LM Nguyễn Văn Lý kiện chính phủ csVN lên Liên Hiệp Quốc

2010-06-13
Linh mục Nguyễn Văn Lý, được các tổ chức nhân quyền và tự do tôn giáo trên thế giới gọi là tù nhân lương tâm vì những hoạt động đòi hỏi tự do tôn giáo của ông từ năm 1977, gởi thư lên Liên Hiệp Quốc hôm 8 tháng Sáu vừa qua để kiện chính phủ Việt Nam về điều ông gọi là tiến trình chịu bất công với 4 lần, 17 năm tù giam và 7 lần, mười bốn năm quản chế.
 
Hình do thân nhân LM Lý gửi đến RFA

LM Nguyễn Văn Lý (phải) và LM Phan Văn Lợi tại Tòa Tổng Giám Mục Huế hôm 15-3-2010.

 

Phần âm thanh
Tải xuống âm thanh
Email bản tin này
 

Linh mục Nguyễn Văn Lý được tạm cho ra khỏi tù để chữa bệnh nhưng vẫn bị quản chế tại nhà Hưu Dưỡng Nhà Chung Tổng Giáo Phận Huế, nay linh mục Lý trình bày mục đích và nội dung thư gởi Liên Hiệp Quốc mà ông gọi là đơn kiện số một. Bài do Thanh Trúc trình bày:

Khẳng định mình vô tội

Thanh Trúc: Thưa linh mục Nguyễn Văn Lý, chúng tôi được biết ngày 8 tháng Sáu vừa qua ông đã thảo một bức thư, mà ông gọi là đơn kiện số một, để gởi lên Liên Hiệp Quốc, và một bản sao được gởi cho hãng tin AFP mà chúng tôi đang có trong tay. Xin linh mục trình bày về việc làm này?

 

don-kien-so-1-305.jpg
Đơn kiện số 01 của LM Nguyễn Văn Lý


LM Nguyễn Văn Lý: Căn cứ trên Công Ước Quốc Tế về các quyền dân sự và chính trị, rồi Tuyên Ngôn Quốc Tế về bảo vệ những người đấu tranh cho nhân quyền, rồi căn cứ ngày trên việc ký kết tham gia và thực hiện những điều luật quốc tế của nhà nước cộng sản Việt Nam, căn cứ trên những nhân chứng lịch sử cũng đã làm những việc tương tự như tôi, như ông Karl Marx, như luật sư Phan Văn Trường, như cụ Phan Chu Trinh, v.v…

Tất cả những người này đã làm công việc như tôi mà hồi đó họ không hề bị bắt, còn tất cả những điều tôi làm thì đều có Công Ước Quốc Tế và điều luật quốc tế bảo đảm rằng được phép làm. Thế mà họ bắt tôi thì chứng tỏ rằng tôi hoàn toàn vô tội, còn chính họ mới là những kẻ có tội.

Đòi hỏi bồi thường

Thanh Trúc: Thưa linh mục Nguyễn Văn Lý, trong đơn kiện số một này ông có đòi hỏi nhà nước Việt Nam phải trả lại cho ông tất cả những tài sản mà họ đã tịch thu của ông khi tiến hành bắt giam ông. Xin ông nói rõ về điều này?

 

LM Nguyễn Văn Lý: Họ đã lột áo linh mục của tôi, giữ của tôi một tràng chuỗi Mân Côi, một kiếng mắt tôi đang đeo, còn những vật dụng mà tôi dùng để phơi bày sự thật về ông Hồ Chí Minh, về nhân quyền, về dân chủ, về tự do, họ đã tịch thu của tôi sáu máy vi tính, một máy scanner, sáu máy in, sáu điện thoại di động và gần hai trăm sách báo bài viết, mỗi loại như vậy hàng chục bản. Tất cả những thứ này là họ tịch thu một cách trái phép.

Thanh Trúc: Thưa trong đơn kiện số một này ông cũng có đòi hỏi nhà nước phải bồi thường cho ông một số tiền để trả cho những chi phí về bệnh tật trong thời gian ông bị ở tù?

Linh mục Nguyễn Văn Lý tại Tòa Tổng Giám Mục Huế hôm 15-3-2010. Hình do
thân nhân LM Lý gửi đến RFA.Linh mục Nguyễn Văn Lý tại Tòa Tổng Giám Mục Huế hôm 15-3-2010. Hình do thân nhân LM Lý gửi đến RFA.
LM Nguyễn Văn Lý: Tôi muốn trước hết là họ phải trả cho tôi khoảng hai trăm triệu đồng Việt Nam về các máy móc thiết bị họ đã tịch thu. Còn ba năm tù giam và bệnh tật của tôi thì nói thật tôi đòi mười tỷ đồng Việt Nam là có tính tượng trưng thôi, chứ thật sự ra ba năm mất tự do của một con người quí giá hơn nhiều, và cơn bịnh của tôi, làm cho tôi bị bại liệt nửa người, thì vô giá. Mười tỷ đồng này là một con số tượng trưng vậy thôi chứ không thể tính sức khỏe của tôi ra bằng tiền bạc được.

Thanh Trúc: Thưa linh mục Nguyễn Văn Lý, trong phiên tòa sau cùng để xét xử ông, nhà nước Việt Nam có cáo buộc ông về tội tham gia vào Khối Dân Chủ 8406, một tổ chức mà nhà nước cho là bất hợp pháp. Ông nghĩ thế nào về điều này, bởi vì trong đơn khiếu kiện số một thì ông vẫn nói là ông vô tội đối với nhà nước Việt Nam?

LM Nguyễn Văn Lý: Không những tôi là thành viên của 8406 mà tôi còn là một trong những người thành lập khối này và một trong những người đại diện lâm thời của khối này, đang điều hành khối này cả toàn quốc. Việc mà họ quy kết chúng tôi là một khối bất hợp pháp thì đó là quyền của họ.

Còn ba năm tù giam và bệnh tật của tôi thì nói thật tôi đòi mười tỷ đồng Việt Nam là có tính tượng trưng thôi, chứ thật sự ra ba năm mất tự do của một con người quí giá hơn nhiều, và cơn bịnh của tôi, làm cho tôi bị bại liệt nửa người, thì vô giá.

LM Nguyễn Văn Lý

Nhưng mà chúng tôi được phép hoạt động trong khuôn khổ cho phép của các Công Ước Quốc Tế Liên Hiệp Quốc. Cho nên khối chúng tôi hoạt động không phải là một khối bất hợp pháp. Nếu như bắt chúng tôi thì họ phải bắt đến khoảng ba chục ngàn người 8406 ở trong đất nước Việt Nam. Nhưng mà họ không dám bắt một số đông như vậy, họ phải lấy cớ này cớ khác, một cách không chính đáng, để bắt tôi thế thôi.

Nhà nước VN vi phạm Hiến Chương LHQ

Thanh Trúc: Thưa linh mục, như vậy mục đích chính của ông khi gởi lá thư, tức đơn kiện số một, lên Liên Hiệp Quốc, là?

Công an Việt Nam mặc thường phục bịt miệng LM Nguyễn Văn Lý tại phiên
tòa ở Huế ngày 30/03/2007. Công an Việt Nam mặc thường phục bịt miệng LM Nguyễn Văn Lý tại phiên tòa ở Huế ngày 30/03/2007.
LM Nguyễn Văn Lý: Mục đích của tôi là muốn làm cho công luận quốc tế hiểu rằng nhà nước Việt Nam đang vi phạm Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, vi phạm các công ước Liên Hiệp Quốc mà chính họ xin tham gia ký kết mà không chịu thực hiện. Đó là lời kết tội của tôi một cách đanh thép, sắc bén, rõ ràng trước công luận quốc tế, trên cái chế độ cộng sản này. Còn tất cả những điều đòi hỏi họ phải bồi hoàn, đòi họ xin lỗi, đòi họ trả một đồng danh dự, tất cả những điều ấy chỉ là những kiểu nói chứ tôi biết chắc chắn là họ không làm. Nhưng lời kết tội của tôi trên chế độ này là rõ ràng. Đó chính là mục đích của tôi.

Mục đích thứ hai là làm cho họ dừng tay lại, không bắt bớ thêm các chiến sĩ hòa bình của chúng tôi nữa, phải sớm trả tự do cho các chiến sĩ đang bị giam tù. Đó là mục đích chính của tôi.

Chấp nhận hậu quả

loi-chung-so-4.jpgLời chứng số 4 của LM Nguyễn Văn Lý


Thanh Trúc: Thưa trong thời gian này thì linh mục chỉ được tạm ra khỏi tù để chữa bệnh mà thôi. Như vậy, khi ông viết bức thư này có nghĩa là ông muốn đối đầu với nhà nước hay sao. Ông có lường được hậu quả của việc làm này hay không?

LM Nguyễn Văn Lý: Ở đây tôi không thách thức ai cả nhưng tôi chấp nhận tất cả các hậu quả, nếu họ biết và dừng lại thì họ khôn. Nhưng nếu họ ngoan cố, thấy tôi làm như vậy mà đưa tôi vào lại trong nhà tù thì tôi rất mừng. Bởi vì đưa tôi lại vào nhà tù thì họ lại đóng dấu vào cái đơn kiện này rằng họ xác nhận là họ đang vi phạm. Tôi đang đợi họ bắt tôi vào lại trong nhà tù xem thử họ dám bắt không.

Tại sao ngày 8 tháng 6?

Thanh Trúc: Thưa linh mục Nguyễn Văn Lý, ông cũng có nói sở dĩ ông chọn ngày 8 tháng Sáu để viết bức thư gởi lên Liên Hiệp Quốc cũng là có một chủ đích khác. Xin ông trình bày về chủ đích đó?

Tôi chọn ngày mùng 8 tháng Sáu bởi vì đây là ngày giỗ lần thứ hai mươi hai của đức cố Tổng Giám Mục Philiphê Nguyễn Kim Điền, người mà tôi đã tố cáo bị nhà nước cộng sản Việt Nam đầu độc chết trong bệnh viện Chợ Rẫy năm 1988, cũng vào ngày mùng 8 tháng Sáu.

LM Nguyễn Văn Lý

LM Nguyễn Văn Lý: Tôi chọn ngày mùng 8 tháng Sáu bởi vì đây là ngày giỗ lần thứ hai mươi hai của đức cố Tổng Giám Mục Philiphê Nguyễn Kim Điền, người mà tôi đã tố cáo bị nhà nước cộng sản Việt Nam đầu độc chết trong bệnh viện Chợ Rẫy năm 1988, cũng vào ngày mùng 8 tháng Sáu.

Cũng vào ngày này thì song song với đơn kiện số một này, tôi có một lời chứng số bốn, tố cáo những bạo ngược, những đàn áp, những nhục hình mà chính quyền cộng sản đang thực thi trên thân xác và tâm hồn của bao nhiêu người tù trong các trại giam, nhất là tù nhân nữ. Tôi cũng cố ý để vào ngày mùng 8 tháng Sáu như vậy. Xin cám ơn.

Theo dòng thời sự:

 

LỜI  CHỨNG  SỐ  4 (bổ sung lần 1)

của Linh mục Tù nhân Lương tâm Tađêô Nguyễn Văn Lý

——–

24 NHỤC HÌNH & KỸ XẢO CÁN BỘ CSVN

ĐÃ VÀ ĐANG SỬ DỤNG ĐỂ TRA TẤN CÁC TÙ NHÂN

TRONG CÁC NHÀ TẠM GIỮ, TRẠI TẠM GIAM VÀ TRẠI GIAM

TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY – 2010

——-

Việt Nam , ngày 8 & 14 tháng 6 năm 2010

– Công ước Quốc tế (CƯQT) về các quyền dân sự và chính trị của Liên hiệp quốc ngày 16.12.1966, Việt Nam xin tham gia ngày 24.9.1982, qui định :

Điều 7 : Không ai có thể bị tra tấn, phải chịu những hình phạt hay đối xử tàn ác, vô nhân đạo, làm hạ thấp phẩm giá con người.

– Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự (BLTTHS) của Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam (NCQCSVN) năm 2003 đang hiệu lực qui định :

Điều 6 : … Việc bắt và giam giữ người phải theo qui định của Bộ Luật này.

Nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình.

Điều 7 : Công dân có quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản. Mọi hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản đều bị xử lý  theo pháp luật….

Điều 8 : Không ai được xâm phạm chỗ ở, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của công dân…

Điều 9 : Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.

Nhưng trong thực tế, chính khá nhiều (và có nơi, có lúc rất nhiều) các Cán bộ (CB) của bộ máy đàn áp khổng lồ của CSVN đã làm ngược lại, mà không hề sợ Cơ quan nào xử lý mảy may gì, cũng chẳng e dè dư luận nào cả. Các CB CSVN đã và đang ngang nhiên vi phạm rất nặng nề các điều luật trên như thế nào và tại sao ???

A. Về điều 8 BLTTHS : Các CB CSVN đã vi phạm quá lộ liễu, không cần phải rườm lời. Chỉ có trẻ con và người mất trí mới không thấy, không biết rõ.

B. Về điều 7 & 9 BLTTHS : 1. Trước khi bị bắt : Khi NCQ CSVN muốn bắt ai thì đã luôn mặc nhiên coi người đó là kẻ có tội rồi, nên các CB hầu như muốn đối xử thế nào tùy ý, có khi rất lố bịch lộ liễu :

* Đối với một số người có ảnh hưởng trên công luận : bộ máy tuyên truyền khổng lồ của CSVN (báo chí, truyền thanh, truyền hình) tận dụng hết công suất tha hồ bôi lọ, chụp đủ mọi thứ mũ, xuyên tạc, công khai kết tội sẵn, trước các loại tòa án giả tạo hình thức sau đó nhiều tháng, có khi cả năm. Ví dụ: từ tháng 12-2000 đến 18-5-2001, loa phóng thanh của xã Thủy Biều, TP Huế liên tục mạ lỵ tôi buổi sáng 5 bài, buổi chiều 5 bài cho giáo dân Nguyệt Biều và dân xã Thủy Biều nghe; loa phóng thanh của xã Phú An, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên – Huế chĩa thẳng vào Nhà thờ An Truyền, ngay trong giờ Kinh – Lễ,  buổi sáng 9 bài, buổi chiều 9 bài (15.2 – 18.5.2001); loa phóng thanh của xã Phong Xuân, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên – Huế phát buổi sáng 7 bài, buổi chiều 7 bài (25-2 đến 30-3.2007) mạ lỵ tôi cho giáo hữu Bến Củi và dân xã Phong Xuân nghe…

* Đối với các công dân bình thường : các CB có thể đánh, mắng, đe dọa, trừng phạt hành chánh. Chỉ riêng từ đầu năm 2010 này, nhiều công dân bị đánh rất dã man, cả bị giết nữa (25-5-2010 tại Nghi Sơn, xã Tĩnh Hải, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa)…

2. Sau khi bị bắt : Trên đường áp tải và tại các nhà tạm giữ cấp phường, xã, quận, huyện : tùy địa phương và tâm tính của các CB phụ trách, các CB đã có thể sử dụng các loại nhục hình, bức cung, tra tấn dưới đây.

C. Về điều 7 CƯQT 1966 và về điều 6 & 7 BLTTHSSau khi bị bắt : Tại các nhà tạm giữ, trại tạm giam và trại giam (trại cải tạo): Theo lời kể của các tù nhân tôi đã sống chung, đã gặp hoặc đã nghe tường thuật trong các lần ở tù vào các năm 1977 (1 trại: Thừa Phủ, Huế), 1983-1992 (3 trại: Thừa Phủ, Huế; Thanh Cẩm, Thanh Hóa; Nam Hà, Hà Nam), 2001-2005 (2 trại: Thừa Phủ, Huế; Nam Hà, Hà Nam), 2007-2010 (2 trại: Thừa Phủ, Huế; Nam Hà, Hà Nam), của các nữ tù nhân bị giam gần đây ở Hỏa Lò, Hà Nội; K3 – K5, Trại 5, Yên Định, Thanh Hóa (2000 -2010), nhất là các lời chứng của tù nhân lương tâm Lê Thị Kim Thu, đã bị tạm giam tại Trại số 1 của Công an Tp Hà Nội, Hỏa Lò, Hà Nội (14.8.2008 – 03.3.2009) và được chuyển về trại giam K3, Ninh Khánh, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình (03.3.2009 – 14.11.2009), và của luật sư TNLT Lê Thị Công Nhân đã bị tạm giam tại Trại số 1 của Công an Tp Hà Nội, Hỏa Lò, Hà Nội (6.3.2007 – 27.01.2008) và được chuyển về trại giam K4, Trại 5, Yên Định, Thanh Hóa (27.01.2008 – 6.3.2010). Cả 2 nữ TNLT rất nổi tiếng này sẵn sàng làm chứng về hầu hết các kỹ xảo tra tấn dưới đây,  với bất cứ cơ quan điều tra nào của Liên hiệp quốc và Quốc tế vui lòng quan tâm đến vấn đề nhân quyền tại Việt Nam hiện nay.

Hiện nay, các CB thụ lý 1 vụ án, nếu điều tra thành công, thu hồi một tài sản (do hối lộ, tham ô, buôn lậu, bán ma túy,…), thì được thưởng 40-60% (1 tỷ, được thưởng 400-600 triệu). Do đó, rất sẵn sàng tra tấn để đạt cho được mục đích.

Các nhục hình và các kỹ xảo tra tấn sau đây đã được CSVN nghiên cứu tuyển chọn qua kinh nghiệm lâu năm, thường chỉ để lại thương tích 3-6 tháng, có thể tự lành hoặc dù mặc nhiên là gây tổn thương bên trong, có thể dẫn đến tử vong và sẽ được pháp y gán cho một bệnh vớ vẩn nào đó, nhưng lại rất ít để lại dấu vết bên ngoài lâu dài, đề phòng có thể bị khiếu kiện về sau.

Các kỹ xảo tra tấn và thực hiện nhục hình sau đây đặc trưng “made in Vietnam, đầy tính sáng tạo, không phải bạo quyền nước nào cũng sánh kịp” ở chỗ là chúng diễn ra tại bất cứ văn phòng, phòng làm việc nào, không cần dụng cụ tra tấn cổ điển cồng kềnh lạc hậu lộ liễu nào cả. “Văn phòng” ấy chỉ cần hơi khuất nẻo, thanh vắng, xa tầm mắt tò mò của các nạn nhân khác tí chút là đủ. Các dụng cụ nhục hình/tra tấn vừa rất dã man, vừa rất hiện đại thanh lịch, vừa rất khó phát hiện, nhưng luôn có sẵn : ánh nắng, bút viết, thước kẻ, bàn viết, ghế ngồi, sàn nhà, trần nhà, cửa sổ, bàn tay, găng tay, dép nhựa, giày da, còng tay, roi điện, dùi cui,…

Ngoài ra, các nhục hình đang được sử dụng còn mang thú tính quái dị, bị ám ảnh dâm loạn và hoang dã, ác độc khác thường, đến độ rất khó tin, nhưng hoàn toàn có thật, như được mô tả khá đầy đủ sau đây.

1/- Nhục hình, tra tấn, hình phạt & cấm đoán vô lý dành cho tù nhân nam lẫn nữ : Áp dụng cho tù nhân nữ nhiều hơn, vì tù nhân nam biết đề kháng hơn, dám “bật” mạnh, dám liều chết đánh trả mãnh liệt :

1/1. Cấm Truyền Đạo : Điều 11/15 Nội qui Trại giam hiện nay là “Cấm truyền Đạo”. Tôi liên tục phản đối điều 11/15 này từ tháng 2.2001 đến tháng 3.2010 và tuyên bố công khai bằng văn bản 27 lần rằng: “Chỉ nguyên bao lâu còn 3 từ “Cấm truyền Đạo” trong Nội Qui trại giam CSVN, tôi sẵn sàng ở tù cho đến chết”. Nhiều CB cũng cho 3 từ này là rất vô lý và chỉ có hại cho uy tín của CSVN, nhưng thẩm quyền chính thức của bạo quyền CSVN vẫn chai lì chưa thay đổi.

1/2. Bắt gọi CB là Ông/Bà, xưng là cháu, dù “Ông/Bà” ấy mới chỉ 19-20 tuổi, còn “cháu” đã U70, U75, U80!

1/3. Cưỡng bức lao động có tính nhục hình : bắt gánh phân người (bắc), phân trâu, bò, dê,…chỉ cốt để hành hạ, lăng nhục, bẻ gãy ý chí.

1/4. Đánh hội đồng : một nhóm CB nam, nữ, giày da cứng chắc, có thể dùng dùi cui hoặc không, thay nhau đánh, đấm, đá một tù nhân như một quả bóng cho đến khi chán chê, hoặc nạn nhân bị buộc quì gối van xin “Xin Ông/Bà tha cho cháu, cháu xin… rút kinh nghiệm”, hoặc cho đến khi nạn nhân ngất xỉu.

1/5. Bắt quì, rồi đánh, đá, đạp : với dùi cui, dép nhựa, giày da,… vào mặt, ngực, hạ bộ,.. cho đến khi nạn nhân “khiêm tốn” van xin hoặc bất tỉnh, với bao vết bầm tím khắp người, nhất là ở vùng kín.

1/6. Bắt nằm sấp hoặc nằm ngửa, rồi đạp lên ngực, bụng, vai, lưng,…cho đến khi ói máu/ bất tỉnh.

1/7. Còng tay và treo trên thành cửa sổ lâu giờ : cho đến khi chịu ký biên bản nhận “tội”.

1/8. Còng tay sau lưng và treo xốc nách ngược lên trần nhà : cho đến khi chịu khuất phục.

1/9. Dùng dùi cui đánh vào miệng, răng, hàm, mặt, … : đến mức sợ hãi kinh hoàng, phải ký biên bản nhận “tội”.

1/10. Phơi nắng : Bắt nằm giữa nắng từ 2-4 giờ, dù đang bệnh, cho đến khi ngất xỉu hoặc chịu ký biên bản nhận “tội”.

1/11. Nằm buồng kỷ luật đặc biệt : Khi tù nhân “vi phạm nội qui trại giam”, tiết lộ nhục hình / tra tấn, phản kháng/ chống lại các CB về các bất công / cấm đoán vô lý,… thì bị cùm chân, có khi bị lột hết áo quần, kể cả quần lót, 7-14 đêm ngày, gia tăng biệt giam 3-6-12, 24, 36,… tháng, khi cần. Có khi bị đánh đập rất dã man, kèm theo các nhục hình, làm các tù nhân (đặc biệt là nữ) tê liệt ý chí phản kháng, không dám tường thuật lại, vì quá hãi hùng.

2/- Nhục hình, tra tấn & hình phạt dành riêng cho tù nhân nam :

2/12. Chích roi điện vào dương vật : Vì sỉ diện, thường các tù nhân nam rất ngại tự kể lại.

2/13. Đánh vào dương vật : Lấy roi đánh vào dương vật cho xấu hổ, đặc biệt là bắt đặt dương vật kê lên thành cửa sổ, lấy dùi cui đánh cho tóe máu hoặc phun tinh dịch ra, cho liệt dương.

3/- Nhục hình, tra tấn & hình phạt dành riêng cho tù nhân nữ :

3/14. Quì ngậm dùi cui : Các tù nhân nữ quì ngậm dùi cui của CB dùng để đánh tù (tượng trưng cho dương vật), hai hàng nước mắt chảy dài suốt 2-4 tiếng đồng hồ trong tủi nhục tột cùng.

3/15. Đói mà không thể được ăn : CB buộc tù nhân trực sinh lấy bánh chưng (do thân nhân thăm nuôi gửi vào) cắt ra làm 4, vứt vào thùng rác, lẩn băng vệ sinh phụ nữ; hoặc lấy bánh mì, cơm, đổ nước bẩn vào ngâm, rồi thách đố: “Con nào mà nhặt bánh chưng/cơm đó lên ăn, còn thua con chó”. Hoặc CB lấy cơm đứng từ đầu sàn, ném tung rải khắp buồng giam, văng lên mền, chiếu, rồi bắt tù nhân thu dọn cho bõ ghét.

3/16. Còng tréo tay : Bắt tréo 1 tay (trái) từ sau lưng lên vai (phải) để còng với cổ tay kia (phải) tréo từ vai (phải) xuống chập vào tay (trái), rất đau đớn. Sau vài giờ bị thẩm vấn với tay bị còng tréo, tù nhân bị liệt cả 2 tay chỉ còn buông thỏng lòng thòng, phải nhờ tù nhân khác đút cơm và giúp đỡ các việc sinh hoạt hằng ngày. Thường # 3-6 tháng thì 2 tay tự khỏi.

3/17. Đặt chân ghế lên mu bàn chân tù nhân : Bắt tù nhân ngồi đưa 1 bàn chân ra. CB lấy ghế 4 chân, đặt 1 chân ghế lên mu bàn chân của tù nhân, rồi ngồi lên ghế ấy thẩm vấn nạn nhân suốt 2-3 giờ liền để ép cung. Nạn nhân rất đau đớn như xương bàn chân gãy vụn. 3-6 tháng sau có thể tự lành.

3/18. Lăn thước vuông, bút viết giữa các kẽ ngón tay : CB lấy thước kẻ vuông luồn vào 4 ngón tay đan chéo nhau của 1 bàn tay tù nhân, 1 tay CB cầm chụm 4 đầu ngón tay nạn nhân lại, tay kia CB xoay lật thước kẻ vuông, để nạn nhân đau như bị mài gọt vào da thịt và xương ngón tay. Khi không sẵn thước kẻ vuông, CB dùng bút bi thay vào, chỉ cần siết các đầu ngón tay chặt hơn, vẫn gây đau đớn không kém.

3/19. Thông tai : Đặt đầu tù nhân lên mặt bàn, úp nghiêng 1 tai xuống mặt bàn. CB vỗ mạnh nhiều lần xuống tai kia của nạn nhân, cho rung màng nhĩ, gây rối loạn tiền đình. Sau màn thông tai đặc sản VN này, nạn nhân bị nhức buốt tận óc, ói mửa, phải tự lê bước về buồng giam lảo đảo như người say.

3/20. Lột hết áo quần, kể cả quần lót : “Tại trại K3, Ninh Khánh, Hoa Lư, Ninh Bình, sáng ngày 14-11-2009, CB Đinh Thiết Hùng buộc tôi (tù nhân Lê Thị Kim Thu), trước khi được trả tự do, phải vào nhà vệ sinh khám người, một số CB nữ đứng chờ sẵn, đeo găng tay bảo hộ để khám âm đạo, tôi phản đối, yêu cầu mời Bác sĩ và Ban Giám thị đến chứng kiến, nếu tìm không ra đồ vi phạm gì, tôi sẽ làm đơn tố cáo. CB nói: “Không cho khám, không cho nó về !” tôi trả lời: “Không về thì thôi, nhà tù lớn vào nhà tù nhỏ, nhà tù nhỏ ra nhà tù lớn, chứ thiết tha gì.” Tôi quay vào trại lại. CB hô các tù nhân khác khóa cửa khu giam lại, tôi trở lại khu giam của mình. CB trực trại thông báo cho các tù nhân khác ra sân chung “tập điều lệnh”, tôi cũng theo họ ra sân chung xem diễn tập # 3 giờ. Rồi CB Hùng vào gặp tôi bảo ra trại lấy đồ… Sau khi nhận tư trang, có 4 CB nữ đợi sẵn, cửa cổng vào khu bị khóa. Các CB ép buộc tôi phải lột hết quần áo, hoàn toàn khỏa thân, bị khám từ áo ngực, đến quần lót, CB Thu Hằng yêu cầu tôi vào nhà vệ sinh ngồi trên bàn cầu cao  # 50cm để họ thọc tay vào âm đạo khám, tôi không cho, họ bắt tôi đứng lên ngồi xuống nhiều lần, để có gì trong âm đạo thì rớt ra. Sau đó, CB ngồi khom người nhìn vào âm đạo xem trong đó có giấu gì không. Trên quần lót tôi có ghi các số điện thoại của những tù nhân thân quen và địa chỉ gia đình của 1 người tù nam bị đánh chết, thuộc K2 Ninh Khánh, họ thu giữ cái quần lót đó không trả lại, mà chẳng cho cái quần lót khác để mặc vào người đi về. CB gọi tôi ra khu hành chánh của trại để làm thủ tục ra trại. CB trao tôi tiền xe là 750.000 VNĐ. Tôi không nhận và ghi rõ lý do vào biên bản : Cái tôi cần không phải là 750 ngàn đồng mà là cái quần lót để mặc đi về. Sau đó CB cầm biên bản vào trong, trình cho ai tôi không rõ… khi đi ra có thêm CB trinh sát Phong buộc tôi vào phòng viết lại biên bản. Tôi không vào, chỉ đứng ngoài hành lang. Khi CB viết xong biên bản đưa cho tôi ký tên, tôi vẫn cứ viết : Cái tôi cần là cái quần lót. Họ nổi điên bảo tôi là chuyện cái quần lót tính sau. Tôi trả lời : Cho dù các CB có viết 10 cái biên bản, tôi vẫn ghi vào biên bản đòi cái quần lót của tôi. CB nói : Chị để lại quá nhiều chuyện ở trại này ! Cuối cùng, họ yêu cầu một CB nữ tên Tuyên dẫn tôi ra khỏi cổng trại, buộc tôi phải trở lại cuộc sống “tự do” mà không có được một cái quần lót mặc trong người !!! Mãi mãi tôi vẫn đòi CSVN trả lại tôi cái quần lót này.” (Nguyên văn lời kể của chính tù nhân lương tâm Lê Thị Kim Thu).

3/21. Chích roi điện vào 2 đầu vú, thường kết hợp với nhục hình 1/7 : CB treo nạn nhân lên cửa sổ, lột áo và cả nịt vú ra, kéo lật áo lên trùm mặt lại, phơi trần bộ ngực trông rất bắt mắt, nhét giẻ bịt miệng hoặc không, CB tha hồ dùng roi điện chích liên tục vào 2 đầu vú để tra tấn, ép cung.

3/22. Rà dùi cui điện vào vùng kín : CB lột hết áo quần, rà dùi cui điện vào vùng kín nữ bên ngoài quần lót mỏng, làm cháy xoăn lớp lông và làm bỏng lớp da bên trong.

3/23. Thọc dùi cui / gậy gỗ vào âm đạo : Gây đau đớn, thương tổn, bầm tím, nhiễm trùng, nhục nhã uất nghẹn tột độ.

3/24. Dùng găng tay lao động móc âm đạo tập thể : “Tại trại giam số 1, Hỏa Lò của Công an TP Hà Nội, lặp đi lặp lại nhục hình này : CB Nguyễn Thị Lan (Lan Cáo), # 32 tuổi, vào buồng giam hỏi : Ai có gì bỏ ra. Đừng để tôi dùng chiếc găng tay này nhé! CB gọi 25 nữ tù nhân, bắt cởi hết áo quần ra, buộc ngồi xuống rãnh giữa 2 bệ sàn ngủ bằng xi-măng, bắt quay mặt vào tường sàn ngủ, lần lượt từng người, hai tay chống xuống sàn, cởi quần lót ra, chổng mông lên để CB chỉ dùng một chiếc găng tay lao động thô ráp, lần lượt thọc rất thô bạo vào 25 âm đạo, mò tìm tiền, giấy ghi chép,… kể cả nữ tù nhân đang bị hành kinh cũng phải lột băng ra, không chừa một ai, nếu có lây nhiễm HIV, AIDS cũng phớt lờ, mặc cho các tù nhân đau đớn khóc rên trong tủi nhục tột cùng, do nhục hình “made in Việt Nam” cực kỳ độc đáo này. Các CB Nhung (Nhung Cáo, # 32 tuổi), Nguyễn Thị Bích Thủy (# 28 tuổi) ở Hỏa Lò cũng thường sử dụng hoặc chứng kiến nhục hình này.

D. Có thể còn nhiều đòn nhục hình, tra tấn khác ác độc dã man hơn nữa mà tôi không biết rõ ràng chính xác, kính mong các cựu tù nhân, nhất là các cựu tù nhân tôn giáo, chính trị, lương tâm khác bổ sung cho Lời Chứng số 4 này trước công luận quốc tế văn minh hiện nay. Chúng ta phơi bày sự thật không mảy may do thù hận một ai, nhưng vì trách nhiệm phải lên án và triệt tiêu cái ác xấu bất cứ từ đâu đến, dưới bất cứ hình thức nào, đồng thời phải đòi công lý cho mọi thành phần của gia đình nhân loại, cụ thể là của Đồng bào Việt Nam.

            Trước khi được thả, tất cả các nữ tù nhân ở các trại giam liên quan đều phải học tập 4 ngày, bị đe dọa, yêu cầu cấm nói các nhục hình nêu trên ra bên ngoài nếu muốn được thả và được sống yên ổn. Vì thế, bao năm qua, hầu hết các tù nhân nữ ra tù không dám tiết lộ các nhục hình đó, chỉ vì sự sợ hãi quá độ đã làm họ gần như tê liệt hoàn toàn.

Nhưng ngoài 2 tù nhân lương tâm Lê Thị Kim Thu và Lê Thị Công Nhân, tù nhân Nguyễn Thị Khương, sinh năm 1960, thường trú tại 35A, phường Kỳ Bá, TP Thái Bình, sau khi bị nhục hình 1/10 (phơi nắng) nhiều giờ, nhiều lần, hiện đang được điều trị tại trạm xá, trại giam K3, Ninh Khánh, Hoa Lư, Ninh Bình, sẵn sàng làm chứng về các nhục hình 1/2.4.6.10.11; 3/14.15.20.24.

            *** Tại sao CB CSVN lại hoang dã, ác tâm và tàn bạo đến thế ?

            Câu trả lời rất chính xác và rất vắn gọn đầy đủ chính là : Vì họ là các đệ tử chân truyền của Các-mác, Lênin, Stalin, đặc biệt là Mao Trạch Đông và Hồ Chí Minh !!!

Linh mục tù nhân lương tâm Nguyễn Văn Lý – Huế, 8-6-2010

Ngày giỗ lần thứ 22 Đức cố TGM Philipphê Nguyễn Kim Điền,

Đã tử đạo ngày 8-6-1988 tại bệnh viện Chợ Rẫy, Sài Gòn, do bị Y Bác sĩ CSVN cho uống thuốc độc (Xem “Lời chứng về cái chết của Đức TGM Philipphê Nguyễn Kim Điền (Đức TGM đã tử đạo như thế nào ?) của Lm Tađêô Nguyễn Văn Lý, ngày 30-01-2001).

Bổ sung lần thứ 1 ngày 14 tháng 6 năm 2010 

 

About the author
Leave Comment