image_pdfimage_print
  • Tin tức

    Nhân lần Lam Phương ra đi, nghĩ về những kẻ viết nhạc bằng máu lệ người Nam

    Dẫn nhập: Trong hơn năm mươi năm (từ 1968) xử dụng chữ nghĩa, tôi hầu như không đề cập đến người và việc của giới ca nhạc, cho dẫu đã tham dự sinh hoạt ca hát trong phong trào Hướng Đạo mà những ca khúc yêu nước, nhạc thanh thiếu niên của thập niên 1940, 1950 là chất men nuôi dưỡng, phát triển, gìn giữ nên tâm chất của bản thân cũng như thế hệ chúng tôi từ năm tháng xa xưa kia cho đến hôm nay. Chỉ một lần duy nhất năm 1972, do thân quen với Trần Thiện Thanh qua những người bạn lính trong đơn vị nhảy dù (điễn hình với Trần D. Phước, Tiểu đoàn 9 Nhảy Dù, danh hiệu truyền tin “Phước Thiện -Tên hai người ghé lại”, tử trận cuối năm 1969 tại Tây Ninh, và lần người niên trưởng Cố Đại Tá Nguyễn Đình Bảo tử trận tại Cao Điểm Charlie, Kontum (12/4/1972), nên mới cộng tác với Nhật Trường thực hiện CD ca nhạc: “Người Ở Lại Charlie” do Trung Tâm Tiếng Hát Đôi Mươi của TTT sản xuất. Năm 2005, tại hải ngoại lập lại thêm một lần cũng với “Người Ở Lại Charlie” trong DVD ASIA 50 kỷ niệm Nhật Trường với lời hát và âm nhạc vĩnh cửu Anh Không Chết Đâu Anh. Sự thiếu vắng “Nhạc Tính” nơi những nội dung sáng tác dài lâu từ 1968 của tôi đã được một người bạn, anh Phg “râu”, (chuyên trình diễn ca nhạc tài tử từ Đà Lạt trước 1975 nay ở San José, California) tinh tế nhận xét và nói lên lời bình phẫm. Và tôi cùng đánh chấp nhập sự thiếu sót nầy với cách giải thích rất nhiều thành thật (cũng có phần hài hước): Đi lính năm 17 tuổi, chỉ có hai cái bằng Nhày Dù và Biệt Động Quân, nên cao lắm là biết violon làn đàn để trên vai (như Hg Th Thao) và guitar thì ôm trong tay (như TTT)! Sự thiếu sót trầm trọng kia sau 1975 khi đi tù mới vỡ ra.. Đêm Giao Thừa 1975 qua 1976 không hẹn mà tất cả trại tù nơi Miền Nam đồng cất tiếng Việt Nam! Việt Nam tên gọi vào đời! Và “Ta như nước dâng dâng hoài không bao giờ tàn…” Cuối cùng dần chuyển qua một cách rất có ý thức.. Cờ bay! Cờ bay… Vừa chiếm lại đêm qua bằng máu Tiếng hát dũng mãnh phơi phới bay cao, vượt qua chấn song sắt trại giam, bất chấp sự đe dọa đòi bắn bỏ của đám vệ binh cộng sản Miền Bắc. Và sau 1976 nơi những trại tù Miền Bắc, hàng ngàn con người đói khổ, tuyệt vọng đã đồng bặt im lặng, nghẹn thở khi nghe âm vọng từ cây đàn tự chế dạo lời hát trầm buồn thăm thăm.. Mẹ ơi! Xuân nầy con không về.. Ôi biết ra thì đã quá muộn! Hóa ra đã quá vô tâm sau bao nhiêu năm trước 1975 người Miền Nam/Người Lình Miền Nam đã được tặng hiến hàng hàng chuỗi minh châu, ngọc kết, được an ủi, nâng đở bởi vô vàn tiếng hát lời ca từ Phạm Duy, Nguyễn Đức Quang, Lê Minh Bằng, Trầm Tử Thiêng, Trịnh Lâm Ngân, Nhật Trường, Duy Khánh, Hoàng Anh, Ngọc Minh.. Và chung cho tất cả là Lam Phương như một ngọn lửa ấm áp mà người nông dân vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long đốt lên trên cánh đồng đất ẩm mùi phù sa trãi dài mênh mông tận chân trời sau mùa mùa lúa mới gặt xong, chất lên những rơm khổng lồ nằm im lặng dưới trăng.. Hò lơ..hò lơ.. Kìa thôn quê dưới trăng vàng bát ngát. Biết ra thì đã quá muộn màng. Xin cho lời Ân Tạ như một cách xin lổi, hàm ân.                          

    Một. Ngày 30 Tháng 4 năm 1975 là một biến cố vô cùng lớn lao đối với tất cả các giai tầng xã hội Nam Việt Nam. Tuy nhiên trong số đông người Việt miền Nam hiện có mặt khắp nơi trên thế giới hôm nay có thể nói văn nghệ sĩ miền Nam là tập thể phải hứng chịu cơn chuyển đổi mạnh mẽ sâu xa nhất. Bởi khả năng nghệ thuật, tri thức nghề nghiệp của họ khó phát triển được nơi xứ lạ mà trở ngại cụ thể trước tiên là không thể nào vượt qua hàng rào ngôn ngữ dù cố gắng cải tiến tới đâu. Điễn hình như bộ môn cải luơng không cách gì chuyển sang tiếng ngoại quốc. Tuy nhiên, tập thể nghệ sĩ người Việt ra đi từ miền Nam vẫn tiếp tục tồn tại và phát triển với những sáng tác của họ trong rất nhiều lãnh vực sau cuộc đổi đời khốc liệt 1975. Cụ thể là Nhạc Sĩ Lam Phương với những khúc hát đã một thời vang dội khắp miền Nam mà dẫu sau 45 năm (từ 1975), tiếng nhạc của người nghệ sĩ thuần hậu chân chính nầy vẫn tiếp tục tồn tại như thanh âm bất diệt của đất, nước, con người Miền Việt dù cách biệt bao xa, dù đã bao lâu.

    Cần trở lại từ đầu, ngày còn rất trẻ khi chưa đến 20 tuổi, Lam Phương đã dựng nên Khúc Ca Ngày Mùa (KCNM).. Đây là một bức tranh toàn bích về đời sống thanh bình, tươi sáng, hạnh phúc của nông thôn miền Nam sau 1954.. Bài hát đã vang dội khắp xóm làng, thành phố, nơi quán hàng, rạp chớp bóng, nhà ga, bến xe, bến bắc.. Nghĩa là nơi đâu có người hát và người nghe nhạc.. Thật kỳ lạ, vì người nhạc sĩ đã tạo dựng được cảnh tượng thôn dã sống động ấy khi đang sống tại Đa-Kao, Sàigòn trong một khu lao động lầy lội! Chúng ta không nói lời xưng tụng quá đáng, vì KCNM đã trở thành một bài hát của người Miền Nam và là cảnh sắc Miền Nam chứ không phải của một nơi nào khác. Và điều cảm động hơn hẳn là LP không chỉ là người tài hoa chuyên miêu tả cảnh sắc đồng quê như qua KCNM, mà ông còn là một nghệ sĩ với tâm chất sâu lắng thắm thiết qua bản Kiếp Nghèo và một người đã nghệ thuật hóa sự kiện chính trị lần chia cắt đất nước năm 1954 với nhạc phẩm Chuyến Đò Vĩ Tuyến dẫu không hề có sinh hoạt chính trị, thời sự – Đây là hai ca khúc có cấu trúc nhạc kỹ thuật cao với lời ca giàu cảm tính nghệ thuật mà ông đã sáng tạo nên vào lúc tuổi còn rất trẻ trong khu xóm nghèo ở Sài Gòn với thực tế hoàn toàn thiếu thốn cả vật chất lẫn tinh thần, tâm lý..

    Hai. Biến cố 30 Tháng 4, 1975 đối với một số người có thể chỉ gây tác động bình thường tương đối, nhưng chắc đã quá lớn lao tàn nhẫn đối với một nghệ sĩ như Lam Phương, người nghệ sĩ có tâm chất vô cùng nhạy cảm hiện thực qua hơn 200 tác phẩm (mà đúng ra là 217 theo như tài liệu thống kê) đề cập đến tất cả tình huống, cảm xúc, tâm trạng của con người trong cuộc nhân sinh. Con người bình thường, nhỏ bé như tất cả chúng ta giữa cuộc sống khốc liệt của chiến tranh khởi động từ người, đảng cộng sản Hà Nội dài theo hậu bán Thế Kỷ 20 qua những biến cố 1954, 1968, 1972, 1975 và cao điểm là cảnh nước mất nhà tan lần sụp vỡ Miền Nam, 1975. Trong một bài báo phổ biến trước đây, nhà báo chuyên về sinh hoạt sân khấu âm nhạc Trường Kỳ đã một lần đề cập đến tâm lý bi quan, u uất của LP từ thuở hàn vi khó nhọc đến lúc thành nhân, thành công trước 1975, càng hiện thực hơn sau 1975 nơi hải ngoại.. Phải chăng dẫu đang lúc thành công rực rỡ nhất kéo dài trong hai thập niên sau 1954 đến 1975 ấy, LP đã linh cảm nỗi bi thảm không phải chỉ riêng cho cá nhân ông mà chung cho cả miền Nam, với hết Việt Nam. Điều nầy phản ảnh cụ thể qua những ca khúc có chủ đề “CHIỀU” chiếm một số lượng lớn rất rõ nét.. Cụ thể như bài nhạc đầu đời, Chiều Thu Ấy, và những bài sau 1975 như Chiều Hoang Đảo, cho dẫu Chiều Hành Quân trước 1975là bản nhạc nói về cuộc tình của Người Lính Miền Nam.. Tất cả những buổi chiều trong cấu trúc nhạc của Lam Phương đều mang hình tượng của những buổi chiều chia ly, tan vỡ, nhạt nhòa.. Điễn hình cụ thể nhất là Chiều Hoang Vắng vớinhững hình ảnh xa xót như:Có những chiều mưa buồn giăng giăng khắp lối. Có những chiều giá lạnh tím cả hoàng hôn. Tôi đi qua thôn xa heo hút lưng đèo. Rừng cây hoang vắng tiêu điều.. Với cảm tính nghệ sĩ cao độ, ông đã thấy trước những buổi chiều tàn tạ của quê hương, chiều hấp hối kiệt cùng của đất nước từ cuộc đổi đời khốc hại sau 30 Tháng 4, 1975! Chiều Tây Đô của Cần Thơ sau 1975 là điễn hình rõ nét với tính bi kịch cao độ về lần tan vỡ quê hương Miền Nam qua câu hỏi xa xót cay đắng: Bao năm giải phóng như thế nầy phải không anh?

    Với hơn 200 nhạc phẩm, LP đã đề cập hết tất cả những gì con người đã sống qua hạnh phúc lẫn khổ đau trong cuộc đời vô vàn nầy.. Mà theo như cảm quan thông thường, giới thưởng ngoạn xếp hạng những nhạc sĩ vào một thứ hạng chung nhất dễ phân loại như Vũ Thành An, Từ Công Phụng chuyên về tình ca; Trầm Tử Thiêng nghiêng về các vấn đề xã hội.. Nhưng quần chúng yêu nhạc LP hầu như đều băn khăn trước hằng hà tác phẩm của ông mà khó định hình, xếp hạng vào một thể loại nhạc nhất định. Điều nầy thể hiện qua sự kiện: Là một người miền Nam thuần chất nên ông vẽ lại đủ cảnh tượng thôn quê miền Nam trong KCNM là một điều dễ hiểu, hợp lý.. Nhưng tại sao, từ đâu ông lại viết nên Tình Cố Đô với những ca từ vô vàn thắm thiết: Buồn nhìn về xa xôi, Hà Nội ơi đã xa thật rồi. Mịt mùng ngàn trùng khơi, thành phố cũ lắng sau núi đồi. Đâu Thăng Long năm xưa, cùng tháp cũ rêu phai mờ. Còn tìm đâu nên thơ, cành liễu úa rũ bên ven hồ..Cũng bởiNhạc Sĩ Anh Bằng chỉ có thể viết nên lời xúc động: ”Tôi xa Hà Nội.. do đã hứng chịu cảnh chia ly của năm 1954, còn Lam Phương hoàn toàn không liên hệ với nơi chốn Hà Nội kia, cũng không mảy may dính dấp đền cuộc chia ly không hề có. Thế nên, quả là một điều bí ẩn kỳ diệu mà chỉ từ tấm lòng thuần hậu, thắm thiết của một (Thật) Nghệ Sĩ mới cấu tạo nên những ca từ chân thực và cấu trúc nhạc tuyệt vời như thế kia.  

    Cũng thế, chỉ từ một tấm lòng chân chất mến thương mới cảm nhận đủ Nỗi Đau qua lần chia ly Người Mẹ kính yêu, nên LP mới viết nên lời rất đỗi chân thành trong Khóc Mẹ – Người Mẹ Việt Nam với nỗi hy sinh thầm lặng vô bờ mà các nhạc sĩ Thu Hồ, Y Vân mới viết nên lời xưng tụng ân tạ. Cũng thế, chỉ từ Người Con-Lam Phương mới viết nên những giòng Khóc Mẹ cảm xúc.. Cát bụi này mẹ vừa yên thân. Sau bao năm nước mắt chảy xuôi. Con ra đi trong giờ mẹ hấp hối. Để muôn đời (con) thành kẻ vong ân.

    Không được có mặt với mẹ trong lần ra đi lần cuối, biến động 1975 còn giáng xuống đời ông sự mất mát tình cảm ngang trái – Không phải là tình cảnh riêng của gia đình Nhạc Sĩ Lam Phương mà cũng là đỗ vỡ chung của rất nhiều gia đình khác do từ lần đổi thay tàn nhẫn 1975. Tuy  nhiên cuối cùng cuộc đời vẫn không phụ kẻ có lòng, sau lần chịu đựng khổ nạn chung với toàn dân tộc, gánh riêng cảnh ngang trái trong cuộc sống tình cảm cá nhân, gặp phải tai nạn bệnh tật.. Nhạc Sĩ Lam Phương vẫn là, luôn là đối tượng thương yêu quý trọng của toàn gia đình gồm những người em với danh tính Anh Hai vô cùng kính mến. Ông vĩnh hằng là Nhạc Sĩ Lam Phương của Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản, những người lớn lên, ra đi từ Miền Nam.. Những người đã cùng ông chia xẽ Nắng Đẹp Miền Nam, đã sống trong những con hẻm đường về đêm nay vắng tanh nơi Đa Kao, Phú Nhuận.. Những người đã cùng ông lắng nghe đêm Sàigòn mưa rơi tí tách..

    Thưa cùng Nhạc Sĩ Lam Phương, xin nhận lời ân tạ chân thành của chúng tôi, thành phần người Miền Nam, Người Lính Cộng Hòa đã cùng ông gánh chịu cơn Thật Chết Với Quê Hương khi bầy đàn cướp nước “Tiến về Sàigòn ta quyết diệt giặc thù.. “, những kẻ gọi là “giải phóng” đến từ Miền Bắc, từ đầm lầy bưng biền Miền Nam. Vĩnh biệt nha Anh Hai! 

    Kết Từ.  Bài viết như trên thoạt tiên nghĩ rằng tạm đầy đủ để nói về Lam Phương, nhưng nhân có sự kiện sau đây liên hệ đến với một thành phần viết nhạc nơi Miền Nam khác, chúng tôi xin kể ra để làm sáng tỏ hơn tư cách nhân hậu cao thượng của Lam Phương. Tháng 11 năm 2019 trên diễn đàn văn học của Đài VOA có phổ biến nhận định của ký giả Mặc Lâm như sau.. “Có những câu nói bị xua đuổi, những câu nói bị phỉ nhổ, và cả những câu nói bị cho là thiểu năng nhưng khi ông nhạc sĩ Trần Long Ẩn nói nền Văn Học Nghệ Thuật của Miền Nam đáng bị “đóng đinh” thì nó trở thành câu nói bị khinh bỉ nhiều nhất từ xưa tới nay! Chuyện gì đã xẩy ra đối với một người gọi là “nhạc sĩ Trần Long Ẩn”, mà quả tình chúng tôi, người lính Miền Nam lần đầu tiên mới nghe đến tính danh, 2019. Ký giả Mặc Lâm giải thích tiếp: Sự khinh bỉ (đối với Ẩn-Pnn) đến từ người dân cả hai miền Nam-Bắc, từ cán bộ (Cộng sản-Pnn) đến nhân viên (Trong nước-Pnn) quèn trong công sở, từ thị dân tới người nông phu căng mình dưới ruộng bởi nó dính liền tới ý thức cảm nhận cái đẹp của con người. Đọc thêm những bài viết khác, chúng tôi dần hiểu ra câu câu chuyện.. Nguyên Trần Long Ẩn là một người gốc ở Bình Định năm 1966 vào Sảigòn theo học Đại Học Văn Khoa. Những Ẩn không học văn khoa mà lại vào khu theo cộng sản; năm 1970 Ẩn được đưa ra Hà Nội học nhạc lý theo tinh thần và nội dung xã hội chủ nghĩa. Sau 1975, Ẩn về Nam viết những ca khúc có tên Tình Đất Đỏ Miền Đông, Đi Qua Vùng Cỏ Non, Một Đời Người Một Rừng Cây..để ca ngợi lần toàn thắng cuộc chiến cướp nước của lực lượng cộng sản Miền Bắc có tiếp tay đắc lực/tối thậm vô nghĩa của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Tóm lại, thành tích của Ẩn là hành vi trả ơn đối với Đảng Cộng Sản của một văn công (hạng thừa hành) mà ngay chính những kẻ có lương tri, lương năng tối thiểu cũng đồng im bặt.. Cho dù kẻ ấy là loại văn công được trả giá cao của chế độ Hà Nội như Văn Cao, Phạm Nhuận.. hoặc trong lãnh vực văn học như Chế Lan Viên, Tô Hoài.. Nhưng tại sao Ẩn “..tỏ ra cay cú đến gần như mất trí khi nói đến nền Văn Học Nghệ Thuật của vùng đất (của Miền Nam/VNCH-Pnn) mà trước đây ông ta được nuôi lớn lên, được học hành tới nơi tới chốn ngay giữa lòng Sài Gòn  (Mặc Lâm ibid). Bài viếtcủa một tác giảtrong nước nói rõ “sự cay cú như mất trí của Ẩn” có nguyên nhân là do:  Trong Hội nghị giao ban Quý III/2019 của Hội Đồng Lý Luận Phê Bình Văn Học, Nghệ Thuật TP.HCM, ngày 10/11 ông Trần Long Ẩn cho biết: “Chúng tôi đề xuất phải hết sức thận trọng với trang sử đen tối của miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ là bị xâm lược. Văn học, nghệ thuật độc hại của nó (của VNCH-Pnn) xuyên tạc đường lối cách mạng đúng đắn của Đảng ở miền Nam và hiện nay không thể tẩy xóa. Tại hội nghị của Hội Đồng Lý Luận Phê Bình nầy, Ẩn kêu gào.. “..phong trào cách mạng ở miền Nam (trước 1975-Pnn) trong văn học, nghệ thuật rất dữ dội, rất lớn thì (LẠI-Pnn) không biểu dương, không tôn vinh, không học tập, không nhân rộng mà lại đòi xóa nhòa không còn khái niệm âm nhạc cũ trước giải phóng (Âm nhạc Miền Nam/VNCH-PNN) nữa”. A hóa ra là vậy, tức là Người Miền Nam (cũng bao gồm người Miền Bắc) không hát, không nghe thứ gọi là “nhạc giải phóng, nhạc cách mạng” trong đó có những bài hát “nổi  tiếng” của Ẩn, của một văn công thứ cấp gọi là “nhạc sĩ Năm Ẩn”.

    Thế nên, coi như Năm Ẩn không hiểu, không nhận ra sự vất bỏ của quần chúng đối với “tác phẩm: âm nhạc của đương sự, chúng tôi từ tinh thần khách quan của người ngoài giới nghệ thuật sân khấu âm nhạc, cũng từ tinh thần đơn giản của Người Lính Miền Nam có nhận định sau đây căn cứ từ một bài  hát “nổi tiếng/nổi tiếng nhất” của Ẩn: Một Đời Người Một Rừng Cây.. Khi nghĩ về một đời người. Tôi thường nhớ về rừng cây… Và rừng sẽ lên xanh rừng giữ đất quê hương! Xin hát về bạn bè tôi. Những người sống vì mọi người. Ngày đêm canh giữ đất trời..Trích dẫn về nhạc và lời của “nhạc sĩ Năm Ân” đến đây coi như đủ để hỏi về một điều cụ thể: Nầy Năm Ẩn  (tên phổ thông của Ẩn ở Thành Ùy TP?HCM-Pnn) anh hãy chỉ cho chúng tôi “MỘT NGƯỜI/MỘT NGƯỜI THÔI HẲN ĐỦ/MỘT NGƯỜI CANH GIỮ ĐẤT TRỜI” nơi bộ chính trị đảng cộng sản ở Hà Nội?! Bởi vì nơi ấy từ rất lâu chỉ vang vang những lời chỉ đạo khẳng định: Để Hoàng Sa-Trường Sa cho Trung Quốc giữ vẫn tốt hơn để bọn Mỹ-Ngụy – Lời Trường Chinh, nhân lần Hải quân Trung Cộng đánh chiếm Hoàng Sa của VNCH, 19/1/1974. Nơi ấy cũng khắc ghi công ơn to lớn: “Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô. Đánh cho Trung Quốc.”. Nếu nhắc đến những người và việc kể trên trên e có phần xưa cũ, xa xôi vượt khỏi hiểu biết, khả năng, trách nhiệm của nhạc sĩ Năm Ẩn, nên chúng tôi xin kể ra những vụ việc của thời đại hôm nay, tại thời điểm những bài hát của Năm Ẩn được rầm rộ phổ biến (nhưng không người hát/không ai nghe).. đấy là lời: “Khai thác Bâu-xít là chủ trương lớn của Đảng”, của kẻ được gọi là thủ tướng Dũng khi đồng thuận cho nhà thầu Trung Cộng phá hủy toàn bộ thảm thực vật vùng Đồng Nai Thượng mà thiên nhên ngàn năm đã xây dựng trên quê hương Cao Nguyên Trung Phần. Đấy là xác nhận: “Formosa là điễn hình tiên tiến” của Tổng Bí Thư Trọng trước thảm họa rộng khắp lâu dài vùng biển Hà Tỉnh do nhà thầu formosa gây nên! Đấy là nhận định từ một chị ả người Bến Tre được đưa ra Hà Nội giữ chức vị “chủ tịch quốc hội”: “Trung ương (BCT-Pnn) đã quyết định, quốc hội chỉ biểu quyết thành luật!”đối với lần thuận nhượng ký kết cho tư bản nước ngoài (chủ yếu là tư bản TC) khai thác ba Đặc Khu Vân Đồn, Vân Phong và Phú Quốc trong vòng 99 năm! Chúng tôi có thể kể ra một danh sách bất tận những “bạn bè” của Năm Ẩn.. Những người sống vì mọi người. Ngày đêm canh giữ đất trời?! Từ sáu tỉnh biên giới phía Bắc nay dùng bạc giấy in từ Bắc Kinh và nghe đài phát thanh tiếng Hoa đến cực Nam đất Mũi Cà Mâu với những bí thư tỉnh ủy, giám đốc công an tỉnh được bổ nhiệm bởi Bộ Chính Trị Hà Nội có quyền ký giấy cho người Hoa thuê đất rừng 50, 90 năm, và bảo vệ cho tư bản TC chiếm đất lập tô giới người Hoa trên đất Việt ở Đông Đô Đại Phố Bình Dương, ngay tại Sài Gòn, ở Thủ Thiêm nơi Năm Ẩn đang ngồi lập lý luận, phê bình văn hóa nghệ thuật “độc hại” của VNCH qua nhạc Boléro!       

    Nầy nhạc sĩ Năm Ẩn, anh không thể, không có quyền bắt người Việt trong nước hát lời ca ngợi.  Không thể hát lời ca ngợi kẻ bán nước. Không thể hát lời xưng tụng đứa sát nhân! Nhũng bài hát viết từ máu lệ Miền Nam – Cũng bao gồm “Huyền Thoại Mẹ” máu me, giả trá của Trịnh Công Sơn và rất nhiều, rất nhiều nhân sự thuộc tập đoàn “cộng sự sát nhân” với đảng cộng sản Hà Nội. Đối với đám nhân sự độc hại hạ tiện nầy, Anh Hai Lam Phương trung hậu và cao quý biết bao nhiêu.

    Phan Nhật Nam

    Sinh Nhật 77 tuổi

    28/12/1942-2020 

  • Tin tức

    Lệ Thu, Chim Oanh Về Cõi Thiên Thu

    Vương Trùng Dương

    Trong thời gian qua, ca nhạc sĩ đã một thời nổi tiếng ở miền Nam Việt Nam đã vĩnh viễn ra đi: nhạc sĩ Lê Dinh (9/11/2020 tại Canada), nhạc sĩ Lam Phương (22/11), ca sĩ Mai Hương (29/11)… và lần nầy đến ca sĩ Lệ Thu, sau thời gian bị nhiễm Covid-19, vừa qua đời vào 7 giớ tối Thứ Sáu, 15/1/2021 tại Orange County (Quận Cam).

    Là người đam mê âm nhạc, thưởng thức những tiếng hát đã một thời, một đời và đã viết về hình ảnh ca sĩ làm thăng hoa nền âm nhạc Việt Nam trong gần 3 thập niên qua. Để tưởng nhớ Mai Hương, tôi viết bài “Mai Hương, Một Ánh Sao Rơi!” như lời tạ từ. “Muôn kiếp cô liêu, ngàn năm vang” (Tô Vũ). Đầu mùa dịch Covid-19, ca sĩ Thái Thanh qua đời vào trưa ngày 17/3/2020 tại Orange County, đêm đó tôi viết: Danh ca Thái Thanh ra đi, gởi lại “Tiếng Hát Vượt Thời Gian & Không Gian”, vì nghĩ đến tang lễ ca sĩ được mọi người ái mộ, tiếc thương do lệnh khắt khe của tiểu bang nhằm tránh sự lây lan của đại dịch nên không đễn tiễn biệt làn cuối. Và, loạt bài “Viết trong mùa đại dịch” của tôi liên quan đến bệnh dịch trong quá khứ và tác phẩm văn học…

    *

    Lệ Thu là một trong những ca sĩ nổi tiếng nhất giữa thập niên 60 & 70. Trong 6 thập niên, từ trong nước, ở hải ngoại, Lệ Thu đã đi trình diễn khắp nơi, theo thời gian có trên 20 băng nhạc, CD, DVD… đã được thực hiện từ cá nhân đến Sóng Nhạc, Asia, Thúy Nga… Năm 2017, trong tai nạn xe cộ suýt chết, ngưng hát. Trong mùa dịch quái ác Covid-19, bị nhiễm virus, vào bệnh viện Orange Coast Medical Center (Fountain Valley, California, Mỹ). Sau thời gian chữa trị không không thoát khỏi cơn dịch quái ác nầy nên đã vĩnh viễn ra đi!

    Lệ Thu tên thật là Bùi Thị Oanh, sinh ngày 16 tháng 7 năm 1943 tại Hải Phòng, nhưng trải qua thời thơ ấu ở Hà Đông. Về bản thân, Lệ Thu chia sẻ:

    “Trước năm 1945, bố làm một chức quan nhỏ ở Hải Phòng. Mẹ là vợ lẽ, sống dưới quyền của bà vợ cả, phải chịu đựng đủ điều. Bà bắt mẹ cô làm đủ thứ việc. Một sân thóc rộng mênh mông, giữa trưa nắng như đổ lửa, phải phơi, trở thóc, rồi thu dọn, quét sân từ trưa cho đến khi trời xế bóng. Rồi đủ thứ việc, chả bao giờ được nghỉ tay.

    Mẹ cô sinh tám người con, cứ đến 3 tuổi thì mất, duy nhất có cô còn sống. Năm 1953, khi mẹ cô vào Sài Gòn, bố cô không đi vì tiếc của cải.

    Năm 1954, một ngày nọ tôi đi học về, mẹ cô gọi vào và chỉ nói một câu ngắn gọn: “Thầy con mất rồi!”. Từ đó mẹ sống lặng lẽ, không đi bước nữa. Và cũng từ đó cô không hay tin tức gì ngoài đó nữa. Hai mẹ con tôi sống ở chợ Vườn Chuối, đường Phan Đình Phùng”.

    Vì là đứa con gái duy nhất nên được nuông chiều, cũng thích chơi các trò chơi của nam sinh, đánh đáo, u mọi… Theo Lệ Thu “Tôi nhớ lúc 14 tuổi, đã có ngực, mà tôi hồn nhiên đi tắm mưa không mặc áo, cũng không mặc áo ngực…” như con trai.

    Lệ Thu học đàn piano từ nhỏ, khi vào Sài Gòn học đàn guitar và hát với vị thầy cận nhà và được nhạc sĩ Đức Quỳnh chỉ dẫn thêm về ca nhạc. Theo học bậc trung học Pháp tại trường Les Lauriers. Vào đầu thập niên 50, trường Les Lauriers ở Tân Định, giảng dạy chương trình Pháp Việt song song với nhau. Năm 1959, trường dời về đường Đinh Công Tráng, đổi tên là trường Tân Thịnh. Nhạc sĩ Lam Phương đã học ngôi trường nầy. Sau năm 1975 đổi tên trường Đuốc Sống.

    Lệ Thu đến với nghề ca hát hết sức tình cờ rồi trở thành ca sĩ. Theo lời kể Lệ Thu: “Lần sắp thi tú tài, nhân dịp sinh nhật một người bạn tổ chức trên sân thượng phòng trà Bồng Lai, mấy cô bạn trong nhóm của tôi thúc: “Ê Oanh, mày lên hát tặng con Liên một bài sinh nhật đi!”. Tôi liền đứng lên hát bài “Tà Áo Xanh” (Dang Dở) của nhạc sĩ Đoàn Chuẩn – Từ Linh. Tự dưng giọng hát tôi lọt tai ông chủ phòng trà. Ông bèn ngỏ lời mời tôi đi hát. Ông thuyết phục tôi: “Em có giọng hát rất hay và lạ. Không cần thức khuya đâu. Em cứ đến đây lúc 8 giờ, hát vài bài rồi 9 giờ về. Cứ nói với mẹ là đến nhà bạn học bài”. Kèm theo đó, ông trả cho tôi một số tiền khá lớn so với hình dung của tôi thời ấy. Thế là tối tối, tôi giấu mẹ đi hát. Nhiều khi tôi mặc cả đồng phục ở trường đi hát luôn. Khi ông chủ phòng trà hỏi tôi muốn được gọi như thế nào thì cái tên Lệ Thu lập tức bật ra như được định sẵn trong đầu mình. Kỳ thực, tôi cũng biết chữ “lệ” mang nghĩa buồn lắm, là nước mắt và mùa thu cũng sầu không kém. Thế nhưng “lệ” ở đây còn có nghĩa là mỹ lệ, là một mùa thu rất đẹp. Đến giờ tôi vẫn không hiểu tại sao cái tên này lại bật lên một cách tự nhiên như thế…”. (Lúc đó Ngọc Phu & Hoàng Cầm điều khiển chương trình).

    Khởi nghiệp từ phòng trà Bồng Lai, Lệ Thu cộng tác với Trúc Lâm Trà Thất của nhạc sĩ Mạnh Phát và kế đó là phòng trà Tự Do vào năm 1962. (Trước tháng 11 năm 1963, cấm nhảy đầm, chỉ nghe ca nhạc nên gọi là phòng trà. Sau thời điểm đó, báo chí, giải trí, nhảy nhót… như nắng hạn gặp mưa, sau đó gọi là vũ trường (nơi có khiêu vũ) và sau nầy thường gọi là phòng trà theo thói quen, Trong loạt bài Phòng Trà Ca Nhạc Sài Gòn Xưa của Lê Văn Nghĩa viết tương đối chính xác).

    Kể từ đó, Lệ Thu được nổi tiếng cùng với những ca sĩ tên tuổi ở Sài Gòn. Tiếng hát Lệ Thu hút khách đến với các phòng trà như Queen Bee (năm 1969 của Jo Marcel), Ritz… Tháng 4/1970, Lệ Thu đã về với phòng trà Tự Do. Ông Ngô Văn Cường chủ Tự Do đã dùng giá cao để “giựt” Lệ Thu ra khỏi Ritz của Jo Marcel. Trước đó Jo ký với Lệ Thu là 700.000 đồng hát một năm, cộng tiền cát-sê khá cao, còn ông Cường kêu Lệ Thu trả hợp đồng 1 triệu và tiền hát hằng đêm gấp đôi. Lệ Thu thường ký độc quyền với các phòng trà, hát nhạc Việt và ngoại quốc rất hay nên ăn khách. Ngay cả phòng trà Khánh Ly đã có một thời cộng tác với nhau vẫn sòng phẳng. Và, “một trong những giọng hát tình khúc hay nhất của nền tân nhạc Việt Nam”, nhất là các ca khúc dòng nhạc bán cổ điển (semi-classic), ca khúc thời tiền chiến.

    Giọng ca Lễ Thu được mệnh danh “Giọng Ca Vàng Ròng”, “Tiếng Hát Vàng Mười” nghe không được “bay bổng, sang trọng, lãng mạn” như Thanh Thúy, Thái Thanh… Nếu gọi “Giọng Oanh Vàng Tình Khúc”, vừa mang tên người vừa mang tên loài chim oanh.

    Trong thi phẩm Chinh Phụ Ngâm Chinh Phụ Ngâm của tác giả Đặng Trần Côn (1705-1745) qua bản dịch nhà thơ Đoàn Thị Điểm (1705-1749) có câu

    “Thuở lâm hành oanh chưa bén liễu

    Hỏi ngày về ước nẻo quyên ca”

    Chim oanh biểu trưng cho mùa xuân, trong thơ ca cổ hình ảnh này xuất hiện khá phổ biến nhất là trong Đường thi.

    Lệ Thu tham gia các chương trình ca nhạc trên Đài Phát Thanh Sài Gòn, Đài Phát Thanh Quân Đội, Mẹ Việt Nam, Đài Truyền Hình Việt Nam… và được trung tâm sản xuất băng nhạc mời cộng tác thu âm. Hầu hết ca khúc do Lệ Thu hát, được chọn lọc, ngay cả nhạc sĩ sáng tác. Lệ Thu thường chọn những tình khúc buồn, với tà áo dài, vừa hợp với phong cách trình diễn, âm điệu linh động với giọng alto-contralto và mezzo-alto dễ ru vào lòng người. Từ trong nước đến hải ngoại, trong 6 thập niên qua, Lệ Thu vẫn giữ được sự chọn lọc nầy.

    *

    Năm 2010. Nhạc sĩ Cung Tiến ấn hành tuyển tập ca khúc Hoàng Hạc Lâu, gồm 15 ca khúc trước năm 1975 và hải ngoại. Tôi email cho Việt Hải, viết bài về Cung Tiến. Bài viết Cung Tiến: Những Tình Khúc Lãng Mạn Về Cố Nhân của Việt Hải đăng tải trên nhật báo Saigon Nhỏ, số ra ngày Thứ Bảy, 12 tháng 6/2010. Văn Học Nghệ Thuật với chủ đề về Cung Tiến.

    Ca khúc Hương Xưa (1955) trang 18, ghi tặng Khuất Duy Trác, ca khúc Kẻ Ở (1977-1999) phổ thơ Quang Dũng, trang 44, ghi tặng Lệ Thu.

    Tháng 10/2020, trong loạt bài “Viết trong mùa đại dịch”, tôi viết bài Một Thoáng “Hương Xưa” về dòng nhạc đến ý nghĩa của lời ca mang nhiều điển tích. Tình khúc Hương Xưa của nhạc sĩ Cung Tiến hay và đẹp từ giai điệu đến lời ca ẩn chứa điển tích nói lên cái hồn của cung bậc.

    Duy Trác là ca sĩ đầu tiên hát tình khúc Hương Xưa, và Lệ Thu khi hát Hương Xưa theo lời kể:

    “Tôi còn nhớ mãi mỗi đêm ở phòng trà Queen Bee, khi tôi hát Hương Xưa xong, khán giả lặng đi một hồi lâu, như là vẫn còn chìm đắm miên man ở trong dòng cảm xúc của bài hát, chưa biết là bài hát đã kết thúc. Tôi hát câu cuối là “Đời êm như tiếng hát của lứa đôi…” rất tình cảm và ngân rất dài. Sau khi dứt tiếng đàn, tiếng hát, mọi người im lặng một lúc, sau đó mới ồ lên vỗ tay…”.

    Nghe ca khúc Hương Xưa rồi nghe ca khúc Nửa Hồn Thương Đau của nhạc sĩ Phạm Đình Chương:“Nhắm mắt cho tôi tìm một thoáng hương xưa… Cho lòng tiếc nuối xót thương suốt đời”… thế hệ chúng tôi sống đời lưu vong cảm nhận như tựa đề tác phẩm “Một Thởi Để Yêu & Một Thời Để Chết” (A Time to Love and a Time to Die) của nhà văn Đức Erich Maria Remarque. Với tác phẩm nầy tôi đã viết Trong Mùa Dịch Covid-19 đọc lại Trăm Năm Cô Đơn (4/2020).

    Với tôi, Hương Xưa là một trong những tình khúc hay nhất của nền tân nhạc Việt Nam và cũng “giới hạn” ca sĩ trình bày. Có thể cho rằng giọng ca nào thành công với Thiên Thai của Văn Cao, Giấc Mơ Hồi Hương của Vũ Thành, Kiếp Nào Có Yêu Nhau của Phạm Duy, Dòng Sông Xanh (lời Phạm Duy) và Hương Xưa… thì dễ dàng thành công với nhiều tình khúc khác.

    Trong thanh nhạc, kỹ thuật ngân rung (vibrato) xuất phát rất quan trọng đánh giá giọng ca. Hầu hết, ca sĩ đều luyện tập ngân rung cổ họng, Lệ Thu áp dụng từ bụng nên làn hơi được điêu luyện, khỏe hơn.

    Trong cuộc sống ít khi được toàn vẹn, nhất là giới ca sĩ. Trong ca khúc Eternally của Charles Chaplin (Ánh Đèn Màu qua lời Việt của Nguyễn Xuân Mỹ năm 1965) với thân phận:

    “Đời ca hát ngày tháng cho người mua vui

    Đời son phấn làm mất bao ngày thơ ngây

    … Đời cam sống một bóng lặng lẽ cô đơn

    Đời xa tiếng ca nào ai tiếc thương bẽ bàng”

    Hay trong ca khúc Kiếp Cầm Ca của Huỳnh Anh:

    “Đời ta là bến ai qua ghé thăm đôi lần

    Nhớ chăng tiếng ca cung đàn ngày xưa

    … Mưa đêm vẫn rơi mãi không ngừng

    Có người ca sĩ khóc đời quạnh hiu”

    Trong quyển Thân Phận & Hào Quang của nhà báo Hoàng Nguyên Vũ ấn hành ở Việt Nam năm 2016. Tác giả phỏng vấn các ca sĩ trong nước và các ca sĩ ở Mỹ (Bạch Yến & Họa Mi ở Pháp) về VN trình diễn. Trong đó có bài: “Ca sĩ Lệ Thu: 3 lần đò và những nỗi đau chưa kể”.

    Trích phần Lệ Thu đề cập đến các cuộc tình:

    “… Mẹ tôi sợ có con gái trong nhà như một trái bom nổ chậm, lại theo ca hát nên mẹ sợ ế, và đặc biệt là sợ sa ngã. Tôi đi hát, có gặp một anh chàng không quân thích tôi, gia đình họ đến đặt vấn đề hỏi cưới, thế là mẹ “tống” tôi đi ngay.

    Tôi lấy chồng khi chưa một lần nắm tay người khác giới, chưa bao giờ biết hôn, nên đời sống chăn gối tôi cứ như một… khúc gỗ. Người chồng thất vọng não nề về sự ngây thơ, thậm chí… đần độn như thế. Chỉ được 2 tháng, anh ấy không thể chịu đựng được nên anh quyết định bỏ.

    … Tôi bị chồng bỏ mà vui, hí hửng về với mẹ. Mẹ tôi cũng không buồn vì mỗi lần lên thăm con cũng cảm nhận được cái cảnh cơm nguội canh nhạt ấy. Lạ lùng là bị chồng bỏ mà tôi không thấy đau khổ. Có lẽ vì tôi không yêu. Bởi nếu có một tình yêu đúng nghĩa thì bằng mọi cách tôi sẽ giữ lấy hạnh phúc của mình.

    … Chia tay chừng 5-7 năm, tôi gặp lại anh ấy một cách tình cờ khi tên tuổi tôi cũng đã nổi lắm rồi. Anh ấy cũng là một người hát rất hay, và cũng có đi hát như một đam mê.

    Năm 1963 tôi đi bước nữa. Tôi gặp một người từ bên Pháp về đây chơi. Anh ấy ở Pháp từ nhỏ, đã có vợ có con bên đó nhưng về đây thấy tôi thì mê, và bỏ luôn vợ bên đó.

    Mãi sau này tôi mới biết chuyện này chứ trước đó, nếu tôi biết anh ấy có vợ con rồi thì chẳng bao giờ tôi đến với anh ấy. Sau một năm tìm hiểu chúng tôi tổ chức đám cưới.

    … Tôi từng tính bỏ hát để yên phận cơ mà. Anh ấy không phải là một người đàn ông của gia đình, đúng hơn không phải là người chung thủy. Anh đi chơi rất nhiều mà tôi thì không chịu nổi điều đó và cuối cùng tôi phải bỏ cảnh sống đó dù không cãi vã to tiếng. 7 năm một cuộc hôn nhân như thế, chúng tôi có hai đứa con gái.

    Với cuộc tình thứ ba:

    “Năm 1969, chúng tôi gặp nhau nhưng đến năm 1974 mới chính thức tổ chức đám cưới tại nhà thờ. Cuộc hôn nhân kéo dài 10 năm, chúng tôi có với nhau một đứa con gái, anh ấy cũng rất yêu thương, lo lắng cho tôi.

    Hạnh phúc được thử thách qua những tháng ngày gian khổ, thế nên tôi hoàn toàn yên tâm đó là những gì ngọt ngào có được sau những cay đắng riêng tư. Chúng tôi mất nhau cũng vì lỗi của đàn ông. Và khốn khổ cho tôi, tôi đi Mỹ thì ngay lập tức đã có một người phụ nữ khác vào nhà tôi sống với chồng tôi. Và lần nữa, tôi vẫn là người khờ khạo.

    … Tôi cũng có một cuộc tình rất thắm thiết. Năm 1988 tôi gặp người đó, tôi mới biết rung động thật sự là gì, tình yêu đúng nghĩa là gì, nhưng tôi vẫn khờ khạo không giữ được tình yêu của mình.

    Và từ đó tôi cũng chẳng yêu ai được nữa. Tính tôi vốn nhát và không bao giờ đi tán tỉnh hay giành giật đàn ông dù tôi có thích họ hoặc ước gì họ là người yêu của mình.

    Cả ba người đàn ông đó giờ còn sống, kể cả anh hàng xóm si tình năm ấy, có người ở Mỹ, có người còn ở Việt Nam. Chúng tôi vẫn là bạn và vẫn thăm nhau nếu có dịp.

    … Những người nào đi qua đời mình hay những gì mình trải qua đều là duyên, đều là ngộ. Những gì mình khổ, hay nó vướng bận vào đời mình và cuộc sống của mình, đều là nợ nhau cả và mình phải trả. Trả hết thì thôi”.

    Ở Việt Nam, các cây bút viết về ca sĩ, thường khai thác về tình yêu, tình cảm lăng nhăng hầu đáp ứng tính hiếu kỳ, tò mò của độc giả. Không dẫn chứng ca khúc nào làm nên tên tuổi. Có khi khai thác bí ẩn theo tin đồn để tung ra…

    Ở hải ngoại có nhạc sĩ Trường Kỳ đã ấn hành các Tuyển Tập Nghệ Sĩ. Trong TTNS tập 5 năm 2001, dày 374 trang, bài viết Lệ Thu, Sau 40 Năm Thăng Trầm Trong Âm Nhạc (trang 283-288) vì cùng sinh hoạt trong giới ca nhạc với nhau nên ghi lại chính xác.

    Với tôi, thích nhà văn Hồ Trường An, trong tác phẩm Chân Dung Những Tiếng Hát, quyển I ấn hành năm 2001, dày 446 trang với 52 ca sĩ. Cách viết ví von và nhận xét tinh tế qua từng lời ca, giai điệu, âm sắc… Lệ Thu, Tiếng Ca Khởi Phụng Đằng Giao (trang 127-135) “Năm 1971, tôi có cộng tác với tờ tuần san Minh Tinh, có đến tư thất của Lệ Thu ở đường Trần Quang Khải (Tân Định) để phỏng vấn cô. Thuở đó cô đang chung sống với nhà văn Hồng Dương”… “Người chồng trước của cô (Người ta gọi anh là Tony Sơn). Khi gặp Lệ Thu, nhà văn Hồng Dương ly dị vợ là nữ sĩ Linh Linh Ngọc” (Người chồng thứ ba theo lời kể của Lệ Thu ở trên)…

    Hồ Trường An nêu tên những ca khúc do Lệ Thu hát đã được mọi người ngưỡng mộ. “Tiếng hát Lệ thu làm cho chúng ta nghĩ đến một trái hỏa châu bắn vọt lên không trung để tỏa ngời ánh sáng… Tiếng hát Lệ Thu là tiếng hát hay bay về trời, gợi hình ảnh khởi phụng đằng giao trong tuyện cổ tích, trong huyền thoại”.

    Đạo diễn Nguyễn Long, thuyền nhân định cư tại Quận Cam năm 1992. Trước năm 1975 quen biết nhiều trong giới nghệ sĩ ở Sài Gòn. Làm thân tị nạn, sống lang bạt, làm báo, viết lách. Với chiếc xe truck cà rịch cà tàng, đóng thùng chứa sách báo. Làm chỗ ngủ qua đêm đi vòng quanh nước Mỹ. Anh viết 88 Nữ Ca Sĩ, dày 512 trang. Và tiếp theo với 32 Nữ Ca Sĩ, ấn hành năm 1997. Cuộc phỏng vấn Lệ Thu ngày 15/1/1996 đăng trên trang sách Trang 621-626). Lời chia sẻ của Lệ Thu về cuộc đời, tình trường cũng giống như những gì kể trên.

    Trong các mối tình kể trên cho thấy danh vọng cuộc đời và tình yêu lận đận trong cõi vô thường nầy của Lệ Thu cũng như nhiều nữ ca sĩ khác trên thế gian!

    Hồng Dương gia nhập làng báo rất sớm ở nhật báo Chính Luận thời Đệ Nhất Cộng Hòa. Cuộc tình của Hồng Dương & Lệ Thu có với nhau con gái út là Thu Uyển. Năm 1978, Lệ Thu có mở một hàng cà phê Thu Uyển ở Tân Định. Đến tháng 11 năm 1979, Lệ Thu cùng Thu Uyển vượt biển đến Pulau Bidong và sang Mỹ vào giữa năm 1980. Đến năm 1982, hai cô con gái lớn của Lệ Thu với người chồng thứ hai (Tony Sơn) cũng vượt biên và đoàn tụ với mẹ tại Nam California.

    Sau tháng 4/1974, Hồng Dương bị tù một năm. Không vượt biên cùng Lệ Thu. Khi mới đến Quận Cam trên đất Mỹ, vả 3 gặp nhau (có Linh Linh Ngọc) rồi “riêng một góc trời” mỗi người có cuộc sống riêng. Để giúp bạn ta có niềm vui trên đất Mỹ, Bùi Xuân Hiến, Long Ân và Ngọc Hoài Phương ra tuần báo Chính Luận, Hồng Dương làm Chủ Bút nhưng được thời gian tờ Chính Luận bỏ cuộc chơi.

    Sau nầy nơi cà phê Mưa Rừng (người thân của Hồng Dương) ở góc đường Brookhurst & Edinger. Thỉnh thoảng anh ra quán gặp bằng hữu. Hồng Dương qua đời ngày 18/1/2018 tại Quận Cam, nên lúc Lệ Thu trả lời phỏng vấn năm 2016, anh vẫn còn sống.

    Cùng là báo giới với nhau, gọi là “tình bạn” giữa “người đó” nhà báo ở Seatlle và ca sĩ mang tính lãng mạn cho đời thêm vui trong cõi tạm. Tôi đã từng được những lời chia sẻ, người đàn bà với ngày tháng còn lại sợ nhất là nỗi cô đơn! Ở Mỹ, con cháu có cuộc sống riêng, hình như “hồn nhiên” trong nỗi buồn đang “gặm nhấm tâm hồn” hoàng hôn của cuộc đời! Cháu nội, ngoại ghé thăm cũng dán mắt vào iPhone… rồi vào chúc sức khỏe trước khi về.

    Trước đây, bạn văn Lâm Tường Dũ (tác giả Tình Sử Nhạc Khúc) cũng vào thời điểm nầy, nhờ tôi viết bài: Lệ Thu, Tình Khúc Với Thu. Tôi thấy đề tài ngồ ngộ vì tên tuổi ca sĩ với những tình khúc liên quan đến Thu đã từng đi vào tâm hồn ngưới ái mộ âm nhạc từ nhạc phẩm của Đoàn Chuẩn, Phạm Duy đến Vũ Đức Sao Biển, Ngô Thụy Miên, Trường Sa… Ở trong nước “Nhạc Vàng” bị cấm, bị đả kích thậm tệ rồi “Nhạc Vàng ngự trị nền âm nhạc cả nước, nhưng tôi tế nhị từ chối, tuy chẳng quan tâm ca sĩ về VN hát hò với cái nghiệp “xướng ca” mà truyền thông Việt ngữ nơi đây đã nêu lên vài trường hợp không mấy hay ho gì. Hát hò là chuyện thường tình nhưng tuyên bố lung tung, chấp nhận bài hát theo “đơn đặt hàng” dễ gây dị ứng trong cộng đồng người Việt tị nạn là chuyện khó chấp nhận. Đã có những lời bình phẩm khi viết về hình ảnh vài tiếng hát đã hy sinh mạng sống, bỏ nước ra đi… rồi quay về ca khúc “Hậu Đình Hoa” mà nhà thơ Đỗ Mục than thở trước vận nước trong bài thơ Bạc Tần Hoài. Chuyện cũ đã qua!

    Với tâm hồn nhân bản của truyền thống Việt Nam từ thời cha ông, nghĩa tử, nghĩa tận. Nhận được tin buồn Lệ Thu vĩnh viễn ra đi trong cơn đại dịch, Orange County trong tình trạng ban bố “stay at home”, tình trạng bi đát đến lúc bệnh viện không có chỗ nhận người già bị nhiễm Covid-19, xác người trở thành “hư vô & cát bụi” quá đau thương cho thân nhân!

    Trước nỗi đau nầy, mượn câu thơ trong Chinh Phụ Ngâm để tiễn biệt Lệ Thu Bùi Thị Oanh: “Oanh bay đi biền biệt chẳng quay về”.

    Và, tiếng hát đầu tiên của cuộc đời với câu kết trong nhạc phẩm Dang Dở như định mệnh “Hoa tàn nhạc bay theo không gian” tiễn người: Lệ Thu về cõi thiên thu! “Đời xa tiếng ca nào ai tiếc thương bẽ bàng” (Ánh Đèn Màu).

  • Phương Hoa,  Tin tức

    MĂNG MỌC

    Phương Hoa

    Tiết trời tháng Tám ở miền Nam California vẫn còn nắng gắt. Bãi đậu xe trong khu nhà hàng Majesty hôm nay đầy nghẹt. Ông bạn Quách Cường phải chạy lòng vòng một hồi mới ngừng chỗ cái ô trống bé teo, bị người ta chê bỏ lại vì hai chiếc SUV cao nhồng đậu ăn gian lấn ép cả hai bên. Thật là tài tình, bác Thổ Công của phố Sài Gòn Nhỏ nhanh nhẹn bẻ vô lăng cái rẹt, quẹo vào, thắng két, và đậu thẳng băng chính giữa, chừa mỗi bên một “khe hở” đủ cho hành khách nghiêng mình luồn lách chui ra.

    – Nhà hàng Majesty phía bên kia kìa chị! Cường vội lên tiếng khi thấy tôi như muốn …chui vào xe trở lại. –Chỗ người ta đi đông đông đó.

    Trước cửa nhà hàng Majesty, người người ra vô nhộn nhịp. Nhìn kỹ thì toàn là gốc Mit phe mình. Thành phố nhỏ tôi ở rất ít người Việt, phần đông Mỹ Trắng và một số người Hoa, bây giờ đến đây toàn là dân Giao Chỉ, nhìn thật là…sướng con mắt.

    Tôi đang dạy thiện nguyện cuối tuần một lớp Việt Ngữ, nên luôn thuyết phục phụ huynh cố gắng đưa con em đến trường đều đặn. Tôi từng rất mừng và khâm phục khi lần đầu tiên biết về cuộc thi “Bé Viết Văn Việt” của tờ Việt Báo ở Nam Cali, một chương trình rất giá trị nhằm khuyến khích việc đọc và viết tiếng Việt của con em người Việt ở nước ngoài. Và tôi rất ủng hộ những hoạt động cộng đồng có liên quan đến Việt Ngữ hay văn hóa Việt Nam.  Do vậy mà kỳ này tôi nhất quyết phải có mặt tại chương trình Đào Tạo Tài Năng Trẻ do Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ tổ chức.

    Bước vào trong nhà hàng, tôi ngắm mải mê những vóc dáng mỹ nhân trong tà áo dài Việt Nam thật đẹp đủ sắc màu, thướt tha lượn qua lượn lại như những cánh bướm mùa Xuân của các chị các cô trong ban tổ chức và các nữ thực khách.

    Những ngày trước đó, trên diễn đàn các thành viên Câu Lạc Bộ email qua lại liên tục, thông báo tình hình bán vé gây quỹ, và thu nhận tặng vật, hiện kim cho buổi lễ. Nhưng tôi không thể hình dung ra ACE vất vả cỡ nào, cho đến khi được tận mắt chứng kiến. Quả thật là một sự tổ chức rất chu đáo, bài bản. Sân khấu trình bày đơn giản nhưng trang trọng, với tấm bảng xanh “Tài Năng Trẻ” bao quanh bỡi những nốt nhạc trắng hài hòa, hai lá đại kỳ Việt Nam Cộng Hòa và cờ Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ cắm uy nghi bên phải, một chiếc bánh sinh nhật to tướng có ghi tên nhiều người đặt phía dưới khán đài, làm cho bầu không khí thêm đậm tình thân mật.

    Mở đầu là tiết mục chào cờ Việt Nam Cộng Hòa. Bài Quốc Ca “Này công dân ơi…” được cất lên hùng tráng, vang dậy khu nhà hàng vì hầu như tất cả khán giả đều đồng thanh hát theo các em trong “Tài Năng Trẻ” và toàn ban. Tôi xúc động vươn cao giọng hát, hòa cùng những giọng chim non, mà tim tôi gần như nghẹn lại, nước mắt như chực trào ra. Đây là lần đầu tiên sau hơn bốn chục năm tôi được dịp cùng thiếu nhi Việt Nam chào cờ và hát Quốc Ca Việt Nam Cộng Hòa như thời quá khứ.

    Nhiều tràng pháo tay vang dội khi MC Lisa Trần giới thiệu Hội Trưởng Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sỹ. Nha/nhạc sĩ Cao Minh Hưng điềm đạm bước lên sân khấu nói lời cám ơn, chào mừng quan khách, và giới thiệu thành phần ban văn nghệ. Thật là cảm động khi Hưng cho biết, hôm nay CLB TNS vui mừng vì thấy mục đích đào tạo và nâng đỡ tài năng trẻ trong âm nhạc, một trong những mục đích hội đã đề ra từ ngày đầu thành lập mà cố Nhạc sĩ Anh Bằng và CMHưng luôn mong muốn thực hiện, bây giờ đã thành hiện thực, và dù cho nhạc sĩ Anh Bằng không còn nữa nhưng anh tin chắc rằng ở trên cao người cũng sẽ rất vui.

    Sau khi giới thiệu các thân hào nhân sĩ, báo chí, toàn ban điều hành CLB, Hưng mời Giáo Sư Nguyễn Thanh Liêm, cố vấn văn hóa cho CLB TNS, lên nói chuyện. Với giọng nói hơi mệt nhọc nhưng vẫn rất hùng hồn, cụ Tiến Sĩ cho biết cộng đồng Việt chúng ta cần có nhiều hơn nữa những người trẻ như Cao Minh Hưng, Quỳnh Giao, và anh em trong CLB, để góp sức vào việc đào tạo và phát triển tài năng trẻ cho tương lai đất nước sau này. Cụ cũng ngỏ lời khen ngợi CM Hưng và toàn ban CLB TNS đã tận tâm phục vụ cộng đồng, và cụ cũng mong muốn có thêm thật nhiều cộng đồng Việt nơi khác thực hiện những chương trình hữu ích thế này để bảo tồn ngôn ngữ và nền văn hóa của dân tộc Việt Nam nơi hải ngoại

    GS Nguyễn Thanh Liêm

    Từ lâu tôi rất ngưỡng mộ cụ Nguyễn Thanh Liêm, hôm nay may mắn gặp ở đây, tôi định đến xin phép cụ chụp chung một tấm hình làm kỷ niệm. Nhưng thật tiếc, tôi bận nói dở câu chuyện với người bạn ngồi bên, đến một hồi sau mới chợt nhớ quay lại thì cụ đã đi rồi. Không ngờ đó lại là lần sau cùng tôi nhìn thấy vị Giáo Sư khả kính ấy, vì chỉ vài ngày sau là cụ đã quy tiên. Giáo Sư Tiến Sĩ Nguyễn Thanh Liêm ra đi là một mất mát to lớn cho CLB TNS và cộng đồng người Việt khắp nơi.

    Trưởng ban đào tạo Tài Năng Trẻ G/S Nguyễn Trần Quỳnh Giao cũng được mời lên phát biểu. Cô chia sẻ, một trong những “mục đích của CLB TNS là gìn giữ tiếng Việt, Tiếng Việt còn, người Việt còn” và “chúng ta có rất nhiều tài năng trong thế hệ trẻ, nhưng các em cần phải được hướng dẫn theo đúng hướng và khả năng” để trong tương lai các em chẳng những hát giỏi ca hay, mà còn “có thể trở thành những nhà lãnh đạo giỏi và hữu ích cho xã hội sau này.”

    Phần văn nghệ được bắt đầu với bản hợp ca “Học Sinh Hành Khúc” của nhạc sĩ Lê Thương. Thật vô cùng khâm phục ban điều hành, Cao Minh Hưng, Nguyễn Trần Quỳnh Giao, Lisa Trần, Hạnh Cư, Trần Hào Hiệp, Ngọc Bích, và anh chị em toàn ban Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ, nhưng cũng thật tệ là tôi không thể nhớ hết tên và chức vụ của mọi người. Chương trình Đào Tạo mới thành lập trong một thời gian ngắn, mà họ đã tập luyện cho các em nhuần nhuyễn vô cùng.

    Sau màn hợp ca, CMHưng giữ bé Kariann ở lại sân khấu, bé tự giới thiệu và trình diễn rất dễ thương bài “Bụi Phấn” của Vũ Hoàng làm khán giả vỗ tay rào rào.

    Nhìn Cao Minh Hưng bận rộn tới lui trên sân khấu, tôi lại…lan man. Không biết sức lực ở đâu mà chàng nha/nhạc sĩ trẻ này làm việc giống như người có “ba đầu sáu tay.” Ngoài công việc chính làm nha sĩ lo cho cuộc sống gia đình, Hưng còn sáng tác nhạc, viết văn để tiêu khiển – Cao Minh Hưng đã từng nhận giải Vinh Danh Tác Giả Xuất Sắc trong cuộc thi Viết Về Nước Mỹ năm 2010 của Việt Báo Cali.

    Chưa hết, Hưng còn phụ trách nhiều chương trình Talk Show giúp giới thiệu những chương trình âm nhạc, văn học, thiện nguyện, cộng đồng, nghệ thuật hội hoạ, điện ảnh. Điểm sơ qua các việc làm với mục đích bảo tồn và phát huy văn hóa Việt của CLB TNS, ngoài chương trình Đào Tạo Tài Năng Trẻ hôm nay, còn có tổ chức Giải Thi Hát tại Hội Chợ Tết cộng đồng năm vừa rồi, tổ chức ra mắt sách cho rất nhiều tác giả gốc Việt, trình diễn văn nghệ giúp các chương trình gây quỹ Thương Phế Binh, xây chùa, và các cơ sở văn hóa cộng đồng Việt Nam. Đặc biệt ngày 15 tháng 10 sắp tới, CLB TNS sẽ tổ chức chương trình Đại Nhạc Hội chủ đề “Việt Nam Tôi” tại hý viện Rose Center Theater, Westminster.

    Trở lại chương trình, Thị trưởng thành phố Westminster Tạ Đức Trí được mời lên phát biểu. Ông tán dương tinh thần học tập văn nghệ của các em, và trao tặng bằng vinh danh cho CLB TNS, vì đã cống hiến nhiều cho cộng đồng và “hết lòng dạy dỗ con em chúng ta hát ca bằng tiếng Việt để giữ gìn văn hóa truyền thống Việt Nam” ông nói.

    Tiếp tục phần biểu diện văn nghệ, các em “Tài Năng Trẻ” đã làm cho trái tim tôi cùng khán giả xôn xao, thổn thức. Nhiều tràng pháo tay nối tiếp khi nghe những giọng ca thánh thót cùng những lời giới thiệu rõ ràng bằng tiếng Việt của các “MC nhí” Kariann, Evelyn, Kellyann, Mira, và Mỹ Linh.

    Lilian Đinh ở tuổi thiếu niên điệu đà trong trang phục áo dài vàng, lên hát bài “Ba Mẹ Cho Con” của Phan Văn Minh; Kellyann xinh xắn giọng hát thật ấm áp với bài “Cầu Cho Cha Mẹ” của Phanxico; Anjelika Thuận Thiên áo dài xanh hoa vàng ngọt ngào bài “Chiều Qua Phà Hậu Giang” của Trịnh Lâm Ngân; và Tammy Minh Tâm lứa tuổi mực tím học trò, duyên dáng dịu dàng trong tà áo dài màu hoa cúc – CM Hưng cho biết em chưa bao giờ biết hát tiếng Việt ở nhà – hôm nay rất tự tin với giọng hát mượt mà bài “Trường Cũ Tình Xưa” của Duy Khánh, làm cho mọi người thật là cảm động.

    Màn vũ hợp ca điệu múa “Trống Cơm” đã làm tôi gần như nín thở, ngồi xem mà cứ sợ cái cảnh tuyệt vời trước mắt nó sẽ…biến đi. Mười cô “Ngọc Nữ nhí” với khăn vành áo yếm vàng, váy cánh sen vẽ hoa kim tuyến, cùng hai chàng “Tiên Đồng con” khăn đóng áo dài xanh chữ Thọ, mỗi bé mang một cái trống cơm màu vàng nho nhỏ, có trang trí nhiều đường kẻ hình thoi.

    Những bàn tay be bé xinh xinh vỗ trống nhịp nhàng, những cú xoay mình thướt tha uyển chuyển theo điệu nhạc, những nét mặt tươi tắn lộ vẻ tự tin, đã thật sự hớp hồn khán giả. Xôn xao chẳng khác nào cánh nhà báo trong một cuộc nói chuyện của tổng thống, người người vội vã rời chỗ, tay lăm lăm máy ảnh, IPhone, và máy quay phim, khom người luồn lách đến gần sân khấu “lấn ép” cả những máy quay phim lớn đặt sẵn trên giá của các nhà báo, đài truyền hình. Nhiều cánh tay vươn tới, ánh sáng chớp lóe liên tục.

    Sau khi bé Sapphire Thục Nghi trình bày bài “Gặp Mẹ Trong Mơ” thì cuộc đấu giá gây quỹ bắt đầu. Bức hình chụp cảnh đồng lúa thật đẹp do Hội Nhiếp Ảnh của anh Tony Thuận tặng đã được cô MC Lisa và anh Phạm Ngọc Lân đem ra rao bán. Sau một hồi trả giá, cuối cùng bức tranh đã được một mạnh thường quân là Bác sĩ Ngô Bá Định mua với giá cao nhất, gấp hai lần giá chính thức đưa ra của bức tranh.

    Tiết mục kế tiếp do bé Kristina trình bày, bài “Hình Bóng Quê Nhà” của nhạc sĩ Thanh Sơn cùng với màn múa phụ diễn nón lá của các bạn. Bé Evelyn Minh Tuyết theo sau bằng giọng hát truyền cảm với ca khúc “Mời Anh Về Thăm Quê Em.” Và khi Thomas Vinh lên trình bày bài “Mẹ Hiền Yêu Dấu” thì ông xã tôi và ông bạn Cường “chấm” giải nhất cho cậu bé này. Không biết có phải vì họ…bênh vực phe mình, hay là tội nghiệp cho cái cảnh “gươm lạc giữa rừng hoa” của cậu bé, vì hầu hết các “nghệ sĩ tí hon” đều thuộc phe kẹp tóc.

    Đến màn hợp ca và múa nhạc phẩm “ruột” của CLB TNS, “Việt Nam Ơi! Việt Nam Ơi!” do hội trưởng Cao Minh Hưng đồng sáng tác với cố nhạc sĩ Anh Bằng, mọi người lại bị bất ngờ, thích thú, xen lẫn cảm động. Tim tôi đập rộn ràng khi nhìn các bé trong những bộ quốc phục ba miền, áo tứ thân miền Bắc, áo dài tím Huế miền Trung, áo bà ba Nam Kỳ, miệng cười tươi rói tay phất cờ Việt Nam Cộng Hòa…

    Khán giả còn đang ngẩn ngơ vì tiết mục quá “ăn ý” còn đang tiếp tục vỗ tay, thì bé Mira Minh Châu bước ra trình bày bản “Sài Gòn” của nhạc sĩ Y Vân sau khi bé tự tin tự giới thiệu bài hát của mình, làm mọi người lại phải vỗ đến hai bàn tay đến…ê ẩm.

    Cho tới giờ này, ngồi ghi lại các chi tiết buổi lễ ra mắt Đào Tạo Tài Năng Trẻ, tôi vẫn còn như nghe vang vang đâu đây giọng hát Ivy khi bé cho mọi người nghe bản “Lối Về Xóm Nhỏ” của Trịnh Hưng. Một ca sĩ mầm non mới nhú nhưng rất điêu luyện. Giọng bé thật mượt mà, khi thì thanh tao như tiếng chuông ngân, “Về thôn xưa ta hát khúc hoan ca,” lúc mênh mang như thuyền đang lướt gió, của “Tiếng hò cô gái sông Cửu Long,” và bảng lảng như mây trôi, nồng ấm như ánh nắng chiều rọi xuống làng thôn quê mẹ, “Làm cho đôi má em thêm hồng.”

    “Đáp trả” lại hai…cụ chàng ngồi bênh cạnh vừa tỏ ra “phe cánh” bầu giải nhất cho cậu bé Thomas Vinh, tôi nói với họ tôi chấm giải “Quán Quân” cho “phe mình” là bé Ivy. Chỉ là đùa chút cho vui, chứ thật ra bé nào hôm nay cũng hay cũng giỏi hết.

    Tôi đang chăm chú quan sát và ghi chép, xoay tới quay lui hỏi thăm tên của các “diễn viên” tôi chưa kịp nhớ để dành cho bài viết “không thể không có” về buổi lễ này, bỗng đâu Ngọc Bích, vị phu nhân xinh xắn của hội trưởng Cao Minh Hưng bước lại:

    – Chị ơi! Chị ăn đi kẻo đói bụng. Không cần ghi chép hết tên của các bé đâu, lát nữa em sẽ đưa cho chị danh sách chương trình là chị sẽ có đầy đủ.

    Tôi giật mình nhìn lên. Vì mãi mê với các tiết mục dễ thương của các em nên tôi hầu như quên khuấy đi mất những món ăn ngon trên bàn. Bây giờ mới thấy đói.

    Nếu Ngọc Bích không nhắc, chắc khi nhà hàng đến dọn dẹp tôi cũng không biết được các món ăn của nhà hàng này nó ngon đến cỡ nào. Bây giờ tôi mới biết. Thật đúng như tôi và bạn bè của cặp vợ chồng trẻ trung năng động mà chúng tôi hay gọi đùa một cách mến yêu là cặp “Tiên Đồng Ngọc Nữ” này nhận xét, Ngọc Bích chẳng những xinh xắn mà còn chu đáo dịu dàng biết bao. Người ta nói, sau lưng người đàn ông thành công luôn có một người vợ đảm đang. Nhưng đối với công việc của Cao Minh Hưng, thì cô vợ đảm đang cũng không thể đủ. Hưng có quá nhiều việc để thực hiện, mà việc nào cũng quan trọng khó khăn, cho nên Ngọc Bích ngoài việc đảm đang chuyện nhà, cô còn là một bạn đồng hành, lúc nào cũng luôn sát cánh bên chồng, tham gia cùng CLB TNS đi sinh hoạt văn nghệ khắp đó đây, và ủng hộ hết mình những việc làm của Hưng. Không cuộc họp mặt nào, chương trình nào mà thiếu mặt Ngọc Bích trong những tấm hình tập thể.

    Tôi may mắn được xếp ngồi cạnh một chị thật trẻ thật đẹp mặc chiếc áo dài màu tím xinh như cô gái Huế. Nói chuyện một hồi đến khi nghe giới thiệu tôi thật bất ngờ khi biết chị là Như Hảo, giám đốc đài radio Mẹ Việt Nam ở Nam Cali. Lâu nay tôi biết Như Hảo là cố vấn truyền thông cho CLB TNS, nhưng không ngờ chị lại còn trẻ đến như thế.

    Trong khi ăn, tôi nhìn bâng quơ qua dãy bàn sát vách phía trong cùng. Dãy bàn đặc biệt này dành cho các “diễn viên nhí” với những món ăn khác hơn của người lớn. Chả giò, cơm chiên, thịt mềm…món nào nhìn cũng hơi “lai lai” thức ăn người Mỹ, vì trẻ em không ăn được những món “xương xóc” như cá chiên, gà chặt, hay càng cua như bên bàn của khách mời. Các nghệ sĩ tí hon có vẻ hào hứng, vừa thưởng thức món ăn vừa trò chuyện, cũng râm ran không thua gì những người lớn gần bên.

    Tôi lại dán mắt lên sân khấu khi bé Kristina bắt đầu hát bài “Lời Ru Một Đời” của Nguyễn Hồng Thuận. Cậu bé Thomas Vinh trở lại lần nữa, cùng song ca với Mira Minh Châu bản nhạc cảm động “Ơn Nghĩa Sinh Thành” của Dương Thiệu Tước. Mira vừa xuống thì hai chị em “ca sĩ” Mỹ Linh áo dài và Mỹ Hân bé tí trong áo bà ba quần lãnh láng bong xuất hiện. Mỹ Linh với vẻ dạn dĩ tự tin, giới thiệu bài hát “Cô Gái Việt” của nhạc sĩ Hùng Lân mà hai chị em sắp trình bày. Diễm phúc thay, nhà ai có hai bé gái rất dễ thương, lại còn là những ca sĩ tương lai đầy triển vọng.

    Màn diễn cuối cùng cũng rất tuyệt vời. Đó là màn múa quạt điệu lý dân ca cổ truyền Việt Nam “Lý Cây Bông.” Trong áo đầm nền trắng có điểm xuyết viền và hoa màu hồng, tay vung vẩy chiếc quạt giấy có bèo rộng bản mỏng manh, trang trí hoa sen, cành lá trúc, mỗi em một vẻ, cùng hòa điệu nhịp nhàng, uyển chuyển theo lời ca, làm người ta tưởng tượng như đang xem vũ khúc thiên thai của những nàng tiên non trong các câu chuyện thần thoại. Khán giả lại đua nhau chụp hình tới tấp.

    Màn múa quạt của các em thiếu nhi TNT

    Kèm theo nhiều tiết mục của các em Tài Năng Trẻ, những nghệ sĩ “gạo cội” của CLB cũng góp phần giúp vui, đặc biệt nhất, thân tình nhất, là tiết mục cùng nhau hát chúc mừng sinh nhật cho các vị có tên trên chiếc bánh trước khi họ cùng chung tay cắt bánh. May mắn cho “chàng” của tôi, ông ấy là người độc nhất có đúng ngày sinh nhật trong buổi birthday tập thể quý ba tháng này.

    Giáo sư Nguyễn Thanh Liêm chụp hình lưu niệm với thiếu nhi và các huynh trưởng tại chương trình Đào Tạo Tài Năng Trẻ. Chỉ ít ngày sau sinh hoạt này, Giáo sư Nguyễn T. Liêm từ trần.

    Còn một điều thú vị nữa, là tôi đã gặp mặt thi sĩ Phi Loan Hoàng Thị Cỏ May. Từ lâu, chúng tôi trao đổi qua lại trên email, nhưng hôm nay là lần đầu tiên “diện kiến” mới thấy “cô bạn ảo” bây giờ…hiện ra thật, xinh tươi như hoa trong chiếc đầm xanh mực.

    Niềm vui đầy ắp vì thấy sự thành công của chương trình Đào Tạo Tài Năng do “phe mình” thực hiện, khiến tôi bị lúng túng khi đài truyền hình VNA phỏng vấn vì biết chúng tôi là khách đến từ phương xa. Phần tôi, nói với phóng viên những gì thì tôi quên tuốt luốt. Nhưng “chàng của tôi” có một câu trả lời hổng hiểu sao tôi lại còn nhớ mãi đến bây giờ. Ông ấy đã nói với ký giả, “Tôi cầu mong cho những cánh chim non hôm nay, ngày càng phát triển tài năng vốn có và trong tương lai sẽ trở thành những con đại bàng, dang đôi cánh rộng bay về cứu lấy quê hương.”

    Cuối cùng, tôi ước mong những bậc phụ huynh người Việt khắp nơi từ nước Mỹ và các nước trên thế giới, đều ủng hộ con em mình, khuyến khích chúng tham gia các chương trình văn nghệ cộng đồng, đi học, hát ca, và nói chuyện, bằng tiếng nước nhà, để các em tiếp tục nối gót lớp người đi trước, thì chúng ta đâu có lo chi chuyện văn hóa và ngôn ngữ Việt Nam ngày sau mai một.

    Xin trân trọng chúc mừng thành công của CLB TNS hôm nay, và chúc Câu Lạc Bộ cùng chương trình Tài Năng Trẻ ngày càng tiến xa hơn nữa. Đặc biệt là mở rộng thêm nhiều chi nhánh, ở Hoa Kỳ và các nước trên toàn cầu, để đào tạo thêm nhiều mầm non nghệ sĩ, để cùng nhau đem lời ca tiếng hát phục vụ cho việc đòi lại Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền cho Việt Nam chúng ta, như mục đích của Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ và cố nhạc sĩ Anh Bằng đã đề ra.

    Phương Hoa

  • Tin tức

    Vương Trùng Dương

    Cách đây hai thập niên, vào thời điểm nầy, Lâm Tường Dũ bàn với tôi thực hiện Giai Phẩm Xuân cho tờ Thế Giới Nghệ Thuật. Với nhạc sĩ thì dựa vào các nhạc phẩm sáng tác về Xuân nhưng với ca sĩ thì mông lung nên dựa vào bức tranh tứ quý: mai, lan, cúc, trúc để viết. Tôi chọn 4 ca sĩ khởi đầu với chữ Mai: Mai Hương, Mai Hân, Mai Ngọc Khánh & Mai Lệ Huyền. Lâm Tường Dũ chọn 4 chữ Lan cuối cùng: Thanh Lan, Ngọc Lan, Ý Lan & Hương Lan.

    Ngọc Lan sinh ở Nha Trang, qua đời năm 2001, nay đến Mai Hương sinh ở Đà Nẵng từ trần vào chiều Chủ Nhật 29/11/2020 tại Nam California. Tôi thích và thiện cảm với hai ca sĩ nầy từ tiếng hát đến nhân cách sống và gắn liền với nơi chốn cố hương và quê vợ.

    Mai Hương là một trong những ca sĩ duy nhất không bị scandal nào trong tình yêu và nghiệp dĩ. Ca sĩ có công việc vững chắc ở Bank of America. Là con chiên rất ngoan đạo Tin Lành, Chủ Nhật nào cũng đi lễ ở nhà thờ Vietnamese United Methodist ở Anaheim, tuy xa nhà nhưng có đông cộng đồng người Việt. Thứ Sáu, 11 tháng 12, nhà thờ làm Lễ Dâng Xác Trương Mai Hương (lấy họ chồng) – tôi là Phật Tử thuần thành nhưng trong văn học nghệ thuật với những khuôn mặt chân chính đều bày tỏ lòng cảm mến.

    Trong mùa dịch Covid-19 đang cô lập mọi người, rất tiếc có hai ca sĩ được mọi người ái mộ đã vĩnh biệt cõi trần, ca sĩ Thái Thanh qua đới 17 tháng 3, 2020 và lần nầy đến ca sĩ Mai Hương, những người ái mộ không đến để tiễn đưa lần cuối!

    Về tiểu sử Mai Hương đã được đề cập khá nhiều nên ghi tổng quát:

    Mai Hương nguyên danh Phạm Thị Mai Hương, gốc Hà Nội, sinh năm 1941 tại Đà Nẵng. Xuất thân trong một gia đình nghệ sĩ, cha mẹ MH là Phạm Đình Sỹ và nữ kịch sĩ Kiều Hạnh, diễn viên đoàn kịch Sao Vàng của Thế Lữ, được Bộ Thông Tin VNCH đã trao tặng danh hiệu nữ kịch sĩ xuất sắc nhất năm 1956. Ông Phạm Đình Sỹ là anh trai của các ca sĩ Thái Hằng (vợ nhạc sĩ Phạm Duy), ca sĩ Thái Thanh, ca sĩ Hoài Trung Phạm Đình Viêm và nhạc sĩ Hoài Bắc Phạm Đình Chương.

    Năm 1951, gia đình ông Phạm Đình Sỹ mới trở về Hà Nội, cuối năm 1952 di cư vào Sài Gòn sống cho đến năm 1975. Năm 1953, mới 12 tuổi đã tham dự thi cuộc tuyển lựa ca sĩ của đài phát thanh Pháp Á tại rạp Norodom, với ca khúc Xuân & Tuổi Trẻ (nhạc La Hối, lời Thế Lữ) được trúng tuyển. Mai Hương cộng tác với chương trình nhi đồng của nữ ca sĩ Minh Trang trên đài Phát Thanh Sài Gòn, thời gian cộng tác với các chương trình thiếu nhi, khi trao lại cho kịch sĩ Kiều Hạnh đổi tên là ban Tuổi Xanh. Khi Đài Phát Thanh Pháp Á, sau đổi tên thành Đài Phát Thanh Quốc Gia rồi Đài Phát Thanh Sài Gòn), Ban Tuổi Xanh tiếp tục cộng tác với đài phát thanh hàng tuần. Ban Tuổi Xanh đã quy tụ những tiếng hát Bích Chiêu, Mai Hương, Bạch Tuyết, Quỳnh Giao, Tuấn Ngọc, Hoàng Oanh, Phương Hoài Tâm, Xuân Thu… và  Bạch Tuyết (sinh năm 1943, em gái Mai Hương vừa qua đời cách nay 3 tháng, trùng tên đào cải lương Bạch Tuyết). Mai Hương theo học trường Quốc Gia Âm Nhạc (cùng thời điểm theo tại trường trung học Nguyễn Bá Tòng) được khoảng ba năm về violin, ký âm pháp, đàn tranh và hợp xướng. Sau đó vì bận thi tú tài 1 nên phải bỏ dở.

    Khi Mai Hương tham gia trong ban nhạc của Võ Đức Tuyết và Hoàng Lang cùng với những ca sĩ nổi danh của nền tân nhạc lúc đó là Anh Ngọc, Duy Trác, Nhật Bằng, Kim Tước, Mộc Lan, Châu Hà…Và, Mai Hương lần lượt xuất hiện trong nhiều ban ca nhạc khác, như Tiếng Nhạc Tâm Tình của Anh Ngọc, ban Phương Hoa của Vũ Thành, ban Hương Quê của Hoàng Trọng… Và nổi tiếng nhất với Ban Tiếng Tơ Đồng của Hoàng Trọng năm 1967 (Ông hoàng của dòng nhạc Tango, tôi đã viết bài Hoàng Trọng, Ngàn Thu Áo Tím trong quyển Văn Nhân & Tình Sử). Ban nhạc quy tụ những ca sĩ lừng danh, thường trình bày những ca khúc tiền chiến và những ca khúc nổi tiếng của các nhạc sĩ nổi tiếng ổ Sài Gòn. Mai Hương trong tam ca của Ban Tiếng Tơ Đồng (Kim Tước, Quỳnh Giao), theo dòng thời gian từ trong nước, ở Hoa Kỳ. Tiếng hát Mai Hương thường xuyên ngoài Đài Phát Thanh Sài Gòn còn có  Đài Tiếng Nói Quân Đội, Đài Tiếng Nói Tự Do và Đài Truyền Hình Việt Nam trên băng tần số 9 ở Sài Gòn.

    Lập gia đình với người bạn đời Trương Dục, tuy không ở trong giới nghệ sĩ năm 1961 nhưng là người cảm thông và khích lệ. Ngày 22 tháng 4 năm 1975, Mai Hương cùng chồng Trương Dục, phục vụ tại Nha Hàng Không Dân Sự, và bốn người con rời Việt Nam tạm trú tại trại Pendleton ở Nam California. Lần đầu tiên Mai Hương được mời đi trình diễn ở thành phố New Orleans.

    Năm 1980, Mai Hương phát hành băng nhạc đầu tiên tại hải ngoại mang tên Giấc Mơ Hồi Hương (Ca khúc nổi tiếng cũa Vũ Thành). Và từ đó thu âm, có nhiều CD như Nhặt Cánh Sao Rơi, Serenade, Vàng Phai Mấy Lá… Tổng cộng khoảng 10 CD với tiếng hát của Mai Hương, trong số đó có CD Tìm Nhau Bốn Mùa hát chung với Kim Tước và Quỳnh Giao. Năm 1989 Mai Hương sống ở Rowland Heights, Nam California và làm việc cho ngân hàng Bank Of America. Sau 22 năm với công việc, năm 2000 Mai Hương về hưu và thỉnh thoảng xuất hiện trong các chương trình tưởng nhớ nhạc sĩ qua đời… Tiếng hát của Mai Hương là tiếng hát của hoài vọng, nhớ thương của cung thương ngày cũ.

    Mỗi ca sĩ thường có những ca khúc để đời. Với giọng soprano, nhẹ nhàng, dịu dàng, thiết tha, bay bổng, cao vuốt và điêu luyện… thích hợp với những ca khúc bán cổ điển. Mai Hương đã thực hiện trong CD như: Giấc Mơ Hồi Hương, Bóng Ngày Qua, Đi Chơi Chùa Hương, Mai Hương & Những Tuyệt Phẩm Đoàn Chuẩn – Từ Linh, Tình Khúc Dương Thiệu Tước, Khúc Nhạc Ly Hương, Nhạc Tiền Chiến, Nhặt Cánh Sao Rơi, Vàng Phai Mấy Lá, Như Ngọn Buồn Rơi, Sérénade, LỠ Chuyến Đò, Tình Khúc Văn Cao với Quỳnh Giao… Với hàng trăm ca khúc đó cũng hình dung được những bài hát do Mai Hương trình bày.

    Trong cuộc phỏng vấn của Nghiêm Xuân Cường thực hiện, ca sĩ Mai Hương đã chia sẻ:

    “Trong các kỷ niệm của tôi về thuở niên thiếu, phải nói thời gian êm đẹp nhất là những năm tôi học từ lớp Đệ Ngũ đến Đệ Tam. Tôi nhớ lại những tháng năm ấy như một giòng sông êm đềm trôi mãi trong ký ức bởi lẽ ở tuổi mười bốn, mười lăm, tôi đã bắt đầu biết nghĩ và chớm yêu thơ nhạc nhưng vẫn chưa có gì phải lo nghĩ về thi cử hay về cuộc chiến. Những năm cuối thập niên 60, Sài Gòn vẫn còn huởng không khí tương đối yên bình…

    … Từ năm 1972 đến 1975 một số người bỏ đài, không còn hứng khởi hát hò như xưa. Trong số đó có chị Kim Tước ra Nha Trang, chị Hà Thanh ra Huế. Các anh Thanh Vũ, Trần Ngọc (nhạc sĩ Tuấn Khanh) chú Anh Ngọc không hát nữa. Cô Thái Thanh cũng vậy. Trong đài bấy giờ chỉ còn tôi, Hoàng Oanh, cô Mộc Lan, chị Thể Tần và Phượng Bằng, Phương Nga. Quỳnh Giao thì không đi hát đều đặn như trước mà bận dậy đàn nhiều hơn. Ngày 22 tháng 4 năm 1975 chúng tôi rời bỏ quê hương đi lánh nạn xứ người…”

    Với tâm niệm của người ca sĩ: “Tôi muốn làm công việc giới thiệu này để nhắc nhở cho những người yêu nhạc rằng kho tàng âm nhạc Việt Nam rất phong phú bằng cách ghi âm lại những bài hát ấy để lưu lại một cái gì cho người, cho mình. Tôi cũng muốn ghi lại giọng ca của mình trong lúc còn có thể hát được vì có ai trẻ mãi với thời gian. Những bản nhạc mà tôi đã chọn để hát cho khoảng hơn 10 CDs cho các trung tâm Diễm Xưa, Tú Quỳnh, Mai Ngọc Khánh… cũng không ngoài mục đích kể trên”.

    Với nhạc sĩ Vũ Thành ngoài ca khúc Giấc Mơ Hoài Hương, tôi thích tình khúc Nhặt Cánh Sao Rơi với tiếng hát Mai Hương cũng là chủ đề của CD.

    Giờ đây, anh Trương Dục ngậm ngùi thương tiếc hình ảnh người vợ hiền Mai Hương ra người thiên cổ với nỗi lòng trong ca khúc:

    “Người năm trước còn nhớ chăng đêm nào

    Đầu xanh tóc tình lứa đôi dạt dào

    Bạn ngồi bên tôi tay nắm tay tim nghẹn ngào

    Lặng nhìn trời xanh thẳm đẹp muôn ánh sao

    … Nhưng đêm nay sao trời vẫn sáng

    Ngân hà đôi hướng có riêng mình tôi

    Lắng buồn đoái nhìn ngàn sao thờ ơ

    Áng mây buông lững lờ

    Bới trong tro tàn tìm ánh sao xưa”.

    Trước đây, thỉnh thoảng tôi gặp anh Trương Dục ở quán cà phê trong khu Catinat Plaza ở Little, sau nầy chưa có dịp gặp nhau.

    Tưởng nhớ người quá cố, ca sĩ Mai Hương, gởi đến anh lời chia buồn và tựa đề bài viết: Mai Hương, Một Ánh Sao Rơi trong gia đình anh và mọi người ở trong nước và hải ngoại đã một thời yêu thích tiếng hát theo năm tháng.

    Little Saigon, Nov 30, 2020

    Vương Trùng Dương

  • Tin tức

    NHÀ SÁCH TÚ QUỲNH GIÃ TỪ ĐỒNG HƯƠNG

    KIỀU MỸ DUYÊN

              Phan Hoàng Yến, chủ nhân nhà sách Tú Quỳnh, khuôn mặt buồn hiu hắt đi tới đi lui, niềm nở với khách hàng, nhưng không nở nổi nụ cười. Bình thường thì Yến hay cười với khách hàng, bây giờ thì nụ cười biến mất, có ai cười được khi cơ sở thương mại đã hơn 41 năm sắp đóng cửa vì không buôn bán được, trả tiền cho chủ phố đều đặn mà tiền thì không vào. Chồng Yến, ông Đặng Văn Thạnh, chiến sĩ của Liên Đoàn 5 Biệt Động Quân ra đi vĩnh viễn không bao giờ trở lại. Yến đã gầy, bây giờ gầy thêm, giọng nói ngày xưa nhỏ nhẹ, bây giờ gần như nói không ra tiếng. Khách hàng của nhà sách Tú Quỳnh đều là người lớn tuổi, độc giả đã từng gắn bó với tiệm sách này từ mấy chục năm qua, có người ra đi vĩnh viễn không bao giờ trở lại.

              Từ khi tiệm sách sắp đóng cửa, chỉ mở cửa ngày thứ bảy và chúa nhật, đợi đến cuối tháng 12/2020 thì dẹp tiệm luôn. Tôi thường đến mua sách để tặng bằng hữu, những quyển sách tôi chọn lựa là sách triết học về Phật Giáo, Công Giáo, Phật Giáo Tây Tạng, và những quyển sách xuất sắc của những nhà văn nổi tiếng từ mấy chục năm nay.

              Yến tâm sự:

              – Chị em mình quen mấy chục năm rồi phải không chị? Ngày xưa chị hay vào Liên Đoàn 5 Biệt Động Quân làm phóng sự.

              Tôi gật đầu và nói:

              – Chị nhớ ngày xưa khi chiến sĩ Biệt Động Quân định cư ở Hoa Kỳ, ngừng lại ở tiểu bang Cali, ông Thạnh thường đãi tiệc và mời một số bằng hữu, anh em Biệt Động Quân đến tham dự. Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai, chỉ huy trưởng Biệt Động Quân đến quận Cam, vợ chồng ông Thạnh và anh em gia đình Biệt Động Quân đón tiếp mọi người ân cần, niềm nở.                                   

             Và từ đó, bất cứ chiến sĩ Biệt Động Quân nào về Orange County thì cũng được các anh Biệt Động Quân và gia đình Biệt Động Quân đón tiếp một cách long trọng.

              Nói về tiệm sách Tú Quỳnh, nếu là một nhà văn, nhà báo, hay thương gia đứng ra mở tiệm sách thì không ai ngạc nhiên, nhưng người mở tiệm sách lại là một chiến sĩ Biệt Động Quân, nhiều người lấy làm lạ? Mới định cư ở Hoa Kỳ, người nào cũng vừa đi làm vừa đi học. Vợ chồng ông Đặng Văn Thạnh có một đàn con nhỏ, vừa đi học, vừa đi làm, vừa chăm sóc con nhỏ, mà định mở tiệm sách. Thật ra 45 năm về trước, sách, nhạc là nhu cầu cần thiết cho mọi người, vì lúc đó chưa có truyền thanh, truyền hình, chỉ có báo Trắng Đen của ông bà Việt Đinh Phương ở Glendale, Los Angeles County và báo Hồn Việt của Nguyễn Hoàng Đoan ở miền Nam Cali. Lúc đó, tôi nghe nói ở một tiệm cafe nào đó, ông mời một số anh em Biệt Động Quân ngồi uống cafe, thì ông Thạnh nói ở đây cần một tiệm sách. Tức khắc anh em hưởng ứng ngay và nói anh em sẽ ủng hộ để nhà sách thành hình. Yến, vợ ông Thạnh yểm trợ chồng một cách tích cực.

              Tú Quỳnh ở trong Mini Mall Bolsa, thành phố Westminster, là nhà sách đầu tiên của người Việt tị nạn tại nước Mỹ.

              Có nhà sách rồi thì có tác giả xuất bản sách, in lại sách cũ, sách mới. Tú Quỳnh bán sách mới, cũ, bán CD, DVD nhạc, truyện sách đủ loại sách: triết, tiểu thuyết, thơ, nhạc, sách học trò, nghiên cứu,… Nhà văn bốn phương trời gởi sách đến miền Nam in và Tú Quỳnh phát hành khắp nơi trên thế giới. Sau này ở Orange County có thêm nhiều nhà sách khác như: Văn Bút, Văn Khoa, Tự Lực, … nhưng Tú Quỳnh được đồng bào nhớ tới nhiều nhất vì là nhà sách đầu tiên và có sự liên lạc khắp nơi. Có nhiều tác giả in sách ở Đài Loan rồi Tú Quỳnh phát hành.

              Các thư viện của các trường Đại Học Mỹ cũng đến Tú Quỳnh mua sách. Tôi đã từng gặp một giáo sư đại học UCLA đến đây mua sách, và ông cũng mua Chinh Chiến Điêu Linh của Kiều Mỹ Duyên mấy thùng. Tú Quỳnh là nơi hội ngộ của những người thích sách, nghiền đọc sách, nhất là các nhà văn đến từ Âu Châu, Úc Châu và nhiều nơi khác. Tú Quỳnh là trung tâm gặp gỡ của nhiều văn nghệ sĩ. Đó là lý do lúc ông Đặng Văn Thạnh qua đời, tôi gặp nhiều vị lãnh đạo tôn giáo, văn nghệ sĩ, bằng hữu thăm viếng và cầu nguyện cho ông.

              Khi ông Thạnh qua đời nhiều người khóc, bởi vì nhiều người chịu ơn ông. Ông giúp đỡ nhiều người, phóng khoáng, hứa điều gì với ai thì làm ngay điều đó. Tôi thăm viếng ông lần cuối cùng ở nhà quàng Costa Mesa. Văn nghệ sĩ đứng sắp hàng tiễn ông lần cuối. Yến, vợ ông, con ông không còn tiếng khóc. Tôi thương Yến vô cùng. Yến là người đàn bà rất hiền, ít nói, chỉ biết cười. Sau ngày ông ra đi cho đến khi tiệm sách đóng cửa, Yến không còn cười nữa. Các con của ông có công ăn việc làm, còn lo cho gia đình. Yến và những người mê sách, thương ông Thạnh chỉ còn ngậm ngùi giã từ tiệm sách Tú Quỳnh.

              Tôi nói với Yến:

              – Chị thương em lắm.

              Rồi tôi lặng yên, không còn điều gì hơn để nói nữa. Yến nói nhỏ nhẹ như hơi thở:

              – Em sẽ buồn lắm vì hàng ngày em không còn ra đây nữa.

              Yến không biết lái xe, đi đâu chồng chở, con chở, hay bạn bè cho quá giang hoặc đi xe bus.

              Yến hiền lành, ít nói, được nhiều người thương. Tôi thường gặp các ca sĩ, nhà văn, nhà báo, nhà binh có mặt thường trực ở tiệm sách. Sau khi ông Đặng Văn Thạnh ra đi vĩnh viễn thì sự có mặt của những người bạn thường hiện diện ở tiệm sách là niềm an ủi lớn cho Yến, người chủ tiệm còn lại.

              Đại Tá Biệt Động Quân Nguyễn Văn Đương, Thiếu Tá Hồng và nhiều các cấp chỉ huy hay anh em Biệt Động Quân khác thường đến tiệm sách này. Người từ bốn phương Trời tựu họp về đây. Chủ tiệm đã chia lại nửa phần của không gian này cho hội từ thiện Trương Bửu Diệp, vậy mà vẫn còn không đủ tiền để trả cho chủ phố. Người tị nạn khắp nơi trên thế giới về miền Nam Cali đều ghé thăm tiệm sách Tú Quỳnh. Thường du khách mua quà cho người thân của mình khi đến Orange County là sách và đĩa nhạc.

              Tiệm sách Tú Quỳnh cũng là nơi phát hành bút ký Chiến Trường của Kiều Mỹ Duyên là Chinh Chiến Điêu Linh, Phong Thủy và cuộc sống hôm nay, Phong Thủy Bí Quyết để thành công, và Cẩm Nang Phong Thủy áp dụng cho nhà ở và cơ sở thương mại của tác giả Nguyễn Phúc Vĩnh Tung đã tái bản nhiều lần.

              Hôm họp báo để giã từ đọc giả, giã từ đồng hương, Yến chỉ lặng lẽ để cho giáo sư Tô Văn Lai, cựu nghị viện Tony Lâm, ông Nguyễn Ngọc Chân, đạo diễn phim Vì Tôi Là Linh Mục, cũng là chiến sĩ Biệt Động Quân, cựu sinh viên Võ Bị Đà Lạt. Hầu hết báo chí truyền hình đều hiện diện, phát biểu ý kiến nói về sự thành lập của nhà sách Tú Quỳnh rất là cảm động.

              Tuần sau, tôi trở lại tiệm sách để mua thêm sách tặng bằng hữu, đồng hương trẻ. Tôi tìm sách chiến tranh của tác giả Phan Nhật Nam, nhưng chỉ còn một cuốn: Đường Trường Xa Xăm ( Nhà xuất bản Tú Quỳnh, CA 1995). Phan Nhật Nam là phóng viên chiến trường, sinh viên Võ Bị Đà Lạt khóa 18, ở tù nhiều năm dưới chế độ Cộng Sản, định cư ở Mỹ theo diện H.O. Ông sáng tác không ngừng nghỉ và cộng tác với đài truyền hình SBTN và nhiều tờ báo khác nhau. Tôi không tìm được sách “Dấu Binh Lửa” của nhà văn Phan Nhật Nam, mà người bạn yêu lính nhờ tìm dùm. Không tìm được sách, tôi gọi hỏi tác giả. Nhà văn Phan Nhật Nam cho biết sách của ông có bán trên Amazon. Nhà văn Phan Nhật Nam đang sống ở Arizona, nhờ tôi tìm dùm sách của nhà văn Nguyễn Hiến Lê và sách của nhà văn Võ Phiến. Nhà văn Phan Nhật Nam yêu cầu tôi chỉ mua sách ở tiệm sách Tú Quỳnh, vì muốn giúp cho Yến. Nghe tôi gọi, Yến mừng lắm, vội soạn ngay sách mà nhà văn Phan Nhật Nam yêu cầu, hẹn thứ bảy Yến mở cửa tiệm sách tôi đến lấy sách.

              Đồng hương đến Tú Quỳnh mua sách không ai nở nụ cười, âm thầm chọn sách, lựa CD, DVD nhạc,… Hầu như không ai nói chuyện với ai, chỉ nói chuyện với bà chủ tiệm khi trả tiền. Trong các khách mua sách, có một người trẻ hỏi:

              – Cô ơi, sao cháu không thấy Chinh Chiến Điêu Linh của cô Kiều Mỹ Duyên và sách Phong Thủy của tác giả Nguyễn Phúc Vĩnh Tung vậy?

              Bà chủ trả lời:

              – Chinh Chiến Điêu Linh và Phong Thủy bán hết từ lâu rồi, đâu còn quyển nào?

              Có những quyển sách đã bán hết. Sở dĩ Chinh Chiến Điêu Linh và Phong Thủy không còn nữa vì tái bản nhiều lần. Những tác giả có chương trình trên nhiều đài tivi, radio nên bán qua tivi, radio cũng đủ.

              Đồng hương nào đến tiệm sách Tú Quỳnh, khuôn mặt cũng buồn buồn. Buồn vì họ biết sẽ không còn có cơ hội gặp lại những người yêu sách, thích đọc sách sẽ có mặt ở đây.

              Hiện nay cũng còn những tiệm sách hiện diện ở miền Nam California như Tự Lực ở đường Brookhurst, thành phố Garden Grove; Văn Bút, Văn Khoa, Làng Văn, Phượng Oanh ở đường Bolsa, thành phố Westminster. Ngày xưa, cũng có vài ba nhà sách ở miền Nam Cali bây giờ đã đóng cửa. Mỗi lần nhà sách đóng cửa, sách chưa bán hết không biết sẽ làm sao?

              Một ông chủ nhà sách, sau khi tiệm sách đóng cửa nói với tôi:

              – Bán sách thành bán giấy, khoảng 90 cent/1pound. Đau lòng thật phải không quý đồng hương?

              Nhà văn Huy Phương, nhà văn quân đội, tù nhân chánh trị in quyển sách cuối đời, và lời tựa “Như Một Lời Chia Tay”, làm cho nhiều người ngậm ngùi. Tôi nói với nhà văn:

              – Tôi rất lạc quan vì Chinh Chiến Điêu Linh của tôi và Phong Thủy của tác giả Nguyễn Phúc Vĩnh Tung tái bản 26 lần, vẫn có người mua để tặng cho bạn bè. Mỗi lần có tác giả từ bốn phương Trời đến Orange County ra mắt sách, sách đều bán hết, sách bán chạy như tôm tươi. Thư viện quốc gia, thư viện của các thành phố Hoa Kỳ vẫn có sách Việt Nam. Vẫn có người thích đọc sách, cầm quyển sách trên tay đọc vẫn thấy thoải mái hơn đọc trên computer. Vừa đọc sách vừa nghe nhạc vẫn thích hơn nghe người khác đọc sách qua CD.

              Sách vẫn là nhu cầu cần thiết cho những người thích đọc sách, thích mở mang trí tuệ. Người viết sách phải tìm tòi, phải nghiên cứu, phải đem tim, óc của mình ra để viết cho người khác đọc.

              Tôi không phải là nhà văn, tôi là nhà báo, nhà báo như nhà nhiếp ảnh. Nhiếp ảnh gia đưa máy ảnh lên chụp hình người, cảnh, nhà báo cầm cây bút viết ra những điều mình thấy, mình nghe và có đôi khi diễn tả cảm xúc của mình lúc thấy những cành nghèo khổ, hay sự hy sinh, can đảm, gan lì của người lính ở chiến trường.

              Kiều Mỹ Duyên rất quý mến những người cầm bút nói lến sự thật của cuộc đời hay hư cấu, hay tưởng tượng cũng là sự hy sinh. Người nào viết sách, in sách hay thành lập tiệm sách cũng hy sinh tim óc của mình để làm một việc gì đó mà mình cho là lý tưởng, làm việc gì đó vui hay hữu ích cho người khác cũng là việc làm có lý tưởng.

              Tôi rất quý mến vợ chồng ông Đăng Văn Thạnh, nhưng bây giờ một người đã vĩnh viễn ra đi, một người đàn bà yếu đuối còn lại, Yến. Tôi rất thương Yến, và nhiều người thương Yến, chủ tiệm sách Tú Quỳnh.

                       Tôi nói với Yến:

              – Cuối tháng này em dẹp tiệm, chị sẽ không đến, vì chị không muốn nhìn thấy cái cảnh biệt ly vĩnh viễn. Chị thích khai mạc tiệm sách hơn đến để tiễn đưa dẹp tiệm.

              Cũng như tôi thích đón người thân từ bốn phương Trời về thăm Cali, tôi không thích nhìn nước mắt rơi trên đôi mắt của những người đi hoặc người ở lại.

              Cầu mong cho những cơ sở thương mại được vững bền từ đời ông đến đời cha, đến đời cháu, vì làm việc gì cũng phải để tim óc của mình vào việc đó. Thành công thì vui lắm nhưng thất bại hay bất trắc xảy ra thì… buồn lắm bà con ơi.

              Tôi là người lạc quan thích vui hơn buồn, cho nên tôi thích niềm vui đến với tất cả mọi người. Tôi cầu nguyện cho Yến, chủ nhân còn lại của tiệm sách Tú Quỳnh, và tất cả quý đồng hương luôn mạnh khỏe, bình an, hạnh phúc và may mắn.

              Xin Thượng Đế cho mọi người được thương yêu và bình yên trong cuộc sống hàng ngày.

    Orange County, 01/12/2020

    Kiều Mỹ Duyên

    (kieumyduyen1@yahoo.com)

    Nhà sách Tú Quỳnh tại số 9581 Bolsa Ave, Westminster, CA 92683, trong khu Bolsa Mini Mall, là nhà sách đầu tiên của người Việt tị nạn tại nước Mỹ.

    Tú Quỳnh là thư viện, đủ loại sách, là nơi mọi người có thể đọc lại những quyển sách một thời tuổi thơ.

    Kệ trưng bày các băng cassette, VCD, DVD của các ca sĩ, nghệ sĩ nổi tiếng khắp thế giới

    Cuộc họp báo giã từ đọc giả ngày 13/10/2020. Kiều Mỹ Duyên, cựu nghị viện Tony Lâm, bà Phan Hoàng Yến, ông Lương Văn Tỷ và giáo sư Tô Văn Lai ngậm ngùi chia tay nhà sách Tú Quỳnh.

  • Tin tức,  Tin VN

    CỨU NGƯỜI NHƯ CỨU LỬA; CỨU LỤT BÀ CON ƠI

    KIỀU MỸ DUYÊN

    Nhìn những tấm hình của đồng bào lênh đênh trên nước, không ai không khỏi xúc động, đồng bào của mình sao khổ quá! Đức Giám Mục Nguyễn Thái Hợp cùng những người thiện nguyện đi cứu trợ. Đức Cha mặc áo phao, nếu ghe lật xuống nước thì người sẽ nổi lên mặt nước nhờ chiếc áo phao này. Năm nào miền Trung cũng bị lụt lội, năm nay còn thê thảm hơn. Các tỉnh Huế, Quảng Trị, Quảng Bình, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quảng Trị, Hà Tĩnh, nhà cửa tan nát, người thì mất chồng, người thì mất cha, người mẹ ôm con trong lòng sau khi đào đất cát lên thì mẹ và con cùng chết, một gia đình không còn ai sống sót. Người thương người, người Việt ở hải ngoại gửi tiền về giúp nạn nhân bão lụt. Qua nhiều năm kinh nghiệm, tiền, mì, quần áo, thuốc men cứu trợ phải tới tay nạn nhân bão lụt không qua chính quyền. Đồng bào ở dọc theo biển, theo sông khổ nhất. Những chiếc ghe là phương tiện để mưu sinh cũng tan rã theo dòng nước lũ. Nhà sập, người di tản, ghe thuyền vỡ nát theo nước, theo bão lụt.

              Người nghèo lại nghèo thêm. Nạn nhân bão lụt chỉ mong vào lòng hảo tâm của đồng hương ở khắp nơi trên thế giới.

              Chỉ có $5 một bao gạo, ai cũng có thể giúp đỡ được nạn nhân bão lụt. Một đứa trẻ bỏ tiền vào heo đất, nhìn những hình ảnh đau thương của nạn nhân bão lụt ở quê nhà, cũng có thể lấy tiền trong heo đất ra mà cứu trợ.

              Thực phẩm cứu trợ gồm có gạo, mì gói, quần áo, thuốc men, tiền. Người nào nghèo nhất ở chốn bình yên cũng có thể cứu giúp người ở quê nhà.

              Một miếng khi đói bằng một gói khi no. Tôi còn nhớ quận Hải Lăng thuộc tỉnh Quảng Trị năm Thìn bão lụt, lúc chúng tôi còn là sinh viên đi cứu trợ. Nạn lụt bây giờ thê thảm hơn năm Thìn bão lụt năm xưa, bởi vì rừng bị đốn, hồ nước bị tháo,…

              Thiên tai dồn dập, tội nghiệp người dân bị đọa đày, khổ ơi là khổ. Người nghèo khổ, người nghèo ở những nơi gần biển, gần sông, đa số sống bằng nghề chài lưới, đánh cá, bắt tôm,…

              Sau nạn lụt nhà đâu để ở? Định cư ở đâu? Tiền ở đâu để làm vốn mua lại ghe nhỏ đi chài lưới?

              Xin mời quý đọc giả theo dõi cuộc phỏng vấn Kiều Mỹ Duyên với Đức Giám Mục Phaolô Nguyễn Thái Hợp, giáo phận Hà Tĩnh:

              – Kính chào Đức Cha, xin Đức Cha gửi lời chào đến quý khán thính giả xem đài.

              – Tôi xin gửi lời chào đến quý thính giả của đài VBS. Rất hân hạnh được gặp quý vị qua đài truyền hình. Chúng tôi cũng đã nhận được sự đóng góp, những món quà của quý vị. Nhân dịp này, thay mặt cho các nạn nhân cảm ơn và gửi lời chào đến tất cả quý vị.

              – Kính xin Đức Cha tường trình với khán giả nhiều nơi, nhiều tiểu bang Hoa Kỳ về việc cứu trợ của Đức Cha gồm những tỉnh nào, làng nào và từ ngày nào cho đến bây giờ. Dù đã có những hình ảnh rất sống động của Đức Cha cũng như các vị thiện nguyện, nhưng chưa hiểu rõ vì không có chú thích, thưa Đức Cha?

              – Chúng tôi hiện thời đang hoạt động ở tỉnh Quảng Bình, Hà Tĩnh. Mặc dầu cũng có một giai đoạn nhỏ chúng tôi tháp tùng Đức Cha Tổng Giám Mục Giuse Nguyễn Chí Linh và Đức Cha Đặng Đức Ngân ở Đà Nẵng. Ba anh em chúng tôi có đi một chuyến từ Đà Nẵng vào Huế, Quảng Trị rồi Quảng Bình. Từ đó đế nay, chúng tôi làm nhiều hơn tại Quảng Bình và Hà Tĩnh. Công tác cứu trợ- cứu trợ khẩn cấp- coi như đã chấm dứt hay đang chấm dứt. Bây giờ bắt đầu giai đoạn hai, đó là giai đoạn ổn định và ổn định cuộc sống cho các nạn nhân lũ lụt, trong đó có vấn đề là co nhà cửa, rồi mua lại gia súc, gia cầm và hạt giống cho họ.

              – Thưa Đức Cha, chúng con có niềm tin vào các vị lãnh đạo tinh thần là quà đến tận tay các nạn nhân, nhưng có người thắc mắc là Đức Cha có gặp khó dễ của Chính Quyền địa phương hay không? Vừa rồi nghe cô ca sĩ Thủy Tiên đi cứu trợ gặp trở ngại. Chúng con có đọc thông cáo từ Việt Nam gửi sang, tỉnh Hải Lăng, Quảng Trị gặp khó khăn, do nhà cầm quyền không cho người cứu trợ đến tận nơi phát tận tay cho đồng hương của mình. Đức Cha thấy như thế nào, thưa Đức Cha?

              – Hiện thời ở Việt Nam đã có sắc lệnh là cấm nhận quà cứu trợ nếu không qua Mặt Trận, qua Hội Chữ Thập Đỏ hay chính quyền địa phương. Sắc lệnh đó hình như vẫn còn ở một vài nơi như Hải Lăng, Quảng Trị, nơi tôi đi qua thì nghe giáo dân nói có chuyện đó. Nhưng bản thân tôi, cũng như là phái đoàn Hội Đồng Giám Mục, ở Hà Tĩnh và một số nơi khác chúng tôi chưa gặp khó khăn đó.

              – Thưa Đức Cha, Đức Cha đang giúp cho đồng bào về việc định cư sau lụt. Xin Đức Cha cho biết chương trình đó như thế nào, và nhân cơ họi này, Đức Cha có thể gửi lời đến quý khán thính giả, đồng hương của mình ở nhiều nơi, nhiều tỉnh miền Đông và miền Tây Hoa Kỳ, có những người lên Youtube hay Internet, bên Úc cũng xem, Âu Châu cũng xem. Đức Cha gửi lời đến để đồng bào mình có thể tiếp tay. Ở đây người nào cũng có thể giúp được. 1 bao gạo 10 kg ở Việt Nam $5, một đứa trẻ chừng 7- 10 tuổi có thể đổ ống heo ra giúp được nhiều gạo cho đồng bào của mình, thưa Đức Cha?

              – Cảm ơn chị Kiều Mỹ Duyên đã cho chúng tôi có cơ hội để qua làn sóng, tiếng nói của chúng tôi đến được đồng bào nhiều nơi. Đó là sự hân hạnh. Xin chân thành cảm ơn. Trở lại câu chuyện hậu cứu lụt, ổn định cuộc sống, tái thiết nhà cửa, lo hạt giống, lo gia súc, gia cầm cho người dân. Đó là câu chuyện chúng tôi đã đi khảo sát, để rồi phân loại những công tác lớn, chẳng hạn như là di dời một số hộ nằm ở vùng ven sông hay bị sạt lở do núi. Do núi là vì trong thời gian mấy chục năm vừa rồi, họ chặt phá rừng để trồng keo. Cây keo là cây phá môi sinh rất nhiều. Chính vì vậy đã gây ra sạt lở khắp nơi như đồng bào đã thấy, quý vị đã thấy, những nơi đó phải di dời. Công tác di dời rất tốn kém và cũng đòi hỏi nhà nước phải cấp đất, cấp chỗ cho người dân có thể đến nơi ở mới. Lúc này, chúng tôi cũng đang gặp khó khăn và phải kiên nhẫn để kiếm được vùng đất ổn định cho dân, để di dời nhà họ, xây dựng cuộc sống mới cho gia đình họ. Điểm thứ hai nữa là xây những căn nhà vượt lũ. Tức là, người dân đang sống trong những căn nhà ở vùng trũng, họ phải sống chung với lũ từ đời nọ đến đời kia, họ cũng không rời khỏi vùng đó. Một số gia đình đã xây nhà lầu thì họ có thể được an cư, khi lũ đến, họ lên trên lầu thì không sao cả. Nhưng mà có những gia đình nghèo sống trong những căn nhà xuềnh xoàng, nhà cấp 4 thì phải cần có những căn nhà đa năng hay nhà vượt lũ, vừa là trung tâm dạy học, dạy giáo lý, sinh hoạt. Trên tầng hai, khi có lũ đến thì đó là trung tâm vượt lũ, trung tâm cứu những người nghèo, những người già, trẻ em được đến đó để được an toàn. Chúng tôi hiện thời cũng đã và đang tiếp tục xây dựng một số căn nhà đa năng, căn nhà vượt lũ đó tại những địa điểm, tại những vùng lũ và tại những nơi người dân phải sống chung với lũ. Một số nơi khác may mắn hơn có đất để họ có thể di dời lên cao, thì giúp họ để họ nâng nhà của họ lên một chỗ cao hơn để họ an cư rồi mới lạc nghiệp. Ngoài ra, trong thời gian vừa rồi, giống lúa thóc bị hư hại rất nhiều, gia cầm, gia súc bị chết. Đây cũng là một vấn đề cần giúp họ là làm sao giúp họ bắt đầu cuộc sống mới trong mùa tới, tron những tháng tới. Đó là đại khái những vấn đề mà chúng tôi đưa ra trong chương trình hậu cứu lụt để họ tái định cư, an cư lạc nghiệp, để làm lại cuộc sống, để cùng dân tổ chức lại cuộc sống của họ.

              – Kính thưa quý khán thính giả, đó là lời tâm huyết của Đức Cha Nguyễn Thái Hợp. Đức Cha Nguyễn Thái Hợp đã sống rất lâu ở Thụy Sĩ cũng như ở Vatican. Ngài đi khắp nơi, và trở về Việt Nam ở một nơi khổ thật khổ. Quý vị có về Hà Tỉnh, miền Trung, quý vị nào có trái tim hướng về miền Trung hoặc có cha mẹ, anh em , bà con ở miền Trung, sẽ thấy miền Trung lụt lội quanh năm khổ lắm. Kính thưa Đức Cha, nếu đồng bào muốn giúp thì ở đây có đài truyền hình của Đức Cha giám đốc đài Joseph Nguyễn Ngọc Chuẩn. Khi biết đồng bào mình khổ quá thì mọi người ở đây sẽ mở lòng. Xin Đức Cha cho biết thêm email hay website nào về tin tức cứu trợ để mọi người có thể giúp đỡ?

              – Chúng tôi chưa thấy trận lụt nào mà người Việt Nam giúp nhau nhiều như lần này. Số đoàn đi cứu trợ, số đoàn hướng về miền Trung, những chuyến xe từ Sài Gòn chạy ra miền Trung, từ Hà Nội, miền Bắc đi vào miền Trung,… Chúng tôi thấy lần này, số xe, số đoàn ra miền Trung cứu trợ gấp ba lần so với các trận lụt trước đây. Đa số những chuyến xe đó hầu hết là của tư nhân. Họ đi, họ muốn trao tận tay những món quà của họ. Nhiều khi đó là một nhóm bạn bè, một thôn xóm, một họ đạo, họ thu được rồi họ đi ra. Chúng tôi thấy rất là cảm động và biết ơn. Tôi vẫn nói là lá lành đùm lá rách. Có những trường hợp, thì không những lá lành đùm lá rách mà lá rách ít đùm lá rách nhiều. Nhiều khi, chính những người ở bên cạnh, của những làng bên, những xứ đạo cũng bị lũ lụt, nhưng chính họ lại đi cứu trợ những người bên cạnh. Lá rách ít đùm lá rách nhiều, lá rách tơi tả đùm nhau. Tôi rất cảm động trước tình cảm đó, mà hoàn toàn là do tư nhân, do sự bộc phát của người dân.

    Hội Đồng Giám Mục Việt Nam ngày 27 tới đây có tổ chức một đêm văn nghệ lấy tên là ” Gánh nhau trong đời”. Có những người giàu hơn gánh những người nghèo, trong cuộc đời rất cần thế này. Nhiều lần cũng có những người nghèo gánh nhau và gánh nhau trong đời. Tôi thấy ý nghĩa đó rất hay, đượm tình người. Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác tỉnh, khác nơi nhưng ta cùng chung một dân tộc, một dòng máu. Ước mong rằng kẻ ít người nhiều, chúng ta cùng nhau gánh nhau trong đời và chắc chắn rằng chúng ta giúp nhau chừng đó, lá lành đùm lá rách thì những nạn nhân ấm lòng hơn. Tôi hy vọng họ sẽ làm lại cuộc đời.

              – Kính thưa Đức Cha, sau đây là câu hỏi của Trung Dương (MC đài): Một số quý đồng hương quyên góp Đức Cha, họ thắc mắc đây là do bên tôn giáo quyên góp số tiền này, và cha có chuyển đến những nơi khác không? Đức Cha giúp cho toàn bộ miền Trung hay một vài tỉnh, thưa Đức Cha?

              – Tôi hiện thời phụ trách Hà Tĩnh và Quảng Bình. Chúng tôi với tư cách Hội Đồng Giám Mục, chúng tôi đã đi một chuyến thăm viếng từ Quảng Nam đến Đà Nẵng, Huế, Quảng Trị rồi Quảng Bình, Hà Tĩnh. Chúng tôi chia ra làm việc ở mỗi vùng.Tôi đi nhiều ở Quảng Bình và Hà Tĩnh, nơi mà tôi có trách nhiệm. Chúng tôi đã nhận được nhiều món quà do cha Chuẩn chuyển tới. Có lẽ để dễ hơn, quý vị nên gửi về Đài VBS 57.6. Từ đài, cha Chuẩn sẽ chuyển lại cho chúng tôi. Chúng tôi sẽ phúc đáp khi chúng tôi nhận được. Nếu chuyển về Quảng Nam, Quảng Ngãi, Huế, Quảng Trị thì đài cũng làm được. Nhắn tin cho chúng tôi ở Quảng Bình và Ha Tỉnh. Hãy gửi cho cha Chuẩn rất là đảm bảo. Chúng tôi trong tin thần lá lành đùm lá rách, nếu ở Quảng Nam đang bị lũ lụt nhiều hơn thì chúng tôi cũng sẽ chuyển đến những người nghèo bất phân tôn giáo, bất phân vùng đất.

              – Chúng con chân thành cảm ơn Đức Cha đã trình bày rất tỉ mỉ về việc cứu trợ.

              – Tôi cảm ơn chị Kiều Mỹ Duyên và cha Chuẩn. Qua Đài, chúng tôi chân thành cảm ơn tất cả những ân nhân xa gần, những người ẩn danh, những người tôi chưa biết tên và chưa từng gặp mặt, nhưng đã giúp đỡ chúng tôi để chúng tôi có thể đưa những món quà của quý vị cho những người bị nạn, những nạn nhân của lũ lụt, bất phân tôn giáo, bất phân công việc, điều kiện xã hội.

              – Kính thưa Đức Cha, ngày 26 đây là ngày lễ Tạ Ơn của nước Mỹ. Chúng con nhân cơ hội này, xin tạ ơn Đức Cha đã lo cho các nạn nhân bị lũ lụt. Đức Cha cho chúng con có cơ hội được tiếp tay với Đức Cha. Xin Thiên Chúa ở cùng Đức Cha, xin Ngài phù hộ cho Đức Cha. Kính chúc Đức Cha thật nhiều sức khỏe để lo cho các nạn nhân. Xin ơn trên ban cho những người có lòng thiện nguyện. Quý đồng hương nếu có nghe lời Đức Cha Nguyễn Thái Hợp từ Hà Tĩnh, thấy thảm cảnh vẫn còn kéo dài sau khi lụt qua rồi, đồng bào mất nhà cửa, mất trâu bò, thuyền ghe, mất người thân,… xin hãy đóng góp của ít lòng nhiều. Xin Đức Cha cho đồng bào của mình đang là nạn nhân và quý đồng hương có lòng hảo tâm.

              – Xin Chúa là Đấng toàn năng, xin Ngài luôn luôn nhớ đến chúng con và xin Ngài cũng nhớ đến một số anh chị em chúng con đang sống trong những hoàn cảnh khó khăn, đang sống trong những nơi mà người ta vẫn nói:

    Quê hương tôi gạt sỏi tìm cơm,

    Hết mưa thôi hạn lại cơn bão gần.

              Xin Ngài giúp cho những người con đó sớm an cư lạc nghiệp. Và xin Ngài nâng đỡ những cảnh đời tan nát vì bão tố, vì lụt lội, vì bất công, vì đói nghèo. Xin Ngài cho họ luôn luôn cảm thấy tình người, được sưởi ấm bởi tình người cũng như là được bàn tay che chở của Ngài. Amen.

              Quý thính giả vừa nghe cuộc phỏng vấn của Kiều Mỹ Duyên với Đức Giám Mục Phaolo Nguyễn Thái Hợp ở Hà Tĩnh. Nếu quý đồng hương cần giúp đỡ nạn nhân bão lụt ở các tỉnh miền Trung, xin liên lạc với chúng tôi. Chúng tôi sẽ cho quý vị email của Đức Cha, quý vị có thể liên lạc thẳng về trong nước. Tiền cứu trợ của quý vị nhất định sẽ tới tay đồng bào nạn nhân của lũ lụt.

              Xin Thượng Đế ban phúc lành cho quý vị lãnh đạo tinh thần, quý ân nhân, quý đồng hương nạn nhân của bão lụt có một đời sống an bình và hạnh phúc.

    Orange County, 25/11/2020

    KIỀU MỸ DUYÊN

    (kieumyduyen1@yahoo.com)

    Đức GM Phaolô Nguyễn Thái Hợp thăm và cứu trợ đồng bào vùng bị lũ lụt tại Quảng Bình 20/10/2020

    Đức GM Phaolô Nguyễn Thái Hợp thăm và cứu trợ đồng bào vùng bị lũ lụt tại Quảng Bình 20/10/2020

    Đức GM Phaolô Nguyễn Thái Hợp thăm và cứu trợ đồng bào vùng bị lũ lụt tại Quảng Bình 20/10/2020

    Đoàn Hội đồng Giám mục Việt Nam thăm, cứu trợ tại Giáo phận Hà Tĩnh 21/10/2020

    Ngày 21.10.2020, phái đoàn Hội Đồng Giám Mục Việt Nam tiếp tục hành trình chia sẻ tình thương của những vị Mục tử đến với quý anh chị em miền Trung tại Giáo xứ Mỹ Chánh và Giáo xứ Trung Quán, Hà Tĩnh

    Đức Cha Phaolô Nguyễn Thái Hợp thăm và hỗ trợ tái thiết cuộc sống sau lũ lụt tại Quảng Bình ngày 01/11/2020 đến thứ Ba ngày 3/11/2020

    Đức Cha Phaolô Nguyễn Thái Hợp thăm và hỗ trợ tái thiết cuộc sống sau lũ lụt tại Quảng Bình ngày 01/11/2020 đến thứ Ba ngày 3/11/2020

    Thảm cảnh, mẹ ôm con chết sau khi được đào lên từ bùn đất.

    Nhà cửa chìm trong biển nước

    Nhà cửa chìm trong biển nước

  • Tin tức

    Vợ chồng bác sĩ Đức gốc Thổ phát triển vaccine Covid-19

     Vợ chồng bác sĩ Đức gốc Thổ phát triển vaccine Covid-19

    Cặp đôi trong hình là vợ chồng bác sĩ Uğur Şahin và Özlem Türeci, những người chịu trách nhiệm cốt lõi trong việc phát triển vaccine Covid-19 thử nghiệm, hiệu quả 90% mà chúng ta mới biết hôm qua. Ông bà là các nhà khoa học gốc Thổ Nhĩ Kỳ nay sinh sống ở Đức. Ông 55 còn bà 53 tuổi.

    Şahin sinh ra ở Thổ Nhĩ Kỳ được lớn lên ở Đức, nơi cha mẹ ông là công nhân nhà máy Ford. Şahin tiếp tục được đào tạo như một bác sĩ, trước khi trở thành một giáo sư và nhà nghiên cứu chuyên về liệu pháp miễn dịch tại đại học Mainz. Khi làm việc tại các bệnh viện ở Cologne và Hamburg, ông đã gặp nhà miễn dịch học Özlem Türeci, con gái của một bác sĩ người Thổ Nhĩ Kỳ di cư đến Đức.

    Cặp đôi gắn bó với nhau vì đam mê nghiên cứu y học và ung thư –  họ mê tới nỗi vào ngày cưới vẫn ở phòng thí nghiệm. Sau đó họ làm ra thuốc trị ung thư mang tên Ganynmed. Và bán nó cho công ty dược phẩm đa quốc gia Nhật Bản Astellas vào năm 2016, với giá 1,4 tỷ usd. Năm 2008, họ lập ra N Biotech để tìm các giải pháp chữa trị ung thư, và có mở rộng ra cho 1 số loại bệnh khác. Quỹ của ông bà tỷ phú Bill Gates đã tài trợ 55 tr usd cho họ.

    Vào tháng Giêng, Giáo sư Sahin đã xem một bài báo khoa học về một đợt bùng phát coronavirus mới ở thành phố Vũ Hán, Trung Quốc. Nó khiến ông ngạc nhiên về và tìm hiểu việc làm sao để chuyển từ từ thuốc mRNA chống ung thư sang vaccine chống covid dựa trên mRNA.

    BioNTech nhanh chóng phân công khoảng 500 nhân viên để làm việc trên một số hợp chất có thể, và họ đã tìm được đối tác là công ty dược phẩm khổng lồ Pfizer của Mỹ và sự hỗ trợ từ nhà sản xuất dược phẩm Trung Quốc Fosun vào tháng Ba.

    Họ đã làm việc cật lực để có thể có kết quả tốt đẹp như loại vaccine đầu tiên đem lại hy vọng cho nhân loại. Ông bà hiện nay là tỷ phú, trong danh sách 100 người giàu nhất nước Đức. Công ty của họ vừa tăng trị giá lên 21 tỷ usd sau sự kiện thành công ban đầu của vaccine. Nhưng ai tiếp xúc với họ cũng luôn kính trọng và yêu quý ông bà vì tính tình khiêm nhường, giản dị và dễ thương.

    Ông bà chính là gương thành công của những người nhập cư Thổ Nhĩ Kỳ vào Đức. Và nhân loại mãi mãi biết ơn họ như những lương y từ mẫu, những người đã xuất hiện vào thời điểm khó khăn nhất của loài người, đem lại hy vọng chữa lành bệnh tật và góp phần chặn đứng nạn dịch thế kỷ.

    Theo FB

  • Tin tức

    Khánh Thúc Hà (KHANH HA), Ngôi Sao Việt Tỏa Sáng Trên Vòm Trời Văn Học Hoa Kỳ

    Nhà văn Khanh Ha (Hà Thúc Khánh)

    Phương Hoa


    Vừa qua, Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại Vùng Đông Bắc Hoa Kỳ (VNHNVĐB HK) mà tôi tham gia, nhận được một tin vui thật lớn, làm rộn ràng cả diễn đàn Văn Bút.  Đó là tin văn sĩ gốc Việt Hà Thúc Khánh (Khánh Hà), phu quân của thành viên Văn Bút văn thi sĩ Nguyễn Phương Thúy, đã đoạt cùng lúc hai giải thưởng văn học giá trị của Hoa Kỳ chỉ cách nhau có một tháng.  Giải truyện ngắn “2020 WILLIAM FAULKNER Literary Competition” hồi tháng 9, và đến nay, gần cuối tháng 10, anh lại đoạt tiếp giải “THE 2020 ORISON ANTHOLOGY Award in Fiction” trong cùng một tác phẩm, “THE WOMAN-CHILD.”

    Ngoài việc cùng chung sinh hoạt trong Văn Bút VNHNVĐB HK, tôi còn là thành viên nhóm Cô Gái Việt (CGV) cũng ở Hoa Kỳ, một diễn đàn quy tụ toàn nữ văn, thi, nhạc sĩ Việt, do Phương Thúy điều hành. Cô cũng là chủ nhiệm kiêm chủ bút Tuyển Tập Cô Gái Việt, phát hành mỗi năm một lần, gồm những bài viết của thành viên CGV trên nước Mỹ và thế giới, với mục đích góp phần bảo tồn Việt Ngữ và giữ gìn văn hóa Việt Nam nơi hải ngoại, v.v.  Nhờ vậy, tôi mới có dịp may được quen biết nhà văn Khánh Hà (Nv KH). Xin kính chia sẻ cùng quý độc giả cuộc trao đổi đầy thú vị dưới đây giữa người viết và Nv KH:

    Thưa anh Khánh Hà,

    Trước hết, Phương Hoa xin trân trọng chúc mừng anh đã đoạt được hai giải thưởng văn học giá trị vừa rồi, và cám ơn anh dành cho P. Hoa cuộc đổi trao, chia sẻ thật đặc biệt, thật vinh dự này.  Là một người viết văn tiếng Việt, và chỉ mới bắt đầu tập tò viết chút ít tiếng Anh gần đây, nên P. Hoa vô cùng khâm phục sự thành công tuyệt vời mà anh giành được khi hội nhập vô dòng chính của văn học Hoa Kỳ. P. Hoa xin phép được hỏi anh đôi điều, mong anh vui lòng chia sẻ để độc giả Việt Báo và bà con đồng hương Việt khắp nơi cùng chia vui với anh.


    Nv KH: Xin cám ơn chị P. Hoa đã có nhã ý giới thiệu tôi, một Vietnamese American writer, cho độc giả Việt Báo. Rất hân hạnh được tiếp chuyện với chị hôm nay.

                P. Hoa: Dạ cám ơn anh. Thưa anh, xin anh cho biết thêm chi tiết về hai giải thưởng truyện ngắn của WILLIAM FAULKNER Literary Competition” và “ORISON ANTHOLOGY Award in Fiction” đã trao cho tác phẩm “THE WOMAN-CHILD” cùng giá trị văn học của chúng, và lý do tại sao anh dự thi hai giải thưởng ở hai nơi lại cùng một tác phẩm? Và nếu tiện, xin anh tóm tắt đôi điều về tác phẩm “THE WOMAN-CHILD” đã đoạt giải?

    Nv KH: Thưa chị, giải William Faulkner Literary Competition trao giải nhưng không xuất bản truyện đoạt giải; còn giải Orison Anthology Award in Fiction sau khi trao giải sẽ xuất bản truyện—lịch trình là mùa thu năm 2021. Tóm lại, không có sự mâu thuẫn hay bất đồng giữa hai giải về sự đệ trình của mỗi truyện tranh giải. Truyện “The Woman-Child” được tóm lược như sau:

    Set in Vietnam 20 years after the end of the war in a coastal  habitat being ruined  by modern  aquaculture industry, “The  Woman-Child” tells a story of a tender relationship between Vietnam-born Minh who as a Vietnamese expatriate living in the United States visits the country as a graduate student, and a young local girl who lives  on the  seaside with its  ever-present ocean and its ecological beauty, set against a backdrop of the Vietnam’s environmental degradation caused by shrimp aquaculture, when half a million hectares of coastal mangrove forests had been razed to become prawn farms to feed the American market.

    (P.Hoa xin tạm dịch: Truyện lấy bối cảnh ở Việt Nam, 20 năm sau chiến tranh, trong một môi trường sống ven biển đang bị hủy hoại bởi kỹ nghệ thủy sản tân tiến. “The Woman-Child” kể câu chuyện về mối quan hệ mong manh giữa nhân vật tên Minh, một Việt kiều Mỹ, sau khi tốt nghiệp trở về thăm quê hương, và một cô gái trẻ địa phương sống ven biển với đại dương mênh mông cùng vẻ đẹp sinh thái thiên nhiên tự thuở nào của nó, giờ đây phải đối diện với sự suy thoái môi trường tại Việt Nam do kỹ thuật nuôi tôm, khi nửa triệu mẫu rừng cây đuốc ở ven biển đã bị san bằng để làm khu nuôi tôm cung cấp cho thị trường Mỹ.)

                P. Hoa: Tuyệt vời. Thưa anh, ngoài hai giải thưởng này ra, theo chỗ P. Hoa được biết, anh đã từng nhận “không biết cơ man nào” (cười) thành tích. Ví dụ như, 7 lần anh được đề cử vào giải “Pushcart Prize,” một giải thưởng văn học được vinh danh nhiều nhất nước Mỹ kể từ năm 1976, là hội văn học mà hầu hết các nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình văn học, viết tiểu luận nổi tiếng ở Hoa Kỳ tham gia từ 1976 cho đến nay. Rồi thì tác phẩm của anh cũng từng vào chung kết giải thưởng “The Mary McCarthy,” “Many Voices Project,” “Prairie Schooner Book Prize,” “The William Faulkner-Wisdom Creative Writing Award,” là những giải thưởng nổi tiếng, và giải “The Sand Hills” dành cho sách hư cấu hay nhất, tiếp đến là giải “Robert Watson” của Greensboro Review về tiểu thuyết hay, và còn nữa… Ôi, đúng là đếm muốn… hụt hơi luôn rồi (cười). Nhờ anh điều chỉnh lại cho đúng, bổ sung thêm những giải thưởng P. Hoa nêu còn thiếu trong danh sách này? Vì P. Hoa biết còn nhiều giải thưởng khác chưa được cập nhật. Đặc biệt, xin anh cho biết, giải thưởng anh nhận đầu tiên là giải thưởng gì? Nhận được năm nào? Và tác phẩm đó tên là gì?

                Nv KH: Cám ơn chị đã quá khen, và cũng xin cám ơn chị đã liệt kê đầy đủ. Sự thật là tất cả các giải thưởng đều nặng phần chủ quan, từ giải thưởng nhỏ đến giải thưởng lớn. Nếu có tâm đầu ý hợp với ban giám khảo—on the same vibrations—thì tỷ lệ thắng sẽ cao hơn, với điều kiện tiên quyết là sáng tác phải có giá trị. Tin vui thường đến rất bất ngờ vì có lẽ những gì mình mong muốn thường không bao giờ đến. Giải thưởng văn chương đầu tiên tôi nhận được là Robert Watson Prize, năm 2013 (see link in blue). Truyện ngắn nhan đề Heartbreak Grass (see link in blue).

                P. Hoa: “Nếu có tâm đầu ý hợp với ban giám khảo” Nghe “ngồ ngộ” nhưng có lý lắm! (smile). Thưa anh, trong tất cả những giải thưởng của anh, giải thưởng nào mà anh tâm đắc nhất? Giá trị cao nhất? Có kỷ niệm nào đặc biệt đáng nhớ, vui buồn, trong những lần anh được giải, hoặc nhận giải, hoặc khi viết về tác phẩm?

                Nv KH: Hai truyện ngắn tâm đắc nhất của tôi là “Heartbreak Grass” và “The Woman-Child.” Trong mỗi truyện người đọc có thể cảm nhận được sự linh động chân thành của những nhân vật và qua bối cảnh của truyện. Thưa chị, viết truyện đã khó thì đoạt một giải văn chương càng khó hơn. Cá vượt vũ môn trong thực tế chỉ là một ảo tượng cho biết bao nhiêu nhà văn. Nhưng tôi rất vui mỗi khi nhận được tin thắng giải mà nói theo tiếng Anh là “a pure joy.”


                P. Hoa: Dạ anh. P. Hoa đã từng may mắn đọc qua truyện ngắn “Heartbreak Grass” của anh, nói về người thương phế binh Cộng sản được gọi là “Uncle Chung,” trở về sau trận chiến với hai mắt bị mù và tứ chi đều mất hết, rất sống động và cảm động… nên anh “đánh bại” hết các tác giả khác cũng đúng thôi.  Và thưa anh, P. Hoa cũng được biết, truyện “Mrs. Rossi’s Dream” của anh mới xuất bản năm 2019 cũng đã nhận quá nhiều kết quả đẹp. Anh được “Foreword Reviews INDIES” trao cho huy chương Bạc về “Historical Adult Fiction” là tiểu thuyết lịch sử dành cho người lớn, và huy chương Đồng về “War & Military Adult Fiction” tiểu thuyết chiến tranh & quân đội dành cho người lớn, và “Booklist” đã vinh danh là sách mới hay nhất. Anh có thể cho biết chút ít về quyển sách này, anh lấy ý tưởng từ câu chuyện thật hay hư cấu? Và phải mất thời gian bao lâu thì anh hoàn tất quyển sách này?

                Nv KH: Tiểu thuyết của tôi thường thành hình bắt đầu từ một hình ảnh. Hình ảnh nguyên thủy chuyển biến thành quyển sách “Mrs. Rossi’s Dream” đến từ một documentary film. Ở đó một bà đồng bóng dẫn một phụ nữ Mỹ đến một nấm mồ nơi thi thể con bà đã được an táng cách đó 20 năm. Lúc bấy giờ tôi đã sống ở đất Mỹ rất lâu và hình ảnh đó vẫn sống trong tôi qua nhiều năm nữa cho đến một hôm tôi cảm nhận được sự thôi thúc phải viết về hình ảnh đó. Trong suốt thời gian viết tôi ngỡ như mình là một đứa bé đang học những điều lạ lùng ở trái đất này, một môi trường đầy đam mê và quyến rũ, đầy những con người đủ chủng tộc, đầy bí ẩn, đầy tham lam, gian ác và hung dữ, nhưng ngược lại cũng đầy tình thương và tha thứ. Một buổi sáng sau hai năm viết liên tục, tôi bước ra ngoài và đứng nhìn cây Hương Đào đang trổ bông rực một góc nhà. Và ve sầu bắt đầu kêu.

    P. Hoa: Wow! Thiệt là phải… nín thở khi nghe anh kể (cười), vì có thể thấy sự quyết tâm, cũng như trí tưởng tượng quá phong phú của anh đã thuyết phục được độc giả Mỹ, một điều không phải dễ cho tất cả các nhà văn viết tiếng Anh, nhất là khi tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai. Và, P. Hoa được biết anh tốt nghiệp ban Văn Chương/Báo Chí ở đại học Ohio, xin cho hỏi, anh có xử dụng bằng cấp này cho việc làm nào khác hay là anh chỉ chuyên viết văn? Về viết văn, cho tới hiện tại anh đã xuất bản được bao nhiêu tác phẩm? Truyện ngắn? Truyện dài?

    Nv KH: Tôi không có cơ hội để áp dụng học thức của mình về ngành báo chí; nhưng cách viết của báo thật sự giúp tôi khi viết văn—hành văn của báo chí là ngắn, gọn, gãy, đủ—nói khác hơn là cách diễn đạt phải ngắn gọn và rõ ràng. Đọc Ernest Hemingway có lẽ quí độc giả sẽ thấy tính chất đó. Tác phẩm đầu tiên của tôi là “Flesh,” kế đến là “The Demon Who Peddled Longing,” và tác phẩm gần đây nhất là “Mrs. Rossi’s Dream.” Riêng về truyện ngắn thì tôi có trên 30 truyện đã xuất bản qua nhiều tạp chí văn chương Mỹ–phần lớn là những tạp chí của những chương trình Master of Fine Arts (MFA) do những sinh viên cao học quản lý và điều hành từ các trường đại học khác nhau.

    P. Hoa: Dạ, cám ơn anh. Xin cho hỏi, anh có nhà văn thần tượng nào cho phong cách viết của anh không? Và anh có thể cho biết anh có những gửi gắm gì, nhắn gửi gì cho độc giả trong những câu chuyện về chiến tranh như “Mrs. Rossi’s Dream” chẳng hạn?

    Nv KH: Thần tượng về văn chương thì tôi không có; tuy nhiên tôi thích đọc Ernest Hemingway, William Faulkner, Cormac McCarthy, Robert Penn Warren. Tác phẩm “Mrs. Rossi’s Dream” hoàn toàn đứng riêng về phương diện chiến tranh. Nó chỉ mô tả sự tàn bạo vô nhân của chiến tranh và sự mất mát của chúng ta trong tình nhân loại. Là một nhà văn tôi chỉ viết khách quan nên không bao giờ có tham vọng biểu dương một chủ đề hay gởi đời một bài thuyết pháp.

    P. Hoa: Dạ anh. Nhưng dù anh có khiêm nhường mà nói thế, độc giả vẫn có thể nhận ra những “sự tàn bạo vô nhân của chiến tranh” anh mô tả trong truyện, là những nhắn gửi, những lời kêu gọi thống thiết lương tâm loài người về đạo đức, về lòng nhân, và về tình người với nhau. Cho P. Hoa hỏi tiếp, truyện đầu tay bằng tiếng Anh anh viết là khi nào, và đó là chuyện gì?  Điều gì đã giúp anh “đánh đâu thắng đó” khi gửi bài dự thi? Anh đã luôn “đoán trước” được chủ ý và yêu cầu của ban giám khảo?

    Nv KH: Thưa chị, truyện đầu tay Anh ngữ của tôi được viết lúc tôi là một senior ở trường đại học Ohio University, Athens, trong khi theo học một khóa Creative Writing. Giáo sư của tôi lúc bấy giờ là nhà văn nổi tiếng Daniel Keyes, tác giả của tác phẩm “Flowers for Algernon.” Cuối khóa ông chọn truyện ngắn của tôi và xin phép tôi cho ông gửi đăng trên tờ tạp chí Ohio Review. Nhan đề truyện ngắn là “A Woman from Saigon.” Tôi quên gần hết câu chuyện vì cũng hơn 30 năm rồi. Về việc gửi bài dự thi và “đoán được” chủ ý lẫn yêu cầu của ban giám khảo thì tôi xin lập lại một sự thật, một chân lý cho tất cả tác phẩm dự thi: Tất cả kết quả đều dựa trên sở thích cá nhân; cho nên nếu hợp tính, hợp thẩm mỹ với nhau thì tác phẩm đó sẽ thắng.

    P. Hoa: Thưa anh, P. Hoa đã được đọc nhiều truyện ngắn tiếng Việt anh viết cho tờ Tuổi Hoa trước năm 1975. Khi đó anh còn trong tuổi học trò, mà những truyện ngắn anh viết như “Săn Người,” “Hoa Đầu Mùa,” hay “Tổ Ấm,” trên Tuổi Hoa, ngòi bút của anh khi ấy đã rất chững chạc, sắc sảo, rất hay, và đầy vẻ huyền bí không thua gì những nhà văn nổi tiếng. Một tương lai sáng lạn về văn học Việt Nam như thế, tại sao về sau ra nước ngoài anh không tiếp tục viết tiếng Việt nữa, mà chỉ chuyên viết sách tiếng Anh? Còn nữa, anh có dự định dịch sang Việt ngữ những tác phẩm của anh để bà con mình những người không biết nhiều tiếng Anh có thể đọc?



    Nhà văn Khanh Ha (Hà Thúc Khánh)


    Nv KH: 
    Thưa chị, thưở còn viết cho Tuổi Hoa tôi đang ở tuổi 13-15 và chỉ biết viết vì đam mê. Bao nhiêu năm, sau khi đã trưởng thành tôi không còn sự ngây thơ đó nữa, vì sự tự hào, dù đó là một hảo huyền, đã thúc đẩy tôi sáng tác qua Anh ngữ để đạt một số độc giả rộng lớn hơn. Việc chuyển dịch những gì đã viết từ Anh ngữ sang Việt văn đòi hỏi rất nhiều thì giờ và một tinh thần tận tụy mà tôi không làm được vì đã để hết tâm viết truyện bằng Anh ngữ. Ngoài ra, nếu muốn dịch hay thì nên để một dịch giả khác mình làm chuyện đó. Rất ít có tác giả nào tự dịch những gì mình viết.

    P. Hoa: Dạ anh nói đúng lắm. Còn điều này, P. Hoa từng đọc một bài viết dễ thương từ phu nhân Phương Thúy của anh, tựa đề là “Giận”:

    (http://nguyenpthuy.jigsy.com/files/documents/0a73d5cd-ab52-4c15-991e-b054ec2934ec.pdf)  


    Trong đó có đề cập đến một bài tình thơ bằng tiếng Anh, “Gasoline Rainbow” rất ngọt ngào, rất lãng mạn, anh viết cho nàng khi hai người mới yêu nhau.  Xem ra hồn thơ Anh ngữ của anh cũng khá là… lai láng (cười). Như vậy, ngoài viết sách, anh có làm thơ tiếng Anh không?

                Nv KH: Thưa chị có; nhưng đó cũng như so sánh một chef với một sous-chef. Tình yêu có thể gợi cảm hứng diễn đạt qua vần thơ để bắt giữ những sắc màu lãng mạn lúc đó, và tôi đã làm thơ khi tôi biết yêu. Nhưng cuối cùng tôi vẫn là một nhà văn.

    P. Hoa: Anh đối đáp duyên dáng lắm (cười). Là một nhà văn gốc Việt rất thành công trong dòng chính văn học Mỹ quốc, anh thuộc vào hàng “tiền bối” của những cây viết mới bắt đầu, anh có lời khuyên gì, nhắn nhủ gì, bí quyết gì, để dẫn đến sự thành công vượt bực đó mà anh có thể chia sẻ cho những “hậu bối” trên con đường viết lách bằng Anh ngữ, và cả những cơ hội có thể thắng giải văn chương như anh?

                Nv KH: Viết văn cũng như tập nấu ăn, thưa chị. Nếu có người chỉ dạy đó chỉ là mắm muối thêm vào thôi. Sự trưởng thành của một nhà văn đến từ chính mình, có nghĩa là viết và viết. Và đọc. Đọc nhiều để bồi bổ kiến thức cho kỹ thuật viết, và viết nhiều để tôi luyện kỹ thuật hầu tìm được tiếng nói của riêng mình. Một nhà văn không có tiếng nói đặc thù cũng giống như “generic drug” so sánh với “brand-name drug.” Nếu đây có thể xem là một lời khuyên thì xin chị chấp nhận.

    P.Hoa: Dạ anh, tất nhiên đó là những lời khuyên vô giá! Câu hỏi chót là về sự nghiệp văn chương của anh: Mục tiêu sắp tới của anh là gì? Anh có dự định tranh đoạt những giải thưởng văn học nào trong tương lai? Và hiện anh có đang chuẩn bị in sách mới?

    Nv KH: Tôi luôn bận với sáng tác. Lúc đang viết một tiểu thuyết thì tôi đã có một hình ảnh của sáng tác khác sau đó. Tiểu thuyết tôi vừa viết xong đã có một số truyện ngắn trích ra từ đó, đã và sẽ đăng trên một số tạp chí văn chương của Mỹ–Waccamaw Journal, Solstice Literary Magazine, Evening Street Press. Hiện tôi sắp kết thúc phần tham khảo cho sáng tác mới và sẽ bắt đầu viết vào năm tới.

                P. Hoa: Hết sảy! Chúc mừng anh! Thật là ngưỡng mộ sức viết ngút ngàn như gió cuốn, như mây bay, như nước chảy của anh, những đức tính và sự quyết tâm ấy không phải nhà văn nào cũng làm được. Và, nếu không có gì bất tiện, anh có thể cho biết anh đến Mỹ năm nào và thuộc diện gì?

                Nv KH: Thưa chị tôi du học ở Ohio University, Athens, vào thập niên 70, trước khi chúng ta mất nước vào tay Cộng sản.

                P. Hoa: Dạ cám ơn anh. Để kết thúc cuộc trao đổi này, P. Hoa xin chân thành cám ơn anh Khánh Hà rất nhiều, đã bỏ thì giờ quý báu để chia sẻ nhiều điều thú vị và bổ ích cho những cây viết tiếng Anh “mầm non” gốc Việt (như P. Hoa) trong cuộc trò chuyện này. Kính chúc anh cùng gia đình vui khỏe, hạnh phúc, và riêng anh, chúc anh luôn tiến mãi trong sự nghiệp văn chương trên quê hương thứ hai này.


                Nv KH: Xin thành thật cám ơn chị. Chúc chị và gia quyến được bình an trong thời COVID-19 này.

                P. Hoa: Dạ cám ơn và kính chào anh.

    Quý độc giả nếu muốn đọc các truyện ngắn Việt ngữ của nhà văn Khánh Hà đăng trên báo Tuổi Hoa trước 1975 xin mời vô những đường link sau đây. (copy link bỏ lên Google để mở)

    *Truyện Ngắn: “Săn Người”  trang 79, — TUỔI HOA số 85 & 86 — Xuân Mậu Thân 1968: https://drive.google.com/file/d/0B9E44PtYv9V-bG0wN09Sb29aOEU/view

    *“Hoa Đầu Mùa” — TUỔI HOA số 76, 1967:

    https://drive.google.com/file/d/0B9E44PtYv9V-SUExWFFMSlJRckU/view

    *“Tổ Ấm” — TUỔi HOA số 52, 1966 (serialized Part 1):

    https://drive.google.com/file/d/0B9E44PtYv9V-RnRQeFdDQVdybGs/view

    *“Tổ Ấm”– TUỔi HOA số 53, 1966  (serialized Part 2):

    https://drive.google.com/file/d/0B9E44PtYv9V-REl5Z0RDbGZLRmM/view

    *“Tổ Ấm” — TUỔi HOA số 54, 1966 (serialized Part 3):

    https://drive.google.com/file/d/0B9E44PtYv9V-aGZ2bjhVS0tzZDQ/view

    *“Tổ Ấm” — TUỔi HOA số 55, 1966 (serialized Part 4):

    https://drive.google.com/file/d/0B9E44PtYv9V-cFc3UEEzWGxEU0E/view

    *“Tổ Ấm” — TUỔi HOA số 56, 1966 (serialized Part 5):

    *“Tổ Ấm” — TUỔi HOA số 57, 1966 (serialized Part 6):

    https://drive.google.com/file/d/0B9E44PtYv9V-aDFheFlsc2RhSHc/view

    Phương Hoa – Tháng 10/2020

  • Tin tức

    Nhớ người


    Nhớ người từ chốn nghìn trùng
    Nhớ người tan nát tận cùng thịt da
    Nhớ hoang sơ, nhớ thật thà
    Nhớ yêu dấu rất mặn mà tháng năm
    Nhớ thương dáng đứng, ngồi, nằm
    Nhẹ như gió thoảng, thì thầm trăng sao
    Nhớ trong giấc ngủ, chiêm bao
    Nhớ trong tiếng hát gọi chào bình minh
    Nhớ từ thuở rất điêu linh
    Nhớ đời những lúc gập ghềnh, gian nan
    Tay trong tay vẫn dịu dàng
    Ta chưa một phút bẽ bàng cho nhau
    Nhớ người, nhớ trước, nhớ sau
    Nhớ trăm năm đã đi vào trăm năm


    NK-TNC

  • Tin VN

    Sách giáo khoa VN “cóp” sai chuyện ngụ ngôn La Fontaine

    Nguyễn Thị Bích Hậu

    Sách lớp 1 có bài Ve và gà, nói là của Minh Hòa kể lại từ ngụ ngôn của cụ Jean de La Fontaine. Với nội dung tối nghĩa vô cùng và có thể suy diễn bậy bạ ( coi hình)

    Mình bèn lên tra lại toàn bộ các bài thơ ngụ ngôn của cụ, coi cụ có viết vậy hay không. Kết quả tìm được bài Ve và kiến. Trong toàn tập thơ của cụ mà mình có thì không có bài Ve và gà nào hết. Vậy có phải khịa hay không nhờ các cao nhân chỉ rõ, theo chủ quan của mình tới nay là bài này khịa.

    Và nguyên văn cụ viết bằng tiếng Pháp rất hay. Mình đọc hiểu được mà không thể dịch cho hay được, nên xin để bản dịch của cụ Nguyễn Văn Vĩnh đăng trên Đông Dương tạp chí số 40 (năm 1914). Đọc bản dịch này các bạn sẽ thấy khác xa với bài đăng trên sách lớp 1 thế nào.

    “Ve sầu kêu ve ve

    Suốt mùa hè

    Đến kỳ gió bấc thổi

    Nguồn cơn thật bối rối

    Một miếng cũng chẳng còn

    Ruồi bọ không một con

    Vác miệng chịu khúm núm

    Sang chị Kiến hàng xóm

    Xin cùng chị cho vay

    Dăm ba hạt qua ngày

    Từ nay sang tháng hạ

    Em lại xin đem trả

    Trước thu, thề đất trời!

    Xin đủ cả vốn lời

    Tính Kiến ghét vay cậy

    Thói ấy chẳng hề chi

    Nắng ráo chú làm gì?

    Kiến hỏi Ve như vậy

    Ve rằng: Luôn đêm ngày

    Tôi hát, thiệt gì bác!

    Kiến rằng: Xưa chú hát

    Nay thử múa coi đây”

    Và mình xin trích một bản dịch từ truyện ngụ ngôn Aesop là nguyên bản xa xưa nhất của truyện Ve và kiến này cho các bạn hiểu hơn. Vì cụ La Fontaine chú rõ trong sách là viết dựa theo truyện của Aesop và Phrygian

    “Vào một ngày mùa đông đẹp trời, vài con kiến đương bận với việc sấy khô ngô đã bị ướt sau một trận mưa dài. Lúc đó, một con ve từ đâu bay tới xin lũ kiến cho ít hạt ngô “vì” nó nói “tôi sắp chết đói đây”. Lũ kiến ngừng làm việc một lúc mặc dù trái với qui định của chúng. “Chúng tôi có thể hỏi” chúng nói “anh đã làm gì trong suốt cả hè qua? Tại sao anh không đi tìm thức ăn để dự trữ cho mùa đông?” “Sự thực là” ve trả lời “tôi quá bận với việc hát ca nên không còn thời gian nữa” “Nếu anh dành mùa hè để hát” lũ kiến trả lời “thì không gì tốt hơn là hãy dành mùa đông để nhảy”. Nói xong, chúng mỉm cười và lại tiếp tục công việc của mình.

    (Người dịch: Thu Anh, Ngọc Bích) Ngụ ngôn Ê-Dốp/ NXB Văn hoá thông tin, 2005.

    Truyện ngụ ngôn nguyên gốc hay như vậy, có tính giáo dục như vậy thì bị đổi nội dung hoàn toàn trong sgk. Còn tên của truyện là Ve và kiến thì bị đổi thành Ve và gà trong sgk. Nhân vật cũng đổi luôn.

    Hơn nữa ve và kiến có thể chơi với nhau trong tự nhiên, chứ gà thấy con ve có thể mổ luôn chứ nó ngán gì.

    Mong các người làm sgk ngồi yên đừng làm gì, để bà con tự vô lấy truyện của cụ La Fontaine hay cụ Aesop ra dạy con cháu, còn hơn là dạy mà xuyên tạc và phá hoại.

  • Tác giả và Tác Phẩm,  Tin tức

    Nhà văn Nhật Tiến qua đời

    Nguyễn Vy Túy

    Tuy Nguyen

    Ông mất tại Hoa kỳ, thọ 84 tuổi.

    ÔNG THEO CHÂN HIỀN THÊ CHỈ SAU 18 NGÀY.

    Một nhà văn, nhà giáo đáng kính của thế hệ chúng tôi, đã qua đời  lúc 11 giờ 26 phút trưa ngày 14 Tháng Chín, 2020, (tức 27 Tháng Bảy, Canh Tý), tại thành phố Irvine, Nam California, hưởng thọ 84 tuổi, theo tin loan báo từ gia đình.

    Nhà văn Nhật Tiến qua đời chỉ ít ngày “sau sự ra đi của hiền thê là nữ văn sĩ, dịch giả Đỗ Phương Khanh vào ngày 26 Tháng Tám vừa qua”, gia đình cho hay.

    Trước 1975, ông là Giáo sư Cố vấn cho Thi Văn Đoàn Trầm Tích ở Sài Gòn (do tôi làm Thi Văn Đoàn trưởng), và từng ký tặng tất cả các tác phẩm của ông và tuần báo Thiếu Nhi do ông làm Chủ bút, cho thư viện của Trường Trung học Văn Đức, và tôi đã có vinh dự đến tòa soạn báo Thiếu Nhi để nhận và đưa về trường.

    Cũng chính từ cuộc gặp gỡ này, ông nhận lời làm Cố Vấn.

    Năm 1979, khi ông và gia đình gặp nạn Hải tặc trong vùng Vịnh Thái Lan (qua vụ án đảo Kokra), với tư cách chủ bút tuần báo Chuông Sài Gòn, chúng tôi đã vận động độc giả và chính quyền Úc cùng yểm trợ tài chánh để ông và các nhân chứng ra tòa chống lại bọn hải tặc.

    Các bức thư trao đổi giữa tòa soạn và ông, chúng tôi vẫn còn cất giữ. Bởi đó là những chứng tích lịch sử về một thời oan trái đầy đau khổ, của những thuyền nhân bất hạnh trên đường vượt biển tìm tự do.

    Bây giờ ông đã “đoàn tụ” với vợ trên thiên đường.

    Đoạn đường Núi Sọ đầy chông gai, ông và bà đã đi qua.

    Nguyện chúc Ông Bà an vui nơi miền cực lạc.

    *Nguyễn Vy Túy

    Dưới đây là tiểu sử nhà văn Nhật Tiến theo công bố của gia đình.

    “Nhà văn Nhật Tiến tên đầy đủ là Bùi Nhật Tiến, sinh ngày 24 Tháng Tám, năm 1936, tại Hà Nội – là tên tuổi lớn trên văn đàn Việt Nam. Ông là tác giả tiếp nối của dòng văn học Tự Lực Văn Đoàn; và, bằng chính đời sống và sáng tác của mình, ông mở rộng những chủ đề và cả phong cách sáng tác theo dòng lịch sử đất nước. Có thể nói, lịch sử đặt ông vào những biến cố lớn của đất nước, để từ đó, thông qua ngòi bút của mình, ông trở thành tiếng nói của thời đại mà chính ông và gia đình là những nhân chứng sống. Năm 1954 ông di cư vào Nam, sống tại Đà Lạt, rồi Sài Gòn. Vượt biển vào Tháng Mười, 1979, và tỵ nạn tại Songkhla (Thái Lan) chín tháng. Ông và gia đình định cư tại California (Hoa Kỳ) từ năm 1980”.

    “Về sự nghiệp văn chương, ông đoạt Giải Nhất Giải Văn Chương Toàn Quốc năm 1960-1961, với tác phẩm Thềm Hoang. Trước đó, năm 1952, truyện ngắn của ông lần đầu xuất hiện tại Hà Nội trên nhật báo Giang Sơn và những vở kịch trên tuần báo Cải Tạo năm 1953-1954. Tại Đà Lạt, năm 1954-1955, ông tiếp tục viết kịch truyền thanh cho đài radio tiếng nói của Ngự Lâm Quân. Từ năm 1958, tại Sài Gòn, 1958, ông tham gia Giai Phẩm Văn Hóa Ngày Nay do nhà văn Nhất Linh chủ biên”.

    Trước năm 1975, tại Việt Nam, ông từng viết cho: Giang Sơn, Cải Tạo, Thời Tập, Chánh Đạo, Bách Khoa, Văn, Tân Phong, Văn Học, Đông Phương. Tại hải ngoại, từ năm 1980 đến nay, ông được mời xuất hiện trên nhiều tờ báo và trang web. Riêng tại California, ông đã từ viết cho: Người Việt, Sài Gòn, Văn Nghệ, Hợp Lưu, Văn Học, Việt Tide, Vietstream, Khai Phóng, Chấn Hưng, Việt Nam Hải Ngoại. Ngoài ra, ông còn có tác phẩm trên Đất Mới (ở Seattle), Ngày Nay (ở Kansas City), Xác Định (ở Virginia). Xa hơn, bên ngoài Hoa Kỳ, ông có bài trên Chuông Saigon, Việt Luận, Chiêu Dương phát hành tại Úc châu, Lửa Việt tại Canada, Độc Lập tại Tây Đức), và Đường Mới, Quê Mẹ tại Pháp.

    Tác phẩm của ông bao gồm nhiều thể loại: Truyện dài, truyện ngắn, truyện thiếu nhi, kịch-tiểu thuyết kịch. Đặc biệt, những năm sau này ông làm công việc khảo cứu gần như là văn học sử qua các tác phẩm Ghi Chép và Tiểu Luận. Ngoài viết văn, ông còn là nhà giáo. Ông dạy học, và tham gia các hoạt động văn hóa, giáo dục và xã hội khác. Ông là người viết thỉnh nguyện thư và sau trở thành thành viên của Ủy Ban Báo Nguy Giúp Người Vượt Biển (Boat People S.O.S. Committee), từ năm1980 đến 1990.

    Các tác phẩm của nhà văn Nhật Tiến đã phát hành.

    Truyện dài:

    -Những Người Áo Trắng (1959)

    -Những Vì Sao Lạc (1960)

    -Thềm Hoang (1961)

    -Mây Hoàng Hôn (1962)

    -Chuyện Bé Phượng (1964)

    -Vách Đá Cheo Leo (1965)

    -Chim Hót Trong Lồng (1966)

    -Tay Ngọc (1968)

    -Giấc Ngủ Chập Chờn (1969)

    -Quê Nhà Yêu Dấu (1970)

    -Mồ Hôi Của Đá (1988)

    Truyện ngắn: Đã viết hơn 100 tác phẩm, một số được giới thiệu trong các tuyển tập…

    -Những Bước Tiên Của Tôi (1951, tuyển tập truyện và thơ chép tay đã thất truyền)

    -Ánh Sáng Công Viên (1963)

    -Giọt Lệ Đen (1968)

    -Tặng Phẩm Của Dòng Sông (1972)

    -Tiếng Kèn (1982)

    -Một Thời Đang Qua (1985)

    -Cánh Cửa (1990)

    -Quê Nhà – Quê Người (1994, in chung với nhà văn Nhật Tuấn)

    -Mưa Xuân (2013)

    Truyện thiếu nhi:

    -Lá Chúc Thư (truyện dài, 1969)

    -Theo Gió Ngàn Bay (truyện vừa, 1970)

    -Quà Giáng Sinh (truyện vừa, 1970)

    -Đóa Hồng Gai (truyện vừa, 1970)

    -Kể chuyện Tấm Cám (truyện ngắn, 1970)

    -Ngày Tháng Êm Đềm (truyện vừa, 1972)

    -Đường Lê Núi Thiên Mã (truyện dài, 1972)

    -Thuở Mơ Làm Văn Sĩ (hồi ký, 1973)

    Kịch & tiểu thuyết kịch:

    -Người Kéo Màn (tiểu thuyết kịch, 1962)

    -Hạ Sơn (kịch lửa trại, 1973)

    -Công Lý Xã Hội Chủ Nghĩa (kịch một màn, 1988)

    -Một Buổi Diễn Kịch (truyện ngắn kịch, 1990)

    -Một Khoảnh Đời Thường (kịch một màn, 2013)

    -Ông Giáo Hồi Hưu (kịch một màn, 2013)

    Ghi chép-Tiểu luận:

    -Hải Tặc Trong Vịnh Thái Lan (1981, viết chung với Dương Phục và Vũ Thanh Thủy)

    -Thuyền Nhân – Vài Trang Bi Sử (2008)

    -Hành Trình Chữ Nghĩa (2012)

    -Nhà Giáo Một Thời Nhếch Nhác (2012)

    -Sự Thật Không Thể Bị Chôn Vùi (2012)

    -Một Thời… Như Thế (2012)

    -Từ Hội Bút Việt Đến Trung Tâm Văn Bút Việt Nam (2016)

  • Tin tức

    Nhà văn gốc Việt đầu tiên vào ủy ban chấm giải Pulitzer

    11/09/2020

    Thông báo của Hội đồng Pulitzer xác nhận không chỉ là người gốc Việt đầu tiên, giáo sư Nguyễn Thanh Việt còn là người Mỹ gốc Á duy nhất từ trước đến nay tham gia chấm giải thưởng danh giá của Mỹ.

    Nguyễn Thanh Việt - nhà văn gốc Việt đầu tiên vào ủy ban chấm giải Pulitzer - Ảnh 1.
    Giáo sư Nguyễn Thanh Việt – Ảnh chụp màn hình vietnguyen.info

    “Đây là một vinh dự khi được chọn vào hội đồng chấm giải Pulitzer. Là một người may mắn từng nhận giải, tôi hiểu tầm ảnh hưởng của giải thưởng tới sự nghiệp của người cầm bút và nhận thức của độc giả ra sao. Tôi rất vui được tham gia vào công việc quan trọng của hội đồng”, giáo sư Nguyễn Thanh Việt chia sẻ trên Twitter cá nhân ngày 9-9.

    Nguyễn Thanh Việt hay Viet Thanh Nguyen là tác giả của tiểu thuyết được viết bằng tiếng Anh tên The Sympathizer (tạm dịch: Cảm tình viên) xuất bản năm 2015. Quyển sách đã gây tiếng vang lớn khi thắng giải Pulitzer cho các tác phẩm hư cấu năm 2016 cùng nhiều giải thưởng khác sau đó.

    Năm 2017, tuyển tập truyện ngắn The Refugees của Nguyễn Thanh Việt thu hút sự chú ý rộng rãi tại nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam. Tập truyện ngắn với lời đề từ “tặng những người tị nạn, ở bất cứ đâu” sau đó đã được xuất bản tại Việt Nam với tên gọi Người tị nạn.

    Theo trang web của Hội đồng Pulitzer, Nguyễn Thanh Việt hiện là giáo sư tại Đại học Nam California đồng thời là một cây bút bình luận của tờ New York Times.

    Đánh giá về sự gia nhập của nhà văn gốc Việt, đồng chủ tịch hội đồng giám khảo Pulitzer – ông Stephen Engelberg và bà Aminda Marqués Gonzalez – nhấn mạnh: “Những trải nghiệm ấn tượng của Nguyễn Thanh Việt trong vai trò tiểu thuyết gia, nhà báo, người viết tiểu luận và một học giả giúp ông trở thành nhân tố mới tuyệt vời cho hội đồng giám khảo giữa thời đại đầy biến động”.

    Sinh ra tại Buôn Mê Thuột năm 1971 và đến Mỹ sau năm 1975, Nguyễn Thanh Việt từng chia sẻ ông hi vọng sẽ sớm có được bản tiếng Việt của Người tị nạn để cha mình có thể đọc.

    Tác phẩm gần đây nhất của ông là Chicken of the Sea, một quyển sách dành cho thiếu nhi viết chung với con trai 6 tuổi. Nguyễn Thanh Việt đang hoàn thiện The Committed, cuốn tiếp theo của tiểu thuyết The Sympathizer dự kiến ra mắt vào năm sau.

    Joseph Pulitzer, một nhà báo người Mỹ gốc Hungary, là cha đẻ của giải thưởng Pulitzer. Trước khi qua đời, ông đã để lại tài sản tích cóp cùng di nguyện muốn mở một trường đào tạo báo chí và một giải thưởng dành cho người cầm bút.

    Giải Pulitzer được trao lần đầu vào năm 1917. Hội đồng chấm giải Pulitzer gồm 19 thành viên có nhiệm kỳ 3 năm.

    Theo Internet

  • Tin tức

    Dịch giả Huỳnh Phan Anh qua đời tại Mỹ

    Dịch giả Huỳnh Phan Anh qua đời tại Mỹ

    31/08/2020 15:46 GMT+7

    Dịch giả Huỳnh Phan Anh vừa qua đời lúc 16h45 ngày 30-8 tại San Jose, California, Hoa Kỳ (tức 6h45 sáng 31-8 – giờ Việt Nam) sau một thời gian nằm bệnh, hưởng thọ 81 tuổi.

    Dịch giả Huỳnh Phan Anh qua đời tại Mỹ - Ảnh 1.
    Dịch giả Huỳnh Phan Anh (trái) chụp chung với nhà thơ Yves Bonnefoy tại Paris năm 1999 – Ảnh tư liệu

    Dịch giả Huỳnh Phan Anh tên thật là Huỳnh Thanh Tâm, sinh năm 1940 tại Bình Dương, tốt nghiệp Đại học Sư phạm Đà Lạt và là giáo sư triết học tại miền Nam. Nhưng sự nghiệp của ông gắn liền với hoạt động dịch thuật và phổ biến tác phẩm văn chương triết từ các nước đến với người đọc Việt Nam từ trước 1975.

    Theo những bạn bè của ông từ hồi còn gặp nhau ở tòa soạn báo Văn tại Sài Gòn, tác phẩm phê bình văn học đầu tay của Huỳnh Phan Anh là Văn chương và kinh nghiệm hư vô (NXB Hoàng Đông Phương, 1968), sau đó ông có tập truyện Người đồng hành (Đêm Trắng xuất bản 1969), kế đó là tập tiểu luận – phê bình Đi tìm tác phẩm văn chương (Đồng Tháp, 1972); ngoài ra ông còn truyện vừa Những ngày mưa (Đêm Trắng xuất bản), và tập truyện Phía ngoài viết chung với Nguyễn Đình Toàn.

    Nhưng sự nghiệp dịch thuật của Huỳnh Phan Anh mới thật đáng nể, ông đã chuyển ngữ nhiều tác phẩm quan trọng, cả những tác phẩm kinh điển của văn chương và tư tưởng thế giới được in và tái bản nhiều lần trong mấy chục năm qua:

    Một mùa địa ngục (thơ Arthur Rimbaud, NXB Văn Học), Tuyển thơ tình yêu (Paul Eluard, NXB Hội Nhà Văn), Thơ Yves Bonnefoy (NXB Hội Nhà Văn), Chuông gọi hồn ai (tiểu thuyết, Ernest Hemingway, NXB Văn Học), Tình yêu bên vực thẳm (tiểu thuyết, Erich Maria Remarque, NXB Trẻ), Sa mạc (tiểu thuyết, J.M.G Le Clézio, NXB Hội Nhà Văn), Lạc lối về (tiểu thuyết, Heinrich Boll, NXB Văn hóa Văn Nghệ), Tình yêu và tuổi trẻ (tiểu thuyết, Valery Larbaud, NXB Trẻ), Những cuộc đời tỏa sáng (nghiên cứu, André Maurois, NXB Trẻ), Ảo ảnh (Thomas Mann, Văn học), Cỏ (Claude Simon, Hội nhà văn), Thế giới của Sophie (Jostein Gaarder, Văn hoá thông tin, Nhã Nam tái bản), Bãi hoang (Jean-René Huguenin, Đồng Nai, Dtbook tái bản), Rimbaud toàn tập (Arthur Rimbaud, Văn hóa Sài Gòn), Thời gian của một tiếng thở dài (Anne Philipe, NXB Văn nghệ TP.HCM).

    Một số tác phẩm quan trọng đã được ông sớm dịch từ trước 1975 như Tình yêu và lý tưởng (Thomas Mann, Ngày Mới, 1974), Chuyến viễn hành trong đêm (Heinrich Böll, Vàng Son, 1973), Tình cuồng (Raymond Radiguet, dịch chung với Nguyễn Nhật Duật, Ngày Mới, 1973)…

    Tất cả cuộc sống của ông là ở đây, nó quá đẹp với đủ vui buồn của một chàng trai sớm già dặn và buồn bã vì bị văn chương chiêu dụ, bị triết học mê hoặc; một ngòi bút tài hoa sớm thành danh; một tên tuổi nức tiếng, nhưng ít ai thấy mặt, nghĩa là cô đơn trong chốn đông đảo, như một cách nói của ông

    Nhà văn – dịch giả MAI SƠN

    Theo nhà thơ Phạm Chu Sa, một bạn văn của Huỳnh Phan Anh, ở độ tuổi 30, Huỳnh Phan Anh đã “cùng với các nhà văn – nhà phê bình Nguyễn Xuân Hoàng, Nguyễn Nhật Duật, Nguyễn Quốc Trụ, Nguyễn Hữu Trí và Đặng Phùng Quân quy tụ thành nhóm Đêm Trắng.

    Đêm Trắng là nhóm văn học có khuynh hướng hiện sinh, đi tìm cái mới trong văn chương để làm mới văn chương. Hầu hết thành viên của nhóm là nhà văn kiêm nhà giáo dạy văn học và triết học. Huỳnh Phan Anh rất ngưỡng mộ và chịu ảnh hưởng của Jean Paul Sartre, nhà văn – nhà triết học người Pháp, người có công xiển dương chủ nghĩa hiện sinh”.

    Cũng theo Phạm Chu Sa, “năm 2002, Huỳnh Phan Anh sang Mỹ định cư tại San Jose, một TP ở Bắc California có hơn 100.000 người Việt nhưng anh sống gần như khép kín, cách biệt, cả với giới văn nghệ sĩ – bạn bè cũ của anh. Phần do anh bị bệnh tim, phần không biết lái xe”.

    Trong một lần trả lời phỏng vấn báo trong nước, dịch giả Huỳnh Phan Anh bộc bạch: “Trước hết, tôi xin khẳng định một điều là cho dù tôi có sống tại Mỹ một vài năm hay trong suốt phần còn lại của cuộc đời, tôi cũng khó hội nhập được vào nước Mỹ! Tôi không bao giờ là một nhà văn lưu vong”.

    Một cuộc đời sống và làm việc hết mình cho văn chương, phê bình và dịch thuật với lượng tác phẩm đồ sộ rất có giá trị, tên tuổi Huỳnh Phan Anh chắc chắn còn sống mãi với những người trân trọng ngôn ngữ và văn chương.

    Theo Internet

  • Tin tức

    VĨNH BIỆT HUỲNH PHAN ANH

    VĨNH BIỆT HUỲNH PHAN ANH 

    Bùi Chí Vinh

    Nhà văn kiêm dịch giả Huỳnh Phan Anh mất lúc 16g45 ngày Chủ nhật 30-8 tại tư gia San Jose thọ 81 tuổi. Tác giả “Văn Chương Và Kinh Nghiệm Hư Vô” chính là thầy dạy tôi môn Công Dân tại trường trung học công lập Nguyễn Trãi niên khóa 1970-1971. Tại ngôi trường Nguyễn Trãi này trong suốt thời trung học đệ nhị cấp tôi vốn là một trong vài học sinh xuất sắc nhất lớp…

    Thuở đó tôi lồng lộn sải vó cố tìm ra ánh sáng cuối đường hầm trên con đường sạn đạo của mình. Tôi từng trần thuyết về đề tài Tam Dân Chủ Nghĩa trước thầy Huỳnh Thành Tâm tức nhà văn Huỳnh Phan Anh nổi tiếng dạy tôi năm lớp 10A và được thầy cho điểm tuyệt đối về sự hùng biện táo bạo.

    Khác với hai thầy Đỗ Quý Toàn, Tạ Quang Khôi mà tôi không lần nào gặp lại, riêng thầy Huỳnh Phan Anh sau 1975 tôi được hân hạnh tái ngộ và trở thành một đồng nghiệp nhỏ thân thiết của thầy. Tôi còn nhớ cuối năm 1975 trên báo Văn Nghệ Giải Phóng xuất hiện hai bài tùy bút nổi tiếng một của Trịnh Công Sơn và một của Huỳnh Phan Anh. Hai bài viết thuộc dạng sắc sảo trong cách nhìn của mỗi người về những biến thiên của thời cuộc, nhưng tùy bút NHÌN LẠI của Huỳnh Phan Anh được dư luận đánh giá cao hơn tùy bút mang tên HẠNH PHÚC của Trịnh Công Sơn. Tôi không coi đó là sự giác ngộ cách mạng hoặc sám hối nghề nghiệp của Huỳnh Phan Anh như sự chụp mũ ác ý của một số người cầm bút.

    Tôi hiểu tâm trạng của một nhà văn tự trọng kiêm một nhà giáo lương thiện và ủng hộ con đường đi của thầy. Đến giờ này có thể nói khả năng biên dịch, phóng tác của thầy theo thời gian ngày càng rực rỡ hơn bao giờ hết. Đơn cử bản dịch Huỳnh Phan Anh cuốn CHUÔNG GỌI HỒN AI của Ernest Hemingway sẵn sàng “chấp” hàng loạt nhà văn thế hệ sau 1975 thay phiên nhau dịch mà chẳng có ai so sánh được. Một đơn cử khác, bản dịch Huỳnh Phan Anh cuốn TÌNH YÊU BÊN VỰC THẲM của Erich Maria Remarque cũng là một thứ “hàng độc” về văn phong lịch lãm của thầy. Tôi khẳng định rằng thầy đã cùng với các dịch giả Ngọc Thứ Lang, Phạm Công Thiện, Nguyễn Nhật Duật, Nguyễn Hữu Hiệu… tạo nên trường phái dịch thuật đẳng cấp trước 1975, đủ sức lột trần được tinh hoa bản gốc của các danh tác quốc tế và làm giàu có thêm cho kho tàng ngôn ngữ Việt Nam.

    Hai thầy trò chúng tôi đã nhiều lần cụng ly, nhiều lần lăn lóc, nhiều lần ngổn ngang tâm sự với nhau cho dù Huỳnh Phan Anh hầu như không nhớ gì tên học trò Nguyễn Trãi ngày xưa được ông cho điểm cao nhất môn trần thuyết. Có lần ông kể với tôi trong một đêm say khướt ngồi xe xích lô về nhà trên đường Võ Văn Tần (đường Trần Quý Cáp cũ) ông đã được tay tài xế xích lô xa lạ đọc cho nghe bài thơ XÍCH LÔ HÀNH của tôi, sau đó còn hát nghêu ngao ca khúc phổ nhạc bài thơ đó.

    Ông xúc động nói với tôi rằng:”Như vậy là mày đã tồn tại. Nhà thơ cả đời chỉ cần một sáng tác được truyền khẩu, thế mà bài thơ Xích Lô của mày được phổ biến khắp nơi. Tao hãnh diện được làm thầy của một thi sĩ nhân dân kiểu đó”. Khi tôi viết những dòng này thì vị thầy giáo đáng kính đã lưu lạc giang hồ bên Mỹ quốc, trước khi đi tôi đã cố gắng cùng thầy gõ cửa đủ mọi cơ quan, báo chí để nộp từng chồng hồ sơ khiếu nại khiếu tố dày cộm về đám cường hào ác bá tỉnh Tây Ninh cướp đất hương hỏa của gia đình thầy, nhưng tất cả nỗ lực đều thất bại bởi “con cóc không thể kiện ông trời” khi không còn thượng đế. Chẳng biết thầy còn nhớ những kỷ niệm bụi đời của chúng tôi không? 

    Và tôi cũng mở ngoặc luôn ở đây: Có lẽ thầy Tâm không còn nhớ gì nữa, bằng chứng là những lần về lại Việt Nam thầy không một lần tìm đến nhà tôi, cho dù thuở chưa đi “xuất khẩu” nước ngoài, cứ vài ngày là thầy lại gõ cửa hào hứng mời tôi đi nhậu rượu hà thủ ô miệt Đa Kao. Cũng không sao, thưa thầy Huỳnh Thành Tâm tức Huỳnh Phan Anh, cái gạch nối cần thiết nhất của chúng ta là bài thơ XÍCH LÔ HÀNH (qua lời khẳng định của thầy) vẫn luôn luôn tồn tại cho đến bây giờ:

    XÍCH LÔ HÀNH

    Tưởng mình ta đạp xích lô

    Nào hay phố xá ngựa thồ như nêm

    Buộc cho ta miếng băng đen

    Để cho cặp mắt làm quen mù loà

    Xỏ giàm vào mõm nữa cha

    Để cho số tuổi ta già theo răng

    Giật cương đi hỡi mấy thằng

    Ê, sao nước mắt chợt lăn xuống cằm

    Ta đi dụ khị người phàm

    Thấy huynh hiền sĩ từ quan lên rừng

    Dạ dày ta nhảy lung tung

    Nhảy dăm phút nữa dám khùng nghe cha

    Cũng may vừa tới ngã ba

    Cô em yểu điệu tà tà leo lên

    Lưng ta khòm giống cái yên

    Chổng mông em cưỡi mùi Thiền nhấp nhô

    “Ba đồng một cuốc” mại dô!

    Có con ngựa đực vừa ho vừa gào

    Ta thồ ngang động hoa đào

    Thấy dăm kỹ nữ trắng phau trổ nghề

    Thồ ngang đống rác thúi ghê

    Thấy bầy tiểu tử chửi thề giành moi

    Thồ ngang khách sạn em ơi

    Chó ngồi ăn nhậu còn người ăn xin

    Nhưng mà chớ có rùng mình

    Tại ta kéo thắng chưa linh em à

    Gân chân lõm tựa ổ gà

    Mặt xương bụng lép chẳng ma nào ngồi

    Mới ra nghề tưởng khơi khơi

    “Bác Hồ ngó thẳng” đâu chơi gà mờ

    Dạ dày lại đánh lô tô

    Mồm ta méo xệch bên bờ tử sinh

    Như là góa phụ tắt kinh

    Ruột xe có chửa thình lình, chết cha!

    Té ra trong cõi người ta

    Ruột lô, ruột xịn khéo là ghét nhau

    Đếm tiền còn thiếu xu hào

    Đếm ta thấy chớm bệnh lao mất rồi

    Vá giùm chút, bạn hiền ơi

    Xích lô cà chớn của thời cà chua!

    BCV

    (trích từ hồi ký GIAI THOẠI CỦA THI SĨ)

    Trong đám cưới Bùi Chí Vinh. Hương Lan:
    Người đứng: Phan Bá Chức
    Người ngồi: Vợ chồng họa sĩ kiêm diễn viên Lê Chánh và Huỳnh Phan Anh.

    Theo Internet

  • Tin VN

    Mua danh, bán tiếng trong giới khoa bảng và đại học VN

    Mua danh, bán tiếng trong giới khoa bảng và đại học Việt Nam

    TS Nguyễn Đức An

    ĐH Bournemouth, Anh Quốc

    25 tháng 8 2020

    Cách đây vài năm, nhân chuyến về VN, tôi được trường đại học X mời đến thăm để bàn cơ hội hợp tác. Họ tiếp đón trọng thị, đưa tôi đi tham quan cơ sở vật chất chuyên ngành, xem sản phẩm sinh viên, gặp nhiều người có trách nhiệm từ ban giám hiệu trường đến trưởng phó khoa, các giảng viên, nhân viên phòng lab.

    Nhưng trên đường về, lòng thật buồn. Nỗi buồn cứ lan man theo tôi và trỗi dậy trong mấy tuần qua, khi báo chí và mạng xã hội trong nước xôn xao chuyện “mua bán” công trình khoa học.

    Hôm đó, họ đề nghị hai hình thức “hợp tác” cơ bản. Một, tôi đứng tên trong đội ngũ cơ hữu để họ làm thủ tục mở chuyên ngành. Không cần làm gì cả, chỉ cần đứng tên (vì tôi có hàm vị học thuật cần thiết theo quy định của Bộ Giáo dục), hằng tháng sẽ nhận một mức lương kha khá. Nếu thu xếp được thì giờ thì về giảng dạy, nhưng không nhất thiết.

    Hai, họ đề nghị tôi hỗ trợ mảng khoa học, bằng cách ký tên tôi dưới danh nghĩa trường X trong các công trình của tôi trên thế giới. Đổi lại, họ sẽ trả mỗi bài một mức tiền khá cao, được quy định cụ thể trong một hợp đồng kinh tế (tuỳ theo đẳng cấp tạp chí đăng bài, thứ tự tên tác giả…).

    Vài tuần sau đó, sau một chuỗi email bàn bạc nhưng có vẻ không dẫn đến đâu vì hai bên hiểu khái niệm “hợp tác” khác nhau, tôi phải viết thư nói rõ ra. Rằng tôi sẽ không đứng tên trong bất cứ các công trình tôi làm bên này dưới tên X. Rằng tôi sẽ chỉ đứng tên vào đội ngũ nếu tôi thực sự tham gia giảng dạy, chứ không phải để cho họ đủ ban bệ. Lý do, tôi cũng nói thẳng với họ, là nó không phù hợp với các nguyên tắc và chuẩn mực nghề nghiệp mà tôi muốn gìn giữ cho riêng mình.

    Kể lại chuyện trên không phải để phê phán một đơn vị riêng lẻ nào. X không phải là nơi đầu tiên tôi từ khước những việc này: từng có vài trường ĐH ở Trung Quốc và VN đề nghị tôi làm tương tự để nhận các khoản tiền không nhỏ.

    Một loạt bài điều tra trên báo Thanh Niên vào giữa tháng Tám cho thấy đây là cả một ngành công nghiệp quy củ, phục vụ cho một thị trường béo bở giữa nhiều cá nhân và tổ chức trong và ngoài nước. Loạt bài – dù có một vài sai sót kỹ thuật nhỏ, dễ gây hiểu nhầm – cho thấy chuyện mua danh bán tiếng khoa học mang rất nhiều dạng thái. Bên cạnh các trường trả tiền để được hưởng tiếng thơm công trình quốc tế (và để nâng vị trí xếp hạng) là rất nhiều cá nhân đi thuê viết luận văn để lấy bằng cấp, mua bài trên các tạp chí khoa học dỏm để đủ tiêu chuẩn lên giáo sư hay phó giáo sư…

    Nhiều lần đem chuyện này ra tâm sự với đồng nghiệp trong nước, tôi đều nhận những cái lắc đầu, bức xúc nhưng cam chịu. Có lẽ vì nó phổ dụng nên khi đề xuất các “hợp tác” trên với tôi, những người bạn trường X rất tự nhiên, như không có gì để băn khoăn cả. Dường như một cái không bình thường đang được bình thường hoá.

    Những ngày qua, theo dõi tranh luận quanh việc này, tôi thấy nhiều lý lẽ bênh vực cho chuyện “mua bán”. Rằng chính nhờ chịu khó chi mạnh cho những việc đó mà một vài trường đại học non trẻ (“bên mua”) vượt qua và gây sức ép khiến các đại học lâu đời đẩy mạnh nghiên cứu hơn. Rằng nhờ đó mà các nhà khoa học viết thuê (“bên bán”) có thêm thu nhập đủ sống trước khi cống hiến cho khoa học. Rằng nhờ đó mà VN còn hiển hiện đôi chút trong nền khoa văn thế giới. Rằng làm thế cũng chẳng vi phạm luật pháp.

    Những lý lẽ ấy, theo tôi, đều bỏ qua hai khía cạnh căn cơ của vấn đề.

    Thứ nhất, khoa học không thể phát triển trên tư duy “ăn xổi ở thì”, chạy theo cái phù du trước mắt. Khi từ chối trường X, tôi nói tôi rất muốn giúp trường nhưng nếu làm như ý họ thì tôi chẳng giúp gì để họ phát triển bền vững. Trước đó, tôi đề nghị họ lập ra một nhóm giảng viên nòng cốt, hằng năm tôi sẽ sắp xếp đi về, thậm chí có thể mời gọi các đồng nghiệp khác về cùng, để vừa dạy cho sinh viên, giúp họ soạn thảo chương trình, vừa hướng dẫn kỹ năng nghiên cứu cũng như cùng họ làm đề tài để công bố quốc tế.

    Làm thế sẽ được cả đôi đường – tôi thoả mãn ước muốn đem kinh nghiệm và tri thức về chia sẻ với các đồng nghiệp và sinh viên, đóng góp cho nền học thuật nước nhà, còn nhà trường được một đội ngũ kỹ năng, về lâu dài có thể tự nghiên cứu và sản xuất bài báo khoa học quốc tế. Nhưng những việc thực chất này lại có vẻ xa xôi so với các mục tiêu mà họ muốn gặt liền tay từ sự “hợp tác” với tôi.

    Không biết có bao giờ họ nghĩ rằng vẻ ngoài bóng nhoáng không thể che dấu lâu dài cho sự rỗng tuếch bên trong? Toà lâu đài trên cát có nguy nga đến mấy cũng sẽ tới lúc đổ nhào.

    Thứ hai, đây là một câu chuyện đạo đức, với nhiều hệ luỵ xã hội. Không thể không “rùng mình” khi những hành vi trên diễn ra ngay trong một tầng lớp được cho là tinh hoa, có ảnh hưởng sâu sắc đến tương lai đất nước và vận mệnh dân tộc. Kẻ mua cũng tệ, người bán cũng chẳng hơn. Sự liêm chính ở đâu? Lòng tự trọng khoa học ở đâu? Tinh thần học hỏi ở đâu? Sự kiên trì khám phá thế giới ở đâu? Sự khát khao và khiêm nhường trước tri thức ở đâu?

    Không có những cột trụ nền tảng đó thì sẽ chẳng bao giờ có một nền khoa học – và rộng hơn, một trình độ phát triển – đường hoàng và bền vững. Hãy tưởng tượng những ông bà giáo sư, tiến sĩ theo con đường mua bán này sẽ trở thành những chuyên gia, cố vấn, lãnh đạo khoa học tại các trường viện và bên ngoài xã hội thì đất nước sẽ về đâu? Điều gì sẽ xảy ra nếu xã hội đặt chẳng may đặt niềm tin và đổ dồn đầu tư vào các trường đại học nổi danh nhờ các công trình quốc tế không do họ làm ra?

    Tôi phải nói ngay là tôi vẫn gặp ở trong nước rất nhiều nhà khoa học tài năng, thành đạt trên những trụ cột đạo đức trên. Nhưng tin xấu lan nhanh hơn tin tốt. Chỉ vài trường hợp như trên cũng đủ để nhiều người dân đóng thuế nuôi khoa học, nhiều phụ huynh đóng tiền cho con đi học và nhất là các em sinh viên suy nghĩ tiêu cực về thế giới những con người đang dẫn dắt nghiên cứu và truyền bá tri thức trên giảng đường.

    Nói cách khác, nếu giới khoa bảng VN không chung tay để biến những vấn nạn trên trở thành chuyện bất bình thường, họ sẽ dễ bị xã hội nghi vấn, xa lánh và coi rẻ. Và khi khoa học không còn được xã hội coi trọng, khoa học sẽ mất tính chính danh. Khoa học sẽ không còn là khoa học.

    TS Nguyễn Đức An nguyên là nhà báo ở TP HCM, hiện là phó giáo sư ngành báo chí-truyền thông tại Đại Học Bournemouth, Anh Quốc.

    Theo BBC

  • Tin tức

    BỘ CHỮ VN 4.0 CỦA CÁC Ô.

    KIỀU TRƯỜNG LÂM  & TRẦN TƯ BÌNH

    Ở trong nước, sau khi Ô. Bùi Hiền đưa ra phương-thức cải-tiến chữ viết tiếng Việt vào năm 2017 (ref), thì vào đầu năm nay,  2020, có hai tác-giả Kiều Trường Lâm và Trần Tư Bình cũng đưa ra đề-nghị sử-dụng một số mẫu-tự thay cho các dấu sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng, để viết chữ Việt không dấu cho gọn và nhanh hơn cách-thức được viết hiện nay.

    Hai tác-giả này không nhận là mình cải-tiến chữ viết Tiếng Việt, mà chỉ kết-hợp sáng-kiến “Chữ Việt Nhanh” của Ô. Kiều Trường Lâm (ở Việt-Nam) với sáng-kiến “Ký Hiệu Dấu” của Ô. Trần Tư Bình (ở Úc) để đưa ra những cải tiến ở dạng viết tắt không dấu.

    Ngày 25-3-2020, hai ông đã nhận được giấy chứng-nhận bản-quyền do Cục Bản Quyền thuộc Bộ Văn Hóa, Thể Thao và Du Lịch cấp; và tác-phẩm của hai ông được gọi là “Chữ VN song song 4.0”

    Song song là tùy-ý dùng bên cạnh chữ viết hiện có, chứ không thay-thế cách viết hiện nay.

    4.0 là “trong thời-đại công-nghệ 4.0”.

    Theo “Chữ VN song song 4.0”, người dùng sử-dụng tất cả 26 mẫu-tự La-Tin.  Riêng về dấu thanh và dấu phụ cho chữ Quốc-Ngữ thì dùng 18 mẫu-tự [trong số 26 mẫu-tự ấy] để thay thế các dấu.

    *

    Nói chung, tôi không tán-đồng phương-cách đổi mới chữ viết của 2 Ô. Kiều Trường Lâm và Trần Tư Bình trong chương-trình “Chữ VN song song 4.0”

    Sau đây là vài thí-dụ (lý-do):

    Chữ I thay cho Y:

    Các Ô. Lâm và Bình chỉ viết ngắn gọn là “chữ I thay cho Y” nên người-đọc có thể hiểu lầm là “I” thay cho “Y” ở bất-cứ vị-trí và chức-năng nào trong chữ Việt.

    Về điểm này, tác-giả Lê Xuân Nhuận đã đặc-biệt nói rõ là mẫu-tự “i/I” chỉ thay mẫu-tự “y/Y” ở vị-trí đứng cuối 5 (năm) phụ-âm h/H, k/K, l/L, m/M, và t/T mà thôi (thí-dụ: “hi-vọng” thay cho “hy-vọng”, “kỉ-luật” thay cho “kỷ-luật”, “lí-do” thay cho “lý-do”, “mĩ-thuật” thay cho “mỹ-thuật”, và “tỉ-lệ” thay cho “tỷ-lệ”.  (Ref)

    Y thay cho UY:

    Theo “Chữ VN song song 4.0”, nếu ta muốn viết “Tuy an-ninh quốc-gia là ưu-tiên…” thì ta phải viết “Ty an-ninh quốc-gia là ưu-tiên…”.  

    Cũng thế: Uyên-bác trở thành yên-bác    uyên-ương trở thành yên-ương.

    Các chữ “Tuy” và “Ty” có nghĩa khác nhau.  Đổi mới như thế tức là xóa-bỏ chữ “Tuy” trong ngôn-ngữ Việt-Nam (làm nghèo tiếng Việt).

    Đồng-thời, các chữ “yên bác”, “yên ương” có thể bị đọc là “iên bác/giên bác”, “iên ương/giên ương”.

    C thay K:

    Khi ta muốn viết “kẻng”, “kiêng”, “kênh”, “kinh”, ta sẽ viết là “cẻng”, “ciêng”, “cênh”, “cinh”.

    Hơn nữa, theo luật “G thay NG” và “H thay NH” ở phụ-âm cuối chữ thì ta phải viết “kẻng” thành “cẻg”, “kiêng” thành “ciêg”, “kênh” thành “cêh”, “kinh” thành “cih”.

    Nhưng lại có luật “W thay NG, NGH” [không nói là phụ-âm đầu chữ hay phụ-âm cuối chữ] nên ta lại cũng phải viết “kẻng” thành “cẻw”, “kiêng” thành “ciêw”.

    Tức là “kẻng” được viết thành 3 cách: “cẻng”, “cẻg”, “cẻw”!

    “kiêng” là “ciêng” hoặc “ciêg” hoặc “ciêw”!

    v.v…

    Viết thành 3 cách (1 chữ đổi mới thành ra 3 chữ khác nhau) thì làm sao mà “giản dị”, “nhanh chóng” và “thống nhất”?

    K thay KH:

    Khi ta muốn viết “khen ngợi”, “khi nào”, thì ta viết là “ken ngợi”, “ki nào”!

    Vậy khi ý ta muốn nói “ken két”, “kỉ luật” mà ta viết đúng là “ken két”, “kỉ luật” thì, theo “Chữ VN song song 4.0”, ta phải đọc là “khen khét”, “khỉ luật”!

    Các dấu:

    Theo “Chữ VN song song 4.0” thì:

    Đồng thời, có 18 ký hiệu dấu dùng để thay thế các dấu thanh và dấu phụ cho chữ quốc ngữ.

    J=Dấu sắc,  L=Dấu huyền,  Z=Dấu hỏi,  S=Dấu ngã,  R=Dấu nặng.

    Nhóm X, K, V, W, H thay thế 5 dấu: sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng +

    dấu trăng ᨆ hay dấu móc ˀ cho các chữ ắ ằ ẳ ẵ ặ, ớ ờ ở ỡ ợ, ứ ừ ử ữ ự.

    Nhóm B, D, Q, G, F thay thế 5 dấu: sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng +

    dấu nón ^ cho chữ ấ ầ ẩ ẫ ậ, ế ề ể ễ ệ, ố ồ ổ ỗ ộ.

    Nhóm O, Y, P, trong đó

    chữ O thay thế dấu trăng ᨆ hoặc dấu móc ˀ cho chữ có thanh ngang như ă, ơ, ư;

    chữ Y thay thế dấu nón ^ cho chữ có thanh ngang như â, ê, ô.

    chữ P là ký hiệu chữ bỏ dấu thanh & dấu phụ, chỉ đặt P sau chữ không có dấu thanh và dấu phụ nào trong chữ có vần để không bị hiểu lầm qua chữ khác;

    Đã có “J=Dấu sắc,  L=Dấu huyền,  Z=Dấu hỏi,  S=Dấu ngã,  R=Dấu nặng” mà lại còn chia ra làm 3 Nhóm, thì làm sao mà nhớ cho hết cách-thức bỏ dấu.

    Đây là bài thơ “Mưa Xuân” của Nguyễn Bính:

    Theo luật “Chữ VN song song 4.0”, thì “L” là dấu huyền.  “Em là” viết thành “Em lal” là đúng.  Nhưng “bán” (Mẹ già chưa bán) mà viết là “banl” thì nó là “bàn” chứ không phải “bán”.

    Đưa ra ví-dụ (đối-nội: để tỏ là mình viết đúng; đối-ngoại: để giúp người khác viết theo cho đúng) mà lại viết sai, thì làm sao mà thuyết-phục được ai?

    *

    Luôn tiện cũng xin ghi thêm là Ô. Kiều Trường Lâm đã lại đưa ra một sáng-kiến mới, gọi là “Chữ viết bảo mật thời 4.0”:

    Ô. Lâm cho biết là loại chữ này do ông một mình tạo ra (không có Ô. Trần Tư Bình), sau cả chục năm nghiên-cứu và hoàn-thiên, và đang tiến-hành thủ-tục xin cấp bản-quyền — nhưng nghĩa của nó [“bảo mật”] là gì thì ông chưa vội tiết-lộ.

    Bề mặt đã “lộ” là nó có phần dựa vào chữ viết của Đại-Hàn. 

    LÊ XUÂN NHUẬN  

    GHI THÊM:

    Trong đề-nghị cải-mệnh chữ viết của mình, Lê Xuân Nhuận không hề (không bao giờ) chủ-trương dùng “I” thay “Y” ở bất-cứ vị-trí và chức-năng nào trong chữ Việt, mà chỉ thay-thế trong 5 (năm) trường-hợp mà thôi – là khi đứng sau các phụ-âm H, K, L, M, T mà thôi (thí-dụ: hi-vọng thay cho hy-vọng, kỉ-luật thay cho kỷ-luật, lí-do thay cho lý-do, mĩ-thuật thay cho mỹ-thuật, và tỉ-lệ thay cho tỷ-lệ).

    Không có vấn-đề “thâm-thúy” trở thành “thâm-thúi”!

    (Ref: Dùng I Thay Y)

    Cảnh-Sát-Hóa

    ReplyForward
  • Tin VN

    Đang tháo dỡ nhà thờ Bùi Chu

    Đang tháo dỡ nhà thờ Bùi Chu

    19/07/2020

    Mái và sàn đá hoa của nhà thờ Bùi Chu đang được tháo dỡ. Câu chuyện ồn ào hơn một năm qua về ngôi thánh đường này có lẽ sẽ sớm khép lại với một cái kết buồn cho những người bảo vệ di sản và nhẹ nhõm cho những người nắm giữ số phận của nhà thờ.

    Đang
tháo dỡ nhà thờ Bùi Chu - Ảnh 1.

    Nhà thờ Bùi Chu được tháo dỡ phần mái và sàn nhà – Ảnh: TIẾN ĐẶNG

    Sau hơn một năm trì hoãn và tìm các giải pháp khả thi để bảo vệ nhà thờ Bùi Chu (xã Xuân Ngọc, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định) bất thành, các linh mục thuộc Giáo phận Bùi Chu đã quyết định tiếp tục công việc hạ giải ngôi thánh đường hơn 100 tuổi này.

    Những hình ảnh từ trang Facebook cá nhân của người phụ trách truyền thông nhà thờ Bùi Chu ngày 18-7 cho thấy nhà thờ Bùi Chu đang được gỡ mái và nền gạch đá hoa.

    Dòng trạng thái kèm những hình ảnh hạ giải nhà thờ Bùi Chu của người này viết: “Nhà thờ chính tòa Giáo phận Bùi Chu chính thức hạ giải, xin mọi người cầu nguyện cho việc xây nhà thờ an toàn trong lòng Chúa thương xót…”.

    Các giáo dân xung quanh nhà thờ Bùi Chu cũng xác nhận thông tin này với Tuổi Trẻ Online.

    Chị Huyền cho biết mùa mưa bão sắp đến, các cha xứ và giáo dân lo ngại vấn đề an toàn trong nhà thờ xuống cấp nên cần tháo dỡ.

    Phần hạ giải bàn thờ và di chuyển bàn ghế, nội thất hồi tháng 2, các linh mục chia phần việc cho các giáo xứ, giáo họ. Nhưng lần này công việc tháo dỡ phức tạp hơn nên được giao cho công ty xây dựng thi công.

    Lây nay nhà thờ làm hàng rào tôn vây xung quanh nên chính các giáo dân cũng khó tiếp cận khuôn viên nhà thờ.

    Đang
tháo dỡ nhà thờ Bùi Chu - Ảnh 2.

    Hình ảnh sàn đá hoa của nhà thờ Bùi Chu được tháo dỡ ngày 18-7 – Ảnh: TIẾN ĐẶNG

    Trả lời Tuổi Trẻ Online, đại diện công an xã Xuân Ngọc cho biết công việc chuẩn bị cho tháo dỡ nhà thờ Bùi Chu được tiến hành vào chiều 16-7, để ngày 17-7 chính thức thi công.

    Hiện mái ngói và nền đá hoa của ngôi thánh đường này đang được tháo dỡ bởi nhân lực của công ty xây dựng chuyên về công việc tháo dỡ công trình.

    Vị đại diện công an xã cho biết các linh mục đã có thông báo tới chính quyền địa phương về việc hạ giải nhà thờ từ năm 2019, nhưng do nhiều lý do khách quan, trong đó có lý do từ dịch COVID-19 nên việc hạ giải tạm hoãn đến thời điểm này.

    Ông cũng cho biết người dân địa phương đều mong đợi có nhà thờ mới. Việc tháo dỡ nhà thờ do các linh mục, giáo dân quyết định làm theo đúng quy định của pháp luật.

    Đang
tháo dỡ nhà thờ Bùi Chu - Ảnh 3.

    Công nhân tháo dỡ mái của nhà thờ Bùi Chu – Ảnh: TIẾN ĐẶNG

    Trước thông tin này, ông Martin Rama – người đã dấy lên một cuộc bàn luận về nhà thờ Bùi Chu trên truyền thông và có nhiều nỗ lực thảo luận với các cha xứ giáo phận Bùi Chu tìm giải pháp bảo tồn nhà thờ trong hơn một năm qua – chia sẻ ông rất buồn trước quyết định này của các vị linh mục vì trước đó ông vẫn hi vọng có thể cứu được ngôi nhà thờ tráng lệ và duy nhất của kiến trúc nhà thờ Baroque ở Việt Nam.

    “Tôi có thể hiểu những gì đang xảy ra với nhà thờ Bùi Chu. Nhưng tôi vẫn cảm thấy nản lòng” – ông Martin Rama nói.

    Ông chia sẻ thêm không chỉ Bùi Chu, nhiều nhà thờ cổ khác ở Việt Nam cũng đang gặp nguy hiểm bởi làn sóng phá cũ xây mới cần được chính quyền, các linh mục và người dân Việt Nam quan tâm giải cứu chúng. Và trong hành trình bảo vệ các nhà thờ cổ còn lại, Bùi Chu có lẽ sẽ luôn được nhớ đến như một vị tử đạo.

  • Tin tức

    ‘The Interpreter’ – nỗ lực tạo đối thoại của một nhóm trẻ gốc Việt

    ‘The Interpreter’ – nỗ lực tạo đối thoại của một nhóm trẻ gốc Việt

    Nhã Duy-Gửi đến BBC từ Dallas, Texas

    Cookie Dương (trái) và Jady Chan, đồng sáng lập viên của trang của nhóm The Interpreter
    Cookie Dương (trái) và Jady Chan, đồng sáng lập viên của trang của nhóm The Interpreter

    Tin về một giới trẻ thuộc thế hệ Z, trong đó có người yêu nhạc K-Pop, dùng mạng xã hội Tik-Tok ghi tên nhưng không tham dự cuộc vận động của tổng thống Donald Trump tại Tulsa là đề tài được bàn luận khá nhiều kể từ đầu tuần qua.

    Ủng hộ hay chỉ trích hành động này, thì có một sự thật chúng ta cần nhìn nhận là có một giới trẻ đang bày tỏ tiếng nói của mình và dự phần vào cuộc tranh luận xã hội theo phương cách và những phương tiện đang bắt đầu được chú ý.

    Giới trẻ thế hệ Z gốc Việt tại Hoa Kỳ cũng có một số người quan tâm đến chính trường. Những em này không chỉ bày tỏ thái độ mà còn có hành động cụ thể, như nhóm The Interpreter – Người Thông Dịch, của những em gốc Việt tuổi ngoài đôi mươi, hoặc sinh ra hay trưởng thành tại Mỹ.

    Sinh hoạt của nhóm có thể được dùng như một điển cứu (case study) để chúng ta tìm hiểu một trong những khuynh hướng của giới trẻ gốc Việt trong bối cảnh chính trị hiện nay.

    Trang tin tức của nhóm The Interpreter do Cookie Dương, tên tiếng Việt là Dương Ca Dao và Jady Chan, một sinh viên gốc Việt-Hoa đồng sáng lập, vừa được trình làng đầu tháng Sáu. Cookie Dương là một tân cử nhân 22 tuổi vừa tốt nghiệp chuyên ngành Đối Ngoại tại đại học University of Southern California (USC) trong niên học 2020 vừa qua và Jady Chan là sinh viên, đang theo học ngành Thuật Toán Thần Kinh Học cũng tại USC.

    Với sự giúp đỡ và tiếp tay của một số bạn đồng ý hướng như Evelyn Leong, Ashley Dương, Nhân Nguyễn, Terry Nguyễn, Cookie Dương trong vai trò biên tập, dịch thuật và Jady Chan chịu trách nhiệm thiết kế trang mạng, đã lập ra trang The Interpreter, với mục đích mang các kiến thức, thông tin thời sự đến thế hệ gốc Việt lớn tuổi và bị trở ngại ngôn ngữ, trong việc tiếp cận thông tin dòng chính, cũng như nhằm chống lại các tin tức giả mạo, ngụy tạo đang lan tràn trong cộng đồng người Việt hiện nay.

    Qua phương châm “Chuyển dịch kiến thức, tăng sức mạnh cộng đồng” (Translating Knowledge, Empowering Community), nhóm trẻ có khả năng sử dụng lưu loát song ngữ này, điều khá thú vị và hiếm ở lứa tuổi các em, để thực hiện những mẩu phim Tik-Tok ngắn, chuyển dịch tin tức, bài viết từ các hãng thông tấn uy tín thế giới sang tiếng Việt một cách khá chính xác về cách dùng chữ, để cung cấp cho cộng đồng những thông tin xác thực.

    Evelyn Leong (trái) và Nhân Nguyễn, hai trong số các thành viên chủ chốt của The Interpreter
    Evelyn Leong (trái) và Nhân Nguyễn, hai trong số các thành viên chủ chốt của The Interpreter

    Quy tụ khoảng gần 20 em đã tốt nghiệp các đại học Mỹ hay là những chuyên gia trẻ, có cả thành viên đang làm cho tờ báo VOX, nhóm thiện nguyện trẻ gốc Việt này tìm đến nhau và khởi đầu từ những bức bối cá nhân trong gia đình. Cookie Dương bảo rằng cha mẹ, người thân lớn tuổi trong gia đình các em đã đọc những thông tin và có cái nhìn khá thiên lệch về một số vấn đề xã hội chính trị đang xảy ra hiện nay, dẫn đến tình trạng tranh cãi, xung đột trong gia đình giữa cha mẹ và con cái.

    Từ những kinh nghiệm cá nhân mà nhiều em gốc Việt sinh ra hay lớn lên tại Mỹ đang gặp phải trong gia đình, The Interpreter ra đời không chỉ để nối lại khoảng cách với cha mẹ, tụ họp giới trẻ gốc Việt mà còn mang cả với ý hướng tích cực, nhằm giúp đỡ và phát triển cộng đồng bằng những tri thức và trải nghiệm mà các em đã được thụ hưởng từ một nền giáo dục khai phóng, luôn cổ súy những giá trị dân chủ và bác ái của xã hội.

    Chỉ sau vài tuần hoạt động, Facebook của The Interpreter đã có hơn 800 người thích và theo dõi. Cookie Dương cho biết là hiện có khoảng 500-700 lượt người đọc tin tức mỗi ngày. Hầu hết những ủng hộ và chia sẻ khá tích cực, dù không thiếu những lời chỉ trích, bài bác.

    Vào xem, bên cạnh các vấn đề thời cuộc như dịch bịnh, chủng tộc, chính trường…, trang The Interpreter còn có một số bài dịch khá thú vị về cách để đối thoại với cha mẹ và người thân gia đình trước các vấn đề gây tranh cãi. Cũng có không ít những người trẻ đồng lứa của các em đang có chung xung đột với gia đình, cũng đã vào để chia sẻ vấn đề, suy nghĩ và chuyển tin tức cho người thân.

    Nhìn nhận về dự án, chủ trương và cách thức hoạt động của nhóm The Interpreter có thể khác nhau theo nhãn quan chính trị xã hội của một số người, nhưng phải ghi nhận rằng, đây là một tín hiệu tích cực và đầy hy vọng khi nhìn vào một giới trẻ gốc Việt biết dấn thân, đang nhắm đến ích lợi cộng đồng và tìm kiếm sự thông hiểu giữa hai thế hệ qua việc chia sẻ thông tin.

    Khoảng cách thế hệ do những trải nghiệm, quá khứ cho đến sự giáo dục, nhận thức khác biệt luôn hiện diện trong mỗi gia đình và càng cách biệt hơn trong các gia đình di dân. Là một thế hệ trẻ đã được thụ hưởng nền giáo dục khai phóng để trở những con người trưởng thành độc lập trong suy nghĩ, ý thức trong hành động và có tri thức trong vấn đề, việc đối thoại trên tinh thần tôn trọng cùng thái độ lắng nghe, thông hiểu với các em không chỉ là một sự cần thiết mà còn là lợi ích lớn lao trong mỗi gia đình. Cho chính các em và cả những bậc cha mẹ.

    Dù theo khuynh hướng nào, chắc hẳn sinh hoạt của nhóm The Interpreter cũng góp phần vào sự suy nghĩ và đánh giá của cộng đồng trước cuộc bầu cử tổng thống Mỹ đang đến gần, khi cảm xúc bênh chống các ứng viên ngày càng mạnh mẽ, đến độ trở nên kích động. Những chiến lược gia và ban tranh cử của các bên xem ra đang tìm cách tốt nhất để tìm sự ủng hộ từ mỗi nhóm cử tri khác nhau.

    Nói về bầu cử thì không thể không nói đến tầm quan trọng của lá phiếu của cử tri trẻ tuổi, đặc biệt với những thiếu niên vừa đúng 18 tuổi để bỏ phiếu lần đầu trong năm nay, ước tính sẽ vào khoảng bốn triệu em theo như số liệu từ Đại Học Florida.

    Vẫn theo nghiên cứu trên, nhóm này có xu hướng nghiêng về đảng Dân Chủ, với 61.6 % bỏ phiếu cho TT Barack Obama vào năm 2008, chỉ thua kỳ bầu cử năm 1960 cho TT Kennedy là 63.8 %.

    Tuy nhiều số liệu và quan sát chung cho thấy xu hướng và thái độ chính trị của người gốc Việt tại Hoa Kỳ nghiêng về đảng Cộng Hòa, vẫn chưa có những thăm dò và con số chính thức riêng về giới trẻ gốc Việt. Ắt cũng không khác mấy nếu dựa theo thăm dò từ tổ chức Quỹ Pháp Lý và Giáo Dục người Mỹ gốc Á (AALDEF), cho thấy nhóm cử tri trẻ gốc Á 18-29 tuổi hầu như đã dồn phiếu cho các ứng viên đảng Dân Chủ với tỉ lệ 89%.

    Sẽ không phải các em trao quyền cho cộng đồng qua việc tạo đối thoại như nhóm The Interpreter nói trên, mà chính cộng đồng cùng những bậc cha mẹ gốc Việt cần đặt niềm tin và trao quyền cho các em. Để các em sẽ thay mặt thế hệ đi trước, dự phần và đáp trả cho xã hội những gì mà chúng ta đã được thụ hưởng đầy đặc ân, trong tư cách là những công dân có trách nhiệm, đồng thời là những di dân xứng đáng của những quốc gia đang sinh sống.

  • Tin tức

    Du Ca tưởng niệm Quốc hận

    Kính thưa quý đồng hương,Năm nay, đại dịch Covid-19 khiến chúng ta không thể tụ tập đông người, nhưng qua các phương tiện truyền thông hiện đại, đoàn Du Ca Nam Cali đã kết nối được nhiều ca nhạc sĩ và các đoàn Du Ca từ khắp nơi trên thế giới để thực hiện và xin trân trọng kính mời toàn thể quý vị cùng tham dự 

    CHƯƠNG TRÌNH TƯỞNG NIỆM 45 NĂM QUỐC HẬN vào lúc:

    8giờ -11giờ tối  ngày 29 tháng Tư, 2020  (tức 10 giờ sáng- 1 giờ trưa ngày 30/4 ở Việt Nam )
    qua màn ảnh của Đài Little Saigon TV (Orange County):  KDOC 56.10  và  KPOM 14.2 Đài VNTV (San Diego)  Channel 19 Spectrum Cable, và TV Đài SBTN (toàn nước Mỹ) 

    Pham Do Thien Huong FaceBook Page

    Viet Khang FaceBook

    Youtube link

    https://www.youtube.com/channel/UCeg5c0kUx-19U-kxgQ4Le5w

    Đoàn Du Ca Nam Cali xin tha thiết kêu gọi quý đồng hương từ khắp bốn phương trời hãy sắp xếp thời giờ để cùng nhau hướng lòng về quê hương VIệt Nam, tin rằng càng nhiều người hiệp lời cằu nguyện cùng một lúc thì đất nước ta, dân ta sẽ cảng sớm có đươc tự do, dân chủ, và nhân quyền.Xin xem chi tiết ở flyer đính kềm và link dưới đây:

    https://www.youtube.com/watch?v=aqbpc4PtFL0&t=5s

    Thay mặt ban tổ chức

    Phạm Đỗ Thiên Hương

  • Tin tức

    Người Việt phát minh máy thở 

    3/31/2020

    Trần Ngọc Phúc, cha đẻ của máy thở Hummingbird đang góp một phần trí tuệ Việt với thế giới để đẩy lùi dịch Covid-19.

    Theo ông Trần Ngọc Phúc, Chủ tịch Tập đoàn Metran Japan, 80% bệnh nhân dương tính với Covid-19 có thể tự phục hồi được. 15% bệnh nhân cần đến các loại máy trợ thở nhẹ và 5% cần sử dụng phổi nhân tạo.

    Theo một nghiên cứu tại Anh, nước này có khả năng phải cần đến 40.000 máy thở trong trường hợp xấu. Tại Nhật, con số này là 80.000.

    Nhiều quốc gia trên thế giới đang chạy đua sản xuất máy trợ thở để điều trị Covid-19. Ảnh: Getty.

    Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cũng nhiều lần kêu gọi tất cả các quốc gia chuẩn bị các thiết bị y tế hỗ trợ hô hấp như máy thở, bình oxy để điều trị cho các bệnh nhân mắc Covid-19 đang trong tình trạng nguy kịch.

    Máy thở chính là cơ hội giúp các bệnh nhân nguy kịch có thể chiến đấu và giành giật lại sự sống.

    Chiều 30/3, trong phiên họp của Chính Phủ, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cũng nói về việc cần chuẩn bị lượng máy thở đáp ứng nhu cầu của bệnh nhân Covid-19.

    Trong đó, Thủ tướng nhắc đến ông Trần Ngọc Phúc, người phát minh ra máy trợ thở cho trẻ sinh non ở Nhật Bản sẽ giúp Việt Nam giải quyết vấn đề thiếu hụt trang bị này trong ngành y tế.

    Máy trợ thở mang trí tuệ Việt

    Ông Trần Ngọc Phúc hiện là chủ tịch của Metran, công ty chuyên phát triển thiết bị thở sử dụng trong ngành y tế. Những thiết bị của Metran nhận được sự đánh giá cao từ nhiều tổ chức uy tín trên thế giới.

    Theo ông Phúc, vấn đề máy thở dùng cho bệnh nhân Covid-19 đang được Metran giải quyết bằng hai dự án chính gồm máy trợ thở Composβ-EV dùng cho bệnh nhân nguy kịch và máy JFLo cho bệnh nhân hô hấp yếu.

    Trần Ngọc Phúc, người phát minh ra máy trợ thở Hummingbird.

    Đầu tiên, máy trợ thở Composβ-EV được nghiên cứu từ 30 năm trước để hỗ trợ cho bác sĩ thú y điều trị cho động vật. Ưu điểm của loại máy này là việc vận hành không đòi hỏi chuyên môn quá cao. Đồng thời, tính ổn định và an toàn của máy phù hợp cho việc hỗ trợ điều trị bệnh nhân Covid-19.

    Ngày 28/3 kênh truyền hình Asahi của Nhật đã phát sóng phóng sự về việc sử dụng máy trợ thở Composβ-EV cho việc điều trị Covid-19. Những thông tin từ bài phóng sự nhằm khẳng định chất lượng của máy từng được dùng cho ngành thú y vẫn sẽ là giải pháp tối ưu dành cho con người trong bối cảnh dịch đang bùng phát.

    Theo nhà phát minh Trần Ngọc Phúc, trong thời gian tới, loại máy Composβ-EV sẽ được thiết kế và cải tiến lại để phù hợp và bệnh nhân, tránh được tâm lý đây từng là máy dùng cho động vật. Máy này đang được thử nghiệm tại các trường Đại học ở Nhật Bản, đang được Bộ Y tế và Bộ Công thương hỗ trợ để có giấy phép lưu hành.

    Loại máy thứ hai từ Metran là loại máy trợ thở có tên JFlo. Máy trợ thở này có ưu điểm gọn nhẹ gấp 10 lần các loại máy khác, vận hành không cần chuyên gia. Bên cạnh đó, bệnh nhân khi thở bằng máy vẫn có thể ăn uống, nói chuyện bình thường.

    Đây là một công trình nghiên cứu mà Metran được chính phủ Nhật tài trợ để nghiên cứu sản xuất cho Việt Nam. Dự kiến đưa ra thị trường vào tháng 10 năm nay. Hiện nay, máy này các chức năng đã sẵn sàng và đang được thử nghiệm. nếu có thêm nguồn vốn từ các nhà tài trợ, thời gian ra mắt loại máy trợ thở gọn nhẹ này có thể giảm xuống khoảng 2 tháng.

    “Loại máy này sẽ hỗ trợ Việt Nam rất nhiều trong việc phòng chống dịch covid-19. Chúng tôi có thể lược bớt một số tính năng không thật sự cần thiết để đấy nhanh tốc độ sản xuất loại máy này”, ông Phúc chia sẻ.

    Bài toán thiếu hụt linh kiện

    Bên cạnh khó khăn về tài chính, việc thiếu linh kiện sản xuất máy trợ thở cũng đang là vấn đề đau đầu đối với Metran. “Nhu cầu về máy thở đã tăng gấp 100 lần. Điều này gây áp lực lớn lên chuỗi cung ứng, sản xuất”, ông Phúc chia sẻ.

    Máy trợ thở cá nhân JFlo với ưu điểm gọn nhẹ và dễ sử dụng được phát minh bởi ông Trần Ngọc Phúc.
    “Một bộ máy thở có các cảm biến, linh kiện đến từ rất nhiều quốc gia trên toàn thế giới. Nhật và cả Việt Nam dường như đã chậm chân so với các nước khác trong việc đặt hàng sớm các linh kiện. Việc cấp bách bây giờ là có tìm được nhà cung cấp có khả năng tạo ra ngần ấy linh kiện”, ông Phúc nói về khó khăn trong việc sản xuất máy trợ thở.

    Về nhà máy sản xuất, ông Phúc cho biết có nhiều công ty gia công đồng hồ, xe hơi… ở Nhật liên hệ sản xuất máy thở. Ngoài ra nhiều đơn vị trong và ngoài nước cũng đủ đáp ứng việc sản xuất máy. Tuy vậy, vấn đề linh kiện vẫn cần được giải quyết đầu tiên.

    Chỉ chuyển giao công nghệ cho người có cùng suy nghĩ

    Theo nguồn tin riêng của Zing, đã có một số tập đoàn, công ty Việt Nam liên hệ Metran để chuyển giao công nghệ sản xuất máy thở hỗ trợ chống dịch Covid-19.

    Tuy vậy, theo ông Phúc, do nguồn lực có hạn, Metran không thể chuyển giao cho tất cả doanh nghiệp mà chỉ chọn ra một đơn vị “có cùng suy nghĩ” với ông.

    “Nhiều quốc gia đang cần công nghệ máy thở. Tôi chỉ chọn mỗi quốc gia một đơn vị có cùng suy nghĩ với mình để triển khai. Có nhiều đơn vị lợi dụng Metran và bệnh dịch để thương mại sản phẩm. Bên cạnh đó, tôi không đủ sức để chuyển giao cho tất cả”, ông Phúc cho biết.

    Hiện có 16 quốc gia liên hệ chuyển giao công nghệ máy trợ thở của ông Trần Ngọc Phúc.

    Hiện có 16 quốc gia liên hệ công ty ông Phúc để chuyển giao công nghệ sản xuất máy trợ thở trong đó có Mỹ, Pháp, Ý, Tây Ban Nha, Ấn Độ, Đài Loan… Công ty Metran đang làm việc với Mc Kinsey để chuyển giao công nghệ cho các quốc gia khác.

    Về tài chính cho hai dự án sản xuất máy thở, ông Phúc cho biết đã có nhiều đơn vị đồng hành. “Tuy vậy, không công ty hay nhóm nào có thể đơn phương phân phối sản phẩm này. Các bên liên quan sẽ phải cùng ngồi lại, bàn bạc để đưa ra quyết định vì lợi ích chung của quốc gia và của người bệnh”, ông Phúc khẳng định.

    Ông Phúc cho biết, thủ tướng Việt Nam nhiều lần chỉ đạo, đôn đốc việc chuẩn bị máy thở phục vụ công tác chống dịch Covid-19 trong nước. Tuy vậy, lời hứa trong một tháng đáp ứng đủ số máy ông không dám cam kết. “Tôi không hứa những gì mình không thể làm được”, ông Phúc cho biết.

    Với máy thở JFlo, nếu có nguồn vốn R&D (nghiên cứu và phát triển), Metran sẽ ra mắt sản phẩm vào tháng 8. Còn không, phải đến tháng 10 sản phẩm này mới vượt qua các bài kiểm định để đi vào sản xuất

    Metran được thành lập từ năm 1984. Cái tên Metran được ghép từ Medical (y khoa) và Trần (họ của ông Phúc).

    Năm 1982, ông phát minh máy hô hấp nhân tạo dao động cao tần số Hummingbird cho trẻ em sinh non.

    Nhật Hoàng từng ghé thăm

    Năm 2012, công ty Metran vinh dự được Nhật Hoàng ghé thăm.

    Trước khi có Hummingbird, 90% trẻ sinh non tại Nhật Bản tử vong. Sau khi có chiếc máy này, 99,7% trẻ sinh non được cứu sống.

    Năm 2016, Bệnh viện Từ Dũ là đơn vị đầu tiên tại Việt Nam sử dụng máy thở Hummingbird do công ty của ông tài trợ.

    Từ một công ty được thành lập bởi người không phải gốc Nhật, năm 2012, Metran vinh dự đón tiếp Nhật Hoàng tham quan công ty. Được biết, Nhật Hoàng rất ít khi xuất hiện trước công chúng và mỗi năm chỉ thăm 1-2 công ty. Điều đó càng cho thấy sự đóng góp to lớn của Metran với y học Nhật Bản và thế giới.

    Ngoài đóng góp cho y học, ông Trần Ngọc Phúc cũng hỗ trợ cho nhiều du học sinh người Việt tại Nhật.

    Ngoài ra, phát minh máy trợ thở của ông Trần Ngọc Phúc còn giành giải nhất trong cuộc thi chế tạo máy thở nhân tạo tại Đại học Harvard do Viện Y tế Mỹ tổ chức.

    Đồng thời, sản phẩm tâm huyết của ông còn được chọn là một trong 300 METI’s công nghiệp sản xuất của Nhật Bản – Monozukuri SMEs (2007), nhận giải The 5th Shibusawa Eiich Venture Dream Award.

    Năm 2018, ông Trần Ngọc Phúc nhận Huân chương Mặt trời mọc tia sáng bạc của Nhật vì những cống hiến của mình.

    Theo tin Internet:

    https://vietnamnews.vn/society/674473/japanese-firm-to-make-15000-ventilators-to-help-vns-covid-19-response.html

    https://en.vietnamplus.vn/vietnamese-conferred-japans-order-of-the-rising-sun/141758.vnp

    https://viettimes.vn/profile-cong-ty-metran-chuyen-san-xuat-may-tro-tho-cua-nha-sang-che-tran-ngoc-phuc-385662.html