Bà Phương ngắm nghía những đòn bánh tét mới vớt ra trong nồi đầy thích thú. Nó nhỏ bằng nắm tay, trông xinh xắn làm sao. “Vậy là mình yên tâm phần nào rồi, vì hai hôm nay đã gói được bánh ít đen, bánh lọc, bánh tét và làm chả chay xong .” Bà vừa dọn dẹp các thứ vừa nhìn đồng hồ điểm 2 giờ sáng – mau lẹ ngủ thôi, mai còn dậy sớm đi thăm đám nữa.
Tháng Tám của những ngày cuối hạ, cái nóng bứt rứt người. Bà ghé chở bà Minh cùng đến nhà quàn thắp nén hương đưa tiễn người đi. Sau đó bà muốn ghé chợ mua thức ăn. “Mai có đám giỗ mẹ chồng, hôm qua đã mua chợ gần nhà một xe rồi, vẫn chưa đủ.” Bà vừa nói với bạn vừa mở Google tìm chợ nào gần nhất vùng San Jose. Hai bà chọn chợ Đại Thành.
Trên đường lái xe, bà P khoe đã làm được các thứ bánh
– hèn chi sáng nay được chị tặng đòn bánh tét. Bà M gật gù nói: “Chị mời ai đông không mà chuẩn bị làm nhiều vậy?”
– “Thì chỉ là con cháu trong nhà.”
_“Rứa không phải các dâu mỗi người làm một món à? Đám giỗ gia đình chồng em khoẻ lắm, cho biết trước ai đem món gì, tránh tình trạng 10 khay mì xào, 10 khay xôi trùng nhau.”
Bà P bật cười: “Thôi, thôi tội dâu con sống ở đây, chúng nó bận rộn theo công việc thở không ra hơi, ngoài ra còn chăm con, đầu tư công sức đưa đón con học bơi, học đàn, học võ tối mặt chứ đâu có đùa được.”
Trời nắng gắt, dù máy lạnh đã mở, nhưng cái nóng vẫn còn hừng hực. Ngày trong tuần đường xá kẹt xe đông đúc. Hai bà để khoảng yên lặng, thả tâm tư suy nghĩ điều gì đó. Bà M chợt nhớ mẹ mình, hình ảnh xa xưa qua những đám giỗ bố chồng, dù không có chồng bên cạnh. Nhất là những ngày cuối năm lạnh giá mùa Tết, bà chứng kiến cảnh mẹ mình nhổ cỏ quét dọn mộ ông nội, đem các thức ăn, bông hoa trái cây trình bày trên mộ, thắp nhang nói với ông nội những điều kính mến yêu thương rất lâu… Nghĩ đến mắt bà M muốn mờ. Nay nhìn hình ảnh bà bạn lo đám giỗ mẹ chồng, kính trên nhường dưới. Đó là cái đẹp của người phụ nữ thời xưa, thời Khổng Tử giáo dục.
Bây giờ đã đi qua thời đại khác, nhất là ở các nước phương Tây phóng khoáng, nam nữ bình đẳng. Như ở Mỹ, con người đều muốn dùng trí tuệ cho sự nghiệp hơn nên bù đầu óc bận rộn. Vậy mà tôi vẫn thấy hình ảnh đẹp và nếp sống đâu đó còn giữ lại. Nghĩ miên man đến chợ Đại Thành hồi nào không hay.
Hai bà già mỗi người đẩy một chiếc xe. Có lẽ đây là ngôi chợ có giá cả rẻ nhất so với những chợ Việt Nam khác, thức ăn tươi tốt lôi cuốn. Bà M tha hồ bốc chôm chôm, trái thơm, măng cụt, thanh long, nectarine, khoai dương châu tím, rau trái. Bà P cũng bốc trái cây không kém, và cả những thứ nấu cúng giỗ. Lướt qua hàng thịt, bà P dừng lại quầy trưng bày những con gà đi bộ nằm trong vỉ tươi tốt, chọn lấy bỏ vào xe.
-“Anh chị ăn chay trường sao lại mua gà?” bà M trố mắt.
-“Nấu cho cháu nội” bà P ra dấu đi lẹ. Lúc lu bu với khách đông chen chúc, bà M chẳng có thì giờ hỏi lại.
Hai bà lẹ làng ra quầy tính tiền mà bụng còn nuối tiếc, ưa quan sát nhiều mặt hàng, muốn mua thêm nữa, nhưng phải về gấp trước 3 giờ chiều, tránh kẹt xe nơi freeway 101 và 880.
Trên đường dài, bà P bắt đầu kể lể: hồi nãy mua con gà vì các cháu nội thường gọi “cơm gà bà nội”, chúng rất thích món này. Con trai thích món bánh tét, mì cà ri, con dâu đứa này thích bánh ít, đứa kia thích canh chua. Nói chung con nào thích món gì đều có trong mâm cúng giỗ.
-“Ôi trời! Chị đã qua thời làm dâu, giờ muốn làm lại ha?”
– “Ừ! Gần tới ngày cúng giỗ lòng mình nao nao cảm giác mong đợi này. Đầu tiên
là thích ngắm mâm cơm chay được trình bày đẹp mắt trước di ảnh mẹ chồng, bông hoa trái cây tươi tô điểm thêm bàn thờ. Thích ngắm khói hương bay nghi ngút. Thích nhìn vào đôi mắt “người đời xưa” và tưởng như mẹ chồng còn sống, mẹ chồng đang hiểu tâm tình đứa con dâu được thể hiện qua hành động. Thích cả cái phút tay run run cài cây nhang, như chạm được vào tay mẹ chồng ngày cũ… Kế tiếp là thích nhìn ông chồng nét mặt sáng rỡ tươi vui, bày tỏ sự hài lòng với nửa mình bên cạnh, chung nhà chung cuộc sống. Cuối cùng là mong chờ các con, các cháu về ‘trước cúng sau cấp’. Bụng dạ cứ hồi hộp chúng nó không thuận duyên, bận rộn giờ phút cuối, như đã từng trước đó thì buồn lắm. Cháu nội hấp thụ cách sống nơi đây, thường ít gần người lớn. Chúng bận học, bận đọc sách và có thế giới riêng của nó. Lo chúng cảm thấy ‘boring’ khi gần người lớn sẽ không đến, nên phải tìm cách nào đó chiêu dụ, chẳng hạn nấu các món chúng thích. Chưa kể tuy ăn chay nhưng vẫn thỉnh thoảng nấu từng nồi món mặn, cho mỗi gia đình đem về nhà, để gia vị cầm chừng dặn mẹ chúng nêm nếm lại.”
Bà M ngắt lời: “Vậy khi con cháu về ăn, nó có phê bình gì không?”
– “Có chứ, thằng Robert nói: ‘Chỉ thích ăn chả giò của bà nội thôi, mấy lần mẹ mua ở tiệm không ngon’. Dâu út: ‘Con mê món cháo nấm của mẹ’. Dâu nhì: ‘Con ăn kiêng nên rất khoái các món chay mẹ cho ăn, nếu còn mẹ cho con… togo nữa nha’. Dâu cả: ‘Hôm trước 200 chả giò mẹ đem lên, giờ gần hết sạch rồi mẹ ơi’. Có đứa còn nhắn tin: ‘Mom, nhớ làm extra cho con mang lên trường nha’. Đọc tin nhắn mà mẹ hết đau lưng… Đó, chỉ chừng đó thôi cũng làm tăng sức sống, tăng niềm vui của mình rồi. Ông xã cười híp mắt luôn miệng trả lời: ‘Để bà nội, để mẹ làm, nấu cho các con đem về’.”
Bà M phá lên cười: “Ôi cái bếp của mẹ nơi xứ người luôn rực tươi ánh lửa hồng, mẹ tình nguyện làm dâu cho cả nhà rồi đó.”
– “Tình mẹ và đời con vậy mà. Con cái thương mẹ, nhưng công việc, chồng con, nhà cửa bị cuốn đi thì sao. Mình hiểu, mình không trách, chỉ sợ mỗi năm chúng nó bận hơn, nên năm nay phải nấu ngon hơn, nhiều hơn, để ‘dụ’ về được chứ.” Tiếng bà P cười tiếp: -“Vì thương con nhớ cháu, mình tình nguyện làm dâu cho cả nhà. Cái bếp là nơi mình giữ lửa, giữ tình thân. Miễn con cháu về đông đủ, mình cực mấy cũng vui, đó là hạnh phúc tìm được.”
Câu chuyện dừng ngang đó vì đã đến nhà bà M. Bà còn ráng nói thêm câu nữa trước khi xách giỏ vào nhà: “Hiểu rồi, chị thích làm dâu một đời, để được làm mẹ trong ngày đoàn tụ phải không?”
****
Thứ Bảy khoảng 5 giờ chiều. Tiếng bà P gọi ở đầu giây bên kia: “Mới thắp nhang nè, xong xuôi hết rồi. Đang ngồi nghỉ mệt nhìn ra đường chờ con về. Gớm! Con cháu mình thôi mà sao tim lại đập, lòng hồi hộp ngóng từng chiếc xe, giống như ngày xưa đợi người yêu vậy cà. A thì ra ngày xưa yêu chàng, bây giờ yêu con, yêu cháu, cảm giác tâm trạng cũng xêm xêm hè.”
Bà quay gửi qua video bàn cỗ chay thiệt đẹp mắt. Trên bàn thờ, tấm hình mẹ chồng cười hiền. Bà P đặt thêm chén chè đậu trắng, món ngày xưa mẹ chồng thích, mà không đứa con nào biết… Bà M cảm thấy vui theo người mẹ Việt Nam dạt dào tình như sông dài biển rộng với con cháu.
Bà M mở đống thư từ các chùa mời dự lễ Vu Lan. Ngày con cái vinh dự vì đi chùa được cài đóa hoa hồng, đóa hoa còn mẹ. Bà M thích quan niệm vị bổn sư của mình: chỉ được dùng một màu hồng cài trên áo dù mẹ còn hay mất. Tuy thể xác đã trở về cát bụi, nhưng hình ảnh, kỷ niệm với mẹ luôn chất đầy ký ức. Không phải chỉ một ngày rằm tháng Bảy mới nhớ về mẹ, mà mẹ vẫn luôn sống hằng ngày hằng giờ trong tâm trí con.
*****
Chiều 4/7 âm lịch, bà M cùng chồng dự lễ Vu Lan chùa Thiên Trúc đầu tiên của tháng 7. Quý thầy hướng dẫn thời kinh Vu Lan Bồn nói về phẩm hiếu hạnh của ngài Mục Kiền Liên đối với mẹ. Hầu như tâm tư mọi người đều chùng xuống.
Vu Lan nhớ những điều gì
Mục Kiền Liên đáp hiếu vì mẹ yêu
Bài kinh thấm đẫm những điều
Nhắc mình phụng dưỡng đến nhiều song thân
Công ơn dưỡng dục cao ngần
Hy sinh vất vả muôn phần vì con
Nhịn dành các thức ăn ngon Con đau mẹ thức mỏi mòn đêm thâu
Đội mưa phơi nắng dãi dầu
Không nề gian khổ nhiệm mầu tình thương
Mẹ là bóng mát che đường
Là vòng tay ấm thơm hương sữa ghiền
Cài hoa tưởng nhớ mẹ hiền
Dầu người đã bước về miền tịnh an
Bài ca dâng hát lời vàng
Tri ân phụ mẫu nhẹ nhàng đầu thu
MTTN
Hình ảnh các em đến cài hoa trên ngực áo khiến bà M nghĩ đến mẹ chồng, mẹ mình. Những bà mẹ hiền hòa, nhân đức luôn có tình yêu độ lượng với tha nhân, với chồng con một đời. Và trong hiện tại, trước mắt bà là hình ảnh một bà mẹ thích được làm dâu để tìm nguồn hạnh phúc. Bà M tiếc mình không có con để giẫm lên, nếm trải cảm giác đó. Thời đại hôm nay vẫn còn tấm lòng người mẹ Việt Nam thoáng như mây trời, êm dịu như mùa thu, tươi mát như suối nguồn, mênh mông như biển cả…
Bà M nghe âm vang vọng lại từ tiếng hát ca sĩ, cư sĩ Quang Tuấn đầy dịu vợi:
Minh Thúy: HAPPY 4TH OF JULY – Phương Hoa: LỄ ĐỘC LẬP – ALAMEDA – Hòn Đảo Nhỏ Mang Trái Tim Nước Mỹ.
==
HAPPY 4TH OF JULY
.
Lễ Độc Lập Hoa Kỳ
Diễn hành oai hùng đi
Trống kèn hòa nhịp điệu
Lá cờ vẫy uy nghi
.
Kỷ niệm ngày khai sinh
Hai trăm rưỡi năm nhìn
Thành lập trang lịch sử
Chặng đường dài hiển vinh
.
1776 tranh
Tuyên ngôn Độc Lập giành
Ra đời Hợp Chủng Quốc
Biểu tượng Tự Do thành
.
Từng giai đoạn khó khăn
13 thuộc địa hằng
Đấu tranh nền dân chủ
Gian khổ phải hiểu rằng
.
Cộng đồng người Việt Nam
Tri ân ý nghĩa hàm
Mỹ mở vòng tay đón
Khởi công bắt tay làm
.
Dự lễ mừng lắm thay
Cờ Mỹ, cờ vàng bay
Cùng đoàn kết dân tộc
4 tháng 7 vui ngày
.
Nơi nơi tiệc rộn ràng
Khui rượu hát hòa vang
Mừng Cờ Hoa vững chải
Thế hệ sau xếp hàng
.
Đêm nghe pháo đì đùng
Trên trời tỏa sáng khung
Xanh đỏ vàng rực rỡ
Niềm cảm xúc hoà chung
.
Minh Thúy Thành Nội
Tháng 7/4/2026
==
Lễ Độc lập _ Mừng Nước Mỹ 250 Năm
Năm nay nước Mỹ mừng 250 năm ngày Độc Lập, và cũng vừa mở hội World Cup 2026 ngay trên đất Mỹ.
Từ ngày 11 tháng 6 tới 19 tháng 7, cờ Mỹ treo khắp nơi, người ta hát quốc ca trước mỗi trận. Gia đình nhà chồng tôi cũng rộn ràng hai thế hệ. Cô chú em ông xã, người mua vé xem tận bên Seattle, người mua vé về Santa Clara. Các cháu cũng vậy. Vợ chồng tôi thuộc thế hệ lão niên, chỉ có ông xã tôi ngày đêm dán mắt vào tivi theo dõi từng trận. Kể cũng tội cho ông, “rượu ngon không có bạn hiền cùng uống”. Vì tôi chẳng biết gì về bóng đá, chỉ xem khi đội Mỹ ra sân, nghe dân reo hò. Thấy lá Cờ Sao Sọc bay giữa sân Levi’s ở Santa Clara, sân Seattle, sân Los Angeles, tự nhiên thấy vui, thấy ấm lòng. Đất nước đã cưu mang mình, nay đứng ra đón cả thế giới.
Qua lời kể của ông xã tôi: Đội Mỹ năm nay đá khá lắm. Mở màn gặp Paraguay ở Los Angeles, thắng 4-1. Tội nghiệp đội bạn, tự đá vào lưới nhà một trái, còn lại thì cậu Folarin Balogun ghi hai bàn, cuối trận cậu Gio Reyna sút thêm một trái cho đủ 4-1. Thắng trận đầu ngay trên sân nhà, cả nước reo. Rồi gặp Úc ở Seattle, Mỹ lại thắng 2-0, giữ sạch lưới. Tới trận gặp Thổ Nhĩ Kỳ ở Los Angeles thì Mỹ thua 3-2, nhưng đá cũng hay. Vô vòng 32 đội, Mỹ gặp Bosnia and Herzegovina ngay sân Santa Clara gần nhà. Con cháu chở cha mẹ đi xem, đường kẹt xe, người đông nghẹt. Mỹ thắng 2-0, Balogun mở tỉ số, rồi cậu Malik Tillman đá phạt đẹp lắm ấn định chiến thắng. Nghe nói đây là lần đầu sau 24 năm Mỹ mới thắng được một trận loại trực tiếp ở World Cup, từ hồi thắng Mexico năm 2002. Thắng xong Mỹ vào gặp Bỉ ở vòng 16 đội. Ngồi nhà coi TV, thấy cầu thủ Mỹ đủ màu da, gốc gác tứ xứ, mà mặc chung một áo, hát chung một bài quốc ca. Ngẫm cũng như mình hồi xưa, chân ướt chân ráo tới xứ này từ sau 1975.
Năm nay nước Mỹ mừng 250 năm ngày Độc Lập. Thời gian chỉ vừa trải qua ba hoặc bốn thế hệ để người Mỹ lập nên một quốc giaa hùng mạnh nhất hành tinh. Tôi còn nhớ một phần lịch sử được học hồi mới qua. Năm 1776, mười ba thuộc địa đồng lòng đứng lên nói với nước Anh rằng: “Chúng tôi muốn tự do”. Rồi trải qua chiến tranh giành độc lập, , rồi viết lên bản Tuyên Ngôn Độc lLập…rồi gian khổ trong nội chiến để bỏ đi chuyện buôn người, chống phân biệt chủng tộc… rồi thịnh vượng. Tham gia vào hai trận Thế chiến để cứu cả thế giới
Từng bước một, nước Mỹ đi lên từ tay trắng, từ những người di dân tứ xứ góp lại. Thành ra hôm nay mới có một nước Mỹ bao dung, đón nhận kẻ tỵ nạn như chúng tôi. Là kẻ tỵ nạn, chân ướt chân ráo tới xứ này từ những ngày sau 1975. Tay xách vài túi quần áo, tiếng Anh ú ớ, trong tay không có mấy đồng. Vậy mà nước Mỹ mở vòng tay đón…
Nhìn ra khoảng sân sau, bụi hoa giấy đỏ thắm tươi dưới nắng hồng rực rỡ, cây phượng vàng che mát khoảng sân, cành lá xanh mượt, những chùm phượng xum xuê nở rộ, ẻo lả đong đưa trước làn gió nhẹ. Mùa hè truyền cảm giác mạnh mẽ, đầy sức sống. Mặc ông chồng đang xem bóng đá, tôi ngắm khu vườn, thả dòng tư tưởng đi qua vùng ký ức.
Ngày đầu gia đình nhà chồng tôi qua trước, gồm 11 người con sống cùng cha mẹ trong ngôi nhà 4 phòng ngủ, 2 phòng tắm. Chỉ có anh chị Cả ở riêng vì qua năm 75. Vợ chồng tôi và gia đình chú em, 4 người, ở garage sửa lại thành 2 phòng. Cả gia đình chỉ có hai chiếc xe cũ mua lại để dùng, số còn lại đi xe bus. Thời gian cứ thế trôi qua, cho đến bây giờ con cháu đỗ đạt thành công. Tính đến nay đã có gần 20 căn nhà, có người hai cái, người ba cái. Xe gần 40 chiếc kể cả con cháu dâu rể.
Xứ Mỹ đã cho chúng tôi cái nhà để ở, cho con cháu trường để học, cho mình công việc để làm lại từ đầu. Từ một người mất hết, mình thành công dân, con cái nên người.
Nhớ mấy năm trước, chân còn khỏe, tôi cũng đi trong đoàn diễn hành ở thành phố Fremont. Lúc đó tôi và ông xã là bạn một hội viên của ABC Club, một tổ chức có tính cách giáo dục, hướng dẫn tuổi trẻ tập dạn dĩ, phải phát biểu ý kiến trước đám đông, tập nói ngắn gọn dễ hiểu để sau này có thể trở thành người lãnh đạo, hay trong mọi lãnh vực khác. Chương trình này đã sinh hoạt gần trăm năm trên nước Mỹ, tên là ABC Toastmasters. Gần 15 năm trở lại đây đã mở rộng trên thế giới. ABC Toastmasters thường họp vào mỗi thứ bảy lúc 10 giờ sáng tại Unitek College, nằm trên đường Auto Mall Parkway. Trong buổi họp, bất cứ ai cũng có thể lên thực tập, nói một đề tài nào đó. Các diễn giả lắng nghe và nhận xét phong cách diễn đạt, rồi đúc kết những khiếm khuyết như nói dài dòng, thế đứng chưa tự tin, giọng nói còn run. ABC Toastmasters đã tham gia diễn hành vài năm qua và được xếp hạng nhì năm ngoái. Lúc đó chúng tôi mặc quần jean xanh, áo đỏ và đội mũ trắng, cầm cờ nhỏ, đi giữa phố người ta vỗ tay vui lắm. Nay già rồi, chân chậm, bạn bè cùng nhóm cũng có người đau yếu, có người bận việc gia đình, nên hết tập họp được nữa. Nghĩ cũng buồn. Nhưng thôi, mỗi thời mỗi khác.
Vừa qua tôi nhận được email của ông hội trưởng Văn Thơ Lạc Việt, ông Lê Văn Hải, cũng như tin nhắn của các em, bạn bè, về lời mời đúng ngày Lễ Độc Lập 4 tháng 7 năm 2026: Mời cộng đồng tỵ nạn Việt Nam đến tham dự Lễ Thượng Kỳ đầu tháng và chương trình “Mừng 250 Năm Quốc Khánh Hoa Kỳ”, được tổ chức tại Vườn Truyền Thống Việt, 1499 Roberts Avenue, San Jose, CA 95122. Trước là lễ chào cờ, sau là chương trình văn nghệ, sinh hoạt cộng đồng, do Ủy Ban Thúc Đẩy Xây Dựng Tượng Đài Chiến Sĩ Việt – Mỹ San Jose góp phần tổ chức. Lời mời chân tình của ông Lê Văn Hải thật tha thiết:
“Năm 2026, Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ long trọng kỷ niệm 250 năm ngày khai sinh quốc gia, 1776–2026, một cột mốc lịch sử vô cùng đặc biệt, hiếm có đối với bất cứ ai đang sinh sống trên đất nước tự do này. Đây không chỉ là dịp để nhìn lại chặng đường hai thế kỷ rưỡi của một quốc gia được xây dựng trên nền tảng Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền, mà còn là dịp để tri ân những thế hệ đã góp phần tạo dựng nên một nước Mỹ hùng mạnh, thịnh vượng và là quê hương thứ hai của hàng triệu người nhập cư, trong đó có cộng đồng người Việt tỵ nạn. Ngày 4 tháng 7, Independence Day, bắt nguồn từ việc Tuyên ngôn Độc lập được chính thức thông qua ngày 4/7/1776, đánh dấu sự ra đời của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Từ đó đến nay, ngày lễ này luôn là biểu tượng của khát vọng tự do và tinh thần đoàn kết dân tộc. Đối với cộng đồng người Việt San Jose tỵ nạn cộng sản, Quốc Khánh Hoa Kỳ còn mang một ý nghĩa sâu sắc hơn: đó là ngày tri ânđất nước đã rộng mở vòng tay đón nhận chúng ta, cho chúng ta cơ hội làm lại cuộc đời trong tự do, an toàn và nhân phẩm. Nên trân trọng kính mời Quý Đồng Hương tham dự buổi sinh hoạt ý nghĩa nhất. Trong đời người, rất ít ai có cơ hội được chứng kiến lễ kỷ niệm 250 năm lập quốc của Hoa Kỳ. Đây là một dấu mốc lịch sử đặc biệt, đáng nhớ và đầy ý nghĩa đối với mọi thế hệ. Kính mời Quý Đồng Hương cùng gia đình dành chút thời gian đến tham dự, cùng nhau kéo lá đại kỳ Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa tung bay trong gió, cùng cất cao tiếng hát, gặp gỡ thân hữu, chia sẻ niềm vui và bày tỏ lòng tri ân đối với đất nước đã cưu mang cộng đồng người Việt suốt hơn nửa thế kỷ qua. Sự hiện diện của Quý Vị sẽ góp phần làm cho ngày Mừng Lễ 250 Năm Quốc Khánh Hoa Kỳ thêm trang trọng, đông vui và đầy ý nghĩa.”
Ngày đó chúng tôi cũng thật bận rộn, nhưng qua lời nhắc nhở của ông Lê Văn Hải về “cái ơn” to lớn của nước Mỹ, hai thân già bệnh hoạn này cũng sẽ ráng tới tham dự, tuy nhiên mất phần xem diễn hành nơi vùng địa phương. Sau trưa sẽ lên nhà cháu gái ở Palo Alto, sum họp đại gia đình ăn mừng Lễ Độc Lập.
Tuổi già sức yếu, chồng tôi đang ngồi hò hét một mình theo các cầu thủ, dù âm thanh không còn mạnh mẽ như những năm trước. Có lần trong giấc ngủ ông đã nằm mơ và hét lên “sút, sút”, rồi nhào đầu húc vào tường mạnh, ngày sau bầm sưng tím cả mắt và vùng thịt chung quanh. Còn tôi thì đang ngắm vùng trời xanh, áng mây trắng nhẹ nhàng trôi. Những bông hoa làm dịu mắt, tôi mơ màng ôn lại khoảng đời từ ngày bước chân lên đất Mỹ, mỉm cười thỏa mãn và tìm niềm vui gõ chữ ghi lại cảm xúc.
Bây giờ cũng có những niềm vui khác. Và điều cố định là sự sum họp ăn mừng Lễ Độc Lập của đại gia đình chồng, thay phiên nhau mỗi năm, lúc tổ chức nhà này, khi nhà kia. Con cháu bên chồng đông lắm, đều ăn học thành tài, đi làm xa. Vậy mà tới lễ là các cháu thu xếp về hết. Cả nhà sum họp, làm tiệc lớn ngoài sân sau. Người nướng thịt, người làm gỏi, con nít chạy chơi. Tối đến cả nhà kéo nhau ra coi pháo bông. Đứa nào cũng mặc áo, đội mũ màu xanh, đỏ, trắng, màu cờ Mỹ. Nhìn một nhà ba thế hệ, tóc bạc có, tóc xanh có, nói tiếng Anh tiếng Việt lộn xộn, lòng thương lắm. Nhìn vậy là cảm nhận niềm hạnh phúc, nước Mỹ đã cho mình phước báu sum vầy. Ơn này lớn quá. Nhớ lại những ngày còn ở quê hương, ăn bo bo, mặc áo cũ, rồi nhìn lại cuộc sống bây giờ, nhìn con cháu nên người, tự nhiên nỗi cảm xúc dâng trào. Chúng tôi mang ơn đất nước này đã cưu mang. Mang ơn lá cờ có năm mươi ngôi sao đã che cho đại gia đình hơn 50 người suốt mấy chục năm qua.
Mừng nước Mỹ 250 tuổi, mình không có gì lớn lao để đền đáp. Chỉ có tấm lòng biết ơn. Biết ơn vì được sống tự do, được thờ cúng tổ tiên, được nói tiếng mẹ đẻ trong nhà mình. Biết ơn vì ngày lễ, con cháu còn biết mặc áo dài, còn biết cúi đầu trước bàn thờ. Chúng tôi là người Việt, nhưng cũng là người Mỹ. Hai quê hương trong một trái tim. Ngày Độc Lập, người ta đốt pháo bông ăn mừng. Đêm khuya tôi cũng thắp nén nhang. Vừa tạ ơn nước Mỹ đã đi 250 năm để có ngày hôm nay cưu mang chúng tôi, vừa xin ông bà phù hộ cho con cháu đừng quên cội nguồn.
250 năm, nước Mỹ vẫn trẻ trung, đầy sức sống của thời đại mới.Chúng tôi, kẻ tỵ nạn năm xưa, nay đã lên lão. Chỉ mong trước khi nhắm mắt, con cháu mình hiểu một điều: Tự do không phải tự nhiên mà có. Phải có người ngã xuống từ năm 1776, có người cưu mang mình sau năm 1975, có người biết nhớ ơn mà giữ gìn.
Cám ơn nước Mỹ đã cho chúng tôi một đời thứ hai .
Minh ThúyThành Nội Lễ Độc Lập Hoa Kỳ/2026
==
==
ALAMEDA – Hòn Đảo Nhỏ Mang Trái Tim Nước Mỹ
Phương Hoa
==
==
Sáng ngày 4 tháng 7.
Alameda nơi tôi sống không phải là thành phố lớn. Chỉ là một hòn đảo nhỏ nằm an bình giữa vịnh San Francisco. Thành phố được thành lập năm 1853, hiện có khoảng tám mươi ngàn cư dân. Thế nhưng, nơi đây lại sở hữu một niềm hảnh diện khôn cùng, vì thành phố mỗi năm đều có cuộc diễn hành ngày Quốc Khánh, Lễ Độc Lập 4th July, dài nhất nước Mỹ,kéo dài hơn 3,3 dặm (5,3 km), quy tụ hàng trăm đoàn diễn hành và mỗi năm thu hút khoảng 60.000 người tới từ khắp nơi.
Năm nay lại càng đặc biệt hơn, vì là kỷ niệm 250 năm ngày Độc Lập của đất nước Hoa Kỳ. Từ rất sớm, con đường Park Street, từ đoạn Lincoln Avenue vượt qua Central Avenue về hướng downtown đã rợp sắc Cờ Hoa. Ghế xếp phủ kín hai bên lề đường. Người già, trẻ nhỏ, cựu chiến binh, gia đình nhiều thế hệ… tất cả cùng những lá cờ Mỹ phất phơ truớc gió chờ đợi đoàn diễn hành với một bầu không khí vừa náo nức vừa thiêng liêng.
Điều bất ngờ là, trong khi Hoa Kỳ kỷ niệm 250 năm Tuyên Ngôn Độc Lập (1776–2026), thì Sở Cứu Hỏa Alameda cũng vừa tròn 150 năm phục vụ cộng đồng. Thật là kỳ diệu và thú vị vô cùng, hai điểm lịch sử hòa làm một cùng tiếng nhạc quân hành, cùng rừng Cờ Hoa sắc xanh trắng đỏ, và cùng những tràng pháo tay không dứt của người dân đứng ngồi đông nghẹt hai bên vệ đường.
Xe hoa nối tiếp xe hoa. Những chiếc bánh kem khổng lồ chạy xoay vòng vòng ngộ nghĩnh giữa lòng phố thị; những chú ngựa oai phong gõ vó lộp cộp đều đều trên mặt đường; những chiếc xe cổ bóng loáng, những ban nhạc, những đoàn thiếu nhi, các hội đoàn thiện nguyện, cựu chiến binh, cảnh sát, cứu hỏa… tất cả hòa nhập dệt thành một bức tranh đường phố, di chuyển ngoằn ngoèo rất sinh động, và đầy màu sắc như để minh chứng về sự hùng mạnh của nước Mỹ ngày hôm nay.
Cầm lấy cây cờ Mỹ từ tay một người lính cứu hỏa trên chiếc xe hoa chồm ra đưa khi thấy tôi chạy lại gần để chụp hình, tôi hào hứng đưa lên vẫy lia lịa. Nhìn xung quanh tôi, người dân cũng cùng nhau vẫy cờ Hoa Kỳ, cùng reo hò vang dội mỗi khi một đoàn diễn hành, một chiếc xe hoa chạy ngang qua. Niềm vui và hạnh phúc hiện rõ trên khuôn mặt mỗi người. Tại thành phố của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ này, không ai hỏi bạn đến từ đâu, cũng không ai phân biệt ngôn ngữ, chỉ có những bàn tay đủ màu da, trắng, đen, vàng, đỏ… cùng vẫy lá Cờ Hoa. Và đó mới chính là nhân tố làm nên vẻ đẹp của nước Mỹ.
==
==
Ngày Độc Lập đã được viết trong bản Tuyên Ngôn năm 1776. Nhưng ngày Lễ Độc Lập hiện giờ đang bừng sáng vì sự ngưỡng mộ của những đứa trẻ, trong ánh mắt của toàn dân, cùng tiếng vó ngựa vang lên giữa phố, và quan trọng hơn hết, là trong quyền tự do được đứng bên nhau để mừng ngày sinh nhật của Tổ Quốc có 50 Tiểu Bang này.
Giữa biển người hôm ấy, tôi chợt hiểu vì sao cuộc diễn hành của Alameda đã tồn tại non thế kỷ. Bởi vì nó là một lễ hội đầy ắp những nụ cười, những tiếng vỗ tay, và niềm hảnh diện của những con người bình dị từ bài học lịch sử sống động nhất.
Đã nhiều thập niên sống trên đất Mỹ, tôi đã dự Lễ Độc Lập nhiều vô số kể. Nhưng ngày hôm nay, giữa bầu trời xanh thẳm của Alameda, nhìn hàng vạn người dân đủ mọi sắc tộc cùng vẫy cờ Hoa Kỳ, tôi chợt cảm nhận rất rõ một điều. Sức mạnh của nước Mỹ nằm ở kinh tế, quân sự, nhưng quan trọng nhất là khả năng gắn kết những con người khác nhau bằng một lý tưởng chung. Đó là hai chữ Tự Do.
*
Và rồi đêm pháo hoa. Ban ngày là ngày hội của Cờ Hoa, của tiếng nhạc quân hành, và những đoàn diễn hành bất tận, rồi khi màn đêm buông xuống, Alameda lại khoác lên mình một vẻ đẹp hùng vĩ lung linh khác.
Sau 7 giờ tối, từ trong phố ra đến bến cảng Alameda, hàng ngàn người lặng lẽ đổ về phía biển gần mép nước. Người mang theo ghế xếp, người trải tấm chăn trên bờ cát, trẻ em ôm từng dây pháo bông chạy tung tăng, rồi dừng lại đốt lên cháy sáng rực cả một góc trời. Những người già ngồi sát bên nhau, khoác áo len mắt hướng về phía mặt vịnh mênh mông, người trẻ thì ăn uống vui cười, mở nhạc om sòm vừa ôm nhau lắc lư thật nhộn nhịp. Nhưng tất cả đều hướng mắt về phía cầu tàu bên biển Berkeley, chờ pháo bông nở rộ.
Xa xa là cây cầu Bay Bridge của San Fransisco sáng rực ánh đèn nối liền đôi bờ vịnh. Những chiếc phà lặng lẽ lướt xa xa, hình như trên đó mang theo nhiều du khách đang chờ chứng kiến giây phút lịch sử của nước Mỹ tròn 250 năm tuổi.
Rồi…Một tiếng nổ đầu tiên xé tan màn đêm, phụt lên trời sáng lóe. Tiếp theo là tiếng reo hò vang dậy. Rồi từng chùm pháo hoa đỏ, trắng, xanh, ba màu của lá Cờ Hoa, đồng loạt bùng nở trên bầu trời, phản chiếu xuống mặt nước lung linh như hàng ngàn viên kim cương đang nhảy múa. Cả vịnh biển như bừng tỉnh. Tiếng pháo dội vào không gian. Tiếng sóng vỗ dập dềnh vào bến làm vỡ vụn những ánh sao trên bầu trời vừa rơi xuống nước. Tiếng vỗ tay vang dội hòa cùng tiếng trẻ thơ reo cười rộn vang trên bến.
Lúc này mọi hoạt động ăn uống như dừng hẳn lại. Mọi ánh mắt đều hướng sang phía Berkeley Marina, nơi những chùm pháo hoa liên tiếp bừng nở trên nền trời. Từ bên kia vịnh, từng đóa hoa lửa đủ màu phản chiếu xuống mặt nước lấp lánh, khiến cả không gian như chìm trong một biển ánh sáng. Tiếng reo hò, tiếng vỗ tay tiếp tục hòa cùng tiếng sóng vỗ bờ tạo nên một bản hợp xướng tuyệt đẹp của đêm Quốc Khánh. Dù pháo hoa được bắn từ phía Berkeley, nhưng niềm hân hoan thì lan tỏa khắp mặt biển, nối liền hai bờ bằng niềm vui chung dành cho nước Mỹ.
Tôi đứng giữa biển người đông nghẹt nơi bến cảng, lặng nhìn những đóa hoa lửa nở rồi tan trên nền trời đêm, lòng bâng khuâng suy nghĩ, thương cho những đất nước nào trên trái đất mà người dân chưa bao giờ có cơ hội hiểu hết ý nghĩa của hai chữ Tự Do.
Rời bờ biển Alameda khi trời đã về khuya, nghe như tiếng nhạc vẫn còn vang vọng đâu đây. Những chùm pháo hoa bên kia vịnh đã tắt, nhưng trong tôi vẫn còn rực sáng một niềm tin. Hai trăm năm mươi năm vốn chỉ là một dấu ấn của lịch sử. Điều còn lại mãi mãi là tinh thần của một dân tộc biết trân trọng tự do, biết gìn giữ độc lập, và biết truyền ngọn lửa ấy từ thế hệ này sang thế hệ khác, từ Hoa Kỳ ra khắp năm châu.
Có lẽ vì vậy mà hàng năm trong ngày Lễ Độc Lập, người ta đến Alameda để xem cuộc diễn hành dài nhất nước, và để được sống lại một phần tâm hồn của nước Mỹ tự do. Đã đi qua biết bao mùa Quốc khánh trên quê hương thứ hai này, nhưng mỗi lần lá cờ Hoa Kỳ tung bay trong nắng tháng Bảy, lòng tôi vẫn dâng lên một niềm xúc động vô biên. Bất giác nghĩ rằng… Đêm đã qua, pháo hoa đã tắt, nhưng ánh sáng của ngày Độc Lập sẽ còn ở lại trong trái tim của hàng vạn con người đang có mặt nơi đây.
250 năm, một dân tộc, một lá cờ, và một nền Tự Do bất diệt.
Happy Birthday, America!
Phương Hoa – Lễ Độc Lập Hoa Kỳ
==
VTLV – TRANG ĐẶC BIỆT MỪNG NGÀY TỪ PHỤ 2026. ĐỖ DUNG: Tùy Bút “Đỗ Gia Trang Trên Đồi Mê Linh.” Phương Hoa: THƠ CHÚC MỪNG NGÀY TỪ PHỤ. Phương Thúy: MỘT ĐỜI TẬN TỤY. Minh Thúy: THƠ & VĂN VỀ NGÀY LỄ CHA. THƠ TRẦN VẤN LỆ. THƠ CAO MỴ NHÂN.
==
THƠ CHÚC MỪNG NGÀY TỪ PHỤ
(Thủ nhất thanh – Nhị khúc)
CHÚC ngày tháng Sáu rộn ràng nha!
CHÚC khắp hoàn cầu mở tiệc hoa
CHÚC thọ Father dâng mỹ tửu
CHÚC an Từ Phụ hiến Tiên trà
CHÚC lòng trung hiếu luôn bền vững
CHÚC chữ nghĩa nhân mãi hiệp hoà
CHÚC hãy đừng quên ơn dưỡng dục
CHÚC toàn chốn chốn thảy mừng CHA
*
MỪNG Cha luôn được sống an nhàn
MỪNG kính Phụ thân thọ tuổi vàng
MỪNG nhận niềm vui thêm chất ngất
MỪNG mong hạnh phúc mãi đầy tràn
MỪNG trong gia đạo nhìn con hiếu
MỪNG chốn học đường thấy cháu ngoan
MỪNG Lễ Father’s xin ước nguyện
MỪNG chờ ngày trở lại giang san….
Phương Hoa – HAPPY Father’s Day
==
THƠ HỌA – MỪNG NGÀY TỪ PHỤ:NGUYỄN HUY KHÔI
MỪNG NGÀY TỪ PHỤ
(Bát cú liên khúc)
Có NGÀY TỪ PHỤ “đã” rồi nha,
Lòng rộ lộc chồi thắm trái hoa!?
Bằng hữu ưu tôn cung chuốc rượu,
Cháu con chân kính phụng dâng trà!
Hương thôn đầm ấm đời khang thịnh,
Chồng vợ hiền lương sống thuận hòa!
Trước sủng muôn nơi tôn Nghĩa Mẹ,
Nay mừng thiên hạ trọng Công Cha!
**
Mừng Cha an lạc cảnh thơi nhàn.
Thọ hưởng Song Thân gấp bội vàng!
Ngõ rộn lời già khơi sắc thắm,
Nhà xôm tiếng trẻ tỏa hương tràn!
Học Đường bồi tẩm nhân tâm sáng,
Gia đạo trau gìn đức hiếu ngoan!
Dân mạnh-Nước giầu bền Xã Tắc,
Cơ đồ tấn triển rạng TIÊN SAN!
Nguyễn Huy Khôi
21-6-2026
==
=
THƠ TRẦN VẤN LỆ
.
Rồi… lại tới Ngày Lễ: Đón mừng Ngày Nhớ Cha!
Trước… ngày này, hôm qua / là Ngày Mừng Nhớ Mẹ!
.
Mẹ luôn luôn là thế: ưu tiên mọi tấm lòng!
Mẹ là biển là sông / rộng vô bờ vô bến…
.
Mẹ với Cha có hẹn / để cháu con nhớ về…
cái chỗ gọi là Quê – Tình Yêu Không Đong Đếm!…
.
Có người về Điểm Hẹn bây giờ là khói nhang…
nhưng những cánh tay choàng ôm đất trời ấm áp!
.
Có người về chậm chạp… vì gió táp mưa sa!
Chuyện của Đất Nước TA / hai Thế Kỷ Nước Mắt!
.
Tôi… thành thật thú thật: Tôi-trường-hợp-thứ-hai
… là đường xa mây bay… là dặm dài vô định!
.
Thương quá chớ, thời Lính: Mẹ Cha hằng mong con!
Thương là Thương, rất thương… những đứa con bất hiếu!
*
Em của tôi làm điệu: Hai mắt đang ướt kìa!
“Em nhớ Ba, không chia – Một Cái Hôn Giùm Với…”
.
Ôi người yêu tôi nói nghe buồn như trong mơ!
Và đây là… Bài Thơ: Happy Father’s Day em, đó!
.
Có người yêu bỗng nhỏ như giọt lệ lăn lăn…
Có người yêu như trăng… Vầng Trăng Tôi Gọi Nguyệt!
.
Em là lòng tha thiết tôi gửi về Cố Hương
Lòng đứa con tha phương bốn phương đường thiên lý!
.
Việt Nam nhìn từ Mỹ xa vời nhang khói bay!
Happy Father’s Day! Happy Father’s Day!
.
Trần Vấn Lệ
=
=
NGƯỜI CHA HÀNG XÓM. CAO MỴ NHÂN
Cha tiễn con đi chiến dịch
Tuổi vừa tròn chẵn đôi mươi
Cùng nghe bên trời súng địch
Nổi lên ” thách đố ” trận đời
*
Làm sao quên ngay buổi đó
Mẹ không giấu được băn khoăn
Cha cười lẫn trong nỗi khổ
Thế rồi con ngủ trăm năm
*
Mấy mươi mùa xuân tan vỡ
Mẹ, cha vướng víu dương trần
Khói hương quê nhà lỡ dở
Cha giờ uất hận chôn thân
*
Muốn san bằng câu hỗn hợp
Cũng không thể sống bình yên
Ngang trời sáng tia lửa chớp
Mẹ nhìn cha thoắt cuồng điên
*
Cuộc chiến càng sâu thăm thẳm
Ai người chứng kiến hôm qua
Để ngày nay thôi u uẩn
Tội tình oan nghiệt người cha …
CAO MỴ NHÂN
=
ĐỖ GIA TRANG TRÊN ĐỒI MÊ LINH
Đỗ Dung kính nhớ Bố.
FATHER’S DAY 2026
Có những ngôi nhà biến mất khỏi mặt đất từ rất lâu nhưng vẫn còn nguyên trong ký ức.
Tôi nghĩ về điều đó vào một chiều cuối năm, khi ngồi bên cạnh Bố trong căn phòng nhỏ của viện dưỡng lão.
Ngoài cửa kính, trời mùa đông California xám đục. Mấy cành cây trơ lá run nhẹ trong gió. Chiếc tivi đặt ở góc phòng vẫn mở nhưng không có tiếng. Ánh sáng xanh nhấp nháy trên khuôn mặt đã hằn sâu những nếp thời gian.
Tôi cúi xuống hỏi:
“Bố có biết con là ai không?”
Ông ngẩng lên nhìn tôi. Đôi mắt đục mờ vì tuổi tác bỗng sáng ra một chút.
“Dung.”
Chỉ một tiếng gọi ấy thôi.
Bao nhiêu năm tháng bỗng quay về.
Tôi lại thấy mình đứng trong căn nhà cũ ở Mai Hắc Đế của Hà Nội ngày xưa. Những buổi sáng mùa đông, sương còn đọng trên mái ngói. Mùi hương trầm len lỏi trong từng gian nhà. Bộ sập gụ bóng màu thời gian nằm giữa phòng khách. Trên mặt tủ chè khảm xà cừ, những ông tiên trong tích Bát Tiên vẫn lấp lánh dưới ánh đèn vàng.
Đó là thế giới đầu tiên của tuổi thơ tôi.
Một thế giới có tiếng guốc của Mẹ đi trong sân. Có tiếng anh chị em gọi nhau í ới. Có mùi nước mắm chưng trên bếp. Và có tiếng chuông cơm của Bố.
Ba hồi dài.
Lúc nào cũng vậy.
Tiếng chuông vang lên là mọi cuộc chơi phải dừng lại.
Đứa ở sân trước chạy vào.
Đứa ở sân sau chạy lên.
Đứa còn đang đọc sách cũng phải gấp sách lại.
Cả nhà ngồi quanh mâm cơm như một nghi lễ không ai được phép vắng mặt.
Ngày ấy chúng tôi nghĩ đó là luật.
Nhiều năm sau mới hiểu đó là tình yêu.
Có những người cha thể hiện tình yêu bằng những lời âu yếm. Có người bằng những cái ôm. Bố tôi lại chọn cách riêng của ông: dựng nên một nếp nhà.
Ông vốn là người lính.
Người lính thường tin vào kỷ luật như tin vào xương sống của một đời người.
Khi gia đình chuyển vào Sài Gòn, căn nhà trên đường Thành Thái dần trở thành một thế giới riêng mang dấu ấn của ông. Chuông điện lớn được lắp ngay phòng khách. Mỗi người có một tín hiệu riêng. Phòng ngủ của mấy chị em được ông gọi bằng cái tên rất nhà binh: “Trại nữ binh”.
Mỗi lần nhớ lại, tôi vẫn bật cười.
Ngay cả tuổi thơ của chúng tôi cũng được tổ chức theo kiểu nhà binh.
Nhưng lạ thay, trong ký ức, tất cả đều ấm áp.
Kỷ luật của Bố chưa bao giờ làm người ta sợ.
Nó giống hàng rào quanh một khu vườn hơn.
Nhờ có nó mà những đứa trẻ được lớn lên trong an toàn.
Bên dưới vẻ nghiêm nghị ấy là một tâm hồn mềm đến không ngờ.
Ông mê nhạc tiền chiến.
Những đêm yên tĩnh, từ chiếc máy hát trong phòng khách vang lên Suối Mơ, Thiên Thai, Con Thuyền Không Bến. Có những bản nhạc tôi đã quên gần hết lời nhưng mỗi lần nghe lại vẫn thấy hiện lên bóng dáng Bố ngồi lặng lẽ bên tách trà.
Ông thích thơ.
Thích viết.
Thích những câu chữ đẹp.
Có lần tôi than phiền rằng hôm sau phải thuyết trình ở trường. Sáng dậy đã thấy trên bàn một bài viết hoàn chỉnh ông thức khuya chuẩn bị cho con gái.
Đến bây giờ tôi vẫn không biết trong đêm ấy ông đã thức đến mấy giờ.
Nhưng tôi biết chắc một điều:
Có những người cha không nói “Bố thương con”.
Họ dành cả cuộc đời để làm điều đó.
Nhà tôi đông con.
Đông đến mức người ngoài nhìn vào thường ngạc nhiên.
Vậy mà bằng một cách nào đó, Bố vẫn biết rõ từng đứa.
Biết đứa nào yếu đuối.
Biết đứa nào bướng bỉnh.
Biết đứa nào đang buồn.
Biết đứa nào cần được giúp đỡ.
Mỗi người nhận từ ông một tình thương khác nhau nhưng không ai thấy mình bị bỏ quên.
Có lẽ vì thế mà cho đến tận bây giờ, khi tóc đã điểm bạc, anh chị em chúng tôi vẫn nhắc về ông như nhắc về tâm điểm của một vòng tròn.
Rồi đất nước đổi thay.
Những cơn sóng lớn của lịch sử tràn qua từng mái nhà.
Gia đình tôi cũng không nằm ngoài dòng chảy ấy.
Một ngày, người cha vẫn đứng đầu bàn ăn bỗng phải rời khỏi nhà để bước vào những năm tháng cải tạo.
Khi ấy tôi còn trẻ.
Chưa đủ tuổi để hiểu hết nỗi đau của người lớn.
Nhưng tôi nhớ rất rõ khuôn mặt của Mẹ.
Nhớ những đêm đèn khuya.
Nhớ mùi nhang trên bàn thờ.
Nhớ sự chờ đợi kéo dài tưởng như không có điểm cuối.
Sau này đọc lại những dòng di bút của Bố, tôi mới hiểu phần nào sức mạnh đã giúp ông đi qua những năm tháng ấy.
Ông không viết về hận thù.
Ông viết về nhân cách.
Ông không nói đến thất bại.
Ông nói đến lòng tự trọng.
Có những con người càng ở trong nghịch cảnh càng hiện rõ phẩm giá của mình.
Bố thuộc về số ít những người như thế.
Ngày đoàn tụ ở San Francisco, tôi nhìn thấy một người đàn ông gầy hơn, già hơn, tóc bạc hơn.
Nhưng không phải là một người bị đánh gục.
Tôi nghĩ có những chiến thắng không ai nhìn thấy.
Đó là khi một con người vẫn giữ được phần tốt đẹp nhất của mình sau tất cả những gì đã xảy ra.
Những năm cuối đời, sức khỏe của ông yếu dần.
Bệnh tật đến như những cơn thủy triều không thể cưỡng lại.
Mẹ cũng già đi.
Hai người chậm rãi bước về phía bên kia cuộc đời.
Có lần nhìn họ ngồi cạnh nhau trong phòng bệnh, tôi chợt nghĩ đến hai ngọn đèn dầu đã cháy gần cạn.
Ánh sáng không còn mạnh.
Nhưng vẫn sáng.
Vẫn đủ để soi cho nhau.
Ngày ấy, Bố thường nói về một giấc mơ.
Ông gọi nó là Đỗ Gia Trang.
Một khu nhà trên đồi Mê Linh.
Một mặt hồ.
Một dãy nhà hình chữ U.
Ông bà ở giữa.
Con cháu quây quần xung quanh.
Ông còn vẽ sơ đồ bằng bút chì và ghi tên từng đứa con vào từng phòng.
Nhiều năm qua đi.
Giấc mơ ấy chưa bao giờ được xây dựng bằng gạch đá.
Nhưng càng sống lâu, tôi càng hiểu rằng Bố đã xây nó rồi.
Ông xây bằng một vật liệu bền hơn xi măng.
Ông xây bằng ký ức.
Bằng tiếng chuông cơm ba hồi.
Bằng những bài hát cũ.
Bằng những lời dạy đơn sơ.
Bằng những giọt nước mắt ngày tiễn con gái về nhà chồng.
Bằng khí phách của một người lính không chịu đánh mất mình.
Bằng tình yêu bền bỉ dành cho gia đình.
Cho nên hôm nay, khi nhìn lại, tôi không còn tiếc ngôi nhà trên đồi Mê Linh nữa.
Bởi vì Đỗ Gia Trang chưa bao giờ nằm ở một địa chỉ nào trên bản đồ.
Nó nằm trong chúng tôi.
Trong cách anh chị em vẫn tìm đến nhau.
Trong cách con cháu vẫn nhắc tên Ông Bà.
Trong cách một gia đình được nối tiếp qua nhiều thế hệ bằng lòng biết ơn và ký ức.
Chiều cuối năm ngoài cửa kính đã xuống hẳn.
Tôi ngồi bên cạnh Bố.
Nắm bàn tay gầy guộc của ông trong tay mình.
Bàn tay ấy đã đi qua chiến tranh, tù đày, ly biệt và đoàn tụ.
Bàn tay ấy đã dựng nên một mái nhà.
Và bỗng nhiên, từ rất xa trong ký ức, tôi lại nghe thấy tiếng chuông cơm năm nào.
Ba hồi dài.
Rõ ràng.
Ấm áp.
Như thể suốt cuộc đời này, Bố vẫn đang gọi chúng tôi trở về.
Đỗ Dung
==
MỘT ĐỜI TẬN TỤY – Tùy Bút Nguyễn Phương Thúy
Một Đời Tận Tụy
Nguyễn Phương Thúy
Bố Mẹ tôi di cư vào Nam lúc tôi mới được vài tháng. Thay tên đổi họ, Bố phải làm lại từ đầu mặc dù đã có bằng Diplome Pháp. Trước tiên là Bố thi Tiểu học, năm sau thi nhảy Tú tài I, rồi năm kế thi Tú tài II, sau đó thi vào ngạch Bộ Y tế. Bố vừa đi làm vừa lấy bằng cử nhân Luật trong bốn năm, rồi lại thi chuyển ngạch sang Bộ Ngoại giao. Ban ngày Bố đi làm, ban đêm chong đèn học khi các con đã đi ngủ hết. Bố học rất giỏi lại nhớ lâu, như một tủ sách biết đi.
Nhà đông con, cứ hai năm lại thêm một đứa, chỉ một mình Bố đi làm nuôi cả gia đình. Đời sống tuy chật vật, nhưng Bố lại không muốn Mẹ tôi phải tất bật phụ giúp việc mưu sinh vì Bố cho rằng việc chăm sóc và dậy dỗ con cái là tối quan trọng. Bố lo cho gia đình rất đầy đủ, cho chúng tôi được ăn học đàng hoàng nhưng bản than Bố rất cần kiệm, ăn uống rất giản dị, nhường cho vợ con ăn trước, rồi còn gì ăn nấy, nhiều khi nhâm nhi tí rượu với rau muống luộc cũng xong.
Bố Mẹ tôi có bảy người con, hai con trai đầu và cuối, ở giữa là năm cô con gái. Mỗi lần sanh, nghe bà đỡ reo lên “con gái” là Mẹ lại ớn đến phát rét, nhưng Bố thì rất thích, cho rằng:
“Con gái là con của ta,
Thương cha, thương mẹ, việc nhà đảm đang.”
Tôi là chị cả của đám con gái. Khỏi phải nói, tôi được hưởng nhiều quyền lợi hơn các em, cái gì cũng được ưu tiên, từ quần áo đến đồ chơi, nhưng ngược lại tôi phải phụ Mẹ tôi lo cho gia đình. Tôi đảm nhiệm vai trò của mình khá giỏi giang, lại hợp tính Bố, hay thủ thỉ tâm tình, nên Bố yêu thương tôi hơn cả. Những lúc lỡ tay làm vỡ chén bát, đồ đạc, tôi chỉ cần mau lẹ thú tội với Bố là Bố nhận hết tội dùm tôi; thế là tôi tránh được biết bao nhiêu cái roi vào đít.
Khi tôi lên chín, thì Bộ Y tế cho Bố đi tu nghiệp ở London sáu tháng. Tôi không bao giờ quên được hôm tiễn Bố ở phi trường Tân Sơn Nhất. Tôi cứ bịn rịn, quấn quanh chân Bố không muốn rời. Đến khi Bố đưa tay vẫy và khuất bóng sau cách cửa tàu bay thì tôi khóc nức nở, chỉ sợ Bố đi luôn, không về nữa. Mẹ phải trấn an và dỗ dành là Bố sẽ về và sẽ mua cho tôi nhiều đồ chơi thật đẹp.
Tôi nhớ Bố đến héo hon. Chiều nào cũng vậy, sau bữa cơm tối, chị Hai (người giúp việc) dẫn tôi ra đầu đường ngóng Bố. Tôi đứng ôm cột đèn, dõi mắt tìm Bố trong dòng người, dòng xe cộ tấp nập qua lại. Mãi đến khi phố lên đèn thì tôi mới lủi thủi đi về.
Sáu tháng dài dằng dặc rồi cũng qua. Ngày đón Bố về vui như hội. Tôi lăn xả vào lòng Bố, đòi Bố kể cho nghe những món quà đang nằm trong vali. Tôi nài nỉ, kì kèo cho mình được chọn quà trước và tôi đã dành được con búp bê đẹp nhất, tóc dài vàng óng, váy đỏ viền ren, biết nhắm mắt mở mắt. Các em tôi còn hậm hực, ấm ức mãi cho đến bây giờ.
Đời sống hạnh phúc, êm đềm trôi giữa những giao động của chiến tranh. Công việc của Bố ở bệnh viện Chợ Rẫy rất vững bền. Bố được cấp nhà cho ở gần đó và được mọi người kính nể, thương mến.
Năm 1968, Tết Mậu Thân, Việt cộng tấn công thủ đô và các vùng phụ cận. Gia đình tôi chứng kiến cảnh giết người ngay trước cửa nhà, trên đường Lê Đại Hành. Lần đâu tôi thấy Bố sợ hãi, như thể một cái gì thật khủng khiếp trong quá khứ bỗng dưng chổi dậy đe dọa phá vỡ những gì mà chúng tôi đang có, kể cả sinh mệnh.
Tôi lập cập chồng hai cái ghế vào nhau để Bố leo lên trần nhà trốn. Sự sợ hãi của Bố Mẹ bao trùm con cái, cả con chó cũng sợ lây. Tôi núp trong căn phòng nhỏ dưới chân cầu thang, siết chặt hai bàn tay cho cơ thể đỡ run rẩy; nhắm nghiền mắt cầu nguyện với niềm tin tuyệt đối vào sự cứu khổ và linh ứng của Phật Bà Quán Thế Âm.
Thật may mắn, bọn Việt cộng đã bỏ đi sau khi giết chết một người đàn ông vô tội. Bố vội vã đưa gia đình vào tạm trú trong nhà thương Chợ Rẫy. Đến khi bình yên trở về nhà, tôi thấy có những vết đạn loang lổ trên tường.
Từ đấy Bố tôi trở nên trầm tư, bi quan, và để ý theo dõi cuộc chiến mà mỗi ngày một thêm khốc liệt.
Rồi Bố nhất định bỏ hết những bổng lộc đang có, để thi chuyển ngạch vào Bộ Ngoại giao, mong muốn sẽ có cơ hội đem cả gia đình đi ngoại quốc. Bố am hiểu tình hình chính trị nước nhà và thế giới, đã tiên đoán được vận mệnh không may của đất nước sau này.
Rồi những ngày tháng của 1975 hoảng loạn, ai cũng tìm đường chạy, vòng trong và vòng ngoài phi trường Tân Sơn Nhất đầy xe và người. Bố liên lạc hàng tuần, dục Mẹ lên Bộ Ngoại giao xin visa qua Lào đoàn tụ gia đình, chuẩn bị hành lý, đốt những giấy tờ, hình ảnh không cần thiết. Nhờ có Bố mà chúng tôi đi được trót lọt, đáp chuyến bay cuối cùng qua Lào chỉ một tuần trước khi mất nước.
Đến Lào, sau vài hôm nghỉ ngơi, Bố lại dục chúng tôi “dọn nhà”, chuẩn bị sẵn sàng cho một cuộc ra đi khác.
Đúng như Bố dự đoán, 10:45 sáng ngày 30 tháng Tư, có tin Sài Gòn đã mất. Từ nhiệm sở về, Bố vội vã hối thúc mọi người ra xe thật nhanh vì Bố biết bọn Lào cộng sẽ kéo đến đây, bắt Bố là người tổ chức những chương trình kiều vận để lôi kéo đồng bào Việt về với quốc gia. Cả gia đình gồm chín người và hành lý không thể dồn hết vào chiếc xe Toyota. Bố Mẹ tôi và em gái phải ở lại chờ chuyến sau. Chú Lễ, nhân viên của Bố, chở chúng tôi về nhà chú gần đấy rồi quay trở lại ngay để đón Bố Mẹ và em tôi. Đúng đến lúc tôi tuyệt vọng, không thể chờ được nữa thì Bố Mẹ và em tôi về, cùng với ba chiếc taxi. Mọi người hối hả lên xe, chạy hết tốc lực về phía Thadeur là nơi giáp sông Mekong; từ đây chúng tôi hồi hộp vượt sông, lấy chuyến xe lửa tốc hành chạy suốt đêm đến Bangkok. Vừa đến đây lại được tin tòa Đại sứ VN đóng cửa, chúng tôi đành theo nhân viên tòa Đại sứ lên mấy chiếc xe bus trực chỉ căn cứ Mỹ Utapao. Cuộc trốn chạy bọn Lào cộng, tìm tự do của gia đình tôi từ Vientiane, qua sông Mekong, đến Bangkok, rồi đến Utapao có nhiều khó khăn và nguy hiểm, nhưng có Bố bên cạnh, tôi không thấy sợ hãi, chỉ thấy buồn thấm thía. Trong cái tai họa chung của dân tộc, mới thấy gia đình tôi thật là quá may mắn.
Lại một lần nữa Bố tôi phải gầy dựng lại từ đầu, từ hai bàn tay trắng. Bố sẵn sàng làm bất cứ việc gì để nuôi gia đình và chỉ muốn Mẹ tôi tiếp tục quán xuyến việc nội trợ như xưa. Khi cầm cái paycheck đầu tiên, Bố đã bật khóc. Cái paycheck ấy đã đem lại sự sống, niềm hy vọng cho gia đình tôi, và cũng giúp Bố lấy lại lòng tự trọng và niềm tự hào khi tiếp tục hoàn thành bổn phận của một người cha và là trụ cột của gia đình.
Bố mua một chiếc station wagon để đưa đón chị em tôi đi học ở Ohio University, cách nhà hơn bốn tiếng lái xe.
Bố không quen lái đường xa, vẫn vui vẻ đón đưa con đi về vào kỳ nghỉ của trường dù tôi muốn tránh cho Bố việc lái xe nhọc nhằn, nguy hiểm bằng cách xin ở lại trong ký túc xá (dorm). Sự lo lắng của tôi đã thành sự thật.
Trên đường về, xe của Bố đâm xuống ruộng, may mà Bố chỉ bị thương nhẹ; nhưng cái xe thì hư hại hoàn toàn; bán cho tiệm xăng được 100 dollars thì tiền đi taxi về nhà hết 120 dollars.
Sau bao nhiêu năm vất vả, Bố đã hoàn thành mỹ mãn nhiệm vụ làm Cha. Các con đã trưởng thành, đã có nghề nghiệp vững chắc, và đã có tổ ấm riêng. Mỗi năm, từ mọi miền đất hứa, các con về thăm viếng, quây quần họp mặt tại nhà tôi vì Bố Mẹ đã chọn ở với gia đình tôi sau khi về hưu.
Vào dịp lễ thượng thọ, tôi làm hai câu đối này để tặng Bố, một người thương yêu gia đình rất mực, luôn tận tâm lo lắng và hy sinh tất cả cho vợ con:
Một đời tận tụy vì vợ vì con,
Hai phận vuông tròn làm Phu làm Phụ.
Quá 80 tuổi, Bố vẫn còn minh mẫn, vẫn còn nhớ ngày sinh nhật của đám con cháu – hơn 20 đứa, và còn giúp tôi những việc vặt trong nhà.
Ngoài những đau nhức phong thấp thường có ở tuổi già, Bố ít khi bị bệnh nặng.
Năm ngoái, Bố phải vào nằm nhà thương mấy hôm vì có sạn ở túi mật. Để tránh bị đau đớn lần nữa, bác sĩ đề nghị cắt bỏ, nhưng Bố không chịu, nói là chỉ còn sống thêm vài năm nữa, tội gì phải chịu mổ xẻ. Vì không muốn vào nhà thương và không muốn làm khổ con cháu, Bố bắt đầu ăn kiêng ngay từ hôm về lại nhà. Bố gầy yếu hẳn đi, nhưng tinh thần không bị dao động, không sợ hãi. Bố đã hiểu rõ chuyện sinh tử, luân hồi của đạo Phật từ lâu và đã sẵn sàng để “về”. Tôi hằng cầu nguyện:
“Xin Trời lấy bớt tuổi đời,
Thêm vào Cha Mẹ sống thời bách niên.
Cho chúng con được đáp đền,
Công Cha, nghĩa Mẹ bách niên chưa vừa.”
Dù Bố có sống đến 100 năm hay không, tôi vẫn được an ủi rất nhiều vì tôi đã có được một phần thân thể của Bố và đã học được một phần những đức tính nhân hậu, tận tụy, hy sinh quý giá của Bố. Tình yêu của chúng tôi dành cho Bố tuy không biểu lộ qua lời nói thường xuyên nhưng lại vô cùng sâu đậm, mãi mãi với thời gian.
Nguyễn Phương Thúy, 5/20/2010
==
CA KHÚC KHÓC CHA – TRẦN CHƯƠNG LƯƠNG
==
THƠ & VĂN VỀ NGÀY LỄ CHA_ MINH THÚY THÀNH NỘI
Hội Phụ Nữ Tổ Chức Lễ Cha
Tình cha vỹ đại nói sao vừa Lặn lội thân mình hứng gió mưa Rường cột gia đình lo bạc tóc Công ơn dưỡng dục kể bằng thừa
Một đời lam lũ bởi vì con Dạy dỗ lời êm tránh đánh đòn Vật lộn mưu sinh nuôi trẻ dại Thành nhân đỗ đạt dẫu thân mòn
Can trường thời chiến với non sông Cha lính cộng hòa góp sức công Đội nắng phơi sương vì tổ quốc Tù lao vận nước đổi đau lòng
Nơi miền đất Bắc phố Cali Thung lũng hoa vàng hoạt động chi Phụ nữ chung tay cùng hội trưởng Mừng cha từ phụ chức cao kỳ
Văn nghệ chung vui diễn đủ màn Tặng quà cắt bánh nhạc mừng vang Vinh danh Từ phụ thiêng liêng phút Nguyện sống vai trò hiếu tử mang
Văn hóa giữ gìn đẹp sáng tươi Vườn hoa hiếu hạnh dạy con người Lễ Cha ý nghĩa ngày tham dự Hội Phụ Nữ xây những nụ cười Minh Thúy Thành Nội Happy Father’s Day …………………………………………………..
Lời Ba Muốn Nói – Minh Thúy Thành Nội
Mùa Hạ đã bắt đầu báo hiệu, các loài hoa thi đua nở đủ màu sắc tươi vui. Anh Quang bước ra sân theo tiếng gọi của vợ nhờ bưng phụ mấy chậu hoa quỳnh lên bệ cao, vì muốn ngắm nét đẹp của loài hoa trang đài đang nở hàng chục đóa hồng và vàng. Bé LiLy bước chân cao chân thấp đi theo cha cười hồn nhiên.
– Con tránh ra để ba phụ mẹ chút nha
Lily nghiêng đầu qua, nghiêng đầu về vẫn níu áo, anh đành dừng chân nói với vợ “chờ chút…con đang vui vẻ”. Anh gỡ nhẹ tay con dìu vào ghế dài dưới tàng cây phượng vàng nay đã tàn hoa, chỉ còn bóng lá xanh tỏa mát. Anh ôm con, đặt đầu LiLy áp vào ngực anh, nghe luồng tim đập ấm áp chứa tình thương bao la.
Nhìn con lòng anh như quên hết chuyện phiền não hôm qua.
Vợ chồng anh mua vé hai tháng trước cho chuyến bay qua Hawaii nghỉ mát như thường lệ. Đã làm thủ tục check-in và ký gởi hành lý xong xuôi, vợ chồng anh hân hoan xếp hàng, bỗng bé Lily ngồi sụp xuống, níu chân ba mẹ nhìn về hướng ngược, biểu hiện ý đòi trở lui. Anh dỗ con “Ngoan Lily nhé, con sẽ vui đùa tắm biển khi qua đó”. Bé hất tay anh ra, rồi nằm lăn dài khóc lóc. Anh chị thay phiên dỗ dành, dìu con lùi qua một bên nhường chỗ cho khách hàng đang bước từ từ lên. Thời gian như muốn đứng lại, Anh chị nhỏ nhẹ, vuốt ve con sau gần một tiếng đồng hồ, cháu vẫn la hét đến khàn cổ. Cuối cùng anh chị phải chiều ý con gọi Uber trở về nhà. Anh liên lạc với nhân viên Airlines báo cáo hủy chuyến bay dù hành lý đã gởi, và được cho biết sẽ nhận lại một tuần sau.
LiLy ngồi yên ép sát đầu vào ngực anh, trong khi chị nhổ cỏ dại mọc xen chung quanh các chậu hoa trong lúc chờ đợi anh giúp đỡ việc nặng.
Anh nhìn màu nắng rực rỡ, ký ức ùa về của khoảng thời gian gần 30 năm trước. Anh giật mình “thời gian trôi nhanh quá, mọi chuyện cứ ngỡ như mới đâu đây…” Anh để dòng sông êm ả trôi về miền kỷ niệm…
Sinh ra trong một gia đình có ba anh em, Anh là trai lớn, thủa nhỏ đi học luôn đoạt bằng khen, bằng danh dự. Theo gia đình vượt biên qua Mỹ, anh hội nhập mau chóng và tiến bộ trong lãnh vực học đường, suôn sẻ tốt nghiệp bằng kỹ sư. Anh làm việc đi qua nhiều hãng nổi tiếng, hiện tại làm cho hãng Cisco tọa lạc vùng San Jose, nhưng được làm việc ở nhà.
Anh nhớ một mùa hè năm đó…. trong vài buổi làm việc thiện nguyện tại San Francisco, Anh gặp Ái Thanh (vợ anh bây giờ) đang là sinh viên của trường San Jose State, nàng rất đẹp và xông xáo trong công việc. Anh đã bị hớp hồn ngay từ phút đầu và tìm cách làm quen, quyết chinh phục cho bằng được. Chị lúc ấy cũng mến anh, một kỹ sư có nét thanh tú với dáng cao và tánh tình hiền lành ít nói. Anh chờ chị tốt nghiệp bốn năm, chị có việc làm trong phòng thí nghiệm của trường Đại Học. Mọi việc đều vững vàng bảo đảm đời sống, vì anh đã mua nhà trước đó. Sau vài năm tìm hiểu, anh chị quyết định tiến tới hôn nhân và hiện là cư dân của vùng Milpitas.
Mọi sự đều chuẩn bị sẵn sàng, đứa con trai Robert đầu đời, Anh chị chào đón trong niềm hạnh phúc vô biên. Ba năm sau bé Lily được sinh ra, những giây phút chờ trông cháu Lily lật trở vui nhộn biết bò theo thứ tự bẩm sinh. Sau gần hai năm, theo dõi bước thay đổi và phát triển của con, chưa thấy bé Lily biết đứng, biết bập bẹ phát ra âm thanh của trẻ con, anh chị lo lắng đem con đi gặp bác sĩ và bệnh viện nhiều lần, kết quả bác sĩ cho biết cháu bình thường, hãy chờ đợi thêm thời gian nữa”. Anh chị bắt đầu sống trong tâm trạng lo âu hồi hộp vì chẳng có gì tiến triển, ngày tháng trôi qua trong mòn mỏi, nhìn con vẫn bò quanh nhà dù đã lên bốn, năm, sáu…tuổi.
Khi con đầu lòng chào đời, anh chị tìm được người trung niên độc thân tên Sâm, sinh hoạt các chùa (do bạn giới thiệu), sau thời gian quan sát tìm hiểu tánh tình chị Sâm này rất hiền từ nhân hậu. anh chị yên tâm để chị Sâm ở lại sáu ngày, cuối tuần về thăm nhà, vì vậy vợ chồng yên tâm cày cấy trang trải nhiều thứ nợ.
Trước đây chị Sâm trông nom em gái Natalie con anh kỹ sư Lâm. Chị kể lại: “Em gái này đã trên hai mươi tuổi, bị bệnh Autism (tự kỷ) rất hung dữ, qua nhiều người đến chăm sóc nhưng họ phải đầu hàng vì em không chịu ai cả. Có những lúc em bị kinh nguyệt, em vùng vằng không cho chị Sâm thay băng làm vệ sinh, cuối cùng anh Lâm phải tự tay làm công việc ấy cho con, bởi vợ chồng đã ly dị, mà anh là người nuôi con. Chị Sâm thương lắm cũng đành nghỉ việc, sau bà Nội đến ở lại chăm cháu. Thỉnh thoảng cuối tuần chị Sâm cũng ghé thăm vì thương những mảnh đời đau khổ, thương những đứa trẻ không được bình thường sống trong hoàn cảnh thật xót xa. Câu chuyện được kể khi chị Sâm chứng kiến bé Lily có nhiều dấu hiệu không được bình thường, nhưng chị Sâm may mắn trông cháu bền lâu vì tánh Lily hiền lành dễ chịu hơn.
Một hôm tình cờ xem hình cha con anh Lâm trong buổi tiệc gia đình có chị Sâm chụp chung, nhờ vậy anh Quang nhận ra người bạn học xưa. Họ liên lạc hỏi thăm, tâm tình tìm sự cảm thông nhau từ đó.
Một buổi hai anh hẹn gặp uống cà phê cuối tuần. Sự mệt mỏi hiện ra trên nét mặt, mỗi người như bị áp lực đè nặng trong công việc và con cái. Anh Quang kể về hãng Cisco, anh Lâm làm cho hãng IBM, trao đổi những mẫu chuyện về nghề nghiệp. Anh Quang hỏi thăm bệnh tình cháu Natalie.
– Cháu vẫn chơi và khỏe đó chứ?
– Càng ngày tâm tính cháu càng hung hăng chướng kỳ, giai đoạn này cháu không thích mặc quần áo, cởi bỏ hết đi khắp nhà. Bà nội không đủ sức mặc vào cho cháu, tôi phụ giúp thật khó khăn vì cháu vùng vẫy, phải cố gắng dùng sức mạnh kềm tay chân cháu. Mặc quần áo xong rồi tôi phát hiện có vết bầm trên cánh tay cháu, biết mình vô ý lỡ mạnh tay tôi thật đau lòng, hối hận muốn khóc vì thương con mình quá.
Anh Lâm kể lại với ánh mắt buồn bã. Biết hoàn cảnh bạn mình đã ly dị chịu cảnh gà trống nuôi con, anh Quang nhẹ nhàng:
– Ông cũng nên tìm người bạn mới cho khuây bớt
Anh Lâm lộ vẻ uể oải chậm rãi:
– Nói gì, tôi cũng có bạn gái chứ, tháng trước dẫn về chơi dò ý con, cháu Natalie lộ vẻ giận dữ hai mắt đỏ ngầu, tôi sợ quá nghĩ từ nay không đem về nhà nữa. Lòng tôi cũng chẳng hứng thú gì khi nghĩ đến con, chỉ muốn để mặc dòng đời trôi… Mỗi ngày đi làm về nhìn con, chơi với con bằng tình phụ tử thiêng liêng dậy lên những cảm xúc dạt dào khôn nguôi thật khó tả.
Một hôm người quen khuyên anh Quang xin tiền phúc lợi Social Security Disability Insurance (Bảo Hiểm Khuyết Tật An Sinh Xã Hội – SSDI). Anh gạt ngang nghĩ thầm “Làm gì có chuyện đó đối với anh, khi mức lương vợ chồng cao, lại đang làm chủ hai ngôi nhà, một ở và một cho thuê, trường hợp anh không thể được quyền hưởng phúc lợi”. Anh hoàn toàn không tin, nhưng nghe nhiều người bàn cãi quá, điện thoại hỏi bạn Lâm, bạn cũng không biết. Hai anh điền đơn thử thì được xác nhận: trẻ em bị bệnh tự kỷ được hưởng quyền lợi là đúng, dù cha mẹ có dư điều kiện tài chánh đi chăng nữa.
Anh Quang không thể ngờ được nước Mỹ có chính sách nhân đạo đến vậy. Chính phủ không quan tâm ai giàu hay ai lương cao việc lớn mà chỉ chú trọng việc chăm sóc, hỗ trợ cho trẻ em, nhất là các trẻ em đặc biệt. Chính phủ trả lương cho người chăm sóc bé Lily và được hưởng thêm quyền lợi bảo hiểm sức khỏe. Bé được đi trường học lớp đặc biệt có xe đưa đón tận nhà, được cô giáo người bản xứ về nhà dạy riêng hai tiếng ngoài giờ. Anh muốn hét to “American vĩ đại, nhân từ bậc nhất…” Cho dù lương của anh bị trừ thuế 40% vẫn xứng đáng, vui vẻ góp phần xây dựng đất nước này phát triển vững mạnh thêm.
Mùa đông đi qua, mùa xuân lại đến, mùa hè trở lại, mùa thu tuần tự. Anh chị vẫn sống bằng niềm hy vọng bệnh tình bé Lily có phần tiến bộ, dù đã qua mười hai năm cháu vẫn chưa biết nói, biết đứng dậy. Tới năm mười bốn tuổi, bỗng dưng cháu đứng dậy và từ từ bước tập tễnh, còn niềm vui nào lớn hơn. Anh chị đã ôm nhau khóc vì mừng rỡ, bám tiếp tục niềm hy vọng để sống.
Nghĩ đến vợ, anh cảm thấy thường quý vô cùng. Nàng nấu ăn rất ngon, dù có chị Sâm trong nhà, nhưng bà xã chỉ muốn tự tay nấu những món ngon cho chồng con ăn vừa ý. Sau giờ làm vợ tất bật về nhà đứng mấy tiếng đồng hồ trong bếp, tối dành thì giờ chơi với con. Bé Lily rất kén ăn, nàng theo chiều con sát nút. Có điều đối với chị Sâm, bé dễ chịu vui vẻ, nhưng khi vợ anh về là bé chướng hết cỡ, đòi lung tung đủ thứ, bắt nàng bồng bế dù LiLy rất nặng ký. Bé có dấu hiệu: thích ngồi một mình, sợ người đông và sợ âm thanh mở lớn. Khi vui bé ngồi cười một mình xoay đầu liên tục, cô giáo có kỹ thuật chuyên môn dạy cháu chơi game để phát triển não bộ, cháu biết mở ipad và biết nhiều trò chơi trong máy khiến anh chị thấy phấn khởi vô cùng.
Anh chị ngoài thì giờ sinh hoạt, cũng tìm đọc các trang mạng về bệnh tự kỷ để hiểu thêm tâm lý. Chị là người mẹ rất tuyệt vời, luôn dặn anh “đừng bao giờ lộ nét mặt buồn giận con, mà phải cố gắng tạo nét mặt vui vẻ, ánh mắt trao nhìn con thật trìu mến”. Anh nhớ bao nhiêu năm, vợ luôn đè nén những ước mơ riêng tư, chịu đựng hy sinh cho con hết mực, những khi cháu nổi cơn bất thình lình. Như lần qua Florida ăn cưới cháu, trong buổi tiệc Lily nằm dài la hét làm anh chị không dự được phải ẵm con về khách sạn sớm; lần đi máy bay qua Nhật, cháu nằm lăn trên sàn khóc lóc lăn lộn, hành khách thật lịch sự ngồi yên như không có chuyện gì xảy ra dù cháu quậy rất ồn ào; lần qua đảo Big Island bên Hawaii, Lily cũng nằm vạ trên lối chờ vào máy bay, hôm đó tình cờ một viên phi công đi ngang qua, cúi xuống cầm tay em dẫn đi vào máy bay, cháu ngưng tiếng khóc bước theo, may mắn chuyến đó anh chị được thoát nạn; mỗi khi đến nhà ai hoặc ra ngoài công viên dự tiệc, thường chỉ có mình anh đi dự, họa hoằn đôi bữa có chị nhưng chị cũng nửa chừng bỏ cuộc.
Tiếng chị đánh thức anh về vùng hiện tại:
– Anh để con chơi, phụ em cho xong việc, em còn đi chợ vì tủ lạnh trống trơn rồi
– Được em!
Anh đẩy nhẹ Lily ra khỏi vòng tay.
– Con dạo ngắm hoa đi nhé, con có thấy hoa nở đẹp không?
Bé buông tay anh bước chậm nhìn hoa, không biết con có hiểu lời anh nói!!??
Sau một hồi phụ vợ các việc nặng, anh ngồi nhìn con chơi trong sân. Robert, anh Hai của LiLy đã tốt nghiệp Đại Học và có việc làm nơi xa. Anh chị vẫn tựa vào niềm hy vọng một ngày được nghe con gái nói, dù tiếng nói bằng ngôn, anh chị ngữ riêng cũng tốt. Năm nay quỹ An Sinh Xã Hội cắt giảm tài trợ việc cô giáo đến nhà bày vẽ chơi game cùng Lily hai tiếng mỗi ngày. Nhưng không hề gì, anh chị vẫn tiếp tục trả lương cho cô giáo, để cô hướng dẫn dưới hình thức chơi game bằng phương pháp trị liệu tâm lý và khai triển bộ óc.
Lily quay nhìn anh, cười tươi tắn, trở lại ôm anh sờ ngực, sờ áo. Anh vuốt tóc con thì thầm “Lời ba muốn nói với con, là ba mẹ yêu con nhất trên đời. Con là hơi thở, là sự sống của ba mẹ. Dù sao con cũng được sinh ra trên nước Mỹ, một đất nước nhân bản, có nhân đạo luôn đặt quyền lợi các trẻ em bị bệnh lên ưu tiên hàng đầu”.
Năm nay LiLy đã hai mươi tuổi. Tuần trước anh chị định dẫn bé đi chơi xa như món quà sinh nhật, vì anh chị thấy cháu rất thích chơi đùa với sóng biển, thích tắm nơi bờ biển vắng người, nhưng chuyến này không may nên bất thành. Con bé cao giống anh, khuôn mặt trái soan, nét mặt giống chị. LiLy sinh ra đời được bao nhiêu người yêu thương ngoài ba mẹ, hai bên nội ngoại, chị Sâm, người quen và nhất là anh Hai Robert của bé, cũng biết dỗ dành, chiều chuộng, đút cơm hoặc thay tả cho em mình.
Đã vào tháng Sáu, ngày Chủ Nhật đẹp trời. Anh chị tổ chức sinh nhật cho LiLy ngoài park gần nhà. Mùa hè đến, cây cỏ xanh um, quang cảnh mang bộ mặt tươi vui đầy sức sống. Bà con đến đông chúc mừng quà cho cháu. Tuần trước bé không vui cản trở chuyến đi chơi, hôm nay bé vui, ngồi yên cho mọi người chuyện trò ăn uống khiến anh chị mừng lắm.
Chiều dần xuống Lily chỉ về hướng xa vắng người, nắm tay ba kéo đi. Anh nhờ chị tiếp khách, hai ba con bước tới những mô đá bên kia đường, bé ngừng lại muốn ngồi xuống. Anh cũng ngồi theo bé nhìn bóng chiều lung linh hoa nắng nhảy múa trên vạt cỏ. LiLy nhìn quanh quẩn lộ nét mặt dễ chịu nơi có không khí yên tĩnh thoáng đạt. Mặc bên kia mọi người rôm rả nói chuyện, ăn uống tiếp tục, anh vẫn lặng lẽ ngồi bên con cả tiếng đồng hồ, nhìn mây trời trôi lãng đãng, nghĩ đến những mảnh đời khác nhau biến chuyển theo cuộc sống.
“Mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh”, nghĩ người bạn có con bị bệnh giống Lily, anh thấy mình được may mắn hơn, vì còn có đứa con trai thành đạt, có vợ bên cạnh chung nhau chăm sóc Lily. Anh nhớ điều đã đọc trong tài liệu về phương thuốc chữa bệnh Tự Kỷ Tâm Lý: “Tình yêu thương của người thân chính là phương thuốc hữu hiệu nhất cho người bị tự kỷ. Nên trò chuyện với họ nhiều hơn để tinh thần được thoải mái”.
Anh lẩm bẩm “Nhất định xóa tan đau khổ, thất vọng, chống phá căn bệnh trầm cảm chen vào. Con là giọt máu, là tình yêu thương lớn nhất trên đời. Ba Mẹ sẽ chiều ý con, dù lúc con vui hay khi con nổi chướng, miễn Ba Mẹ được sống bên con gái yêu quý …”
Minh Thúy Thành Nội
Mùa Lễ Cha
==
ĐỌC TRUYỆN THỦY NHƯ: THỬ THÁCH ĐẦU ĐỜI – Diễn Đọc Thảo Mi
==
Thử Thách Đầu Đời
Tiếng súng nổ vang dội lấn át giọng nói của người cha vừa vẫy tay tạm biệt cậu con trai vừa bước lui về phía chiến trường đầy khói. Cậu bé thét gào lên, “Ba ơi! Ba ơi! Tại sao ba phải đi?” “Ba phải đi. Ba thương con vô cùng…” Giọng người cha xa dần và cậu bé giật mình thức giấc. Cậu nhận ra là mình đang khóc trong mơ và miệng vẫn còn lẩm nhẩm, “Tại sao ba phải đi?”
Đó là một đoạn trong vở kịch truyền thanh “The Price of Freedom” do Focus On The Family phát hành mà má chồng tôi đã mua tặng cho các con tôi. Bà mua một loạt những vở kịch Adventures in Odyssey truyền thanh như vậy để chúng nghe mỗi khi chúng tôi ngồi trên xe. Hôm đó tôi và hai cậu con trai nhỏ đang lắng nghe vở kịch “The Price of Freedom” trên đường lái xe đến thăm ba mẹ tôi lúc bấy giờ đang ở Redlands. Nhìn qua kiếng chiếu hậu, tôi thấy mắt hai cậu con trai tôi ngấn nước. Tôi nhấn nút dừng vở kịch và hỏi chúng với giọng cũng nghẹn ngào. “Các con có sợ khi nghe vở kịch này không? Mẹ tắt nhé!” Cậu con trai lớn 8 tuổi của tôi trả lời với giọng mếu máo, “Không. Con muốn nghe tiếp.” Cậu nhỏ tôi tiếp theo anh nó. “Con cũng muốn nghe nữa.”
Tôi nhấn nút tiếp tục vở kịch. Đó là câu chuyện về câu chuyện về cậu bé Kirk McGinty có ba đã tử trận trong chiến tranh Việt nam. Mẹ của Kirk cũng sang Việt nam làm việc và gặp ba cậu nơi đó. Họ làm đám cưới ở Việt nam và có những ngày hạnh phúc ngắn ngủi với nhau. Sau đó Mỹ quyết định rút quân khỏi Việt nam và mẹ cậu trở về Mỹ với bào thai, là Kirk, trong bụng mà chưa kịp báo cho người chồng còn ở lại. Và ông đã vĩnh viễn nằm xuống tại chiến trường Việt nam những ngày sau đó. Với phong trào phản chiến leo thang, bà McGinty đã đem con rời thành phố về sống tại một miền đồng quê để tránh cho con khỏi nghe những lời chỉ trích và chửi bới độc địa về những người lính tham chiến tại Việt nam.
Có lẽ bà McGinty đã kể lại cho con trai rất nhiều hình ảnh oai hùng của chồng bà, là ba của Kirk, nên cậu bé rất thích những ý tưởng về những cuộc chiến thắng, chinh phục và chiến lược binh trận. Kirk ngưỡng mộ ba mình biết bao nhiêu thì cậu cảm thấy sụp đổ đau đớn bấy nhiêu khi trong giờ học lịch sử, thầy giáo Altman đã gọi cuộc chiến Việt nam là một cuộc chiến vô nghĩa. Cậu đã nán lại sau giờ học để hỏi thầy giáo những cảm nghĩ của ông về những người lính tham chiến tại Việt nam. Thầy Altman khẳng định lại lập trường của mình rằng chiến tranh Việt nam là vô nghiã và cái chết của những người lính Mỹ cũng vô nghĩa như vậy. Ông còn
cho cậu bé mượn một cuốn sách trong đó tác giả mô tả những người lính Mỹ ở chiến trường Việt nam là những kẻ giết người một cách tàn bạo. Kirk đau đớn khi nghe những nhận xét của thầy giáo. Cậu giống như bị quật một trận nên thân, biếng ăn, mất ngủ và không còn là một cậu bé vui tươi hiếu động nữa. Thần tượng của cậu là người cha đã hoàn toàn sụp đổ sau những lời nói của ông thầy dạy Sử. Ba của cậu không còn là một anh hùng mà là một tội đồ. May mắn thay, Whit, một ông già trong phố đã nhận ra sự thay đổi của Kirk. Ông đã tìm hiểu và đến nói chuyện với thầy giáo về ba của Kirk, một quân nhân đã tử trận trong chiến tranh Việt nam. Thầy giáo đã nhận ra rằng ông đã quá lời.
Mẹ của Kirk cũng đau lòng khi thấy tinh thần con suy sụp. Với sự sắp xếp của ông Whit, bà được mời phát biểu trong buổi lễ Memorial của thành phố. Hôm đó bà đã đọc lá thư cuối cùng của chồng. Sau khi nghe lá thư của ba, Kirk đã lấy lại niềm tin của mình, rằng ba cậu đã chiến đấu cho một lý tưởng cao đẹp và đã hy sinh thân mình cho một sứ mạng mà đất nước đã giao phó.
Mẹ con tôi sụt sùi khi nghe câu chuyện đó. Có lẽ tôi quên nhiều chi tiết trong vở kịch nhưng có một câu nói của người mẹ làm tôi nhớ hoài. “I’m sorry that your father was your first test.” (Mẹ lấy làm tiếc rằng ba là thử thách đầu đời của con.) Trong nước mắt, tôi cũng đã nói với các con tôi giống như vậy sau khi nghe xong vở kịch. “Mẹ cũng rất lấy làm tiếc là ông ngoại cũng đã là thử thách đầu đời của mẹ và các cậu dì, là chị em của mẹ.” Tôi đã kể cho các con tôi về những cảm nghĩ của tôi về ba ngày ấy.
Sau năm 75, ba tôi vì đã làm việc cho chế độ miền Nam Việt nam nên ông bị bắt giam trong tù cộng sản. Thương mẹ ngày ấy phải một mình chống chọi với đủ mọi áp lực để nuôi đàn con thơ dại khờ. Chị em chúng tôi còn quá nhỏ để có thể sẻ chia với mẹ những sợ hãi, gánh nặng trên thể xác cũng như tinh thần thời đó. Mẹ mong chờ ba trở về để cất bớt gánh nặng. Mỗi lần chúng tôi ước một điều gì đó, mẹ nói. “Khi nào ba về, thì ba sẽ làm cho con.” Tôi đặt bao nhiêu hy vọng vào ba. Tôi tin rằng khi ba về, nhà tôi sẽ khá hơn và tôi cũng sẽ được ngẩng cao đầu với bè bạn.
Cũng giống như cậu bé trong truyện, tôi đã nhiều lần nghi ngờ rằng có thực là ba tôi là một người tử tế không. Hay là ba thật sự là một trong những “tên ác ôn có nợ máu với nhân dân” như cách nói của chính quyền cộng sản. Tôi thích nhớ ba tôi thật oai trước năm 75 dẫu hồi đó tôi còn rất bé. Ba tôi trở về nhà sau những đợt công cán dài ngày và tôi ngồi dưới chân ba nhổ những bông cỏ mây bám vào vớ và ống quần khi ba đi qua vạt cỏ đến máy bay đậu trên đồng để bay về nhà. Nhưng ba tôi trông thật xơ xác khi tôi đi với mẹ thăm ba trong trại tù. Ba trông hốc hác, tiều tuỵ, yếu ớt, khác rất nhiều so với những gì tôi nhớ về ba. Mẹ bảo, “Ở tù mà con.”
Tôi nhớ hồi đó có bộ phim gì tôi không nhớ tên (mà bây giờ cũng không muốn kiếm,) nhưng nhớ tên bài hát trong phim, “Em sẽ là hoa hồng nhỏ.” Trong phim đó, ba của cô bé cũng như ba tôi đang ở tù. Ông đã nhận ra những điều sai trái đã làm trong chính quyền miền Nam và đã giác ngộ. Nhà nước đã mau chóng khoan hồng cho ông trở về sum họp với gia đình. Tôi đã ngây thơ viết thư cho ba sau khi đi xem phim về, mong rằng ba cũng làm như ông đó để ba được chóng về với mẹ và chị em chúng tôi. Lá thư đó có lẽ đã bị quẳng vào thùng rác, chẳng đến tay ba, nên ba tôi đi tù đến 7 năm – một thời gian dài đủ để tôi, từ một con bé hỉ mũi chưa sạch thành một cô bé tuổi thiếu niên với bao mơ ước.
Khi ba tôi về, gia đình tôi không khá hơn mà còn tệ hơn. Chính quyền không cho ba tôi về ở nhà tôi nhưng bắt phải về trên quê cách chỗ chúng tôi 20 km. Nhà tôi hồi đó chỉ có một chiếc xe đạp cho mẹ đi buôn bán. Ba không làm được việc gì cả vì không có hộ khẩu nên không có chỗ ở. Không thể hiểu nổi cái lý luận lòng vòng của chính quyền về cái tờ hộ khẩu, hậu khổ, tai quái đó.
Ba tôi bị bắt đi tù trước khi cái tờ hộ khẩu quái đản đó được ban hành và dĩ nhiên là tên ông không có trong tờ hộ khẩu của nhà tôi. Họ bảo rằng ba bị bắt ở trên quê nên khi ra tù phải về trên quê, nơi mà ba tôi không có một mảnh đất để làm nhà. Trong khi đó cái nhà do ba tôi xây ra ở dưới thị xã, nơi mẹ con tôi đang trú ngụ thì ba lại không được ở. Không biết là chính quyền không hiểu hay là không chịu nghe để mà hiểu, nên cứ bắt ba tôi về quê. Công an đến soát nhà tôi mỗi đêm để tìm bắt ba tôi vì cư ngụ bất hợp pháp. Điều trớ trêu là nhà tôi có rất nhiều người ở trên quê xuống tạm trú. Anh chị em họ ở trọ để đi học, đi họp. Bác cậu mợ cô chú thím dì dượng ở nhờ nhà tôi để chữa bịnh dài lâu. Chính quyền không bắt ai cả, mà chỉ tìm bắt mỗi ba tôi. Mỗi đêm xuống là chúng tôi lo sợ. Gia đình chúng tôi sống trong căng thẳng, sợ hãi và lo âu. Cái lo sợ đã làm mặt mày tôi lúc nào cũng nhăn nhó, đau khổ nên bạn bè có đứa gọi tôi là bà già khắc khổ. Tôi nhiều lần ước chi ba còn ở trong tù để cho chị em chúng tôi không bị khổ sở về tinh thần.
Có người bảo ba mẹ tôi đấm vào mõm họ … một ít tiền là xong. Ước gì nhà tôi có tiền để làm điều đó. Mẹ lên kế hoạch dài lâu. Đem thiến hai con gà trống trong đám gà nhà. Rồi vỗ béo và đem hiến cho họ, giống như tống cho đám quỷ sứ, giống như là “con gà trống thiến để riêng cho thầy …” Kế hoạch thành công! Với bao đêm ba tôi phải leo lên mái nhà để trốn mỗi khi công an đến soát nhà và chị em tôi nín thở giả vờ ngủ, mấy tháng sau đó nhà tôi có được hai con gà trống thiến mập mạp. Chị em tôi hí hửng. Thí cho họ một con. Còn một con, chị em tôi mong được ăn thử thịt gà trống thiến xem nó ngon cỡ nào. Có lẽ thịt gì chúng tôi cũng cho là ngon hết, bởi mỗi năm chúng tôi chỉ được ăn thịt một, hai lần. Vậy mà đến Tết, ba bảo phải biếu cả hai con gà trống thiến. Một con cho ông công an xã trên quê để ổng ký giấy cho đi và con kia cho ông công an khu vực chỗ nhà tôi để ổng cho ba tôi ở. Chị em tôi thất vọng hết sức. Chúng tôi chẳng được ăn thịt gà trống thiến như mong đợi. Hai con gà ra đi. Ba vẫn không được về ở nhà chúng tôi. Đám quỷ sứ đông quá! Nhà tôi không nuôi kịp gà để … đấm vào mõm họ. Ba bực mình bỏ Tam kỳ vào Mỹ xuân lập nghiệp.
Ba đi được vài tháng rồi gởi thư về bảo mẹ đem cậu em trai đang chuẩn bị lên lớp 6 vào ở với ba. Tôi chuẩn bị lên lớp 12 và sẽ vào ở với ba sau khi tốt nghiệp. Mẹ sẽ ở lại Tam kỳ với cô em gái cho đến khi em học xong lớp 12 vì chỗ ba ở không có trường cấp ba. Chị tôi chuẩn bị đi lấy chồng nên ba mẹ khỏi phải lo. Mẹ dẫn cậu em vào với ba và khi về, mẹ kể chuyện nơi ba đến lập nghiệp. Tôi nghe mẹ kể về miền đất ba vào sinh sống với bao háo hức. Nhà có vườn và ao nuôi cá, có ruộng để trồng lúa đủ ăn, có đất để trồng rau và hoa quả. Người ta vào tận nhà để mua cây trái hoa lá trong vườn, mình không phải đem ra chợ bán. Đặc biệt là vườn có những cây xoài tượng cho trái ngọt lịm… Tôi tưởng tượng ra một cuộc sống yên bình no đủ đang chờ đón tôi nơi miền Nam hiền hoà như tôi đã đọc trong truyện.
Tôi đã thất vọng tràn trề khi tôi vào đến nhà ở Mỹ xuân vào tháng 6 năm 1985. Đó là mùa mưa của miền Nam. Chiều nào trời cũng mưa. Nhà ba mua nằm trên vạc đất thấp của khu vườn nên nước thấm vào nền nhà bằng đất, làm nền nhà trông nhớp nháp. Căn nhà lợp lá dừa phía trong nhìn đẹp nhưng phía ngoài trông thật xấu xí. Tường nhà thì bằng đất nhồi rơm. Mưa đổ xuống, nhà dột lung tung và nước tạt vào tường làm ướt đồ đạc nằm sát vách. Mùa mưa cây cỏ xanh tốt vượt lên che phủ mọi thứ làm cho căn nhà của chúng tôi trông như một cái chòi giữa
rừng hoang. Buổi tối còn thảm hơn với ngọn đèn dầu le lói trông thật buồn. Cái cảnh đìu hiu trong rừng vắng đó làm tôi nhớ Tam kỳ đến cháy người. Nhưng điều kinh khủng hơn cả là không có bạn bè. Tôi ngày ngày ra vườn nhổ đậu, trồng khoai, cấy lúa, hái điều…Tối về đọc đi đọc lại vài cuốn sách tôi có được. Đọc đi đọc lại mãi phát chán nhưng cũng phải đọc vì không có gì để giải trí. Tôi ước mong có một người đến thăm nhưng điều tôi mơ ước là không tưởng bởi nhà tôi ở xa đường lộ, không địa chỉ. Thư từ thì cả tháng mới tới mà cũng không có tiền mua tem để gởi thư. Tôi và ba chỉ biết làm ruộng rẫy mà không biết tính toán buôn bán, thành ra cuộc sống rất là chật vật. Những ngày giáp hạt, nhà không có gạo ăn. Ba phải đạp xe đi 20 km mượn lúa của một người bà con xa. Đem lúa về, thì lại không có tiền đi xay thành gạo. Mang xuống nhà máy xay xong, họ lấy lại một ít gạo để trừ tiền xay.
Vài tháng sau đó, ba tôi dắt cậu em về Tam kỳ chịu tang ông nội mấy tuần. Tôi ở một mình giữa cánh đồng hoang, xa xa mới có một hàng xóm và nhà họ lúc nào cũng đóng cửa. Tôi thường nói chuyện một mình trong cái cô đơn tột cùng. Đó là những ngày kinh khủng của đời tôi. Không dám bạo dạn như Scarlett thề trong truyện “Cuốn theo chiều gió” “I’ll never be hungry again.” khi bị lâm vào cảnh đói nghèo, tôi chỉ dám than khóc với Chúa. “…Con không muốn rơi vào cảnh đói nghèo cô đơn này một lần nào nữa…” Và tôi cũng hát đi hát lại câu hát của Vũ Thành An. “Về sau, và nhiều năm sau nữa, có buồn nhưng vẫn chưa bao giờ bằng hôm nay.” Chẳng phải buồn tình nhưng buồn tủi vì nhà nghèo không đủ ăn. Vở kịch “The Price of Freedom” này được phát thanh lần đầu tiên vào tháng 5 nhằm dịp lễ Memorial vào năm 1988. Ông xã tôi bảo lúc bấy giờ nước Mỹ đã hầu như không còn nhớ đến chiến tranh Việt nam. Nhưng ở bên kia bờ Thái Bình Dương, cộng sản Việt nam vẫn không hề ngơi phân biệt đối xử với những người như gia đình chúng tôi. Lúc đó cô em của tôi vừa tốt nghiệp lớp 12 và em không muốn rời miền Trung. Em không nộp đơn thi đại học mà chỉ nộp đơn thi vào Cao đẳng Sư phạm Anh văn – Đà nẵng với hy vọng trường thấp hơn thì sẽ được họ cho đi học. Em đã không có được cơ hội để đi thi chứ đừng nói gì đến chuyện đi học. Họ đã bác đơn xin dự thi của em tôi. Tôi nghe tin và cầu nguyện để em không bị trầm cảm bế tắc như chị họ tôi trong truyện Niềm nhớ. Dù luyến tiếc Tam kỳ nhưng cô em tôi cũng phải theo mẹ vào ở với ba. Căn nhà ở Tam kỳ giao lại cho chị tôi. Gia đình đoàn tụ. Ba mẹ tôi tin Chúa và cả gia đình tôi cùng đi thờ phượng Chúa ở hội thánh Phước thái gần nhà. Chúa cho gia đình tôi được thảnh thơi hơn và có bạn bè trong hội thánh đến thăm chơi. Năm sau đó, cô em tôi cũng đi học Cao đẳng Biên hoà như tôi trước đó. Mẹ mỗi ngày mang hoa quả rau củ trong vườn ra chợ bán. Mẹ đã làm cho khu vườn giống như những gì mẹ tả cho tôi nghe trước khi tôi rời Tam kỳ. Cuộc sống của gia đình tôi khá tươm tất. Chúng tôi tưởng cuộc đời của gia đình tôi đã an bài nơi xã Mỹ xuân ven lộ 51.
Những năm 90, chương trình H.O. nở rộ nhưng ba tôi không muốn đi. Gia đình tôi đang sống ổn định trên mảnh đất ba mua. Ba đã gần 60 tuổi nên không muốn làm lại cuộc đời nơi xứ người, nơi mà ngôn ngữ và văn hoá quá xa lạ với một ông già như ba để làm quen. Nhưng có lẽ cái ngại ngùng của ba là chuyện lo giấy tờ để nộp đơn cho chương trình H.O.. Ba không muốn về Trung làm giấy tờ bởi cái ám ảnh ghê sợ của những ngày ở tù và bị bắt bớ khi ra tù. Hồi đó tôi không hiểu những lo âu của ba nhưng bây giờ, khi đã thấm mùi đời, tôi nhận ra những lo âu đó là đúng.
Rồi cuối cùng gia đình tôi cũng đến được nước Mỹ , chứ không phải xã Mỹ … xuân lèo tèo ngày xưa. Lúc tôi hai mươi mấy, tôi nghe một người nói đại loại như thế này. “Từ nhỏ cho tới 10 tuổi, mình thấy ba giỏi quá, cái gì cũng biết. Từ 10 tuổi cho đến 18 tuổi, mình thấy ba không biết gì mấy. Từ 18 – 30 tuổi, mình thấy ba không biết gì hết trơn. Từ 30 – 40 tuổi, mình thấy ba nói nhiều điều đúng. Hơn 40 tuổi, mình thấy ba là anh hùng.” Ngày đó tôi cười khi nghe những lời đó, nhưng bây giờ tôi thấy quá chính xác.
Ba tôi năm nay đã ngót nghét 90 tuổi. Ông vẫn mỗi ngày lái xe chở mẹ tôi đi dạo bờ biển thật đẹp ở Navarre, FL. Những đứa cháu nội ngoại của ba, đa số là sinh ra ở Mỹ, có đứa nói được tiếng Việt, có đưá lọng ngọng, có đứa không nói được chữ nào, nhưng chúng đều yêu quý ông nội/ngoại. Thằng cháu nội đích tôn nói tiếng Việt hơi thiếu dấu nhưng thương ông nội nhất trong đám cháu. Lâu lâu nó xin ba mẹ nó được qua ngủ với ông nội một đêm. Thằng bé nằm kế bên ông nội, kéo da tay ông lên và nói, “Ông nội ốm quá! Chỉ có xương và da thôi. Ông nội phải ăn nhiều lên…” Ba tôi xoa đầu cháu và chảy nước mắt.
Lúc này tôi thấy mình hay lục tìm quá khứ. Đọc những dòng nhật ký viết về ba những ngày tháng kinh khủng ở Việt nam, đã có lúc tôi tưởng, vì ba mà đời tôi bị dìm xuống. Tôi cũng như cậu bé Kirk trong vở kịch “The Price of Freedom”, tôi đã ngờ vực về ba, không phải chỉ trong mấy mươi phút như trong vở kịch mà rất nhiều năm. Không biết tôi có hành xử được như ba hay không nếu tôi bị cô thế, bị bắt phải tù tội, bị bắt bớ khi ra tù, rồi lạc đến một nơi không cùng ngôn ngữ khi tuổi đã về chiều. Bây giờ nhìn thấy ba mẹ tôi sống an bình, tôi ước ngày về hưu tôi cũng được sống như vậy. Bây giờ tôi lại nhìn lên mẫu mực của ba mẹ như tôi đã nhìn ba mẹ trước năm 75 khi tôi còn bé tí. Bây giờ tôi nghiệm ra rằng thử thách đầu đời ấy đã giúp tôi khẳng định niềm tin về ba, tự hào về ba, người tôi đã kính nể lúc nhỏ và cho đến bây giờ.
Viết cho Tháng Tư! 2025 Thuỷ Như
==
TRUYỆN SỎI NGOC
Khóc Cha
Biết bao nhiêu bài viết về Mẹ, công ơn sinh thành, hy sinh của người Mẹ vào ngày lễ Mẹ, nhưng hôm nay là ngày Father’s Day, ngày của CHA, tôi phải lợi dụng ngày này để viết lên công trạng của cha không kém gì MẸ, ngược lại vai trò người cha trong gia đình tôi là điểm đặc biệt quan trọng mà những chị em gái chúng tôi không thể nào quên.
Người cha ngoài công lao dưỡng dục, mặc dù không là người trực tiếp mang nặng đẻ đau như người mẹ, nhưng người cha đổ rất nhiều công lao như đi làm kiếm tiền trang trải cuộc sống, gánh vác cả gia đình; cuộc sống có tốt đẹp, ấm no, con cái có học hành, phẩm hạnh đạo đức không, chính nhờ phần lớn mồ hôi, công sức nuôi dậy của người CHA.
Tôi là đứa con trai giữa trong gia đình năm chị em, ba gái đầu liên tiếp và hai trai sau, mà tôi là người anh đầu. Lẽ ra ba chỉ muốn có hai người con, một trai và một gái thôi, hoặc ba người là nhiều rồi, vì ba bảo có nhiều con vui thật nhưng trách nhiệm nặng nề, phải nuôi con đến nơi đến chốn, cho ăn học và đến khi chúng lập gia đình mình cũng còn phải lo!
Mỗi lần mẹ mang bầu là mỗi lần ba đặt nhiều hy vọng, mong một thằng cu! Ba hay kể với bác Tư, bạn thân của gia đình là ba cảm thấy rất phấn khích, khỏe mạnh khi “gần” mẹ, chắc chắn kỳ này phải là đứa con trai. Thế nhưng kết quả là… người chị cả ra đời!
Ba tự an ủi, nói với ông bà Nội rằng:
-Không sao, đứa đầu lòng là gái hay trai cũng được, là con gái thì sau này nó dậy dỗ trông nom em càng tốt hơn nữa, nhất là chỉ bảo em trai thì tốt đẹp biết bao.
Hai năm sau, mẹ mang bầu, ba đặt tất cả kỳ vọng vào cái bầu tròn căng vượt mặt của mẹ. Thuở ấy chưa có siêu âm ở những vùng tỉnh nhỏ, nên chỉ nhìn dáng bụng thì suy đoán là trai hay gái mà thôi; ông bà nội với nhiều kinh nghiệm, ngắm cái bầu của mẹ khi lên Dalat thăm gia đình nhỏ của chúng tôi:
-Nhìn cái bầu tròn như thế thì 80% là con gái rồi!
Ba cố chống đối:
-Nhưng sao kỳ này mẹ chúng nó lại thích ăn ngọt chứ không thích ăn chua như lần mang bầu đầu tiên, có thể nào là con …trai?
Đứa con gái thứ hai ra đời, ba có hơi thất vọng.
Đến ba năm sau, ba lại nhất định “thua keo này ta bầy keo khác”, không chịu thua số phận, hy vọng tăng trội hơn khi thấy khuôn bụng của mẹ nhỏ gọn hơn hai lần trước.
Ngày mẹ đi sanh chỉ có ông bà ngoại bên cạnh vì ba phải đi làm xa, ở Liên Khương, ba phone về thấp thỏm hỏi ông bà ngoại:
-Vợ con sanh có tốt không bố? Baby sinh ra có khỏe không? và có phải là con… trai?
Ông ngoại ái ngại, không dám trả lời liền, ngần ngừ:
-…Ưm… nhờ Trời thương mẹ tròn con vuông!… Con bé khỏe mạnh!
Ba thốt lên một cách thất vọng:
– …Lại là con gái ư?!
Một khoảng thời gian yên lặng, rồi ba nói tiếp :
-Con nhờ ông ngoại đặt tên cháu nhé.
-…Ừ được rồi, nhưng con bé này rất kháu khỉnh, có cặp mắt tròn to, da trắng và rất nhiều tóc!
-Vâng! Ông cứ đặt tên cho cháu đi nhé, con cám ơn ông bà Ngoại giúp con nuôi vợ con và các cháu nhé; con phải làm đến hết tuần này mới về nhà được ạ.
-Được rồi, con cứ an tâm đi.
Chỉ nói thế thôi, ba cúp phone tiếp tục làm việc.
Ông Ngoại trầm ngâm suy nghĩ, biết ba đã « ngán » con gái lắm rồi, nếu mẹ cứ tiếp tục cái đà này thì chắc ba ở luôn trên Liên Khương làm việc!
Ba chị gái đầu ra đời làm ba tôi chán quá, đổi nhà về Saigon làm việc để có thể thay đổi không khí, thay đổi sinh hoạt, biết đâu….
Lần thứ tư mang bầu, mẹ tôi chẳng thèm kiêng cữ gì như ba lần trước, bà ăn uống xả láng vì cảm thấy lúc nào cũng đói, nhất là rất thích ăn kem, ăn đồ lạnh.
Ngày mẹ đau bụng, mới đến nhà thương, chưa kịp vào phòng sanh, đứa trẻ đã muốn lọt ra ngoài, họ vội vàng đẩy mẹ vào phòng ngay; ba đứng bên ngoài chờ cho mọi chuyện êm thắm một chút, định bỏ về đi làm thì nghe tiếng khóc thé của tôi vọng ra; ba đã biết đó là thằng con trai!
Ba đã mừng đến rơi nước mắt và đã chắp tay cảm ơn Trời Phật ngay tại trước phòng sanh của mẹ!
Tôi được cưng chiều đến nỗi chỉ một tiếng khóc nhỏ cũng được chị vú ẵm bồng, dỗ dành.
Mỗi buổi chiều đi làm về, ba đều vào thăm thằng cu Thơm, vì hồi bé tôi thơm mùi sữa, mùi phấn lắm nên được đặt tên ở nhà là cu Thơm, ba mua đồ chơi, hôn hít, bồng bế tôi. Tôi đem niềm may mắn đến cho gia đình, ba được thăng chức, được chính phủ cấp cho nhà rộng to, rất đẹp.
Dù ba cưng chiều tôi nhất nhà, nhưng ba chị của tôi cũng được ba chăm sóc, lo lắng cho từng người. Tôi nhớ chị lớn nhất của tôi đến tuổi có bạn trai, mỗi lần anh ấy đến, ba đều hỏi gia cảnh nhà anh ấy tưởng chừng như cảnh sát hỏi cung phạm nhân vậy, đến nỗi anh ấy không dám vào nhà nữa mà hẹn chị ở góc đường, ba nói :
-Đứa nào có can đảm đối đầu được với ba thì mới xứng đáng làm con rể của ba!
Mỗi lần tôi bị bệnh thì khỏi nói rồi, ba thức đêm lo cho tôi uống thuốc đúng giờ thay vì là mẹ, ba cẩn thận đến nỗi sợ mẹ mệt ngủ quên nên ba để đồng hồ báo thức dậy đúng giờ đó, và tự tay cho tôi uống thuốc.
Sau tôi, em trai ra đời, ba rất vui mừng và ngưng tại đây.
***
Những ngày vui hạnh phúc chưa được bao nhiêu thì miền Nam bị nhuộm đỏ, công việc dưới chính quyền cũ không còn nữa, ba phải cơ cực làm những công việc chẳng phải là chuyên môn của mình, hy sinh tất cả cho các con từ hạt cơm bo bo đến miếng thịt heo cả tháng mới mua được một lần ở hợp tác xã.
Sau đó là những lần vượt biên không thành, ba bán dần dần những đồ đạc trong nhà, ba ít nói hơn, mái tóc bất ngờ chuyển màu trắng toát chỉ qua vài đêm, ngồi yên nhìn vào khoảng trống như suy tính mọi cách làm sao cho con cái thoát thân trước, rồi ba mẹ mới là người cuối cùng.
May mắn làm sao đúng vào lúc gia đình cạn kiệt nguồn vốn để dành bao lâu nay, giấy tờ bảo lãnh của người thân bên Canada về đúng lúc, chúng tôi sửa soạn rời xa quê hương, nơi chôn nhau cắt rốn đến một xứ sở thứ hai với hai bàn tay trắng, tương lai mịt mờ, chỉ còn mỗi niềm hy vọng mong manh trong tim.
***
Ba mươi năm sống ở xứ Canada lạnh giá, 15 năm đầu ở Montreal, ba đã bỏ cả tự ái, quên đi cái chức giám đốc nha hỏa xa, xưa kia ở Saigon, một thời cai quản hơn cả mấy chục nhân viên dưới quyền, ba đã phải làm công nhân với mức lương 4$/ giờ trong hãng làm giầy da, sáng sớm dậy chờ bus lạnh lẽo ở đầu đường, làm cho đến chiều 5 :00 về nhà mệt nhoài. Với số tuổi không còn trẻ, 55, Ba cố gắng quên mình, bỏ tự ái để đi làm công việc tay chân với một mức lương tối thiểu mà không hề than trách, để cho chị em chúng tôi đừng bị dang dở việc học.
Vài ba năm sau, năm 1990 dù lớn tuổi, ba vẫn lấy thêm chứng chỉ học ban đêm, mỗi tối cả nhà chúng tôi đều yên lặng, ai nấy đều gục đầu vào quyển sách, chỉ nghe tiếng trang sách lật; ba thi vào một chức vụ hành chính về quyền con người của cấp thành phố Montreal, tỉnh Quebec nơi chúng tôi đang cư ngụ, chức vụ này có đến trên 10 người thi vào, chỉ một mình ba là người Việt tỵ nạn đến Quebec được ba năm rưỡi, còn những kia toàn là dân bản xứ, họ thi lên ngạch, làm lâu năm và có kinh nghiệm cả chục năm trong guồng máy hành chính này. Ba nói với chúng tôi :
-Cứ thử sức xem sao, không mất mát gì cả, nếu đậu thì cả nhà chúng ta sẽ được thay đổi đời sống, mâm cơm sẽ khác hơn, sẽ có xe đi và chỗ ở tốt hơn; nếu không được thì mình cũng học cho có thêm sự hiểu biết về luật pháp của Canada, không có gì mất công hết!
Chúng tôi rất cảm động vì thấy tuổi ba đã lớn, trên 55 mới bắt đầu học lại, ba không muốn cho mẹ phải đi làm, không muốn thấy chúng tôi phải bỏ học ngang để đi làm kiếm tiền, ba lúc nào cũng tự cho mình phải mang trách nhiệm này đối với gia đình.
Nhiều đêm thấy ba đọc sách mà quyển sách đã tự rơi xuống đất vì buồn ngủ và mệt quá, ban ngày đi làm từ sáng sớm, tối thức khuya đến 12 :00 đêm làm sao sức nào chịu nổi, tôi thương ba vô cùng, tự hứa với lòng sẽ ráng học ra trường kỹ sư để ba hài lòng.
Rồi một ngày, ba về nhà mang trên tay bao nhiêu giỏ xách, ba hớn hở nói như reo, lần đầu tiên tôi thấy ba vui như thế :
-Mẹ chúng nó này! Tôi đã… thắng rồi nhé, tôi được chọn vào làm văn phòng của chính phủ rồi, thứ hai tới này tôi đi làm công sở mới!
Lúc ấy ở nhà chỉ còn hai anh em trai chúng tôi thôi, ba chị lớn đã lần lượt đi lấy chồng sau khi ba mẹ tôi sang được một năm, tôi và em trai đã chạy ra ôm lấy ba, chúc mừng :
-Ba giỏi quá! Chúng con phải noi theo gương ba!… Hôm ba đi thi có đông người phỏng vấn ba không?
-Cả một phái đoàn 6 người, mỗi người hỏi một vấn đề, người thì hỏi về luật lệ Canada, kẻ thì đưa ra những tình huống xem mình giải quyết thế nào, còn người thì hỏi về học vấn và công việc trong quá khứ của mình ra sao…rất stress lắm, mỗi thí sinh phải qua cả tiếng đồng hồ với họ đấy chứ không dễ ăn đâu!
-Chúng con rất hãnh diện về ba, ba giỏi quá, ba làm gương cho chúng con noi theo đó!
-Vậy mấy người kia thì sao hả ba? Họ trả lời không được hay sao?
-Họ không đủ kinh nghiệm sống và có người chưa làm qua chức vụ đó thì làm sao trả lời được, còn ba thì đã làm mấy năm giám đốc hỏa xa, lại đi tu nghiệp ở Mỹ, Pháp về thành ra đối với ba không là vấn đề gì to tát, chỉ có cái mình nói chuyện bằng ngôn ngữ của họ không nhanh bằng họ thôi, mình viết giỏi, nhưng nói thì chưa lưu loát lắm.
-Bõ công ba học hành từ cả mấy tháng nay! Đây là món quà thật xứng đáng của ba!
-Cái gì cũng phải nỗ lực để đạt được, các con nhớ nhé, muốn gì phải đạt được bằng tất cả khả năng của mình, đừng từ bỏ, hãy theo đuổi mộng ước của mình đến cùng vì mình chỉ khổ vài năm thôi mà được hưởng cả đời.
Mẹ tôi chen vào:
-Ba nó mua nhiều thịt heo, thịt vịt quay quá, hôm nay tha hồ mà ba bố con nhậu với nhau!
***
Ba làm cho công sở cấp thành phố, tiểu bang Quebec này được 10 năm, đúng 65 ba về hưu, mọi người trong sở ai cũng quý mến ba, ba được thưởng bonus và được tiền hưu cao. Lúc ấy tôi và em trai đã tìm được một công việc khá ở Toronto về kỹ sư điện tử đã được trên sáu năm và cũng đã lập gia đình; ba mẹ muốn về gần con trai và các cháu nhỏ, nên đã từ giã Montreal, không muốn ở chung với các con, mà muốn ở riêng và thỉnh thoảng chúng tôi đến thăm.
Mẹ mất khi 70 tuổi, sự ra đi nhanh chóng của mẹ làm cuộc sống của ba bị mất thăng bằng, ba không còn thấy vui sống nữa, nhưng vẫn cố gắng giữ nụ cười khi gặp con cháu. Ba cố gắng tự mình di chuyển bằng xe đạp, bằng phương tiện giao thông công cộng như bus hay metro để đừng phiền đến ai, ba cũng tự học làm cơm mà từ trước đến nay ba chẳng bao giờ đụng đến bếp núc mà chỉ lo kiếm tiền cho gia đình mà thôi, ba ăn uống qua loa…Vì thế nên ba ngày càng gầy đi, mỗi lần gặp chúng tôi ba đều cố vui để chúng tôi đừng lo lắng, đừng mất công làm cơm đem đến cho ba:
-Ba khỏe mạnh lắm, không bệnh hoạn gì hết, các con cứ lo đi làm, lo cho các cháu là được rồi, đừng mất công đem gì đến cho ba, ba đặt đồ ăn ở gần đây, họ làm ngon lắm.
Đến một ngày, tôi nhận được phone của ba từ nhà thương, ba cố nói với giọng vui vẻ:
-Ba đã xin được một chỗ ở đây rất tốt, phải chờ đợi lâu lắm mới được chỗ này đó, họ làm cơm cho mình ngày ba bữa, nơi đây vừa gần chỗ các con ở, vừa gần …nhà quàn…
-Ba! Cái gì vậy? Tại sao ba lại vào nhà thương ở? Chỗ đó đâu phải….Sao ba không bàn gì với chúng con? Cancer phổi của ba các bác sĩ nói vẫn được theo dõi ok mà? Ba có bị đau đớn không? Ba có buồn giận gì chúng con không?
-Không đâu, chính ba là người quyết định, các con không có lỗi gì ở đây cả! đời người cũng phải có cái hạn mà con, ba đã sống hết đời rồi; từ ngày mẹ con qua đời đến giờ ba sống thật bấp bênh, thấy thiếu thốn một cái gì đó, cuộc sống không còn vui, không còn chất lượng nữa… Ba muốn…đi gặp Mẹ! Tuy nhiên, ba rất vui thấy các con đã thành công, tự lực, nuôi nấng và giáo dục các cháu rất tốt, đó là điều mà ba thấy hạnh phúc nhất. Ba thấy mình đã thực hiện được ước mơ, trách nhiệm đã xong, sống lâu quá chỉ làm phiền các con cháu mà thôi, ba chọn cách ra đi nhẹ nhàng nên mới vào nhà thương này….
Ba phone đến các chị lớn để “trăn trối”, dặn các chị phải làm gì sau khi ba ra đi, ba muốn được thiêu, tro của ba hãy để vào chùa, chỗ bên cạnh mẹ mà ba mẹ đã chọn mua, ba để lại gia tài cho đứa nào cái gì…
Chúng tôi chỉ yên lặng nghe quyết định của ba mà trái tim tan nát, nước mắt rơi không ngừng, không nói được điều gì khi thấy ba đã suy nghĩ, đã sắp xếp cho chuyến đi xa của ba được toàn vẹn. Các chị tôi lúc nào cũng túc trực bên cạnh nhà thương; khi vào thăm ba, thấy ba còn mạnh khỏe, vẫn tự mình làm vệ sinh cá nhân, ăn uống ngon miệng đồ ăn của nhà thương, nơi đây là chỗ để cho những người bệnh già ở, không bị bệnh nặng lắm, có những người ở đây đến hai năm vẫn chưa ra đi.
Chúng tôi nhắc lại những kỷ niệm xưa với ba, nói những chuyện vui để ba có thể quên đi cái thực trạng bệnh hoạn, ba chỉ cười mỉm và lúc nào cũng nhắc nhở chúng tôi:
-Nhớ trông nom các em, các cháu cho tốt nhé, ba ra đi sẽ phò hộ cho các con!
-Ba ơi, ba hãy đi đầu thai, hãy làm việc của ba, đừng vì chúng con nữa ba nhé, ba đã cho chúng con một đời này là được rồi ạ!
Đến tháng thứ hai ở nhà thương, lúc 3:00 sáng, tôi nhận được cái phone định mệnh reng lên giữa đêm, họ nói ba đã từ chối ăn uống, cũng như uống thuốc từ hai hôm nay, để được thảnh thơi ra đi…Ba tôi hưởng thọ 86 tuổi!
Cha đi, bóng xế bên thềm, Lá rơi theo gió, nỗi niềm rụng theo. Lặng thầm lệ ướt khăn treo, Con ngồi thổn thức giữa chiều buốt tim.
Một đời cha gánh nổi chìm, Cho con nắng ấm, cho tim yên bình. Giờ đây trời đất lặng thinh, Cha ơi… tiếng gọi chỉ mình con nghe.
Hôm nay nhân Mùa Thế Giới Lễ Cha Tôi viết bài tự tình này cùng vẽ bức tranh THUYỀN RA KHƠI để tưởng nhớ về CHA của tôi .
Năm 1975, khi MNVNCH rơi vào tay cộng nô , Cha của Tôi ông rất đau buồn Cha thương nhớ các con bị tù đày và mất xác trong chiến tranh . Ngày đêm cha đau khổ trầm ngâm . Bỗng một hôm Cha đóng cửa phòng và ở mất trong phòng hết mấy hôm Cha chỉ ra ăn cơm và trở vào phòng không nói gì cả . Sau đó Cha khăn áo ra phố và rồi trở về với nhiều thứ lỉnh kỉnh trên tay. Nào là những tấm thiếc mỏng , những lon sơn đỏ vàng và nhiều thứ nữa . Sau đó Cha bắt tay vào việc , Cha đưa cho Tôi bản vẽ và nhờ Tôi vẽ lên những tấm thiếc mỏng . Tôi ngỡ ngàng khi thấy mẫu Thuyền mà Cha đã nhốt mình mấy ngày trong phòng âm thầm vẽ … Hai Cha con yên lặng bên nhau làm việc. Hì hà hì hục sơn sơn vẽ vẽ…hàn giủa cả tháng trời mới làm xong một số thuyền nhỏ chạy bằng dầu. Lúc Cha hàn, Cha cắt, Cha ghép từng mảnh thép thành những chiếc thuyền Cha nói xa xăm , Cha nói bóng gió. Cha như truyền hết tâm huyết của mình vào những cánh buồm nho nhỏ… Cha tâm sự với con gái mà như nói với chính Cha trong suốt thời gian thực hiện tâm huyết của mình. Sau khi những chiếc thuyền nhỏ chạy bằng dầu đã hoàn thành Cha cùng con gái mang ra phố rao bán THUYỀN
Hai Cha con trải một tấm khăn màu xanh (mà Cha ám chỉ là Đại Dương) sắp xếp những chiếc thuyền sơn màu vàng và có những vạch thẳng màu đỏ hai bên hông thuyền . Mới thoạt nhìn không ai để ý thì sẽ không biết đó là biểu tượng của Cờ Vàng 3 Sọc Đỏ mà Cha Tôi đã khéo léo gởi gắm tâm nguyện của mình. Cha để một chậu nước cùng vài ba chiếc thuyền nổ phành phạch chạy vòng vòng. Hai Cha con tôi cùng phụ họa rao bán: THUYỀN RA KHƠI ĐÂY VÀNG VÀNG ĐỎ ĐỎ MUA VỀ CHO CON TRẺ RA KHƠI CHO VUI CỬA VUI NHÀ …
(viết đến đây nước mắt của tôi đã ràn rụa ) Ý Cha tôi muốn NHẮN GỞI VỚI THẾ HỆ HẬU DUỆ HÃY RA KHƠI VƯỢT BIỂN TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC.
Lúc đó tôi đã hiểu được tâm huyết của Cha nên cũng chẵng còn mắc cỡ gì cả (dầu gì đi nữa khi chưa mất nước Tôi cũng là một tiểu thư ) Tôi cùng Cha rao bán với một giọng rao hàng rất tự hào. Sau đó bạn bè của Cha tôi có đến nhà và thân tình hỏi nếu Cha tôi cần tiền họ sẽ giúp chứ tại sao ra chợ rao bán từng chiếc thuyền con làm khổ thân như thế.(Tôi biết Cha tôi không thiếu tiền …) Tôi nhớ có ông Bác Sĩ TênTrần văn Cát là bạn rất thân với Cha đã thì thầm to nhỏ với Cha hàng giờ trong phòng. Trước khi ra về ông còn căn dặn Cha tôi: *Hòa ơi, nếu có cần gì hãy đến gặp tôi .( Hòa tên Cha tôi) Sau đó Cha tôi ngã bịnh.
Một vài năm sau khi tất cả các anh tôi chưa ra khỏi tù đày của bọn cộng sản và xác thân của một người anh ruột và một người anh rể chưa tìm ra thì Cha tôi đã bỏ lại Me Con tôi ra đi sau hai cơn nhồi máu cơ tim . Lúc đó tôi đang ở xứ người xa xăm hay tin Cha mất tâm can tôi tan nát như có ngàn kim châm Hiện giờ tôi đang có chung căn bệnh Tim với Cha.
Mỗi lần cơn đau tim rủ nhau về Tôi thấy như gần gũi bên Cha của mình hơn …
– Nhớ chứ, anh Hùng Từ… lừ đừ như ông Từ vào đền chứ gì. Chính nhóm tụi em đặt tên “Hùng Từ” cho anh ấy mà. Ủa, sao bỗng dưng chị lại nhắc đến anh Hùng? Lúc em lên đường đi Canada, chưa kịp viết thư về trại thì vài tuần sau anh ấy cũng đi Mỹ, nên mất liên lạc luôn từ đó.
– Chị và anh Hùng ở cùng tiểu bang Florida mà hồi nào giờ có biết đâu. Tuần trước chị tình cờ gặp một người bạn trại tị nạn Thailand, được biết anh Hùng đang buồn lắm, trầm cảm sắp… tâm thần rồi kìa.
Tôi hốt hoảng:
– Trời ơi, chuyện gì vậy? Bao lâu nay mới nghe tin anh Hùng lại là tin không vui.
– Bé Ngân con gái anh bị chết đuối khi đi tắm biển. Anh tự trách tự giày vò, vì cái chết của con ngay trước mắt mà không cứu được nó và vì anh mang con đi tắm biển mới ra nông nỗi. Bạn bè thân quen đã an ủi khuyên nhủ mà anh vẫn sầu u không nguôi và rồi anh cắt liên lạc, tự cô lập, không tiếp chuyện với ai. Chị cố gọi mấy lần anh vẫn không bắt máy dù đã để lại lời nhắn là bạn chung phòng Cao Ủy Thailand với anh.
Chị Vân thúc giục tôi:
– Loan gọi anh ấy đi, hồi đó Loan và anh Hùng thân nhau, Loan còn là “đồng minh” giúp anh ấy mà, chị tin là anh Hùng sẽ tiếp chuyện và nghe lời khuyên của Loan.
……………………………………………………..
Anh Hùng mà chúng tôi gọi anh là “Hùng Từ” vì anh hiền hòa như ông Từ trông đền, sống ở trại anh thân thiện với mọi người xung quanh, chẳng kiêu căng dù anh là thông dịch viên giỏi nhất nhì phòng Cao Ủy, cũng chẳng xích mích với ai, nên được nhiều người quý mến.
Anh vượt biên đến Thailand cùng đứa con gái 6 tuổi, để lại vợ và đứa con trai ở quê nhà. Bé Ngân thông minh lanh lợi luôn quấn quýt bố. Ngân lớn thêm 3 tuổi nữa theo thời gian ở trại vì đợi chờ thanh lọc. Tôi thân với cả hai bố con, vì ở phòng Cao Ủy tôi và anh Hùng là đồng nghiệp, ở trường Việt Ngữ tôi là cô giáo của bé Ngân, và tôi ở chung nhà với 3 cô bạn gái là thành viên ca đoàn Nhà Thờ, phụ trách các em Thiếu Nhi Thánh Thể mà bé Ngân cũng là một bé ngoan của Thiếu Nhi Thánh Thể.
Rồi bỗng một ngày, anh Hùng có… người yêu, là chị Hương y tá bệnh viện trại. Anh Hùng tâm sự với tôi, em biết rồi đấy, chuyện tình yêu khó nói lắm, cả anh chị đều có gia đình ở Việt Nam, cuộc tình này là sai trái, nhưng lý trí phải chịu thua lý lẽ của con tim rung động, dù biết trước không lối thoát, không có đoạn kết trọn vẹn.
Cuộc tình này đã bị bé Ngân phản đối quyết liệt. Anh Hùng mỗi sáng đi làm, gặp tôi rầu rĩ:
– Hễ mỗi lần Hương đến chơi nhà, là bé Ngân sưng sỉa ra mặt, hỏi gì cũng chẳng trả lời, cứ kè kè kế bên anh, ôm cổ ôm vai anh trước mặt Hương, tụi anh có nói chuyện được gì đâu.
Có lần anh đưa tôi lá thư:
– Chút xong việc, em chuyển thư này cho Hương giùm anh nhe!
– Trời, trại tỵ nạn bé tí, có ngăn sông cách núi gì đâu, mà phải thư với từ?
– Em không biết đấy thôi, bé Ngân không cho anh một phút rảnh rỗi một mình, lúc sáng nó đi học Việt Ngữ lớp em dạy thì anh cũng đến mở cửa văn phòng sớm, trưa anh về lo cơm nước hai bố con, rồi lại đi làm, chiều về ăn cơm xong, hai bố con đi lễ, cứ thế nó bám anh cả ngày lẫn đêm. Chưa hết, từ ngày anh quen Hương, thỉnh thoảng nó chạy qua văn phòng để… chơi với bố mà thực ra là để canh chừng, nếu không thấy bố trong phòng Cao Ủy là về nhà nói hạch hỏi đủ điều …
– Vụ này căng quá anh nhỉ! À, em có tin vui nè, Cha mới thông báo thành lập phong trào Thiếu Nhi Thánh Thể, mỗi tuần hai lần, sau giờ Lễ, các em ở lại sinh hoạt một tiếng, anh đưa Ngân đến ghi danh nhe, coi như anh có hai lần trong tuần tự do hẹn hò.
Nói xong, tôi thấy mình thật vô duyên, đã ngầm “vẽ đường cho hươu chạy”, ủng hộ mối quan hệ sai trái này, mà thực tình là tôi chỉ nghĩ đến bé Ngân, muốn cho Ngân có dịp vui chơi với các bạn . Cũng có lúc tôi từng nghĩ đến việc góp ý khuyên anh Hùng dừng chuyện “con tim”, nhưng tôi có tư cách gì? Anh lớn tuổi hơn tôi cả hơn một con giáp, khi Sài Gòn sụp đổ năm 75 anh cũng mới ra trường Quốc Gia Hành Chánh, tài giỏi khôn ngoan như thế, đâu cần tôi khuyên với bảo.
Dù sao Ngân cũng chỉ là đứa bé 9 tuổi, ham vui, nên mau chóng gật đầu tham gia nhóm Thiếu Nhi Thánh Thể của Nhà Thờ, nhưng đến ngày sinh hoạt là nó dặn, bố không được đi đâu đấy nhé, con mà biết bố đi gặp cô Hương là con giận bố luôn đấy.
Được vài tuần, anh Hùng lại than thở:
– Mệt quá Loan ơi, những lần hẹn hò chỉ được một tiếng, đi dạo, vào quán cafe là đã gần hết giờ, anh lại sợ bé Ngân kiểm tra đột xuất nên anh luôn về nhà sớm 15 phút, thật đúng là “vội vàng thay những phút yêu người”, thì Hương lại giận hờn, bảo anh sợ con hơn là yêu cô ấy, rồi có hôm Hương không thèm ra chỗ hẹn, anh ở giữa hai bên, khổ thiệt.
Tôi được dịp cười chọc quê anh:
– Thì tự anh đâm đầu vào “thú đau thương” thì ráng mà chịu, có ai ép uổng gì đâu nà!
Rồi một ngày, anh Hùng qua bàn làm việc của tôi, thỏ thẻ:
– Loan à, ngày mai cuối tuần, anh được mời đi dự tiệc tiễn người bạn chuyển trại đi định cư, Hương cũng được mời, anh sợ bé Ngân đòi đi theo, nên anh nhờ Loan cầm số tiền này, chiều mai hai cô cháu đi ăn hủ tíu, đi chơi vòng vòng trong trại để anh thoải mái đi tiệc, sau đó sẽ đi chơi riêng với Hương, tổng cộng khoảng …ba tiếng, được không em?
Tôi trố mắt nhìn, anh vội giải thích:
– Anh biết Ngân thương và nể em lắm, anh muốn em lựa lời nói chuyện với nó, cho nó bớt… căng thẳng, bớt ngăn cấm bố.
– Trời đất! Anh sai rành rành mà biểu em nói gì với Ngân, hơn nữa, anh đang đưa em vào tội “đồng lõa” đấy!
– Anh năn nỉ em đó Loan, anh hứa chỉ một lần này thôi, vì Hương sắp có kết quả thanh lọc rồi.
Cuối cùng, anh Hùng và tôi cũng tìm được lý do để anh được đi tiệc một mình, và tôi dẫn bé Ngân đi ăn hủ tíu. Trong lúc ngồi ăn, trời tối gió mát rượi, tôi thấy Ngân vui nên hỏi nó nghĩ sao về chuyện bố quen cô Hương, nó nói:
– Con thương bố, con thương mẹ, không muốn mẹ buồn.
Tôi bào chữa:
– Ở trại, đôi khi có những tình cảm đồng nghiệp thân thiết, rủ nhau đi uống cafe, đến nhà nhau ăn cơm là chuyện bình thường.
– Nhưng nếu bố đi với nhiều người thì không sao, mà đi riêng với cô Hương thì con không chịu.
Ăn xong hủ tíu, tôi ráng “câu giờ” ngồi lại, kêu thêm hai ly chè đậu xanh, hai cô cháu nhâm nhi chè, ngắm thiên hạ đi qua đi lại, vẫn chưa đủ ba tiếng như giao hẹn với anh Hùng. Tôi đưa bé Ngân đi dạo vòng quanh trại để… tập thể dục, nó than mỏi chân, tôi rủ nó về nhà, nơi tôi ở với mấy cô bạn thân đi chung chuyến tàu vượt biên. Nhóm bạn này chẳng lạ gì bé Ngân vì họ là các “Trưởng” trong Đoàn Thiếu Nhi Thánh Thể. Vì đã được tôi báo trước sự tình nên họ rủ thêm vài em nhỏ khác, tôi mua một ít bánh kẹo, chúng tôi bày ra trò chơi ca hát, đố vui đủ kiểu, khiến Ngân thích thú, quên cả chuyện canh chừng bố.
Anh Hùng đã nói đúng, sau đó ít lâu, Hương nhận kết quả rớt thanh lọc, rồi đăng ký hồi hương, chị ấy không muốn tái thanh lọc, kéo dài thời gian vô ích ở trại. Buổi sáng tiễn đoàn xe hồi hương ra phi trường Bangkok xong, tôi và anh Hùng đi dạo ngoài bãi đá, tôi nói:
– Thôi duyên phận anh và chị Hương đến đây là hết, cũng như nhiều cuộc tình nơi trại tạm dung này, coi như là kỷ niệm “người đi qua đời tôi!”.
Anh Hùng cười buồn:
– Tụi anh đã biết trước ngày này, nhưng vẫn thấy buồn và thật buồn.
Tôi phá tan bầu khí nặng nề:
– Từ nay bé Ngân yên tâm rồi nhé.
Anh thú tội:
– Anh chưa kể em nghe, tuần trước Hương bị cảm, anh không biết tìm cách nào đến thăm Hương, chả lẽ lại nhờ vả em nữa, nên anh chờ buổi tối Ngân ngủ say, anh lén chạy qua nhà Hương, ai dè lúc gần sáng quay về không thấy Ngân trong mùng, thì ra nó tỉnh giấc không thấy anh nên chạy đi tìm. Nó khóc quá chừng, từ đó đến nay tối nào ngủ cũng ôm bố thật chặt.
– Anh hư thật đấy!
– Sáng nay anh nói với nó, chút bố tiễn cô Hương về Việt Nam, con không cần ôm bố ngủ nữa nha, em biết nó nói sao không?
– Sao hả anh?
– Nó ngúng nguẩy bảo, con vẫn cứ ôm bố ngủ, vì sợ bố lại có… cô khác, con chỉ muốn bố là của con thôi.
– Ôi dào cái con bé này, cứ làm như bố nó là vàng bạc châu báu không bằng á!
Vậy đó, bao nhiêu kỷ ức với anh Hùng và bé Ngân lần lượt quay về làm tay tôi run run khi cầm tờ giấy ghi số phone anh Hùng mà chị Vân vừa đọc cho tôi. Tôi bấm số, tim đập nhanh vì hồi hộp, bởi chị Vân nói, Ngân mới mất một hai tháng, anh ấy vẫn còn đớn đau day dứt, không tiếp chuyện bất cứ ai nhất là những người chung trại tị nạn cũ . Bỗng có tiếng “A lô, ai đó?” làm tôi giật mình:
– Anh Hùng ơi, Loan đây, Loan Bưu Điện Loan Cao Ủy ở trại đây!
– Ồ…Loan! Có gì không em?
Tôi nói nhanh:
– Anh ơi, đừng cúp phone em nhé, em biết hết rồi, em đau lòng và thương Ngân lắm, nên muốn chia sẻ nỗi đau này cùng anh …
Anh vẫn im lặng, tôi vội nói tiếp:
– Mong anh đừng quá đau khổ, cầu xin Chúa thương linh hồn bé Ngân, và thời gian sẽ chữa lành vết thương lòng của anh.
Anh bất ngờ bật khóc:
– Loan ơi, anh đã giết con anh!
– Sao anh lại nói thế?
– Bố con anh vừa bảo lãnh vợ và con trai anh qua một thời gian, anh sắp xếp chuyến đi biển cho cả nhà, đến gần ngày đi, Ngân bảo bận chút việc học muốn dời ngày khác, nhưng anh bảo bố đã chuẩn bị hết rồi, đã xin nghỉ phép mấy ngày, thế là Ngân vâng lời đi theo. Có ngờ đâu, Ngân đang tắm biển bị sóng đánh ra xa, đưa tay cầu cứu anh nhưng đã không kịp, anh đã giết con anh rồi Loan ơi!!
Tôi chỉ biết im lặng, thổn thức cùng anh, anh vẫn khóc:
– Ngân không những là con gái, mà còn là người bạn, nó hiểu anh nhiều lắm. Chúa đã trừng phạt anh phải không em, vì tội lỗi của anh ở trại, nên Chúa lấy đi đứa con yêu quý của anh.
– Chuyện đã lỡ rồi, chẳng ai có tội lỗi gì cả, số phận đã thế, anh đừng tự dằn vặt mình nữa.
Anh còn nói thêm vài câu buồn bã, rồi bảo tôi từ nay đừng gọi, anh sẽ đổi số phone, tôi cố vớt vát:
– Anh Hùng, xin anh đừng nghĩ quẩn và em tin rằng anh sẽ vượt qua nỗi đau này.
………………………………………………………………………………………………
Thế rồi một hôm, sau mười lăm năm kể từ lần gọi phone ấy, tôi bỗng nhận được một cú phone lạ, lẽ ra tôi đã không trả lời vì ngại gặp quảng cáo hoặc bẫy lừa tiền, nhưng như có điều gì thúc đẩy, tôi đã nghe phone:
– Có phải Loan không, anh Hùng Từ đây!
Tôi vui sướng reo lên:
– Anh Hùng Từ! Anh Hùng Từ… Sao bây giờ anh mới gọi cho em?
– Anh tìm kiếm số phone của em mãi mới được đấy, đừng giận anh nhe!
Thế là, anh vẫn là anh Hùng Từ của ngày xưa, giọng nói từ tốn ấm áp, kể cho tôi nghe về khoảng thời gian đã qua. Anh vật lộn, chữa bệnh trầm cảm suốt 6 năm trời, bên cạnh bác sĩ tâm lý, uống thuốc theo toa, là sự chăm sóc đầy kiên nhẫn yêu thương của vợ hiền và con trai, cũng như sự khuyến khích từ các đồng nghiệp thân thiết nơi công ty anh làm việc. Có khi, nhớ lại lỗi lầm ở trại tị nạn, anh muốn tâm sự với vợ, nhưng nghĩ đến bé Ngân, anh lại thôi.
Khi hai bố con qua Mỹ định cư, bé Ngân vừa đi học vừa phụ giúp anh chuyện cơm nước, nhà cửa để anh yên tâm đi làm, hai bố con gắn bó như hai người bạn. Khi vợ và con trai đến Mỹ đoàn tụ là lúc bé Ngân ở tuổi 15, con rất khéo léo, không bao giờ nhắc lại chuyện ở trại, luôn chuyển qua đề tài khác, để anh đỡ áy náy bối rối trước mặt vợ. Dù anh không dặn dò, bé Ngân vẫn không kể tội của anh cho vợ anh biết. Những lúc có riêng hai bố con, Ngân còn ngầm nhắn nhủ anh, bố hãy quên đi dĩ vãng ấy, để gia đình chúng ta bình yên hạnh phúc.
Sau khi vượt qua căn bệnh trầm cảm, anh trở lại đi làm full-time cho đến khi anh và vợ nghỉ hưu, sống gần nhà vợ chồng con trai để phụ trông chừng đứa cháu nội, niềm vui đơn giản của tuổi xế chiều.
Chúng tôi cùng hồi tưởng về thời gian ở trại với nhiều kỷ niệm của bé Ngân. Anh vui vẻ khoe:
– Anh rất thích tấm hình hai bố con anh chụp trước văn phòng Cao Ủy bên giàn hoa giấy đỏ trong một bữa tiệc, anh không nhớ hôm ấy là tiệc gì, nhưng anh nhớ bữa đó bà trưởng Cao Ủy người Thái nhờ tụi em nấu nồi bò kho ăn với bánh mì.
– Ôi, em nhớ rồi, đó là tiệc nhân dịp Sinh Nhật Đức Vua Thái. Hôm ấy Ngân mặc áo đầm màu xanh, tụi em chải tóc và thắt nơ cho bé Ngân chớ ai!
– Đúng rồi! Anh đã phóng to tấm hình ấy, treo ở ngoài phòng khách nhà anh nè. Ngân cười rất xinh đẹp.
Rồi chúng tôi lại lan man, nhớ đến những bạn bè chung phòng Cao Ủy, những kỷ niệm của mấy năm dài nơi trại tạm dung thật khó quên, và anh Hùng nhắc đến chị Hương:
– Khi Hương về Việt Nam tụi anh cắt đứt liên lạc từ ngày ấy, nhưng anh có nghe nói, cuộc sống của Hương bên quê nhà cũng khấm khá. Hai vợ chồng Hương có một xưởng gỗ ở Thủ Đức, vợ chồng, con, cháu sum vầy bình yên.
– Vậy em mừng cho chị ấy.
Cuộc nói chuyện dài hơn hai tiếng. Cúp phone xong, lòng tôi lâng lâng niềm vui rộn ràng, khi nhớ lại câu kết của anh Hùng:
– Loan biết không, thỉnh thoảng nhìn lên tấm hình hai bố con treo trên tường, anh vẫn thì thầm với Ngân: “Con gái bé bỏng của bố ơi! Cám ơn con đã đến với cuộc đời bố, để yêu thương, cảm thông và tha thứ những sai lầm của bố. Hồi ấy con sợ mất bố, nhưng rồi bố lại mất con. Hãy giữ nụ cười tươi xinh như thế trên nước Thiên Đàng con nhé, và đừng quên rằng, bố vẫn mãi là của con!”
Edmonton, Fathers Day 2026
=
KIM LOAN
THÁNG SÁU
Tháng Sáu lòng ngẩn ngơ
Nhớ cơn mưa mùa hạ
Cành hoa ép trong vở
Ngày chúng mình cách xa
*
Người chung trường khác lớp
Cho tôi biết mộng mơ
Buổi học cuối man mác
Giã từ tuổi ngây thơ
*
Nhìn nhau một lần nữa
Ve sầu kêu bơ vơ
Sân trường buồn nức nở
Giờ biệt ly, ai ngờ!
*
Màu phượng đỏ tươi thắm
Mênh mông một góc trời
Cành rung rinh trong nắng
Để tim ai rối bời
*
Cô bé tôi đang khóc
Thương nhớ tuổi học trò
Bạn bè và sách vở
Những khuôn mặt Thầy, Cô
*
Và ánh mắt người nữa
Nụ cười hiền chơi vơi
Những buổi chiều tan học
Theo bước tôi, lá rơi
*
Hạt mưa bay nhè nhẹ
Vương vấn cả con đường
Lòng tôi thầm van khẽ
Đừng ướt áo người thương
*
Xin đường về dài mãi
Xao xuyến với bâng khuâng
Có ai mong hè đến
Có ai buồn lắm không?
*
Phút chia tay lưu luyến
Kỷ niệm bao ngày qua
Mây lưng trời giăng kín
Che mắt buồn thiết tha
*
Mình xa nhau từ đấy
Trách chi thuở dại khờ
Nghìn trùng xa biết mấy
Thời gian trôi hững hờ
*
Để hôm nay tôi nhớ
Tháng Sáu về trời mưa
Hoa phượng xưa rực rỡ
Tôi chép vội bài Thơ!
KIM LOAN
(Trời không mưa, anh có lạy trời mưa ??)
==
NGÀY TỪ PHỤ – THƠ HỒ DUY HẠ
*
Dâng lên Ba nhân ngày Lễ Từ Phụ Cảm xúc này xin báo đáp đền ơn Công cha cao như ngọn núi Thái sơn Luôn dưỡng dục đàn con hiền thơ dại
*
Dầu gian khổ Ba chẳng hề quản ngại Vì đàn con Ba chia xẻ yêu thương Dạy dỗ con nên phấn đấu kiên cường Luôn đứng vững trên đường đời chớ ngã
*
Phải hy sinh với nụ cười buông thả Và Đức Tin Trông Cậy Đấng Quyền Năng Công ơn Ba nuôi nấng con trưởng thành Giờ khôn lớn tình Ba luôn cao quý
*
Ngày Lễ Cha con tâm tình thủ thỉ Mong Ba hiền sống khỏe với đàn con Để chúng con phụng dưỡng cho đạo tròn Về sum họp làm quả dâng Từ Phụ
Xin gởi đến những người Cha
HAPPY FATHER’S DAY Hồ Duy Hạ
*
KHÓC BA – HỒ DUY HẠ
*
Duy nhất Ba ơi niềm tâm sự Nỗi lòng thân phụ con cưu mang Gần Ba cuối đời không là mấy Thương tiếc Ba yêu lệ tuôn tràn.
*
Khóc Ba thương nhớ ôn kỷ niệm Công lao dưỡng dục nuôi đàn con Mất Ba bây giờ con nuối tiếc Cứ tưởng bên con Ba vẫn còn…
*
Kỷ niệm luôn mãi tình Ba Mẹ Nay đã đoàn viên nơi suối vàng Ảnh hình ghi lại buồn muôn thuở Thương lắm Song Thân lòng chứa chan
*
Ước nguyện con chưa được hoàn thành Ba ơi sao lại đi quá nhanh Bao nhiêu công việc chưa hoàn tất Đè nén đau thương buồn bao quanh.
*
Nghẹn lòng không thể nào con tưởng Hình ảnh xưa nay cứ xuyến xao Gợi về ký ức chan dòng lệ Gọi Ba nhớ Mẹ khóc nghẹn ngào.
Father’s Day nhớ Ba rất nhiều. San Jose June 2026 Hồ Duy Hạ.
==
NGÀY TỪ PHỤ – TAN LỚP MÂY MÙ – Phương Hoa
Chiều muộn của ngày thứ Sáu trước thềm Lễ Cha (Father’s Day). Không khí trên đất Mỹ nhộn nhịp hơn hẳn thường ngày. Những biển hiệu “Happy Father’s Day” rực rỡ treo khắp nơi, các cửa hàng bánh ngọt, sô cô la ngập tràn những chiếc bánh kem trang trí hình chiếc thắt lưng bản lớn, chiếc mũ nồi duyên dáng, cặp kính tròn vo, hay những bộ râu ngộ nghĩnh.
Jamie bước ra khỏi bệnh viện sau một ca trực dài căng thẳng, chiếc áo blouse trắng gấp vội trong ba lô nhẹ nhàng, nhưng gánh nặng trong lòng thì chẳng thể cất đi. Là một bác sĩ nội khoa, mỗi ngày cô đều phải chứng kiến ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết, đối diện với những nỗi đau thể xác lẫn tinh thần của bệnh nhân, nên những nỗi buồn vu vơ không có thời gian xuất hiện trong tâm trí. Nhưng hôm nay, khi cởi bỏ chiếc áo blouse trắng, Jamie chợt thấy lòng mình chùng xuống và tim như thắt lại bởi một nỗi niềm riêng. Ngày Lễ Cha năm nay trùng hợp đến nghiệt ngã, là đúng tròn hai năm cô và Đức ký vào tờ đơn ly dị, và gần đúng một năm ngày người cha thân yêu của cô lìa trần. Nghĩ tới đây, Jamie quẹo xe tấp vào siêu thị Safeway gần nhà để mua hoa về dâng lên bàn thờ bố.
Những bước chân Jamie trong siêu thị như bồng bềnh trên cơn sóng, khi cô vừa đi vừa nghĩ về bố. Trong phút chốc, không gian ồn ào của siêu thị Safeway như lùi xa, nhường chỗ cho cuốn phim ký ức trào dâng, đưa nàng trở về với những năm tháng bảng lảng sương mờ quá khứ.
Bố cô, ông Luận từng là một Sĩ quan Bộ Binh trong Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa. Jamie nghe kể lại, sau biến cố năm 1975, ông bị tù đày biệt tích trong những trại cải tạo khắc nghiệt miền Bắc xa xôi suốt 5 năm trời. Ngày bước ra khỏi trại giam, thân hình ông gầy gò, bước chân xiêu vẹo, và đôi tay chai sần, nhưng đôi mắt vẫn sáng ngời nghị lực. Sau đó ông tìm đường vượt biển dắt theo Lan người vợ trẻ, khi ấy đang mang thai Jamie được hai tháng, xuống một con thuyền nhỏ cùng vài chục người, đánh cược mạng sống với đại dương song gió để tìm tự do.
Nhưng con tàu định mệnh ấy đã gặp phải hải tặc Thái Lan. Trận cuồng phong của lòng người tham ác và thú tính dã man đã đổ ập xuống con tàu. Lan và tất cả những phụ nữ yếu ớt trên thuyền đã bị chúng vùi dập, làm nhục ngay trước mắt bao người. Còn may là vì Lan ngất xỉu nằm bất động nên bọn chúng tưởng rằng đã chết và không nhớ tới để liệng xuống biển như những phụ nữ và các cô gái bất hạnh khác trên thuyền.
Sau bi kịch đó, khi đặt chân đến đảo tị nạn, Lan đã nhiều lần tìm đến cái chết để rửa sạch nỗi tủi nhục bủa vây. Nhưng mỗi lần nhìn xuống bụng mình, nơi sinh linh bé bỏng đang lớn lên từng ngày, và nhìn vào ánh mắt van nài, đầy xót thương của chồng, bà lại nghẹn ngào ráng nuốt nước mắt vào trong để sống.
Gia đình ba người đặt chân đến Hoa Kỳ với vết thương lòng sâu hoắm. Nhưng định mệnh nghiệt ngã chưa chịu buông tha. Khi Jamie vừa tròn hai tuổi, mẹ cô đổ bệnh nặng. Căn bệnh lạ quái ác nhiễm từ những gã hải tặc năm xưa trên biển như một thứ độc dược âm ỉ phát tác, cướp đi sinh mạng của người mẹ trẻ.
Kể từ ngày đó, bố Jamie ở vậy một mình. Một người đàn ông trí thức, vốn chỉ quen với sách vở và súng đạn, rồi đến đốn cây phá rừng sau khi mất nước, nay phải tự học cách pha sữa, nấu từng bát cháo cho con. Ông làm đủ mọi công việc tay chân nặng nhọc để nuôi Jamie khôn lớn. Chính những giọt mồ hôi và tình yêu bao la của bố đã nuôi dưỡng ước mơ của Jamie. Cô bé học hành thật giỏi, luôn đạt điểm xuất sắc từ Tiểu học cho đến trưởng thành. Jamie nhận bằng Bác sĩ và rồi hoàn tất chuyên khoa nội, thì mái tóc bố đã bạc trắng. Đôi mắt bố nhòe lệ bảo Jamie:
“Bố rất hảnh diện về con! Con đi chữa bệnh cứu người, cũng là đang xoa dịu nỗi đau mà mẹ con ngày xưa đã phải gánh chịu!”
Nhớ lại một ngày Lễ Từ Phụ năm Jamie hoàn tất việc học, cô tự tay chuẩn bị một bữa tiệc nhỏ cho hai cha con, và mua tặng bố một chiếc áo len mới. Nhưng bố cô lại lặng lẽ ra chợ mua về một bó hoa hồng vàng và một bó hoa hồng đỏ thật đẹp. Khi Jamie thắc mắc, bố đã cười và nói, “Dù là ngày Lễ Cha, nhưng đây là quà cho mẹ và cho con. Bố luôn muốn mẹ, và nhất là con, được hạnh phúc!”
Nhưng hạnh phúc ngắn ngủi như bọt nước tan mau. Chỉ mấy tháng sau ngày Lễ Cha năm ấy, đại dịch COVID-19 càn quét qua nước Mỹ. Là một bác sĩ, Jamie phải lao vào chữa cho bịnh nhân cùng toàn thể nhân viên bệnh viện. Bố ở nhà rất lo lắng cho con gái, đang vì lương tâm một bác sĩ mà phải lao vào nơi chốn hiểm nguy. Đâu ai ngờ, Jamie thì không sao, mà bố cô ở nhà đã không may nhiễm phải thứ virus quái ác ấy.
Bố được đưa vào bệnh viện, chính nơi Jamie đang làm việc. Nhưng sự nghiệt ngã của số phận ở chỗ, dù là một bác sĩ hằng ngày cứu sống bao người, Jamie lại bất lực nhìn hơi thở của bố cứ yếu dần đi sau bức tường kính cách ly nghiêm ngặt. Cô không thể lao vào ôm bố, không thể nắm lấy bàn tay gầy gộc đã nuôi cô khôn lớn.
Trong những giờ phút cuối cùng, qua màn hình điện thoại kết nối nghẹn ngào, bố Jamie đã dùng chút tàn lực, tháo mặt nạ oxy ra trong vài giây. Ông nhìn con gái bằng ánh mắt trìu mến nhất, và đôi môi mấp máy thều thào rất nhỏ:
“Bố… yêu con…con hãy sống… thật hạnh phúc!”
Rồi màn hình máy trợ tim phẳng lặng một đường dài. Con virus ác độc đã mang bố đi mãi mãi, bỏ lại Jamie bơ vơ giữa cuộc đời rộng lớn.
Câu nói cuối của bố, mỗi lần nhớ lại, Jamie vẫn thấy tim mình nhói buốt. Những năm tháng trước đó, vì lao vào các ca trực thâu đêm suốt sáng tại bệnh viện, vì bệnh nhân nặng cần cô ngày càng nhiều, Jamie đã vô tình bỏ quên tổ ấm của mình. Tình cảm vợ chồng cứ thế nhạt phai theo những bữa cơm lạnh ngắt. Cho đến một buổi sáng định mệnh, sau một ca trực đêm kiệt sức, Jamie được về sớm. Cô háo hức bước vào nhà, định bụng sẽ tạo cho chồng một sự bất ngờ. Nhưng tạo hóa trớ trêu, thứ chờ đón cô lại là một nhát dao chí mạng: Đức và Mai, người bạn gái thân thiết nhất của cô, đang quấn lấy nhau ngay trên chính chiếc giường ngủ của vợ chồng nàng.
Cái giá của sự tận hiến cho y học là sự phản bội ê chề từ chồng và người bạn thiết. Ngày hôn nhân đổ vỡ, người đau đớn nhất không phải Jamie, mà là bố cô. Người đàn ông cả đời chịu tủi nhục, một mình gà trống nuôi con chỉ mong con được ấm êm, nay lại phải chứng kiến đứa con gái báu vật bị người ta chà đạp. Ông Luận không trách Đức, cũng không rầy Jamie, ông chỉ ôm con gái vào lòng, đôi bàn tay gầy gộc run lên bần bật vì xót xa. Từ ngày đó, ông luôn đau đáu, tìm mọi cách xoa dịu và khát khao được nhìn thấy nụ cười trở lại trên môi đứa con độc nhất.
Jamie bỗng lắc đầu, đưa tay quẹt trôi đôi dòng lệ nóng vừa tràn ra khóe mắt, và cố xua đi bóng ma của quá khứ khi bước chân vừa tới hàng hoa. Dòng người mua sắm vẫn ngược xuôi hối hả, nào ai biết họ đã đi ngang qua một khách hàng đang bước đi cùng với tâm sự trùng trùng. Jamie tiến về phía thùng hoa, chọn một bó hồng vàng, màu hoa mà lúc sinh thời bố cô thích nhất, để ngày mai đặt lên bàn thờ ông và mẹ.
Đúng lúc cô đang nâng niu bó hoa trên tay, một giọng nói trầm ấm thoảng qua sát bên cạnh. Jamie bất giác nhìn sang. Một người đàn ông mang kính trắng trí thức, dáng người cao gầy đang dắt theo một cô con gái nhỏ chừng 5 tuổi mặc áo đầm hồng với hai bím tóc cột nơ đỏ đong đưa, bước lại quầy hoa.
Tim Jamie chợt đập loạn lên lỗi nhịp. Đó là một gương mặt vừa thân quen, vừa xa xôi trong ký ức. Tom!
Tom là người bạn học cùng trường y với cô ngày trước. Những năm tháng thanh xuân cùng nhau thức trắng trong những đêm trực, cùng chia sẻ những hộp cơm truyền thống quê nhà do tự tay Jamie nấu bới theo… biết bao kỷ niệm ngọt ngào và thanh khiết đã nảy nở giữa hai người. Tom thương Jamie, Jamie biết. Jamie quý mến Tom, Tom hiểu. Nhưng khi ấy, chiếc nhẫn cưới trên ngón áp út của Jmaie và rào cản lễ giáo Á Đông đã giữ hai người ở hai phía của một lằn ranh vô hình. Họ tôn trọng nhau, giữ trọn sự chừng mực của những người bạn tri kỷ. Sau khi tốt nghiệp, Tom buồn vì chẳng thể làm gì hơn với mối tình tuyệt vọng, nên chuyển về vùng miền Đông làm việc trong một bệnh viện lớn, hai người cũng từ đó mà bặt tin nhau.
Jamie xúc động đến mức đứng chôn chân tại chỗ. Một cảm giác bối rối, tủi hổ, xen lẫn nghẹn ngào trào lên, cô vội quay mặt đi, giả bộ như đang chăm chú chọn hoa để Tom không nhận ra mình trong bộ dạng hốc hác và gần khóc này. Hai cha con Tom tiến lại gần ngay bên cạnh cô.
“Daddy!” Cô bé nhỏ bất ngờ níu tay cha khi thấy Tom cầm lên một bó hoa hồng đỏ thắm, rực rỡ và lộng lẫy. “Ngày mai chúng ta làm tiệc mừng lễ Father’s Day, là ngày của ba, nội nói ba sẽ mua bánh kem, sao ba mua hoa hồng chi vậy?”
Tom cúi xuống, chỉnh lại chiếc nơ trên tóc con gái, giọng anh trầm xuống, ấm áp và chứa chan một nỗi niềm sâu kín. Anh nói gần như thì thầm, nhưng Jamie đứng bên cạnh nghe không sót một lời:
“Con gái yêu! Ba mua hoa hồng là để ngày mai hai cha con mình cắm lên bàn thờ tặng mẹ con. Ở trên cao, chắc mẹ cũng đang chờ hoa của chúng ta. Ba chỉ muốn con và mẹ luôn được hạnh phúc. Nhất là con gái ba được hạnh phúc! Là đủ với ba rồi!”
Câu nói của Tom như một luồng điện chạy dọc sống lưng Jamie. Tay cô run rẩy đến mức bó hoa hồng vàng suýt chút nữa rơi khỏi tay. Giọng nói ấy, sự ấm áp đầy truyền cảm ấy… chính là Tom của những đêm trực năm xưa không sai vào đâu được. Nhưng câu nói của anh cũng mang theo một sự thật xót xa. Tom đã lập gia đình, và vợ anh đã không còn nữa. Hóa ra, người đàn ông năm xưa cô từng quý mến cũng đang mang một vết thương lòng rỉ máu.
Không thể trốn chạy cảm xúc thêm được nữa, Jamie hít một hơi thật sâu để ngăn giọt nước mắt chực trào, cô quay sang, giả bộ như tình cờ ngước mắt lên nhìn người bên cạnh.
“Anh… anh Tom?” Giọng Jamie thảng thốt, run lên.
Tom giật nẩy mình, quay phắt sang. Khi ánh mắt anh chạm vào gương mặt Jamie, thời gian như ngừng trôi, không gian sầm uất của siêu thị Safeway hoàn toàn biến mất. Bó hoa hồng đỏ trên tay Tom rơi tự do xuống thùng hoa bên dưới lúc nào không hay. Chàng sững sờ nhìn Jamie, đôi mắt sau cặp kính trắng mở to, đầy kinh ngạc và hoang mang, như thể cô vừa từ cung trăng rơi xuống trước mặt mình.
“Jamie?… Phải em không, Jamie?” – Giọng Tom lạc đi, đôi môi anh run rẩy.
“Là em, Tom…”
Trong phút chốc, bao nhiêu kìm nén của những năm tháng thăng trầm như vỡ òa. Ánh mắt Tom nhìn Jamie cùng với sự ngạc nhiên là cả một đại dương thương nhớ, lẫn sự xót xa khi nhìn thấy nét mệt mỏi bơ phờ trên gương mặt người con gái mình từng yêu, và cả một tia lửa hy vọng vừa được thắp lên sau chuỗi ngày dài tăm tối. Họ đứng đó, hai tâm hồn cô độc giữa đất Mỹ xa xôi, hai con người từng đi qua đổ vỡ và mất mát, bất ngờ va vào nhau trong một chiều hoàng hôn đầy nắng gió của vùng trời Cali.
Sau những phút giây nghẹn ngào, họ ra ngồi xuống chiếc bàn trước cửa Safeway. Những câu hỏi thăm vội vã về cuộc sống của nhau được trao đổi. Tom kể ngắn gọn về sự ra đi của vợ anh sau một cơn bạo bệnh, còn Jamie chỉ lặng lẽ cười buồn, xót xa cho cuộc hôn nhân đã qua của mình. Họ không cần nói nhiều, áp lực của một bác sĩ và nỗi đau của sự chia ly tự khắc làm họ thấu hiểu nhau hơn ai hết.
Jamie nhìn Tom, nhìn bờ vai đã gánh vác bao giông bão của anh, rồi từ từ cúi xuống nhìn vào đứa bé ngồi gần bên. Cô dịu dàng nắm lấy bàn tay nhỏ bé, mềm mại đứa con gái nhỏ của Tom. Đứa bé ngước đôi mắt tròn xoe, trong veo nhìn cô đầy thiện cảm.
Ngay trong khoảnh khắc bàn tay cô chạm vào hơi ấm của đứa trẻ, trong tâm trí Jamie chợt vang lên một giọng nói quen thuộc, trầm khan, và bao dung của bố cô trước ngày ông mất vì đại dịch:
“Con phải cố gắng sống cho thật hạnh phúc! Con hạnh phúc là ba vui rồi!”
Hóa ra, lời di nguyện cuối cùng của bố lại là một lời chúc phúc, một sự giải thoát cho tâm hồn cô khỏi những u uất của quá khứ. Bố muốn cô mở lòng. Bố muốn cô được hạnh phúc. Và biết đâu, sự sắp đặt kỳ diệu của số phận ngày hôm nay, tại quầy hoa này, chính là món quà mà bố từ trên trời cao đã gửi gắm xuống cho cô?
Jamie ngước lên nhìn Tom, lần này, một nụ cười thực sự bình yên và rạng rỡ đã nở trên môi cô.
Ngoài kia, nắng chiều California vẫn đang vàng rực rỡ, và mùa đông lạnh lẽo trong lòng Jamie dường như đã bắt đầu tan chảy, nhường chỗ cho một mùa mới. Mùa của sự hồi sinh và hạnh phúc, ngay trong ngày Lễ Father’s Day diệu kỳ.
VTLV: Lễ Mãn Khóa Lớp Cao Đẳng Phật Giáo Thực Dụng, (Khóa 2024–2026). MINH THÚY Thành Nội – BẢO TRÂM.
Cảm Tưởng Ngày Tốt Nghiệp lớp Phật Pháp Thực Dụng – MINH THÚY Thành Nội
Chủ Nhật, ngày 24 tháng 5 năm 2026 tôi dự buổi lễ ra trường của “Cao Đẳng Phật Giáo Thực Dụng” do thầy Như Ninh Nguyễn Hồng Dũng làm hiệu trưởng. Chúng tôi đã tham gia học trên zoom mỗi chiều thứ sáu từ 6 tới 8 giờ tối.
Thời gian như thoi đưa, nhắm mắt mở mắt đã thấy 4 năm trôi qua lẹ làng. Ngày trước thứ sáu đối với chúng tôi luôn là ngày đặc biệt. Trong công sở các bạn thường gọi tên “chiều xả trại”. Thật vậy suốt tuần cày bừa tối mặt, hễ cứ đến thứ sáu hình như mặt mày ai cũng tươi tỉnh. Ngày đó diện quần áo, mặt mày trang điểm lên một tý. Công việc làm nhanh hơn trong niềm yêu đời phấn khởi. Chiều thứ sáu trên đường về còn biết ngắm vạt hoa hai bên đồi lung linh dưới ánh nắng vàng chiếu toả. Nhận thức cảnh đẹp thiên nhiên giữa trời đất bao la hùng vĩ.
Về nhà ăn cơm chiều xong, sửa soạn lên chùa Phổ Từ tụng kinh và nghe thời pháp. Hạnh phúc lan man theo tình thầy nghĩa đạo với bạn hữu đồng tu. Có khi ở lại cùng ngồi ăn bát cháo hoặc tô bún thân tình cùng đạo hữu. Đêm khuya trên đường về tâm thấy thanh thản nhẹ nhàng khi hiểu bài kinh, lời giảng của thầy Từ Lực. Hớn hở chuẩn bị chào đón ngày cuối tuần nghỉ dưỡng, được ngủ dậy trễ không sợ bị áp lực bởi kim đồng hồ réo gọi. Rồi thì lẹ làng đi chợ mua thức ăn, sắp xếp nấu nướng chuẩn bị cho cả tuần, tổng vệ sinh nhà cửa ngày thứ bảy. Chủ nhật đến chùa nghe pháp và tụng thời kinh cầu an cũng như làm công quả.
Cuộc sống cứ nhẹ nhàng lướt trôi mấy chục năm, được đi hành hương các chùa, được gần những thiện hữu tri thức, những tấm gương sáng đẹp cho mình nương theo tu tập và mở mang kiến thức.
Ngày nghỉ hưu cũng là lúc vợ chồng đi theo định luật Sinh, Lão, Bệnh. Mắt mờ hơn, tay chân run rẩy và mệt nhiều hơn. Hai ông bà già lười biếng, đổi quan niệm ở nhà có thể đọc sách, hoặc tìm youtube các thầy giảng Phật pháp. Sau này lên chùa đôi khi cũng bị stress theo nhu cầu rộng lớn ở đó, trong khi tuổi già cần tránh những lo âu chuyện bên ngoài ảnh hưởng, vì nếm trải lo âu vất vả cho cuộc sống riêng tư gần hết đời người, giờ đây cần giữ cho tâm hồn thoải mái tìm sự vui tươi.
Trường Cao Đẳng Phật Giáo Thực Dụng ra đời đúng lúc. Thật tiện lợi cho chúng tôi khỏi phải đến chùa khi trời mưa bão từng mùa đông tới. Ngày thứ sáu, mọi công việc nhà đều có sự thúc giục ngầm tất cả phải xong, chuẩn bị giờ học thầy Dũng vào buổi chiều. Đúng 5 giờ tôi mở zoom vào lớp học để sẵn chờ đến giờ. Ông xã tôi ngại ngùng không muốn ngồi trước màn hình, nhưng ngồi sau lớp tường ngăn chia gần sát, yên lặng lắng nghe. Bình thường ông dùng cơm chiều 6 giờ, nhưng đặc biệt thứ sáu dùng sau 8 giờ tối, mới dám mở tivi nghe tin tức.
Tôi hỏi ông “thích nghe thầy Dũng giảng phải không?”. Ông trả lời “thầy có nét mặt sáng sủa hiền lành đức độ, có lực truyền vào mình sự ấm áp an lành”. Từ lúc đầu vừa nhìn thầy Dũng, ông xã tôi có cảm tình liền.
Riêng tôi thì được biết thầy trước đó, lúc gia nhập làm hội viên của Cơ Sở Văn Thơ Lạc Việt. Thầy là tiến sĩ dạy nhiều trường đại học nơi vùng Bắc Cali, là Phó Ban Ngoại Vụ của VTLV, là MC khắp mọi nơi về văn chương, lịch sử và đạo Phật. Thầy ăn chay trường và vợ mở nhà hàng chay Di Lặc. Mẹ thầy là Sư Bà trụ trì ngôi chùa bên Việt Nam mà tôi có dịp phúng điếu bằng bài thơ Đường luật. Nhìn gia đình thầy sống hiền, làm lành, thì đó chính là bài học “Phật giáo thực dụng” sống động nhất cho chúng tôi tin tưởng.
Thầy dạy Phật Pháp không phải để cất trong sách vở, để nói cho hay, để tranh luận hơn thua. Phật pháp là để đem ra dùng ngay giữa đời sống này. Là sáng dậy biết mỉm cười với mình. Là chiều ý chồng nấu ăn theo nhiều sở thích, dù mệt mà lòng không bực. Là nghe một câu trái ý biết dừng lại để thở. Là ai chọc giận hay nói nặng nề máu không sân si.
Xin trích đoạn ngắn tôi viết bài trước :
“Theo học tại đây và hiểu chữ ‘thực dụng’ đúng nghĩa: Pháp không nằm trên kinh kệ để tụng cho hay, mà để đem ra dùng ngay trong bếp, ngoài chợ, giữa sở làm. Thực dụng là khi kẹt xe ở freeway 880 mà không nổi sân, nhớ đến hơi thở chánh niệm. Thực dụng là khi nghe tin không vui, biết quán vô thường để lòng bớt chao đảo. Thực dụng là khi đi phát quà cho người vô gia cư, thấy đó chính là cúng dường chư Phật trong hình hài khổ đau.”
Chỗ thực dụng đó, tôi tập được kha khá, chưa giỏi chưa thuần, nhưng đỡ hơn tôi của nhiều năm trước. Thầy dạy cao, dạy sâu. Kiến thức của thầy mênh mông. Ngồi nghe có khi hiểu, có khi chỉ hiểu phần nào vì những từ ngữ khó nhớ. Sở học còn cạn, trí não chưa thông, đường tu còn dài, nhưng có một chữ chúng tôi nhớ mãi, là chữ “thực dụng“.
Nhận bằng hôm nay mà lòng còn thẹn, thẹn vì tu chưa tới. Ví dụ: Khi trời nóng kiến vào nhà từng đàn, ruồi lọt bay vài con, chúng quanh quẩn bên thức ăn. Chúng tôi cố né tránh không muốn phạm tội, nhưng ông chồng lẫn tránh, mà mình thì đối mặt với bếp núc, dọn dẹp… Dù mỗi ngày đi dạo lần chuỗi 108 hột, lần mấy vòng tuỳ theo thời giờ niệm “Nam Mô A Di Đà Phật“ để được nương tựa tìm sự yên lành. Để nhắc sự học và cách tu của mình.
Sau đó niệm các vị Phật: cầu bình an bản thân, cầu tên tuổi ông bà nội, ông bà ngoại, tứ thân phụ mẫu, cô chú, anh chị em bà con quyến thuộc đã mất, luôn được siêu sanh tịnh độ. Những công đức từ thiện cố định hằng năm, xin hồi hướng người thân nhiều đời nhiều kiếp luôn được vãn sanh, người còn hiện tiền luôn được sức khoẻ gặp mọi điều tốt đẹp.
Câu tha thiết nhất trong hiện tại “xin các loài vật nhỏ bé như ruồi, muỗi, kiến, dán, đừng chui vào nhà con, cho con tránh tội sát sanh. Cầu nguyện những sinh linh ấy sớm được siêu sanh, kiếp sau tái sinh vào cảnh giới tốt hơn.” Ngoài trời các chậu hoa mua đắt tiền, nâng niu chăm sóc nhưng vi khuẩn luôn phá hoại ăn mòn, lá hư hao cũng phải nghĩ đến bình thuốc xịt bảo vệ hoa lá. Sau những lúc như vậy, cái buồn nó đến nhanh, ân hận và ray rứt. Tâm không được thoải mái nghĩ mình thiếu phước nên vẫn bị dính mắc nghiệp xấu.
Lãnh bằng tốt nghiệp, nhưng đường tu còn dài, xin nguyện đem sự hiểu biết nhỏ nhoi này mà tập sống: bớt nói, bớt giận, bớt buồn. Tập mỗi ngày một chút, được chừng nào hay chừng ấy. Đó là cách báo ơn thầy, báo ơn chữ “thực dụng” thầy đã trao.
Thứ Sáu đem đến cho tôi nhiều kỷ niệm từ khi qua Mỹ. Những giờ học Phật Pháp nhắc tôi sống chậm lại, khai sáng trí tuệ, tìm sự an lạc về mặt tinh thần. Sống biết ơn ngôi chùa Phổ Từ, quý thầy cô, quý đồng đạo, nhất là Hoà Thượng Thích Từ Lực đã cho chúng con sinh hoạt mấy chục năm, ngay từ bước đầu Chùa đang còn thuê nhà. Tuy sau này chỉ dự dịp lễ lớn và mỗi đầu năm, đại diện anh em trong gia đình chồng chúc Tết thầy, đóng tiền cả năm trong mục “Bảo trợ “Chùa .
Sống biết ơn thầy Dũng, anh Phan Trung Kiên, anh Quảng Minh Nghĩa và cô Minh Châu trong ban quản giáo, phụ giúp thầy điều hành lớp học, hỗ trợ về các mặt khác. Cám ơn các thiện hữu tri thức thường thắc mắc những đề tài sâu rộng, nên thầy có cơ hội giải thích sáng nghĩa, cho cả lớp cùng học cùng tu.
Điều đặc biệt lớn lao hơn nữa là niềm cảm kính Ni Sư Nguyên Thiện và quý Sư Cô chùa Huyền Không. Nơi giúp phương tiện cho thầy Nguyễn Hồng Dũng giảng dạy, truyền bá hương từ bi của phật pháp vi diệu đến lớp học Online. Thực hành trong đời sống đẩy lùi sự khổ đau, đến gần niềm an lạc. Chúng con cúi đầu tri ân chùa Huyền Không gián tiếp gieo những hạt mầm tốt đẹp nơi cõi hồng trần này.
Xin được làm học trò mãi mãi. Học từ thầy, học từ bạn, học từ chính những vụng về của mình.
Minh Thúy Thành Nội
May/ 24/2026
==
BẢO TRÂM
Buổi lễ mãn khóa lớp Cao Đẳng Phật Giáo Thực Dụng, (Khóa 2024–2026)
Trong những ngày cuối tháng Năm, cộng đồng Phật tử và thân hữu tại San Jose, California đã chứng kiến một buổi lễ tốt nghiệp rất đặc biệt của Lớp Cao Đẳng Phật Giáo Thực Dụng – một chương trình học còn rất mới, chỉ vừa hoàn thành hai khóa đầu tiên (2022–2024 và 2024–2026), nhưng đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng người tham dự.
Điều làm buổi lễ trở nên khác thường không chỉ là số lượng hơn 50 học viên, mà chính là độ tuổi và tinh thần học tập của họ. Người trẻ nhất mới 26 tuổi, người lớn nhất 77 tuổi, nhưng tất cả đều bước lên sân khấu với nụ cười rạng rỡ như những sinh viên lần đầu nhận bằng đại học.
Lớp học được khởi xướng bởi một vị giáo sư kỳ cựu – Ông có bằng Kỹ sư Điện tử của Đại học San Jose State và bằng Tiến sĩ Quản trị Kinh doanh của Đại học Southern California. Ông từng là giảng viên tại Đại học California State (cơ sở Hayward), thành viên Hội đồng Sàng lọc Dự án Đa dạng (Project Diversity Screening Committee) của Thành phố San Jose và từng tham gia vào nhiều sinh hoạt của cộng đồng Việt Mỹ (trích từ https://vantholacviet.com/nha-van-ts-nguyen-hong-dzung/)
Với tâm nguyện đem Phật Pháp vào đời sống, ông đã sáng lập chương trình Phật Pháp Thực Dụng, các vi trợ giáo ở nhiều lứa tuổi khác nhau – đồng hành cùng ông trong suốt hai khóa học.
Tôi mang theo hai chiếc điện thoại thay cho máy ảnh, chạy khắp nơi để ghi lại từng khoảnh khắc. Trẻ cũng như già, tất cả đều rạng rỡ như trẻ thơ.
Khoảnh khắc làm tôi xúc động nhất là khi cặp vợ chồng trên 70 dìu nhau lên nhận bằng. Cả hội trường lặng đi khi biết ông vẫn cố gắng học, và đến để nhận bằng như bà vợ và như bao người khác.
Khi ông được vợ dìu lên sân khấu, hai người đứng cạnh nhau, tay run run nhưng ánh mắt sáng rỡ. Tôi nhìn cảnh ấy mà rơi nước mắt. Lúc đó, tôi nhận ra, chính vợ chồng ông ấy đã giúp tôi thấy lại giá trị của lòng kiên nhẫn, của tình người, của những điều nhỏ bé mà sâu sắc.
Một người bạn khác, hơn 70 tuổi, người từng thu thập văn thơ của chúng tôi để đưa lên website “Văn Thơ Lạc Việt”, cầm tấm bằng khoe với chồng bà ấy và với tôi. Chúng tôi nhìn nhau, cười vui mà nhòa lệ. Rồi tôi nói đùa: “Chúng ta thua mấy bà xa lắc.”
Buổi lễ trao bằng Cao Đẳng Phật Giáo Thực dụng, không chỉ là ngày nhận bằng. Đó là ngày người già trẻ lại.
Ngày tuổi già như chúng tôi thấy vẫn còn có ích, vẫn còn được thương, vẫn còn được nhớ.
Một ngày mà lòng người ấm như nắng đầu hè.
Trong buổi lễ trao bằng “Cao Đẳng Phật Giáo Thực Dụng,” giữa những tiếng vỗ tay, những tấm bằng, những lời chúc mừng, tôi chợt nhận ra một điều rất lạ:
Những người thầy lớn nhất của chúng tôi không phải là những người đứng trên bục giảng.
Họ là những người ngồi ngay bên cạnh chúng tôi — những học viên tóc bạc, lưng còng, bước chân chậm nhưng trái tim thì trẻ hơn cả lớp sinh viên mới ra trường.
Tôi học được từ người bạn 75 tuổi, rằng nghị lực không nằm ở sức mạnh, mà nằm ở ý muốn có mặt.
Có mặt để học.
Có mặt để vui.
Có mặt để sống trọn một ngày như thể đó là món quà.
Tôi học được từ người vợ dìu chồng lên sân khấu rằng tình thương không cần lời nói.
Chỉ cần một bàn tay nắm lấy một bàn tay.
Chỉ cần một bước chậm đi cùng một bước chậm.
Chỉ cần một ánh mắt nói thay cho cả một đời.
Tôi học được từ người bạn hơn 70 tuổi, rằng sự gìn giữ cũng là một cách tu:
Giữ lại cái đẹp.
Giữ lại tiếng cười.
Giữ lại những dòng chữ nhỏ bé để mai này nhìn lại, ta biết mình đã từng sống một cách tử tế.
Tôi học được từ những người trẻ trong lớp rằng tuổi tác không quyết định sự hồn nhiên, có những nụ cười 20 tuổi, nhưng cũng có những nụ cười 70 tuổi mà vẫn trong như nắng mới.
Và tôi học được từ tất cả chúng tôi rằng tu giữa đời thường không phải là chuyện xa xôi.
Nó nằm trong cách ta ngồi lại với nhau, cách ta lắng nghe nhau, cách ta nâng đỡ nhau trong những khoảnh khắc tưởng như rất bình thường.
Buổi lễ ngày hôm ấy không chỉ là ngày nhận bằng. Đó là ngày tôi nhận ra rằng:
Mỗi người trong lớp đều là một vị thầy.
Một vị thầy của đời sống.
Một vị thầy của lòng kiên nhẫn.
Một vị thầy của tình người.
Và tôi — người tưởng như chỉ đến để chụp hình, để giúp đỡ — hóa ra lại là người được học nhiều nhất.
Học để biết trân trọng.
Học để biết biết ơn.
Học để biết rằng tuổi trẻ không nằm ở số năm, mà nằm ở cách ta mở lòng với cuộc đời.
Tôi kính phục tất cả những người đã không để tuổi tác ngăn cản việc học, việc sống, việc thương nhau.
Hôm Chủ Nhật 24 tháng 5 năm 2026, tôi đã gặp rất nhiều vị thầy, Không ai đứng trên bục giảng, nhưng ai cũng dạy tôi một bài học mà tôi sẽ mang theo rất lâu.
LỜI TỎ LÒNG KÍNH PHỤC VÀ TRI ÂN
Kính thưa quý Thầy, quý Sư Cô, Quý ban giảng dạy, quý quan khách, và toàn thể học viên thân mến,
Hôm nay, tôi xin được nói đôi lời từ đáy lòng
Tôi xin kính cẩn biết ơn quý Thầy, quý Sư Cô, quý vị trong ban giãng dạy
Tôi xin cúi đầu kính phục tất cả quý vị, những người đã vượt qua tuổi tác, sức khỏe, hoàn cảnh, để tiếp tục học hỏi, tiếp tục tu tập, tiếp tục làm mới chính mình.
Tôi kính phục người bạn 73 tuổi yếu đuối nhưng vẫn cố gắng từng bước để có mặt hôm nay. Tôi kính phục người vợ đã dìu chồng lên sân khấu, như dìu một phần đời của mình. Hình ảnh ấy là bài học lớn nhất của buổi lễ.
Tôi kính phục người bạn hơn 70 tuổi vẫn miệt mài thu thập văn thơ của chúng tôi để gìn giữ cho mai sau. Tấm bằng trên tay bà là niềm vui chung của cả nhóm.
Tôi kính phục những người trẻ trong lớp — tuổi 20, 30 — đã học cùng với những người lớn tuổi, đã truyền cho chúng tôi năng lượng và sự hồn nhiên.
Và tôi kính phục tất cả, những người đã không để tuổi tác ngăn cản việc học, việc sống, việc thương nhau.
Buổi lễ ngày 24 tháng 5 không chỉ là buổi lễ bình thường như lễ tốt nghiệp để bước vào dời
Đó là lễ tốt nghiệp của Tình Người, của Nghị Lực, của Niềm Vui Sống, của những vị tu giữa đời thường.
Đó là phong cách tu của Cao Đẳng Phật Giáo Thực Dụng.
Xin tri ân tất cả quý vị đã cho tôi một ngày đẹp như vậy.
Bảo Trâm/Bảo Trâm Minnesota
Ba Mươi Lăm Năm Văn Thơ Lạc Việt
Minh Thúy
Nhìn lại 35 năm Hội Văn Thơ Lạc Việt, tôi nhớ đến các bậc tiền bối đã đặt viên gạch đầu tiên: nhà thơ Hoàng Anh Tuấn, Hà Thượng Nhân, Dương Huệ Anh, Thượng Quan và Chu Toàn Chung.
Cùng với ban cố vấn: nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm, nhà văn Vũ Văn Lộc, nhà bình luận Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh, nhà thơ Ngô Đình Chương và nữ sĩ Trùng Quang.
Ba mươi lăm năm! Hội đã trải qua bốn thời kỳ với bốn vị chủ tịch: nhà văn Dương Huệ Anh 1992–2000, nhà thơ Đông Anh 2001–2008, nhà văn Chinh Nguyên 2009–2019, và nhà báo Lê Văn Hải 2020 đến nay. Xin trích đoạn trong bài viết trước đây.
“Tôi gia nhập Hội từ năm 2016 cùng lúc với chị Phương Hoa, đúng vào thời anh Chinh Nguyên làm chủ tịch. Thời đó Hội quy tụ rất nhiều nhân tài: tiến sĩ Nguyễn Hồng Dũng phó ban ngoại vụ, nhà báo Lê Văn Hải phó ban nội vụ, thầy Phạm Thái lo kỹ thuật in ấn, nhà thơ Lê Tuấn trưởng ban Media, anh Đom Đóm chụp hình, nhà thơ Mạc Phương Đình làm phóng sự với trang Mây Bốn Phương. Cô Thanh Xuân tổng thư ký tổ chức sinh nhật mỗi quý cho hội viên. Chị Thúy Nga trưởng ban văn nghệ. Anh Hoàng Thường lo nghi lễ chào cờ. Cô Tina vận động tài chánh.
Nhắc đến thầy Nguyễn Hồng Dũng, ăn chay trường, tâm Phật nên lời nói luôn hòa nhã. Bên cạnh đó có cô MC Hạnh Thảo tươi đẹp duyên dáng. Hiện tại có thêm cô Thanh Loan xuất chúng về tài MC hổ trợ thêm.
Hội trưởng Chinh Nguyên có nét mặt rất hiền hậu. Tôi không quên được những đêm mùa đông, anh nhờ thầy Thái mở lớp dạy computer cho hội viên. Trời giá lạnh, thầy Thái đi dạy nhiều nơi mệt nhọc, đến giờ cơm tối vẫn chưa về nhà, nhưng vẫn cố gắng đến chỉ vẽ cách làm sách. 9 giờ tối tan lớp, anh Chinh Nguyên mời thầy đi ăn vì lo thầy đang đói. Thầy xua tay và cả hai cùng cười.
Rồi anh Thái NC và chị Thanh, phu nhân anh Chinh Nguyên, đi đưa đón các bác tiền bối lớn tuổi như bác Trương Giang, bác Dương Huệ Anh, bác Diệu Tần. Ban xã hội chị Lê Diễm thì lo vòng hoa, thăm người bệnh. Anh Chinh Nguyên còn xin được giờ trên đài VNA – Vietnamese America TV, thứ Ba thứ Bảy 9 giờ tối, để đưa hình ảnh Văn Thơ Lạc Việt đến cộng đồng. Rồi lập nhóm “Tuổi Trẻ Hải Ngoại” để dạy tiếng Việt cho các cháu do cô Thanh Loan, tuổi trẻ sinh hoạt năng nổ đầy tài năng.
Đầu năm 2021, nhà báo Lê Văn Hải lên làm hội trưởng vì anh Chinh Nguyên bệnh nặng. Dù đã lái con thuyền gần 10 năm, anh Chinh Nguyên vẫn cố vấn giúp đỡ phía sau.”
Anh Lê Văn Hải là cựu sĩ quan Không quân QLVNCH, chủ nhiệm báo Thần Mõ. Anh lập nhóm Mõ Nhân Ái phát cơm cho người vô gia cư mỗi tháng. Lễ Noel, Tết còn thuê ban nhạc đến hát cho họ. Với Hội, anh tổ chức sinh nhật mỗi quý tại cà phê Lover, và các chiều nhạc “Anh Cho Em Mùa Xuân”, “Tưởng Niệm 30/4”, “Lễ Father’s Day & Ngày Của Lính”, “Em Không Nghe Mùa Thu”, “Lễ Tạ Ơn & Noel”.
Về văn thơ, sau này chị Phương Hoa và thầy Thái đảm nhận Ban Biên Tập. Chị Phương Hoa khéo léo mời bạn thơ văn góp bài, kéo được cả hội Cô Gái Việt gia nhập. Nhờ vậy Website Văn Thơ Lạc Việt đã có trên 3 triệu lượt độc giả vào xem. Mỗi năm Hội vẫn in Đặc San Xuân rất đẹp, nội dung phong phú.
Từng mùa đi qua, suối thơ văn vẫn có những đề tài: nàng Xuân tươi vui, Hạ nắng rực rỡ, Thu dịu dàng, Đông khôn nguôi. Những bài khảo cứu về lịch sử, nỗi đau tháng Tư đen. Mùa Phật Đản, mùa Giáng Sinh dâng điều tôn kính. Những bài thơ Đường Luật xướng họa chia sẻ phúng điếu, chúc thọ, sinh nhật… Tất cả để nuôi chữ nghĩa Việt Nam.
Nhớ lại ngày đó, tôi được giải nhì với bài “Cây Khế Quê Hương”, chị Phương Hoa đoạt giải nhất bài “Nợ Còn Vương”. Tôi mừng, nhưng mừng hơn nữa là được làm hội viên. Từ đó, tôi biết ở Mỹ mình không mất quê hương vì còn có Hội. Hội duy trì lịch sử, nền văn hóa nước nhà bằng những ngòi bút, giữ gìn ngôn ngữ Việt cho thế hệ mai sau.
Mười năm trước, hội trưởng Chinh Nguyên đã tuyên bố khi tôi và chị Phương Hoa được giải: “Các cô giờ đây đã là thành viên của VTLV.” Câu đó ngắn mà nặng, vì nó cho tôi một mái nhà chữ nghĩa quê hương giữa xứ người.
35 năm! Ngày vui đã đến. Ngày kỷ niệm ăn mừng chặng đường dài sinh hoạt của Văn Thơ Lạc Việt bền bỉ, được tổ chức tại 70 W Hedding St _San Jose ca 95110.
MC Nguyễn Hồng Dũng và MC Thanh Loan giới thiệu màn mở đầu vinh danh những tiền bối. Bàn thờ được lập với hình ảnh Tiền bối: Dương Huệ Anh, Đông Anh, Chính Nguyên. Các phu nhân được trang trọng mời lên thắp hương, khói hương đưa hồn các Tiền bối về chứng giám cuộc vui này.
Màn văn nghệ kế tiếp là đoàn Tiếng Vọng Quê Hương đàn tranh, màn cải lương, màn Tuổi Trẻ Hải Ngoại ca múa. Hội trưởng Lê Văn Hải còn bày màn Loto xổ số, tặng hoa và quà cho giới phụ nữ vì ngày mai là Lễ Mother’s Day. Anh Hải là vậy đó, luôn muốn đem niềm vui đến mọi người. Thấy anh xuất hiện là thấy vác bao quà khổng lồ và bao lì xì đỏ từng cọc. Hình như hạnh phúc của anh là phát quà thì phải, từ trong hội ra ngoài những buổi sinh hoạt của cộng đồng.
35 năm! Tôi chỉ mong từng thế hệ vẫn tiếp tục giữ lửa, giữ tiếng mẹ đẻ, giữ tập tục văn hóa quê hương qua ngòi bút và ngoài đời sống.
Ước gì 35 năm nữa, có những đứa cháu mở tập Đặc San Văn Thơ Lạc Việt, thấy tên các bà nó như: Minh Thúy Thành Nội. Cháu đánh vần được, vậy là tôi không chết.