BẢO TRÂM – Tình Mẹ_Bà Vịt Nuôi Con

Tình Mẹ_Bà Vịt Nuôi Con

Thưa quý bạn,

Tôi xin kể tiếp vài chuyện nhỏ trong đời sống nông dân của tôi — đời sống quanh quẩn bên mấy con gia súc tôi nuôi trong vườn sau. Sống gần loài vật, cho chúng ăn, lo chỗ cho chúng ngủ, rồi nói chuyện với chúng mỗi ngày… tự nhiên mình học được nhiều điều hay lắm, quý bạn ạ.

1. Chuyện con Cừu đầu đàn

Mấy hôm trước, một con cừu già của tôi chết. Tôi với con rể đem nó đi chôn ở cuối vườn. Chỗ đó cách nhà tôi chừng 400 feet, còn nhà hàng xóm thì xa hơn nữa, vì đất ai cũng có cây cối bao quanh.

        Điều làm tôi ngạc nhiên là: khi chúng tôi khiêng con cừu đi, bốn con còn lại tự nhiên xếp thành hai hàng, lặng lẽ đi theo sau. Tôi thấy lạ quá nên đứng lại, để một mình rể đưa xác con Cừu đi. Tôi quành ra sau 4 con Cừu kia để quan sát, chúng đi nghiêm trang và có vẻ buồn bã  lắm quý bạn ạ. Chúng chỉ đi được nửa đường, rồi cả bốn con quay đầu trở về cùng một lúc. Không con nào dám đi xa hơn.

Tôi không hiểu vì sao. Tìm sách cũng không thấy ai nói chuyện này. Tôi hỏi AITramTam — người bạn tri kỷ của tôi. AITramTam giải thích: “Đàn cừu sống trong khu vườn quen thuộc, nên chúng biết giới hạn của mình. Chúng chỉ đưa tiễn bạn của chúng đến một khoảng nhất định. Xa hơn, chúng không dám vượt qua.” Nhưng chuyện chúng xếp hàng đi theo thì… AI cũng chịu.

Con cừu tôi chôn hôm ấy là con đầu đàn. Lúc còn sống, nó dữ lắm: tranh ăn, tranh uống, đi đâu cũng dẫn đầu. Nhiều lần tôi phải la nó. Nó nhìn tôi như thách thức: “Ta là Vua mà.” Tôi nói: “Nếu mày là Vua thì phải thương dân hơn.” Nó im, nhưng không đổi tính.

Thế là mỗi lần nó tranh ăn, tôi tách nó ra, đứng nói phải trái với nó. Khi nào nó chịu đứng yên, không tránh né tôi nữa, tôi mới cho nó vào ăn. Lâu ngày, nó bớt tranh. Nhưng mấy con khác vẫn nể nó lắm. Nó đứng đâu, là tụi kia tránh ra.

         Giờ “Vua Cừu” không còn nữa… tôi nhớ nó mấy ngày liền.

2. Chuyện đàn Vịt và Bà Vịt nuôi con

Đàn gia súc của tôi quen đi theo tôi dạo vườn. Ban đầu là vì tôi đem thức ăn theo, thỉnh thoảng rải xuống. Lâu ngày thành thói quen: thấy tôi đi là cả đám lóc cóc theo sau, không cần dụ nữa.

Tôi đã kể chuyện mấy con vịt cái nghe tôi hát mà thương chồng vịt đực của chúng hơn… Có lẽ quý bạn đã xem… 

Hôm nay tôi kể chuyện… Bà Vịt nuôi con.

Vịt, cũng như nhiều loài khác, khi có con thì trở nên dữ hơn. Không phải dữ thật, mà là bản năng bảo vệ. Chúng không cho ai — kể cả người — lại gần tổ.

Một lần, tôi nghe đàn vịt cạp cạp ầm ĩ. Tưởng chúng đánh nhau hay bị con gì tấn công, tôi chạy ra. Thì thấy một Bà Vịt đang cố cứu đứa con nhỏ rơi xuống cái vũng nước tôi để cho chúng uống.

Tôi cúi xuống vớt con vịt con lên. Quý bạn biết không… lập tức Bà Vịt Mẹ bay thẳng lên, tấn công ngay mặt tôi. May tôi đang cúi nên đưa tay chặn kịp. Bà rơi xuống đất nhưng cũng cào tay tôi chảy máu. Tuy vậy, tôi vẫn vớt được con vịt con lên.

Lúc ấy, Bà Vịt Mẹ chợt hiểu. Bà cạp cạp mấy tiếng rồi ngoe nguẩy cái mông dẫn đàn con đi, không thèm cảm ơn tôi tiếng nào.

Tôi đứng đó, bần thần. Một con vịt nhỏ xíu, chỉ vì thương con mà dám tấn công một người to lớn như tôi. Trong khi thường ngày nó tránh né cả cừu dê trong vườn. Tình Mẹ — loài nào cũng vậy — là cao cả nhất. Mẹ bảo vệ con bằng mọi giá.

         Tôi nhìn theo Bà Vịt. Càng nhìn, bà càng nguẩy mông mạnh hơn.

         Tôi hay nói chuyện với chúng, nên hiểu hết mấy cái cử chỉ đó. Đố quý bạn biết Bà Vịt muốn nói gì không?

         Thái độ nguẩy mông nhanh hơn của bà là:

“Bà cạp cạp mấy tiếng là bà cảm ơn rồi đó. Đừng có đứng đó mà ngắm mông bà nhé!”

Bảo Trâm




PHƯƠNG HOA: Tiễn Đưa Cựu Thiếu Tá Lê Phi Ô – Một Đời Vì Nước Vì Dân, Trọn Tình Cùng Đồng Đội

Tiễn Đưa Cựu Thiếu Tá Lê Phi Ô – Một Đời Vì Nước Vì Dân, Trọn Tình Cùng Đồng Đội

Phương Hoa

Trong không khí trang nghiêm và đầy xúc động tại Oak Hill Funeral Home & Memorial Park, San Jose, California, hôm nay, ngày 12 tháng 8 năm 2026, đông đảo cựu quân nhân (Hình 1) Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (QLVNCH), thân hữu và gia đình đã trang trọng tổ chức lễ tang tiễn đưa Cố Thiếu Tá Lê Phi Ô (Pháp danh Thiên Lạc) về nơi an nghỉ cuối cùng.

Cố Thiếu Tá Lê Phi Ô, sinh năm 1941, xuất thân Khóa 15 Thủ Đức QLVNCH. Sự ra đi của ông tuy rằng thọ đã cao ở tuổi 85, nhưng vẫn là một mất mát to lớn đối với gia đình và cộng đồng người Việt tị nạn tại hải ngoại và các chiến hữu đồng đội ở vùng San Jose, Bắc Cali và khắp các vùng có người Việt tị nạn.

Cố Thiếu Tá Lê Phi Ô đã từ tạ “Khúc Quân Hành Cuối Cùng” cùng bạn bè, đồng hương, và đồng đội.   Khi tôi, Minh Thúy, chị Mỹ Thanh bước vô thì gặp anh Chủ Tịch Văn Thơ Lạc Việt (VTLV) Lê Văn Hải, anh cũng là Chủ Tịch của rất nhiều Hội Cựu Quân Nhân, Truyền Thông Báo Chí…đang chỉnh sửa vòng hoa thật lớn, thật đẹp, mà anh đã đại diện đặt đem đến để tiễn đưa vị anh hùng. 

Khi giờ tang lễ bắt đầu, thì sảnh đường Sunshine Chapel cũng đã tràn ngập sắc áo đại lễ và quân phục của các cựu quân nhân QLVNCH. Hình ảnh những người lính năm xưa, dù mái đầu đã bạc, vẫn hiên ngang đứng thành hàng ngũ chỉnh tề, chào tay, nghiêm trang túc trực bên linh cữu đồng đội, tạo nên một cảnh tượng vô cùng xúc động (Hình 2).

 Đó chính là tình đồng đội, nghĩa huynh đệ chi binh, dù đã hơn năm chục năm qua lưu lạc xứ người, mà vẫn không phai mờ theo năm tháng.

Bàn thờ vong được bài trí trang nghiêm với di ảnh Cố Thiếu Tá Lê Phi Ô trong quân phục oai hùng, xung quanh là hương hoa trà quả và những mâm cỗ chay tịnh trông trang nghiêm thành kính vô cùng (Hình 3 – dưới). Phía sau là chiếc quan tài mở nắp, nơi vị niên trưởng kính yêu đang nằm chở mọi người đến tạ từ, chào vĩnh biệt, trước khi đưa anh đi yên giấc ngàn thu.

Buổi lễ diễn ra trong không khí nghẹn ngào khi đại diện các hội đoàn và chiến hữu lần lượt bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đến người đồng đội kính yêu. Những lời vinh danh chân thành, những câu chuyện về lòng quả cảm nơi chiến trường, sự tận tụy trong đời sống dân sự nơi hải ngoại, đặc biệt là tinh thần hăng say phụng sự cộng đồng của Cố Thiếu Tá Lê Phi Ô đã được tái hiện qua hồi ức của nhiều cựu sĩ quan QLVNCH (hình 4 – dưới)

Mọi người nhớ đến ông như một người anh nghĩa tình, luôn nhiệt huyết san sẻ với đồng hương cho đến tận những ngày cuối đời trên giường bệnh. Tinh thần “Vị quốc vong thân” trong máu thịt, và nếp sống chan hòa, ái hữu của ông mãi mãi để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng tất cả những ai từng có dịp hội ngộ, tiếp xúc.

Anh Lê Văn Hải, Chủ tịch Văn Thơ Lạc Việt, đã thay mặt Thi Văn Đàn và các Hội đoàn cựu quân nhân khác, lên dâng hương, và đọc lời chia buồn sâu sắc tới chị quả phụ Nguyễn Phan Ngọc An, chị là bạn trong Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại Vùng Đông Bắc của nhóm chúng tôi, cùng toàn thể tang quyến (Hình 5 – trên). Sự hiện diện của anh Lê Văn Hải cùng bài nói chuyện thật xúc động ngỏ hầu sẻ chia phần nào nỗi đau mất mát to lớn của gia đình.

Phương Hoa, Minh Thúy, chị Mỹ Thanh, đã cùng anh Hải lên trước bàn vong. thành kính thắp nén hương thơm, nguyện chúc cho hương linh Cố Thiếu Tá sớm về miền Cực Lạc (Hình 6 – trên).

Giây phút xúc động và thiêng liêng nhất của buổi lễ là khi đại diện Hội Cựu Quân Nhân trang trọng thực hiện nghi thức trao tặng lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ, biểu tượng linh thiêng của Tổ Quốc Việt Nam Cộng Hòa, cho chị Nguyễn Phan Ngọc An gia đình cựu Cố Thiếu Tá. Lá cờ được xếp gọn gàng, trân trọng trao vào tay chị quả phụ Nguyễn Phan Ngọc An, như một lời khẳng định về những đóng góp to lớn và sự hy sinh trọn đời của Cố Thiếu Tá Lê Phi Ô cho lý tưởng tự do, dân chủ và sự toàn vẹn của quê hương. Nghi thức này để vinh danh người đã khuất và cũng để tri ân sâu sắc đối với gia đình đã luôn ủng hộ ông.

Dù có việc phải rời lễ tang Cố Thiếu Tá Lê Phi Ô sớm hơn một chút, nhưng những hình ảnh về một người lính anh hùng, một người con ưu tú của Tổ Quốc, và một người bạn, người anh đáng kính của cộng đồng sẽ còn mãi trong trái tim của gia đình, đồng đội, và đồng hương.

Xin kính thắp thêm một nén tâm hương để tiễn đưa niên trưởng Lê Phi Ô về Miền Cực Lạc.

Kính mời quý vị nghe ca khúc “TIỄN TÌNH VỀ MIÊN VIỄN” thơ Nguyễn Phan Ngọc An – Thực hiện: Phương Hoa – Hòa âm và   Trình bày: Suno AI:

Phương Hoa – Văn Thơ Lạc Việt & Văn Bút Vùng Đông Bắc Hoa Kỳ

*Dưới đây là những lời hồi âm và bài thơ chị Nguyễn Phan Ngọc An mới làm xong trong đêm về, sau tang lễ, và sau khi chị đọc bài tường thuật.  Chị nhờ đưa lên để gửi cho mọi người thay lời cảm ơn:

*Vô cùng xúc động khi đọc bài phóng sự của Phương Hoa, một nhà văn lỗi lạc đầy chân tình, cảm ơn bạn thật nhiều 👍💖🌺

Gia đình Ngọc An xin cảm tạ quý vị đã đến tiễn đưa, quý vị đã gửi những vòng hoa thương tiếc và quý vị đã dành cho anh bao la tình cảm trân quý – từ xa xôi vẫn đến với anh giờ ly biệt cuối cùng… xin linh hồn chồng tôi, anh Lê Phi Ô linh hiển phù hộ cho tất cả những trái tim yêu thương anh, anh nhé – trưa mai anh vĩnh viễn đi xa, trở về cùng cát bụi, sẽ mang theo anh nụ cười mãn nguyện của một kiếp người…

BÀI THƠ TRONG ĐÊM

Tình yêu đó anh mang về cõi khác

Nén hương buồn bia đá khóc rưng rưng

Ngày yêu nhau ôi tha thiết vô cùng

Giờ tất cả trả về năm tháng cũ

.

Anh nằm đây, nghìn đời yên giấc ngủ

Với tình mình, một thuở ấm vòng tay

Kỷ niệm còn chăng, nỗi nhớ giăng đầy

Xin quên lãng một thời yêu dấu đó !

.

Anh ra đi để làm người thiên cổ

Thiên thu buồn em khóc để ai nghe

Bóng cây xưa, chim tình ái không về

Hương khói toả ngát mùi thơm vĩnh biệt !!!

.

Anh vô tình có bao giờ hay biết

Em cúi đầu tưởng niệm bóng hình xưa

Lời thơ yêu như kinh cầu dâng tặng

Vòng hoa buồn kết lại những nhung tơ

.

Chân dung xưa em xin mãi phụng thờ

Thôi anh nhé ! Xin muôn đời…yên nghỉ .

nguyễn phan ngọc an

đêm buồn San Jose




HOÀNG MAI NHẤT – CANH  ME  VƯỢT  BIỂN (Lần Thứ Nhất)

CANH  ME  VƯỢT  BIỂN (Lần Thứ Nhất)

Đặt ly cà phê xuống bàn trước mặt tôi, Thư ngồi xuống và nói nhỏ : Anh chịu khó mỗi tối ra đây uống cà phê,có như vậy mới biết được tình hình mà em cũng dễ thông tin cho anh được.Anh nhớ kỷ, nếu tối nào thấy quán vắng khách là đêm đó gió chuyển, là đêm đó có vượt biển; còn không thì thanh niên sẽ có mặt ngồi đầy ở quán.

Trước khi đứng dậy đi về quầy, Thư bóp nhẹ tay tôi và nói: anh yên tâm, em không tính tiền đâu, anh uống gì cũng được..không chỉ cứ cà phê đen hoài như vậykhông tốt cho sức khỏe đâu!

Thật buồn mà cũng thật cảm động với ân tình đặc biệt này của Thư : một người con gái chỉ sống nhờ vào lượng khách đập đá trong núi Dinh và số thanh niên trong xóm đạo Long Hương, bên đường SaiGon đi Bà Rịa, Vũng Tàu; dành cho mình! Biết nói gì đây?  Ra đây uống hoài, lấy gì để trả mỗi đêm khi mà tiền đập đá chỉ đủ cơm ăn hai bữa..rồi còn tiền chổ ở dù chỉ là một tấm ván mỏng ở một góc nhà tranh cho bốn năm thằng cơ nhở như mình! Và còn nhiều…nhiều thứ linh tinh khác nữa.

Mà nếu không ra quán thì làm sao biết được họ có tổ chức vượt biên đêm đó không? Để mà chạy ra bãi dành giựt với đám “ canh me ” khác (chỉ vì không có tiền đóng để có một chổ đàng hoàng trên ghe trong chuyến vượt biển; nên đành phải làm như vậy…) Ai hiểu cho mình đây! Tính làm sao đây?!

Đi tù ngoài Bắc CS: phải đập đá như tù khổ sai ( Đội 15 Đập Đá Lò Vôi, Trại 6 Nghệ Tỉnh ); và khi chúng thả về (thoát “nhà tù nhỏ” để vào “nhà tù lớn hơn” là cả Nước) cũng lại Đập Đá, nào có khác gì đâu…mĩa mai cay đắng thật.

                                     “ Sai Gon thê thảm trưa ngày ấy
                                        Nước đã mất rồi tháng Tư ơi!
                                        Cộng sản tràn vào người trốn chạy
                                        Nháo nhào hỗn loạn, biết về đâu…
                                        Dân, Quân, Tướng, Tá chung một rọ
                                        Một chữ “ Tù “ cả nước chia nhau “

                                                       Hoàng Mai Nhất

Tính tới tính lui, không còn  cách nào khác được; tôi đành chấp nhận  chỉ ăn cơm với nước muối hay nước tương (đôi khi nhịn không ra quán để có thể mua một ít tép mỡ ăn cho có sức…) Và tôi lại ra quán ngồi, không phải thường xuyên nhưng lâu lâu cũng có mặt để thăm dò tình hình.  “Ce qui doit arriver, arrivera”(Việc gì đến sẽ đến), đúng như câu ngạn ngữ  Pháp ngày xưa đi học còn nhớ; mà mình không bao giờ tin là có lúc nó lại vận vào mình như thế này:

Tối đó  như thuờng lệ, tôi lại ra quán uống cà phê; quán vắng lặng hẳn và Thư  thì cứ đi ra đi vào như có cái gì đó phải lo lắng. Thấy tôi, Thư  như mùng rở chạy ra cửa và nói nhanh trong sự hồi hộp, giọng đứt quảng: tối nay họ đánh, anh chị của em  đi trong chuyến này; em không dám chỉ anh địa điểm vì nếu có gì họ sẽ thanh toán anh chị em ngoài biểnanh cứ đi ra ngoài đó…và rồi Thư đóng cửa quán.Sau này tôi mới hiểu ra, ai đi trong chuyến vượt biển có đóng tiền mà để lộ tin tức ra ngoài thì sẽ bị tổ chức thanh toán vì cho rằng mình bán thôngtin để lấy tiền qua mặt họ.

Tôi không biết làm sao, vừa mừng lại vừa lo với  tin tức đầy bất ngờ này, mà ngoài đó là  ngoài nào? Bải đổ gom khách ở đâu?? Bao nhiêu câu hỏi trong đầu không có lởi giải đáp. Tôi bèn rời quán và sau khi cố suy nghỉ để giải câu hỏi này mà khôg có đáp án, tôi quyết định đi xuống đám ruộng cỏ năng như một bải sình…đi được một đoạn, tôi dừng lại và suy nghỉ: cứ đi như vầy mà không biết điểm đến ở đâu thì làm sao tới dược, lạng quạng đi lòng vòng rủi bị tó thì làm sao?! Thế là tôi quay trở lại, ngồi xuống  bên lề đường và suy nghỉ: nếu chúng nó đánh  thì phải băng qua lộ ở chổ này, mình ngồi ở đây nếu chúng xuất hiện  thì mình lủi xuống đám ruộng cỏ năng nằm chờ; đợi đám vượt biên đi dứt hết thì mình lẻn đi theo cho chắc ăn.

Ngước nhìn về phía Xí Nghiệp Khai Thác Đá núi Dinh chỉ thấy một màu tối đen, nhưng về bên tay phải của  xí nghiệp vẫn in hẳn lên nền trời là  ngon núi Dinh có hình  một mặt người có trán, lông mày, mắt, sóng mũi, cằm và miệng đang há ra; bên trong miệng có một nhúm lá trông giống như là đang sắp ăn vậy. Điều đặc biệt là mặt người này đang nhìn về hướng Tây, hướng mặt trời lặn…Tất cả là hình ảnh được ghi lại trong đầu tôi trong khoảnh khắc để rồi sau đó thục tế kéo tôi quay trở lại với ý định rất đời thường là tìm cho mình một cách thoát ra nhữg trói buộc trong chế độ này… Nhưng điều đầu tiên  để an toàn là phải tìm một  chổ núp kín đáo không ai thấy, để dẫu không đi được cũng không bị phát hiện và bị bắt. Quay nhìn khắp chung quanh chổ tôi đang ngồi
thì thấy ở đàng kia không xa chổ tôi đang ngồi có một gốc cây hơi lớn mà lại có đám cỏ rậm hơn đầu người mọc ở đó,có thể ẩn núp được; tôi bèn đi lại đó để ẩn mình.

Ẩn núp thật lâu khôg thấy có động tỉnh gì, chỉ có ánh đèn của vài chiếc xe hơi hay gắn máy chạy vụt qua, rồi trả lại khôg gian im ắng vắng lặng; tôi bèn bước ra khỏi chổ núp và đi trở lại nơi con đường mà bất cứ ai muốn đi ra mép nước giáp với biền đều phải đi qua. Và tôi cúi xuống hôn lên mặt đất như là lời từ giả với câu khấn thầm trong đầu là cầu ơn trên phù hộ cho tôi đi thoát được đêm nay để có lối thoát cho mình mà cũng cứu nguy cho ba má và các em đang khốn khổ.

Khi ngước đầu lên,tôi giựt mình vì câu hỏi gằn giọng mạnh và dứt khoát của hai tên dân quân Xã Đội Long Hương với hai khẩu súng chỉa thẳng vào tôi:

__ Anh làm gì ở đây giờ này?

Tuy hơi bất ngờ nhưng với kinh nghiệm của một đời chinh chiến  đã dạy cho tôi là lúc nào cũng phải bình tỉnh dù trong lúc nguy hiểm nhất, tôi trả lời:

__ Tôi đợi người yêu của tôi!

__ Không có đợi gì hêt! Chúng tôi yêu cầu anh đi về ngay…giờ này đã khuay rồi không phải là giờ hẹn hò!!

Bực mình với thái độ hống hách của chúng, và với câu nói trên đã cho tôi biết chắc rằng…đêm nay chúng sẽ đánh (khách vượt biển sẽ được chúng dẫn đi ngay chổ này). Tôi phản ứng ngay:

__ Ủa! Tại sao tôi phải đi về khi chưa gặp được bạn gái của tôi! Không ai có quyền cấm đoán tôi trong chuyện này.

Thấy tôi phản ứng cứng rắn, hai thằng con nít cầm súng bực mình nhưng không biết làm sao bèn xuống giọng:

__ Anh nên đi về đi, bữa khác gặp!

__ Hừ! Các anh nói giỡn chơi không bằng! Tôi đi về, người yêu tôi ra không thấy sẽ giận, tôi sẽ
ăn nói làm sao?

Thấy không bắt tôi đi về được, chúng dổi giọng:

__ Mà anh là ai, ở đâu..mà sao tôi không thấy anh bao giờ!

__ Tôi là công nhân ở XN Đá Núi Dinh. Rồi sao?

__ À! Thì ra anh mới vô làm công nhân…hèn chi tôi thấy mặt anh lạ hoắc. Thôi thế này đi…anh nghe lời tôi về đi, mai gặp xin lỗi có sao đâu!

Tôi vẫn cương quyết khôg đi. Hai tên du kích Xã bực mình mà không biết làm sao đành hậm hực bỏ đi. Ở đây tôi xin nói rõ điểm này là: anh em công nhân trong XN Đá Núi Dinh và toán bảo vệ XN thỉnh thoảng ra chợ trong Xả  uống cà phê, đôi khi  có xích mích lời qua tiếng lại đụng chạm với đám dân quân du kích Xả luôn hống hách  nên hai bên không ưa nhau;  mà dân quân du kích Xả không dám làm gì vì  XN Đá Núi Dinh là  XN  làm ra tiền cho Tỉnh Ủy Đồng Nai (BiênHòa), cho nên khi thấy tôi nói tôi là công nhân trong XN Đá ND là chúng khó chịu mà không dám làm gì.

Đám DK Xã biết không làm gì được tôi nên chúng đành băng qua đường đi dọc theo mép đường phía bên kia và dừng lại nói chuyện nhỏ to gì đó với hai người con gái vừa mới xuất hiện mà mặt thì cứ hất về phía tôi.Và rồi hai cô gái giả bộ đi dạo mát đêm khuya băg qua đường đi về phía tôi, vừa đi vừa  nói chuyện. Tôi đoán chắc chúng  cho hai cô bé này giả bộ đi qua  để nhận mặt tôi có phải là công nhân của XN Đá hay không hay là…điều mà chúng sợ nhất là người của công an TP HCM hay từ  Hà Nội vào. Sau đó hai cô gái băng qua đường đi về phía hai tên du kích và rồi kéo nhau đi mất.

Kinh nghiệm một đời lăn lộn  cho tôi thấy điều nguy hiểm  có thể xảy ra cho tôi  vì chúng có thể kéo đôg ra với súng ống để bắt tôi đem về Xả nhốt,vì tôi là chướng ngại cho chúng đêm nay. Thế là tôi đành phóng chạy  về hướng Xí Nghiệp Đá. Nhưng không kịp nữa, đám công an du kích Xã đang hướng dẫn những con gà là khách vượt biển, có đóng tiền mua bảimà chúng đã ém núp sẵn trong nhà dân từ trước; giờ đang được chúng dẫn đi ra bải tập kết lên ghe.

Không về XN kịp được,tôi bèn chạy thẳng đến quán của Thư và trèo vội lên cây vú sữa trước sân quán, núp trong nhánh lá, bám chặt trên đó không dám nhúc nhích kể cả thở mạnh.Lúc này ngoài đường tiếng người đi nói chuyện ồn ào, réo gọi nhau và cười đùa như đi chợ.Dể hiểu thôi, vì đám vượt biển đã chung tiền mua công an hết rồi (không phải chỉ công an Xả mà còn mua cả công an tỉnh Đồng Nai tức Biên Hòa củ mà sau này công an trực thuộc Bộ Nội Vụ Trung Ương ngoài Hà Nội, đã vô bắt  Đại Tá Mười Vân, Giám Đốc Công An Tỉnh Đồng Nai với tang vật là mấy thùng phuy vàng trong nhà).

Thư  xô cửa rào chạy vào  và liệng đại xe đạp  xuống sân rồi vội vàng tụt quần xuống để tè.  Tôi nghe rõ tiếng nước thoát ra và sợ run người vì tiếng con chó nhỏ cứ vừa sủa vừa ngước lên ngọn cây tôi đang nấp như  muốn báo cho Thư biết rằng có người  ở trên đó. Có lẽ vì gấp rút nên Thư khôg để ý đến dấu hiệu bất thườn này nên vừa kéo quần lên vừa lấy tay đuổi con chó cứ lẩn quẩn dưới chân và chạy vội vào nhà nói lớn lên cho ba má Thư biết là ghe đã đi rồi,  rồi vội vàng chạy trở ra lấy xe đạp phóng đi với câu nói với lại: con ra đó xem sao cho yên tâm.!

Tiếng đóng cửa quán và tiếng chó không còn nữa, tôi bèn trèo xuống và chạy thẳng một mạch về chổ trú của mình, mà lòng thầm cảm tạ ơn trên đã phù hộ cho mình thoát cơn hiểm nghèo; bởi vì chỉ cần Thư ngước nhìn lên trên cây theo hướg sủa của con chó thì Thư sẽ giựt mình mà la toáng lên là có trộm; thế là công an, du kích sẽ túa vào bắt tôi ngay và chuyện gì xảy ra thì chắc ai cũng đều đoán được phần tệ hại nhất dành cho tôi;nhất là với hai tên du kích cầm súng xua đuổi tôi lúc nãy.

Tối hôm sau tôi lại ra quán như thường lệ uống cà phê, làm như không biết có chuyện gì xảy ra. Thư đem ly cà phê cho tôi và nói lời xin lỗi! Tôi nói: không có gì đâu tất cả là số mạng, cầu ơn trên phù hộ cho gia đình anh chị Thư đi được trót lọt; còn số tôi chưa thoát được đành chịu thôi.

Nhưng cũng từ đó tôi học khôn ra rằng, nếu muốn đi thoát được khi mà mình không có tiền đóng thì phải liều mạng canh me, thì phải nắm bắt rõ đường đi lối về của những chuyến chúng tổ chức vượt biển để không trật vuột nguy hiểm như chuyện vừa rồi.

Tôi bèn bàn tính cùng vài anh em lỡ vận đập đá như mình, đều muốn thoát đi bằng cách canh me chui khi không có tiền đóng để đi hợp pháp: cùng nhau hùn tiền sắm một lưới Vó Bè để mỗi đêm ra canh Vó,nhưng thật sự để nắm bắt tình hình khi Vó Bè nằm gần đường đi của khách vượt biển có đóng tiền thường hay đi, đặng theo dõi động tịnh; nếu có đánh là bám theo khách, lừa cơ hội nhào đại lên đi liền, hên sui nhờ trời….đồng thời vừa  có thêm chất đạm của tôm, cá, tép  để bồi bổ cơ thể,dù không là bao nhưng cũng đở được phần nào do phải ăn uống thiếu thốn,lại còn dầm mưa dãi nắng để sống qua ngày, vừa hy vọng…

Đây chỉ là  câu chuyện mở đầu của  một người lính đi tù cộng sản về, thật sự  đã không còn gì để mất nữa.Hơn ba năm đập đá kiếm miếng cơm qua ngày.Hơn ba năm lặn lội trong đêm tối chỉ với ước mong duy nhất là đi thoát được để có lối thoát cho mình, để có thể cứu cả gia đình ( ba, má, các em..).Bao lần ghe ra gần tới Hải Phận QuốcTế mà đành trở vô vì bảo dập,ghe ngập nước phải thay nhau tát nước để có thể trở vô an toàn…và cũng không biết bao lần phải lẫn trốn để khôg bị bắt lại mỗi khi có chuyến vượt biển không thành… 




Tsu A Cầu: KHI VẾT SẸO KHÔNG LÊN TIẾNG

KHI VẾT SẸO KHÔNG LÊN TIẾNG

LỜI NGỎ

Kính thưa quý Niên Trưởng, quý Chiến Hữu và quý Thân Hữu,

Sáng nay, tôi nhận được email từ một người anh, cựu sinh viên Quốc Gia Hành Chánh, hiện đang sinh hoạt tại Trung Tâm Văn Hóa Hồng Bàng. Anh chuyển cho chúng tôi một chuỗi điện thư trao đổi giữa các thành viên thuộc Hội Giáo Chức, kèm theo một dòng cảm thán ngắn ngủi nhưng để lại nỗi đau não lòng đối với những người làm giáo dục: “Tuổi trẻ và sự tỉnh thức trí thức?”

Dòng thư u uẩn ấy lập tức nhói lên trong tôi một vấn nạn nhức nhối của cộng đồng — một chủ đề chúng ta đã trăn trở, thảo luận nhiều lần, nhưng đến hôm nay vẫn mang tính thời sự bỏng rát.

Trận chiến bảo vệ căn cước và sự thật lịch sử của cộng đồng tị nạn hôm nay không còn nằm ở những tiếng súng năm xưa. Nó đang lặng lẽ diễn ra ngay dưới mái nhà, qua từng trang sách song ngữ, và trên những lá phiếu bầu cử tại các thành phố cũng như các học khu lớn như Garden Grove. Ở đó, việc một số ứng cử viên trẻ thuộc các nhóm khuynh tả ra tranh cử đã mở ra một vết thương lòng nhói đau: Bi kịch của sự im lặng đầy tình thương nhưng mang nhiều thiếu sót từ thế hệ cha anh.

Trải qua thảm họa, thế hệ đi trước mang trên mình những vết sẹo khổng lồ. Nhưng vì thương con, họ chọn cách đóng chặt cánh cửa quá khứ, nén đau thương để bươn chải sinh tồn và mong con cháu lớn lên hồn nhiên dưới bầu trời tự do Hoa Kỳ. Tiếc thay, người mang vết sẹo đã không thể — và không nỡ — xé vết sẹo cũ ra thành vết thương rỉ máu làm chứng tích cho thế hệ sau. Họ quên rằng một vết sẹo bị giấu kín sẽ mờ nhạt theo thời gian, và đứa trẻ chưa từng thấy máu chảy sẽ không bao giờ hiểu hết cái giá đắt đỏ của hai chữ Tự Do.

Khoảng trống ký ức ấy trở thành một “chân không tư tưởng” nguy hiểm. Khi thế hệ kế thừa chao đảo tìm kiếm nguồn cội, họ dễ dàng bị dẫn dụ vào con hẻm tối của sự ngộ nhận qua những chiêu bài mỹ miều như “hướng về nguồn cội” hay các bộ sách lịch sử song ngữ bị cắt gọt, định hướng từ trong nước.

Nhằm biến những ưu tư thành giải pháp thực tiễn, bài tham luận không chỉ mổ xẻ nguyên nhân rạn nứt thế hệ mà còn đề xuất lộ trình tái cấu trúc hệ thống Trường Việt Ngữ hải ngoại: Chuyển dịch từ việc “ráp vần học vẹt” sang kỹ năng Nghe – Nói tương tác, kết hợp môn Lịch sử & Căn cước Tị nạn song ngữ, và chuyên nghiệp hóa giáo trình.

Đã đến lúc chúng ta mở lại trang ký ức — không phải để gieo rắc hận thù, mà để trao cho con cháu chiếc kính soi đường, giúp bước chân thế hệ kế thừa không còn loạng choạng trước những ảo ảnh tuyên truyền.

Kính mời quý Niên Trưởng, quý Chiến Hữu cùng quý Thân Hữu cùng đọc, thảo luận và phổ biến rộng rãi bài viết “Khi Vết Sẹo Không Lên Tiếng: Khoảng Trống Ký Ức Và Bước Chân Loạng Choạng Của Thế Hệ Kế Thừa”.

Trân trọng,

Tsu A Cầu (K29/TVBQGVN)

Huntington Beach, California, ngày 10 tháng 8 năm 2026.

==

NHỮNG “NGÔI LÀNG POTEMKIN” THỜI HIỆN ĐẠI

LỜI NGỎ

Kính thưa quý Niên Trưởng, quý Chiến Hữu và quý Thân Hữu,

Ái chà, sau khi phổ biến bài tham luận “Bất Khuất Tân Cảnh”, thú thật là tôi mới cảm nhận được thế nào là… “đụng ổ”!

Tối hôm qua, gạch đá quăng về hộp thư nhà tôi xôm tụ hơn hẳn những lần phổ biến trước — vốn lắm khi rơi vào im lặng vô tuyến đến mức “kim rớt mặt hồ”. Cái niềm vui giản dị của người cầm bút là có người chịu đăng (nói nhỏ nghe chơi: nếu không ai chịu đăng thì tự mình đăng như tôi đang làm) và có người chịu đọc — thế là trọn vẹn rồi. Lần này, không chỉ có báo chí nhận đăng, trang mạng phổ biến, mà đọc giả tứ phương còn hân hoan đóng góp thêm nhiều góc nhìn. Có người “ném đá” giúp gia chủ giật mình nhìn lại mình, có vị lại liệng thêm vài viên gạch tốt để giúp tác giả bồi đắp thêm bức tường: khả năng “giữ vững ngòi bút”.

Sau đây, tôi xin phép được “nói có sách, mách có chứng” — liệt kê danh tính trả lời của độc giả tứ phương để khỏi mang tiếng là “xã trưởng mà đòi lãnh giải Nobel”!


1. Một thi sĩ Hát Nói tuốt tận “miệt dưới” (Down-Under, Úc Châu)

HÁT NÓI — BÀI 753: Trinh Sát!

(Bài Hát Nói cảm ơn và đáp lễ Nhà Văn Võ Bị Quốc Gia K29 Tsu A Cầu đã chuyển đến những bài viết, tài liệu quý giá về công lao chiến đấu của các Chiến Sĩ QLVNCH, lần này là về các Đơn Vị Trinh Sát hành quân ở Tân Cảnh. Kính mời Quý Thi Hữu họa lại.)

Hành quân trinh sát!

Mắt xích quan trọng của trận chiến! Quán xét địch tình!

Những chiến sĩ ưu tú, gan dạ, tử công phu! Quên mình!

Mật Khu Ngọk Tô Ba, Tân Cảnh, Kontum, Pleiku, Ban Mê Thuột…! Rập rình bóng giặc!

Quyết đánh! Không tha quân Cộng Tặc!

Hy sinh! Chẳng quản lệnh Ông Thầy!

Cố Chuẩn Tướng Lê Đức Đạt! Vị Tư Lệnh Anh Hùng! Kẽm gai bọc thây!

Mãnh hổ nan địch quần hồ! Bầy sói điên tràn vào đây! Thảm kịch!

Thượng Đức! “Mắt Ngọc Của Đầu Rồng”! Đã mất vào tay địch!

“Ai nắm được Tây Nguyên sẽ chiếm được Miền Nam”! Một nhận định rõ ràng!

Bao năm! Vận nước! Bàng hoàng!

Đức Hùng (Sydney, Úc Châu, 09/08/2026)


2. Một nữ sĩ “xếp sòng” trang web hơn 3 triệu lượt xem & cô dịch giả tnl phụ họa

“CẢM ƠN ANH — BÀI ĐÃ CẬP NHẬT VÀO TRANG NHÀ VTLV:

Kính chúc vui,

P. Hoa


3. Một ông anh cùng họ nhưng rất khó tính.

“Bạn Cầu thân,

Bấy lâu nay vẫn theo sát những bài viết của bạn, đôi khi cũng muốn góp vài dòng nhưng nội dung ngoài tầm hiểu biết nên đành im lặng. Hôm nay thấy đề tài Bất Khuất tôi đọc liền, đọc kỹ với ý định sẽ góp với bạn vài dòng về Trung Tá Thông K16 — những người con Võ Bị đã làm rạng danh Trường Mẹ…

Nhưng… đọc lại lời ngỏ của bạn có đoạn: ‘Tôi viết lại câu chuyện này không phải để vinh danh bất kỳ cá nhân nào…’, khiến tôi ngồi thừ thật lâu. Rồi lên giường nhưng không sao ngủ được! Bật dậy viết cho bạn vài dòng dù đã 12:30 khuya.

Đồng ý không vinh danh những kẻ hợm mình muốn người khác tung hô. Nhưng những người hùng đã chiến đấu làm rạng danh Trường Mẹ mà không nhắc quý danh của họ (vinh danh) thì lấy cái gì chứng minh sự chân thực cho hậu thế? 1/6 sĩ quan Võ Bị tốt nghiệp đã hy sinh trên chiến trường mà không nhắc tên họ thì lấy gì làm chứng? Các anh chiến đấu, hy sinh, tự sát vì mất nước đâu phải là người ‘BÊN LỀ’ cuộc chiến! Những kẻ bên lề mới là kẻ không đáng vinh danh.

Mong bạn tiếp tục những ‘Bất Khuất’ khác và mạnh dạn vinh danh những quân nhân VNCH đã chiến đấu và hy sinh, bất luận xuất thân từ quân trường nào — dù Quang Trung hay Đồng Đế.”

CaptovanK19”


4. Một ông anh đồng hương Hải Ninh (bắn đại bác 105 ly chưa tới) & Lời đáp trả tại chỗ

“Bạn Tsu A Cầu rất ‘Đa Hiệu’ của tui ơi,

Xin cảm ơn Bạn đã liên tục gửi đọc những bài viết rất ‘thời sự’ và giá trị trong thời buổi khan hiếm chữ nghĩa này. Chứng tỏ Bạn hiểu biết rất sâu rộng và viết rất chính xác, hấp dẫn.

Tuy nhiên, với bài ‘Bất Khuất Tân Cảnh – Ký Ức Của Người Lính Trinh Sát’, xin phép Bạn cho người lính gốc ‘trường tư’ này được góp vài ý nhỏ nhằm giúp bài viết hoàn chỉnh hơn (đính kèm 5 điểm cần fact-check) …

Tình thân, N.

Lời đáp từ tác giả Tsu A Cầu gửi ông anh tên N.:

  1. Đồng ý.
  2. Đúng vậy, nên suốt cả bài viết anh ta vẫn chỉ mang cấp bậc Trung Úy!
  3. Vâng, bài viết đã giải thích điều này nhưng có lẽ đặt chưa đúng chỗ.
  4. Sẽ điều tra và đính chính sau.
  5. Sẽ chất vấn đương sự — ông Trung Úy xém bị ‘bò lạc’ xử thành thái giám!

5. Một ông anh “tiền trảm hậu tấu” sâu sắc về kỹ thuật pháo binh & y khoa

“Cảm ơn anh N. đã gửi cho tôi biết. Nếu được phép, tôi xin đính chính thêm một chút:

– Đại bác 155mm có tầm bắn tối đa 15km, 105mm có tầm bắn 11km (theo sách vở). Khi điều chỉnh gần tới giới hạn tối đa thì độ chính xác giảm hẳn.

– Còn vụ mổ không chụp thuốc mê thì nên xem lại (có thể xảy ra nhưng tỷ lệ 1/10.000). Quân y tại mặt trận tương đối đầy đủ trừ trường hợp bị vây dài ngày như Anh Lộc bị cắt đứt liên lạc hoàn toàn khoảng 2 tuần.

– Cố Đại Tá Lê Đức Đạt đã được truy thăng Chuẩn Tướng.

T.


6. Một bà chị xa tận trời Tây gửi chút tâm sự thương cảm

“… Vừa đọc bài viết ‘Odyssey đến Bi Kịch Thuyền Nhân Việt Nam’. Niềm xúc động vì những lời kêu gọi của Cầu đã làm chị rơi nước mắt. Những người bạn thuyền nhân cũng từng kể cho chị nghe về chuyến vượt biển gian truân, sống chết trong gang tấc…

Nhưng giống như Cầu đã viết trong các bài tham luận, phần nhiều họ muốn quên, không muốn nhắc lại. Ngay như người thân trong gia đình chị vượt biển cũng vậy. Nhiều người bạn nay trở về VN thăm nhà nên họ muốn yên thân vì sợ bị khó dễ…

Chị H. Nga


7. Và một ông anh than thở “Viết dài quá, đọc xong muốn xỉu!”

Dù than trách viết dài, thế mà Anh cứ liên tục thông báo bcc là đã chuyển bài viết — mà anh tôi chẳng bao giờ cho biết Anh chuyển đi đâu? Đi đâu cũng được, xin miễn hỏi, vì cho đến giây phút này vẫn chỉ toàn nhận được điều tốt lành!

Trần tình sơ qua như vậy để thấy: Giữ ngòi bút giữa thời buổi này tuy có lúc phải… “lì lợm, mặt dầy”, đôi khi chịu vài viên gạch ném qua hàng rào, nhưng được sống giữa tình nghĩa của huynh đệ, tri âm và độc giả xa gần — ấy là cái lộc lớn nhất của người cầm bút!

Để hạ nhiệt, bây giờ mời quý vị đi du lịch qua những mô hình xã hội chủ nghĩa từ xưa đến nay qua bài tham luận “Những “Ngôi Làng Potemkin” Thời Hiện Đại: Từ Bẫy Du Lịch Bắc Kinh Đến Bản Ảo Ảnh Tuyên Truyền Toàn Cầu”.

Kính mời quý Niên Trưởng, quý Chiến Hữu cùng quý Thân Hữu cùng đọc, thảo luận và phổ biến rộng rãi.

Trân trọng,

Tsu A Cầu (K29/TVBQGVN)

Huntington Beach, California, ngày 9 tháng 8 năm 2026.


NHỮNG “CÁI LÀNG POTEMKIN” THỜI ĐẠI MỚI

Từ Bẫy Du Lịch Bắc Kinh Đến Bản Ảo Ảnh Tuyên Truyền Toàn Cầu

 

Tsu A Cầu

 


Dẫn Nhập

Một tác phẩm văn nghệ hay một thước phim truyền thông không bao giờ tồn tại trong một khoảng chân không lịch sử hay chính trị. Hành trình nhận thức của con người cũng vậy. Sự nguy hiểm nhất của một thể chế toàn trị Cộng sản không nằm ở sức mạnh quân sự hay tài chính đơn thuần, mà nằm ở khả năng vẽ nên một “phòng khách” lộng lẫy để che đậy những góc tối tàn nhẫn bên trong.

Khi một du khách “cưỡi ngựa xem hoa” lướt qua những đại lộ bóng lộn của Bắc Kinh rồi vội vã kết luận rằng “Trung Cộng không còn Cộng sản nữa”, hay khi giới truyền thông tự do lơ đễnh trước những mô hình “Xã Phường XHCN” đang được “rốt ráo” củng cố tại Việt Nam, lịch sử đang lặp lại một bi kịch cũ: Sự ngộ nhận được bảo trợ bởi công nghệ tuyên truyền.

Bài tham luận này mổ xẻ hiện tượng “Cái làng Potemkin” (Potemkin village) — từ vết nhơ lịch sử của điện ảnh Hollywood với bộ phim The North Star thời Thế chiến Thứ hai, qua mô hình kiểm soát kỹ thuật số, chế độ Hộ khẩu, cho đến chiếc bẫy truyền thông đang khuynh đảo thế giới tự do hôm nay.


I. Chiếc Bẫy “Phòng Khách” Và Sự Ngộ Nhận Của Du Khách

Lịch sử từng chứng kiến không ít trí thức và du khách Tây phương khi đặt chân đến Liên Xô thời Stalin hay Trung Cộng thời Mao Trạch Đông đã trở về với những lời ca tụng trên mây. Họ thấy những công trình đồ sộ, những nông trại tập thể ngăn nắp, những nụ cười được dàn dựng. Nhưng cái họ nhìn thấy chỉ là “phòng khách” — nơi chủ nhà đã lau chùi bóng bẩy và cẩn thận khóa chặt cửa “phòng vệ sinh” hay những góc tối đày đọa con người.

Thời gian gần đây, một chuyến du lịch vài ngày trôi qua trên tàu cao tốc, thanh toán bằng mã QR và ngắm nhìn bầu trời xanh được cưỡng chế dọn dẹp tại Bắc Kinh dễ dàng làm cho người ta quên mất:

  • Đằng sau sự hiện đại ấy là hệ thống theo dõi bằng quy mô camera dày đặc triệt tiêu mọi quyền riêng tư cá nhân.
  • Đằng sau những tập đoàn công nghệ tỷ đô-la là sự hiện diện tuyệt đối của các chi bộ Đảng Cộng sản Trung Hoa (CCP) và số phận mong manh của những thương gia chỉ cần chệch hướng là bị “sờ gáy”, như Jack Ma.
  • Đằng sau sự trật tự đô thị là chế độ hộ khẩu nghiệt ngã phân ban đẳng cấp và tước đoạt phúc lợi của hàng trăm triệu lao động ngoài tỉnh thành.

Nói “Trung Cộng không còn Cộng sản” chỉ vì họ có xe điện và trung tâm thương mại sang trọng là một sự ngộ nhận nông cạn. Thể chế ấy chưa bao giờ từ bỏ bản chất toàn trị; họ chỉ dùng kinh tế thị trường làm công cụ tích lũy tài chính để quay lại củng cố cỗ máy kiểm soát xã hội tinh vi hơn mà thôi.


II. Từ Bản Họa “The North Star” Đến Thảm Họa Holodomor

Khái niệm Potemkin village xuất phát từ giai thoại Thống chế Grigory Potemkin dựng nên các ngôi làng giả tạo bọc vải sơn dọc bờ sông Dnieper để lừa Nữ hoàng Catherine II về sự phồn vinh của vùng đất mới. Trong thế kỷ 20 và 21, kỹ thuật này đã được các thể chế toàn trị nâng lên thành một nghệ thuật thượng thừa.

1. Sự dối trá tàn nhẫn của The North Star (1943)

Năm 1943, trong bối cảnh Mỹ và Liên Xô là đồng minh chống Phát-xít, Điện ảnh Hollywood phát hành bộ phim The North Star (do Samuel Goldwyn sản xuất, Lewis Milestone đạo diễn). Những nhà làm phim Mỹ đã vẽ nên một nông trang tập thể (kolkhoz) ở Ukraine đẹp như mơ: những người nông dân no ấm, rạng rỡ, nhảy múa ca hát dưới ánh nắng mặt trời, bàn ăn đầy ắp thịt sữa, bánh mì: Thiên đường cộng sản tại hạ giới.

2. Sự thật lịch sử về thảm họa Holodomor (1932–1933)

Thực tế, chính tại vùng đất Ukraine đó, chỉ 10 năm trước khi bộ phim bấm máy, chính quyền Joseph Stalin đã thực hiện chiến dịch diệt chủng bằng lương thực mang tên Holodomor:

  • Chính sách cưỡng chế & Tịch thu: Thông qua Đạo luật “Ngăm bông lúa” (7/8/1932), ai lấy dù chỉ một nắm hạt ngũ cốc từ đồng ruộng tập thể đều bị tử hình hoặc đi tù 10 năm. Các đội thu gom NKVD (Narodny Komissariat Vnutrennikh Del – Bộ Nội vụ Nhân dân Liên Xô) về từng làng tịch thu đến hạt ngô, củ khoai cuối cùng.
  • Con số tử vong kinh hoàng: Khoảng 3,9 triệu đến 4,5 triệu người Ukraine đã chết vì đói trong giai đoạn 1932–1933. Vào đỉnh điểm mùa xuân 1933, trung bình mỗi ngày có khoảng 28.000 người chết đói.
  • Sự tẩy xóa lịch sử: Điện ảnh Hollywood đã hoàn toàn xóa bỏ 4 triệu xác chết và nạn ăn thịt người tột cùng nghèo khổ để thay bằng hình ảnh “thiên đường XHCN”. Sau Thế chiến Thứ hai, bộ phim trở thành một vết nhơ và sự xấu hổ của điện ảnh Mỹ. Nó chứng minh một bài học đắt giá: Khi nghệ thuật tự do bị ép phục vụ cho tính toán chính trị ngắn hạn, nó sẽ biến trí thức và nghệ sĩ thành kẻ tiếp tay cho sự dối trá.

 


III. Vạn Lý Tường Lửa Và Hộ Khẩu: Xiềng Xích Trong Không Gian Ảo Và Thực

 

1. Vạn Lý Tường Lửa (Great Firewall) — Cơ chế “Tự cấm đoán”

Vạn Lý Tường Lửa không đơn thuần là giải pháp kỹ thuật chặn mạng (như chặn Google, Facebook, YouTube), mà là dự án kỹ thuật xã hội khép kín:

  • Hệ sinh thái thay thế bị kiểm soát: Thay thế bằng Baidu, WeChat, Weibo — nơi toàn bộ máy chủ đặt tại chỗ và chịu sự quản lý trực tiếp của các chi bộ Đảng.
  • Hiệu ứng tâm lý “Tự kiểm duyệt”: Khi mọi hành vi trên mạng gắn liền với số căn cước và hệ thống chấm điểm tín nhiệm xã hội (Social Credit System), người dân tự học cách “không tìm kiếm những điều không nên tìm”. Thế hệ trẻ sinh ra dưới tường lửa lâu dần không còn cảm thấy thiếu vắng tự do, thậm chí quay lại bài bác các giá trị dân chủ.

 

2. Chế độ Hộ khẩu (Hukou) — Công cụ phân ban đẳng cấp

Nếu Tường Lửa kiểm soát không gian ảo, thì Hộ khẩu là chiếc xiềng xăm kiểm soát không gian thực:

  • Chia cư dân thành Hộ khẩu nông thônHộ khẩu đô thị, trói buộc con người vào nơi sinh ra.
  • Hàng trăm triệu lao động di cư lên thành phố bị coi là “tạm trú”, bị tước đoạt quyền tiếp cận y tế, giáo dục công lập cho con cái, và có thể bị cưỡng chế dọn dẹp, đẩy về quê bất cứ lúc nào khi chính quyền muốn “làm sạch đô thị”.

 


IV. Dự Án “Xã Phường XHCN”: Mô Hình Công An Hóa Cơ Sở

Sự kiện xây dựng thí điểm các mô hình “Xã Phường XHCN”, tăng cường lực lượng công an chính quy về bám nắm địa bàn cơ sở (đặc biệt được đẩy mạnh tại các địa phương trọng điểm) là một bước chuyển từ quản lý hành chính sang “quản trị an ninh trị”:

  1. Công an hóa bộ máy cơ sở: Lực lượng công an chính quy trực tiếp chi phối toàn bộ chính quyền xã/phường.
  2. Dữ liệu dân cư tích hợp (VNeID): Bắt buộc tích hợp toàn bộ thông tin cá nhân, tài sản, biến động cư trú, giao dịch vào một mã định danh do lực lượng an ninh nắm giữ.
  3. Tổ an ninh tự quản ngõ ngách: Khôi phục các mô hình giám sát cơ sở để bắt mạch mọi biến động tư tưởng, triệt phá mầm mống phản biện từ sớm, từ xa.

Mô hình này biến mỗi xã/phường thành một “tiểu đồn công an”, bao phủ xã hội bằng sự nghi kỵ, triệt tiêu khả năng phản biện và năng lực tự tổ chức của người dân.

 


V. Truyền Thông Tuyên Truyền Khuynh Đảo Thế Giới Tự Do

Lợi dụng tính chất cởi mở của mạng xã hội và tự do ngôn luận tại các nước Dân chủ, các thể chế toàn trị đã và đang thực hiện các chiến dịch truyền thông đa tầng:

  1. Gieo rắc chủ nghĩa ngụy biện (Whataboutism): Làm mờ ranh giới giữa Tự do và Toàn trị, khiến công chúng tin rằng “ở đâu cũng như nhau”, từ đó làm suy giảm ý chí bảo vệ các giá trị dân chủ.
  2. Nội suy và chia rẽ cộng đồng: Tài trợ cho các kênh truyền thông “dơ và bẩn”, kích động xung đột văn hóa, tạo ra sự hoài nghi lẫn nhau trong các cộng đồng tị nạn và xã hội sở tại. Chúng ta hãy quan sát những cuộc biểu tình vừa qua sẽ thấy.
  3. Mua chuộc và bẫy trải nghiệm: Biến những vlogger, du khách ngắn hạn hay các nhà làm phim ngây thơ thành những “Đại sứ tuyên truyền vô giác” (useful idiots), mượn miệng người nước ngoài để ngợi ca tính chính danh của chế độ.

 


Kết Luận: Trách Nhiệm Của Ngòi Bút Và Ký Ức

Lịch sử đã chứng minh: Một thể chế xây dựng trên sự dối trá chỉ có thể tồn tại khi con người chấp nhận sống chung với sự dối trá đó.

Việc nhận diện những “cái làng Potemkin” thời hiện đại không phải để gieo rắc sự thù hận, mà là để bảo vệ SỰ THẬT và TỰ DO. Trước một làn sóng truyền thông tuyên truyền đang khuynh đảo thế giới, trách nhiệm của những người cầm bút, của những nhân chứng lịch sử và của thế hệ đi trước là phải để lại những trang ghi chép trung thực.

Đừng để những thước phim như The North Star hay những chuyến du lịch “cưỡi ngựa xem hoa” tiếp tục ru ngủ hậu thế. Chỉ khi nào chúng ta dũng cảm nhìn vào cả “phòng khách” lẫn “phòng vệ sinh” của một thể chế, chúng ta mới không trở thành nạn nhân của những ảo ảnh tuyên truyền.


Tsu A Cầu (K29/TVBQGVN)

Huntington Beach, California, ngày 9 tháng 8 năm 2026.







KIỀU MỸ DUYÊN – TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO CÔNG VIỆT NAM HẢI NGOẠI RA MẮT BAN ĐIỀU HÀNH




Thơ TRẦN VẤN LỆ: HOA MIMEUSE NGÀY NẮNG NỞ

HOA MIMEUSE 

NGÀY NẮNG NỞ

Em ơi hoa nở!  Hoa đua nở!

Hoa tím… hôm nay nở tím vườn!

Người ta gọi đó – hoa Trinh Nữ

Con bướm bay qua… chắc có buồn?

.

Bươm bướm bay qua không trở lại,

vườn anh không có nhỉ, hoa hồng!

Hoa hồng nắng quá, không thèm nở?

Nó giống em mà!  Anh nhớ nhung!

.

Nó giống con sông nhớ nước hoài…

Nước trôi đi kiếm một tương lai? (*)

Chúa không hề hứa gì mai mốt,

Anh nhớ em hoài – không nhớ ai!

.

Anh nhớ em hoa tím nở nhiều…

Thế là hiểu nghĩa nhé, Tình Yêu!

Dẫu là tơ tóc, không hề mỏng

Xuân Diệu làm thơ có bấy nhiêu! (**)

.

Anh muốn thơ  anh em đứng bóng!

Em là pho tượng để anh hôn…

Em là pho tượng trên New York

Em đứng muôn đời giữa đại dương!

Trần Vấn Lệ

(*) “Không có ngày mai!  Chỉ có hôm nay!

     Sự đau khổ của ngày nào đủ cho ngày đó!” (Jesus)

(**) Không ai định nghĩa được Tình Yêu!

     Có nghĩa gì đâu một buổi chiều

     nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt

     bằng mây nhè nhẹ gió hiu hiu… (Xuân Diệu)




BẢO TRÂM Tự Truyện – ÔNG GIÀ VÀ BẦY GIA SÚC

ÔNG GIÀ VÀ BẦY GIA SÚC

Tự truyện của BẢO TRÂM

  Chào các bạn,       

Tôi có câu chuyện ngắn kể các bạn xem cho vui:

          Tôi ở Big Island, Hawaii, cũng có vài bạn VN, nhưng nhà cách nhau khá xa, mỗi khi tổ chức gặp nhau, muốn tới nhà nào thì nhà khác cũng phải lái xe từ 45 phút tới 1 tiếng.

          Vì vậy tôi nuôi gà, vịt, cừu… làm bạn. Mỗi sáng, mỗi chiều tôi đi dạo quanh vườn là cả đàn theo chân tôi mà bước. Tôi vừa đi vừa hát cho chính tôi và chúng cùng nghe. Gà thì thản nhiên không chú ý tới, nhưng bọn cừu thì ngơ ngẩn, có vẻ lắng nghe, nhưng cũng không tỏ ra có “ý kiến” gì.

Đặc biệt những nàng vịt nghe chăm chú hơn, thỉnh thoảng chúng quay qua nhìn các chàng vịt với đôi mắt như long lanh, ẩn tình ý. Chắc là các nàng nhận ra cái giọng khàn khàn của tôi đây còn tệ hơn giọng các chàng vịt nhà các nàng.

Tôi mới ngộ ra là nhờ tôi hát tệ quá nên hình như cả đám vịt tôi nuôi đã thương nhau hơn chăng? Tôi luôn ôn tồn, nhẹ nhàng giảng cho đám gia súc, (tôi làm thiệt đó), và tôi ngạc nhiên nhận ra cả đám đều dừng lại lắng nghe. Được thể, tôi vừa cười vừa tiếp lời:

– Bọn bây đừng khi nào so sánh chồng hay vợ chúng mày với loài khác, vì mỗi loài có một sở trường riêng. Những chàng vịt của chúng mày có cái giọng mà loài người chê là giọng dở nhất thế gian (giọng vịt đực), ấy thế đừng tưởng thật mà chê chồng vịt nhà bây hí, hôm nay chúng bây vừa khám phá ra giọng của ông già này còn tệ hơn nữa, đúng không? Vậy chúng bây hãy thuơng yêu nhau với những gì chúng bay đang có hí…

Ngày ngày cô đơn và buồn tẻ, tôi vẫn thường nói chuyện với đám gia súc như nói với nguời, được cái là chẳng bị chúng phản bác: “Ý kiến lẩm cẩm” bao giờ. Ngược lại, tôi còn được hiểu ra tâm tính từng loài vật: khi tôi cho chúng ăn một cách dịu dàng, nói chuyện nhỏ nhẹ thì bọn chúng xúm xít lại ăn cả trên tay tôi rất dễ thương. Mỗi khi thấy chúng tranh nhau mà ăn, tôi chỉ cần lên tiếng to thì tất cả dừng lại nhìn tôi, con nào bị tôi nhìn chằm chằm và nạt một tiếng là con đó chạy ra xa ngay; nhất là đám cừu, thường tranh ăn với bọn vịt, hễ bị tôi nạt to, dù là tôi đứng xa cách mấy thì chúng cũng nhảy dựng lên mà chạy mất tiêu cả đám. Còn nếu đứng gần, dù tôi không nói gì thì ánh mắt của chúng cũng len lén nhìn tôi để ướm thử xem có thể xông vào giành thức ăn với bầy vịt không? Đôi khi thấy những đôi mắt thơ ngây và trong sáng như năn nỉ của chúng, tôi động lòng an ủi:

          -Thôi được! Hôm nay chúng mày vào ăn đi!

Thế là từng con chậm chạp tiến vào ăn, còn nếu tôi không cho phép, chúng chỉ rón rén vừa nhìn ông chủ già nua, vừa tiến chầm chậm tới chỗ vịt ăn cho đến khi nghe tiếng hét:

          -Tụi bay tính làm gì?

Là cả đám chạy mất tiêu ngay. Tôi biết chúng không hiểu nhưng chúng nhận ra giọng nói lúc nào là giận dữ, khi mô rất hiền hòa của loài người. Nhờ được chúng hiểu thế mà cuộc sống cô độc của tôi không còn cô đơn nữa.  

Gia súc còn hiểu được người, vậy mà lạ thay, sao loài người với nhau, lại là đồng hương, đồng bào mà không hiểu nhau? Kẻ gian, người xấu cứ tỵ hiềm, hành hạ, cướp phá, đánh đập, giết chóc lẫn nhau để tiếm đoạt danh lợi, quý bạn hỉ?                      

BẢO TRÂM 

Tháng 7.2021




LÊ XUÂN MỸ – CHIỀU NHỚ HUẾ LẦN THỨ BẢY

CHIỀU NHỚ HUẾ LẦN THỨ BẢY

Buổi Họp Mặt Vui Hát “Chiều Nhớ Huế” lần thứ bảy do chị Thanh Huệ tổ chức tại Walnut Creek đã kết thúc lúc 7 giờ tối, nhưng khi mọi người lần lượt ra về, trong lòng tôi vẫn còn nguyên một cảm giác bâng khuâng khó tả. Một buổi chiều chỉ kéo dài vài tiếng đồng hồ, vậy mà dường như chúng tôi đã đi qua rất nhiều năm tháng của cuộc đời. Có những buổi gặp mặt đến rồi đi, người ta vui một chút rồi quên. Nhưng cũng có những buổi gặp mặt mà khi trở về nhà, người ta vẫn còn nghe đâu đó tiếng đàn, tiếng hát, tiếng cười và những câu chuyện chưa kịp kể hết. “Chiều Nhớ Huế” lần thứ bảy đối với tôi là một buổi chiều như thế. Đó không chỉ là một buổi vui hát của hơn ba mươi người bạn, mà là một cuộc trở về. Một cuộc trở về không cần máy bay, không cần vé tàu, không cần phải đi hàng ngàn dặm đường. Chỉ cần một câu hát, một tiếng đàn, một cái tên quen thuộc của một người bạn cũ, là cả một khoảng trời quê hương có thể hiện về.

Buổi chiều hôm ấy có đến ba mươi bốn người tham dự, mà phần đông đều đã quá tuổi thất thập. Có những U90 như anh Mai, anh Toàn, còn U80 như tôi thì nhiều như lá rụng mùa thu. Anh Tiến, chú Bình, chị Bích Thọ, chị Hà anh An…ngay cả vợ chồng Xuân Mỹ tui. Nhìn những khuôn mặt bạn già ngồi bên nhau, tôi chợt nghĩ rằng nếu tính tổng số năm tháng của tất cả mọi người trong căn phòng ấy thì chắc chắn đó là một con số rất lớn. Mỗi người mang đến đây không chỉ một cuộc đời đã đi qua hơn bảy mươi năm, mà còn mang theo một trời ký ức riêng. Có người từng sống những năm tháng tuổi thơ ở Huế, có người từng học dưới những mái trường cũ, Quốc Học, Hàm Nghi, Đồng Khánh, Nguyễn Tri Phương, có người từng yêu, từng lập gia đình, từng chia tay bạn bè để rồi cuộc đời đưa đẩy đến một phương trời rất xa quê nhà. Có người đã rời Việt Nam từ rất lâu, có người sang Mỹ khi tuổi đời còn trẻ, có người đến khi tóc đã bắt đầu pha màu bạc. Nhưng dù hoàn cảnh mỗi người khác nhau, chúng tôi có chung một điều, trong sâu thẳm của tâm hồn vẫn có một miền quê  không bao giờ mất. Hơn ba mươi năm tôi chưa từng trở lại, quê hương ấy có thể đã thay đổi rất nhiều, những con đường ngày xưa có thể đã khác, những ngôi nhà cũ có thể không còn, những người thân yêu có thể đã lần lượt ra đi, nhưng ký ức về quê hương thì vẫn còn nguyên vẹn trong một góc nào đó của trái tim.

Có lẽ càng lớn tuổi, người ta càng hiểu giá trị của hai chữ “gặp nhau”. Khi còn trẻ, chúng ta thường nghĩ rằng ngày mai, tháng sau hay năm tới mình vẫn còn nhiều dịp để gặp lại bạn bè. Một cuộc hẹn có thể dời sang tuần sau, một chuyến đi có thể để năm sau, một người bạn lâu ngày không gặp có thể nói “khi nào rảnh mình gặp nhau”. Nhưng khi bước qua tuổi 70, chúng ta bắt đầu nhìn thời gian bằng một con mắt khác. Không ai nói ra, nhưng ai cũng hiểu rằng cuộc đời không còn dài như trước. Vì vậy, một lời mời gặp mặt, một buổi ca hát, một bữa cơm với bạn bè bỗng trở nên quý giá vô cùng. Chúng ta đến với nhau không chỉ vì thích hát, không chỉ vì thích nghe nhạc, mà còn vì muốn nhìn thấy nhau khi chúng ta vẫn còn có thể nhìn thấy nhau, muốn nghe tiếng nhau cười khi tiếng cười vẫn còn vang lên, muốn nắm bàn tay của một người bạn khi bàn tay ấy vẫn còn bên cạnh.

Và rồi những bài hát về Huế bắt đầu vang lên. Tôi không biết trong lòng mỗi người lúc ấy có một Huế như thế nào, nhưng chắc chắn Huế của mỗi người đều đẹp theo một cách rất riêng. Với người này, Huế có thể là dòng Hương Giang lặng lờ trôi. Với người khác, Huế có thể là tiếng chuông Thiên Mụ ngân vang trong một buổi sáng. Có người nhớ những con đường rợp bóng cây, nhớ những cơn mưa Huế dai dẳng, nhớ những tà áo dài đi qua sân trường, nhớ một người bạn cũ mà đã mấy chục năm không còn gặp. Có người chỉ cần nghe một câu hát là nhớ đến mẹ, đến cha, nhớ một căn nhà nhỏ, một khu vườn, một bữa cơm gia đình ngày xưa. Những điều ấy tưởng như đã ngủ yên trong ký ức, vậy mà âm nhạc có thể đánh thức tất cả chỉ trong vài phút. Với tôi là An Lăng dưới chân núi Ngự Bình quê ngoại, là Vĩ Dạ, Nam Phổ quê nội.

Đó là điều kỳ diệu của âm nhạc. Âm nhạc không có biên giới. Nó không hỏi chúng ta đang ở Việt Nam hay Hoa Kỳ, không hỏi chúng ta bao nhiêu tuổi, giàu hay nghèo, đang vui hay buồn. Một bài hát cũ có thể đưa một người 75 tuổi trở lại với tuổi 20 của mình. Một giai điệu quen thuộc có thể làm cho một người đang ngồi ở Walnut Creek tưởng như đang đứng bên dòng Hương Giang. Một câu hát có thể làm sống lại hình ảnh của một người thân mà ta đã tưởng rằng mình không còn nhớ rõ khuôn mặt. Có lẽ vì vậy mà những người xa quê thường yêu âm nhạc hơn. Bởi âm nhạc là một trong những chiếc cầu hiếm hoi có thể nối lại hiện tại với quá khứ, nối đất Mỹ với quê nhà, nối những người đang sống với những người đã khuất, nối tuổi già hôm nay với tuổi trẻ của ngày xưa.

“Chiều Nhớ Huế” không phải là một buổi chiều chỉ để nhớ và để buồn. Trái lại, tiếng hát càng vang lên thì niềm vui càng lớn. Sau những ca khúc về Huế là “Tiếng Dân Chài”, là chương trình dạ vũ sôi động với tiếng đàn của nhạc sĩ Nguyễn Tươi. Không khí trong phòng như thay đổi hẳn. Những người vừa ngồi yên lặng nghe những bài hát đầy hoài niệm bỗng đứng lên, mời nhau khiêu vũ. Có những bước chân không còn nhanh, có những động tác không còn mềm mại như thời còn trẻ, nhưng chẳng ai quan tâm đến điều đó. Người ta cười. Người ta dìu nhau đi. Người ta nhìn nhau bằng ánh mắt đầy thân tình. Và trong khoảnh khắc ấy, tuổi tác dường như biến mất. Không còn 70, 75 hay 80 tuổi. Chỉ còn những chàng trai, những cô gái của một thời xa xưa đang trở lại với tuổi trẻ của mình.

Tôi thấy vừa vui vừa xúc động. Bởi chúng ta đã dành phần lớn cuộc đời để lo cho người khác. Khi còn trẻ, chúng ta lo học hành, lo công việc, lo cha mẹ, lo chồng vợ, lo con cái. Sang Mỹ rồi lại tiếp tục một cuộc sống mới với biết bao nhiêu trách nhiệm. Đi làm, mua nhà, trả tiền nhà, nuôi con, giúp con mua nhà, chăm sóc gia đình, rồi đến khi con cái trưởng thành, chúng ta lại lo cho cháu. Thời gian cứ thế trôi qua. Đến một ngày, khi nhìn vào gương, chúng ta mới chợt nhận ra tóc mình đã bạc, đôi chân không còn nhanh, đôi mắt không còn tinh anh như trước. Nhưng sâu bên trong, có lẽ người thanh niên hay cô gái của ngày xưa vẫn còn đó. Chỉ cần một tiếng nhạc, họ lại bước ra.

Tiếng đàn của nhạc sĩ Nguyễn Tươi hôm ấy giống như một lời mời gọi. Và những người bạn của chúng tôi đã đáp lại lời mời ấy bằng những nụ cười. Các MC Bình, An và Hương Đức cũng góp phần làm cho chương trình thêm sinh động. Những lời giới thiệu, những câu nói vui, những tiếng cười làm cho buổi chiều trở nên gần gũi. Không cần một sân khấu lớn, không cần một chương trình cầu kỳ. Chỉ cần có tiếng đàn, tiếng hát và những người bạn cùng chung một tình yêu với âm nhạc, thế là đủ.

Tôi nghĩ điều đáng quý nhất của những buổi sinh hoạt như “Chiều Nhớ Huế” không nằm ở chỗ hát hay hay hát dở. Cũng không nằm ở việc ai nhảy đẹp, ai nhảy chưa đẹp. Điều quý nhất là chúng ta còn muốn hát cho nhau nghe. Còn muốn nghe một người bạn hát. Còn muốn vỗ tay. Còn muốn cười. Còn muốn đứng lên khiêu vũ. Đó chính là dấu hiệu của sự sống. Có những người dù còn trẻ nhưng tâm hồn đã mệt mỏi, già nua. Cũng có những người tóc đã bạc nhưng tâm hồn vẫn còn trẻ trung. Tuổi trẻ thật sự có lẽ không nằm ở số tuổi mà nằm ở nơi của con người trong việc tiếp tục yêu thương, tiếp tục vui sống và tiếp tục mở lòng với cuộc đời.

Sống ở Mỹ, chúng ta có rất nhiều điều kiện để sống một cuộc sống đầy đủ hơn. Đường sá rộng rãi, nhà cửa tiện nghi, bệnh viện hiện đại, con cháu có cơ hội học hành và thành đạt. Nhiều người trong chúng ta đã có một cuộc sống mà thời trẻ ở Việt Nam chưa bao giờ dám nghĩ đến. Nhưng càng sống lâu ở Mỹ, tôi càng nhận ra rằng có những thứ tiền bạc không mua được. Đó là những người bạn cũ. Là những tiếng hát quen. Là một buổi chiều ngồi cạnh những người có cùng một ký ức, cùng một miền quê. Là cảm giác khi nghe ai đó nhắc đến một con đường, một mái trường, một góc phố mà mình từng đi qua cách đây hơn nửa thế kỷ. Là giây phút một bài hát vang lên và mình bất chợt thấy mẹ, thấy cha, thấy tuổi thơ, thấy kỷ niệm hiện về.

Có lẽ đó cũng là lý do những cộng đồng người Việt ở Mỹ vẫn luôn cần những buổi gặp gỡ văn nghệ như thế này. Chúng ta không chỉ cần những hội đoàn để tổ chức công việc, không chỉ cần những buổi họp để bàn chuyện cộng đồng. Chúng ta còn cần những nơi để hát, để cười, để kể chuyện, để nhớ quê hương. Những sinh hoạt như “Chiều Nhớ Huế” âm thầm giữ lại một phần văn hóa Việt Nam giữa đời sống Mỹ. Một bài hát Việt được cất lên, một câu chuyện về Huế được kể lại, một người bạn cũ được gặp lại, tất cả đều góp một chút vào việc giữ cho ký ức của một thế hệ không bị mất đi.

Bởi thế hệ của chúng tôi là một thế hệ đã đi qua rất nhiều biến động. Chúng tôi lớn lên trong chiến tranh, trưởng thành trong những năm tháng đầy khó khăn, rồi rời quê hương đến một đất nước xa xôi để bắt đầu lại cuộc đời. Có người đi bằng máy bay, có người trải qua những ngày tháng gian nan trên biển, có người đến Mỹ với hai bàn tay gần như trắng. Chúng tôi đã học cách thích nghi với một ngôn ngữ mới, một nền văn hóa mới, một cuộc sống mới. Chúng ta làm việc, xây dựng gia đình và nuôi con. Nhưng dù đã sống ở Mỹ bao nhiêu năm, trong tâm hồn chúng ta vẫn có một phần Việt Nam không thể thay thế. Và Huế là một phần như thế.

Huế không chỉ nằm trong những trang sách lịch sử. Huế nằm trong những bài hát. Huế nằm trong giọng nói của người bạn. Huế nằm trong cách chúng ta gọi tên nhau. Huế nằm trong những kỷ niệm tưởng như rất nhỏ. Đôi khi chỉ là một cơn mưa. Một hàng cây. Một chiếc xe đạp. Một buổi tan trường. Một ly cà phê. Một người con gái mặc áo dài đi ngang qua. Một người mẹ đứng trước cửa chờ con về. Những điều ấy, khi còn trẻ, chúng ta không biết rằng một ngày nào đó chúng sẽ trở thành gia tài của ký ức.

Bây giờ chúng ta đã ở tuổi quá 70. Những người thân của thế hệ trước phần lớn đã không còn. Những người bạn cũ ngày càng ít đi. Mỗi lần nghe tin một người bạn qua đời, chúng ta lại thấy vòng tròn của mình nhỏ hơn một chút. Vì vậy, mỗi lần có dịp gặp nhau, tôi càng trân trọng hơn. Nhìn hơn ba mươi người bạn ngồi bên nhau trong buổi chiều hôm ấy, tôi không nghĩ đó chỉ là những người đến dự một chương trình văn nghệ. Tôi nghĩ đó là 34 câu chuyện của một thế hệ. 34 cuộc đời. 34 vùng trời ký ức. Và trong vài tiếng đồng hồ, tất cả đã gặp nhau dưới một mái nhà ở Walnut Creek.

Có lẽ sau này, khi một trong chúng ta không còn nữa, những người còn lại sẽ vẫn nhớ đến buổi chiều hôm ấy. Có thể sẽ nhớ một bài hát. Có thể nhớ một người bạn đã cười rất vui. Có thể nhớ một đôi bạn đã cùng nhau khiêu vũ. Có thể nhớ tiếng đàn của nhạc sĩ Nguyễn Tươi. Có thể nhớ giọng nói của các MC. Và cũng có thể nhớ người đã tổ chức, chị Thanh Huệ. Những kỷ niệm như thế tưởng rất nhỏ, nhưng càng về lâu càng trở nên quý giá.

Khi đồng hồ gần 7 giờ tối, chương trình kết thúc. Mọi người bắt đầu thu dọn, chào nhau và ra về. Có những người còn đứng lại nói chuyện. Có người hẹn lần sau gặp lại. Tôi nhìn theo những bước chân chậm rãi của bạn bè mà trong lòng bỗng thấy thương. Thương cho những người đã đi một đoạn đường thật dài của cuộc đời. Thương cho những người đã mất đi nhiều người thân yêu. Và cũng thương cho chính mình, bởi chúng ta đều biết thời gian không còn nhiều như trước.

Nhưng thay vì buồn, tôi lại thấy biết ơn. Biết ơn vì chúng ta vẫn còn gặp nhau. Biết ơn vì chúng ta vẫn còn nghe được tiếng nhạc. Biết ơn vì chúng ta vẫn còn có thể hát. Biết ơn vì trong một đất nước rộng lớn như Hoa Kỳ, chúng ta vẫn có thể tìm thấy những người bạn cùng quê, cùng thế hệ, cùng ký ức để ngồi lại bên nhau. Và trên hết, biết ơn vì chúng ta vẫn còn có một nơi để nhớ về.

Buổi “Chiều Nhớ Huế” lần thứ bảy đã kết thúc, nhưng có lẽ không ai thật sự muốn nó kết thúc. Bởi những buổi chiều như thế này không chỉ được tính bằng số giờ từ lúc bắt đầu đến lúc 7 giờ tối. Nó được tính bằng số kỷ niệm mà mỗi người mang về. Một bài hát có thể kéo dài vài phút, nhưng ký ức mà nó đánh thức có thể kéo dài cả một đời người.

Đêm hôm ấy, khi trở về nhà, có lẽ nhiều người vẫn còn nghe tiếng đàn vang đâu đó trong trí nhớ. Có lẽ vẫn còn nhớ những bài hát về Huế. “ Mưa Trên Phố Huế”, “ Bài tình Ca Xứ Huế”, “Huế Xưa”…Có lẽ vẫn còn nhớ nụ cười của người bạn bên cạnh. Và biết đâu, trước khi đi ngủ, mỗi người lại một lần trở về với Huế của riêng mình.

Tôi cũng vậy. Tôi trở về với một Huế rất xa, một Huế của những ngày còn trẻ. Một Huế có những người thân mà bây giờ chỉ còn trong ký ức. Một Huế có những người bạn mà có lẽ cả đời này cũng không thể gặp lại. Một Huế mà mỗi lần nhớ đến, lòng vừa vui vừa buồn. Buồn muốn khóc.

Nhưng tôi hiểu rằng mình may mắn. Bởi không phải ai cũng còn có một quê hương để nhớ. Không phải ai cũng còn có những người bạn để cùng hát. Và không phải ai cũng có cơ hội, ở tuổi ngoài 70, được ngồi giữa những người bạn, nghe tiếng đàn, nghe tiếng hát, cười với nhau và một lần nữa sống lại thời tuổi trẻ.

Cảm ơn chị Thanh Huệ đã tổ chức “Chiều Nhớ Huế” lần thứ bảy. Cảm ơn nhạc sĩ Nguyễn Tươi với tiếng đàn đã mang lại sức sống cho buổi chiều. Cảm ơn các MC đã làm cho chương trình thêm vui tươi và gần gũi. Và cảm ơn tất cả những người bạn đã có mặt. Mỗi người đến mang theo một câu chuyện, một ký ức, một nỗi nhớ, nhưng khi ra về, chúng ta đã có thêm một kỷ niệm chung. Và chắc chắn không thể không cảm ơn Vành Khuyên, người con của một mối tình đẹp của người chú Lê Khắc tài hoa, người em gái photographer dể thương luôn có mặt với mấy chú mấy bác với những tấm hình kỷ niệm tuyệt đẹp  Có lẽ đó là món quà đẹp nhất của tuổi già, không phải có thêm bao nhiêu nhà cửa tiền bạc, mà là có thêm những kỷ niệm đẹp để nhớ.

Và nếu có ai hỏi tôi “Chiều Nhớ Huế” lần thứ bảy có gì đặc biệt, tôi sẽ không nói đó là một chương trình văn nghệ hay một buổi dạ vũ. Tôi sẽ nói rằng đó là một buổi chiều mà 34 người bạn đã tạm quên tuổi tác để trở lại làm những chàng trai, những cô gái của ngày xưa, một buổi chiều mà tiếng hát đã đưa những người xa quê trở về với Huế, một buổi chiều mà những người Việt ở Mỹ đã tìm thấy nhau giữa một đất nước rộng lớn; và một buổi chiều mà chúng tôi nhận ra rằng, dù thời gian có lấy đi rất nhiều thứ, vẫn có những điều không bao giờ mất. Đó là tình bạn. Đó là âm nhạc. Đó là ký ức. Và đó là quê hương.

Buổi chiều đã khép lại lúc 7 giờ tối nơi Walnut Creek. Nhưng trong lòng những người bạn, có lẽ một buổi chiều khác vẫn đang tiếp tục,  một buổi chiều có tiếng đàn, có tiếng hát, có những bước chân khiêu vũ và có một dòng Hương Giang lặng lẽ chảy qua miền ký ức. Chiều Nhớ Huế lần thứ bảy đã qua. Nhưng Huế thì vẫn còn đó. Và chúng ta, những người đã đi hơn bảy mươi năm của một đời người như tôi, vẫn còn may mắn được cùng nhau nhớ Huế, nhớ nhau và nhớ một thời tuổi trẻ.




NGUYỄN THỊ THANH DƯƠNG – NGÔI  NHÀ  MỚI

==

 NGÔI  NHÀ  MỚI.

Hai anh Mễ to khoẻ lực lưỡng mang tất cả đồ đạc vào nhà. Họ kê cho bộ bàn ghế, giường tủ, rồi lãnh tiền công và ra về. Còn lại một đống những thùng lớn, thùng nhỏ, hai vợ chồng phải mở ra sắp xếp lại suốt từ buổi trưa đến buổi chiều mới gọi là tạm xong,vì chị biết là sẽ còn nhiều món đồ đạc lạc chỗ, dần dần khi cuộc sống tại căn nhà mới này bắt đầu thì mọi đồ dùng mới đâu vào đó.

Công việc moving vất vả quá, dù anh chị đã vứt bỏ khá nhiều đồ lặt vặt và thuê người làm hầu hết.

Tưởng sẽ được ngả lưng nằm lên giường một lúc cho đỡ mệt, thì đến lượt hai đứa con:

–          Mẹ ơi, con đói !

–          Mẹ ơi, con muốn uống sữa !

–          Để cho mẹ nằm nghỉ một tí được không?

Tabi vùng vằng:

–          Không! con muốn ăn ngay bây giờ…

–          Con cũng muốn uống sữa ngay bây giờ. Betsy bắt chước chị, nhõng nhẽo và vùng vằng.

Bây giờ chị mới biết là mình cũng đang đói.Tủ lạnh không còn gì bên trong để dễ dàng moving. Buổi sáng, cả nhà chỉ ăn qua loa, định dọn nhà xong thì chiều đi nhà hàng ăn cho thảnh thơi, bây giờ vợ chồng chị mệt quá rồi, không còn hào hứng nghĩ đến chuyện ấy nữa. Anh ý kiến:

–          Em nấu mấy tô mì gói ăn đỡ đi.

–          Nhưng em không biết hiện giờ thùng mì gói nằm nơi đâu? Để em order pizza cho nhanh.

Chị ngồi dậy, thì cùng lúc chuông cửa reo. Tabi mừng rỡ:

–          Họ mang pizza đến hả mẹ?

–          Mẹ đã gọi phone đâu mà có pizza !

Con bé Tabi cụt hứng, nhìn mẹ nó đầu bù tóc rối đang lê bước ra mở cửa. Chị ngạc nhiên khi thấy một bà Mỹ ăn mặc lịch sự, tay ôm bó hoa tươi thắm và miệng bà cũng cười tươi như hoa:

–          Welcome gia đình chị đã đến đây. Tôi là Rita, hàng xóm của chị ở căn nhà đối diện bên kia đường

–          Cám ơn bà !

Chị bối rối đỡ bó hoa, vì lần đầu tiên ra mắt hàng xóm trong tư thế không chuẩn bị, chắc chắn chị bơ phờ, nhếch nhác, tóc chưa kịp chải, áo quần chưa kịp chỉnh tề. Mà tại sao bà hàng xóm nhanh nhẩu đến thế chứ? Người ta mới dọn nhà đến buổi sáng, chiều đã welcome rồi. Ngày dài tháng rộng, chị vẫn còn đây, chứ có biến đi mất đâu mà phải vội vàng?

Bà Rita chưa chịu về cho, còn tiếp tục bày tỏ sự thân thiện khi nhìn thấy Tabi và Betsy đang đứng xớ rớ bên cạnh mẹ nó, bà tự giới thiệu:

–          Gia đình tôi có 4 người, hai vợ chồng và hai đứa con, chắc cùng lứa tuổi hai con chị. Hi vọng các cháu sẽ là bạn thân với nhau.

–          Vâng, tôi cũng mong muốn thế. Chị đáp cho xong chuyện.

Bà Rita chào ra về, chị ôm bó hoa, ngẩn ngơ suy nghĩ cái bình cắm hoa đang thất lạc  nơi đâu? Đang lúc bụng đói này, giá mà bà ấy mang đến ổ pizza thì hợp lý hơn.

Chị giải quyết mau lẹ, mang bó hoa vào trong bếp, để trong một chậu nước cho tươi rồi mai tính. Hoa tươi, hoa đẹp cũng chẳng làm chị vui khi đang mệt rã rời và bụng thì đói quay đói quắt.

Nhưng chị chưa kịp cầm phone để order pizza thì chuông cửa lại reo. Hay bà Rita lại dẫn cả chồng con sang giới thiệu cho đủ hộ khẩu nhà bà ?

Cánh cửa bất đắc dĩ mở ra, không phải bà Rita, mà là một bà Mỹ lạ hoắc khác, trên tay bà bưng một đĩa to đầy bánh cookie thơm phức, chắc là mới vừa làm xong:

–          Chào chị! Tôi là Cindy, rất hân hạnh được là hàng xóm của gia đình chị. Chúng tôi ở căn nhà bên cạnh, phía bên trái.

Chị đỡ lấy món quà của bà hàng xóm thứ hai, và như một cái máy chị nói:

–          Cám ơn bà đã cho bánh cookie.

–          Ôi! Hai đứa bé gái của chị mới dễ thương làm sao! Chúng như hai thiên thần hiện ra trong mùa lễ Giáng Sinh.

Bà Cindy kiểu cách và ngọt ngào lấy lòng người hàng xóm mới.

–          Cám ơn bà đã khen hai cháu. Cái máy trong người chị lại tự động phát ra, chứ chị chẳng còn tâm hồn nào mà nói những lời bay bướm cho tương xứng với bà Cindy.

–          Nào, cháu tên là gì? Cháu mấy tuổi rồi? Bà Cindy cúi xuống dịu dàng hỏi Tabi.

–          Cháu tên Tabi, cháu 5 tuổi. Con bé lí nhí trả lời với người lạ.

Bà hỏi chuyện từng đứa thì bao giờ mới xong? Chị sốt cả ruột, liền giới thiệu luôn:

–          Con em nó là Betsy, 4 tuổi. Kia là chồng tôi, còn tôi tên là Bông. Nhà tôi có bốn người.

–          Ôi! Gia đình chị đẹp như một bức tranh, thật sống động trong ngôi nhà này.

Chị nhìn bà hàng xóm với đầy vẻ nghi ngờ. Nhan sắc hai vợ chồng chị thuộc loại bình thường, hai đứa con cũng thế. Hơn nữa cả ngày hôm nay hai vợ chồng chị mệt muốn chết, quần áo, tóc tai chẳng ra hồn, hai đứa con cũng đang nhăn nhó vì đói bụng, vậy mà bà hàng xóm dám khen toàn bộ gia đình chị đẹp!

Chị vừa trả lời vừa mắc cở vì lời khen khách sáo ấy:

–  Cám ơn bà!

Bà Cindy còn hỏi thăm thêm vài câu xã giao bóng bẩy nữa mới chịu ra về.

Anh hối hả giục chị:

–          Em order pizza ngay đi, biết đâu bà hàng xóm thứ ba, phía bên phải, sắp sửa đến nhà mình? Thì đến đêm mình cũng chưa có gì để ăn.

–          Sao hàng xóm ở đây họ tử tế thế? Làm em ngại quá!

–          Khu trung lưu lịch sự có khác, người ta lịch sự như những ngôi nhà xinh đẹp của họ vậy.

Món quà của bà hàng xóm thứ hai hữu ích hơn bà thứ nhất, đĩa bánh cookie vèo một cái đã hết nhẵn, làm cả nhà dịu cơn đói trong khi chờ đợi pizza đến.

Chị lại nằm ra giường, trong khi bên ngoài, anh vẫn loay hoay thu xếp đồ đạc.Thật sung sướng khi mệt mỏi rã rời được ngả lưng trên giường, máy lạnh mát dịu làm chị liu riu buồn ngủ, thì chuông cửa reo làm chị giật nẩy mình, hay là bà hàng xóm thứ ba đến welcome gia đình chị? Có bà hàng xóm đối diện, bà bên trái, thì còn bà bên phải nữa. Rút kinh nghiệm, chị vuốt lại mái tóc, mất vài phút thay áo quần, sửa soạn sẵn nụ cười, ít ra cũng có một bà hàng xóm nhìn thấy hình ảnh chị tươm tất, đàng hoàng.

Thì ra là anh giao pizza, làm uổng công chị, chị giận lây không thèm cười khi anh ta nói cám ơn và chào về.

Chị lấy bánh cho hai con ăn và dỗ dành:

–          Nhịn uống sữa con nhé.Mai mẹ đi mua, hôm nay dọn nhà, mẹ mệt lắm rồi.

                       ***                  ***                ***

Ngôi nhà mới là giấc mơ của chị, to đẹp, nằm trong một khu lịch sự, đắt giá, bên cạnh một hồ nước thiên nhiên rộng và dài tít tắp. Bên này hồ là phía sân sau của những ngôi nhà, bên kia hồ là cánh rừng thưa. Khác hẳn với căn nhà cũ, nơi mà thuở hai vợ chồng chị mới lấy nhau, hai bàn tay trắng bắt đầu gây dựng cơ ngơi, chỉ mong có một căn nhà dù nhỏ, dù cũ kỹ là đủ vui rồi.

Căn nhà cũ nằm đối diện với một khu apartment, hai bên nhà là hai gia đình Mỹ đen. Cái địa thế mà nếu chỉ là người qua đường nhìn vào, chắc ai cũng “ớn”, cũng hình dung ra bao nhiêu chuyện tai ương, rắc rối.Vậy mà anh chị đã ở đó gần 10 năm trời, chị đã quen với những hình ảnh đám Mễ ở apartment bên kia đường, mỗi weekend mở nhạc ầm ĩ, những người đàn ông Mễ đội mũ, đi giày ủng cao, áo bỏ vào quần với dây thắt lưng to bản, trông họ như những anh chàng công tử rảnh việc, ngồi ngoài sân uống bia suông, hay đôi khi vừa uống vừa nướng thịt BBQ, mùi khói thơm bay ngào ngạt trong gió, bay sang cả nhà chị. Tiếng nói cười, tiếng nhạc Mễ tưng bừng làm hàng xóm vui lây.

Bên này chị cũng không thua kém, thỉnh thoảng mang nồi mang chảo ra sân chiên chả gìo, chiên cá, kho mắm…chắc chắn những mùi vị đặc sản của Việt Nam ấy cũng từng bay nhởn nhơ sang sân những nhà hàng xóm không cùng chủng tộc, màu da.

Chị cũng đã quen gia đình Mỹ đen ở bên cạnh, hai vợ chồng đều to con, to giọng, mỗi khi họ đứng ngoài sân nói chuyện, chị ở trong nhà, qua lớp cửa đóng kín vẫn còn nghe, đến nỗi có lần chị tưởng họ đang cãi nhau, mở cửa ra xem mới biết là vợ chồng họ đang trò chuyện vui vẻ.

Biết đâu dưới mắt những người Mễ, người Mỹ đen kia, nhìn gia đình chị, một gia đình di dân đến từ Châu Á xa xôi nghèo nàn ở bên kia bờ Thái Bình Dương sang Mỹ lập nghiệp, đang sống trong ngôi nhà cũ kỹ thật đáng thương. Mỗi cảnh đời đều có những vất vả lo toan, nhưng chắc chắn họ không hề biết rằng chị đang toan tính chuyện ra đi, một ngày nào đó, chị sẽ rời khỏi căn nhà cũ này, khu cư dân xập xệ này, đến một nơi sang đẹp hơn rất nhiều.

Ngôi nhà cũ vừa trả hết nợ, anh chị bán đi, lấy tiền “down” cho căn nhà mới và…nợ tiếp.

                                         ********

Hôm sau người hàng xóm thứ ba đến, đúng như điều anh chị đã nghĩ, cái người ở ngay bên cạnh nhà chị, phía bên phải, mang đĩa bánh cake làm quà và những lời hỏi thăm nồng nhiệt, y như hai bà trước, làm như gia đình chị là niềm ao ước của cư dân khu này, càng làm chị ngại ngùng áy náy.

Chị vốn nghi ngờ sự lịch sự của người Mỹ từ lâu, với những người xa lạ, lại là người khác chủng tộc, lịch sự, tử tế chỉ là xã giao, là hình thức bên ngoài, ít khi là chân thật tự đáy lòng. Gặp bất cứ người lạ nào ngoài đường phố, họ cũng mỉm cười chào hỏi, nhưng người được chào hỏi chưa kịp quay đi, đã thấy người Mỹ lịch sự tử tế ấy khép ngay nụ cười và mặt lạnh như tiền.

Người hàng xóm thứ ba đưa cho vợ chồng chị một tờ giấy có ghi đủ tên và số điện thoại của mọi gia đình trong khu vực, vừa cộng thêm gia đình chị, để nếu có gì cần thì liên lạc với nhau, đồng thời họ mời chị tối thứ Bảy tuần sau đến họp mặt ở nhà bà Cynthia, để thắt chặt thêm tình hàng xóm láng giềng giữa cánh đàn bà với nhau.

Gia đình chị ngập tràn niềm vui trong ngôi nhà mới. Cảnh hồ phía sau nên thơ như tranh vẽ.  Chiều, chị mở cửa sổ bếp cho gió ngoài hồ thốc vào mang theo mùi hoa lá trong vườn, gió thổi bay bay tấm màn vải mỏng che cửa sổ căng lên trông như cánh buồm nhỏ. Chị đứng làm bếp mà có thể nghe tiếng chim kêu ríu rít lúc trời chiều khi chúng bay qua hồ về phía cánh rừng bên kia.

Chị thủ thỉ với anh giá mà em biết làm thơ, thì mỗi ngày cứ ra ngắm hồ nước, ngắm cánh rừng là đủ cảm hứng.

Anh dọn đến ngôi nhà mới này vì chị, anh thích sự bình yên tâm hồn hơn là bề ngoài, thích ở căn nhà cũ, không nợ nần đồng nào, nhưng vợ anh nay cằn nhằn, mai than thở muốn có một căn nhà mới, sang đẹp hơn, thì anh lại tìm niềm vui trong sự thanh thản khác, là nhìn thấy vợ vui và khỏi phải nghe những lời cằn nhằn nữa.

Thế là đã được một tuần ở nhà mới. Buổi tối, chị đến nhà bà Cynthia để họp mặt, bà Cynthia ân cần giới thiệu chị là hàng xóm mới với tất cả mọi người, toàn là quý bà trong khu, là hàng xóm với nhau.

Họ thắp nến, ăn bánh cookie và nói đủ thứ chuyện về gia đình, xã hội, kể cả những chuyện vặt, đùa vui, nghĩa là đủ thứ chuyện quanh ta.

Tiếng Anh của chị chỉ đủ dùng thông thường lấy đâu mà hiểu hết những ý kiến sâu sắc hay hóm hỉnh của quý bà, nên chị ngồi im và lạc lỏng giữa đám phụ nữ sang cả này. Phải chi đó là bà Tư, bà Bảy, hay bác Tám nào đó, toàn là các bà người Việt Nam, thì chẳng đời nào chị chịu thua, chưa biết chừng chị còn làm đầu tàu dẫn dắt câu chuyện và tán dóc cho tới khuya, hào hứng không kém gì họ.

Thỉnh thoảng chị cúi đầu, che dấu cái ngáp vì chán nản đến buồn ngủ. Rồi buổi họp mặt cũng tàn, chị sung sướng như vừa được …phóng thích ra khỏi trại tù.

Ở nhà, anh cũng sốt ruột không kém, được ngày thứ Bảy mà phải trông hai con, lúc thì chúng chạy đuổi nhau rầm rầm quanh nhà, lúc thì dành nhau đồ chơi và cãi nhau, anh hết dỗ dành đứa này đến năn nỉ đứa kia. Xong chúng đòi ăn, đòi uống, và “ hành hạ” anh không thương tiếc:

–  Bố nướng pizza không ngon bằng mẹ. Bố phải nướng lại cho con…

–  Mẹ cho con uống sữa bằng cái ly màu hồng  mà? Bố phải đổi cái ly này thì con mới uống sữa cơ.

Anh bực mình gắt lên:

–          Vậy thì đợi mẹ về mà đòi.

 May quá, chị đã về tới, anh chưa kịp than nỗi vất vả của mình thì chị đã than trước:

–          Ngồi mỏi cả lưng mà chẳng hiểu họ nói gì, cả đám bật cười ồ vì một câu nói đùa, trong khi em vẫn còn ngơ ngác và suy đoán mãi ….mới cười.

–          Ai bảo em nhận lời, làm khổ lây cả anh, vì phải ở nhà hầu hai con ranh này.

–          Chẳng qua em cả nể vì mấy món quà tặng của họ, họ lịch sự, mình cũng nên tỏ ra biết điều để hoà đồng với hàng xóm.

–          Thì ra ở khu nhà giàu không thoải mái bằng khu bình dân, họ kiểu cách quá, cứ đáp lễ qua lại cũng đủ mệt.Thế bao giờ em mới làm chả giò để tặng lại các bà hàng xóm đã welcome nhà mình bằng hoa và bánh ?

–          Anh không nhắc thì em cũng không nhớ, để mai em làm vậy.

Chị ngao ngán nghĩ tới cái màn đứng cuốn mấy bịch chả giò, rồi đem ra ngoài sân chiên từ từ cho vàng đều. Ôi chao! Lại mất nửa buổi.

Sáng Chủ Nhật, anh ra sân cắt cỏ, thấy mấy ông bà chạy bộ trên đường, họ mặc áo thun và quần short, chân đi giày, vớ, tất cả một màu trắng tinh, cứ như những vận động viên đang khởi động cho một cuộc đua quan trọng nào đó.

Người nào chạy qua sân nhà anh đều giơ tay chào hỏi, khiến anh cũng phải giơ một tay lên chào, còn tay kia  kềm chặt tay vịn cho máy cắt cỏ vẫn nổ ròn rã. Nếu cả khu xóm đều rủ nhau chạy thể dục ngày hôm nay thì chắc chắn anh không thể nào hoàn tất việc cắt cỏ như ý muốn, vì cứ phải liên tục giơ tay chào và mỉm cười đáp lễ với hàng xóm láng giềng.

Mỗi buổi sáng lái xe ra khỏi nhà để đi làm cũng vậy, trước khi “thoát” ra khỏi khu cư dân lịch sự sang trọng này, anh phải giơ tay chào đến mấy lần với những người hàng xóm tử tế anh gặp trên đường.

Khi anh hoà vào dòng xe cộ tấp nập trên phố, giữa đám đông không phải là hàng xóm, anh thật sự thấy thoải mái, thảnh thơi.

Chiều đi làm về, những người hàng xóm tử tế lại “ám ảnh” anh, hễ cứ thò mặt ra cửa thì thể nào cũng có ai đó đi qua và dừng chân lại chào hỏi. Anh không dám ra ngoài thường xuyên, anh mất cái quyền tự do được đứng ngắm sân cỏ xanh mà anh đã có công cắt xén. Chỉ có buổi tối may ra anh mới thấy thoải mái đứng ngoài sân, giờ này, ai ở trong nhà nấy, con đường trước nhà anh vắng tanh, im lìm. Anh chợt rùng mình, nếu như anh chẳng may bị trúng gió, ngã lăn ra đường thì cũng chẳng có người hàng xóm tử tế nào hay biết.

Anh so sánh với bên quê nhà, nghèo mà vui, những người Việt Nam chân tình, thắm thiết với hàng xóm láng giềng, với cả người không quen biết. Giữa đường, giữa chợ, ai đó bị trúng gió, bị bệnh bất ngờ, là có ngay các bà xúm vào cạo gió, lo âu, xót xa như với người thân của mình, những chai dầu gió có sẵn từ bao giờ trong túi, trong giỏ xách của các bà.

Hay họ săn sóc, đỡ đần khi hàng xóm có ma chay, cưới hỏi…Sự thân mật tự nhiên và thoải mái biết bao.

Còn ở Mỹ, trong khu lịch sự này, họ ra đường chào hỏi tử tế thế, thân mật thế, nhưng không có cảnh nhà nọ thường xuyên chạy sang nhà kia mượn một món đồ.

                             ***                    ****                     ***

Làm xong món chả giò đáp lễ cho các bà hàng xóm, chị thầm cầu xin các bà đừng vì lí do nào mà mang bánh, mang hoa đến tặng chị nữa.

Sang tuần thứ hai trong ngôi nhà mới, vợ chồng chị tổ chức nướng BBQ trong vườn sau, chị thích được hưởng không khí gia đình riêng tư như thế, hai đứa con tha hồ chạy đuổi nhau trong khu vườn xanh cỏ, trong khi anh ngồi uống bia, ăn thịt nướng và ngắm hồ, ngắm rừng cây…Mua căn nhà gần hồ, đắt tiền, mà không hưởng cảnh hồ cũng uổng!

Chiều xuống thấp, những đám mây trời màu xám như muốn xà xuống trên đỉnh những rặng cây bên kia hồ, mặt hồ xanh đậm hơn, bóng tối  đang ẩn núp đâu đó từ trong khu rừng kia sẽ đổ ụp xuống mặt hồ bất cứ lúc nào.

Khu vườn bỗng xuất hiện những đám muỗi, muỗi từ những bụi cây, bụi cỏ bên bờ hồ đang đi tìm mồi khi bóng chiều buông. Chị đứng nướng thịt mà chốc lại đập muỗi, lại gãi tay, gãi chân, và có khi phải nhảy tưng tưng lên mà vẫn không xua được đám muỗi đói gan lì, anh đang ăn cũng phải đứng lên di động cho muỗi khỏi tấn công, còn hai đứa con thì đều kêu lên:

–          Muỗi cắn đau quá! Mẹ ơi, cứu con .

–          Mẹ ơi, gãi cho con…

Chị cụt hứng và cũng không thể chịu đựng nổi cơn ngứa tưng bừng, bèn dắt con vào nhà để mặc cho anh dọn dẹp. Muỗi gì mà độc địa thế! mẹ con chị bị đốt nhiều nốt sưng đỏ lên, càng gãi càng sưng và ngứa thêm. Khi mua ngôi nhà này, họ chỉ ca ngợi hồ nước trong xanh, rừng cây thơ mộng, không ai nói cho chị biết hồ nước và bụi cây là hang ổ của muỗi cả.

Anh dọn đồ vào nhà xong, phàn nàn:

–          Làm sao mà dám tổ chức BBQ và mời bạn bè đến ? Họ ăn được mấy miếng thịt nướng của mình thì muỗi đốt khắp người. Họ còn oán cho nữa chứ.

–          Thuê người ta đến tiêu diệt muỗi được không anh? Chị lo âu hỏi.

–          Muỗi ở dọc những lùm cây và khu rừng bên kia, dài cả mile theo chiều dài khu hồ. Em có đủ tiền thuê người không? diệt muỗi rừng cũng như diệt chim trời cá nước. Chỉ có cách là…tuyệt đối không được ra vườn vào buổi chiều.

Chị kêu lên, đau khổ:

–          Thế thì còn gì là giá trị ngôi nhà sang trọng này nữa?

–          Muốn ở nhà đẹp, khu sang, bạn bè, họ hàng nghe đến đều “kính nể” thì phải tập mà thích ứng với mọi chuyện xung quanh nó. Đó là những người hàng xóm “quý tộc” kiểu cách ấy và đám muỗi rừng này. Chính em là người lựa chọn và đòi mua ngôi nhà này mà.

Chị im lặng vì anh nói đúng quá. Chị đã lựa khu sang trọng nhất trong thành phố, chấp nhận trả nợ góp ngôi nhà dài hạn, nhưng không ngờ rằng có những người hàng xóm quá kiểu cách, không hề thích hợp với gia đình chị, sự tử tế thân thiện của họ vẫn làm chị cảm thấy lạc lỏng, bây giờ lại phát giác ra khu vườn lắm muỗi càng làm chị ngao ngán. Không biết bao lâu nữa gia đình chị mới thích hợp được với những cảnh này?

Đêm hôm ấy chị ngủ mơ thấy căn nhà cũ, ở đối diện khu apartment ồn ào, rẻ tiền, hai bên là hai gia đình Mỹ đen. Chị nghe thấy tiếng nhạc Mễ ầm ĩ  khi những anh chàng Mễ  đang uống bia bên kia đường, và chị nghe thấy cả tiếng hai vợ chồng nhà Mỹ đen bên cạnh đang đứng nói chuyện ngoài sân, âm vang vọng vào trong giấc ngủ của chị.

Những người hàng xóm bình dân ấy chưa bao giờ mang sang nhà chị một bó hoa, một đĩa bánh.

Vậy mà những hình ảnh và âm thanh ấy bỗng là những kỷ niệm  thân thương và gần gũi vô cùng.

  Nguyễn thị Thanh Dương

   ****          ****          ****        ****

PHI TRƯỜNG MÙA HÈ.

Phi trường mùa Hè tôi vui chân bước,

Nhộn nhịp người cho những chuyến đi xa,

Có ai đó chia tay rơi nước mắt,

Có tôi phút này ngoảnh mặt làm ngơ.

.

     Thôi mặc kệ những nỗi buồn nhân thế

Khi nơi này còn có những niềm vui,

Trong đôi mắt long lanh cô gái trẻ,

Tôi thấy tôi một thuở đã yêu người.

.

Hỡi những cô gái tôi không quen biết

     Tuổi đôi mươi đang sức sống tràn đầy,

Cô mang mùa Hè trên tà váy ngắn,

Mang giấc mộng đời theo cả chuyến bay.

.

Phi trường mùa Hè, tôi như mới lớn,

Hành lý trên vai, rạo rực trong lòng,

    Tôi như thấy một chân trời hoa bướm,

     Ước gì đời vẫn có những chờ mong.

.

Này anh, hôm nay tôi không biết khóc,

Như đôi lần tôi khóc bóng hình qua,

Này cuộc sống quanh tôi bao vụn vặt,

Như bụi đường theo gió sẽ bay xa.

.

    Những máy bay nằm phơi mình trong nắng,

    Đợi hành khách vào, lại cất cánh bay,

    Tôi muốn được đi cùng trời cuối đất,

    Dù đời người ai đi hết đó đây.

.

Máy bay chìm trong làn mây trắng xoá,

Như dòng sông tôi chẳng thấy bến bờ,

Dưới chân tôi phố phường không còn nữa,

Thế gian này là thực cũng là mơ.

.

Kìa, thành phố nơi mà tôi đang đến

Khi máy bay hạ thấp xuống lưng trời,

Tôi bâng khuâng trong tay người thân đón:

Chẳng biết đời còn có mấy lần vui

Nguyễn thị Thanh Dương




THƠ TRẦN QUỐC BẢO: DÂN ÔNG TẠ

==

==

Dân Ông T  (*)

Nhà tôi xưa, vùng Ngã Ba Ông T,

Khu nổi tiếng: bún chả, mộc tồn,

Cứ mỗi xế chiều, ng bóng hoàng hôn,

Cả khu vực, thơm lừng mùi thịt nướng!

Món “dồi mộc tồn”, ngon không tưởng tượng!

Dân Á Châu, đâu có kỵ “cây còn”,

Gà, cá, cầy, bò…  đều cũng là con”,

Chẳng phân biệt, hễ ngon là xực ráo!  

Khu Ông Tạ, có anh em Sơn Đảo,

Những tay du đãng khét tiếng yêng hùng!

Được cái làm ăn thì họ đổi vùng,

Nên Ông Tạ, BảHiền, sống vui êm ả.

Inline image

              Tiến Sĩ. Trần An Bài

 Các danh nhân vùng Ngã Ba Ông T,

Nhiều thật nhiều, mà danh cũng lừng danh!

Nhớ xưa, Cụ Trùng Dương bậc lão thành,

Hạ bút đề thơ, toàn lời đạo đức.

Trưởng nam cụ, Tiến sĩ trẻ nhất nước,

Trần ABài vị Thẩm Phán thanh liêm.

Từ ngày qua M, ông ôm bút nghiên,

i đầu bạc lui cui đi học nhạc.

Tốt nghiệp Cử nhân Hòa âm Sáng tác,

Nhưng ngày đêm, mê mẩn cái đàn bầu.

Kế đến Tuấn Việt thi sĩ hàng đầu,

Chuyên sáng tác về phong trào Hướng Đạo.

Tinh thần Baden Powell vào thơ độc đáo!

Đệ nhất Huân chương Bách Hợp lưu danh.

Inline image

               Nhà Thơ Tuấn Việt

Tiếp đến Hoàng Xuân Việt, học giả lão thành,

Nhà ngôn ngữ học, cũng một nhà giáo dục!

Với 373 tác phẩm, thuộc nhiều lãnh vực,

Sở học uyên thâmrất mực hiền lành,           

Nào những: Hoàng Hải Thủy, Võ Hà Anh,

 Dung Sài Gòn, văn chương lãng mạn.

Rồi nhà văn MC. Nguyễn Ngọc Ngạn,

Đưa văn hóa vào chương trình Thúy Nga.

Viết bay bướm, có Lê Nguyễn Hương T,

 Đỗ Trung Quân,  văn tài bất hủ!

Chu Vương Miện, Ngô Hải Triều, Nguyên Vũ,

Đặc biệt Lê Tất Điều, Cù Mai Công

Phạm Thiên Thư dòng lục bát phiêu bồng,

Nét mực thăng hoa như thần phù thánh giáng!    

Inline image
Inline image

      Nhà Văn Hoàng Hải Thủy                    Nhạc Sĩ Văn Gỉảng

 Nhạc sĩ nỗi danh, thì Nguyễn Văn Đông, Văn Giảng,

Nguyễn Đình Toàn, Duy Khánh, Trịnh Nam Sơn,

Nét cọ thần kỳ, khó họa sĩ nào hơn!

Có Bùi Đức Lân, Nguyễn Văn Vinh, họa sĩ Ớt,

Danh nhân khu Ông Tạ, kể không thêm bớt,

Tuy nhiên, có thể cũng quên sót đôi ba.

Bởi vì tôi, nay tuổi tác đã già,

Nếu lú lẫn, xin hữu bằng thứ lỗi!

Inline image

   TQB & Quái Kiệt Trần Văn Trạch

 Còn hai Vị, không thể không nhắc tới:

Quái kiệt Trần Văn Trạch, nhà gần nhà tôi,

Và Chủ nhiệm báo Xây Dựng, đường Mai Khôi.

Cha Nguyễn Quang Lãm, bút danh Thiên Hổ”,

Cha Lãm là bạn học với tôi thuở nhỏ,

Rồi sau này, tôi viết báo cho Ngài.

Không tiền nhuận bút, chỉ nhậu lai rai,

Mỗi lần phát báo, kẹp vài chai rượu lễ!

Ngã Ba Ông Tạ còn nhiều chuyện đáng kể…

Nhưng đã dài dòng, xin tạm ngắt nơi đây.

Gặp ngày rảnh rang, lại sẽ tiếp tục ngay,

Cảm khái viết, vì tôi: Dân Ông Tạ!   (**)

                  Trần Quốc Bảo

                Richmond, Virginia

          Địa chỉ điện thư của tác giả:

       quocbao_30@yahoo.com

(*) Bài mới có hiệu đính đôi chút

(**)     Lời  Hai Bạn đoc 1 & 2

Xin Cảm Tạ  “Lời Hai Bạn đoc” / TQB

1 – Đinh Hùng Cường

     To:  . . . . . .   Thu, Aug 6 at 11:04 AM

Thưa niên trưởng Trần Quốc Bảo.

Bài thơ quá hay bao gồm nhiều thiên tài, nhưng tôi thấy một điều thiếu sót, không thể bỏ qua, đó

là . . Dân Ông Tạ còn thêm điều đáng kể

       chỉ dứt được khi thêm tên Trần Quốc Bảo, nhà thơ.

Gần đây bài thơ “Em 16” (M16) của niên trưởng quá xá là hay, bái phục! Kính chúc niên trưởng trường thọ để tiếp tục sáng tác. 

Vô cùng quý mến.

Hậu bối Đinh Hùng Cường.

2 – Trường Sơn Lê Xuân Nhị

To:  . . . . . . . . Thu, Aug 6 at 11:43 AM

Khu Ông Tạ còn tay kia nổi tiếng:

Quốc Bảo Trần vung bút khắp mọi nơi

Yêu tổ quốc yêu giang sơn, từng cầm súng một thời

Giờ có tuổi, lòng trước sau như một

Thơ con cóc của Trường Sơn Lê Xuân Nhị tặng anh TQB.

Tâm đa rng rãi bao la như TrĐt thì bao bđược c muôn loài.

(Hàn Thi Ngoi Truyn)

Trường Sơn Lê Xuân Nhị
           tslxnhi@aol.com




THỦY NHƯ – ĐỌC: Thư Tình Của Một Thủy Quân Lục Chiến




LÊ VĂN HẢI: TRUYỆN NGẮN Bà Mẹ Việt Đoàn Tụ Cùng Con Tại ARLINGTON.

==

BÀ MẸ VIỆT ĐOÀN TỤ CÙNG CON Ở ARLINGTON!

(LVH)

(Truyện ngắn dựa trên một câu chuyện có thật! Bà Nguyễn Thị Kim Hoàn có một con trai duy nhất. Lớn lên, em Lê Ngọc Bình gia nhập Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ, Năm nào, đúng vào dịp lễ Vua Lan, Mẹ & Con, lại có cuộc đoàn tụ Nghĩa trang Quốc gia Arlington! Năm nay hơi khác! tại sao? Xin bước vào truyện ngắn tràn đầy tình Mẹ & Con, Tình Đồng Đội dưới đây:)

=

==

=

(Hình: Mẹ Nguyễn Thị Kim Hoàn, hội ngộ cùng con trai, tại nghĩa trang! Hình tang lễ và chân dung Lê Ngọc Bình)

-Máy bay đã cất cánh từ San Jose, nơi thành phố có Cộng Đồng Việt Nam lớn nhất nước Mỹ, vừa ổn định độ cao.

Ngoài cửa sổ, những đám mây trắng trải dài như những cánh đồng bông gòn, mênh mông bồng bềnh, như chốn thiên thai.

Bà Kim Hoàn lặng lẽ mở chiếc ví cũ đã sờn mép. Trong ví chỉ có vài tờ tiền chẵn, gấp ngay ngắn và một tấm ảnh mầu đã ngả màu. Hình ảnh người thanh niên oai phong, thế nghiêm trong quân phục Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ đang mỉm cười.

Bà khẽ nhẹ nhàng vuốt nhẹ lên tấm hình, nói thầm:

“Má sắp đến thăm con rồi!”

Năm nào cũng vậy.

Cứ đến mùa Vu Lan, bà đều xin nghỉ vài ngày ở tiệm nail San Jose, đáp chuyến bay sang Thủ đô Washington D.C.

Không ai rủ.

Cũng không ai tiễn.

Chỉ một chiếc vali nhỏ, vài bộ quần áo, ít trái cây khô, bó nhang và tấm hình đứa con trai.

*******

Khoảng hơn một giờ sau, trên loa, cô tiếp viên hàng không thông báo chuẩn bị phục vụ bữa trưa.

Phía sau khoang máy bay có gần hai chục quân nhân trẻ, có lẽ vì không đủ quân số, nên đã dùng máy bay dân sự để di chuyển quân.

“Đứa nào, đứa nấy”, cũng còn rất trẻ! mặt búng ra sữa!

Có cậu khuôn mặt còn đầy mụn!

Có cậu vừa ngồi xuống đã ngủ gục.

Có cô gái lính ôm chiếc ba lô cũ kỹ, còn đính đất bùn!

Khi xe thức ăn đi đến, nhiều người nhìn, rồi chỉ cười:

— Không, cảm ơn.

— Tôi chỉ xin ly nước.

— Cho tôi chút cà phê thôi.

Một tiếp viên đi ngang, nhỏ giọng với đồng nghiệp:

— Chắc mấy em ấy thấy tiếc tiền.

Một suất ăn trên máy bay trên hai chục đô, đâu có ít!

Đối với người đi lính trẻ, đồng lương chưa nhiều, đó lại không phải khoản chi nhỏ!

Bà Kim Hoàn lặng lẽ quan sát.

Bà nhớ…

Ngày xưa, Bình cũng ở tuổi ấy.

Khi được huấn luyện ở quân trường xa.

Có lần gọi điện về chỉ nói:

“Mẹ đừng gửi tiền cho con nữa. Ở đây bánh mì kẹp được ăn no…không tốn tiền!”

Đời lính nơi nào cũng thế! Nghĩ vậy, mắt bà cay xè!

Rồi bà gọi cô tiếp viên lại.

— Cô ơi…

— Dạ?

Bà lấy xấp tiền trong ví ra.

— Phiền cô… nhưng xin đừng nói với ai biết.

— Dạ?

— Tôi muốn mời tất cả mấy cháu lính phía trong máy bay này, ăn một…bữa trưa!

Cô tiếp viên sững người.

— Tất cả?

Bà gật đầu.

— Có rượu vang, thì cho xin mỗi cháu một ly nhỏ.

— Hôm nay, nhìn chắc các cháu di chuyển cũng đã mệt!

Tiếp viên nhìn bà hồi lâu.

— Bà chắc chứ?

— Chắc.

— Nhưng số tiền…

—…Cám ơn! Bà đưa đủ rồi!

Cô tiếp viên cầm tiền, nhìn bà mà đôi mắt ướt đỏ hoe!

Ít phút sau…

Những khay thức ăn nóng được mang tới.

Đám lính trẻ nhìn nhau ngạc nhiên.

— Có ai trả nhầm không?

— Chúng tôi đâu đặt.

Tiếp viên cười:

— Hôm nay có một vị khách Việt đặc biệt trên máy bay này, muốn mời tất cả các Bạn!

Cả khoang máy bay xôn xao.

Một cậu đứng dậy:

— Ai vậy?

Tiếp viên chỉ mỉm cười.

— Bí mật.

******

Ăn xong.

Một nhóm lính nhất quyết đi tìm ân nhân.

Họ đi từng hàng ghế.

Cuối cùng dừng trước một phụ nữ Á Đông nhỏ bé.

— Thưa bà…

— Bà có phải…

Bà cười hiền.

— Phải.

Một cậu lính gần như nghẹn lời.

— Sao bà lại làm vậy?

Bà chỉ đáp rất nhẹ:

— Vì các con mặc quân phục! nhất là trong Binh chủng Thủy Quân Lục Chiến!

Không khí bỗng im lặng.

Một cô gái hỏi:

— Bà có người thân trong quân đội?

Bà mở chiếc ví.

Lấy tấm ảnh cũ.

— Nó là con trai tôi! Một Hạ Sĩ Thủy Quân Lục Chiến!

Mọi người chuyền tay nhau xem tấm hình.

Một người đọc thành tiếng:

“Hạ sĩ Lê Ngọc Bình!”

— Anh ấy đâu rồi, thưa bà?

Bà nhìn ra cửa sổ.

Rất lâu.

Rồi khẽ nói:

— Đang chờ tôi…

…ở…Arlington!

Không ai hiểu.

Một cậu hỏi nhỏ:

— Anh ấy đóng quân ở đó?

Bà lắc đầu.

— Không…

Con tôi nằm ở Nghĩa trang Quốc gia Arlington!

“Nó” hy sinh ở chiến trường Iraq, hơn hai mươi năm trước.

Cả khoang máy bay bỗng lặng im như tờ!

Một cô gái lính chợt ôm mặt bật khóc.

Một chàng trai cúi đầu rất lâu.

Không ai còn biết phải nói gì.

******

Hơn 4 tiếng đồng hồ, rồi máy bay hạ cánh.

Những người lính cứ nghĩ câu chuyện kết thúc ở đó.

Nhưng khi bà Kim Hoàn bước ra khu nhận hành lý, phía sau bỗng vang lên:

— Ma’am! Thưa bà!

Bà quay lại, ngạc nhiên.

Toàn bộ đoàn quân nhân đứng ngay ngắn thành hai hàng.

Người chỉ huy bước tới.

— Nếu bà đồng ý…

— Hôm nay cho phép chúng tôi được đưa bà đến gặp con trai.

Bà ngỡ ngàng.

— Các cháu… không cần mất công như thế!

— Đó là điều chúng tôi phải làm, tất cả muốn làm!_

Buổi chiều hôm đó.

Nghĩa trang Quốc gia Arlington.

Những hàng bia trắng chạy dài đến tận chân trời.

Gió tháng Tám thổi nhè nhẹ.

Bà Kim Hoàn chậm chạp bước đến ngôi mộ quen thuộc.

Bà đặt bó hoa xuống.

Cẩn thận lau từng hạt bụi trên bia đá.

Khẽ nói:

— Má đến rồi đây… rồi!…con!

Đúng lúc ấy…

Tiếng hô vang lên dõng dạc.

“Attention!” Tất cả chú ý!

Hai mươi quân nhân trẻ đứng thành đội hình.

Người chỉ huy ra lệnh.

Tất cả cùng kính cẩn đưa tay chào, hàng ngũ thẳng tắp!

Một người lính mang vòng hoa tiến lên.

Một người khác cúi đầu đọc lời tưởng niệm, còn có cả tiếng kèn!…vang vọng cuộn bay vào chiều gió!

Không ai bảo ai.

Tất cả đều đứng nghiêm như đang tiễn biệt một chiến hữu vừa nằm xuống hôm qua!

Nước mắt bà Kim Hoàn không thể kìm, cứ lăn dài trên gò má!

Suốt hơn hai mươi năm.

Đây là lần đầu tiên, bà không còn đứng một mình trước mộ con! chung quanh “nó” còn có đồng đội!

Lễ xong.

Một chàng lính trẻ tiến lại.

Giọng nghẹn ngào.

— Thưa bác…

Nếu ngày nào đó…

Con cũng nằm xuống…

Con mong mẹ con cũng gặp được những người như bác.

Bà nắm chặt tay cậu.

— Không! Không được!

Má chỉ mong…

Các con, sau đời lính, đều bình an trở về với mẹ mình!

******

Chiều xuống dần.

Ánh nắng cuối ngày phủ vàng óng ánh, trên những hàng bia trắng.

Gió khẽ lay lá cờ nhỏ cắm trước mộ.

Bà Kim Hoàn vuốt nhẹ trên tấm bia.

Khẽ hôn lên dòng tên con trai.

Nhưng lần này…

Sau lưng bà không còn là khoảng lặng.

Có gần hai mươi người lính trẻ, vẫn đứng nghiêm trang như tượng đá, lồng lộng trong gió chiều.

Họ không cùng huyết thống.

Không cùng màu da.

Không cùng nơi sinh.

Nhưng họ cùng gọi người nằm dưới bia đá ấy bằng một tiếng gọi rất thiêng liêng:

Tình Chiến Hữu!

Và người mẹ Việt Nam năm ấy hiểu rằng…

Con trai mình chưa bao giờ cô độc.

Ở Arlington, con vẫn còn đồng đội! và khắp nơi!

Và trong mùa Vu Lan ấy, cuộc đoàn tụ của hai mẹ con đã có thêm một gia đình mới! Như tình ruột thịt, như trong câu hát: “Cho tôi xin một mộ phần, bên ngàn Chiến Hữu của tôi!”

(LVH Mùa Vu Lan 2026)




TS MAI THANH TRUYẾT: 1. Sự Tái Định Hình Của Nền Văn Minh Nhân Loại – 2. Muối – Chất Keo Gắn Kết Dân Tộc Lại Với Nhau – 3. Giảng Dạy Lịch Sử Chủ Nghĩa Cộng Sản.

==1.Sự Tái Định Hình Của Nền Văn Minh Nhân Loại

==2. Muối – Chất Keo Gắn Kết Dân Tộc Lại Với Nhau

==3. Giảng Dạy Lịch Sử Chủ Nghĩa Cộng Sản




Phương Hoa: NGHỀ MC – CÓ PHẢI LÀ “TÂM ĐIỂM” CỦA SÂN KHẤU?


NGHỀ MC – CÓ PHẢI LÀ “TÂM ĐIỂM” CỦA SÂN KHẤU?

Phương Hoa

Người ta thường bảo, sân khấu là một “Thánh đường”, nơi nghệ sĩ thăng hoa dưới ánh đèn màu. Nhưng để dẫn dắt hàng ngàn khán giả bước vào thánh đường ấy một cách trơn tru, mê đắm, thì không thể thiếu một nhân vật đặc biệt.  Tuy không phải là một nghệ sĩ hay ca sĩ, nhưng người MC (Master of Ceremonies) chính là “linh hồn” của chương trình, góp phần dẫn dắt cảm xúc khán giả.  

Dạo gần đây, truyền thông quốc tế lẫn các giải thưởng lớn liên tục vinh danh những nhân vật đặc biệt đứng sau chiếc micro. Người ta chứng kiến và hâm mộ Yoo Jae-suk, được tôn vinh là vị “MC Quốc dân” của Hàn Quốc, vừa thiết lập những kỷ lục vô tiền khoáng hậu khi càn quét các giải thưởng lớn (Daesang) nhờ lối dẫn dắt chân thành, kết nối mọi thế hệ. Anh ta nổi tiếng đến độ chỉ cần gõ tên Yoo Jae-suk vô Google, là cả tiểu sử “Tam đại đồng đường”, nói theo người Việt mình, đều xuất hiện, kể cả anh ta thích ăn món gì, sợ con gì…không thiếu một đường tơ kẽ tóc.

Tại Mỹ, những MC khét tiếng như Ryan Seacrest, hay James Corden, tiếp tục chứng minh vị thế “MC triệu đô” khi một tay họ gánh vác những sự kiện quy mô toàn cầu như American Idol, Brit Awards, hay các đêm trao giải Grammy.   

Hồi năm ngoái, hình như là sau Tết Tây vài ngày, trong một chiều Chúa Nhật tôi có coi đài CBS phát trực tiếp Lễ trao giải Quả Cầu Vàng lần thứ 82 (82nd Golden Globe Awards).  Nữ danh hài Nikki Glaser đã đi vào lịch sử Quả Cầu Vàng với vai trò MC độc diễn (solo host) độc đáo với những câu đùa “xé gió tung mây” của cô.  Trên đài CBS đêm đó Nikki đã tạo nên một “cơn sốt” thực sự trên khắp các mạng xã hội và truyền thông Mỹ vì những câu khôi hài vô cùng thú vị làm mọi người cười đến… “té ghế”, nói theo ngôn ngữ trong nước hiện giờ.

Xưa nay ai cũng biết các lễ trao giải Hollywood thường rất trang trọng, và vì trang nghiêm quá đôi khi lại bị khô cứng. Thế nhưng, lần này khi nữ MC Nikki Glaser bước ra giữa sân khấu Beverly Hilton, cô đã ngay lập tức làm đảo ngược toàn bộ không khí.  Vì tiếng tăm của Nikki Glaser lừng lẫy, nên tôi có quay video lại một đoạn để dành học hỏi, vì tôi rất thích hài hước.  Vừa bước ra, nhìn xuống dàn “siêu sao” hạng A bên dưới, cô “phán” ngay một câu… xanh dờn:

“Tôi nhìn quanh hội trường này và thấy tất cả các bạn ở đây đều tài năng, xinh đẹp,… và hầu như AI CŨNG ĐANG DÙNG OZEMPIC! (Thuốc giảm cân) Tôi xin thề, là bầu không khí ở đây… ‘mỏng dính’ không phải vì độ cao, mà vì phổi của các bạn đang bị… siết lại bởi cái thuốc giảm cân đó đấy!” (Nguyên văn tiếng Anh: “I look around this room and I see so many talented, beautiful people… and almost all of you are on Ozempic! I swear, the air in this room is thin, not because of the altitude, but because all your lungs are being… squeezed by weight-loss drugs!”)

Cả khán phòng bùng nổ trong những tràng cười nghiêng ngả; các siêu sao Hollywood ôm mặt cười ầm lên không thể kềm chế.  Tôi cũng cười lăn cười bò, ruột gan cứ như là xoắn lại từng hồi, làm chàng xã nhà tôi (người thường nghiêm nghị ít cười) từ phòng trong cũng giật mình chạy ra xem và tiếp tục đứng đó…cười ké!  Nikki còn tiếp tục “cù lét” cả thế giới trong suốt buổi lễ trao giải.  Báo chí truyền thông sau đó không ngừng ca ngợi Nikki Glaser là “người MC đã ‘gánh’ trọn đêm Quả Cầu Vàng”!

Chắc quý độc giả sẽ tò mò, cái nghề MC sao mà quyền lực và diệu kỳ đến thế? Nghề MC thực sự bắt nguồn từ đâu; tại sao cái nghề tưởng như “chỉ nói vớ vẩn vài câu vô thưởng vô phạt” này lại có sức mạnh chi phối cả một nền công nghiệp giải trí?

Thật ra từ MC tức “Master of Ceremonies” vốn có nguồn gốc rất uy nghi từ Giáo Hội Công Giáo La Mã vào khoảng thế kỷ 5.  Theo Bách Khoa Toàn Thư Britannica của Anh Quốc, “Magister Caeremoniarum” là chức danh chính thức trong Phủ Giáo Hoàng, có phận sự quản lý, điều hành các nghi lễ Công Giáo quan trọng tại Vatican.  Vị chức dịch này chịu trách nhiệm bảo đảm các nghi lễ tại Tòa thánh Vatican diễn ra đúng chuẩn mực, không một chút sai sót.

Đến thế kỷ 19, khái niệm này mới bước ra khỏi cửa giáo đường để đi vào đời sống nghệ thuật đại chúng, xuất hiện trong các buổi diễn nhạc kịch và sân khấu “Vaudeville” ở Anh và Mỹ. MC lúc này chuyển mình thành người giữ nhịp, kết nối các tiết mục, và khuấy động không khí. Đến thế kỷ 20, cùng sự bùng nổ của Radio và Truyền hình tại Hollywood, MC chính thức trở thành một nghề quyền lực. Những “đế chế MC” tỉ đô và những giây phút “đi trên dây” của MC cũng được truyền thông quan tâm, soi mói rất kỹ.  Trên thế giới, MC là người hướng dẫn chương trình và là những người định hình văn hóa đại chúng.

Điển hình như Ed Sullivan (Mỹ), với show truyền hình The Ed Sullivan Show (1948–1971), ông chính là người đã đưa nhóm nhạc The Beatles bước chân vào nước Mỹ, tạo nên bước ngoặt lịch sử làm thay đổi nền âm nhạc thế giới.  Oprah Winfrey (Mỹ), cũng từ một cô gái có tuổi thơ nghèo khó, Oprah đã biến nghề dẫn chương trình thành một “đế chế” truyền thông, trở thành nữ tỉ phú da màu đầu tiên trên thế giới, nhờ sự chân thành và khả năng chạm đến trái tim người nghe.

Tuy nhiên, sân khấu trực tiếp tại Mỹ cũng là nơi thử thách bản lĩnh MC qua những “tai nạn” đi vào lịch sử.  Ai có thể quên câu chuyện “cười ra nước mắt” tại đêm trao giải Oscar 2017, khi phong bì bị đưa nhầm làm tên La La Land được xướng cho giải “Phim Hay Nhất” thay vì Moonlight?  Hay vụ đọc nhầm tên Tân Hoa Hậu tại Miss Universe 2015 là Ariadna Gutiérrez (Hoa hậu Colombia) thay vì Hoa Hậu chính thức được Vương Miện là Pia Wurtzbach (Hoa hậu Philippines) của MC Steve Harvey? Kết quả là Ariadna Gutiérrez của Colombia đã được trao vương miện, đeo băng rôn, và vẫy tay chào khán giả khoảng vài phút, trước khi Steve Harvey “mất vía” bước ra sân khấu gửi lời xin lỗi rối rít, và đính chính lại sự thật.   Những giây phút “thót tim” đó cho thấy, chiếc micro hào nhoáng thật, nhưng áp lực ứng biến của MC để “cứu sự cố” trước hàng triệu khán giả truyền hình là cực kỳ kinh khủng và đắt giá!

Dấu ấn về MC Sài Gòn thời kỳ trước 1975.  Nói về nghệ thuật điều khiển chương trình của người Việt, phải nhắc đến Thành Phố Sài Gòn trước năm 1975, nơi đã khai sinh ra những “ông Hoàng, bà Chúa” của đại nhạc hội và đại sảnh.  Thời bấy giờ, MC đã không đơn giản là giới thiệu “ai ra hát bài gì”, mà họ là những bậc thầy ngôn từ và ứng biến. Những danh xưng huyền thoại như Trần Văn Trạch (được mệnh danh là “Quái kiệt”), Thanh Hoài, Thanh Toàn… đã làm nức lòng khán giả qua các đại nhạc hội Quần Ngựa, Văn Hoa. Giọng nói của họ đặc biệt truyền cảm, phát âm chính xác từng dấu nhấn, và đặc biệt là lối nói chuyện dí dỏm nhưng vô cùng văn minh.  Họ chính là những người đã đặt nền móng cho mực thước của một MC chuyên nghiệp.  Nhã nhặn, am hiểu nghệ thuật, tài hoa và làm chủ sân khấu.

Về sau, còn có những tượng đài MC Việt tại hải ngoại.  Đặt chân đến xứ người, nghệ thuật dẫn chương trình Việt Nam lại tiếp tục thăng hoa với những cái tên đã trở thành huyền thoại. Làm sao có thể không nhắc đến MC Nguyễn Ngọc Ngạn, bậc thầy uyên bác, người đã dùng sự duyên dáng và kho tàng văn hóa đồ sộ của mình để gìn giữ tiếng Việt suốt mấy chục năm trên sân khấu Paris By Night.  Hay MC Nam Lộc, người đã mang đến sự ấm áp, dí dỏm trên sân khấu Asia, người đã dùng chiếc micro để kết nối cộng đồng, kêu gọi những quỹ từ thiện hàng triệu đô la gửi về cho người Thương Phế Binh VNCH từ nơi xa xứ. Họ chính là minh chứng rõ nhất cho việc một MC giỏi phải vừa lo việc giải trí, vừa lo chuyện nâng cao tầm vóc cho cả một chương trình văn hóa. Cho nên nếu nói rằng MC thời nay là “Chiến lược gia” nắm giữ chìa khóa thành công cho một sự kiện cũng không ngoa tí nào!

Tóm lại, ngày nay tiêu chuẩn của một MC đã vượt xa khỏi việc sở hữu một giọng nói hay. Một MC tài năng còn phải thu hút khán giả, có sức hút như “thỏi nam châm” giúp các show diễn bán sạch vé làm khán phòng luôn kín chỗ.  Tài năng gây quỹ (Fundraising) cũng phải thật …siêu đẳng trong các sự kiện cộng đồng hay từ thiện. Bằng sự khéo léo và chân thành, MC có thể biến những lời kêu gọi thành những con số gây quỹ ấn tượng ngoài mong đợi.  Chưa hết, họ còn phải tối giản tiến trình, giữ cho chương trình trôi chảy, giảm bớt áp lực nhân sự và tiết kiệm chi phí phát sinh cho ban tổ chức.

Nghề MC, đúng ra chính là nghệ thuật kết nối con người và kiến tạo cảm xúc. Dù ở bất kỳ thời đại nào, một MC hội tụ đủ sự tận tâm, nét duyên dáng, và sắp xếp chương trình bài bản luôn là “báu vật” của mọi sự kiện.  Những thông tin đầy thú vị trên đây về nghề MC là chút tâm tình tôi góp nhặt từ “thập phương thế giới bao la”…

Còn bây giờ, xin mời quý vị cùng nhìn lại “thế giới nhỏ” ấm áp của Thi Văn Đàn VTLV chúng tôi. Nhớ lại ngày trước, từ thời cố Chủ tịch VTLV Chính Nguyên còn sinh tiền, chính anh bằng sự tinh tường đã trân trọng mời MC Thanh Loan tham gia vào VTLV.  Và kể từ thời điểm ấy, việc tổ chức các sự kiện của chúng tôi đã hoàn toàn sang trang!

Thanh Loan là một người nghệ sĩ đúng nghĩa, dù làm MC bước đầu là “nghề tay trái” của cô.  Cô sở hữu một khối óc đầy sáng tạo và một trái tim luôn nồng nhiệt với nghệ thuật.  Nghề nghiệp chính của cô vốn là một “Auditor và Process Engineer” cho công ty chính phủ, những ngành nghề đòi hỏi sự chính xác, logic, và bài bản đến tuyệt đối.  Nhưng chính vì tình yêu nghệ thuật quá lớn, Thanh Loan đã “lấn sân” thêm sang nghề cầm mic và gắn bó với sân khấu cho đến giờ.  

Từ ngày có Thanh Loan, Ban Điều Hành VTLV như được “nhẹ gánh” đi rất nhiều! Trước kia, mỗi lần VTLV chuẩn bị cho một sự kiện là cả BĐH phải họp tới họp lui, bàn ra tính vào không biết bao nhiêu bận mới xong việc.  Còn với Thanh Loan, chỉ cần Chủ Tịch và BĐH đưa ra ý tưởng, thì loáng một cái, cô đã phác thảo nên một chương trình (plan) hoàn chỉnh, gọn ghẽ, và “cực kỳ” bài bản.  Cô rất có tài ăn nói trên sân khấu, giỏi quán xuyến phía sau hậu trường, giúp các sự kiện diễn ra trơn tru, nhanh gọn, và tiết kiệm tối đa các chi phí phát sinh.

Chưa dừng lại ở đó, nhờ sự kết nối rộng rãi cùng uy tín cá nhân, cô dễ dàng quy tụ các nhân tài, ca sĩ, nhạc sĩ, và nghệ nhân về chung vui trong mỗi sự kiện.  Sự chu đáo và tận tâm ấy khiến BĐH VTLV luôn cảm thấy thoải mái, an tâm vô cùng.  Có được một MC vừa có tâm, vừa có tài, lại vừa duyên dáng như Thanh Loan, VTLV chúng tôi thật sự may mắn và cảm thấy hãnh diện.  Với tâm hồn đầy mơ mộng, mỗi kịch bản (chương trình) của Thanh Loan đều là một tác phẩm nghệ thuật, mang đến sự tươi mới và khác biệt. Nhờ background kỹ sư, Thanh Loan “cầm mic” giỏi, tổ chức tài ba, mọi chi tiết đều được “soi” kỹ, từ flow chương trình đến cách ứng phó với những tình huống bất ngờ.

Và bây giờ, sau nhiều năm làm MC như một nghề tay trái, hiện tại Thanh Loan đã nhận ra mình rất yêu nghề, thích thú với những kết quả mình đạt được, cộng thêm sự yêu cầu của rất nhiều khán giả và nhiều Ban Tổ Chức sự kiện, nên cô đã quyết định … đổi qua tay mặt, đầu tư trọn vẹn vào lãnh vực làm một MC thực thụ.

VTLV xin chia vui cùng MC Thanh Loan và chúc cô thành công vững bước trên con đường sự nghiệp mới.  Hy vọng trong một ngày không xa Thanh Loan cũng sẽ trở thành một… “MC triệu đô” như Yoo Jae-suk của Nam Hàn.

Xin trân trọng giới thiệu MC Thanh Loan tới cộng đồng Việt mình nơi hải ngoại.

Liên lạcmcthanhloan@gmail.com

Đt: (408) 613 9142

Phương Hoa – VTLV

BT:  Bài này gửi ra thì nhận được email “ĐÓNG MỘC” của anh Chủ Tịch VTLV Lê Văn Hải dưới đây. 

Cảm ơn “Sếp Hải!”

Đóng Mộc!…Số Một!…La Mã!

(Đã cầu chứng tại tòa!)

Trong vùng, có lẽ tôi là người có duyên, được hân hạnh cộng tác, làm việc với Thanh Loan rất nhiều lần, thời gian cũng rất lâu!

Công nhận Cô là một MC duyên dáng, tuyệt vời, óc tổ chức gỏi, độc đáo, nhiều khả năng, đầy trách nhiệm.

Đọc xong bài Chị Phương Hoa, không ngần ngại:
Đóng Mộc!…Số Một!…Tuyệt Vời!

Như ý trong bài, MC là linh hồn buổi tổ chức, nên ai có tổ chức, mà không nhờ, không nghĩ đến TL, thì đúng là… mất linh hồn!😄

Trân trọng rất vui để được giới thiệu.

(LVH)

==




Tsu A Cầu – 1. KHI LỊCH SỬ BỊ TƯỚC ĐẠT BỎI SỰ IM LẶNG – 2. KHI SỰ THỨC TỈNH KHÔNG ĐỦ – 3. Bất Khuất Tân Cảnh – Ký Ức Của Người Lính Trinh Sát.

1- KHI LỊCH SỬ BỊ TƯỚC ĐẠT BỎI SỰ IM LẶNG

LỜI NGỎ

Kính thưa quý Niên Trưởng, quý Chiến Hữu và quý Thân Hữu,

Nhìn lại nửa thế kỷ hiện diện của cộng đồng người Việt trên đất Mỹ, một trong những bi kịch âm thầm nhưng sâu sắc nhất chính là sự đứt gãy ký ức giữa hai thế hệ. Xuất phát từ tình thương và ước mong bảo vệ con cái khỏi những đau thương của quá khứ, nhiều cựu quân nhân và người tị nạn thuộc thế hệ thứ nhất đã chọn cách khép chặt ký ức, giữ im lặng về những năm tháng chiến tranh tàn khốc, khoảng thời gian đày ải trong các trại cải tạo cũng như vượt biên, vượt biển nguy hiểm. Thế nhưng, chính sự im lặng mang danh tình thương ấy lại vô tình tạo ra một khoảng trống lịch sử nguy hiểm ngay trong lòng mỗi gia đình. Không có một lịch sử chân thực do cha mẹ truyền lại để tự hào, thế hệ trẻ lớn lên dễ rơi vào trạng thái tự ti bản sắc, thụ động chịu ảnh hưởng bởi những định kiến lệch lạc hoặc góc nhìn đơn giản hóa từ truyền thông đại chúng phương Tây.

Bài tham luận “Khi Lịch Sử Bị Tước Đạt Bởi Sự Im Lặng: Bài Học Từ Ký Ức Và Di Sản Của Thế Hệ Thứ Nhất” được viết ra nhằm nhận diện và đối thoại trực tiếp với thực trạng nhức nhối này. Khởi đi từ việc trân trọng những giá trị cảm xúc trong tản văn gần đây của tác giả Phạm Sơn Liêm — một tác phẩm đã khéo léo chạm vào nỗi niềm thức tỉnh bản sắc của một đứa trẻ gốc Việt, bài tham luận mở rộng góc nhìn sang bức tranh toàn cảnh của cộng đồng. Tác phẩm trình bày sâu sắc những hệ quả cay đắng khi khoảng trống ký ức bị lấp đầy bởi các góc nhìn tư tưởng bên ngoài, từ đó đặt ra yêu cầu cấp thiết về trách nhiệm bảo vệ và trao lại sự thật lịch sử.

Nhấn mạnh rằng thế hệ trẻ sinh ra ở phương Tây luôn tôn trọng các giá trị xác thực và lối suy nghĩ phản biện, bài tham luận khẳng định lịch sử không thể và không nên dựa vào sự tô vẽ hay hư cấu nghệ thuật. Giá trị vững chắc nhất để củng cố lòng tự hào dân tộc cho thế hệ sau phải nằm ở tính trung thực của chính sử.

Từ mẫu số chung đó, bài tham luận giới thiệu tác phẩm sắp được phổ biến nay mai, “Bất Khuất Tân Cảnh – Ký Ức Của Người Lính Trinh Sát”, như một nỗ lực tư liệu sát thực, góp phần bổ sung những mảnh ghép nhân chứng sống động và khách quan vào dòng chảy lịch sử.

Đây không chỉ là một văn bản phân tích lý luận hay phê bình văn học, mà còn là một lời thức tỉnh đanh thép nhưng đầy nhân văn gửi tới những nhân chứng lịch sử: Hãy bước ra khỏi sự im lặng để trao lại cho con cháu di sản thiêng liêng nhất — sự thật về danh dự và bản sắc, trước khi ngọn đèn ký ức vĩnh viễn tắt phụt vào hư vô.

Kính mời quý Niên Trưởng, quý Chiến Hữu cùng quý Thân Hữu cùng đọc, thảo luận và phổ biến rộng rãi.

Trân trọng,

Tsu A Cầu (K29/TVBQGVN)

Huntington Beach, California, ngày 3 tháng 8 năm 2026.


KHI LỊCH SỬ BỊ TƯỚC ĐẠT BỎI SỰ IM LẶNG

Bài Học Từ Ký Ức Và Di Sản Của Thế Hệ Thứ Nhất

Tsu A Cầu


I.                   Từ Một Câu Chuyện Cảm Động Đến Nỗi Trăn Trở Thời Đại

Thời gian gần đây, trên các diễn đàn của cộng đồng người Việt hải ngoại, một tản văn ngắn của tác giả Phạm Sơn Liêm đã thu hút sự chú ý và được chuyền tay nhau rộng rãi. Bài viết hay và nhiều cảm xúc, “Ngày Con Tìm Thấy Hồ Sơ Của Cha”, kể về Emily — một cô gái gốc Việt sinh ra tại California. Giống như không ít người trẻ thuộc thế hệ thứ hai trên đất Mỹ, Emily lớn lên trong sự xa lạ với cội nguồn: thích hamburger hơn phở, ngần ngại mặc áo dài, và nghe nhạc lính cũ thì đeo tai nghe tránh né. Người cha — một cựu sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng Hòa từng kinh qua chiến trường và trải qua thời gian tù cải tạo sau ngày 30/4/1975 — chọn cách hoàn toàn giữ im lặng về quá khứ. Ông giấu kín những vết thương với mong muốn con gái mình lớn lên như một người Mỹ hạnh phúc. Chỉ đến khi bước vào tuổi 30, qua một sự tình cờ tìm hiểu hồ sơ, Emily mới nhận ra những hy sinh thầm lặng của cha để rồi quay về hiểu và thương cha mình hơn.

Tác phẩm của Phạm Sơn Liêm đã khéo léo chạm vào cảm xúc người đọc nhờ một cái kết vô cùng nhân văn và ấm áp. Đáng trân trọng hơn cả, tản văn này đã khơi gợi đúng một nỗi trăn trở có thật và vô cùng nhức nhối trong lòng cộng đồng: sự đứt gãy ký ức liên thế hệ do sự im lặng của… cha mẹ.

Nhân vật Emily trong bài viết đại diện cho một trường hợp may mắn: cô còn cơ hội nhận ra sự thật khi người cha già vẫn còn sống. Nhưng trong thực tế của cộng đồng tị nạn suốt nửa thế kỷ qua, biết bao nhiêu gia đình đã không có được cơ hội ấy?

Biết bao người con thuộc thế hệ thứ hai, thứ ba đã vĩnh viễn không thể đối thoại với quá khứ gia đình, bởi khi chúng bắt đầu trăn trở muốn biết “Tôi là ai? Tại sao gia đình tôi lại có mặt trên đất Mỹ?”, thì những nhân chứng đã mang toàn bộ ký ức xuống tuyền đài. Sự im lặng của cha mẹ — dù xuất phát từ tình thương muốn bảo vệ con khỏi tổn thương — vô tình đã tạo ra một khoảng trống lịch sử ngay trong lòng mỗi gia đình.


II. Khoảng Trống Lịch Sử Và Nguy Cơ Tự Ti Bản Sắc

Thế hệ thứ nhất khi đến Mỹ thường tự dặn lòng: “Hãy để đau thương dừng lại ở đời mình. Con cái mình cần ngẩng cao đầu làm người Mỹ hạnh phúc.” Nhưng khi khép lại quá khứ, chúng ta cũng vô tình tước đi điểm tựa bản sắc của thế hệ sau.

Một đứa trẻ không được trang bị hiểu biết về lịch sử gia đình sẽ dễ rơi vào thế bị động khi bước ra xã hội. Trong môi trường học thuật và truyền thông đại chúng tại Mỹ, Chiến tranh Việt Nam thường bị nhìn nhận qua lăng kính đơn giản hóa hoặc chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi trào lưu phản chiến. Nếu không có những câu chuyện thực tế từ chính người cha để đối chứng, người trẻ rất dễ bị tác động bởi những định kiến quy chụp — rằng thế hệ cha anh họ thuộc về một lực lượng phụ thuộc, thiếu năng lực hoặc bị đào thải bởi thời cuộc.

Mối nguy hại ở đây không phải là giới trẻ cố tình quay lưng với cội nguồn, mà là sự thiếu hụt thông tin khiến họ không đủ luận cứ để tự tin bảo vệ danh dự của gia đình và cộng đồng. Khi không có một lịch sử chân thực để tự hào, người trẻ dễ rơi vào trạng thái tự ti bản sắc, né tránh khi nhắc đến nguồn gốc, hoặc tiếp nhận lịch sử qua những cái nhìn sai lệch từ bên ngoài.


III. Hệ Quả Trong Văn Học Hàn Lâm Và Trách Nhiệm Với Sự Thật Lịch Sử

Hệ quả của sự im lặng trong gia đình không chỉ dừng lại ở tâm lý cá nhân, mà còn lan sang cả không gian trí thức và sáng tác nghệ thuật.

Khi thế hệ sau bước vào con đường nghiên cứu hoặc viết lách, nếu thiếu đi nguồn tư liệu sống động và trung thực từ chính gia đình, họ buộc phải dựa vào các công trình nghiên cứu và tài liệu phương Tây. Môi trường xuất bản và viện hàn lâm Mỹ vốn ưa chuộng những chủ đề về “bi kịch phi lý”, “sự tha hóa do chiến tranh” hay “trauma tị nạn”. Do thiếu sự đối trọng từ những góc nhìn lịch sử chân thực của người trong cuộc, một số tác phẩm của các tác giả gốc Việt — dù đoạt các giải thưởng văn học lớn — đã vô tình khắc họa hình ảnh người lính VNCH dưới lăng kính lệch lạc, thụ động hoặc tiêu cực. Đây không phải do động cơ xấu của người viết, mà là hệ quả tất yếu khi khoảng trống ký ức bị lấp đầy bởi các góc nhìn tư tưởng bên ngoài.

Chính từ thực trạng này, chúng ta mới thấy trách nhiệm lớn lao của việc ghi chép và giữ gìn sự thật lịch sử. Trong sáng tác văn học, hư cấu nghệ thuật là một đặc quyền thể loại hoàn toàn chính đáng để phục vụ hiệu ứng cảm xúc. Tản văn của Phạm Sơn Liêm đã sử dụng rất thành công thủ pháp này khi mượn chi tiết Cục Lưu trữ Quốc gia Mỹ (NARA) làm chất liệu kết nối hai cha con.

Tuy nhiên, với riêng chủ đề Chiến tranh Việt Nam và đặc biệt là giai đoạn sau ngày 30/4/1975, chúng ta đang đối mặt với một hoàn cảnh rất đặc thù: lịch sử cải tạo và sự hy sinh của người lính VNCH đã và đang bị xóa nhòa hoặc bóp méo quá nhiều trong các tài liệu chính thống.

Vì lý do đặc biệt đó, bên cạnh những tác phẩm văn học trữ tình giàu cảm xúc, cộng đồng chúng ta lại càng cần có thêm những tài liệu mang tính chính sử, xác thực đến từng chi tiết. Bởi nếu không cẩn trọng bổ sung tư liệu thực tế, thế hệ thứ hai sinh ra ở hải ngoại — vốn quen với lối suy nghĩ tài liệu của Mỹ — sẽ dễ lầm tưởng những hư cấu nghệ thuật là tư liệu lưu trữ có căn cứ, từ đó vô tình hiểu sai về bản chất khốc liệt của lịch sử.


IV. “Bất Khuất Tân Cảnh” – Một Tư Liệu Bổ Sung Cho Dòng Chảy Chính Sử

Chính vì tản văn của Phạm Sơn Liêm đã chạm được vào một nỗi trăn trở có thật và giàu tính nhân văn của cộng đồng, nên đây cũng là một dịp rất tốt để chúng ta giới thiệu thêm những tư liệu bổ sung — những trang viết nhân chứng nhằm lấp đầy khoảng trống ký ức bằng các sự kiện lịch sử sát thực nhất.

Với tinh thần tiếp nối và đồng hành đó, bài viết “Bất Khuất Tân Cảnh – Ký Ức Của Người Lính Trinh Sát” đang chuẩn bị được phổ biến. Đây không phải là một tác phẩm hư cấu nghệ thuật, mà là một nỗ lực ghi chép lịch sử chiến trường theo phương pháp nhân chứng: sát thực từng mốc thời gian, từng địa danh, từng tên tuổi và diễn biến sự kiện.

Qua những trang ghi chép trung thực từ góc nhìn của một người lính trinh sát tại mặt trận Tân Cảnh, thế hệ sau sẽ có cơ hội tiếp cận thêm một mảnh ghép lịch sử khách quan:

  • Hiểu được bối cảnh tàn khốc và áp lực quân sự khổng lồ mà người lính VNCH phải đối mặt.
  • Thấy được tinh thần trách nhiệm, sự kiên cường và khí tiết của những con người đã chiến đấu đến những giây phút cuối cùng.
  • Nhìn nhận cuộc chiến không qua những nhãn gán đơn giản hóa, mà qua tính phức tạp và sự hy sinh có thật của những con người bằng xương bằng thịt.

Những tư liệu sát thực như “Bất Khuất Tân Cảnh” đóng vai trò là nguồn dữ liệu nền tảng, giúp thế hệ trẻ củng cố nhận thức, song hành cùng các tác phẩm văn học để giúp họ có cái nhìn toàn diện, công bằng và tự hào về di sản của gia đình.


V. Kết: Trách Nhiệm Với Di Sản Lịch Sử

Tản văn của Phạm Sơn Liêm đã mở ra một khoảng không gian lắng đọng tuyệt đẹp về tình cha con và sự thức tỉnh bản sắc. Nhưng để sự thức tỉnh đó trở thành một điểm tựa vững chắc ngoài đời thực, thế hệ đi trước cần chủ động hơn nữa trong việc chia sẻ ký ức.

Di sản quan trọng nhất mà thế hệ thứ nhất trao lại cho thế hệ sau không chỉ là sự thành đạt về kinh tế hay địa vị xã hội, mà là sự thật về danh dự và bản sắc.

Đã đến lúc thế hệ nhân chứng cần bước ra khỏi sự im lặng. Đừng ngần ngại, hãy chia sẻ câu chuyện lịch sử với con cháu bằng sự chân thành và chính xác nhất — dù quá khứ đó có gian khổ hay đau thương. Khi thế hệ thứ hai được tiếp cận với cả sự thấu hiểu từ tình cảm gia đình lẫn sự thật minh bạch từ chính sử, họ sẽ có đủ tri thức và bản lĩnh để tự tin khẳng định giá trị cội nguồn của mình.

Ghi chép và trao lại chính sử ngay hôm nay chính là trách nhiệm lớn nhất của chúng ta đối với quá khứ và tương lai!


Tsu A Cầu (K29/TVBQGVN)

Huntington Beach, California, ngày 3 tháng 8 năm 2026

==

2- KHI SỰ THỨC TỈNH KHÔNG ĐỦ

LỜI NGỎ

Kính thưa quý Niên Trưởng, quý Chiến Hữu và quý Thân Hữu,

Mấy ngày nay, một số độc giả có hỏi thăm chừng nào bài viết “Bất Khuất Tân Cảnh” mới được phổ biến. Xin chia sẻ một tin vui: bài viết đã được đăng trên báo Viễn Đông ngày 7/8/2026. Kính mời quý độc giả tìm đọc ủng hộ.

Hôm nay, chúng ta cùng bàn về một đề tài cũng quan trọng không kém: Ai Trả Giá Cho Sai Lầm Của Người Trí Thức?

Tác phẩm văn học không bao giờ tồn tại trong một khoảng chân không lịch sử, và hành trình tinh thần của tác giả sáng tạo ra nó cũng vậy. Nhìn lại trường hợp nhà văn Nam Dao — từ một trí thức trẻ dấn thân trong Hội Việt Kiều Yêu Nước tại Canada đến một cây bút đầy ưu tư với hàng loạt tác phẩm được xuất bản cả trong nước lẫn hải ngoại — người đọc không chỉ thấy bước đường sáng tác của một cá nhân, mà còn thấy bóng dáng của một giai đoạn lịch sử đầy biến động và rạn nứt.

Bài viết này đi sâu phân tích diện mạo văn chương và tư tưởng của Nam Dao qua những tác phẩm then chốt, đặc biệt là bộ ba tiểu thuyết Gió Lửa – Đất Trời – Bể Dâu cùng tập bút ký Những con người, những bóng ma (NXB Văn Mới, 2006). Nhìn từ góc độ cấu trúc và thông điệp, tác phẩm của ông vừa mang dáng dấp của một “lời tự thú”, một nỗ lực “trả nợ” tinh thần đối với đồng bào miền Nam, lại vừa chứa đựng những trăn trở sâu sắc về thân phận con người trong dòng chảy chính trị bão táp.

Tuy nhiên, bài viết không dừng lại ở việc soi chiếu văn bản hay ghi nhận sự “thức tỉnh” đơn thuần. Đặt Nam Dao vào không gian phê bình rộng lớn hơn — nơi cộng đồng văn học hải ngoại vẫn đưa ra những góc nhìn phản biện gay gắt và nghi vấn về tính trọn vẹn trong sự “sám hối” của ông — bài viết nỗ lực xây dựng một cái nhìn công tâm, đa chiều. Liệu những trang viết ấy là sự dũng cảm nhìn lại quá khứ, hay chỉ là nỗ lực xoa dịu để “được lòng cả đôi bên”?

Bằng sự tỉnh táo và tinh thần trách nhiệm tri thức, bài viết mở ra một cuộc đối thoại không phải để phán xét cá nhân hay xới lại oán thù cũ, mà để soi rọi vào bản chất của sự ngộ nhận. Qua đó, tác phẩm gửi gắm một lời cảnh báo đắt giá cho hậu thế: khi trí thức “lờ mờ, đờ đẫn, nhầm lẫn” trước lý tưởng, cái giá phải trả luôn thuộc về những người đang sống — những người dân vô tội nơi quê nhà.

Kính mời quý niên trưởng, quý chiến hữu cùng quý thân hữu cùng đọc, thảo luận và phổ biến rộng rãi bài tham luận: “Khi Sự Thức Tỉnh Không Đủ: Ai Trả Giá Cho Sai Lầm Của Người Trí Thức?”

Trân trọng,

Tsu A Cầu (K29/TVBQGVN)

Huntington Beach, California, ngày 7 tháng 8 năm 2026.

KHI SỰ THỨC TỈNH KHÔNG ĐỦ:

Ai Trả Giá Cho Sai Lầm Của Người Trí Thức?

Tsu A Cầu

 

DẪN NHẬP

Trong suốt chiều dài lịch sử hiện đại của dân tộc Việt Nam, có những vết thương đã khép miệng theo thời gian, nhưng cũng có những nỗi đau vẫn còn nhức nhối mỗi khi nhìn lại. Đó là bi kịch về những giấc mơ lãng mạn của tuổi trẻ, về những tấm lòng yêu nước chân thành nhưng bị đặt nhầm chỗ, và trên hết là về cái giá tàn nhẫn mà người dân lành phải gánh chịu cho những sai lầm nhận thức của tầng lớp trí thức một thời.

 

I. BÀI HỌC TỪ MỘT CUỘC ĐỜI: HÀNH TRÌNH DẤN THÂN VÀ VỠ MỘNG CỦA NHÀ VĂN NAM DAO

Để nhìn rõ bản chất hiện tượng này, chúng ta hãy nhìn lại câu chuyện của nhà văn Nam Dao (Giáo sư Kinh tế Nguyễn Mạnh Hùng). Đây không phải trường hợp cá biệt, mà là hồ sơ nhân chứng điển hình cho một bộ phận trí thức Tây học miền Nam thập niên 1960–1970.

1. Bối cảnh xuất thân và sự lãng mạn chính trị thời tuổi trẻ:

Nam Dao sinh ra ở miền Bắc, lớn lên trong gia đình thượng lưu tại miền Nam thời Đệ nhất Cộng hòa (bố nuôi ông từng làm Chủ tịch Hội đồng Kiểm duyệt). Sau khi thụ hưởng nền giáo dục tinh hoa Sài Gòn, ông du học Canada bằng học bổng chính phủ VNCH, lấy bằng Tiến sĩ tại Đại học Toronto và trở thành Giáo sư Kinh tế Đại học Laval (Quebec).

Thế nhưng, đứng trước bão táp chiến tranh, ông đã chọn dấn thân bằng sự lãng mạn chính trị: xuống đường chống chính quyền Ngô Đình Diệm, gia nhập Hội Việt kiều Yêu nước tại Canada, ủng hộ “Lực lượng thứ ba” và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam. Nơi xứ lạnh, ông ngây thơ tin rằng chỉ cần người Mỹ rút đi và thành lập chính phủ trung lập thì hòa bình, tự do sẽ tự khắc đơm hoa.

Sự ngộ nhận ấy xuất phát từ ngụy biện tri thức. Dù được một thanh niên ở Huế cảnh báo Mặt trận thực chất do Đảng Cộng sản lập ra, Nam Dao vẫn tự trấn an: “Biết là có Cộng sản, nhưng cũng biết có những người trong Mặt trận không phải Cộng sản”. Ông chọn tin vào những tuyên ngôn mười điểm hoa mỹ hơn là thực tế khắc nghiệt dưới chân.

2. Va chạm thực tế và đòn bẩy vỡ mộng sau năm 1975:

Ngày 30/4/1975, Nam Dao hân hoan trở về quê hương sau 14 năm xa cách với mong muốn dùng kiến thức kinh tế tái thiết đất nước. Chính lúc này, thực tế phũ phàng giáng đòn chí mạng vào niềm tin của ông:

  • Xã hội sợ hãi và biến chất: Không thấy miền Nam tự do như mơ ước, ông chỉ thấy bầu không khí sợ hãi bao trùm, con người phải sống “hai ba nhân cách” để sinh tồn.
  • Bị cự tuyệt khi góp ý chân thành: Ngỡ đang ở một đất nước tự do, ông gửi kiến nghị lên Hội đồng Bộ trưởng đề nghị mở cửa báo chí và áp dụng kinh tế thị trường. Kết quả, ông bị quy tội “Trời chưa sáng gà đã gáy” và bị cấm nhập cảnh quê hương suốt 6 năm.
  • Chứng kiến bi kịch đồng bào: Cay đắng nhất, ông phải chứng kiến cảnh các em gái tuổi hai mươi của chính mình lấm lét uống thuốc ngừa thai, chấp nhận “bảy phần chết ba phần sống” để vượt biển trốn chạy thể chế mà ông từng vô tình tiếp sức.

3. Sự dằn vặt và lời tự thú chặng cuối cuộc đời:

Nhận ra sự thật, Nam Dao dành chặng cuối cuộc đời đi tìm gặp các nhân chứng thảm kịch — từ nạn nhân Nhân văn – Giai phẩm miền Bắc (Phùng Cung, Trần Dần, Văn Cao) đến các nhà văn tị nạn tại Quận Cam. Tập bút ký Những con người, những bóng ma ra đời như một sự trăn trở dằn dỗi, một lời tự thú và đề nghị xin lập “Đại lễ Giải oan cho dân tộc”.

4. Mối liên kết tư tưởng: Khi hiện tượng Nam Dao không phải duy nhất:

Trường hợp Nam Dao nằm trong một “vòng lặp bi kịch” của miền Nam VNCH — nơi bầu không khí tự do, nhân bản vô tình nuôi dưỡng những tri thức tự diễn biến:

  • Từ biểu tượng văn nghệ đô thành: Một Phạm Công Thiện gào xé triết lý, truyền gieo chủ nghĩa hư vô vào thanh niên thời chiến; hay một Trịnh Công Sơn với những giai điệu phản chiến da diết làm xói mòn ý chí hậu phương và tạo lợi thế tâm lý to lớn cho đối phương.
  • Đến các giáo sư kinh tế thụ hưởng học bổng quốc gia: Ngay tại Sài Gòn, Tiến sĩ Kinh tế Châu Tâm Luân (Giáo sư Trường Cao đẳng Nông nghiệp) cũng sang Mỹ du học bằng học bổng VNCH, rồi trở về tham gia nhóm phản chiến xuống đường biểu tình. Sau năm 1975, khi nộp kiến nghị bị trù dập, ông phải vượt biển tị nạn. Chua chát thay, tại trại tị nạn ông bị chính các nạn nhân nhận diện và hành hung. Cuối đời, sau khi về thăm quê nhà, ông lại đưa ra những tuyên bố có lợi cho thể chế thống trị — ra đi mà chưa một lần công khai hối cải trước dân tộc.

Điểm chung của họ: Sử dụng chính thứ tự do, tiền bạc và sự bảo bọc mà Việt Nam Cộng hòa trao cho để xới gốc, làm suy yếu thể chế ấy từ bên trong. Để rồi khi miền Nam sụp đổ, sự vỡ mộng hay thái độ lập lờ của họ trở thành vết thương nhói lòng cho những người sống sót.

 

II. LỜI THỨC TỈNH CỦA TRÍ THỨC VÀ NỖI BẤT CÔNG ĐỐI VỚI NGƯỜI SỐNG

Hành trình của Nam Dao hay Châu Tâm Luân phác họa một kịch bản lặp đi lặp lại: Bắt đầu bằng lý tưởng lãng mạn ➔ Tiếp tay làm suy yếu thể chế tự do ➔ Vỡ mộng, bị trù dập hoặc trốn chạy ➔ Và cuối cùng là viết sách tự dằn vặt hoặc im lặng lập lờ đến cuối đời.

Câu hỏi đau đớn đặt ra: Liệu sự thức tỉnh nửa vời ấy có đủ bù đắp tổn thất, và ai mới là người thực sự phải trả giá?

Bi kịch này thể hiện qua ba góc nhìn thực tế:

1. Sự bất bình đẳng tàn nhẫn về cái giá phải trả:

  • Đối với trí thức ngộ nhận: Họ chỉ mất đi một niềm tin, sự dằn vặt tâm hồn hay chút giới hạn hành chính. Sự sám hối diễn ra an toàn trên trang sách, thậm chí còn được tôn vinh là “dũng cảm nhìn nhận sự thật”.
  • Đối với người dân bình thường: Hàng triệu quân dân cán chính miền Nam trả giá bằng hàng thập kỷ đày đọa trong trại cải tạo, kỳ thị lý lịch nhiều thế hệ, tịch thu tài sản, vùi thân dưới đại dương, và đẩy hậu thế vào nền kinh tế tụt hậu, thiếu vắng tự do.

Sự thức tỉnh chỉ ở cấp độ tinh thần cá nhân, nhưng hậu quả lại nằm ở sinh mạng và vận mệnh cả một dân tộc.

2. Sự lệch chuẩn trong phê bình thời cuộc:

Giới trí thức thời đó đã khắt khe soi chiếu, phản đối từng thiếu sót của một chính quyền miền Nam đang chập chững thực thi dân chủ thời chiến, nhưng lại nhắm mắt làm ngơ trước mô hình toàn trị phía bên kia. Sự thiên lệch nhận thức ấy đã biến lòng tốt của họ thành nhiên liệu cho thảm kịch hậu chiến.

3. Dung dưỡng cho vòng lặp lừa dối qua nhiều thế hệ:

Khi xã hội quá dễ dãi tôn vinh sự “thức tỉnh muộn” mà bỏ qua trách nhiệm giải trình của trí thức, kẻ cầm quyền lại có cơ hội tiếp tục dùng khẩu hiệu hoa mỹ để ru ngủ hết thế hệ này sang thế hệ khác, rồi phủi tay rũ bỏ thảm kịch dưới hai chữ “hoàn cảnh khách quan”.

 

III. BỆ ĐỠ GIẢI PHÁP: Dứt bỏ vòng lặp bi kịch

Những người đang sống không thể quay ngược thời gian để đánh đổi những lời sám hối muộn màng lấy lại thanh xuân trong trại cải tạo hay sinh mạng dưới đại dương. Để bảo vệ thế hệ tương lai khỏi vòng lặp cay đắng ấy, chúng ta cần xác định ba nguyên tắc nhận thức:

  1. Thức tỉnh là bổn phận sám hối, không phải chiến công: Việc nhận ra sai lầm sau khi đã tiếp tay cho thảm kịch chỉ là khởi đầu của sự ăn ăn. Tuyệt đối không đánh tráo vị thế, biến người ngộ nhận thành “anh hùng nhận thức” trong khi đẩy các nạn nhân thầm lặng vào bóng tối.
  2. Không thể hòa giải nếu thiếu sự thật và công lý: Hòa giải chân chính không phải là sự lấp liếm dễ dãi. Nó đòi hỏi kẻ gây ra sai lầm phải thừa nhận tội lỗi; đồng thời danh dự, tài sản và nhân quyền của các nạn nhân phải được phục hồi sòng phẳng.
  3. Trang bị tư duy phản biện cho thế hệ trẻ: Dạy cho hậu thế đánh giá thể chế bằng hành vi thực tế, cơ chế kiểm soát quyền lực và sự thượng tôn pháp luật — chứ tuyệt đối không tin vào những khẩu hiệu hay lời hứa hẹn lãng mạn.

 

KẾT LUẬN

Hành trình từ sự ngộ nhận lãng mạn của Nam Dao hay Châu Tâm Luân đến cái giá đắt mà hàng triệu đồng bào phải trả không chỉ là nỗi đau quá khứ, mà là một lời cảnh báo đắt giá dành cho hậu thế. Lịch sử đã chứng minh: sự ngu ngơ về chính trị và việc nhân danh những lý tưởng viển vông của tầng lớp trí thức có thể biến thành tội ác vô hình đối với dân tộc.

Nhìn nhận thẳng thắn những sai lầm của tiền nhân không phải để xới lại oán thù, mà là để xác định lại công lý cho những người đang sống và trả lại sự thật cho lịch sử. Sự “sám hối” muộn màng — hay tệ hơn là sự im lặng không hối cải — của các cá nhân dù thế nào cũng không thể xóa sạch những vết thương mà lịch sử đã ghi nhận.

Nếu thế hệ tương lai tiếp tục nhắm mắt trước lịch sử, thiếu đi sự tỉnh táo và trách nhiệm tri thức, thì người sống sẽ còn phải tiếp tục trả giá cho những ảo tưởng của người đã qua. Chỉ khi nào sự thật được tôn trọng tuyệt đối, đất nước mới thực sự có được một tương lai bình yên, tự do và công bằng đúng nghĩa.

Tsu A Cầu (K29/TVBQGVN)

Huntington Beach, California, ngày 7 tháng 8 năm 2026.

==

3- Bất Khuất Tân Cảnh – Ký Ức Của Người Lính Trinh Sát

LỜI NGỎ

Kính thưa quý Niên Trưởng, quý Chiến Hữu và quý Thân Hữu,

Trong loạt bài “Chân Dung Người Lính Trận”, lần này chúng tôi xin giới thiệu một chiến sĩ Trinh sát. Đây là những người lính trận thực sự đối diện với địch và chưa bao giờ xem những vết sẹo trên thân thể mình hay chiến công là điều để khoe khoang. Đối với họ, sống sót trở về sau những giờ phút vào sinh ra tử đã là một may mắn lớn lao, còn những đồng đội nằm lại mới là những người anh hùng thực sự.Khi tôi ngỏ ý muốn ghi lại và phổ biến câu chuyện chiến trường này để làm tài liệu lịch sử cho hậu thế, vị Niên trưởng Khoá 23, cựu Trung úy Trinh sát Sư đoàn 22 — nhân vật chính trong bài viết — đã xua tay xót xa:

‘Chuyện tôi kể cho các anh nghe chẳng qua là lúc trà dư tửu hậu. Đừng để tên thật của tôi, kẻo người đời lại nghĩ mình khoe khoang chiến công. Ngoài chiến trường, Trung đội trưởng và Đại đội trưởng mới là người trực tiếp thấy lính mình gục ngã, nỗi đau đó theo mình suốt đời chứ danh vọng gì…’Để tôn trọng sự khiêm nhường sâu sắc đó của người lính già, tên thật của ông cũng như các cấp chỉ huy trực tiếp liên quan trong bài viết đã được viết tắt. Nhưng tất cả diễn tiến, tọa độ, địa danh và những sự kiện máu xương tại Mật khu Ngọk Tô Ba, Căn cứ 42 và chiến trường Tân Cảnh (KONTUM) năm 1972 hoàn toàn là sự thật.

Tôi viết lại câu chuyện này không phải để vinh danh bất kỳ cá nhân nào, mà để gìn giữ một mảnh ký ức chân thực cho hậu thế: Để mai sau người ta biết rằng đã từng có những người lính Trinh sát QLVNCH dấn thân vào chỗ chết không từ nan, chiến đấu và hy sinh đến giọt máu cuối cùng cho lý tưởng Tự Do!Kính mời quý Niên Trưởng, quý Chiến Hữu cùng quý Thân Hữu cùng đọc, thảo luận và phổ biến rộng rãi bài viết: “Bất Khuất Tân Cảnh – Ký Ức Của Người Lính Trinh Sát”

 Trân trọng,Tsu A Cầu

(K29/TVBQGVN)Huntington Beach, California, ngày 31 tháng 7 năm 2026.

CHÂN DUNG NGƯỜI LÍNH TRẬN

Bất Khuất Tân Cảnh – Ký Ức Của Người Lính Trinh Sát

 

LỜI NGỎ

Kính thưa quý Niên Trưởng, quý Chiến Hữu và quý Thân Hữu,

Trong loạt bài “Chân Dung Người Lính Trận”, lần này chúng tôi xin giới thiệu một chiến sĩ Trinh sát. Đây là những người lính trận thực sự đối diện với địch và chưa bao giờ xem những vết sẹo trên thân thể mình hay chiến công là điều để khoe khoang. Đối với họ, sống sót trở về sau những giờ phút vào sinh ra tử đã là một may mắn lớn lao, còn những đồng đội nằm lại mới là những người anh hùng thực sự.

Khi tôi ngỏ ý muốn ghi lại và phổ biến câu chuyện chiến trường này để làm tài liệu lịch sử cho hậu thế, vị Niên trưởng Khoá 23, cựu Trung úy Trinh sát Sư đoàn 22 — nhân vật chính trong bài viết — đã xua tay xót xa: ‘Chuyện tôi kể cho các anh nghe chẳng qua là lúc trà dư tửu hậu. Đừng để tên thật của tôi, kẻo người đời lại nghĩ mình khoe khoang chiến công. Ngoài chiến trường, Trung đội trưởng và Đại đội trưởng mới là người trực tiếp thấy lính mình gục ngã, nỗi đau đó theo mình suốt đời chứ danh vọng gì…’

Để tôn trọng sự khiêm nhường sâu sắc đó của người lính già, tên thật của ông cũng như các cấp chỉ huy trực tiếp liên quan trong bài viết đã được viết tắt. Nhưng tất cả diễn tiến, tọa độ, địa danh và những sự kiện máu xương tại Mật khu Ngọk Tô Ba, Căn cứ 42 và chiến trường Tân Cảnh (KONTUM) năm 1972 hoàn toàn là sự thật.

Tôi viết lại câu chuyện này không phải để vinh danh bất kỳ cá nhân nào, mà để gìn giữ một mảnh ký ức chân thực cho hậu thế: Để mai sau người ta biết rằng đã từng có những người lính Trinh sát QLVNCH dấn thân vào chỗ chết không từ nan, chiến đấu và hy sinh đến giọt máu cuối cùng cho lý tưởng Tự Do!

Kính mời quý Niên Trưởng, quý Chiến Hữu cùng quý Thân Hữu cùng đọc, thảo luận và phổ biến rộng rãi bài viết: “Bất Khuất Tân Cảnh – Ký Ức Của Người Lính Trinh Sát”

Trân trọng,

Tsu A Cầu (K29/TVBQGVN)

Huntington Beach, California, ngày 31 tháng 7 năm 2026.



BẤT KHUẤT TÂN CẢNH – KÝ ỨC CỦA NGƯỜI LÍNH TRINH SÁT

Tsu A Cầu

Lời Mở Đầu

Trong suốt chiều dài cuộc chiến, phần lớn truyền thông phương Tây chỉ ngồi ở các quán cà phê Sài Gòn rồi thêu dệt nên hình ảnh phiến diện về người lính Việt Nam Cộng Hòa. Họ không hề biết — hoặc không dám biết — đến những toán Viễn thám, Trinh sát lặng lẽ luồn sâu vào tận sào huyệt địch. Lời kể chân thực, mộc mạc của NT NTV23, cựu Trung úy Trinh sát Sư đoàn 22 dưới đây là câu trả lời hào hùng về lòng dũng cảm, sự hy sinh lẫm liệt và tình đồng đội thiêng liêng của người lính VNCH.

Vào Chuyện

Tôi là lính Trinh sát Sư đoàn 22 Bộ binh, được tăng phái lên vùng Tân Cảnh, Trung đòan 42 (KONTUM). Dân viễn thám chúng tôi thường thì cứ nhảy toán 5 ngày, về nghỉ 2 ngày.

Lần đó, tôi mang hai trung đội viễn thám lên tăng phái cho Trung Đoàn 42 mà Trung tá Thông là Trung Đoàn Trưởng (khóa 16 Đà Lạt, sau này là Đại tá). Gặp Trung tá, tôi chưa kịp nói lời trình diện, tôi thấy mắt ông ta sáng lên, vội đến chỉ vào cái huy hiệu Võ Bị tôi thường mang trên mép túi áo bên trái và hỏi: “Võ Bị phải không??”.

Trả lời: “Thưa phải”, Ông hỏi tiếp: “Khóa mấy?’. Trả lời: ‘Khóa 23”. “Khóa 23 học 4 năm mà râu tóc vậy nè”. Tôi hiểu đó chỉ là một lời mắng yêu của một đàn anh. Rồi ông bảo tôi: “Nếu muốn nhảy thì nhảy theo toán thì nhảy, còn không thì lên Căn cứ 6 làm đài tiếp vận (rele).”

Nhưng rồi bữa đó, ông Thông ra lệnh đi một cánh hành quân, yêu cầu nhảy hai toán và bảo tôi phải đi theo chỉ huy. Tôi mở bản đồ ra đo, hết hồn nói liền: “Thưa Trung tá, mật khu này của Việt Cộng nằm ở Vùng Ngọk Tô Ba, sát biên giới Việt – Miên rồi! Kỹ thuật viễn thám chúng tôi học là không bao giờ nhảy quá 10 cây số, vì ngoài tầm pháo binh thì không ông nào bắn yểm trợ nổi hết. Tới tầm đó là hết thuốc bồi, đạn pháo rớt sẽ bị ảnh hưởng của gió không kiểm soát được nữa!”

Ông Thông năn nỉ: “Anh ráng đi giùm tôi. Hễ anh cần là tôi kêu máy bay lên yểm trợ bất cứ lúc nào!” Thấy ông nói quá, tôi đành nhận công tác.

Sáng hôm sau, mới 7 giờ sáng, một người lính của Trung đoàn 42 chạy tới nói “lệnh Trung Tá Thông, lên kho vũ khí lãnh về 4 trái mìn chống chiến xa”. Anh biết trái mìn chống chiến xa nó bự cỡ nào không? Nó to như cái bánh xe. Hai thằng khiêng một trái! Tôi đi hai toán chỉ có 14 thằng, gánh 4 trái mìn hết trơn 8 thằng rồi còn đâu mà chiến đấu! Tôi chạy vội lên gặp ông Thông lần nữa: “Trung tá! Tôi đi là đi lấy tin tức gián điệp cho Ban 2 và An ninh Quân đội, chứ đâu phải lực lượng phá hoại mà bắt vác mìn nặng vậy?”

Ông dụ khị tôi: “Anh mà phá được một chiếc thiết giáp là được thưởng 100,000 đồng!”

Tôi trả lời thẳng: “Tôi không cần tiền đó! Đi kiểu này tôi không đi!”

Nói thiệt, có thằng lính nào dám từ chối lệnh hành quân không? Nhưng ông hứa dữ quá: “Bất cứ lúc nào mìn nổ, tôi cam đoan máy bay sẽ lên!” Nước tới chân, tôi đành dắt quân đi.


Tiếng Nổ Trong Mật Khu Ngọk Tô Ba

Sát giờ lên trực thăng nhảy toán, có một thằng phóng viên ngoại quốc mang máy ảnh lằn ngoằn trên vai tới đòi đi theo. Thấy vậy tôi gạt liền: “Từ hồi đi nhảy toán tới giờ chưa bao giờ có phóng viên nào đi theo hết, tao không cho đi!”

Tiếng Mỹ của tôi lúc đó không hay ho gì nhưng nó nhìn nét mặt là hiểu ngay. Đây là chuyến công tác đặc biệt luồn sâu vào mật khu địch, quân số toán viễn thám chỉ có 14 anh em mà đã phải vác thêm 4 trái mìn chống chiến xa nặng trịch, nhân sự thiếu hụt trầm trọng. Đi vào chỗ chết sống trong gang tấc như vậy, bản thân anh em tôi còn chưa biết sống chết ra sao thì làm sao bảo vệ an toàn cho nó được?

Gạt nó lại xong, anh em leo lên trực thăng thả xuống vùng đèo núi quanh co ở Mật khu Ngọk Tô Ba. Việc đầu tiên là đào đất chôn 4 trái mìn, mỗi trái cách nhau cả trăm thước. Chiều dài bốn trái rải ra tới 400 mét. Đào, cào, lấp, ngụy trang xong xuôi là mệt thở không ra hơi. Xong đâu đấy, anh em bò lên triền núi nằm phục kích. Đâu biết chừng nào tụi nó tới.

Đến khoảng 11 giờ 30 đêm, một đoàn xe từ ngả ba biên giới bật đèn sáng trưng chạy mò vào đường đèo… ĐÙNG! Trái mìn đầu tiên nổ tung, chiếc xe dẫn đầu bốc cháy rực một góc trời!

Chưa kịp báo cáo thì Ban 3 Trung đoàn (Trưởng ban là Phi Long) gọi đến hỏi; “Ông Địa cười phải không??”.”Báo cáo Phi Long, đã làm thịt một con cua rang muối rồi! Bây giờ tụi nó còn nguyên một đoàn xe đèn sáng trưng, cho phi cơ lên dội bom bắn cháy hết đi!”

Nhưng phía bên kia ống nghe… ông Thông im re! Xin lực lượng yểm trợ nhưng không có một chiếc phi cơ nào xuất hiện! Ổng hứa với tôi trước khi đi, nhưng rốt cuộc lại lực bất tòng tâm…

Bây giờ ngồi nghĩ lại, sau bao nhiêu năm nhìn lại toàn cục chiến trường, tôi mới hiểu hết cái hoàn cảnh trớ trêu và cay đắng lúc đó. Thực ra không phải ông Thông hứa lèo để gạt lính. Bình thường, đêm nào vùng này cũng có một chiếc C-47 Hỏa Long bay ề ề bao vùng, phi hành đoàn liên lạc trực tiếp vào máy vô tuyến của tôi: “Anh thấy điểm nào nghi ngờ cứ gọi, tôi bắn cho!” Cứ mỗi hai tiếng họ đổi ca một lần, chiếc ở trên bật đèn hiệu bụng, chiếc ở dưới bật đèn hiệu cánh giao phiên liên tục suốt đêm.

Thế mà đêm đó, tuyệt nhiên không có một chiếc Hỏa Long nào cất cánh! Hóa ra, quân Bắc Việt lúc ấy đã âm thầm bao vây, đặt “barrier” áp đảo và khống chế toàn bộ chiến trường Tân Cảnh rồi. Cấp trên đã bắt đầu rối loạn. Ông Thông dù là cấp chỉ huy trực tiếp của tôi nhưng cũng chỉ biết lệnh từ trên xuống, ổng hoàn toàn không đủ thẩm quyền và cũng không thể ngờ được tình hình chung của Sư đoàn lúc đó đã quá nát và sụp đổ đến nơi rồi!

Đoàn xe dừng lại chừng nửa tiếng rồi tiếp tục mò lên… ĐÙNG! Trái thứ hai nổ tiếp, thêm một chiếc nữa bốc cháy!

Từ trên triền đồi nhìn xuống, tôi thấy bộ binh địch từ trong xe tràn ùa ra hai bên đường đông như ong vỡ tổ, chửi thề om sọm. Lúc đó sợ muốn chết luôn! Tụi nó cũng không ngờ có toán viễn thám nằm phục ở đây. Ban đầu mình nghe nói chỉ có thiết giáp, ai ngờ đâu là cả một đoàn quân đi trên hơn 20 chiếc xe Molotova đầy lính!

Thấy tụi nó tràn ra đông quá, tôi ra chuẩn bị lệnh thoát hiểm đào tẩu (chỉ khi nào nguy hiểm gần kề) nếu địch quân tìm thấy chúng tôi: “Chạy! Đi theo hướng phương giác này, chừng bao nhiêu cây số đó là ra tới Quốc lộ 14! Phải có một người còn sống để báo cáo.” Đoàn xe địch sau khi trúng mìn, sau một lúc lâu dừng lại, có lẽ để liên lac, nhận lệnh, đoàn xe không dám tiến thêm nữa mà liền quay đầu tháo chạy ngược trở lại ngả ba biên giới.


Trận Tân Cảnh Và Sự Hy Sinh Của Chuẩn Tướng Lê Đức Đạt

Anh có biết cái “hàm ếch” không? Tụi Việt Cộng đào sâu vào sườn núi, muốn chui vào phải khom lưng. Trên không nhìn xuống hoàn toàn không thấy, đánh bom cũng không trúng. Bò vào đó mới biết mình đã lọt tọt vô đúng ngay ổ của tụi nó, nhưng mình không làm gì được vì chẳng có chiếc máy bay nào lên yểm trợ.

Đến khoảng 7 giờ sáng, tôi nghe tiếng “bạch… bạch… bạch” của trực thăng bay từ hướng Sư đoàn ra. Họ xin tọa độ, bay xè qua nhìn xuống: “Úi! Hai con cua rang muối!” rồi quay đầu bay về Sư đoàn. Hóa ra họ sợ tôi báo cáo láo nên ra kiểm chứng!

Một lúc sau, cả một đoàn trực thăng kéo lên. Tôi được cho biết: “Trinh sát 42 làm an ninh bãi đáp! tránh ngộ nhận.” Chuẩn tướng Lê Đức Đạt (lúc đó là Đại tá, Tư lệnh Sư đoàn 22) cùng phái đoàn báo chí nhảy xuống ngay bãi đáp đó. Anh em chúng tôi trên núi chạy xuống để theo trực thăng về. Phái đoàn quay phim, chụp hình xong bay về Trung đoàn 42, ông Đạt tập họp chúng tôi lại tại sân Trung đoàn khen ngợi: “Đây là lần đầu tiên trong lịch sử bộ binh mình phá được xe molotova Việt Cộng!”

Ngay tại chỗ, ông thăng cấp mặt trận cho anh em. Kỳ đó tôi được thăng Đại úy (năm 1972). Lính viễn thám vốn tuyển từ Binh nhất, sau đợt đó đơn vị tôi toàn là Hạ sĩ quan và Sĩ quan! Hạ sĩ quan thì ông Đạt ký quyết định thăng cấp tại chỗ, còn Sĩ quan thì ông hứa: “Tôi sễ gởi đề nghi thăng cấp này về Bộ Tổng Tham Mưu.”

Trời xui đất khiến, ông không chịu về ngay mà cho tôi về phép trước. Ông ở lại.

Ở Tân Cảnh, nằm vùng Việt Cộng đông lắm, nên ít lâu sau đó, khi Mùa Hè Đỏ Lửa 1972 bùng nổ, biết Tư lệnh Sư đoàn 22 đang ở Trung đoàn 42 nên tụi nó gom quân đánh úp. Chắc cái đám lính đi trên đoàn xe Molotova hôm trước lội bộ về tới nơi, kết hợp lực lượng đánh một trận ào ạt, dứt điểm toàn bộ Tân Cảnh!

Lúc đó tôi đang ở Quy Nhơn nghỉ phép. Chuẩn tướng Lê Đức Đạt đã hy sinh lẫm liệt ngay tại căn cứ Tân Cảnh và được truy thăng Chuẩn tướng với Đệ Tam Đẳng Bảo Quốc Huân Chương. (vậy là thăng cấp mặt trận của tôi cùng những sĩ quan khác cũng theo Đại tá!)


“Con Bò Lạc” Và Trận Đánh Ở Bồng Sơn

Trung đoàn 42 có tới 12 lớp rào kẽm gai và mìn bẫy. Mấy thằng lính may mắn chạy thoát về kể lại: “Lúc đó em chạy đại, không còn biết mìn bẫy gì nữa, cứ nhắm mắt băng qua rào, ai trúng mìn thì ráng chịu!”

Có thằng lính về còn kể một chuyện nghe nổi da gà: “Trung úy nhớ ‘con bò lạc’ không?”

Số là hồi còn ở Tân Cảnh, mỗi lần nhảy toán 5 ngày về nghỉ 2 ngày, anh em hay ra quán cà phê lớn nhất vùng. môt hôm, anh Thường vụ Đại đội Trinh sát 42 là Trung sĩ nhất Hải rủ tôi: “Trung úy, có ‘con bò lạc’ từ Pleiku mới lên, ông muốn không?” Lính xa nhà đâu có chê, tôi bảo: “Mày dẫn lại tao coi.”… Trời ơi, một cô gái tóc dài, bận áo dài đẹp mê hồn! “điện nước đầy đủ”. Tôi gật đầu liền.

Lúc Tân Cảnh mất, thằng lính chạy về mới thì thào: “Trung uý nhớ con bò lạc đó không? Lúc căn cứ thất thủ, chính nó mặc quần đen, cổ quấn khăn rằn, tay cầm súng AK đứng ra nhận diện từng tù binh từ quan tới lính! May mà Trung úy được ông Đạt cho về phép, chứ ở lại là tiêu đời rồi!”. Thì ra cô này là cán bộ giao liên từ Komtum, Pleiku, Tân Cảnh…Hú vía, nếu không chắc thành thái giám rồi!

Cổng Căn cứ 42 lúc đó có hai chiếc M113 đậu hai bên. Lần đầu tiên Việt Cộng xài hỏa tiễn dây AT-3. Nó bay xà xà như máy bay đồ chơi con nít, điều khiển bằng dây cáp remote. Tụi nó bắn hai trái diệt gọn hai chiếc M113 ngay tại cổng. Sau này tụi nó còn xài hỏa tiễn tầm nhiệt SA-7 nữa, dân thiết giáp sợ lắm, nghe tiếng pháo dập là nhảy vội ra khỏi xe ngay.


Máu Và Nước Mắt Ở Quốc Lộ 1

Sau khi Tân Cảnh mất, rồi Bồng Sơn. Trung đoàn 42, Trung đoàn 40 lần lượt thất thủ. Lúc đó Đại đội trưởng NĐT K21 bị bệnh, Sư đoàn gom 4 đại đội (gồm lính 40 và 42) còn lại cùng với Trinh sát Sư đoàn đóng dọc theo Phù Mỹ để chặn địch tràn xuống.

Đóng quân chừng một tháng thì rút về. Vừa về tới nơi, ông Đại đội trưởng bày ra bàn tiệc nhậu linh đình: “Lâu ngày chờ anh về nên đãi một bữa!”

Vừa nhấc ly rượu lên thì một chiếc xe Jeep trên Sư đoàn xé gió chạy xuống. Hai sĩ quan cầm hồ sơ hỏi: “Ai là Trung úy NTV?”“Tôi đây!”“Trung úy đi ra xe gấp, nhận sự vụ lệnh ra làm Đại đội trưởng Đại đội 2 Tiểu Đoàn 2 Trung đoàn 42!”

Tôi cằn nhằn: “Mẹ! Tao mới đi hành quân về, cho tao ăn nhậu một bữa đã! mai đi” Họ lắc đầu: “Không được, đây là lệnh trực tiếp của Trung tá Hoàng, Tham mưu trưởng Sư đoàn!”

Tôi phải bỏ dở bữa tiệc, nhận nhiệm vụ chỉ huy đại đội đánh mở đường từ Phù Mỹ ra tới Bồng Sơn suốt một tháng trời.


Sự Khác Biệt Giữa Trinh Sát Sư Đoàn Và Trinh Sát Trung Đoàn

Nhiều người thường thắc mắc Trinh sát và Viễn thám khác nhau thế nào?

Thế này, về tổ chức, một Đại đội Trinh sát thông thường sẽ có một Trung đội Viễn thám. Riêng Đại đội Trinh sát Sư đoàn 22 thì đặc biệt hơn: đại đội có tới hai Trung đội Viễn thám. Hai trung đội này chuyên trách nhận lệnh tăng phái cho các Trung đoàn để nhảy vào các vùng hiểm yếu.

Sự khác biệt giữa cấp Trung đoàn và Sư đoàn nằm ở phạm vi trách nhiệm:

  • Trinh sát Trung đoàn: Mỗi trung đoàn có một Đại đội Trinh sát, trong đó gồm một Trung đội Viễn thám. Trung đội viễn thám này chỉ nhảy và hoạt động trong phạm vi vùng trách nhiệm riêng của trung đoàn đó.
  • Trinh sát Sư đoàn: Đại đội Trinh sát Sư đoàn chịu trách nhiệm bao quát toàn bộ vùng hoạt động của cả Sư đoàn. Vì vậy, hai trung đội viễn thám của sư đoàn sẽ được điều động tăng phái ngay lập tức đến bất kỳ trung đoàn nào đang cần lực lượng luồn sâu yểm trợ. Đó là lý do tôi liên tục đi tăng phái nhảy toán cho cả bốn Trung đoàn 40, 41, 42 và 47. Dù các trung đoàn đều có lực lượng trinh sát riêng, nhưng quân số của họ không đủ để đáp ứng khi tình hình chiến trường căng thẳng.

Về quân số và quy mô tổ chức:

  • Một Trung đội Viễn thám: Quân số rất gọn nhẹ, cao lắm chỉ gồm 3 toán (mỗi toán 7 người), tức khoảng 21 anh em.
  • Một Đại đội Trinh sát: Khác với bộ binh thông thường, quân số thực tế rơi vào khoảng 50 đến 60 lính.

Lúc tôi nhận chức Đại đội trưởng Đại đội 2 tiểu đoàn 2 Trung đoàn 42, quân số cũ của đại đội gần như đã hy sinh và thất tán gần hết sau các trận đánh khốc liệt. Bộ chỉ huy mới bổ sung quân số đầy đủ cho tôi. Đợt đó, đại đội tôi được tăng cường đông nhất lên tới 70 anh em ngon lành.

Nhìn 70 thằng lính mới bổ sung, quân phục chỉnh tề đi thành một hàng dài dằng dặc xé rừng tiến quân, thú thật trông mát mắt và tự hào lắm! Nhưng trận mạc thì không có phút nào thảnh thơi — vừa nhảy xuống vùng Bồng Sơn để giải tỏa áp lực cho lực lượng bạn là đụng địch ngay. Ngày nào cũng đánh, tiếng súng nổ “kình… kình… kình” vang động cả góc rừng liên miên không dứt.

Sáng hôm sau, 6 chiếc trực thăng chở đại đội tôi nhảy xuống Núi Kho (Bồng Sơn). Vùng này mìn bẫy dữ lắm nên tôi cho lính xé rừng gai mà đi — cái loại rừng gai nhọn và dài như đinh sắt, ai ở Khánh Hòa, Nha Trang thì biết.

Đi xuống vùng đồng bằng, giao thông hào địch đào chằng chịt như bàn cờ ca-ro. Vì là vùng ven biển, tôi căng hai trung đội đi trước theo thế chân vạc, tiểu đoàn đi phía sau. Tôi nói vào máy giải tỏa áp lực cho anh em: “Hôm nay mình xả láng nghe tụi bay, có bao nhiêu chơi bấy nhiêu!”

Đánh riết ra tới Quốc lộ 1 thì tôi bị thương. Cả ba trung đội trưởng của tôi đều đã hy sinh. Một thằng bị nguyên trái B-40 găm thẳng vào đầu… thú thật tôi không dám nhìn!

Khi đánh ra gần Quốc lộ 1, thấy mấy ngôi nhà ngói là biết sắp tới đường lộ. Bất ngờ, một tiếng nổ “Ì” chấn động ngay ngôi nhà ngói trước mặt. Tôi nghe tiếng mảnh đạn bay “xẹt… xẹt…” liền né người tránh, nhưng BỊCH! một cái cực nặng trúng ngay ngực trái!

Lúc đó tôi mới biết: Mảnh đạn xé không khí bay vòng mà không bay thẳng, như viên đạn. Nó đập vào ngực tôi như ai cầm cây gỗ bự nện mạnh vào bao gạo: Bập! Một nhói đau điếng người. Thằng mang máy vô tuyến hốt hoảng: “Sao sao Trung úy?” Tôi sờ ngực thấy không chảy máu ngoài nên bảo không sao.

Nhưng chỉ vài giây sau, máu bên trong nội tạng cuồn cuộn trào lên. Hai tay tôi không còn sức cầm hai cái “ống liên hợp cabinêt” liên lạc nữa, phải buông rơi xuống đất. Vừa nằm xuống thì máu tươi từ mũi, miệng trào ra sặc sủa, ngộp thở ho húng hắng. Tôi phải ráng ngồi dậy mới thở được.

Thằng Thiếu úy Trợ y Tiểu đoàn chạy lại nhìn qua vết thương rồi la lên: “Ông này bị thương nặng lắm, chở đi gấp!” Trước khi tải thương, nó chích cho tôi một mũi Morphin vì sợ tôi không qua khỏi trên đường đến Quân Y Viện Qui Nhơn. Mũi thuốc chích vô, máu trong người chạy rần rần từ đỉnh đầu xuống tới mười đầu ngón chân, cảm giác thật sảng khoái!

Về tới Quân y viện Quy Nhơn, bác sĩ lại khám rồi ra lệnh ngay: “Trung úy này bị thương nặng, đưa vô phòng mổ gấp!”

Tôi thều thào: “Bác sĩ ơi, tôi đánh trận từ sáng tới giờ chưa có gì bỏ bụng hết…”

Bác sĩ bảo: “Chờ tới sáng mai mổ là anh chết!”

Họ đẩy tôi đi chụp hình phổi rồi đưa lên bàn mổ… mà hoàn toàn không có một giọt thuốc tê! Họ cột chặt tay chân tôi vào thành giường, cứ thế họ mổ, họ cắt. Ôi chao! đau không thể chịu được, tôi gồng mình, oằn oại nghiến răng trong tiếng rên đau đớn. Lúc bị thương chỉ thấy đau nhót rồi hết. Khi giải phẫu xong tôi mới biết họ đục một lỗ nơi sườn bên trái, nhét một đầu ông cao su vào bên trong phổi để lấy máu từ phổi ra đầu kia thì cắm vào một cái chai nơi chân giường, tôi nghiêng mình nhìn thấy máu mình đang nhỏ từng giọt vào chai đó. thì ra tôi bị một miểng đạn B40 vào phổi. Sau này có vài Bác Sĩ bảo tôi mổ lấy ra, nhưng tôi vẫn giữ cho tới giờ, như một kỷ vật thời chiến.

Có người hỏi: “Sao lúc đánh trận không mang áo giáp?” Thứ nhất là luộm thuộm, cồng kềnh khi đi rừng. Thứ hai là mang áo giáp lính nó nhìn vô nó… coi thường, khó chỉ huy lắm!


Xác Không Đầu Và Nước Mắt Mẹ Già

Sống trong Quân y viện Quy Nhơn, tình thầy trò đồng đội làm tôi vô cùng cảm động. Thằng đệ tử theo chăm sóc cho tôi từng chút một. Một hôm, nó chạy vô báo: “Trung úy ơi, có ba má của Thiếu úy Sơn — cái ông bị trúng B-40 vô đầu — tới thăm!”

Hai ông bà cụ tóc bạc phơ bước vào, hỏi thăm sức khỏe tôi rồi rớm nước mắt tâm sự: “Trung úy biết không, hồi đó thằng Sơn nhà tôi nó thương một cô gái cùng xóm, nhưng nhà cô đó nghèo nên tôi không chịu cưới. Nó giận bỏ nhà đi, tôi hối hận cho người đi tìm khắp nơi suốt hai năm trời. Nay tìm được tin nó thì thằng Sơn nhà tôi nó đã chết rồi… Trước khi mất, nó có trăn trối lại điều gì không Trung úy?”

Tôi ngơ ngác, nghẹn đắng trong cổ họng. Nguyên một trái B-40 găm thẳng vô đầu thì còn gì nữa đâu mà trăn trối! Nhưng làm sao tôi dám nói sự thật tàn nhẫn đó cho hai ông bà nghe?

Bà mẹ sụt sùi kể tiếp: “Khi tôi vô nhận xác con, thấy đầu nó băng trắng xóa. Tôi đưa tay rờ vô thấy… mềm… mềm, không biết nó bị thương ra sao…”

Tôi đành nhắm mắt dối lòng: “Dạ, lúc đó cháu đang chỉ huy phía trước nên không rõ…”

Thực ra, anh em đơn vị Chung sự ở Quân Y Viện đã phải dùng rơm, bện lại tạo lại hình hộp sọ cắm vào thân anh Sơn rồi quấn băng trắng phủ lên trước khi đặt vào quan tài. Thà để hai ông bà ôm niềm an ủi nghẹn ngào, còn hơn biết sự thật đau xót đến nát lòng.


Nước Mắt Nơi Nhà Xác Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa

Nghe Niên trưởng NTV23 kể đến đây, tôi không khỏi chạnh lòng nhớ lại lần dẫn người dì đi nhận xác anh họ tôi — anh Va-Pẩu, một người lính gốc Nùng, pháo thủ Sư đoàn 5 Bộ binh — tử trận vì trúng mìn. Lúc đó, dượng tôi đang đóng quân ở Bình Dương chưa kịp về, nên Dì đành nhờ tôi đưa xuống Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa.

Đó là lần đầu tiên tôi bước chân vào khu vực nhà xác. Không khí âm u, ảm đạm và mùi tử khí đặc quánh trùm kín cả không gian. Trước khi vào khu lạnh, chúng tôi phải đi qua những hồ xi măng lớn cạn tới đầu gối, nước đỏ ngầu màu máu — nơi nhân viên chung sự rửa sạch thi thể các tử sĩ vừa từ chiến trường đưa về. Dì tôi nắm chặt lấy tay tôi, khép nép bước đi bên cạnh, mắt liếc nhìn chung quanh với vẻ bàng hoàng, sợ hãi.

Đến khu tủ lạnh, anh em nhân viên Chung sự tra hồ sơ rồi kéo một ngăn tủ sắt ra. Vừa nhìn thấy khuôn mặt quen thuộc, tôi nhận ra ngay liền nói nhỏ: “Dì ơi, anh Va-Pẩu đây này!”

Trông thấy đứa con trai nằm yên lặng trong ngăn kéo lạnh ngắt, mọi sự sợ hãi trong lòng người mẹ vụt biến mất hoàn toàn. Bản năng mẫu tử thiêng liêng khiến Dì lao tới, ôm chầm lấy đứa con yêu quý như thể anh vẫn còn sống. Dì nghẹn ngào, nước mắt dàn dụa ôm lấy con rồi nhờ tôi tìm xem anh bị trúng đạn ở đâu mà nên nông nỗi này. Thật đau đớn và nghiệt ngã… giữa bao nhiêu hiểm nguy chiến trường, chỉ một mảnh mìn nhỏ bằng hạt bắp xé gió xuyên thẳng qua ngực trái đã cướp đi đời người lính trẻ!

Dù biết con mình đã hy sinh, nhưng bậc cha mẹ nào khi nhận xác con cũng ngóng tìm một lý do, muốn tận mắt nhìn thấy và biết tại sao con mình chết. Với anh Va-Pẩu, dẫu xót xa vì chỉ một mảnh mìn nhỏ nơi lồng ngực vẫn còn vẹn toàn thân thể cho người mẹ ôm gục đầu vào. Còn với Thiếu úy Sơn, khi nguyên một trái B-40 tàn phá nát cả phần đầu, sự thật ấy quá đỗi kinh hoàng — thử hỏi người chỉ huy nào dám thốt ra lời thật trước đôi mắt ngấn lệ của người mẹ già?


Lời Kết

Đây chỉ là một trong hàng ngàn câu chuyện có thật nơi chiến trường miền Nam: Những người lính bằng xương bằng thịt, đánh trận thật, bị thương thật và chết thật!

Suốt một thời gian dài, giới truyền thông phương Tây đã nhắm mắt làm lơ, miêu tả QLVNCH như một lực lượng không chịu chiến đấu. Sự thật phũ phàng là những phóng viên ngoại quốc đó chưa bao giờ vác máy ảnh bám theo các toán Trinh sát hay Viễn thám vào tận sào huyệt địch ở Mật khu Ngọk Tô Ba, Căn cứ 42 hay Tân Cảnh. Họ chỉ ngồi trong phòng máy lạnh tại Sài Gòn, nhặt nhạnh những tin đồn, được kể lại, rồi thêu dệt nên những bài báo phiến diện.

Máu của những người lính Trinh sát Sư đoàn 22, sự hy sinh của Thiếu úy Sơn, Pháo thủ Nùng Va-Pẩu, và cái chết lẫm liệt của Chuẩn tướng Lê Đức Đạt tại Tân Cảnh chính là câu trả lời đanh thép nhất cho lịch sử: Người lính QLVNCH đã chiến đấu, hy sinh đến giọt máu cuối cùng để bảo vệ lý tưởng Tự Do cho miền Nam Việt Nam!


Tsu A Cầu (K29/TVBQGVN)

Huntington Beach, 31/7/2026

+++

==




KIỀU MỸ DUYÊN – SỐNG BÌNH THẢN VỚI CÂY KIỂNG




KIM LOAN (CGV) – Thơ Ước Ao – VĂN: CHỊ HÀNG XÓM CŨ & NGÀY XƯA NGUYỄN THỊ…

ƯỚC AO

Ước gì anh nắm lấy tay em
Một lần thôi em sẽ không quên
Chắc hẳn là bàn tay anh ấm?
Em sẽ run những ngón tay mềm

.

Một lần thôi, dù chỉ vài giây
Anh hãy hôn lên tóc em đây
Khi anh hờ hững không trở lại
Theo bước anh tóc em là mây

.

Ước gì anh cùng đi với em
Một đoạn đường thôi, trong hoàng hôn
Em sẽ bảo thời gian dừng lại
Để anh nhìn thấy mắt em buồn

.

Em sẽ vì anh, em làm thơ
Lòng em sẽ ướt lúc trời mưa
Lòng em sẽ nhạt theo màu nắng
Sẽ ngậm ngùi theo ánh trăng mờ

.

Ước gì anh đến tìm gặp em
Một hôm thế giới bỗng lặng im
Một hôm em thấy mình hạnh phúc
Nghe tim mình mơ chuyện nhân duyên

KIM LOAN 

==


CHỊ HÀNG XÓM CŨ
– KIM LOAN

Năm tôi học lớp 12, con nhỏ xinh nhất lớp đi lấy chồng, mời gần cả lớp đi dự. Lần đầu tiên trong đời được đi ăn cưới với tư cách đã trưởng thành (tuổi 18, chớ không phải đi …ăn theo bà con họ hàng chòm xóm). Tôi và nhỏ bạn thân bàn tính, phải ăn diện trang điểm cho thật đẹp, nhưng ở tuổi đó, vào thời đó, hai đứa chẳng có một bộ đồ “make-up” nào. Hơn nữa, mấy anh chị lớn trong nhà không đồng ý chuyện điểm phấn tô son ở tuổi học trò. Chúng tôi vẫn nhất quyết muốn được làm đẹp, bèn nhớ ra chị Hà trong xóm. Chị lớn hơn tôi 7-8 tuổi, thuộc thế hệ mấy ông anh tôi, nhưng chị là “thần tượng” của tôi vì chị thông minh, xinh đẹp với dáng người cao ráo, nước da trắng và nụ cười duyên dáng.

Cửa sau nhà tôi đối diện cửa sau nhà chị. Má tôi và má chị từng quen biết thân thiết, sau khi má tôi mất thì má chị hay qua nhà tôi, mỗi khi  có chuyện trọng đại như giỗ quảy, cưới hỏi, coi như thay mặt cho má tôi, nên tôi với chị coi như cũng là chỗ “người nhà”. Thế là chúng tôi đến nhờ chị bí mật trang điểm cho hai đứa, tụi tôi mặc quần áo sẵn sàng, ghé qua nhà chị, trang điểm xong là đi thẳng đến đám cưới.

Chị la oai oải:

– Thôi, thôi! Anh chị nhà em đã cấm, sao chị dám làm chớ, mặc dù chị không tiếc chuyện trang điểm cho tụi em.

Tụi tôi năn nỉ:

– Chị làm ơn giúp tụi em! Đây là lần đầu tiên tụi em được làm người lớn, đám cưới này có bạn bè và nhiều người khác bên đàng chú rể, tui em nhất định phải …đẹp!!!

– Nói thiệt, chị thấy tụi bay tuổi mới lớn, má đỏ môi hồng tự nhiên, mắt sáng da căng quá đáng yêu, cần gì trang điểm nữa! Mà thôi, chị sẽ đánh chút phấn thơm và thoa chút son, nha!

Chúng tôi đành chấp nhận, dù sao có vẫn còn hơn không. Nhà chị có người nhà bên Mỹ gửi quà về, nên chắc chắn đồ trang điểm của chị thuộc loại “xịn”. Nhưng sau khi xong xuôi, chúng tôi nhìn vào gương vẫn không hài lòng, không thấy mình…lộng lẫy thêm tí nào. Hai đứa rủ nhau về nhà nhỏ bạn, mượn cây son của chị dâu của nó, rồi trét lên môi đỏ chót, rồi kẻ cặp mắt đậm lè, rồi tự tin kêu xích lô đến tiệc cưới. Tưởng mọi chuyện êm xuôi, sau ngày đám cưới vài hôm, chị Hà gặp tôi, phàn nàn:

– Sao tụi em cãi lời chị, tô son kẻ mắt như bà đồng bóng, mất hết vẻ đẹp ngây thơ của tuổi học trò, bà chị của em mắng vốn chị kìa!!!

– Ủa, sao chị em biết chớ, trước khi về nhà đêm đó, tụi em đã xoá hết màu son màu mắt rồi mà?

– Làm sao chị biết được! Tụi bay làm mất uy tín của chị rồi!

Dĩ nhiên là tôi bị bà chị Cả và ông anh thứ tư (khó tính nhất nhà) mắng cho một trận nhớ đời. Sau lần đó, tôi đâu dám gặp chị vì biết chị còn giận, ai ngờ số phận đẩy đưa (chắc là mắc nợ nhau), vài năm sau đó, tôi và chị lại tái hợp trong một chuyến vượt biên.

Tờ mờ sáng hôm đó, hai chị em tỉnh dậy, (tối qua tôi đã qua nhà chị ngủ để sáng ra bến xe đi Miền Tây, vượt biên). Xuống dưới nhà, ba mẹ chị thắp nến bàn thờ Chúa, bốn người đọc 10 kinh, rồi mẹ chị gói hai gói xôi cho chúng tôi để vào giỏ hành lý. Chị hỏi tôi:

– Xuất phát cửa trước hay cửa sau đây?

– Cửa sau đi chị! Cửa trước sợ gặp mấy hàng xóm đi làm sớm, nhứt là chú Tư ba gác!

Hai đứa bèn đi cửa sau, vừa bước ra gặp bên hông Chùa, tiếng mõ dìu dặt nhịp nhàng của buổi công phu sớm làm lòng tôi xao xuyến:

– Chị Hà ơi, nghe tiếng chuông chùa, tiếng mõ thân quen, em bước đi …hổng đặng!

– Trời ơi! Nhà ngươi làm ơn bỏ cái tính cải lương sến sẩm, ưa mủi lòng đó được không? Cái miệng ăn mắm ăn muối nói tào lao, chưa ra bến xe đã chùn chân rồi!

– Úi, em xin lỗi chị! Nhưng lần sau tụi mình nên xuất phát cửa trước …

Chị đánh vào vai tôi thiệt mạnh:

– Lại nói bậy nữa rồi! Lần sau là sao? Bữa nay đi là đi luôn chớ!

– Dạ em xin chừa, từ giờ phút này hổng dám mở miệng nói gì nữa!!

– Mà lỡ rồi, chị nói luôn nà, đi cửa trước sẽ qua nhà thờ, lại có tiếng chuông kêu Lễ sớm, mày lại …xao xuyến, tốt nhứt là có cánh bay thẳng tới bến xe …

Hai chị em nhìn nhau cười mỉm chi. Vừa quẹo ra khỏi xóm Chùa ra đường cái, cả xóm vẫn ngủ im lìm trong bóng tối của trời nửa đêm về sáng, bỗng chị níu tôi lại:

– Ê, hình như có xe ba gác của chú Tư, mà còn có cả thím Tư ở trên xe nữa kìa, tính sao đây?

– Không xong rồi chị ơi! Thím Tư được xóm mình gọi là Thím “Tám” là chị đủ biết rồi đó! Vào đây núp đi chị!

Hai chị em tạt vào chiếc cổng của căn nhà bên đường, nép bên cột hàng rào. Tự dưng tôi rùng mình, nhìn lên cây dừa cao vút nơi góc sân căn nhà, run rẩy thì thầm:

– Chị Hà ơi, em sợ quá!

Chị cũng hoảng hốt:

– Vụ gì nữa đây?

Tôi chỉ cây dừa:

– Chị hổng nhớ gì sao!!

Tôi vừa dứt câu, chị cũng run lẩy bẩy. Căn nhà này, mới tuần trước, gia chủ có đám cưới, anh con trai trèo lên cây dừa hái lá để làm rạp cưới cho em gái, nhằm ngày trời mưa mới tạnh, dây điện giăng ngang cây dừa bị chập điên, anh ấy bị điện giựt nằm vắt vẻo đen thui trên ngọn dừa, cả xóm không ai dám nhìn, vậy mà khuya nay chúng tôi đang đứng dưới cây dừa, hỏi sao không toát mồ hôi hột ?? Chị Hà kéo tôi đi như chạy:

– Bây giờ có gặp mười thím “Tám” cũng chịu luôn em ơi!

Hai chị em vừa chạy, tuy sợ ma nhưng lại cười suốt cả đoạn đường cho đến lúc bắt được xe ra Xa Cảng thẳng tiến Cần Thơ. Chúng tôi ở Cần Thơ và Long Xuyên mỗi nơi vài ngày rồi đón xe lôi đến Sóc Trăng.

Đêm chờ ghe nhỏ tại ven sông Sóc Trăng, hai chị em thao thức, không ngủ được. Tôi hỏi:

– Tụi mình đi bất ngờ, chắc chị chưa có dịp chia tay chàng bác sĩ của chị ha?

– Ừa, chiều nhận tin là tối gói hành lý liền, đâu kịp gặp ai! Chị có viết mấy lời, khi nào ảnh tới nhà thì má chị sẽ đưa.

– Chị nói gì ở trỏng?

– Chị ghi gọn gàng lắm: Anh Giao, em đi vượt biên, anh đừng chờ đợi !

– Trời, sao mà phũ phàng còn hơn Lan cắt dây chuông không cho Điệp vào thăm vậy trời!!

– Thì mình đi rồi, phải cho người ta tự do chớ,! Còn em, có …nhắn gì cho ai không?!

– Dạ, em cũng chẳng kịp suy nghĩ, không biết nên nhắn… cho ai!!

Mà miệng tôi “ăn mắm ăn muối”thiệt, nói xui nói xẻo khi vừa bắt đầu, nên qua ngày hôm sau chúng tôi lại khăn gói trở về thành phố. Chàng Bác sĩ biết nỗi “đam mê” của chị nên hơn một năm sau, hai anh chị lên đường qua Cambodia rồi lên tàu vượt biển qua Thailand. Một năm sau tôi cũng đi theo, nhưng đến trại thì anh chị đã đi định cư, mãi hơn 20 năm sau hai chị em mới được tái ngộ tại Nam California.

Hôm nay tôi viết lại kỷ niệm này, mong chị đọc được, coi như tôi …tạ tội cho lần lỡ dại “điệu đà tuổi 18” và cái miệng “mắm muối” thuở nào!

KIM LOAN

==

NGÀY XƯA NGUYỄN THỊ…

Sài Gòn bị đổi chủ khi tôi mới chín tuổi, chưa kịp biết mộng mơ với những bản nhạc tình trước năm 1975. May mắn thay, vài năm sau đó, khi phong trào “đốt sách trả thù” của chính quyền Cộng Sản lắng xuống, mấy anh chị lớn trong nhà còn giữ lại được một số tờ nhạc, băng nhạc cũ, đem ra nghe lén mỗi đêm khuya vắng. Các tờ nhạc đa số là nhạc Phạm Duy, Trần Thiện Thanh, nghe mấy ông anh ôm đàn và hát, tôi thích lắm. Băng nhạc cassette thì chỉ có một hai băng của ca sĩ Thái Thanh, nghe đi nghe lại, nào Ngàn Thu Áo Tím, Nghìn Trùng Xa Cách, Kỷ Vật Cho Em… nhưng chả hiểu sao đọng lại trong tôi nhiều nhất, là Ngày Xưa Hoàng Thị, có lẽ vì câu chuyện tình lãng mạn đẹp xinh của tuổi học trò làm tôi xao xuyến. Thuở ấy, không có Google hay báo chí để tra hỏi, nên tôi nào rành rẽ về bài thơ hay bài nhạc, chỉ biết yêu vô cùng lời nhạc, lời thơ, thế thôi.

Thế là tôi yêu tiếng hát Thái Thanh dù sau đó gia đình tôi có thêm các tiếng ca khác mà anh chị tôi thu thập từ bạn bè hoặc từ các tiệm sang băng lậu ngoài chợ trời Tạ Thu Thâu: Thanh Thuý, Nhật Trường, Thanh Lan, Phương Dung, Sĩ Phú, Duy Quang, Elvis Phương… với nhiều bài hát mới.

Riêng bài Ngày Xưa Hoàng Thị vẫn sống lâu nhất trong trái tim tôi, vì một buổi trưa đầu hè năm lớp 12, tôi bước vào lớp, thấy trong hộc bàn một tờ giấy màu xanh lơ, có ép một cánh bướm làm từ hoa phượng và mấy câu thơ:Em tan trường về
Cuối đường mây đó
Anh tìm theo Ngọ
Dáng lau lách buồn
Tay nụ hoa thuôn
Vương bờ tóc suối
Tìm lời mở nói
Lòng sao ngập ngừng…

Chẳng có tên người gửi, cũng chẳng ghi tên người nhận. Lập tức, đám “thám tử” con gái lớp tôi chạy đi “điều tra lý lịch” tác giả lá thư. Được biết, người ngồi cùng chỗ đó của tôi (lớp buổi sáng) là chàng tuổi trẻ tên là Hồng Ân, nhỏ hơn tôi một tuổi (học lớp 11), trắng trẻo, đẹp trai, con nhà giàu ngay ngã tư chợ Xóm Mới. Nhưng các “thám tử” không thể tìm ra, là lá thư ấy chàng trẻ tuổi cố ý gửi cho tôi, hay tính gửi cho… con bé nào khác mà để quên trong hộc bàn? Tôi chả quan tâm chuyện ấy, thư để trong hộc bàn của tôi, rất ngay ngắn gọn gàng, nghĩa là gửi cho tôi. (Ai cấm em trai tương tư… bà chị học trên lớp hở mấy nàng “thám tử” rách việc kia?) Cánh bướm đẹp quá, tờ thư xinh quá, và nhất là mấy câu thơ lần đầu tiên tôi được đọc vì trước đó chỉ nghe bài hát. Dù chỉ có mấy câu, tôi cũng đoán cả bài Thơ sẽ còn hay hơn nhiều. Tôi bỏ lá thư trong cặp, mang về nhà, đọc đi đọc lại nhiều lần, và mong “người ta” gửi tiếp cho trọn… bài thơ!

Tôi cũng chẳng ngờ bài hát đó lại có duyên, theo tôi đến tận con đường vượt biển, qua trại tỵ nạn Thailand. Hôm ấy, tôi đang say giấc nồng trưa hè thiu thiu thì bỗng nghe bên nhà hàng xóm mở cassette (xài bằng bình ắc-quy) bài Ngày Xưa Hoàng Thị qua giọng ca Thái Thanh. Tôi bỗng tỉnh ngủ, như chợt gặp lại “người xưa”, cầm theo giấy bút chạy qua để thưởng thức điệu nhạc quen thuộc và chép lời. Chị chủ nhà, cũng là người chung chuyến tàu với tôi, rất vui vẻ quay đi quay lại bài hát gần chục lần (sắp nhão cả tape) để tôi kịp ghi lại đầy đủ bài hát. Từ đó tôi cứ lẩm nhẩm bài này với bạn bè cùng lô nhà và cả khi chúng tôi tụ tập nhóm “đờn ca tài tử”.

Nhóm chúng tôi, những thanh niên thiếu nữ, trong đó Dzũng Lé là tay guitar cừ khôi, trước khi đi vượt biên, từng chơi cho các nhóm nhạc “Ca Khúc Chính Trị” tại Sài Gòn. Còn có Trung, chàng thư sinh Nhạc Viện, đi vượt biên ôm theo cây đàn Violin, khi tàu bị bão tố trên biển đông, hành lý phải quăng ra biển cho nhẹ con tàu, Trung vẫn cương quyết ôm cây đàn, che chở bảo vệ nó, mang nó vào trại tị nạn. Những buổi tối gió lạnh nhớ nhà, chúng tôi đề nghị Trung kéo đàn những bài tango nổi tiếng, như La Comparsita (mà nhạc sỹ Phạm Duy đặt lời Việt là Vũ Nữ Thân Gầy), La Paloma (Phạm Duy viết thành Cánh Buồm Xa Xưa), hay điệu Valse với nhạc phẩm trứ danh Blue Danube (Phạm Duy viết thành Dòng Sông Xanh). Giữa đêm đông se lạnh tha phương, tiếng đàn violin réo rắt, tha thiết, bay bổng đến lặng người. Khán giả tị nạn kéo đến càng đông, Trung nhắm mắt say sưa kéo đàn, chẳng để ý biết bao đôi mắt ngắm nhìn thán phục, cảm mến. Mến chàng nghệ sĩ ít nói, có duyên, hay mến tiếng đàn mênh mang vời vợi nơi trại tạm dung? Rồi tiếng đàn chuyển qua những nhạc phẩm trữ tình khác, nào Dấu Tình Sầu, nào Niệm Khúc Cuối, Đêm Nay Ai Đưa Em Về… khiến mọi người rưng rưng thổn thức.

Tôi không có giọng hát hay nhưng thuộc nhóm “hay hát”, nên sau phần độc tấu violin và phần solo của những giọng ca quyến rũ người nghe, cuối cùng cũng đến lượt tôi được… cầm giấy ca bài “tủ” của mình, rất hào hứng, say sưa: “Em tan trường về …”

Cứ ngỡ ca chơi trong nhóm cho vui, ai ngờ Dzũng Lé đã cho tôi một bất ngờ nhớ đời. Mùa Giáng Sinh 1992, trường Việt Ngữ và nhóm nhân viên ngoại quốc YWAM (Youth With A Mission) tổ chức buổi tiệc tiễn đưa cô hiệu trưởng Sue về Australia. Tôi là cựu giáo viên nên được mời và được yêu cầu mặc áo dài với các cô khác vì cô Sue cũng mặc áo dài. Tôi hớn hở đến dự, thảnh thơi ngồi ăn uống, xem văn nghệ có Dzũng Lé chơi đàn guitar trong ban nhạc. Đến giữa chương trình, Dũng Lé ghé tai người MC thì thầm gì đó, rồi anh MC ra giới thiệu:

– Kính thưa quý vị, sau đây là một giọng ca… bình thường, nhưng tâm hồn văn nghệ thì trên cả bình thường! Cô chưa bao giờ vắng mặt trong các nhóm văn nghệ bỏ túi trong các khu nhà trong trại. Xin mọi người cho một tràng pháo tay cho cô cựu nhân viên bưu điện và hiện nay là nhân viên Cao Uỷ Định Cư!

Tôi chưa kịp phản ứng gì, bà con vỗ tay rầm rộ và đẩy tôi lên sân khấu. Tôi nhăn mặt, liếc Dzũng Lé:

– Ca bài gì bây giờ?

– Thì cái bài Ngày Xưa Hoàng Thị bà hay ca đó.

– Nhưng tui không thuộc.

– Nhớ tới đâu ca tới đó, dễ mà.

– Nhưng chưa tập dợt với ban nhạc gì ráo.

– Bà khỏi lo, cứ tập trung vào chuyên môn… ca hát, tụi tui sẽ đuổi theo bà!

Tôi đành bấm bụng làm ca sĩ. Ban nhạc đánh bài Ngày Xưa Hoàng Thị theo điệu valse hơi nhanh, nhưng tôi bị ảnh hưởng cách hát luyến láy, “điệu chảy nước” của cô Thái Thanh nên mở đầu câu hát thật dẻo, thật dịu dàng đong đưa, rồi lên cao vút, thành ra ban nhạc bị trật nhịp, nhạc chơi đường nhạc, tôi hát đường tôi, họ ra sức rượt theo, vã mồ hôi hột. Đã vậy, lời bài hát cứ lặp đi lặp lại: “Em tan trường về… Anh theo Ngọ về… Em tan trường về… Mưa bay mờ mờ…” Tôi run quá, không nhớ lời kết, cứ đứng đó ca tới ca lui: “Em tan… Anh theo… Em tan… Anh theo…” Khán giả ở dưới cũng nhận ra điều ấy, càng vỗ tay lớn hơn theo nhịp để cổ vũ tôi đang mặt mũi xanh lè vì bối rối. Dù sao, Dzũng Lé cũng là tay guitar chuyên nghiệp, đã nhanh miệng làm “đạo diễn” dẫn dắt ban nhạc xuống “tông”, và nhắc tôi từ từ bình tĩnh, có Dzũng hát kèm phía sau, dìu tôi vào câu “coda”, kết thúc rất ngoạn mục trong tiếng reo hò của cả hội trường.

Sáng hôm sau tôi ra bưu điện dò thư, mấy anh bưu điện nhìn tôi cười mỉm chi:

– Chào em… Ngọ, chiều qua hát bài hát không có… lối ra luôn hen!

Từ đó, họ gọi tôi là “bé Ngọ”, và tôi cũng thích tên “Nguyễn Thị… Ngọ” vì tôi “đường đường chính chính” sinh năm Bính Ngọ, chớ không có ý nhận vơ mình là “nàng thơ” trong bài hát, bởi tôi biết, khi thi sỹ Phạm Thiên Thư “chân anh nặng nề, lòng anh nức nở” thì tôi chưa được sinh ra hoặc còn đang bận rộn… tắm mưa ngoài đường!

Và cũng nhờ “tiếng tăm” của buổi làm “ca sỹ” lan xa trong trại, mà chú nhà báo Hồ Ông (trước 1975 là cây viết châm biếm của tờ Con Ong, hiện đang định cư bên Úc) đem đến cho tôi tờ tạp chí Làng Văn viết về Phạm Thiên Thư có cả nguyên vẹn bài thơ “Ngày Xưa Hoàng Thị”. Tôi mừng rỡ sung sướng chép lại trên cuốn sổ Thơ của mình, và còn giữ đến nay trong tủ sách gia đình.

Kỷ niệm về Ngày Xưa Hoàng Thị và Thái Thanh thì còn nhiều lắm. Đến giờ giới nghiêm, cả trại im lìm trong bóng đêm, tôi và chị bạn chui vào mùng mở máy cassette nho nhỏ chạy bằng “pin”, nghe Thái Thanh phải nghe đêm khuya mới thấm. Có lần chú Tám kế bên vách vọng sang thì thào:

– Cô Loan ơi, cô làm ơn mở volume lên chút xíu cho tôi nghe rõ giọng Thái Thanh, được không cô?

Tôi sung sướng:

– Ủa, chú cũng mê tiếng hát Thái Thanh sao? Hổm rày con đâu biết!

– Chả giấu gì mấy cô, tui chỉ mê nhạc sến nhạc mùi của Tuấn Vũ, Chế Linh. Nhưng giọng cô Thái Thanh làm tôi… dễ ngủ, tôi vốn mắc chứng mất ngủ!

Dễ giận không nà! Nhưng mà thôi, mục đích nào cũng tốt hết á. Chúng tôi bên này thả hồn theo từng điệu nhạc lời ca cao vút điệu đà của Thái Thanh, còn bên kia chú Tám… ngủ ngon!

Thực ra, suốt một thời gian rất dài, tôi luôn ngại ngùng thú nhận mình là “fan” của Thái Thanh, Phạm Duy, Phạm Thiên Thư vì nhiều lần bị bạn bè chọc ghẹo:

– Úi chào, Thái Thanh là tiếng ca dành cho người già, thích loại nhạc khó hiểu, cao vời! Sao không nghe bolero cho dễ thở?

Mới đây tôi có nói với tụi bạn:

– Giờ tao đã là lứa tuổi U60 (trên 50), có thể công khai tuyên bố là “fan” của Thái Thanh là đủ tiêu chuẩn rồi nha, tụi bay chớ mà ý kiến ý cò!

Bất cứ lúc nào, hễ nghe ai nhắc Thái Thanh và Ngày Xưa Hoàng Thị thì trong tôi lại xốn xang những đoạn đời dấu yêu của “Ngày Xưa Nguyễn Thị… Tôi”, ùa về như thác đổ, lúc vui lúc buồn, có khi làm tôi thao thức mất ngủ cả đêm vì bồi hồi, nhớ nhung.

Ai mang bụi đỏ đi rồi?!

Kim Loan




SỎI NGỌC – NGỌC HUYỀN – Ca Khúc Sao Đành Xa Em




TÙY BÚT phamphanlang: 41 Năm – Một Ngày Giỗ, Một Đời Thương Nhớ.

Hôm qua là ngày giỗ thứ 41 của chồng tôi – ngày anh vĩnh viễn rời xa cõi đời, để lại bốn mẹ con tôi bơ vơ giữa cuộc sống với nỗi nhớ thương chưa bao giờ nguôi.

Ngày anh ra đi, tóc tôi còn xanh, các con mới vừa 11, 13 và 15 tuổi. Thấm thoắt đã hơn bốn mươi năm. Nay tóc tôi đã bạc, còn các con đã bước sang tuổi 52, 54 và 56; tất cả đều trưởng thành, lập gia đình, có con cái và đã tạo dựng được cuộc sống, sự nghiệp riêng.

Dù cuộc đời có bao đổi thay, dù mỗi người ở một nơi, bận rộn với công việc và gia đình, nhưng cứ đến ngày 30 tháng 7 hằng năm, mẹ con chúng tôi luôn cố gắng thu xếp để được về bên nhau, khi thì tại nhà tôi, khi thì tại nhà các con, cùng làm bữa cơm giỗ Bố với những món ăn mà lúc sinh thời Bố yêu thích.

Sau khi bày biện bàn thờ, mẹ con và các cháu cùng thắp hương, kính cẩn đứng trước di ảnh Bố, cầu nguyện cho Bố được thanh thản nơi cõi vĩnh hằng và xin Bố phù hộ cho con cháu luôn mạnh khỏe, bình an, hạnh phúc, may mắn và thành công trong học hành, công việc cũng như cuộc sống.

Trong lúc chờ hương tàn để lạy tạ và chào Bố, cả nhà thường quây quần bên bàn thờ, kể cho Bố nghe những chuyện vui buồn đã xảy ra trong năm, nhắc lại những kỷ niệm về Bố, và rồi câu chuyện lại đưa mọi người trở về biến cố đau thương năm ấy bên bờ biển Folly Beach, South Carolina, trong ngày Lễ Độc Lập Hoa Kỳ. Chúng tôi vẫn không quên những ngày dài tuyệt vọng khi Bố nằm bất động trong hôn mê, với bao dây nhợ nối vào các máy trợ sinh. Rồi cuối cùng, Bố cũng lặng lẽ ra đi vào một ngày cuối tháng Bảy mưa tầm tã – ngày đau buồn nhất trong cuộc đời của bốn mẹ con tôi.

Những năm gần đây, khi các con có gia đình riêng, công việc và con cái ngày một bận rộn, không phải năm nào cũng có thể về tụ họp đông đủ trong ngày giỗ Bố. Thế nhưng, tình cảm dành cho Bố chưa bao giờ vơi đi.

Mỗi gia đình vẫn chuẩn bị một bàn thờ nhỏ để cúng Bố tại nhà mình. Đến khoảng sáu giờ chiều, vào thời điểm thuận tiện nhất cho mọi người, chúng tôi cùng kết nối qua Zoom. Lần lượt từng gia đình – bắt đầu từ tôi và ông xã Barry, rồi đến các con theo thứ tự từ lớn đến nhỏ – cùng thắp hương, lạy Bố và dâng lời khấn nguyện.

Tôi vẫn thường dặn các con rằng: Bố không cần mâm cao cỗ đầy. Điều quan trọng nhất là lòng thành. Chỉ cần một bát cơm trắng, một miếng thịt kho – món Bố thích lúc sinh thời – hay chỉ một đĩa trái cây, một miếng bánh, vài bông hoa tươi cùng nén nhang là đủ để nói lên tấm lòng tưởng nhớ.

Năm nay có một kỷ niệm khiến tôi vô cùng xúc động.

Cháu ngoại lớn của tôi, Nima, hiện học đại học xa nhà nên không thể về dự ngày giỗ Ông Ngoại. Vài hôm trước, cháu gọi điện hỏi tôi cách nấu món thịt kho trứng, vì cháu biết đó là một trong những món Ông Ngoại rất thích. Cháu đã tự tay nấu món ăn ấy, bày lên bàn thờ và thành kính thắp hương cúng Ông.

Nhìn bàn thờ đơn sơ của cháu, tôi đã không cầm được nước mắt. Cháu chưa một lần được gặp Ông Ngoại, vì ngày Ông mất thì mẹ cháu còn chưa đầy mười lăm tuổi. Vậy mà tình yêu thương, sự kính nhớ và lòng hiếu kính vẫn được truyền lại qua hai thế hệ. Đó có lẽ là món quà quý giá nhất mà một người cha, một người ông có thể để lại cho con cháu mình.

Xin được chia sẻ cùng Quý Thầy Cô và quý bạn hữu thân thương đôi dòng tâm sự trong ngày giỗ thứ 41 của người chồng quá cố, cùng vài hình ảnh ngày giỗ của bốn mẹ con và của cháu ngoại Nima.

https://photos.app.goo.gl/uoQzVgTK3yWq3tGK8

Nhân đây, tôi cũng xin được giới thiệu ca khúc “Mộng Tưởng”, phổ từ bài thơ tôi viết năm 2013.

Bài thơ đã được nhạc sĩ Mộc Thiêng phổ nhạc năm 2016, và đến năm 2025, nhạc sĩ Trần Đại Bản cũng phổ thành một phiên bản mới sau khi đề nghị tôi viết thêm hai đoạn kết cho bài thơ.

Mộng Tưởng – Thơ phamphanlang – Nhạc Mộc Thiêng – Ca sĩ Diệu Hiền
https://www.youtube.com/watch?v=8ITm1z7a4NM

Mộng Tưởng – Thơ phamphanlang – Nhạc Trần Đại Bản – Ca sĩ Kana Ngọc Thúy

MỘNG TƯỞNG

Anh đi đi mãi không về
Phòng khuê lẻ bóng não nề thâu canh
Trăng khuya rọi bóng bên mành
Lung linh trên gối tưởng anh nằm kề.

Mùi hương ngày cũ chợt về
Vòng tay ôm bóng cơn mê vội tàn
Ngẩn ngơ giấc mộng bẽ bàng
Ôm hồn cứ tưởng như chàng còn đây…

Ngoài hiên trăng ủ vầng mây
Hồn anh lãng đãng về đây chốn này
Tiếng xưa vọng giữa cơn say
Ru em giấc mộng những ngày bên nhau.

Hương xưa còn thoảng trên đầu
Vẫn như hơi thở nghẹn màu nhớ thương
Thời gian dẫu có vô thường
Tình em còn đó, miên trường dấu yêu.

phamphanlang
30/01/2013

Xin chân thành cảm ơn hai nhạc sĩ Mộc Thiêng và Trần Đại Bản đã dành nhiều tâm huyết cho bài thơ.

Kính chúc Quý Thầy Cô, Quý Anh Chị cùng các Bạn luôn dồi dào sức khỏe, an vui và nhiều hạnh phúc.

Thân kính,

Pham Phan Lang




TRẦN ĐẠI BẢN – RA MẮT THI TẬP QUÊ HƯƠNG TÌNH YÊU & KỶ NIỆM




KIỀU MỸ DUYÊN – CÁI NHÀ LÀ NHA CỦA TA




Tsu A Cầu – Từ Làn Sóng Bất Mãn Tại Ấn Độ – Bài Học ‘Xét Lại’ Về Thể Chế Và Tầm Vóc Lãnh Đạo Tại Việt Nam