Mới sáng vào làm việc, mở mail đã thấy ngay Bài Phú Chữ Hán của Ông Chú gởi, bảo đọc đi… Chú ơi, Chú cứ tưởng Cháu "hay chữ" lắm sao…?
Thôi (thì) cũng chuyển cho Thân Hữu đọc, vì là một bài Phú hay về Lịch sử (có thể cho các Bác lớn tuổi giữ làm tài liệu…).
 
 

Huyền Khê Trịnh Quốc Hoàn

玄溪鄭國還手筆

 

壹頃中興

(參會獨韻賦)

迴想

多少黃金歷史;

多麼倖面雲仍.

黎後時期如此;

中興階斷特徵.

癸巳年張阜王有化州侵犯 明屬時期确立;

壬戌月重光鄧容東海殉節陳朝制度告終.

勞役恨人人掘起;

亡國讎眾眾衝鋒.

太元紅衣党農民人群義聚;

清化藍嶽山豪長劍搠旗張.

平吳完畢;

              保越興隆.

不幸哉

愛州處避難昭宋光紹;

北山鑵懸首統元恭皇.

東都城內莫登庸僭權攛位;

岑下省鄰黎維絢上殿中興.

乙巳年降將楊執壹毒葯命亡上父;

戊申歲賢婿鄭太師掃莫扶弼黎王.

又榮光哉

丞於君德;

倀有臣忠.

至拾年方殘酷戰爭箑歌勝利;

近參世紀太平安樂建設盛強.

百越江山累培廣面;

貉鴻文獻開展多方.

戰略弘深南北東西皈壹帶;

智謀淵博士農工賈發千疆.

紀綱曲折不容內亂無雙今古;

政体新奇沒有外侵獨壹亞東.

興業不求高名天子;

侑民永守大節棟涼.

二百四拾玖年常哥盛治;

七萬五陸餘日空境刀鎗.

拾壹鄭代義忠護國;

拾陸黎朝強旺安邦.

廉正上表;

賢才宣揚!

秤其硌種;

秤其鴻宗!

榮焉甚豪傑!

榮焉甚英雄!

有偈雲

天機變幻寔無窮,

國運敗衰倘盛強.

可以英雄生世局,

雖然世局造英雄!

 

NHẤT KHOẢNH TRUNG HƯNG

(Tam hội độc vận phú)

 

HỒI TƯỞNG

Đa thiểu hoàng kim lịch sử,

Đa ma hãnh diện vân nhưng.

Lê hậu thời kỳ như thử;

Trung hưng giai đoạn đặc trưng.

Quý Tỵ niên Trương Phụ, Vương Hữu – Hóa Châu xâm phạm, Minh thuộc thời kỳ xác lập;

Nhâm Tuất nguyệt Trùng quang, Đặng Dung Đông Hải tuẫn tiết, Trần triều chế độ cáo chung.

Lao dịch hận, nhân dân quật khởi;

Vong quốc thù, chúng chúng xung phong!

Thái Nguyên “Hồng Y” Đảng, nông dân nhân quần nghĩa tụ;

Thanh Hóa Lam Nhạc sơn, hào trưởng kiếm sóc kỳ trương.

Lê Lợi thừa cơ xuất binh, thập niên kháng chiến;

Vương Thông thất thế bại trận, nhất đán quy hàng.

Bình Ngô hoàn tất; – Bảo Việt hưng long.

 

BẤT HẠNH TAI!

Ái châu xứ tị nạn, Chiêu Tông – Quang Thiệu;

Bắc Sơn quán huyền thủ, Thống Nguyên – Cung Hoàng.

Đông Đô thành nội, Mạc Đăng Dung tiếm quyền thoán vị;

Sầm Hạ tỉnh lân, Lê Duy Huyến thượng điện trung hưng.

Ất tị niên hàng tướng Dương Chấp Nhất, độc dược mệnh vong thượng phụ;

Mậu Thân tuế hiền tế Trịnh Thái Sư tảo Mạc phù bật lê vương.

 

HỰU VINH QUANG TAI!

Thừa ư quân đức, Trương hữu thần trung.

Chí thập niên phương tàn khốc chiến tranh, âu ca thắng lơị;

Cận tam thế kỷ thái bình an lạc, kiến thiết thịnh cường.

Bách Việt giang sơn lũy bồi quảng diện;

Lạc Hồng văn hiến khai triển đa phương.

Chiến lược hoằng thâm, nam bắc đông tây quy nhất đới,

Trí mưu uyên bác, sĩ nông công cổ phát thiên cương.

Kỷ cương khúc triết bất dung nội loạn, vô song kim cổ;

Chính thể tân kỳ một hữu ngoại xâm, độc nhất Á Đông.

Hưng nghiệp bất cầu cao danh thiên tử;

Hựu dân vĩnh thủ, đại tiết đống lương.

Nhị bách tứ thập cửu niên thường ca thịnh trị;

Thất vạn ngũ lục dư nhật không cảnh đao thương.

Thập nhất Trịnh đại nghĩa trung hộ quốc;

Thập lục Lê triều cường vượng an bang.

Liêm chính thượng biểu;

Hiền tài tuyên dương;

Xứng kỳ lạc chủng;

Xứng kỳ hồng tông!

Vinh yên – Thậm hào kiệt!

Vinh yên  – thậm anh hùng!

 

HỮU KỆ VÂN

Thiên cơ biến ảo thực vô cùng

Quốc vận bại suy thảng thịnh cường

Khả dĩ anh hùng sinh thế cục

Tuy nhiên, thế cục tạo anh hùng?

 

PHÚ

MỘT THOÁNG TRUNG HƯNG

(bài phú ba đoạn một vần)

 

HỒI TƯỞNG LẠI

Bao nhiêu nét son lịch sử; – bấy nhiêu hãnh diện giống dòng,

Tiêu biểu thời kỳ Lê hậu; – Đặc trưng giai đoạn Trung hưng.

Năm Quý Tỵ Trương Phụ, Vương Hữu xâm phạm Hóa Châu, Minh thuộc thời kỳ xác lập ;

Tháng Nhâm Tuất Trùng Quang, Đặng Dung tuẫn tiết biển Đông, Trần triều chế độ cáo chung.

Ôm hận khổ sai lao dịch, người người quật khởi;

Mang thù mất nước nhà tan, chúng chúng xung phong.

Đất Thái Nguyên đảng “Áo Đỏ” nông dân khí hào nghĩa tụ;

Miền Thanh Hóa núi Lam Sơn hào trưởng kiếm tuốt cờ dương.

Thừa cơ Lê Lợi xuất quân, mười năm kháng chiến;

Thất thế Vương Thông bại trận, một sớm quy hàng;

Công cuộc bình Ngô trọn vẹn; – sự nghiệp giữ nước rỡ ràng.

 

BẤT HẠNH THAY!

Đất Thanh Hóa ẩn thân Quang Thiệu;

Quán bắc Sơn phơi xác Cung Hoàng.

Tại Đông Đô, Mạc Đăng dung chiếm quyền cướp ngôi báu,

Ở Sầm Hạ, Lê Duy Huyến dấy nghiệp tiếp Trung hưng.

Năm Ất Tỵ hàng tướng Dương Chấp Nhất dùng thuốc độc giết ngầm Thượng phụ;

Năm Mậu Thân rể qúy Trịnh Thái sư mang trí lực phò ta Lê vương.

 

VÀ VINH QUANG THAY!

Do vua nhiều đức tốt; – nhờ tôi gắng tận trung;

Tròn một chục năm chiến tranh tàn khốc, khải hoàn thắng lợi;

Gần ba thế kỷ yên hưởng thái bình, vun đắp thịnh cường.

          Giang san Bách Việt ngày càng nới rộng; – Văn hóa Lạc Hồng rộn bước

        mở mang.

Chiến lược sâu xa, Nam Bắc Đông Tây quy thành một mối;

Trí mưu uyên bác, sĩ nông công cố sải cánh muôn phương.

Kỷ cương rờ rỡ, chẳng dung tha nội loạn, khôn tìm nơi kim cổ;

Chính thể lạ lùng, không gợn bóng ngoại xâm, chưa thấy chốn Á Đông .

Dương nghiệp đâu cần ngôi Thiên tử; – giúp dân mãi hưởng tiếng Trung hưng;

Hơn hai trăm năm chỉ còn thái thịnh; – gần tám vạn ngày không cảnh máu xương!

Mười một đời Chúa Trịnh trung quân hộ quốc;

Mười sau triều vua Lê Trung hưng vượng an bang.

Đức liêm chính giữ gìn tôn trọng; – Kẻ hiền tài ưu ái biểu dương;

Xứng danh con Lạc! – Xứng danh cháu Hồng!

Vinh thay thực là hào kiệt; – Vinh thay thực là anh hùng!

 

CÓ KỆ RẰNG:

Máy trời đóng mở thực khôn cùng

Vận nước khi suy lúc thịnh cường

Chẳng nhẽ anh hùng sinh thế cục?

Mà là thế cục tạo anh hùng?….

 
Chia sẻ cùng Thân Hữu một Nhạc phẩm hay:
159-NNS-Mộng Lành.pps
Nhạc: Hoàng Trọng
Ca sĩ: Loan Châu
 
Bài viết:
Đoạn Trường Tân Thanh
 
Tình Thân,
Kính,
NNS
…………………………………………………………………….
Đoạn Trường Tân Thanh

Khi Thúc Sinh từ biệt Thuý Kiều để về quê sau một thời gian say sưa ân ái, Nguyễn Du tả cảnh chia tay bằng hai câu thơ bất hủ:
Người lên ngựa, kẻ chia bào
Rừng phong thu đã nhuộm màu quan san.

Kẻ ra đi, người còn bịn rịn nắm áo giữ lại, đến lúc biệt ly mới ngỡ ngàng nhận ra là mùa thu đã đến từ lúc nào không hay, lá vàng đã phủ đầy lối đi. Thì ra đôi uyên ương đã quá say sưa đến quên cả thời gian.
Nhưng vần thơ trác tuyệt như vậy đầy rẫy trong truyện Kiều. Thiên tài của Nguyễn Du là đã vừa viết truyện vừa sáng tác ra ngôn ngữ để viết. Và những sáng lạo ngôn ngữ của ông quả là tuyệt vời. Nhưng cụm từ của ông đã trở thành những thành tố quan trọng của tiếng Việt. Sắc đẹp nghiêng nước nghiêng thành, rạch đôi sơn hà, hàng thần lơ láo, đội trời đạp đất, tài tử giai nhân, sở khanh, v.v… Kiến thức về văn học của tôi không có bao nhiêu, nhưng tôi cũng đã đọc khá nhiều tác giả lớn bằng tiếng Pháp và tiếng Anh và nhiều truyện Tàu. Tôi chưa hề thấy một nhà văn nào sáng tạo ra ngôn ngữ nhiều như Nguyễn Du.
Những về một khía cạnh khác, truyện Kiều lại đem đến cho tôi một tâm sự chua chát. Đoạn Trường Tân Thanh là tên của một tiểu thuyết vô danh của một tác giả vô danh bên Trung Quốc, Thanh Tâm Tài Nhân. Nguyễn Du đã giữ nguyên tên tác phẩm và, theo một số nhà nghiên cứu văn học, cũng giữ nguyên cả cốt truyện, kể cả những chi tiết ngớ ngẩn như hồn ma Đạm Tiên, Từ Hải chết đứng, Thuý Kiều chết đi sống lại và gặp vãi Giác Duyên… Ông cũng giữ nguyên cái triết lý tài mệnh tương đố bi quan và rẻ tiền. Nói chung, Nguyễn Du không có cảm hứng và tư tưởng của chính mình mà chỉ hòa nhịp theo cảm hứng của một tác giả tầm thường của Trung Quốc và đi theo mạch tư tưởng rất tầm thường của người này. Nguyễn Du là khuôn mặt văn học lớn nhất và cao nhất của nước ta cho tới ngày nay, cho nên nhưng thiếu sót của ông càng đáng tủi hổ cho chúng ta hơn là nơi những tác giả khác. Hình như không có câu thơ nào trong Cung Oán Ngâm Khúc mà lại không có một điển tích văn hóa hay lịch sử Trung Hoa và quyết nhiên không có một qui chiếu Việt nam nào cả. Chinh Phụ Ngâm là tác phẩm hoàn toàn của người Việt nam, bản chữ Nho của Đặng Trần Côn cũng như bản chữ Nôm của Đoàn Thị Điểm, nhưng đó lại là một truyện Tàu, bối cảnh và các nhân vật của nó đều là Trung Hoa. Tâm hồn của người chiến sĩ lên đường được diễn tả qua hai câu thơ:
Săn lâu lan rằng theo Giới Tử
Tới Man Khê bàn sự Phục Ba.
Nhưng sự Phục Ba là sự gì? Đó là việc tướng nhà Hán Mã Viện, có tước Phục Ba Tướng Quân, đem quân đánh bại Hai Bà Trưng, dẹp cuộc khởi nghĩa giành độc lập đầu tiên của Việt nam, và đặt ách đô hộ một ngàn năm trên nước ta. Một sự kiện như vậy mà lại gây hứng khởi trong lòng hai danh sĩ xuất sắc bậc nhất của nước ta đủ chứng tỏ cảm hứng của sĩ phu Việt nam vào thời đó đều chỉ hoàn toàn là vay mượn.
Trong thế kỷ 19 thơ văn Việt nam đã làm một bước nhảy vọt vĩ đại cả về phẩm lẫn lượng. Bước nhảy vọt này đã được tiếp nối và tăng cường trong thế kỷ 20 với sự bành trướng của chữ quốc ngữ, thơ mới và tiểu thuyết theo kiểu phương Tây. Cũng trong thế kỷ 20 mà chúng ta bắt đầu làm quen với văn nghị luận và biên khảo. Nhưng chúng ta vẫn chưa có một tác phẩm nào lớn, có tầm vóc quốc tế. Cảm hứng vụn vặt, đam mê chốc lát – di sản của một nền văn hóa nhàn dư – đã chỉ đẻ ra những tác phẩm nhỏ, hoặc họa hiếm lắm là trung bình như trường hợp truyện Kiều. Chúng ta thiếu óc sáng tạo và thiếu sự dài hơi. Tại sao?
Không phải chúng ta thiếu tài năng. Nguyễn Du, Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, v.v… đều đáng được coi là những thiên tài của ngôn ngữ.
Không phải chúng ta thiếu đề tài và chất liệu. Mười lăm thế kỷ đấu tranh với thiên nhiên để khai mở đồng bằng sông Hòng, đấu tranh với ngoại bang, vua quan và sĩ phu để giữ gìn căn cước. Cả một cuộc nam tiến vĩ đại kéo dài bảy thế kỷ trong đó những tấm áo nâu đã dắt dìu nhau vào tới Cà Mau. Hơn một trăm năm Trịnh – Nguyễn phân tranh, ba mươi năm tranh hùng Nguyễn ánh – Tây Sơn; cuộc xâm lăng của người Pháp và gần một thế kỷ Pháp thuộc mang theo một cuộc đụng độ dữ dội chưa từng có giữa hai thế giới và hai nền văn hóa khác hẳn nhau. Thế rồi cuộc chiến đấu giành độc lập, cuộc can thiệp của Hoa Kỳ, cuộc chiến tranh Nam – Bắc kéo dài hai mươi năm, nhưng cuộc di tản lịch sử đem người Bắc vào Nam và đem người Việt trải rộng ra khắp thế giới, v. v… Biết bao đổi thay bị hùng tráng lệ, biết bao đau khổ, mừng vui, tình nghĩa, phản trắc. Tất cả những đảo lộn dồn dập đó, nhất là trong hơn bốn thế kỷ gần đây, đã có thể cũng cấp đề tài cho những tác phẩm tầm cỡ lớn hơn Chiến Tranh và
Hòa Bình, Anh em Karamazov, Les Hommes de Bonne Volonté, Les Thibault, Gon withthe Wind, Grapes of Wrath, A Farewell to Arms… Chúng ta không sáng tác được vì chúng ta thiếu tầm nhìn và cách nhìn để thấy được cái vĩ đại ngay chung quanh chúng ta. Chúng ta thiếu tư tưởng.
Sự thiếu tư tưởng của chúng ta là quá rõ rệt. Chúng ta không có một đóng góp nào cho tư tưởng thế giới đã đành nhưng chúng ta cũng không nhận thức được về chính mình. Việc du nhập một cách cuồng tín chủ nghĩa cộng sản vào Việt nam, cũng như sự kéo dài dai dẳng của nó, và của lập trường chống cộng, tố giác một cách phũ phàng sự yếu kém về tư tưởng của chúng ta. Hiện tượng Kim Dung trong thập niên 1960 và đầu thập niên 1970 mới thực là kỳ quái? Truyện kiếm hiệp của Kim Dung chỉ có giá trị tương đương với một bộ truyện giải trí nhi đồng, một bộ truyện bằng tranh hay một phim hoạt họa. Nó không dựa trên một sự thực nào, không có một giá trị văn học nào mà cũng không chuyên chở một tư tưởng nào, hay một nhãn quan nào về cuộc sống và thế giới. Nó chỉ có cái khác với các bộ sách kiếm hiệp cổ điền ở chỗ nó tương đối hóa tất cả, pha trộn thiện ác, chính tà. Hình như nó cũng có tham vọng qua các nhân vật và phe phái phản ảnh phần nào thế tranh hùng trên thế giới. Nhưng nó trình bày một cách ngây ngô hời hợt. Và nhất là nó hoàn toàn không có giá trị văn học. Vậy mà cả miền Nam say mê, ngay cả các trí thức được coi là lớn cũng bỏ công nghiên cứu và bàn luận. Tôi cũng có đọc một số truyện nổi tiếng nhất của Kim Dung với mục đích phân tích tâm lý của trí thức miền Nam lúc đó. Thể thực là tôi rất thất vọng, thất vọng về truyện Kim Dung thì ít, vì dầu sao nó cũng có giá trị giải trí, nhưng thất vọng lớn về sự thấp kém bi đát của trí thức miền Nam lúc đó. Thiếu tư tưởng và cảm hứng thì dĩ nhiên ta không thể sáng tạo mà phải đi vay mượn của nước ngoài. Nhưng có những bộ môn nghệ thuật trong đó chúng ta bắt buộc phải sáng tạo, phải có cảm hứng của chính mình, dựa trên những chất liệu quanh mình, chẳng hạn như hội họa, điêu khắc và, ở một mức độ bớt gay gắt hơn, ca múa. Chúng ta yếu trong những bộ môn này là lẽ dĩ nhiên. Điều đáng buồn là, ngoại trừ thơ văn, những sáng tạo ít ỏi của chúng ta cho đến dầu thế kỷ 20 này, dù là hội họa, kiến trúc, âm nhạc, múa, v.v… đều không do những phần tử Sĩ phu mà do Dân gian.
Điều cũng đáng buồn là hầu hết những người lỗi lạc nhất của chúng ta, những Nguyễn Trãi, Mạc Đĩnh Chi, Lê Quý Đôn, Nguyễn Du, Cao Bá Quát, v. v… Đều nhờ đã từng đi sứ hay xuất ngoại và học hỏi được ở nước ngoài. Như thế phải nói ngay rằng nền giáo dục của chúng ta không đào tạo ra được nhân tài. Cái gì đã giam hãm trí tuệ Việt nam, không cho nó vượt thoát, sáng tạo và bay bổng?
Giải thích đầu tiên là do lịch sử nước ta. Chúng ta không phải là một dân tộc tự do. Trong hai ngàn năm sau công nguyên, nghĩa là gần như trọn chiều dài lịch sử đích thực của chúng ta, chúng ta đã bị ngoại thuộc hơn một ngàn năm, chúng ta đã phải chịu đựng những cuộc chiến thảm khốc trong phần lớn thời gian còn lại; ưu tư phải dành cho sự sống còn thay vì cho suy nghĩ và sáng tạo. Các chế độ tự chủ của ta chẳng qua cũng chỉ là những bạo quyền bản xứ. Chúng ta không có tự do. Và một con người không có tự do thì cũng không thể có óc sáng tạo.
Giải thích thứ hai là do địa lý. Nước ta được dựng lên từ châu thổ sông Hồng. Các công trình thủy lợi, đắp đê ngăn nước, đào kênh dẫn nước là chuyện sinh tử của xã hội. Chúng ta cần những chế độ bạo ngược áp đặt những hy sinh tàn nhẫn để chống cự với thiên nhiên cho sự sống sót của tập thể. Đó là số phận nô lệ chung trong quá trình hình thành của mọi dân tộc sống quanh những con sông lớn, với lưu lượng thay đổi đột ngột. Sau hàng ngàn năm bị chà đạp và hành hạ như thế, chúng ta hấp thụ bản chất nô lệ cộng thêm với cuộc sống nông dân cơ cực phải vật lộn với đất để lấy từ đất ra miềng ăn cho từng ngày. Kết quả là chúng không biết nhìn xa và sáng tạo. Cái địa lý đã nuôi ta cũng đồng thời để lại cho chúng ta những tì vết. Vậy thì để vươn lên chúng ta phải thắng được di sản lịch sử và địa lý đó. Các tiến bộ kỹ thuật đã giải tỏa chúng ta khỏi ách nô lệ của đê điều. Còn lại là di sản tâm lý do quá khứ để lại. Chúng ta cần một quyết tâm sống như những con người tự do và xây dựng đất nước trên tự do, bởi vì chỉ có những con người tự do mới có khả năng sáng tạo.
Lịch sử và địa lý không giải thích tất cả. Còn những yếu tố khác mà chúng ta có lẽ đã chấp nhận do hoàn cảnh lịch sử và địa lý, nhưng với thời gian chúng đã đóng một vai trò còn quan trọng hơn…
NGK
………………………………………………….
Thơ:

Tứ Ngâm Tận Tuyệt

 

Thương mà biết nói sao cho hết?

Lậy Chúa!  Cho con giữ được lòng!

Cát bụi dẫu mờ con mắt lệ

Trời còn có buổi vẫn xanh trong!

 

Lê Hành Khuyên

…………………………………………………………………

CHIỀU MỘT MÌNH

ta một mình chiều nay
lòng hững hờ như gió
cuốn hút những phai tàn
trong hồn sầu bỏ ngỏ

ta một mình chiều nay
chất chồng bao nỗi nhớ
chẳng biết sẽ về đâu
cuộc tình nào cũng lỡ

chiều ơi, chiều trôi mau
như dòng sông ra biển
đổ muôn nhánh muộn màng
nên lòng đầy hiu quạnh

vẫn mình ta chiều nay
đọc lại tờ thư cũ
nghe muôn tiếng rộn ràng
trong tim nào héo úa

buổi chiều sẽ tàn phai
trên từng ô vuông nhỏ
ôi đời mình thoáng bay
đong đưa bằng nỗi nhớ

thôi thì ta chiều nay
ngồi ngắm mình cô quạnh
em có về nữa không ?
mộ vàng ai đă lạnh


 

TRIỀU HOA ĐẠI

……………………………………….

trời cũng buồn
 
 
không ngờ đến vậy người ơi
đã đau như thể cả đời chưa đau
hỏi thăm mây trắng ngang đầu

thì ra thuở ấy trời cao cũng buồn


7- 2010

 
hoàng lộc
……………………………………………………………
 
Kính.
NNS  
About the author
Leave Comment