VTLV – TRANG ĐẶC BIỆT MỪNG NGÀY TỪ PHỤ 2026. ĐỖ DUNG: Tùy Bút “Đỗ Gia Trang Trên Đồi Mê Linh.” Phương Hoa: THƠ CHÚC MỪNG NGÀY TỪ PHỤ.

==

==

Đỗ Gia Trang Trên Đồi Mê Linh

Đỗ Dung kính nhớ Bố.

FATHER’S DAY 2026

Có những ngôi nhà biến mất khỏi mặt đất từ rất lâu nhưng vẫn còn nguyên trong ký ức.

Tôi nghĩ về điều đó vào một chiều cuối năm, khi ngồi bên cạnh Bố trong căn phòng nhỏ của viện dưỡng lão.

Ngoài cửa kính, trời mùa đông California xám đục. Mấy cành cây trơ lá run nhẹ trong gió. Chiếc tivi đặt ở góc phòng vẫn mở nhưng không có tiếng. Ánh sáng xanh nhấp nháy trên khuôn mặt đã hằn sâu những nếp thời gian.

Tôi cúi xuống hỏi:

“Bố có biết con là ai không?”

Ông ngẩng lên nhìn tôi. Đôi mắt đục mờ vì tuổi tác bỗng sáng ra một chút.

“Dung.”

Chỉ một tiếng gọi ấy thôi.

Bao nhiêu năm tháng bỗng quay về.

Tôi lại thấy mình đứng trong căn nhà cũ ở Mai Hắc Đế của Hà Nội ngày xưa. Những buổi sáng mùa đông, sương còn đọng trên mái ngói. Mùi hương trầm len lỏi trong từng gian nhà. Bộ sập gụ bóng màu thời gian nằm giữa phòng khách. Trên mặt tủ chè khảm xà cừ, những ông tiên trong tích Bát Tiên vẫn lấp lánh dưới ánh đèn vàng.

Đó là thế giới đầu tiên của tuổi thơ tôi.

Một thế giới có tiếng guốc của Mẹ đi trong sân. Có tiếng anh chị em gọi nhau í ới. Có mùi nước mắm chưng trên bếp. Và có tiếng chuông cơm của Bố.

Ba hồi dài.

Lúc nào cũng vậy.

Tiếng chuông vang lên là mọi cuộc chơi phải dừng lại.

Đứa ở sân trước chạy vào.

Đứa ở sân sau chạy lên.

Đứa còn đang đọc sách cũng phải gấp sách lại.

Cả nhà ngồi quanh mâm cơm như một nghi lễ không ai được phép vắng mặt.

Ngày ấy chúng tôi nghĩ đó là luật.

Nhiều năm sau mới hiểu đó là tình yêu.

Có những người cha thể hiện tình yêu bằng những lời âu yếm. Có người bằng những cái ôm. Bố tôi lại chọn cách riêng của ông: dựng nên một nếp nhà.

Ông vốn là người lính.

Người lính thường tin vào kỷ luật như tin vào xương sống của một đời người.

Khi gia đình chuyển vào Sài Gòn, căn nhà trên đường Thành Thái dần trở thành một thế giới riêng mang dấu ấn của ông. Chuông điện lớn được lắp ngay phòng khách. Mỗi người có một tín hiệu riêng. Phòng ngủ của mấy chị em được ông gọi bằng cái tên rất nhà binh: “Trại nữ binh”.

Mỗi lần nhớ lại, tôi vẫn bật cười.

Ngay cả tuổi thơ của chúng tôi cũng được tổ chức theo kiểu nhà binh.

Nhưng lạ thay, trong ký ức, tất cả đều ấm áp.

Kỷ luật của Bố chưa bao giờ làm người ta sợ.

Nó giống hàng rào quanh một khu vườn hơn.

Nhờ có nó mà những đứa trẻ được lớn lên trong an toàn.

Bên dưới vẻ nghiêm nghị ấy là một tâm hồn mềm đến không ngờ.

Ông mê nhạc tiền chiến.

Những đêm yên tĩnh, từ chiếc máy hát trong phòng khách vang lên Suối Mơ, Thiên Thai, Con Thuyền Không Bến. Có những bản nhạc tôi đã quên gần hết lời nhưng mỗi lần nghe lại vẫn thấy hiện lên bóng dáng Bố ngồi lặng lẽ bên tách trà.

Ông thích thơ.

Thích viết.

Thích những câu chữ đẹp.

Có lần tôi than phiền rằng hôm sau phải thuyết trình ở trường. Sáng dậy đã thấy trên bàn một bài viết hoàn chỉnh ông thức khuya chuẩn bị cho con gái.

Đến bây giờ tôi vẫn không biết trong đêm ấy ông đã thức đến mấy giờ.

Nhưng tôi biết chắc một điều:

Có những người cha không nói “Bố thương con”.

Họ dành cả cuộc đời để làm điều đó.

Nhà tôi đông con.

Đông đến mức người ngoài nhìn vào thường ngạc nhiên.

Vậy mà bằng một cách nào đó, Bố vẫn biết rõ từng đứa.

Biết đứa nào yếu đuối.

Biết đứa nào bướng bỉnh.

Biết đứa nào đang buồn.

Biết đứa nào cần được giúp đỡ.

Mỗi người nhận từ ông một tình thương khác nhau nhưng không ai thấy mình bị bỏ quên.

Có lẽ vì thế mà cho đến tận bây giờ, khi tóc đã điểm bạc, anh chị em chúng tôi vẫn nhắc về ông như nhắc về tâm điểm của một vòng tròn.

Rồi đất nước đổi thay.

Những cơn sóng lớn của lịch sử tràn qua từng mái nhà.

Gia đình tôi cũng không nằm ngoài dòng chảy ấy.

Một ngày, người cha vẫn đứng đầu bàn ăn bỗng phải rời khỏi nhà để bước vào những năm tháng cải tạo.

Khi ấy tôi còn trẻ.

Chưa đủ tuổi để hiểu hết nỗi đau của người lớn.

Nhưng tôi nhớ rất rõ khuôn mặt của Mẹ.

Nhớ những đêm đèn khuya.

Nhớ mùi nhang trên bàn thờ.

Nhớ sự chờ đợi kéo dài tưởng như không có điểm cuối.

Sau này đọc lại những dòng di bút của Bố, tôi mới hiểu phần nào sức mạnh đã giúp ông đi qua những năm tháng ấy.

Ông không viết về hận thù.

Ông viết về nhân cách.

Ông không nói đến thất bại.

Ông nói đến lòng tự trọng.

Có những con người càng ở trong nghịch cảnh càng hiện rõ phẩm giá của mình.

Bố thuộc về số ít những người như thế.

Ngày đoàn tụ ở San Francisco, tôi nhìn thấy một người đàn ông gầy hơn, già hơn, tóc bạc hơn.

Nhưng không phải là một người bị đánh gục.

Tôi nghĩ có những chiến thắng không ai nhìn thấy.

Đó là khi một con người vẫn giữ được phần tốt đẹp nhất của mình sau tất cả những gì đã xảy ra.

Những năm cuối đời, sức khỏe của ông yếu dần.

Bệnh tật đến như những cơn thủy triều không thể cưỡng lại.

Mẹ cũng già đi.

Hai người chậm rãi bước về phía bên kia cuộc đời.

Có lần nhìn họ ngồi cạnh nhau trong phòng bệnh, tôi chợt nghĩ đến hai ngọn đèn dầu đã cháy gần cạn.

Ánh sáng không còn mạnh.

Nhưng vẫn sáng.

Vẫn đủ để soi cho nhau.

Ngày ấy, Bố thường nói về một giấc mơ.

Ông gọi nó là Đỗ Gia Trang.

Một khu nhà trên đồi Mê Linh.

Một mặt hồ.

Một dãy nhà hình chữ U.

Ông bà ở giữa.

Con cháu quây quần xung quanh.

Ông còn vẽ sơ đồ bằng bút chì và ghi tên từng đứa con vào từng phòng.

Nhiều năm qua đi.

Giấc mơ ấy chưa bao giờ được xây dựng bằng gạch đá.

Nhưng càng sống lâu, tôi càng hiểu rằng Bố đã xây nó rồi.

Ông xây bằng một vật liệu bền hơn xi măng.

Ông xây bằng ký ức.

Bằng tiếng chuông cơm ba hồi.

Bằng những bài hát cũ.

Bằng những lời dạy đơn sơ.

Bằng những giọt nước mắt ngày tiễn con gái về nhà chồng.

Bằng khí phách của một người lính không chịu đánh mất mình.

Bằng tình yêu bền bỉ dành cho gia đình.

Cho nên hôm nay, khi nhìn lại, tôi không còn tiếc ngôi nhà trên đồi Mê Linh nữa.

Bởi vì Đỗ Gia Trang chưa bao giờ nằm ở một địa chỉ nào trên bản đồ.

Nó nằm trong chúng tôi.

Trong cách anh chị em vẫn tìm đến nhau.

Trong cách con cháu vẫn nhắc tên Ông Bà.

Trong cách một gia đình được nối tiếp qua nhiều thế hệ bằng lòng biết ơn và ký ức.

Chiều cuối năm ngoài cửa kính đã xuống hẳn.

Tôi ngồi bên cạnh Bố.

Nắm bàn tay gầy guộc của ông trong tay mình.

Bàn tay ấy đã đi qua chiến tranh, tù đày, ly biệt và đoàn tụ.

Bàn tay ấy đã dựng nên một mái nhà.

Và bỗng nhiên, từ rất xa trong ký ức, tôi lại nghe thấy tiếng chuông cơm năm nào.

Ba hồi dài.

Rõ ràng.

Ấm áp.

Như thể suốt cuộc đời này, Bố vẫn đang gọi chúng tôi trở về.

Đỗ Dung




VTLV: TRANG ĐẶC BIỆT TƯỞNG NIỆM NGÀY QLVNCH 19/06. CAO MỴ NHÂN: CHÙM THƠ Về QUÂN LỰC VNCH

TS MAI THANH TRUYẾT: Hằng năm vào khoảng 19 Tháng 6, có nhiều tổ chức thuộc Quân Lực VNCH  ở hải ngoại tổ chức Lễ kỷ niệm Ngày Quân Lực. Năm nay là năm thứ 43.

Ngày 19 Tháng 6, được coi là Ngày Quân Lực VNCH là vì sau đảo chánh lật đổ Tổng Thống Ngô Đình Diệm năm 1963, Chính quyền và Quân Đội  VNCH bị suy yếu trầm trọng bởi tình trạng chỉnh lý, tranh giành quyền lực liên tục giữa các tướng lãnh trong QLVNCH . Tình trạng chính trị , quân sự cũng như kinh tế của Miền Nam lúc đó thật bi đát.

Lợi dụng tình thế bất ổn này, quân chính quy CS Bắc Việt ồ ạt xâm nhập vào Miền Nam. Trước tình trạng khẩn trương, nguy ngập đó Chính phủ dân sự Phan Khắc Sửu quyết định trao trách nhiệm và quyền hành lãnh đạo Quốc Gia cho Quân Lực VNCH.

Một buổi lễ ra mắt Ủy ban Lãnh Đạo Quốc Gia và Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương được long trọng tổ chức tại Thủ Đô Saigon vào ngày 19 Tháng 6, 1965. Hai Ủy ban này đã  tuyên thệ trung thành với Tổ Quốc, nhận trách nhiệm chỉ huy QLVNCH trong việc bảo vệ đất nuớc, quê hương.

Từ đó ngày 19 Tháng 6 là một ngày lịch sử, có tên là “Ngày Quân Lực VNCH”. Sau đó hằng năm ngày Quân Lực 19 Tháng 6 được cử hành rất trọng thể với sự tham gia các đơn vị của các quân binh chủng trong QLVNCH, để biểu dương sức mạnh và ý chí đoàn kết, quật khởi của toàn quân, toàn dân  Miền Nam, quyềt chiến đấu chống CS xâm lược Miền Bắc.

Ngày nay, Quân Lực VNCH không còn nhưng người quân nhân VNCH vẫn không ngừng chiến đấu cho Tự Do, Dân Chủ, Nhân quyền  và sự vẹn toàn lãnh thổ. Tập thể Chiến Sĩ VNCH đã được hình thành để nâng nỗ lực đấu tranh lên tầm mức cao hơn, mạnh mẽ  hơn.

Người chiến sĩ VNCH và đồng bào ỏ hải ngoại hôm nay  không có vũ khí trong tay để anh dũng chiến đấu trên chiến trường như ba mươi ba năm trước đây, nhưng với ý chí kiên cường, bất khuất,  người chiếnsĩ VNCH và đồng bào hải ngoại vẫn tiếp tục đấu tranh đem lại nhiều  thắng lợi trên  Bình diện chính trị. Chắc chắn ngày tự do và hạnh phúc cho toàn dân Việt Nam khắp mọi miền đất nước không còn bao xa.

Dưới bất cứ hoàn cảnh nào, nơi đâu,  tôn chỉ của người quân nhân vẫn là Danh Dự – Tổ Quốc – Trách Nhiệm.

Mai Thanh Truyết

==

CHÙM THƠ 19/06 – CAO MỴ NHÂN

==

CÙNG NHAU HÁT TIẾP KHÚC QUÂN HÀNH.     CAO MỴ NHÂN

Trời chưa sáng đã nghe hồi trống lệnh

Anh lạnh lùng thức dậy, chúng ta đi

Vào  chiến cuộc, bao người đang đến hẹn

Một lòng tin phơi phới: các anh về

*

Cờ vàng đã tung bay trên khắp ngả

Trăng hạ huyền lãng đãng báo tin Xuân

Nền Cộng Hoà thao thức đợi chinh nhân

Rồi từ đó, ta gọi hồn đất cũ

*

Những con đường đã xua mây viễn xứ

Để cho người gặp gỡ người xa xưa

Để cho anh tha thiết gọi hồn thơ

Cho em viết chan hòa lời non nướ

*

Rằng : lý tưởng vẫn bền lòng phục quốc

Dân tộc ơi,  ngàn vạn nét đan thanh

Ôi sung sướng trọn đời ta mong ước

Hãy cùng nhau hát tiếp Khúc quân hành

    Rancho Palos Verdes  9 – 6 – 2026

                 CAO MỴ NHÂN

==

TẶNG ANH.      CAO MỴ NHÂN

Chỉ cần nghe hơi hướng

Tuổi trẻ ở đôi tay

Mới biết mình sung sướng

Sức khỏe còn trên vai

*

Nên mời anh gánh vác

Càn khôn vũ trụ này

Đất trời không xa lắm

Tất cả đều quanh đây

*

Hôm qua là dĩ vãng

Ngày mai đó tương lai

Còn hôm nay hiện tại

Tinh thần phải hăng say

*

Muốn làm nên nghiệp lớn

Hãy đo sức nhân gian

Coi thử hạt bụi vướng

Nghĩ to như thái sơn

*

Khi ta còn tuổi trẻ

Phải tiết kiệm phút giây

Để không buồn tiếc rẻ

Trôi qua những tháng ngày …

Rancho Palos Verdes.   8 – 6 – 2026

         CAO MỴ NHÂN

==

Em GÁI HẬU PHƯƠNG.     CAO MỴ NHÂN

Kích giặc xong rồi, về phố thị

Thong dong đi dạo chợ  Sài Gòn

Ngó cô bán bánh, chào thơm phức

Mời lính biên phòng thử bánh ngon

*

Anh không mắc cở mà đùa rỡn

Cô muốn tôi mua loại bánh nào

Chính chiến mịt mù, nay mới hưỡn

Hậu phương chỉ có bánh thôi sao

*

Cô bé nhìn anh cười, đỏ mặt

Em không biết nữa, anh qua bên

Chị kia chắc có nhiều quà khác

Anh lắc đầu , anh muốn cạnh em

*

Thế rồi, vài tháng sau là vợ

Anh vẫn biên phòng, thương nhớ thêm

Cô bé để rơi dòng lệ tủi

Năm sau, em quả phụ ưu phiền …

(Chuyện một cô bé hậu phương, sau một năm là quả phụ tử sĩ  VNCH )

Rancho Palos Verdes   28 – 5 – 2026

               CAO MỴ NHÂN 

==

VỀ THĂM ĐƯỜNG 9.     CAO MỴ NHÂN

Ôi nhớ quá tiếng xe tăng cày đất

Xẻ sa trường đôi vạt sóng thiên thu

Bạn anh đấy khép hờ đôi mắt sắt

Yên phận nằm nghe gió bão biên khu

*

Anh trở lại Đông Hà qua đường 9

Cây Nhân Sinh từng lớp mọc hoang đường

Đồi 31 còn cuộn dòng uất nghẹn

Bạn anh nhìn pháo lịm bặt bi thương

*

Nửa trăm năm vẫn tanh mùi máu lửa

Ngậm ngùi nhìn dấu vết tiểu đoàn xưa

Anh cứ đứng chôn chân trong nỗi nhớ

Trận chiến nào em khóc sau giông mưa

*

Thôi ta về, chuyến tầu đêm hun hút

Như gọi hồn tử sĩ vọng trời xanh

Không còn ánh hỏa châu soi sáng khắp

Trở về thăm mặt trận vỡ trên thành …

Hawthorne  26 – 5 – 2026

        CAO MỴ NHÂN

==

NỬA TRĂM NĂM GẶP LẠI.     CAO MỴ NHÂN

Nửa trăm năm đã vụt trôi qua

Trông đợi người đi lệ thấm nhòa

Chạnh nhớ ngày xưa khi kích giặc

 Bên nhau nào biết sẽ chia xa

Đồng hoang cỏ cháy nối thương đau

Người với ta chung một nỗi sầu

Cơm xấy sau mưa tràn bếp ngập

Bên trời tên lửa gọi cung dâu 

*

Hẹn hò chớp mắt như tan biến

Kinh rạch đò ngoan vẫn thả chèo

Sóng vỗ ngoài xa nơi đất biển

Hành quân ổn định xóm thôn nghèo

*

Đông Hà, cửa Việt  sương giăng tối

Sao trách ai quên chẳng ngó ngàng

Đành đợi hoả  châu soi sáng lối

Người ôm hoài bão chẳng than van

*

Giờ đây nhịp đập tim đau nhói

Ta hỏi người khi mặt trận tàn

Hoài niệm tình vương theo đạn khói

Có còn chăng, dấu tích tan hoang

*

Người ơi bi lụy càng ngây ngất

Trong nỗi ưu tư liệm mảnh hồn

Thương nhớ dặm về buồn héo hắt

Bên nhau tâm sự não nề tuôn …

         Hawthorne.   9 – 5 – 2026

( Họa Thơ. Nhật Hồng. Nguyễn Thanh Vân  )

                   CAO MỴ NHÂN 

==

DƯỚI CỜ VÀNG.       CAO MỴ NHÂN

Sáng ra chào lá cờ vàng

Tung bay trong nắng huy hoàng mùa xuân

Thấy như gặp lại cố nhân

“Giày saul nón sắt ” tháng năm thủa nào

*

Em nhìn lên tít trời cao

Mây pha sắc áo bay vào sử xanh

Ngàn đời yêu dấu riêng anh

Sa trường sôi động, tan thành mộng mơ

*

Quân đi rầm rập  dưới cờ

Sáng tươi sông núi cùng thơ lên đường

Trăm phen hoa nở khói sương

Đạp lên nỗi chết biên phương hận thù

*

Bây giờ nói chuyện biên khu

Bâng khuâng âm hưởng thiên thu chiến hào

Đạn bay xé mảnh nhung bào

Trái tim thúc giục tuyến đầu ghi công …

            CAO MỴ NHÂN

==

NGANG TRỜI TIẾC THƯƠNG.        CAO MỴ NHÂN

Em về giữa buổi bình minh

Nắng  vừa soi tỏ bóng hình người xưa

Cả không gian bỗng tiễn đưa

Hồn chinh phu trải gió mưa nơi này

*

Chiến trường cạn chén riêng tây

Tình yêu nước đã khô bay mộ chàng 

Trao anh nguyên sắc cờ vàng

Này đây, tất cả lỡ làng quê ta

*

Em về câm nín xót xa

Sau lưng lạnh toát hồn ma tượng đài

Bó nhang chợt tắt u hoài

Nắng hong nỗi nhớ ngang trời Tiếc Thương

*

Thôi anh, tóc rối tơ vương

Vòng tay buông lỏng nghe hương khói tàn

Một mình hận tủi vô vàn

Buồn ơi mộng mị quan san bái từ …

            CAO MỴ NHÂN




CA KHÚC NIỀM NHỚ – Lời Việt Thủy Như – Nhạc Pháp: A COMME AMOUR – BMC Thực Hiện




KIỀU MỸ DUYÊN – CHƯƠNG TRÌNH CÁI NHÀ LÀ NHÀ CỦA TA June 10, 2026




VTLV- CHÚC MỪNG VĂN THI SĨ CAO MỴ NHÂN KỶ NIỆM 73 NĂM CẦM BÚT.

https://vietbao.com/a305738/cao-my-nhan-nguoi-di-xe-thien-dang-

73 năm chẵn bút tung hoành

Tự thuở lên mười đã nổi danh

Thi sĩ đường mây hòa dưới trướng

MỴ NHÂN cánh gió quyện bên mành

Thơ gom kẻ mến cùng bờ cõi

Sách gọi người yêu khắp thị thành

Cầu chúc Bách niên hiền tỷ vẫn…

Trường kỳ sáng tác đẹp vườn thanh.

Phương Hoa – MAR 18,2026

==

https://lylang.blogspot.com/2026/03/chuc-mung-van-thi-si-cao-my-nhan-ky.html

*

Hoàn hảo trục tung lẫn cạnh hoành (*)

Vẽ nên đồ thị đáng lưu danh

Nửa đời binh nghiệp đầy oai vệ

Một kiếp tao đàn thật diễm thanh

Thi hứng ngập tràn như sóng biển

Câu từ buông phủ tựa tơ mành

Mười ba tác phẩm đà in ấn

Bao áng thơ văn đẹp kết thành.

(*) Cuộc đời chị Cao Mỵ Nhân ví như một đồ thị đẹp vẽ nên bởi hai trục hoàn hảo là trục tung Binh Nghiệp và trục hoành Thơ Văn

Sông Thu (20/03/2026)

==

                     (Hoán vận)

Bươn trải trần ai đã đủ hoành

Mệnh tài tương đố bợn chi danh

Sa trường kiêu hãnh thời oanh liệt

Trướng gấm hoài vương thuở diễm thanh

Văn bút tiềm tàng ngời nguyệt rạng

Thi đàn tuyệt hảo nuột tơ mành!

Cảo thơm lưu dấu, tình trao lại

Nghĩa nặng ân thâm  ấm dạ thành!

                           Nguyễn Huy Khôi

                                  20-3-2026

==

Bẩy ba năm vẫn mãi vang danh 

Nổi tiếng thơ văn bút trụ hoành 

Một thuở Sapa đào ngập lối 

Ngàn mây viễn xứ tuyết giăng mành 

Quân hành áo trận thơm kinh sử 

Hoa gấm đài trang dấu cổ thành 

Trang giấy gởi hồn bao tác phẩm 

 Muôn đời lưu giữ nét đan thanh.

Lê Mỹ Hoàn 3/20/2026

==

(Họa hoán vần)

Tám sáu mùa xuân ẩn giữa mành

Mỵ Nhân nữ sĩ thật lừng danh

Thời xưa lính tráng ngời vân cẫu

Hiện tại văn thơ rạng bức hoành

Xé nửa thiên đàng trông gió mát

Vo tròn thi phú đợi trăng thanh

Bảy mươi năm lẻ mài nghiên bút

Tăm tiếng loan xa, mộng đã thành

ThanhSong ntkp – CA. 20/03/2026

==

(Kính mừng chị CAO MỴ NHÂN 73 năm cầm bút)

Đường luật thất ngôn rạng trướng, hoành*

Tân thời lục bát tiếng vang danh

Văn phong cổ kính màu thiên địa

Cốt cách thanh tao dáng lụa mành

Bước giữa nhân tình, lòng thấu cảm

Đi trong thế sự, ý hình thành

Quê hương nghiệm trải, thơ tung bút

Chữ nghĩa im lìm đã vọng thanh…

Lý Đức Quỳnh

 20/3/2026

*Hoành là bức hoành phi, chữ viết ngang như thư pháp, thường treo trong phòng khách. 

==

==

(Tự họa)

Thơ họa thăng hoa bức lụa hoành 

Lời vàng thi sĩ quả tài danh 

Sương còn say đắm treo bờ giậu

Nguyệt cũng ngẩn ngơ rọi trước mành

Đại tỷ mấy mươi năm bút toại

MỴ NHÂN non thế kỷ công thành

Cảm ơn mặc khách cùng đồng điệu

Hòa vận chúc mừng ý đẹp thanh.

Phương Hoa

MAR 24, 2026 

==

             SƯƠNG KHÓI VĂN CHƯƠNG

( Buổi sáng ngày 19-3-2026 vừa qua, nhân khi viết một bài 

gởi đi đăng báo, Mỵ tôi chạnh nhớ ngày 19-3-1953  có bài viết 

 “ Sự tích Trời Cao “ đăng lần đầu tiên ở trang Nhỉ Đồng 

báo Liên Hiệp Hanoi, nên lỡ tâm sự với PHƯƠNG HOA, là 

Mỵ tự lên tinh thần vì vẫn còn thích viết ) 

Nay được quý bạn khuyến khích quá, nên xin CÁM ƠN quý Thi Sĩ : SÔNG THU, 

NGUYỄN HUY KHÔI, THANH SONG KIM PHÚ, MỸ HOÀN , LÝ ĐỨC QUỲNH  vui họa với 

CÁM ƠN, CHÚC VUI KHOẺ.         Cao Mỵ Nhân ..

Ôi nét chân phương giữa bức hoành

Khiến lòng trọng nghĩa khách tài danh

Xướng Thơ như suối nguồn băng núi 

Họa ý hơn châu ngọc rớt mành

Đa tạ tao nhân vui dự hội

Cám ơn tác phẩm  vượt san thành

Bảy ba năm hạnh ngộ tri kỷ 

Thi Cảm chan hòa vạn lý thanh …

      Hawthorne  20 – 3 – 2026

              CAO MỴ NHÂN 

Thất thập nhị huyền công cộng một,

Bảy mươi ba phép thắng Tề Thiên.

Trưng Vương trung học vang danh nữ,

Thiếu Tá Việt Nam đệ nhất miền.

Xướng họa văn thơ nên nợ bút…

Thi từ ca phú kết văn duyên.

Cuộc đời há kém chi nam giới,

Chúc chị yên bình sống bách niên !

                Thầy Đồ – Đỗ Chiêu Đức

                   03-21-26 – Kính bút.

==


Bảy ba năm vẫy bút đường trần

Thơ kính chúc mừng Cao Mỵ Nhân
Chữ nghĩa ngời ngời như hạo nguyệt

Văn chương tải tải tựa thanh vân

“Chim Bay Mỏi Cánh” thời phiêu bạt

Ngựa thét nghiêng đèo buổi loạn quân

Văn võ toàn tài xin ngưỡng mộ

Từ Sapa đến phố Thiên Thần*               

Quang Hà, 26/03/2026

==

Muốn nói với em một điều rất lạ

Bằng chữ “sorry” vì quên tất cả

Từ không gian đến thời khắc vừa qua

Đáng tiếc, lâu rồi anh đi xa quá

*

Trong ngôn ngữ thơ gọi là vần trắc

Cuối câu ngắn, dài … phải dùng âm sắc

Thế còn gì lời thoảng nhẹ dịu êm

Khi tri kỷ gật gù không thắc mắc

*

Một bài Đường thi tám câu, bảy chữ

Đã khó rồi, còn mượn vần cuối lỡ

Sao không viết nhàn hạ để thảnh thơi

Mà lại khiến hồn thơ sầu bỡ ngỡ

*

Riêng với em, nàng thơ luôn khổ lụy

Anh van xin những hình ma, bóng quỷ

Hãy rời đi, đáng tiếc cõi mơ này

Để đôi mình thương yêu, cùng trân quý …

Rancho Palos Verdes   19 – 3 – 2026

             CAO MỴ NHÂN

        Thân quý gởi THI SĨ PHƯƠNG HOA

Hôm nay 19/3/2026.   CMN kỷ niệm ngày 19/3/1953 khi chưa di cư vô Nam, hôm đó 19/3/ 1953, bài truyện nhi đồng tên TRỜI CAO của CMN đăng trên báo LIÊN HIỆP HA NỘI, mới hơn 10 tuổi.

Rồi tiếp tục cứ đăng các bài truyện nhi đồng do CMN tưởng tượng trên mỗi thứ năm báo GIANG SƠN HANOI, năm sau di cư vô SAIGON, 9/1954, tiếp tục viết truyện trẻ em và làm thơ cho tới ngày nay 19/3/ 2026 này.

CÁM ƠN NHIỀU NHÉ.  CHÚC KHOẺ VUI HOÀI, VIẾT HOÀI nha.       

CAO MỴ NHÂN

==

==

73 Năm Cầm Bút – Một Đời Thi Ca!

-Bảy mươi ba năm — một HOA SAO lấp lánh giữa trời văn học,

Từ thuở thiếu thời, lời thơ đã nở thành THƠ MỴ, dịu dàng mà sâu thẳm.

Qua bao GA XÉP của cuộc đời,

Người vẫn ung dung bước giữa CHỐN BỤI HỒNG,

Khoác ÁO MẦU XANH của mộng và tình,

Đưa hồn thơ đi qua những chiều LÃNG ĐÃNG VÀO THU rất nhẹ…

Có khi lặng lẽ ĐƯA NGƯỜI TÌNH ĐI TU,

Có lúc trở về sau những SAU CUỘC CHIẾN của lòng người và thế sự,

Mà vẫn mở một QUÁN THƠ THÁNG NGÀY CÒN LẠI,

Cho bạn hữu bốn phương ghé lại — nghe NHỊP TIM THƠ còn vang mãi…

Dẫu thời gian có gọi là TÌNH MUỘN,

Thì thơ vẫn trẻ — như buổi đầu xướng họa,

Như những vần THƠ XƯỚNG HOẠ còn ngân dài không dứt,

Gieo duyên tri kỷ, kết nghĩa văn chương.

Xin kính chúc Thi Sĩ:

Bút lực dồi dào — hồn thơ bất tận. Tâm an — ý sáng — tình còn mãi thiết tha

Để vườn thơ MỴ NHÂN: mãi nở — ngàn sau còn hương!

Trân trọng kính mừng

73 năm một đời thi sĩ — Một đời đẹp như chính… thơ mình.

Thay mặt VTLV

Lê Văn Hải

 bjkbjkbjkbjkbjkbjkbjk.png

1/ HOA SAO -1959  (1000 cuốn loại Roneo) THƠ

Tặng bạn Hướng Đạo dự trại họp bạn Phục Hưng, thế giới  kỳ 8 , tại Trảng Bom Việt Nam.

2/ THƠ MỴ 1 – 1961 (200 cuốn loại Roneo)

Nhà xuất bản Đại Nam Văn Hiến, Nhà văn Thế Phong phát hành, bán hết ngay trong 2 tuần lễ mới phát hành.

Tựa: Nhà văn Thế Phong.

3/ GA XÉP – 1962- THƠ (in typo)

Do Nhà văn Vũ Ngọc Anh (Hồ Linh)

Trách nhiệm kiểm duyệt và phát hành

4/ CHỐN BỤI HỒNG  1 –  1994

– Nhà Xuất Bản Sông Thu Hoa  Kỳ  – 1000 cuốn

Tựa : Nhà Xuất bản Sông Thu (Hoa Kỳ)

Nhà văn Duy Lam. (Hoa Kỳ)

5/ THƠ MỴ 2 – 1997- THƠ

 Xuất Bản Ngày Nay Hoa Kỳ 1000 cuốn.

 Tựa : Nhà Xuất Bản Ngày Nay – Nhà văn Duy Lam.

 Bạt : Nhà thơ Thanh Trí Cao (Hoà Thượng Thích Quảng Thanh – Hoa Kỳ)

6 / ÁO MẦU XANH – 1999 – THƠ

Nhà Xuất Bản Cỏ Thơm – Hoa Kỳ – 500 cuốn .

Tựa: Nhà Xuất Bản Cỏ Thơm (Hoa Kỳ)

 – Thi sĩ Hà Bỉnh Trung  (Hoa Kỳ)

7/ ĐƯA NGƯỜI TÌNH ĐI TU – 2001 – THƠ

 Nhà Xuất Bản Tiếng Vang – Hoa Kỳ – 500 cuốn .

 Tựa : – Nhà Xuất Bản Tiếng Vang- Nhà văn Trần Văn.

 – Thi sĩ Hoàng Ngọc Liên  (Hoa Kỳ)

8/   LÃNG ĐÃNG VÀO THU – 2001- THƠ

 – Nhà Xuất bản   Kinh Doanh – Hoa Kỳ. 700 cuốn

  Tựa : Thi Sĩ Tùng Linh (Hoa Kỳ)

  Bạt : Nhà văn Hồ Linh. (Hoa Kỳ)

9/  SAU CUỘC CHIẾN – 2003 – THƠ

 Nhà Xuất Bản Cội Nguồn – Hoa Kỳ. 1000 cuốn .

 Tựa: Thi sĩ Diên Nghị  (Hoa Kỳ )

  – Thi sĩ Song Nhị  (Hoa Kỳ )

10/ QUÁN THƠ THÁNG NGÀY CÒN LẠI- 2009 – THƠ

Nhà Xuất Bản THƯ ẤN QUÁN –  Hoa Kỳ – 800 cuốn.

Tựa: Thi sĩ Hà Thượng Nhân (Hoa Kỳ)

Bạt: Thi sĩ Trần Hoài Thư (Hoa Kỳ)

11 / NHỊP TIM THƠ – 2016.

Nhà Xuất Bản Nhân Ảnh  Hoa Kỳ. Phát hành : Amazon.

Tựa : – Thi sĩ  Luân Hoán (Canada )

–  Thi sĩ Võ Thạnh Văn (Hoa Kỳ)

Bạt :  Tiến sĩ Bùi Lê Dzung (Australia )

12 / TÌNH MUỘN – Thơ – 2018.

Nhà Xuất Bản  Nhân Ảnh  Hoa Kỳ . Phát hành: Amazon.

 Tựa: Thi sĩ Luân Hoán (Canada)

13/ THƠ XƯỚNG HOẠ CAO MỴ NHÂN & TRỊNH CƠ Thơ – 2020.

Nhà Xuất Bản Nhân Ảnh – Hoa Kỳ. Phát hành: Amazon.

Tựa : Thi sĩ Lê Hân (Hoa Kỳ)

Nhà văn Nguyễn Thành (Việt Nam)

14/ CHIM BAY MỎI CÁNH – Văn Thơ Lạc Việt – Hoa Kỳ.

 hnklnnklnklnkl.jpg

Chút tiểu sử: CAO MỴ NHÂN

Sanh ở Chapa Hoàng Liên Sơn   Laokay.

Học Nữ Tiểu học  Lệ Hải  Hải Phòng  

Di cư  vô Nam năm 1954

Học Nữ Trung học Trưng Vương  Saigon

Học Nữ Cán Sự Xã Hội tại  Centre Caritas Saigon

Gia nhập Quân Đội VIỆT NAM CỘNG HOÀ.

Cấp bậc  và Chức vụ sau cùng:

Thiếu Tá Trưởng Phòng Xã Hội Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn I / Quân Khu I.

Qua Hoa Kỳ theo diện Tị nạn Chính trị (HO8)

Định cư  tại  Los Angeles từ cuối 1991 tới nay.

Tham gia Văn Bút VNHN:TrungTâm Văn Bút Tây Nam Hoa Kỳ

1994 – 1996, chức vụ: Tổng Thư Ký  Trung Tâm Văn Bút Nam Hoa Kỳ (Nam California)

1996 – 1998, chức vụ: Phó Chủ tịch Nội vụ

Trung Tâm Văn Bút Tây Bắc Hoa Kỳ (Bắc California)

2004- 2008, Hội viên Văn Bút Vùng Đông Bắc Hoa Kỳ

Từ 15-11-2020 tới nay: Hội viên chính thức của Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại. Cây Bút Chính “Lão Làng” Của VTLV!bbjbjlbjlbjlbjl.jpg

==

 🌱🌾🌱🌾🌱🌱

Gần như suốt một dòng đời cầm bút, chị đã đông góp biết bao Văn Chương Thi Bút cho thế hệ trẻ, chị đã phục vụ tổ quốc trong QĐVNCH, một cuộc đời đầy ý nghĩa và cao cả. Em chúc chị luôn luôn khỏe mạnh, an vui và tiếp tục sáng tác nhiều Văn Thơ, một niềm vui và hạnh phúc trong cuộc đời. 

Quý mến chị, 

HoàngThục Uyên – Ngày 20/3/2026 

==




3 CA KHÚC TẶNG MC VTLV THANH LOAN: “CÁNH ĐỒNG QUÊ HƯƠNG” Thái Phạm – “NÀNG LÀ AI?” Phương Hoa -“VẪN YÊU GIỌNG NÓI MIỀN NAM” Đỗ Vẫn Trọn.

==

==




KIỀU MỸ DUYÊN – ĐẠI NHẠC HỘI “HỘI BẠN NGƯỜI CÙI” NĂM 2026 RẤT THÀNH CÔNG




CA KHÚC BÀN TAY MẸ – THƠ TRẦN QUỐC BẢO – NHẠC TRẦN CHƯƠNG LƯƠNG – CA SĨ QUANG CHÂU.




VTLV: Lễ Mãn Khóa Lớp Cao Đẳng Phật Giáo Thực Dụng, (Khóa 2024–2026). MINH THÚY Thành Nội – BẢO TRÂM.

            Chủ Nhật, ngày 24 tháng 5 năm 2026 tôi dự buổi lễ ra trường của “Cao Đẳng Phật Giáo Thực Dụng” do thầy Như Ninh Nguyễn Hồng Dũng làm hiệu trưởng. Chúng tôi đã tham gia học trên zoom mỗi chiều thứ sáu từ 6 tới 8 giờ tối.

Thời gian như thoi đưa, nhắm mắt mở mắt đã thấy 4 năm trôi qua lẹ làng. Ngày trước thứ sáu đối với chúng tôi luôn là ngày đặc biệt. Trong công sở các bạn thường gọi tên “chiều xả trại”. Thật vậy suốt tuần cày bừa tối mặt, hễ cứ đến thứ sáu hình như mặt mày ai cũng tươi tỉnh. Ngày đó diện quần áo, mặt mày trang điểm lên một tý. Công việc làm nhanh hơn trong niềm yêu đời phấn khởi. Chiều thứ sáu trên đường về còn biết ngắm vạt hoa hai bên đồi lung linh dưới ánh nắng vàng chiếu toả. Nhận thức cảnh đẹp thiên nhiên giữa trời đất bao la hùng vĩ.

Về nhà ăn cơm chiều xong, sửa soạn lên chùa Phổ Từ tụng kinh và nghe thời pháp. Hạnh phúc lan man theo tình thầy nghĩa đạo với bạn hữu đồng tu. Có khi ở lại cùng ngồi ăn bát cháo hoặc tô bún thân tình cùng đạo hữu. Đêm khuya trên đường về tâm thấy thanh thản nhẹ nhàng khi hiểu bài kinh, lời giảng của thầy Từ Lực. Hớn hở chuẩn bị chào đón ngày cuối tuần nghỉ dưỡng, được ngủ dậy trễ không sợ bị áp lực bởi kim đồng hồ réo gọi. Rồi thì lẹ làng đi chợ mua thức ăn, sắp xếp nấu nướng chuẩn bị cho cả tuần, tổng vệ sinh nhà cửa ngày thứ bảy. Chủ nhật đến chùa nghe pháp và tụng thời kinh cầu an cũng như làm công quả.

Cuộc sống cứ nhẹ nhàng lướt trôi mấy chục năm, được đi hành hương các chùa, được gần những thiện hữu tri thức, những tấm gương sáng đẹp cho mình nương theo tu tập và mở mang kiến thức.

Ngày nghỉ hưu cũng là lúc vợ chồng đi theo định luật Sinh, Lão, Bệnh. Mắt mờ hơn, tay chân run rẩy và mệt nhiều hơn. Hai ông bà già lười biếng, đổi quan niệm ở nhà có thể đọc sách, hoặc tìm youtube các thầy giảng Phật pháp. Sau này lên chùa đôi khi cũng bị stress theo nhu cầu rộng lớn ở đó, trong khi tuổi già cần tránh những lo âu chuyện bên ngoài ảnh hưởng, vì nếm trải lo âu vất vả cho cuộc sống riêng tư gần hết đời người, giờ đây cần giữ cho tâm hồn thoải mái tìm sự vui tươi.

            Trường Cao Đẳng Phật Giáo Thực Dụng ra đời đúng lúc. Thật tiện lợi cho chúng tôi khỏi phải đến chùa khi trời mưa bão từng mùa đông tới. Ngày thứ sáu, mọi công việc nhà đều có sự thúc giục ngầm tất cả phải xong, chuẩn bị giờ học thầy Dũng vào buổi chiều. Đúng 5 giờ tôi mở zoom vào lớp học để sẵn chờ đến giờ. Ông xã tôi ngại ngùng không muốn ngồi trước màn hình, nhưng ngồi sau lớp tường ngăn chia gần sát, yên lặng lắng nghe. Bình thường ông dùng cơm chiều 6 giờ, nhưng đặc biệt thứ sáu dùng sau 8 giờ tối, mới dám mở tivi nghe tin tức.

Tôi hỏi ông “thích nghe thầy Dũng giảng phải không?”. Ông trả lời “thầy có nét mặt sáng sủa hiền lành đức độ, có lực truyền vào mình sự ấm áp an lành”. Từ lúc đầu vừa nhìn thầy Dũng, ông xã tôi có cảm tình liền.

Riêng tôi thì được biết thầy trước đó, lúc gia nhập làm hội viên của Cơ Sở Văn Thơ Lạc Việt. Thầy là tiến sĩ dạy nhiều trường đại học nơi vùng Bắc Cali, là Phó Ban Ngoại Vụ của VTLV, là MC khắp mọi nơi về văn chương, lịch sử và đạo Phật. Thầy ăn chay trường và vợ mở nhà hàng chay Di Lặc. Mẹ thầy là Sư Bà trụ trì ngôi chùa bên Việt Nam mà tôi có dịp phúng điếu bằng bài thơ Đường luật. Nhìn gia đình thầy sống hiền, làm lành, thì đó chính là bài học “Phật giáo thực dụng” sống động nhất cho chúng tôi tin tưởng.

Thầy dạy Phật Pháp không phải để cất trong sách vở, để nói cho hay, để tranh luận hơn thua. Phật pháp là để đem ra dùng ngay giữa đời sống này. Là sáng dậy biết mỉm cười với mình. Là chiều ý chồng nấu ăn theo nhiều sở thích, dù mệt mà lòng không bực. Là nghe một câu trái ý biết dừng lại để thở. Là ai chọc giận hay nói nặng nề máu không sân si.

Xin trích đoạn ngắn tôi viết bài trước :

“Theo học tại đây và hiểu chữ ‘thực dụng’ đúng nghĩa: Pháp không nằm trên kinh kệ để tụng cho hay, mà để đem ra dùng ngay trong bếp, ngoài chợ, giữa sở làm. Thực dụng là khi kẹt xe ở freeway 880 mà không nổi sân, nhớ đến hơi thở chánh niệm. Thực dụng là khi nghe tin không vui, biết quán vô thường để lòng bớt chao đảo. Thực dụng là khi đi phát quà cho người vô gia cư, thấy đó chính là cúng dường chư Phật trong hình hài khổ đau.”

Chỗ thực dụng đó, tôi tập được kha khá, chưa giỏi chưa thuần, nhưng đỡ hơn tôi của nhiều năm trước. Thầy dạy cao, dạy sâu. Kiến thức của thầy mênh mông. Ngồi nghe có khi hiểu, có khi chỉ hiểu phần nào vì những từ ngữ khó nhớ. Sở học còn cạn, trí não chưa thông, đường tu còn dài, nhưng có một chữ chúng tôi nhớ mãi, là chữ “thực dụng“.

Nhận bằng hôm nay mà lòng còn thẹn, thẹn vì tu chưa tới. Ví dụ: Khi trời nóng kiến vào nhà từng đàn, ruồi lọt bay vài con, chúng quanh quẩn bên thức ăn. Chúng tôi cố né tránh không muốn phạm tội, nhưng ông chồng lẫn tránh, mà mình thì đối mặt với bếp núc, dọn dẹp… Dù mỗi ngày đi dạo lần chuỗi 108 hột, lần mấy vòng tuỳ theo thời giờ niệm “Nam Mô A Di Đà Phật“ để được nương tựa tìm sự yên lành. Để nhắc sự học và cách tu của mình.

Sau đó niệm các vị Phật: cầu bình an bản thân, cầu tên tuổi ông bà nội, ông bà ngoại, tứ thân phụ mẫu, cô chú, anh chị em bà con quyến thuộc đã mất, luôn được siêu sanh tịnh độ. Những công đức từ thiện cố định hằng năm, xin hồi hướng người thân nhiều đời nhiều kiếp luôn được vãn sanh, người còn hiện tiền luôn được sức khoẻ gặp mọi điều tốt đẹp.

Câu tha thiết nhất trong hiện tại “xin các loài vật nhỏ bé như ruồi, muỗi, kiến, dán, đừng chui vào nhà con, cho con tránh tội sát sanh. Cầu nguyện những sinh linh ấy sớm được siêu sanh, kiếp sau tái sinh vào cảnh giới tốt hơn.” Ngoài trời các chậu hoa mua đắt tiền, nâng niu chăm sóc nhưng vi khuẩn luôn phá hoại ăn mòn, lá hư hao cũng phải nghĩ đến bình thuốc xịt bảo vệ hoa lá. Sau những lúc như vậy, cái buồn nó đến nhanh, ân hận và ray rứt. Tâm không được thoải mái nghĩ mình thiếu phước nên vẫn bị dính mắc nghiệp xấu.

Lãnh bằng tốt nghiệp, nhưng đường tu còn dài, xin nguyện đem sự hiểu biết nhỏ nhoi này mà tập sống: bớt nói, bớt giận, bớt buồn. Tập mỗi ngày một chút, được chừng nào hay chừng ấy. Đó là cách báo ơn thầy, báo ơn chữ “thực dụng” thầy đã trao.

Thứ Sáu đem đến cho tôi nhiều kỷ niệm từ khi qua Mỹ. Những giờ học Phật Pháp nhắc tôi sống chậm lại, khai sáng trí tuệ, tìm sự an lạc về mặt tinh thần. Sống biết ơn ngôi chùa Phổ Từ, quý thầy cô, quý đồng đạo, nhất là Hoà Thượng Thích Từ Lực đã cho chúng con sinh hoạt mấy chục năm, ngay từ bước đầu Chùa đang còn thuê nhà. Tuy sau này chỉ dự dịp lễ lớn và mỗi đầu năm, đại diện anh em trong gia đình chồng chúc Tết thầy, đóng tiền cả năm trong mục “Bảo trợ “Chùa . 

Sống biết ơn thầy Dũng, anh Phan Trung Kiên, anh Quảng Minh Nghĩa và cô Minh Châu trong ban quản giáo, phụ giúp thầy điều hành lớp học, hỗ trợ về các mặt khác. Cám ơn các thiện hữu tri thức thường thắc mắc những đề tài sâu rộng, nên thầy có cơ hội giải thích sáng nghĩa, cho cả lớp cùng học cùng tu.

Điều đặc biệt lớn lao hơn nữa là niềm cảm kính Ni Sư Nguyên Thiện và quý Sư Cô chùa Huyền Không. Nơi giúp phương tiện cho thầy Nguyễn Hồng Dũng giảng dạy, truyền bá hương từ bi của phật pháp vi diệu đến lớp học Online. Thực hành trong đời sống đẩy lùi sự khổ đau, đến gần niềm an lạc. Chúng con cúi đầu tri ân chùa Huyền Không gián tiếp gieo những hạt mầm tốt đẹp nơi cõi hồng trần này.

Xin được làm học trò mãi mãi. Học từ thầy, học từ bạn, học từ chính những vụng về của mình.

Minh Thúy Thành Nội 

May/ 24/2026

==

BẢO TRÂM

Buổi lễ mãn khóa lớp Cao Đẳng Phật Giáo Thực Dụng, (Khóa 2024–2026)

Trong những ngày cuối tháng Năm, cộng đồng Phật tử và thân hữu tại San Jose, California đã chứng kiến một buổi lễ tốt nghiệp rất đặc biệt của Lớp Cao Đẳng Phật Giáo Thực Dụng – một chương trình học còn rất mới, chỉ vừa hoàn thành hai khóa đầu tiên (2022–2024 và 2024–2026), nhưng đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng người tham dự.

Điều làm buổi lễ trở nên khác thường không chỉ là số lượng hơn 50 học viên, mà chính là độ tuổi và tinh thần học tập của họ. Người trẻ nhất mới 26 tuổi, người lớn nhất 77 tuổi, nhưng tất cả đều bước lên sân khấu với nụ cười rạng rỡ như những sinh viên lần đầu nhận bằng đại học.

Lớp học được khởi xướng bởi một vị giáo sư kỳ cựu – Ông có bằng Kỹ sư Điện tử của Đại học San Jose State và bằng Tiến sĩ Quản trị Kinh doanh của Đại học Southern California.  Ông từng là giảng viên tại Đại học California State (cơ sở Hayward), thành viên Hội đồng Sàng lọc Dự án Đa dạng (Project Diversity Screening Committee) của Thành phố San Jose và từng tham gia vào nhiều sinh hoạt của cộng đồng Việt Mỹ (trích từ https://vantholacviet.com/nha-van-ts-nguyen-hong-dzung/)

Với tâm nguyện đem Phật Pháp vào đời sống, ông đã sáng lập chương trình Phật Pháp Thực Dụng, các vi trợ giáo ở nhiều lứa tuổi khác nhau – đồng hành cùng ông trong suốt hai khóa học.

Tôi mang theo hai chiếc điện thoại thay cho máy ảnh, chạy khắp nơi để ghi lại từng khoảnh khắc. Trẻ cũng như già, tất cả đều rạng rỡ như trẻ thơ.

Khoảnh khắc làm tôi xúc động nhất là khi cặp vợ chồng trên 70 dìu nhau lên nhận bằng. Cả hội trường lặng đi khi biết ông vẫn cố gắng học, và đến để nhận bằng như bà vợ và như bao người khác.

Khi ông được vợ dìu lên sân khấu, hai người đứng cạnh nhau, tay run run nhưng ánh mắt sáng rỡ. Tôi nhìn cảnh ấy mà rơi nước mắt. Lúc đó, tôi nhận ra, chính vợ chồng ông ấy đã giúp tôi thấy lại giá trị của lòng kiên nhẫn, của tình người, của những điều nhỏ bé mà sâu sắc.

Một người bạn khác, hơn 70 tuổi, người từng thu thập văn thơ của chúng tôi để đưa lên website “Văn Thơ Lạc Việt”, cầm tấm bằng khoe với chồng bà ấy và với tôi. Chúng tôi nhìn nhau, cười vui mà nhòa lệ. Rồi tôi nói đùa: “Chúng ta thua mấy bà xa lắc.”

Buổi lễ trao bằng Cao Đẳng Phật Giáo Thực dụng, không chỉ là ngày nhận bằng. Đó là ngày người già trẻ lại.

Ngày tuổi già như chúng tôi thấy vẫn còn có ích, vẫn còn được thương, vẫn còn được nhớ.

Một ngày mà lòng người ấm như nắng đầu hè.

Trong buổi lễ trao bằng “Cao Đẳng Phật Giáo Thực Dụng,” giữa những tiếng vỗ tay, những tấm bằng, những lời chúc mừng, tôi chợt nhận ra một điều rất lạ:

Những người thầy lớn nhất của chúng tôi không phải là những người đứng trên bục giảng.

Họ là những người ngồi ngay bên cạnh chúng tôi — những học viên tóc bạc, lưng còng, bước chân chậm nhưng trái tim thì trẻ hơn cả lớp sinh viên mới ra trường.

Tôi học được từ người bạn 75 tuổi, rằng nghị lực không nằm ở sức mạnh, mà nằm ở ý muốn có mặt.

Có mặt để học.

Có mặt để vui.

Có mặt để sống trọn một ngày như thể đó là món quà.

Tôi học được từ người vợ dìu chồng lên sân khấu rằng tình thương không cần lời nói.    

Chỉ cần một bàn tay nắm lấy một bàn tay.

Chỉ cần một bước chậm đi cùng một bước chậm.

Chỉ cần một ánh mắt nói thay cho cả một đời.

Tôi học được từ người bạn hơn 70 tuổi, rằng sự gìn giữ cũng là một cách tu:

Giữ lại cái đẹp.

Giữ lại tiếng cười.

Giữ lại những dòng chữ nhỏ bé để mai này nhìn lại, ta biết mình đã từng sống một cách tử tế.

Tôi học được từ những người trẻ trong lớp rằng tuổi tác không quyết định sự hồn nhiên, có những nụ cười 20 tuổi, nhưng cũng có những nụ cười 70 tuổi mà vẫn trong như nắng mới.

Và tôi học được từ tất cả chúng tôi rằng tu giữa đời thường không phải là chuyện xa xôi.

Nó nằm trong cách ta ngồi lại với nhau, cách ta lắng nghe nhau, cách ta nâng đỡ nhau trong những khoảnh khắc tưởng như rất bình thường.

Buổi lễ ngày hôm ấy không chỉ là ngày nhận bằng. Đó là ngày tôi nhận ra rằng:

Mỗi người trong lớp đều là một vị thầy.

Một vị thầy của đời sống.

Một vị thầy của lòng kiên nhẫn.

Một vị thầy của tình người.

Và tôi — người tưởng như chỉ đến để chụp hình, để giúp đỡ — hóa ra lại là người được học nhiều nhất.

Học để biết trân trọng.

Học để biết biết ơn.

Học để biết rằng tuổi trẻ không nằm ở số năm, mà nằm ở cách ta mở lòng với cuộc đời.

Tôi kính phục tất cả những người đã không để tuổi tác ngăn cản việc học, việc sống, việc thương nhau.

Hôm Chủ Nhật 24 tháng 5 năm 2026, tôi đã gặp rất nhiều vị thầy, Không ai đứng trên bục giảng, nhưng ai cũng dạy tôi một bài học mà tôi sẽ mang theo rất lâu.

LỜI TỎ LÒNG KÍNH PHỤC VÀ TRI ÂN

Kính thưa quý Thầy, quý Sư Cô, Quý ban giảng dạy, quý quan khách, và toàn thể  học viên thân mến,

Hôm nay, tôi xin được nói đôi lời từ đáy lòng

Tôi xin kính cẩn biết ơn quý Thầy, quý Sư Cô, quý vị trong ban giãng dạy

Tôi xin cúi đầu kính phục tất cả quý vị, những người đã vượt qua tuổi tác, sức khỏe, hoàn cảnh, để tiếp tục học hỏi, tiếp tục tu tập, tiếp tục làm mới chính mình.

Tôi kính phục người bạn 73 tuổi yếu đuối nhưng vẫn cố gắng từng bước để có mặt hôm nay. Tôi kính phục người vợ đã dìu chồng lên sân khấu, như dìu một phần đời của mình. Hình ảnh ấy là bài học lớn nhất của buổi lễ.

Tôi kính phục người bạn hơn 70 tuổi vẫn miệt mài thu thập văn thơ của chúng tôi để gìn giữ cho mai sau. Tấm bằng trên tay bà là niềm vui chung của cả nhóm.

Tôi kính phục những người trẻ trong lớp — tuổi 20, 30 — đã học cùng với những người lớn tuổi, đã truyền cho chúng tôi năng lượng và sự hồn nhiên.

Và tôi kính phục tất cả, những người đã không để tuổi tác ngăn cản việc học, việc sống, việc thương nhau.

Buổi lễ ngày 24 tháng 5 không chỉ là buổi lễ bình thường như lễ tốt nghiệp để bước vào dời

Đó là lễ tốt nghiệp của Tình Người, của Nghị Lực, của Niềm Vui Sống, của những vị tu giữa đời thường.

Đó là phong cách tu của Cao Đẳng Phật Giáo Thực Dụng.

Xin tri ân tất cả quý vị đã cho tôi một ngày đẹp như vậy.

                              Bảo Trâm/Bảo Trâm Minnesota




CGV NGUYỄN PHƯƠNG THÚY – Hà Xài

Hà Xài

Tác giả Giao Chỉ khi viết bài “Genève 54 Chia Cắt” có nhắc đến những thanh thiếu niên di cư vào Nam như nữ minh tinh Kiều Chinh lúc 15 tuổi, nữ ca sĩ Khánh Ly lúc 9 tuổi, và một số trẻ em di cư nổi tiếng khác. Thế mà ông không nhắc đến những đứa bé sơ sinh được cha mẹ bồng bế lên tàu há mồm hay máy bay vào Nam. Sao lại có sự sơ sót này hay là sự hiện diện của đám con nít miệng còn hôi sữa không nhiều, không đáng kể!

Tôi là một trong số trẻ sơ sinh ấy, đã lên máy bay vào Nam khi còn quấn tã. Lúc hiệp định Genève được ký kết giữa Anh, Pháp, Tàu, và CSVN vào ngày 20 tháng 7 năm 1954, chia đôi đất nước qua vĩ tuyến 17 thì Mẹ tôi đang mang cái bụng chửa to vượt mặt. Vài ngày sau tôi ra đời tại nhà hộ sinh nằm trên đường Quan Thánh, Hà Nội. 

Tôi, lớp gái Hà Nội cuối cùng, với “khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang”, có được xếp cùng hạng với những thiếu nữ Hà thành, những cô Bắc kỳ nho nhỏ đã một thời đi vào văn chương, thơ phú?

Tôi thắc mắc không biết mình có phải là con gái Hà Nội. Cái gốc Hà Nội nghìn năm văn vật có quyện vào người, có theo người vào Nam. Tôi đã có được bao nhiêu phần trăm cái cốt cách của các cô gái Hà Nội thanh lịch, kiêu sa, đài các ngày xưa. Tôi nghe những bài hát, văn thơ viết về Hà Nội đẹp đẽ với những di tích lịch sử, văn hóa, và con người Hà Nội mà thèm mà yêu. Những lời kể lể sao mà hay, mà văn hoa đến thế. Mẫu con gái Bắc kỳ kiểu cách, cong cớn, đanh đá, chua ngoa, sao mà dễ thương đến thế tuy thương không dễ. Các chàng biết yêu con gái Bắc là tự chuốc khổ vào thân nhưng lại cứ lao đầu vào vì đã lỡ bị cái thanh lịch, kiêu sa, đài các mê hoặc, đâm ra nghiền cái thú đau thương. Ôi, tôi thèm muốn được làm gái Bắc, gái Hà Nội quá trời. Cứ chong mắt nai và dỏng tai nghe người ta kể lể tâm tình thương yêu Hà Nội, vất vả vì gái Hà Nội mà không dám vỗ ngực xưng mình cũng là dân Hà Nội.

Tôi vẫn thương hoài Hà Nội ơi,

Kiêu sa, thanh lịch, đẹp bao thời,

Ra đi từ thuở còn đeo tã,

Có biết mình mang dấu đất trời?

Trong khi miền Nam bao dung, dễ chịu, cởi mở thì tôi được nuôi dưỡng theo gia phong của miền Bắc. Người Bắc có một lối sống phong kiến, tôn ti trật tự, xem trọng việc giáo dục, học ăn lịch sự, học nói lễ phép, học cách xưng hô, học cách ăn trông nồi ngồi trông hướng, học may vá, bếp núc, công dung, ngôn, hạnh… Ôi thôi, biết bao nhiêu cái phải học.

Chữ nghĩa, cách ăn nói là cả một vấn đề khó xử trong sự giao tiếp hàng ngày. Những chữ đặc địa phương Bắc Kỳ đã dần dà thay hình đổi dạng để thích ứng với sự hội nhập vào môi trường sinh sống mới, người mới, cách diễn tả mới, nhất là khi tôi bắt đầu cắp sách đến trường. Tự dưng nẩy ra một số chữ ghép để giải tỏa sự cách biệt về ngôn ngữ, phát triển cái ngọn Nam kỳ mà vẫn không quên cái gốc Bắc kỳ như: chén bát, ly cốc, la hét, kỳ cọ, té ngã, ốm đau, màn mùng, ngắt véo, bơi lội, mắng chửi, chai lọ, gầy ốm, ốm đau, thìa muỗng,sợ hãi, vồ chụp, che chắn, béo mập, bồng bế, …

Cách viết văn hoa, rườm rà, kiểu cọ, khách sáo cũng dần dà phôi pha, nhường chỗ cho lời nói giản dị, chân chất, thẳng thắn.

Lần đầu nghe hàng xóm chửi nhau ào ào, rất tục, tôi khó chịu, hỏi Mẹ: “Người Bắc chửi ra sao”. Mẹ tôi bảo: “Người Bắc chửi có bài bản, văn hoa, vần điệu, nhiếc móc, xỏ xiên, nói bóng gió, dông dài, lôi cả tam đại ba đời, chửi thâm độc từ ngày này sang ngày khác; nghe được nhưng không nên nghe con ạ.”

Khi tôi thi vào trung học, Bố tôi chọn trường Gia Long thay vì trường Trưng Vương vì trường Gia Long gần nhà và nổi tiếng về kỷ luật nghiêm minh, có quý bà Giám thị chuyên đi bắt những học sinh không mặc áo lót, vẽ lông mày, sơn móng tay, dồi phấn thoa son.   

Người bạn thân nhất của tôi trong suốt 7 năm lại là người miền Nam, quê ở Vĩnh Long.  Trong khi nó mảnh mai, khoan thai, dịu dàng như nàng Kiều của Nguyễn Du thì tôi to lớn, dềnh dàng, trực tính, nóng nẩy, hay gắt. Mẹ tôi bảo nó mới đúng là mẫu con gái Hà Nội thanh lịch, nết na. Trời ạ, cái bản chất của con gái Hà Nội là thế ư; tôi thật không chịu được cái chậm chạp, yểu điệu thục nữ của nó. Tôi gắt, tôi cằn nhằn, tôi nhăn nhó với nó hoài làm nó đau khổ không ít; thường than vãn với Mẹ tôi là tôi bắt nạt nó mỗi ngày.

Qua nhà nó chơi, tôi được ăn các món miền Nam. Từ đó tôi mê mắm nêm cũng như mê mắm tôm vậy; khi ăn phở, bún riêu, bún thang, bánh cuốn đều phải có giá sống mới thấy ngon.  Thịt kho nước dừa ăn với dưa giá hơi chua chua, có điểm những cọng hành xanh ngắt thì khỏi chê. Các món xôi chè có nước dừa đều hấp dẫn vô cùng. Còn nó, có mê các món ăn miền Bắc hay không thì tôi không biết vì Mẹ tôi cho nó ăn cái gì nó cũng khen ngon. Nhưng có một điều tôi biết chắc là nó mê ông anh tôi qua những cái liếc mắt long lanh.

Nó nhái giọng Bắc, gọi tôi là gái Hà Xài, dở dở ương ương. Có lẽ cái chất thanh lịch, kiêu sa, đài các của con gái Hà Nội trong tôi, nếu có, đã nhạt nhòa theo thời gian, đã hòa trộn với hương đồng gió nội miền Nam, với Sài Gòn bao dung, cởi mở; để tạo thành những cô gái Hà (Nội) Xài (Sài Gòn) thanh lịch, hiền lành, khôn khéo, chẳng đãi bôi, kênh kiệu, nhưng vẫn còn chút đanh đá, lém lỉnh và ngây thơ vô số tội. Theo tôi cái lớp người dở dở, ương ương Hà Xài ấy đã dung hợp được những ưu điểm của cả hai miền Nam Bắc.

Sau tháng Tư Đen, tôi tị nạn bên Mỹ, còn nó biệt vô âm tín. Tôi nhớ Sài Gòn nhiều hơn nhớ Hà Nội. Nhớ Hà Nội là nỗi nhớ mơ hồ, còn nhớ Sài Gòn là nỗi nhớ ray rứt, xót xa, tiếc nuối những năm tuyệt đẹp của thời thiếu nữ với bao kỷ niệm rõ nét, trong đó có nó.

Nguyễn P. Thúy

12/15/2011




KIỀU MỸ DUYÊN – Phỏng Vấn Charlie Nguyễn MẠNH CHÍ. 




THỦY NHƯ – Tùy Bút ÔNG BẢY LẤM.

++

ÔNG BẢY LẤM -Thủy Như

Hôm đó, sân nhà cậu tôi đầy nắng. Cái nắng Quảng nam không phải là “một chiều nắng hiền hoà” như Cung Tiến tả, mà là nắng trắng lóa mắt, khô rang, rớt xuống sân gạch nghe như có tiếng giòn tan. Từ ngoài ngõ bước vô đã nghe mùi khói củi cay cay, mùi nén khử quyện với mùi mỳ tươi mới xắt thơm lừng. Rồi mùi nước mắm gừng, mùi thịt gà luộc, mùi xôi cẩm, xôi vang, mùi lá chuối gói bánh ú. Tất cả quyện vào nhau thành thứ hương vị rất riêng của ngày giỗ ở nhà cậu tôi.

Hôm ấy nhà cậu đông người lắm. Người lớn ngồi ở gian giữa, đàn ông uống trà nói chuyện mùa màng, đàn bà lui cui dưới bếp, còn đám con nít tụi tôi được dọn cho một bàn riêng bên hiên. Cái bàn thấp, phủ tấm ni-lông cũ in hình hoa đỏ đã phai màu. Mỗi đứa một cái chén, một đôi đũa, ngồi chen vai nhau và đứa nào cũng hí hửng. Bữa giỗ là dịp hiếm hoi để được ăn ngon.

Sau năm 75, cái gì cũng thiếu, bữa cơm nhà nào cũng đầy khoai lang khô cõng một vài hột cơm. Cơm trắng là thứ xa xỉ. Thịt cá thì chỉ có trong những bữa giỗ chạp như ngày hôm đó.  Nhưng mẹ tôi và các dì rất khéo.  Chỉ có một ít thịt mỡ heo và một con gà cộng với rau củ quả trong vườn, mẹ, mợ và các dì làm được những bữa giỗ thật thịnh soạn cho mấy chục người ăn.

Xin kể thêm về vài món đặc biệt trong bữa cỗ nhà ngoại.  Trước hết là món chuối chần, một món mà đến bây giờ tôi vẫn thấy nước miếng tứa ra đầy miệng mỗi khi nhớ lại. Đó là những trái chuối hột non được cứa thành những lát thật mỏng nhưng vẫn còn dính nhau bên hông.  Sau đó luộc lên, ép bỏ nước và nắn lại thành hình con tôm.  Rồi bỏ những con tôm chuối ấy rim với tép mỡ.  Ăn vào thì béo béo, bùi bùi, ngọt ngọt, mặn mặn, cay cay. Cứ như là một món hải sản hạng sang vậy. 

Chuối chần

Một món nữa đã làm tôi ngạc nhiên vì tên gọi. Đó là những tô nước rang. Làm sao mà rang được nước chứ? Ấy vậy mà các dì tôi nấu được.  Tôi không biết nấu như thế nào nhưng chỉ nhớ lần  đầu tiên ăn món nước rang ấy. Tô nước rang có vài lát thịt heo nhỏ hình vuông kho màu nước mắm nổi chung với những gốc hành hương nửa xanh nửa trắng. Bỏ vào tô nước rang nóng hổi   một nhúm cải cay xắt ghém với chuối chát kèm theo rau húng. Húp một cái và nhai với rau ghém cải xanh và chuối chát non. Mùi thơm chạm vào mọi khứu giác của tôi. Chao ơi! Sao mà nó ngon thiệt là ngon. Tôi chưa bao giờ nghe người miền nào có món ăn lạ lùng như món nước rang quê tôi. Chẳng biết vì ngày xưa đói nên ăn món gì cũng thấy ngon nhưng đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ hương vị của những món ăn dân dã ấy.

Nước rang

Tôi và mấy anh chị em họ chuẩn bị ngồi vào bàn tiệc dành cho đám con nít thì dì tôi nhìn ra cửa và nói lớn:

“Ông Bảy tới kìa.  Dọn cho ổng một mâm đi.” 

Đám con cậu dì tôi đẩy ghế chạy vụt ra sân.  Tôi cũng đứng lên theo đuôi tụi nó.  Tôi đứng trên hiên nhà nhìn ra ngõ.  Một bóng người mò mẫm bước lên cái sân gạch nhà cậu tôi.  Đó là một ông già ốm, vì ốm nên trông có vẻ cao.  Tóc ông húi cua, một tay mang bị và một tay cầm cây gậy khua khua về phía trước.  Cặp mắt ông nhướng lên giống như để thấy cho rõ hơn nhưng đôi mắt chẳng mở lớn thêm được một chút nào.  

Mấy đứa con nhỏ của cậu dì tôi vơ lấy que củi khõ khõ xuống sân gạch. 

“Đi qua phía ni nề ông Bảy!”

“Không, không, hướng ni.  Chỗ nớ có bụi cây…” 

“Phía bên ni nề, bên nớ có đống củi …” 

Đám con nít í ới chỉ dẫn, khõ những cây củi xuống mặt gạch làm náo loạn cả một góc sân.  Ông già đứng lại, cây gậy quơ quơ trong khoảng không, cái mặt hơi ngước lên, nghiêng nghiêng như lắng nghe phương hướng. Ông trông bình tĩnh chứ không tức giận hay lúng túng. Ông mím môi, lần từng bước chậm rãi. 

Dì Ba từ trong bếp bước ra, rẽ đám con nít ra và la lớn.

“Nố ni hư quá!  Tụi bây vô nhà ngồi xuống bàn đi.”   

Rồi dì nhẹ nhàng với tay ra cầm cây gậy của ông già và nói:

“Ông Bảy đi theo tui nghe.”  

Đám con nít vừa bước lui vô nhà vừa ngoái lại xem ông già quờ quạng theo dì tôi tiến vào hiên nhà.  Dì dắt ông lên thềm, kê cho ông cái đòn ngồi ở góc hiên, nơi có bóng mát của cây mít đổ xuống. Dì nói:

 “Ông Bảy ngồi đây nghe.  Để tui đi lấy đồ ăn cho ông Bảy.” 

Tôi đứng nép bên cột nhà nhìn ông cách tò mò. Từ trước tới giờ, tôi chưa từng thấy người mù ở gần như vậy. Tôi cứ nghĩ người mù thì không thể đi đâu xa, mà chỉ quanh quẩn trong nhà. Vậy mà ông già mù này lại tự chống gậy đến tận nhà cậu tôi, đúng vào ngày giỗ. 

Tôi hỏi mấy đứa em họ.  

“Ông Bảy là ai rứa?” 

“Ông già mù đi xin ăn.  Ổng không thấy đường mà đi đâu cũng tới hết.”   

Một đứa khác chen vô:

“Ngày mô có đám giỗ là có ổng. Nhà mô trong xã ổng cũng biết.”

Tôi nghe vậy càng thấy lạ. Một người không thấy đường thì làm sao mà biết nhà nào có giỗ? Làm sao mà nhớ được từng lối đi, từng cái cổng, từng bụi tre, từng mô đất? Nhất là cái truông đá nhấp nhô dẫn vô nhà cậu tôi. Tôi đây sáng mắt mà nhiều khi đi còn vấp.  Rồi con đường làng chật hẹp ngày ấy sát bên mép ruộng sâu mà tôi sém trượt chân té xuống mấy lần. Rồi tôi nghe các dì và mợ nói chuyện trong bếp,. 

“Đời ông Bảy rứa mà sướng nghe.  Ngày mô cũng có đồ ăn ngon.”  

Có người cười: 

“Ờ. Mình còn ăn khoai độn cơm, chớ ổng ăn cỗ có cơm trắng quanh năm.” 

Câu nói ấy theo gió bay ra hiên. Tôi nhìn ông Bảy. Ông ngồi rất ngay ngắn và chờ đợi.  Cái bị đặt bên chân, hai bàn tay gầy guộc để trên đầu gối.  Áo ông đã cũ, bạc màu, vá chằng chịt.  Cái quần nâu rộng thùng thình, nhăn nhúm cuộn rút lên gần đến gối.  Bụi đường đen đúa bám trên đôi chân mốc thếch của ông.

Dì Ba bưng ra một mâm cơm mỗi thứ một ít với đầy đủ các món ăn như đã bày trên cái bàn cho đám con nít tụi tôi.  Dì nói với ông già: 

“Đây. Ông Bảy ăn đi.  Còn hai cái bánh ú ni với cục xôi tui bỏ vô giỏ đem về ăn tối nghe.” 

“Cảm ơn cô.” 

Ông già thều thào đáp lại. Giọng ông khàn khàn, như tiếng gió luồn qua rặng tre khô.  Ông nói tiếp: 

“Cô cho tui xin ly nước.” 

Dì Ba hỏi:  

“Ông uống nước lá mùng 5 không?” 

Tôi thấy hình như ông cười. Nụ cười rất nhẹ, chỉ động ở khoé miệng.  

“Nước chi cũng được cô ơi.”  

Nước lá mùng 5 là thứ nước đặc biệt của quê ngoại tôi.  Mỗi năm vào giữa trưa ngày mùng 5 tháng 5 âm lịch tức là Tết Đoan Ngọ, người dân quê tôi ra nổng hay lên rừng chặt những bụi cây có lá, chặt khúc dài bằng nửa lóng tay. Sau đó đem phơi khô rồi để dành nấu với nước uống thế trà. Người dân quê ngoại tôi nói rằng hái lá cây gì vào ngày Tết Đoan ngọ khi phơi khô xong cũng đều thơm giống như nước chè xanh.  Tôi chưa từng thử nước lá của những ngày khác nhưng đã nếm thử nước lá mùng năm.  Quả là thơm thật.  Chẳng biết vì lá mùng 5 thơm hay tại vùng đất quê ngoại tôi làm cho nước lá thơm như vậy.

Dì Ba đem ra cho ông Bảy một ly nước có khói nóng bay lên.  

“Nước đây bớ ông Bảy.  Coi chừng nóng đó nghe!” 

Ông đưa hai tay ra đỡ lấy ly nước và chậm chậm đưa lên miệng uống từng ngụm nhỏ. Xong vài hớp, ông đặt cái ly xuống cẩn thận, như sợ làm đổ mất lòng tốt của người ta. Từ trong bàn ăn của đám con nít, tôi nghiêng đầu nhìn qua vai của chị họ ráng xem thử ông già ăn uống như thế nào. Tay ông lần mò trên cái mâm, tìm đến tô mỳ bưng lên chậm rãi ăn.  Trông ông không có vẻ của một người ăn xin bị đói bụng mấy ngày.  Dầu đôi tay lọng cọng lùa những sợi mì vào miệng làm những cọng rau vươn vãi trên mặt trên cằm, nhưng ông có vẻ như đang thưởng thức một bữa ăn ngon, biết ơn từng miếng nhỏ. 

Tôi còn nhỏ, chưa hiểu hết cái nghèo.  Tôi chỉ biết mỗi ngày mẹ thường nhường phần ngon cho con, còn mình thì ăn miếng cháy, miếng khoai.  Tôi chỉ biết mỗi lần có thịt cá là tụi tôi mừng như Tết.  Vậy nên nhìn ông Bảy ăn, tôi vừa tò mò, vừa có chút ganh tị ngây thơ. Tôi nghĩ, “Đúng là ông Bảy sướng thiệt.  Ngày nào cũng được ăn các bữa cỗ với các món ăn thật ngon.” 

Chiều hôm đó khi ngồi phụ mẹ gọt khoai sau hè nhà cậu, tôi hỏi mẹ: 

“Mẹ, cậu mời ông Bảy hả mẹ?”  

Mẹ lắc đầu: 

“Không ai mời biểu chi hết nhưng đám giỗ ở đâu ông Bảy cũng tới xin ăn.  Nên nhà mô thấy ổng vô là cũng làm cho ổng một mâm.”  

Tôi hỏi tiếp: 

“Răng mà ổng biết nhà mình có giỗ mà tới?”  

Mẹ trả lời: 

“Ổng nhớ hết ngày giỗ của những người trong làng.  Mà nếu ổng quên thì có người nhắc. Hoặc là khi ổng đi đường, ổng nghe người ta nói thì tìm tới. Trời cho. Người mù thì tai thính và nhớ dai lắm đó con ơi.”  

Rồi mẹ kể thêm là ông Bảy Lấm không vợ, không con, bị làng mắt từ lúc sinh ra.  Khi cha mẹ ông qua đời, ông ở trong căn nhà đó và hàng ngày đi vòng quanh xã tìm đến những nhà có giỗ để xin ăn.  Thì ra dì tôi nói cũng đúng.  Ông Bảy không phải ăn cơm độn khoai như bao nhà thời đó.  Với mấy trăm nóc nhà trong xã, dường như ông được ăn cỗ mỗi ngày.   

Từ đó, trong trí nhớ con nít của tôi, ông Bảy Lấm trở thành một nhân vật vừa tội nghiệp vừa lạ kỳ.  Mỗi lần về quê ngoại ăn giỗ, nghe ngoài ngõ có tiếng gậy khua lộc cộc là tôi lại ra nhìn. Ông không chỉ đến nhà người ta để xin ăn cỗ, nhưng có khi ông ghé vô xin miếng nước.  Nhằm khi trời mưa, áo ông ướt sũng, tóc dính bết vào trán, vậy mà ông vẫn cười khi nghe người ta hỏi: 

“Ông Bảy lạnh không?”

“Lạnh chút rồi khô cô ơi.”

Ông nói câu gì cũng nhẹ như không. Như thể mọi sự trên đời, đói no, mưa nắng, có người thương hay không, đều là chuyện phải đi qua trong một ngày.  

Lớn lên một chút, tôi mới hiểu câu “đời ông Bảy sướng” của người lớn.  Không hẳn là lời khen, cũng không hẳn là mỉa mai. Đó là cách người quê tôi nói cho qua cái nghèo, cái khổ.  Thấy ai bất hạnh quá thì không nỡ nói tội.  Thấy ai nghèo mà còn có miếng ăn thì gọi là sướng. Cái chữ “sướng” ấy nghe nhẹ tênh mà phía sau là cả một đời tối mù, cô độc. 

Học xong lớp 12, tôi rời Tam kỳ, rời cả con đường quê có hàng tre cong duyên dáng, rời mùi nước lá mùng 5, rời những bữa giỗ có tiếng dao thớt trong bếp và tiếng trẻ con cười ngoài sân. Dẫu vậy món chuối chần, nước rang và hình ảnh ông Bảy Lấm vẫn không rời tôi.  Một lần về thăm mẹ và tôi lại hỏi chuyện những người trong làng quê ngoại và dĩ nhiên là có ông Bảy Lấm.  

Mẹ kể ông Bảy Lấm qua đời lặng lẽ trong căn nhà cuối xóm. Người trong làng gom góp làm ma chay và chôn cất ông trong một miếng đất của làng cùng với bao nhiêu nấm mộ khác. Ông không có con cháu đưa tang nhưng nhiều người trong làng đã chung tay đưa ông đến phần mộ. 

Nghe mẹ kể đến đó, tôi nghĩ, “Đời ông Bảy vậy mà cũng trọn.  Lúc sống, ông đi qua hầu hết các nhà trong xã Tam thành và ăn bao nhiêu mâm giỗ. Lúc chết thì làng nước lo cho một đoạn cuối cùng.”  Nhưng câu chuyện về ông Bảy chưa dừng ở đó. 

Mẹ kể tiếp. Một ngày nọ, người trong làng thấy có người dẫn thợ hồ ra nghĩa địa của làng.  Họ chở gạch, xi măng, cát, đá và bắt đầu xây một ngôi mộ tử tế.  Kẻ đi qua, người đi lại, liếc nhìn thắc mắc. Ở làng quê, chuyện xây mộ không phải là lạ, nhưng lạ là ngôi mộ họ xây lại nhằm đúng chỗ mộ ông Bảy Lấm. Có người đứng xa nhìn, xì xầm:

“Ai tốt rứa hè?”

“Chắc bà con chi của ông Bảy ở xa về?”

“Làm chi có.  Bà con ổng mình biết hết mà.” 

Khi ngôi mộ đã xây gần xong, một người trong xóm không nén được tò mò đã đến gần hỏi.

“Cậu xây mộ cho ai đó?” 

 Người đàn ông lau mồ hôi: 

“Dạ con đi làm ăn xa.  Chừ cũng hơi kha khá nên về xây mộ cho ba con.”  

“Cậu là con ông Bảy Lấm hả?”  

“Dạ không phải.”  

“Rứa răng cậu xây mộ cho ông Bảy Lấm?” 

Người đàn ông đứng chết lặng.  Thì ra lâu ngày xa quê, mộ đất giống nhau, người đó đã nhầm mộ ba mình thành mộ ông Bảy Lấm.  Toán thợ xây ngừng tay chờ đợi. Người đàn ông đứng nhìn một hồi lâu rồi thở ra: 

“Thôi, lỡ rồi.  Cứ xây cho xong.  Cũng là người làng mình.” 

Vậy là ông Bảy Lấm, cả đời không vợ không con, không nhà cao cửa rộng, khi chết lại có một ngôi mộ xây tử tế vì một sự nhầm lẫn đầy nhân nghĩa. 

Đây là một câu chuyện có thật ở quê ngoại tôi xã Tam thành, Tam kỳ, Quảng nam, Việt nam. Câu chuyện đời ông Bảy Lấm làm tôi nhớ tới câu Kinh Thánh, “Vậy, chớ lo lắng chi về ngày mai; vì ngày mai sẽ lo về việc ngày mai. Sự khó nhọc ngày nào đủ cho ngày ấy.” Ma-Thi-Ơ 6:34  

Có lẽ ông là người đã sống đúng như vậy.  Ngày nào khó nhọc đủ cho ngày ấy. Ngày nào có đường của ngày ấy.  Ông không lo xa được vì đôi mắt không nhìn thấy phía trước.  Nhưng có lẽ chính vì không nhìn thấy phía trước, ông học cách lắng nghe từng bước chân hiện tại.  Cây gậy chạm đất ở đâu, ông biết mình đang ở đó.  Tiếng người gọi từ đâu, ông quay về hướng đó.  Mùi khói bếp bay từ nhà nào, ông lần theo nhà ấy.  Và giờ đây tên ông đã được nhắc lại trong bài viết này.  Có thể câu chuyện đời ông đã đi xa khỏi xã Tam thành, khỏi Tam kỳ, khỏi Quảng nam, khỏi Việt nam.  

Và biết đâu một ngày nào đó sẽ có người tìm đến mộ ông.  Họ có thể không biết mặt ông.  Họ có thể chưa từng nghe tiếng gậy của ông.  Nhưng họ biết rằng dưới nấm mộ kia là một người đã sống một đời lặng lẽ, nghèo khó, mù loà, mà vẫn được làng quê cưu mang bằng những mâm cơm giỗ và một ngôi mộ xây nhầm. Biết đâu! 

Ở đời, có những điều dường như là tình cờ, nhưng nhìn kỹ lại thấy như có một sự sắp đặt dịu dàng của Thượng đế.  Một người đi xa về xây mộ cho cha, lại xây nhầm cho một ông già không con.  Một ông lão cả đời lần mò trong bóng tối, cuối cùng lại được bước vào ký ức sáng rõ của bao người. Một đứa trẻ năm nào tò mò nhìn ông Bảy Lấm ăn mỳ dưới mái hiên, nhiều năm sau ngồi trên bàn viết bên kia Thái bình dương kể lại câu chuyện của ông.  Biết đâu chính những điều ấy là cách cuộc đời xoa dịu những phận người nhỏ bé. 

Chiều hôm đó, trong ký ức của tôi, ông Bảy đang đi ra khỏi sân nhà cậu tôi.  Cái bị cũ đeo bên vai.  Cây gậy khua lộc cộc. Nắng chói chang đổ trên lưng ông.  Đám con nít đứng im trên hiên nhìn theo ông chậm rãi khuất sau ngõ đá nhà cậu. 

Cộc … cộc… cộc…

Tiếng gậy của ông như tiếng thời gian gõ xuống một miền quê nghèo mà ấm.  Như tiếng một đời người đi qua bóng tối nhưng không đi một mình.  Đời tôi cũng vậy.  Tôi cũng đã nhiều lần tưởng đi một mình qua bóng đêm dày đặc ngỡ như không lối ra.  Nhưng giờ nhìn lại mới thấy rằng luôn có Chúa cạnh bên trong những ngày đen thẳm đó.

Viết thêm 5/2026

Thuỷ Như




KIM LOAN – MỸ “CHẢNH” VÀ WORLD CUP

Mỹ “chảnh” & World Cup

Kim Loan

Nhớ hồi đi vượt biên, tàu đến Thailand, được vào trại nhỏ, chưa biết gì về cuộc thanh lọc, trong lúc trà dư tửu hậu (nói cho oai, chớ mới vào bờ, trà tửu đâu mà dư), chúng tôi hay hỏi nhau sau này thích đi định cư nước nào. Ngoại trừ những người có thân nhân ruột thịt ở các nước khác, hoặc vài trường hợp có lý do đặc biệt, còn lại hầu hết ai cũng nói như đinh đóng cột: “Tui muốn đi Mỹ!”

Hỏi sao Mỹ hổng “chảnh”?

Có thằng nhóc tì 9-10 tuổi được ba má cho đi theo người hàng xóm vượt biên qua trại, cũng chắc như bắp:

–  Em cũng đi Mỹ!

Tôi liếc nó:

– Nhìn cưng là biết sinh sau đẻ muộn, sau ngày mất nước, có ân nghĩa gì với Mỹ, có liên can gì với Mỹ, mà cũng bày đặt tài lanh đòi đi Mỹ?

– Nhưng em vẫn muốn đi Mỹ cơ!

– Tại sao?

– Lúc má tiễn em xuống ghe, má dặn kỹ lắm, dặn đi dặn lại cả chục lần, bằng mọi giá phải cương quyết đi Mỹ nghen con, đừng đi nước nào khác.

– Má mày ngon dữ đa! Quăng con đi vượt biên rồi ngồi nhà ra lệnh cho nó phải đi Mỹ. Khôn như má mày quê chị đầy!

Thằng nhóc vênh mặt, tự hào:

– Dạ, má em còn biểu, đã tốn công vượt hiểm nguy trên biển, khi tới trại phải đi Mỹ cho đáng “đồng tiền bát gạo”.

Hỏi sao Mỹ hổng “chảnh”?

Sau này, tôi đậu thanh lọc, lên trại transit làm việc, tôi không làm post office nữa mà qua làm cho văn phòng Cao Ủy Định Cư Panatnikhom (PNK). Các phái đoàn Canada, Úc, Pháp, các nước Bắc Âu … vài ba tháng mới thay phiên nhau vào trại một lần. Họ mượn văn phòng Cao Ủy làm nơi phỏng vấn. Lúc ấy cả phòng chúng tôi ồn ào vui vẻ bận rộn, từ bà Cao Ủy người Thái, rồi nhóm phụ thông dịch, nhóm điền forms, nhóm đọc loa thông báo đồng bào có tên phỏng vấn . Không khí tấp nập một vài bữa, phái đoàn lại ra về, chúng tôi và nhóm phái đoàn bắt tay tạm biệt, hẹn gặp nhau khi phái đoàn sẽ quay lại phỏng vấn cho đợt sau.

Nhưng Mỹ “chảnh” thì không hề nhe! Mỹ “chảnh” không thèm mượn văn phòng Cao Ủy, Mỹ “chảnh” không thèm mượn nhân viên Cao Ủy, mà Mỹ “chảnh” mở riêng một văn phòng trong trại, treo cái bảng gỗ bên ngoài với cái tên rất oai phong: “JVA PNK CAMP-US. EMBASSY- REFUGEE SECTION”

JVA mở cửa mỗi ngày, vì số lượng người muốn đi Mỹ rất đông. Hễ có ai phỏng vấn xong, được Mỹ cho “đậu” là ra ngoài cửa la hét, nhảy tưng tưng, sung sướng, rồi mở tiệc đãi bà con chung lô xung quanh.

Hỏi sao Mỹ hổng “chảnh”?

Đó là chuyện ở trại, còn ở Việt Nam thì sao, chắc ai cũng biết. Các cán bộ, các “đảng viên” chửi Mỹ ra rả nhưng các con cháu của họ đều qua Mỹ du học, có thẻ xanh, định cư luôn bên Mỹ. Cho đến ngày nay, Tòa Đại Sứ Mỹ tại Sài Gòn ngày nào bất kể nắng mưa cũng có một hàng dài xếp hàng để xin Visa qua Mỹ.

Hỏi sao Mỹ hổng “chảnh”?

Còn thế giới? Mặc dù có nhiều cuộc xếp hạng “nước hạnh phúc nhất thế giới”, “nước an bình nhất thế giới”… Mỹ có thể đứng sau vài nước, nhưng sau khi “cộng trừ nhân chia” thì “Giấc Mơ Mỹ” vẫn là giấc mơ của rất nhiều người ở khắp nơi. Đồng Dollar của Mỹ là đồng tiền “uy lực” và phổ biến nhất hành tinh, bất cứ ai, dù là ở thành thị hay thôn quê, từ một ông lão cho đến thằng bé con, nhìn thấy đồng tiền Mỹ đều thốt lên: “America!”

Hỏi sao Mỹ hổng “chảnh”?

Đó chỉ là vài ví dụ “mở bài” (tuy hơi dài), để tôi đi vào chủ đề chính: Mỹ “chảnh” và World Cup sau đây.

Chúng ta, nhất là những người hâm mộ bóng tròn, đều biết giải FIFA (Federation Internationale De Football Association) World Cup kỳ này sẽ diễn ra từ ngày June 11 đến July 19/2026 do 3 nước Mỹ-Canada-Mexico đồng đăng cai.

Tới đây tôi xin mở ngoặc, tự nhận là “fan” bóng tròn, nhưng chỉ là “fan” của hai giải World Cup (thế giới) và Euro (Châu Âu) thôi nhe, còn mấy giải bóng tròn lẻ tẻ, như bên Châu Á, bên Việt Nam thì tôi hổng có hứng thú, nhỏ bạn thân nói tôi chảnh, chỉ toàn xem giải lớn, (hổng lẽ tôi lây bệnh của… Mỹ “chảnh”?).

Dù sao, tôi cũng phải thú nhận, là giống như nhiều phụ nữ xem World Cup khác, tôi xem bóng tròn với cảm tính nhiều hơn, vì cho đến bây giờ tôi chẳng rành rọt mấy cái luật lệ túc cầu, chẳng biết thế nào là “việt vị”, xin đừng hỏi tôi thế nào là “phạt góc”, khi nào bị “phạt đền”, thế nào là “ném biên”, vì tôi càng… không biết. Nhưng tôi biết một điều cơ bản, là khi banh vào lưới là ghi bàn. Còn nữa, kể từ khi lần đầu tiên biết đến World Cup Tây Ban Nha 1982, tôi đã liên tục là cổ động viên sốt sắng, không thiếu một mùa giải nào cho đến nay, kể cả lúc ở trại tỵ nạn Thailand tôi vẫn xem trọn các trận của World Cup Italy1990, vậy là đủ “tiêu chuẩn” làm “fan” World Cup rồi nhỉ.

Trở lại mùa World Cup năm nay, công bằng mà nói, Mỹ và Canada là hai quốc gia không có thành tích bóng tròn nổi bật, hầu như người dân chỉ mê xem Hockey, Football, còn Soccer thì chẳng mấy ai quan tâm. Nhưng nước Mỹ, vốn giàu có và không chịu thua kém ai chuyện gì, cũng đã từng được đăng cai World Cup năm 1994, và bắt đầu bỏ tiền đầu tư cho đội tuyển bóng tròn quốc gia. Canada cũng theo đàn anh, cố gắng vực dậy đội bóng (nam) của mình, nhưng thực tế vẫn chỉ nhích lên chút đỉnh, chưa thể được xếp vào hạng cao của làng bóng tròn thế giới. Nhưng như đã nói, Mỹ “chảnh” lại muốn đăng cai World Cup lần nữa, nhưng xét thấy khó được FIFA chấp thuận, nên Mỹ đã nhanh ý kéo theo hai “đứa em” cùng xóm là Canada và Mexico đồng đăng cai, và kết quả là có World Cup năm nay, 2026, do xóm Bắc Mỹ chủ trì theo thứ tự vai vế: Mỹ, Cà, và Mễ. (Tôi xin gọi tắt Canada là xứ Cà, giống như dân Việt mình ở Mỹ gọi San Francisco là San Fran, hoặc Philadelphia là Phila).

Chồng tôi tự hào:

– Mỹ phải cám ơn Canada và Mexico, vì nhờ có hai nước này mà Mỹ mới được đồng đăng cai.

Tôi mỉm chi:

– Anh đùa cũng dzui hen. Thôi đừng có mơ cưng ơi! Mà chính chúng ta, xứ Cà và xứ Mễ phải cám ơn Mỹ mới phải đó đa!

– Ừ thì thôi vậy, cả ba nước đều mang ơn nhau, vậy là huề. Mà sao Mỹ khôn quá chừng, tổ chức ở 3 nước mà đa số các trận đấu đều diễn ra ở Mỹ, là sao??

– Thì Mỹ giàu, Mỹ giỏi, Mỹ… “chảnh”, nên Mỹ có quyền, còn Canada mình hiền lành, sao cũng được, cho thế giới hòa bình. Anh quên đã từng nói với em rằng, Canada như một nàng xinh đẹp, hiền hoà, đôn hậu, còn Mỹ là cô gái năng động, xông xáo, đáo để, thích bênh vực bảo vệ những kẻ yếu kém, giữ vai trò chủ chốt, dẫn đầu về mọi mặt. Và người đời, ai cũng yêu mến cô gái dịu dàng, đằm thắm, nhưng lại bị lôi cuốn, quyến rũ và thú vị được khám phá cô nàng có cá tính, chút kiêu hãnh, chút thông minh, đúng không? Thôi đừng ganh tị với Mỹ nữa, hàng xóm với nhau cả mà.

Mới khuyên chồng bớt “sân si” với hàng xóm thì vài ngày sau đến lượt tôi… tự ái:

– Ủa Ủa!! Sao kỳ vậy ta! Giải World Cup kỳ này, trận bế mạc sẽ diễn ra tại sân MetLife Stadium ở New Jersey, Mỹ thì em không có ý kiến, nhưng tại sao trận khai mạc lại là ở Mexico City Stadium mà không phải xứ Cà của chúng ta? Mễ nghèo hơn, yếu hơn ta mà! Tại sao và tại sao!?

Bây giờ là lúc chồng tôi đóng vai trò cản cơn nóng của cô vợ chả hiểu gì về bóng tròn:

– Em à, đúng là Mễ nghèo hơn ta, nhưng dù sao “nó” có chút thành tích bóng tròn hơn hẳn trong cái xóm Bắc Mỹ này đấy. Trận bế mạc, anh Mỹ xứng đáng được hưởng vì ảnh… nổi tiếng, còn trận khai mạc đương nhiên phải thuộc về em Mễ thôi, hiểu chửa?

Tôi rầu rĩ chịu thua:

– Té ra, xứ Cà của tụi mình mãi mãi… khiêm nhường.

Chồng lại tự hào:

– Nhưng Canada lại là nơi bình an nhất trong giải World Cup kỳ này đấy. FIFA vừa có bài viết, phản ảnh nỗi lo ngại của cổ động viên khắp nơi, họ đang ngại đến Mỹ khi chiến tranh với Iran vẫn còn lay lất, Mỹ thắt chặt an ninh, thiếu nhân viên TSA phi trường sẽ quá tải lượng du khách, và họ cũng ái ngại đến Mexico vì mới đây có mấy vụ xả súng ở khu du lịch, băng đảng thanh toán lẫn nhau. Chỉ có Canada xứng đáng là sứ giả Hòa Bình, một đất nước xinh đẹp hiền hòa, không gây thù chuốc oán với ai hết á, du khách đến đây tha hồ ăn ngon ngủ kỹ.

– Ừ nhỉ, xứ Cà mình cũng có điều tuyệt vời đấy chớ!

Văn Phòng Tòa Đại Sứ Mỹ “Chảnh” tại trại tỵ nạn Panatnikhom (PNK) Thailand thập niên 80s-90s

Chị Cả của tôi ở Texas, là một “fan” của World Cup, cũng thuộc loại “fan” chẳng hiểu luật bóng tròn nhưng vẫn đam mê, hai chị em sôi nổi bàn chuyện World Cup kỳ này, chị hỏi:– Trận đầu tiên của đội Mỹ gặp đội nào vậy?

– Mỹ sẽ gặp Paraguay vào ngày 12 tháng 6 đó chị! Chị sẽ xem và ủng hộ Mỹ chớ!?

– Đâu có, chị mong cho Mỹ… thua!

– Ủa, gì mà ngược đời vậy trời? Công dân Mỹ mà hổng ủng hộ đội nhà là sao!

– Dân Mỹ có mấy ai mê đá banh đâu, vả lại bây giờ họ chỉ quan tâm đến…giá xăng, để đội Mỹ thắng cũng uổng, vì nếu Mỹ thắng chỉ có một số người vui, thà để cho những đội mà cả dân tộc cả đất nước thổn thức, điên cuồng reo hò chiến thắng, vậy mới xứng đáng.

– Chị nói cũng có lý, vậy khi nào Canada thi đấu, em cũng sẽ ủng hộ đội… đối phương. Rồi sau khi Mỹ và Canada bị loại, hai chị em mình thảnh thơi, sẽ bàn tính sẽ ủng hộ đội nào vô địch, hen!?

Hai vợ chồng tôi thì đã hào hứng từ hai năm trước rồi kìa, chồng tôi nổi hứng:

– Chả mấy khi “xóm Bắc Mỹ” góp mặt đăng cai, các trận đấu ở Canada sẽ có vài trận ở Toronto quê hương bên nội và bên Mỹ cũng có vài trận đấu ở AT&T Stadium, Arlington Texas quê hương bên ngoại, chắc tụi mình đi coi cả hai nơi, mỗi nơi một trận, coi “live” cho sướng, cho biết “mùi” với người ta!

– Ối dào, giá cả không hề rẻ đâu, còn phải tranh giành mua nữa, chưa chắc đã có vé.

– Đâu khó khăn đến thế, ngay cả các trận đấu vòng bán kết, tứ kết, chung kết, FIFA cũng có cách sắp xếp cho cổ động viên khắp các vùng miền có thể mua vé, giá cả thì tùy chỗ ngồi, tụi mình cứ mua hạng “cá kèo” ngồi xa chót vót, giá rất phải chăng, vừa túi tiền chúng mình.

– Vậy thì ngồi ở nhà xem, màn hình tivi lớn, các pha ghi bàn được quay lại cận kề, coi vẫn sướng hơn ra ngoải, hạng “cá kèo”, lại tốn tiền.

– Vậy chớ ai, khi Đức Giáo Hoàng Francis qua Edmonton hồi năm 2022, thức cả đêm nôn nao, rồi cố dậy sớm kiên quyết xếp hàng đi xem lễ cho bằng được, dù chỉ là ngồi xa tít mù khơi ở Commonwealth Stadium!?

Tôi quê xệ:

– Thì đến đó tận hưởng cái không khí thiêng liêng, náo nhiệt…

Chồng cướp lời:

– Thì World Cup cũng thế, chúng ta muốn hòa vào cái đám đông trên sân cỏ, trên khán đài, xung quanh trận đấu, những cảm giác đó ngồi ở nhà làm sao có được.

Chúng tôi vẫn còn trong giai đoạn suy nghĩ thì được tin, có đứa cháu bên chồng sẽ làm đám cưới đầu tháng Chín này tại Italy, tha thiết mời gia đình chúng tôi tham dự, kết hợp đi chơi Châu Âu. Coi như “số trời” đã định, chúng tôi phải dành ngày nghỉ đi đám cưới, và đương nhiên, sẽ xem World Cup… tại nhà!

Không sôi động như Châu Âu, không điên cuồng như Nam Mỹ, cũng chẳng cháy bỏng khát vọng như Á Châu, nhưng tôi cảm nhận một số dân Canada cũng thích bóng tròn. Ở đây, có cả một kênh thể thao phục vụ mùa World Cup, có phóng viên đến tận nơi để tường thuật, rồi trên ti vi là người anchor ngồi giữa, có hai bình luận viên nhà nghề để hầu chuyện khán giả mọi chuyện trong và ngoài trận đấu. Giữa hai hiệp và kết thúc trận đấu luôn luôn có phần chiếu lại những pha gay cấn, những cú sút ghi bàn đẹp, rồi tiên đoán kết quả trận sắp tới. Tôi xem tivi không lãng phí một giây phút nào, vì ngay cả phần quảng cáo của các nhà sponsors lừng danh như CocaCola, MasterCard, Adidas… đều có những màn quảng cáo đặc biệt xuất sắc cho riêng mùa World Cup.

Ở đâu tôi không biết, chớ ở Edmonton thành phố của tôi, từ đầu tháng Năm đã thấy người hâm mộ mặc những chiếc jerseys của các đội bóng yêu thích, nào áo vàng Brazil, áo cam Holland, đỏ sậm Mexico, xanh ngát France, trắng tươi viền đỏ cam của Germany, xanh dương sọc trắng Argentina, làm lòng người hâm mộ cũng thấy vui.

Có lẽ Canada là xứ sở đón nhận mọi sắc dân trên thế giới nên World Cup cũng có chút không khí xôn xao. Chạy xe một vòng xuống downtown Edmonton, các quán bar treo cờ các đội vào World Cup để… dụ dỗ người ta vào uống bia, ăn nachos, chicken wings và xem các trận đấu trên màn hình thật lớn. Các tiệm bán đồ thể thao bán các áo thun các đội tuyển World Cup, giá từ 100 đến 200 đô một cái, ông xã tôi cũng đã bon chen gom góp hơn chục áo từ mấy mùa trước, năm nay đem ra mặc tiếp. Còn có cả cờ các quốc gia để gắn trên xe, năm nay Canada tham dự với tư cách đồng chủ nhà World Cup nên tôi sẽ treo cờ Canada, chạy xe khắp nơi, đi làm, đi chợ, để cờ xứ Cà bay phấp phới oai hùng cho đến khi đội Canada bị…loại rồi mới dám treo cờ đội khác, kẻo bị goánh!

Tới đây, tôi lại xin… mở ngoặc lần thứ hai, World Cup kỳ này cũng là lần đầu tiên giải mở rộng cho 48 đội tham gia thay vì 32 đội như trước đây, vậy mà hổng thấy có tên Việt Nam (đã từng “tự hào” đạp cả Châu Á dưới chân). Thôi vậy cũng may mắn cho các… bà mẹ của các trọng tài, bởi mỗi lần đá thua là cổ động viên chúng nó (cái nhóm biết bố mày là ai không) lại gào lên chửi “ĐM trọng tài”, tội lắm!

Nhưng có lẽ tiếc hùi hụi là các quan chức cán bộ của ngành Thể Dục Thể Thao, lỡ dịp được xách va li đi “công tác” thì ít mà “tranh thủ” đi “tham quan” xứ Bắc Mỹ kết hợp mua sắm quà cho vợ con và cho… bồ nhí ở nhà.

Khi bài viết này được lên báo thì World Cup đã đang gần kề, tôi nao nức chờ nghe bài hát “Lighter”, một trong những ca khúc World Cup 2026 sẽ được chính thức vang lên trong mùa giải.

KimLoan và ông xã, chụp trước AT&T Stadium, Arlington, Texas nơi sẽ có vài trận đấu của World Cup 2026

Bài hát do ca sĩ nhạc đồng quê Mỹ Jelly Roll, ca sĩ Mexico Carín León thể hiện, nghệ sĩ Canda Circut sản xuất, là sản phẩm chung của “xóm đăng cai”, dễ thương ghê nơi!

Đang viết tới đây, đến giờ tôi phải xuống dưới nhà dọn bữa cơm chiều, chồng thấy tôi liền hỏi:

– Em ơi, em đã gửi bài Mỹ “chảnh” và World Cup cho báo chưa? Vì có tin mới nhứt, em sẽ vui đấy.

– Chuyện gì, hấp dẫn không anh?

– FIFA vừa thông báo, vì World Cup 2026 do xóm Bắc Mỹ đồng đăng cai, nên Lễ Khai Mạc sẽ diễn ra ở cả 3 nước Mỹ, Canada và Mexico.

– Cụ thể là như thế nào?

– Từ từ để anh nói hết! Này nhé, ngày đầu tiên là June 11 sẽ là Lễ Khai Mạc tại Mexico City của Mễ.

– Rồi sao?

– Rồi ngày hôm sau, June 12, Lễ Khai Mạc sẽ tại Los Angeles của Mỹ và tại Toronto,  Canada, dĩ nhiên là giờ khác nhau để toàn thế giới sẽ được thưởng thức đầy đủ.

Tôi vui vẻ:

– Có thế chứ! Cùng là đồng đăng cai, cũng phải để cả 3 nước được khoe nét đẹp của quê hương mình. Mặc dù Mexico được ưu tiên làm Lễ Khai Mạc ngày đầu tiên, nhưng mà thôi, hổng có ganh ghét sân si nữa, “cả xóm Bắc Mỹ” cùng vui! Vậy tụi mình phải nghỉ làm hai ngày liền để xem Lễ Khai Mạc ư?

Từ nhiều năm nay, vợ chồng tôi, hễ vào những ngày “quan trọng” như ngày bầu cử… Mỹ, ngày khai mạc giải World Cup, Euro, Olympic là đều nghỉ làm để ở nhà xem “live” trên tivi. Chồng tôi là “big boss” nên chàng tự động sắp xếp ngày nghỉ rồi nói với staff là chàng “làm việc ở nhà”. Còn tôi, phải báo trước với supervisor ngày nghỉ vì “nhà có việc”, cũng may là “sếp” của tôi không biết tiếng Việt, chớ nếu đọc được bài này, biết “nhà có việc” là gì, thì sẽ mệt với “sếp” đấy.

Trong tình hình thế giới còn nhiều điều lo âu, biến động do tình hình chiến tranh vùng Trung Đông, mong rằng ngày hội World Cup năm nay sẽ mang đến một làn gió mát của hy vọng, đoàn kết, hòa bình, thân ái đến cho nhân loại khắp năm châu.

Và những cổ động viên của bóng tròn trên toàn thế giới thân mến, xin cứ vững tin và cùng cầu nguyện “xóm Bắc Mỹ” chúng tôi sẽ cống hiến các bạn một mùa đăng cai tuyệt vời!

Để kết thúc bài viết, tôi xin được tặng các “fan cuồng” của World Cup câu chuyện mới sưu tầm:

Hai cha con trên đường đi xem một trận đấu World Cup, gần tới sân thì ông bố chợt nhớ là đã để quên vé ở nhà, nên sai con trai chạy nhanh về nhà lấy.

Cậu bé về tới nhà thì nghe tiếng mẹ và một người đàn ông lạ trong phòng ngủ. Cậu vội cầm tấm vé rồi chạy ra sân bóng thì thầm với bố, vừa thở không ra hơi vừa lắp bắp thông báo với bố rằng mẹ có bồ.

Ông bố thở phào:

– Mày làm bố hết cả hồn, bố cứ tưởng mày không tìm thấy vé cơ chứ!

Kim Loan – Edmonton, Tháng 6/2026




VTLV WELCOME VĂN THI SĨ LÊ XUÂN MỸ

*

*VĂN THƠ LẠC VIỆT CHÀO MỪNG LÊ XUÂN MỸ

VĂN THƠ vườn nội lại tươi màu

LẠC VIỆT chào người mới đến sau

XUÂN MỸ kỹ sư thời nước thịnh

BÁCH KHOA đại học thuở quê giàu

Bài đưa chuyển tải tình man mác

Truyện viết truyền lưu ý dạt dào

Thung Lũng Hoa Vàng hoa nở rộ

Mừng LÊ XUÂN MỸ! Thật vui nào!

     Phương Hoa – JUN 3, 2026

*

*

Tóm Tắt Tiểu sử tác giả Lê Xuân Mỹ :

*Tên thật và cũng là bút hiệu:  Lê Xuân Mỹ

*Lê Xuân Mỹ năm 1951 tại Huế, Việt Nam.

Tốt nghiệp: Kỹ sư điện tử Đại Học Bách Khoa Saigon năm 1974.

*Cha là Sĩ quan Cảnh Sát đi tù CS từ 1976 và chết trong trại K2 Tân Lập Vĩnh Phú năm 1979

Sau khi định cư tại Hoa Kỳ từ năm 1998, Lê Xuân Mỹ tiếp tục gìn giữ và phát triển niềm đam mê viết lách như một cách lưu giữ ký ức và kết nối với cộng đồng người Việt hải ngoại.

Sáng tác các thể loại: Bút ký, tản văn, và tùy bút, viết về nước Mỹ dưới góc nhìn của một người Việt xa xứ.

Giải thưởng:

* Giải Nhất cuộc thi Viết Về Nước Mỹ 2023 của Việt Báo, California.

* Giải Vinh Danh Tác Phẩm Viết Về Nước Mỹ 2021.

*Giải Đặc Biệt Viết Về Nước Mỹ  2019.

*Hiện là hội viên Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại Vùng Tây Nam Hoa Kỳ

*Là Tân thành viên trong Ban Chấp Hành Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại Vùng Tây Nam Hoa Kỳ nhiệm kỳ 2027 -2029.

+

SÁNG TÁC

MẸ VẪN NGỒI CHỜ NGOÀI KHUNG CỬA

Mùa đông ở San Jose năm ấy đến sớm hơn mọi năm, những cơn mưa lạnh kéo dài làm cả thành phố chìm trong một màu xám buồn không dứt. Trong khu nursing home nằm yên lặng phía nam thành phố, ngày nào cũng giống ngày nào, tiếng television mở nhỏ trong phòng sinh hoạt, tiếng xe lăn chậm chạp trên hành lang, và mùi thuốc sát trùng quen thuộc của tuổi già.  Ở căn phòng cuối dãy lầu hai, bà Lan ngồi cạnh cửa sổ, lặng lẽ nhìn ra khoảng sân nhỏ nơi những chiếc xe ra vào mỗi ngày. Bà đã chín mươi ba tuổi, tóc bạc mỏng, gương mặt hằn dấu thời gian và bệnh tật, bàn tay lúc nào cũng giữ chặt chiếc khăn xanh đã cũ như một thói quen không ai hiểu. Bà mắc bệnh Alzheimer nhiều năm, trí nhớ rời rạc như những mảnh giấy bị gió cuốn đi, có hôm quên cả tên mình, có hôm gọi nhầm con cháu, có khi nhìn người thân mà không nhận ra, nhưng lạ lùng thay, bà không bao giờ quên một điều duy nhất: chờ con, chờ cháu.

Những đứa con của bà sống rải rác khắp nước Mỹ. Người ở California, người ở Texas, người tận New York. Cuộc sống của họ đầy đủ va bận rộn . Họ làm việc trong các hãng lớn, đi họp, đi công tác, đi du lịch, cuối tuần là những chuyến bay, những kỳ nghỉ ở Las Vegas, Hawaii, châu Âu hay cruise trên biển Caribbean. Trên mạng xã hội, hình ảnh của họ luôn rực rỡ, nhà hàng sang trọng, ly rượu vang, những nụ cười trong nắng, những chuyến đi xa đầy trải nghiệm. Họ thành đạt, họ vẫn yêu mẹ, vẫn nói về mẹ, nhưng thời gian để quay về San Jose, ngồi xuống bên mẹ, thì ngày càng ít đi. Họ luôn có một lý do rất hợp lý: bận công việc, bận lo con cái, cuộc sống không dừng lại được, và rồi họ tự an ủi rằng mẹ ở nursing home đã có người chăm sóc tốt, có y tá, có bác sĩ, có mọi thứ cần thiết.

Nhưng với bà Lan, điều cần thiết nhất lại không phải thuốc men đầy đủ hay sự chăm sóc chuyên nghiệp, mà là một gương mặt quen thuộc ngồi bên cạnh bà vào mỗi buổi chiều.

Ngày bà mới vào nursing home, các con còn đến đều đặn. Người con trai cả còn chỉnh lại hướng tivi cho bà nhìn rõ hơn, người con gái út còn mang đến tô phở bà thích nhất, những đứa cháu còn chạy quanh hành lang cười nói. Nhưng rồi từng tháng trôi qua, những chuyến ghé thăm thưa dần. Ban đầu là bận công việc, sau đó là bận gia đình, rồi dần dần trở thành “tuần sau sẽ về”, “tháng sau sẽ ghé”, “đợi con rảnh hơn một chút”. Và những lời hứa đó cứ kéo dài mãi mà không bao giờ thành sự thực. Bà cứ chờ đợi tronh hiu hắt, trong mỏi mòn.

Nhưng cũng có những ngày mà các con bà luôn nhớ. Mother’s Day, những đứa con ở xa luôn nhớ đến mẹ. Họ đặt những bó hoa rất đẹp gửi về nursing home, hoa hồng trắng, hoa lan tím, có khi cả những bó hoa nhập khẩu đắt tiền. Nhân viên mang hoa vào phòng bà Lan, đặt cạnh giường, kèm theo những tấm thiệp viết rất đẹp: “Mom, we love you”, “We miss you so much”, “Happy Mother’s Day”. Mỗi lần như vậy, bà Lan nhìn hoa rất lâu, vuốt từng cánh hoa như cố nhớ điều gì đó đã xa. Có lần bà hỏi y tá: “Ai gửi vậy con?”, người y tá mỉm cười nói: “Con bà đó”, nhưng bà chỉ gật đầu, ánh mắt trống rỗng vì không còn nhận ra đó là ai.

Ở ngoài kia, ngày lễ Mẹ, những đứa con lại là những người bận rộn nhất với việc “thể hiện tình yêu”. Họ đăng hình hoa lên Facebook, viết những dòng trạng thái xúc động về mẹ, về sự hy sinh, về tình mẫu tử. Họ nhận được rất nhiều lời khen từ bạn bè: “Hiếu thảo quá”, “Thương mẹ quá”. Nhưng ngoài những dòng chữ ấy, vẫn không có một chuyến bay nào về San Jose.

Có những năm, người con trai cả định về nhưng lại có cuộc họp quan trọng ở Seattle. Người con gái út định ghé nhưng con bị ốm. Người con trai thứ nói sẽ về sau nhưng rồi lại bận rộn cho chuyến đi cruise với nhóm bạn thời đại học. Và thế là Mother’s Day năm nào cũng có hoa gửi về, nhưng không có người ngồi xuống bên mẹ.

Trong khi đó, bà Lan ngày càng yếu đi. Alzheimer khiến bà quên nhiều hơn, nhưng cảm giác chờ đợi thì vẫn còn nguyên. Mỗi chiều bà vẫn ngồi cạnh cửa sổ, nhìn ra parking lot, mỗi tiếng xe dừng lại là một lần hy vọng, rồi lại một lần im lặng. Có những buổi chiều mưa, bà ngồi rất lâu, không nói gì, chỉ nhìn ra ngoài như đang tìm một điều mà chính bà cũng không còn nhớ rõ. Cô y tá người Phi làm việc ở đó nhiều năm nói rằng người già không cần nhiều thứ, họ chỉ cần biết có người đang nhớ đến họ thật sự.

Một lần vào dịp lễ, nursing home vắng hơn vì nhiều người được đón về nhà. Bà Lan vẫn ngồi một mình trong phòng. Hoa Mother’s Day năm đó vẫn được gửi về như mọi năm, rất đẹp, rất trang trọng, nhưng bà chỉ hỏi một câu quen thuộc: “Con tôi chưa tới hả?” Không ai trả lời. Không ai có thể trả lời một câu hỏi đã lặp lại quá nhiều năm.

Rồi một ngày mùa đông, bà Lan qua đời trong giấc ngủ. Không đau đớn, không vật vã chỉ như một ngọn đèn cạn dầu leo lét tắt. Cũng có thể bà đã chờ quá lâu và cuối cùng cũng buông tay. Nursing home gọi điện cho các con lúc sáng sớm. Chỉ vài tiếng sau, những đứa con từ khắp nơi vội vã bay về San Jose. Người con trai cả khóc ngay từ sân bay, người con gái út khóc trên xe, người con trai thứ khóc khi bước vào hành lang bệnh viện. 

Tang lễ được cử hành trọng thể với con cháu nội ngoại gần năm mươi vành khăn tang. Một đám ma thật lớn mà lâu lắm mới thấy lại ở Oakhill Memorial Park. Trong tang lễ, họ là những người khóc nhiều nhất, ôm nhau, kể lại kỷ niệm, kể về mẹ, về sự hy sinh, về những ngày thơ ấu, về những ngày đầu tiên đến Mỹ, về tình yêu không bao giờ quên.

Một gia đình con cháu rất hiếu thảo, đẹp trai đẹp gái và thành đạt. Ai cũng trầm trồ khen bà có phước. Nhưng những người từng làm việc ở nursing home thì nhớ một điều rất khác. Họ nhớ những buổi chiều bà Lan ngồi bên cửa sổ, nhớ ánh mắt bà nhìn ra parking lot, nhớ những bó hoa Mother’s Day đẹp đẽ nhưng không có người đi cùng, nhớ những câu hỏi lặp đi lặp lại: “Con tôi sắp tới chưa?”

Một năm sau, ngày giỗ đầu, gia đình lại tụ họp rất đông. Nhà hàng sang trọng, bàn tiệc đầy đủ, ảnh mẹ đặt trang trọng ở giữa. Bà con nội ngoại được mời dự đông đủ. Họ chụp hình, đăng mạng xã hội, viết những lời xúc động về mẹ, kể về những nỗi nhớ thương của năm đầu tiên vắng mẹ. Nhưng trong tất cả những điều đó, điều mà bà Lan từng cần nhất khi còn sống lại không bao giờ quay trở lại được nữa: một buổi chiều có con cháu ngồi bên cạnh, một bữa cơm bình thường, một tiếng gọi “mẹ ơi” giữa đời thật, không phải trong ký ức hay trên tấm thiệp hoa gửi về mỗi năm.

Và rồi, giữa những tiếng cười nói và cả những giọt lệ trong buổi giỗ đầu, có một khoảnh khắc rất nhỏ mà không ai để ý. Khi mọi người đang chụp hình, người con gái út bỗng nhìn di ảnh mẹ rất lâu. Cô không nói gì, nhưng nước mắt cứ rơi xuống từng giọt, không kịp lau. Không phải vì hôm nay, ngày này năm trước mẹ mất, mà vì trong một khoảnh khắc rất muộn, cô mới nhớ lại có những buổi chiều mẹ ngồi một mình bên cửa sổ ở nursing home, vẫn nhìn ra parking lot, vẫn chờ một chiếc xe mà có lẽ đã không bao giờ dừng lại nữa.

Ở nước Mỹ này, có những nỗi buồn không ồn ào, không bi kịch, không oán trách nhưng lại kéo dài suốt đời trong im lặng. Đó là nỗi buồn của người mẹ ngồi chờ con trong viện dưỡng lão, và những đứa con chỉ kịp hiểu ra tình yêu ấy khi mọi thứ đã trở thành ký ức.

Có những giọt nước mắt trong tang lễ là nước mắt của tình thương. Nhưng cũng có những giọt nước mắt là của muộn màng. Và nỗi đau sâu đậmnhất không phải là khi mất mẹ, mà là khi nhận ra đã có một người từng chờ mình rất lâu, rất lâu… trong cô đơn lặng lẽ, mà mình đã không còn kịp quay về.

Lê Xuân Mỹ
San Jose -Tháng 5, 2026




Nghệ Sĩ ĐỨC HÙNG: BÀI HÁT NÓI 693

**

HÁT NÓI

BÀI 693

“Thay Vì Họa”
(Bài Hát Nói cảm ơn và đáp lễ Nữ Sĩ Phương Hoa đã chuyển đến một bài Bút Ký vô cùng hay đẹp mang tựa đề “Bài Tường Thuật Ngày Lễ Tốt Nghiệp Cao Đẳng Phật Giáo Thực Dụng”.
Tựa đề bài Hát Nói này trích từ hồi âm của Phương Hoa
.)

“Thay vì họa”! Đó là lời của Phương Hoa, “Bà Hoàng Bút Ký”!
“Trám chỗ ngay” bằng bài tường thuật Lễ Tốt Nghiệp Lớp Cao Đẳng Phật Giáo Thực Dụng”! Hết ý! Quá hay!
Viết đã như “chiếu phim phóng sự”! Hình minh họa thì đẹp rõ nét! Nhưng không có tên tuổi trình bày?
Chắc là “quá khiêm cung” nên xảy ra cảnh tượng “ kiến kỳ hình” này! Nhưng “bất tri danh tánh”!

Thay vì Hát Nói liền “nghiêng gánh”!
Họa lại Ca Trù? Vội “chuyển nghề”!
“Nghề Của Nàng”! Đang ở trên “đỉnh non cao”, ngào ngạt hương quê!
“ Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”! Bút Ký Phương Hoa! Ai đọc phải là “mê như điếu đổ”!

Văn Học Việt Nam phong phú, đa dạng! Trải khắp bốn phương, kim cổ!
Cảm ơn Nữ Sĩ Phương Hoa đã “Hồi Âm Có Dấu”! Bổ ích tuyệt vời!
Thay vì họa! Viết ngàn lời!
Đức Hùng
Sydney, Úc Châu, 02/06/2026




NGUYỄN HỒNG DŨNG: Thăng Hoa Cuộc Đời – TẬP 150, 151, 152, 153, 154, 155.

==

==

==

==

==




HỒNG THỦY: Hồi Ký NGÀY XƯA HÀ NỘI

==

                   NGÀY XƯA HÀ NỘI

           Hồng Thủy

Tôi là Bắc-kỳ chính cống nhưng lại mở mắt chào đời ở miền Trung khi bố tôi đổi ra làm việc ở Bến Thủy thuộc tỉnh Vinh. Nơi có núi Hồng Lĩnh thật đẹp và nổi tiếng, mà người ta thường gọi tắt là núi Hồng. Bố mẹ tôi đã lấy tên núi Hồng với Bến Thủy ghép lại để đặt tên cho tôi là Hồng Thủy. Tên tôi có nghĩa thật mơ mộng, hiền hòa, chứ không phải ghê gớm, hãi hùng như nạn lụt lội hồng thủy. Sau đó ít lâu, bố tôi đổi về làm việc ở Thanh Hóa. Do đó tôi lớn lên ở Thanh Hóa, nơi có hòn Vọng Phu, có hang Từ Thức, có chợ Rừng Thông , có Cầu Bố, Quán Mật nổi tiếng

Gia đình tôi hồi cư về Hà Nội năm tôi 10 tuổi.Cảm giác đầu tiên khi đặt chân lên đất Hà Nội là tất cả đều mới lạ, huy hoàng, tráng lệ. Khác hẳn với Thanh Hóa đổ nát, xơ xác, hoang tàn vì bom đạn, vì chiến tranh tàn phá.

Hồi ở Thanh Hóa, tôi phải tản cư về làng Sơn Lương. Một làng nhỏ thật thơ mộng, với những dẫy núi đá xanh, những đồi hoa sim tím, nhưng cũng thật nghèo nàn, đơn sơ. Quanh năm chỉ thắp đèn dầu, không hề có điện, nên tôi chẳng bao giờ được nhìn thấy cục nước đá hay những que kem.

Ngày đầu tiên vừa đặt chân đến Hà Nội, tôi được ông anh họ dẫn ra tiệm kem Cát Thành, mua cho một cây kem dâu màu hồng.Tôi cầm cây kem, sung sướng ngắm nghía mãi, rồi mới thận trọng mút thật nhẹ. Tôi chậm rãi nhâm nhi để thưởng thức cái mát lạnh, thơm thật thơm của cây kem, cho đến khi  ông anh phải nhắc:

– Em không ăn nhanh nó chảy ra hết bây gìờ.

Với tôi , đó là cây kem đầu tiên và cũng là cây kem ngon nhất trên đời.

Thời gian này, mẹ gửi  anh em tôi ở với ông Nội  để Mẹ vào Huế lo bán nhà.  Ông bà ngoại tôi có một ngôi nhà rất lớn ở số 5 Đường Saigneau Huế , sau này đổi là đường Lý Thường Kiệt. Bây giờ họ đã phá ngôi nhà đầy kỷ niệm của gia đình tôi để xây thành HOTEL thật lớn , sang và thật đẹp.

Ông nội tôi là Thầy Lang Thuốc Bắc rất giỏi và mát tay. Ông mở tiệm thuốc bắc Tiền Vàng ở phố Hàng Bột, Hà Nội , gần Văn Miếu (Quốc Tử Giám) và Bích Câu Kỳ Ngộ. 

Về Hà Nội tôi ghi tên đi học lại ngay ở trường Trần Hưng Đạo do GS Nguyễn Văn Toại (là thân phụ giáo sư Nguyễn Ðông Ngạc của trường Trưng Vương sau này). làm HiêuTrưởng

Trường đối diện với Văn Miếu nên giờ ra chơi tôi thường cùng các bạn chạy sang Văn Miếu chơi đi trốn đi tìm.

Ngày nghỉ anh em tôi cùng vài người bạn hay thuê xe đạp nhỏ , đạp xe chạy lòng vòng  chơi ở  đường Cổ Ngư.  Ðường Cổ  Ngư là con đường rất thơ mộng ngăn giữa Hồ Tây và Hồ Trúc Bạch , quanh năm suốt tháng rợp bóng mát vì những  cây phượng vĩ và những cây bàng lớn  trồng dọc suốt hai bên đường.

Chúng tôi hay vào chùa Trấn Quốc lấy cục đá to hơn nắm tay, cố đập dập những hột bàng, lấy nhân ở trong ra ăn thật là bùi. Tôi thích lòng vòng quanh quẩn ở hồ Trúc Bạch hơn là ra phía Hồ Tây, vì Hồ Tây lúc đó dưới mắt tôi nó rộng mênh mông như biển cả,làm tôi rất sợ bị chết đuối.

Trên đường về, chúng tôi thường ghé vào “Bích Câu Kỳ Ngộ “chơi. Ở đây phong cảnh rất đẹp. Không hiểu sao sau  này nhân dịp về Hà Nội lo phần mộ cho bố tôi. Tôi không sao tìm được ‘Bích Câu kỳ ngộ ‘ nữa. Hỏi rất nhiều tài xế Taxi cũng không ai biết tại sao một di tích thần thoại nổi tiếng như vậy mà có thể biến mất luôn.

Một kỷ niệm thời thơ ấu không thể quên là một  hôm  đi chơi ở đường Cổ Ngư. Tôi bị vạt áo dài quấn vào dây xích xe đạp làm tôi xém ngã, và bị rách nát cả vạt áo dài mới may. Tôi ngồi khóc 

thút thít suốt cả buổi, vừa sợ bị mắng, vừa tiếc chiếc áo dài lụa màu vàng mơ Mẹ mới may cho

Nhắc tới kỷ niệm ở phố Hàng Bột khiến tôi nhớ đến cô bạn hàng xóm Dương Thị Nhị  sau này định cư ở San Jose đã cùng tôi chơi nhảy dây, đánh chuyền. Cô bạn thời thơ ấu đó sau này cũng là

 bạn đồng môn với tôi ở trường Trưng Vương. Nhưng rất buồn là bạn tôi qua đời đã mấy năm rồi.

Hồi đó, bọn trẻ tụi tôi mê nhất là món nước gạo màu trắng đục bán ở góc vườn hoa, gần chợ Con Bò của phố Hàng Bột. Nước gạo uống ngon và thơm thật là thơm. Tôi biết họ làm bằng gạo rang xay, thường gạo rang có mầu nâu nhưng không biết họ làm cách nào mà nước gạo lại có màu trắng đục như sữa loãng

Từ ngày rời Hà Nội, tôi không bao giờ còn được thưởng thức món nước gạo thật ngon đó nữa. Cuối tuần, tôi luôn luôn được Ông Nội cho đi ăn cơm thịt bò xào cải làn ở tiệm Ðông Hưng Viên 

món ăn mà cho tới bây giờ ở tuổi già tôi vẫn còn rất thích. Có hôm còn được ăn bánh tôm ở quán Mụ Béo rất nổi tiếng gần  bờ hồ Hoàn Kiếm.  Ngoài ra còn được ăn Cơm tám giò chả và nem cua rán (chả giò) ở phố Hàng Bông cũng ngon tuyệt. Chủ Nhật tan lễ, Ông Nội còn dắt tôi đi Ăn phở Giảng ở phố Cầu Gỗ. Sau đó hay đi ăn  kem dừa ở tiệm Hồng Vân gần Hồ Hoàn Kiếm. Nhưng Món quà rẻ tiền mà hấp dẫn trẻ con chúng tôi nhất  lại là  những quả sấu cắt khoanh tròn ngâm trong nước đường và gừng với cam thảo, sấu  dầm ăn hoài không bao giờ chán, ăn đến phát đau bụng mới thôi. Buổi tối trời hơi lạnh mà được ăn lạc rang húng lìu của ông già người Tầu đi bán rong với tiếng rao khàn đục  kéo dài “phàn xôi phá xa …” thì không còn gì thích thú hơn .

 Những món ăn đăc biệt của Hà Nội còn có cốm Vòng. Những hạt cốm dẹp màu xanh được bọc bởi những chiếc lá Sen xanh mướt. Cốm vòng ăn dẻo và thơm ngon vô cùng.  Quà Hà Nội còn rất nhiều, tôi không sao nhớ hết được. 

Tôi hay theo thím Diễn (vợ giáo sư Nguyễn Duy Diễn chuyên dạy Việt văn ở Hà Nội là chú ruột tôi) đi chợ Cửa Nam ở phố Sinh Từ gần nhà. Thỉnh thoảng Thím cũng dẫn tôi đi chợ Ðồng Xuân. 

Luôn tiên dạo phố Hàng đào xem tơ lụa vải vóc.

Bố tôi chết sớm, tôi lại mới ở vùng Việt Minh trở về. Mẹ tôi phải đi Huế lo bán nhà để lấy tiền mua nhà ở Hà Nội. Không có mẹ ở gần, nên tôi được cả họ nội cưng chiều, dẫn đi đây đó. 

Chủ Nhật nào ông nội cũng dẫn tôi đi lễ nhà thờ Ðức Bà ở gần Ngõ Huyện. Ði lễ xong là được đi ăn cơm Tầu hoặc ăn phở, ăn kem và đi dạo xung quanh hồ Hoàn Kiếm. Tôi thích đi bộ dán mắt vào tủ kính nhà hàng Godard để ngắm những bộ quần áo và nữ trang đắt tiền. Lạ một điều, tôi chỉ thích ngắm, nhưng không bao giờ mơ ước những bộ quần áo kiểu cọ đó. 

Hình ảnh tôi mê nhất vẫn là những cô gái Hà Nội mặc áo dài, được trang điểm thêm bằng những chiếc khăn quàng mỏng đủ màu, nhẹ nhàng, phất phơ trong gió.

Những phim tôi thích nhất thời đó, không phải là phim ngoại quốc mà là hai phim Việt Nam rất người lớn. Phim“Bến Cũ” và “Giá Hạnh Phúc” do Liên Hương, Bích Ngà và Hoàng Vĩnh Lộc (nếu tôi không nhớ nhầm) thủ vai chính. 

Dù còn bé, tôi đã biết thưởng thức nhạc và rất thích bài hát “Bến Cũ” có trong phim.

Tầu điện cũng là một hình ảnh của Hà Nội rất quen thuộc với tôi, vì tầu điện chạy qua lại nhà ông nội tôi mỗi ngày. Thỉnh thoảng tôi cũng được đi tầu điện. Tôi không thể quên ông già chuyên môn quảng cáo bán thuốc ho Bà Lang Trọc và thuốc Hồng Nhi tán Ông Tiên trên tầu điện. Tiếng rao hàng đặc biệt của ông ấy luôn làm tôi cười ngặt nghẽo.

 Tôi vừa thi đỗ tiểu học xong, thì hiệp định Genève chia đôi đất nước. Gia đình tôi dọn xuống Hải Phòng trong lúc CS sắp tiếp thu Hà Nội. Mẹ tôi có một ngôi nhà ở Đường  Bonnal HẢI PHÒNG nhìn ra con sông trước mặt với hàng cây phượng vĩ đầy hoa đỏ thắm và có cây cầu đưa mọi người trong khu phố tôi ở đi chợ SẮT ở phía bên kia sông 

Ở Hải Phòng một thời gian ngắn, thì chúng tôi phải giã từ đất Bắc, di cư vào Nam, làm quen với miền mưa nắng hai mùa.

Thời gian đầu ở Sài Gòn, tôi nhớ Hà Nội da diết.  Nhớ hồ Hoàn Kiếm, Hồ Tây, Hồ Trúc Bạch. Nhớ những hàng cây đầy hoa Phượng đỏ thật đẹp và con đường Cổ ngư với bao kỷ niệm. Nhớ trường Trần Hưng Đạo với những tình cảm thơ ngây không thể nào quên . Nhớ những giờ ra chơi quanh quẩn bên những con rùa khổng lồ  làm bằng đá xanh xám ở Văn Miếu mang bảng tên các Tiến sĩ , ông nghè, ông cống thuở xưa . Buồn cười là không  nhớ ai xúi mà trước khi đi thi Tiểu học chúng tôi đã rủ nhau vào Văn Miếu xoa vào các đầu rùa để lấy hên.   Nhớ cả khu “Bích Câu Kỳ Ngộ “mà bây giờ bỗng dưng bị biến mất thật lạ kỳ. Hai món quà đặc biệt tôi nhớ nhất và chẳng bao giờ được thấy ở miền Nam là nuớc gạo và sấu dầm. Hai món tủ của thời thơ ấu.

Tôi ở Hà Nội có hơn hai năm, nhưng tình với Hà Nội thì lại quá tràn đầy. Bởi Hà Nội cho tôi toàn những kỷ niệm thật đẹp. Hà Nội chào đón tôi với đầy tình thương, với tất cả sự nuông chiều. Với những ngày tháng thật vô tư sung sướng. Hà Nội Và tôi như một cặp tình nhân mới yêu nhau. Tình đang nồng thắm đã phải chia lìa. Hỏi sao tôi không nhớ, hỏi sao tôi không thương, dù Hà Nội đã nghìn trùng xa cách.

                  Hồng Thủy




VĂN -THÚY MESSEGEE: Xe “Hại Điện”

Xe “Hại Điện”

Cuối năm 2018, tôi tậu một chiếc Tesla Model 3. Tôi không có thói quen vài ba năm lại đổi xe mới cho sang, mà giữ truyền thống có xe nào là lái cho đến khi nó chết bẹp chết dí, khoảng gần 200 nghìn miles hay đến tuổi mười tám đôi mươi mới thay. Năm đó chiếc Camry đã đến tuổi hưu cần phải thay xe mới để chạy qua chạy lại từ tiểu bang Maryland sang Virginia kiếm cơm mỗi ngày. Tính tôi lại thích bảo vệ môi trường, không thích đốt xăng dầu làm độc không khí. Năm 2018, Tesla còn khá mới trên thị trường, nhất là Model 3 vừa được tung ra cho giới tiêu dùng hạng trung, có ngân quỹ khiêm tốn, không thể với tay đến loại Model X giá cả trăm nghìn đồng. Thường thì ta không nên thử thời vận với những xe vừa được tung ra thị trường. Chúng còn quá mới, thế nào cũng có sơ sót khi gặp thực tế, đợi vài năm sau nhà chế tạo rút kinh nghiệm thì tốt hơn. Tuy nhiên, thời điểm đó, nếu tôi ôm một chiếc Camry nữa hay loại gì tương đương về dùng thì sẽ phải gắn bó với nó ít nhất hơn chục năm nữa, làm sao có cơ hội dùng xe điện để thỏa chí bảo vệ môi trường. Thế là một liều ba bảy cũng liều, tôi nhắm mắt đưa chân rước một em Model 3 về.

Dùng rồi mới thấy thích. Nó êm ru bà rù, không phát tiếng động rầm rĩ như xe xăng. Những ngày kẹt xe ngồi cứng trên xa lộ tôi vui trong bụng rằng mình không nhả khói làm ô nhiễm môi trường như cả nghìn xe khác chung quanh. Xe điện chạy như máy may điện ở nhà: đạp ga thì nó đi, khi thấy đèn đỏ từ xa cứ việc rút chân ga ra thì nó mất điện nên từ từ dừng lại, không phải đạp thắng. Chỉ dùng thắng trong trường hợp phải thắng gấp để tránh tai nạn. Nó không cần thay dầu nhớt, dầu hộp số, không thay bố thắng thường xuyên vì ít phải đạp thắng, không đại tu hay tiểu tu. Điều bất tiện cho nhiều người là nạp điện tốn thời gian. Tôi đi làm về gắn ống nạp điện tại nhà theo hệ thống chậm, qua đêm là đủ để đi làm ngày hôm sau. Cuối tuần nạp suốt 24/24, đầu tuần lại đầy bình đi làm trở lại. Khi đi đường xa thì khoảng 4 tiếng phải “đổ xăng”, nhưng đó cũng là lúc tài xế cần “xả nhớt” hay mua nước giải khát ; khoảng 45 phút là lên đường trở lại.

Đến cuối năm 2025 thì chiếc Tesla chưa đến tuổi hưu nhưng lại vướng phải một lỗi khá lớn: nó chỉ có thể nạp điện theo cấp bậc 1 tại nhà, chậm nhất, mất khoảng 24-48 tiếng mới đầy bình, hay cấp bậc 2, dùng điện 240 volt (mà nhà tôi không có) khoảng 4, 5 tiếng. Cấp bậc nạp điện nhanh nhất tại các trạm Supercharger của Tesla dọc theo xa lộ là cấp 1, chỉ mất độ 45 phút, thì xe tôi nó “chê” không chịu làm việc. Đi đường trường xa mà không ghé supercharger để nạp điện được thì tựa như cưỡi ngựa què rồi, hỏng bét. Đồ đạc càng hiện đại thì càng hại điện. Tìm hiểu trên mạng thì vấn đề này tốn độ 1 nghìn 6 để chỉnh lại. Sẵn dịp tôi cũng muốn “tút” lại nhan sắc cho nó một tí sau nhiều lần cọ quẹt trầy trụa chỗ này chỗ nọ làm mất đi sắc đẹp thuở xuân thì. Xưởng sửa chữa thân xe (body shop) của Tesla bảo tôi chụp hình vài tấm gửi cho họ rồi phán: hơn 10 nghìn đồng!

Thế này thì quăng nó đi, ẵm một em mới về cho rồi. Dịp Giáng sinh  là lúc mình có thể làm ông già Lô Ên tự thưởng quà cho mình. Tiền giảm thuế $7500 của chính phủ dành cho ai tậu xe điện đã hết hạn từ tháng 9, nhưng Tesla có deal đặc biệt giảm giá $6500 cho những người thuê xe (lease). Thế là bút sa gà chết, tôi ký hợp đồng thuê xe 3 năm.

FSD Full Self Driving – Hệ thống tự  lái

Chiếc xe mới có hệ thống lái xe tự động FSD – Full Self Driving, muốn dùng  phải trả thêm giá $99 một tháng, hình như trả đến 8 nghìn thì đủ, khoảng gần bảy năm. Hệ thống lái xe tự động cho phép mình khỏi lái, chỉ ngồi chơi xơi nước để “nó” lái cho mình. Nghe như chuyện khoa học giả tưởng mà có thật. Tôi đang hứng chí “chịu chơi chơi tới cùng” nên đặt bút ký luôn. Người ta bảo muốn trẻ lâu thì mỗi năm làm một điều mới mình chưa làm bao giờ. Điều ấy là đây: dùng xe tự lái. Tự thấy mình vẫn còn sáng suốt có thể tiếp tục lái đi đây đó như hằng mấy chục năm nay, nhưng càng lớn tuổi càng hay gặp những điều bất ngờ. Hôm nay khỏe mạnh đàng hoàng, sáng mai ngủ dậy không đứng lên được nữa; hay tai bỗng ù đi, ai bảo gì cũng “Hả? Hả?”; hay mắt bỗng mờ đi không thấy đường, v.v. Nhiều  ông bà cụ hàng xóm trong làng già, nơi tôi ở, ngày càng thu hẹp việc lái xe đi lại. Hoặc là họ chỉ lái xe ban ngày, tránh ban đêm; hoặc chỉ lái trong nội bộ làng già, tránh ra đường xá đông đúc bên ngoài; hoặc bỏ lái xe hẳn, chỉ đón xe bus hay kêu Uber khi cần đi lại. Tôi thì thích khám phá mới, và cũng phòng khi mình cần lái xe đường dài 4, 5 tiếng như đi lên New York chẳng hạn, hay đi họp hành tiệc tùng ban đêm, ra về lúc khuya khoắt mệt mỏi, thì để “nó” lái  mình đi cho khỏe!

Lớn tuổi rồi tập tành cái gì mới cũng bỡ ngỡ. Gặp thế hệ Gen X, Gen Z thì chuyện chẳng có gì mà ầm ĩ. Chúng nó sẽ tắc lưỡi : “Ối dào! Dễ như ăn cơm sườn!” Mình thì cứ bình tĩnh mà run! Tesla cũng rất cẩn thận, đòi hỏi tất cả các điều kiện “ắt có và đủ” mới chịu khởi hành. Phải buộc dây an toàn, chân phải nhấp thắng thì nút “tự lái” mới khởi động được, không thì nó mờ đi, bấm vào cóc có di chuyển. Sau đó thì nó bắt đầu thi công. “Nó” bẻ tay lái, nhìn trước sau qua lại, nhấn ga, lùi ra khỏi garage, đạp thắng, xoay đầu xe, tiến tới, cứ như tài xế thật đang điều khiển xe. Mắt “nó” không biết để đâu nhưng quan sát chung quanh rất kỹ. “Nó” thấy những lane xe trên đường, thấy xe cộ trước mặt hay bên cạnh mình, thấy đèn xanh đèn đỏ, thấy bảng Stop, thấy khách bộ hành đang băng qua đường hay vẫn còn đang đứng đợi bên góc đường, thấy xe bus đang bật đèn đậu lại rước khách thì đổi lane; thấy cả những xe đang đi bên cạnh bỗng chốc quẹt sang trước mặt mình một cách bất ngờ, v. v. Những điều “nó” thấy đều hiện lên trên màn hình trước mặt để mình theo dõi và trấn an. Đừng có lo, để “nó” lo cho.

Ba phong cách tự lái

Hệ thống tự lái này cho mình lựa chọn một trong ba “phong cách lái” tùy theo tuổi tác và tính khí của mình.

Thoạt tiên “nó” chọn cho tôi phong cách “rùa bò – sloth”. Ối giời ơi! Xe di chuyển chậm chạp như cụ già, nhất định tôn trọng vận tốc cho phép một cách nghiêm nhặt. Đường giới hạn 35 miles một giờ thì “nó” cương quyết giữ vững 35! Khi ngừng Stop thì dường như “nó” lẩm bẩm đếm “một, hai, ba, bốn, năm, sáu, bảy, tám, chín, mười!” rồi mới đủng đỉnh xê dịch! Giời ơi! Lái kiểu “rùa bò” này thì ra đường chúng chửi, mà mình cũng sốt ruột điên tiết, nghiến răng kèn kẹt không chịu được.

Thế là tôi đổi sang hệ thống “cơ bản – standard”. Loại này nhanh nhẹn hơn và hơi  trái luật “trong phạm vi cho phép” Vận tốc cho phép là 35 miles thì “nó” chạy phom phom ở tốc độ 40 miles. Đây đúng là tính khí của tôi. Trên đời này nào có ai giữ đúng tốc độ cho phép bao giờ, tôi luôn vượt lên chút đỉnh “trong phạm vi cho phép”! Ra ngoài xa lộ vận tốc 55 thì “nó” dũng cảm vượt lên 65-70 để không thua chị kém em đang chạy cùng trên đường. Thế mới phải chứ! Khi ngừng Stop thì “nó” chỉ đếm đến ba rồi đi, không nằm ụ như hệ thống “rùa bò – sloth”. Tôi đã chọn phong cách lái hợp với tính khí của mình.  

Ngoài ra còn có phong cách “hung hăng – aggressive” nhưng tôi chưa dám thử. Nghe nói phong cách này sẽ thường xuyên vượt tốc độ lên đến 120%, lạng qua lạng lại, đổi lane liên tục để rút ngắn thời gian, v.v. Loại phong cách này ta thấy nhan nhãn trên đường, nhất là lúc tan sở kẹt xe. Nếu Tesla không tạo ra phong cách tự lái hung hăng này thì thế nào cũng bị khách hàng tẩy chay. Tôi thì tôi để cho lũ trẻ chọn phong cách hung hăng, mình lớn tuổi  rồi, an toàn là chính. Đôi khi cũng hơi thắc mắc: hung hăng đến mức độ nào? Nếu xe chạy quá tốc độ hay quá hung bị pú lít phạt thì ai trả tiền phạt nhỉ? Có thể gửi giấy phạt về cho Tesla được chăng? Rồi ai chịu trách nhiệm khi bảo hiểm tăng tiền? Người ta kiện Tesla ra ba tòa quan lớn đấy chứ! Muốn biết thì phải thử cho biết, nhưng thôi, tôi đành ngồi nhà chịu dốt.

Để xe tự lái cho mình có sướng không?  

Cái gì mới, lạ cũng phải tập cho quen mới thấy thích được. Cũng như khi mới có hệ thống định vị GPS, mọi người phải học vừa lái xe, vừa nhìn đường, vừa liếc nhìn bản đồ, vừa lắng nghe “lệnh” phát ra từ máy. Đối với hệ thống tự lái cũng vậy. Khi phải ngồi yên như bụt trên chùa, để xe tự lái tôi mới thấy mình trở lại bản tính “back seat driver” ngày xưa khi còn ông xã. Ông lái xe còn mình “lái tài xế”, mồm liên tục la lối ối a: “Thắng! Thắng! Đèn đỏ kìa!” ; “Coi chừng! Có xe bên cạnh! Đừng sang lane!”; “Quẹo! Quẹo! Tới chỗ quẹo rồi!”, v.v. Bây giờ ngồi với hệ thống tự lái của Tesla, mình tính một đàng còn “nó” nghĩ một nẻo. Tính tôi nếu biết sẽ phải quẹo trái cách đó 3 miles là tôi tìm cách sang lane trái ngay từ bây giờ. Tesla thì không. “Nó” cứ tà tà ôm lane phải, đến còn 0.3 hay 0.2 mới chịu bật đèn hiệu sang lane! Sốt ruột lắm, nhưng nghĩ cho cùng  “nó” vẫn thực hiện được điều cần làm, còn tôi thì cứ nhắng nhít không yên! Để “nó” lái đưa mình đi mà nhiều khi ruột nóng như lửa đốt, tiếng Anh gọi là “bụng thắt lại một nùi”.

Tuy nhiên, có những lúc “nó” xuất sắc hơn người trần mắt thịt như mình. Lần đó tôi lái xe sang Virginia, đang trên xa lộ 495 thì mưa tuôn xối xả, nước đập ào ào lên mặt kính xe cứ như mình đang vượt thác Niagara! Lúc đó tôi hoàn toàn không thấy đường, chỉ thấy nước đổ dày đặc trên cửa kính. Nếu mình đang lái thì chắc phải bật đèn khẩn cấp rồi ráng tách vào lề tạm ngừng lại giây lát. Trong khi đó thì “nó” vẫn chạy phom phom! Mắt mình nhìn vào kính xe trước mặt (windshield) chẳng thấy chi, còn “nó” nhìn dưới lòng đường hay trên trời đâu đó, và thế là “đường ta ta cứ đi”!  Phục quá!

Những lúc khác thấy quý “nó” là những lúc đường kẹt xe phải nhích từng chút một. Ngày xưa còn đi làm, đến chiều lái xe về nhà sau một ngày vất vả mệt mỏi, tôi sơ nhất cảnh kẹt xe gần như đứng chựng lại. Mình cứ căng mắt ra nhấp thắng, nhấp ga, nhấp thắng, nhấp ga, vừa cố bám đuôi xe trước, vừa cố giữ khoảng cách nhỏ để không ủn đít nó. Lái xe một giờ với vận tốc 10-20 miles còn mệt hơn lái một giờ vận tốc 60 miles rất nhiều. Bây giờ để “nó” lái thì tôi ngồi tỉnh bơ, nghe radio hay mơ mơ màng màng, mackeno, bao giờ đến thì đến.

Ngày xưa lúc còn ông anh, tôi hay đưa mẹ tôi lên thăm anh, sáng đi chiều về, lái độ hơn 3 tiếng mỗi chiều. Ra về, xuôi Nam vào buổi trưa hay bị mặt trời chiếu vào mặt, vừa chóa mắt vừa buồn ngủ, cứ phải căng mình lái cho tỉnh táo. Bây giờ ông anh đã mất nên không lên New Jersey nữa. Nếu có đi thì sẽ để hệ thống tự lái làm bác tài, bà chủ cứ lim dim gật gù cho khỏe.

Đối với những quý vị cao niên như tôi, mắt mờ dần, não chậm dần, tay chân bắt đầu lạng quạng, thì vẫn lái xe đi lại được, chưa đến nỗi gây tai nạn khủng khiếp, nhưng phải tội hay cọ quẹt trầy xước đây đó. Cũng rầu lắm chứ. Để “nó” lái thì bảo đảm xe lành lặn trơn tru. Bình thường tôi dùng hệ tthống xe tự lái độ 30 phần trăm, còn lại thì mình tự lái. Cũng muốn giữ tay nghề, và thật ra ngồi cho “nó” lái thì mình vẫn phải ngồi quan sát chăm chú, đâu dám bỏ lơi.

Những cái “ dở hơi “ của xe tự lái

Tesla luôn cố gắng cải thiện hệ thống tự lái, chẳng hạn như gần đây “nó” biết tránh ổ gà hay những ụ nổi (bump) trên đường khá tốt, chứ lúc đầu dở lắm. Tuy nhiên, hệ thống tự lái của Tesla vẫn chưa hoàn hảo. Có lúc bản đồ bảo đến đó thì quẹo mà nó đi trớt quớt, sau đó phải vòng lại tốn kém thì giờ. Sau này mỗi lần thấy sắp “lỡ chuyến đò” là tôi cướp tay lái bắt nó quẹo ngay. Có những lúc đang chạy bon bon bỗng “nó” kêu “keng” một tiếng rồi ngưng hệ thống tự lái! Thế này là thế nào? “Nó” bảo mình một cách ngon ơ: “Thôi bây giờ không lái nữa, bà tự lái đi nhé!” Thế là mình phải ra tay lèo lái, đến lúc nào đó nút “tự lái” bật lên lại thì mới được quyền bấm nút ra lệnh cho “nó” lái tiếp. “Nó” còn màu xám xịt là không được ép “nó”, bấm vào chẳng ăn thua gì. Tôi nhận xét hình như những lúc xe cộ nhốn nháo hỗn loạn, “nó” không dám xử lý tình hình nên giao trách nhiệm cho bà chủ liệu lấy. Không sao, để  bà tính cho, chứ bà cũng không tin tưởng mày lắm đâu!

Điều tôi không ưng ý lắm là khi vào bãi đậu, “nó” hay tìm chỗ đậu xa xa, không dám chen vào nơi chen chúc ngay trước cửa hàng cửa tiệm. Hay có lẽ tại tôi chọn phong cách lái “căn bản – standard”? Nếu chọn cách lái hung hăng thì nó có mạo hiểm hơn không? Chẳng biết được nhưng vào đến bãi đậu thì tôi hay giành tay lái đến đậu đúng chỗ mình muốn.

Những lúc “nó” muốn đi một đàng mà mình muốn đi một nẻo thì mình có quyền cướp tay lái làm theo ý mình. Khi mình giành tay lái, dẹp “nó” qua một bên thì “nó” bật lên câu hỏi: “Tại sao bà không để tui lái?” và cho bốn câu trả lời để mình chọn: 1- Navigation (mi đi lộn đường rồi, ta phải sửa lại); 2- Preference (mi lái không hợp ý ta, ta phải giành lái theo kiểu ta thích); 3- Discomfort (mi lái ta không cảm thấy thoải mái); 4- Critical (nguy kịch, cần phải giành lái với mi không thì có tai nạn). Thường thì tôi chọn câu trả lời “Preference”. Ừ tao thích lái kiểu của tao hơn!

Cách đây chục năm tôi đã nghĩ đến lúc mình mắt mờ, tai lãng, đầu óc mụ mị thì cần phải dùng xe tự lái. Lúc đó chuyện tự lái vẫn còn như khoa học giả tưởng. Những năm đó mình còn nghĩ tếu: ngồi xe tự lái không biết có lúc nào phải lên tiếng năn nỉ “nó”: Làm ơn dừng lại cho ngộ lái chút đi. Không dừng lại ngộ lái ướt xe hết bi giờ!” Bây giờ nhớ lại cứ tủm tỉm cười một mình. Muốn lái thì cứ bảo “nó” dừng lại cho mình lái, ai cấm đâu. “Lái” theo nghĩa nào cũng vậy!

Thúy Messegee, 5/2026




Lạp Chúc Nguyễn Huy: GIẤC MƠ LÁ RỤNG VỀ CỘI

Giấc mơ lá rụng về cội

CÂU LẠC BỘ VĂN HÓA Montreal viết về

Hội Rồng Vàng Montreal

Lạp Chúc Nguyễn Huy

Sau mùa lá vàng rơi, cái lạnh trở về, nỗi cô đơn lại đề nặng nên nỗi lòng người viễn xứ nhất là lòng người già hưu trí sống lẻ loi trong một căn phòng nào đó đang muốn thực hiện giấc mơ ‘’lá rụng về cội’’.

Sau khi sống tỵ nạn mấy chục năm tại hải ngoại phải vật lộn với đời sống vật chất đôi khi vất vả, với tâm hồn có cảm giác cô đơn :

Bỗng thấy buồn man mác,

Về đâu cũng tha hương.

Với tâm trạng đó mà một số Việt Kiều muốn mang tiền tiết kiệm và lương hưu về sống cuộc đời còn lại tại quê hương mặc dầu lời khuyên của con cháu, lời khuyên của nhiều video YouTube kể lại nhiều trường hợp Việt Kiều đã vội vã trở lại Hoa Kỳ và Canada chỉ sau một thời gian ngắn tái định cư tại quê hương.

Ôi thật sung sướng làm sao cái thuở ban đầu quyết định ‘’lai hồi cố quốc’’. Thời gian bán nhà bán xe từ bỏ quê hương đã cưu mang lúc minh tỵ nạn cộng sản là thời gian mơ mộng đẹp nhất của Việt Kiều  muốn hồi hương để: Sáng dạy là nghe thấy tiếng nói của cháu, của em trong nhà, nhìn ‘’nắng mới hắt qua song’’ ‘’nghe tiếng gà trưa gáy não nùng’’, ra quán cà phê thì đầy bạn bè thăm hỏi, trưa chiều thì nếm đủ thứ canh, thứ cá, thứ rau mà mình hằng mơ ước bên trời Tây,

Sau thời gian mơ mộng ‘’lá rụng về cội’’ thay vì nghe lời khuyên của thi sĩ Hồ Dzếnh ‘’thơ viết đừng xong, thuyền trôi chớ đậu’’ thì bác Việt Kiều mua vé máy bay một chiều, mang hết tiền tiết kiệm về sống trên quê hương. Rồi cuộc đời đổi mới của Bác sẽ trải qua những giai đoạn hội nhập nghịch chiều sau:

1.   Tuần trăng mật.

2.   Aỏ và thực.

3.   So sánh 2 quê hương

4.   Về hay ở?

 Hội nhập nghịch chiều

 Dựa trên nhiều khảo cứu của đại học thì sau khi đã sống hội nhập với đất nước đã cưu mang lúc tỵ nạn thì việc trở về quê hương cũ thì di dân sẽ đối diện với sốc văn hóa của tái hội nhập hay hồi nhập nghịch chiều (choc culturel inversé ou choc culturel du retour). Sốc văn hóa của tái hội nhập gồm 4 giai đoạn : tuần trăng mật, nhận thức ảo và thực, so sánh môi sinh, về hay ở.

Tuần trăng mật.

Trong mấy tuần lễ đầu là cuộc đời màu hồng (tout est rose) gặp lại gia đình chú bác, bạn bè xưa, tận hưởng đi du lịch khắp đất nước, thưởng thức mọi món ăn hạp khẩu vị, cảm giác được yêu thương qúy mến nhờ quà cáp, tiền bạc giúp đỡ bà con …

Aỏ và thực.

Đến khi du lịch thì hết chỗ thăm viếng, bạn bè trở về với đời sống thường nhật, đời sống như dừng lại, buồn chán quay quanh các bữa ăn, đi ra đi vào quanh nhà nên mới có thì giờ nhìn thấy chênh lệch văn hóa trong giao tế, cư xử, đời sống thực tế của môi sinh mình mơ tưởng bấy lâu nay.

Về văn hóa ứng xử giữa con người với con người và giữa con người với xã hội thì cảm thấy xa lạ với văn hóa ứng xử của đất nước đã cưu mang cuộc đời tỵ nạn cộng sản của mình : chen lấn giữa người với người, giữa người với xe cộ lưu thông, không biết nói cám ơn, trong xe buýt không biết nhường chỗ cho người già, phụ nữ thai nghén, đi mua bán thì bị chặt chém vì bị coi là khách du lịch. Ảo ảnh hồi hương hiện nên sáng chói trong văn hóa ứng xử khi túi ngoại tệ mang về đã cạn khống còn đáp ứng được đòi hỏi tiền bạc của anh em, họ hàng, bạn bè.

Về y tế, sốc văn hóa mạnh nhất khi bị máu nhồi tim, đột qui …cần  cấp cứu, nhập viện gấp thì mới thấy mạng sống rẻ rúng vì phải chờ đợi, đóng tiền trước rồi mới được khám nghiệm.

Lúc đó mới nhớ đến Tây nó nói’’ Chẳng giấc mơ nào mà không có ác mộng’’ (aucun rêve sans cauchemar).

Về thể xác thì phải tái hội nhập với thời tiết nóng ẩm, môi trường ô nhiễm vì khói, bụi, tiếng còi xe inh ỏi, công viên để thư dãn thì không an toàn.

Hành chánh, chính trị : Tự do, nhân quyền không có chỗ đứng,   công an không mời cũng đến nhà, đi đến tạm trú nơi nào cũng phải đăng ký với công an khu vực, 

So sánh 2 quê hương

Sau khi đã nhìn thấy thực tế của giấc mơ hồi hương, người di dân nghịch chiều mới bình tĩnh ngồi so sánh Việt Nam XHCN với đất nước tự do đã cưu mang lúc mình tỵ nạn cộng sản mà cảm thấy mình là kẻ xa lạ ngay trên quê hương mà mình mong nhớ rồi tỉnh lại với bài tứ tuyệt của Tô Đông Pha mang ý nghĩa cảnh trí tuyệt đẹp của núi Lô và sông Triết mà mọi người mơ đến thăm nhưng khi đến rồi thì cảnh núi Lô và sông Triết vẫn vậy nhưng cảm nhận chủ quan của người vãn cảnh thì hoàn toàn thay đổi khi đứng nhìn tận mắt cảnh hằng mơ ước.

Lô Sơn Yên toả Triết Giang triều,

Vị đáo bình sanh hận bất tiêu,

Đáo đắc hoàn lai vô biệt sự,

Lô sơn yên tỏa Triết giang triều[1].

Về hay ở?

Sang tỵ nạn cộng sản tại Montreal, người Việt tỵ nạn cộng sản bắt buộc phải hội nhập để sinh tồn không có lưa chọn nào khác. Nhưng nay trở về Việt Nam với tiền hưu, tiền tiết kiệm thì người di dân nghịch chiều có quyền lựa chọn:

-Quay về Montreal để tiếp tục sống đời sống tự do, nhân quyền,

– Tái định cư trên quê hương thì phải thích ứng với một xã hội thiếu văn hóa ứng xử, thiếu nhân quyền, tự do. Lúc đó mới nhớ đến Tây nó nói’’ Chẳng giấc mơ nào mà không có ác mộng’’ (aucun rêve sans cauchemar).

 Mặc dù có cùng một văn hóa cổ truyền với quê hương[2] (đi chùa, thờ Mẫu, lên đồng, nghe ca trù, nhạc Trịnh Công Sơn …) nhưng sau một thời gian sống tại quê cha đất mẹ thì giấc mộng trở thành ác mộng và phải tức tốc quay về đất nước đã cưu mang mình trong lúc tỵ nạn cộng sản. Tại sao? Cũng tại chênh lệch văn hóa (décalage culturel) nhất là trong văn hóa ứng xử, giao tế mà ra. Vấn đề này sẽ được phân tích dưới đây.

Chênh lệch văn hóa tại Âu Châu

Hiện nay 15 quốc gia Âu Châu có một chương trình tái hội nhập (Réintégration) hay hội nhập nghịch (intégration contraire) cho di dân (EURP: European Reintegration Programme).

 Ngày 1/4/2022, “Joint Reintegration Services” có dịch vụ giúp đỡ việc hội nhập nghịch cho các di dân trở về quê hương cũ. Chương trình này không được hưởng ứng nhất là đối với di dân đến từ các nước chậm tiến không thể tái hội nhập với quê hương cũ.

Tại Montreal có nhiều di dân người Pháp qua sinh sống và một số muốn trở về Pháp thì được bà Sylvie Gros, chủ tịch ‘’Association d’aide France Retour Accueil’’ giúp đỡ hồi hương.

Web RetourenFrance.fr của bà Anne-Laure Fréant hướng dẫn di dân hồi hương về Pháp đã nêu nên những khó khăn cho sự tái hội nhập thí dụ như vấn đề hành chánh giữa Pháp và Quebec, về khác biệt giữa hai hệ thống y tế, về gia cư như khó mướn nhà vì di dân hồi hương ‘’ni contrat à durée indéterminée et ni avis d’imposition des années précédentes à présenter’’.

Cái khó khăn nhất của di dân nghịch chiều là ‘’Chênh lệch văn hóa’ (décalage culturel). Pháp và Quebec có cùng chủng tộc, ngôn ngữ, có cùng một trình độ văn minh, nhưng có nhiều khác biệt về văn hóa vì văn hóa đời sống tại Montreal nghiêng về văn hóa Bắc Mỹ tức Hoa Kỳ. Vì vậy mà có di dân Pháp không về hoặc về rồi lại trở lại sống ở Quebec vì việc tái hôi nhập rất khó khăn nhất là vấn đề chênh lệch văn hóa như bà Anne-Laure Fréant nói ‘’ Ảo tưởng nếu tin rằng tìm lại được sự khoan khoái văn hóa ngay những ngày đầu tiên’’ (croire que l’on va retrouver son confort culturel dès les premiers jours est une illusion).

Tóm lại, nhin qua các bài khảo cứu về di dân nghịch chiều tức di dân quy hồi cố hương không khả thi cho nhiều người là vì:

1.   Chênh lệch văn hóa và khác biệt trình độ văn minh vật chất giữa hai quốc gia.

2.   Dù có nhiều điểm tương đồng như trường hợp Quebec-Pháp, chênh lệch văn hóa vẫn là cản trở lớn nhất cho sự hồi hương cố quận.

Lạp Chúc Nguyễn Huy

Hội viên hội Rồng Vàng Montreal




SƯU TẦM – Công Chúa Kế Vị Juliana Của Hà Lan & và CUỘC CHIẾN PHÁP LÝ Đầy Thú Vị Khi Bà Sinh Ra ở CANADA.

Tháng 1 năm 1943, Canada đang che giấu một bí mật hoàng gia cùng một vấn đề pháp lý chưa từng có tiền lệ.

Công chúa kế vị Juliana của Hà Lan đã chạy tới Ottawa sau khi quân Đức Quốc xã chiếm đóng quê hương bà. Khi ấy bà đang mang thai, và đứa bé trong bụng không phải một đứa trẻ bình thường. Đó là người có thể kế thừa một trong những ngai vàng lâu đời nhất châu Âu.

Nhưng một cuộc khủng hoảng pháp lý đang xuất hiện.

Nếu đứa trẻ được sinh ra trên đất Canada, luật Canada sẽ tự động công nhận em bé là công dân Canada. Và luật kế vị hoàng gia Hà Lan, vốn cổ xưa, cứng nhắc và vô cùng nghiêm ngặt, có thể xem điều đó là lý do để tước bỏ quyền kế vị ngai vàng của đứa trẻ mãi mãi.

Các luật sư lúc ấy gần như hoảng loạn.

Việc trở về quê nhà là không thể. Tàu ngầm U-boat của Đức đang rình rập khắp Bắc Đại Tây Dương, còn cung điện hoàng gia ở Den Haag đã nằm dưới sự kiểm soát của lính Đức.

Vì thế, Canada đã làm một điều chưa từng có trong lịch sử, và có lẽ sẽ không bao giờ lặp lại nữa.

Ngày 19 tháng 1, chính phủ Canada ban hành một sắc lệnh đặc biệt. Phòng sinh tại Bệnh viện Civic ở Ottawa được tuyên bố là lãnh thổ ngoài thẩm quyền quốc gia.

Không thuộc Canada.

Không thuộc Hà Lan.

Không thuộc bất kỳ quốc gia nào trên thế giới.

Trong vài giờ quanh thời điểm sinh nở, căn phòng ấy đơn giản không còn là một phần của Canada nữa. Một khoảng trống địa lý. Một vùng chân không pháp lý được bao bọc bởi những bức tường bệnh viện.

Và trong không gian không biên giới đầy kỳ lạ ấy, Công chúa Margriet chào đời.

Khoảnh khắc tiếng khóc đầu tiên vang lên, bà là người Hà Lan hoàn toàn, hợp pháp và không có bất kỳ tranh cãi nào.

Không quốc tịch chồng chéo.

Không mối đe dọa nào đối với quyền kế vị ngai vàng.

Vấn đề đã được giải quyết bằng một trong những hành động ngoại giao sáng tạo nhất mà lịch sử thế kỷ 20 hiếm khi nhắc tới trong trường học.

Sau đó, căn phòng lặng lẽ trở lại là lãnh thổ Canada, và thế giới tiếp tục chuyển động như chưa từng có điều gì xảy ra.

Nhưng người Hà Lan thì không bao giờ quên.

Khi chiến tranh kết thúc và Hà Lan được giải phóng, 100.000 củ hoa tulip đã vượt Đại Tây Dương đến Canada như lời cảm ơn từ hoàng gia Hà Lan.

Và rồi, dường như một món quà vẫn chưa đủ, những củ tulip ấy tiếp tục được gửi sang mỗi năm.

Cho đến tận hôm nay, mỗi năm gia đình hoàng gia Hà Lan vẫn gửi 20.000 củ tulip tới Ottawa.

Nếu đi dạo qua thủ đô Canada vào tháng 5, người ta sẽ thấy hơn ba triệu bông tulip nở rực rỡ dọc theo kênh Rideau, trải dài qua công viên Commissioners, nhuộm cả thành phố bằng những làn sóng đỏ thắm, vàng óng và trắng tinh khôi.

Chúng không đơn thuần là hoa trang trí.

Chúng là lòng biết ơn sống mãi theo thời gian.

Mỗi bông hoa đều bắt nguồn từ một câu chuyện mà phần lớn những người đi ngang qua chưa từng biết đến.

Công chúa Margriet giờ đã 83 tuổi.

Bà vẫn thường đến Ottawa vào mùa tulip, đi dạo giữa những khu vườn tồn tại chỉ vì ngày xưa bà từng được sinh ra trong một căn phòng mà về mặt pháp lý… chưa từng thực sự tồn tại.

Có những lời cảm ơn sống lâu hơn cả những người đã trao chúng.
STầm




CA KHÚC: VẪN LÀ -NHẠC Trần Chương Lương – thơ THY LỆ TRANG – Ca sĩ KANA Ngọc Thuý




Truyện Ngắn KIM LOAN: LÊN ĐƯỜNG

LÊN ĐƯỜNG

Đọc xong email của Cathy, Khôi mỉm cười khoan khoái, bước xuống phòng khách pha cho mình ly cà phê nóng của buổi sáng cuối tuần. Trời đã cuối Thu, những chiếc lá khô cuối cùng lao xao đuổi nhulàm, với quyết tâm mạnh mẽ, Khôi muốn mình có một tương lai vững chắc để có thể lo được cho gia đình ở Việt Nam cũng như tạo dựng được hạnh phúc cho riêng mình sau này. Cuối cùng, Khôi cũng gặt hái được những trái ngọt thành quả của mình, trở thành một nha sỹ, có một cuộc sống “hình mẫu” đáng mơ ước của những con người thành đạt trên xứ người.

Khôi cũng đã bảo lãnh cha mẹ qua đây đoàn tụ, lo cho các em ổn đinh. Tổ ấm của Khôi cũng chẳng có gì để phàn nàn, một cô vợ xinh đẹp có một văn phòng kế toán riêng và đứa con gái ngoan ngoãn vừa bước vào đại học. Căn nhà của vợ chồng Khôi, không to lớn nguy nga, nhưng cũng đủ cho bất cứ ai bước vào cũng buông lời khen ngợi. Hàng năm, gia đình Khôi cũng biết tận hưởng những ngày vacation tuyệt vời ở khắp mọi nơi, từ những thắng cảnh đẹp ở Canada, đến nước Mỹ láng giềng, tắm biển Hawaii, xuống miền nam Mexico nắng cháy, đi các chuyến cruise, và mới đây nhất cũng đã du lịch khắp các nước Châu Á Châu Âu.

Cuộc sống no đủ, vợ chồng Khôi cũng thường đóng góp cho những công việc từ thiện, dù là của người bản xứ Canada hay của người đồng hương. Những lần quyên góp gây quỹ trong cộng đồng Khôi đều có mặt, cuối năm Giáng Sinh về thì đóng góp cho Hội Red Cross, World Vision, và những đóng góp cho những người nghèo khó tàn tật ở Việt Nam. Với Khôi, là người Công Giáo, không những vì làm theo giáo lý đã được học khi còn nhỏ, mà đơn giản là sự công bằng, khi mình may mắn có đời sống sung túc thì chia sẻ cho những người không có cơ hội và kém may mắn. Hơn nữa, Khôi cũng từng có những ngày thơ ấu thiếu thốn bởi đất nước chiến tranh, và nhất là hơn bốn năm trường sống trong trại tỵ nạn Thailand, những ngày thật gian khó, sống trong chờ đợi mỏi mòn và tuyệt vọng, nếu không có UNHCR (Cao ủy Tỵ nạn liên hợp quốc), và những người thiện nguyện viên người ngoại quốc và người Thái, thì những người tỵ nạn Việt Nam sẽ ra sao? Hành trang khi lên máy bay rời khỏi xứ Thái của Khôi vẫn đậm sâu những tình cảm thân ái, không biên giới của những người bạn thiện nguyện viên mà Khôi đã có dịp gắn bó.

Khôi đến trại ở tuổi hai mươi bốn, một mình không thân nhân đi theo, cũng chẳng có người thân ở ngoại quốc tiếp tế như nhiều người khác trong trại, Khôi bị rơi vào nhóm “con bà phước” ở trại, tức là sống nhờ vào cơm Cao Ủy vốn chẳng dư giả gì. Nhờ may mắn có chút vốn liếng tiếng Anh nên Khôi xin vào làm việc thiện nguyện trong trại, kiếm thêm chút đỉnh tiền lương tượng trưng và cũng là cơ hội học thêm tiếng Anh. Nhưng quả thực, cái mà Khôi học hỏi được thật vô giá, đã biến đổi con người Khôi phải biết sống vươn lên, giúp Khôi trưởng thành hơn rất nhiều.

Những người thiện nguyện trong tổ chức YWAM (Youth With A Mision) là những người đến từ nhiều nước khác nhau: Úc, Tân tây Lan, England, South Africa nhưng họ giống nhau ở trái tim nhiệt huyết, quên đi cuộc sống cá nhân, vượt nửa quả địa cầu để sống với người tỵ nạn, nâng đỡ tinh thần và chia sẻ buồn vui với người tỵ nạn.

Tuy mang tên Youth With A Mision nhưng các thiện nguyện viên có nhiều lứa tuổi khác nhau, trong đó Khôi thân nhất với Cathy vì cùng trẻ tuổi, lại cùng phụ trách trường dạy Việt Ngữ và Anh Ngữ cho các trẻ em tỵ nạn. Ngoài giờ lên lớp, Khôi hay có những buổi đi chơi ăn uống, tâm tình với cô bạn gái này. Qua Cathy, Khôi càng khâm phục và mến yêu những người thiện nguyện mà Khôi đã có dịp tiếp xúc trong trại. Từ bà già Rainie với giọng Úc khó nghe, cô Sue trong cao ủy xã hội, Shane trong bưu điện, Mark làm trong bệnh viện … Họ làm việc trong trại cho đến chiều thì trở về khu nhà cao ủy dành cho họ ngoài thị trấn, cơm ăn đạm bạc, mọi nhu cầu đều đơn giản tối đa. Cuối tuần ngày nghỉ, họ lại vào trại làm lễ ở nhà thờ, chia sẻ Kinh Thánh, đi thăm viếng người ốm đau, trầm cảm, neo đơn.

Khôi vẫn còn ấn tượng những ngày gần lễ Giáng Sinh, sau giờ làm việc, những người thiện nguyện ra về như thường lệ, nhưng khoảng 6-7 giờ tối họ lại xin trở vào trại, đi thành một nhóm, có dân tỵ nạn hiếu kỳ nối đuôi theo sau, đi vòng quanh các khu nhà trong trại, vừa đi vừa hát những bài Thánh Ca, phân phát những viên kẹo nho nhỏ cho trẻ em, những chiếc bánh cookies cho người lớn, mà sau này Cathy cho Khôi biết những chi phí đó đều do tiền túi của từng cá nhân bỏ ra, vì Cao Ủy chỉ cho họ chỗ ăn ở hàng tháng, còn mọi nhu cầu sa xỉ khác đều phải tự lo. Đó là những “Christmas Carol” đầu tiên trong đời mà Khôi được biết và sẽ không bao giờ quên.

Buổi chiều ở trại tỵ nạn rộn ràng nhất ở khu phát nước, mọi người tấp nập đến lãnh nước về nhà giặt giũ cơm nước. Khôi còn nhớ có lần nhóm bà Rannie, cô Sue đi ngang qua khu phát nước, những khuôn mặt quen thuộc nhận ra hai bà liền í ới gọi tên, họ cũng đáp lại dân tỵ nạn bằng những cái vẫy tay và nụ cười thân thiện. Có mấy đứa bé nghịch nước chạy loăng quăng làm vấy sình lên áo quần của cô Sue, vậy mà cô vẫn mỉm cười, ngồi xuống ôm ấp nựng nịu mấy đứa trẻ. Rồi những sáng chúa nhật sau giờ lễ, họ đi thăm những bệnh nhân trong bệnh viện, hỏi thăm, ủi an rất chân thành. Khôi đã nhiều lần xúc động và tự hỏi, họ là những người không cùng dòng máu, không cùng màu da, mà họ đối xử yêu thương với người tỵ nạn Việt Nam như thế, trong khi ở trại, đã có những đồng hương từng đánh nhau chỉ vì những tranh chấp nhỏ nhen.

Nhưng có lẽ kỷ niệm êm ái nhất và đẹp nhất là những tháng ngày gắn bó thân tình với Cathy, cô gái thiện nguyện viên xinh đẹp, dễ thương và nhỏ tuổi nhất trong nhóm YWAM.

Cathy bằng tuổi Khôi, cô mất mẹ từ khi lên mười, ba của cô là chủ tịch của hội thiện nguyện giúp người tỵ nạn ở Thailand. Cathy vừa tốt nghiệp đại học và đi theo con đường thiện nguyện của ba. Vì Khôi và Cathy cùng phụ trách trường học Việt Ngữ nên gặp gỡ nhau hàng ngày. Những giờ nghỉ trưa, đôi khi Cathy ở lại trại, theo Khôi và nhóm bạn Việt Nam về khu nhà Khôi ăn cơm Việt Nam. Cathy thích thú học thêm tiếng nói và văn hóa Việt, cũng như Khôi học thêm tiếng Anh từ Cathy. Sau bữa cơm, để trốn cái nắng cháy da của xứ Thái, hai người hay tản bộ trong khu trường học, hoặc ngồi nói chuyện dưới bóng mát của hàng cây bông giấy ngay trước văn phòng trường.

Cathy kể cho Khôi nghe những ngày ấu thơ ở quê nhà nơi vùng ngoại ô xa xôi nước Úc, cũng như Khôi kể cho Cathy về đất nước Việt Nam, về nơi chốn mình đã sinh ra, lớn lên và mãi nhớ thương khi phải lìa xa. Có lần Cathy đã khóc nức nở khi nhắc lại kỷ niệm những ngày cuối đời của mẹ mình khi nằm trên giường bệnh, Khôi chỉ biết bối rối nhìn đôi vai cô nàng run nhẹ dưới mái tóc màu hạt dẻ và đôi mắt đỏ hoe ngượng ngùng khi Khôi trao cho cô chiếc khăn lau nước mắt. Mối thân tình này chưa phải là tình yêu, nhưng đó là một tình bạn quá đậm đà khi có những ngày cuối tuần không gặp Cathy thì Khôi thấy thiếu vắng, nhớ nhung, để rồi sáng thứ hai lại nôn nao chờ đón chiếc xe “van” của nhóm thiện nguyện đi vào cổng trại bắt đầu một tuần làm việc mới.

Ngày Khôi lên đường đi định cư Canada, trong buổi tiệc tiễn đưa, Cathy tặng Khôi một lọ thủy tinh có một trăm ngôi sao nhỏ xíu do tự tay cô xếp với hy vọng mỗi ngôi sao là một may mắn trên con đường tương lai của Khôi. Mọi người đã cho Khôi một buổi tối tuyệt vời, những tình cảm vô giá làm Khôi nghẹn ngào. Hôm ấy, bên những người bạn Việt Nam và những người bạn ngoại quốc, Khôi đã rất xúc động nói lời tâm tình từ trong đáy tim:

“Nếu không có các bạn, chúng tôi đã không vượt qua những tháng ngày gian khổ của trại tỵ nạn. Các bạn đã cho tôi biết về tình yêu, niềm tin và hy vọng trong mọi hoàn cảnh của cuộc đời! Tôi mong ước sau này sẽ có dịp đi theo bước chân các bạn, dù chỉ là một thời gian ngắn ngủi để đền đáp lại những gì các bạn đã làm cho tôi, cho đồng bào tôi!”.

Rồi Khôi quay qua nắm tay Cathy, nói nhỏ: “Tôi sẽ trở về với các bạn”.

Vậy mà bao nhiêu năm qua Khôi chưa làm được lời hứa ấy. Thỉnh thoảng trong những cuộc vui, hoặc đêm về thao thức vì những tháng ngày cũ, Khôi cũng tự trách mình, nhưng rồi dòng xoáy cuộc đời với chuyện cơm áo hàng ngày đã cuốn hút Khôi trở lại, bận rộn liên miên, những kế hoạch, những mục tiêu của vợ chồng con cái vẫn chờ đợi Khôi phải hoàn thành cho tròn nghĩa vụ người chồng người cha trong gia đình. Khôi lại tự nhủ, những đóng góp tiền bạc hàng năm của mình cũng tạm đủ cho lời hứa năm xưa.

Nhưng thời gian gần đây, có phải vì tuổi bắt đầu “về già” hay vì còn canh cánh lời hứa đó, mà những cuộc vui, những niềm vui mà Khôi từng tham gia đã không còn hấp dẫn Khôi như trước nữa? Đôi khi, giữa những cuộc vui ồn ào bia rượu, các ca sỹ đang ca hát ầm ỹ cho những người ra sàn nhảy, Khôi chỉ muốn bỏ về nhà, vào căn phòng của mình, uống một ly café, nghe một bản nhạc êm dịu, đọc một cuốn sách yêu thích. Nhẹ nhàng và đơn giản như những đêm tỵ nạn Thailand, có Khôi và mấy người bạn với cây đàn guitar, một bình trà nóng, vài chiếc bánh kẹo và một mảnh sân ngập đầy ánh trăng, cùng nhau tâm tình, ca hát, thậm chí chỉ là im lặng nhìn nhau, vẫn cảm thấy ngọt ngào ý nghĩa của cuộc đời, tình bạn và tình yêu. Khôi bỗng thèm da diết cái thời gian khó khăn, đơn sơ, chan chứa tình người ấy biết bao .

Có phải khi cuộc sống nghề nghiệp công danh và gia đình ổn định, không còn gì để mơ ước nữa, thì người ta bắt đầu mệt mỏi và hay hồi tưởng lại quá khứ, nhất là quá khứ gian khổ?

Mùa hè năm ngoái ở Florida, trong khi vợ con nghỉ ngơi tại hotel, Khôi đi dạo biển trong ánh chiều hoàng hôn, một chiếc thuyền con mong manh xa xa tận chân trời đã làm Khôi nhớ lại chuyến vượt biển của mình, con tàu của Khôi cũng cập bến Thailand vào một buổi chiều muộn như thế, và bao nhiêu kỷ niệm vui buồn lại ùa về, tươi sáng sống động như tuổi trẻ ngày đó của anh.

Có đêm Khôi còn nằm mơ thấy mình đang nằm trong bệnh viện của trại tỵ nạn, có những khuôn mặt thân quen đang ngồi xung quanh ân cần thăm hỏi, như Cathy, như Sue, như Mark, như bà Rannie, và có cả giấc mơ rõ ràng ngày cuối năm lạnh lẽo năm ấy, Khôi và các thầy cô giáo Việt Nam ở trường học đãi nhóm thiện nguyện một bữa bánh xèo, họ ăn say mê hết mình khen ngon, Khôi còn giải thích cho Cathy biết, sở dĩ có tên “bánh xèo” vì khi đổ bột vào chảo tạo nên âm thanh “xèo xèo” làm cô ấy cười hồn nhiên như đứa trẻ.

…………………………………………………………………..

Mới đây qua facebook Khôi liên lạc được với một người bạn tỵ nạn cũ hiện đang ở bên Úc. Anh bạn này trong chuyến về thăm Thailand đã bắt liên lạc được với vài người trong nhóm thiện nguyện YWAM cũ, trong đó có Cathy. Người bạn cũng cho Khôi biết nhóm YWAM ngày xưa, ngoại trừ mấy người đã quá già, còn tất cả những người còn lại vẫn đi khắp nơi giúp người tỵ nạn. Trời ơi, bao nhiêu năm qua, bao nhiêu người tỵ nạn như Khôi đã thay đổi cuộc đời sau khi rời trại tỵ nạn, vậy mà họ vẫn miệt mài với đời hiến thân, hy sinh vì lý tưởng cao đẹp của họ ư? Khôi bỗng thấy buồn, xấu hổ vì lời hứa của mình cũng chỉ là môi miệng của một giây phút cao hứng bất chợt.

Khôi đã mất hơn một tháng chìm đắm trong ray rứt, băn khoăn, hồi tưởng lại những tháng ngày gian khổ nhưng đầy ý nghĩa xưa kia, rồi email cho Cathy. Thật xúc động khi Cathy vui mừng sung sướng khi nhận được mail của Khôi. Hai người nhắc lại bao nhiêu kỷ niệm cũ.

Cathy cho biết đã lập gia đình, anh ấy tên John, có cùng lý tưởng với Cathy, hai người không có con và quyết định tiếp tục vui sống đời thiện nguyện đi khắp đó đây. Hiện vợ chồng Cathy đang ở Miến Điện, một đất nước triền miên trong khó khăn và nội chiến dưới chính phủ quân sự độc tài. Gần đây đất nước này đã có chút đổi mới, canh tân trong nội các và quốc hội, mở cửa thân thiện với thế giới phương tây để mưu cầu sự phát triển cho dân tộc. Khi Khôi ngỏ lời muốn đến đó làm thiện nguyện, Cathy mừng rỡ cho biết họ đang rất cần nhiều bác sỹ, nha sỹ đến khám bệnh, chữa răng cho những người dân nghèo ở vùng nông thôn và ngoại ô thủ đô Yangon. Thời gian ít nhất cho thiện nguyện viên là từ sáu tháng cho đến một năm, tiền vé khứ hồi tự lo, cao ủy liên hợp quốc chỉ lo phần ăn ở.

Khôi bàn với vợ, lúc đầu cô ấy phản đối yếu ớt, nhưng khi Khôi kể về những kỷ niệm thời còn ở tỵ nạn Thailand, cô ấy đã thông cảm và ủng hộ cho Khôi đi một năm, vừa thực hiện lời hứa xưa kia, vừa gặp gỡ lại bạn bè cũ, coi như một chuyến du lịch nghỉ ngơi sau bao nhiêu năm làm việc.

Đã có biết bao nhiêu chuyến đi trong đời, nhưng chưa có chuyến đi nào làm Khôi nao nức bồi hồi như chuyến đi này. Vẫn biết ở xứ này thời gian trôi qua vun vút, nhưng sao Khôi vẫn cứ mong thời gian qua mau hơn nữa, vì như email vừa rồi của Cathy vừa khẳng định lại, mọi việc đã thu xếp xong, tức là một tuần sau ngày lễ New Year năm nay, Khôi sẽ lên đường!

KIM LOAN

CÓ AI TRỞ VỀ PANATNIKHOM?

Có ai trở về Panatnikhom
Cho tôi gửi những nồng nàn ngày cũ
Khung trời đó đã nhiều rong rêu phủ
Biết chăng ai lạc mất một mối tình

*

Đường về chốn xưa chắc nhiều bâng khuâng?
Hàng rào kẽm gai một thời cách trở
Trại tỵ nạn gắn bó như hơi thở
Những trái tim lưu luyến vẫn tìm về

*

Một lần thôi, cũng đã lỡ hẹn thề
Tuổi đôi mươi, tôi với người gặp gỡ
Panatnikhom chưa xa đã nhớ
Ôi những cơn mưa ướt hai mái đầu

*

Để gió buồn len lén suốt canh thâu
Ước mộng xa vời, tương lai mờ tối
Nên lời yêu, người ơi, không cần nói
Tôi chẳng giận hờn, (biết ngày mai ra sao!)

*

Nên những ngày Panat lòng xôn xao
Từng phút từng giây nâng niu chất ngất
Đôi mắt người chiều hoàng hôn ấm áp
Tan chảy rộn ràng hai mảnh tim côi

*

Nên giữa những cơn mộng mị chơi vơi
Tôi thức giấc nghe nỗi buồn chợt đến
Bóng trăng khuya vỗ về khung cửa khép
Êm đềm ru Panat giấc muộn màng

*

Những khu nhà nằm im lặng, miên man
Ai nức nở nhớ con tàu vượt biển
Rời xa quê hương, không lời từ biệt
Tự do đâu rồi, trại cấm bơ vơ!

*

Tình đến tình đi, ai nỡ hững hờ
Chuyện hợp tan muôn đời nay vẫn thế
Chẳng là trăm năm, không là tri kỷ
Bước qua đời nhau, như duyên phận tình cờ

*

Khi chia tay, người chẳng hứa đợi chờ
Đời phía trước dẫu muộn phiền giăng lối
Để lại sau lưng Panat hấp hối
Phi trường thẫn thờ, Bangkok vấn vương

*

Bỏ lại Thailand cả một trời thương
Panat-Sikiew nắng mưa rong ruổi
Trên những nẻo đường bể dâu biến đổi
Giữ cho nhau miền ký ức ngọt ngào

*

Ai trở về thăm Panat năm nào
Gửi giùm tôi, tên một người, theo gió thoảng
Gửi nhan sắc, tuổi thanh xuân lãng mạn
Còn bài thơ, tôi giữ lại riêng mình

KIM LOAN