KHÁNH THÀNH ĐẠI HỌC PHẬT GIÁO SAKYA  

KIỀU MỸ DUYÊN 

Lễ khánh thành Đại học Phật giáo Sakya, thứ bảy, ngày 3/10/2026, tại 3404 đường Westminster, thành phố Santa Ana. (Hình: Kiều Mỹ Duyên) 

9:30 sáng thứ bảy, ngày 3 tháng 10/2026, Thượng tọa Thích Huyền Châu, trụ trì chùa Bồ Đề Phật Quốc, tại 3404 đường Westminster, thành phố Santa Ana, Nam California, khánh thành đại học Phật giáo Sakya. 

Quan khách tham dự gồm có thị trưởng thành phố Westminster, Charlie Nguyễn Mạnh Chí; phó thị trưởng thành phố Westminster, kỹ sư Mark Nguyễn; giáo sư John Freese, giáo sư Victor Garbriel, giáo sư Tanny Jiraprapasuke, v.v. 

Quan khách tham dự cùng cắt băng khánh thành Đại học Phật giáo Sakya. (Hình: Kiều Mỹ Duyên) 

Thượng tọa Thích Huyền Châu giới thiệu các giáo sư của trường một cách nồng nhiệt. 10 sinh viên học ở trường được giới thiệu với quan khách. 10 sinh viên gồm có tu sĩ nam, nữ và Phật tử, khuôn mặt người nào cũng hiền lành, phúc hậu và rất dễ thương. 

Các người học tiêu biểu được tuyên dương. (Hình: Kiều Mỹ Duyên) 

Thượng tọa Thích Huyền Châu rất quan tâm đến vấn đề giáo dục, tha thiết nói về giáo dục của Mỹ. Thầy mời thị trưởng thành phố Westminster Charlie Nguyễn Mạnh Chí, kỹ sư Mark Nguyễn, phó thị trưởng thành phố Westminster và các giáo sư, cắt băng khánh thành đại học Phật giáo Sakya giữa tiếng vỗ tay vang dội của Phật tử tham dự, dưới ánh nắng như thiêu như đốt, nóng trên 100 độ. Tương lai của Phật giáo là giáo dục.  

Ở Mỹ, nhiều người rất thành công trong học vấn như sư cô Minh Từ, chùa Hương Tích, ở Santa Ana, tốt nghiệp Tiến Sĩ ở University of the West; Hòa Thượng Thích Viên Lý, trụ trì chùa Điều Ngự ở Westminster cũng tốt nghiệp Tiến Sĩ ở trường University of the West; sư cô Tiến Liên của giáo hội Phật Giáo Tăng Già Khất Sĩ tốt nghiệp Tiến Sĩ, v.v. 

Giáo sư Victor Garbriel phát biểu cảm nghĩ. (Hình: Kiều Mỹ Duyên) 

Thượng Tọa Huyền Châu sang Mỹ 13 năm, mua được chùa Bồ Đề Phật Quốc, mua được cơ sở thương mại bên cạnh và nhà cho tăng ni ở xa đến trú ngụ. Sự thành công của thầy Huyền Châu nhanh chóng nhờ có nhiều Phật tử tiếp tay với thầy. Sau chùa, có nhiều tượng của anh hùng như hình của vua Quang Trung đại phá quân Thanh ngày mùng 5 Tết. 

Thị trưởng Charlie Nguyễn Mạnh Chí và kỹ sư Mark Nguyễn, phó thị trưởng thành phố Westminster, trao bằng tưởng lục cho thầy Huyền Châu và thán phục sự tận tụy của thầy trong việc lo cho tu sĩ, cho Phật tử. Đại diện chánh quyền địa phương, cô Rosemary Contreras, đại diện giám sát Vicente Sarmiento, Orange County, trao bằng tưởng thưởng cho Thượng Tọa Thích Huyền Châu, trụ trì chùa Viện Phật Học Bồ Đề Phật Quốc Sakya, giữa tiếng vỗ tay vang dội của Phật tử. 

Thị trưởng Charlie Nguyễn Mạnh Chí, phó thị trưởng Mark Nguyễn và cô Rosemary Contreras, đại diện giám sát Vicente Sarmiento, Orange County trao bằng tưởng lục cho Thượng Tọa Huyền Châu. (Hình: Kiều Mỹ Duyên) 

Thầy Huyền Châu định cư ở Hoa Kỳ 13 năm, rất thành công trong việc xây chùa, lập trường đại học Phật giáo. Các giáo sư người ngoại quốc như giáo sư John Freese, giáo sư Victor Garbriel, giáo sư Tanny Jiraprapasuke. 

Thầy Huyền Châu xuất bản sách tặng cho quan khách và tặng cho Phật tử. Thầy có đài truyền hình 24/24, thầy có chương trình giảng dạy mỗi ngày trên đài của thầy 57.15. 

Thượng Tọa Huyền Châu nhận bằng tưởng lục từ cô Rosemary Contreras, đại diện giám sát Vicente Sarmiento, Orange County (Hình: Kiều Mỹ Duyên) 

Người nào cũng có một ngày 24 giờ, nhưng thầy Huyền Châu phát triển cơ sở sự nghiệp rất nhanh, nhanh hơn nhiều người. Lập trường đại học không phải chuyện dễ, phải có sinh viên, phải có giáo sư có bằng Tiến Sĩ ở Hoa Kỳ, phải có bằng hành nghề của tiểu bang, của liên bang, v.v., nhiều điều kiện lắm. Một tu sĩ định cư ở Mỹ 13 năm mà chỉ huy một số Tiến Sĩ sinh ra và lớn lên ở đây có bằng hành nghề dạy học, thật hiếm lắm, không phải ai cũng làm được việc này. 

Thượng Tọa Huyền Châu và thị trưởng thành phố Westminster, Charlie Nguyễn Mạnh Chí. (Hình: Kiều Mỹ Duyên) 

Mơ ước thành lập đại học Phật giáo của thầy Huyền Châu đã nhiều năm. Hôm nay khánh thành, thầy rất cảm động khi có chánh quyền địa phương, thị trưởng Charlie Nguyễn Mạnh Chí, kỹ sư Mark Nguyễn, phó thị trưởng và các đại diện dân cử, giáo sư, Phật tử tham dự ngày khánh thành, làm thầy rất xúc động. Mơ ước của thầy đã trở thành sự thật. Trường dạy 3 thứ tiếng: Việt, Anh và Thái Lan. 

Thượng Tọa Huyền Châu. (Hình: Kiều Mỹ Duyên) 

Ngày 13/12/2022, chính phủ Hoa Kỳ đã cấp phép cho Viện Phật học Bồ Đề Phật Quốc được hoạt động giáo dục tôn giáo với tên gọi là Sakya Buddha University, đây là trường đại học Phật giáo đầu tiên của người Việt tại Hoa Kỳ. 

Đại học Phật giáo Sakya được thành lập vào ngày 28/5/2022, công trình được xây dựng trên mảnh đất thuộc khu Santa Ana Mini Mall tại Orange County, diện tích gần 4 mẫu Tây. 

Thượng Toạ Thích Huyền Châu xuất gia học đạo từ thuở thiếu nhi, là trụ trì chùa do sư phụ Phước Huệ sáng lập. Quốc sư là vị thầy của ba đời vua (Vua Thành Thái, Vua Khải Định và Vua Bảo Đại – Chùa Phước Long tại Tây Sơn, Bình Định, Việt Nam). 

Trong hành trình 30 năm tu hành của mình, Thượng Toạ Thích Huyền Châu đã đến tại Massachusetts, Hoa Kỳ ngày 29/5/2013. Năm 2014 đến vùng Orange County và xây dựng cơ sở đầu tiên vào ngày 3 tháng 6/2015. Đến ngày 29/5/2016 khai giảng khóa học đầu tiên. 

Đại học Sakya Buddha với tôn chỉ: “Education must not simply teach work – It must teach life.” Các trương trình đào tạo của đại học Sakya chú trọng yếu tố truyền trao thực chứng và kỹ năng nhận thức cho tăng, ni, phật tử, cũng như tất cả những môn sinh thuộc mọi thành phần xã hội yêu thích trí tuệ Phật học tham gia học tập. 

Các chương trình cấp bằng chính quy: 

1. Master of Divinity in Buddhist Studies: Nghiên cứu trí tuệ nghiêm ngặt về lịch sử, triết học, thực hành, ngôn ngữ và truyền thống Phật giáo. Chương trình Master of Divinity này trang bị cho sinh viên các nhiệm vụ học thuật, tâm linh và mục vụ cho các vai trò lãnh đạo Phật giáo và đóng vai trò là bước đệm để xuất gia làm giáo sĩ Phật giáo. 

2. Master of Art in Buddhist Philosophy– The Master of Art (M.A) chương trình trong 02 năm: bao gồm các khóa học toàn diện bằng một trong những ngôn ngữ kinh điển chính của Phật giáo và các phân tích chi tiết về tác động của triết học Phật giáo đối với văn hóa, tín ngưỡng và lịch sử trong nhiều thế kỷ. 

Rất đông Phật tử tham dự lễ khánh thành đại học Phật giáo Sakya. (Hình: Kiều Mỹ Duyên) 

3. Master of Theology in Buddhist Studies: Nghiên cứu về nguồn gốc thần thoại, lịch sử, trường phái, phong trào đương đại, hướng dẫn, thực hành, cấu trúc và các phân ngành đa dạng của Phật giáo học thuật, cao hơn mức mà Master of Divinity đạt được. Chương trình MTh này hướng đến việc trang bị khả năng cải thiện bản thân thông qua học thuật và chuẩn bị cho nghiên cứu sinh tiến sĩ. 

4. Doctor of Philosophy in Buddhist Studies: Chương trình tiến sĩ Ph.D không chỉ trang bị cho Ph.D. các ứng cử viên có trình độ ngôn ngữ và khái niệm thành thạo để tiến hành nghiên cứu các hiện tượng Phật giáo mà còn đưa nghiên cứu của họ vào cuộc đối thoại với các vấn đề khoa học nhân văn. Chương trình tiến sĩ Ph.D nghiên cứu Phật học phục vụ các ứng viên có ý định trở thành học giả và giáo sư ở cấp đại học. 

Thượng Tọa Huyền Châu đang nói về đại học Phật giáo Sakya. (Hình: Kiều Mỹ Duyên) 

Chiến tranh càng ngày bùng nổ khắp nơi, ngày nào cũng có người tử thương, thất nghiệp càng ngày càng tang, khí hậu thay đổi nóng như lửa, cháy rừng ở khắp nơi, thiên tai xảy ra triền miên, lòng người bất ổn, mà thầy Huyền Châu thành lập được đại học Phật giáo, đó là phước đức lớn lao của thầy, của sinh viên Phật tử ở tiểu bang California nói riêng, sinh viên ở khắp nơi trên thế giới nói chung. 

Các sư bà, ni sư, sư cô và Phật tử tham dự. (Hình: Kiều Mỹ Duyên) 

Nếu quý đồng hương đi một vòng quanh Little Saigon sẽ thấy những lớp dạy thiền, Pháp Luân Công, Phật pháp, học sinh càng ngày càng nhiều, trong lúc hỗn loạn thì tâm của còn người cần bình an, triết lý Phật giáo dạy con người tịnh tâm. 

Đại học Phật giáo Sakya tại 3404 Westminster Ave., thành phố Santa Ana, Nam California. 

Nếu độc giả muốn tìm đến đại học Phật giáo, xin liên lạc với Thượng Tọa Thích Huyền Châu tại: 

3404 Westminster Ave. 
Santa Ana, CA 92703 
 

Điện thoại: 714-884-3042 

Email: sakyabuddha@vienphathoc.org 

https://bodephatquoc.org

Orange County, 10/2026 

KIỀU MỸ DUYÊN 

(kieumyduyen1@yahoo.com) 




VUI TẾT TRUNG THU Ở CHÙA BẢO QUANG VÀ CHÙA HUỆ QUANG

KIỀU MỸ DUYÊN




Tôi Có Một Giấc Mơ




Câu lạc bộ Văn Hóa




Tống Thi: Tứ Tuyệt Mùa HẠ




Truyện ngắn: Chiếc Ghế Trống Bên Hồ Lake Cunningham

Lê V Hải

Tháng Bảy, giữa mùa hè, San Jose rực nắng.

Mặt hồ Lake Cunningham lấp lánh như dát vàng dưới ánh nắng mặt trời. Những cơn gió nhẹ khẽ lay hàng liễu, để từng cành cây mềm mại nghiêng mình soi bóng xuống mặt nước. Tiếng trẻ con cười đùa vang lên khắp công viên, hòa cùng tiếng nhạc và hương thơm từ những bếp thịt nướng, tạo nên bầu không khí ấm áp của Ngày Hè Của Lính.

Những người lính năm xưa lại gặp nhau.

Có người chống gậy.

Có người mái tóc đã bạc trắng.

Có người bước đi chậm chạp vì đôi chân vẫn còn mang dấu tích của những mảnh đạn năm xưa.

Thế nhưng, khi nhìn thấy nhau, ai cũng nở một nụ cười.

Bởi họ đều hiểu rằng, sau hơn nửa thế kỷ, mỗi lần còn có thể gặp lại nhau đều là một ân phước của cuộc đời.

Ông Hùng đến rất sớm.

Như suốt hơn mười năm qua, ông lặng lẽ mang theo hai chiếc ghế xếp cũ kỹ. Một chiếc dành cho mình. Chiếc còn lại được đặt ngay bên cạnh, vẫn để trống.

Không ai được ngồi vào chiếc ghế ấy.

Một cựu quân nhân trẻ hơn ông vài tuổi mỉm cười hỏi:

— Niên trưởng Hùng, hôm nay cũng chừa ghế cho ai vậy?

Ông nhìn chiếc ghế trống một lúc rồi khẽ đáp:

— Cho một người bạn… tên Dũng.

Cả nhóm bỗng im lặng.

Ai cũng biết cái tên ấy.

Đó là người bạn đã cứu mạng ông hơn nửa thế kỷ trước.

Mùa xuân năm ấy.

Giữa chiến trường miền Trung, mùa hè đỏ lửa phủ kín núi rừng.

Đơn vị của hai người bị bao vây.

Đạn từ bốn phía trút xuống như mưa.

Một mảnh pháo xé ngang vai khiến ông Hùng ngã gục. Máu nhanh chóng thấm đỏ cả vạt áo. Trong cơn choáng váng, ông chỉ còn nghe tiếng Dũng gọi thật lớn:

— Cố lên, Hùng! Đừng bỏ cuộc! Tao đưa mày ra!

Ông cố mở mắt, thều thào:

— Mày chạy đi…

Dũng lắc đầu.

— Không! Người lính Việt Nam Cộng Hòa không bỏ anh em. Không bỏ đồng đội.

Nói rồi, anh lao tới, cúi xuống cõng Hùng trên lưng.

Từng bước…

Từng bước…

Anh gắng gượng tiến lên giữa làn đạn dày đặc. Chỉ còn vài chục mét nữa là tới được giao thông hào.

Bất ngờ, một loạt đạn nổ chát chúa.

Dũng khựng lại.

Máu từ sau lưng anh loang đỏ cả chiếc áo trận.

Dồn chút sức lực cuối cùng, anh vẫn cố đẩy Hùng xuống giao thông hào an toàn. Trên môi thoáng hiện một nụ cười, anh thì thầm:

— Ráng sống… nghe mày…

Đó là những lời cuối cùng.

Dũng ngã xuống.

Anh không bao giờ đứng dậy nữa.

Ông Hùng được cứu.

Còn người đã cứu ông thì vĩnh viễn nằm lại nơi chiến trường.

Không tìm thấy thi thể.

Không một nấm mồ.

Cũng không một tấm bia ghi tên.

Ngày đất nước đổi thay.

Ông Hùng trải qua nhiều năm trong lao tù.

Đến khi được sang Hoa Kỳ theo diện HO, trước lúc rời Việt Nam, việc đầu tiên ông làm là tìm đến căn nhà nhỏ của Dũng.

Người vợ trẻ ra mở cửa.

Một cậu bé khoảng sáu tuổi lặng lẽ nép sau lưng mẹ.

Đôi mắt của cậu giống hệt cha mình.

Ông Hùng đứng lặng.

Ông lấy tất cả số tiền ít ỏi còn trong túi, nhẹ nhàng đặt lên bàn.

— Đây không phải là tiền đền đáp.

Ông ngừng lại một lúc rồi nói tiếp:

— Đây là món nợ ân tình mà suốt đời tôi không bao giờ trả hết. Nếu ngày ấy Dũng không đẩy tôi xuống giao thông hào… thì người nằm lại chiến trường đã là tôi.

Người vợ đưa hai tay ôm mặt, bật khóc.

Cậu bé Vinh vẫn chưa hiểu chuyện gì đang xảy ra.

Đôi mắt trong veo của cậu chỉ lặng lẽ nhìn người cựu quân nhân đứng trước mặt.

Trước khi rời đi, ông Hùng cúi xuống xoa đầu Vinh.

— Con hãy lớn lên, sống cho thật tử tế. Đó cũng là điều ba con hằng mong.

Sang Hoa Kỳ.

Cuộc sống của một người mới định cư chưa bao giờ dễ dàng.

Ban ngày, ông rửa chén.

Ban đêm, ông đi lau hãng.

Cuối tuần, ông giao báo.

Có những ngày, ông chỉ ngủ ba, bốn tiếng.

Đồng lương kiếm được chẳng bao nhiêu.

Ông chỉ giữ lại vừa đủ để gia đình trang trải cuộc sống.

Phần còn lại…

Tháng nào ông cũng lặng lẽ gửi về Việt Nam cho vợ con của Dũng.

Không thiếu một tháng.

Có người hỏi:

— Sao ông phải cực khổ như vậy?

Ông chỉ mỉm cười.

— Tôi đang trả một món nợ sinh mạng.

Năm tháng lặng lẽ trôi qua.

Vinh lớn lên, ngoan ngoãn và chăm chỉ học hành.

Suốt những năm ấy, ông Hùng vẫn âm thầm gửi tiền về giúp mẹ con anh.

Đến ngày nhận được học bổng sang Hoa Kỳ du học, người đầu tiên Vinh muốn tìm để nói lời cảm ơn chính là ông Hùng.

Thế nhưng…

Ông đã dọn đi nơi khác.

Mọi liên lạc đều bặt vô âm tín.

Sau khi tốt nghiệp đại học, Vinh được một tập đoàn công nghệ lớn tuyển dụng và ở lại Hoa Kỳ làm việc.

Ít năm sau, mẹ anh cũng qua đời.

Trước lúc nhắm mắt, bà trao cho con trai chiếc ví cũ của chồng.

Bên trong là một tấm ảnh đã ngả màu theo năm tháng.

Trong ảnh, hai người lính trẻ đứng sát bên nhau, tay cầm súng, ánh mắt rạng ngời.

Một người là cha anh.

Người còn lại…

là ông Hùng.

Bà nắm chặt tay con trai, giọng yếu dần:

— Con hãy tìm cho được bác Hùng.

Bà khẽ dừng lại, rồi nói tiếp:

— Đối với gia đình mình… bác ấy chính là người thân cuối cùng của ba con.

Suốt gần bốn năm, Vinh miệt mài dò hỏi tin tức về ông Hùng.

Anh tìm đến các hội đoàn cựu quân nhân, từ Không Quân, Thủy Quân Lục Chiến đến Nhảy Dù. Anh có mặt trong những buổi chào cờ, những ngày tưởng niệm và hầu như không bỏ lỡ một dịp hội ngộ nào của cộng đồng cựu quân nhân.

Nhưng tất cả đều vô vọng.

Cho đến một ngày…

Một người mỉm cười hỏi:

— Cậu muốn tìm ông Hùng phải không?

Vinh gật đầu.

Người ấy chậm rãi đáp:

— Chủ nhật tới, cứ ra Ngày Hè Của Lính bên hồ Lake Cunningham. Hơn mười năm nay, năm nào ông ấy cũng có mặt.

Sáng hôm ấy, ông Hùng vẫn lặng lẽ ngồi bên hai chiếc ghế quen thuộc.

Chiếc bên cạnh vẫn để trống.

Một người thanh niên chậm rãi bước đến.

Giọng anh run lên:

— Bác… có phải bác Hùng không?

Ông ngẩng đầu nhìn.

— Phải…

Người thanh niên nghẹn ngào:

— Cháu là Vinh… con trai của ba Dũng.

Chiếc ly cà phê trên tay ông Hùng tuột khỏi tay, rơi xuống đất.

Ông đứng sững.

Đôi mắt như không tin vào người đang đứng trước mặt.

Rồi bất chợt, ông bước tới ôm chầm lấy Vinh.

Một người tóc đã bạc.

Một người vừa bước vào tuổi trưởng thành.

Hai người ôm nhau thật chặt.

Không ai nói thêm một lời.

Chỉ có những giọt nước mắt lặng lẽ rơi.

Sau hơn nửa thế kỷ, người ở lại và người con của người đã khuất cuối cùng cũng tìm được nhau.

Vinh khẽ lấy từ túi áo ra một tấm ảnh cũ.

Tấm ảnh đã được ép nhựa cẩn thận, như thể ai đó đã gìn giữ nó suốt cả một đời.

Anh nhẹ nhàng trao cho ông Hùng.

— Cháu tìm thấy tấm hình này trong chiếc ví của ba. Ba luôn mang theo đến những ngày cuối đời.

Đôi bàn tay ông Hùng run run đón lấy.

Trong tấm ảnh, hai chàng lính trẻ đứng vai kề vai, nở nụ cười rạng rỡ giữa một khoảng trời bình yên hiếm hoi của chiến tranh.

Không ai có thể ngờ…

Chỉ ít lâu sau, một người sẽ vĩnh viễn nằm lại trên chiến trường.

Đôi mắt ông Hùng nhòa đi.

Những giọt nước mắt lặng lẽ lăn trên khuôn mặt đã hằn sâu dấu vết của thời gian.

Ông đưa bàn tay gầy guộc khẽ vuốt lên gương mặt người bạn trong ảnh.

Đôi môi run run.

— Dũng ơi…

Ông nghẹn lại.

— Mày vẫn còn đây.

Từ hôm ấy, Vinh thường xuyên đến thăm gia đình ông Hùng.

Anh trìu mến gọi ông là Ba Hùng.

Ông cũng xem Vinh như con ruột.

Ngôi nhà vốn lặng lẽ bỗng rộn rã tiếng cười và hơi ấm của một gia đình.

Con gái ông Hùng là Trâm, nhỏ hơn Vinh hai tuổi.

Hiền lành, chân thành và giản dị.

Họ quen nhau qua những bữa cơm gia đình, những lần cùng đi lễ và những buổi sinh hoạt của cộng đồng.

Tình yêu đến nhẹ nhàng, tự lúc nào không hay.

Ngày cưới, trên bàn thờ gia tiên, bên cạnh di ảnh của cha mẹ hai bên, có một tấm ảnh được đặt ở vị trí trang trọng nhất.

Đó là tấm ảnh của hai người lính trẻ.

Đứng cạnh nhau.

Vai kề vai.

Vẫn nở nụ cười như ngày nào.

Chiều hôm ấy.

Sau khi khách khứa đã ra về, ông Hùng đứng lặng thật lâu trước di ảnh của Dũng.

Ông mỉm cười.

Đó có lẽ là nụ cười bình yên nhất trong suốt cuộc đời mình.

Ông khẽ nói:

— Dũng à…

Ông ngừng lại, như để lắng nghe người bạn năm xưa.

— Mày đã cứu tao một lần.

Hôm nay…

Con trai mày đã trở thành con rể tao.

Từ nay…

Hai gia đình mình đã thật sự là một.

Tao tin…

Ở một nơi rất xa…

Mày đang mỉm cười.

…

Ngoài sân, gió từ hồ Lake Cunningham lại miên man thổi về.

Nhẹ như một cái bắt tay của người chiến hữu sau hơn nửa thế kỷ xa cách.

Chiếc ghế trống vẫn còn đó.

Nhưng lần đầu tiên sau hơn năm mươi năm, ông Hùng không còn thấy chiếc ghế ấy cô đơn nữa.

Ông hiểu rằng Dũng chưa bao giờ rời xa mình.

Anh vẫn hiện diện trong lời hứa năm nào, trong nghĩa tình của những người còn sống và trong hạnh phúc của các con hôm nay.

Có những người lính tuy đã nằm xuống, nhưng chưa bao giờ rời khỏi hàng ngũ.

Họ vẫn tiếp tục bước đi trong ký ức của đồng đội, trong lòng biết ơn của những người ở lại và trong những thế hệ được tiếp nối bằng tình yêu thương.

Bởi lời thề của người lính Việt Nam Cộng Hòa chưa bao giờ cũ:

“Không bỏ anh em. Không bỏ đồng đội.”

Và như lời nguyện của bao người lính năm xưa:

“Xin cho tôi một mộ phần, bên ngàn chiến hữu của tôi.”

San Jose, ngày 18 tháng 7 năm 2026
Người Lính LVH