng-rức âm độ khác nhau trong cả khu xóm. Tôi mở mắt nhìn quanh nhà, duy nhất chỉ còn mẹ đang đứng trên ghế, nâng người tôi lên, với tư thế nầy tôi cảm thấy chân bị trói của tôi bớt đau một chút. Mẹ tìm cách mở giây đỡ tôi xuống đất không được, mẹ đứng như vậy vừa nâng người tôi vừa ôm tôi vào ngực, áp mặt vào thân tôi. Hơi thở của mẹ dồn dập, nóng hổi, thổn thức. Toàn thân tôi, tay chân tê lạnh, chỉ có đầu và mặt tôi nóng hừng hực, hai mắt tôi như có những ngôi sao nằm bên trong.

Cả khu xóm lại yên-lặng… Tiếng một ai đó nói lớn như muốn cho mọi người cùng nghe:

  • Chúng nó rút đi rồi. Lính Quốc-gia từ Đà-nẵng kéo vô, từ Hội-an đổ xuống đông lắm.

Có tiếng vỗ tay rời rạc, có tiếng nói với nhau mang âm hưởng vui mừng và bình tĩnh hơn.

Mẹ thở ra một hơi dài thật mạnh, rồi kêu lớn :

  • Bà con ơi, có ai đó cứu con tôi với… không thì nó chết mất. Bà con ơi, xin cứu con tôi…

Tiêng kêu cứu của mẹ như muốn làm vỡ tung ngôi nhà mái tôn. Nhiều người chạy đến, những ông bà lớn tuổi và con nít. Mấy ông mấy bà tìm cách tháo giây trói không được. Họ dùng dao cắt đứt giây, tôi rơi xuống. Mẹ và mấy ông mấy bà cố đỡ tôi cho khỏi rơi xuống đất, nhưng đà rơi và sức nặng của cơ thể tôi đã không giữ lại được giữa những bàn tay. Tôi rơi xuống nền đất, mẹ ngã trên người tôi vì cố giữ tôi trên tay.

Tôi hét lên… và không còn biết gì nữa.

Chị Thérèse nói tiếp, giọng nhẫn nhục:

  • Khi tôi tỉnh lại, mẹ đang ngồi bên tôi, mệt mỏi và buồn rầu. Mẹ cười, hai môi như bị méo, để bàn tay lên trán tôi, mẹ hỏi giọng nghẹn ngào:
  • Con tỉnh lại rồi, con còn bị đau nhiều không ? Con ráng chịu đựng rồi sẽ khỏi, con của mẹ !
    “ Tôi cảm thấy một nửa thân tôi và toàn chân bên trái bị bó cứng, bàn tay bên phải cũng bị bó cứng, tôi không cựa quậy được. Toàn thân tôi còn đau đớn nhưng tôi cảm thấy chịu đựng được nên gật đầu như trả lời cho mẹ tôi rằng không còn đau nhiều, tôi muốn nhìn thấy mẹ an-tâm. 
  • Tôi được điều trị thương tật ở bịnh-viện Hội-an. Chân phải của tôi bị trật xương khớp háng, các mạch máu không dẫn máu đến được nên toàn chân phải bị chết. Bàn tay phải của tôi bị gãy mấy ngón tay, vì khi được cắt giây bị treo trên sà nhà rơi xuống, bàn tay tôi chống đất trước. Hội đồng bác sĩ của bịnh-viện không chấp thuận đề nghị của bác sĩ điều trị cắt một phần chân của tôi vì sẽ nguy hiểm đến tính mạng. Ba tháng sau tôi được xuất viện, chân tôi không duỗi thẳng được, vẫn cong, nên tôi phải dùng nạng. Ba ngón tay của bàn tay phải bị gãy, khép vào lòng bàn tay không cử động được. Mẹ bán nhà, hai mẹ con vào Sài-gòn sống với ba. Biết được tình trạng thương tật của tôi, bác sĩ người Pháp giám-đốc bịnh viện Grall cũng là hội-trưởng hội Chữ Thập Đỏ của Pháp tại Việt-nam đã làm thủ tục đưa tôi qua Pháp để được tiếp tục chữa trị. Một gia-đình người Pháp không con nhận bảo trợ cho tôi. Tôi rời Việt-nam năm 1967, vừa đúng sáu tuổi.

Gia-đình người Pháp bảo trợ cho tôi gốc Bồ-đào-Nha rất sùng đạo Thiên-chúa. Chồng làm việc cho một hãng bào chế thuốc. Vợ là y-tá điều dưỡng của một bịnh-viện. Gia-đình cư ngụ vùng Bắc thành-phố Paris.

Một tuần có hai ngày tôi được xe bịnh-viện đón đưa đến trung tâm Phục hồi Chức năng để được săn sóc thương tật. Những ngày còn lại trong tuần tôi cũng được xe đưa đón đi học tại một trường dành cho trẻ em khuyết-tật.

Mặc dầu được chữa trị bằng phương tiện y-khoa tân-tiến vào thời đó, thương tật của tôi không trở lại bình thường… và tôi trở thành khuyết tật vĩnh viễn. Gia-đình bảo trợ tôi không muốn tôi trở lại Viêt-nam, làm thủ-tục xin nhận tôi làm con với sự đồng ý của ba mẹ tôi. Tôi tiếp-tục được đi học chữ tại trường cho người khuyết- tật đến hết chương-trình trung-học. Cuối tuần hay những ngày nghỉ lễ, tôi phụ giúp cho chi hội Chữ-thập-Đỏ địa phương, làm nhiệm vụ tiếp nhận tặng phẩm và tiền bạc của những người hảo-tâm đem đến ủng hộ cho hội hoặc đôi khi lập thành nhóm đi lạc-quyên ngoài đường phố hay tại các trung-tâm thương mại lớn.

Năm 1975, tôi đang chuẩn bị vào trung-học đệ nhị cấp thì tại Việt-nam chính quyền Cộng sản Miền Bắc đánh chiếm và cai-trị Miền Nam. Ba mẹ tôi được sứ-quán Pháp cho phép theo nhân viên người Pháp phục-vụ tại bịnh-viện Grall qua Pháp tị-nạn vì sợ chính quyền mới qui tội làm việc cho ngoại bang. Tôi tiếp tục học hết trung-học, vào đại-học, rồi ra trường đi dạy. Hai người bảo trợ cũng là cha mẹ nuôi tôi sau nầy lần lượt theo hầu Đức chúa trời vì cao tuổi. Ba tôi cũng rời bỏ hai mẹ con tôi sau một cơn bệnh đột-ngột vì tim.

 Năm đó, tôi ba mươi bảy tuổi. Me rời bỏ tỉnh, lên Paris sống chung với tôi. Theo lời trăn trối của ba muốn đem tro cốt về quê nhà, mẹ và tôi quyết định đi về thăm Việt-nam. Sau khi tro cốt của ba được được gởi trong chùa ở Hội-an và vài ngày thăm viếng bạn bè quen biết, mẹ và tôi trở ra Vĩnh-Điện thăm làng xóm cũ. Tôi không còn ghi nhớ gì nhiều khung cảnh ở đây vì đã rời gần ba mươi năm trước. Chỉ nghe người thân quen của mẹ nhắc lại chuyện giặc giã ba mươi năm trước tấn công và chiếm đóng thị-xã và tôi là một phần nhỏ trong những tai u xóm cũ lên đường vào Sai-gòn trở lại Pháp, mẹ mời vài người thân quen ngày trước cùng buôn bán trong chợ cạnh tủ vàng của mẹ, tham dự một bữa cơm thân mật tại một nhà hàng nhỏ. Đang lúc ăn và chuyện trò vui vẻ thì bỗng dưng mọi người ngừng nói. Một ông bác hỏi mẹ:

  • Thím Ba có nhận người nầy là ai không.? Ông nhìn về hướng cửa vào nhà hàng ăn. Tôi và mẹ nhìn theo hướng nhìn của ông… Một ông già chống nạng cụt một chân, hai mắt bị mù, được một cô gái có cổ nghiêng qua một bên, mặt hướng lên trời dẫn đi. Hai người tiến gần đến bàn ăn của chúng tôi. Họ đang đi xin ăn.

Mẹ tôi lắc đầu trả lời bác, nói “không biết”.

  • Thằng Kéo mà thím không nhận ra sao, ngày trước nó là thợ làm vàng cho thím đó ? Ông bác nói với mẹ.

Mẹ mở to mắt, miệng hả ra, rồi nhắm mắt lại thở ra, khi nhận ra tên nguời làm hồi truớc. Tôi thấy toàn thân cứng lạnh, sợ hãi khi nhìn lại kẻ đã cột treo mình lên sà nhà để tra khảo mẹ nơi dấu vàng mấy chục năm trước. Ông bác kể:

  • Sau cái năm nó kéo du-kích về đánh chiếm Vĩnh-Điện mình một đêm, một ngày, thì thị xã được lính Quốc-gia chiếm lại bọn nó rút về Gò-nổi, bị máy bay Quốc-gia dập bom banh càng, nó mất một chân… Sau chiến tranh, chính-quyền mới cho làm khóm trưởng đâu bên Gò-nổi, một đêm tối, sau khi đi vận động nông-dân vào họp tác-xã nông- nghiêp, trên đường về, nó bị mấy người lạ mặt chận lại đánh bị thuơng nặng, làm mù hai mắt, rôi trói lại bỏ trong ruộng dâu. Đứa con gái dẫn nó đi ăn xin là con của nó, khi sinh ra đã bị tật như vậy.”

Tôi nhìn cô gái, mặt cứ ngữa nhìn lên trời. Tôi chợt nhớ đến cái đêm tôi bị trói, treo lên sà nhà, mặt mẹ lúc nào cũng ngước lên nhìn tôi, đau đớn, sợ hãi và chan hòa nước mắt. Còn cô gái nầy suốt đời phải ngước mặt nhìn trời là tại làm sao vậy ? Trần gian nầy đang quá khổ đau nên không dám nhìn xuống ? Cầu xin ơn trên tha lỗi cho cha mình đã một thời gieo rắc tang thương cho đồng bào mình ? Nếu đúng vậy thì tội tình nầy đã đến với cô một cách bất công và cay nghiệt ! Lòng tôi ái-ngại khi nhìn thấy cô.

Ông bác kể tiếp:

  • Chính-quyền địa-phương xếp nó vào diện thương binh liệt-sĩ, được trợ cấp, nhưng không đủ sống, dân địa-phương xa lánh vì sự tàn bạo nó đã gây ra trước đây, rồi vợ bỏ, để lại đứa con rồi đi biệt xứ. Hàng ngày hai cha con rời làng vào đây xin ăn.

Khi hai người ăn xin đến gần bàn ăn, mẹ tự nhiên đứng lên vội vàng đi vào nhà vệ-sinh. Tôi cũng đứng lên, đi “lọc cọc” theo mẹ. Hai mẹ con đứng yên-lặng trong nhà vệ-sinh, không trao đổi với nhau một lời, chỉ nhìn nhau… Khi hai mẹ con trở ra lại bàn ăn, hai người ăn xin đã đi qua những bàn thực khách khác.

Bữa cơm thân mật chấm dứt, mọi người chia tay với những chúc lành đẹp nhất. Dưới ánh sáng vàng vọt của những cột điện ven đường, hai người ăn xin đang đi phía trước, dưới những hàng cây khẳng khiu, thưa lá. Khi vượt qua hai người ăn xin, tôi dừng lại, cho tay vào túi xách lấy ra mấy tờ bạc dúi vào tay cô gái rồi theo mẹ băng qua đường một cách vội vàng. Trong đêm tối yên tĩnh, tôi nghe rõ tiếng nạng “cộp… cộp “của anh Kéo vang lên chen cùng tiêng nạng “cộp… cộp” của tôi nghe buồn da diết.

Trong những ngày chờ đợi chuyến bay về lại Pháp tại Sài-gòn, một buổi sáng, mẹ và tôi dùng điểm tâm tại một tiệm phở. Khi hai mẹ con tôi vừa ăn xong thì một người đàn ông không còn chân lết đến bên cạnh nhìn thẳng vào hai mẹ con tôi, đưa một một túi nhựa ra trước mặt, hỏi:

  • Hai bà ăn xong rồi, phần dư còn lại không ăn hết, xin cho vào túi nhựa của tôi.

Mẹ e-ngại trút phần ăn còn lại của hai tô phở vào túi nhựa với nét mặt đầy xúc động, rồi lặng lẽ lấy mấy tờ bạc để vào tay ông, mẹ nói:

  • Chú giữ lấy tiền nầy để mua thêm thứ gì để ăn.

Người đàn ông cầm tiền, cứ chăm chăm nhìn mặt mẹ rồi lết ra bên ngoài tiệm phở. Bên ngoài có một đám con nít, tay xách thùng đánh giày, tay cầm vé số, tay cầm lon xin tiền, tay cầm túi nhựa xin thức ăn thừa, muốn vào tiệm nhưng bị người quản lý ngăn chận. Khi mẹ và tôi bước ra khỏi tiệm phở, lũ con nít ùa tới vây quanh, mỗi đứa nói một câu lao nhao, mẹ đưa tay nhẹ nhàng gạt chúng qua một bên để có lối đi cho hai mẹ con. Giữa lúc đó, từ trong một góc, người ăn xin cụt hai chân lết lần về phía chúng tôi, hỏi lớn:

  • Có phải bà là thím Ba ngày xưa có tủ vàng trong chợ Vĩnh-Điện không ? Cháu nhìn không sai đâu. Hồi đó thím nổi tiếng khu Vĩnh-điện, mọi người đều nói như vậy. Mắt thím đẹp, ai cũng biết. Con Chút, con gái của thím cũng có cặp mắt giống thím như vậy. Cô nầy chắc là con Chút ngày xưa, bị mấy thằng trong rừng ra quậy phá phố Vĩnh-Điện bắt treo lên khảo vàng nhà thím, làm nó bị thương, phải không thím ?

Ông vừa nói vừa chỉ tay vào tôi.

Tôi ngạc nhiên, cố tìm trong trí nhớ người nầy là ai… Thấy mẹ do dự một lúc rồi gật đầu xác nhận. Mẹ lại hỏi;

  • Tôi nay lớn tuổi rồi, trí nhớ không còn như trước, không nhớ chú là ai vậy ?.

Người ăn xin cụt hai chân nói giọng vui mừng:

  • Cháu là con ông Tư Cải cùng xóm với thím đó, cháu là thằng Lự đây. Hồi thằng Kéo đem du-kích của nó đánh Vĩnh-Điện, nó bắt ông già cháu đi theo vì ông không chịu đóng thuế nông-hội cho chúng. Mấy tháng sau dân chúng vớt được xác ông già cháu nổi trên bến đò Hoa-trà. Đêm đó thằng Kéo vào nhà thím treo con Chút lên kèo nhà để khảo vàng, chuyện ấy ai cũng biết.

Mẹ thừ người ra, mặt đượm nét sầu đau. Còn tôi, khi được nghe nhắc đến tên Chút, cái tên mà ba mươi năm nay không còn ai nhắc đến, đã vào trong quên lãng của mọi người, nay được nghe lại, tôi bồi hồi xúc-động. Ký ức tuổi thơ của tôi chợt thức giấc: Thằng Lự đây sao ? Hồi đó hai đứa cùng lũ bạn trong xóm, suốt ngày lêu-lỗng ngoài xóm, chơi lò-cò, chơi nhảy dây, chơi u, chơi ném lon… thằng Lự khỏe mạnh, thường hay bênh vực tôi mỗi khi bị bọn trẻ khác hiếp đáp !

Tôi đang nghĩ đến ngày xa xưa, thì nghe tiếng mẹ :

  • Tại sao cháu ra nông-nổi tàn tật như thế nầy ?.
  • Năm 1979, cháu bị bắt vào lính, đưa ra Bắc đánh nhau vời Trung-quốc, cháu bị thương cụt hai chân. Đời sống khổ lắm thím, nhà nước trợ cấp nhưng sống vẫn thiếu trước hụt sau… người ta quy kết trước đây ông già cháu có tội với cách mạng vì không nộp thuế nông-hội, nay mặc dầu cháu hy sinh một phần cơ thể cho đất nước, nhưng cháu phải tiếp tục trả cái nợ trước đây của ông già, vì vậy phần trợ cấp thương binh của cháu bị địa phương cắt giảm không đủ vào đâu nên cháu phải xin ăn.

Tôi nhìn thân thể tật nguyền và teo gầy của Lự, nước mắt ứa ra. Tôi bước lần đến bên Lự, buông nạng, quỳ một chân trước Lự, nhìn sững Lự rồi bật khóc như ngày nào bị chúng bạn hiếp-đáp, khóc to lên để Lự chạy đến bênh vực, che chở. Tôi nghe từ phía Lự cũng có tiếng nấc lên, thổn thức. Trong làn nước mắt, tôi thấy tôi đang chạy trốn thật nhanh, đàng sau, Lự đứng giang hai tay như người hiệp-sĩ ngăn cản lũ cướp là đám con nít đưổi theo sau trong khi hơn thua nhau trong một trò chơi giành giựt nhau của trẻ con.

Tôi im-lặng. Lự im-lặng. Mẹ nhẹ nhàng kéo tay tôi đứng dậy. Tôi đứng lên. Lự vẫn ngồi bất động. Chung quanh có nhiều người hiếu kỳ đứng lại nhìn chúng tôi.

Mẹ gọi hai xe xích-lô, mẹ một chiếc, tôi ngồi chung xe với Lự. Trên đường dẫn về nhà Lự, tôi chẳng nhìn thấy gì ngoài những hình ảnh một thời thơ ấu của tôi cuộn chảy về như một dòng sông ký ức. Tôi nhìn thấy một con bé lúc nào cũng được che chở, được binh-vực dù con bé sai quấy, ngay cả khi con bé đó tham lam lấy đồ chơi của người khác làm của mình. Nhưng rồi cũng có lúc con bé trở nên hung dữ, ném dép và đá sỏi vào Lự vì con bé bị ngăn chận không cho leo lên cây hái mấy trái ổi, sợ bị té. Một viên đá đă làm trán Lự chảy máu, Lự kéo áo lau máu, chạy về nhà. 

Con bé chạy theo, Lự khép cửa không cho nó vào nhà, Lự giận, con bé ngồi bên ngoài lo sợ cho vết thương của Lự, khóc ấm ức… Kỷ niệm đang trở về, trong vô thức, tôi đưa bàn tay thương tật sờ lên trán Lự, nơi vết thương của ngày nào… Bỗng nhiên Lự cũng đưa một tay lên vỗ nhẹ vào tay tôi đang dặt trên trán Lự. Lự cười và nói như nói với tôi và như nói với chính mình:

  • Sẹo của vết thương đã phai theo thời gian, nhưng kỷ-niệm về vết thương vẫn nhớ mãi.

Lự nói, mắt vẫn nhìn về phía trước. Lự đã hiểu lòng tôi khi bàn tay tôi để lên trán Lự để nhớ về tháng năm thơ ấu thân yêu. Tôi nhìn Lự, ngầm nói lên lời cảm ơn tình bạn thân ái vẫn còn lại với tháng năm.

Lự sống với gia-đình em gái trong khu ngã tư Bảy Hiền, nơi dân Quảng-nam, vùng Gò-nổi, vốn tiếng tăm với nghề trồng dâu nuôi tằm, dệt Lụa, Thao, Đũi, bỏ xứ vào đây lập nghiệp, tránh chiến-tranh ác-liệt. Vợ chồng em gái Lự làm nghề vệ-sinh, hốt rác trong khu phố, nuôi ba đứa con, thiếu trước hụt sau nên việc ăn uống cá-nhân Lự tự giải quyêt. Lự cần một nơi tránh gió tránh mưa nắng nơi nhà em gái. Tôi rất đau lòng cho cuộc sống của Lự. Có lúc tôi vu-vơ nghĩ quanh: “Cái đêm anh Kéo bắt treo tôi lên sà nhà… Lự lúc đó đang ở đâu mà không xuất hiện cứu tôi ? “. Rồi tôi tự cười mình… ba mươi bảy tuổi rồi… còn nghĩ đến ngày xưa còn bé ! Tiểu hiệp sĩ ngày xưa oai nghi như một thiên-thần, nay thiên thần đã gãy cánh !

Mẹ đồng-ý xin hoãn chuyến bay về lại Pháp ba ngày theo đề nghị của tôi. Tôi có thời gian giúp Lự khám sức khỏe toàn diện cũng như đi mua cho Lự một chiếc xe lăn. Mẹ tôi giúp Lự và gia-đình em gái Lự một số tiền để xoay sở sinh sống. Có một điều Lự phàn nàn với tôi là tại sao không gọi Kéo là tên Kéo, thằng Kéo mà gọi là anh Kéo, nó là tên ác ôn mà. Tôi trả lời một cách thản nhiên:

  • Đó chỉ là thói quen thôi, dù gọi tên Kéo, thằng Kéo hay là gì gì đi nữa thì Kéo vẫn là kẻ độc ác, đáng nguyền rủa.

Sau chuyến về Viêt-nam rồi trở lại Paris, sức khỏe của mẹ bắt đầu sa sút. Cùng lúc trường học giảm tối đa giáo viên giảng dạy vì số lượng học sinh ngày một giảm vì người Pháp không muốn sinh con. Lợi dụng bị thuyên chuyển làm việc xa nhà, thân tàn tật di chuyển khó khăn, tôi xin nghỉ việc để có thời gian lo săn sóc mẹ. Thời gian rảnh rỗi, tôi vẫn tiếp tục làm việc thiện nguyện cho Hội Chữ Thập Đỏ. Rồi chiến tranh ở Bắc Phi, chiến tranh ở Trung-đông liên tiếp xẩy ra, tôi có dịp theo hội cứu giúp trong các trại tỵ nạn nơi xẩy ra chiến cuộc. Sự tàn phá, chết chóc do chiến-tranh tạo ra gây cho tôi kiệt lực. Người ta nhân danh chiến tranh để giải phóng con người ra khỏi đói nghèo và áp-bức, nhưng sau chiến-tranh, đói nghèo và áp bức càng gia-tăng do hậu quả cuộc chiến để lại và lòng tham muốn quyền lực chiếm đoạt và sự trả thù của bên thắng cuộc đối với kẻ thua cuộc.

Cường-độ của độc-ác, bóc lột, đói nghèo gia tăng thì lòng nhân-đạo giúp đỡ nhau đi xuống. Chiến-tranh ở Việt-nam có “Kéo” ác-độc chủ động tham dự, “Lự“ bị cưỡng bách, có “Chút” là tôi, một thường dân vô-tội, thì các nạn nhân chiến-tranh ở Trung-đông, Bắc-Phi cũng không khác. Tôi nói lòng nhân đạo đi xuống là muốn nói lòng nhân đạo tự nguyện đối với nạn-nhân của mọi biến cố xa gần, trực-tiếp hay gián-tiếp đã trở nên cằn cỗi… nên một số anh chị em trong hội tự chọn cho mình một phương cách hữu-hiệu, an toàn để tạo thêm nguồn tài-chánh cho trung ương, và tôi đã chọn là mỗi tuần tôi để ra ba buổi chiều xin tiền trong hầm xe điện ngầm.

 Lúc đầu chuyện không đơn giản, vì anh chị em trong nhóm thấy quyết-định của tôi có vẻ sẽ gây bất mãn và gây dị nghị cho tổ chức, nhưng tôi dã thuyết phục được họ vì tôi làm không nhân danh hội, chỉ có tính cách cá-nhân. Những tuần lễ đầu tiên, khách qua lại trong đường hầm xe điện ngầm ném cho tôi những cái nhíu mày tỏ vẻ bực bội. Tôi biết, một người khuyết tật ở xứ Pháp nầy sẽ được xã-hội bảo bọc chu toàn nên xin ăn là điều sĩ nhục cho đất nước. Tôi để hộp xin tiền trước mặt, ngồi im, hai mắt nhắm lại. Một ngày qua đi, ba ngày trong tuần qua đi, không có một xu nào được ném vào hộp.

 Qua tuần lễ thứ hai, lác đác tôi nghe có tiếng tiền kim loại được ném vào hộp… Rồi một tuần sau đó, niềm vui và tin tưởng đến với tôi. Một nhóm học trò cũ của tôi được cô thầy giáo hướng dẫn du hành nghiên cứu thực tế bên ngoài xã-hội để áp-dụng cho một chương trình học trong lớp đi ngang qua chỗ tôi ngồi xin. Có lẽ do sự giải thích của cô thầy giáo đồng nghiệp cũ của tôi về việc làm của tôi nên các em vây quanh tôi vỗ tay reo hò, nhiều em bỏ tiền vào hộp. Có em giải thích việc làm của tôi với khách qua lại dừng chân vì hiếu kỳ, họ cũng bỏ tiền vào hộp. Hôm đó, lần đầu tiên trong những ngày bắt đầu xin tiền, tôi nhận được khá nhiều tiền, lòng thật vui, đầy phấn khởi. Cũng có lẽ sau ngày hôm đó, những cái nhìn của khách qua lại ném cho có nhiều thiện cảm hơn, có khách dừng chân, nhẹ nhàng bỏ những tờ giấy bạc hay những đồng tiền bằng kim loại vào hộp, không quên kèm thêm một nụ cười. Hạnh-phúc nhất đến với tôi là sau một năm thực-hiên việc xin tiền, đài truyền hình France 3 đưa tin-tức công việc của tôi cho mọi người biết. Có một câu hỏi mà câu trả lời tôi thích nhất từ đó cho tới nay.

Người ta hỏi:

  • Bà là người Pháp, gốc Việt-nam, có phải việc làm của bà nhằm mục-đích có tiền góp cho hội Chữ-Thập-Đỏ dành riêng giúp cho những nhu cầu cần-thiết hàn gắn những vết thương do thiên tai tạo ra bên Việt-nam ? .
  • Thưa không phải là như vậy. Việc tôi làm là để đóng góp tài chánh cho hội Chữ-Thập-Đỏ. Sự đóng góp của tôi không bằng một hạt cát trong đại dương mênh-mông. Việc phân phối giúp đỡ theo nhu cầu ở một nơi nào đó là do Hội nghiên-cứu và quyết- định. Hội Chữ-Thập-Đỏ làm việc cho toàn thế-giới, không riêng cho một nước nào. Ngay tại nước Pháp của chúng ta, cũng có những lúc, có những nơi cần có sự góp sức của hội Chữ-Thập-Đỏ.

Tôi nhấp cạn phần còn lại của tách cà-phê, lòng cảm thấy nhói vì câu chuyện.

Nguyễn Đại Thuật




CAO MỴ NHÂN – DẤU LỆ THƠ XƯA   

DẤU LỆ THƠ XƯA.      CAO MỴ NHÂN 

Nhân chuyện Nữ Sĩ MINH THUÝ THÀNH NỘI ghi cho CAO MỴ NHÂN tôi dòng chữ  ( M T kính họa theo chị Mỵ  “ chị ơi , đầu em bị cóng về thơ Đường rồi, chẳng thấy hay ho gì hết “  ) . 

Hôm nay Cao Mỵ Nhân tôi xin phép quý Tao Nhân Mặc Khách đã và đang hiện diện ở Thi Đàn LÃNG PHONG do Thi Sĩ LÝ ĐỨC QUỲNH chủ biên Xướng Hoạ thể thơ Đường Luật , để cũng như bày tỏ một quan niệm qua những nhận định tình cờ mà tôi may mắn được nghe từ  các vị Thi Sĩ lừng danh trong xã hội Thơ Ca VN chung chung , kể từ  “ tiền chiến “ tới nay , về … luật Đường Thi biến diễn Thơ Mới , có vẻ gần gụi tâm tình dân tộc ta hơn .

Song,  trước hết tôi phải giới thiệu Cao Mỵ Nhân tôi ở cái lứa tuổi lưng chừng hay xa lạ từ thời gian tới nơi chốn đối với quý vị sẽ nêu ra : nói đôi chút về chuyện làm thơ ĐƯỜNG LUẬT .

Và tôi cũng xin thưa hoàn toàn không đề cập tới “ kỹ thuật, nghệ thuật “ hay công thức  ngôn từ để tạo ra bài Đường Thi , vì đó là phạm vi của các Đấng Thi Sĩ , Nhà Thơ như xưa nay đã từng có .

Quý vị sẽ hỏi : “ Thế thì nói gì đây về … Đường luật chứ “.

Vâng , vì muốn chia sẻ với MÌNH THUÝ THÀNH NỘI , một tay Thơ ĐƯỜNG , mà lại “ cóng về thơ Đường, chẳng thấy hay ho gì hết  “.

Hola cách đây mấy mươi năm , MỴ tôi đã thốt ra lời tương tự , nhưng là cảm thấy sợ quá luật thơ Đường , chứ không phải chán nó , Đường thi , đâu. 

Đó là thời đầu thập niên 80 thế kỷ trước , tôi vừa từ trại tù “ cải tạo “ về Saigon .

Cao Mỵ Nhân tôi vốn làm thơ kiểu … bình thường từ khá lâu rồi , đã có mấy tập thơ xuất bản lại cũng từ trước đó cả hai chục năm .

Tôi được quý Nữ Sĩ lão thành trong Thi Đàn QUỲNH DAO mời gia nhập Hội Thơ tên tuổi đó .

4 vị Nữ Sĩ : MỘNG TUYẾT THẤT TIỂU MUỘI , VÂN NƯƠNG, THU NGA và TUỆ MAI thân mật , ưu ái giới thiệu .

Tôi thưa với quý vị đương nêu , rằng tôi không thích và không thể tôn theo Thi luật quá khó khăn , nghiệt ngã , nào bài thơ có 56 chữ mà không được điệp từ , nào chỉ có 8 câu, 7 chữ , 5 vần mà phải nói lên tính chất nhất quán , nội dung rõ ràng, phong phú.

Chưa kể bài thơ phải có 2 cặp đối , và tuân thủ  mỗi câu trong 8 câu đó, phải  đúng dàn bài : Phá , Thừa , 2 Thực hay trạng , 2 Luận , Chuyển , rồi kết , công phu lắm, mệt lắm .

Tôi không muốn gia nhập , hay nếu tham dự hội QUỲNH DAO , thì tôi chỉ làm thơ mới , 4 chữ, 5 chữ, 6 chữ , lục bát , thất ngôn , quá lắm thì song thất lục bát thôi .

Bấy giờ , 1980, quý vị Nữ Sĩ đã ở lứa tuổi cao niên 7, 8 mươi trở lên .

Số quý vị trẻ hơn thì cũng quanh 6 chục .

Lúc đó tôi mới băm mấy , và đã làm thơ từ năm 13 tuổi .

Nữ Sĩ TUỆ MAI đã có 7 tập thơ lưu hành, lại là người phụ nữ được đăng thơ thường xuyên ở báo SÁNG TẠO danh tiếng với các Nhà Thơ tưởng không ai đoạt được chức danh Thi Sĩ của quý vị ấy : THANH TÂM TUYỀN, CUNG TRẦM TƯỞNG, TÔ THUỲ YÊN  vv…

Chị TUỆ MAI  nói với tôi : 

“  MỴ vô QUỲNH DAO đi , làm thơ luật Đường , em sẽ tự đặt mình vào nguyên tắc , tự giữ gìn và học hỏi được phẩm chất quý giá của phụ nữ .

Chị vẫn làm thơ mới, và vẫn làm thơ Đường luật , vui lắm , có khó khăn gì đâu .

Thế là vô hình chung tôi đã thành hội viên của Thi Đàn QUỲNH DAO .

Tôi đã có mặt ở Hội Thơ này , mà đôi khi bạn thơ còn gọi HỘI TRĂNG QUỲNH ,  vì QUỲNH DAO thường hội vào những đêm trăng 16  trước 1975.

Sau 1975, một số hội viên xuất ngoại, một số già cả , bịnh lão, còn lại đa phần là quý bà cao niên , đan cử Niên Trưởng Nữ Sĩ MỘNG TUYẾT , phu nhân của Thi Sĩ quá cố ĐÔNG HỒ .

Do đó, tôi thường lui tới ÚC VIÊN là tư thất của nhị vị Nhà Thơ miền Nam từ trước tiền chiến, nên sau năm 1975, khi biến cố lịch sử VN gọi là thống nhất theo thể chế  XHCN , các Văn Thi Sĩ quen nhau từ tiền chiến như : NGUYỄN TUÂN , XUÂN DIỆU, HUY CẬN, CHẾ LAN VIÊN vv… vô Nam để biết cuộc sống của dân chúng bên này sông BẾN HẢI thế nào, thì đều ghé ÚC VIÊN thăm Nữ Sĩ MỘNG TUYẾT niên trưởng QUỲNH DAO quốc nội của tôi.

Và nhất là các Nữ Thi Sĩ ở miền Bắc xưa, vốn bạn thơ  của chủ nhân ÚC VIÊN , có dịp tới lui trò chuyện với Nữ Sĩ MỘNG TUYẾT , như các bà NGÂN GIANG, ANH THƠ, MAI ĐÌNH , THUỴ AN vv … thì kể như thường xuyên .

Bấy giờ Mỵ tôi  là em út QUỲNH DAO, và cũng là cây gậy của vị Niên Trưởng đã ngoại bát tuẫn , nên không thể vắng mặt trong các buổi hội Thơ , tiếp Tân hoặc tái ngộ của các bậc cao niên ấy .

Tôi muốn kể với quý vị LÃNG PHONG hôm nay , rằng điều nhận xét chung , và gần như  “ nhất quán “ về : Những Nhà Thơ VN chung chung, sau này nổi tiếng nơi các dòng thơ mới, dù ở hoàn cảnh nào, cũng trả lời câu hỏi tình cờ của tôi : 

“  Thế các vị trước tiền chiến, ngoài cụ QUÁCH TẤN ở trong Nam, có vị nào đã hay từng làm thơ Đường Luật không ạ ? “

Lý do tôi nêu câu hỏi, vì quý vị đó đang ngồi nghe hoặc nói Đường Thi mà Hội Thơ QUỲNH DAO chúng tôi chủ trương xướng họa , để nhờ chiêu thơ hư mà thực, giả mà chân  … an ủi, vô về sinh hoạt ngán ngầm , dở dang trong cuộc đổi đời … bi đát ấy .

Không ai suy nghĩ , không ai ngại ngùng, họ khách vãng lai từ miền Bắc vô đều trả lời bình thường, bình thản : 

“ Phần nhiều trước khi làm thơ mới, có xem qua, có thử làm, và cũng đã từng làm đôi bài Đường luật chứ. Cũng từ Đường luật mà bước qua thơ mới dễ dàng , cảm xúc mau mắn, thiết thực, vần điệu hơn … “

Tôi không tin lắm , Nữ Sĩ ANH THƠ , đã từng đoạt giải Thơ của TỰ LỰC VĂN ĐOÀN nói : 

“ Có biết các ông HUY CẬN, CHẾ LAN VIÊN đã từng viết Đường Thi không . “

Và xin lỗi, tôi chỉ là người nghe sao, nhắc lại thôi : “ sau 30 – 4 – 1975, ông Thi Sĩ Đỏ có bài thơ nói về “ Gỡ rối bao xưa “ ( bao cấp ) có tới 4 cặp đối trong bài tạm luật Đường, thì ông này cũng hiểu Đường thi chớ .

Có lẽ đó cũng là bài cuối cùng Thơ TỐ HỮU .

Tuy nhiên phải mở dấu ngoặc là có nhiều vị hỏi tại sao sau 1975, Tố Hữu không làm thơ nữa .

Thì hỏi là trả lời rồi :  “ ông ấy hết nhiệm vụ, chẳng lẽ viết cái lỗi thời của Thơ Đỏ sao ? “ 

Tôi hơi dài dòng là vào thì dài, mà kết luận lại như không nói được hết ý mình,

Tức là những gì mình đã hay đang bước qua, chính là những kinh nghiệm quý giá thâu nhận được, để trải ra phía trước đường trường sinh hoạt nối tiếp , dù trên lãnh vực thi ca hay gì đi nữa .

 Tất nhiên khi không thích, không đúng nữa thì thôi, nhưng đừng tiếc, đừng buồn chi cả, mới là … thăng hoa của tư tưởng , thi phong , thi cốt đặc thù của mỗi nhà thơ … 

Huống chi MÌNH THUÝ THÀNH NỘI  hoa bút ĐƯỜNG THI đã  hảo hạng một thời .

Xin CÁM ƠN QUÝ VỊ đọc , xin bỏ qua sơ xuất của MỴ tôi ở cả nhận định cũng như viết lách .    KÍNH CHÚC VẠN AN.                                

                  CAO MỴ NHÂN