Nhiều người bạn văn thơ của tôi vẫn thường xúc động bảo rằng, thật may mắn khi chúng ta được đặt chân và sinh sống trên đất nước Hoa Kỳ, một đất nước có không gian tự do ngút ngàn, nơi những giá trị nhân bản và tư tưởng sáng tạo luôn được trân trọng, nâng niu. Chính bầu khí quyển tự do ấy đã trở thành mảnh đất lành nuôi dưỡng bao mầm sống văn hóa, giúp các hội đoàn, văn đàn của người Việt khắp nơi mọc lên rực rỡ như những đóa hoa giữa lòng xứ sở cưu mang mình.
Quả đúng vậy. Nước Mỹ đã cho chúng ta một quê hương thứ hai để an cư, và trao tặng một vùng trời thênh thang để tiếng Việt được vang vọng, để nền văn học nghệ thuật ly hương không bị mai một theo thời gian. Nhờ hít thở bầu không khí tự do “rất Mỹ” ấy, Thi Văn Đàn Văn Thơ Lạc Việt (VTLV) chúng tôi mới có thể kiên trì đồng hành cùng chữ nghĩa, và gìn giữ hồn Việt qua hơn 35 năm dâu bể.
Một trong cái sự “rất Mỹ” chúng tôi hưởng được là tinh thần tự do phóng khoáng, và nó đã thấm đượm vào cả cách chúng tôi gặp nhau, thương quý nhau và… “quậy” cùng nhau theo phong cách Mỹ! Tự do sáng tác là một chuyện, nhưng tự do bày trò, tự do trao gửi tiếng cười trong những buổi hội ngộ thân tình lại là một câu chuyện độc đáo khác. Và buổi họp mặt hôm thứ Bảy vừa qua chính là một minh chứng sống động nhất cho cái chất “rất Mỹ” ấy, vì buổi họp mặt là nơi văn chương hàn lâm bắt tay cùng sự rộn rã, phá cách, tạo nên một ngày hội ngộ tưng bừng mà có lẽ chỉ ở VTLV mới có. Xin kính chia sẻ cùng quý bạn đọc.
Hồi tháng 7, nhóm “cựu du thuyền Quantum of the Seas VTLV”, từng quậy tưng bừng trên tàu trong tháng 3 vừa qua, (Bài tường thuật chuyến đi đã được đăng trên Việt Báo và VTLV: https://vantholacviet.com/vtlv-cuoc-du-xuan-doc-nhat-vo-nhi-but-ky-phuong-hoa/ ) đang rục rịch chuẩn bị đón “Trưởng ban hình ảnh” Phạm Phan Lang từ Nam Cali lên miến Bắc dự hội cựu học sinh Nữ Trung Học và Võ Tánh Nha Trang. Cả nhóm còn đang tính nước quậy thêm trận nữa cho… bõ thèm, vì lần trước quậy trên tàu dập dềnh sóng nước vẫn… “chưa đã đời”.
Mọi người đang bàn tính “trong vòng bí mật” chỉ một nhóm nhỏ chừng một tá người thôi, thì đùng một cái, văn thi nhạc sĩ Yên Sơn từ xứ cao bồi Texas đánh tiếng sẽ “cưỡi ngựa phi nước đại” qua thăm Bắc California!
Thế là bao nhiêu tính toán âm thầm của nhóm “cựu du thuyền” chúng tôi bị “Trưởng tàu” Lê Văn Hải phanh phui và… lật bài sạch bách trên sóng truyền tin! Thấy cơ hội ngàn năm có một, anh Hải tính đường “theo kiểu Mỹ, tổ chức 2-in-1”, nên anh lập tức… gõ mõ khua chiêng, ra lời triệu tập rộn rã làm diễn đàn VTLV rung rinh chao đảo! Lần này, đại gia đình mình “chơi lớn” khi đón sóng đôi hai vị khách “văn võ song toàn” cực kỳ đặc biệt, anh Hải nói và giới thiệu…ầm ỹ:
1).Thi sĩ, nhà văn Phạm Phan Lang, người con gái xứ biển Nha Trang, cựu nữ sinh Võ Tánh tài hoa, từng là Trung tá Lục quân Hoa Kỳ, một tâm hồn thi sĩ dạt dào với một trăm mấy chục bài thơ được phổ thành những ca khúc đi cùng năm tháng.
2). Văn thi nhạc sĩ Yên Sơn, vị khách từ Texas, một võ sư danh lừng bốn…bên bạn bè, cựu phi công VNCH phóng khoáng, một cây bút đa tài, viết văn, làm thơ sáng tác nhạc, với tấm lòng lúc nào cũng tha thiết, đau đớn cùng quê hương.
Một người từ Nam Cali bay vút lên, một người từ Texas cưỡi ngựa phi nước đại sang, đường xa vạn dặm mà người ta còn tìm đến, thì dân nhà VTLV ngay San Jose mà vắng mặt là… coi chừng bị phạt! Đã vậy, chị Mỹ Thanh lại còn hào phóng mở rộng cửa “lâu đài tình ái của chị và cố Chủ Tịch VTLV Chinh Nguyên” để đón tiếp. Với dàn karaoke “khủng” của ca sĩ Văn Khoa, cùng thực đơn “chơi kiểu Mỹ Potluck” và thùng rượu vang của “Kiều My – Hải” thì hổng say hổng về…”
Thế là họp thư của tôi lập tức…nổ tung vì các “đồng đạo” dồn dập gửi thực đơn ghi danh. Đang lu bù đầu với núi bài vở, thơ văn, tôi đành phải gác hết sang một bên để đóng vai “Giám đốc Potluck”. Đúng là tình thân Văn Thơ Lạc Việt, ai ai cũng tràn đầy tấm lòng, muốn mang đến món ngon nhất để đón hai vị khách quý.
Sáng thứ Bảy tôi dậy sớm, từ khi trời còn… chưa say giọt nắng, để trổ tài làm món “Mì xào nấm 7 món”, món ăn được tôi tự hào gắn nhãn là món ăn “heo thì” (healthy) nhất thế giới, để đãi đãi 2 vị khách quý và bạn bè trong Văn Thơ Lạc Việt. Tôi biết ai cũng cần món ăn đầy sức khỏe này, vì chắc chắn những vị khác đem tới sẽ là những món nhiều chất đạm “cao lương mỹ vị” rồi, thì món mì rau củ nấm của tôi rất cần để “quân bình âm dương” cho mọi người. Bạn tôi Phan Lang là một “cựu thủ lĩnh” ngành quân y về dinh dưỡng của quân đội Hoa Kỳ chắc chắn sẽ vỗ tay cho món này của tôi. Còn tướng quân Yên Sơn người Võ nghệ “nhiều đẳng nhiều đai” chắc sẽ cần những món nhiều chất đạm như vịt quay, gà nướng.
Trước đó, tình cờ chủ tịch Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại Cung Thị Lan gọi cho tôi, nói về việc bài đăng trên tuyển tập của Văn Bút. Hỏi ra mới biết cô hiện đang ở San Jose, chờ dự đại hội cựu học sinh Nữ Trung Học -Võ Tánh Nha Trang. Nghe thế tôi mời CT Thị Cung Lan ghé qua chỗ Văn Thơ Lạc Việt nơi chúng tôi đang tổ chức chào đón Phạm Phan Lang (khóa đàn chị Võ Tánh của Cung Lan), cũng vì một số thành viên của Văn Thơ Lạc Việt đồng thời là thành viên của Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại, cho nên CT Cung Lan nhận lời, nhưng cô dặn tôi đừng nên thông báo trước cho mọi người để đúng 11g cô sẽ “drop in” gây sự ngạc nhiên cho thêm phần hứng thú.
Lần này tôi nan nỉ “chàng người dưng khác họ” đi cùng, vì bình thường chàng ít khi muốn đi tới những nơi đông đảo mà tôi tham gia, bởi vì bận ở nhà lo thiền và nghiên cứu kinh sách kinh dịch. Chàng thường chọc tôi, “Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ/ Người khôn người đến chôn lao xao” (Cảnh Nhàn – Nguyễn Bỉnh Khiêm). Chàng gật đầu đi với tôi lần này vì gặp bạn Phan Lang của tôi và cũng vì từng là “đồng môn” trong nhóm du thuyền Quantom of The Sea… quậy bữa trước. Khi chúng tôi đến nơi, chị Mỹ Thanh nói anh Hải tới từ sáng sớm và trong chuyến này không phải là “cái ba lô huyền thoại” như chuyến du thuyền trước mà anh Hải mang đến “chiếc xe van huyền thoại” và trong cái trunk của xe anh Hải chứa đầy đủ thứ, và chị Mỹ Thanh phải mất một thời gian phụ cùng anh Hải khiêng vào chất hết trong chỗ studio quay phim của anh Chinh Nguyên trước đây.
Tôi nghe thế thì bước ra phòng quay phim và giật cả mình, đứng im… tắt tiếng. Anh Hải đã sắp xếp bàn ghế tươm tất, trải khăn màu xanh mạ, trên bàn là những bình hoa đủ màu đứng thi nhau điệu đà khoe sắc rất là trang trọng như bàn tiệc cưới! Nhìn sang dãy bàn bên phải gần hồ cá, tôi xém kêu lên. Trời đất ơi, anh Hải định mở… “Siêu thị Walmart” ở đây hay sao! Trên đó chất cao như núi, không biết cơ man nào là đồ vật, quà tặng, bánh hộp, hình tượng, tranh ảnh, hoa, sách báo, và chất men Heineken lẫn Corona cũng chen lấn nhau nằm cả trên bàn. Thì ra sếp Hải còn sợ “dân chơi” văn nghệ mà thiếu “nhiên liệu” thì niềm vui chưa trọn! Đúng là “thần đèn” Lê Văn Hải, đi tới đâu là… ngợp cả không gian tới đó.
Vì tôi có hẹn nên đến sớm một chút, họp cùng ban tổ chức VTLV về chương trình ca nhạc Tác Giả Tác Phẩm sắp tới vào ngày 18 tháng 9, để giới thiệu, tôn vinh những nhạc sĩ tài năng và những khúc ca tâm huyết của họ ra cộng đồng. Trong khi đang họp cùng anh Hải, thầy Thái Phạm, Thanh Loan, Thúy Nga, và Hoàng Thưởng… tôi bỗng nhận điện thoại từ chủ tịch Cung Thị Lan xin địa chỉ để nhờ người chở tới.
Anh Hải và mọi người thật bất ngờ khi CT Cung Lan bước vào và tôi giới thiệu vị khách quan trọng mà “bất ngờ ngoài dự tính” này. Thế là không khí vui vỡ òa.
Khi chúng tôi họp xong thì các “đầu bếp văn chương” cũng bắt đầu rầm rộ kéo đến. Chao ôi, mỗi người góp một món, và nguyên dãy bàn dài anh Hải chuẩn bị lập tức lấp đầy chen chúc, những bình hoa đẹp phải…đi chỗ khác chơi! Vợ chồng TS Nguyễn Hồng Dũng & Ngọc Ánh còn hào phóng tài trợ hai khay đồ chay lớn thật lớn, cực kỳ hấp dẫn từ nhà hàng Di Lặc nổi tiếng của chính họ, ở San Jose. MC Hạnh Thảo mang đến chiếc bánh đông sương “loại xịn cao cấp” trên có ghi Chúc Mừng Sinh Nhật tên Phan Lang, Yên Sơn, và toàn VTLV. Chiếc bánh ngon này về sau rất… đắc hàng.
*
*
Nghe CT Cung Thị Lan cần đi gấp, anh Hải vội vàng khai mạc tiệc dù khách đến chưa đủ hết. Anh Hải giới thiệu chủ tịch Văn Bút Cung Thị Lan với mọi người và anh cũng vinh danh những vị tiền khai đã khôi phục VBVNHN khi ra nước ngoài dù cho bão tố phong ba, và mừng là VB vẫn tồn tại đến ngày nay. CT Cung Thị Lan cũng phát biểu, nói lời cảm ơn anh Hải, và cô mời các thành viên VBVNHN về dự Đại Hội VB vào tháng 11 tới tại Nam Cali. Và đúng với phong cách “độc quyền” của sếp Hải chúng tôi, hễ gặp khách là tặng quà, CT Cung Thị Lan dù đến bất ngờ cũng được anh Hải trao tặng một món quà thật dễ thương. Đáp lại, Cung Lan cũng tặng một món quà từ DC cho anh Hải.
Có chuyện vui là, khi gửi địa chỉ nhà chị Mỹ Thanh cho mọi người trên email, tôi có nhắn đùa một câu, “Quý vị nhớ coi kỹ bản đồ, kẻo VTLV lại phải huy động lực lượng kéo nhau đi… tìm trẻ lạc!”. Ai ngờ nói chơi mà thiệt! Trong khi bàn dân thiên hạ đang hăng hái “check-in”, chụp hình từng ngóc ngách trong nhà lẫn ngoài vườn chị Mỹ Thanh, thì điện thoại tôi đổ chuông. Đầu dây bên kia, Phan Lang với giọng…hớt hải, báo tin cô nàng đã đi lạc sang tận khu nào rồi, hoàn toàn mất phương hướng! Thế là cả nhóm lại một phen cuống cuồng cắt cử “biệt đội giải cứu” lao ra đường… hộ tống Phan Lang về bến an toàn!
Do đường sá xa xôi, lại thêm lo chuẩn bị cho anh xã ốm yếu, Minh Thúy và anh Lộc đến trễ và cũng còn vài người khác đến lai rai. Và khi tất cả các vị khách đến đầy đủ, thì sếp Hải lại tiếp tục. Khách mời chính thức Phạm Phan Lang và Yên Sơn được giới thiệu rầm rộ, trao quà rộn rã, và mọi người xúm chụp hình ào ào.
Nếu chỉ kể về ba vị khách quý phương xa thì vẫn chưa đủ bộ rộn ràng đâu nhé quý vị ơi! Tiệc hôm nay còn có sự xuất hiện của hai vị khách đặc biệt, hai tân thành viên vừa “về chung nhà” VTLV là văn thi sĩ Hoàng Hy và văn thi sĩ Dương Vũ! Đặc biệt nhất là anh Dương Vũ, người vừa có tác phẩm truyện ngắn tiếng Anh được Văn Bút Quốc Tế chọn đăng trên trang chủ. Anh mới gia nhập VTLV đúng… 2 ngày trước! Thế mà vừa nghe tôi rủ rê đi đón hai vị tiền bối kỳ cựu, anh đã hào hứng ghi danh ngay, còn xách theo chai rượu ngon. Anh Hoàng Hy và phu nhân đem chiếc bánh ngọt Paris La Baguette vừa thơm ngon quyến rũ! Sếp Hải còn mời tôi lên giới thiệu hai chàng lính “mới toanh” này. Để thêm phần long trọng, anh đã giao nhiệm vụ cho hai cô MC duyên dáng Thanh Loan và Hạnh Thảo đứng ra trao quà. Sau khi trao quà, hai cô em còn tự tay đeo lên cổ hai tân binh hai “vòng hoa chiến thắng” rực rỡ! Hình ảnh này làm tôi xúc động nhớ về thời VNCH xưa, khi các nữ sinh xinh đẹp trao vòng hoa đón các chiến sĩ trở về từ chiến trận! Dù hai MC hôm nay không là nữ sinh trung học, nhưng độ xinh đẹp “triệu đô” và sự duyên dáng thì có thừa! Được hai mỹ nhân đeo vòng hoa và trao quà, hai chàng “tân binh VTLV” xem ra cảm động lắm. Anh Dương Vũ nói lời cảm ơn chân thành khiến cả vườn hoa VTLV như bừng sáng.
Đúng ra lần này có thêm hai thành viên mới…vừa vừa (không phải mới toanh!), đó là văn thi sĩ Lê Xuân Mỹ và văn thi sĩ Quang Hà, hai vị cũng ở Bắc CA, đã tham gia vào VTLV mới thời gian gần đây, chưa có cơ hội “trình diện” với mọi người, rất muốn đến chung vui, nhưng vì kẹt sinh nhật trong gia đình. Anh Lê Xuân Mỹ kẹt là sinh nhật của chính chủ, còn anh Quang Hà là kẹt sinh nhật của… “quan cháu ngoại”, còn quan trọng hơn cả “quan huyện”, và hơn luôn sinh nhật của… “quan cụ ngoại” nữa, nên không tham gia được. Rồi thì đến lượt nhà thơ kỳ cựu, từ tận miền núi của Bắc Cali, Lê Thị Diễm Buồn mà nhiều người trước giờ nghe danh chưa biết mặt, và chị nhà báo chủ nhiệm tờ Phụ Nữ Cali San Jose, xinh đẹp trẻ hoài như người không tuổi, cũng được mời lên để anh Lê Văn Hải trao quà.
Sau đó sếp Hải trịnh trọng tuyên bố khai tiệc, và một khung cảnh… chưa từng có trong lịch sử đã diễn ra, giờ ngồi đây ghi lại tôi không khỏi bật cười một mình. “Bàn dân thiên hạ” ai nấy tay lăm lăm đĩa, dao, nĩa, nhưng lại đứng… “đóng băng” nhìn một lượt từ đầu bàn đến cuối bàn! Lý do là vì menu Potluck quá sức hấp dẫn, 30 món ăn, món nào trông cũng ngon mắt, ngon mũi, nhìn đến là muốn gắp ngay, thành ra ai cũng rơi vào trạng thái “ngơ ngác ngỡ ngàng” không biết nên gắp món nào trước, bỏ món nào sau! Đến cả người viết bài này cũng đứng tần ngần giữa “ma trận” thức ăn một lúc, dù đã ngắm nghía mấy món chay healthy từ trước đó!
Thế mới thấy, đúng là cái kiểu tiệc Potluck của Mỹ này vừa vui, vừa ngon, vừa tiện lợi vô cùng cho khách và gia chủ. Tiếp nguyên một “quân đoàn” khách khứa đông nghẹt mà chị Mỹ Thanh chẳng phải đầu bù tóc rối dưới bếp. Dù đã dặn chị Thanh không phải làm gì, vị phu nhân tốt bụng của cố chủ tịch Chinh Nguyên cũng làm món xôi cẩm dừa tím đậm đà, và món “bánh bò rễ tre” món ruột, sốp mềm thơm của chị mà sau tàn tiệc ai cũng tranh nhau togo về nhà. Nhìn khay rau xà lách tươi ngon, giòn rụm của Ngọc Ánh, mọi người xúm lại xúc lấy múc để, tôi cũng nhào vô, ăn mà nghe giòn tan! Cuối cùng, đĩa ai đĩa nấy cũng chất đầy thức ngon vật lạ dù cái đĩa chỉ đủ chỗ cho mỗi thứ một chút xíu! Cả nhà vừa gắp, vừa hít hà khen ngon, vừa chụp hình các món. Xin phép được “nổ” một chút, là chắc trên đời này hiếm có bữa tiệc nào mà tràn ngập tình cảm, rộn rã tiếng cười, và đa dạng ẩm thực như bữa tiệc Potluck này!
Mọi người đang còn thưởng thức thì sếp Hải đã vỗ tay ra lệnh cho dàn MC xuất quân. Thế là hai cô MC duyên dáng bước lên… sân khấu. MC “Triệu đô” Thanh Loan và vị đàn chị MC Hạnh Thảo được Thanh Loan nâng tầm lên thành MC “Triệu mốt đô”! Hai cô nàng khởi động ngay chương trình xổ số bằng cách phát cho mỗi người một chiếc phong bì của anh Hải chứa những đồng đô la may mắn, bên ngoài dán thêm 1 vé Lô Tô. Hai MC bắt đầu xóc xóc, hô hô…
Cảm động nhất là TS Nguyễn Hồng Dũng. Anh đang có khóa tu học bên Ấn Độ xa xôi, nhưng nghe tin hai người bạn Phạm Phan Lang và Yên Sơn hội ngộ là vội vàng bay về tham dự. Tiếp đó, ca sĩ Hoàng Kim, MC Thanh Loan, rồi đến anh Hồng Dũng lần lượt bước lên “hò lô tô”. Những bài hô loto vừa giòn giã, vừa tếu hài, nhưng đến đoạn kết lại “bẻ lái” sang những con số… trớt quớt không ăn nhậu gì tới câu hò, khiến cả nhà lại được một trận cười ha hả ngả nghiêng! Người may mắn trúng số thì hét lên ầm ĩ, vỗ tay ăn mừng; kẻ không trúng như tôi thì… tiếc, đứng nhìn thiên hạ ôm quà chụp hình mà cười như…mếu! Còn giải Độc Đắc là một món quà “siêu vĩ đại”, dù chẳng ai biết bên trong giấu cái gì nhưng vẫn vui mừng giùm vỗ tay như hội!
“Chàng người dưng khác họ” của tác giả trúng Lô Tô
Trong khi mọi người còn đang say sưa thưởng thức “ma trận” món ăn tuyệt hảo, và xong hết màn xổ lô tô, thì chàng cựu Không Quân Lê Văn Hải lại tiếp tục ra chiêu độc! Hóa ra trong mỗi chiếc phong bì vàng lúc nãy ngoài những đồng dollards may mắn còn có giấu sẵn 3 lá bài cào. Anh Hải yêu cầu mọi người mở ra, nặn bài, xòe bài từ từ để “săn” giải thưởng. Chiêu bài cào này của anh Hải đúng là độc quyền, lần nào chơi cũng biến tấu đa mưu túc trí, chẳng món nào… đụng hàng với chuyến du thuyền hồi tháng 3!
Đầu tiên, anh thông báo ai… cào ra 3 con Ếch (con Ách) thì lên ẵm giải Độc Đắc.
Cả hội hồi hộp nặn đến mướt mồ hôi, nhưng nhìn quanh nhìn quất… chẳng thấy bóng dáng con Ếch nào! MC đành đổi thể lệ: “Ai có 3 con Tây (J, Q, K) đứng lên giật giải bự!”. Ối giời ơi, tìm mỏi mắt cả hội trường cũng chẳng ai kiếm nổi 3 con Tây làm thuốc! Đến nước này, MC đành ngậm ngùi… hạ giá, “Thôi giờ ai có 3 con bất kỳ lên lãnh quà!” Vậy mà cũng… bặt âm vô tín! Cuối cùng, trận chiến bài cào đành vỡ trận theo kiểu truyền thống, ai 9 nút lên nhận quà lớn, rồi tới 8 nút, 7 nút, 6 nút… Cả nhà được dịp cười nghiêng ngả! Riêng tác giả bài viết này nhìn xuống 3 lá bài của mình mà muốn… khóc tiếng Campuchia, vì dính ngay con số buồn-muôn-thuở: 10 nút (0 nút)! Là số “bù lu!” Hu hu, đúng là “đời không như là mơ”! Nhưng vui một cái là với “thần đèn” Lê Văn Hải thì chẳng ai phải về tay không, không thắng giải lớn thì cũng có bình hoa, quyển sách, hộp trà, hay phong bì lì xì, mang về làm kỷ niệm.
*
*
Sau đó, “khách xịn” Phạm Phan Lang cũng lên phát biểu những lời cảm tưởng vô cùng xúc động, bày tỏ lòng biết ơn đến anh Lê Văn Hải và Ban Tổ Chức VTLV vì đã luôn yêu quý các văn thi sĩ xa quê, tận tụy giữ gìn nét đẹp văn hóa của ông cha. Lời chia sẻ chân thành ấy khiến ai nấy đều ấm lòng và hãnh diện vô cùng. Lần này vì mang thân phận là “khách VIP”, nên nhiếp ảnh gia Phan Lang từ bỏ… quyền nhiếp ảnh, mà giao phó cho Trưởng Ban Biên Tập VTLV Thái Phạm ra tay. Nhìn thấy thầy Thái lần đầu tiên vác cái máy bự sư của Phan Lang, chạy đôn chạy đáo chụp hình, mà tôi thầm mong cho khi Phan Lang mở máy ra thì nhìn thấy hình đẹp, chứ không phải chỉ có…mây vàng thung lũng! Vì lần này có văn thi sĩ Lê Tuấn “chuyên gia video và hình ảnh” quay phim, nên tôi chỉ đi vòng vòng chụp hình cho bài tường thuật.
Đang vui rộn rã thì chủ tịch Cung Thị Lan xin phép về trước để kịp lo cho Đại hội, vì cô ở trong Ban Tổ Chức. Tôi “báo cáo” anh Hải lén chuồn vài chục phút để chở CT Cung Lan về rồi quay lại “trận địa”.
Vừa bước trở vào cửa nhà chị Mỹ Thanh là trời ơi… màn Karaoke trong phòng thu âm nhà chị Mỹ Thanh đã nổ tung tự khi nào, rất là ầm ỹ! Nhạc trổi vang lừng, tiếng hát rộn rã, người ngồi nhịp chân, người đứng thì nhún nhảy, người đang ăn thì gõ bàn gõ ly nhịp nhàng… vui không thể nào chịu nổi! Dù chẳng phải ca sĩ ca siếc chi cả, nhưng thấy “khí thế bừng bừng” quá, tôi cũng “săn tay áo” xông lên tình nguyện “hét” bài Bèo Dạt Mây Trôi.
Phải công nhận “dàn ca sĩ” ngày hôm nay quá tuyệt vời! Từ những giọng ca thực lực như ca sĩ Văn Khoa, Hồng Dũng… thì Trưởng Ban Nghi Lễ Hoàng Thưởng, phu quân của Trưởng Ban văn Nghệ Thúy Nga hát cũng quá là “chuyên nghiệp”, diễn rất truyền cảm từ điệu bộ đến phong thái… tất cả đều nhận được những tràng vỗ tay vang dội! Cho dù có bỏ sót những tiết mục lúc tôi đi vắng, thì quý vị cứ tưởng tượng một chương trình “Paris By Night” bung hết cỡ ngay tại phòng thu âm nhà chị Mỹ Thanh là sẽ thấy độc đáo đến mức nào rồi.
Đang hát hò hăng say thì mọi người đành phải ngậm ngùi “hãm phanh” dừng lại, vì còn đi dự chương trình gây quỹ của Hội Bạn Người Cùi, giúp bệnh nhân phong cùi tội nghiệp tại quê nhà. Nghe việc làm đầy ý nghĩa, nên hôm ấy ai đi được thì đi, ai bận cũng gửi chút quà tình nghĩa nhờ bạn bè chuyển.
Nhưng bạn ạ, cái màn “oanh liệt” nhất, thực tế nhất, và hấp dẫn nhất, của buổi họp mặt chính là màn…TO-GO! Thử tưởng tượng xem, gần ba chục khay thức ăn ngập tràn, mà mỗi người chỉ có… đúng một cái bụng, làm sao tiêu thụ cho hết cái “ma trận ẩm thực khổng lồ” ấy! Thế là MC Hạnh Thảo tức tốc săn tay áo lên, chị Mỹ Thanh bê ra hàng loạt thùng Ziploc, khay, hộp nhựa đủ kích cỡ. Mọi người xúm lại phân chia “chiến lợi phẩm” rộn ràng, ai thích gì chọn nấy, vui như đi chọn hàng chợ Tết! Nào là vịt quay, gà hấp, chả giò, mì xào nấm, xôi lá cẩm, rồi đến bánh kem, bánh bò xịn… tất cả đều được đóng gói cẩn thận. Mọi người ra về ai nấy nách mang tay xách, lớp thì quà tặng từ “chiếc xe van huyền thoại” của anh Hải, lớp thì vòng hoa tươi thắm, lớp thì những hộp đồ ăn To-go đầy ắp. Nhìn cảnh tượng ấy vừa tếu hài, vừa rộn rã, lại vừa trào dâng một niềm cảm động sâu sắc cho tình thân ấm áp của đại gia đình Văn Thơ Lạc Việt.
Đúng là, gặp nhau vì chữ nghĩa, ở lại với nhau vì tình thân! Một ngày hội ngộ quá trọn vẹn, trọn cả niềm vui, trọn cả nghĩa tình và trọn luôn cả… những hộp đồ ăn mang về!
Sau cùng, xin cảm ơn những vị khách quý, Phạm Phan Lang, Yên Sơn, và CT Cung Thị Lan, đã không quản đường xa tìm về Thung Lũng Hoa Vàng, cùng với các anh chị … đường gần, Hoàng Hy, Dương Vũ, và Dư Thị Diễm Buồn. Sự hiện diện của quý vị chính là cơ hội quý báu để đại gia đình Văn Thơ Lạc Việt được tiếp đón. Đó là niềm hãnh diện, là sợi dây kết nối giữa những người con ly hương yêu chữ nghĩa, quyết tâm bảo tồn văn hóa và ngôn ngữ ông cha giữa lòng đất Mỹ tự do.
Xin dành tràng vỗ tay thương mến nhất cho “thủ trưởng” VTLV, chàng cựu Không Quân Lê Văn Hải của chúng tôi! Anh là người mang một trái tim tràn ngập tình yêu thương và sự tử tế. Dù là ai, ở vị trí nào, khi đến với anh cũng đều nhận được sự đối xử bình đẳng, chân thành như tình yêu thương bao la của Chúa. Nhờ có anh dẫn dắt, những người đồng hành cùng anh như chúng tôi mới học hỏi được tấm lòng vị tha, thương người vô bờ bến, để sống trọn vẹn với tâm từ bi của Phật, lòng bác ái của Chúa, và tình thương nhân loại của các vị thánh nhân.
Cũng xin chân thành cảm ơn tất cả quý văn thi sĩ trong Văn Thơ Lạc Việt cùng quý thân hữu đã luôn đồng hành và chung tay xới đất gieo mầm cho vườn hoa văn học tại Thung Lũng Hoa Vàng này, để rồi từ đây lan tỏa sức sống mạnh mẽ đến khắp các diễn đàn trên toàn nước Mỹ và khắp năm châu.
Và chính sự đồng lòng của tất cả chúng ta mới tạo nên một ngày hội ngộ “kiểu Mỹ” thật rực rỡ và thành công rực lửa như hôm nay!
Xin cảm ơn nước Mỹ vô vàn.
Phương Hoa
=
Screenshot
ĐỖ DUNG: TRUYỆN NGẮN – CẦM BẰNG THEO GIÓ
CẦM BẰNG THEO GIÓ – Đỗ Dung
Hảo dậy sớm hơn mọi ngày. Nàng thấy nóng ruột, dạ bồn chồn. Hôm nay có kết quả kỳ thi ra trường. Hoặc là nàng tốt nghiệp thành Dược sĩ, hoặc lại phải ở lại tụng bài, chờ khóa thi sau.
Mặc dù biết bài làm của mình cũng khá, phần thi vấn đáp cũng trả lời suôn sẻ, nhưng sao tim nàng vẫn hồi hộp, lo âu…
Sau khi chắc chắn nhìn thấy tên và số báo danh của mình trên bảng vàng, Hảo chuyện trò, chia vui với những người bạn vừa tốt nghiệp cùng khóa. Nàng khoan khoái cho chiếc Honda chạy từ từ trên con đường Cường Để ngập nắng, rồi hướng về Đinh Tiên Hoàng để về nhà báo tin vui.
Mặt ngẩng cao, hít đầy bầu không khí trong lành vào lồng ngực, lòng nàng lâng lâng sung sướng.
Một tiếng nói mơ hồ, nhẹ như gió thoảng bên tai:
— Hảo… Bích Hảo!
Hảo xoay người ngoái nhìn về phía sau. Một chiếc Honda nhẹ lướt lên ngang xe nàng. Một giọng nói trầm ấm cất lên:
— Xin lỗi… Phải Bích Hảo, con cô giáo Khanh không?
Hảo cho xe ghé sát lề đường gần trường Nông Lâm Súc. Nàng nhìn sững người thanh niên trước mặt.
— Huân! Phải Huân, con bác giáo Ngọc không? Trời ơi! Lâu lắm chúng mình không gặp nhau! Huân có thay đổi nhưng Hảo nhận ra ngay. Đi đâu đây?
— Huân vừa ghé thăm một thằng bạn ở Văn Khoa ra, nhìn thấy xe Hảo chạy ngang nên vội phóng theo liền. Đúng là lâu quá rồi, vậy mà mình cũng nhận ra Hảo ngay. Chúng mình ghé vào quán cà phê gần đây nói chuyện đi.
Hai người bước vào một quán cà phê nhỏ trên đường Đinh Tiên Hoàng, cùng nhau nhắc lại chuyện ngày xưa.
Ngày ấy, hai gia đình còn ở Hà Nội. Hai bà giáo còn rất trẻ, cùng dạy chung trường, cùng chia sẻ với nhau những vui buồn của nghề giáo. Dần dần, hai bà trở thành đôi bạn thân, chuyện trường lớp, chuyện gia đình, chuyện chồng con, chuyện vui buồn trong cuộc sống… chuyện gì cũng kể cho nhau nghe.
Hai gia đình cũng trở nên thân thiết theo. Con cái hai nhà lớn lên cùng nhau. Khi ấy, mỗi nhà mới có ba đứa trẻ, hằng ngày ríu rít chạy sang nhà nhau, sinh hoạt vui vẻ như anh chị em trong cùng một nhà. Cứ thế, một mối dây thân tình được tạo nên, tưởng rằng sẽ không bao giờ bị chia cắt.
Trong đám trẻ ấy có Huân, con trưởng của bà giáo Ngọc, và cô con gái lớn của bà giáo Khanh là Bích Hảo. Huân còn có một mối liên hệ đặc biệt nữa: Chàng là học trò cưng của bà giáo Khanh.
Rồi năm 1954 đến.
Đất nước chia đôi. Một dòng người di cư từ Bắc vào Nam. Hai gia đình cũng theo dòng người ấy vào Sài Gòn.
Từ đó, cuộc sống không còn giống trước. Hai bà giáo không còn cùng chung nhiệm sở. Hai gia đình cũng không còn ở gần nhau. Mỗi người có một công việc, một cuộc sống, một mái nhà riêng. Cha của Huân là một sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Cha của Bích Hảo làm nghề thầu, chuyên cung cấp đồ trang trí nội thất, bàn ghế, giường tủ.
Những mối liên lạc ngày trước dần thưa đi, rồi có lúc tưởng như đã mất hẳn.
Hai đứa trẻ ngày nào nay cũng đã lớn. Huân bước vào đời quân ngũ. Hảo theo học ngành Dược.
Cuộc sống cứ thế cuốn mỗi người đi một hướng. Không ai biết người kia đang ở đâu, và cũng chẳng ai chờ đợi một cuộc gặp lại. Có lẽ nếu cuộc đời cứ bình lặng như thế, Huân và Hảo chỉ còn là hai cái tên trong một miền ký ức xa xôi của tuổi nhỏ.
Vậy mà hôm nay, tự nhiên Hảo cảm thấy bồn chồn, nao nao khác lạ. Cuộc gặp gỡ thật tình cờ. Không có sự sắp đặt, không chuẩn bị, mà bây giờ Hảo đang ngồi đây, trong một quán cà phê nhỏ, đối diện với Huân, người con trai trưởng của bà giáo Ngọc.
Như có một định mệnh nào đó an bài, từ những đứa trẻ xa nhau khi chỉ mới lên chín, lên mười, nay đã trở thành hai người trưởng thành thế mà chỉ vừa thoáng nhìn đã nhận ra nhau ngay.
Cả hai đang ngồi trầm ngâm nhớ về những ngày thơ ấu, Hảo chợt hỏi:
— Bây giờ Huân có thêm mấy người em nữa?
— Năm! Tổng cộng Huân có tám anh chị em, bốn trai, bốn gái. Còn gia đình Hảo?
— Cũng không thua kém. Hảo có tám chị em gái, chỉ có một đứa em trai. Vậy là chín đứa, hơn nhà Huân rồi nhé!
Cả hai cùng cười, nghĩ bụng: Hèn gì các cụ bận rộn, không có thì giờ nghĩ đến bạn xưa.
Huân chợt nói:
— Hảo cho Huân về nhà thăm mẹ Hảo xem cô còn nhận ra mình không nhé!
Về đến nhà, bà Khanh cũng vừa mới đi làm về, còn đang ngồi nghỉ trong phòng khách.
Hảo chạy ngay đến gần, ghé vào tai mẹ nói nhỏ, báo tin vui:
— Mẹ! Con của mẹ đã là Dược sĩ. Con thi đậu rồi!
Rồi nàng cười:
— Con mới gặp lại một người. Xem mẹ có nhớ không nhé!
Đúng lúc đó, Huân bước vào, kính cẩn cúi đầu:
— Con chào cô ạ!
Bà Khanh ngước mắt nhìn lên:
— Chào cậu!
— Thưa cô, mẹ con là cô giáo Ngọc!
Tiếng Hảo vang lên:
— Mẹ có nhớ ai đây không?
— Ôi Trời! Huân, học trò giỏi của cô đây mà! Lớn quá rồi. Nhưng có nói cô mới nhận ra, chứ nếu gặp ngoài đường thì chưa chắc cô đã nhận ra được đâu. Ngồi chơi đi con!
Rồi bà giáo Khanh tíu tít hỏi thăm Huân những chuyện về gia đình xưa nay.
Từ sau lần gặp lại đó, hai bên bắt đầu qua lại. Những thân thiết giữa hai nhà được nhắc đến, và từ cái tình thân cũ, một tình cảm mới dần dần nảy nở. Hai bầy con có dịp quen biết nhau và càng ngày càng thân hơn. Thỉnh thoảng, ông bố của Hảo lại lấy chiếc xe van lớn của hãng, chở cả đám trẻ đi ăn, đi chơi…
Tình cảm của Huân và Hảo ngày càng thắm đượm, lại được cả hai gia đình ủng hộ. Ngày nghỉ là Huân đã có mặt ở nhà Hảo.
Và kết quả là sang năm 1973, một đám cưới tốt đẹp của Huân và Hảo đã diễn ra.
Đám cưới giản dị nhưng ấm cúng, lịch sự và trang trọng.
Hai bà giáo không thể ngờ rằng hai đứa trẻ ngày nào còn chạy qua chạy lại giữa hai nhà, nay đã trở thành một đôi vợ chồng. Một mối duyên tưởng như thời gian đã cất đi, vậy mà sau gần hai chục năm lại tìm đường quay trở lại.
Bích Hảo bước vào cuộc hôn nhân của mình với những ước vọng thật bình thường và hồn nhiên của một thiếu nữ trẻ. Sau đám cưới, nàng có một người chồng yêu thương, có một gia đình hạnh phúc riêng. Một tương lai phơi phới đang đợi chờ…
Nhưng thực tế, Hảo phải về ở chung với gia đình nhà chồng. Mặc dù cả hai vợ chồng đều đã có công việc làm chắc chắn với đồng lương ổn định. Hằng ngày, nàng vẫn phải dậy sớm sửa soạn đi làm tại hãng bào chế Biofarmo gần hồ Con Rùa. Khi về nhà, dù mệt nhoài, nàng vẫn phải chu toàn nhiệm vụ của người con dâu trưởng. Ở chung với gia đình đông người, trong một căn nhà nhỏ càng lúc càng khó khăn, càng có những xung đột tuy nhẹ nhàng nhưng khó hàn gắn.
Người thương nàng nhất có lẽ vẫn là ông bố.
Ông hiểu con gái mình. Ông cũng hiểu những điều khó giải quyết trong một gia đình, nhất là chuyện mẹ chồng nàng dâu. Có những điều càng nói ra càng thấy khó. Hai bà mẹ vốn là bạn thân từ thuở còn trẻ, vậy mà khi con cái thành vợ thành chồng, tình bạn giữa hai người cũng không đủ để ngăn những va chạm xảy ra giữa mẹ chồng với nàng dâu.
Ông không muốn con gái phải chịu cảnh ấy lâu dài.
Thương con là một chuyện, còn giữ thể diện cho con rể và gia đình bên chồng lại là một chuyện khác. Ông vốn làm nghề thầu, chuyên cung cấp đồ gỗ và trang trí nội thất. Thế là ông âm thầm lo cho con một căn nhà ở cư xá Thanh Đa.
Một căn nhà nhỏ nhưng thật đẹp. Một căn nhà được ông sửa sang tươm tất bằng tất cả tấm lòng thương con của người cha. Từng món đồ trang trí được ông nắn nót, chăm chút. Những thứ cần thiết cho một gia đình trẻ được ông sắp xếp đâu vào đó. Ông muốn khi dọn ra ở riêng, con gái ông có một nơi ấm áp để trở về; Huân có một nơi để xây dựng cuộc sống hạnh phúc của một gia đình nhỏ.
Ai có hỏi, ông không nói đó là căn nhà ông mua cho con gái, mà khéo léo nói đó là nhà của chính hai vợ chồng con tự mua. Người trong nhà hiểu. Ông hiểu. Con gái ông hiểu. Và có lẽ Huân cũng hiểu. Nhưng chẳng ai cần nói ra. Đó là cái tế nhị của người cha. Thương con đến đâu cũng giữ cho con một chút tự trọng; thương con rể cũng không muốn làm con rể mất mặt, ngại ngùng.
Căn nhà đã xong.
Có lẽ lúc ấy Hảo đã nghĩ đến cuộc sống mới. Không còn những va chạm trong căn nhà đông người. Buổi sáng đi làm, chiều về nhà mình. Có chồng bên cạnh trong căn nhà xinh xắn. Buổi tối, dưới ánh đèn vàng ấm áp tỏa ra từ cây đèn góc nhà, hai vợ chồng có thể thoải mái, vui vẻ bên nhau ngồi xem TV hoặc thả hồn theo tiếng nhạc.
Hai vợ chồng còn trẻ. Huân đang là sĩ quan Hải quân và được gửi đi học tại trường Phú Thọ. Chàng cũng đã hoàn tất chương trình để lấy bằng kỹ sư điện.
Cuộc đời tưởng như đã đi đúng đường. Cứ thế cuộc sống sẽ êm ả trôi.
Hai vợ chồng đã dọn vào căn nhà mới, rộn ràng sửa soạn ngày mời gia đình hai bên cùng bạn bè thân hữu đến ăn tân gia.
Nhưng bữa ăn tân gia ấy không bao giờ có.
Bởi lịch sử đã không cho họ kịp vui hưởng căn nhà mà ông bố đã lo lắng thu xếp.
Tháng Tư năm 1975 ập đến.
MẤT NƯỚC!
Chỉ một biến cố tang thương mà bao nhiêu dự định của biết bao gia đình tan theo.
Căn nhà Thanh Đa vẫn còn đó, đẹp đẽ, đầy đủ, nhưng thiếu một điều quan trọng nhất:
Một cuộc sống hạnh phúc bình thường mà Hảo từng ao ước.
Cha của Huân là sĩ quan, đáng lẽ phải đi học tập nhưng ông không đi trình diện.
Huân thì phải đi. Chàng phải vào nơi tập trung cải tạo, để Hảo ở lại. Tổ ấm hai vợ chồng bây giờ trở thành ngôi nhà chỉ còn có người vợ trẻ cô đơn chờ chồng.
Hằng ngày nàng vẫn đi làm ở viện bào chế cũ, nay đã đổi tên thành Xí nghiệp Dược phẩm 25. Chiều về lạnh lẽo, cô đơn, ngồi một mình lặng lẽ trong căn nhà nhỏ nhớ chồng. Mong ngóng đến ngày được giấy thăm nuôi để sửa soạn mua sắm và nấu nướng. Bao nhiêu lần ngóng tin. Bao nhiêu đêm nằm trằn trọc một mình trong căn nhà vắng, không biết ngày mai sẽ ra sao.
Những lần có giấy phép chính thức, Hảo cùng mẹ chồng lên trại tập trung học tập ở Trảng Táo, Tây Ninh. Hai mẹ con vất vả tàu xe, khuân mấy bao đồ nặng trĩu. Gặp Huân được mấy tiếng, đau xót nhìn nhau rồi nghẹn ngào, lủi thủi ra về.
Ngoài những lần chính thức, Hảo cũng liều lĩnh theo mấy người vợ có giấy phép, coi như người nhà đi theo để đi thăm lén. May có lần được gặp chồng. Khi Huân không tìm cách ra được, nàng đành lặng lẽ quay về.
Rồi một ngày, khi nghe tiếng chuông cửa. Chàng đã trở về.
Vợ chồng mừng tủi ôm nhau, tưởng như trong mơ!
Những ngày sau đó quấn quýt, âu yếm, chăm sóc nhau cho bõ bao năm dài xa cách. Hảo tưởng rằng sau ba năm chờ đợi, cuối cùng hai vợ chồng cũng có thể bắt đầu lại.
Nhưng cuộc sống lứa đôi êm đềm không được bao lâu.
Họ vừa bước ra khỏi một cánh cửa thì trước mặt lại mở ra một cánh cửa khác.
Lần này là một cánh cửa dẫn đến con đường mà thời ấy rất nhiều người Việt Nam phải chọn:
Vượt biên. Ra đi.
Hai vợ chồng chưa kịp sống một cuộc đời bình thường đã phải tính chuyện rời khỏi quê hương. Hảo và Huân cứ như những chiếc lá trong cơn dông, cuốn theo chiều gió lốc.
Cha của Huân phải trốn tránh vì không đi học tập, thỉnh thoảng cũng đến tá túc tại nhà của con. Cuộc sống thật nặng nề, ngột ngạt, nơm nớp lo âu. Tương lai không biết sẽ ra sao.
Mọi người phải tìm đường để ra đi, mà mỗi lần ra đi là một lần đánh cược với sinh mạng.
Rồi một tin buồn như sét đánh ngang tai.
Ông bố của Huân và hai đứa em cùng bước lên một con tàu. Sau đó không ai có tin tức gì về chuyến đi mang mấy chục con người ấy. Con tàu đã vĩnh viễn biến mất giữa biển khơi.
Nhưng biến cố đã không dừng lại ở đó.
Người cha đã từng thương con gái, âm thầm mua cho vợ chồng con căn nhà đẹp ở cư xá Thanh Đa, chưa được vui với cuộc sống mới của con thì con rể phải đi tù. Con rể mới được thả về thì bây giờ chính ông cũng bị cuốn vào vòng lốc xoáy.
Ông làm nghề thầu, cung cấp đồ gỗ và đồ trang trí nội thất. Với chính quyền mới, ông bị xếp vào thành phần tư sản. Một ngày người ta đến nhà bắt ông đi, giam ông ở Xuyên Mộc, Đồng Nai. Họ không chỉ bắt người mà xưởng gỗ và những của cải trong nhà cũng bị tịch thu.
Căn nhà từng đầy đủ, từng là nơi ông bỏ bao công sức để dựng nên một cuộc sống tử tế cho gia đình, dần dần cũng trở nên trống trải. Nhưng mất mát lớn nhất của ông là cảm giác bất lực của một người cha. Ông từng nghĩ mình có thể che chở cho vợ con, có thể lo cho con một mái nhà, có thể nhìn con cái trưởng thành, dựng vợ gả chồng. Vậy mà chỉ trong một thời gian ngắn, tất cả những gì ông từng gây dựng đã bị lấy đi.
Ông vào trại cải tạo trong nỗi uất ức không bút mực nào tả xiết.
Hai gia đình vốn từng có một mối giao tình đẹp từ thuở còn trẻ, giờ đây lại gặp nhau trong một hoàn cảnh không ai có thể tưởng tượng nổi. Một người mẹ vừa mất chồng và hai đứa con ngoài biển. Một người mẹ thì chồng phải đi tù và mất hết tài sản. Vậy mà cả hai bà mẹ ấy vẫn phải dành dụm, lo lắng cho những đứa con tìm đường vượt biên.
Ba người em của Huân được mẹ lo cho đi ba nơi khác nhau cũng may mắn thoát được, tấp vào mấy đảo nhỏ, nhưng từ từ cũng gặp nhau tại đảo Galang, Nam Dương. Tiền bạc gia đình đã cạn kiệt nên hai cô con gái còn lại đành ở nhà với mẹ, đợi ngày ông ngoại bên Pháp bảo lãnh
Và rồi, sau bao lần tính toán, bao nhiêu lần thất bại, vợ chồng Hảo cũng vẫn tìm cách ra đi. Có chuyến đi rồi lại trở về. Có chuyến bị lừa nên mất tiền nhưng may không bị bắt. Cuối cùng tiền bạc cạn dần. Hảo đành để Huân đi một mình. Và chuyến đi ấy thành công.
Tàu Huân được vớt, đưa vào đảo Pulau Bidong ở Mã Lai.
Huân ở đảo chờ ngày đi định cư.
Hảo ở lại.
Nàng bán căn nhà Thanh Đa, về sống với mẹ và các em. Nàng vẫn tin rằng rồi sẽ có ngày hai vợ chồng được đoàn tụ. Dù chồng ở một nơi rất xa, nhưng nàng vẫn cương quyết đợi chờ.
Hằng ngày nàng vẫn đến sở làm, bận rộn với công việc và có bạn bè gần bên nên cũng khuây khỏa. Nhưng khi trở về, nằm trên chiếc giường cũ của một thời con gái, nàng không khỏi xót xa cho phận mình.
Nhà Hảo có một bầy con gái. Ba người em liền sau Hảo đã đi du học từ trước năm 1975. Cậu con trai được gửi theo một gia đình quen từ ngay Tháng Tư năm mất nước. Mấy cô con gái nhỏ đành ở nhà với mẹ và chị để chờ bố và chờ mấy chị bên Mỹ gửi giấy về bảo lãnh.
Sự chờ đợi kéo dài không biết đến bao lâu. Nhưng Hảo vẫn chờ. Chờ người chồng đầu gối tay ấp, người mà nàng đã thương yêu, đã cùng nàng đi qua những bước thăng trầm, những nỗi khó khăn của cuộc đời.
Thư từ qua lại hàng tuần, rồi hàng tháng.
Nàng vẫn yên chí đợi chờ.
Một năm.
Hai năm.
Rồi ba năm.
Nàng vẫn vững lòng chờ đợi.
Nhưng ngày 1 tháng 3 năm 1983, tin ông bố vì tuổi già sức yếu và vì quá uất ức đã chết trong tù khiến cả nhà sững sờ, đau xót.
Cùng thời gian ấy, nàng nhận được một lá thư từ Mỹ gửi về. Không phải tờ giấy mà nàng chờ đợi. Mà là tờ giấy ly hôn.
Không có đoàn tụ. Không có ngày lên đường. Không có căn nhà mới ở một đất nước khác mà nàng hằng mong đợi.
Tờ giấy trả lại nàng hai chữ: TỰ DO.
Hơn ba năm đợi chờ là một khoảng thời gian rất dài đối với một người vợ trẻ trong một xã hội mới đầy đổi thay. Hảo không hiểu nổi tại sao Huân lại lạnh lùng viết thư nói rằng chàng trả lại nàng hai chữ “Tự Do”.
Mẹ nàng thật giận.
Các em và bạn bè của Hảo thì tức.
Tức đến mức không hiểu nổi tại sao, trong khi một người vợ mỏi mòn chờ đợi chồng mấy năm, đã cùng chồng chống chọi qua những ngày học tập, trải qua những năm tháng lo vượt biên, những ngày đói khổ và sợ hãi… Cuối cùng lại nhận được từ người chồng một tấm giấy ly hôn.
Hai điều đau khổ đã đến với Hảo thật tàn nhẫn. Vừa có tin buồn mất cha chưa lâu, nàng lại nhận được giấy ly hôn từ chồng. Người Hảo như tê đi, không còn cảm giác.
Nhưng điều lạ lùng nhất là Hảo không nổi giận với Huân mà vẫn đem lý lẽ ra để bênh vực. Nàng cho rằng do thời cuộc nên con người dễ đổi thay. Có lẽ sống xa nhà, một mình nơi đất khách, trải qua những năm tháng đầy biến động, con người ta dễ yếu lòng.
Hảo nói một câu nghe vừa buồn vừa thương:
“Ông ấy có phải là Bụt đâu.”
Bạn bè nghe xong chắc muốn… nổi quạu thay cho nàng!
Một người chịu không nổi, bật lại:
“Thế mày là Bụt à?”
Cả đám bạn vừa tức vừa thương. Tức vì Hảo hiền quá. Thương vì Hảo vẫn còn tìm một lý do để bảo vệ người đã làm mình đau.
Có lẽ lúc ấy Hảo cũng biết. Biết rằng Huân đã thay đổi. Biết rằng ở bên kia, chàng đã có một cuộc sống khác. Nhưng lòng người đâu phải cái công tắc, muốn tắt là tắt được.
Gần bốn năm chờ đợi đâu phải chỉ nói một câu “ly hôn” là có thể xóa sạch. Và một cuộc hôn nhân bắt đầu từ một tình yêu có gốc rễ tận những ngày thơ ấu càng không dễ dàng biến thành một mối quan hệ xa lạ chỉ vì một tờ giấy.
Hảo vẫn hy vọng. Không phải hy vọng Huân sẽ quay lại ngay. Mà có lẽ nàng chỉ mong một điều rất nhỏ: Nếu một ngày nào đó Huân nhận ra mình đã sai, nếu chàng quay về xin lỗi, nàng vẫn có thể tha thứ. Bởi Hảo chưa bao giờ nghĩ mình là người hoàn hảo. Và nàng cũng chẳng bắt Huân phải là một vị thánh. Nàng chỉ nghĩ: Con người ta có thể sai. Nếu biết sai thì vẫn còn có thể tha thứ.
Cũng có thể hai điều đau khổ quá lớn cùng lúc đến với Hảo. Thương xót cha nhiều hơn nên nỗi đau về sự phụ bạc của chồng cũng vì thế mà nhẹ bớt.
Các em của Hảo lúc ấy đã ở Mỹ. Một người trong gia đình tìm hiểu và biết rằng Huân đang sống chung với một người phụ nữ khác. Người phụ nữ ấy muốn được chính thức kết hôn với Huân, và điều kiện để chuyện đó có thể xảy ra là Huân phải chấm dứt cuộc hôn nhân với Hảo. Vậy là mọi chuyện trở nên rõ ràng. Không còn là chuyện thời cuộc. Không còn là chuyện xa cách. Cũng không còn là một cuộc hôn nhân bị hoàn cảnh đẩy đưa đến chỗ lạnh nhạt.
Đó là một sự lựa chọn. Huân đã lựa chọn.
Hảo đau. Đau đến tê điếng.
Nhưng điều đáng nói là nàng không làm ầm lên, cũng không chạy đi tìm chồng để níu kéo.
Bạn bè biết Hảo đau. Nhưng Hảo lại cứ tìm cách nói đỡ cho người làm mình đau. Có lẽ vì Hảo hiểu con người vốn yếu đuối. Có lẽ vì nàng không muốn biến một mối tình đã từng đẹp thành một cuộc chiến của oán hận. Và cũng có lẽ, sâu trong lòng, nàng vẫn còn thương. Nhưng thương không có nghĩa là phải níu kéo. Hảo không van xin. Nàng chấp nhận.
Không phải vì nàng không đau, mà vì nàng hiểu một điều rất rõ:
Khi người ta đã muốn đi, giữ lại cũng chẳng còn là tình yêu.
Hảo ký giấy. Cuộc hôn nhân bắt đầu từ cuối năm 1973 chính thức kết thúc sau những năm tháng mà cả hai đã cùng trải qua quá nhiều biến cố.
Năm 1982, bà giáo Ngọc cùng hai cô con gái sang Pháp theo sự bảo lãnh của ông ngoại Huân.
Mãi đến tháng Năm năm 1991, chị em Hảo cùng mẹ mới đặt chân sang Mỹ.
Đến phi trường San Francisco, Hảo nhìn quanh, trong lòng vẫn có một niềm hy vọng mong manh: biết đâu Huân sẽ ra đón. Nhưng không. Chỉ có mấy cô em gái của Hảo và vài người bạn thân của mẹ nàng.
Vân, em của Hảo, cho biết người đàn bà đã sống với Huân, đã bắt Huân phải ly dị vợ, cuối cùng cũng không ở với Huân. Bây giờ Huân đang sống chung với mẹ và mấy người em.
Vậy là Huân đã không trở về. Có thể vì ăn năn. Có thể vì tự ái hay quá mắc cỡ vì hành động bội bạc của mình.
Nhưng có một điều Hảo đã hiểu. Hiểu rằng tình yêu của Huân với nàng không đủ đầy, không đủ mạnh. Hoặc có thể vì Hảo mới sang, tay trắng, nên Huân ngại phải cưu mang.
Dù vì lý do gì đi nữa, Hảo cũng thấy nhẹ lòng.
Nàng phải mạnh mẽ và quên đi những chuyện ưu phiền. Và nếu cuộc đời đã lấy đi của nàng nhiều thứ, thì nàng phải quyết định giữ lấy một thứ: Tương lai của mình. Phải đứng trên đôi chân của mình.
Chỉ bốn tháng sau, Hảo đã xin được việc làm teacher aide tại một trường học gần nhà.
Nàng chấm dứt khoản trợ cấp mà chính phủ thường cấp cho người mới nhập cư, 300 đô-la một tháng trong tám tháng. Nàng quyết tâm học lại.
Ở thời điểm ấy, các giáo sư của Đại học Dược Sài Gòn cũ đang tranh đấu, nên những dược sĩ Việt Nam có cơ hội được thi lấy bằng tương đương.
Hảo liên lạc với các bạn sang trước, rồi ghi tên học lớp hàm thụ để thi bằng tương đương Dược sĩ trên toàn nước Mỹ.
Liên lạc lại với những người bạn cũ, mỗi đứa mỗi hoàn cảnh nhưng vẫn có dịp gặp nhau để an ủi, chia sẻ. Cuộc sống tuy vất vả nhưng Hảo thấy vui vẻ và yêu đời hẳn lên.
Bốn năm.
Bốn năm miệt mài học hành, vừa học vừa đi làm tại các dược phòng. Bốn năm ấy không có chồng bên cạnh. Không có ai hứa hẹn tương lai. Không có một mái gia đình mới để trông chờ.
Hảo tự nhủ:
“Đời mình còn dài. Không thể cứ ngồi đó mà chờ một người đã chọn rời bỏ mình.”
Rồi ngày tốt nghiệp cũng đến. Hảo có bằng Dược sĩ.
Và thật may, đó cũng là lúc ngành Dược ở Mỹ đang phát triển mạnh. Những hệ thống siêu thị lớn bắt đầu mở thêm các dược phòng, nhu cầu dược sĩ tăng cao. Hảo có việc làm. Nàng bắt đầu đứng vững bằng chính đôi chân mình. Có lẽ đó là lần đầu tiên sau rất nhiều năm, Bích Hảo không còn là người vợ của ai, không còn là người đàn bà ngồi chờ giấy bảo lãnh của một người chồng ở phương xa.
Nàng chỉ đơn giản là Bích Hảo. Một Dược sĩ. Một người đàn bà tự mình xây dựng lại cuộc đời.
Nhưng đúng lúc Hảo bắt đầu tìm được nhịp sống mới, một hôm người em của Huân lại liên lạc với nàng;
“Chị Hảo về với anh Huân đi!”
Câu nói ấy, nghe thì đơn giản, Hảo nghe mà chẳng biết nên cười hay nên khóc. Hảo đã bước qua bao khó nhọc, bao đớn đau. Người đã gửi cho nàng giấy ly hôn, giờ đây lại được nhắc đến như thể chuyện cũ có thể quay ngược trở lại. Hảo đã bước qua đoạn đời đau khổ đó rồi!
Sau đó, Huân chính thức cưới một người vợ khác và chẳng bao lâu sau, Huân bị ung thư và qua đời vài năm sau đó.
Lần này, giữa họ không còn là một cuộc hôn nhân. Hảo cũng có một thoáng bâng khuâng nhớ lại một đoạn đời đã từng có thật. Một đoạn đời rất dài.Rất đau. Nhưng cuối cùng, Hảo đã mạnh mẽ sống tiếp.
Chuyện vợ chồng coi như đến đó là hết. Không ai biết trong lòng hai người lúc ấy còn gì với nhau, mà có lẽ cũng chẳng cần biết nữa. Có những chuyện của một đời người, đến cuối cùng chỉ còn lại một chữ: Thôi.
Hảo tiếp tục sống.
Các em đều học hành xong, lập gia đình, ra ở riêng. Còn nàng vẫn ở với mẹ, hai mẹ con nương tựa nhau. Hảo cương quyết không lấy chồng nữa. Mẹ còn sống ngày nào thì nàng ở với mẹ ngày đó.
Bạn bè thấy nàng cứ một mình mãi cũng sốt ruột. Hết người này tới người kia tìm cách mai mối.
Một hôm, Hảo buông một câu:
“Tao chỉ thay tã cho mẹ tao thôi…”
Thế là cả đám bạn im luôn.
Sau đó mẹ Hảo mất.
Các em ai cũng có gia đình riêng nhưng vẫn gần gũi với chị. Bạn bè cũng vậy.
Hảo sống một mình nhưng chẳng đến nỗi cô độc. Nàng vui vẻ đi đây đi đó với bạn bè, gần gũi các em, các cháu; chăm chút cho căn nhà và khu vườn của mình.
Cho đến một ngày, Hảo ra vườn tưới cây. Nàng vấp phải cái ống nước nằm dưới đất, té xuống mà không ai hay biết. May sao có người hàng xóm đi ngang nhìn thấy, gọi 911 đưa nàng vào phòng cấp cứu. Hảo bị gãy xương vai, dập xương ống tay. Sau một thời gian nằm nhà thương, nàng được về nhà.
Các em chia nhau luân phiên đến thăm. Có therapist đến nhà tập hằng ngày, lại có cô giúp việc đến mỗi ngày bốn tiếng.
Vậy là cũng ổn.
Nghĩ lại, có lẽ Hảo không phải Bụt thật. Nàng chỉ là một người đàn bà có lòng. Mà người có lòng thì đôi khi chịu thiệt. Hảo đã chịu thiệt nhiều rồi. Nhưng may mắn là nàng không để những chuyện ấy làm mất đi niềm vui sống.
Bây giờ Hảo vẫn ở đó, gần các em, gần bạn bè. Có lúc đau ốm, có lúc té ngã, có lúc cần người giúp, nhưng bên cạnh vẫn có người. Sau một đời long đong như vậy, Hảo còn có người thân để nương tựa, còn có bạn bè để gọi nhau một tiếng, còn có một căn nhà để yên ổn trở về.
Hôm nay trời đã vào Thu, những chiếc lá vàng đã lác đác rơi, Hảo thấy người đã khỏe, bước ra sân sau nhìn lên trời cao, nhìn quanh thấy phong cảnh thiên nhiên đẹp quá. Hảo sẽ chịu khó tập tành cho khỏi hẳn để đại hội Trưng Vương năm nay sẽ đi gặp bạn bè. Từng khuôn mặt, từng khuôn mặt hiện ra. Một bầy con gái tung tăng trên lòng đường Nguyễn Bỉnh Khiêm. Một đời người trôi đi quá nhanh. Hảo nhớ quá một thời ngây thơ trẻ dại!
Bà Phương ngắm nghía những đòn bánh tét mới vớt ra trong nồi đầy thích thú. Nó nhỏ bằng nắm tay, trông xinh xắn làm sao. “Vậy là mình yên tâm phần nào rồi, vì hai hôm nay đã gói được bánh ít đen, bánh lọc, bánh tét và làm chả chay xong .” Bà vừa dọn dẹp các thứ vừa nhìn đồng hồ điểm 2 giờ sáng – mau lẹ ngủ thôi, mai còn dậy sớm đi thăm đám nữa.
Tháng Tám của những ngày cuối hạ, cái nóng bứt rứt người. Bà ghé chở bà Minh cùng đến nhà quàn thắp nén hương đưa tiễn người đi. Sau đó bà muốn ghé chợ mua thức ăn. “Mai có đám giỗ mẹ chồng, hôm qua đã mua chợ gần nhà một xe rồi, vẫn chưa đủ.” Bà vừa nói với bạn vừa mở Google tìm chợ nào gần nhất vùng San Jose. Hai bà chọn chợ Đại Thành.
Trên đường lái xe, bà P khoe đã làm được các thứ bánh
– hèn chi sáng nay được chị tặng đòn bánh tét. Bà M gật gù nói: “Chị mời ai đông không mà chuẩn bị làm nhiều vậy?”
– “Thì chỉ là con cháu trong nhà.”
_“Rứa không phải các dâu mỗi người làm một món à? Đám giỗ gia đình chồng em khoẻ lắm, cho biết trước ai đem món gì, tránh tình trạng 10 khay mì xào, 10 khay xôi trùng nhau.”
Bà P bật cười: “Thôi, thôi tội dâu con sống ở đây, chúng nó bận rộn theo công việc thở không ra hơi, ngoài ra còn chăm con, đầu tư công sức đưa đón con học bơi, học đàn, học võ tối mặt chứ đâu có đùa được.”
Trời nắng gắt, dù máy lạnh đã mở, nhưng cái nóng vẫn còn hừng hực. Ngày trong tuần đường xá kẹt xe đông đúc. Hai bà để khoảng yên lặng, thả tâm tư suy nghĩ điều gì đó. Bà M chợt nhớ mẹ mình, hình ảnh xa xưa qua những đám giỗ bố chồng, dù không có chồng bên cạnh. Nhất là những ngày cuối năm lạnh giá mùa Tết, bà chứng kiến cảnh mẹ mình nhổ cỏ quét dọn mộ ông nội, đem các thức ăn, bông hoa trái cây trình bày trên mộ, thắp nhang nói với ông nội những điều kính mến yêu thương rất lâu… Nghĩ đến mắt bà M muốn mờ. Nay nhìn hình ảnh bà bạn lo đám giỗ mẹ chồng, kính trên nhường dưới. Đó là cái đẹp của người phụ nữ thời xưa, thời Khổng Tử giáo dục.
Bây giờ đã đi qua thời đại khác, nhất là ở các nước phương Tây phóng khoáng, nam nữ bình đẳng. Như ở Mỹ, con người đều muốn dùng trí tuệ cho sự nghiệp hơn nên bù đầu óc bận rộn. Vậy mà tôi vẫn thấy hình ảnh đẹp và nếp sống đâu đó còn giữ lại. Nghĩ miên man đến chợ Đại Thành hồi nào không hay.
Hai bà già mỗi người đẩy một chiếc xe. Có lẽ đây là ngôi chợ có giá cả rẻ nhất so với những chợ Việt Nam khác, thức ăn tươi tốt lôi cuốn. Bà M tha hồ bốc chôm chôm, trái thơm, măng cụt, thanh long, nectarine, khoai dương châu tím, rau trái. Bà P cũng bốc trái cây không kém, và cả những thứ nấu cúng giỗ. Lướt qua hàng thịt, bà P dừng lại quầy trưng bày những con gà đi bộ nằm trong vỉ tươi tốt, chọn lấy bỏ vào xe.
-“Anh chị ăn chay trường sao lại mua gà?” bà M trố mắt.
-“Nấu cho cháu nội” bà P ra dấu đi lẹ. Lúc lu bu với khách đông chen chúc, bà M chẳng có thì giờ hỏi lại.
Hai bà lẹ làng ra quầy tính tiền mà bụng còn nuối tiếc, ưa quan sát nhiều mặt hàng, muốn mua thêm nữa, nhưng phải về gấp trước 3 giờ chiều, tránh kẹt xe nơi freeway 101 và 880.
Trên đường dài, bà P bắt đầu kể lể: hồi nãy mua con gà vì các cháu nội thường gọi “cơm gà bà nội”, chúng rất thích món này. Con trai thích món bánh tét, mì cà ri, con dâu đứa này thích bánh ít, đứa kia thích canh chua. Nói chung con nào thích món gì đều có trong mâm cúng giỗ.
-“Ôi trời! Chị đã qua thời làm dâu, giờ muốn làm lại ha?”
– “Ừ! Gần tới ngày cúng giỗ lòng mình nao nao cảm giác mong đợi này. Đầu tiên
là thích ngắm mâm cơm chay được trình bày đẹp mắt trước di ảnh mẹ chồng, bông hoa trái cây tươi tô điểm thêm bàn thờ. Thích ngắm khói hương bay nghi ngút. Thích nhìn vào đôi mắt “người đời xưa” và tưởng như mẹ chồng còn sống, mẹ chồng đang hiểu tâm tình đứa con dâu được thể hiện qua hành động. Thích cả cái phút tay run run cài cây nhang, như chạm được vào tay mẹ chồng ngày cũ… Kế tiếp là thích nhìn ông chồng nét mặt sáng rỡ tươi vui, bày tỏ sự hài lòng với nửa mình bên cạnh, chung nhà chung cuộc sống. Cuối cùng là mong chờ các con, các cháu về ‘trước cúng sau cấp’. Bụng dạ cứ hồi hộp chúng nó không thuận duyên, bận rộn giờ phút cuối, như đã từng trước đó thì buồn lắm. Cháu nội hấp thụ cách sống nơi đây, thường ít gần người lớn. Chúng bận học, bận đọc sách và có thế giới riêng của nó. Lo chúng cảm thấy ‘boring’ khi gần người lớn sẽ không đến, nên phải tìm cách nào đó chiêu dụ, chẳng hạn nấu các món chúng thích. Chưa kể tuy ăn chay nhưng vẫn thỉnh thoảng nấu từng nồi món mặn, cho mỗi gia đình đem về nhà, để gia vị cầm chừng dặn mẹ chúng nêm nếm lại.”
Bà M ngắt lời: “Vậy khi con cháu về ăn, nó có phê bình gì không?”
– “Có chứ, thằng Robert nói: ‘Chỉ thích ăn chả giò của bà nội thôi, mấy lần mẹ mua ở tiệm không ngon’. Dâu út: ‘Con mê món cháo nấm của mẹ’. Dâu nhì: ‘Con ăn kiêng nên rất khoái các món chay mẹ cho ăn, nếu còn mẹ cho con… togo nữa nha’. Dâu cả: ‘Hôm trước 200 chả giò mẹ đem lên, giờ gần hết sạch rồi mẹ ơi’. Có đứa còn nhắn tin: ‘Mom, nhớ làm extra cho con mang lên trường nha’. Đọc tin nhắn mà mẹ hết đau lưng… Đó, chỉ chừng đó thôi cũng làm tăng sức sống, tăng niềm vui của mình rồi. Ông xã cười híp mắt luôn miệng trả lời: ‘Để bà nội, để mẹ làm, nấu cho các con đem về’.”
Bà M phá lên cười: “Ôi cái bếp của mẹ nơi xứ người luôn rực tươi ánh lửa hồng, mẹ tình nguyện làm dâu cho cả nhà rồi đó.”
– “Tình mẹ và đời con vậy mà. Con cái thương mẹ, nhưng công việc, chồng con, nhà cửa bị cuốn đi thì sao. Mình hiểu, mình không trách, chỉ sợ mỗi năm chúng nó bận hơn, nên năm nay phải nấu ngon hơn, nhiều hơn, để ‘dụ’ về được chứ.” Tiếng bà P cười tiếp: -“Vì thương con nhớ cháu, mình tình nguyện làm dâu cho cả nhà. Cái bếp là nơi mình giữ lửa, giữ tình thân. Miễn con cháu về đông đủ, mình cực mấy cũng vui, đó là hạnh phúc tìm được.”
Câu chuyện dừng ngang đó vì đã đến nhà bà M. Bà còn ráng nói thêm câu nữa trước khi xách giỏ vào nhà: “Hiểu rồi, chị thích làm dâu một đời, để được làm mẹ trong ngày đoàn tụ phải không?”
****
Thứ Bảy khoảng 5 giờ chiều. Tiếng bà P gọi ở đầu giây bên kia: “Mới thắp nhang nè, xong xuôi hết rồi. Đang ngồi nghỉ mệt nhìn ra đường chờ con về. Gớm! Con cháu mình thôi mà sao tim lại đập, lòng hồi hộp ngóng từng chiếc xe, giống như ngày xưa đợi người yêu vậy cà. A thì ra ngày xưa yêu chàng, bây giờ yêu con, yêu cháu, cảm giác tâm trạng cũng xêm xêm hè.”
Bà quay gửi qua video bàn cỗ chay thiệt đẹp mắt. Trên bàn thờ, tấm hình mẹ chồng cười hiền. Bà P đặt thêm chén chè đậu trắng, món ngày xưa mẹ chồng thích, mà không đứa con nào biết… Bà M cảm thấy vui theo người mẹ Việt Nam dạt dào tình như sông dài biển rộng với con cháu.
Bà M mở đống thư từ các chùa mời dự lễ Vu Lan. Ngày con cái vinh dự vì đi chùa được cài đóa hoa hồng, đóa hoa còn mẹ. Bà M thích quan niệm vị bổn sư của mình: chỉ được dùng một màu hồng cài trên áo dù mẹ còn hay mất. Tuy thể xác đã trở về cát bụi, nhưng hình ảnh, kỷ niệm với mẹ luôn chất đầy ký ức. Không phải chỉ một ngày rằm tháng Bảy mới nhớ về mẹ, mà mẹ vẫn luôn sống hằng ngày hằng giờ trong tâm trí con.
*****
Chiều 4/7 âm lịch, bà M cùng chồng dự lễ Vu Lan chùa Thiên Trúc đầu tiên của tháng 7. Quý thầy hướng dẫn thời kinh Vu Lan Bồn nói về phẩm hiếu hạnh của ngài Mục Kiền Liên đối với mẹ. Hầu như tâm tư mọi người đều chùng xuống.
Vu Lan nhớ những điều gì
Mục Kiền Liên đáp hiếu vì mẹ yêu
Bài kinh thấm đẫm những điều
Nhắc mình phụng dưỡng đến nhiều song thân
Công ơn dưỡng dục cao ngần
Hy sinh vất vả muôn phần vì con
Nhịn dành các thức ăn ngon Con đau mẹ thức mỏi mòn đêm thâu
Đội mưa phơi nắng dãi dầu
Không nề gian khổ nhiệm mầu tình thương
Mẹ là bóng mát che đường
Là vòng tay ấm thơm hương sữa ghiền
Cài hoa tưởng nhớ mẹ hiền
Dầu người đã bước về miền tịnh an
Bài ca dâng hát lời vàng
Tri ân phụ mẫu nhẹ nhàng đầu thu
MTTN
Hình ảnh các em đến cài hoa trên ngực áo khiến bà M nghĩ đến mẹ chồng, mẹ mình. Những bà mẹ hiền hòa, nhân đức luôn có tình yêu độ lượng với tha nhân, với chồng con một đời. Và trong hiện tại, trước mắt bà là hình ảnh một bà mẹ thích được làm dâu để tìm nguồn hạnh phúc. Bà M tiếc mình không có con để giẫm lên, nếm trải cảm giác đó. Thời đại hôm nay vẫn còn tấm lòng người mẹ Việt Nam thoáng như mây trời, êm dịu như mùa thu, tươi mát như suối nguồn, mênh mông như biển cả…
Bà M nghe âm vang vọng lại từ tiếng hát ca sĩ, cư sĩ Quang Tuấn đầy dịu vợi:
VTLV – WELCOME! TRÂN TRỌNG CHÀO MỪNG VĂN THI SĨ DƯƠNG VŨ.
==
VTLV CHÀO MỪNG VĂN THI SĨ DƯƠNG VŨ
Thung Lũng trời hè mây trải xa Mừng nay bạn mới ghé vào nhà Văn Thi biết tiếng, bài huyền ảo DƯƠNG VŨ nghe danh, truyện mượt mà LẠC VIỆT vườn thanh ươm dị thảo VĂN THƠ ngõ tịnh ủ kỳ hoa Cùng nhau sinh hoạt gìn ngôn ngữ … Hồng Bàng – nối gót với ông cha.
Phương Hoa -VTLV. AUG 27, 2026
==
Résumé /Tóm tắt Tiểu sử
DƯƠNG VŨ– BÚT HIỆU: DƯƠNG VŨ
THÔNG TIN CÁ NHÂN
● Năm sinh: 1952
● Nơi sinh: Nam Định, Bắc Việt Nam
● Năm 1954: Gia đình di cư vào Nam, Việt Nam
QUÁ TRÌNH QUÂN NGŨ
● 1972: Nhập ngũ theo lệnh Tổng Động Viên.
● Chức vụ cuối cùng: Chuẩn Úy Hành Chánh Quân Y, Bệnh Viện Quân Y Hội An.
ĐỊNH CƯ VÀ HỌC VẤN TẠI HOA KỲ
● 1975: Cùng gia đình sang Hoa Kỳ. Sau đó trải qua nhiều công việc trước khi trở lại trường.
● 1983: Tốt nghiệp B.S. Chemistry, Sacramento State University.
Huê hồi hộp nằm im chờ. Nàng nằm nghiêng quay lưng quay về phía Vương và ráng đoán xem Vương đang làm gì qua từng tiếng động. Huê nghe tiếng tim mình đập quá mạnh làm mạch máu đầu giựt lên từng tiếng lớn, nàng ước gì có thể làm nó kêu nhỏ lại. Nàng sợ Vương nghe thấy. Nhưng hình như Vương còn sợ hơn nàng, nhửng cử động của hắn rất chậm chạp vả nhẹ nhàng. Hắn sợ nàng thức giấc…và nàng sợ hắn biết mình đang thừc.
Cuội cùng Huê củng nghe tiếng Vương rời giường. Sau đó nàng không nghe thấy gì nữa cho tới khi tiếng cửa kêu khẽ. Huê đợi thêm một phút nữa mới dám xoay mình nằm ngửa. Nàng đặt tay lên ngực để chận con tim, ép nó đập chậm lại. Cơn đau và tức làm Huê chảy nước mắt dù nàng không có chút buồn bã hay sợ hãi…không Huê không còn sợ gì nữa. Chuyện đã đến đăy rồi, đã qua mức chịu đựng rồi. Hãy làm sáng tỏ mọi thứ rồi tới đâu thì tới.
Nàng từ từ ngồi dây, và nhẹ nhàng mở cánh cửa phòng ngủ mà Vương đã cẩn thận khép lại sau khi đi ra. Nàng dựa lưng vào vách tường nghe ngóng. Căn nhà tối thui và lâu thật lâu mới có tiếng xe chạy qua. Đêm yên lặng tới mức Huê có thề nghe được tiếng động của phòng kế bên, nơi nàng từng bước nhẹ nhàng bước tới, lưng dán vào tường, tim đập liên hồi, cơn tức lên đỉnh điểm, đầu gối tưởng chừng khuỵu xuống.
Huê ghé tai vào chiếc cửa phòng bên, tiếng động phát ra rõ rệt, không dấu diếm. Nắm chặt cái nắm đấm, nàng bất thình lình đẩy mạnh mở toang cánh cửa rổi bước vào…và nàng chuẩn bị một tiếng la lớn. Miệng nàng há ra rộng hết cỡ…nhưng không có một tiếng vang náo vọng ra… âm thanh bị chặn ở trong cổ. Căn phòng không một bóng người. Ánh sáng díu dàng phát ra từ cái nhà đồ chơi Vương mua về đặt trên cái bàn trong góc phòng toả ánh sáng màu vàng lợt rất dễ chịu soi sáng căn phòng trống rỗng.
Nhưng tiếng động vẫn còn đấy và rõ ràng hơn, nó phát ra từ cái nhà đồ chơi. Huê bị cuốn vào sự kỳ bí, tò mò. Nàng thận trọng bước từng bước nhẹ về phía nó. Căn nhà nhỏ chừng cái ipad dường như từ từ lớn lên theo từng bước chân tiến lại gần của nàng, và khi nàng tới cái bàn thì chỉ cần hơi khom lưng Huê đã thấy rất rõ ràng qua cửa sổ những gì đang xảy ra phiá trong…nàng thấy Vương trong đó.
Những gì Vương đang làm làm Huê sôi máu. Nàng không đễ ý suy nghĩ về những cái lạ lùng đang xảy ra trừ chuyện Vương đang ngồi dưới đất, bóp chân cho con nhỏ đó. Nó ngồi trên ghế, cạnh chiếc bàn ăn như Huê đã từng thấy cả tháng nay, nhưng thay vì chống tay lên cằm trong dáng vẻ buồn bã, nó ngồi thoải mái, dựa lưng vào ghế, duỗi chân cho Vương bóp. Còn Vương…hắn cong lưng như một thằng hầu, xoa bóp nhẹ nhàng và miệng nói cái gì đó, giọng nói đầy vẻ nịnh bợ. Con bé kia lên tiếng đáp lại, nhấm nhẳng, giọng chua như giấm, nhưng giọng Vương còn tệ hơn, nịnh bợ…đê tiện.
Cơn giận làm Huê nghẹt tim, nàng không còn sợ hãi Vương biết mình đang theo dõi. Nàng muốn thò tay vào căn nhà đồ chơi đó nắm cổ Vương liệng ra ngoài và tát cho con bé đó một cái tát nhớ đời…nhưng Huê cố dằn lại, nàng muốn biết hai người nói gì. Nàng muốn biết tại sao Vương lại phản bội. Nàng muốn nghe những lời nói xấu vợ từ chính miệng Vương, dù nó sẽ làm tim nàng tan nát. Nàng muốn nghe con nhỏ đó nói những lời phủ phàng với Vương cho hắn đáng đời dù nàng chỉ muốn mình là người duy nhất có quyền đó.
Hai người họ đắm chìm trong thế giới của họ và dường như không biết có sự hiện diện của Huê. Nàng kéo chiếc ghế lại gần, ngồi xuống quan sát, bây giờ Huê nghe rõ tiếng đối thoại.
“…cái chân em còn đau nhiều không?”
“Em không cần anh bóp chân, đừng giả bộ nịnh bợ.”
Huê giật mình, cái giọng chua như giấm kia vang lên nghe rất quen, nhưng cơn tức mau chóng xua đuổi ý nghĩ đó, tại sao nó dám nói với chồng nàng những câu như thế. Còn thái độ nó nữa, như bà chủ đối với đầy tớ. Như vậy mà Vương vẫn cúi đầu tiếp tục bóp chân nó như không có gì xảy ra, Huê nghe cơn giận làm rung cả người; cái tay tự động giơ lên không kiềm chế, và trước khi nó kịp giáng xuống, con nhỏ đó quay mặt lại. Thấy mặt nó Huê đông cứng người, cái tay vẫn còn đang giơ cao, nàng nghe thoáng câu Vương nói với nó,
“Anh đâu có nịnh bợ, được bóp chân cho em cả đời anh cũng làm, anh đã làm nhiều điều lỗi với em…”.
000
Cái tiệm có một cái gì lôi cuốn với riêng Vương bời vì khi bước vào trong hắn thấy mình là vị khách duy nhất. Như vậy càng tốt hấn có dịp thoải mái ngắm ngía những món hàng lạ lùng trưng bày vô tổ chức. Cái tiệm nóng và ngột ngạt dưới nắng hè. Ông chủ tiệm, hình như người Ẫn hay Trung Đông, lười biêng ngồi dựa người trên chiếc ghế quay, hưởng chút gió mát từ cái quạt nhò trên cái quầy, hình như đang làm gì trên cái computer cũ mèm, không thèm để ý tới người khách hàng duy nhất.
Tiệm có bốn hàng kệ và hai hàng lối đi chẫt đầy những món đồ lạ lùng không giống ai. Trừ một cái giống duy nhất: Tất cả đều có một người trong đó, và những người đó ở trong một cái ‘vòng vây’ gì đó, phần lớn là cái nhà, nhưng cũng có nhiều loại ‘vòng vây’ kỳ lạ, như giữa những cột nước, hàng cây,… Nhưng dù ở một hoàn cảnh nào đó, nhân vật chính trong mọi món đồ đều có khuôn mặt, hay dáng điệu không vui.
Vương tò mò thích thú xem từng món một rồi chợt lặng người khi thấy một cái nhà nhò cỡ chừng cái ipad. Cái nhà trông quã quen thuộc mà bất chợt hắn không nhớ ra. Vương cúi xuống cầm nó lên tìm một chỗ trống trên kệ, đặt nó xuống để quan sát. Đó là một mô hình nhà thường thấy ờ Mỹ, đóng sơ sài bằng loại vật liiệu rè tiên sơn màu xanh. Cái màu xanh gợi Vương nhớ tới căn nhà cũ mình có nhiều năm trước. Càng nhìn Vương càng cảm thấy nó giống căn nhà đó; cảm giác lạ lùng mà hắn không có khi lần đầu thấy nó. Vương xoay căn nhà mẫu vòng vòng và nhìn kỹ từng chi tiết một. Đột nhiên hắn chú ý thấy có một mô hình người ngồi ở bàn ăn mà hắn không thấy lúc trước. Vương nghĩ mình bỏ sót vì tất cà mọi thứ ở trong đều rất nhỏ. Dựa vào mái tóc dài đen và vóc dáng, Vương đoán đó là người đàn bà Á Đông. Bà hay cô ta cúi đầu, tựa cằm lên tay mặt, dáng vẻ ủ dột. Mọi thứ đều có cái gì đó quen thuộc kích thích sự tò mò cùa Vương. Hắn xoay cái nhà mẫu ráng nhìn khuôn mặt của người đàn bà nhưng không thề nào thấy rõ. Mọi thứ đều quá nhỏ để thấy chi tiết…nhưng hình như không phải vậy…có một cái gì kỳ cục làm Vương nghĩ rằng hắn không thể thấy mặt người đàn bà vì bà ta không muốn hắn thấy! Cảm giác kỳ cục đó càng kích thích Vương, hắn nhìn bà ta qua mọi góc cạnh, qua mọi cửa sổ cho đến khi cặp mắt mỏi mới thôi. Người đàn bà bí mật và quen thuộc làm Vương muốn mua cái nhà đồ chơi.
Hắn mang nó lại quầy tính tiền. Ông chù tiệm lơ đãng liếc qua rồi buông thõng,
“Năm trăm đồng tiền mặt.”
Vương sững sờ tưởng nghe lộn, nhắc lại,
“Năm trăm???”
Ông ta vẫn thoải mái dựa lưng vào chiếc ghế không thèm nhìn Vương, nhắc lại,
“Ừ, năm trăm tiền mặt.”
Vương chút xíu đã muốn chửi thề, cái món đồ không đáng giá hơn $20 mà đòi năm trăm. Hắn nén giận lấy giọng dễ thương nhất trả giá,
“Mắc quá vậy ông, cái này chừng ba chục cũng là mắc rồi. Ông bớt giá đi.”
Mặt lão chủ tiệm vẫn không thay đổi, ông ta làm như không cần để ý tới cái tiệm vắng tanh như chùa bà đanh, và món đồ bán đã quá được giá. Ông ta cũng không thèm lấy lòng khách hàng,
“Năm trăm đồng tiền mặt.”
Thái độ ông ta hờ hững như không có chuyện gì trên đời đáng cho ông ta để mắt tới, ngay cả việc ông ta đang nhìn vào cái utube video trên cái máy tính cũ xì. Trong lúc tìm kiếm một lý do để bớt giá, Vương nhìn theo thì thấy hình như ông ta đưa con chuột nhấn đại đùa vào một khuôn mặt nào đó trên màn ảnh, hết người này đến người khác. Vương hơi ngạc nhiên thấy những người bị chọn, hình như ngưng cử động trong khi video vẫn đang chạy. Nghĩ có thể đó là một loại game nào đó, hắn không để ý tới nữa, ráng kèo nài thêm, nhưng sau vài lần biết không thể thuyết phục, Vương quay bước mạnh chân ra cửa. Hắn không muốn ông chủ tiệm biết mình rất thích căn nhà màu xanh, nhưng khi đi qua nó, hắn vẫn chậm chân lại và liếc nhìn nuối tiếc.
Cả tuần sau đó Vương luôn thấy bồn chồn, mới khởi đầu hắn không biết nó là gì, nhưng mỗi lúc cái hình ảnh người đàn bà ngồi trong căn nhà càng hiện rõ lên tới mức Vương mơ thấy bà ta. Trừ khuôn mặt mà người đàn bà muốn dấu, Vương thấy rõ nỗi đau buồn của bà ta. Rõ tới mức, một buổi sáng thức dậy Vương thấy gối mình hơi ướt.
Vương trở lại tiệm và quyết định mua cái nhà mô hình. Có điều không hiểu sao hắn không để ý tới giá cả dù bình thường hắn thuộc hạng người hà tiện.
Người chủ quán không thèm gói hàng cho Vương, ông ta quẳng năm tờ giấy một trăm vào cái ngăn kéo, rồi nói với Vương,
“Mày không nên mua nó.”
Vương không trả lời, chỉ lầm bầm hai chữ cám ơn. Hắn thận trọng bưng cái nhà mẫu ra xe mà lòng nặng trĩu sự buồn bã không hiểu từ đâu đến, “Kỳ thiệt, không mua cũng thấy khó chịu mà mua được rồi cũng thấy khó chịu. Tại sao?”
Căn nhà mô hình được đặt kế bên căn phòng ngủ của hai vợ chồng, Vương quấn quít với nó thêm mỗi ngày. Hắn thấy căn nhà càng lúc càng trở nên thật, nhưng người đàn bà vẫn muốn dấu mặt, trông buồn bã hơn. Những giấc mơ thấy người đàn bà với khuôn mặt và tiếng nói mơ hồ ám ảnh Vương, và chiếc gối càng ướt nhiều thêm.
000
Huê tránh không phản đối khi Vương dọn dẹp căn phòng kế bên thành chỗ chứa cái nhà đồ chơi dù thấy ngứa mắt. Căn phòng ít khi được sử dụng nhưng nàng luôn dọn dẹp gọn ghẽ, vệ sinh thường xuyên nay trở nên bề bộn khi Vương rước cái của nợ ấy về. Khi thấy Vương ngày nào cũng bỏ nhiều giờ vào nó, nàng bực bội than phiền thì hắn thu rút vào cái vỏ câm nín mới tạo ra gần đây. Thấy tội nghiệp Huê để yên một thời gian thì tình hình tồi tệ hơn. Rõ ràng Vương đang có một vấn đề về tâm lý mà dường như hắn không biết. Nàng quyết định theo dõi tìm ra lý do.
Bình thường Huê ngủ ngon giấc, những lần tiểu đêm của Vương không đánh thức nàng cho đến đêm đó. Có thể sự thay đổi của Vương và căn nhà mẫu làm Huê khó ngủ. Một đêm khi Vương đi tiểu đêm như thường lệ, Huê cảm thấy hắn có vẻ rón rén sợ nàng thức dậy, nàng giả bộ ngủ ngon như mọi lần. Cả người nàng căng cứng theo dõi từng bước chân Vương qua cái phòng bên. Cả tiếng sau Vương mới trở lại, trằn trọc; Huê cũng vậy gần sáng nàng mới ngủ trở lại được.
Ngày hôm sau Huê ngay lập tức lấy cớ qua quan sát cái phòng và cái nhà mô hình thật kỹ lưỡng trong khi Vương tránh mặt. Cái linh tính mách bảo người đàn bà ngồi chống tay kia có thể là nguyên nhân, nhưng cũng như Vương, Huê không thể biết đó là ai. Nàng tìm kiếm trong ký ức tất cả những người đàn bà Vương từng quen biết, nhưng người này chỉ thấy rất quen mà không thể nhớ đó là ai.
Cả tháng nay, Vương lợi dụng việc Huê dễ ngủ và ngủ say, hắn lợi dụng giấc tiểu đêm để nhiều lần vào căn phòng kế bên hàng đêm mà nàng không biết gì cả. Căn nhà đã trở nên ‘thật’ đối với Vương, hắn đã vào được trong và gặp ‘cô ta’.
000
Cả người Huê đông cứng lại, cánh tay hãy còn giơ cao trên không, cô gái quay mặt lại nhìn nàng mỉm cười thách đố. Huê chấp nhận mọi hậu quả, kể cả việc bàn tay nàng có thể bị thương khi đập vào gỗ, chấp nhận Vương sẽ che chở cho cô ta chống đối lại nàng,…, Huê chấp nhận tất cả chỉ để tát cho cô ta một cái như trời giáng..chỉ… trừ phi cô ta là chính nàng. Phải người đàn bà đó là Huê của nhiều năm trước, trẻ đẹp tới mức chính nàng cũng thấy yêu cô ta…hèn chi Vương…
Vương thấy hành động bất thường của ‘cô ta’ và nhìn theo. Vương thấy bàn tay Huê giơ lên bất động. Vương thấy cảm xúc xáo trộn dâng trào trong mắt Huê. Vương nhìn theo bước chân Huê trở về phòng.
000
Tối hôm đó Vương uống gần hết thùng bia hắn mua để uống trong vài năm, thường chỉ một lon là say. Huê đi ra vào vài lần coi hắn có bị gì không nhưng mặc kệ cho hắn uống. Chừng hơn nửa thùng, Vương bắt đầu ói mửa, khóc, và nói lảm nhảm không để ý tới Huê đứng gần đó. Gẩn hết thùng, hắn dường như không biết gì nữa, không còn gì để ói trừ thứ nước trắng lầy nhầy như nước dãi, hắn khóc lớn từng cơn xen vào những câu cầu khẩn, nịnh bợ, tiếc nuối, năn nỉ,…, vào khoảng không. Huê đợi hắn lập lại một câu hơn chục lần mới lên tiếng,
“Lần đó anh làm gì em anh nhớ không?”
“Anh nhớ…anh nhớ…”, Vương rên rỉ, “…anh nhớ suốt đời…anh hối hận suốt đời, anh không thể hiểu sao mình có thể ngu như vậy. Làm sao anh có thể để em đi làm xa đến thế. Làm sao anh có thể bắt em về sớm mỗi ngày, không thấy em có thể gặp nguy hiểm trên đường đi…làm sao…làm sao….”
“À…té ra là thế.”
Trưa hôm sao Vương mới thức dậy, đầu đau như búa bổ, một lúc sau hắn mới biết mình nằm ở đâu, và lờ mờ nhớ lại chuyện đêm qua. Lật cái chăn qua một bên, Vương mới biết mình đang nằm trên ghế sofa, gối mền đầy đủ. Hắn lồm cồm ngồi dậy, nhìn xung quanh thấy mọi thứ sạch sẽ như mọi ngày, mọi thứ dơ dáy biến mất như có phép lạ như trước tới giờ từ khi hắn có Huê. Chỉ có điều căn nhà yên ắng đến sợ. Vương đứng bật dậy rảo bước quanh nhà, Huê không có nhà, hắn quay trở lại ngồi lên cái ghế sofa. Lúc đó Vương mới thấy lá thơ viết tay của Huê để trên cái bàn thấp trước ghế sofa. Hắn run run cầm lá thơ lên đọc.
000
“Anh yêu, em hy vọng đây là lần cuối em phải viết thơ cho anh. Em hy vọng anh hiểu em muốn nói gì. Em hy vọng anh sẽ làm theo những gì em nhắn ở đây.
Tối hôm qua là một đêm kinh hoàng với em, cả tháng nay em sống trong nghi ngờ, buồn rầu, sợ hãi và tức giận…nhưng tối qua mới là đỉnh điểm của xúc cảm. Đã lâu chúng ta sống trong bình yên, đã lâu chúng ta không có xung đột lớn. Em đã lớn tuổi, em không nghĩ em có thể chịu thêm được một lần nữa giống vậy. Cũng may mọi chuyện xảy ra tốt đẹp hơn em nghĩ rất nhiều (trừ đống ói mửa anh nôn ra).
Em đã tưởng anh có bồ nhí…nhưng không phải…nhưng rất phải. Phải, thực sự anh đã phản bội em, anh đã có bồ nhí…dù nó là em. Phải, dù nó là em, nhưng nó không phải là em bây giờ, nên em ghen với nó, nên em không muốn anh nghĩ về nó, chiều chuộng nó. Em chỉ muốn anh chiều chuộng em, bây giờ và trong tương lai. Không ai có thể thay đổi được quá khứ dù anh có quỵ lụy nó chừng nào vẫn vậy. Nếu anh có làm điều gì lầm lỗi trong quá khứ, anh chỉ có thể bù đắp, trả nợ cho nó bây giờ và trong tương lai. Chỉ cần anh trả cho em một chút bây giờ, chỉ cần anh nghe em một lần, em sẽ xóa nợ đó cho anh, nhưng dù anh có trả một triệu lần hơn, “nó” cũng không xóa nợ cho anh đâu. Quá khứ đôi khi rất ác độc.
Em đã tưởng cái gì đã dày vò anh, em đã tưởng anh dấu em làm chuyện kinh thiên động địa gì nên nó dằn vặt anh tới giờ. Không ngờ lại là chuyện đó, em đã quên từ lâu rồi. Đối với em nó còn không quan trọng bằng cả ngàn chuyện khác anh làm em bực mình, thí dụ như chuyện anh làm lơ khi em nói.
Anh không nhớ lúc đó anh đã dỗ dành, năn nỉ em sao? Anh không nhớ em chỉ đẩy anh ra có 4, 5 lần sao? Anh không nhớ tối đó em ôm anh ngủ rất ngon sao? Buổi sáng khi em thức dậy, tất cả đã là quá khứ rồi. Chỉ cần biết anh còn lo cho em, còn yêu em là em có thể làm bất cứ điều gì. Chuyện đó là chuyện nhỏ, em đã quên liền sao anh lại nhớ. Đàn ông các anh thật lạ lùng, chuyện đáng nhớ thì không nhớ!
Cái mà em muốn anh làm từ rày về sau là luôn ở bên em, luôn làm cho em vui, luôn nghe em nói, phải luôn luôn thương yêu em…KHÔNG được tự giam mình trong bất cứ nơi nào, chỗ nào, thời gian nào mà không nói cho em biết. Không ai có thể có hạnh phúc nếu người mình yêu không có hạnh phúc, và không ai có thể sống hạnh phúc nếu không bỏ được ám ảnh của quá khứ.”
DƯƠNG VŨ
==
TÌNH ANH TRONG MÙA HẠ Thu chưa tới nhưng anh mong thu tới Nắng hạ làm héo úa mắt môi em
000
Em có thấy mùa thu đang trở lại Trên cây phong lá đã ngã sắc vàng Từng ngọn gió dịu dàng xua mùa hạ Và trên không mây từng cụm lang thang
. Em có nghe giữa giao mùa thu hạ Tiếng thì thầm tha thiết của tim anh Nhờ chiếc lá nhẹ rơi trên áo cánh Nhờ gió thu nhè nhẹ đến tai em Nhờ mây cao xếp ảnh những trái tim Tất cả chỉ để em quên mùa hạ
. Em có cảm thấy lòng hơi rung động Với tình yêu anh trộn lẫn vào thu Với lá vàng bay chở mộng chu du Với gió đến đùa tóc em rối cả Với mây trắng đang ngắm nhìn thiên hạ Em có thấy tình anh…trong mùa hạ?
HÃY NGƯỚC NHÌN TRỜI CAO
Hãy ngước nhìn trời cao Trời xanh và mây trắng Và đêm đầy trăng sao Giải ngân hà vô tận Và ta hạt cát nào?
. Trong cuộc đời trước mặt Đừng lầm lũi bước hoài Bỏ qua bao mầu nhiệm Của một kiếp nhân sinh Đừng vì nhiều vấp ngã Mà chỉ có biết đau Đừng vì nhiều mất mát Mà tiếc cả cuộc đời Mỗi một sát na qua Đưa ta gần cát bụi
. Ngoài đời còn sự sống Màu nhiệm biết là bao Khi bạc tiền vỗ cánh
Khi tình yêu hư hao Hãy ngước nhìn trời cao Hít một hơi sâu lắng Thở một hơi dạt dào Biết rằng mình bé nhỏ Đời vô thường biết bao
DƯƠNG VŨ
ĐỨC HÙNG – HÁT NÓI : “Tôi Đã Vui Mừng Tiếp Nhận Lưu Ký Bài Hát Nói”!
HÁT NÓI
BÀI 770
“Tôi Đã Vui Mừng Tiếp Nhận Lưu Ký Bài Hát Nói”! (Bài Hát Nói cảm ơn và đáp lễ hồi âm ân cần, ưu ái của Đại Lão Thi Nhân Trần Quốc Bảo. Tựa đề bài Hát Nói này trích tự hồi âm của Cụ Trần Quốc Bảo.)
Tôi rèn trong Chiến Tranh! Thành danh trong Văn Học! Đã can trường, đảm lược! Đã giúp nước bao năm! Đã hành trình xuôi ngược! Đã ngang dọc thuận dằm! Vui đang còn sống khỏe! Vui “Đại Lão Thi Nhân”! Vui “không già, mãi trẻ”! Vui Mặc Khách thường thăm! Mừng tuổi “ngót trăm năm”! Mừng Vong Niên Tri Kỷ! Mừng “chẳng cần tiếng tăm”! Mừng đạt Chân, Thiện, Mỹ!
Tiếp độ Thân Bằng lòng vốn dĩ! Nhận thương Quyến Thuộc dạ chân thành! Lưu danh Trần Quốc Bảo! Đây chim đậu đất lành! Chốn tự do dưỡng lão! Làm thơ thì “rất nhanh”! Ký phi ngày ngàn dặm! Kỳ lông đậm màu xanh! Ký Kỳ theo “mệt thấm”! (1)
Bài thơ “Hạt Cát” tuyệt vời! Đẹp như trưng hoa, dệt gấm! Hát mừng Thi Nhân! Đại Lão như tân! Êm ấm cửa nhà! Nói sao cho đủ hài hòa? Đức Hùng Sydney, Úc Châu, 27/08/2026 Rằm Tháng Bảy (Thiếu) Âm Lịch Năm Bính Ngọ, Ngày Quý Dậu : Hành Kim, Trực Trừ, Sao Đẩu. Cát Thần : Thiên Đức, Tứ Tướng, Âm Đức.
Cước Chú : (1) Ký : Tên một loài Ngựa Hay, tương truyền một ngày có thể phi ngàn dặm đường! Kỳ : Tên một loài Ngựa Hay, toàn thân lông màu xanh đậm. Ý nói Đại Lão Thi Nhân Trần Quốc Bảo quả là một “kỳ nhân” hiếm có trên Thi Văn Đàn Người Việt Tự Do Hải Ngoại hiện nay!
NHƯ NINH NGUYỄN HỒNG DŨNG – BÁO HIẾU BẰNG HÀNH ĐỘNG
BÁO HIẾU BẰNG HÀNH ĐỘNG
BÁO HIẾU BẰNG HÀNH ĐỘNG
Từ mùa Vu Lan đến tấm gương của nữ danh ca Dolly Parton
Như Ninh Nguyễn Hồng Dũng
Kính thưa quý vị
Tuần lễ này, đất trời đang bước vào mùa Vu Lan, mùa của lòng hiếu thảo, mùa tưởng nhớ công ơn sinh thành dưỡng dục, mùa để mỗi người lắng lòng nhìn lại tình cảm và trách nhiệm của mình đối với cha mẹ, ông bà và tổ tiên.
Trong không khí thiêng liêng ấy, Nguyễn Hồng Dũng xin được chia sẻ cùng quý vị rằng,Vu Lan không chỉ là một ngày lễ trong Phật giáo. Vu Lan còn là tiếng chuông thức tỉnh lương tri, nhắc nhở mỗi người nhớ rằng mình không tự nhiên mà có mặt trên cuộc đời này. Thân thể này được hình thành từ cha mẹ. Tiếng nói, nụ cười, dáng đi và cả những thói quen rất nhỏ của chúng ta đều ít nhiều mang dấu ấn của gia đình và tổ tiên. Từng bước trưởng thành của một người con đều có bóng dáng hy sinh của cha và tình thương của mẹ. Mẹ đã mang nặng đẻ đau, thức khuya dậy sớm, chăm sóc con từ khi còn đỏ hỏn. Cha đã âm thầm làm việc, chịu đựng khó nhọc để bảo vệ và xây dựng tương lai cho con. Có những giọt nước mắt cha mẹ không để con nhìn thấy. Có những nỗi lo cha mẹ giữ kín trong lòng. Có những hy sinh mà đến khi chính mình làm cha, làm mẹ, chúng ta mới hiểu được phần nào. Vì vậy, mùa Vu Lan không chỉ để chúng ta cài một đóa hoa hồng lên áo. Đóa hoa ấy đẹp và thiêng liêng, nhưng điều quan trọng hơn là chúng ta phải biết biến tình cảm thành hành động.
Nếu cha mẹ còn hiện tiền, hãy trân trọng từng ngày còn được gần gũi. Một lời hỏi thăm, một bữa cơm sum họp, một cuộc điện thoại, một lần đưa cha mẹ đi khám bệnh hay một thái độ nhẹ nhàng, nhẫn nại cũng có thể làm cha mẹ ấm lòng. Đừng đợi đến khi cha mẹ không còn nữa mới thương tiếc và nói rằng: -“Giá như ngày ấy con dành thêm thời gian cho cha mẹ.” hay “Giá như con bớt nóng giận và biết lắng nghe nhiều hơn.” hoặc “Giá như con nói được một lời cảm ơn khi cha mẹ vẫn còn bên cạnh.” Hai tiếng “giá như” thường xuất hiện quá muộn. Bởi vậy, người con có hiếu phải biết thương kính cha mẹ ngay trong hiện tại.
Nếu cha mẹ đã qua đời, sự báo hiếu vẫn không chấm dứt. Chúng ta tưởng niệm cha mẹ bằng cách sống tử tế, giữ gìn danh dự gia đình, làm các việc lành, bố thí, cúng dường, giúp đỡ người nghèo khó và hồi hướng công đức đến cha mẹ cùng cửu huyền thất tổ. Một người con sống có đạo đức, có trách nhiệm và đem lợi ích đến cho xã hội chính là một nén tâm hương đẹp nhất dâng lên cha mẹ.
Đạo Phật đặc biệt đề cao lòng hiếu thảo. Trong bài kinh Vu Lan Bồn, Đức Phật dạy rằng công ơn cha mẹ vô cùng sâu nặng và rất khó đền đáp đầy đủ. Dù người con có hết lòng phụng dưỡng cha mẹ về vật chất, vẫn chưa thể gọi là báo đáp trọn vẹn. Sự báo hiếu cao quý hơn là giúp cha mẹ tăng trưởng niềm tin chân chánh, biết làm việc thiện, tránh điều ác, phát triển lòng bao dung và sống đời an vui. Như vậy, báo hiếu không chỉ là cho cha mẹ tiền bạc, nhà cửa hay vật dụng. Báo hiếu còn là đem đến cho cha mẹ sự bình an trong tâm hồn.
Có người rất thành công ngoài xã hội nhưng thường xuyên làm cha mẹ buồn phiền. Có người mua cho cha mẹ nhiều món quà đắt tiền nhưng lại thiếu một lời nói dịu dàng. Cũng có người tổ chức lễ giỗ rất lớn sau khi cha mẹ qua đời, nhưng khi cha mẹ còn sống lại không dành thời gian chăm sóc. Sự báo hiếu chân thật không nằm ở hình thức phô trương. Nó được biểu hiện qua lòng biết ơn, sự kính trọng, lời nói hòa nhã và những hành động thiết thực trong đời sống hằng ngày.
Dĩ nhiên có nhiều cách báo hiếu khác nhau. Có người phụng dưỡng cha mẹ lúc tuổi già. Có người tiếp nối nghề nghiệp và tâm nguyện của gia đình. Có người xây dựng trường học, bệnh viện hoặc làm việc thiện để tưởng nhớ cha mẹ. Một hình thức báo hiếu rất cao đẹp là biến những thiệt thòi của cha mẹ thành động lực giúp đỡ những người đang chịu hoàn cảnh tương tự.
Trong tuần lễ Vu Lan năm nay, nước Mỹ vừa tiễn biệt một người phụ nữ đã thực hiện lòng hiếu thảo theo cách đặc biệt ấy. Đó là nữ danh ca nhạc đồng quê Dolly Parton. Bà là một huyền thoại của nền âm nhạc Hoa Kỳ, nổi tiếng qua nhiều ca khúc như “I Will Always Love You”. Nhưng phía sau ánh đèn sân khấu, những giải thưởng và thành công vang dội, bà còn được kính trọng bởi tấm lòng nhân ái, đặc biệt là tình thương dành cho trẻ em. Dolly Parton qua đời ngày 25 tháng 8 năm 2026 tại Nashville, Tennessee, hưởng thọ 80 tuổi, sau một thời gian chống chọi với bệnh ung thư. Trước sự ra đi của bà, Tổng thống Donald Trump đã ban hành tuyên bố tưởng niệm và ra lệnh treo cờ Hoa Kỳ rũ trong một tuần. Đây là sự ghi nhận đặc biệt dành cho một người nghệ sĩ đã để lại ảnh hưởng sâu đậm trong đời sống văn hóa và tinh thần của người dân Hoa Kỳ. Nhưng di sản quý giá của bà không chỉ nằm trong những ca khúc nổi tiếng. Một trong những công trình ý nghĩa nhất của bà là chương trình Dolly Parton’s Imagination Library, tức “Thư viện Tưởng tượng của Dolly Parton”.
Cha của Dolly Parton là một người lao động nghèo, không có điều kiện học hành và không biết đọc, biết viết. Tuy không được học chữ, ông vẫn là một người cha thông minh, cần cù và hết lòng chăm lo cho gia đình. Dolly Parton rất yêu kính cha nên khi đã thành danh, bà không quên hoàn cảnh thiếu thốn của ông. Bà từng suy nghĩ rằng nếu cha mình có cơ hội được học tập và tiếp xúc với sách từ thuở nhỏ, có lẽ cuộc đời của ông đã mở ra thêm nhiều con đường khác. Từ tình thương dành cho cha, bà nuôi dưỡng một tâm nguyện rằng, giúp trẻ em có sách để đọc ngay từ những năm đầu đời, không để hoàn cảnh nghèo khó ngăn cản các em bước vào thế giới tri thức.
Năm 1995, bà thành lập chương trình Imagination Library tại quê nhà Sevier County, Tennessee. Chương trình gửi miễn phí mỗi tháng một cuốn sách phù hợp với lứa tuổi đến tận nhà cho trẻ em dưới 5 tuổi, không phân biệt gia đình giàu hay nghèo. Từ một chương trình nhỏ tại quê hương, Imagination Library dần phát triển thành một phong trào khuyến đọc quốc tế. Đến nay, chương trình đã trao tặng gần 300 triệu cuốn sách được gửi đến trẻ em tại Hoa Kỳ và nhiều quốc gia khác. Những con số ấy không chỉ thể hiện giá trị vật chất. Mỗi cuốn sách là một hạt giống của trí tuệ. Mỗi trang sách có thể khơi dậy một ước mơ. Mỗi đứa trẻ biết đọc có thể tìm thấy một con đường mới cho tương lai.
Chương trình được thực hiện thông qua quỹ của Dolly Parton và sự hợp tác của hàng nghìn tổ chức địa phương. Nhưng chính bà là người khơi nguồn, gieo ý tưởng và dành cả uy tín lẫn tâm huyết để phát triển công việc ấy trong suốt nhiều thập niên. Đây là một cách báo hiếu vô cùng thiết thực và cảm động vì Dolly Parton không thể đưa người cha đã lớn tuổi trở lại trường học. Bà cũng không thể thay đổi hoàn cảnh thiếu thốn của tuổi thơ ông. Nhưng bà đã biến nỗi thiệt thòi của cha thành cơ hội học tập cho hàng triệu trẻ em.
Bà không chỉ nói: “Tôi thương cha.” Bà đã dùng tình thương ấy để hành động. Bà không chỉ tưởng nhớ những khó khăn của cha mà đã biến những khó khăn ấy thành một chương trình đem ánh sáng tri thức đến cho cuộc đời. Những cuốn sách được trao cho trẻ em chính là những đóa hoa hiếu hạnh mà bà dâng lên người cha của mình. Một người cha không biết đọc đã trở thành nguồn cảm hứng để hàng triệu trẻ em biết yêu sách và mở rộng tương lai. Đó là cách biến tình riêng thành tình thương rộng lớn; từ hiếu kính cha mẹ tiến đến lòng từ bi đối với xã hội.
Tấm gương của Dolly Parton giúp chúng ta hiểu rằng lòng biết ơn chân thật phải được thể hiện bằng hành động. Vì vậy, trong mùa Vu Lan, chúng ta thường nghe những lời ca ngợi tình cha, nghĩa mẹ. Những lời ấy rất đẹp và cần thiết. Nhưng sau mùa lễ, nếu chúng ta trở về với thái độ lạnh nhạt, nóng giận hoặc vô tâm với cha mẹ thì ý nghĩa Vu Lan vẫn chưa thật sự đi vào cuộc sống. Báo hiếu không nhất thiết phải bắt đầu bằng một công trình lớn lao. Nó có thể khởi đầu từ những việc rất bình thường như khi cha mẹ già yếu, hãy kiên nhẫn vì tai cha mẹ có thể đã nghe không rõ, mắt đã nhìn không tỏ và bước chân không còn nhanh như trước. Khi cha mẹ kể đi kể lại một câu chuyện, xin đừng khó chịu. Ngày chúng ta còn nhỏ, cha mẹ cũng đã phải lặp lại một câu nói rất nhiều lần để dạy chúng ta biết gọi “ba”, gọi “mẹ”. Khi cha mẹ không theo kịp kỹ thuật hiện đại, hãy từ tốn chỉ dẫn. Ngày xưa, chính cha mẹ đã cầm tay dạy chúng ta từng bước đi đầu tiên. Khi cha mẹ bệnh, hãy chăm sóc bằng tình thương, đừng chỉ xem đó là một nghĩa vụ nặng nề. Khi có bất đồng, hãy trình bày bằng lời nói kính trọng. Hiếu thảo không có nghĩa là chúng ta không được có ý kiến khác, nhưng dù khác biệt vẫn phải giữ được sự lễ phép và lòng thương kính.
Người con ở xa có thể báo hiếu bằng những cuộc điện thoại thường xuyên. Người không có nhiều tiền vẫn có thể báo hiếu bằng sự quan tâm và thời gian. Người có điều kiện hơn có thể chăm lo vật chất, sức khỏe và đời sống tinh thần cho cha mẹ. Điều quan trọng không phải chúng ta cho cha mẹ bao nhiêu, mà là trong những việc làm ấy có bao nhiêu tình thương chân thành.
Báo hiếu cũng không dừng lại ở cha mẹ hiện đời. Mỗi chúng ta đều là sự tiếp nối của ông bà và tổ tiên. Tưởng nhớ tổ tiên không chỉ là thắp hương, cúng giỗ hay gìn giữ gia phả. Sự tưởng nhớ cao quý nhất là gìn giữ những giá trị tốt đẹp của gia đình, sửa đổi những tập khí chưa lành và xây dựng một đời sống đạo đức cho thế hệ mai sau. Nếu tổ tiên từng chịu nhiều gian khổ để con cháu có cuộc sống ngày hôm nay, thì chúng ta phải biết sử dụng những điều kiện đang có một cách xứng đáng. Nếu cha mẹ từng hy sinh để chúng ta được học hành, chúng ta phải dùng kiến thức ấy để giúp đời, không nên dùng tài năng làm tổn hại người khác; nếu gia đình đã để lại cho chúng ta một truyền thống đạo đức, chúng ta phải tiếp tục vun bồi và trao truyền cho con cháu. Một người sống lương thiện làm rạng danh tổ tiên. Một người biết phụng sự xã hội là đang tiếp nối công đức của gia đình. Một người biết nuôi dạy con cái có đạo đức là đang báo hiếu cả quá khứ và tương lai.
Nhân đây tôi xin gởi đến các bạn trẻ thân mến, tuổi trẻ là quãng đời đẹp nhất, tràn đầy sức khỏe, trí tuệ và những ước mơ. Nhưng trên hành trình xây dựng tương lai, xin các bạn đừng quên những người đã âm thầm đứng phía sau mình. Đừng nghĩ rằng đợi đến khi thành công, có nhiều tiền hoặc có địa vị rồi mới báo hiếu. Cha mẹ không thể chờ chúng ta mãi. Thời gian của cha mẹ mỗi ngày một ngắn lại. Hãy bắt đầu ngay hôm nay bằng một lời hỏi thăm, một bữa cơm, một cái ôm, một lời cảm ơn hoặc một lời xin lỗi chân thành. Nếu cha mẹ đã qua đời, hãy sống sao cho cha mẹ có thể tự hào về mình. Hãy làm một việc thiện để hồi hướng. Hãy giúp một người khó khăn, trao một cuốn sách cho trẻ em, đóng góp vào học bổng hoặc tham gia công việc phục vụ cộng đồng. Hãy noi theo những người đã cống hiến cho cuộc đời như bà Dolly Parton. Bà đã dùng danh tiếng và thành công của mình không chỉ để hưởng thụ cá nhân, mà còn để mở cánh cửa tri thức cho hàng triệu trẻ em.
Các bạn không nhất thiết phải là một ca sĩ nổi tiếng, cũng không cần phải trao tặng hàng trăm triệu cuốn sách mới được gọi là người có hiếu. Chỉ cần các bạn biết biến lòng biết ơn thành một việc làm cụ thể, các bạn đã bắt đầu bước đi trên con đường hiếu hạnh. Nếu cha mẹ từng nghèo khó, hãy cố gắng học tập và giúp những người nghèo khó. Nếu cha mẹ từng không có cơ hội đến trường, hãy trân trọng việc học và giúp những trẻ em thiếu điều kiện học hành. Nếu cha mẹ từng chịu cô đơn, hãy biết quan tâm đến người già. Nếu cha mẹ từng được người khác giúp đỡ, hãy tiếp tục trao lòng tốt ấy cho cộng đồng. Đó chính là cách biến công ơn cha mẹ thành nguồn năng lượng thiện lành để phụng sự cuộc đời.
Kính thưa quý vị,
Mùa Vu Lan rồi sẽ đi qua, nhưng hạnh hiếu phải còn ở lại trong từng ngày sống của chúng ta. Báo hiếu không phải là việc làm trong một ngày hay một mùa. Đó là một nếp sống, một sự tỉnh thức và một thái độ biết ơn xuyên suốt cuộc đời. Tấm gương của bà Dolly Parton cho chúng ta thấy rằng một người con có thể báo hiếu cha mẹ bằng cách tiếp nối tình thương và chuyển hóa nỗi thiệt thòi của cha mẹ thành hạnh phúc cho nhiều người. Từ một người cha không biết đọc, bà đã xây dựng nên một chương trình đưa hàng trăm triệu cuốn sách đến với trẻ thơ. Từ tình thương dành cho một người cha, bà đã mở rộng thành tình thương dành cho hàng triệu gia đình. Và từ lòng hiếu thảo, bà đã để lại một di sản nhân ái cho thế giới.
Mong rằng trong mùa Vu Lan này, mỗi người chúng ta hãy tự hỏi: “Cha mẹ đang cần gì nơi con?” hay “con đã làm gì để đền đáp công ơn sinh thành dưỡng dục?” hoặc như “con có thể biến lòng biết ơn của mình thành hành động nào có ích cho gia đình và xã hội?”
Xin các bậc làm cha mẹ hãy sống mẫu mực để con cháu noi theo. Xin những người con hãy kính thương và phụng dưỡng cha mẹ khi còn có thể. Xin các bạn trẻ hãy học hạnh báo hiếu bằng những việc làm cụ thể, bắt đầu từ gia đình rồi mở rộng đến cộng đồng và nhân loại. Bởi vì người biết ơn sẽ biết yêu thương. Người có hiếu sẽ biết trách nhiệm. Người biết phụng sự sẽ tìm thấy ý nghĩa cao đẹp của đời mình.
Hãy để lòng hiếu thảo trở thành nền tảng đạo đức. Hãy để tình thương trở thành hành động. Hãy để sự cống hiến trở thành một nếp sống. Và hãy dùng chính hạnh báo hiếu để thăng hoa cuộc đời.
Nguyện cầu hồng ân Tam Bảo gia hộ cho cha mẹ hiện tiền của tất cả chúng ta được thân tâm an lạc, phước thọ tăng long. Nguyện đem công đức lành hồi hướng đến cha mẹ nhiều đời cùng cửu huyền thất tổ đã quá vãng, nương nhờ ánh sáng từ bi và trí tuệ mà được an lành, siêu thoát.
Kính chúc quý vị cùng gia đình một mùa Vu Lan tràn đầy tình thương, sự tỉnh thức và lòng biết ơn.
Nam mô Đại Hiếu Mục Kiền Liên Bồ Tát Ma Ha Tát.
Như Ninh Nguyễn Hồng Dũng
DONRY NGUYỄN – HỔ XÁM BÌNH LONG
=
HỔ XÁM
BÌNH LONG
(Kính tặng Thiếu tá Phạm Châu Tài, kỷ niệm ngày vinh dự được gặp ông)
•
Tôi gặp ông khi tuổi tám mươi,
Hổ Xám Bình Long nay già yếu lắm.
Mắt hơi kém, đôi tai nghễnh ngãng,
Đi ra ngoài con phải đón đưa.
.
Nhưng tinh thần người lính năm xưa,
Vẫn sáng suốt như thời oanh liệt.
Dấu binh lửa Bốn Vùng Chiến Thuật,
Ông dự nhiều trận đánh lừng danh.
.
Từ Mỹ Tho, Mộc Hoá, Long An …
Đến Tuyên Nhơn, Cần Thơ, Châu Đốc…
Không mệt mỏi đôi chân Biệt Kích,
Qua Hạ Lào, Quảng Trị, Khe Sanh…
.
Đốt bao nhiêu xe giặc tan tành
Về Tân Cảnh, Kon Tum, An Lão…
Quét tàn quân khỏi nơi ẩn náu,
Giữ buôn làng Kinh-Thượng bình an.
.
Trận nhảy vào An Lộc, Bình Long …
Nghe danh Biệt Cách Dù kẻ thù kinh hãi.
Rồi Tây Ninh, Trảng Bàng, Phước Thái …
Chiến trường cần là có mặt ông.
•
Hiệp định Paris vừa ký kết xong,
Địch đã vượt lằn ranh khi chưa ráo mực.
Lấn đất giành dân ngày đêm bắn giết,
Máu lửa ngụt trời khắp cả miền Nam.
.
Đơn vị ông chiến đấu hiên ngang,
Dù thiếu thốn quân trang đạn dược.
Nếu chẳng phải sai lầm chiến thuật,
Lệnh ban hành rút bỏ quân khu.
.
Thì làm sao những bước chân thù,
Có cơ hội tiến vào thành phố.
Phòng tuyến hẹp dân tình hoảng sợ,
Kéo từng đoàn theo bước lui binh.
.
Là quân nhân tuyệt đối tuân hành,
Lệnh cấp trên chu toàn nhiệm vụ.
Cuối tháng tư rút về trấn thủ,
Giữ vành đai Bộ Tổng Tham Mưu.
.
Ông chia quân mai phục bên ngoài,
Chờ giặc đến sẵn sàng khai hỏa.
Thế giặc mạnh tràn vào năm ngả,
Sự an nguy chỉ tính từng ngày.
.
Đạn lên nòng và súng trên vai,
Bắn tan xác từng xe tăng địch.
Cay đắng thay sau lưng người lính,
Đã có hàng tướng tá đào vong.
.
“Quốc loạn hữu trung thần,
Gia bần tri hiếu tử”.
Ông quyết chí không rời hàng ngũ,
Nguyện đồng lòng sống chết với anh em.
.
Khi Dương Văn Minh đọc lệnh đầu hàng,
Ông gọi máy đặt câu chất vấn:
-Tôi cầm quân đang đánh…
Sao Đại tướng bắt buông tay?
.
Vị chỉ huy mới “nhậm chức ba ngày”,
Ấp úng trả lời sau một hồi im lặng.
-Việt cộng đã vào Dinh Độc Lập,
Qua không thể làm gì, tùy liệu các em!
.
Sức cạn rồi vận nước đảo điên,
Một Chiến đoàn trở xoay sao kịp.
Ông kêu lính dưới quyền tập hợp,
Nói những lời như thể trối trăng:
.
-Biệt Cách Dù khí phách hiên ngang,
Không chấp nhận đầu hàng quân giặc.
Tôi giải tán … anh em cố gắng,
Mỗi một người tìm cách thoát thân.
.
Phút sa cơ nuốt hận vào lòng,
Buông cây súng ngậm hờn sông núi.
Siết tay nhau, ấm tình chiến hữu,
Mảnh chiến bào tan tác từ đây.
.
Mất quê hương chịu ách lưu đày,
Trên đất Bắc mười năm lao nạn.
Rời trại giam tìm đường vượt biển,
Ông làm lại cuộc đời trên đất nước Tự Do.
.
Tháng tư buồn mỗi một năm qua,
Lòng lính vẫn vọng về cố quốc.
Chiến hữu xưa người còn kẻ mất.
Kỷ niệm xưa thương nhớ rạt rào.
.
Đêm biên cương phục dưới chiến hào,
Ngày đổ bộ băng rừng đuổi địch.
“An Lộc Địa Sử Ghi Chiến Tích,
Biệt Cách Dù Vị Quốc Vong Thân”.
.
Nay tuổi già vây bủa lấy ông,
-Tuy còn sống cầm bằng đã chết.
Mảnh giang san mình không giữ được,
Công trạng gì mà vỗ ngực xưng danh.
.
Mặc bình thường một chiếc áo phong phanh,
Vỗ vai tôi ông thở dài tâm sự.
Tôi bùi ngùi không đủ lời an ủi,
Hai gã lính già lặng lẽ nắm tay nhau…
-Westmister August, 22, 2026.
•Donry Nguyễn•
(*Hổ Xám Bình Long, Thiếu tá Phạm Châu Tài:
Chiến đoàn trưởng Chiến Đoàn 3 thuộc Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà.
Ông là người chỉ huy trực tiếp bảo vệ Bộ Tổng Tham Mưu QL VNCH những ngày cuối cùng của tháng 4/1975.
Ông bị tù khổ sai 10 năm tại miền Bắc trước khi vượt biên đến Mỹ.)
NHƯ NINH NGUYỄN HỒNG DŨNG: THĂNG HOA CUỘC ĐỜI: HẠNH PHÚC 9, 10, 11, 12, 13, 14
Hạnh Phúc9Thông Thuộc Luật Pháp
Như Ninh Nguyễn Hồng Dũng
Thăng Hoa Cuộc Đời Kỳ 151 là Hạnh Phúc 9 phải thông thuộc luật pháp; ta muốn có hạnh phúc chân thật và bền vững trong đời sống, con người không thể sống một cách tùy tiện, buông lung, hay chỉ hành động theo cảm tính riêng mình. Một trong những nền tảng quan trọng để xây dựng an vui cho bản thân, gia đình và xã hội chính là biết luật pháp, hiểu luật pháp, và học thông luật. Bởi vậy, khi nói đến Hạnh phúc 9, cần phải nhấn mạnh rằng: muốn sống hạnh phúc, con người phải biết tôn trọng luật và biết hành xử trong khuôn khổ của luật.a
Muốn học thông luật, trước hết cần phân tách rõ ba điểm căn bản trong luật: trạng thái của luật, sự quan trọng của luật, và luật là một nguyên tắc rất đẹp để con người noi theo mà sống đúng. Luật không phải chỉ là những điều ngăn cấm để ràng buộc con người, mà chính là hàng rào bảo vệ trật tự, công bằng và an ổn chung cho xã hội. Luật được hình thành do tập thể trí thức, do kinh nghiệm và sự đồng thuận của nhiều người đóng góp, nhằm hướng dẫn mọi người cùng sống tốt đẹp với nhau, chứ không phải do ý muốn độc đoán của một cá nhân có quyền sinh sát.
Ai ai cũng biết rằng mỗi người trong chúng ta đều sống với hai phương diện: đường đời và đường đạo; vì con người có hai phần quan trọng là thân và tâm. Thân sống trong đời, lớn lên trong đời, va chạm với xã hội và chịu sự chi phối của luật đời. Tâm cũng sống giữa đời ấy, nhưng nếu muốn được thanh cao, bình an và hướng thiện, thì phải nương vào luật đạo đức, tức là luật của đạo. Nói cách khác, thân phải sống trong kỷ luật của xã hội, còn tâm phải sống trong khuôn phép của đạo lý.
Tất cả nhân loại sinh ra trong cõi Ta-bà này đều phải sống dưới nhiều định luật khác nhau. Người cư sĩ tại gia không những phải tuân theo luật pháp của quốc gia, mà còn cần thực hành theo luật của Đức Phật như ngũ giới hay bát quan trai giới. Nếu một người chỉ biết giữ luật của chính quyền mà không biết đến luật của tôn giáo, nhất là luật của đạo Phật, thì người ấy tuy có thể tránh được những phiền lụy về thân xác trong hiện đời, nhưng đời sống tinh thần vẫn chưa đạt được niềm hạnh phúc cao đẹp, an lành và lâu bền cho hiện tại lẫn tương lai.
Bởi vậy, Đức Phật từng dạy rằng nếu sự hành động của nhân loại không có luật bắt buộc để hướng dẫn và ngăn ngừa, thì cũng chẳng khác nào một đàn bò đui mù đi giữa rừng rậm, không biết đường ngay lối thẳng. Chính vì ý nghĩa quan trọng ấy, nơi đây xin được đề cập riêng về luật của đạo. Theo Tam Tạng giáo pháp của Đức Thế Tôn truyền dạy, luật của đạo được chia thành hai phần: luật của người tại gia và luật của người xuất gia.
Trước hết là luật của người tại gia: Người tại gia là người còn sống trong gia đình, còn gắn bó với đời sống xã hội, chưa rời bỏ thế tục để đi theo con đường xuất gia. Vì vậy, để giúp người sống giữa đời mà vẫn giữ được đời sống đạo đức và hạnh phúc, Đức Phật đã dạy những nguyên tắc đạo đức dành cho hàng cư sĩ. Những nguyên tắc ấy nhằm chế ngự ba nơi quan trọng của con người là thân, lời nói và tâm ý.
Luật của người tại gia được tóm gọn trong mười điều thiện, là con đường giúp con người tránh mười điều ác. Mười điều ác ấy chia thành ba phần: ba điều do thân tạo ra, bốn điều do lời nói tạo ra, và ba điều do tâm ý tạo ra. Khi con người tránh được mười điều ác và thực hành mười điều thiện, thì đời sống trở nên an ổn, gia đình hòa thuận, xã hội yên vui.
Ba điều ác do thân gây ra gồm sát sinh, trộm cướp và tà dâm.
Sát sinh là cố ý giết hại một sinh mạng, dù là con người hay loài vật. Hành động giết hại không những làm tổn hại đến sự sống của sinh vật khác mà còn làm tâm con người trở nên tàn nhẫn và bất an. Người quen sát sinh dễ sinh lòng hung bạo, không còn biết thương xót. Tội sát sinh nặng hay nhẹ tùy theo đối tượng bị giết và tâm ý của người giết. Tuy nhiên, dù giết loài vật nhỏ hay lớn, hành động ấy đều làm tổn hại lòng từ bi của con người. Vì vậy người tại gia cần tập nuôi dưỡng lòng thương yêu sự sống, tránh giết hại và khuyến khích bảo vệ sinh mạng muôn loài.
Điều thứ hai là trộm cướp. Trộm cướp là lấy của người khác khi biết rằng vật ấy có chủ mà chủ không cho phép. Hành động ấy làm tổn hại quyền lợi của người khác và phá vỡ sự tin cậy trong xã hội. Người trộm cướp thường bị lòng tham thúc đẩy, không biết tôn trọng tài sản của người khác. Tội nặng hay nhẹ tùy theo giá trị tài sản và hoàn cảnh của người bị hại. Tuy vậy, dù lớn hay nhỏ, hành động chiếm đoạt của người đều làm mất phẩm giá của con người. Người tại gia cần sống lương thiện, biết tôn trọng tài sản của người khác và chỉ nhận những gì do công sức chính mình làm ra.
Điều thứ ba là tà dâm. Tà dâm là quan hệ tình cảm hoặc xác thân không đúng đạo nghĩa, làm tổn hại hạnh phúc gia đình và gây khổ đau cho nhiều người. Trong đời sống vợ chồng, sự chung thủy là nền tảng của hạnh phúc. Khi con người chạy theo dục vọng mà phản bội nghĩa tình, thì gia đình tan vỡ, xã hội cũng bị ảnh hưởng. Vì vậy người tại gia phải biết giữ lòng trong sạch, tôn trọng hôn nhân và không xâm phạm đến người đã có gia đình hoặc những người thuộc sự bảo hộ của người khác. Giữ gìn giới này giúp gia đình bền vững và tâm hồn con người được an ổn.
Bốn điều ác do lời nói gây ra gồm nói dối, nói đâm thọc, nói lời hung ác và nói lời vô ích.
Nói dối là nói điều không đúng sự thật nhằm lừa gạt người khác. Lời nói dối làm mất lòng tin giữa con người với nhau. Khi một người quen nói dối thì uy tín của họ bị giảm sút, người khác không còn tin tưởng nữa. Tội nói dối nặng hay nhẹ tùy theo hậu quả gây ra. Nếu lời nói dối làm hại nhiều người thì tội càng lớn. Vì vậy người tại gia cần tập nói lời chân thật, ngay thẳng và đáng tin cậy.
Nói đâm thọc là dùng lời nói để gây chia rẽ giữa những người đang hòa thuận với nhau. Người nói đâm thọc thường do lòng ganh ghét hoặc muốn lợi dụng tình cảm của người khác. Lời nói ấy làm mất tình đoàn kết, gây oán thù và làm tan vỡ nhiều mối quan hệ tốt đẹp. Vì vậy người có đạo đức cần tránh nói những lời làm chia rẽ người khác, trái lại nên dùng lời nói để hòa giải và xây dựng sự hiểu biết.
Ác ngữ là những lời nói hung dữ, chửi rủa hay làm tổn thương danh dự của người khác. Khi con người nổi giận, lời nói dễ trở nên thô bạo và gây đau khổ cho người nghe. Những lời nói ấy không những làm tổn thương người khác mà còn làm tâm người nói trở nên xấu xa. Người tại gia cần tập nói lời hiền hòa, nhẹ nhàng và tôn trọng người khác. Lời nói dịu dàng có thể làm nguôi cơn giận và đem lại hòa khí trong đời sống.
Lời nói vô ích là những lời nói không mang lại lợi ích gì, chỉ làm phí thời giờ và dễ dẫn tâm người vào sự buông lung. Những câu chuyện vô nghĩa, lời đùa cợt quá mức hoặc những lời nói làm người khác phân tâm đều thuộc loại này. Người biết tu dưỡng cần nói những lời có ích, đúng lúc và đúng chỗ, giúp ích cho bản thân và cho người nghe.
Ba điều ác do tâm ý tạo ra gồm tham lam, oán thù và tà kiến.
Tham lam là mong muốn chiếm lấy của cải hay lợi ích của người khác cho riêng mình. Khi lòng tham quá mạnh, con người dễ làm điều sai trái để đạt được điều mình muốn. Lòng tham làm cho tâm không bao giờ biết đủ, càng được lại càng muốn thêm. Người biết tu dưỡng cần tập sống biết đủ, biết chia sẻ và biết vui với những gì mình có.
Oán thù là tâm muốn làm hại người khác vì lòng giận dữ hay thù hận. Khi tâm chứa đầy oán thù, con người dễ nghĩ đến những cách gây tổn hại cho người mình ghét. Tâm oán hận không những làm khổ người khác mà trước hết làm khổ chính mình. Vì vậy người tại gia cần tập lòng tha thứ và nuôi dưỡng tâm từ bi để hóa giải hận thù.
Tà kiến là sự hiểu biết sai lầm, không đúng với sự thật và chân lý. Người có tà kiến thường không tin vào luật nhân quả, cho rằng việc làm thiện ác không đem lại hậu quả tương ứng. Khi hiểu sai như vậy, con người dễ buông lung trong hành động. Người có trí cần nhận thức rằng mọi hành động đều có hậu quả của nó. Làm điều thiện sẽ đem lại an vui, làm điều ác sẽ đưa đến khổ đau.
Tóm lại, luật của người tại gia là tránh mười điều ác và thực hành mười điều thiện. Ba điều thuộc thân giúp con người sống lương thiện, bốn điều thuộc lời nói giúp xây dựng sự hòa thuận, và ba điều thuộc tâm giúp giữ tâm trong sạch. Khi người tại gia biết giữ gìn thân, lời nói và tâm ý như vậy, thì đời sống cá nhân được bình an, gia đình được hạnh phúc và xã hội cũng trở nên tốt đẹp hơn. Đây chính là nền tảng đạo đức giúp người sống giữa đời mà vẫn tiến gần đến đời sống cao thượng và an vui lâu dài.
Đặc biệt luật của người xuất gia là luật dành cho người đã rời bỏ đời sống gia đình để đi trọn con đường tu học và giải thoát. Vì đã từ bỏ nhà cửa, thân phận riêng tư và những ràng buộc thế tục, người xuất gia phải sống trong khuôn phép nghiêm mật hơn người tại gia rất nhiều. Đức Phật đã chế định giới luật rõ ràng để bảo vệ đời sống thanh tịnh của hàng xuất gia, giữ cho Tăng đoàn được trong sạch, và giúp người tu tiến đến giải thoát.
Đối với vị tỳ khưu, có tất cả hai trăm hai mươi bảy điều giới phải giữ. Đây là giới pháp đầy đủ của người xuất gia. Trong số ấy có những điều rất nặng: nếu phạm thì không còn được ở trong hàng ngũ xuất gia nữa, phải bị trục xuất; có những điều nhẹ hơn thì phải sám hối, chịu kỷ luật, hoặc tạm thời bị hạn chế sinh hoạt. Dù nặng hay nhẹ, giới nào cũng quan trọng. Vì đối với người xuất gia, phạm giới là làm tổn thương đời sống phạm hạnh, gây chướng ngại lớn trên đường tu.
Điều đáng sợ không chỉ là phạm giới nặng, mà ngay cả những lỗi nhỏ nếu lỡ phạm mà không chịu thành tâm sám hối, lâu dần cũng trở thành chướng ngại rất lớn. Người tu có thể tinh tấn nhiều năm, nhưng nếu xem thường giới luật, xem lỗi nhỏ là không đáng kể, thì đạo hạnh cũng bị nhơ đục. Bởi vậy trong đạo Phật, sám hối không phải là hình thức, mà là phương cách làm trong sạch lại thân tâm, giữ cho giới thể được sáng. Người xuất gia nếu lỡ sai, phải biết nhận lỗi và sửa lỗi ngay, không được che giấu.
Trong kinh còn nhắc câu chuyện về một vị tỳ khưu tu hành rất lâu năm, giới hạnh rất trang nghiêm, nhưng một lần vô ý làm đứt một bụi cỏ mà quên không sám hối. Khi sắp lâm chung, vị ấy mới nhớ lại, lòng đầy ân hận, nhưng không còn kịp nữa vì không có ai để đối trước mà xin sám hối. Do lỗi nhỏ mà không thanh tịnh ấy, vị ấy phải chịu quả báo sinh vào loài không tốt. Câu chuyện này không phải để làm người ta sợ hãi một cách mù quáng, mà để nhắc rằng người tu phải có tâm kính sợ giới luật, không được coi thường những điều rất nhỏ.
Đức Phật từng dạy giới luật nghiêm khắc không phải vì Ngài muốn ràng buộc hay làm khó người tu, mà chính vì lòng từ bi rất lớn. Nếu không có giới luật nghiêm minh, thì người phá giới vẫn khoác áo tu, vẫn sống giữa sự cung kính của tín đồ, sẽ làm tổn hại cho chính mình, cho người cúng dường, và cho cả uy tín của đạo pháp. Vì thế, giới luật là hàng rào bảo vệ cả người tu lẫn người hộ trì Tam bảo.
Nói gọn lại, luật của người xuất gia quy về bốn điều thanh tịnh lớn.
Thứ nhất là giữ trọn các giới điều của người xuất gia. Đây là nền tảng quan trọng nhất. Người xuất gia phải quý trọng giới hạnh như người chỉ còn một con mắt thì hết lòng giữ gìn con mắt ấy. Giới không phải chỉ để tránh tội, mà còn để nuôi lớn đức hạnh, làm cho tâm được nhẹ nhàng, không ray rứt, không hổ thẹn. Có vị tỳ khưu thà chấp nhận chết chứ không dám phá một giới nhỏ. Tinh thần ấy cho thấy người thật sự yêu quý giải thoát là người kính sợ lỗi lầm, không dám dễ duôi với bản thân.
Thứ hai là giữ gìn sáu căn. Sáu căn là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Người xuất gia sống giữa đời nhưng không được buông lung để mắt chạy theo hình sắc, tai chạy theo âm thanh, tâm chạy theo ham muốn. Nếu không giữ sáu căn, thì từ một sự nhìn ngắm, nghe ngóng hay suy nghĩ buông thả, phiền não sẽ sinh khởi, rồi kéo người tu đi xa dần con đường thanh tịnh. Đức Phật dạy rằng lửa phiền não cháy lên từ chính những chỗ tiếp xúc ấy. Vì vậy người xuất gia phải luôn tỉnh giác, biết nhìn mà không dính mắc, biết nghe mà không dao động, biết tiếp xúc mà vẫn giữ được sự trong sáng của tâm.
Thứ ba là giữ mạng sống cho thanh tịnh. Nghĩa là người xuất gia phải sống đúng cách của người tu, không dùng những phương tiện quanh co, giả dối hay vụ lợi để được người khác kính trọng, cúng dường hay nuôi dưỡng. Người tu không được lợi dụng hình thức đạo mạo, lời nói khéo léo, tài đoán việc, xem ngày, xem tướng, làm trung gian, làm nghề mưu sinh hay những việc thế tục khác để kiếm lợi. Mạng sống của người xuất gia phải được nuôi bằng con đường chân chánh: sống giản dị, nhận sự cúng dường đúng pháp, không vì tham lợi mà đánh mất phẩm hạnh. Các bậc thánh xưa thà chịu bệnh, chịu thiếu thốn, chứ không nhận một vật gì có dính đến tâm mong cầu hay gợi ý để được cho. Điều đó cho thấy sự thanh cao của đời sống xuất gia.
Thứ tư là dùng vật dụng với tâm quán xét. Người xuất gia khi nhận và dùng cơm ăn, áo mặc, chỗ ở, thuốc men đều phải tự nhắc mình rằng những vật ấy là do đàn việt phát tâm cúng dường để giúp mình tu học, chứ không phải để hưởng thụ. Cho nên khi dùng phải biết đủ, biết ơn, biết tiết chế và luôn xét xem mình có xứng đáng với sự cúng dường ấy hay không. Nếu dùng mà không quán xét, dễ sinh tâm hưởng thụ, tham đắm và quên mất mục đích giải thoát. Quán xét như vậy giúp người tu giữ được tâm khiêm cung, tỉnh thức và không phụ lòng tin của thí chủ.
Tóm lại, luật của người xuất gia không chỉ là một hệ thống điều cấm, mà là con đường bảo vệ sự thanh tịnh của người tu. Nhờ giới luật, người xuất gia mới giữ được thân ngay, lời thật, tâm sạch; mới xứng đáng là ruộng phước cho đời; mới không làm tổn hại niềm tin của người khác; và mới có thể tiến xa trên con đường giải thoát. Người xuất gia càng giữ giới nghiêm thì đời sống càng sáng, tâm càng an, đạo càng vững. Vì thế, giới luật chính là nền móng của đời sống xuất gia, là hàng rào ngăn phiền não, và là chiếc thuyền đưa người tu vượt qua biển khổ sinh tử.
Thăng Hoa Cuộc Đời Kỳ 151 là Hạnh Phúc 9 nhắc rằng hiểu và sống đúng luật pháp, luật đời và luật đạo, giúp con người an ổn, xã hội hài hòa, đời sống thăng tiến và thế giới hòa bình, chúng sanh an lạc.
Như Ninh Nguyễn Hồng Dũng
==
Hạnh Phúc 10 Nói Lời Chân Thật
Như Ninh Nguyễn Hồng Dũng
Thăng Hoa Cuộc Đời kỳ 152 Hạnh Phúc 10 Nói Lời Chân Thật có nghĩa là “Lời người nói thành thật” đã, đang và sẽ phát ngôn phù hợp với sự thật, được lưu xuất từ một tâm ngay thẳng và hướng đến lợi ích cho mình cũng như cho người khác. Trong đời sống, lời nói không chỉ là phương tiện giao tiếp mà còn là biểu hiện của đạo đức và nội tâm. Vì vậy, lời chân thật không đơn thuần là nói đúng sự việc, mà còn bao hàm cả sự chân thành và thiện lành.
Trước hết, lời nói chân thật phải đúng với sự thật, không hư dối. Người nói chân thật luôn trình bày đúng những gì mình thấy, mình biết, mình đã trải qua, không thêm bớt hay bóp méo sự việc. Họ không dùng lời nói để che giấu lỗi lầm hay trục lợi cho bản thân. Đây chính là nền tảng căn bản của chân ngữ trong đạo đức con người. Khi lời nói được xây dựng trên sự thật, niềm tin giữa người với người mới được thiết lập và duy trì bền vững.
Kế đến, lời chân thật phải xuất phát từ tâm chân thành. Không phải chỉ nói đúng sự thật là đủ, mà còn cần nói bằng một tấm lòng ngay thẳng, không gian dối, không hai lưỡi. Người chân thật không nói một đằng mà nghĩ một nẻo, cũng không dùng lời nói để gây chia rẽ hay làm tổn hại người khác. Lời nói khi ấy phản chiếu đúng nội tâm, trong ngoài như một. Do đó, chân thật không chỉ nằm ở lời nói, mà còn nằm ở chính tâm ý của người nói.
Sau cùng, lời nói chân thật cần mang lại lợi ích và sự thiện lành. Một lời nói dù đúng nhưng nếu gây tổn thương vô ích thì chưa phải là lời nói trọn vẹn. Người biết nói lời chân thật là người biết lựa lời, nói đúng lúc, đúng chỗ, giúp người nghe hiểu đúng và sống tốt hơn. Theo lời Phật dạy về Chánh Ngữ, lời nói chân thật luôn đi kèm với việc không nói dối, không nói lời ác, không nói lời chia rẽ và không nói lời vô ích. Đó là những nguyên tắc giúp lời nói trở thành phương tiện nuôi dưỡng sự an lành và hòa hợp trong cuộc sống.
Tóm lại, lời người nói chân thật là sự kết hợp giữa sự thật, tâm chân thành và lợi ích thiện lành. Khi con người biết giữ gìn lời nói như vậy, không chỉ tự xây dựng được nhân cách cho mình mà còn góp phần làm cho xã hội trở nên tốt đẹp, tin cậy và an hòa hơn. Lời nói trong đời sống con người không chỉ là phương tiện giao tiếp mà còn là biểu hiện của đạo đức và trí tuệ. Một lời nói đúng đắn phải là lời không làm hại người khác và cũng không gây tổn hại cho chính người nói. Đó là lời nói mang lại lợi ích cho cả hai phía, vừa giúp người nghe được an vui, hiểu biết, vừa giúp người nói tích lũy thiện nghiệp. Hơn nữa, lời nói ấy không làm cho người nghe khó chịu, trái lại còn nhẹ nhàng, dịu ngọt và hợp thời, khiến người nghe dễ tiếp nhận. Vì vậy, có thể tạm dùng cụm từ “cam ngôn mỹ từ” để diễn đạt ý nghĩa cao đẹp của loại lời nói này theo tinh thần Phật dạy.
Đức Thế Tôn đã dạy rất rõ về giá trị của lời nói chân thật trong bài kinh Thiện Ngữ. Ngài khẳng định rằng: “Này các thầy Tỳ khưu, lời nói nào có đủ bốn chi, lời nói ấy mới gọi là lời Thiện Ngữ, lời nói ấy không có một ai chê được, không có tội lỗi.” Như vậy, lời nói chân thật không chỉ đơn giản là không nói dối, mà còn phải hội đủ những yếu tố đạo đức nhất định. Bốn chi mà Đức Phật dạy bao gồm: thứ nhất, nên nói lời chân thật, không nói lời giả dối; thứ hai, nên nói pháp, không nên nói ngoài pháp; thứ ba, nên nói những lời mà người nghe ưa thích, yêu mến, không nói lời khiến người ta ghét bỏ; và thứ tư, nên nói lời thành thật, không nói lời hoang đàng. Người tu hành nếu giữ đúng bốn điều này thì lời nói của họ mới thật sự được gọi là Kinh Thiện Ngữ, tức là lời nói chân thật, đúng đắn và không có lỗi.
Không chỉ dừng lại ở đó, các bản chú giải như Luận về khẩu nghiệp chân thật còn làm rõ thêm nội dung của lời nói chân thật. Theo đó, người nói được xem là đúng theo Kinh Thiện Ngôn khi không phạm bốn điều sai trái: không nói lời đâm thọc gây chia rẽ, không nói lời hoang đàng vô nghĩa, không nói lời hung ác làm tổn thương người khác, và không nói lời dối trá. Đây là những nguyên tắc căn bản giúp người tu hành và cả người đời giữ gìn khẩu nghiệp trong sạch. Đức Phật cũng cảnh tỉnh rằng những ai thường xuyên nói dối, nói đâm thọc, nói vu vơ và nói lời hung ác sẽ phải chịu quả báo xấu, có thể bị tái sinh vào bốn đường ác, bởi những lời nói ấy không phải là Thiện Ngôn, mà là nguồn gốc của bất thiện nghiệp.
Trong phần chú giải làm sáng tỏ về khẩu nghiệp, ý nghĩa của lời nói chân thật càng được nhấn mạnh hơn. Theo đó, người nói đúng theo những nguyên tắc trên được gọi là nói lời ngay thật, không nói lời đê tiện, mà nói những lời vô tội và được các bậc trí thức ngợi khen. Như vậy, lời nói chân thật không chỉ tránh điều ác mà còn hướng đến điều thiện, trở thành tiêu chuẩn để người trí đánh giá và tán dương.
Để giúp độc giả hiểu rõ hơn thế nào là lời nói chân thật trọn vẹn, Đức Phật còn dạy trong Kinh Thiện Ngôn rằng một lời nói được gọi là chân thật khi hội đủ năm chi phần bao gồm thứ nhất là nói hợp thời, tức là biết lựa lúc thích hợp để nói; thứ hai là nói chân thật, không sai sự thật; thứ ba là nói lời dịu ngọt, không thô lỗ; thứ tư là nói lời có ích, đem lại lợi lạc; và thứ năm là nói lời đầy lòng từ bi, xuất phát từ tâm thương yêu. Khi một lời nói hội đủ năm yếu tố này thì không những không gây tổn hại mà còn mang lại lợi ích thiết thực cho người nghe và người nói, đồng thời được các bậc trí thức luôn luôn ngợi khen.
Cho nên lời nói chân thật theo tinh thần Phật dạy là lời nói vừa đúng sự thật, vừa dịu dàng, hợp thời, có ích và đầy lòng từ bi. Đó là lời nói không hại mình, không hại người, mà còn nuôi dưỡng sự an lành và hòa hợp trong đời sống. Người biết tu tập và gìn giữ lời nói như vậy chính là đang xây dựng nền tảng đạo đức vững chắc cho bản thân và góp phần làm cho xã hội trở nên tốt đẹp hơn.
Thiết tưởng cần giảng giải rõ ràng chi thứ nhất trong năm chi của lời nói chân thật, đó là lời nói phải hợp thời. Trong đời sống, con người muốn nói một điều gì, dù là sự thật, cũng cần phải xét xem hoàn cảnh, thời điểm và tình huống có thích hợp hay chưa. Không phải cứ nói đúng là đủ, mà còn phải nói đúng lúc, đúng nơi, đúng cách. Nếu nói không hợp thời, dù là lời chân thật, cũng có thể đem lại tai hại cho chính mình và cho người khác.
Trong kinh điển có kể lại một câu chuyện để minh họa rõ điều này. Xưa kia, có một con rùa sống trong một cái ao ở khu rừng gần thành Ba la nại. Mỗi ngày, có một cặp hạc thường bay đến ao để kiếm ăn. Lâu ngày, rùa và hai con hạc trở nên quen biết, rồi dần dần thân thiết như bạn bè. Một hôm, rùa hỏi thăm nơi ở của hạc, và được biết rằng hai con hạc sống trên dãy núi Hy Mã Lạp Sơn. Nghe vậy, rùa nảy sinh ý định muốn đi thăm nơi ở của bạn, nhưng lại ngại đường xa không thể tự mình đi đến được.
Sau một hồi suy nghĩ, rùa bèn đưa ra một kế hoạch: nhờ hai con hạc ngậm hai đầu của một khúc cây, còn rùa sẽ ngậm ở giữa. Khi hạc bay lên, rùa cũng sẽ được mang theo. Hai con hạc đồng ý giúp bạn, nhưng trước khi thực hiện, chúng dặn dò rùa rất cẩn thận rằng: “Trong khi bay, nếu thấy hay nghe điều gì lạ, anh cũng tuyệt đối không được mở miệng nói.” Rùa chấp nhận lời dặn này.
Khi mọi việc đã sẵn sàng, hai con hạc ngậm hai đầu khúc cây, rùa ngậm ở giữa, rồi cùng bay lên trời. Khi bay ngang qua thành Ba la nại, người dân và trẻ con trong thành nhìn thấy cảnh tượng lạ lùng, liền la lên: “Kìa, con rùa biết bay!” Nghe vậy, rùa cảm thấy khó chịu vì bị hiểu lầm. Nó muốn lên tiếng cải chính rằng mình không biết bay, mà chỉ được hai bạn khiêng đi. Nhưng ngay khi vừa hé miệng để nói, rùa buông khúc cây, rơi xuống đất và chết ngay trước mặt nhà vua cùng vị quân sư.
Thấy vậy, vị quân sư liền nhân cơ hội ấy mà thưa với vua rằng: “Người nói không tùy thời thường phải chịu tai hại như thế.” Sau khi kể lại câu chuyện này, Đức Thế Tôn dạy rằng vị quân sư kia chính là tiền thân của Ngài, đã dùng phương tiện khéo léo để nhắc nhở nhà vua về việc nói năng cho hợp thời.
Câu chuyện ấy là một bài học sâu sắc cho tất cả chúng ta. Trong đời sống, không phải lúc nào cũng nên nói ra những điều mình biết, dù đó là sự thật. Có những lúc, im lặng lại là điều khôn ngoan và lợi ích hơn. Ta cần biết khi nào nên nói, khi nào nên nín thinh. Nói thật mà không đúng lúc thì lời nói ấy trở nên vô ích, thậm chí còn gây hại. Như con rùa kia, tuy muốn nói sự thật, nhưng vì không hợp thời nên phải chịu hậu quả đau đớn.
Bởi vậy, người xưa đã dạy một câu phương ngôn rất sâu sắc: “Câm đi còn hơn nói không hợp thời.” Lời dạy này nhắc nhở chúng ta phải luôn cẩn trọng trong lời nói, biết giữ im lặng khi cần thiết. Chỉ khi lời nói được đặt đúng thời điểm, nó mới thật sự có giá trị và đem lại lợi ích. Đây chính là bước đầu tiên và rất quan trọng trong việc tu tập lời nói chân thật theo tinh thần Phật dạy.
Trong giáo lý về lời nói chân thật, Đức Phật dạy rằng, lời nói cần phải chân thật, lời nói chân thật ở đây được hiểu theo hai phương diện. Thứ nhất, người nói phải trung thực với hành động của mình, làm sao thì nói vậy, không vì sợ hãi tai hại có thể đến với mình mà nói sai sự thật. Đó chính là không nói dối, giữ được sự ngay thẳng trong lời nói. Thứ hai, lời nói chân thật còn mang ý nghĩa sâu xa hơn, tức là nói lên chân lý, nói đúng pháp, đặc biệt là nói về Tứ Diệu Đế, bốn sự thật căn bản mà Đức Phật đã chứng ngộ và giảng dạy cho chúng sanh.
Đức Thế Tôn từng dạy rằng sự chân thật vốn hiện hữu, nhưng rất ít người nhận ra. Ý của Ngài muốn chỉ rõ rằng cuộc đời này đầy dẫy khổ đau: nào là già, bệnh, chết, những điều không ai có thể tránh khỏi, thế nhưng, con người sống trong chính những hoàn cảnh ấy lại không chịu nhìn nhận sự thật. Họ tìm mọi cách để che đậy cái già, né tránh bệnh tật, hoặc sống buông thả, quên đi bản chất mong manh của đời sống. Chúng sanh đang chìm đắm trong khổ não nhưng phần đông lại không chấp nhận rằng đó là sự thật, đúng như lời Đức Phật đã chỉ bày.
Chính vì vậy, toàn bộ giáo pháp mà Đức Phật giảng dạy, dù được nói là tám muôn bốn ngàn pháp môn đều là lời chân thật, là chân lý. Những lời dạy ấy không phải là lý thuyết suông, mà là sự thật được chứng nghiệm, nên đến ngày nay vẫn còn nguyên giá trị. Rất nhiều bậc học giả uyên thâm qua các thời đại đã quan tâm nghiên cứu, học hỏi và thực hành theo giáo pháp ấy. Điều này hoàn toàn phù hợp với lời Đức Phật dạy: “lời nói chân thật là lời nói bất diệt” nghĩa là chân lý thì không bị thời gian làm mai một, càng được chứng nghiệm thì càng sáng tỏ.
Bên cạnh lời nói chân thật, Đức Phật còn dạy đến lời nói dịu ngọt. Lời nói dịu ngọt là lời nói không cộc cằn, không thô lỗ, không làm cho người nghe cảm thấy khó chịu. Tuy nhiên, không phải cứ nói lời nhẹ nhàng bên ngoài là đủ. Có những người tuy không mắng chửi, lời nói nghe như mật ngọt, nhưng ẩn chứa sự mỉa mai, châm chọc, khiến người nghe đau lòng và khó chịu. Những lời như vậy không được gọi là lời nói dịu ngọt.
Chỉ khi nào lời nói vừa êm ái, nhẹ nhàng, lại vừa không mang ý nghĩa gây tổn thương, không làm người nghe phiền não hay đau khổ, thì lời nói ấy mới thật sự là lời nói dịu ngọt. Và khi lời nói dịu ngọt đi đôi với sự chân thật, không giả dối, không ác ý, thì đó chính là lời nói chân thật trọn vẹn theo tinh thần Phật dạy.
Trên đời này, không ai ưa nghe những lời thô bỉ, cũng chẳng ai muốn bị mắng nhiếc hay chọc tức. Lời nói cộc cằn, ác khẩu không chỉ làm tổn thương người nghe mà còn gây tai hại cho chính người nói. Điều này đã được minh chứng qua một câu chuyện xưa đầy ý nghĩa.
Tại xứ Ta si la, có một vị Bà la môn nuôi một con bò đực tên là Nan da vi la, thương yêu nó như con ruột. Con bò lớn lên, hiểu được ân tình của chủ, nên một ngày nọ đã thưa với thầy rằng: “Thầy hãy đến đánh cá với một vị trưởng giả như thế này: Bò của tôi có thể kéo một trăm cổ xe chở đầy hàng hóa. Vậy thầy hãy đem tôi ra đánh cá với ông ta.” Vị Bà la môn nghe theo lời, đến gặp trưởng giả và đề nghị cuộc cá cược. Trưởng giả đồng ý, và số tiền đặt cược là một ngàn đồng.
Khi đã chuẩn bị xong, vị Bà la môn cho thắng ách con bò vào một trăm cổ xe. Nhưng trong lúc nóng nảy, thầy lại lớn tiếng quát mắng: “Con bò chết bầm, hãy kéo đi!” Nghe những lời thô bỉ ấy, bò Nan da vi la buồn tủi, mất hết tinh thần, không thể kéo nổi xe. Cuối cùng, vị Bà la môn thua cuộc, đành trở về nhà trong nỗi buồn bã và thất vọng.
Thấy thầy mình buồn rầu, con bò động lòng thương, bèn nói: “Thầy hãy đi đánh cá lại, lần này gấp đôi số tiền, nhưng xin đừng dùng lời thô bỉ với tôi nữa.” Vị Bà la môn đồng ý. Lần này, khi đã thắng ách xong, thầy không quát mắng nữa, mà nhẹ nhàng vuốt ve và nói: “Con ơi, con cố gắng kéo giúp cha, nếu không thì cha khổ lắm.” Nghe những lời dịu dàng, chân tình ấy, bò Nan da vi la cảm thấy phấn chấn, tràn đầy sức lực, liền kéo một trăm cổ xe đi một cách dễ dàng. Nhờ đó, vị Bà la môn thắng cuộc và lấy lại được danh dự cùng tiền bạc.
Sau khi kể lại câu chuyện này, Đức Thế Tôn dạy rằng con bò Nan da vi la chính là tiền thân của Ngài. Ngài nhấn mạnh: “Này các thầy Tỳ khưu, đã gọi là lời thô bỉ thì không ai ưa.” Rồi Ngài đọc bài kệ: người ta nên nói những lời khiến người khác vừa lòng, không nên nói lời làm phật ý người nghe. Nhờ lời nói dịu ngọt mà vị Bà la môn đã khiến con bò Nan da vi la vui lòng, từ đó có thể kéo được những cổ xe nặng và giúp thầy thắng cuộc.
Câu chuyện này cho thấy một sự thật rất rõ ràng: ngay cả loài vật cũng không ưa thích những lời thô bỉ, cộc cằn, huống chi là con người. Vì vậy, chúng ta không nên dùng lời nói thô lỗ với bất kỳ ai, mà nên tập nói lời dịu dàng, hòa nhã. Trong cuộc sống, có khi người khác sẵn sàng giúp đỡ ta, nhưng chỉ vì một lời nói không vừa lòng mà họ đổi ý, không còn muốn giúp nữa. Ngược lại, một lời nói nhẹ nhàng, chân thành có thể cảm hóa tâm người, tạo nên sự hợp tác và đem lại lợi ích lớn lao.
Do đó, biết giữ gìn lời nói, tránh thô ác và nuôi dưỡng lời nói dịu ngọt chính là một trong những phương pháp thiết thực để xây dựng mối quan hệ tốt đẹp và đem lại an vui cho mình cũng như cho người khác.
Trong giáo pháp về lời nói chân thật, Đức Phật dạy đến chi thứ tư là lời nói phải có lợi ích. Lời nói lợi ích là điều đối nghịch với lời nói vô ích. Lời nói vô ích chỉ làm mất thời giờ, không đem lại lợi lạc cho ai, thậm chí còn gây phiền toái. Trái lại, lời nói lợi ích là lời nói có khả năng đem lại sự an vui cho người nghe, không chỉ trong hiện tại mà còn trong cả tương lai. Đó là những lời không gây tổn hại cho người khác, cũng không làm hại đến chính người nói. Vì vậy, người biết tu tập lời nói cần phải cân nhắc kỹ lưỡng, chỉ nói những điều có ích, giúp người khác hiểu đúng, sống tốt và hướng thiện.
Chi thứ năm là lời nói phải phát xuất từ tâm từ bi. Lời nói đầy vẻ từ bi là lời nói không mang tính châm biếm, không xuyên tạc hay bóp méo sự thật. Đó là lời nói thể hiện một tấm lòng không thù nghịch, không oán ghét, và cũng không bị chi phối bởi tư lợi cá nhân. Khi lời nói xuất phát từ tâm từ ái, nó sẽ trở nên nhẹ nhàng, chân thành và có sức cảm hóa. Người nghe không những không bị tổn thương mà còn cảm nhận được sự quan tâm và thiện chí từ người nói.
Như vậy, một lời nói được gọi là lời nói chân thật, ngay thẳng và tốt đẹp, phải hội đủ năm yếu tố đã được giải thích. Nếu thiếu một trong năm yếu tố này thì lời nói ấy chưa thể gọi là trọn vẹn. Để dễ ghi nhớ, có thể tóm lược năm chi ấy như sau: nói đúng thời, nói chân thật, nói dịu ngọt, nói có lợi ích, và nói với tác ý lành, đầy lòng từ bi.
Tuy nhiên, không chỉ dừng lại ở việc hội đủ năm yếu tố đó, lời nói chân thật còn cần phải phù hợp với hoàn cảnh và đối tượng. Lời nói phải vừa với trình độ và tâm lý của người nghe. Có những lời tuy xuất phát từ ý tốt, nội dung đúng đắn và hợp hoàn cảnh, nhưng nếu không phù hợp với người nghe thì vẫn có thể bị hiểu lầm hoặc bị xuyên tạc, thậm chí gây ra oán hờn không đáng có. Do vậy, người nói cần phải có sự khéo léo, biết tùy duyên, tùy người mà nói cho thích hợp.
Đối với người Phật tử chân chánh, việc học và thực hành theo năm điều Đức Phật dạy về lời nói là vô cùng cần thiết. Nhờ đó, ta có thể tránh được nhiều oan trái, oán thù trong cuộc sống. Dù không thể hoàn toàn tránh hết mọi xung đột, nhưng chắc chắn sẽ giảm thiểu được rất nhiều phiền não phát sinh từ lời nói.
Cần hiểu rằng lời nói cũng là một loại nghiệp, gọi là khẩu nghiệp, và khẩu nghiệp ấy phát sinh từ chính tác ý của mỗi người. Vì vậy, trước khi nói, ta nên tự quán xét lại tâm ý của mình. Nếu tác ý chưa thiện, lời nói dễ trở thành nguyên nhân gây khổ. Ngược lại, nếu tác ý lành, lời nói sẽ trở thành phương tiện mang lại an vui và hòa hợp. Do đó, tu tập lời nói chính là tu tập tâm ý, và cũng là con đường dẫn đến đời sống an lạc và tốt đẹp hơn.
Lời nói chân thật không chỉ là chuẩn mực đạo đức mà còn là nguồn gốc của hạnh phúc bền vững trong đời sống. Khi ta thực hành lời chân thật, tức là đang đi vào con đường của thập thiện, tạo nên nguyên nhân sinh phước. Mỗi lời nói ngay thẳng, không dối trá đều gieo một hạt giống lành, đưa đến quả báo tốt đẹp trong hiện tại và tương lai. Vì vậy, lời nói chân thật chính là một đại phúc, giúp con người sống an vui trong kiếp này và cả những kiếp về sau.
Không những thế, lời nói chân thật còn đem lại nhiều lợi ích thiết thực như tài lộc, địa vị, sự giàu sang, cùng với những mối quan hệ tốt đẹp như quyến thuộc hiền hòa và bạn hữu chân thành. Người sống chân thật trong lời nói sẽ được mọi người tin tưởng, kính trọng, bởi lời nói của họ đáng tin và không gây tổn hại. Niềm tin ấy chính là nền tảng vững chắc cho mọi thành tựu trong cuộc sống.
Tóm lại lời nói chân thật còn đưa con người đến những trạng thái hạnh phúc từ thấp đến cao: từ phước báo ở cõi người, cõi trời, cho đến an lạc tối thượng là Niết bàn. Người biết giữ gìn lời nói chân thật cũng là người có thể đạt được những điều tốt đẹp mà mình mong ước trong đời. Do vậy người hành trì lời nói chân thật chính là đang bước đi trên con đường hạnh phúc theo chân Phật, con đường của ánh sáng, của an vui và giải thoát.
Như Ninh Nguyễn Hồng Dũng
==
Hạnh Phúc 11 Hiếu Hạnh Cung Dưỡng Song Thân
Như Ninh Nguyễn Hồng Dũng
Thăng Hoa Cuộc Đời kỳ 153 là Hạnh Phúc 11 mang tựa đề “Hiếu Hạnh Cung Dưỡng Song Thân” quả là một điều phúc báu vì có được cha mẹ hiện tiền để mình còn được làm con. Trong loạt bài “Thăng Hoa của Cuộc Đời”, những điều hạnh phúc đã trình bày trước đây đều hướng về tự thân mỗi người, như một quá trình tích lũy nội lực, gây dựng nền tảng đạo đức và tâm linh cho chính mình. Bởi lẽ, muốn có hạnh phúc lâu bền, trước hết con người phải biết tự tu sửa, chuyển hóa bản thân, làm cho tâm ý và hành vi ngày càng trở nên thiện lành, trong sáng. Đó chính là “vốn liếng” quý báu giúp ta đứng vững giữa cuộc đời nhiều biến động.
Tiếp theo, từ nền tảng ấy, chúng tôi lần lượt trình bày những phương diện hạnh phúc gắn liền với các mối quan hệ thiết thân như đối với cha mẹ, vợ chồng, con cái, và cả những người chung quanh. Hạnh phúc không chỉ là sự an vui riêng lẻ, mà còn là kết quả của cách ta sống, cách ta đối xử, và cách ta nuôi dưỡng tình nghĩa trong đời sống gia đình và xã hội. Từ hạnh phúc thứ mười một trở đi, giáo pháp lại hướng người học đi xa hơn một bước: không chỉ giữ gìn phẩm hạnh cho riêng mình, mà còn biểu lộ những đức tính tốt đẹp ấy ra bên ngoài, chẳng hạn qua nếp sống hiếu kính, phụng dưỡng song thân. Đây chính là nền tảng của đạo làm người và cũng là cội nguồn của mọi công hạnh. Đức Phật đã dạy rõ ràng: tâm hiếu là tâm Phật, hạnh hiếu là hạnh Phật, Ai muốn tiến đến con đường giác ngộ, muốn đồng hành cùng chư Phật, thì việc trước tiên không gì khác hơn là chí thành hiếu dưỡng cha mẹ, lấy đó làm bước khởi đầu cho mọi thiện hạnh.
Đức Phật thuyết về những người thân theo thứ tự: mẹ, cha, con, vợ. Nhiều người thắc mắc vì sao mẹ lại đứng trước cha, và con lại trước vợ. Có ý kiến cho rằng mẹ có công ơn lớn hơn vì mang nặng đẻ đau, nuôi dưỡng và chăm sóc con nhiều hơn. Lại có người dựa vào việc Đức Phật thuyết pháp độ Phật mẫu, giảng những pháp cao siêu như Tạng Luận, để cho rằng Ngài xem trọng công ơn của mẹ hơn.
Ngược lại, cũng có quan điểm cho rằng cha có công lớn, vì nếu không có cha thì không có con. Hơn nữa, khi Phụ vương lâm bệnh, Đức Phật đã trở về thuyết pháp suốt bảy ngày đêm để độ Ngài chứng quả A La Hán, rồi chính tay lo việc tẩm liệm và đưa tang, thể hiện lòng hiếu kính sâu sắc.
Tuy nhiên, cả hai lập luận đều chỉ là suy diễn. Thực tế, không có kinh nào Đức Phật dạy rằng công ơn của cha hay mẹ hơn kém nhau, mà cả hai đều bình đẳng. Đức Phật tùy theo căn cơ và duyên lành của từng người mà thuyết pháp thích hợp. Phật mẫu nghe pháp để chứng quả Tu Đà Hoàn, còn chư thiên và những bậc căn cơ cao cần pháp thâm sâu nên Ngài giảng Tạng Luận. Do đó, sự sắp xếp không phải để phân biệt công ơn, mà mang ý nghĩa giáo hóa tùy duyên và hợp thời.
Đối với Phụ vương, sở dĩ Đức Phật đợi đến lúc vua cha gần thăng hà mới thuyết một ngàn câu kệ suốt bảy ngày đêm để độ chứng quả A La Hán, mà không thuyết trước đó, là vì Ngài là bậc Điều Ngự Trượng Phu, thấu rõ căn cơ và duyên lành của mỗi người. Khi duyên chưa chín muồi, dù thuyết pháp nhiều đến đâu cũng không đem lại kết quả. Vì vậy, Ngài chỉ đợi đúng thời điểm thích hợp để giáo hóa, khiến việc độ sanh đạt hiệu quả viên mãn. Do đó, không thể căn cứ vào việc thuyết pháp nhiều hay ít, hay kết quả cao hay thấp mà cho rằng Đức Phật phân biệt công ơn cha mẹ. Dù độ cha hay mẹ, Ngài đều tận tâm làm tròn đạo hiếu. Hơn nữa, đối với tất cả chúng sanh có duyên, Ngài đều bình đẳng cứu độ, không phân biệt thân hay thù. Điển hình như việc Ngài cảm hóa tên cướp hung ác Vô Não, dù bị rượt đuổi sát hại, Ngài vẫn kiên trì hóa độ. Điều đó cho thấy tâm từ bi và bình đẳng của Đức Phật luôn rộng khắp.
Vậy vì sao Đức Phật dạy phải phụng sự mẹ cha? Bởi lẽ, trong đời sống, ta nên đem lợi ích đến cho những người gần gũi mình nhất. Mẹ cha là những người gần gũi và có nhiều duyên với ta nhất, nên ta có nhiều cơ hội để chăm sóc và đền đáp. Điều này không phải để so sánh công ơn cha mẹ hơn kém, mà là nhấn mạnh việc thực hành hiếu đạo một cách thiết thực, tùy theo hoàn cảnh mà hành động kịp thời.
Bổn phận làm con là phải hiểu rõ công ơn sinh thành dưỡng dục và tìm cách báo đáp. Đây chính là con đường của các bậc Thánh và cũng là hạnh của Bồ Tát. Đức Phật từng dạy trong một tiền thân làm đạo sĩ Sơn Nha rằng, cha mẹ luôn hy sinh tất cả hạnh phúc cho con, ngay từ khi mang thai, người mẹ đã lo lắng, cầu nguyện, giữ gìn từng điều nhỏ nhặt, mong con được bình an, đủ thấy tình thương và công ơn ấy sâu dày vô hạn.
Những điều làm cha mẹ khổ nhất trong thời kỳ mang thai là bệnh ốm nghén. Đây là một trạng thái rất đặc biệt, khiến người mẹ thèm những điều trước đó chưa từng nghĩ tới. Điển hình là câu chuyện Hoàng hậu của vua Bình Sa Vương như sau: khi mang thai Thái tử A Xà Thế, bà thèm uống máu của vua. Vì xấu hổ nên không dám nói ra, khiến thân thể ngày càng suy yếu. Khi biết chuyện, nhà vua sẵn sàng rạch tay lấy máu cho vợ uống. Dù được các thầy Bà-la-môn cảnh báo rằng đứa con sau này sẽ giết cha, nhà vua vẫn vì tình thương mà nuôi dưỡng. Quả nhiên về sau Thái tử đã giết cha, giam mẹ. Câu chuyện ấy cho thấy tình thương của cha mẹ đối với con sâu nặng, không gì ngăn cản được, nên không thể so sánh công ơn cha hay mẹ hơn kém.
Không chỉ mang nặng đẻ đau, người mẹ còn có khả năng đặc biệt trong việc nuôi dưỡng con. Khi con còn chưa biết nói, mẹ đã hiểu ý qua tiếng khóc, luôn bồng ẵm, vỗ về ngày đêm, tìm mọi cách làm con an ổn. Trong kinh dạy rằng cha mẹ luôn có tâm lành đối với con. Từ khi biết có thai, người mẹ lo gìn giữ thai nhi, người cha lo thuốc men, chăm sóc suốt mười tháng. Khi con sinh ra, cha mẹ không quản nhọc nhằn, nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành. Thậm chí, vì thương con, cha mẹ còn sẵn sàng hy sinh mọi thứ, lo dành dụm, và luôn lo lắng mỗi khi con xa nhà, mong con được bình an.
Vì vậy, Đức Phật dạy rằng cha mẹ đối với con đầy đủ bốn đức lớn là Từ, Bi, Hỉ, Xả, và tôn xưng cha mẹ bằng bốn hồng danh cao quý: Phạm thiên, chư thiên thuở đầu, vị tôn sư trước nhất và bậc đáng cúng dường. Đây là cách Đức Phật nhấn mạnh công ơn sâu dày và vai trò vô cùng quan trọng của cha mẹ trong đời sống mỗi con người.
Hồng danh thứ nhất, Phạm thiên, biểu thị sự cao quý và vô lượng của tâm cha mẹ. Cha mẹ luôn nuôi dưỡng con bằng bốn tâm vô lượng: Từ là lòng thương yêu khởi từ khi biết có thai; Bi là lòng xót thương khi con sinh ra, luôn lo lắng cho sức khỏe và sự an nguy của con; Hỉ là niềm vui khi thấy con trưởng thành, hạnh phúc, không hề ganh tị hay đòi hỏi; Xả là sự bao dung, tha thứ khi con sai lỗi, dù con có phụng dưỡng hay không, cha mẹ vẫn không oán trách. Bốn tâm này luôn hiện hữu và không bao giờ gián đoạn, nên cha mẹ được ví như Phạm thiên. Hồng danh thứ hai, chư thiên thuở đầu, có nghĩa cha mẹ chính là vị “thần linh” đầu tiên của đời con. Cha mẹ luôn hết lòng mang lại hạnh phúc, che chở và không chấp lỗi con. Trong thời xưa, người ta tin chư thiên có thể cứu độ, nên Đức Phật ví cha mẹ như những vị chư thiên gần gũi nhất. Hồng danh thứ ba, vị tôn sư trước nhất, nhấn mạnh cha mẹ là người thầy đầu đời, dạy con từ những điều căn bản như ăn, nói, đi đứng đến đạo lý làm người, trước cả mọi thầy cô khác. Hồng danh thứ tư, bậc đáng cúng dường, khẳng định cha mẹ là đối tượng xứng đáng nhất để con hiếu kính và dâng hiến. Như vậy, đạo hiếu không chỉ là bổn phận mà còn là con đường cao quý dẫn đến thiện lành và hạnh phúc.
Lòng thương yêu và sự lo lắng của cha mẹ đối với con cái là vô bờ bến, nên bổn phận làm con phải hết lòng phụng dưỡng để tròn chữ hiếu. Người nào không làm tròn đạo hiếu thì không xứng đáng làm người tốt, không đáng làm bạn, làm vợ chồng, cũng không thể trở thành công dân chân chính. Người con bất hiếu còn thua cả cây gậy, như câu chuyện trong Pháp Cú kinh đã nêu rõ.
Xưa kia có một vị Bà la môn giàu có, có năm người con trai. Sau khi vợ mất, ông định cưới vợ khác để chăm sóc tuổi già, nhưng các con xin thay nhau phụng dưỡng, nên ông chia hết tài sản cho họ. Lúc đầu, các con còn đối xử tốt, nhưng dần dần trở nên lạnh nhạt, rồi xua đuổi ông, khiến ông phải đi ăn xin, sống khổ sở. Nhờ lời khuyên của bạn, ông đến gặp Đức Phật cầu cứu. Theo lời dạy, ông đến chùa Kỳ Viên, chờ dịp bày tỏ nỗi lòng trước đại chúng.
Trong buổi thuyết pháp có mặt cả năm người con và vua Ba Tư Nặc, ông đứng lên than rằng con của ông còn không bằng cây gậy, vì gậy còn giúp ông chống đỡ, còn con thì bỏ mặc ông. Nghe vậy, mọi người phẫn nộ, định trừng phạt năm người con, nhưng ông xin tha. Trước lòng bao dung ấy, các con ăn năn, xin đón cha về phụng dưỡng. Qua câu chuyện này, thấy rõ rằng bất hiếu là điều đáng trách, còn lòng hiếu thảo là đức hạnh cao quý.
Đức Phật không chỉ cứu độ về tâm linh mà còn giúp con người giải quyết khổ đau trong đời sống. Ngài dạy rằng người biết phụng dưỡng cha mẹ sẽ được kính trọng và hưởng nhiều an vui do phước báo ấy.
Trong kinh Phạm Thiên Đức Phật dạy rằng cha mẹ là hai đấng có công ơn vô lượng vô biên đối với con cái. Dù người con có hiếu đến đâu, thậm chí có thể chinh phục năm châu bốn biển để dâng hiến cho cha mẹ hưởng mọi vinh hoa phú quý, thì cũng chưa thể gọi là đền đáp được công ơn sinh thành dưỡng dục trong muôn một. Bởi vì những điều ấy chỉ mới đáp ứng về phương diện vật chất, tức là lo cho cha mẹ trong đời hiện tại, mà chưa chạm đến giá trị sâu xa hơn là đời sống tinh thần và con đường giải thoát lâu dài.
Theo tinh thần Phật dạy, bổn phận làm con không chỉ dừng lại ở việc phụng dưỡng vật chất, mà còn phải giúp cha mẹ hướng đến đời sống đạo đức và tâm linh. Người con có hiếu cần khéo léo hướng dẫn cha mẹ biết tin tưởng vào điều thiện, tin nơi Tam Bảo và luật nhân quả; biết buông xả, làm việc bố thí để giảm bớt lòng tham; giữ gìn giới hạnh để thân tâm được thanh tịnh; và phát triển trí tuệ để thấy rõ bản chất vô thường, khổ và vô ngã của cuộc đời. Khi cha mẹ có được những phẩm chất ấy, thì không chỉ an vui trong hiện tại mà còn tạo nền tảng tốt đẹp cho tương lai lâu dài.
Nếu cha mẹ đã quá vãng, người con vẫn có thể thể hiện lòng hiếu thảo bằng cách siêng năng làm các việc thiện, tích lũy công đức và hồi hướng cho cha mẹ mỗi ngày. Đây chính là cách báo hiếu thiết thực và sâu sắc, thể hiện tình thương không giới hạn bởi thời gian hay sự sống chết.
Người còn cha mẹ hiện tiền được xem là người có phước lớn, vì trong nhà có cha mẹ chẳng khác nào có những bậc thánh nhân. Đức Phật ví cha mẹ như những bậc đáng tôn kính, nên việc phụng dưỡng và cúng dường cha mẹ đem lại phước báu vô lượng, không khác gì cúng dường các bậc A La Hán. Vì vậy, người hiểu được công ơn cha mẹ cần biết đền đáp cả hai phương diện: vật chất và tinh thần. Chỉ khi nào vừa chăm lo đời sống hiện tại, vừa hướng cha mẹ đến con đường thiện lành và giải thoát, thì mới thật sự gọi là trọn đạo hiếu.
Đền đáp công ơn cha mẹ về phương diện vật chất trước hết là phải hết lòng cung kính, luôn giữ lời nói và hành động lễ độ, không làm trái ý hay khiến cha mẹ buồn lòng. Người con cần tận tâm phụng dưỡng, lo đầy đủ ăn uống, thuốc men, y phục và chỗ ở cho cha mẹ, chăm sóc chu đáo như khi mình còn nhỏ được cha mẹ nuôi nấng. Khi cha mẹ đau yếu, phải hết lòng săn sóc, không quản khó nhọc. Đồng thời, người con biết đặt việc phụng sự cha mẹ lên trên hết, sẵn sàng gác lại việc riêng để lo tròn bổn phận, không nghĩ đến lợi ích cá nhân khi việc của cha mẹ chưa được chu toàn.
Đền đáp công ơn cha mẹ về phương diện tinh thần là biết giữ gìn và làm rạng danh gia đình, sống sao cho xứng đáng với công lao sinh thành dưỡng dục. Người con cần nỗ lực tu dưỡng bản thân để trở thành người có đạo đức, xứng đáng thừa hưởng gia tài cha mẹ để lại. Quan trọng hơn, phải khéo léo hướng cha mẹ đến đời sống tâm linh, giúp cha mẹ phát khởi niềm tin nơi Tam Bảo, thọ trì quy giới, hoặc nhờ bậc trí thức và chư Tăng chỉ dạy. Đồng thời, nên dẫn cha mẹ đến chùa nghe pháp, làm việc thiện và tu học. Làm được như vậy mới thật sự gọi là hiếu thảo và báo đáp công ơn cha mẹ.
Tóm lại, người con biết hiếu kính và đền đáp công ơn cha mẹ sẽ gặt hái những hạnh phúc lớn lao không chỉ ở bề mặt cuộc sống, mà còn sâu thẳm nơi cội nguồn tâm thức. Hạnh phúc ấy không phải là thứ may rủi tình cờ, mà chính là kết quả tất yếu của nhân lành được gieo trồng từ tâm hiếu. Bởi lẽ, hiếu đạo là nền tảng của mọi đức hạnh; khi tâm hiếu được khởi lên, thì lòng từ, lòng biết ơn và sự khiêm cung cũng theo đó mà sinh trưởng. Chính những phẩm chất ấy làm cho con người trở nên vững chãi, sáng suốt và an ổn giữa dòng đời biến động.
Người có đức hiếu hạnh không phải sống chỉ vì bản thân nhỏ hẹp, mà biết mở rộng tâm mình để cảm thông và phụng sự tha nhân. Khi tâm vị kỷ được chuyển hóa thành tâm vị tha, thì phiền não dần lắng dịu, lo sợ tự nhiên tiêu tan. Vì không gây nhân bất thiện, nên không chuốc lấy quả khổ; vì luôn hành thiện, nên tự chiêu cảm những duyên lành. Do đó, họ được người hiền nâng đỡ, được xã hội kính trọng, và ngay cả trong những lúc gian nan, vẫn có sự trợ duyên vô hình nâng bước. Hạnh phúc ấy còn sâu xa hơn nữa, vì hiếu đạo chính là con đường dẫn đến trí tuệ. Khi người con biết quán chiếu công ơn cha mẹ, sẽ nhận ra thân này không phải tự nhiên hiện hữu, mà là kết tinh của bao nhiêu hy sinh, đau khổ và tình thương. Từ đó, phát sinh trí tuệ thấy rõ vô thường, thấy rõ mối liên hệ mật thiết giữa mình và muôn loài. Chính cái thấy ấy giúp con người buông bỏ chấp ngã, sống thuận theo đạo lý, và tiến dần đến sự giải thoát.
Vì vậy, hạnh phúc của người con hiếu không chỉ là sự đủ đầy vật chất hay danh vọng ở đời, mà là sự an lạc nội tâm, là sự thanh thản không bị dày vò bởi lỗi lầm, là ánh sáng trí tuệ soi đường cho từng bước đi. Hạnh phúc ấy tiếp nối không gián đoạn, từ hiện tại đến vị lai, từ cõi người đến cõi trời, và cuối cùng là hướng về cảnh giới Niết bàn tịch tịnh. Nói cho cùng, hiếu đạo không chỉ là đạo làm con, mà chính là đạo làm người, là cửa ngõ bước vào con đường Thánh thiện. Người trọn hiếu là người đã chạm đến cội nguồn của hạnh phúc chân thật, bởi nơi đó, tâm và đạo đã trở thành một.
Như Ninh Nguyễn Hồng Dũng_Easter 2026
Hạnh Phúc 12 Biết Giáo Dưỡng Con Cái
Như Ninh Nguyễn Hồng Dũng
Kỳ 154 Hạnh Phúc 12 Biết Giáo Dưỡng Con Cái: Trong đạo lý làm người, hình ảnh “người con đạo hạnh” không chỉ dừng lại ở tình cảm huyết thống, mà còn mở rộng thành một lý tưởng sống cao đẹp, thấm đượm tinh thần hiếu kính và giác ngộ. Chữ “con” ở đây không chỉ mang nghĩa đơn thuần là người được sinh ra, mà còn là người biết giữ gìn, nâng đỡ và bảo hộ cha mẹ trên con đường đạo đức. Nghĩa chánh yếu của người con đạo hạnh chính là không để cha mẹ rơi vào nẻo ác, mà trái lại, phải biết khéo léo dìu dắt, hướng dẫn cha mẹ đến với chánh kiến, biết tu tập theo con đường thiện lành như bố thí, trì giới và hành thiền. Đó mới chính là cách báo hiếu sâu xa và bền vững nhất.
Đạo hạnh còn biểu hiện ở việc người con làm rạng rỡ gia phong, giữ gìn nề nếp trong sạch cho dòng họ. Một người con có giới đức, sống chân thật và biết kính trên nhường dưới, chính là niềm tự hào lớn lao của gia đình. Người con ấy không chỉ là “con thảo” mà còn là “con quý”, bởi giá trị của họ không nằm ở vật chất mà ở phẩm hạnh và đời sống đạo đức. Khi một người con biết tu dưỡng bản thân, giữ gìn giới hạnh, thì tự thân họ đã trở thành ánh sáng soi chiếu cho cả gia đình.
Mặt khác, đạo hạnh cũng chính là làm cho cha mẹ được vui lòng. Niềm vui ấy không chỉ đến từ sự phụng dưỡng đầy đủ về vật chất, mà còn từ sự hiếu kính, quan tâm và chăm sóc chân thành. Người con hiếu thảo luôn biết nghĩ đến cha mẹ, từ khi cha mẹ còn khỏe mạnh cho đến lúc tuổi già yếu. Họ làm mọi điều để cha mẹ được an lòng, sống trong sự ấm áp và tin tưởng nơi con cái.
Theo ý nghĩa sâu xa, chữ “người con đạo hạnh” còn chỉ đứa con từ khi còn trong thai bào đã được cha mẹ hết lòng lo lắng, chăm nom. Vì vậy, bổn phận làm con không thể xem nhẹ. Trong các câu chuyện tiền thân, người ta nhắc đến ba hạng con: con tinh thần là đệ tử của bậc thầy, con nuôi và con ruột. Trong đó, người xuất gia xem thầy tế độ như cha tinh thần, hết lòng cung kính và nương tựa, còn người thầy cũng tận tâm dẫn dắt đệ tử trên con đường giải thoát.
Dù là con nuôi hay con ruột, khi đã mang danh phận làm cha mẹ, thì tình thương phải bình đẳng, không phân biệt. Người làm cha mẹ cần nuôi dạy con bằng tâm từ, bi, hỷ, xả rộng lớn như tâm của bậc Phạm thiên. Và ngược lại, người con đạo hạnh chính là người biết đáp đền ân sâu ấy bằng đời sống thiện lành, hiếu kính và hướng thượng, để cả gia đình cùng tiến về con đường an lạc và giải thoát.
Trong đời sống gia đình, người con đẻ tuy cùng một nguồn sinh dưỡng, nhưng khi trưởng thành lại có thể chia thành ba hạng khác nhau, tùy theo phước duyên, tâm tánh và sự tu dưỡng của mỗi người. Hạng thứ nhất là con cao hơn cha mẹ. Đây là những người con có nhiều duyên lành, biết học hỏi, tu dưỡng đạo đức và phát triển trí tuệ. Khi lớn lên, họ không những thành đạt về danh phận mà còn sống có nhân cách, đem lại tiếng thơm cho gia đình, làm rạng rỡ tổ tiên. Người con này chính là quả lành của nhiều đời tích tụ, là niềm hạnh phúc lớn lao của cha mẹ, vì thấy con mình vượt hơn mình cả về tài năng lẫn đạo đức.
Hạng thứ hai là con bằng cha mẹ. Những người con này sống đời bình thường, không nổi bật cũng không gây tai tiếng. Họ giữ được nếp sống ổn định, không làm tổn hại đến danh dự gia đình, nhưng cũng không nâng cao thêm giá trị của dòng họ. Đây là hạng người sống an phận, đủ đầy trong mức trung bình, không tiến xa nhưng cũng không lùi bước. Tuy không làm cha mẹ tự hào rạng rỡ, nhưng cũng không khiến cha mẹ phải buồn lòng.
Hạng thứ ba là con thấp kém hơn cha mẹ. Đây là điều đau lòng nhất trong đạo làm cha mẹ. Những người con này từ nhỏ đến lớn không biết tu dưỡng, thường buông lung theo thói xấu, tiêu xài phung phí, thậm chí làm điều sai trái khiến gia đình bị khinh chê. Khi con còn tồn tại trong nếp sống ấy, thì cha mẹ còn chịu khổ đau, lo lắng không nguôi. Đây không chỉ là nỗi buồn của một gia đình, mà còn là sự suy giảm đạo đức trong xã hội.
Tuy nhiên, việc con cái trở thành hạng nào không hoàn toàn do cha mẹ quyết định. Cha mẹ có bổn phận thiêng liêng là nuôi dưỡng và dạy dỗ, nhưng kết quả cuối cùng vẫn tùy thuộc nơi ý chí và nghiệp lực của người con. Dẫu vậy, giáo dục từ thuở ấu thơ là nền tảng vô cùng quan trọng.
Trong Kinh Thi Ca La Việt, Đức Phật dạy rõ năm bổn phận của cha mẹ đối với con. Trước hết là ngăn ngừa con làm điều xấu, giúp con tránh xa tội lỗi. Kế đến là dạy con làm điều lành, gieo trồng nhân thiện. Cha mẹ còn phải cho con học nghề để tự lập cuộc sống chân chính. Khi con đến tuổi trưởng thành, cần dựng vợ gả chồng nơi xứng đáng, giúp con ổn định gia đình. Sau cùng là phân chia tài sản hợp lý, để con có phương tiện sống và phát triển.
Như vậy, cha mẹ gieo nhân, con gặt quả. Nhưng nếu cha mẹ biết dùng trí tuệ và tình thương đúng cách, thì có thể chuyển hóa rất nhiều, giúp con hướng về con đường thiện lành, trở thành người con hiền đức, đem lại an vui cho gia đình và xã hội.
Trước tiên là trong đạo làm cha mẹ, việc ngăn ngừa con cái không sa vào đường tội lỗi là một bổn phận hết sức quan trọng và thiêng liêng. Khi thấy con có dấu hiệu bê tha, lười học, hoặc bị lôi kéo bởi bạn xấu, cha mẹ không thể làm ngơ, mà cần tìm mọi phương cách để uốn nắn. Có khi phải thay đổi môi trường sống, đưa con đến nơi học tập lành mạnh, tránh xa ảnh hưởng xấu. Điều này hoàn toàn phù hợp với lời Phật dạy về trách nhiệm của song thân đối với con cái. Tuy nhiên, thực tế không phải lúc nào cũng đạt được kết quả như mong muốn. Có những đứa trẻ thời nay, khi được khuyên răn lại phản ứng ngược, cho rằng cha mẹ lạc hậu, không hiểu mình, và không muốn bị can thiệp vào đời sống riêng.
Chính vì vậy, có không ít bậc cha mẹ rơi vào tâm trạng chán nản, buông xuôi, mặc cho con muốn làm gì thì làm. Nhưng đó lại là điều nguy hiểm, vì càng buông lỏng, con càng dễ lún sâu vào sai lầm. Do đó, cha mẹ không thể bỏ cuộc, mà cần hiểu rõ căn nguyên để có phương pháp giáo dục thích hợp. Muốn ngăn ngừa con hiệu quả, cần xét đến ba yếu tố: nhận thức, nhu cầu và phiền não.
Về nhận thức, cha mẹ và con cái thuộc hai thế hệ khác nhau nên cách nhìn cuộc sống không giống nhau. Cha mẹ có kinh nghiệm, hiểu được hậu quả lâu dài, trong khi con cái còn non nớt, dễ bị hấp dẫn bởi cái trước mắt. Về nhu cầu, cha mẹ thường hướng đến sự ổn định, đạo đức, còn con cái lại bị cuốn theo trào lưu, muốn thể hiện bản thân, tìm kiếm tự do. Về phiền não, mỗi bên lại có những nỗi lo riêng: cha mẹ lo cho tương lai con, còn con thì bối rối trước áp lực bạn bè và xã hội.
Chính sự khác biệt ấy tạo nên khoảng cách khó hòa hợp. Vì vậy, người con hiếu thảo cần biết lắng nghe cha mẹ, hiểu rằng sự nghiêm khắc hay không chiều theo ý mình đều xuất phát từ lòng thương và mong muốn điều tốt đẹp. Ngược lại, cha mẹ cũng cần kiên nhẫn, không áp đặt, mà dùng tình thương và kinh nghiệm để cảm hóa con. Lời dạy không chỉ bằng lời nói, mà còn bằng chính đời sống gương mẫu của mình.
Thực tế cho thấy, khi chưa làm cha mẹ, nhiều người con không hiểu hết tấm lòng sinh thành dưỡng dục. Chỉ đến khi có con, họ mới cảm nhận sâu sắc nỗi lo, niềm thương và sự hy sinh của đấng sinh thành. Lúc ấy, muốn báo đáp thì có khi đã muộn. Vì vậy, hiểu và trân trọng cha mẹ khi còn có thể chính là nền tảng của đạo hiếu, và cũng là khởi đầu cho một đời sống đúng đắn, tránh xa lỗi lầm.
Thứ hai là trong đạo làm cha mẹ, dạy con làm việc lành không chỉ là một lời khuyên suông, mà là cả một quá trình nuôi dưỡng tâm hồn và xây dựng nhân cách lâu dài cho con. Việc lành theo lời Phật dạy chính là những thiện pháp như bố thí, trì giới và tu tập, nhằm làm cho tâm con quen dần với điều thiện, xa lìa điều ác. Khi một đứa trẻ từ nhỏ đã được hướng dẫn làm việc lành, thì hạt giống thiện sẽ ăn sâu vào tâm thức, trở thành nền tảng cho đời sống an vui hiện tại và cả tương lai.
Việc lành có thể chia làm hai phương diện. Trước hết là việc lành về mặt xã hội, như giúp đỡ người nghèo khó, góp công góp của vào những việc ích lợi chung. Những hành động ấy tuy nhỏ nhưng mang lại lợi ích thiết thực, đồng thời nuôi dưỡng lòng từ và tinh thần trách nhiệm nơi con trẻ. Kế đến là việc lành về mặt tinh thần, tức là hướng con đến con đường tu tập giải thoát, biết giữ giới, hành thiền và phát triển trí tuệ. Nếu chỉ làm việc thiện bên ngoài mà không chuyển hóa nội tâm, thì phước lành chưa trọn vẹn. Vì vậy, cha mẹ cần khéo léo kết hợp cả hai, vừa dạy con sống tốt với xã hội, vừa hướng con đến đời sống tâm linh sâu sắc.
Ngoài ra, Đức Phật còn dạy năm điều căn bản để sống đúng với xã hội, mà cha mẹ nên truyền dạy cho con. Thứ nhất là lòng từ, biết thương người hoạn nạn và giúp đỡ trong khả năng của mình. Thứ hai là nuôi mạng chân chánh, tức là sống lương thiện, không vì lợi ích riêng mà làm hại người khác. Thứ ba là biết thu thúc tâm ý, không buông lung theo dục vọng, vì chính sự buông thả sẽ dẫn đến khổ đau. Thứ tư là nói lời chân thật, sống ngay thẳng, không dối người cũng không dối mình. Và thứ năm là siêng năng làm việc lành, không lười biếng trong việc tu tập như bố thí, trì giới và thiền định. Năm điều này nếu được gieo vào tâm con từ sớm, sẽ trở thành kim chỉ nam cho cả cuộc đời.
Lẽ tự nhiên, cha mẹ nào cũng mong con được an vui trong hiện tại, nhưng nếu chỉ lo cho đời này mà quên mất đời sau thì chưa phải là thương con trọn vẹn. Người cha mẹ biết đạo phải biết dẫn dắt con tu hành, để con không còn khổ trong những kiếp tương lai. Như câu chuyện của trưởng giả Cấp Cô Độc là một minh chứng sâu sắc. Ông có người con tên Kāla, vốn không tin Phật pháp, mang nhiều tà kiến. Dù tìm nhiều cách khuyên dạy mà không được, ông vẫn không bỏ cuộc. Với trí tuệ và phương tiện thiện xảo, ông khéo léo dẫn con đến gần giáo pháp.
Ban đầu, vì phần thưởng vật chất mà Kāla chịu đi thọ giới và nghe pháp. Nhưng chính oai lực của Đức Phật và chân lý sâu sắc đã làm chuyển hóa tâm cậu. Khi nghe về sự vô thường và cái chết, cậu bừng tỉnh, phát tâm sợ hãi luân hồi, dứt trừ phiền não và chứng được quả Tu Đà Hườn. Từ đó, mọi giá trị vật chất như vàng bạc không còn ý nghĩa gì nữa đối với cậu.
Câu chuyện ấy cho thấy, khi cha mẹ có chánh kiến và biết dùng phương tiện đúng đắn, thì có thể dẫn dắt con từ mê lầm đến giác ngộ. Dạy con làm việc lành không chỉ là dạy hành vi bên ngoài, mà còn là dẫn con đến sự chuyển hóa nội tâm sâu xa. Đó mới chính là tình thương chân thật và trọn vẹn của bậc làm cha mẹ, không chỉ lo cho một đời mà còn lo cho nhiều đời về sau.
Thứ ba là trong đạo làm cha mẹ, cho con học nghề không chỉ là lo kế sinh nhai, mà chính là đặt nền móng cho một đời sống chân chánh. Nghề nghiệp đúng đắn giúp con tự lập, giữ được phẩm giá, và không rơi vào những con đường sai lầm. Vì vậy, cha mẹ cần hướng con chọn một nghề hợp với khả năng và đạo đức, nuôi mạng bằng chánh nghiệp, không vì lợi mà làm điều tổn hại người khác.
Tuy nhiên, chỉ giao phó con cho nhà trường là chưa đủ. Có những đứa trẻ mang danh đi học nhưng lòng lại hướng ra ngoài, cắp sách mà không đến lớp, dần xa rời con đường học vấn. Bởi vậy, cha mẹ phải luôn quan tâm, theo dõi và đồng hành cùng con, hiểu rõ việc học và sinh hoạt của con ra sao.
Sự dạy dỗ ấy không chỉ bằng lời nói mà còn bằng sự gần gũi, nhắc nhở và làm gương. Khi cha mẹ vừa hướng dẫn nghề nghiệp, vừa giữ gìn đạo đức cho con, thì đó mới thật là thương con trọn vẹn.
Thứ tư là trong đạo làm cha mẹ, việc dựng vợ gả chồng cho con không chỉ là chuyện riêng của một cá nhân, mà còn là trách nhiệm gắn liền với hạnh phúc lâu dài của cả gia đình. Điều này mang hai ý nghĩa: vừa là bổn phận thiêng liêng của cha mẹ, vừa là sự sắp đặt cần có để con bước vào đời sống hôn nhân một cách vững vàng. Cha mẹ, với kinh nghiệm sống và sự từng trải, có thể nhìn xa thấy rộng, biết lựa chọn nơi phù hợp với hoàn cảnh và tính tình của con.
Tuy nhiên, trong thời buổi hiện nay, vấn đề này trở nên hết sức phức tạp. Không ít trường hợp cha mẹ ưng thuận một mối duyên, nhưng con lại không đồng ý, muốn tự mình lựa chọn người bạn đời. Điều đó đặt ra câu hỏi: cha mẹ can thiệp vào đời sống riêng của con là lợi hay hại? Và ai là người có quyền quyết định tương lai hôn nhân của mình?
Theo lời dạy của Đức Phật, cha mẹ nên quan tâm và định hướng cho con, vì khi còn trẻ, con chưa đủ kinh nghiệm để nhận định hết mọi điều trong cuộc sống. Sự hướng dẫn của cha mẹ, nếu xuất phát từ tình thương và trí tuệ, sẽ giúp con tránh được những sai lầm đáng tiếc.
Tuy vậy, quyết định cuối cùng cần có sự hòa hợp giữa cha mẹ và con. Cha mẹ nên chỉ rõ điều lợi, điều hại trong một mối quan hệ, giúp con suy xét chín chắn. Về phần con, cần biết lắng nghe, suy nghĩ sâu xa, không nên vì cảm xúc nhất thời mà làm cha mẹ buồn lòng hay tự gây tổn hại cho tương lai của mình. Khi cả hai bên biết tôn trọng và thấu hiểu nhau, thì hôn nhân mới thật sự bền vững và an vui.
Thứ năm là trong đời sống gia đình, việc cha mẹ chia gia tài cho con là một biểu hiện sâu sắc của tình thương và trách nhiệm. Khi con trưởng thành, lập gia đình và rời xa mái ấm, cha mẹ không chỉ trao phần tài sản vật chất, mà còn gửi gắm cả một gia tài tinh thần quý báu. Trong đó chứa đựng biết bao mồ hôi, nước mắt, công lao tích lũy suốt đời, cùng những kinh nghiệm, đạo lý sống mà cha mẹ muốn truyền lại cho con.
Chia gia tài “cho thích hợp” nghĩa là biết cân nhắc hoàn cảnh, khả năng và nhu cầu của từng người con, để sự phân chia vừa công bằng, vừa hợp tình. Điều quan trọng không nằm ở nhiều hay ít, mà ở tấm lòng yêu thương và sự khéo léo giữ gìn hòa khí gia đình.
Nếu con hiểu được ý nghĩa sâu xa ấy, thì sẽ trân trọng không chỉ của cải, mà còn biết gìn giữ đạo đức, tiếp nối công đức của cha mẹ, làm cho gia đình được bền vững và tốt đẹp lâu dài.
Cuối cùng, trong giáo lý về hạnh phúc, bậc làm cha mẹ không chỉ nuôi con lớn khôn về thân xác, mà còn phải dắt dẫn con đi trên con đường đạo đức và tâm linh. Ngay từ khi còn nhỏ, cha mẹ nên tạo duyên cho con gần gũi Tam Bảo, biết đến chùa chiền, lắng nghe giáo pháp để gieo trồng hạt giống thiện lành. Dần dần, tập cho con biết lễ Phật, tụng kinh, nuôi dưỡng lòng cung kính và tâm khiêm hạ. Song song đó, hướng con làm các việc lành như bố thí, biết chia sẻ và thương người, để tâm từ bi được lớn dần theo năm tháng. Khi tâm đã thuần, lại dạy con niệm Phật, tham thiền, giúp con biết quay về nội tâm, làm chủ chính mình. Nếu hội đủ duyên lành, cha mẹ còn có thể cho con xuất gia, mở ra con đường giải thoát cao quý.
Sự tiếp độ và giáo dưỡng con như vậy mang lại nhiều lợi ích sâu xa. Trước hết, con trở thành người lương thiện, sống đúng đạo lý. Từ đó, con cũng trở thành một công dân tốt, biết đóng góp cho xã hội và làm gương sáng cho thế hệ mai sau. Hạnh phúc mà con đạt được không chỉ giới hạn trong đời này, mà còn lan rộng đến những đời vị lai, tạo thành dòng phước báo lâu dài. Nhờ được giáo dưỡng đúng đắn, con trở nên người có trí tuệ và giới đức, không làm khổ gia đình, cũng không gây hại cho xã hội.
Chính sự dạy dỗ ấy cũng là nguồn hạnh phúc cho cha mẹ, vì đã góp phần giảm bớt một người xấu trong đời, và vun bồi thêm một người tốt cho thế gian. Công đức ấy không những được người đời kính trọng mà còn được chư thiên tán thán. Tóm lại, dẫn dắt con theo đường lành chính là gieo trồng hạnh phúc cho cả gia đình, cho xã hội và cho nhiều đời về sau.
Như Ninh Nguyễn Hồng Dũng
Rằm Tháng Hai Năm Bính Ngọ
==
Hạnh Phúc 13 Vợ Chồng Tương Kính
Như Ninh Nguyễn Hồng Dũng
Trong hành trình của đời người, hôn nhân không chỉ là sự kết hợp giữa hai cá thể mà còn là nền tảng quan trọng để xây dựng hạnh phúc gia đình và sự ổn định của xã hội. Vợ chồng là mối quan hệ thiêng liêng, gắn bó lâu dài, nơi mà niềm vui hay nỗi khổ của mỗi người phần lớn tùy thuộc vào cách cư xử, thái độ và sự quan tâm lẫn nhau. Khi vợ chồng biết yêu thương, tôn trọng và nâng đỡ nhau, gia đình sẽ trở thành tổ ấm an lành; ngược lại, nếu thiếu sự cảm thông và trách nhiệm, đời sống hôn nhân dễ rơi vào bất hòa và đau khổ. Nhận thấy tầm quan trọng ấy, Đức Phật đã để lại nhiều lời dạy sâu sắc nhằm hướng dẫn con người xây dựng đời sống gia đình hạnh phúc và bền vững.
Trong giáo lý Phật giáo, khái niệm “nhiếp hóa”, tức là sự giúp đỡ, nâng đỡ và chăm sóc lẫn nhau nên khi áp dụng vào đời sống hôn nhân, lời dạy này nhấn mạnh rằng người chồng, khi đã lập gia đình, cần có trách nhiệm chăm sóc, bảo vệ và hỗ trợ người vợ cả về vật chất lẫn tinh thần. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là mọi trách nhiệm chỉ đặt lên vai người chồng hay người vợ không cần quan tâm đến chồng; trái lại, hôn nhân theo quan điểm Phật giáo là mối quan hệ hỗ tương, trong đó cả hai đều có bổn phận và trách nhiệm đối với nhau, cùng chung tay xây dựng mái ấm gia đình trong tinh thần bình đẳng và yêu thương.
Người xưa thường ví người vợ là “nội tướng”, giữ vai trò quán xuyến và chăm lo mọi công việc trong gia đình. Sự đảm đang, khéo léo và tinh thần trách nhiệm của người vợ là yếu tố quan trọng giúp gia đình được ổn định và phát triển. Trong khi đó, người chồng thường được xem như trụ cột kinh tế, gánh vác những công việc bên ngoài xã hội để tạo dựng nguồn tài chính cho gia đình. Hình ảnh so sánh người chồng như tay phải và người vợ như tay trái mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc: tuy đảm nhận những chức năng khác nhau nhưng cả hai đều cần thiết và không thể tách rời. Tay phải làm việc nặng nhọc để tạo ra của cải, còn tay trái gìn giữ và làm đẹp cho thành quả ấy, giống như người chồng lao động vất vả mang tài sản về và người vợ khéo léo quản lý, bảo tồn để gia đình ngày càng thịnh vượng.
Qua đó có thể thấy rằng hạnh phúc gia đình không dựa trên sự hy sinh của một phía mà là kết quả của sự hợp tác hài hòa giữa cả hai vợ chồng. Người chồng cần yêu thương, tôn trọng và hỗ trợ vợ; đồng thời, người vợ cũng phải biết chăm sóc, gìn giữ tài sản và vun bồi hạnh phúc gia đình. Khi cả hai cùng thực hiện trọn vẹn bổn phận của mình, gia đình sẽ trở thành nơi an trú bình yên và là nền tảng cho sự phát triển đạo đức cũng như đời sống tâm linh của mỗi thành viên. Vì vậy, việc “đối xử” lẫn nhau mà Đức Phật dạy không chỉ là trách nhiệm mà còn là biểu hiện của một hạnh phúc cao thượng, thể hiện tinh thần từ bi, trách nhiệm và sự hòa hợp trong đời sống hôn nhân.
Trong Việt ngữ, hai tiếng “chồng” và “vợ” mang ý nghĩa xác định rõ ràng về mối quan hệ hôn nhân, biểu thị sự gắn bó chính thức và bền vững giữa hai con người đã nên duyên. Khi đã được gọi là chồng hay vợ, mối quan hệ ấy không còn mang tính tạm thời mà trở thành một cam kết trọn đời, cùng chia sẻ trách nhiệm, tình thương và nghĩa vụ trong việc xây dựng gia đình. Tuy nhiên, trong một số ngôn ngữ cổ đại, những từ tương đương với “chồng” và “vợ” lại mang ý nghĩa phong phú và tinh tế hơn, tùy theo từng hoàn cảnh và sắc thái đạo đức.
Đối với tiếng “chồng”, cổ ngữ thường dùng để chỉ “chủ”, thể hiện vai trò lãnh đạo và trách nhiệm của người chồng trong gia đình. Tuy nhiên, nó mang tính cách biểu thị người chủ hiền lành, có đức hạnh, luôn thương yêu và tận tâm giúp đỡ người dưới quyền, đồng thời là chỗ dựa tinh thần cho gia đình. Ngược lại, chữ chồng chúa tuy cũng mang nghĩa là chủ nhưng ám chỉ người có khuynh hướng độc đoán, sử dụng quyền lực khiến người khác sợ hãi hơn là kính trọng. Sự phân biệt này cho thấy việc đề cao hình ảnh người chồng hiền đức, lấy lòng từ bi và trí tuệ làm nền tảng thay vì sự áp đặt.
Tương tự, cổ ngữ cũng có nhiều từ tương đương với tiếng “vợ”, mỗi từ mang một sắc thái riêng. Thê và thiếp được dùng trong nghĩa thông thường để chỉ người vợ trong mối quan hệ hôn nhân chính thức, nhưng chữ thiếp mang nghĩa là người hầu hạ, phản ánh một góc nhìn xã hội trong bối cảnh lịch sử nhất định, nhưng không phải là lý tưởng mà Phật giáo hướng đến.
Từ được sử dụng phổ biến và mang ý nghĩa cao đẹp nhất là hiền thê, nghĩa là “người đáng được thương yêu và che chở”. Ý nghĩa này không nhằm hạ thấp vai trò của người vợ mà nhấn mạnh đến trách nhiệm yêu thương và chăm sóc của người chồng đối với bạn đời, tạo nên hình ảnh lý tưởng của hôn nhân: người chồng hiền đức và người vợ đáng được yêu thương, cùng nhau xây dựng mái ấm trong sự hòa hợp và tôn trọng lẫn nhau.
Qua những định nghĩa phong phú của cổ ngữ, có thể thấy quan niệm về vợ chồng trong giáo lý Phật giáo không chỉ dừng lại ở danh xưng mà còn nhấn mạnh đến phẩm chất đạo đức và trách nhiệm của mỗi người. Một cuộc hôn nhân hạnh phúc không dựa trên quyền lực hay sự lệ thuộc, mà được xây dựng trên nền tảng của tình thương, sự bình đẳng và tinh thần nâng đỡ lẫn nhau. Khi người chồng sống đúng với ý nghĩa của chủ bảo vệ và người vợ thể hiện phẩm hạnh của một hiền thê thì gia đình sẽ trở thành nơi an vui, bền vững và là môi trường nuôi dưỡng những giá trị đạo đức cao quý cho xã hội.
Trong giáo lý của Đức Phật, đời sống hôn nhân không chỉ đơn thuần là sự kết hợp giữa hai con người để cùng chung sống, mà còn là một môi trường tu tập và nuôi dưỡng những giá trị đạo đức cao quý. Gia đình được xem là nền tảng của xã hội, nơi con người học cách yêu thương, trách nhiệm và trưởng thành trong đời sống tâm linh. Đức Phật đã chỉ dạy rõ ràng về cách xử sự giữa vợ và chồng, nhấn mạnh rằng hạnh phúc gia đình được xây dựng trên nền tảng của sự tôn trọng, yêu thương và trách nhiệm lẫn nhau. Những lời dạy này không chỉ mang ý nghĩa đạo đức mà còn có giá trị thực tiễn sâu sắc, giúp gia đình trở thành nơi an trú bình yên giữa cuộc đời nhiều biến động.
Theo đó, người chồng cần thực hành năm pháp đối với vợ như biểu hiện của tình thương chân thành và sự kính trọng. Trước hết, người chồng phải biết thương mến, nể nang và thường xuyên khen tặng vợ, làm cho vợ được lợi ích và hài lòng. Tình thương ấy được thể hiện qua những hành động cụ thể trong đời sống hằng ngày như sự quan tâm, chăm sóc, những món quà hợp thời trong các dịp đặc biệt, cùng với lời nói dịu dàng và chân thành. Những cử chỉ này tuy giản dị nhưng có sức mạnh nuôi dưỡng tình nghĩa vợ chồng, giúp người vợ cảm nhận được sự trân trọng và an tâm.
Thứ hai, người chồng không được khinh khi vợ, nghĩa là không xem vợ như kẻ tôi đòi hay người lệ thuộc. Trong quan điểm của Phật giáo, vợ chồng là những người bạn đồng hành bình đẳng trong phẩm giá, cùng chia sẻ trách nhiệm xây dựng mái ấm. Sự tôn trọng và lắng nghe chính là nền tảng của niềm tin và tình yêu bền vững.
Thứ ba, người chồng cần giữ lòng chung thủy, đức tính trung thành bảo vệ hạnh phúc gia đình và duy trì sự ổn định của đời sống hôn nhân. Khi người chồng sống chung thủy, người vợ sẽ cảm nhận được sự an toàn và tình nghĩa vợ chồng ngày càng bền chặt.
Thứ tư, người chồng nên giao cho vợ chủ quyền trong gia đình, đặc biệt trong việc quản lý tài chính và điều hành công việc nội trợ. Điều này thể hiện sự tin tưởng và giúp người vợ phát huy khả năng tổ chức, góp phần duy trì sự ổn định và phát triển của mái ấm.
Thứ năm, người chồng cần quan tâm đến việc cung cấp những vật dụng trang điểm thích hợp cho vợ. Ý nghĩa sâu xa của lời dạy này không nằm ở giá trị vật chất mà chính là sự quan tâm tinh tế, giúp người vợ cảm thấy được yêu thương và tôn trọng.
Khi người chồng thực hành đầy đủ năm pháp này, người vợ cũng đáp lại bằng sự tận tụy và yêu thương, tạo nên sự tương tác lẫn nhau trong đời sống gia đình. Sự nâng đỡ này không chỉ giúp vợ chồng vượt qua khó khăn mà còn hỗ trợ nhau trên con đường hướng thiện và tu tập. Gia đình vì thế trở thành môi trường lý tưởng để phát triển cả đời sống vật chất lẫn tinh thần.
Đời sống hôn nhân trong mọi thời đại đều giống nhau khi vợ chồng biết yêu thương, tôn trọng và nâng đỡ theo những nguyên tắc mà Đức Phật đã chỉ dạy, gia đình sẽ trở thành nơi nuôi dưỡng hạnh phúc chân thật, góp phần xây dựng một xã hội an bình và tốt đẹp. Đây chính là ý nghĩa cao quý của sự hòa hợp giữa vợ và chồng trong ánh sáng của giáo pháp, giúp con người không chỉ an vui trong hiện tại mà còn tiến gần hơn đến con đường giải thoát.
Bên cạnh năm bổn phận của người chồng đối với vợ, Đức Phật cũng chỉ dạy rằng người vợ phải thực hành năm điều đối với chồng để duy trì sự hòa hợp trong gia đình. Trước hết, người vợ cần khéo léo thu xếp và săn sóc mọi công việc trong gia đình một cách chu đáo, tạo nên một môi trường sống ấm áp và an lành để các thành viên được an tâm sinh hoạt. Thứ hai, người vợ nên quan tâm và giúp đỡ quyến thuộc bên chồng, góp phần xây dựng sự gắn kết giữa hai gia đình, từ đó tăng trưởng tình thân và sự hòa thuận. Thứ ba, đức tính chung thủy là yếu tố không thể thiếu giúp bảo vệ niềm tin và sự bền vững của đời sống hôn nhân. Thứ tư, người vợ cần biết gìn giữ và quản lý tài sản mà chồng giao phó, sử dụng một cách hợp lý để bảo đảm sự ổn định kinh tế của gia đình. Cuối cùng, sự siêng năng và tận tụy trong mọi công việc chính là nền tảng giúp gia đình phát triển bền vững và trở thành tấm gương tốt đẹp cho con cháu noi theo.
Những bổn phận trên thuộc về phương diện đời sống thế tục, giúp gia đình đạt được sự an vui trong hiện tại. Tuy nhiên, Đức Phật không chỉ dừng lại ở khía cạnh vật chất mà còn nhấn mạnh đến sự khuyến khích nhau trên con đường tâm linh. Sự kiện này được chia thành ba cấp độ. Ở mức độ thứ nhất, vợ chồng nên hướng dẫn nhau thực hành các thiện pháp căn bản như bố thí, trì giới, nghe kinh và làm lành, từ đó xây dựng nền tảng đạo đức vững chắc. Ở mức độ thứ nhì, cả hai cùng nhau tu tập các pháp hành như tụng kinh, niệm Phật và tham thiền, giúp tâm được thanh tịnh và đời sống gia đình trở nên hòa hợp. Ở mức độ cao thượng hơn, vợ chồng trở thành thiện hữu tri thức của nhau, khuyến khích nhau học và thực hành minh sát tuệ (Vipassanā), ăn chay, luôn nhắc nhở nhau tinh tấn trên con đường hướng đến giải thoát.
Việc hành xử theo lời Phật dạy mang lại nhiều lợi ích to lớn. Trước hết, tình thương giữa các thành viên trong gia đình ngày càng đầm ấm và bền vững, giúp vợ chồng tâm đầu ý hợp và cùng nhau vượt qua mọi thử thách. Đây là một đại thiện nghiệp, tạo nên phước báu lớn lao, làm cho đời sống vật chất được đầy đủ và tinh thần được an vui. Khi gia đình sống đúng theo chánh pháp, chư thiên thường hộ trì, phước đức ngày càng tăng trưởng và người thực hành hạnh này được xem là sống đúng chân lý, không dễ duôi trong đời sống đạo đức. Hơn nữa, họ còn trở thành khuôn vàng thước ngọc cho con cháu và là tấm gương sáng cho những người xung quanh noi theo.
Tinh thần tán dương hạnh phúc gia đình còn được thể hiện qua lời dạy của Đế Thích. Ngài đã nói với vị chư vị đại thiên rằng “Này các vị, người cư sĩ nào làm nhiều phước thiện, có giới hạnh và nuôi dưỡng vợ đúng theo chánh pháp, ta xin lễ bái người ấy.” Đáp lại, chư thiên thưa rằng người được Đế Thích kính trọng và được thế gian ca tụng chính là bậc cao quý, và chư thiên cũng xin đảnh lễ những người như vậy.
Đế Thích là vị thiên vương cai quản cõi trời Tứ Đại Thiên Vương và cõi Đao Lợi, nhưng vẫn tôn kính những người cư sĩ sống theo pháp xử sự đúng cách với vợ con. Điều này cho thấy giá trị cao quý của đời sống gia đình khi được xây dựng trên nền tảng chánh trí. Khi vợ chồng biết yêu thương, tôn trọng và nâng đỡ lẫn nhau cả về vật chất lẫn tinh thần, gia đình không chỉ trở thành tổ ấm an vui mà còn là môi trường nuôi dưỡng những giá trị đạo đức và tâm linh cao thượng.
Tóm lại sự tương kính giữa hai vợ chồng không chỉ thể hiện qua việc chu toàn trách nhiệm và bổn phận đối với nhau, mà còn được nâng cao khi cả hai biết trân trọng và tôn kính, biết yêu thương và chăm lo cho gia đình. Điểm son của đời sống hôn nhân chỉ khi được xây dựng trên căn bản hiểu và thương từ lời dạy của Đức Phật. Khi vợ chồng biết thấu cảm, tôn trọng và nâng đỡ lẫn nhau cả về vật chất lẫn tinh thần, gia đình trở thành nơi trở về kết tổ bình an, phát triển lòng từ bi và sự hiểu biết. Từ đó, mỗi gia đình hạnh phúc sẽ là một viên gạch vững chắc góp phần xây dựng xã hội hòa bình, nhân ái càng ngày càng hoàn mỹ hơn, đúng như tinh thần Phật giáo hướng đến sự an lạc cho tất cả chúng sinh Thăng Hoa Cuộc Đời.
Như Ninh Nguyễn Hồng Dũng
==
Hạnh phúc14 Hoàn Thành Nhiệm Vụ
Như Ninh Nguyễn Hồng Dũng
Thăng Hoa Cuộc Đời kỳ 156, Hạnh Phúc thứ 14 có nhan đề là Hoàn Thành Nhiệm Vụ nghĩa là trong hành trình thăng hoa của đời người, có một loại hạnh phúc rất thiết thực nhưng cũng vô cùng cao quý, đó là hạnh phúc của sự hoàn tất công việc mình đảm nhiệm. Đây không phải là niềm vui thoáng qua, mà là sự an lạc sâu xa khi ta làm trọn vẹn việc của mình, đi đến kết quả cuối cùng, không bỏ dở giữa chừng. Trong cuộc sống, nhiều người khởi đầu rất tốt, nhưng lại thiếu sự kiên trì nên công việc dang dở, thành quả không trọn vẹn, từ đó tâm cũng khó được an ổn.
Hoàn thành nhiệm vụ có thể ví như người lái xe: đã lên đường thì phải biết rõ hướng đi, đã cầm tay lái thì phải đưa xe đến nơi cần đến. Nếu đi nửa đường mà dừng lại, thì mục tiêu không đạt, công sức cũng uổng phí. Nhưng nếu kiên trì tiến bước, vượt qua chướng ngại, đến được đích, thì đó chính là thành công, là “đắc quả” trong đời sống thực tế.
Tấm gương sáng ngời nhất về hạnh phúc này chính là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Từ lúc rời bỏ cung vàng điện ngọc để xuất gia, Ngài đã trải qua biết bao gian khổ, thử thách, nhưng chưa từng bỏ dở chí nguyện. Với ý chí kiên định và lòng quyết tâm vô song, Ngài đã đi trọn con đường, đạt đến giác ngộ viên mãn. Hơn hai mươi lăm thế kỷ trôi qua, chưa có ai làm việc một cách trọn vẹn và đem lại kết quả cao quý như Ngài.
Chính vì vậy, hạnh phúc của sự hoàn thành nhiệm vụ không chỉ là thành công cá nhân, mà còn là con đường dẫn đến giá trị bền vững cho đời. Khi ta biết bắt đầu và cũng biết đi đến cùng, thì mỗi việc làm đều trở thành một bước tiến vững chắc trên con đường thăng hoa cuộc sống.
Ta hãy đi ngược dòng thời gian để quán chiếu con đường làm việc và thành tựu của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, hầu thấy rõ ý nghĩa của hạnh phúc “hoàn thành nhiệm vụ”. Từ thuở ban đầu, Ngài đã quyết chí xuất gia, dứt lìa ngai vàng, rời bỏ vợ đẹp con thơ, những điều mà người đời ai cũng khát khao nắm giữ. Đó là bước khởi đầu của một chí nguyện lớn, vượt lên trên mọi ràng buộc của thế gian.
Sau khi xuất gia, Ngài tinh tấn tu hành theo pháp khổ hạnh, chịu đựng muôn vàn gian khổ với mong cầu tìm ra chân lý tối thượng. Nhưng khi nhận thấy lối tu cực đoan ấy không đem lại kết quả chân thật, Ngài dũng cảm từ bỏ để bước sang con đường Trung đạo. Chính nhờ sự sáng suốt và kiên định ấy, Ngài đã đạt được quả vị Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác dưới cội bồ đề, hoàn tất mục tiêu tối hậu của đời tu.
Không dừng lại nơi thành tựu cá nhân, sau khi giác ngộ, Ngài lại tiếp tục một nhiệm vụ lớn lao hơn: thuyết pháp độ sinh suốt bốn mươi lăm năm ròng rã. Dù trải qua bao nhọc nhằn, Ngài vẫn không lùi bước, một lòng đem ánh sáng trí tuệ soi rọi cho muôn loài.
Hai mươi lăm thế kỷ trôi qua tưởng chừng dài xa, nhưng việc làm của Ngài vẫn sáng chói như mới hôm qua. Con đường ấy đi từ khởi đầu đến kết quả viên mãn, không hề bỏ dở giữa chừng, dù gặp bao trở ngại. Đó chính là tấm gương trọn vẹn về hạnh phúc hoàn thành nhiệm vụ, một giá trị bất diệt còn vang vọng mãi trong lòng người học Phật hôm nay.
Muốn làm việc đến nơi đến chốn, con người cần có định hướng đúng đắn và một nội tâm vững vàng. Theo lời dạy của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, mọi hành động trong đời đều có thể phân thành hai loại rõ rệt: việc làm đem lại an vui và việc làm dẫn đến tai hại. Sự phân biệt này không chỉ giúp ta chọn đúng con đường, mà còn giúp ta đi trọn con đường ấy với kết quả tốt đẹp.
Việc làm đem lại an vui gồm ba yếu tố quan trọng. Thứ nhất là làm cho đến kết quả, không bỏ dở giữa chừng. Một công việc dù nhỏ hay lớn, nếu khởi đầu mà không hoàn tất, thì công sức cũng trở nên uổng phí, tâm ý cũng không được an ổn. Thứ hai là làm đầy đủ, không thiếu sót. Khi làm việc với sự trọn vẹn, chú tâm đến từng chi tiết, ta không chỉ đạt hiệu quả cao mà còn tránh được những sai lầm đáng tiếc. Thứ ba là làm trong sạch, nghĩa là việc làm không mang tội lỗi, không gây tổn hại cho mình và cho người. Đây chính là nền tảng đạo đức giúp công việc trở thành nguồn an lạc bền vững.
Ngược lại, sở dĩ nhiều người không đạt được kết quả trọn vẹn là vì thiếu bền chí. Khi gặp nghịch cảnh, họ dễ ngã lòng, thiếu sự cương quyết để đi đến cùng. Chính sự dao động ấy khiến công việc dang dở, cuộc sống cũng thiếu đi niềm vui chân thật. Vì vậy, muốn có hạnh phúc, ta cần rèn luyện ý chí kiên định, biết phân biệt đúng sai, và nhất là phải làm việc với tinh thần trọn vẹn từ đầu đến cuối.
Có vô vàn nguyên nhân dẫn đến trạng thái của người làm việc hay bỏ dở, không đi đến nơi đến chốn, khiến đời sống dần mất phương hướng và khó đạt được hạnh phúc chân thật. Theo lời dạy của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, những biểu hiện này không chỉ làm hao phí thời gian mà còn làm suy giảm giá trị của chính bản thân.
Người ấy thường làm việc rất chậm chạp, lẽ ra chỉ cần một giờ là hoàn tất, nhưng lại kéo dài đến hai, ba giờ, khiến công việc trì trệ mà kết quả không tương xứng. Việc làm cũng không xứng với tiền công nhận được, nghĩa là làm ít nhưng lại mong hưởng nhiều, từ đó sinh ra tâm lý ỷ lại và thiếu trách nhiệm. Họ không thật sự quan tâm đến công việc, làm cho có, làm một cách miễn cưỡng, không có sự tận tâm hay cố gắng.
Cuộc sống hằng ngày lại buông thả, ngủ nghỉ quá nhiều, ban ngày ngủ dài, ban đêm cũng không làm việc gì hữu ích. Có khi còn sa vào rượu chè, tiêu hao sức lực và thời gian trong những thú vui vô bổ. Tâm trí không vững vàng, dễ bị cuốn theo dục vọng, chạy theo những đam mê nhất thời, khiến chí hướng ngày càng suy yếu. Thói quen lười biếng, ngủ nướng, dậy trễ trở thành nếp sống cố hữu, làm mất đi cơ hội phát triển.
Khi gặp khó khăn, thay vì nỗ lực vượt qua, họ lại viện đủ lý do như trời lạnh quá, nóng quá, hoàn cảnh không thuận lợi, để biện minh cho sự trì hoãn. Tất cả những điều ấy hợp lại thành một vòng luẩn quẩn, khiến công việc không bao giờ hoàn tất, cuộc đời cũng vì thế mà không thể thăng tiến hay đạt được sự an vui bền vững.
Theo lời dạy của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, người muốn làm việc đến nơi đến chốn, đạt kết quả viên mãn, cần nương vào bốn pháp căn bản gọi là Tứ Như Ý Túc (bốn pháp như ý). Chính nhờ vận dụng trọn vẹn bốn yếu tố này mà Ngài đã thành tựu quả vị Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, để lại cho đời một con đường tu học và làm việc đầy trí tuệ.
Trước hết là dục như ý, nghĩa là sự vui lòng, ưa thích đối với công việc mình làm. Khi tâm đã hoan hỷ và tự nguyện, công việc không còn là gánh nặng mà trở thành niềm vui, giúp ta dễ dàng bắt đầu và duy trì nỗ lực lâu dài. Kế đến là tinh tấn như ý, tức là sự cương quyết, bền bỉ không thối chuyển. Dù gặp trở ngại hay khó khăn, người có tinh tấn vẫn kiên trì tiến bước, không bỏ dở giữa chừng.
Bên cạnh đó, niệm như ý là khả năng giữ tâm chuyên chú vào công việc, không để tán loạn hay xao lãng, nhờ sự chú tâm này, ta tránh được sai sót và làm việc một cách hiệu quả hơn. Cuối cùng là tư duy như ý, tức là sự suy nghĩ, quán xét để tìm ra phương pháp đúng đắn. Khi hiểu rõ cách làm, công việc sẽ đi đúng hướng và đạt kết quả tốt đẹp.
Bốn pháp này kết hợp lại tạo thành nền tảng vững chắc cho mọi thành tựu. Người biết áp dụng sẽ làm việc với tâm hoan hỷ, ý chí kiên định, sự tập trung và trí tuệ sáng suốt, từ đó hoàn thành mọi nhiệm vụ một cách trọn vẹn và an vui.
Phàm người muốn làm bất cứ việc gì trong đời, trước hết cần có chương trình rõ ràng, biết mình sẽ làm gì, làm như thế nào và đi đến đâu. Tuy nhiên, điều quan trọng hơn cả không phải chỉ là tiền bạc hay phương tiện bên ngoài, mà chính là “vốn” bên trong, đó là tâm cương quyết, là ý chí muốn làm và thích làm công việc mình đã chọn. Theo lời dạy của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, chính tâm là động lực chủ yếu dẫn dắt mọi hành động. Vì vậy, trong bốn pháp như ý thì yếu tố tâm luôn giữ vai trò trung ương, quyết định sự thành bại của công việc.
Trước hết là dục như ý, tức là lòng ưa thích, sự hoan hỷ đối với việc mình làm. Theo tâm lý tự nhiên, điều gì ta yêu thích thì tâm sẽ hướng về đó, chăm chú vào đó và nỗ lực hoàn thành. Mọi công việc, từ nhỏ đến lớn, đều phải bắt đầu bằng việc đặt tâm đúng chỗ và nuôi dưỡng tình yêu đối với công việc ấy. Khi tâm đã thích, ta sẽ tự nguyện dấn thân; khi đã dấn thân, ta cần tự buộc mình tiếp tục thực hiện cho đến cùng. Hai nguyên tắc này đi liền với nhau: vừa yêu việc, vừa quyết làm. Nếu thiếu một trong hai, công việc khó có thể thành tựu trọn vẹn, dù là việc nhỏ.
Kế đến là tinh tấn như ý, tức là sự siêng năng bền bỉ và can đảm trước mọi thử thách. Tinh tấn không phải là cố gắng quá mức trong một thời gian ngắn rồi bỏ cuộc, mà là làm việc đều đặn, liên tục, không gián đoạn. Người có tinh tấn không bị khuất phục bởi hoàn cảnh hay thất bại, không nản chí khi gặp khó khăn. Họ biết tiến từng bước vững chắc, phù hợp với sức mình, không miễn cưỡng nhưng cũng không buông xuôi. Tinh tấn còn bao hàm sự biết nghỉ ngơi hợp lý để duy trì sức khỏe, vì nếu làm việc đến kiệt quệ thì không thể đi đường dài. Chính sự kiên trì bền bỉ ấy là chìa khóa đưa đến thành công lâu dài.
Pháp thứ ba là niệm như ý, tức là sự chú tâm vào công việc. Khi làm bất cứ điều gì, tâm luôn hướng về việc ấy, không xao lãng, không phân tán. Người có niệm biết theo dõi từng bước tiến của công việc, luôn suy nghĩ và tìm cách cải thiện. Nhờ sự chú tâm, ta tránh được sai sót, nâng cao hiệu quả và giữ được sự liên tục trong hành động. Nếu thiếu niệm, tâm dễ chạy theo ngoại cảnh, làm việc hời hợt, kết quả không trọn vẹn.
Cuối cùng là tư duy như ý, tức là dùng trí tuệ để quan sát, phân tích và điều chỉnh công việc. Tư duy giúp ta hiểu rõ phương pháp, nhận ra sai lầm và tìm hướng đi đúng. Nếu không có trí tuệ kiểm soát, công việc giống như chiếc xe chạy trong đêm tối không đèn, dễ lạc đường và gặp nguy hiểm. Nhờ tư duy, ta biết cân nhắc, chọn lựa và hoàn thiện từng bước đi, khiến công việc ngày càng tốt đẹp hơn.
Bốn pháp như ý này không tách rời nhau mà liên kết chặt chẽ, tạo thành nền tảng vững chắc cho mọi thành tựu. Có tâm ưa thích thì mới bắt đầu, có tinh tấn thì mới duy trì, có niệm thì mới giữ vững, và có tư duy thì mới hoàn thiện. Nếu thiếu một trong bốn yếu tố ấy, công việc dễ rơi vào dang dở và thất bại.
Vì vậy, trong đời sống hằng ngày, muốn làm việc đến nơi đến chốn, không bỏ dở giữa chừng, mỗi người cần rèn luyện đầy đủ bốn pháp này. Khi có được tâm cương quyết, lòng yêu việc, sự bền bỉ, sự chú tâm và trí tuệ sáng suốt, ta sẽ hoàn thành mọi nhiệm vụ một cách trọn vẹn, đem lại kết quả tốt đẹp và hạnh phúc chân thật trong cuộc sống.
Trong phương diện đạo đức, dù là người tu tại gia hay xuất gia, mỗi khi làm bất cứ việc gì cũng cần đầy đủ bốn pháp như ý mà Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã dạy. Từ việc bố thí, trì giới cho đến tham thiền, nếu thiếu một trong bốn yếu tố ấy thì công phu khó đạt kết quả viên mãn. Bốn pháp này không chỉ áp dụng trong đời sống thường nhật mà còn là nền tảng cho sự tu tập giải thoát.
Trong kinh điển có kể lại câu chuyện về một vị Tỳ-khưu chuyên tu thiền định. Vị này nổi tiếng là người tinh tấn, chuyên cần hành đạo, nhưng khi ngồi tham thiền lại thường xuyên bị buồn ngủ, không thể đạt được trạng thái hỷ lạc dù ở mức thấp nhất. Đây là một trở ngại lớn đối với con đường tu tập, bởi tâm không tỉnh táo thì khó mà tiến sâu vào thiền định. Tuy vậy, vị Tỳ-khưu không hề nản chí hay bỏ cuộc.
Mỗi khi cơn buồn ngủ kéo đến, thầy tìm cách khắc phục bằng những phương tiện quyết liệt. Có lúc thầy gom cỏ lại, quấn thành một nùi đặt lên đầu để giữ sự tỉnh thức. Có khi thầy lội xuống sông Hằng, trầm mình trong nước và tự nhắc nhở: “Ta đã thả trôi sự buồn ngủ rồi”. Sự kiên trì ấy không phải chỉ trong một vài ngày hay vài tháng, mà kéo dài suốt mười hai năm. Cuối cùng, nhờ nỗ lực không gián đoạn, thầy đã chứng đắc quả vị A-la-hán.
Qua câu chuyện này, ta thấy rõ sức mạnh của bốn pháp như ý. Vị Tỳ-khưu ấy có lòng yêu thích công việc tu tập, có ý chí cương quyết không lùi bước, luôn chú tâm vào mục tiêu và biết dùng trí tuệ để nhận ra nhược điểm của mình là cơn buồn ngủ. Từ đó, thầy tìm cách khắc phục cho đến khi hoàn toàn vượt qua.
Đây chính là tấm gương sống động cho người học Phật noi theo. Khi có đủ bốn pháp như ý, dù gặp khó khăn đến đâu, ta vẫn có thể vượt qua và đi đến thành tựu trọn vẹn trên con đường tu tập và đạo đức.
Còn Đức Thế Tôn kiếp chót là Thái tử Tất Đạt Đa, sau khi từ bỏ ngai vàng xuất gia, trải qua sáu năm khổ hạnh đến mức thân thể chỉ còn da bọc xương, Ngài cũng từng đối diện với sự mệt mỏi và dao động của thân tâm. Nhưng chính tại giây phút ấy, Ngài nhận ra rằng cực đoan không phải là con đường đưa đến giải thoát. Dưới cội bồ đề, Ngài phát đại nguyện kiên định: “Nếu ta không thành đạo, dù xương tan thịt nát, ta cũng không rời khỏi nơi này.” Lời nguyện ấy không phải là sự cố chấp, mà là biểu hiện của trí tuệ và ý chí đã chín muồi.
Từ đó, Ngài an trú trong chánh niệm, điều hòa thân tâm theo con đường Trung đạo, không buông lung cũng không ép xác. Nhờ lòng yêu đạo tha thiết, tinh tấn không gián đoạn và sự quán chiếu sâu xa, Ngài đã vượt qua mọi cám dỗ, chiến thắng nội tâm, và cuối cùng chứng đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Ánh sáng giác ngộ ấy không chỉ soi đường cho riêng Ngài mà còn mở ra con đường giải thoát cho toàn thể chúng sanh.
Nói tóm lại, người sống tại gia nếu muốn làm bất cứ việc gì, từ nhỏ đến lớn, mà biết vận dụng đầy đủ bốn pháp như ý theo lời dạy của Đức Phật thì đời sống sẽ dần ổn định và thăng tiến. Khi tâm ưa thích việc lành, có sự tinh tấn bền bỉ, có chánh niệm chú tâm và có trí tuệ quán xét, thì mọi công việc đều được hoàn thành trọn vẹn, không bỏ dở giữa chừng. Nhờ đó, tài sản trong gia đình được vun bồi, kinh tế trở nên dồi dào, cuộc sống sung túc hơn. Không chỉ riêng từng gia đình, mà khi nhiều người cùng sống và làm việc theo nguyên tắc ấy, nền kinh tế chung của xã hội và quốc gia cũng trở nên vững mạnh, cường thịnh.
Người biết làm việc đúng pháp còn hưởng được bốn điều an vui rất thiết thực trong đời sống. Đó là niềm vui vì có của cải do chính mình tạo ra một cách chân chánh; niềm vui vì có đủ phương tiện tiêu dùng, không thiếu thốn; niềm vui vì không bị vướng nợ nần, tâm không bị ràng buộc; và niềm vui vì mọi việc làm đều trong sạch, không gây tội lỗi, nên lòng luôn nhẹ nhàng thanh thản. Những niềm vui này không phải là hưởng thụ nhất thời, mà là kết quả của đời sống có chánh niệm và trách nhiệm.
Hơn thế nữa, lợi ích của việc làm đúng pháp còn lan rộng ra ngoài bản thân. Người trong gia đình, thân quyến và cả xã hội đều có thể nương nhờ, được hỗ trợ cả vật chất lẫn tinh thần. Những việc lành tích lũy hôm nay trở thành hành trang quý báu cho tương lai, như của để dành nuôi dưỡng đời sống mai sau. Đó cũng là cách tự bảo vệ mình khỏi những sa ngã, vì khi tâm luôn hướng thiện, con người sẽ ít bị lôi kéo vào điều xấu.
Với nhân lành ấy, người sống đúng pháp còn có cơ hội sinh vào cảnh giới tốt đẹp, thậm chí cõi trời, và nếu hội đủ duyên lành, có thể tiến đến chứng đắc đạo quả giải thoát. Dù chưa đạt được trong đời này, những việc làm chân chánh vẫn là hạt giống tốt đưa đến thành tựu trong tương lai. Người ấy cũng không rơi vào trạng thái dễ duôi buông thả, mà luôn sống tỉnh thức và có mục tiêu rõ ràng.
Chính vì vậy, những người có trí tuệ thường ngợi khen lối sống này, bởi nó không xa rời ba lợi ích lớn là lợi mình, lợi người và lợi cho đời. Người sống như vậy xứng đáng được gọi là thiện nhân, vì hạnh phúc không chỉ hiện hữu nơi bản thân mà còn lan tỏa đến mọi người chung quanh.
Như Ninh Nguyễn Hồng Dũng
VTLV – CHÀO MỪNG THI SĨ HOÀNG HY
=
==
VTLV – WELCOME THI SĨ HOÀNG HY
Jose Thung Lũng rực Hoa Vàng
LẠC VIỆT VĂN THƠ trải rộng Đàn
Thi sĩ vào nhà hương gió tỏa
HOÀNG HY đến cửa bóng dương tràn
Câu đan sóng biếc dâng cuồn cuộn
Chữ trải mây hồng đảo dọc ngang
Họa xướng, Luật Đường… đều lão luyện
Mời người …ra mắt – một vài trang.
Phương Hoa – VTLV AUG 18, 2016
==
BẢN TÓM LƯỢC TIỂU SỬ CỦA HOÀNG HY
-Sinh ngày 23 tháng Tám – Tại Huế. Lớn lên và sống tại nhà số 49 Minh Mạng, Huế, nay là Nguyễn Chí Thanh.
-Xong Tiểu học tại trường Gia Hội, qua Trung học tại trường Lycée Francais de Huế, Lycée Chasseloup-Laubat Saigon, sau cùng là Lycée Yersin Dalat.
-Vào Đại học kiến trúc Saigon năm 1956.
-Động viên nhập ngũ khóa 14 sĩ quan Thủ Đức năm 1962. Sau giai đoạn 1 Bộ binhcăn bản, chuyển qua trường Công Binh Bình Dương, nhưng chưa xong thụ huấn thì đã biệt phái về làm Trưởng ban Đồ án Tái thiết kế Dinh Độc Lập, năm 1963.
-Tốt nghiệp Kiến trúc sư năm 1965 tại Đại học Kiến Trúc Saigon.
-Tù cải tạo 1975-1978.
-Ra tù làm tại Viện Thiết kế thành Phố Sài-gòn.
-Vượt biên (đi chui, boat people) cuối năm 1979. Qua Mỹ, California, năm 1980.
-Học ngành Electronic chip Layout-Design và hành nghề Layout Design cho đến khi về hưu năm 2006.
Hiện ngụ tại Santa Clara vùng Bay Area, California, sống với vợ. Các con sống riêng tại
Milpitas, Fremont, San Jose, nhưng cũng trong vùng Bay Area, cách xa không quá 12 miles.
-Bắt đầu làm thơ từ hồi còn học Đại học.
-Vào tù cải tạo có người bạn tù lai Trung hoa rất sành về Đường thi đã dạy cho tôi những bài thơ của Thôi Hiệu, Vương Hàn, vân vân… như Hoàng Hạc Lâu, Lương Châu từ…và từ đó tôi thích và làm Đường thi.
-Qua Mỹ tôi đã hình thành cho đến nay 12 tập thơ và có tên từ Ngoại Xứ Thi Tập 1 cho đến Ngoại xứ Thi Tập 12.
-Sinh hoạt và có bài đăng trên nhiều diễn đàn và Hội Thơ.
LÊ XUÂN MỸ – Vĩnh Biệt Một Người Bạn Văn Biển Cát
Vĩnh biệt một người bạn văn Biển Cát
Tôi thật sự không biết phải bắt đầu những dòng này như thế nào, bởi tin chị Biển Cát đột ngột qua đời đến với tôi quá bất ngờ. Mới hôm qua thôi, tôi còn nhìn thấy bài viết mới nhất của chị đăng trên báo, bài “Màu vàng của gió”. Tôi không thể ngờ rằng đó lại là những dòng chữ cuối cùng của chị mà tôi được đọc khi chị còn hiện diện trên cõi đời này. Bài viết mở đầu bằng những câu thơ thật đẹp, thật buồn:
“Ở lại nhé anh Đồi dã quỳ dập dờn vàng màu gió Tan vào hư không Tuổi mười tám rạng ngời…”
Tôi cứ đọc đi đọc lại những câu thơ ấy mà không thể nghĩ rằng chỉ một ngày sau, người viết ra chúng đã “tan vào hư không”. Những câu chữ vốn chỉ là một phần của câu chuyện, của ký ức, của tuổi mười tám rạng ngời, hôm nay bỗng trở thành một lời tiễn biệt chính người viết. Có lẽ không ai trong chúng ta có thể biết được bài viết nào sẽ là bài viết cuối cùng của mình, câu nói nào sẽ là câu nói cuối cùng, hay lần gặp gỡ nào sẽ là lần cuối cùng.
Với tôi, Biển Cát không chỉ là một người bạn văn, mà còn là một người đã để lại trong tôi rất nhiều kỷ niệm đẹp. Tôi nhớ năm 2023, khi tôi may mắn đoạt giải Nhất, chị cũng đạt giải Á hậu. Chúng tôi cùng đi qua một mùa viết với những niềm vui, những hồi hộp và những câu chuyện văn chương. Rồi đến năm 2025, chị lại một lần nữa đạt giải Á hậu. Tôi biết trong lòng chị có một chút thất vọng, bởi người cầm bút nào cũng mong một ngày tác phẩm của mình được ghi nhận ở vị trí cao nhất. Tôi vẫn nghĩ rằng chị còn nhiều cơ hội. Tôi vẫn hy vọng đến năm 2027, chị sẽ đạt được điều chị mong muốn, sẽ có một lần được đứng ở vị trí mà chị từng ao ước.
Nhưng bây giờ thì không còn năm 2027 nào nữa cho chị. Nghĩ đến điều đó, lòng tôi đau nhói. Những ước mơ chưa kịp hoàn thành, những bài viết chưa kịp viết, những dự định còn ở phía trước… tất cả bỗng nhiên dừng lại. Cuộc đời thật mong manh. Chúng ta cứ nghĩ mình còn ngày mai, còn một mùa viết nữa, còn một cuộc gặp nữa, còn có thể nói với nhau những điều chưa kịp nói. Nhưng đôi khi, ngày mai không bao giờ đến. Điều khiến tôi xúc động và bàng hoàng nhất là mới hôm qua, bài “Màu vàng của gió” của chị vẫn còn được đăng trên báo. Chị vẫn còn viết, vẫn còn gửi những cảm xúc của mình đến người đọc. Những dòng chữ ấy vẫn còn đó, nhưng người viết thì đã đi xa. Tôi không thể không nghĩ đến bốn câu thơ mở đầu của chị: “Ở lại nhé anh / Đồi dã quỳ dập dờn vàng màu gió / Tan vào hư không / Tuổi mười tám rạng ngời.” Hôm qua đọc, tôi chỉ thấy đó là những câu thơ đẹp và man mác buồn. Hôm nay đọc lại, tôi lại cảm thấy như một lời chia tay mà chị vô tình để lại cho những người còn ở lại.
Biển Cát ơi, chị đã không kịp chờ đến năm 2027 để thực hiện điều mình mong muốn. Nhưng có lẽ những giải thưởng, những danh hiệu rồi cũng chỉ là một phần rất nhỏ của đời người. Điều còn lại lâu hơn chính là những trang viết, những cảm xúc và những kỷ niệm mà một người để lại trong lòng người khác. Chị đã viết, đã sống với văn chương, đã để lại những câu chuyện của mình. Và giờ đây, những trang viết ấy sẽ thay chị ở lại. Tôi sẽ nhớ chị qua những mùa Viết Về Nước Mỹ, qua những lần gặp gỡ, qua những câu chuyện về văn chương, qua niềm vui khi cùng được ghi nhận trong năm 2023, và cả chút tiếc nuối khi chị một lần nữa chỉ đứng sau giải cao nhất vào năm 2025. Tôi sẽ nhớ một người bạn văn vẫn còn nhiều ước vọng, một người mà tôi từng nghĩ chắc chắn sẽ còn viết thêm rất nhiều.
Vậy mà hôm nay, tôi phải viết những dòng này để nói lời vĩnh biệt. Có lẽ câu “Tan vào hư không” trong bài viết cuối cùng của chị sẽ còn ám ảnh tôi rất lâu. Bởi con người có thể tan vào hư không, nhưng những gì họ viết, những gì họ yêu thương và những kỷ niệm họ để lại thì không dễ dàng mất đi.
Xin vĩnh biệt chị, Biển Cát.
Mới hôm qua chị còn ở đó, với “Màu vàng của gió”, với đồi dã quỳ vàng trong gió, với tuổi mười tám rạng ngời của những ngày xa xưa. Hôm nay chị đã đi về một nơi rất xa, nơi chúng tôi không thể gọi chị trở lại. Chỉ mong ở nơi ấy, chị được bình yên.
Và nếu có một mùa Viết Về Nước Mỹ năm 2027, chúng tôi vẫn sẽ nhớ rằng đã từng có một người bạn văn tên Biển Cát, từng ôm một ước mơ chưa kịp hoàn thành, từng để lại những trang viết đẹp, và từng có mặt trong những kỷ niệm mà chúng tôi sẽ mang theo suốt phần đời còn lại.
Vĩnh biệt chị. Mong chị nhẹ nhàng đi vào miền bình yên, như màu vàng của dã quỳ tan vào trong gió.
Lê Xuân Mỹ San Jose 8/15/2026
TRANG THƠ TRẦN VẤN LỆ – HOA MIMEUSE NGÀY NẮNG NỞ Và Những Bài Thơ Khác…
=
ƠI THU VÀNG TÔI NHỚ
CON ĐƯỜNG THU LÁ THU
=
Đôi lời từ BBT:
Bài thơ “Ơi Thu Vàng Tôi Nhớ / Con Đường Thu Lá Thu” của Trần Vấn Lệ là một khúc hoài niệm mênh mang, kết tinh từ tiếng hát, sắc thu và nỗi niềm đau đau đau về quê hương đất nước. Tiếng hát của người ca sĩ mang tên Thu Vàng như một chất xúc tác gợi mở cả một vùng ký ức: từ bóng dáng áo dài tha thướt làm xao xuyến lòng người lính biên viễn năm xưa, cho đến những hạt mưa ngọc rơi trên mái lầu đọng lại dư âm không thể mờ nhạt. Bằng những hình ảnh đan xen giữa mộng và thực, câu thơ chạm đến những mảnh đời lang thang, những bếp lửa ràn rụa và cái man mát buồn rất đỗi tinh tế như bước ra từ trang văn Thạch Lam, làm trỗi dậy tình yêu sâu nặng với Núi Sông Lịch Sử qua từng dải đất thiêng liêng.
Nỗi nhớ ấy càng trở nên da diết và đượm vị đắng cay nơi đất khách quê người. Chén cơm xa xứ mang hương vị quê nhà với hạt lúa Nàng Hương, Nàng Sậu, cùng cái “nhai phiến Đường Thi” giữa viễn xứ đã khắc họa nỗi cô đơn và khát khao hướng về nguồn cội của một hồn thơ cô quạnh. Nhớ tiếng hát Thu Vàng, nhớ giai điệu Bài Tình Xa, nhà thơ gởi gắm một câu hỏi nhói lòng về ngày mai của Quê Hương—ngày mà núi xưa lại xanh và biển xưa lại rạng ngời sắc áo lụa. Bài thơ khép lại bằng tiếng gọi “Em!” thốt lên đầy thương mến, như một nốt trầm lắng đọng giữa con đường thu ngập lá, níu giữ chút hồn quê nghìn trùng xa cách:
Kính mời đọc:
=
Ơi Thu Vàng Tôi Nhớ / Con Đường Thu Lá Thu
Có một o ca sĩ đổi tên mình, Thu Vàng. Nàng hát khi đi ngang cánh rừng Thu lá rụng…
Nàng đi bước gợn sóng lòng biết mấy chinh nhân. Nàng trở thành tình thân của những người biên viễn…
Rồi mùa Thu mất biến… Những giọt mưa bắt đầu gieo ngọc trên mái lầu… Lan can còn tiếng hát!
Không có gì mờ nhạt lòng tôi nhớ người sao… Áo dài bay chiêm bao con-đường-Thu-Lá-Rụng!
Đường Thu nhòe cái bóng em bé nhặt lá bàng…Những cuộc đời lang thang… những bếp lửa ràn rụa!
Thạch Lam ngày xưa có nhiều truyện ngắn thật hay. Cái gì cầm trong tay? Ôi Núi Sông Lịch Sử!
*
Chén cơm người xa xứ có mùi thơm Nàng Hương… có vương vương Nàng Sậu (*)… có con bướm về đậu rồi con bướm bay đi…
Tôi nhai phiến Đường Thi… tôi mơ làm Hoàng Hạc cuối trời mây bát ngát tiếng Thu ai vừa hát em ơi nhạc đường xa…
Bài Tình Xa em hát… Bao giờ Quê Hương mình…núi xưa xanh màu xanh, biển xưa vàng áo lụa?
Em! Thu Vàng tôi nhớ đường Thu bay lá Thu!
Trần Vấn Lệ
(*) Nàng Hương, Nàng Sậu tên giống Lúa thật thơm thật dễ thương của nước mình.
=
TÔI CẮN TÔI VỠ VỤN
TỪNG CÂU THƠ LONG LANH – TRẦN VẤN LỆ
Đôi Lời Từ BBT:
Bài thơ “Tôi cắn tôi vỡ vụn / Từng câu thơ long lanh” của thi nhân Trần Vấn Lệ là một khúc ca đầy xao xuyến, nơi hồn thơ hòa quyện giữa vẻ đẹp mộng mơ của thiên nhiên và những hoài niệm gian lao một thời lính cũ. Bằng nhịp điệu ríu rít, hân hoan như tiếng reo của mùa xuân, nhà thơ vẽ nên bức tranh thiên nhiên rực rỡ với những đàn bướm chập chờn, hoa nở ngát hương và ánh sương mai tinh khôi. Hình ảnh so sánh độc đáo “bướm giống lính tìm giặc – giặc của bướm: Giai Nhân” vừa mang nét hóm hỉnh, quậy ngút trời của người lính gian khổ năm xưa, vừa tôn vinh vẻ đẹp kiều diễm của cuộc sống hôm nay. Mùa xuân tỏa rộng, bướm tung tăng dạo bước trong không gian tự do, mở ra một thế giới tràn ngập tình yêu thương và sự sống mãnh liệt.
Thế nhưng, đằng sau vẻ thong dong, rộn rã ấy lại là một khoảng sâu lắng của tâm hồn qua bao biến cố thời gian. Nhìn bướm bay, người thơ không khỏi chạnh lòng nhớ về rừng xưa, suối cũ, về những năm tháng chiến tranh “hành lang là lán trại” và cái ngậm ngùi của “năm hai năm lưng lưng hơn nửa đường Thế Kỷ”. Câu thơ “Tôi cắn tôi vỡ vụn từng câu thơ long lanh” vút lên như một sự dồn nén cảm xúc đến tận cùng, vìđó là sự tự xẻ chia, vắt kiệt ruột gan để cất lên những vần thơ tinh túy, vừa đau đớn vừa lung linh diệu kỳ. Cuối bài thơ là lời nhắn nhủ tha thiết, dịu dàng: “Bướm ơi đừng bay nhanh / Bướm ơi đừng bay chậm”, một ước muốn níu giữ khoảnh khắc thanh bình, để lòng người được hòa cùng nhịp bước thong dong giữa thung dung cuộc đời.
Kính mời đọc:
=
Những con bươm bướm ngộ! Chúng bay dọc vệ đường. Hoa nở. Ôi dễ thương…
Chúng bay từ Nam Phương theo gió về phía Bắc. Bướm giống lính tìm giặc – Giặc của bướm: Giai Nhân!
Hoa nở, đó, nàng Xuân… hôn đi! Từng con đáp…Đây không đồng-chó-ngáp, bướm tha hồ tung tăng…
Tôi nhìn cuộc hành quân. Vườn tôi Xuân mở hội…Bươm bướm càng bay tới, hoa từng hoa tỏa hương!
Buổi sáng tôi tinh sương thơm ngát lừng đây đó! Gió xô cánh cửa ngõ, bướm vào đi! Tự Do…
*
Không hiểu tôi làm thơ… sao giống thời lính cũ? Không biết súng tôi giấu trong rừng xưa còn không?
Năm hai năm lưng lưng hơn nửa đường Thế Kỷ, tôi, bướm, đều ngộ nhỉ… chúng ta còn yêu thương!
Nghĩ thầm thôi, tôi buồn! Bạn à, tôi yếu đuối…Nhớ quá đi bờ suối, hoa vàng… không bướm bay…
Rồi đời tôi đó đây, hành lang là lán trại, bướm không vào cũng phải! Bây giờ thì khác xưa!
Bây giờ: vệ đường hoa! Hương gió bay mời bướm! Tôi cắn tôi vỡ vụn từng câu thơ long lanh…
Bướm ơi đừng bay nhanh!
Bướm ơi đừng bay chậm!
Thong dong cho tôi ngắm
con đường bướm thong dong…
Trần Vấn Lệ
=
ĐÓ ĐÂY VÀ ĐÂY ĐÓ – TRẦN VẤN LỆ
=
Đôi Lời Từ BBT:
“Đó Đây Và Đây Đó” làm người đọc như bị cuốn vào một cơn giông bão của tâm tưởng, vừa mênh mang sâu lắng như cõi Thiền, vừa rực cháy, cuồng nhiệt và nhức nhối một nỗi niềm nhân thế!
Thơ anh mở đầu bằng một cõi không không, tĩnh lặng đến ngạt thở. Hai con người ở hai đầu khoảng cách, “Người cuối chân mây, ta cuối trời”, không lời thoại, không than van, nhưng lại như đang trao nhau ánh nhìn ngưng đọng. Nhìn nhau mà như “tọa Thiền”, như chìm vào cái hun hút bao la của một màu biển xanh. Cái hay ở đây là sự chuyển dịch tâm thức, từ biển xanh nhìn lên lá cành, thấy tất cả hòa tan vào một sắc diện triết lý. Thời gian không chết, bởi vì năng lượng của nỗi nhớ và sự tồn tại đã vượt thoát khỏi ranh giới vật lý thông thường.
Nhưng rồi, nhịp thơ bỗng cuồn cuộn sóng trào khi tác giả tung ra những ẩn dụ đầy sắc bén về bản chất của vũ trụ và con người. Biển dẫu có tên là “Hồng Hải” hay “Hắc Hải” thì cũng chỉ là thứ sắc màu do “ảnh hưởng của ánh mặt trời”! Khi nắng tắt, tất cả quay về chung một sắc đen nguyên bản.
Lối so sánh ấy độc đáo và quyết liệt đến nghẹt thở! Cũng là chữ “Em”, nhưng cái “Em” trong tình yêu đôi lứa đầy khao khát (anh-nhớ-em) lại khác xa cái “cái em” bao la của tình Thầy trò. Tất cả những khoảng cách, những biệt lập, những biến đổi ấy… hóa ra chỉ vì “núi, sông, ngăn cách”, vì “người cũng như nắng”!
Tác giả đưa người đọc từ cõi triết học vút một cái trở về thực tại lịch sử với những con số thực tế như, Freeway năm 1942, xa lộ Việt Nam năm 1960 dài 30km. Đặt những con số “bê-tông cốt thép” ấy bên cạnh cái sâu thẳm của tâm hồn để làm gì? Để khẳng định một sự thật đau đớn là, Con người có thể mở đường qua núi, làm xa lộ thênh thang xuyên lục địa, nhưng đường về lại với nhau, đường chữa lành những vết thương lòng thì muôn đời vẫn là “đường đi nào cũng khó”!
Đỉnh điểm của ngọn lửa cảm xúc bùng lên ở những câu thơ cuối như một tiếng kêu xé lòng, dồn nén đến tận cùng:
Tôi muốn mình Quên!
Một thời phiền muộn
Trời ơi sao quên?
Đó là tiếng hờn ghen với số phận, là cái nhếch mép cay đắng trước những dở dang của lịch sử và đời người! “Non nước bình yên ai mà không muốn?”, nhưng những vết sẹo của “một thời phiền muộn” đã tạc vào tâm khảm, làm sao mà quên, làm sao mà xóa? Câu than “Trời ơi sao quên?” như một ngọn lửa bùng cháy giữa đêm đen, vừa rên siết, vừa vặn vẹo, vừa nhức nhối một nỗi đau quá đỗi con người.
“Đó Đây Và Đây Đó” là một khúc ca mang sức nặng của kiếp người, nó có cái mênh mông của vũ trụ, có cái sương gió của lịch sử, có cái xa cách của địa lý, và trên hết là một trái tim yêu đến cháy lòng, đau đến tận cùng nhưng vẫn cuồn cuộn một sức sống không bao giờ tắt!
Kính mời đọc:
=
ĐÓ ĐÂY VÀ ĐÂY ĐÓ
Người cuối chân mây
ta cuối trời xa biết mấy,
nhớ nhau nhìn thôi không nói,
như tọa Thiền như biển một màu xanh.
.
Rồi nhìn thấy lá trên cành
cũng xanh màu như biển
rồi thì tan biến
hết…Tôi tin: Thời Gian không chết…
.
Tôi tin Biển cứ một màu xanh
ngay cả biển có tên: Hồng Hải, Hắc Hải
chỉ do ảnh hưởng của ánh mặt trời.
Biển khi hết nắng, cùng một màu đen!
.
Cũng như anh-nhớ-em
mà Thầy thì nhớ các em.
Cũng là Em thôi
nhưng khác nhau nhiều lắm.
.
Nắng và hết nắng
chỉ vì núi, sông, ngăn cách.
Người cũng như nắng…
Cách núi ngăn sông!
.
Đường đi nào cũng khó!
Xa lộ hay freeway thế giới chỉ mới có,
… hồi năm 1942, Thế Kỷ Hai Mươi!
Việt Nam có xa lộ đầu tiên năm 1960…dài 30km!
.
Nhìn cuối chân mây
ta cuối trời xa biết mấy!
Tôi muốn
Mình Quên!
.
Non Nước bình yên
ai mà không muốn?
Một thời phiền muộn
Trời ơi sao quên?
Trần Vấn Lệ
=
HOA MIMEUSE
NGÀY NẮNG NỞ
Em ơi hoa nở! Hoa đua nở!
Hoa tím… hôm nay nở tím vườn!
Người ta gọi đó – hoa Trinh Nữ
Con bướm bay qua… chắc có buồn?
.
Bươm bướm bay qua không trở lại,
vườn anh không có nhỉ, hoa hồng!
Hoa hồng nắng quá, không thèm nở?
Nó giống em mà! Anh nhớ nhung!
.
Nó giống con sông nhớ nước hoài…
Nước trôi đi kiếm một tương lai? (*)
Chúa không hề hứa gì mai mốt,
Anh nhớ em hoài – không nhớ ai!
.
Anh nhớ em hoa tím nở nhiều…
Thế là hiểu nghĩa nhé, Tình Yêu!
Dẫu là tơ tóc, không hề mỏng
Xuân Diệu làm thơ có bấy nhiêu! (**)
.
Anh muốn thơ anh em đứng bóng!
Em là pho tượng để anh hôn…
Em là pho tượng trên New York
Em đứng muôn đời giữa đại dương!
Trần Vấn Lệ
(*) “Không có ngày mai! Chỉ có hôm nay!
Sự đau khổ của ngày nào đủ cho ngày đó!” (Jesus)
(**) Không ai định nghĩa được Tình Yêu!
Có nghĩa gì đâu một buổi chiều
nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt
bằng mây nhè nhẹ gió hiu hiu… (Xuân Diệu)
==***
CẢM ƠN TRỜI
CÒN THƠ –
TRẦN VẤN LỆ
Đôi Lời Từ BBT:
Thật vô cùng cảm phục thi sĩ TRẦN VẤN LỆ. Giữa cái oi ả của nắng Nam Cali mà đọc CẢM ƠN TRỜI – CÒN THƠ người ta không thấy bức bối, trái lại còn phải bật cười rồi lặng ngầm xúc động. Mở đầu bằng sự than thở vui tai về cái nắng “dễ sợ” kéo dài từ sáng sớm đến chiều tàn, và tác giả còn kéo cả một không gian ngột ngạt vào trang giấy với hình ảnh người qua đường lơ đễnh, những cánh chim vắng bóng, và cả chút… ngẩn ngơ trước bóng hồng thoáng qua. Để rồi nhịp thơ bỗng chùng xuống thật lãng mạn ở khổ cuối, khi cái khô khốc của xứ người, thi sĩ giăng thơ ra phơi mà “vẫn ướt”, cái ướt của hoài niệm, của tình yêu quê hương không bao giờ cạn, và của nghĩa tình lính chiến năm xưa. Tuổi về chiều dẫu vô định, nhưng chỉ cần “còn Thơ” là còn tất cả. Một tiếng thở dài nhẹ tênh hóa thành lời tri ân sâu lắng gửi đến đất trời, để cảm ơn vì giữa muôn vàn giông bão cuộc đời, hồn thơ vẫn ở lại đọng trên đôi môi…
Mời đọc:
=
CẢM ƠN TRỜI
CÒN THƠ
Nắng gì nắng dễ sợ!
Nắng từ năm giờ khuya,
nắng cả ngày đầm đìa!
Nắng đến sáu giờ tối…
.
Người thấy không chào hỏi
chỉ đưa tay huơ huơ.
Ai cũng là… Nhà Thơ?
Họ đang mơ gì đó?
.
Nắng, nóng, không có gió…
Cali sa mạc chăng?
Không có chim bay ngang
quạ cũng về cố xứ?
.
Đẹp nhất là thiếu nữ
quần đùi, bắp chân tròn.
Không có gió, ai hôn?
Nói thật: mình không biết!
.
Hoàng Trúc Ly ngộ thiệt
chỉ ca cánh tay thôi:
“Sáng nay con gái đâu nhiều thế?
Những cánh tay tròn như cánh chim!”.
*
Có một người lim dim
Tôi hỏi: Thầy sao ạ?
Ảnh không nói gì cả,
chỉ Nam Mô Nam Mô.
.
Cali nắng-nóng-khô…
Tôi phơi thơ… vẫn ướt:
Tôi muốn quên, không được!
Quê Hương vẫn Tình Yêu!
.
Tôi còn không bao nhiêu
Ôi Tình Yêu Của Lính!
Tuổi về chiều vô định,
Cảm ơn Trời… còn Thơ…
Trần Vấn Lệ
BẢO TRÂM – Tình Mẹ_Bà Vịt Nuôi Con
Tình Mẹ_Bà Vịt Nuôi Con
Thưa quý bạn,
Tôi xin kể tiếp vài chuyện nhỏ trong đời sống nông dân của tôi — đời sống quanh quẩn bên mấy con gia súc tôi nuôi trong vườn sau. Sống gần loài vật, cho chúng ăn, lo chỗ cho chúng ngủ, rồi nói chuyện với chúng mỗi ngày… tự nhiên mình học được nhiều điều hay lắm, quý bạn ạ.
1. Chuyện con Cừu đầu đàn
Mấy hôm trước, một con cừu già của tôi chết. Tôi với con rể đem nó đi chôn ở cuối vườn. Chỗ đó cách nhà tôi chừng 400 feet, còn nhà hàng xóm thì xa hơn nữa, vì đất ai cũng có cây cối bao quanh.
Điều làm tôi ngạc nhiên là: khi chúng tôi khiêng con cừu đi, bốn con còn lại tự nhiên xếp thành hai hàng, lặng lẽ đi theo sau. Tôi thấy lạ quá nên đứng lại, để một mình rể đưa xác con Cừu đi. Tôi quành ra sau 4 con Cừu kia để quan sát, chúng đi nghiêm trang và có vẻ buồn bã lắm quý bạn ạ. Chúng chỉ đi được nửa đường, rồi cả bốn con quay đầu trở về cùng một lúc. Không con nào dám đi xa hơn.
Tôi không hiểu vì sao. Tìm sách cũng không thấy ai nói chuyện này. Tôi hỏi AITramTam — người bạn tri kỷ của tôi. AITramTam giải thích: “Đàn cừu sống trong khu vườn quen thuộc, nên chúng biết giới hạn của mình. Chúng chỉ đưa tiễn bạn của chúng đến một khoảng nhất định. Xa hơn, chúng không dám vượt qua.” Nhưng chuyện chúng xếp hàng đi theo thì… AI cũng chịu.
Con cừu tôi chôn hôm ấy là con đầu đàn. Lúc còn sống, nó dữ lắm: tranh ăn, tranh uống, đi đâu cũng dẫn đầu. Nhiều lần tôi phải la nó. Nó nhìn tôi như thách thức: “Ta là Vua mà.” Tôi nói: “Nếu mày là Vua thì phải thương dân hơn.” Nó im, nhưng không đổi tính.
Thế là mỗi lần nó tranh ăn, tôi tách nó ra, đứng nói phải trái với nó. Khi nào nó chịu đứng yên, không tránh né tôi nữa, tôi mới cho nó vào ăn. Lâu ngày, nó bớt tranh. Nhưng mấy con khác vẫn nể nó lắm. Nó đứng đâu, là tụi kia tránh ra.
Giờ “Vua Cừu” không còn nữa… tôi nhớ nó mấy ngày liền.
2. Chuyện đàn Vịt và Bà Vịt nuôi con
Đàn gia súc của tôi quen đi theo tôi dạo vườn. Ban đầu là vì tôi đem thức ăn theo, thỉnh thoảng rải xuống. Lâu ngày thành thói quen: thấy tôi đi là cả đám lóc cóc theo sau, không cần dụ nữa.
Tôi đã kể chuyện mấy con vịt cái nghe tôi hát mà thương chồng vịt đực của chúng hơn… Có lẽ quý bạn đã xem…
Hôm nay tôi kể chuyện… Bà Vịt nuôi con.
Vịt, cũng như nhiều loài khác, khi có con thì trở nên dữ hơn. Không phải dữ thật, mà là bản năng bảo vệ. Chúng không cho ai — kể cả người — lại gần tổ.
Một lần, tôi nghe đàn vịt cạp cạp ầm ĩ. Tưởng chúng đánh nhau hay bị con gì tấn công, tôi chạy ra. Thì thấy một Bà Vịt đang cố cứu đứa con nhỏ rơi xuống cái vũng nước tôi để cho chúng uống.
Tôi cúi xuống vớt con vịt con lên. Quý bạn biết không… lập tức Bà Vịt Mẹ bay thẳng lên, tấn công ngay mặt tôi. May tôi đang cúi nên đưa tay chặn kịp. Bà rơi xuống đất nhưng cũng cào tay tôi chảy máu. Tuy vậy, tôi vẫn vớt được con vịt con lên.
Lúc ấy, Bà Vịt Mẹ chợt hiểu. Bà cạp cạp mấy tiếng rồi ngoe nguẩy cái mông dẫn đàn con đi, không thèm cảm ơn tôi tiếng nào.
Tôi đứng đó, bần thần. Một con vịt nhỏ xíu, chỉ vì thương con mà dám tấn công một người to lớn như tôi. Trong khi thường ngày nó tránh né cả cừu dê trong vườn. Tình Mẹ — loài nào cũng vậy — là cao cả nhất. Mẹ bảo vệ con bằng mọi giá.
Tôi hay nói chuyện với chúng, nên hiểu hết mấy cái cử chỉ đó. Đố quý bạn biết Bà Vịt muốn nói gì không?
Thái độ nguẩy mông nhanh hơn của bà là:
“Bà cạp cạp mấy tiếng là bà cảm ơn rồi đó. Đừng có đứng đó mà ngắm mông bà nhé!”
Bảo Trâm
PHƯƠNG HOA: Tiễn Đưa Cựu Thiếu Tá Lê Phi Ô – Một Đời Vì Nước Vì Dân, Trọn Tình Cùng Đồng Đội
Tiễn Đưa Cựu Thiếu Tá Lê Phi Ô – Một Đời Vì Nước Vì Dân, Trọn Tình Cùng Đồng Đội
Phương Hoa
Trong không khí trang nghiêm và đầy xúc động tại Oak Hill Funeral Home & Memorial Park, San Jose, California, hôm nay, ngày 12 tháng 8 năm 2026, đông đảo cựu quân nhân (Hình 1) Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (QLVNCH), thân hữu và gia đình đã trang trọng tổ chức lễ tang tiễn đưa Cố Thiếu Tá Lê Phi Ô (Pháp danh Thiên Lạc) về nơi an nghỉ cuối cùng.
Cố Thiếu Tá Lê Phi Ô, sinh năm 1941, xuất thân Khóa 15 Thủ Đức QLVNCH. Sự ra đi của ông tuy rằng thọ đã cao ở tuổi 85, nhưng vẫn là một mất mát to lớn đối với gia đình và cộng đồng người Việt tị nạn tại hải ngoại và các chiến hữu đồng đội ở vùng San Jose, Bắc Cali và khắp các vùng có người Việt tị nạn.
Cố Thiếu Tá Lê Phi Ô đã từ tạ “Khúc Quân Hành Cuối Cùng” cùng bạn bè, đồng hương, và đồng đội. Khi tôi, Minh Thúy, chị Mỹ Thanh bước vô thì gặp anh Chủ Tịch Văn Thơ Lạc Việt (VTLV) Lê Văn Hải, anh cũng là Chủ Tịch của rất nhiều Hội Cựu Quân Nhân, Truyền Thông Báo Chí…đang chỉnh sửa vòng hoa thật lớn, thật đẹp, mà anh đã đại diện đặt đem đến để tiễn đưa vị anh hùng.
Khi giờ tang lễ bắt đầu, thì sảnh đường Sunshine Chapel cũng đã tràn ngập sắc áo đại lễ và quân phục của các cựu quân nhân QLVNCH. Hình ảnh những người lính năm xưa, dù mái đầu đã bạc, vẫn hiên ngang đứng thành hàng ngũ chỉnh tề, chào tay, nghiêm trang túc trực bên linh cữu đồng đội, tạo nên một cảnh tượng vô cùng xúc động (Hình 2).
Đó chính là tình đồng đội, nghĩa huynh đệ chi binh, dù đã hơn năm chục năm qua lưu lạc xứ người, mà vẫn không phai mờ theo năm tháng.
Bàn thờ vong được bài trí trang nghiêm với di ảnh Cố Thiếu Tá Lê Phi Ô trong quân phục oai hùng, xung quanh là hương hoa trà quả và những mâm cỗ chay tịnh trông trang nghiêm thành kính vô cùng (Hình 3 – dưới). Phía sau là chiếc quan tài mở nắp, nơi vị niên trưởng kính yêu đang nằm chở mọi người đến tạ từ, chào vĩnh biệt, trước khi đưa anh đi yên giấc ngàn thu.
Buổi lễ diễn ra trong không khí nghẹn ngào khi đại diện các hội đoàn và chiến hữu lần lượt bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đến người đồng đội kính yêu. Những lời vinh danh chân thành, những câu chuyện về lòng quả cảm nơi chiến trường, sự tận tụy trong đời sống dân sự nơi hải ngoại, đặc biệt là tinh thần hăng say phụng sự cộng đồng của Cố Thiếu Tá Lê Phi Ô đã được tái hiện qua hồi ức của nhiều cựu sĩ quan QLVNCH (hình 4 – dưới)
Mọi người nhớ đến ông như một người anh nghĩa tình, luôn nhiệt huyết san sẻ với đồng hương cho đến tận những ngày cuối đời trên giường bệnh. Tinh thần “Vị quốc vong thân” trong máu thịt, và nếp sống chan hòa, ái hữu của ông mãi mãi để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng tất cả những ai từng có dịp hội ngộ, tiếp xúc.
Anh Lê Văn Hải, Chủ tịch Văn Thơ Lạc Việt, đã thay mặt Thi Văn Đàn và các Hội đoàn cựu quân nhân khác, lên dâng hương, và đọc lời chia buồn sâu sắc tới chị quả phụ Nguyễn Phan Ngọc An, chị là bạn trong Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại Vùng Đông Bắc của nhóm chúng tôi, cùng toàn thể tang quyến (Hình 5 – trên). Sự hiện diện của anh Lê Văn Hải cùng bài nói chuyện thật xúc động ngỏ hầu sẻ chia phần nào nỗi đau mất mát to lớn của gia đình.
Phương Hoa, Minh Thúy, chị Mỹ Thanh, đã cùng anh Hải lên trước bàn vong. thành kính thắp nén hương thơm, nguyện chúc cho hương linh Cố Thiếu Tá sớm về miền Cực Lạc (Hình 6 – trên).
Giây phút xúc động và thiêng liêng nhất của buổi lễ là khi đại diện Hội Cựu Quân Nhân trang trọng thực hiện nghi thức trao tặng lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ, biểu tượng linh thiêng của Tổ Quốc Việt Nam Cộng Hòa, cho chị Nguyễn Phan Ngọc An gia đình cựu Cố Thiếu Tá. Lá cờ được xếp gọn gàng, trân trọng trao vào tay chị quả phụ Nguyễn Phan Ngọc An, như một lời khẳng định về những đóng góp to lớn và sự hy sinh trọn đời của Cố Thiếu Tá Lê Phi Ô cho lý tưởng tự do, dân chủ và sự toàn vẹn của quê hương. Nghi thức này để vinh danh người đã khuất và cũng để tri ân sâu sắc đối với gia đình đã luôn ủng hộ ông.
Dù có việc phải rời lễ tang Cố Thiếu Tá Lê Phi Ô sớm hơn một chút, nhưng những hình ảnh về một người lính anh hùng, một người con ưu tú của Tổ Quốc, và một người bạn, người anh đáng kính của cộng đồng sẽ còn mãi trong trái tim của gia đình, đồng đội, và đồng hương.
Xin kính thắp thêm một nén tâm hương để tiễn đưa niên trưởng Lê Phi Ô về Miền Cực Lạc.
Kính mời quý vị nghe ca khúc “TIỄN TÌNH VỀ MIÊN VIỄN” thơ Nguyễn Phan Ngọc An – Thực hiện: Phương Hoa – Hòa âm và Trình bày: Suno AI:
Phương Hoa – Văn Thơ Lạc Việt & Văn Bút Vùng Đông Bắc Hoa Kỳ
*Dưới đây là những lời hồi âm và bài thơ chị Nguyễn Phan Ngọc An mới làm xong trong đêm về, sau tang lễ, và sau khi chị đọc bài tường thuật. Chị nhờ đưa lên để gửi cho mọi người thay lời cảm ơn:
*Vô cùng xúc động khi đọc bài phóng sự của Phương Hoa, một nhà văn lỗi lạc đầy chân tình, cảm ơn bạn thật nhiều 👍💖🌺
Gia đình Ngọc An xin cảm tạ quý vị đã đến tiễn đưa, quý vị đã gửi những vòng hoa thương tiếc và quý vị đã dành cho anh bao la tình cảm trân quý – từ xa xôi vẫn đến với anh giờ ly biệt cuối cùng… xin linh hồn chồng tôi, anh Lê Phi Ô linh hiển phù hộ cho tất cả những trái tim yêu thương anh, anh nhé – trưa mai anh vĩnh viễn đi xa, trở về cùng cát bụi, sẽ mang theo anh nụ cười mãn nguyện của một kiếp người…
BÀI THƠ TRONG ĐÊM
Tình yêu đó anh mang về cõi khác
Nén hương buồn bia đá khóc rưng rưng
Ngày yêu nhau ôi tha thiết vô cùng
Giờ tất cả trả về năm tháng cũ
.
Anh nằm đây, nghìn đời yên giấc ngủ
Với tình mình, một thuở ấm vòng tay
Kỷ niệm còn chăng, nỗi nhớ giăng đầy
Xin quên lãng một thời yêu dấu đó !
.
Anh ra đi để làm người thiên cổ
Thiên thu buồn em khóc để ai nghe
Bóng cây xưa, chim tình ái không về
Hương khói toả ngát mùi thơm vĩnh biệt !!!
.
Anh vô tình có bao giờ hay biết
Em cúi đầu tưởng niệm bóng hình xưa
Lời thơ yêu như kinh cầu dâng tặng
Vòng hoa buồn kết lại những nhung tơ
.
Chân dung xưa em xin mãi phụng thờ
Thôi anh nhé ! Xin muôn đời…yên nghỉ .
nguyễn phan ngọc an
đêm buồn San Jose
HOÀNG MAI NHẤT – CANH ME VƯỢT BIỂN (Lần Thứ Nhất)
CANH ME VƯỢT BIỂN (Lần Thứ Nhất)
Đặt ly cà phê xuống bàn trước mặt tôi, Thư ngồi xuống và nói nhỏ : Anh chịu khó mỗi tối ra đây uống cà phê,có như vậy mới biết được tình hình mà em cũng dễ thông tin cho anh được.Anh nhớ kỷ, nếu tối nào thấy quán vắng khách là đêm đó gió chuyển, là đêm đó có vượt biển; còn không thì thanh niên sẽ có mặt ngồi đầy ở quán.
Trước khi đứng dậy đi về quầy, Thư bóp nhẹ tay tôi và nói: anh yên tâm, em không tính tiền đâu, anh uống gì cũng được..không chỉ cứ cà phê đen hoài như vậy, không tốt cho sức khỏe đâu!
Thật buồn mà cũng thật cảm động với ân tình đặc biệt này của Thư : một người con gái chỉ sống nhờ vào lượng khách đập đá trong núi Dinh và số thanh niên trong xóm đạo Long Hương, bên đường SaiGon đi Bà Rịa, Vũng Tàu; dành cho mình! Biết nói gì đây? Ra đây uống hoài, lấy gì để trả mỗi đêm khi mà tiền đập đá chỉ đủ cơm ăn hai bữa..rồi còn tiền chổ ở dù chỉ là một tấm ván mỏng ở một góc nhà tranh cho bốn năm thằng cơ nhở như mình! Và còn nhiều…nhiều thứ linh tinh khác nữa.
Mà nếu không ra quán thì làm sao biết được họ có tổ chức vượt biên đêm đó không? Để mà chạy ra bãi dành giựt với đám “ canh me ” khác (chỉ vì không có tiền đóng để có một chổ đàng hoàng trên ghe trong chuyến vượt biển; nên đành phải làm như vậy…) Ai hiểu cho mình đây! Tính làm sao đây?!
Đi tù ngoài Bắc CS: phải đập đá như tù khổ sai ( Đội 15 Đập Đá Lò Vôi, Trại 6 Nghệ Tỉnh ); và khi chúng thả về (thoát “nhà tù nhỏ” để vào “nhà tù lớn hơn” là cả Nước) cũng lại Đập Đá, nào có khác gì đâu…mĩa mai cay đắng thật.
“ Sai Gon thê thảm trưa ngày ấy Nước đã mất rồi tháng Tư ơi! Cộng sản tràn vào người trốn chạy Nháo nhào hỗn loạn, biết về đâu… Dân, Quân, Tướng, Tá chung một rọ Một chữ “ Tù “ cả nước chia nhau “ Hoàng Mai Nhất
Tính tới tính lui, không còn cách nào khác được; tôi đành chấp nhận chỉ ăn cơm với nước muối hay nước tương (đôi khi nhịn không ra quán để có thể mua một ít tép mỡ ăn cho có sức…) Và tôi lại ra quán ngồi, không phải thường xuyên nhưng lâu lâu cũng có mặt để thăm dò tình hình. “Ce qui doit arriver, arrivera”(Việc gì đến sẽ đến), đúng như câu ngạn ngữ Pháp ngày xưa đi học còn nhớ; mà mình không bao giờ tin là có lúc nó lại vận vào mình như thế này:
Tối đó như thuờng lệ, tôi lại ra quán uống cà phê; quán vắng lặng hẳn và Thư thì cứ đi ra đi vào như có cái gì đó phải lo lắng. Thấy tôi, Thư như mùng rở chạy ra cửa và nói nhanh trong sự hồi hộp, giọng đứt quảng: tối nay họ đánh, anh chị của em đi trong chuyến này; em không dám chỉ anh địa điểm vì nếu có gì họ sẽ thanh toán anh chị em ngoài biển, anh cứ đi ra ngoài đó…và rồi Thư đóng cửa quán.Sau này tôi mới hiểu ra, ai đi trong chuyến vượt biển có đóng tiền mà để lộ tin tức ra ngoài thì sẽ bị tổ chức thanh toán vì cho rằng mình bán thôngtin để lấy tiền qua mặt họ.
Tôi không biết làm sao, vừa mừng lại vừa lo với tin tức đầy bất ngờ này, mà ngoài đó là ngoài nào? Bải đổ gom khách ở đâu?? Bao nhiêu câu hỏi trong đầu không có lởi giải đáp. Tôi bèn rời quán và sau khi cố suy nghỉ để giải câu hỏi này mà khôg có đáp án, tôi quyết định đi xuống đám ruộng cỏ năng như một bải sình…đi được một đoạn, tôi dừng lại và suy nghỉ: cứ đi như vầy mà không biết điểm đến ở đâu thì làm sao tới dược, lạng quạng đi lòng vòng rủi bị tó thì làm sao?! Thế là tôi quay trở lại, ngồi xuống bên lề đường và suy nghỉ: nếu chúng nó đánh thì phải băng qua lộ ở chổ này, mình ngồi ở đây nếu chúng xuất hiện thì mình lủi xuống đám ruộng cỏ năng nằm chờ; đợi đám vượt biên đi dứt hết thì mình lẻn đi theo cho chắc ăn.
Ngước nhìn về phía Xí Nghiệp Khai Thác Đá núi Dinh chỉ thấy một màu tối đen, nhưng về bên tay phải của xí nghiệp vẫn in hẳn lên nền trời là ngon núi Dinh có hình một mặt người có trán, lông mày, mắt, sóng mũi, cằm và miệng đang há ra; bên trong miệng có một nhúm lá trông giống như là đang sắp ăn vậy. Điều đặc biệt là mặt người này đang nhìn về hướng Tây, hướng mặt trời lặn…Tất cả là hình ảnh được ghi lại trong đầu tôi trong khoảnh khắc để rồi sau đó thục tế kéo tôi quay trở lại với ý định rất đời thường là tìm cho mình một cách thoát ra nhữg trói buộc trong chế độ này… Nhưng điều đầu tiên để an toàn là phải tìm một chổ núp kín đáo không ai thấy, để dẫu không đi được cũng không bị phát hiện và bị bắt. Quay nhìn khắp chung quanh chổ tôi đang ngồi thì thấy ở đàng kia không xa chổ tôi đang ngồi có một gốc cây hơi lớn mà lại có đám cỏ rậm hơn đầu người mọc ở đó,có thể ẩn núp được; tôi bèn đi lại đó để ẩn mình.
Ẩn núp thật lâu khôg thấy có động tỉnh gì, chỉ có ánh đèn của vài chiếc xe hơi hay gắn máy chạy vụt qua, rồi trả lại khôg gian im ắng vắng lặng; tôi bèn bước ra khỏi chổ núp và đi trở lại nơi con đường mà bất cứ ai muốn đi ra mép nước giáp với biền đều phải đi qua. Và tôi cúi xuống hôn lên mặt đất như là lời từ giả với câu khấn thầm trong đầu là cầu ơn trên phù hộ cho tôi đi thoát được đêm nay để có lối thoát cho mình mà cũng cứu nguy cho ba má và các em đang khốn khổ.
Khi ngước đầu lên,tôi giựt mình vì câu hỏi gằn giọng mạnh và dứt khoát của hai tên dân quân Xã Đội Long Hương với hai khẩu súng chỉa thẳng vào tôi:
__ Anh làm gì ở đây giờ này?
Tuy hơi bất ngờ nhưng với kinh nghiệm của một đời chinh chiến đã dạy cho tôi là lúc nào cũng phải bình tỉnh dù trong lúc nguy hiểm nhất, tôi trả lời:
__ Tôi đợi người yêu của tôi!
__ Không có đợi gì hêt! Chúng tôi yêu cầu anh đi về ngay…giờ này đã khuay rồi không phải là giờ hẹn hò!!
Bực mình với thái độ hống hách của chúng, và với câu nói trên đã cho tôi biết chắc rằng…đêm nay chúng sẽ đánh (khách vượt biển sẽ được chúng dẫn đi ngay chổ này). Tôi phản ứng ngay:
__ Ủa! Tại sao tôi phải đi về khi chưa gặp được bạn gái của tôi! Không ai có quyền cấm đoán tôi trong chuyện này.
Thấy tôi phản ứng cứng rắn, hai thằng con nít cầm súng bực mình nhưng không biết làm sao bèn xuống giọng:
__ Anh nên đi về đi, bữa khác gặp!
__ Hừ! Các anh nói giỡn chơi không bằng! Tôi đi về, người yêu tôi ra không thấy sẽ giận, tôi sẽ ăn nói làm sao?
Thấy không bắt tôi đi về được, chúng dổi giọng:
__ Mà anh là ai, ở đâu..mà sao tôi không thấy anh bao giờ!
__ Tôi là công nhân ở XN Đá Núi Dinh. Rồi sao?
__ À! Thì ra anh mới vô làm công nhân…hèn chi tôi thấy mặt anh lạ hoắc. Thôi thế này đi…anh nghe lời tôi về đi, mai gặp xin lỗi có sao đâu!
Tôi vẫn cương quyết khôg đi. Hai tên du kích Xã bực mình mà không biết làm sao đành hậm hực bỏ đi. Ở đây tôi xin nói rõ điểm này là: anh em công nhân trong XN Đá Núi Dinh và toán bảo vệ XN thỉnh thoảng ra chợ trong Xả uống cà phê, đôi khi có xích mích lời qua tiếng lại đụng chạm với đám dân quân du kích Xả luôn hống hách nên hai bên không ưa nhau; mà dân quân du kích Xả không dám làm gì vì XN Đá Núi Dinh là XN làm ra tiền cho Tỉnh Ủy Đồng Nai (BiênHòa), cho nên khi thấy tôi nói tôi là công nhân trong XN Đá ND là chúng khó chịu mà không dám làm gì.
Đám DK Xã biết không làm gì được tôi nên chúng đành băng qua đường đi dọc theo mép đường phía bên kia và dừng lại nói chuyện nhỏ to gì đó với hai người con gái vừa mới xuất hiện mà mặt thì cứ hất về phía tôi.Và rồi hai cô gái giả bộ đi dạo mát đêm khuya băg qua đường đi về phía tôi, vừa đi vừa nói chuyện. Tôi đoán chắc chúng cho hai cô bé này giả bộ đi qua để nhận mặt tôi có phải là công nhân của XN Đá hay không hay là…điều mà chúng sợ nhất là người của công an TP HCM hay từ Hà Nội vào. Sau đó hai cô gái băng qua đường đi về phía hai tên du kích và rồi kéo nhau đi mất.
Kinh nghiệm một đời lăn lộn cho tôi thấy điều nguy hiểm có thể xảy ra cho tôi vì chúng có thể kéo đôg ra với súng ống để bắt tôi đem về Xả nhốt,vì tôi là chướng ngại cho chúng đêm nay. Thế là tôi đành phóng chạy về hướng Xí Nghiệp Đá. Nhưng không kịp nữa, đám công an du kích Xã đang hướng dẫn những con gà là khách vượt biển, có đóng tiền mua bảimà chúng đã ém núp sẵn trong nhà dân từ trước; giờ đang được chúng dẫn đi ra bải tập kết lên ghe.
Không về XN kịp được,tôi bèn chạy thẳng đến quán của Thư và trèo vội lên cây vú sữa trước sân quán, núp trong nhánh lá, bám chặt trên đó không dám nhúc nhích kể cả thở mạnh.Lúc này ngoài đường tiếng người đi nói chuyện ồn ào, réo gọi nhau và cười đùa như đi chợ.Dể hiểu thôi, vì đám vượt biển đã chung tiền mua công an hết rồi (không phải chỉ công an Xả mà còn mua cả công an tỉnh Đồng Nai tức Biên Hòa củ mà sau này công an trực thuộc Bộ Nội Vụ Trung Ương ngoài Hà Nội, đã vô bắt Đại Tá Mười Vân, Giám Đốc Công An Tỉnh Đồng Nai với tang vật là mấy thùng phuy vàng trong nhà).
Thư xô cửa rào chạy vào và liệng đại xe đạp xuống sân rồi vội vàng tụt quần xuống để tè. Tôi nghe rõ tiếng nước thoát ra và sợ run người vì tiếng con chó nhỏ cứ vừa sủa vừa ngước lên ngọn cây tôi đang nấp như muốn báo cho Thư biết rằng có người ở trên đó. Có lẽ vì gấp rút nên Thư khôg để ý đến dấu hiệu bất thườn này nên vừa kéo quần lên vừa lấy tay đuổi con chó cứ lẩn quẩn dưới chân và chạy vội vào nhà nói lớn lên cho ba má Thư biết là ghe đã đi rồi, rồi vội vàng chạy trở ra lấy xe đạp phóng đi với câu nói với lại: con ra đó xem sao cho yên tâm.!
Tiếng đóng cửa quán và tiếng chó không còn nữa, tôi bèn trèo xuống và chạy thẳng một mạch về chổ trú của mình, mà lòng thầm cảm tạ ơn trên đã phù hộ cho mình thoát cơn hiểm nghèo; bởi vì chỉ cần Thư ngước nhìn lên trên cây theo hướg sủa của con chó thì Thư sẽ giựt mình mà la toáng lên là có trộm; thế là công an, du kích sẽ túa vào bắt tôi ngay và chuyện gì xảy ra thì chắc ai cũng đều đoán được phần tệ hại nhất dành cho tôi;nhất là với hai tên du kích cầm súng xua đuổi tôi lúc nãy.
Tối hôm sau tôi lại ra quán như thường lệ uống cà phê, làm như không biết có chuyện gì xảy ra. Thư đem ly cà phê cho tôi và nói lời xin lỗi! Tôi nói: không có gì đâu tất cả là số mạng, cầu ơn trên phù hộ cho gia đình anh chị Thư đi được trót lọt; còn số tôi chưa thoát được đành chịu thôi.
Nhưng cũng từ đó tôi học khôn ra rằng, nếu muốn đi thoát được khi mà mình không có tiền đóng thì phải liều mạng canh me, thì phải nắm bắt rõ đường đi lối về của những chuyến chúng tổ chức vượt biển để không trật vuột nguy hiểm như chuyện vừa rồi.
Tôi bèn bàn tính cùng vài anh em lỡ vận đập đá như mình, đều muốn thoát đi bằng cách canh me chui khi không có tiền đóng để đi hợp pháp: cùng nhau hùn tiền sắm một lưới Vó Bè để mỗi đêm ra canh Vó,nhưng thật sự để nắm bắt tình hình khi Vó Bè nằm gần đường đi của khách vượt biển có đóng tiền thường hay đi, đặng theo dõi động tịnh; nếu có đánh là bám theo khách, lừa cơ hội nhào đại lên đi liền, hên sui nhờ trời….đồng thời vừa có thêm chất đạm của tôm, cá, tép để bồi bổ cơ thể,dù không là bao nhưng cũng đở được phần nào do phải ăn uống thiếu thốn,lại còn dầm mưa dãi nắng để sống qua ngày, vừa hy vọng…
Đây chỉ là câu chuyện mở đầu của một người lính đi tù cộng sản về, thật sự đã không còn gì để mất nữa.Hơn ba năm đập đá kiếm miếng cơm qua ngày.Hơn ba năm lặn lội trong đêm tối chỉ với ước mong duy nhất là đi thoát được để có lối thoát cho mình, để có thể cứu cả gia đình ( ba, má, các em..).Bao lần ghe ra gần tới Hải Phận QuốcTế mà đành trở vô vì bảo dập,ghe ngập nước phải thay nhau tát nước để có thể trở vô an toàn…và cũng không biết bao lần phải lẫn trốn để khôg bị bắt lại mỗi khi có chuyến vượt biển không thành…
Tsu A Cầu: KHI VẾT SẸO KHÔNG LÊN TIẾNG
KHI VẾT SẸO KHÔNG LÊN TIẾNG
LỜI NGỎ
Kính thưa quý Niên Trưởng, quý Chiến Hữu và quý Thân Hữu,
Sáng nay, tôi nhận được email từ một người anh, cựu sinh viên Quốc Gia Hành Chánh, hiện đang sinh hoạt tại Trung Tâm Văn Hóa Hồng Bàng. Anh chuyển cho chúng tôi một chuỗi điện thư trao đổi giữa các thành viên thuộc Hội Giáo Chức, kèm theo một dòng cảm thán ngắn ngủi nhưng để lại nỗi đau não lòng đối với những người làm giáo dục: “Tuổi trẻ và sự tỉnh thức trí thức?”
Dòng thư u uẩn ấy lập tức nhói lên trong tôi một vấn nạn nhức nhối của cộng đồng — một chủ đề chúng ta đã trăn trở, thảo luận nhiều lần, nhưng đến hôm nay vẫn mang tính thời sự bỏng rát.
Trận chiến bảo vệ căn cước và sự thật lịch sử của cộng đồng tị nạn hôm nay không còn nằm ở những tiếng súng năm xưa. Nó đang lặng lẽ diễn ra ngay dưới mái nhà, qua từng trang sách song ngữ, và trên những lá phiếu bầu cử tại các thành phố cũng như các học khu lớn như Garden Grove. Ở đó, việc một số ứng cử viên trẻ thuộc các nhóm khuynh tả ra tranh cử đã mở ra một vết thương lòng nhói đau: Bi kịch của sự im lặng đầy tình thương nhưng mang nhiều thiếu sót từ thế hệ cha anh.
Trải qua thảm họa, thế hệ đi trước mang trên mình những vết sẹo khổng lồ. Nhưng vì thương con, họ chọn cách đóng chặt cánh cửa quá khứ, nén đau thương để bươn chải sinh tồn và mong con cháu lớn lên hồn nhiên dưới bầu trời tự do Hoa Kỳ. Tiếc thay, người mang vết sẹo đã không thể — và không nỡ — xé vết sẹo cũ ra thành vết thương rỉ máu làm chứng tích cho thế hệ sau. Họ quên rằng một vết sẹo bị giấu kín sẽ mờ nhạt theo thời gian, và đứa trẻ chưa từng thấy máu chảy sẽ không bao giờ hiểu hết cái giá đắt đỏ của hai chữ Tự Do.
Khoảng trống ký ức ấy trở thành một “chân không tư tưởng” nguy hiểm. Khi thế hệ kế thừa chao đảo tìm kiếm nguồn cội, họ dễ dàng bị dẫn dụ vào con hẻm tối của sự ngộ nhận qua những chiêu bài mỹ miều như “hướng về nguồn cội” hay các bộ sách lịch sử song ngữ bị cắt gọt, định hướng từ trong nước.
Nhằm biến những ưu tư thành giải pháp thực tiễn, bài tham luận không chỉ mổ xẻ nguyên nhân rạn nứt thế hệ mà còn đề xuất lộ trình tái cấu trúc hệ thống Trường Việt Ngữ hải ngoại: Chuyển dịch từ việc “ráp vần học vẹt” sang kỹ năng Nghe – Nói tương tác, kết hợp môn Lịch sử & Căn cước Tị nạn song ngữ, và chuyên nghiệp hóa giáo trình.
Đã đến lúc chúng ta mở lại trang ký ức — không phải để gieo rắc hận thù, mà để trao cho con cháu chiếc kính soi đường, giúp bước chân thế hệ kế thừa không còn loạng choạng trước những ảo ảnh tuyên truyền.
Kính mời quý Niên Trưởng, quý Chiến Hữu cùng quý Thân Hữu cùng đọc, thảo luận và phổ biến rộng rãi bài viết “Khi Vết Sẹo Không Lên Tiếng: Khoảng Trống Ký Ức Và Bước Chân Loạng Choạng Của Thế Hệ Kế Thừa”.
Trân trọng,
Tsu A Cầu (K29/TVBQGVN)
Huntington Beach, California, ngày 10 tháng 8 năm 2026.
==
NHỮNG “NGÔI LÀNG POTEMKIN” THỜI HIỆN ĐẠI
LỜI NGỎ
Kính thưa quý Niên Trưởng, quý Chiến Hữu và quý Thân Hữu,
Ái chà, sau khi phổ biến bài tham luận “Bất Khuất Tân Cảnh”, thú thật là tôi mới cảm nhận được thế nào là… “đụng ổ”!
Tối hôm qua, gạch đá quăng về hộp thư nhà tôi xôm tụ hơn hẳn những lần phổ biến trước — vốn lắm khi rơi vào im lặng vô tuyến đến mức “kim rớt mặt hồ”. Cái niềm vui giản dị của người cầm bút là có người chịu đăng (nói nhỏ nghe chơi: nếu không ai chịu đăng thì tự mình đăng như tôi đang làm) và có người chịu đọc — thế là trọn vẹn rồi. Lần này, không chỉ có báo chí nhận đăng, trang mạng phổ biến, mà đọc giả tứ phương còn hân hoan đóng góp thêm nhiều góc nhìn. Có người “ném đá” giúp gia chủ giật mình nhìn lại mình, có vị lại liệng thêm vài viên gạch tốt để giúp tác giả bồi đắp thêm bức tường: khả năng “giữ vững ngòi bút”.
Sau đây, tôi xin phép được “nói có sách, mách có chứng” — liệt kê danh tính trả lời của độc giả tứ phương để khỏi mang tiếng là “xã trưởng mà đòi lãnh giải Nobel”!
1. Một thi sĩ Hát Nói tuốt tận “miệt dưới” (Down-Under, Úc Châu)
HÁT NÓI — BÀI 753: Trinh Sát!
(Bài Hát Nói cảm ơn và đáp lễ Nhà Văn Võ Bị Quốc Gia K29 Tsu A Cầu đã chuyển đến những bài viết, tài liệu quý giá về công lao chiến đấu của các Chiến Sĩ QLVNCH, lần này là về các Đơn Vị Trinh Sát hành quân ở Tân Cảnh. Kính mời Quý Thi Hữu họa lại.)
Hành quân trinh sát!
Mắt xích quan trọng của trận chiến! Quán xét địch tình!
Những chiến sĩ ưu tú, gan dạ, tử công phu! Quên mình!
Mật Khu Ngọk Tô Ba, Tân Cảnh, Kontum, Pleiku, Ban Mê Thuột…! Rập rình bóng giặc!
Quyết đánh! Không tha quân Cộng Tặc!
Hy sinh! Chẳng quản lệnh Ông Thầy!
Cố Chuẩn Tướng Lê Đức Đạt! Vị Tư Lệnh Anh Hùng! Kẽm gai bọc thây!
Mãnh hổ nan địch quần hồ! Bầy sói điên tràn vào đây! Thảm kịch!
Thượng Đức! “Mắt Ngọc Của Đầu Rồng”! Đã mất vào tay địch!
“Ai nắm được Tây Nguyên sẽ chiếm được Miền Nam”! Một nhận định rõ ràng!
Bao năm! Vận nước! Bàng hoàng!
Đức Hùng(Sydney, Úc Châu, 09/08/2026)
2. Một nữ sĩ “xếp sòng” trang web hơn 3 triệu lượt xem & cô dịch giả tnl phụ họa
Bấy lâu nay vẫn theo sát những bài viết của bạn, đôi khi cũng muốn góp vài dòng nhưng nội dung ngoài tầm hiểu biết nên đành im lặng. Hôm nay thấy đề tài Bất Khuất tôi đọc liền, đọc kỹ với ý định sẽ góp với bạn vài dòng về Trung Tá Thông K16 — những người con Võ Bị đã làm rạng danh Trường Mẹ…
Nhưng… đọc lại lời ngỏ của bạn có đoạn: ‘Tôi viết lại câu chuyện này không phải để vinh danh bất kỳ cá nhân nào…’, khiến tôi ngồi thừ thật lâu. Rồi lên giường nhưng không sao ngủ được! Bật dậy viết cho bạn vài dòng dù đã 12:30 khuya.
Đồng ý không vinh danh những kẻ hợm mình muốn người khác tung hô. Nhưng những người hùng đã chiến đấu làm rạng danh Trường Mẹ mà không nhắc quý danh của họ (vinh danh) thì lấy cái gì chứng minh sự chân thực cho hậu thế? 1/6 sĩ quan Võ Bị tốt nghiệp đã hy sinh trên chiến trường mà không nhắc tên họ thì lấy gì làm chứng? Các anh chiến đấu, hy sinh, tự sát vì mất nước đâu phải là người ‘BÊN LỀ’ cuộc chiến! Những kẻ bên lề mới là kẻ không đáng vinh danh.
Mong bạn tiếp tục những ‘Bất Khuất’ khác và mạnh dạn vinh danh những quân nhân VNCH đã chiến đấu và hy sinh, bất luận xuất thân từ quân trường nào — dù Quang Trung hay Đồng Đế.”
CaptovanK19”
4. Một ông anh đồng hương Hải Ninh (bắn đại bác 105 ly chưa tới) & Lời đáp trả tại chỗ
“Bạn Tsu A Cầu rất ‘Đa Hiệu’ của tui ơi,
Xin cảm ơn Bạn đã liên tục gửi đọc những bài viết rất ‘thời sự’ và giá trị trong thời buổi khan hiếm chữ nghĩa này. Chứng tỏ Bạn hiểu biết rất sâu rộng và viết rất chính xác, hấp dẫn.
Tuy nhiên, với bài ‘Bất Khuất Tân Cảnh – Ký Ức Của Người Lính Trinh Sát’, xin phép Bạn cho người lính gốc ‘trường tư’ này được góp vài ý nhỏ nhằm giúp bài viết hoàn chỉnh hơn (đính kèm 5 điểm cần fact-check) …
Tình thân,N.”
Lời đáp từ tác giả Tsu A Cầu gửi ông anh tên N.:
Đồng ý.
Đúng vậy, nên suốt cả bài viết anh ta vẫn chỉ mang cấp bậc Trung Úy!
Vâng, bài viết đã giải thích điều này nhưng có lẽ đặt chưa đúng chỗ.
Sẽ điều tra và đính chính sau.
Sẽ chất vấn đương sự — ông Trung Úy xém bị ‘bò lạc’ xử thành thái giám!
5. Một ông anh “tiền trảm hậu tấu” sâu sắc về kỹ thuật pháo binh & y khoa
“Cảm ơn anh N. đã gửi cho tôi biết. Nếu được phép, tôi xin đính chính thêm một chút:
– Đại bác 155mm có tầm bắn tối đa 15km, 105mm có tầm bắn 11km (theo sách vở). Khi điều chỉnh gần tới giới hạn tối đa thì độ chính xác giảm hẳn.
– Còn vụ mổ không chụp thuốc mê thì nên xem lại (có thể xảy ra nhưng tỷ lệ 1/10.000). Quân y tại mặt trận tương đối đầy đủ trừ trường hợp bị vây dài ngày như Anh Lộc bị cắt đứt liên lạc hoàn toàn khoảng 2 tuần.
– Cố Đại Tá Lê Đức Đạt đã được truy thăng Chuẩn Tướng.
T.”
6. Một bà chị xa tận trời Tây gửi chút tâm sự thương cảm
“… Vừa đọc bài viết ‘Odyssey đến Bi Kịch Thuyền Nhân Việt Nam’. Niềm xúc động vì những lời kêu gọi của Cầu đã làm chị rơi nước mắt. Những người bạn thuyền nhân cũng từng kể cho chị nghe về chuyến vượt biển gian truân, sống chết trong gang tấc…
Nhưng giống như Cầu đã viết trong các bài tham luận, phần nhiều họ muốn quên, không muốn nhắc lại. Ngay như người thân trong gia đình chị vượt biển cũng vậy. Nhiều người bạn nay trở về VN thăm nhà nên họ muốn yên thân vì sợ bị khó dễ…
Chị H. Nga”
7. Và một ông anh than thở “Viết dài quá, đọc xong muốn xỉu!”
Dù than trách viết dài, thế mà Anh cứ liên tục thông báo bcc là đã chuyển bài viết — mà anh tôi chẳng bao giờ cho biết Anh chuyển đi đâu? Đi đâu cũng được, xin miễn hỏi, vì cho đến giây phút này vẫn chỉ toàn nhận được điều tốt lành!
Trần tình sơ qua như vậy để thấy: Giữ ngòi bút giữa thời buổi này tuy có lúc phải… “lì lợm, mặt dầy”, đôi khi chịu vài viên gạch ném qua hàng rào, nhưng được sống giữa tình nghĩa của huynh đệ, tri âm và độc giả xa gần — ấy là cái lộc lớn nhất của người cầm bút!
Để hạ nhiệt, bây giờ mời quý vị đi du lịch qua những mô hình xã hội chủ nghĩa từ xưa đến nay qua bài tham luận “Những “Ngôi Làng Potemkin” Thời Hiện Đại: Từ Bẫy Du Lịch Bắc Kinh Đến Bản Ảo Ảnh Tuyên Truyền Toàn Cầu”.
Kính mời quý Niên Trưởng, quý Chiến Hữu cùng quý Thân Hữu cùng đọc, thảo luận và phổ biến rộng rãi.
Trân trọng,
Tsu A Cầu (K29/TVBQGVN)
Huntington Beach, California, ngày 9 tháng 8 năm 2026.
NHỮNG “CÁI LÀNG POTEMKIN” THỜI ĐẠI MỚI
Từ Bẫy Du Lịch Bắc Kinh Đến Bản Ảo Ảnh Tuyên Truyền Toàn Cầu
Tsu A Cầu
Dẫn Nhập
Một tác phẩm văn nghệ hay một thước phim truyền thông không bao giờ tồn tại trong một khoảng chân không lịch sử hay chính trị. Hành trình nhận thức của con người cũng vậy. Sự nguy hiểm nhất của một thể chế toàn trị Cộng sản không nằm ở sức mạnh quân sự hay tài chính đơn thuần, mà nằm ở khả năng vẽ nên một “phòng khách” lộng lẫy để che đậy những góc tối tàn nhẫn bên trong.
Khi một du khách “cưỡi ngựa xem hoa” lướt qua những đại lộ bóng lộn của Bắc Kinh rồi vội vã kết luận rằng “Trung Cộng không còn Cộng sản nữa”, hay khi giới truyền thông tự do lơ đễnh trước những mô hình “Xã Phường XHCN” đang được “rốt ráo” củng cố tại Việt Nam, lịch sử đang lặp lại một bi kịch cũ: Sự ngộ nhận được bảo trợ bởi công nghệ tuyên truyền.
Bài tham luận này mổ xẻ hiện tượng “Cái làng Potemkin” (Potemkin village) — từ vết nhơ lịch sử của điện ảnh Hollywood với bộ phim The North Star thời Thế chiến Thứ hai, qua mô hình kiểm soát kỹ thuật số, chế độ Hộ khẩu, cho đến chiếc bẫy truyền thông đang khuynh đảo thế giới tự do hôm nay.
I. Chiếc Bẫy “Phòng Khách” Và Sự Ngộ Nhận Của Du Khách
Lịch sử từng chứng kiến không ít trí thức và du khách Tây phương khi đặt chân đến Liên Xô thời Stalin hay Trung Cộng thời Mao Trạch Đông đã trở về với những lời ca tụng trên mây. Họ thấy những công trình đồ sộ, những nông trại tập thể ngăn nắp, những nụ cười được dàn dựng. Nhưng cái họ nhìn thấy chỉ là “phòng khách” — nơi chủ nhà đã lau chùi bóng bẩy và cẩn thận khóa chặt cửa “phòng vệ sinh” hay những góc tối đày đọa con người.
Thời gian gần đây, một chuyến du lịch vài ngày trôi qua trên tàu cao tốc, thanh toán bằng mã QR và ngắm nhìn bầu trời xanh được cưỡng chế dọn dẹp tại Bắc Kinh dễ dàng làm cho người ta quên mất:
Đằng sau sự hiện đại ấy là hệ thống theo dõi bằng quy mô camera dày đặc triệt tiêu mọi quyền riêng tư cá nhân.
Đằng sau những tập đoàn công nghệ tỷ đô-la là sự hiện diện tuyệt đối của các chi bộ Đảng Cộng sản Trung Hoa (CCP) và số phận mong manh của những thương gia chỉ cần chệch hướng là bị “sờ gáy”, như Jack Ma.
Đằng sau sự trật tự đô thị là chế độ hộ khẩu nghiệt ngã phân ban đẳng cấp và tước đoạt phúc lợi của hàng trăm triệu lao động ngoài tỉnh thành.
Nói “Trung Cộng không còn Cộng sản” chỉ vì họ có xe điện và trung tâm thương mại sang trọng là một sự ngộ nhận nông cạn. Thể chế ấy chưa bao giờ từ bỏ bản chất toàn trị; họ chỉ dùng kinh tế thị trường làm công cụ tích lũy tài chính để quay lại củng cố cỗ máy kiểm soát xã hội tinh vi hơn mà thôi.
II. Từ Bản Họa “The North Star” Đến Thảm Họa Holodomor
Khái niệm Potemkin village xuất phát từ giai thoại Thống chế Grigory Potemkin dựng nên các ngôi làng giả tạo bọc vải sơn dọc bờ sông Dnieper để lừa Nữ hoàng Catherine II về sự phồn vinh của vùng đất mới. Trong thế kỷ 20 và 21, kỹ thuật này đã được các thể chế toàn trị nâng lên thành một nghệ thuật thượng thừa.
1. Sự dối trá tàn nhẫn của The North Star (1943)
Năm 1943, trong bối cảnh Mỹ và Liên Xô là đồng minh chống Phát-xít, Điện ảnh Hollywood phát hành bộ phim The North Star (do Samuel Goldwyn sản xuất, Lewis Milestone đạo diễn). Những nhà làm phim Mỹ đã vẽ nên một nông trang tập thể (kolkhoz) ở Ukraine đẹp như mơ: những người nông dân no ấm, rạng rỡ, nhảy múa ca hát dưới ánh nắng mặt trời, bàn ăn đầy ắp thịt sữa, bánh mì: Thiên đường cộng sản tại hạ giới.
2. Sự thật lịch sử về thảm họa Holodomor (1932–1933)
Thực tế, chính tại vùng đất Ukraine đó, chỉ 10 năm trước khi bộ phim bấm máy, chính quyền Joseph Stalin đã thực hiện chiến dịch diệt chủng bằng lương thực mang tên Holodomor:
Chính sách cưỡng chế & Tịch thu: Thông qua Đạo luật “Ngăm bông lúa” (7/8/1932), ai lấy dù chỉ một nắm hạt ngũ cốc từ đồng ruộng tập thể đều bị tử hình hoặc đi tù 10 năm. Các đội thu gom NKVD (Narodny Komissariat Vnutrennikh Del – Bộ Nội vụ Nhân dân Liên Xô) về từng làng tịch thu đến hạt ngô, củ khoai cuối cùng.
Con số tử vong kinh hoàng: Khoảng 3,9 triệu đến 4,5 triệu người Ukraine đã chết vì đói trong giai đoạn 1932–1933. Vào đỉnh điểm mùa xuân 1933, trung bình mỗi ngày có khoảng 28.000 người chết đói.
Sự tẩy xóa lịch sử: Điện ảnh Hollywood đã hoàn toàn xóa bỏ 4 triệu xác chết và nạn ăn thịt người tột cùng nghèo khổ để thay bằng hình ảnh “thiên đường XHCN”. Sau Thế chiến Thứ hai, bộ phim trở thành một vết nhơ và sự xấu hổ của điện ảnh Mỹ. Nó chứng minh một bài học đắt giá: Khi nghệ thuật tự do bị ép phục vụ cho tính toán chính trị ngắn hạn, nó sẽ biến trí thức và nghệ sĩ thành kẻ tiếp tay cho sự dối trá.
III. Vạn Lý Tường Lửa Và Hộ Khẩu: Xiềng Xích Trong Không Gian Ảo Và Thực
1. Vạn Lý Tường Lửa (Great Firewall) — Cơ chế “Tự cấm đoán”
Vạn Lý Tường Lửa không đơn thuần là giải pháp kỹ thuật chặn mạng (như chặn Google, Facebook, YouTube), mà là dự án kỹ thuật xã hội khép kín:
Hệ sinh thái thay thế bị kiểm soát: Thay thế bằng Baidu, WeChat, Weibo — nơi toàn bộ máy chủ đặt tại chỗ và chịu sự quản lý trực tiếp của các chi bộ Đảng.
Hiệu ứng tâm lý “Tự kiểm duyệt”: Khi mọi hành vi trên mạng gắn liền với số căn cước và hệ thống chấm điểm tín nhiệm xã hội (Social Credit System), người dân tự học cách “không tìm kiếm những điều không nên tìm”. Thế hệ trẻ sinh ra dưới tường lửa lâu dần không còn cảm thấy thiếu vắng tự do, thậm chí quay lại bài bác các giá trị dân chủ.
2. Chế độ Hộ khẩu (Hukou) — Công cụ phân ban đẳng cấp
Nếu Tường Lửa kiểm soát không gian ảo, thì Hộ khẩu là chiếc xiềng xăm kiểm soát không gian thực:
Chia cư dân thành Hộ khẩu nông thôn và Hộ khẩu đô thị, trói buộc con người vào nơi sinh ra.
Hàng trăm triệu lao động di cư lên thành phố bị coi là “tạm trú”, bị tước đoạt quyền tiếp cận y tế, giáo dục công lập cho con cái, và có thể bị cưỡng chế dọn dẹp, đẩy về quê bất cứ lúc nào khi chính quyền muốn “làm sạch đô thị”.
IV. Dự Án “Xã Phường XHCN”: Mô Hình Công An Hóa Cơ Sở
Sự kiện xây dựng thí điểm các mô hình “Xã Phường XHCN”, tăng cường lực lượng công an chính quy về bám nắm địa bàn cơ sở (đặc biệt được đẩy mạnh tại các địa phương trọng điểm) là một bước chuyển từ quản lý hành chính sang “quản trị an ninh trị”:
Công an hóa bộ máy cơ sở: Lực lượng công an chính quy trực tiếp chi phối toàn bộ chính quyền xã/phường.
Dữ liệu dân cư tích hợp (VNeID): Bắt buộc tích hợp toàn bộ thông tin cá nhân, tài sản, biến động cư trú, giao dịch vào một mã định danh do lực lượng an ninh nắm giữ.
Tổ an ninh tự quản ngõ ngách: Khôi phục các mô hình giám sát cơ sở để bắt mạch mọi biến động tư tưởng, triệt phá mầm mống phản biện từ sớm, từ xa.
Mô hình này biến mỗi xã/phường thành một “tiểu đồn công an”, bao phủ xã hội bằng sự nghi kỵ, triệt tiêu khả năng phản biện và năng lực tự tổ chức của người dân.
V. Truyền Thông Tuyên Truyền Khuynh Đảo Thế Giới Tự Do
Lợi dụng tính chất cởi mở của mạng xã hội và tự do ngôn luận tại các nước Dân chủ, các thể chế toàn trị đã và đang thực hiện các chiến dịch truyền thông đa tầng:
Gieo rắc chủ nghĩa ngụy biện (Whataboutism): Làm mờ ranh giới giữa Tự do và Toàn trị, khiến công chúng tin rằng “ở đâu cũng như nhau”, từ đó làm suy giảm ý chí bảo vệ các giá trị dân chủ.
Nội suy và chia rẽ cộng đồng: Tài trợ cho các kênh truyền thông “dơ và bẩn”, kích động xung đột văn hóa, tạo ra sự hoài nghi lẫn nhau trong các cộng đồng tị nạn và xã hội sở tại. Chúng ta hãy quan sát những cuộc biểu tình vừa qua sẽ thấy.
Mua chuộc và bẫy trải nghiệm: Biến những vlogger, du khách ngắn hạn hay các nhà làm phim ngây thơ thành những “Đại sứ tuyên truyền vô giác” (useful idiots), mượn miệng người nước ngoài để ngợi ca tính chính danh của chế độ.
Kết Luận: Trách Nhiệm Của Ngòi Bút Và Ký Ức
Lịch sử đã chứng minh: Một thể chế xây dựng trên sự dối trá chỉ có thể tồn tại khi con người chấp nhận sống chung với sự dối trá đó.
Việc nhận diện những “cái làng Potemkin” thời hiện đại không phải để gieo rắc sự thù hận, mà là để bảo vệ SỰ THẬT và TỰ DO. Trước một làn sóng truyền thông tuyên truyền đang khuynh đảo thế giới, trách nhiệm của những người cầm bút, của những nhân chứng lịch sử và của thế hệ đi trước là phải để lại những trang ghi chép trung thực.
Đừng để những thước phim như The North Star hay những chuyến du lịch “cưỡi ngựa xem hoa” tiếp tục ru ngủ hậu thế. Chỉ khi nào chúng ta dũng cảm nhìn vào cả “phòng khách” lẫn “phòng vệ sinh” của một thể chế, chúng ta mới không trở thành nạn nhân của những ảo ảnh tuyên truyền.
Tsu A Cầu (K29/TVBQGVN)
Huntington Beach, California, ngày 9 tháng 8 năm 2026.
KIỀU MỸ DUYÊN – TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO CÔNG VIỆT NAM HẢI NGOẠI RA MẮT BAN ĐIỀU HÀNH