CA KHÚC SỐNG ĐỘNG: DẬY MÀ ĐI GÌN GIỮ GIANG SAN – THƠ NGUYỄN PHƯƠNG THÚY – NHẠC TRUNG VIỆT
==
NGẮC NGOẢI ĐẾN BAO GIỜ
Nguyễn Phương Thúy
Ông Tô Lâm – Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (Ông cũng là Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Công an Trung ương, Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và An ninh, và Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng, tiêu cực. Còn chức nào ông chưa tóm? Đúng là độc tôn, độc trị!) đến China từ ngày 14 đến 17 tháng 4 năm 2026. Đây là một bước đi ngoại giao đầy quan trọng – cấp nhà nước, trên cương vị là lãnh đạo cao nhất của Việt Nam. Chuyến thăm này không chỉ dừng lại ở những cái bắt tay xã giao; đó là một nỗ lực thúc đẩy thực hành nhanh chóng Chiến lược “3+3” (*), nhằm củng cố “Cộng đồng chia sẻ tương lai” – một cách nói hoa mỹ để diễn tả việc họ đang gắn kết nền kinh tế và an ninh của nhau chặt chẽ hơn bao giờ hết. Tô Lâm trông có vẻ sung sướng, hãnh diện với sự đón tiếp long trọng của China. Các ông lớn mặc âu phục, các bà lớn cũng mặc quốc phục hiện diện sát bên. Nội các China dàn hàng chào danh dự. Tô Lâm bắt tay muốn rụng tay! Càng ngày hình thức ngoại giao càng giống các nước tự do. Con tắc kè thay màu quá lẹ nhưng cái cốt lõi thì vẫn ẹ như xưa! Việt Nam và China đã ký kết hơn 32 thỏa thuận vào ngày 15 tháng 4 năm 2026, tập trung vào các lĩnh vực:
Hải quan & thương mại: Đây là một bước tiến vô cùng to lớn, bởi thương mại giữa hai quốc gia đã hơn 250 tỷ USD trong năm 2025. Hai bên cũng đang triển khai mô hình “cửa khẩu thông minh” nhằm đẩy nhanh tốc độ vận chuyển hàng hóa.
Cơ sở hạ tầng & đường rầy sắt: Trọng tâm phát triển đô thị và kết nối các tỉnh phía Bắc của Việt Nam với mạng lưới đường sắt cao tốc của China chính là một “con đường một chiều”. Một khi những đường rầy ấy đã được lắp đặt theo tiêu chuẩn của China, Việt Nam sẽ bị ràng buộc chặt chẽ về mặt vật lý với China trong suốt 50 năm. Trong nhiều thập kỷ, Việt Nam vẫn duy trì khổ đường rầy sắt khác biệt, nhằm ngăn chặn nguy cơ bị xâm lược dễ dàng. Bằng việc chuyển sang áp dụng các tiêu chuẩn của China, Việt Nam đang thực sự hội nhập về mặt vật lý vào hệ thống hậu cần (logistics) của China. Đây chính là sự thống trị mà không cần chiến tranh. Nếu China nắm quyền kiểm soát hệ thống đường rầy, công nghệ tín hiệu cũng như nguồn tài chính, họ sẽ nắm giữ chiếc “công tắc bật/tắt” đối với nền kinh tế xuất khẩu của Việt Nam.
An ninh chuỗi cung ứng: Nhằm bảo đảm các chuỗi cung ứng xuyên biên giới sẽ không bị gián đoạn bởi những biến động chính trị trên phạm vi toàn cầu.
Du lịch: Phát động chương trình “Năm Hợp tác Du lịch Việt Nam – China 2026-2027” với mục đích thu hút khách du lịch trở lại mức trước đại dịch. Những thỏa thuận này có ảnh hưởng to lớn không thể tránh khỏi như “Con ngựa thành Troy” trong lĩnh vực 5G (the fifth-generation technology standard for broadband cellular networks), dữ liệu lớn (big data) và trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence (AI)). Cơ sở hạ tầng kỹ thuật số luôn có những “cửa hậu” (backdoors). China sẽ nắm trong tay “chìa khóa” của chủ quyền kỹ thuật số, có khả năng giám sát sự di chuyển của con người, hàng hóa và thậm chí cả quân đội….
VIỆT NAM:A Nation Reborn – Created by Nguyễn Phương Thúy – Nhạc nền hòa tấu: “VIỆT NAM VIỆT NAM” Của Phạm Duy
==
TƯỞNG NIỆM 30 THÁNG TƯ: Ca Khúc MẢNH DA VÀNG, Trần Chương Lương viết nhạc theo thơ của nhà thơ CHU LYNH do ca sĩ Kỳ Nam trình bày và hòa âm được thực hiện tại Golden Production.
*
Tùy Bút 30/4 CỦA 51 NĂM SAU
Sỏi Ngọc
Tàu Trường Xuân, thuyền trưởng: ông Phạm Ngọc Lũy
Từ trái sang phải: Đạo diễn: Robbie Hart; Bà Nguyễn Bùi thị Mùi; tác giả Sỏi Ngọc; cố vấn Phim: anh Khoa Phạm
Lại một tháng Tư đen
Quê người ta tạm trú
Bao giờ về cố thổ
Như máu chảy về tim?
Cuộc chiến đã qua lâu
Lòng ta còn hậu chấn
Hỡi ơi ! Trời biển rộng
Dằng dặc một cơn sầu. (Hoàng Song Liêm)
Tháng Tư vừa mới chớm, trái tim của những người con Việt hải ngoại không ngớt rỉ máu, vết thương của 51 năm qua vẫn mãi chưa bao giờ lành, một khi quê hương đất mẹ vẫn đang bị cầy xéo, dân vẫn khốn đốn, nền tự do dân quyền không có, những cựu chiến binh VNCH với thân hình còi rọc, như những phế nhân lầm lũi sống ở tận đáy xã hội của đất nước nơi mình được sanh ra; họ là những minh chứng sống cho thấy dưới chế độ xã hội chủ nghĩa Cộng Sản sau 51 năm, đời sống không khả quan hơn, vẫn đói khát, bị vùi dập, kiểm soát, bị trả thù đến bao nhiêu kiếp đời.
Tưởng niệm tháng Tư, phim Shining light, một phim tài liệu “ánh sáng tỏa rạng” được trình chiếu tại một trường tư thục, trung học Marianopolis college cho tất cả mọi người, kể cả những em học sinh, tham dự để hiểu về cội nguồn của những người Việt tỵ nạn tại Canada nói riêng và thế giới nói chung.
Phim tài liệu này chỉ dài 30 phút, do nhà sản xuất phim: Peter Raymont, đạo diễn: Robbie Hart, nhân viên Cao Ủy Liên Hiệp Quốc tại Canada: Tracey Maulfair, đồng sản xuất phim và cựu Đại xứ Canada: Gary Smith, cố vấn phim: Khoa Phạm.
Đã được trình chiếu nhiều lần tại Vancouver, Toronto, Montreal, hôm nay được chiếu lại nhưng đặc biệt có sự góp mặt của nhân vật chính, bà Bùi Nguyễn thị Mùi, bà là người mẹ đã mang bầu được 9 tháng vào ngày 30/4/75, biết rằng tánh mạng rất mong manh nếu bà lên tàu Trường Xuân bỏ xứ lánh nạn Cộng Sản thời bấy giờ, nhưng nỗi sợ hãi bị trả thù, cuộc sống đọa đầy sau ngày mà bọn chiến thắng luôn rêu rao là “nền độc lập tự do dân chủ”, trong khi chúng bắt bớ những cựu sĩ quan, lính VNCH bỏ tù, nằm gai nếm mật, trong đó có chồng bà… Bà đã hy sinh mạng sống của chính mình và đứa con trong bụng, ôm bụng bầu sát ngày sanh nở, cùng với con trai nhỏ 2 tuổi, lên chiếc tàu định mệnh cuối cùng vào trưa ngày 30/4 để trốn chạy; đến ngày 2 tháng 5 năm 1975 bụng quặn thắt, và đứa con gái đã chào đời trên tàu Trường Xuân, giữa lòng đại dương mênh mông, với 3600 người tỵ nạn vây quanh, đứa bé gái được đặt tên là Chiêu Anh, ánh sáng rạng rỡ, hy vọng mở ra cho bà một tương lai mới!
Bà Bùi Nguyễn thị Mùi mới sanh cháu Chiêu Anh trên tàu Trường Xuân
Chiêu Anh- cô gái được sanh trên biển cả của ngày hôm nay
Bà Bùi Nguyễn thị Mùi, đạo diễn: Robbie Hart tại trường Marianopolis college
Sau đó, ngày 4/5/1975 tàu Trường Xuân được tàu chở hàng Maersk line của Hong Kong vớt, mẹ con cô được chở vào nhà thương.
Mọi người yên lặng theo dõi bộ phim thật cảm động, tại ngôi trường mà Chiêu Anh đã từng theo học và tốt nghiệp; thỉnh thoảng có tiếng thở dài não ruột, tiếng sụt sùi trong hàng ghế của những người lớn tuổi, cũng có những cái nắm tay thầm lặng chia sẻ nỗi buồn, sự cảm thông của thế hệ trẻ đối với tiền bối.
Phim chấm dứt, ánh đèn sáng lên, bà Bùi ngồi lặng yên trên chiếc ghế ở khán đài, cùng với đạo diễn Robbie Hart, sẵn sàng trả lời những thắc mắc của tất cả mọi người, có cậu bé nói:
– “Tại sao chiến tranh VN đã trải qua 51 năm, đã thống nhất độc lập rồi, mà vẫn còn có người bỏ nước ra đi, còn nghe nói đến sự trốn chạy tìm tự do, tìm nguồn sống mới; họ không chịu nổi áp lực của nhà cầm quyền Cộng Sản?”
Một người khác góp ý:
– “Vào lúc 30 tháng Tư, bọn cộng sản đối với chúng tôi là một điều rất mới mẻ, nhưng kinh nghiệm của thời cải cách ruộng đất thời 1953-1956, chúng đã giết, treo cổ thẳng tay những người họ gọi là “địa chủ”, “tư sản”, tưởng tượng họ cũng đối xử, trả thù những người dân quân miền Nam đã sống, làm việc dưới chính quyền mà họ cho là Mỹ ngụy thì làm sao chịu nổi, vì lý do đó mà nhiều người thà bỏ mạng ngoài đại dương hơn là sống dưới gông cùm của chế độ Cộng Sản.”
Đạo diễn Robbie nói:
– “Chúng tôi dự định sẽ về thăm Việt Nam một chuyến, có dịp sẽ quay những thước phim về những biến cố lịch sử đã xảy ra tại đó cách đây 51 năm, và sự khác biệt với đời sống hôm nay.”
Một khán giả trong phòng thêm ý kiến:
– “Chúng tôi rất mong được các ông làm phim về những người lính VNCH, những người cựu chiến binh, những thương phế binh của chế độ trước bây giờ họ sống ra sao? Con cái họ thế nào? Có được sống như những người dân bình thường hay họ vẫn mãi mãi bị mang lý lịch xấu không thể ngóc đầu lên được, tâm lý sau cuộc chiến bị thất bại, họ mất tất cả, chỉ còn hai bàn tay trắng, lại thêm tù tội cả chục năm, cuộc đời của chính bản thân và con cái có được thành công ở chính quê hương nơi họ sanh ra không? Cộng Sản, những kẻ chiến thắng sau cái mốc định mệnh 30/4 có thật sự như họ đã nói “theo chính sách khoan hồng” giúp đỡ cho kẻ “lầm đường lạc lối” đi đúng hướng, sao chỉ thấy toàn những hình ảnh đói khát ở vùng kinh tế mới với những căn nhà mái lợp bằng lá, mùa mưa thì dột, mùa nắng thì thiêu đốt… Sự trừng phạt hăng máu của kẻ chiến thắng đến bao giờ mới ngừng tay?!”
Hình ảnh của con gái Chiêu Anh cùng với mẹ đi dạo trong một công viên ở Montreal, thanh bình và nhàn nhã, có ai biết quá khứ của họ trắc trở đầy thử thách!
Chiêu Anh chính là Shining Light của bà Mùi, cô là ngọn đèn tỏa sáng trong màn đêm tăm tối, là niềm hy vọng cho cả gia đình sống và phấn đấu, bà Nguyễn Bùi thị Mùi là một dược sĩ có tiếng tại Montreal, Quebec, giúp đỡ cho rất nhiều đồng hương trong thời gian covid.
Bà luôn dậy con gái “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, cô tìm lại được thuyền trưởng của tàu Trường Xuân năm xưa là ông Phạm Ngọc Lũy, đã đến mừng sinh nhật thượng thọ thứ 95 của ông,
Cô gái Trường Xuân năm nào, tưởng đã không thể nào sống nổi, nay thành công rực rỡ trong ngành thiết kế thời trang, cô ra trường ngành thiết kế thời trang ở NewYork, được nhiều giải thưởng danh giá.
Xin gửi lời cảm ơn trân trọng đến đạo diễn Robbie Hart, đến anh cố vấn Khoa Phạm đã tìm lại nhân chứng sống bà Nguyễn Bùi thị Mùi của tàu Trường Xuân sau 51 năm để cùng ngồi lại nơi đây, ôn lại câu chuyện lịch sử, không thể nào quên; câu chuyện của bà là một trong hàng ngàn những câu chuyện hy hữu của những người vượt biển sống sót, may mắn đến bến bờ tự do, sống, làm việc và thành công, như một tấm gương sáng cho thế hệ tương lai.
Chúng tôi ra về với dư âm của chiếc tàu Trường Xuân còn vương vấn, dáng bé nhỏ mảnh khảnh của bà Nguyễn Bùi thị Mùi, với nụ cười ấm áp, ánh mắt chứa chan niềm thân thiện, bà đã sống và cống hiến hơn nửa cuộc đời từ cái mốc 30/4 đến nay cho ngành thuốc, giúp tư vấn cho người bệnh, chích, bán và nhiều khi biếu thuốc cho những hoàn cảnh khó khăn, bà đúng với câu « lương y như từ mẫu », bà tâm sự riêng với tôi :
– “Mình thật may mắn đã được Canada giang tay đón nhận, thì mình phải sống sao cho xứng đáng, trả ơn cho đất nước đã cưu mang và góp phần xây dựng cho tương lai của thế hệ trẻ sau này.”
Tại ai mà mỗi tháng tư, tâm tư của hơn 1,5 triệu người sống xa quê hương có cùng một tâm trạng:
Tháng Tư về, gió chạm hư vô
Ký ức cũ rơi rụng không bờ
Người ở lại quen dần im lặng
Kẻ ra đi mang nặng giấc mơ
Một dòng sông chia hai bờ nhớ
Nửa quê hương trôi dạt phương nào
Hơn nửa thế kỷ rồi vẫn hỏi
Mất gì đây… mà đau đến nao lòng.
Sỏi Ngọc
Montreal 4/4/2026
*
THÁNG TÁM, THÁNG TƯ
Vốn rằng ghi rõ tự Thiên Thư
Cộng sản gian tà từ…”dịch Thu.”
“Cải Cách” lừa bần nông, đấu tố,
“Nhân Văn” phỉnh kẻ sĩ, giam tù.
Rồi đây, nổi giận, dân băm nát
Sắp tới, phân minh, Trời nghiến nhừ
Hậu quả khôn lường đang dần đến
Chúng bây sẽ trả nợ…công, tư.
Bảo Trâm
Chú thích:
“Dich Thu”: Cách mạng tháng tám” năm 1945 của lũ cướp cộng sản.
“Cải Cách”: Cải cách ruộng đất” của Công sản Bắc Việt, từ 1953 đến 1956 , giết hàng chục ngàn nông dân ở miền Bắc.
“Nhăn Văn”: Cộng sản bày ra vụ “Nhân Văn Giai Phẩm” từ 1955-1959, để giết và giam tù, bó đói hằng trăm Văn Nghệ sĩ ở Miền Bắc.
==
CHÙMTHƠ NHƯ THU
THÁNG TƯ MÃI NHỚ
Tháng tư nặng mối ưu hoài
Làng xưa biền biệt đắng cay nỗi lòng!
Phương trời xứ lạ thầm mong
Tàn canh thức trắng chờ trông mỏi mòn
*
Tháng tư giữ dạ sắt son
Đêm dài dỗ giấc trăng tròn xót xa
Vì đâu mãi nhớ thương nhà?
Người ơi gắng đợi cùng ta trở về!
*
Tháng tư nghĩa xóm tình quê
Chân thành đối đãi vẹn bề giúp nhau
Chiều qua gặp gỡ vui chào
Cười tươi hớn hở xôn xao chuyện trò
*
Tháng tư ấp ủ buồn lo
Yêu bầy trẻ dại nằm co dọc đường
Màn trời chiếu đất cảm thương
Bao người khốn khổ muôn phương vội vàng
*
Tháng tư mộng ước hoài mang
Trời Nam, biển Bắc tỏa lan đượm tình
Mây chào rạng ánh bình minh
Sau này hứa hẹn đăng trình chẳng lơi!
*
Tháng tư ngỡ tựa đang mời
Buồm giăng bến gọi chửa ngơi bao giờ
Sum vầy thỏa lắm niềm mơ
Nắng hồng giục giã đôi bờ kết giao.
Như Thu
04/18/2026
**
QUÊ HƯƠNG DẤU YÊU!
Từng nghe nước Việt sẽ dâng Tầu
Có phải quan thầy giấu nhẹm lâu?
Phương Bắc xe vào tim hụt hẫng
Miền Nam giặc đến kẻ u sầu!
Dân hờn bấy nỗi đành im tiếng
Ruột thắt bao lần lại đẫm châu
Ướm hỏi người ơi nhờ tỏ thật…
Vì sao sự thể quá cơ cầu?
Như Thu
04/21/2026
**
THÁNG TƯ ƠI!
Lại tháng tư đen sắp trở về
Bao trùm phố thị cả làng quê!
Mậu Thân súng nổ rền muôn hướng
Bính Ngọ lời than trỗi tứ bề
Non nước căm hờn luôn mải giận
Dân tình bực tức chẳng còn mê
Vùng lên tranh đấu nào suy nghĩ
Nhất dạ đồng tâm giữ vẹn thề!
Như Thu
04/21/2026
==
CHÙM THƠ VĂN THÁNG TƯ – DONRY NGUYỄN
*
CHO NHỮNG NGƯỜI NẰM XUỐNG VÀ NHỮNG NGƯỜI CÒN LẠI
Tháng tư, từ giã mùa chinh chiến. Ta về, đi giữa bóng hoàng hôn… Tay mẹ gầy còm ôm ta khóc, Cạnh đám em thơ nghẹn tủi hờn.
*
Bạn ta nhiều đứa không về nữa, Đem máu xương mình hiến núi sông. Để người sương phụ chia dòng lệ Nửa chịu tang cha, nửa khóc chồng.
*
Rượu không đủ uống ngày thua trận Ta ngước cười khan với đất trời, Trời đã không dung người thất thế, Sá gì thù vặt ngọn đòn roi.
*
Năm xưa vào lính mình ta tiễn, Nay bước lao tù cũng một thân. Mẹ đã tảo tần nuôi ta lớn, Nay còn đội gạo mà thăm con.
*
May lúc lên đường chưa cưới vợ, Nên chẳng dùng dằng vướng nợ ai. Nếu không cũng xót thời son trẻ, Vì chồng nhan sắc em tàn phai.
*
Trong tù ta có thêm bầu bạn, Sáng chiều chia nửa củ khoai lang Ngoài kia hợp tác toàn dân đói, Xã nghĩa thiên đường ráng tiến lên.
*
Trong tù ta sống lòng thanh thản Gánh rổ khoai mì đi rong chơi. Cuốc đất đau lưng mà trí nhẹ Không thành công, ta cũng thành người.
• Nửa đêm tiếng hát từ song sắt, Cao vút ngân lên đụng đỉnh trời. Nhìn gã cai tù đang cúi mặt Ta biết cuối cùng … ai thắng ai!
-Trại tù A30-1977. Donry Nguyễn
**
TRẢ LỜI CÂU HỎI CỦA EM.
“Ta làm chiến binh Sống không bằng chết, Được mất gì mà vỗ ngực xưng tên!”*
• Người hỏi tôi là lính hay quan, Hỏi chi thân thế lúc suy tàn. Mang danh phận lính không tròn phận, Há dám xưng hùng nhận chức quan.
*
Giữ nước sa cơ đành bỏ nước Coi nhà thất thế phải tòng vong. Cho dẫu chỉ là anh lính nhỏ, Lẽ nào trách nhiệm chẳng lo chung.
*
Ngày nay trên bước đường lưu lạc, Món nợ tang bồng lụy áo cơm. Tha phương chén rượu sầu ngơ ngác, Ai chẳng mộng ngày … quy cố hương.
*
Em đừng trách móc sao lần lữa, Chưa về thăm lại mẹ già nua. Lòng riêng ngui ngút niềm thương nhớ Nhỏ lệ âm thầm giữa gác khuya.
*
Ra đi từ bữa hờn sông núi, Lời thề ghi khắc trái tim côi. Mai sẽ trùng tu ngày hội lớn Dựng mái nhà xưa phụng dưỡng người.
*
Nửa thế kỷ qua ngùi đau xót, Bạc màu áo cũ vẫn chờ mong. Lỡ mai tôi chết không về kịp … Chắc gởi tro tàn xuống biển đông.
*
Món nợ ân tình chưa báo đáp Đối mặt quê hương nghĩ thẹn lòng.
-Donry Nguyễn-
* (Trích bài hành Tự Chuốc Rượu của người lính Lôi Hổ Hoàng Hoa Thương)
*
NHỮNG NGƯỜI LÍNH BỊ BỎ LẠI PHÍA SAU.
–Tưởng nhớ Tr/u Liễu Tông Trung cùng đồng đội đã nằm lại rừng núi Kon Tum, tháng ba 1975.
• Bạn tôi là HSQ Tiếp liệu ĐĐ1/TĐ95/LĐ22/BĐQ. hậu cứ đóng tại trại B12, đối diện trại B15 của lực lượng Lôi Hổ, nằm ở phía nam cầu Dakbla thị xã Kon-Tum.
Sau đây là những gì anh ấy kể lại:
Ngày 14/3/1975 anh theo xe tiếp tế lương thực cho đại đội đang đóng ở Đồi Ba Chấm, vị trí này là nơi đơn vị anh lui lại sau khi tản hàng phải rời bỏ căn cứ Kon Sơn Lũ cách đó vài cây số vào năm ngoái.
Lần này anh mang theo cả ba lô súng đạn để tham dự hành quân mặc dù nhiệm vụ của hạ sĩ quan tiếp liệu là ở hậu cứ lo việc quân lương. Lý do: lè phè, ham chơi, đến giờ tiếp tế, tiểu đoàn phải cho người ra phố gọi về.
Sau khi nhận lương thực xong, đại đội được lệnh tiến sâu vào rừng, anh cũng mang súng lầm lũi bước theo. Đi được vài chục thước thì bỗng nhiên vị trung úy Trung đội trưởng ngoắc tay bảo anh:
-Thôi về đi, cảnh cáo lần này, nhớ không tái phạm nghe chưa.
Mừng rỡ bạn tôi chỉ kịp đưa tay chào ông rổi vội vã chạy ngược lại để đuổi kịp chiếc GMC đang lăn bánh. Về tới trại B12 buổi chiều thì tối đó, toàn bộ hậu cứ được lệnh tiêu hủy vũ khí nặng và tất cả giấy tờ tài liệu để gọn gàng lên xe di tản. Nghe lệnh anh bàng hoàng xúc động, nghĩ đến những bạn bè chiến hữu giờ này đang tiến sâu vào rừng, không hay biết gì cả khiến anh chết lặng trong lòng. Hồi trưa nếu đại đội trưởng không cho về thì giờ này anh cũng chung số phận với mọi người rồi.
Suốt đường lui binh, không khi nào anh không nghĩ đến những người bạn cùng đơn vị giờ đây đơn độc giữa rừng sâu trong vòng vây của địch. Nỗi buồn và niềm chua xót nghẹn ứ trong trái tim người lính bất lực trước sự phũ phàng tàn nhẫn của chiến tranh.
Đoàn xe di tản của anh đi đầu, giữ được yếu tố bất ngờ nên không bị tấn công như khúc sau, đến bến đò Thạnh Hội xe lội qua sông Ba nhờ dòng nước lúc này chưa dâng cao. Nhưng khi cách Tuy Hòa khoảng 10 cây số, một quả đạn pháo kích nổ sát sườn xe làm người lính tên Tân là phụ tá tiếp liệu cho anh đứt ngang cổ họng, chết liền tại chỗ. Anh chỉ kịp ngoái lại nhìn xác nó loang máu nằm gục bên vệ đường nói lời vĩnh biệt rồi tiếp tục lao đi. Anh về tới nhà an toàn, ở lại Tuy Hòa mấy hôm chờ đợi tin tức đơn vị nhưng không gặp lại ai, cũng không biết đích xác đại đội của anh thế nào. Sau đó cùng gia đình theo đoàn xe xuôi Nam, đến Nha Trang, nghe ngóng tình hình, thấy tin tức chiến sự hoàn toàn bất lợi, cha mẹ anh quyết định trở về và cho phép anh theo đơn vị. Không thể bỏ cha già mẹ yếu với đám em thơ giữa cuộc ly loạn, anh ở lại Nha Trang cùng gia đình chờ yên ổn trở lại Tuy Hòa.
Lúc ra trình diện ủy ban quân quản thành phố, tình cờ gặp lại một đồng đội cũ. Vui mừng hai người kéo nhau ra một góc vắng thăm hỏi. Người bạn cho biết vắn tắt: đại đội đã chiến đấu cho tới viên đạn và bịch gạo sấy cuối cùng. Không nhận được tiếp tế, cũng không thể liên lạc về bộ chỉ huy nên tự giải tán, mạnh ai nấy tìm đường thoát hiểm, thành ra không ai biết ai thế nào. Nghe xong bạn tôi thở dài nuốt nước mắt vào lòng. Tiếc thương đồng đội cũ trong đó có Tr/u Liễu Tông Trung, đại đội trưởng của anh, là một sĩ quan can trường, tốt nghiệp Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, ông đã cống hiến tuổi trẻ và tâm huyết của mình cho đất nước, cuối cùng đã bị bỏ rơi giữa núi rừng Kon-Tum khi gần tàn cuộc chiến.
Từ đó đến nay tôi vẫn thường hỏi thăm nhiều nơi, gặp nhiều chiến binh Biệt Động để ngóng tin tức giùm bạn tôi mà không ai biết. Duy chỉ một lần tình cờ gặp Đ/u Nguyễn Văn Hồng, người cùng khóa Sĩ Quan Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt với Tr/u Liễu Tông Trung, anh cũng thừa nhận là sau tháng tư 75, được anh em cùng khóa báo cho biết là Liễu Tông Trung mất tích…
Hôm nay nhân mùa Quốc biến, thay mặt bạn mình tôi viết bài thơ tưởng nhớ đến ông và tất cả các chiến sĩ BĐQ đã nằm xuống trên khắp đất nước để bảo vệ Miền Nam Tự Do.
BÀI CA ĐỒI BA CHẤM
Lệnh di tản ban hành trong đêm lạnh, Ta bàng hoàng khi nhận được hung tin. Đại đội ta đóng quân đồi Ba Chấm Mới ban trưa này còn được lệnh hành quân.
Giờ bỗng chốc chẳng khác gì ác mộng, Họ trở thành chốt chặn ngựa qua sông. Ta vơ vội áo quần, ôm cây súng, Giờ ra đi nghe muối xát vào lòng.
Người ở lại âm thầm ngăn bước giặc, Người lên đường lặng lẽ rút nhau đi. Thương đồng đội ta cũng đành bất lực, Bí mật quân cơ đâu thể nói năng gì.
Trời cao nguyên đêm nay buồn ảm đạm, Cơn gió nào thổi vọng đến đồi cao. Nơi bạn ta vẫn tay ghìm họng súng, Giữa rừng khuya cố thủ dưới thông hào.
Thẩm quyền ta, người sĩ quan Võ Bị, Cái ngoắc tay cho ta sống trở về. Nhưng chính ông lại lọt vào tuyệt lộ, Thế trận tàn Hùm dữ cũng sa cơ.
Đường lui binh nhiều lần ta bật khóc, Ôi đâu rồi khí phách một đoàn quân. Đánh trăm trận khiến quân thù tan tác, Giữ non sông từng tấc đất tấc vàng.
Nay chạy trốn để mong cầu sự sống, Lòng ta đau tan nát tựa dao đâm. Giặc pháo theo bạn ta vừa ngã xuống, Máu loang hồng theo vết bánh xe lăn.
Về duyên hải chờ lâu tin không thấy, Lại lên đường tiếp tục tiến về Nam. Gặp đồng đội sụt sùi nghe kể lại: Lính bọn mình đã chiến đấu hiên ngang.
Giây phút cuối không còn quân tiếp viện, Đạn vơi dần, gạo sấy chỉ cầm hơi. Tiếng súng giặc bao trùm lên trận tuyến, Sóng truyền tin không nghe tiếng trả lời.
Tự tan hàng khi thế cùng lực kiệt, Xé đường rừng tìm lối thoát mưu sinh. Người thương tích chờ quân thù bắn giết, Người ngậm ngùi mang thân phận tù binh.
Ta từ giã chiến tranh từ thuở ấy, Mà vết thương còn nhức nhối trong tim. Nửa thế kỷ, ta thấy mình còn nợ, Những anh em ở lại phút sau cùng.
Ai ra lệnh phũ phàng đem con bỏ? Ai chọn đường hoang phế để lui quân? Nửa thế kỷ nỗi buồn đau còn đó, Người vọng phu hóa đá đứng trông chồng…
Ta may mắn xác thân còn nguyên vẹn, Nhưng tâm hồn vĩnh viễn gởi rừng sâu, Nơi bạn ta đã âm thầm ngã xuống, Máu xương đem phân bón cỏ xanh màu.
-Donry Nguyễn- California April 15,2026.
==
GÁNH QUÊ, Trần Chương Lương viết nhạc theo thơ Ý NGA, do ca sĩ Hồng Nhiên trình bày:
==
THƠ NHẠC 30 THÁNG TƯ – CHƯƠNG HÀ & SUNO AI
==
Tháng Tư Dòng Nước Lũ Của Ký Ức – LÊ TUẤN
Tháng Tư trở về không còn là tên của một tháng, mà là một vết cắt hằn sâu trong thân phận. Tháng Tư của một thời đã xa, vừa ập tới như cơn hồng thủy hỗn mang, cuốn phăng mọi trật tự vốn dĩ của đời người.
Không một lời báo trước, không kịp chuẩn bị, chỉ còn hoảng loạn và chia lìa.
Gia đình tan tác. Bè bạn lạc nhau. Quê hương bỏ lại. Tất cả như một đàn chim đang yên ổn giữa trời bỗng bị giông bão xé tung, mỗi con bay về một hướng, không biết có còn ngày gặp lại. Trong cơn cuồng phong ấy, mỗi con người chỉ còn là một hạt bụi nhỏ nhoi, như chiếc lá cuốn theo dòng nước, bị đẩy trôi mà không thể cưỡng lại.
Mọi thứ diễn ra quá nhanh. Những quyết định không còn là lựa chọn, mà chỉ là phản xạ sinh tồn. Giữa trăm mối hỗn độn, người ta chỉ còn biết chạy, chạy trốn khỏi đổ vỡ, chạy về phía một miền đất tự do, dù biết rắng nó rất mơ hồ. Có những điều, khi xảy ra, ta tưởng là bất khả kháng. Nhưng thời gian không xóa đi, nó chỉ làm rõ hơn những khoảng trống trong lòng.
Khi mọi thứ lắng xuống, khi đời sống dần tìm lại nhịp thở, thì ký ức lại dâng lên như một cơn sóng khác, âm thầm mà dữ dội.
Tôi đã không kịp đến. Không một nén hương. Không một lời giã biệt.
Nỗi oan ấy ở lại, không ồn ào, nhưng dai dẳng. Không trách móc, mà lặng lẽ khắc sâu, khiến lòng người không thể nguôi quên. Tháng Tư, vì thế, không chỉ là tháng của biến động. Nó là tháng của những điều chưa kịp làm. Của những lời chưa kịp nói. Và của những cuộc chia ly không có lần sau để sửa lại.
Le Tuan
==
TẠ LỖI
Hãy tha thứ cho anh Giữa chuyển dời nghiêng ngả Bước chân đi vội vã Lạc mất lối quay về.
*
Hãy tha thứ cho anh Một lần buông rơi tất cả Không một lời tiễn biệt Cuối Tháng Tư não nề.
*
Hãy tha thứ cho anh Ngôi mộ buồn lặng lẽ Không khói hương sớm chiều Không một nén phân ưu.
*
Hãy tha thứ cho anh Những tháng năm xa xứ Mỗi lần nhớ đến em Là một lần ray rứt.
*
Hãy tha thứ cho anh Nếu tình còn mắc nợ Xin gửi về quê hương Một giọt buồn quốc hận.
Tế Luân
THƠ NHẠC KHÚC CẦU HỒN – TẾ LUÂN
==
Tháng Tư
Khúc Tưởng Niệm Sài Gòn 30.4.1975 – TẾ LUÂN
Tháng Tư trở về, không ồn ào, không gọi tên, mà lặng lẽ len vào ký ức như một làn sương mỏng. Có những khoảnh khắc của đời người, tưởng đã trôi qua, nhưng thực ra chỉ đang ẩn mình đâu đó, chờ một ngày thức dậy trong nỗi nhớ. Ngày 30 tháng 4 năm 1975, ngày Sài Gòn đổi thay, là một khoảnh khắc như thế: vừa hữu hạn trong thời gian, vừa vô hạn trong lòng người.
Trong cõi vô thường, thời gian như cất lên một tiếng gọi đau thương từ tháng Tư. Tiếng gọi ấy không chỉ vang lên từ ký ức con người, mà còn dội về từ đại ngàn xanh thẫm, từ bầu trời tím ngắt cuối ngày, từ những con đường Sài Gòn xưa cũ. Những chiếc lá trong thành phố dường như cũng cảm nhận được điều gì đó, húng vàng đi sớm hơn thường lệ, chen lẫn vào những chiếc lá đỏ, tạo thành một bức tranh chao nghiêng, ảm đạm của những ngày cuối tháng Tư.
Đất trời như chuyển mình trong một khúc giao hưởng kỳ lạ. Biển xanh không còn hiền hòa, mà dâng lên những cơn sóng giông bão, gào thét vào bờ cát phơi lưng, như muốn kể lại những biến động của một thời khắc lịch sử, của câu truyện thương tâm từ những thuyền nhân. Đó không chỉ là âm thanh của chiến tranh, mà còn là tiếng lòng của một dân tộc, của Mẹ Việt Nam, vừa đau thương, vừa kiên cường, vừa chịu đựng, vừa bao dung.
Và giữa những biến động ấy, vẫn còn đó hương thơm của ruộng đồng, mùi lúa mới lan tỏa như một lời nhắc nhở rằng sự sống vẫn tiếp diễn. Từ bùn đất, từ mồ hôi, từ nước mắt, con người vẫn đứng dậy, vẫn gieo trồng, vẫn hy vọng. Một bài ca dao âm thầm cất lên, không phải để ca ngợi chiến thắng hay thất bại, mà để chiêm nghiệm về một cuộc đổi dời kỳ lạ của vận mệnh.
Năm mươi mốt năm đã trôi qua. Tháng Tư hôm nay không còn khói lửa, nhưng dư âm của nó vẫn còn đó, âm ỉ, sâu lắng, như một dòng chảy ngầm trong tâm thức mỗi người Việt. Nỗi đau không biến mất, mà chỉ lặng lẽ chuyển hóa, trú ngụ trong ký ức, trong những câu chuyện chưa kể hết, trong những giọt nước mắt không rơi thành lời.
Tháng Tư không chỉ là một mốc thời gian. Đó là một miền ký ức. Một vết hằn của lịch sử. Một lời nhắc nhở về sự mong manh của phận người và sự khắc nghiệt của thời cuộc. Nhưng trên tất cả, đó cũng là lời mời gọi con người biết nhìn lại, biết lắng nghe, và biết cảm thông,
để từ đó, học cách sống sâu hơn, bao dung hơn, và gìn giữ hòa bình như một điều quý giá nhất. Tháng Tư vẫn còn đó. Không mất đi. Không phai nhạt. Chỉ là… đã đi vào lòng người.
Tháng Tư Bài Thơ Còn Lại
Tháng Tư về không gọi tên nỗi nhớ Chỉ gió buồn lặng lẽ bước qua tim Sài Gòn đó, một thời như giấc mộng Vỡ âm thầm như lá rụng im lìm.
Có phải trời hôm ấy nhuộm màu tím Màu ly biệt, hoàng hôn về rất lạ Những con phố bỗng dưng thành xa lạ Người đi rồi… không hẹn một ngày về.
Màu cờ đỏ, mưa rơi như dòng máu Lũ giặc tràn vào, tiếng thét thất thanh Thành phố đêm bỗng rùng mình chết lặng Vạn nỗi đau không cất nổi thành lời.
Biển vẫn xanh mà giông bão không nguôi Sóng gào thét như linh hồn đất nước Khúc giao hưởng của một thời xuôi ngược Viết bằng đời, bằng nước mắt Mẹ thôi.
Từ đại ngàn xanh thẳm đến ruộng đồng Hương lúa mới vẫn âm thầm lan tỏa Giữa đổ nát vẫn nhen lên mầm sống Một câu ca dao, âm hưởng Mẹ hiền.
Năm mươi mốt năm… tháng Tư còn đó Không mất đi, chỉ chìm vào ký ức Để đôi lúc trong đêm dài thao thức Nỗi đau xưa trở lại rất con người.
Tháng Tư ơi, khơi lại những cội nguồn Hãy ở lại như một lời nhắc nhở Rằng lịch sử không bao giờ khép cửa Và lòng người còn mãi những chia ly.
Tế Luân
==
THƠ THÁNG TƯ XƯỚNG HỌA – CAO MỴ NHÂN VÀ THI HỮU
THÁNG TƯ TƠI TẢ. CAO MỴ NHÂN (Bài Xướng) – Kính mời quý thi nhân chấp bút họa bài thơ thú vị này của Nữ Sĩ Cao Mỵ Nhân
(Thất ngôn bát cú – Chữ T – Điệp tự áp cú)
TÔI thấy tháng Tư thật tả tơi
Tả tơi tan tác toé tung tời
Tung tời tự thủa tang thương thế
Thương thế tới tình tưởng tiếc thời
Thời tiếc tóc tơ tàn tuổi trẻ
Trẻ tung tâm tính trổ tra trời
Tra* trời tích tụ tàng thiên tuế
Thiên tuế tạ từ thê thiếp thôi …
CAO MỴ NHÂN
Hawthorne. 18 – 4 – 2026
*Tra là Già
=
CÁC BÀI HỌA
THÁNG TƯ CẢM THÁN – PHƯƠNG HOA
(Họa 4 vần – áp cú)
Quốc phá gia tàn đã xé tơi
Tơi tơ đứt sợi nghẹn không lời
Lời câm ẩn nhẫn nương phù thế
Thế buộc đành cam chịu thúc thời
Thời vận nhà Nam người cuối bể
Bể dâu đất Việt kẻ chân trời
Trời Tây kết nối chung lòng đợi
Đợi lúc khải hoàn trở lại thôi…
Phương Hoa – Tháng Tư, 2026
**
THÁNG TƯ HẬN, THÁNG TƯ ĐAU – YÊN SƠN (Viết cho mình, viết giùm cho người)
Tháng Tư lại về. Không cần ai nhắc, không cần một dấu hiệu rõ ràng nào, chỉ cần những dư âm Tết nơi xứ người bắt đầu phai nhạt, hay một buổi chiều xuân nhạt nắng rơi xuống sân vườn cô tịch là lòng tôi đã chùng xuống. Nhớ về… Có những tháng trôi qua như một con số. Có những tháng đi qua như một thói quen. Nhưng cũng có những tháng không bao giờ rời khỏi đời người. Đó là Tháng Tư. Tháng Tư, đối với tôi, không phải là ngày tháng bình thường của thời gian. Nó là một dấu mốc thời gian in hằn trong tâm khảm, là một nỗi đau, một vết cứa sâu trong tâm hồn, một nơi mà ký ức dừng lại, xoáy xuống, rồi lan ra, phủ kín cả tâm can. Có những nỗi đau không có âm thanh, không có tiếng khóc. Không thường có những lời than vãn. Nó nằm im, rất sâu, rất lâu, như một mảnh kim loại nhỏ găm trong da thịt. Mảnh kim loại không đủ nguy hại có thể chết người, nhưng đủ để nhói lên mỗi khi cử động. Và Tháng Tư chính là lúc mảnh kim loại ấy trở mình. Đêm hai mươi chín tháng Tư năm ấy, tôi vẫn còn là một người lính. Không phải hình ảnh một người lính trong sách vở, với chiến tuyến rõ ràng và mệnh lệnh rành rọt, mà là một con người đứng giữa một thực tại đang rạn vỡ. Ở phía tây Sài Gòn, quanh vòng đai phi trường Tân Sơn Nhứt… chúng tôi còn chiến đấu. Chiến đấu không phải vì hy vọng chiến thắng, mà vì không thể buông. Không thể đầu hàng. Có những thứ, một khi đã thấm vào máu như danh dự, trách nhiệm, lời thề… thì không dễ gì đặt xuống, không thể buông bỏ, ngay cả khi biết rằng tất cả đang trượt khỏi tầm tay. Chiến tranh trong những giờ phút cuối không còn là chiến tranh theo nghĩa quen thuộc. Nó không còn là một ván cờ. Nó trở thành một cơn sóng lớn. Và chúng tôi là những con người đứng trước làn sóng hung bạo ấy, cố giữ thăng bằng trên những mảnh vỡ còn sót lại. Tiếng súng vẫn nổ. Nhưng không còn nhịp điệu của chiến thuật. Nó dồn dập như nhịp tim của một cơ thể kiệt sức. Mỗi phát súng không còn nhắm đến chiến thắng, mà như một cách níu giữ một hy vọng mong manh dù biết hy vọng ấy gần như không còn. Nhưng cũng không thể bắn bừa. Đạn dược đã cạn. Mỗi viên đạn được đếm như giọt máu cuối cùng. Trong khi đó, đối phương được che chở bởi những tầng phòng không dày đặc. Chúng tôi chiến đấu trong thiếu thốn, trong bị động, trong một thế trận mà phần thua đã hiện rõ. Người Mỹ đã quay lưng. Người Mỹ đã bỏ rơi chúng tôi, bỏ rơi cái tiền đồn mà họ đã từng dùng chúng tôi để ngăn cản sự thống trị của triết thuyết Cộng Sản. Nhưng chúng tôi vẫn phải chiến đấu để bảo vệ nền tự do dân chủ cho người dân chúng tôi, cho đất nước chúng tôi. Anh em vẫn thay nhau bay. Bay trong những điều kiện khắc nghiệt, bay như những võ sĩ bị trói tay chân, ném lên võ đài trước một địch thủ hung tàn. Người này hết giờ, người khác lên. Không ai nói nhưng ai cũng hiểu… chúng tôi đang ở trong một hoàn cảnh vô vọng. Còn nỗi bi thương nào hơn thế không? Tôi còn nhớ những ánh mắt đêm ấy. Không ai nói với ai một lời gì ngoài những thao tác quen thuộc, ngôn ngữ chiến trận quen thuộc. Những ánh mắt gặp nhau giữa ánh chớp và bóng tối chỉ để xác nhận một điều, chúng tôi vẫn còn có nhau như đã từng mỗi khi xông vào lửa đạn, đánh cược với tử sinh. Và cũng không ai nói với ai đó là đêm cuối. Nhưng ai cũng cảm thấy sự bất lực qua từng viên đạn bắn ra. Nhưng ai cũng biết một điều gì đó đang đến hồi kết thúc. Không phải chỉ là một trận đánh mà là cả một thời đại. Viết đến đây, mắt tôi lại nhòe đi. Tôi đứng dậy, bước ra sau vườn, châm một điếu thuốc. Gió thổi qua hàng chuông gió, những tiếng leng keng như tiếng gọi từ một cõi nào xa lắm. Tôi hít sâu. Thở mạnh. Rồi quay vào, tiếp tục viết. Chuyến bay khuya hôm đó… sau khi bàn giao vùng trách nhiệm, tôi trở về cư xá. Hai đứa học trò nhỏ tôi mang về từ trưa hôm trước vẫn còn thức. Hai đứa, như tôi vẫn nói đùa, “trói gà không chặt”. Chúng tôi vừa nằm xuống thì nghe pháo kích dữ dội vào phi trường. Rồi một tiếng rít xé tai – hoả tiễn 122 ly. Nhưng… không nghe tiếng nổ. Cho đến sáng hôm sau, mọi người trong cư xá mới biết là đã thoát chết giữa đêm qua khi nhìn thấy phần đuôi của chiếc hoả tiễn đang cắm sâu vào lòng đất bên cạnh cư xá độc thân. Buổi sáng hôm ấy đã không phải là một buổi sáng bình thường, khi thấy chiếc Tinh Long 7 của phi đoàn tôi bị bắn rơi ngoài vòng đai phi trường, trước nhưng đôi mắt hoảng loạn của anh em. Đó là giọt nước làm tràn ly, không ai nói với ai lời nào, mỗi người chạy đi một ngả. Tôi cùng hai chú em đèo nhau lên chiếc Lambretite, chạy khắp các bãi đậu tìm phi cơ thoát thân. Nhưng những chiếc còn bay được đã bay đi đâu hết. Đang đứng ngơ ngác thì được một niên trưởng kéo tôi chạy theo đến một chiếc C-130 không còn nguyên vẹn, để làm phận sự phi công phụ. Chiếc phi cơ cất cánh từ cuối đường băng. Không đủ tốc độ. Không đủ điều kiện. Nhưng vẫn phải bốc mình lên nhờ vào bốn động cơ bán phản lực. Chiếc máy bay gượng lên, nhắm hướng Vũng Tàu rồi… trực chỉ Utapao, Thái Lan mang theo 115 con người không biết họ đã lên bằng cách nào. Chiều hôm đó, 29 tháng 4 năm 1975, tôi và một số anh em trong phi hành đoàn đã sững sờ rơi nước mắt khi thấy một đội ngũ quân nhân người Mỹ bắc thang lên thân máy bay sơn bỏ huy hiệu Không Quân VNCH, sau khi mọi người bị tước khí giới trước khi bước ra khỏi thân phi cơ. là tôi đã buộc phải rời khỏi đất nước trong bàng hoàng, trong vô thức, không kịp biết được tin cha mẹ anh chị em đã bị thất lạc phương nào mấy tháng qua trong chiến tranh. Không kịp báo tin với người vợ sắp cưới chỉ ở cách phi trường khoảng 6 cây số! Và cứ thế, bị đưa đẩy dọc theo hành trình trở lại đất nước nầy với thân phận vô gia đình, vô tổ quốc. Mãi đến vài năm sau mới liên lạc lại được! Cho đến bây giờ, sau hơn nửa thế kỷ, cái “không kịp” ấy vẫn còn nguyên vẹn trong tôi, như một khoảng trống không bao giờ có thể lấp đầy. Không kịp nhìn cha mẹ lần cuối. Không kịp nói một lời từ biệt với bất cứ người thân yêu nào. Không kịp khép lại một cánh cửa đời quân ngũ theo cách mà một con người lính bình thường đáng được có. Có những cuộc chia ly không có lời từ biệt, và chính vì thế, chúng không bao giờ kết thúc. Tôi ra đi trong một trạng thái không hoàn toàn tỉnh táo. Không phải chỉ hoảng loạn mà là tê điếng. Mọi thứ diễn ra quá sức nhanh, quá sức bất ngờ, con người tôi không còn cảm xúc rõ ràng. Chỉ còn hành động. Chỉ còn bản năng. Tôi ra đi, như một người bị đẩy ra khỏi chính cuộc đời mình trong khi trong lòng vẫn còn một niềm tin rất mong manh rằng đây chỉ là tạm thời. Rằng rồi sẽ có ngày trở lại. Rằng quê hương không thể biến mất chỉ qua một đêm. Rằng những gì đã xây dựng, đã sống, đã yêu, không thể bị xóa đi dễ dàng như vậy. Có nhiều lần tôi nghĩ, sự ra đi bất chợt của tôi sẽ không nhiều hối tiếc, nhiều đớn đau nếu dân tộc tôi được tự do hạnh phúc hơn, đất nước tôi trở nên thanh bình, vươn lên oai nghi, dũng mãnh như con rồng, con hổ. Nhưng rất tiếc! Rất tiếc! Thời gian, bằng sự im lặng kéo dài của nó, đã dần dần dạy tôi hiểu. Không có ngày trở lại như tôi từng mong đợi. Không phải vì không muốn, mà vì con đường đã khép lại từ lúc Việt cộng xâm chiếm miền Nam; chúng đã và đang gây ra bao nhiêu đau thương cho nòi giống, cho mảnh giang sơn gấm vóc của ông bà, tiên tổ. Mất quê hương không phải là một biến cố xảy ra trong một ngày. Nó là một quá trình. Ban đầu là sự bàng hoàng. Sau đó là niềm hy vọng. Rồi niềm hy vọng mỏng dần đi theo ngày tháng. Và cuối cùng là một sự chấp nhận trong im lặng. Không phải chấp nhận vì đồng ý mà vì dường như không còn cách nào khác. Những năm đầu nơi quê hương thứ hai nầy, mọi thứ đều xa lạ. Ngôn ngữ, phong tục, con người, đời sống. Tôi đã học tái sinh trước khi học cách tồn tại. Học cách hiểu người khác, trước khi có thể nói cho người khác hiểu mình. Học cách đứng vững trên chính đôi chân mình khi trong thâm tâm vẫn không ngớt đợi chờ một phép lạ, một ánh sáng nhỏ nhoi ở cuối đường hầm. Người ta có thể quen với nhiều thứ. Quen với thời tiết khác, quen với nhiều món ăn lạ, quen với nhịp sống của một dân tộc khác. Nhưng có một thứ không thể làm quen đó là tình tự quê hương đã mất. Quê hương không chỉ là nơi mình sinh ra. Nó là nơi mà mọi thứ đều có ý nghĩa mà không cần rao giảng. Một con đường, một góc phố, một tiếng rao, một mùi hương… tất cả đều mang theo một phần đời. Khi mất đi, không chỉ là mất một nơi chốn, mà là mất cả một hệ ký ức, một cấu trúc của đời sống con người. Có những buổi sáng, tôi tỉnh dậy và trong một khoảnh khắc rất ngắn, tôi quên mất mình đang ở đâu. Trong khoảnh khắc đó, tôi vẫn là con người của ngày xưa, sống trong một thành phố quen thuộc, những đường bay dọc ngang trên bầu trời miền Nam nước Việt mà tôi đã thuộc lòng. Nhưng rồi thực tại trở về, không ồn ào, nhưng dứt khoát, như một bàn tay ai đó đặt nhẹ nhàng lên vai, nhắc tôi rằng tất cả đã trở thành dĩ vãng. Có nhiều lúc tôi thảng thốt nghĩ rằng: Sợ một mai thân nằm yên lòng đất Hồn lẻ loi tìm không thấy quê nhà Năm mươi mốt năm trôi qua. Một đời người có thể chứa đựng bao nhiêu ký ức? Có thể chịu đựng bao nhiêu mất mát? Có thể giữ lại được bao nhiêu điều mà không đánh mất chính mình? Tôi đã sống. Đã làm việc. Đã xây dựng lại cuộc đời. Đã có những niềm vui, những thành tựu, những mối quan hệ xã hội rất tốt. Nhưng tất cả những điều đó, dù có thật, dù có ý nghĩa, vẫn không thể thay thế được những gì đã mất. Tôi nhớ những ngày tháng trước năm 1975. Không phải vì chúng hoàn hảo, mà vì chúng là một phần đời quan trọng của tôi. Những sáng nắng chiều mưa, những ngày lộng gió, những đường bay quen thuộc, những khung trời bao la, những sinh tử cận kề, những cuộc gặp gỡ, những câu chuyện, những ước mơ chưa kịp thành hình. Một đời sống bình thường như thế nhưng khi mất đi, tôi mới hiểu giá trị của nó sẽ không bao giờ có thể thay thế được. Ký ức, theo thời gian, không phai nhạt đi như người ta tưởng. Nó được chắt lọc. Những gì không quan trọng sẽ rơi rụng tự nhiên. Những gì còn lại sẽ trở nên rõ nét hơn, tinh khiết hơn, và vì thế, cũng đau xót hơn. Và tôi mang trong mình một nỗi hận. Nhưng không phải là một nỗi hận đơn giản. Nó không hướng về những con người bình thường. Tôi không hận người dân Mỹ mà tôi đã gặp, đã sống cùng, đã nhận được sự giúp đỡ của họ để xây dựng lại cuộc đời. Tôi hiểu rằng con người, ở đâu cũng có những điểm tương đồng giữa thiện và ác, hiểu biết và giới hạn. Nhưng tôi không thể không nghĩ đến những quyết định sai lầm của hệ thống cầm quyền chính phủ Mỹ và đồng minh, những phong trào phản chiến ngu xuẩn, những cơ quan truyền thông dối trá, lừa gạt dư luận. Những điều nầy đã góp phần làm thay đổi số phận của những quốc gia nhỏ bé, chậm tiến như Miền Nam Việt Nam của tôi. Một cuộc chiến không chỉ được quyết định bởi những gì xảy ra trên chiến trường mà nó được quyết định bởi những gì xảy ra trong lòng xã hội, qua truyền thông, trên trường chính trị. Khi một bên không còn được thế giới ủng hộ, không còn được bạn bè tin tưởng thì dù còn đầy đủ vũ khí cũng không thể giữ được, huống chi… chúng tôi đã phải chiến đấu với cả một thế lực cộng sản quốc tế hùng mạnh khi vũ khí đã bị chính những người bạn đồng minh tước bỏ đi. Nỗi hận của tôi không phải để nuôi dưỡng oán thù mà là để nhắc nhớ cho chính mình, nhắc nhở con cháu đời sau những gì đã xảy ra cho quê hương, dân tộc tôi không bị đi vào quên lãng. Sau tất cả, điều còn lại trong tôi không chỉ là nỗi đau. Mà là một ước vọng. Ước mong một ngày nào đó, được trở về trong tự do, trong danh dự. Không phải để bắt đầu lại, mà chỉ để nhìn lại. Để bước trên những con đường cũ dù chúng đã bị thay tên đổi họ một thời. Để nghe lại những âm thanh, những tiếng nói quen thuộc ở khắp mọi nơi. Để thấy lại một quê hương bừng sáng, một xã hội văn minh trong tình người. Được thật sự hãnh diện với 4 chữ Con Rồng Cháu Tiên. Ở tuổi này, tôi không còn sợ nhiều điều. Không còn sợ mất mát vì đã mất mát quá nhiều. Không còn sợ thay đổi vì đã sống qua những thay đổi to lớn mà chỉ sợ rằng mình sẽ không còn đủ thời gian. Không đủ thời gian để thấy ngày ấy. Không đủ thời gian để chứng kiến một kết thúc tốt đẹp như thế cho quê hương dân tộc mình; để biết rằng những nghiệt ngã mình đã trải qua trong đời không trở nên vô nghĩa. Sự chờ đợi nào cũng không mấy dễ dàng. Khi còn trẻ thì có dễ dàng hơn, nhưng khi thời gian không còn nhiều, mỗi ngày trôi qua đều mang theo một cảm giác bồn chồn, lo sợ. Không phải vì muốn đạt được điều gì, mà vì sợ không còn cơ hội ấy. Tháng Tư lại đến. Vẫn là những cơn mưa nhẹ buổi sáng, những đám mây trắng bềnh bồng ở buổi chiều dài, những khoảng lặng khó gọi tên… Những ghi nhận nầy không phải để làm thơ, khp6ng phải là thời tiết mà là một phần của đời sống nội tâm, một vùng ký ức mà mỗi năm, vào đúng thời điểm này, lại mở ra trong tôi. Tháng Tư hận. Tháng Tư đau. Mỗi năm vẫn cứ theo nhau trở về Nhưng nếu chỉ có hận và đau, con người đã không thể đi qua hơn nửa thế kỷ. Vì ở đâu đó, rất sâu, rất nhỏ, vẫn còn một thứ khác. Một thứ không sôi nổi lắm, không mạnh mẽ nhiều nhưng bền bỉ. Đó là niềm hy vọng. Hy vọng rằng một ngày nào đó, dù mình còn hay không, trên mảnh đất hình cong chữ S ấy, người dân sẽ được sống an bình, hạnh phúc mà không phải cúi đầu, lo sợ. Sẽ có những tiếng nói không bị bóp nghẹt. Sẽ có những giấc mơ không bị dập tắt. Và khi ngày đó đến, có thể, ở một nơi nào đó rất xa, những người đã ngậm ngùi nằm xuống sẽ mỉm cười. Dù muộn màng nhưng cũng có thể sẽ che giấu được những niềm đau, nỗi hận trong lòng của những người võ sĩ bị ném lên đấu trường sanh tử với tay chân bị trói chặt.
“Tháng Tư lại về, lòng người tị nạn lại xót xa nhớ về quê hương sau 51 năm xa xứ.”NGUYỄN ĐÌNH HÒA
Xin mời qúy vị thưởng thức vài nhạc phẩm của tôi đã viết.
Quê Hương Trong Ta.
Bóng Xưa Chiều Ấy.
Vụng Dại Những Chiều
Ns. Nguyễn Đình Hòa.
==
THƠ MỸ HOÀN
THÁNG TƯ NHỚ EM – MỸ HOÀN
Em đã về đây mỗi tháng Tư
Về quê ngồi lại giữa sương mơ
Có nghe sương rớt bờ vai cũ
Bơ vơ mộng mị chốn xa mờ
*
Để tháng Tư như dòng nước chảy
Bôn ba năm tháng nước về đâu
Ta gục xuống đôi bàn tay lạnh
Lòng nghe rơi rớt ánh tinh cầu
*
Ta nghe mãi bên bờ sông vỗ
Những lời buồn của tháng trôi qua
Lời tình như sóng dòng sông cuộn
Nước mắt nào còn mãi mưa sa
*
Em ôm trái tim nào đã lỡ
Một lời thề mộng ước mai sau
Một nụ cười như vừa nở lại
Cho ta êm ái mối tình sầu
*
Em đã về đây mỗi tháng Tư
Về đây ta kể một lời thơ
Em mặc áo dài hoa cúc nở
Cùng ta đi suốt một nẻo bờ
*
Rồi em cảm động từng cơn khóc
Vạt tóc nào đẫm lệ quê hương
Tổ tiên ta đã từng hơi thở
Dựng Sơn hà một giấc như mơ
*
Nhớ trong tâm tưởng ngày hoa gấm
Nụ môi thơm khép nép hải đường
Ta muốn mở lòng bao câu nói
Lời yêu kia còn mãi vấn vương.
Lê Mỹ Hoàn
2/2025
**
NẮNG HẠN THÁNG TƯ
Tiếng kêu tha thiết gọi đàn
Những ngày nắng hạn đâu tàn trú thân
Lòng ta như thể nắng ran
Thu Đông tan tác, Hạ hoang mang về
Nơi đây đâu phải chốn quê
Cho nên nắng hạn lê thê mỏi mòn
Khô đi những giọt máu hồng
Dần dà cạn hết giấc nồng trong tim
Đôi môi khao khát đi tìm
Tiếng kêu mòn mỏi đắm chìm nơi đâu
Quê hương mấy cuộc bể dâu
Trong ta một nỗi u sầu chưa tan
Thời gian lặng lẽ lướt nhanh
Làm thêm héo nụ cười xanh thuở nào
Ôi cơn nắng hạn lao đao
Hồn ta nứt nẻ ngày vào thángTư.
Lê Mỹ Hoàn
4/20/1990
==
ĐỢT NẮNG THÁNG TƯ
Đông vừa qua ở cuối đoạn đường
Xuân đến những ngày nắng ấm hơn
Tưởng như mùa Hạ nhưng bất chợt
Lạnh lại về cơn sốt miên man
*
Cơn sốt cao, đầu như bổ củi
Như nặng lòng đợt nắng tháng Tư
Vàng sốt bủa vây ngày trốn chạy
Qua cánh đồng nắng trải như phơi
*
Cơn sốt lên cơn mơ lại đến
Chạy vòng quanh chạy đến chân tường
Nghe mơ hồ ai đang hạch hỏi
Bao người ngồi bó gối như ta
*
Rồi tự nhiên nghe mùi muối mặn
Đang lênh đênh trên biển xuôi dòng
Chợt thét gào như cơn thịnh nộ
Biển trời đang cuộn một cơn dông
*
Ta bên nhau thì thầm cầu nguyện
Xin trời cho gió lặng sóng êm
Bỗng mở mắt dường như im lặng
Tự Do đang cười với gió Xuân.
Lê Mỹ Hoàn
3/26/2025
==
THƠ TRẦN CẨM THÀNH
Tháng Tư cảm tác
Tha hương mái tóc của ngày xanh
Năm tháng bạc màu trán vết nhăn
Canh cánh bên lòng bao nuối tiếc
Bâng khuâng tấc dạ những ăn năn
Non sông biến dạng người xa cội
Đất khách dung thân kẻ rã hàng
Nặng trĩu tâm tư đời viễn xứ
“Nỗi buồn nhược tiểu” mãi âm vang.
Trần cẩm Thành- 4/2026.
**
==
THÊM MỘT THÁNG TƯ QUA – HUY VĂN
* Ngày đến. Đêm Trôi. Ngày lại đến Thời gian lắng đọng cuối tháng Tư Tháng của thiên thu buồn lệ nến khóc cảnh miền Nam hóa ngục tù.
*
Máu ai tuôn chảy nơi góc phố?! Chốt thí làm sao chống sơn hà!? Tiếng hờn vọng mãi vào thiên cổ Một trang Hận Sử, mấy Hùng Ca?!
*
Cuối Xuân cuồng lũ dâng hồng thủy Đành buông nợ Nước, phụ tình Nhà! Sông núi điêu linh vì ngạ quỷ Bao giờ yên sóng, lắng phong ba?
*
Ngồi đây mà nhớ thời chiến quốc Một thuở bi hùng lúc dọc ngang Chớp mắt thấy sương pha màu tóc Một tiếng than ôi! Lệ ứa tràn.
*
Nửa đời chìm nổi nơi đất khách Mỗi năm thêm một tháng Tư qua Quốc thù vị báo đầu tiên bạch (*) Thế sự du du nại lão hà. HUY VĂN
* (*)THUẬT HOÀI Thế sự du du nại lão hà? Vô cùng thiên địa nhập hàm ca. Thời lai đồ điếu thành công dị, Vận khứ anh hùng ẩm hận đa. Trí chủ hữu hoài phù địa trục, Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà. Quốc thù vị báo đầu tiên bạch, Kỷ độ Long Tuyền đới nguyệt ma.
ĐẶNG DUNG
* Bản dịch của Tản Đà: Việc đời man mác, tuổi già thôi! Đất rộng trời cao chén ngậm ngùi. Gặp gỡ thời cơ may những kẻ, Tan tành sự thế luống cay ai! Phò vua bụng những mong xoay đất, Gột giáp sông kia khó vạch trời. Đầu bạc giang san thù chưa trả, Long tuyền mấy độ bóng trăng soi.
==
==
MỜI ĐỌC 2 BÀI VIẾT ĐẶC SẮC CỦA KÝ GIẢ KIỀU MỸ DUYÊN DƯỚI ĐÂY
Quê hương tôi là Quảng Ngãi, nơi có Núi Ấn soi bóng xuống Sông Trà Khúc hiền hòa. Dù xa quê từ thuở bé, hình ảnh ấy vẫn in sâu trong tâm khảm như một phần máu thịt không thể tách rời.
Từ nhỏ, tôi theo người bác ruột vào sống tại Đà Lạt, ở vùng Trại Mát, nơi bác hành nghề Đông y. Cuộc sống nơi cao nguyên yên tĩnh phần nào giúp tôi quên đi những biến động của quê nhà, cho đến khi chiến sự lan rộng khắp miền Trung vào đầu năm 1975.
Ngày 21 tháng 3 năm 1975, khi tình hình các tỉnh Tây Nguyên trở nên rối ren, tôi quyết định trở về Quảng Ngãi chỉ với một mong muốn giản dị là thăm mẹ đang lâm bệnh. Khi ấy tôi vẫn còn là một học sinh, chưa hiểu hết thế nào là chiến tranh, nhưng nỗi lo sợ thì hiện rõ trong từng hơi thở. Người ta truyền tai nhau rằng ban đêm, Việt Cộng thường lén xuống các quận gài mìn, khiến ai nấy đều sống trong cảnh phập phồng, bất an.
Gia đình tôi lại có nhiều người liên quan đến Việt Nam Quốc Dân Đảng; từ bác, chú cho đến ông Sáu, nên sự lo lắng càng chồng chất. Cứ mỗi khi màn đêm buông xuống, các chú, các bác lại âm thầm đạp xe vào thành phố để ngủ nhờ, tránh những hiểm nguy có thể ập đến bất cứ lúc nào.
Đêm 22 và 23 tháng 3 năm ấy, tôi ngủ bên mẹ tại vùng phía tây quận Tư Nghĩa. Nhưng đó không còn là những đêm bình yên. Tiếng súng, tiếng pháo kích vang lên liên hồi, dội vào lòng người những cơn run sợ. Mỗi tiếng nổ như xé toạc màn đêm, khiến tôi, một đứa học trò, chỉ biết nằm im, tim đập dồn dập, cầu mong cho trời mau sáng.
Sáng ngày 24 tháng 3 năm 1975, không chịu nổi sự bất an, tôi cùng mẹ rời nhà, tìm đến tá túc tại nhà ông Sáu ở khu vực Thị xã Cẩm Thành, Quảng Ngãi, trung tâm của tỉnh. Đó là một quyết định đầy lo âu nhưng cần thiết, bởi lúc ấy, chiến tranh đã thực sự chạm đến từng mái nhà, từng con người.
Những ngày tháng ấy, tôi không chỉ chứng kiến sự biến động của đất nước, mà còn cảm nhận rõ sự mong manh của đời người, của tình thân trong cơn binh lửa vì anh tôi đã mất trước đó vài tháng tại Pleiku, cậu Tư cũng tử trận tại An Lộc, và người hàng xóm tại Đa lạt cũng bị tử vong bởi pháo kích tận vùng I chiến thuật mà chưa kịp mang xác về chôn,. Dù chỉ là một học sinh, tôi đã sớm hiểu rằng quê hương không chỉ là nơi chôn nhau cắt rốn, mà còn là nơi gắn liền với ký ức, bà con xóm giềng, với yêu thương, và cả những nỗi đau không bao giờ quên.
Chiều ngày 25 tháng 3 năm 1975, trước nhà ông Sáu là nơi có tiểu khu của binh lính Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, mọi sinh hoạt ban đầu vẫn diễn ra như thường lệ. Những người lính Sư Đoàn II Bô Binh vẫn qua lại, vẫn giữ nhịp sống quen thuộc như chưa có điều gì sắp sửa đổi thay. Nhưng đến xế chiều, không khí bỗng chùng xuống. Tôi thấy từng chiếc xe Jeep, xe nhà binh chở đầy binh sĩ nối nhau rời đi, hướng về phía Đà Nẵng. Một linh cảm bất an dâng lên trong lòng, dù khi đó tôi vẫn chưa hiểu hết ý nghĩa của những chuyển động ấy.
Tin đồn bắt đầu lan nhanh trong xóm. Người này truyền cho người kia, không ai biết thực hư ra sao. Có người nói phải “ăn vội rồi đi ngay”, có người bảo phải gom đồ đạc mà chạy, vì chiến sự đã quá gần. Người ta nhắc đến Ông Ngô Quang Trưởng, vị tướng đang cố gắng chống lại làn sóng tiến công từ phía Việt Cộng. Nhưng tất cả chỉ là những lời nghe lại, không kiểm chứng, không rõ nguồn. Trong hoàn cảnh ấy, sự thật không còn quan trọng bằng nỗi sợ.
Gia đình tôi cũng hoang mang như bao gia đình khác. Bữa cơm chiều hôm đó vắng lặng lạ thường. Tôi không thấy các chú, các bác, và cả ông Sáu trở về. Có lẽ họ đã đi đâu đó, hoặc đã nghe được điều gì khẩn cấp hơn mà chúng tôi không biết. Chỉ có Dượng Tám mỗi sáng vẫn thường mở chiếc radio Sony nhỏ, nghe đài BBC rồi kể lại tình hình. Nhưng những mẩu tin rời rạc ấy cũng không đủ giúp chúng tôi hiểu rõ chuyện gì đang xảy ra, chỉ càng làm lòng người thêm rối bời.
Mẹ tôi đang bệnh nặng, không thể ăn uống gì. Tôi nhìn tô cháo bà để lại, lòng nghẹn lại. Không còn thời gian để nghĩ nhiều, tôi húp vội những muỗng cháo nguội để dằn bụng. Đó không phải là một bữa ăn, mà là sự chuẩn bị cho một cuộc chạy trốn không biết ngày về.
Bên ngoài, dòng người đã bắt đầu đổ ra Quốc lộ 1, hướng về phía Đà Nẵng. Tiếng gọi nhau í ới, tiếng bước chân vội vã, tiếng xe cộ lẫn trong sự hỗn loạn. Tôi biết mình phải đi, dù lòng còn nặng trĩu.
Mẹ tôi không đi nổi. Bà nhìn tôi, ánh mắt vừa lo lắng vừa đau đớn. Bà bảo tôi cứ theo hàng xóm mà đi, đừng chần chừ. Lời nói ấy như một nhát dao cắt vào tim. Tôi đứng đó, giữa giây phút chia ly, không biết phải nói gì hơn ngoài một lời từ biệt nghẹn ngào.
Tôi quay đi, hòa vào dòng người chạy loạn, mà phía sau là bóng mẹ tôi đang dần khuất. Trong khoảnh khắc ấy, tôi hiểu rằng mình đã bước sang một ngã rẽ khác của cuộc đời, nơi mà tuổi học trò khép lại, nhường chỗ cho những tháng ngày lưu lạc, và nỗi nhớ quê nhà, nhớ mẹ, sẽ theo tôi suốt cả cuộc đời.
Đêm 25 rạng ngày 26 tháng 3 năm 1975 là một ký ức không bao giờ phai mờ trong cuộc đời này, một ngày mà ranh giới giữa sống và chết mong manh như sợi chỉ. Khi đó, cuộc chiến đã lan rộng khắp miền Trung, và những vùng như Quảng Ngãi đã lần lượt rơi vào tay Việt Cộng trước khi Sài Gòn sụp đổ không lâu sau đó.
Đêm ấy, tôi cùng dòng người hoảng loạn tìm đường chạy giặc. Không còn ai nghĩ đến tài sản hay tương lai, chỉ còn một ý niệm duy nhất là phải sống. Tôi theo dòng người băng qua con dốc Bình Liên, thuộc quận Bình Sơn. Con dốc ngày thường vốn hiền hòa, nhưng hôm đó trở thành một địa ngục trần gian.
Tiếng pháo kích bất ngờ dội xuống. Những tiếng nổ chát chúa xé toạc không gian, đất đá tung lên mù mịt. Người ngã xuống từng loạt. Có người trúng đạn, có người bị mảnh pháo xé thân, có người chỉ vì quá hoảng loạn mà bị dẫm đạp trong dòng người tháo chạy. Tiếng khóc, tiếng la hét, tiếng gọi nhau trong tuyệt vọng hòa lẫn vào nhau, tạo thành một âm thanh kinh hoàng mà đến nay tôi vẫn còn nghe vang vọng trong tâm trí.
Tôi không còn nhớ mình đã chạy như thế nào, chỉ biết bản năng sinh tồn đã đẩy tôi lao xuống một bờ ruộng bên đường. Chính quyết định trong tích tắc ấy đã cứu mạng tôi. Nằm sát mặt đất, tim đập dồn dập, tôi nghe rõ từng tiếng nổ, từng bước chân dẫm đạp phía trên. Mùi khói, mùi đất, và cả mùi tử khí lan trong không khí khiến tôi rùng mình.
Khi cơn pháo kích tạm lắng, tôi mới dám ngẩng đầu lên. Trước mắt là một cảnh tượng không thể diễn tả hết bằng lời: người nằm la liệt, kẻ sống sót thì thất thần, ánh mắt vô hồn. Con đường chạy loạn giờ đây phủ đầy máu và nước mắt
Tôi tiếp tục hòa vào những người còn sống, lặng lẽ đi trong đêm tối, không còn sức để khóc hay nói. Sáng hôm sau, khi ánh bình minh le lói, tôi lần bước ra được thị trấn Châu Ổ, rồi từ đó tiếp tục hướng về Chu Lai. Đó là một hành trình đi bộ đầy gian nan, nhưng ít nhất, tôi biết mình vẫn còn sống.
Ngày 26 tháng 3 năm ấy không chỉ là một ngày chạy loạn. Đó là một vết hằn lịch sử trong đời tôi, một minh chứng cho sự tàn khốc của chiến tranh và sự mong manh của kiếp người. Tôi sống sót, nhưng ký ức ấy mãi mãi ở lại, như một lời nhắc nhở rằng cuộc sống hôm nay đã được trả giá bằng biết bao sinh mạng và nước mắt.
Viết trong niềm nhớ 51 năm của tháng Tư Đen 2026.
Nguyễn Hồng Dũng
Hương Tình Thơ
Mùa đông sắp bước đi, buổi sáng thức giấc ông Phan Thành Tâm đã thấy mặt trời mọc những tia nắng hồng ấm áp, xóa tan bóng sương mù với làn mây xám âm u trước đây. Cây cối chồi lộc non bắt đầu nẩy mầm xanh tươi. Hoa Cúc, hoa Mai hé nụ búp chờ khoe hương sắc. Mùa Xuân của hạnh phúc đang bao trùm vạn vật xinh tươi. Sáng nay Ông cảm thấy lòng vui vui nghe tiếng chim hót trên cành, trời đất tinh khôi chuẩn bị đón Tết cùng nhân loại.
Ông Tâm vào bếp nấu oakmeal, dọn lên bàn cùng cá salmon tự tay Ông làm chà bông, pha cà phê sữa xong xuôi. Ông vào thức giấc vợ dậy, dìu giúp công việc vệ sinh cá nhân, chải tóc rồi đỡ bà Bùi Thanh Xuân ngồi xe lăn đẩy ra phòng ăn.
– Em ngủ ngon không?
Bà gật đầu mỉm cười nhẹ. Hai ông bà cùng điểm tâm, nhâm nhi cà phê. Ông tới tủ nhạc tìm CD về xuân mở lên chào đón ánh bình minh. Cứ mỗi lần Tết đến là ông Tâm thường ngồi trầm ngâm nhớ quê nhà, nhớ quay quắt, tâm hồn thả về dòng sông xưa, con đò cũ trên quê hương yêu dấu mà Ông không nghĩ có ngày mình phải rời xa…
Ông thấy mình đang đi qua “xứ dừa” Bến Tre, nơi có người Mẹ hiền quanh năm suốt tháng làm vườn, lội ruộng nhưng thuộc rành ca dao tục ngữ hò đáp khi cấy gặt lúa, hội đám.Từ dòng sữa Mẹ ngọt ngào hoặc tiếng ru êm ả có khi buồn xa vắng bên tai Ông, rồi không biết từ lúc nào Ông đã thuộc lòng nhớ mãi
“Gió đưa cây cải về trời Rau răm ở lại chịu lời đắng cay Chim quyên xuống đất tha mồi Thấy em đau khổ đứng ngồi không yên “
Hoặc
“Có qua có lại mới toại lòng nhau Ăn coi nồi, ngồi coi hướng Múa rìu qua mắt thợ “
Hay những chiều hôm ôm con vào lòng dỗ giấc ngủ, tiếng Mẹ trầm bổng u uẩn
“Chiều chiều ra đứng ngõ sau Ngóng về quê mẹ ruột đau chín chiều Thiếp thương phận thiếp còn thơ Lấy chồng xa xứ bơ vơ một mình Anh buồn có chốn thở than Em buồn như ngọn nhang tàn thắp khuya “
Nhớ người Cha dạy Ông học vỡ lòng khi 5 tuổi. Lúc tập đọc, tập viết kha khá ngoài quyển “Quốc Văn Giáo Khoa Thư” nổi tiếng của cụ Trần Trọng Kim, mỗi trưa mỗi tối Ông đều phải đọc cho Cha nghe chuyện đời xưa của Trương Vĩnh Ký, thơ Lục Vân Tiên, Con Tấm Con Cám, Thạch Sanh Lý Thông..v..v…Lớn thêm thì đọc Tây Du Ký, Tam Quốc Chí, Phong Thần v..v…và được Cha giảng dạy thêm luân thường đạo lý trong lúc dọn vườn, làm ruộng, thả trâu.
Quê hương ơi! nếp sống với những sinh hoạt hiền hoà, mộc mạc. Bức tranh quê thêu lên đàn bướm hôn vờn các loài hoa cỏ dại, những trưa hè ve sầu đua ca hay những tối mùa đông nghe hợp tấu từ ếch nhái cùng tiếng mưa rơi buồn thấm thía.
Lớn lên ông Tâm đi học xa, tình cờ gặp hình ảnh cô gái làng bên như bức tranh Tố Nữ yêu kiều diễm lệ. Tuy đang còn nhỏ Ông chưa thể hiểu đó là tình cảm gì, nhưng Ông linh cảm rất cần thiết hình ảnh bé nhỏ ấy để hăng hái học hành và vui sống. May mắn Ông được học cùng lớp, cùng trường cho đến khi lên Sài Gòn vào Đại Học. Ông có cơ hội gần “Nàng Tiên”, và nhờ mối tình si này khiến ông tập tành làm thơ:
Hò hẹn hay không vẫn đợi chờ.
Yêu em anh bỗng biết làm thơ.
Xin thời gian giữ nguyên màu má.
Để nghĩ rằng em chẳng hững hờ (Tình Tứ- LT).
Thầy Trần Văn Ất chuyên dạy môn Toán Hình Học ban B cho cả hai trường Trung Học Nguyễn Đình Chiểu (nơi ông Thành Tâm học) và Nữ Trung Học Mỹ Tho (nơi “nàng tiên “Thanh Xuân học) đã gián tiếp tạo cơ hội tốt đẹp chung trong việc học hành của hai người. Ngoài chuyện dồi mài kinh sử, hình ảnh người con gái dịu hiền trong trắng đi sâu vào tâm hồn Ông. Nhiều đêm thao thức mòn mỏi rồi đi vào giấc ngủ, Ông đã được gặp những giấc mơ kỳ diệu tuyệt vời
Và nghe em ghé vào giấc mộng.
Vành nón nghiêng buồn trong gió đưa (Tương Tư- Nguyên Sa).
Ông cảm thấy rất hạnh phúc được tiếp tục học chung cùng nàng tại Đại Học Văn Khoa Sài Gòn. Hai người giống như những nhân vật thấp thoáng trong các tác phẩm văn học thời tiền chiến, cổ điện, hiện đại, nhưng không kém phần lãng mạn. Ông và Thanh Xuân đã chia sẻ những băn khoăn, ray rứt về hoàn cảnh khó khăn của gia đình, nhìn tương lai như lối sương mù đang giăng, bởi khói lửa chiến tranh mỗi ngày một khốc liệt, tàn phá làng mạc điêu đứng, quê mẹ khốn khổ từng giờ từng phút. Ông hiểu rõ sự cần thiết trong tình yêu, trong cuộc sống cần dựa vào nhau mới vực dậy tinh thần. Hằng ngày Ông và Thanh Xuân càng vào thư viện đọc sách nhiều hơn mở rộng tầm tri thức cho các buổi thi. Xem như chỗ trọ của hai người là Thư Viện Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, Thư Viện Quốc Gia, Tổng Thư Viện, nhà sách Khai Trí, Xuân Thu, các sách cũ bên lề đường Lê Lợi, Lê Văn Duyệt, Trần Quý Cáp
“Lối vào thư viện thân quen.
Dư hương còn đó êm đềm tiếng ai (Thẫn thờ – LT)
***
Bà Thanh Xuân bỗng đưa cánh tay ra dấu, Ông chợt tỉnh mộng kề tai nghe Bà nói, Bà cũng cố gắng lắm nhưng âm thanh rất nhỏ và tiếng nói không nghe được. Ông hỏi nhiều câu xem Bà lựa câu nào đúng để gật đầu, mới hiểu Bà muốn đi vệ sinh, Ông giúp và lau miệng đưa bà trở lại ngồi ăn tiếp. Nhìn bà Thanh Xuân, lòng ông Thành Tâm dạt dào tình yêu vô bờ bến: “em là lẽ sống của đời anh, cố gắng vui từng ngày khi chúng mình đang bên nhau…” Ông nghĩ thầm, chăm chú đút từng muỗng vào miệng Bà. Mắt Ông như mờ đi…Ông thấy hai người đang dạo dưới bóng mát lá xanh trong Vườn Tao Đàn, Vườn Bách Thảo. Đi qua đường Nguyễn Du, Duy Tân, Lê Văn Duyệt, và đề tài chính vẫn là nói chuyện thơ văn, học hành thi cử
“Cười nói bâng quơ cũng ngọt ngào.
Bao lần ngơ ngác tưởng chiêm bao” (Một Chút Son Môi – LT).
Ôi hạnh phúc thật giản dị nhưng vô cùng cần thiết, vì nó lớn lao vô cùng đối với Ông.Tình yêu mang cho Ông sự kỳ diệu, ấm áp tuyệt vời. Những lúc đến với Thanh Xuân, Ông thường đọc thơ Xuân Diệu, Đinh Hùng, Nguyên Sa. Làm sao Ông quên được đôi mắt đẹp mở to vẻ thán phục, mái tóc dài buông lơi nghiêng nhẹ chăm chú nghe, khiến Ông càng say sưa đọc tiếp. Ông thầm mừng với những câu thơ
Gặp một bữa anh đã mừng một bữa
Gặp hai hôm thành nhị hỷ của tâm hồn
……
Em chưa nói đã nghe lừng giai điệu
Em chưa nhìn mà đã rộng trời xanh
Anh trông lên bằng đôi mắt chung tình
Với tay trắng em vào thơ diễm tuyệt (Áo Lụa Hà Đông- Nguyên Sa)
Năm 1967 Ông vào học Ban Cao Học Khoá 3, Học Viện Quốc Gia Hành Chánh. Vừa xuống đến Ba Xuyên (Sóc Trăng) để tập sự, Ông vội vàng đánh điện tín cho Thanh Xuân ba chữ “Anh Trông Lên” lấy ý đoạn thơ Áo Lụa Hà Đông, và được Nàng cất giữ làm bằng chứng tình yêu một thủa nồng nàn đầy lãng mạn. Có lần Ông làm quà tặng đôi găng tay màu xám nhân dịp Nàng mua chiếc Velo Solex. Khi thấy Nàng mang đôi găng tay Ông đã xúc động ghi vào trang đầu quyển Luận Văn Tốt Nghiệp Cao Học Hành Chánh:
“Ngày không gặp dài như thân áo mới.
Vướng guốc nhung làm tội gót chân hồng.
Găng tay xám như mùa thu đứng đợi.
Những chiều mưa đi học lạnh đau lòng”.
Năm 1970 sau khi cưới xong, Nàng muốn Ông làm thơ, viết văn nên thỉnh thoảng nhắc nhở. Ông nhớ nhà thơ nào đó đã nói“Đời không phải là bài thơ cho tôi và cũng không phải là bài ca cho em” khi thi nhân nhận ra người ca sĩ nổi tiếng chạy show hát ngày đêm, thâu băng quá nhiều, ngược lại người ca sĩ cũng thấy thi nhân xuất bản các tập thơ liên tục. Họ nhận ra trong giọng hát cũng như trong bài thơ đã mất đi cái hồn, mà chạy theo đời cơm áo. Riêng Ông thì đi ngược lại, vì hồn thơ đã mất không thể sáng tác khi nặng nợ áo cơm.
Giai đoạn này chiến tranh khốc liệt khắp làng quê, phải tản cư sống tạm bợ vùng ngoại ô Bến Tre. Rồi vì kế sinh nhai lo gia đình đôi bên, mọi sinh hoạt đều gặp khó khăn. Tâm hồn Ông cảm thấy bất an không làm được bài nào ra hồn, hoặc có lúc vừa nhen nhúm ý tưởng chưa kịp viết thì đã có người khác viết rồi đành cụt hứng . Điều đó khiến Ông nhớ tới câu chuyện Lý Bạch đến viếng Hoàng Hạc Lâu định đề thơ kỷ niệm, nhưng đã thấy bài thơ bất hủ của Thôi Hiệu, nên Lý Bạch đành mang bút đi tìm nơi khác.
Sau tháng 4 năm 75, Ông hứng chịu cảnh tù đày như bao người lính VNCH, bị khổ sai biệt xứ trong lao tù CS, dở sống dở chết. Tuy vậy trong những đêm dài “lửa cơ đốt ruột dao hàn cắt da” (Cung Oán Ngâm Khúc) Ông nằm co rút trong tấm chăn rách nát, vừa chiến đấu với lũ rận cũng đói như người, vừa chống chọi cái giá lạnh của mùa đông miền Bắc, nhớ người vợ đang lết la đầu đường xó chợ nuôi con dại.Vợ con Ông đang dần dần chết khô chết héo nơi địa ngục trần gian, thôi thúc Ông mạnh mẽ phấn đấu vượt qua cơ cực trong niềm hy vọng ngày trở về. Ông bám víu vào cơn mơ nhỏ nhoi đầy cảm xúc đau buốt
“Vẫn thiếu anh mà vẫn có anh.
Áo nào con đắp suốt năm canh.
Trong từng giây phút từng câu nói.
Em dạy cho con sống tốt lành”(Nguồn Sống – LT)
Ra tù nhỏ lại gặp nhà tù lớn trong cảnh khủng bố, đe doạ, rình rập, Ông như một hồn ma bóng quế giả điếc giả câm. Ông xót xa đứt ruột nhìn hình ảnh người vợ hiền ngày nào sắc nước hương trời nay bị tàn phá vì sự bươn chải khổ cực giữa chợ đời, hình ảnh chỉ còn da bọc xương, mà gào thét trong tâm:
“Van nợ lắm khi trào nước mắt. Chạy ăn từng bữa toát mồ hôi” (Tú Xương).
Cuối năm 1994 gia đình Ông qua Mỹ, tâm trạng Ông chơi vơi hụt hẫng cho thân phận bọt bèo. Ông nhớ quê hương làng xóm, mồ mả cha mẹ, nhưng rồi phải bắt tay vào việc thực tế, từ từ tình thần Ông trở lại vị trí cân bằng. Vợ chồng Ông cùng cày việc trông mong nuôi các con nên người. Các con Ông hiền lành chăm học, Ông có cuộc sống an bình, ổn định nơi xứ người nên hồn thơ bắt đầu thức dậy lúc gia đình Ông vừa tậu một căn nhà.
“Tha hương đời vẫn là thơ. Đất lành chim đậu hoa chờ đợi ta “(Vẫn Là Thơ -LT)
Nguồn thơ lai láng, mỗi tối Ông đọc trong buổi cơm cho vợ con nghe, được cả nhà khen rối rít, nhất là vợ Ông và út Minh Thư khen lấy khen để. Vợ Ông luôn thì thầm bên tai “anh làm thơ càng ngày càng hay, gắng làm nhiều nữa đi, để lại gia tài tinh thần cho con cháu sau này. Vợ Ông thường chọn giúp Ông nhiều chữ hay ý đẹp và giúp nhiều tựa đề rất lãng mạn thích hợp.
Bóng hạnh phúc đang bao trùm cuộc sống gia đình Ông, thì một tai hoạ ập đến. Ngày 11 tháng 9 năm 1999 vợ Ông bị tai biến mạch máu não rất nặng tưởng như lìa trần. Gia đình Ông lâm vào cảnh khốn đốn, Ông như cái xác chết chưa chôn. Đến nay dù Ông và các con hiếu thảo, tình nghĩa hết mình tìm đủ mọi cách chạy chữa nhưng vợ Ông vẫn ngồi xe lăn, nói năng rất khó, không thể tự lo vệ sinh cá nhân, phải mang hai ống nhựa ở cổ và bụng. Hơn năm sau cái bộ óc thông minh đó vẫn chẳng nhớ ra gì, lúc tỉnh lúc mê. Cha con Ông đã tìm các phương cách vực dậy, tìm lại giọng nói ngọt ngào, trong trẻo như chim hót, nụ cười duyên dáng như ngày nào, nhưng mọi chuyện đều hoài công, tuyệt vọng.
Thời gian như mây bay gió thổi ….từng chiều mùa đông ngồi bên bếp lửa nhìn ngoài sân tuyết phủ trắng của vùng Washington DC. Cầm bàn tay vợ, Ông thì thầm kể chuyện ngày xưa, đôi mắt vợ thẫn thờ xa vắng, và Ông cũng như người đang lạc lối mơ hồ từ kiếp nào đó, Ông quên thực tại, chỉ có tình yêu mãnh liệt đến từ hai tâm hồn say khướt. Mùa hạ lúc nắng chiều dịu dần, Ông đẩy xe lăn đưa vợ đi dạo quanh khu vực, Ông có cảm tưởng thế giới này chỉ còn hai người đang đắm chìm hạnh phúc dưới hàng cây xanh trên đường Duy Tân, lối vào Thư Viện. Nơi có những ngày xưa thân ái của tình yêu đầu đời tưởng chừng như mới hôm qua. Rồi một mùa thu êm ả, vẫn hình ảnh người vợ ngồi trên xe lăn, người chồng đẩy dạo trên những xác lá vàng khô trong khung chiều thơ mộng, mây trời phiêu lãng thong dong, Ông dừng chân ngồi xuống băng ghế nghỉ ngơi, kề sát khuôn mặt vợ đọc mấy câu thơ
Có phải em mang trên áo bay
Hai phần gió thổi một phần mây
Hay là em gói mây trong áo
Rồi thở cho làn áo trắng bay (Tương Tư- Nguyên Sa)
Bỗng dưng “nàng thơ” của Ông bật cười thành tiếng. Ông quá đổi vui mừng hôn lên khuôn mặt héo hon của vợ “em đã hiểu rồi phải không?” Niềm vui lớn khiến Ông đẩy vợ về nhà nôn nao kể các con nghe điều khác thường. Các con Ông ôm chầm lấy Mẹ khóc sướt mướt. Út Minh Thư nói :
– Từ nay ba ráng đọc những bài thơ của Nguyên Sa, Xuân Diêu, Đinh Hùng như ngày xưa từng đọc. Thời học chung Văn Khoa những mẫu chuyện giữa ba mẹ đều toàn văn thơ, con hy vọng mẹ sẽ có niềm vui và dần dần hồi phục trí nhớ.
Ông rất đồng tình với đứa con hiếu thảo, và cũng vì vậy bệnh tình vợ Ông có phần thuyên giảm. Con gái út lại yêu cầu tiếp “Ba đọc thơ các thi nhân Mẹ nghe đã có hiệu quả, nhưng nếu chính Ba làm thơ nhắc lại kỷ niệm thời hoa mộng của hai người, con nghĩ thế nào Mẹ cũng thích hơn, vui hơn nữa”. Ông càng hoan nghênh ý kiến này nhưng quá bận rộn công việc chăm sóc vợ, lại quán xuyến nhà cửa, cơm nước cho các con lsuốt ngày đi học, đi làm vất vả nên vẫn chưa thực hiện.
Một chiều cuối tuần, trong lúc Minh Thư đút cơm cho Mẹ, Ông lại đọc thơ
“Trăng nằm sóng soãi trên cành liễu
Đợi gió xuân về để lả lơi
Hoa lá ngây tình không muốn động
Lòng em hồi hộp chị Hằng ơi” (Hàn Mặc Tử)
Gái út ngạc nhiên chưa từng nghe qua và chưa hiểu ý nghĩa. Ông kể sơ tiểu sử Hàn mặc Tử và ý nghĩa bài thơ. Minh Thư nói:
– So sánh hoàn cảnh Ba với Hàn Mặc Tử, ông nhà thơ còn khổ hơn Ba nhiều. Ba nên cố gắng làm thơ cho Mẹ vui, dạy con học thêm tiếng Việt và tìm nguồn giải trí. Con nghe người ta nói khi một người không còn hy vọng gì, thú vui gì thì không thể sống được. Từ lâu Ba đã mất tiếng cười hào sảng, giòn giã, ba phải làm thơ để bù vào chỗ trống đó, nếu không con sợ lắm…”
Nghe lời con trẻ rót vào lòng, Ông không cầm được nước mắt, vợ Ông khóc theo. Từ đó mỗi cuối tuần hay ngày lễ, Minh Thư đều ở nhà dành hết mọi việc chăm sóc mẹ, nấu nướng để Ông rảnh rỗi làm thơ.
Ngày tháng đi qua trên những muộn phiền thoát thai bằng nguồn thơ. Các con đều đã thành danh thành phận, nhưng vẫn quanh quẩn ở gần cha mẹ, năng lui tới giúp đỡ. Những hiếu tử giúp Ông thêm sức sống, bên cạnh người vợ yêu quý đã cho Ông thời cuồng si say đắm, là người vợ thuỷ chung đồng cam sướng khổ. Cả hai cùng có chung một tâm hồn, một tấm lòng. Thơ Ông là tâm hồn của Thanh Xuân dành cho gia đình, là tình yêu vô bờ bến của Ông dành cho người vợ hiền: “vượng phu ích tử”.
Tu bao nhiêu kiếp anh mới được.
Thơ thẩn cùng em kể chuyện lòng (Một Chút Son Môi -LT).
Có nhiều lần Ông đã âu yếm vuốt tóc vợ, nghẹn ngào van xin
“Em ơi, em vẫn là tiên nữ.
Đừng bỏ anh đi lạnh một mình”. (Tình Tứ – LT).
Bà Thanh Xuân đã ăn xong, Ông nhìn bên ngoài nắng lên cao, liền thay quần áo cho vợ rồi đẩy xe lăn ra đường hưởng màu nắng xuân ấm áp. Vạn vật sáng rỡ, hoa lá xinh tươi, trời đất khoát bộ mặt hồi sinh, Ông hứng khởi khẽ hát nho nhỏ “Anh cho em mùa xuân. Nhạc thơ tràn muôn lối …Anh cho em mùa xuân …” Ông cảm thấy rung động trước vẻ đẹp của bức tranh xuân, như nét đẹp với tình yêu chân tình, chung thuỷ của hai người. Cuộc sống được lót trải những vần thơ dìu dắt bước chân đi nhẹ nhàng, vượt qua những nghiệt ngã của cuộc đời, giữ được bản chất đạo đức và vượt lên trên những ham muốn tầm thường của thế gian. Cám ơn chữ nghĩa như châu rót vào tâm hồn của đôi tri kỷ, luôn được tắm gội bằng suối thơ, tô điểm một phần tình yêu của đôi lứa. Ông cười nhẹ lẩm bẩm “ May mà có thơ, đời còn dễ thương …”
*************
Minh Thư mua nhiều thức ăn từ chợ Safeway chất đầy tủ lạnh cho Ba Mẹ, vừa làm vừa nói
– Sắp lễ Valentines rồi đó, con rất hãnh diện với Chuyện Tình Yêu của Ba Mẹ. Ngày ấy con sẽ mang bánh và hoa về cho Ba tặng Mẹ nhé?
Ông Thành Tâm cười vui vẻ
– Chỉ là một ngày lễ, chứ Ba đã có mấy chục năm, ngày nào cũng là “Lễ Tình Nhân” hết mà. Hoa Tâm thì Ba đã tặng Mẹ cả cuộc đời này rồi.
VTLV-CHÚC MỪNG 3 THÀNH VIÊN “SONG TỊCH” – VTLV & CÔ GÁI VIỆT – Thắng Giải Viết Về Nước Mỹ Việt Báo California: SỎI NGỌC (NGỌC HUYỀN), MINH THÚY, và KIM LOAN.
Hình trên từ trái qua:
1- Giải Đặc Biệt Sỏi Ngọc – tức Ngọc Huyền từ Canada. Ghi chú: Vì Sỏi Ngọc không qua Mỹ kip lãnh giải, phải nhờ người lãnh thay, nên VTLV mạn phép thêm hình Sỏi Ngọc vào hình này cho “đủ bộ” trình làng để mọi người trong nhà VTLV biết mặt- mong tác giả Sỏi Ngọc cảm thông.Đặc biệt hơn nữa: Tác Giả Ngọc Huyền từng Thắng GIẢI QUÁN QUÂN VTLV- Thắng cả 3 giải NHẤT, NHÌ, BA Trong các cuộc thi VTLV thời anh Chinh Nguyên và Bác Giao Chỉ làm Giám Khảo. Anh Chinh Nguyên KHI CÒN SINH TIỀN rất quý mến Ngọc Huyền – Sỏi Ngọc.
2- Giải Chung Kết – Vinh danh tác giả & Tác phẩm: Minh Thúy -Thành NộiBắc Cali
3- Giải Vinh Danh Tác Phẩm: Kim LoanCanada.
VTLV CHÚC MỪNG
CHÚC MỪNG BA CÔ GÁI VIỆT TRONG VTLV THẮNG GIẢI VIẾT VỀ NƯỚC MỸ.
CHÚC MỪNG thắng giải, tam nương nương!
Kiệt nữ “Hai Nhà” tiếng bốn phương
MINH THÚY văn bài vừa… cán cột
KIM LOAN bút pháp mới…thăng đường
NGỌC HUYỀN tác giả nơi nơi biết
Ba vị tân khoa chốn chốn tường
LẠC VIỆTVĂN THƠ + CÔ GÁI VIỆT!
Mau mau mở tiệc! Mấy cô nường!
Phương Hoa – VTLV – DEC 1, 2025
Cựu tác Giả Phương Hoa Trao Giải Đặc Biệt Cho Người Đại Diện Tác Giả Sỏi Ngọc.
Tạm thời đăng được nhiêu hình đây thôi, vì file hình lón quá không up lên đuộc nhiề.u
Suốt tuần ni, bắt đầu từ ngày 27 tháng 10 đến chừ, tôi chỉ muốn lên mạng nhìn hình ảnh Huế lũ lụt và gọi phone người chị tên Giang, nhưng rất khó khăn vì nhà bị cúp điện.
Tôi nghe chị kể: Sau khi tôi gởi số tiền từ cô em chồng tên Tịnh Tâm cùng mấy chị em hùn phước về BS Đặng Nga và nhóm chị Nhuỵ (NTN) nhờ giúp bão lụt. Chị tôi đã đến nhà chị Nhuỵ và nhóm sắp xếp tiền vào phong bì 200k, bỏ sẵn sàng mỗi bao gồm bịch gạo 10 ký, thùng mì gói và vài thứ khác. Nhóm đã thuê xe và chuẩn bị lên đường vào ngày thứ hai 27 tháng 10 (đầu tuần) về làng Phong Điền tổ chức phát quà tại Chùa.
Không ngờ tối đó mưa bão, đài loan báo tin tức hôm sau lụt sẽ vào Huế. Cả nhóm cancel chuyến đi thì trưa ngày đó nước vào nhà.
Mức nước chảy cuồn cuộn lên thật nhanh cho đến tối. Cháu trai tôi bước xuống nhà nước ngập ngang cổ, còn những nhà thấp hơn thì xem như lấp đến mái nhà. Chị tôi và các cháu lên gác tầng hai sau khi kê đồ đạt chất cao, nhà bị điện cúp và sức mạnh của mực nước đã làm ngã nhào bàn ghế, tủ lạnh nổi lềnh bềnh. Bà con xứ Huế chịu trận, hôm sau nước rút lần ra. Nhà nào nhà nấy lo dọn dẹp ngất ngư mệt nhọc, đồ đạc hư hại, bùn sình, rác rến đầy đường, đầy sân. Chưa kịp nghỉ ngơi qua ngày sau nước lại dâng cao tràn vào nhà đợt hai, tiếp tục chồng các vật dụng bị nước ngâm thêm một ngày. Sau đó nước rút ra hết, mọi người cố gắng sức chùi dọn nhà cửa.
Hôm ấy được một ngày có ánh nắng. Chị tôi chạy về chợ Xép mua thức ăn, rau cỏ; cảnh hàng vải, hàng tạp hoá, đồ khô bị dìm trong nước hư hại toàn bộ, trước cảnh khóc lóc than thở của chủ nhân làm chị tôi cũng đau lòng ứa nước mắt theo, khi nhìn cảnh tương tàn sau trận lụt. Mọi sự bà con lại ngậm đắng nuốt cay còng lưng ra sức khiêng bê các đồ đạc bị hư hỏng. Tội nghiệp chị Nhuỵ phải lo chất đống quà từ thiện lên lầu nặng nhọc.
Trận lụt thứ ba trở lại vào ngày mồng 3 tháng 11, mực nước cũng cao nhưng không bằng đợt một, mồng bốn nước rút ra chậm chạp.
Được biết lúc nước dâng cao có thuyền các em thanh niên chèo chở thực phẩm vào trong xóm phát thức ăn cứu đói mỗi gia đình gồm hai thùng sữa (tám lon) và mì gói. Có nhiều nhà không vào được phải tìm cách đưa qua cửa sổ trên gác. Lúc có điện chị tôi cũng gấp rút gọi facetime chiếu cảnh lụt cho xem.
Từ đó đêm nào tôi cũng nhìn theo dõi cảnh lụt trên facebook mọi nơi đưa lên. Nhìn thành phố chìm trong nước ngập như biển cả mênh mông. Huế lụt lội bắt tôi miên man nhớ lại những ngày còn ở quê, nhà chỉ có ba mạ con. Có năm mực nước quá cao, các thanh niên, lực lượng khu phố chèo bè đi cứu dân. Chúng tôi không thể bước xuống nước, người như bay bổng bởi sức nước đẩy lên. Lúc đó nhà chưa có gác như bây giờ, chồng giường ghế và ngồi trên đó nhắm mắt chịu trận. Và rồi chúng tôi được cứu chở sang trường trung học Thành Nội trú ẩn trên lầu mấy ngày. Cũng có những năm nước vào ra ba lần nhưng không dâng cao lắm. Cảnh sau lụt dọn dẹp muốn đuối sức, chợ vắng điêu tàn theo những khuôn mặt phờ phạc héo rầu. Lúc lụt thì ăn cơm với nước mắm kho quẹt, hết lụt mạ tôi chặt buồng chuối xanh tước vỏ ngoài, xong cắt khúc kho với ruốc, vì thửa rau khoai, bụi nưa đã bị hư thúi, chẳng còn gì để ăn.
Tôi nhớ chị Huyền ngày ấy… sau bão lụt không có su, cà rốt từ Đà Lạt chở xuống, chị không có hàng gánh bán dạo kiếm gạo từng ngày nuôi chín đứa con. Chị đi ra chợ Đông Ba xem có ai nhờ gì làm việc đó mong họ giúp vài ba đồng. Đêm đen ngoài trời mưa gió, con chị chạy sang mượn lon gạo về nấu cháo cho em ăn, vì các em nhỏ đang gào khóc đói bụng, trong khi bóng dáng mạ vẫn chưa thấy về. Anh Song đạp xe thồ dáng gầy da bọc xương khô đét, khách thuê chạy tới vùng vắng vẻ rồi kề dao cướp xe, anh trở về vợ con oà khóc cả đêm, vì gia tài chỉ có chiếc xe đạp nuôi sống gia đình, lại sau lụt tôn bay mái hư thảm thương, chị Song chỉ biết qua nhà tôi mượn tiền mua bột về gói bánh bột lọc đi bán dạo. …Nhớ quá những người hàng xóm năm xưa, còn nhiều, nhiều lắm bao cảnh khổ sau mùa lụt. “Quê hương em nghèo lắm ai ơi, mùa đông thiếu áo hè thì thiếu ăn. Trời rằng, trời hành cơn lụt mỗi năm, khiến đau thương thấm tràn, lấp Thuận An để lan biển khơi….” (*1)
Càng nhìn cảnh lụt khắp nơi, tôi không thể ngăn được dòng nước mắt. Tim se lại, lòng quặn thắt như đang ở Huế, đang nếm nỗi khổ, nỗi đau cùng bao nhiêu người dân Huế đang chịu trận. Một đám tang đưa người mất lội nước ngang bụng, quan tài đặt lên cao, bao nhiêu người khiêng đi trong mưa gió cầu kinh. Một xe tải chở hàng cứu trợ bị xìa bánh đứng chịu đựng, trong khi mực nước sông dâng cao che lấp mặt đường, chẳng phân biệt đâu là đường, đâu là sông (vùng Đập Đá?). Thầy và các đạo hữu chở xe về vùng Quảng Điền, mưa và mực nước chảy xiết dâng lên nhanh chóng. Khu vực bị cô lập không vào được, Chùa đang bị ngập nước. Phái đoàn phải thả hàng xuống và quay trở về nhanh kẻo không còn kịp với cơn lũ. Càng nhìn càng thương quá số người chạy đến che bọc gần 200 gói quà, đừng sát nhau chuyển dây chuyền và kêu gọi dân ra lãnh.
Tôi khóc cho Huế, tôi xót dạ vì Huế, và tôi khóc cảm động khi thấy tình người đùm bọc nhau ấm áp. Từng đoàn xe cứu trợ chạy dưới mưa từ miền Bắc, miền Nam như các tỉnh Ban Mê Thuộc, Lâm Đồng, Kontum ..v..v…, các tỉnh miền Tây lái xe tải chứa thực phẩm từng đoàn trên đường hướng về Huế. Mệ của Phèo Ngáo kho 600 hủ cá, công ty gạo Quế Lâm mở rộng lòng giúp đồng bào. Các Chùa ra sức nấu thức ăn bỏ cơm hộp chất xe, chất thuyền đi phân phát. Từng đoàn thanh niên hăng say góp sức những công việc nặng như chuyền gạo, mì, các em làm việc không ngừng nghỉ. Ai ai cũng là những vị Bồ Tát trong lúc này, khách du lịch đứng hỏi thăm, an ủi và phát tiền cho dân trên đường. Thuyền chèo cứu người, những kho hàng chứa đầy ắp thức phẩm cứu đói khẩn cấp. Một hình ảnh nói lên lòng từ bi bác ái, sống đạo đức tôi vô cùng ngưỡng mộ
Rồi bão lụt lan đến Hội An, Đà Nẵng, vùng Thái Nguyên miền Bắc. Những chuyến xe tình thương vẫn nối đuôi lên tiếng trấn an đồng bào, báo hiệu đang trên đường đến các vùng bị bão lụt.
Tại Đà Nẵng có những làng bùn sình bị cúp điện, cúp nước và bị cô lập năm ngày đói lạnh. Nhiều đoàn cứu trợ tìm cách đến, ai cũng lội bùn sình lên đầu gối bước những bước khó khăn, nhưng nét mặt họ vẫn toát ra hiền hoà, mạnh mẽ ý chí vượt qua để thực hiện tình thương. Nước mắt tôi cứ tuôn trào mãi trước những hình ảnh đẹp mắt đó. Tôi nghĩ “nghĩ mình ở đây chỉ gởi chút tiền chia sẻ, làm sao so sánh được công sức của những người đối diện trước cái khó, cái có thể nguy hiểm cho bản thân. Họ đã không quản gian khổ chạy xe đường xa dưới những cơn mưa gió, đường ngập lụt nguy hiểm phát tận tay cho người dân. Bức tranh thật đẹp nói lên Tình Người bác ái quyết thực hiện câu “ Lá lành đùm lá rách, lá rách đùm là toét “.
Nơi tha hương, những đứa con của Huế cũng xót xa đau lòng theo dõi. Ông Hội Trưởng Lê Minh Hải của hội Huế, hội phó Trần Trung Trực, Lê Minh Hiền đã kêu gọi bà con hướng lòng về xứ Huế, liên kết các sư cô, các Chùa cứu đói khẩn cấp. Dù phải gánh vác tình riêng với hoàn cảnh gia đình người chị, tôi cũng cố gắng nghĩ đến tình chung với Huế.
Huế ơi! Thương Huế vô cùng, buồn và tự hỏi “ Răng Huế Khổ Dữ R”. Tôi chỉ biết cầu nguyện cơn bão 13 theo dự đoán thời tiết sẽ đổ ập đến vào mồng 5/11/25 sẽ biến mất tiêu. Cầu nguyện những nơi thiên tai bão lụt được chóng qua khỏi kiếp nạn.
Nguyện ngày an lành đêm an lành
Đêm ngày sáu thời đều an lành
Tất cả các thời đều an lành
Xin đấng Từ Bi thường gia hộ
Cám ơn những tấm lòng vàng đã hy sinh, bất chấp mọi nguy hiểm vượt đèo vượt núi, chèo thuyền kết bè, lội bùn sình để đến gần sự đau khổ của người dân. Cùng chung những bàn tay kết nối, chia sẻ chân tình truyền cảm giác ấm áp của Tình Người, vun xới trồng những bông hoa trên đường đời thơm ngát hương từ bi.
Mùa Thu đến! Mùa của yêu thương , mùa dậy lên những cảm giác bâng khuâng, tâm hồn thường xao động bởi màu nắng nhạt hắt hiu trên chòm cây xóm lá bắt đầu đổi sắc ngả vàng, rồi những cơn gió lay nhẹ. Lá bay, lá rơi cho lòng ai buồn hiu hắt. Nỗi buồn không tên hay có tên trong khoảnh khắc ru say đời ảo ảnh…
Lá đổ muôn chiều ôi lá úa
Phải chăng là những cánh đời em
Đêm đêm lìa xuống trần
tình vương hoen úa ôi những cánh đời mong manh
Than tiếc mà chi chiếc lá vàng bay về cuối trời
làm lòng anh nhớ mãi người ơi
Nhớ nhau từ làn môi đôi mắt
đành tìm trong nét bút xa xôi
“Lá Đổ Muôn Chiều” (Đoàn Chuẩn & Từ Linh)
Bao nhiêu ca từ viết về mùa thu càng làm lòng người ngây ngất yêu say đắm khung trời Hà Nội từng được miêu tả trong những tiểu thuyết của Tự Lực Văn Đoàn.
Có bóng mùa thu thức ta lòng sang mùa
Một ngày về xuôi chợt ghé Thăng Long buồn
Có phải em là mùa thu Hà Nội
Ngày sang thu anh lót lá em nằm
Bên trời xa sương tóc bay
……….
Có phải em là mùa thu Hà Nội
Nghìn năm sau ta níu bóng quay về
Ơi mùa thu của ước mơ
“Có Phải Em Mùa Thu Hà Nội”
(nhạc: Trần Quang Lộc, thơ: Tô Như Châu)
Thi nhân mặc khách chắc hẳn cũng mong chờ mùa thu
Anh mong chờ mùa Thu
Dìu thế nhân dần vào chốn Thiên Thai
Và cánh chim ngập ngừng không muốn bay
Mùa Thu quyến rũ Anh rồi
“Thu Quyến Rũ” (Đoàn Chuẩn & Từ Linh)
Khi người nhạc sĩ nuốt vào tim hình ảnh mùa thu, thì tình yêu bao la như mây trời dịu vợi, say sưa bất tận
Gửi gió cho mây ngàn bay
Gửi bướm đa tình về hoa
Gửi thêm ánh trăng màu xanh lá thư
Về đây với thu trần gian
“Gởi Gió Cho Mây Ngàn Bay” (Đoàn Chuẩn & Từ Linh)
Hãy hát, hãy say theo lời nhạc đầy trữ tình ẩn sâu nỗi niềm chất chứa điều tuyệt vọng, mà vẫn bám nó như thú của đau thương thoát thai bằng âm nhạc
Giòng sông nào đưa người tình đi biền biệt
Mùa thu nào đưa người về thăm bến xưa
Hoàng hạc bay, bay mãi bỏ trời mơ
Về đồi sim ta nhớ người vô bờ
Ta vẫn chờ em dưới gốc sim già đó,
Để hái dâng người một đóa đẫm tương tư
Đêm nguyệt cầm ta gọi em trong gió
Sáng linh lan hồn ta khóc bao giờ
Ta vẫn chờ em trên bao la đồi nương,
Trong mênh mông chiều sương
Giữa thu vàng, bên đồi sim trái chín
Một mình ta ngồi khóc tuổi thơ rơi
Thời gian nào trôi bềnh bồng trên phận người.
Biệt ly nào không muộn phiền trên dấu môi
Màu vàng lên, biêng biếc ánh chiều rơi
Nhạc hoài mong, ta hát vì xa người
Thu hát cho người, Thu hát cho người, người yêu …ơi
“Thu Hát Cho Người” (Vũ Đức Sao Biển).
Mùa thu được ví như người yêu bên cạnh, say đắm và ấm áp, níu kéo rồi buông lơi ru nỗi buồn lên thơ lên nhạc
Có yêu nhau, có tan vỡ nơi mùa thu đang ngự trị giữa thế gian thì cũng đừng nên đổ lỗi tại vì mùa thu
Thôi đừng hát ru, thôi đừng ray rứt
Lá trút rơi nhiều đâu phải bởi mùa thu
“Đâu Phải Bởi Mùa Thu” nhạc: Phú Quang, lời: Giáng Vân)
Thật là hạnh phúc khi ngoài trời êm dịu, thỉnh thoảng bắt gặp vầng mây tím phiêu bạt, lá vàng rơi nhẹ. Được uống trà thơ chữ nhạc lồng ý tưởng thật lãng mạn, lối văn trong sáng cuốn hút sự đam mê mãnh liệt. Dù còn vô số bài về mùa thu rất tuyệt vời như:
Thu Cô Liêu ( Văn Cao )
Mùa Thu Cho Em ( Ngô Thụy Miên )
Con Thuyền Không Bến ( Đặng Thế Phong )
Buồn Tàn Thu ( Văn Cao )
Mùa Thu Ru Em ( Đức Huy )
Nhìn Những Mùa Thu Đi ( Trịnh Công Sơn)
Chiếc Lá Cuối cùng ( Tuấn Khanh ) v…v…
Được thể hiện qua các giọng ca Thái Thanh, Mai Hương, Khánh Ly, Lệ Thu, Ánh Tuyết, Hà Thanh, Sĩ Phú, Anh Ngọc, Tuấn Ngọc và nhiều ca sĩ nữa. “Tre tàn măng mọc”, bây giờ có được Thiên Tôn, Ánh Tuyết, Ngọc Hạ, Ý Lan, Vũ Khanh thật là điều đáng mừng.
*********
Chiều 12 tháng 10 năm 2025 tại quán cà phê Lovers tọa lạc số 1855 trên đường Aborn RD. San Jose (bắc Cali) tổ chức chương trình nhạc “ Em Không Nghe Mùa Thu “ do ông Lê Văn Hải (Hội Trưởng hội Văn Thơ Lạc Việt) tổ chức cùng ban nhạc Thúy Nga đảm trách.
Tôi được nghe nhạc chủ đề mùa thu với bài ruột “Đâu Phải Bởi Mùa Thu”, “Mùa Thu Cho Em” do ca sĩ Hạnh Thảo hát thật tuyệt vời. Chị Thúy Nga (trưởng ban văn nghệ) cất lên giọng trầm ấm chuyển tải tiếng lòng của tác giả nghe buồn xa vắng :
Thu mang cho tình yêu Một thời đã qua
Thu mang cho người yêu
Một đời xót xa
Mùa thu đã xóa hết cơn mong chờ
Mùa thu sẽ cất dấu chân ơ thờ
Một người bước đi, lệ tình ướt mi
“Anh Đã Quên Mùa Thu” Tùng Giang, Nam Lộc).
Chị ca sĩ Thùy Nga chất giọng liêu trai giống ca sĩ Thanh Thúy dìu dắt hồn người bước vào cảnh thu nghe buồn ảo não
Hồn thu tới nơi đây gieo buồn lây
Lòng vắng muôn bề không liếp che gió về
Ai nức nở thương đời
Chân buông mau
dương thế bao là sầu …
“Giọt Mưa Thu” (Đặng Thế Phong)
Ngoài ra còn có nhiều ca sĩ khác nối tiếp bước vào chiều thu êm dịu đầy lãng mạn.
Đặc biệt có sự hiện diện của Thi Văn Nhạc sĩ Yên Sơn (thành viên của VTLV) từ Houston qua tham dự chiều nhạc, đã góp phần văn nghệ bằng bản “Khúc Thu Ca” do chính ông sáng tác, dù tuổi trên 80 nhưng giọng ông thật tốt, thật mạnh thả hơi diễn đạt theo lời nhạc nghe ngọt ngào.
Cám ơn Hội Trưởng VTLV. Cám ơn chị My (bà xã anh Hải đã đem hai ổ bánh Cake, bánh Thạch mừng hội viên có sinh nhật quý tư cũng như chả giò, bánh Patê-Chaud chiêu đãi từng bàn. Cám ơn các ca sĩ đem giọng ca tiếng hát chuyên chở mùa thu vào lòng người trong không gian tuyệt vời (cũng nói thêm vẫn như bao lần khách vào quán được nhận ticket uống nước free và ticket xổ số trúng thưởng).
Cám ơn thêm lần nữa anh Lê Văn Hải hội trưởng hội Văn Thơ Lạc Việt, cũng là chủ báo Thằng Mõ, Trưởng ban Truyền Thông Bắc Cali luôn tổ chức những sinh hoạt giải trí đem niềm vui đến mọi người.
Riêng với bạn nào đọc bài này, và nhất là với các nhạc sĩ, cho phép tôi nói vài dòng: Dẫu thấp kém về sự hiểu biết trong âm nhạc, chưa đủ khả năng cảm nhận và phân tích lời nhạc, xin các nhạc sĩ hoan hỷ tha lỗi cho nhé nếu ý tưởng sai lạc . Vì yêu thơ nhạc nên muốn lan man lời như mấy câu thơ dưới đây :
“Người đời ai cảm? Ta không biết
Ta cảm thương ai viết mấy lời
Thôi thì: Cùng thu tạm biệt
Thu hãy tạm lui
Chỉ để khách đa tình đa cảm
Một mình thay cảm những ai ai “
(Trích: Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu )
Minh Thúy Thành Nội
Tháng 10/2025
VĂN THƠ LẠC VIỆT – TRANG ĐẶC BIỆT Vĩnh Biệt Anh CHINH NGUYÊN.
LỜI CẢM ƠN TỪ CHỊ TRƯƠNG MỸ THANH – HIỀN THÊ ANH CHINH NGUYÊN
==
===
LÀ ANH CHINH NGUYÊN
Là anh_Lạc Việt của văn thơ
Hội trưởng năm dài đạt ước mơ
Bóng mát che chung thuyền tỵ nạn
Là anh_tâm huyết bỏ hằng giờ
*
Là anh_tuổi trẻ chọn con đường
Không phận bay mờ những tối sương
Dâng hiến đời trai cho lý tưởng
Chim bằng chiến hữu giữ quê hương
*
Là anh_văn hóa kết trao đời
Ngôn Việt lưu vong giữ sáng ngời
In sách tiếng Anh lời Việt dịch
Lưu truyền tuổi trẻ quyết không ngơi
*
Là anh_dốc lực hiến dâng mình
Hải ngại quê người đạt hiển vinh
Tiền bối từng thời luôn kính nể
Văn Thơ Lạc Việt sống bao tình
Là anh_như nắng đẹp mây hồng
Góp sức lo toan việc cộng đồng
Thi phú văn chương tràn suối chảy
Câu vần khỏa bút nhớ non sông
*
Là anh_buột gió những chiều vàng
Hạ trắng thu về dệt vẽ trang
Gối nguyệt thì thầm trao mộng ước
Thi cài bút vẫy mặc thời gian
*
Là anh luôn mãi tốt bao điều
Sức khỏe an lành hội mến yêu
Tửu phú Chinh Nguyên hồn nghệ sĩ
Bên Thanh-vợ tốt quý thương nhiều.
MTTN
25/01/2025
VĂN THƠ LẠC VIỆT TIỄN CHINH NGUYÊN
Thơ Phương Hoa
Chiều SAN JOSE mưa đổ Khóc một vì sao rơi Hoa Vàng Miền Thung Lũng Tiễn CHINH NGUYÊN nghẹn lời
* Từ quê hương chao đảo Biết bao điều nhiễu nhương Xứ người lòng anh vững Trái tim anh quật cường
* Tình yêu ngôn ngữ Mẹ
Văn Hoá của ông cha Hết lòng đem lan tỏa
Tiếng nước Nam ngọc ngà
* Nhiều thập niên anh giữ
LẠC VIỆT ngời VĂN THƠ Giai nhân cùng tài tử
Niềm vui rộn bến bờ…
* Năm châu và bốn bể
Anh kết nối tình thương Như vì sao sáng chói
khắp nơi nơi tỏ tường
* Đến thăm anh lần cuối
Tấm thân gầy mong manh Nghe lời cầu ĐỨC MẸ
Giọt lệ tràn mắt anh
* Từng một thời bảo vệ Tổ Quốc và Không gian CHINH NGUYÊN giờ vĩnh biệt Ôi đớn đau ngập tràn…
* Bài ca xin đưa tiễn Nốt nhạc buồn bâng khuâng Quyện hồi chuông Chúa đợi Rước anh đến Thiên Đường …
Phan Hà xin tiễn biệt anh Chinh Nguyên thân thương của VTLV
CHINH NGUYÊN LẠC VIỆT ĐÃ RA ĐI
Một trời tiếc nuối vì anh ấy
Sẽ bao phủ trôi toàn mây xám
Anh chị em ta cùng ngấn lệ
Tiễn đưa anh một đoạn đường ngắn
Để trọn tình anh với chúng em
Mai sau này đâu còn anh nữa
Cùng họa cùng ca Lạc Việt ta
Hoàng Sa kính bút
TIỄN ANH CHINH NGUYÊN
Đã biết trước nhân sinh là cõi tạm
Nhưng rất buồn nhận tin bạn ra đi
Phương trời xa còn biết nói năng chi
Xin ghi vội vài dòng thơ tưởng niệm
*
Bè dễ có, bạn tâm đầu khó kiếm
Nên đau lòng nghe tin dữ hôm nay
Khói không vương vào sao mắt lại cay
Ngó về phương đó chập chờn sương khói
*
Nén hương lòng thay cho lời muốn nói
Chinh Nguyên ơi! Thôi vĩnh biệt từ đây
Biết sẽ không lâu cũng có một ngày
Mình gặp lại nhau bên kia cõi sống
*
Bạn biết rồi trần gian là cõi mộng
Chúc bạn an vui bên Chúa nhân từ
YÊN SƠN
ĐỜI ĐÓNG LẠI … ́(LA BOUCLE EST BOUCLEE)
Đời đóng lại , lúc hồn ta lìa thế Chắc thoảng vui khi đậy nắp quan tài Vào chốn lạ, chẳng còn mầu dâu bể Và cõi lòng, giải tỏa tiếng bi ai …
Có phải chăng, phút giờ ta nhắm mắt Bỏ gian trần, bỏ ngàn nỗi truân chuyên Đời tục lụy, thoát từ, thôi vướng mắc Thản linh hồn, vĩnh cửu chốn thiên tiên…
Huu-Thien Paul Pham
*******
Lời Chia Buồn Của Nhà Văn Hồng Thủy –
Chủ Tịch Văn Bút ViệtNam Hải Ngoại Vùng ĐôngBắc Hoa Kỳ:
Được tin rất buồn:
Anh CHINH NGUYÊN đã vĩnh viễn ra đi. Xin chân thành chia buồn cùng chị THANH và toàn thể tangquyến. Xin CHÚA và MẸ MARIA đón anh về nước Thiên Đàng. Ở quá xa xôi không đưa tiễn anh được, xinchị THANH tha lỗi. Mình không bao giờ quên được sự đón tiếp nồng hậu của anh chị và các anh chị trong VTLV khi mình qua SAN JOSE.
Hồng Thủy (MARYLAND )
Lời Phân Ưu của văn thi sĩ Yên Sơn:
Nhận tin trễ – vì nhà có nhiều khách phương xa đến thăm Houston-Kingwood từ 19/3 đến hôm nay vừa tiễn vị khách cuối cùng – bạn Chinh Nguyên đã rời bỏ anh chị em chúng ta. Xin thành kính chia buồn cùng chị Thanh và gia đình tang quyến. Chúng tôi xin được cùng ACE chung lời cầu nguyện cho cầu linh hồn anh KQ nhà mình được đời đời an vui bên Chúa nhân từ; chúc Chị và tang quyến sớm vượt qua sự mất mát lớn lao trong đời.
Vô cùng thương tiếc Chinh Nguyên
Đã biết trước nhân sinh là cõi tạm
Nhưng rất buồn nhận tin bạn ra đi
Phương trời xa còn biết nói năng chi
Xin ghi vội vài dòng thơ tưởng niệm Bè dễ có, bạn tâm đầu khó kiếm
Nên đau lòng nghe tin dữ hôm nay
Khói không vương vào sao mắt lại cay
Ngó về phương đó chập chờn sương khói Nén hương lòng thay cho lời muốn nói
Chinh Nguyên ơi! Thôi vĩnh biệt từ đây
Biết sẽ không lâu cũng có một ngày
Mình gặp lại nhau bên kia cõi sống Bạn biết rồi trần gian là cõi mộng
Chúc bạn an vui bên Chúa nhân từ
Thân kính,
Yên Sơn & Ngọc Bích
Lời Chia Buồn Của Văn Thi Sĩ Phạm Phan Lang:
Phan Lang rất xót xa được tin anh Chinh Nguyên đã ra đi vĩnh viễn.
Xin thành kính chia buồn cùng chị Thanh & tang quyến và Thi Đàn VTLV.
Cầu nguyện cho linh hồn anh Chinh Nguyên sớm được hưởnh Nhan Thánh Chúa.
Mong chị Thanh cố nén đau buồn và giữ gìn sức khỏe để lo hậu sự cho anh.
Thành kính phân ưu,
Phạm Phan Lang
Lời Phân Ưu Của Nữ Dịch Giả Thái Lan:
Biết rằng ngày này sẽ đến, nhưng vẫn không khỏi nghẹn ngào… Anh Chinh Nguyên với sự giúp đỡ của chị Thanh đã cống hiến cho cộng đồng thật nhiều công sức của anh chị- Xin kính ơn anh chị-
Mong anh được đón nhận vào Nước Thiên Đàng, nơi không có đau khổ, chỉ có tình yêu và hạnh phúc vô tận. Xin Chúa ban cho chị Thanh và tang quyến sự kiên nhẫn, sức mạnh và niềm hy vọng để vượt qua thời gian đau buồn và mất mát này-
Thành kính phân ưu𝓽𝓷𝓵-thailan/phannữlan
Lời Chia Buồn Của văn thi Sĩ Thủy Lâm Synh:
Được tin nhà thơ Chinh Nguyên đã được về chầu Chúa ngày 8 tháng 4 năm 2025. Xa xôi lắm, chúng tôi không thể đích thân đưa tiễn. Đây nén hương lòng cung tiễn anh về với đấng vô cùng. Thành thật chia buồn cùng tang quyến – Đặc biệt bà quả phụ Chinh Nguyên và nhóm chủ trương Văn Thơ Lạc Việt.
Rất thương tiếc.
Thủy Lâm Synh
CHIẾN SĨ VÕ ĐẠI TÔN: SYDNEY 09.4.25 – CHÂN THÀNH CHIA BUỒN CÙNG TANG QUYẾN VÀ QUÝ THI-VĂN HỮU LẠC VIỆT.
Tin Buồn:
“Gia Đình”, cũng là Thi Đàn Văn Thơ Lạc Việt, xin báo tin buồn đến: Quý Niên Trưởng Cố Vấn, Quý Anh Chị Em Thành Viên, Quý Văn Thi Hữu, Quý Bạn Bè Thân Hữu bốn phương.
Sau thời gian dài, trên nửa năm, chống chọi với căn bịnh ung thư tuyến tụy, Vị Cựu Chủ Tịch thân yêu, đáng kính của chúng tôi là:
Nhà Thơ, Nhà Văn:
Giuse Chinh Nguyên
Vừa được Chúa gọi về:
Lúc 3 giờ sáng, ngày hôm nay! Thứ Ba, ngày 8 tháng 4 năm 2025
Tại bịnh viện Kaiser, San Jose, California, Hoa Kỳ.
Hưởng Thọ 82 Tuổi.
Đây là “Đại Tang” với VTLV, một vị Chủ Tịch nhiều khả năng, nhiệt huyết, tính tình hiền hòa, ai cũng thương, cũng mến. Trên 13 năm nắm giữ, điều động, trong mục đích “bảo tồn và phát huy Tiếng Việt” đã đưa Hội trở thành, một trong những Hội, năng động, hữu hiệu nhất, hoạt động trong mục đích này! nhất tại Miền Bắc Cali nói riêng và tại Hải Ngoại nói chung!
Sự ra đi của Ông, là một mất mát lớn với VTLV, không ai, không gì, có thể thay thế, bù đắp!
(Cáo Phó và chương trình Tang Lễ xin được thông báo sau.)
Quý Vị có thể gởi lời Chia Buồn đến Phu Nhân của Người Quá Cố là Chị Thanh (408) 348-0103
Vô Cùng Thương Tiếc, xin thông báo.
Tiễn Đưa Văn Thi sĩ CHINH NGUYÊN (Minh Thúy Thành Nội)
Vui lòng click vào hình để đọc
TIỄN BIỆT ANH
Tiễn biệt Chinh Nguyên luyến nhớ vương Rời xa chữ nghĩa bỏ lên đường Nỗi đau tiếc nuối người thân thuộc Xót dạ tâm tình Lạc Việt thương Xin Chúa ở trên ân sũng phước Để anh được đến cõi Thiên Phương Cuộc đời cống hiến bao công sức Gát bút an tâm thỏa mộng nhườn
Hoàng Mai Nhất 4/13/2025
Giới Thiệu Chút Hoạt Động,Cảm Nghĩ Về Cơ Sở “Văn Thơ Lạc Việt”
MINH THÚY
Vui lòng click vào hình để đọc
====
KÍNH GỬI đến gia đình anh Chinh Nguyên:
Anh Chinh Nguyên không mất đi mà do anh đã làm tròn nhiệm do Thiên Chúa vgiao phó cho anh ở Trần Gian. Anh Chinh Nguyện đã vác trọn con đường Thánh Giá của anh,và nay anh được Thiên Chúa gọi về và với tài nghệ của anh, tôi tin là anh sẽ được giao phó nhiệm vụ khác, có thể ở Trần Gian này, hay nới nào khác trong không trùng Vũ Trụ, anh ấy sẽ đem Hương Hoa Văn Thơ Lạc Việt trãi thêm Hương Hoa trong vùng Đất Mới.
Bảo Trâm
Tiễn Anh – Chinh Nguyên
Anh đi, nhẹ bước giữa trời,
Tháng Tư sao lại nghẹn lời chia ly!
Năm mươi năm dấu quốc kỳ,
Anh rời nhân thế, sớm quỳ bên Cha.
San Jose chiều gió nghiêng tà,
Văn chương thổn thức, lệ nhòa bài thơ.
Văn Thơ Lạc Việt ước mơ,
Giọng anh chan chứa, ấm bờ thi ca.
Anh đi, ngọn lửa chưa nhòa,
Chúng em giữ lấy, truyền qua hậu đời.
Trần gian cõi tạm đến chơi,
Tám mươi năm chẵn, sáng ngời tài hoa.
Nụ cười anh, dáng hiền hòa,
Thành viên thương mến, bạn già tiếc thương.
Chén trà, khúc hát nghê thường,
Còn vương kỷ niệm ngát hương chữ tình.
Anh về bên cõi yên bình,
Hưởng nhan Thánh Chúa lời kinh “Kính Mừng”
Văn Thơ lạc Việt chẳng ngừng,
Tiếp nối sự nghiệp tôn xưng Lạc Hồng.
Tiễn biệt anh “sắc tức không”
Thơ anh quyện giữa mênh mông ta bà!
Điếu Văn Tưởng Niệm Nhà Thơ Chinh Nguyên
Kính thưa quý vị,
Hôm nay, ngày 4 tháng 5 năm 2025, đúng 50 năm kể từ ngày Quốc Hận lại là ngày ly biệt phân kỳ. Văn Thơ Lạc Việt tụ hội nơi đây để tiễn biệt một người thân, một người bạn văn chương tri kỷ, một thi sĩ tài hoa, Nhà Thơ Chinh Nguyên, một người từng là chủ tịch của nhóm chúng ta đến 13 năm tại vị trưởng nhóm văn đàn, giờ đây anh lặng lẽ rời xa
cõi tạm vào ngày 8 tháng Tư năm 2025 tại San Jose, California.
Nhà Thơ Chinh Nguyên không chỉ là một nhà văn, truyền thông, quay film mà còn là một người gìn giữ và phát huy văn hóa Việt Nam nơi hải ngoại. Với ba nhiệm kỳ làm Chủ tịch Văn Thơ Lạc Việt, anh đã không ngừng nỗ lực kết nối những tâm hồn yêu văn chương, âm nhạc và nghệ thuật, tạo nên một cộng đồng gắn bó, đầy nhiệt huyết và sáng tạo.
Anh luôn hiện diện với nụ cười hiền hậu, ánh mắt ấm áp và tấm lòng rộng mở. Sự hòa nhã và chân thành của anh đã khiến mọi người xung quanh cảm thấy được an ủi và khích lệ. Anh là người bạn, người anh mà ai cũng quý mến, là ngọn lửa âm thầm thắp sáng niềm tin và hy vọng cho thế hệ tiếp nối.
Sự ra đi của anh để lại một khoảng trống lớn trong lòng Văn Thơ Lạc Việt. Nhưng chúng ta tin rằng, anh đã an lành trở về với Chúa, nơi không còn tranh chấp, thị phi, bởi ở đó chỉ có ánh sáng và tình yêu thương vĩnh cửu.
Anh Chinh Nguyên kính mến,
Anh an lòng về bên chân Chúa. Văn Thơ Lạc Việt, những thành viên cũ mới còn ở lại trần gian, xin hứa sẽ tiếp tục con đường anh đã bước, mãi giữ gìn và phát huy ngọn lửa
văn hóa mà anh đã thắp sáng để rồi giờ đây những thành viên còn lại sẽ truyền ngọn lửa ấy cho thế hệ mai sau, với niềm tin rằng, bằng văn hóa và nghệ thuật, chúng ta có thể mang lại niềm tin nhân bản và sự an bình cho dân tộc Việt Nam.
Vĩnh biệt anh – Nhà thơ Chinh Nguyên.
Nguyễn Hồng Dũng
ReplyForwardAdd reaction
CA KHÚC MỚI – ẢO MỘNG – THƠ MINH THÚY THÀNH NỘI – NHẠC THÁI PHẠM – CA SĨ THANH HOÀI – Kana Ngọc Thúy
Mùa Xuân Này Nắng Lên | Minh Thúy Thành Nội
TRUYỆN NGẮN Màn Sương Đêm. MINH THÚY.
Màn Sương Đêm
Tiếng đứa con nít khóc thét làm tôi giật mình thức dậy. Bóng tối trước mắt, tôi nhìn quanh ngơ ngác, nằm yên để định tĩnh nhận biết quang cảnh chung quanh. Chiếc “sofa” tôi đang nằm, chẳng có đứa trẻ nào khóc, vò đầu lẩm bẩm “Lại là giấc mơ, lại là đứa trẻ quen thuộc”.
Tôi vùng dậy bật đèn sáng bước qua chiếc bàn gần đó, chiếc bàn gần gũi bày đủ thứ giấy tờ bề bộn thân thương. Ngồi nhìn ra khung cửa kính rộng, màn đêm dày đặc, có lớp sương mù đang bao phủ. Thở dài! Khó dỗ lại giấc ngủ, nhìn đồng hồ 2 giờ sáng. Căn bệnh mấy mươi năm vẫn không thay đổi tốt đẹp hơn, vẫn hằng đêm thức giấc. Tiếp tục đùa giỡn với thơ văn, dù không dám mơ mình là nhà thơ, nhà văn vì chữ “nhà” lớn quá, nhưng ít nhất trong máu tôi có sự đam mê, thì đó cũng là cứu cánh, là lối thoát cho tôi bớt đau khổ nỗi bất hạnh trong cuộc sống để tập viết văn, tập làm thơ.
Đêm tối tĩnh lặng, nó là người bạn thân thiết nhất, gần gũi nhất của tôi trong lúc này. Có lúc viết thật nhiều, có lúc chỉ ngồi nhìn ra bóng đêm suy nghĩ mông lung qua cái dáng bất động. Tôi nhìn sâu ngoài khu vườn, ánh đèn sáng hắt ra vừa đủ thấy những chậu lá quỳnh xanh tươi sau mùa hoa nở, giàn lá mồng tơi dày đặc, cây phượng vàng la đà trước gió, tất cả đều được phủ một màn sương trắng mờ. Và đêm hình như đang sẵn sàng chờ đợi tôi trút bầu tâm sự.
Tôi đến Mỹ đã 30 tuổi, cái tuổi hơi muộn màng nhưng phải bắt tay gầy dựng cuộc sống thực tế trước, vợ chồng cùng hẹn hai năm sau sẽ tính chuyện con cái. Nhưng rồi sau hai năm vẫn chưa thấy gì. Chúng tôi bắt đầu nóng ruột tìm đến bác sĩ Hải Văn Phạm có phòng mạch trên San Jose. Ban đầu cũng từng bước: thử máu, khám phụ khoa, hướng dẫn những việc cần thiết tính ngày gần nhau. Hơn nửa năm chưa có kết quả, bác sĩ nghi tôi bị nghẹt ống dẫn trứng, ông mổ trên phần rốn, chuyền ống được bơm vào chất nước lỏng pha màu đỏ gọi là thông ống. Tuần sau ông hẹn gặp cho biết tình trạng một bên thông, một bên nước trào ngược lên, ông chẩn đoán lý do bị nghẹt ống và kết luận tôi khó có con. Lúc ấy chồng tôi ngồi phòng đợi, gặp tôi hỏi dồn dập. Cả hai cùng ra về, ngồi trên xe tôi kể lại, nét mặt anh ngẩn ngơ im lặng suốt quãng đường dài.
Anh chở tôi tới tiệm phở nói “ăn cái đã, lo bao tử trước.” Tôi không nuốt xuống, ngồi nhìn anh ăn mà thừ người, làm sao tôi quên được cảm giác tuyệt vọng đau khổ lần đầu tiên của buổi sáng hôm đó. Lời bác sĩ như phán tên tử tội sắp bị ra xử bắn, người tôi run lên, mắt ráo hoảnh không khóc được. Nhìn anh ngồi im lặng ăn mà lòng tôi tê đắng. Tôi cũng không biết anh đang nghĩ gì, riêng tôi cảm tưởng như có khoảng cách giữa hai người.
Chúng tôi cảm thấy mệt mỏi, sống như bộ máy di động, riêng tôi hễ nghĩ tới là bị nhức đầu kinh khủng. May có ngôi Chùa vừa mở gần nhà, tôi như người chết đuối cần níu tấm phao trấn tĩnh lại tinh thần. Mỗi tối thứ Sáu, tối xả trại báo hiệu cuối tuần, tôi tới tụng kinh nghe pháp, nhìn lên Đức Phật thì thầm cầu nguyện những điều đang mong ước mà ứa nước mắt tủi phận.
Một tối chị Phật tử dẫn ba đứa con trai khoảng tuổi rưỡi lên Chùa. Trong lúc thầy giảng pháp, ba cháu bò quanh chánh điện, chị nhờ tôi giữ một đứa, người khác giữ một đứa, chị ôm một đứa than thở:
– Biết vậy trước kia đừng cấy con, mở mắt không ra cực quá đi. Lần sau không dám tới chùa nữa, làm phiền thầy và đạo hữu quá.
Tôi hỏi dò thì chị cho biết cấy con trên bệnh viện Stanford một đứa ra ba đứa. Tôi xin số phone ông Milki, tâm trạng hồi hộp của kẻ vừa tìm ra ánh sáng cuối đường hầm.
Dù công việc bề bộn, chủ còn yêu cầu làm “overtime”, nhưng lòng tôi ấm ức chẳng ham muốn, tiền bạc đối với tôi chỉ vô nghĩa lúc ấy. Tôi được biết một lần cấy con, dù đậu hay rớt phải trả mười ngàn. Bạn tôi cũng đồng bệnh nhưng không dám tính chuyện cấy con, lớp công việc vùi đầu, lớp sợ tốn tiền. Tôi thì lại suy nghĩ khác “y học ngày càng văn minh tiến bộ, phải khám tận cùng để biết lý do, phải xoay sở nếm trải dù không được thì cũng xuôi tay mãn nguyện khi nhắm mắt, còn hơn cứ ấm ức suốt đời mà không hiểu nguyên nhân.”
Chúng tôi lên bệnh viện Stanford gặp bác sĩ Milki, quy luật nơi đây mỗi lần gặp bác sĩ dù chỉ nói chuyện tham khảo đều phải trả hai trăm. Cũng trở lại như bác sĩ Hải từng bước một: thử máu, lấy tinh trùng đàn ông bỏ ống kính hiển vi. Điều làm tôi nhói lòng, ray rức nhất là nhìn vào kính thấy những con tinh trùng của chồng bò ngang dọc. Nói chung là họ khám tôi nhiều hơn, theo dõi có rụng trứng, xem xét nhiều thứ khác.
Buổi hẹn khác bác sĩ đẩy tôi nằm trên băng ca, lên tầng lầu cao chuẩn bị súc ống dẫn trứng. Trong lúc chờ tới phiên, y tá đẩy tôi vào nằm chung dãy với nhiều bệnh nhân đang nằm, mỗi giường được che tấm màn kéo ngăn lại. Tôi nghe tiếng y tá chúc mừng giường cạnh “Chúc mừng bạn, bạn cấy lần này là thứ mấy? “, tiếng bệnh nhân trả lời yếu ớt “Lần thứ ba, hai lần kia hỏng …” Tôi giật mình, thì ra không phải cấy một lần là đậu thai, mà đến lần thứ ba bà kia mới đậu thai, như vậy tốn ba mươi ngàn, tôi vừa hồi hộp chen lẫn sự lo âu.
Đến phiên tôi bác sĩ mổ như lần trước, đẩy ống bơm nhuộm đỏ vào thông đường dẫn trứng. Dù có thuốc tê nhưng tôi vô cùng đau đớn tưởng như chết mất, tôi đuối sức nửa tỉnh nửa mê. Bác sĩ sau một thời gian loay hoay rất lâu, không như ông BS trước chỉ thời gian ngắn và cũng không đau. Ông nhìn tôi lả người, ngưng công việc, các y tá phụ giúp đẩy xuống phòng khám của ông ở tầng hai, nhưng ông cám ơn và tự một mình đẩy tôi xuống mấy tầng bằng thang máy. Vẻ mặt ông nhìn tôi như chia sẻ nỗi đau, đúng là hình ảnh của một vị “lương y như từ mẫu”. Ông nắm tay tôi an ủi, nét mặt đầy nhân ái luôn miệng “that ok, that ok!” Sau mấy tiếng nằm bớt mệt nơi phòng mạch ông, tôi về nhà nhưng cơn đau còn làm người tôi run rẩy mềm như con bún.
Hai tuần tiếp tôi có cuộc hẹn để ông cho biết kết quả, ông mở màn hình được chụp X-quang trong bụng tôi. Màn hình đen tuyền nổi lên một ống trắng như ánh đèn điện. Bác sĩ giải thích:
Trong khoang bụng có hai ống dẫn trứng thông xuống buồng tử cung, nhưng cấu tạo trong tôi chỉ có một ống, còn lại một ống bị thịt nằm bít lối, ông cố nông ra nhưng không được, đó là lý do khiến tôi bị đau quằn quại suýt chết. Ông ví dụ như sóng mũi, có nhiều người nhìn bên ngoài bình thường nhưng bên trong bị thịt lấp kín nào ai biết. Đó là trường hợp bị tật bẩm sinh, và trường hợp tôi cũng xem như bị tật nguyền bẩm sinh không được cấu tạo bình thường như mọi người. Bác sĩ cho biết có thể cho thụ tinh đặt vào giữa, nhưng trường hợp tôi không có đủ hai ống để giữ bào thai. Đứa bé sẽ không ở trong bụng mẹ chín tháng mười ngày, mà sẽ chào đời sớm khoảng năm hoặc sáu tháng. Ông đã gặp trường hợp này trong nghề nghiệp, đứa bé sẽ không được bình thường. Ông nói:
– Nếu tôi muốn kiếm nguồn lợi tức sẽ im lặng hành nghề để nhận tiền, nhưng lương tâm tôi không cho phép khi nghĩ đến những trẻ em bị bệnh “Down”. Tôi nghĩ ông bà không nên cấy, cho đứa bé bệnh tật chào đời sẽ khổ cả cha mẹ lẫn con, thà xin con nuôi.
Sau buổi nói chuyện ông đưa hai tay ra dấu cản chúng tôi “Don’t pay anything today.” Chúng tôi vô cùng cảm kích người bác sĩ đã đặt lương tâm lên trên quyền lợi và có tấm lòng nhân hậu biết an ủi bệnh nhân. Ông còn khiêm nhường bảo chúng tôi có thể lên San Francisco thử nghiệm thêm biết đâu gặp bác sĩ giỏi.
Chúng tôi nghĩ bệnh viện Stanford từ lâu nổi tiếng nhất về mọi mặt, nên không cần tìm nơi khác. Về nhà tôi tìm tài liệu đọc để hiểu thêm
“Ống dẫn trứng (vòi trứng)
Ống dẫn trứng nằm ở khoang bụng, được cấu tạo bởi 2 ống dẫn dài và hẹp. Thông thường, 2 vòi trứng của nữ giới sẽ thông với buồng tử cung. Chức năng chính của nó là giúp trứng và tinh trùng gặp nhau, tạo nên quá trình thụ tinh. Nếu vòi trứng bị tắc thì khả năng hiếm muộn và vô sinh của chị em sẽ tăng lên rất cao.”
Tôi đã bị kết án là tuyệt tự, lòng tức tối muốn gào thét lớn rằng ông trời bất công. Tại sao cặp vợ chồng kia đi chích để trục bào thai vì bận làm ăn, vì đang ngồi trên lưng cọp. Tin tức chiếu hàng ngày thiếu nữ tuổi mới lớn lỡ dại dính bầu, chưa muốn có trách nhiệm, sinh ra rồi bỏ con lại nơi bệnh viện, hoặc khổ hơn là những phụ nữ làm nghề mại dâm, sinh con rồi dụt thùng rác. Khi còn ở VN, có lần tôi đến nhà bạn, nó đi khám bác sĩ về ngồi than vắn thở dài, khóc lóc:
– Đã ba đứa rồi, thiếu ăn thiếu mặc, giờ có nữa lấy gì nuôi con đây, bị vỡ kế hoạch ngoài ý muốn.”
Trong khi chúng tôi chuẩn bị sẵn sàng để đứa nhỏ chào đời. Uất ức rồi lại đâm ra trách móc các thai nhi vụng tu, không tìm nơi sáng sủa chào đón mà lại đầu thai vào những chỗ người ta muốn hất hủi. Một đứa bé chào đời là như thiên thần, biết cười, biết khóc, biết lật, biết bò, biết chập chững đi rồi chạy… Tôi khao khát muốn gởi thông điệp đến những người mẹ có con, phải biết quý như vàng ngọc, nâng niu dạy dỗ nên người.
Ngày tháng qua đi trong nỗi điên loạn tuyệt vọng, nghĩ đến chỉ tức tối nghẹn ngào. Chồng tôi vẫn tỏ ra bình thản như lần đầu tôi đi khám. Tôi tìm sự khuây khỏa chỉ muốn lái xe đến chùa, dành thêm ngày Chủ Nhật sinh hoạt. Có những buổi trưa tan lễ, nhưng tôi chẳng muốn về, ra ngồi trước tượng Phật Quan Âm lộ thiên ngoài vườn, ngồi hàng giờ nghe chim hót, nhìn trời đất, hoa cỏ mọc tươi đẹp sắc, lòng an tĩnh nguôi ngoai phần nào.
Tôi rất ngạc nhiên khi thấy đứa bé nét rất quen luôn về trong giấc mơ của tôi, giấc mơ không rõ rệt, mơ hồ có khi nó cười, có khi nó khóc, có khi nó nằm ngửa đưa ngón tay vào miệng mút say sưa. Tình cờ một hôm tôi dọn dẹp sách báo, các quyển Album, để mắt nhìn số hình xưa của chồng. Tôi thấy tấm hình đã ố vàng theo thời gian, đúng là nét đứa bé tôi thường gặp trong giấc mơ. Sực nhớ tấm hình này có lần chồng tôi khoe lúc mạ sinh được hơn một năm. Có phải tấm hình đã nằm trong tiềm thức của tôi vì nhìn kỹ nó rất giống nét mặt chồng tôi, tại sao lại luôn trở về trong giấc mơ của tôi, nó luôn ám ảnh tôi, từ đó tôi nuôi dưỡng cho nó lớn theo ngày tháng…
Khi các em gia đình Phật tử Chánh Hòa sinh hoạt trước sân chùa, tôi đứng nhìn thấy nó lớn độ năm, sáu tuổi mặc quần xanh, áo lam đang chạy theo trò chơi anh huynh trưởng hướng dẫn. Cả mấy chục em sau thời các ông bà nghe pháp tụng niệm tan hàng, thì các em được các anh chị huynh trưởng hướng dẫn vào chánh điện lễ Phật. Các em đều bỏ sách cặp ngoài sân có thứ tự theo hàng lối, mắt tôi mờ dần theo đứa bé cũng có động tác y như các bạn. Rồi chúng ra sau các lều được mấy phụ huynh lo buổi cơm chay có khi là pizza, có khi Spaghetti, có khi mì hoặc phở, và đứa bé ấy cũng ngồi ăn chay thích thú như tôi vẫn thường ăn. Ngày các cháu bên chồng ra trường, tôi lại phóng đại nét mặt đứa bé thành cậu thanh niên khoác áo mũ xênh xang tốt nghiệp. Cứ vậy mà tôi tự ru tôi trong ảo giác từng sinh hoạt mình chứng kiến.
Một lần chồng tôi nói “con cái là trời cho, biết bao cặp vợ chồng sinh nhiều con rồi cũng ly dị không hạnh phúc, thôi thì mình vui vẻ sống tới già, người nào mất trước thì khỏe hơn người còn lại.” Từ đó hình như không có chuyện gì để nói với nhau, cả hai cùng thi đua làm hai “Jobs”. Tôi muốn vùi đầu vào công việc để quên tất cả, tránh suy nghĩ tránh nỗi buồn ấm ức.
Thời gian vẫn trôi đều lặng lẽ trong ngôi nhà của một cặp vợ chồng sống như người máy, sống gần như lạnh cảm. Thế rồi một hôm có người chỉ mách muốn xin con nuôi có dịch vụ nơi văn phòng luật sư. Chúng tôi lên văn phòng luật sư Robert Mullins International gặp anh Lê Minh Hải gắng gượng tìm cứu cánh. Anh hỏi tiêu chuẩn đứa bé chúng tôi muốn tìm là trai hay gái, độ khoảng bao nhiêu tuổi, chúng tôi điền thủ tục đón nhận cảm giác mới lạ như vườn hoa lâu ngày bị khô héo nay được tưới ít nước vào. Chờ khoảng mấy tháng, anh Hải gọi chúng tôi cho biết nguồn tin mới:
– Hiện nay chính phủ tạm thời ngưng trình trạng gia nhập con nuôi vào Hoa Kỳ vì sợ trẻ em bị lợi dụng làm những việc xấu.
Tai tôi lùng bùng chỉ biết đại khái như vậy, chút niềm an ủi vừa sáng lên thì lại vụt tắt, còn điều gì tha thiết trên cõi đời này nữa. Năm tháng dần tăng tuổi, tôi cũng bớt nghe những câu nói làm đau buốt tâm can:
– Sao gà nhà người ta gáy rồi mình chưa gáy
– Lo chạy chữa đừng để mang tiếng “cây độc không trái, gái độc không con.”
Có người còn tra hỏi như luật sư:
– Lỗi của ai?
Những khi có chồng tôi nghe, thì được trả lời:
– Lỗi cả hai người
Làm chung chị bạn ngồi cạnh bàn, chị cũng có nỗi khổ muốn điên đầu. Sáng sớm nào đến cũng có câu chuyện mới để thả rác qua tôi, để giải tỏa phần nào. Chị than:
– Chồng dẫn con trai đầu đi vượt biển, gần mười năm sau mình mới qua, tội nghiệp ông chồng đi cày vừa lo con bên này, vừa gởi tiền nuôi vợ con còn kẹt bên Việt Nam. Qua đây đoàn tụ thấy tâm tánh đứa con trai buồn quá… Nó mua Hamburger hai cái ngồi ăn, chẳng cho đứa em trai mới qua, mình giả bộ đến gần “cho mẹ xin chút xíu thử xem ha” nó vênh mặt trả lời “con ăn còn chưa đủ có đâu tới phiên mẹ”. Có lần nó ngồi vặn đài tivi tình cờ đang xem chiếu chiến tranh Việt Nam, mình lại gần nói “Việt Nam mình khổ lắm con, như con còn các dì các cậu rất nghèo,” nó đỏ mặt tắt tivi hét lên “Ngu ngốc, tại sao không trốn đi!” Hết tiền tiêu nó đòi, ông chưa kịp cho, nó chưởi ông, thấy nó tiêu xài dữ quá. Tết mình xin $50 gởi về cho ngoại, nó không cho lạnh lùng nói “Con đâu biết mấy người đó là ai” mình chỉ biết thở dài không làm sao dạy dỗ nó được.
Bạn tôi mở tiệm làm ăn quá bận rộn ngày đêm nơi tiệm, con đi học bị đám học trò dụ hút ma túy, bạn khổ trăm điều. Mỗi lần tôi ghé tiệm thăm, bạn than thở và nhìn tôi nói “Mi đừng có con nghe chưa, Phật đã nói “con là nợ”, “tao nợ triền miên theo nó.”
Sao lạ quá, người nói ngược, kẻ nói xuôi, tinh thần tôi đã bị xáo trộn không ổn định, tôi chỉ muốn nghe giáo lý nhà Phật để xoa dịu bớt cuộc sống tâm thần đang rối loạn. Công việc bận rộn giúp tôi bớt suy nghĩ về sự bất hạnh của mình.
Tin tức mỗi tối ngồi ăn cơm xem tivi nghe được: Bà người Liên Xô xin con nuôi khoảng bảy tuổi, một hôm nó nghịch phá thứ gì quan trọng lắm, mẹ nuôi giận quá chỉ đánh một cái, gặp lúc đứa bé lên cơn suyễn thở không được bị tắt hơi chết, mẹ nuôi phải vào tù. Chuyện khác: con nuôi lớn lên hư hỏng về tra khảo, đánh đập cha mẹ lấy tiền. Chuyện nọ: con nuôi giết mẹ… v..v… những chuyện xấu về con nuôi khiến tôi lo âu sợ hãi. Có chú em sinh hoạt trên chùa làm việc nơi sở xã hội diện adoption muốn giúp, nhưng tôi bị nhập tâm các tin tức xấu về con nuôi, nên mệt mỏi từ từ.
Dần dần tôi cố gắng trấn tĩnh ảnh hưởng qua giáo lý nhà Phật, “kiếp trước mình gieo ác không thích trẻ thơ, nên kiếp này trời không cho. Thôi thì kiếp này cố gắng tu tập, gieo nhiều nghiệp thiện, nếu kiếp sau được tái sinh làm người sẽ gặp nghiệp tốt.” Tôi suy nghĩ những người tu đã buông bỏ hạnh phúc niềm vui của thế gian tìm vào chốn thiền môn, sống kham khổ chay tịnh, tìm chân lý tuyệt mỹ của đạo qua Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo ngày ngày truyền đạt đại chúng giúp người bớt khổ, thảnh thơi sống khỏe sống vui. Nhìn xuống thêm nữa là những người tàn tật, bại liệt, mù loà vẫn lết một kiếp người. Tôi cảm thấy thẹn vì mình đã chấp cái tôi, nghĩ đến “cái tôi” của mình tham quá và tự nhủ lòng đời là vô thường, không có thứ gì là của mình, hãy buông bỏ để rèn luyện “Khổ, Tập, Diệt, Đạo.”
Từ đó tôi cảm thấy nhẹ hẫng tinh thần hơn, cố gắng un đúc những việc tốt, cố gắng giữ thân, khẩu, ý thanh tịnh. Tôi liên lạc với Sư Bà Minh Tú, chùa Đức Sơn ở Huế nuôi cô nhi, liên lạc với Sư Cô Liên Bình thân mật. May mắn bạn bè, chị em trong gia đình đã ủy nhiệm cho tôi việc gởi tiền giúp cô nhi cũng như hội người mù, nhờ Sư Cô đảm trách. Nhận những tấm hình các trẻ ngồi ăn, đi học, sinh hoạt vui chơi từ cô Liên Bình, hoặc hội người mù tập họp nhận tiền, truyền cho tôi cảm giác thật ấm áp và niềm vui vô tận.
Nhưng rồi tôi lại có bệnh mất ngủ, hễ khoảng từ 2 giờ đêm trở về sáng tôi thường hay thức giấc. Đêm là bóng tối dễ chịu nhất khi tôi ngồi đối diện khung cửa sổ nhìn ra vườn. Mùa đông bóng đêm dày đặc, mùa hè in lá cây loang loáng hoặc sáng hơn dưới ánh trăng xuyên qua cành lá, và hình như mùa nào cũng có màn sương mờ mờ bao phủ. Tôi bày thơ Đường luật ra học, tập làm các thể khó nhất như Ngũ Độ Thanh, Song Thanh, Song Điệp, Toán Thi, Sắc Thi, Tập Danh, Tung Hoành Trục Khoán, v..v… rồi gia nhập các hội thơ chơi xướng họa, hoặc viết theo nguồn rung cảm các thể thơ Song Thất Lục Bát, Trường Thiên Tứ Tuyệt.
Khoảng 4 giờ sáng tôi ngủ lại để lấy sức đi cày, riết lâu ngày thành thói quen, tôi tìm ra sự dễ chịu bù đắp cảm giác cô đơn. Rồi thì tôi lấn sang viết văn, nó là người bạn hiền giúp tôi được nói, được bày tỏ buồn vui, có phải đó là món quà của Thượng Đế dành tặng ngòi bút cho những kẻ muốn viết. Khi cái Không có sẽ cho Có, cái mất sẽ cho bù. Tha hồ khóc cười theo cảm xúc, sống với những nhân vật có thật, chuyện có thật rồi đi theo họ tới chân trời góc bể, chia buồn chung khổ. Một thế giới bao la nhiều nhân vật vây quanh, chân thành dễ chịu, an ủi như những người bạn tri âm tri kỷ tôi được gặp qua màn sương đêm ngoài khung cửa. Dù không phải là nhà văn, nhưng viết cũng là lối thoát giúp rèn luyện trí nhớ, giải tỏa nỗi niềm riêng
Duyên Nợ
Có phải anh ơi chuyện chúng mình
Duyên hòa với nợ kết đời xinh
Đau nhòa số hẩm cài câu nghĩa
Khổ đẫm nhà đơn níu chữ tình
Lặng lẽ từng thu chờ ánh nắng
Âm thầm những hạ đợi bình minh
Tàn đêm lệ tẩm niềm mơ ước
Cố vịn dìu nhau bóng cạnh hình.
Giờ đây chiếc bóng thời gian đã vụt nhanh, chúng tôi nghỉ hưu. Hằng ngày trộm nhìn mái tóc pha sương của nhau, đón bệnh vác tủ thuốc và thi nhau uống. Chồng tôi đón bệnh Parkinson, tôi bao dàn việc nhà, cả hai cùng có dấu hiệu Alzheimer’s. (nhớ nhớ quên quên). Dù người bệnh chăm sóc người bệnh, nhưng chúng tôi cố gắng vui từng ngày, tham gia những sinh hoạt cộng đồng, đi chùa, ghi lớp học Phật Pháp trên Zoom, dự tiệc cơm chay, v..v…
Dầu sao tôi vẫn cám ơn những đêm mất ngủ, thức dậy đối diện với màn sương đêm ngoài khung cửa kính, tôi được viết văn làm thơ với niềm đam mê, ví như đang cố gắng trồng những bông hoa thật đẹp cho cuộc đời, cho mình…
Minh Thúy Thành Nội
MINH THÚY: VĂN – Đi Qua Miền Quá Khứ
Đi Qua Miền Quá Khứ
Linh qua Mỹ theo diện đoàn tụ (cha bảo lãnh) nên chờ đợi dài cổ bao nhiêu năm trời, vậy là tuổi xuân đi qua lẹ làng. Khi còn ở VN từ lúc học lớp đệ tam (lớp 10) đã có bạn thương, lên dần bạn trai thích vây quanh cũng đông. Lúc học Cao Đẳng Sư Phạm cũng yêu một bạn chung lớp, ra trường vào Sài Gòn chờ đi Mỹ vì có giấy tờ cha gởi về. Cha cấm con gái, con trai không ai được lập gia đình chờ ngày ra đi. Thời gian chờ đợi cũng có các bạn ra trường kỹ sư, hoặc dạy đại học theo đuổi. Nhiều người làm Linh đâm ra “lơ lửng con cá vàng”, vui chơi qua ngày qua tháng, tới Mỹ thì Linh đã kề 28 tuổi. Linh cũng cố gắng ghi tên học trường De Anza College hai năm, lấy mảnh bằng Technician xong chẳng muốn học thêm vì cảm nhận thời mình đã qua, vào lớp ngồi chung đám trẻ thấy nản lòng, may có vài bạn thuộc thế hệ mình, ai cũng muốn học nhanh đi kiếm việc, kiếm tiền cho lẹ.
Ra trường ba tháng sau Linh kiếm được việc, vào làm hãng điện tử Solectrone.
Với lứa tuổi này thật khổ, tối ngày điếc tai theo nhiều tiếng quở trách vô cớ
– Lúc nào cho ăn bánh mừng đây
– Kén quá nên giảm ga đi
– Coi chừng ế đó nha
– Bạn mày giờ này đâu còn ai đợi mày nữa, họ lên xe bông hết rồi
Linh chỉ biết cười trừ trả lời chung
– Thì lúc nào có bánh mừng là biết liền, nếu thấy im lặng thì xem như ế rồi đó nha.
Linh cũng muốn kiếm bạn lắm chứ, thời gian gần qua Mỹ cũng yêu da diết anh chàng kỹ sư Phú Thọ, ông anh giữ trách nhiệm ngăn chận nên nhắc ngày nhắc đêm, ngày lên đường chia tay đẫm đầy nước mắt. Trong lúc lòng nàng héo hắt bên này thì năm sau nghe tin chàng cưới vợ, từ đó Linh khép kín cửa lòng lại.
Nơi hãng này có anh Vũ sáng nào tới cũng tặng Linh bịch táo, hỏi ra biết mẹ anh có mở chợ trên vùng SF. Một hôm anh đòi đến nhà thăm cho biết, Linh nhận táo nhiều cũng có chút nể nang tình cảm nên cho địa chỉ. Gặp ngày chủ nhật, anh đến buổi chiều, anh chị em Linh thường tụ họp đông cuối tuần. Mọi người thấy anh Vũ đến thì dạt ra chạy tránh mặt trên lầu, dưới nhà chỉ có người chị dâu lo nấu nước mời khách. Em này chạy xuống, em kia chạy ngang cố ý nhìn mặt khách, anh Vũ cũng cho táo và ngồi chơi một tý rồi kiếu về dù mẹ Linh mời ở lại dùng cơm. Anh vừa ra về thì cả nhà chạy xuống nhao nhao
Cô em nói
– trời ơi …sao giống Chí Phèo hè
Người chị dâu cười cười
– Cô Linh bữa này dám quen tay anh chị Vũ Cầu Muối hè
Em khác quay qua mẹ
– Ngồi trên lắng nghe mẹ hỏi “nhà này đông người lắm, sợ không con…” chao ơi nét mặt …lựu đạn đó mà sợ ai
Ông anh kế đi lui đi tới ngâm nga ”Buổi chợ đông cá hồng em chê bạc. Chợ tan rồi con cá bạc em cũng mua”.
Linh chỉ biết nín cười lắc đầu trước bao lời phê bình. Nàng thấy nhìn quanh chẳng còn ai, mà suốt ngày đi làm chỉ có anh Vũ tuy già nhưng còn độc thân, thì cũng thử xem *1“ cố gắng yêu người mà sống, lâu rồi đời mình sẽ qua …” chứ chị em trong nhà thường bảo “ra công tìm người giới thiệu, hè nhau đẩy cái đò này đi”. Từ đó Linh tỏ thái độ nghiệm nghị lạnh lùng và cũng không nhận táo nữa, nên anh Tuấn cũng rút lui( nghe anh trước là sĩ quan QLVNCH cấp bậc Trung uý).
Nơi đây cũng có anh VN làm công việc dọn dẹp, thấy Linh cùng người VN thỉnh thoảng gặp hỏi thăm cười chào. Từ từ không biết anh có “phải lòng” với Linh không, mà bữa cho Linh cái bánh bao, bữa cho ổ mì thịt, Linh không nhận nhưng anh nói
– Tui mua ăn trưa luôn tiện mua thêm phần cho Linh, đừng ngại gì hết
Rồi anh càng muốn lân la gần Linh hơn trong giờ lunch, có bữa anh đòi mời cuối tuần đi ăn phở, Linh cám ơn từ chối bận việc. Một hôm anh nói thẳng trong khi ngồi cùng bàn ăn trưa
– Linh chê anh phải không ?
Rồi anh nổi hứng xổ tiếng Đan Mạch
– D…M… Anh trước đây cũng là lính VNCH, là hạ sĩ nhất chứ chẳng thua ai, đã từng là lính Thuỷ Quân Lục Chiến đóng nơi Quảng Trị chớ bộ ..
Linh trố mắt sừng sờ “ mẹ ơi …giờ này đối tượng của con là đây sao, tán gái cũng có kèm tiếng Đan Mạch nữa “. Nàng tìm cách né tránh ôm hộp cơm ra xe ngồi ăn từ đó, hễ thấy mặt là dạt nơi khác không tỏ thái độ tự nhiên như anh em trước đây nữa. Và anh ta cũng nhận ra thái độ khác lạ nên cũng không dám gần. Thấy hãng này trả lương thấp, cũng không lên lương. Linh chán nản nhảy hãng
Qua hãng flex gặp anh chàng Technician điều khiển máy móc, có khi sửa chữa lúc máy hư. Linh thường gặp những giờ giải lao uống cà phê. Anh tên Phi rất đẹp trai, mặt mày sáng sủa, Linh nhìn cũng có cảm tình thỉnh thoảng chào hỏi xã giao. Sự quen biết giáp mặt được hơn nửa năm, một hôm anh chàng rủ về Santa Ana chơi nhân dịp lễ Labor Day, Linh nghĩ “ừ thì mình về ở nhà bà cô và thăm bạn thân, sẽ có cơ hội tìm hiểu nhau trên chuyến đường dài”.
Linh báo cho người chị dâu chiều đó, cùng hai mẹ con dì Tiên mới qua Mỹ đang ở chung nhà biết sáng mai có khách tới, nhờ dọn dẹp nhà cửa, khách sẽ vào nhà thăm trước khi chở Linh đi. Chị dâu và mẹ con dì Tiên dọn dẹp quét nhà, chùi rửa các thứ, sắp xếp ngăn nắp tạm thời trước khi đi ngủ.
Sáng thứ bảy lại dậy dọn dẹp tiếp, nấu nước pha trà đặt dĩa bánh ngọt ra bàn rất tỉ mỉ mọi việc. Ai cũng sửa soạn hành lý dùm Linh và lăng xăng đủ điều như chuẩn bị đón chàng rể mới. Đúng 8 giờ anh bạn tới, vừa bước xuống xe, trong nhà bếp cô em con dì Tiên trầm trồ
– ui chị Linh ơi, đẹp trai quá trời, chị mà chê bỏ ra là em…chụp đó nghe
Dì Tiên
– mặt mày sáng sủa quá ha
Chị dâu
– phong cách sang trọng qua lối ăn mặc tao nhã lịch sự, kèm thêm nét mặt bảnh trai nhìn như tài tử Hollywood.
Linh nghe cũng thấy phấn khởi yêu đời, duyên dáng mời vào nhà, chàng ngồi khoảng 10 phút rồi hai người lên đường, mẹ cũng đứng trên lầu nhìn cười gật gù.
Chạy chuyến đường dài, Linh vui vẻ nói chuyện bâng quơ, nàng gợi chuyện cho Phi bớt buồn ngủ để lái xe. Linh kể say sưa về “Hồn Bướm Mơ Tiên” với câu nói của Ngọc “Tôi không có gia đình nữa. Đại gia đình của tôi nay là nhân loại, là vũ trụ, mà tiểu gia đình của tôi là …hai linh hồn của đôi ta ẩn nấp dưới bóng từ bi của Phật tổ”. Linh lại tiếp qua những câu chuyện khác như : 2* Đôi Bạn, Đời Mưa Gió, Gánh Hàng Hoa, Anh Phải Sống..v..v…Phi chẳng bàn bạc, chuyển hướng câu chuyện cho biết: quê ở Bạc Liêu, may mắn qua Mỹ năm 75 giỏi về máy móc, làm việc lâu năm đầy kinh nghiệm nên giờ này được lương cao. Linh hơi khựng một tý với những suy nghĩ hoang mang, ngồi quay mặt nhìn ra cây cảnh hai bên đường, hoa cỏ xanh tươi đang tưới lên tâm hồn Linh thả theo những nhân vật trong tiểu thuyết cho qua thì giờ.
Chàng chở Linh về nhà cô Hạnh thả đó. Cô Hạnh thấy gia đình ông anh họ mấy cháu gái đều lập gia đình, chỉ còn mình Linh tuổi đã ngoài ba mươi, nay thấy cháu có bạn trai mặt mày cũng khá, nên vui vẻ mời Phi trưa mai trở lại dùng cơm.
Cô Hạnh này sướng từ trong trứng sướng ra, gia đình danh giá. Cô lấy chồng giàu sống trong nhung lụa sang trọng, tiếp xúc toàn giới thượng lưu, nên Linh rất e ngại, nhưng giờ thấy cô vui vẻ mời Phi ngày mai, cũng làm nàng hồi hộp.
Trưa hôm sau đúng hẹn chàng đến, trong lúc vừa ăn vừa nói chuyện, cô mở nhạc Pháp Quand tu es là (Trò Chơi Của Tình Yêu) do Sylvie Vartan hát, cô nói huyên thuyên về nhạc, mê giọng Christophe qua bài “Mama “, Lobo “ I’m The Only One”, đặc biệt thích nghe hòa nhạc Gold Concert, nhạc VN thì thích Anh Ngọc, Duy Trác, Sĩ Phú, Thái Thanh, Lệ Thanh, Hà Thanh..v…v…Cô kể thêm thích xem phim Pháp như “ Thằng Gù Trong Nhà Thờ Đức Bà”, Le Doctor Jivago, thích văn chương của Tự Lực Văn Đoàn..v…v…Rồi cô hỏi Phi
– Con có mê nhạc, mê phim, mê đọc thơ văn không? thích ai?
Chàng đang ăn ngẩng mặt cười tự nhiên, trả lời
– Cháu thích nghe cải lương
Linh thóp ruột như có luồng khí lạnh chạy vào xương sống, lưỡi cứng đơ cúi gặp từng hột cơm bỏ vào miệng chẳng muốn nhai, bên tai còn nghe lùng bùng
– cháu chỉ thích ăn nhậu thôi, không thích đọc truyện nên không biết ông nào cả
Nàng tựa người lên cơn sốt, mặt nóng bừng, lúc ngồi trên xe đã ngờ ngợ phần nào rồi, nay thì chàng đã tỏ rõ. Linh liếc mắt nhìn cô, vẫn nét mặt bình thường chẳng lộ chút phản ứng nào cả, nhưng Linh biết rồi đây cô sẽ cười mình cho mà xem, thiệt là “bụng buồn chẳng biết nói năng chi’. Chàng ra về, đêm đó Linh trằn trọc khó ngủ vì tìm ra câu giải đáp” thì ra qua Mỹ sớm, có chút tài năng về máy móc, làm lâu năm lên được Technician và cũng nhờ trời cho nét đẹp trai sáng sủa, biết cách ăn mặc nên mình mới …bé cái lầm “. Trên đường trở về cả hai cùng im lặng, Linh quay mặt nhìn trời mây phong cảnh, tự dưng nàng nhớ đến truyện “Trống Mái “ của Khái Hưng: “hay là mình bắt chước Hiền cố yêu Vọi thử xem, Hiền cũng thích chụp hình cho Vọi vì thấy chàng trai này có dáng lực sĩ đẹp trai mà…” Linh nhắm mắt rùng mình …không được là không được, phải có con tim rung động, phải có tình cảm mới sống được ….
Về nhà gặp lúc anh chị em tụ họp nấu nướng ăn lễ, vừa bước vào bị cả nhà tra khảo
– sao rồi ?
– đi chơi vui không?
– chắc ăn chưa?
Linh phần đi xa về mệt, phần chán nản thất vọng đáp vội trước khi lên lầu
– một chuyến đường dài tìm hiểu …vỡ mộng rồi
Mấy chị em chưng hửng
– Sao vậy, hè nhau đẩy con đò này ra sông, mà đò nặng vía quá
******
Linh bắt đầu lẩn tránh Phi, phần Phi mỗi chiều thường gọi phone, gặp chị dâu nhắn “bác gái hở, cuối tuần này con đem mấy DVD cải lương đến cho bác xem, hay lắm “chị dâu cũng “ờ” đại, riêng Linh biết vậy nên cuối tuần tránh mặt. Tình trạng Phi muốn lấy lòng mẹ Linh cứ tiếp diễn, Linh nghĩ ra cách giới thiệu Phi cho bạn Tuyết Nhung. Kể thêm về Tuyết Nhung là bạn học thân nhất với Linh từ thời tiểu học, trung học và lên đại học, Nhung rất đẹp nhưng qua hai mối tình không suông sẻ nên hiện tại vẫn độc thân. “Nó cũng đang ế ẩm, đẩy qua nó để mình rút lui.” Linh hỏi ý bạn, Nhung nói “OK thử xem”. Linh cho địa chỉ nhà Nhung dưới LA và cho Phi xem hình, vậy là chàng một người một ngựa về đó hai lần. Một tháng sau Nhung gọi điện thoại mắng vốn Linh
– Có phải mày chê nên đưa qua tao không? Đàn ông gì mà mới gặp đã trình bày check lương… chưa kể ăn nói …vô duyên. Thôi nghe! Tao thà ở giá vẫn thích hơn
Linh cười ha hả
– Thì tao cũng vậy, thôi tụi mình cùng nhau thờ chủ nghĩa độc thân nghe chưa. Chứ ở Mỹ đây đâu có ai nghèo đói, cỡ nào cũng sống có cơm no áo ấm mà, miễn chịu khó làm việc, chứ lấy chồng mà không có chút tình yêu thì …thì..ớn quá.
*******
Phi biến mất khỏi hãng, có lẽ tìm được hãng khác lương cao hơn. Chuyện Phi xin đem vào dĩ vãng. Rồi lại có người bà con giới thiệu anh chàng kỹ sư, thì cũng bắt chước bạn mình “ thử xem”. Anh chàng nói chuyện vui vẻ hoạt bát nhưng khi đứng lên trả tiền nhà hàng, Linh thảng thốt nói với bà mai
– ôi ! Sao …lùn dữ vậy
Bà mai nguýt dài
– Gái già ở đó mà kén đi
Thôi thì nàng cũng gắng gượng gặp thêm lần thứ hai, tìm hiểu qua người giới thiệu thì biết chàng có vợ hai con và đã ly dị “thôi không chơi, có “rờ mọt” rồi phiền phức …mệt lắm” và nói thẳng với anh kỹ sư. Anh ta tìm chị của Linh nhờ giúp đỡ “chị nói Linh “try” đi, không lý đã có đời vợ là bị treo bản án hay sao”, nhưng vô ích, Linh trở lại tuyên thệ cùng Tuyết Nhung.
*******
Hãng tiếp tục có nhiều người mới vào làm, Mễ, Tàu, Phi …và một Technician người VN. Anh khoảng 40 tuổi tên Trí dáng cao, có nốt ruồi to gần khoé mũi. Ngày đầu gặp anh thăm hỏi vì nghe tiếng nói, nhận người cùng quê và xưng anh em tự nhiên. Thỉnh thoảng giờ break thấy anh nói chuyện xã giao với người bản xứ vui vẻ. Tánh anh hoạt bát nói câu nào cũng pha tếu cho Linh những trận cười thoải mái. Khi hơi thân anh cho xem hình gia đình chụp chung gồm vợ chồng anh và một trai, một gái, vợ anh rất đẹp. Những buổi ăn lunch anh thường hỏi
– Sao em kén dữ vậy? đến giờ này vẫn còn độc thân
– Ế quá anh Trí ơi chứ không phải kén
– Ừ để anh kiếm người làm mai nhé
Rồi anh kể mối tình xa xưa trước khi lập gia đình…
– Anh quen chị đó đẹp lắm, nhà ở trên Kim Long có ngôi vườn rộng nhiều cây trái.
Một lần anh lên gặp mẹ chị đang la mắng và chị vừa khóc vừa cãi lại. Chờ cho mẹ chị đi rồi, anh kéo chị ra vườn nói “em không được nói như vậy với mẹ”, chị tức tưởi càng ôm mặt khóc to. Anh đến sát bên vỗ vai và nhẹ cầm bàn tay chị lật ngửa, bất chợt chị ngẩng mặt lên, nước mắt ràn rụa nói “anh đừng nhổ nước miếng trên tay tui đó nghe…”
Chuyện khác :
Mẹ nàng không chọn anh, bà ép gả người khác. Nàng buồn quá một tối hẹn anh ra nơi bụi chuối bên đường cho biết sự tình. Nàng vừa khóc vừa nói “em không lấy được anh là em sẽ tử tự chết cho mà xem”. Anh cũng ngậm ngùi ôm nàng “Anh không cưới được em cũng sẽ mỏi mòn mà chết”. Bỗng đâu có tiếng sộp soạp sau bụi chuối “Tao mà ..ị…không ra thì cha tụi bây cũng chết luôn”. Anh hoảng quá nắm tay nàng kéo nhau bỏ chạy…
Rất nhiều chuyện nữa làm Linh cười ngặt nghẽo. Người kể có người cười khoái quá nên hai người trở nên thân nhau tự bao giờ. Có lúc anh bới hai ổ mì, bánh bông lan, trái cây hoặc Linh bới bánh tiêu, xôi ăn chung, giọng anh vẫn oang oang thoải mái tiếp tục kể cho cô em gái cùng quê các chuyện tếu chứa nhiều trong đầu óc.
Một năm qua Linh khám phá ngày nào anh có việc riêng xin nghỉ thì buổi trưa đó vô cùng nhạt nhẽo đối với mình, hay lúc anh lấy vacation lòng Linh buồn héo hắt. Linh biết sửa soạn kỹ hơn, yêu đời hơn với những buổi cơm trưa thân mật cùng anh. Người đàn ông có kiến thức rộng, nói chuyện đề tài nào cũng hợp và nhất là gu thưởng thức nhạc cũng giống nhau, anh thường mua CD nhạc tặng Linh. Có lúc anh rủ Linh dùng giờ lunch đi ăn phở, hay cơm tấm gần đó. Ánh mắt anh chứa nồng nàn hơn, giọng nói nhỏ nhẹ hơn. Hình như hai người cùng cảm nhận tình cảm mình, và muốn tiêu diệt nó bằng cách cùng nhắc về vợ anh. Anh khen vợ rất giỏi dang, hai người trước kia cùng dạy trung học đệ nhất cấp trường Nam Ô. Hiện tại chị làm Nail, tìm giờ giấc thuận tiện đưa đón con đi học và về, trong ngoài chị vén khéo vẹn toàn việc nhà và nấu ăn rất ngon. Linh nghe kể chuyền niềm vui theo hạnh phúc của anh, nhưng tối về dỗ giấc ngủ khó khăn với nỗi buồn không tên, hằng đêm cố xua đuổi không nghĩ tới nhưng khuôn mặt anh cứ thấy rõ trước mắt “ nhất định, nhất định mình không thể như vậy”
Thế rồi hãng có từng đợt sa thải báo hiệu sự đi xuống của hãng, nửa năm sau Linh bị laid-off. Linh có cảm tưởng như đời đứt ngang rồi, nỗi buồn hành hạ dằn xé tâm hồn không thể tưởng. Mới đầu còn gọi phone đôi ba lần nói chuyện, nhưng sau đó cố gắng kềm hãm tình cảm của mình dứt khoát không liên lạc, thôi thì tự ru ngủ bằng giấc mơ, tự an ủi ve vuốt con tim bùng cháy không đúng chỗ.
Nửa năm sau Linh nghe hãng đóng cửa, đóng thiên đường nhỏ bé của Linh chỉ còn trong ký ức. Thời gian sau Linh được biết gia đình anh Trí dời qua Texas sinh sống. Trong lúc thất nghiệp Linh học thêm lấy bằng Diploma in Accounting and Business (chứng chỉ sơ cấp về kế toán và kinh doanh) bỏ nghề điện tử, kiếm việc làm cho hãng xe nhỏ, công việc trực phone và giao dịch giấy tờ, nơi đây chỉ mình Linh là người VN.
Duyên số đã đẩy Linh gặp lại người bạn cũ thời trung học tên Huy, ngày xưa cũng thích Linh. Được biết Huy vẫn còn độc thân ở Sacramento, hai lần về VN có nhiều người giới thiệu bạn gái, nhưng Huy không thích gu bây giờ, dững dưng cảm giác.
Tình cờ bạn cũ kể cho Linh, và tìm cách để hai người liên lạc lại. Đám cưới Linh năm 33 tuổi. Bạn thân Tuyết Nhung cũng gặp lại bạn thời chung đại học, đám cưới sau Linh vài tháng. Thì ra những người bạn trai này không ham gái đẹp, gái trẻ, chẳng chê gái già mà chỉ cần cùng thời với hai tâm hồn đồng điệu.
***************
Cuốn phim dĩ vãng vẫn tiếp tục quay đều theo bước chân Linh đang đi bộ ngoài đường, bước chân đi qua vùng quá khứ đã mấy chục năm qua tưởng chừng như mới đâu đây. Linh ngẩng mặt hít sâu thở nhẹ theo kiểu thiền, nắng hồng đang nhảy múa trước mặt, hoa nắng lung linh đuổi nhau trên đường, vài loài hoa dại chen nở trên những bãi cỏ trông xinh xinh. Giờ này chắc Huy đã đi chơi Tennis, may mắn cho Linh tìm được người nương tựa vững vàng. Cuộc sống chẳng giàu sang nhưng ấm cúng trong ngôi nhà nhỏ mua được. Trước đây Linh cũng hồi hộp biết được điều phụ nữ lớn tuổi khó sinh con, hoặc đứa trẻ khó thông minh nếu không nói là bị bệnh. Linh cám ơn Trời Phật vì sinh được gái đầu và trai út, hai cháu đều thông minh, hiện cháu trai tốt nghiệp bằng kỹ sư, cháu gái làm y tá (RN-Registered nurse) và có việc làm ổn định. Bạn Tuyết Nhung cũng có một cháu gái học giỏi tốt nghiệp ngành y khoa chuyên bác sĩ Anesthetist (gây mê). Nàng mỉm cười nhớ lại lời tuyên thệ cùng Tuyết Nhung, thùa ấy nghĩ cũng vui.
Miên man dấu chân kỷ niệm …về đến nhà hồi nào không hay. Vừa mở cửa bước vào, con gái MiMi nói vội trước khi đi
– Mẹ ơi! Dì Phượng gọi mẹ và nhắn mẹ gọi lại
Thì ra Phượng (bạn học trường De Anza College , thỉnh thoảng vẫn liên lạc, nhắn Linh chủ nhật tới nghe “Buổi nhạc Chiều Thu” nơi quán cà phê Lover do ông hội trưởng của Văn Thơ Lạc Việt tổ chức. Linh thắc mắc việc tổ chức đã tốn kém, mà nhìn tờ quảng cáo còn uống nước giải khác free, cũng như có trò chơi quà sổ xố trúng thưởng. Linh thắc mắc hỏi bạn
– ông ấy làm gì mà giàu dữ vậy?
– ông là chủ báo Thằng Mõ, thời buổi này làm báo không biết có khá không, nhưng ông rất hào hoa phong nhã, ông là mạnh thường quân của rất nhiều chuyện Cộng Đồng, và hội Nhân Ái của ông luôn đi phát lương thực, tiền, thức ăn cho Homeless đó
– Mày biết nhiều quá ha
– Thì ở vùng San Jose hầu như ai cũng biết tiếng tăm của ông mà, ông tổ chức rất nhiều buổi nhạc free về mùa xuân, Thanksgiving, Ba Mươi Tháng Tư hay những buổi sinh nhật cho hội viên nữa đó. Mọi người quý mến nên trông mong ông làm ăn phát đạt, vì ông mà có là cho cả làng nhờ. Khi bận việc tao không tham dự nên cũng quên mày, lần này tao đi được nên nhớ, lâu quá tụi mình không gặp, đi cho vui nghe.
Linh OK !
Nhìn qua khung cửa sổ của nhà bếp, lá đã vàng rụng tấp vào một góc vườn, thỉnh thoảng có mấy lá rơi là đà theo cơn gió thoảng, cây táo cũng nở hoa, mùi hương bay nhẹ vào thơm dịu vợi. Linh quay lưng nhìn vào bếp lẩm bẩm “ngắm thu không quên nhiệm vụ, phải nấu món gì có sẵn cho Huy về ăn.”
****************
Đúng giờ hẹn. Phượng đứng ngoài khu parking chờ Linh đến. Đôi bạn già bước vào tìm bàn, chương trình đã bắt đầu với những bản nhạc mùa thu thơ mộng :4* Thu Quyến Rũ, 5*Không Còn Mùa Thu, 6*Thu Ca..v..v… Lâu lắm rồi Linh mới được thả hồn theo điệu nhạc lời ca say đắm. Khách vẫn lác đác đi vào dù hơi trễ.
Khoảng giữa chương trình có ba người đàn ông đi vào, hai già một trẻ, họ đi thẳng ra phía sau. Khi ngang qua mặt Linh, nàng thấy một người có nét quen quá sức, cố lôi trí nhớ chợt giật mình “anh Trí’. Linh lẩm bẩm “đúng rồi anh có nốt ruồi to như dân Ấn Độ, chẳng lý có hai người nốt ruồi to cùng nằm cạnh sóng mũi giống nhau, ánh mắt ấy, sóng mũi cao ấy, chỉ tại anh mập quá, đưa đống bụng chảy xệ xuống, đầu hói gần như trọc. Bỗng dưng tim Linh đập mạnh, tay chân hơi run, trong đầu thắc mắc: nghe nói anh ở bên Texas mà, hay là về lại đây chơi, sao dung nhan quá tệ vậy nè…gặp làm chi để bị mất hình ảnh ngày xưa. Linh kề tai nói nhỏ với bạn
– Người xưa mới đi ngang, “phũ phàng tựa như một giấc chiêm bao”. Nói xong Linh ra dấu cho bạn nhìn ra sau ông nào mặc áo đen sói đầu bụng phệ thì đích thị là chàng. Phượng đảo mắt tìm kiếm và tìm ra
– Tao chưa thấy trước kia nhưng cũng đoán chàng đã mất hết rồi, nhưng đâu phải mình chàng, nhìn lại mày thử xem: da thì nám đen, tóc khô xồm bôm, môi như người đau bệnh sốt rét, đã vậy không chịu sửa soạn phấn son một tý …xấu kinh khủng, người cũng mập thù lù chớ bộ. Nếu chàng thấy mi cũng thốt lên
Ngày xưa dáng ngọc yêu kiều
Bây giờ mập ú tiêu điều hỡi em
Cả hai cùng cười rung người. Linh tiếp nối vần thơ
Thì anh cũng vậy…xêm xêm
Sói đầu trợt trán bụng thêm khoe đời
– Chắc là tao không thể ngồi tiếp nữa rồi, thà để một mình tao thấy ông, còn hơn ông thấy tao càng chết nữa.
Phượng làm mặt giận
– lâu ngày gặp tao chưa nói chi nhiều, đã lo …chuồn
– Tao hứa sẽ lên nhà mi chơi một ngày, tụi mình đi shopping, đi ăn uống cho vui. Tao ngồi không yên được nữa, cho tao về trước nghe.
Linh không dám nhìn mặt bạn ra sao nữa, đứng dậy xách bóp đi nhanh ra cửa. Bước chân vội vã như bị ma đuổi, sau lưng còn vang tiếng hát của Đồng Thảo vọng theo …
8* em ru gì cho ta, khi bao ngày phôi pha,
câu hát ngân lên bỗng tắt nửa chừng,
thôi đừng hát ru, thôi đừng ray rứt,
lá trút rơi nhiều đâu phải bởi mùa thu….
Minh Thúy Thành Nội
2024
1* Vũ Thành An
2*Tác phẩm Tự Lực Văn Đoàn
3* Thơ Trần Tế Xương
4*Đoàn Chuẩn, Từ Linh
5* Việt Anh
6* Phạm Mạnh Cương
7* Một chuyến Xe Hoa (Minh Kỳ & Dạ Ly Vũ)
8* Phú Quang
CA NHẠC: – Chiều Nhạc Mùa Thu, Thơ : Minh Thúy Thành Nội – Nhạc : Phạm Đức Huyến Ca sĩ : Thảo Quyên – Hòa âm : Đỗ Hải. Version II: Ca Sĩ Nguyễn Hồng Ân.
CA KHÚC MỚI: NGÀN NĂM MÂY BAY – LỜI MINH THÚY/ NHẠC LÊ HỮU NGHĨA . CA SĨ KANA NGỌC THÚY.
Ngàn Năm Mây Bay
Chùm thơ Minh Thúy
TIẾNG THỜI GIAN
(Ngũ Độ Thanh)
Gió thổi màu thu ngập giữa đàng
Mây hồng khép lại dẫn mùa sang
Nhìn gương lặng lẽ đà khô héo
Điểm bóng trầm ngâm đã lụi tàn
Hạ ghé hoa bừng soi phải rã
Đông về tuyết phủ dõi rồi tan
Vòng xoay chuyển tiếp nào đâu lạ
Bởi vậy sầu rơi những lá vàng
Minh Thúy Thành Nội
MINH THÚY THÀNH NỘI – Khánh Thành Tượng Đài Việt Mỹ
Khánh Thành Tượng Đài Việt Mỹ
*
Thứ Bảy mừng vui ngày đại lễ
Khánh thành tượng lính Bắc Cali
Công lao người Việt từ lâu đã
Tranh đấu cùng nhau thỏa mãn kỳ
*
Nhớ bạn đồng minh đà chiến đấu
Hy sinh tham chiến chốn sa trường
Thân nhân người Mỹ buồn đau xé
Cám cảnh mẹ già thật quý thương
*
Anh lính miền Nam vì chính nghĩa
Bao nhiêu thương phế nhuốm điêu tàn
Bùi ngùi cảm xúc nhìn pho tượng
Chiến sĩ can trường chịu khổ mang
*
Tạc tượng ơn sâu tình bạn hữu
Lưu danh đôi bạn đẹp vô ngần
Bên nhau sát cánh vì non nước
Đứng giữa mây trời chí khí dâng
*
Đại lễ khánh thành mang biểu tưởng
Mừng vui hãnh diện mãn công trình
Biết ơn những tấm lòng chung hợp
Đẹp tượng muôn người đến đón nghinh
Minh Thúy Thành Nội Tháng 7/13/2024
Sent from my iPhone
Chúc Mừng Đại Hội Không Quân bằng thơ xướng họa
Quý thân hữu thân kính !
Ngày 01/7 /1955 là ngày thành lập Không Quân VNCH .
Thân kính mời quý thân hữu thưởng lãm những bài thơ xướng họa sau :
Tháng sáu mùa tươi vui của khung cảnh hạ, không còn những cơn mưa và khí hậu lạnh rét run nữa. Trời trong sáng, nắng rực rỡ sắc hồng, cây cối xanh tươi, các loài hoa thi nhau khoe đủ sắc màu, nhất là những đóa quỳnh hồng, vàng nở tuyệt đẹp.
Từ đầu tháng đến giờ tôi đi dự lần lượt: trước tiên là “Mừng Ngày Truyền Thống Cảnh Sát Quốc Gia 1 tháng 6”, kế tiếp “Đại Hội Thiết Giáp QLVNCH”, “Lễ Father’s Day” (hội phụ nữ Bắc Cali tổ chức phối hợp cùng các anh lính Thủ Đức trong nhóm “Cà Phê Lính”.
Tiếp theo chiều nhạc “Khúc Tình Ca Của Lính” do ca sĩ Đồng Thảo cũng là xướng ngôn viên của đài radio Quê Hương tổ chức, điều hợp cùng MC Hoàng Tuấn, với sự góp mặt của “Nhóm Hát Cho Giấc Mơ Việt Nam”. Đây là buổi chiều cho tôi nhiều hạnh phúc được quay về quá khứ, được nhập vai những nhân vật trong bản nhạc, ru tôi êm ái giấc mơ ngày nào …
Hát về lính với những ca từ trong bản nhạc đã đưa tâm hồn mọi người trở về, sống lại những năm tháng trước 75, say mê nhưng cũng đầy luyến tiếc. Muôn đời tôi yêu trời tự do của miền Nam ngày ấy, dẫu năm tháng có phôi pha nhạt nhoà, dòng mê vẫn cuồn cuộn chảy ào về miền quá khứ của khung trời thơ mộng…
Còn gì lãng mạn bằng tình yêu trong thời chiến, anh trở về thăm em trong khung chiều ngây ngất mùi hương hoa Soan phảng phất bên thềm thêu màu nắng nhạt, anh thì thầm… (Tuấn Khanh “Hoa Soan Bên Thềm Cũ”)
Cảm xúc vô bờ bến của một thời lòng dân quý mến người lính Việt Nam Cộng Hoà. Quý mến bằng tấm lòng cảm thông, đã viết tên “trên gấm nhung, trên trán, trên tay, trong gió, trong mây, trong lòng biển lớn sông dài”. Hiểu nỗi niềm “Lớp trai chiến đấu oai hùng ngoài biên thuỳ xa, nơi chiến trường đẫm máu đem tự do cho đời.” “Lo lắng lúc trời gió mưa, lúc nhìn hạt nắng lưa thưa, lúc gối ánh trăng thanh.” (Hoàng Thi Thơ “Tôi Nhớ Tên Anh”)
Bồi hồi, sợ hãi lo âu theo người yêu là lính, đêm đêm nàng mất ngủ tự hỏi, nhớ đến các địa danh “Quang Trung nắng cháy da người. Dục Mỹ hay Lam Sơn? Đồng Đế nắng mưa thao trường”. Pleiku gió núi biên thuỳ? Miền Trung hỏa tuyến địa đầu? Miền Tây tiếng sét U Minh rừng. Tây Ninh tiếp ứng biên thành? Giặc tan trên đất Hạ Lào? Trại Hoàng Hoa tung gió cánh hoa dù?” Nhớ với tâm trạng hồi hộp về người lính chiến đang đùa giỡn với tử thần trong lửa đạn mịt mù. (Khánh Băng “Giờ Này Anh Ở Đâu?”)
Trầm lắng se thắt con tim nghĩ đến những người chiến sĩ thầm lặng chiến đấu cho lý tưởng tự do, lòng dũng cảm hy sinh bỏ lại thân xác trên đồi núi rừng sâu âm u. Bao nhiêu anh linh, hồn thiêng sông núi hoà trong tiếng gió hú nghẹn ngào (Phạm Duy “Chiến Sĩ Vô Danh”)
Say sưa theo lời ca tiếng nhạc, trong khi chiều dần buông ánh nắng bên ngoài , ánh nắng nhạt nhoà như phủ màu sương khói xa xăm chập chờn trong trí nhớ không những về Đại uý Nguyễn Văn Đương, vẫn còn những anh hùng như trung tá Nguyễn đình Bảo, Đại uý Trần Thế Vinh, Trung tá Phạm phú Quốc, Trung Tá Ngụy Văn Thà ..v..v…hay những chiến sĩ vô danh đã nằm xuống, nhưng họ vẫn sống mãi trong lòng người dân niềm kính ngưỡng. (Trần Thiện Thanh “Anh Không Chết Đâu Anh”)
Một buổi thưởng thức, thả hồn theo lyric của những nhạc sĩ tài danh, được ca sĩ diễn tả đặt hết tâm hồn vào lời ca tiếng nhạc thật hay, khiến người nghe thấm niềm rung động. Còn nhiều bản nhạc hay nữa đã đề cao tinh thần chiến đấu của người lính khiến tôi miên man sống lại hình ảnh trong ký ức rõ ràng. Cám ơn những nhạc sĩ đã sáng tác tự do, sáng tác theo cảm xúc chứ không như những bản nhạc miền Bắc bị gò bó. Cám ơn cô Đồng Thảo đã tổ chức chiều nhạc về lính đầy ý nghĩa, cám ơn các ca sĩ, MC Hoàng Tuấn cùng tất cả khán giả đã cùng sống lại ký ức đẹp với sự biết ơn sâu dày về người lính VNCH.
Tôi quý mến và suy nghĩ về người lính VNCH rất đáng thương. Dẫu Nam Bắc đã thỏa hiệp ký kết chia đôi hai miền, người dân miền Nam chỉ muốn sống trong yên lành tự do, nhưng miền Bắc đầy tham vọng cứ xâm lấn. Dù ngày ấy tuổi mới lớn nhưng tôi đã chứng kiến cảnh họ hung hiểm tàn bạo pháo kích vào nhà dân khắp nơi, thảm trạng chôn sống Tết Mậu Thân ở Huế còn dấu tích. Trong khi anh lính miền Nam chỉ chiến đấu phòng thủ, chỉ muốn bảo vệ người dân sống an bình.
Còn nỗi buồn gì hơn khi các thanh niên, sinh viên, thầy giáo phải rời ghế nhà trường lên đường tòng quân nhập ngũ. Súng đạn ngoài chiến trường nào biết tránh ai, nhưng tinh thần họ sẵn sàng chiến đấu vì chính nghĩa. Các anh đánh đổi cuộc sống chăn êm nệm ấm bằng những đêm lội suối băng rừng, những buổi nằm gai nếm mật, sự chết trong từng gang tấc như đang đem sinh mạng đùa giỡn với tử thần. Có người vùi thây trong cát bụi biển lửa. Có người thương phế mất đôi chân, mất cánh tay. Có người bình an trở về. Chiến tranh! nhắc đến hai từ này mà hãi hùng khiếp sợ. Những mối tình, những người thiếu phụ trong thời chiến phải chịu cảnh ly tan goá bụa. Hình ảnh chưa thể xoá mờ trong ký ức của tôi khi trên đường phố rất nhiều vành khăn tang quấn trên đầu những khuôn mặt còn rất trẻ vào tuổi thanh xuân.
Nghĩ đến cuộc chiến đấu bằng tham vọng, không có chính nghĩa là tôi cằm ghét thù hận như quân Nga muốn chiếm Ukraine hiện nay, nó khiến tôi liên tưởng vết đau miền Nam ngày trước. Vận nước nổi trôi ai ngờ được, khi tinh thần chiến đấu các anh còn hăng say đầy nhiệt huyết thì ván bài đen trắng lật ngửa, những con mắt miền Nam đều ngơ ngác nghẹn ngào. Phải chi họ đưa được nước VN tự do no ấm thì chẳng nói, đọc tin tức khắp nơi thấy tệ trạng nhiều mặt, dân còn đói khổ lầm than. Hình ảnh các em lội nước qua sông đến trường học, trong khi người giàu quá cỡ. Chống Mỹ chê Mỹ nhưng rồi kẻ có tiền đều tìm cách cho con du học xưa này, con tìm người yêu kết hôn ở lại. Có số còn tính toán kiểu du lịch mang bầu và sinh con tại Mỹ rồi mới về lại VN. Nếu không có tôi chu cấp thì anh chị tôi cũng không biết lấy gì sinh sống, cháu tốt nghiệp đại học, đi làm nhiều nơi chỉ thời gian sau là công ty mắc nợ tiền lương vì không có trả. Càng nghĩ thì càng buồn thôi ….
Mỗi lần dự lễ, trước bàn thờ các vị tướng tá đã tuẫn tiết trong ngày 30 tháng 4, lòng dân không khỏi bùi ngùi đau xót, đồng thời cũng đầy sự hãnh diện về tinh thần bất khuất của những vị anh hùng đã vị quốc vong thân.
Sau 75 bao nhiêu cảnh tang thương, sĩ quan đi tù tội rừng sâu, lớp bệnh hoạn chết trong tù, lớp trở về thân tàn ma dại. Có những anh vẻ mặt đau khổ than vãn với gia đình “nhục quá chẳng muốn sống nữa”. Có số tìm đường bộ hay đường biển liều thân trốn thoát. Rồi số phận các anh được đền bù qua Mỹ theo diện HO, họ đem theo hoài bão tốt đẹp cho tương lai đất nước, nặng lòng về quê hương yêu dấu.
Trên xứ người, các anh luôn tranh đấu, vận động để những lá cờ vàng được tung bay trên thế giới, lá cờ mang ý nghĩa của tự do dân chủ. Sống lưu vong tỵ nạn với niềm hy vọng về tương lai, giữ gìn lá cờ vàng thân yêu. Hàng năm vào tháng tư đen tổ chức ngày Quốc Hận, tháng sáu ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà.
Ngày tháng đi qua trên nỗi buồn của kẻ mất nước sống đời lưu vong, chiếc bóng thời gian không ngừng nghỉ hằn lên mái tóc họ bạc trắng, thể chất bị lão hoá và tinh thần cũng mòn mỏi. Họ yêu bộ quân phục của lính, họ có quá nhiều ký ức vui buồn đời lính, ký ức trong trại tù. Họ tổ chức họp mặt bạn bè, đồng môn để có cơ hội tâm sự, ôn lại quá khứ.
Vì lòng kính mến và thương cảm đời lính, tôi thường đi dự các buổi tiệc. Có nhiều hôm đến sớm, tôi chứng kiến cảnh người già chung nhau khiêng chiếc thang dựng lên, trèo cao treo banner và trang trí vài nơi. Nhìn vóc dáng gầy gò của tuổi lão gắng sức, lòng tôi đầy ngậm ngùi suy nghĩ: tuổi trẻ bây giờ quá bận rộn công việc không thể tham gia phụ giúp? hay là không thèm chơi với tầng lớp già, như các chị thường nói mỗi lúc đến đâu “tụi nhỏ bây giờ đâu thèm chơi với mình nữa, chỉ già chơi với nhau thôi” khi bạn bè hỏi “tụi nhỏ đâu không đi chung tới”.
Tiệc nào cũng thấy đa số mặc quân phục. Tuy cũng có các anh quan niệm khác nhau
– Mất nước rồi mặc lại thêm buồn tủi
– Một thời không quên, mặc để ôn lại kỷ niệm
– Bộ quân phục là hơi thở, là sự sống, là niềm yêu thương hãnh diện thời trai trẻ. Có cơ hội thì mình cứ mặc dẫu trong hoàn cảnh nào.
Tôi thích được nhìn lại bộ quân phục của lính, để sống lại thời chinh chiến điêu linh mà họ đã phải hy sinh chiến đấu. Nhìn để tưởng niệm những người đã nằm xuống, những người đã hy sinh một phần thân thể máu xương, để nhắc nhở mình có trách nhiệm góp phần giúp đỡ dù nhỏ nhoi, cũng an ủi các anh Thương Phế Binh bên quê nhà phần nào.
Giờ đây tuổi các anh đã bước qua giai đoạn lão và chết dần dần. Thời gian còn quá ngắn, họ họp mặt để an ủi, mừng rỡ, ôn lại kỷ niệm năm xưa, mặc bộ quân phục ngày nào trong sự ấp ủ yêu thương, đó là hạnh phúc của người lính đang lưu lạc trên xứ người.
***
Hôm nay Chủ Nhật là Lễ Cha (16/6) và cũng là ngày Lễ Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà (19/6) được tổ chức nơi tiền đình quận hạt Santa Clara, địa điểm 70 W- Hedding ST- San Jose CA 95110. Đây là nơi các hội đoàn thường tổ chức lễ chào cờ ngày Tết, 30 tháng 4, hay những buổi ca nhạc trình diễn trong hội trường mà hầu hết đều được các vị dân cử thành phố như nghị viên, giám sát viên quận hạt bảo trợ và đến tham dự.
Sáng nắng rực tươi sáng, lái xe gần tới địa điểm đã thấy cờ vàng treo hàng dài trên đường, lòng bồi hồi xúc động cảm tưởng như quê hương VN được dựng lên trên xứ người. Đến nơi cả rừng người mặc bộ quân phục, tôi dấy lên niềm cảm xúc vô biên.
Buổi diễn hành thật oai hùng và đẹp mắt theo từng binh chủng, tim tôi như nén thở mơ mơ màng màng nửa tỉnh nửa mê của ngày xưa và hôm nay. Nhưng rồi phút mặc niệm đánh thức đầu óc tôi tỉnh táo nghe lời đọc của người MC: Tưởng niệm các vị tướng đã vị quốc vong thân “Anh Hùng tử, Khí Hùng bất tử”. Tưởng niệm các anh linh đã hy sinh chiến đấu vì lý tưởng tự do của miền Nam.Tưởng niệm hơn 58 ngàn lính Mỹ đã chết trong trận chiến Việt Nam. Tưởng niệm đồng bào trốn thoát tìm đường vượt biên đã bỏ mình trên biển cả…Ôi tiếng đàn buồn réo rắc, nước mắt chực rơi, cúi mặt lắng nghe và chỉ biết nguyện cầu các vong linh được siêu thoát, sau đó đến thắp hương dâng lời kính cẩn qua màn khói, tinh thần cảm thấy ấm áp dễ chịu sau buổi dự lễ.
Chương trình tiếp theo ông Lê văn Hải (hội trưởng hội Văn Thơ Lạc Việt, Báo Chí và chủ nhiệm báo Thần Mõ) tổ chức ngày “Lễ Cha” và chương trình ca nhạc “Tình Cha, Tình Lính” do đoàn Du Ca Bắc Cali và các nghệ sĩ khác đảm trách. Tôi rất tiếc có hẹn bạn Việt Nam sang chơi, cùng về Sacramento thăm bà hiệu trưởng trường trung học năm xưa nên không tham dự được. Nhưng tôi không lạ gì với cách sống đầy tình nghĩa của người lính Không Quân Lê văn Hải. Ông luôn thực hiện những điều Chúa dạy như làm việc thiện, tổ chức những buổi phát lương thực cho Homeless nhiều lần trong năm, thân thiết tham dự tiệc của các đồng môn khác binh chủng, chung tay dựng đài thuyền nhân, xây tượng lính VNCH nơi vùng Bắc Cali. Ông sống trong tinh thần đoàn kết hài hòa, đó là điểm son nổi bật mà hầu như nơi miền Bắc Cali này ai ai cũng biết và mến mộ ông, đúng là “hữu xạ tự nhiên hương”.
Tuy nhiên tôi cũng có nhiều suy tư về những sự việc xảy ra bên này: Rằng một thời gian trước đây hộp thư tôi nhận rất nhiều bài viết chống nhau. Ban đầu tôi cũng tò mò đọc xem, nhưng càng lúc càng thấy những người lính chụp mũ lẫn nhau, ai cũng bị mang “nón cối Việt Cộng” làm tôi hoang mang chẳng biết hư thực ra sao. Sau thì tôi cảm thấy sợ hãi và xoá liền không dám đọc. Bạn bè cũng có tâm trạng như tôi trong trạng thái thất vọng chán nản. Nhóm “ếch ngồi đáy giếng” chúng tôi cũng bày tỏ chút bình loạn “Bên này nếu mất sự đoàn kết, nghi ngờ nhau thì chắc VC giờ này đang ngồi uống trà rung đùi thích thú, vì chiến dịch “đâm bì thóc, thọc bị gạo” của họ đã thành công.
Mọi lần nhận thư mời từ các hội đoàn tổ chức nhiều nơi dự lễ “Tháng Tư Đen”. Tôi vẫn chọn nơi đường Hedding, vì ở đó có parking đậu xe rộng nhất, thoải mái địa điểm, phục vụ phương tiện vệ sinh đầy đủ. Tôi từng mơ ước những hội đoàn chung tay tổ chức một địa điểm, các dân cử hội đồng thành phố khỏi mất thì giờ tham dự nhiều nơi. Họ sẽ chứng kiến người VN tập trung một chốn thật đông đảo, trong tinh thần đoàn kết của người dân VN tỵ nạn Cộng Sản thật đẹp mắt. Mơ lắm thay…
Ngồi nhìn ra khoảng sân sau, nắng chiều nhẹ nhàng hôn lên những khóm hoa là đà theo gió. Trước mặt tôi là hai tấm vé dự tiệc hội ngộ của binh chủng Không Quân ngày cuối tháng. Xem như những sinh hoạt tháng sáu trong cộng đồng VN tôi đã kể xong
Tháng sáu của người Cha đã qua đời, tưởng nhớ với nỗi buồn sâu lắng. Tháng sáu của những người lính Cộng Hoà được ưu ái tổ chức nhiều chương trình mang ý nghĩa kính mến và biết ơn.
Minh Thúy Thành Nội
Tháng 6/2024
*** Trong bài viết xin mạn phép mượn những từ ngữ của bản nhạc
Giọt Lệ Của Mẹ – Minh Thúy Thành Nội
Vừa xong buổi cơm tối thì phone reng. Mở phone thấy chị Phương Hoa gọi. Tôi “A lô nhưng không nghe chị nói gì. Tôi hỏi lại
– Chị Phương Hoa hở?
Vẫn im lặng tiếp tục, tôi bắt đầu hồi hộp linh tính như có chuyện gì bất thường, sau đó một phút nghe tiếng khóc nức nở của chị
– Calvin, con đầu mình bị bệnh ung thư, bác sĩ bệnh viện Stanford đã “chạy làng”
Tôi hốt hoảng
– Bệnh hồi nào?
– Cháu bệnh cũ tái phát, hơn hai năm rồi
Nghẹn ngào tôi không biết tìm lời gì để an ủi, cổ họng cứng đơ, lưỡi dường như tê cóng, bên kia vẫn tiếp tục những tiếng nấc nghẹn ngào. Hồi lâu tôi mới gắng hỏi
– Bây giờ chị tính sao?
– Còn nước còn tát, mình định đem cháu về VN chữa trị thuốc Nam xem có tiến triển không?
Chị nói đôi tiếng nữa rồi cúp phone. Tôi sững sờ không còn xem phim mỗi tối từ 8 giờ tới 10 giờ nữa.
Lặng lẽ đi nằm, nhìn trước mặt là bóng tối, đầu óc suy nghĩ mông lung về sống chết, về sự vô thường trong cuộc sống. Dù định luật là Sinh, Lão, Bệnh, Tử nhưng con ma tử thần vẫn không chừa một ai, luôn rình rập người ta, từ một tuổi, năm tuổi, hai mươi tuổi cho đến bốn mươi, năm mươi … Sinh tử quay cuồng như điệu múa say ngà, con người số mỏng manh như đùa chơi với dòng thác lũ.
Tôi quen chị Phương Hoa từ năm 2015, khi gia nhập vào hai diễn đàn Tình Nghệ Sĩ, Tình Bằng Hữu của Nha Sĩ Cao Minh Hưng (nơi sinh hoạt của văn, thơ, nhạc, họa). Năm 2016 trong cuộc thi của Cơ sở Văn Thơ Lạc Việt tổ chức, tôi may mắn được giải nhì, chị Phương Hoa đoạt giải nhất (về văn). Ông hội trưởng bấy giờ là nhà thơ Chinh Nguyên đã tuyên bố “Các cô từ nay đều là thành viên của Văn Thơ Lạc Việt, hãy tham gia sinh hoạt thường xuyên nghe”.
Từ đó tôi mới gần gũi chị hơn qua những buổi sinh hoạt, ra mắt sách, giới thiệu sách cho các văn thi sĩ thành viên VTLV và trong cộng đồng. Tôi luôn thấy chị hoạt bát, nhiệt tình với mọi người và có tâm rất tốt. Thấy chị rành thơ Đường Luật tôi kéo chị gia nhập hội thơ Đường Xướng Họa, nơi đất dụng võ để tiến bộ hơn.
Chị thúc giục tôi viết bài gởi Việt Báo dự thi Viết Về Nước Mỹ, nhưng tôi lại mê thơ hơn nên cứ say sưa xướng họa thơ ĐL. Chị hăm he liên tục, có lúc tỏ ra giận, có lúc nói dai dẳng, “Minh Thúy là một cây bút rất có tương lai, hãy viết đi!” Tôi hẹn lần hẹn lựa mãi, cuối cùng hai năm sau tôi mới nghe lời chị, ngoài ra chị cũng kêu gọi thành viên trong hai hội phụ nữ Cô Gái Việt và Minh Châu Trời Đông gởi bài cho Việt Báo nữa.
Lúc chị em trong MCTĐ và CGV thắng giải, chị đánh phèn la báo tin ầm ĩ như chính bản thân chị trúng giải. Sau này chị giữ vai trò trong Ban Biên Tập của VTLV nên bận tối mặt, không có thì giờ vào Việt Báo đọc bài của ai, nhưng khi đọc được thì lại thúc giục “viết tiếp đi, viết tiếp nữa, viết nhiều vào…”, tôi buồn cười “đề tài đâu mà viết dữ vậy trời”.
Điều tôi nể phục nhất là anh chị ăn chay trường và tham gia nhiều khoá thiền Vipassana khắp các tiểu bang, thời hạn có khi tới nửa tháng. Về văn chương thơ phú thì chị rất xuất sắc, nhất là về văn đã đoạt hết mọi giải thưởng của Việt Báo, đến nay không còn giải nào nữa để lãnh.
Trở lại câu chuyện buồn, tôi không ngờ hai năm nay chị đã đè nén nỗi sầu lo, che kín chịu đựng sống trên đống lửa từng ngày, cả bạn bè gần gũi nhất cũng không hề biết để an ủi. Cách nay nửa tháng chị đã về VN lo chuyện giấy tờ nhà cửa và dẫn vợ chồng Dũng, cháu thứ nhì qua Mỹ theo diện bảo lãnh. Chị nói “Con trưởng thành dù khôn ngoan cỡ nào đi nữa, nhưng dưới mắt người mẹ luôn xem còn nhỏ dại như ngày nào, nên mình phải thông qua đường tour du lịch ghé VN vài ngày để giúp đưa tụi nó qua.”
Vừa lo ổn định xong cho gia đình cháu Dũng nơi quê hương mới, chị lại chuẩn bị dẫn Calvin về quê hương để chữa bệnh bằng cây thuốc Nam truyền thống, với niềm tin và tràn đầy hy vọng. Chị kể trước đây tình cờ ai gởi Youtube, xem thì biết ở Trà Vinh có Linh Mục Nguyễn văn Tường chữa trị bằng thuốc Nam, ăn toàn gạo lức nấu với nước kiềm (nước từ máy lọc của Nhật đã thải bỏ chất acid) và đã chữa trị rất nhiều bịnh nhân cancer lành bệnh sau khi bệnh viện chê.
Tôi hiểu và đồng cảm, trong bóng tối chợt tìm ra chút ánh sáng cuối đường hầm, chị tin tưởng và cầu nguyện ơn trên may ra còn hy vọng. Đồng thời cũng thở dài lo lắng đến sức khỏe chị có bảo đảm không, trong khi mới vừa xong chuyến đi xa và qua lại Mỹ chỉ thời gian ngắn. Nhưng chị nói chỉ cần chữa được bệnh cho cháu thì khó khăn gian khổ nào cũng là chuyện nhỏ mà thôi.
Được biết chị có bốn cháu, cháu thứ nhì tên Dũng cùng gia đình nhỏ mới qua định cư. Ba cháu ở đây đều ăn học thành tài, Calvin Liên Trịnh là cháu trưởng nam đang làm cho hãng Broadcom (Photonic Layout Design Engineer) ở San Jose. Gần đây bác sĩ tuyên bố bệnh cháu không còn chữa trị được nữa, cháu mới xin nghỉ để về VN cùng mẹ; cháu thứ ba tên Brian làm việc tại bệnh viện Stanford; cháu út tên Billy làm cho Google, tất cả đều lập gia đình, có con cái, và cuộc sống ổn định.
**********
Về Trà Vinh một lần chị liên lạc với tôi qua điện thoại, vừa nói vừa khóc giọng đầy lo âu, có khi tôi không nghe rõ vì sóng yếu. Chị kể, về nơi chốn hẻo lánh miền quê an bình, có rất đông người đến chữa bệnh mà toàn là bị cancer. Hằng ngày chị không dám động tiếng ồn, ngồi canh giấc ngủ con, hoặc con thức thì xoa bóp tay chân cho đỡ mỏi, không dám liên lạc nói chuyện hay than thở với ai, không bày tỏ sự lo âu, sợ con nghe được sẽ buồn làm mất tinh thần chữa trị. Chị cố giấu những giọt nước mắt đau đớn tột cùng, không muốn con thấy mà phải nuốt vào trong. Mặt khác chị cũng tràn đầy niềm tin, vì những người bị bệnh ung thư ở các phòng trọ xung quanh thường qua lại thăm hỏi, cho Calvin và chị biết bệnh tình của họ khi mới đến rất trầm trọng, bác sĩ chê, bệnh viện bỏ, nhưng sau vài tháng điều trị bây giờ một số người đã lành, chuẩn bị được cho về.
Em rể cột chèo bên vợ là bác sĩ giỏi ở Sài Gòn, xem Calvin như máu mủ, cũng nóng ruột về Trà Vinh theo dõi bệnh tình của anh. Thấy Calvin có vẻ yếu và than mệt, em rể tức tốc đưa vào bệnh viện Trà Vinh khám, kết quả tình trạng không mấy khả quan sau một thời gian uống thuốc Nam chữa trị, nên khuyên chị PH đưa cháu về Mỹ và mang theo thuốc Nam tiếp tục uống “Tâm trí mình hoảng loạn quá, cháu lại là bác sĩ giỏi nói sao làm theo vậy, chắc là “phước thầy không may chủ”. Chị nghẹn ngào nói với tôi trên điện thoại. Lên Sài Gòn các em vợ thương quý anh rể, cuống cuồng chăm lo đủ thứ. “Sẽ cố gắng đưa cháu về Mỹ sớm, mình hết biết làm gì rồi, sự căng thẳng hồi hộp chỉ sợ mình hay cháu gục nửa chừng trên đường về. Bây giờ miệng mình khô đắng, mắt mỏi nhừ, cầu xin ơn trên cho mình đem Calvin về đến nơi đến chốn, Thúy ơi”.
***********
May mắn chị đã đưa Calvin về Mỹ an toàn. Khi nào có chút thì giờ chị lại gọi phone kể cho vơi sự lo âu tột cùng. Sau một thời gian an dưỡng nghỉ ngơi ở nhà, Calvin vào bệnh viện Stanford khám lại. Bác sĩ bệnh viện Stanford bao vậy khám bệnh, thử máu và cho uống thuốc, hình ảnh “lương y như từ mẫu” chăm sóc tận lực, thật cảm động tình người. Chị nghĩ một phần cũng nhờ Calvin làm hãng lớn có bảo hiểm tốt, nên cháu được hưởng những gì tốt nhất có lẽ vậy.
Phương Thảo vợ Calvin bận rộn đi làm, cháu nội Jenny, đứa con độc nhất của Calvin, học nội trú UC Berkeley, nên thời gian này chị Phương Hoa và chồng túc trực trong bệnh viện lo cho cháu. Chị kể hai người chẳng hề biết no đói là gì nhưng cũng cố gắng mua bánh mì không trong bệnh viện nhai lấy sức để kề cận chăm sóc Calvin. Tình thương con như có “energy” tăng cường lên, nên anh chị không hề thấy mệt.
– Nhìn con mà ứa nước mắt hoài. May mắn bệnh không hành, nên Calvin chỉ mỏi mệt chứ không có những cơn đau oằn oại, nhưng con ngày càng ốm đi lòng mình như tan nát. Calvin thương vợ thương con hơn cả bản thân, sau giấc ngủ chiều dậy, nhìn ra trời sụp tối, cháu hỏi mẹ mấy giờ rồi “mẹ vào bếp xem cơm còn hay không, nấu dùm Thảo nghe mẹ”, bữa khác cũng y vậy “mẹ ơi, nhờ mẹ nấu món gì để Thảo đi làm về có ăn kẻo đói”. Mình nghe con nói mà quặn thắt cả lòng, nước mắt muốn trào ra. Con trai thương vợ như vậy, gia đình hạnh phúc như vậy, sao ông trời lại nỡ đưa vào hoàn cảnh xót xa. Nhìn dâu hiền còn trẻ, nếu trở thành góa phụ thì còn nỗi đau nào bằng …
Tôi nghe tiếng chị như run rẩy nên vội khuyên lơn:
– Thôi chị bớt suy nghĩ, tuổi anh chị đã lớn, cứ bị xúc động quá sẽ ảnh hưởng sức khỏe rất nguy hiểm, chị nghỉ ngơi đi để còn lo cho cháu.
Nói thật, càng nghe chị kể tôi càng thấy buồn thấm thía với cuộc đời đầy bể khổ. Khổ nhất là khi phải chứng kiến cảnh người thân đang bước dần vào nơi vô định. Tôi nhớ những lần đi họp nơi hội VTLV, có lúc chị tới chở tôi đi sớm, ghé lại nhà Calvin đem vào khay bánh xèo đầy ngập, hoặc những khi ghé nhà tôi giao sách, chưa kịp mời uống nước chị đã lật đật kiếu từ.
– Mình nấu nồi canh chua đem đến đứa con ở gần đây, dâu thích món này lắm, và một nồi tôm thịt kho mặn nữa.
Vừa nói chị vừa kéo tay tôi ra mở cốp xe sau dở nắp vung khoe thức ăn. Tôi được biết rất nhiều lần chị nấu cho dâu này, dâu kia chụp hình khoe lắm món.
– Đừng tưởng mình ăn chay rồi không biết nấu mặn đó nghe. Dâu con cày bừa bận rộn thấy thương quá, thỉnh thoảng rảnh mình nấu cho con cháu chút gì cảm thấy rất vui.
– Chị ăn chay trường làm sao nếm
– Nêm ít cầm chừng, tụi nó nêm lại sau
Ngày có đám giỗ chị bày dọn một bàn chay nhiều thức ăn, chụp hình gởi khoe, sau đó chat với tôi “Buồn ghê, thức ăn nhiều như vậy mà các con ở quá xa, đi làm về trễ, đường xá kẹt cứng khó khăn không tới được, nhìn các món thật tiếc. Ở Mỹ này mơ ước một buổi con cháu tụ về đông đủ trong ngày giỗ thật khó, nhưng thông cảm vì hiểu đất nước Mỹ này tuổi trẻ luôn phấn đấu và tận lực bộ óc, tài năng phục vụ cho công việc là quan trọng trước”. Tình thương của người mẹ thật bao la vô bờ bến, cùng những quan điểm “Mẹ chồng cảm thông thoải mái”, tôi vô cùng cảm mến.
*******
Tối Mồng Hai Tết Nhâm Thìn chị Phương Hoa gọi phone:
– Đầu năm MT có kiêng cử gì không?
Tôi linh tính điều không lành:
– Không chị, nhỏ lớn em cứng đầu, cứng cổ ít tin những chuyện mê tín dị đoan lắm
Chị oà khóc.
– Calvin mất rồi!
Tôi lặng người, dẫu đã chuẩn bị tinh thần, đoán trước những điều xấu sẽ đến, nhưng vẫn bàng hoàng ngơ ngẩn trước sự sinh ly tử biệt. Những giọt lệ của người mẹ nhoà nhạt, đau đớn, tâm trạng ví như những chiếc lá vàng vẫn còn dính trên cây phải đưa tiễn lá xanh rụng xuống. Chị cho biết những ngày gần Tết cháu còn ăn uống được chút chút, chủ yếu ăn yến sào và uống sữa ensure, vui vẻ tỉnh táo khỏe hơn. Ngày Mồng Một Tết, cả nhà nội ngoại quây quần chúc Tết và chụp hình kỷ niệm, Calvin còn nhắc vợ đi chùa cùng cha mẹ hai bên để cầu nguyện đầu năm mới.
Vậy mà, sáng Mồng Hai Tết cháu Calvin đã nhắm mắt trong giấc ngủ yên lành, giấc ngủ… nghìn thu vĩnh biệt.
******
Thứ Hai ngày bốn tháng ba. Đám tang cháu Calvin Liên Trịnh diễn ra tại Oak Hill Funeral Home Memorial Park nằm trên đường Curtner thuộc thành phố San Jose. Tôi gặp một số em gái trẻ thường sinh hoạt chung trên Chùa Phổ Từ, và em trai họ bên chồng đến thăm viếng. Hỏi ra giới trẻ ấy là bạn học của Calvin trường UC Davis ở Sacramento. Khoảng trưa bạn bè từ xa hẹn nhau đến cùng lúc rất đông, họ lên bày tỏ cảm tưởng tiếc nuối, ôm đàn hát đưa tiễn, và nhắc nhở chuyện vui buồn thời sinh viên trọ học gần trường UC Davis thật cảm động. Họ khóc nghẹn ngào kể bao nhiêu kỷ niệm, họ không ngờ lá xanh lại vội lìa cành. Tôi nhìn đôi vai chị Phương Hoa rung lên hàng ghế trước mặt, có lẽ chị đang cố đè nén tiếng nấc chỉ để những giọt lệ chảy âm thầm.
Nói đến đám tang là nói đến nỗi buồn đau chia lìa, nhưng nếu tuổi thọ như chuối chín rục xuống thuận theo luật tạo hoá còn giảm chút buồn phần nào. Đằng này tóc xanh đã rụng trước hình ảnh người mẹ già đứt từng đoạn ruột. Đoàn người lặng lẽ theo sau quan tài trong một ngày không có nắng, bầu trời mây xám giăng màu ảm đạm. Lòng tôi đầy thương tiếc ngậm ngùi nhìn hình ảnh người cha, người mẹ già héo hắt, từng bước chậm tay đặt trên quan tài con trai yêu quý. Người vợ và đứa con thơ, cùng các em trai quấn vành khăn tang, ôm di ảnh Calvin quá cố, bát hương, bình hoa…Thật quá não lòng
Một Đám Tang
Ngậm ngùi một đám tang
Trời buồn mây lang thang
Đưa người về cát bụi
Cảnh tang tóc diễn màn
Ngậm ngùi một đám tang
Hương khói cuộn gió ngàn
Sắc đen sầu tiễn biệt
Nén cảm xúc khóc than
Bạn UC Davis
Hung tin khiến ngỡ ngàng
Từ Sac-To đến chật
Nhắc kỷ niệm đầy mang
Thủa sinh viên hiếu học
Clip chiếu đẹp thời vang
Bạn bè buồn thương tiếc
Lời ca nghẹn tiếng đàn
Các em khăn vải chế
Vợ con quấn vành tang
Tứ thân phụ mẫu nghẹn
Họ hàng thắt ruột gan
Dẫu biết SINH và TỬ
Ơn pháp những lời vàng
Vô thường câu Phật dạy.
Đường trần luôn dỡ dang.
Cớ sao lòng thổn thức
Bởi lá xanh rụng tàn
Âm dương tách đôi ngả
Bóng mùa Xuân mới sang
“A DI ĐÀ PHẬT” niệm
Từng bước chậm theo hàng
Hương linh về Tịnh Độ
Ngậm ngùi một đám tang
MTTN
Mỗi cuối tuần vào sáng Chủ Nhật. Chị Phương Hoa và ông xã vẫn lên chùa An Lạc, San Jose, dự cúng thất tuần, hộ niệm cho Calvin nương vào tiếng gỏ mõ, tiếng kinh kệ cầu sớm được siêu sanh tịnh độ. Con đã hết nhân duyên với mẹ trong kiếp này, mẹ mong con đầu thai vào kiếp khác có đời sống dài hơn, khỏe mạnh hơn. Hiện tại mẹ cố bám víu những suy nghĩ về sự sống, sự chết, về lẽ vô thường thay đổi từng phút, từng giờ, từng ngày để ý thức sự hiện hữu của mình, nhắc nhở mình phải tập trung tu tập, làm những điều lợi ích cho đời, để sống thật xứng đáng lúc đang còn hơi thở.
Chị đã san sẻ những suy nghĩ tích cực để tự trấn tĩnh tinh thần đang yếu đuối, hụt hẫng và đau thương. Tôi hy vọng thời gian sẽ là liều thuốc xoa dịu, chị sẽ thấm nhuần Phật pháp nhiều hơn để tư tưởng thoát ra vòng luẩn quẩn, không còn vướng mắc vào sự bế tắt mà cần được giải thoát.
Dẫu sao tôi biết chắc một điều, là dù thời gian bao lâu, những giọt lệ của người mẹ vẫn còn lặng lẽ rơi trên nỗi đau mất con mỗi lúc đêm về…
Minh Thúy Thành Nội
Tháng Ngày Tìm Tự Do | Ca Khúc THÚY ƠI! THÚY À! Lời Minh Thúy & Lê Hữu Nghĩa
Hầu như người Việt Nam nào, ai cũng thuộc câu ca dao này, câu này được học từ nhỏ, thời tiểu học.
Hàng năm, cứ đến ngày 10 tháng 3 Âm lịch (năm nay ngày Tây, rơi đúng vào Chủ nhật tuần này! ngày 10 tháng 4 năm 2022)
Ngày này, con dân đất Việt ở khắp mọi nơi, đều hướng lòng về Quốc Tổ Hùng Vương, nhất là về đất Tổ Phú Thọ, nơi có đền thờ và bia tưởng niệm các vua Hùng. Để nhớ về nguồn cội, cảm tạ các Tiền Nhân đã có công lập quốc, giữ nước, thành một dân tộc Việt, với những trang sử oai hùng chống ngoại xâm, để lại cho con cháu một dải giang sơn gấm vóc, trường tồn trên 4 ngàn năm! Không một tấc đất nào về tay ngoại bang!
(Càng tự hào truyền thống Cha Ông bao nhiêu, càng căm thù CSVN bấy nhiêu, hết nhường đất biên giới, biển đảo, đặc khu…còn nuôi âm mưu bán nước cho Tầu Cộng, chỉ cần đạt mục đích “còn đảng còn mình!” Mà CS làm gì có Tổ! chúng đã công nhận tổ của chúng từ Nga, từ Tầu!)
Thời VNCH, trước 75, đây là Ngày Lễ Quốc Gia! ăn mừng rất lớn. Hành động VNCH giữ nước dũng cảm, với trận chiến “Hoàng Sa, Trường Sa!” Thà chết, chứ không để một tấc đất nào lọt vào tay giặc!
Ra hải ngoại, cộng đồng người Việt khắp nơi, cũng giữ được truyền thống “ăn quả nhớ kẻ trồng cây” tốt đẹp này, nên luôn luôn có những sinh hoạt, để nhớ về Tổ Tiên dòng giống Lạc Hồng.
Chút Lịch Sử Đời Hùng
Theo truyền thuyết, triều đại Hùng Vương có 18 đời vua. Hùng Vương thứ nhất lên ngôi vào năm 2879 trước Công nguyên, đặt quốc hiệu là Văn Lang, chia nước làm 15 bộ, truyền đời đến năm 258 trước Công nguyên, thì mất ngôi vào tay Thục Phán An Dương Vương.
Như vậy, triều Hùng trải qua trong khoảng 2.600 năm, nếu chia trung bình cho 18 đời vua thì mỗi đời vua xấp xỉ 150 năm.
Giải thích điều hơi khó hiểu này, một số học giả cho rằng thực chất 18 đời vua Hùng không phải là 18 cá nhân cụ thể, mà là 18 chi, mỗi chi này có nhiều vị vua, thay phiên nhau trị vì, và dùng chung vương hiệu. Ngay cả con số 18 cũng chỉ mang tính tượng trưng, ước lệ, vì 18 cộng lại là 9, con số thiêng đối với người Việt.
Như vậy, theo một số tài liệu lịch sử ghi lại, ngày giỗ tổ đã có từ cách đây 2.000 năm. Dưới thời Thục Phán An Dương Vương. Bằng chứng đã tìm thấy cột đá thề, được dựng trên núi Nghĩa Lĩnh, ghi rõ: “Nguyện có đất trời lồng lộng chứng giám, nước Nam được trường tồn lưu ở miếu Tổ Hùng Vương. Xin hứa đời đời trông nom lăng miếu họ Hùng và gìn giữ giang sơn mà Quốc Tổ trao lại. Nếu thất hẹn, sai lời thề, sẽ bị gió giăng, búa dập, tan thây!”.
Các đời vua khác sau này cũng luôn ghi nhớ, khẳng định vai trò các vua Hùng trong việc xây dựng giang sơn Đất Việt. Chính vì thế mà hàng năm, người Việt dành riêng một ngày để mừng, tưởng nhớ những người đã lập và xây dựng nên đất nước. Trong tinh thần nhớ về Cội Nguồn “Cây có gốc, chim có tổ, người có tông!”
Theo Ngọc phả Hùng Vương chép thời Hồng Đức hậu Lê, thì từ thời nhà Tiền Lê, nhà Lý, nhà Trần rồi đến Hậu Lê, các vua và người dân địa phương, đều đến lễ bái các vua Hùng. Vua đã giao thẳng quản lý Đền Hùng cho cư dân tại đó rông nom, sửa chữa, cúng bái. Và có bổn phận tổ chức ngày giỗ 18 đời Hùng Vương, vào ngày 10 tháng 3 âm lịch mỗi năm.
Để đền bù công lao gìn giữ, tổ chức, dân địa phương được triều đình miễn cho những khoản thuế ruộng, nhiều quyền lợi khác. Như thanh niên, có thể miễn đi lính trong thời chiến, nếu có nhiệm vụ trông coi, hương khói cho Đền Vua.
Sang thế kỷ 20, năm 1917, triều vua Khải Định. Bộ Lễ chính thức gửi công văn đến tỉnh Phú Thọ, chính thức lấy ngày mồng 10 tháng 3 âm lịch, cử hành “quốc lễ” hàng năm.
Ngày Giỗ này, nếu điều kiện cho phép, vua và các quan phải mặc phẩm phục, lên đền Hùng cúng tế tổ tiên rất trang trọng.
Hay còn gọi sự tích Trăm Trứng Trăm Con, nhằm giải thích về nguồn gốc dân tộc, cũng như đề cao lòng tự hào và tinh thần truyền thống đoàn kết của Người Việt Nam.
Câu chuyện “dã sử” có tính cách “thần tiên” như sau:
Ngày xưa, ở miền đất Lạc Việt, cứ như bây giờ là Miền Bắc nước ta, có một vị thần thuộc nòi rồng, con trai thần Long Nữ, tên là Lạc Long Quân. Thần mình rồng, thường ở dưới nước, thỉnh thoảng lên sống trên cạn, sức khỏe vô địch, có nhiều phép lạ.
Thần giúp nhân dân diệt trừ Ngư tinh, Hồ tinh, Mộc tinh, là những loài yêu quái, bấy lâu nay tung hoành, làm hại dân lành. Thần dạy dân cách trồng trọt, chăn nuôi, cả cách sống, đạo đức, lẽ phải. Xong việc, thần thường về thủy cung, khi có việc cần, thần mới hiện lên.
Bấy giờ, ở vùng núi cao phương Bắc, có nàng Âu Cơ thuộc dòng họ Thần Nông, xinh đẹp tuyệt trần. Nghe tiếng vùng đất Lạc có nhiều hoa thơm cỏ lạ, tò mò bèn tìm đến thăm.
Nhân duyên tiền định, Âu Cơ và Lạc Long Quân gặp nhau, đem lòng yêu thương. Rồi trở thành vợ chồng, cùng nhau chung sống trên cạn ở điện Long Tráng.
Ít lâu sau, Âu Cơ có mang (bầu), đến kỳ sinh nở. Chuyện thật lạ, nàng sinh ra một cái bọc trăm trứng! nở ra một trăm con! Con nào con ấy hồng hào, đẹp đẽ lạ thường. Hay hơn nữa, đàn con không cần bú mớm, mà tự lớn lên như thổi, mặt mũi khôi ngô, khỏe mạnh như thần! đẹp như tiên!
Thế rồi một hôm, Lạc Long Quân vốn quen sống ở nước, cảm thấy mình không thể sống mãi trên cạn được. Đành từ biệt Âu Cơ và đàn con, để trở về thủy cung. Âu Cơ ở lại một mình nuôi đàn con, tháng ngày chờ mong, buồn tủi. Cuối cùng nàng gọi chồng lên và than thở.
– Sao chàng bỏ thiếp mà đi, không cùng thiếp nuôi đàn con nhỏ?
Lạc Long Quân nói:
– Ta vốn nòi rồng ở miền nước thẳm, nàng là giòng tiên ở chốn non cao. Kẻ ở cạn, người ở nước, tính tình tập quán khác nhau, khó mà ăn ở cùng nhau một nơi, lâu dài được. Nay ta đưa năm mươi con xuống biển, nàng đưa năm mươi con lên núi, chia nhau cai quản các phương. Kẻ miền núi, người miền biển, khi có việc gì thì giúp đỡ lẫn nhau, đừng quên lời hẹn.
Âu Cơ nghe theo chồng, rồi cùng nhau chia tay nhau lên đường.
Người con trưởng được tôn lên làm vua, lấy hiệu là Hùng Vương, đóng đô ở đất Phong Châu, đặt tên nước là Văn Lang.
Triều đình có tướng văn, tướng võ, con trai vua gọi là quan lang, con gái vua gọi là mỵ nương, khi cha chết thì được truyền ngôi cho con trưởng, gần 29 đời truyền nối ngôi vua, đều lấy danh hiệu Hùng Vương, không hề thay đổi.
Cũng bởi sự tích này mà về sau, người Việt Nam chúng ta đều là con cháu vua Hùng. Đều từ một bọc trứng mà sinh ra, Cùng gọi nhau là “Đồng Bào!” (từ một bào thai) và đến bây giờ, hơn 4 ngàn năm, vẫn tự hào mình là Con Rồng Cháu Tiên!
Người Việt Hải Ngoại Sinh Hoạt Giỗ Tổ Hùng Vương Năm 2022
-Tại Bắc Cali:
Được Tổ Chức, Vào Ngày Chủ Nật 10 Tháng 4 Năm 2022, Lúc10:00 Sáng
Tại Vườn Truyền Thống Việt
1499 Roberts Ave San Jose Ca 95122
-Tại Seattle:
Lúc 10 giờ sáng Chủ Nhật, ngày 10 tháng 4 năm 2022