Minh Thúy: HAPPY 4TH OF JULY – Phương Hoa: LỄ ĐỘC LẬP – ALAMEDA – Hòn Đảo Nhỏ Mang Trái Tim Nước Mỹ.
==
HAPPY 4TH OF JULY
.
Lễ Độc Lập Hoa Kỳ
Diễn hành oai hùng đi
Trống kèn hòa nhịp điệu
Lá cờ vẫy uy nghi
.
Kỷ niệm ngày khai sinh
Hai trăm rưỡi năm nhìn
Thành lập trang lịch sử
Chặng đường dài hiển vinh
.
1776 tranh
Tuyên ngôn Độc Lập giành
Ra đời Hợp Chủng Quốc
Biểu tượng Tự Do thành
.
Từng giai đoạn khó khăn
13 thuộc địa hằng
Đấu tranh nền dân chủ
Gian khổ phải hiểu rằng
.
Cộng đồng người Việt Nam
Tri ân ý nghĩa hàm
Mỹ mở vòng tay đón
Khởi công bắt tay làm
.
Dự lễ mừng lắm thay
Cờ Mỹ, cờ vàng bay
Cùng đoàn kết dân tộc
4 tháng 7 vui ngày
.
Nơi nơi tiệc rộn ràng
Khui rượu hát hòa vang
Mừng Cờ Hoa vững chải
Thế hệ sau xếp hàng
.
Đêm nghe pháo đì đùng
Trên trời tỏa sáng khung
Xanh đỏ vàng rực rỡ
Niềm cảm xúc hoà chung
.
Minh Thúy Thành Nội
Tháng 7/4/2026
==
Lễ Độc lập _ Mừng Nước Mỹ 250 Năm
Năm nay nước Mỹ mừng 250 năm ngày Độc Lập, và cũng vừa mở hội World Cup 2026 ngay trên đất Mỹ.
Từ ngày 11 tháng 6 tới 19 tháng 7, cờ Mỹ treo khắp nơi, người ta hát quốc ca trước mỗi trận. Gia đình nhà chồng tôi cũng rộn ràng hai thế hệ. Cô chú em ông xã, người mua vé xem tận bên Seattle, người mua vé về Santa Clara. Các cháu cũng vậy. Vợ chồng tôi thuộc thế hệ lão niên, chỉ có ông xã tôi ngày đêm dán mắt vào tivi theo dõi từng trận. Kể cũng tội cho ông, “rượu ngon không có bạn hiền cùng uống”. Vì tôi chẳng biết gì về bóng đá, chỉ xem khi đội Mỹ ra sân, nghe dân reo hò. Thấy lá Cờ Sao Sọc bay giữa sân Levi’s ở Santa Clara, sân Seattle, sân Los Angeles, tự nhiên thấy vui, thấy ấm lòng. Đất nước đã cưu mang mình, nay đứng ra đón cả thế giới.
Qua lời kể của ông xã tôi: Đội Mỹ năm nay đá khá lắm. Mở màn gặp Paraguay ở Los Angeles, thắng 4-1. Tội nghiệp đội bạn, tự đá vào lưới nhà một trái, còn lại thì cậu Folarin Balogun ghi hai bàn, cuối trận cậu Gio Reyna sút thêm một trái cho đủ 4-1. Thắng trận đầu ngay trên sân nhà, cả nước reo. Rồi gặp Úc ở Seattle, Mỹ lại thắng 2-0, giữ sạch lưới. Tới trận gặp Thổ Nhĩ Kỳ ở Los Angeles thì Mỹ thua 3-2, nhưng đá cũng hay. Vô vòng 32 đội, Mỹ gặp Bosnia and Herzegovina ngay sân Santa Clara gần nhà. Con cháu chở cha mẹ đi xem, đường kẹt xe, người đông nghẹt. Mỹ thắng 2-0, Balogun mở tỉ số, rồi cậu Malik Tillman đá phạt đẹp lắm ấn định chiến thắng. Nghe nói đây là lần đầu sau 24 năm Mỹ mới thắng được một trận loại trực tiếp ở World Cup, từ hồi thắng Mexico năm 2002. Thắng xong Mỹ vào gặp Bỉ ở vòng 16 đội. Ngồi nhà coi TV, thấy cầu thủ Mỹ đủ màu da, gốc gác tứ xứ, mà mặc chung một áo, hát chung một bài quốc ca. Ngẫm cũng như mình hồi xưa, chân ướt chân ráo tới xứ này từ sau 1975.
Năm nay nước Mỹ mừng 250 năm ngày Độc Lập. Thời gian chỉ vừa trải qua ba hoặc bốn thế hệ để người Mỹ lập nên một quốc giaa hùng mạnh nhất hành tinh. Tôi còn nhớ một phần lịch sử được học hồi mới qua. Năm 1776, mười ba thuộc địa đồng lòng đứng lên nói với nước Anh rằng: “Chúng tôi muốn tự do”. Rồi trải qua chiến tranh giành độc lập, , rồi viết lên bản Tuyên Ngôn Độc lLập…rồi gian khổ trong nội chiến để bỏ đi chuyện buôn người, chống phân biệt chủng tộc… rồi thịnh vượng. Tham gia vào hai trận Thế chiến để cứu cả thế giới
Từng bước một, nước Mỹ đi lên từ tay trắng, từ những người di dân tứ xứ góp lại. Thành ra hôm nay mới có một nước Mỹ bao dung, đón nhận kẻ tỵ nạn như chúng tôi. Là kẻ tỵ nạn, chân ướt chân ráo tới xứ này từ những ngày sau 1975. Tay xách vài túi quần áo, tiếng Anh ú ớ, trong tay không có mấy đồng. Vậy mà nước Mỹ mở vòng tay đón…
Nhìn ra khoảng sân sau, bụi hoa giấy đỏ thắm tươi dưới nắng hồng rực rỡ, cây phượng vàng che mát khoảng sân, cành lá xanh mượt, những chùm phượng xum xuê nở rộ, ẻo lả đong đưa trước làn gió nhẹ. Mùa hè truyền cảm giác mạnh mẽ, đầy sức sống. Mặc ông chồng đang xem bóng đá, tôi ngắm khu vườn, thả dòng tư tưởng đi qua vùng ký ức.
Ngày đầu gia đình nhà chồng tôi qua trước, gồm 11 người con sống cùng cha mẹ trong ngôi nhà 4 phòng ngủ, 2 phòng tắm. Chỉ có anh chị Cả ở riêng vì qua năm 75. Vợ chồng tôi và gia đình chú em, 4 người, ở garage sửa lại thành 2 phòng. Cả gia đình chỉ có hai chiếc xe cũ mua lại để dùng, số còn lại đi xe bus. Thời gian cứ thế trôi qua, cho đến bây giờ con cháu đỗ đạt thành công. Tính đến nay đã có gần 20 căn nhà, có người hai cái, người ba cái. Xe gần 40 chiếc kể cả con cháu dâu rể.
Xứ Mỹ đã cho chúng tôi cái nhà để ở, cho con cháu trường để học, cho mình công việc để làm lại từ đầu. Từ một người mất hết, mình thành công dân, con cái nên người.
Nhớ mấy năm trước, chân còn khỏe, tôi cũng đi trong đoàn diễn hành ở thành phố Fremont. Lúc đó tôi và ông xã là bạn một hội viên của ABC Club, một tổ chức có tính cách giáo dục, hướng dẫn tuổi trẻ tập dạn dĩ, phải phát biểu ý kiến trước đám đông, tập nói ngắn gọn dễ hiểu để sau này có thể trở thành người lãnh đạo, hay trong mọi lãnh vực khác. Chương trình này đã sinh hoạt gần trăm năm trên nước Mỹ, tên là ABC Toastmasters. Gần 15 năm trở lại đây đã mở rộng trên thế giới. ABC Toastmasters thường họp vào mỗi thứ bảy lúc 10 giờ sáng tại Unitek College, nằm trên đường Auto Mall Parkway. Trong buổi họp, bất cứ ai cũng có thể lên thực tập, nói một đề tài nào đó. Các diễn giả lắng nghe và nhận xét phong cách diễn đạt, rồi đúc kết những khiếm khuyết như nói dài dòng, thế đứng chưa tự tin, giọng nói còn run. ABC Toastmasters đã tham gia diễn hành vài năm qua và được xếp hạng nhì năm ngoái. Lúc đó chúng tôi mặc quần jean xanh, áo đỏ và đội mũ trắng, cầm cờ nhỏ, đi giữa phố người ta vỗ tay vui lắm. Nay già rồi, chân chậm, bạn bè cùng nhóm cũng có người đau yếu, có người bận việc gia đình, nên hết tập họp được nữa. Nghĩ cũng buồn. Nhưng thôi, mỗi thời mỗi khác.
Vừa qua tôi nhận được email của ông hội trưởng Văn Thơ Lạc Việt, ông Lê Văn Hải, cũng như tin nhắn của các em, bạn bè, về lời mời đúng ngày Lễ Độc Lập 4 tháng 7 năm 2026: Mời cộng đồng tỵ nạn Việt Nam đến tham dự Lễ Thượng Kỳ đầu tháng và chương trình “Mừng 250 Năm Quốc Khánh Hoa Kỳ”, được tổ chức tại Vườn Truyền Thống Việt, 1499 Roberts Avenue, San Jose, CA 95122. Trước là lễ chào cờ, sau là chương trình văn nghệ, sinh hoạt cộng đồng, do Ủy Ban Thúc Đẩy Xây Dựng Tượng Đài Chiến Sĩ Việt – Mỹ San Jose góp phần tổ chức. Lời mời chân tình của ông Lê Văn Hải thật tha thiết:
“Năm 2026, Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ long trọng kỷ niệm 250 năm ngày khai sinh quốc gia, 1776–2026, một cột mốc lịch sử vô cùng đặc biệt, hiếm có đối với bất cứ ai đang sinh sống trên đất nước tự do này. Đây không chỉ là dịp để nhìn lại chặng đường hai thế kỷ rưỡi của một quốc gia được xây dựng trên nền tảng Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền, mà còn là dịp để tri ân những thế hệ đã góp phần tạo dựng nên một nước Mỹ hùng mạnh, thịnh vượng và là quê hương thứ hai của hàng triệu người nhập cư, trong đó có cộng đồng người Việt tỵ nạn. Ngày 4 tháng 7, Independence Day, bắt nguồn từ việc Tuyên ngôn Độc lập được chính thức thông qua ngày 4/7/1776, đánh dấu sự ra đời của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Từ đó đến nay, ngày lễ này luôn là biểu tượng của khát vọng tự do và tinh thần đoàn kết dân tộc. Đối với cộng đồng người Việt San Jose tỵ nạn cộng sản, Quốc Khánh Hoa Kỳ còn mang một ý nghĩa sâu sắc hơn: đó là ngày tri ânđất nước đã rộng mở vòng tay đón nhận chúng ta, cho chúng ta cơ hội làm lại cuộc đời trong tự do, an toàn và nhân phẩm. Nên trân trọng kính mời Quý Đồng Hương tham dự buổi sinh hoạt ý nghĩa nhất. Trong đời người, rất ít ai có cơ hội được chứng kiến lễ kỷ niệm 250 năm lập quốc của Hoa Kỳ. Đây là một dấu mốc lịch sử đặc biệt, đáng nhớ và đầy ý nghĩa đối với mọi thế hệ. Kính mời Quý Đồng Hương cùng gia đình dành chút thời gian đến tham dự, cùng nhau kéo lá đại kỳ Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa tung bay trong gió, cùng cất cao tiếng hát, gặp gỡ thân hữu, chia sẻ niềm vui và bày tỏ lòng tri ân đối với đất nước đã cưu mang cộng đồng người Việt suốt hơn nửa thế kỷ qua. Sự hiện diện của Quý Vị sẽ góp phần làm cho ngày Mừng Lễ 250 Năm Quốc Khánh Hoa Kỳ thêm trang trọng, đông vui và đầy ý nghĩa.”
Ngày đó chúng tôi cũng thật bận rộn, nhưng qua lời nhắc nhở của ông Lê Văn Hải về “cái ơn” to lớn của nước Mỹ, hai thân già bệnh hoạn này cũng sẽ ráng tới tham dự, tuy nhiên mất phần xem diễn hành nơi vùng địa phương. Sau trưa sẽ lên nhà cháu gái ở Palo Alto, sum họp đại gia đình ăn mừng Lễ Độc Lập.
Tuổi già sức yếu, chồng tôi đang ngồi hò hét một mình theo các cầu thủ, dù âm thanh không còn mạnh mẽ như những năm trước. Có lần trong giấc ngủ ông đã nằm mơ và hét lên “sút, sút”, rồi nhào đầu húc vào tường mạnh, ngày sau bầm sưng tím cả mắt và vùng thịt chung quanh. Còn tôi thì đang ngắm vùng trời xanh, áng mây trắng nhẹ nhàng trôi. Những bông hoa làm dịu mắt, tôi mơ màng ôn lại khoảng đời từ ngày bước chân lên đất Mỹ, mỉm cười thỏa mãn và tìm niềm vui gõ chữ ghi lại cảm xúc.
Bây giờ cũng có những niềm vui khác. Và điều cố định là sự sum họp ăn mừng Lễ Độc Lập của đại gia đình chồng, thay phiên nhau mỗi năm, lúc tổ chức nhà này, khi nhà kia. Con cháu bên chồng đông lắm, đều ăn học thành tài, đi làm xa. Vậy mà tới lễ là các cháu thu xếp về hết. Cả nhà sum họp, làm tiệc lớn ngoài sân sau. Người nướng thịt, người làm gỏi, con nít chạy chơi. Tối đến cả nhà kéo nhau ra coi pháo bông. Đứa nào cũng mặc áo, đội mũ màu xanh, đỏ, trắng, màu cờ Mỹ. Nhìn một nhà ba thế hệ, tóc bạc có, tóc xanh có, nói tiếng Anh tiếng Việt lộn xộn, lòng thương lắm. Nhìn vậy là cảm nhận niềm hạnh phúc, nước Mỹ đã cho mình phước báu sum vầy. Ơn này lớn quá. Nhớ lại những ngày còn ở quê hương, ăn bo bo, mặc áo cũ, rồi nhìn lại cuộc sống bây giờ, nhìn con cháu nên người, tự nhiên nỗi cảm xúc dâng trào. Chúng tôi mang ơn đất nước này đã cưu mang. Mang ơn lá cờ có năm mươi ngôi sao đã che cho đại gia đình hơn 50 người suốt mấy chục năm qua.
Mừng nước Mỹ 250 tuổi, mình không có gì lớn lao để đền đáp. Chỉ có tấm lòng biết ơn. Biết ơn vì được sống tự do, được thờ cúng tổ tiên, được nói tiếng mẹ đẻ trong nhà mình. Biết ơn vì ngày lễ, con cháu còn biết mặc áo dài, còn biết cúi đầu trước bàn thờ. Chúng tôi là người Việt, nhưng cũng là người Mỹ. Hai quê hương trong một trái tim. Ngày Độc Lập, người ta đốt pháo bông ăn mừng. Đêm khuya tôi cũng thắp nén nhang. Vừa tạ ơn nước Mỹ đã đi 250 năm để có ngày hôm nay cưu mang chúng tôi, vừa xin ông bà phù hộ cho con cháu đừng quên cội nguồn.
250 năm, nước Mỹ vẫn trẻ trung, đầy sức sống của thời đại mới.Chúng tôi, kẻ tỵ nạn năm xưa, nay đã lên lão. Chỉ mong trước khi nhắm mắt, con cháu mình hiểu một điều: Tự do không phải tự nhiên mà có. Phải có người ngã xuống từ năm 1776, có người cưu mang mình sau năm 1975, có người biết nhớ ơn mà giữ gìn.
Cám ơn nước Mỹ đã cho chúng tôi một đời thứ hai .
Minh ThúyThành Nội Lễ Độc Lập Hoa Kỳ/2026
==
==
ALAMEDA – Hòn Đảo Nhỏ Mang Trái Tim Nước Mỹ
Phương Hoa
==
==
Sáng ngày 4 tháng 7.
Alameda nơi tôi sống không phải là thành phố lớn. Chỉ là một hòn đảo nhỏ nằm an bình giữa vịnh San Francisco. Thành phố được thành lập năm 1853, hiện có khoảng tám mươi ngàn cư dân. Thế nhưng, nơi đây lại sở hữu một niềm hảnh diện khôn cùng, vì thành phố mỗi năm đều có cuộc diễn hành ngày Quốc Khánh, Lễ Độc Lập 4th July, dài nhất nước Mỹ,kéo dài hơn 3,3 dặm (5,3 km), quy tụ hàng trăm đoàn diễn hành và mỗi năm thu hút khoảng 60.000 người tới từ khắp nơi.
Năm nay lại càng đặc biệt hơn, vì là kỷ niệm 250 năm ngày Độc Lập của đất nước Hoa Kỳ. Từ rất sớm, con đường Park Street, từ đoạn Lincoln Avenue vượt qua Central Avenue về hướng downtown đã rợp sắc Cờ Hoa. Ghế xếp phủ kín hai bên lề đường. Người già, trẻ nhỏ, cựu chiến binh, gia đình nhiều thế hệ… tất cả cùng những lá cờ Mỹ phất phơ truớc gió chờ đợi đoàn diễn hành với một bầu không khí vừa náo nức vừa thiêng liêng.
Điều bất ngờ là, trong khi Hoa Kỳ kỷ niệm 250 năm Tuyên Ngôn Độc Lập (1776–2026), thì Sở Cứu Hỏa Alameda cũng vừa tròn 150 năm phục vụ cộng đồng. Thật là kỳ diệu và thú vị vô cùng, hai điểm lịch sử hòa làm một cùng tiếng nhạc quân hành, cùng rừng Cờ Hoa sắc xanh trắng đỏ, và cùng những tràng pháo tay không dứt của người dân đứng ngồi đông nghẹt hai bên vệ đường.
Xe hoa nối tiếp xe hoa. Những chiếc bánh kem khổng lồ chạy xoay vòng vòng ngộ nghĩnh giữa lòng phố thị; những chú ngựa oai phong gõ vó lộp cộp đều đều trên mặt đường; những chiếc xe cổ bóng loáng, những ban nhạc, những đoàn thiếu nhi, các hội đoàn thiện nguyện, cựu chiến binh, cảnh sát, cứu hỏa… tất cả hòa nhập dệt thành một bức tranh đường phố, di chuyển ngoằn ngoèo rất sinh động, và đầy màu sắc như để minh chứng về sự hùng mạnh của nước Mỹ ngày hôm nay.
Cầm lấy cây cờ Mỹ từ tay một người lính cứu hỏa trên chiếc xe hoa chồm ra đưa khi thấy tôi chạy lại gần để chụp hình, tôi hào hứng đưa lên vẫy lia lịa. Nhìn xung quanh tôi, người dân cũng cùng nhau vẫy cờ Hoa Kỳ, cùng reo hò vang dội mỗi khi một đoàn diễn hành, một chiếc xe hoa chạy ngang qua. Niềm vui và hạnh phúc hiện rõ trên khuôn mặt mỗi người. Tại thành phố của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ này, không ai hỏi bạn đến từ đâu, cũng không ai phân biệt ngôn ngữ, chỉ có những bàn tay đủ màu da, trắng, đen, vàng, đỏ… cùng vẫy lá Cờ Hoa. Và đó mới chính là nhân tố làm nên vẻ đẹp của nước Mỹ.
==
==
Ngày Độc Lập đã được viết trong bản Tuyên Ngôn năm 1776. Nhưng ngày Lễ Độc Lập hiện giờ đang bừng sáng vì sự ngưỡng mộ của những đứa trẻ, trong ánh mắt của toàn dân, cùng tiếng vó ngựa vang lên giữa phố, và quan trọng hơn hết, là trong quyền tự do được đứng bên nhau để mừng ngày sinh nhật của Tổ Quốc có 50 Tiểu Bang này.
Giữa biển người hôm ấy, tôi chợt hiểu vì sao cuộc diễn hành của Alameda đã tồn tại non thế kỷ. Bởi vì nó là một lễ hội đầy ắp những nụ cười, những tiếng vỗ tay, và niềm hảnh diện của những con người bình dị từ bài học lịch sử sống động nhất.
Đã nhiều thập niên sống trên đất Mỹ, tôi đã dự Lễ Độc Lập nhiều vô số kể. Nhưng ngày hôm nay, giữa bầu trời xanh thẳm của Alameda, nhìn hàng vạn người dân đủ mọi sắc tộc cùng vẫy cờ Hoa Kỳ, tôi chợt cảm nhận rất rõ một điều. Sức mạnh của nước Mỹ nằm ở kinh tế, quân sự, nhưng quan trọng nhất là khả năng gắn kết những con người khác nhau bằng một lý tưởng chung. Đó là hai chữ Tự Do.
*
Và rồi đêm pháo hoa. Ban ngày là ngày hội của Cờ Hoa, của tiếng nhạc quân hành, và những đoàn diễn hành bất tận, rồi khi màn đêm buông xuống, Alameda lại khoác lên mình một vẻ đẹp hùng vĩ lung linh khác.
Sau 7 giờ tối, từ trong phố ra đến bến cảng Alameda, hàng ngàn người lặng lẽ đổ về phía biển gần mép nước. Người mang theo ghế xếp, người trải tấm chăn trên bờ cát, trẻ em ôm từng dây pháo bông chạy tung tăng, rồi dừng lại đốt lên cháy sáng rực cả một góc trời. Những người già ngồi sát bên nhau, khoác áo len mắt hướng về phía mặt vịnh mênh mông, người trẻ thì ăn uống vui cười, mở nhạc om sòm vừa ôm nhau lắc lư thật nhộn nhịp. Nhưng tất cả đều hướng mắt về phía cầu tàu bên biển Berkeley, chờ pháo bông nở rộ.
Xa xa là cây cầu Bay Bridge của San Fransisco sáng rực ánh đèn nối liền đôi bờ vịnh. Những chiếc phà lặng lẽ lướt xa xa, hình như trên đó mang theo nhiều du khách đang chờ chứng kiến giây phút lịch sử của nước Mỹ tròn 250 năm tuổi.
Rồi…Một tiếng nổ đầu tiên xé tan màn đêm, phụt lên trời sáng lóe. Tiếp theo là tiếng reo hò vang dậy. Rồi từng chùm pháo hoa đỏ, trắng, xanh, ba màu của lá Cờ Hoa, đồng loạt bùng nở trên bầu trời, phản chiếu xuống mặt nước lung linh như hàng ngàn viên kim cương đang nhảy múa. Cả vịnh biển như bừng tỉnh. Tiếng pháo dội vào không gian. Tiếng sóng vỗ dập dềnh vào bến làm vỡ vụn những ánh sao trên bầu trời vừa rơi xuống nước. Tiếng vỗ tay vang dội hòa cùng tiếng trẻ thơ reo cười rộn vang trên bến.
Lúc này mọi hoạt động ăn uống như dừng hẳn lại. Mọi ánh mắt đều hướng sang phía Berkeley Marina, nơi những chùm pháo hoa liên tiếp bừng nở trên nền trời. Từ bên kia vịnh, từng đóa hoa lửa đủ màu phản chiếu xuống mặt nước lấp lánh, khiến cả không gian như chìm trong một biển ánh sáng. Tiếng reo hò, tiếng vỗ tay tiếp tục hòa cùng tiếng sóng vỗ bờ tạo nên một bản hợp xướng tuyệt đẹp của đêm Quốc Khánh. Dù pháo hoa được bắn từ phía Berkeley, nhưng niềm hân hoan thì lan tỏa khắp mặt biển, nối liền hai bờ bằng niềm vui chung dành cho nước Mỹ.
Tôi đứng giữa biển người đông nghẹt nơi bến cảng, lặng nhìn những đóa hoa lửa nở rồi tan trên nền trời đêm, lòng bâng khuâng suy nghĩ, thương cho những đất nước nào trên trái đất mà người dân chưa bao giờ có cơ hội hiểu hết ý nghĩa của hai chữ Tự Do.
Rời bờ biển Alameda khi trời đã về khuya, nghe như tiếng nhạc vẫn còn vang vọng đâu đây. Những chùm pháo hoa bên kia vịnh đã tắt, nhưng trong tôi vẫn còn rực sáng một niềm tin. Hai trăm năm mươi năm vốn chỉ là một dấu ấn của lịch sử. Điều còn lại mãi mãi là tinh thần của một dân tộc biết trân trọng tự do, biết gìn giữ độc lập, và biết truyền ngọn lửa ấy từ thế hệ này sang thế hệ khác, từ Hoa Kỳ ra khắp năm châu.
Có lẽ vì vậy mà hàng năm trong ngày Lễ Độc Lập, người ta đến Alameda để xem cuộc diễn hành dài nhất nước, và để được sống lại một phần tâm hồn của nước Mỹ tự do. Đã đi qua biết bao mùa Quốc khánh trên quê hương thứ hai này, nhưng mỗi lần lá cờ Hoa Kỳ tung bay trong nắng tháng Bảy, lòng tôi vẫn dâng lên một niềm xúc động vô biên. Bất giác nghĩ rằng… Đêm đã qua, pháo hoa đã tắt, nhưng ánh sáng của ngày Độc Lập sẽ còn ở lại trong trái tim của hàng vạn con người đang có mặt nơi đây.
250 năm, một dân tộc, một lá cờ, và một nền Tự Do bất diệt.
Happy Birthday, America!
Phương Hoa – Lễ Độc Lập Hoa Kỳ
==
VTLV – TRANG ĐẶC BIỆT MỪNG NGÀY TỪ PHỤ 2026. ĐỖ DUNG: Tùy Bút “Đỗ Gia Trang Trên Đồi Mê Linh.” Phương Hoa: THƠ CHÚC MỪNG NGÀY TỪ PHỤ. Phương Thúy: MỘT ĐỜI TẬN TỤY. Minh Thúy: THƠ & VĂN VỀ NGÀY LỄ CHA. THƠ TRẦN VẤN LỆ. THƠ CAO MỴ NHÂN.
==
THƠ CHÚC MỪNG NGÀY TỪ PHỤ
(Thủ nhất thanh – Nhị khúc)
CHÚC ngày tháng Sáu rộn ràng nha!
CHÚC khắp hoàn cầu mở tiệc hoa
CHÚC thọ Father dâng mỹ tửu
CHÚC an Từ Phụ hiến Tiên trà
CHÚC lòng trung hiếu luôn bền vững
CHÚC chữ nghĩa nhân mãi hiệp hoà
CHÚC hãy đừng quên ơn dưỡng dục
CHÚC toàn chốn chốn thảy mừng CHA
*
MỪNG Cha luôn được sống an nhàn
MỪNG kính Phụ thân thọ tuổi vàng
MỪNG nhận niềm vui thêm chất ngất
MỪNG mong hạnh phúc mãi đầy tràn
MỪNG trong gia đạo nhìn con hiếu
MỪNG chốn học đường thấy cháu ngoan
MỪNG Lễ Father’s xin ước nguyện
MỪNG chờ ngày trở lại giang san….
Phương Hoa – HAPPY Father’s Day
==
THƠ HỌA – MỪNG NGÀY TỪ PHỤ:NGUYỄN HUY KHÔI
MỪNG NGÀY TỪ PHỤ
(Bát cú liên khúc)
Có NGÀY TỪ PHỤ “đã” rồi nha,
Lòng rộ lộc chồi thắm trái hoa!?
Bằng hữu ưu tôn cung chuốc rượu,
Cháu con chân kính phụng dâng trà!
Hương thôn đầm ấm đời khang thịnh,
Chồng vợ hiền lương sống thuận hòa!
Trước sủng muôn nơi tôn Nghĩa Mẹ,
Nay mừng thiên hạ trọng Công Cha!
**
Mừng Cha an lạc cảnh thơi nhàn.
Thọ hưởng Song Thân gấp bội vàng!
Ngõ rộn lời già khơi sắc thắm,
Nhà xôm tiếng trẻ tỏa hương tràn!
Học Đường bồi tẩm nhân tâm sáng,
Gia đạo trau gìn đức hiếu ngoan!
Dân mạnh-Nước giầu bền Xã Tắc,
Cơ đồ tấn triển rạng TIÊN SAN!
Nguyễn Huy Khôi
21-6-2026
==
=
THƠ TRẦN VẤN LỆ
.
Rồi… lại tới Ngày Lễ: Đón mừng Ngày Nhớ Cha!
Trước… ngày này, hôm qua / là Ngày Mừng Nhớ Mẹ!
.
Mẹ luôn luôn là thế: ưu tiên mọi tấm lòng!
Mẹ là biển là sông / rộng vô bờ vô bến…
.
Mẹ với Cha có hẹn / để cháu con nhớ về…
cái chỗ gọi là Quê – Tình Yêu Không Đong Đếm!…
.
Có người về Điểm Hẹn bây giờ là khói nhang…
nhưng những cánh tay choàng ôm đất trời ấm áp!
.
Có người về chậm chạp… vì gió táp mưa sa!
Chuyện của Đất Nước TA / hai Thế Kỷ Nước Mắt!
.
Tôi… thành thật thú thật: Tôi-trường-hợp-thứ-hai
… là đường xa mây bay… là dặm dài vô định!
.
Thương quá chớ, thời Lính: Mẹ Cha hằng mong con!
Thương là Thương, rất thương… những đứa con bất hiếu!
*
Em của tôi làm điệu: Hai mắt đang ướt kìa!
“Em nhớ Ba, không chia – Một Cái Hôn Giùm Với…”
.
Ôi người yêu tôi nói nghe buồn như trong mơ!
Và đây là… Bài Thơ: Happy Father’s Day em, đó!
.
Có người yêu bỗng nhỏ như giọt lệ lăn lăn…
Có người yêu như trăng… Vầng Trăng Tôi Gọi Nguyệt!
.
Em là lòng tha thiết tôi gửi về Cố Hương
Lòng đứa con tha phương bốn phương đường thiên lý!
.
Việt Nam nhìn từ Mỹ xa vời nhang khói bay!
Happy Father’s Day! Happy Father’s Day!
.
Trần Vấn Lệ
=
=
NGƯỜI CHA HÀNG XÓM. CAO MỴ NHÂN
Cha tiễn con đi chiến dịch
Tuổi vừa tròn chẵn đôi mươi
Cùng nghe bên trời súng địch
Nổi lên ” thách đố ” trận đời
*
Làm sao quên ngay buổi đó
Mẹ không giấu được băn khoăn
Cha cười lẫn trong nỗi khổ
Thế rồi con ngủ trăm năm
*
Mấy mươi mùa xuân tan vỡ
Mẹ, cha vướng víu dương trần
Khói hương quê nhà lỡ dở
Cha giờ uất hận chôn thân
*
Muốn san bằng câu hỗn hợp
Cũng không thể sống bình yên
Ngang trời sáng tia lửa chớp
Mẹ nhìn cha thoắt cuồng điên
*
Cuộc chiến càng sâu thăm thẳm
Ai người chứng kiến hôm qua
Để ngày nay thôi u uẩn
Tội tình oan nghiệt người cha …
CAO MỴ NHÂN
=
ĐỖ GIA TRANG TRÊN ĐỒI MÊ LINH
Đỗ Dung kính nhớ Bố.
FATHER’S DAY 2026
Có những ngôi nhà biến mất khỏi mặt đất từ rất lâu nhưng vẫn còn nguyên trong ký ức.
Tôi nghĩ về điều đó vào một chiều cuối năm, khi ngồi bên cạnh Bố trong căn phòng nhỏ của viện dưỡng lão.
Ngoài cửa kính, trời mùa đông California xám đục. Mấy cành cây trơ lá run nhẹ trong gió. Chiếc tivi đặt ở góc phòng vẫn mở nhưng không có tiếng. Ánh sáng xanh nhấp nháy trên khuôn mặt đã hằn sâu những nếp thời gian.
Tôi cúi xuống hỏi:
“Bố có biết con là ai không?”
Ông ngẩng lên nhìn tôi. Đôi mắt đục mờ vì tuổi tác bỗng sáng ra một chút.
“Dung.”
Chỉ một tiếng gọi ấy thôi.
Bao nhiêu năm tháng bỗng quay về.
Tôi lại thấy mình đứng trong căn nhà cũ ở Mai Hắc Đế của Hà Nội ngày xưa. Những buổi sáng mùa đông, sương còn đọng trên mái ngói. Mùi hương trầm len lỏi trong từng gian nhà. Bộ sập gụ bóng màu thời gian nằm giữa phòng khách. Trên mặt tủ chè khảm xà cừ, những ông tiên trong tích Bát Tiên vẫn lấp lánh dưới ánh đèn vàng.
Đó là thế giới đầu tiên của tuổi thơ tôi.
Một thế giới có tiếng guốc của Mẹ đi trong sân. Có tiếng anh chị em gọi nhau í ới. Có mùi nước mắm chưng trên bếp. Và có tiếng chuông cơm của Bố.
Ba hồi dài.
Lúc nào cũng vậy.
Tiếng chuông vang lên là mọi cuộc chơi phải dừng lại.
Đứa ở sân trước chạy vào.
Đứa ở sân sau chạy lên.
Đứa còn đang đọc sách cũng phải gấp sách lại.
Cả nhà ngồi quanh mâm cơm như một nghi lễ không ai được phép vắng mặt.
Ngày ấy chúng tôi nghĩ đó là luật.
Nhiều năm sau mới hiểu đó là tình yêu.
Có những người cha thể hiện tình yêu bằng những lời âu yếm. Có người bằng những cái ôm. Bố tôi lại chọn cách riêng của ông: dựng nên một nếp nhà.
Ông vốn là người lính.
Người lính thường tin vào kỷ luật như tin vào xương sống của một đời người.
Khi gia đình chuyển vào Sài Gòn, căn nhà trên đường Thành Thái dần trở thành một thế giới riêng mang dấu ấn của ông. Chuông điện lớn được lắp ngay phòng khách. Mỗi người có một tín hiệu riêng. Phòng ngủ của mấy chị em được ông gọi bằng cái tên rất nhà binh: “Trại nữ binh”.
Mỗi lần nhớ lại, tôi vẫn bật cười.
Ngay cả tuổi thơ của chúng tôi cũng được tổ chức theo kiểu nhà binh.
Nhưng lạ thay, trong ký ức, tất cả đều ấm áp.
Kỷ luật của Bố chưa bao giờ làm người ta sợ.
Nó giống hàng rào quanh một khu vườn hơn.
Nhờ có nó mà những đứa trẻ được lớn lên trong an toàn.
Bên dưới vẻ nghiêm nghị ấy là một tâm hồn mềm đến không ngờ.
Ông mê nhạc tiền chiến.
Những đêm yên tĩnh, từ chiếc máy hát trong phòng khách vang lên Suối Mơ, Thiên Thai, Con Thuyền Không Bến. Có những bản nhạc tôi đã quên gần hết lời nhưng mỗi lần nghe lại vẫn thấy hiện lên bóng dáng Bố ngồi lặng lẽ bên tách trà.
Ông thích thơ.
Thích viết.
Thích những câu chữ đẹp.
Có lần tôi than phiền rằng hôm sau phải thuyết trình ở trường. Sáng dậy đã thấy trên bàn một bài viết hoàn chỉnh ông thức khuya chuẩn bị cho con gái.
Đến bây giờ tôi vẫn không biết trong đêm ấy ông đã thức đến mấy giờ.
Nhưng tôi biết chắc một điều:
Có những người cha không nói “Bố thương con”.
Họ dành cả cuộc đời để làm điều đó.
Nhà tôi đông con.
Đông đến mức người ngoài nhìn vào thường ngạc nhiên.
Vậy mà bằng một cách nào đó, Bố vẫn biết rõ từng đứa.
Biết đứa nào yếu đuối.
Biết đứa nào bướng bỉnh.
Biết đứa nào đang buồn.
Biết đứa nào cần được giúp đỡ.
Mỗi người nhận từ ông một tình thương khác nhau nhưng không ai thấy mình bị bỏ quên.
Có lẽ vì thế mà cho đến tận bây giờ, khi tóc đã điểm bạc, anh chị em chúng tôi vẫn nhắc về ông như nhắc về tâm điểm của một vòng tròn.
Rồi đất nước đổi thay.
Những cơn sóng lớn của lịch sử tràn qua từng mái nhà.
Gia đình tôi cũng không nằm ngoài dòng chảy ấy.
Một ngày, người cha vẫn đứng đầu bàn ăn bỗng phải rời khỏi nhà để bước vào những năm tháng cải tạo.
Khi ấy tôi còn trẻ.
Chưa đủ tuổi để hiểu hết nỗi đau của người lớn.
Nhưng tôi nhớ rất rõ khuôn mặt của Mẹ.
Nhớ những đêm đèn khuya.
Nhớ mùi nhang trên bàn thờ.
Nhớ sự chờ đợi kéo dài tưởng như không có điểm cuối.
Sau này đọc lại những dòng di bút của Bố, tôi mới hiểu phần nào sức mạnh đã giúp ông đi qua những năm tháng ấy.
Ông không viết về hận thù.
Ông viết về nhân cách.
Ông không nói đến thất bại.
Ông nói đến lòng tự trọng.
Có những con người càng ở trong nghịch cảnh càng hiện rõ phẩm giá của mình.
Bố thuộc về số ít những người như thế.
Ngày đoàn tụ ở San Francisco, tôi nhìn thấy một người đàn ông gầy hơn, già hơn, tóc bạc hơn.
Nhưng không phải là một người bị đánh gục.
Tôi nghĩ có những chiến thắng không ai nhìn thấy.
Đó là khi một con người vẫn giữ được phần tốt đẹp nhất của mình sau tất cả những gì đã xảy ra.
Những năm cuối đời, sức khỏe của ông yếu dần.
Bệnh tật đến như những cơn thủy triều không thể cưỡng lại.
Mẹ cũng già đi.
Hai người chậm rãi bước về phía bên kia cuộc đời.
Có lần nhìn họ ngồi cạnh nhau trong phòng bệnh, tôi chợt nghĩ đến hai ngọn đèn dầu đã cháy gần cạn.
Ánh sáng không còn mạnh.
Nhưng vẫn sáng.
Vẫn đủ để soi cho nhau.
Ngày ấy, Bố thường nói về một giấc mơ.
Ông gọi nó là Đỗ Gia Trang.
Một khu nhà trên đồi Mê Linh.
Một mặt hồ.
Một dãy nhà hình chữ U.
Ông bà ở giữa.
Con cháu quây quần xung quanh.
Ông còn vẽ sơ đồ bằng bút chì và ghi tên từng đứa con vào từng phòng.
Nhiều năm qua đi.
Giấc mơ ấy chưa bao giờ được xây dựng bằng gạch đá.
Nhưng càng sống lâu, tôi càng hiểu rằng Bố đã xây nó rồi.
Ông xây bằng một vật liệu bền hơn xi măng.
Ông xây bằng ký ức.
Bằng tiếng chuông cơm ba hồi.
Bằng những bài hát cũ.
Bằng những lời dạy đơn sơ.
Bằng những giọt nước mắt ngày tiễn con gái về nhà chồng.
Bằng khí phách của một người lính không chịu đánh mất mình.
Bằng tình yêu bền bỉ dành cho gia đình.
Cho nên hôm nay, khi nhìn lại, tôi không còn tiếc ngôi nhà trên đồi Mê Linh nữa.
Bởi vì Đỗ Gia Trang chưa bao giờ nằm ở một địa chỉ nào trên bản đồ.
Nó nằm trong chúng tôi.
Trong cách anh chị em vẫn tìm đến nhau.
Trong cách con cháu vẫn nhắc tên Ông Bà.
Trong cách một gia đình được nối tiếp qua nhiều thế hệ bằng lòng biết ơn và ký ức.
Chiều cuối năm ngoài cửa kính đã xuống hẳn.
Tôi ngồi bên cạnh Bố.
Nắm bàn tay gầy guộc của ông trong tay mình.
Bàn tay ấy đã đi qua chiến tranh, tù đày, ly biệt và đoàn tụ.
Bàn tay ấy đã dựng nên một mái nhà.
Và bỗng nhiên, từ rất xa trong ký ức, tôi lại nghe thấy tiếng chuông cơm năm nào.
Ba hồi dài.
Rõ ràng.
Ấm áp.
Như thể suốt cuộc đời này, Bố vẫn đang gọi chúng tôi trở về.
Đỗ Dung
==
MỘT ĐỜI TẬN TỤY – Tùy Bút Nguyễn Phương Thúy
Một Đời Tận Tụy
Nguyễn Phương Thúy
Bố Mẹ tôi di cư vào Nam lúc tôi mới được vài tháng. Thay tên đổi họ, Bố phải làm lại từ đầu mặc dù đã có bằng Diplome Pháp. Trước tiên là Bố thi Tiểu học, năm sau thi nhảy Tú tài I, rồi năm kế thi Tú tài II, sau đó thi vào ngạch Bộ Y tế. Bố vừa đi làm vừa lấy bằng cử nhân Luật trong bốn năm, rồi lại thi chuyển ngạch sang Bộ Ngoại giao. Ban ngày Bố đi làm, ban đêm chong đèn học khi các con đã đi ngủ hết. Bố học rất giỏi lại nhớ lâu, như một tủ sách biết đi.
Nhà đông con, cứ hai năm lại thêm một đứa, chỉ một mình Bố đi làm nuôi cả gia đình. Đời sống tuy chật vật, nhưng Bố lại không muốn Mẹ tôi phải tất bật phụ giúp việc mưu sinh vì Bố cho rằng việc chăm sóc và dậy dỗ con cái là tối quan trọng. Bố lo cho gia đình rất đầy đủ, cho chúng tôi được ăn học đàng hoàng nhưng bản than Bố rất cần kiệm, ăn uống rất giản dị, nhường cho vợ con ăn trước, rồi còn gì ăn nấy, nhiều khi nhâm nhi tí rượu với rau muống luộc cũng xong.
Bố Mẹ tôi có bảy người con, hai con trai đầu và cuối, ở giữa là năm cô con gái. Mỗi lần sanh, nghe bà đỡ reo lên “con gái” là Mẹ lại ớn đến phát rét, nhưng Bố thì rất thích, cho rằng:
“Con gái là con của ta,
Thương cha, thương mẹ, việc nhà đảm đang.”
Tôi là chị cả của đám con gái. Khỏi phải nói, tôi được hưởng nhiều quyền lợi hơn các em, cái gì cũng được ưu tiên, từ quần áo đến đồ chơi, nhưng ngược lại tôi phải phụ Mẹ tôi lo cho gia đình. Tôi đảm nhiệm vai trò của mình khá giỏi giang, lại hợp tính Bố, hay thủ thỉ tâm tình, nên Bố yêu thương tôi hơn cả. Những lúc lỡ tay làm vỡ chén bát, đồ đạc, tôi chỉ cần mau lẹ thú tội với Bố là Bố nhận hết tội dùm tôi; thế là tôi tránh được biết bao nhiêu cái roi vào đít.
Khi tôi lên chín, thì Bộ Y tế cho Bố đi tu nghiệp ở London sáu tháng. Tôi không bao giờ quên được hôm tiễn Bố ở phi trường Tân Sơn Nhất. Tôi cứ bịn rịn, quấn quanh chân Bố không muốn rời. Đến khi Bố đưa tay vẫy và khuất bóng sau cách cửa tàu bay thì tôi khóc nức nở, chỉ sợ Bố đi luôn, không về nữa. Mẹ phải trấn an và dỗ dành là Bố sẽ về và sẽ mua cho tôi nhiều đồ chơi thật đẹp.
Tôi nhớ Bố đến héo hon. Chiều nào cũng vậy, sau bữa cơm tối, chị Hai (người giúp việc) dẫn tôi ra đầu đường ngóng Bố. Tôi đứng ôm cột đèn, dõi mắt tìm Bố trong dòng người, dòng xe cộ tấp nập qua lại. Mãi đến khi phố lên đèn thì tôi mới lủi thủi đi về.
Sáu tháng dài dằng dặc rồi cũng qua. Ngày đón Bố về vui như hội. Tôi lăn xả vào lòng Bố, đòi Bố kể cho nghe những món quà đang nằm trong vali. Tôi nài nỉ, kì kèo cho mình được chọn quà trước và tôi đã dành được con búp bê đẹp nhất, tóc dài vàng óng, váy đỏ viền ren, biết nhắm mắt mở mắt. Các em tôi còn hậm hực, ấm ức mãi cho đến bây giờ.
Đời sống hạnh phúc, êm đềm trôi giữa những giao động của chiến tranh. Công việc của Bố ở bệnh viện Chợ Rẫy rất vững bền. Bố được cấp nhà cho ở gần đó và được mọi người kính nể, thương mến.
Năm 1968, Tết Mậu Thân, Việt cộng tấn công thủ đô và các vùng phụ cận. Gia đình tôi chứng kiến cảnh giết người ngay trước cửa nhà, trên đường Lê Đại Hành. Lần đâu tôi thấy Bố sợ hãi, như thể một cái gì thật khủng khiếp trong quá khứ bỗng dưng chổi dậy đe dọa phá vỡ những gì mà chúng tôi đang có, kể cả sinh mệnh.
Tôi lập cập chồng hai cái ghế vào nhau để Bố leo lên trần nhà trốn. Sự sợ hãi của Bố Mẹ bao trùm con cái, cả con chó cũng sợ lây. Tôi núp trong căn phòng nhỏ dưới chân cầu thang, siết chặt hai bàn tay cho cơ thể đỡ run rẩy; nhắm nghiền mắt cầu nguyện với niềm tin tuyệt đối vào sự cứu khổ và linh ứng của Phật Bà Quán Thế Âm.
Thật may mắn, bọn Việt cộng đã bỏ đi sau khi giết chết một người đàn ông vô tội. Bố vội vã đưa gia đình vào tạm trú trong nhà thương Chợ Rẫy. Đến khi bình yên trở về nhà, tôi thấy có những vết đạn loang lổ trên tường.
Từ đấy Bố tôi trở nên trầm tư, bi quan, và để ý theo dõi cuộc chiến mà mỗi ngày một thêm khốc liệt.
Rồi Bố nhất định bỏ hết những bổng lộc đang có, để thi chuyển ngạch vào Bộ Ngoại giao, mong muốn sẽ có cơ hội đem cả gia đình đi ngoại quốc. Bố am hiểu tình hình chính trị nước nhà và thế giới, đã tiên đoán được vận mệnh không may của đất nước sau này.
Rồi những ngày tháng của 1975 hoảng loạn, ai cũng tìm đường chạy, vòng trong và vòng ngoài phi trường Tân Sơn Nhất đầy xe và người. Bố liên lạc hàng tuần, dục Mẹ lên Bộ Ngoại giao xin visa qua Lào đoàn tụ gia đình, chuẩn bị hành lý, đốt những giấy tờ, hình ảnh không cần thiết. Nhờ có Bố mà chúng tôi đi được trót lọt, đáp chuyến bay cuối cùng qua Lào chỉ một tuần trước khi mất nước.
Đến Lào, sau vài hôm nghỉ ngơi, Bố lại dục chúng tôi “dọn nhà”, chuẩn bị sẵn sàng cho một cuộc ra đi khác.
Đúng như Bố dự đoán, 10:45 sáng ngày 30 tháng Tư, có tin Sài Gòn đã mất. Từ nhiệm sở về, Bố vội vã hối thúc mọi người ra xe thật nhanh vì Bố biết bọn Lào cộng sẽ kéo đến đây, bắt Bố là người tổ chức những chương trình kiều vận để lôi kéo đồng bào Việt về với quốc gia. Cả gia đình gồm chín người và hành lý không thể dồn hết vào chiếc xe Toyota. Bố Mẹ tôi và em gái phải ở lại chờ chuyến sau. Chú Lễ, nhân viên của Bố, chở chúng tôi về nhà chú gần đấy rồi quay trở lại ngay để đón Bố Mẹ và em tôi. Đúng đến lúc tôi tuyệt vọng, không thể chờ được nữa thì Bố Mẹ và em tôi về, cùng với ba chiếc taxi. Mọi người hối hả lên xe, chạy hết tốc lực về phía Thadeur là nơi giáp sông Mekong; từ đây chúng tôi hồi hộp vượt sông, lấy chuyến xe lửa tốc hành chạy suốt đêm đến Bangkok. Vừa đến đây lại được tin tòa Đại sứ VN đóng cửa, chúng tôi đành theo nhân viên tòa Đại sứ lên mấy chiếc xe bus trực chỉ căn cứ Mỹ Utapao. Cuộc trốn chạy bọn Lào cộng, tìm tự do của gia đình tôi từ Vientiane, qua sông Mekong, đến Bangkok, rồi đến Utapao có nhiều khó khăn và nguy hiểm, nhưng có Bố bên cạnh, tôi không thấy sợ hãi, chỉ thấy buồn thấm thía. Trong cái tai họa chung của dân tộc, mới thấy gia đình tôi thật là quá may mắn.
Lại một lần nữa Bố tôi phải gầy dựng lại từ đầu, từ hai bàn tay trắng. Bố sẵn sàng làm bất cứ việc gì để nuôi gia đình và chỉ muốn Mẹ tôi tiếp tục quán xuyến việc nội trợ như xưa. Khi cầm cái paycheck đầu tiên, Bố đã bật khóc. Cái paycheck ấy đã đem lại sự sống, niềm hy vọng cho gia đình tôi, và cũng giúp Bố lấy lại lòng tự trọng và niềm tự hào khi tiếp tục hoàn thành bổn phận của một người cha và là trụ cột của gia đình.
Bố mua một chiếc station wagon để đưa đón chị em tôi đi học ở Ohio University, cách nhà hơn bốn tiếng lái xe.
Bố không quen lái đường xa, vẫn vui vẻ đón đưa con đi về vào kỳ nghỉ của trường dù tôi muốn tránh cho Bố việc lái xe nhọc nhằn, nguy hiểm bằng cách xin ở lại trong ký túc xá (dorm). Sự lo lắng của tôi đã thành sự thật.
Trên đường về, xe của Bố đâm xuống ruộng, may mà Bố chỉ bị thương nhẹ; nhưng cái xe thì hư hại hoàn toàn; bán cho tiệm xăng được 100 dollars thì tiền đi taxi về nhà hết 120 dollars.
Sau bao nhiêu năm vất vả, Bố đã hoàn thành mỹ mãn nhiệm vụ làm Cha. Các con đã trưởng thành, đã có nghề nghiệp vững chắc, và đã có tổ ấm riêng. Mỗi năm, từ mọi miền đất hứa, các con về thăm viếng, quây quần họp mặt tại nhà tôi vì Bố Mẹ đã chọn ở với gia đình tôi sau khi về hưu.
Vào dịp lễ thượng thọ, tôi làm hai câu đối này để tặng Bố, một người thương yêu gia đình rất mực, luôn tận tâm lo lắng và hy sinh tất cả cho vợ con:
Một đời tận tụy vì vợ vì con,
Hai phận vuông tròn làm Phu làm Phụ.
Quá 80 tuổi, Bố vẫn còn minh mẫn, vẫn còn nhớ ngày sinh nhật của đám con cháu – hơn 20 đứa, và còn giúp tôi những việc vặt trong nhà.
Ngoài những đau nhức phong thấp thường có ở tuổi già, Bố ít khi bị bệnh nặng.
Năm ngoái, Bố phải vào nằm nhà thương mấy hôm vì có sạn ở túi mật. Để tránh bị đau đớn lần nữa, bác sĩ đề nghị cắt bỏ, nhưng Bố không chịu, nói là chỉ còn sống thêm vài năm nữa, tội gì phải chịu mổ xẻ. Vì không muốn vào nhà thương và không muốn làm khổ con cháu, Bố bắt đầu ăn kiêng ngay từ hôm về lại nhà. Bố gầy yếu hẳn đi, nhưng tinh thần không bị dao động, không sợ hãi. Bố đã hiểu rõ chuyện sinh tử, luân hồi của đạo Phật từ lâu và đã sẵn sàng để “về”. Tôi hằng cầu nguyện:
“Xin Trời lấy bớt tuổi đời,
Thêm vào Cha Mẹ sống thời bách niên.
Cho chúng con được đáp đền,
Công Cha, nghĩa Mẹ bách niên chưa vừa.”
Dù Bố có sống đến 100 năm hay không, tôi vẫn được an ủi rất nhiều vì tôi đã có được một phần thân thể của Bố và đã học được một phần những đức tính nhân hậu, tận tụy, hy sinh quý giá của Bố. Tình yêu của chúng tôi dành cho Bố tuy không biểu lộ qua lời nói thường xuyên nhưng lại vô cùng sâu đậm, mãi mãi với thời gian.
Nguyễn Phương Thúy, 5/20/2010
==
CA KHÚC KHÓC CHA – TRẦN CHƯƠNG LƯƠNG
==
THƠ & VĂN VỀ NGÀY LỄ CHA_ MINH THÚY THÀNH NỘI
Hội Phụ Nữ Tổ Chức Lễ Cha
Tình cha vỹ đại nói sao vừa Lặn lội thân mình hứng gió mưa Rường cột gia đình lo bạc tóc Công ơn dưỡng dục kể bằng thừa
Một đời lam lũ bởi vì con Dạy dỗ lời êm tránh đánh đòn Vật lộn mưu sinh nuôi trẻ dại Thành nhân đỗ đạt dẫu thân mòn
Can trường thời chiến với non sông Cha lính cộng hòa góp sức công Đội nắng phơi sương vì tổ quốc Tù lao vận nước đổi đau lòng
Nơi miền đất Bắc phố Cali Thung lũng hoa vàng hoạt động chi Phụ nữ chung tay cùng hội trưởng Mừng cha từ phụ chức cao kỳ
Văn nghệ chung vui diễn đủ màn Tặng quà cắt bánh nhạc mừng vang Vinh danh Từ phụ thiêng liêng phút Nguyện sống vai trò hiếu tử mang
Văn hóa giữ gìn đẹp sáng tươi Vườn hoa hiếu hạnh dạy con người Lễ Cha ý nghĩa ngày tham dự Hội Phụ Nữ xây những nụ cười Minh Thúy Thành Nội Happy Father’s Day …………………………………………………..
Lời Ba Muốn Nói – Minh Thúy Thành Nội
Mùa Hạ đã bắt đầu báo hiệu, các loài hoa thi đua nở đủ màu sắc tươi vui. Anh Quang bước ra sân theo tiếng gọi của vợ nhờ bưng phụ mấy chậu hoa quỳnh lên bệ cao, vì muốn ngắm nét đẹp của loài hoa trang đài đang nở hàng chục đóa hồng và vàng. Bé LiLy bước chân cao chân thấp đi theo cha cười hồn nhiên.
– Con tránh ra để ba phụ mẹ chút nha
Lily nghiêng đầu qua, nghiêng đầu về vẫn níu áo, anh đành dừng chân nói với vợ “chờ chút…con đang vui vẻ”. Anh gỡ nhẹ tay con dìu vào ghế dài dưới tàng cây phượng vàng nay đã tàn hoa, chỉ còn bóng lá xanh tỏa mát. Anh ôm con, đặt đầu LiLy áp vào ngực anh, nghe luồng tim đập ấm áp chứa tình thương bao la.
Nhìn con lòng anh như quên hết chuyện phiền não hôm qua.
Vợ chồng anh mua vé hai tháng trước cho chuyến bay qua Hawaii nghỉ mát như thường lệ. Đã làm thủ tục check-in và ký gởi hành lý xong xuôi, vợ chồng anh hân hoan xếp hàng, bỗng bé Lily ngồi sụp xuống, níu chân ba mẹ nhìn về hướng ngược, biểu hiện ý đòi trở lui. Anh dỗ con “Ngoan Lily nhé, con sẽ vui đùa tắm biển khi qua đó”. Bé hất tay anh ra, rồi nằm lăn dài khóc lóc. Anh chị thay phiên dỗ dành, dìu con lùi qua một bên nhường chỗ cho khách hàng đang bước từ từ lên. Thời gian như muốn đứng lại, Anh chị nhỏ nhẹ, vuốt ve con sau gần một tiếng đồng hồ, cháu vẫn la hét đến khàn cổ. Cuối cùng anh chị phải chiều ý con gọi Uber trở về nhà. Anh liên lạc với nhân viên Airlines báo cáo hủy chuyến bay dù hành lý đã gởi, và được cho biết sẽ nhận lại một tuần sau.
LiLy ngồi yên ép sát đầu vào ngực anh, trong khi chị nhổ cỏ dại mọc xen chung quanh các chậu hoa trong lúc chờ đợi anh giúp đỡ việc nặng.
Anh nhìn màu nắng rực rỡ, ký ức ùa về của khoảng thời gian gần 30 năm trước. Anh giật mình “thời gian trôi nhanh quá, mọi chuyện cứ ngỡ như mới đâu đây…” Anh để dòng sông êm ả trôi về miền kỷ niệm…
Sinh ra trong một gia đình có ba anh em, Anh là trai lớn, thủa nhỏ đi học luôn đoạt bằng khen, bằng danh dự. Theo gia đình vượt biên qua Mỹ, anh hội nhập mau chóng và tiến bộ trong lãnh vực học đường, suôn sẻ tốt nghiệp bằng kỹ sư. Anh làm việc đi qua nhiều hãng nổi tiếng, hiện tại làm cho hãng Cisco tọa lạc vùng San Jose, nhưng được làm việc ở nhà.
Anh nhớ một mùa hè năm đó…. trong vài buổi làm việc thiện nguyện tại San Francisco, Anh gặp Ái Thanh (vợ anh bây giờ) đang là sinh viên của trường San Jose State, nàng rất đẹp và xông xáo trong công việc. Anh đã bị hớp hồn ngay từ phút đầu và tìm cách làm quen, quyết chinh phục cho bằng được. Chị lúc ấy cũng mến anh, một kỹ sư có nét thanh tú với dáng cao và tánh tình hiền lành ít nói. Anh chờ chị tốt nghiệp bốn năm, chị có việc làm trong phòng thí nghiệm của trường Đại Học. Mọi việc đều vững vàng bảo đảm đời sống, vì anh đã mua nhà trước đó. Sau vài năm tìm hiểu, anh chị quyết định tiến tới hôn nhân và hiện là cư dân của vùng Milpitas.
Mọi sự đều chuẩn bị sẵn sàng, đứa con trai Robert đầu đời, Anh chị chào đón trong niềm hạnh phúc vô biên. Ba năm sau bé Lily được sinh ra, những giây phút chờ trông cháu Lily lật trở vui nhộn biết bò theo thứ tự bẩm sinh. Sau gần hai năm, theo dõi bước thay đổi và phát triển của con, chưa thấy bé Lily biết đứng, biết bập bẹ phát ra âm thanh của trẻ con, anh chị lo lắng đem con đi gặp bác sĩ và bệnh viện nhiều lần, kết quả bác sĩ cho biết cháu bình thường, hãy chờ đợi thêm thời gian nữa”. Anh chị bắt đầu sống trong tâm trạng lo âu hồi hộp vì chẳng có gì tiến triển, ngày tháng trôi qua trong mòn mỏi, nhìn con vẫn bò quanh nhà dù đã lên bốn, năm, sáu…tuổi.
Khi con đầu lòng chào đời, anh chị tìm được người trung niên độc thân tên Sâm, sinh hoạt các chùa (do bạn giới thiệu), sau thời gian quan sát tìm hiểu tánh tình chị Sâm này rất hiền từ nhân hậu. anh chị yên tâm để chị Sâm ở lại sáu ngày, cuối tuần về thăm nhà, vì vậy vợ chồng yên tâm cày cấy trang trải nhiều thứ nợ.
Trước đây chị Sâm trông nom em gái Natalie con anh kỹ sư Lâm. Chị kể lại: “Em gái này đã trên hai mươi tuổi, bị bệnh Autism (tự kỷ) rất hung dữ, qua nhiều người đến chăm sóc nhưng họ phải đầu hàng vì em không chịu ai cả. Có những lúc em bị kinh nguyệt, em vùng vằng không cho chị Sâm thay băng làm vệ sinh, cuối cùng anh Lâm phải tự tay làm công việc ấy cho con, bởi vợ chồng đã ly dị, mà anh là người nuôi con. Chị Sâm thương lắm cũng đành nghỉ việc, sau bà Nội đến ở lại chăm cháu. Thỉnh thoảng cuối tuần chị Sâm cũng ghé thăm vì thương những mảnh đời đau khổ, thương những đứa trẻ không được bình thường sống trong hoàn cảnh thật xót xa. Câu chuyện được kể khi chị Sâm chứng kiến bé Lily có nhiều dấu hiệu không được bình thường, nhưng chị Sâm may mắn trông cháu bền lâu vì tánh Lily hiền lành dễ chịu hơn.
Một hôm tình cờ xem hình cha con anh Lâm trong buổi tiệc gia đình có chị Sâm chụp chung, nhờ vậy anh Quang nhận ra người bạn học xưa. Họ liên lạc hỏi thăm, tâm tình tìm sự cảm thông nhau từ đó.
Một buổi hai anh hẹn gặp uống cà phê cuối tuần. Sự mệt mỏi hiện ra trên nét mặt, mỗi người như bị áp lực đè nặng trong công việc và con cái. Anh Quang kể về hãng Cisco, anh Lâm làm cho hãng IBM, trao đổi những mẫu chuyện về nghề nghiệp. Anh Quang hỏi thăm bệnh tình cháu Natalie.
– Cháu vẫn chơi và khỏe đó chứ?
– Càng ngày tâm tính cháu càng hung hăng chướng kỳ, giai đoạn này cháu không thích mặc quần áo, cởi bỏ hết đi khắp nhà. Bà nội không đủ sức mặc vào cho cháu, tôi phụ giúp thật khó khăn vì cháu vùng vẫy, phải cố gắng dùng sức mạnh kềm tay chân cháu. Mặc quần áo xong rồi tôi phát hiện có vết bầm trên cánh tay cháu, biết mình vô ý lỡ mạnh tay tôi thật đau lòng, hối hận muốn khóc vì thương con mình quá.
Anh Lâm kể lại với ánh mắt buồn bã. Biết hoàn cảnh bạn mình đã ly dị chịu cảnh gà trống nuôi con, anh Quang nhẹ nhàng:
– Ông cũng nên tìm người bạn mới cho khuây bớt
Anh Lâm lộ vẻ uể oải chậm rãi:
– Nói gì, tôi cũng có bạn gái chứ, tháng trước dẫn về chơi dò ý con, cháu Natalie lộ vẻ giận dữ hai mắt đỏ ngầu, tôi sợ quá nghĩ từ nay không đem về nhà nữa. Lòng tôi cũng chẳng hứng thú gì khi nghĩ đến con, chỉ muốn để mặc dòng đời trôi… Mỗi ngày đi làm về nhìn con, chơi với con bằng tình phụ tử thiêng liêng dậy lên những cảm xúc dạt dào khôn nguôi thật khó tả.
Một hôm người quen khuyên anh Quang xin tiền phúc lợi Social Security Disability Insurance (Bảo Hiểm Khuyết Tật An Sinh Xã Hội – SSDI). Anh gạt ngang nghĩ thầm “Làm gì có chuyện đó đối với anh, khi mức lương vợ chồng cao, lại đang làm chủ hai ngôi nhà, một ở và một cho thuê, trường hợp anh không thể được quyền hưởng phúc lợi”. Anh hoàn toàn không tin, nhưng nghe nhiều người bàn cãi quá, điện thoại hỏi bạn Lâm, bạn cũng không biết. Hai anh điền đơn thử thì được xác nhận: trẻ em bị bệnh tự kỷ được hưởng quyền lợi là đúng, dù cha mẹ có dư điều kiện tài chánh đi chăng nữa.
Anh Quang không thể ngờ được nước Mỹ có chính sách nhân đạo đến vậy. Chính phủ không quan tâm ai giàu hay ai lương cao việc lớn mà chỉ chú trọng việc chăm sóc, hỗ trợ cho trẻ em, nhất là các trẻ em đặc biệt. Chính phủ trả lương cho người chăm sóc bé Lily và được hưởng thêm quyền lợi bảo hiểm sức khỏe. Bé được đi trường học lớp đặc biệt có xe đưa đón tận nhà, được cô giáo người bản xứ về nhà dạy riêng hai tiếng ngoài giờ. Anh muốn hét to “American vĩ đại, nhân từ bậc nhất…” Cho dù lương của anh bị trừ thuế 40% vẫn xứng đáng, vui vẻ góp phần xây dựng đất nước này phát triển vững mạnh thêm.
Mùa đông đi qua, mùa xuân lại đến, mùa hè trở lại, mùa thu tuần tự. Anh chị vẫn sống bằng niềm hy vọng bệnh tình bé Lily có phần tiến bộ, dù đã qua mười hai năm cháu vẫn chưa biết nói, biết đứng dậy. Tới năm mười bốn tuổi, bỗng dưng cháu đứng dậy và từ từ bước tập tễnh, còn niềm vui nào lớn hơn. Anh chị đã ôm nhau khóc vì mừng rỡ, bám tiếp tục niềm hy vọng để sống.
Nghĩ đến vợ, anh cảm thấy thường quý vô cùng. Nàng nấu ăn rất ngon, dù có chị Sâm trong nhà, nhưng bà xã chỉ muốn tự tay nấu những món ngon cho chồng con ăn vừa ý. Sau giờ làm vợ tất bật về nhà đứng mấy tiếng đồng hồ trong bếp, tối dành thì giờ chơi với con. Bé Lily rất kén ăn, nàng theo chiều con sát nút. Có điều đối với chị Sâm, bé dễ chịu vui vẻ, nhưng khi vợ anh về là bé chướng hết cỡ, đòi lung tung đủ thứ, bắt nàng bồng bế dù LiLy rất nặng ký. Bé có dấu hiệu: thích ngồi một mình, sợ người đông và sợ âm thanh mở lớn. Khi vui bé ngồi cười một mình xoay đầu liên tục, cô giáo có kỹ thuật chuyên môn dạy cháu chơi game để phát triển não bộ, cháu biết mở ipad và biết nhiều trò chơi trong máy khiến anh chị thấy phấn khởi vô cùng.
Anh chị ngoài thì giờ sinh hoạt, cũng tìm đọc các trang mạng về bệnh tự kỷ để hiểu thêm tâm lý. Chị là người mẹ rất tuyệt vời, luôn dặn anh “đừng bao giờ lộ nét mặt buồn giận con, mà phải cố gắng tạo nét mặt vui vẻ, ánh mắt trao nhìn con thật trìu mến”. Anh nhớ bao nhiêu năm, vợ luôn đè nén những ước mơ riêng tư, chịu đựng hy sinh cho con hết mực, những khi cháu nổi cơn bất thình lình. Như lần qua Florida ăn cưới cháu, trong buổi tiệc Lily nằm dài la hét làm anh chị không dự được phải ẵm con về khách sạn sớm; lần đi máy bay qua Nhật, cháu nằm lăn trên sàn khóc lóc lăn lộn, hành khách thật lịch sự ngồi yên như không có chuyện gì xảy ra dù cháu quậy rất ồn ào; lần qua đảo Big Island bên Hawaii, Lily cũng nằm vạ trên lối chờ vào máy bay, hôm đó tình cờ một viên phi công đi ngang qua, cúi xuống cầm tay em dẫn đi vào máy bay, cháu ngưng tiếng khóc bước theo, may mắn chuyến đó anh chị được thoát nạn; mỗi khi đến nhà ai hoặc ra ngoài công viên dự tiệc, thường chỉ có mình anh đi dự, họa hoằn đôi bữa có chị nhưng chị cũng nửa chừng bỏ cuộc.
Tiếng chị đánh thức anh về vùng hiện tại:
– Anh để con chơi, phụ em cho xong việc, em còn đi chợ vì tủ lạnh trống trơn rồi
– Được em!
Anh đẩy nhẹ Lily ra khỏi vòng tay.
– Con dạo ngắm hoa đi nhé, con có thấy hoa nở đẹp không?
Bé buông tay anh bước chậm nhìn hoa, không biết con có hiểu lời anh nói!!??
Sau một hồi phụ vợ các việc nặng, anh ngồi nhìn con chơi trong sân. Robert, anh Hai của LiLy đã tốt nghiệp Đại Học và có việc làm nơi xa. Anh chị vẫn tựa vào niềm hy vọng một ngày được nghe con gái nói, dù tiếng nói bằng ngôn, anh chị ngữ riêng cũng tốt. Năm nay quỹ An Sinh Xã Hội cắt giảm tài trợ việc cô giáo đến nhà bày vẽ chơi game cùng Lily hai tiếng mỗi ngày. Nhưng không hề gì, anh chị vẫn tiếp tục trả lương cho cô giáo, để cô hướng dẫn dưới hình thức chơi game bằng phương pháp trị liệu tâm lý và khai triển bộ óc.
Lily quay nhìn anh, cười tươi tắn, trở lại ôm anh sờ ngực, sờ áo. Anh vuốt tóc con thì thầm “Lời ba muốn nói với con, là ba mẹ yêu con nhất trên đời. Con là hơi thở, là sự sống của ba mẹ. Dù sao con cũng được sinh ra trên nước Mỹ, một đất nước nhân bản, có nhân đạo luôn đặt quyền lợi các trẻ em bị bệnh lên ưu tiên hàng đầu”.
Năm nay LiLy đã hai mươi tuổi. Tuần trước anh chị định dẫn bé đi chơi xa như món quà sinh nhật, vì anh chị thấy cháu rất thích chơi đùa với sóng biển, thích tắm nơi bờ biển vắng người, nhưng chuyến này không may nên bất thành. Con bé cao giống anh, khuôn mặt trái soan, nét mặt giống chị. LiLy sinh ra đời được bao nhiêu người yêu thương ngoài ba mẹ, hai bên nội ngoại, chị Sâm, người quen và nhất là anh Hai Robert của bé, cũng biết dỗ dành, chiều chuộng, đút cơm hoặc thay tả cho em mình.
Đã vào tháng Sáu, ngày Chủ Nhật đẹp trời. Anh chị tổ chức sinh nhật cho LiLy ngoài park gần nhà. Mùa hè đến, cây cỏ xanh um, quang cảnh mang bộ mặt tươi vui đầy sức sống. Bà con đến đông chúc mừng quà cho cháu. Tuần trước bé không vui cản trở chuyến đi chơi, hôm nay bé vui, ngồi yên cho mọi người chuyện trò ăn uống khiến anh chị mừng lắm.
Chiều dần xuống Lily chỉ về hướng xa vắng người, nắm tay ba kéo đi. Anh nhờ chị tiếp khách, hai ba con bước tới những mô đá bên kia đường, bé ngừng lại muốn ngồi xuống. Anh cũng ngồi theo bé nhìn bóng chiều lung linh hoa nắng nhảy múa trên vạt cỏ. LiLy nhìn quanh quẩn lộ nét mặt dễ chịu nơi có không khí yên tĩnh thoáng đạt. Mặc bên kia mọi người rôm rả nói chuyện, ăn uống tiếp tục, anh vẫn lặng lẽ ngồi bên con cả tiếng đồng hồ, nhìn mây trời trôi lãng đãng, nghĩ đến những mảnh đời khác nhau biến chuyển theo cuộc sống.
“Mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh”, nghĩ người bạn có con bị bệnh giống Lily, anh thấy mình được may mắn hơn, vì còn có đứa con trai thành đạt, có vợ bên cạnh chung nhau chăm sóc Lily. Anh nhớ điều đã đọc trong tài liệu về phương thuốc chữa bệnh Tự Kỷ Tâm Lý: “Tình yêu thương của người thân chính là phương thuốc hữu hiệu nhất cho người bị tự kỷ. Nên trò chuyện với họ nhiều hơn để tinh thần được thoải mái”.
Anh lẩm bẩm “Nhất định xóa tan đau khổ, thất vọng, chống phá căn bệnh trầm cảm chen vào. Con là giọt máu, là tình yêu thương lớn nhất trên đời. Ba Mẹ sẽ chiều ý con, dù lúc con vui hay khi con nổi chướng, miễn Ba Mẹ được sống bên con gái yêu quý …”
Minh Thúy Thành Nội
Mùa Lễ Cha
==
ĐỌC TRUYỆN THỦY NHƯ: THỬ THÁCH ĐẦU ĐỜI – Diễn Đọc Thảo Mi
==
Thử Thách Đầu Đời
Tiếng súng nổ vang dội lấn át giọng nói của người cha vừa vẫy tay tạm biệt cậu con trai vừa bước lui về phía chiến trường đầy khói. Cậu bé thét gào lên, “Ba ơi! Ba ơi! Tại sao ba phải đi?” “Ba phải đi. Ba thương con vô cùng…” Giọng người cha xa dần và cậu bé giật mình thức giấc. Cậu nhận ra là mình đang khóc trong mơ và miệng vẫn còn lẩm nhẩm, “Tại sao ba phải đi?”
Đó là một đoạn trong vở kịch truyền thanh “The Price of Freedom” do Focus On The Family phát hành mà má chồng tôi đã mua tặng cho các con tôi. Bà mua một loạt những vở kịch Adventures in Odyssey truyền thanh như vậy để chúng nghe mỗi khi chúng tôi ngồi trên xe. Hôm đó tôi và hai cậu con trai nhỏ đang lắng nghe vở kịch “The Price of Freedom” trên đường lái xe đến thăm ba mẹ tôi lúc bấy giờ đang ở Redlands. Nhìn qua kiếng chiếu hậu, tôi thấy mắt hai cậu con trai tôi ngấn nước. Tôi nhấn nút dừng vở kịch và hỏi chúng với giọng cũng nghẹn ngào. “Các con có sợ khi nghe vở kịch này không? Mẹ tắt nhé!” Cậu con trai lớn 8 tuổi của tôi trả lời với giọng mếu máo, “Không. Con muốn nghe tiếp.” Cậu nhỏ tôi tiếp theo anh nó. “Con cũng muốn nghe nữa.”
Tôi nhấn nút tiếp tục vở kịch. Đó là câu chuyện về câu chuyện về cậu bé Kirk McGinty có ba đã tử trận trong chiến tranh Việt nam. Mẹ của Kirk cũng sang Việt nam làm việc và gặp ba cậu nơi đó. Họ làm đám cưới ở Việt nam và có những ngày hạnh phúc ngắn ngủi với nhau. Sau đó Mỹ quyết định rút quân khỏi Việt nam và mẹ cậu trở về Mỹ với bào thai, là Kirk, trong bụng mà chưa kịp báo cho người chồng còn ở lại. Và ông đã vĩnh viễn nằm xuống tại chiến trường Việt nam những ngày sau đó. Với phong trào phản chiến leo thang, bà McGinty đã đem con rời thành phố về sống tại một miền đồng quê để tránh cho con khỏi nghe những lời chỉ trích và chửi bới độc địa về những người lính tham chiến tại Việt nam.
Có lẽ bà McGinty đã kể lại cho con trai rất nhiều hình ảnh oai hùng của chồng bà, là ba của Kirk, nên cậu bé rất thích những ý tưởng về những cuộc chiến thắng, chinh phục và chiến lược binh trận. Kirk ngưỡng mộ ba mình biết bao nhiêu thì cậu cảm thấy sụp đổ đau đớn bấy nhiêu khi trong giờ học lịch sử, thầy giáo Altman đã gọi cuộc chiến Việt nam là một cuộc chiến vô nghĩa. Cậu đã nán lại sau giờ học để hỏi thầy giáo những cảm nghĩ của ông về những người lính tham chiến tại Việt nam. Thầy Altman khẳng định lại lập trường của mình rằng chiến tranh Việt nam là vô nghiã và cái chết của những người lính Mỹ cũng vô nghĩa như vậy. Ông còn
cho cậu bé mượn một cuốn sách trong đó tác giả mô tả những người lính Mỹ ở chiến trường Việt nam là những kẻ giết người một cách tàn bạo. Kirk đau đớn khi nghe những nhận xét của thầy giáo. Cậu giống như bị quật một trận nên thân, biếng ăn, mất ngủ và không còn là một cậu bé vui tươi hiếu động nữa. Thần tượng của cậu là người cha đã hoàn toàn sụp đổ sau những lời nói của ông thầy dạy Sử. Ba của cậu không còn là một anh hùng mà là một tội đồ. May mắn thay, Whit, một ông già trong phố đã nhận ra sự thay đổi của Kirk. Ông đã tìm hiểu và đến nói chuyện với thầy giáo về ba của Kirk, một quân nhân đã tử trận trong chiến tranh Việt nam. Thầy giáo đã nhận ra rằng ông đã quá lời.
Mẹ của Kirk cũng đau lòng khi thấy tinh thần con suy sụp. Với sự sắp xếp của ông Whit, bà được mời phát biểu trong buổi lễ Memorial của thành phố. Hôm đó bà đã đọc lá thư cuối cùng của chồng. Sau khi nghe lá thư của ba, Kirk đã lấy lại niềm tin của mình, rằng ba cậu đã chiến đấu cho một lý tưởng cao đẹp và đã hy sinh thân mình cho một sứ mạng mà đất nước đã giao phó.
Mẹ con tôi sụt sùi khi nghe câu chuyện đó. Có lẽ tôi quên nhiều chi tiết trong vở kịch nhưng có một câu nói của người mẹ làm tôi nhớ hoài. “I’m sorry that your father was your first test.” (Mẹ lấy làm tiếc rằng ba là thử thách đầu đời của con.) Trong nước mắt, tôi cũng đã nói với các con tôi giống như vậy sau khi nghe xong vở kịch. “Mẹ cũng rất lấy làm tiếc là ông ngoại cũng đã là thử thách đầu đời của mẹ và các cậu dì, là chị em của mẹ.” Tôi đã kể cho các con tôi về những cảm nghĩ của tôi về ba ngày ấy.
Sau năm 75, ba tôi vì đã làm việc cho chế độ miền Nam Việt nam nên ông bị bắt giam trong tù cộng sản. Thương mẹ ngày ấy phải một mình chống chọi với đủ mọi áp lực để nuôi đàn con thơ dại khờ. Chị em chúng tôi còn quá nhỏ để có thể sẻ chia với mẹ những sợ hãi, gánh nặng trên thể xác cũng như tinh thần thời đó. Mẹ mong chờ ba trở về để cất bớt gánh nặng. Mỗi lần chúng tôi ước một điều gì đó, mẹ nói. “Khi nào ba về, thì ba sẽ làm cho con.” Tôi đặt bao nhiêu hy vọng vào ba. Tôi tin rằng khi ba về, nhà tôi sẽ khá hơn và tôi cũng sẽ được ngẩng cao đầu với bè bạn.
Cũng giống như cậu bé trong truyện, tôi đã nhiều lần nghi ngờ rằng có thực là ba tôi là một người tử tế không. Hay là ba thật sự là một trong những “tên ác ôn có nợ máu với nhân dân” như cách nói của chính quyền cộng sản. Tôi thích nhớ ba tôi thật oai trước năm 75 dẫu hồi đó tôi còn rất bé. Ba tôi trở về nhà sau những đợt công cán dài ngày và tôi ngồi dưới chân ba nhổ những bông cỏ mây bám vào vớ và ống quần khi ba đi qua vạt cỏ đến máy bay đậu trên đồng để bay về nhà. Nhưng ba tôi trông thật xơ xác khi tôi đi với mẹ thăm ba trong trại tù. Ba trông hốc hác, tiều tuỵ, yếu ớt, khác rất nhiều so với những gì tôi nhớ về ba. Mẹ bảo, “Ở tù mà con.”
Tôi nhớ hồi đó có bộ phim gì tôi không nhớ tên (mà bây giờ cũng không muốn kiếm,) nhưng nhớ tên bài hát trong phim, “Em sẽ là hoa hồng nhỏ.” Trong phim đó, ba của cô bé cũng như ba tôi đang ở tù. Ông đã nhận ra những điều sai trái đã làm trong chính quyền miền Nam và đã giác ngộ. Nhà nước đã mau chóng khoan hồng cho ông trở về sum họp với gia đình. Tôi đã ngây thơ viết thư cho ba sau khi đi xem phim về, mong rằng ba cũng làm như ông đó để ba được chóng về với mẹ và chị em chúng tôi. Lá thư đó có lẽ đã bị quẳng vào thùng rác, chẳng đến tay ba, nên ba tôi đi tù đến 7 năm – một thời gian dài đủ để tôi, từ một con bé hỉ mũi chưa sạch thành một cô bé tuổi thiếu niên với bao mơ ước.
Khi ba tôi về, gia đình tôi không khá hơn mà còn tệ hơn. Chính quyền không cho ba tôi về ở nhà tôi nhưng bắt phải về trên quê cách chỗ chúng tôi 20 km. Nhà tôi hồi đó chỉ có một chiếc xe đạp cho mẹ đi buôn bán. Ba không làm được việc gì cả vì không có hộ khẩu nên không có chỗ ở. Không thể hiểu nổi cái lý luận lòng vòng của chính quyền về cái tờ hộ khẩu, hậu khổ, tai quái đó.
Ba tôi bị bắt đi tù trước khi cái tờ hộ khẩu quái đản đó được ban hành và dĩ nhiên là tên ông không có trong tờ hộ khẩu của nhà tôi. Họ bảo rằng ba bị bắt ở trên quê nên khi ra tù phải về trên quê, nơi mà ba tôi không có một mảnh đất để làm nhà. Trong khi đó cái nhà do ba tôi xây ra ở dưới thị xã, nơi mẹ con tôi đang trú ngụ thì ba lại không được ở. Không biết là chính quyền không hiểu hay là không chịu nghe để mà hiểu, nên cứ bắt ba tôi về quê. Công an đến soát nhà tôi mỗi đêm để tìm bắt ba tôi vì cư ngụ bất hợp pháp. Điều trớ trêu là nhà tôi có rất nhiều người ở trên quê xuống tạm trú. Anh chị em họ ở trọ để đi học, đi họp. Bác cậu mợ cô chú thím dì dượng ở nhờ nhà tôi để chữa bịnh dài lâu. Chính quyền không bắt ai cả, mà chỉ tìm bắt mỗi ba tôi. Mỗi đêm xuống là chúng tôi lo sợ. Gia đình chúng tôi sống trong căng thẳng, sợ hãi và lo âu. Cái lo sợ đã làm mặt mày tôi lúc nào cũng nhăn nhó, đau khổ nên bạn bè có đứa gọi tôi là bà già khắc khổ. Tôi nhiều lần ước chi ba còn ở trong tù để cho chị em chúng tôi không bị khổ sở về tinh thần.
Có người bảo ba mẹ tôi đấm vào mõm họ … một ít tiền là xong. Ước gì nhà tôi có tiền để làm điều đó. Mẹ lên kế hoạch dài lâu. Đem thiến hai con gà trống trong đám gà nhà. Rồi vỗ béo và đem hiến cho họ, giống như tống cho đám quỷ sứ, giống như là “con gà trống thiến để riêng cho thầy …” Kế hoạch thành công! Với bao đêm ba tôi phải leo lên mái nhà để trốn mỗi khi công an đến soát nhà và chị em tôi nín thở giả vờ ngủ, mấy tháng sau đó nhà tôi có được hai con gà trống thiến mập mạp. Chị em tôi hí hửng. Thí cho họ một con. Còn một con, chị em tôi mong được ăn thử thịt gà trống thiến xem nó ngon cỡ nào. Có lẽ thịt gì chúng tôi cũng cho là ngon hết, bởi mỗi năm chúng tôi chỉ được ăn thịt một, hai lần. Vậy mà đến Tết, ba bảo phải biếu cả hai con gà trống thiến. Một con cho ông công an xã trên quê để ổng ký giấy cho đi và con kia cho ông công an khu vực chỗ nhà tôi để ổng cho ba tôi ở. Chị em tôi thất vọng hết sức. Chúng tôi chẳng được ăn thịt gà trống thiến như mong đợi. Hai con gà ra đi. Ba vẫn không được về ở nhà chúng tôi. Đám quỷ sứ đông quá! Nhà tôi không nuôi kịp gà để … đấm vào mõm họ. Ba bực mình bỏ Tam kỳ vào Mỹ xuân lập nghiệp.
Ba đi được vài tháng rồi gởi thư về bảo mẹ đem cậu em trai đang chuẩn bị lên lớp 6 vào ở với ba. Tôi chuẩn bị lên lớp 12 và sẽ vào ở với ba sau khi tốt nghiệp. Mẹ sẽ ở lại Tam kỳ với cô em gái cho đến khi em học xong lớp 12 vì chỗ ba ở không có trường cấp ba. Chị tôi chuẩn bị đi lấy chồng nên ba mẹ khỏi phải lo. Mẹ dẫn cậu em vào với ba và khi về, mẹ kể chuyện nơi ba đến lập nghiệp. Tôi nghe mẹ kể về miền đất ba vào sinh sống với bao háo hức. Nhà có vườn và ao nuôi cá, có ruộng để trồng lúa đủ ăn, có đất để trồng rau và hoa quả. Người ta vào tận nhà để mua cây trái hoa lá trong vườn, mình không phải đem ra chợ bán. Đặc biệt là vườn có những cây xoài tượng cho trái ngọt lịm… Tôi tưởng tượng ra một cuộc sống yên bình no đủ đang chờ đón tôi nơi miền Nam hiền hoà như tôi đã đọc trong truyện.
Tôi đã thất vọng tràn trề khi tôi vào đến nhà ở Mỹ xuân vào tháng 6 năm 1985. Đó là mùa mưa của miền Nam. Chiều nào trời cũng mưa. Nhà ba mua nằm trên vạc đất thấp của khu vườn nên nước thấm vào nền nhà bằng đất, làm nền nhà trông nhớp nháp. Căn nhà lợp lá dừa phía trong nhìn đẹp nhưng phía ngoài trông thật xấu xí. Tường nhà thì bằng đất nhồi rơm. Mưa đổ xuống, nhà dột lung tung và nước tạt vào tường làm ướt đồ đạc nằm sát vách. Mùa mưa cây cỏ xanh tốt vượt lên che phủ mọi thứ làm cho căn nhà của chúng tôi trông như một cái chòi giữa
rừng hoang. Buổi tối còn thảm hơn với ngọn đèn dầu le lói trông thật buồn. Cái cảnh đìu hiu trong rừng vắng đó làm tôi nhớ Tam kỳ đến cháy người. Nhưng điều kinh khủng hơn cả là không có bạn bè. Tôi ngày ngày ra vườn nhổ đậu, trồng khoai, cấy lúa, hái điều…Tối về đọc đi đọc lại vài cuốn sách tôi có được. Đọc đi đọc lại mãi phát chán nhưng cũng phải đọc vì không có gì để giải trí. Tôi ước mong có một người đến thăm nhưng điều tôi mơ ước là không tưởng bởi nhà tôi ở xa đường lộ, không địa chỉ. Thư từ thì cả tháng mới tới mà cũng không có tiền mua tem để gởi thư. Tôi và ba chỉ biết làm ruộng rẫy mà không biết tính toán buôn bán, thành ra cuộc sống rất là chật vật. Những ngày giáp hạt, nhà không có gạo ăn. Ba phải đạp xe đi 20 km mượn lúa của một người bà con xa. Đem lúa về, thì lại không có tiền đi xay thành gạo. Mang xuống nhà máy xay xong, họ lấy lại một ít gạo để trừ tiền xay.
Vài tháng sau đó, ba tôi dắt cậu em về Tam kỳ chịu tang ông nội mấy tuần. Tôi ở một mình giữa cánh đồng hoang, xa xa mới có một hàng xóm và nhà họ lúc nào cũng đóng cửa. Tôi thường nói chuyện một mình trong cái cô đơn tột cùng. Đó là những ngày kinh khủng của đời tôi. Không dám bạo dạn như Scarlett thề trong truyện “Cuốn theo chiều gió” “I’ll never be hungry again.” khi bị lâm vào cảnh đói nghèo, tôi chỉ dám than khóc với Chúa. “…Con không muốn rơi vào cảnh đói nghèo cô đơn này một lần nào nữa…” Và tôi cũng hát đi hát lại câu hát của Vũ Thành An. “Về sau, và nhiều năm sau nữa, có buồn nhưng vẫn chưa bao giờ bằng hôm nay.” Chẳng phải buồn tình nhưng buồn tủi vì nhà nghèo không đủ ăn. Vở kịch “The Price of Freedom” này được phát thanh lần đầu tiên vào tháng 5 nhằm dịp lễ Memorial vào năm 1988. Ông xã tôi bảo lúc bấy giờ nước Mỹ đã hầu như không còn nhớ đến chiến tranh Việt nam. Nhưng ở bên kia bờ Thái Bình Dương, cộng sản Việt nam vẫn không hề ngơi phân biệt đối xử với những người như gia đình chúng tôi. Lúc đó cô em của tôi vừa tốt nghiệp lớp 12 và em không muốn rời miền Trung. Em không nộp đơn thi đại học mà chỉ nộp đơn thi vào Cao đẳng Sư phạm Anh văn – Đà nẵng với hy vọng trường thấp hơn thì sẽ được họ cho đi học. Em đã không có được cơ hội để đi thi chứ đừng nói gì đến chuyện đi học. Họ đã bác đơn xin dự thi của em tôi. Tôi nghe tin và cầu nguyện để em không bị trầm cảm bế tắc như chị họ tôi trong truyện Niềm nhớ. Dù luyến tiếc Tam kỳ nhưng cô em tôi cũng phải theo mẹ vào ở với ba. Căn nhà ở Tam kỳ giao lại cho chị tôi. Gia đình đoàn tụ. Ba mẹ tôi tin Chúa và cả gia đình tôi cùng đi thờ phượng Chúa ở hội thánh Phước thái gần nhà. Chúa cho gia đình tôi được thảnh thơi hơn và có bạn bè trong hội thánh đến thăm chơi. Năm sau đó, cô em tôi cũng đi học Cao đẳng Biên hoà như tôi trước đó. Mẹ mỗi ngày mang hoa quả rau củ trong vườn ra chợ bán. Mẹ đã làm cho khu vườn giống như những gì mẹ tả cho tôi nghe trước khi tôi rời Tam kỳ. Cuộc sống của gia đình tôi khá tươm tất. Chúng tôi tưởng cuộc đời của gia đình tôi đã an bài nơi xã Mỹ xuân ven lộ 51.
Những năm 90, chương trình H.O. nở rộ nhưng ba tôi không muốn đi. Gia đình tôi đang sống ổn định trên mảnh đất ba mua. Ba đã gần 60 tuổi nên không muốn làm lại cuộc đời nơi xứ người, nơi mà ngôn ngữ và văn hoá quá xa lạ với một ông già như ba để làm quen. Nhưng có lẽ cái ngại ngùng của ba là chuyện lo giấy tờ để nộp đơn cho chương trình H.O.. Ba không muốn về Trung làm giấy tờ bởi cái ám ảnh ghê sợ của những ngày ở tù và bị bắt bớ khi ra tù. Hồi đó tôi không hiểu những lo âu của ba nhưng bây giờ, khi đã thấm mùi đời, tôi nhận ra những lo âu đó là đúng.
Rồi cuối cùng gia đình tôi cũng đến được nước Mỹ , chứ không phải xã Mỹ … xuân lèo tèo ngày xưa. Lúc tôi hai mươi mấy, tôi nghe một người nói đại loại như thế này. “Từ nhỏ cho tới 10 tuổi, mình thấy ba giỏi quá, cái gì cũng biết. Từ 10 tuổi cho đến 18 tuổi, mình thấy ba không biết gì mấy. Từ 18 – 30 tuổi, mình thấy ba không biết gì hết trơn. Từ 30 – 40 tuổi, mình thấy ba nói nhiều điều đúng. Hơn 40 tuổi, mình thấy ba là anh hùng.” Ngày đó tôi cười khi nghe những lời đó, nhưng bây giờ tôi thấy quá chính xác.
Ba tôi năm nay đã ngót nghét 90 tuổi. Ông vẫn mỗi ngày lái xe chở mẹ tôi đi dạo bờ biển thật đẹp ở Navarre, FL. Những đứa cháu nội ngoại của ba, đa số là sinh ra ở Mỹ, có đứa nói được tiếng Việt, có đưá lọng ngọng, có đứa không nói được chữ nào, nhưng chúng đều yêu quý ông nội/ngoại. Thằng cháu nội đích tôn nói tiếng Việt hơi thiếu dấu nhưng thương ông nội nhất trong đám cháu. Lâu lâu nó xin ba mẹ nó được qua ngủ với ông nội một đêm. Thằng bé nằm kế bên ông nội, kéo da tay ông lên và nói, “Ông nội ốm quá! Chỉ có xương và da thôi. Ông nội phải ăn nhiều lên…” Ba tôi xoa đầu cháu và chảy nước mắt.
Lúc này tôi thấy mình hay lục tìm quá khứ. Đọc những dòng nhật ký viết về ba những ngày tháng kinh khủng ở Việt nam, đã có lúc tôi tưởng, vì ba mà đời tôi bị dìm xuống. Tôi cũng như cậu bé Kirk trong vở kịch “The Price of Freedom”, tôi đã ngờ vực về ba, không phải chỉ trong mấy mươi phút như trong vở kịch mà rất nhiều năm. Không biết tôi có hành xử được như ba hay không nếu tôi bị cô thế, bị bắt phải tù tội, bị bắt bớ khi ra tù, rồi lạc đến một nơi không cùng ngôn ngữ khi tuổi đã về chiều. Bây giờ nhìn thấy ba mẹ tôi sống an bình, tôi ước ngày về hưu tôi cũng được sống như vậy. Bây giờ tôi lại nhìn lên mẫu mực của ba mẹ như tôi đã nhìn ba mẹ trước năm 75 khi tôi còn bé tí. Bây giờ tôi nghiệm ra rằng thử thách đầu đời ấy đã giúp tôi khẳng định niềm tin về ba, tự hào về ba, người tôi đã kính nể lúc nhỏ và cho đến bây giờ.
Viết cho Tháng Tư! 2025 Thuỷ Như
==
TRUYỆN SỎI NGOC
Khóc Cha
Biết bao nhiêu bài viết về Mẹ, công ơn sinh thành, hy sinh của người Mẹ vào ngày lễ Mẹ, nhưng hôm nay là ngày Father’s Day, ngày của CHA, tôi phải lợi dụng ngày này để viết lên công trạng của cha không kém gì MẸ, ngược lại vai trò người cha trong gia đình tôi là điểm đặc biệt quan trọng mà những chị em gái chúng tôi không thể nào quên.
Người cha ngoài công lao dưỡng dục, mặc dù không là người trực tiếp mang nặng đẻ đau như người mẹ, nhưng người cha đổ rất nhiều công lao như đi làm kiếm tiền trang trải cuộc sống, gánh vác cả gia đình; cuộc sống có tốt đẹp, ấm no, con cái có học hành, phẩm hạnh đạo đức không, chính nhờ phần lớn mồ hôi, công sức nuôi dậy của người CHA.
Tôi là đứa con trai giữa trong gia đình năm chị em, ba gái đầu liên tiếp và hai trai sau, mà tôi là người anh đầu. Lẽ ra ba chỉ muốn có hai người con, một trai và một gái thôi, hoặc ba người là nhiều rồi, vì ba bảo có nhiều con vui thật nhưng trách nhiệm nặng nề, phải nuôi con đến nơi đến chốn, cho ăn học và đến khi chúng lập gia đình mình cũng còn phải lo!
Mỗi lần mẹ mang bầu là mỗi lần ba đặt nhiều hy vọng, mong một thằng cu! Ba hay kể với bác Tư, bạn thân của gia đình là ba cảm thấy rất phấn khích, khỏe mạnh khi “gần” mẹ, chắc chắn kỳ này phải là đứa con trai. Thế nhưng kết quả là… người chị cả ra đời!
Ba tự an ủi, nói với ông bà Nội rằng:
-Không sao, đứa đầu lòng là gái hay trai cũng được, là con gái thì sau này nó dậy dỗ trông nom em càng tốt hơn nữa, nhất là chỉ bảo em trai thì tốt đẹp biết bao.
Hai năm sau, mẹ mang bầu, ba đặt tất cả kỳ vọng vào cái bầu tròn căng vượt mặt của mẹ. Thuở ấy chưa có siêu âm ở những vùng tỉnh nhỏ, nên chỉ nhìn dáng bụng thì suy đoán là trai hay gái mà thôi; ông bà nội với nhiều kinh nghiệm, ngắm cái bầu của mẹ khi lên Dalat thăm gia đình nhỏ của chúng tôi:
-Nhìn cái bầu tròn như thế thì 80% là con gái rồi!
Ba cố chống đối:
-Nhưng sao kỳ này mẹ chúng nó lại thích ăn ngọt chứ không thích ăn chua như lần mang bầu đầu tiên, có thể nào là con …trai?
Đứa con gái thứ hai ra đời, ba có hơi thất vọng.
Đến ba năm sau, ba lại nhất định “thua keo này ta bầy keo khác”, không chịu thua số phận, hy vọng tăng trội hơn khi thấy khuôn bụng của mẹ nhỏ gọn hơn hai lần trước.
Ngày mẹ đi sanh chỉ có ông bà ngoại bên cạnh vì ba phải đi làm xa, ở Liên Khương, ba phone về thấp thỏm hỏi ông bà ngoại:
-Vợ con sanh có tốt không bố? Baby sinh ra có khỏe không? và có phải là con… trai?
Ông ngoại ái ngại, không dám trả lời liền, ngần ngừ:
-…Ưm… nhờ Trời thương mẹ tròn con vuông!… Con bé khỏe mạnh!
Ba thốt lên một cách thất vọng:
– …Lại là con gái ư?!
Một khoảng thời gian yên lặng, rồi ba nói tiếp :
-Con nhờ ông ngoại đặt tên cháu nhé.
-…Ừ được rồi, nhưng con bé này rất kháu khỉnh, có cặp mắt tròn to, da trắng và rất nhiều tóc!
-Vâng! Ông cứ đặt tên cho cháu đi nhé, con cám ơn ông bà Ngoại giúp con nuôi vợ con và các cháu nhé; con phải làm đến hết tuần này mới về nhà được ạ.
-Được rồi, con cứ an tâm đi.
Chỉ nói thế thôi, ba cúp phone tiếp tục làm việc.
Ông Ngoại trầm ngâm suy nghĩ, biết ba đã « ngán » con gái lắm rồi, nếu mẹ cứ tiếp tục cái đà này thì chắc ba ở luôn trên Liên Khương làm việc!
Ba chị gái đầu ra đời làm ba tôi chán quá, đổi nhà về Saigon làm việc để có thể thay đổi không khí, thay đổi sinh hoạt, biết đâu….
Lần thứ tư mang bầu, mẹ tôi chẳng thèm kiêng cữ gì như ba lần trước, bà ăn uống xả láng vì cảm thấy lúc nào cũng đói, nhất là rất thích ăn kem, ăn đồ lạnh.
Ngày mẹ đau bụng, mới đến nhà thương, chưa kịp vào phòng sanh, đứa trẻ đã muốn lọt ra ngoài, họ vội vàng đẩy mẹ vào phòng ngay; ba đứng bên ngoài chờ cho mọi chuyện êm thắm một chút, định bỏ về đi làm thì nghe tiếng khóc thé của tôi vọng ra; ba đã biết đó là thằng con trai!
Ba đã mừng đến rơi nước mắt và đã chắp tay cảm ơn Trời Phật ngay tại trước phòng sanh của mẹ!
Tôi được cưng chiều đến nỗi chỉ một tiếng khóc nhỏ cũng được chị vú ẵm bồng, dỗ dành.
Mỗi buổi chiều đi làm về, ba đều vào thăm thằng cu Thơm, vì hồi bé tôi thơm mùi sữa, mùi phấn lắm nên được đặt tên ở nhà là cu Thơm, ba mua đồ chơi, hôn hít, bồng bế tôi. Tôi đem niềm may mắn đến cho gia đình, ba được thăng chức, được chính phủ cấp cho nhà rộng to, rất đẹp.
Dù ba cưng chiều tôi nhất nhà, nhưng ba chị của tôi cũng được ba chăm sóc, lo lắng cho từng người. Tôi nhớ chị lớn nhất của tôi đến tuổi có bạn trai, mỗi lần anh ấy đến, ba đều hỏi gia cảnh nhà anh ấy tưởng chừng như cảnh sát hỏi cung phạm nhân vậy, đến nỗi anh ấy không dám vào nhà nữa mà hẹn chị ở góc đường, ba nói :
-Đứa nào có can đảm đối đầu được với ba thì mới xứng đáng làm con rể của ba!
Mỗi lần tôi bị bệnh thì khỏi nói rồi, ba thức đêm lo cho tôi uống thuốc đúng giờ thay vì là mẹ, ba cẩn thận đến nỗi sợ mẹ mệt ngủ quên nên ba để đồng hồ báo thức dậy đúng giờ đó, và tự tay cho tôi uống thuốc.
Sau tôi, em trai ra đời, ba rất vui mừng và ngưng tại đây.
***
Những ngày vui hạnh phúc chưa được bao nhiêu thì miền Nam bị nhuộm đỏ, công việc dưới chính quyền cũ không còn nữa, ba phải cơ cực làm những công việc chẳng phải là chuyên môn của mình, hy sinh tất cả cho các con từ hạt cơm bo bo đến miếng thịt heo cả tháng mới mua được một lần ở hợp tác xã.
Sau đó là những lần vượt biên không thành, ba bán dần dần những đồ đạc trong nhà, ba ít nói hơn, mái tóc bất ngờ chuyển màu trắng toát chỉ qua vài đêm, ngồi yên nhìn vào khoảng trống như suy tính mọi cách làm sao cho con cái thoát thân trước, rồi ba mẹ mới là người cuối cùng.
May mắn làm sao đúng vào lúc gia đình cạn kiệt nguồn vốn để dành bao lâu nay, giấy tờ bảo lãnh của người thân bên Canada về đúng lúc, chúng tôi sửa soạn rời xa quê hương, nơi chôn nhau cắt rốn đến một xứ sở thứ hai với hai bàn tay trắng, tương lai mịt mờ, chỉ còn mỗi niềm hy vọng mong manh trong tim.
***
Ba mươi năm sống ở xứ Canada lạnh giá, 15 năm đầu ở Montreal, ba đã bỏ cả tự ái, quên đi cái chức giám đốc nha hỏa xa, xưa kia ở Saigon, một thời cai quản hơn cả mấy chục nhân viên dưới quyền, ba đã phải làm công nhân với mức lương 4$/ giờ trong hãng làm giầy da, sáng sớm dậy chờ bus lạnh lẽo ở đầu đường, làm cho đến chiều 5 :00 về nhà mệt nhoài. Với số tuổi không còn trẻ, 55, Ba cố gắng quên mình, bỏ tự ái để đi làm công việc tay chân với một mức lương tối thiểu mà không hề than trách, để cho chị em chúng tôi đừng bị dang dở việc học.
Vài ba năm sau, năm 1990 dù lớn tuổi, ba vẫn lấy thêm chứng chỉ học ban đêm, mỗi tối cả nhà chúng tôi đều yên lặng, ai nấy đều gục đầu vào quyển sách, chỉ nghe tiếng trang sách lật; ba thi vào một chức vụ hành chính về quyền con người của cấp thành phố Montreal, tỉnh Quebec nơi chúng tôi đang cư ngụ, chức vụ này có đến trên 10 người thi vào, chỉ một mình ba là người Việt tỵ nạn đến Quebec được ba năm rưỡi, còn những kia toàn là dân bản xứ, họ thi lên ngạch, làm lâu năm và có kinh nghiệm cả chục năm trong guồng máy hành chính này. Ba nói với chúng tôi :
-Cứ thử sức xem sao, không mất mát gì cả, nếu đậu thì cả nhà chúng ta sẽ được thay đổi đời sống, mâm cơm sẽ khác hơn, sẽ có xe đi và chỗ ở tốt hơn; nếu không được thì mình cũng học cho có thêm sự hiểu biết về luật pháp của Canada, không có gì mất công hết!
Chúng tôi rất cảm động vì thấy tuổi ba đã lớn, trên 55 mới bắt đầu học lại, ba không muốn cho mẹ phải đi làm, không muốn thấy chúng tôi phải bỏ học ngang để đi làm kiếm tiền, ba lúc nào cũng tự cho mình phải mang trách nhiệm này đối với gia đình.
Nhiều đêm thấy ba đọc sách mà quyển sách đã tự rơi xuống đất vì buồn ngủ và mệt quá, ban ngày đi làm từ sáng sớm, tối thức khuya đến 12 :00 đêm làm sao sức nào chịu nổi, tôi thương ba vô cùng, tự hứa với lòng sẽ ráng học ra trường kỹ sư để ba hài lòng.
Rồi một ngày, ba về nhà mang trên tay bao nhiêu giỏ xách, ba hớn hở nói như reo, lần đầu tiên tôi thấy ba vui như thế :
-Mẹ chúng nó này! Tôi đã… thắng rồi nhé, tôi được chọn vào làm văn phòng của chính phủ rồi, thứ hai tới này tôi đi làm công sở mới!
Lúc ấy ở nhà chỉ còn hai anh em trai chúng tôi thôi, ba chị lớn đã lần lượt đi lấy chồng sau khi ba mẹ tôi sang được một năm, tôi và em trai đã chạy ra ôm lấy ba, chúc mừng :
-Ba giỏi quá! Chúng con phải noi theo gương ba!… Hôm ba đi thi có đông người phỏng vấn ba không?
-Cả một phái đoàn 6 người, mỗi người hỏi một vấn đề, người thì hỏi về luật lệ Canada, kẻ thì đưa ra những tình huống xem mình giải quyết thế nào, còn người thì hỏi về học vấn và công việc trong quá khứ của mình ra sao…rất stress lắm, mỗi thí sinh phải qua cả tiếng đồng hồ với họ đấy chứ không dễ ăn đâu!
-Chúng con rất hãnh diện về ba, ba giỏi quá, ba làm gương cho chúng con noi theo đó!
-Vậy mấy người kia thì sao hả ba? Họ trả lời không được hay sao?
-Họ không đủ kinh nghiệm sống và có người chưa làm qua chức vụ đó thì làm sao trả lời được, còn ba thì đã làm mấy năm giám đốc hỏa xa, lại đi tu nghiệp ở Mỹ, Pháp về thành ra đối với ba không là vấn đề gì to tát, chỉ có cái mình nói chuyện bằng ngôn ngữ của họ không nhanh bằng họ thôi, mình viết giỏi, nhưng nói thì chưa lưu loát lắm.
-Bõ công ba học hành từ cả mấy tháng nay! Đây là món quà thật xứng đáng của ba!
-Cái gì cũng phải nỗ lực để đạt được, các con nhớ nhé, muốn gì phải đạt được bằng tất cả khả năng của mình, đừng từ bỏ, hãy theo đuổi mộng ước của mình đến cùng vì mình chỉ khổ vài năm thôi mà được hưởng cả đời.
Mẹ tôi chen vào:
-Ba nó mua nhiều thịt heo, thịt vịt quay quá, hôm nay tha hồ mà ba bố con nhậu với nhau!
***
Ba làm cho công sở cấp thành phố, tiểu bang Quebec này được 10 năm, đúng 65 ba về hưu, mọi người trong sở ai cũng quý mến ba, ba được thưởng bonus và được tiền hưu cao. Lúc ấy tôi và em trai đã tìm được một công việc khá ở Toronto về kỹ sư điện tử đã được trên sáu năm và cũng đã lập gia đình; ba mẹ muốn về gần con trai và các cháu nhỏ, nên đã từ giã Montreal, không muốn ở chung với các con, mà muốn ở riêng và thỉnh thoảng chúng tôi đến thăm.
Mẹ mất khi 70 tuổi, sự ra đi nhanh chóng của mẹ làm cuộc sống của ba bị mất thăng bằng, ba không còn thấy vui sống nữa, nhưng vẫn cố gắng giữ nụ cười khi gặp con cháu. Ba cố gắng tự mình di chuyển bằng xe đạp, bằng phương tiện giao thông công cộng như bus hay metro để đừng phiền đến ai, ba cũng tự học làm cơm mà từ trước đến nay ba chẳng bao giờ đụng đến bếp núc mà chỉ lo kiếm tiền cho gia đình mà thôi, ba ăn uống qua loa…Vì thế nên ba ngày càng gầy đi, mỗi lần gặp chúng tôi ba đều cố vui để chúng tôi đừng lo lắng, đừng mất công làm cơm đem đến cho ba:
-Ba khỏe mạnh lắm, không bệnh hoạn gì hết, các con cứ lo đi làm, lo cho các cháu là được rồi, đừng mất công đem gì đến cho ba, ba đặt đồ ăn ở gần đây, họ làm ngon lắm.
Đến một ngày, tôi nhận được phone của ba từ nhà thương, ba cố nói với giọng vui vẻ:
-Ba đã xin được một chỗ ở đây rất tốt, phải chờ đợi lâu lắm mới được chỗ này đó, họ làm cơm cho mình ngày ba bữa, nơi đây vừa gần chỗ các con ở, vừa gần …nhà quàn…
-Ba! Cái gì vậy? Tại sao ba lại vào nhà thương ở? Chỗ đó đâu phải….Sao ba không bàn gì với chúng con? Cancer phổi của ba các bác sĩ nói vẫn được theo dõi ok mà? Ba có bị đau đớn không? Ba có buồn giận gì chúng con không?
-Không đâu, chính ba là người quyết định, các con không có lỗi gì ở đây cả! đời người cũng phải có cái hạn mà con, ba đã sống hết đời rồi; từ ngày mẹ con qua đời đến giờ ba sống thật bấp bênh, thấy thiếu thốn một cái gì đó, cuộc sống không còn vui, không còn chất lượng nữa… Ba muốn…đi gặp Mẹ! Tuy nhiên, ba rất vui thấy các con đã thành công, tự lực, nuôi nấng và giáo dục các cháu rất tốt, đó là điều mà ba thấy hạnh phúc nhất. Ba thấy mình đã thực hiện được ước mơ, trách nhiệm đã xong, sống lâu quá chỉ làm phiền các con cháu mà thôi, ba chọn cách ra đi nhẹ nhàng nên mới vào nhà thương này….
Ba phone đến các chị lớn để “trăn trối”, dặn các chị phải làm gì sau khi ba ra đi, ba muốn được thiêu, tro của ba hãy để vào chùa, chỗ bên cạnh mẹ mà ba mẹ đã chọn mua, ba để lại gia tài cho đứa nào cái gì…
Chúng tôi chỉ yên lặng nghe quyết định của ba mà trái tim tan nát, nước mắt rơi không ngừng, không nói được điều gì khi thấy ba đã suy nghĩ, đã sắp xếp cho chuyến đi xa của ba được toàn vẹn. Các chị tôi lúc nào cũng túc trực bên cạnh nhà thương; khi vào thăm ba, thấy ba còn mạnh khỏe, vẫn tự mình làm vệ sinh cá nhân, ăn uống ngon miệng đồ ăn của nhà thương, nơi đây là chỗ để cho những người bệnh già ở, không bị bệnh nặng lắm, có những người ở đây đến hai năm vẫn chưa ra đi.
Chúng tôi nhắc lại những kỷ niệm xưa với ba, nói những chuyện vui để ba có thể quên đi cái thực trạng bệnh hoạn, ba chỉ cười mỉm và lúc nào cũng nhắc nhở chúng tôi:
-Nhớ trông nom các em, các cháu cho tốt nhé, ba ra đi sẽ phò hộ cho các con!
-Ba ơi, ba hãy đi đầu thai, hãy làm việc của ba, đừng vì chúng con nữa ba nhé, ba đã cho chúng con một đời này là được rồi ạ!
Đến tháng thứ hai ở nhà thương, lúc 3:00 sáng, tôi nhận được cái phone định mệnh reng lên giữa đêm, họ nói ba đã từ chối ăn uống, cũng như uống thuốc từ hai hôm nay, để được thảnh thơi ra đi…Ba tôi hưởng thọ 86 tuổi!
Cha đi, bóng xế bên thềm, Lá rơi theo gió, nỗi niềm rụng theo. Lặng thầm lệ ướt khăn treo, Con ngồi thổn thức giữa chiều buốt tim.
Một đời cha gánh nổi chìm, Cho con nắng ấm, cho tim yên bình. Giờ đây trời đất lặng thinh, Cha ơi… tiếng gọi chỉ mình con nghe.
Hôm nay nhân Mùa Thế Giới Lễ Cha Tôi viết bài tự tình này cùng vẽ bức tranh THUYỀN RA KHƠI để tưởng nhớ về CHA của tôi .
Năm 1975, khi MNVNCH rơi vào tay cộng nô , Cha của Tôi ông rất đau buồn Cha thương nhớ các con bị tù đày và mất xác trong chiến tranh . Ngày đêm cha đau khổ trầm ngâm . Bỗng một hôm Cha đóng cửa phòng và ở mất trong phòng hết mấy hôm Cha chỉ ra ăn cơm và trở vào phòng không nói gì cả . Sau đó Cha khăn áo ra phố và rồi trở về với nhiều thứ lỉnh kỉnh trên tay. Nào là những tấm thiếc mỏng , những lon sơn đỏ vàng và nhiều thứ nữa . Sau đó Cha bắt tay vào việc , Cha đưa cho Tôi bản vẽ và nhờ Tôi vẽ lên những tấm thiếc mỏng . Tôi ngỡ ngàng khi thấy mẫu Thuyền mà Cha đã nhốt mình mấy ngày trong phòng âm thầm vẽ … Hai Cha con yên lặng bên nhau làm việc. Hì hà hì hục sơn sơn vẽ vẽ…hàn giủa cả tháng trời mới làm xong một số thuyền nhỏ chạy bằng dầu. Lúc Cha hàn, Cha cắt, Cha ghép từng mảnh thép thành những chiếc thuyền Cha nói xa xăm , Cha nói bóng gió. Cha như truyền hết tâm huyết của mình vào những cánh buồm nho nhỏ… Cha tâm sự với con gái mà như nói với chính Cha trong suốt thời gian thực hiện tâm huyết của mình. Sau khi những chiếc thuyền nhỏ chạy bằng dầu đã hoàn thành Cha cùng con gái mang ra phố rao bán THUYỀN
Hai Cha con trải một tấm khăn màu xanh (mà Cha ám chỉ là Đại Dương) sắp xếp những chiếc thuyền sơn màu vàng và có những vạch thẳng màu đỏ hai bên hông thuyền . Mới thoạt nhìn không ai để ý thì sẽ không biết đó là biểu tượng của Cờ Vàng 3 Sọc Đỏ mà Cha Tôi đã khéo léo gởi gắm tâm nguyện của mình. Cha để một chậu nước cùng vài ba chiếc thuyền nổ phành phạch chạy vòng vòng. Hai Cha con tôi cùng phụ họa rao bán: THUYỀN RA KHƠI ĐÂY VÀNG VÀNG ĐỎ ĐỎ MUA VỀ CHO CON TRẺ RA KHƠI CHO VUI CỬA VUI NHÀ …
(viết đến đây nước mắt của tôi đã ràn rụa ) Ý Cha tôi muốn NHẮN GỞI VỚI THẾ HỆ HẬU DUỆ HÃY RA KHƠI VƯỢT BIỂN TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC.
Lúc đó tôi đã hiểu được tâm huyết của Cha nên cũng chẵng còn mắc cỡ gì cả (dầu gì đi nữa khi chưa mất nước Tôi cũng là một tiểu thư ) Tôi cùng Cha rao bán với một giọng rao hàng rất tự hào. Sau đó bạn bè của Cha tôi có đến nhà và thân tình hỏi nếu Cha tôi cần tiền họ sẽ giúp chứ tại sao ra chợ rao bán từng chiếc thuyền con làm khổ thân như thế.(Tôi biết Cha tôi không thiếu tiền …) Tôi nhớ có ông Bác Sĩ TênTrần văn Cát là bạn rất thân với Cha đã thì thầm to nhỏ với Cha hàng giờ trong phòng. Trước khi ra về ông còn căn dặn Cha tôi: *Hòa ơi, nếu có cần gì hãy đến gặp tôi .( Hòa tên Cha tôi) Sau đó Cha tôi ngã bịnh.
Một vài năm sau khi tất cả các anh tôi chưa ra khỏi tù đày của bọn cộng sản và xác thân của một người anh ruột và một người anh rể chưa tìm ra thì Cha tôi đã bỏ lại Me Con tôi ra đi sau hai cơn nhồi máu cơ tim . Lúc đó tôi đang ở xứ người xa xăm hay tin Cha mất tâm can tôi tan nát như có ngàn kim châm Hiện giờ tôi đang có chung căn bệnh Tim với Cha.
Mỗi lần cơn đau tim rủ nhau về Tôi thấy như gần gũi bên Cha của mình hơn …
– Nhớ chứ, anh Hùng Từ… lừ đừ như ông Từ vào đền chứ gì. Chính nhóm tụi em đặt tên “Hùng Từ” cho anh ấy mà. Ủa, sao bỗng dưng chị lại nhắc đến anh Hùng? Lúc em lên đường đi Canada, chưa kịp viết thư về trại thì vài tuần sau anh ấy cũng đi Mỹ, nên mất liên lạc luôn từ đó.
– Chị và anh Hùng ở cùng tiểu bang Florida mà hồi nào giờ có biết đâu. Tuần trước chị tình cờ gặp một người bạn trại tị nạn Thailand, được biết anh Hùng đang buồn lắm, trầm cảm sắp… tâm thần rồi kìa.
Tôi hốt hoảng:
– Trời ơi, chuyện gì vậy? Bao lâu nay mới nghe tin anh Hùng lại là tin không vui.
– Bé Ngân con gái anh bị chết đuối khi đi tắm biển. Anh tự trách tự giày vò, vì cái chết của con ngay trước mắt mà không cứu được nó và vì anh mang con đi tắm biển mới ra nông nỗi. Bạn bè thân quen đã an ủi khuyên nhủ mà anh vẫn sầu u không nguôi và rồi anh cắt liên lạc, tự cô lập, không tiếp chuyện với ai. Chị cố gọi mấy lần anh vẫn không bắt máy dù đã để lại lời nhắn là bạn chung phòng Cao Ủy Thailand với anh.
Chị Vân thúc giục tôi:
– Loan gọi anh ấy đi, hồi đó Loan và anh Hùng thân nhau, Loan còn là “đồng minh” giúp anh ấy mà, chị tin là anh Hùng sẽ tiếp chuyện và nghe lời khuyên của Loan.
……………………………………………………..
Anh Hùng mà chúng tôi gọi anh là “Hùng Từ” vì anh hiền hòa như ông Từ trông đền, sống ở trại anh thân thiện với mọi người xung quanh, chẳng kiêu căng dù anh là thông dịch viên giỏi nhất nhì phòng Cao Ủy, cũng chẳng xích mích với ai, nên được nhiều người quý mến.
Anh vượt biên đến Thailand cùng đứa con gái 6 tuổi, để lại vợ và đứa con trai ở quê nhà. Bé Ngân thông minh lanh lợi luôn quấn quýt bố. Ngân lớn thêm 3 tuổi nữa theo thời gian ở trại vì đợi chờ thanh lọc. Tôi thân với cả hai bố con, vì ở phòng Cao Ủy tôi và anh Hùng là đồng nghiệp, ở trường Việt Ngữ tôi là cô giáo của bé Ngân, và tôi ở chung nhà với 3 cô bạn gái là thành viên ca đoàn Nhà Thờ, phụ trách các em Thiếu Nhi Thánh Thể mà bé Ngân cũng là một bé ngoan của Thiếu Nhi Thánh Thể.
Rồi bỗng một ngày, anh Hùng có… người yêu, là chị Hương y tá bệnh viện trại. Anh Hùng tâm sự với tôi, em biết rồi đấy, chuyện tình yêu khó nói lắm, cả anh chị đều có gia đình ở Việt Nam, cuộc tình này là sai trái, nhưng lý trí phải chịu thua lý lẽ của con tim rung động, dù biết trước không lối thoát, không có đoạn kết trọn vẹn.
Cuộc tình này đã bị bé Ngân phản đối quyết liệt. Anh Hùng mỗi sáng đi làm, gặp tôi rầu rĩ:
– Hễ mỗi lần Hương đến chơi nhà, là bé Ngân sưng sỉa ra mặt, hỏi gì cũng chẳng trả lời, cứ kè kè kế bên anh, ôm cổ ôm vai anh trước mặt Hương, tụi anh có nói chuyện được gì đâu.
Có lần anh đưa tôi lá thư:
– Chút xong việc, em chuyển thư này cho Hương giùm anh nhe!
– Trời, trại tỵ nạn bé tí, có ngăn sông cách núi gì đâu, mà phải thư với từ?
– Em không biết đấy thôi, bé Ngân không cho anh một phút rảnh rỗi một mình, lúc sáng nó đi học Việt Ngữ lớp em dạy thì anh cũng đến mở cửa văn phòng sớm, trưa anh về lo cơm nước hai bố con, rồi lại đi làm, chiều về ăn cơm xong, hai bố con đi lễ, cứ thế nó bám anh cả ngày lẫn đêm. Chưa hết, từ ngày anh quen Hương, thỉnh thoảng nó chạy qua văn phòng để… chơi với bố mà thực ra là để canh chừng, nếu không thấy bố trong phòng Cao Ủy là về nhà nói hạch hỏi đủ điều …
– Vụ này căng quá anh nhỉ! À, em có tin vui nè, Cha mới thông báo thành lập phong trào Thiếu Nhi Thánh Thể, mỗi tuần hai lần, sau giờ Lễ, các em ở lại sinh hoạt một tiếng, anh đưa Ngân đến ghi danh nhe, coi như anh có hai lần trong tuần tự do hẹn hò.
Nói xong, tôi thấy mình thật vô duyên, đã ngầm “vẽ đường cho hươu chạy”, ủng hộ mối quan hệ sai trái này, mà thực tình là tôi chỉ nghĩ đến bé Ngân, muốn cho Ngân có dịp vui chơi với các bạn . Cũng có lúc tôi từng nghĩ đến việc góp ý khuyên anh Hùng dừng chuyện “con tim”, nhưng tôi có tư cách gì? Anh lớn tuổi hơn tôi cả hơn một con giáp, khi Sài Gòn sụp đổ năm 75 anh cũng mới ra trường Quốc Gia Hành Chánh, tài giỏi khôn ngoan như thế, đâu cần tôi khuyên với bảo.
Dù sao Ngân cũng chỉ là đứa bé 9 tuổi, ham vui, nên mau chóng gật đầu tham gia nhóm Thiếu Nhi Thánh Thể của Nhà Thờ, nhưng đến ngày sinh hoạt là nó dặn, bố không được đi đâu đấy nhé, con mà biết bố đi gặp cô Hương là con giận bố luôn đấy.
Được vài tuần, anh Hùng lại than thở:
– Mệt quá Loan ơi, những lần hẹn hò chỉ được một tiếng, đi dạo, vào quán cafe là đã gần hết giờ, anh lại sợ bé Ngân kiểm tra đột xuất nên anh luôn về nhà sớm 15 phút, thật đúng là “vội vàng thay những phút yêu người”, thì Hương lại giận hờn, bảo anh sợ con hơn là yêu cô ấy, rồi có hôm Hương không thèm ra chỗ hẹn, anh ở giữa hai bên, khổ thiệt.
Tôi được dịp cười chọc quê anh:
– Thì tự anh đâm đầu vào “thú đau thương” thì ráng mà chịu, có ai ép uổng gì đâu nà!
Rồi một ngày, anh Hùng qua bàn làm việc của tôi, thỏ thẻ:
– Loan à, ngày mai cuối tuần, anh được mời đi dự tiệc tiễn người bạn chuyển trại đi định cư, Hương cũng được mời, anh sợ bé Ngân đòi đi theo, nên anh nhờ Loan cầm số tiền này, chiều mai hai cô cháu đi ăn hủ tíu, đi chơi vòng vòng trong trại để anh thoải mái đi tiệc, sau đó sẽ đi chơi riêng với Hương, tổng cộng khoảng …ba tiếng, được không em?
Tôi trố mắt nhìn, anh vội giải thích:
– Anh biết Ngân thương và nể em lắm, anh muốn em lựa lời nói chuyện với nó, cho nó bớt… căng thẳng, bớt ngăn cấm bố.
– Trời đất! Anh sai rành rành mà biểu em nói gì với Ngân, hơn nữa, anh đang đưa em vào tội “đồng lõa” đấy!
– Anh năn nỉ em đó Loan, anh hứa chỉ một lần này thôi, vì Hương sắp có kết quả thanh lọc rồi.
Cuối cùng, anh Hùng và tôi cũng tìm được lý do để anh được đi tiệc một mình, và tôi dẫn bé Ngân đi ăn hủ tíu. Trong lúc ngồi ăn, trời tối gió mát rượi, tôi thấy Ngân vui nên hỏi nó nghĩ sao về chuyện bố quen cô Hương, nó nói:
– Con thương bố, con thương mẹ, không muốn mẹ buồn.
Tôi bào chữa:
– Ở trại, đôi khi có những tình cảm đồng nghiệp thân thiết, rủ nhau đi uống cafe, đến nhà nhau ăn cơm là chuyện bình thường.
– Nhưng nếu bố đi với nhiều người thì không sao, mà đi riêng với cô Hương thì con không chịu.
Ăn xong hủ tíu, tôi ráng “câu giờ” ngồi lại, kêu thêm hai ly chè đậu xanh, hai cô cháu nhâm nhi chè, ngắm thiên hạ đi qua đi lại, vẫn chưa đủ ba tiếng như giao hẹn với anh Hùng. Tôi đưa bé Ngân đi dạo vòng quanh trại để… tập thể dục, nó than mỏi chân, tôi rủ nó về nhà, nơi tôi ở với mấy cô bạn thân đi chung chuyến tàu vượt biên. Nhóm bạn này chẳng lạ gì bé Ngân vì họ là các “Trưởng” trong Đoàn Thiếu Nhi Thánh Thể. Vì đã được tôi báo trước sự tình nên họ rủ thêm vài em nhỏ khác, tôi mua một ít bánh kẹo, chúng tôi bày ra trò chơi ca hát, đố vui đủ kiểu, khiến Ngân thích thú, quên cả chuyện canh chừng bố.
Anh Hùng đã nói đúng, sau đó ít lâu, Hương nhận kết quả rớt thanh lọc, rồi đăng ký hồi hương, chị ấy không muốn tái thanh lọc, kéo dài thời gian vô ích ở trại. Buổi sáng tiễn đoàn xe hồi hương ra phi trường Bangkok xong, tôi và anh Hùng đi dạo ngoài bãi đá, tôi nói:
– Thôi duyên phận anh và chị Hương đến đây là hết, cũng như nhiều cuộc tình nơi trại tạm dung này, coi như là kỷ niệm “người đi qua đời tôi!”.
Anh Hùng cười buồn:
– Tụi anh đã biết trước ngày này, nhưng vẫn thấy buồn và thật buồn.
Tôi phá tan bầu khí nặng nề:
– Từ nay bé Ngân yên tâm rồi nhé.
Anh thú tội:
– Anh chưa kể em nghe, tuần trước Hương bị cảm, anh không biết tìm cách nào đến thăm Hương, chả lẽ lại nhờ vả em nữa, nên anh chờ buổi tối Ngân ngủ say, anh lén chạy qua nhà Hương, ai dè lúc gần sáng quay về không thấy Ngân trong mùng, thì ra nó tỉnh giấc không thấy anh nên chạy đi tìm. Nó khóc quá chừng, từ đó đến nay tối nào ngủ cũng ôm bố thật chặt.
– Anh hư thật đấy!
– Sáng nay anh nói với nó, chút bố tiễn cô Hương về Việt Nam, con không cần ôm bố ngủ nữa nha, em biết nó nói sao không?
– Sao hả anh?
– Nó ngúng nguẩy bảo, con vẫn cứ ôm bố ngủ, vì sợ bố lại có… cô khác, con chỉ muốn bố là của con thôi.
– Ôi dào cái con bé này, cứ làm như bố nó là vàng bạc châu báu không bằng á!
Vậy đó, bao nhiêu kỷ ức với anh Hùng và bé Ngân lần lượt quay về làm tay tôi run run khi cầm tờ giấy ghi số phone anh Hùng mà chị Vân vừa đọc cho tôi. Tôi bấm số, tim đập nhanh vì hồi hộp, bởi chị Vân nói, Ngân mới mất một hai tháng, anh ấy vẫn còn đớn đau day dứt, không tiếp chuyện bất cứ ai nhất là những người chung trại tị nạn cũ . Bỗng có tiếng “A lô, ai đó?” làm tôi giật mình:
– Anh Hùng ơi, Loan đây, Loan Bưu Điện Loan Cao Ủy ở trại đây!
– Ồ…Loan! Có gì không em?
Tôi nói nhanh:
– Anh ơi, đừng cúp phone em nhé, em biết hết rồi, em đau lòng và thương Ngân lắm, nên muốn chia sẻ nỗi đau này cùng anh …
Anh vẫn im lặng, tôi vội nói tiếp:
– Mong anh đừng quá đau khổ, cầu xin Chúa thương linh hồn bé Ngân, và thời gian sẽ chữa lành vết thương lòng của anh.
Anh bất ngờ bật khóc:
– Loan ơi, anh đã giết con anh!
– Sao anh lại nói thế?
– Bố con anh vừa bảo lãnh vợ và con trai anh qua một thời gian, anh sắp xếp chuyến đi biển cho cả nhà, đến gần ngày đi, Ngân bảo bận chút việc học muốn dời ngày khác, nhưng anh bảo bố đã chuẩn bị hết rồi, đã xin nghỉ phép mấy ngày, thế là Ngân vâng lời đi theo. Có ngờ đâu, Ngân đang tắm biển bị sóng đánh ra xa, đưa tay cầu cứu anh nhưng đã không kịp, anh đã giết con anh rồi Loan ơi!!
Tôi chỉ biết im lặng, thổn thức cùng anh, anh vẫn khóc:
– Ngân không những là con gái, mà còn là người bạn, nó hiểu anh nhiều lắm. Chúa đã trừng phạt anh phải không em, vì tội lỗi của anh ở trại, nên Chúa lấy đi đứa con yêu quý của anh.
– Chuyện đã lỡ rồi, chẳng ai có tội lỗi gì cả, số phận đã thế, anh đừng tự dằn vặt mình nữa.
Anh còn nói thêm vài câu buồn bã, rồi bảo tôi từ nay đừng gọi, anh sẽ đổi số phone, tôi cố vớt vát:
– Anh Hùng, xin anh đừng nghĩ quẩn và em tin rằng anh sẽ vượt qua nỗi đau này.
………………………………………………………………………………………………
Thế rồi một hôm, sau mười lăm năm kể từ lần gọi phone ấy, tôi bỗng nhận được một cú phone lạ, lẽ ra tôi đã không trả lời vì ngại gặp quảng cáo hoặc bẫy lừa tiền, nhưng như có điều gì thúc đẩy, tôi đã nghe phone:
– Có phải Loan không, anh Hùng Từ đây!
Tôi vui sướng reo lên:
– Anh Hùng Từ! Anh Hùng Từ… Sao bây giờ anh mới gọi cho em?
– Anh tìm kiếm số phone của em mãi mới được đấy, đừng giận anh nhe!
Thế là, anh vẫn là anh Hùng Từ của ngày xưa, giọng nói từ tốn ấm áp, kể cho tôi nghe về khoảng thời gian đã qua. Anh vật lộn, chữa bệnh trầm cảm suốt 6 năm trời, bên cạnh bác sĩ tâm lý, uống thuốc theo toa, là sự chăm sóc đầy kiên nhẫn yêu thương của vợ hiền và con trai, cũng như sự khuyến khích từ các đồng nghiệp thân thiết nơi công ty anh làm việc. Có khi, nhớ lại lỗi lầm ở trại tị nạn, anh muốn tâm sự với vợ, nhưng nghĩ đến bé Ngân, anh lại thôi.
Khi hai bố con qua Mỹ định cư, bé Ngân vừa đi học vừa phụ giúp anh chuyện cơm nước, nhà cửa để anh yên tâm đi làm, hai bố con gắn bó như hai người bạn. Khi vợ và con trai đến Mỹ đoàn tụ là lúc bé Ngân ở tuổi 15, con rất khéo léo, không bao giờ nhắc lại chuyện ở trại, luôn chuyển qua đề tài khác, để anh đỡ áy náy bối rối trước mặt vợ. Dù anh không dặn dò, bé Ngân vẫn không kể tội của anh cho vợ anh biết. Những lúc có riêng hai bố con, Ngân còn ngầm nhắn nhủ anh, bố hãy quên đi dĩ vãng ấy, để gia đình chúng ta bình yên hạnh phúc.
Sau khi vượt qua căn bệnh trầm cảm, anh trở lại đi làm full-time cho đến khi anh và vợ nghỉ hưu, sống gần nhà vợ chồng con trai để phụ trông chừng đứa cháu nội, niềm vui đơn giản của tuổi xế chiều.
Chúng tôi cùng hồi tưởng về thời gian ở trại với nhiều kỷ niệm của bé Ngân. Anh vui vẻ khoe:
– Anh rất thích tấm hình hai bố con anh chụp trước văn phòng Cao Ủy bên giàn hoa giấy đỏ trong một bữa tiệc, anh không nhớ hôm ấy là tiệc gì, nhưng anh nhớ bữa đó bà trưởng Cao Ủy người Thái nhờ tụi em nấu nồi bò kho ăn với bánh mì.
– Ôi, em nhớ rồi, đó là tiệc nhân dịp Sinh Nhật Đức Vua Thái. Hôm ấy Ngân mặc áo đầm màu xanh, tụi em chải tóc và thắt nơ cho bé Ngân chớ ai!
– Đúng rồi! Anh đã phóng to tấm hình ấy, treo ở ngoài phòng khách nhà anh nè. Ngân cười rất xinh đẹp.
Rồi chúng tôi lại lan man, nhớ đến những bạn bè chung phòng Cao Ủy, những kỷ niệm của mấy năm dài nơi trại tạm dung thật khó quên, và anh Hùng nhắc đến chị Hương:
– Khi Hương về Việt Nam tụi anh cắt đứt liên lạc từ ngày ấy, nhưng anh có nghe nói, cuộc sống của Hương bên quê nhà cũng khấm khá. Hai vợ chồng Hương có một xưởng gỗ ở Thủ Đức, vợ chồng, con, cháu sum vầy bình yên.
– Vậy em mừng cho chị ấy.
Cuộc nói chuyện dài hơn hai tiếng. Cúp phone xong, lòng tôi lâng lâng niềm vui rộn ràng, khi nhớ lại câu kết của anh Hùng:
– Loan biết không, thỉnh thoảng nhìn lên tấm hình hai bố con treo trên tường, anh vẫn thì thầm với Ngân: “Con gái bé bỏng của bố ơi! Cám ơn con đã đến với cuộc đời bố, để yêu thương, cảm thông và tha thứ những sai lầm của bố. Hồi ấy con sợ mất bố, nhưng rồi bố lại mất con. Hãy giữ nụ cười tươi xinh như thế trên nước Thiên Đàng con nhé, và đừng quên rằng, bố vẫn mãi là của con!”
Edmonton, Fathers Day 2026
=
KIM LOAN
THÁNG SÁU
Tháng Sáu lòng ngẩn ngơ
Nhớ cơn mưa mùa hạ
Cành hoa ép trong vở
Ngày chúng mình cách xa
*
Người chung trường khác lớp
Cho tôi biết mộng mơ
Buổi học cuối man mác
Giã từ tuổi ngây thơ
*
Nhìn nhau một lần nữa
Ve sầu kêu bơ vơ
Sân trường buồn nức nở
Giờ biệt ly, ai ngờ!
*
Màu phượng đỏ tươi thắm
Mênh mông một góc trời
Cành rung rinh trong nắng
Để tim ai rối bời
*
Cô bé tôi đang khóc
Thương nhớ tuổi học trò
Bạn bè và sách vở
Những khuôn mặt Thầy, Cô
*
Và ánh mắt người nữa
Nụ cười hiền chơi vơi
Những buổi chiều tan học
Theo bước tôi, lá rơi
*
Hạt mưa bay nhè nhẹ
Vương vấn cả con đường
Lòng tôi thầm van khẽ
Đừng ướt áo người thương
*
Xin đường về dài mãi
Xao xuyến với bâng khuâng
Có ai mong hè đến
Có ai buồn lắm không?
*
Phút chia tay lưu luyến
Kỷ niệm bao ngày qua
Mây lưng trời giăng kín
Che mắt buồn thiết tha
*
Mình xa nhau từ đấy
Trách chi thuở dại khờ
Nghìn trùng xa biết mấy
Thời gian trôi hững hờ
*
Để hôm nay tôi nhớ
Tháng Sáu về trời mưa
Hoa phượng xưa rực rỡ
Tôi chép vội bài Thơ!
KIM LOAN
(Trời không mưa, anh có lạy trời mưa ??)
==
NGÀY TỪ PHỤ – THƠ HỒ DUY HẠ
*
Dâng lên Ba nhân ngày Lễ Từ Phụ Cảm xúc này xin báo đáp đền ơn Công cha cao như ngọn núi Thái sơn Luôn dưỡng dục đàn con hiền thơ dại
*
Dầu gian khổ Ba chẳng hề quản ngại Vì đàn con Ba chia xẻ yêu thương Dạy dỗ con nên phấn đấu kiên cường Luôn đứng vững trên đường đời chớ ngã
*
Phải hy sinh với nụ cười buông thả Và Đức Tin Trông Cậy Đấng Quyền Năng Công ơn Ba nuôi nấng con trưởng thành Giờ khôn lớn tình Ba luôn cao quý
*
Ngày Lễ Cha con tâm tình thủ thỉ Mong Ba hiền sống khỏe với đàn con Để chúng con phụng dưỡng cho đạo tròn Về sum họp làm quả dâng Từ Phụ
Xin gởi đến những người Cha
HAPPY FATHER’S DAY Hồ Duy Hạ
*
KHÓC BA – HỒ DUY HẠ
*
Duy nhất Ba ơi niềm tâm sự Nỗi lòng thân phụ con cưu mang Gần Ba cuối đời không là mấy Thương tiếc Ba yêu lệ tuôn tràn.
*
Khóc Ba thương nhớ ôn kỷ niệm Công lao dưỡng dục nuôi đàn con Mất Ba bây giờ con nuối tiếc Cứ tưởng bên con Ba vẫn còn…
*
Kỷ niệm luôn mãi tình Ba Mẹ Nay đã đoàn viên nơi suối vàng Ảnh hình ghi lại buồn muôn thuở Thương lắm Song Thân lòng chứa chan
*
Ước nguyện con chưa được hoàn thành Ba ơi sao lại đi quá nhanh Bao nhiêu công việc chưa hoàn tất Đè nén đau thương buồn bao quanh.
*
Nghẹn lòng không thể nào con tưởng Hình ảnh xưa nay cứ xuyến xao Gợi về ký ức chan dòng lệ Gọi Ba nhớ Mẹ khóc nghẹn ngào.
Father’s Day nhớ Ba rất nhiều. San Jose June 2026 Hồ Duy Hạ.
==
NGÀY TỪ PHỤ – TAN LỚP MÂY MÙ – Phương Hoa
Chiều muộn của ngày thứ Sáu trước thềm Lễ Cha (Father’s Day). Không khí trên đất Mỹ nhộn nhịp hơn hẳn thường ngày. Những biển hiệu “Happy Father’s Day” rực rỡ treo khắp nơi, các cửa hàng bánh ngọt, sô cô la ngập tràn những chiếc bánh kem trang trí hình chiếc thắt lưng bản lớn, chiếc mũ nồi duyên dáng, cặp kính tròn vo, hay những bộ râu ngộ nghĩnh.
Jamie bước ra khỏi bệnh viện sau một ca trực dài căng thẳng, chiếc áo blouse trắng gấp vội trong ba lô nhẹ nhàng, nhưng gánh nặng trong lòng thì chẳng thể cất đi. Là một bác sĩ nội khoa, mỗi ngày cô đều phải chứng kiến ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết, đối diện với những nỗi đau thể xác lẫn tinh thần của bệnh nhân, nên những nỗi buồn vu vơ không có thời gian xuất hiện trong tâm trí. Nhưng hôm nay, khi cởi bỏ chiếc áo blouse trắng, Jamie chợt thấy lòng mình chùng xuống và tim như thắt lại bởi một nỗi niềm riêng. Ngày Lễ Cha năm nay trùng hợp đến nghiệt ngã, là đúng tròn hai năm cô và Đức ký vào tờ đơn ly dị, và gần đúng một năm ngày người cha thân yêu của cô lìa trần. Nghĩ tới đây, Jamie quẹo xe tấp vào siêu thị Safeway gần nhà để mua hoa về dâng lên bàn thờ bố.
Những bước chân Jamie trong siêu thị như bồng bềnh trên cơn sóng, khi cô vừa đi vừa nghĩ về bố. Trong phút chốc, không gian ồn ào của siêu thị Safeway như lùi xa, nhường chỗ cho cuốn phim ký ức trào dâng, đưa nàng trở về với những năm tháng bảng lảng sương mờ quá khứ.
Bố cô, ông Luận từng là một Sĩ quan Bộ Binh trong Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa. Jamie nghe kể lại, sau biến cố năm 1975, ông bị tù đày biệt tích trong những trại cải tạo khắc nghiệt miền Bắc xa xôi suốt 5 năm trời. Ngày bước ra khỏi trại giam, thân hình ông gầy gò, bước chân xiêu vẹo, và đôi tay chai sần, nhưng đôi mắt vẫn sáng ngời nghị lực. Sau đó ông tìm đường vượt biển dắt theo Lan người vợ trẻ, khi ấy đang mang thai Jamie được hai tháng, xuống một con thuyền nhỏ cùng vài chục người, đánh cược mạng sống với đại dương song gió để tìm tự do.
Nhưng con tàu định mệnh ấy đã gặp phải hải tặc Thái Lan. Trận cuồng phong của lòng người tham ác và thú tính dã man đã đổ ập xuống con tàu. Lan và tất cả những phụ nữ yếu ớt trên thuyền đã bị chúng vùi dập, làm nhục ngay trước mắt bao người. Còn may là vì Lan ngất xỉu nằm bất động nên bọn chúng tưởng rằng đã chết và không nhớ tới để liệng xuống biển như những phụ nữ và các cô gái bất hạnh khác trên thuyền.
Sau bi kịch đó, khi đặt chân đến đảo tị nạn, Lan đã nhiều lần tìm đến cái chết để rửa sạch nỗi tủi nhục bủa vây. Nhưng mỗi lần nhìn xuống bụng mình, nơi sinh linh bé bỏng đang lớn lên từng ngày, và nhìn vào ánh mắt van nài, đầy xót thương của chồng, bà lại nghẹn ngào ráng nuốt nước mắt vào trong để sống.
Gia đình ba người đặt chân đến Hoa Kỳ với vết thương lòng sâu hoắm. Nhưng định mệnh nghiệt ngã chưa chịu buông tha. Khi Jamie vừa tròn hai tuổi, mẹ cô đổ bệnh nặng. Căn bệnh lạ quái ác nhiễm từ những gã hải tặc năm xưa trên biển như một thứ độc dược âm ỉ phát tác, cướp đi sinh mạng của người mẹ trẻ.
Kể từ ngày đó, bố Jamie ở vậy một mình. Một người đàn ông trí thức, vốn chỉ quen với sách vở và súng đạn, rồi đến đốn cây phá rừng sau khi mất nước, nay phải tự học cách pha sữa, nấu từng bát cháo cho con. Ông làm đủ mọi công việc tay chân nặng nhọc để nuôi Jamie khôn lớn. Chính những giọt mồ hôi và tình yêu bao la của bố đã nuôi dưỡng ước mơ của Jamie. Cô bé học hành thật giỏi, luôn đạt điểm xuất sắc từ Tiểu học cho đến trưởng thành. Jamie nhận bằng Bác sĩ và rồi hoàn tất chuyên khoa nội, thì mái tóc bố đã bạc trắng. Đôi mắt bố nhòe lệ bảo Jamie:
“Bố rất hảnh diện về con! Con đi chữa bệnh cứu người, cũng là đang xoa dịu nỗi đau mà mẹ con ngày xưa đã phải gánh chịu!”
Nhớ lại một ngày Lễ Từ Phụ năm Jamie hoàn tất việc học, cô tự tay chuẩn bị một bữa tiệc nhỏ cho hai cha con, và mua tặng bố một chiếc áo len mới. Nhưng bố cô lại lặng lẽ ra chợ mua về một bó hoa hồng vàng và một bó hoa hồng đỏ thật đẹp. Khi Jamie thắc mắc, bố đã cười và nói, “Dù là ngày Lễ Cha, nhưng đây là quà cho mẹ và cho con. Bố luôn muốn mẹ, và nhất là con, được hạnh phúc!”
Nhưng hạnh phúc ngắn ngủi như bọt nước tan mau. Chỉ mấy tháng sau ngày Lễ Cha năm ấy, đại dịch COVID-19 càn quét qua nước Mỹ. Là một bác sĩ, Jamie phải lao vào chữa cho bịnh nhân cùng toàn thể nhân viên bệnh viện. Bố ở nhà rất lo lắng cho con gái, đang vì lương tâm một bác sĩ mà phải lao vào nơi chốn hiểm nguy. Đâu ai ngờ, Jamie thì không sao, mà bố cô ở nhà đã không may nhiễm phải thứ virus quái ác ấy.
Bố được đưa vào bệnh viện, chính nơi Jamie đang làm việc. Nhưng sự nghiệt ngã của số phận ở chỗ, dù là một bác sĩ hằng ngày cứu sống bao người, Jamie lại bất lực nhìn hơi thở của bố cứ yếu dần đi sau bức tường kính cách ly nghiêm ngặt. Cô không thể lao vào ôm bố, không thể nắm lấy bàn tay gầy gộc đã nuôi cô khôn lớn.
Trong những giờ phút cuối cùng, qua màn hình điện thoại kết nối nghẹn ngào, bố Jamie đã dùng chút tàn lực, tháo mặt nạ oxy ra trong vài giây. Ông nhìn con gái bằng ánh mắt trìu mến nhất, và đôi môi mấp máy thều thào rất nhỏ:
“Bố… yêu con…con hãy sống… thật hạnh phúc!”
Rồi màn hình máy trợ tim phẳng lặng một đường dài. Con virus ác độc đã mang bố đi mãi mãi, bỏ lại Jamie bơ vơ giữa cuộc đời rộng lớn.
Câu nói cuối của bố, mỗi lần nhớ lại, Jamie vẫn thấy tim mình nhói buốt. Những năm tháng trước đó, vì lao vào các ca trực thâu đêm suốt sáng tại bệnh viện, vì bệnh nhân nặng cần cô ngày càng nhiều, Jamie đã vô tình bỏ quên tổ ấm của mình. Tình cảm vợ chồng cứ thế nhạt phai theo những bữa cơm lạnh ngắt. Cho đến một buổi sáng định mệnh, sau một ca trực đêm kiệt sức, Jamie được về sớm. Cô háo hức bước vào nhà, định bụng sẽ tạo cho chồng một sự bất ngờ. Nhưng tạo hóa trớ trêu, thứ chờ đón cô lại là một nhát dao chí mạng: Đức và Mai, người bạn gái thân thiết nhất của cô, đang quấn lấy nhau ngay trên chính chiếc giường ngủ của vợ chồng nàng.
Cái giá của sự tận hiến cho y học là sự phản bội ê chề từ chồng và người bạn thiết. Ngày hôn nhân đổ vỡ, người đau đớn nhất không phải Jamie, mà là bố cô. Người đàn ông cả đời chịu tủi nhục, một mình gà trống nuôi con chỉ mong con được ấm êm, nay lại phải chứng kiến đứa con gái báu vật bị người ta chà đạp. Ông Luận không trách Đức, cũng không rầy Jamie, ông chỉ ôm con gái vào lòng, đôi bàn tay gầy gộc run lên bần bật vì xót xa. Từ ngày đó, ông luôn đau đáu, tìm mọi cách xoa dịu và khát khao được nhìn thấy nụ cười trở lại trên môi đứa con độc nhất.
Jamie bỗng lắc đầu, đưa tay quẹt trôi đôi dòng lệ nóng vừa tràn ra khóe mắt, và cố xua đi bóng ma của quá khứ khi bước chân vừa tới hàng hoa. Dòng người mua sắm vẫn ngược xuôi hối hả, nào ai biết họ đã đi ngang qua một khách hàng đang bước đi cùng với tâm sự trùng trùng. Jamie tiến về phía thùng hoa, chọn một bó hồng vàng, màu hoa mà lúc sinh thời bố cô thích nhất, để ngày mai đặt lên bàn thờ ông và mẹ.
Đúng lúc cô đang nâng niu bó hoa trên tay, một giọng nói trầm ấm thoảng qua sát bên cạnh. Jamie bất giác nhìn sang. Một người đàn ông mang kính trắng trí thức, dáng người cao gầy đang dắt theo một cô con gái nhỏ chừng 5 tuổi mặc áo đầm hồng với hai bím tóc cột nơ đỏ đong đưa, bước lại quầy hoa.
Tim Jamie chợt đập loạn lên lỗi nhịp. Đó là một gương mặt vừa thân quen, vừa xa xôi trong ký ức. Tom!
Tom là người bạn học cùng trường y với cô ngày trước. Những năm tháng thanh xuân cùng nhau thức trắng trong những đêm trực, cùng chia sẻ những hộp cơm truyền thống quê nhà do tự tay Jamie nấu bới theo… biết bao kỷ niệm ngọt ngào và thanh khiết đã nảy nở giữa hai người. Tom thương Jamie, Jamie biết. Jamie quý mến Tom, Tom hiểu. Nhưng khi ấy, chiếc nhẫn cưới trên ngón áp út của Jmaie và rào cản lễ giáo Á Đông đã giữ hai người ở hai phía của một lằn ranh vô hình. Họ tôn trọng nhau, giữ trọn sự chừng mực của những người bạn tri kỷ. Sau khi tốt nghiệp, Tom buồn vì chẳng thể làm gì hơn với mối tình tuyệt vọng, nên chuyển về vùng miền Đông làm việc trong một bệnh viện lớn, hai người cũng từ đó mà bặt tin nhau.
Jamie xúc động đến mức đứng chôn chân tại chỗ. Một cảm giác bối rối, tủi hổ, xen lẫn nghẹn ngào trào lên, cô vội quay mặt đi, giả bộ như đang chăm chú chọn hoa để Tom không nhận ra mình trong bộ dạng hốc hác và gần khóc này. Hai cha con Tom tiến lại gần ngay bên cạnh cô.
“Daddy!” Cô bé nhỏ bất ngờ níu tay cha khi thấy Tom cầm lên một bó hoa hồng đỏ thắm, rực rỡ và lộng lẫy. “Ngày mai chúng ta làm tiệc mừng lễ Father’s Day, là ngày của ba, nội nói ba sẽ mua bánh kem, sao ba mua hoa hồng chi vậy?”
Tom cúi xuống, chỉnh lại chiếc nơ trên tóc con gái, giọng anh trầm xuống, ấm áp và chứa chan một nỗi niềm sâu kín. Anh nói gần như thì thầm, nhưng Jamie đứng bên cạnh nghe không sót một lời:
“Con gái yêu! Ba mua hoa hồng là để ngày mai hai cha con mình cắm lên bàn thờ tặng mẹ con. Ở trên cao, chắc mẹ cũng đang chờ hoa của chúng ta. Ba chỉ muốn con và mẹ luôn được hạnh phúc. Nhất là con gái ba được hạnh phúc! Là đủ với ba rồi!”
Câu nói của Tom như một luồng điện chạy dọc sống lưng Jamie. Tay cô run rẩy đến mức bó hoa hồng vàng suýt chút nữa rơi khỏi tay. Giọng nói ấy, sự ấm áp đầy truyền cảm ấy… chính là Tom của những đêm trực năm xưa không sai vào đâu được. Nhưng câu nói của anh cũng mang theo một sự thật xót xa. Tom đã lập gia đình, và vợ anh đã không còn nữa. Hóa ra, người đàn ông năm xưa cô từng quý mến cũng đang mang một vết thương lòng rỉ máu.
Không thể trốn chạy cảm xúc thêm được nữa, Jamie hít một hơi thật sâu để ngăn giọt nước mắt chực trào, cô quay sang, giả bộ như tình cờ ngước mắt lên nhìn người bên cạnh.
“Anh… anh Tom?” Giọng Jamie thảng thốt, run lên.
Tom giật nẩy mình, quay phắt sang. Khi ánh mắt anh chạm vào gương mặt Jamie, thời gian như ngừng trôi, không gian sầm uất của siêu thị Safeway hoàn toàn biến mất. Bó hoa hồng đỏ trên tay Tom rơi tự do xuống thùng hoa bên dưới lúc nào không hay. Chàng sững sờ nhìn Jamie, đôi mắt sau cặp kính trắng mở to, đầy kinh ngạc và hoang mang, như thể cô vừa từ cung trăng rơi xuống trước mặt mình.
“Jamie?… Phải em không, Jamie?” – Giọng Tom lạc đi, đôi môi anh run rẩy.
“Là em, Tom…”
Trong phút chốc, bao nhiêu kìm nén của những năm tháng thăng trầm như vỡ òa. Ánh mắt Tom nhìn Jamie cùng với sự ngạc nhiên là cả một đại dương thương nhớ, lẫn sự xót xa khi nhìn thấy nét mệt mỏi bơ phờ trên gương mặt người con gái mình từng yêu, và cả một tia lửa hy vọng vừa được thắp lên sau chuỗi ngày dài tăm tối. Họ đứng đó, hai tâm hồn cô độc giữa đất Mỹ xa xôi, hai con người từng đi qua đổ vỡ và mất mát, bất ngờ va vào nhau trong một chiều hoàng hôn đầy nắng gió của vùng trời Cali.
Sau những phút giây nghẹn ngào, họ ra ngồi xuống chiếc bàn trước cửa Safeway. Những câu hỏi thăm vội vã về cuộc sống của nhau được trao đổi. Tom kể ngắn gọn về sự ra đi của vợ anh sau một cơn bạo bệnh, còn Jamie chỉ lặng lẽ cười buồn, xót xa cho cuộc hôn nhân đã qua của mình. Họ không cần nói nhiều, áp lực của một bác sĩ và nỗi đau của sự chia ly tự khắc làm họ thấu hiểu nhau hơn ai hết.
Jamie nhìn Tom, nhìn bờ vai đã gánh vác bao giông bão của anh, rồi từ từ cúi xuống nhìn vào đứa bé ngồi gần bên. Cô dịu dàng nắm lấy bàn tay nhỏ bé, mềm mại đứa con gái nhỏ của Tom. Đứa bé ngước đôi mắt tròn xoe, trong veo nhìn cô đầy thiện cảm.
Ngay trong khoảnh khắc bàn tay cô chạm vào hơi ấm của đứa trẻ, trong tâm trí Jamie chợt vang lên một giọng nói quen thuộc, trầm khan, và bao dung của bố cô trước ngày ông mất vì đại dịch:
“Con phải cố gắng sống cho thật hạnh phúc! Con hạnh phúc là ba vui rồi!”
Hóa ra, lời di nguyện cuối cùng của bố lại là một lời chúc phúc, một sự giải thoát cho tâm hồn cô khỏi những u uất của quá khứ. Bố muốn cô mở lòng. Bố muốn cô được hạnh phúc. Và biết đâu, sự sắp đặt kỳ diệu của số phận ngày hôm nay, tại quầy hoa này, chính là món quà mà bố từ trên trời cao đã gửi gắm xuống cho cô?
Jamie ngước lên nhìn Tom, lần này, một nụ cười thực sự bình yên và rạng rỡ đã nở trên môi cô.
Ngoài kia, nắng chiều California vẫn đang vàng rực rỡ, và mùa đông lạnh lẽo trong lòng Jamie dường như đã bắt đầu tan chảy, nhường chỗ cho một mùa mới. Mùa của sự hồi sinh và hạnh phúc, ngay trong ngày Lễ Father’s Day diệu kỳ.
VTLV: Lễ Mãn Khóa Lớp Cao Đẳng Phật Giáo Thực Dụng, (Khóa 2024–2026). MINH THÚY Thành Nội – BẢO TRÂM.
Cảm Tưởng Ngày Tốt Nghiệp lớp Phật Pháp Thực Dụng – MINH THÚY Thành Nội
Chủ Nhật, ngày 24 tháng 5 năm 2026 tôi dự buổi lễ ra trường của “Cao Đẳng Phật Giáo Thực Dụng” do thầy Như Ninh Nguyễn Hồng Dũng làm hiệu trưởng. Chúng tôi đã tham gia học trên zoom mỗi chiều thứ sáu từ 6 tới 8 giờ tối.
Thời gian như thoi đưa, nhắm mắt mở mắt đã thấy 4 năm trôi qua lẹ làng. Ngày trước thứ sáu đối với chúng tôi luôn là ngày đặc biệt. Trong công sở các bạn thường gọi tên “chiều xả trại”. Thật vậy suốt tuần cày bừa tối mặt, hễ cứ đến thứ sáu hình như mặt mày ai cũng tươi tỉnh. Ngày đó diện quần áo, mặt mày trang điểm lên một tý. Công việc làm nhanh hơn trong niềm yêu đời phấn khởi. Chiều thứ sáu trên đường về còn biết ngắm vạt hoa hai bên đồi lung linh dưới ánh nắng vàng chiếu toả. Nhận thức cảnh đẹp thiên nhiên giữa trời đất bao la hùng vĩ.
Về nhà ăn cơm chiều xong, sửa soạn lên chùa Phổ Từ tụng kinh và nghe thời pháp. Hạnh phúc lan man theo tình thầy nghĩa đạo với bạn hữu đồng tu. Có khi ở lại cùng ngồi ăn bát cháo hoặc tô bún thân tình cùng đạo hữu. Đêm khuya trên đường về tâm thấy thanh thản nhẹ nhàng khi hiểu bài kinh, lời giảng của thầy Từ Lực. Hớn hở chuẩn bị chào đón ngày cuối tuần nghỉ dưỡng, được ngủ dậy trễ không sợ bị áp lực bởi kim đồng hồ réo gọi. Rồi thì lẹ làng đi chợ mua thức ăn, sắp xếp nấu nướng chuẩn bị cho cả tuần, tổng vệ sinh nhà cửa ngày thứ bảy. Chủ nhật đến chùa nghe pháp và tụng thời kinh cầu an cũng như làm công quả.
Cuộc sống cứ nhẹ nhàng lướt trôi mấy chục năm, được đi hành hương các chùa, được gần những thiện hữu tri thức, những tấm gương sáng đẹp cho mình nương theo tu tập và mở mang kiến thức.
Ngày nghỉ hưu cũng là lúc vợ chồng đi theo định luật Sinh, Lão, Bệnh. Mắt mờ hơn, tay chân run rẩy và mệt nhiều hơn. Hai ông bà già lười biếng, đổi quan niệm ở nhà có thể đọc sách, hoặc tìm youtube các thầy giảng Phật pháp. Sau này lên chùa đôi khi cũng bị stress theo nhu cầu rộng lớn ở đó, trong khi tuổi già cần tránh những lo âu chuyện bên ngoài ảnh hưởng, vì nếm trải lo âu vất vả cho cuộc sống riêng tư gần hết đời người, giờ đây cần giữ cho tâm hồn thoải mái tìm sự vui tươi.
Trường Cao Đẳng Phật Giáo Thực Dụng ra đời đúng lúc. Thật tiện lợi cho chúng tôi khỏi phải đến chùa khi trời mưa bão từng mùa đông tới. Ngày thứ sáu, mọi công việc nhà đều có sự thúc giục ngầm tất cả phải xong, chuẩn bị giờ học thầy Dũng vào buổi chiều. Đúng 5 giờ tôi mở zoom vào lớp học để sẵn chờ đến giờ. Ông xã tôi ngại ngùng không muốn ngồi trước màn hình, nhưng ngồi sau lớp tường ngăn chia gần sát, yên lặng lắng nghe. Bình thường ông dùng cơm chiều 6 giờ, nhưng đặc biệt thứ sáu dùng sau 8 giờ tối, mới dám mở tivi nghe tin tức.
Tôi hỏi ông “thích nghe thầy Dũng giảng phải không?”. Ông trả lời “thầy có nét mặt sáng sủa hiền lành đức độ, có lực truyền vào mình sự ấm áp an lành”. Từ lúc đầu vừa nhìn thầy Dũng, ông xã tôi có cảm tình liền.
Riêng tôi thì được biết thầy trước đó, lúc gia nhập làm hội viên của Cơ Sở Văn Thơ Lạc Việt. Thầy là tiến sĩ dạy nhiều trường đại học nơi vùng Bắc Cali, là Phó Ban Ngoại Vụ của VTLV, là MC khắp mọi nơi về văn chương, lịch sử và đạo Phật. Thầy ăn chay trường và vợ mở nhà hàng chay Di Lặc. Mẹ thầy là Sư Bà trụ trì ngôi chùa bên Việt Nam mà tôi có dịp phúng điếu bằng bài thơ Đường luật. Nhìn gia đình thầy sống hiền, làm lành, thì đó chính là bài học “Phật giáo thực dụng” sống động nhất cho chúng tôi tin tưởng.
Thầy dạy Phật Pháp không phải để cất trong sách vở, để nói cho hay, để tranh luận hơn thua. Phật pháp là để đem ra dùng ngay giữa đời sống này. Là sáng dậy biết mỉm cười với mình. Là chiều ý chồng nấu ăn theo nhiều sở thích, dù mệt mà lòng không bực. Là nghe một câu trái ý biết dừng lại để thở. Là ai chọc giận hay nói nặng nề máu không sân si.
Xin trích đoạn ngắn tôi viết bài trước :
“Theo học tại đây và hiểu chữ ‘thực dụng’ đúng nghĩa: Pháp không nằm trên kinh kệ để tụng cho hay, mà để đem ra dùng ngay trong bếp, ngoài chợ, giữa sở làm. Thực dụng là khi kẹt xe ở freeway 880 mà không nổi sân, nhớ đến hơi thở chánh niệm. Thực dụng là khi nghe tin không vui, biết quán vô thường để lòng bớt chao đảo. Thực dụng là khi đi phát quà cho người vô gia cư, thấy đó chính là cúng dường chư Phật trong hình hài khổ đau.”
Chỗ thực dụng đó, tôi tập được kha khá, chưa giỏi chưa thuần, nhưng đỡ hơn tôi của nhiều năm trước. Thầy dạy cao, dạy sâu. Kiến thức của thầy mênh mông. Ngồi nghe có khi hiểu, có khi chỉ hiểu phần nào vì những từ ngữ khó nhớ. Sở học còn cạn, trí não chưa thông, đường tu còn dài, nhưng có một chữ chúng tôi nhớ mãi, là chữ “thực dụng“.
Nhận bằng hôm nay mà lòng còn thẹn, thẹn vì tu chưa tới. Ví dụ: Khi trời nóng kiến vào nhà từng đàn, ruồi lọt bay vài con, chúng quanh quẩn bên thức ăn. Chúng tôi cố né tránh không muốn phạm tội, nhưng ông chồng lẫn tránh, mà mình thì đối mặt với bếp núc, dọn dẹp… Dù mỗi ngày đi dạo lần chuỗi 108 hột, lần mấy vòng tuỳ theo thời giờ niệm “Nam Mô A Di Đà Phật“ để được nương tựa tìm sự yên lành. Để nhắc sự học và cách tu của mình.
Sau đó niệm các vị Phật: cầu bình an bản thân, cầu tên tuổi ông bà nội, ông bà ngoại, tứ thân phụ mẫu, cô chú, anh chị em bà con quyến thuộc đã mất, luôn được siêu sanh tịnh độ. Những công đức từ thiện cố định hằng năm, xin hồi hướng người thân nhiều đời nhiều kiếp luôn được vãn sanh, người còn hiện tiền luôn được sức khoẻ gặp mọi điều tốt đẹp.
Câu tha thiết nhất trong hiện tại “xin các loài vật nhỏ bé như ruồi, muỗi, kiến, dán, đừng chui vào nhà con, cho con tránh tội sát sanh. Cầu nguyện những sinh linh ấy sớm được siêu sanh, kiếp sau tái sinh vào cảnh giới tốt hơn.” Ngoài trời các chậu hoa mua đắt tiền, nâng niu chăm sóc nhưng vi khuẩn luôn phá hoại ăn mòn, lá hư hao cũng phải nghĩ đến bình thuốc xịt bảo vệ hoa lá. Sau những lúc như vậy, cái buồn nó đến nhanh, ân hận và ray rứt. Tâm không được thoải mái nghĩ mình thiếu phước nên vẫn bị dính mắc nghiệp xấu.
Lãnh bằng tốt nghiệp, nhưng đường tu còn dài, xin nguyện đem sự hiểu biết nhỏ nhoi này mà tập sống: bớt nói, bớt giận, bớt buồn. Tập mỗi ngày một chút, được chừng nào hay chừng ấy. Đó là cách báo ơn thầy, báo ơn chữ “thực dụng” thầy đã trao.
Thứ Sáu đem đến cho tôi nhiều kỷ niệm từ khi qua Mỹ. Những giờ học Phật Pháp nhắc tôi sống chậm lại, khai sáng trí tuệ, tìm sự an lạc về mặt tinh thần. Sống biết ơn ngôi chùa Phổ Từ, quý thầy cô, quý đồng đạo, nhất là Hoà Thượng Thích Từ Lực đã cho chúng con sinh hoạt mấy chục năm, ngay từ bước đầu Chùa đang còn thuê nhà. Tuy sau này chỉ dự dịp lễ lớn và mỗi đầu năm, đại diện anh em trong gia đình chồng chúc Tết thầy, đóng tiền cả năm trong mục “Bảo trợ “Chùa .
Sống biết ơn thầy Dũng, anh Phan Trung Kiên, anh Quảng Minh Nghĩa và cô Minh Châu trong ban quản giáo, phụ giúp thầy điều hành lớp học, hỗ trợ về các mặt khác. Cám ơn các thiện hữu tri thức thường thắc mắc những đề tài sâu rộng, nên thầy có cơ hội giải thích sáng nghĩa, cho cả lớp cùng học cùng tu.
Điều đặc biệt lớn lao hơn nữa là niềm cảm kính Ni Sư Nguyên Thiện và quý Sư Cô chùa Huyền Không. Nơi giúp phương tiện cho thầy Nguyễn Hồng Dũng giảng dạy, truyền bá hương từ bi của phật pháp vi diệu đến lớp học Online. Thực hành trong đời sống đẩy lùi sự khổ đau, đến gần niềm an lạc. Chúng con cúi đầu tri ân chùa Huyền Không gián tiếp gieo những hạt mầm tốt đẹp nơi cõi hồng trần này.
Xin được làm học trò mãi mãi. Học từ thầy, học từ bạn, học từ chính những vụng về của mình.
Minh Thúy Thành Nội
May/ 24/2026
==
BẢO TRÂM
Buổi lễ mãn khóa lớp Cao Đẳng Phật Giáo Thực Dụng, (Khóa 2024–2026)
Trong những ngày cuối tháng Năm, cộng đồng Phật tử và thân hữu tại San Jose, California đã chứng kiến một buổi lễ tốt nghiệp rất đặc biệt của Lớp Cao Đẳng Phật Giáo Thực Dụng – một chương trình học còn rất mới, chỉ vừa hoàn thành hai khóa đầu tiên (2022–2024 và 2024–2026), nhưng đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng người tham dự.
Điều làm buổi lễ trở nên khác thường không chỉ là số lượng hơn 50 học viên, mà chính là độ tuổi và tinh thần học tập của họ. Người trẻ nhất mới 26 tuổi, người lớn nhất 77 tuổi, nhưng tất cả đều bước lên sân khấu với nụ cười rạng rỡ như những sinh viên lần đầu nhận bằng đại học.
Lớp học được khởi xướng bởi một vị giáo sư kỳ cựu – Ông có bằng Kỹ sư Điện tử của Đại học San Jose State và bằng Tiến sĩ Quản trị Kinh doanh của Đại học Southern California. Ông từng là giảng viên tại Đại học California State (cơ sở Hayward), thành viên Hội đồng Sàng lọc Dự án Đa dạng (Project Diversity Screening Committee) của Thành phố San Jose và từng tham gia vào nhiều sinh hoạt của cộng đồng Việt Mỹ (trích từ https://vantholacviet.com/nha-van-ts-nguyen-hong-dzung/)
Với tâm nguyện đem Phật Pháp vào đời sống, ông đã sáng lập chương trình Phật Pháp Thực Dụng, các vi trợ giáo ở nhiều lứa tuổi khác nhau – đồng hành cùng ông trong suốt hai khóa học.
Tôi mang theo hai chiếc điện thoại thay cho máy ảnh, chạy khắp nơi để ghi lại từng khoảnh khắc. Trẻ cũng như già, tất cả đều rạng rỡ như trẻ thơ.
Khoảnh khắc làm tôi xúc động nhất là khi cặp vợ chồng trên 70 dìu nhau lên nhận bằng. Cả hội trường lặng đi khi biết ông vẫn cố gắng học, và đến để nhận bằng như bà vợ và như bao người khác.
Khi ông được vợ dìu lên sân khấu, hai người đứng cạnh nhau, tay run run nhưng ánh mắt sáng rỡ. Tôi nhìn cảnh ấy mà rơi nước mắt. Lúc đó, tôi nhận ra, chính vợ chồng ông ấy đã giúp tôi thấy lại giá trị của lòng kiên nhẫn, của tình người, của những điều nhỏ bé mà sâu sắc.
Một người bạn khác, hơn 70 tuổi, người từng thu thập văn thơ của chúng tôi để đưa lên website “Văn Thơ Lạc Việt”, cầm tấm bằng khoe với chồng bà ấy và với tôi. Chúng tôi nhìn nhau, cười vui mà nhòa lệ. Rồi tôi nói đùa: “Chúng ta thua mấy bà xa lắc.”
Buổi lễ trao bằng Cao Đẳng Phật Giáo Thực dụng, không chỉ là ngày nhận bằng. Đó là ngày người già trẻ lại.
Ngày tuổi già như chúng tôi thấy vẫn còn có ích, vẫn còn được thương, vẫn còn được nhớ.
Một ngày mà lòng người ấm như nắng đầu hè.
Trong buổi lễ trao bằng “Cao Đẳng Phật Giáo Thực Dụng,” giữa những tiếng vỗ tay, những tấm bằng, những lời chúc mừng, tôi chợt nhận ra một điều rất lạ:
Những người thầy lớn nhất của chúng tôi không phải là những người đứng trên bục giảng.
Họ là những người ngồi ngay bên cạnh chúng tôi — những học viên tóc bạc, lưng còng, bước chân chậm nhưng trái tim thì trẻ hơn cả lớp sinh viên mới ra trường.
Tôi học được từ người bạn 75 tuổi, rằng nghị lực không nằm ở sức mạnh, mà nằm ở ý muốn có mặt.
Có mặt để học.
Có mặt để vui.
Có mặt để sống trọn một ngày như thể đó là món quà.
Tôi học được từ người vợ dìu chồng lên sân khấu rằng tình thương không cần lời nói.
Chỉ cần một bàn tay nắm lấy một bàn tay.
Chỉ cần một bước chậm đi cùng một bước chậm.
Chỉ cần một ánh mắt nói thay cho cả một đời.
Tôi học được từ người bạn hơn 70 tuổi, rằng sự gìn giữ cũng là một cách tu:
Giữ lại cái đẹp.
Giữ lại tiếng cười.
Giữ lại những dòng chữ nhỏ bé để mai này nhìn lại, ta biết mình đã từng sống một cách tử tế.
Tôi học được từ những người trẻ trong lớp rằng tuổi tác không quyết định sự hồn nhiên, có những nụ cười 20 tuổi, nhưng cũng có những nụ cười 70 tuổi mà vẫn trong như nắng mới.
Và tôi học được từ tất cả chúng tôi rằng tu giữa đời thường không phải là chuyện xa xôi.
Nó nằm trong cách ta ngồi lại với nhau, cách ta lắng nghe nhau, cách ta nâng đỡ nhau trong những khoảnh khắc tưởng như rất bình thường.
Buổi lễ ngày hôm ấy không chỉ là ngày nhận bằng. Đó là ngày tôi nhận ra rằng:
Mỗi người trong lớp đều là một vị thầy.
Một vị thầy của đời sống.
Một vị thầy của lòng kiên nhẫn.
Một vị thầy của tình người.
Và tôi — người tưởng như chỉ đến để chụp hình, để giúp đỡ — hóa ra lại là người được học nhiều nhất.
Học để biết trân trọng.
Học để biết biết ơn.
Học để biết rằng tuổi trẻ không nằm ở số năm, mà nằm ở cách ta mở lòng với cuộc đời.
Tôi kính phục tất cả những người đã không để tuổi tác ngăn cản việc học, việc sống, việc thương nhau.
Hôm Chủ Nhật 24 tháng 5 năm 2026, tôi đã gặp rất nhiều vị thầy, Không ai đứng trên bục giảng, nhưng ai cũng dạy tôi một bài học mà tôi sẽ mang theo rất lâu.
LỜI TỎ LÒNG KÍNH PHỤC VÀ TRI ÂN
Kính thưa quý Thầy, quý Sư Cô, Quý ban giảng dạy, quý quan khách, và toàn thể học viên thân mến,
Hôm nay, tôi xin được nói đôi lời từ đáy lòng
Tôi xin kính cẩn biết ơn quý Thầy, quý Sư Cô, quý vị trong ban giãng dạy
Tôi xin cúi đầu kính phục tất cả quý vị, những người đã vượt qua tuổi tác, sức khỏe, hoàn cảnh, để tiếp tục học hỏi, tiếp tục tu tập, tiếp tục làm mới chính mình.
Tôi kính phục người bạn 73 tuổi yếu đuối nhưng vẫn cố gắng từng bước để có mặt hôm nay. Tôi kính phục người vợ đã dìu chồng lên sân khấu, như dìu một phần đời của mình. Hình ảnh ấy là bài học lớn nhất của buổi lễ.
Tôi kính phục người bạn hơn 70 tuổi vẫn miệt mài thu thập văn thơ của chúng tôi để gìn giữ cho mai sau. Tấm bằng trên tay bà là niềm vui chung của cả nhóm.
Tôi kính phục những người trẻ trong lớp — tuổi 20, 30 — đã học cùng với những người lớn tuổi, đã truyền cho chúng tôi năng lượng và sự hồn nhiên.
Và tôi kính phục tất cả, những người đã không để tuổi tác ngăn cản việc học, việc sống, việc thương nhau.
Buổi lễ ngày 24 tháng 5 không chỉ là buổi lễ bình thường như lễ tốt nghiệp để bước vào dời
Đó là lễ tốt nghiệp của Tình Người, của Nghị Lực, của Niềm Vui Sống, của những vị tu giữa đời thường.
Đó là phong cách tu của Cao Đẳng Phật Giáo Thực Dụng.
Xin tri ân tất cả quý vị đã cho tôi một ngày đẹp như vậy.
Bảo Trâm/Bảo Trâm Minnesota
Ba Mươi Lăm Năm Văn Thơ Lạc Việt
Minh Thúy
Nhìn lại 35 năm Hội Văn Thơ Lạc Việt, tôi nhớ đến các bậc tiền bối đã đặt viên gạch đầu tiên: nhà thơ Hoàng Anh Tuấn, Hà Thượng Nhân, Dương Huệ Anh, Thượng Quan và Chu Toàn Chung.
Cùng với ban cố vấn: nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm, nhà văn Vũ Văn Lộc, nhà bình luận Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh, nhà thơ Ngô Đình Chương và nữ sĩ Trùng Quang.
Ba mươi lăm năm! Hội đã trải qua bốn thời kỳ với bốn vị chủ tịch: nhà văn Dương Huệ Anh 1992–2000, nhà thơ Đông Anh 2001–2008, nhà văn Chinh Nguyên 2009–2019, và nhà báo Lê Văn Hải 2020 đến nay. Xin trích đoạn trong bài viết trước đây.
“Tôi gia nhập Hội từ năm 2016 cùng lúc với chị Phương Hoa, đúng vào thời anh Chinh Nguyên làm chủ tịch. Thời đó Hội quy tụ rất nhiều nhân tài: tiến sĩ Nguyễn Hồng Dũng phó ban ngoại vụ, nhà báo Lê Văn Hải phó ban nội vụ, thầy Phạm Thái lo kỹ thuật in ấn, nhà thơ Lê Tuấn trưởng ban Media, anh Đom Đóm chụp hình, nhà thơ Mạc Phương Đình làm phóng sự với trang Mây Bốn Phương. Cô Thanh Xuân tổng thư ký tổ chức sinh nhật mỗi quý cho hội viên. Chị Thúy Nga trưởng ban văn nghệ. Anh Hoàng Thường lo nghi lễ chào cờ. Cô Tina vận động tài chánh.
Nhắc đến thầy Nguyễn Hồng Dũng, ăn chay trường, tâm Phật nên lời nói luôn hòa nhã. Bên cạnh đó có cô MC Hạnh Thảo tươi đẹp duyên dáng. Hiện tại có thêm cô Thanh Loan xuất chúng về tài MC hổ trợ thêm.
Hội trưởng Chinh Nguyên có nét mặt rất hiền hậu. Tôi không quên được những đêm mùa đông, anh nhờ thầy Thái mở lớp dạy computer cho hội viên. Trời giá lạnh, thầy Thái đi dạy nhiều nơi mệt nhọc, đến giờ cơm tối vẫn chưa về nhà, nhưng vẫn cố gắng đến chỉ vẽ cách làm sách. 9 giờ tối tan lớp, anh Chinh Nguyên mời thầy đi ăn vì lo thầy đang đói. Thầy xua tay và cả hai cùng cười.
Rồi anh Thái NC và chị Thanh, phu nhân anh Chinh Nguyên, đi đưa đón các bác tiền bối lớn tuổi như bác Trương Giang, bác Dương Huệ Anh, bác Diệu Tần. Ban xã hội chị Lê Diễm thì lo vòng hoa, thăm người bệnh. Anh Chinh Nguyên còn xin được giờ trên đài VNA – Vietnamese America TV, thứ Ba thứ Bảy 9 giờ tối, để đưa hình ảnh Văn Thơ Lạc Việt đến cộng đồng. Rồi lập nhóm “Tuổi Trẻ Hải Ngoại” để dạy tiếng Việt cho các cháu do cô Thanh Loan, tuổi trẻ sinh hoạt năng nổ đầy tài năng.
Đầu năm 2021, nhà báo Lê Văn Hải lên làm hội trưởng vì anh Chinh Nguyên bệnh nặng. Dù đã lái con thuyền gần 10 năm, anh Chinh Nguyên vẫn cố vấn giúp đỡ phía sau.”
Anh Lê Văn Hải là cựu sĩ quan Không quân QLVNCH, chủ nhiệm báo Thần Mõ. Anh lập nhóm Mõ Nhân Ái phát cơm cho người vô gia cư mỗi tháng. Lễ Noel, Tết còn thuê ban nhạc đến hát cho họ. Với Hội, anh tổ chức sinh nhật mỗi quý tại cà phê Lover, và các chiều nhạc “Anh Cho Em Mùa Xuân”, “Tưởng Niệm 30/4”, “Lễ Father’s Day & Ngày Của Lính”, “Em Không Nghe Mùa Thu”, “Lễ Tạ Ơn & Noel”.
Về văn thơ, sau này chị Phương Hoa và thầy Thái đảm nhận Ban Biên Tập. Chị Phương Hoa khéo léo mời bạn thơ văn góp bài, kéo được cả hội Cô Gái Việt gia nhập. Nhờ vậy Website Văn Thơ Lạc Việt đã có trên 3 triệu lượt độc giả vào xem. Mỗi năm Hội vẫn in Đặc San Xuân rất đẹp, nội dung phong phú.
Từng mùa đi qua, suối thơ văn vẫn có những đề tài: nàng Xuân tươi vui, Hạ nắng rực rỡ, Thu dịu dàng, Đông khôn nguôi. Những bài khảo cứu về lịch sử, nỗi đau tháng Tư đen. Mùa Phật Đản, mùa Giáng Sinh dâng điều tôn kính. Những bài thơ Đường Luật xướng họa chia sẻ phúng điếu, chúc thọ, sinh nhật… Tất cả để nuôi chữ nghĩa Việt Nam.
Nhớ lại ngày đó, tôi được giải nhì với bài “Cây Khế Quê Hương”, chị Phương Hoa đoạt giải nhất bài “Nợ Còn Vương”. Tôi mừng, nhưng mừng hơn nữa là được làm hội viên. Từ đó, tôi biết ở Mỹ mình không mất quê hương vì còn có Hội. Hội duy trì lịch sử, nền văn hóa nước nhà bằng những ngòi bút, giữ gìn ngôn ngữ Việt cho thế hệ mai sau.
Mười năm trước, hội trưởng Chinh Nguyên đã tuyên bố khi tôi và chị Phương Hoa được giải: “Các cô giờ đây đã là thành viên của VTLV.” Câu đó ngắn mà nặng, vì nó cho tôi một mái nhà chữ nghĩa quê hương giữa xứ người.
35 năm! Ngày vui đã đến. Ngày kỷ niệm ăn mừng chặng đường dài sinh hoạt của Văn Thơ Lạc Việt bền bỉ, được tổ chức tại 70 W Hedding St _San Jose ca 95110.
MC Nguyễn Hồng Dũng và MC Thanh Loan giới thiệu màn mở đầu vinh danh những tiền bối. Bàn thờ được lập với hình ảnh Tiền bối: Dương Huệ Anh, Đông Anh, Chính Nguyên. Các phu nhân được trang trọng mời lên thắp hương, khói hương đưa hồn các Tiền bối về chứng giám cuộc vui này.
Màn văn nghệ kế tiếp là đoàn Tiếng Vọng Quê Hương đàn tranh, màn cải lương, màn Tuổi Trẻ Hải Ngoại ca múa. Hội trưởng Lê Văn Hải còn bày màn Loto xổ số, tặng hoa và quà cho giới phụ nữ vì ngày mai là Lễ Mother’s Day. Anh Hải là vậy đó, luôn muốn đem niềm vui đến mọi người. Thấy anh xuất hiện là thấy vác bao quà khổng lồ và bao lì xì đỏ từng cọc. Hình như hạnh phúc của anh là phát quà thì phải, từ trong hội ra ngoài những buổi sinh hoạt của cộng đồng.
35 năm! Tôi chỉ mong từng thế hệ vẫn tiếp tục giữ lửa, giữ tiếng mẹ đẻ, giữ tập tục văn hóa quê hương qua ngòi bút và ngoài đời sống.
Ước gì 35 năm nữa, có những đứa cháu mở tập Đặc San Văn Thơ Lạc Việt, thấy tên các bà nó như: Minh Thúy Thành Nội. Cháu đánh vần được, vậy là tôi không chết.
Văn Thơ Lạc Việt Mừng Sinh Nhật 35 Tuổi
Ba lăm năm đẹp vườn thi phú
Tiền bối bao mùa đã dựng xây
Tiếng Mẹ nâng niu hồn quốc ngữ
Văn Thơ Lạc Việt tỏa hương đầy
Giao hòa chữ nghĩa tràn nghiên bút
Trang web đường hoa nở rộn ràng
Sử học, quê hương gầy tuyệt phẩm
Vui mừng cả hội hợp ca vang
Minh Thúy Thành Nội
May 9/2026
PHƯƠNG HOA – Chiều Nhạc Nhớ Mẹ: Nơi Tình Mẫu Tử Và Lòng Yêu Nước Giao Thoa – THƠ MINH THÚY THÀNH NỘI: MỪNG NGÀY LỄ MẸ.
Chiều Nhạc Nhớ Mẹ: Nơi Tình Mẫu Tử Và Lòng Yêu Nước Giao Thoa
Phương Hoa ghi nhanh
Từng nghe biết về Hội Phụ Nữ Thiện Nguyện Việt Mỹ ở San Jose, Bắc Cali, nhưng tôi chưa bao giờ tham dự một buổi lễ nào của hội này. Năm nay tình cờ tôi nhận được tấm poster rực rỡ với dòng chữ “HAPPY MOTHER’S DAY!” Và khi thấy cái tựa đề buổi diễn “Chiều Nhạc Nhớ Mẹ” của Hội Phụ Nữ Thiện Nguyện này, thì trái tim tôi “mềm” đi một chút, và mọi lý do bận rộn “trăm công nghìn việc” đều phải…đi chỗ khác chơi! Đơn giản vì tôi cũng là một người mẹ, và tôi biết, các mẹ luôn xứng đáng được tôn vinh và yêu thương.
Thế là, chiều thứ Bảy tuần trước, tôi cùng chị Mỹ Thanh phu nhân của cố Chủ tịch Văn Thơ Lạc Việt Chinh Nguyên, có mặt tại số 70 W. Hedding St, San Jose, để cùng các mẹ các chị hòa mình vào một không gian tràn ngập tình yêu và âm nhạc.
Sân khấu được bày biện trang nghiêm với cờ Mỹ và cờ Việt Nam Cộng Hòa đứng cạnh nhau. Ngay phía dưới là dãy bàn lớn bày ba chiếc bánh kem “khổng lồ” trang trí hoa văn rực rỡ với dòng chữ “Happy Mother’s Day” trông thật… ngọt ngào, và dễ thương hết mức.
Được biết, chương trình ý nghĩa này được bảo trợ bởi Betty Dương, Giám sát viên Quận Hạt Santa Clara.
Chương trình mở đầu đầy xúc động khi cô MC Thanh Loan duyên dáng của cộng đồng Việt San Jose nói chung, và của Văn Thơ Lạc Việt nói riêng, mời tất cả những phụ nữ mặc áo dài lên sân khấu để cùng làm lễ chào cờ. Tôi cũng bước lên theo các chị.
Thật cảm động và hãnh diện khi được khoác lên mình chiếc áo dài truyền thống đứng giữa lòng nước Mỹ, trang trọng hướng về lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và Cờ Sao Hoa Kỳ. Khi giai điệu Quốc Ca “Này công dân ơi…” vang dội khắp khán phòng, tôi chợt nhiên muốn khóc. Sống mũi tôi cay xè khi hình ảnh quê hương xưa ào ạt hiện về như một cuốn phim quay chậm của những buổi chào cờ ngày còn đi học… Ôi quê hương tôi giờ ra sao?
Sau phút lắng đọng tưởng niệm, là phần phát biểu của chị Merry Lê, Hội trưởng Hội Phụ Nữ Thiện Nguyện Việt Mỹ Bắc Cali. Chị bước lên sân khấu với những giọt nước mắt nghẹn ngào, tri ân cộng đồng đã ủng hộ chị suốt hơn 30 năm qua, từ lúc chị “tuổi còn xanh mà bây giờ thì tóc muối đã nhiều hơn tiêu”, chị nói.
MC Thanh Loan và Cựu Chủ Tịch Merry Lê
Nhưng bất ngờ nhất chính là màn “tống cựu nghinh tân” đầy ý nghĩa. Chị Merry Lê quyết định lui về hậu phương và giới thiệu người kế nhiệm: Mary Thảo Lê, một gương mặt trẻ trung, thành danh trong ngành địa ốc và cũng là một hậu duệ đầy tự hào của Việt Nam Cộng Hòa. Trong chiếc áo dài cách tân hiện đại, tân Hội trưởng Mary Thảo Lê đã hứa sẽ nối gương người tiền nhiệm để phát triển Hội ngày càng tốt đẹp hơn. Khoảnh khắc xúc động nhất, là khi chị Merry Lê khoác cho tân chủ tịch trẻ Mary Thảo Lê chiếc khăn quàng cổ bằng len đan, kết nối lá cờ Mỹ vào cờ VNCH cùng lời dặn dò, “Hai vai gánh vác hai cờ/Một là quê mẹ, hai là tạm dung”. Sau đó chị nhờ ông cố vấn của hội là Jimy Phan bàn giao chiếc hộp ấn tín lại cho Mary Thảo Lê, trong tiếng vỗ tay vang dậy của khán giả. Đây thật sự là những hình ảnh rất đẹp, minh chứng cho sự tiếp nối của tinh thần phụng sự đồng bào.
Cố Vấn Jimmy Phan đại diện trao Ấn Tín cho Tân Chủ Tịch Mary Thảo Lê
Cựu Chủ Tịch Merry Lê trao tặng khăn quàng cổ có Cờ Mỹ và cờ VNCH đan kết cùng nhau cho tân Chủ Tịch Mary thảo Lê
Khi lễ bàn giao hoàn thành, phần văn nghệ bắt đầu với những giai điệu thật ngọt ngào, đó là những cung bậc tri ân Tình Mẫu Tử. Có thể nói, chương trình… bùng nổ với những giọng ca đầy nội lực. Khán giả như sống lại trong tình yêu của mẹ, qua tiếng hát truyền cảm của chị Thu Tâm với bài Lòng Mẹ của nhạc sĩ Y Vân. Tiếp theo là sự sâu lắng của Hiếu Hạnh qua bản Đèn Khuya của Lam Phương. Đặc biệt, nghệ sĩ Diệu Bảo khiến cả hội trường “vỗ tay bể rạp” bằng giọng ca cải lương …nhà nghề, ngọt lịm trong bài tân cổ Nhớ Mẹ của soạn giả Viễn Châu. Mỗi lần cô xuống một câu vọng cổ là khán phòng lại rộn ràng tán thưởng. Tiếp đó, Hoàng Kim lại gieo vào lòng người những trắc ẩn qua Đêm Mưa Nhớ Mẹ.
Sân khấu càng thêm rực rỡ khi Nhóm múa Dưỡng Sinh xuất hiện trong tà áo bà ba và chiếc nón lá, trình bày điệu múa Lối Về Xóm Nhỏ của nhạc sĩ Trịnh Hưng quá đỗi duyên dáng, xúc động vô cùng. Kế đến, Trung Kiên khoe chất giọng “ngọt như mía lùi” với Lệ Đá. Mọi người thật bất ngờ, khi tân Hội trưởng Mary Thảo Lê cũng chứng minh tài nghệ “không thua ca sĩ chuyên nghiệp” khi trình bày Mùa Xuân Của Mẹ của nhạc sĩ Trịnh Lâm Ngân làm mọi người rưng rưng xúc động. Và những tràng pháo tay lại rộn rã vang lên…
Múa nón của nhóm Múa Dưỡng Sinh
“Bữa tiệc âm nhạc” thật thành công với sự góp mặt của các giọng ca tài năng Thu Phượng, Thi Lan, Mỹ Linh, và Lệ Hằng… mỗi người một vẻ tạo nên một chương trình đa sắc thái. Sức hút lớn đến nỗi dù bánh kem đã được cắt và sắp sẵn đầy bàn phía ngoài, nhưng quan khách vẫn mê mẩn ở lại xem ca nhạc cho tới giờ chót.
Khi những giai điệu gần lắng xuống, chị cựu Hội trưởng Merry Le ra ngoài mời bánh kem cho quan khách, tôi lợi dụng chạy theo ra, xin phép phỏng vấn “chớp nhoáng” chị vài câu:
Phương Hoa (PH): Xin chị Merry Lê cho hỏi, chị sáng lập ra Hội Phụ Nữ Thiện Nguyện Việt Mỹ này từ khi nào? Và ý tưởng từ đâu mà chị phục vụ giúp đỡ cho cộng đồng người Việt, đặc biệt là người cao niên ở vùng San Jose?
Merry Lê: (Cười hiền hậu) Em phục vụ cho cộng đồng cũng hơn 30 năm rồi, nhưng khi bắt đầu là em phục vụ cho cộng đồng Mỹ chứ không phải là Việt. Đó là thời còn sinh viên của trường San Jose College, em rất là dấn thân giúp người. Em đã mở trung tâm dạy luyện thi quốc tịch Mỹ miễn phí, rủ bạn cùng trường dạy kèm luyện thi, và ai học cũng thi một lần là đậu quốc tịch ngay. Vì những việc làm lợi ích cho cộng đồng, nên em được trường cấp cho cái bằng bác ái và dán lên tường của trường San Jose College, và em cũng được một vị nữ giáo sư viết bài đăng báo bằng tiếng Anh.
PH: Whoa! Chị tuyệt vời nha! Rồi nguyên do nào chị sáng lập Hội Thiện Nguyện Việt Mỹ?
Merry Lê: Khi nhận bằng bác ái, em chợt nghĩ tại sao mình không đem tấm lòng này về phục vụ cho cộng đồng mình? Thế là em sáng lập ra Hội Thiện Việt Mỹ và quy tụ những người hảo tâm cùng làm thiện nguyện với em, và thường giúp cho quý vị cao niên trong thành phố có những bữa ăn đầy đủ, và còn giúp đỡ mọi việc khi nào họ cần. Hằng năm thì em tổ chức lễ Mother’s Day và Father’s Day cho cộng đồng. Em muốn truyền bá chữ hiếu và tấm lòng của đạo đức Việt Nam, là con cái phải dưỡng nuôi cha mẹ để đền ơn công đức sinh thành. Và kết quả là ngày càng có nhiều bà con cộng đồng ủng hộ. Từ đó thì em làm việc mãi đến ngày hôm nay.
PH: Vậy chị làm sao mà chọn được cô Mary Thảo Lê này?
Merry Lê: (Cười dí dỏm) Hoa có hương thơm thì tự nó tỏa lan, không cần tìm kiếm. Em biết Mary Thảo Lê là hậu duệ của Việt Nam Cộng Hoà, tính tình rất năng nổ nhanh nhẹn dễ thương, em ấy lại trẻ trung hoạt bát, có sự nghiệp vững vàng. Mary Thảo Lê là một nhà địa ốc thành công, và đặc biệt là em ấy hát rất hay. May mắn và thật mừng, là Mary Thảo Lê đã nhận lời để nối bước em, vì nay lớn tuổi và gia đình em đang cần giúp đỡ nên không thể tiếp tục.
Lúc này có nhiều người ra thưởng thức bánh kem, và xin chụp hình với cựu Chủ Tịch, nên tôi cảm ơn chị cựu Hội trưởng và trả chị về cho thực khách.
Vừa lúc Tân Hội Trưởng Mary Thảo Lê bước ra ngoài. Tôi vội “chộp” lấy cô và hỏi đôi câu, trước khi người hâm mộ chạy đến vây quanh xin chụp hình chung với tân Chủ Tịch để làm kỷ niệm.
Chị Mỹ Thanh và Tân Chủ Tịch Mary Thảo Lê
PH: Mary cho chị hỏi nhanh vài câu: Động lực nào làm cho em nhận lời chị Merry Lê để nối gót chị phục vụ cộng đồng và nhận cái trách nhiệm rất là quan trọng nhưng cũng đầy khó khăn này?
Mary Thảo Lê: (Cười rạng rỡ) Hình như trong máu em đã có sẵn sự ưa thích phục vụ cộng đồng chị ạ, tuy có điều là em chưa biết khi nào. Em thường đi hát và gặp nhiều nhóm cộng đồng, thấy những sinh hoạt của họ làm em rất yêu thích.
PH: Tuyệt quá! Vậy em gặp cô Merry Lê trong dịp nào?
Mary Thảo Lê: Em đi hát nhiều lần và nhiều nơi, và em thấy sự làm việc của cô Merry Lê. Cô ấy làm thật nhiều việc có lợi cho cộng đồng, nên em phục cô lắm. Cô ấy cũng có tấm lòng yêu nước rất cao, lúc nào cũng nhớ về Việt Nam Cộng Hòa của mình, thế là em nhận lời, vì em là một hậu duệ của Việt Nam Cộng Hoà. Ba em ngày trước phục vụ cho Chiến Dịch Phượng Hoàng, trụ sở gần bên cạnh đài phát thanh Sài Gòn xưa đó chị.
PH: Oh, thảo nào! Em đúng là “con dòng cháu giống!” Vậy em có thể cho biết tên và chức vụ của ba ngày ấy hay không?
Mary Thảo Lê: Dạ, ba em tên là Lê Khuê Đảm, chức vụ là đại úy, nên khi cộng sản Bắc Việt chiếm lấy miền Nam, ba em đã bị 6 năm tù. Và sau này khi ra tù ba em sang Mỹ diện HO 5.
PH: Tội nghiệp ba em và những Sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa quá! Vậy ba em hiện có còn khỏe không?
Mary Thảo Lê: Dạ ba em mất hồi năm 2024 rồi chị ơi! Thương ba lắm! Ngày còn sống ba em hay kể về tướng Nguyễn Khoa Nam trong ngày mất nước, ông thà chết chứ không bỏ nước ra đi! Đúng là bất khuất và hùng tráng! Em nghe ba kể những vị anh hùng tuẫn tiết trong ngày mất nước mà em ngưỡng mộ dễ sợ! Em thường ước mình có thể làm được những việc lớn lao hơn cho đất nước nhưng sức người có hạn, và vì phận gái nên em không thể làm gì hơn.
PH: Ôi thật là trân trọng tấm lòng của em! Đáng quý quá! Ước gì các thế hệ trẻ ở hải ngoại đều suy nghĩ được như em thì đất nước mình diễm phúc biết bao! Cho chị hỏi một câu sau cùng: Em đã có đường hướng gì để đưa hội mình ngày càng phát triển lớn lên hơn không?
Mary Thảo Lê: Em nghĩ là em sẽ cần, rất cần, sự ủng hộ của cộng đồng, như các anh chị. Em cần học hỏi rất nhiều và em cũng sẽ nhờ sự cố vấn của cô Merry Lê. Có một điều em chắc chắn, là em biết mình ở đâu, và phải làm gì, cho đúng với quốc gia dân tộc, giống như cô Merry Lê đã nói với em rằng, trong trách nhiệm này em không được “đi hàng hai”, nghĩa là phải giữ đúng thẳng hàng một người Quốc gia chân chính, để phục vụ cộng đồng, nhằm bảo tồn ngôn ngữ và văn hóa của Việt Nam Cộng Hòa mình…
Nhìn quanh, thấy nhiều người chờ chực để được chụp hình chung với Mary Thảo Lê, tôi “giao” cô nàng lại cho họ và vô lại hội trường, vừa kịp lúc nghe nhà thơ Huy William, từ Nam Cali mới dọn về San Jose, đọc bài thơ về Mẹ do anh sáng tác đầy cảm động. Bài thơ này điểm xuyết cho không gian Lễ Mẹ thêm thi vị, và cũng là một nét đẹp thật có hồn trong văn hóa Việt Nam.
Trong khi ngồi dự lễ, và thấy buổi lễ hiện diện nhiều người giới trẻ, nên tôi ngồi ghi vội mấy câu thơ tiếng Việt và tiếng Anh, định sau cùng nhờ cô tân Chủ Tịch Mary Thảo Lê đọc tặng mọi người, cho buổi Lễ Mừng Mẹ thêm phần “thi vị”. Nhưng rồi có Huy Willam đọc thơ rồi nên tôi dừng lại.
HAPPY MOTHER’S DAY To ALL MOTHERS
Roses for all the mothers, so dear and so true,
Wishing you joy and love in all that you do.
May your days be filled with laughter and song,
As we celebrate you, where you truly belong.
*
Gather ’round with your families, let the music play,
Dance and sing, make memories that will stay.
Toast to the mothers, the queens of our hearts,
In your honor, we’ll throw the best, of all parties, let’s start!
*
So here’s to the mothers, around the world so grand,
With roses in hand, we raise a toast, hand in hand.
May your days be filled with love and delight,
Happy Mother’s Day, let’s celebrate all night!
***
CHÚC MỪNG NGÀY CỦA MẸ ĐẾN TẤT CẢ TỪ MẪU
Bó bông hồng tặng các MẸ quý yêu
Cùng mong muốn MẸ thật nhiều hạnh phúc
MẸ nhận đầy hoa, nụ cười, lời chúc
Và tiệc tùng, nhìn MẸ thật hân hoan.
*
MẸ bên gia đình – âm nhạc rền vang
Hát, khiêu vũ, MẸ vô vàn sung sướng
Nâng ly chúc MẸ người Nữ Vương thần tượng
Tiệc hôm nay vinh danh MẸ ngút ngàn
*
Chúc hết các MẸ luôn được bình an
Hoa hồng tặng MẸ hoa vàng trên bánh
Mừng Lễ MẸ là một ngày Thần thánh
MẸ muôn đời và MẸ suốt đêm nay!
Phương Hoa
Buổi lễ “Chiều Nhạc Nhớ Mẹ” ngày 2 tháng 5 năm 2026 kết thúc bằng những đĩa bánh kem ngọt ngào và những tấm hình thật rực rỡ, tạo cho mọi người niềm tin mãnh liệt vào sự trường tồn của văn hóa và tinh thần Việt Nam nơi hải ngoại.
Ra về khi nắng chiều San Jose đã nhạt, nhưng có lẽ trong lòng mỗi người khách tham dự đều ấm áp, rực rỡ, và vang vọng một lời hứa: Sẽ yêu thương các bậc sinh thành nhiều hơn, và sẽ cùng nhau gìn giữ cội nguồn, bảo tồn văn hóa Việt Nam dù đang ở bất cứ nơi đâu…
Phương Hoa – Mother’s Day 2026
THƠ MỪNG NGÀY LỄ MẸ – MINH THÚY THÀNH NỘI
HỘI PHỤ NỮ BẮC CALI TỔ CHỨC “LỄ MẸ”
Dự lễ vinh danh đấng Mẹ hiền
Tháng 5 Hội Phụ Nữ khai liền
San Jose Hạ vừa chớm thức
Văn nghệ vui mừng thỏa mãn viên
*
Góp mặt qua màn hát, múa ca
Cho con thổn thức trở về nhà
Bao nhiêu kỷ niệm thời thơ ấu
Nhớ Mẹ vô vàn, nhớ thiết tha
*
Mướp, cải, cà, rau Mẹ giỏi trồng
Sân vườn lắm trái đẹp giàn bông
Hiên thềm Mẹ dỗ ru con ngủ
Mộ Phật lên chùa góp quả công
*
Nhắc Mẹ Việt Nam tả mấy vừa
Thân cò lặn lội nắng cùng mưa
Nuôi con khôn lớn tình yêu đậm
Một tối âm thầm lệ tiễn đưa
*
Chay tịnh nguyện cầu đứa trốn đi
Ra khơi biển cả gặp điều gì
Tương chao dưa cải cùng khuôn đậu
Ý nguyện tâm thành Phật chứng ghi
*
Mẹ hỡi tha phương chất nỗi sầu
Bao điều trăn trở mối lo âu
Là con bất hiếu không kề cận
Phụng dưỡng chăm lo tuổi bạc đầu
*
Con hiểu dòng sinh biến đổi thường
Chỉ còn chất chứa biển tình thương
Nương theo Phật Pháp hành tu sửa
Ánh đạo từ bi dẫn lối đường
*
Thuyền nhớ trôi xa tận ngút ngàn
Bên tai “Quê Mẹ “ngọt ngào vang
Ru êm một thủa về nguồn cội
Tỉnh giấc thôi say …giấc mộng tàn
*
Bản nhạc chạm vào ký ức con
Giờ đây hương khói trái tim mòn
Còn đâu bóng mát đà che chở
Đức hạnh một đời dạ sắc son
*
Nghệ sĩ thay phiên nhắc nhở Người
Dâng vần thơ nhạc với hoa tươi
Bánh mừng sinh nhật ai còn Mẹ
Tủi phận mồ côi cố nụ cười
*
Minh Thúy Thành Nội – May 2/2026
VTLV – TRANG ĐẶC BIỆT TƯỞNG NIỆM 51 NĂM THÁNG TƯ ĐEN.
*
CA KHÚC THÁNG TƯ SẦU NGHẸN ĐONG ĐẦY – PHƯƠNG HOA
THÁNG TƯ SẦU NGHẸN ĐONG ĐẦY
*
Việt Nam từ thuở lìa xa
Cháu con Hồng Lạc bôn ba xứ người
Năm mốt năm, lắm đổi dời
Lòng người tị nạn bời bời nhớ thương
*
Làm thân tằm gửi ly hương
Từng đêm khắc khoải hồn vương khổ sầu
Ai làm bể cả ruộng dâu
Hải âu phi xứ còn đâu lối về
*
Tháng Tư trời đất ủ ê
Thương về quê Mẹ muôn bề xót xa
Đàn nâng phím trải cung ngà
Tơ ươm nốt ngọc hương xa tìm về
*
Quắt quay tìm ánh trăng thề
Nhớ xưa bóng phượng đam mê tình nồng
Trưa nào bước dạo đồi thông
Đò ngang tách bến ánh hồng lung linh
*
Vườn xưa chung bóng đôi mình
Giờ đây lạc bước đăng trình lãng du
Vật vờ ai oán Tháng Tư
Hồn ai như thể sa mù phủ vây
*
Tháng Tư sầu nghẹn đong đầy
Nhìn mưa giăng lối buồn vây ngập hồn
Thơ gào lời trải vô ngôn
Bình minh rồi đến hoàng hôn não nùng
*
Đêm sang nghe tiếng côn trùng
Nỉ non từ chốn mịt mùng nơi nao
Rèm hoa vương vất ánh sao
Lòng đau tâm nhói phận nào tha phương
*
Chờ ngày trở lại quê hương
Cùng nhau xây dựng bốn phương thanh bình
Nhà Nam đất Việt dân mình
Châu về hiệp phố thỏa tình hoan ca.
Phương Hoa – Tháng Tư, 2026
=
CA KHÚC THÁNG TƯ VẪN NHỚ – THƠ PhamPhanLang
TRANH THƠ NGUYỄN PHƯƠNG THÚY: “THÁNG TƯ VẪN NHỚ” THƠ PHẠM PHAN LANG –
==
APRIL STILL REMAINS (BẢN TIẾNG VIỆT) THƠ PhamPhanLang -Lyrics: PhamPhanLang. MusicPrompts & Video: PhuongHoa USA. Vocals & Performance: Suno AI.
CHÙM THƠ CAO MỴ NHÂN
NGÀY ĐẦU THÁNG 4. 1975. – CAO MỴ NHÂN
Ngày đầu tháng 4 năm 1975 ở Saigon
Tôi đi dạo một mình trên đường Lê Lợi
Đại lộ chính từ trụ sở Quốc Hội
Tới chợ Bến Thành …
*
Tôi thấy hình như 90% người dân miền Nam
đang muốn rời xa đất nước
Để đi đâu không cần biết trước
Miễn tránh xa Cộng Sản Bắc Việt
*
Cho dẫu là quân, dân cán chính VNCH
ở miền Trung, miền tây nam phần
Hay ở giữa thủ đô – Bến Nghé xa xưa
Nước mắt họ chảy như mưa
*
Tôi mới từ Đà Nẵng chạy loạn vô hôm qua
Chẳng lẽ lại theo dân đi các nước
Nhưng dân khắp nơi đã nhào ra không lùi bước
Thả mình xuống những dòng sông
*
Thả mình xuống nước mênh mông
Tràn ra đại dương ngập sóng
Tôi mới ở chuyến tàu bơi lết từ Tiên Sa
Vào Khánh Hội hôm qua
*
Người ta đã rớt từ sân tàu xuống biển
Khi đứng nhìn cột buồm cao kéo cờ vàng
Xếp lại cất trong hành trang
Ngấn lệ khô không che nổi hận thù
*
Tôi ngơ ngác hỏi lòng tôi
Tại sao phải ra đi
Tại sao không ở lại
Tại sao ư, chúng nó đang cướp … địa dư
*
Hôm đó tôi về hòa nước mắt làm thơ
Hôm đó có bài ca lạc điệu
Hát những lời bêu rếu, nghèo nàn
Thế là hết “ chính nghĩa Tự Do “ vinh quang …
*
Los Angeles 1 – 4 – 2026
( 51 năm Quốc hận ) CAO MỴ NHÂN ( HNPD )
==
CHÚNG MÌNH ĐÃ MẤT THÁNG TƯ
LẠI CÒN MẤT CẢ RIÊNG TƯ CHÚNG MÌNH …
RẤT BUỒN TÌNH CŨ VÃNG SINH
CHỈ CÒN TÌNH MỚI LUNG LINH LẠ LÙNG
****
BÀI THƠ MA THÁNG TƯ. CAO MỴ NHÂN
Nửa đêm, gió chuyển lên đồi
Vầng trăng hốt hoảng xa rời lũng ma
Trăng trôi trên trời bao la
Gió tìm trăng khắp sơn hà thân quen
*
Bỗng từ ký ức vươn lên
Rừng cây lá biếc già thêm mấy tầng
Trăng nhìn cây, chợt bâng khuâng
Gió vừa bắt kịp trăng, mừng rỡ reo
*
Ba vì sao đứng quạnh hiu
Ngắm soi chứng tích tình yêu nơi này
Cây rằng : họ chẳng đổi thay
Gió trăng, trăng gió lượn bay mịt mù
*
Cây rơi từng đợt lá khô
Mùa đang chuyển những tiếng ru vào lòng
Lời nào gởi lại non sông
Lời nào trăng gió bềnh bồng mang đi
*
Bóng hồ linh khuất sơn khê
Trăm năm sao lại tìm về , hỡi ôi
Tháng tư , trăng vỡ ngậm ngùi
Gió ôm phiền muộn, lệ rơi tuyệt tình …
Utah, 25 năm sau 30- 4 – 1975 CAO MỴ NHÂN
==
Ở PHƯƠNG NÀY. CAO MỴ NHÂN
Khi tôi mới tới phương này
Mặt trời còn trắng trong mây lạnh buồn
Tôi ngồi ôm nỗi cô đơn
Nhìn ra biển Thái Bình Dương ưu phiền
*
Người đang tình tự thay phiên
Trái tim mang cả nỗi tiền vận đau
Mù sương phủ kín công hầu
Đỉnh thương nhớ đã nhạt màu trầm luân
*
Này là tuổi tác phù vân
Say mê sợi nắng tần ngần thả rơi
Chúng mình chung một khung trời
Mà như nghiêng lệch hẳn đời éo le
*
Chốn này chạnh nhớ nơi kia
Từ khi thân phận cách chia chập chờn
Mặt trời chiếu sáng càn khôn
Sao tâm tư vẫn gọi hồn nước xưa …
Rancho Palos Verdes 11 – 4 – 2026 CAO MỴ NHÂN
==
SAU CƠN ĐỊA CHẤN. CAO MỴ NHÂN
Chỉ còn là thân phận
Mỗi lần em gặp anh
Như một cơn địa chấn
Sau trận động đất nhanh
*
Anh mỉm cười : em yêu
Thì rõ ràng tiếng khóc
Của tâm hồn quạnh hiu
Mơ hồ trong thao thức
*
Vẫn là anh khao khát
Mặt trời mọc chân mây
Em mang niềm mơ ước
Rực rỡ anh đầu ngày
*
Chúng mình cần sống ngay
Để lánh xa nỗi chết
Tình yêu phải vơi đầy
Mới thăng hoa, thanh khiết…
Rancho Palos Verdes 12 – 4 – 2026 CAO MỴ NHÂN
==
DẶM VỀ THÁNG TƯ .CAO MỴ NHÂN
Gởi em trọn vẹn nỗi lòng
Từ khi giã biệt phương đông, qua đoài
Từ khi tiếng quốc u hoài
Nghe trong thân phận lạc loài, xót xa
*
Năm châu thiên hạ bao la
Lòng thêm buồn tủi sơn hà hờn căm
Này đây gió thổi mê lầm
Lệ đang thả giọt âm thầm hoang liêu
*
Dặm về khói sớm , sương chiều
Hồn nghe phiền muộn những điều trái ngang
Tháng tư phai sắc hoa vàng
Đốt trầm lên, lạy dở dang mộ người
*
Tháng tư hiu hắt bên trời
Níu chân bước lẻ trọn đời tiếc thương
Nén nhang thắp đã tàn hương
Biển dâu hay cả đại dương nghẹn ngào…
CAO MỴ NHÂN
18 – 4 – 2026
THÁNG TƯ NÀO. CAO MỴ NHÂN
Mỗi năm mất một tháng tư
Nên mình có vẻ bị hư hao đời
Mỗi năm dần mất nụ cười
Ba mươi tháng bốn từ hồi bảy lăm
*
Hơn nửa thế kỷ phù vân
Công danh, sự nghiệp, tuổi xuân điêu tàn
Nghe câu chính nghĩa Việt Nam
Đã bị Cộng thuyết phá tan giống nòi
*
Đưa dòng vô sản lên ngôi
Bắc Nam thống nhất tôi đòi Tàu Nga
Hãy nhìn thế giới người ta
Họ khinh miệt cảnh sơn hà lai căng
*
Đua đòi cải tổ nhân văn
Làm sao chen được gót chân Cộng Hoà
Tháng tư mất hết tinh hoa
Chỉ còn quỷ đỏ phô ra lộng hành …
Hawthorne 18 – 4 – 2026 CAO MỴ NHÂN
===
CÙNG NIÊN KỶ KHÓC. – CAO MỴ NHÂN
Trăng lênh đênh trôi lãng đãng trở về
Cho thấy được cuộc đời là hư ảo
Mây lướt thướt bay chập chờn phiền não
Mới bình minh sao nhuốm vẻ hoàng hôn
*
Khói sương tan trong bát ngát linh hồn
Em mờ mịt tháng năm đầy quá khứ
Tuổi anh lỡ trải dài đường viễn xứ
Đừng nói thêm quê quán chốn hoang liêu
*
Biết đâu tìm ân nghĩa với thương yêu
Tình đã lạt phai tưởng lầm trễ hẹn
Không có gì sao thế gian bịn rịn
Chuyến đò vơi trăng cạn nỗi riêng tư
*
Quán thu phong hơi lạnh buốt bao giờ
Ai viết sử đang chờ người nhuận sắc
Vách lá ẩm, ướt lời xưa mất mát
Ta đang cùng niên kỷ khóc chơi vơi…
CAO MỴ NHÂN ( HNPD )
18 – 4 – 2026
==
THÁNG TƯ SẦU NGHẸN ĐONG ĐẦY – Thơ Phương Hoa- TRANH THƠ PHƯƠNG THÚY
CA KHÚC SỐNG ĐỘNG: DẬY MÀ ĐI GÌN GIỮ GIANG SAN – THƠ NGUYỄN PHƯƠNG THÚY – NHẠC TRUNG VIỆT
==
NGẮC NGOẢI ĐẾN BAO GIỜ
Nguyễn Phương Thúy
Ông Tô Lâm – Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (Ông cũng là Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Công an Trung ương, Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và An ninh, và Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng, tiêu cực. Còn chức nào ông chưa tóm? Đúng là độc tôn, độc trị!) đến China từ ngày 14 đến 17 tháng 4 năm 2026. Đây là một bước đi ngoại giao đầy quan trọng – cấp nhà nước, trên cương vị là lãnh đạo cao nhất của Việt Nam. Chuyến thăm này không chỉ dừng lại ở những cái bắt tay xã giao; đó là một nỗ lực thúc đẩy thực hành nhanh chóng Chiến lược “3+3” (*), nhằm củng cố “Cộng đồng chia sẻ tương lai” – một cách nói hoa mỹ để diễn tả việc họ đang gắn kết nền kinh tế và an ninh của nhau chặt chẽ hơn bao giờ hết. Tô Lâm trông có vẻ sung sướng, hãnh diện với sự đón tiếp long trọng của China. Các ông lớn mặc âu phục, các bà lớn cũng mặc quốc phục hiện diện sát bên. Nội các China dàn hàng chào danh dự. Tô Lâm bắt tay muốn rụng tay! Càng ngày hình thức ngoại giao càng giống các nước tự do. Con tắc kè thay màu quá lẹ nhưng cái cốt lõi thì vẫn ẹ như xưa! Việt Nam và China đã ký kết hơn 32 thỏa thuận vào ngày 15 tháng 4 năm 2026, tập trung vào các lĩnh vực:
Hải quan & thương mại: Đây là một bước tiến vô cùng to lớn, bởi thương mại giữa hai quốc gia đã hơn 250 tỷ USD trong năm 2025. Hai bên cũng đang triển khai mô hình “cửa khẩu thông minh” nhằm đẩy nhanh tốc độ vận chuyển hàng hóa.
Cơ sở hạ tầng & đường rầy sắt: Trọng tâm phát triển đô thị và kết nối các tỉnh phía Bắc của Việt Nam với mạng lưới đường sắt cao tốc của China chính là một “con đường một chiều”. Một khi những đường rầy ấy đã được lắp đặt theo tiêu chuẩn của China, Việt Nam sẽ bị ràng buộc chặt chẽ về mặt vật lý với China trong suốt 50 năm. Trong nhiều thập kỷ, Việt Nam vẫn duy trì khổ đường rầy sắt khác biệt, nhằm ngăn chặn nguy cơ bị xâm lược dễ dàng. Bằng việc chuyển sang áp dụng các tiêu chuẩn của China, Việt Nam đang thực sự hội nhập về mặt vật lý vào hệ thống hậu cần (logistics) của China. Đây chính là sự thống trị mà không cần chiến tranh. Nếu China nắm quyền kiểm soát hệ thống đường rầy, công nghệ tín hiệu cũng như nguồn tài chính, họ sẽ nắm giữ chiếc “công tắc bật/tắt” đối với nền kinh tế xuất khẩu của Việt Nam.
An ninh chuỗi cung ứng: Nhằm bảo đảm các chuỗi cung ứng xuyên biên giới sẽ không bị gián đoạn bởi những biến động chính trị trên phạm vi toàn cầu.
Du lịch: Phát động chương trình “Năm Hợp tác Du lịch Việt Nam – China 2026-2027” với mục đích thu hút khách du lịch trở lại mức trước đại dịch. Những thỏa thuận này có ảnh hưởng to lớn không thể tránh khỏi như “Con ngựa thành Troy” trong lĩnh vực 5G (the fifth-generation technology standard for broadband cellular networks), dữ liệu lớn (big data) và trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence (AI)). Cơ sở hạ tầng kỹ thuật số luôn có những “cửa hậu” (backdoors). China sẽ nắm trong tay “chìa khóa” của chủ quyền kỹ thuật số, có khả năng giám sát sự di chuyển của con người, hàng hóa và thậm chí cả quân đội….
VIỆT NAM:A Nation Reborn – Created by Nguyễn Phương Thúy – Nhạc nền hòa tấu: “VIỆT NAM VIỆT NAM” Của Phạm Duy
DÂY MÀ ĐI GIỮ GIANG SAN -NGUYỄN PHƯƠNG THÚY CGV
==
Thơ: Nguyễn Phương Thúy – Nhạc: Phạm Trung – Trình bày: Bích Hiền
== THƠ 30 THÁNG THÁNG TƯ ANH & VIỆT – TRANH THƠ: NGUYỄN PHƯƠNG THÚY
==
==
TƯỞNG NIỆM 30 THÁNG TƯ: Ca Khúc MẢNH DA VÀNG, Trần Chương Lương viết nhạc theo thơ của nhà thơ CHU LYNH do ca sĩ Kỳ Nam trình bày và hòa âm được thực hiện tại Golden Production.
*
Tùy Bút 30/4 CỦA 51 NĂM SAU
Sỏi Ngọc
Tàu Trường Xuân, thuyền trưởng: ông Phạm Ngọc Lũy
Từ trái sang phải: Đạo diễn: Robbie Hart; Bà Nguyễn Bùi thị Mùi; tác giả Sỏi Ngọc; cố vấn Phim: anh Khoa Phạm
Lại một tháng Tư đen
Quê người ta tạm trú
Bao giờ về cố thổ
Như máu chảy về tim?
Cuộc chiến đã qua lâu
Lòng ta còn hậu chấn
Hỡi ơi ! Trời biển rộng
Dằng dặc một cơn sầu. (Hoàng Song Liêm)
Tháng Tư vừa mới chớm, trái tim của những người con Việt hải ngoại không ngớt rỉ máu, vết thương của 51 năm qua vẫn mãi chưa bao giờ lành, một khi quê hương đất mẹ vẫn đang bị cầy xéo, dân vẫn khốn đốn, nền tự do dân quyền không có, những cựu chiến binh VNCH với thân hình còi rọc, như những phế nhân lầm lũi sống ở tận đáy xã hội của đất nước nơi mình được sanh ra; họ là những minh chứng sống cho thấy dưới chế độ xã hội chủ nghĩa Cộng Sản sau 51 năm, đời sống không khả quan hơn, vẫn đói khát, bị vùi dập, kiểm soát, bị trả thù đến bao nhiêu kiếp đời.
Tưởng niệm tháng Tư, phim Shining light, một phim tài liệu “ánh sáng tỏa rạng” được trình chiếu tại một trường tư thục, trung học Marianopolis college cho tất cả mọi người, kể cả những em học sinh, tham dự để hiểu về cội nguồn của những người Việt tỵ nạn tại Canada nói riêng và thế giới nói chung.
Phim tài liệu này chỉ dài 30 phút, do nhà sản xuất phim: Peter Raymont, đạo diễn: Robbie Hart, nhân viên Cao Ủy Liên Hiệp Quốc tại Canada: Tracey Maulfair, đồng sản xuất phim và cựu Đại xứ Canada: Gary Smith, cố vấn phim: Khoa Phạm.
Đã được trình chiếu nhiều lần tại Vancouver, Toronto, Montreal, hôm nay được chiếu lại nhưng đặc biệt có sự góp mặt của nhân vật chính, bà Bùi Nguyễn thị Mùi, bà là người mẹ đã mang bầu được 9 tháng vào ngày 30/4/75, biết rằng tánh mạng rất mong manh nếu bà lên tàu Trường Xuân bỏ xứ lánh nạn Cộng Sản thời bấy giờ, nhưng nỗi sợ hãi bị trả thù, cuộc sống đọa đầy sau ngày mà bọn chiến thắng luôn rêu rao là “nền độc lập tự do dân chủ”, trong khi chúng bắt bớ những cựu sĩ quan, lính VNCH bỏ tù, nằm gai nếm mật, trong đó có chồng bà… Bà đã hy sinh mạng sống của chính mình và đứa con trong bụng, ôm bụng bầu sát ngày sanh nở, cùng với con trai nhỏ 2 tuổi, lên chiếc tàu định mệnh cuối cùng vào trưa ngày 30/4 để trốn chạy; đến ngày 2 tháng 5 năm 1975 bụng quặn thắt, và đứa con gái đã chào đời trên tàu Trường Xuân, giữa lòng đại dương mênh mông, với 3600 người tỵ nạn vây quanh, đứa bé gái được đặt tên là Chiêu Anh, ánh sáng rạng rỡ, hy vọng mở ra cho bà một tương lai mới!
Bà Bùi Nguyễn thị Mùi mới sanh cháu Chiêu Anh trên tàu Trường Xuân
Chiêu Anh- cô gái được sanh trên biển cả của ngày hôm nay
Bà Bùi Nguyễn thị Mùi, đạo diễn: Robbie Hart tại trường Marianopolis college
Sau đó, ngày 4/5/1975 tàu Trường Xuân được tàu chở hàng Maersk line của Hong Kong vớt, mẹ con cô được chở vào nhà thương.
Mọi người yên lặng theo dõi bộ phim thật cảm động, tại ngôi trường mà Chiêu Anh đã từng theo học và tốt nghiệp; thỉnh thoảng có tiếng thở dài não ruột, tiếng sụt sùi trong hàng ghế của những người lớn tuổi, cũng có những cái nắm tay thầm lặng chia sẻ nỗi buồn, sự cảm thông của thế hệ trẻ đối với tiền bối.
Phim chấm dứt, ánh đèn sáng lên, bà Bùi ngồi lặng yên trên chiếc ghế ở khán đài, cùng với đạo diễn Robbie Hart, sẵn sàng trả lời những thắc mắc của tất cả mọi người, có cậu bé nói:
– “Tại sao chiến tranh VN đã trải qua 51 năm, đã thống nhất độc lập rồi, mà vẫn còn có người bỏ nước ra đi, còn nghe nói đến sự trốn chạy tìm tự do, tìm nguồn sống mới; họ không chịu nổi áp lực của nhà cầm quyền Cộng Sản?”
Một người khác góp ý:
– “Vào lúc 30 tháng Tư, bọn cộng sản đối với chúng tôi là một điều rất mới mẻ, nhưng kinh nghiệm của thời cải cách ruộng đất thời 1953-1956, chúng đã giết, treo cổ thẳng tay những người họ gọi là “địa chủ”, “tư sản”, tưởng tượng họ cũng đối xử, trả thù những người dân quân miền Nam đã sống, làm việc dưới chính quyền mà họ cho là Mỹ ngụy thì làm sao chịu nổi, vì lý do đó mà nhiều người thà bỏ mạng ngoài đại dương hơn là sống dưới gông cùm của chế độ Cộng Sản.”
Đạo diễn Robbie nói:
– “Chúng tôi dự định sẽ về thăm Việt Nam một chuyến, có dịp sẽ quay những thước phim về những biến cố lịch sử đã xảy ra tại đó cách đây 51 năm, và sự khác biệt với đời sống hôm nay.”
Một khán giả trong phòng thêm ý kiến:
– “Chúng tôi rất mong được các ông làm phim về những người lính VNCH, những người cựu chiến binh, những thương phế binh của chế độ trước bây giờ họ sống ra sao? Con cái họ thế nào? Có được sống như những người dân bình thường hay họ vẫn mãi mãi bị mang lý lịch xấu không thể ngóc đầu lên được, tâm lý sau cuộc chiến bị thất bại, họ mất tất cả, chỉ còn hai bàn tay trắng, lại thêm tù tội cả chục năm, cuộc đời của chính bản thân và con cái có được thành công ở chính quê hương nơi họ sanh ra không? Cộng Sản, những kẻ chiến thắng sau cái mốc định mệnh 30/4 có thật sự như họ đã nói “theo chính sách khoan hồng” giúp đỡ cho kẻ “lầm đường lạc lối” đi đúng hướng, sao chỉ thấy toàn những hình ảnh đói khát ở vùng kinh tế mới với những căn nhà mái lợp bằng lá, mùa mưa thì dột, mùa nắng thì thiêu đốt… Sự trừng phạt hăng máu của kẻ chiến thắng đến bao giờ mới ngừng tay?!”
Hình ảnh của con gái Chiêu Anh cùng với mẹ đi dạo trong một công viên ở Montreal, thanh bình và nhàn nhã, có ai biết quá khứ của họ trắc trở đầy thử thách!
Chiêu Anh chính là Shining Light của bà Mùi, cô là ngọn đèn tỏa sáng trong màn đêm tăm tối, là niềm hy vọng cho cả gia đình sống và phấn đấu, bà Nguyễn Bùi thị Mùi là một dược sĩ có tiếng tại Montreal, Quebec, giúp đỡ cho rất nhiều đồng hương trong thời gian covid.
Bà luôn dậy con gái “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, cô tìm lại được thuyền trưởng của tàu Trường Xuân năm xưa là ông Phạm Ngọc Lũy, đã đến mừng sinh nhật thượng thọ thứ 95 của ông,
Cô gái Trường Xuân năm nào, tưởng đã không thể nào sống nổi, nay thành công rực rỡ trong ngành thiết kế thời trang, cô ra trường ngành thiết kế thời trang ở NewYork, được nhiều giải thưởng danh giá.
Xin gửi lời cảm ơn trân trọng đến đạo diễn Robbie Hart, đến anh cố vấn Khoa Phạm đã tìm lại nhân chứng sống bà Nguyễn Bùi thị Mùi của tàu Trường Xuân sau 51 năm để cùng ngồi lại nơi đây, ôn lại câu chuyện lịch sử, không thể nào quên; câu chuyện của bà là một trong hàng ngàn những câu chuyện hy hữu của những người vượt biển sống sót, may mắn đến bến bờ tự do, sống, làm việc và thành công, như một tấm gương sáng cho thế hệ tương lai.
Chúng tôi ra về với dư âm của chiếc tàu Trường Xuân còn vương vấn, dáng bé nhỏ mảnh khảnh của bà Nguyễn Bùi thị Mùi, với nụ cười ấm áp, ánh mắt chứa chan niềm thân thiện, bà đã sống và cống hiến hơn nửa cuộc đời từ cái mốc 30/4 đến nay cho ngành thuốc, giúp tư vấn cho người bệnh, chích, bán và nhiều khi biếu thuốc cho những hoàn cảnh khó khăn, bà đúng với câu « lương y như từ mẫu », bà tâm sự riêng với tôi :
– “Mình thật may mắn đã được Canada giang tay đón nhận, thì mình phải sống sao cho xứng đáng, trả ơn cho đất nước đã cưu mang và góp phần xây dựng cho tương lai của thế hệ trẻ sau này.”
Tại ai mà mỗi tháng tư, tâm tư của hơn 1,5 triệu người sống xa quê hương có cùng một tâm trạng:
Tháng Tư về, gió chạm hư vô
Ký ức cũ rơi rụng không bờ
Người ở lại quen dần im lặng
Kẻ ra đi mang nặng giấc mơ
Một dòng sông chia hai bờ nhớ
Nửa quê hương trôi dạt phương nào
Hơn nửa thế kỷ rồi vẫn hỏi
Mất gì đây… mà đau đến nao lòng.
Sỏi Ngọc
Montreal 4/4/2026
*
THÁNG TÁM, THÁNG TƯ
Vốn rằng ghi rõ tự Thiên Thư
Cộng sản gian tà từ…”dịch Thu.”
“Cải Cách” lừa bần nông, đấu tố,
“Nhân Văn” phỉnh kẻ sĩ, giam tù.
Rồi đây, nổi giận, dân băm nát
Sắp tới, phân minh, Trời nghiến nhừ
Hậu quả khôn lường đang dần đến
Chúng bây sẽ trả nợ…công, tư.
Bảo Trâm
Chú thích:
“Dich Thu”: Cách mạng tháng tám” năm 1945 của lũ cướp cộng sản.
“Cải Cách”: Cải cách ruộng đất” của Công sản Bắc Việt, từ 1953 đến 1956 , giết hàng chục ngàn nông dân ở miền Bắc.
“Nhăn Văn”: Cộng sản bày ra vụ “Nhân Văn Giai Phẩm” từ 1955-1959, để giết và giam tù, bó đói hằng trăm Văn Nghệ sĩ ở Miền Bắc.
==
CHÙMTHƠ NHƯ THU
THÁNG TƯ MÃI NHỚ
Tháng tư nặng mối ưu hoài
Làng xưa biền biệt đắng cay nỗi lòng!
Phương trời xứ lạ thầm mong
Tàn canh thức trắng chờ trông mỏi mòn
*
Tháng tư giữ dạ sắt son
Đêm dài dỗ giấc trăng tròn xót xa
Vì đâu mãi nhớ thương nhà?
Người ơi gắng đợi cùng ta trở về!
*
Tháng tư nghĩa xóm tình quê
Chân thành đối đãi vẹn bề giúp nhau
Chiều qua gặp gỡ vui chào
Cười tươi hớn hở xôn xao chuyện trò
*
Tháng tư ấp ủ buồn lo
Yêu bầy trẻ dại nằm co dọc đường
Màn trời chiếu đất cảm thương
Bao người khốn khổ muôn phương vội vàng
*
Tháng tư mộng ước hoài mang
Trời Nam, biển Bắc tỏa lan đượm tình
Mây chào rạng ánh bình minh
Sau này hứa hẹn đăng trình chẳng lơi!
*
Tháng tư ngỡ tựa đang mời
Buồm giăng bến gọi chửa ngơi bao giờ
Sum vầy thỏa lắm niềm mơ
Nắng hồng giục giã đôi bờ kết giao.
Như Thu
04/18/2026
**
QUÊ HƯƠNG DẤU YÊU!
Từng nghe nước Việt sẽ dâng Tầu
Có phải quan thầy giấu nhẹm lâu?
Phương Bắc xe vào tim hụt hẫng
Miền Nam giặc đến kẻ u sầu!
Dân hờn bấy nỗi đành im tiếng
Ruột thắt bao lần lại đẫm châu
Ướm hỏi người ơi nhờ tỏ thật…
Vì sao sự thể quá cơ cầu?
Như Thu
04/21/2026
**
THÁNG TƯ ƠI!
Lại tháng tư đen sắp trở về
Bao trùm phố thị cả làng quê!
Mậu Thân súng nổ rền muôn hướng
Bính Ngọ lời than trỗi tứ bề
Non nước căm hờn luôn mải giận
Dân tình bực tức chẳng còn mê
Vùng lên tranh đấu nào suy nghĩ
Nhất dạ đồng tâm giữ vẹn thề!
Như Thu
04/21/2026
==
CHÙM THƠ VĂN THÁNG TƯ – DONRY NGUYỄN
*
CHO NHỮNG NGƯỜI NẰM XUỐNG VÀ NHỮNG NGƯỜI CÒN LẠI
Tháng tư, từ giã mùa chinh chiến. Ta về, đi giữa bóng hoàng hôn… Tay mẹ gầy còm ôm ta khóc, Cạnh đám em thơ nghẹn tủi hờn.
*
Bạn ta nhiều đứa không về nữa, Đem máu xương mình hiến núi sông. Để người sương phụ chia dòng lệ Nửa chịu tang cha, nửa khóc chồng.
*
Rượu không đủ uống ngày thua trận Ta ngước cười khan với đất trời, Trời đã không dung người thất thế, Sá gì thù vặt ngọn đòn roi.
*
Năm xưa vào lính mình ta tiễn, Nay bước lao tù cũng một thân. Mẹ đã tảo tần nuôi ta lớn, Nay còn đội gạo mà thăm con.
*
May lúc lên đường chưa cưới vợ, Nên chẳng dùng dằng vướng nợ ai. Nếu không cũng xót thời son trẻ, Vì chồng nhan sắc em tàn phai.
*
Trong tù ta có thêm bầu bạn, Sáng chiều chia nửa củ khoai lang Ngoài kia hợp tác toàn dân đói, Xã nghĩa thiên đường ráng tiến lên.
*
Trong tù ta sống lòng thanh thản Gánh rổ khoai mì đi rong chơi. Cuốc đất đau lưng mà trí nhẹ Không thành công, ta cũng thành người.
• Nửa đêm tiếng hát từ song sắt, Cao vút ngân lên đụng đỉnh trời. Nhìn gã cai tù đang cúi mặt Ta biết cuối cùng … ai thắng ai!
-Trại tù A30-1977. Donry Nguyễn
**
TRẢ LỜI CÂU HỎI CỦA EM.
“Ta làm chiến binh Sống không bằng chết, Được mất gì mà vỗ ngực xưng tên!”*
• Người hỏi tôi là lính hay quan, Hỏi chi thân thế lúc suy tàn. Mang danh phận lính không tròn phận, Há dám xưng hùng nhận chức quan.
*
Giữ nước sa cơ đành bỏ nước Coi nhà thất thế phải tòng vong. Cho dẫu chỉ là anh lính nhỏ, Lẽ nào trách nhiệm chẳng lo chung.
*
Ngày nay trên bước đường lưu lạc, Món nợ tang bồng lụy áo cơm. Tha phương chén rượu sầu ngơ ngác, Ai chẳng mộng ngày … quy cố hương.
*
Em đừng trách móc sao lần lữa, Chưa về thăm lại mẹ già nua. Lòng riêng ngui ngút niềm thương nhớ Nhỏ lệ âm thầm giữa gác khuya.
*
Ra đi từ bữa hờn sông núi, Lời thề ghi khắc trái tim côi. Mai sẽ trùng tu ngày hội lớn Dựng mái nhà xưa phụng dưỡng người.
*
Nửa thế kỷ qua ngùi đau xót, Bạc màu áo cũ vẫn chờ mong. Lỡ mai tôi chết không về kịp … Chắc gởi tro tàn xuống biển đông.
*
Món nợ ân tình chưa báo đáp Đối mặt quê hương nghĩ thẹn lòng.
-Donry Nguyễn-
* (Trích bài hành Tự Chuốc Rượu của người lính Lôi Hổ Hoàng Hoa Thương)
*
NHỮNG NGƯỜI LÍNH BỊ BỎ LẠI PHÍA SAU.
–Tưởng nhớ Tr/u Liễu Tông Trung cùng đồng đội đã nằm lại rừng núi Kon Tum, tháng ba 1975.
• Bạn tôi là HSQ Tiếp liệu ĐĐ1/TĐ95/LĐ22/BĐQ. hậu cứ đóng tại trại B12, đối diện trại B15 của lực lượng Lôi Hổ, nằm ở phía nam cầu Dakbla thị xã Kon-Tum.
Sau đây là những gì anh ấy kể lại:
Ngày 14/3/1975 anh theo xe tiếp tế lương thực cho đại đội đang đóng ở Đồi Ba Chấm, vị trí này là nơi đơn vị anh lui lại sau khi tản hàng phải rời bỏ căn cứ Kon Sơn Lũ cách đó vài cây số vào năm ngoái.
Lần này anh mang theo cả ba lô súng đạn để tham dự hành quân mặc dù nhiệm vụ của hạ sĩ quan tiếp liệu là ở hậu cứ lo việc quân lương. Lý do: lè phè, ham chơi, đến giờ tiếp tế, tiểu đoàn phải cho người ra phố gọi về.
Sau khi nhận lương thực xong, đại đội được lệnh tiến sâu vào rừng, anh cũng mang súng lầm lũi bước theo. Đi được vài chục thước thì bỗng nhiên vị trung úy Trung đội trưởng ngoắc tay bảo anh:
-Thôi về đi, cảnh cáo lần này, nhớ không tái phạm nghe chưa.
Mừng rỡ bạn tôi chỉ kịp đưa tay chào ông rổi vội vã chạy ngược lại để đuổi kịp chiếc GMC đang lăn bánh. Về tới trại B12 buổi chiều thì tối đó, toàn bộ hậu cứ được lệnh tiêu hủy vũ khí nặng và tất cả giấy tờ tài liệu để gọn gàng lên xe di tản. Nghe lệnh anh bàng hoàng xúc động, nghĩ đến những bạn bè chiến hữu giờ này đang tiến sâu vào rừng, không hay biết gì cả khiến anh chết lặng trong lòng. Hồi trưa nếu đại đội trưởng không cho về thì giờ này anh cũng chung số phận với mọi người rồi.
Suốt đường lui binh, không khi nào anh không nghĩ đến những người bạn cùng đơn vị giờ đây đơn độc giữa rừng sâu trong vòng vây của địch. Nỗi buồn và niềm chua xót nghẹn ứ trong trái tim người lính bất lực trước sự phũ phàng tàn nhẫn của chiến tranh.
Đoàn xe di tản của anh đi đầu, giữ được yếu tố bất ngờ nên không bị tấn công như khúc sau, đến bến đò Thạnh Hội xe lội qua sông Ba nhờ dòng nước lúc này chưa dâng cao. Nhưng khi cách Tuy Hòa khoảng 10 cây số, một quả đạn pháo kích nổ sát sườn xe làm người lính tên Tân là phụ tá tiếp liệu cho anh đứt ngang cổ họng, chết liền tại chỗ. Anh chỉ kịp ngoái lại nhìn xác nó loang máu nằm gục bên vệ đường nói lời vĩnh biệt rồi tiếp tục lao đi. Anh về tới nhà an toàn, ở lại Tuy Hòa mấy hôm chờ đợi tin tức đơn vị nhưng không gặp lại ai, cũng không biết đích xác đại đội của anh thế nào. Sau đó cùng gia đình theo đoàn xe xuôi Nam, đến Nha Trang, nghe ngóng tình hình, thấy tin tức chiến sự hoàn toàn bất lợi, cha mẹ anh quyết định trở về và cho phép anh theo đơn vị. Không thể bỏ cha già mẹ yếu với đám em thơ giữa cuộc ly loạn, anh ở lại Nha Trang cùng gia đình chờ yên ổn trở lại Tuy Hòa.
Lúc ra trình diện ủy ban quân quản thành phố, tình cờ gặp lại một đồng đội cũ. Vui mừng hai người kéo nhau ra một góc vắng thăm hỏi. Người bạn cho biết vắn tắt: đại đội đã chiến đấu cho tới viên đạn và bịch gạo sấy cuối cùng. Không nhận được tiếp tế, cũng không thể liên lạc về bộ chỉ huy nên tự giải tán, mạnh ai nấy tìm đường thoát hiểm, thành ra không ai biết ai thế nào. Nghe xong bạn tôi thở dài nuốt nước mắt vào lòng. Tiếc thương đồng đội cũ trong đó có Tr/u Liễu Tông Trung, đại đội trưởng của anh, là một sĩ quan can trường, tốt nghiệp Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, ông đã cống hiến tuổi trẻ và tâm huyết của mình cho đất nước, cuối cùng đã bị bỏ rơi giữa núi rừng Kon-Tum khi gần tàn cuộc chiến.
Từ đó đến nay tôi vẫn thường hỏi thăm nhiều nơi, gặp nhiều chiến binh Biệt Động để ngóng tin tức giùm bạn tôi mà không ai biết. Duy chỉ một lần tình cờ gặp Đ/u Nguyễn Văn Hồng, người cùng khóa Sĩ Quan Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt với Tr/u Liễu Tông Trung, anh cũng thừa nhận là sau tháng tư 75, được anh em cùng khóa báo cho biết là Liễu Tông Trung mất tích…
Hôm nay nhân mùa Quốc biến, thay mặt bạn mình tôi viết bài thơ tưởng nhớ đến ông và tất cả các chiến sĩ BĐQ đã nằm xuống trên khắp đất nước để bảo vệ Miền Nam Tự Do.
BÀI CA ĐỒI BA CHẤM
Lệnh di tản ban hành trong đêm lạnh, Ta bàng hoàng khi nhận được hung tin. Đại đội ta đóng quân đồi Ba Chấm Mới ban trưa này còn được lệnh hành quân.
Giờ bỗng chốc chẳng khác gì ác mộng, Họ trở thành chốt chặn ngựa qua sông. Ta vơ vội áo quần, ôm cây súng, Giờ ra đi nghe muối xát vào lòng.
Người ở lại âm thầm ngăn bước giặc, Người lên đường lặng lẽ rút nhau đi. Thương đồng đội ta cũng đành bất lực, Bí mật quân cơ đâu thể nói năng gì.
Trời cao nguyên đêm nay buồn ảm đạm, Cơn gió nào thổi vọng đến đồi cao. Nơi bạn ta vẫn tay ghìm họng súng, Giữa rừng khuya cố thủ dưới thông hào.
Thẩm quyền ta, người sĩ quan Võ Bị, Cái ngoắc tay cho ta sống trở về. Nhưng chính ông lại lọt vào tuyệt lộ, Thế trận tàn Hùm dữ cũng sa cơ.
Đường lui binh nhiều lần ta bật khóc, Ôi đâu rồi khí phách một đoàn quân. Đánh trăm trận khiến quân thù tan tác, Giữ non sông từng tấc đất tấc vàng.
Nay chạy trốn để mong cầu sự sống, Lòng ta đau tan nát tựa dao đâm. Giặc pháo theo bạn ta vừa ngã xuống, Máu loang hồng theo vết bánh xe lăn.
Về duyên hải chờ lâu tin không thấy, Lại lên đường tiếp tục tiến về Nam. Gặp đồng đội sụt sùi nghe kể lại: Lính bọn mình đã chiến đấu hiên ngang.
Giây phút cuối không còn quân tiếp viện, Đạn vơi dần, gạo sấy chỉ cầm hơi. Tiếng súng giặc bao trùm lên trận tuyến, Sóng truyền tin không nghe tiếng trả lời.
Tự tan hàng khi thế cùng lực kiệt, Xé đường rừng tìm lối thoát mưu sinh. Người thương tích chờ quân thù bắn giết, Người ngậm ngùi mang thân phận tù binh.
Ta từ giã chiến tranh từ thuở ấy, Mà vết thương còn nhức nhối trong tim. Nửa thế kỷ, ta thấy mình còn nợ, Những anh em ở lại phút sau cùng.
Ai ra lệnh phũ phàng đem con bỏ? Ai chọn đường hoang phế để lui quân? Nửa thế kỷ nỗi buồn đau còn đó, Người vọng phu hóa đá đứng trông chồng…
Ta may mắn xác thân còn nguyên vẹn, Nhưng tâm hồn vĩnh viễn gởi rừng sâu, Nơi bạn ta đã âm thầm ngã xuống, Máu xương đem phân bón cỏ xanh màu.
-Donry Nguyễn- California April 15,2026.
==
GÁNH QUÊ, Trần Chương Lương viết nhạc theo thơ Ý NGA, do ca sĩ Hồng Nhiên trình bày:
==
THƠ NHẠC 30 THÁNG TƯ – CHƯƠNG HÀ & SUNO AI
==
Tháng Tư Dòng Nước Lũ Của Ký Ức – LÊ TUẤN
Tháng Tư trở về không còn là tên của một tháng, mà là một vết cắt hằn sâu trong thân phận. Tháng Tư của một thời đã xa, vừa ập tới như cơn hồng thủy hỗn mang, cuốn phăng mọi trật tự vốn dĩ của đời người.
Không một lời báo trước, không kịp chuẩn bị, chỉ còn hoảng loạn và chia lìa.
Gia đình tan tác. Bè bạn lạc nhau. Quê hương bỏ lại. Tất cả như một đàn chim đang yên ổn giữa trời bỗng bị giông bão xé tung, mỗi con bay về một hướng, không biết có còn ngày gặp lại. Trong cơn cuồng phong ấy, mỗi con người chỉ còn là một hạt bụi nhỏ nhoi, như chiếc lá cuốn theo dòng nước, bị đẩy trôi mà không thể cưỡng lại.
Mọi thứ diễn ra quá nhanh. Những quyết định không còn là lựa chọn, mà chỉ là phản xạ sinh tồn. Giữa trăm mối hỗn độn, người ta chỉ còn biết chạy, chạy trốn khỏi đổ vỡ, chạy về phía một miền đất tự do, dù biết rắng nó rất mơ hồ. Có những điều, khi xảy ra, ta tưởng là bất khả kháng. Nhưng thời gian không xóa đi, nó chỉ làm rõ hơn những khoảng trống trong lòng.
Khi mọi thứ lắng xuống, khi đời sống dần tìm lại nhịp thở, thì ký ức lại dâng lên như một cơn sóng khác, âm thầm mà dữ dội.
Tôi đã không kịp đến. Không một nén hương. Không một lời giã biệt.
Nỗi oan ấy ở lại, không ồn ào, nhưng dai dẳng. Không trách móc, mà lặng lẽ khắc sâu, khiến lòng người không thể nguôi quên. Tháng Tư, vì thế, không chỉ là tháng của biến động. Nó là tháng của những điều chưa kịp làm. Của những lời chưa kịp nói. Và của những cuộc chia ly không có lần sau để sửa lại.
Le Tuan
==
TẠ LỖI
Hãy tha thứ cho anh Giữa chuyển dời nghiêng ngả Bước chân đi vội vã Lạc mất lối quay về.
*
Hãy tha thứ cho anh Một lần buông rơi tất cả Không một lời tiễn biệt Cuối Tháng Tư não nề.
*
Hãy tha thứ cho anh Ngôi mộ buồn lặng lẽ Không khói hương sớm chiều Không một nén phân ưu.
*
Hãy tha thứ cho anh Những tháng năm xa xứ Mỗi lần nhớ đến em Là một lần ray rứt.
*
Hãy tha thứ cho anh Nếu tình còn mắc nợ Xin gửi về quê hương Một giọt buồn quốc hận.
Tế Luân
THƠ NHẠC KHÚC CẦU HỒN – TẾ LUÂN
==
Tháng Tư
Khúc Tưởng Niệm Sài Gòn 30.4.1975 – TẾ LUÂN
Tháng Tư trở về, không ồn ào, không gọi tên, mà lặng lẽ len vào ký ức như một làn sương mỏng. Có những khoảnh khắc của đời người, tưởng đã trôi qua, nhưng thực ra chỉ đang ẩn mình đâu đó, chờ một ngày thức dậy trong nỗi nhớ. Ngày 30 tháng 4 năm 1975, ngày Sài Gòn đổi thay, là một khoảnh khắc như thế: vừa hữu hạn trong thời gian, vừa vô hạn trong lòng người.
Trong cõi vô thường, thời gian như cất lên một tiếng gọi đau thương từ tháng Tư. Tiếng gọi ấy không chỉ vang lên từ ký ức con người, mà còn dội về từ đại ngàn xanh thẫm, từ bầu trời tím ngắt cuối ngày, từ những con đường Sài Gòn xưa cũ. Những chiếc lá trong thành phố dường như cũng cảm nhận được điều gì đó, húng vàng đi sớm hơn thường lệ, chen lẫn vào những chiếc lá đỏ, tạo thành một bức tranh chao nghiêng, ảm đạm của những ngày cuối tháng Tư.
Đất trời như chuyển mình trong một khúc giao hưởng kỳ lạ. Biển xanh không còn hiền hòa, mà dâng lên những cơn sóng giông bão, gào thét vào bờ cát phơi lưng, như muốn kể lại những biến động của một thời khắc lịch sử, của câu truyện thương tâm từ những thuyền nhân. Đó không chỉ là âm thanh của chiến tranh, mà còn là tiếng lòng của một dân tộc, của Mẹ Việt Nam, vừa đau thương, vừa kiên cường, vừa chịu đựng, vừa bao dung.
Và giữa những biến động ấy, vẫn còn đó hương thơm của ruộng đồng, mùi lúa mới lan tỏa như một lời nhắc nhở rằng sự sống vẫn tiếp diễn. Từ bùn đất, từ mồ hôi, từ nước mắt, con người vẫn đứng dậy, vẫn gieo trồng, vẫn hy vọng. Một bài ca dao âm thầm cất lên, không phải để ca ngợi chiến thắng hay thất bại, mà để chiêm nghiệm về một cuộc đổi dời kỳ lạ của vận mệnh.
Năm mươi mốt năm đã trôi qua. Tháng Tư hôm nay không còn khói lửa, nhưng dư âm của nó vẫn còn đó, âm ỉ, sâu lắng, như một dòng chảy ngầm trong tâm thức mỗi người Việt. Nỗi đau không biến mất, mà chỉ lặng lẽ chuyển hóa, trú ngụ trong ký ức, trong những câu chuyện chưa kể hết, trong những giọt nước mắt không rơi thành lời.
Tháng Tư không chỉ là một mốc thời gian. Đó là một miền ký ức. Một vết hằn của lịch sử. Một lời nhắc nhở về sự mong manh của phận người và sự khắc nghiệt của thời cuộc. Nhưng trên tất cả, đó cũng là lời mời gọi con người biết nhìn lại, biết lắng nghe, và biết cảm thông,
để từ đó, học cách sống sâu hơn, bao dung hơn, và gìn giữ hòa bình như một điều quý giá nhất. Tháng Tư vẫn còn đó. Không mất đi. Không phai nhạt. Chỉ là… đã đi vào lòng người.
Tháng Tư Bài Thơ Còn Lại
Tháng Tư về không gọi tên nỗi nhớ Chỉ gió buồn lặng lẽ bước qua tim Sài Gòn đó, một thời như giấc mộng Vỡ âm thầm như lá rụng im lìm.
Có phải trời hôm ấy nhuộm màu tím Màu ly biệt, hoàng hôn về rất lạ Những con phố bỗng dưng thành xa lạ Người đi rồi… không hẹn một ngày về.
Màu cờ đỏ, mưa rơi như dòng máu Lũ giặc tràn vào, tiếng thét thất thanh Thành phố đêm bỗng rùng mình chết lặng Vạn nỗi đau không cất nổi thành lời.
Biển vẫn xanh mà giông bão không nguôi Sóng gào thét như linh hồn đất nước Khúc giao hưởng của một thời xuôi ngược Viết bằng đời, bằng nước mắt Mẹ thôi.
Từ đại ngàn xanh thẳm đến ruộng đồng Hương lúa mới vẫn âm thầm lan tỏa Giữa đổ nát vẫn nhen lên mầm sống Một câu ca dao, âm hưởng Mẹ hiền.
Năm mươi mốt năm… tháng Tư còn đó Không mất đi, chỉ chìm vào ký ức Để đôi lúc trong đêm dài thao thức Nỗi đau xưa trở lại rất con người.
Tháng Tư ơi, khơi lại những cội nguồn Hãy ở lại như một lời nhắc nhở Rằng lịch sử không bao giờ khép cửa Và lòng người còn mãi những chia ly.
Tế Luân
==
THƠ THÁNG TƯ XƯỚNG HỌA – CAO MỴ NHÂN VÀ THI HỮU
THÁNG TƯ TƠI TẢ. CAO MỴ NHÂN (Bài Xướng) – Kính mời quý thi nhân chấp bút họa bài thơ thú vị này của Nữ Sĩ Cao Mỵ Nhân
THÁNG TƯ HẬN, THÁNG TƯ ĐAU – YÊN SƠN (Viết cho mình, viết giùm cho người)
Tháng Tư lại về. Không cần ai nhắc, không cần một dấu hiệu rõ ràng nào, chỉ cần những dư âm Tết nơi xứ người bắt đầu phai nhạt, hay một buổi chiều xuân nhạt nắng rơi xuống sân vườn cô tịch là lòng tôi đã chùng xuống. Nhớ về… Có những tháng trôi qua như một con số. Có những tháng đi qua như một thói quen. Nhưng cũng có những tháng không bao giờ rời khỏi đời người. Đó là Tháng Tư. Tháng Tư, đối với tôi, không phải là ngày tháng bình thường của thời gian. Nó là một dấu mốc thời gian in hằn trong tâm khảm, là một nỗi đau, một vết cứa sâu trong tâm hồn, một nơi mà ký ức dừng lại, xoáy xuống, rồi lan ra, phủ kín cả tâm can. Có những nỗi đau không có âm thanh, không có tiếng khóc. Không thường có những lời than vãn. Nó nằm im, rất sâu, rất lâu, như một mảnh kim loại nhỏ găm trong da thịt. Mảnh kim loại không đủ nguy hại có thể chết người, nhưng đủ để nhói lên mỗi khi cử động. Và Tháng Tư chính là lúc mảnh kim loại ấy trở mình. Đêm hai mươi chín tháng Tư năm ấy, tôi vẫn còn là một người lính. Không phải hình ảnh một người lính trong sách vở, với chiến tuyến rõ ràng và mệnh lệnh rành rọt, mà là một con người đứng giữa một thực tại đang rạn vỡ. Ở phía tây Sài Gòn, quanh vòng đai phi trường Tân Sơn Nhứt… chúng tôi còn chiến đấu. Chiến đấu không phải vì hy vọng chiến thắng, mà vì không thể buông. Không thể đầu hàng. Có những thứ, một khi đã thấm vào máu như danh dự, trách nhiệm, lời thề… thì không dễ gì đặt xuống, không thể buông bỏ, ngay cả khi biết rằng tất cả đang trượt khỏi tầm tay. Chiến tranh trong những giờ phút cuối không còn là chiến tranh theo nghĩa quen thuộc. Nó không còn là một ván cờ. Nó trở thành một cơn sóng lớn. Và chúng tôi là những con người đứng trước làn sóng hung bạo ấy, cố giữ thăng bằng trên những mảnh vỡ còn sót lại. Tiếng súng vẫn nổ. Nhưng không còn nhịp điệu của chiến thuật. Nó dồn dập như nhịp tim của một cơ thể kiệt sức. Mỗi phát súng không còn nhắm đến chiến thắng, mà như một cách níu giữ một hy vọng mong manh dù biết hy vọng ấy gần như không còn. Nhưng cũng không thể bắn bừa. Đạn dược đã cạn. Mỗi viên đạn được đếm như giọt máu cuối cùng. Trong khi đó, đối phương được che chở bởi những tầng phòng không dày đặc. Chúng tôi chiến đấu trong thiếu thốn, trong bị động, trong một thế trận mà phần thua đã hiện rõ. Người Mỹ đã quay lưng. Người Mỹ đã bỏ rơi chúng tôi, bỏ rơi cái tiền đồn mà họ đã từng dùng chúng tôi để ngăn cản sự thống trị của triết thuyết Cộng Sản. Nhưng chúng tôi vẫn phải chiến đấu để bảo vệ nền tự do dân chủ cho người dân chúng tôi, cho đất nước chúng tôi. Anh em vẫn thay nhau bay. Bay trong những điều kiện khắc nghiệt, bay như những võ sĩ bị trói tay chân, ném lên võ đài trước một địch thủ hung tàn. Người này hết giờ, người khác lên. Không ai nói nhưng ai cũng hiểu… chúng tôi đang ở trong một hoàn cảnh vô vọng. Còn nỗi bi thương nào hơn thế không? Tôi còn nhớ những ánh mắt đêm ấy. Không ai nói với ai một lời gì ngoài những thao tác quen thuộc, ngôn ngữ chiến trận quen thuộc. Những ánh mắt gặp nhau giữa ánh chớp và bóng tối chỉ để xác nhận một điều, chúng tôi vẫn còn có nhau như đã từng mỗi khi xông vào lửa đạn, đánh cược với tử sinh. Và cũng không ai nói với ai đó là đêm cuối. Nhưng ai cũng cảm thấy sự bất lực qua từng viên đạn bắn ra. Nhưng ai cũng biết một điều gì đó đang đến hồi kết thúc. Không phải chỉ là một trận đánh mà là cả một thời đại. Viết đến đây, mắt tôi lại nhòe đi. Tôi đứng dậy, bước ra sau vườn, châm một điếu thuốc. Gió thổi qua hàng chuông gió, những tiếng leng keng như tiếng gọi từ một cõi nào xa lắm. Tôi hít sâu. Thở mạnh. Rồi quay vào, tiếp tục viết. Chuyến bay khuya hôm đó… sau khi bàn giao vùng trách nhiệm, tôi trở về cư xá. Hai đứa học trò nhỏ tôi mang về từ trưa hôm trước vẫn còn thức. Hai đứa, như tôi vẫn nói đùa, “trói gà không chặt”. Chúng tôi vừa nằm xuống thì nghe pháo kích dữ dội vào phi trường. Rồi một tiếng rít xé tai – hoả tiễn 122 ly. Nhưng… không nghe tiếng nổ. Cho đến sáng hôm sau, mọi người trong cư xá mới biết là đã thoát chết giữa đêm qua khi nhìn thấy phần đuôi của chiếc hoả tiễn đang cắm sâu vào lòng đất bên cạnh cư xá độc thân. Buổi sáng hôm ấy đã không phải là một buổi sáng bình thường, khi thấy chiếc Tinh Long 7 của phi đoàn tôi bị bắn rơi ngoài vòng đai phi trường, trước nhưng đôi mắt hoảng loạn của anh em. Đó là giọt nước làm tràn ly, không ai nói với ai lời nào, mỗi người chạy đi một ngả. Tôi cùng hai chú em đèo nhau lên chiếc Lambretite, chạy khắp các bãi đậu tìm phi cơ thoát thân. Nhưng những chiếc còn bay được đã bay đi đâu hết. Đang đứng ngơ ngác thì được một niên trưởng kéo tôi chạy theo đến một chiếc C-130 không còn nguyên vẹn, để làm phận sự phi công phụ. Chiếc phi cơ cất cánh từ cuối đường băng. Không đủ tốc độ. Không đủ điều kiện. Nhưng vẫn phải bốc mình lên nhờ vào bốn động cơ bán phản lực. Chiếc máy bay gượng lên, nhắm hướng Vũng Tàu rồi… trực chỉ Utapao, Thái Lan mang theo 115 con người không biết họ đã lên bằng cách nào. Chiều hôm đó, 29 tháng 4 năm 1975, tôi và một số anh em trong phi hành đoàn đã sững sờ rơi nước mắt khi thấy một đội ngũ quân nhân người Mỹ bắc thang lên thân máy bay sơn bỏ huy hiệu Không Quân VNCH, sau khi mọi người bị tước khí giới trước khi bước ra khỏi thân phi cơ. là tôi đã buộc phải rời khỏi đất nước trong bàng hoàng, trong vô thức, không kịp biết được tin cha mẹ anh chị em đã bị thất lạc phương nào mấy tháng qua trong chiến tranh. Không kịp báo tin với người vợ sắp cưới chỉ ở cách phi trường khoảng 6 cây số! Và cứ thế, bị đưa đẩy dọc theo hành trình trở lại đất nước nầy với thân phận vô gia đình, vô tổ quốc. Mãi đến vài năm sau mới liên lạc lại được! Cho đến bây giờ, sau hơn nửa thế kỷ, cái “không kịp” ấy vẫn còn nguyên vẹn trong tôi, như một khoảng trống không bao giờ có thể lấp đầy. Không kịp nhìn cha mẹ lần cuối. Không kịp nói một lời từ biệt với bất cứ người thân yêu nào. Không kịp khép lại một cánh cửa đời quân ngũ theo cách mà một con người lính bình thường đáng được có. Có những cuộc chia ly không có lời từ biệt, và chính vì thế, chúng không bao giờ kết thúc. Tôi ra đi trong một trạng thái không hoàn toàn tỉnh táo. Không phải chỉ hoảng loạn mà là tê điếng. Mọi thứ diễn ra quá sức nhanh, quá sức bất ngờ, con người tôi không còn cảm xúc rõ ràng. Chỉ còn hành động. Chỉ còn bản năng. Tôi ra đi, như một người bị đẩy ra khỏi chính cuộc đời mình trong khi trong lòng vẫn còn một niềm tin rất mong manh rằng đây chỉ là tạm thời. Rằng rồi sẽ có ngày trở lại. Rằng quê hương không thể biến mất chỉ qua một đêm. Rằng những gì đã xây dựng, đã sống, đã yêu, không thể bị xóa đi dễ dàng như vậy. Có nhiều lần tôi nghĩ, sự ra đi bất chợt của tôi sẽ không nhiều hối tiếc, nhiều đớn đau nếu dân tộc tôi được tự do hạnh phúc hơn, đất nước tôi trở nên thanh bình, vươn lên oai nghi, dũng mãnh như con rồng, con hổ. Nhưng rất tiếc! Rất tiếc! Thời gian, bằng sự im lặng kéo dài của nó, đã dần dần dạy tôi hiểu. Không có ngày trở lại như tôi từng mong đợi. Không phải vì không muốn, mà vì con đường đã khép lại từ lúc Việt cộng xâm chiếm miền Nam; chúng đã và đang gây ra bao nhiêu đau thương cho nòi giống, cho mảnh giang sơn gấm vóc của ông bà, tiên tổ. Mất quê hương không phải là một biến cố xảy ra trong một ngày. Nó là một quá trình. Ban đầu là sự bàng hoàng. Sau đó là niềm hy vọng. Rồi niềm hy vọng mỏng dần đi theo ngày tháng. Và cuối cùng là một sự chấp nhận trong im lặng. Không phải chấp nhận vì đồng ý mà vì dường như không còn cách nào khác. Những năm đầu nơi quê hương thứ hai nầy, mọi thứ đều xa lạ. Ngôn ngữ, phong tục, con người, đời sống. Tôi đã học tái sinh trước khi học cách tồn tại. Học cách hiểu người khác, trước khi có thể nói cho người khác hiểu mình. Học cách đứng vững trên chính đôi chân mình khi trong thâm tâm vẫn không ngớt đợi chờ một phép lạ, một ánh sáng nhỏ nhoi ở cuối đường hầm. Người ta có thể quen với nhiều thứ. Quen với thời tiết khác, quen với nhiều món ăn lạ, quen với nhịp sống của một dân tộc khác. Nhưng có một thứ không thể làm quen đó là tình tự quê hương đã mất. Quê hương không chỉ là nơi mình sinh ra. Nó là nơi mà mọi thứ đều có ý nghĩa mà không cần rao giảng. Một con đường, một góc phố, một tiếng rao, một mùi hương… tất cả đều mang theo một phần đời. Khi mất đi, không chỉ là mất một nơi chốn, mà là mất cả một hệ ký ức, một cấu trúc của đời sống con người. Có những buổi sáng, tôi tỉnh dậy và trong một khoảnh khắc rất ngắn, tôi quên mất mình đang ở đâu. Trong khoảnh khắc đó, tôi vẫn là con người của ngày xưa, sống trong một thành phố quen thuộc, những đường bay dọc ngang trên bầu trời miền Nam nước Việt mà tôi đã thuộc lòng. Nhưng rồi thực tại trở về, không ồn ào, nhưng dứt khoát, như một bàn tay ai đó đặt nhẹ nhàng lên vai, nhắc tôi rằng tất cả đã trở thành dĩ vãng. Có nhiều lúc tôi thảng thốt nghĩ rằng: Sợ một mai thân nằm yên lòng đất Hồn lẻ loi tìm không thấy quê nhà Năm mươi mốt năm trôi qua. Một đời người có thể chứa đựng bao nhiêu ký ức? Có thể chịu đựng bao nhiêu mất mát? Có thể giữ lại được bao nhiêu điều mà không đánh mất chính mình? Tôi đã sống. Đã làm việc. Đã xây dựng lại cuộc đời. Đã có những niềm vui, những thành tựu, những mối quan hệ xã hội rất tốt. Nhưng tất cả những điều đó, dù có thật, dù có ý nghĩa, vẫn không thể thay thế được những gì đã mất. Tôi nhớ những ngày tháng trước năm 1975. Không phải vì chúng hoàn hảo, mà vì chúng là một phần đời quan trọng của tôi. Những sáng nắng chiều mưa, những ngày lộng gió, những đường bay quen thuộc, những khung trời bao la, những sinh tử cận kề, những cuộc gặp gỡ, những câu chuyện, những ước mơ chưa kịp thành hình. Một đời sống bình thường như thế nhưng khi mất đi, tôi mới hiểu giá trị của nó sẽ không bao giờ có thể thay thế được. Ký ức, theo thời gian, không phai nhạt đi như người ta tưởng. Nó được chắt lọc. Những gì không quan trọng sẽ rơi rụng tự nhiên. Những gì còn lại sẽ trở nên rõ nét hơn, tinh khiết hơn, và vì thế, cũng đau xót hơn. Và tôi mang trong mình một nỗi hận. Nhưng không phải là một nỗi hận đơn giản. Nó không hướng về những con người bình thường. Tôi không hận người dân Mỹ mà tôi đã gặp, đã sống cùng, đã nhận được sự giúp đỡ của họ để xây dựng lại cuộc đời. Tôi hiểu rằng con người, ở đâu cũng có những điểm tương đồng giữa thiện và ác, hiểu biết và giới hạn. Nhưng tôi không thể không nghĩ đến những quyết định sai lầm của hệ thống cầm quyền chính phủ Mỹ và đồng minh, những phong trào phản chiến ngu xuẩn, những cơ quan truyền thông dối trá, lừa gạt dư luận. Những điều nầy đã góp phần làm thay đổi số phận của những quốc gia nhỏ bé, chậm tiến như Miền Nam Việt Nam của tôi. Một cuộc chiến không chỉ được quyết định bởi những gì xảy ra trên chiến trường mà nó được quyết định bởi những gì xảy ra trong lòng xã hội, qua truyền thông, trên trường chính trị. Khi một bên không còn được thế giới ủng hộ, không còn được bạn bè tin tưởng thì dù còn đầy đủ vũ khí cũng không thể giữ được, huống chi… chúng tôi đã phải chiến đấu với cả một thế lực cộng sản quốc tế hùng mạnh khi vũ khí đã bị chính những người bạn đồng minh tước bỏ đi. Nỗi hận của tôi không phải để nuôi dưỡng oán thù mà là để nhắc nhớ cho chính mình, nhắc nhở con cháu đời sau những gì đã xảy ra cho quê hương, dân tộc tôi không bị đi vào quên lãng. Sau tất cả, điều còn lại trong tôi không chỉ là nỗi đau. Mà là một ước vọng. Ước mong một ngày nào đó, được trở về trong tự do, trong danh dự. Không phải để bắt đầu lại, mà chỉ để nhìn lại. Để bước trên những con đường cũ dù chúng đã bị thay tên đổi họ một thời. Để nghe lại những âm thanh, những tiếng nói quen thuộc ở khắp mọi nơi. Để thấy lại một quê hương bừng sáng, một xã hội văn minh trong tình người. Được thật sự hãnh diện với 4 chữ Con Rồng Cháu Tiên. Ở tuổi này, tôi không còn sợ nhiều điều. Không còn sợ mất mát vì đã mất mát quá nhiều. Không còn sợ thay đổi vì đã sống qua những thay đổi to lớn mà chỉ sợ rằng mình sẽ không còn đủ thời gian. Không đủ thời gian để thấy ngày ấy. Không đủ thời gian để chứng kiến một kết thúc tốt đẹp như thế cho quê hương dân tộc mình; để biết rằng những nghiệt ngã mình đã trải qua trong đời không trở nên vô nghĩa. Sự chờ đợi nào cũng không mấy dễ dàng. Khi còn trẻ thì có dễ dàng hơn, nhưng khi thời gian không còn nhiều, mỗi ngày trôi qua đều mang theo một cảm giác bồn chồn, lo sợ. Không phải vì muốn đạt được điều gì, mà vì sợ không còn cơ hội ấy. Tháng Tư lại đến. Vẫn là những cơn mưa nhẹ buổi sáng, những đám mây trắng bềnh bồng ở buổi chiều dài, những khoảng lặng khó gọi tên… Những ghi nhận nầy không phải để làm thơ, khp6ng phải là thời tiết mà là một phần của đời sống nội tâm, một vùng ký ức mà mỗi năm, vào đúng thời điểm này, lại mở ra trong tôi. Tháng Tư hận. Tháng Tư đau. Mỗi năm vẫn cứ theo nhau trở về Nhưng nếu chỉ có hận và đau, con người đã không thể đi qua hơn nửa thế kỷ. Vì ở đâu đó, rất sâu, rất nhỏ, vẫn còn một thứ khác. Một thứ không sôi nổi lắm, không mạnh mẽ nhiều nhưng bền bỉ. Đó là niềm hy vọng. Hy vọng rằng một ngày nào đó, dù mình còn hay không, trên mảnh đất hình cong chữ S ấy, người dân sẽ được sống an bình, hạnh phúc mà không phải cúi đầu, lo sợ. Sẽ có những tiếng nói không bị bóp nghẹt. Sẽ có những giấc mơ không bị dập tắt. Và khi ngày đó đến, có thể, ở một nơi nào đó rất xa, những người đã ngậm ngùi nằm xuống sẽ mỉm cười. Dù muộn màng nhưng cũng có thể sẽ che giấu được những niềm đau, nỗi hận trong lòng của những người võ sĩ bị ném lên đấu trường sanh tử với tay chân bị trói chặt.
“Tháng Tư lại về, lòng người tị nạn lại xót xa nhớ về quê hương sau 51 năm xa xứ.”NGUYỄN ĐÌNH HÒA
Xin mời qúy vị thưởng thức vài nhạc phẩm của tôi đã viết.
Quê Hương Trong Ta.
Bóng Xưa Chiều Ấy.
Vụng Dại Những Chiều
Ns. Nguyễn Đình Hòa.
==
THƠ MỸ HOÀN
THÁNG TƯ NHỚ EM – MỸ HOÀN
Em đã về đây mỗi tháng Tư
Về quê ngồi lại giữa sương mơ
Có nghe sương rớt bờ vai cũ
Bơ vơ mộng mị chốn xa mờ
*
Để tháng Tư như dòng nước chảy
Bôn ba năm tháng nước về đâu
Ta gục xuống đôi bàn tay lạnh
Lòng nghe rơi rớt ánh tinh cầu
*
Ta nghe mãi bên bờ sông vỗ
Những lời buồn của tháng trôi qua
Lời tình như sóng dòng sông cuộn
Nước mắt nào còn mãi mưa sa
*
Em ôm trái tim nào đã lỡ
Một lời thề mộng ước mai sau
Một nụ cười như vừa nở lại
Cho ta êm ái mối tình sầu
*
Em đã về đây mỗi tháng Tư
Về đây ta kể một lời thơ
Em mặc áo dài hoa cúc nở
Cùng ta đi suốt một nẻo bờ
*
Rồi em cảm động từng cơn khóc
Vạt tóc nào đẫm lệ quê hương
Tổ tiên ta đã từng hơi thở
Dựng Sơn hà một giấc như mơ
*
Nhớ trong tâm tưởng ngày hoa gấm
Nụ môi thơm khép nép hải đường
Ta muốn mở lòng bao câu nói
Lời yêu kia còn mãi vấn vương.
Lê Mỹ Hoàn
2/2025
**
NẮNG HẠN THÁNG TƯ
Tiếng kêu tha thiết gọi đàn
Những ngày nắng hạn đâu tàn trú thân
Lòng ta như thể nắng ran
Thu Đông tan tác, Hạ hoang mang về
Nơi đây đâu phải chốn quê
Cho nên nắng hạn lê thê mỏi mòn
Khô đi những giọt máu hồng
Dần dà cạn hết giấc nồng trong tim
Đôi môi khao khát đi tìm
Tiếng kêu mòn mỏi đắm chìm nơi đâu
Quê hương mấy cuộc bể dâu
Trong ta một nỗi u sầu chưa tan
Thời gian lặng lẽ lướt nhanh
Làm thêm héo nụ cười xanh thuở nào
Ôi cơn nắng hạn lao đao
Hồn ta nứt nẻ ngày vào thángTư.
Lê Mỹ Hoàn
4/20/1990
==
ĐỢT NẮNG THÁNG TƯ
Đông vừa qua ở cuối đoạn đường
Xuân đến những ngày nắng ấm hơn
Tưởng như mùa Hạ nhưng bất chợt
Lạnh lại về cơn sốt miên man
*
Cơn sốt cao, đầu như bổ củi
Như nặng lòng đợt nắng tháng Tư
Vàng sốt bủa vây ngày trốn chạy
Qua cánh đồng nắng trải như phơi
*
Cơn sốt lên cơn mơ lại đến
Chạy vòng quanh chạy đến chân tường
Nghe mơ hồ ai đang hạch hỏi
Bao người ngồi bó gối như ta
*
Rồi tự nhiên nghe mùi muối mặn
Đang lênh đênh trên biển xuôi dòng
Chợt thét gào như cơn thịnh nộ
Biển trời đang cuộn một cơn dông
*
Ta bên nhau thì thầm cầu nguyện
Xin trời cho gió lặng sóng êm
Bỗng mở mắt dường như im lặng
Tự Do đang cười với gió Xuân.
Lê Mỹ Hoàn
3/26/2025
==
THƠ TRẦN CẨM THÀNH
Tháng Tư cảm tác
Tha hương mái tóc của ngày xanh
Năm tháng bạc màu trán vết nhăn
Canh cánh bên lòng bao nuối tiếc
Bâng khuâng tấc dạ những ăn năn
Non sông biến dạng người xa cội
Đất khách dung thân kẻ rã hàng
Nặng trĩu tâm tư đời viễn xứ
“Nỗi buồn nhược tiểu” mãi âm vang.
Trần cẩm Thành- 4/2026.
**
==
THÊM MỘT THÁNG TƯ QUA – HUY VĂN
* Ngày đến. Đêm Trôi. Ngày lại đến Thời gian lắng đọng cuối tháng Tư Tháng của thiên thu buồn lệ nến khóc cảnh miền Nam hóa ngục tù.
*
Máu ai tuôn chảy nơi góc phố?! Chốt thí làm sao chống sơn hà!? Tiếng hờn vọng mãi vào thiên cổ Một trang Hận Sử, mấy Hùng Ca?!
*
Cuối Xuân cuồng lũ dâng hồng thủy Đành buông nợ Nước, phụ tình Nhà! Sông núi điêu linh vì ngạ quỷ Bao giờ yên sóng, lắng phong ba?
*
Ngồi đây mà nhớ thời chiến quốc Một thuở bi hùng lúc dọc ngang Chớp mắt thấy sương pha màu tóc Một tiếng than ôi! Lệ ứa tràn.
*
Nửa đời chìm nổi nơi đất khách Mỗi năm thêm một tháng Tư qua Quốc thù vị báo đầu tiên bạch (*) Thế sự du du nại lão hà. HUY VĂN
* (*)THUẬT HOÀI Thế sự du du nại lão hà? Vô cùng thiên địa nhập hàm ca. Thời lai đồ điếu thành công dị, Vận khứ anh hùng ẩm hận đa. Trí chủ hữu hoài phù địa trục, Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà. Quốc thù vị báo đầu tiên bạch, Kỷ độ Long Tuyền đới nguyệt ma.
ĐẶNG DUNG
* Bản dịch của Tản Đà: Việc đời man mác, tuổi già thôi! Đất rộng trời cao chén ngậm ngùi. Gặp gỡ thời cơ may những kẻ, Tan tành sự thế luống cay ai! Phò vua bụng những mong xoay đất, Gột giáp sông kia khó vạch trời. Đầu bạc giang san thù chưa trả, Long tuyền mấy độ bóng trăng soi.
==
==
MỜI ĐỌC 2 BÀI VIẾT ĐẶC SẮC CỦA KÝ GIẢ KIỀU MỸ DUYÊN DƯỚI ĐÂY
Quê hương tôi là Quảng Ngãi, nơi có Núi Ấn soi bóng xuống Sông Trà Khúc hiền hòa. Dù xa quê từ thuở bé, hình ảnh ấy vẫn in sâu trong tâm khảm như một phần máu thịt không thể tách rời.
Từ nhỏ, tôi theo người bác ruột vào sống tại Đà Lạt, ở vùng Trại Mát, nơi bác hành nghề Đông y. Cuộc sống nơi cao nguyên yên tĩnh phần nào giúp tôi quên đi những biến động của quê nhà, cho đến khi chiến sự lan rộng khắp miền Trung vào đầu năm 1975.
Ngày 21 tháng 3 năm 1975, khi tình hình các tỉnh Tây Nguyên trở nên rối ren, tôi quyết định trở về Quảng Ngãi chỉ với một mong muốn giản dị là thăm mẹ đang lâm bệnh. Khi ấy tôi vẫn còn là một học sinh, chưa hiểu hết thế nào là chiến tranh, nhưng nỗi lo sợ thì hiện rõ trong từng hơi thở. Người ta truyền tai nhau rằng ban đêm, Việt Cộng thường lén xuống các quận gài mìn, khiến ai nấy đều sống trong cảnh phập phồng, bất an.
Gia đình tôi lại có nhiều người liên quan đến Việt Nam Quốc Dân Đảng; từ bác, chú cho đến ông Sáu, nên sự lo lắng càng chồng chất. Cứ mỗi khi màn đêm buông xuống, các chú, các bác lại âm thầm đạp xe vào thành phố để ngủ nhờ, tránh những hiểm nguy có thể ập đến bất cứ lúc nào.
Đêm 22 và 23 tháng 3 năm ấy, tôi ngủ bên mẹ tại vùng phía tây quận Tư Nghĩa. Nhưng đó không còn là những đêm bình yên. Tiếng súng, tiếng pháo kích vang lên liên hồi, dội vào lòng người những cơn run sợ. Mỗi tiếng nổ như xé toạc màn đêm, khiến tôi, một đứa học trò, chỉ biết nằm im, tim đập dồn dập, cầu mong cho trời mau sáng.
Sáng ngày 24 tháng 3 năm 1975, không chịu nổi sự bất an, tôi cùng mẹ rời nhà, tìm đến tá túc tại nhà ông Sáu ở khu vực Thị xã Cẩm Thành, Quảng Ngãi, trung tâm của tỉnh. Đó là một quyết định đầy lo âu nhưng cần thiết, bởi lúc ấy, chiến tranh đã thực sự chạm đến từng mái nhà, từng con người.
Những ngày tháng ấy, tôi không chỉ chứng kiến sự biến động của đất nước, mà còn cảm nhận rõ sự mong manh của đời người, của tình thân trong cơn binh lửa vì anh tôi đã mất trước đó vài tháng tại Pleiku, cậu Tư cũng tử trận tại An Lộc, và người hàng xóm tại Đa lạt cũng bị tử vong bởi pháo kích tận vùng I chiến thuật mà chưa kịp mang xác về chôn,. Dù chỉ là một học sinh, tôi đã sớm hiểu rằng quê hương không chỉ là nơi chôn nhau cắt rốn, mà còn là nơi gắn liền với ký ức, bà con xóm giềng, với yêu thương, và cả những nỗi đau không bao giờ quên.
Chiều ngày 25 tháng 3 năm 1975, trước nhà ông Sáu là nơi có tiểu khu của binh lính Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, mọi sinh hoạt ban đầu vẫn diễn ra như thường lệ. Những người lính Sư Đoàn II Bô Binh vẫn qua lại, vẫn giữ nhịp sống quen thuộc như chưa có điều gì sắp sửa đổi thay. Nhưng đến xế chiều, không khí bỗng chùng xuống. Tôi thấy từng chiếc xe Jeep, xe nhà binh chở đầy binh sĩ nối nhau rời đi, hướng về phía Đà Nẵng. Một linh cảm bất an dâng lên trong lòng, dù khi đó tôi vẫn chưa hiểu hết ý nghĩa của những chuyển động ấy.
Tin đồn bắt đầu lan nhanh trong xóm. Người này truyền cho người kia, không ai biết thực hư ra sao. Có người nói phải “ăn vội rồi đi ngay”, có người bảo phải gom đồ đạc mà chạy, vì chiến sự đã quá gần. Người ta nhắc đến Ông Ngô Quang Trưởng, vị tướng đang cố gắng chống lại làn sóng tiến công từ phía Việt Cộng. Nhưng tất cả chỉ là những lời nghe lại, không kiểm chứng, không rõ nguồn. Trong hoàn cảnh ấy, sự thật không còn quan trọng bằng nỗi sợ.
Gia đình tôi cũng hoang mang như bao gia đình khác. Bữa cơm chiều hôm đó vắng lặng lạ thường. Tôi không thấy các chú, các bác, và cả ông Sáu trở về. Có lẽ họ đã đi đâu đó, hoặc đã nghe được điều gì khẩn cấp hơn mà chúng tôi không biết. Chỉ có Dượng Tám mỗi sáng vẫn thường mở chiếc radio Sony nhỏ, nghe đài BBC rồi kể lại tình hình. Nhưng những mẩu tin rời rạc ấy cũng không đủ giúp chúng tôi hiểu rõ chuyện gì đang xảy ra, chỉ càng làm lòng người thêm rối bời.
Mẹ tôi đang bệnh nặng, không thể ăn uống gì. Tôi nhìn tô cháo bà để lại, lòng nghẹn lại. Không còn thời gian để nghĩ nhiều, tôi húp vội những muỗng cháo nguội để dằn bụng. Đó không phải là một bữa ăn, mà là sự chuẩn bị cho một cuộc chạy trốn không biết ngày về.
Bên ngoài, dòng người đã bắt đầu đổ ra Quốc lộ 1, hướng về phía Đà Nẵng. Tiếng gọi nhau í ới, tiếng bước chân vội vã, tiếng xe cộ lẫn trong sự hỗn loạn. Tôi biết mình phải đi, dù lòng còn nặng trĩu.
Mẹ tôi không đi nổi. Bà nhìn tôi, ánh mắt vừa lo lắng vừa đau đớn. Bà bảo tôi cứ theo hàng xóm mà đi, đừng chần chừ. Lời nói ấy như một nhát dao cắt vào tim. Tôi đứng đó, giữa giây phút chia ly, không biết phải nói gì hơn ngoài một lời từ biệt nghẹn ngào.
Tôi quay đi, hòa vào dòng người chạy loạn, mà phía sau là bóng mẹ tôi đang dần khuất. Trong khoảnh khắc ấy, tôi hiểu rằng mình đã bước sang một ngã rẽ khác của cuộc đời, nơi mà tuổi học trò khép lại, nhường chỗ cho những tháng ngày lưu lạc, và nỗi nhớ quê nhà, nhớ mẹ, sẽ theo tôi suốt cả cuộc đời.
Đêm 25 rạng ngày 26 tháng 3 năm 1975 là một ký ức không bao giờ phai mờ trong cuộc đời này, một ngày mà ranh giới giữa sống và chết mong manh như sợi chỉ. Khi đó, cuộc chiến đã lan rộng khắp miền Trung, và những vùng như Quảng Ngãi đã lần lượt rơi vào tay Việt Cộng trước khi Sài Gòn sụp đổ không lâu sau đó.
Đêm ấy, tôi cùng dòng người hoảng loạn tìm đường chạy giặc. Không còn ai nghĩ đến tài sản hay tương lai, chỉ còn một ý niệm duy nhất là phải sống. Tôi theo dòng người băng qua con dốc Bình Liên, thuộc quận Bình Sơn. Con dốc ngày thường vốn hiền hòa, nhưng hôm đó trở thành một địa ngục trần gian.
Tiếng pháo kích bất ngờ dội xuống. Những tiếng nổ chát chúa xé toạc không gian, đất đá tung lên mù mịt. Người ngã xuống từng loạt. Có người trúng đạn, có người bị mảnh pháo xé thân, có người chỉ vì quá hoảng loạn mà bị dẫm đạp trong dòng người tháo chạy. Tiếng khóc, tiếng la hét, tiếng gọi nhau trong tuyệt vọng hòa lẫn vào nhau, tạo thành một âm thanh kinh hoàng mà đến nay tôi vẫn còn nghe vang vọng trong tâm trí.
Tôi không còn nhớ mình đã chạy như thế nào, chỉ biết bản năng sinh tồn đã đẩy tôi lao xuống một bờ ruộng bên đường. Chính quyết định trong tích tắc ấy đã cứu mạng tôi. Nằm sát mặt đất, tim đập dồn dập, tôi nghe rõ từng tiếng nổ, từng bước chân dẫm đạp phía trên. Mùi khói, mùi đất, và cả mùi tử khí lan trong không khí khiến tôi rùng mình.
Khi cơn pháo kích tạm lắng, tôi mới dám ngẩng đầu lên. Trước mắt là một cảnh tượng không thể diễn tả hết bằng lời: người nằm la liệt, kẻ sống sót thì thất thần, ánh mắt vô hồn. Con đường chạy loạn giờ đây phủ đầy máu và nước mắt
Tôi tiếp tục hòa vào những người còn sống, lặng lẽ đi trong đêm tối, không còn sức để khóc hay nói. Sáng hôm sau, khi ánh bình minh le lói, tôi lần bước ra được thị trấn Châu Ổ, rồi từ đó tiếp tục hướng về Chu Lai. Đó là một hành trình đi bộ đầy gian nan, nhưng ít nhất, tôi biết mình vẫn còn sống.
Ngày 26 tháng 3 năm ấy không chỉ là một ngày chạy loạn. Đó là một vết hằn lịch sử trong đời tôi, một minh chứng cho sự tàn khốc của chiến tranh và sự mong manh của kiếp người. Tôi sống sót, nhưng ký ức ấy mãi mãi ở lại, như một lời nhắc nhở rằng cuộc sống hôm nay đã được trả giá bằng biết bao sinh mạng và nước mắt.
Niềm khát-vọng ngùn-ngụt vút lên cao, mải-miết tìm Trăng hiền-hoà khả-ái. Trăng vẫn còn gục ngủ trong thành đêm sừng-sững âm-u.
Những vệt sáng đèn pha vẫn lia-lịa quét không-trung, nào đã thấy muôn vì sao đang trốn lủi? Mắt lệ mờ nhìn những trái hoả-châu nối tiếp nhau mưa sáng rực cháy bốn phương trời, lòng rạo-rực, mơ Thanh-Bình, mãi tưởng chừng đây dạ-hội hoa-đăng.
Những tiếng phi-cơ ì-ầm sấm động, những chùm đại-bác bạt núi long trời, những tràng liên-thanh nổ tan ròn-rã, xé không-gian, khua giấc ngủ rừng khuya, dậy thôn xóm tiêu-điều, lòng rạo-rực, mơ Thanh-Bình, mãi tưởng chừng đây tưng-bừng dạ-khúc đón xuân sang.
Rồi khi thôn rừng ngừng im tiếng súng, khi hoả-châu tắt sáng, khi những đốm lửa đạn không còn vun-vút đuổi nhau như sao trời đổi hướng, đêm tối vẫn không lùi bước, thành đêm vẫn sừng-sững âm-u, quanh đâu đây nghe khắc-khoải lòng đêm đang thổn-thức, cây lá thở dài, dế khóc nỉ-non, sương đêm sụt-sịt, lòng rạo-rực, mơ Thanh-Bình, nghe thấm buồn như lời kể-lể của những người cô-phụ bi-thương:
Ðằng-đẵng bao năm trường chinh-chiến, tím chiều ngập phủ khắp quê hương. Bom đào ao, đạn cầy ruộng, ruộng xanh um cỏ dại, ao đầy ắp thịt xương.
Hận thù bão táp, mã-tấu tung bay, đau-đớn ngả-nghiêng, bao thôn tre quằn-quại trong rên xiết.
Việt-Nam ơi! thân mòn sức kiệt, mảnh hình-hài tan nát tả-tơi. Chúa ơi, Mẹ ơi! Người ở đâu, sao thành đêm vẫn âm-u sừng-sững? Tôi “thắp nến nguyện cầu, đâu dám rủa nguyền bóng tối” (*). Hồn tôi đây, trí tôi đây, hỡi gió ngàn lồng-lộng! Kéo bổng lên cho Người thấu nghe niềm khát-vọng, lòng rạo-rực, mơ Thanh-Bình, sao Trăng hiền vẫn gục ngủ trong thành đêm sừng-sững âm-u?
-II-
Ðêm âm-u, gió mát vi-vu, dù cho dịu-dàng mơn trớn thiết-tha, vẫn chẳng ru ngon giấc ngủ cô-đơn chập-chờn thao-thức. Tiếng chó tru ghê hồn không át nổi tiếng đại-bác rền vang.
Rồi một sáng xuân mờ sương xốn-xang, phố phường ngổn-ngang quân-trang binh-khí, liệng bỏ hết cho một nhà thuận-hoà, hoan-hỉ, cho chiến-trường dai-dẳng bặt tiếng im hơi. Giáo-đường khắp nơi không ngơi lời kinh tiếng hát: “Kinh Cầu Hoà-Bình” dập tắt chiến-chinh. Thành phố bỗng giật mình ngơ-ngác, thôn ấp chợt sửng-sốt bàng-hoàng. Lạ kìa! màu cờ sao ướt đẵm màu máu thắm loang?
Biển Ðông vẫy sóng trường-giang,
Biệt-ly nước mắt nặng mang ân-tình.
Nghẹn-ngào Mẹ đứng lặng thinh,
Nhìn con dặn với: “Nhớ tình cố-hương!”
Mẹ về chăm giữ đồng nương,
Cho vàng bông lúa ngát hương thôn làng.
Giờ thì mất cả nương đồng,
Thôi đành phó mặc, chẳng màng “vinh-quang”.
Ngày đêm nghe réo loa vang:
“Hoà-bình công-bố, xoá tan hận-thù.”
Hoà-bình lại ở chiến-khu,
Hận-thù mau gót lù-lù về đây.
Ô hay! Lành-lạnh heo may, ùn-ùn mây bay. Sao Trăng gầy đã vội đuổi ngay ngày xanh non-nớt. Mặt trời trốn mất, chẳng để lại chút nóng hâm nóng tình thương. Bóng đêm âm-u gian dối đồng-loã gạt lường. Trùng-dương lại lồng-lộn thét gào khóc thương tương-tàn cốt nhục:
Núi rừng địa ngục,
Tủi nhục xót-xa,
Thân người: xác vật thây ma,
Lìa con, lìa vợ, lìa cha, lìa chồng.
Mồ-hôi tưới ướt ruộng đồng,
Lúa vàng đâu thấy? Thấy hồng máu loang:
Chàng đi “học-tập” ngút ngàn,
Ở nhà thiếp chít khăn tang mãn đời.
Tấm thân trâu ngựa rã-rời:
“Anh-hùng lao-động”, thấu trời than van.
Giành nhau từng dái khoai lang,
Giành nhau chỗ đứng xếp hàng nối đuôi.
Con thuyền ngược sóng ra khơi,
Ruột se bụng thắt, sao tươi nụ cười?
Ôi, nụ cười nước mắt! Đắng cay chua-chát!
Ôi, cơ-đồ sụp nát, nhân-tình đảo-điên!
Biển Ðông đầy ắp oan-khiên,
Quặn đau vĩnh-biệt Mẹ hiền thân yêu.
Mẹ Việt-Nam truân-chuyên. Mẹ Việt-Nam u-uất. Mẹ nhắm nghiền đôi mắt. Mẹ lắng nghe trong bóng đêm hiền-hoà giả dối, tiếng đàn con nỉ-non da-diết niềm khát vọng tha-thiết vô biên. Khát vọng bình-yên. Khát vọng triền-miên. Sao trăng hiền vẫn biền-biệt cho đêm tối bao vây?
Các con Mẹ đâu rồi?
Mẹ mỏi-mắt trông vời.
Mẹ đứng đây, Mẹ giang tay thành-khẩn:
Hãy nhìn xem, nước Việt-Nam u-ẩn!
Hãy nhìn xem, đồng-bào Việt kiên-nhẫn đau thương!
Bao giờ hết đổ máu xương?
Bao giờ tiếng hát giáo-đường ngân-nga ?
Bao giờ nước Việt thái-hoà,
Tự-do công-chính, nhà nhà an vui?
(*) cách-ngôn Tây:”Thà thắp lên một ngọn nến, còn hơn ngồi nguyền rủa bóng tối”
Đất nước Việt Nam đang bị đảng cộng sản cai trị bằng bạo lực.
Bọn cộng sản Việt Nam chỉ là một bọn cướp, may mắn chiếm được nước Việt do các thế lực quốc tế tranh nhau trên bàn cờ thế giới. Chúng không phải là một chính quyền đúng nghĩa!
Chúng ta không biết thế giới có nước nào hiểu rõ bọn cộng sản đang lừa họ hay không?
Nhưng chúng ta biết rõ một điều: nước nào cũng vì lợi cho nước họ trước hết, không nước nào hy sinh cho dân Việt chúng ta. Vì vậy, vận mệnh nước Việt vẫn phải do người Việt hành động, nếu dân ta thực sự muốn cứu lấy dân tộc Việt Nam.
Bọn cầm quyền cộng sản ở Việt Nam chỉ muốn một điều: dân VN càng ngu càng dễ cho chúng nắm đầu. Chúng không hề có ý giúp cho dân giàu, nước mạnh.
Đối với chúng, cộng sản chủ nghĩa hay tư bản chủ nghĩa, không có gì quan trọng cả. Chúng sẽ đi theo và áp dụng bất cứ thứ gì mà chúng có thể dựa vào để tồn tại, như cộng sản Nga, Tàu đã giúp chúng có cơ hội đó thì chúng theo ngay.
Nếu trong tương lai, Mỹ hay bất cứ nước Tây Âu nào cho chúng có cơ hội để tiếp tục việc chúng đang làm thì chúng sẽ gọi Mỹ và nước đó là ông Nội ngay.
Và sau đó chúng sẽ tuyên truyền là “quốc gia” hơn những người quốc gia hiện tại nữa.
Chắc Quý Vị thừa biết hiện nay ở Mỹ và có thể ở bất cứ nước nào trên thế giới, con cháu bọn cướp này mở tiệm buôn bán, chợ búa, thậm chí lập Chùa, hay lập Nhà Thờ…. đều sẵn sàng treo cờ Vàng Ba Sọc Đỏ nơi trang trọng nhất, để câu khách, để chúng có cớ rửa tiền…
Cho rằng chúng là phe cờ đỏ, cờ hồng thì vô tình chấp nhận chính danh của bọn cướp này.
Những bài viết gợi ý, cầu xin, đề nghị hay lên mặt dạy dỗ cho chúng khôn khéo hơn về chính trị và kinh tế, chính là giúp chúng học thêm nhiều bài học để ngày càng tinh vi trong việc cướp sạch đất nước VN nhiều hơn và nhanh hơn.
Xin quý vị thức giả, quý vị còn có lòng tranh đấu cho một nước Việt Nam được Tự Do, Dân Chủ thì hãy hướng trọng tâm vào việc làm sao xóa bỏ bọn cướp ấy.
Việc đó hiện giờ phải nói là rất khó, vì sau lưng bọn cướp này còn có bọn cướp mạnh gấp bội là bọn Nga, Tàu, mà không chừng còn có các nước tư bản giàu có lợi dụng vào sự tồn tại của bọn cướp này
Vì vậy, nếu dân tộc VN chúng ta chưa có cơ hội xóa bỏ bọn chúng thì xin đừng bày thêm nhiều điều tinh khôn để biến thành mưu ma chước quỷ của chúng. Đừng hy vọng chúng sẽ giúp dân VN giàu mạnh, thông minh hơn hay hy vọng chúng sẽ xỏa bỏ lằn ranh gì đó là sai vì chúng đâu có lằn ranh nào để xóa.
Van xin bọn cướp đang ở trong nhà chúng ta, hãy nới lỏng cho chúng ta vươn lên sống bằng nhà của xóm khác… chưa bị cướp là một ý tưởng hão huyền.
Vấn đề là dân Việt Nam đã tỉnh ngộ chưa, đã quyết một lòng để xóa bỏ bọn cướp này hay chưa?
Và Quý Vị, những tinh anh của tộc Việt, xin làm thế nào để giúp dân Việt Nam cùng một lòng tiến tới để xóa sạch bọn chúng?
Bảo Trâm
· Sẵn Sàng Quên?
Chỉ còn vài ngày nữa
“Năm Mốt năm” sẽ sang
Chúng ta luôn chuẩn bị
Chúng tôi cũng sẵn sàng.
Sẵn sàng để chiến đấu
Với bọn quỷ tràn lan
Với thói hư tật xấu
Với những kẻ tham tàn.
Không thể sống yên thân
Không thể quên quá khứ
Khi Cộng ác, vô thần
Đày đọa dân Tộc Việt.
Chúng ta phải tự biết
Nếu quyết sống vô tư
Không màng chi thế sự
Tương lai nào an cư?
Bảo Trâm
Ách Ác Cộng
Do đâu đến nỗi thế này đây,
Dân tộc Việt Nam khổ mỗi ngày.
Bọn cướp may thời tràn khắp chốn,
Quân gian được thế ló ra đầy.
Toàn dân đau đớn đời nô lệ,
Cả nước chông chênh kiếp dạc dày.
Còn giữ hỡi ai lòng hận giặc,
Xin vì chính nghĩa, hãy ra tay.
Bảo Trâm
==
THƠ DONRY NGUYỄN
MÁI TÓC NGƯỜI NỮ TÙ
Chuyện bắt đầu đã hơn bốn mươi năm, Thuở nhà tù mọc đầy trên cả nước. Một buổi chiều trong sân sau nhà bếp, Tôi cùng bạn uống trà nhìn nắng hắt qua sông.
Bên kia rào lạnh lẽo bóng chòi canh, Tay lính gác gườm gườm lia họng súng. Đoàn tù nữ trên đường ra bến tắm, Sau một ngày dài khổ nhọc kiếp tù sai.
Một nữ tù mái tóc xõa bờ vai, Tia nắng chiếu chảy dài trên tóc rối. Những sợi tóc bay trong chiều nắng vợi, Dưới tháp canh tù hút lấy cả hồn tôi.
Nhìn tóc em tôi cảm thấy bồi hồi, Sao giữa cảnh ngục tù có nàng tiên xinh thế. Nét tương phản giữa màu đen đáng sợ Với tóc em dài mang vẻ đẹp hồn nhiên.
Tuổi của em phải khoác áo sinh viên, Ôm sách vở vào giảng đường đại học. Sao đến nỗi?…tôi thấy mình cay mắt, Trên đất nước này em đã mất quê hương!
Tìm tự do em phải đổi gông xiềng, Thân giam hãm giữa ngục tù gian khổ. Gạo thăm nuôi gặm mòn đôi dép mẹ, Đường trở về thành phố quá xa xăm.
Người yêu em mang bản án tử hình, Khi vượt ngục cùng bạn tù cướp súng. Hôm áp giải ra pháp trường xử bắn, Em gục đầu giấu giọt lệ đang lăn.
Đất nước buồn sau một chín bảy lăm, Cả miền nam biến thành nhà lao lớn. Người lính cũ, kẻ tìm phương vượt biển, Đều bị giam chung trong một trại tù.
Em bị bắt khi nào, ở đã bao lâu? Nội quy cấm không dễ gì trao đổi. Dưới chòi canh gió chiều xơ xác thổi, Nắng úa vàng lên mái tóc em xanh.
o0o
Bao đổi dời sau hơn bốn mươi năm, Rồi một buổi tình cờ nơi đất khách. Lần giáp tết cựu tù nhân họp mặt, Những bạn tù gặp lại ấm vòng tay.
Giới thiệu mình: “em Thuận tóc dài” đây, Tôi mới nhận ra em, vì rất khác. Nay tóc ngắn lại thêm nhiều sợi bạc, Nhắc chuyện xưa hiu hắt nụ cười buồn.
Nửa cuộc đời lưu lạc kiếp tha phương, Tôi vẫn nhớ cảnh chòi canh thuở nọ. Tóc em dài rợp trời bay trong gió, Nuôi khát khao vươn đến một chân trời.
Những nhà tù dù vây bủa khắp nơi, Không ngăn được bước chân người quyết chí, Tôi mừng em tự do trên đất Mỹ, Sống làm người đúng nghĩa giấc mơ xưa.
-Donry Nguyễn.
==
VẾT THƯƠNG CÒN MƯNG MỦ
Có một ngày muốn quên, mà vẫn nhớ … Như kim châm, như muối xát vào lòng Ngày nối liền Nam-Bắc một hình cong, Nhưng nửa nước, đau buồn cơn quốc biến!
Người lính vốn, không gây ra cuộc chiến Chế độ nào, bổn phận phải tuân theo Mực chưa khô màu hiệp định Giơ-neo… Vượt giới tuyến đưa quân vào bắn phá.
Người dân Nam phải đứng lên bảo vệ Vì tự do chống chủ nghĩa độc tài Đã bần cùng còn giải phóng cho ai? Lời ma mị tuyên truyền chuyên dối gạt.
Miền Nam thua vì đã không tàn ác Không nhẫn tâm khát máu với đồng bào. Hai mươi năm sức lực đã tiêu hao Bên nào chết cũng đau lòng mẹ Việt!
Ngày thống nhất, tưởng tang thương chấm hết Nào hay đâu kẻ thắng quá đê hèn Trút thù hằn vào phận lính nhỏ nhen Đày ải họ chốn rừng thiêng nước độc.
Tước nhà cửa, bắt vợ con nheo nhóc, Lùa lên vùng kinh tế mới khai hoang Lịch sử xưa nay, bạo chúa hung tàn … Chưa ai ác bằng vô thần cộng sản.
Nửa thế kỷ, hết bom rền lửa đạn Sao mối hờn vết sẹo chẳng liền da Người anh em cùng một mẹ sinh ra Vẫn ngoan cố chia lìa tình cốt nhục!
Nền độc lập đâu ngọn cờ dân tộc Oai linh không hoá giải nỗi hiềm thù Để đoàn người lưu lạc khắp năm châu, Về mang những tài hoa xây cố quốc.
Năm mươi năm, lòng dân còn chia cắt, Xã hội còn đầy dẫy cảnh bất công … Tiếng oán hờn rên siết khắp non sông, Ngày tưởng niệm vết thương còn mưng mủ!
-Donry Nguyễn.
VIẾT TRONG NGÀY TANG CHẾ.
Từ máu lệ âm vang mùa quốc biến, Cả non sông quằn quại dưới chân thù. Lệnh sai lầm khi rút bỏ quân khu, Quân triệt thoái kinh thành trao tay giặc.
Hai mươi năm từng kiên gan giữ đất, Phút sa cơ hối tiếc quá muộn màng. Bao hùng binh buộc xếp giáp quy hàng, Buông khí giới mím môi hờn phẫn uất.
Người chiến đấu phút cuối cùng tự sát, Người lao mình ra chiến hạm khơi xa. Lửa ngập trời lấp ló bóng yêu ma, Nghe việt cộng vào Sài Gòn thảy đều kinh hãi.
Năm mươi mốt năm trang sử buồn lật lại, Khóc non sông phủ trắng một màu tang. Nguyện oan hồn bao nhiêu triệu dân Nam, Nguyện hương linh những anh hùng tử sĩ.
Dưới mồ sâu được nguôi lòng yên nghỉ, Và linh hồn bay đến cõi trời xa. Thời tối tăm rồi cũng sẽ trôi qua, Loài bạo ngược sẽ đến giờ đền tội.
Người lưu lạc từ năm châu bốn bể, Sẽ quay về xây dựng lại quê hương. Biến Việt Nam thành đất nước thịnh cường, Trong sắc áo màu cờ Tự Do-Dân Chủ.
-Donry Nguyễn- (30-4-2026)
==
THƠ HOÀNG THỤC UYÊN
=
BIỂN ĐỘNG VƯỢT SÓNG TRÊN ĐẠI DƯƠNG
Biển Đông giông tố sóng bạc đầu Mưa bão bất ngờ đổ xuống mau Mây đen trời tối biển mờ lối Gió rít từng cơn mưa đổ mau
Vượt biển trùng dương, sóng dâng trào Thuyền như lá úa vượt biển sâu Dào dạt sóng xô thuyền ngàn hướng Bềnh bồng, thuyền dạt khắp muôn phương
Biển động vượt sóng trên đại dương Ào ạt mưa rơi nhòa trùng dương Bềnh bồng thuyền trôi theo ngàn hướng Gió lộng biển động thuyền mờ sương
Tháng 4, mang nặng một nỗi niềm Chinh chiến ba miền nát quê hương Nhìn về quê mẹ, thương sầu nhớ Ngày ấy ra đi, ngàn vấn vương
Chiến tranh tan nát bởi vì đâu ? Ba miền đất nước ngập sóng sầu ! Quê hương điêu linh trong khói lửa Dân lành nghèo đói sống khổ đau .
Ai gây chính chiến nát quê hương ? Ai gây thù oán cảnh đoạn trường ? Chiến tranh không cùng ý thức hệ Tuổi xanh ba miền ngập sầu thương
Người ở người đi thật đau lòng Thương nhà nhớ nước, khóc non sông Người bỏ quê hương, người tù tội. Người tìm tư do, chết biển đông !
Gió lộng biển động sóng hợp tan Thuyền trôi vượt sóng lướt gió ngàn Thuyền xuôi vững lái tìm bến đậu. Bến đục bến trong thuyền về đâu ?
Biển rộng mênh mông sóng ngập trời Dù trong biển động thuyền ngược xuôi Vững Tâm thuận lái theo chiều gió Gió lặng sóng tan, thuyền thảnh thơi ...
Hoàng Thục Uyên Tháng 4 Đen, 1975--2026
==
CA KHÚC THÀ NHƯ – THƠ MẶC KHÁCH – NHẠC VĨNH ĐIỆN- TIẾNG HÁT HÀ THANH
==
THƠ CỦA THI SĨ TRẦN QUỐC BẢO & NHỮNG BÀI HÁT NÓI CỦA NGHỆ SĨ ĐỨC HÙNG
(*)Trong chiến cuộc Việt Nam, có 58,281 chiến binh Hoa Kỳ đã hy sinh, chết và mất tích, trước ngày 30 Tháng 4,1975.
Toàn thể, được ghi tên, trên Bức Tường Đá Đen, tai Thủ Đô Hoa Kỳ.
KÍNH MỜI QUÝ ĐỘC GIẢ THƯỞNG THỨC THỂ HÁT NÓIRẤT ĐỘC ĐÁO CỦA NGHỆ SĨĐỨC HÙNGSydney, Úc Châu, ĐÁP LỄ BÀI “BỨC TƯỜNG ĐÁ ĐEN” CỦA NHÀ THƠ KỲ CỰU TRẦN QUỐC BẢO
HÁT NÓI BÀI 658
Ứng Đáp Nhanh Chóng!| (Bài Hát Nói cảm ơn và đáp lễ hồi âm của Đại Lão Thi Nhân Trần Quốc Bảo. Tựa đề bài Hát Nói này trích từ hồi âm của ĐLTN/TQB.)
Ứng đáp nhanh chóng! Hồi âm như đang lướt sóng, chèo thuyền!
Dù tuổi đời nay đã “rất cao niên” Vẫn phong độ, sáng suốt, thung dung như “Ông Tiên” tại thế!
Ứng ngay! Lập tức! Ngày đang xế! Đáp lại! Mau lên! Tháng đã qua! Tốc độ cao gây ra sức mạnh “dời non, lấp biển”! Như cơn phong ba!
Lòng người hoan hỉ, hài hòa! Giải quyết, thông qua, vui vẻ!
Nhân loại đã tiến bộ vượt bậc! Máy móc tối tân chia sẻ! Xa xôi mà gần gũi! Trao đổi mọi hay đẹp! Và sức khỏe, thơ, nhạc, gia đình . . . ! Cảm ơn Đại Lão Tiên Sinh! Đức Hùng Sydney, Úc Châu, 28/04/2026
Xin ghi nhận và cảm tạ sự đồng cảm, giữa bài “Bức Tường Đá Đen” và bài “Hát Nói 657” dành cho Ngày Quốc Hận 30/4. – Rất phục tài ứng đáp nhanh chóng và tuyệt vời của anh.
TQB
On Monday, April 27, 2026 at 02:27:43 AM EDT, Duc Hung Bui <duchungbui@bigpond.com> wrote:
Xin chân thành cảm ơn bài thơ tuyệt tác “Bức Tường Đá Đen” của Đại Lão Thi Nhân Trần Quốc Bảo.
Xin đáp lễ.
HÁT NÓIBÀI 657– ĐỨC HÙNG –
“Từng Giọt Máu Chiến Trường Vô Giá! Sao Tháng Tư Đen?” (Bài Hát Nói cảm ơn và đáp lễ Đại Lão Thi Nhân Trần Quốc Bảo (ĐLTN/TQB) đã chuyển đến bài thơ tuyệt bút nhân Mùa Quốc Hận Tháng Tư Đen 30/04/1975 – 30/04/2026. Tựa đề bài Hát Nói này trích từ bài thơ đó của ĐLTN/TQB. Kính mời Quý Thi Hữu họa lại bài Hát Nói này.) Từng tấc đất nhuộm máu! Cổ Thành Quảng Trị! Giọt sầu tuôn cuồn cuộn! Bản Mê Thuột ra đi! Thế trận tràn mây cuốn! Phòng bị được những gì? Máu Tân Cảnh, Quảng Đức! Lê Đức Đạt gan lì! Huế quặn mình đau nhức! Vùng Hai đã lâm nguy! Chiến đấu có ai bì? Vận Nước thịnh hay suy? Tuyến Phan Rang gắng gượng!
Trường đồ! Mã lực phi khoan nhượng! Vô ích! Nhân tâm bỗng thoái lui! Giá Súng nay trống rỗng! Kho Đạn cũng ngậm ngùi! Cạn dần! Đành để trống! Tiến chẳng được! Phải lùi! Sao anh hùng, thanh khiết! Cùng chia ngọt, sẻ bùi! Nguyễn Khoa Namtuẫn tiết!
Tháng này, Trần Văn Hai! Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ! Phạm Văn Phúhỏi hoài! Lê Văn Hưngđà biết! Tư duy Trang Sử Việt! Thắng bại bốn ngàn năm! Trụ chiết, Giao Chỉ diệt! Ngùn ngụt Khí Hờn Căm! Đen rồi! Sẽ trắng! Bao năm? Đức Hùng Sydney, Úc Châu, 27/04/2026 11 Tháng Ba (Đủ) Âm Lịch Năm Bính Ngọ, Ngày Tân Mùi : Hành Thổ, Trực Bình, Sao Trương. Cát Thần : Đại Minh, Chúa Là, Hoạt Diệu.
BÀI 659
Nhớ Đôi Bạn Hiền Dương Khuê-Nguyễn Khuyến! (Bài Hát Nói cảm ơn và đáp lễ hồi âm ân cần, tình cảm của Đại Lão Thi Nhân Trần Quốc Bảo, trong đó có viết hai chữ “Bạn Hiền”!) Thật là một đôi bạn hiếm có! Cùng Khoa Bảng Xuất Thân! Cùng là các Danh Sĩ! Cùng tỏ rõ thi tài! Tình bạn có một không hai! Hiểu nhau! Đa văn, bác học! Thơ, Văn, Hát Nói miệt mài! “Viết cho ai, ai biết mà đưa? Rượu ngon không có Bạn Hiền!” Khóc bạn! U hoài! Sương nước mắt!
Bạn hữu chân thành thường vắng ngắt! Hiền nhân thật sự vẫn lưa thưa! Nhiều khi Bạn Vong Niên mà hợp nhau ở mức thượng thừa! Như Hoàng Dược Sư với Dương Qua! Tuổi là Cha, Con! Gặp nhau chưa say chưa tâm sự!
Xin cảm ơn Đại Lão Thi Nhân Trần Quốc Bảo! Tấm thịnh tình! Nhiều tư lự! Kính chúc Cụ luôn mạnh khỏe, an khang, hạnh phúc! Vui văn tự! Sính thơ, ca! Yêu Dân, quý Nước, thương Nhà! Đức Hùng Sydney, Úc Châu, 28/04/2026
==
THƯ PHÁP QUANG HÀ
Thư pháp trên: Thơ Ngữ An (Tháng 3 bỏ Huế)
*
TRĂNG TÀ MỘ HOANG – QUANG HÀ
Một đời vì nước quên mình
Xương tan / thịt nát. Mộ phần có / không
Vật vờ lau lách ven sông
Sáng se gió thổi chiều lồng sương tuôn
Phải trong nắm bụi bên cồn
Có người tử sĩ gởi hồn cỏ hoa
*
Chiến tranh rồi cũng đi qua
Còn kia là ánh trăng tà mộ hoang
Hồn nương theo bóng mây vàng
Vô danh nào có mấy hàng chữ bia?!
Quang Hà
==
KÍNH MỜI QUÝ ĐỘC GIẢ GHÉ VÀO THƯỞNG THỨC TRANG NHÀ THÂN HỮU “LONG HỒ VĨNH LONG” với rất nhiều văn thơ nhạc họa… do “Cô Gái Việt” Kim Oanh quản lý:
Mùa đông sắp bước đi, buổi sáng thức giấc ông Phan Thành Tâm đã thấy mặt trời mọc những tia nắng hồng ấm áp, xóa tan bóng sương mù với làn mây xám âm u trước đây. Cây cối chồi lộc non bắt đầu nẩy mầm xanh tươi. Hoa Cúc, hoa Mai hé nụ búp chờ khoe hương sắc. Mùa Xuân của hạnh phúc đang bao trùm vạn vật xinh tươi. Sáng nay Ông cảm thấy lòng vui vui nghe tiếng chim hót trên cành, trời đất tinh khôi chuẩn bị đón Tết cùng nhân loại.
Ông Tâm vào bếp nấu oakmeal, dọn lên bàn cùng cá salmon tự tay Ông làm chà bông, pha cà phê sữa xong xuôi. Ông vào thức giấc vợ dậy, dìu giúp công việc vệ sinh cá nhân, chải tóc rồi đỡ bà Bùi Thanh Xuân ngồi xe lăn đẩy ra phòng ăn.
– Em ngủ ngon không?
Bà gật đầu mỉm cười nhẹ. Hai ông bà cùng điểm tâm, nhâm nhi cà phê. Ông tới tủ nhạc tìm CD về xuân mở lên chào đón ánh bình minh. Cứ mỗi lần Tết đến là ông Tâm thường ngồi trầm ngâm nhớ quê nhà, nhớ quay quắt, tâm hồn thả về dòng sông xưa, con đò cũ trên quê hương yêu dấu mà Ông không nghĩ có ngày mình phải rời xa…
Ông thấy mình đang đi qua “xứ dừa” Bến Tre, nơi có người Mẹ hiền quanh năm suốt tháng làm vườn, lội ruộng nhưng thuộc rành ca dao tục ngữ hò đáp khi cấy gặt lúa, hội đám.Từ dòng sữa Mẹ ngọt ngào hoặc tiếng ru êm ả có khi buồn xa vắng bên tai Ông, rồi không biết từ lúc nào Ông đã thuộc lòng nhớ mãi
“Gió đưa cây cải về trời Rau răm ở lại chịu lời đắng cay Chim quyên xuống đất tha mồi Thấy em đau khổ đứng ngồi không yên “
Hoặc
“Có qua có lại mới toại lòng nhau Ăn coi nồi, ngồi coi hướng Múa rìu qua mắt thợ “
Hay những chiều hôm ôm con vào lòng dỗ giấc ngủ, tiếng Mẹ trầm bổng u uẩn
“Chiều chiều ra đứng ngõ sau Ngóng về quê mẹ ruột đau chín chiều Thiếp thương phận thiếp còn thơ Lấy chồng xa xứ bơ vơ một mình Anh buồn có chốn thở than Em buồn như ngọn nhang tàn thắp khuya “
Nhớ người Cha dạy Ông học vỡ lòng khi 5 tuổi. Lúc tập đọc, tập viết kha khá ngoài quyển “Quốc Văn Giáo Khoa Thư” nổi tiếng của cụ Trần Trọng Kim, mỗi trưa mỗi tối Ông đều phải đọc cho Cha nghe chuyện đời xưa của Trương Vĩnh Ký, thơ Lục Vân Tiên, Con Tấm Con Cám, Thạch Sanh Lý Thông..v..v…Lớn thêm thì đọc Tây Du Ký, Tam Quốc Chí, Phong Thần v..v…và được Cha giảng dạy thêm luân thường đạo lý trong lúc dọn vườn, làm ruộng, thả trâu.
Quê hương ơi! nếp sống với những sinh hoạt hiền hoà, mộc mạc. Bức tranh quê thêu lên đàn bướm hôn vờn các loài hoa cỏ dại, những trưa hè ve sầu đua ca hay những tối mùa đông nghe hợp tấu từ ếch nhái cùng tiếng mưa rơi buồn thấm thía.
Lớn lên ông Tâm đi học xa, tình cờ gặp hình ảnh cô gái làng bên như bức tranh Tố Nữ yêu kiều diễm lệ. Tuy đang còn nhỏ Ông chưa thể hiểu đó là tình cảm gì, nhưng Ông linh cảm rất cần thiết hình ảnh bé nhỏ ấy để hăng hái học hành và vui sống. May mắn Ông được học cùng lớp, cùng trường cho đến khi lên Sài Gòn vào Đại Học. Ông có cơ hội gần “Nàng Tiên”, và nhờ mối tình si này khiến ông tập tành làm thơ:
Hò hẹn hay không vẫn đợi chờ.
Yêu em anh bỗng biết làm thơ.
Xin thời gian giữ nguyên màu má.
Để nghĩ rằng em chẳng hững hờ (Tình Tứ- LT).
Thầy Trần Văn Ất chuyên dạy môn Toán Hình Học ban B cho cả hai trường Trung Học Nguyễn Đình Chiểu (nơi ông Thành Tâm học) và Nữ Trung Học Mỹ Tho (nơi “nàng tiên “Thanh Xuân học) đã gián tiếp tạo cơ hội tốt đẹp chung trong việc học hành của hai người. Ngoài chuyện dồi mài kinh sử, hình ảnh người con gái dịu hiền trong trắng đi sâu vào tâm hồn Ông. Nhiều đêm thao thức mòn mỏi rồi đi vào giấc ngủ, Ông đã được gặp những giấc mơ kỳ diệu tuyệt vời
Và nghe em ghé vào giấc mộng.
Vành nón nghiêng buồn trong gió đưa (Tương Tư- Nguyên Sa).
Ông cảm thấy rất hạnh phúc được tiếp tục học chung cùng nàng tại Đại Học Văn Khoa Sài Gòn. Hai người giống như những nhân vật thấp thoáng trong các tác phẩm văn học thời tiền chiến, cổ điện, hiện đại, nhưng không kém phần lãng mạn. Ông và Thanh Xuân đã chia sẻ những băn khoăn, ray rứt về hoàn cảnh khó khăn của gia đình, nhìn tương lai như lối sương mù đang giăng, bởi khói lửa chiến tranh mỗi ngày một khốc liệt, tàn phá làng mạc điêu đứng, quê mẹ khốn khổ từng giờ từng phút. Ông hiểu rõ sự cần thiết trong tình yêu, trong cuộc sống cần dựa vào nhau mới vực dậy tinh thần. Hằng ngày Ông và Thanh Xuân càng vào thư viện đọc sách nhiều hơn mở rộng tầm tri thức cho các buổi thi. Xem như chỗ trọ của hai người là Thư Viện Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, Thư Viện Quốc Gia, Tổng Thư Viện, nhà sách Khai Trí, Xuân Thu, các sách cũ bên lề đường Lê Lợi, Lê Văn Duyệt, Trần Quý Cáp
“Lối vào thư viện thân quen.
Dư hương còn đó êm đềm tiếng ai (Thẫn thờ – LT)
***
Bà Thanh Xuân bỗng đưa cánh tay ra dấu, Ông chợt tỉnh mộng kề tai nghe Bà nói, Bà cũng cố gắng lắm nhưng âm thanh rất nhỏ và tiếng nói không nghe được. Ông hỏi nhiều câu xem Bà lựa câu nào đúng để gật đầu, mới hiểu Bà muốn đi vệ sinh, Ông giúp và lau miệng đưa bà trở lại ngồi ăn tiếp. Nhìn bà Thanh Xuân, lòng ông Thành Tâm dạt dào tình yêu vô bờ bến: “em là lẽ sống của đời anh, cố gắng vui từng ngày khi chúng mình đang bên nhau…” Ông nghĩ thầm, chăm chú đút từng muỗng vào miệng Bà. Mắt Ông như mờ đi…Ông thấy hai người đang dạo dưới bóng mát lá xanh trong Vườn Tao Đàn, Vườn Bách Thảo. Đi qua đường Nguyễn Du, Duy Tân, Lê Văn Duyệt, và đề tài chính vẫn là nói chuyện thơ văn, học hành thi cử
“Cười nói bâng quơ cũng ngọt ngào.
Bao lần ngơ ngác tưởng chiêm bao” (Một Chút Son Môi – LT).
Ôi hạnh phúc thật giản dị nhưng vô cùng cần thiết, vì nó lớn lao vô cùng đối với Ông.Tình yêu mang cho Ông sự kỳ diệu, ấm áp tuyệt vời. Những lúc đến với Thanh Xuân, Ông thường đọc thơ Xuân Diệu, Đinh Hùng, Nguyên Sa. Làm sao Ông quên được đôi mắt đẹp mở to vẻ thán phục, mái tóc dài buông lơi nghiêng nhẹ chăm chú nghe, khiến Ông càng say sưa đọc tiếp. Ông thầm mừng với những câu thơ
Gặp một bữa anh đã mừng một bữa
Gặp hai hôm thành nhị hỷ của tâm hồn
……
Em chưa nói đã nghe lừng giai điệu
Em chưa nhìn mà đã rộng trời xanh
Anh trông lên bằng đôi mắt chung tình
Với tay trắng em vào thơ diễm tuyệt (Áo Lụa Hà Đông- Nguyên Sa)
Năm 1967 Ông vào học Ban Cao Học Khoá 3, Học Viện Quốc Gia Hành Chánh. Vừa xuống đến Ba Xuyên (Sóc Trăng) để tập sự, Ông vội vàng đánh điện tín cho Thanh Xuân ba chữ “Anh Trông Lên” lấy ý đoạn thơ Áo Lụa Hà Đông, và được Nàng cất giữ làm bằng chứng tình yêu một thủa nồng nàn đầy lãng mạn. Có lần Ông làm quà tặng đôi găng tay màu xám nhân dịp Nàng mua chiếc Velo Solex. Khi thấy Nàng mang đôi găng tay Ông đã xúc động ghi vào trang đầu quyển Luận Văn Tốt Nghiệp Cao Học Hành Chánh:
“Ngày không gặp dài như thân áo mới.
Vướng guốc nhung làm tội gót chân hồng.
Găng tay xám như mùa thu đứng đợi.
Những chiều mưa đi học lạnh đau lòng”.
Năm 1970 sau khi cưới xong, Nàng muốn Ông làm thơ, viết văn nên thỉnh thoảng nhắc nhở. Ông nhớ nhà thơ nào đó đã nói“Đời không phải là bài thơ cho tôi và cũng không phải là bài ca cho em” khi thi nhân nhận ra người ca sĩ nổi tiếng chạy show hát ngày đêm, thâu băng quá nhiều, ngược lại người ca sĩ cũng thấy thi nhân xuất bản các tập thơ liên tục. Họ nhận ra trong giọng hát cũng như trong bài thơ đã mất đi cái hồn, mà chạy theo đời cơm áo. Riêng Ông thì đi ngược lại, vì hồn thơ đã mất không thể sáng tác khi nặng nợ áo cơm.
Giai đoạn này chiến tranh khốc liệt khắp làng quê, phải tản cư sống tạm bợ vùng ngoại ô Bến Tre. Rồi vì kế sinh nhai lo gia đình đôi bên, mọi sinh hoạt đều gặp khó khăn. Tâm hồn Ông cảm thấy bất an không làm được bài nào ra hồn, hoặc có lúc vừa nhen nhúm ý tưởng chưa kịp viết thì đã có người khác viết rồi đành cụt hứng . Điều đó khiến Ông nhớ tới câu chuyện Lý Bạch đến viếng Hoàng Hạc Lâu định đề thơ kỷ niệm, nhưng đã thấy bài thơ bất hủ của Thôi Hiệu, nên Lý Bạch đành mang bút đi tìm nơi khác.
Sau tháng 4 năm 75, Ông hứng chịu cảnh tù đày như bao người lính VNCH, bị khổ sai biệt xứ trong lao tù CS, dở sống dở chết. Tuy vậy trong những đêm dài “lửa cơ đốt ruột dao hàn cắt da” (Cung Oán Ngâm Khúc) Ông nằm co rút trong tấm chăn rách nát, vừa chiến đấu với lũ rận cũng đói như người, vừa chống chọi cái giá lạnh của mùa đông miền Bắc, nhớ người vợ đang lết la đầu đường xó chợ nuôi con dại.Vợ con Ông đang dần dần chết khô chết héo nơi địa ngục trần gian, thôi thúc Ông mạnh mẽ phấn đấu vượt qua cơ cực trong niềm hy vọng ngày trở về. Ông bám víu vào cơn mơ nhỏ nhoi đầy cảm xúc đau buốt
“Vẫn thiếu anh mà vẫn có anh.
Áo nào con đắp suốt năm canh.
Trong từng giây phút từng câu nói.
Em dạy cho con sống tốt lành”(Nguồn Sống – LT)
Ra tù nhỏ lại gặp nhà tù lớn trong cảnh khủng bố, đe doạ, rình rập, Ông như một hồn ma bóng quế giả điếc giả câm. Ông xót xa đứt ruột nhìn hình ảnh người vợ hiền ngày nào sắc nước hương trời nay bị tàn phá vì sự bươn chải khổ cực giữa chợ đời, hình ảnh chỉ còn da bọc xương, mà gào thét trong tâm:
“Van nợ lắm khi trào nước mắt. Chạy ăn từng bữa toát mồ hôi” (Tú Xương).
Cuối năm 1994 gia đình Ông qua Mỹ, tâm trạng Ông chơi vơi hụt hẫng cho thân phận bọt bèo. Ông nhớ quê hương làng xóm, mồ mả cha mẹ, nhưng rồi phải bắt tay vào việc thực tế, từ từ tình thần Ông trở lại vị trí cân bằng. Vợ chồng Ông cùng cày việc trông mong nuôi các con nên người. Các con Ông hiền lành chăm học, Ông có cuộc sống an bình, ổn định nơi xứ người nên hồn thơ bắt đầu thức dậy lúc gia đình Ông vừa tậu một căn nhà.
“Tha hương đời vẫn là thơ. Đất lành chim đậu hoa chờ đợi ta “(Vẫn Là Thơ -LT)
Nguồn thơ lai láng, mỗi tối Ông đọc trong buổi cơm cho vợ con nghe, được cả nhà khen rối rít, nhất là vợ Ông và út Minh Thư khen lấy khen để. Vợ Ông luôn thì thầm bên tai “anh làm thơ càng ngày càng hay, gắng làm nhiều nữa đi, để lại gia tài tinh thần cho con cháu sau này. Vợ Ông thường chọn giúp Ông nhiều chữ hay ý đẹp và giúp nhiều tựa đề rất lãng mạn thích hợp.
Bóng hạnh phúc đang bao trùm cuộc sống gia đình Ông, thì một tai hoạ ập đến. Ngày 11 tháng 9 năm 1999 vợ Ông bị tai biến mạch máu não rất nặng tưởng như lìa trần. Gia đình Ông lâm vào cảnh khốn đốn, Ông như cái xác chết chưa chôn. Đến nay dù Ông và các con hiếu thảo, tình nghĩa hết mình tìm đủ mọi cách chạy chữa nhưng vợ Ông vẫn ngồi xe lăn, nói năng rất khó, không thể tự lo vệ sinh cá nhân, phải mang hai ống nhựa ở cổ và bụng. Hơn năm sau cái bộ óc thông minh đó vẫn chẳng nhớ ra gì, lúc tỉnh lúc mê. Cha con Ông đã tìm các phương cách vực dậy, tìm lại giọng nói ngọt ngào, trong trẻo như chim hót, nụ cười duyên dáng như ngày nào, nhưng mọi chuyện đều hoài công, tuyệt vọng.
Thời gian như mây bay gió thổi ….từng chiều mùa đông ngồi bên bếp lửa nhìn ngoài sân tuyết phủ trắng của vùng Washington DC. Cầm bàn tay vợ, Ông thì thầm kể chuyện ngày xưa, đôi mắt vợ thẫn thờ xa vắng, và Ông cũng như người đang lạc lối mơ hồ từ kiếp nào đó, Ông quên thực tại, chỉ có tình yêu mãnh liệt đến từ hai tâm hồn say khướt. Mùa hạ lúc nắng chiều dịu dần, Ông đẩy xe lăn đưa vợ đi dạo quanh khu vực, Ông có cảm tưởng thế giới này chỉ còn hai người đang đắm chìm hạnh phúc dưới hàng cây xanh trên đường Duy Tân, lối vào Thư Viện. Nơi có những ngày xưa thân ái của tình yêu đầu đời tưởng chừng như mới hôm qua. Rồi một mùa thu êm ả, vẫn hình ảnh người vợ ngồi trên xe lăn, người chồng đẩy dạo trên những xác lá vàng khô trong khung chiều thơ mộng, mây trời phiêu lãng thong dong, Ông dừng chân ngồi xuống băng ghế nghỉ ngơi, kề sát khuôn mặt vợ đọc mấy câu thơ
Có phải em mang trên áo bay
Hai phần gió thổi một phần mây
Hay là em gói mây trong áo
Rồi thở cho làn áo trắng bay (Tương Tư- Nguyên Sa)
Bỗng dưng “nàng thơ” của Ông bật cười thành tiếng. Ông quá đổi vui mừng hôn lên khuôn mặt héo hon của vợ “em đã hiểu rồi phải không?” Niềm vui lớn khiến Ông đẩy vợ về nhà nôn nao kể các con nghe điều khác thường. Các con Ông ôm chầm lấy Mẹ khóc sướt mướt. Út Minh Thư nói :
– Từ nay ba ráng đọc những bài thơ của Nguyên Sa, Xuân Diêu, Đinh Hùng như ngày xưa từng đọc. Thời học chung Văn Khoa những mẫu chuyện giữa ba mẹ đều toàn văn thơ, con hy vọng mẹ sẽ có niềm vui và dần dần hồi phục trí nhớ.
Ông rất đồng tình với đứa con hiếu thảo, và cũng vì vậy bệnh tình vợ Ông có phần thuyên giảm. Con gái út lại yêu cầu tiếp “Ba đọc thơ các thi nhân Mẹ nghe đã có hiệu quả, nhưng nếu chính Ba làm thơ nhắc lại kỷ niệm thời hoa mộng của hai người, con nghĩ thế nào Mẹ cũng thích hơn, vui hơn nữa”. Ông càng hoan nghênh ý kiến này nhưng quá bận rộn công việc chăm sóc vợ, lại quán xuyến nhà cửa, cơm nước cho các con lsuốt ngày đi học, đi làm vất vả nên vẫn chưa thực hiện.
Một chiều cuối tuần, trong lúc Minh Thư đút cơm cho Mẹ, Ông lại đọc thơ
“Trăng nằm sóng soãi trên cành liễu
Đợi gió xuân về để lả lơi
Hoa lá ngây tình không muốn động
Lòng em hồi hộp chị Hằng ơi” (Hàn Mặc Tử)
Gái út ngạc nhiên chưa từng nghe qua và chưa hiểu ý nghĩa. Ông kể sơ tiểu sử Hàn mặc Tử và ý nghĩa bài thơ. Minh Thư nói:
– So sánh hoàn cảnh Ba với Hàn Mặc Tử, ông nhà thơ còn khổ hơn Ba nhiều. Ba nên cố gắng làm thơ cho Mẹ vui, dạy con học thêm tiếng Việt và tìm nguồn giải trí. Con nghe người ta nói khi một người không còn hy vọng gì, thú vui gì thì không thể sống được. Từ lâu Ba đã mất tiếng cười hào sảng, giòn giã, ba phải làm thơ để bù vào chỗ trống đó, nếu không con sợ lắm…”
Nghe lời con trẻ rót vào lòng, Ông không cầm được nước mắt, vợ Ông khóc theo. Từ đó mỗi cuối tuần hay ngày lễ, Minh Thư đều ở nhà dành hết mọi việc chăm sóc mẹ, nấu nướng để Ông rảnh rỗi làm thơ.
Ngày tháng đi qua trên những muộn phiền thoát thai bằng nguồn thơ. Các con đều đã thành danh thành phận, nhưng vẫn quanh quẩn ở gần cha mẹ, năng lui tới giúp đỡ. Những hiếu tử giúp Ông thêm sức sống, bên cạnh người vợ yêu quý đã cho Ông thời cuồng si say đắm, là người vợ thuỷ chung đồng cam sướng khổ. Cả hai cùng có chung một tâm hồn, một tấm lòng. Thơ Ông là tâm hồn của Thanh Xuân dành cho gia đình, là tình yêu vô bờ bến của Ông dành cho người vợ hiền: “vượng phu ích tử”.
Tu bao nhiêu kiếp anh mới được.
Thơ thẩn cùng em kể chuyện lòng (Một Chút Son Môi -LT).
Có nhiều lần Ông đã âu yếm vuốt tóc vợ, nghẹn ngào van xin
“Em ơi, em vẫn là tiên nữ.
Đừng bỏ anh đi lạnh một mình”. (Tình Tứ – LT).
Bà Thanh Xuân đã ăn xong, Ông nhìn bên ngoài nắng lên cao, liền thay quần áo cho vợ rồi đẩy xe lăn ra đường hưởng màu nắng xuân ấm áp. Vạn vật sáng rỡ, hoa lá xinh tươi, trời đất khoát bộ mặt hồi sinh, Ông hứng khởi khẽ hát nho nhỏ “Anh cho em mùa xuân. Nhạc thơ tràn muôn lối …Anh cho em mùa xuân …” Ông cảm thấy rung động trước vẻ đẹp của bức tranh xuân, như nét đẹp với tình yêu chân tình, chung thuỷ của hai người. Cuộc sống được lót trải những vần thơ dìu dắt bước chân đi nhẹ nhàng, vượt qua những nghiệt ngã của cuộc đời, giữ được bản chất đạo đức và vượt lên trên những ham muốn tầm thường của thế gian. Cám ơn chữ nghĩa như châu rót vào tâm hồn của đôi tri kỷ, luôn được tắm gội bằng suối thơ, tô điểm một phần tình yêu của đôi lứa. Ông cười nhẹ lẩm bẩm “ May mà có thơ, đời còn dễ thương …”
*************
Minh Thư mua nhiều thức ăn từ chợ Safeway chất đầy tủ lạnh cho Ba Mẹ, vừa làm vừa nói
– Sắp lễ Valentines rồi đó, con rất hãnh diện với Chuyện Tình Yêu của Ba Mẹ. Ngày ấy con sẽ mang bánh và hoa về cho Ba tặng Mẹ nhé?
Ông Thành Tâm cười vui vẻ
– Chỉ là một ngày lễ, chứ Ba đã có mấy chục năm, ngày nào cũng là “Lễ Tình Nhân” hết mà. Hoa Tâm thì Ba đã tặng Mẹ cả cuộc đời này rồi.
VTLV-CHÚC MỪNG 3 THÀNH VIÊN “SONG TỊCH” – VTLV & CÔ GÁI VIỆT – Thắng Giải Viết Về Nước Mỹ Việt Báo California: SỎI NGỌC (NGỌC HUYỀN), MINH THÚY, và KIM LOAN.
Hình trên từ trái qua:
1- Giải Đặc Biệt Sỏi Ngọc – tức Ngọc Huyền từ Canada. Ghi chú: Vì Sỏi Ngọc không qua Mỹ kip lãnh giải, phải nhờ người lãnh thay, nên VTLV mạn phép thêm hình Sỏi Ngọc vào hình này cho “đủ bộ” trình làng để mọi người trong nhà VTLV biết mặt- mong tác giả Sỏi Ngọc cảm thông.Đặc biệt hơn nữa: Tác Giả Ngọc Huyền từng Thắng GIẢI QUÁN QUÂN VTLV- Thắng cả 3 giải NHẤT, NHÌ, BA Trong các cuộc thi VTLV thời anh Chinh Nguyên và Bác Giao Chỉ làm Giám Khảo. Anh Chinh Nguyên KHI CÒN SINH TIỀN rất quý mến Ngọc Huyền – Sỏi Ngọc.
2- Giải Chung Kết – Vinh danh tác giả & Tác phẩm: Minh Thúy -Thành NộiBắc Cali
3- Giải Vinh Danh Tác Phẩm: Kim LoanCanada.
VTLV CHÚC MỪNG
CHÚC MỪNG BA CÔ GÁI VIỆT TRONG VTLV THẮNG GIẢI VIẾT VỀ NƯỚC MỸ.
CHÚC MỪNG thắng giải, tam nương nương!
Kiệt nữ “Hai Nhà” tiếng bốn phương
MINH THÚY văn bài vừa… cán cột
KIM LOAN bút pháp mới…thăng đường
NGỌC HUYỀN tác giả nơi nơi biết
Ba vị tân khoa chốn chốn tường
LẠC VIỆTVĂN THƠ + CÔ GÁI VIỆT!
Mau mau mở tiệc! Mấy cô nường!
Phương Hoa – VTLV – DEC 1, 2025
Cựu tác Giả Phương Hoa Trao Giải Đặc Biệt Cho Người Đại Diện Tác Giả Sỏi Ngọc.
Tạm thời đăng được nhiêu hình đây thôi, vì file hình lón quá không up lên đuộc nhiề.u
Suốt tuần ni, bắt đầu từ ngày 27 tháng 10 đến chừ, tôi chỉ muốn lên mạng nhìn hình ảnh Huế lũ lụt và gọi phone người chị tên Giang, nhưng rất khó khăn vì nhà bị cúp điện.
Tôi nghe chị kể: Sau khi tôi gởi số tiền từ cô em chồng tên Tịnh Tâm cùng mấy chị em hùn phước về BS Đặng Nga và nhóm chị Nhuỵ (NTN) nhờ giúp bão lụt. Chị tôi đã đến nhà chị Nhuỵ và nhóm sắp xếp tiền vào phong bì 200k, bỏ sẵn sàng mỗi bao gồm bịch gạo 10 ký, thùng mì gói và vài thứ khác. Nhóm đã thuê xe và chuẩn bị lên đường vào ngày thứ hai 27 tháng 10 (đầu tuần) về làng Phong Điền tổ chức phát quà tại Chùa.
Không ngờ tối đó mưa bão, đài loan báo tin tức hôm sau lụt sẽ vào Huế. Cả nhóm cancel chuyến đi thì trưa ngày đó nước vào nhà.
Mức nước chảy cuồn cuộn lên thật nhanh cho đến tối. Cháu trai tôi bước xuống nhà nước ngập ngang cổ, còn những nhà thấp hơn thì xem như lấp đến mái nhà. Chị tôi và các cháu lên gác tầng hai sau khi kê đồ đạt chất cao, nhà bị điện cúp và sức mạnh của mực nước đã làm ngã nhào bàn ghế, tủ lạnh nổi lềnh bềnh. Bà con xứ Huế chịu trận, hôm sau nước rút lần ra. Nhà nào nhà nấy lo dọn dẹp ngất ngư mệt nhọc, đồ đạc hư hại, bùn sình, rác rến đầy đường, đầy sân. Chưa kịp nghỉ ngơi qua ngày sau nước lại dâng cao tràn vào nhà đợt hai, tiếp tục chồng các vật dụng bị nước ngâm thêm một ngày. Sau đó nước rút ra hết, mọi người cố gắng sức chùi dọn nhà cửa.
Hôm ấy được một ngày có ánh nắng. Chị tôi chạy về chợ Xép mua thức ăn, rau cỏ; cảnh hàng vải, hàng tạp hoá, đồ khô bị dìm trong nước hư hại toàn bộ, trước cảnh khóc lóc than thở của chủ nhân làm chị tôi cũng đau lòng ứa nước mắt theo, khi nhìn cảnh tương tàn sau trận lụt. Mọi sự bà con lại ngậm đắng nuốt cay còng lưng ra sức khiêng bê các đồ đạc bị hư hỏng. Tội nghiệp chị Nhuỵ phải lo chất đống quà từ thiện lên lầu nặng nhọc.
Trận lụt thứ ba trở lại vào ngày mồng 3 tháng 11, mực nước cũng cao nhưng không bằng đợt một, mồng bốn nước rút ra chậm chạp.
Được biết lúc nước dâng cao có thuyền các em thanh niên chèo chở thực phẩm vào trong xóm phát thức ăn cứu đói mỗi gia đình gồm hai thùng sữa (tám lon) và mì gói. Có nhiều nhà không vào được phải tìm cách đưa qua cửa sổ trên gác. Lúc có điện chị tôi cũng gấp rút gọi facetime chiếu cảnh lụt cho xem.
Từ đó đêm nào tôi cũng nhìn theo dõi cảnh lụt trên facebook mọi nơi đưa lên. Nhìn thành phố chìm trong nước ngập như biển cả mênh mông. Huế lụt lội bắt tôi miên man nhớ lại những ngày còn ở quê, nhà chỉ có ba mạ con. Có năm mực nước quá cao, các thanh niên, lực lượng khu phố chèo bè đi cứu dân. Chúng tôi không thể bước xuống nước, người như bay bổng bởi sức nước đẩy lên. Lúc đó nhà chưa có gác như bây giờ, chồng giường ghế và ngồi trên đó nhắm mắt chịu trận. Và rồi chúng tôi được cứu chở sang trường trung học Thành Nội trú ẩn trên lầu mấy ngày. Cũng có những năm nước vào ra ba lần nhưng không dâng cao lắm. Cảnh sau lụt dọn dẹp muốn đuối sức, chợ vắng điêu tàn theo những khuôn mặt phờ phạc héo rầu. Lúc lụt thì ăn cơm với nước mắm kho quẹt, hết lụt mạ tôi chặt buồng chuối xanh tước vỏ ngoài, xong cắt khúc kho với ruốc, vì thửa rau khoai, bụi nưa đã bị hư thúi, chẳng còn gì để ăn.
Tôi nhớ chị Huyền ngày ấy… sau bão lụt không có su, cà rốt từ Đà Lạt chở xuống, chị không có hàng gánh bán dạo kiếm gạo từng ngày nuôi chín đứa con. Chị đi ra chợ Đông Ba xem có ai nhờ gì làm việc đó mong họ giúp vài ba đồng. Đêm đen ngoài trời mưa gió, con chị chạy sang mượn lon gạo về nấu cháo cho em ăn, vì các em nhỏ đang gào khóc đói bụng, trong khi bóng dáng mạ vẫn chưa thấy về. Anh Song đạp xe thồ dáng gầy da bọc xương khô đét, khách thuê chạy tới vùng vắng vẻ rồi kề dao cướp xe, anh trở về vợ con oà khóc cả đêm, vì gia tài chỉ có chiếc xe đạp nuôi sống gia đình, lại sau lụt tôn bay mái hư thảm thương, chị Song chỉ biết qua nhà tôi mượn tiền mua bột về gói bánh bột lọc đi bán dạo. …Nhớ quá những người hàng xóm năm xưa, còn nhiều, nhiều lắm bao cảnh khổ sau mùa lụt. “Quê hương em nghèo lắm ai ơi, mùa đông thiếu áo hè thì thiếu ăn. Trời rằng, trời hành cơn lụt mỗi năm, khiến đau thương thấm tràn, lấp Thuận An để lan biển khơi….” (*1)
Càng nhìn cảnh lụt khắp nơi, tôi không thể ngăn được dòng nước mắt. Tim se lại, lòng quặn thắt như đang ở Huế, đang nếm nỗi khổ, nỗi đau cùng bao nhiêu người dân Huế đang chịu trận. Một đám tang đưa người mất lội nước ngang bụng, quan tài đặt lên cao, bao nhiêu người khiêng đi trong mưa gió cầu kinh. Một xe tải chở hàng cứu trợ bị xìa bánh đứng chịu đựng, trong khi mực nước sông dâng cao che lấp mặt đường, chẳng phân biệt đâu là đường, đâu là sông (vùng Đập Đá?). Thầy và các đạo hữu chở xe về vùng Quảng Điền, mưa và mực nước chảy xiết dâng lên nhanh chóng. Khu vực bị cô lập không vào được, Chùa đang bị ngập nước. Phái đoàn phải thả hàng xuống và quay trở về nhanh kẻo không còn kịp với cơn lũ. Càng nhìn càng thương quá số người chạy đến che bọc gần 200 gói quà, đừng sát nhau chuyển dây chuyền và kêu gọi dân ra lãnh.
Tôi khóc cho Huế, tôi xót dạ vì Huế, và tôi khóc cảm động khi thấy tình người đùm bọc nhau ấm áp. Từng đoàn xe cứu trợ chạy dưới mưa từ miền Bắc, miền Nam như các tỉnh Ban Mê Thuộc, Lâm Đồng, Kontum ..v..v…, các tỉnh miền Tây lái xe tải chứa thực phẩm từng đoàn trên đường hướng về Huế. Mệ của Phèo Ngáo kho 600 hủ cá, công ty gạo Quế Lâm mở rộng lòng giúp đồng bào. Các Chùa ra sức nấu thức ăn bỏ cơm hộp chất xe, chất thuyền đi phân phát. Từng đoàn thanh niên hăng say góp sức những công việc nặng như chuyền gạo, mì, các em làm việc không ngừng nghỉ. Ai ai cũng là những vị Bồ Tát trong lúc này, khách du lịch đứng hỏi thăm, an ủi và phát tiền cho dân trên đường. Thuyền chèo cứu người, những kho hàng chứa đầy ắp thức phẩm cứu đói khẩn cấp. Một hình ảnh nói lên lòng từ bi bác ái, sống đạo đức tôi vô cùng ngưỡng mộ
Rồi bão lụt lan đến Hội An, Đà Nẵng, vùng Thái Nguyên miền Bắc. Những chuyến xe tình thương vẫn nối đuôi lên tiếng trấn an đồng bào, báo hiệu đang trên đường đến các vùng bị bão lụt.
Tại Đà Nẵng có những làng bùn sình bị cúp điện, cúp nước và bị cô lập năm ngày đói lạnh. Nhiều đoàn cứu trợ tìm cách đến, ai cũng lội bùn sình lên đầu gối bước những bước khó khăn, nhưng nét mặt họ vẫn toát ra hiền hoà, mạnh mẽ ý chí vượt qua để thực hiện tình thương. Nước mắt tôi cứ tuôn trào mãi trước những hình ảnh đẹp mắt đó. Tôi nghĩ “nghĩ mình ở đây chỉ gởi chút tiền chia sẻ, làm sao so sánh được công sức của những người đối diện trước cái khó, cái có thể nguy hiểm cho bản thân. Họ đã không quản gian khổ chạy xe đường xa dưới những cơn mưa gió, đường ngập lụt nguy hiểm phát tận tay cho người dân. Bức tranh thật đẹp nói lên Tình Người bác ái quyết thực hiện câu “ Lá lành đùm lá rách, lá rách đùm là toét “.
Nơi tha hương, những đứa con của Huế cũng xót xa đau lòng theo dõi. Ông Hội Trưởng Lê Minh Hải của hội Huế, hội phó Trần Trung Trực, Lê Minh Hiền đã kêu gọi bà con hướng lòng về xứ Huế, liên kết các sư cô, các Chùa cứu đói khẩn cấp. Dù phải gánh vác tình riêng với hoàn cảnh gia đình người chị, tôi cũng cố gắng nghĩ đến tình chung với Huế.
Huế ơi! Thương Huế vô cùng, buồn và tự hỏi “ Răng Huế Khổ Dữ R”. Tôi chỉ biết cầu nguyện cơn bão 13 theo dự đoán thời tiết sẽ đổ ập đến vào mồng 5/11/25 sẽ biến mất tiêu. Cầu nguyện những nơi thiên tai bão lụt được chóng qua khỏi kiếp nạn.
Nguyện ngày an lành đêm an lành
Đêm ngày sáu thời đều an lành
Tất cả các thời đều an lành
Xin đấng Từ Bi thường gia hộ
Cám ơn những tấm lòng vàng đã hy sinh, bất chấp mọi nguy hiểm vượt đèo vượt núi, chèo thuyền kết bè, lội bùn sình để đến gần sự đau khổ của người dân. Cùng chung những bàn tay kết nối, chia sẻ chân tình truyền cảm giác ấm áp của Tình Người, vun xới trồng những bông hoa trên đường đời thơm ngát hương từ bi.
Mùa Thu đến! Mùa của yêu thương , mùa dậy lên những cảm giác bâng khuâng, tâm hồn thường xao động bởi màu nắng nhạt hắt hiu trên chòm cây xóm lá bắt đầu đổi sắc ngả vàng, rồi những cơn gió lay nhẹ. Lá bay, lá rơi cho lòng ai buồn hiu hắt. Nỗi buồn không tên hay có tên trong khoảnh khắc ru say đời ảo ảnh…
Lá đổ muôn chiều ôi lá úa
Phải chăng là những cánh đời em
Đêm đêm lìa xuống trần
tình vương hoen úa ôi những cánh đời mong manh
Than tiếc mà chi chiếc lá vàng bay về cuối trời
làm lòng anh nhớ mãi người ơi
Nhớ nhau từ làn môi đôi mắt
đành tìm trong nét bút xa xôi
“Lá Đổ Muôn Chiều” (Đoàn Chuẩn & Từ Linh)
Bao nhiêu ca từ viết về mùa thu càng làm lòng người ngây ngất yêu say đắm khung trời Hà Nội từng được miêu tả trong những tiểu thuyết của Tự Lực Văn Đoàn.
Có bóng mùa thu thức ta lòng sang mùa
Một ngày về xuôi chợt ghé Thăng Long buồn
Có phải em là mùa thu Hà Nội
Ngày sang thu anh lót lá em nằm
Bên trời xa sương tóc bay
……….
Có phải em là mùa thu Hà Nội
Nghìn năm sau ta níu bóng quay về
Ơi mùa thu của ước mơ
“Có Phải Em Mùa Thu Hà Nội”
(nhạc: Trần Quang Lộc, thơ: Tô Như Châu)
Thi nhân mặc khách chắc hẳn cũng mong chờ mùa thu
Anh mong chờ mùa Thu
Dìu thế nhân dần vào chốn Thiên Thai
Và cánh chim ngập ngừng không muốn bay
Mùa Thu quyến rũ Anh rồi
“Thu Quyến Rũ” (Đoàn Chuẩn & Từ Linh)
Khi người nhạc sĩ nuốt vào tim hình ảnh mùa thu, thì tình yêu bao la như mây trời dịu vợi, say sưa bất tận
Gửi gió cho mây ngàn bay
Gửi bướm đa tình về hoa
Gửi thêm ánh trăng màu xanh lá thư
Về đây với thu trần gian
“Gởi Gió Cho Mây Ngàn Bay” (Đoàn Chuẩn & Từ Linh)
Hãy hát, hãy say theo lời nhạc đầy trữ tình ẩn sâu nỗi niềm chất chứa điều tuyệt vọng, mà vẫn bám nó như thú của đau thương thoát thai bằng âm nhạc
Giòng sông nào đưa người tình đi biền biệt
Mùa thu nào đưa người về thăm bến xưa
Hoàng hạc bay, bay mãi bỏ trời mơ
Về đồi sim ta nhớ người vô bờ
Ta vẫn chờ em dưới gốc sim già đó,
Để hái dâng người một đóa đẫm tương tư
Đêm nguyệt cầm ta gọi em trong gió
Sáng linh lan hồn ta khóc bao giờ
Ta vẫn chờ em trên bao la đồi nương,
Trong mênh mông chiều sương
Giữa thu vàng, bên đồi sim trái chín
Một mình ta ngồi khóc tuổi thơ rơi
Thời gian nào trôi bềnh bồng trên phận người.
Biệt ly nào không muộn phiền trên dấu môi
Màu vàng lên, biêng biếc ánh chiều rơi
Nhạc hoài mong, ta hát vì xa người
Thu hát cho người, Thu hát cho người, người yêu …ơi
“Thu Hát Cho Người” (Vũ Đức Sao Biển).
Mùa thu được ví như người yêu bên cạnh, say đắm và ấm áp, níu kéo rồi buông lơi ru nỗi buồn lên thơ lên nhạc
Có yêu nhau, có tan vỡ nơi mùa thu đang ngự trị giữa thế gian thì cũng đừng nên đổ lỗi tại vì mùa thu
Thôi đừng hát ru, thôi đừng ray rứt
Lá trút rơi nhiều đâu phải bởi mùa thu
“Đâu Phải Bởi Mùa Thu” nhạc: Phú Quang, lời: Giáng Vân)
Thật là hạnh phúc khi ngoài trời êm dịu, thỉnh thoảng bắt gặp vầng mây tím phiêu bạt, lá vàng rơi nhẹ. Được uống trà thơ chữ nhạc lồng ý tưởng thật lãng mạn, lối văn trong sáng cuốn hút sự đam mê mãnh liệt. Dù còn vô số bài về mùa thu rất tuyệt vời như:
Thu Cô Liêu ( Văn Cao )
Mùa Thu Cho Em ( Ngô Thụy Miên )
Con Thuyền Không Bến ( Đặng Thế Phong )
Buồn Tàn Thu ( Văn Cao )
Mùa Thu Ru Em ( Đức Huy )
Nhìn Những Mùa Thu Đi ( Trịnh Công Sơn)
Chiếc Lá Cuối cùng ( Tuấn Khanh ) v…v…
Được thể hiện qua các giọng ca Thái Thanh, Mai Hương, Khánh Ly, Lệ Thu, Ánh Tuyết, Hà Thanh, Sĩ Phú, Anh Ngọc, Tuấn Ngọc và nhiều ca sĩ nữa. “Tre tàn măng mọc”, bây giờ có được Thiên Tôn, Ánh Tuyết, Ngọc Hạ, Ý Lan, Vũ Khanh thật là điều đáng mừng.
*********
Chiều 12 tháng 10 năm 2025 tại quán cà phê Lovers tọa lạc số 1855 trên đường Aborn RD. San Jose (bắc Cali) tổ chức chương trình nhạc “ Em Không Nghe Mùa Thu “ do ông Lê Văn Hải (Hội Trưởng hội Văn Thơ Lạc Việt) tổ chức cùng ban nhạc Thúy Nga đảm trách.
Tôi được nghe nhạc chủ đề mùa thu với bài ruột “Đâu Phải Bởi Mùa Thu”, “Mùa Thu Cho Em” do ca sĩ Hạnh Thảo hát thật tuyệt vời. Chị Thúy Nga (trưởng ban văn nghệ) cất lên giọng trầm ấm chuyển tải tiếng lòng của tác giả nghe buồn xa vắng :
Thu mang cho tình yêu Một thời đã qua
Thu mang cho người yêu
Một đời xót xa
Mùa thu đã xóa hết cơn mong chờ
Mùa thu sẽ cất dấu chân ơ thờ
Một người bước đi, lệ tình ướt mi
“Anh Đã Quên Mùa Thu” Tùng Giang, Nam Lộc).
Chị ca sĩ Thùy Nga chất giọng liêu trai giống ca sĩ Thanh Thúy dìu dắt hồn người bước vào cảnh thu nghe buồn ảo não
Hồn thu tới nơi đây gieo buồn lây
Lòng vắng muôn bề không liếp che gió về
Ai nức nở thương đời
Chân buông mau
dương thế bao là sầu …
“Giọt Mưa Thu” (Đặng Thế Phong)
Ngoài ra còn có nhiều ca sĩ khác nối tiếp bước vào chiều thu êm dịu đầy lãng mạn.
Đặc biệt có sự hiện diện của Thi Văn Nhạc sĩ Yên Sơn (thành viên của VTLV) từ Houston qua tham dự chiều nhạc, đã góp phần văn nghệ bằng bản “Khúc Thu Ca” do chính ông sáng tác, dù tuổi trên 80 nhưng giọng ông thật tốt, thật mạnh thả hơi diễn đạt theo lời nhạc nghe ngọt ngào.
Cám ơn Hội Trưởng VTLV. Cám ơn chị My (bà xã anh Hải đã đem hai ổ bánh Cake, bánh Thạch mừng hội viên có sinh nhật quý tư cũng như chả giò, bánh Patê-Chaud chiêu đãi từng bàn. Cám ơn các ca sĩ đem giọng ca tiếng hát chuyên chở mùa thu vào lòng người trong không gian tuyệt vời (cũng nói thêm vẫn như bao lần khách vào quán được nhận ticket uống nước free và ticket xổ số trúng thưởng).
Cám ơn thêm lần nữa anh Lê Văn Hải hội trưởng hội Văn Thơ Lạc Việt, cũng là chủ báo Thằng Mõ, Trưởng ban Truyền Thông Bắc Cali luôn tổ chức những sinh hoạt giải trí đem niềm vui đến mọi người.
Riêng với bạn nào đọc bài này, và nhất là với các nhạc sĩ, cho phép tôi nói vài dòng: Dẫu thấp kém về sự hiểu biết trong âm nhạc, chưa đủ khả năng cảm nhận và phân tích lời nhạc, xin các nhạc sĩ hoan hỷ tha lỗi cho nhé nếu ý tưởng sai lạc . Vì yêu thơ nhạc nên muốn lan man lời như mấy câu thơ dưới đây :
“Người đời ai cảm? Ta không biết
Ta cảm thương ai viết mấy lời
Thôi thì: Cùng thu tạm biệt
Thu hãy tạm lui
Chỉ để khách đa tình đa cảm
Một mình thay cảm những ai ai “
(Trích: Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu )
Minh Thúy Thành Nội
Tháng 10/2025
VĂN THƠ LẠC VIỆT – TRANG ĐẶC BIỆT Vĩnh Biệt Anh CHINH NGUYÊN.
LỜI CẢM ƠN TỪ CHỊ TRƯƠNG MỸ THANH – HIỀN THÊ ANH CHINH NGUYÊN
==
===
LÀ ANH CHINH NGUYÊN
Là anh_Lạc Việt của văn thơ
Hội trưởng năm dài đạt ước mơ
Bóng mát che chung thuyền tỵ nạn
Là anh_tâm huyết bỏ hằng giờ
*
Là anh_tuổi trẻ chọn con đường
Không phận bay mờ những tối sương
Dâng hiến đời trai cho lý tưởng
Chim bằng chiến hữu giữ quê hương
*
Là anh_văn hóa kết trao đời
Ngôn Việt lưu vong giữ sáng ngời
In sách tiếng Anh lời Việt dịch
Lưu truyền tuổi trẻ quyết không ngơi
*
Là anh_dốc lực hiến dâng mình
Hải ngại quê người đạt hiển vinh
Tiền bối từng thời luôn kính nể
Văn Thơ Lạc Việt sống bao tình
Là anh_như nắng đẹp mây hồng
Góp sức lo toan việc cộng đồng
Thi phú văn chương tràn suối chảy
Câu vần khỏa bút nhớ non sông
*
Là anh_buột gió những chiều vàng
Hạ trắng thu về dệt vẽ trang
Gối nguyệt thì thầm trao mộng ước
Thi cài bút vẫy mặc thời gian
*
Là anh luôn mãi tốt bao điều
Sức khỏe an lành hội mến yêu
Tửu phú Chinh Nguyên hồn nghệ sĩ
Bên Thanh-vợ tốt quý thương nhiều.
MTTN
25/01/2025
VĂN THƠ LẠC VIỆT TIỄN CHINH NGUYÊN
Thơ Phương Hoa
Chiều SAN JOSE mưa đổ Khóc một vì sao rơi Hoa Vàng Miền Thung Lũng Tiễn CHINH NGUYÊN nghẹn lời
* Từ quê hương chao đảo Biết bao điều nhiễu nhương Xứ người lòng anh vững Trái tim anh quật cường
* Tình yêu ngôn ngữ Mẹ
Văn Hoá của ông cha Hết lòng đem lan tỏa
Tiếng nước Nam ngọc ngà
* Nhiều thập niên anh giữ
LẠC VIỆT ngời VĂN THƠ Giai nhân cùng tài tử
Niềm vui rộn bến bờ…
* Năm châu và bốn bể
Anh kết nối tình thương Như vì sao sáng chói
khắp nơi nơi tỏ tường
* Đến thăm anh lần cuối
Tấm thân gầy mong manh Nghe lời cầu ĐỨC MẸ
Giọt lệ tràn mắt anh
* Từng một thời bảo vệ Tổ Quốc và Không gian CHINH NGUYÊN giờ vĩnh biệt Ôi đớn đau ngập tràn…
* Bài ca xin đưa tiễn Nốt nhạc buồn bâng khuâng Quyện hồi chuông Chúa đợi Rước anh đến Thiên Đường …
Phan Hà xin tiễn biệt anh Chinh Nguyên thân thương của VTLV
CHINH NGUYÊN LẠC VIỆT ĐÃ RA ĐI
Một trời tiếc nuối vì anh ấy
Sẽ bao phủ trôi toàn mây xám
Anh chị em ta cùng ngấn lệ
Tiễn đưa anh một đoạn đường ngắn
Để trọn tình anh với chúng em
Mai sau này đâu còn anh nữa
Cùng họa cùng ca Lạc Việt ta
Hoàng Sa kính bút
TIỄN ANH CHINH NGUYÊN
Đã biết trước nhân sinh là cõi tạm
Nhưng rất buồn nhận tin bạn ra đi
Phương trời xa còn biết nói năng chi
Xin ghi vội vài dòng thơ tưởng niệm
*
Bè dễ có, bạn tâm đầu khó kiếm
Nên đau lòng nghe tin dữ hôm nay
Khói không vương vào sao mắt lại cay
Ngó về phương đó chập chờn sương khói
*
Nén hương lòng thay cho lời muốn nói
Chinh Nguyên ơi! Thôi vĩnh biệt từ đây
Biết sẽ không lâu cũng có một ngày
Mình gặp lại nhau bên kia cõi sống
*
Bạn biết rồi trần gian là cõi mộng
Chúc bạn an vui bên Chúa nhân từ
YÊN SƠN
ĐỜI ĐÓNG LẠI … ́(LA BOUCLE EST BOUCLEE)
Đời đóng lại , lúc hồn ta lìa thế Chắc thoảng vui khi đậy nắp quan tài Vào chốn lạ, chẳng còn mầu dâu bể Và cõi lòng, giải tỏa tiếng bi ai …
Có phải chăng, phút giờ ta nhắm mắt Bỏ gian trần, bỏ ngàn nỗi truân chuyên Đời tục lụy, thoát từ, thôi vướng mắc Thản linh hồn, vĩnh cửu chốn thiên tiên…
Huu-Thien Paul Pham
*******
Lời Chia Buồn Của Nhà Văn Hồng Thủy –
Chủ Tịch Văn Bút ViệtNam Hải Ngoại Vùng ĐôngBắc Hoa Kỳ:
Được tin rất buồn:
Anh CHINH NGUYÊN đã vĩnh viễn ra đi. Xin chân thành chia buồn cùng chị THANH và toàn thể tangquyến. Xin CHÚA và MẸ MARIA đón anh về nước Thiên Đàng. Ở quá xa xôi không đưa tiễn anh được, xinchị THANH tha lỗi. Mình không bao giờ quên được sự đón tiếp nồng hậu của anh chị và các anh chị trong VTLV khi mình qua SAN JOSE.
Hồng Thủy (MARYLAND )
Lời Phân Ưu của văn thi sĩ Yên Sơn:
Nhận tin trễ – vì nhà có nhiều khách phương xa đến thăm Houston-Kingwood từ 19/3 đến hôm nay vừa tiễn vị khách cuối cùng – bạn Chinh Nguyên đã rời bỏ anh chị em chúng ta. Xin thành kính chia buồn cùng chị Thanh và gia đình tang quyến. Chúng tôi xin được cùng ACE chung lời cầu nguyện cho cầu linh hồn anh KQ nhà mình được đời đời an vui bên Chúa nhân từ; chúc Chị và tang quyến sớm vượt qua sự mất mát lớn lao trong đời.
Vô cùng thương tiếc Chinh Nguyên
Đã biết trước nhân sinh là cõi tạm
Nhưng rất buồn nhận tin bạn ra đi
Phương trời xa còn biết nói năng chi
Xin ghi vội vài dòng thơ tưởng niệm Bè dễ có, bạn tâm đầu khó kiếm
Nên đau lòng nghe tin dữ hôm nay
Khói không vương vào sao mắt lại cay
Ngó về phương đó chập chờn sương khói Nén hương lòng thay cho lời muốn nói
Chinh Nguyên ơi! Thôi vĩnh biệt từ đây
Biết sẽ không lâu cũng có một ngày
Mình gặp lại nhau bên kia cõi sống Bạn biết rồi trần gian là cõi mộng
Chúc bạn an vui bên Chúa nhân từ
Thân kính,
Yên Sơn & Ngọc Bích
Lời Chia Buồn Của Văn Thi Sĩ Phạm Phan Lang:
Phan Lang rất xót xa được tin anh Chinh Nguyên đã ra đi vĩnh viễn.
Xin thành kính chia buồn cùng chị Thanh & tang quyến và Thi Đàn VTLV.
Cầu nguyện cho linh hồn anh Chinh Nguyên sớm được hưởnh Nhan Thánh Chúa.
Mong chị Thanh cố nén đau buồn và giữ gìn sức khỏe để lo hậu sự cho anh.
Thành kính phân ưu,
Phạm Phan Lang
Lời Phân Ưu Của Nữ Dịch Giả Thái Lan:
Biết rằng ngày này sẽ đến, nhưng vẫn không khỏi nghẹn ngào… Anh Chinh Nguyên với sự giúp đỡ của chị Thanh đã cống hiến cho cộng đồng thật nhiều công sức của anh chị- Xin kính ơn anh chị-
Mong anh được đón nhận vào Nước Thiên Đàng, nơi không có đau khổ, chỉ có tình yêu và hạnh phúc vô tận. Xin Chúa ban cho chị Thanh và tang quyến sự kiên nhẫn, sức mạnh và niềm hy vọng để vượt qua thời gian đau buồn và mất mát này-
Thành kính phân ưu𝓽𝓷𝓵-thailan/phannữlan
Lời Chia Buồn Của văn thi Sĩ Thủy Lâm Synh:
Được tin nhà thơ Chinh Nguyên đã được về chầu Chúa ngày 8 tháng 4 năm 2025. Xa xôi lắm, chúng tôi không thể đích thân đưa tiễn. Đây nén hương lòng cung tiễn anh về với đấng vô cùng. Thành thật chia buồn cùng tang quyến – Đặc biệt bà quả phụ Chinh Nguyên và nhóm chủ trương Văn Thơ Lạc Việt.
Rất thương tiếc.
Thủy Lâm Synh
CHIẾN SĨ VÕ ĐẠI TÔN: SYDNEY 09.4.25 – CHÂN THÀNH CHIA BUỒN CÙNG TANG QUYẾN VÀ QUÝ THI-VĂN HỮU LẠC VIỆT.
Tin Buồn:
“Gia Đình”, cũng là Thi Đàn Văn Thơ Lạc Việt, xin báo tin buồn đến: Quý Niên Trưởng Cố Vấn, Quý Anh Chị Em Thành Viên, Quý Văn Thi Hữu, Quý Bạn Bè Thân Hữu bốn phương.
Sau thời gian dài, trên nửa năm, chống chọi với căn bịnh ung thư tuyến tụy, Vị Cựu Chủ Tịch thân yêu, đáng kính của chúng tôi là:
Nhà Thơ, Nhà Văn:
Giuse Chinh Nguyên
Vừa được Chúa gọi về:
Lúc 3 giờ sáng, ngày hôm nay! Thứ Ba, ngày 8 tháng 4 năm 2025
Tại bịnh viện Kaiser, San Jose, California, Hoa Kỳ.
Hưởng Thọ 82 Tuổi.
Đây là “Đại Tang” với VTLV, một vị Chủ Tịch nhiều khả năng, nhiệt huyết, tính tình hiền hòa, ai cũng thương, cũng mến. Trên 13 năm nắm giữ, điều động, trong mục đích “bảo tồn và phát huy Tiếng Việt” đã đưa Hội trở thành, một trong những Hội, năng động, hữu hiệu nhất, hoạt động trong mục đích này! nhất tại Miền Bắc Cali nói riêng và tại Hải Ngoại nói chung!
Sự ra đi của Ông, là một mất mát lớn với VTLV, không ai, không gì, có thể thay thế, bù đắp!
(Cáo Phó và chương trình Tang Lễ xin được thông báo sau.)
Quý Vị có thể gởi lời Chia Buồn đến Phu Nhân của Người Quá Cố là Chị Thanh (408) 348-0103
Vô Cùng Thương Tiếc, xin thông báo.
Tiễn Đưa Văn Thi sĩ CHINH NGUYÊN (Minh Thúy Thành Nội)
Vui lòng click vào hình để đọc
TIỄN BIỆT ANH
Tiễn biệt Chinh Nguyên luyến nhớ vương Rời xa chữ nghĩa bỏ lên đường Nỗi đau tiếc nuối người thân thuộc Xót dạ tâm tình Lạc Việt thương Xin Chúa ở trên ân sũng phước Để anh được đến cõi Thiên Phương Cuộc đời cống hiến bao công sức Gát bút an tâm thỏa mộng nhườn
Hoàng Mai Nhất 4/13/2025
Giới Thiệu Chút Hoạt Động,Cảm Nghĩ Về Cơ Sở “Văn Thơ Lạc Việt”
MINH THÚY
Vui lòng click vào hình để đọc
====
KÍNH GỬI đến gia đình anh Chinh Nguyên:
Anh Chinh Nguyên không mất đi mà do anh đã làm tròn nhiệm do Thiên Chúa vgiao phó cho anh ở Trần Gian. Anh Chinh Nguyện đã vác trọn con đường Thánh Giá của anh,và nay anh được Thiên Chúa gọi về và với tài nghệ của anh, tôi tin là anh sẽ được giao phó nhiệm vụ khác, có thể ở Trần Gian này, hay nới nào khác trong không trùng Vũ Trụ, anh ấy sẽ đem Hương Hoa Văn Thơ Lạc Việt trãi thêm Hương Hoa trong vùng Đất Mới.
Bảo Trâm
Tiễn Anh – Chinh Nguyên
Anh đi, nhẹ bước giữa trời,
Tháng Tư sao lại nghẹn lời chia ly!
Năm mươi năm dấu quốc kỳ,
Anh rời nhân thế, sớm quỳ bên Cha.
San Jose chiều gió nghiêng tà,
Văn chương thổn thức, lệ nhòa bài thơ.
Văn Thơ Lạc Việt ước mơ,
Giọng anh chan chứa, ấm bờ thi ca.
Anh đi, ngọn lửa chưa nhòa,
Chúng em giữ lấy, truyền qua hậu đời.
Trần gian cõi tạm đến chơi,
Tám mươi năm chẵn, sáng ngời tài hoa.
Nụ cười anh, dáng hiền hòa,
Thành viên thương mến, bạn già tiếc thương.
Chén trà, khúc hát nghê thường,
Còn vương kỷ niệm ngát hương chữ tình.
Anh về bên cõi yên bình,
Hưởng nhan Thánh Chúa lời kinh “Kính Mừng”
Văn Thơ lạc Việt chẳng ngừng,
Tiếp nối sự nghiệp tôn xưng Lạc Hồng.
Tiễn biệt anh “sắc tức không”
Thơ anh quyện giữa mênh mông ta bà!
Điếu Văn Tưởng Niệm Nhà Thơ Chinh Nguyên
Kính thưa quý vị,
Hôm nay, ngày 4 tháng 5 năm 2025, đúng 50 năm kể từ ngày Quốc Hận lại là ngày ly biệt phân kỳ. Văn Thơ Lạc Việt tụ hội nơi đây để tiễn biệt một người thân, một người bạn văn chương tri kỷ, một thi sĩ tài hoa, Nhà Thơ Chinh Nguyên, một người từng là chủ tịch của nhóm chúng ta đến 13 năm tại vị trưởng nhóm văn đàn, giờ đây anh lặng lẽ rời xa
cõi tạm vào ngày 8 tháng Tư năm 2025 tại San Jose, California.
Nhà Thơ Chinh Nguyên không chỉ là một nhà văn, truyền thông, quay film mà còn là một người gìn giữ và phát huy văn hóa Việt Nam nơi hải ngoại. Với ba nhiệm kỳ làm Chủ tịch Văn Thơ Lạc Việt, anh đã không ngừng nỗ lực kết nối những tâm hồn yêu văn chương, âm nhạc và nghệ thuật, tạo nên một cộng đồng gắn bó, đầy nhiệt huyết và sáng tạo.
Anh luôn hiện diện với nụ cười hiền hậu, ánh mắt ấm áp và tấm lòng rộng mở. Sự hòa nhã và chân thành của anh đã khiến mọi người xung quanh cảm thấy được an ủi và khích lệ. Anh là người bạn, người anh mà ai cũng quý mến, là ngọn lửa âm thầm thắp sáng niềm tin và hy vọng cho thế hệ tiếp nối.
Sự ra đi của anh để lại một khoảng trống lớn trong lòng Văn Thơ Lạc Việt. Nhưng chúng ta tin rằng, anh đã an lành trở về với Chúa, nơi không còn tranh chấp, thị phi, bởi ở đó chỉ có ánh sáng và tình yêu thương vĩnh cửu.
Anh Chinh Nguyên kính mến,
Anh an lòng về bên chân Chúa. Văn Thơ Lạc Việt, những thành viên cũ mới còn ở lại trần gian, xin hứa sẽ tiếp tục con đường anh đã bước, mãi giữ gìn và phát huy ngọn lửa
văn hóa mà anh đã thắp sáng để rồi giờ đây những thành viên còn lại sẽ truyền ngọn lửa ấy cho thế hệ mai sau, với niềm tin rằng, bằng văn hóa và nghệ thuật, chúng ta có thể mang lại niềm tin nhân bản và sự an bình cho dân tộc Việt Nam.
Vĩnh biệt anh – Nhà thơ Chinh Nguyên.
Nguyễn Hồng Dũng
ReplyForwardAdd reaction
CA KHÚC MỚI – ẢO MỘNG – THƠ MINH THÚY THÀNH NỘI – NHẠC THÁI PHẠM – CA SĨ THANH HOÀI – Kana Ngọc Thúy
Mùa Xuân Này Nắng Lên | Minh Thúy Thành Nội
TRUYỆN NGẮN Màn Sương Đêm. MINH THÚY.
Màn Sương Đêm
Tiếng đứa con nít khóc thét làm tôi giật mình thức dậy. Bóng tối trước mắt, tôi nhìn quanh ngơ ngác, nằm yên để định tĩnh nhận biết quang cảnh chung quanh. Chiếc “sofa” tôi đang nằm, chẳng có đứa trẻ nào khóc, vò đầu lẩm bẩm “Lại là giấc mơ, lại là đứa trẻ quen thuộc”.
Tôi vùng dậy bật đèn sáng bước qua chiếc bàn gần đó, chiếc bàn gần gũi bày đủ thứ giấy tờ bề bộn thân thương. Ngồi nhìn ra khung cửa kính rộng, màn đêm dày đặc, có lớp sương mù đang bao phủ. Thở dài! Khó dỗ lại giấc ngủ, nhìn đồng hồ 2 giờ sáng. Căn bệnh mấy mươi năm vẫn không thay đổi tốt đẹp hơn, vẫn hằng đêm thức giấc. Tiếp tục đùa giỡn với thơ văn, dù không dám mơ mình là nhà thơ, nhà văn vì chữ “nhà” lớn quá, nhưng ít nhất trong máu tôi có sự đam mê, thì đó cũng là cứu cánh, là lối thoát cho tôi bớt đau khổ nỗi bất hạnh trong cuộc sống để tập viết văn, tập làm thơ.
Đêm tối tĩnh lặng, nó là người bạn thân thiết nhất, gần gũi nhất của tôi trong lúc này. Có lúc viết thật nhiều, có lúc chỉ ngồi nhìn ra bóng đêm suy nghĩ mông lung qua cái dáng bất động. Tôi nhìn sâu ngoài khu vườn, ánh đèn sáng hắt ra vừa đủ thấy những chậu lá quỳnh xanh tươi sau mùa hoa nở, giàn lá mồng tơi dày đặc, cây phượng vàng la đà trước gió, tất cả đều được phủ một màn sương trắng mờ. Và đêm hình như đang sẵn sàng chờ đợi tôi trút bầu tâm sự.
Tôi đến Mỹ đã 30 tuổi, cái tuổi hơi muộn màng nhưng phải bắt tay gầy dựng cuộc sống thực tế trước, vợ chồng cùng hẹn hai năm sau sẽ tính chuyện con cái. Nhưng rồi sau hai năm vẫn chưa thấy gì. Chúng tôi bắt đầu nóng ruột tìm đến bác sĩ Hải Văn Phạm có phòng mạch trên San Jose. Ban đầu cũng từng bước: thử máu, khám phụ khoa, hướng dẫn những việc cần thiết tính ngày gần nhau. Hơn nửa năm chưa có kết quả, bác sĩ nghi tôi bị nghẹt ống dẫn trứng, ông mổ trên phần rốn, chuyền ống được bơm vào chất nước lỏng pha màu đỏ gọi là thông ống. Tuần sau ông hẹn gặp cho biết tình trạng một bên thông, một bên nước trào ngược lên, ông chẩn đoán lý do bị nghẹt ống và kết luận tôi khó có con. Lúc ấy chồng tôi ngồi phòng đợi, gặp tôi hỏi dồn dập. Cả hai cùng ra về, ngồi trên xe tôi kể lại, nét mặt anh ngẩn ngơ im lặng suốt quãng đường dài.
Anh chở tôi tới tiệm phở nói “ăn cái đã, lo bao tử trước.” Tôi không nuốt xuống, ngồi nhìn anh ăn mà thừ người, làm sao tôi quên được cảm giác tuyệt vọng đau khổ lần đầu tiên của buổi sáng hôm đó. Lời bác sĩ như phán tên tử tội sắp bị ra xử bắn, người tôi run lên, mắt ráo hoảnh không khóc được. Nhìn anh ngồi im lặng ăn mà lòng tôi tê đắng. Tôi cũng không biết anh đang nghĩ gì, riêng tôi cảm tưởng như có khoảng cách giữa hai người.
Chúng tôi cảm thấy mệt mỏi, sống như bộ máy di động, riêng tôi hễ nghĩ tới là bị nhức đầu kinh khủng. May có ngôi Chùa vừa mở gần nhà, tôi như người chết đuối cần níu tấm phao trấn tĩnh lại tinh thần. Mỗi tối thứ Sáu, tối xả trại báo hiệu cuối tuần, tôi tới tụng kinh nghe pháp, nhìn lên Đức Phật thì thầm cầu nguyện những điều đang mong ước mà ứa nước mắt tủi phận.
Một tối chị Phật tử dẫn ba đứa con trai khoảng tuổi rưỡi lên Chùa. Trong lúc thầy giảng pháp, ba cháu bò quanh chánh điện, chị nhờ tôi giữ một đứa, người khác giữ một đứa, chị ôm một đứa than thở:
– Biết vậy trước kia đừng cấy con, mở mắt không ra cực quá đi. Lần sau không dám tới chùa nữa, làm phiền thầy và đạo hữu quá.
Tôi hỏi dò thì chị cho biết cấy con trên bệnh viện Stanford một đứa ra ba đứa. Tôi xin số phone ông Milki, tâm trạng hồi hộp của kẻ vừa tìm ra ánh sáng cuối đường hầm.
Dù công việc bề bộn, chủ còn yêu cầu làm “overtime”, nhưng lòng tôi ấm ức chẳng ham muốn, tiền bạc đối với tôi chỉ vô nghĩa lúc ấy. Tôi được biết một lần cấy con, dù đậu hay rớt phải trả mười ngàn. Bạn tôi cũng đồng bệnh nhưng không dám tính chuyện cấy con, lớp công việc vùi đầu, lớp sợ tốn tiền. Tôi thì lại suy nghĩ khác “y học ngày càng văn minh tiến bộ, phải khám tận cùng để biết lý do, phải xoay sở nếm trải dù không được thì cũng xuôi tay mãn nguyện khi nhắm mắt, còn hơn cứ ấm ức suốt đời mà không hiểu nguyên nhân.”
Chúng tôi lên bệnh viện Stanford gặp bác sĩ Milki, quy luật nơi đây mỗi lần gặp bác sĩ dù chỉ nói chuyện tham khảo đều phải trả hai trăm. Cũng trở lại như bác sĩ Hải từng bước một: thử máu, lấy tinh trùng đàn ông bỏ ống kính hiển vi. Điều làm tôi nhói lòng, ray rức nhất là nhìn vào kính thấy những con tinh trùng của chồng bò ngang dọc. Nói chung là họ khám tôi nhiều hơn, theo dõi có rụng trứng, xem xét nhiều thứ khác.
Buổi hẹn khác bác sĩ đẩy tôi nằm trên băng ca, lên tầng lầu cao chuẩn bị súc ống dẫn trứng. Trong lúc chờ tới phiên, y tá đẩy tôi vào nằm chung dãy với nhiều bệnh nhân đang nằm, mỗi giường được che tấm màn kéo ngăn lại. Tôi nghe tiếng y tá chúc mừng giường cạnh “Chúc mừng bạn, bạn cấy lần này là thứ mấy? “, tiếng bệnh nhân trả lời yếu ớt “Lần thứ ba, hai lần kia hỏng …” Tôi giật mình, thì ra không phải cấy một lần là đậu thai, mà đến lần thứ ba bà kia mới đậu thai, như vậy tốn ba mươi ngàn, tôi vừa hồi hộp chen lẫn sự lo âu.
Đến phiên tôi bác sĩ mổ như lần trước, đẩy ống bơm nhuộm đỏ vào thông đường dẫn trứng. Dù có thuốc tê nhưng tôi vô cùng đau đớn tưởng như chết mất, tôi đuối sức nửa tỉnh nửa mê. Bác sĩ sau một thời gian loay hoay rất lâu, không như ông BS trước chỉ thời gian ngắn và cũng không đau. Ông nhìn tôi lả người, ngưng công việc, các y tá phụ giúp đẩy xuống phòng khám của ông ở tầng hai, nhưng ông cám ơn và tự một mình đẩy tôi xuống mấy tầng bằng thang máy. Vẻ mặt ông nhìn tôi như chia sẻ nỗi đau, đúng là hình ảnh của một vị “lương y như từ mẫu”. Ông nắm tay tôi an ủi, nét mặt đầy nhân ái luôn miệng “that ok, that ok!” Sau mấy tiếng nằm bớt mệt nơi phòng mạch ông, tôi về nhà nhưng cơn đau còn làm người tôi run rẩy mềm như con bún.
Hai tuần tiếp tôi có cuộc hẹn để ông cho biết kết quả, ông mở màn hình được chụp X-quang trong bụng tôi. Màn hình đen tuyền nổi lên một ống trắng như ánh đèn điện. Bác sĩ giải thích:
Trong khoang bụng có hai ống dẫn trứng thông xuống buồng tử cung, nhưng cấu tạo trong tôi chỉ có một ống, còn lại một ống bị thịt nằm bít lối, ông cố nông ra nhưng không được, đó là lý do khiến tôi bị đau quằn quại suýt chết. Ông ví dụ như sóng mũi, có nhiều người nhìn bên ngoài bình thường nhưng bên trong bị thịt lấp kín nào ai biết. Đó là trường hợp bị tật bẩm sinh, và trường hợp tôi cũng xem như bị tật nguyền bẩm sinh không được cấu tạo bình thường như mọi người. Bác sĩ cho biết có thể cho thụ tinh đặt vào giữa, nhưng trường hợp tôi không có đủ hai ống để giữ bào thai. Đứa bé sẽ không ở trong bụng mẹ chín tháng mười ngày, mà sẽ chào đời sớm khoảng năm hoặc sáu tháng. Ông đã gặp trường hợp này trong nghề nghiệp, đứa bé sẽ không được bình thường. Ông nói:
– Nếu tôi muốn kiếm nguồn lợi tức sẽ im lặng hành nghề để nhận tiền, nhưng lương tâm tôi không cho phép khi nghĩ đến những trẻ em bị bệnh “Down”. Tôi nghĩ ông bà không nên cấy, cho đứa bé bệnh tật chào đời sẽ khổ cả cha mẹ lẫn con, thà xin con nuôi.
Sau buổi nói chuyện ông đưa hai tay ra dấu cản chúng tôi “Don’t pay anything today.” Chúng tôi vô cùng cảm kích người bác sĩ đã đặt lương tâm lên trên quyền lợi và có tấm lòng nhân hậu biết an ủi bệnh nhân. Ông còn khiêm nhường bảo chúng tôi có thể lên San Francisco thử nghiệm thêm biết đâu gặp bác sĩ giỏi.
Chúng tôi nghĩ bệnh viện Stanford từ lâu nổi tiếng nhất về mọi mặt, nên không cần tìm nơi khác. Về nhà tôi tìm tài liệu đọc để hiểu thêm
“Ống dẫn trứng (vòi trứng)
Ống dẫn trứng nằm ở khoang bụng, được cấu tạo bởi 2 ống dẫn dài và hẹp. Thông thường, 2 vòi trứng của nữ giới sẽ thông với buồng tử cung. Chức năng chính của nó là giúp trứng và tinh trùng gặp nhau, tạo nên quá trình thụ tinh. Nếu vòi trứng bị tắc thì khả năng hiếm muộn và vô sinh của chị em sẽ tăng lên rất cao.”
Tôi đã bị kết án là tuyệt tự, lòng tức tối muốn gào thét lớn rằng ông trời bất công. Tại sao cặp vợ chồng kia đi chích để trục bào thai vì bận làm ăn, vì đang ngồi trên lưng cọp. Tin tức chiếu hàng ngày thiếu nữ tuổi mới lớn lỡ dại dính bầu, chưa muốn có trách nhiệm, sinh ra rồi bỏ con lại nơi bệnh viện, hoặc khổ hơn là những phụ nữ làm nghề mại dâm, sinh con rồi dụt thùng rác. Khi còn ở VN, có lần tôi đến nhà bạn, nó đi khám bác sĩ về ngồi than vắn thở dài, khóc lóc:
– Đã ba đứa rồi, thiếu ăn thiếu mặc, giờ có nữa lấy gì nuôi con đây, bị vỡ kế hoạch ngoài ý muốn.”
Trong khi chúng tôi chuẩn bị sẵn sàng để đứa nhỏ chào đời. Uất ức rồi lại đâm ra trách móc các thai nhi vụng tu, không tìm nơi sáng sủa chào đón mà lại đầu thai vào những chỗ người ta muốn hất hủi. Một đứa bé chào đời là như thiên thần, biết cười, biết khóc, biết lật, biết bò, biết chập chững đi rồi chạy… Tôi khao khát muốn gởi thông điệp đến những người mẹ có con, phải biết quý như vàng ngọc, nâng niu dạy dỗ nên người.
Ngày tháng qua đi trong nỗi điên loạn tuyệt vọng, nghĩ đến chỉ tức tối nghẹn ngào. Chồng tôi vẫn tỏ ra bình thản như lần đầu tôi đi khám. Tôi tìm sự khuây khỏa chỉ muốn lái xe đến chùa, dành thêm ngày Chủ Nhật sinh hoạt. Có những buổi trưa tan lễ, nhưng tôi chẳng muốn về, ra ngồi trước tượng Phật Quan Âm lộ thiên ngoài vườn, ngồi hàng giờ nghe chim hót, nhìn trời đất, hoa cỏ mọc tươi đẹp sắc, lòng an tĩnh nguôi ngoai phần nào.
Tôi rất ngạc nhiên khi thấy đứa bé nét rất quen luôn về trong giấc mơ của tôi, giấc mơ không rõ rệt, mơ hồ có khi nó cười, có khi nó khóc, có khi nó nằm ngửa đưa ngón tay vào miệng mút say sưa. Tình cờ một hôm tôi dọn dẹp sách báo, các quyển Album, để mắt nhìn số hình xưa của chồng. Tôi thấy tấm hình đã ố vàng theo thời gian, đúng là nét đứa bé tôi thường gặp trong giấc mơ. Sực nhớ tấm hình này có lần chồng tôi khoe lúc mạ sinh được hơn một năm. Có phải tấm hình đã nằm trong tiềm thức của tôi vì nhìn kỹ nó rất giống nét mặt chồng tôi, tại sao lại luôn trở về trong giấc mơ của tôi, nó luôn ám ảnh tôi, từ đó tôi nuôi dưỡng cho nó lớn theo ngày tháng…
Khi các em gia đình Phật tử Chánh Hòa sinh hoạt trước sân chùa, tôi đứng nhìn thấy nó lớn độ năm, sáu tuổi mặc quần xanh, áo lam đang chạy theo trò chơi anh huynh trưởng hướng dẫn. Cả mấy chục em sau thời các ông bà nghe pháp tụng niệm tan hàng, thì các em được các anh chị huynh trưởng hướng dẫn vào chánh điện lễ Phật. Các em đều bỏ sách cặp ngoài sân có thứ tự theo hàng lối, mắt tôi mờ dần theo đứa bé cũng có động tác y như các bạn. Rồi chúng ra sau các lều được mấy phụ huynh lo buổi cơm chay có khi là pizza, có khi Spaghetti, có khi mì hoặc phở, và đứa bé ấy cũng ngồi ăn chay thích thú như tôi vẫn thường ăn. Ngày các cháu bên chồng ra trường, tôi lại phóng đại nét mặt đứa bé thành cậu thanh niên khoác áo mũ xênh xang tốt nghiệp. Cứ vậy mà tôi tự ru tôi trong ảo giác từng sinh hoạt mình chứng kiến.
Một lần chồng tôi nói “con cái là trời cho, biết bao cặp vợ chồng sinh nhiều con rồi cũng ly dị không hạnh phúc, thôi thì mình vui vẻ sống tới già, người nào mất trước thì khỏe hơn người còn lại.” Từ đó hình như không có chuyện gì để nói với nhau, cả hai cùng thi đua làm hai “Jobs”. Tôi muốn vùi đầu vào công việc để quên tất cả, tránh suy nghĩ tránh nỗi buồn ấm ức.
Thời gian vẫn trôi đều lặng lẽ trong ngôi nhà của một cặp vợ chồng sống như người máy, sống gần như lạnh cảm. Thế rồi một hôm có người chỉ mách muốn xin con nuôi có dịch vụ nơi văn phòng luật sư. Chúng tôi lên văn phòng luật sư Robert Mullins International gặp anh Lê Minh Hải gắng gượng tìm cứu cánh. Anh hỏi tiêu chuẩn đứa bé chúng tôi muốn tìm là trai hay gái, độ khoảng bao nhiêu tuổi, chúng tôi điền thủ tục đón nhận cảm giác mới lạ như vườn hoa lâu ngày bị khô héo nay được tưới ít nước vào. Chờ khoảng mấy tháng, anh Hải gọi chúng tôi cho biết nguồn tin mới:
– Hiện nay chính phủ tạm thời ngưng trình trạng gia nhập con nuôi vào Hoa Kỳ vì sợ trẻ em bị lợi dụng làm những việc xấu.
Tai tôi lùng bùng chỉ biết đại khái như vậy, chút niềm an ủi vừa sáng lên thì lại vụt tắt, còn điều gì tha thiết trên cõi đời này nữa. Năm tháng dần tăng tuổi, tôi cũng bớt nghe những câu nói làm đau buốt tâm can:
– Sao gà nhà người ta gáy rồi mình chưa gáy
– Lo chạy chữa đừng để mang tiếng “cây độc không trái, gái độc không con.”
Có người còn tra hỏi như luật sư:
– Lỗi của ai?
Những khi có chồng tôi nghe, thì được trả lời:
– Lỗi cả hai người
Làm chung chị bạn ngồi cạnh bàn, chị cũng có nỗi khổ muốn điên đầu. Sáng sớm nào đến cũng có câu chuyện mới để thả rác qua tôi, để giải tỏa phần nào. Chị than:
– Chồng dẫn con trai đầu đi vượt biển, gần mười năm sau mình mới qua, tội nghiệp ông chồng đi cày vừa lo con bên này, vừa gởi tiền nuôi vợ con còn kẹt bên Việt Nam. Qua đây đoàn tụ thấy tâm tánh đứa con trai buồn quá… Nó mua Hamburger hai cái ngồi ăn, chẳng cho đứa em trai mới qua, mình giả bộ đến gần “cho mẹ xin chút xíu thử xem ha” nó vênh mặt trả lời “con ăn còn chưa đủ có đâu tới phiên mẹ”. Có lần nó ngồi vặn đài tivi tình cờ đang xem chiếu chiến tranh Việt Nam, mình lại gần nói “Việt Nam mình khổ lắm con, như con còn các dì các cậu rất nghèo,” nó đỏ mặt tắt tivi hét lên “Ngu ngốc, tại sao không trốn đi!” Hết tiền tiêu nó đòi, ông chưa kịp cho, nó chưởi ông, thấy nó tiêu xài dữ quá. Tết mình xin $50 gởi về cho ngoại, nó không cho lạnh lùng nói “Con đâu biết mấy người đó là ai” mình chỉ biết thở dài không làm sao dạy dỗ nó được.
Bạn tôi mở tiệm làm ăn quá bận rộn ngày đêm nơi tiệm, con đi học bị đám học trò dụ hút ma túy, bạn khổ trăm điều. Mỗi lần tôi ghé tiệm thăm, bạn than thở và nhìn tôi nói “Mi đừng có con nghe chưa, Phật đã nói “con là nợ”, “tao nợ triền miên theo nó.”
Sao lạ quá, người nói ngược, kẻ nói xuôi, tinh thần tôi đã bị xáo trộn không ổn định, tôi chỉ muốn nghe giáo lý nhà Phật để xoa dịu bớt cuộc sống tâm thần đang rối loạn. Công việc bận rộn giúp tôi bớt suy nghĩ về sự bất hạnh của mình.
Tin tức mỗi tối ngồi ăn cơm xem tivi nghe được: Bà người Liên Xô xin con nuôi khoảng bảy tuổi, một hôm nó nghịch phá thứ gì quan trọng lắm, mẹ nuôi giận quá chỉ đánh một cái, gặp lúc đứa bé lên cơn suyễn thở không được bị tắt hơi chết, mẹ nuôi phải vào tù. Chuyện khác: con nuôi lớn lên hư hỏng về tra khảo, đánh đập cha mẹ lấy tiền. Chuyện nọ: con nuôi giết mẹ… v..v… những chuyện xấu về con nuôi khiến tôi lo âu sợ hãi. Có chú em sinh hoạt trên chùa làm việc nơi sở xã hội diện adoption muốn giúp, nhưng tôi bị nhập tâm các tin tức xấu về con nuôi, nên mệt mỏi từ từ.
Dần dần tôi cố gắng trấn tĩnh ảnh hưởng qua giáo lý nhà Phật, “kiếp trước mình gieo ác không thích trẻ thơ, nên kiếp này trời không cho. Thôi thì kiếp này cố gắng tu tập, gieo nhiều nghiệp thiện, nếu kiếp sau được tái sinh làm người sẽ gặp nghiệp tốt.” Tôi suy nghĩ những người tu đã buông bỏ hạnh phúc niềm vui của thế gian tìm vào chốn thiền môn, sống kham khổ chay tịnh, tìm chân lý tuyệt mỹ của đạo qua Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo ngày ngày truyền đạt đại chúng giúp người bớt khổ, thảnh thơi sống khỏe sống vui. Nhìn xuống thêm nữa là những người tàn tật, bại liệt, mù loà vẫn lết một kiếp người. Tôi cảm thấy thẹn vì mình đã chấp cái tôi, nghĩ đến “cái tôi” của mình tham quá và tự nhủ lòng đời là vô thường, không có thứ gì là của mình, hãy buông bỏ để rèn luyện “Khổ, Tập, Diệt, Đạo.”
Từ đó tôi cảm thấy nhẹ hẫng tinh thần hơn, cố gắng un đúc những việc tốt, cố gắng giữ thân, khẩu, ý thanh tịnh. Tôi liên lạc với Sư Bà Minh Tú, chùa Đức Sơn ở Huế nuôi cô nhi, liên lạc với Sư Cô Liên Bình thân mật. May mắn bạn bè, chị em trong gia đình đã ủy nhiệm cho tôi việc gởi tiền giúp cô nhi cũng như hội người mù, nhờ Sư Cô đảm trách. Nhận những tấm hình các trẻ ngồi ăn, đi học, sinh hoạt vui chơi từ cô Liên Bình, hoặc hội người mù tập họp nhận tiền, truyền cho tôi cảm giác thật ấm áp và niềm vui vô tận.
Nhưng rồi tôi lại có bệnh mất ngủ, hễ khoảng từ 2 giờ đêm trở về sáng tôi thường hay thức giấc. Đêm là bóng tối dễ chịu nhất khi tôi ngồi đối diện khung cửa sổ nhìn ra vườn. Mùa đông bóng đêm dày đặc, mùa hè in lá cây loang loáng hoặc sáng hơn dưới ánh trăng xuyên qua cành lá, và hình như mùa nào cũng có màn sương mờ mờ bao phủ. Tôi bày thơ Đường luật ra học, tập làm các thể khó nhất như Ngũ Độ Thanh, Song Thanh, Song Điệp, Toán Thi, Sắc Thi, Tập Danh, Tung Hoành Trục Khoán, v..v… rồi gia nhập các hội thơ chơi xướng họa, hoặc viết theo nguồn rung cảm các thể thơ Song Thất Lục Bát, Trường Thiên Tứ Tuyệt.
Khoảng 4 giờ sáng tôi ngủ lại để lấy sức đi cày, riết lâu ngày thành thói quen, tôi tìm ra sự dễ chịu bù đắp cảm giác cô đơn. Rồi thì tôi lấn sang viết văn, nó là người bạn hiền giúp tôi được nói, được bày tỏ buồn vui, có phải đó là món quà của Thượng Đế dành tặng ngòi bút cho những kẻ muốn viết. Khi cái Không có sẽ cho Có, cái mất sẽ cho bù. Tha hồ khóc cười theo cảm xúc, sống với những nhân vật có thật, chuyện có thật rồi đi theo họ tới chân trời góc bể, chia buồn chung khổ. Một thế giới bao la nhiều nhân vật vây quanh, chân thành dễ chịu, an ủi như những người bạn tri âm tri kỷ tôi được gặp qua màn sương đêm ngoài khung cửa. Dù không phải là nhà văn, nhưng viết cũng là lối thoát giúp rèn luyện trí nhớ, giải tỏa nỗi niềm riêng
Duyên Nợ
Có phải anh ơi chuyện chúng mình
Duyên hòa với nợ kết đời xinh
Đau nhòa số hẩm cài câu nghĩa
Khổ đẫm nhà đơn níu chữ tình
Lặng lẽ từng thu chờ ánh nắng
Âm thầm những hạ đợi bình minh
Tàn đêm lệ tẩm niềm mơ ước
Cố vịn dìu nhau bóng cạnh hình.
Giờ đây chiếc bóng thời gian đã vụt nhanh, chúng tôi nghỉ hưu. Hằng ngày trộm nhìn mái tóc pha sương của nhau, đón bệnh vác tủ thuốc và thi nhau uống. Chồng tôi đón bệnh Parkinson, tôi bao dàn việc nhà, cả hai cùng có dấu hiệu Alzheimer’s. (nhớ nhớ quên quên). Dù người bệnh chăm sóc người bệnh, nhưng chúng tôi cố gắng vui từng ngày, tham gia những sinh hoạt cộng đồng, đi chùa, ghi lớp học Phật Pháp trên Zoom, dự tiệc cơm chay, v..v…
Dầu sao tôi vẫn cám ơn những đêm mất ngủ, thức dậy đối diện với màn sương đêm ngoài khung cửa kính, tôi được viết văn làm thơ với niềm đam mê, ví như đang cố gắng trồng những bông hoa thật đẹp cho cuộc đời, cho mình…
Minh Thúy Thành Nội
MINH THÚY: VĂN – Đi Qua Miền Quá Khứ
Đi Qua Miền Quá Khứ
Linh qua Mỹ theo diện đoàn tụ (cha bảo lãnh) nên chờ đợi dài cổ bao nhiêu năm trời, vậy là tuổi xuân đi qua lẹ làng. Khi còn ở VN từ lúc học lớp đệ tam (lớp 10) đã có bạn thương, lên dần bạn trai thích vây quanh cũng đông. Lúc học Cao Đẳng Sư Phạm cũng yêu một bạn chung lớp, ra trường vào Sài Gòn chờ đi Mỹ vì có giấy tờ cha gởi về. Cha cấm con gái, con trai không ai được lập gia đình chờ ngày ra đi. Thời gian chờ đợi cũng có các bạn ra trường kỹ sư, hoặc dạy đại học theo đuổi. Nhiều người làm Linh đâm ra “lơ lửng con cá vàng”, vui chơi qua ngày qua tháng, tới Mỹ thì Linh đã kề 28 tuổi. Linh cũng cố gắng ghi tên học trường De Anza College hai năm, lấy mảnh bằng Technician xong chẳng muốn học thêm vì cảm nhận thời mình đã qua, vào lớp ngồi chung đám trẻ thấy nản lòng, may có vài bạn thuộc thế hệ mình, ai cũng muốn học nhanh đi kiếm việc, kiếm tiền cho lẹ.
Ra trường ba tháng sau Linh kiếm được việc, vào làm hãng điện tử Solectrone.
Với lứa tuổi này thật khổ, tối ngày điếc tai theo nhiều tiếng quở trách vô cớ
– Lúc nào cho ăn bánh mừng đây
– Kén quá nên giảm ga đi
– Coi chừng ế đó nha
– Bạn mày giờ này đâu còn ai đợi mày nữa, họ lên xe bông hết rồi
Linh chỉ biết cười trừ trả lời chung
– Thì lúc nào có bánh mừng là biết liền, nếu thấy im lặng thì xem như ế rồi đó nha.
Linh cũng muốn kiếm bạn lắm chứ, thời gian gần qua Mỹ cũng yêu da diết anh chàng kỹ sư Phú Thọ, ông anh giữ trách nhiệm ngăn chận nên nhắc ngày nhắc đêm, ngày lên đường chia tay đẫm đầy nước mắt. Trong lúc lòng nàng héo hắt bên này thì năm sau nghe tin chàng cưới vợ, từ đó Linh khép kín cửa lòng lại.
Nơi hãng này có anh Vũ sáng nào tới cũng tặng Linh bịch táo, hỏi ra biết mẹ anh có mở chợ trên vùng SF. Một hôm anh đòi đến nhà thăm cho biết, Linh nhận táo nhiều cũng có chút nể nang tình cảm nên cho địa chỉ. Gặp ngày chủ nhật, anh đến buổi chiều, anh chị em Linh thường tụ họp đông cuối tuần. Mọi người thấy anh Vũ đến thì dạt ra chạy tránh mặt trên lầu, dưới nhà chỉ có người chị dâu lo nấu nước mời khách. Em này chạy xuống, em kia chạy ngang cố ý nhìn mặt khách, anh Vũ cũng cho táo và ngồi chơi một tý rồi kiếu về dù mẹ Linh mời ở lại dùng cơm. Anh vừa ra về thì cả nhà chạy xuống nhao nhao
Cô em nói
– trời ơi …sao giống Chí Phèo hè
Người chị dâu cười cười
– Cô Linh bữa này dám quen tay anh chị Vũ Cầu Muối hè
Em khác quay qua mẹ
– Ngồi trên lắng nghe mẹ hỏi “nhà này đông người lắm, sợ không con…” chao ơi nét mặt …lựu đạn đó mà sợ ai
Ông anh kế đi lui đi tới ngâm nga ”Buổi chợ đông cá hồng em chê bạc. Chợ tan rồi con cá bạc em cũng mua”.
Linh chỉ biết nín cười lắc đầu trước bao lời phê bình. Nàng thấy nhìn quanh chẳng còn ai, mà suốt ngày đi làm chỉ có anh Vũ tuy già nhưng còn độc thân, thì cũng thử xem *1“ cố gắng yêu người mà sống, lâu rồi đời mình sẽ qua …” chứ chị em trong nhà thường bảo “ra công tìm người giới thiệu, hè nhau đẩy cái đò này đi”. Từ đó Linh tỏ thái độ nghiệm nghị lạnh lùng và cũng không nhận táo nữa, nên anh Tuấn cũng rút lui( nghe anh trước là sĩ quan QLVNCH cấp bậc Trung uý).
Nơi đây cũng có anh VN làm công việc dọn dẹp, thấy Linh cùng người VN thỉnh thoảng gặp hỏi thăm cười chào. Từ từ không biết anh có “phải lòng” với Linh không, mà bữa cho Linh cái bánh bao, bữa cho ổ mì thịt, Linh không nhận nhưng anh nói
– Tui mua ăn trưa luôn tiện mua thêm phần cho Linh, đừng ngại gì hết
Rồi anh càng muốn lân la gần Linh hơn trong giờ lunch, có bữa anh đòi mời cuối tuần đi ăn phở, Linh cám ơn từ chối bận việc. Một hôm anh nói thẳng trong khi ngồi cùng bàn ăn trưa
– Linh chê anh phải không ?
Rồi anh nổi hứng xổ tiếng Đan Mạch
– D…M… Anh trước đây cũng là lính VNCH, là hạ sĩ nhất chứ chẳng thua ai, đã từng là lính Thuỷ Quân Lục Chiến đóng nơi Quảng Trị chớ bộ ..
Linh trố mắt sừng sờ “ mẹ ơi …giờ này đối tượng của con là đây sao, tán gái cũng có kèm tiếng Đan Mạch nữa “. Nàng tìm cách né tránh ôm hộp cơm ra xe ngồi ăn từ đó, hễ thấy mặt là dạt nơi khác không tỏ thái độ tự nhiên như anh em trước đây nữa. Và anh ta cũng nhận ra thái độ khác lạ nên cũng không dám gần. Thấy hãng này trả lương thấp, cũng không lên lương. Linh chán nản nhảy hãng
Qua hãng flex gặp anh chàng Technician điều khiển máy móc, có khi sửa chữa lúc máy hư. Linh thường gặp những giờ giải lao uống cà phê. Anh tên Phi rất đẹp trai, mặt mày sáng sủa, Linh nhìn cũng có cảm tình thỉnh thoảng chào hỏi xã giao. Sự quen biết giáp mặt được hơn nửa năm, một hôm anh chàng rủ về Santa Ana chơi nhân dịp lễ Labor Day, Linh nghĩ “ừ thì mình về ở nhà bà cô và thăm bạn thân, sẽ có cơ hội tìm hiểu nhau trên chuyến đường dài”.
Linh báo cho người chị dâu chiều đó, cùng hai mẹ con dì Tiên mới qua Mỹ đang ở chung nhà biết sáng mai có khách tới, nhờ dọn dẹp nhà cửa, khách sẽ vào nhà thăm trước khi chở Linh đi. Chị dâu và mẹ con dì Tiên dọn dẹp quét nhà, chùi rửa các thứ, sắp xếp ngăn nắp tạm thời trước khi đi ngủ.
Sáng thứ bảy lại dậy dọn dẹp tiếp, nấu nước pha trà đặt dĩa bánh ngọt ra bàn rất tỉ mỉ mọi việc. Ai cũng sửa soạn hành lý dùm Linh và lăng xăng đủ điều như chuẩn bị đón chàng rể mới. Đúng 8 giờ anh bạn tới, vừa bước xuống xe, trong nhà bếp cô em con dì Tiên trầm trồ
– ui chị Linh ơi, đẹp trai quá trời, chị mà chê bỏ ra là em…chụp đó nghe
Dì Tiên
– mặt mày sáng sủa quá ha
Chị dâu
– phong cách sang trọng qua lối ăn mặc tao nhã lịch sự, kèm thêm nét mặt bảnh trai nhìn như tài tử Hollywood.
Linh nghe cũng thấy phấn khởi yêu đời, duyên dáng mời vào nhà, chàng ngồi khoảng 10 phút rồi hai người lên đường, mẹ cũng đứng trên lầu nhìn cười gật gù.
Chạy chuyến đường dài, Linh vui vẻ nói chuyện bâng quơ, nàng gợi chuyện cho Phi bớt buồn ngủ để lái xe. Linh kể say sưa về “Hồn Bướm Mơ Tiên” với câu nói của Ngọc “Tôi không có gia đình nữa. Đại gia đình của tôi nay là nhân loại, là vũ trụ, mà tiểu gia đình của tôi là …hai linh hồn của đôi ta ẩn nấp dưới bóng từ bi của Phật tổ”. Linh lại tiếp qua những câu chuyện khác như : 2* Đôi Bạn, Đời Mưa Gió, Gánh Hàng Hoa, Anh Phải Sống..v..v…Phi chẳng bàn bạc, chuyển hướng câu chuyện cho biết: quê ở Bạc Liêu, may mắn qua Mỹ năm 75 giỏi về máy móc, làm việc lâu năm đầy kinh nghiệm nên giờ này được lương cao. Linh hơi khựng một tý với những suy nghĩ hoang mang, ngồi quay mặt nhìn ra cây cảnh hai bên đường, hoa cỏ xanh tươi đang tưới lên tâm hồn Linh thả theo những nhân vật trong tiểu thuyết cho qua thì giờ.
Chàng chở Linh về nhà cô Hạnh thả đó. Cô Hạnh thấy gia đình ông anh họ mấy cháu gái đều lập gia đình, chỉ còn mình Linh tuổi đã ngoài ba mươi, nay thấy cháu có bạn trai mặt mày cũng khá, nên vui vẻ mời Phi trưa mai trở lại dùng cơm.
Cô Hạnh này sướng từ trong trứng sướng ra, gia đình danh giá. Cô lấy chồng giàu sống trong nhung lụa sang trọng, tiếp xúc toàn giới thượng lưu, nên Linh rất e ngại, nhưng giờ thấy cô vui vẻ mời Phi ngày mai, cũng làm nàng hồi hộp.
Trưa hôm sau đúng hẹn chàng đến, trong lúc vừa ăn vừa nói chuyện, cô mở nhạc Pháp Quand tu es là (Trò Chơi Của Tình Yêu) do Sylvie Vartan hát, cô nói huyên thuyên về nhạc, mê giọng Christophe qua bài “Mama “, Lobo “ I’m The Only One”, đặc biệt thích nghe hòa nhạc Gold Concert, nhạc VN thì thích Anh Ngọc, Duy Trác, Sĩ Phú, Thái Thanh, Lệ Thanh, Hà Thanh..v…v…Cô kể thêm thích xem phim Pháp như “ Thằng Gù Trong Nhà Thờ Đức Bà”, Le Doctor Jivago, thích văn chương của Tự Lực Văn Đoàn..v…v…Rồi cô hỏi Phi
– Con có mê nhạc, mê phim, mê đọc thơ văn không? thích ai?
Chàng đang ăn ngẩng mặt cười tự nhiên, trả lời
– Cháu thích nghe cải lương
Linh thóp ruột như có luồng khí lạnh chạy vào xương sống, lưỡi cứng đơ cúi gặp từng hột cơm bỏ vào miệng chẳng muốn nhai, bên tai còn nghe lùng bùng
– cháu chỉ thích ăn nhậu thôi, không thích đọc truyện nên không biết ông nào cả
Nàng tựa người lên cơn sốt, mặt nóng bừng, lúc ngồi trên xe đã ngờ ngợ phần nào rồi, nay thì chàng đã tỏ rõ. Linh liếc mắt nhìn cô, vẫn nét mặt bình thường chẳng lộ chút phản ứng nào cả, nhưng Linh biết rồi đây cô sẽ cười mình cho mà xem, thiệt là “bụng buồn chẳng biết nói năng chi’. Chàng ra về, đêm đó Linh trằn trọc khó ngủ vì tìm ra câu giải đáp” thì ra qua Mỹ sớm, có chút tài năng về máy móc, làm lâu năm lên được Technician và cũng nhờ trời cho nét đẹp trai sáng sủa, biết cách ăn mặc nên mình mới …bé cái lầm “. Trên đường trở về cả hai cùng im lặng, Linh quay mặt nhìn trời mây phong cảnh, tự dưng nàng nhớ đến truyện “Trống Mái “ của Khái Hưng: “hay là mình bắt chước Hiền cố yêu Vọi thử xem, Hiền cũng thích chụp hình cho Vọi vì thấy chàng trai này có dáng lực sĩ đẹp trai mà…” Linh nhắm mắt rùng mình …không được là không được, phải có con tim rung động, phải có tình cảm mới sống được ….
Về nhà gặp lúc anh chị em tụ họp nấu nướng ăn lễ, vừa bước vào bị cả nhà tra khảo
– sao rồi ?
– đi chơi vui không?
– chắc ăn chưa?
Linh phần đi xa về mệt, phần chán nản thất vọng đáp vội trước khi lên lầu
– một chuyến đường dài tìm hiểu …vỡ mộng rồi
Mấy chị em chưng hửng
– Sao vậy, hè nhau đẩy con đò này ra sông, mà đò nặng vía quá
******
Linh bắt đầu lẩn tránh Phi, phần Phi mỗi chiều thường gọi phone, gặp chị dâu nhắn “bác gái hở, cuối tuần này con đem mấy DVD cải lương đến cho bác xem, hay lắm “chị dâu cũng “ờ” đại, riêng Linh biết vậy nên cuối tuần tránh mặt. Tình trạng Phi muốn lấy lòng mẹ Linh cứ tiếp diễn, Linh nghĩ ra cách giới thiệu Phi cho bạn Tuyết Nhung. Kể thêm về Tuyết Nhung là bạn học thân nhất với Linh từ thời tiểu học, trung học và lên đại học, Nhung rất đẹp nhưng qua hai mối tình không suông sẻ nên hiện tại vẫn độc thân. “Nó cũng đang ế ẩm, đẩy qua nó để mình rút lui.” Linh hỏi ý bạn, Nhung nói “OK thử xem”. Linh cho địa chỉ nhà Nhung dưới LA và cho Phi xem hình, vậy là chàng một người một ngựa về đó hai lần. Một tháng sau Nhung gọi điện thoại mắng vốn Linh
– Có phải mày chê nên đưa qua tao không? Đàn ông gì mà mới gặp đã trình bày check lương… chưa kể ăn nói …vô duyên. Thôi nghe! Tao thà ở giá vẫn thích hơn
Linh cười ha hả
– Thì tao cũng vậy, thôi tụi mình cùng nhau thờ chủ nghĩa độc thân nghe chưa. Chứ ở Mỹ đây đâu có ai nghèo đói, cỡ nào cũng sống có cơm no áo ấm mà, miễn chịu khó làm việc, chứ lấy chồng mà không có chút tình yêu thì …thì..ớn quá.
*******
Phi biến mất khỏi hãng, có lẽ tìm được hãng khác lương cao hơn. Chuyện Phi xin đem vào dĩ vãng. Rồi lại có người bà con giới thiệu anh chàng kỹ sư, thì cũng bắt chước bạn mình “ thử xem”. Anh chàng nói chuyện vui vẻ hoạt bát nhưng khi đứng lên trả tiền nhà hàng, Linh thảng thốt nói với bà mai
– ôi ! Sao …lùn dữ vậy
Bà mai nguýt dài
– Gái già ở đó mà kén đi
Thôi thì nàng cũng gắng gượng gặp thêm lần thứ hai, tìm hiểu qua người giới thiệu thì biết chàng có vợ hai con và đã ly dị “thôi không chơi, có “rờ mọt” rồi phiền phức …mệt lắm” và nói thẳng với anh kỹ sư. Anh ta tìm chị của Linh nhờ giúp đỡ “chị nói Linh “try” đi, không lý đã có đời vợ là bị treo bản án hay sao”, nhưng vô ích, Linh trở lại tuyên thệ cùng Tuyết Nhung.
*******
Hãng tiếp tục có nhiều người mới vào làm, Mễ, Tàu, Phi …và một Technician người VN. Anh khoảng 40 tuổi tên Trí dáng cao, có nốt ruồi to gần khoé mũi. Ngày đầu gặp anh thăm hỏi vì nghe tiếng nói, nhận người cùng quê và xưng anh em tự nhiên. Thỉnh thoảng giờ break thấy anh nói chuyện xã giao với người bản xứ vui vẻ. Tánh anh hoạt bát nói câu nào cũng pha tếu cho Linh những trận cười thoải mái. Khi hơi thân anh cho xem hình gia đình chụp chung gồm vợ chồng anh và một trai, một gái, vợ anh rất đẹp. Những buổi ăn lunch anh thường hỏi
– Sao em kén dữ vậy? đến giờ này vẫn còn độc thân
– Ế quá anh Trí ơi chứ không phải kén
– Ừ để anh kiếm người làm mai nhé
Rồi anh kể mối tình xa xưa trước khi lập gia đình…
– Anh quen chị đó đẹp lắm, nhà ở trên Kim Long có ngôi vườn rộng nhiều cây trái.
Một lần anh lên gặp mẹ chị đang la mắng và chị vừa khóc vừa cãi lại. Chờ cho mẹ chị đi rồi, anh kéo chị ra vườn nói “em không được nói như vậy với mẹ”, chị tức tưởi càng ôm mặt khóc to. Anh đến sát bên vỗ vai và nhẹ cầm bàn tay chị lật ngửa, bất chợt chị ngẩng mặt lên, nước mắt ràn rụa nói “anh đừng nhổ nước miếng trên tay tui đó nghe…”
Chuyện khác :
Mẹ nàng không chọn anh, bà ép gả người khác. Nàng buồn quá một tối hẹn anh ra nơi bụi chuối bên đường cho biết sự tình. Nàng vừa khóc vừa nói “em không lấy được anh là em sẽ tử tự chết cho mà xem”. Anh cũng ngậm ngùi ôm nàng “Anh không cưới được em cũng sẽ mỏi mòn mà chết”. Bỗng đâu có tiếng sộp soạp sau bụi chuối “Tao mà ..ị…không ra thì cha tụi bây cũng chết luôn”. Anh hoảng quá nắm tay nàng kéo nhau bỏ chạy…
Rất nhiều chuyện nữa làm Linh cười ngặt nghẽo. Người kể có người cười khoái quá nên hai người trở nên thân nhau tự bao giờ. Có lúc anh bới hai ổ mì, bánh bông lan, trái cây hoặc Linh bới bánh tiêu, xôi ăn chung, giọng anh vẫn oang oang thoải mái tiếp tục kể cho cô em gái cùng quê các chuyện tếu chứa nhiều trong đầu óc.
Một năm qua Linh khám phá ngày nào anh có việc riêng xin nghỉ thì buổi trưa đó vô cùng nhạt nhẽo đối với mình, hay lúc anh lấy vacation lòng Linh buồn héo hắt. Linh biết sửa soạn kỹ hơn, yêu đời hơn với những buổi cơm trưa thân mật cùng anh. Người đàn ông có kiến thức rộng, nói chuyện đề tài nào cũng hợp và nhất là gu thưởng thức nhạc cũng giống nhau, anh thường mua CD nhạc tặng Linh. Có lúc anh rủ Linh dùng giờ lunch đi ăn phở, hay cơm tấm gần đó. Ánh mắt anh chứa nồng nàn hơn, giọng nói nhỏ nhẹ hơn. Hình như hai người cùng cảm nhận tình cảm mình, và muốn tiêu diệt nó bằng cách cùng nhắc về vợ anh. Anh khen vợ rất giỏi dang, hai người trước kia cùng dạy trung học đệ nhất cấp trường Nam Ô. Hiện tại chị làm Nail, tìm giờ giấc thuận tiện đưa đón con đi học và về, trong ngoài chị vén khéo vẹn toàn việc nhà và nấu ăn rất ngon. Linh nghe kể chuyền niềm vui theo hạnh phúc của anh, nhưng tối về dỗ giấc ngủ khó khăn với nỗi buồn không tên, hằng đêm cố xua đuổi không nghĩ tới nhưng khuôn mặt anh cứ thấy rõ trước mắt “ nhất định, nhất định mình không thể như vậy”
Thế rồi hãng có từng đợt sa thải báo hiệu sự đi xuống của hãng, nửa năm sau Linh bị laid-off. Linh có cảm tưởng như đời đứt ngang rồi, nỗi buồn hành hạ dằn xé tâm hồn không thể tưởng. Mới đầu còn gọi phone đôi ba lần nói chuyện, nhưng sau đó cố gắng kềm hãm tình cảm của mình dứt khoát không liên lạc, thôi thì tự ru ngủ bằng giấc mơ, tự an ủi ve vuốt con tim bùng cháy không đúng chỗ.
Nửa năm sau Linh nghe hãng đóng cửa, đóng thiên đường nhỏ bé của Linh chỉ còn trong ký ức. Thời gian sau Linh được biết gia đình anh Trí dời qua Texas sinh sống. Trong lúc thất nghiệp Linh học thêm lấy bằng Diploma in Accounting and Business (chứng chỉ sơ cấp về kế toán và kinh doanh) bỏ nghề điện tử, kiếm việc làm cho hãng xe nhỏ, công việc trực phone và giao dịch giấy tờ, nơi đây chỉ mình Linh là người VN.
Duyên số đã đẩy Linh gặp lại người bạn cũ thời trung học tên Huy, ngày xưa cũng thích Linh. Được biết Huy vẫn còn độc thân ở Sacramento, hai lần về VN có nhiều người giới thiệu bạn gái, nhưng Huy không thích gu bây giờ, dững dưng cảm giác.
Tình cờ bạn cũ kể cho Linh, và tìm cách để hai người liên lạc lại. Đám cưới Linh năm 33 tuổi. Bạn thân Tuyết Nhung cũng gặp lại bạn thời chung đại học, đám cưới sau Linh vài tháng. Thì ra những người bạn trai này không ham gái đẹp, gái trẻ, chẳng chê gái già mà chỉ cần cùng thời với hai tâm hồn đồng điệu.
***************
Cuốn phim dĩ vãng vẫn tiếp tục quay đều theo bước chân Linh đang đi bộ ngoài đường, bước chân đi qua vùng quá khứ đã mấy chục năm qua tưởng chừng như mới đâu đây. Linh ngẩng mặt hít sâu thở nhẹ theo kiểu thiền, nắng hồng đang nhảy múa trước mặt, hoa nắng lung linh đuổi nhau trên đường, vài loài hoa dại chen nở trên những bãi cỏ trông xinh xinh. Giờ này chắc Huy đã đi chơi Tennis, may mắn cho Linh tìm được người nương tựa vững vàng. Cuộc sống chẳng giàu sang nhưng ấm cúng trong ngôi nhà nhỏ mua được. Trước đây Linh cũng hồi hộp biết được điều phụ nữ lớn tuổi khó sinh con, hoặc đứa trẻ khó thông minh nếu không nói là bị bệnh. Linh cám ơn Trời Phật vì sinh được gái đầu và trai út, hai cháu đều thông minh, hiện cháu trai tốt nghiệp bằng kỹ sư, cháu gái làm y tá (RN-Registered nurse) và có việc làm ổn định. Bạn Tuyết Nhung cũng có một cháu gái học giỏi tốt nghiệp ngành y khoa chuyên bác sĩ Anesthetist (gây mê). Nàng mỉm cười nhớ lại lời tuyên thệ cùng Tuyết Nhung, thùa ấy nghĩ cũng vui.
Miên man dấu chân kỷ niệm …về đến nhà hồi nào không hay. Vừa mở cửa bước vào, con gái MiMi nói vội trước khi đi
– Mẹ ơi! Dì Phượng gọi mẹ và nhắn mẹ gọi lại
Thì ra Phượng (bạn học trường De Anza College , thỉnh thoảng vẫn liên lạc, nhắn Linh chủ nhật tới nghe “Buổi nhạc Chiều Thu” nơi quán cà phê Lover do ông hội trưởng của Văn Thơ Lạc Việt tổ chức. Linh thắc mắc việc tổ chức đã tốn kém, mà nhìn tờ quảng cáo còn uống nước giải khác free, cũng như có trò chơi quà sổ xố trúng thưởng. Linh thắc mắc hỏi bạn
– ông ấy làm gì mà giàu dữ vậy?
– ông là chủ báo Thằng Mõ, thời buổi này làm báo không biết có khá không, nhưng ông rất hào hoa phong nhã, ông là mạnh thường quân của rất nhiều chuyện Cộng Đồng, và hội Nhân Ái của ông luôn đi phát lương thực, tiền, thức ăn cho Homeless đó
– Mày biết nhiều quá ha
– Thì ở vùng San Jose hầu như ai cũng biết tiếng tăm của ông mà, ông tổ chức rất nhiều buổi nhạc free về mùa xuân, Thanksgiving, Ba Mươi Tháng Tư hay những buổi sinh nhật cho hội viên nữa đó. Mọi người quý mến nên trông mong ông làm ăn phát đạt, vì ông mà có là cho cả làng nhờ. Khi bận việc tao không tham dự nên cũng quên mày, lần này tao đi được nên nhớ, lâu quá tụi mình không gặp, đi cho vui nghe.
Linh OK !
Nhìn qua khung cửa sổ của nhà bếp, lá đã vàng rụng tấp vào một góc vườn, thỉnh thoảng có mấy lá rơi là đà theo cơn gió thoảng, cây táo cũng nở hoa, mùi hương bay nhẹ vào thơm dịu vợi. Linh quay lưng nhìn vào bếp lẩm bẩm “ngắm thu không quên nhiệm vụ, phải nấu món gì có sẵn cho Huy về ăn.”
****************
Đúng giờ hẹn. Phượng đứng ngoài khu parking chờ Linh đến. Đôi bạn già bước vào tìm bàn, chương trình đã bắt đầu với những bản nhạc mùa thu thơ mộng :4* Thu Quyến Rũ, 5*Không Còn Mùa Thu, 6*Thu Ca..v..v… Lâu lắm rồi Linh mới được thả hồn theo điệu nhạc lời ca say đắm. Khách vẫn lác đác đi vào dù hơi trễ.
Khoảng giữa chương trình có ba người đàn ông đi vào, hai già một trẻ, họ đi thẳng ra phía sau. Khi ngang qua mặt Linh, nàng thấy một người có nét quen quá sức, cố lôi trí nhớ chợt giật mình “anh Trí’. Linh lẩm bẩm “đúng rồi anh có nốt ruồi to như dân Ấn Độ, chẳng lý có hai người nốt ruồi to cùng nằm cạnh sóng mũi giống nhau, ánh mắt ấy, sóng mũi cao ấy, chỉ tại anh mập quá, đưa đống bụng chảy xệ xuống, đầu hói gần như trọc. Bỗng dưng tim Linh đập mạnh, tay chân hơi run, trong đầu thắc mắc: nghe nói anh ở bên Texas mà, hay là về lại đây chơi, sao dung nhan quá tệ vậy nè…gặp làm chi để bị mất hình ảnh ngày xưa. Linh kề tai nói nhỏ với bạn
– Người xưa mới đi ngang, “phũ phàng tựa như một giấc chiêm bao”. Nói xong Linh ra dấu cho bạn nhìn ra sau ông nào mặc áo đen sói đầu bụng phệ thì đích thị là chàng. Phượng đảo mắt tìm kiếm và tìm ra
– Tao chưa thấy trước kia nhưng cũng đoán chàng đã mất hết rồi, nhưng đâu phải mình chàng, nhìn lại mày thử xem: da thì nám đen, tóc khô xồm bôm, môi như người đau bệnh sốt rét, đã vậy không chịu sửa soạn phấn son một tý …xấu kinh khủng, người cũng mập thù lù chớ bộ. Nếu chàng thấy mi cũng thốt lên
Ngày xưa dáng ngọc yêu kiều
Bây giờ mập ú tiêu điều hỡi em
Cả hai cùng cười rung người. Linh tiếp nối vần thơ
Thì anh cũng vậy…xêm xêm
Sói đầu trợt trán bụng thêm khoe đời
– Chắc là tao không thể ngồi tiếp nữa rồi, thà để một mình tao thấy ông, còn hơn ông thấy tao càng chết nữa.
Phượng làm mặt giận
– lâu ngày gặp tao chưa nói chi nhiều, đã lo …chuồn
– Tao hứa sẽ lên nhà mi chơi một ngày, tụi mình đi shopping, đi ăn uống cho vui. Tao ngồi không yên được nữa, cho tao về trước nghe.
Linh không dám nhìn mặt bạn ra sao nữa, đứng dậy xách bóp đi nhanh ra cửa. Bước chân vội vã như bị ma đuổi, sau lưng còn vang tiếng hát của Đồng Thảo vọng theo …
8* em ru gì cho ta, khi bao ngày phôi pha,
câu hát ngân lên bỗng tắt nửa chừng,
thôi đừng hát ru, thôi đừng ray rứt,
lá trút rơi nhiều đâu phải bởi mùa thu….
Minh Thúy Thành Nội
2024
1* Vũ Thành An
2*Tác phẩm Tự Lực Văn Đoàn
3* Thơ Trần Tế Xương
4*Đoàn Chuẩn, Từ Linh
5* Việt Anh
6* Phạm Mạnh Cương
7* Một chuyến Xe Hoa (Minh Kỳ & Dạ Ly Vũ)
8* Phú Quang
CA NHẠC: – Chiều Nhạc Mùa Thu, Thơ : Minh Thúy Thành Nội – Nhạc : Phạm Đức Huyến Ca sĩ : Thảo Quyên – Hòa âm : Đỗ Hải. Version II: Ca Sĩ Nguyễn Hồng Ân.
CA KHÚC MỚI: NGÀN NĂM MÂY BAY – LỜI MINH THÚY/ NHẠC LÊ HỮU NGHĨA . CA SĨ KANA NGỌC THÚY.