Cao Mỵ Nhân

VĂN CAO MỴ NHÂN – HỘI TRĂNG QUỲNH & QUÂN LỰC VNCH – AI CÒN NHỚ …AI ĐÃ QUÊN…

image_pdfimage_print

HỘI TRĂNG QUỲNH

Nói tới người Việt Nam làm thơ thì rất nhiều, từ cổ chí kim, từ đông sang tây, nơi nào có người Việt Nam cư ngụ, là y như có thi sĩ, vì quý vị vẫn thường ví mỗi người Việt Nam là có có một thi sĩ trong tâm hồn, đến nỗi thơ ca tràn ngập đều khắp các sinh hoạt cuộc sống nhân dân ta.

Người Việt Nam làm thơ nhiều đã đành, không dành hẳn cho riêng giới văn nhân, tài tử, thích nhả ngọc, phun châu, mà thơ ca đã ưu ái cả giới bình dân, suốt ngày làm việc chân tay, vẫn có thể thở ra những câu thơ thay cho điều cần bày tỏ ý kiến, hoặc quan niệm của mình.

Đã thế, tôi còn cảm thấy phái nữ làm thơ nhiều hơn phái nam nữa, có lẽ phái nam vốn mạnh mẽ, hào sảng, nên muốn làm thơ là phải viết thế nào cho có vẻ… thơ. Còn phái nữ vốn đã thơ từ nhân dáng, tâm tư, tình cảm, nên chỉ cần thốt ra lời lẽ êm đềm, vần điệu, là trở thành thi sĩ tự bao giờ!

Vì thế cho nên mới có cái làng quan họ ngoài Bắc, quý chị em đầu cần phải biết kỹ thuật thuật thơ đâu, vậy mà ngôn ngữ chứa chan thơ thơ, mộng mộng, khiến bên nam, hoặc bất cứ ai nghe được, cũng thầm vương vấn.

Vẫn chuyện phụ nữ làm thơ, tôi xin phép giới thiệu một hội thơ cận đại, có danh xưng là Hội thơ Quỳnh Dao, quý vị ngoài hội còn gọi Thi đàn Quỳnh Dao, hay Thi đoàn Quỳnh Giao nữa.

Nguyên khoảng giữa thế kỷ 20 vừa qua, quý vị làm thơ trên, là những bậc nữ lưu xuất thân từ những gia đình có gốc gác văn chương, văn học, được giới mộ điệu thi ca biết đến khá nhiều.

Thí dụ: nữ sĩ Cao Ngọc Anh là ái nữ cụ cố Cao Xuân Dục, một vị quan triều Nguyễn . Nữ sĩ Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội là phu nhân thi sĩ Đông Hồ Lâm Tấn Phác, nữ sỹ Hồng Thiên là hậu duệ cụ cố Nguyễn Khuyến…

Khởi thủy, 4 nữ sĩ thủa bấy giờ, các năm đầu, các năm …. đầu thập niên 60 thế kỷ trước, thường xướng họa thi ca trên các báo, quý vị đã tìm gặp nhau để phát họa hình thành một hội thơ nữ lưu, gồm 4 vị sáng lập: Mai Oanh, Thu Nga, Đinh Thị Việt Liên và Vân Nương.

4 vị vừa nêu đồng ý trong hoàn toàn nguyên tắc là thâu nhận hội viên qua 2 điiều kiện sau:

– Quý vị sống trong hoàn cảnh binhg thường

– Biết sáng tác, xướng họa thơ luật Đường.

Đọc tới đây, quý vị độc giả sẽ mỉm cười, hỏi rằng “hoàn cảnh bình thường” là thế nào?

Xin thưa, là một phụ nữ đang làm vợ, làm mẹ, hay đã làm bà nội, ngoại, tức các vị nữ lưu ấy không bị kéo sốc lên bởi những éo le, của tình tang trong gia đình về phương diện tình cảm. Tất nhiên có những quả phụ, danh chính, ngôn thuận như nữ Quỳ Hương, Uyển Hương…

Buổi đầu “chơi thơ” chưa hề đặt vấn đề Hội trưởng, trưởng đoàn… mà chỉ chuyên chú vào chuyện xướng họa tao nhã. Nên hội thơ chỉ họp vào mỗi buổi tối “đêm trăng tròn 16”. Các khuôn viên liên hệ của các nhà thơ nữ đương nhiên khuôn viên nào được tổ chức, thì thi sĩ chủ nhân “đăng cai” đài thọ hết chi phí trà nước, tiệc tùng.

Thí dụ: khuôn viên Minh Minh Thư Uyển thưởng trăng 16 tháng giêng thì nữ sĩ Như Hiên đãi khách thơ tham dự, tùy phương tiện và sáng kiến tiếp tân của chủ nhân kỳ đó.

Đã đến lúc hội thơ cần đặt cho chi lan, tỷ muội một tên chung, quý vị đã đặt tên Hội Thơ Quỳnh Dao. Nhưng tùy cảm nghĩ của mỗi vị khi sáng tác, lại thả vần cho buổi họp ấy, nào là hội trăng Quỳnh, trăng tròn, trăng 16, vườn Quỳnh, đài Dao v.v…

Thế rồi thì danh tiếng hội thơ Quỳnh Dao đã quy tụ được trên 50 vị nữ sĩ, đa phần là cao tuổi, am tường Hán học và Pháp ngữ, đến tai cụ bà Cao Ngọc Anh, một danh thơ Đường từ đầu thế kỷ thứ 20 (cụ sinh vào cuối thế kỷ 19), nên nữ sĩ Cao Ngọc Anh được mời tham dự, cụ đã gia nhập Hội thơ Quỳnh Dao năm sau đó, khi cụ đã ngoài bảy chục, vì thế, nếu tính đến nay, cụ 120 tuổi hơn.

Ngay thủa đó, các nữ sĩ trong hội thơ Quỳnh Dao tôn phong đại lão nữ sĩ Cao Ngọc Anh là niên trưởng Quỳnh Dao. Noi theo thời đại này, cụ là đệ nhất niên trưởng vậy.

Người kế vị,  nữ sĩ Cao Ngọc Anh khi cụ mãn phần, là nữ sĩ Đào Vân Khanh, thân mẫu của ông Vũ Khánh đại sứ ở Nhật, nhạc sĩ Vũ Thành và nữ sĩ Uyển Hương, quý ông Vũ Khánh, Vũ thành (nhạc sĩ) đã mất từ lâu, cụ cố, Đào Vân Khanh chung cuộc khi 103 tuổi (1988) hiện còn tại thế, ái nữ của cụ là nữ sĩ Uyên Hương cũng đã khoảng 95 tuổi.

Nữ sĩ Đào Vân Khanh mất ở hải ngoại, tức sau cuộc di tản 1975.

Bây giờ sau 1975, hội thơ Quỳnh Dao đã thất tán đi khắp nơi, quý cụ theo con cháu ra hải ngoại, theo con cháu về quê, bệnh, già… còn lại ở tại Saigon mười mấy vị,  nữ sĩ Mộng Tuyết bước vòa thất thập cổ lai hy vài năm, chúng tôi phong tặng chức niên trưởng Quỳnh Dao quốc nội, mặt khác, nữ sĩ Trùng Quang giữ chức niên trưởng Quỳnh Dao hải ngoại.

Nữ sĩ Mộng Tuyết mất ở Hà Tiên đã là gần chục năm, còn nữ sĩ Trùng Quang mất ở San Jose cách đây vài tháng, thọ 103 tuổi.

Tại sao hôm nay, tôi lại đề cập tới một hội thơ mà rải rác suốt bài, toàn các cụ đại thọ, và tin tức không còn biết tại thế, số là như đứng trước một buổi chợ chiều Hội thơ Quỳnh Dao, quý vị nữ sĩ đang ở tuổi thất, bát, cửu thập… nên chuyện ra đi về cỗi vô cùng, chỉ như những chặng đường dài, ngắn tùy theo  tuổi tác và sức khỏe.

Cái lý do gần nhất, cũng không phải chuyện vừa viết ở đoạn trên, mà vì trở lại lời kể ban đầu, rằng 4 vị sáng lập  hội thơ, nay đã, đang sao rồi.

Xin thưa, ngay vài thập niên đầu, nữ sĩ Mai Oanh từ giã chi lan, tỷ muội sớm nhất ở Saigon, mới đây, độ vài năm, nữ sĩ Thu Nga San Jose Bắc Cali. Như vậy, chỉ còn một vị đang ngẩn ngơ bên nước Pháp xa vời là nữ sĩ Vân Nương.

Thật buồn, chỉ trong 2 tháng, 2 cụ Quỳnh Dao xa rời thung lũng hoa vàng, niên trưởng Trùng Quang, sáng lập viên Đinh Thị Việt Liên vào cuối tuần này sẽ mãi an nghỉ trên đồi cao.

Buổi trưa nay, điên thoại reo, tôi nhấc máy Thắng, đứa con trai út của nữ sĩ Đinh Thị Việt Liên nói:

– Thưa, tôi muốn gặp cô Cao Mỵ Nhân

– Dạ, tôi đây.

– Thưa cô, cháu là Thắng, báo tin cô hay là bà Đinh Thị Việt Liên, mẹ cháu đã mất.

Tin cho nhau về một cụ già đã thất lộc là chuyện thường, nhưng lòng tôi ngổn ngang quá đỗi, Thắng nhờ tôi thông báo cho quý vị, thành viên hội thơ Quỳnh Dao, tôi nhận lời, nên xin gửi tâm tư tình cảm vào bài viết này, kính chuyển đến quý vị nữ sĩ hội thơ Quỳnh Dao ở Việt Nam và khắp nơi trên thế giới hay, để quý vị tưởng niệm trong lòng, và nếu còn sáng tác thì mượn thơ  chia xẻ tâm tình, cùng nhớ lại những đêm trăng Quỳnh mười sáu ở quê hương xưa.

Trước khi chấm dứt cuộc điện đàm, Thắng con trai út nữ sĩ Đinh Thị Việt Liên đã 62 tuổi, nhưng vẫn thường xưng “cháu” với chúng tôi, vì bạn thơ của mẹ cậu, nên chẳng những Thắng mà tất cả các quý nam, ái nữ của các cụ nữ sĩ Quỳnh Dao đều thưa gởi với chúng tôi như thế, Thắng hỏi:

– Ô cô ơi, cháu muốn hỏi là tại sao cô hiện diện trong thi đàn Quỳnh Dao, toàn quý cụ cao niên, 8,9 chục tuổi hơn, có vị cả trăm tuổi vậy.

Tôi cười hiu hắt:

– Trong hội thơ Quỳnh Dao hiện nay, chỉ có 3 người thuộc thế hệ ngoài bảy chục, theo thứ tự từ nhiều hơn, tới ít; là nữ sĩ Tuệ Nga, Tôn Nữ Hỷ Khương, và út của hội là cô, cô sẽ chuyển tin buồn này, xin chia buồn với cháu và gia đình các anh chị cháu nhé”.

Hawthorene

25-12-2025

QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA – AI CÒN NHỚ …AI ĐÃ QUÊN…

-Sinh tháng 11 năm 1933 tại Hải Dương

– Nhập ngũ ngày 13-5-1952

– Xuất thân trường sĩ quan Võ Bị Đà Lạt Khóa 7

– Liên Đoàn trưởng Liên Đoàn 2 BĐQ

– Tỉnh Trưởng Pleiku

– Tư Lệnh Phó Sư Đoàn 106 Biệt Động Quân (tháng 4/1975)

MỘT THỜI ĐÃ YÊU

Một trong số rất hiếm vị sĩ quan cao cấp phải đi bộ từ PHÚ BỔN về TUY HÒA, nhưng tôi thật nhớ rõ ràng, anh tôi đại tá CAO VĂN ỦY, chức vụ sau cùng là Liên Đoàn trưởng Liên Đoàn 2 BIỆT ĐỘNG QUÂN, trong cuộc triệt thoái cao nguyên mùa xuân năm 1975, chính là người thầm lặng nhất, khi tôi hỏi anh sau này, từ Úc qua Mĩ năm 1999, rằng anh là một chứng nhân sống nhất, anh thấy chung quanh anh, trên quốc lộ 21 ấy, tất nhiên không có cấp tướng rồi, thì còn bao nhiêu đại tá tiếp sức ngày đêm để chia sẻ gian lao cùng với lính, rời CHUDRON đất đỏ, về ĐÀ RẰNG cát nổi mơ hồ.

Đại tá CAO VĂN ỦY cười hòa đồng với tất cả những ai muốn biết thêm về chuyện lui quân thuộc vùng 2 lãnh thổ:

– Cô đã có lần rời nhà ở BAN MÊ THUỘC lên PLEIKU cô có nhớ cái cánh rừng già, lá cây được phủ bụi mù như mặc áo, vô sâu bên tay mặt, và tấm bảng nhỏ, đề chữ PHÚ BỔN, đó là quận lỵ CHUDRON thời PHÁP đấy.

Tới sau năm 1956, nếu tôi nhớ không lầm, thì Tổng Thống NGÔ ĐÌNH DIỆM đã nâng vùng đất đai này lên hàng Tỉnh,tỉnh PHÚ BỔN từ ngọn nguồn phía tây, chạy ngang, xuống tới quốc lộ 1, gặp tỉnh PHÚ YÊN tức TUY HÒA.

Quốc lộ số 21, xem như một vĩ tuyến nối liền 2 trạm tây, đông nêu trên, nó,quốc lộ số 21 ấy được kể song song với 2 quốc lộ xẻ ngang đất nước, là đường 19 nối từ PLEIKU xuống QUI NHƠN, và đường 23 nối từ BAN MÊ THUỘC xuống NINH HÒA.

– Trên bản đồ thì biết vậy nhưng ngoài thực tế, và trọng điểm là cuộc rút quân đương nêu, được bắt đầu và kết thúc làm sao?

– Thì sao không đọc cuộc triệt thoái cao nguyên của PHẠM HUẤN, ông sĩ quan chiến tranh chính trị đã mở màn cho cuốn phim lịch sử đó lâu nay rồi.

– Thưa anh, đại tá CAO VĂN ỦY, tất nhiên là ai cũng đã đọc, thậm chí còn đọc trên nhiều trang báo từ khi bắt đầu cuộc triệt thoái khi quân và dân ta rời phố núi về duyên hải, từ 1975 ở trong nước kia, nhưng biết anh hiện diện nơi đoàn người lũ lượt đó, em muốn anh kể lại xem có gì khác lạ không?

– Khác lạ về phương diện gì, cô nên nhớ là với 17, 18 năm tù của tôi, đại tá ỦY, tôi đã bị mài món trí nhớ, đến nỗi đôi khi tôi muốn có dịp nào, đi lại con đường đó.

– Để làm gì?

– Để xem thử mình có khác được không? Khóc thế nào, khóc thống thiết, hai mắt căng ra, cho lệ chảy thành sông, khổ lắm, hận lắm, tủi lắm. Nói chung thì cường độ đau buồn với tôi lúc này, nó đã tiềm ẩn thành khối băng, lạ lắm, không mừng và không tất cả, không, không, thôi đừng hỏi nữa.

– Tại sao vậy, lẽ ra anh phải viết lại cho thật rõ.

– À, thì cô cứ nhớ điều này nhé, ông tướng PHẠM TẤT của binh chủng BIỆT ĐỘNG QUÂN chúng tôi, là người duy nhất trên trực thăng, theo sát đoàn lữ hành di tản, cứ 15 phút thì lại đậu xuống một lần, để quan sát tình hình, khích lệ ngay trong buổi đầu, tôi không biết ví như thế nào, bởi vì tiền bạc hay hứa thăng thưởng không cần thiết nữa, chúng tôi chỉ muốn đi mau đi nhanh về vùng trời…an nghỉ, phải nói là mệt, mệt đứt hơi ra.

Tôi dẫn đầu đoàn người khổ nhục đó. Nhìn lại đằng sau, lính và dân sát cánh nhau, nhưng sắc áo lính nhiều hơn, có thể đoan chắc là không ai chỉ huy ai, nhưng vẫn nghe lời dẫn giảng, đề nghị nếu cần.

Con đường vẫn có đoạn còn dấu vết tráng nhựa xa xưa, nhưng nó đã bị bỏ quên lâu rồi, vì không cần thiết lắm ,nhưng có đoạn cây, giây leo cuộn rối như ở giữa lòng rừng, nên giống như mọi người vừa đi, vừa khai phá, y hệt một đoàn thám hiểm khổng lồ.

– Thế anh còn nhớ ai đã đồng hành với anh năm đó, hiện đang ở đây?

– Để cô tìm gặp người ta à, tôi đã nói với mọi người khi họ phỏng vấn tôi, là chúng ta nếu có điều kiện, một phải nói rõ hơn, hai đừng nói gì hết. Bạn đồng hành của tôi ở đây nhiều lắm, và hồi đó, chết cũng nhiều lắm.

– Nói rõ hơn như thế nào,theo ý anh?

– Lẽ ra phải quay trọn một cuốn phim, suốt thời gian di chuyển đó, nhưng chúng tôi có định đóng phim đâu. Ồ, mà ngoài cô, cũng có những cuộc di tản chiến thuật sôi nổi, như dân chúng ở HUẾ đổ xô vào ĐÀ NẴNG, hay từ QUẢNG NGÃI đổ ngược về CHU LAI v.v… nhất là 21 cây số đường đèo HẢI VÂN, người ta đã đẩy xe, và đẩy cả nhau xuống vực, để giành nhau thoát chạy nhanh hơn, sao cô không ghi lại và hỏi tôi về hành trình rút bỏ cao nguyên? Thật vô cùng bi thảm.

– Tại anh hiện diện trên hành trình đó, thì hỏi thăm cho chắc thôi. Vả chăng chúng ta còn đợi một người chép sử chính xác.

– Tất cả quân nhân VIỆT NAM CỘNG HÒA đều nên chép lại giai đoạn lịch sử này, trước, trong , và sau ngày 30-4-1975 trên khắp ngả đường đất nước miền nam VIỆT NAM.

Đại tá CAO VĂN ỦY, LIÊN ĐOÀN trưởng LIÊN ĐOÀN 2 BIỆT ĐỘNG QUÂN, xuất thân từ khóa 1 sĩ quan NAM ĐỊNH, đã từng tham gia tác chien trên nhiều chiến trường Nam, Bắc.

Có thời ông làm chỉ huy trưởng trường Hạ Sĩ Quan Nha Trang, là người đoạt chức vô địch súng trường của toàn quân QUÂN LỰC VNCH, bên cạnh đó, bạn tôi, võ sư thiếu úy HẠ QUỐC HUY vô địch súng colt, nên mỗi lần nhắc tên 2 vị vô địch tác xạ, tôi thường kể ra để không thiếu xót.

Đại tá CAO VĂN ỦY là một trong các vị thuộc Bộ Tham Mưu hành quân trực chiến, bị bắt ở PHAN RANG-khi vừa tan cuộc binh đao.

Rồi quý vị nêu trên bị tù đầy xuyên suốt tháng năm cải tạo,từ chớm mùa gọi là tập trung học tập,cho tới khi khai thông chiến dịch HO,để đa số tái định cư ở HOA KỲ, nhưng ông không đi MỸ mà tới ÚC, vì gia đình đang cư ngụ ở đó.

Hơn 20 năm, kể từ 1953 tới 1975, đại tá CAO VĂN ỦY sớm xếp bút nghiên, rời trường CHU VĂN AN HÀ NỘI, lên đường gia nhập Quân lực VNCH để theo việc đao cung. Song, ông đã sinh nghề kiếm đạo, mà lại không tử nghiệp, như không chết ở sa trường, lao tù với nhiều năm khổ sai, biệt giam, ông lại chết giữa bầu trời ấm áp nơi cuộc sống đã tạm yên, chỉ vì một mũi kim chích vô tình chạm thần kinh tọa.

Ngày ông qua Mỹ thăm họ hàng, và chủ yếu là chiến hữu các cấp binh chủng BIỆT ĐỘNG QUÂN, ông đã phải chống một cây gậy do bệnh viện X.ÚC cấp. Ông nói người ta đang lập hồ sơ giùm ông, để kiện cái sự việc vô tình làm chân ông suy thoái, nhưng ông nôn nóng gặp lại anh em đã từng đội mũ nâu, mang huy hiệu cọp rừng-nhe răng trên tay áo, ôi, một thời đã yêu, và một thời nhớ mãi. Ông hẹn ngày gặp lại, sẽ không lệ thuộc chiếc ba toong, tha hồ bay nhẩy.

Nhưng chẳng còn dịp nào nữa, vì ít lâu sau, đại tá CAO VĂN ỦY, đã âm thầm trở về cát bụi, con đường quốc lộ 21 hoang hóa buồn tênh kia, chắc có một lần trước khi nhắm mắt, anh thấy lại nó trong tâm tư người lính già trên tuổi tác, tai ương…, song, trẻ mãi cùng hồn thiêng sông núi.

Và, những người lính cảm thấy: có bổn phận phải hy sinh xương máu, để hồn thiêng sông núi linh hiển đến muôn sau.

Hawthorne 15-3-2011 CAO MỴ NHÂN