Trận Thử Lửa, Đọ Sức Đầu Tiên Của Tù Cải Tạo Với Công An Cộng Sản Trong Tù ngục

*Trích Đoản Ký Tù  “ Cuộc Chiến Đấu Vẫn Còn Đang Tiếp Diễn” 

Khi Trung Cộng bắt đầu tấn công vùng Biên Giới phía Bắc của Cộng Sản Việt Nam, chúng vội vàng đưa Tù Cải Tạo rời khỏi các trại tù  trong vùng rừng núi Hoàng Liên Sơn về  từng  trại tù một, gần vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng. Và trại cuối cùng trong cuộc di dời này mà chúng tôi được đưa về là Trại 6, Xã Thanh Chương, Nghệ Tĩnh.

Ngày đầu tiên lao động ở trại mới này,chúng bắt chúng tôi phải dọn sạch một ngọn đồi trọc và sau đó,mỗi người phải đào 70 hay  80 cái hố (không nhớ rỏ); mỗi hố: bề dài, ngang khoảng 6 tấc, độ sâu khoảng 8 tấc trong một ngày. Muốn vậy, trước hết phải dọn  sạch đồi và bứng tất cả gốc, rể cây lớn nhỏ. Sau đó, đi gom cỏ, rác bỏ  xuống hố  ủ làm phân bón  để trồng Sắn tức là cây Khoai Mì theo  cách gọi trong Nam. Đối với anh em mình, nói là chuyện của nó, còn làm hay không là chuyện của anh em mình.Vì vậy,s au khi chúng  chỉ trỏ xong; anh em lẳng lặng đi làm;nhưng khoảng mươi,mười lăm phút sau,tất cả đều chống cuốc xẻng, dao rựa và dừng tay lại không làm nữa khi có một tiếng nói rất khẻ,chỉ vừa đủ để anh em nghe:“đừng làm nữa anh em, chúng bắt mình lao động nặng như vầy là có ý định giết chết anh em mình đó.”

Điều này cũng không có gì là lạ, vì phằn lớn  anh em trong “đội đào hố sắn” *, vốn  dĩ  đã từng cùng nhau sống chết,chia sẻ những khổ đau hận nhục trong kiếp tù đày,qua không biết bao nhiêu trại tù từ trong Nam cho đến khi ra ngoài Bắc đến giờ; nên,chỉ cần một người lên tiếng là anh em hiểu ngay. Thế là, tất cả  điều hưởng ứng mà không hề thắc mắc.Và hể một khi mà tất cả đã nhập cuộc rồi thì điều đi cho tới cùng không chút ngập ngừng  sợ hãi; bởi vì, dù  có chống hay không chống  thì chúng nào  có tha hay  để yên cho đâu. Bằng mọi cách, chúng phải hủy diệt, đày đọa, giết chết chúng ta một cách lần mòn đau đớn mới thôi. Điều này được thể hiện rõ qua việc chúng cho ăn uống thiếu thốn và không có bổ dưỡngvì toàn là thứ thiu mốc, khô cứng cộng với lao độg nặng nhọc và khủng bố tinh thần bằng các hình thức học tập chính trị,kèm theo là phê bình, kiểm điểm lẫn nhau;đã vậy còn nhốt anh em Quân Cán Chính Việt Nam Cộng Hòa trong rừng sâu, nước độc; dưới những thung lũng sâu trong dãy núi Hoàng Liên Sơn giáp biên giới Lào,Việt và Trung Cộng. Thế nhưng, tất cả những âm mưu  thâm độc này, anh em mình  điều hiểu và đã biết nên chúng đành thất bại, không làm gì được anh em mình.

Trong đội lúc đó,cũng có một số anh em vốn dĩ ở trại khác hay đội khác được nhập chung vào đội mới với chúng tôi nên còn phân vân, ngập ngừng nhưng sau đó; khi thấy tất cả anh em chúng tôi đều một lòng nên các anh em đó  đều ngừng tay  và nhập cuộc. Hai tên bò vàng vác súng  đứng canh  chúng tôi lao động, rất lấy làm ngạc nhiên vì cứ tưởng chúng tôi mệt nên nghỉ tay  giây lát; nhưng sau đó, chờ hoài mà vẫn không thấy chúng tôi lao động trở lại. Chúng lấy làm tức giận và bắt đầu  sừng sộ, chĩa súng vào chúng tôi và nạt nộ:“tại sao các anh không nàm.Các anh muốn chống đối à!Các anh có nàm hay không?”. Măc cho chúng nạt nộ nói gì kệ nó, anh em chúng tôi vẫn thản nhiên không làm theo lệnh của nó; đã vậy còn lớp ngồi, lớp đứng vừa nói chuyện, vừa nhìn hai tên vệ binh bò vàng. Thậm chí, có một số anh em còn lấy  thuốc Lào ra vấn và chuyền tay nhau hút, theo cái kiểu phê  sướng  đời tù, không thèm lý gì đến chúng; coi chúng (mấy tên  công  an bò vàng) không ra gì. Thấy lời nói của mình vẫn khôg làm cho  chúng tôi sợ hải mà đứng lên đi làm lại. Chúng bèn lên đạn, chĩa súng thẳng vào  anh em  mình và  buông lời hăm dọa: “các anh  không nàm  nà  chúng tôi bắn  các anh  ngay. Các anh có nàm hay không?”. Thấy  chúng lên đạn, chĩa súng hăm dọa đòi bắn, anh em lấy làm tức giận bèn cùng nhau đứng dậy  và  cầm lấy  dụng cụ lao động có sẳn trong tay mình, cùng giơ lên trong tư thế sẳn sàng sống chết với chúng. Lúc đó, có  một số anh em hơi yếu…tinh thần, nhỏm dậy tính đi làm lạị; rất hay và kịp thời có một tiếng nói rất khẻ buông ra:”đừng sợ anh em, bọn chúng chỉ có mỗi thằng một  viên đạn để bắn báo động mà thôi”.Vì lời nói vang lên ngay sau lưng nên tôi quay lại  xem ai đã nói, thì thấy anh Lợi * đang đứng  sau lưng tôi, đang nhìn tôi, miệng anh như  hơi mĩm cười. Tôi biết chắc lời nói này là  của anh, kể cả  câu nói hồi nảy lúc bắt đầu nhập cuộc cũng là của anh và tôi thầm cảm phục anh. Có lẽ nhờ lời nói này và vì thấy tất cả anh em lúc đó đều sẳn sàng chiến đấu sống  chết với chúng nên số ít anh em có vẻ sợ hải đã lấy lại tinh thần và cùng một lòng với chúng tôi.

Nhận thấy  chúng tôi  vẫn không sợ hải, chúng lấy làm tức giận  và không biết làm gì hơn là hét to lên gọi anh Đội Trưởng của chúng tôi: “anh Đội Trưởng đâu?Anh dám để cho anh em chống đối Trại, không chịu nao động phải không? Anh có muốn chết hay không?! “Rất tiếc là tôi không nhớ  tên  anh Đội Trưởng  đội trồng Sắn  đầu tiên ở trại 6 Nghệ Tĩnh này. Nhưng theo  như lời anh Sữ Hồng Xuân, Thiếu Tá Trưởng Trại Giam Tù Phiến Cộng ở PleiKu trước 1975, thì Đội Trưởng lúc đó là Thiếu Tá Lê Khoát ( ? ).

Anh Đội Trưởng bước ra và nói: ”cán bộ gọi tôi!”. Tên bò vàng vệ binh chĩa mũi súng qua phía anh và tra hỏi anh;đại khái là tại sao anh dám để cho đội nghỉ tay không làm việc và quy chụp cho anh cái tội là cằm đầu tù chống đối trại. Rất tiếc vì sự việc xảy ra đã lâu quá rồi, nên tôi không thể  nhớ hết từng  câu đối đáp giữa  anh đội trưởng và bọn chúng; nhưng sau đó, khi  anh đội trưởng lập lại câu kết tội của chúng với anh em thì tất cả đều đồng thanh trả lời theo cái kiểu lấp lững, gài thế, bắt chẹt bọn chúng “chúng tôi không có chống đối trại, cũng như  không phải không muốn lao động; nhưng trồng Sắn thì  chỉ cần cuốc nhẹ  một lổ và bỏ hom Sắn xuống là Sắn sẽ mọc lên ngay, đâu cần gì phải đào hố sâu  gần cả thước và lại còn giao chỉ tiêu cao như vậy thì làm sao chúng tôi làm nổi.Đây rõ ràng là trại muốn giết chết chúng tôi bằng hình thức lao độg cực nhọc như thế này, nên chúng tôi không làm”.

Tội nghiệp cho hai tên bò vàng, chúng làm sao đủ trình độ để đối đầu, đấu lý với anh em mình; nên khi bị chúng tôi dùng lý lẽ trấn áp thì chúng đứng nghệt mặt ra  và quay qua ngó lẫn nhau. Sau đó một thằng áng chừng có thâm niên tuổi lính tức tuổi đảng hơn nên lên tiếng:”đây nà nệnh của trại, các anh phải nao động ngay,nếu không chúng tôi nổ súng đấy”. Thấy thái độ ngập ngừng của chúng như vậy, anh em biết ngay là chúng đang bối rối và lo sợ không biết phải  đối phó ra sao. Có lẽ  vì  đây là lần đầu tiên trong đời “cai tù” và chắc cũng là lần đầu tiên ở Trại 6 này, lại xảy ra chuyện tù không thèm nghe lệnh, kể cả lời nạt nộ, chỉa súng hăm dọa đòi bắn của chúng.Điều đó cho thấy,những gì mình tính toán, suy luận là đúng; cho nên anh em bèn lấn tới bằng cách bồi thêm một đòn cân não nữa: “trại nói là  cho chúng tôi  đi học tập cải tạo là để cho chúng tôi biết lao động để sau này về nuôi sống vợ con, thế mà giờ lại bắt chúg tôi phải lao động nặng nhọc như vầy là có ý muốn giết chết chúng tôi; như vậy là lường gạt cho nên chúng tôi không làm. Chừng nào trại cho bỏ chỉ tiêu này thì chúng tôi mới làm.” 

Đến nước này thì chúng chỉ còn một cách là phải nổ súng, nhưng không phải nhắm  vào  anh em mình mà là bắn chỉ thiên để báo động.Và khi tiếng súng báo động vang lên,thì khôg biết chúng ở đâu mà túa ra như Ong vở tổ; không biết cơ  mang nào là  bò vàng (dĩ nhiên là  đực, cái  có đủ). Đứa có súng xách súng, đứa không có súng thì cầm gậy gộc, dao, rựa; thậm chí có đứa không kịp mặc áo, xỏ quần dài cũng chạy đại ra với mình trần hoặc áo thun hay chỉ mỗi có cái quần xà lỏn;cũng chạy túa ra.Đã vậy, còn thêm đám du kích và dân quân địa phương nữa chứ, cũng nháo nhào chạy ra với cào,cuốc,dao rựa,gậy gộc.Nghĩa là khi nghe súng nổ là tất cả bọn chúng, dù đang làm gì, ở đâu; đều phải chạy túa ra về phía có tiếng súng nổ  để  yểm trợ  cho trại. Nhờ vậy, chúng tôi mới thấy rõ  được sự  tổ chức chặt chẽ  và hệ thống  an ninh nhân dân mà chúng đã thiết lập được sau khi chiếm miền Bắc như thế nào. Hèn chi người dân miền Bắc đã phải cúi đầu nghe lệnh chúng mà không hề dám có bất cứ  một sự phản kháng, chống đối nào hết và bất cứ anh em nào trốn trại cũng đều bị bắt lại hết.

Chúng tôi vẫn đứng yên trong tư thế sẵn sàng chiến đấu trên ngọn đồi thấp, đồng giữ một vẻ im lặng, bình tỉnh;không có bất kỳ một biểu hiện nào tỏ ra nao núng,sợ hãi.Tất cả đứng yên như những tượng đồng hiên ngang, hùng dũng như những thiên thần nhìn xuống phía dưới rừng người đang bủa vây, bọc kín chân đồi: vòng trong cùng sát chân đồi,đối diện trực tiếp với anh em tù cải tạo là bọn công an bò vàng, kế  tiếp là du kích và  ngoài cùng là  dân quân địa phương với sắc mặt  đầy sát khí; chỉ  chực chờ  giết chết ngay lập tức những tên tù cải tạo dám coi thường, nổi loạn chống đối chúng.

Sau khi thế trận bủa vây đã xong,lúc này tên quản giáo đội cũng vừa ra tới.Sau khi nắm bắt tình hình xong thì  hắn bèn giở giọng  vừa dụ dỗ lường gạt, vừa dọa chúng tôi: các anh  đã vi phạm nội quy trại khi chống đối không chịu nao động. Tuy nhiên, trại cũng như  cách mạng nuôn nuôn nà khoan hồng và tạo  điều kiện cho các anh cải tạo tốt, học tập tốt để sớm về với gia đình; bây giờ các anh hãy nao động trở nại ngay.

Giọng lưỡi chúng nó, anh em  mình biết quá rõ; cho  nên nó nói gì kệ nó, không ai thèm nhúc nhích. Thấy vậy, tên quản giáo bèn đổi chiêu thức: “trại sẽ xét nại chỉ tiêu và có hướng giải quyết sau. Bây giờ các anh hãy  nao động trở nại ngay”.  Anh em vẫn không  nhúc nhích, coi thường chúng…dĩ nhiên. Tức lắm nhưng nó cố  dằn xuống  và buông lời dụ dỗ: ” tôi biết  có một số  anh không muốn  chống đối trại, chỉ muốn nao động;  vậy  ai  muốn nao động thì bước ra khỏi hàng  và  đứng ở phía này (theo hướng tay hắn chỉ), trại sẽ khoan hồng  không trừng phạt; còn ai ngoan cố  cứ chống đối,trại sẽ có biện pháp trừng trị đích đáng. Vẫn không một ai bước ra theo lời dụ dỗ của tên quản giáo để  tìm sự an lành,phản bội lại anh em (mặc dù hắn nói đi nói lại nhiều lần. Không biết làm  sao hơn, tên quản giáo  quay lưng  đi vào nhà Lô (là một căn nhà tranh, vách đất được  cất lên tại khu vực lao động  để bọn bò vàng  nghỉ ngơi hay tránh mưa nắng khi dẫn tù đi lao động) và không quên kêu một tên vệ binh dẫn anh đội trưởng vào nhà Lô.

Lúc này đám du kích, dân quân  địa phương đều  đã rút đi vì không thấy có gì xảy ra hết. Anh em mình thì vẫn đứng trên đồi  trong tư  thế  chiến đấu, còn bọn  công an vẫn bao vây ở dưới đồi với họng súng hướng chỉa lên đồi về phía chúng tôi. Đôi bên ghìm nhau thật lâu, không bên nào nhúc nhích hay  có động thái gì hết; chỉ có vài tên bò vàng chạy tới chạy lui từ chổ ngọn đồi về trại và ngược lại. Có lẽ đây là mấy tên liên lạc viên chạy tới lui để báo cáo tình hình cho ban chỉ huy trại. Sau này, nghe nói lại (qua nguồn tin rỉ tai ở trong trại) là ngày chúng tôi chống đối, tên trại trưởng đã đi Tỉnh hay Hà Nội họp; chớ không là chúng tôi đã lãnh đủ hậu quả rồi. Anh em chỉ cười thầm,  vì biết nếu có đúng  như  vậy thì  chỉ là tên trại trưởng cho phao tin để đở mất mặt mà thôi. 

Không biết chúng đã nói gì,làm gì với anh Đội Trưởng ở trong nhà Lô;nhưng một lát sau, anh Đội Trưởng đi ra, kèm sát phía sau là một tên bò vàng chỉa súng sau lưng anh và cả hai đi thẳng đến ngọn đồi  chổ anh em tù vẫn còn đứng trong tư thế đấu tranh.Anh đội trưởng cho anh em biết:”cán bộ quảngiáo và trại muốn gặp  đại diện của Đội trong nhà Lô;vậy anh em hãy cử ra người đại diện…” Thời gian trôi qua quá lâu rồi nên tôi không còn nhớ được tên hai anh được cử ra làm đại diện cho anh em để đi gặp chúng. 

Mặt trời lúc này  đã lên đến  đỉnh đầu và cái nắng nóng như  dội lữa xuống  ngọn đồi trơ trụi không có lấy một tàng cây làm bóng mát (nhưng cho dù có bóng mát đi nữa, chúng cũng đâu có để cho tù  được vào đó núp tránh nắng; chổ đó là để cho bọn chúng, bọn công an coi tù). Điều này đã khiến cho  anh em  bắt đầu thấy mệt,đói và khát;đã vậy, khi thấy các đội xung quanh đã bắt đằu thu quân về trại để ăn trưa thì cái đói, khát, mệt lại càng tăng  dần thêm lên; tuy nhiên  anh em vẫn không vì vậy mà có bất kỳ một thái độ nào tỏ ra nao núng, sợ hải.Vấn đề mà anh em lo lắng nhất chính là sự an nguy của hai anh đại diện cho anh em đi vào trong nhà Lô, gần giống  như là  đi vào hang cọp  đã lâu rồi  mà vẫn không thấy trở ra. Không biết các anh hiện giờ như thế nào,có bị chúng lợi dụng cơ hội này để đánh đập,khủng bố gì hay không?!Chắc chắn là không,vì nếu có thì đã nghe tiếng thét đau đớn của các anh rồi;vậy chúng giữ các anh để làm gì? Chúng tôi đưa mắt nhìn nhau và dự định bàn biện pháp đối phó thì một tên bò vàng đi ra và nói rằng: “trại đồng ý giãm chỉ tiêu, các anh hãy nao động trở  nại”. Đúng là cái lũ ngu đần  và  giảo hoạt. Chúng cứ nghĩ là  anh em  mình không biết gì về  chúng nên mới nói như  vậy hòng lừa chúng tôi. Thế là tất cả anh em đều đồng thanh lên tiếng: ” không lao động gì hết! Muốn gì thì phải  thả người  của chúng tôi ra đã.” Thấy phản ứng của  chúng tôi như vậy, tên bò vàng vội vả trở vô nhà Lô và rồi không thấy trở ra nữa, mà hai anh đại diện cũng không thấy tăm hơi. Chúng tôi bèn hùa nhau lên tiếng: “thả  người của chúng tôi ra. Không được giữ người. Chúng tôi không chống đối, chúng tôi chỉ yêu cầu bỏ kiểu lao động phi lý này thôi”.

Mặc cho chúng tôi la hét,chúng vẫn im lặng và cũng không thả hai anh em đại diện chúng tôi ra.Bọn công an bò vàng bao vây chúng tôi ở phía dưới, vẫn trong tư thế sẳn sàng nổ súng nhập cuộc để tiêu diệt  chúng tôi, nếu chúng tôi manh động; nhưng anh em chúng tôi vẫn không hề lo sợ, bởi vì, nếu sợ thì chúng tôi  đã không chống đối; nhất là đối đầu với bọn cai tù  công an cộng sản  ngay tại hang ổ của chúng, vùng Thanh Nghệ Tĩnh. Đôi bên cứ dằn co qua lại như vậy thật lâu, rốt cuộc rồi thì hai anh  đại diện cũng được  thả ra. Và rồi, khi trởi bắt đầu tối dần, chúng đành phải cho chúng tôi về trại để vào buồng giam lại vì dù sao như vậy thì vẫn chắc ăn hơn.

Qua cuộc chống đối lần này, đã cho chúng tôi thấy rõ cái yếu điểm chính của bọn  chúng là rất sợ sự  đoàn kết một lòng của anh em  mình (những  Quân Dân  Cán Chính miền Nam Việt Nam Cộng Hòa  mà chúng  định tiêu diệt qua cái  danh xưng mỹ miều là “tập trung học tập cải tạo” và nhất là sự tính toán chính xác, đánh trúng tâm lý  của chúng làm chúng  cứng họng không còn khoác lác diễn tuồng nhân đạo hòng lường gạt anh em mình nữa; để rồi bắt buộc chúng phải chấp nhận yêu sách của anh em mình.

Chiến thắng này  chỉ là bước khởi đầu cho những chiến thắng kế tiếp sẽ  được ghi lại chi tiết ( như là: làm thế nào Đội 15 đập đá Lò Vôi gắn lon “Thượng Sĩ” cho tên quản giáo Đội 15 Đập Đá này và còn nhiều…nhiều nữa, những cách đánh đẹp của anh em mình…) Tất cả sẽ được trình bày đầy đủ trong cuốn “đoản ký tù“sẽ ra mắt trong nay mai.

Sau vụ chống đối này, anh em  chúng tôi  bị gom lại thành “Đội 15 Đập Đá Lò Vôi”;  để rồi, lần lượt  từng bước một phá vở  âm mưu tiêu diệt anh em mình của chúng và đánh gục chúng ngay tại trại giam có tiếng “hắc ám” nhất; đó là Trại 6, xã Thanh Chương, Nghệ Tĩmh.

                                               Hoàng Mai Nhất
                                       (H.O. 26 Lê Anh Thượng)

* Tên trung úy (không nhớ tên) quân đội nhân dân cs Bắc Việt (đoàn 776), là cán bộ quản giáo của đội chúng tôi ở Trại 4, LT4, Hoàng Liên Sơn; đã xuống đội để bắt chúng tôi sinh hoạt tẩy não đêm đầu tiên. Mở đầu, hắn yêu cầu  một ngươi trong đội cầm càn, bắt cái (hát mở đầu) trước khi  sinh hoạt cho có khí thế, không  ai chịu làm hết. Đảo mắt quanh  một vòng, hắn chỉ Lê Tuấn (Tuấn cao ráo, đẹp trai như Tây nên anh em đặt cho cái tên là Tuấn Tailor, lấy tên của một tiệm may âu phục ở Quân1, Saigon):

_Anh Tuấn, anh bắt cái cho anh em hát.

_Tôi đâu biết bài nào để hát.

_Anh hát bài “Làm theo lời bác”

_ Bài đó như thế nào tôi đâu có biết.

_ “dẫu có phải 10 hay 20 năm…ta đi lên làm theo lời bác”.

Không từ chối được, Tuấn bắt đầu ra tay: “dẫu có phải 5, 10, 15, 20, 25, 30, 35, 40, 45, 50…Tuấn đọc cho đến gần số 100 thì tên quản giáo không còn chịu đưng đươc nưã hét lên trong sự tức giận, mặt đỏ lên, mắt trợn trừng, người như run lẩy bẩy: ngưng…ngưng lại! Anh dám sửa lời bài hát ca tụng lãnh tụ,ca tụng Bác à!! (tôi viết hoa chữ bác chổ này để chỉ rõ là ai đối với chúng).

_ Tuấn bình tỉnh, chậm rãi trả lời: báo cáo  cán bộ, tôi  đâu  có biết  và  thuộc bài này. Trong Nam, hồi nhỏ chúng tôi ưa chơi đếm số để trốn tìm nên thuận miệng đọc lên vì không biết,thuộc bài này chớ đâu có ý đồ gì đâu.

Tức giận mà không làm gì được  vì sự  trả lời  quá có lý của Tuấn, nên hắn bèn  dùng biện pháp  ép tập thể lên tiếng kết tội Tuấn:  Các anh hãy lên tiếng  chỉ ra sự  sai trái với  ý đồ xúc phạm  đến bác của anh Tuấn. Không ai lên tiếng, thế là hắn liền chỉ định chúng tôi phát biểu thứ tự theo vòng tròn.

Mọi người đều nói  như anh Tuấn: “chỉ vì là  thói quen hồi nhỏ  nên mới như vậy”. Tên  quản giáo tức lắm mà không biết làm sao để kết tội, buộc tội được anh Tuấn khi mà cả tập thể đều nói như vậy.

Nảy giờ ngồi nghe và quan sát,tôi thấy rõ ý đồ của nó:vừa muốn kết tội anh Tuấn,vừa muốn giải quyết sao cho tốt mà không mất mặt.Trong đầu nảy sinh ý nghỉ, nên khi đến phiên tôi, thì tôi cũng nói như ý của anh em nhưng vuốt theo một câu: ”tuy nhiên anh Tuấn cũng nên ghi nhớ chuyện này để lân sao không mắc sai lầm nữa”.

Được lời như  cởi tất lòng  nên tên quản giáo bèn  tuyên bố buổi sinh hoạt  đến đây chấm dứt (mặc dù vẫn còn vài  anh em chưa phát biểu). Anh Minh (Nguyễn Ngọc Minh P7 TTM, hiện  ở Giorgia; cùng xóm Hòa Hưng với tôi, được nó chỉ đinh làm Láng Trưởng tức Đội Trưởng lúc đó) cho  đội giải tán  đi ngủ  để mai còn dậy sớm đi lao động (quá nhân đạo).Còn anh Tuấn,viết bản kiểm điểm đưa anh Minh nộp lên tôi ngày mai. 

Đụng đến “cha già” của chúng là tự ký “bản án tử hình”. Nếu đêm đó, chỉ cần có một anh vì sợ hãi, hèn nhát mà phát biểu kết tội anh Tuấn như ý nó muốn, thì Lê Tuấn sẽ bị bắt nhốt trong hang đá lạnh lẽo của núi rừng HLS, sẽ bị đánh đập trả thù, sẽ bị đem ra đấu tố trước trại và sau đó là bị xử bắn để dằn mặt cảnh cáo, khủng bố áp đảo tinh thần “tù miền Nam” vừa được đưa ra tận hang ổ của chúng để giam giữ. Và nếu như vậy thì sẽ không có nhà thơ đa tài Lê Tuấn của VTLV.Rất may là anh em đều đồng lòng nên không có gì hết và cs thì lại rất sợ điều này. 

Từ đó, tất cả chúng tôi đều được ưu ái  vô sổ  bìa đen của chúng nên khi trại di dời, chuyển một số anh em đi các trại khác thì  chúng tôi vẫn bị giữ lại trại 4 HLS này. Và sau này, khi bị  chuyển đổi trại đến đâu; thì chúng tôi vẫn đi cùng và sống chung  cùng một đội với nhau gồm một số  anh em mà tôi còn nhớ tên như: Lê Anh Thượng, Lê Tuấn, Nguyễn Ngọc Minh, Lâm Ngọc Chiêu,  Nguyễn Văn Vạn, Nguyễn Thanh Vân, Nguyễn Đức Lợi,  Phó Đức Thành,  Dương Văn Chương,  Tạ VănThành,  Nguyễn Nhự,  Hoàng Thế Việt, Nguyễn Văn Tế (mất),nhóm Cao Đài: Kính, Nguyễn Trường To, Luơng, Lê Minh Phát (Phát em), Nguyễn Văn Dực ( Cả Dực tức thi sĩ Đại Lãng, VTLV), Nguyễn Đức Lợi, Dương Văn Chương…(có thể có sơ suất thiếu tên hay nhớ lộn tên nên quý anh ngày đó có gì cho biết  để tôi điều chỉnh).  

*Hải Quân Trung Úy Nguyễn Đức Lợi (lúc này còn ở VN, chưa đi đượcđã cùng anh Nguyễn Thanh Vân từ Mỹ trở về dự định tổ chức rải truyền đơn, kêu gọi đồng bào đứng lên lật đổ bạo quyền CSVN, đặt chất nổ ở ủy ban nhân dân thành phố hcm). Năm 2009, anh mới qua được Mỹ sau khi ở tù cs hai đợt, tổng cộng 16 năm hơn. Tôi có gọi hỏi thăm anh và có cho biết  ý định viết lại hồi ký tù, anh nói: “nên viết lại vì đó là thời gian  huy hoàng nhất  của anh em mình”. Anh hiện là  Chủ Tịch  Hội Hải Quân  Nam Cali, năm 2016

(khi tôi viết những giòng này).


THƯ  TỪ  VIỆT  BẮC

Đánh đấm làm sao lại thế này

Chiến hào còn đấy, quân bám trận

Tướng, Tá đâu rồi cuộc thế tan!!!

Lệnh đâu đưa xuống _ôi oan nghiệt:

“Ai đâu ở đó chờ bàn giao”

Ngỡ ngàng_đau đớn_trào uất hận

Buông súng lặng nhìn “lũ ba mươi” *

Hống hách giở trò mồm hù dọa

Chiến sĩ kiêu hùng mới vừa đây…

Saigon thê thảm trưa ngày ấy

“Nước” đã mất rồi “tháng Tư” ơi!

 Cộng Sản tràn vào…người trốn chạy

 Nháo nhào hỗn loạn biết về đâu

 Dân, Quân, Tướng, Tá chung một rọ

 Cả nước chia nhau một chữ “tù”

 ……………………

 Núi rừng Việt Bắc thâm u lắm

 Chẳng thấy mặt trời chỉ thấy mây

 Hàng hàng lớp lớp mây giăng mắc

 Phủ cả đường đi nghẽn lối về

 Nhiều khi muốn gởi theo làn gió

 Nương áng mây trời những nhớ thương

 Nhắn người xưa ở phương Nam ấy

 Anh đã làm em khổ lụy đầy…

 Thôi thì hãy gắng nuôi con trẻ

 Đừng hổ mặt cha “lính Cộng Hòa“

 Anh dẫu rừng sâu nơi đày ải

 Đói lạnh triền miên chịu cực hình

 Vẫn không vì vậy mà cúi mặt

 Để nhục một đời người chiến binh

 Vào sinh ra tử nơi hiểm địa

 Gìn giữ quê hương chặn giặc thù

 ……………

 Thư ngắn_tình dài…ngôn bất tận

 Em nhé! Ngày mai nắng ngập tràn

                                Hoàng Mai Nhất
                               Núi Rừng Việt Bắc

                  (Trại tù trong dãy Hoàng Liên Sơn)                                                                                                                    

*”lũ ba mươi”: ám chỉ bọn cơ hội, xu thời nhào ra nịnh bợ bọn cộng sản khi chúng tiến vào cưỡng chiếm Saigon trong ngày 30/4/75. Chính bọn này đã tự đeo băng đỏ, cầm súng, chỉ điểm và dẫn cộng sản đi lùng sụt, bắt bớ các anh em Quân, Cán, Chính VNCH đang ẩn tránh để lập công với chúng.

CHIẾC  LÁ  VÀ  ĐỜI  TÙ

Rầm…ầm…!!!

Chuyện gì vậy ??  Mọi ánh mắt ngước nhìn lên tầng trên. Thay cho tiếng trả lời_một chiếc lá đang rơi..từ từ rơi..Kèm theo tiếng thét to (như  tiếng pháo năm  nào_giữa  chiến trường sôi động_đạn thù giăng lưới lửa_hỏa châu dật dờ…) : “ thằng  Sâm trúng độc rồi ” . Không gian dường ngưng động ! Buồng giam  ngột ngạt !!! Đâu đó tiếng  thở dài…chắc lưỡi :“ lại một thằng…chết vì trúng độc lá cây rừng!”                             

Vâng! Chiếc lá…chỉ là chiếc lá thôi! Sẽ không là gì hết…với đời thường.

Với Văn, Thi, Nhạc Sĩ:“là những nốt nhạc bổng trầm! Là những áng văn thơ trác tuyệt!!” 

Nhưng với đời Tù……..“đó là lẽ sống và cái chết “:

 __nếu may mắn…cũng đủ ấm lòng qua cơn đói lạnh trong ngục tù cộng sản giữa đêm đen.

 __nếu chẳng may..…xác thân vùi nông một nấm_ nơi xó rừng, cây lá sẽ thêm xanh.

Anh nằm xuống trong niềm đau thống hận!!! Giữa núi rừng trơ trọi một mình anh…Xác thân này, trần gian là cõi tạm. Nào mấy ai nhớ đến một người tù.

                                                Hoàng Mai Nhất

* Bài thơ này được làm  để kính dâng hương linh của các bạn tù, đã chết  vì chẳng may ăn trúng các loại cỏ, lá cây rừng có độc trong ngục tù cộng sản từ Nam ra Bắc.

*Rất tiếc không nhớ tên các bạn tù không may này, chỉ vì không nghĩ rằng sẽ được thả về và đi thoát được qua xứ Mỹ này.

 NGÀY  ẤY…THÁNG TƯ

  anh em tôi! Những người tù cải tạo

  lính Cộng Hoà còn sót lại miền Nam

“trưa” ngày ấy!_Chúng tôi đành buông súng

  chẳng đầu hàng nhưng cũng thành bại tướng

  …………………..

  giữa quê mình thành khách lạ bơ vơ!!

  ……………………  

  anh em tôi! Đứa rừng sâu bỏ xác

  đứa tật nguyền ngơ ngác giữa quê cha

  vài Chỉ Huy tự sát thành “Bất Tử”

  đứa đi tù, đứa bỏ xứ tha hương 

  anh em tôi! Cuộc chiến còn tiếp diễn

  súng không còn, sức khỏe cũng tiêu hao

  hơn bốn mươi năm chưa rũ bỏ chiến bào

  còn chiến đấu đến ngày không cộng sản
                                                Hoàng Mai Nhất

THƯƠNG  VỀ  MẸ

Ta nghe trong gió lời ly khách

Quật rát đời ta những đoạn trường

Quê xưa chừ chỉ trong tâm tưởng

Biết đến bao giờ hồi cố hương

Chiều nay mưa đổ vùng đất lạ

Lạnh thắm niềm đau nỗi nhớ nhà

Mẹ già giờ đã thêm còm cõi

Chồng chất bao điều nhớ với thương

Thương con vì nước dâng đời trẻ

Lăn lóc chiến trường gội gió sương…

Bỗng đâu nước mất_nhà ly tán

Ôi cảnh đổi dời lắm tang thương

Lệ nào có đủ cho ngày ấy

Con kiếp lưu đày giữa quê hương

Bao người thây bón rừng núi thẳm

Con trở về đây lại “kiếp tù” *

Lệ trào mừng tuổi chưa cạn ý

Con phải đi rồi bỏ quê hương

Làm thân lưu lạc buồn viễn xứ

Thương nhớ mẹ già dõi áng aây

Mẹ ơi! Con trẻ nào muốn thế

Hận vì vận nước phải lưu vong!

Bao năm khắc khỏi thương về mẹ

Một bóng hao gầy…chút dầu khuya

……………………          

Giữ gìn sức khỏe, mẹ…mẹ nhé!

Đất nước “Tự Do”con sẽ về

                                  Hoàng Mai Nhất

lại “kiếp tù”: ám chỉ thoát nhà tù nhỏ (trại tù cải tạo) lại vướng nhà tù lớn là cả đất nước hiện trong sự kềm kẹp của CS.

* Viết cho ngày tưởng niệm 30/4/1975

THÁNG  TƯ  GỢI  NHỚ

Tullip nở mùa xuân ngoài cánh cửa

Ở xuân này hoa nở nhớ xuân xưa

Nhớ Tháng Tư, buồn vương lên mắt

Xe tăng vào…xích sắt nghiền nát tim

Mẹ tìm con đầu bù tóc rối

Xác của ai…không áo nằm phơi

Saigon ơi! Trên đường…cái nón sắt

Xe Hoa Kỳ vắng ngắt chẳng thấy qua!

Ở xa xa con chó vàng lạc lõng…

Việt Cộng tới rồi! Nói nhỏ rỉ tai nhau:

“Nhà đầu xóm, nhà bên, nhà cuối xóm

đi hồi nào mà nhà cửa vắng hoe”

Chiếc xe loa chạy qua nghe eo éo

Nói cái gì? Hổng hiểu…nói tiếng Hoa?!

Nghe rõ ra­­_hóa ra là tiếng Việt

Phải vài ngày mới hiểu nói gì nha!

Là họ biểu “sách của Ngụy”

Phải đem thiêu* thứ “đồi trụy ngoại bang”

Lính mà có trở về làng

Phải “đi cải tạo” sẽ ban khoan hồng

Không đi phản động biết không

Xử bắn* dằn mặt…đau lòng…dã man

Hợp Tác Xã* hoang mang dân chúng

Gạo sạn nhiều, khoai sắn với bo bo

Saigon giờ mới thấy lo

Người đi gần hết, chúng mò* vào đông

Kinh Tế Mới* não lòng dân chúng

Con kinh đào* ngập mặn tứ tung!!

Tháng Tư nhớ tới nảo lòng

Cầu mong dân Việt thoát vòng Cộng nô

                                       Hoàng Mai Nhất
                                           (30/4/2021) 

*Phải đem thiêu: mở chiến dịch truy lùng và thiêu đốt tất cả sách vở trong Nam mà chúng gọi là “sách phản động, đồi trụy…”; với chủ đích cào bằng ngu dốt cả nước (giống như dân miền Bắc sau năm 1954) để dễ cai trị.

* Xử bắn: Chợ Thị Nghè, Tân Định, Hàng Xanh…mỗi chợ xử bắn vài người để hù dọa, dằn mặt dân Saigon. 

*Hợp Tác Xã: đây là cách để cs dễ dàng cai trị người dân.Không ai được quyền tự do buôn bán, tất cả phải do cs quản lý và ban phát thực phẩm cho người dân.

*Chúng mò vào đông: dân Bắc cs 75 lũ lượt kéo nhau vào chiếm cướp nhà cửa ở miền Nam.

*Kinh tế mới: bắt dân miền Nam và gia đình Quân Cán Chính VNCH đi kinh tế mới ở những nơi vùng sâu, vùng xa, khỉ ho cò gáy; để giết lần mòn người dân mà chúng cho là thành phần phản động, hầu dễ dàng cướp trắng tài sản, nhà cửa dân miền Nam. 

*con kinh đào: bắt dân tự túc gạo, tiền đi đào kinh dẫn nước khai hoang; tốt đâu không thấy chỉ thấy ngập mặn, gây ra nạn đói khắp nơi,