VTLV – TRANG ĐẶC BIỆT: CHÙM TRANH VẼ Của Họa Sĩ TUYẾT NHUNG.
*
*
*
*
*
*
*
*
*
VĂN CAO MỴ NHÂN – HỘI TRĂNG QUỲNH & QUÂN LỰC VNCH – AI CÒN NHỚ …AI ĐÃ QUÊN…
HỘI TRĂNG QUỲNH
Nói tới người Việt Nam làm thơ thì rất nhiều, từ cổ chí kim, từ đông sang tây, nơi nào có người Việt Nam cư ngụ, là y như có thi sĩ, vì quý vị vẫn thường ví mỗi người Việt Nam là có có một thi sĩ trong tâm hồn, đến nỗi thơ ca tràn ngập đều khắp các sinh hoạt cuộc sống nhân dân ta.
Người Việt Nam làm thơ nhiều đã đành, không dành hẳn cho riêng giới văn nhân, tài tử, thích nhả ngọc, phun châu, mà thơ ca đã ưu ái cả giới bình dân, suốt ngày làm việc chân tay, vẫn có thể thở ra những câu thơ thay cho điều cần bày tỏ ý kiến, hoặc quan niệm của mình.
Đã thế, tôi còn cảm thấy phái nữ làm thơ nhiều hơn phái nam nữa, có lẽ phái nam vốn mạnh mẽ, hào sảng, nên muốn làm thơ là phải viết thế nào cho có vẻ… thơ. Còn phái nữ vốn đã thơ từ nhân dáng, tâm tư, tình cảm, nên chỉ cần thốt ra lời lẽ êm đềm, vần điệu, là trở thành thi sĩ tự bao giờ!
Vì thế cho nên mới có cái làng quan họ ngoài Bắc, quý chị em đầu cần phải biết kỹ thuật thuật thơ đâu, vậy mà ngôn ngữ chứa chan thơ thơ, mộng mộng, khiến bên nam, hoặc bất cứ ai nghe được, cũng thầm vương vấn.
Vẫn chuyện phụ nữ làm thơ, tôi xin phép giới thiệu một hội thơ cận đại, có danh xưng là Hội thơ Quỳnh Dao, quý vị ngoài hội còn gọi Thi đàn Quỳnh Dao, hay Thi đoàn Quỳnh Giao nữa.
Nguyên khoảng giữa thế kỷ 20 vừa qua, quý vị làm thơ trên, là những bậc nữ lưu xuất thân từ những gia đình có gốc gác văn chương, văn học, được giới mộ điệu thi ca biết đến khá nhiều.
Thí dụ: nữ sĩ Cao Ngọc Anh là ái nữ cụ cố Cao Xuân Dục, một vị quan triều Nguyễn . Nữ sĩ Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội là phu nhân thi sĩ Đông Hồ Lâm Tấn Phác, nữ sỹ Hồng Thiên là hậu duệ cụ cố Nguyễn Khuyến…
Khởi thủy, 4 nữ sĩ thủa bấy giờ, các năm đầu, các năm …. đầu thập niên 60 thế kỷ trước, thường xướng họa thi ca trên các báo, quý vị đã tìm gặp nhau để phát họa hình thành một hội thơ nữ lưu, gồm 4 vị sáng lập: Mai Oanh, Thu Nga, Đinh Thị Việt Liên và Vân Nương.
4 vị vừa nêu đồng ý trong hoàn toàn nguyên tắc là thâu nhận hội viên qua 2 điiều kiện sau:
– Quý vị sống trong hoàn cảnh binhg thường
– Biết sáng tác, xướng họa thơ luật Đường.
Đọc tới đây, quý vị độc giả sẽ mỉm cười, hỏi rằng “hoàn cảnh bình thường” là thế nào?
Xin thưa, là một phụ nữ đang làm vợ, làm mẹ, hay đã làm bà nội, ngoại, tức các vị nữ lưu ấy không bị kéo sốc lên bởi những éo le, của tình tang trong gia đình về phương diện tình cảm. Tất nhiên có những quả phụ, danh chính, ngôn thuận như nữ Quỳ Hương, Uyển Hương…
Buổi đầu “chơi thơ” chưa hề đặt vấn đề Hội trưởng, trưởng đoàn… mà chỉ chuyên chú vào chuyện xướng họa tao nhã. Nên hội thơ chỉ họp vào mỗi buổi tối “đêm trăng tròn 16”. Các khuôn viên liên hệ của các nhà thơ nữ đương nhiên khuôn viên nào được tổ chức, thì thi sĩ chủ nhân “đăng cai” đài thọ hết chi phí trà nước, tiệc tùng.
Thí dụ: khuôn viên Minh Minh Thư Uyển thưởng trăng 16 tháng giêng thì nữ sĩ Như Hiên đãi khách thơ tham dự, tùy phương tiện và sáng kiến tiếp tân của chủ nhân kỳ đó.
Đã đến lúc hội thơ cần đặt cho chi lan, tỷ muội một tên chung, quý vị đã đặt tên Hội Thơ Quỳnh Dao. Nhưng tùy cảm nghĩ của mỗi vị khi sáng tác, lại thả vần cho buổi họp ấy, nào là hội trăng Quỳnh, trăng tròn, trăng 16, vườn Quỳnh, đài Dao v.v…
Thế rồi thì danh tiếng hội thơ Quỳnh Dao đã quy tụ được trên 50 vị nữ sĩ, đa phần là cao tuổi, am tường Hán học và Pháp ngữ, đến tai cụ bà Cao Ngọc Anh, một danh thơ Đường từ đầu thế kỷ thứ 20 (cụ sinh vào cuối thế kỷ 19), nên nữ sĩ Cao Ngọc Anh được mời tham dự, cụ đã gia nhập Hội thơ Quỳnh Dao năm sau đó, khi cụ đã ngoài bảy chục, vì thế, nếu tính đến nay, cụ 120 tuổi hơn.
Ngay thủa đó, các nữ sĩ trong hội thơ Quỳnh Dao tôn phong đại lão nữ sĩ Cao Ngọc Anh là niên trưởng Quỳnh Dao. Noi theo thời đại này, cụ là đệ nhất niên trưởng vậy.
Người kế vị, nữ sĩ Cao Ngọc Anh khi cụ mãn phần, là nữ sĩ Đào Vân Khanh, thân mẫu của ông Vũ Khánh đại sứ ở Nhật, nhạc sĩ Vũ Thành và nữ sĩ Uyển Hương, quý ông Vũ Khánh, Vũ thành (nhạc sĩ) đã mất từ lâu, cụ cố, Đào Vân Khanh chung cuộc khi 103 tuổi (1988) hiện còn tại thế, ái nữ của cụ là nữ sĩ Uyên Hương cũng đã khoảng 95 tuổi.
Nữ sĩ Đào Vân Khanh mất ở hải ngoại, tức sau cuộc di tản 1975.
Bây giờ sau 1975, hội thơ Quỳnh Dao đã thất tán đi khắp nơi, quý cụ theo con cháu ra hải ngoại, theo con cháu về quê, bệnh, già… còn lại ở tại Saigon mười mấy vị, nữ sĩ Mộng Tuyết bước vòa thất thập cổ lai hy vài năm, chúng tôi phong tặng chức niên trưởng Quỳnh Dao quốc nội, mặt khác, nữ sĩ Trùng Quang giữ chức niên trưởng Quỳnh Dao hải ngoại.
Nữ sĩ Mộng Tuyết mất ở Hà Tiên đã là gần chục năm, còn nữ sĩ Trùng Quang mất ở San Jose cách đây vài tháng, thọ 103 tuổi.
Tại sao hôm nay, tôi lại đề cập tới một hội thơ mà rải rác suốt bài, toàn các cụ đại thọ, và tin tức không còn biết tại thế, số là như đứng trước một buổi chợ chiều Hội thơ Quỳnh Dao, quý vị nữ sĩ đang ở tuổi thất, bát, cửu thập… nên chuyện ra đi về cỗi vô cùng, chỉ như những chặng đường dài, ngắn tùy theo tuổi tác và sức khỏe.
Cái lý do gần nhất, cũng không phải chuyện vừa viết ở đoạn trên, mà vì trở lại lời kể ban đầu, rằng 4 vị sáng lập hội thơ, nay đã, đang sao rồi.
Xin thưa, ngay vài thập niên đầu, nữ sĩ Mai Oanh từ giã chi lan, tỷ muội sớm nhất ở Saigon, mới đây, độ vài năm, nữ sĩ Thu Nga San Jose Bắc Cali. Như vậy, chỉ còn một vị đang ngẩn ngơ bên nước Pháp xa vời là nữ sĩ Vân Nương.
Thật buồn, chỉ trong 2 tháng, 2 cụ Quỳnh Dao xa rời thung lũng hoa vàng, niên trưởng Trùng Quang, sáng lập viên Đinh Thị Việt Liên vào cuối tuần này sẽ mãi an nghỉ trên đồi cao.
Buổi trưa nay, điên thoại reo, tôi nhấc máy Thắng, đứa con trai út của nữ sĩ Đinh Thị Việt Liên nói:
– Thưa, tôi muốn gặp cô Cao Mỵ Nhân
– Dạ, tôi đây.
– Thưa cô, cháu là Thắng, báo tin cô hay là bà Đinh Thị Việt Liên, mẹ cháu đã mất.
Tin cho nhau về một cụ già đã thất lộc là chuyện thường, nhưng lòng tôi ngổn ngang quá đỗi, Thắng nhờ tôi thông báo cho quý vị, thành viên hội thơ Quỳnh Dao, tôi nhận lời, nên xin gửi tâm tư tình cảm vào bài viết này, kính chuyển đến quý vị nữ sĩ hội thơ Quỳnh Dao ở Việt Nam và khắp nơi trên thế giới hay, để quý vị tưởng niệm trong lòng, và nếu còn sáng tác thì mượn thơ chia xẻ tâm tình, cùng nhớ lại những đêm trăng Quỳnh mười sáu ở quê hương xưa.
Trước khi chấm dứt cuộc điện đàm, Thắng con trai út nữ sĩ Đinh Thị Việt Liên đã 62 tuổi, nhưng vẫn thường xưng “cháu” với chúng tôi, vì bạn thơ của mẹ cậu, nên chẳng những Thắng mà tất cả các quý nam, ái nữ của các cụ nữ sĩ Quỳnh Dao đều thưa gởi với chúng tôi như thế, Thắng hỏi:
– Ô cô ơi, cháu muốn hỏi là tại sao cô hiện diện trong thi đàn Quỳnh Dao, toàn quý cụ cao niên, 8,9 chục tuổi hơn, có vị cả trăm tuổi vậy.
Tôi cười hiu hắt:
– Trong hội thơ Quỳnh Dao hiện nay, chỉ có 3 người thuộc thế hệ ngoài bảy chục, theo thứ tự từ nhiều hơn, tới ít; là nữ sĩ Tuệ Nga, Tôn Nữ Hỷ Khương, và út của hội là cô, cô sẽ chuyển tin buồn này, xin chia buồn với cháu và gia đình các anh chị cháu nhé”.
Hawthorene
25-12-2025
ĐẠI TÁ CAO VĂN ỦY– AI CÒN NHỚ …AI ĐÃ QUÊN…
QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA – AI CÒN NHỚ …AI ĐÃ QUÊN…
-Sinh tháng 11 năm 1933 tại Hải Dương
– Nhập ngũ ngày 13-5-1952
– Xuất thân trường sĩ quan Võ Bị Đà Lạt Khóa 7
– Liên Đoàn trưởng Liên Đoàn 2 BĐQ
– Tỉnh Trưởng Pleiku
– Tư Lệnh Phó Sư Đoàn 106 Biệt Động Quân (tháng 4/1975)
MỘT THỜI ĐÃ YÊU
Một trong số rất hiếm vị sĩ quan cao cấp phải đi bộ từ PHÚ BỔN về TUY HÒA, nhưng tôi thật nhớ rõ ràng, anh tôi đại tá CAO VĂN ỦY, chức vụ sau cùng là Liên Đoàn trưởng Liên Đoàn 2 BIỆT ĐỘNG QUÂN, trong cuộc triệt thoái cao nguyên mùa xuân năm 1975, chính là người thầm lặng nhất, khi tôi hỏi anh sau này, từ Úc qua Mĩ năm 1999, rằng anh là một chứng nhân sống nhất, anh thấy chung quanh anh, trên quốc lộ 21 ấy, tất nhiên không có cấp tướng rồi, thì còn bao nhiêu đại tá tiếp sức ngày đêm để chia sẻ gian lao cùng với lính, rời CHUDRON đất đỏ, về ĐÀ RẰNG cát nổi mơ hồ.
Đại tá CAO VĂN ỦY cười hòa đồng với tất cả những ai muốn biết thêm về chuyện lui quân thuộc vùng 2 lãnh thổ:
– Cô đã có lần rời nhà ở BAN MÊ THUỘC lên PLEIKU cô có nhớ cái cánh rừng già, lá cây được phủ bụi mù như mặc áo, vô sâu bên tay mặt, và tấm bảng nhỏ, đề chữ PHÚ BỔN, đó là quận lỵ CHUDRON thời PHÁP đấy.
Tới sau năm 1956, nếu tôi nhớ không lầm, thì Tổng Thống NGÔ ĐÌNH DIỆM đã nâng vùng đất đai này lên hàng Tỉnh,tỉnh PHÚ BỔN từ ngọn nguồn phía tây, chạy ngang, xuống tới quốc lộ 1, gặp tỉnh PHÚ YÊN tức TUY HÒA.
Quốc lộ số 21, xem như một vĩ tuyến nối liền 2 trạm tây, đông nêu trên, nó,quốc lộ số 21 ấy được kể song song với 2 quốc lộ xẻ ngang đất nước, là đường 19 nối từ PLEIKU xuống QUI NHƠN, và đường 23 nối từ BAN MÊ THUỘC xuống NINH HÒA.
– Trên bản đồ thì biết vậy nhưng ngoài thực tế, và trọng điểm là cuộc rút quân đương nêu, được bắt đầu và kết thúc làm sao?
– Thì sao không đọc cuộc triệt thoái cao nguyên của PHẠM HUẤN, ông sĩ quan chiến tranh chính trị đã mở màn cho cuốn phim lịch sử đó lâu nay rồi.
– Thưa anh, đại tá CAO VĂN ỦY, tất nhiên là ai cũng đã đọc, thậm chí còn đọc trên nhiều trang báo từ khi bắt đầu cuộc triệt thoái khi quân và dân ta rời phố núi về duyên hải, từ 1975 ở trong nước kia, nhưng biết anh hiện diện nơi đoàn người lũ lượt đó, em muốn anh kể lại xem có gì khác lạ không?
– Khác lạ về phương diện gì, cô nên nhớ là với 17, 18 năm tù của tôi, đại tá ỦY, tôi đã bị mài món trí nhớ, đến nỗi đôi khi tôi muốn có dịp nào, đi lại con đường đó.
– Để làm gì?
– Để xem thử mình có khác được không? Khóc thế nào, khóc thống thiết, hai mắt căng ra, cho lệ chảy thành sông, khổ lắm, hận lắm, tủi lắm. Nói chung thì cường độ đau buồn với tôi lúc này, nó đã tiềm ẩn thành khối băng, lạ lắm, không mừng và không tất cả, không, không, thôi đừng hỏi nữa.
– Tại sao vậy, lẽ ra anh phải viết lại cho thật rõ.
– À, thì cô cứ nhớ điều này nhé, ông tướng PHẠM TẤT của binh chủng BIỆT ĐỘNG QUÂN chúng tôi, là người duy nhất trên trực thăng, theo sát đoàn lữ hành di tản, cứ 15 phút thì lại đậu xuống một lần, để quan sát tình hình, khích lệ ngay trong buổi đầu, tôi không biết ví như thế nào, bởi vì tiền bạc hay hứa thăng thưởng không cần thiết nữa, chúng tôi chỉ muốn đi mau đi nhanh về vùng trời…an nghỉ, phải nói là mệt, mệt đứt hơi ra.
Tôi dẫn đầu đoàn người khổ nhục đó. Nhìn lại đằng sau, lính và dân sát cánh nhau, nhưng sắc áo lính nhiều hơn, có thể đoan chắc là không ai chỉ huy ai, nhưng vẫn nghe lời dẫn giảng, đề nghị nếu cần.
Con đường vẫn có đoạn còn dấu vết tráng nhựa xa xưa, nhưng nó đã bị bỏ quên lâu rồi, vì không cần thiết lắm ,nhưng có đoạn cây, giây leo cuộn rối như ở giữa lòng rừng, nên giống như mọi người vừa đi, vừa khai phá, y hệt một đoàn thám hiểm khổng lồ.
– Thế anh còn nhớ ai đã đồng hành với anh năm đó, hiện đang ở đây?
– Để cô tìm gặp người ta à, tôi đã nói với mọi người khi họ phỏng vấn tôi, là chúng ta nếu có điều kiện, một phải nói rõ hơn, hai đừng nói gì hết. Bạn đồng hành của tôi ở đây nhiều lắm, và hồi đó, chết cũng nhiều lắm.
– Nói rõ hơn như thế nào,theo ý anh?
– Lẽ ra phải quay trọn một cuốn phim, suốt thời gian di chuyển đó, nhưng chúng tôi có định đóng phim đâu. Ồ, mà ngoài cô, cũng có những cuộc di tản chiến thuật sôi nổi, như dân chúng ở HUẾ đổ xô vào ĐÀ NẴNG, hay từ QUẢNG NGÃI đổ ngược về CHU LAI v.v… nhất là 21 cây số đường đèo HẢI VÂN, người ta đã đẩy xe, và đẩy cả nhau xuống vực, để giành nhau thoát chạy nhanh hơn, sao cô không ghi lại và hỏi tôi về hành trình rút bỏ cao nguyên? Thật vô cùng bi thảm.
– Tại anh hiện diện trên hành trình đó, thì hỏi thăm cho chắc thôi. Vả chăng chúng ta còn đợi một người chép sử chính xác.
– Tất cả quân nhân VIỆT NAM CỘNG HÒA đều nên chép lại giai đoạn lịch sử này, trước, trong , và sau ngày 30-4-1975 trên khắp ngả đường đất nước miền nam VIỆT NAM.
Đại tá CAO VĂN ỦY, LIÊN ĐOÀN trưởng LIÊN ĐOÀN 2 BIỆT ĐỘNG QUÂN, xuất thân từ khóa 1 sĩ quan NAM ĐỊNH, đã từng tham gia tác chien trên nhiều chiến trường Nam, Bắc.
Có thời ông làm chỉ huy trưởng trường Hạ Sĩ Quan Nha Trang, là người đoạt chức vô địch súng trường của toàn quân QUÂN LỰC VNCH, bên cạnh đó, bạn tôi, võ sư thiếu úy HẠ QUỐC HUY vô địch súng colt, nên mỗi lần nhắc tên 2 vị vô địch tác xạ, tôi thường kể ra để không thiếu xót.
Đại tá CAO VĂN ỦY là một trong các vị thuộc Bộ Tham Mưu hành quân trực chiến, bị bắt ở PHAN RANG-khi vừa tan cuộc binh đao.
Rồi quý vị nêu trên bị tù đầy xuyên suốt tháng năm cải tạo,từ chớm mùa gọi là tập trung học tập,cho tới khi khai thông chiến dịch HO,để đa số tái định cư ở HOA KỲ, nhưng ông không đi MỸ mà tới ÚC, vì gia đình đang cư ngụ ở đó.
Hơn 20 năm, kể từ 1953 tới 1975, đại tá CAO VĂN ỦY sớm xếp bút nghiên, rời trường CHU VĂN AN HÀ NỘI, lên đường gia nhập Quân lực VNCH để theo việc đao cung. Song, ông đã sinh nghề kiếm đạo, mà lại không tử nghiệp, như không chết ở sa trường, lao tù với nhiều năm khổ sai, biệt giam, ông lại chết giữa bầu trời ấm áp nơi cuộc sống đã tạm yên, chỉ vì một mũi kim chích vô tình chạm thần kinh tọa.
Ngày ông qua Mỹ thăm họ hàng, và chủ yếu là chiến hữu các cấp binh chủng BIỆT ĐỘNG QUÂN, ông đã phải chống một cây gậy do bệnh viện X.ÚC cấp. Ông nói người ta đang lập hồ sơ giùm ông, để kiện cái sự việc vô tình làm chân ông suy thoái, nhưng ông nôn nóng gặp lại anh em đã từng đội mũ nâu, mang huy hiệu cọp rừng-nhe răng trên tay áo, ôi, một thời đã yêu, và một thời nhớ mãi. Ông hẹn ngày gặp lại, sẽ không lệ thuộc chiếc ba toong, tha hồ bay nhẩy.
Nhưng chẳng còn dịp nào nữa, vì ít lâu sau, đại tá CAO VĂN ỦY, đã âm thầm trở về cát bụi, con đường quốc lộ 21 hoang hóa buồn tênh kia, chắc có một lần trước khi nhắm mắt, anh thấy lại nó trong tâm tư người lính già trên tuổi tác, tai ương…, song, trẻ mãi cùng hồn thiêng sông núi.
Và, những người lính cảm thấy: có bổn phận phải hy sinh xương máu, để hồn thiêng sông núi linh hiển đến muôn sau.
THƠ XƯỚNG HỌA – KHAI BÚT ĐẦU NĂM 2026 – Quang Hà & Phương Hoa. ĐỖ CHIÊU ĐỨC – NHƯ THU.
THƠ XƯỚNG HỌA – QUANG HÀ – PHƯƠNG HOA
TẾT TÂY – QUANG HÀ (Xướng)
Hai ngàn lẻ sáu tới rồi đây
Dẫu nắng hay mưa cũng một ngày
Mở thiệp online tìm cánh gió
Vào thơ trang web mượn đường mây
Cả trời góp lại hình khung nhỏ
Lưng chén không vơi rượu giọt đầy
Bởi thiếu bạn lòng chia ấm lạnh
Cùng ngồi đón tết – Tết phương Tây.
Quang Hà, ngày đầu năm 2026
**
QUANG HÀ TỰ HỌA (Nghịch vận)
Mình ngồi đón tết – Tết phương Tây
Mưa vẫn mưa rơi gió lạnh đầy
Trông vợi đường chim mờ khói sóng
Nhìn vời hướng biển nhạt chân mây
Niềm thương khó đếm từ bao thuở
Nỗi nhớ sao đong trọn bấy ngày
Rượu rót về đâu chiều viễn xứ
Bạn lòng tâm sự với ai đây ?
Quang Hà, 1/1/2025
**
QUANG HÀ – NỐI ĐIÊU KÍNH BÚT
(Tự họa -tung hoành trục khoán)
Nét họa giải bày vơi nẻo nhớ
Câu thơ trăn trở đọng niềm tây
NÉT Xuân cùng vẽ với ai đây
HỌA bút mua vui đoạn tháng ngày
GIẢI lụa buông lơi đầu góc biển
BÀY tơ ràng buộc cuối chân mây
KHƠI lên ngõ hạnh vời trăng khuyết
NẺO xuống vườn mơ ủ mộng đầy
NHỚ Tết quê nhà thương biết mấy
CÂU THƠ TRĂN TRỞ ĐỌNG NIỀM TÂY.
Quang Hà, 02.02.2026
KHAI BÚT ĐẦU NĂM – PHƯƠNG HOA (Họa)
Năm Mới Hai Nghìn Hai Sáu đây
Niềm vui mong đợitrải bao ngày
Tri âm xướng họa xao đồi núi
Tri kỷ thơ đề lộng gió mây
Tay lướt hoành câu, câu chửa trọn
Bút nâng lùa chữ, chữ khôn đầy
Sương khuya mành chắn mờ tâm khảm
Rượu thấm môi mềm dưới mái Tây
Phương Hoa – Mồng Một Tết Dương Lịch 2026
**
CẢM ĐỀ THƯ HOẠ – PHƯƠNG HOA
(Họa nghịch vận – Tung hoành trục khoán)
Tết Đến Câu Thơ Kỳ Mỹ Đó!
Xuân Về Nét Hoạ Tuyệt Trần Đây!
TẾT chườm sương lạnh khắp trời Tây
ĐẾN cổng vườn thanh vãi rớt đầy
CÂU tỏa cọ vờn run cánh gió
THƠ đề mực vẩy động thềm mây
KỲ tiên chưa đấu – vui tròn buổi
MỸ tửu nào vơi – lịm cả ngày
ĐÓ bởi tinh hoa ngời bút pháp
XUÂN VỀ NÉT HOẠ TUYỆT TRẦN ĐÂY!
PhươngHoa – JAN 2, 2026
THƠ XƯỚNG HỌA – ĐỖ CHIÊU ĐỨC – PHƯƠNG HOA – NHƯ THU
TỜ LỊCH ĐẦU NĂM – ĐỖ CHIÊU ĐỨC (Xướng)
Tờ lịch đầu năm cảm khái nhiều,
Có thêm năm nữa để thương yêu.
Cám ơn trời đất thương bao biện,
Tạ hết người đời giúp bấy nhiêu.
Nhân ái tương thân đôi lúc khó,
Khoan dung tương trợ biết bao điều.
Cầu mong Bính Ngọ thêm đoàn kết,
Mã đáo… thương yêu, cảm khái nhiều !
Đỗ Chiêu Đức – 01-02-2026
XÉ LỊCH ĐẦU NĂM – PHƯƠNG HOA(Họa)
(Kính cẩn họa cùng thầy Đồ)
Đầu năm xé lịch xuyến xao nhiều
Liệu thế giới này vẫn đáng yêu?
Mây trải gấm hòa xinh biết mấy
Núi chào hoa dệt đẹp bao nhiêu
TÂN NIÊN nhân loại thêm hoàn hảo
TẾT MỚI trần gian tốt mọi điều
Cầu nguyện nhà nhà luôn hạnh phúc
Tình thương gắn kết tỏa lan nhiều…
PhươngHoa – JAN 2, 2026
MỪNG XUÂN MỚI – NHƯ THU (Họa)
Tân niên Bính Ngọ hẳn vui nhiều!
Cảnh trí tươi màu thật đáng yêu
Phố thị bình yên nhà hạnh phúc
Quê làng hớn hở ruộng phì nhiêu
Chờ mong thuận nẻo hòa muôn sắc
Khấn nguyện tròn năm thỏa vạn điều
Tảng sáng đi chùa xem hái lộc
Từ nay tấc dạ hẳn vui nhiều!
Như Thu –
01/03/2026
ĐẦU NĂM KHAI BÚT- CÔ GÁI VIỆT PHIẾM – PHƯƠNG HOA
CÔ GÁI VIỆT PHIẾM – ĐỘI QUÂN TÓC DÀI HAI BÀ TRƯNG 2026
CGV Phương Hoa
Tui là một CÔ GÁI VIỆT. Kính xin thưa thiệt, Năm Mới tới rùi, nhưng tui bị xui, cúm hành tới lui, mấy ngày nằm vùi, bút treo đầu bếp. Trộm nghĩ: Dù tẻ hay nếp, năm mới năm me, bút bi hay bút tre, cũng cần khai bút, nếu không muốn bị …lụt nghề. Thôi thì…ngồi dậy đi tề! Khăn áo đề huề, tìm đề mà… tám! Đây là đề tài: ĐỘI QUÂN TÓC DÀI – NGỰA PHI NƯỚC ĐẠI NĂM 2026.
Đầu năm 2026, “đạo quân” hùng hậu gần 70 Cô Gái Việt nhóm tui – úi giời ui! tóc dài phấp phới – xinh đẹp rạng ngời – tui dám chắc ai nhìn cũng phải mê tơi, mê đến… chới với chơi vơi! Các cô toàn là dân chơi thứ thiệt, rành mọi việc, giỏi mọi bề, thơ dzăn thì hay khỏi chê, nấu nướng chụp hình khoe trên mạng nhìn mê đến … chảy cả nước miếng. Nhóm tui còn có nhiều tóc dài rất có máu tếu máu hài.
Chưa viết được chữ nào tui đã tự cười dài. Nhớ lại trước đây trong đội quân của tui ai đó đã cho đọc những câu thơ “lộn ruột” kiểu như:
“Chị Hai vừa mới sửa ti
vi hết năm triệu cũng vì lỗi ngu
Anh Ba vừa mất con cu
gáy mua nghìn rưởi bù lu khóc òa…”
Dẫn đầu cái nhóm “gây bão” này là một Bà Bầu. Bầu ta thiệt là ngầu, gồm thâu dzăn dzõ, vào vườn ra ngõ, chữ tốt thơ hay, chính tả đọc tài, tranh thơ độc lạ. Rồi thì là họa thơ thơ họa, Đường Thi Muối Thi… gì gì cũng có. Ai làm Đường Thi mà bị té lật gọng gãy giò cũng đều được Bà Bầu của tui phụ… sửa lưng cho. Rồi nào là cùng nhau làm thơ liên hoàn, chọc phá, móc nghéo để mà vui. Quan trọng hơn cả là chia sẻ những sưu tầm giá trị “lời hay ý đẹp” học làm người tốt, những kinh nghiệm đời thường, bấm huyệt trị bệnh, diệt gián chùi xooong, những bài thuốc kỳ diệu nằm lòng, và các loại thức ăn trường sinh bất lão…
Bên dưới boss BB là cả một “triều đình” rộn ràng: Chị Cả Minh Nguyệt hoa khôi đẹp nhất làng, đẹp mặn mà như… mắm nhĩ Phú Quốc, chị nói câu nào là như hoa xuân nở rộ, cả nhóm “dạ răm rắp” đầy yêu thương. Chị Hai Ngọc Hạnh tính tình hiền lương, chuyên đi du lịch và làm… nhiệm vụ tường thuật cho mọi người xem nhiều phong cảnh hữu tình, chị viết nhiều và nhanh như lá mùa thu bay lả tả. Chị Ba Hồng Thủy văn hay chữ tốt vừa xinh đẹp vừa có tâm từ, thương yêu hết mọi người, ai ở xa về Thủ Đô đều được chị chào đón, các em đều yêu quý chị. Chị Sương Lam tâm từ, người thông đạo hạnh, chị chuyên viết chủ đề một cõi thiền nhàn, ai đọc vô cũng thấy lòng nhẹ tênh, muốn …đi tu cho thoát vòng khổ não. Chị Sao Khuê dược sĩ, hễ ai than “đau đầu” là chị hỏi liền: “Đau vì thiếu ngủ hay vì thiếu… người thương?” rồi bày thuốc, bày luôn cả cách sống khỏe, sống vui, chị còn chuyên “trị” nhiều bài phân tích những loại thuốc tốt xấu dở hay, cùng sẻ chia nhiều mẹo vặt tuyệt vời hữu ích. Chị Hội Đồng Tiểu Thu văn chương mượt mà thiết tha diết da như “Hồ Biểu Chánh” ngày xưa, văn chị khiến người đọc rồi còn ngẩn ngơ …cả buổi. CGV Nguyễn Thị Thanh Dương thơ truyện đời thường nhưng làm cho độc giả yêu thương và vấn vương không ít. Tác phẩm của Thanh Dương lưu truyền xoay tít, xoay vòng vòng cuối cùng người ta chuyển về cho…chính tác giả! Chị chuyên viết thư họa Đỗ Dung, văn chương hay mịt mùng, luôn tìm mây… túm gió. Phạm Phan Lang Trung Tá, nhà nhiếp ảnh đại tài, nhà du lịch khắp trời mây, hết đi đông tới đi tây, bởi vì “sinh nhằm nơi đầu gối ông Hoàng Đế!” Nữ dịch giả Thái Lan tuy chuyện dịch ngắn vài trang nhưng là đều truyện hay đáng đọc. Thúy M được bầu là “nhà bác học” chuyên tra cứu “Fake News”. Chị Ngọc Hà kỹ sư rất quý yêu bè bạn. Anh gà Phương Lan hay … quờ quạng, nên “dê Chúa” là biệt danh, nhưng tình tình rất lành, ai chọc ghẹo đều cười hi hí. Hoàng Dung chuyện tếu không bao giờ bí, từ bà bán thịt “Lộn em 4 lạng” tới rao bán giọng Huế mỏi mệt về khuya, “Ai mua đu đủ, bánh tét, vịt lộn…”
Ui! Nhìn đi nhìn lại thì còn khá bộn các CGV nhà nầy. Làm sao tui… túm cả vào đây? Cái điện thoại dung lượng đã bị đầy, mà cái tay nầy cũng đà quá…mỏi. Xin cho tui chỉ đếm “quý danh” những “gương mặt thường nổi” với bài vở thường xuyên: Kim Loan, Kim Oanh, Ngọc Huyền, Minh Thúy, Hồng Thúy, Ngọc An, Chị Thêm Nguyễn, Mỹ Hoàn, Quỳnh Hoa, Ý Nga, Thu Hương, Hoàng Thục Uyên, Hoài Niệm, Ngân Bình, Minh Giang, Hoàng Quân Ngọc Thúy, Song Thy, Tuyết Phan nhạc sĩ, Kim Phú, Thúy Vinh, Tường Thúy, Vi Vân, Tố Phương, Nguyễn Nghĩa, Mỹ Nga, bội Hằng nhà ta, Tưởng Dung, Linh Đắc, Mắt Nâu, Mẫu Đơn từ lâu chưa hiện. Còn ai chưa “trình diện” xin hãy trình làng, bài gửi vài trang cho mọi người dễ nhớ.
Xin thưa …các mợ, mời hãy tham gia. Vì còn hằng hà số người lặn hút. Năm mới 2026, chia sẻ văn thơ, mẹo vặt đợi chờ, sưu tầm lời hay ý tốt, cùng nhau tán dóc, từ sáng tới khuya. Mỗi ngày mỗi giờ, tíu ta tíu tít, vui như chợ Tết, lả tả thơ bay, chuyện vui rớt đầy, tiếng cười vang ngõ. Hàng xóm hàng gió, làn sóng Wi-Fi cũng phải lung lay, rung rinh và rủng rỉnh…
Đầu năm 2026: Nhóm Cô Gái Việt con cháu Hai Bà, không cần trống đồng, không cần gươm giáo — chỉ cần bàn phím, cộng tình người ấm áp là đủ khuấy động cả mùa xuân. Ai bước vô nhóm này rồi là xác định: Cười hoài – thương hoài – ĐỘI QUÂN TÓC DÀI PHI NƯỚC ĐẠI NĂM CON NGỰA
Lộc cộc lộc cộc…
Năm Bính Ngọ 2026, đoàn Ngựa Đội quân tóc dài CÔ GÁI VIỆT không cần yên cương, không cần roi ngựa — chỉ cần tình chị em, chút duyên trời cho, và những trái tim thiện lành, những cái miệng cười không ngưng nghỉ, là đủ phi thẳng vào mùa xuân. Năm 2026, ngựa có thể phi khắp bốn phương, nhưng tiếng cười của các Cô Gái Việt thì phi thẳng vô tim, ai đọc bài này rồi mà không… cười lộn ruột, không quên luôn tuổi tác, quên cả deadline… thì đó là người có trái tim…. RAU MUỐNG! (Vô Tâm Thảo)
Cuối năm thời tuyết cũng dần tan Hoa búp đầy cành nhú khẻ khàng Trời đất khởi bừng lên mạch sống Lòng người phơi phới đón xuân sang
Ước mong vận thế đời thay đổiĐem đến tương lai đẹp rỡ ràng Bởi Tết muôn vàn niềm hạnh phúc Khơi nguồn hưng phấn bước thênh thang
Hoàng Mai Nhất 1/1/2026
NỐI KẾT
Cõi trần nào phải giấc mơ Đẹp thay câu chữ ầu ơ dệt lời Nhìn xem gió thoảng mây lơi Hợp cùng ánh nắng sáng ngời lững lơ Thảnh thơi nối kết duyên tơ Tha hương cách trở vẫn chờ đợi nhau Nhớ chăng lần gặp ban đầu Tình làng nghĩa xóm đậm câu trông chờ Hiển nhiên chẳng phải ơ thờ Thỏa lòng mộng ước vần thơ trao người Việt Nam chữ nghĩa tuyệt vời Cháu con truyền giữ muôn đời về sau
Hoàng Mai Nhất
NGẮM BĂNG TRÔI VÙNG Nam Cực Từ Trên Du Thuyền – PhạmPhanLang.
TƯỜNG THUẬT TỪ TRÊN DU THUYỀN – EMAIL PHẠM PHAN LANG
VTLV TRÂN TRỌNG THIỆU TÁC PHẨM ĐẶC SẮC – VƯƠNG THANH.
Kính chào quý Văn Thi Nhạc hữu,
Chào Cả Nhà. Kính chúc Giáng Sinh Vui Vẻ. Năm Mới Hạnh Phúc.
Mời thưởng thức một chương thật lãng mạn, ngọt ngào trong kịch Shakespeare’s Romeo & Juliet, Balcony Scene, chuyển qua thể loại verse-story opera, ca kịch tương tự như Italian opera, Phantom, cải lương, phiên bản ca hát tiếng Anh rồi tiếng Việt. Có lẽ đây là kịch Shakespeare đầu tiên được chuyển thành toàn ca hát qua tiếng Anh và tiếng Việt. Mời xem.
-Vương Thanh
KIỀU MỸ DUYÊN – CHƯƠNG TRÌNH MỚI NHẤT CUỐI NĂM 2025: CÁI NHÀ LÀ NHÀ CỦA TA
Ca Khúc VTLV & Tuổi Trẻ Hải Ngoại – MỪNG CHÚA GIÁNG SINH – PHƯƠNG HOA
**
THƠ MỪNG GIÁNG SINH – PHƯƠNG HOA – VTLV+ BÀI HỌA NGUYỄN HUY KHÔI
**
CHÙMTHƠ GIÁNG SINH CAO MỴ NHÂN
ĐÊM CHRISTMAS. CAO MỴ NHÂN
*
Anh đứng nhìn em lâu
Sân nhà thờ, đêm thâu
Lời thánh ca chưa dứt
Tan vào cuộc tình sau
*
Bài thơ không buồn phiền
Chúa ở mãi bên em
Ôm em cho chặt nhé
Đừng để rớt trái tim
*
Nhạc thánh ca lâng lâng
Hồn chơi vơi bâng khuâng
Bạn đời vô quá khứ
Người tình lỡ trăm năm
*
Hồi chuông ngân vang xa
Chúa vẫn ở bên ta
Sao anh im lặng thế
Ta đang trong mộng mơ
*
Thơ rơi theo tình buồn
Em sợ sầu vương thương
Mông mênh đêm Christmas
Nước mắt hoà khói sương …
CAO MỴ NHÂN
*
TRÊN ĐƯỜNG DU MỤC. CAO MỴ NHÂN
Trên đường du mục
Chúa đứng ở đây
Phương đông thức giấc
Phương tây ngủ say
*
Khói sương Tiệp Khắc
Anh khép vòng tay
Hoa cườm đỏ sắc
Rớt xuống chân bầy
*
Người làm dấu thánh
Sáng rỡ trời mây
Hạt sầu lóng lánh
Nhẹ gánh vai gầy
*
Đường mòn thánh giá
Nở rợp hoa bay
Vang lên tất cả
Chúa đứng nơi này …
Hawthorne 16 – 10 – 2022
CAO MỴ NHÂN
*
ĐÊM THÁNH VÔ CÙNG. CAO MỴ NHÂN
*
Đêm Thánh vô cùng trân quý ơi
Đoá hoa nhân ái nở bên trời
Khát khao yêu mến người thiên hạ
Tất cả xin vào dự hội chơi
*
Ánh biếc vì sao lấp lánh xa
Tươi vui bếp lửa ấm muôn nhà
Chúa ơi, Đêm Thánh vô cùng tận
Người với người thương ta với ta
*
Bạn với bè trên mỗi bước xuân
Hoan ca nơi khắp ngả dương trần
Mây vương sắc áo mầu nhân ảnh
Đêm Thánh vô cùng đẹp dấu chân.
*
Mãi mãi hoa thơ kết vạn lòng
Dâng lên Thiên Chúa mỗi mùa đông
Bình an dưới thế đêm vô tận
Chúa ở cùng anh chị em mong …
*
CAO MỴ NHÂN
*
ĐI LỄ NỬA ĐÊM. CAO MỴ NHÂN
*
Rằng em chưa hết yêu đâu
Chênh vênh anh đứng trên cầu nhân sinh
Chúa không ruồng bỏ chúng mình
Anh không từ tạ cuộc tình hồn nhiên
*
Merry Christmas bình yên
Đưa em đi lễ nửa đêm đón Người
Thiêng liêng ngự trị đời đời
Ba ngôi hiệp nhất khắp trời hoa đăng
*
Em thưa: Lòng Chúa mênh mang
Trái tim Thiên Chúa rỡ ràng bao la
Yêu từ trái đắng nở hoa
Thơ em phong tặng tình ca kiếp này
*
Lặng thầm dấu thánh in đầy
Merry Christmas đắm say nẻo về
Thiên đường lộng lẫy đam mê
Hồi chuông thức tỉnh hồn si tuyệt vời …
*
CAO MỴ NHÂN
HOÀNG THỤC UYÊNChúa giáng trần một niềm vui bất tận Đem tình thương nhân loại tỏa ngàn nơiÁnh sáng vui từ khi Chúa chào đời,Lòng bác ái, Chúa ban vui cứu khổ.....
Bài thơ sau đây :
ĐÓN CHÀO NGÀY CHÚA GIÁNG SINH
Ngày Giáng Sinh mưa rơi Trời đẹp quá, Ngàn giọt mưa..rả rích sạch bụi đời Tiếng mưa rơi..tí tách nhẹ khắp nơi, Đêm hôm nay, Chào Mừng Chúa Giáng Thế.
Trên không trung, áng mây đẹp vô kể, Mây trắng xanh ẩn hiện ngũ sắc màu, Ẩn trong mây, ánh sáng tỏa thật lâu. Những hàng cây, gió đong đưa cành lá,
Mưa vẫn rơi...trải đều trên cỏ lá, Bụi mưa bay, mờ nhạt khắp không gian. Hạt mưa rơi...rơi phủ khắp thôn làng, Mưa tuôn chảy mang mạch nguồn sự sống.
Chúa Giáng Trần, một niềm vui bất tận, Đem tình thương nhân loại tỏa ngàn nơi. Ánh sáng vui, từ khi Chúa Chào Đời, Lòng bác ái, Chúa ban vui cứu khổ...
Mưa đã dứt, nhưng không gian còn lạnh, Trời trong xanh, vài tia nắng xuyên cành, Cây đong đưa, làn gió lạnh thoảng nhanh, Hoàng hôn xuống, sao đêm vừa lấp lánh
Cây Noel trong căn phòng..ấm cúng, Lò sưởi hồng ấm áp tối mùa đông, Nhạc Giáng Sinh êm ái nhẹ trong phòng, Đêm cầu nguyện, trần gian mừng Thiên Chúa.
Khắp thế gian trên Năm Châu Bốn Bể, Hát ngợi ca tưởng nhớ Chúa Giáng Trần, Trên không trung Chào đón Chúa Giáng Lâm Trong không gian, tiếng kinh cầu lặng lẽ.
Sắp đến giờ Chúa Jesus Giáng Thế, Tiếng chuông ngân văng vẳng vọng..xa xa.. Trên bầu Trời Tinh Tú Triệu Ngân Hà.. Con chắp tay thầm Dâng Lời Cầu Nguyện....
KON TUM MÙA GIÁNG SINH CUỐI CÙNG – DONRY NGUYỄN (Trích đoạn trong hồi ký Đức Tin)
…Tháng 8 năm 1974, đơn vị hắn nhận lệnh luân chuyển từ Bắc Bình Định lên trấn đóng vùng cao nguyên đất đỏ. Hắn náo nức trở lại nơi mà người bạn Biệt Động Quân đã vô tình cứu hắn thoát chết dạo trước, và thăm lại người em gái hậu phương thường mở cho hắn nghe bản nhạc “Em tên … em tên Mộng Thường … mẹ gọi em bé ngoan”.
Đến nơi, pháo đội trừ đóng quân ở căn cứ Trần Ngọc Lân, còn trung đội 2 của hắn, được chỉ huy bởi vị trung uý pháo đội phó, thì kéo hai khẩu đại bác 105 ly nhét vào hai lô-cốt, nòng súng ló ra ngoài hướng về phía bắc.
Ông tập hợp trung đội để ban hành mệnh lệnh: -Đây là phòng tuyến cuối cùng, chúng ta không còn bắn yểm trợ cho đơn vị nào nữa. Nhiệm vụ của chúng ta là trực xạ vào các chiến xa T54 nếu nó xuất hiện từ hướng Ngô Trang. Các anh em hãy hết sức chú ý để kịp thời vào vị trí tác xạ. Ai vi phạm, chiếu quân lịnh thi hành kỷ luật.
Nơi hắn đóng quân có tên là Eo-Gió, cách thị xã Kon-Tum khoảng 6 cây số về phía bắc, là một ngọn đồi thấp và trơ trọi, nằm án ngữ trên đường 14, con đường độc nhất nối liền với các tỉnh phía nam. Sau khi Đắc Tô-Tân Cảnh thất thủ, nơi đây trở thành vị trí chiến lược phòng thủ hàng đầu.
Từ ngọn đồi nhìn ra bốn phía là núi cao chớn chở và rừng xanh bát ngát. Buổi chiều sương lam âm u tỏa xuống những khí lạnh ghê người. Còn ban đêm, gió thổi qua hun hút, nghe như tiếng kêu gào của các cô hồn uổng tử đã chết dọc theo con đường di tản từ mùa hè đỏ lửa 1972.
Ngày tháng ở đây nhàn nhã hơn thời kỳ còn đóng quân ở Tam Quan-Bình Định, bọn hắn không phải phơi lưng dưới nắng làm đạn cả ngày hay thức giấc giữa đêm khuya để bắn vài quả đạn quấy rối vu vơ. Công việc thường ngày là canh gác và lau chùi súng đạn, những quả đạn Beehive chống biển người được đưa ra sắp sẵn vào hai bên ụ súng. Loại đạn này, theo vị chỉ huy cho biết, nó có giá một triệu hai trăm ngàn đồng một quả, trong khi lương binh nhì của hắn-đã trừ tiền ăn-chỉ hơn mười hai ngàn đồng mỗi tháng. Trong cái đầu non nớt của hắn, hắn nghĩ thầm -“ Giá mà người mỹ dùng số tiền khổng lồ này mua sữa và bánh mì phát cho dân hắn được no nê thì hạnh phúc biết bao!”.
Mỗi ngày sau khi xong phần việc của mình, hắn thường đi tha thẩn quanh doanh trại, tán dóc với các chiến hữu biệt động quân. Đời lính nơi miền biên cương vô cùng gian khổ, thiếu thốn đủ bề. Quanh năm chỉ thấy rừng già và súng đạn, chưa kể cái chết luôn luôn rình rập chung quanh. Mỗi tuần họ được một lần tiếp tế, khẩu phần là 7 ca gạo, một mớ cá khô, mắm muối bột ngọt và mấy bó rau xanh. Lãnh Lương ra không biết tiêu pha ở đâu cho hết, bèn châu đầu đánh bạc, thằng không may sạch túi thì đành đi lượm “dế mèn” quấn hút, thằng ăn được tiền cũng chả biết làm gì khác hơn là kiếm sòng khác nướng tiếp.
Thỉnh thoảng cũng có phái đoàn các “em gái hậu phương” kèm theo vài ca sĩ tỉnh lẻ đến thăm và tặng quà. Lính lác thì được giao lưu ban ngày, còn khi đêm đến, mấy cô ca sĩ rút vào trong các căn hầm sĩ quan, ở đó vọng ra tiếng nhạc xập xình, lẫn với tiếng cười đùa vui vẻ. Có hôm đúng phiên gác, hắn tò mò lén nhìn qua lỗ châu mai. Trong căn phòng ấm cúng, nồng nàn mùi nước hoa và mùi thuốc lá thơm, hắn tê mê nhìn những thân hình gợi cảm của các cô gái đang tay trong tay, mặt nhìn mặt cùng các viên sĩ quan dập dìu khiêu vũ theo điệu nhạc quay cuồng. Lòng hắn bỗng bừng dậy một nỗi khát khao mà bấy lâu hắn kìm nén. Hắn thèm mùi da thịt đàn bà. Thì có sao đâu? Hắn mới hai mươi tuổi, và hắn khao khát được yêu, được ôm người hắn yêu trong vòng tay nóng bỏng và đặt vào đôi môi mọng ướt của nàng một nụ hôn nồng cháy… Nhưng, cho đến bây giờ, hắn vẫn chưa có người yêu!
Một lần tình cờ gặp lại một người học trò cũ của Cha hắn lúc ông còn dạy tiểu học ở quê. Anh ta là trung uý đại đội trưởng một đại đội biệt động quân thuộc LĐ 23/BĐQ đi hành quân ngang qua. Anh mừng rỡ, kéo hắn vào lều, hỏi thăm về vị thầy cũ, mời hắn ăn một bữa cơm, rồi khi ra về còn cho hắn nửa cây thuốc Capstan. Cảm động hắn làm một bài thơ tặng lại anh. Bài thơ có tựa đề là:
BIÊN GIỚI CA
Núi cao chớn chở mồ uổng tử, Rừng xanh bát ngát hồn ma thiêng. Chiến địa máu trào như là suối, Biên giới hề, âm u dị thường!
Biên giới ngày, nắng nung chảy mỡ, Biên giới đêm, lạnh như cắt da. Xác chết rủ nhau ngồi ngay dậy, Đốt lửa rừng lên mà hát ca…
Ta mang thân trấn thủ lưu đồn, Ba năm biên giới nhận là con. Ba năm man dại theo rừng rú, Buổi chiều ngồi vuốt chòm râu non.
Bạn ta áo bạc màu sương gió, Đem tuổi xuân phơi giữa chiến trường. Từ buổi lên đường xa phố nọ… Chưa từng san sẻ chuyện yêu đương.
Chiều nay sương xuống mờ quan ải, Nghe tiếng hồn hoang hú não nề. Vỗ tay ta hát hề, biên tái Súng đạn người đi chẳng trở về!.
Anh ta đọc, khen “mày làm thơ được đó, nhưng buồn quá, đời mày chắc sẽ còn nhiều gian khổ” Hắn yên lặng không nói gì.
Một tháng đôi ba lần hắn cũng chuồn về được thị xã Kon-Tum. Đến thăm thằng bạn “trung sĩ biệt động quân”, rồi kéo nhau lê la từ quán Cafe Giao, Da Vàng, đến quán Cây Ổi. Ở đó ”có vẻ” em Phương tóc dài đã có chút cảm tình với hắn. Hắn nghĩ “có vẻ”thôi, bởi vì tâm lý các cô gái thời bây giờ chỉ nhắm vào các chàng sĩ quan hào hoa đẹp trai phong độ, chứ còn hàng ngũ cái thứ lính “đơ dem cùi bắp” như hắn thì các cô chả thèm để ý tới bao giờ!. Em Phương có mái tóc dài ôm kín cả bờ lưng thon thả, sau buổi học về, em thường thay mẹ ra ngồi ở quầy tính tiền. Những khi vắng khách, em lơ đễnh một tay chống cằm, tay kia hí hoáy vẽ trên tờ giấy, nghiêng cả mái tóc mây óng ả về phía hắn. Hắn đánh bạo, phết đại vài câu thơ vớ vẩn rồi trao cho nàng:
“Trời đang rét nhưng lòng anh ấm lạ Khi ngồi đây trông mái tóc em dài Vở học trò em đã chép tên ai Cho anh gửi bài thơ tình của lính…”
Đọc xong, em quay lại nhoẻn môi cười với hắn. Thừa thắng xông lên, hắn kéo ghế qua gần quầy, rồi-vừa nhả khói thuốc vòng tròn, theo kiểu của nhân vật Trần Đại khi đến tán tỉnh em Tường Vi xinh đẹp của quán cafe Gió Nam trong phim Điệu Ru Nước Mắt-hắn vừa phun ra hàng tá thơ tình lãng mạn, từ thơ yêu nồng nàn của Xuân Diệu, Huy Cận cho đến thơ thất tình của Nguyễn Bính. Tuổi học trò nhiều mộng mơ thường thích văn thơ, cho nên em cười híp mắt, ngồi lim dim nghe hắn đọc thơ và bình thơ chứ còn để trở thành người yêu của hắn thì…chắc còn xa lắm!
Mùa giáng sinh năm đó, hắn chuồn về được thành phố sau khi lội bộ 6 cây số. Đến tìm thằng bạn “trung sĩ biệt động quân” thì mới hay nó vừa về phép hôm qua. Buồn tình, hắn một mình tha thẩn tới quán cafe Cây Ổi và gạ gẫm nàng đi lễ nhà thờ với hắn. Nàng đáp gọn lỏn: -Em không có đạo! Hắn lên giọng đóng vai cha cố: -Chúa xót thương tất cả loài người, những người không có đạo Chúa lại thương hơn… Nàng nghi ngờ nhìn hắn: -Thôi đi! Đừng xạo, sao anh biết? Hắn hùng hồn chứng minh: -Anh là bằng chứng đây, vì lòng mong muốn được đến với Chúa trong đêm thánh vô cùng mà chỉ huy của anh đã cho phép anh đi, trong lúc cả đơn vị cắm trại. Nếu ngài không dùng quyền năng của ngài để làm động lòng vị chỉ huy của anh thì còn ai có thể làm được? (Hắn đã nói láo, thực ra hắn chui rào trốn đi chứ có chỉ huy nào cho phép lính tráng rời đơn vị ban đêm vào những lúc mà việt cộng rình rập tấn công) Nàng có vẻ xuôi tai: -Ơ … nhưng mà em không quen đi lễ, tới đó em chả biết làm gì cả? -Chúa sẽ làm tất cả. Em chỉ việc đi cùng anh tới đó, đứng im nguyện … rồi Cha xứ sẽ làm lễ, ngài sẽ cho em được nếm bánh thánh, uống nước thánh … em sẽ được đầy ơn phước, sẽ có chồng giàu sang và sinh những đứa con bụ bẫm, có gương mặt xinh đẹp rạng ngời giống hệt khuôn mặt phúc hậu của Đức Mẹ Maria… Nàng vẫn bướng bỉnh: -Nếu em không đi thì sao? Hắn dọa dẫm: -Thì khi lìa đời, em sẽ xuống hỏa ngục, nơi đó có những con quỷ đuôi dài đầu sừng, nó sẽ tán tỉnh và hù dọa em, em sẽ chết khiếp… Hắn còn tuôn ra hàng tràng dài những điều mà hắn học lóm đâu đó trong Kinh Thánh. Nàng vô phương chống đỡ trước những lời lém lỉnh của hắn nhưng vẫn không chịu đầu hàng: -Nhưng … nhưng mà … má em sẽ la, nếu đi với anh … thôi … em hổng dám đâu!
Tới đây thì hắn đành phải bạt mạng nói càn: -Không người mẹ tốt bụng nào lại la mắng con gái khi đi lễ nhà thờ vào đêm giáng sinh với một chàng trai tử tế … như anh. Nàng liếc đôi mắt sắc như dao cạo quét khắp người hắn: -Liệu có tin được mấy cái anh chàng lính tráng như anh không?
Thấy nàng có vẻ xiêu lòng, hắn gật đầu lia lịa: -Tin được, tin được! Bên trong bộ đồ phong trần này là một linh hồn thánh thiện. Anh là một chàng trai tử tế hiền lành nhất mà em có thể tin tưởng. Thề có Chúa chứng giám, anh sẽ hộ tống em đến nơi an toàn và sẽ trả em về nhà đúng giờ sau khi tan lễ mà không làm em bị mất một sợi lông chân nào… Nghe hắn quả quyết, nàng cũng động lòng, nên sau vài giây lưỡng lự nàng bèn gật đầu: -Vậy … anh ra đứng ở cuối đường đợi em, em sẽ thay đồ rồi ra sau … nhớ là đưa em về ngay sau khi tan lễ đó … nghe chưa?
Hắn mừng rơn.
Thế là … lần đầu tiên trong đời, hắn được sánh bước bên một người con gái, dịu dàng trong chiếc áo dài trắng tinh khôi cùng đi lễ nhà thờ. Con đường dẫn đến ngôi giáo đường chính của thành phố tràn ngập sương mù, đêm đó lại là một đêm có trăng. Ánh trăng mờ tỏa, quyện cùng lớp sương mù lãng đãng tạo thành một thứ ánh sáng huyền ảo mông lung, khiến hắn có cảm giác như là đang bơi trong không gian của một tầng trời xa thẳm nào đó, chứ không phải đang đi giữa một thành phố bị chiến tranh vây bủa tứ bề. Thấy nàng có vẻ lạnh, hắn cởi chiếc áo Philaket của mình choàng lên vai nàng trong động thái của một bàn tay sẵn sàng chở che bảo vệ.
Nàng cảm động, trìu mến đi sát vào hắn, hắn nghe được mùi hương tóc và mùi da thịt của nàng thoảng ra ngây ngất. Ôi chao, hắn ước gì cho đường đi không tới và đêm cứ dài ra, để mãi mê, hắn sẽ cùng nàng trôi đi, trôi đi qua lối vào tình sử và cùng bay đến một thiên đường mộng ước xa xôi. Nơi chỉ có tình yêu và mật ngọt, nơi xa lìa trần thế đau thương…
Nhưng con đường thực tế thì quá ngắn ngủi. Mười lăm phút sau-dù đã cố đi chậm hết sức-hắn và nàng cũng đã đứng trước cửa nhà thờ. Người đến dự lễ và người đi xem cũng rất đông. Hắn chật vật đưa nàng vào bên trong. Khi đã yên vị ở một chỗ mà hắn nghĩ là có thể nhìn bao quát cả khung cảnh của giáo đường, hắn ấn nàng ngồi xuống chiếc ghế trống duy nhất còn lại, hắn đứng sau lưng. Nàng trả lại chiếc áo khoác lính cho hắn vì lúc này hơi nóng của số đông người đã đẩy cái lạnh ra bên ngoài khung cửa.
Đang lúc hắn đang say sưa giảng bài về sự tích của đêm giáng sinh thì một bàn tay thô bạo kéo mạnh hắn về phía sau. Cùng với một tràng cười “đểu cáng” là một giọng nói quen quen: -Thằng quỷ! Trốn ở đâu mà tụi tao tìm mãi mới ra mày … Đi! … đi nhậu với tụi tao! Hắn ngó lên, thì ra là hai thằng “ôn dịch” cùng đơn vị. Hổng biết nó làm cách nào mà cũng trốn được về đây? Hắn bèn xuống nước năn nỉ: -Tao đi với em gái, tụi mày thông cảm, hẹn quán nào đi, chút xíu đưa em về xong tao đến. Không đếm xỉa gì lời năn nỉ của hắn, hai thằng bạn thân kéo tuột hắn ra ngoài: -Huynh đệ chi binh gì mà bỏ bạn bè đi chơi với em út? Để em đi lễ đó, nhậu với tụi tao xong quay lại đón em về, không nói on-đơ gì ráo… Miệng nói tay kéo, hai thằng “quỷ sứ” lôi thẳng ra quán. Vốn tính nể trọng bạn bè, nhất là đối với bạn bè vào sinh ra tử, hắn ngoan ngoãn bước theo mà không kịp quay lại dặn dò “em Phương thân mến” một câu nào.
Hắn định bụng ngồi một lát với hai thằng “ôn dịch”, uống với tụi nó vài ly rồi tìm cách chuồn. Nhưng, người tính không lại ý trời! Khi cái thứ nước màu hổ phách “quỷ quái” trong chai “Napoleon lùn” chạm đáy, hắn ngật ngưỡng đứng lên bắt tay từ giã bạn, thì cũng là lúc hắn đổ ập xuống sàn nhà, không còn biết trời trăng mây nước gì nữa cả!
o0o
Khi tỉnh lại vào buổi sáng hôm sau, hắn thấy mình nằm co trên chiếc bàn sắt trong phòng khách của một quán trọ rẻ tiền. Cổ họng đắng nghét và cái đầu nặng trịch, hắn chẳng biết tại sao mình lại ở đây? Chợt nhớ tới nàng, hắn giật mình phóng xuống đất – chết mẹ – mình quên đón nàng rồi! Hắn vội vàng đi tìm nước rửa mặt, rồi sờ khắp túi quần, túi áo, chẳng có thứ gì ngoài một manh giấy viết nghệch ngoạc mấy chữ: “Mày say quá mà khách sạn hết chỗ, tụi tao đành bỏ tạm mày ở đây, tiền bạc giấy tờ tụi tao giữ, mai về đơn vị lấy”.
Hắn trở lại quán cafe Cây Ổi để gửi đến nàng một lời xin lỗi. Thấy hắn, nàng chẳng nói chẳng rằng, quay lưng bước vào nhà sau mất dạng. Hắn đứng yên một lát, nhìn trời hiu quạnh … rồi thọc hai tay vào túi quần lặng lẽ rời đi!. Mùa giáng sinh 1974-đối với hắn-đã trở thành một kỷ niệm đẹp và … buồn!
Ngày 14 tháng 3/1975. Kon Tum được lệnh di tản, đơn vị hắn kéo súng theo đoàn quân lầm lũi từ giã chiến trường, hắn không kịp đến chào “em Phương thân mến”. Cuộc di tản chiến thuật biến thành một cuộc tháo chạy kinh hoàng. Bom đạn, đói khát và bịnh tật đã giết chết rất nhiều binh lính và thường dân vô tội. Hắn tìm kiếm khắp nơi và hỏi thăm rất nhiều người, không ai biết tin tức gì về cô Phương cà phê Cây Ổi. Hắn thở dài nghĩ đến một điều không dám nghĩ: – Có thể “em Phương thân mến” đã vùi thân trong một góc rừng nào đó giữa vùng lửa đạn chiến tranh rồi!
-Đông Ry Nguyễn
***
NOEL BUỒN
(Cuộc đối thoại giữa hai người bạn)
**
THƠ DONRY NGUYỄN
*
Em than thở Giáng sinh này buồn quá, Đang một mình không biết tính sao đây…
-Thì xin mời em qua Mỹ chơi đi Khi nào tới nhắn tin anh đưa rước Chúa thì chắc không dễ gì gặp được Nhưng giáo đường nhiều vô kể em ơi
Giáng sinh này em qua Mỹ thăm chơi Tiền phí tổn đi về coi cũng rẻ Thấy thiên hạ đi về như đi chợ Em một lần nên thử độ xem sao
-Nghe anh mình nói chuyện giống chiêm bao Anh cứ tưởng ai cũng giàu vậy á Gốc nông dân em bùn lầy vất vả Hột lúa mùa này đổi hột lúa mùa sau
-Xem ti-vi anh có biết gì đâu Nghe nói bển bây giờ sang trọng lắm Đường phố đẹp dập dìu người mua sắm Nên nghĩ là tiền bạc đủ tiêu hoang
-Anh lầm rồi, giàu có chỉ nhà quan Còn vô sản như em toàn cơ cực Chạy miếng ăn đã tàn hơi mệt sức Không mong gì du lịch được đâu anh
-Giáng sinh này em sẽ lại loanh quanh Tiền không có mà tình càng chẳng có Đời vốn dĩ không thương người nghèo khó Em thở dài, anh chả biết nói sao đây!
-Đông Ry Nguyễn
CHÚA VÀ EM
Em một đời tin Chúa Ta một đời tin em Có thể nào em để Ta lạc loài đức tin
Chúa yêu em thánh thiện Ta yêu em nồng nàn Chúa lẽ ra phải khiến Ta sớm thành chiên ngoan
Mỗi lần em đi lễ Đọc bao nhiêu lời kinh Là hiên ngoài ta cũng Tụng bấy nhiêu thơ tình
Em không là gỗ đá Sao cứ hoài lặng câm Để buồn trên thánh giá Chúa nhìn ta ngại ngần
Hai ngàn năm Chúa vẫn Cứu rỗi người trần gian Em lẽ nào cứ để Linh hồn ta đi hoang
Em một đời yêu Chúa Ta một đời yêu em Lẽ nào em không thể Mở đôi vòng tay ngoan…
Đông Ry Nguyễn
THƠ XƯỚNG HỌA – PHƯƠNG HOA – NGUYỄN HUY KHÔI
MERRY CHRISTMAS 2025 – PHƯƠNG HOA
(Tam khúc liên châu)
GIÁNG SINH kính chúc thảy nhà nhà
Luôn gặp điều lành, phúc đáo gia
LẠC VIỆT thành viên mùa hạnh phúc
VĂM THƠ thân hữu tháng an hòa
Tiệc Réveillon tối hàng lô gift
Lễ CHRISTMAS đêm cả khối quà
CHÚA ngự trên Trời ban phép báu
Toàn cầu nhân loại thảy hòa ca.
*
Hòa ca đêm nhạc Thánh vô cùng
Gió buốt vờn xoay tuyết chập chùng
Máng cỏ vô tư chào khách lạ
Hài Đồng thánh thiện đón vui chung
Nam thanh má tựa vòng tay ấm
Nữ tú vai kề chớp mắt nhung
Mùa Lễ cầu bình an thế giới
Tạ Ơn Thiên Chúa – Đấng muôn trùng.
*
Muôn trùng PHÉP LẠ cứu nhân gian
CHRISTMAS đèn sao tỏa ngập tràn
CHÚA ngắm đàn chiên từ mán cỏ
MẸ ôm Hài tử tận cung vàng
Cầu xin thế giới gìn nhân nghĩa
Kính nguyện nơi nơi giữ thiện đàng
Khắp cõi ta bà đầy phước lộc
Nhà nhà hạnh phúc hưởng bình an
Phương Hoa – VTLV – GIÁNG SINH, 2025
BÀI HỌA NGUYỄN HUY KHÔI
ĐĂNG LỄ GIÁNG SINH
Đăng lễ giáng sinh đến mọi nhà
Tưng bừng đèn nến ấm tư gia
Phố phường trăm họ mưu an lạc
Xóm mạc muôn dân sống thái hòa
Lão đợi Chúa Trời nhanh độ phước
Trẻ mong Già Tuyết sớm trao quà?
Đất trời rực rỡ tràn hoa nắng
Chuông thỉnh hòa thanh khúc Thánh Ca!
*
Thánh Ca vang vọng đến không cùng
Cảnh sắc đan xen tỏa điệp trùng
Đơn chí?…họa tan mừng trải khắp
Trùng lai?… phúc đến thỏa trao chung?
Người về lưu luyến, lòng hoan hỷ
Kẻ đến bồi hồi, dạ nhớ nhung!
Trì độ – ơn trên dầy bể lượng
Trường ân Thiên Chúa mở trùng trùng…
*
Trùng trùng,…Đức Mẹ ngụ trần gian
Tuệ khí dọi soi ngợp ngợp tràn
Gần chốn bình dân tìm Máng Cỏ
Xa nơi quyền quý lánh ngai vàng”?”
Hoại trừ ngạ quỷ nơi hoang xú
Sinh khởi tự nhiên chốn Địa Đàng
Đức trọng, tâm khoan hồng Nước Chúa
Nhân loài đồng hưởng mãn ninh-an!
Nguyễn Huy KhôI – 14-12-2025
**
Tôi và Lễ Giáng Sinh –Sương Lam
*
BÀI VIẾT CỦA TÁC GIẢ SƯƠNG LAM – MỘT CÕI THIỀN NHÀN
Đây là bài số bảy trăm chín mươi một (791) của người viết về chủ đề Thiền Nhàn trong khu vườn Một Cõi Thiền Nhàn của trang văn nghệ ORTB
Bây giờ là mùa Giáng Sinh. Mọi người mọi nơi hân hoan chào đón Chúa sinh ra đời.
Người viết tuy là một Phật tử nhưng vẫn luôn luôn chia sẻ niềm vui ngày Giáng Sinh với bạn bè thân hữu Công Giáo của tôi vì đối với tôi, Chúa giáng trần hay là Phật đản sinh đều đem tin vui đến cho tất cả mọi người, trong đó có tôi vì tôi vẫn nghĩ:
“Con của Phật hoặc là con của Chúa
Đều tin rằng có một Đấng Toàn Năng
Dạy con người phải luôn nghĩ nhớ rằng:
“Sống đạo đức, từ bi và bác ái”
và chúng ta luôn luôn ghi nhớ:
“Lời Chúa, Phật như suối từ ngọt mát
Chúa giáng trần hay là Phật đản sinh
Để dạy ta sống với một chữ Tình:
“Tình Nhân Loại với Thiện Tâm sẵn có”
Chữ Phúc Đức chúng ta đều hiểu rõ
Khi con người sống đạo đức thiện tâm
Thì phúc duyên là dòng nước chảy ngầm
Mang an lạc, thiện lành cho ta đó”
(Trích bài thơ Bình An Dưới Thế Cho Người Thiện Tâm của Sương Lam)
Tôi lắng nghe những bài thánh ca đêm Noel với sự trân trọng, tôi thấy lòng mình lắng đọng lại khi ngắm nhìn tuyết trắng rơi rơi vào đêm Giáng Sinh và tôi chia sẻ niềm vui với trẻ thơ khi nhìn những Papa Noel hay Santa Claus áo thụng đỏ, bụng bự, râu trắng vai quảy túi quà đi phân phát cho các em bé.
Tình thương yêu quý mến nhau đâu có phân biệt tôn giáo, phải không Bạn? Chúng ta đến với nhau với trái tim tình cảm, với nụ cười thân mến, với sự tôn trọng lẫn nhau. Tôi vẫn nghĩ thế.!
CA KHÚC ĐÔNG ƠI ĐỪNG VỘI – Nhạc: Mai Hoài Thu – Thơ: Pham Phan Lang – Giong ca Đông Nguyễn
Một ngày cuối Thu cách đây năm năm, khi Đông còn đang ngập ngừng nơi ngưỡng cửa, PL đã viết bài thơ Đông Ơi Đừng Vội.
Đông ơi đừng vội
*
Lìa cành lá rơi Thu qua mất rồi Đông buồn sắp về Hồn nghe tái tê
*
Đông ơi chậm thôi Ta đang vẫn ngồi Bên dòng nước cạn Nghe chiều nhẹ trôi
*
Mây bay lững lờ Thu buồn hắt hiu Trời chiều dịu êm Ta ngồi đợi đêm
*
Xa xa tiếng chuông Nghe thăm thẳm buồn Con chim lẻ loi Nhìn quanh ngó quanh
*
Thu chưa muốn đi Đông buồn vội về Ta ngồi đợi mưa Nghe cơn gió đùa….
Phạm Phan Lang 2/12/2020
Bài thơ Đông Ơi Đừng Vội đã được nhạc sĩ Mai Hoài Thu ưu ái phổ nhạc và biến thành một ca khúc sâu lắng, trữ tình. Ca khúc được trình bày bởi ca sĩ Đông Nguyễn, với giọng hát truyền cảm, nồng nàn.
Cũng từ bài thơ này và cũng với giai điệu Blues nồng nàn này của nhạc sĩ Mai Hoài Thu, nhạc phẩm Đông Ơi Đừng Vội đã tiếp tục được ca sĩ Nhất Chi Mai trình bày. Giọng hát đầy cảm xúc kết hợp với giọng bè nhẹ nhàng, lâng lâng ở cuối mỗi đoạn, khiến người nghe không khỏi xao xuyến và bồng bềnh trong một không gian cảm xúc rất riêng.
Xin chân thành gửi lời tri ân sâu sắc đến nhạc sĩ Mai Hoài Thu, ca sĩ Đông Nguyễn và ca sĩ Nhất Chi Mai, những người đã thổi hồn vào bài thơ mộc mạc này bằng những giai điệu và giọng ca tuyệt vời, giúp nó thăng hoa và đến gần hơn với người nghe.
Nhân ngày đầu Đông, xin mời quý vị cùng nghe lại bài hát cũ và kính chúc an vui.
Thân kính, Phạm Phan Lang
***
TIN TỨC TỔNG HỢP TỪ LÊ VĂN HẢI – VTLVMỜI ĐỌCBÊN DƯỚI:
MỘT THÂN HỮU NHẮC ĐẾN CA KHÚC “ĐÊM VÀNG” CỦA NHẠC SĨ TRẦN TRỊNH, SÁNG TÁC NĂM 2004. NHÂN DỊP RẢNH RỖI CUỐI NĂM, TÔI XEM LẠI HỒ SƠ ĐÃ CÓ TRONG MÁY VỀ NHẠC SĨ TRẦN TRỊNH VÀ HIỆU ĐÍNH VỚI NHIỀU TÀI LIỆU TRÊN INTERNET ĐỂ NHỚ ĐẾN MỘT NGƯỜI NHẠC SĨ HIỀN HÒA, ÍT NÓI, CÓ CHÂN TÀI CỦA TÂN NHẠC VIỆT NAM. MỜI QUÝ VỊ XEM VÀ NGHE NHẠC:
Một người cha đặt cây thông Giáng Sinh trong nhà cho các con trai và không bao giờ đem bỏ đi…
Đây là một truyện cổ tích đời nay làm cho ta càng yêu thích sự kỳ diệu của mùa Giáng Sinh.
Ngày xưa có một gia đình người Mỹ sinh sống ở thành phố nhỏ Wausau ở tiểu bang Wisconsin, miền Đông Bắc Hoa Kỳ. Cha mẹ nuôi dạy sáu đứa con trai thật đáng yêu, sáu cậu đều thích đi câu cá trên thuyền với cha . Khi mùa Đông đến, chúng chạy ùa ra vui thích trượt băng trên cái hồ cạnh nhà suốt buổi chiều ,rồi tranh nhau chạy về nhà để thưởng thức ly sữa sô cô la nóng một cách ngon lành. Rich, người em nhỏ nhất luôn trân quý vô số những kỷ niệm yêu dấu như thế.
Nhưng, từ nhiều năm nay, kỷ niệm thường trở về với cậu ta là cây thông Giáng Sinh được đặt ở góc phòng khách trong ngôi nhà tuổi thơ của cậu. Vào một ngày đẹp trời của tháng mười hai, lúc đó Rich chỉ mới 14 tuổi, cậu và các anh cùng với cha mẹ họ đem một cây thông vào nhà . Neil, người cha luôn tôn trọng tập tục về cây thông Giáng Sinh này, và không gì có thể thay đổi được việc ấy, cho dù các con đều đã trưởng thành. Cây chễm chệ ngự trong phòng khách, đó là cây thông thuộc giống Epica xinh đẹp cao hai mét rưỡi.
Rich vẫn còn nhớ mình đã treo những quả châu đầu tiên lên cây thông Giáng Sinh. Nhưng vài hôm trước ngày Giáng Sinh, một thư thông báo tin không vui giáng xuống gia đình họ: đó là hai anh lớn bị gọi đi nhập ngũ vào thời kỳ chiến tranh ở Việt Nam. Người cha từng là cựu quân nhân của Thế Chiến Thứ Hai và Chiến Tranh Triều Tiên biết rằng thử thách ấy sẽ gay go như thế nào cho các con. Thế là ông đặt ngay một lời nguyền:
“Tôi chỉ dẹp bỏ cây thông Giáng Sinh khi mà tất cả các con tôi đều trở về sum họp trong ngôi nhà này.”
Neil đã tuyên bố lời nguyền đó từ năm 1974. Rich, người em út của gia đình, nay đã 55t và anh ta đã kể lại câu chuyện này một cách cảm động. Và vì lý do đã kể trên, cây thông Giáng Sinh của gia đình vẫn giữ nguyên vị trí ở phòng khách, đến nay đã được bốn mươi năm. Hai người anh đi lính đã an toàn trở về Mỹ từ cuộc chiến, nhưng một anh là thương binh hạng nặng và đang sống ở tiểu bang Washington, ở đầu mút bên kia của đất nước.
Tình trạng sức khỏe của anh chưa cho phép anh thực hiện chuyến trở về gặp mặt gia đình. Về phần cây thông Giáng Sinh, nó vẫn hiện ngang sừng sững và qua bao nhiêu năm tháng vẫn giữ được nguyên vẹn tất cả những đồ vật trang trí trên mình nó, không sót một món nào. Còn chàng Rich từ nay rất hãnh diện về cha mình cùng với “truyền thuyết” này của gia đình, anh ta còn đùa rằng cây thông Giáng Sinh trở nên thân quen như bàn ghế trong nhà và anh cũng không thèm để ý đến nó nữa.
Phần lớn những cây thông Giáng Sinh lần lượt rụng hết lá sau nhiều tháng không được ở ngoài khí trời, nhưng cây thông của Neil, tất nhiên cũng có vài lá thông bị vàng úa, nhưng cây gần như vẫn y nguyên. Ngay cả những vật trang trí và đèn đóm đều gần 100 tuổi rồi. Đó là một trong những cây thông Giáng Sinh hiếm hoi có chiều dài lịch sử. Và người cha giải thích sự kiện này một cách hết sức đơn giản:
“Những cành lá của cây thông Giáng Sinh của chúng tôi vẫn còn xanh tốt chỉ vì một nguyên do, đó là chúng chờ đợi con trai tôi trở về. Thật kỳ diệu thay! Nhưng tôi dám cá cược với quý vị là ngày mà con tôi về thì tất cả lá thông ấy sẽ rụng xuống.”
Ta hãy hy vọng rằng Giáng Sinh năm 2015 này, tất cả gia đình sẽ được sum họp đông đủ quanh cây thông Giáng Sinh kỳ diệu ấy.
Câu chuyện tuyệt vời trên đây nhắc cho chúng ta nhớ rằng Giáng Sinh chính là thời điểm để gặp lại người thân và sum họp để gia đình hưởng được những giờ phút đầm ấm bên nhau, và biết đâu, tin vào sự thần diệu của Giáng Sinh…
Nguồn: Eliane Hong,( tháng 10, 2015)- Thái Lan/ Nữ Lan dịch
MỪNG MÙA SAO SÁNG * Lê Hải đầu Văn Thơ Lạc Việt Hằng năm tổ chức hiến từ tâm Dâng lên ý nghĩa mùa sao sáng Đón Chúa niềm tin đẹp nở mầm * Chiều nhạc “ Mừng Mùa Sao Sáng “diễn Như vừa có Chúa hiện quanh đây Thiêng liêng trang trí hình Thiên Chúa Trình diễn không gian ấm áp đầy * Gợi nhớ tình quê nhiều kỷ niệm Năm mươi năm viễn xứ xa nhà Hài Đồng Cứu Thế thương nhân loại Nuôi dưỡng loài người góp tiếng ca * Giai điệu ngữ ngôn hòa trống nhạc Ca đoàn giáo xứ nhịp nhàng xinh Thời trang quốc tế màn phong phú Hợp tác đàn tranh uyển chuyển tình * Gió lạnh mùa đông vừa chạm ngõ Vui mừng nguyện Chúa xuống trần gian Bình yên thế giới mùa lễ hội Rực rỡ đèn hoa kết mọi đàng Minh Thúy Thành Nội Mùa lễ Noel 2025
VĂN TỪ “CÔ GÁI VIỆT” Nguyễn Thị Thanh Dương: BABY SIT.
BABY SIT
Nguyễn thị Thanh Dương
“Cần người baby sit ở tại nhà, trông 3 đứa trẻ 7, 6, và 5 tuổi, làm vài công việc vặt. Có phòng riêng, lương hậu hỉ. Xin mời ”.
Đọc hàng loạt mục cần người đến nhà giữ trẻ, tôi dừng lại ở đây, sao mà thích hợp với tôi đến thế, tôi đang tìm một nhà có đông trẻ con để đến giúp việc, vì tôi cô đơn quá đổi. Cái nghề baby sit này tôi đã nghĩ tới với rất nhiều hứng thú sau những tháng năm dài mấy lần vấp ngã trong cuộc đời.
Tôi gọi phone ngay:
– Hello, chào chị, tôi có đủ điều kiện để xin làm baby sit cho nhà chị đây.
Giọng hớn hở bên kia đầu dây:
– Chị trẻ không? Khỏe không? Em có 3 thằng con trai quậy dữ lắm, đến nỗi bác Ba hiện thời đang baby sit tụi nó chịu không thấu, bác quá mệt đòi thôi việc nên em mới đăng báo kiếm người thế vô, bác Ba làm nốt 2 tuần nữa cho tròn tháng rồi mới ra…
Chị ta nói dài quá tôi phải ngắt lời :
– Tôi hiểu rồi, năm nay tôi 40 tuổi, sức khỏe tốt. Được không?
– Vậy thì tốt quá, coi như em nhận lời mướn chị, bữa nào mời chị đến nhà, coi những công việc bác Ba làm sao chị làm vậy.
Tôi đồng ý, hai tuần nữa tôi lại có một cuộc sống khác.
Một cuốn tiểu thuyết có bao nhiêu trang buồn vui thì cuộc đời tôi cũng có bấy nhiêu trang. Tôi là một đứa trẻ không có cha ngay từ trong bụng mẹ, nghèo khổ và lam lũ tôi sống với mẹ bữa đói bữa no trong một xóm lao động ở Việt Nam, năm tôi 12 tuổi mẹ tôi bị bệnh chết, không thân bằng quyến thuộc. Tôi bơ vơ.
Tôi được một bà hàng xóm tốt bụng mang tôi đến một gia đình họ hàng của bà. Đó là chủ hãng nước mắm ở bến Chương Dương, Sài Gòn, để tôi làm việc vặt gì thì làm, mục đích chính là họ nuôi tôi làm phước.
Ông bà chủ có hai người con gái tuổi mười tám đôi mươi, đa số tôi làm việc vặt cho hai cô. Biết thân phận mình tôi làm việc rất chăm và ngoan ngoãn nên cả ông bà và hai cô đều thương. Được sống ở thành phố, bên cạnh hai cô chủ, tôi phổng phao khoẻ mạnh và đầu óc khôn ra, những sinh hoạt của họ cũng cho tôi nhiều kiến thức. Lúc nào rảnh hai cô thay phiên nhau dạy tôi học chữ.
Tôi quý mến ông bà chủ hãng nước mắm lắm, tôi hay nói với ông bà con mong mau lớn con sẽ khuân nước mắm từ kho ra xe, ông bà đỡ phải mướn người ta. Nhưng chưa đến cái ngày tôi được làm công việc đó để đền ơn đáp nghĩa chủ, thì năm 1980 cả nhà ông bà tổ chức vượt biên, và tôi nghiễm nhiên đã là một thành viên của gia đình họ nên cũng được đi theo. Năm đó tôi 18 tuổi.
Sang đến Mỹ tôi vẫn tiếp tục làm người giúp việc cho họ. Vài năm sau hai cô học hành xong và lập gia đình, cuộc sống của tôi vẫn êm đềm theo gia đình chủ, nhưng hai cô nói tôi không thể suốt đời làm thuê làm mướn cho nhà cô mãi được, tôi đã trưởng thành cấn có một cuộc sống riêng, có vợ có chồng như người ta. Hai cô thương tôi mà nói thế, chia tay hai cô tôi buồn lắm và không tự tin chút nào, vừa xấu vừa không trình độ thì ai dám lấy tôi?
Thế mà có người thương tôi, lấy tôi, làm tôi vừa mừng vừa ngạc nhiên, anh quê ở Long Đất, Vũng Tàu, làm tài công chở người vượt biên từ ghe nhỏ ra ghe lớn, một hôm anh liều mình lên ghe lớn đi luôn, qua đây tứ cố vô thân. Anh cũng bơ vơ.
Gia đình ông chủ hãng nước mắm ở California, còn tôi và chồng rủ nhau về Tiểu bang Texas, nghe nói cũng đông người Việt Nam và nhà cửa thì rất rẻ so với Cali.
Sau này tôi hỏi chồng tôi với vẻ cảm động và vô vàn biết ơn rằng em xấu, em quê mùa thế tại sao anh lấy em, anh yêu em ở điểm nào ? Anh đáp thản nhiên thời điểm đó ít người Việt Nam, đàn ông thì thừa, đàn bà thì thiếu, thà lấy em còn hơn ở giá, chứ có yêu thương gì đâu!
Sự thật mất lòng, nhưng chứng tỏ là anh thành thật, thôi thì “ bèo dạt mây trôi” gặp nhau, cho đời bớt buồn, bớt khổ. Chúng tôi an phận sống bên nhau và mong muốn có một đứa con, nhưng chờ hoài hết năm nọ, năm kia, hai vợ chồng tôi mới đi bác sĩ để biết một sự thật đau lòng tôi không có khả năng sinh con. Chồng tôi thất vọng, chán nản sinh ra nhậu nhẹt say sưa, một hôm tôi biết được anh đã ăn ở với một cô gái, và cô đang mang bầu, tôi hiểu phận mình thua thiệt, tự nguyện rút lui, trả anh cho cuộc đời mới đang mở ra cho anh.
Vài năm sau tôi lập gia đình với một ông lớn tuổi, bị vợ bỏ, ông chấp nhận hoàn cảnh tôi, không cần con cái, hình như ông dị ứng với vấn đề này, ông nói con cái ở Mỹ chỉ là một lũ mất dạy. Tôi an lòng sống với ông, tưởng sẽ được hạnh phúc cho đến tuổi già. Nhưng ông bị chết đột ngột vì bệnh tim, không kịp một lời trăn trối, nhưng cũng kịp để lại cho tôi một món tiền khá lớnphải trả nợ cho credit card, không biết ông đã vay mượn từ lúc nào, mang tên hai vợ chồng, chỉ để đánh cá football (sau này tôi mới biết đó chính là nguyên nhân ông bị vợ bỏ, con khinh, và vất va vất vưởng như lục bình trôi sông rồi tấp vào đời tôi, để tôi phải trả một giá rất đắt cho cái hạnh phúc mà tôi chưa hề được hưởng).
Tôi đã cần cù đi làm lương vài đồng một giờ trong vài năm để trả món nợ đó, tôi suy luận theo thuyết nhà Phật, có lẽ kiếp trước mình mắc nợ ông ta? Bây giờ nợ trả hết rồi, tôi không oán hận gì ông đâu, ông hãy thanh thản an giấc ngàn thu, chỉ mong rằng kiếp sau nếu có tái sinh , dù lấy ai cũng xin ông chừa thói cờ bạc, chừa đánh cá football cho vợ con ông nhờ.
Vừa xấu người, vừa xấu số, qua hai đời chồng mà chẳng được gì ngoài thất vọng khổ đau.Tôi quyết tâm an hưởng cuộc sống độc thân, tưởng rằng sẽ thanh thản mà sao buồn thế! đơn độc thế! Đôi lúc tôi muốn quay về tìm hai cô chủ cũ đang sống ở California, nhưng lại tự ái, và phụ lòng tin tưởng của người ta nên đành thôi.
Tôi cũng là một người đàn bà như bao nhiêu người đàn bà khác, cũng thèm khát một mái gia đình, những đứa trẻ thơ, để được săn sóc chúng, thương yêu chúng. Thế là tôi nghĩ đến nghề baby sit, tôi muốn được ở tại nhà chủ, sống hàng ngày với họ, để hưởng lây không khí gia đình, để gần gũi những đứa trẻ mà đáng lẽ tôi cũng có.
***
Tôi đã đến nhà cô chủ mới để quan sát tình hình, vợ chồng chú An giới thiệu tôi với bà Ba và 3 đứa trẻ rồi họ vội vã rời khỏi nhà, họ đang kinh doanh một nhà hàng lớn rất đông khách nên bận túi bụi, việc nhà cửa, con cái giao phó hết cho người baby sit.
Lần đầu nhìn 3 thằng ranh tôi đã thích, còn chúng nhìn tôi với vẻ tò mò .Hôm nay ngày nghỉ nên chúng ở nhà đủ, bà Ba vừa làm việc vừa nói chuyện với tôi, bà hơn 65 tuổi, nhưng chưa có quốc tịch nên chưa được hưởng tiền già. Ôi, ở cái tuổi này mà phải quản lý 3 thằng vừa ăn khoẻ vừa nghịch ngợm như thế kia thì mệt thật! Tôi bỗng thấy mình còn trẻ quá, sẽ đủ sức làm nữ tướng điều khiển 3 thằng lính quèn đó.
Tôi tiếp tục công việc của bà Ba không khó khăn gì, sáng dậy lo cho 3 đứa đi học, trưa lần lượt đón về, chiều nấu cơm, tắm rửa cho chúng, rồi dọn dẹp nhà cửa… Tôi vừa nghiêm vừa thân thiện để chúng không ăn hiếp và không quá sợ tôi. Ai như bà Ba muốn làm cái gì cũng phải năn nỉ nào ăn cơm đi, nào tắm đi, nào thay đồ đi.v.v… rồi bà thương, chúng nó đâu cần cái tình thương hứa hẹn của bà để phải đánh đổi những trò chơi hứng thú của chúng.
Mỗi lần cho lũ trẻ tắm là một cuộc chơi “trốn tìm” và “đuổi bắt” đầy ngoạn mục, quần áo dơ thay ra, chúng không để vào rổ trong phòng tắm mà cố tình quẳng vào kẹt tủ, gầm giường, hay góc bếp cho bà Ba tìm mệt nghỉ, bà Ba đi khắp nhà tìm quần áo dơ của chúng như tìm chiến lợi phẩm sau một cuộc giao tranh. Xong, thì 3 thằng lại xổng mất, bà phải chạy từ phòng nọ đến phòng kia, từ tầng lầu xuống tầng dưới, và ngược từ tầng dưới lên tầng lầu để tóm chúng lôi vào phòng tắm…
Bà mệt và căng thẳng đến nỗi có đêm bà thấy ác mộng, 3 đứa chạy nhảy bừa bộn trong phòng tắm, nước văng tung toé, nước tràn lan lênh láng, trôi bà đi khắp nhà… Giật mình tỉnh dậy người bà còn đẫm mồ hôi, bà không tin là mình vừa ngủ mê, lò dò bật đèn ra phòng tắm, thấy mọi sự yên tịnh bình thường bà mới yên tâm vào ngủ tiếp.
Khi bố mẹ chúng ra khỏi nhà, căn nhà rộng 4,000 sqft, đẹp đẽ sang trọng, trên khu đất rộng, vườn tược xinh tươi, hàng tháng có người đến làm vườn cắt cỏ này là của tôi, tôi tha hồ ra mà đi trên cỏ non xanh mướt, ngắm hoa lá, nhìn chim bay… Những giây phút thú vị đó, tôi tin chắc rằng vợ chồng cô chủ chưa bao giờ biết đến.
Vào nhà tủ lạnh đầy ngập đồ ăn, tôi muốn ăn, muốn bày món gì có mà trời biết. Tôi đã làm những món ăn, bánh trái khiến lũ trẻ thích mê, tôi kể cho chúng nghe những đứa trẻ bằng tuổi chúng đang ở Việt Nam, đang thiếu ăn, thiếu mặc, hay không được học hành gì cả… tôi kể về tuổi thơ nghèo khổ của tôi, chúng cảm động nghe tôi kể như nghe chuyện cổ tích, tôi dạy chúng phải biết quan tâm và giúp đỡ người khác, biết nhường nhịn thương yêu nhau.
Dần dần 3 đứa đều quý mến tôi, ngoan ngoãn nghe lời tôi, chúng không nghịch phá nữa, tự mình làm những gì có thể được, tôi không phải hầu hạ chúng như bà Ba, trái lại tôi còn sai chúng làm được khối việc vặt, khi quần áo đã sấy khô, chúng gấp lại, của đứa nào đứa nấy mang về phòng, chúng vui thích vì được tự tay xếp quần áo vào tủ theo ý mình.
Tôi sai chúng nó lấy báo cho tôi đọc hay rót nước cho tôi uống là chuyện thường tình ở nhà, không biết bố mẹ chúng nhìn thấy có xót ruột không? Chứ chúng làm với tất cả lòng hăng hái, mà tôi cũng thương yêu chúng biết bao nhiêu, không phải là nhiệm vụ của một baby sit đâu, mà bằng tấm lòng của một người mẹ.
Tôi và 3 đứa trẻ đã có những ngày êm đềm hạnh phúc, những bữa cơm chiều đầm ấm, những buổi trưa 3 đứa thì ngủ, còn tôi nằm khểnh nghe nhạc, thảnh thơi như một kẻ vô công rỗi nghề, tôi mở máy nghe Chế Linh và Tuấn Vũ, hai giọng ca mùi mẫn là thần tượng của tôi, họ hát bài gì tôi cũng thuộc dù tôi không nhớ tên tác giả, nhưng chắc chắn là không có nhạc Trịnh công Sơn, dù ai cũng khen nhạc ông ta, có nhiều câu nhạc của Trịnh công Sơn nghe “mơ hồ” quá tôi không hiểu nổi: “Tóc em từng sợi nhỏ rớt xuống thành hồ nước lênh đênh.” Hay “Mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ. Dài tay em mấy thuở mắt xanh xao…” thà cứ cụ thể, huỵch toẹt như “Đời tôi cô đơn nên yêu ai cũng cô đơn…” hay “Đêm đêm một mùi hương, mùi hoa sứ nhà nàng…” nghe mà thấm tới tim tới phổi, nghe mà rơi lệ.
Nằm nghe nhạc đã, tôi ngủ thiếp đi, tỉnh dậy 3 đứa trẻ vẫn nằm ngủ bên tôi trong căn nhà sạch sẽ thơm tho, chẳng có chuyện gì phải làm, tôi vẩn vơ nghĩ tới vợ chồng cô An, không biết ngay giây phút này họ đang làm gì nhỉ ? Tội nghiệp ! chắc chú An đang bù đầu trong khói bếp mịt mù, trước kia chú có thuê đầu bếp, nhưng đứa thì làm mình làm mẩy, đi trễ về sớm, đứa thì chuyên môn ăn cắp mang về nhà toàn những món đồ biển đắt tiền.
Thế là chú vừa là ông chủ vừa kiêm luôn chức đầu bếp cho chắc ăn, khỏi phải trả tiền công đầu bếp mà lại quản lý được cả đám nhân viên dưới bếp, không thất thoát hao phí đồ ăn, thực phẩm. Còn cô An cũng bù đầu không kém, như tất cả những người Châu Á làm kinh doanh, khâu tiền nong thì chỉ có ngưòi nhà hay chính chủ nhân quản lý, cô An ngồi trong quầy thu tiền, mỗi ngày phải mỉm cuời không biết bao nhiêu lần, phải Hello, Thank you với không biết bao nhiêu người, kể cả những người có bộ mặt đáng ghét nhất.
Chín mười giớ tối cô chú An mới về tới nhà, tắm rửa và hỏi thăm con cái qua loa xong là lăn vào phòng ngủ, nếu có động đất hay trời sập chắc họ cũng không biết.
Làm gì cô chú An dám mơ tới một giấc ngủ trưa thanh bình nhàn hạ như tôi? Nằm nghe nhạc lâm ly sướt mướt như tôi?
Làm chủ nhà hàng, khách tới ăn tấp nập, nhưng cô chú An thường không ăn nổi những món ăn của mình, ngày nào cũng ngửi, cũng nhìn thấy, họ ngán quá rồi, cô An thường mang đồ ăn do tôi nấu ở nhà , tôi làm món dưa cải muối chua với củ hành đỏ thật thơm ngon, cô An rất thích.
Từ ngày làm baby sit, ăn, ở, chủ bao nên đồng lương tôi hầu như không dùng tới, dư được bộn tiền, tôi không có họ hàng gần xa ở Việt Nam để mà giúp họ. Tôi nghĩ đến những đứa trẻ nghèo – như tôi ngày xưa – và muốn đồng tiền của tôi được hữu ích tôi liên lạc với một ngôi chùa ở Việt Nam, thông qua đó, hàng tháng tôi gởi tiền về để chùa mang đến những Cô nhi viện, những Nhà nuôi trẻ em khuyết tật, cho các em được thêm manh áo mới, thêm miếng ăn ngon.
Nếu quả thật kiếp này làm điều lành kiếp sau được hưởng thì tôi mong sẽ có một mái gia đình và những đứa con như 3 thằng mà tôi đang baby sit là đủ rồi, chẳng mong giàu có sang trọng gì.
Một hôm cô An mang về một tờ báo xuất bản ở Việt Nam, do người bạn cô mới đi chơi Việt Nam và mang về. Cô An chỉ cho tôi bài viết về một bà người Việt sống ở Mỹ có lòng từ tâm, hàng tháng gởi cả ngàn đô về Việt Nam để giúp các trẻ em nghèo.
Cô An chặc lưỡi:
– Làm điều thiện mà dấu tên, ngu thật. Người ta đâu biết mình là ai, thì hãnh diện với ai đây?
Rồi cô so sánh, nửa đùa nửa thật:
– Chắc bà này giàu lắm mới chi ra như thế. Mà có giàu hơn tôi được không?
Mỗi ngày nhìn vợ chồng cô An ra đi, lao vào cuộc sống, tôi biết họ kiếm ra rất nhiều tiền, bằng sức lực mồ hôi và bằng cả sự khôn ngoan sống ở đời như cô An đã từng hãnh diện khoe với tôi, chị biết không, buôn bán kiếm lời là chuyện dĩ nhiên, ngoài ra phải biết kiếm thêm, mỗi bill tính tiền ăn của khách đều cộng thuế, nhưng tôi đâu có ngu mà khai thật lợi tức của mình với sở thuế, nên hầu hết tiền lời, tiền thuế của người ta trả đều vô túi mình.
Còn tôi, lương tháng 1,200 đồng, không kiếm thêm được đồng nào như vợ chồng cô chủ. Nhưng nếu so sánh giữa tôi và họ ai giàu hơn? Thì …tôi chứ ai! Vì tôi còn có tiền phân phát cho người khác. Và ai sướng hơn? Thì… cũng tôi chứ ai! vì tôi có niềm vui khi đã mang lại niềm vui cho người khác…
Nguyễn thị Thanh Dương
CHUYỆN SƯU TẦM – Người phụ nữ gốc Việt hành khất ở Paris
Người phụ nữ gốc Việt hành khất ở Paris
Mỗi ngày hai buổi đi, về sở làm, Quốc phải đi qua ga xe điện-ngầm Montparnasse làm trạm trung chuyển.
Có một ngày, đường xe điện ngầm về nhà Quốc tạm ngừng hoạt-động để sửa chữa, Quốc phải xử dụng đường xe điện ngầm khác trên cùng một ga trung chuyển, nhưng phải mượn lối đi qua hai thảm thang máy khá dài…
Khi vừa qua khỏi thảm thang máy thứ hai vài bước, Quốc thoáng thấy có một người phụ nữ ngồi xin tiền. Một chân bà bị teo nhỏ co quặp lai, ngắn hơn chân kia, một cặp nạng bằng kim loại sáng bóng sạch-sẽ nằm hai bên. Bà có vóc dáng của một người Á-châu và ánh mắt của bà khiến Quốc cảm nhận như đã nhìn thấy ánh mắt nầy ở một nơi nào đó rất mơ hồ…
Dòng người phía sau Quốc thúc đẩy Quốc tiến về phía trước. Quốc vẫn đi, lòng tự hỏi, tại sao giữa Paris của nước Pháp lúc nầy lại có người khuyết tật ăn xin ?
Chính-sách an-sinh xã-hội của Pháp không thể để sự việc như thế nầy xẩy ra, trừ trường hợp người nhập-cư bất hợp-pháp chưa được chính-quyền chấp thuận cho cư-trú dài hay ngắn hạn. Người khuyết tật là ưu-tiên của chính-sách an-sinh xã-hội Pháp.
Những ngày sau đó, buổi chiều đi làm về, khi bước ra khỏi thảm thang máy thứ hai Quốc vẫn thấy người đàn bà khuyết tật ngồi ngay tại một địa-điểm như những ngày hôm trước, dưới đất, trước mặt là một hộp giấy nhỏ để người hảo-tâm bỏ tiền vào. Bà ngồi im-lặng, không một lời hỏi xin khách đi ngang qua. Có lúc Quốc nhìn bà, mỉm cười. Quốc định ngừng lại bỏ tiền vào hôp giấy. nhưng một ý-nghĩ chợt dến, Quốc tiếp tục đi Quốc tự nhủ: “những người như bà nầy được xã-hội ưu-tiên giúp đỡ, không đến nổi nào phải xin ăn… làm ê mặt nước Pháp quá ! “.
Một ngày giữa tuần, sở làm có công việc cần giải-quyết gấp, tám giờ tối Quốc mới ra khỏi sở làm. Khi đến cuối thảm thang máy thứ hai Quốc không nhìn thấy người đàn bà khuyết tật ngồi nơi chỗ cũ. Sau giờ cao-điểm trong hành lang ga rất thưa người, Quốc có thể nhìn thấy bà nếu bà đang di-chuyển một nơi nào gần đó…
Nhưng khi đến bến xe điện, Quốc thấy người đàn bà khuyết-tật đang đứng chờ chuyến xe đến, trên cùng hướng của tuyến đường Quốc xử-dụng. Quốc đến bên cạnh bà, cũng vừa lúc xe đến. Quốc đưa tay đẩy nhẹ sau lưng bà bước lên tàu. Một hành-động tự phát nhân-cách của một nguời trước một đồng-loại khuyết tật dù không được yêu-cầu.
Xe thưa thớt khách. Vừa ngồi xuống ghế, người đàn bà khuyết tật xếp hai nạng chung với nhau để qua phiá bên chân bị tật. Quốc ngồi vào ghế đối -diện. Bà mỉm cười nhìn Quôc, nói bằng tiếng Pháp:
Cám ơn ông.
Thưa bà không có gì. Quốc trả lời.
Bà nhìn Quốc, hai mắt mở lớn, Quốc vẫn thấy ánh mắt nầy mình đã gặp ở một nơi nào đó. Bà hỏi:
Nhìn ông, nhận ra ông là người Châu-Á, nhưng không biết ông là người nước nào ?.
Tôi là người Việt-nam.
Bà cười, giọng cười đầy thiện-cảm :
Tôi cũng là người Việt-nam như ông, tiếc rằng tôi không nói được tiếng Việt, còn ông, ông nói được tiếng Việt không?.
Quốc gật đầu:
Tôi qua đây không lâu lắm nên còn nói được tiếng Việt như người trong nước.
Vẻ mặt bà thoáng suy-tư:
Mình người Việt, không nói được tiếng Việt, cũng thiệt-thòi phải không ông ? .
Quốc chưa kip trả lời câu hỏi thì loa phát-thanh trên tàu điện ngầm thông báo trạm đến để Quốc đổi tàu.
Quốc hỏi: – Bà xuống trạm nào ? – Tôi sẽ xuống trạm cuối của đường tàu nầy, nhà tôi gần đó.
Đúng lúc, cửa tàu tự động mở, Quốc xuống xe. Khách xuống xe và khách lên xe che khuất tầm nhìn của Quốc đang quay người lại để chào bà.
Ngày hôm sau, đường xe điện ngầm tạm ngừng lưu-thông để sửa chữa hoạt động trở lại, Quốc xử dụng đường xe điện ngầm cũ nên không còn gặp, nhìn lại người đàn bà khuyết tật, tuy nhiên lòng Quốc vẫn phân-vân: “Bà ta, người gốc Viêt-nam, không biết nói tiếng Việt, chỉ nói được tiếng Pháp, đi xin tiền giữa thủ-đô nước Pháp, không bị người Pháp có lòng tự ái dân-tộc pha lẫn bản chất kỳ-thị màu da xua đuổi ! Ngay chính bản thân, khi nhìn thấy người đàn bà khuyết-tật nầy xin tiền Quốc cũng cảm thấy khó chịu… bà làm tổn thương đến chính sách an sinh xã hội nước Pháp.! “Quốc nghĩ, không biết có cần-thiết gặp lại người đàn bà nầy không ?. Vì bà là đồng-hương cơ-cực ? Vì sao bà bị tật nguyền như vậy ?
Thời gian trôi qua, Quốc đã không còn nhớ gì đến người đàn bà khuyết-tật. Khoảng sáu tháng sau, buổi tối ngồi xem tin-tức thời-sự của đài truyền-hình France 3, một đài địa-phương của thủ-đô Paris và vùng phụ cận, một bản tin được phát ra với hình ảnh người đàn bà khuyết tật xin tiền trong hầm xe điện ngầm đang trao một phong bì cho cho một người, cùng lời của người phát tin: “Hôm nay là năm thứ sáu, bà Thérèse Tran một người tàn-tật, đã trao tặng cho hội Chữ Thập Đỏ nước Pháp 5.000 Frances Pháp, số tiền nầy do bà quyên được hàng ngày của khách lai vãng trong những hầm xe điện ngầm của thành phố Paris. Quý khán thính giả của đài đã từng được xem bảng tường trình bằng hình ảnh công việc của bà trong một chương-trình ĐÓNG GÓP CHO TỔ CHỨC NHÂN-ĐẠO trước đây trên đài truyền hình của chúng tôi. Bác-sĩ đại-diện hội Chữ Thập Đỏ Pháp đang nhận số tiền nầy từ tay bà”.
Bản tin tức khích-động trí tò mò của Quốc. Ngày hôm sau trên dường từ sở làm trở về nhà, Quốc chọn tuyến đường xe điện ngầm thời gian trước đây đã cùng bà xử dụng chung một chuyến. Khi đi qua khỏi thám thang máy thứ hai, Quốc nhìn thấy bà vẫn còn ngồi tại chỗ. Quốc tiến thẳng vào hành lang đường hầm, đến tuyến đường xe điện, cố ý ngồi chờ gặp bà. Gần mười chuyến tàu ngừng cho khách lên xuống rồi tiếp tục chạy… Quốc nhìn thấy bà đang chống nạng xuất hiện đầu đường hầm, Quốc đi nhanh về phía bà ngỏ lời chào. Bà chào lại và đưa tay bắt tay Quốc. Bà cười rất tươi, nói với Quốc:
Lần đầu tiên gặp ông cùng trên tuyến xe nầy cũng khá lâu, tưởng là không còn gặp lại ông nữa, Paris có hơn mười tuyến đường xe điện ngầm và hàng vài chục ga trung chuyển… gặp nhau lại trên cùng tuyến xe rất hiếm. Gặp ông lúc đó, thấy ông lạnh lùng đối diện với một người ăn xin vì đói ăn và tàn tật như tôi. Hôm nay có khác, thấy nét mặt ông tươi vui và còn chờ tôi để trể mấy chuyến xe ? Nếu tôi đoán không sai, ông muốn gặp tôi hôm nay vì đêm qua ông đã nhìn và nghe được mẫu tin-tức về tôi trên đài truyền-hình France 3: một người đàn bà Pháp gốc Việt, tật nguyền ăn xin để làm việc thiện ? Và rất tiếc phải để ông chờ… vì tôi có thấy ông đi qua chỗ tôi vừa rồi… giờ nầy ông vẫn còn ở đây ?
Quốc cảm thấy bối-rối trước những lời khẳng định và nhạy bén của bà, Quốc chưa kịp đáp lời thì chiếc tàu điện ngừng, cửa mở, hành khách lên tàu. Một hành khách lịch-sự nhường chỗ cho bà. Quốc đứng bên cạnh và có dịp quan sát khuôn mặt thanh tú của bà, mái tóc đen chen lẫn vài sợi trắng hai bên thái dương.
Cặp mắt của bà có một sức lôi cuốn kỳ lạ, người nhìn cảm thấy như bản thân mình bị thâu nhỏ lại như bị hút vào bên trong… cặp mắt mà Quốc đã nhìn thấy một nơi nào đó vào một thời kỳ rất xa, và rất xa. Xe ngừng. Khách xuống, không có khách lên. Quốc ngồi xuống chiếc ghế trống bên cạnh bà. Hai người không nói gì với nhau cho đến lúc loa tàu báo tên trạm ngừng sắp tới, bà hỏi Quốc:
Chắc ông xuống trạm này vì kỳ trước ông đã xuống đây ?
Quốc cười, lắc đầu:
Hôm nay tôi không xuống đây, xin được theo bà để được nghe bà cho nghe chuyện bà đi quyên xin tiền làm từ thiện.
Bà cười, hai tay ôm hai chiếc nạng vào người, nói:
Ông thấy đó, vừa rồi tôi nói có sai đâu, hôm nay ông đón gặp tôi chỉ vì tin tức về tôi trên đài truyền-hình tối hôm qua. Có lẽ trước đây ông không theo dõi tin-tức trên truyền hình France 3 nên không biết. Tàu chạy ồn quá, vậy hãy đợi đến trạm cuối, bên ngoài ga có quán nước, chúng ta đến đó nói chuyện thoải mái hơn, và đây cũng là người Việt-nam đầu tiên trực tiếp muốn biết chuyện nầy. Mong rằng ông không phải là người của tòa Đại-sứ Việt-nam, phỏng vấn, ghi âm lén rồi tráo trở chỉnh sửa, viết lại… trái với trung thực rồi họ cho là đài France 3 tuyên truyền, hư cấu, giàn dựng… Chuyện của tôi là chuyện của tôi, chỉ vậy thôi.
Hai người đi vào một quán nước gần kế lối ra của hầm xe điện ngầm. Thời tiết đang vào cuối tháng tư nhưng vẫn còn se lạnh, bà chọn một bàn bên ngoài quán và nói với Quốc:
Chắc là hôm nay tôi sẽ về nhà trễ, mẹ tôi sẽ phải đi tìm đón về, ngồi bên ngoài để bà dễ tìm thấy, trời còn lạnh, nếu ngồi bên trong thì ấm hơn. Tôi vẫn có thói quen, những chiều tối không việc gì làm, ở nhà buồn lắm hay ra ngồi đây uống cà-phê nhìn người qua lại, về nhà trễ, bà cụ đi tìm đón về… lại nghe những lời trách hàm chứa yêu thương… đã trở thành thói quen không bỏ được. Nhà cũng gần đây nhưng cũng tội cho bà cụ, vào mùa đông, khi có tuyết rơi, bà cũng đội tuyết đi tìm đứa con tàn tật nầy !
Hai tách cà-phê được mang đến, bà đưa tay phải lấy viên đường. Quốc nhìn thấy bàn tay của bà bị co quắp trừ ngón cái và ngón trỏ còn cử động được, ba ngón còn lại áp chặt vào lòng bàn tay. Bà cầm muỗng khuấy tách cà-phê nhẹ nhàng và rất bình thường, không vướng víu… Quốc thấy lòng dâng lên nỗi ái-ngại khi vừa khám phá thêm bàn tay của bà, Quốc quên đi ly cà-phê của mình… đến khi cà-phê được nhấm nháp rồi để xuống bàn, Quốc đang tìm lời để vào câu chuyện thì bà nói như để nhắc Quốc: – Không biết tôi phải gọi ông là gì đây ? Còn tên tôi thì ông đã biết rồi, trên đài truyền-hình France 3, nay giới thiệu thì quá trễ. Khỏi cần lặp lại phải không ông ?
Bà cười vui vẻ, tự nhiên. Quốc nhận ra sự vụng về của mình, ấp-úng trả lời:
Được gặp bà hôm nay, lòng tôi phấn khởi vô cùng, nên quên giới thiệu tên, mong bà thông cảm. Xin bà gọi tôi là Nguyễn… Nguyễn-minh Quốc.
Việt-nam mình sao nhiều Nguyễn thế ! Đi đâu trên xứ Tây nầy cũng gặp Nguyễn. Bà cười, hai mắt nhíu lại nhìn Quốc, tay bị tật cầm chiếc muỗng gõ nhẹ vào thành miệng tách cà-phê.
Quốc vui theo cái vui của bà, đề cập thẳng vào chuyện:
Bà Trần có thể kể cho tôi câu chuyện về trường hợp nào đưa bà vào việc làm ăn xin để có tiền giúp cho Hội Từ Thiện ?
Bà trầm ngâm một chốc rồi bắt đầu câu chuyện:
Tôi rời Việt-nam vào năm tôi được sáu tuổi vì lý do thương tật của tôi. Vào thời đó Việt-nam đang có chiến tranh và tôi cũng là một nạn-nhân của chiến tranh. Tôi là nạn nhân của chiến-tranh, nhưng bị thương tật do bị tra-tấn, không phải do bom đạn. Lúc đó ba tôi lái xe cho bịnh-viện Grall của Pháp ở Sài-gòn, trong khi mẹ tôi và tôi sống ở quê nhà, thị trấn Vĩnh-điện, miền trung Việt-nam, chí cách xa thành phố cổ Hội An không tới mười cây số. Mẹ tôi có một tủ kính nhỏ buôn bán vòng vàng trong chợ. Buổi sáng tôi theo mẹ ra chợ, buổi chiều tan chợ, theo mẹ về nhà. Buổi tối, thỉnh-thoảng mẹ tôi dạy tôi đọc và tập viết chữ a, b,c,đ. Tôi chưa đến trường, mẹ nói tôi còn quá nhỏ, chưa đủ tuổi đến trường. Đêm nằm ngủ với mẹ, tôi nghe có tiêng ì-ầm từ xa xa vọng vào nhà, tôi hỏi mẹ đó là tiếng gì thì nghe mẹ thở dài, giọng buồn buồn trả lời:
Đó là tiếng súng đại-bác, chắc là hai bên đang đánh nhau một nơi nào đó, chiến tranh ngày một rộng ra, dân ở quê bắt đầu khổ rồi, buôn bán ế-ẩm.
Nói xong, mẹ ôm tôi vào lòng, im lặng, tôi nghe tiếng đập của tim mẹ.
“ Rồi một đêm đang ngủ, tôi giật mình thức dậy vì nghe tiếng súng nổ “cắc bùm”,..”tạch… tạch”, tiếng “chéo chéo” của đạn bay… tiếng gà kêu “cục tác” “cục cục” tiếng heo kêu “ụt…ụt”, có tiếng trẻ con khóc ré lên có lẽ vì sợ… rồi có tiếng ai đó nói to: ” Chắc mấy Ổng đang đánh úp quận. Ở đâu mà mấy Ổng về tứ bề, đông thiệt là đông ?”.
Mẹ lôi tôi ra khỏi giường, đẩy tôi xuống bên dưới giường, mẹ nằm bên cạnh. Người mẹ tôi run rẩy, tôi cũng run như mẹ.
Trước đấy không lâu, nghe lời khuyên của bạn bè trong chợ, mẹ đã nhờ người ta mua bao cát nhỏ chất quanh giường ngủ thay vì đào hầm để tránh đạn… nay hai mẹ con tôi có chỗ nằm để tránh đạn.
Rồi tiếng súng im bặt. Tiếng chân người chạy vội vã, tiếng đập cửa liên hồi, tiếng gọi tên người nầy rồi người khác… tiếng năn nỉ, ấm-ức khóc… Lại một tiếng la to: ” bắn “…một tiếng súng nổ… tiếng đàn bà con nít khóc ré lên nghe thảm thiết. Mẹ ôm chặt tôi rồi. Mẹ kéo nhẹ tôi ra khỏi gầm giường vừa lúc có tiếng đập cửa ầm ầm, tiếng chân đá vào cửa rầm rầm… Có tiếng ra lệnh: “Mở cửa ! mở cửa ! Nếu không tuân lệnh, quân Giải-phóng sẽ phá cửa… nếu không mở, chống đối, quân Giải phóng sẽ bắn tại chỗ ! ”
Mẹ khóc, run lẩy bẩy tiến về phía cửa, trả lời lập cập:
Tôi mở… tôi mở… nhà không có đàn ông, con trai, chỉ có hai mẹ con tôi là đàn bà con gái.!
Cửa mở, ánh sáng tràn vào. Tôi nhìn thấy có mấy người ùa vào nhà. Mẹ tôi co rúm người lại. Những người nầy có mang súng chạy tìm kiếm, lục lạo khắp nơi trong nhà, họ nhìn xuống hầm giường mẹ con tôi ngủ và hét lên: “Có còn ai trốn trong đó không thì ra ngay, bắt được quân Giải phóng sẽ không tha!”
Áo quần họ mặc không giống như áo quần quân lính Quốc gia ở quận. Người mặc quần ngắn, kẻ mặc quần dài, áo tay ngắn, tay dài. Người đi chân không, người mang dép vỏ lốp xe. Đàn ông mang súng, con gái có nguời cầm gậy, có người tay không.
Sau khi lục soát nhà xong, một người trong toán lục soát tiến ra cửa nói lớn:
Báo cáo đồng chí, đã lục soát xong, không có gì khả nghi.
Một người đi vào. Lưng có đeo một súng ngắn. Tôi nhận ra ngay là anh Kéo vì anh mặc cái quần kaki đen có cái lỗ bị cháy nơi đầu gối. Cái quần kaki đen nầy ba tôi mua ở Sài-gòn tặng anh Kéo nhân dịp về ăn Tết với gia-đình hơn một năm trước đây mặc dầu anh đội cái mũ tai bèo che phủ hơn nửa phần mặt. Cái lỗ bị rách của cái quần nơi đầu gối là do anh Kéo tạo ra một phần, một phần do tôi. Ngày hôm đó mồng bốn tết mẹ mở cửa hàng, sau tết nên có không ít người đến mua bán. Anh Kéo làm việc cho tiệm vàng của mẹ. Anh thử vàng thật hay giả, anh làm nhẫn, làm giây chuyền.
Hôm đó khách hơi đông, anh Kéo quên tắt lửa ống hàn xì khi anh đang trao đổi chuyện với khách hàng, vô-ý, mỏ hàn xì làm quần anh bị cháy thủng một lỗ nơi đầu gối, cái quần kaki đen ba tôi mua tặng mặc dịp tết. Khi không còn khách hàng, tôi tinh-nghịch cho ngón tay trỏ vào cái lỗ bị cháy của ống quần kéo mạnh tay, cái lỗ bị cháy rách rộng ra, anh Kéo không nói gì, chỉ cúi xuống vuốt vuốt chỗ bị thủng rách. Nhưng tôi bị mẹ phát cho mấy bàn tay vào mông vì cái tội tinh-nghịch.
Mặt trời đã mọc. Anh Kéo lôi mẹ vào góc nhà, anh rút khẩu súng đeo bên hông dí vào trán mẹ. Mẹ tựa lưng vào tường, người khụy xuống nhưng đứng vững bằng hai tay chống trên hai đầu gối. Miệng mẹ hả ra, hai mắt mở to, đầy nước mắt. Anh Kéo hỏi lớn:
Vàng để đâu, đem hết ra đây đóng góp cho Mặt-Trận.
Mẹ ngồi bệt xuống đất, hai tay chấp lại, vừa vái anh Kéo liên hồi vừa chỉ cái bình hoa cắm hoa giấy trên bàn thờ, nói không thành tiếng:
Có bao nhiêu tôi giấu hết trong cái bình hoa đó, lạy ông, ông lấy hết đi và tha cho hai mẹ con tôi.
Lúc anh Kéo đi đến bàn thờ cầm cái bình hoa lên, vứt những bông hoa giấy rồi trút hết những vòng vàng trong bình xuống mặt bàn thờ, tôi thấy hai mắt anh sáng lên, mặt mất dần vẻ hung ác. Trong lúc anh Kéo đang lấy những chiếc nhẫn vàng đeo vào những ngón tay, tôi bò đến ngồi bên cạnh mẹ, khóc ấm-ức.
Khi anh Kéo lấy hết vàng trên bàn, anh quay lại đứng trước mẹ, lúc nầy mặt anh trở lại hung dữ như trước.
Anh dí mũi súng vào trán mẹ hét lên:
Vàng còn dấu nơi nào nữa hãy chỉ mau, nếu còn dấu diếm Cách-mạng sẽ không tha chết đâu !
Mẹ lại khóc, lại chấp tay vái lạy anh Kéo. Lần nầy mẹ quỳ hai gối, đầu rạp xuống trước chân anh Kéo, mẹ nói đứt từng hơi một:
Ông biết rồi mà, trước đây ông làm việc với tôi, ông biết tôi chỉ có vốn liếng ba lượng vàng, làm thành mẫu mà bày trong tủ kiếng. Khi bán gần hết tôi phải vào Hội-An mua thêm vàng cho đủ số vốn ba lượng. Nay còn bấy nhiêu đã chỉ cho ông rồi đó, ông đã lấy hết rồi, đâu còn mô nữa mà giấu.
Anh Kéo ra dấu tay kêu hai người cùng trong nhóm rồi ra lệnh:
Hãy trói con mẹ nầy lại hỏi còn vàng giấu đâu, nó ngoan cố, thay mặt chinh quyền Cách-mạng bắn bỏ.
Tôi nghe nói bắn chết mẹ, tôi vùng đứng lên chạy đến ôm cánh tay anh Kéo, nước mắt chan hòa, tôi xin anh Kéo tha cho mẹ, đừng bắn mẹ. Anh Kéo vung tay thật mạnh làm tôi té nhào xuống đất. Anh ra lệnh:
Các đồng chí cột chân con nhỏ nầy lại treo lên sà nhà để xem mẹ nó còn ngoan cố tới đâu, còn giấu vàng mà không chịu khai báo.
Tôi bị hai người đè xuống nền đất, họ cột một chân của tôi rồi kéo lên treo lơ lững giữa nhà. Tôi vùng vẫy, kêu la trong sự đau đớn. Mẹ nằm co rúm trên nền nhà, dường như sự sợ hãi chen lẫn đau đớn tột cùng làm mẹ mất trí, mẹ lảm nhảm:
Anh làm cho tôi, anh biết mà, vốn liếng của tôi chỉ có ba lượng làm mẫu cho khách lựa chọn… khi gần hết hàng… phải vào Hội-an mua thêm vàng cho đủ ba lượng… nay anh làm Cách-mạng, anh lấy hết rồi… còn đâu nữa mà giấu ! Anh tha cho con tôi, nó còn nhỏ, nó có biết gì đâu ! .
Tôi nghe có tiếng họ nói với nhau:
Con mẹ nầy còn ngoan cố, không nên tha cho nó, các đồng chí đồng ý không ?
Đồng-ý… đồng-ý !
Cái chân bị cột của tôi càng lúc càng làm tôi đau thêm. Tiếng đồng-ý, đồng-ý làm tôi khiếp người. Đến một lúc tôi nghe từ cái chân bị cột căng đến tột cùng, tôi nghe từ khớp xương mông phát ra một âm thanh nhu một cành cây khô có ai dẫm lên làm gãy, tôi hét lên và không còn nghe biết gì quanh tôi.
Rồi tôi nghe có tiếng gọi nhau, tiếng chân chạy rầm rập, tiếng súng nổ thưa thớt, tiếng trẻ con gọi cha, gọi mẹ, gọi anh, gọi chị. Tiếng khóc rưng-rức âm độ khác nhau trong cả khu xóm. Tôi mở mắt nhìn quanh nhà, duy nhất chỉ còn mẹ đang đứng trên ghế, nâng người tôi lên, với tư thế nầy tôi cảm thấy chân bị trói của tôi bớt đau một chút. Mẹ tìm cách mở giây đỡ tôi xuống đất không được, mẹ đứng như vậy vừa nâng người tôi vừa ôm tôi vào ngực, áp mặt vào thân tôi. Hơi thở của mẹ dồn dập, nóng hổi, thổn thức. Toàn thân tôi, tay chân tê lạnh, chỉ có đầu và mặt tôi nóng hừng hực, hai mắt tôi như có những ngôi sao nằm bên trong.
Cả khu xóm lại yên-lặng… Tiếng một ai đó nói lớn như muốn cho mọi người cùng nghe:
Chúng nó rút đi rồi. Lính Quốc-gia từ Đà-nẵng kéo vô, từ Hội-an đổ xuống đông lắm.
Có tiếng vỗ tay rời rạc, có tiếng nói với nhau mang âm hưởng vui mừng và bình tĩnh hơn.
Mẹ thở ra một hơi dài thật mạnh, rồi kêu lớn :
Bà con ơi, có ai đó cứu con tôi với… không thì nó chết mất. Bà con ơi, xin cứu con tôi…
Tiêng kêu cứu của mẹ như muốn làm vỡ tung ngôi nhà mái tôn. Nhiều người chạy đến, những ông bà lớn tuổi và con nít. Mấy ông mấy bà tìm cách tháo giây trói không được. Họ dùng dao cắt đứt giây, tôi rơi xuống. Mẹ và mấy ông mấy bà cố đỡ tôi cho khỏi rơi xuống đất, nhưng đà rơi và sức nặng của cơ thể tôi đã không giữ lại được giữa những bàn tay. Tôi rơi xuống nền đất, mẹ ngã trên người tôi vì cố giữ tôi trên tay.
Tôi hét lên… và không còn biết gì nữa.
Chị Thérèse nói tiếp, giọng nhẫn nhục:
Khi tôi tỉnh lại, mẹ đang ngồi bên tôi, mệt mỏi và buồn rầu. Mẹ cười, hai môi như bị méo, để bàn tay lên trán tôi, mẹ hỏi giọng nghẹn ngào:
Con tỉnh lại rồi, con còn bị đau nhiều không ? Con ráng chịu đựng rồi sẽ khỏi, con của mẹ ! “ Tôi cảm thấy một nửa thân tôi và toàn chân bên trái bị bó cứng, bàn tay bên phải cũng bị bó cứng, tôi không cựa quậy được. Toàn thân tôi còn đau đớn nhưng tôi cảm thấy chịu đựng được nên gật đầu như trả lời cho mẹ tôi rằng không còn đau nhiều, tôi muốn nhìn thấy mẹ an-tâm.
Tôi được điều trị thương tật ở bịnh-viện Hội-an. Chân phải của tôi bị trật xương khớp háng, các mạch máu không dẫn máu đến được nên toàn chân phải bị chết. Bàn tay phải của tôi bị gãy mấy ngón tay, vì khi được cắt giây bị treo trên sà nhà rơi xuống, bàn tay tôi chống đất trước. Hội đồng bác sĩ của bịnh-viện không chấp thuận đề nghị của bác sĩ điều trị cắt một phần chân của tôi vì sẽ nguy hiểm đến tính mạng. Ba tháng sau tôi được xuất viện, chân tôi không duỗi thẳng được, vẫn cong, nên tôi phải dùng nạng. Ba ngón tay của bàn tay phải bị gãy, khép vào lòng bàn tay không cử động được. Mẹ bán nhà, hai mẹ con vào Sài-gòn sống với ba. Biết được tình trạng thương tật của tôi, bác sĩ người Pháp giám-đốc bịnh viện Grall cũng là hội-trưởng hội Chữ Thập Đỏ của Pháp tại Việt-nam đã làm thủ tục đưa tôi qua Pháp để được tiếp tục chữa trị. Một gia-đình người Pháp không con nhận bảo trợ cho tôi. Tôi rời Việt-nam năm 1967, vừa đúng sáu tuổi.
Gia-đình người Pháp bảo trợ cho tôi gốc Bồ-đào-Nha rất sùng đạo Thiên-chúa. Chồng làm việc cho một hãng bào chế thuốc. Vợ là y-tá điều dưỡng của một bịnh-viện. Gia-đình cư ngụ vùng Bắc thành-phố Paris.
Một tuần có hai ngày tôi được xe bịnh-viện đón đưa đến trung tâm Phục hồi Chức năng để được săn sóc thương tật. Những ngày còn lại trong tuần tôi cũng được xe đưa đón đi học tại một trường dành cho trẻ em khuyết-tật.
Mặc dầu được chữa trị bằng phương tiện y-khoa tân-tiến vào thời đó, thương tật của tôi không trở lại bình thường… và tôi trở thành khuyết tật vĩnh viễn. Gia-đình bảo trợ tôi không muốn tôi trở lại Viêt-nam, làm thủ-tục xin nhận tôi làm con với sự đồng ý của ba mẹ tôi. Tôi tiếp-tục được đi học chữ tại trường cho người khuyết- tật đến hết chương-trình trung-học. Cuối tuần hay những ngày nghỉ lễ, tôi phụ giúp cho chi hội Chữ-thập-Đỏ địa phương, làm nhiệm vụ tiếp nhận tặng phẩm và tiền bạc của những người hảo-tâm đem đến ủng hộ cho hội hoặc đôi khi lập thành nhóm đi lạc-quyên ngoài đường phố hay tại các trung-tâm thương mại lớn.
Năm 1975, tôi đang chuẩn bị vào trung-học đệ nhị cấp thì tại Việt-nam chính quyền Cộng sản Miền Bắc đánh chiếm và cai-trị Miền Nam. Ba mẹ tôi được sứ-quán Pháp cho phép theo nhân viên người Pháp phục-vụ tại bịnh-viện Grall qua Pháp tị-nạn vì sợ chính quyền mới qui tội làm việc cho ngoại bang. Tôi tiếp tục học hết trung-học, vào đại-học, rồi ra trường đi dạy. Hai người bảo trợ cũng là cha mẹ nuôi tôi sau nầy lần lượt theo hầu Đức chúa trời vì cao tuổi. Ba tôi cũng rời bỏ hai mẹ con tôi sau một cơn bệnh đột-ngột vì tim.
Năm đó, tôi ba mươi bảy tuổi. Me rời bỏ tỉnh, lên Paris sống chung với tôi. Theo lời trăn trối của ba muốn đem tro cốt về quê nhà, mẹ và tôi quyết định đi về thăm Việt-nam. Sau khi tro cốt của ba được được gởi trong chùa ở Hội-an và vài ngày thăm viếng bạn bè quen biết, mẹ và tôi trở ra Vĩnh-Điện thăm làng xóm cũ. Tôi không còn ghi nhớ gì nhiều khung cảnh ở đây vì đã rời gần ba mươi năm trước. Chỉ nghe người thân quen của mẹ nhắc lại chuyện giặc giã ba mươi năm trước tấn công và chiếm đóng thị-xã và tôi là một phần nhỏ trong những tai u xóm cũ lên đường vào Sai-gòn trở lại Pháp, mẹ mời vài người thân quen ngày trước cùng buôn bán trong chợ cạnh tủ vàng của mẹ, tham dự một bữa cơm thân mật tại một nhà hàng nhỏ. Đang lúc ăn và chuyện trò vui vẻ thì bỗng dưng mọi người ngừng nói. Một ông bác hỏi mẹ:
Thím Ba có nhận người nầy là ai không.? Ông nhìn về hướng cửa vào nhà hàng ăn. Tôi và mẹ nhìn theo hướng nhìn của ông… Một ông già chống nạng cụt một chân, hai mắt bị mù, được một cô gái có cổ nghiêng qua một bên, mặt hướng lên trời dẫn đi. Hai người tiến gần đến bàn ăn của chúng tôi. Họ đang đi xin ăn.
Mẹ tôi lắc đầu trả lời bác, nói “không biết”.
Thằng Kéo mà thím không nhận ra sao, ngày trước nó là thợ làm vàng cho thím đó ? Ông bác nói với mẹ.
Mẹ mở to mắt, miệng hả ra, rồi nhắm mắt lại thở ra, khi nhận ra tên nguời làm hồi truớc. Tôi thấy toàn thân cứng lạnh, sợ hãi khi nhìn lại kẻ đã cột treo mình lên sà nhà để tra khảo mẹ nơi dấu vàng mấy chục năm trước. Ông bác kể:
Sau cái năm nó kéo du-kích về đánh chiếm Vĩnh-Điện mình một đêm, một ngày, thì thị xã được lính Quốc-gia chiếm lại bọn nó rút về Gò-nổi, bị máy bay Quốc-gia dập bom banh càng, nó mất một chân… Sau chiến tranh, chính-quyền mới cho làm khóm trưởng đâu bên Gò-nổi, một đêm tối, sau khi đi vận động nông-dân vào họp tác-xã nông- nghiêp, trên đường về, nó bị mấy người lạ mặt chận lại đánh bị thuơng nặng, làm mù hai mắt, rôi trói lại bỏ trong ruộng dâu. Đứa con gái dẫn nó đi ăn xin là con của nó, khi sinh ra đã bị tật như vậy.”
Tôi nhìn cô gái, mặt cứ ngữa nhìn lên trời. Tôi chợt nhớ đến cái đêm tôi bị trói, treo lên sà nhà, mặt mẹ lúc nào cũng ngước lên nhìn tôi, đau đớn, sợ hãi và chan hòa nước mắt. Còn cô gái nầy suốt đời phải ngước mặt nhìn trời là tại làm sao vậy ? Trần gian nầy đang quá khổ đau nên không dám nhìn xuống ? Cầu xin ơn trên tha lỗi cho cha mình đã một thời gieo rắc tang thương cho đồng bào mình ? Nếu đúng vậy thì tội tình nầy đã đến với cô một cách bất công và cay nghiệt ! Lòng tôi ái-ngại khi nhìn thấy cô.
Ông bác kể tiếp:
Chính-quyền địa-phương xếp nó vào diện thương binh liệt-sĩ, được trợ cấp, nhưng không đủ sống, dân địa-phương xa lánh vì sự tàn bạo nó đã gây ra trước đây, rồi vợ bỏ, để lại đứa con rồi đi biệt xứ. Hàng ngày hai cha con rời làng vào đây xin ăn.
Khi hai người ăn xin đến gần bàn ăn, mẹ tự nhiên đứng lên vội vàng đi vào nhà vệ-sinh. Tôi cũng đứng lên, đi “lọc cọc” theo mẹ. Hai mẹ con đứng yên-lặng trong nhà vệ-sinh, không trao đổi với nhau một lời, chỉ nhìn nhau… Khi hai mẹ con trở ra lại bàn ăn, hai người ăn xin đã đi qua những bàn thực khách khác.
Bữa cơm thân mật chấm dứt, mọi người chia tay với những chúc lành đẹp nhất. Dưới ánh sáng vàng vọt của những cột điện ven đường, hai người ăn xin đang đi phía trước, dưới những hàng cây khẳng khiu, thưa lá. Khi vượt qua hai người ăn xin, tôi dừng lại, cho tay vào túi xách lấy ra mấy tờ bạc dúi vào tay cô gái rồi theo mẹ băng qua đường một cách vội vàng. Trong đêm tối yên tĩnh, tôi nghe rõ tiếng nạng “cộp… cộp “của anh Kéo vang lên chen cùng tiêng nạng “cộp… cộp” của tôi nghe buồn da diết.
Trong những ngày chờ đợi chuyến bay về lại Pháp tại Sài-gòn, một buổi sáng, mẹ và tôi dùng điểm tâm tại một tiệm phở. Khi hai mẹ con tôi vừa ăn xong thì một người đàn ông không còn chân lết đến bên cạnh nhìn thẳng vào hai mẹ con tôi, đưa một một túi nhựa ra trước mặt, hỏi:
Hai bà ăn xong rồi, phần dư còn lại không ăn hết, xin cho vào túi nhựa của tôi.
Mẹ e-ngại trút phần ăn còn lại của hai tô phở vào túi nhựa với nét mặt đầy xúc động, rồi lặng lẽ lấy mấy tờ bạc để vào tay ông, mẹ nói:
Chú giữ lấy tiền nầy để mua thêm thứ gì để ăn.
Người đàn ông cầm tiền, cứ chăm chăm nhìn mặt mẹ rồi lết ra bên ngoài tiệm phở. Bên ngoài có một đám con nít, tay xách thùng đánh giày, tay cầm vé số, tay cầm lon xin tiền, tay cầm túi nhựa xin thức ăn thừa, muốn vào tiệm nhưng bị người quản lý ngăn chận. Khi mẹ và tôi bước ra khỏi tiệm phở, lũ con nít ùa tới vây quanh, mỗi đứa nói một câu lao nhao, mẹ đưa tay nhẹ nhàng gạt chúng qua một bên để có lối đi cho hai mẹ con. Giữa lúc đó, từ trong một góc, người ăn xin cụt hai chân lết lần về phía chúng tôi, hỏi lớn:
Có phải bà là thím Ba ngày xưa có tủ vàng trong chợ Vĩnh-Điện không ? Cháu nhìn không sai đâu. Hồi đó thím nổi tiếng khu Vĩnh-điện, mọi người đều nói như vậy. Mắt thím đẹp, ai cũng biết. Con Chút, con gái của thím cũng có cặp mắt giống thím như vậy. Cô nầy chắc là con Chút ngày xưa, bị mấy thằng trong rừng ra quậy phá phố Vĩnh-Điện bắt treo lên khảo vàng nhà thím, làm nó bị thương, phải không thím ?
Ông vừa nói vừa chỉ tay vào tôi.
Tôi ngạc nhiên, cố tìm trong trí nhớ người nầy là ai… Thấy mẹ do dự một lúc rồi gật đầu xác nhận. Mẹ lại hỏi;
Tôi nay lớn tuổi rồi, trí nhớ không còn như trước, không nhớ chú là ai vậy ?.
Người ăn xin cụt hai chân nói giọng vui mừng:
Cháu là con ông Tư Cải cùng xóm với thím đó, cháu là thằng Lự đây. Hồi thằng Kéo đem du-kích của nó đánh Vĩnh-Điện, nó bắt ông già cháu đi theo vì ông không chịu đóng thuế nông-hội cho chúng. Mấy tháng sau dân chúng vớt được xác ông già cháu nổi trên bến đò Hoa-trà. Đêm đó thằng Kéo vào nhà thím treo con Chút lên kèo nhà để khảo vàng, chuyện ấy ai cũng biết.
Mẹ thừ người ra, mặt đượm nét sầu đau. Còn tôi, khi được nghe nhắc đến tên Chút, cái tên mà ba mươi năm nay không còn ai nhắc đến, đã vào trong quên lãng của mọi người, nay được nghe lại, tôi bồi hồi xúc-động. Ký ức tuổi thơ của tôi chợt thức giấc: Thằng Lự đây sao ? Hồi đó hai đứa cùng lũ bạn trong xóm, suốt ngày lêu-lỗng ngoài xóm, chơi lò-cò, chơi nhảy dây, chơi u, chơi ném lon… thằng Lự khỏe mạnh, thường hay bênh vực tôi mỗi khi bị bọn trẻ khác hiếp đáp !
Tôi đang nghĩ đến ngày xa xưa, thì nghe tiếng mẹ :
Tại sao cháu ra nông-nổi tàn tật như thế nầy ?.
Năm 1979, cháu bị bắt vào lính, đưa ra Bắc đánh nhau vời Trung-quốc, cháu bị thương cụt hai chân. Đời sống khổ lắm thím, nhà nước trợ cấp nhưng sống vẫn thiếu trước hụt sau… người ta quy kết trước đây ông già cháu có tội với cách mạng vì không nộp thuế nông-hội, nay mặc dầu cháu hy sinh một phần cơ thể cho đất nước, nhưng cháu phải tiếp tục trả cái nợ trước đây của ông già, vì vậy phần trợ cấp thương binh của cháu bị địa phương cắt giảm không đủ vào đâu nên cháu phải xin ăn.
Tôi nhìn thân thể tật nguyền và teo gầy của Lự, nước mắt ứa ra. Tôi bước lần đến bên Lự, buông nạng, quỳ một chân trước Lự, nhìn sững Lự rồi bật khóc như ngày nào bị chúng bạn hiếp-đáp, khóc to lên để Lự chạy đến bênh vực, che chở. Tôi nghe từ phía Lự cũng có tiếng nấc lên, thổn thức. Trong làn nước mắt, tôi thấy tôi đang chạy trốn thật nhanh, đàng sau, Lự đứng giang hai tay như người hiệp-sĩ ngăn cản lũ cướp là đám con nít đưổi theo sau trong khi hơn thua nhau trong một trò chơi giành giựt nhau của trẻ con.
Tôi im-lặng. Lự im-lặng. Mẹ nhẹ nhàng kéo tay tôi đứng dậy. Tôi đứng lên. Lự vẫn ngồi bất động. Chung quanh có nhiều người hiếu kỳ đứng lại nhìn chúng tôi.
Mẹ gọi hai xe xích-lô, mẹ một chiếc, tôi ngồi chung xe với Lự. Trên đường dẫn về nhà Lự, tôi chẳng nhìn thấy gì ngoài những hình ảnh một thời thơ ấu của tôi cuộn chảy về như một dòng sông ký ức. Tôi nhìn thấy một con bé lúc nào cũng được che chở, được binh-vực dù con bé sai quấy, ngay cả khi con bé đó tham lam lấy đồ chơi của người khác làm của mình. Nhưng rồi cũng có lúc con bé trở nên hung dữ, ném dép và đá sỏi vào Lự vì con bé bị ngăn chận không cho leo lên cây hái mấy trái ổi, sợ bị té. Một viên đá đă làm trán Lự chảy máu, Lự kéo áo lau máu, chạy về nhà.
Con bé chạy theo, Lự khép cửa không cho nó vào nhà, Lự giận, con bé ngồi bên ngoài lo sợ cho vết thương của Lự, khóc ấm ức… Kỷ niệm đang trở về, trong vô thức, tôi đưa bàn tay thương tật sờ lên trán Lự, nơi vết thương của ngày nào… Bỗng nhiên Lự cũng đưa một tay lên vỗ nhẹ vào tay tôi đang dặt trên trán Lự. Lự cười và nói như nói với tôi và như nói với chính mình:
Sẹo của vết thương đã phai theo thời gian, nhưng kỷ-niệm về vết thương vẫn nhớ mãi.
Lự nói, mắt vẫn nhìn về phía trước. Lự đã hiểu lòng tôi khi bàn tay tôi để lên trán Lự để nhớ về tháng năm thơ ấu thân yêu. Tôi nhìn Lự, ngầm nói lên lời cảm ơn tình bạn thân ái vẫn còn lại với tháng năm.
Lự sống với gia-đình em gái trong khu ngã tư Bảy Hiền, nơi dân Quảng-nam, vùng Gò-nổi, vốn tiếng tăm với nghề trồng dâu nuôi tằm, dệt Lụa, Thao, Đũi, bỏ xứ vào đây lập nghiệp, tránh chiến-tranh ác-liệt. Vợ chồng em gái Lự làm nghề vệ-sinh, hốt rác trong khu phố, nuôi ba đứa con, thiếu trước hụt sau nên việc ăn uống cá-nhân Lự tự giải quyêt. Lự cần một nơi tránh gió tránh mưa nắng nơi nhà em gái. Tôi rất đau lòng cho cuộc sống của Lự. Có lúc tôi vu-vơ nghĩ quanh: “Cái đêm anh Kéo bắt treo tôi lên sà nhà… Lự lúc đó đang ở đâu mà không xuất hiện cứu tôi ? “. Rồi tôi tự cười mình… ba mươi bảy tuổi rồi… còn nghĩ đến ngày xưa còn bé ! Tiểu hiệp sĩ ngày xưa oai nghi như một thiên-thần, nay thiên thần đã gãy cánh !
Mẹ đồng-ý xin hoãn chuyến bay về lại Pháp ba ngày theo đề nghị của tôi. Tôi có thời gian giúp Lự khám sức khỏe toàn diện cũng như đi mua cho Lự một chiếc xe lăn. Mẹ tôi giúp Lự và gia-đình em gái Lự một số tiền để xoay sở sinh sống. Có một điều Lự phàn nàn với tôi là tại sao không gọi Kéo là tên Kéo, thằng Kéo mà gọi là anh Kéo, nó là tên ác ôn mà. Tôi trả lời một cách thản nhiên:
Đó chỉ là thói quen thôi, dù gọi tên Kéo, thằng Kéo hay là gì gì đi nữa thì Kéo vẫn là kẻ độc ác, đáng nguyền rủa.
Sau chuyến về Viêt-nam rồi trở lại Paris, sức khỏe của mẹ bắt đầu sa sút. Cùng lúc trường học giảm tối đa giáo viên giảng dạy vì số lượng học sinh ngày một giảm vì người Pháp không muốn sinh con. Lợi dụng bị thuyên chuyển làm việc xa nhà, thân tàn tật di chuyển khó khăn, tôi xin nghỉ việc để có thời gian lo săn sóc mẹ. Thời gian rảnh rỗi, tôi vẫn tiếp tục làm việc thiện nguyện cho Hội Chữ Thập Đỏ. Rồi chiến tranh ở Bắc Phi, chiến tranh ở Trung-đông liên tiếp xẩy ra, tôi có dịp theo hội cứu giúp trong các trại tỵ nạn nơi xẩy ra chiến cuộc. Sự tàn phá, chết chóc do chiến-tranh tạo ra gây cho tôi kiệt lực. Người ta nhân danh chiến tranh để giải phóng con người ra khỏi đói nghèo và áp-bức, nhưng sau chiến-tranh, đói nghèo và áp bức càng gia-tăng do hậu quả cuộc chiến để lại và lòng tham muốn quyền lực chiếm đoạt và sự trả thù của bên thắng cuộc đối với kẻ thua cuộc.
Cường-độ của độc-ác, bóc lột, đói nghèo gia tăng thì lòng nhân-đạo giúp đỡ nhau đi xuống. Chiến-tranh ở Việt-nam có “Kéo” ác-độc chủ động tham dự, “Lự“ bị cưỡng bách, có “Chút” là tôi, một thường dân vô-tội, thì các nạn nhân chiến-tranh ở Trung-đông, Bắc-Phi cũng không khác. Tôi nói lòng nhân đạo đi xuống là muốn nói lòng nhân đạo tự nguyện đối với nạn-nhân của mọi biến cố xa gần, trực-tiếp hay gián-tiếp đã trở nên cằn cỗi… nên một số anh chị em trong hội tự chọn cho mình một phương cách hữu-hiệu, an toàn để tạo thêm nguồn tài-chánh cho trung ương, và tôi đã chọn là mỗi tuần tôi để ra ba buổi chiều xin tiền trong hầm xe điện ngầm.
Lúc đầu chuyện không đơn giản, vì anh chị em trong nhóm thấy quyết-định của tôi có vẻ sẽ gây bất mãn và gây dị nghị cho tổ chức, nhưng tôi dã thuyết phục được họ vì tôi làm không nhân danh hội, chỉ có tính cách cá-nhân. Những tuần lễ đầu tiên, khách qua lại trong đường hầm xe điện ngầm ném cho tôi những cái nhíu mày tỏ vẻ bực bội. Tôi biết, một người khuyết tật ở xứ Pháp nầy sẽ được xã-hội bảo bọc chu toàn nên xin ăn là điều sĩ nhục cho đất nước. Tôi để hộp xin tiền trước mặt, ngồi im, hai mắt nhắm lại. Một ngày qua đi, ba ngày trong tuần qua đi, không có một xu nào được ném vào hộp.
Qua tuần lễ thứ hai, lác đác tôi nghe có tiếng tiền kim loại được ném vào hộp… Rồi một tuần sau đó, niềm vui và tin tưởng đến với tôi. Một nhóm học trò cũ của tôi được cô thầy giáo hướng dẫn du hành nghiên cứu thực tế bên ngoài xã-hội để áp-dụng cho một chương trình học trong lớp đi ngang qua chỗ tôi ngồi xin. Có lẽ do sự giải thích của cô thầy giáo đồng nghiệp cũ của tôi về việc làm của tôi nên các em vây quanh tôi vỗ tay reo hò, nhiều em bỏ tiền vào hộp. Có em giải thích việc làm của tôi với khách qua lại dừng chân vì hiếu kỳ, họ cũng bỏ tiền vào hộp. Hôm đó, lần đầu tiên trong những ngày bắt đầu xin tiền, tôi nhận được khá nhiều tiền, lòng thật vui, đầy phấn khởi. Cũng có lẽ sau ngày hôm đó, những cái nhìn của khách qua lại ném cho có nhiều thiện cảm hơn, có khách dừng chân, nhẹ nhàng bỏ những tờ giấy bạc hay những đồng tiền bằng kim loại vào hộp, không quên kèm thêm một nụ cười. Hạnh-phúc nhất đến với tôi là sau một năm thực-hiên việc xin tiền, đài truyền hình France 3 đưa tin-tức công việc của tôi cho mọi người biết. Có một câu hỏi mà câu trả lời tôi thích nhất từ đó cho tới nay.
Người ta hỏi:
Bà là người Pháp, gốc Việt-nam, có phải việc làm của bà nhằm mục-đích có tiền góp cho hội Chữ-Thập-Đỏ dành riêng giúp cho những nhu cầu cần-thiết hàn gắn những vết thương do thiên tai tạo ra bên Việt-nam ? .
Thưa không phải là như vậy. Việc tôi làm là để đóng góp tài chánh cho hội Chữ-Thập-Đỏ. Sự đóng góp của tôi không bằng một hạt cát trong đại dương mênh-mông. Việc phân phối giúp đỡ theo nhu cầu ở một nơi nào đó là do Hội nghiên-cứu và quyết- định. Hội Chữ-Thập-Đỏ làm việc cho toàn thế-giới, không riêng cho một nước nào. Ngay tại nước Pháp của chúng ta, cũng có những lúc, có những nơi cần có sự góp sức của hội Chữ-Thập-Đỏ.
Tôi nhấp cạn phần còn lại của tách cà-phê, lòng cảm thấy nhói vì câu chuyện.
Nguyễn Đại Thuật
CAO MỴ NHÂN – DẤU LỆ THƠ XƯA
DẤU LỆ THƠ XƯA. CAO MỴ NHÂN
Nhân chuyện Nữ Sĩ MINH THUÝ THÀNH NỘI ghi cho CAO MỴ NHÂN tôi dòng chữ ( M T kính họa theo chị Mỵ “ chị ơi , đầu em bị cóng về thơ Đường rồi, chẳng thấy hay ho gì hết “ ) .
Hôm nay Cao Mỵ Nhân tôi xin phép quý Tao Nhân Mặc Khách đã và đang hiện diện ở Thi Đàn LÃNG PHONG do Thi Sĩ LÝ ĐỨC QUỲNH chủ biên Xướng Hoạ thể thơ Đường Luật , để cũng như bày tỏ một quan niệm qua những nhận định tình cờ mà tôi may mắn được nghe từ các vị Thi Sĩ lừng danh trong xã hội Thơ Ca VN chung chung , kể từ “ tiền chiến “ tới nay , về … luật Đường Thi biến diễn Thơ Mới , có vẻ gần gụi tâm tình dân tộc ta hơn .
Song, trước hết tôi phải giới thiệu Cao Mỵ Nhân tôi ở cái lứa tuổi lưng chừng hay xa lạ từ thời gian tới nơi chốn đối với quý vị sẽ nêu ra : nói đôi chút về chuyện làm thơ ĐƯỜNG LUẬT .
Và tôi cũng xin thưa hoàn toàn không đề cập tới “ kỹ thuật, nghệ thuật “ hay công thức ngôn từ để tạo ra bài Đường Thi , vì đó là phạm vi của các Đấng Thi Sĩ , Nhà Thơ như xưa nay đã từng có .
Quý vị sẽ hỏi : “ Thế thì nói gì đây về … Đường luật chứ “.
Vâng , vì muốn chia sẻ với MÌNH THUÝ THÀNH NỘI , một tay Thơ ĐƯỜNG , mà lại “ cóng về thơ Đường, chẳng thấy hay ho gì hết “.
Hola cách đây mấy mươi năm , MỴ tôi đã thốt ra lời tương tự , nhưng là cảm thấy sợ quá luật thơ Đường , chứ không phải chán nó , Đường thi , đâu.
Đó là thời đầu thập niên 80 thế kỷ trước , tôi vừa từ trại tù “ cải tạo “ về Saigon .
Cao Mỵ Nhân tôi vốn làm thơ kiểu … bình thường từ khá lâu rồi , đã có mấy tập thơ xuất bản lại cũng từ trước đó cả hai chục năm .
Tôi được quý Nữ Sĩ lão thành trong Thi Đàn QUỲNH DAO mời gia nhập Hội Thơ tên tuổi đó .
4 vị Nữ Sĩ : MỘNG TUYẾT THẤT TIỂU MUỘI , VÂN NƯƠNG, THU NGA và TUỆ MAI thân mật , ưu ái giới thiệu .
Tôi thưa với quý vị đương nêu , rằng tôi không thích và không thể tôn theo Thi luật quá khó khăn , nghiệt ngã , nào bài thơ có 56 chữ mà không được điệp từ , nào chỉ có 8 câu, 7 chữ , 5 vần mà phải nói lên tính chất nhất quán , nội dung rõ ràng, phong phú.
Chưa kể bài thơ phải có 2 cặp đối , và tuân thủ mỗi câu trong 8 câu đó, phải đúng dàn bài : Phá , Thừa , 2 Thực hay trạng , 2 Luận , Chuyển , rồi kết , công phu lắm, mệt lắm .
Tôi không muốn gia nhập , hay nếu tham dự hội QUỲNH DAO , thì tôi chỉ làm thơ mới , 4 chữ, 5 chữ, 6 chữ , lục bát , thất ngôn , quá lắm thì song thất lục bát thôi .
Bấy giờ , 1980, quý vị Nữ Sĩ đã ở lứa tuổi cao niên 7, 8 mươi trở lên .
Số quý vị trẻ hơn thì cũng quanh 6 chục .
Lúc đó tôi mới băm mấy , và đã làm thơ từ năm 13 tuổi .
Nữ Sĩ TUỆ MAI đã có 7 tập thơ lưu hành, lại là người phụ nữ được đăng thơ thường xuyên ở báo SÁNG TẠO danh tiếng với các Nhà Thơ tưởng không ai đoạt được chức danh Thi Sĩ của quý vị ấy : THANH TÂM TUYỀN, CUNG TRẦM TƯỞNG, TÔ THUỲ YÊN vv…
Chị TUỆ MAI nói với tôi :
“ MỴ vô QUỲNH DAO đi , làm thơ luật Đường , em sẽ tự đặt mình vào nguyên tắc , tự giữ gìn và học hỏi được phẩm chất quý giá của phụ nữ .
Chị vẫn làm thơ mới, và vẫn làm thơ Đường luật , vui lắm , có khó khăn gì đâu .
Thế là vô hình chung tôi đã thành hội viên của Thi Đàn QUỲNH DAO .
Tôi đã có mặt ở Hội Thơ này , mà đôi khi bạn thơ còn gọi HỘI TRĂNG QUỲNH , vì QUỲNH DAO thường hội vào những đêm trăng 16 trước 1975.
Sau 1975, một số hội viên xuất ngoại, một số già cả , bịnh lão, còn lại đa phần là quý bà cao niên , đan cử Niên Trưởng Nữ Sĩ MỘNG TUYẾT , phu nhân của Thi Sĩ quá cố ĐÔNG HỒ .
Do đó, tôi thường lui tới ÚC VIÊN là tư thất của nhị vị Nhà Thơ miền Nam từ trước tiền chiến, nên sau năm 1975, khi biến cố lịch sử VN gọi là thống nhất theo thể chế XHCN , các Văn Thi Sĩ quen nhau từ tiền chiến như : NGUYỄN TUÂN , XUÂN DIỆU, HUY CẬN, CHẾ LAN VIÊN vv… vô Nam để biết cuộc sống của dân chúng bên này sông BẾN HẢI thế nào, thì đều ghé ÚC VIÊN thăm Nữ Sĩ MỘNG TUYẾT niên trưởng QUỲNH DAO quốc nội của tôi.
Và nhất là các Nữ Thi Sĩ ở miền Bắc xưa, vốn bạn thơ của chủ nhân ÚC VIÊN , có dịp tới lui trò chuyện với Nữ Sĩ MỘNG TUYẾT , như các bà NGÂN GIANG, ANH THƠ, MAI ĐÌNH , THUỴ AN vv … thì kể như thường xuyên .
Bấy giờ Mỵ tôi là em út QUỲNH DAO, và cũng là cây gậy của vị Niên Trưởng đã ngoại bát tuẫn , nên không thể vắng mặt trong các buổi hội Thơ , tiếp Tân hoặc tái ngộ của các bậc cao niên ấy .
Tôi muốn kể với quý vị LÃNG PHONG hôm nay , rằng điều nhận xét chung , và gần như “ nhất quán “ về : Những Nhà Thơ VN chung chung, sau này nổi tiếng nơi các dòng thơ mới, dù ở hoàn cảnh nào, cũng trả lời câu hỏi tình cờ của tôi :
“ Thế các vị trước tiền chiến, ngoài cụ QUÁCH TẤN ở trong Nam, có vị nào đã hay từng làm thơ Đường Luật không ạ ? “
Lý do tôi nêu câu hỏi, vì quý vị đó đang ngồi nghe hoặc nói Đường Thi mà Hội Thơ QUỲNH DAO chúng tôi chủ trương xướng họa , để nhờ chiêu thơ hư mà thực, giả mà chân … an ủi, vô về sinh hoạt ngán ngầm , dở dang trong cuộc đổi đời … bi đát ấy .
Không ai suy nghĩ , không ai ngại ngùng, họ khách vãng lai từ miền Bắc vô đều trả lời bình thường, bình thản :
“ Phần nhiều trước khi làm thơ mới, có xem qua, có thử làm, và cũng đã từng làm đôi bài Đường luật chứ. Cũng từ Đường luật mà bước qua thơ mới dễ dàng , cảm xúc mau mắn, thiết thực, vần điệu hơn … “
Tôi không tin lắm , Nữ Sĩ ANH THƠ , đã từng đoạt giải Thơ của TỰ LỰC VĂN ĐOÀN nói :
“ Có biết các ông HUY CẬN, CHẾ LAN VIÊN đã từng viết Đường Thi không . “
Và xin lỗi, tôi chỉ là người nghe sao, nhắc lại thôi : “ sau 30 – 4 – 1975, ông Thi Sĩ Đỏ có bài thơ nói về “ Gỡ rối bao xưa “ ( bao cấp ) có tới 4 cặp đối trong bài tạm luật Đường, thì ông này cũng hiểu Đường thi chớ .
Có lẽ đó cũng là bài cuối cùng Thơ TỐ HỮU .
Tuy nhiên phải mở dấu ngoặc là có nhiều vị hỏi tại sao sau 1975, Tố Hữu không làm thơ nữa .
Thì hỏi là trả lời rồi : “ ông ấy hết nhiệm vụ, chẳng lẽ viết cái lỗi thời của Thơ Đỏ sao ? “
Tôi hơi dài dòng là vào thì dài, mà kết luận lại như không nói được hết ý mình,
Tức là những gì mình đã hay đang bước qua, chính là những kinh nghiệm quý giá thâu nhận được, để trải ra phía trước đường trường sinh hoạt nối tiếp , dù trên lãnh vực thi ca hay gì đi nữa .
Tất nhiên khi không thích, không đúng nữa thì thôi, nhưng đừng tiếc, đừng buồn chi cả, mới là … thăng hoa của tư tưởng , thi phong , thi cốt đặc thù của mỗi nhà thơ …
Huống chi MÌNH THUÝ THÀNH NỘI hoa bút ĐƯỜNG THI đã hảo hạng một thời .
Xin CÁM ƠN QUÝ VỊ đọc , xin bỏ qua sơ xuất của MỴ tôi ở cả nhận định cũng như viết lách . KÍNH CHÚC VẠN AN.
CAO MỴ NHÂN
CA KHÚC BIỂN NHỚ – THƠ NGUYỄN PHAN NGỌC AN- NHẠC TRẦN ĐẠI BẢN – CA SĨ VÂN KHÁNH.
VTLV – VIDEO CHƯƠNG TRÌNH BUỔI LỄ “MÙA SAO SÁNG – 50 NĂM VIỄN XỨ” – BÀI TƯỜNG THUẬT VỀ SỰ THÀNH CÔNG BUỔI LỄ – Từ VTLV.
MỜI XEM VIDEO VÔ CÙNG HẤP DẪN DƯỚI ĐÂY – CHỈ GHI LẠI CÓ VÀI TIẾT MỤC MÀ BẢO ĐẢM QUÝ VỊ SẼ BỊ MÊ ĐẾN …HÚT HỒN! 🙂 🙂
Đêm Nhạc VĂN THƠ LẠC VIỆT & TUỔI TRẺ HẢI NGOẠI: Mùa Sao Sáng-50 Năm Viễn Xứ. Video: PhươngHoa
***
VÀ DƯỚI ĐÂY LÀ CA KHÚC CHÚC MỪNG GIÁNG SINH TỪ VTLV – KÍNH MỜI NGHE:
VTLV – CHÚC MỪNG KỶ NIỆM 30 NĂM NGÀY CƯỚI Anh Lê Văn Hải & Kiều My.
THƯ PHÁP QUANG HÀ
SẮT CẦM HÒA HIỆP
SẮT son đạo nghĩa vợ chồng
CẦM tay nguyện chữ tâm đồng HẢI MY
HÒA thanh phách nhịp trường kỳ
HIỆP tình hương lửa thỏa nghì trúc mai
Quang Hà, December, 2025
Kính tặng anh chị HẢI & MY
Nhân kỷ niệm 30 năm ngày hợp hôn.
THƠ CHÚC MỪNG – PHƯƠNG HOA
HAPPY 30TH ANNIVERSARY LÊ VĂN HẢI & KIỀU MY
*
CHÚC MỪNG ngày cưới BA MƯƠI NĂM
Vẫn mãi bên nhau tựa kén tằm
Tháng nhả tơ vàng tương kẻ khó
Ngày mài bút bạc viết tin văn
KIỀU MY hiền nội quên điều khổ
LÊ HẢI lang quân phớt nhọc nhằn
Chàng trước thiếp sau làm phụng sự
Hoa Kỳ – Việt Mỹ tạ ân thâm
*
Ân thâm khắp chốn biết danh người
Yêu mến “Chàng Không Quân chịu chơi”!
LÊ HẢI nhân từ gương sáng rỡ
KiỀU MY hiền dịu ánh dung ngời
Không than – anh mở hầu bao dốc
Chẳng trách – chàng vung túi sạch mời
MỪNG CHÚC 30 Năm Kỷ Niệm
Mối duyên cầm sắc dệt hương đời.
Phương Hoa – VTLV – DEC 09, 2025
THÁI LAN CHÚC MỪNG
CHÚC MỪNG LỄ NGỌC TRAI – 30 NĂM NGÀY CƯỚI CỦA CHỊ MY- ANH HẢI CHÚC ANH CHỊ MÃI TAY TRONG TAY & THẬT HẠNH PHÚC
𝓽𝓷𝓵 – thailan/phannữlan
**
CHÂN THÀNH CẢM TẠ
Cho Tiệc Kỷ Niệm 30 Năm Khói Lửa!(Hai & My’s 30th Wedding Anniversary Party!)
Kính thưa Quý Anh Chị, Bạn Bè Thân Hữu và Gia Đình Quyến Thuộc,
-Trước hết, vợ chồng Hải & My xin chân thành cảm tạ tình thương mến của Quý Vị. Thiệp mời vừa “phát pháo lệnh” chưa đầy một tuần, mà danh sách quan khách đã…bay nhanh hơn tốc độ phi cơ F-5E! Khiến vợ chồng Hải chỉ biết đứng nhìn, mà…vừa vui, vừa run!
Hải & My vô cùng vinh hạnh được đón tiếp tất cả Quý Vị đã kịp ghi danh. Xin cảm ơn từ tận đáy lòng!
Và giờ đây, xin thông báo chính thức:
Sau email này, tiệc xin phép đóng sổ!
Lý do ngoài ý muốn:
Nhà hàng vừa báo rằng không còn một chỗ trống nào — không những hết bàn, hết ghế, mà đến…đứng ngoài sân, họ cũng ngại cho phép!
Vì vậy, chúng tôi đành phải “chịu thua,” tạm ngưng nhận thêm quan khách quý.
Xin quý vị thông cảm cho tình huống ngoài ý muốn này — “không phải tại vợ chồng Hải, mà là… tại nhà hàng!”
Chúng tôi thật sự ấm lòng trước sự hưởng ứng nồng nhiệt của Quý Vị. Kỷ niệm 30 năm mà được thương mến như thế, đúng là món quà tinh thần vô giá, đủ giúp hai “chiến sĩ tình yêu”…tiếp tục chiến đấu thêm nhiều năm nữa!
Thành thật xin lỗi Quý Vị muốn ghi danh tham dự, sau Email này!
Rất mong vẫn nhận được nụ cười và lời chúc của Quý Vị —
nếu không gặp nhau trong tiệc, thì hẹn nhau trong các cuộc vui khác! nhất là những dịp vui cuối năm!
Một lần nữa, vợ chồng Hải & My xin chắp tay Cảm Tạ tấm lòng quý mến của Quý Vị.
Xin đính kèm Thiệp Mời, để Quý Vị đã ghi danh, nhớ đứng quên Chủ Nhật đặc biệt tuần này nhé! Chưa hết, còn kể chút kinh nghiệm chiến đấu sống còn, 30 năm mịt mù khói lửa!
Trân trọng và thương mến,
Hải & My
KIỀU MỸ DUYÊN – GIỚI THIỆU MỚI NHẤT: CÁI NHÀ LÀ NHÀ CỦA TA – DEC 8, 2025.
Ông ta dí một xấp bạc trước mặt mẹ, hai hàm răng nghiến chặt, lăm lăm con dao nhọn hoắt:
– Đếm xem có đủ cho cô xài không?… Nếu thấy đủ rồi thì từ đây hãy ở nhà đi, tôi không muốn tôi bị truy ra tung tích từ cô!… Cô thật là cái nợ lớn cho tôi đó, biến đi! Bỏ tất cả mọi công việc ba xu đi!
– ……
– Còn không hiểu nữa sao mà ngước cặp mắt giả nai lên nhìn nữa! Từ giờ trở đi nếu chúng nó lùng ra tôi… Cô và con bé đừng trách tôi!… Thật phiền quá!
– Khoan! Anh à… Anh…
Ông ta hất mẹ té xuống đất, phóng người ra khỏi nhà bằng ngã sau, nhìn trước nhìn sau rồi biến mất. Mẹ không sao thốt nổi nửa lời, hàng nước mắt long lanh, quẹt nhanh. Vội vàng run rẩy quơ hết đống bạc trên bàn cho vào một cái túi nhỏ giấu dưới đáy tủ, sợ lỡ có ai nhìn thấy thì lại mắc họa vào thân.
Tôi ghì cái mền vào lòng, cắn chặt đôi môi cho khỏi bật khóc thành tiếng, hi hí mắt giả ngủ, nằm yên, thầm khẩn cầu Trời Phật cho ông ta biến mất khỏi cuộc đời khốn khổ của mẹ con tôi.
Tôi thù ông ta! Phải! Chỉ mới gần 8 tuổi thôi mà tôi đã có một kẻ thù không đội trời chung!… Là ông ấy! Đặc biệt vết sẹo dài vắt ngang chân mày trái làm ông ta giống như phù thủy, chiếc miệng không ngớt mắng chửi, đánh đập tôi khi ông về thăm nhà.
Tôi không hiểu sao ông ta có thể là cha ruột của tôi!
Ông đưa tiền cho mẹ một mà nạo tiền mẹ đến mười! Nếu mẹ không cất giấu những đồng tiền ấy đi thì sau này ông ta hỏi mà không có thì mẹ sẽ phải bị hành hạ đến chết!
Mẹ một mình nuôi tôi bằng đồng lương kham khổ, làm cô giáo cấp 1, và may thêm buổi tối ở nhà.
Những người đến đặt hàng may của mẹ, ai cũng hỏi tôi về cha, tại sao cha không bao giờ có mặt ở nhà. Những lúc như thế tôi lại úp mặt vào lòng mẹ, cảm thấy vừa tủi thân, vừa thù hận người đã mang danh hiệu CHA mà không tròn bổn phận với mẹ và tôi!
Mặc dù tuổi còn bé, tôi vẫn biết mẹ phải chịu đựng biết bao khổ sở cực nhọc vì miệng đời. Xã hội còn lạc hậu, nền nếp phong kiến xưa, và vì sự tồn tại của tôi, đứa con không mong muốn!
Tôi không khóc như mẹ, nhưng lì và thù hận ăn sâu trong tim óc non nớt của tôi, tôi nhất quyết phải làm một điều gì đó để cứu cuộc đời cực nhọc của mẹ ra khỏi cái hang hùm ấy.
Một hôm ông ta về nhà trong lúc tôi đang ngồi trước cửa chơi con búp bê bùn sình bẩn thỉu mà mẹ đã lượm từ đống rác cách nhà mấy mươi bước khi đi dạy học về. Ông kéo tôi xềnh xệch vào nhà:
– Đi tắm và lấy bộ đồ mới mặc vào!
– Đi đâu hả cha?
– Mày có quyền lên tiếng hả?
Chưa nói hết câu, ông đã sấn lại tát lên má tôi một cái thật đau điếng mà tưởng chừng thấy ngàn ngôi sao quay vòng vòng trên đầu. Té thụp xuống đất, tôi thút thít và biết là ông sẽ làm hại tôi:
– Con chờ mẹ về rồi mới đi…
– Mày còn trả treo hả? Đi ngay với tao! Tao không phải là cha mày sao?
Tôi lấy hết sức bình sinh và tất cả can đảm, hét lên:
– Không! Ông không phải cha tôi! Ông là người ác độc, ông là…
– Bốp! bốp!
Ông ta táng vào đầu tôi, túm tóc vặn ngược ra đàng sau. Hai con mắt đỏ ngầu, cả người ông tỏa ra mùi rượu nồng nặc, ông kéo lết tôi ngược ra sau nhà, hai cánh tay tôi níu ngược lại sau đầu, nương cho mái tóc như sắp lìa khỏi da đầu. Hai chân tôi cào cấu cố bám víu lấy những vật cản trong nhà, nhưng vô ích.
Ra đến sau bếp, ông mở nắp lu nước đầy 2/3, ông bế xốc tôi lên bỏ vào đó một cách gọn lỏn không do dự. Cái nóng đau rát cùng mồ hôi đổ túa ra đầu cổ từ nãy giờ, gặp lu nước lạnh mát bất thình lình, nhiệt độ trong cơ thể tôi tụt nhanh bất ngờ, tôi hoàn toàn mất tri giác, toàn thân mềm nhũn.
May là ngay lúc ông vừa bước ra khỏi bếp, thì mẹ tôi về đến nhà.
Điều đầu tiên bà làm là vô bếp múc nước rửa tay chân rồi mới bắt đầu làm bếp. Khi mở nắp lu nước ra thấy tôi nằm gọn lỏn trong đó, nước lên ngập đầu, tưởng là đã chết, mẹ hết sức bình sinh lật đổ cái lu, vỡ toang tành, tay chân mẹ bị mảnh sành của lu cứa đến trầy rất nhiều vết thương nhỏ máu, và bế xốc tôi sang nhà hàng xóm cấp cứu. Từ đó tôi và mẹ theo nhau bén gót, mẹ không dám hở tôi ra, sợ ông ta sẽ giết hoặc hại đến tôi.
Ông bà ngoại chỉ có mỗi mình mẹ là con gái duy nhất ở Cao Lãnh, gia đình khá giả nên mẹ được đi học đàng hoàng cho đến hết lớp 12. Một vụ pháo kích bất ngờ của Việt Cộng vào nhà dân khoảng năm 1973 đã làm cả xóm sụp đổ hoang tàn, bao người chết chóc, trong đó có ông bà ngoại! Mẹ được những người dân xung quanh vực dậy, di tản lên Sài Gòn. Mẹ chỉ biết hớt hơ hớt hải chạy theo đoàn người, với hai bàn tay trắng, tâm hồn rạn nứt, trái tim đã chết theo cái chết oan khiên của ông bà ngoại dưới đống đổ nát của nhà cửa làng mạc.
Ở Sài Gòn, chính phủ có xây một nơi tập trung khá rộng bằng mái tole cho những người chạy giặc từ quê lên tạm trú. Nơi đây mẹ một thân một mình, không người thân mà chỉ có những người cùng quê làng mà thôi. Mẹ phải bươn chải, phải tự tìm việc làm thêm để nuôi bản thân mình; còn những người khác ít học thì đi bán vé số, lượm ve chai, gánh hàng đi bán…
May là mẹ đã có một số vốn kiến thức thời trung học và ngoại ngữ loại khá nên làm cô giáo dạy toán và ngoại ngữ cho các em nhỏ ở SàiGòn.
Một buổi chiều đi dạy về tối, một đám côn đồ ra chặn đường, mẹ hốt hoảng không biết phải làm sao với ba bốn tên mặt mày hung dữ, mẹ chả có tiền bạc gì cho chúng cả, mẹ quỳ xuống van xin chúng đừng động tới mẹ, nhưng chúng chỉ cười hung ác, nhào vô cấu xé mẹ. Mẹ sợ đến ngất lịm trên nền đất bùn sình với bóng đêm ngày càng dầy đặc như để che đi cái dã man tàn ác của bọn côn đồ.
Khi chiếc áo nhỏ của mẹ vừa bứt ra khỏi người, tiếng cười man rợ của bọn ma cô vang lên thì ngay lúc ấy mẹ thấy một bóng người lao vút vào, con dao nhọn hoắt múa soạt soạt kinh hồn. Cả đám nhào vào đánh một người. Người “anh hùng” cứu mẹ bị một vết thương ở mặt, máu ào ạt tuôn ra, ông ta vẫn không cảm thấy đau mà cúi người xuống vác mẹ trên vai băng băng chạy thật mau vào những ngõ tối mà cả bọn lưu manh không biết đường đuổi theo.
Theo lời mẹ kể sau ngày ấy, mẹ ở với hắn. Hắn cũng chả yêu thương gì mẹ mà chỉ dùng mẹ như một công cụ kiếm tiền của hắn, một người phục vụ cho hắn. Đã bao lần mẹ muốn trốn đi nhưng không biết phải đi đâu, sợ ở cái đất Sài Gòn rộng lớn này mẹ lại bị hại nữa; mẹ như một con cừu non chưa ra đời, không biết phương hướng giữa bầy sói hoang, thà ở lại với tên lưu manh, phục vụ cho hắn còn hơn!
Thời gian trôi qua, hắn biết mẹ là người con gái đàng hoàng, trinh trắng, hắn là người đàn ông may mắn đầu tiên trong đời mẹ, nên hắn bớt hằn học và tin tưởng giao tiền cho mẹ giữ. Hắn không biết nói chuyện nhã nhặn mà chỉ biết la mắng, uống rượu, thô lỗ. Cả đời sống bên cạnh mẹ, nhưng chưa bao giờ hắn có lời nói nhẹ nhàng hay cử chỉ yêu thương với mẹ cả!
Trên trán hắn có một vết sẹo dài, vết sẹo do lần đánh nhau với bọn lưu manh để cứu mạng mẹ, mỗi lần nhìn thấy vết sẹo ấy, mẹ lại không đành lòng rời xa hắn vì theo mẹ hắn là ân nhân cứu mạng mẹ.
Rồi mẹ mang bầu tôi, hắn đã đánh mẹ một trận nhừ tử, muốn mẹ bỏ cái thai, hắn không muốn có trách nhiệm với con cái, cũng như không muốn nghe tiếng khóc trẻ thơ. Mẹ van xin hắn cho mẹ giữ lại đứa con vô tội trong bụng, mẹ hứa với hắn sẽ không để cho đứa trẻ bật lên tiếng khóc!
Ngày mẹ đi sanh tôi chỉ một thân một mình, khi bế tôi về mẹ cũng cố gắng nuôi tôi bằng dòng sữa mẹ ít ỏi của người.
Tôi là một đứa con gái ngoan ngoãn biết nghe lời mẹ từ khi còn trong bụng. Sợ mẹ bị đòn đau nên tôi chả bao giờ khóc cho dù nhiều lúc tè đầy tã, ướt cả lưng mà tôi vẫn cứ nằm yên chơi với ngón tay, bàn chân mình và chờ mẹ rảnh mới đến lau chùi cho. Tôi lớn lên bên cạnh mẹ, chỉ biết một mình mẹ, chưa bao giờ được cái hôn hay vòng tay ôm của cha.
Hắn đi suốt mấy ngày liền là những ngày tôi và mẹ thật hạnh phúc bên nhau. Chúng tôi cười đùa, mẹ dạy tôi học những chữ cái, dạy tôi đếm. Khi nghe bên ngoài cánh cửa lách cách mở là mẹ và tôi thật im lặng, tôi sợ đến nỗi phải chui xuống gầm giường để trốn hắn!
Hắn rất ít khi nào thấy mặt tôi, trừ một hôm hắn về nhà vào nửa đêm khi tôi và mẹ đang say trong giấc ngủ. Hắn nhìn vào trong giường qua chiếc màn mỏng, tôi nằm co quắp bên cạnh mẹ. Thấy lạ, hắn vén màn vào trong sát mặt nhìn tôi rồi ra vẻ hài lòng.
Đó là lần đầu tiên mẹ nói hắn có vẻ hài lòng khi thấy tôi. Nhưng tôi vẫn tránh hắn, im lặng và tự bảo vệ mình như con chim nhỏ sống bên cạnh con mãnh thú.
Dòng đời vẫn cứ tuôn chảy, cho đến khi miền Nam bị đổi chủ, ai ai cũng bỏ nhà bỏ cửa chạy hết ra bến tàu, hy sinh thí mạng với biển cả. Cha tôi nhân cơ hội đó vơ vét của cải của những gia đình giàu có, ăn cắp tư trang trong sự sơ hở của người dân Sài Gòn rồi đem của cải đó về cho mẹ tôi giữ để bán dần đi tiêu xài.
Mẹ tôi khuyên lơn bao nhiêu cũng bị hắn đánh cho vài bạt tai và không muốn nghe lời khuyên của mẹ. Hắn cứ tiếp tục ăn cắp, ăn cướp đến nỗi tên tuổi của hắn bị công an ở chế độ mới truy lùng. Hắn không dám về nhà thường xuyên nữa. Mà thỉnh thoảng hắn lại xuất hiện khi thì trong bếp, lúc thì ở phòng tắm, ẩn ẩn hiện hiện rồi lại biến.
Lúc ấy tôi đã lớn gần 8 tuổi, tôi chỉ cầu mong cho hắn bị bắt, bị ở tù mọt gông, tôi cầu nguyện cho hắn sẽ biết mất trên cõi đời này để đừng hành hạ mẹ con tôi nữa.
Tiếng gõ cửa nhè nhẹ bên ngoài, chỉ mới 3 giờ sáng! Giọng nói khe khẽ vọng vào:
– Tràm ơi, Mùi đây! Mở cửa đi!
Mẹ ngồi bật dậy, bỏ cánh tay của tôi đang vắt ngang bụng mẹ sang một bên. Tôi lại giả ngủ, lắng nghe.
Dì Mùi là người bạn thân nhất của mẹ ở đất Sài Gòn này, hồi xưa cả hai cùng đi học tiểu học, trung học ở Cao Lãnh, hai người gặp lại khi mẹ dọn đến đây ở, dì Mùi xinh đẹp nhưng vẫn thua sắc đẹp kín đáo, trầm lắng của mẹ.
Dì Mùi và mẹ thầm thì:
Tràm! Ngày mai nghe, nhớ đó… Theo tụi tui thì mình mới sống sót làm lại cuộc đời, chứ sống kiểu này tui không yên tâm thấy con nhỏ cứ bị nay bầm cái vai, mai tím cái mặt… lỡ sau này lớn lên…, “nó” cũng không tha cho con gái nó nữa thì sao? Tui không tin được hắn! Đi cho hai đứa nhỏ có bạn!
– Thiệt ra mình cũng muốn lắm, nhưng sao tôi lo quá! Thật khó tính hết sức…
– Bà chỉ có thể chọn, hoặc ở riết đây, hoặc đổi đời… Tui cho bà một đêm nay nữa thôi… Tội nghiệp con nhỏ, bà nhìn nó có được tương lai nếu chôn chân ở đây không? Suy nghĩ đi!
Dì Mùi nói nhanh rồi bỏ về, mẹ thao thức cả đêm, thở ngắn, thở dài, cuối cùng mẹ chỉ đem một chiếc túi nhỏ quần áo và một chút tro trên bàn thờ của ông bà được xẻ vào hai chiếc túi nylon nhỏ chống nước và bọc thêm túi vải bên ngoài.
Thương mẹ quá, đây là sự quyết định thật táo bạo và liên quan đến cả tương lai cuộc sống của hai mẹ con, mẹ làm sao suy nghĩ nổi chỉ trong đêm nay?! Tôi lại cắn chặt chiếc mền, giấu tiếng nấc!
Sau đó mẹ đứng trước bàn thờ Phật, bàn thờ ông bà, có lẽ đây là lần cuối, mẹ khấn thật lâu, lâu đến nỗi tôi ngủ thiếp đi…
Thoáng chốc 20 năm trên đất Canada thanh bình như những giọt mật hạnh phúc mà mẹ con chúng tôi đang khát khao tận hưởng. Tôi đã thật sự trưởng thành, ra trường và làm luật sư cho một văn phòng ở Montreal.
Mẹ chỉ còn làm bán thời gian nên có thì giờ nghỉ ngơi và đọc sách báo, không những thế mẹ còn sáng tác văn thơ đóng góp cho các báo Việt trên thế giới mà mẹ tìm thấy website trên net.
Một hôm, lưỡng lự mẹ nói:
– Nếu… vì bất đắc dĩ gặp lại cha thì con có muốn… không?
– Không! Dù có tận thế con cũng không muốn nhìn lại ông ta nữa!… Con không thể nào quên được, xin mẹ đừng hỏi con điều này!
Ánh mắt mẹ nhìn tôi sâu lắng:
– Con gái! Hãy bỏ qua tất cả… dù sao cũng là cha con…
– Nhưng ông ta không muốn có con trên đời này mà!
– Con người sẽ thay đổi ý nghĩ khi ở một hoàn cảnh khác, hãy vì mẹ con nhé!
Dì Dượng Mùi vẫn ghé thăm chúng tôi với Đan, con trai của vợ chồng dì, hơn tôi 3 tuổi. Anh vừa xong bằng bác sĩ; chúng tôi thân nhau từ thuở nhỏ bên nhà, anh không những là người anh, mà còn là một người bạn tri âm tri kỷ thật hiếm có!
Anh mới được nhận việc ở một nhà thương lớn. Tôi chịu đựng chai lì từ thuở bé bao nhiêu, thì Đan có một tuổi thơ tuy nghèo nhưng thật trọn vẹn trong tình yêu chan chứa của bố mẹ, trưởng thành với một trái tim sẵn sàng chia sẻ và giúp đỡ chăm sóc người bệnh thật nhiệt tình!
Anh điện thoại, năn nỉ tôi:
– Dỹ Lan, em… giúp anh đóng vai con gái của bác trai này nhé, bác bị bệnh thật nặng, chắc sẽ không qua khỏi trong nay mai… nguyện vọng của bác chỉ muốn được nắm tay con gái của bác lần cuối!
– Em có phải là con gái bác đâu!
– Anh biết!… Người nhà của bác ấy có đăng tin từ mấy tháng nay trên khắp các mặt báo, mà vẫn không tìm ra thân nhân… Anh muốn làm một điều gì đó giúp bác trước khi ra đi! Nên nghĩ đến em!
– Đúng là anh có trái tim nhân hậu của một bác sĩ quá đó!
– Không phải đâu, anh thấy bác lạ lắm, bác có một câu chuyện đời thật đau lòng, bác muốn tạ tội cùng người con gái của bác! Anh không nỡ không giúp… Bác nói sẽ mãn nguyện nhắm mắt nếu thấy được người con gái ấy.
– Hum… Thôi được rồi, em sẽ đến giúp anh!…
– Cám ơn em, mình hẹn chút nữa nhe, yêu em!
Đan lúc nào cũng thế! Cuộc đời đối với chàng là những trang cổ tích màu hồng, ở bên chàng ai cũng cảm thấy được yêu thương bảo bọc, cả đối với bệnh nhân, chàng cũng muốn làm kỳ tích cho họ!
Tôi yêu chàng chắc cũng vì điểm đặc biệt này! Chẳng bao lâu chiếc xe tôi đã đậu ngay trước bệnh viện chàng làm việc. Chàng chờ tôi bên ngoài với chiếc blouse trắng, dưới ánh nắng xuân đong đưa của tàn cây phong, nụ cười tươi nở trên môi, trông chàng thật trong sáng và đẹp; chàng hôn nhẹ lên trán tôi:
– Cám ơn em đã đến! Em nhớ đóng cho nhập vai nhé, trấn tĩnh bác để giúp bác ra đi nhẹ nhàng…
Tôi thấy trong ánh mắt chàng, niềm lo lắng và tận tụy vì người bệnh khiến lòng tôi cũng nặng ưu tư; tôi gật đầu, hứa sẽ làm với tất cả trái tim để giúp người sắp lìa đời…
Chúng tôi vừa bước vào, cả gia đình người bệnh dạt ra hai bên, một người đàn ông gầy yếu, nhỏ bé xanh xao nằm quắp lại, hai mắt nhắm nghiền, miệng há ra, khuôn mặt nhăn nhó vì đau đớn…
Tôi tiến đến, lòng xao động, cầm tay bác và vén những làn tóc đượm mồ hôi trên trán sang một bên, nhìn kỹ khuôn mặt… Vết sẹo! Vết sẹo dài trên chân mày trái hiện rõ nét…
Vết sẹo! Trái tim như ngừng đập, tôi nghẹt thở! Tay chân bủn rủn!
Tôi bật dậy, quay đầu bước ra, Đan chặn tôi lại:
– Em có sao không? Sao mặt xanh vậy?
– Không! Không! Đây không phải sự thật! tôi… không muốn giúp người này đâu! Không! không…
Cả trái tim nhức buốt! Cả tuổi thơ khủng khiếp hiện về…
Kẻ thù duy nhất của tôi!… Đang nằm trước mặt tôi, thoi thóp! Chả lẽ nào lại là ông ta sao?! Người đã tàn nhẫn đày đọa mẹ tôi cả nửa đời người! Nhẫn tâm giết chết cả tuổi thơ của con gái ông ta! Tôi đã thề với lòng sẽ không nhìn lại ông ta nữa mà!
Tôi bật dậy muốn chạy ra khỏi phòng…
… Lời mẹ bên tai, hãy bỏ qua lòng thù hận… Tôi muốn chạy thật xa khỏi đây…
Nhưng, ông ta đang hấp hối… Tôi không nỡ. Quay lại! Lòng trắc ẩn.
Ngồi xuống bên giường, khuôn mặt ông lúc này quằn quại nhăn nhó đau đớn, không còn sức rên rỉ nữa, như đang bị trừng phạt, trả nghiệp. Tôi nắm lấy bàn tay chai đá, hằn những lằn gân xanh, vuốt trán, mỗi cái chạm vào da thịt ông, tôi thấy cả dòng máu hồi sinh đang chảy trong tôi, một huyết thống thật thân yêu khó tả vào giờ phút cuối của đời người, thật chan chứa không sao kể xiết.
Tôi cúi xuống, lần đầu tiên tôi hôn lên tay, hôn lên trán ông một cách thật trìu mến, chân thành như chính con gái ruột nhận lại người cha lâu đời của mình vậy!
Tất cả sự thù hận chất chứa trong tim từ bao năm nay bỗng tan chảy thành hai dòng lệ nóng hổi, dồn dập tuôn tràn:
– Cha ơi! Cha… Đừng bỏ con!
Người bệnh bỗng mở mắt ra! Nhìn sững tôi, thật lâu, đến nỗi tôi tưởng như hàng thế kỷ. Cuối cùng, ông ôm chặt tôi, níu vào lòng:
– Ôi con gái… Con gái của tôi đây rồi… Cám ơn Trời Phật!… Hãy tha lỗi cho cha con gái nhé! Tha lỗi cho cha! Cha thật đáng chết! Thật… đáng chết!…
Bóng mẹ gục đầu sụt sùi bên ngoài cửa…
Thì ra chính mẹ đã nhờ Đan chuyển lời đến tôi, để giải tỏa mọi khúc mắc u buồn trong tôi và người đàn ông mà tôi gọi bằng… CHA.
Sỏi Ngọc
17 tháng 9, 2023
CAO MỴ NHÂN- THƠ & VĂN: VÀNG NỖI NHỚ.
CHIẾC BÓNG CỦA TRĂNG. CAO MỴ NHÂN
Trăng nào vẫn đúng là trăng
Đôi khi trăng quá khuya rằm trăng suông
Trăng trôi về sáng luông tuồng
Trời không mây khiến trăng buông thả tròn
*
Một thời son giá trăng non
Một miền đất nước khi còn lửa binh
Trăng soi sông núi nghiêng mình
Lọt vô nhà vắng tạ tình quan san
*
Trăng rời mộng mị sầu tan
Khuya vương giã biệt trăng tàn héo hon
Nghe như nước chảy đá mòn
Một thân lưu lạc, một hồn bơ vơ
*
Trăng không than đợi, trách chờ
Trăng rơi từng giọt lệ mờ khổ đau
Ngày đi trước, đêm về sau
Vẫn thênh thang đứng tuyến đầu thuỷ chung…
CAO MỴ NHÂN
**
CHÀO LỄ TẠ ƠN. CAO MỴ NHÂN
Năm mươi năm ấy bên trời
Tạ ơn người, tạ ơn đời mênh mông
Như hoa cỏ nội hương đồng
Khi bình minh toả rạng đông chan hoà
*
Năm mươi năm ấy chúng ta
Gian truân cũng có, hoan ca cũng từng
Tạ ơn nhân ái, vui mừng
Đã qua vấn nạn, không dừng tiến lên
*
Năm mươi năm ấy luân phiên
Mồ hôi nước mắt đôi phen khóc cười
Tạ ơn tình nghĩa bao lời
Tạ tình tri kỷ, tuyệt vời tri âm
*
Năm mươi năm ấy tha nhân
Bỗng thân thương tựa cố nhân đi về
Tạ lòng bóng ngựa, nồi kê
Giấc công danh đã não nề, xôn xao
*
Tạ ơn ngày tháng mời nhau
Hoàng hoa cạn chén gạt sầu muộn xưa
Năm mươi năm sớm hay trưa
Đời sau kiếp trước tưởng chưa muộn màng …
*
Mùa Lễ Tạ Ơn 2025 – CAO MỴ NHÂN
**
TẠ ƠN VIỄN XỨ. CAO MỴ NHÂN
Tạ ơn nước Mỹ bao la
Từ khi rời bỏ sơn hà tới đây
Đại bàng xoải cánh mây bay
Cú kêu vang nối đông tây địa cầu
*
Tạ ơn U S muôn mầu
Đã trang trải nỗi muộn sầu lưu vong
Đất này quá rộng mênh mông
Nhìn lên cao ngất cõi không bạt ngàn
*
Nửa vòng thiên hạ gian nan
Cho ta thấy được thiên san vạn trùng
Tạ ơn tất cả vô cùng
Xa xôi hồn lạc bão bùng khí thiêng
*
Nơi này dạ ấm lòng yên
Muôn dân vạn sắc ưu phiền tạm quên
Tạ ơn người muốn gọi tên
Bốn phương hoa nở êm đềm viễn cư …
CAO MỴ NHÂN
VĂN CAO MỴ NHÂN – VÀNG NỖI NHỚ
==
VĂN CAO MỴ NHÂN
VÀNG NỖI NHỚ. CAO MỴ NHÂN
Thời gian cũng cách đây ba, bốn chục năm rồi, chúng tôi đang mắc kẹt trong tù, hay có mấy thành phần cũng đã rải rác về thành phố rồi.
Xem ra tôi là một trong số người về sớm nhưng không phải để ở lại thành phố, mà tiếp tục đi xây dựng nông trường.
Vì trong lý lịch tôi sanh quán ở tận cực bắc VN, rồi lại làm việc ở miền trung, chạy vô nam mà không có tên trong sổ gia đình ở Saigon trước 30-4-1975 ấy .
Tôi nhớ lúc ra công an quận Phú Nhuận để xin tạm trú nơi nhà bà chị tôi trong cư xá Kiến Thiết, gần khu nhà thờ Ba Chuông,
Tên công an cứ lý luận kiểu ” bình dân học vụ “ rằng :
…” Người ta sinh ra ai cũng phải có cha, có mẹ, có đất để chôn rau, cắt rốn, chị ở trên trời rớt xuống à ?
Bây giờ trong lý lịch chị, chị đẻ ra ở SA BA ( trời ơi, người ta sanh ở Chapa, sau này họ gọi Sa Pa, mà hắn ta kêu là Sa Ba ) thì chị phải về nơi đó mà ở…”
Tôi nghĩ nếu cứ cãi vã với tên này, thì tới năm sau, chưa chắc đã xong chuyện tạm trú. Tôi đi nông trường cho rồi.
Dù ở nông trường đường đường chính chính, hay có khi về thành phố, những sĩ quan VNCH đã đi tù cải tạo về, thủa đó … mơ mộng chuyện ra đi, rời khỏi đất nước khó khăn mọi bề, ngõ hầu để xây dựng lại tương lai…cũng khá đông.
Chúng tôi gặp nhau tình cờ, có khi phải cố gắng đi tìm nhau để trao đổi những tin tức cần thiết vv…
Nhưng trong thâm tâm và ngoài cửa miệng, lúc nào hình ảnh lá cờ vàng cũng thiết tha yêu mến, danh xưng sắc vàng trở thành biểu tượng chung…khiến đôi lúc chữ ” vàng “được xem như hình ảnh, khuôn thước gởi gấm, cân đo lòng dạ thủy chung của những người một thời đứng dưới cờ vàng ba sọc đỏ VNCH.
Chữ “vàng “ là từ ý nghĩa mầu cờ vàng xưa…
Rồi 2 tiếng ” Vàng xưa ” nhanh chóng đi vào nỗi nhớ nhung của những người thuộc chế độ cũ, VNCH.
Chữ “vàng ” được xử dụng nhiều nhất trong thơ ca, từ cổ điển đến thơ văn mới, thí dụ :
Khói vẫn tương tư vàng khí phách
Sương còn khắc khoải bạc sông hồ… ( CMN )
Phấn vàng như nhũ tươi lòng thép
Ta bảo hoàng kim vẫn đợi chờ… ( CMN )
Vàng chưa đậu lá ngô đồng
Nửa năm già đã mênh mông hồn sầu ( CMN )
Thì lâu lâu cũng gặp một người đồng chí hướng, và phải hết sức thận trọng mới biết được vàng thau lẫn lộn thủa cộng sản chiếm cứ miền nam Việt Nam sau 30 – 4 – 1975.
Một ngày tại hội thơ Thạch Động của nhà thơ Vĩnh Mạnh Thường Quân, vốn có thời ông Vĩnh Mạnh làm trưởng phòng Văn nghệ Đài truyền hình Saigon trước cuộc đổi đời 1975.
Chúng tôi được hạnh ngộ một tay thơ Đường mới tinh trong danh sách những người quen thuộc Đường luật,là nhà thơ Hà Nguyễn Nguyễn, hỏi đào lý bốn phương, mới hay nhà thơ đó vốn là một đại uý không quân VNCH vừa từ trại tù cải tạo về .
Đại uý không quân nêu trên thích tham cứu đông y. Do đó ông còn được dịp hiện diện trong đại hội Y Võ Dưỡng Sinh do bác sĩ Trương Thìn, nguyên Y Sĩ Trung Uý VNCH, người chủ trương thuyết Thuỷ Hoả Đông Y được lưu giữ làm Viện trưởng Viện Y Dược Học Dân Tộc, đã tổ chức cuộc hội thảo vào cuối thập niên 80 thế kỷ trước , ở thành Hồ .
Thành Hồ là cái tên lạm đặt cho Saigon, mà không ai ưa từ thủa bắt đầu thay tên đổi họ Đô thành Saigon Chợ Lớn của miền Nam cho tới nay.
Hà Nguyễn Nguyễn được giới thiệu như một lương y trong nhóm võ Bạch Hạc .
Tôi bèn cao hứng viết bài thăm hỏi nhà thơ đại uý Không Quân VNCH Hà Nguyễn Nguyễn như sau :
GỞI BẠN ĐÔNG Y
Nghe anh giờ đã thạo đông y
Bệnh cũ lâu nay chữa thuốc gì
Tai điếc mỗi lần nghe gió thổi
Mắt mờ từng lúc ngó mây đi
Thân hàn cứ thích hoài sinh địa
Bụng ấm còn ưa mãi quế chi
Đạo cốt tiên phong mà lãng trí
Kê đơn thiếu hẳn vị hoàng kỳ …
*
( Cao Mỵ Nhân )
Thưa quý vị, bệnh cũ của một phi công là nghe gió tới điếc tai, nhìn mây mờ cả mắt. Hai câu 5,6 nói việc dùng sai các vị thuốc, câu 7 khẳng định vị lương y vô cùng lãng trí, hoá cho nên câu 8 kết, ông kê đơn thiếu hằn vị “ hoàng kỳ “ .
“ Hoàng kỳ “ là tên một vị thuốc đông y, mà còn là “ cờ vàng “ của VNCH .
Thủa đó, sau 1975, ở cuối đường Lê văn Duyệt kéo dài từ ngã tư Bảy Hiền, bên tay trái, nếu đi từ ngã tư Bảy Hiền về trung tâm Saigon, có tiệm thuốc Bắc lớn với tên hiệu là Hoàng Kỳ chữ đỏ trên nền bảng trắng toát.
Hẳn chủ nhân ” Hoàng Kỳ Đường ” phải có tâm huyết với chế độ VNCH lắm, mới dám để một bảng hiệu quyết liệt chống đối bạo quyền cộng sản như vậy …