Biên khảo,  Nguyễn Hồng Dũng

NHƯ NINH NGUYỄN HỒNG DŨNG- THĂNG HOA CUỘC ĐỜI.

image_pdfimage_print

THĂNG HOA CUỘC ĐỜI
Kỳ 140 Qua Sông Bỏ Bè

Như Ninh Nguyễn Hồng Dũng

Trong pháp hội thù thắng tại thành Tỳ Da Ly nơi đức Thế Tôn cùng đại chúng Thanh văn, Bồ Tát quang lâm giảng bày pháp vi diệu thì bấy giờ Cư sĩ Duy Ma Cật thị hiện mang bệnh. Bệnh ấy không phải do nghiệp báo thông thường, mà là phương tiện thiện xảo nhằm khai thị Chánh pháp sâu xa cho hàng hữu học và vô học. Trước đó, khi Phật lần lượt sai các vị đại Thanh văn đến thăm bệnh, tất cả đều khéo bạch rằng mình không đủ năng lực, vì từng bị Cư sĩ Duy Ma Cật dùng trí tuệ Đại thừa phá tan những chấp trước vi tế nơi tự chứng và pháp tu.


Giờ đây, đức Phật chuyển sang yêu cầu các vị Bồ Tát là những bậc đã phát tâm rộng lớn, hành đạo lợi sinh đặng đến thăm bệnh cư sĩ. Tuy nhiên, điều kỳ diệu thay là từng vị Bồ Tát cũng lần lượt bạch Phật xin được từ chối, không phải vì thoái tâm hay bất kính mà vì tự nhận thấy trí tuệ và phương tiện của mình vẫn chưa thể sánh kịp với biện tài và thần lực bất khả tư nghì của Cư sĩ Duy Ma Cật.


Trước hết, Phật bảo Bồ Tát Di Lặc thay Ngài đến thăm bệnh. Di Lặc là vị Bồ Tát được thọ ký sẽ thành Phật trong tương lai liền bạch rằng mình không đủ năng lực; rồi ngài kể lại một nhân duyên sâu xa rằng, thuở ấy khi đang ở cung trời Đâu suất giảng pháp cho chư thiên về hạnh bất thối chuyển, Cư sĩ Duy Ma Cật bỗng hiện đến và nêu câu hỏi xoáy thẳng vào gốc rễ của mọi chấp trước về thời gian và chứng đắc.
Cư sĩ Duy Ma Cật hỏi rằng, sự thọ ký của Phật dành cho Di Lặc là nhắm vào đời nào? Nếu là quá khứ thì quá khứ đã diệt; nếu là vị lai thì chưa đến; nếu là hiện tại thì hiện tại không dừng trụ. Ngay nơi một sát na, sinh, già, diệt đã đồng thời hiện hữu; vậy thì lấy gì làm chỗ đứng cho sự thọ ký? Nếu nói vô sinh mà được thọ ký, thì trong vô sinh vốn không có kẻ được thọ ký, cũng không có pháp để chứng đắc. Xa hơn nữa, Cư sĩ Duy Ma Cật chỉ bày rằng Như tánh vốn không sinh không diệt, không hai không khác; đã là

Như thì hết thảy chúng sinh, hết thảy pháp, hết thảy Hiền Thánh đều đồng một thể. Nếu Di Lặc được thọ ký thì cũng đồng nghĩa với việc tất cả chúng sinh đều được thọ ký chăng?
Lời khai thị ấy không nhằm phủ nhận hạnh nguyện của Bồ Tát Di Lặc, mà để phá tan tận gốc ý niệm về một “người riêng biệt” chứng đắc chánh giác. Bồ đề không phải là quả vị để nắm bắt bằng thân hay tâm, mà chính là tịch diệt các tướng, lìa mọi phân biệt đối đãi bởi Bồ đề là bất nhị, bình đẳng như hư không, vô vi, vô thủ, vô xứ, vô tỷ; là trí liễu tri tâm hành của hết thảy chúng sinh mà không rơi vào hội hiệp hay phân ly. Khi Cư sĩ Duy Ma Cật giảng xong pháp này, hai trăm thiên tử chứng được vô sinh pháp nhẫn. Tự thấy mình chưa đủ thâm nhập cảnh giới ấy, Bồ Tát Di Lặc xin được miễn thăm bệnh.

Kế đó, Phật gọi Quang Nghiêm Đồng Tử thì vị này cũng bạch rằng mình không đủ năng lực. Quang Nghiêm kể lại lần gặp Cư sĩ Duy Ma Cật nơi cửa thành Tỳ Da Ly. Khi được hỏi từ đâu về, Cư sĩ Duy Ma Cật đáp: “Từ đạo tràng về.”


Nhưng khi được hỏi đạo tràng ở đâu, ông đã khai mở một chân lý làm rung động tận gốc mọi quan niệm hình thức: đạo tràng không phải là một nơi chốn vật lý, mà chính là toàn bộ đời sống tỉnh thức của Bồ Tát. Tâm chính trực là đạo tràng; tâm bồ đề là đạo tràng; bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ đều là đạo tràng. Từ, bi, hỷ, xả là đạo tràng; phiền não, chúng sinh, tất cả pháp cũng đều là đạo tràng, nếu được thấy bằng trí tuệ vô ngã và tính không. Ngay cả ba cõi sinh tử cũng là đạo tràng, vì Bồ Tát không còn chỗ để đi, cũng không còn nơi để trụ.


Từng bước chân của Bồ Tát, nếu tương ưng Ba la mật và lợi ích hữu tình thì đều từ đạo tràng mà đến, đều an trú trong Pháp Phật. Lời pháp ấy khiến năm trăm trời người phát tâm cầu giác ngộ vô thượng nên Quang Nghiêm con tự thấy mình chưa đạt được cái nhìn viên dung ấy nên con xin từ chối.
Tiếp theo, Phật bảo Trì Thế Bồ Tát đi thăm bệnh thì Trì Thế cũng bạch rằng mình không đủ năng lực, rồi thuật lại câu chuyện Ma Ba Tuần giả dạng Đế Thích mang theo mười hai ngàn thiên nữ đến cám dỗ. Khi Trì Thế còn đang phân biệt và khước từ theo giới luật hình tướng thì ngay lúc đó Cư sĩ Duy Ma Cật đã xuất hiện, chỉ rõ đó là ma, rồi dùng chính phương tiện nghịch thường để hàng phục ma và hóa độ các thiên nữ.

Cư sĩ Duy Ma Cật chẳng những không bị nhiễm trước bởi sắc dục, mà còn khiến các thiên nữ phát tâm Bồ đề, biết quay lưng với ngũ dục để tìm niềm vui nơi Chánh pháp. Cư sĩ ấy giảng cho họ thế nào là “vui trong Pháp” do vui vì tín Phật, văn Pháp, hộ Tăng; vui vì đoạn trừ tham dục, thấy rõ ngũ uẩn như kẻ thù, bốn đại như rắn độc; vui vì nhổ gốc phiền não, trang nghiêm Phật độ, thành tựu vô lượng công đức. Cao hơn nữa, Ngài còn dạy pháp môn “Vô tận đăng” tức ánh sáng giác ngộ của một Bồ Tát có thể mồi sáng vô lượng ngọn đèn khác mà không hề suy giảm. Thấy rõ trí tuệ và phương tiện ấy nên Trì Thế biết mình chưa thể sánh kịp nên con xin từ chối.

Sau đó, Phật gọi Thiện Đức, con trai một vị trưởng giả thì Thiện Đức cũng bạch rằng mình không đủ năng lực. Anh kể lại việc từng tổ chức một đại hội bố thí suốt bảy ngày để cúng dường khắp mọi tầng lớp. Nhưng Cư sĩ Duy Ma Cật đã đến và chỉ rõ rằng, đó chỉ là tài thí, chưa phải đại hội chân thật. Đại hội chân thật là Pháp thí, là trong một niệm mà khởi đầy đủ tâm Bồ đề, từ, bi, hỷ, xả; là hành lục Ba la mật, tứ nhiếp pháp, tam giải thoát môn; là lấy vô ngã, vô tướng, vô tác làm nền; là vì lợi ích chúng sinh mà khởi nghiệp trí và nghiệp tuệ.

Pháp thí ấy không phân trước sau, không chọn đối tượng, không cầu báo đáp. Người an trú nơi Pháp thí là đại thí chủ, là ruộng phước tối thượng của thế gian. Khi Cư sĩ Duy Ma Cật thị hiện đem vòng trân châu chia cho người hành khất nghèo nhất và cúng dường Như Lai thì tất cả đại chúng đều thấy rõ là bố thí với tâm bình đẳng, vô cầu, chính là đồng với công đức của Phật. Ngay cả người ăn xin thấp hèn nhất cũng phát tâm Bồ đề. Chứng kiến và nghe pháp như vậy nên Thiện Đức biết mình chưa đạt được chiều sâu ấy nên con xin từ chối.

Cuối cùng, tất cả các Bồ Tát đều lần lượt bạch Phật rằng họ không đủ năng lực đi thăm bệnh Cư sĩ Duy Ma Cật. Điều này không làm giảm uy đức của các Ngài, mà trái lại, làm hiển lộ trọn vẹn dụng ý sâu xa của phẩm kinh rằng, Cư sĩ Duy Ma Cật không đại diện cho một cá nhân vượt trội, mà là biểu tượng sống động của trí tuệ Bất Nhị và hạnh Bồ Tát nhập thế.

“Bệnh” của Cư sĩ Duy Ma Cật chính là tấm gương soi chiếu mọi chấp trước vi tế còn ẩn tàng nơi hàng tu học vì còn chấp thời gian, chấp chứng đắc, chấp đạo tràng, chấp bố thí, chấp thanh tịnh. Khi những chấp ấy được tháo gỡ, thì bệnh và thuốc đều không còn. Đó chính là tinh thần bất khả tư nghì của Đại thừa: lấy phương tiện làm cửa ngõ, lấy trí tuệ làm cứu cánh, và lấy đại bi làm nhịp cầu đưa tất cả chúng sinh cùng đi vào con đường giác ngộ viên mãn.
T

oàn bộ Kinh nêu bật vị trí siêu việt của trí tuệ Bồ tát đạo được thể hiện nơi cư sĩ Cư sĩ Duy Ma Cật hầu phá chấp hình tướng, địa vị và ngôn ngữ trên con đường giác ngộ. Khi Phật yêu cầu các vị Thanh văn đi thăm bệnh, họ đều từ chối vì từng bị Cư sĩ Duy Ma Cật chỉ ra rằng giải thoát không nằm ở hình thức tu tập, vai trò hay sở đắc cá nhân. Đến lượt các

Bồ Tát, tuy ở địa vị cao hơn, các ngài cũng lần lượt từ chối bởi chính họ đã từng bị Cư sĩ Duy Ma Cật khai thị pháp sâu xa vượt ngoài đối đãi, phân biệt. Quả vị Bồ đề không phải là một cái gì để chứng đắc, vì nếu còn thấy “ta chứng” thì chưa phải Bồ đề. Giác ngộ chân thật vốn là Bồ đề, sẵn đủ nơi tự tâm chứ không phải một đối tượng ở bên ngoài để tìm kiếm hay chiếm hữu. Khi còn khởi niệm “ta đang tu”, “ta đã chứng”, thì cái “ngã” vi tế vẫn còn hiện diện, mà nơi nào còn ngã thì nơi đó chưa thể là giác ngộ viên mãn. Bồ đề chỉ hiển lộ khi mọi chấp trước về người tu, pháp tu và quả chứng đều buông rơi; lúc ấy không có kẻ chứng đắc, cũng chẳng có pháp để được chứng mà chỉ còn trí tuệ sáng suốt tự nhiên hiện tiền.
Tất cả pháp đều là “Như” nên không có người được thọ ký riêng lẻ, không có chúng sinh nào thật sự sinh hay diệt bởi mọi hiện tượng đều đồng một tánh chân thật, không sai khác trong bản thể. Vì đã là Như nên không có pháp nào cao thấp để phân biệt, cũng không có một cá nhân riêng lẻ nào được thọ ký theo nghĩa tuyệt đối. Cái gọi là chúng sinh diệt hay sanh chỉ là hiện tướng do duyên tan duyên hợp như sóng nổi rồi lặng trên mặt nước. Bản tánh Như của các pháp thì chưa từng sinh, cũng chưa từng diệt, luôn lặng lẽ thường trụ.


Đạo tràng không ở một nơi chốn, mà chính là nơi tâm hành chánh trực, nơi mỗi hành động lợi tha đều là Phật sự, nó không bị giới hạn bởi chùa chiền hay không gian vật lý, mà được thiết lập ngay nơi tâm ngay thẳng, không tà vạy, không vụ lợi. Khi tâm hành chánh trực, mỗi lời nói, việc làm đều thuận với chánh pháp. Lúc ấy, đi đứng nằm ngồi đều là tu, tiếp người xử việc đều là hành đạo. Bất cứ hành động nào khởi từ lòng từ bi, trí tuệ và lợi ích cho người khác, thì hành động ấy chính là Phật sự. Đạo tràng vì thế hiện diện khắp nơi, theo từng bước chân của người tỉnh thức.

Pháp thí vượt trên tài thí vì chỉ khi khai mở trí tuệ và tâm Bồ đề cho người khác thì phước đức mới viên mãn. Pháp thí là đem chánh pháp, hiểu biết đúng đắn và con đường tỉnh thức chia sẻ cho người khác, giúp họ tự chuyển hóa khổ đau từ gốc rễ. Tài thí chỉ giải quyết nhu cầu trước mắt, còn Pháp thí khai mở trí tuệ, nuôi lớn tâm Bồ đề khiến người nhận có khả năng tự vượt thoát sinh tử và tiếp tục lợi ích cho nhiều người khác. Khi trao truyền ánh sáng hiểu biết, người cho không mất mà phước càng sâu dày. Vì vậy mà pháp thí được xem là vượt trên tài thí, đưa phước đức đến chỗ lâu dài và viên mãn.

Ma và Phật không ở ngoài tâm, nếu có trí tuệ và phương tiện thì ngay nơi cảnh ma cũng hóa độ chúng sinh bởi vì Ma và Phật không phải hai thực thể đối lập ở bên ngoài, mà đều phát sinh từ tâm con người. Khi tâm mê lầm, tham chấp thì cảnh hiện ra thành ma; khi tâm sáng suốt, từ bi thì ngay hoàn cảnh ấy liền hiện Phật đạo. Người có trí tuệ thấy rõ bản chất các pháp, lại có phương tiện thiện xảo, sẽ không sợ cảnh ma, mà dùng chính nghịch duyên để giáo hóa chúng sinh.

Vì vậy, không cần trốn tránh hay tiêu diệt, chỉ cần chuyển hóa tâm, thì nơi nào cũng có thể thành đạo tràng. Niềm vui chân thật là vui trong chánh pháp, không phải trong dục lạc hay phước báu hữu lậu. Niềm vui chân thật không lệ thuộc vào cảm giác khoái lạc hay phước báu đời sau, vì những thứ ấy đều vô thường và dễ dẫn đến tham chấp.

Vui trong Chánh pháp là niềm vui của sự hiểu biết, buông xả và an ổn nội tâm. Khi sống đúng chánh kiến, chánh niệm, chánh hạnh, tâm nhẹ nhàng, không bị lôi kéo bởi được mất hơn thua. Niềm vui ấy không làm người say đắm mà càng khiến trí tuệ sáng hơn, từ bi lớn hơn, và tự do hơn trước mọi biến động của cuộc đời. Việc tất cả Bồ Tát đều từ chối đi thăm bệnh Cư sĩ Duy Ma Cật không nhằm tôn vinh cá nhân cư sĩ mà để làm nổi bật tinh thần then chốt của kinh này rằng, trí tuệ giác ngộ không bị giới hạn bởi hình thức xuất gia hay tại gia. Cư sĩ Duy Ma Cật dùng bệnh làm pháp môn, dùng đời sống thế tục để hiển bày đạo lý sâu xa khiến hàng Bồ Tát nhận ra chỗ còn chấp pháp, chấp vai trò của mình; qua đó khẳng định rằng giác ngộ chân thật nằm ở trí tuệ và tâm vô ngã, không ở địa vị hay hình tướng.

Chân lý tối hậu, như phẩm kinh này khéo hiển bày, không phải là điều có thể đạt được bằng sự tích lũy tri thức, bằng công phu tu tập hình tướng hay bằng bất cứ danh xưng thánh thiện nào, bởi hễ còn thấy có cái để nắm bắt, có người để thành tựu, thì chân lý vẫn còn bị che mờ vì đối đãi. Chân lý chỉ hiển lộ khi tâm an trụ trong trí tuệ bất nhị nơi không còn phân chia phàm và thánh, bệnh và lành, sinh tử và Niết-bàn… và khi lòng đại bi vận hành một cách tự nhiên, không điều kiện, không cầu báo đáp.

Trong ánh sáng ấy, “bệnh” của Cư sĩ Duy Ma Cật không còn là một trạng thái thân xác, mà trở thành một pháp môn sống động. Ông mượn thân bệnh để làm tấm gương soi chiếu lại căn bệnh thầm kín của người tu vốn hay chấp vào pháp mình hành, chấp vào cái “ta” đang tu, và chấp vào quả chứng mà mình mong đạt. Chính những chấp thủ vi tế ấy mới là nguồn gốc khiến đạo chưa viên mãn, trí chưa rốt ráo, bi chưa trọn vẹn.

Khi trí tuệ soi thấu, người tu nhận ra rằng bệnh vốn không thật có, thuốc cũng chỉ là phương tiện. Pháp như ghe thuyền dùng để qua sông thì không nên đội trên đầu; đến bờ rồi, cả bệnh lẫn thuốc đều buông xuống thì lúc ấy, không còn người dạy, kẻ học; không còn người bệnh, kẻ thăm mà chỉ còn sự tỉnh thức lặng lẽ, viên dung, đang hiện hữu ngay giữa đời sống thường nhật. Đó chính là ý nghĩa rốt ráo mà kinh này muốn trao truyền rằng, sống đạo ngay trong đời, giác ngộ ngay trong vô thường, và giải thoát ngay khi mọi chấp trước đều tan biến.

Nguyện đem những lời này, hướng đến tất cả vạn loài, mong chúng sanh khắp vũ trụ đều an vui, giải thoát.


Như Ninh Nguyễn Hồng Dũng
1-1-2026