VTLV CHÚC MỪNG Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt / Vietnamese Heritage Museum – Tổ Chức Thành Công Kỷ Niệm 10 Năm Thành Lập.

Mừng HERITAGE đã thành công

Chẵn thập niên qua dốc hết lòng

Lưu giữ thông tin hồn tỵ nạn

Bảo tồn lịch sử gốc cha ông

“TÀU HY VỌNG” bỏ rơi đàn áp

“THUYỀN TỰ DO” xa biệt nhốt còng

Trân trọng vinh danh vì Tổ Quốc

BẢO TÀNG DI SẢN giúp non sông

Phương Hoa – VTLV – JUN, 25, 2026

==

==

Thứ Bảy, ngày 20 tháng Sáu, 2026 tại Lavender’s Hall, 14190 Beach Blvd, Westminster, CA 92683, Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt / Vietnamese Heritage Museum (VHM) đã tổ chức một dạ tiệc long trọng kỷ niệm 10 năm thành lập. Buổi dạ tiệc đã đánh dấu cột mốc 10 năm hoạt động của viện bảo tàng và 51 năm sau biến cố 1975 (1975-2026).

Khánh Lan kính mời:”

VIỆN BẢO TÀNG DI SẢN NGƯỜI VIỆT (VIETNAMESE HERITAGE MUSEUM) KỶ NIỆM 10 NĂM THÀNH LẬP (2016-2026)




VTLV – TRANG ĐẶC BIỆT Chào Mừng Thi Sĩ TRẦN VẤN LỆ.

==

Lời Ban Biên Tập: VTLV có hỏi xin thi nhân cho vài dòng tiểu sử và chân dung, để giới thiệu lên trang nhà. Nhưng chưa nhận được, và tác giả cũng đã gửi tặng VTLV thêm mấy bài thơ hay tuyệt vời. Cho nên, VTLV “không thể chờ”, mà phải đi… lượm vòng vòng “trên mây” kiếm được tấm hình này, và xin tóm tắt mấy lời giới thiệu vui vui như sau, khi nào thi nhân gửi hình khác và bản tiệu sử đầy đủ BBT sẽ thay lại. Mong nhà thơ đừng có …rầy tội nghiệp:

Tóm tắt tiểu sử:

Nhà thơ Trần Vấn Lệ/Sinh quán tại Phan Thiết

Cựu Giáo sư, Sĩ Quan VNCH/Sang Hoa Kỳ diện HO

Sống tại Thành phố Thiên Thần/Tiểu bang có loài hoa Anh Túc là Chủ Tể

Sáng tác: không tính xuể/Bút hiệu: đếm không cùng…(Trần Vấn Lệ – Trần Trung Tá – Trần Tú Uyên…) 

==

==

* 

LẠC VIỆT thi đàn lại nở hoa

VĂN THƠ trải thảm rước vào nhà

TRẦN TRUNG TÁ chữ cài châu báu 

TRẦN VẤN LỆ câu cẩn ngọc ngà

Lời chảy xôn xao chim ríu rít

Ý tràn dào dạt gió ngân nga 

Mừng nay vườn nội thêm tùng bách 

Chung sức bảo tồn tiếng nước ta. 

 Phương Hoa – VTLV

JUN, 23, 2026

==


        GỞI THI NHÂN TRẦN VẤN LỆ
– NGUYỄN HUY KHÔI

                 (Tân hội viên VTLV)

Thêm BÔNG, vườn rộ thắm mầu HOA,

Bằng hữu mừng huynh nhập Hội Nhà!

Góp sức điểm tô hồn bút ngọc,

Đồng tâm khai sáng mạch thơ ngà!

Trà châm Hương Nghĩa ,…vui hoan hỷ,

Tửu chuốc Men Tình,…thú ngất nga!

Chuốt ý, trau vần gìn bản sắc…

Bảo tồn văn hóa Việt Nam ta!

                      Nguyễn Huy Khôi

                             24-6-2026

==

 CHÀO MỪNG THI SĨ TRẦN VẤN LỆ – NHẬP HỘI TRI ÂM VĂN THƠ LẠC VIỆT  

    Họa vần Thơ PHƯƠNG HOA MỪNG ĐÓN TÂN HỘI VIÊN TRẦN VẤN LỆ THI SĨ  

       (Sau 30 năm tái ngộ  –  CMN)

  Ba mươi năm Lệ thấm khai hoa

  Châu ngọc xa xưa sáng mái nhà 

  Bến cạn Tầm Dương tô ánh tuyết

  Cầu sương Thệ Thuỷ  điểm vầng nga

  Trở về LẠC VIỆT vui men cúc

  Hòa hợp VĂN THƠ thấu bút ngà

  Mời khách ung dung bàn xướng hoạ

  Cùng bao tri kỷ biển trời ta … 

    Hawthorne  23 – 6 – 2026

             CAO MỴ NHÂN 

==

==

CHÀO MỪNG THI SĨ TRẦN VẤN LỆHỌA QUANG HÀ

LẠC VIỆT vui mừng trải chiếu hoa

Mời TRẦN THI SĨ đến chung nhà

Hồn văn Phan Thiết ngời sao biển

Lực bút Thiên Thần* rạng bóng nga

Mặc khách hân hoan chào Thước ngọc**

Tao nhân vinh dự đón Thơ ngà

Chung tay góp ý đồng tâm nguyện

Gìn giữ chân truyền chữ Việt ta.

         Quang Hà, 24/6/2026

*Thiên Thần: Los Angeles: tên thành phố thi sĩ TVL cư trú

** Trước 1975, Ông Trần Vấn Lệ là Giáo Sư.

==

*

  VỀ BẾN CẠN .       CAO MỴ NHÂN

Nét hoa vừa thấy đã tan theo

Sóng nước mênh mông giạt cánh bèo

Đành vớt thời gian tìm bóng bạn

Để buông vận hạn kiếm hình neo

Tầm Dương thủa ấy ai tri kỷ

Lạc Việt thời nay khách cột kèo

Nhật Nguyệt lênh đênh chờ tái ngộ

Thuyền về bến cạn nỗi sầu treo … 

*

Bến cạn chiều sương khói mịt mù

Nhớ về nhân dáng khách chinh phu

Đã không tồn tại cùng  xuân tận 

Sao chẳng hẹn hò với mộng du 

Đất trích một lần đi cách biệt

Tầm Dương mấy thủa loãng oan thù

Lữ hành  trên chính quê hương cũ

Cố lý mơ hồ bóng chiến khu …

Hawthorne.   23 – 6 – 2026

          CAO MỴ NHÂN 

 

==

==

Thơ Trần Vấn Lệ

.

Rồi… lại tới Ngày Lễ:  Đón mừng Ngày Nhớ Cha!

Trước… ngày này, hôm qua / là Ngày Mừng Nhớ Mẹ!

.

Mẹ luôn luôn là thế:  ưu tiên mọi tấm lòng!

Mẹ là biển là sông / rộng vô bờ vô bến…

.

Mẹ với Cha có hẹn / để cháu con nhớ về…

cái chỗ gọi là Quê – Tình Yêu Không Đong Đếm!…

.

Có người về Điểm Hẹn bây giờ là khói nhang…

nhưng những cánh tay choàng ôm đất trời ấm áp!

.

Có người về chậm chạp… vì gió táp mưa sa!

Chuyện của Đất Nước TA / hai Thế Kỷ Nước Mắt!

.

Tôi… thành thật thú thật:  Tôi-trường-hợp-thứ-hai

… là đường xa mây bay… là dặm dài vô định!

.

Thương quá chớ, thời Lính:  Mẹ Cha hằng mong con!

Thương là Thương, rất thương… những đứa con bất hiếu!

*

Em của tôi làm điệu:  Hai mắt đang ướt kìa!

“Em nhớ Ba, không chia – Một Cái Hôn Giùm Với…”

.

Ôi người yêu tôi nói nghe buồn như trong mơ!

Và đây là… Bài Thơ:  Happy Father’s Day em, đó!

.

Có người yêu bỗng nhỏ như giọt lệ lăn lăn…

Có người yêu như trăng… Vầng Trăng Tôi Gọi Nguyệt!

.

Em là lòng tha thiết tôi gửi về Cố Hương

Lòng đứa con tha phương bốn phương đường thiên lý!

.

Việt Nam nhìn từ Mỹ xa vời nhang khói bay!

Happy Father’s Day!  Happy Father’s Day!

Trần Vấn Lệ

==

HOA BÌNH MINH MẤY NỤ

Hôm nay mặt trời thức sớm hơn tôi, mất rồi!  Tôi chói mắt quá thôi!  Tôi ghét mặt trời nhé!

Tôi mở cửa nhè nhẹ, nắng ào ào đi vô…Nắng cho tôi chùm hoa để xuống thềm thơm ngát…

Nắng vung tay nhẹ tát mặt tôi làm ngẩn ngơ!  Hôm nay tôi không ngờ cái giờ mặt trời thức!

Thường thì mặt trời mọc khi còn sương kia mà!  Chắc vì sương không sa tối hôm qua Đoan Ngọ?

Đèn đường còn sáng đỏ!  Bốn giờ hơn!  Ngỡ ngàng.  Ánh điện vẫn vàng vàng ít nhiều có phai lợt…

Ý thơ buồn bay trớt, tôi chặn gió cầm hôn!

*

Ô là tôi dễ thương, tôi cầm được ngọn gió… Tôi nhìn ra thảm cỏ, cỏ có nắng xanh hơn…

… nhưng bướm thì chưa vờn và chim thì bay hết!  Vườn tôi xanh xao thiệt chớ không phải xanh tươi!

Ngày Của Cha vui vui, tôi chợt nghĩ như vậy!  Không biết ai có thấy… đời là giấc chiêm bao?

Lát nữa tôi làm sao?  Pha cà phê ngồi uống?  Một mình tôi thức muộn nhìn mùa Hè đang qua…

Hương cà phê, hương hoa… tôi nhớ tà áo lụa nhẹ nhàng phơ phất gió…

Sẽ đi tìm đứa nhỏ hỏi này em thơ ơi “Em có thích đi chơi nhìn theo màu áo chị?”.

Tôi thèm nghe lí nhí tiếng của thời gian qua… Tôi thèm đi ngắm hoa – Hoa bình minh mấy nụ…

Trần Vấn Lệ

==

NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT

52 năm…tôi nhìn thấy / Đất Nước thay đổi nhiều.  Mà ngộ! Không nghe ai nói Yêu / Đất Nước mình, sao vậy?

Nhiều vườn cau vàng cháy / những buồng cau, Ngoại ơi!  Ngoại tôi mất thật rồi.  Mẹ Cha tôi cũng mất!

Nam Mô A Di Đà Phật!  Tôi chào một nhà Sư.  Ông ngước mặt cười cười:  “Lâu quá gặp thí chủ!”.

Thăm vườn Chùa thấy rõ:  Vườn Chùa rất sum suê.  Chôm chôm trái xanh lè… “tháng nữa là chín rực!”

Nhà Sư tôi thân nhất / những năm tháng cùng tù.  Sau thời gian… Thiên Thu, anh ấy đi tu Phật.

Tôi thì đi phơ phất, đời nắng táp mưa sa.  52 năm qua, về, chi cũng thay đổi!

Nhìn vườn cau nhớ Ngoại / nắng xiên khoai hồi nào…nhớ Mẹ nâng giỏ cau ngó Ngoại lóng lánh lệ!

Mắt nhà Sư chừ thế, long lanh màu hoàng hôn…

*

52 năm tôi còn / thấy mắt ai cũng đẹp!  Tôi ráng sống phải phép: Nhìn Thôi Nói Thế Thôi!

52 năm nước trôi… trôi bớt vườn cau Ngoại!  Nhà nhà đều lợp mới / ngói mua ở Vĩnh Long!

Sư dẫn tôi ra đồng / nhìn… núi rừng trọc lóc.  Tôi vuốt đầu chải tóc, tôi muốn bớt cho Sư…

Sư nói:  “Tất cả như, Như Như thưa thí chủ!  Bây giờ ai cũng đủ, bây giờ ai cũng no!”.

Ôi lời Sư thơm tho.  Tôi nhìn chi thêm nữa?

Quê Hương mình được rứa, tôi về Huế đi tu… 52 năm quá lâu, gì mà không đổi khác?

Bài thơ này nhàn nhạt, tình quê không đậm đà?  Tôi về không đi xa / khỏi cổng Chùa, mai mốt…

Trần Vấn Lệ

=

CÂU CHUYỆN CỦA BA NGƯỜI

TRONG CỘNG ĐỒNG BA TRIỆU NGƯỜI

*

Em yêu quý!  Trời không mưa thì nắng.

Nắng ban ngày và mưa hay về đêm…

Mùa Hè năm nay Cali đất không mềm

Sáu tháng rồi không có mưa trút xuống…

.

Ngày như đêm ai cũng than là nóng

Người homeless cười khúc khích với lon bia

Xứ tự do nó chọn sống bên lề

Bạn hỏi sao?  Nó nói Nhà Thờ khoá cửa…

.

“Tôi không phải là con của Chúa

Tôi là con của thiên hạ mọi người.

Tôi đã quân nhân, tôi được giải ngũ rồi

Tôi không nợ không nần không người yêu chì chiết…

.

Bạn bè ư?  Thật tình tôi không biết

Bạn là ai?  Thú thiệt có như không

Bao nhiêu năm, một-hai-ba-bốn đi cùng

Đi tới chỗ… Tan Hàng và Cố Gắng! (*)

.

Đi tới chỗ, biết đâu nằm Mả Lạng

ngó lên trời chịu đưng nắng và mưa…

Tôi làm thơ tôi làm thơ tôi làm thơ

Tôi in sách bán có tiền… tôi sống!

.

Người ta nói Sống Để Mà Hy Vọng,

Đời Thiên Thu bao cái Bóng Thời Gian?

Bao nhiêu bình minh, bao nhiêu chiều tàn

Hai chữ Đá Vàng chấm mực đen và viết!

.

Tên nước tôi nguyên nó là Nam Việt (**)

Lệnh của Tàu thành ra Nước Việt Nam

Tôi nhắc bao lần, tôi nói như van,

Không ai nghe tôi để đi làm Kách Mệnh!

.

Thôi thì thôi đời của tôi tôi tính:

Sống lề đường Thác được đốt ra tro!

Sông mồ hôi, biển nước mắt, không bờ

Hai chữ Đá Vàng là Giấc Mơ Bèo Bọt…”

.

Em ơi em cho anh hôn mái tóc

Tóc mai dài hay ngắn cũng… Tình Yêu!

Trần Vấn Lệ

(*) Khẩu lệnh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà hô sau xong một cuộc tập họp.  Anh em vui mà cứ hỏi nhau Cố Gắng là sao?  Là… thấy sao trên cờ… trưa ngày 30-4-1975.

(**) Nguyễn Ánh thống nhất sơn hà năm 1802, lên ngôi lấy niên hiệu Gia Long, đặt tên nước Nam Việt, cho sứ sang Tàu xin cầu phong làm An Nam Quốc Vương.

Ba năm sau (1802, 1803 và 1804), Tàu trả lời:

1, Nhất trí Gia Long làm An Nam Quốc Vương.

2, Tên nước là Việt Nam, chữ Việt phải viết với bộ Tẩu cấm dùng chữ Việt viết với bộ Mễ.  Gia Long nhận lệnh, trối lại cho con tính toán giùm.  Vua Minh Mạng lên kế nghiệp Gia Long năm 1820, đặt lại tên nước là Đại Nam.

Ngày 2-9-1945, cướp chính quyền thành công, Hồ Chí Minh Chúa Đảng Cộng Sản Đông Dương, làm Chủ Tịch nước thống nhất Bắc Trung Nam, tên nước là Việt Nam.  Từ đó trở đi không có câu giải nghĩa.

Nhưng có hai sự kiện:

1, Dân Bắc Việt ùn ùn chạy trốn về phía Nam, 1954, cả triệu người, không nghe nói có ai chết dọc đường.

2, Cả triệu người ùn ùn cũng chạy về phía Nam hướng Malaysia, Singapore, Brunei, Indonesia, New Zealand, Australia, chết chìm ghe vô số kể, sống thì trôi giạt tới bờ và được thế giới cứu vớt toả đi khắp mọi nơi ở châu Âu, châu Mỹ, châu Úc…để sinh cơ lập nghiệp.  Hiện có con số chính thức là 6 triệu bốn trăm ngàn người, tính luôn non 1 triệu người xuất khẩu lao động đi làm mướn hay được cho đi học nước ngoài mà từ tục tỉu là Du Học Sinh!

Bạn mình ơi, đọc Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim nha!  Đọc Lịch Sử Còn Đó của Nguyễn Văn Lục nha!  Nha! Nha!

==

Ở TRÊN TRỜI PHÍA BẮC

NẮNG VÀNG THU SẮP THU

Sáu tháng!  Trời không mưa

Sáu tháng!  Trời chỉ nắng

Trái khổ qua cứ đắng

mười hai tháng một năm!

.

Tôi không nghe ai than

về trời mưa trời nắng.

Bầu trời mây vẫn trắng

đời sống thì trong veo…

.

Thơ… chỉ một Huyền Kiêu

bốn mùa nhớ Chị Đẹp

em thơ đôi mắt biếc

theo dõi bước chị mình…

.

Chị kìa… trên đồng xanh

Chị kìa… trong ngày nắng

chị choàng cái khăn thắm

hái hoa trắng cầm tay…

.

Bốn mùa bốn đổi thay

Chị Đẹp đời chỉ một

Huyền Kiêu châm điếu thuốc

thả buồn lên ngọn cây…

.

Trên ngọn cây có mây

có một ngày sắp hết

sáu tháng tôi ngộ thiệt

nửa năm còn… rồi sao?

.

Chị Đẹp tôi chiêm bao

ở trên trời… phía Bắc

tháng Bảy mưa phơn phớt

nắng vàng Thu… sắp Thu…

Trần Vấn Lệ

==

==

Vườn Văn Thơ Lạc Việt /Hương tình cờ bay xa

Chạm nhằm đóa kỳ hoa/Nụ thần ươm nở nhuỵ

.

Gió mơn lòng tri kỷ/Vườn níu giữ hồn thơ

Nguyệt soi ánh sương mờ/Cung đàn thêm réo rắc

.

Cùng thi nhân thắt chặt/Đan sợi nắng bình minh

Ánh hồng tỏa lung linh/Rỡ ràng vui bút mực

.

Dẫu đời là mộng, thực/Dù dặm dài viễn phương

Cố hương hay tha hương/Lòng này chung một lối…

Phương Hoa – JUN 22, 2026

==

==

KHÓI THUỐC VÀNG TAYQUANG HÀ

Tôi đọc bài thơ Trần Vấn Lệ*

Nhắc đến mùi thơm khói Capstan

“Chiếc áo phong sương tình anh nặng”

Nhớ đến nao lòng thuở tóc xanh

.

Nhớ quán cà phê ngày xuống núi

Áo trận còn đeo lớp bụi đường

Nửa tháng mà sao nghe rỗng túi

Hề chi, ký sổ để chờ lương

.

Uống ngụm cà phê, nhả khói thơm

Thấy đời vẫn đẹp còn lên hương

Ngày mai mặc kệ, dù sao nữa…

Vẫn thả hồn theo những nụ hường

.

Ngày đi qua Cầu Dài Xuân Lâm

Dòng sông nao nao buồn thăng trầm

Tôi về như kẻ từng xa lạ

Đồng đội về đâu, ôi biệt tăm!

.

Khói thuốc xanh dòng thơ Quang Dũng

Đôi mắt Sơn Tây buồn tây phương

Khói thuốc vàng tay anh lính trận  

Trên đồi biên giới, trấn quê hương.

Quang Hà, Aug. 2020

*“Một Trăm Bài Tứ Tuyệt Treo Vách Ngắm Chơi “

                                                   (Thơ Trần Vấn Lệ)

==

==

*Một tiếng thơ lâu năm, một tấm lòng rất trẻ, vừa ghé bến VTLV…

=

==

Trong sinh hoạt văn chương, có những niềm vui đến bất ngờ như một cơn gió mát đầu hè, như một cánh thư ghé đúng lúc, khi…mở hộp thơ! làm cả “chiếc thuyền thơ” bỗng rộn ràng hẳn lên. Văn Thơ Lạc Việt hôm nay rất hân hạnh và vui mừng được chào đón thi sĩ Trần Vấn Lệ – một tên tuổi quen thuộc khắp nơi với nhiều người yêu thơ Việt, một “cổ thụ thi ca” mà giọng thơ vẫn xanh non, tình thơ vẫn tha thiết, và hồn thơ thì dường như… chưa chịu già theo năm tháng!

Nói vui một chút, VTLV vốn vẫn tự hào là nơi “ai yêu chữ nghĩa thì ghé, ai thương thơ thì ở lại”…đừng dzề! nhưng lần này niềm vui có phần… lớn hơn thường lệ: một thi sĩ “tiếng tăm lừng lẫy” đã tự tìm đến trang nhà VTLV, gửi thơ, rồi nhận lời tham gia gần như ngay lập tức. Thế là anh chị em trong nhà vừa mừng…như trúng số! vừa khoái chí, lại vừa thấy trang nhà mình như có thêm một bóng mát rất đẹp của thi ca và tình người. Giới thiệu thi sĩ này, 100 trang giấy…vẫn chưa đủ! nên chỉ xin phép ngắn gọn:

Thi sĩ Trần Vấn Lệ, sinh ngày 31 tháng 5 năm 1942 tại Xuân Phong, Phan Thiết, trưởng thành ở Đà Lạt, từng là giáo chức, rồi nhập ngũ năm 1966, là cựu sĩ quan VNCH, và đã trải qua những năm tháng tù đày từ 1975 đến 1981. Ông sang Hoa Kỳ theo diện H.O cuối năm 1989, hiện cư ngụ tại miền Nam California. Một đời người đi qua chiến tranh, lao tù, ly hương, nhưng thật quý thay, nhưng vẫn giữ được một tâm hồn nhẹ, một giọng thơ nồng, và một trái tim biết rung động trước quê hương, tình yêu, bạn bè, kỷ niệm, cùng những điều bình dị nhất của kiếp người.

Chỉ nhìn qua danh mục tác phẩm của ông cũng đủ thấy sức viết đáng nể và một đời gắn bó bền bỉ với thi ca:

Cám Ơn Em Tình Yêu, Ăn Của Rừng Rưng Rưng Nước Mắt, Vời Vợi, Viết Những Dòng Này, Từ Khi Em Là Nguyệt, Thơ và Cuộc Đời, Nắng Hoàng Hôn Còn Sót Mấy Câu Thơ, Tóc Gió Bay… cùng rất nhiều tập thơ đã được giới thiệu trên các trang văn học. Chỉ riêng tên sách thôi cũng đã nghe ra một cõi thơ rất riêng: có nắng, có gió, có hoàng hôn, có nhớ thương, có quê nhà, có bóng dáng người xưa và có cả những rung động không chịu tắt của một trái tim làm thơ.

Điều đáng quý ở thơ Trần Vấn Lệ là cái giọng rất riêng: vừa hồn nhiên, vừa từng trải; vừa tình tứ, vừa man mác; có lúc như trò chuyện, có lúc như thủ thỉ với chính mình; có nỗi buồn, nhưng không bi lụy; có hoài niệm, nhưng không nặng nề. Thơ ông nhiều khi tưởng như đang kể chuyện rất tự nhiên, vậy mà đọc kỹ lại thấy phía sau là cả một trời ký ức, một quãng đời, một tấm lòng.

Và nếu phải nói ngắn gọn về thơ Trần Vấn Lệ, có lẽ xin mượn một ý thế này: thơ ông là thơ của người đã đi qua nhiều dâu bể nhưng vẫn giữ được cái nhìn dịu dàng với đời; là thơ của một người từng nếm nhiều mất mát mà vẫn tin vào vẻ đẹp của tình yêu, tình quê, tình người và chữ nghĩa. Ở tuổi mười tám, xin lỗi lộn, tám mươi, vẫn làm thơ tình, thơ quê hương, thơ nhớ bạn, nhớ em, nhớ Đà Lạt, Phan Thiết, Dran, Ngoạn Mục… như thế, ấy cũng là một cách chiến thắng thời gian rất đẹp.

Văn Thơ Lạc Việt rất trân trọng tấm lòng chân tình của thi sĩ Trần Vấn Lệ khi ngỏ ý muốn “đi cùng các bạn!”, yêu đời sống tập thể, yêu sinh hoạt văn thơ, và xem đây như một bóng mát để cùng nương tựa trong tuổi đời chín chắn mà hồn thơ còn trẻ. Đó là lời tâm sự mộc mạc nhưng đẹp vô cùng. Với anh chị em VTLV, được đón một nhà thơ đến không chỉ là thêm một tác giả, mà còn là thêm một người anh lớn, một người bạn văn, một tiếng nói, một kỷ niệm, một vốn quý cho ngôi nhà chung.

Xin được thay mặt anh chị em Văn Thơ Lạc Việt, hân hoan và nồng nhiệt chào mừng thi sĩ Trần Vấn Lệ đến với gia đình VTLV. Kính chúc thi sĩ luôn dồi dào sức khỏe, tinh thần an vui, ngày ngày còn hứng khởi với “em” thơ, với bạn văn, với con cháu, với những buổi sáng có nắng, những chiều có gió, và những đêm còn muốn ngồi lại với một câu thơ chưa viết hết.

Xin chúc cho cuộc hội ngộ này, sẽ là một duyên lành đẹp của văn chương: để VTLV có thêm một bóng mát và để bóng mát ấy còn tiếp tục cho ra hoa, ra lá, ra thơ… thật lâu!…dài lâu!

Văn Thơ Lạc Việt hân hạnh chào mừng.

Lê Văn Hải

(Hội Trưởng VTLV)




VTLV – PHƯƠNG HOA: BÀI VIẾT THẮNG GIẢI THƯỞNG VĂN CHƯƠNG VBVNHN 2026

Vai Trò Và Sứ Mệnh Của Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại

Phương Hoa

“The pen is mightier than the sword.”

(Ngòi bút còn uy quyền hơn cả gươm giáo)

— Edward Bulwer-Lytton (1839)

Câu danh ngôn bất hủ của Edward Bulwer-Lytton, và nhìn lại lịch sử của nhân loại toàn cầu, đã chứng minh một chân lý vô song. Những đế chế hùng mạnh nhất lịch sử thế giới như Đế quốc Mông Cổ do Thành Cát Tư Hãn lãnh đạo, chinh phục từ Á sang Âu, hay Đế quốc La Mã do Hoàng đế Augustus Julius Caesar chỉ huy, hùng mạnh vô địch làm ảnh hưởng cả châu Âu suốt 2.000 năm, rồi cũng lụi tàn. Nhưng những tác phẩm văn học được viết bằng máu và tâm huyết thì trường tồn vĩnh cửu. Gươm giáo chỉ có thể khuất phục thân xác trong nhất thời, ngòi bút lại có khả năng thu phục nhân tâm và dựng xây nên một quốc gia trong tâm tưởng, một “bờ cõi” thiêng liêng mà không bạo lực nào có thể chạm tới.

Chuyện người Do Thái dùng ngòi bút và ngôn ngữ để hồi sinh một quốc gia sau 2.000 năm phiêu bạt, cũng minh chứng cho điều này.  Đối với người Việt ly hương, chúng ta có may mắn và hy vọng lớn lao hơn người Do Thái. Chúng ta vẫn còn một “bóng hình quê mẹ” để hoài vọng và đấu tranh giành lại tự do. Niềm may mắn ấy được nhân lên gấp bội khi rời bỏ quê hương trước làn sóng xâm chiếm của cộng sản Bắc Việt, chúng ta đã “mang theo” Trung tâm Văn Bút Việt Nam, một tổ chức văn chương vốn đã được Văn Bút Quốc Tế công nhận thời Việt Nam Cộng Hòa.  Giờ đây, giữa diễn đàn thế giới, Trung Tâm Văn Bút Việt Nam vẫn tồn tại dưới danh xưng Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại (Văn Bút VNHN), cùng với 4 Trung tâm Văn Bút Vùng tại Hoa Kỳ: Văn Bút Đông Bắc Hoa Kỳ, Văn Bút Nam Hoa Kỳ, Văn Bút Đông Nam Hoa Kỳ, và Văn Bút Tây Nam Hoa Kỳ, tiếp tục gánh vác sứ mệnh dùng ngòi bút đòi công lý cho người dân nước nhà, nơi không có tự do đúng nghĩa.  

Vậy, trong kỷ nguyên đầy những biến động toàn cầu hiện nay, vai trò của Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại thực sự là gì? Chúng ta phải hành động ra sao, sử dụng ngòi bút thế nào, để cứu lấy quốc hồn của dân tộc, khi quê hương đang nằm dưới sự lãnh đạo của một chế độ độc tài?  Xin mời chiêm nghiệm những nghiên cứu từ 4 chủ đề sau đây để hiểu rằng, “Tiếng Việt còn, Quốc gia Việt Nam còn”, và khi ngòi bút của tự do còn chấp cánh, sẽ có ngày toàn dân tìm lại tự do, dân chủ, và hạnh phúc.  

Giữ Gìn, Phát Triển Tiếng Việt và Văn Hóa Việt.

Trên hết, sự tồn vong của một dân tộc bắt đầu từ việc bảo tồn ngôn ngữ và di sản văn hóa của chính họ.  Xây dựng “Lãnh thổ tâm tưởng” trên trang giấy là việc tối cần. Thể chế chính trị Việt Nam Cộng Hòa đã không còn, và lãnh thổ địa lý đã bị chiếm đóng, chúng ta không để cho thực thể quốc gia bị biến mất hoàn toàn, mà phải chuyển vào “không gian văn hóa”, bởi vì văn hóa chính là biên giới cuối cùng của đất nước.  Để hiểu được “sứ mệnh sống còn” của ngôn ngữ trong việc hưng vong của quốc gia, chúng ta cần xem lại những trang sử vàng của nhân loại để

học hỏi từ kinh nghiệm phi thường của người xưa.  

Nhìn ra thế giới.  Không một minh chứng nào độc đáo hơn câu chuyện phục quốc hy hữu của dân tộc Israel.  Suốt 20 thế kỷ phiêu bạt, người Do Thái bị trục xuất khỏi quê hương, ly tán khắp bốn phương, từ Âu sang Á. Họ không có chính phủ, không có quân đội, và bản đồ thế giới suốt 2.000 năm ấy hoàn toàn không có tên nước Israel! Thế nhưng, họ có một thứ vũ khí tối thượng, là Kinh Thánh và tiếng Hebrew (tiếng Do Thái cổ).  Trong suốt hai thiên niên kỷ, tiếng Hebrew đã trở thành một “ngôn ngữ chết” theo đúng nghĩa học thuật.  Nó chỉ tồn tại trên các bổn kinh, trong các nghi lễ tôn giáo, chứ hoàn toàn không có ai sử dụng trong đời sống hằng ngày. Người Do Thái ở Đức nói tiếng Đức, ở Nga nói tiếng Nga. Nhưng bước ngoặt kỳ diệu đã đến vào cuối thế kỷ XIX, nhờ Eliezer Ben-Yehuda, một người Do Thái.  Ông nhận ra chân lý quý giá là trở về lập quốc, người Do Thái phải có một ngôn ngữ chung. Ben-Yehuda đã bắt tay vào một công trình không tưởng, soạn thảo cuốn Từ điển tiếng Hebrew hiện đại.  Kết quả, khi hàng triệu người Do Thái khắp nơi trên thế giới đổ về sa mạc Palestine để dựng nước vào năm 1948, dù không chung một dòng văn hóa bản địa, nhưng họ đã được gắn kết làm một nhờ cái ngôn ngữ vừa được đánh thức sau giấc ngủ 2.000 năm. Cuốn từ điển của Ben-Yehuda chính là mảnh “lãnh thổ” đầu tiên, là nền móng vững chắc nhất để xây dựng một quốc gia Israel hùng mạnh ngày nay.

Đọc lại sử nhà. Nếu kỳ tích Do Thái là bài học về sự kiên trì giữ gìn ngôn ngữ nơi viễn xứ, thì lịch sử Việt Nam là một thiên anh hùng ca về sức mạnh của lời thơ trong việc giữ nước. Trải qua 1.000 năm Bắc thuộc, các triều đại phương Bắc đã dùng mọi thủ đoạn đồng hóa tàn khốc nhất, hòng biến người Giao Chỉ thành thần dân của Thiên triều, xóa sổ tiếng Việt và phong tục Việt. Nhưng họ đã thất bại. Tiếng Việt vẫn âm thầm chảy trong ca dao, tục ngữ, trong lời ru của mẹ, để rồi bùng lên thành sức mạnh dời non lấp bể.

Và nếu như ở thế kỷ XV, nghĩa quân Lam Sơn đã dùng mỡ heo viết chữ lên lá cây để kiến gặm thành dòng chữ thiên định “Lê Lợi vi quân, Nguyễn Trãi vi thần” nhằm thu phục lòng dân, thì trước đó bốn thế kỷ, Thái úy Lý Thường Kiệt đã đánh đòn tâm lý chiến bằng âm thanh còn “kinh điển” hơn thế.  Đó chính là sự kiện năm 1077. Khi hàng vạn quân Tống do Quách Quỳ chỉ huy lăm le cướp lấy bờ cõi, vận mệnh của nền độc lập non trẻ đang ngàn cân treo sợi tóc, Thái úy Lý Thường Kiệt đã dùng “mưu văn học” thay cho gươm đao. Giữa đêm đen tịch mịch, trong ngôi đền thờ hai vị thần Trương Hống và Trương Hát bên dòng sông Như Nguyệt, một giọng ngâm thơ kỳ bí vang lên như sấm, làm rúng động cả đất trời và run sợ lòng quân giặc:

“Nam quốc sơn hà Nam Đế cư,

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.”

Bài “Thần thơ” ấy chính là Bản Tuyên Ngôn Độc lập đầu tiên của dân tộc Việt. Lý Thường Kiệt đã vô cùng tài tình khi dùng chính chữ nghĩa, thứ “vũ khí tư tưởng” tối cao, để khẳng định chủ quyền. Ông không nói đất này thuộc về người Nam, mà ông khẳng định chủ quyền ấy đã được “định phận tại thiên thư” (sách trời đã ghi rõ). Sức mạnh của bài thơ có giá trị tương đương với mười vạn hùng binh. Nó bẻ gãy sức chiến đấu của quân Tống, làm suy sụp tinh thần kẻ thù trước khi tiếng trống trận thực sự vang lên. Lý Thường Kiệt đã thành công vang dội.  Ông là một vị tướng tài cầm quân giỏi, lại còn biết dùng cái tinh túy của ngôn ngữ và thơ ca để “hù dọa” quân giặc và khơi dậy ý chí của toàn dân tộc.  Đây là minh chứng hùng hồn nhất cho sự thành công của ngòi bút.

Cho nên, bước đi mang tính “chiến lược” của Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại chính là biến ngôn ngữ thành một “chiến lũy kiên cố” để bảo tồn quốc hồn dân tộc nơi xứ người. Nhìn lại hành trình 51 năm viễn xứ, Văn Bút VNHN đã có những hoạt động đáng trân trọng, như cổ xúy các văn thi sĩ sáng tác theo dòng chảy “bốn mùa tám tiết” hàng năm, trợ giúp cho việc xuất bản, giới thiệu, ra mắt tác phẩm… Tuy nhiên, nếu nhìn thẳng vào thực tế, những sinh hoạt này vẫn mang tính chất “tức cảnh sanh tình”, nương theo cảm xúc và cảm hứng nhất thời của mỗi cá nhân, chưa thực sự kết tinh thành một tiếng gọi đồng lòng, chưa nêu cao nhất quán tinh thần yêu nước thương nòi, và lan truyền ý thức hệ phản kháng đúng mức. Để thực hiện sứ mệnh này, văn thi sĩ và giới trí thức Việt Nam hải ngoại không thể dừng lại ở việc ngắm hoa, vịnh nguyệt, ngâm thơ, phê bình sách… mà phải phát triển những phương pháp hành động cụ thể, quyết liệt và mang tính “cách mạng” hơn.

Hiện tại, dưới sự kiểm duyệt gắt gao và độc quyền của chính quyền trong nước, một giai đoạn văn học miền Nam tự do nhân bản đang bị xóa bỏ, hoặc bóp méo một cách tàn nhẫn. Trong bối cảnh ấy, trách nhiệm tối thượng của Văn Bút VNHN là tiến hành một cuộc “di tản văn hóa” quy mô lớn. Chúng ta phải chạy đua với thời gian để sưu tầm, thu thập, phục chế, và điện tử hóa các bản in nguyên bản của những tác phẩm văn hóa giá trị trước 1975. Bảo toàn nguyên vẹn di sản của cha ông chống lại sự bào mòn của thời gian và ý đồ xóa bỏ ký ức lịch sử của nhà cầm quyền mới, chính là nuôi dưỡng dòng máu chữ nghĩa thuần khiết của dân tộc vậy! 

Một trong những thủ đoạn tinh vi và tàn bạo nhất của chế độ độc tài xưa nay, là bẻ cong ngòi bút, viết lại lịch sử theo ý đồ chính trị của kẻ cầm quyền. Văn Bút VNHN, với đặc quyền tối thượng được sống trong không khí của tự do ngôn luận, phải gánh vác sứ mệnh làm “nhân chứng sống” trước tòa án lịch sử.  Sức mạnh phản kháng của văn học hải ngoại không dựa vào súng đạn hay bạo lực, mà nhắm vào sự thật của các thể loại Hồi ký và Văn học Thực chứng. Khuyến khích mọi người ghi lại chương sử đẫm máu và nước mắt của dân tộc.  Từ những cái chết hào hùng của 5 Vị Tướng Việt Nam Cộng Hòa trong ngày mất nước, những câu chuyện xé lòng về lao tù cải tạo, hành trình khủng khiếp trên biển Đông của thuyền nhân, và nỗi đau ly hương của người Việt. Mỗi trang hồi ký là một “cú đòn trực diện” vào bức tường mưu toan “hóa thạch lịch sử” của chính quyền quốc nội.

Một quốc gia bị “giam cầm” chỉ có thể được giải thoát khi tư tưởng của người dân được giải phóng khỏi sự mê lầm và sợ hãi. Văn Bút VNHN phải đóng vai trò là một “trạm phát sóng tư tưởng” đưa ánh sáng tri thức của nhân loại xuyên qua bức màn sắt kiểm duyệt dày đặc trong nước để đến được với người dân.  Để làm được điều đó, không phải chỉ sáng tác là đủ.  Chúng ta cần phát triển chiến lược dịch thuật và phổ biến tinh hoa hơn.  Dịch các tác phẩm kinh điển về triết học phương Tây, các tiểu luận về nhân quyền, dân chủ, và tự do tư tưởng sang tiếng Việt.  Sau đó, tận dụng triệt để sức mạnh vũ bão của internet, mạng xã hội, và các kênh truyền thông hiện đại để chuyển những giá trị này cùng với những tác phẩm yêu nước về quốc nội.  Khi tư tưởng độc lập và tinh thần phản kháng của người dân trong nước được đánh thức qua những áng văn chương khai phóng quốc gia, nền tảng của thể chế độc tài độc đảng sẽ tự động lung lay từ gốc rễ.

Mở Rộng Hoạt Động. Mời Gọi, và Kết Nạp Thêm Nhiều Trung Tâm Văn Bút Vùng Tại Hoa Kỳ và Thế Giới.

Nếu xem ngôn ngữ là chiến lũy bảo vệ quốc hồn dân tộc, các Văn Bút Vùng chính là những “pháo đài tiền trạm” giữ vai trò bảo vệ và lan tỏa sức mạnh của chiến lũy ấy. Một cơ thể muốn cường tráng thì các mạch máu phải lưu thông đến từng ngón tay, ngón chân.  Cho nên một tổ chức văn học đã lên tầm quốc tế như Văn Bút VNHN muốn tạo nên đại cuộc thì không thể chỉ gói gọn trong vài trung tâm đơn lẻ.

Nhìn lại lịch sử thế giới về phần này, chúng ta học được bài học vô giá từ Văn Bút Ba Lan thời kỳ Chiến Tranh Lạnh. Khi đất nước họ bị đặt dưới gọng kìm kiểm duyệt của bức màn sắt Liên Sô, các nhà văn Ba Lan lưu vong đã không đứng yên. Họ thiết lập các nhánh Văn Bút Vùng tại Paris, London, và New York. Chính mạng lưới liên hoàn này đã giúp họ xuất bản tạp chí Kultura, một biểu tượng văn học phản kháng bền bỉ, liên tục chuyền tư tưởng tự do về lại quê nhà, cuối cùng đã góp phần làm sụp đổ cả hệ thống độc tài.

Đối chiếu với thực tế, nước Mỹ có đến 50 tiểu bang, châu Âu có hàng chục quốc gia, và người Việt tị nạn đã có mặt khắp năm châu bốn biển. Con số 4 Trung tâm Văn Bút Vùng hiện tại của chúng ta quả thực quá khiêm tốn, như cánh én cô độc giữa bầu trời giông bão! Vì vậy, việc cần thiết của Văn Bút VNHN là mở rộng vòng tay, tha thiết gọi mời, và thuyết phục cộng đồng hải ngoại thành lập thêm nhiều chi nhánh Văn Bút mới.

Phải xây dựng thêm “Pháo đài tư tưởng” tại những nơi người Việt quy tụ đông đảo, quen thuộc với văn hóa Việt.  Tại sao những vùng như Seattle (Washington State), San Jose (California), Atlanta (Georgia)…là những “cái nôi văn hóa Việt” hay các quốc gia như Úc, Anh, Pháp, Đức, Canada, lại không có những Trung Tâm Văn Bút Vùng?  Mỗi chi nhánh được khai sinh tại các địa phương sẽ là một mái nhà chung để quy tụ các văn thi sĩ và các bậc thức giả, họ là những người hiểu rõ nhất “hơi thở và tâm tư” của cộng đồng. Chúng ta cần tạo “bệ phóng” cho các tài năng trẻ.  Giới trẻ Việt Nam ở hải ngoại thường bị rào cản ngôn ngữ làm mai một đi tình yêu nguồn cội.  Các Văn Bút Vùng nên tổ chức những lớp Việt ngữ, giảng thơ, giải thưởng văn chương, sinh hoạt cùng thanh thiếu niên tại địa phương.  Người Do Thái lưu vong nhờ các trung tâm văn hóa vùng đã giữ cho thế hệ thứ ba, thứ tư dù sinh ra ở Mỹ hay Âu châu vẫn có thể đọc, viết và tự hào về ngôn ngữ của họ. Các Văn Bút Vùng Việt Nam chúng ta cũng nên học hỏi họ để gánh vác sứ mệnh thiêng liêng đó. Nếu hợp lực, chúng ta sẽ dễ dàng bẻ gãy những mũi tên đánh phá.  Khi phân tán, chúng ta dễ bị bẻ gãy như từng chiếc đũa đơn lẻ.  Sự đánh phá có ý đồ chia rẽ sẽ bị vô hiệu hóa khi đối mặt với một mạng lưới Văn Bút đoàn kết. Khi một chi nhánh bị công kích, hàng chục chi nhánh khác trên khắp thế giới sẽ đồng loạt lên tiếng bảo vệ. Sự liên hoàn này tạo nên một áp lực dư luận vững chắc, khiến những kẻ có tâm địa phá hoại phải tự chùn bước.

Chúng ta cố gắng “góp gió thành bão”, gom những đốm lửa đơn lẻ thành một thái dương rực rỡ ấm áp.  Khi mạng lưới Văn Bút phủ rộng khắp năm châu, tiếng nói đại diện giới văn học Việt Nam trên diễn đàn Văn Bút Quốc Tế sẽ không còn là tiếng kêu đơn lẻ.  Đó sẽ là tiếng gầm vang dội của một mãnh hổ giữa rừng già, đủ sức lay động lương tri nhân loại và tiếp nội lực cho cuộc đấu tranh giành lại quyền tự do ngôn luận cho đồng bào quốc nội.

Khai Thác Sức Mạnh Trực Tuyến. Điện Tử Hóa Tư Liệu, Mở Thư Viện Online, Thành Lập Ban Dịch Thuật Đa Ngôn Ngữ Để Thu Hút Thế Hệ Trẻ.

Việc lập thêm các Văn Bút Vùng là để “tụ nhân”, thì việc mở thư viện trực tuyến (Online Library) và lập Ban Dịch Thuật chính là để “tụ khí”. Trong kỷ nguyên công nghệ cao toàn cầu, chúng ta không nên để văn chương nằm trên những kệ sách bám bụi hay trong những hiệu sách cũ ở các khu phố người Việt.  Nó phải được điện tử hóa và lưu trữ trên thư viện trực tuyến, và phải được dịch thuật để trở thành “tài sản chung” của nhân loại.

Lịch sử thời xưa cho thấy, khi bạo quyền muốn xóa sổ một nền văn hóa, việc đầu tiên là đốt sách và triệt hạ tri thức. Nhưng lịch sử cũng chứng minh, công nghệ thời nay đã bẻ gãy âm mưu đó. “Ngôi đền văn hóa trực tuyến” không thể bị tro tàn. Hãy nhìn vào dự án “khủng” của Thư Viện Vatican (Vatican Apostolic Library).  Họ đã thực hiện điện tử hóa nhiều chục ngàn bản thảo cổ quý hiếm để đưa lên không gian mạng, giúp người dân khắp thế giới tiếp cận miễn phí.

Văn Bút VNHN cũng cần phải xây dựng một “Ngôi đền văn hóa online”. Một thư viện trực tuyến lưu trữ toàn bộ các tác phẩm văn học giá trị miền Nam, sẽ là một pháo đài bất khả xâm phạm. Lửa của bạo quyền có thể đốt cháy hàng triệu cuốn sách, như những ngày sau tháng Tư 1975, nhưng tuyệt đối không thể chạm tới “đám mây dữ liệu” (cloud database) trên không gian mạng!  Thư viện trực tuyến chính là chiếc chìa khóa giúp cho bất cứ người Việt nào, dù ở quốc nội hay hải ngoại, chỉ cần một cú chạm màn hình là có thể tìm sự thật lịch sử và cội nguồn văn học nước nhà.

Chúng ta cũng cần một Ban Dịch Thuật đa ngôn ngữ cho thư viện này. Đó là chiếc chìa khóa vạn năng mở cánh cửa mời thế giới vào nhà.  Xưa nay chúng ta thường hãnh diện về văn chương Việt, và đau buồn về những biến cố bất hạnh của người Việt tị nạn, nhưng thế giới không hề hay biết vì rào cản ngôn ngữ.  Trong hai thập niên qua, thế giới ngưỡng mộ sự thành công của văn học Nam Hàn. Viện Dịch Thuật Văn học Đại Hàn (LTI Korea) đã tài trợ để dịch hàng ngàn tác phẩm sang tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Đức. Kết quả là những tác phẩm như The Vegetarian (Người Ăn Chay) của Han Kang đã xuất sắc đoạt giải Booker Quốc tế, đưa văn hóa Hàn Quốc vươn lên tột đỉnh vinh quang.

Cho nên, người Việt hải ngoại không thể chỉ viết cho đồng hương đọc.  Chúng ta cần dịch hết sách vở văn chương Việt sang tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha… Khi thế giới đọc và hiểu được nỗi đau, tinh thần quật cường của dân tộc Việt, Văn Bút Quốc Tế và các tổ chức nhân

 quyền toàn cầu sẽ tự động đứng về phía chúng ta.

Ai sẽ vận hành thư viện trực tuyến và thực hiện các bản dịch thuật đó?  Chính là thế hệ trẻ Việt Nam hải ngoại. Giới trẻ ngày nay là những “công dân toàn cầu” (digital natives), họ cực kỳ giỏi về công nghệ thông tin, đồ họa, AI, và sở hữu ngôn ngữ thứ hai (tiếng Anh, tiếng Pháp).

Văn Bút VNHN nên chủ động hợp cùng phụ huynh tạo ra các dự án hấp dẫn để thu hút giới trẻ.  Thay vì ép các em đọc những cuốn sách dày cộm, hãy mời các em tham gia thiết kế giao diện “Thư viện điện tử”, làm những video ngắn giới thiệu sách trên YouTube, TikTok, Telegram với ứng dụng công nghệ hiện đại. Hãy biến việc dịch thuật các tác phẩm của cha ông thành một niềm tự hào, một dự án “tìm lại cội nguồn” đầy kiêu hãnh của giới trẻ. Khi chúng ta khơi dậy ngọn lửa đam mê trong lòng thế hệ tiếp nối, và trao quyền cho họ viết tiếp lịch sử, Văn Bút VNHN sẽ không bao giờ sợ bị “già hóa hay mai một”, ngược lại, sẽ luôn tràn đầy sức sống trẻ trung, nhờ ngọn bút công nghệ làm nên lịch sử trong thời đại mới!

Vươn Ra Thế Giới Bằng Cách Kết Nối, Cùng Sinh Hoạt, và Khẳng Định Vị Thế Tại Văn Bút Quốc Tế (PEN International).

Phần cuối cùng này chính là bước chân “dấn thân ra biển lớn”. Văn Bút VNHN và giới cầm bút đừng để sự tồn tại của mình như một ốc đảo cô độc.  Sự hòa mình, kết nối chặt chẽ hơn nữa với Văn Bút Quốc Tế là quyền lợi tối ưu, là bước ngoại giao văn chương tối thượng, để mượn sức của công lý toàn cầu bẻ gãy gọng kìm độc tài.

Đọc lịch sử, chúng ta thấy rõ sức mạnh của Văn Bút Quốc Tế khi có sự đồng lòng của các trung tâm thành viên.  Có rất nhiều thông tin về chiến dịch “chấn động thế giới” năm 1960 của PEN International dành cho nhà văn Arthur Koestler khi ông bị kết án tử hình trong cuộc Nội chiến Tây Ban Nha.  Và làn sóng đấu tranh quyết liệt cho văn hào Salman Rushdie, khi hàng trăm Trung Tâm Văn Bút trên toàn cầu đồng loạt cất lên tiếng nói, họ đã tạo ra áp lực chính trị khổng lồ, buộc bạo quyền độc tài phải chùn bước, trả lại tự do cho những người cầm bút.

Sự kết nối đó không phải “câu chuyện viển vông”.  Nó vẫn đang diễn ra sống động trong hiện tại. Những email Văn Bút Quốc Tế gửi Văn Bút VNHN chia sẻ nhiều thông tin quan trọng và chiến lược cho mỗi hành trình của họ là minh chứng đắt giá.  Cuộc họp Zoom đặc biệt lúc 6AM, 28 Tháng 5, 2026 do Ủy Ban Dịch Thuật và Quyền Ngôn Ngữ (Translation and Linguistic Rights Committee) PEN International, Văn Bút VNHN đã trực tiếp mang tiếng nói vào diễn đàn.  Người viết chỉ là một cây bút hậu bối so với các “cây đa cây đề” trong Văn Bút Đông Bắc HK do nhà văn Hồng Thủy điều hành, nhưng vì tò mò đã ghi danh tham dự cùng Chủ tịch Cung Lan, và thật xúc động khi nghe ba người điều hành phòng Zoom là Urtzi, Sabrina, Abel trình bày những dự án sắp tới. Nhà văn Alena Laptenok – (PEN Belarus) chia sẻ, “Để chống lại việc tiếng bản địa bị đẩy ra bên lề, Văn Bút Belarus đã lập ban dịch thuật trực tuyến, tập hợp các chuyên gia, dịch những tác phẩm văn học kinh điển thế giới từ các thứ tiếng khác sang tiếng Belarus, để truyền bá đến giới trẻ.”  Đó là những điều Văn Bút VNHN cần làm.

Nhịp cầu kết nối của Văn Bút VNHN với Văn Bút Quốc Tế cũng đã tạo được những thành quả

lâu nay, nhưng chưa đủ sức mạnh để cứu giúp được những ngòi bút cô thế.  Để tiếng nói ngày càng mạnh mẽ, Văn Bút VNHN nên khuyến khích giới trẻ tham gia, và chủ động ứng cử vào các vị trí Ủy Ban của Văn Bút Quốc Tế. Giới trẻ viễn xứ, với lợi thế tuyệt đối về ngôn ngữ bản địa và sự am tường công nghệ kết nối toàn cầu, là những “đại sứ ngoại giao” văn hóa hoàn hảo. Sự hiện diện của các em ở các vị trí cấp cao của quốc tế sẽ là câu trả lời đanh thép nhất, cho thấy sức sống mạnh mẽ của Văn Bút VNHN.

Từ những tấm gương lịch sử và các phương án hữu ích đã phân tích trên đây, chúng ta thấy văn chương không đơn thuần là thú vui để “chơi cùng chữ nghĩa”.  Mà cao quý hơn, văn chương là một “thực thể sống động” mang hơi thở của quốc gia.  Trải qua hơn nửa thế kỷ ly hương,Văn Bút VNHN đã từng chao nghiêng theo vận nước.  Con thuyền văn chương ấy đã nếm đủ mùi vị đắng cay của nhân tình thế thái. Có những khúc quanh lịch sử, lòng người ly tán, nội bộ nảy sinh những cảnh “Gà nhà bôi mặt đá nhau!”.  Nhưng, nhờ anh linh tiên tổ và hồn thiêng sông núi hộ trì, đến giờ phút này, Văn Bút VNHN vẫn tồn tại và đồng hành cùng Văn Bút Quốc Tế cất lên tiếng nói bênh vực cho những ngòi bút bị đè ép, mất tự do nơi thế giới xa xôi và ngay tại quê nhà. Văn Bút VNHN cần là một “ngọn hải đăng” không bao giờ tắt. Khi các nhà văn trong nước gặp khó khăn, thì những người ở hải ngoại có quyền tự do sử dụng để viết thay cho những người không được nói.

Trộm nghĩ, cộng đồng Việt cần nhận biết và trân quý công lao cùng sự hy sinh thầm lặng của những người “đứng mũi chịu sào”. Tuy thành quả của Văn Bút VNHN chưa đáp ứng đủ đối với sự cần của đất nước, nhưng ít ra họ đã cố gắng làm việc hoàn toàn bất vụ lợi, vắt cạn tâm lực chỉ để giữ cho ngọn lửa Văn Bút VNHN không bị lụi tàn. Thay vì chỉ trích, tại sao chúng ta không cùng tham gia xây dựng?

Nhân đây, người viết xin gửi đôi lời tâm huyết đến những ai đang dùng ngòi bút để gieo rắc mầm mống chia rẽ. Văn chương vốn dĩ sinh ra để tạo những nhịp cầu tri âm, không phải để dựng lên sự chia rẽ thù hằn. Thay vì biến chữ nghĩa thành vũ khí sát thương nhau, tại sao không dùng nó để tạo mối chân tình giữa những người con xa xứ? Cuộc đời của người cầm bút dù có ngắn ngủi, nhưng tấm lòng gửi lại cho văn nghiệp sẽ còn vang vọng đến thiên thu! Xin hãy buông bỏ những tị hiềm cá nhân, để cùng hướng về đại cuộc! Hãy trả lại sự thanh cao cho giấy mực, cùng nhau vun quén để mảnh vườn ngôn ngữ Việt thêm xanh tươi.  Khi bão táp qua đi, thời gian lắng xuống, thứ duy nhất giúp chúng ta nhận ra nhau chính là dòng máu Việt đỏ thắm và tiếng nói Việt thanh cao của dòng giống họ Hồng Bàng! Sự đánh phá, vô hình trung đang làm giảm đi giá trị, và làm suy yếu tiếng nói đại diện của giới văn học Việt Nam trên diễn đàn Văn Bút Quốc Tế. Hành động ấy sẽ làm suy yếu đi tinh thần giúp đỡ những nạn nhân đang quằn quại dưới ách bạo quyền.  Quan trọng hơn hết, xin hãy giữ gìn mảnh đất văn chương thuần khiết để thế hệ tiếp nối nhìn vào bằng sự tôn kính những người đi trước, và vững vàng cất bước theo sau, tiếp tục dùng ngọn bút kiên cường viết nên những trang sử mới.

Cuối cùng, xin trân trọng gửi đến các bậc thức giả của Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại cùng những văn thi sĩ đồng hành trong và ngoài nước.  Xin đừng để những cơn gió ngược làm chùn bước chân thiên lý! Những việc quý vị đang tận hiến, từ việc bảo tồn Việt ngữ, đến việc nâng đỡ những tiếng nói bị đàn áp, kết nối sự nghiệp của các ngòi bút kiên cường vào sức mạnh vô biên của Văn Bút Quốc Tế, chính là sự tiếp nối hào hùng, bất khuất của cha ông.

Những viên đá ném xuống mặt hồ chỉ có thể tạo ra những gợn sóng lăn tăn nhất thời, tuyệt đối không bao giờ làm vẩn đục được dòng hải lưu sâu thẳm của nghĩa đồng bào và tình yêu văn hóa Việt vốn đã kết tinh thành “kim cương” tự ngàn xưa! Văn chương chân chính sẽ luôn có sức mạnh tự bảo vệ mình, và những người phụng sự nó bằng trái tim chân thành chắc chắn sẽ được lịch sử ngàn đời trân trọng ghi nhận.

   Phương Hoa –Văn Bút Vùng Đông Bắc HK.      

**

Nguồn tài liệu tham khảo:

*Về trận tuyến sông Như Nguyệt của Lý Thường Kiệt:

 Hoàng Xuân Hãn (1949). Lý Thường Kiệt: Lịch sử ngoại giao và tông giáo triều Lý. Nhà xuất bản Sông Nhị (Bản in lưu hành tại Miền Nam trước 1975).

*Về mưu kế viết chữ lên lá của Nguyễn Trãi:

 Trần Trọng Kim (1971). Việt Nam Sử Lược (Quyển I, Chương XIV: Nhà Hậu Lê). Trung tâm Học liệu xuất bản, Bộ Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa.

*Văn Bút Quốc Tế (PEN International):

https://www.pen-international.org/what-we-do

*Sự kiện giải cứu nhà văn Arthur Koestler (Năm 1937):

*Văn học Hàn Quốc qua Dịch thuật Tác phẩm “The Vegetarian”:

https://thebookerprizes.com/the-booker-library/books/the-vegetarian

*Tạp chí Kultura của Ba Lan:

https://eurasia.omeka.fas.harvard.edu/exhibits/show/distant-kultura

*Trang Điện Tử Tư Liệu Toàn Cầu Của Tòa Thánh Vatican (DigiVatLib) – Digital Vatican Library – DigiVatLib:

 (https://digi.vatlib.it/)

*Sự Trỗi Dậy Của Quốc Gia Do Thái Từ Đống Tro Tàn – History of Israel and Establishment – Britannica:

(https://www.britannica.com/place/Israel/Establishment-of-the-state)




VTLV – TRANG ĐẶC BIỆT MỪNG NGÀY TỪ PHỤ 2026. ĐỖ DUNG: Tùy Bút “Đỗ Gia Trang Trên Đồi Mê Linh.” Phương Hoa: THƠ CHÚC MỪNG NGÀY TỪ PHỤ. Phương Thúy: MỘT ĐỜI TẬN TỤY. Minh Thúy: THƠ & VĂN VỀ NGÀY LỄ CHA. THƠ TRẦN VẤN LỆ. THƠ CAO MỴ NHÂN.

==

==

THƠ HỌAMỪNG NGÀY TỪ PHỤ: NGUYỄN HUY KHÔI

MỪNG NGÀY TỪ PHỤ

               (Bát cú liên khúc)

Có NGÀY TỪ PHỤ “đã” rồi nha,

Lòng rộ lộc chồi thắm trái hoa!?

Bằng hữu ưu tôn cung chuốc rượu,

Cháu con chân kính phụng dâng trà!

Hương thôn đầm ấm đời khang thịnh,

Chồng vợ hiền lương sống thuận hòa!

Trước sủng muôn nơi tôn Nghĩa Mẹ,

Nay mừng thiên hạ trọng Công Cha!

**

Mừng Cha an lạc cảnh thơi nhàn.

Thọ hưởng Song Thân gấp bội vàng!

Ngõ rộn lời già khơi sắc thắm,

Nhà xôm tiếng trẻ tỏa hương tràn!

Học Đường bồi tẩm nhân tâm sáng,

Gia đạo trau gìn đức hiếu ngoan!

Dân mạnh-Nước giầu bền Xã Tắc,

Cơ đồ tấn triển rạng TIÊN SAN!

                      Nguyễn Huy Khôi

                             21-6-2026

==

=

.

Rồi… lại tới Ngày Lễ:  Đón mừng Ngày Nhớ Cha!

Trước… ngày này, hôm qua / là Ngày Mừng Nhớ Mẹ!

.

Mẹ luôn luôn là thế:  ưu tiên mọi tấm lòng!

Mẹ là biển là sông / rộng vô bờ vô bến…

.

Mẹ với Cha có hẹn / để cháu con nhớ về…

cái chỗ gọi là Quê – Tình Yêu Không Đong Đếm!…

.

Có người về Điểm Hẹn bây giờ là khói nhang…

nhưng những cánh tay choàng ôm đất trời ấm áp!

.

Có người về chậm chạp… vì gió táp mưa sa!

Chuyện của Đất Nước TA / hai Thế Kỷ Nước Mắt!

.

Tôi… thành thật thú thật:  Tôi-trường-hợp-thứ-hai

… là đường xa mây bay… là dặm dài vô định!

.

Thương quá chớ, thời Lính:  Mẹ Cha hằng mong con!

Thương là Thương, rất thương… những đứa con bất hiếu!

*

Em của tôi làm điệu:  Hai mắt đang ướt kìa!

“Em nhớ Ba, không chia – Một Cái Hôn Giùm Với…”

.

Ôi người yêu tôi nói nghe buồn như trong mơ!

Và đây là… Bài Thơ:  Happy Father’s Day em, đó!

.

Có người yêu bỗng nhỏ như giọt lệ lăn lăn…

Có người yêu như trăng… Vầng Trăng Tôi Gọi Nguyệt!

.

Em là lòng tha thiết tôi gửi về Cố Hương

Lòng đứa con tha phương bốn phương đường thiên lý!

.

Việt Nam nhìn từ Mỹ xa vời nhang khói bay!

Happy Father’s Day!  Happy Father’s Day!

.

Trần Vấn Lệ

=

=

NGƯỜI CHA HÀNG XÓM.       CAO MỴ NHÂN

Cha tiễn con đi chiến dịch

Tuổi vừa tròn chẵn đôi mươi

Cùng nghe bên trời súng địch

Nổi lên ” thách đố ” trận đời

*

Làm sao quên ngay buổi đó

Mẹ không giấu được băn khoăn

Cha cười lẫn trong nỗi khổ

Thế rồi con ngủ trăm năm

*

Mấy mươi mùa xuân tan vỡ

Mẹ, cha vướng víu dương trần

Khói hương quê nhà lỡ dở

Cha giờ uất hận chôn thân

*

Muốn san bằng câu hỗn hợp

Cũng không thể sống bình yên

Ngang trời sáng tia lửa chớp

Mẹ nhìn cha thoắt cuồng điên

*

Cuộc chiến càng sâu thăm thẳm

Ai người chứng kiến hôm qua

Để ngày nay thôi u uẩn

Tội tình oan nghiệt người cha …

        CAO MỴ NHÂN

=

ĐỖ GIA TRANG TRÊN ĐỒI MÊ LINH

Đỗ Dung kính nhớ Bố.

FATHER’S DAY 2026

Có những ngôi nhà biến mất khỏi mặt đất từ rất lâu nhưng vẫn còn nguyên trong ký ức.

Tôi nghĩ về điều đó vào một chiều cuối năm, khi ngồi bên cạnh Bố trong căn phòng nhỏ của viện dưỡng lão.

Ngoài cửa kính, trời mùa đông California xám đục. Mấy cành cây trơ lá run nhẹ trong gió. Chiếc tivi đặt ở góc phòng vẫn mở nhưng không có tiếng. Ánh sáng xanh nhấp nháy trên khuôn mặt đã hằn sâu những nếp thời gian.

Tôi cúi xuống hỏi:

“Bố có biết con là ai không?”

Ông ngẩng lên nhìn tôi. Đôi mắt đục mờ vì tuổi tác bỗng sáng ra một chút.

“Dung.”

Chỉ một tiếng gọi ấy thôi.

Bao nhiêu năm tháng bỗng quay về.

Tôi lại thấy mình đứng trong căn nhà cũ ở Mai Hắc Đế của Hà Nội ngày xưa. Những buổi sáng mùa đông, sương còn đọng trên mái ngói. Mùi hương trầm len lỏi trong từng gian nhà. Bộ sập gụ bóng màu thời gian nằm giữa phòng khách. Trên mặt tủ chè khảm xà cừ, những ông tiên trong tích Bát Tiên vẫn lấp lánh dưới ánh đèn vàng.

Đó là thế giới đầu tiên của tuổi thơ tôi.

Một thế giới có tiếng guốc của Mẹ đi trong sân. Có tiếng anh chị em gọi nhau í ới. Có mùi nước mắm chưng trên bếp. Và có tiếng chuông cơm của Bố.

Ba hồi dài.

Lúc nào cũng vậy.

Tiếng chuông vang lên là mọi cuộc chơi phải dừng lại.

Đứa ở sân trước chạy vào.

Đứa ở sân sau chạy lên.

Đứa còn đang đọc sách cũng phải gấp sách lại.

Cả nhà ngồi quanh mâm cơm như một nghi lễ không ai được phép vắng mặt.

Ngày ấy chúng tôi nghĩ đó là luật.

Nhiều năm sau mới hiểu đó là tình yêu.

Có những người cha thể hiện tình yêu bằng những lời âu yếm. Có người bằng những cái ôm. Bố tôi lại chọn cách riêng của ông: dựng nên một nếp nhà.

Ông vốn là người lính.

Người lính thường tin vào kỷ luật như tin vào xương sống của một đời người.

Khi gia đình chuyển vào Sài Gòn, căn nhà trên đường Thành Thái dần trở thành một thế giới riêng mang dấu ấn của ông. Chuông điện lớn được lắp ngay phòng khách. Mỗi người có một tín hiệu riêng. Phòng ngủ của mấy chị em được ông gọi bằng cái tên rất nhà binh: “Trại nữ binh”.

Mỗi lần nhớ lại, tôi vẫn bật cười.

Ngay cả tuổi thơ của chúng tôi cũng được tổ chức theo kiểu nhà binh.

Nhưng lạ thay, trong ký ức, tất cả đều ấm áp.

Kỷ luật của Bố chưa bao giờ làm người ta sợ.

Nó giống hàng rào quanh một khu vườn hơn.

Nhờ có nó mà những đứa trẻ được lớn lên trong an toàn.

Bên dưới vẻ nghiêm nghị ấy là một tâm hồn mềm đến không ngờ.

Ông mê nhạc tiền chiến.

Những đêm yên tĩnh, từ chiếc máy hát trong phòng khách vang lên Suối Mơ, Thiên Thai, Con Thuyền Không Bến. Có những bản nhạc tôi đã quên gần hết lời nhưng mỗi lần nghe lại vẫn thấy hiện lên bóng dáng Bố ngồi lặng lẽ bên tách trà.

Ông thích thơ.

Thích viết.

Thích những câu chữ đẹp.

Có lần tôi than phiền rằng hôm sau phải thuyết trình ở trường. Sáng dậy đã thấy trên bàn một bài viết hoàn chỉnh ông thức khuya chuẩn bị cho con gái.

Đến bây giờ tôi vẫn không biết trong đêm ấy ông đã thức đến mấy giờ.

Nhưng tôi biết chắc một điều:

Có những người cha không nói “Bố thương con”.

Họ dành cả cuộc đời để làm điều đó.

Nhà tôi đông con.

Đông đến mức người ngoài nhìn vào thường ngạc nhiên.

Vậy mà bằng một cách nào đó, Bố vẫn biết rõ từng đứa.

Biết đứa nào yếu đuối.

Biết đứa nào bướng bỉnh.

Biết đứa nào đang buồn.

Biết đứa nào cần được giúp đỡ.

Mỗi người nhận từ ông một tình thương khác nhau nhưng không ai thấy mình bị bỏ quên.

Có lẽ vì thế mà cho đến tận bây giờ, khi tóc đã điểm bạc, anh chị em chúng tôi vẫn nhắc về ông như nhắc về tâm điểm của một vòng tròn.

Rồi đất nước đổi thay.

Những cơn sóng lớn của lịch sử tràn qua từng mái nhà.

Gia đình tôi cũng không nằm ngoài dòng chảy ấy.

Một ngày, người cha vẫn đứng đầu bàn ăn bỗng phải rời khỏi nhà để bước vào những năm tháng cải tạo.

Khi ấy tôi còn trẻ.

Chưa đủ tuổi để hiểu hết nỗi đau của người lớn.

Nhưng tôi nhớ rất rõ khuôn mặt của Mẹ.

Nhớ những đêm đèn khuya.

Nhớ mùi nhang trên bàn thờ.

Nhớ sự chờ đợi kéo dài tưởng như không có điểm cuối.

Sau này đọc lại những dòng di bút của Bố, tôi mới hiểu phần nào sức mạnh đã giúp ông đi qua những năm tháng ấy.

Ông không viết về hận thù.

Ông viết về nhân cách.

Ông không nói đến thất bại.

Ông nói đến lòng tự trọng.

Có những con người càng ở trong nghịch cảnh càng hiện rõ phẩm giá của mình.

Bố thuộc về số ít những người như thế.

Ngày đoàn tụ ở San Francisco, tôi nhìn thấy một người đàn ông gầy hơn, già hơn, tóc bạc hơn.

Nhưng không phải là một người bị đánh gục.

Tôi nghĩ có những chiến thắng không ai nhìn thấy.

Đó là khi một con người vẫn giữ được phần tốt đẹp nhất của mình sau tất cả những gì đã xảy ra.

Những năm cuối đời, sức khỏe của ông yếu dần.

Bệnh tật đến như những cơn thủy triều không thể cưỡng lại.

Mẹ cũng già đi.

Hai người chậm rãi bước về phía bên kia cuộc đời.

Có lần nhìn họ ngồi cạnh nhau trong phòng bệnh, tôi chợt nghĩ đến hai ngọn đèn dầu đã cháy gần cạn.

Ánh sáng không còn mạnh.

Nhưng vẫn sáng.

Vẫn đủ để soi cho nhau.

Ngày ấy, Bố thường nói về một giấc mơ.

Ông gọi nó là Đỗ Gia Trang.

Một khu nhà trên đồi Mê Linh.

Một mặt hồ.

Một dãy nhà hình chữ U.

Ông bà ở giữa.

Con cháu quây quần xung quanh.

Ông còn vẽ sơ đồ bằng bút chì và ghi tên từng đứa con vào từng phòng.

Nhiều năm qua đi.

Giấc mơ ấy chưa bao giờ được xây dựng bằng gạch đá.

Nhưng càng sống lâu, tôi càng hiểu rằng Bố đã xây nó rồi.

Ông xây bằng một vật liệu bền hơn xi măng.

Ông xây bằng ký ức.

Bằng tiếng chuông cơm ba hồi.

Bằng những bài hát cũ.

Bằng những lời dạy đơn sơ.

Bằng những giọt nước mắt ngày tiễn con gái về nhà chồng.

Bằng khí phách của một người lính không chịu đánh mất mình.

Bằng tình yêu bền bỉ dành cho gia đình.

Cho nên hôm nay, khi nhìn lại, tôi không còn tiếc ngôi nhà trên đồi Mê Linh nữa.

Bởi vì Đỗ Gia Trang chưa bao giờ nằm ở một địa chỉ nào trên bản đồ.

Nó nằm trong chúng tôi.

Trong cách anh chị em vẫn tìm đến nhau.

Trong cách con cháu vẫn nhắc tên Ông Bà.

Trong cách một gia đình được nối tiếp qua nhiều thế hệ bằng lòng biết ơn và ký ức.

Chiều cuối năm ngoài cửa kính đã xuống hẳn.

Tôi ngồi bên cạnh Bố.

Nắm bàn tay gầy guộc của ông trong tay mình.

Bàn tay ấy đã đi qua chiến tranh, tù đày, ly biệt và đoàn tụ.

Bàn tay ấy đã dựng nên một mái nhà.

Và bỗng nhiên, từ rất xa trong ký ức, tôi lại nghe thấy tiếng chuông cơm năm nào.

Ba hồi dài.

Rõ ràng.

Ấm áp.

Như thể suốt cuộc đời này, Bố vẫn đang gọi chúng tôi trở về.

Đỗ Dung

==

MỘT ĐỜI TẬN TỤYTùy Bút Nguyễn Phương Thúy

Một Đời Tận Tụy

Nguyễn Phương Thúy

Bố Mẹ tôi di cư vào Nam lúc tôi mới được vài tháng. Thay tên đổi họ, Bố phải làm lại từ đầu mặc dù đã có bằng Diplome Pháp. Trước tiên là Bố thi Tiểu học, năm sau thi nhảy Tú tài I, rồi năm kế thi Tú tài II, sau đó thi vào ngạch Bộ Y tế. Bố vừa đi làm vừa lấy bằng cử nhân Luật trong bốn năm, rồi lại thi chuyển ngạch sang Bộ Ngoại giao. Ban ngày Bố đi làm, ban đêm chong đèn học khi các con đã đi ngủ hết. Bố học rất giỏi lại nhớ lâu, như một tủ sách biết đi.

Nhà đông con, cứ hai năm lại thêm một đứa, chỉ một mình Bố đi làm nuôi cả gia đình. Đời sống tuy chật vật, nhưng Bố lại không muốn Mẹ tôi phải tất bật phụ giúp việc mưu sinh vì Bố cho rằng việc chăm sóc và dậy dỗ con cái là tối quan trọng. Bố lo cho gia đình rất đầy đủ, cho chúng tôi được ăn học đàng hoàng nhưng bản than Bố rất cần kiệm, ăn uống rất giản dị, nhường cho vợ con ăn trước, rồi còn gì ăn nấy, nhiều khi nhâm nhi tí rượu với rau muống luộc cũng xong.

Bố Mẹ tôi có bảy người con, hai con trai đầu và cuối, ở giữa là năm cô con gái. Mỗi lần sanh, nghe bà đỡ reo lên “con gái” là Mẹ lại ớn đến phát rét, nhưng Bố thì rất thích, cho rằng:

“Con gái là con của ta,

Thương cha, thương mẹ, việc nhà đảm đang.”

Tôi là chị cả của đám con gái. Khỏi phải nói, tôi được hưởng nhiều quyền lợi hơn các em, cái gì cũng được ưu tiên, từ quần áo đến đồ chơi, nhưng ngược lại tôi phải phụ Mẹ tôi lo cho gia đình. Tôi đảm nhiệm vai trò của mình khá giỏi giang, lại hợp tính Bố, hay thủ thỉ tâm tình, nên Bố yêu thương tôi hơn cả. Những lúc lỡ tay làm vỡ chén bát, đồ đạc, tôi chỉ cần mau lẹ thú tội với Bố là Bố nhận hết tội dùm tôi; thế là tôi tránh được biết bao nhiêu cái roi vào đít.

Khi tôi lên chín, thì Bộ Y tế cho Bố đi tu nghiệp ở London sáu tháng. Tôi không bao giờ quên được hôm tiễn Bố ở phi trường Tân Sơn Nhất. Tôi cứ bịn rịn, quấn quanh chân Bố không muốn rời. Đến khi Bố đưa tay vẫy và khuất bóng sau cách cửa tàu bay thì tôi khóc nức nở, chỉ sợ Bố đi luôn, không về nữa. Mẹ phải trấn an và dỗ dành là Bố sẽ về và sẽ mua cho tôi nhiều đồ chơi thật đẹp.

Tôi nhớ Bố đến héo hon. Chiều nào cũng vậy, sau bữa cơm tối, chị Hai (người giúp việc) dẫn tôi ra đầu đường ngóng Bố. Tôi đứng ôm cột đèn, dõi mắt tìm Bố trong dòng người, dòng xe cộ tấp nập qua lại. Mãi đến khi phố lên đèn thì tôi mới lủi thủi đi về.

Sáu tháng dài dằng dặc rồi cũng qua. Ngày đón Bố về vui như hội. Tôi lăn xả vào lòng Bố, đòi Bố kể cho nghe những món quà đang nằm trong vali. Tôi nài nỉ, kì kèo cho mình được chọn quà trước và tôi đã dành được con búp bê đẹp nhất, tóc dài vàng óng, váy đỏ viền ren, biết nhắm mắt mở mắt. Các em tôi còn hậm hực, ấm ức mãi cho đến bây giờ.

Đời sống hạnh phúc, êm đềm trôi giữa những giao động của chiến tranh. Công việc của Bố ở bệnh viện Chợ Rẫy rất vững bền. Bố được cấp nhà cho ở gần đó và được mọi người kính nể, thương mến.

Năm 1968, Tết Mậu Thân, Việt cộng tấn công thủ đô và các vùng phụ cận. Gia đình tôi chứng kiến cảnh giết người ngay trước cửa nhà, trên đường Lê Đại Hành. Lần đâu tôi thấy Bố sợ hãi, như thể một cái gì thật khủng khiếp trong quá khứ bỗng dưng chổi dậy đe dọa phá vỡ những gì mà chúng tôi đang có, kể cả sinh mệnh.

Tôi lập cập chồng hai cái ghế vào nhau để Bố leo lên trần nhà trốn. Sự sợ hãi của Bố Mẹ bao trùm con cái, cả con chó cũng sợ lây. Tôi núp trong căn phòng nhỏ dưới chân cầu thang, siết chặt hai bàn tay cho cơ thể đỡ run rẩy; nhắm nghiền mắt cầu nguyện với niềm tin tuyệt đối vào sự cứu khổ và linh ứng của Phật Bà Quán Thế Âm.

Thật may mắn, bọn Việt cộng đã bỏ đi sau khi giết chết một người đàn ông vô tội. Bố vội vã đưa gia đình vào tạm trú trong nhà thương Chợ Rẫy. Đến khi bình yên trở về nhà, tôi thấy có những vết đạn loang lổ trên tường.

Từ đấy Bố tôi trở nên trầm tư, bi quan, và để ý theo dõi cuộc chiến mà mỗi ngày một thêm khốc liệt.

Rồi Bố nhất định bỏ hết những bổng lộc đang có, để thi chuyển ngạch vào Bộ Ngoại giao, mong muốn sẽ có cơ hội đem cả gia đình đi ngoại quốc. Bố am hiểu tình hình chính trị nước nhà và thế giới, đã tiên đoán được vận mệnh không may của đất nước sau này.

Rồi những ngày tháng của 1975 hoảng loạn, ai cũng tìm đường chạy, vòng trong và vòng ngoài phi trường Tân Sơn Nhất đầy xe và người. Bố liên lạc hàng tuần, dục Mẹ lên Bộ Ngoại giao xin visa qua Lào đoàn tụ gia đình, chuẩn bị hành lý, đốt những giấy tờ, hình ảnh không cần thiết. Nhờ có Bố mà chúng tôi đi được trót lọt, đáp chuyến bay cuối cùng qua Lào chỉ một tuần trước khi mất nước.

Đến Lào, sau vài hôm nghỉ ngơi, Bố lại dục chúng tôi “dọn nhà”, chuẩn bị sẵn sàng cho một cuộc ra đi khác.

Đúng như Bố dự đoán, 10:45 sáng ngày 30 tháng Tư, có tin Sài Gòn đã mất. Từ nhiệm sở về, Bố vội vã hối thúc mọi người ra xe thật nhanh vì Bố biết bọn Lào cộng sẽ kéo đến đây, bắt Bố là người tổ chức những chương trình kiều vận để lôi kéo đồng bào Việt về với quốc gia. Cả gia đình gồm chín người và hành lý không thể dồn hết vào chiếc xe Toyota. Bố Mẹ tôi và em gái phải ở lại chờ chuyến sau. Chú Lễ, nhân viên của Bố, chở chúng tôi về nhà chú gần đấy rồi quay trở lại ngay để đón Bố Mẹ và em tôi. Đúng đến lúc tôi tuyệt vọng, không thể chờ được nữa thì Bố Mẹ và em tôi về, cùng với ba chiếc taxi. Mọi người hối hả lên xe, chạy hết tốc lực về phía Thadeur là nơi giáp sông Mekong; từ đây chúng tôi hồi hộp vượt sông, lấy chuyến xe lửa tốc hành chạy suốt đêm đến Bangkok. Vừa đến đây lại được tin tòa Đại sứ VN đóng cửa, chúng tôi đành theo nhân viên tòa Đại sứ lên mấy chiếc xe bus trực chỉ căn cứ Mỹ Utapao. Cuộc trốn chạy bọn Lào cộng, tìm tự do của gia đình tôi từ Vientiane, qua sông Mekong, đến Bangkok, rồi đến Utapao có nhiều khó khăn và nguy hiểm, nhưng có Bố bên cạnh, tôi không thấy sợ hãi, chỉ thấy buồn thấm thía. Trong cái tai họa chung của dân tộc, mới thấy gia đình tôi thật là  quá may mắn.

Lại một lần nữa Bố tôi phải gầy dựng lại từ đầu, từ hai bàn tay trắng. Bố sẵn sàng làm bất cứ việc gì để nuôi gia đình và chỉ muốn Mẹ tôi tiếp tục quán xuyến việc nội trợ như xưa. Khi cầm cái paycheck đầu tiên, Bố đã bật khóc. Cái paycheck ấy đã đem lại sự sống, niềm hy vọng cho gia đình tôi, và cũng giúp Bố lấy lại lòng tự trọng và niềm tự hào khi tiếp tục hoàn thành bổn phận của một người cha và là trụ cột của gia đình.

Bố mua một chiếc station wagon để đưa đón chị em tôi đi học ở Ohio University, cách nhà hơn bốn tiếng lái xe.

Bố không quen lái đường xa, vẫn vui vẻ đón đưa con đi về vào kỳ nghỉ của trường dù tôi muốn tránh cho Bố việc lái xe nhọc nhằn, nguy hiểm bằng cách xin ở lại trong ký túc xá (dorm). Sự lo lắng của tôi đã thành sự thật.

Trên đường về, xe của Bố đâm xuống ruộng, may mà Bố chỉ bị thương nhẹ; nhưng cái xe thì hư hại hoàn toàn; bán cho tiệm xăng được 100 dollars thì tiền đi taxi về nhà hết 120 dollars.

Sau bao nhiêu năm vất vả, Bố đã hoàn thành mỹ mãn nhiệm vụ làm Cha. Các con đã trưởng thành, đã có nghề nghiệp vững chắc, và đã có tổ ấm riêng. Mỗi năm, từ mọi miền đất hứa, các con về thăm viếng, quây quần họp mặt tại nhà tôi vì Bố Mẹ đã chọn ở với gia đình tôi sau khi về hưu.

Vào dịp lễ thượng thọ, tôi làm hai câu đối này để tặng Bố, một người thương yêu gia đình rất mực, luôn tận tâm lo lắng và hy sinh tất cả cho vợ con:

Một đời tận tụy vì vợ vì con,

Hai phận vuông tròn làm Phu làm Phụ.

Quá 80 tuổi, Bố vẫn còn minh mẫn, vẫn còn nhớ ngày sinh nhật của đám con cháu – hơn 20 đứa, và còn giúp tôi những việc vặt trong nhà.

Ngoài những đau nhức phong thấp thường có ở tuổi già, Bố ít khi bị bệnh nặng.

Năm ngoái, Bố phải vào nằm nhà thương mấy hôm vì có sạn ở túi mật. Để tránh bị đau đớn lần nữa, bác sĩ đề nghị cắt bỏ, nhưng Bố không chịu, nói là chỉ còn sống thêm vài năm nữa, tội gì phải chịu mổ xẻ. Vì không muốn vào nhà thương và không muốn làm khổ con cháu, Bố bắt đầu ăn kiêng ngay từ hôm về lại nhà. Bố gầy yếu hẳn đi, nhưng tinh thần không bị dao động, không sợ hãi. Bố đã hiểu rõ chuyện sinh tử, luân hồi của đạo Phật từ lâu và đã sẵn sàng để “về”. Tôi hằng cầu nguyện:

Xin Trời lấy bớt tuổi đời,

Thêm vào Cha Mẹ sống thời bách niên.

Cho chúng con được đáp đền,

Công Cha, nghĩa Mẹ bách niên chưa vừa.”

Dù Bố có sống đến 100 năm hay không, tôi vẫn được an ủi rất nhiều vì tôi đã có được một phần thân thể của Bố và đã học được một phần những đức tính nhân hậu, tận tụy, hy sinh quý giá của Bố. Tình yêu của chúng tôi dành cho Bố tuy không biểu lộ qua lời nói thường xuyên nhưng lại vô cùng sâu đậm, mãi mãi với thời gian.

Nguyễn Phương Thúy, 5/20/2010

==

==

THƠ & VĂN VỀ NGÀY LỄ CHA_ MINH THÚY THÀNH NỘI

Hội Phụ Nữ Tổ Chức Lễ Cha 

Tình cha vỹ đại nói sao vừa 
Lặn lội thân mình hứng gió mưa 
Rường cột gia đình lo bạc tóc 
Công ơn dưỡng dục kể bằng thừa 

Một đời lam lũ bởi vì con 
Dạy dỗ lời êm tránh đánh đòn 
Vật lộn mưu sinh nuôi trẻ dại 
Thành nhân đỗ đạt dẫu thân mòn 

Can trường thời chiến với non sông 
Cha lính cộng hòa góp sức công 
Đội nắng phơi sương vì tổ quốc 
Tù lao vận nước đổi đau lòng 

Nơi miền đất Bắc phố Cali
Thung lũng hoa vàng hoạt động chi 
Phụ nữ chung tay cùng hội trưởng 
Mừng cha từ phụ chức cao kỳ 

Văn nghệ chung vui diễn đủ màn 
Tặng quà cắt bánh nhạc mừng vang 
Vinh danh Từ phụ thiêng liêng phút 
Nguyện sống vai trò hiếu tử mang 

Văn hóa giữ gìn đẹp sáng tươi 
Vườn hoa hiếu hạnh dạy con người 
Lễ Cha ý nghĩa ngày tham dự 
Hội Phụ Nữ xây những nụ cười 
Minh Thúy Thành Nội 
Happy Father’s Day 
…………………………………………………..

Lời Ba Muốn Nói – Minh Thúy Thành Nội

Mùa Hạ đã bắt đầu báo hiệu, các loài hoa thi đua nở đủ màu sắc tươi vui. Anh Quang bước ra sân theo tiếng gọi của vợ nhờ bưng phụ mấy chậu hoa quỳnh lên bệ cao, vì muốn ngắm nét đẹp của loài hoa trang đài đang nở hàng chục đóa hồng và vàng. Bé LiLy bước chân cao chân thấp đi theo cha cười hồn nhiên.

– Con tránh ra để ba phụ mẹ chút nha

Lily nghiêng đầu qua, nghiêng đầu về vẫn níu áo, anh đành dừng chân nói với vợ “chờ chút…con đang vui vẻ”. Anh gỡ nhẹ tay con dìu vào ghế dài dưới tàng cây phượng vàng nay đã tàn hoa, chỉ còn bóng lá xanh tỏa mát. Anh ôm con, đặt đầu LiLy áp vào ngực anh, nghe luồng tim đập ấm áp chứa tình thương bao la.

Nhìn con lòng anh như quên hết chuyện phiền não hôm qua.

Vợ chồng anh mua vé hai tháng trước cho chuyến bay qua Hawaii nghỉ mát như thường lệ. Đã làm thủ tục check-in và ký gởi hành lý xong xuôi, vợ chồng anh hân hoan xếp hàng, bỗng bé Lily ngồi sụp xuống, níu chân ba mẹ nhìn về hướng ngược, biểu hiện ý đòi trở lui. Anh dỗ con “Ngoan Lily nhé, con sẽ vui đùa tắm biển khi qua đó”. Bé hất tay anh ra, rồi nằm lăn dài khóc lóc. Anh chị thay phiên dỗ dành, dìu con lùi qua một bên nhường chỗ cho khách hàng đang bước từ từ lên. Thời gian như muốn đứng lại, Anh chị nhỏ nhẹ, vuốt ve con sau gần một tiếng đồng hồ, cháu vẫn la hét đến khàn cổ. Cuối cùng anh chị phải chiều ý con gọi Uber trở về nhà. Anh liên lạc với nhân viên Airlines báo cáo hủy chuyến bay dù hành lý đã gởi, và được cho biết sẽ nhận lại một tuần sau.

LiLy ngồi yên ép sát đầu vào ngực anh, trong khi chị nhổ cỏ dại mọc xen chung quanh các chậu hoa trong lúc chờ đợi anh giúp đỡ việc nặng.

Anh nhìn màu nắng rực rỡ, ký ức ùa về của khoảng thời gian gần 30 năm trước. Anh giật mình “thời gian trôi nhanh quá, mọi chuyện cứ ngỡ như mới đâu đây…” Anh để dòng sông êm ả trôi về miền kỷ niệm…

Sinh ra trong một gia đình có ba anh em, Anh là trai lớn, thủa nhỏ đi học luôn đoạt bằng khen, bằng danh dự. Theo gia đình vượt biên qua Mỹ, anh hội nhập mau chóng và tiến bộ trong lãnh vực học đường, suôn sẻ tốt nghiệp bằng kỹ sư. Anh làm việc đi qua nhiều hãng nổi tiếng, hiện tại làm cho hãng Cisco tọa lạc vùng San Jose, nhưng được làm việc ở nhà.

Anh nhớ một mùa hè năm đó…. trong vài buổi làm việc thiện nguyện tại San Francisco, Anh gặp Ái Thanh (vợ anh bây giờ) đang là sinh viên của trường San Jose State, nàng rất đẹp và xông xáo trong công việc. Anh đã bị hớp hồn ngay từ phút đầu và tìm cách làm quen, quyết chinh phục cho bằng được. Chị lúc ấy cũng mến anh, một kỹ sư có nét thanh tú với dáng cao và tánh tình hiền lành ít nói. Anh chờ chị tốt nghiệp bốn năm, chị có việc làm trong phòng thí nghiệm của trường Đại Học. Mọi việc đều vững vàng bảo đảm đời sống, vì anh đã mua nhà trước đó. Sau vài năm tìm hiểu, anh chị quyết định tiến tới hôn nhân và hiện là cư dân của vùng Milpitas.

Mọi sự đều chuẩn bị sẵn sàng, đứa con trai Robert đầu đời, Anh chị chào đón trong niềm hạnh phúc vô biên. Ba năm sau bé Lily được sinh ra, những giây phút chờ trông cháu Lily lật trở vui nhộn biết bò theo thứ tự bẩm sinh. Sau gần hai năm, theo dõi bước thay đổi và phát triển của con, chưa thấy bé Lily biết đứng, biết bập bẹ phát ra âm thanh của trẻ con, anh chị lo lắng đem con đi gặp bác sĩ và bệnh viện nhiều lần, kết quả bác sĩ cho biết cháu bình thường, hãy chờ đợi thêm thời gian nữa”. Anh chị bắt đầu sống trong tâm trạng lo âu hồi hộp vì chẳng có gì tiến triển, ngày tháng trôi qua trong mòn mỏi, nhìn con vẫn bò quanh nhà dù đã lên bốn, năm, sáu…tuổi.

Khi con đầu lòng chào đời, anh chị tìm được người trung niên độc thân tên Sâm, sinh hoạt các chùa (do bạn giới thiệu), sau thời gian quan sát tìm hiểu tánh tình chị Sâm này rất hiền từ nhân hậu. anh chị yên tâm để chị Sâm ở lại sáu ngày, cuối tuần về thăm nhà, vì vậy vợ chồng yên tâm cày cấy trang trải nhiều thứ nợ.

Trước đây chị Sâm trông nom em gái Natalie con anh kỹ sư Lâm. Chị kể lại: “Em gái này đã trên hai mươi tuổi, bị bệnh Autism (tự kỷ) rất hung dữ, qua nhiều người đến chăm sóc nhưng họ phải đầu hàng vì em không chịu ai cả. Có những lúc em bị kinh nguyệt, em vùng vằng không cho chị Sâm thay băng làm vệ sinh, cuối cùng anh Lâm phải tự tay làm công việc ấy cho con, bởi vợ chồng đã ly dị, mà anh là người nuôi con. Chị Sâm thương lắm cũng đành nghỉ việc, sau bà Nội đến ở lại chăm cháu. Thỉnh thoảng cuối tuần chị Sâm cũng ghé thăm vì thương những mảnh đời đau khổ, thương những đứa trẻ không được bình thường sống trong hoàn cảnh thật xót xa. Câu chuyện được kể khi chị Sâm chứng kiến bé Lily có nhiều dấu hiệu không được bình thường, nhưng chị Sâm may mắn trông cháu bền lâu vì tánh Lily hiền lành dễ chịu hơn.

Một hôm tình cờ xem hình cha con anh Lâm trong buổi tiệc gia đình có chị Sâm chụp chung, nhờ vậy anh Quang nhận ra người bạn học xưa. Họ liên lạc hỏi thăm, tâm tình tìm sự cảm thông nhau từ đó.

Một buổi hai anh hẹn gặp uống cà phê cuối tuần. Sự mệt mỏi hiện ra trên nét mặt, mỗi người như bị áp lực đè nặng trong công việc và con cái. Anh Quang kể về hãng Cisco, anh Lâm làm cho hãng IBM, trao đổi những mẫu chuyện về nghề nghiệp. Anh Quang hỏi thăm bệnh tình cháu Natalie.

– Cháu vẫn chơi và khỏe đó chứ?

– Càng ngày tâm tính cháu càng hung hăng chướng kỳ, giai đoạn này cháu không thích mặc quần áo, cởi bỏ hết đi khắp nhà. Bà nội không đủ sức mặc vào cho cháu, tôi phụ giúp thật khó khăn vì cháu vùng vẫy, phải cố gắng dùng sức mạnh kềm tay chân cháu. Mặc quần áo xong rồi tôi phát hiện có vết bầm trên cánh tay cháu, biết mình vô ý lỡ mạnh tay tôi thật đau lòng, hối hận muốn khóc vì thương con mình quá.

Anh Lâm kể lại với ánh mắt buồn bã. Biết hoàn cảnh bạn mình đã ly dị chịu cảnh gà trống nuôi con, anh Quang nhẹ nhàng:

– Ông cũng nên tìm người bạn mới cho khuây bớt

Anh Lâm lộ vẻ uể oải chậm rãi:

– Nói gì, tôi cũng có bạn gái chứ, tháng trước dẫn về chơi dò ý con, cháu Natalie lộ vẻ giận dữ hai mắt đỏ ngầu, tôi sợ quá nghĩ từ nay không đem về nhà nữa. Lòng tôi cũng chẳng hứng thú gì khi nghĩ đến con, chỉ muốn để mặc dòng đời trôi… Mỗi ngày đi làm về nhìn con, chơi với con bằng tình phụ tử thiêng liêng dậy lên những cảm xúc dạt dào khôn nguôi thật khó tả.

Một hôm người quen khuyên anh Quang xin tiền phúc lợi Social Security Disability Insurance (Bảo Hiểm Khuyết Tật An Sinh Xã Hội – SSDI). Anh gạt ngang nghĩ thầm “Làm gì có chuyện đó đối với anh, khi mức lương vợ chồng cao, lại đang làm chủ hai ngôi nhà, một ở và một cho thuê, trường hợp anh không thể được quyền hưởng phúc lợi”. Anh hoàn toàn không tin, nhưng nghe nhiều người bàn cãi quá, điện thoại hỏi bạn Lâm, bạn cũng không biết. Hai anh điền đơn thử thì được xác nhận: trẻ em bị bệnh tự kỷ được hưởng quyền lợi là đúng, dù cha mẹ có dư điều kiện tài chánh đi chăng nữa.

Anh Quang không thể ngờ được nước Mỹ có chính sách nhân đạo đến vậy. Chính phủ không quan tâm ai giàu hay ai lương cao việc lớn mà chỉ chú trọng việc chăm sóc, hỗ trợ cho trẻ em, nhất là các trẻ em đặc biệt. Chính phủ trả lương cho người chăm sóc bé Lily và được hưởng thêm quyền lợi bảo hiểm sức khỏe. Bé được đi trường học lớp đặc biệt có xe đưa đón tận nhà, được cô giáo người bản xứ về nhà dạy riêng hai tiếng ngoài giờ. Anh muốn hét to “American vĩ đại, nhân từ bậc nhất…” Cho dù lương của anh bị trừ thuế 40% vẫn xứng đáng, vui vẻ góp phần xây dựng đất nước này phát triển vững mạnh thêm.

Mùa đông đi qua, mùa xuân lại đến, mùa hè trở lại, mùa thu tuần tự. Anh chị vẫn sống bằng niềm hy vọng bệnh tình bé Lily có phần tiến bộ, dù đã qua mười hai năm cháu vẫn chưa biết nói, biết đứng dậy. Tới năm mười bốn tuổi, bỗng dưng cháu đứng dậy và từ từ bước tập tễnh, còn niềm vui nào lớn hơn. Anh chị đã ôm nhau khóc vì mừng rỡ, bám tiếp tục niềm hy vọng để sống.

Nghĩ đến vợ, anh cảm thấy thường quý vô cùng. Nàng nấu ăn rất ngon, dù có chị Sâm trong nhà, nhưng bà xã chỉ muốn tự tay nấu những món ngon cho chồng con ăn vừa ý. Sau giờ làm vợ tất bật về nhà đứng mấy tiếng đồng hồ trong bếp, tối dành thì giờ chơi với con. Bé Lily rất kén ăn, nàng theo chiều con sát nút. Có điều đối với chị Sâm, bé dễ chịu vui vẻ, nhưng khi vợ anh về là bé chướng hết cỡ, đòi lung tung đủ thứ, bắt nàng bồng bế dù LiLy rất nặng ký. Bé có dấu hiệu: thích ngồi một mình, sợ người đông và sợ âm thanh mở lớn. Khi vui bé ngồi cười một mình xoay đầu liên tục, cô giáo có kỹ thuật chuyên môn dạy cháu chơi game để phát triển não bộ, cháu biết mở ipad và biết nhiều trò chơi trong máy khiến anh chị thấy phấn khởi vô cùng.

Anh chị ngoài thì giờ sinh hoạt, cũng tìm đọc các trang mạng về bệnh tự kỷ để hiểu thêm tâm lý. Chị là người mẹ rất tuyệt vời, luôn dặn anh “đừng bao giờ lộ nét mặt buồn giận con, mà phải cố gắng tạo nét mặt vui vẻ, ánh mắt trao nhìn con thật trìu mến”. Anh nhớ bao nhiêu năm, vợ luôn đè nén những ước mơ riêng tư, chịu đựng hy sinh cho con hết mực, những khi cháu nổi cơn bất thình lình. Như lần qua Florida ăn cưới cháu, trong buổi tiệc Lily nằm dài la hét làm anh chị không dự được phải ẵm con về khách sạn sớm; lần đi máy bay qua Nhật, cháu nằm lăn trên sàn khóc lóc lăn lộn, hành khách thật lịch sự ngồi yên như không có chuyện gì xảy ra dù cháu quậy rất ồn ào; lần qua đảo Big Island bên Hawaii, Lily cũng nằm vạ trên lối chờ vào máy bay, hôm đó tình cờ một viên phi công đi ngang qua, cúi xuống cầm tay em dẫn đi vào máy bay, cháu ngưng tiếng khóc bước theo, may mắn chuyến đó anh chị được thoát nạn; mỗi khi đến nhà ai hoặc ra ngoài công viên dự tiệc, thường chỉ có mình anh đi dự, họa hoằn đôi bữa có chị nhưng chị cũng nửa chừng bỏ cuộc.

Tiếng chị đánh thức anh về vùng hiện tại:

– Anh để con chơi, phụ em cho xong việc, em còn đi chợ vì tủ lạnh trống trơn rồi

– Được em! 

Anh đẩy nhẹ Lily ra khỏi vòng tay.

– Con dạo ngắm hoa đi nhé, con có thấy hoa nở đẹp không?

Bé buông tay anh bước chậm nhìn hoa, không biết con có hiểu lời anh nói!!??

Sau một hồi phụ vợ các việc nặng, anh ngồi nhìn con chơi trong sân. Robert, anh Hai của LiLy đã tốt nghiệp Đại Học và có việc làm nơi xa. Anh chị vẫn tựa vào niềm hy vọng một ngày được nghe con gái nói, dù tiếng nói bằng ngôn, anh chị ngữ riêng cũng tốt. Năm nay quỹ An Sinh Xã Hội cắt giảm tài trợ việc cô giáo đến nhà bày vẽ chơi game cùng Lily hai tiếng mỗi ngày. Nhưng không hề gì, anh chị vẫn tiếp tục trả lương cho cô giáo, để cô hướng dẫn dưới hình thức chơi game bằng phương pháp trị liệu tâm lý và khai triển bộ óc.

Lily quay nhìn anh, cười tươi tắn, trở lại ôm anh sờ ngực, sờ áo. Anh vuốt tóc con thì thầm “Lời ba muốn nói với con, là ba mẹ yêu con nhất trên đời. Con là hơi thở, là sự sống của ba mẹ. Dù sao con cũng được sinh ra trên nước Mỹ, một đất nước nhân bản, có nhân đạo luôn đặt quyền lợi các trẻ em bị bệnh lên ưu tiên hàng đầu”.

Năm nay LiLy đã hai mươi tuổi. Tuần trước anh chị định dẫn bé đi chơi xa như món quà sinh nhật, vì anh chị thấy cháu rất thích chơi đùa với sóng biển, thích tắm nơi bờ biển vắng người, nhưng chuyến này không may nên bất thành. Con bé cao giống anh, khuôn mặt trái soan, nét mặt giống chị. LiLy sinh ra đời được bao nhiêu người yêu thương ngoài ba mẹ, hai bên nội ngoại, chị Sâm, người quen và nhất là anh Hai Robert của bé, cũng biết dỗ dành, chiều chuộng, đút cơm hoặc thay tả cho em mình.

Đã vào tháng Sáu, ngày Chủ Nhật đẹp trời. Anh chị tổ chức sinh nhật cho LiLy ngoài park gần nhà. Mùa hè đến, cây cỏ xanh um, quang cảnh mang bộ mặt tươi vui đầy sức sống. Bà con đến đông chúc mừng quà cho cháu. Tuần trước bé không vui cản trở chuyến đi chơi, hôm nay bé vui, ngồi yên cho mọi người chuyện trò ăn uống khiến anh chị mừng lắm.

Chiều dần xuống Lily chỉ về hướng xa vắng người, nắm tay ba kéo đi. Anh nhờ chị tiếp khách, hai ba con bước tới những mô đá bên kia đường, bé ngừng lại muốn ngồi xuống. Anh cũng ngồi theo bé nhìn bóng chiều lung linh hoa nắng nhảy múa trên vạt cỏ. LiLy nhìn quanh quẩn lộ nét mặt dễ chịu nơi có không khí yên tĩnh thoáng đạt. Mặc bên kia mọi người rôm rả nói chuyện, ăn uống tiếp tục, anh vẫn lặng lẽ ngồi bên con cả tiếng đồng hồ, nhìn mây trời trôi lãng đãng, nghĩ đến những mảnh đời khác nhau biến chuyển theo cuộc sống.

“Mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh”, nghĩ người bạn có con bị bệnh giống Lily, anh thấy mình được may mắn hơn, vì còn có đứa con trai thành đạt, có vợ bên cạnh chung nhau chăm sóc Lily. Anh nhớ điều đã đọc trong tài liệu về phương thuốc chữa bệnh Tự Kỷ Tâm Lý: “Tình yêu thương của người thân chính là phương thuốc hữu hiệu nhất cho người bị tự kỷ. Nên trò chuyện với họ nhiều hơn để tinh thần được thoải mái”.

Anh lẩm bẩm “Nhất định xóa tan đau khổ, thất vọng, chống phá căn bệnh trầm cảm chen vào. Con là giọt máu, là tình yêu thương lớn nhất trên đời. Ba Mẹ sẽ chiều ý con, dù lúc con vui hay khi con nổi chướng, miễn Ba Mẹ được sống bên con gái yêu quý …”

Minh Thúy Thành Nội 

Mùa Lễ Cha 

==

ĐỌC TRUYỆN THỦY NHƯ: THỬ THÁCH ĐẦU ĐỜIDiễn Đọc Thảo Mi

==

Thử Thách Đầu Đời

Tiếng súng nổ vang dội lấn át giọng nói của người cha vừa vẫy tay tạm biệt cậu
con trai vừa bước lui về phía chiến trường đầy khói. Cậu bé thét gào lên, “Ba ơi!
Ba ơi! Tại sao ba phải đi?” “Ba phải đi. Ba thương con vô cùng…” Giọng người
cha xa dần và cậu bé giật mình thức giấc. Cậu nhận ra là mình đang khóc trong
mơ và miệng vẫn còn lẩm nhẩm, “Tại sao ba phải đi?”

Đó là một đoạn trong vở kịch truyền thanh “The Price of Freedom” do Focus On
The Family phát hành mà má chồng tôi đã mua tặng cho các con tôi. Bà mua một
loạt những vở kịch Adventures in Odyssey truyền thanh như vậy để chúng nghe
mỗi khi chúng tôi ngồi trên xe. Hôm đó tôi và hai cậu con trai nhỏ đang lắng nghe
vở kịch “The Price of Freedom” trên đường lái xe đến thăm ba mẹ tôi lúc bấy giờ
đang ở Redlands. Nhìn qua kiếng chiếu hậu, tôi thấy mắt hai cậu con trai tôi ngấn
nước. Tôi nhấn nút dừng vở kịch và hỏi chúng với giọng cũng nghẹn ngào. “Các
con có sợ khi nghe vở kịch này không? Mẹ tắt nhé!” Cậu con trai lớn 8 tuổi của tôi
trả lời với giọng mếu máo, “Không. Con muốn nghe tiếp.” Cậu nhỏ tôi tiếp theo
anh nó. “Con cũng muốn nghe nữa.”

Tôi nhấn nút tiếp tục vở kịch. Đó là câu chuyện về câu chuyện về cậu bé Kirk
McGinty có ba đã tử trận trong chiến tranh Việt nam. Mẹ của Kirk cũng sang Việt
nam làm việc và gặp ba cậu nơi đó. Họ làm đám cưới ở Việt nam và có những
ngày hạnh phúc ngắn ngủi với nhau. Sau đó Mỹ quyết định rút quân khỏi Việt nam
và mẹ cậu trở về Mỹ với bào thai, là Kirk, trong bụng mà chưa kịp báo cho người
chồng còn ở lại. Và ông đã vĩnh viễn nằm xuống tại chiến trường Việt nam những
ngày sau đó. Với phong trào phản chiến leo thang, bà McGinty đã đem con rời
thành phố về sống tại một miền đồng quê để tránh cho con khỏi nghe những lời chỉ
trích và chửi bới độc địa về những người lính tham chiến tại Việt nam.

Có lẽ bà McGinty đã kể lại cho con trai rất nhiều hình ảnh oai hùng của chồng bà,
là ba của Kirk, nên cậu bé rất thích những ý tưởng về những cuộc chiến thắng,
chinh phục và chiến lược binh trận. Kirk ngưỡng mộ ba mình biết bao nhiêu thì
cậu cảm thấy sụp đổ đau đớn bấy nhiêu khi trong giờ học lịch sử, thầy giáo Altman
đã gọi cuộc chiến Việt nam là một cuộc chiến vô nghĩa. Cậu đã nán lại sau giờ học
để hỏi thầy giáo những cảm nghĩ của ông về những người lính tham chiến tại Việt
nam. Thầy Altman khẳng định lại lập trường của mình rằng chiến tranh Việt nam
là vô nghiã và cái chết của những người lính Mỹ cũng vô nghĩa như vậy. Ông còn

cho cậu bé mượn một cuốn sách trong đó tác giả mô tả những người lính Mỹ ở
chiến trường Việt nam là những kẻ giết người một cách tàn bạo.
Kirk đau đớn khi nghe những nhận xét của thầy giáo. Cậu giống như bị quật một
trận nên thân, biếng ăn, mất ngủ và không còn là một cậu bé vui tươi hiếu động
nữa. Thần tượng của cậu là người cha đã hoàn toàn sụp đổ sau những lời nói của
ông thầy dạy Sử. Ba của cậu không còn là một anh hùng mà là một tội đồ. May
mắn thay, Whit, một ông già trong phố đã nhận ra sự thay đổi của Kirk. Ông đã
tìm hiểu và đến nói chuyện với thầy giáo về ba của Kirk, một quân nhân đã tử trận
trong chiến tranh Việt nam. Thầy giáo đã nhận ra rằng ông đã quá lời.

Mẹ của Kirk cũng đau lòng khi thấy tinh thần con suy sụp. Với sự sắp xếp của ông
Whit, bà được mời phát biểu trong buổi lễ Memorial của thành phố. Hôm đó bà đã
đọc lá thư cuối cùng của chồng. Sau khi nghe lá thư của ba, Kirk đã lấy lại niềm
tin của mình, rằng ba cậu đã chiến đấu cho một lý tưởng cao đẹp và đã hy sinh thân
mình cho một sứ mạng mà đất nước đã giao phó.

Mẹ con tôi sụt sùi khi nghe câu chuyện đó. Có lẽ tôi quên nhiều chi tiết trong vở
kịch nhưng có một câu nói của người mẹ làm tôi nhớ hoài. “I’m sorry that your
father was your first test.” (Mẹ lấy làm tiếc rằng ba là thử thách đầu đời của con.)
Trong nước mắt, tôi cũng đã nói với các con tôi giống như vậy sau khi nghe xong
vở kịch. “Mẹ cũng rất lấy làm tiếc là ông ngoại cũng đã là thử thách đầu đời của
mẹ và các cậu dì, là chị em của mẹ.” Tôi đã kể cho các con tôi về những cảm nghĩ
của tôi về ba ngày ấy.

Sau năm 75, ba tôi vì đã làm việc cho chế độ miền Nam Việt nam nên ông bị bắt
giam trong tù cộng sản. Thương mẹ ngày ấy phải một mình chống chọi với đủ mọi
áp lực để nuôi đàn con thơ dại khờ. Chị em chúng tôi còn quá nhỏ để có thể sẻ
chia với mẹ những sợ hãi, gánh nặng trên thể xác cũng như tinh thần thời đó. Mẹ
mong chờ ba trở về để cất bớt gánh nặng. Mỗi lần chúng tôi ước một điều gì đó,
mẹ nói. “Khi nào ba về, thì ba sẽ làm cho con.” Tôi đặt bao nhiêu hy vọng vào ba.
Tôi tin rằng khi ba về, nhà tôi sẽ khá hơn và tôi cũng sẽ được ngẩng cao đầu với bè
bạn.

Cũng giống như cậu bé trong truyện, tôi đã nhiều lần nghi ngờ rằng có thực là ba
tôi là một người tử tế không. Hay là ba thật sự là một trong những “tên ác ôn có
nợ máu với nhân dân” như cách nói của chính quyền cộng sản. Tôi thích nhớ ba tôi thật oai trước năm 75 dẫu hồi đó tôi còn rất bé. Ba tôi trở về nhà sau những đợt công cán dài ngày và tôi ngồi dưới chân ba nhổ những bông cỏ mây bám vào vớ và ống quần khi ba đi qua vạt cỏ đến máy bay đậu trên đồng để bay về nhà. Nhưng ba tôi trông thật xơ xác khi tôi đi với mẹ thăm ba trong trại tù. Ba trông hốc hác, tiều tuỵ, yếu ớt, khác rất nhiều so với những gì tôi nhớ về ba. Mẹ bảo, “Ở tù mà con.”

Tôi nhớ hồi đó có bộ phim gì tôi không nhớ tên (mà bây giờ cũng không muốn
kiếm,) nhưng nhớ tên bài hát trong phim, “Em sẽ là hoa hồng nhỏ.” Trong phim
đó, ba của cô bé cũng như ba tôi đang ở tù. Ông đã nhận ra những điều sai trái đã
làm trong chính quyền miền Nam và đã giác ngộ. Nhà nước đã mau chóng khoan
hồng cho ông trở về sum họp với gia đình. Tôi đã ngây thơ viết thư cho ba sau khi
đi xem phim về, mong rằng ba cũng làm như ông đó để ba được chóng về với mẹ
và chị em chúng tôi. Lá thư đó có lẽ đã bị quẳng vào thùng rác, chẳng đến tay ba,
nên ba tôi đi tù đến 7 năm – một thời gian dài đủ để tôi, từ một con bé hỉ mũi chưa
sạch thành một cô bé tuổi thiếu niên với bao mơ ước.

Khi ba tôi về, gia đình tôi không khá hơn mà còn tệ hơn. Chính quyền không cho
ba tôi về ở nhà tôi nhưng bắt phải về trên quê cách chỗ chúng tôi 20 km. Nhà tôi
hồi đó chỉ có một chiếc xe đạp cho mẹ đi buôn bán. Ba không làm được việc gì cả
vì không có hộ khẩu nên không có chỗ ở. Không thể hiểu nổi cái lý luận lòng vòng
của chính quyền về cái tờ hộ khẩu, hậu khổ, tai quái đó.

Ba tôi bị bắt đi tù trước khi cái tờ hộ khẩu quái đản đó được ban hành và dĩ nhiên
là tên ông không có trong tờ hộ khẩu của nhà tôi. Họ bảo rằng ba bị bắt ở trên quê
nên khi ra tù phải về trên quê, nơi mà ba tôi không có một mảnh đất để làm nhà.
Trong khi đó cái nhà do ba tôi xây ra ở dưới thị xã, nơi mẹ con tôi đang trú ngụ thì
ba lại không được ở. Không biết là chính quyền không hiểu hay là không chịu
nghe để mà hiểu, nên cứ bắt ba tôi về quê. Công an đến soát nhà tôi mỗi đêm để
tìm bắt ba tôi vì cư ngụ bất hợp pháp. Điều trớ trêu là nhà tôi có rất nhiều người ở
trên quê xuống tạm trú. Anh chị em họ ở trọ để đi học, đi họp. Bác cậu mợ cô chú
thím dì dượng ở nhờ nhà tôi để chữa bịnh dài lâu. Chính quyền không bắt ai cả,
mà chỉ tìm bắt mỗi ba tôi. Mỗi đêm xuống là chúng tôi lo sợ. Gia đình chúng tôi
sống trong căng thẳng, sợ hãi và lo âu. Cái lo sợ đã làm mặt mày tôi lúc nào cũng
nhăn nhó, đau khổ nên bạn bè có đứa gọi tôi là bà già khắc khổ. Tôi nhiều lần ước
chi ba còn ở trong tù để cho chị em chúng tôi không bị khổ sở về tinh thần.

Có người bảo ba mẹ tôi đấm vào mõm họ … một ít tiền là xong. Ước gì nhà tôi có
tiền để làm điều đó. Mẹ lên kế hoạch dài lâu. Đem thiến hai con gà trống trong
đám gà nhà. Rồi vỗ béo và đem hiến cho họ, giống như tống cho đám quỷ sứ,
giống như là “con gà trống thiến để riêng cho thầy …” Kế hoạch thành công! Với
bao đêm ba tôi phải leo lên mái nhà để trốn mỗi khi công an đến soát nhà và chị
em tôi nín thở giả vờ ngủ, mấy tháng sau đó nhà tôi có được hai con gà trống thiến
mập mạp. Chị em tôi hí hửng. Thí cho họ một con. Còn một con, chị em tôi
mong được ăn thử thịt gà trống thiến xem nó ngon cỡ nào. Có lẽ thịt gì chúng tôi
cũng cho là ngon hết, bởi mỗi năm chúng tôi chỉ được ăn thịt một, hai lần.
Vậy mà đến Tết, ba bảo phải biếu cả hai con gà trống thiến. Một con cho ông công
an xã trên quê để ổng ký giấy cho đi và con kia cho ông công an khu vực chỗ nhà
tôi để ổng cho ba tôi ở. Chị em tôi thất vọng hết sức. Chúng tôi chẳng được ăn
thịt gà trống thiến như mong đợi. Hai con gà ra đi. Ba vẫn không được về ở nhà
chúng tôi. Đám quỷ sứ đông quá! Nhà tôi không nuôi kịp gà để … đấm vào mõm
họ. Ba bực mình bỏ Tam kỳ vào Mỹ xuân lập nghiệp.

Ba đi được vài tháng rồi gởi thư về bảo mẹ đem cậu em trai đang chuẩn bị lên lớp
6 vào ở với ba. Tôi chuẩn bị lên lớp 12 và sẽ vào ở với ba sau khi tốt nghiệp. Mẹ
sẽ ở lại Tam kỳ với cô em gái cho đến khi em học xong lớp 12 vì chỗ ba ở không
có trường cấp ba. Chị tôi chuẩn bị đi lấy chồng nên ba mẹ khỏi phải lo. Mẹ dẫn
cậu em vào với ba và khi về, mẹ kể chuyện nơi ba đến lập nghiệp. Tôi nghe mẹ kể
về miền đất ba vào sinh sống với bao háo hức. Nhà có vườn và ao nuôi cá, có
ruộng để trồng lúa đủ ăn, có đất để trồng rau và hoa quả. Người ta vào tận nhà để
mua cây trái hoa lá trong vườn, mình không phải đem ra chợ bán. Đặc biệt là vườn
có những cây xoài tượng cho trái ngọt lịm… Tôi tưởng tượng ra một cuộc sống
yên bình no đủ đang chờ đón tôi nơi miền Nam hiền hoà như tôi đã đọc trong
truyện.

Tôi đã thất vọng tràn trề khi tôi vào đến nhà ở Mỹ xuân vào tháng 6 năm 1985. Đó
là mùa mưa của miền Nam. Chiều nào trời cũng mưa. Nhà ba mua nằm trên vạc
đất thấp của khu vườn nên nước thấm vào nền nhà bằng đất, làm nền nhà trông
nhớp nháp. Căn nhà lợp lá dừa phía trong nhìn đẹp nhưng phía ngoài trông thật
xấu xí. Tường nhà thì bằng đất nhồi rơm. Mưa đổ xuống, nhà dột lung tung và
nước tạt vào tường làm ướt đồ đạc nằm sát vách. Mùa mưa cây cỏ xanh tốt vượt
lên che phủ mọi thứ làm cho căn nhà của chúng tôi trông như một cái chòi giữa

rừng hoang. Buổi tối còn thảm hơn với ngọn đèn dầu le lói trông thật buồn. Cái
cảnh đìu hiu trong rừng vắng đó làm tôi nhớ Tam kỳ đến cháy người.
Nhưng điều kinh khủng hơn cả là không có bạn bè. Tôi ngày ngày ra vườn nhổ
đậu, trồng khoai, cấy lúa, hái điều…Tối về đọc đi đọc lại vài cuốn sách tôi có
được. Đọc đi đọc lại mãi phát chán nhưng cũng phải đọc vì không có gì để giải trí.
Tôi ước mong có một người đến thăm nhưng điều tôi mơ ước là không tưởng bởi
nhà tôi ở xa đường lộ, không địa chỉ. Thư từ thì cả tháng mới tới mà cũng không
có tiền mua tem để gởi thư. Tôi và ba chỉ biết làm ruộng rẫy mà không biết tính
toán buôn bán, thành ra cuộc sống rất là chật vật. Những ngày giáp hạt, nhà không
có gạo ăn. Ba phải đạp xe đi 20 km mượn lúa của một người bà con xa. Đem lúa
về, thì lại không có tiền đi xay thành gạo. Mang xuống nhà máy xay xong, họ lấy
lại một ít gạo để trừ tiền xay.

Vài tháng sau đó, ba tôi dắt cậu em về Tam kỳ chịu tang ông nội mấy tuần. Tôi ở
một mình giữa cánh đồng hoang, xa xa mới có một hàng xóm và nhà họ lúc nào
cũng đóng cửa. Tôi thường nói chuyện một mình trong cái cô đơn tột cùng. Đó là
những ngày kinh khủng của đời tôi. Không dám bạo dạn như Scarlett thề trong
truyện “Cuốn theo chiều gió” “I’ll never be hungry again.” khi bị lâm vào cảnh đói
nghèo, tôi chỉ dám than khóc với Chúa. “…Con không muốn rơi vào cảnh đói
nghèo cô đơn này một lần nào nữa…” Và tôi cũng hát đi hát lại câu hát của Vũ
Thành An. “Về sau, và nhiều năm sau nữa, có buồn nhưng vẫn chưa bao giờ bằng
hôm nay.” Chẳng phải buồn tình nhưng buồn tủi vì nhà nghèo không đủ ăn.
Vở kịch “The Price of Freedom” này được phát thanh lần đầu tiên vào tháng 5
nhằm dịp lễ Memorial vào năm 1988. Ông xã tôi bảo lúc bấy giờ nước Mỹ đã hầu
như không còn nhớ đến chiến tranh Việt nam. Nhưng ở bên kia bờ Thái Bình
Dương, cộng sản Việt nam vẫn không hề ngơi phân biệt đối xử với những người
như gia đình chúng tôi. Lúc đó cô em của tôi vừa tốt nghiệp lớp 12 và em không
muốn rời miền Trung. Em không nộp đơn thi đại học mà chỉ nộp đơn thi vào Cao
đẳng Sư phạm Anh văn – Đà nẵng với hy vọng trường thấp hơn thì sẽ được họ cho
đi học. Em đã không có được cơ hội để đi thi chứ đừng nói gì đến chuyện đi học.
Họ đã bác đơn xin dự thi của em tôi. Tôi nghe tin và cầu nguyện để em không bị
trầm cảm bế tắc như chị họ tôi trong truyện Niềm nhớ. Dù luyến tiếc Tam kỳ
nhưng cô em tôi cũng phải theo mẹ vào ở với ba. Căn nhà ở Tam kỳ giao lại cho
chị tôi. Gia đình đoàn tụ. Ba mẹ tôi tin Chúa và cả gia đình tôi cùng đi thờ phượng Chúa ở hội thánh Phước thái gần nhà. Chúa cho gia đình tôi được thảnh thơi hơn và có bạn bè trong hội thánh đến thăm chơi. Năm sau đó, cô em tôi cũng đi học Cao đẳng Biên hoà như tôi trước đó. Mẹ mỗi ngày mang hoa quả rau củ trong vườn ra chợ bán. Mẹ đã làm cho khu vườn giống như những gì mẹ tả cho tôi
nghe trước khi tôi rời Tam kỳ. Cuộc sống của gia đình tôi khá tươm tất. Chúng tôi tưởng cuộc đời của gia đình tôi đã an bài nơi xã Mỹ xuân ven lộ 51.

Những năm 90, chương trình H.O. nở rộ nhưng ba tôi không muốn đi. Gia đình tôi
đang sống ổn định trên mảnh đất ba mua. Ba đã gần 60 tuổi nên không muốn làm
lại cuộc đời nơi xứ người, nơi mà ngôn ngữ và văn hoá quá xa lạ với một ông già
như ba để làm quen. Nhưng có lẽ cái ngại ngùng của ba là chuyện lo giấy tờ để
nộp đơn cho chương trình H.O.. Ba không muốn về Trung làm giấy tờ bởi cái ám
ảnh ghê sợ của những ngày ở tù và bị bắt bớ khi ra tù. Hồi đó tôi không hiểu
những lo âu của ba nhưng bây giờ, khi đã thấm mùi đời, tôi nhận ra những lo âu đó
là đúng.

Rồi cuối cùng gia đình tôi cũng đến được nước Mỹ , chứ không phải xã Mỹ …
xuân lèo tèo ngày xưa. Lúc tôi hai mươi mấy, tôi nghe một người nói đại loại như
thế này. “Từ nhỏ cho tới 10 tuổi, mình thấy ba giỏi quá, cái gì cũng biết. Từ 10
tuổi cho đến 18 tuổi, mình thấy ba không biết gì mấy. Từ 18 – 30 tuổi, mình thấy
ba không biết gì hết trơn. Từ 30 – 40 tuổi, mình thấy ba nói nhiều điều đúng. Hơn
40 tuổi, mình thấy ba là anh hùng.” Ngày đó tôi cười khi nghe những lời đó, nhưng
bây giờ tôi thấy quá chính xác.

Ba tôi năm nay đã ngót nghét 90 tuổi. Ông vẫn mỗi ngày lái xe chở mẹ tôi đi dạo
bờ biển thật đẹp ở Navarre, FL. Những đứa cháu nội ngoại của ba, đa số là sinh ra
ở Mỹ, có đứa nói được tiếng Việt, có đưá lọng ngọng, có đứa không nói được chữ
nào, nhưng chúng đều yêu quý ông nội/ngoại. Thằng cháu nội đích tôn nói tiếng
Việt hơi thiếu dấu nhưng thương ông nội nhất trong đám cháu. Lâu lâu nó xin ba
mẹ nó được qua ngủ với ông nội một đêm. Thằng bé nằm kế bên ông nội, kéo da
tay ông lên và nói, “Ông nội ốm quá! Chỉ có xương và da thôi. Ông nội phải ăn
nhiều lên…” Ba tôi xoa đầu cháu và chảy nước mắt.

Lúc này tôi thấy mình hay lục tìm quá khứ. Đọc những dòng nhật ký viết về ba
những ngày tháng kinh khủng ở Việt nam, đã có lúc tôi tưởng, vì ba mà đời tôi bị
dìm xuống. Tôi cũng như cậu bé Kirk trong vở kịch “The Price of Freedom”, tôi
đã ngờ vực về ba, không phải chỉ trong mấy mươi phút như trong vở kịch mà rất nhiều năm. Không biết tôi có hành xử được như ba hay không nếu tôi bị cô thế, bị bắt phải tù tội, bị bắt bớ khi ra tù, rồi lạc đến một nơi không cùng ngôn ngữ khi tuổi đã về chiều. Bây giờ nhìn thấy ba mẹ tôi sống an bình, tôi ước ngày về hưu tôi cũng được sống như vậy. Bây giờ tôi lại nhìn lên mẫu mực của ba mẹ như tôi đã nhìn ba mẹ trước năm 75 khi tôi còn bé tí. Bây giờ tôi nghiệm ra rằng thử thách đầu đời ấy đã giúp tôi khẳng định niềm tin về ba, tự hào về ba, người tôi đã kính nể lúc nhỏ và cho đến bây giờ.

Viết cho Tháng Tư!
2025
Thuỷ Như

==

TRUYỆN SỎI NGOC

Khóc Cha

Biết bao nhiêu bài viết về Mẹ, công ơn sinh thành, hy sinh của người Mẹ vào ngày lễ Mẹ, nhưng hôm nay là ngày Father’s Day, ngày của CHA, tôi phải lợi dụng ngày này để viết lên công trạng của cha không kém gì MẸ, ngược lại vai trò người cha trong gia đình tôi là điểm đặc biệt quan trọng mà những chị em gái chúng tôi không thể nào quên.

Người cha ngoài công lao dưỡng dục, mặc dù không là người trực tiếp mang nặng đẻ đau như người mẹ, nhưng người cha đổ rất nhiều công lao như đi làm kiếm tiền trang trải cuộc sống, gánh vác cả gia đình; cuộc sống có tốt đẹp, ấm no, con cái có học hành, phẩm hạnh đạo đức không, chính nhờ phần lớn mồ hôi, công sức nuôi dậy của người CHA.

Tôi là đứa con trai giữa trong gia đình năm chị em, ba gái đầu liên tiếp và hai trai sau, mà tôi là người anh đầu. Lẽ ra ba chỉ muốn có hai người con, một trai và một gái thôi, hoặc ba người là nhiều rồi, vì ba bảo có nhiều con vui thật nhưng trách nhiệm nặng nề, phải nuôi con đến nơi đến chốn, cho ăn học và đến khi chúng lập gia đình mình cũng còn phải lo!

Mỗi lần mẹ mang bầu là mỗi lần ba đặt nhiều hy vọng, mong một thằng cu! Ba hay kể với bác Tư, bạn thân của gia đình là ba cảm thấy rất phấn khích, khỏe mạnh khi “gần” mẹ, chắc chắn kỳ này phải là đứa con trai. Thế nhưng kết quả là… người chị cả ra đời!

Ba tự an ủi, nói với ông bà Nội rằng:

-Không sao, đứa đầu lòng là gái hay trai cũng được, là con gái thì sau này nó dậy dỗ trông nom em càng tốt hơn nữa, nhất là chỉ bảo em trai thì tốt đẹp biết bao.

Hai năm sau, mẹ mang bầu, ba đặt tất cả kỳ vọng vào cái bầu tròn căng vượt mặt của mẹ. Thuở ấy chưa có siêu âm ở những vùng tỉnh nhỏ, nên chỉ nhìn dáng bụng thì suy đoán là trai hay gái mà thôi; ông bà nội với nhiều kinh nghiệm, ngắm cái bầu của mẹ khi lên Dalat thăm gia đình nhỏ của chúng tôi:

-Nhìn cái bầu tròn như thế thì 80% là con gái rồi!

Ba cố chống đối:

-Nhưng sao kỳ này mẹ chúng nó lại thích ăn ngọt chứ không thích ăn chua như lần mang bầu đầu tiên, có thể nào là con …trai?

Đứa con gái thứ hai ra đời, ba có hơi thất vọng.

Đến ba năm sau, ba lại nhất định “thua keo này ta bầy keo khác”, không chịu thua số phận, hy vọng tăng trội hơn khi thấy khuôn bụng của mẹ nhỏ gọn hơn hai lần trước.

Ngày mẹ đi sanh chỉ có ông bà ngoại bên cạnh vì ba phải đi làm xa, ở Liên Khương, ba phone về thấp thỏm hỏi ông bà ngoại:

-Vợ con sanh có tốt không bố? Baby sinh ra có khỏe không? và có phải là con… trai?

Ông ngoại ái ngại, không dám trả lời liền, ngần ngừ:

-…Ưm… nhờ Trời thương mẹ tròn con vuông!… Con bé khỏe mạnh!

Ba thốt lên một cách thất vọng:

– …Lại là con gái ư?!

Một khoảng thời gian yên lặng, rồi ba nói tiếp :

-Con nhờ ông ngoại đặt tên cháu nhé.

-…Ừ được rồi, nhưng con bé này rất kháu khỉnh, có cặp mắt tròn to, da trắng và rất nhiều tóc!

-Vâng! Ông cứ đặt tên cho cháu đi nhé, con cám ơn ông bà Ngoại giúp con nuôi vợ con và các cháu nhé; con phải làm đến hết tuần này mới về nhà được ạ.

-Được rồi, con cứ an tâm đi.

Chỉ nói thế thôi, ba cúp phone tiếp tục làm việc.

Ông Ngoại trầm ngâm suy nghĩ, biết ba đã « ngán » con gái lắm rồi, nếu mẹ cứ tiếp tục cái đà này thì chắc ba ở luôn trên Liên Khương làm việc!

Ba chị gái đầu ra đời làm ba tôi chán quá, đổi nhà về Saigon làm việc để có thể thay đổi không khí, thay đổi sinh hoạt, biết đâu….

Lần thứ tư mang bầu, mẹ tôi chẳng thèm kiêng cữ gì như ba lần trước, bà ăn uống xả láng vì cảm thấy lúc nào cũng đói, nhất là rất thích ăn kem, ăn đồ lạnh.

Ngày mẹ đau bụng, mới đến nhà thương, chưa kịp vào phòng sanh, đứa trẻ đã muốn lọt ra ngoài, họ vội vàng đẩy mẹ vào phòng ngay; ba đứng bên ngoài chờ cho mọi chuyện êm thắm một chút, định bỏ về đi làm thì nghe tiếng khóc thé của tôi vọng ra; ba đã biết đó là thằng con trai!

Ba đã mừng đến rơi nước mắt và đã chắp tay cảm ơn Trời Phật ngay tại trước phòng sanh của mẹ!

Tôi được cưng chiều đến nỗi chỉ một tiếng khóc nhỏ cũng được chị vú ẵm bồng, dỗ dành.

Mỗi buổi chiều đi làm về, ba đều vào thăm thằng cu Thơm, vì hồi bé tôi thơm mùi sữa, mùi phấn lắm nên được đặt tên ở nhà là cu Thơm, ba mua đồ chơi, hôn hít, bồng bế tôi. Tôi đem niềm may mắn đến cho gia đình, ba được thăng chức, được chính phủ cấp cho nhà rộng to, rất đẹp.

Dù ba cưng chiều tôi nhất nhà, nhưng ba chị của tôi cũng được ba chăm sóc, lo lắng cho từng người. Tôi nhớ chị lớn nhất của tôi đến tuổi có bạn trai, mỗi lần anh ấy đến, ba đều hỏi gia cảnh nhà anh ấy tưởng chừng như cảnh sát hỏi cung phạm nhân vậy, đến nỗi anh ấy không dám vào nhà nữa mà hẹn chị ở góc đường, ba nói :

-Đứa nào có can đảm đối đầu được với ba thì mới xứng đáng làm con rể của ba!

Mỗi lần tôi bị bệnh thì khỏi nói rồi, ba thức đêm lo cho tôi uống thuốc đúng giờ thay vì là mẹ, ba cẩn thận đến nỗi sợ mẹ mệt ngủ quên nên ba để đồng hồ báo thức dậy đúng giờ đó, và tự tay cho tôi uống thuốc.

Sau tôi, em trai ra đời, ba rất vui mừng và ngưng tại đây.

***

Những ngày vui hạnh phúc chưa được bao nhiêu thì miền Nam bị nhuộm đỏ, công việc dưới chính quyền cũ không còn nữa, ba phải cơ cực làm những công việc chẳng phải là chuyên môn của mình, hy sinh tất cả cho các con từ hạt cơm bo bo đến miếng thịt heo cả tháng mới mua được một lần ở hợp tác xã.

Sau đó là những lần vượt biên không thành, ba bán dần dần những đồ đạc trong nhà, ba ít nói hơn, mái tóc bất ngờ chuyển màu trắng toát chỉ qua vài đêm, ngồi yên nhìn vào khoảng trống như suy tính mọi cách làm sao cho con cái thoát thân trước, rồi ba mẹ mới là người cuối cùng.

May mắn làm sao đúng vào lúc gia đình cạn kiệt nguồn vốn để dành bao lâu nay, giấy tờ bảo lãnh của người thân bên Canada về đúng lúc, chúng tôi sửa soạn rời xa quê hương, nơi chôn nhau cắt rốn đến một xứ sở thứ hai với hai bàn tay trắng, tương lai mịt mờ, chỉ còn mỗi niềm hy vọng mong manh trong tim.

***

Ba mươi năm sống ở xứ Canada lạnh giá, 15 năm đầu ở Montreal, ba đã bỏ cả tự ái, quên đi cái chức giám đốc nha hỏa xa, xưa kia ở Saigon, một thời cai quản hơn cả mấy chục nhân viên dưới quyền, ba đã phải làm công nhân với mức lương 4$/ giờ trong hãng làm giầy da, sáng sớm dậy chờ bus lạnh lẽo ở đầu đường, làm cho đến chiều 5 :00 về nhà mệt nhoài. Với số tuổi không còn trẻ, 55, Ba cố gắng quên mình, bỏ tự ái để đi làm công việc tay chân với một mức lương tối thiểu mà không hề than trách, để cho chị em chúng tôi đừng bị dang dở việc học.

Vài ba năm sau, năm 1990 dù lớn tuổi, ba vẫn lấy thêm chứng chỉ học ban đêm, mỗi tối cả nhà chúng tôi đều yên lặng, ai nấy đều gục đầu vào quyển sách, chỉ nghe tiếng trang sách lật; ba thi vào một chức vụ hành chính về quyền con người của cấp thành phố Montreal, tỉnh Quebec nơi chúng tôi đang cư ngụ, chức vụ này có đến trên 10 người thi vào, chỉ một mình ba là người Việt tỵ nạn đến Quebec được ba năm rưỡi, còn những kia toàn là dân bản xứ, họ thi lên ngạch, làm lâu năm và có kinh nghiệm cả chục năm trong guồng máy hành chính này. Ba nói với chúng tôi :

-Cứ thử sức xem sao, không mất mát gì cả, nếu đậu thì cả nhà chúng ta sẽ được thay đổi đời sống, mâm cơm sẽ khác hơn, sẽ có xe đi và chỗ ở tốt hơn; nếu không được thì mình cũng học cho có thêm sự hiểu biết về luật pháp của Canada, không có gì mất công hết!

Chúng tôi rất cảm động vì thấy tuổi ba đã lớn, trên 55 mới bắt đầu học lại, ba không muốn cho mẹ phải đi làm, không muốn thấy chúng tôi phải bỏ học ngang để đi làm kiếm tiền, ba lúc nào cũng tự cho mình phải mang trách nhiệm này đối với gia đình.

Nhiều đêm thấy ba đọc sách mà quyển sách đã tự rơi xuống đất vì buồn ngủ và mệt quá, ban ngày đi làm từ sáng sớm, tối thức khuya đến 12 :00 đêm làm sao sức nào chịu nổi, tôi thương ba vô cùng, tự hứa với lòng sẽ ráng học ra trường kỹ sư để ba hài lòng.

Rồi một ngày, ba về nhà mang trên tay bao nhiêu giỏ xách, ba hớn hở nói như reo, lần đầu tiên tôi thấy ba vui như thế :

-Mẹ chúng nó này! Tôi đã… thắng rồi nhé, tôi được chọn vào làm văn phòng của chính  phủ rồi, thứ hai tới này tôi đi làm công sở mới!

Lúc ấy ở nhà chỉ còn hai anh em trai chúng tôi thôi, ba chị lớn đã lần lượt đi lấy chồng sau khi ba mẹ tôi sang được một năm, tôi và em trai đã chạy ra ôm lấy ba, chúc mừng :

-Ba giỏi quá! Chúng con phải noi theo gương ba!… Hôm ba đi thi có đông người phỏng vấn ba không?

-Cả một phái đoàn 6 người, mỗi người hỏi một vấn đề, người thì hỏi về luật lệ Canada, kẻ thì đưa ra những tình huống xem mình giải quyết thế nào, còn người thì hỏi về học vấn và công việc trong quá khứ của mình ra sao…rất stress lắm, mỗi thí sinh phải qua cả tiếng đồng hồ với họ đấy chứ không dễ ăn đâu!

-Chúng con rất hãnh diện về ba, ba giỏi quá, ba làm gương cho chúng con noi theo đó!

-Vậy mấy người kia thì sao hả ba? Họ trả lời không được hay sao?

-Họ không đủ kinh nghiệm sống và có người chưa làm qua chức vụ đó thì làm sao trả lời được, còn ba thì đã làm mấy năm giám đốc hỏa xa, lại đi tu nghiệp ở Mỹ, Pháp về thành ra đối với ba không là vấn đề gì to tát, chỉ có cái mình nói chuyện bằng ngôn ngữ của họ không nhanh bằng họ thôi, mình viết giỏi, nhưng nói thì chưa lưu loát lắm.

-Bõ công ba học hành từ cả mấy tháng nay! Đây là món quà thật xứng đáng của ba!

-Cái gì cũng phải nỗ lực để đạt được, các con nhớ nhé, muốn gì phải đạt được bằng tất cả khả năng của mình, đừng từ bỏ, hãy theo đuổi mộng ước của mình đến cùng vì mình chỉ khổ vài năm thôi mà được hưởng cả đời.

Mẹ tôi chen vào:

-Ba nó mua nhiều thịt heo, thịt vịt quay quá, hôm nay tha hồ mà ba bố con nhậu với nhau!

***

Ba làm cho công sở cấp thành phố, tiểu bang Quebec này được 10 năm, đúng 65 ba về hưu, mọi người trong sở ai cũng quý mến ba, ba được thưởng bonus và được tiền hưu cao. Lúc ấy tôi và em trai đã tìm được một công việc khá ở Toronto về kỹ sư điện tử đã được trên sáu năm và cũng đã lập gia đình; ba mẹ muốn về gần con trai và các cháu nhỏ, nên đã từ giã Montreal, không muốn ở chung với các con, mà muốn ở riêng và thỉnh thoảng chúng tôi đến thăm.

Mẹ mất khi 70 tuổi, sự ra đi nhanh chóng của mẹ làm cuộc sống của ba bị mất thăng bằng, ba không còn thấy vui sống nữa, nhưng vẫn cố gắng giữ nụ cười khi gặp con cháu. Ba cố gắng tự mình di chuyển bằng xe đạp, bằng phương tiện giao thông công cộng như bus hay metro để đừng phiền đến ai, ba cũng tự học làm cơm mà từ trước đến nay ba chẳng bao giờ đụng đến bếp núc mà chỉ lo kiếm tiền cho gia đình mà thôi, ba ăn uống qua loa…Vì thế nên ba ngày càng gầy đi, mỗi lần gặp chúng tôi ba đều cố vui để chúng tôi đừng lo lắng, đừng mất công làm cơm đem đến cho ba:

-Ba khỏe mạnh lắm, không bệnh hoạn gì hết, các con cứ lo đi làm, lo cho các cháu là được rồi, đừng mất công đem gì đến cho ba, ba đặt đồ ăn ở gần đây, họ làm ngon lắm.

Đến một ngày, tôi nhận được phone của ba từ nhà thương, ba cố nói với giọng vui vẻ:

-Ba đã xin được một chỗ ở đây rất tốt, phải chờ đợi lâu lắm mới được chỗ này đó, họ làm cơm cho mình ngày ba bữa, nơi đây vừa gần chỗ các con ở, vừa gần …nhà quàn…

-Ba! Cái gì vậy? Tại sao ba lại vào nhà thương ở? Chỗ đó đâu phải….Sao ba không bàn gì với chúng con? Cancer phổi của ba các bác sĩ nói vẫn được theo dõi ok mà? Ba có bị đau đớn không? Ba có buồn giận gì chúng con không?

-Không đâu, chính ba là người quyết định, các con không có lỗi gì ở đây cả! đời người cũng phải có cái hạn mà con, ba đã sống hết đời rồi; từ ngày mẹ con qua đời đến giờ ba sống thật bấp bênh, thấy thiếu thốn một cái gì đó, cuộc sống không còn vui, không còn chất lượng nữa… Ba muốn…đi gặp Mẹ! Tuy nhiên, ba rất vui thấy các con đã thành công, tự lực, nuôi nấng và giáo dục các cháu rất tốt, đó là điều mà ba thấy hạnh phúc nhất. Ba thấy mình đã thực hiện được ước mơ, trách nhiệm đã xong, sống lâu quá chỉ làm phiền các con cháu mà thôi, ba chọn cách ra đi nhẹ nhàng nên mới vào nhà thương này….

Ba phone đến các chị lớn để “trăn trối”, dặn các chị phải làm gì sau khi ba ra đi, ba muốn được thiêu, tro của ba hãy để vào chùa, chỗ bên cạnh mẹ mà ba mẹ đã chọn mua, ba để lại gia tài cho đứa nào cái gì…

Chúng tôi chỉ yên lặng nghe quyết định của ba mà trái tim tan nát, nước mắt rơi không ngừng, không nói được điều gì khi thấy ba đã suy nghĩ, đã sắp xếp cho chuyến đi xa của ba được toàn vẹn. Các chị tôi lúc nào cũng túc trực bên cạnh nhà thương; khi vào thăm ba, thấy ba còn mạnh khỏe, vẫn tự mình làm vệ sinh cá nhân, ăn uống ngon miệng đồ ăn của nhà thương, nơi đây là chỗ để cho những người bệnh già ở, không bị bệnh nặng lắm, có những người ở đây đến hai năm vẫn chưa ra đi.

Chúng tôi nhắc lại những kỷ niệm xưa với ba, nói những chuyện vui để ba có thể quên đi cái thực trạng bệnh hoạn, ba chỉ cười mỉm và lúc nào cũng nhắc nhở chúng tôi:

-Nhớ trông nom các em, các cháu cho tốt nhé, ba ra đi sẽ phò hộ cho các con!

-Ba ơi, ba hãy đi đầu thai, hãy làm việc của ba, đừng vì chúng con nữa ba nhé, ba đã cho chúng con một đời này là được rồi ạ!

Đến tháng thứ hai ở nhà thương, lúc 3:00 sáng, tôi nhận được cái phone định mệnh reng lên giữa đêm, họ nói ba đã từ chối ăn uống, cũng như uống thuốc từ hai hôm nay, để được thảnh thơi ra đi…Ba tôi hưởng thọ 86 tuổi!

Cha đi, bóng xế bên thềm,
Lá rơi theo gió, nỗi niềm rụng theo.
Lặng thầm lệ ướt khăn treo,
Con ngồi thổn thức giữa chiều buốt tim.

Một đời cha gánh nổi chìm,
Cho con nắng ấm, cho tim yên bình.
Giờ đây trời đất lặng thinh,
Cha ơi… tiếng gọi chỉ mình con nghe.

Sỏi Ngọc

Montreal June’25

==

==

*

THUYỀN RA KHƠI … TUYẾT PHAN

   Hôm nay nhân Mùa Thế Giới Lễ Cha
Tôi viết bài tự tình này cùng vẽ bức tranh THUYỀN RA KHƠI để tưởng nhớ về CHA của tôi .

Năm 1975, khi MNVNCH rơi vào tay cộng nô , Cha của Tôi ông rất đau buồn
Cha thương nhớ các con bị tù đày và mất xác trong chiến tranh .
Ngày đêm cha đau khổ trầm ngâm .
Bỗng một hôm Cha đóng cửa phòng và ở mất trong phòng hết mấy hôm
Cha chỉ ra ăn cơm và trở vào phòng không nói gì cả .
Sau đó Cha khăn áo ra phố và rồi trở về với nhiều thứ lỉnh kỉnh trên tay.
Nào là những tấm thiếc mỏng , những lon sơn đỏ vàng và nhiều thứ nữa .
Sau đó Cha bắt tay vào việc ,
Cha đưa cho Tôi bản vẽ và nhờ Tôi vẽ lên những tấm thiếc mỏng .
Tôi ngỡ ngàng khi thấy mẫu Thuyền mà Cha đã nhốt mình mấy ngày trong phòng âm thầm vẽ …
Hai Cha con yên lặng bên nhau làm việc.
Hì hà hì hục sơn sơn vẽ vẽ…hàn giủa cả tháng trời mới làm xong một số thuyền nhỏ chạy bằng dầu.
Lúc Cha hàn, Cha cắt, Cha ghép từng mảnh thép thành những chiếc thuyền
Cha nói xa xăm , Cha nói bóng gió.
Cha như truyền hết tâm huyết của mình vào những cánh buồm nho nhỏ…
Cha tâm sự với con gái mà như nói với chính Cha trong suốt thời gian thực hiện tâm huyết của mình.
Sau khi những chiếc thuyền nhỏ chạy bằng dầu đã hoàn thành
Cha cùng con gái mang ra phố rao bán THUYỀN


Hai Cha con trải một tấm khăn màu xanh (mà Cha ám chỉ là Đại Dương) sắp xếp những chiếc thuyền sơn màu vàng và có những vạch thẳng màu đỏ hai bên hông thuyền .
Mới thoạt nhìn không ai để ý thì sẽ không biết đó là biểu tượng của Cờ Vàng 3 Sọc Đỏ mà Cha Tôi đã khéo léo gởi gắm tâm nguyện của mình.
Cha để một chậu nước cùng vài ba chiếc thuyền nổ phành phạch chạy vòng vòng.
Hai Cha con tôi cùng phụ họa rao bán:
THUYỀN RA KHƠI ĐÂY VÀNG VÀNG ĐỎ ĐỎ MUA VỀ CHO CON TRẺ RA KHƠI CHO VUI CỬA VUI NHÀ …


(viết đến đây nước mắt của tôi đã ràn rụa )
Ý Cha tôi muốn NHẮN GỞI VỚI THẾ HỆ HẬU DUỆ HÃY RA KHƠI VƯỢT BIỂN TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC.


Lúc đó tôi đã hiểu được tâm huyết của Cha nên cũng chẵng còn mắc cỡ  gì cả (dầu gì đi nữa khi chưa mất nước Tôi cũng là một tiểu thư )
Tôi cùng Cha rao bán với một giọng rao hàng rất tự hào.
Sau đó bạn bè của Cha tôi có đến nhà và thân tình hỏi nếu Cha tôi cần tiền họ sẽ giúp chứ tại sao ra chợ rao bán từng chiếc thuyền con làm khổ thân như thế.(Tôi biết Cha tôi không thiếu tiền …)
Tôi nhớ có ông Bác Sĩ TênTrần văn Cát là bạn rất thân với Cha đã thì thầm to nhỏ với Cha hàng giờ trong phòng.
Trước khi ra về ông còn căn dặn Cha tôi:
*Hòa ơi, nếu có cần gì hãy đến gặp tôi .( Hòa tên Cha tôi)
Sau đó Cha tôi ngã bịnh.


Một vài năm sau khi tất cả các anh tôi chưa ra khỏi tù đày của bọn cộng sản và xác thân của một người anh ruột và một người anh rể chưa tìm ra thì Cha tôi đã bỏ lại Me Con tôi ra đi sau hai cơn nhồi máu cơ tim .
Lúc đó tôi đang ở xứ người xa xăm hay tin Cha mất tâm can tôi tan nát như có ngàn kim châm
Hiện giờ tôi đang có chung căn bệnh Tim với Cha.


Mỗi lần cơn đau tim rủ nhau về Tôi thấy như gần gũi bên Cha của mình hơn …


Một ngày cuối Xuân ở quê người  nhớ CHA

 Belgique tháng 6 – 2015

Tuyết Phan

==

==

=

Năm ấy chị Vân từ Mỹ gọi điện thoại cho tôi:

–        Loan ơi, còn nhớ anh “Hùng Từ” không?

–         Nhớ chứ, anh Hùng Từ… lừ đừ như ông Từ vào đền chứ gì. Chính nhóm tụi em đặt tên “Hùng Từ” cho anh ấy mà. Ủa, sao bỗng dưng chị lại nhắc đến anh Hùng? Lúc em lên đường đi Canada, chưa kịp viết thư về trại thì vài tuần sau anh ấy cũng đi Mỹ, nên mất liên lạc luôn từ đó.

–          Chị và anh Hùng ở cùng tiểu bang Florida mà hồi nào giờ có biết đâu. Tuần trước chị tình cờ gặp một người bạn trại tị nạn Thailand, được biết anh Hùng đang buồn lắm, trầm cảm sắp… tâm thần rồi kìa.

Tôi hốt hoảng:

–        Trời ơi, chuyện gì vậy? Bao lâu nay mới nghe tin anh Hùng lại là tin không vui.

–          Bé Ngân con gái anh bị chết đuối khi đi tắm biển. Anh tự trách tự giày vò, vì cái chết của con ngay trước mắt mà không cứu được nó và vì anh mang con đi tắm biển mới ra nông nỗi. Bạn bè thân quen đã an ủi khuyên nhủ mà anh vẫn sầu u không nguôi và rồi anh cắt liên lạc, tự cô lập, không tiếp chuyện với ai. Chị cố gọi mấy lần anh vẫn không bắt máy dù đã để lại lời nhắn là bạn chung phòng Cao Ủy Thailand với anh.

Chị Vân thúc giục tôi:

–        Loan gọi anh ấy đi, hồi đó Loan và anh Hùng thân nhau, Loan còn là “đồng minh” giúp anh ấy mà, chị tin là anh Hùng sẽ tiếp chuyện và nghe lời khuyên của Loan.

……………………………………………………..

Anh Hùng mà chúng tôi gọi anh là “Hùng Từ” vì anh hiền hòa như ông Từ trông đền, sống ở trại anh thân thiện với mọi người xung quanh, chẳng kiêu căng dù anh là thông dịch viên giỏi nhất nhì phòng Cao Ủy, cũng chẳng xích mích với ai, nên được nhiều người quý mến.

Anh vượt biên đến Thailand cùng đứa con gái 6 tuổi, để lại vợ và đứa con trai ở quê nhà.  Bé Ngân thông minh lanh lợi luôn quấn quýt bố. Ngân lớn thêm 3 tuổi nữa theo thời gian ở trại vì đợi chờ thanh lọc. Tôi thân với cả hai bố con, vì ở phòng Cao Ủy tôi và anh Hùng là đồng nghiệp, ở trường Việt Ngữ tôi là cô giáo của bé Ngân, và tôi ở chung nhà với 3 cô bạn gái là thành viên ca đoàn Nhà Thờ, phụ trách các em Thiếu Nhi Thánh Thể mà bé Ngân cũng là một bé ngoan của Thiếu Nhi Thánh Thể.

Rồi bỗng một ngày, anh Hùng có… người yêu, là chị Hương y tá bệnh viện trại. Anh Hùng tâm sự với tôi, em biết rồi đấy, chuyện tình yêu khó nói lắm, cả anh chị đều có gia đình ở Việt Nam, cuộc tình này là sai trái, nhưng lý trí phải chịu thua lý lẽ của con tim rung động, dù biết trước không lối thoát, không có đoạn kết trọn vẹn.

Cuộc tình này đã bị bé Ngân phản đối quyết liệt. Anh Hùng mỗi sáng đi làm, gặp tôi rầu rĩ:

–        Hễ mỗi lần Hương đến chơi nhà, là bé Ngân sưng sỉa ra mặt, hỏi gì cũng chẳng trả lời, cứ kè kè kế bên anh, ôm cổ ôm vai anh trước mặt Hương, tụi anh có nói chuyện được gì đâu.

Có lần anh đưa tôi lá thư:

–        Chút xong việc, em chuyển thư này cho Hương giùm anh nhe!

–        Trời, trại tỵ nạn bé tí, có ngăn sông cách núi gì đâu, mà phải thư với từ?

–        Em không biết đấy thôi, bé Ngân không cho anh một phút rảnh rỗi một mình, lúc sáng nó đi học Việt Ngữ lớp em dạy thì anh cũng đến mở cửa văn phòng sớm, trưa anh về lo cơm nước hai bố con, rồi lại đi làm, chiều về ăn cơm xong, hai bố con đi lễ, cứ thế nó bám anh cả ngày lẫn đêm. Chưa hết, từ ngày anh quen Hương, thỉnh thoảng nó chạy qua văn phòng để… chơi với bố mà thực ra là để canh chừng, nếu không thấy bố trong phòng Cao Ủy là về nhà nói hạch hỏi đủ điều …

–        Vụ này căng quá anh nhỉ! À, em có tin vui nè, Cha mới thông báo thành lập phong trào Thiếu Nhi Thánh Thể, mỗi tuần hai lần, sau giờ Lễ, các em ở lại sinh hoạt một tiếng, anh đưa Ngân đến ghi danh nhe, coi như anh có hai lần trong tuần tự do hẹn hò.

Nói xong, tôi thấy mình thật vô duyên, đã ngầm “vẽ đường cho hươu chạy”, ủng hộ mối quan hệ sai trái này, mà thực tình là tôi chỉ nghĩ đến bé Ngân, muốn cho Ngân có dịp vui chơi với các bạn . Cũng có lúc tôi từng nghĩ đến việc góp ý khuyên anh Hùng dừng chuyện “con tim”, nhưng tôi có tư cách gì? Anh lớn tuổi hơn tôi cả hơn một con giáp, khi Sài Gòn sụp đổ năm 75 anh cũng mới ra trường Quốc Gia Hành Chánh, tài giỏi khôn ngoan như thế, đâu cần tôi khuyên với bảo.

Dù sao Ngân cũng chỉ là đứa bé 9 tuổi, ham vui, nên mau chóng gật đầu tham gia nhóm Thiếu Nhi Thánh Thể của Nhà Thờ, nhưng đến ngày sinh hoạt là nó dặn, bố không được đi đâu đấy nhé, con mà biết bố đi gặp cô Hương là con giận bố luôn đấy.

Được vài tuần, anh Hùng lại than thở:

–        Mệt quá Loan ơi, những lần hẹn hò chỉ được một tiếng, đi dạo, vào quán cafe là đã gần hết giờ, anh lại sợ bé Ngân kiểm tra đột xuất nên anh luôn về nhà sớm 15 phút, thật đúng là “vội vàng thay những phút yêu người”, thì Hương lại giận hờn, bảo anh sợ con hơn là yêu cô ấy, rồi có hôm Hương không thèm ra chỗ hẹn, anh ở giữa hai bên, khổ thiệt.

Tôi được dịp cười chọc quê anh:

–        Thì tự anh đâm đầu vào “thú đau thương” thì ráng mà chịu, có ai ép uổng gì đâu nà!

Rồi một ngày, anh Hùng qua bàn làm việc của tôi, thỏ thẻ:

–        Loan à, ngày mai cuối tuần, anh được mời đi dự tiệc tiễn người bạn chuyển trại đi định cư, Hương cũng được mời, anh sợ bé Ngân đòi đi theo, nên anh nhờ Loan cầm số tiền này, chiều mai hai cô cháu đi ăn hủ tíu, đi chơi vòng vòng trong trại để anh thoải mái đi tiệc, sau đó sẽ đi chơi riêng với Hương, tổng cộng khoảng …ba tiếng, được không em?

Tôi trố mắt nhìn, anh vội giải thích:

–        Anh biết Ngân thương và nể em lắm, anh muốn em lựa lời nói chuyện với nó, cho nó bớt… căng thẳng, bớt ngăn cấm bố.

–        Trời đất! Anh sai rành rành mà biểu em nói gì với Ngân, hơn nữa, anh đang đưa em vào tội “đồng lõa” đấy!

–        Anh năn nỉ em đó Loan, anh hứa chỉ một lần này thôi, vì Hương sắp có kết quả thanh lọc rồi.

Cuối cùng, anh Hùng và tôi cũng tìm được lý do để anh được đi tiệc một mình, và tôi dẫn bé Ngân đi ăn hủ tíu. Trong lúc ngồi ăn, trời tối gió mát rượi, tôi thấy Ngân vui nên hỏi nó nghĩ sao về chuyện bố quen cô Hương, nó nói:

–        Con thương bố, con thương mẹ, không muốn mẹ buồn.

Tôi bào chữa:

–        Ở trại, đôi khi có những tình cảm đồng nghiệp thân thiết, rủ nhau đi uống cafe, đến nhà nhau ăn cơm là chuyện bình thường.

–        Nhưng nếu bố đi với nhiều người thì không sao, mà đi riêng với cô Hương thì con không chịu.

Ăn xong hủ tíu, tôi ráng “câu giờ” ngồi lại, kêu thêm hai ly chè đậu xanh, hai cô cháu nhâm nhi chè, ngắm thiên hạ đi qua đi lại, vẫn chưa đủ ba tiếng như giao hẹn với anh Hùng. Tôi đưa bé Ngân đi dạo vòng quanh trại để… tập thể dục, nó than mỏi chân, tôi rủ nó về nhà, nơi tôi ở với mấy cô bạn thân đi chung chuyến tàu vượt biên. Nhóm bạn này chẳng lạ gì bé Ngân vì họ là các “Trưởng” trong Đoàn Thiếu Nhi Thánh Thể. Vì đã được tôi báo trước sự tình nên họ rủ thêm vài em nhỏ khác, tôi mua một ít bánh kẹo, chúng tôi bày ra trò chơi ca hát, đố vui đủ kiểu, khiến Ngân thích thú, quên cả chuyện canh chừng bố.

Anh Hùng đã nói đúng, sau đó ít lâu, Hương nhận kết quả rớt thanh lọc, rồi đăng ký hồi hương, chị ấy không muốn tái thanh lọc, kéo dài thời gian vô ích ở trại. Buổi sáng tiễn đoàn xe hồi hương ra phi trường Bangkok xong, tôi và anh Hùng đi dạo ngoài bãi đá, tôi nói:

–        Thôi duyên phận anh và chị Hương đến đây là hết, cũng như nhiều cuộc tình nơi trại tạm dung này, coi như là kỷ niệm “người đi qua đời tôi!”.

Anh Hùng cười buồn:

–        Tụi anh đã biết trước ngày này, nhưng vẫn thấy buồn và thật buồn.

Tôi phá tan bầu khí nặng nề:

–        Từ nay bé Ngân yên tâm rồi nhé.

Anh thú tội:

–        Anh chưa kể em nghe, tuần trước Hương bị cảm, anh không biết tìm cách nào đến thăm Hương, chả lẽ lại nhờ vả em nữa, nên anh chờ buổi tối Ngân ngủ say, anh lén chạy qua nhà Hương, ai dè lúc gần sáng quay về không thấy Ngân trong mùng, thì ra nó tỉnh giấc không thấy anh nên chạy đi tìm. Nó khóc quá chừng, từ đó đến nay tối nào ngủ cũng ôm bố thật chặt.

–        Anh hư thật đấy!

–        Sáng nay anh nói với nó, chút bố tiễn cô Hương về Việt Nam, con không cần ôm bố ngủ nữa nha, em biết nó nói sao không?

–        Sao hả anh?

–        Nó ngúng nguẩy bảo, con vẫn cứ ôm bố ngủ, vì sợ bố lại có… cô khác, con chỉ muốn bố là của con thôi.

–        Ôi dào cái con bé này, cứ làm như bố nó là vàng bạc châu báu không bằng á!

Vậy đó, bao nhiêu kỷ ức với anh Hùng và bé Ngân lần lượt quay về làm tay tôi run run khi cầm tờ giấy ghi số phone anh Hùng mà chị Vân vừa đọc cho tôi. Tôi bấm số, tim đập nhanh vì hồi hộp, bởi chị Vân nói, Ngân mới mất một hai tháng, anh ấy vẫn còn đớn đau day dứt, không tiếp chuyện bất cứ ai nhất là những người chung trại tị nạn cũ . Bỗng có tiếng “A lô, ai đó?” làm tôi giật mình:

–        Anh Hùng ơi, Loan đây, Loan Bưu Điện Loan Cao Ủy ở trại đây!

–        Ồ…Loan! Có gì không em?

Tôi nói nhanh:

–        Anh ơi, đừng cúp phone em nhé, em biết hết rồi, em đau lòng và thương Ngân lắm, nên muốn chia sẻ nỗi đau này cùng anh …

Anh vẫn im lặng, tôi vội nói tiếp:

–        Mong anh đừng quá đau khổ, cầu xin Chúa thương linh hồn bé Ngân, và thời gian sẽ chữa lành vết thương lòng của anh.

Anh bất ngờ bật khóc:

–        Loan ơi, anh đã giết con anh!

–        Sao anh lại nói thế?

–        Bố con anh vừa bảo lãnh vợ và con trai anh qua một thời gian, anh sắp xếp chuyến đi biển cho cả nhà, đến gần ngày đi, Ngân bảo bận chút việc học muốn dời ngày khác, nhưng anh bảo bố đã chuẩn bị hết rồi, đã xin nghỉ phép mấy ngày, thế là Ngân vâng lời đi theo. Có ngờ đâu, Ngân đang tắm biển bị sóng đánh ra xa, đưa tay cầu cứu anh nhưng đã không kịp, anh đã giết con anh rồi Loan ơi!!

Tôi chỉ biết im lặng, thổn thức cùng anh, anh vẫn khóc:

–        Ngân không những là con gái, mà còn là người bạn, nó hiểu anh nhiều lắm. Chúa đã trừng phạt anh phải không em, vì tội lỗi của anh ở trại, nên Chúa lấy đi đứa con yêu quý của anh.

–        Chuyện đã lỡ rồi, chẳng ai có tội lỗi gì cả, số phận đã thế, anh đừng tự dằn vặt mình nữa.

Anh còn nói thêm vài câu buồn bã, rồi bảo tôi từ nay đừng gọi, anh sẽ đổi số phone, tôi cố vớt vát:

–        Anh Hùng, xin anh đừng nghĩ quẩn và em tin rằng anh sẽ vượt qua nỗi đau này.

………………………………………………………………………………………………

Thế rồi một hôm, sau mười lăm năm kể từ lần gọi phone ấy, tôi bỗng nhận được một cú phone lạ, lẽ ra tôi đã không trả lời vì ngại gặp quảng cáo hoặc bẫy lừa tiền, nhưng như có điều gì thúc đẩy, tôi đã nghe phone:

–        Có phải Loan không, anh Hùng Từ đây!

Tôi vui sướng reo lên:

–        Anh Hùng Từ! Anh Hùng Từ… Sao bây giờ anh mới gọi cho em?

–        Anh tìm kiếm số phone của em mãi mới được đấy, đừng giận anh nhe!

Thế là, anh vẫn là anh Hùng Từ của ngày xưa, giọng nói từ tốn ấm áp, kể cho tôi nghe về khoảng thời gian đã qua. Anh vật lộn, chữa bệnh trầm cảm suốt 6 năm trời, bên cạnh bác sĩ tâm lý, uống thuốc theo toa, là sự chăm sóc đầy kiên nhẫn yêu thương của vợ hiền và con trai, cũng như sự khuyến khích từ các đồng nghiệp thân thiết nơi công ty anh làm việc. Có khi, nhớ lại lỗi lầm ở trại tị nạn, anh muốn tâm sự với vợ, nhưng nghĩ đến bé Ngân, anh lại thôi.

Khi hai bố con qua Mỹ định cư, bé Ngân vừa đi học vừa phụ giúp anh chuyện cơm nước, nhà cửa để anh yên tâm đi làm, hai bố con gắn bó như hai người bạn. Khi vợ và con trai đến Mỹ đoàn tụ là lúc bé Ngân ở tuổi 15, con rất khéo léo, không bao giờ nhắc lại chuyện ở trại, luôn chuyển qua đề tài khác, để anh đỡ áy náy bối rối trước mặt vợ. Dù anh không dặn dò, bé Ngân vẫn không kể tội của anh cho vợ anh biết. Những lúc có riêng hai bố con, Ngân còn ngầm nhắn nhủ anh, bố hãy quên đi dĩ vãng ấy, để gia đình chúng ta bình yên hạnh phúc.

Sau khi vượt qua căn bệnh trầm cảm, anh trở lại đi làm full-time cho đến khi anh và vợ nghỉ hưu, sống gần nhà vợ chồng con trai để phụ trông chừng đứa cháu nội, niềm vui đơn giản của tuổi xế chiều.

Chúng tôi cùng hồi tưởng về thời gian ở trại với nhiều kỷ niệm của bé Ngân. Anh vui vẻ khoe:

–        Anh rất thích tấm hình hai bố con anh chụp trước văn phòng Cao Ủy bên giàn hoa giấy đỏ trong một bữa tiệc, anh không nhớ hôm ấy là tiệc gì, nhưng anh nhớ bữa đó bà trưởng Cao Ủy người Thái nhờ tụi em nấu nồi bò kho ăn với bánh mì.

–        Ôi, em nhớ rồi, đó là tiệc nhân dịp Sinh Nhật Đức Vua Thái. Hôm ấy Ngân mặc áo đầm màu xanh, tụi em chải tóc và thắt nơ cho bé Ngân chớ ai!

–        Đúng rồi! Anh đã phóng to tấm hình ấy, treo ở ngoài phòng khách nhà anh nè. Ngân cười rất xinh đẹp.

Rồi chúng tôi lại lan man, nhớ đến những bạn bè chung phòng Cao Ủy, những kỷ niệm của mấy năm dài nơi trại tạm dung thật khó quên, và anh Hùng nhắc đến chị Hương:

–        Khi Hương về Việt Nam tụi anh cắt đứt liên lạc từ ngày ấy, nhưng anh có nghe nói, cuộc sống của Hương bên quê nhà cũng khấm khá. Hai vợ chồng Hương có một xưởng gỗ ở Thủ Đức, vợ chồng, con, cháu sum vầy bình yên.

–        Vậy em mừng cho chị ấy.

Cuộc nói chuyện dài hơn hai tiếng. Cúp phone xong, lòng tôi lâng lâng niềm vui rộn ràng, khi nhớ lại câu kết của anh Hùng:

–        Loan biết không, thỉnh thoảng nhìn lên tấm hình hai bố con treo trên tường, anh vẫn thì thầm với Ngân: “Con gái bé bỏng của bố ơi! Cám ơn con đã đến với cuộc đời bố, để yêu thương, cảm thông và tha thứ những sai lầm của bố. Hồi ấy con sợ mất bố, nhưng rồi bố lại mất con. Hãy giữ nụ cười tươi xinh như thế trên nước Thiên Đàng con nhé, và đừng quên rằng, bố vẫn mãi là của con!”

Edmonton, Fathers Day 2026

=

KIM LOAN

THÁNG SÁU

Tháng Sáu lòng ngẩn ngơ

Nhớ cơn mưa mùa hạ

Cành hoa ép trong vở

Ngày chúng mình cách xa

*

Người chung trường khác lớp

Cho tôi biết mộng mơ

Buổi học cuối man mác

Giã từ tuổi ngây thơ

*

Nhìn nhau một lần nữa

Ve sầu kêu bơ vơ

Sân trường buồn nức nở

Giờ biệt ly, ai ngờ!

*

Màu phượng đỏ tươi thắm

Mênh mông một góc trời

Cành rung rinh trong nắng

Để tim ai rối bời

*

Cô bé tôi đang khóc

Thương nhớ tuổi học trò

Bạn bè và sách vở

Những khuôn mặt Thầy, Cô

*

Và ánh mắt người nữa

Nụ cười hiền chơi vơi

Những buổi chiều tan học

Theo bước tôi, lá rơi

*

Hạt mưa bay nhè nhẹ

Vương vấn cả con đường

Lòng tôi thầm van khẽ

Đừng ướt áo người thương

*

Xin đường về dài mãi

Xao xuyến với bâng khuâng

Có ai mong hè đến

Có ai buồn lắm không?

*

Phút chia tay lưu luyến

Kỷ niệm bao ngày qua

Mây lưng trời giăng kín

Che mắt buồn thiết tha

*

Mình xa nhau từ đấy

Trách chi thuở dại khờ

Nghìn trùng xa biết mấy

Thời gian trôi hững hờ

*

Để hôm nay tôi nhớ

Tháng Sáu về trời mưa

Hoa phượng xưa rực rỡ

Tôi chép vội bài Thơ!

KIM LOAN

(Trời không mưa, anh có lạy trời mưa 🎶😱??)

==

NGÀY TỪ PHỤTHƠ HỒ DUY HẠ

*

Dâng lên Ba nhân ngày Lễ Từ Phụ
Cảm xúc này xin báo đáp đền ơn
Công cha cao như ngọn núi Thái sơn
Luôn dưỡng dục đàn con hiền thơ dại

*

Dầu gian khổ Ba chẳng hề quản ngại
Vì đàn con Ba chia xẻ yêu thương
Dạy dỗ con nên phấn đấu kiên cường
Luôn đứng vững trên đường đời chớ ngã

*

Phải hy sinh với nụ cười buông thả
Và Đức Tin Trông Cậy Đấng Quyền Năng
Công ơn Ba nuôi nấng con trưởng thành
Giờ khôn lớn tình Ba luôn cao quý

*

Ngày Lễ Cha con tâm tình thủ thỉ
Mong Ba hiền sống khỏe với đàn con
Để chúng con phụng dưỡng cho đạo tròn
Về sum họp làm quả dâng Từ Phụ

Xin gởi đến những người Cha

HAPPY FATHER’S DAY
Hồ Duy Hạ

*

KHÓC BAHỒ DUY HẠ

*

Duy nhất Ba ơi niềm tâm sự
Nỗi lòng thân phụ con cưu mang
Gần Ba cuối đời không là mấy
Thương tiếc Ba yêu lệ tuôn tràn.

*

Khóc Ba thương nhớ ôn kỷ niệm
Công lao dưỡng dục nuôi đàn con
Mất Ba bây giờ con nuối tiếc
Cứ tưởng bên con Ba vẫn còn…

*

Kỷ niệm luôn mãi tình Ba Mẹ
Nay đã đoàn viên nơi suối vàng
Ảnh hình ghi lại buồn muôn thuở
Thương lắm Song Thân lòng chứa chan

*

Ước nguyện con chưa được hoàn thành
Ba ơi sao lại đi quá nhanh
Bao nhiêu công việc chưa hoàn tất
Đè nén đau thương buồn bao quanh.

*

Nghẹn lòng không thể nào con tưởng
Hình ảnh xưa nay cứ xuyến xao
Gợi về ký ức chan dòng lệ
Gọi Ba nhớ Mẹ khóc nghẹn ngào.

Father’s Day nhớ Ba rất nhiều.
San Jose June 2026
Hồ Duy Hạ.

==

Chiều muộn của ngày thứ Sáu trước thềm Lễ Cha (Father’s Day). Không khí trên đất Mỹ nhộn nhịp hơn hẳn thường ngày. Những biển hiệu “Happy Father’s Day” rực rỡ treo khắp nơi, các cửa hàng bánh ngọt, sô cô la ngập tràn những chiếc bánh kem trang trí hình chiếc thắt lưng bản lớn, chiếc mũ nồi duyên dáng, cặp kính tròn vo, hay những bộ râu ngộ nghĩnh.

Jamie bước ra khỏi bệnh viện sau một ca trực dài căng thẳng, chiếc áo blouse trắng gấp vội trong ba lô nhẹ nhàng, nhưng gánh nặng trong lòng thì chẳng thể cất đi. Là một bác sĩ nội khoa, mỗi ngày cô đều phải chứng kiến ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết, đối diện với những nỗi đau thể xác lẫn tinh thần của bệnh nhân, nên những nỗi buồn vu vơ không có thời gian xuất hiện trong tâm trí.  Nhưng hôm nay, khi cởi bỏ chiếc áo blouse trắng, Jamie chợt thấy lòng mình chùng xuống và tim như thắt lại bởi một nỗi niềm riêng. Ngày Lễ Cha năm nay trùng hợp đến nghiệt ngã, là đúng tròn hai năm cô và Đức ký vào tờ đơn ly dị, và gần đúng một năm ngày người cha thân yêu của cô lìa trần.  Nghĩ tới đây, Jamie quẹo xe tấp vào siêu thị Safeway gần nhà để mua hoa về dâng lên bàn thờ bố.

Những bước chân Jamie trong siêu thị như bồng bềnh trên cơn sóng, khi cô vừa đi vừa nghĩ về bố. Trong phút chốc, không gian ồn ào của siêu thị Safeway như lùi xa, nhường chỗ cho cuốn phim ký ức trào dâng, đưa nàng trở về với những năm tháng bảng lảng sương mờ quá khứ.

Bố cô, ông Luận từng là một Sĩ quan Bộ Binh trong Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa. Jamie nghe kể lại, sau biến cố năm 1975, ông bị tù đày biệt tích trong những trại cải tạo khắc nghiệt miền Bắc xa xôi suốt 5 năm trời. Ngày bước ra khỏi trại giam, thân hình ông gầy gò, bước chân xiêu vẹo, và đôi tay chai sần, nhưng đôi mắt vẫn sáng ngời nghị lực.  Sau đó ông tìm đường vượt biển dắt theo Lan người vợ trẻ, khi ấy đang mang thai Jamie được hai tháng, xuống một con thuyền nhỏ cùng vài chục người, đánh cược mạng sống với đại dương song gió để tìm tự do.

Nhưng con tàu định mệnh ấy đã gặp phải hải tặc Thái Lan. Trận cuồng phong của lòng người tham ác và thú tính dã man đã đổ ập xuống con tàu.  Lan và tất cả những phụ nữ yếu ớt trên thuyền đã bị chúng vùi dập, làm nhục ngay trước mắt bao người. Còn may là vì Lan ngất xỉu nằm bất động nên bọn chúng tưởng rằng đã chết và không nhớ tới để liệng xuống biển như những phụ nữ và các cô gái bất hạnh khác trên thuyền.

Sau bi kịch đó, khi đặt chân đến đảo tị nạn, Lan đã nhiều lần tìm đến cái chết để rửa sạch nỗi tủi nhục bủa vây. Nhưng mỗi lần nhìn xuống bụng mình, nơi sinh linh bé bỏng  đang lớn lên từng ngày, và nhìn vào ánh mắt van nài, đầy xót thương của chồng, bà lại nghẹn ngào ráng nuốt nước mắt vào trong để sống.

Gia đình ba người đặt chân đến Hoa Kỳ với vết thương lòng sâu hoắm. Nhưng định mệnh nghiệt ngã chưa chịu buông tha. Khi Jamie vừa tròn hai tuổi, mẹ cô đổ bệnh nặng.  Căn bệnh lạ quái ác nhiễm từ những gã hải tặc năm xưa trên biển như một thứ độc dược âm ỉ phát tác, cướp đi sinh mạng của người mẹ trẻ.

Kể từ ngày đó, bố Jamie ở vậy một mình. Một người đàn ông trí thức, vốn chỉ quen với sách vở và súng đạn, rồi đến đốn cây phá rừng sau khi mất nước, nay phải tự học cách pha sữa, nấu từng bát cháo cho con. Ông làm đủ mọi công việc tay chân nặng nhọc để nuôi Jamie khôn lớn.  Chính những giọt mồ hôi và tình yêu bao la của bố đã nuôi dưỡng ước mơ của Jamie.   Cô bé học hành thật giỏi, luôn đạt điểm xuất sắc từ Tiểu học cho đến trưởng thành.  Jamie nhận bằng Bác sĩ và rồi hoàn tất chuyên khoa nội, thì mái tóc bố đã bạc trắng.  Đôi mắt bố nhòe lệ bảo Jamie:

 “Bố rất hảnh diện về con! Con đi chữa bệnh cứu người, cũng là đang xoa dịu nỗi đau mà mẹ con ngày xưa đã phải gánh chịu!”

Nhớ lại một ngày Lễ Từ Phụ năm Jamie hoàn tất việc học, cô tự tay chuẩn bị một bữa tiệc nhỏ cho hai cha con, và mua tặng bố một chiếc áo len mới. Nhưng bố cô lại lặng lẽ ra chợ mua về một bó hoa hồng vàng và một bó hoa hồng đỏ thật đẹp. Khi Jamie thắc mắc, bố đã cười và nói, “Dù là ngày Lễ Cha, nhưng đây là quà cho mẹ và cho con. Bố luôn muốn mẹ, và nhất là con, được hạnh phúc!”

Nhưng hạnh phúc ngắn ngủi như bọt nước tan mau. Chỉ mấy tháng sau ngày Lễ Cha năm ấy, đại dịch COVID-19 càn quét qua nước Mỹ.  Là một bác sĩ, Jamie phải lao vào chữa cho bịnh nhân cùng toàn thể nhân viên bệnh viện. Bố ở nhà rất lo lắng cho con gái, đang vì lương tâm một bác sĩ mà phải lao vào nơi chốn hiểm nguy.   Đâu ai ngờ, Jamie thì không sao, mà bố cô ở nhà đã không may nhiễm phải thứ virus quái ác ấy.

Bố được đưa vào bệnh viện, chính nơi Jamie đang làm việc. Nhưng sự nghiệt ngã của số phận ở chỗ, dù là một bác sĩ hằng ngày cứu sống bao người, Jamie lại bất lực nhìn hơi thở của bố cứ yếu dần đi sau bức tường kính cách ly nghiêm ngặt. Cô không thể lao vào ôm bố, không thể nắm lấy bàn tay gầy gộc đã nuôi cô khôn lớn.

Trong những giờ phút cuối cùng, qua màn hình điện thoại kết nối nghẹn ngào, bố Jamie đã dùng chút tàn lực, tháo mặt nạ oxy ra trong vài giây. Ông nhìn con gái bằng ánh mắt trìu mến nhất, và đôi môi mấp máy thều thào rất nhỏ:

 “Bố… yêu con…con hãy sống… thật hạnh phúc!”

Rồi màn hình máy trợ tim phẳng lặng một đường dài. Con virus ác độc đã mang bố đi mãi mãi, bỏ lại Jamie bơ vơ giữa cuộc đời rộng lớn.  

Câu nói cuối của bố, mỗi lần nhớ lại, Jamie vẫn thấy tim mình nhói buốt. Những năm tháng trước đó, vì lao vào các ca trực thâu đêm suốt sáng tại bệnh viện, vì bệnh nhân nặng cần cô ngày càng nhiều, Jamie đã vô tình bỏ quên tổ ấm của mình. Tình cảm vợ chồng cứ thế nhạt phai theo những bữa cơm lạnh ngắt. Cho đến một buổi sáng định mệnh, sau một ca trực đêm kiệt sức, Jamie được về sớm. Cô háo hức bước vào nhà, định bụng sẽ tạo cho chồng một sự bất ngờ. Nhưng tạo hóa trớ trêu, thứ chờ đón cô lại là một nhát dao chí mạng: Đức và Mai, người bạn gái thân thiết nhất của cô, đang quấn lấy nhau ngay trên chính chiếc giường ngủ của vợ chồng nàng.

Cái giá của sự tận hiến cho y học là sự phản bội ê chề từ chồng và người bạn thiết. Ngày hôn nhân đổ vỡ, người đau đớn nhất không phải Jamie, mà là bố cô. Người đàn ông cả đời chịu tủi nhục, một mình gà trống nuôi con chỉ mong con được ấm êm, nay lại phải chứng kiến đứa con gái báu vật bị người ta chà đạp. Ông Luận không trách Đức, cũng không rầy Jamie, ông chỉ ôm con gái vào lòng, đôi bàn tay gầy gộc run lên bần bật vì xót xa. Từ ngày đó, ông luôn đau đáu, tìm mọi cách xoa dịu và khát khao được nhìn thấy nụ cười trở lại trên môi đứa con độc nhất.

Jamie bỗng lắc đầu, đưa tay quẹt trôi đôi dòng lệ nóng vừa tràn ra khóe mắt, và cố xua đi bóng ma của quá khứ khi bước chân vừa tới hàng hoa. Dòng người mua sắm vẫn ngược xuôi hối hả, nào ai biết họ đã đi ngang qua một khách hàng đang bước đi cùng với tâm sự trùng trùng. Jamie tiến về phía thùng hoa, chọn một bó hồng vàng, màu hoa mà lúc sinh thời bố cô thích nhất, để ngày mai đặt lên bàn thờ ông và mẹ.

Đúng lúc cô đang nâng niu bó hoa trên tay, một giọng nói trầm ấm thoảng qua sát bên cạnh.  Jamie bất giác nhìn sang. Một người đàn ông mang kính trắng trí thức, dáng người cao gầy đang dắt theo một cô con gái nhỏ chừng 5 tuổi mặc áo đầm hồng với hai bím tóc cột nơ đỏ đong đưa, bước lại quầy hoa.

Tim Jamie chợt đập loạn lên lỗi nhịp. Đó là một gương mặt vừa thân quen, vừa xa xôi trong ký ức. Tom!

Tom là người bạn học cùng trường y với cô ngày trước. Những năm tháng thanh xuân cùng nhau thức trắng trong những đêm trực, cùng chia sẻ những hộp cơm truyền thống quê nhà do tự tay Jamie nấu bới theo… biết bao kỷ niệm ngọt ngào và thanh khiết đã nảy nở giữa hai người. Tom thương Jamie, Jamie biết. Jamie quý mến Tom, Tom hiểu. Nhưng khi ấy, chiếc nhẫn cưới trên ngón áp út của Jmaie và rào cản lễ giáo Á Đông đã giữ hai người ở hai phía của một lằn ranh vô hình. Họ tôn trọng nhau, giữ trọn sự chừng mực của những người bạn tri kỷ. Sau khi tốt nghiệp, Tom buồn vì chẳng thể làm gì hơn với mối tình tuyệt vọng, nên chuyển về vùng miền Đông làm việc trong một bệnh viện lớn, hai người cũng từ đó mà bặt tin nhau.

Jamie xúc động đến mức đứng chôn chân tại chỗ. Một cảm giác bối rối, tủi hổ, xen lẫn nghẹn ngào trào lên, cô vội quay mặt đi, giả bộ như đang chăm chú chọn hoa để Tom không nhận ra mình trong bộ dạng hốc hác và gần khóc này. Hai cha con Tom tiến lại gần ngay bên cạnh cô.

“Daddy!” Cô bé nhỏ bất ngờ níu tay cha khi thấy Tom cầm lên một bó hoa hồng đỏ thắm, rực rỡ và lộng lẫy. “Ngày mai chúng ta làm tiệc mừng lễ Father’s Day, là ngày của ba, nội nói ba sẽ mua bánh kem, sao ba mua hoa hồng chi vậy?”

Tom cúi xuống, chỉnh lại chiếc nơ trên tóc con gái, giọng anh trầm xuống, ấm áp và chứa chan một nỗi niềm sâu kín. Anh nói gần như thì thầm, nhưng Jamie đứng bên cạnh nghe không sót một lời:

“Con gái yêu! Ba mua hoa hồng là để ngày mai hai cha con mình cắm lên bàn thờ tặng mẹ con. Ở trên cao, chắc mẹ cũng đang chờ hoa của chúng ta. Ba chỉ muốn con và mẹ luôn được hạnh phúc.  Nhất là con gái ba được hạnh phúc! Là đủ với ba rồi!”

Câu nói của Tom như một luồng điện chạy dọc sống lưng Jamie. Tay cô run rẩy đến mức bó hoa hồng vàng suýt chút nữa rơi khỏi tay. Giọng nói ấy, sự ấm áp đầy truyền cảm ấy… chính là Tom của những đêm trực năm xưa không sai vào đâu được. Nhưng câu nói của anh cũng mang theo một sự thật xót xa. Tom đã lập gia đình, và vợ anh đã không còn nữa. Hóa ra, người đàn ông năm xưa cô từng quý mến cũng đang mang một vết thương lòng rỉ máu.

Không thể trốn chạy cảm xúc thêm được nữa, Jamie hít một hơi thật sâu để ngăn giọt nước mắt chực trào, cô quay sang, giả bộ như tình cờ ngước mắt lên nhìn người bên cạnh.

“Anh… anh Tom?”  Giọng Jamie thảng thốt, run lên.

Tom giật nẩy mình, quay phắt sang. Khi ánh mắt anh chạm vào gương mặt Jamie, thời gian như ngừng trôi, không gian sầm uất của siêu thị Safeway hoàn toàn biến mất. Bó hoa hồng đỏ trên tay Tom rơi tự do xuống thùng hoa bên dưới lúc nào không hay. Chàng sững sờ nhìn Jamie, đôi mắt sau cặp kính trắng mở to, đầy kinh ngạc và hoang mang, như thể cô vừa từ cung trăng rơi xuống trước mặt mình.

“Jamie?… Phải em không, Jamie?” – Giọng Tom lạc đi, đôi môi anh run rẩy.

“Là em, Tom…”

Trong phút chốc, bao nhiêu kìm nén của những năm tháng thăng trầm như vỡ òa. Ánh mắt Tom nhìn Jamie cùng với sự ngạc nhiên là cả một đại dương thương nhớ, lẫn sự xót xa khi nhìn thấy nét mệt mỏi bơ phờ trên gương mặt người con gái mình từng yêu, và cả một tia lửa hy vọng vừa được thắp lên sau chuỗi ngày dài tăm tối. Họ đứng đó, hai tâm hồn cô độc giữa đất Mỹ xa xôi, hai con người từng đi qua đổ vỡ và mất mát, bất ngờ va vào nhau trong một chiều hoàng hôn đầy nắng gió của vùng trời Cali.

Sau những phút giây nghẹn ngào, họ ra ngồi xuống chiếc bàn trước cửa Safeway. Những câu hỏi thăm vội vã về cuộc sống của nhau được trao đổi. Tom kể ngắn gọn về sự ra đi của vợ anh sau một cơn bạo bệnh, còn Jamie chỉ lặng lẽ cười buồn, xót xa cho cuộc hôn nhân đã qua của mình. Họ không cần nói nhiều, áp lực của một bác sĩ và nỗi đau của sự chia ly tự khắc làm họ thấu hiểu nhau hơn ai hết.

Jamie nhìn Tom, nhìn bờ vai đã gánh vác bao giông bão của anh, rồi từ từ cúi xuống nhìn vào đứa bé ngồi gần bên.  Cô dịu dàng nắm lấy bàn tay nhỏ bé, mềm mại đứa con gái nhỏ của Tom. Đứa bé ngước đôi mắt tròn xoe, trong veo nhìn cô đầy thiện cảm.

Ngay trong khoảnh khắc bàn tay cô chạm vào hơi ấm của đứa trẻ, trong tâm trí Jamie chợt vang lên một giọng nói quen thuộc, trầm khan, và bao dung của bố cô trước ngày ông mất vì đại dịch:

“Con phải cố gắng sống cho thật hạnh phúc! Con hạnh phúc là ba vui rồi!”

Hóa ra, lời di nguyện cuối cùng của bố lại là một lời chúc phúc, một sự giải thoát cho tâm hồn cô khỏi những u uất của quá khứ. Bố muốn cô mở lòng. Bố muốn cô được hạnh phúc. Và biết đâu, sự sắp đặt kỳ diệu của số phận ngày hôm nay, tại quầy hoa này, chính là món quà mà bố từ trên trời cao đã gửi gắm xuống cho cô?

Jamie ngước lên nhìn Tom, lần này, một nụ cười thực sự bình yên và rạng rỡ đã nở trên môi cô.

Ngoài kia, nắng chiều California vẫn đang vàng rực rỡ, và mùa đông lạnh lẽo trong lòng Jamie dường như đã bắt đầu tan chảy, nhường chỗ cho một mùa mới. Mùa của sự hồi sinh và hạnh phúc, ngay trong ngày Lễ Father’s Day diệu kỳ.

Phương Hoa

==

==

Alysa Liu và Ông Bố

                 Thơ Trần Quốc Bảo

Inline image

Alysa Liu và Ông Bố

Thế Vận Hội mùa Đông, vừa rồi tại Ý,

Alysa Liu, vận động viên M, thiệt tài!

Đoạt huy chương vàng dancing on ice,

nh vinh dự cho M, niềm vui lớn!

24 năm qua, Mỹ hằng mong muốn,

Giật giải quán quân, môn nghệ thuật này.

Nhưng rồi kết quả, đều lọt vào tay,

Vận động viên Nga và các nước khác.

Inline image

Mãi tới nay Alysa Liu tr tài uyên bác,

Nhẹ gót chân chim, trên mặt tuyết băng,

Ánh mắt như sao, gương mặt đẹp như trăng!

Tay dăng cờ mỹ, lướt trên sân Olympic!

Sở dĩ Alysa Liu được nhiều người yêu thích,

Vì gia đình , dân Mỹ gốc Trung Hoa.

Cha cô, thuở sinh viên, đã tích cực tham gia,

Vụ Thiên AMôn, cuộc đấu tranh đẫm máu!

Inline image

Nhưng ông may, trốn sang Hoa Kỳ nương náu,

Sống đời tỵ nan, xây dựng lại tương lai.

Ông thường dạy con: “Phải trọng Nghĩa, khinh Tài”

Alysa Liu 20 tuổi, đã trưởng thành tư tưởng.

Khi Bắc Kinh trao 14 triệu, thương lượng…

Cô ra sân Olympic với quốc tịch Tầu!

Alysa Liu lạnh lùng, khảng khái lắc đầu,

“Quyết không phản bội Quốc Gia tôi nương náu!

Inline image

 Nơi có “Tình Người” và “Tự Do” quí báu!

Tiền bạc không mua được lương tâm tôi đâu!”

Rồi tiến ra sân Thế Vận Hội Toàn Cầu,

Liu đoạt Huy Chương Vàng, về cho Mỹ Quốc!

Cô Tiên nhỏ, được Mỹ vui mừng đón rước,

Nhưng người vui nhất, là ông Bố Alysa!

Ông thành công, việc giáo duc tại gia.

Liu đọat giải,… mà thiệt… chính Ông thắng đó !!!

        Trần Quốc Bảo

             Richmond, Virginia

       Địa chỉ điện thư của tác giả:

     quocbao_30@yahoo.com

~~~~~~o~~~~~~o~~~~~~

Kính mời xem một vài đoạn Youtube Alysa Liu vũ nghệ thuật trượt tuyết trên băng

Đoạt vinh dự lớn lao bất ngờ cho MỸ tại Olympic Mùa Đông Ý – 2026

Alysa Liu . TLNR Breaking News

CÁC SÁNG TÁC TỪ TRANG BLOG THÂN HỮU LONG HỒ VĨNH LONG – ÚC CHÂU

Long Hồ Vĩnh Long: Đỗ Gia Trang Trên Đồi Mê Linh – Đỗ Dung

Long Hồ Vĩnh Long: Lòng Cha – Thơ: Chương Hà – Nhạc: Nguyễn Tuấn – Tiếng Hát: Đông Nguyễn

Long Hồ Vĩnh Long: Our Fathers(Anonymous) – Cha Chúng Tôi(Tâm Minh )

Long Hồ Vĩnh Long: Dệt Mộng Tôn Vinh Tình Cha – Lâm Hoài Vũ

Long Hồ Vĩnh Long: Hương Cà Chua – Ngô Thị Quý Linh

Long Hồ Vĩnh Long: Demain, Dès L’aube (Victor Hugo)Ngày Mai Lúc Sớm Tinh Sương (Trần Quốc Bảo)

Long Hồ Vĩnh Long: Lan Man Tháng Sáu Father’ Day và World Cup – Phong Châu

Long Hồ Vĩnh Long: Khi Đàn Ông Rửa Chén – Võ Phú

Long Hồ Vĩnh Long: Tổng Thống Charles De Gaulle – Lược Dịch & Sưu Tầm: Thái Lan

Long Hồ Vĩnh Long: Nhớ Đến Phụ Từ – Duy Anh

Long Hồ Vĩnh Long: Khi Cha Gìà Đi – Văn Duy Tùng

Long Hồ Vĩnh Long: Bố Vẫn Là Của Con – Kim Loan

Long Hồ Vĩnh Long: Cha Tôi – Nhac: Alpha Linh – AI Phục Hồi

Long Hồ Vĩnh Long: Demain, Dès L’aube (Victor Hugo)Ngày Mai, Ngay Lúc Rạng Đông (Ngô Tằng Giao)

Long Hồ Vĩnh Long: Lòng Cha – Luân Tâm

Long Hồ Vĩnh Long: Ca Dao: Công Cha… – Thư Pháp: Quang Hà

Long Hồ Vĩnh Long: Nhớ Ba – Minh Thúy




VTLV: TRANG ĐẶC BIỆT TƯỞNG NIỆM NGÀY QLVNCH 19/06. CAO MỴ NHÂN: CHÙM THƠ Về QUÂN LỰC VNCH- TS MAI THANH TRUYẾT- DONRY NGUYỄN – LÊ MỸ HOÀN – NGUYỄN PHƯƠNG THÚY – LÊ VĂN HẢI – HỒ DUY HẠ.

TS MAI THANH TRUYẾT: Hằng năm vào khoảng 19 Tháng 6, có nhiều tổ chức thuộc Quân Lực VNCH  ở hải ngoại tổ chức Lễ kỷ niệm Ngày Quân Lực. Năm nay là năm thứ 43.

Ngày 19 Tháng 6, được coi là Ngày Quân Lực VNCH là vì sau đảo chánh lật đổ Tổng Thống Ngô Đình Diệm năm 1963, Chính quyền và Quân Đội  VNCH bị suy yếu trầm trọng bởi tình trạng chỉnh lý, tranh giành quyền lực liên tục giữa các tướng lãnh trong QLVNCH . Tình trạng chính trị , quân sự cũng như kinh tế của Miền Nam lúc đó thật bi đát.

Lợi dụng tình thế bất ổn này, quân chính quy CS Bắc Việt ồ ạt xâm nhập vào Miền Nam. Trước tình trạng khẩn trương, nguy ngập đó Chính phủ dân sự Phan Khắc Sửu quyết định trao trách nhiệm và quyền hành lãnh đạo Quốc Gia cho Quân Lực VNCH.

Một buổi lễ ra mắt Ủy ban Lãnh Đạo Quốc Gia và Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương được long trọng tổ chức tại Thủ Đô Saigon vào ngày 19 Tháng 6, 1965. Hai Ủy ban này đã  tuyên thệ trung thành với Tổ Quốc, nhận trách nhiệm chỉ huy QLVNCH trong việc bảo vệ đất nuớc, quê hương.

Từ đó ngày 19 Tháng 6 là một ngày lịch sử, có tên là “Ngày Quân Lực VNCH”. Sau đó hằng năm ngày Quân Lực 19 Tháng 6 được cử hành rất trọng thể với sự tham gia các đơn vị của các quân binh chủng trong QLVNCH, để biểu dương sức mạnh và ý chí đoàn kết, quật khởi của toàn quân, toàn dân  Miền Nam, quyềt chiến đấu chống CS xâm lược Miền Bắc.

Ngày nay, Quân Lực VNCH không còn nhưng người quân nhân VNCH vẫn không ngừng chiến đấu cho Tự Do, Dân Chủ, Nhân quyền  và sự vẹn toàn lãnh thổ. Tập thể Chiến Sĩ VNCH đã được hình thành để nâng nỗ lực đấu tranh lên tầm mức cao hơn, mạnh mẽ  hơn.

Người chiến sĩ VNCH và đồng bào ỏ hải ngoại hôm nay  không có vũ khí trong tay để anh dũng chiến đấu trên chiến trường như ba mươi ba năm trước đây, nhưng với ý chí kiên cường, bất khuất,  người chiếnsĩ VNCH và đồng bào hải ngoại vẫn tiếp tục đấu tranh đem lại nhiều  thắng lợi trên  Bình diện chính trị. Chắc chắn ngày tự do và hạnh phúc cho toàn dân Việt Nam khắp mọi miền đất nước không còn bao xa.

Dưới bất cứ hoàn cảnh nào, nơi đâu,  tôn chỉ của người quân nhân vẫn là Danh Dự – Tổ Quốc – Trách Nhiệm.

Mai Thanh Truyết

==

CHÙM THƠ 19/06 – CAO MỴ NHÂN

==

CÙNG NHAU HÁT TIẾP KHÚC QUÂN HÀNH.     CAO MỴ NHÂN

Trời chưa sáng đã nghe hồi trống lệnh

Anh lạnh lùng thức dậy, chúng ta đi

Vào  chiến cuộc, bao người đang đến hẹn

Một lòng tin phơi phới: các anh về

*

Cờ vàng đã tung bay trên khắp ngả

Trăng hạ huyền lãng đãng báo tin Xuân

Nền Cộng Hoà thao thức đợi chinh nhân

Rồi từ đó, ta gọi hồn đất cũ

*

Những con đường đã xua mây viễn xứ

Để cho người gặp gỡ người xa xưa

Để cho anh tha thiết gọi hồn thơ

Cho em viết chan hòa lời non nướ

*

Rằng : lý tưởng vẫn bền lòng phục quốc

Dân tộc ơi,  ngàn vạn nét đan thanh

Ôi sung sướng trọn đời ta mong ước

Hãy cùng nhau hát tiếp Khúc quân hành

    Rancho Palos Verdes  9 – 6 – 2026

                 CAO MỴ NHÂN

==

TẶNG ANH.      CAO MỴ NHÂN

Chỉ cần nghe hơi hướng

Tuổi trẻ ở đôi tay

Mới biết mình sung sướng

Sức khỏe còn trên vai

*

Nên mời anh gánh vác

Càn khôn vũ trụ này

Đất trời không xa lắm

Tất cả đều quanh đây

*

Hôm qua là dĩ vãng

Ngày mai đó tương lai

Còn hôm nay hiện tại

Tinh thần phải hăng say

*

Muốn làm nên nghiệp lớn

Hãy đo sức nhân gian

Coi thử hạt bụi vướng

Nghĩ to như thái sơn

*

Khi ta còn tuổi trẻ

Phải tiết kiệm phút giây

Để không buồn tiếc rẻ

Trôi qua những tháng ngày …

Rancho Palos Verdes.   8 – 6 – 2026

         CAO MỴ NHÂN

==

Em GÁI HẬU PHƯƠNG.     CAO MỴ NHÂN

Kích giặc xong rồi, về phố thị

Thong dong đi dạo chợ  Sài Gòn

Ngó cô bán bánh, chào thơm phức

Mời lính biên phòng thử bánh ngon

*

Anh không mắc cở mà đùa rỡn

Cô muốn tôi mua loại bánh nào

Chính chiến mịt mù, nay mới hưỡn

Hậu phương chỉ có bánh thôi sao

*

Cô bé nhìn anh cười, đỏ mặt

Em không biết nữa, anh qua bên

Chị kia chắc có nhiều quà khác

Anh lắc đầu , anh muốn cạnh em

*

Thế rồi, vài tháng sau là vợ

Anh vẫn biên phòng, thương nhớ thêm

Cô bé để rơi dòng lệ tủi

Năm sau, em quả phụ ưu phiền …

(Chuyện một cô bé hậu phương, sau một năm là quả phụ tử sĩ  VNCH )

Rancho Palos Verdes   28 – 5 – 2026

               CAO MỴ NHÂN 

==

VỀ THĂM ĐƯỜNG 9.     CAO MỴ NHÂN

Ôi nhớ quá tiếng xe tăng cày đất

Xẻ sa trường đôi vạt sóng thiên thu

Bạn anh đấy khép hờ đôi mắt sắt

Yên phận nằm nghe gió bão biên khu

*

Anh trở lại Đông Hà qua đường 9

Cây Nhân Sinh từng lớp mọc hoang đường

Đồi 31 còn cuộn dòng uất nghẹn

Bạn anh nhìn pháo lịm bặt bi thương

*

Nửa trăm năm vẫn tanh mùi máu lửa

Ngậm ngùi nhìn dấu vết tiểu đoàn xưa

Anh cứ đứng chôn chân trong nỗi nhớ

Trận chiến nào em khóc sau giông mưa

*

Thôi ta về, chuyến tầu đêm hun hút

Như gọi hồn tử sĩ vọng trời xanh

Không còn ánh hỏa châu soi sáng khắp

Trở về thăm mặt trận vỡ trên thành …

Hawthorne  26 – 5 – 2026

        CAO MỴ NHÂN

==

NỬA TRĂM NĂM GẶP LẠI.     CAO MỴ NHÂN

Nửa trăm năm đã vụt trôi qua

Trông đợi người đi lệ thấm nhòa

Chạnh nhớ ngày xưa khi kích giặc

 Bên nhau nào biết sẽ chia xa

Đồng hoang cỏ cháy nối thương đau

Người với ta chung một nỗi sầu

Cơm xấy sau mưa tràn bếp ngập

Bên trời tên lửa gọi cung dâu 

*

Hẹn hò chớp mắt như tan biến

Kinh rạch đò ngoan vẫn thả chèo

Sóng vỗ ngoài xa nơi đất biển

Hành quân ổn định xóm thôn nghèo

*

Đông Hà, cửa Việt  sương giăng tối

Sao trách ai quên chẳng ngó ngàng

Đành đợi hoả  châu soi sáng lối

Người ôm hoài bão chẳng than van

*

Giờ đây nhịp đập tim đau nhói

Ta hỏi người khi mặt trận tàn

Hoài niệm tình vương theo đạn khói

Có còn chăng, dấu tích tan hoang

*

Người ơi bi lụy càng ngây ngất

Trong nỗi ưu tư liệm mảnh hồn

Thương nhớ dặm về buồn héo hắt

Bên nhau tâm sự não nề tuôn …

         Hawthorne.   9 – 5 – 2026

( Họa Thơ. Nhật Hồng. Nguyễn Thanh Vân  )

                   CAO MỴ NHÂN 

==

DƯỚI CỜ VÀNG.       CAO MỴ NHÂN

Sáng ra chào lá cờ vàng

Tung bay trong nắng huy hoàng mùa xuân

Thấy như gặp lại cố nhân

“Giày saul nón sắt ” tháng năm thủa nào

*

Em nhìn lên tít trời cao

Mây pha sắc áo bay vào sử xanh

Ngàn đời yêu dấu riêng anh

Sa trường sôi động, tan thành mộng mơ

*

Quân đi rầm rập  dưới cờ

Sáng tươi sông núi cùng thơ lên đường

Trăm phen hoa nở khói sương

Đạp lên nỗi chết biên phương hận thù

*

Bây giờ nói chuyện biên khu

Bâng khuâng âm hưởng thiên thu chiến hào

Đạn bay xé mảnh nhung bào

Trái tim thúc giục tuyến đầu ghi công …

            CAO MỴ NHÂN

==

NGANG TRỜI TIẾC THƯƠNG.        CAO MỴ NHÂN

Em về giữa buổi bình minh

Nắng  vừa soi tỏ bóng hình người xưa

Cả không gian bỗng tiễn đưa

Hồn chinh phu trải gió mưa nơi này

*

Chiến trường cạn chén riêng tây

Tình yêu nước đã khô bay mộ chàng 

Trao anh nguyên sắc cờ vàng

Này đây, tất cả lỡ làng quê ta

*

Em về câm nín xót xa

Sau lưng lạnh toát hồn ma tượng đài

Bó nhang chợt tắt u hoài

Nắng hong nỗi nhớ ngang trời Tiếc Thương

*

Thôi anh, tóc rối tơ vương

Vòng tay buông lỏng nghe hương khói tàn

Một mình hận tủi vô vàn

Buồn ơi mộng mị quan san bái từ …

            CAO MỴ NHÂN

==

NGÀY QUÂN LỰC 19/06

Mười Chín Tháng Sáu lại về trong gió,

Tôi nghe vang tiếng quân hành từ dĩ vãng xa xôi.

Những người lính CỘNG HÒA khoác chiến y giữ nước,

Đã từng qua lửa đạn khắp núi đồi.

.

Từ Cổ Thành, An Lộc, Kontum,

Đến những vùng sông nước mịt mùng khói súng,

Máu anh thấm vào lòng đất mẹ

Nở thành những đóa hoa bất khuất của quê nhà.

.

Anh ngẩng cao đầu giữa bão táp phong ba

Gìn giữ tự do bằng danh dự và sinh mệnh.

Dẫu chiến tranh đã lùi vào lịch sử

Tên tuổi người lính VIỆT NAM CỘNG HÒA gìn giữ quê hương

.

Vẫn sáng mãi trong lòng những người yêu nước,

Như ngọn lửa không bao giờ tắt của sử vàng dân tộc.

19/06 toàn dân đều khóc

Tưởng nhớ anh – người lính VIỆT NAM CỘNG HÒA!

Phương Hoa – 19 Tháng 6, 2026 -Ngày QLVNCH

==

LỜI MẶC NIỆM -Donry Nguyên

*

Hỡi oai linh núi sông hùng vĩ,

Đây cơ đồ xương máu tiền nhân.

Đây sự nghiệp, giang sơn gấm vóc,

Đã lưu truyền suốt bốn ngàn năm.

*

Đàn con Việt cúi đầu mặc niệm,

Tưởng nhớ về công khó cha ông.

Bao lớp người hy sinh nằm xuống,

Đem máu mình tô thắm non sông.

*

Hãy hát lên bài ca dựng nước,

Của giống nòi Đại Việt hiên ngang.

Tay vung gươm, tay cầm ngọn bút,

Giữ cõi bờ, chống bọn xâm lăng.

*

Xin nguyện cầu hồn thiêng sông núi,

Thắp sáng lòng con cháu Rồng Tiên.

Cùng hợp sức chung tay xây lại,

Ngọn cờ vàng tươi sáng Việt Nam!

-Donry Nguyễn.

==

BÀI TÌNH CA CỦA GÃ LÍNH GIÀ

*

Có người em hỏi, anh là lính,

Khi đất nước cần, dám đứng lên?

Giống thời trai trẻ, ta nào ngán,

Sẵn sàng giáp mặt với đao binh.

*

Ta gã lính già luôn mong ước,

Được đứng chào nghiêm dưới quốc kỳ.

Thẩm quyền nếu bảo, mai ra trận,

Ta sẽ chấp hành, cất bước đi.

*

Hề chi, ta lính còn quân số,

(Đâu có giấy tờ giải ngũ đâu?)

Tuy đã lâu rồi, lương chẳng nhận,

Bộ áo trây-di bạc thếch màu.

*

Ta chàng lính pháo chưa từng bại

(Kịp đánh đâu mà thắng với thua?)

Chẳng qua thế nước, cơn chìm nổi,

Tạm bước lưu vong, đợi buổi về.

*

Tuổi cao dù yếu, còn dư sức …

Ôm đàn hát lại bản tình ca.

Cho em biết được lòng ta vẫn,

Sau trước yêu em rất thật thà.

*

Em chớ trách hờn sao đi mãi

Chắc là quên mất nợ quê hương?

Thưa em, từ độ mùa xuân ấy …

Nặng trĩu trong ta, một chữ buồn!

*

Đợi giờ sông núi reo mùa mới,

Theo bước hùng binh lại trở về.

Xin hẹn cùng em mùa trẩy hội,

Hai đứa mình đi dưới bóng cờ.

-Donry Nguyễn.

==

THƠ LÊ MỸ HOÀN

==

THU ĐÔI MƯƠI – Lê Mỹ Hoàn

Những chiếc lá cuộn rơi bước chân ngày cũ

Trong vườn tao đàn thuở ấy tuổi đôi mươi

Áo thướt tha như cuộn áng mây trời

Khi những mùa thu về lá rơi ngập lối

Tao đàn lắng tiếng trở mình thức dậy

Còn mãi xa như gợn sóng thời gian

Khi những bài thơ ngàn xưa vang vọng

Vời vợi âm xa lũ lượt trở về

Trong cặp sách thư tình và bài học

Lẫn lộn trang vở những hồi hộp hôm qua

Còn dấu âm thầm tiếng ai hò hẹn

Màu áo anh còn đẫm gió quan hà

Có ánh mắt đêm dài miền đất đỏ

Anh mang về cát bụi chiến chinh xa

Anh mang về cùng với cả giấc mơ

Vườn hoa thơm ngát thanh bình muôn thuở

Cuộc tình năm xưa mùa lá đang rơi

Cùng đếm bước trên vỉa hè Lê Lợi

Những bước thì thầm còn lên tiếng gọi

Ta vẫn hẹn bao năm chờ đợi

Áo em thu vàng cùng với tuổi đôi mươi.

Lê Mỹ Hoàn – 6/2026

==

CHÂN TRẦN TRÊN ĐỒI CÁT

Ngày về thăm quê

Trùng dương bát ngát

Chân trần chạy trên đồi cát

Mượt mà như dải lụa quấn quanh

Chân trần chạy thẳng lên đồi

Tưởng như đến bên trời trước mắt

Gió cát quật vào mặt vào mắt

Mặt trời nghiêng và bóng đổ

Đồi cát chập chùng đôi cánh trắng

Gió thổi tung màn lụa phủ thân ta

Lòng cuộn theo cơn lốc

Bụi mờ vết chân qua

Quá khứ xa xôi

khung trời ẩn hiện

Đại bác nổ rền xé rách đêm thâu

Ánh hỏa châu soi sáng cát vô hồn

Lá cây gầy

lấp loáng giọt sương tuôn

Lòng mẹ mái tranh

nước mắt ru buồn

Bóng anh người lính chiến

Áo chinh nhân xuống biển lên ngàn

Lặng lẽ súng trên tay

Băng qua vùng lửa cháy

Đã một lần nơi đây

Em, anh và quê hương tan nát

Ôi chinh chiến điêu tàn

Tình yêu và biển mặn

Quê hương ước mơ ơi

Hôm nào đã mất

Một non sông và mối tình anh.

   Lê Mỹ Hoàn – 5/2020

==

BIỂN ĐÊM NHỚ SÀIGON

Biển đang dâng chén lưng sầu      

Núi cao mây lấp ngang đầu nỗi đau

Non xanh biển mộng là đâu

Sóng đâu phủ sóng tình sâu đáy lòng

*

Ra đi về hướng đại dương

Có loài rong biển vẫn thương đường về

Đêm nghe tiếng hát trầm mê

Biển còn đắm mộng lời thề vấn vương

*

Ta đi thấu suốt đoạn đường

Mà sao lòng vẫn nhớ thương Sàigon

Sàigon thuở ấy mưa luôn

Hàng me chua ngọt nắng luồn tóc em

 *               

Sóng dồn khát vọng bao đêm

Ai bơi qua mộng hão huyền bên kia

Để rồi năm tháng vô đề

Gót chân phiêu lãng hỏi về nơi đâu

*

Ngàn sao thắp lệ em sầu

Long lanh những ngọn đèn màu phố xưa

Tiếng chân nhịp bước mong chờ

Ngựa thồ cuối ngõ ngoại ô đêm buồn

*

Trưa hè phượng đỏ môi son

Màu son chưa nhạt mái trường năm xưa

Thế rồi sóng bấp bênh bờ

Nấm mồ hoa phượng tình thơ ngậm ngùi

*

Hồ Rùa phủ bóng lá rơi

Dọc đường Nguyễn Huệ từng đôi dập dìu

Ta về nắng gió Pleiku

Áo em gió lộng rừng thu quân hành   

*

Bến Thành quen mãi bước chân

Xuyên qua cửa Bắc lại gần cửa Tây

Mình tao ngộ ở nơi đây

Âm thanh biển bỗng gọi đầy nỗi vui             

*

Ơi! Dòng nước chảy chia hai

Nhà Bè bến nước, Đồng Nai ai về

Tiếng hò sóng nước đê mê

Thôi em, đã lỡ vụng về giấc mơ

*

Huy tà bóng lặng chơ vơ

Từ nghe cõi vọng mơ hồ về đâu

Địa đàng tỉnh giấc canh thâu

Cùng ta chuốc chén mộng sầu ly tan.

          Lê Mỹ Hoàn – 5/2019

==

==

Sau Tháng Tư Đen, những người chiến sĩ VNCH tị nạn CS tại khắp nơi trên thế giới đã sống những ngày tháng còn lại trong nuối tiếc, ngậm ngùi, và ân hận vì đã không làm tròn sứ mạng bảo vệ đất nước.

Món nợ non sông chưa trả đã dầy vò rất nhiều người, nhất là những chiến sĩ có tinh thần trách nhiệm cao đã không ở lại tử thủ khi Sài Gòn đổi chủ. Họ tìm đường sống, tiếp tục sống, tiếp tục theo đuổi và duy trì nhiệm vụ chống chế độ CS đã và đang làm băng hoại đất nước, dân tộc VN. Cuộc tranh đấu tiếp tục kéo dài, giấc mơ hồi hương vẫn xa vời vợi, mục đích vẫn chưa nằm trong tầm tay với. Tâm hồn người chiến sĩ mục rữa vì quá khứ ám ảnh, vì chờ đợi mỏi mòn. Trách nhiệm của người chiến sĩ vẫn đeo đẳng không nguôi mà tuổi già và bệnh tật đã dẫn đường cho thần chết tìm đến. Từng người một giã từ đồng đội, lúc lâm chung không muốn phủ lá Cờ Vàng vì nghĩ rằng mình đã không xứng đáng được hưởng danh dự này.

Cựu Tư lệnh Sư đoàn Nhảy Dù, Chuẩn Tướng Lê Quang Lưỡng (1932-2005) đã nói : “Tôi làm Tướng không bảo vệ được nước. Khi nước mất tôi đã không dám chết theo nước nên khi tôi chết già, yêu cầu đừng phủ quốc kỳ lên quan tài tôi vì tôi tự biết mình không xứng đáng được hưởng lễ nghi nầy.

Xin mặc đồ đen, không mặc quân phục, nếu muốn đến tiễn đưa tôi lần chót.”

Cựu Trung tá Phi đoàn trưởng phi đoàn 239 Phạm Vương Thục (1942-2011) đã để di chúc :

“Không phủ cờ cho Anh vì Anh không đáng được phủ cờ. nếu BCH (Ban Chấp Hành) bắt buộc phải làm thì xin làm theo nghi thức thật bình thường …”

Tôi đọc những lời di chúc này mà ngẩn ngơ. Sao lại thế? Một lần gia nhập quân đội là trọn đời thuộc về quân đội. Dù quân đội đã tan hàng, buông súng nhưng làm sao xóa bỏ quá khứ, cái quá khứ đã làm nên hiện tại, con người ngày nay. Qua lá Cờ Vàng, người chiến sĩ vẫn thấy quê hương, vẫn kính cẩn chào trong những buổi lễ, vẫn còn thấy lòng rung động, vẫn còn thấy nỗi nhục nhằn, chua xót. Bao nhiêu năm sống đời lưu lạc, vẫn ấp ủ quê hương trong lòng, sao đến phút cuối lại tự mình cắt đứt?

Phủ Lá Cờ Vàng

Mai anh chết cờ vàng xin dâng phủ,

Như một lời được nhắn nhủ đến ai.

Dù chiến chinh đã tàn lụi lâu dài,

Dù gươm súng, chiến bào không còn nữa,

Dù chiến bại làm tâm hồn mục rữa,

Dù cuối đời khí phách tựa khói tan,

Cờ vàng kia, anh xứng đáng được quàng,

Để ghi nhận tháng ngày mang nợ nước,

Để cám ơn hy sinh không lường được,

Những hao mòn thân thể, nhược tâm tư,

Những máu xương đã đổ tại chiến khu…

Đâu phải chết mới đền bù nợ nước.

Xin vui nhận lá Cờ Vàng thuở trước,

Là hồn thiêng tổ quốc rước anh về.

Những người con vẫn anh dũng, uy nghi,

Vẫn kiên cường ngay cả khi chiến bại.

Trên quan tài lá Cờ ôm ưu ái,

Hãy trở về, mãi mãi với quê hương!

Nguyễn P. Thúy, 02/07/2012

==

Thơ rất thật viết từ hồn thổn thức,

Từ lòng đau bởi vận nước suy vong.

Thơ căm hờn lũ Cộng sản hại dân,

Thơ sỉ vả kẻ đảo dâng, đất bán.

Thơ cuồng nộ trước độc quyền ngu dốt,

Thơ ngậm ngùi bao uất ức, nổi trôi.

Thơ xót xa quê đói khổ, tả tơi,

Thơ khóc thuyền nhân chết nơi biển rộng.

Thơ uất hận những cùm gông địa ngục,

Thơ đớn đau trước vùi dập, tang thương.

Thơ vạch trần bao dối trá, phỉnh lừa,

Thơ nhạo báng cha, tiên, sư, giả mạo (*).

Thơ nhắc nhở những chiến công đã tạo,

Thơ hô hào vì Quốc đạo, tổ tiên.

Thơ thiết tha tình dân tộc ba miền,

Thơ thúc dục người hiên ngang đứng dậy.

Thơ: vũ khí, tràn đầy bao nung nấu,

Thơ bừng bừng, rực dấu lửa kết tinh.

Lửa Thiện Chân thắp sáng tỏa niềm tin,

Lửa bốc cao thành đuốc thiêng dân tộc.

Đốt cho hết những bạo tàn lũ Cộng,

Cháy ra tro quỷ đỏ đội lốt người.

Để mầm non còn có chỗ đâm chồi,

Vươn lớn mạnh đắp bồi cho đất mẹ.

Thơ reo vui khi Việt Nam trọn vẹn,

Có nhân quyền, đạo đức với tình người.

Một mai đây khi đất nước yên vui,

Thơ thắm thiết chuyện ngọt bùi, tình tự.

Thơ rất thật viết từ hồn hạnh phúc,

Từ lòng vui bởi vận nước phục hưng.

Nguyễn P. Thúy, 3/10/2008

(*) Cộnng Sản bắt dân thờ Hồ Chí Minh như Tiên Thánh và lập ra sư quốc doanh, cha

(linh mục) quốc doanh để chi phối tôn giáo.

**

NHỚ NGƯỜI CHIẾN SĨ VÔ DANH – NGUYỄN PHƯƠNG THÚY

Bao năm qua tôi vẫn nhớ đến anh,

Những người chiến sĩ vô danh, rất trẻ.

Hành trang gói theo: tình thương vỏn vẹn,

Vì non sông nguyện dâng hiến cuộc đời.

Vai ba lô trĩu nặng vội lên đường,

Dù biết trước hiểm nguy đương chờ đợi.

Nhịp quân tiến mù tung trong gió bụi,

Bao hiểm nguy vẫn thách thức tử thần.

Dẫu mai này có vị quốc vong thân,

Vẫn kiêu dũng tròn phận dân nước Việt.

Các chiến sĩ, những người trai tuấn kiệt,

Một ngày nào trả hết nghiệp binh đao.

Người về quê, máu đẫm ướt chiến bào,

Kẻ đất mẹ chôn sâu đời vĩnh viễn.

Thương binh tủi, ngậm ngùi sau cuộc chiến,

Đùm bọc nhau trong túng thiếu, lầm than.

Tháng Tư Đen, sụp đổ cả miền Nam,

Thân bại tướng, không hàng, đành tuẫn tiết.

Tù cải tạo cam chịu bao khắc nghiệt,

Đói triền miên và tật bệnh giết dần.

Nơi đất người, xây dựng lại từ đầu,

Đời no ấm vẫn thấy sầu ghê gớm.

Nỗi nhục nhã, không lúc nào nguôi hận,

Chí kiên cường theo ngày tháng lê thê.

Bao nhiêu năm, vẫn ấp ủ hẹn thề,

Sài Gòn hỡi, ngày về – Xuân Như Ý (*).

Chiến tranh cướp bao đời trai hao hủy,

Nghĩa trang buồn nơi an nghỉ nghìn thu.

Mộ bia anh, không nhang khói, trùng tu,

Dù khi thác vẫn là tù cấm cố.

Vì thương lính, rất hận loài Cộng đỏ,

Góp sức mình tiêu diệt lũ ác nhân.

Tiếp tục con đường anh đã âm thầm,

Quyết chiến đấu đến tận cùng sinh lực.

Ngày nào đó thế thời xoay mệnh nước,

Khi quê hương mạch sống được khơi mầm.

Sử Việt Nam xin trân trọng ghi ân,

Tôn vinh những anh hùng vô danh ấy…

Nguyễn P. Thúy

December 09, 2009

(*) Bài Xuân Như Ý trong thi tập Cõi Lòng của tác giả Vinh Nhất Tâm

==

THƠ HỒ DUY HẠ & THƠ HỌA CỦA BỬU TRUYỀN

=

NGƯỜI LÍNH GIÀ

Người lính già co ro ôn dĩ vãng
Của một thời ngang dọc tuổi thanh xuân
Ngoài biên cương đạn xé tung bảo bùng
Xem nhẹ tựa lông hồng không sợ hải

.

Cuộc đời lính dọc ngang ngoài biên ải
Vì quê hương tổ quốc nên hy sinh
Để lại người thân quên cả chính mình
Lòng sôi sục nuôi căm hờn giữ nước

.

Chinh chiến tàn có ai mà hiểu được
Thèm chút hương yêu ấm áp đậm đà
Anh em mình đồng đội đã lìa xa
Nơi cải tạo trong ngục tù hẻo lánh

.

Rời quê hương đi tìm đường lẫn tránh
Ở xứ người ôn nỗi nhớ không nguôi
Bao nhiêu năm trong dạ vẫn bùi ngùi
Thân lữ khách luôn nhớ về quê mẹ

.

Cảm xúc này con xin dâng chia sẻ
Người lính già ôm ấp nỗi cô liêu
Ba chúng con tuổi đã xế về chiều
Cầu nguyện CHÚA ban bình an phước hạnh

.

“Cảm xúc về thăm khi thấy ba nằm co ro”
Hồ Duy Hạ

=

NGƯỜI LÍNH GIÀ TÂM SỰHỒ DUY HẠ

Ngày Lễ Cha chúng con về sum họp
Đọc bài thơ con dành tặng riêng Ba
Cháu và con quy tụ chung một nhà
Ba xúc động nói lên lời cảm tưởng

.

Chuyện có thật mấy mươi năm về trước
Chị các con gang dạ thật vô biên
Dáng nữ nhi hiếu thảo và ngoan hiền
Ba hãnh diện đứa con đầu can đảm

.

Đời của Ba lớn lên trong sầu thảm
Chính mắt Ba nhìn thấy cảnh đau thương
Lòng của Ba ray rức từng đêm trường
Mong để lớn xung phong đi chiến đấu

.

Trai thanh niên phải hiên ngang hùng hậu
Quyết căm thù ý chí phải xông lên
Yêu quê hương Tổ Quốc phải đáp đền
Thật mới đáng nam nhi trai thời loạn

.

Người cộng hòa hoan nghênh luôn tiếp đón
Người thanh niên nuôi ý chí xông pha
Từ giã Mẹ Cha từ bỏ quê nhà
Nơi chiến trận quên mình in thù hận …

.

Người con gái da vàng yêu Tổ Quốc
Ngồi bên Ba nghe kể chuyện xa xưa
Thuở thiếu niên Ba núp trên ngọn dừa
Chứng kiến cảnh đau thương ôi! Khủng khếp

.

Nỗi khổ con người của từ muôn kiếp
Nung căm thù Ba quyết chí đứng lên
Gánh vác giang sơn nợ sẽ đáp đền
Ba chiến đấu xung phong khi vừa lớn

.

Người lính già vai trò nay đã trọn
Kể chuyện xưa ôn lại thuở ấu thơ
Bao nhiêu năm hình ảnh vẫn không mờ
Con hãnh diện người Ba hiền khả kính ..

.

Tặng đến Ba nhân Ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa .
Ngày 19 Tháng 6 Năm 2008
Hồ Duy Hạ

*

NGƯỜI LÍNH GIÀ TỰ SỰBÀI HỌA CỦA BỬU TRUYỀN

Sinh Nhật Cha, cả nhà vui sum họp
Bảy mươi bảy năm dãi dầu phong ba
Cha kiên tâm xây dựng nên nghiệp nhà
Bên cạnh mẹ chan hòa chung lý tưởng

.

Thời niên thiếu luôn hướng về phía trước
Ươm tương lai xây mộng ước vô biên
Luyện kinh văn, học tập đức thành hiền
Nung chí cả anh hùng gương can đảm

.

Dời núi lấp sông vượt ngàn sầu thảm
Hồ thỉ tang bồng nồng ấm tình thương
Tổ quốc lâm nguy đầu quân chiến trường
Xông pha giết giặc kiên cường tranh đấu

.

Ngày nghỉ phép, gặp người em phúc hậu
Tuổi đôi mươi vầng trăng sáng vừa lên
Đụng tay em, em hờn dỗi mắc đền
Lời xin lỗi, nhưng tim rung tán loạn

.

Kể từ đó, có phép về, em đón
Cầu Bằng Lăng tình thắm nắng vàng pha
Hoa lồng hương chớm kết trước cửa nhà
Tiếng pháo cưới, đám trai làng vỡ hận

.

Chàng tiếp tục lên đường vì tổ quốc
Nàng ôm con chăm sóc mái nhà xưa
Tình yêu nhau ngọt mát như nước dừa
Dù chiến cuộc đến hồi quá khủng khiếp

.

Ngày gẫy súng, binh nghiệp tròn nửa kiếp
Không hận thù, từ chỗ ngã đứng lên
Nợ non sông vẫn canh cánh đáp đền
Nợ tình vợ nuôi cháu con khôn lớn

.

Nợ chiến hữu trả vay còn chưa trọn
Xin gửi trao tất cả các con thơ
Trả hộ Cha, đừng xao nhãng phai mờ
Trong muôn một, nhất là Mẹ yêu kính!

Bửu Truyền

==

Người Lính Năm XưaTHƠ DƯƠNG VIỆT CHỈNH

==

Người Lính Năm Xưa

(19-6, vinh danh các chiến sĩ QLVNCH)

Người lính năm xưa rất hào hùng

Đêm ngày chiến đấu giữ núi sông

Tinh thần bất khuất và cao cả

Vì nước vì dân sống hết lòng

.

Người lính hiên ngang ấy đã từng

Có tình yêu đẹp tựa như trăng                                              

Hẹn ngày đất nước tàn chinh chiến

Đám cưới đầu xuân nắng thanh bình  

.   

Người lính phong sương có gia đình

Hậu phương tiền tuyến vẫn nhớ mong                                 

Hứa ngày về phép vui hạnh phúc

Bữa cơm đoàn tụ thắm nghĩa tình

.

Người lính ước mơ riêng không thành                                                   

Bởi còn khói lửa với đao binh

Những lời hứa hẹn đành chôn chặt        

Giấu nỗi xót xa tận đáy lòng

.

Người lính đắng cay mất nước nhà

Vào tù vì chính nghĩa quốc gia,

Vùi chôn thân xác nơi rừng núi,

Uất hận ly hương mãi không nhòa

.

Người lính lưu vong nay đã già

Đường về quê mẹ cứ dần xa

“Lực bất tòng tâm” đành nuốt lệ

Nhận đất tha phương gọi là nhà

.                                

Người lính như gương sáng rạng ngời

Người hùng một thuở đất nước tôi

Người mang hoài bão nuôi chí lớn

Tôi hảnh diện người chiến sĩ ơi

Dương Việt-Chỉnh, 15-6-2026

==

TIN TỨC VỀ NGÀY QLVNCH 19 THÁNG 6 – KQ LÊ VĂN HẢI

=

==

=

-Ngày Quân Lực 19-6 là dịp để chúng ta tưởng nhớ và tri ân những người lính Việt Nam Cộng Hòa, đã một thời hiến dâng tuổi trẻ, máu xương và cả mạng sống của mình cho lý tưởng Tự Do, Dân Chủ và sự sống còn của dân tộc.

Trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt, khi miền Nam đứng trước hiểm họa mất nước, người lính Việt Nam Cộng Hòa đã can đảm đứng lên nhận lãnh trách nhiệm bảo vệ quê hương. Họ chiến đấu không vì quyền lợi riêng tư, mà vì sự bình an của đồng bào, vì tương lai của các thế hệ mai sau, với tinh thần cao đẹp: “Vì Nước quên mình, vì Dân phục vụ.”

Chiến tranh đã lùi xa hơn nửa thế kỷ, nhưng những hy sinh của trên 300.000 chiến sĩ đã nằm xuống và hàng trăm ngàn thương phế binh còn mang thương tích suốt đời, vẫn là những trang sử hào hùng không thể nào quên. Dù thời gian trôi qua bao lâu đi nữa, lòng tri ân đối với những người đã vị quốc vong thân, vẫn còn nguyên vẹn trong lòng những người Việt yêu chuộng tự do.

Ngày hôm nay, chúng ta kính cẩn nghiêng mình trước anh linh các anh hùng tử sĩ, những người đã chọn hy sinh đời mình để bảo vệ chính nghĩa. Chúng ta cũng không quên những chiến hữu còn sống, những thương phế binh và gia đình quân nhân đã âm thầm chịu đựng biết bao mất mát trong suốt nhiều thập niên qua.

Ngày Quân Lực không chỉ là ngày tưởng niệm quá khứ, mà còn là ngày nhắc nhở chúng ta về những giá trị cao quý của trách nhiệm, danh dự, lòng yêu nước và tinh thần phục vụ tha nhân. Những giá trị cao đẹp ấy vẫn tiếp tục soi sáng con đường của người Việt hôm nay và mai sau.

Nguyện cầu hương linh các vị tướng lãnh, các chiến sĩ vị quốc vong thân và toàn thể quân dân đã hy sinh cho tự do được an nghỉ trong cõi vĩnh hằng. Xin cho thế hệ hôm nay luôn biết trân quý tự do, đoàn kết xây dựng tương lai và gìn giữ những lý tưởng cao đẹp mà các anh đã để lại.

Tinh thần Người Lính Việt Nam Cộng Hòa – Vì Dân mà chiến đấu, Vì Nước mà hy sinh – mãi mãi bất diệt!

Thứ Sáu, Đúng Ngày 19/6, Tại Vườn Truyền Thống Việt

Chút Quà Từ Ủy Ban Thúc Đẩy Xây Dựng Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ San Jose:

=

-Đặc Biệt Nhân Kỷ Niệm Ngày Quân Lực Và Kỷ Niệm 2 Năm Thành Lập Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ San Jose, Ủy Ban TĐXDTĐ, xin Kính tặng Quý Cựu Quân Nhân, một món quà nhỏ và một phong bao lì xì, như một lời cảm tạ và lời chúc sức khỏe!

=

=

=

-Có những người lính chiến thắng được dựng tượng đài bằng đá. Có những người lính thất trận, được dựng tượng đài trong lòng người.

Người lính Việt Nam Cộng Hòa thuộc về lớp người thứ hai!

Họ rời mái trường, gác lại tuổi thanh xuân, khoác lên mình màu áo trận để gìn giữ quê hương, trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt. Hai mươi năm dài, họ đi qua những cánh rừng, những dòng sông, những đồi cao đầy khói lửa, mang trên vai trách nhiệm bảo vệ sự bình yên cho hàng triệu người dân miền Nam.

Rồi chiến tranh khốc liệt kết thúc.

Không chỉ mất một cuộc chiến, họ còn mất quê hương, mất tương lai, mất cả quyền được nhắc đến bằng sự công bằng của lịch sử. Người sống bước vào lao tù, người chết nằm lại trong những nghĩa trang hoang phế. Những thương binh tàn tật sống âm thầm bên lề xã hội. Nhiều gia đình mang theo nỗi đau ấy qua nhiều thế hệ.

Có lẽ đó là một trong những thân phận bi thương nhất của người lính trong lịch sử hiện đại: chiến đấu hết lòng cho lý tưởng mình tin tưởng, rồi phải sống những năm tháng còn lại trong lãng quên, lưu đày và mất mát.

Nhưng thời gian có thể làm phai mờ nhiều thứ, không thể xóa được lòng biết ơn.

Bởi sau tất cả, hình ảnh người lính Việt Nam Cộng Hòa vẫn còn đó trong ký ức của đồng đội, trong những lá Cờ Vàng nơi đất khách, trong những tượng đài tưởng niệm được dựng lên khắp thế giới tự do, và trong trái tim của những người vẫn còn nhớ rằng, đã có một thế hệ thanh niên từng hiến dâng tuổi trẻ, máu xương và cả cuộc đời mình cho quê hương.

Xin thắp một nén hương lòng cho những người lính năm xưa.

Cho những người đã nằm xuống. Cho những người còn sống trong ký ức. Và cho những người, dù bị lịch sử bỏ quên một thời, vẫn không bao giờ bị lãng quên trong lòng dân tộc.

Tinh thần Huynh Đệ Chi Binh vẫn còn đó. Lý tưởng Tự Do vẫn còn đó. Cuộc đấu tranh cho một Việt Nam dân chủ, nhân quyền và không còn độc tài cộng sản vẫn còn đó.

Chúng tôi quyết tâm tiếp tục con đường mà những người lính Việt Nam Cộng Hòa đã chọn: Phụng sự Tổ quốc. Bảo vệ Dân tộc. Tranh đấu cho Tự do.

375bbcf9-7bba-4d29-bf24-3ed71a5efba9nknknknn;nk;.png

Cho đến ngày Việt Nam thật sự có Dân Chủ, Nhân Quyền và Tự Do.

Việt Nam Cộng Hòa Muôn Năm! Tổ Quốc Việt Nam Muôn Năm!

LÊ VĂN HẢI




Phương Hoa: TƯỜNG THUẬT – Hẹn Hò Với “Tình Cha” – Một Buổi Chiều Đầy Cảm Xúc

Hẹn Hò Với “Tình Cha” – Một Buổi Chiều Đầy Cảm Xúc

Phương Hoa

=

Nếu có giải thưởng nào cho “Buổi chiều thứ Bảy tràn ngập năng lượng nhất”, chắc chắn tôi sẽ bỏ phiếu ngay cho show “Ca Nhạc Tình Cha” do Hội Phụ Nữ Thiện Nguyện Việt-Mỹ Bắc Cali tổ chức ngày Thứ Bảy, 13 Tháng 6, vừa qua! Chàng xã nhà tôi thường khi ít ra ngoài tham dự những sự kiện đông đảo náo nhiệt, mà thích ở nhà chăm sóc hoa lá cỏ cây sau vườn, nghiên cứu kinh sách, thiền định để tĩnh tâm.  Nhưng vì có vợ chồng người em tôi mới sang Mỹ định cư tôi đưa họ đi cho biết những sinh hoạt của cộng đồng Việt mình, nên anh mới đi cùng cho vui. 

=

Những bước chân tôi từ bãi đậu xe tại số 70 West Hedding vào trong hội trường mang theo một sự tò mò và nôn nao khó tả. Bởi lẽ, đây là “đứa con tinh thần” đầu tiên được trình làng dưới sự dẫn dắt của cô Tân Hội Trưởng Mary Thảo Lê trẻ trung sau lễ nhậm chức trong ngày Lễ Mẹ (Mother’s Day) hồi Tháng 5, 2026 mà tôi cũng đã có viết bài tường thuật.

Đường đi hôm ấy từ Vùng Bay Area xuống San Jose bị chậm trễ, quá kẹt xe bởi thiên hạ nô nức đi xem lễ khai mạc FIFA, khiến chúng tôi đến trễ một chút. Tiếc nhất là đã bỏ lỡ nghi thức chào cờ Việt – Mỹ, một thủ tục trang trọng luôn phải có mở đầu mỗi sự kiện của người Việt nơi hải ngoại. Thế nhưng, ngay khi vừa bước chân vào khán phòng, không khí ấm áp và rực rỡ tươi vui đã nhanh chóng làm tan biến sự bực bội vì chậm chạp dọc đường. Sân khấu được trang trí ngập tràn hoa tươi, lung linh, và vô cùng trang nhã. Nổi bật nhất phải kể đến chiếc bánh kem 3 tầng to đùng với dòng chữ “Mừng Ngày Lễ Cha” nhìn vô cùng bắt mắt, khiến ai đi ngang qua cũng phải trầm trồ.

=

Chương trình chính thức bắt đầu khi Tân Hội trưởng Mary Thảo Lê tiến lên sân khấu phát biểu khai mạc. Dáng dấp nhanh nhẹn, trẻ trung, và vẻ tự tin cùng những lời chia sẻ đầy tâm huyết của cô như một lời “chào sân” không thể tuyệt vời hơn!

=

Ngay sau đó là một khoảnh khắc vô cùng xúc động khi Cựu Hội Trưởng Merry Thanh Lê bước lên để công bố một quyết định đặc biệt. Vì đang phải chiến đấu với căn bệnh nan y, không thể toàn tâm toàn ý sát cánh cố vấn cho Tân Hội Trưởng như lời hứa lúc bàn giao chức vụ trước đây, chị Merry Thanh Lê đã trân trọng mời thêm một vị nam nhân nữa, là ông Michael Lê vào ban cố vấn để đảm nhiệm vai trò Cố vấn Nội vụ, đồng hành và phụ giúp cùng ông Jimmy Phan, người bấy lâu nay vẫn vững vàng ở vị trí Cố vấn Ngoại vụ cho Hội Thiện Nguyện Việt Mỹ này. Nhìn tinh thần trách nhiệm và cái tình mà các thế hệ đi trước dành cho Hội, ai nấy trong khán phòng cũng đều cảm kích.  Để tri ân những người đồng hành, Tân Hội trưởng Mary Thảo Lê đã trân trọng trao tặng những bó hoa tươi thắm đến từng thành viên trong Ban Chấp Hành.

=

Một bất ngờ cho riêng cá nhân tôi, khi Tân Hội trưởng Mary Thảo Lê, vì lòng mến mộ Thi Văn Đàn Văn Thơ Lạc Việt, đã trân trọng mời tôi bước lên sân khấu để có đôi lời phát biểu cảm tưởng.  Đứng trước khán phòng đông đảo đồng hương, tôi đã chia sẻ, dù là thành viên của Văn Thơ Lạc Việt và sống từ tận San Francisco xa xôi, nhưng tôi vẫn cố gắng lặn lội đến đây để ủng hộ hết mình cho chương trình đầu tay của Tân Hội Trưởng Mary Thảo Lê, một người trẻ tuổi nhưng có cái tâm rất lớn, luôn tràn đầy nhiệt huyết dấn thân vì cộng đồng. Tôi cũng không quên gửi lời kêu gọi đồng hương hãy tiếp tục dang rộng vòng tay che chở và ủng hộ, để cô ấy có thêm động lực hoàn thiện xuất sắc mọi công tác trong nhiệm kỳ mới.

=

Nhân dịp này, để thay lời tri ân, tôi đã kịp “dằn túi” mấy câu thơ mộc mạc nhưng gói trọn tấm lòng thành, và đọc lên để chúc mừng đến tất cả quý vị đã là cha, đang là cha, và sẽ là cha trong ngày lễ thiêng liêng này:

MỪNG NGÀY LỄ CHA

Mừng ngày Từ Phụ hôm nay

Gió reo trong nắng mây bay dịu dàng

Công cha sánh với non ngàn

Dưỡng nuôi con trẻ vô vàn khó khăn

Tuổi đời con bấy nhiêu năm

Vẫn luôn bé bỏng trong vòng tay cha

Này hoa, này bánh, này quà…

Làm sao báo được ơn cha khôn cùng

Lời thơ đưa đến muôn trùng

Vinh danh Từ Phụ kính cung chúc mừng

Mong Cha bách tuế thân tùng

Suốt đời an lạc vui cùng cháu con…

Phương Hoa – Văn Thơ Lạc Việt

Và ngay sau những phút giây các từ phụ nhận món “quà thơ”, thì phần mong đợi nhất, là chương trình ca nhạc, đã thực sự bắt đầu. Sân khấu liên tục “nóng” lên bởi những giọng ca mượt mà của dàn ca sĩ tên tuổi vùng Thung Lũng Hoa Vàng. Từ tiếng ngâm thơ trầm bổng và giọng hát ngọt ngào mở màn của ca sĩ Thu Tâm, giai điệu “Papa” sâu lắng qua tiếng hát Hoàng Ân, cho đến các ca khúc đầy cảm xúc của Hiếu Hạnh, Lệ Hằng, Bảo Ngọc, Hồng Nguyên, Kim Thi, Hoàng Kim, Đan Thanh, Kim Phụng, Lisa Đàm… Mỗi tiết mục kết thúc là cả khán phòng lại vang dội những tràng pháo tay tán thưởng không ngớt.  Nhìn quanh, tôi cũng cảm thấy lòng rộn vui vì những ánh mắt rạng rỡ và nụ cười hạnh phúc của “các cha!”

Một trong những điểm nhấn “độc lạ” và vui nhộn nhất giờ ngồi đây tôi nhớ lại, chính là màn múa “Khỏe Vì Nước” do các vị cao niên thực hiện. Nhìn các bà diện đồng phục đen, thắt chiếc khăn xanh ngang hông, tay múa gậy nhịp nhàng, khỏe khoắn mà gương mặt ai cũng rạng rỡ, cả khán phòng vừa thích thú vừa vỗ tay cổ vũ nồng nhiệt. Đúng là tinh thần vui, khỏe, có ích, khiến giới trẻ vào hàng con cháu cũng phải nể phục!

=

Nhưng rồi, cái khoảnh khắc đẩy không khí khán phòng lên cao điểm, khiến cả không gian như “bốc lửa bốc khói” chính là màn cắt bánh kem tập thể… có một không hai của các đấng mày râu! Trên nền nhạc rộn ràng, tiếng hát “Happy Birthday” vang dội, cô Tân Hội Trưởng đã trân trọng kính mời tất cả các bậc Từ Phụ có mặt trong hội trường cùng bước lên gần lễ đài. Ôi, nhìn các cụ, các bác, các chú, các anh… người thì đeo vòng hoa rực rỡ, người diện quân phục oai nghiêm, người lại lịch lãm với áo sơ mi, cùng nhau quây quần bên chiếc bánh kem 3 tầng mà ai nấy đều cười… hết cỡ, mắt ánh ngời lên niềm hạnh phúc.

==

Chẳng còn nét trầm ngâm hay nghiêm nghị … “làm Cha thiên hạ” của ngày thường, các “nam thần” của chúng ta hôm ấy nhìn vui vẻ trẻ trung và “chịu chơi” vô cùng! Khi mấy chục bàn tay cùng đồng loạt đặt lên chiếc dao cắt bánh, cả hội trường như muốn nổ tung trong tiếng vỗ tay, tiếng reo hò cổ vũ và ánh đèn flash máy ảnh nhấp nháy liên tục như trẩy hội.  Những nụ cười rạng rỡ, những cái đưa tay đầy tình chiến hữu, tình đồng hương của các CHA bên chiếc bánh ghi ngày 13/6/2026 đã tạo nên một bức tranh vô giá.  Nhìn các anh, các chú vui tươi, khí thế hừng hực như tuổi đôi mươi, mọi người dưới hàng ghế khán giả cũng thấy lòng mình rộn rã, nôn nao lây theo cái nhiệt lượng thanh xuân đang lan tỏa khắp hội trường.

=

Ở phần cuối chương trình, hấp dẫn và hồi hộp đến nghẹt thở chính là phần bán vé và xổ lô tô. Không khí rộn ràng hẳn lên khi ba cô kiều nữ vốn là những “ca sĩ gộc” thực thụ (Hiếu Hạnh, Hoàng Kim, Đan Thanh) cùng lên sàn… hò lô tô. Những câu hò duyên dáng, ngọt ngào phối hợp nhịp nhàng, vọng cổ, thậm chí có cô còn hò lô tô bằng…tiếng Anh! làm mọi người vừa ôm bụng cười vừa chăm chú dò từng con số.

=

=

Giải thưởng lô tô năm nay cũng khá “nặng ký”. Giải Nhất là một vòng chuỗi ngọc thạch xanh ngời quý giá từ nhà bảo trợ là tiệm vàng Thành Tín. Tiện đây, cô Tân Chủ Tịch cũng không quên kêu gọi mọi người hãy đến ủng hộ tiệm vàng Thành Tín, một Mạnh thường quân có tiếng luôn mở lòng đồng hành cùng các sự kiện cộng đồng.  

=

=

Bên cạnh đó là hai giải thưởng phụ cũng vô cùng thiết thực: Giải Nhì là phần quà trị giá $100 dollards do nhà hàng Rong Biển bảo trợ. Và Giải Ba là $100 tiền mặt do DN Karaoke ủng hộ. Ngoài ra, Hội Phụ Nữ Thiện Nguyện Việt-Mỹ Bắc Cali còn được sự bảo trợ của Kim Loan Health Care ở trong Grand Century Mall, ông Jimmy Phan, Ban Cố Vấn, và cô Betty Dương Giám Sát Quận Hạt Santa Clara.

=

=

Sự hồi hộp, tiếng cười giòn giã xen lẫn niềm vui của những người trúng lộc làm cho cuộc vui càng thêm hấp dẫn.  Tất cả cộng lại đã cho mọi người một ngày Lễ Cha trọn vẹn.

Khi chương trình sắp hoàn tất, mọi người được mời ra ngoài thưởng thức những đĩa bánh kem ngọt ngào, và mấy món ăn nhẹ như xôi cúc cũng khá ngon. Chỉ trong nháy mắt, cái bánh kem 3 tầng cao gần đụng…trần nhà đã tan chảy trong miệng những thực khách nào… nhanh chân.

Chúng tôi ra về mà dư âm vui tươi, nôn nao của buổi chiều hôm ấy vẫn còn đọng mãi trong lòng.  Một chương trình đầu tay quá đỗi thành công của cô Tân Hội Trưởng là món quà tri ân sâu sắc gửi đến các đấng sinh thành, đồng thời kết nối tình thân cộng đồng thêm phần bền chặt!

Xin chúc mừng Mary Thảo Lê.  Mong rằng cộng đồng Việt San Jose vẫn tiếp tục ủng hộ cho Tân Hội Trưởng, để hàng năm các bậc Cha Mẹ tiếp tục đón nhận những niềm vui trong những ngày Lễ Mother’s Day và Father’s Day tại vùng Thung Lũng Hoa Vàng.

Phương Hoa – Mùa Lễ Father’s Day 2026

=




VTLV- CHÚC MỪNG VĂN THI SĨ CAO MỴ NHÂN KỶ NIỆM 73 NĂM CẦM BÚT.

https://vietbao.com/a305738/cao-my-nhan-nguoi-di-xe-thien-dang-

73 năm chẵn bút tung hoành

Tự thuở lên mười đã nổi danh

Thi sĩ đường mây hòa dưới trướng

MỴ NHÂN cánh gió quyện bên mành

Thơ gom kẻ mến cùng bờ cõi

Sách gọi người yêu khắp thị thành

Cầu chúc Bách niên hiền tỷ vẫn…

Trường kỳ sáng tác đẹp vườn thanh.

Phương Hoa – MAR 18,2026

==

https://lylang.blogspot.com/2026/03/chuc-mung-van-thi-si-cao-my-nhan-ky.html

*

Hoàn hảo trục tung lẫn cạnh hoành (*)

Vẽ nên đồ thị đáng lưu danh

Nửa đời binh nghiệp đầy oai vệ

Một kiếp tao đàn thật diễm thanh

Thi hứng ngập tràn như sóng biển

Câu từ buông phủ tựa tơ mành

Mười ba tác phẩm đà in ấn

Bao áng thơ văn đẹp kết thành.

(*) Cuộc đời chị Cao Mỵ Nhân ví như một đồ thị đẹp vẽ nên bởi hai trục hoàn hảo là trục tung Binh Nghiệp và trục hoành Thơ Văn

Sông Thu (20/03/2026)

==

                     (Hoán vận)

Bươn trải trần ai đã đủ hoành

Mệnh tài tương đố bợn chi danh

Sa trường kiêu hãnh thời oanh liệt

Trướng gấm hoài vương thuở diễm thanh

Văn bút tiềm tàng ngời nguyệt rạng

Thi đàn tuyệt hảo nuột tơ mành!

Cảo thơm lưu dấu, tình trao lại

Nghĩa nặng ân thâm  ấm dạ thành!

                           Nguyễn Huy Khôi

                                  20-3-2026

==

Bẩy ba năm vẫn mãi vang danh 

Nổi tiếng thơ văn bút trụ hoành 

Một thuở Sapa đào ngập lối 

Ngàn mây viễn xứ tuyết giăng mành 

Quân hành áo trận thơm kinh sử 

Hoa gấm đài trang dấu cổ thành 

Trang giấy gởi hồn bao tác phẩm 

 Muôn đời lưu giữ nét đan thanh.

Lê Mỹ Hoàn 3/20/2026

==

(Họa hoán vần)

Tám sáu mùa xuân ẩn giữa mành

Mỵ Nhân nữ sĩ thật lừng danh

Thời xưa lính tráng ngời vân cẫu

Hiện tại văn thơ rạng bức hoành

Xé nửa thiên đàng trông gió mát

Vo tròn thi phú đợi trăng thanh

Bảy mươi năm lẻ mài nghiên bút

Tăm tiếng loan xa, mộng đã thành

ThanhSong ntkp – CA. 20/03/2026

==

(Kính mừng chị CAO MỴ NHÂN 73 năm cầm bút)

Đường luật thất ngôn rạng trướng, hoành*

Tân thời lục bát tiếng vang danh

Văn phong cổ kính màu thiên địa

Cốt cách thanh tao dáng lụa mành

Bước giữa nhân tình, lòng thấu cảm

Đi trong thế sự, ý hình thành

Quê hương nghiệm trải, thơ tung bút

Chữ nghĩa im lìm đã vọng thanh…

Lý Đức Quỳnh

 20/3/2026

*Hoành là bức hoành phi, chữ viết ngang như thư pháp, thường treo trong phòng khách. 

==

==

(Tự họa)

Thơ họa thăng hoa bức lụa hoành 

Lời vàng thi sĩ quả tài danh 

Sương còn say đắm treo bờ giậu

Nguyệt cũng ngẩn ngơ rọi trước mành

Đại tỷ mấy mươi năm bút toại

MỴ NHÂN non thế kỷ công thành

Cảm ơn mặc khách cùng đồng điệu

Hòa vận chúc mừng ý đẹp thanh.

Phương Hoa

MAR 24, 2026 

==

             SƯƠNG KHÓI VĂN CHƯƠNG

( Buổi sáng ngày 19-3-2026 vừa qua, nhân khi viết một bài 

gởi đi đăng báo, Mỵ tôi chạnh nhớ ngày 19-3-1953  có bài viết 

 “ Sự tích Trời Cao “ đăng lần đầu tiên ở trang Nhỉ Đồng 

báo Liên Hiệp Hanoi, nên lỡ tâm sự với PHƯƠNG HOA, là 

Mỵ tự lên tinh thần vì vẫn còn thích viết ) 

Nay được quý bạn khuyến khích quá, nên xin CÁM ƠN quý Thi Sĩ : SÔNG THU, 

NGUYỄN HUY KHÔI, THANH SONG KIM PHÚ, MỸ HOÀN , LÝ ĐỨC QUỲNH  vui họa với 

CÁM ƠN, CHÚC VUI KHOẺ.         Cao Mỵ Nhân ..

Ôi nét chân phương giữa bức hoành

Khiến lòng trọng nghĩa khách tài danh

Xướng Thơ như suối nguồn băng núi 

Họa ý hơn châu ngọc rớt mành

Đa tạ tao nhân vui dự hội

Cám ơn tác phẩm  vượt san thành

Bảy ba năm hạnh ngộ tri kỷ 

Thi Cảm chan hòa vạn lý thanh …

      Hawthorne  20 – 3 – 2026

              CAO MỴ NHÂN 

Thất thập nhị huyền công cộng một,

Bảy mươi ba phép thắng Tề Thiên.

Trưng Vương trung học vang danh nữ,

Thiếu Tá Việt Nam đệ nhất miền.

Xướng họa văn thơ nên nợ bút…

Thi từ ca phú kết văn duyên.

Cuộc đời há kém chi nam giới,

Chúc chị yên bình sống bách niên !

                Thầy Đồ – Đỗ Chiêu Đức

                   03-21-26 – Kính bút.

==


Bảy ba năm vẫy bút đường trần

Thơ kính chúc mừng Cao Mỵ Nhân
Chữ nghĩa ngời ngời như hạo nguyệt

Văn chương tải tải tựa thanh vân

“Chim Bay Mỏi Cánh” thời phiêu bạt

Ngựa thét nghiêng đèo buổi loạn quân

Văn võ toàn tài xin ngưỡng mộ

Từ Sapa đến phố Thiên Thần*               

Quang Hà, 26/03/2026

==

Muốn nói với em một điều rất lạ

Bằng chữ “sorry” vì quên tất cả

Từ không gian đến thời khắc vừa qua

Đáng tiếc, lâu rồi anh đi xa quá

*

Trong ngôn ngữ thơ gọi là vần trắc

Cuối câu ngắn, dài … phải dùng âm sắc

Thế còn gì lời thoảng nhẹ dịu êm

Khi tri kỷ gật gù không thắc mắc

*

Một bài Đường thi tám câu, bảy chữ

Đã khó rồi, còn mượn vần cuối lỡ

Sao không viết nhàn hạ để thảnh thơi

Mà lại khiến hồn thơ sầu bỡ ngỡ

*

Riêng với em, nàng thơ luôn khổ lụy

Anh van xin những hình ma, bóng quỷ

Hãy rời đi, đáng tiếc cõi mơ này

Để đôi mình thương yêu, cùng trân quý …

Rancho Palos Verdes   19 – 3 – 2026

             CAO MỴ NHÂN

        Thân quý gởi THI SĨ PHƯƠNG HOA

Hôm nay 19/3/2026.   CMN kỷ niệm ngày 19/3/1953 khi chưa di cư vô Nam, hôm đó 19/3/ 1953, bài truyện nhi đồng tên TRỜI CAO của CMN đăng trên báo LIÊN HIỆP HA NỘI, mới hơn 10 tuổi.

Rồi tiếp tục cứ đăng các bài truyện nhi đồng do CMN tưởng tượng trên mỗi thứ năm báo GIANG SƠN HANOI, năm sau di cư vô SAIGON, 9/1954, tiếp tục viết truyện trẻ em và làm thơ cho tới ngày nay 19/3/ 2026 này.

CÁM ƠN NHIỀU NHÉ.  CHÚC KHOẺ VUI HOÀI, VIẾT HOÀI nha.       

CAO MỴ NHÂN

==

==

73 Năm Cầm Bút – Một Đời Thi Ca!

-Bảy mươi ba năm — một HOA SAO lấp lánh giữa trời văn học,

Từ thuở thiếu thời, lời thơ đã nở thành THƠ MỴ, dịu dàng mà sâu thẳm.

Qua bao GA XÉP của cuộc đời,

Người vẫn ung dung bước giữa CHỐN BỤI HỒNG,

Khoác ÁO MẦU XANH của mộng và tình,

Đưa hồn thơ đi qua những chiều LÃNG ĐÃNG VÀO THU rất nhẹ…

Có khi lặng lẽ ĐƯA NGƯỜI TÌNH ĐI TU,

Có lúc trở về sau những SAU CUỘC CHIẾN của lòng người và thế sự,

Mà vẫn mở một QUÁN THƠ THÁNG NGÀY CÒN LẠI,

Cho bạn hữu bốn phương ghé lại — nghe NHỊP TIM THƠ còn vang mãi…

Dẫu thời gian có gọi là TÌNH MUỘN,

Thì thơ vẫn trẻ — như buổi đầu xướng họa,

Như những vần THƠ XƯỚNG HOẠ còn ngân dài không dứt,

Gieo duyên tri kỷ, kết nghĩa văn chương.

Xin kính chúc Thi Sĩ:

Bút lực dồi dào — hồn thơ bất tận. Tâm an — ý sáng — tình còn mãi thiết tha

Để vườn thơ MỴ NHÂN: mãi nở — ngàn sau còn hương!

Trân trọng kính mừng

73 năm một đời thi sĩ — Một đời đẹp như chính… thơ mình.

Thay mặt VTLV

Lê Văn Hải

 bjkbjkbjkbjkbjkbjkbjk.png

1/ HOA SAO -1959  (1000 cuốn loại Roneo) THƠ

Tặng bạn Hướng Đạo dự trại họp bạn Phục Hưng, thế giới  kỳ 8 , tại Trảng Bom Việt Nam.

2/ THƠ MỴ 1 – 1961 (200 cuốn loại Roneo)

Nhà xuất bản Đại Nam Văn Hiến, Nhà văn Thế Phong phát hành, bán hết ngay trong 2 tuần lễ mới phát hành.

Tựa: Nhà văn Thế Phong.

3/ GA XÉP – 1962- THƠ (in typo)

Do Nhà văn Vũ Ngọc Anh (Hồ Linh)

Trách nhiệm kiểm duyệt và phát hành

4/ CHỐN BỤI HỒNG  1 –  1994

– Nhà Xuất Bản Sông Thu Hoa  Kỳ  – 1000 cuốn

Tựa : Nhà Xuất bản Sông Thu (Hoa Kỳ)

Nhà văn Duy Lam. (Hoa Kỳ)

5/ THƠ MỴ 2 – 1997- THƠ

 Xuất Bản Ngày Nay Hoa Kỳ 1000 cuốn.

 Tựa : Nhà Xuất Bản Ngày Nay – Nhà văn Duy Lam.

 Bạt : Nhà thơ Thanh Trí Cao (Hoà Thượng Thích Quảng Thanh – Hoa Kỳ)

6 / ÁO MẦU XANH – 1999 – THƠ

Nhà Xuất Bản Cỏ Thơm – Hoa Kỳ – 500 cuốn .

Tựa: Nhà Xuất Bản Cỏ Thơm (Hoa Kỳ)

 – Thi sĩ Hà Bỉnh Trung  (Hoa Kỳ)

7/ ĐƯA NGƯỜI TÌNH ĐI TU – 2001 – THƠ

 Nhà Xuất Bản Tiếng Vang – Hoa Kỳ – 500 cuốn .

 Tựa : – Nhà Xuất Bản Tiếng Vang- Nhà văn Trần Văn.

 – Thi sĩ Hoàng Ngọc Liên  (Hoa Kỳ)

8/   LÃNG ĐÃNG VÀO THU – 2001- THƠ

 – Nhà Xuất bản   Kinh Doanh – Hoa Kỳ. 700 cuốn

  Tựa : Thi Sĩ Tùng Linh (Hoa Kỳ)

  Bạt : Nhà văn Hồ Linh. (Hoa Kỳ)

9/  SAU CUỘC CHIẾN – 2003 – THƠ

 Nhà Xuất Bản Cội Nguồn – Hoa Kỳ. 1000 cuốn .

 Tựa: Thi sĩ Diên Nghị  (Hoa Kỳ )

  – Thi sĩ Song Nhị  (Hoa Kỳ )

10/ QUÁN THƠ THÁNG NGÀY CÒN LẠI- 2009 – THƠ

Nhà Xuất Bản THƯ ẤN QUÁN –  Hoa Kỳ – 800 cuốn.

Tựa: Thi sĩ Hà Thượng Nhân (Hoa Kỳ)

Bạt: Thi sĩ Trần Hoài Thư (Hoa Kỳ)

11 / NHỊP TIM THƠ – 2016.

Nhà Xuất Bản Nhân Ảnh  Hoa Kỳ. Phát hành : Amazon.

Tựa : – Thi sĩ  Luân Hoán (Canada )

–  Thi sĩ Võ Thạnh Văn (Hoa Kỳ)

Bạt :  Tiến sĩ Bùi Lê Dzung (Australia )

12 / TÌNH MUỘN – Thơ – 2018.

Nhà Xuất Bản  Nhân Ảnh  Hoa Kỳ . Phát hành: Amazon.

 Tựa: Thi sĩ Luân Hoán (Canada)

13/ THƠ XƯỚNG HOẠ CAO MỴ NHÂN & TRỊNH CƠ Thơ – 2020.

Nhà Xuất Bản Nhân Ảnh – Hoa Kỳ. Phát hành: Amazon.

Tựa : Thi sĩ Lê Hân (Hoa Kỳ)

Nhà văn Nguyễn Thành (Việt Nam)

14/ CHIM BAY MỎI CÁNH – Văn Thơ Lạc Việt – Hoa Kỳ.

 hnklnnklnklnkl.jpg

Chút tiểu sử: CAO MỴ NHÂN

Sanh ở Chapa Hoàng Liên Sơn   Laokay.

Học Nữ Tiểu học  Lệ Hải  Hải Phòng  

Di cư  vô Nam năm 1954

Học Nữ Trung học Trưng Vương  Saigon

Học Nữ Cán Sự Xã Hội tại  Centre Caritas Saigon

Gia nhập Quân Đội VIỆT NAM CỘNG HOÀ.

Cấp bậc  và Chức vụ sau cùng:

Thiếu Tá Trưởng Phòng Xã Hội Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn I / Quân Khu I.

Qua Hoa Kỳ theo diện Tị nạn Chính trị (HO8)

Định cư  tại  Los Angeles từ cuối 1991 tới nay.

Tham gia Văn Bút VNHN:TrungTâm Văn Bút Tây Nam Hoa Kỳ

1994 – 1996, chức vụ: Tổng Thư Ký  Trung Tâm Văn Bút Nam Hoa Kỳ (Nam California)

1996 – 1998, chức vụ: Phó Chủ tịch Nội vụ

Trung Tâm Văn Bút Tây Bắc Hoa Kỳ (Bắc California)

2004- 2008, Hội viên Văn Bút Vùng Đông Bắc Hoa Kỳ

Từ 15-11-2020 tới nay: Hội viên chính thức của Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại. Cây Bút Chính “Lão Làng” Của VTLV!bbjbjlbjlbjlbjl.jpg

==

 🌱🌾🌱🌾🌱🌱

Gần như suốt một dòng đời cầm bút, chị đã đông góp biết bao Văn Chương Thi Bút cho thế hệ trẻ, chị đã phục vụ tổ quốc trong QĐVNCH, một cuộc đời đầy ý nghĩa và cao cả. Em chúc chị luôn luôn khỏe mạnh, an vui và tiếp tục sáng tác nhiều Văn Thơ, một niềm vui và hạnh phúc trong cuộc đời. 

Quý mến chị, 

HoàngThục Uyên – Ngày 20/3/2026 

==




3 CA KHÚC TẶNG MC VTLV THANH LOAN: “CÁNH ĐỒNG QUÊ HƯƠNG” Thái Phạm – “NÀNG LÀ AI?” Phương Hoa -“VẪN YÊU GIỌNG NÓI MIỀN NAM” Đỗ Vẫn Trọn.

==

==




PHƯƠNG HOA – NIỀM VUI NGÀY Lễ Tốt Nghiệp Cao Đẳng Phật Giáo Thực Dụng.

Niềm Vui Ngày Lễ Tốt Nghiệp Cao Đẳng Phật Giáo Thực Dụng

Phương Hoa

Hôm nay 24 Tháng 5, 2026, là ngày Lễ Tốt Nghiệp khóa học tại trường Cao Đẳng Phật Giáo Thực Dụng (Practical Buddhism College) niên khóa 2024 – 2026.

Ở cái xứ Mỹ muôn vàn luật lệ này, mở một ngôi trường College, Cao đẳng, vốn đã là điều gian nan. Thế nhưng, Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Hồng Dũng đã làm được một điều tưởng chừng không thể.  Đó là khai sinh ngôi trường Cao đẳng Phật giáo Thực dụng (Practical Buddhism College) ngay tại thung lũng vàng San Jose, một ngành học vốn còn quá mới mẻ với giới học đường phương Tây. Nhiều người, đặc biệt là cộng đồng Phật tử, đều thán phục gọi đó là một kỳ tích, một dấu ấn tự hào của người Mỹ gốc Việt tại Bắc California.

Với sứ mạng “đem đạo vào đời”, trường mang đến chương trình đào tạo trực tuyến (online) như một chiếc cầu nối, đưa giáo lý uyên thâm của Đức Phật đến gần hơn với cuộc sống thường nhật. Giữa nhịp sống hải ngoại hối hả và đầy áp lực, đây chính là chiếc chìa khóa vạn năng giúp học viên tìm về sự yên tĩnh của tâm linh, biết buông bỏ cố chấp, chuyển hóa cá tính, để kiến tạo một tương lai an lạc. Qua các bài học sâu sắc, học viên có thể nâng cao giá trị bản thân và được nuôi dưỡng toàn diện trên ba phương diện chính yếu nhất:

*TÂM, là nuôi dưỡng Tâm hồn, phát triển chánh tín, lòng từ bi hỷ xả, đạo đức và hạnh nguyện kiên cố.

*TRÍ, là phát triển Trí tuệ, thực hành thiền định quán chiếu, phát huy tuệ giác, giáo dục lý luận và ứng dụng khoa học vào thực tế.

*THÂN, là rèn luyện Bản thân, thượng tôn luật pháp, nghiêm trì giới luật, giữ gìn phẩm hạnh cá nhân, thực hành ái ngữ hòa hợp và tinh tấn phụng sự quần sanh…

Tôi đã tham gia 2 khóa học và thấu hiểu sự tiện lợi tuyệt vời của chương trình này. Dù thường xuyên phải đi đó đi đây lo toan công việc, tôi vẫn có thể vào lớp học Zoom ở bất cứ đâu miễn có sóng wifi. Thậm chí, nếu lỡ mất một buổi giảng, trang web của trường luôn có sẵn video lưu trữ để học viên xem lại, thấu hiểu bài giảng của Thầy Hiệu trưởng cùng các giảng sư để hoàn thành bài vở.

“Chim trời cá nước”, cánh chim khi rời tổ biết ngày nào trở lại nhà xưa… Nên nhânngày vui hôm nay, những người học trò chúng tôi xin được nghiêng mình tri ân sâu sắc đến “người đưa đò vĩ đại”,  Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Hồng Dũng. Bằng tầm nhìn vượt thời gian và nghị lực phi thường, Thầy đã giảng bài hàng giờ không mệt mỏi, cống hiến vô vụ lợi để chăm sóc cho vườn hoa chánh pháp nở rộ. Thầy đã mở ra cánh cửa tri thức, và truyền ánh lửa Đạo Vàng, dẫn dắt bao thế hệ học viên vượt qua mọi rào cản không gian và thời gian để tiếp cận ánh sáng Phật Pháp.

Có thể nói, Tu Viện Huyền Không là “chốn Bồng lai” lưu giữ dấu ấn lịch sử. Để tỏ lòng biết ơn việc góp phần cho sự thăng hoa của ngôi trường trực tuyến này, không thể không nhắc đến công đức to lớn của Tu Viện Huyền Không do Ni sư Nguyên Thiện trụ trì.

Tu Viện nằm tĩnh lặng an nhiên giữa lòng thành phố San Jose. Đứng ở cổng nhìn vào, tu viện hiện ra như một nét chấm phá đầy huyền bí và thơ mộng, tách biệt hẳn với sự náo nhiệt, hối hả của thế giới công nghệ ngoài kia.

Ngay từ lối vào khán đài, mái che mang dáng dấp uốn lượn ngói đỏ cùng biểu tượng bánh xe Pháp luân nhìn như chuyển động, ngời sáng dưới ánh mặt trời đã mở ra một không gian thoát tục. Nơi đây được trang trí bao bọc bởi những vòm cây xanh ngắt, những khóm hoa rực rỡ đan xen cùng sắc hướng dương rạng ngời và các tiểu cảnh non bộ được chăm chút tỉ mỉ.

Ngay chính diện hội trường, tôn tượng Đức Di Lặc đứng với nụ cười hỷ xả, bao dung, chấp tay cười thoải mái như đang chào đón những tân khoa, những đứa con Phật từ khắp chốn xa trở về.

Screenshot

Sắc xanh dịu mát của mây trời hòa cùng hương trầm từ phía chánh điện thoang thoảng tạo nên một bầu không khí vừa linh thiêng, vừa thanh tịnh đến lạ lùng.

Chính cái không gian nhuốm màu huyền thoại này là nơi đã âm thầm ghi dấu những cột mốc vàng son của trường Cao Đẳng Phật Giáo Thực Dụng. Năm 2022, nơi đây dang tay đón những tiếng cười rộn rã trong ngày Lễ Khai Giảng đầu tiên, gieo những hạt mầm chánh pháp xuống lòng đất ấm.  Năm 2024, cũng tại nơi này quý sư Thầy, sư Cô đã chứng kiến những ánh mắt hạnh phúc của ngày lễ Tốt Nghiệp Khóa 1 trang trọng và đầy niềm vui.

Và năm nay, 2026. Lại một lần nữa, Huyền Không Monastery khoác lên mình chiếc áo rực rỡ nhất để vinh danh lễ Tốt Nghiệp Khóa 2 – Niên học 2024 -2026. Ba dấu mốc, một chặng đường! Tu Viện Huyền Không chốn am thiền thanh tịnh đã trở thành mảnh đất tâm hồn, nơi lưu giữ những ký ức rực rỡ, từ bi, và thiêng liêng nhất của bao thế hệ học viên trên hành trình tìm kiếm Trí Tuệ và An Lạc.

Ai bảo học Phật là phải trầm ngâm, lặng lẽ? Lễ tốt nghiệp chiều nay đã biến chốn thiền môn thành một ngày hội thực sự, rộn ràng và náo nức chẳng thua gì mùa tốt nghiệp High School của giới trẻ!

Không khí được hâm nóng ngay từ sớm bằng một chương trình văn nghệ chào mừng cực kỳ đặc sắc. Những điệu múa uyển chuyển, những lời ca tiếng hát rực rỡ sắc màu được chuẩn bị công phu đã khuấy động sân khấu, lan tỏa một nguồn năng lượng hạnh phúc ngập tràn.

Giờ phút thiêng liêng nhất chính là lúc cung đón Tăng đoàn và quan khách. Khi tiếng chuông thanh thoát trầm hùng vang lên, cả không gian như lắng đọng. Phái đoàn Chư Tôn Đức Tăng Ni, quý Sư Bà, Sư Cô… thong dong, tự tại tiến vào lễ đài trong sắc áo cà sa vàng rực rỡ. Các Tân khoa đồng loạt đứng dậy, cung kính chắp tay búp sen trước ngực, miệng niệm hồng danh Đức Phật với lòng tôn kính vô biên. Giây phút ấy, đạo và đời như hòa làm một, thắp lên ngọn lửa Chánh pháp rạng ngời trong tim mỗi người.

Đặc biệt và cảm động nhất là hình ảnh bà Carmen Montano, Thị Trưởng thành phố Milpitas, đã đến tham dự và tình nguyện lên sân khấu hát vang bài Quốc ca Hoa Kỳ, khiến cả hội trường thích thú vỗ tay vang dội.

Sự kiện giáo dục Phật học này còn thu hút sự quan tâm của rất nhiều vị dân cử chính quyền địa phương, các Giáo sư, Tiến sĩ và giới tri thức tiếng tăm. Trưởng Học Khu San Jose Vân Lê, đã lên tuyên bố “xác nhận giá trị” văn bằng tốt nghiệp của Practical Buddhism College.  Thị trưởng Milpitas cũng lên nói lời chúc mừng, Ni Sư Nguyên Thiện, và nhiều vị Giáo sư Tiến sĩ lên phát biểu cảm tưởng trong vẻ cảm động, ủng hộ cho trường.  Rất nhiều bằng khen, hộp quà và những bó hoa tươi thắm đã được trân trọng trao tặng để chúc mừng kỳ tích của Thầy Hiệu trưởng.

Bà Carmen Montano Thị Trưởng thành phố Milpitas, hát Quốc Ca Hoa Kỳ

Và rồi, khoảnh khắc bùng nổ được mong đợi nhất cũng đã đến! Đó là lễ phát bằng. Cả một rừng Tân khoa trong sắc áo thụng đen, mũ vuông, dây tua dải băng vàng óng ánh số “2026” trên môi rạng ngời nụ cười hạnh phúc sắp hàng chờ đến lượt mình.  Nhận bằng xong mọi người được mời lên sân khấu để chụp hình. Ánh nắng trưa hè xuyên qua mái che rọi vào những tấm bằng trên tay họ càng làm cho lung linh sáng rỡ, như thể ca ngợi sự “dùi mài kinh sử” trong mấy năm qua.

Xuống sân khấu, các Tân khoa hô:

“Một, hai, ba… TUNG!!!”

Trong tích tắc, những chiếc mũ vuông đồng loạt bay vút lên bầu trời, mang theo bao ước mơ, hoài bão và niềm tự hào vô bờ bến của những người con Phật. Tiếng hò reo vang dội cả một góc trời tu viện. Nhìn những áo mão xênh xang, những nụ cười “thả ga”, những cái vỗ tay phấn khích thế này, bạn bè chúng tôi những người tham dự chiều nay không phải là sinh viên của trường, tỏ vẻ luyến tiếc vì đã không ghi danh đi học.

Lễ xong, tôi cùng mấy người bạn ra về khi bầu trời San Jose vừa ngả sang bóng xế. Nắng vàng ngoài ngõ rọi tỏ chánh pháp trong tim. Ánh nắng vùng Thung Lũng Hoa Vàng chiều nay dường như rực rỡ và lung linh hơn bao giờ hết, bởi vì trong lòng chúng tôi cũng đang reo vui sau một ngày đại lễ ngập tràn cảm xúc.

Mấy năm học không dài nhưng lại là một hành trình thay tâm đổi tánh. Bước ra từ lớp học đặc biệt này, hành trang chúng tôi mang theo là một kho tàng vô giá với những bài học thực dụng để làm chủ cái TÂM trước dông bão, khai phóng cái TRÍ qua thiền định và rèn luyện cái THÂN đức hạnh giữa cuộc đời đầy nhiễu nhương.

Hành trình thực sự giờ mới bắt đầu. Tấm bằng ngày hôm nay chưa phải là điểm kết thúc.  Đó là điểm khởi đầu để đem đạo vào đời, biến những lời dạy vô giá của Đức Phật thành hành động thiết thực mỗi ngày.

Tạm biệt mùa tốt nghiệp rực rỡ, chúng tôi tự tin bước tiếp trên con đường phụng sự nhân sinh theo lời Phật dạy trong Kinh Pháp Cú, học giáo lý là để thực hành chứ không phải để… đếm chữ suông:

Dù tụng nhiều kinh giáo

Nhưng không chịu thực hành

Người buông lung như thế

Chẳng nếm vị Sa-môn.”

(Kinh Pháp Cú, Câu 19)

  Ngọc Phương Hoa – MAY 24, 2026




PHƯƠNG HOA – Phóng Sự: Lễ Kỷ Niệm 35 Năm VTLV – RA MẮT ĐẶC SAN XUÂN BÍNH NGỌ – MỪNG LỄ MOTHER’S DAY.

Phương Hoa

Chiều Thứ Bảy, 9 tháng 5, 2026.  Trời San Jose nắng như vàng hơn, rực rỡ hơn, để chào đón quan khách từ các nơi về tham dự lễ Kỷ Niệm 35 Năm Thành Lập Văn Thơ Lạc Việt (VTLV), một sự kiện đặc sắc và gần như…hiếm hoi giữa lòng phố thị nổi tiếng là “tiệc tùng lễ hội quanh năm” này.  Hiếm hoi, bởi vì ngày hôm nay là “1 sự kiện – 3 chủ đề” mà chủ đề nào cũng đặc biệt cả!

Khi tôi và chị Mỹ Thanh đến, xung quanh hội trường tràn ngập những nụ cười xinh tươi, những tà áo dài thướt tha của cánh nữ lưu, những cái bắt tay siết chặt của những người con xa xứ gặp lại đồng hương, những bộ trang phục đủ màu đủ sắc, cờ xí, đạo cụ của Ban Văn Nghệ bày biện trong góc hành lang, càng tăng thêm vẻ rộn ràng của buổi lễ. Tại cửa ra vào hội trường, một dãy bàn để Ban Tổ Chức đón chào và mời nước với “snack” cho khách, và bàn Ra Mắt Sách (RMS) Đặc San Xuân Bính Ngọ 2026. 

*

Bên trong hội trường nơi góc trái sân khấu, là một bàn thờ trang trọng với hương đăng hoa quả, trên có hình ba vị tiền khai, sáng lập VTLV, bác Dương Huệ Anh, bác Đông Anh, và anh Chinh Nguyên.  Ảnh họ mỉm cười nhìn về phía khán giả như đang chứng kiến thành quả của đàn em, đã khiến lòng người chùng xuống vì cảm động.  Nhìn hình bác Dương Huệ Anh tôi chợt muốn rơi nước mắt khi nhớ lại, tôi còn nợ bác một bài viết. Những ngày sức khỏe yếu đi bác DHA có đưa tặng tôi mấy quyển sách, trong đó có một quyển bác kèm theo cái note viết tay, nói rằng sách này bác xuất bản mà chưa được giới thiệu ra cộng đồng, và nhờ tôi viết giới thiệu giùm cho bác.  Vì sơ ý tôi không coi kỹ mà chỉ đọc lướt qua nên không hề biết về cái note này. Mãi sau khi bác đi rồi tôi mở sách ra đọc kỹ mới thấy, và bận rộn đưa đẩy đến nay tôi cũng chưa viết được. Nhưng lần này thì chắc chắn tôi sẽ “trả nợ” cho bác, để “chuyện cũ được mở ra mới”.  Và nhìn hình anh Chinh Nguyên tôi lại xúc động nhớ lời dặn dò trong những giây phút cuối đời của anh là mọi người hãy cố gắng giữ gìn cho VTLV mãi mãi trường tồn.

Hình ảnh những khán giả lặng lẽ bước về phía sân khấu, kính cẩn cúi đầu trước di ảnh ba vị tiền bối là những khoảnh khắc vô cùng quý giá. Nó minh chứng mạnh mẽ rằng dù ở bất cứ nơi đâu, người Việt hải ngoại vẫn luôn dành sự tôn trọng tuyệt đối cho những người làm văn hóa, những người đã hiến dâng cả đời mình để bảo tồn ngôn ngữ và văn hóa của cha ông nơi đất khách.

Phương Hoa người viết, chị Mỹ Thanh, Minh Thúy, và Thu Hương nhận trách nhiệm ngồi ở bàn sách. Những quyển Đặc San Xuân Bính Ngọ màu sắc rất đẹp, rất Xuân, nhìn bề ngoài thì có vẻ … dày cộm, nặng nề, nhưng bài vở thơ văn bên trong thì… nhẹ tênh tênh như gió thoảng, mong manh như mây bay, đẹp lung linh như bình minh mùa hè, và hấp dẫn như…thịt mỡ dưa hành bánh chưng ngày Tết… bởi vì nó có sự góp mặt của nhiều cây bút tinh hoa trong làng văn học hải ngoại từ khắp nơi dồn về cho Văn Thơ Lạc Việt.  Những cây bút cổ thụ, trứ danh, lão thành, như Cao Mỵ Nhân, Mai Thanh Truyết, Đỗ Chiêu Đức, Kiều Mỹ Duyên, Hồng Thủy, Đỗ Quang Vinh, v.v… xin phép chỉ nêu ra mấy vị. Cho nên, có vị quan khách chỉ mở tập Đặc San ra nhìn qua phần mục lục xong thì nói:

 “Whoa, trong này toàn những ngòi bút tên tuổi, chưa đọc cũng biết hay rồi, xin ủng hộ VTLV và cho tôi một quyền đem về “gối đầu giường!”

Rồi anh mở ví lấy ra đưa tôi một tờ trăm.

Chính những lời đầy cảm động này làm cho tay tôi như run lên khi nhận tiền và giao sách. Kết quả đầy hào hứng, hôm ấy có nhiều người lấy một quyển sách mà tặng dư thêm tiền, dù VTLV không kêu gọi gây quỹ, chỉ bán lại sách đúng giá nhà in. Bàn sách vơi đi rất nhanh, tôi và Minh Thúy vì phải chạy ra chạy vào bên trong buổi lễ, chưa kịp “tạo dáng” chụp hình với đống sách để sau… khoe bạn bè cho “oai”, thì vèo một cái, sách đã gần hết.  May sao cũng có người chụp cho vài tấm khi sách còn lại một số.  Và khi bên trong chương trình bắt đầu thì sách chỉ còn có mấy quyển trên bàn.

Điều thú vị mà tôi nhớ mãi là có một vị khách nam – rất quen mặt nhưng tôi chẳng nhớ tên lại không dám hỏi – đến mua một quyển sách, đã bắt tay tôi và nói:

“Chúc mừng VTLV, quyển Đặc San Xuân năm nay rất độc đáo, nó thực sự làm tăng thêm giá trị cho cái Lễ Kỷ Niệm 35 Năm của Lạc Việt! Tôi đã được một người bạn chuyển cho đọc File sách qua email khi quý vị gửi ra cho họ xem lại bài viết, nên hôm nay tôi đến để ủng hộ.”

Nghe thật ấm lòng!

Buổi lễ bắt đầu bằng nghi thức chào cờ Mỹ Việt như thông lệ và phút mặc niệm đầy trang trọng. Cả khán phòng như lặng đi trong giây phút tưởng niệm các vị tiền bối – những người đã đặt những viên gạch đầu tiên cho ngôi nhà văn thơ này.

Kế đến, tiếng hát mượt mà của Thúy Nga trưởng ban Văn Nghệ VTLV với nhạc phẩm Nửa Hồn Thương Đau khai mạc phần văn nghệ, như chạm vào sâu thẳm tâm hồn mỗi người.

*

Hội trưởng Lê Văn Hải lên tâm tình về hành trình đưa anh đến với VTLV và về buổi Lễ Kỷ Niệm 35 năm. Anh cảm ơn các thành viên, cộng đồng Việt, và hơn ba triệu khách viếng trang nhà VTLV. Trong bầu không khí linh thiêng cảm động ấy, anh Hải đã trân trọng mời đại diện gia đình của các vị cố sáng lập lên sân khấu.  Chị Mỹ Thanh (phu nhân anh Chinh Nguyên), chị Quỳnh Hoa (phu nhân bác Đông Anh) và chị Kim Hà (đại diện phu nhân bác Dương Huệ Anh) tỏ vẻ xúc động khi nhận bằng tưởng lục tri ân từ anh Lê Văn Hải. Những tấm bằng vinh danh là sự ghi nhận công lao, và cũng là lời hứa của thế hệ đi sau sẽ tiếp bước hành trình gìn giữ văn hóa mà các vị cố tiền khai đã dày công gây dựng.

*

Tiết mục hòa tấu đàn tranh Sukura – Hoa Anh Đào do Đoàn Tiếng Vọng Quê Hương của GS Ngọc Dung biểu diễn, đã mang đến một làn gió nghệ thuật thanh tao, với thanh âm réo rắt, nhưng mềm mại, thiết tha, khi chạm vào cảm xúc người nghe.  Đúng là một tiết mục không thể thiếu!  Và rồi, sân khấu như muốn nổ tung với những màn trình diễn sôi động của Nhóm Tuổi Trẻ qua liên khúc Tia Nắng Hạt Mưa & Sunlight and Raining. Đúng là tuổi trẻ, sức sống tràn trề khiến các bậc tiền bối cũng phải lắt lư theo!

*

Quý vị làm ơn đừng cho tôi là “Áo thụng vái nhau” vì tôi bắt buộc phải nói về “sếp” Hải của chúng tôi một chút. “Chàng Không Quân Lê Văn Hải” trước giờ đi đâu cũng mang theo “chiếc ba lô huyền thoại”, nhưng lần này không phải “ba lô” mà anh chở nguyên một “chiếc xe hủ lô” đầy quà cho sự kiện “3-in-1” này.  Mọi người cảm động nhất là hình ảnh anh Hải đứng trực chiến lặng lẽ âm thầm bên hai cái bàn cạnh sân khấu với “núi” quà cáp ngập tràn, nhiều hộp bánh Tây, vòng hoa, những bức tranh nghệ thuật độc đáo, những tấm bằng vinh danh họa tiết sang trọng in tên từng người, và đặc biệt nhất, vẫn là cái ba lô đầy nghẹt những phong bì đỏ!

Anh đã rất chu đáo mời những thành viên nòng cốt trước giờ của VTLV lên để anh trao tặng quà, hoa, cùng bằng Tưởng Lục vinh danh. 

Rồi anh đứng đó từ đầu đến cuối, cứ sau mỗi tiết mục, anh lại tất tả bước lên sân khấu với nụ cười rạng rỡ, trao tận tay từng nghệ sĩ những đóa hoa tươi thắm và chiếc phong bì đỏ may mắn, không bỏ sót một ai! Sự chu đáo và tận tình của anh khiến cả hội trường như ấm áp hẳn lên.

Anh Hải tặng hoa và quà cho ca sĩ Đồng Thảo sau khi cô ca bản nhạc do nhạc sĩ Thiên Phương VTLV sáng tác.

Đặc biệt và “độc chiêu” nhất chính là khoảnh khắc kỷ niệm ngày Mother’s Day. Anh Hải mời tất cả khán giả nữ, từ các bà, các mẹ cho đến các chị, các em… cùng bước lên sân khấu. Nhìn cảnh tượng nhiều chục tà áo dài, áo đầm rực rỡ lên nhận hoa và quà trong không khí trang trọng nhưng đầy tình thân, nhiều người đã không kìm hãm được những nét mặt đầy niềm vui và hạnh phúc.

*

Tiết mục được quan khách chú ý nhất, là lúc xem “Slide Show” tóm lượt về 35 năm VTLV và giới thiệu Ban Điều Hành VTLV.  

*

Có những đóng góp cho cộng đồng không thể “cân đo đong đếm” bằng lời, đó chính là tâm huyết của thầy Thái Phạm. Là người “kiến trúc sư” trưởng cho trang website của VTLV, thầy đã xây dựng một không gian “trên mây” để lưu giữ văn hóa nước nhà.  Tôi đã từng theo học lớp “layout sách” do thầy Thái hướng dẫn thiện nguyện cho thành viên VTLV thời anh Chinh Nguyên làm Hội Trưởng.  Nhưng “ông thầy” của tôi luôn khiêm nhường, bao giờ cũng lặng lẽ ở phía sau giúp đỡ tận tình cho mọi người mà không hề muốn “lộ diện”.  Chính sự nhiệt tình và cái tâm với văn học nghệ thuật của thầy Thái Phạm đã khiến người học trò bận rộn… tứ bề như tôi “dính chân” vào Ban Biên Tập VTLV, làm việc cùng thầy suốt gần một thập niên qua. Những đêm khuya khoắc đăng bài lên trang nhà VTLV mà gặp “trục trặc kỹ thuật” là tôi “réo” thầy bất cứ giờ giấc, thầy Thái đều trả lời phone không một lời phàn nàn.  Vì trang nhà VTLV số lượng độc giả tăng lên vèo vèo mỗi ngày, nên chúng tôi phải cố gắng “update” cho kịp thời gian tính, ngoại trừ những lúc quá bận rộn hay phải đi xa.  Điều đặc biệt là thầy Thái luôn nhận biết và tuyên dương công sức của mọi người, nhưng lại… quên mất công lao của chính mình!

Thầy Thái Phạm (Giữa)

Tiết mục đọc thơ tiếng Việt của các bé Tuổi Trẻ Hải Ngoại là một điểm nhấn nhiều cảm xúc, làm lay động trái tim quan khách.  

Giọng đọc dễ thương non nớt bài thơ “Kính Tặng Các Mẹ Các Bà” lời tri ân ngọt ngào gửi đến những người mẹ, như lời hứa giữ gìn chơn truyền và lòng tự hào về dòng máu Hồng Bàng của các em, chính là sự thể hiện sống động nhất cho việc tiếp nối nguồn văn hóa dân tộc nơi hải ngoại, đáng để những bậc cha mẹ mừng vui:

“Hôm nay ngày lễ Mother’s

Con xin gửi tặng bài thơ chúc mừng

Người lớn đã chúc tưng bừng

Phần con tiếng Việt… ngập ngừng chúc theo…”

Nhân đây tôi xin vinh danh một người, cô MC duyên dáng Thanh Loan, người sáng lập chương trình “Tuổi Trẻ Hải Ngoại”, và bây giờ nhóm là những thành viên “nhí” nhất của VTLV.  Tuy là một người trẻ, nhưng Thanh Loan rất quan tâm về việc khuyến khích các em học tiếng Việt, và cô đã từng tổ chức nhiều cuộc thi tiếng Việt mà người viết bài này cũng từng được cô mời làm giám khảo cho các cuộc thi.

Nhưng vinh danh những người tâm đầy nhiệt huyết, tức là “có công to” với VTLV mà không nhắc đến TS Nguyễn Hồng Dũng thì là một thiếu sót lớn.   Chàng Hồng Dũng trẻ trung, duyên dáng, hát hay, thuyết trình giỏi, thường làm MC trong các sự kiện lớn từ Nam đến Bắc California Anh còn là chủ Nhà Hàng Chay Di Lạc nổi tiếng “ngon và sạch” ở San Jose, lại bận rộn vì là Hiệu Trưởng trường Cao Đẳng Phật Giáo Thực Dụng, và là giáo sư dạy tại trường UC San Jose.  Nhưng anh Tiến Sĩ “ba đầu sáu tay” này hầu như không bao giờ vắng mặt trong một sự kiện quan trọng nào của VTLV cả! Thật là đáng trân trọng.

Còn nhiều, nhiều lắm, những nhân vật có lòng đầy nhiệt huyết với VTLV, như anh trưởng ban Nghi lễ Hoàng Thưởng và cũng là Phó Ngoại vụ VTLV, trưởng ban Văn nghệ Thúy Nga, thủ quỹ Minh Thúy, Trưởng ban Xã Hội Lê Diễm, Mỹ Thanh phu nhân anh Chinh Nguyên… nhưng vì bài viết giới hạn, nên xin được dừng lại nơi đây và chờ dịp khác…

(Ngồi) Lê Diễm & Minh Thúy – (Đứng từ phải qua) Phương Hoa, Thúy Nga, Mỹ Thanh

Chương trình hôm đó còn có các tiết mục Tân Cổ Giao Duyên, đơn ca của Ngọc Hoa, Thu Phượng, Thanh Trúc… nối tiếp nhau tạo nên một buổi âm nhạc đa sắc đa màu. Từ sự hoài niệm của Đà Lạt Hoàng Hôn đến nét duyên dáng của Gánh Hàng Rong mà Thanh Loan trong chiếc áo dài quảy gánh đi tung tăng nhìn rất dễ thương… tất cả đã tạo nên một không gian văn hóa đậm đà tình quê hương Việt, mà không bút mực nào tả xiết…

 Màn cắt cái bánh sinh nhật to đùng như cái nhà, “cả làng ăn không hết” để kỷ niệm 35 năm, Lễ Mẹ, và còn mừng tuổi các thành viên sinh trong hai quý Tháng 1,2,3 và 4,5,6, cũng được thực hiện trong niềm vui tràn đầy…

Cuối cùng, đỉnh điểm của sự vui nhộn hôm nay chính là màn xổ số Loto “độc nhất vô nhị”.  MC Thanh Loan cùng dàn ca sĩ thực thụ đã làm “náo loạn” khung trời San Jose, họ tự biến thành những người hô số lô tô duyên dáng, đọc nhiều câu thơ lẫn điển tích xưa, khiến hội trường cười nghiêng ngả.  Chỉ với $5 một vé, không khí hồi hộp dâng cao khi chiếc iPad và tờ $100 tìm được chủ nhân.  Cảm động nhất là hành động của Nghị viên Biên Đoàn.  Dù không biết chơi lô tô cũng tham gia mua vé rồi nhờ thầy Thái chỉ, và khi anh trúng thưởng liền tặng lại toàn bộ số tiền mặt cho VTLV cùng những lời ủng hộ nồng nhiệt, dù trước đó anh cũng đã tặng “donation” cho VTLV, khiến niềm vui như được nhân đôi!

*

Khi ánh nắng chiều nhạt dần, dịu dàng ve vuốt những ngọn cây bên ngoài cửa kính, là lúc buổi lễ kết thúc với rừng ánh sáng chớp nháy của máy hình, của điện thoại, và tiếng cười, cùng những cái ôm chia tay hẹn gặp.  Mọi người trong VTLV thở phào, nhìn nhau với ánh mắt hạnh phúc vô biên vì sự thành công vượt ngoài mong đợi.  35 năm một chặng đường dài, có mồ hôi, có nước mắt, nhưng Văn Thơ Lạc Việt đến hôm nay vẫn giữ mãi ngọn lửa văn chương Việt bừng sáng ấm áp giữa lòng viễn xứ.  Trên tất cả, là tình yêu vô bờ bến với văn thơ và nguồn cội của giới văn thi sĩ và độc giả bốn biển năm châu.  VTLV cũng rất vui mừng vì ngày càng có thêm giới trẻ tham gia để tiếp nối, và mong rằng đồng hương Việt tiếp tục ủng hộ VTLV như lâu nay…

     Xin chia sẻ bài thơ Phương Hoa đã đọc tặng mọi người ngày hôm ấy:

Thung Lũng chiều nay rực nắng vàng

Đón mừng khách quý đã lâm quang

VĂN THƠ ngút biển, danh ngời rạng

LẠC VIỆT tung trời, tiếng rộn vang

*

TUỔI TRẺ nhà Nam nơi HẢI NGOẠI

Nhân tài gốc Việt vẫn hiên ngang

Ba lăm năm chẵn không lùi lại

Ngũ thập niên dư tiến thẳng hàng

*

Mãi mãi nhớ ơn người giữ lửa

Bảo tồn ngôn ngữ giống Văn Lang

Đồng hương yêu mến cùng nương tựa

LẠC VIỆT rồi danh khắc sử vàng…

          Phương Hoa

Cụ Bà 100 tuổi lên đọc bài thơ và được anh Hải tặng quà




PHƯƠNG HOA – Chiều Nhạc Nhớ Mẹ: Nơi Tình Mẫu Tử Và Lòng Yêu Nước Giao Thoa – THƠ MINH THÚY THÀNH NỘI: MỪNG NGÀY LỄ MẸ.

Chiều Nhạc Nhớ Mẹ: Nơi Tình Mẫu Tử Và Lòng Yêu Nước Giao Thoa

Phương Hoa ghi nhanh

Từng nghe biết về Hội Phụ Nữ Thiện Nguyện Việt Mỹ ở San Jose, Bắc Cali, nhưng tôi chưa bao giờ tham dự một buổi lễ nào của hội này.  Năm nay tình cờ tôi nhận được tấm poster rực rỡ với dòng chữ “HAPPY MOTHER’S DAY!” Và khi thấy cái tựa đề buổi diễn “Chiều Nhạc Nhớ Mẹ” của Hội Phụ Nữ Thiện Nguyện này, thì trái tim tôi “mềm” đi một chút, và mọi lý do bận rộn “trăm công nghìn việc” đều phải…đi chỗ khác chơi! Đơn giản vì tôi cũng là một người mẹ, và tôi biết, các mẹ luôn xứng đáng được tôn vinh và yêu thương.

Thế là, chiều thứ Bảy tuần trước, tôi cùng chị Mỹ Thanh phu nhân của cố Chủ tịch Văn Thơ Lạc Việt Chinh Nguyên, có mặt tại số 70 W. Hedding St, San Jose, để cùng các mẹ các chị hòa mình vào một không gian tràn ngập tình yêu và âm nhạc.  

Sân khấu được bày biện trang nghiêm với cờ Mỹ và cờ Việt Nam Cộng Hòa đứng cạnh nhau. Ngay phía dưới là dãy bàn lớn bày ba chiếc bánh kem “khổng lồ” trang trí hoa văn rực rỡ với dòng chữ “Happy Mother’s Day” trông thật… ngọt ngào, và dễ thương hết mức.  

Được biết, chương trình ý nghĩa này được bảo trợ bởi Betty Dương, Giám sát viên Quận Hạt Santa Clara.

Chương trình mở đầu đầy xúc động khi cô MC Thanh Loan duyên dáng của cộng đồng Việt San Jose nói chung, và của Văn Thơ Lạc Việt nói riêng, mời tất cả những phụ nữ mặc áo dài lên sân khấu để cùng làm lễ chào cờ.  Tôi cũng bước lên theo các chị.

Thật cảm động và hãnh diện khi được khoác lên mình chiếc áo dài truyền thống đứng giữa lòng nước Mỹ, trang trọng hướng về lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và Cờ Sao Hoa Kỳ.  Khi giai điệu Quốc Ca “Này công dân ơi…” vang dội khắp khán phòng, tôi chợt nhiên muốn khóc. Sống mũi tôi cay xè khi hình ảnh quê hương xưa ào ạt hiện về như một cuốn phim quay chậm của những buổi chào cờ ngày còn đi học… Ôi quê hương tôi giờ ra sao?

Sau phút lắng đọng tưởng niệm, là phần phát biểu của chị Merry Lê, Hội trưởng Hội Phụ Nữ Thiện Nguyện Việt Mỹ Bắc Cali.  Chị bước lên sân khấu với những giọt nước mắt nghẹn ngào, tri ân cộng đồng đã ủng hộ chị suốt hơn 30 năm qua, từ lúc chị “tuổi còn xanh mà bây giờ thì tóc muối đã nhiều hơn tiêu”, chị nói.

MC Thanh Loan và Cựu Chủ Tịch Merry Lê

Nhưng bất ngờ nhất chính là màn “tống cựu nghinh tân” đầy ý nghĩa. Chị Merry Lê quyết định lui về hậu phương và giới thiệu người kế nhiệm: Mary Thảo Lê, một gương mặt trẻ trung, thành danh trong ngành địa ốc và cũng là một hậu duệ đầy tự hào của Việt Nam Cộng Hòa. Trong chiếc áo dài cách tân hiện đại, tân Hội trưởng Mary Thảo Lê đã hứa sẽ nối gương người tiền nhiệm để phát triển Hội ngày càng tốt đẹp hơn.  Khoảnh khắc xúc động nhất, là khi chị Merry Lê khoác cho tân chủ tịch trẻ Mary Thảo Lê chiếc khăn quàng cổ bằng len đan, kết nối lá cờ Mỹ vào cờ VNCH cùng lời dặn dò, “Hai vai gánh vác hai cờ/Một là quê mẹ, hai là tạm dung”. Sau đó chị nhờ ông cố vấn của hội là Jimy Phan bàn giao chiếc hộp ấn tín lại cho Mary Thảo Lê, trong tiếng vỗ tay vang dậy của khán giả. Đây thật sự là những hình ảnh rất đẹp, minh chứng cho sự tiếp nối của tinh thần phụng sự đồng bào.

Cố Vấn Jimmy Phan đại diện trao Ấn Tín cho Tân Chủ Tịch Mary Thảo Lê

Cựu Chủ Tịch Merry Lê trao tặng khăn quàng cổ có Cờ Mỹ và cờ VNCH đan kết cùng nhau cho tân Chủ Tịch Mary thảo Lê

Khi lễ bàn giao hoàn thành, phần văn nghệ bắt đầu với những giai điệu thật ngọt ngào, đó là những cung bậc tri ân Tình Mẫu Tử.  Có thể nói, chương trình… bùng nổ với những giọng ca đầy nội lực.  Khán giả như sống lại trong tình yêu của mẹ, qua tiếng hát truyền cảm của chị Thu Tâm với bài Lòng Mẹ của nhạc sĩ Y Vân. Tiếp theo là sự sâu lắng của Hiếu Hạnh qua bản Đèn Khuya của Lam Phương.  Đặc biệt, nghệ sĩ Diệu Bảo khiến cả hội trường “vỗ tay bể rạp” bằng giọng ca cải lương …nhà nghề, ngọt lịm trong bài tân cổ Nhớ Mẹ của soạn giả Viễn Châu. Mỗi lần cô xuống một câu vọng cổ là khán phòng lại rộn ràng tán thưởng. Tiếp đó, Hoàng Kim lại gieo vào lòng người những trắc ẩn qua Đêm Mưa Nhớ Mẹ.

Sân khấu càng thêm rực rỡ khi Nhóm múa Dưỡng Sinh xuất hiện trong tà áo bà ba và chiếc nón lá, trình bày điệu múa Lối Về Xóm Nhỏ của nhạc sĩ Trịnh Hưng quá đỗi duyên dáng, xúc động vô cùng. Kế đến, Trung Kiên khoe chất giọng “ngọt như mía lùi” với Lệ Đá.  Mọi người thật bất ngờ, khi tân Hội trưởng Mary Thảo Lê cũng chứng minh tài nghệ “không thua ca sĩ chuyên nghiệp” khi trình bày Mùa Xuân Của Mẹ của nhạc sĩ Trịnh Lâm Ngân làm mọi người rưng rưng xúc động. Và những tràng pháo tay lại rộn rã vang lên…

Múa nón của nhóm Múa Dưỡng Sinh

“Bữa tiệc âm nhạc” thật thành công với sự góp mặt của các giọng ca tài năng Thu Phượng, Thi Lan, Mỹ Linh, và Lệ Hằng… mỗi người một vẻ tạo nên một chương trình đa sắc thái.  Sức hút lớn đến nỗi dù bánh kem đã được cắt và sắp sẵn đầy bàn phía ngoài, nhưng quan khách vẫn mê mẩn ở lại xem ca nhạc cho tới giờ chót.  

Khi những giai điệu gần lắng xuống, chị cựu Hội trưởng Merry Le ra ngoài mời bánh kem cho quan khách, tôi lợi dụng chạy theo ra, xin phép phỏng vấn “chớp nhoáng” chị vài câu:

Phương Hoa (PH): Xin chị Merry Lê cho hỏi, chị sáng lập ra Hội Phụ Nữ Thiện Nguyện Việt Mỹ này từ khi nào? Và ý tưởng từ đâu mà chị phục vụ giúp đỡ cho cộng đồng người Việt, đặc biệt là người cao niên ở vùng San Jose?

Merry Lê: (Cười hiền hậu) Em phục vụ cho cộng đồng cũng hơn 30 năm rồi, nhưng khi bắt đầu là em phục vụ cho cộng đồng Mỹ chứ không phải là Việt.  Đó là thời còn sinh viên của trường San Jose College, em rất là dấn thân giúp người.  Em đã mở trung tâm dạy luyện thi quốc tịch Mỹ miễn phí, rủ bạn cùng trường dạy kèm luyện thi, và ai học cũng thi một lần là đậu quốc tịch ngay.  Vì những việc làm lợi ích cho cộng đồng, nên em được trường cấp cho cái bằng bác ái và dán lên tường của trường San Jose College, và em cũng được một vị nữ giáo sư viết bài đăng báo bằng tiếng Anh.

PH: Whoa! Chị tuyệt vời nha! Rồi nguyên do nào chị sáng lập Hội Thiện Nguyện Việt Mỹ?

Merry Lê: Khi nhận bằng bác ái, em chợt nghĩ tại sao mình không đem tấm lòng này về phục vụ cho cộng đồng mình?  Thế là em sáng lập ra Hội Thiện Việt Mỹ và quy tụ những người hảo tâm cùng làm thiện nguyện với em, và thường giúp cho quý vị cao niên trong thành phố có những bữa ăn đầy đủ, và còn giúp đỡ mọi việc khi nào họ cần.  Hằng năm thì em tổ chức lễ Mother’s Day và Father’s Day cho cộng đồng.  Em muốn truyền bá chữ hiếu và tấm lòng của đạo đức Việt Nam, là con cái phải dưỡng nuôi cha mẹ để đền ơn công đức sinh thành.  Và kết quả là ngày càng có nhiều bà con cộng đồng ủng hộ.  Từ đó thì em làm việc mãi đến ngày hôm nay.

PH: Vậy chị làm sao mà chọn được cô Mary Thảo Lê này?

Merry Lê: (Cười dí dỏm) Hoa có hương thơm thì tự nó tỏa lan, không cần tìm kiếm.  Em biết Mary Thảo Lê là hậu duệ của Việt Nam Cộng Hoà, tính tình rất năng nổ nhanh nhẹn dễ thương, em ấy lại trẻ trung hoạt bát, có sự nghiệp vững vàng.  Mary Thảo Lê là một nhà địa ốc thành công, và đặc biệt là em ấy hát rất hay.  May mắn và thật mừng, là Mary Thảo Lê đã nhận lời để nối bước em, vì nay lớn tuổi và gia đình em đang cần giúp đỡ nên không thể tiếp tục.

Lúc này có nhiều người ra thưởng thức bánh kem, và xin chụp hình với cựu Chủ Tịch, nên tôi cảm ơn chị cựu Hội trưởng và trả chị về cho thực khách.

Vừa lúc Tân Hội Trưởng Mary Thảo Lê bước ra ngoài. Tôi vội “chộp” lấy cô và hỏi đôi câu, trước khi người hâm mộ chạy đến vây quanh xin chụp hình chung với tân Chủ Tịch để làm kỷ niệm.

Chị Mỹ Thanh và Tân Chủ Tịch Mary Thảo Lê

PH: Mary cho chị hỏi nhanh vài câu: Động lực nào làm cho em nhận lời chị Merry Lê để nối gót chị phục vụ cộng đồng và nhận cái trách nhiệm rất là quan trọng nhưng cũng đầy khó khăn này?

Mary Thảo Lê: (Cười rạng rỡ) Hình như trong máu em đã có sẵn sự ưa thích phục vụ cộng đồng chị ạ, tuy có điều là em chưa biết khi nào. Em thường đi hát và gặp nhiều nhóm cộng đồng, thấy những sinh hoạt của họ làm em rất yêu thích.

PH:  Tuyệt quá! Vậy em gặp cô Merry Lê trong dịp nào?

Mary Thảo Lê: Em đi hát nhiều lần và nhiều nơi, và em thấy sự làm việc của cô Merry Lê.  Cô ấy làm thật nhiều việc có lợi cho cộng đồng, nên em phục cô lắm. Cô ấy cũng có tấm lòng yêu nước rất cao, lúc nào cũng nhớ về Việt Nam Cộng Hòa của mình, thế là em nhận lời, vì em là một hậu duệ của Việt Nam Cộng Hoà.  Ba em ngày trước phục vụ cho Chiến Dịch Phượng Hoàng, trụ sở gần bên cạnh đài phát thanh Sài Gòn xưa đó chị.

PH: Oh, thảo nào! Em đúng là “con dòng cháu giống!” Vậy em có thể cho biết tên và chức vụ của ba ngày ấy hay không?

Mary Thảo Lê: Dạ, ba em tên là Lê Khuê Đảm, chức vụ là đại úy, nên khi cộng sản Bắc Việt chiếm lấy miền Nam, ba em đã bị 6 năm tù.  Và sau này khi ra tù ba em sang Mỹ diện HO 5.

PH: Tội nghiệp ba em và những Sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa quá! Vậy ba em hiện có còn khỏe không?

Mary Thảo Lê: Dạ ba em mất hồi năm 2024 rồi chị ơi! Thương ba lắm! Ngày còn sống ba em hay kể về tướng Nguyễn Khoa Nam trong ngày mất nước, ông thà chết chứ không bỏ nước ra đi! Đúng là bất khuất và hùng tráng! Em nghe ba kể những vị anh hùng tuẫn tiết trong ngày mất nước mà em ngưỡng mộ dễ sợ! Em thường ước mình có thể làm được những việc lớn lao hơn cho đất nước nhưng sức người có hạn, và vì phận gái nên em không thể làm gì hơn.

PH: Ôi thật là trân trọng tấm lòng của em! Đáng quý quá! Ước gì các thế hệ trẻ ở hải ngoại đều suy nghĩ được như em thì đất nước mình diễm phúc biết bao! Cho chị hỏi một câu sau cùng: Em đã có đường hướng gì để đưa hội mình ngày càng phát triển lớn lên hơn không?

Mary Thảo Lê: Em nghĩ là em sẽ cần, rất cần, sự ủng hộ của cộng đồng, như các anh chị.  Em cần học hỏi rất nhiều và em cũng sẽ nhờ sự cố vấn của cô Merry Lê. Có một điều em chắc chắn, là em biết mình ở đâu, và phải làm gì, cho đúng với quốc gia dân tộc, giống như cô Merry Lê đã nói với em rằng, trong trách nhiệm này em không được “đi hàng hai”, nghĩa là phải giữ đúng thẳng hàng một người Quốc gia chân chính, để phục vụ cộng đồng, nhằm bảo tồn ngôn ngữ và văn hóa của Việt Nam Cộng Hòa mình…

Nhìn quanh, thấy nhiều người chờ chực để được chụp hình chung với Mary Thảo Lê, tôi “giao” cô nàng lại cho họ và vô lại hội trường, vừa kịp lúc nghe nhà thơ Huy William, từ Nam Cali mới dọn về San Jose, đọc bài thơ về Mẹ do anh sáng tác đầy cảm động. Bài thơ này điểm xuyết cho không gian Lễ Mẹ thêm thi vị, và cũng là một nét đẹp thật có hồn trong văn hóa Việt Nam.

Trong khi ngồi dự lễ, và thấy buổi lễ hiện diện nhiều người giới trẻ, nên tôi ngồi ghi vội mấy câu thơ tiếng Việt và tiếng Anh, định sau cùng nhờ cô tân Chủ Tịch Mary Thảo Lê đọc tặng mọi người, cho buổi Lễ Mừng Mẹ thêm phần “thi vị”. Nhưng rồi có Huy Willam đọc thơ rồi nên tôi dừng lại.

HAPPY MOTHER’S DAY To ALL MOTHERS

Roses for all the mothers, so dear and so true,

Wishing you joy and love in all that you do.

May your days be filled with laughter and song,

As we celebrate you, where you truly belong.

*

Gather ’round with your families, let the music play,

Dance and sing, make memories that will stay.

Toast to the mothers, the queens of our hearts,

In your honor, we’ll throw the best, of all parties, let’s start!

*

So here’s to the mothers, around the world so grand,

With roses in hand, we raise a toast, hand in hand.

May your days be filled with love and delight,

Happy Mother’s Day, let’s celebrate all night!

***

CHÚC MỪNG NGÀY CỦA MẸ ĐẾN TẤT CẢ TỪ MẪU

Bó bông hồng tặng các MẸ quý yêu

Cùng mong muốn MẸ thật nhiều hạnh phúc

MẸ nhận đầy hoa, nụ cười, lời chúc

Và tiệc tùng, nhìn MẸ thật hân hoan.

*

MẸ bên gia đình – âm nhạc rền vang

Hát, khiêu vũ, MẸ vô vàn sung sướng

Nâng ly chúc MẸ người Nữ Vương thần tượng

Tiệc hôm nay vinh danh MẸ ngút ngàn

*

Chúc hết các MẸ luôn được bình an

Hoa hồng tặng MẸ hoa vàng trên bánh

Mừng Lễ MẸ là một ngày Thần thánh

MẸ muôn đời và MẸ suốt đêm nay!

Phương Hoa

Buổi lễ “Chiều Nhạc Nhớ Mẹ” ngày 2 tháng 5 năm 2026 kết thúc bằng những đĩa bánh kem ngọt ngào và những tấm hình thật rực rỡ, tạo cho mọi người niềm tin mãnh liệt vào sự trường tồn của văn hóa và tinh thần Việt Nam nơi hải ngoại.

Ra về khi nắng chiều San Jose đã nhạt, nhưng có lẽ trong lòng mỗi người khách tham dự đều ấm áp, rực rỡ, và vang vọng một lời hứa: Sẽ yêu thương các bậc sinh thành nhiều hơn, và sẽ cùng nhau gìn giữ cội nguồn, bảo tồn văn hóa Việt Nam dù đang ở bất cứ nơi đâu…

 Phương Hoa – Mother’s Day 2026

THƠ MỪNG NGÀY LỄ MẸ – MINH THÚY THÀNH NỘI

HỘI PHỤ NỮ BẮC CALI TỔ CHỨC “LỄ MẸ”

Dự lễ vinh danh đấng Mẹ  hiền

Tháng 5 Hội Phụ Nữ khai liền

San Jose Hạ vừa chớm thức

Văn nghệ vui mừng thỏa mãn viên

*

Góp mặt qua màn hát, múa ca

Cho con thổn thức trở về nhà

Bao nhiêu kỷ niệm thời thơ ấu

Nhớ Mẹ vô vàn, nhớ thiết tha

*

Mướp, cải, cà, rau Mẹ giỏi trồng

Sân vườn lắm trái đẹp giàn bông

Hiên thềm Mẹ dỗ ru con ngủ

Mộ Phật lên chùa góp quả công

*

Nhắc Mẹ Việt Nam tả mấy vừa

Thân cò lặn lội nắng cùng mưa

Nuôi con khôn lớn tình yêu  đậm

Một tối âm thầm lệ tiễn đưa

*

Chay tịnh nguyện cầu đứa trốn đi

Ra khơi biển cả gặp điều gì

Tương chao dưa cải cùng khuôn đậu

Ý nguyện tâm thành Phật chứng ghi

*

Mẹ hỡi tha phương chất nỗi sầu

Bao điều trăn trở mối lo âu

Là con bất hiếu không kề cận

Phụng dưỡng chăm lo tuổi bạc đầu

*

Con hiểu dòng sinh biến đổi thường

Chỉ còn chất chứa biển tình thương

Nương theo Phật Pháp hành tu sửa

Ánh đạo từ bi dẫn lối đường

*

Thuyền nhớ trôi xa tận ngút ngàn

Bên tai “Quê Mẹ “ngọt ngào vang

Ru êm một thủa về nguồn cội

Tỉnh giấc thôi say …giấc mộng tàn

*

Bản nhạc chạm vào ký ức con

Giờ đây hương khói trái tim mòn

Còn đâu bóng mát đà che chở

Đức hạnh một đời dạ sắc son

*

Nghệ sĩ thay phiên nhắc nhở Người

Dâng vần thơ nhạc với hoa tươi

Bánh mừng sinh nhật ai còn Mẹ

Tủi phận mồ côi cố nụ cười

*

        Minh Thúy Thành Nội –  May 2/2026




VTLV – TRANG ĐẶC BIỆT TƯỞNG NIỆM 51 NĂM THÁNG TƯ ĐEN.

*

=

TRANH THƠ NGUYỄN PHƯƠNG THÚY: “THÁNG TƯ VẪN NHỚ” THƠ PHẠM PHAN LANG

==

APRIL STILL REMAINS (BẢN TIẾNG VIỆT) THƠ PhamPhanLang -Lyrics: PhamPhanLang. MusicPrompts & Video: PhuongHoa USA. Vocals & Performance: Suno AI.

NGÀY ĐẦU THÁNG 4. 1975.  –   CAO MỴ NHÂN 

Ngày đầu tháng 4 năm 1975 ở Saigon

Tôi đi dạo một mình trên đường Lê Lợi 

Đại lộ chính từ trụ sở Quốc Hội 

Tới chợ Bến Thành …

*

Tôi thấy hình như 90% người dân miền Nam 

đang muốn rời xa đất nước

Để đi đâu không cần biết trước

Miễn tránh xa Cộng Sản Bắc Việt 

*

Cho dẫu là quân, dân cán chính VNCH

ở miền Trung, miền tây nam phần 

Hay ở giữa thủ đô – Bến Nghé xa xưa

Nước mắt họ chảy như mưa

*

Tôi mới từ Đà Nẵng chạy loạn vô hôm qua

Chẳng lẽ lại theo dân đi các nước 

Nhưng dân khắp nơi đã nhào ra không lùi bước

Thả mình xuống những dòng sông

*

Thả mình xuống nước mênh mông

Tràn ra đại dương ngập sóng

Tôi mới ở chuyến tàu bơi lết từ Tiên Sa 

Vào Khánh Hội hôm qua 

*

Người ta đã rớt từ sân tàu xuống biển 

Khi đứng nhìn cột buồm cao kéo cờ vàng 

Xếp lại cất trong hành trang 

Ngấn lệ khô không che nổi hận thù 

*

Tôi ngơ ngác hỏi lòng tôi 

Tại sao phải ra đi 

Tại sao không ở lại

Tại sao ư, chúng nó đang cướp … địa dư

*

Hôm đó tôi về hòa nước mắt làm thơ 

Hôm đó có bài ca lạc điệu 

Hát những lời bêu rếu, nghèo nàn

Thế là hết “ chính nghĩa Tự Do “ vinh quang …

Los Angeles  1 – 4 – 2026

( 51 năm Quốc hận  ) CAO MỴ NHÂN  ( HNPD )

==

****

BÀI THƠ MA THÁNG TƯ.       CAO MỴ NHÂN 

Nửa đêm, gió chuyển lên đồi

Vầng trăng hốt hoảng xa rời lũng ma

Trăng trôi trên trời bao la

Gió tìm trăng khắp sơn hà thân quen

*

Bỗng từ ký ức vươn lên

Rừng cây lá biếc già thêm mấy tầng

Trăng nhìn cây, chợt bâng khuâng

Gió vừa bắt kịp trăng, mừng rỡ reo

*

Ba vì sao đứng quạnh hiu

Ngắm soi chứng tích tình yêu nơi này

Cây rằng : họ chẳng đổi thay

Gió trăng, trăng gió lượn bay mịt mù

*

Cây rơi từng đợt lá khô

Mùa đang chuyển những tiếng ru vào lòng

Lời nào gởi lại non sông

Lời nào trăng gió bềnh bồng mang đi

*

Bóng hồ linh khuất sơn khê

Trăm năm sao lại tìm về , hỡi ôi

Tháng tư , trăng vỡ ngậm ngùi 

Gió ôm phiền muộn, lệ rơi tuyệt tình  …

     Utah, 25 năm sau  30- 4 – 1975            CAO MỴ NHÂN

==  

Ở PHƯƠNG NÀY.     CAO MỴ NHÂN 

Khi tôi mới tới phương này

Mặt trời còn trắng trong mây lạnh buồn

Tôi ngồi ôm nỗi cô đơn

Nhìn ra biển Thái  Bình Dương ưu phiền

*

Người đang tình tự thay phiên

Trái tim mang cả nỗi tiền vận đau

Mù sương phủ kín công hầu

Đỉnh thương nhớ đã nhạt màu trầm luân

*

Này là tuổi tác phù vân

Say mê sợi nắng tần ngần thả rơi

Chúng mình chung một khung trời

Mà như nghiêng lệch hẳn đời éo le

*

Chốn này chạnh nhớ nơi kia

Từ khi thân phận cách chia chập chờn

Mặt trời chiếu sáng càn khôn

Sao tâm tư vẫn gọi hồn nước xưa … 

Rancho Palos Verdes  11 – 4 – 2026          CAO MỴ NHÂN  

==

SAU CƠN ĐỊA CHẤN.     CAO MỴ NHÂN 

Chỉ còn là thân phận

Mỗi lần em gặp anh

Như một cơn địa chấn

Sau trận động đất nhanh

*

Anh mỉm cười : em yêu

Thì rõ ràng tiếng khóc 

Của tâm hồn quạnh hiu

Mơ hồ trong thao thức

*

Vẫn là anh khao khát

Mặt trời mọc chân mây

Em mang niềm mơ ước

Rực rỡ anh đầu ngày

*

Chúng mình cần sống ngay

Để lánh xa nỗi chết

Tình yêu phải vơi đầy 

Mới thăng hoa, thanh khiết…

Rancho Palos Verdes   12 – 4 – 2026       CAO MỴ NHÂN  

==

DẶM VỀ THÁNG TƯ .      CAO MỴ NHÂN 

Gởi em trọn vẹn nỗi lòng

Từ khi giã biệt phương đông, qua đoài

Từ khi tiếng quốc u hoài

Nghe trong thân phận lạc loài, xót xa

*

Năm châu thiên hạ bao la

Lòng thêm buồn tủi sơn hà hờn căm

Này đây gió thổi mê lầm

Lệ đang thả giọt âm thầm hoang liêu

*

Dặm về khói sớm , sương chiều 

Hồn nghe phiền muộn những điều trái ngang

Tháng tư phai sắc hoa vàng 

Đốt trầm lên, lạy dở dang mộ người 

*

Tháng tư hiu hắt bên trời

Níu chân bước lẻ trọn đời tiếc thương

Nén nhang thắp đã tàn hương

Biển dâu hay cả đại dương nghẹn ngào… 

              CAO MỴ NHÂN 

                18 – 4 – 2026

THÁNG TƯ NÀO.     CAO MỴ NHÂN 

Mỗi năm mất một tháng tư

Nên mình có vẻ bị hư hao đời

Mỗi năm dần mất nụ cười

Ba mươi tháng bốn từ hồi bảy lăm

*

Hơn nửa thế kỷ phù vân

Công danh, sự nghiệp, tuổi xuân điêu tàn

Nghe câu chính nghĩa Việt Nam

Đã bị Cộng thuyết phá tan giống nòi

*

Đưa dòng vô sản lên ngôi

Bắc Nam thống nhất tôi đòi Tàu Nga

Hãy nhìn thế giới người ta

Họ khinh miệt cảnh sơn hà lai căng

*

Đua đòi cải tổ nhân văn

Làm sao chen được gót chân Cộng Hoà

Tháng tư mất hết tinh hoa

 Chỉ còn quỷ đỏ phô ra lộng hành …

Hawthorne 18 – 4 – 2026         CAO  MỴ NHÂN  

===

CÙNG NIÊN KỶ KHÓC. – CAO MỴ NHÂN

Trăng lênh đênh trôi lãng đãng trở về

Cho thấy được cuộc đời là hư ảo

Mây lướt thướt bay chập chờn phiền não

Mới bình minh sao nhuốm vẻ hoàng hôn

*

Khói sương tan trong bát ngát linh hồn

Em mờ mịt tháng năm đầy quá khứ

Tuổi anh lỡ trải dài đường viễn xứ

Đừng nói thêm quê quán chốn hoang liêu

*

Biết đâu tìm ân nghĩa với thương yêu

Tình đã lạt phai tưởng lầm trễ hẹn

Không có gì sao thế gian bịn rịn

Chuyến đò vơi trăng cạn nỗi riêng tư

*

Quán thu phong hơi lạnh buốt bao giờ

Ai viết sử đang chờ người nhuận sắc 

Vách lá ẩm, ướt lời xưa mất mát 

Ta đang cùng niên kỷ khóc chơi vơi…

  CAO MỴ NHÂN ( HNPD )

18 – 4 – 2026

==

==

NGẮC NGOẢI ĐẾN BAO GIỜ

Nguyễn Phương Thúy

Ông Tô Lâm – Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch
nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (Ông cũng là Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Công an
Trung ương, Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và An ninh, và Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về
phòng chống tham nhũng, tiêu cực. Còn chức nào ông chưa tóm? Đúng là độc tôn, độc trị!) đến
China từ ngày 14 đến 17 tháng 4 năm 2026. Đây là một bước đi ngoại giao đầy quan trọng – cấp
nhà nước, trên cương vị là lãnh đạo cao nhất của Việt Nam. Chuyến thăm này không chỉ dừng lại
ở những cái bắt tay xã giao; đó là một nỗ lực thúc đẩy thực hành nhanh chóng Chiến lược “3+3”
(*), nhằm củng cố “Cộng đồng chia sẻ tương lai” – một cách nói hoa mỹ để diễn tả việc họ đang
gắn kết nền kinh tế và an ninh của nhau chặt chẽ hơn bao giờ hết.
Tô Lâm trông có vẻ sung sướng, hãnh diện với sự đón tiếp long trọng của China. Các ông lớn
mặc âu phục, các bà lớn cũng mặc quốc phục hiện diện sát bên. Nội các China dàn hàng chào
danh dự. Tô Lâm bắt tay muốn rụng tay! Càng ngày hình thức ngoại giao càng giống các nước tự
do. Con tắc kè thay màu quá lẹ nhưng cái cốt lõi thì vẫn ẹ như xưa!
Việt Nam và China đã ký kết hơn 32 thỏa thuận vào ngày 15 tháng 4 năm 2026, tập trung vào
các lĩnh vực:

  • Hải quan & thương mại: Đây là một bước tiến vô cùng to lớn, bởi thương mại giữa hai quốc gia
    đã hơn 250 tỷ USD trong năm 2025. Hai bên cũng đang triển khai mô hình “cửa khẩu thông
    minh” nhằm đẩy nhanh tốc độ vận chuyển hàng hóa.
  • Cơ sở hạ tầng & đường rầy sắt: Trọng tâm phát triển đô thị và kết nối các tỉnh phía Bắc của
    Việt Nam với mạng lưới đường sắt cao tốc của China chính là một “con đường một chiều”. Một
    khi những đường rầy ấy đã được lắp đặt theo tiêu chuẩn của China, Việt Nam sẽ bị ràng buộc
    chặt chẽ về mặt vật lý với China trong suốt 50 năm.
    Trong nhiều thập kỷ, Việt Nam vẫn duy trì khổ đường rầy sắt khác biệt, nhằm ngăn chặn nguy cơ
    bị xâm lược dễ dàng. Bằng việc chuyển sang áp dụng các tiêu chuẩn của China, Việt Nam đang
    thực sự hội nhập về mặt vật lý vào hệ thống hậu cần (logistics) của China.
    Đây chính là sự thống trị mà không cần chiến tranh. Nếu China nắm quyền kiểm soát hệ thống
    đường rầy, công nghệ tín hiệu cũng như nguồn tài chính, họ sẽ nắm giữ chiếc “công tắc bật/tắt”
    đối với nền kinh tế xuất khẩu của Việt Nam.
  • An ninh chuỗi cung ứng: Nhằm bảo đảm các chuỗi cung ứng xuyên biên giới sẽ không bị gián
    đoạn bởi những biến động chính trị trên phạm vi toàn cầu.
  • Du lịch: Phát động chương trình “Năm Hợp tác Du lịch Việt Nam – China 2026-2027” với mục
    đích thu hút khách du lịch trở lại mức trước đại dịch.
    Những thỏa thuận này có ảnh hưởng to lớn không thể tránh khỏi như “Con ngựa thành Troy”
    trong lĩnh vực 5G (the fifth-generation technology standard for broadband cellular networks), dữ
    liệu lớn (big data) và trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence (AI)). Cơ sở hạ tầng kỹ thuật số luôn
    có những “cửa hậu” (backdoors). China sẽ nắm trong tay “chìa khóa” của chủ quyền kỹ thuật số,
    có khả năng giám sát sự di chuyển của con người, hàng hóa và thậm chí cả quân đội….

==

VIỆT NAM: A Nation Reborn – Created by Nguyễn Phương ThúyNhạc nền hòa tấu: “VIỆT NAM VIỆT NAM” Của Phạm Duy

DÂY MÀ ĐI GIỮ GIANG SAN -NGUYỄN PHƯƠNG THÚY CGV

==

Thơ: Nguyễn Phương Thúy – Nhạc: Phạm Trung – Trình bày: Bích Hiền

== THƠ 30 THÁNG THÁNG TƯ ANH & VIỆT – TRANH THƠ: NGUYỄN PHƯƠNG THÚY

==

==

*

Tùy Bút 30/4 CỦA 51 NĂM SAU

Sỏi Ngọc

Tàu Trường Xuân, thuyền trưởng: ông Phạm Ngọc Lũy

Từ trái sang phải: Đạo diễn: Robbie Hart; Bà Nguyễn Bùi thị Mùi; tác giả Sỏi Ngọc; cố vấn Phim: anh Khoa Phạm

Lại một tháng Tư đen

Quê người ta tạm trú

Bao giờ về cố thổ

Như máu chảy về tim?

Cuộc chiến đã qua lâu

Lòng ta còn hậu chấn

Hỡi ơi ! Trời biển rộng

Dằng dặc một cơn sầu.  (Hoàng Song Liêm)

Tháng Tư vừa mới chớm, trái tim của những người con Việt hải ngoại không ngớt rỉ máu, vết thương của 51 năm qua vẫn mãi chưa bao giờ lành, một khi quê hương đất mẹ vẫn đang bị cầy xéo, dân vẫn khốn đốn, nền tự do dân quyền không có, những cựu chiến binh VNCH với thân hình còi rọc, như những phế nhân lầm lũi sống ở tận đáy xã hội của đất nước nơi mình được sanh ra; họ là những minh chứng sống cho thấy dưới chế độ xã hội chủ nghĩa Cộng Sản sau 51 năm, đời sống không khả quan hơn, vẫn đói khát, bị vùi dập, kiểm soát, bị trả thù đến bao nhiêu kiếp đời.

Tưởng niệm tháng Tư, phim Shining light, một phim tài liệu “ánh sáng tỏa rạng” được trình chiếu tại một trường tư thục, trung học Marianopolis college cho tất cả mọi người, kể cả những em học sinh, tham dự để hiểu về cội nguồn của những người Việt tỵ nạn tại Canada nói riêng và thế giới nói chung.

Phim tài liệu này chỉ dài 30 phút, do nhà sản xuất phim: Peter Raymont, đạo diễn: Robbie Hart, nhân viên Cao Ủy Liên Hiệp Quốc tại Canada: Tracey Maulfair, đồng sản xuất phim và cựu Đại xứ Canada: Gary Smith, cố vấn phim: Khoa Phạm.

Đã được trình chiếu nhiều lần tại Vancouver, Toronto, Montreal, hôm nay được chiếu lại nhưng đặc biệt có sự góp mặt của nhân vật chính, bà Bùi Nguyễn thị Mùi, bà là người mẹ đã mang bầu được 9 tháng vào ngày 30/4/75, biết rằng tánh mạng rất mong manh nếu bà lên tàu Trường Xuân bỏ xứ lánh nạn Cộng Sản thời bấy giờ, nhưng nỗi sợ hãi bị trả thù, cuộc sống đọa đầy sau ngày mà bọn chiến thắng luôn rêu rao là “nền độc lập tự do dân chủ”, trong khi chúng bắt bớ những  cựu sĩ quan, lính VNCH bỏ tù, nằm gai nếm mật, trong đó có chồng bà… Bà đã hy sinh mạng sống của chính mình và đứa con trong bụng, ôm bụng bầu sát ngày sanh nở, cùng với con trai nhỏ 2 tuổi, lên chiếc tàu định mệnh cuối cùng vào trưa ngày 30/4 để trốn chạy; đến ngày 2 tháng 5 năm 1975 bụng quặn thắt, và đứa con gái đã chào đời trên tàu Trường Xuân, giữa lòng đại dương mênh mông, với 3600 người tỵ nạn vây quanh, đứa bé gái được đặt tên là Chiêu Anh,  ánh sáng rạng rỡ, hy vọng  mở ra cho bà một tương lai mới!

Bà Bùi Nguyễn thị Mùi mới sanh cháu Chiêu Anh trên tàu Trường Xuân

Chiêu Anh- cô gái được sanh trên biển cả của ngày hôm nay

Bà Bùi Nguyễn thị Mùi, đạo diễn: Robbie Hart tại trường Marianopolis college

Sau đó, ngày 4/5/1975 tàu Trường Xuân được tàu chở hàng Maersk line của Hong Kong vớt, mẹ con cô được chở vào nhà thương.

Mọi người yên lặng theo dõi bộ phim thật cảm động, tại ngôi trường mà Chiêu Anh đã từng theo học và tốt nghiệp; thỉnh thoảng có tiếng thở dài não ruột, tiếng sụt sùi trong hàng ghế của những người lớn tuổi, cũng có những cái nắm tay thầm lặng chia sẻ nỗi buồn, sự cảm thông của thế hệ trẻ đối với tiền bối.

Phim chấm dứt, ánh đèn sáng lên, bà Bùi ngồi lặng yên trên chiếc ghế ở khán đài, cùng với đạo diễn Robbie Hart, sẵn sàng trả lời những thắc mắc của tất cả mọi người, có cậu bé nói:

– “Tại sao chiến tranh VN đã trải qua 51 năm, đã thống nhất độc lập rồi, mà vẫn còn có người bỏ nước ra đi, còn nghe nói đến sự trốn chạy tìm tự do, tìm nguồn sống mới; họ không chịu nổi áp lực của nhà cầm quyền Cộng Sản?”

Một người khác góp ý:

– “Vào lúc 30 tháng Tư, bọn cộng sản đối với chúng tôi là một điều rất mới mẻ, nhưng kinh nghiệm của thời cải cách ruộng đất thời 1953-1956, chúng đã giết, treo cổ thẳng tay những người họ gọi là “địa chủ”, “tư sản”, tưởng tượng họ cũng đối xử, trả thù những người dân quân miền Nam đã sống, làm việc dưới chính quyền mà họ cho là Mỹ ngụy thì làm sao chịu nổi, vì lý do đó mà nhiều người thà bỏ mạng ngoài đại dương hơn là sống dưới gông cùm của chế độ Cộng Sản.”

Đạo diễn Robbie nói:

– “Chúng tôi dự định sẽ về thăm Việt Nam một chuyến, có dịp sẽ quay những thước phim về những biến cố lịch sử đã xảy ra tại đó cách đây 51 năm, và sự khác biệt với đời sống hôm nay.”

Một khán giả trong phòng thêm ý kiến:

– “Chúng tôi rất mong được các ông làm phim về những người lính VNCH, những người cựu chiến binh, những thương phế binh của chế độ trước bây giờ họ sống ra sao? Con cái họ thế nào? Có được sống như những người dân bình thường hay họ vẫn mãi mãi bị mang lý lịch xấu không thể ngóc đầu lên được, tâm lý sau cuộc chiến bị thất bại, họ mất tất cả, chỉ còn hai bàn tay trắng, lại thêm tù tội cả chục năm, cuộc đời của chính bản thân và con cái có được thành công ở chính quê hương nơi họ sanh ra không? Cộng Sản, những kẻ chiến thắng sau cái mốc định mệnh 30/4 có thật sự như họ đã nói “theo chính sách khoan hồng” giúp đỡ cho kẻ “lầm đường lạc lối” đi đúng hướng, sao chỉ thấy toàn những hình ảnh đói khát ở vùng kinh tế mới với những căn nhà mái lợp bằng lá, mùa mưa thì dột, mùa nắng thì thiêu đốt… Sự trừng phạt hăng máu của kẻ chiến thắng đến bao giờ mới ngừng tay?!”

Hình ảnh của con gái Chiêu Anh cùng với mẹ đi dạo trong một công viên ở Montreal, thanh bình và nhàn nhã, có ai biết quá khứ của họ trắc trở đầy thử thách!

Chiêu Anh chính là Shining Light của bà Mùi, cô là ngọn đèn tỏa sáng trong màn đêm tăm tối, là niềm hy vọng cho cả gia đình sống và phấn đấu, bà Nguyễn Bùi thị Mùi là một dược sĩ có tiếng tại Montreal, Quebec, giúp đỡ cho rất nhiều đồng hương trong thời gian covid.

Bà luôn dậy con gái “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, cô tìm lại được thuyền trưởng của tàu Trường Xuân năm xưa là ông Phạm Ngọc Lũy, đã đến mừng sinh nhật thượng thọ thứ 95 của ông,

Cô gái Trường Xuân năm nào, tưởng đã không thể nào sống nổi, nay thành công rực rỡ trong ngành thiết kế thời trang,  cô ra trường ngành thiết kế thời trang ở NewYork, được nhiều giải thưởng danh giá.

Xin gửi lời cảm ơn trân trọng đến đạo diễn Robbie Hart, đến anh cố vấn Khoa Phạm đã tìm lại nhân chứng sống bà Nguyễn Bùi thị Mùi của tàu Trường Xuân sau 51 năm để cùng ngồi lại nơi đây, ôn lại câu chuyện lịch sử, không thể nào quên; câu chuyện của bà là một trong hàng ngàn những câu chuyện hy hữu của những người vượt biển sống sót, may mắn đến bến bờ tự do, sống, làm việc và thành công, như một tấm gương sáng cho thế hệ tương lai.

Chúng tôi ra về với dư âm của chiếc tàu Trường Xuân còn vương vấn, dáng bé nhỏ mảnh khảnh của bà Nguyễn Bùi thị Mùi, với nụ cười ấm áp, ánh mắt chứa chan niềm thân thiện, bà đã sống và cống hiến hơn nửa cuộc đời từ cái mốc 30/4 đến nay cho ngành thuốc, giúp tư vấn cho người bệnh, chích, bán và nhiều khi biếu thuốc cho những hoàn cảnh khó khăn, bà đúng với câu « lương y như từ mẫu », bà tâm sự riêng với tôi :

– “Mình thật may mắn đã được Canada giang tay đón nhận, thì mình phải sống sao cho xứng đáng, trả ơn cho đất nước đã cưu mang và góp phần xây dựng cho tương lai của thế hệ trẻ sau này.”

Tại ai mà mỗi tháng tư, tâm tư của hơn 1,5 triệu người sống xa quê hương có cùng một tâm trạng:

Tháng Tư về, gió chạm hư vô

Ký ức cũ rơi rụng không bờ

Người ở lại quen dần im lặng

Kẻ ra đi mang nặng giấc mơ

Một dòng sông chia hai bờ nhớ

Nửa quê hương trôi dạt phương nào

Hơn nửa thế kỷ rồi vẫn hỏi

Mất gì đây… mà đau đến nao lòng.

Sỏi Ngọc

Montreal 4/4/2026

*

THÁNG TÁM, THÁNG TƯ

Vốn rằng ghi rõ tự Thiên Thư

Cộng sản gian tà từ…”dịch Thu.”

“Cải Cách” lừa bần nông, đấu tố,

“Nhân Văn” phỉnh kẻ sĩ, giam tù.

Rồi đây, nổi giận, dân băm nát

Sắp tới, phân minh, Trời nghiến nhừ

Hậu quả khôn lường đang dần đến

Chúng bây sẽ trả nợ…công, tư.

         Bảo Trâm

Chú thích:

“Dich Thu”: Cách mạng tháng tám” năm 1945 của lũ cướp cộng sản.

“Cải Cách”: Cải cách ruộng đất” của Công sản Bắc Việt, từ 1953 đến 1956 , giết hàng chục ngàn nông dân ở miền Bắc.

“Nhăn Văn”: Cộng sản bày ra vụ “Nhân Văn Giai Phẩm” từ 1955-1959, để giết và giam tù, bó đói hằng trăm Văn Nghệ sĩ ở Miền Bắc.

==

CHÙM THƠ NHƯ THU

THÁNG TƯ MÃI NHỚ 

Tháng tư nặng mối ưu hoài 

Làng xưa biền biệt đắng cay nỗi lòng!

Phương trời xứ lạ thầm mong

Tàn canh thức trắng chờ trông mỏi mòn

*

Tháng tư giữ dạ sắt son 

Đêm dài dỗ giấc trăng tròn xót xa 

Vì đâu mãi nhớ thương nhà?

Người ơi gắng đợi cùng ta trở về! 

*

Tháng tư nghĩa xóm tình quê 

Chân thành đối đãi vẹn bề giúp nhau

Chiều qua gặp gỡ vui chào

Cười tươi hớn hở xôn xao chuyện trò 

*

Tháng tư ấp ủ buồn lo

Yêu bầy trẻ dại nằm co dọc đường 

Màn trời chiếu đất cảm thương 

Bao người khốn khổ muôn phương vội vàng 

*

Tháng tư mộng ước hoài mang

Trời Nam, biển Bắc tỏa lan đượm tình 

Mây chào rạng ánh bình minh 

Sau này hứa hẹn đăng trình chẳng lơi!

*

Tháng tư ngỡ tựa đang mời 

Buồm giăng bến gọi chửa ngơi bao giờ 

Sum vầy thỏa lắm niềm mơ 

Nắng hồng giục giã đôi bờ kết giao.

Như Thu

04/18/2026

**

QUÊ HƯƠNG DẤU YÊU! 

Từng nghe nước Việt sẽ dâng Tầu

Có phải quan thầy giấu nhẹm lâu?

Phương Bắc xe vào tim hụt hẫng

Miền Nam giặc đến kẻ u sầu!

Dân hờn bấy nỗi đành im tiếng     

Ruột thắt bao lần lại đẫm châu

Ướm hỏi người ơi nhờ tỏ thật…

Vì sao sự thể quá cơ cầu?

Như Thu

04/21/2026

**

THÁNG TƯ ƠI!

Lại tháng tư đen sắp trở về

Bao trùm phố thị cả làng quê!

Mậu Thân súng nổ rền muôn hướng

Bính Ngọ lời than trỗi tứ bề

Non nước căm hờn luôn mải giận

Dân tình bực tức chẳng còn mê

Vùng lên tranh đấu nào suy nghĩ

Nhất dạ đồng tâm giữ vẹn thề!

Như Thu

04/21/2026

==

*

CHO NHỮNG NGƯỜI NẰM XUỐNG
VÀ NHỮNG NGƯỜI CÒN LẠI

Tháng tư, từ giã mùa chinh chiến.
Ta về, đi giữa bóng hoàng hôn…
Tay mẹ gầy còm ôm ta khóc,
Cạnh đám em thơ nghẹn tủi hờn.

*

Bạn ta nhiều đứa không về nữa,
Đem máu xương mình hiến núi sông.
Để người sương phụ chia dòng lệ
Nửa chịu tang cha, nửa khóc chồng.

*

Rượu không đủ uống ngày thua trận
Ta ngước cười khan với đất trời,
Trời đã không dung người thất thế,
Sá gì thù vặt ngọn đòn roi.

*

Năm xưa vào lính mình ta tiễn,
Nay bước lao tù cũng một thân.
Mẹ đã tảo tần nuôi ta lớn,
Nay còn đội gạo mà thăm con.

*

May lúc lên đường chưa cưới vợ,
Nên chẳng dùng dằng vướng nợ ai.
Nếu không cũng xót thời son trẻ,
Vì chồng nhan sắc em tàn phai.

*

Trong tù ta có thêm bầu bạn,
Sáng chiều chia nửa củ khoai lang
Ngoài kia hợp tác toàn dân đói,
Xã nghĩa thiên đường ráng tiến lên.

*

Trong tù ta sống lòng thanh thản
Gánh rổ khoai mì đi rong chơi.
Cuốc đất đau lưng mà trí nhẹ
Không thành công, ta cũng thành người.


Nửa đêm tiếng hát từ song sắt,
Cao vút ngân lên đụng đỉnh trời.
Nhìn gã cai tù đang cúi mặt
Ta biết cuối cùng … ai thắng ai!

-Trại tù A30-1977.
Donry Nguyễn

**

TRẢ LỜI
CÂU HỎI CỦA EM.

“Ta làm chiến binh
Sống không bằng chết,
Được mất gì mà vỗ ngực xưng tên!”*


Người hỏi tôi là lính hay quan,
Hỏi chi thân thế lúc suy tàn.
Mang danh phận lính không tròn phận,
Há dám xưng hùng nhận chức quan.

*

Giữ nước sa cơ đành bỏ nước
Coi nhà thất thế phải tòng vong.
Cho dẫu chỉ là anh lính nhỏ,
Lẽ nào trách nhiệm chẳng lo chung.

*

Ngày nay trên bước đường lưu lạc,
Món nợ tang bồng lụy áo cơm.
Tha phương chén rượu sầu ngơ ngác,
Ai chẳng mộng ngày … quy cố hương.

*

Em đừng trách móc sao lần lữa,
Chưa về thăm lại mẹ già nua.
Lòng riêng ngui ngút niềm thương nhớ
Nhỏ lệ âm thầm giữa gác khuya.

*

Ra đi từ bữa hờn sông núi,
Lời thề ghi khắc trái tim côi.
Mai sẽ trùng tu ngày hội lớn
Dựng mái nhà xưa phụng dưỡng người.

*

Nửa thế kỷ qua ngùi đau xót,
Bạc màu áo cũ vẫn chờ mong.
Lỡ mai tôi chết không về kịp …
Chắc gởi tro tàn xuống biển đông.

*

Món nợ ân tình chưa báo đáp
Đối mặt quê hương nghĩ thẹn lòng.

-Donry Nguyễn-

* (Trích bài hành Tự Chuốc Rượu của người lính Lôi Hổ Hoàng Hoa Thương)

*

Tưởng nhớ Tr/u Liễu Tông Trung cùng đồng đội đã nằm lại rừng núi Kon Tum, tháng ba 1975.

Ngày 14/3/1975 anh theo xe tiếp tế lương thực cho đại đội đang đóng ở Đồi Ba Chấm, vị trí này là nơi đơn vị anh lui lại sau khi tản hàng phải rời bỏ căn cứ Kon Sơn Lũ cách đó vài cây số vào năm ngoái.

Lần này anh mang theo cả ba lô súng đạn để tham dự hành quân mặc dù nhiệm vụ của hạ sĩ quan tiếp liệu là ở hậu cứ lo việc quân lương.
Lý do: lè phè, ham chơi, đến giờ tiếp tế, tiểu đoàn phải cho người ra phố gọi về.

Sau khi nhận lương thực xong, đại đội được lệnh tiến sâu vào rừng, anh cũng mang súng lầm lũi bước theo. Đi được vài chục thước thì bỗng nhiên vị trung úy Trung đội trưởng ngoắc tay bảo anh:

-Thôi về đi, cảnh cáo lần này, nhớ không tái phạm nghe chưa.

Mừng rỡ bạn tôi chỉ kịp đưa tay chào ông rổi vội vã chạy ngược lại để đuổi kịp chiếc GMC đang lăn bánh.
Về tới trại B12 buổi chiều thì tối đó, toàn bộ hậu cứ được lệnh tiêu hủy vũ khí nặng và tất cả giấy tờ tài liệu để gọn gàng lên xe di tản. Nghe lệnh anh bàng hoàng xúc động, nghĩ đến những bạn bè chiến hữu giờ này đang tiến sâu vào rừng, không hay biết gì cả khiến anh chết lặng trong lòng. Hồi trưa nếu đại đội trưởng không cho về thì giờ này anh cũng chung số phận với mọi người rồi.

Suốt đường lui binh, không khi nào anh không nghĩ đến những người bạn cùng đơn vị giờ đây đơn độc giữa rừng sâu trong vòng vây của địch. Nỗi buồn và niềm chua xót nghẹn ứ trong trái tim người lính bất lực trước sự phũ phàng tàn nhẫn của chiến tranh.

Đoàn xe di tản của anh đi đầu, giữ được yếu tố bất ngờ nên không bị tấn công như khúc sau, đến bến đò Thạnh Hội xe lội qua sông Ba nhờ dòng nước lúc này chưa dâng cao. Nhưng khi cách Tuy Hòa khoảng 10 cây số, một quả đạn pháo kích nổ sát sườn xe làm người lính tên Tân là phụ tá tiếp liệu cho anh đứt ngang cổ họng, chết liền tại chỗ. Anh chỉ kịp ngoái lại nhìn xác nó loang máu nằm gục bên vệ đường nói lời vĩnh biệt rồi tiếp tục lao đi.
Anh về tới nhà an toàn, ở lại Tuy Hòa mấy hôm chờ đợi tin tức đơn vị nhưng không gặp lại ai, cũng không biết đích xác đại đội của anh thế nào. Sau đó cùng gia đình theo đoàn xe xuôi Nam, đến Nha Trang, nghe ngóng tình hình, thấy tin tức chiến sự hoàn toàn bất lợi, cha mẹ anh quyết định trở về và cho phép anh theo đơn vị. Không thể bỏ cha già mẹ yếu với đám em thơ giữa cuộc ly loạn, anh ở lại Nha Trang cùng gia đình chờ yên ổn trở lại Tuy Hòa.

Lúc ra trình diện ủy ban quân quản thành phố, tình cờ gặp lại một đồng đội cũ. Vui mừng hai người kéo nhau ra một góc vắng thăm hỏi. Người bạn cho biết vắn tắt: đại đội đã chiến đấu cho tới viên đạn và bịch gạo sấy cuối cùng. Không nhận được tiếp tế, cũng không thể liên lạc về bộ chỉ huy nên tự giải tán, mạnh ai nấy tìm đường thoát hiểm, thành ra không ai biết ai thế nào.
Nghe xong bạn tôi thở dài nuốt nước mắt vào lòng. Tiếc thương đồng đội cũ trong đó có Tr/u Liễu Tông Trung, đại đội trưởng của anh, là một sĩ quan can trường, tốt nghiệp Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, ông đã cống hiến tuổi trẻ và tâm huyết của mình cho đất nước, cuối cùng đã bị bỏ rơi giữa núi rừng Kon-Tum khi gần tàn cuộc chiến.

Từ đó đến nay tôi vẫn thường hỏi thăm nhiều nơi, gặp nhiều chiến binh Biệt Động để ngóng tin tức giùm bạn tôi mà không ai biết. Duy chỉ một lần tình cờ gặp Đ/u Nguyễn Văn Hồng, người cùng khóa Sĩ Quan Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt với Tr/u Liễu Tông Trung, anh cũng thừa nhận là sau tháng tư 75, được anh em cùng khóa báo cho biết là Liễu Tông Trung mất tích…

Hôm nay nhân mùa Quốc biến, thay mặt bạn mình tôi viết bài thơ tưởng nhớ đến ông và tất cả các chiến sĩ BĐQ đã nằm xuống trên khắp đất nước để bảo vệ Miền Nam Tự Do.

BÀI CA
ĐỒI BA CHẤM

Lệnh di tản ban hành trong đêm lạnh,
Ta bàng hoàng khi nhận được hung tin.
Đại đội ta đóng quân đồi Ba Chấm
Mới ban trưa này còn được lệnh hành quân.

Giờ bỗng chốc chẳng khác gì ác mộng,
Họ trở thành chốt chặn ngựa qua sông.
Ta vơ vội áo quần, ôm cây súng,
Giờ ra đi nghe muối xát vào lòng.

Người ở lại âm thầm ngăn bước giặc,
Người lên đường lặng lẽ rút nhau đi.
Thương đồng đội ta cũng đành bất lực,
Bí mật quân cơ đâu thể nói năng gì.

Trời cao nguyên đêm nay buồn ảm đạm,
Cơn gió nào thổi vọng đến đồi cao.
Nơi bạn ta vẫn tay ghìm họng súng,
Giữa rừng khuya cố thủ dưới thông hào.

Thẩm quyền ta, người sĩ quan Võ Bị,
Cái ngoắc tay cho ta sống trở về.
Nhưng chính ông lại lọt vào tuyệt lộ,
Thế trận tàn Hùm dữ cũng sa cơ.

Đường lui binh nhiều lần ta bật khóc,
Ôi đâu rồi khí phách một đoàn quân.
Đánh trăm trận khiến quân thù tan tác,
Giữ non sông từng tấc đất tấc vàng.

Nay chạy trốn để mong cầu sự sống,
Lòng ta đau tan nát tựa dao đâm.
Giặc pháo theo bạn ta vừa ngã xuống,
Máu loang hồng theo vết bánh xe lăn.

Về duyên hải chờ lâu tin không thấy,
Lại lên đường tiếp tục tiến về Nam.
Gặp đồng đội sụt sùi nghe kể lại:
Lính bọn mình đã chiến đấu hiên ngang.

Giây phút cuối không còn quân tiếp viện,
Đạn vơi dần, gạo sấy chỉ cầm hơi.
Tiếng súng giặc bao trùm lên trận tuyến,
Sóng truyền tin không nghe tiếng trả lời.

Tự tan hàng khi thế cùng lực kiệt,
Xé đường rừng tìm lối thoát mưu sinh.
Người thương tích chờ quân thù bắn giết,
Người ngậm ngùi mang thân phận tù binh.

Ta từ giã chiến tranh từ thuở ấy,
Mà vết thương còn nhức nhối trong tim.
Nửa thế kỷ, ta thấy mình còn nợ,
Những anh em ở lại phút sau cùng.

Ai ra lệnh phũ phàng đem con bỏ?
Ai chọn đường hoang phế để lui quân?
Nửa thế kỷ nỗi buồn đau còn đó,
Người vọng phu hóa đá đứng trông chồng…

Ta may mắn xác thân còn nguyên vẹn,
Nhưng tâm hồn vĩnh viễn gởi rừng sâu,
Nơi bạn ta đã âm thầm ngã xuống,
Máu xương đem phân bón cỏ xanh màu.

-Donry Nguyễn-
California April 15,2026.

==

==

==

Tháng Tư trở về không còn là tên của một tháng, mà là một vết cắt hằn sâu trong thân phận.
Tháng Tư của một thời đã xa, vừa ập tới như cơn hồng thủy hỗn mang, cuốn phăng mọi trật tự vốn dĩ của đời người. 

Không một lời báo trước, không kịp chuẩn bị, chỉ còn hoảng loạn và chia lìa.

Gia đình tan tác. Bè bạn lạc nhau. Quê hương bỏ lại.
Tất cả như một đàn chim đang yên ổn giữa trời bỗng bị giông bão xé tung, mỗi con bay về một hướng, không biết có còn ngày gặp lại.
Trong cơn cuồng phong ấy, mỗi con người chỉ còn là một hạt bụi nhỏ nhoi, như chiếc lá cuốn theo dòng nước, bị đẩy trôi mà không thể cưỡng lại.

Mọi thứ diễn ra quá nhanh. Những quyết định không còn là lựa chọn, mà chỉ là phản xạ sinh tồn.
Giữa trăm mối hỗn độn, người ta chỉ còn biết chạy, chạy trốn khỏi đổ vỡ, chạy về phía một miền đất tự do, dù biết rắng nó rất mơ hồ.
Có những điều, khi xảy ra, ta tưởng là bất khả kháng. Nhưng thời gian không xóa đi, nó chỉ làm rõ hơn những khoảng trống trong lòng. 

Khi mọi thứ lắng xuống, khi đời sống dần tìm lại nhịp thở, thì ký ức lại dâng lên như một cơn sóng khác, âm thầm mà dữ dội.

Tôi đã không kịp đến.
Không một nén hương.
Không một lời giã biệt.

Nỗi oan ấy ở lại, không ồn ào, nhưng dai dẳng. Không trách móc, mà lặng lẽ khắc sâu, khiến lòng người không thể nguôi quên.
Tháng Tư, vì thế, không chỉ là tháng của biến động.
Nó là tháng của những điều chưa kịp làm.
Của những lời chưa kịp nói.
Và của những cuộc chia ly không có lần sau để sửa lại.

Le Tuan

==

TẠ LỖI

Hãy tha thứ cho anh
Giữa chuyển dời nghiêng ngả
Bước chân đi vội vã
Lạc mất lối quay về.

*

Hãy tha thứ cho anh
Một lần buông rơi tất cả
Không một lời tiễn biệt
Cuối Tháng Tư não nề.

*

Hãy tha thứ cho anh
Ngôi mộ buồn lặng lẽ
Không khói hương sớm chiều
Không một nén phân ưu.

*

Hãy tha thứ cho anh
Những tháng năm xa xứ
Mỗi lần nhớ đến em
Là một lần ray rứt.

*

Hãy tha thứ cho anh
Nếu tình còn mắc nợ
Xin gửi về quê hương
Một giọt buồn quốc hận.

Tế Luân

==

Tháng Tư 

Khúc Tưởng Niệm Sài Gòn 30.4.1975 – TẾ LUÂN

Tháng Tư trở về, không ồn ào, không gọi tên, mà lặng lẽ len vào ký ức như một làn sương mỏng.
Có những khoảnh khắc của đời người, tưởng đã trôi qua, nhưng thực ra chỉ đang ẩn mình đâu đó,
chờ một ngày thức dậy trong nỗi nhớ. Ngày 30 tháng 4 năm 1975, ngày Sài Gòn đổi thay, là một khoảnh khắc như thế: 
vừa hữu hạn trong thời gian, vừa vô hạn trong lòng người.

Trong cõi vô thường, thời gian như cất lên một tiếng gọi đau thương từ tháng Tư. Tiếng gọi ấy không chỉ vang lên từ ký ức con người, mà còn dội về từ đại ngàn xanh thẫm, từ bầu trời tím ngắt cuối ngày, từ những con đường Sài Gòn xưa cũ. Những chiếc lá trong thành phố dường như cũng cảm nhận được điều gì đó, húng vàng đi sớm hơn thường lệ, chen lẫn vào những chiếc lá đỏ, tạo thành một bức tranh chao nghiêng, ảm đạm của những ngày cuối tháng Tư.

Đất trời như chuyển mình trong một khúc giao hưởng kỳ lạ. Biển xanh không còn hiền hòa, mà dâng lên những cơn sóng giông bão, gào thét vào bờ cát phơi lưng, như muốn kể lại những biến động của một thời khắc lịch sử, của câu truyện thương tâm từ những thuyền nhân. Đó không chỉ là âm thanh của chiến tranh, mà còn là tiếng lòng của một dân tộc, của Mẹ Việt Nam, vừa đau thương, vừa kiên cường, vừa chịu đựng, vừa bao dung.

Và giữa những biến động ấy, vẫn còn đó hương thơm của ruộng đồng, mùi lúa mới lan tỏa như một lời nhắc nhở rằng sự sống vẫn tiếp diễn. Từ bùn đất, từ mồ hôi, từ nước mắt, con người vẫn đứng dậy, vẫn gieo trồng, vẫn hy vọng. Một bài ca dao âm thầm cất lên, không phải để ca ngợi chiến thắng hay thất bại, mà để chiêm nghiệm về một cuộc đổi dời kỳ lạ của vận mệnh.

Năm mươi mốt năm đã trôi qua. Tháng Tư hôm nay không còn khói lửa, nhưng dư âm của nó vẫn còn đó, âm ỉ, sâu lắng, như một dòng chảy ngầm trong tâm thức mỗi người Việt. Nỗi đau không biến mất, mà chỉ lặng lẽ chuyển hóa, trú ngụ trong ký ức, trong những câu chuyện chưa kể hết, trong những giọt nước mắt không rơi thành lời.

Tháng Tư không chỉ là một mốc thời gian. Đó là một miền ký ức. Một vết hằn của lịch sử. Một lời nhắc nhở về sự mong manh của phận người và sự khắc nghiệt của thời cuộc. Nhưng trên tất cả, đó cũng là lời mời gọi con người biết nhìn lại, biết lắng nghe, và biết cảm thông, 

để từ đó, học cách sống sâu hơn, bao dung hơn, và gìn giữ hòa bình như một điều quý giá nhất.
Tháng Tư vẫn còn đó. Không mất đi. Không phai nhạt. Chỉ là… đã đi vào lòng người.

Tháng Tư
Bài Thơ Còn Lại

Tháng Tư về không gọi tên nỗi nhớ
Chỉ gió buồn lặng lẽ bước qua tim
Sài Gòn đó, một thời như giấc mộng
Vỡ âm thầm như lá rụng im lìm.

Có phải trời hôm ấy nhuộm màu tím
Màu ly biệt, hoàng hôn về rất lạ
Những con phố bỗng dưng thành xa lạ
Người đi rồi… không hẹn một ngày về.

Màu cờ đỏ, mưa rơi như dòng máu
Lũ giặc tràn vào, tiếng thét thất thanh
Thành phố đêm bỗng rùng mình chết lặng
Vạn nỗi đau không cất nổi thành lời.

Biển vẫn xanh mà giông bão không nguôi
Sóng gào thét như linh hồn đất nước
Khúc giao hưởng của một thời xuôi ngược
Viết bằng đời, bằng nước mắt Mẹ thôi.

Từ đại ngàn xanh thẳm đến ruộng đồng
Hương lúa mới vẫn âm thầm lan tỏa
Giữa đổ nát vẫn nhen lên mầm sống
Một câu ca dao, âm hưởng Mẹ hiền.

Năm mươi mốt năm… tháng Tư còn đó
Không mất đi, chỉ chìm vào ký ức
Để đôi lúc trong đêm dài thao thức
Nỗi đau xưa trở lại rất con người.

Tháng Tư ơi, khơi lại những cội nguồn
Hãy ở lại như một lời nhắc nhở
Rằng lịch sử không bao giờ khép cửa
Và lòng người còn mãi những chia ly.

Tế Luân

==

THƠ THÁNG TƯ XƯỚNG HỌA – CAO MỴ NHÂN VÀ THI HỮU

(Thất ngôn bát cú – Chữ T – Điệp tự áp cú)

TÔI thấy tháng Tư thật tả tơi

Tả tơi tan tác toé tung tời

Tung tời tự thủa tang thương thế

Thương thế tới tình tưởng tiếc thời

Thời tiếc tóc tơ tàn tuổi trẻ

Trẻ tung tâm tính trổ tra trời 

Tra* trời tích tụ tàng thiên tuế

Thiên tuế tạ từ thê thiếp thôi … 

                 CAO MỴ NHÂN  

      Hawthorne. 18 – 4 – 2026

*Tra là Già 

=

THÁNG TƯ CẢM THÁNPHƯƠNG HOA

          (Họa 4 vần – áp cú)

Quốc phá gia tàn đã xé tơi

Tơi tơ đứt sợi nghẹn không lời

Lời câm ẩn nhẫn nương phù thế

Thế buộc đành cam chịu thúc thời

Thời vận nhà Nam người cuối bể

Bể dâu đất Việt kẻ chân trời

Trời Tây kết nối chung lòng đợi

 Đợi lúc khải hoàn trở lại thôi…

      Phương Hoa – Tháng Tư, 2026

**

THÁNG TƯ ĐỢI CHỜ

(Họa 4 vần) 

Nghe niềm uất nghẹn hẳn đà tơi!

Tơi nát làm hoen vạn mảnh đời! 

Đời chuyển bao vùng quanh chiến cuộc 

Cuộc lan bấy chốn giữa đương thời

Thời yêu đất mẹ quay cuồng nỗi

Nỗi nhớ làng quê thỉnh nguyện trời

Trời đã thương tình nên hứa hẹn 

Hẹn đàn trỗi nhịp khúc hòa thôi!

Như Thu – 04/22/2026

==

KÝ ỨC THÁNG TƯ – MINH THÚY THÀNH NỘI

(họa 4 vần

Ngẫm tháng tư về dạ nát tơi

Tơi sâu quốc hận chuyện di dời 

Dời chân trốn thoát vì thay đổi 

Đổi ý ra đi bởi xáo thời 

Thời đảo lo căng cầu nguyện lúc

Lúc xoay khiếp hãi cúi xin trời 

Trời cao có thấu người tù tội 

Tội biển tràn đầy xác chết thôi.

Minh Thúy Thành Nội 

Tháng 4/2026

==

NGẪM ĐỜI – SÔNG THU

Ngẫm cuộc đời mình sao rách tơi

Rách tơi thành đám bụi tro tời

Tro tời tung xuống trên phần số

Phần số cuồng quay trước thế thời

Thời thế đổi thay dường giấc mộng

Mộng mơ biến hóa tựa mây trời

Trời cao vời vợi khôn nhìn thấu

Thấu phận con người thảm quá thôi!

Sông Thu

( 24/04/2026 )

Cuối tháng tư nghe những cơn địa chấn

Rất lặng thầm nhưng bỗng chuyển cuồng điên

Anh ở đâu, bỏ lại nỗi ưu phiền

Cho em giữ một mình Dòng nhiễu loạn

*

Sông núi vọng âm vang lời trận mạc

Hỏi  AI  đang  thét gọi sau lưng em 

Trao cho nhau chút thương nhớ êm đềm

Rồi tắt lửa vàng bay vào vũ trụ 

*

Anh đâu rồi ánh hào quang rực rỡ

Hiển thị kiếp này ký ức đời xưa

Cơn địa chấn chẳng yên trời vần vũ 

Hay dung nham  đổ trận Điện mây mưa

*

Đợi bao giờ núi phủ sập hoang sơ

Trái đất thủa hồng hoang thời hiện đại

Em sẽ mang bao nồng nàn dấu ái

Tặng riêng anh Mã Số của Tình Yêu …

Rancho Palos Verdes  23 – 4 – 2026CAO MỴ NHÂN ( HNPD )

 24 – 4 – 2026

==

THÁNG TƯ HẬN, THÁNG TƯ ĐAUYÊN SƠN
(Viết cho mình, viết giùm cho người)

Tháng Tư lại về.
Không cần ai nhắc, không cần một dấu hiệu rõ ràng nào, chỉ cần những dư âm Tết nơi xứ người bắt đầu phai nhạt, hay một buổi chiều xuân nhạt nắng rơi xuống sân vườn cô tịch là lòng tôi đã chùng xuống. Nhớ về…
Có những tháng trôi qua như một con số. Có những tháng đi qua như một thói quen. Nhưng cũng có những tháng không bao giờ rời khỏi đời người. Đó là Tháng Tư. Tháng Tư, đối với tôi, không phải là ngày tháng bình thường của thời gian. Nó là một dấu mốc thời gian in hằn trong tâm khảm, là một nỗi đau, một vết cứa sâu trong tâm hồn, một nơi mà ký ức dừng lại, xoáy xuống, rồi lan ra, phủ kín cả tâm can.
Có những nỗi đau không có âm thanh, không có tiếng khóc. Không thường có những lời than vãn. Nó nằm im, rất sâu, rất lâu, như một mảnh kim loại nhỏ găm trong da thịt. Mảnh kim loại không đủ nguy hại có thể chết người, nhưng đủ để nhói lên mỗi khi cử động. Và Tháng Tư chính là lúc mảnh kim loại ấy trở mình.
Đêm hai mươi chín tháng Tư năm ấy, tôi vẫn còn là một người lính.
Không phải hình ảnh một người lính trong sách vở, với chiến tuyến rõ ràng và mệnh lệnh rành rọt, mà là một con người đứng giữa một thực tại đang rạn vỡ. Ở phía tây Sài Gòn, quanh vòng đai phi trường Tân Sơn Nhứt… chúng tôi còn chiến đấu. Chiến đấu không phải vì hy vọng chiến thắng, mà vì không thể buông. Không thể đầu hàng.
Có những thứ, một khi đã thấm vào máu như danh dự, trách nhiệm, lời thề… thì không dễ gì đặt xuống, không thể buông bỏ, ngay cả khi biết rằng tất cả đang trượt khỏi tầm tay.
Chiến tranh trong những giờ phút cuối không còn là chiến tranh theo nghĩa quen thuộc. Nó không còn là một ván cờ. Nó trở thành một cơn sóng lớn. Và chúng tôi là những con người đứng trước làn sóng hung bạo ấy, cố giữ thăng bằng trên những mảnh vỡ còn sót lại.
Tiếng súng vẫn nổ. Nhưng không còn nhịp điệu của chiến thuật. Nó dồn dập như nhịp tim của một cơ thể kiệt sức. Mỗi phát súng không còn nhắm đến chiến thắng, mà như một cách níu giữ một hy vọng mong manh dù biết hy vọng ấy gần như không còn.
Nhưng cũng không thể bắn bừa. Đạn dược đã cạn. Mỗi viên đạn được đếm như giọt máu cuối cùng. Trong khi đó, đối phương được che chở bởi những tầng phòng không dày đặc. Chúng tôi chiến đấu trong thiếu thốn, trong bị động, trong một thế trận mà phần thua đã hiện rõ.
Người Mỹ đã quay lưng. Người Mỹ đã bỏ rơi chúng tôi, bỏ rơi cái tiền đồn mà họ đã từng dùng chúng tôi để ngăn cản sự thống trị của triết thuyết Cộng Sản. Nhưng chúng tôi vẫn phải chiến đấu để bảo vệ nền tự do dân chủ cho người dân chúng tôi, cho đất nước chúng tôi.
Anh em vẫn thay nhau bay. Bay trong những điều kiện khắc nghiệt, bay như những võ sĩ bị trói tay chân, ném lên võ đài trước một địch thủ hung tàn. Người này hết giờ, người khác lên. Không ai nói nhưng ai cũng hiểu… chúng tôi đang ở trong một hoàn cảnh vô vọng. Còn nỗi bi thương nào hơn thế không?
Tôi còn nhớ những ánh mắt đêm ấy. Không ai nói với ai một lời gì ngoài những thao tác quen thuộc, ngôn ngữ chiến trận quen thuộc. Những ánh mắt gặp nhau giữa ánh chớp và bóng tối chỉ để xác nhận một điều, chúng tôi vẫn còn có nhau như đã từng mỗi khi xông vào lửa đạn, đánh cược với tử sinh.
Và cũng không ai nói với ai đó là đêm cuối. Nhưng ai cũng cảm thấy sự bất lực qua từng viên đạn bắn ra. Nhưng ai cũng biết một điều gì đó đang đến hồi kết thúc. Không phải chỉ là một trận đánh mà là cả một thời đại.
Viết đến đây, mắt tôi lại nhòe đi. Tôi đứng dậy, bước ra sau vườn, châm một điếu thuốc. Gió thổi qua hàng chuông gió, những tiếng leng keng như tiếng gọi từ một cõi nào xa lắm. Tôi hít sâu. Thở mạnh. Rồi quay vào, tiếp tục viết.
Chuyến bay khuya hôm đó… sau khi bàn giao vùng trách nhiệm, tôi trở về cư xá. Hai đứa học trò nhỏ tôi mang về từ trưa hôm trước vẫn còn thức. Hai đứa, như tôi vẫn nói đùa, “trói gà không chặt”. Chúng tôi vừa nằm xuống thì nghe pháo kích dữ dội vào phi trường. Rồi một tiếng rít xé tai – hoả tiễn 122 ly. Nhưng… không nghe tiếng nổ. Cho đến sáng hôm sau, mọi người trong cư xá mới biết là đã thoát chết giữa đêm qua khi nhìn thấy phần đuôi của chiếc hoả tiễn đang cắm sâu vào lòng đất bên cạnh cư xá độc thân.
Buổi sáng hôm ấy đã không phải là một buổi sáng bình thường, khi thấy chiếc Tinh Long 7 của phi đoàn tôi bị bắn rơi ngoài vòng đai phi trường, trước nhưng đôi mắt hoảng loạn của anh em. Đó là giọt nước làm tràn ly, không ai nói với ai lời nào, mỗi người chạy đi một ngả.
Tôi cùng hai chú em đèo nhau lên chiếc Lambretite, chạy khắp các bãi đậu tìm phi cơ thoát thân. Nhưng những chiếc còn bay được đã bay đi đâu hết. Đang đứng ngơ ngác thì được một niên trưởng kéo tôi chạy theo đến một chiếc C-130 không còn nguyên vẹn, để làm phận sự phi công phụ.
Chiếc phi cơ cất cánh từ cuối đường băng. Không đủ tốc độ. Không đủ điều kiện. Nhưng vẫn phải bốc mình lên nhờ vào bốn động cơ bán phản lực. Chiếc máy bay gượng lên, nhắm hướng Vũng Tàu rồi… trực chỉ Utapao, Thái Lan mang theo 115 con người không biết họ đã lên bằng cách nào.
Chiều hôm đó, 29 tháng 4 năm 1975, tôi và một số anh em trong phi hành đoàn đã sững sờ rơi nước mắt khi thấy một đội ngũ quân nhân người Mỹ bắc thang lên thân máy bay sơn bỏ huy hiệu Không Quân VNCH, sau khi mọi người bị tước khí giới trước khi bước ra khỏi thân phi cơ.
là tôi đã buộc phải rời khỏi đất nước trong bàng hoàng, trong vô thức, không kịp biết được tin cha mẹ anh chị em đã bị thất lạc phương nào mấy tháng qua trong chiến tranh. Không kịp báo tin với người vợ sắp cưới chỉ ở cách phi trường khoảng 6 cây số! Và cứ thế, bị đưa đẩy dọc theo hành trình trở lại đất nước nầy với thân phận vô gia đình, vô tổ quốc. Mãi đến vài năm sau mới liên lạc lại được!
Cho đến bây giờ, sau hơn nửa thế kỷ, cái “không kịp” ấy vẫn còn nguyên vẹn trong tôi, như một khoảng trống không bao giờ có thể lấp đầy. Không kịp nhìn cha mẹ lần cuối. Không kịp nói một lời từ biệt với bất cứ người thân yêu nào. Không kịp khép lại một cánh cửa đời quân ngũ theo cách mà một con người lính bình thường đáng được có.
Có những cuộc chia ly không có lời từ biệt, và chính vì thế, chúng không bao giờ kết thúc.
Tôi ra đi trong một trạng thái không hoàn toàn tỉnh táo. Không phải chỉ hoảng loạn mà là tê điếng. Mọi thứ diễn ra quá sức nhanh, quá sức bất ngờ, con người tôi không còn cảm xúc rõ ràng. Chỉ còn hành động. Chỉ còn bản năng. Tôi ra đi, như một người bị đẩy ra khỏi chính cuộc đời mình trong khi trong lòng vẫn còn một niềm tin rất mong manh rằng đây chỉ là tạm thời. Rằng rồi sẽ có ngày trở lại. Rằng quê hương không thể biến mất chỉ qua một đêm. Rằng những gì đã xây dựng, đã sống, đã yêu, không thể bị xóa đi dễ dàng như vậy.
Có nhiều lần tôi nghĩ, sự ra đi bất chợt của tôi sẽ không nhiều hối tiếc, nhiều đớn đau nếu dân tộc tôi được tự do hạnh phúc hơn, đất nước tôi trở nên thanh bình, vươn lên oai nghi, dũng mãnh như con rồng, con hổ. Nhưng rất tiếc! Rất tiếc!
Thời gian, bằng sự im lặng kéo dài của nó, đã dần dần dạy tôi hiểu. Không có ngày trở lại như tôi từng mong đợi. Không phải vì không muốn, mà vì con đường đã khép lại từ lúc Việt cộng xâm chiếm miền Nam; chúng đã và đang gây ra bao nhiêu đau thương cho nòi giống, cho mảnh giang sơn gấm vóc của ông bà, tiên tổ.
Mất quê hương không phải là một biến cố xảy ra trong một ngày. Nó là một quá trình. Ban đầu là sự bàng hoàng. Sau đó là niềm hy vọng. Rồi niềm hy vọng mỏng dần đi theo ngày tháng. Và cuối cùng là một sự chấp nhận trong im lặng. Không phải chấp nhận vì đồng ý mà vì dường như không còn cách nào khác.
Những năm đầu nơi quê hương thứ hai nầy, mọi thứ đều xa lạ. Ngôn ngữ, phong tục, con người, đời sống. Tôi đã học tái sinh trước khi học cách tồn tại. Học cách hiểu người khác, trước khi có thể nói cho người khác hiểu mình. Học cách đứng vững trên chính đôi chân mình khi trong thâm tâm vẫn không ngớt đợi chờ một phép lạ, một ánh sáng nhỏ nhoi ở cuối đường hầm.
Người ta có thể quen với nhiều thứ. Quen với thời tiết khác, quen với nhiều món ăn lạ, quen với nhịp sống của một dân tộc khác. Nhưng có một thứ không thể làm quen đó là tình tự quê hương đã mất.
Quê hương không chỉ là nơi mình sinh ra. Nó là nơi mà mọi thứ đều có ý nghĩa mà không cần rao giảng. Một con đường, một góc phố, một tiếng rao, một mùi hương… tất cả đều mang theo một phần đời. Khi mất đi, không chỉ là mất một nơi chốn, mà là mất cả một hệ ký ức, một cấu trúc của đời sống con người.
Có những buổi sáng, tôi tỉnh dậy và trong một khoảnh khắc rất ngắn, tôi quên mất mình đang ở đâu. Trong khoảnh khắc đó, tôi vẫn là con người của ngày xưa, sống trong một thành phố quen thuộc, những đường bay dọc ngang trên bầu trời miền Nam nước Việt mà tôi đã thuộc lòng. Nhưng rồi thực tại trở về, không ồn ào, nhưng dứt khoát, như một bàn tay ai đó đặt nhẹ nhàng lên vai, nhắc tôi rằng tất cả đã trở thành dĩ vãng.
Có nhiều lúc tôi thảng thốt nghĩ rằng:
Sợ một mai thân nằm yên lòng đất
Hồn lẻ loi tìm không thấy quê nhà
Năm mươi mốt năm trôi qua.
Một đời người có thể chứa đựng bao nhiêu ký ức? Có thể chịu đựng bao nhiêu mất mát? Có thể giữ lại được bao nhiêu điều mà không đánh mất chính mình?
Tôi đã sống. Đã làm việc. Đã xây dựng lại cuộc đời. Đã có những niềm vui, những thành tựu, những mối quan hệ xã hội rất tốt. Nhưng tất cả những điều đó, dù có thật, dù có ý nghĩa, vẫn không thể thay thế được những gì đã mất.
Tôi nhớ những ngày tháng trước năm 1975. Không phải vì chúng hoàn hảo, mà vì chúng là một phần đời quan trọng của tôi. Những sáng nắng chiều mưa, những ngày lộng gió, những đường bay quen thuộc, những khung trời bao la, những sinh tử cận kề, những cuộc gặp gỡ, những câu chuyện, những ước mơ chưa kịp thành hình. Một đời sống bình thường như thế nhưng khi mất đi, tôi mới hiểu giá trị của nó sẽ không bao giờ có thể thay thế được.
Ký ức, theo thời gian, không phai nhạt đi như người ta tưởng. Nó được chắt lọc. Những gì không quan trọng sẽ rơi rụng tự nhiên. Những gì còn lại sẽ trở nên rõ nét hơn, tinh khiết hơn, và vì thế, cũng đau xót hơn.
Và tôi mang trong mình một nỗi hận. Nhưng không phải là một nỗi hận đơn giản. Nó không hướng về những con người bình thường. Tôi không hận người dân Mỹ mà tôi đã gặp, đã sống cùng, đã nhận được sự giúp đỡ của họ để xây dựng lại cuộc đời. Tôi hiểu rằng con người, ở đâu cũng có những điểm tương đồng giữa thiện và ác, hiểu biết và giới hạn.
Nhưng tôi không thể không nghĩ đến những quyết định sai lầm của hệ thống cầm quyền chính phủ Mỹ và đồng minh, những phong trào phản chiến ngu xuẩn, những cơ quan truyền thông dối trá, lừa gạt dư luận. Những điều nầy đã góp phần làm thay đổi số phận của những quốc gia nhỏ bé, chậm tiến như Miền Nam Việt Nam của tôi. Một cuộc chiến không chỉ được quyết định bởi những gì xảy ra trên chiến trường mà nó được quyết định bởi những gì xảy ra trong lòng xã hội, qua truyền thông, trên trường chính trị.
Khi một bên không còn được thế giới ủng hộ, không còn được bạn bè tin tưởng thì dù còn đầy đủ vũ khí cũng không thể giữ được, huống chi… chúng tôi đã phải chiến đấu với cả một thế lực cộng sản quốc tế hùng mạnh khi vũ khí đã bị chính những người bạn đồng minh tước bỏ đi.
Nỗi hận của tôi không phải để nuôi dưỡng oán thù mà là để nhắc nhớ cho chính mình, nhắc nhở con cháu đời sau những gì đã xảy ra cho quê hương, dân tộc tôi không bị đi vào quên lãng.
Sau tất cả, điều còn lại trong tôi không chỉ là nỗi đau. Mà là một ước vọng. Ước mong một ngày nào đó, được trở về trong tự do, trong danh dự. Không phải để bắt đầu lại, mà chỉ để nhìn lại. Để bước trên những con đường cũ dù chúng đã bị thay tên đổi họ một thời. Để nghe lại những âm thanh, những tiếng nói quen thuộc ở khắp mọi nơi. Để thấy lại một quê hương bừng sáng, một xã hội văn minh trong tình người. Được thật sự hãnh diện với 4 chữ Con Rồng Cháu Tiên.
Ở tuổi này, tôi không còn sợ nhiều điều. Không còn sợ mất mát vì đã mất mát quá nhiều. Không còn sợ thay đổi vì đã sống qua những thay đổi to lớn mà chỉ sợ rằng mình sẽ không còn đủ thời gian. Không đủ thời gian để thấy ngày ấy. Không đủ thời gian để chứng kiến một kết thúc tốt đẹp như thế cho quê hương dân tộc mình; để biết rằng những nghiệt ngã mình đã trải qua trong đời không trở nên vô nghĩa.
Sự chờ đợi nào cũng không mấy dễ dàng. Khi còn trẻ thì có dễ dàng hơn, nhưng khi thời gian không còn nhiều, mỗi ngày trôi qua đều mang theo một cảm giác bồn chồn, lo sợ. Không phải vì muốn đạt được điều gì, mà vì sợ không còn cơ hội ấy.
Tháng Tư lại đến.
Vẫn là những cơn mưa nhẹ buổi sáng, những đám mây trắng bềnh bồng ở buổi chiều dài, những khoảng lặng khó gọi tên… Những ghi nhận nầy không phải để làm thơ, khp6ng phải là thời tiết mà là một phần của đời sống nội tâm, một vùng ký ức mà mỗi năm, vào đúng thời điểm này, lại mở ra trong tôi.
Tháng Tư hận.
Tháng Tư đau.
Mỗi năm vẫn cứ theo nhau trở về
Nhưng nếu chỉ có hận và đau, con người đã không thể đi qua hơn nửa thế kỷ. Vì ở đâu đó, rất sâu, rất nhỏ, vẫn còn một thứ khác. Một thứ không sôi nổi lắm, không mạnh mẽ nhiều nhưng bền bỉ. Đó là niềm hy vọng.
Hy vọng rằng một ngày nào đó, dù mình còn hay không, trên mảnh đất hình cong chữ S ấy, người dân sẽ được sống an bình, hạnh phúc mà không phải cúi đầu, lo sợ. Sẽ có những tiếng nói không bị bóp nghẹt. Sẽ có những giấc mơ không bị dập tắt. Và khi ngày đó đến, có thể, ở một nơi nào đó rất xa, những người đã ngậm ngùi nằm xuống sẽ mỉm cười. Dù muộn màng nhưng cũng có thể sẽ che giấu được những niềm đau, nỗi hận trong lòng của những người võ sĩ bị ném lên đấu trường sanh tử với tay chân bị trói chặt.

GIỚI THIỆU TRANG NHÀ: 
http://thovanyenson.com
http://www.thanphongmartialarts.com

==

Xin mời qúy vị thưởng thức vài nhạc phẩm của tôi đã viết.

Quê Hương Trong Ta.

Bóng Xưa Chiều Ấy.

Vụng  Dại Những Chiều

Ns. Nguyễn Đình Hòa.

==

THÁNG TƯ NHỚ EM – MỸ HOÀN

Em đã về đây mỗi tháng Tư

Về quê ngồi lại giữa sương mơ

Có nghe sương rớt bờ vai cũ

Bơ vơ mộng mị chốn xa mờ

*

Để tháng Tư như dòng nước chảy

Bôn ba năm tháng nước về đâu

Ta gục xuống đôi bàn tay lạnh

Lòng nghe rơi rớt ánh tinh cầu

*

Ta nghe mãi bên bờ sông vỗ

Những lời buồn của tháng trôi qua

Lời tình như sóng dòng sông cuộn

Nước mắt nào còn mãi mưa sa

*

Em ôm trái tim nào đã lỡ

Một lời thề mộng ước mai sau

Một nụ cười như vừa nở lại

Cho ta êm ái mối tình sầu

*

Em đã về đây mỗi tháng Tư

Về đây ta kể một lời thơ

Em mặc áo dài hoa cúc nở

Cùng ta đi suốt một nẻo bờ

*

Rồi em cảm động từng cơn khóc

Vạt tóc nào đẫm lệ quê hương

Tổ tiên ta đã từng hơi thở

Dựng Sơn hà một giấc như mơ

*

Nhớ trong tâm tưởng ngày hoa gấm

Nụ môi thơm khép nép hải đường

Ta muốn mở lòng bao câu nói

Lời yêu kia còn mãi vấn vương.

Lê Mỹ Hoàn

2/2025

**

NẮNG HẠN THÁNG TƯ

Tiếng kêu tha thiết gọi đàn

Những ngày nắng hạn đâu tàn trú thân

Lòng ta như thể nắng ran

Thu Đông tan tác, Hạ hoang mang về

Nơi đây đâu phải chốn quê

Cho nên nắng hạn lê thê mỏi mòn

Khô đi những giọt máu hồng

Dần dà cạn hết giấc nồng trong tim

Đôi môi khao khát đi tìm

Tiếng kêu mòn mỏi đắm chìm nơi đâu

Quê hương mấy cuộc bể dâu

Trong ta một nỗi u sầu chưa tan

Thời gian lặng lẽ lướt nhanh

Làm thêm héo nụ cười xanh thuở nào

Ôi cơn nắng hạn lao đao

Hồn ta nứt nẻ ngày vào thángTư.

Lê Mỹ Hoàn

4/20/1990

==

ĐỢT NẮNG THÁNG TƯ

Đông vừa qua ở cuối đoạn đường

Xuân đến những ngày nắng ấm hơn

Tưởng như mùa Hạ nhưng bất chợt

Lạnh lại về cơn sốt miên man

*

Cơn sốt cao, đầu như bổ củi

Như nặng lòng đợt nắng tháng Tư

Vàng sốt bủa vây ngày trốn chạy

Qua cánh đồng nắng trải như phơi

*

Cơn sốt lên cơn mơ lại đến

Chạy vòng quanh chạy đến chân tường

Nghe mơ hồ ai đang hạch hỏi

Bao người ngồi bó gối như ta

*

Rồi tự nhiên nghe mùi muối mặn

Đang lênh đênh trên biển xuôi dòng

Chợt thét gào như cơn thịnh nộ

Biển trời đang cuộn một cơn dông

*

Ta bên nhau thì thầm cầu nguyện

Xin trời cho gió lặng sóng êm

Bỗng mở mắt dường như im lặng

Tự Do đang cười với gió Xuân.

Lê Mỹ Hoàn

3/26/2025

==

Tháng Tư cảm tác

Tha hương mái tóc của ngày xanh

Năm tháng bạc màu trán vết nhăn

Canh cánh bên lòng bao nuối tiếc

Bâng khuâng tấc dạ những ăn năn

Non sông biến dạng người xa cội

Đất khách dung thân kẻ rã hàng

Nặng trĩu tâm tư đời viễn xứ

“Nỗi buồn nhược tiểu” mãi âm vang.

          Trần cẩm Thành- 4/2026.

**

==

Máu ai tuôn chảy nơi góc phố?!
Chốt thí làm sao chống sơn hà!?
Tiếng hờn vọng mãi vào thiên cổ
Một trang Hận Sử, mấy Hùng Ca?!

*

Cuối Xuân cuồng lũ dâng hồng thủy
Đành buông nợ Nước, phụ tình Nhà!
Sông núi điêu linh vì ngạ quỷ
Bao giờ yên sóng, lắng phong ba?

*

Ngồi đây mà nhớ thời chiến quốc
Một thuở bi hùng lúc dọc ngang
Chớp mắt thấy sương pha màu tóc
Một tiếng than ôi! Lệ ứa tràn.

*

Nửa đời chìm nổi nơi đất khách
Mỗi năm thêm một tháng Tư qua
Quốc thù vị báo đầu tiên bạch (*)
Thế sự du du nại lão hà.
HUY VĂN

*
(*)THUẬT HOÀI
Thế sự du du nại lão hà?
Vô cùng thiên địa nhập hàm ca.
Thời lai đồ điếu thành công dị,
Vận khứ anh hùng ẩm hận đa.
Trí chủ hữu hoài phù địa trục,
Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà.
Quốc thù vị báo đầu tiên bạch,
Kỷ độ Long Tuyền đới nguyệt ma.

ĐẶNG DUNG

*
Bản dịch của Tản Đà:

Việc đời man mác, tuổi già thôi!
Đất rộng trời cao chén ngậm ngùi.
Gặp gỡ thời cơ may những kẻ,
Tan tành sự thế luống cay ai!
Phò vua bụng những mong xoay đất,
Gột giáp sông kia khó vạch trời.
Đầu bạc giang san thù chưa trả,
Long tuyền mấy độ bóng trăng soi.

==

==

==

==

==

HỒI KÝ ĐẦY KINH HOÀNG CỦA TS NGUYỄN HỒNG DŨNG

KÝ ỨC VỀ ĐÊM KINH HOÀNG CHẠY GIẶC

NGUYỄN HỒNG DŨNG

Quê hương tôi là Quảng Ngãi, nơi có Núi Ấn soi bóng xuống Sông Trà Khúc hiền hòa. Dù xa quê từ thuở bé, hình ảnh ấy vẫn in sâu trong tâm khảm như một phần máu thịt không thể tách rời.

Từ nhỏ, tôi theo người bác ruột vào sống tại Đà Lạt, ở vùng Trại Mát, nơi bác hành nghề Đông y. Cuộc sống nơi cao nguyên yên tĩnh phần nào giúp tôi quên đi những biến động của quê nhà, cho đến khi chiến sự lan rộng khắp miền Trung vào đầu năm 1975.

Ngày 21 tháng 3 năm 1975, khi tình hình các tỉnh Tây Nguyên trở nên rối ren, tôi quyết định trở về Quảng Ngãi chỉ với một mong muốn giản dị là thăm mẹ đang lâm bệnh. Khi ấy tôi vẫn còn là một học sinh, chưa hiểu hết thế nào là chiến tranh, nhưng nỗi lo sợ thì hiện rõ trong từng hơi thở. Người ta truyền tai nhau rằng ban đêm, Việt Cộng thường lén xuống các quận gài mìn, khiến ai nấy đều sống trong cảnh phập phồng, bất an.

Gia đình tôi lại có nhiều người liên quan đến Việt Nam Quốc Dân Đảng; từ bác, chú cho đến ông Sáu, nên sự lo lắng càng chồng chất. Cứ mỗi khi màn đêm buông xuống, các chú, các bác lại âm thầm đạp xe vào thành phố để ngủ nhờ, tránh những hiểm nguy có thể ập đến bất cứ lúc nào.

Đêm 22 và 23 tháng 3 năm ấy, tôi ngủ bên mẹ tại vùng phía tây quận Tư Nghĩa. Nhưng đó không còn là những đêm bình yên. Tiếng súng, tiếng pháo kích vang lên liên hồi, dội vào lòng người những cơn run sợ. Mỗi tiếng nổ như xé toạc màn đêm, khiến tôi, một đứa học trò, chỉ biết nằm im, tim đập dồn dập, cầu mong cho trời mau sáng.

Sáng ngày 24 tháng 3 năm 1975, không chịu nổi sự bất an, tôi cùng mẹ rời nhà, tìm đến tá túc tại nhà ông Sáu ở khu vực Thị xã Cẩm Thành, Quảng Ngãi, trung tâm của tỉnh. Đó là một quyết định đầy lo âu nhưng cần thiết, bởi lúc ấy, chiến tranh đã thực sự chạm đến từng mái nhà, từng con người.

Những ngày tháng ấy, tôi không chỉ chứng kiến sự biến động của đất nước, mà còn cảm nhận rõ sự mong manh của đời người, của tình thân trong cơn binh lửa vì anh tôi đã mất trước đó vài tháng tại Pleiku, cậu Tư cũng tử trận tại An Lộc, và người hàng xóm tại Đa lạt cũng bị tử  vong bởi  pháo kích tận vùng I chiến thuật mà chưa kịp mang xác về chôn,. Dù chỉ là một học sinh, tôi đã sớm hiểu rằng quê hương không chỉ là nơi chôn nhau cắt rốn, mà còn là nơi gắn liền với ký ức, bà con xóm giềng, với yêu thương, và cả những nỗi đau không bao giờ quên.

Chiều ngày 25 tháng 3 năm 1975, trước nhà ông Sáu là nơi có tiểu khu của binh lính Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, mọi sinh hoạt ban đầu vẫn diễn ra như thường lệ. Những người lính Sư Đoàn II Bô Binh vẫn qua lại, vẫn giữ nhịp sống quen thuộc như chưa có điều gì sắp sửa đổi thay. Nhưng đến xế chiều, không khí bỗng chùng xuống. Tôi thấy từng chiếc xe Jeep, xe nhà binh chở đầy binh sĩ nối nhau rời đi, hướng về phía Đà Nẵng. Một linh cảm bất an dâng lên trong lòng, dù khi đó tôi vẫn chưa hiểu hết ý nghĩa của những chuyển động ấy.

Tin đồn bắt đầu lan nhanh trong xóm. Người này truyền cho người kia, không ai biết thực hư ra sao. Có người nói phải “ăn vội rồi đi ngay”, có người bảo phải gom đồ đạc mà chạy, vì chiến sự đã quá gần. Người ta nhắc đến Ông Ngô Quang Trưởng, vị tướng đang cố gắng chống lại làn sóng tiến công từ phía Việt Cộng. Nhưng tất cả chỉ là những lời nghe lại, không kiểm chứng, không rõ nguồn. Trong hoàn cảnh ấy, sự thật không còn quan trọng bằng nỗi sợ.

Gia đình tôi cũng hoang mang như bao gia đình khác. Bữa cơm chiều hôm đó vắng lặng lạ thường. Tôi không thấy các chú, các bác, và cả ông Sáu trở về. Có lẽ họ đã đi đâu đó, hoặc đã nghe được điều gì khẩn cấp hơn mà chúng tôi không biết. Chỉ có Dượng Tám mỗi sáng vẫn thường mở chiếc radio Sony nhỏ, nghe đài BBC rồi kể lại tình hình. Nhưng những mẩu tin rời rạc ấy cũng không đủ giúp chúng tôi hiểu rõ chuyện gì đang xảy ra, chỉ càng làm lòng người thêm rối bời.

Mẹ tôi đang bệnh nặng, không thể ăn uống gì. Tôi nhìn tô cháo bà để lại, lòng nghẹn lại. Không còn thời gian để nghĩ nhiều, tôi húp vội những muỗng cháo nguội để dằn bụng. Đó không phải là một bữa ăn, mà là sự chuẩn bị cho một cuộc chạy trốn không biết ngày về.

Bên ngoài, dòng người đã bắt đầu đổ ra Quốc lộ 1, hướng về phía Đà Nẵng. Tiếng gọi nhau í ới, tiếng bước chân vội vã, tiếng xe cộ lẫn trong sự hỗn loạn. Tôi biết mình phải đi, dù lòng còn nặng trĩu.

Mẹ tôi không đi nổi. Bà nhìn tôi, ánh mắt vừa lo lắng vừa đau đớn. Bà bảo tôi cứ theo hàng xóm mà đi, đừng chần chừ. Lời nói ấy như một nhát dao cắt vào tim. Tôi đứng đó, giữa giây phút chia ly, không biết phải nói gì hơn ngoài một lời từ biệt nghẹn ngào.

Tôi quay đi, hòa vào dòng người chạy loạn, mà phía sau là bóng mẹ tôi đang dần khuất. Trong khoảnh khắc ấy, tôi hiểu rằng mình đã bước sang một ngã rẽ khác của cuộc đời, nơi mà tuổi học trò khép lại, nhường chỗ cho những tháng ngày lưu lạc, và nỗi nhớ quê nhà, nhớ mẹ, sẽ theo tôi suốt cả cuộc đời.

Đêm 25 rạng ngày 26 tháng 3 năm 1975 là một ký ức không bao giờ phai mờ trong cuộc đời này, một ngày mà ranh giới giữa sống và chết mong manh như sợi chỉ. Khi đó, cuộc chiến đã lan rộng khắp miền Trung, và những vùng như Quảng Ngãi đã lần lượt rơi vào tay Việt Cộng trước khi Sài Gòn sụp đổ không lâu sau đó.

Đêm ấy, tôi cùng dòng người hoảng loạn tìm đường chạy giặc. Không còn ai nghĩ đến tài sản hay tương lai, chỉ còn một ý niệm duy nhất là phải sống. Tôi theo dòng người băng qua con dốc Bình Liên, thuộc quận Bình Sơn. Con dốc ngày thường vốn hiền hòa, nhưng hôm đó trở thành một địa ngục trần gian.

Tiếng pháo kích bất ngờ dội xuống. Những tiếng nổ chát chúa xé toạc không gian, đất đá tung lên mù mịt. Người ngã xuống từng loạt. Có người trúng đạn, có người bị mảnh pháo xé thân, có người chỉ vì quá hoảng loạn mà bị dẫm đạp trong dòng người tháo chạy. Tiếng khóc, tiếng la hét, tiếng gọi nhau trong tuyệt vọng hòa lẫn vào nhau, tạo thành một âm thanh kinh hoàng mà đến nay tôi vẫn còn nghe vang vọng trong tâm trí.

Tôi không còn nhớ mình đã chạy như thế nào, chỉ biết bản năng sinh tồn đã đẩy tôi lao xuống một bờ ruộng bên đường. Chính quyết định trong tích tắc ấy đã cứu mạng tôi. Nằm sát mặt đất, tim đập dồn dập, tôi nghe rõ từng tiếng nổ, từng bước chân dẫm đạp phía trên. Mùi khói, mùi đất, và cả mùi tử khí lan trong không khí khiến tôi rùng mình.

Khi cơn pháo kích tạm lắng, tôi mới dám ngẩng đầu lên. Trước mắt là một cảnh tượng không thể diễn tả hết bằng lời: người nằm la liệt, kẻ sống sót thì thất thần, ánh mắt vô hồn. Con đường chạy loạn giờ đây phủ đầy máu và nước mắt

Tôi tiếp tục hòa vào những người còn sống, lặng lẽ đi trong đêm tối, không còn sức để khóc hay nói. Sáng hôm sau, khi ánh bình minh le lói, tôi lần bước ra được thị trấn Châu Ổ, rồi từ đó tiếp tục hướng về Chu Lai. Đó là một hành trình đi bộ đầy gian nan, nhưng ít nhất, tôi biết mình vẫn còn sống.

Ngày 26 tháng 3 năm ấy không chỉ là một ngày chạy loạn. Đó là một vết hằn lịch sử trong đời tôi, một minh chứng cho sự tàn khốc của chiến tranh và sự mong manh của kiếp người. Tôi sống sót, nhưng ký ức ấy mãi mãi ở lại, như một lời nhắc nhở rằng cuộc sống hôm nay đã được trả giá bằng biết bao sinh mạng và nước mắt.

Viết trong niềm nhớ 51 năm của tháng Tư Đen 2026.

Nguyễn Hồng Dũng

==

==

THÁNG TƯ ĐENHuu-Thien Paul Pham

” Này em có nhớ, rồi tình bỗng cách xa

Khi đất nước ngập tràn trong khói lửa

Tháng Tư đen, đã chia đời đôi lứa

Kẻ đi tù, người bay bổng nơi đâu. “

HVLN

– – – –

Tháng Tư Đen ..

Em nhớ lắm, cuộc tình ta xa cách

Trong đau thương : biến cố Tháng Tư Đen

Ba anh tù : vì thù hận ác hèn .

Nên Mẹ anh , gia đình đau khổ sống .

*

Oan nghiệt quá : Ba em lầm, theo cộng .

Coi trại tù , đã hành hạ Ba anh

Với tháng năm , kiệt thân sức , tan tành

Rồi gục chết trong ngục hình đen tối .

*

Đời em lạnh : với chuỗi ngày sám hối ..

Đến xin anh , vài xúc cảm khoan dung ..

Lặng nhìn anh, trong đau đớn tột cùng .

Khóc , khóc, khóc , em chỉ còn biết khóc .

* * *

Thấy những cảnh đau thương đầy tủi hận

Phải làm sao cho nước Việt oai hùng

Được tự do , dân chủ , sống ung dung

Và hạnh phúc , vinh quang cùng thịnh vượng.

Huu-Thien Paul Pham 

==

CHIẾN TRANH & HÒA BÌNHHuu-Thien Paul Pham 

Chinh chiến tràn lan , khổ kiếp người

Tạo bao đau đớn, hận khôn nguôi

Sta-lin , Mao Trạch , thêm Hồ Chí

Gây họa dân oan , tội ngập trời .

*

Tháng Tư năm đó , triệu người vui

Nhưng triệu người kia , phận khổ xui

Vượt biển , tội tù, bao biến cố

Với nhiều thảm cảnh , dạ bùi ngùi .

*

Câu chuyện quê hương, câu chuyện buồn

Chiến tranh tan tác , lạnh lòng tuôn

Phũ phàng cảnh huống, hồn tê tái

Mang nặng sầu thương , dậy tủi hờn .

*

Câu chuyện văn chương, cũng đoạn trường

Nhớ Thầy, thi sĩ Vũ Hoàng Chương

Sau khi giải phóng vào tù tội

Chết một năm sau (1976) , quá tiếc thương .

*

Trong khi làm việc ở Âu châu

Vận nước khó khăn , khá đậm sâu

Hai đứa con thơ còn kẹt lại

Mỗi lần nghĩ đến , lệ buồn đau .

*

Năm đó (1975) , con trai bốn tuổi thôi

Theo người vượt biển , tạ ơn trời

Nhưng cô bé gái , đau buồn đợi

Đợi đến hai năm (1977) , mới lọt xuôi.

Huu-Thien Paul Pham 

==

KHÁT VỌNG

(thơ xuôi tổng hợp)

Ba mươi năm ấy miệt-mài,

Ai gieo tang tóc phí hoài máu xương?

Bảy lăm lại đến đau thương,

Nhà tan, nước mất, bốn phương lưu đầy.

Cơ-đồ nát bấy, bấy nay,

Buôn dân, bán nước, tội này của ai? 

-I-

Niềm khát-vọng ngùn-ngụt vút lên cao, mải-miết tìm Trăng hiền-hoà khả-ái. Trăng vẫn còn gục ngủ trong thành đêm sừng-sững âm-u.

Những vệt sáng đèn pha vẫn lia-lịa quét không-trung, nào đã thấy muôn vì sao đang trốn lủi? Mắt lệ mờ nhìn những trái hoả-châu nối tiếp nhau mưa sáng rực cháy bốn phương trời, lòng rạo-rực, mơ Thanh-Bình, mãi tưởng chừng đây dạ-hội hoa-đăng.

Những tiếng phi-cơ ì-ầm sấm động, những chùm đại-bác bạt núi long trời, những tràng liên-thanh nổ tan ròn-rã, xé không-gian, khua giấc ngủ rừng khuya, dậy thôn xóm tiêu-điều, lòng rạo-rực, mơ Thanh-Bình, mãi tưởng chừng đây tưng-bừng dạ-khúc đón xuân sang.

Rồi khi thôn rừng ngừng im tiếng súng, khi hoả-châu tắt sáng, khi những đốm lửa đạn không còn vun-vút đuổi nhau như sao trời đổi hướng, đêm tối vẫn không lùi bước, thành đêm vẫn sừng-sững âm-u, quanh đâu đây nghe khắc-khoải lòng đêm đang thổn-thức, cây lá thở dài, dế khóc nỉ-non, sương đêm sụt-sịt, lòng rạo-rực, mơ Thanh-Bình, nghe thấm buồn như lời kể-lể của những người cô-phụ bi-thương:

Ðằng-đẵng bao năm trường chinh-chiến, tím chiều ngập phủ khắp quê hương. Bom đào ao, đạn cầy ruộng, ruộng xanh um cỏ dại, ao đầy ắp thịt xương.

Hận thù bão táp, mã-tấu tung bay, đau-đớn ngả-nghiêng, bao thôn tre quằn-quại trong rên xiết.

Hận-thù bão táp, máu thắm loang trời, đau-đớn ngả-nghiêng, bao thôn dừa ngã gục, trùng-dương cuộn sóng, lồng-lộn thét vang niệm khát-vọng, lòng rạo-rực, mơ Thanh-Bình, nghe ngậm-ngùi tê-tái như đêm trường giá buốt thê-lương.

Việt-Nam ơi! thân mòn sức kiệt, mảnh hình-hài tan nát tả-tơi. Chúa ơi, Mẹ ơi! Người ở đâu, sao thành đêm vẫn âm-u sừng-sững? Tôi “thắp nến nguyện cầu, đâu dám rủa nguyền bóng tối” (*). Hồn tôi đây, trí tôi đây, hỡi gió ngàn lồng-lộng! Kéo bổng lên cho Người thấu nghe niềm khát-vọng, lòng rạo-rực, mơ Thanh-Bình, sao Trăng hiền vẫn gục ngủ trong thành đêm sừng-sững âm-u?

-II-

Ðêm âm-u, gió mát vi-vu, dù cho dịu-dàng mơn trớn thiết-tha, vẫn chẳng ru ngon giấc ngủ cô-đơn chập-chờn thao-thức. Tiếng chó tru ghê hồn không át nổi tiếng đại-bác rền vang.

Rồi một sáng xuân mờ sương xốn-xang, phố phường ngổn-ngang quân-trang binh-khí, liệng bỏ hết cho một nhà thuận-hoà, hoan-hỉ, cho chiến-trường dai-dẳng bặt tiếng im hơi. Giáo-đường khắp nơi không ngơi lời kinh tiếng hát: “Kinh Cầu Hoà-Bình” dập tắt chiến-chinh. Thành phố bỗng giật mình ngơ-ngác, thôn ấp chợt sửng-sốt bàng-hoàng. Lạ kìa! màu cờ sao ướt đẵm màu máu thắm loang? 

Biển Ðông vẫy sóng trường-giang,

Biệt-ly nước mắt nặng mang ân-tình.

Nghẹn-ngào Mẹ đứng lặng thinh,

Nhìn con dặn với: “Nhớ tình cố-hương!”

Mẹ về chăm giữ đồng nương,

Cho vàng bông lúa ngát hương thôn làng.

Giờ thì mất cả nương đồng,

Thôi đành phó mặc, chẳng màng “vinh-quang”.

Ngày đêm nghe réo loa vang:

“Hoà-bình công-bố, xoá tan hận-thù.”

Hoà-bình lại ở chiến-khu,

Hận-thù mau gót lù-lù về đây.

Ô hay! Lành-lạnh heo may, ùn-ùn mây bay. Sao Trăng gầy đã vội đuổi ngay ngày xanh non-nớt. Mặt trời trốn mất, chẳng để lại chút nóng hâm nóng tình thương. Bóng đêm âm-u gian dối đồng-loã gạt lường. Trùng-dương lại lồng-lộn thét gào khóc thương tương-tàn cốt nhục:

Núi rừng địa ngục,

Tủi nhục xót-xa,

Thân người: xác vật thây ma,

Lìa con, lìa vợ, lìa cha, lìa chồng.

Mồ-hôi tưới ướt ruộng đồng,

Lúa vàng đâu thấy? Thấy hồng máu loang:

Chàng đi “học-tập” ngút ngàn,

Ở nhà thiếp chít khăn tang mãn đời.

Tấm thân trâu ngựa rã-rời:

“Anh-hùng lao-động”, thấu trời than van.

Giành nhau từng dái khoai lang,

Giành nhau chỗ đứng xếp hàng nối đuôi.

Con thuyền ngược sóng ra khơi,

Ruột se bụng thắt, sao tươi nụ cười?

Ôi, nụ cười nước mắt! Đắng cay chua-chát!

Ôi, cơ-đồ sụp nát, nhân-tình đảo-điên!

Biển Ðông đầy ắp oan-khiên,

Quặn đau vĩnh-biệt Mẹ hiền thân yêu. 

Mẹ Việt-Nam truân-chuyên. Mẹ Việt-Nam u-uất. Mẹ nhắm nghiền đôi mắt. Mẹ lắng nghe trong bóng đêm hiền-hoà giả dối, tiếng đàn con nỉ-non da-diết niềm khát vọng tha-thiết vô biên. Khát vọng bình-yên. Khát vọng triền-miên. Sao trăng hiền vẫn biền-biệt cho đêm tối bao vây? 

Các con Mẹ đâu rồi?

Mẹ mỏi-mắt trông vời.

Mẹ đứng đây, Mẹ giang tay thành-khẩn:

Hãy nhìn xem, nước Việt-Nam u-ẩn!

Hãy nhìn xem, đồng-bào Việt kiên-nhẫn đau thương!

Bao giờ hết đổ máu xương?

Bao giờ tiếng hát giáo-đường ngân-nga ?

Bao giờ nước Việt thái-hoà,

Tự-do công-chính, nhà nhà an vui?

(*) cách-ngôn Tây:”Thà thắp lên một ngọn nến, còn hơn ngồi nguyền rủa bóng tối”

(Nguồn: Thi Phẩm “VỀ NGUỒN”, Đỗ Quang-Vinh, Toronto, 1995)

. . .

==

BÀI VIẾT CỦA TÁC GIẢ BẢO TRÂM

Có Nên Bàn Thảo Với Cộng Sản?

Đất nước Việt Nam đang bị đảng cộng sản cai trị bằng bạo lực.

Bọn cộng sản Việt Nam chỉ là một bọn cướp, may mắn chiếm được nước Việt do các thế lực quốc tế tranh nhau trên bàn cờ thế giới.  Chúng không phải là một chính quyền đúng nghĩa!

Chúng ta không biết thế giới có nước nào hiểu rõ bọn cộng sản đang lừa họ hay không?

Nhưng chúng ta biết rõ một điều: nước nào cũng vì lợi cho nước họ trước hết, không nước nào hy sinh cho dân Việt chúng ta. Vì vậy, vận mệnh nước Việt vẫn phải do người Việt hành động, nếu dân ta thực sự muốn cứu lấy dân tộc Việt Nam.

Bọn cầm quyền cộng sản ở Việt Nam chỉ muốn một điều: dân VN càng ngu càng dễ cho chúng nắm đầu. Chúng không hề có ý giúp cho dân giàu, nước mạnh.

Đối với chúng, cộng sản chủ nghĩa hay tư bản chủ nghĩa, không có gì quan trọng cả. Chúng sẽ đi theo và áp dụng bất cứ thứ gì mà chúng có thể dựa vào để tồn tại, như cộng sản Nga, Tàu đã giúp chúng có cơ hội đó thì chúng theo ngay. 

Nếu trong tương lai, Mỹ hay bất cứ nước Tây Âu nào cho chúng có cơ hội để tiếp tục việc chúng đang làm thì chúng sẽ gọi Mỹ và nước đó là ông Nội ngay.

Và sau đó chúng sẽ tuyên truyền là “quốc gia” hơn những người quốc gia hiện tại nữa. 

Chắc Quý Vị thừa biết hiện nay ở Mỹ và có thể ở bất cứ nước nào trên thế giới, con cháu bọn cướp này mở tiệm buôn bán, chợ búa, thậm chí lập Chùa, hay lập Nhà Thờ…. đều sẵn sàng treo cờ Vàng Ba Sọc Đỏ nơi trang trọng nhất, để câu khách, để chúng có cớ rửa tiền…   

Cho rằng chúng là phe cờ đỏ, cờ hồng thì vô tình chấp nhận chính danh của bọn cướp này. 

Những bài viết gợi ý, cầu xin, đề nghị hay lên mặt dạy dỗ cho chúng khôn khéo hơn về chính trị và kinh tế, chính là giúp chúng học thêm nhiều bài học để ngày càng tinh vi trong việc cướp sạch đất nước VN nhiều hơn và nhanh hơn. 

Xin quý vị thức giả, quý vị còn có lòng tranh đấu cho một nước Việt Nam được Tự Do, Dân Chủ thì hãy hướng trọng tâm vào việc làm sao xóa bỏ bọn cướp ấy.

Việc đó hiện giờ phải nói là rất khó, vì sau lưng bọn cướp này còn có bọn cướp mạnh gấp bội là bọn Nga, Tàu, mà không chừng còn có các nước tư bản giàu có lợi dụng vào sự tồn tại của bọn cướp này

Vì vậy, nếu dân tộc VN chúng ta chưa có cơ hội xóa bỏ bọn chúng thì xin đừng bày thêm nhiều điều tinh khôn để biến thành mưu ma chước quỷ của chúng. Đừng hy vọng chúng sẽ giúp dân VN giàu mạnh, thông minh hơn hay hy vọng chúng sẽ xỏa bỏ lằn ranh gì đó là sai vì chúng đâu có lằn ranh nào để xóa.

Van xin bọn cướp đang ở trong nhà chúng ta, hãy nới lỏng cho chúng ta vươn lên sống bằng nhà của xóm khác… chưa bị cướp là một ý tưởng hão huyền.

Vấn đề là dân Việt Nam đã tỉnh ngộ chưa, đã quyết một lòng để xóa bỏ bọn cướp này hay chưa? 

Và Quý Vị, những tinh anh của tộc Việt, xin làm thế nào để giúp dân Việt Nam cùng một lòng tiến tới để xóa sạch bọn chúng?

         Bảo Trâm

      ·       Sẵn Sàng Quên?

Chỉ còn vài ngày nữa

“Năm Mốt năm” sẽ sang

Chúng ta luôn chuẩn bị

Chúng tôi cũng sẵn sàng.

Sẵn sàng để chiến đấu

Với bọn quỷ tràn lan

Với thói hư tật xấu

Với những kẻ tham tàn.

Không thể sống yên thân

Không thể quên quá khứ

Khi Cộng ác, vô thần 

Đày đọa dân Tộc Việt.

Chúng ta phải tự biết

Nếu quyết sống vô tư

Không màng chi thế sự

Tương lai nào an cư?

                       Bảo Trâm

Ách Ác Cộng

Do đâu đến nỗi thế này đây,

Dân tộc Việt Nam khổ mỗi ngày.

Bọn cướp may thời tràn khắp chốn,

Quân gian được thế ló ra đầy.

Toàn dân đau đớn đời nô lệ,

Cả nước chông chênh kiếp dạc dày.

Còn giữ hỡi ai lòng hận giặc,

Xin vì chính nghĩa, hãy ra tay.

Bảo Trâm 

==

MÁI TÓC
NGƯỜI NỮ TÙ

Chuyện bắt đầu đã hơn bốn mươi năm,
Thuở nhà tù mọc đầy trên cả nước.
Một buổi chiều trong sân sau nhà bếp,
Tôi cùng bạn uống trà nhìn nắng hắt qua sông.

Bên kia rào lạnh lẽo bóng chòi canh,
Tay lính gác gườm gườm lia họng súng.
Đoàn tù nữ trên đường ra bến tắm,
Sau một ngày dài khổ nhọc kiếp tù sai.

Một nữ tù mái tóc xõa bờ vai,
Tia nắng chiếu chảy dài trên tóc rối.
Những sợi tóc bay trong chiều nắng vợi,
Dưới tháp canh tù hút lấy cả hồn tôi.

Nhìn tóc em tôi cảm thấy bồi hồi,
Sao giữa cảnh ngục tù có nàng tiên xinh thế.
Nét tương phản giữa màu đen đáng sợ
Với tóc em dài mang vẻ đẹp hồn nhiên.

Tuổi của em phải khoác áo sinh viên,
Ôm sách vở vào giảng đường đại học.
Sao đến nỗi?…tôi thấy mình cay mắt,
Trên đất nước này em đã mất quê hương!

Tìm tự do em phải đổi gông xiềng,
Thân giam hãm giữa ngục tù gian khổ.
Gạo thăm nuôi gặm mòn đôi dép mẹ,
Đường trở về thành phố quá xa xăm.

Người yêu em mang bản án tử hình,
Khi vượt ngục cùng bạn tù cướp súng.
Hôm áp giải ra pháp trường xử bắn,
Em gục đầu giấu giọt lệ đang lăn.

Đất nước buồn sau một chín bảy lăm,
Cả miền nam biến thành nhà lao lớn.
Người lính cũ, kẻ tìm phương vượt biển,
Đều bị giam chung trong một trại tù.

Em bị bắt khi nào, ở đã bao lâu?
Nội quy cấm không dễ gì trao đổi.
Dưới chòi canh gió chiều xơ xác thổi,
Nắng úa vàng lên mái tóc em xanh.

o0o

Bao đổi dời sau hơn bốn mươi năm,
Rồi một buổi tình cờ nơi đất khách.
Lần giáp tết cựu tù nhân họp mặt,
Những bạn tù gặp lại ấm vòng tay.

Giới thiệu mình: “em Thuận tóc dài” đây,
Tôi mới nhận ra em, vì rất khác.
Nay tóc ngắn lại thêm nhiều sợi bạc,
Nhắc chuyện xưa hiu hắt nụ cười buồn.

Nửa cuộc đời lưu lạc kiếp tha phương,
Tôi vẫn nhớ cảnh chòi canh thuở nọ.
Tóc em dài rợp trời bay trong gió,
Nuôi khát khao vươn đến một chân trời.

Những nhà tù dù vây bủa khắp nơi,
Không ngăn được bước chân người quyết chí,
Tôi mừng em tự do trên đất Mỹ,
Sống làm người đúng nghĩa giấc mơ xưa.

-Donry Nguyễn.

==

VẾT THƯƠNG
CÒN MƯNG MỦ

Có một ngày muốn quên, mà vẫn nhớ …
Như kim châm, như muối xát vào lòng
Ngày nối liền Nam-Bắc một hình cong,
Nhưng nửa nước, đau buồn cơn quốc biến!

Người lính vốn, không gây ra cuộc chiến
Chế độ nào, bổn phận phải tuân theo
Mực chưa khô màu hiệp định Giơ-neo…
Vượt giới tuyến đưa quân vào bắn phá.

Người dân Nam phải đứng lên bảo vệ
Vì tự do chống chủ nghĩa độc tài
Đã bần cùng còn giải phóng cho ai?
Lời ma mị tuyên truyền chuyên dối gạt.

Miền Nam thua vì đã không tàn ác
Không nhẫn tâm khát máu với đồng bào.
Hai mươi năm sức lực đã tiêu hao
Bên nào chết cũng đau lòng mẹ Việt!

Ngày thống nhất, tưởng tang thương chấm hết
Nào hay đâu kẻ thắng quá đê hèn
Trút thù hằn vào phận lính nhỏ nhen
Đày ải họ chốn rừng thiêng nước độc.

Tước nhà cửa, bắt vợ con nheo nhóc,
Lùa lên vùng kinh tế mới khai hoang
Lịch sử xưa nay, bạo chúa hung tàn …
Chưa ai ác bằng vô thần cộng sản.

Nửa thế kỷ, hết bom rền lửa đạn
Sao mối hờn vết sẹo chẳng liền da
Người anh em cùng một mẹ sinh ra
Vẫn ngoan cố chia lìa tình cốt nhục!

Nền độc lập đâu ngọn cờ dân tộc
Oai linh không hoá giải nỗi hiềm thù
Để đoàn người lưu lạc khắp năm châu,
Về mang những tài hoa xây cố quốc.

Năm mươi năm, lòng dân còn chia cắt,
Xã hội còn đầy dẫy cảnh bất công …
Tiếng oán hờn rên siết khắp non sông,
Ngày tưởng niệm vết thương còn mưng mủ!

-Donry Nguyễn.

VIẾT TRONG NGÀY
TANG CHẾ.

Từ máu lệ âm vang mùa quốc biến,
Cả non sông quằn quại dưới chân thù.
Lệnh sai lầm khi rút bỏ quân khu,
Quân triệt thoái kinh thành trao tay giặc.

Hai mươi năm từng kiên gan giữ đất,
Phút sa cơ hối tiếc quá muộn màng.
Bao hùng binh buộc xếp giáp quy hàng,
Buông khí giới mím môi hờn phẫn uất.

Người chiến đấu phút cuối cùng tự sát,
Người lao mình ra chiến hạm khơi xa.
Lửa ngập trời lấp ló bóng yêu ma,
Nghe việt cộng vào Sài Gòn thảy đều kinh hãi.

Năm mươi mốt năm trang sử buồn lật lại,
Khóc non sông phủ trắng một màu tang.
Nguyện oan hồn bao nhiêu triệu dân Nam,
Nguyện hương linh những anh hùng tử sĩ.

Dưới mồ sâu được nguôi lòng yên nghỉ,
Và linh hồn bay đến cõi trời xa.
Thời tối tăm rồi cũng sẽ trôi qua,
Loài bạo ngược sẽ đến giờ đền tội.

Người lưu lạc từ năm châu bốn bể,
Sẽ quay về xây dựng lại quê hương.
Biến Việt Nam thành đất nước thịnh cường,
Trong sắc áo màu cờ Tự Do-Dân Chủ.

-Donry Nguyễn-
(30-4-2026)

==

THƠ HOÀNG THỤC UYÊN

=

BIỂN ĐỘNG VƯỢT SÓNG
TRÊN ĐẠI DƯƠNG
           
Biển Đông giông tố sóng bạc đầu
Mưa bão bất ngờ đổ xuống mau
Mây đen trời tối biển mờ lối
Gió rít từng cơn mưa đổ mau

Vượt biển trùng dương, sóng dâng trào
Thuyền như lá úa vượt biển sâu
Dào dạt sóng xô thuyền ngàn hướng
Bềnh bồng, thuyền dạt khắp muôn phương

Biển động vượt sóng trên đại dương
Ào ạt mưa rơi nhòa trùng dương
Bềnh bồng thuyền trôi theo ngàn hướng
Gió lộng biển động thuyền mờ sương

Tháng 4, mang nặng một nỗi niềm
Chinh chiến ba miền nát quê hương
Nhìn về quê mẹ, thương sầu nhớ
Ngày ấy ra đi, ngàn vấn vương

Chiến tranh tan nát bởi vì đâu ?
Ba miền đất nước ngập sóng sầu !
Quê hương điêu linh trong khói lửa
Dân lành nghèo đói sống khổ đau .

Ai gây chính chiến nát quê hương ?
Ai gây thù oán cảnh đoạn trường ?
Chiến tranh không cùng ý thức hệ
Tuổi xanh ba miền ngập sầu thương

Người ở người đi thật đau lòng
Thương nhà nhớ nước, khóc non sông
Người bỏ quê hương, người tù tội.
Người tìm tư do, chết biển đông !

Gió lộng biển động sóng hợp tan
Thuyền trôi vượt sóng lướt gió ngàn
Thuyền xuôi vững lái tìm bến đậu.
Bến đục bến trong thuyền về đâu ?

Biển rộng mênh mông sóng ngập trời
Dù trong biển động thuyền ngược xuôi
Vững Tâm thuận lái theo chiều gió
Gió lặng sóng tan, thuyền thảnh thơi ...

          Hoàng Thục Uyên
     Tháng 4 Đen, 1975--2026
🌱🌱🌱🌱🌱🌱

==

CA KHÚC THÀ  NHƯ – THƠ MẶC KHÁCH – NHẠC VĨNH ĐIỆN- TIẾNG HÁT  HÀ THANH

==

THƠ CỦA THI SĨ TRẦN QUỐC BẢO & NHỮNG BÀI HÁT NÓI CỦA NGHỆ SĨ ĐỨC HÙNG

Tháng Tư, tường đá còn thao thức!

Tôi gọi tên anh có tiếng vang

Trong lòng đá xôn xao ký ức,

Đoàn hùng binh, uy dũng hiên ngang!

*

Tháng Tư, tôi đứng bên tường đá,

Chiến trường xưa thấp thoáng hiện sinh,

Ánh hỏa châu, Pleiku, Bình Giã,

Pháo mịt mù, Đồng Xoài, Tây Ninh!

*

Anh hiện diện khắp nơi tất cả,

Từ hậu phương, đến tuyến địa đầu.

Yểm trợ chúng tôi, anh gục ngã!

Tình đồng minh ơn trọng, nghĩa sâu.

*

Tháng Tư hồn vẫn chưa yên giấc,

Trătrở ngàn năm, chuyện thắng thua.

Tâm sự buồn, như mây u ut,

Xót xa gió thở i đêm khuya

*

Lòng đá chợt quặn đau, rên xiết!

Hỏi sao kết cục Tháng Tư Đen?

Sớm ri chiến trường anh không biết, (*)

Bọn chính trị, đốn mạt đê hèn!

*

Chính lúc chiến trưng đang mạnh thế,

Chúng phản đồng minh! Bán các anh!

Cúp viện trợ… cun cờ tồi tệ!

Tháng Tư uất hận ghi sử xanh.

*

Tường đá lưu danh, anh còn đó,

Phấp phới Cờ Hoa, Hồn hiển linh!

Tình chiến hữu chúng mình gắn bó,

Đã một thời huynh đệ chi binh.

*

Tháng Tư. Tôi đến hôn tường đá,

Thấy bạn bè xưa, quen thật quen.

Từng giọt máu chiến trường, vô giá!

Mà sao rốt cuộc Tháng Tư đen! (?) 

           Trần Quốc Bảo

                   Richmond, Virginia

             Địa chỉ điện thư của tác giả:

           quocbao_30@yahoo.com

(*)Trong chiến cuộc Việt Nam, có 58,281 chiến binh Hoa Kỳ đã hy sinh, chết và mất tích, trước ngày 30 Tháng 4,1975.

    Toàn thể, được ghi tên, trên Bức Tường Đá Đen, tai Thủ Đô Hoa Kỳ.

Ứng Đáp Nhanh Chóng!|
(Bài Hát Nói cảm ơn và đáp lễ hồi âm của Đại Lão Thi Nhân Trần Quốc Bảo. Tựa đề bài Hát Nói này trích từ hồi âm của ĐLTN/TQB.)

Ứng đáp nhanh chóng!
Hồi âm như đang lướt sóng, chèo thuyền!

Dù tuổi đời nay đã “rất cao niên”
Vẫn phong độ, sáng suốt, thung dung như “Ông Tiên” tại thế!

Ứng ngay! Lập tức! Ngày đang xế!
Đáp lại! Mau lên! Tháng đã qua!
Tốc độ cao gây ra sức mạnh “dời non, lấp biển”! Như cơn phong ba!

Lòng người hoan hỉ, hài hòa! Giải quyết, thông qua, vui vẻ!

Nhân loại đã tiến bộ vượt bậc! Máy móc tối tân chia sẻ!
Xa xôi mà gần gũi! Trao đổi mọi hay đẹp! Và sức khỏe, thơ, nhạc, gia đình . . . !
Cảm ơn Đại Lão Tiên Sinh!
Đức Hùng
Sydney, Úc Châu, 28/04/2026

Xin ghi nhận và cảm tạ sự đồng cảm, giữa bài “Bức Tường Đá Đen” và bài “Hát Nói 657” dành cho Ngày Quốc Hận 30/4.   –  Rất phục tài ứng đáp nhanh chóng và tuyệt vời của anh.

        TQB

On Monday, April 27, 2026 at 02:27:43 AM EDT, Duc Hung Bui <duchungbui@bigpond.com> wrote:

“Từng Giọt Máu Chiến Trường Vô Giá! Sao Tháng Tư Đen?”
(Bài Hát Nói cảm ơn và đáp lễ Đại Lão Thi Nhân Trần Quốc Bảo (ĐLTN/TQB) đã chuyển đến bài thơ tuyệt bút nhân Mùa Quốc Hận Tháng Tư Đen 30/04/1975 – 30/04/2026.
Tựa đề bài Hát Nói này trích từ bài thơ đó của ĐLTN/TQB. 
Kính mời Quý Thi Hữu họa lại bài Hát Nói này.)

Từng tấc đất nhuộm máu! Cổ Thành Quảng Trị!
Giọt sầu tuôn cuồn cuộn! Bản Mê Thuột ra đi! Thế trận tràn mây cuốn! Phòng bị được những gì?
Máu Tân Cảnh, Quảng Đức! Lê Đức Đạt gan lì! Huế quặn mình đau nhức! Vùng Hai đã lâm nguy!
Chiến đấu có ai bì? Vận Nước thịnh hay suy? Tuyến Phan Rang gắng gượng!

Trường đồ! Mã lực phi khoan nhượng!
 ích! Nhân tâm bỗng thoái lui!
Giá Súng nay trống rỗng! Kho Đạn cũng ngậm ngùi! Cạn dần! Đành để trống! Tiến chẳng được! Phải lùi!
Sao anh hùng, thanh khiết! Cùng chia ngọt, sẻ bùi! Nguyễn Khoa Nam tuẫn tiết!

Tháng này, Trần Văn Hai! Chuẩn Tướng Lê Nguyên VỹPhạm Văn Phú hỏi hoài!  Lê Văn Hưng đà biết!
Tư duy Trang Sử Việt! Thắng bại bốn ngàn năm! Trụ chiết, Giao Chỉ diệt! Ngùn ngụt  Khí Hờn Căm!
Đen rồi! Sẽ trắng! Bao năm?
Đức Hùng
Sydney, Úc Châu, 27/04/2026
11 Tháng Ba (Đủ) Âm Lịch Năm Bính Ngọ, Ngày Tân Mùi : Hành Thổ, Trực Bình, Sao Trương. Cát Thần : Đại Minh, Chúa Là, Hoạt Diệu.

Bạn hữu chân thành thường vắng ngắt!
Hiền nhân thật sự vẫn lưa thưa!

Nhiều khi Bạn Vong Niên mà hợp nhau ở mức thượng thừa!
Như Hoàng Dược Sư với Dương Qua! Tuổi là Cha, Con! Gặp nhau chưa say chưa tâm sự!

Xin cảm ơn Đại Lão Thi Nhân Trần Quốc Bảo! Tấm thịnh tình! Nhiều tư lự!
Kính chúc Cụ luôn mạnh khỏe, an khang, hạnh phúc! Vui văn tự! Sính thơ, ca!
Yêu Dân, quý Nước, thương Nhà!
Đức Hùng
Sydney, Úc Châu, 28/04/2026

==

Thư pháp trên: Thơ Ngữ An (Tháng 3 bỏ Huế)

*

Một đời vì nước quên mình

Xương tan / thịt nát. Mộ phần có / không

Vật vờ lau lách ven sông

Sáng se gió thổi chiều lồng sương tuôn

Phải trong nắm bụi bên cồn

Có người tử sĩ gởi hồn cỏ hoa

*

Chiến tranh rồi cũng đi qua

Còn kia là ánh trăng tà mộ hoang

Hồn nương theo bóng mây vàng

Vô danh nào có mấy hàng chữ bia?!

Quang Hà

==


Long Hồ Vĩnh Long: Em Đến Thăm Anh Lần Cuối – Thơ: Trần Công Tiền Giang Tử – Nhạc: Nguyễn Tuấn

Long Hồ Vĩnh Long: Anh Lính Năm Xưa – Tạ Quang Tuấn

Long Hồ Vĩnh Long: Tháng Tư Sầu Nghẹn Đong Đầy – Phương Hoa

Long Hồ Vĩnh Long: Tưởng Đâu Đó Thân Bồng Bềnh Phiêu Lãng – Nguyễn Phan Ngọc An

Long Hồ Vĩnh Long: Một Ngày Tháng Tư – Đỗ Dung

Long Hồ Vĩnh Long: Ngàn Dặm Ra Đi – Lê Mỹ Hoàn

Long Hồ Vĩnh Long: Cánh Nhạn Về Đâu – Thơ: Phương Hoa – Nhạc: Trần Đại Bản

Long Hồ Vĩnh Long: Tháng Tư Và Tự Do – Hồng Vân

Long Hồ Vĩnh Long: Chiều Tháng Tư Trên Sông Sài Gòn – Lê Tuấn

Long Hồ Vĩnh Long: Tháng Tư Nhớ Người Khôn Nguôi – Tiểu Lục Thần Phong

Long Hồ Vĩnh Long: Thêm Một Tháng Tư Qua – Thơ: Huy Văn – Nhạc Nguyễn Tuấn – AI cover Siliconband

Long Hồ Vĩnh Long: Tiểu Thư Thời Bao Cấp – Nguyễn Thị Thanh Dương

Long Hồ Vĩnh Long: Đêm Trăng Ở San Francisco – Hồng ThủyLong Hồ Vĩnh Long: Cuối Bờ Tình Ca – Luân Tâm

Long Hồ Vĩnh Long: Tinh Thần Văn Bút Miền Đông (VBVNHN VĐBHK) – Dương Việt Chỉnh

Long Hồ Vĩnh Long: Tranh Dệt Bằng Len Của Tuyết Phan Được Chọn Triển Lãm

Long Hồ Vĩnh Long: Cho Tôi Xin Từ Nỗi Nhớ – Dương Việt Chỉnh

Long Hồ Vĩnh Long: Danh Sách Schindler- Steven Spielberg – Thái Lan Sưu Tầm & Dich

Long Hồ Vĩnh Long: Những Cơn Mưa – Ý Nhi

Long Hồ Vĩnh Long: Đất Khách Làm Thơ – Tạ Quang Tuấn

Long Hồ Vĩnh Long: Chân Nguyên Vũ Trụ – Thơ: Hoàng Thục Uyên – Nhạc: Nguyễn Tuấn

Long Hồ Vĩnh Long: Ân Tình Thiên Thu… – Luân Tâm..

Long Hồ Vĩnh Long: Tạc Dạ Nghìn Sau..- Kim Oanh

Kim Oanh




SAN JOSE – Lễ Kỷ Niệm ĐỨC HUỲNH GIÁO CHỦ PHẬT GIÁO HÒA HẢO – Phương Hoa Ghi Nhanh.

*

Dù bản thân là một tín đồ Cao Đài và cũng là một Phật tử, nhưng tôi có rất nhiều bạn bè bên Phật Giáo Hòa Hảo (PGHH), và tôi cũng từng tìm hiểu, đọc được rất nhiều bài Sấm giảng quý giá của Đức Thầy mà tôi vô cùng cảm kích, tâm niệm học theo.  Nhưng hôm nay Chúa Nhật, 05 tháng 04, 2026, là lần đầu tiên tôi tham dự một buổi lễ do tín đồ PGHH tổ chức tại San Jose, California.  Đi cùng tôi có chị Mỹ Thanh, phu nhân của nhà văn Chinh Nguyên cố Chủ Tịch Văn Thơ Lạc Việt, và nhà thơ Minh Thúy Thành Nội.  Chúng tôi được chào đón thân thiện từ ngoài cửa, và mọi người khách đều được gắn cho một huy hiệu hoa sen trắng PGHH đẹp vô cùng. Buổi lễ Kỷ Niệm ngày Đức Huỳnh Giáo Chủ PGHH thọ nạn tại Đốc Vàng, Việt Nam (25/02 nhuận năm Đinh Hợi – 1947) là một sự kiện đặc biệt.  Đây là một buổi lễ vô cùng trang trọng và xúc động.  Bước chân vào hội trường, tôi cảm nhận được ngay sự gần gũi, ấm áp từ những người anh em đạo hữu PGHH. Nhìn lên lễ đài, sự bài trí giản đơn nhưng đầy tôn nghiêm với chân dung Đức Thầy, linh vị “Cửu Huyền Thất Tổ, và bản đồ Tổ quốc Việt Nam, cho thấy tôn chỉ “Học Phật Tu Nhân” gắn liền đạo pháp với lòng yêu quê hương đất nước của PGHH

*

Việc thờ cúng đơn giản này từ lời dạy của Đức Thầy, “Nên thờ đơn giản cho lòng tin tưởng trở lại tâm hồn hơn ở vào sự hào nháng bề ngoài” (Sấm Giảng Thi Văn Toàn Bộ Của Đức Huỳnh Giáo Chủ – tr. 201). 

Ban Tổ Chức & Ban Phụng Sự

Nhìn các tín đồ PGHH đều mặc áo màu đà, rồi nhìn lá cờ PGHH cũng màu đà rất đơn giản được cắm trang trọng giữa lá cờ sao Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ và Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ của Việt Nam Cộng Hòa, tôi tẩn mẩn ngồi nghĩ, sao Đức Thầy lại chọn màu cờ quá đơn sơ cho PGHH so với những lá cờ màu sắc nổi bật rất “bắt mắt” của các tôn giáo khác.  Nhưng tối về nhà, mở ra đọc quyển “Sấm Giảng Thi Văn…” mà cô Hoa Nguyễn trong BTC tặng trước khi tôi ra về, tôi đã khám phá ra ý nghĩa của màu cờ của PGHH thật vô cùng thú vị.

“…từ trước đến giờ các sư dùng màu dà để biểu-hiện cho sự thoát tục của mình, và màu ấy là sự kết hợp của tất cả các màu sắc khác, nên có thể tượng trưng cho sự hòa hiệp của nhân loại không phân biệt chủng tộc và cá nhân. Vì vậy chúng ta dùng nó trong chỗ thờ phượng để tiêu biểu cho tinh thần vô thượng của nhà Phật.” (Sấm Giảng Thi Văn… – tr. 201)

Thì ra ý nghĩa của màu đà Đức Huỳnh Giáo Chủ chọn là biểu tượng của sự thoát tục và tượng trưng cho sự hòa hợp nhân loại, không phân biệt chủng tộc.  Nếu xét về mặt vật lý học ánh sáng, thì màu nâu là một “đa sắc” (polychromatic).  Tôi là một cựu giáo viên, từng giảng giải cho đám học trò nhỏ về màu sắc biến đổi khi cho chúng pha màu trong các buổi học – giáo dục Mỹ rất quan trọng về việc dạy trẻ nghiên cứu khoa học – vậy mà tôi đã quên mất nên không nhận ra, màu đà không phải là một màu đứng riêng biệt mà là kết quả của sự hòa quyện, đúng như ý nghĩa “hòa hiệp nhân loại” mà Đức Thầy đã dạy.  Và tôi chợt thấy trong lòng vô cùng thỏa mãn vì đã tìm được lời giải đáp cho thắc mắc của mình, thích thú đến…dựng cả chân lông, khi nhận ra sự giải thích của Ngài thực sự rất khoa học và sâu sắc.  

Sự tinh tế của Đức Huỳnh Giáo Chủ nằm ở chỗ Ngài dùng một hiện tượng thiên nhiên (sự hòa quyện màu sắc) để diễn giải một tư tưởng nhân văn cao cả, là “Sự hòa hiệp”.  Khi nhìn vào màu đà nâu sồng, mắt thường của tôi không thấy sự rực rỡ tách biệt của đỏ, vàng, xanh hòa quyện, mà chỉ thấy một sự tĩnh lặng, đơn giản và khiêm cung.  Bây giờ tôi mới nhận ra, ý nghĩa này cũng giống như một xã hội lý tưởng, nơi mỗi cá nhân, mỗi chủng tộc, dù có bản sắc riêng vẫn có thể hòa quyện vào nhau để tạo nên một khối thống nhất, bình đẳng trong xã hội loài người.  Quá tuyệt vời!

*

Ngay từ những phút bắt đầu, buổi lễ đã lan tỏa một nguồn năng lượng thiêng liêng vô cùng ấm áp.  Nghi thức chào cờ Hoa Kỳ và cờ Việt Nam Cộng Hoà cảm động, tiếp đến là phần tưởng niệm các anh linh tiền nhân, được cử hành trong sự trang nghiêm tuyệt đối.  Khi nghi thức đạo Phật Giáo Hoà Hảo bắt đầu, toàn thể hội trường như lắng lại. Quan khách đồng loạt đứng lên, chắp tay, cùng nhau cúi đầu, cầu nguyện Phật Tổ, Đức Thầy, và cầu cho quốc thái dân an.

Những lời cầu nguyện chân thành, những lời tưởng niệm sâu lắng, và trên hết là lòng thành kính hướng về Đức Huỳnh Giáo Chủ, vị lãnh đạo tinh thần đáng kính của tín đồ Phật Giáo Hoà Hảo từ tất cả quan khách, kể cả những vị dân cử, thân hào nhân sĩ địa phương, và các vị khách từ tôn giáo bạn.  Có thể nói, tình người, tình đạo trong khoảnh khắc này trở nên gần gũi vô cùng.  Đây chính là minh chứng cho sự đoàn kết của những con người thiện lành luôn có chung một nhịp đập từ trái tim, đó là, phụng sự nhân sinh và lan tỏa yêu thương.

Điều khiến tôi xúc động nhất khi quan sát xung quanh, chính là sự đoàn kết và tấm lòng thuần hậu của các tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo.  Mọi người bày tỏ sự cung kính, trang nghiêm, và vui vẻ hạnh phúc khi được dịp phụng sự đạo pháp, vì họ có cùng chung một niềm tin vào giá trị của đạo đức và lòng nhân ái PGHH.  Trong khi buổi lễ diễn ra, thì ngoài cửa Ban Phụng Sự tất bật, lăng xăng sắp xếp bữa trưa chờ mời khách. 

Sau phần nghi lễ, và những trình bày, đọc sấm giảng của Đức Thầy, ngâm thơ… đạo hữu Trần Hoài Nghĩa đại diện Ban Tổ Chức lên nói về mục đích của buổi lễ và tóm tắt tiểu sử của Đức Thầy cùng trình bày về ngày tháng Ngài thọ nạn.  Mọi người lắng nghe trong niềm cảm xúc.

Tiếp theo các vị dân cử, nhà báo, đại diện hội đoàn và các tôn giáo lần lượt được mời lên phát biểu cảm tưởng.  Giáo Sư Tiến sĩ Nguyễn Hồng Dũng, Hiệu Trưởng Trường Cao Đẳng Phật Học San Jose, cũng đã có những lời đầy tâm huyết. Ông hết lời tôn vinh đức hạnh, sự hy sinh, và những công đức to lớn của Đức Thầy Huỳnh Giáo Chủ, đồng thời bày tỏ lòng kính phục đối với những giá trị đạo đức mà Ngài đã để lại cho hậu thế. 

Tiến Sĩ Nguyễn Hồng Dũng

Cô Vân Lê, người hiện đang ứng cử vào Hội đồng Thành phố San Jose, cũng đã có những lời chia sẻ chân thành, bày tỏ sự cảm kích khi được tham dự buổi lễ ý nghĩa này, và đặc biệt nhấn mạnh rằng trong hành trình phục vụ cộng đồng, cô sẽ luôn ghi nhớ và cố gắng thực hành những lời dạy cao quý của Đức Thầy trong đời sống cũng như trong trách nhiệm với xã hội. 

Minh Thúy Thành Nội, người nói chỉ mới biết về PGHH gần đây thôi, nhưng cũng đã lên đọc một bài thơ tóm tắt những công đức của Đức Thầy khi Ngài còn sanh tiền.

Tôi cũng được mời lên nói lời cảm nhận với tư cách là một tín đồ Cao Đài.  Là thành viên của Thi Văn Đàn Văn Thơ Lạc Việt, tôi từng rất tâm đắc bài thơ “Tình Yêu” nổi tiếng của Đức Thầy:

Tình Yêu

Ta có tình yêu rất đượm nồng

Yêu đời yêu lẫn cả non sông

Tình yêu chan chứa trên hoàn vũ

Không thể yêu riêng khách má hồng.

*

Nếu khách má hồng muốn được yêu 

Thì trong tâm trí hãy xoay chiều

Hướng về phụng sự cho nhân loại

Sẽ gặp tình ta trong khối yêu…

*

Ta đã đa mang một khối tình

Dường như thệ hải với sơn minh

Tình yêu mà chẳng riêng ai cả

Yêu khắp muôn loài lẫn chúng sinh.”

      Miền Đông, năm 1946 (Sấm Giảng Thi Văn… – tr. 530-531)

Vì kính yêu thơ của Đức Huỳnh Giáo Chủ, cộng với sự xúc động trước tấm gương hy sinh cùng công đức to lớn của Ngài, tôi đã mạn phép dâng lên Ngài bài thơ Đường Luật với tựa đề “Ánh Sáng Hòa Hảo” do chính tôi chấp bút bằng tất cả lòng thành để tôn vinh một bậc Thánh nhân:

Ánh Sáng Hòa Hảo

Hòa Hảo danh ngời đất Phật, Tiên…

Kỷ Mùi giáng thế trải ơn Thiên

Đức Huỳnh Giáo Chủ người đưa lối

“Tứ Đại Trọng Ân” sấm giảng truyền

Mười Tám Tháng Năm – khai Đạo cả

Tháng Tư Mười Sáu – biệt thân hiền

Đốc Vàng ngày cuối, Thầy đâu hỡi!

Sanh chúng đợi Thầy – thọ phước duyên.

    Phương Hoa – Apr 5, 2026

Khi đọc đến câu “Đốc Vàng ngày cuối, Thầy đâu hỡi!” trong tôi dâng lên một nỗi bùi ngùi và xúc động nghẹn ngào đến gần rơi lệ.  Nhìn xuống bên dưới khán giả, tôi thấy có những ánh mắt rất buồn bày tỏ sự đồng cảm.  Đó là câu hỏi của lịch sử, nhưng cũng là tiếng lòng thổn thức của hàng triệu tín đồ PGHH, và dân tộc Việt trong hơn bảy thập niên qua.

Nhà báo Nghê Lữ, Chủ Tịch CĐVM Bắc Cali Triệu Hà,  Nhóm Trưởng Hậu Duệ VNCH Nguyễn Minh Huy, trưởng Nhóm Tuệ Đăng Đồng Vàng, và nhiều người nữa… mỗi sự chia sẻ của quan khách cho dù có khác nhau, nhưng tất cả đều gặp nhau ở lòng tôn kính Đức Huỳnh Giáo Chủ, sự biết ơn các tín đồ PGHH, và tôn vinh tinh thần đoàn kết giữa những con người tuy khác biệt tôn giáo hay đức tin, nhưng đều cùng chung lý tưởng bác ái và hướng thiện.

Buổi lễ hoàn tất trong sự viên mãn bằng bữa trưa với những món chay thanh khiết, thấm đượm hương vị quê nhà. Ban Tổ Chức và Ban Phụng Sự đã chu đáo chuẩn bị những phần ăn vô cùng hấp dẫn, như bánh ướt mỏng tanh ăn cùng chả lụa, nem chua chay, bánh bột lọc, bánh bao… kèm theo chén chè trôi nước dẻo thơm và ly trà sữa cốt dừa béo ngậy, đã đưa mọi người về lại quê hương Việt Nam thân yêu.  Mọi người vừa thưởng thức vừa chuyện trò vui vẻ.

Sau cùng, buổi lễ hôm nay là dịp tưởng niệm ngày thọ nạn của Đức Huỳnh Giáo Chủ, ngày xảy ra sự mất mát to lớn của tín đồ PGHH.  Nhưng có thể nói, đây cũng là dịp PGHH bắt một nhịp cầu để kết nối những tấm lòng, những sự đồng cảm của các tôn giáo bạn, và cộng đồng Việt Nam nơi hải ngoại, đặc biệt là tại Hoa Kỳ.

Riêng với tôi, đây là một ngày đáng nhớ, đã để lại trong tôi nhiều cảm xúc đẹp, và sự trân trọng sâu sắc đối với các bạn tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo. Nhờ có hôm nay, tôi đã và sẽ được học thêm nhiều điều hay, nhiều lời giảng quý giá của Đức Thầy trong quyển Sấm Giảng Thi Văn Toàn Bộ Của Đức Huỳnh Giáo Chủ mà đạo hữu Hoa Nguyễn tặng.

Xin chân thành tri ân Ban Tổ Chức đã cho tôi cơ hội tham gia buổi lễ đầy nét đẹp văn hóa tâm linh ý nghĩa.  Tôi biết, dù Đức Thầy vắng mặt về hình hài, nhưng tư tưởng và ánh sáng Hòa Hảo của Ngài vẫn đang lan tỏa trong tim từng mỗi tín đồ, và sanh chúng dù ở đức tin nào cũng có thể theo đó mà nhìn lại mình, để hướng tâm về những giá trị thiện lành và lòng bác ái.  

Kính chúc quý đạo hữu Phật Giáo Hòa Hảo luôn tinh tấn trên con đường tu học và giữ vững tôn chỉ cao đẹp của Đức Huỳnh Giáo Chủ.

  Phương Hoa – San Jose, APR 5, 2026




VTLV- CUỘC DU XUÂN “ĐỘC NHẤT VÔ NHỊ”- Phương Hoa Tường Thuật.

CUỘC DU XUÂN “ĐỘC NHẤT VÔ NHỊ”

Phương Hoa

Quý độc giả đừng vội kêu “nổ quá” khi đọc cái tựa đề này. Xin mời hãy kiên nhẫn đọc hết, quý vị sẽ thấy tôi nói không ngoa. Mọi chuyện bắt đầu bằng cái email gây “chấn động” trước Tết từ chàng Không Quân Lê Văn Hải, “sếp lớn” của Thi Văn Đàn Văn Thơ Lạc Việt (VTLV):

Ngày 4 tháng 3 tới đây, VTLV chúng ta sẽ lên đường du Xuân Bính Ngọ, một chuyến hải hành độc đáo nhất lịch sử! Hứa hẹn những bữa ăn giữa trùng khơi, những đêm thơ ca rộn ràng, và cả những bất ngờ… không thể đoán trước!”

Chỉ vài dòng ngắn ngủi mà “chiếu tướng” thật mạnh vào lòng… dân VT Lạc Việt! Dù “thủ phủ” VTLV ở Thung Lũng Hoa Vàng (San Jose), nhưng thành viên thì ở khắp nơi.  Nghe tin “Hội ngộ trùng dương” là các tâm hồn nghệ sĩ bốn phương lập tức họp quần, đặc biệt là khi biết có sự góp mặt của “sếp” Hải.  Hai mươi “chiến bút” thành viên, trong đó có vài thân hữu, liền ghi danh book vé du thuyền 5 sao “ROYAL CARIBBEAN – Quantum of the Seas” đi chuyến Cabo, Ensenada, Mexico một tuần lễ.

Điện thoại và email của tôi bỗng thành… tổng đài “chăm sóc khách hàng”.  Tôi cũng rất vui và háo hức khi mọi người ý ới gọi tôi bàn tán, người hỏi chuẩn bị hành lý thế nào, người bàn về phương tiện từ Bắc xuống Nam Cali, người tính việc tìm chỗ đặt khách sạn… Không khí rộn ràng lan nhanh, làm ai nấy đều đứng ngồi không yên.  Trước ngày lên tàu một tháng, chàng Không Quân Hải lại… chơi lớn, mời cả đoàn xuống Nam Cali sớm một ngày để tụ tập tại nhà hàng Phở Seven.  Sếp sẽ bao trọn bữa tối thịnh soạn với các loại “men cay” kiểu không say không về, và anh còn tổ chức đêm văn nghệ “cây nhà lá vườn” cho mọi người tha hồ…quậy. 

Đêm 3 tháng 3, 2026, nhà hàng Phở Seven tưng bừng chào đón khách.  Sau khi tuyên bố mở đầu buổi tiền họp mặt, và giới thiệu những cánh chim bằng cựu Không Quân VNCH khóa 72-73A đồng đội của mình, bất ngờ anh Hải “đẩy” tôi lên giới thiệu đoàn VTLV.  Và tôi vô cùng vinh dự được giới thiệu hai nhân vật đặc biệt nhất của đoàn.  Nhà văn Hồng Thủy, Chủ Tịch Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại (Vùng Đông Bắc Hoa Kỳ) bay từ Washington DC qua.  Nhà thơ kiêm nhiếp ảnh gia Phạm Phan Lang, cựu nữ Trung Tá gốc Việt đầu tiên của Lục quân Hoa Kỳ, mới bay từ Hawaii về, cùng tất cả các thành viên.  Tiếp theo MC Khánh Lan giới thiệu nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật & Tiếng Thời Gian Nam Cali.   “Chữ ký” quen thuộc của sếp Hải là… bao lì xì đỏ, nên anh đã trịnh trọng trao quà và bao lì xì đỏ cho từng người, kèm theo lời chúc mừng Xuân Mới.  Quà trao, rượu rót, bì đỏ bay theo, và túi sếp bắt đầu…lép kẹp.  Đổi lại, tiếng cười, tiếng hát, ngâm thơ, và những bước nhảy rộn ràng theo điệu nhạc đã làm bùng nổ không gian.  Buổi “warm-up” ấm áp và đầy tình văn hữu này chính là phát súng mở màn hoàn hảo cho một chuyến du Xuân trên biển đầy hứa hẹn phía trước.

Sáng ngày 4 tháng 3, đoàn quân VTLV 20 người có mặt tại bến cảng Long Beach làm thủ tục check-in. Vừa chen lấn, chúng tôi cố gõ lẹ trao đổi số phòng để lên tàu còn “bắt sóng” được nhau qua cái điện thoại phòng, vì trên tàu sẽ không nhiều người có wifi.

Dù đã đi cruise rất nhiều lần, nhưng tôi vẫn choáng ngợp trước sự quy mô của du thuyền Quantum of the Seas, con tàu khổng lồ vượt xa tầm mắt. Tôi loay hoay cầm điện thoại chụp từ đầu tàu đến đuôi tàu mà chụp mãi không hết, zoom ra zoom vô kiểu nào cũng không xong!

Phạm Phan Lang là một “chiến thần du lịch”.  Vợ chồng nàng quanh năm suốt tháng ở trên du thuyền nhiều hơn ở nhà.  Có thể nói, chân mặt họ vừa chạm đất chuyến này thì chân trái đã bước lên chuyến khác, đi khắp bốn bể năm châu.  Khi biết điều này, anh Hải và cả nhóm đã đồng ý với tôi bầu bạn ấy làm “trưởng ban sắp xếp” trên chuyến tàu.

Không hổ danh là…chuyên gia, Phan Lang vừa lên tàu đã nhanh chóng “chộp” được nhà hàng American Icon ở tầng 4, booking thần tốc lịch ăn tối 6 đêm liên tiếp cho cả đoàn.  Cất xong hành lý, chúng tôi lên ăn trưa ở nhà hàng buffet “Windjammer Maketplace” tầng 14. Vừa bước chân vào, vợ chồng tôi lập tức bị “lóa mắt” bởi những dãy tủ thức ăn dài dằng dặc, lớp lớp bánh trái, hoa quả xếp hàng.  Khu vực ăn uống rộng lớn, bàn ghế giống nhau, nhân viên đồng phục, khách hàng đông nghẹt, nên sau khi tìm được bàn lớn cho cả nhóm, rồi đi lấy đĩa thức ăn đủ loại thơm phức, chúng tôi bỗng trở thành những… trẻ lạc.  Các bạn hãy tưởng tượng, mỗi người bưng một đĩa đầy ngập thức ăn trên tay, mắt láo liên, đi vòng quanh nhà hàng với gương mặt “ngáo ộp” vì không tìm ra cái bàn mình vừa ngồi lúc nãy ở đâu!  Nói ra thì…mắc cở thiệt, nhưng giờ ngồi đây nhớ lại cảnh tượng lúc đó buồn cười không chịu nổi!  Không phải mình chúng tôi bị đâu, mà nhiều người trong nhóm cũng bưng thức ăn đi vòng vòng…tương tự.

Sau khi “bỏ bụng” bữa trưa, ai về phòng nấy để “tu sửa” nhan sắc bị te tua vì sắp hàng chen lấn.  Cánh nữ quyết tâm phải diện… thật bảnh, để đi ăn tại nhà hàng American Icon cho buổi tối đầu tiên trên tàu.  20 người chúng tôi được xếp một dãy bàn dài tít tắp, kèm theo một bàn ngắn gần nhau. Nhìn vào menu thì hoa cả mắt, tên món vô cùng hấp dẫn cho cái bao tử đang chờ.  Nhưng khi thức ăn dọn ra thì đúng là của nhà…“quý tộc”, cái đĩa thì to tổ chảng, mà thức ăn bé tí bé teo nằm lọt thỏm ở giữa!  Món nào cũng chỉ “xớt” đầy một muỗng. Tuy nhiên, phải công nhận là cách trình bày rất thanh nhã và hương vị thì ngon không thể chê! Trong khi các phục vụ lịch lãm bưng những khay thức ăn bốc khói nghi ngút đi lại nhộn nhịp như trong một đám cưới khổng lồ, thì bàn của VTLV chúng tôi bắt đầu…đại náo. Ánh đèn flash từ iPhone cho đến dàn “máy hình xịn” của Phan Lang nháy lên liên tục, lóe sáng khắp nơi. Chụp hình món ăn, chụp hình đồng đội, chụp hình bồi bàn… chúng tôi chụp “tá lả” như thể sợ ngày mai người ta không cho chụp nữa! 

Tiệc vừa tan, sếp Không Quân Hải lại trổ tài… chịu chơi. Trong cái không gian sang trọng của nhà hàng 5 sao giữa đại dương, anh bất ngờ rút ra một bộ bài tây và…phán, “Bài Cào đây, Hải sẽ chia cho mỗi người 3 lá, ai điểm cao nhất có quà!”. Thế là không khí bỗng chốc trở nên căng thẳng như…chung kết World Cup. Các thi sĩ, nhà văn, nhạc sĩ, vốn dĩ hiền lành nay bỗng biến thành những “con bạc” thứ thiệt. Ai nấy mắt trợn tròn, môi mím chặt, nặn từ từ từng con bài một để tìm kiếm vận may. Hồi hộp đến nghẹt thở! Và rồi, anh Hải cho ra một tiếng hét vang dội: “A HA, CÓ NGƯỜI THẮNG RỒI!” Tiếp theo là những tràng pháo tay rầm rộ khiến thực khách xung quanh đều phải ngơ ngác quay lại nhìn. Chắc họ đang tự hỏi nhóm “quậy” này từ hành tinh nào rơi xuống mà vui quá xá vậy!

Ăn tối xong, cả đoàn kéo nhau đi khám phá khắp nơi. Nhưng đi dạo thì ít mà “hành quân” chụp ảnh thì nhiều! Nhiếp ảnh gia Phan Lang, vốn là cựu sếp trong quân đội Hoa Kỳ, nay bỗng chốc “hiện nguyên hình” là… chỉ huy trưởng!  Hễ thấy góc nào có màu sắc đẹp là nàng lập tức ra lệnh, “Tất cả tập hợp lại đây!” Thế là cả nhóm người răm rắp xếp hàng dọc, hàng ngang, xoay trái, xoay phải, theo lệnh chỉ huy. Mọi người toét miệng cười liên tục để “thủ trưởng” tác nghiệp, cười nhiều đến nỗi mỏi cả quai hàm, cơ mặt đơ cứng như được… tiêm botox vì phải gắng sức “làm duyên” cho đúng ý sếp để có được hình đẹp. Nhìn bạn tôi Phan Lang, vác cái máy ảnh to tướng, nặng trình trịch trên vai chạy tới chạy lui canh góc, canh hướng chụp hình, tôi bỗng liên tưởng đến cảnh cô nàng hồi còn đi lính, vác súng xông pha trên thao trường, mà không khỏi cười thầm trong bụng.  Nhớ lại chuyện “cười ra nước mắt” nàng từng kể tôi nghe khi tập bắn súng ở quân trường, không biết nàng ngắm cái kiểu gì, mà cả 9 viên đạn được phát cho tân binh buổi hôm ấy nàng…lia cả vào tấm bia của người lính bên cạnh, trong khi bia của nàng thì trống trơn, lành lặn, không có vết đạn nào! Và từ đó, mỗi lần đến lượt Phan Lang tập bắn, các quân nhân khác…bỏ chạy ra thật xa!

Khi đôi chân đã bắt đầu biểu tình, mọi người đòi rút quân về phòng để “tẩy trần” và nghỉ ngơi. Nhưng đúng là phong thái quân đội, dù đi chơi cũng phải có “kỷ luật thép”! Trước khi giải tán, “thủ trưởng” Phan Lang vẫn không quên tập hợp lực lượng lần cuối để… ban bố mệnh lệnh, “Đúng 8 giờ sáng mai, tất cả tập họp tại tầng 14 để ăn sáng và họp bàn kế hoạch mới!”

Đêm đầu tiên nằm trên du thuyền bên cạnh con thỏ được bồi phòng thắt bằng khăn trắng có vẽ hai con mắt long lanh thật dễ thương, chúng tôi nhìn ra cửa sổ thấy biển đêm lấp lánh như dát bạc dưới ánh trăng, mây trôi lững lờ ảo diệu giống cảnh thần tiên.  Và tôi chìm vào giấc ngủ cùng hình ảnh biển lớn bạt ngàn gợn sóng bồng bềnh bên ngoài mạn thuyền…

Ngày thứ hai, sau một đêm ngủ ngon giữa tiếng sóng dịu dàng, ai nấy đều hồi phục 100% công lực. Bữa sáng buffet là một cuộc thử thách lòng “mê ăn” vì món gì cũng muốn nếm, chỗ nào cũng muốn thử, trong khi các vị nữ lưu lại cố giữ eo để mặc áo dài và diện …đầm đìa. Ăn sáng xong, “Hội đồng tác chiến” bắt đầu làm việc.  Các văn nhân thi sĩ lúc này tạm gác bút nghiên, tập trung cao độ vào việc khám phá và chiếm lĩnh những góc chụp hình đẹp nhất, trước khi các đoàn khách khác ập tới.  Phan Lang chạy đôn chạy đáo và tìm được một khu vực trang trí đẹp mê hồn gần mạn thuyền, tên Wonderland, nhìn cứ như lạc vào Disneyland vậy! Chiếc ghế hoàng hậu uy nghi bọc những viên đá kim cương to đùng, lấp lánh. Thế là các “quý bà” VTLV tranh nhau leo lên, ẹo qua ẹo lại, tạo dáng đủ kiểu để chụp hình, rồi còn lôi cả quý ông vào chụp tiếp. Tôi đứng chụp hình cho họ mà vừa buồn cười vừa… thương cho cái ghế, chỉ sợ nó chịu không thấu nhiệt tình của chị em mà “sập” một phát là “tiêu đời cô Lựu” cả đám! Giữa rừng máy ảnh và hàng chục chiếc iPhone đưa lên cùng lúc, Phan Lang luôn miệng… hét, “Nhìn ngay vào ống kính đây này! Chụp mỗi máy một lần thôi, vì nhìn cùng lúc nhiều máy quá sẽ bị… lé mắt hết nghe chưa!”  Những tiếng cười ha ha hí hí he he lại vang lên ầm ỹ.

Sau khi thỏa mãn “cơn mê” hình ảnh, mọi người mới nhớ đến chuyện Karaoke.  Phan Lang và chị Hồng Thủy hào phóng mời mọi người về phòng có ban công của mình để cùng nhau…hét.

Xin kể “Chuyện hậu trường” về cái máy Karaoke. Trước chuyến đi, Trưởng Ban Biên Tập VTLV Thái Phạm đã cho một ý kiến, dù anh không đi được cùng mọi người, là phải có cái máy Karaoke nho nhỏ mang theo để mọi người hát hò trên tàu cho…xôm tụ. Tôi “nhận lệnh” đi săn lùng, và cuối cùng VTLV tậu một chiếc máy Karaoke với giá “hạt dẻ” nhưng âm thanh thì… hút hồn, vang dội như sấm mùa đông. Tiến Sĩ Nguyễn Hồng Dũng, Phó Chủ tịch VTLV, được mời đến thử giọng đầu tiên.  Anh đắc ý vì tiếng hát quá cuốn hút, cẩn thận đóng gói mang đi. Ấy thế mà, sáng ngày check-in vào xong, tôi hớn hở hỏi, “Anh Dũng ơi, khi nào thì nhóm mình khai máy Karaoke được?” Anh giật mình, trợn mắt kêu trời. Hóa ra vì quá hào hứng lên tàu, lúc nhờ người drop xuống bến cảng, vị Tiến sĩ đáng kính của chúng tôi đã… bỏ quên luôn máy Karaoke trên xe người đưa đón! Tin “dữ” lan đi, cả nhóm chỉ biết dở khóc dở cười!  Vậy là các văn thi sĩ sẽ ngồi nhìn nhau… ngâm thơ chay cho sóng biển nghe rồi!  

Nhưng như người ta thường nói, ở đời hay không bằng…hên. Giữa lúc nỗi buồn đang lan tỏa, thì “Thiên thần” Hạnh Thảo xuất hiện.  Nghe chúng tôi than vãn về “thảm họa Karaoke” của anh Hồng Dũng, Hạnh Thảo bỗng phá lên cười, “Mọi người đừng lo, em có đem theo một bộ đây nè!” Cả đoàn vỗ tay rầm rộ, tiếng reo hò suýt chút nữa làm rung rinh con tàu vĩ đại giữa đại dương. “Người tính không bằng trời tính” cuộc vui chính thức được “cứu vãn” trong gang tấc!

Và khoảnh khắc mong chờ cũng đến, là màn ra mắt chiếc máy Karaoke “cứu tinh” của Hạnh Thảo. Anh Hồng Dũng sau khi “chuộc lỗi” bằng những lời phân trần, đã chính thức cầm mic khai Xuân, cùng Hạnh Thảo “dợt” một bài hay đến long trời lở…nước!  Căn phòng dù rộng rãi nhưng làm sao chứa hết mấy chục con người.  Thế là cảnh tượng “lớp lớp trùng trùng” người ngồi trên giường, người khệ nệ bê ghế từ ngoài ban công vào, người ngồi bệt xuống đất, thậm chí có người còn ngồi luôn xuống sàn tàu. Và rồi, mọi người bắt đầu… quậy tới bến!

Tiếng nhạc nổi lên giữa đại dương bao la với âm thanh đầy kỳ diệu. Không cần cái máy kêu “như sấm” bị bỏ quên, máy của Hạnh Thảo vẫn đủ sức làm bùng nổ không gian. Những “giọng oanh vàng” tha hồ cất tiếng, những “đôi chân ngọc” mặc sức lắc lư. Tôi nhận ra rằng chỉ cần có nhau và có tiếng hát, thì dù giữa trùng khơi vẫn hạnh phúc. Lời ca tiếng nhạc vang vọng khắp phòng, tràn ra ban công, chan hòa vào đại dương, làm cho sóng nước cũng lấp lánh theo mạn tàu.

Về chiếc backpack (ba lô) đầy tình thương của sếp Hải.  Đây cũng là dịp Không Quân Hải tiếp tục… móc hầu bao. Cứ ai hát xong là được tặng quà, trao vòng hoa, và nhận bao lì xì đỏ chói.  Tính đến giờ phút này, tôi không biết đã có bao nhiêu cái phong bì đã “bay” khỏi cái backpack của anh Hải nữa.  Tôi gọi nó là “bắt phạt” mới đúng, và thấy cảm động, thương sếp vô cùng! Lúc làm thủ tục check-in, mọi người đều ký gửi hành lý để xe đẩy đi cho khỏe. Riêng anh Hải cứ khư khư vác cái ba lô to đùng, nặng trình trịch đó trên vai, làm cái lưng anh cong xuống.  Tôi đã thắc mắc, sao sếp không gửi phắc nó đi cho rảnh tay, giờ mới hiểu. Hóa ra trong đó toàn là “kho báu” anh mang theo để tặng thưởng cho đoàn. Nào là voi đá, cá thủy tinh, hưu cao cổ, Thiên thần, và lá hoa đủ kiểu đủ màu. Anh sợ ký gửi chúng sẽ bị “sức tay gãy gọng” hết, nên thà chịu đau lưng, vác “trọng trách” ấy suốt quãng đường dài, để đổi lấy nụ cười cho anh chị em. Đúng là một vị “Big Boss” dễ thương… nhất hệ mặt trời!

Buổi tối, không gian nhà hàng rực rỡ, vì cánh nữ VTLV diện quốc phục áo dài thướt tha, và cánh mày râu thì lịch lãm trong những bộ vest chỉnh chu. Bữa tối sang trọng diễn ra trong không khí ấm cúng, bất ngờ thuyền trưởng cùng đội ngũ nhân viên phục vụ bước ra hát vang nhảy múa chào mừng du khách. Nhóm VTLV cũng hào hứng đứng dậy, “quậy” nhiệt tình, những tà áo dài VN lả lướt tung bay theo bước chân đoàn thủy thủ, làm thiên hạ nhìn đến…lác cả mắt!

Ngày thứ 3 tàu cập bến Cabo San Lucas, Mexico. Vì nghe tin Mexico bạo loạn, một số người “hãi” không dám lên bờ. Nhóm “điếc không sợ súng” 10 người chúng tôi vẫn mua vé tour đi ngày sau, vì hôm đó hết vé.  Nhưng hôm ấy chúng tôi cũng rủ nhau lên bờ Cabo, dạo chơi khu phố gần tàu chứ không dám đi xa.  Rảo chụp hình một hồi, chàng cựu phi công VNCH Lê Văn Hải và nàng cựu Trung Tá Lục Quân Hoa Kỳ bỗng rủ nhau bày trò cho thiên hạ… hết hồn chơi!

Hai người ngồi xuống trước cửa một gian hàng, ngửa nón ra và bắt đầu “đóng vai” homeless để xin tiền ông đi qua bà đi lại. Khi chúng tôi tìm thấy họ thì trong nón đã có một tờ 5 đô nằm chơ vơ trông đến là tội nghiệp! Nhìn hai người ngồi bệt dưới đất, mặt mày nghiêm trọng như đang thực hiện…nhiệm vụ bí mật cấp quốc gia, chúng tôi cười ngửa cười nghiêng, cười đến té lăn chiêng xuống đất! Tôi nhanh tay “chộp” vội tấm hình để làm…bằng chứng.  Hai vị cựu chỉ huy mà máu hài hước, máu tếu, đến cở này thì thiên hạ…chịu đời sao thấu! Dân bản địa Mexico đi ngang qua tò mò đứng lại nhìn, có lẽ vì trông hai vị “homeless” khí chất quá sang trọng, sao nghèo mà…uy nghi lạ thường! Khi chúng tôi ngưng cười, chàng phi công đứng dậy phủi quần, hiên ngang như vừa đáp máy bay an toàn, còn nàng Trung Tá thì chỉnh lại xiêm y, lấy lại vẻ oai phong lẫm liệt cũ.  Hai người đi về tàu tỉnh bơ như chưa hề có chuyện gì xảy ra!

Chúng tôi kéo theo sau mà bụng vẫn còn đau thắt vì cười. Hóa ra, không cần vé tour đắt tiền, không cần người dẫn đoàn chuyên nghiệp, chỉ cần có “máu liều” và khiếu hài hước của Văn Thơ Lạc Việt, thì một vỉa hè ở Mexico cũng biến thành… sân khấu đại nhạc hội, vui nổ trời nổ đất!

Hôm đó làThe White Day”, ngày hội mặc đồ trắng toàn bộ.  Đi bờ về, mười mấy nữ tú và mấy nam thanh VTLV diện trang phục trắng muốt như tiên đồng ngọc nữ, kéo đi chụp hình. Khách du lịch quốc tế nhìn chúng tôi vỗ tay trầm trồ. Có người còn nhiệt tình giành lấy máy để chụp hộ cho đủ mặt hết cả đoàn.  Buổi tối tại nhà hàng American Icon là một biển trắng tinh khôi. Đặc biệt hơn, đoàn VTLV có hai thành viên đón sinh nhật. Nhà hàng tặng bánh kem. Sếp Hải rút bao lì xì và vòng hoa trao cho người thêm tuổi mới. Tiếng hát Happy Birthday của nhân viên nhà hàng và VTLV cùng vang lên rộn ràng ấm áp.

Sau tiệc tối, anh Hải mở “đại bản doanh” phòng mình để hát Karaoke, nhảy nhót, lần thứ hai.  Có thêm 4 vị khách Nam Cali gặp trên tàu tham gia.  Chị tên Bích Vân tuy được chồng đẩy trên xe lăn, nhưng hát rất hay. Với hiệu lệnh “ai dám cầm mic là có quà”, sếp Hải lại tiếp tục… vơi túi tiền cho những giọng ca oanh vàng mới quen.  Sau màn ca hát, đến trò chơi Lô-tô do anh Hồng Dũng điều khiển. Cả phòng náo loạn mỗi khi có người trúng số nhảy tưng lên. Tôi cũng may mắn “Kinh” một ván, và rinh bình hoa đẹp cùng bao lì xì đỏ lóe. Sếp Hải còn bày thêm trò Bầu Cua Cá Cọp. Tiếng reo hò, tiếng cười, tiếng vỗ tay vang dội cả phòng bay qua ban công hòa vào gió biển. Niềm vui “sung” đến mức khi tan hàng thì đã gần 1 giờ khuya! Bụng đói cồn cào, cả nhóm lại rủ nhau kéo lên Pizza Cafe Promenade để thưởng thức món Pizza “độc bản”. Miếng bánh mỏng dính như bánh tráng, chỉ to bằng cái đĩa nhưng vị ngon thì khó cưỡng khi đưa vào miệng. Mỗi người gọi một cái, nhấm nháp và uống cà phê, kết thúc một ngày dài đầy phấn khích.

Ngày thứ 4 lên bờ thăm Cabo. Nói thì nghe “anh hùng” thế, chứ lúc bước xuống đi sâu vào địa phận nước Mễ theo tour, chúng tôi bụng ai nấy đều “đánh lô tô”.  Nhìn lính Marine (Thủy Quân Lục Chiến) trang bị súng ống tận răng đi tuần tra, mắt liếc nhìn du khách chằm chằm, chúng tôi cũng… ớn. Nhưng hướng dẫn viên rất lịch sự và chu đáo, đón chúng tôi bằng xe bus xịn, đãi ăn vặt ngon, làm nỗi lo cũng vơi đi phần nào.  Họ đưa đi coi phố xá xinh đẹp của Cabo, xưởng thủy tinh nghệ thuật xem họ biểu diễn làm vỏ chai, các con vật, ghé Chocolate factory, và đặc biệt là nơi thử rượu. Các loại rượu quý của Mễ, kể cả Tequila, đều được mang ra. Cánh đàn ông thử hết mười mấy mẫu rượu mạnh, mặt ai nấy đỏ gay như gấc chín. Tôi cũng “bạo gan” nếm thử hai ly nhỏ xíu, mà đã thấy nóng bừng cả người, công nhận rượu Mễ “phê” thật!

Hấp dẫn nhất tour này là chuyến canô ra khơi, thăm các hang động và núi đá nghệ thuật thiên nhiên The Arch of Cabo tuyệt mỹ, và coi cá heo. Giữa đại dương bao la, những chú cá heo nhảy lên bắn nước tung tóe chào đón đoàn, cảnh tượng thú vị không lời nào tả xiết.  Canô đang lướt sóng anh thuyền trưởng bất ngờ hỏi: “Are you ready to fly?” (Các bạn sẵn sàng bay chưa?). Cả nhóm tưởng anh ta đùa, nên đồng loạt hô, “YES!” Ai dè anh ta tăng tốc độ thật! Chiếc canô lao đi như phản lực, sóng đánh ầm ầm vào sườn làm nước dằn mạnh, canô như đụng phải đá ngầm, bồng lên hạ xuống liên tục, xém hất văng chúng tôi khỏi canô.  Các ông thích chí cười ầm ỹ, Phan Lang vẫn vác máy lên vai chụp hình.  Bên cạnh tôi, nhà văn Hồng Thủy vì cao tuổi và có vấn đề về tim nên hoảng hốt. Chị níu chặt tay tôi, kêu lên bằng giọng Bắc… đặc sệt, “Ối giời ơi, ghê quá!”. Tôi một tay ôm chặt lấy chị, một tay cầm điện thoại quay phim, miệng trấn an, “Chị yên tâm đi, em biết bơi, lại có áo phao, bảo đảm nếu có bề gì em sẽ đưa chị vào bờ an toàn!”. Chị nghe thế tạm yên lòng, nhưng khi tới gần bờ đã “hoàn hồn” chị quay qua tặng cho anh thuyền trưởng một tràng… mắng vốn bằng tiếng Anh vì tội làm chị mệt tim, khiến anh này phải xin lỗi rối rít. Sau trận “thủy chiến” hết hồn đó, chúng tôi được bù đắp bằng một bữa trưa món Mễ ngon lạ lùng.  Trên đường về, ai nấy gật gù, “Chuyến đi này thật là đáng đồng tiền bát gạo!” Chị Hồng Thủy tiếp, “Trừ canô!”

Cũng phải nhắc đến một cử chỉ cực kỳ dễ thương của MC Hạnh Thảo. Cô nàng đã âm thầm mua tặng cả đoàn 20 người mỗi người một chiếc áo thun kỷ niệm có in dòng chữ “Quantum of the Seas”. Phái nữ thì màu hồng ngọt ngào, phái nam thì màu xanh biển mạnh mẽ.

Ngày thứ 5, trên boong tàu tầng 15 bỗng chốc biến thành một “rừng hoa di động” với 14 đóa hồng rực rỡ và 6 nhành xanh biển nam tính. Hạnh Thảo quá tâm lý, mặc áo vào cả đoàn nhìn như một đội quân sắp đi… đánh chiếm tàu Quantum. Nhìn thấy thế, sếp Hải chợt nảy ra ý định mở cuộc thi giải Marathon, “Chạy 2 vòng, vòng quanh thế giới… du thuyền!”  Tất cả sắp hàng trong tư thế sẵn sàng. Vừa nghe anh Hải hô, “Một, hai, ba… GO!” thì Ngọc Ánh bỗng chốc hóa thành “nữ hoàng tốc độ” phóng vèo một cái, như thể có gắn động cơ phản lực sau lưng. Tiếp theo là Kiều My, Hạnh Thảo, và tôi, bốn vận động viên áo hồng “phi nước đại”, mông nguẩy, tay vẫy, mặt hớt hải, phóng như bay… bỏ xa sau lưng đoàn “vận…chậm viên” rồng rắn.

Nhưng cái “máu nghệ sĩ” nó khổ lắm, đang chạy hì hục mà giữa đường gặp tượng gỗ chú gấu đỏ California bự tổ chảng đứng bên vách tường cạnh những người leo núi, cả bốn đứa quên sạch giải thưởng, thắng gấp một cái “két” để nhào vô chụp hình. Kệ, tiền thưởng tính sau, hình đẹp là trên hết! Tuy thế, khi thấy nhóm sau gần đuổi kịp, 4 người bắt đầu vắt giò lên cổ …chạy tiếp! Kết quả, “giám khảo” Hải bao dung đến mức lạ kỳ, người về nhất có tiền, người về bét… cũng có tiền. Đúng là giải đấu nhân văn nhất lịch sử hàng hải!

Sau khi nạp năng lượng bằng kem bảy màu và dùng bữa trưa tại một góc khuất đuôi tàu, nơi có view “triệu đô” vì được nhìn đám bọt sóng trắng xóa đang cuồn cuộn đuổi theo tàu ngoạn mục, Hạnh Thảo lại bê máy Karaoke ra.  Nhóm VTLV chính thức chiếm đóng địa bàn. Chúng tôi cùng …“hét” cho đại dương nghe! Tiếng nhạc vang dội hòa cùng tiếng sóng, làm mấy chú hải âu tình cờ bay ngang cũng phải lượn lờ chậm lại vẻ như nghe ngóng và muốn…tham gia nhập đoàn!

Sau phần Karaoke, sếp Hải trổ tài “huynh trưởng hướng đạo”. Trò kéo co anh đưa ra bằng cách “oẳn tù tì” để chọn đội nào bắt đầu trước.  Đội tôi có chị Hồng Thủy, và chị đã cùng chúng tôi đứng bộ tấn đường hoàng, ôm chặt, kéo mạnh, đến nỗi làm cho…cả boong tàu rung chuyển, và đội kia thua…bật ngửa, vui đến nỗi một bà cháu người Mỹ đi ngang cũng xin “nhập hộ khẩu” vào đội hình. Bé con được sếp Hải lì xì cười toét miệng. Rồi trò “múc nước bằng muỗng” chạy thi đổ vào ly, và “vận chuyển đậu gà” đếm số nhận thưởng.  Nhìn 20 con người học thức, sang trọng, diện đẹp, mà rối rít cầm muỗng chạy lăng quăng như trẻ lên ba, va vào nhau, đổ đậu, đổ nước vung vít, thiệt tình là cười đến nỗi ruột gan thắt lại, nước mắt chảy te re!

Buổi tối, cả đoàn diện đồ đen toàn bộ, nhìn…ngầu như phim “Men in Black” đi dự tiệc Captain’s Dinner. Trong khi các bàn khác đang vỗ tay chào thuyền trưởng, thì bàn Văn Thơ Lạc Việt lại có “độc chiêu”. Sếp Hải cảm ơn mọi người và nói anh vô cùng hạnh phúc với chuyến đi này. Rồi anh lại mở chiếc ba lô “huyền thoại” ra. Nhưng lần này không phải trò chơi, đó là những giây phút vinh danh đầy cảm động và… khác người! Ba lá cờ vàng ba sọc đỏ lấp lánh giữa nhà hàng quốc tế, kèm theo ba phong bì đỏ thắm, được anh Hải trao tặng chị Hồng Thủy, Phạm Phan Lang, và cả “phóng viên chiến trường” Phương Hoa tôi. Cả nhà hàng nhìn sang với ánh mắt vừa ngạc nhiên vừa khâm phục. Họ không hiểu cái nhóm này lấy đâu ra lắm năng lượng thế, đêm thì sang trọng huyền bí, đêm thì nghịch ngợm dành hết phần thiên hạ! Chúng tôi về phòng với nụ cười vẫn còn treo trên môi, đi vào giấc ngủ mà trong mơ vẫn còn nghe tiếng chân chạy, muỗng gõ vào ly, và tiếng cười giòn tan hòa trong gió biển ở đuôi tàu.

Ngày thứ 6 tàu ghé Ensenada. Phan Lang giúp book miễn phí chuyến “Lên trời – North Star” cho mọi người khỏi tốn $45/vé, bay lên không trung ngắm biển và cả con tàu từ trên cao. Sau khi đáp xuống, vì không dám đi tour, 10 người chúng tôi rủ nhau xuống cảng Ensenada với tư thế “vui chút xíu thôi” và dặn nhau, “đi dạo gần bờ, hễ thấy biến là dọt lẹ lên tàu”, rồi cử hai “liền ông” người đi đầu và người đi cuối. Cứ ba bốn bước là dừng lại điểm danh, như học sinh mẫu giáo, sợ rớt mất mống nào là mệt! Thành phố này trông có vẻ “ghê” hơn Cabo, lính Marine bịt mặt vác súng đi rầm rập làm ai nấy tim đập đùng đùng. Nhưng mà lạ lắm, hễ thấy đồ rẻ là cái “máu mua sắm” nó đè bẹp nỗi sợ. Ở đây trả giá còn hơn chợ Bến Thành, người ta đòi 25 đô, mình trả giỡn 10 đô/2 cái, ai dè họ bán cái rụp, làm chúng tôi ngớ người, hối hận mình không trả…5 đô cho rồi!

Đêm tiệc cuối tại nhà hàng American Icon, sếp Hải “âm mưu” tặng tiền tip cho nhân viên phục vụ theo phong cách…đại gia.  Mọi người góp tiền lại, sếp moi trong túi ra hai phong bì đỏ chót hình cô Ngựa, bỏ tiền vào mà để xòe ra một phần ba như…đánh bài xì tố. Khi hai phục vụ được mời lên, anh Hải hô vang “Thank you” 3 lần, như hô khẩu hiệu duyệt binh, và cả bàn Văn Thơ Lạc Việt đứng dậy hô tên họ “DungRui” 3 lần, đến lượt anh phó “Tedi” cũng vậy. Cô DungRui cảm động rưng rưng nước mắt, ôm sếp Hải và nói với mọi người, “Trời ơi, suốt đời đi làm, tôi chưa bao giờ được thưởng cái kiểu này!” Nhìn sang các bàn khác, tôi thấy người ta chỉ để tiền tip rồi lủi mất, nên mới thấy dân VTLV mình chơi “đẹp và độc” đến mức nào!

Sau đó sếp Hải bắt đầu màn “đố vui thông minh”. Câu hỏi vừa ra, chị Hồng Thủy đã chứng minh bộ não “trên hàng 8” nhưng chạy nhanh hơn…máy tính, nên chị lãnh giải nhiều nhất, vét hết những đồng bạc cuối cùng trong túi anh Hải nhờ vào câu trả lời chót, “Lê Văn Hải là nhà băng bị bankrupt!” Làm cả nhóm thích quá cười to, vỗ tay muốn sập bàn.

Tiệc tàn, chúng tôi lại kéo nhau xuống Cafe Promenade uống cà phê. (đúng là bụng không đáy!).  Anh Hải mời mọi người phát biểu cảm tưởng, và mời đứng lên nắm tay nhau hát một bài để chia tay.  Cảnh tượng này làm quản lý nhà hàng cảm động, anh chạy ra bật hết đèn sáng trưng, rồi leo lên ghế làm “phó nháy”giùm, chụp từ iPhone cho tới cái máy “đại bác” của Phan Lang. Trước khi về phòng, các nàng “sa lầy” vào khu hàng hiệu.  Phan Lang làm cả hội nữ…lác mắt khi rước một em LV cao quý, Ngọc Ánh cũng không vừa, khi tậu em BurBerry sành điệu. Cả đám các cô cùng vui với bạn, xúm lại đeo thử lấy hên, chụp hình để dành khi nào tiện thì mua.

Nhóm còn rất nhiều hoạt động thú vị khác, xem ca nhạc tại Royal Theater mỗi xuất khuya, chơi banh, kéo máy sòng bài…mà vì bài viết đã dài không thể kể hết.

Ngày thứ 7.  Sáng sớm tinh mơ, khi bình minh còn chưa kịp nhuộm vàng mặt biển, tầng 14 đã rộn ràng tiếng cười nói. “Binh đoàn” Văn Thơ Lạc Việt tập hợp ăn bữa sáng cuối cùng. Sau đó, ai nấy về phòng chuẩn bị lên bờ. Tại điểm tụ tập, bầu không khí bỗng chùng xuống. Những con người mới hôm qua còn nhảy Marathon, kéo co, hát hò cười vang cả boong tàu, giờ đây nhìn nhau mắt rưng rưng. Những cái ôm siết chặt, những lời từ tạ thấm đẫm tình thân được trao đi cùng lời hứa, “Chúng ta sẽ còn những chuyến đi rực rỡ thế này nữa nhé!”

Sau cùng, cảm ơn sếp Hải với tấm lòng lo cho mọi người, chiếc ba lô phong bì đỏ, quà, và trò chơi hướng đạo.  Cảm ơn “thủ trưởng” Phan Lang đã chèo lái con tàu tâm hồn cả đoàn. Cảm ơn chị Hồng Thủy yêu quý đã từ xa bay qua Cali tham gia cùng tụi em. Và cảm ơn tất cả các anh chị em Văn Thơ Lạc Việt cùng thân hữu đã biến một chuyến Cruise bình thường thành một huyền thoại vui đáng nhớ… cả đời.    

       Phương Hoa – Xuân Bính Ngọ, 2026




VTLV – TRANG ĐẶC BIỆT CHÚC MỪNG SINH NHẬT 104 Của Thành Viên Lão Thành SỐ 1 VTLV – TRẦN CÔNG/TIỀN GIANG TỬ.

==

Chúc mừng sinh nhật đến Anh Hai

Bách Tuế… lẻ tư, vẫn trẻ hoài!

LÃO MÃ SƠN thơ trào biển Bắc

TIỀN GIANG TỬ bút vượt non đoài

Tiên phong lẫm lẫm người yêu đức

Đạo cốt uy uy kẻ kính tài

Chúc khỏe, chúc vui, nhiều hạnh phúc

Nguyện cầu huynh trưởng thọ… trăm hai!

      Phương Hoa – MAR 11, 2026

**

                  cmn

Thiện tâm Đại lão khó thêm hai

Vượt trội Nhân Sinh tinh tấn hoài

Muốn tới vấn an Người hướng thọ

Kính mừng đáo tuế Khách phương đoài

Vui Xuân đã vượt trăm năm phước

Nhớ tuổi nào quên thế kỷ tài

Lẻ bốn bách niên Trần trưởng thượng

Gia đình, Xã hội vẹn toàn hai…

     Rancho Palos Verdes    24 – 3 – 2026

                  CAO MỴ NHÂN

**

Bách tuế mà thêm được lẻ hai,

Vẫn còn phong độ, vẫn xuân hoài.

Đi tìm khắp chốn từ phương Bắc,

Lặn lội bao nơi đến xứ Đoài,

Chẳng được ai so cùng lão bối,

Không còn kẻ sánh với thi tài.

Cầu mong tuổi hạc thêm mười sáu,

Bạt cú gieo vần mừng bác hai.

Đỗ Quang Vinh phụng họa

Chúc mừng thi hữu Tiên Giang Tử

24-3-2020

==

👇

Chúc Thọ Anh Trần Công

         ********

Đại Thọ mừng anh ngoại bách niên

Vui tươi anh có lắm bạn hiền

Em Tư Ngoc Hạnh xin cầu chúc

Anh Hai khỏe mãi chẳng ưu phiền

*

Cầu mong anh Cả luôn tinh tường

Thơ hay sáng tác như khi trẻ

Cháu con,  bạn hữu đều yêu mến

Anh Hai mãi được mọi người thương

Kinh Chuc, ngày 4/2/26

Tư Ngọc Hạnh

==

(tiếp theo thơ của chị Tư)

Em Tám Nhà Quê đây anh Hai

Tháng Chạp vườn mình vàng hoa mai

Bưởi, cam, quít, xoài… hườm hườm chín

Mặc quần áo mới, tóc trâm cài…

Chiều Ba Mươi cúng rước Ông Bà

Tết, mừng sinh nhật với chúng ta

Anh Hai phúc thọ hơn trăm tuổi…

Đón Giao Thừa xong, sẽ mở quà 

Dư Thị Diễm Buồn

==

Tiếp theo thơ chị Tám DTDB là của Mười em TP

MÙA XUÂN BÍNH NGỌ NĂM NAY ANH HAI GIANG TỬ CÔNG TRẦN CHÚNG TA

THIÊN NIÊN TRĂM TUỔI LẼ TƯ

ĐẠI THỌ ĐẠI PHÚC ĐẠI ÂN CÁT TƯỜNG 

AC EM TRY KỶ BỐN PHƯƠNG 

CHÚC MỪNG ANH CẢ THÂN THƯƠNG AN LÀNH.

MƯỜI EM (TUYẾT PHAN)

TP




PHƯƠNG HOA – Lễ Thượng Kỳ Đầu Năm Âm Lịch và Mừng Tết Bính Ngọ.




VTLV – CHÚC MỪNG NGÀY LỄ TÌNH NHÂN -VALENTINE 2026 – ĐÓA HỒNG KHÔNG CÁNH – Phương Hoa

ĐÓA HỒNG KHÔNG CÁNH

Phương Hoa

Sống ở Mỹ nhiều năm, Tom đã học được thói quen ga lăng với… “cái nhà dưới”, Loan, của chàng như người Mỹ: Đến sinh nhật thì phải có quà, Valentine thì có hoa, kỷ niệm ngày cưới thì ngoài những lần đặc biệt như kỷ niệm năm năm, mười năm ra, dù bận dù rảnh chàng cũng phải cố mà đưa nàng đi ăn nhà hàng cho… đúng điệu.  Bạn bè chàng, những ông “Mỹ gốc Mít” mới qua sau này thường chế giễu, nếu tập cho các bà “thói quen hư” (spoil) như thế, rủi có lần nào bị quên là coi như…tiêu đời, các bà sẽ “giá họa” nào là chắc…thèm phở nên quên cơm, hay là đã thấy trăng đâu đó mà ra… quên đèn. 

Tom cười, nhưng vẫn không thay đổi vì chàng thấy những món quà dù nho nhỏ cũng làm cho Loan vui và hạnh phúc biết bao.  Và đúng như các bạn chàng đã nói, mỗi lần lễ lạc Loan có vẻ rất mong chờ một sự lãng mạn nào đó, nên chàng nào đâu dám quên.

Dạo này công việc ở hãng Tom bận tối mặt tắt mũi.  Chàng vùi đầu trong phòng làm việc riêng từ sáng đến tối. Valentine năm nay lại rơi đúng vào ngày Tom bận nhất, nên chàng đã quên mất cái thói quen này.

Buổi tối Tom làm việc đến khuya nên ngủ nướng. Sáng dậy trễ chàng vội ôm cái laptop chạy xuống lầu như ma đuổi, không kịp ăn sáng. Trước khi ra cửa Tom còn ngoái lại miệng hô to với Loan:

 “Tối nay anh về trễ nha em!”

Loan đang đứng trong bếp, mắt liếc nhẹ chàng một cái gửi gắm đầy thương yêu.

Suốt cả ngày, Tom quay cuồng việc trả lời email, gọi điện thoại cho các chi nhánh, yêu cầu điều chỉnh những lỗi kỹ thuật của sản phẩm được báo cáo. Đến chiều tối, khi lái xe về nhà, đầu óc chàng chỉ nghĩ tới… cơm nóng và cái ghế sofa.

Đèn đỏ.  Tom thắng xe lại. Bỗng đâu một anh chàng người Mễ cầm mấy đóa hoa hồng được cuốn riêng rẽ trong giấy bóng kiếng đỏ lóe chạy tới gõ cửa kính, hét to bằng tiếng Anh ngọng nghịu như tiếng…Mễ:

“Hey sir! Happy Valentine! Buy flower for your love! Only five dollar!” (Chào ông! Chúc mừng Ngày Tình Yêu! Mua hoa cho người yêu của ông đi! Chỉ năm đồng một cái!)

Tom giật mình. Chết rồi. Valentine! Trời đất ơi, sao mình lại quên mất tiêu!

Hèn chi. Trong đầu chàng hiện lên hình ảnh và cái liếc mắt đầy yêu thương của Loan ban sáng.

Không kịp suy nghĩ thêm, Tom vội vã nới lỏng dây bell an toàn, chồm qua bên phải mở cửa xe, chụp đại một cành hồng từ tay anh chàng Mễ thảy lên ghế, rồi móc túi nhét tờ 10 đô cho anh ta.  Đèn chuyển xanh trước khi kịp lấy tiền thối, Tom đóng cửa xe rầm một cái, rồi phóng đi để tránh xe sau túc còi.

Đường kẹt xe nên Tom về tới nhà trời đã tối hẳn.  Đậu xe vào garage xong chàng vói tay cầm lấy cành hoa hồng, hôn nhẹ vào lớp giấy bóng kiến đỏ, hít sâu một hơi trong niềm vui và thầm cảm ơn anh chàng Mễ. 

Tom mở cửa bước vào nhà.  Quang cảnh trước mắt thật là thơ mộng. Dưới ánh đèn phòng khách mờ mờ dịu nhẹ, đĩa tôm chiên bơ thơm nức mũi, món ruột của chàng, dọn sẵn trên chiếc bàn nhỏ kèm theo đĩa dưa chua.  To súp nấm còn bốc khói nghi ngút.  Dưới ánh cây nến lung linh, hai ly rượu vang đỏ sóng sánh. Loan mặc chiếc váy màu hồng mát rượi, tóc nàng xõa nhẹ hai bên bờ vai.

Tom cảm động đứng im.  Loan chuẩn bị cho ngày Lễ Tình Yêu thật kỹ càng, lãng mạn như thế này mà chàng xém chút thì quên mất tiêu. Chàng nuốt nước miếng, tiến lại ôm vợ từ phía sau, và hôn nhẹ lên má Loan:

“Happy Valentine, vợ yêu!”

Rồi Tom long trọng dùng cả hai tay đưa cành hoa hồng cho nàng.

Loan mỉm cười e lệ, ánh mắt nàng hiện lên niềm hạnh phúc vô biên. Nàng nhận lấy đóa hoa, vạch giấy bóng đỏ ra nhìn.

Im lặng.

Ba giây.

Bốn giây.

Năm giây.

Rồi Loan há hốc mồm, lắp bắp hỏi:

“Anh… tặng em… cái gì đây?”

Tom nhìn theo tay Loan, và chàng… toát mồ hôi hột.

Trên tay nàng, bên trong giấy bóng kiếng… chỉ là một cây gai trơ trụi với mấy chiếc lá xanh bơ vơ, không có bông hoa hồng nào!

Thì ra, Tom không hề hay biết, khi chàng vội vàng dập cửa xe lại và chạy đi, cánh cửa đã vô tình “chém đẹp” đóa hồng. Bông hoa trong giấy bóng kiếng bị kẹt ngoài cửa, rụng xuống đường.

Tom bị…đứng hình hết chừng một phút. Nhưng vốn là người nổi tiếng nhanh trí, chàng hít sâu một hơi, và bật… chế độ “cứu nguy” ngay.  Với nụ cười “cầu tài” Tom nắm tay vợ, nói giọng trầm ấm:

“Em à… là anh cố tình đó!”

Loan tròn mắt:

“Cố tình?”

Tom gật đầu:

“Hoa thì đẹp thật đó… nhưng chỉ vài ngày thôi là hoa sẽ tàn.  Anh cố ý muốn tặng em… phần còn lại, sau khi hoa rụng hết, đó là cái lõi, cái gốc, cái phần bền bỉ nhất, của… trái tim anh.”

Loan chớp mắt, vẻ cảm động rưng rưng.

Tom …được trớn, tiếp luôn:

“Giống như tình yêu của anh dành cho em vậy. Không cần phô trương… các cánh hoa bên ngoài, mà sâu tận bên trong.  Hứa với vợ yêu, dù cho sau này mình về già, ‘cây’ của anh có… rụng hết lãng mạn, thì cái ‘cây’ nguyên thủy này vẫn còn… đứng mãi, không bao giờ…gục đâu, ha ha ha…”

Anh ngừng một lúc, nhìn vào mặt Loan dò xem kết quả, rồi bồi thêm… cú chót:

“Với lại… em là bông hoa xinh rồi.  Đâu cần thêm hoa nữa làm gì?”

Loan cố giữ mặt nghiêm… nhưng khóe môi nàng bắt đầu nhúc nhích.

 “Vậy anh tặng em mấy cái gai này là nghĩa làm sao?”

Tom đáp ngay không do dự:

“Để anh nhớ… yêu vợ là phải cẩn thận, không là sẽ …bị đâm!”

Loan bỗng bật cười khan.  Cười một hồi, nàng lấy tay cốc nhẹ lên đầu chồng:

“Anh quá quắt lắm! Không biết là vì lý do gì mà anh vơ đại nhánh hồng đã rụng bông này đem về tặng em.  Lần sau mà như thế nữa là em sẽ, em sẽ … cắt bỏ luôn, anh không còn cả… cái cây nào đâu nghe chưa!”

Tom cười ha hả. Hai người cụng ly.

Đêm đó, không ai biết tới bông hoa hồng đã hy sinh giữa ngả tư đèn đỏ.

Chỉ có anh chồng Tom thở phào nhẹ nhõm, trong lòng tự nhủ:

“Valentine năm sau nhớ… mua hoa hồng sớm.

Và nhớ mỗi lần đóng mở cửa xe phải thật nhẹ nhàng…”

Phương Hoa – Valentine 2026




PHƯƠNG HOA – BÚT KÝ: Singapore – Đến Một Lần Mãi Nhớ.

Singapore – Đến Một Lần Mãi Nhớ

Phương Hoa

Sau chuyến du lịch Singapore trở về, người thì đã tới nhà, mà hồn vía tôi vẫn còn lửng lơ đâu đó bên kia bán cầu.  Vì trái múi giờ, mắt cứ ríu lại mở lên không nổi, ban ngày ngủ gà ngủ gật, ban đêm thức trắng mắt mũi lờ đờ, nhưng ký ức về chuyến đi thì vẫn còn tươi roi rói trong đầu.  Chỉ nhớ tới thành phố sạch đẹp này thôi là tôi thấy tỉnh ngủ… được chút xíu, liền ngồi dậy ghi vội đôi điều, trước khi quên mất tiêu vì bị công việc “vùi dập” bởi sự đình trệ trong thời gian đi vắng.

Tất cả những nơi chúng tôi đi qua trong hai tuần ở Singapore đều thật là đáng nói.  Nhưng trong bài viết nhanh để “trình diện ngày trở về” này, tôi chỉ xin tóm tắt ghi lại vài nơi thăm viếng sau cùng trước khi lên máy bay về Hoa Kỳ.

Nhóm tôi tuy đến từ Mỹ, nhưng người ở rải rác khắp các tiểu bang, từ California đến Texas, Florida… và đều book chung khách sạn “D’Resort Downtown” gần bờ biển, và gần shopping mall của một trong vài khu phố thị lớn nhất Singapore, là khu Downtown East. 

Chuyến bay thẳng hơn 17 giờ trên United Airline từ San Fransisco tới Singapore quả thật là dài dằng dặc.  Vì… tiết kiệm, mấy người bạn khuyên nên book theo dạng “con nhà nghèo” nghĩa là hạng “Basic Economy” chỉ hơn sáu trăm bạc khứ hồi cho mỗi người, cộng thêm một trăm tiền bảo hiểm, phòng ngừa nếu đổi ý hủy bỏ hoặc dời đổi chuyến bay sẽ không bị mất tiền hay bị phạt. 

Hình như tuyến đường từ Mỹ qua Singapore không có nhiều người đi. Lên máy bay, chúng tôi kéo hành lý xách tay vượt qua những hàng ghế thương gia ở đầu tàu, thấy mỗi ghế ngồi được chia cách riêng biệt, trong bụng tôi nghĩ thầm, phải trả thêm mấy nghìn nữa để được ngồi hạng ghế này cũng …đáng đồng tiền bát gạo.  Nhưng khi đến những khoang sau nơi có số ghế nhóm chúng tôi, thì thấy còn rất nhiều ghế trống. Thế là chúng tôi mỗi người “chiếm lĩnh” một hàng 3 ghế trống, có thể chồng gối lên, đắp mền nằm ngủ thoải mái, và có thể xem một lúc… 3 bộ phim, còn rộng rãi và “riêng tư” hơn cả…hạng thương gia! Cả chuyến đi chuyến về cũng đều như thế. United Airline phục vụ hai bữa ăn chính rất đa dạng và ngon, có cả những món chay theo yêu cầu của hành khách, cộng thêm một lần ăn vặt, còn nước uống các loại thì tự chọn thoải mái không tính tiền.

Đặt chân xuống phi trường quốc tế “Singapore Changi International Airport”, nhận hành lý xong, việc đầu tiên của chúng tôi là chạy đi đổi tiền “cho kịp thời cuộc”.  Đổi xong mới giật mình, mới thấy mệnh giá tiền Singapore đúng là “đẳng cấp quốc tế”, 100 đô Mỹ mà chỉ đổi được có 124 đô Singapore.  Cầm xấp tiền mỏng dính, nhẹ tênh, và nhìn các bảng giá hàng hóa quanh đây tôi thấy trong lòng hơi… hụt hẫng, cái điệu này hỏng biết số tiền mặt đem theo hai vợ chồng xài được mấy hôm đây.  Khi hỏi ra mới biết, ở Singapore du khách có thể dùng thẻ nhà băng ATM để rút tiền và các loại thẻ tín dụng có thể trả khi đi ăn uống và mua sắm.

Đổi tiền xong, cả nhóm gọi taxi thẳng tiến về khách sạn D’Resort – Downtown East. Vừa tới nơi là thấy liền cái phong cảnh hấp dẫn của một nơi nghỉ dưỡng đầy lý tưởng: Khu Resort gần sát biển, gió mát rười rượi, đường đi bộ thì sạch sẽ, thẳng tắp, nhìn là muốn… bỏ dép đi bộ cả ngày như Thầy Minh Tuệ bên Ấn Độ. Hai bên đường, cây cối xanh mướt, đặc biệt là dưới những tàng cây, người ta nhặt từng chiếc lá rụng cho vào bao, không để sót dù chỉ một chiếc lá khô.  Nói chung thì đường lộ, trạm nghỉ chân, vỉa hè đều sạch bóng loáng. Đi mỏi chân người ta có thể ngồi bệt xuống, thậm chí nằm dài ra đất nghỉ ngơi mà quần áo vẫn sạch tinh, không dính một hạt bụi nào.  Khí hậu Singapore ấm áp, trời luôn trong xanh rất đẹp, nắng vừa đủ cho da cảm giác khỏe mạnh mà không bị nhơm nhớp mồ hôi như mùa hè bên quê nhà.  Hình như đất nước này rất biết chiều lòng du khách, nên du khách nhộn nhịp khắp nơi, ban ngày và cả ban đêm.

Từ D’Resort, chỉ chưa tới 10 phút đi bộ ra khu shopping Downtown East, và nơi đây mới thật sự choáng ngợp.  Nào là nhà hàng san sát, các món ăn chụp hình trưng bày cái nào cũng hấp dẫn, long lanh, rực rỡ, nhìn là muốn đứng lại…chụp hình bỏ lên FaceBook khoe với bạn bè!  Rồi tới khu vui chơi, khu mua sắm, khu chợ Nhật, chợ Tàu… tất cả đều sạch đẹp, gọn gàng, nhìn rất “Singapore” như lời đồn trước khi chúng tôi đến đây. Chỉ có một điều duy nhất hơi… đau tim, là giá cả!

Phải nói giá cả ở đây thật là đắt, đắt hơn Mỹ rất rất xa, làm cho du khách dù có là “dân xịn” đến từ đất nước Cờ Hoa thì khi móc túi trả tiền cũng đều có chung một phản xạ, giật mình, rồi phải cố bình tĩnh mỉm cười cảm ơn cho đúng phép lịch sự, và khi ra ngoài thì đứng lại xầm xì.  “Thức ăn ngon thiệt, nhưng giá thì đúng là… ăn bằng vị giác, trả tiền bằng cảm xúc” một người bạn chúng tôi đến từ Pháp đã nói đùa như vậy.  Ví dụ: Một đĩa rau dền xào tỏi giá 17 đô, một trái táo nhỏ xíu giá 2 đô rưỡi, còn hai trái dưa leo bé tẹo bằng ngón tay cái mà giá tới 5 đô Sing.  Cũng có mấy người bạn chúng tôi book khách sạn xa hơn về vùng ngoại ô thì mua được các loại trái cây đến từ Malaysia có giá khá dễ chịu hơn nhiều.

Bù lại, người dân Singapore rất dễ thương, hầu hết đều nói được ít nhiều tiếng Anh, nên giao tiếp vô cùng thuận tiện. Hỏi đường, hỏi giá, hỏi… đủ thứ chuyện trên đời đều được trả lời rõ ràng, lịch sự, không cần phải đoán ý hay dùng ngôn ngữ “to quơ”.

Nơi khám phá tuyệt vời.

Lạc vào Gardens by The Bay từ ban chiều tới ban đêm.

Trong chuyến du lịch Singapore lần này, nếu phải chọn một nơi khiến tôi vừa đi vừa “ồ à” nhiều nhất, thì chắc chắn đó là Gardens by the Bay.  Nghe tên tưởng như vườn cây bình thường, nhưng bước vô trong mới biết, là khu vườn…đúng kiểu Singapore, tức là vừa xanh, vừa to, vừa hiện đại, lại còn có cả rừng cây phát sáng vào ban đêm.

Hôm đó chúng tôi đi buổi chiều.   Trời xanh trong, nắng không gắt, gió thổi nhẹ nhẹ man mác.  Vừa xuống taxi, bước vào Gardens by the Bay là thấy không gian mở ra rộng mênh mông.  Lá hoa xanh mướt tốt tươi, lối đi sạch bong, cây cối được trồng ngay hàng thẳng lối, nhìn đâu cũng thấy đã mắt.  Những chòm cây xanh kìn kịn, mượt như nhung, mong manh như tơ, long lanh như sương đêm… được uống tỉa công phu thành hình những con thú xinh đẹp đầy oai phong như, hà mã, khủng long, voi…nên mọi người thi nhau chụp hình lia lịa.

Đi thêm một đoạn về bên trong, nhiều cây Supertree nhân tạo bắt đầu xuất hiện. Nhìn từ xa đã thấy kỳ lạ, lại gần thì càng thấy chúng rất to. Những “cây nấm” này cao vút, thân to, tán xòe tròn như những chiếc nấm khổng lồ mọc sừng sững giữa trời. Mọi người cứ ngẩng mặt lên mà nhìn muốn vẹo cả cổ.

Ban chiều trời còn sáng, Supertree nhìn rất oai, rõ từng chi tiết, chúng đứng im lặng giữa trời xanh, xung quanh là du khách đi qua đi lại, chụp hình không ngớt. Người đứng bên này tạo dáng, người đứng bên kia chờ tới lượt, không khí đông nhưng vẫn rất trật tự, đông mà không loạn xạ, không ồn ào, quả thật du khách đã hành xử đúng với phong cách người Singapore.

Chúng tôi đi dạo vòng vòng, chụp hình, ngắm cây, ngắm hoa, ngắm cả đám đông người thật là thú vị. Có những khu trồng cây từ nhiều vùng khí hậu khác nhau, cây nào cũng xanh tốt, được chăm chút kỹ lưỡng. Đi một hồi mỏi chân, cả nhóm dừng lại nghỉ, có người ngồi cả xuống dưới đường. Giữa khu vườn rộng lớn, nghe gió thổi, nhìn cây rung rinh, tự nhiên thấy lòng dịu lại hẳn.  Tôi đứng đó hít một hơi dài bầu không khí trong lành ấy, cảm giác thật dễ chịu.  Khu vực hiện đại là thế, sôi động là thế, vẫn có chỗ cho người ta chậm lại, tĩnh tâm, lặng lẽ đếm thời gian trôi.

Tới chiều gần tối, mọi người chúng tôi quyết định ở lại để xem Supertree lên đèn. Và lúc này đây mới là lúc Gardens by the Bay thật sự “bung hết công lực” tỏa sáng lên bầu trời, nếu ai bỏ về thì sẽ hối tiếc không nguôi.

Trời sụp tối hẳn, đèn bắt đầu bật lên, cả khu vườn, cả một vùng trời, bỗng chốc như biến hình. Những Supertree ban ngày trông đã to, ban đêm lại càng “khủng” hơn, vô vàng kỳ thú.  Từ một cây, tới hai, rồi ba, bốn… và rồi ánh đèn sáng rực đủ màu, xanh, tím, hồng, vàng, đỏ… chạy dọc các thân cây rồi tràn lan lên tán, tỏa ra, nhìn như một khu rừng ánh sáng khổng lồ.  Tất cả những “cây nấm” này bỗng nhiên sống động hẳn lên, lấp lánh, lung linh, khiêu vũ nhịp nhàng giữa trời đêm Singapore.

Du khách ban chiều vốn đã đông, lúc này càng đông hơn rất nhiều. Người đứng, kẻ ngồi, có nhiều người còn nằm dài trên bãi cỏ, trên các lối đi, ngửa mặt lên nhìn cho đã.  Không khí lúc này giống như một lễ hội, tuy không ồn ào, nhưng rất rộn ràng.

Vì sợ độ cao, tôi quyết định không leo lên cầu treo OCBC Skyway để ngắm từ trên cao, mà chỉ trèo lên mấy bậc rồi đứng dưới nhìn lên.  Chỉ mấy bước dưới chân cầu mà tôi đã thấy hơi… run run.  Từ trên bậc thang nhìn ra xung quanh, các Supertree sáng rực, ánh đèn đổi màu liên tục, trông đẹp mê hồn như cảnh thiêng đường đang phát sáng trong các bộ phim Tàu.  Nhìn lên cầu treo, du khách lớp đi, lớp đứng, người dựa lan can chụp hình, đông đến nỗi người ta phải đứng sát vào nhau.  Ánh đèn từ các “cây nấm” phảng chiếu, lấp loáng trên các ngọn cây và lối đi.

Gió đêm thổi mát rượi, tiếng người từ nhóm bạn tôi chen lẫn du khách muôn phương lớp ngồi lớp nằm la liệt dưới đất gần cầu nói chuyện nhỏ dần, họ lặng lẽ ngắm cảnh, nên chỉ còn cảm giác vừa choáng ngợp, vừa yên bình. Tôi đứng ngắm nhìn quang cảnh tuyệt mỹ có một không hai này, do thiên nhiên cộng thêm nhân tạo, vừa quay phim, vừa chụp hình tới tấp, và trong đầu quên hết mọi sự, chỉ có ánh sáng của những cây hoa điện trước mặt mà thôi. 

Khi rời Gardens by The Bay để theo các bạn đi xem Marina Bay Water Show, tôi vẫn còn ngoái lại nhìn mấy cây Supertree đang sáng rực phía sau.  Đám đông du khách vẫn còn đứng đó, vẫn ngước nhìn, vẫn chụp hình. Còn tôi thì biết chắc một điều, khi về nhà, chỉ cần nhớ lại buổi tối hôm nay thôi là đủ thấy chuyến đi này thật sự đáng giá.

Người bạn “Thổ địa” sống tại Singapore dẫn chúng tôi đi một hồi, khi lên bờ, khi vượt thác, lúc xuống xe điện ngầm, mà chúng tôi như những…thầy bói mù không biết đâu là đâu, cứ “mở banh mắt” chạy theo anh ta, lòng ai cũng háo hức vì sắp coi một màn… ảo thuật khổng lồ giữa trời đêm, như lời người bạn nói.  

Show nước

Đến nơi, nhóm chúng tôi len vào được một khoảng trống nhỏ xíu cạnh thành cầu, chen chúc nhau ngồi bệt xuống nền xi măng sạch bóng cho đỡ mỏi chân, sau một hồi bước thấp bước cao chạy theo người bạn dẫn đường mệt đến “ná thở”.  Đêm Marina Bay rực rỡ như một bức tranh sống động.  Gió từ vịnh thổi vào mát rượi, mang theo mùi nước biển pha lẫn mùi hương người đủ loại của du khách.

Chúng tôi may mắn đến vừa kịp lúc, vì show diễn bắt đầu ngay. Khi nhạc bắt đầu trổi vang lừng, là lúc những tia nước bỗng phụt lên, vươn cao, rồi uốn lượn theo từng nhịp trống nhạc, lúc mềm mại, mơn man như dải lụa trong điệu vũ của các tiên nương, lúc lại mạnh mẽ như sóng cồn, vỗ dồn dập ngoài khơi bắn vào tung tóe trên người của khách xem, làm ướt cả áo quần mặt mũi mà nào ai để ý.  Ánh đèn laser đổi màu liên tục, xanh, đỏ, tím, vàng, hồng tía chiếu lên màn nước tạo thành những hình ảnh lung linh như giấc mơ kỳ diệu đang trôi giữa không trung.  Nhạc chuyển tông, thì những vòm nước quay ngoắt, rồi hình thành những bông hoa khổng lồ, lại chuyển sang hình những con rồng phụng, đến sấm chớp, cầu vồng… Cả bầu trời Marina Bay sáng rực, phản chiếu xuống mặt nước lấp loáng, làm cho những tòa nhà cao tầng xung quanh cũng như đang “xem ké” cùng du khách.

Tôi hào hứng quá đứng bật dậy, quay phim chụp hình lia chia, mà trong bụng cứ… đánh lô tô, lo cái điện thoại bị tuột tay rơi xuống nước là…tiêu tùng.  Xung quanh chúng tôi người đứng sát người, ai cũng ngước nhìn, miệng trầm trồ không ngớt, tay đưa điện thoại ra quay phim, cố không bỏ lỡ một khoảnh khắc đẹp nào.  

Show chấm dứt sau một màn biểu diễn hoa nước cộng hoa pháo thật độc đáo.  Chúng tôi vội kéo nhau bước lẹ ra ngoài, bỏ lại sau lưng tiếng cười, tiếng reo hò ngợi khen, cùng tiếng vỗ tay vang lên ầm ỹ hòa trong bầu trời đêm của vùng vịnh Marina Bay.

Đoàn người dắt díu nhau lên xe điện ngầm, tìm đến khu phố Tàu ở Downtown để “thưởng thức những món ăn độc lạ” của phố thức ăn nổi tiếng đất Sing.  Chúng tôi về đến khách sạn thì đã hơn một giờ sáng. Mệt thì có mệt, nhưng niềm vui thì cũng tràn đầy trong tim.

Tóm lại, đất nước Singapore quả là sạch, đẹp, văn minh, khí hậu ôn hòa thích hợp với dân …gốc mít chúng tôi, cộng với thức ăn ngon, chỉ có cái giá cả là ở “trên mây”. Nhưng thôi, đã đi du lịch thì cũng nên mở lòng, mở ví, cộng mở luôn tầm mắt, để mang về những tấm hình đẹp và cả một mớ kỷ niệm… cùng đôi tiếng cười hạnh phúc trong cuộc sống tất bật nơi xứ Cờ Hoa mỗi khi ngồi nhớ lại.  Cho nên sau này nếu có ai hỏi đi du lịch đất Singapore nữa hông, tôi sẽ sẵn sàng giơ tay… cái  rụp.

Phương Hoa – Bắc Cali, Mùa Valentine 2026.




ĐẦU NĂM KHAI BÚT- CÔ GÁI VIỆT PHIẾM – PHƯƠNG HOA

CÔ GÁI VIỆT PHIẾM – ĐỘI QUÂN TÓC DÀI HAI BÀ TRƯNG 2026

CGV Phương Hoa

Tui là một CÔ GÁI VIỆT.  Kính xin thưa thiệt, Năm Mới tới rùi, nhưng tui bị xui, cúm hành tới lui, mấy ngày nằm vùi, bút treo đầu bếp.  Trộm nghĩ: Dù tẻ hay nếp, năm mới năm me, bút bi hay bút tre, cũng cần khai bút, nếu không muốn bị …lụt nghề.  Thôi thì…ngồi dậy đi tề! Khăn áo đề huề, tìm đề mà… tám! Đây là đề tài: ĐỘI QUÂN TÓC DÀI – NGỰA PHI NƯỚC ĐẠI NĂM 2026.

Đầu năm 2026, “đạo quân” hùng hậu gần 70 Cô Gái Việt nhóm tui – úi  giời ui! tóc dài phấp phới – xinh đẹp rạng ngời – tui dám chắc ai nhìn cũng phải mê tơi, mê đến… chới với chơi vơi!  Các cô toàn là dân chơi thứ thiệt, rành mọi việc, giỏi mọi bề, thơ dzăn thì hay khỏi chê, nấu nướng chụp hình khoe trên mạng nhìn mê đến … chảy cả nước miếng.  Nhóm tui còn có nhiều tóc dài rất có máu tếu máu hài.

Chưa viết được chữ nào tui đã tự cười dài. Nhớ lại trước đây trong đội quân của tui ai đó đã cho đọc những câu thơ “lộn ruột” kiểu như:

 “Chị Hai vừa mới sửa ti

  vi hết năm triệu cũng vì lỗi ngu

 Anh Ba vừa mất con cu

gáy mua nghìn rưởi bù lu khóc òa…”

Dẫn đầu cái nhóm “gây bão” này là một Bà Bầu. Bầu ta thiệt là ngầu, gồm thâu dzăn dzõ, vào vườn ra ngõ, chữ tốt thơ hay, chính tả đọc tài, tranh thơ độc lạ. Rồi thì là họa thơ thơ họa, Đường Thi Muối Thi… gì gì cũng có.  Ai làm Đường Thi mà bị té lật gọng gãy giò cũng đều được Bà Bầu của tui phụ… sửa lưng cho. Rồi nào là cùng nhau làm thơ liên hoàn, chọc phá, móc nghéo để mà vui. Quan trọng hơn cả là chia sẻ những sưu tầm giá trị “lời hay ý đẹp” học làm người tốt, những kinh nghiệm đời thường, bấm huyệt trị bệnh, diệt gián chùi xooong, những bài thuốc kỳ diệu nằm lòng, và các loại thức ăn trường sinh bất lão…

Bên dưới boss BB là cả một “triều đình” rộn ràng: Chị Cả Minh Nguyệt hoa khôi đẹp nhất làng, đẹp mặn mà như… mắm nhĩ Phú Quốc, chị nói câu nào là như hoa xuân nở rộ, cả nhóm “dạ răm rắp” đầy yêu thương. Chị Hai Ngọc Hạnh tính tình hiền lương, chuyên đi du lịch và làm… nhiệm vụ tường thuật cho mọi người xem nhiều phong cảnh hữu tình, chị viết nhiều và nhanh như lá mùa thu bay lả tả. Chị Ba Hồng Thủy văn hay chữ tốt vừa xinh đẹp vừa có tâm từ, thương yêu hết mọi người, ai ở xa về Thủ Đô đều được chị chào đón, các em đều yêu quý chị.  Chị Sương Lam tâm từ, người thông đạo hạnh, chị chuyên viết chủ đề một cõi thiền nhàn, ai đọc vô cũng thấy lòng nhẹ tênh, muốn …đi tu cho thoát vòng khổ não.  Chị Sao Khuê dược sĩ, hễ ai than “đau đầu” là chị hỏi liền: “Đau vì thiếu ngủ hay vì thiếu… người thương?” rồi bày thuốc, bày luôn cả cách sống khỏe, sống vui, chị còn chuyên “trị” nhiều bài phân tích những loại thuốc tốt xấu dở hay, cùng sẻ chia nhiều mẹo vặt tuyệt vời hữu ích.  Chị Hội Đồng Tiểu Thu văn chương mượt mà thiết tha diết da như “Hồ Biểu Chánh” ngày xưa, văn chị khiến người đọc rồi còn ngẩn ngơ …cả buổi.  CGV Nguyễn Thị Thanh Dương thơ truyện đời thường nhưng làm cho độc giả yêu thương và vấn vương không ít. Tác phẩm của Thanh Dương lưu truyền xoay tít, xoay vòng vòng cuối cùng người ta chuyển về cho…chính tác giả! Chị chuyên viết thư họa Đỗ Dung, văn chương hay mịt mùng, luôn tìm mây… túm gió.  Phạm Phan Lang Trung Tá, nhà nhiếp ảnh đại tài, nhà du lịch khắp trời mây, hết đi đông tới đi tây, bởi vì “sinh nhằm nơi đầu gối ông Hoàng Đế!”  Nữ dịch giả Thái Lan tuy chuyện dịch ngắn vài trang nhưng là đều truyện hay đáng đọc.  Thúy M được bầu là “nhà bác học” chuyên tra cứu “Fake News”. Chị Ngọc Hà kỹ sư rất quý yêu bè bạn.  Anh gà Phương Lan hay … quờ quạng, nên “dê Chúa” là biệt danh, nhưng tình tình rất lành, ai chọc ghẹo đều cười hi hí.  Hoàng Dung chuyện tếu không bao giờ bí, từ bà bán thịt “Lộn em 4 lạng” tới rao bán giọng Huế mỏi mệt về khuya, “Ai mua đu đủ, bánh tét, vịt lộn…”

Ui! Nhìn đi nhìn lại thì còn khá bộn các CGV nhà nầy.  Làm sao tui… túm cả vào đây? Cái điện thoại dung lượng đã bị đầy, mà cái tay nầy cũng đà quá…mỏi.  Xin cho tui chỉ đếm “quý danh” những “gương mặt thường nổi” với bài vở thường xuyên: Kim Loan, Kim Oanh, Ngọc Huyền, Minh Thúy, Hồng Thúy, Ngọc An, Chị Thêm Nguyễn, Mỹ Hoàn, Quỳnh Hoa, Ý Nga, Thu Hương, Hoàng Thục Uyên, Hoài Niệm, Ngân Bình, Minh Giang, Hoàng Quân Ngọc Thúy, Song Thy, Tuyết Phan nhạc sĩ, Kim Phú, Thúy Vinh, Tường Thúy, Vi Vân, Tố Phương, Nguyễn Nghĩa, Mỹ Nga, bội Hằng nhà ta, Tưởng Dung, Linh Đắc, Mắt Nâu, Mẫu Đơn từ lâu chưa hiện.  Còn ai chưa “trình diện” xin hãy trình làng, bài gửi vài trang cho mọi người dễ nhớ.

Xin thưa …các mợ, mời hãy tham gia. Vì còn hằng hà số người lặn hút. Năm mới 2026, chia sẻ văn thơ, mẹo vặt đợi chờ, sưu tầm lời hay ý tốt, cùng nhau tán dóc, từ sáng tới khuya. Mỗi ngày mỗi giờ, tíu ta tíu tít, vui như chợ Tết, lả tả thơ bay, chuyện vui rớt đầy, tiếng cười vang ngõ.  Hàng xóm hàng gió, làn sóng Wi-Fi cũng phải lung lay, rung rinh và rủng rỉnh…

Đầu năm 2026: Nhóm Cô Gái Việt con cháu Hai Bà, không cần trống đồng, không cần gươm giáo — chỉ cần bàn phím, cộng tình người ấm áp là đủ khuấy động cả mùa xuân.  Ai bước vô nhóm này rồi là xác định: Cười hoài – thương hoài – ĐỘI QUÂN TÓC DÀI PHI NƯỚC ĐẠI NĂM CON NGỰA

Lộc cộc lộc cộc…

Năm Bính Ngọ 2026, đoàn Ngựa Đội quân tóc dài CÔ GÁI VIỆT không cần yên cương, không cần roi ngựa — chỉ cần tình chị em, chút duyên trời cho, và những trái tim thiện lành, những cái miệng cười không ngưng nghỉ, là đủ phi thẳng vào mùa xuân.  Năm 2026, ngựa có thể phi khắp bốn phương, nhưng tiếng cười của các Cô Gái Việt thì phi thẳng vô tim, ai đọc bài này rồi mà không… cười lộn ruột, không quên luôn tuổi tác, quên cả deadline… thì đó là người có trái tim…. RAU MUỐNG! (Vô Tâm Thảo)

Phương Hoa – Khai bút Tân Niên 2026.




THƠ XƯỚNG HỌA – KHAI BÚT ĐẦU NĂM 2026 – Quang Hà & Phương Hoa. ĐỖ CHIÊU ĐỨC – NHƯ THU – PHƯƠNG HOA

THƠ XƯỚNG HỌA – QUANG HÀ – PHƯƠNG HOA

TẾT TÂY – QUANG HÀ (Xướng)

Hai ngàn lẻ sáu tới rồi đây

Dẫu nắng hay mưa cũng một ngày

Mở thiệp online tìm cánh gió

Vào thơ trang web mượn đường mây

Cả trời góp lại hình khung nhỏ

Lưng chén không vơi rượu giọt đầy

Bởi thiếu bạn lòng chia ấm lạnh

Cùng ngồi đón tết – Tết phương Tây.

Quang Hà, ngày đầu năm 2026

**

**

QUANG HÀ – NỐI ĐIÊU KÍNH BÚT

(Tự họa -tung hoành trục khoán)

Nét họa giải bày vơi nẻo nhớ

Câu thơ trăn trở đọng niềm tây

NÉT Xuân cùng vẽ với ai đây

HỌA bút mua vui đoạn tháng ngày

GIẢI lụa buông lơi đầu góc biển

BÀY tơ ràng buộc cuối chân mây

KHƠI lên ngõ hạnh vời trăng khuyết

NẺO xuống vườn mơ ủ mộng đầy

NHỚ Tết quê nhà thương biết mấy

CÂU THƠ TRĂN TRỞ ĐỌNG NIỀM TÂY.

                      Quang Hà, 02.02.2026

**

Kính Họa – Gửi Bác NGUYỄN HUY KHÔI

(4 vần)

Duyên bút đưa người đến gặp đây

Niềm vui xướng họa đẹp bao ngày !

Lao xao góc bến buồm căng gió

Rạng rỡ chân trời nắng vén mây

Thi hữu chưa từng phen hạnh ngộ

Tình thơ  như đã cuộc sum vầy

Kỳ thanh hữu xạ chờ tương kiến

Hẹn bác mai về nhắm rượu Tây ?

                 Quang Hà, 08/01/2026

**

Không đáp họa – dạ chẳng đành! Xin có khẩu thơ thô mộc cẩn họa, gởi bác Quang Hà đọc nhàn lãm, khuây già:

TRÓT MÀ HAY -(Hoa)

(Kính tân sư – thư pháp)

                      Quang Hà!

Trót rồi, biết bầy tỏ sao đây

Tuổi Hạc Luống mong sớm hẹn…ngày?

Duyên bén – lòng đâu cần lụy gió,

Tình trao – dạ vốn chẳng cầu mây?!

Trà châm HƯƠNG CHỮ hồn phiêu bổng,

Tửu cất MEN THƠ ý chất đầy!

Chén tạc chén thù!…cùng tấu xướng…

Tương cà…đạm bạc… thế gà Tây”?”

                                        Kính bút!

                                Nguyễn Huy Khôi

                                       11-01-2026

KHAI BÚT ĐẦU NĂM – PHƯƠNG HOA (Họa)

Năm Mới Hai Nghìn Hai Sáu đây

Niềm vui mong đợitrải bao ngày

Tri âm xướng họa xao đồi núi

Tri kỷ thơ đề lộng gió mây

Tay lướt hoành câu, câu chửa trọn

 Bút nâng lùa chữ, chữ khôn đầy

Sương khuya mành chắn mờ tâm khảm

Rượu thấm môi mềm dưới mái Tây

Phương Hoa – Mồng Một Tết Dương Lịch 2026

**

**

THƠ XUÂN GỞI BÁC QUANG HÀNGUYỄN HUY KHÔI (Họa)

Khởi tứ nghinh xuân kính bác đây

Hồn xanh nắng mới mở sang ngày 

Bông Mai e ấp phong hương sắc

Thoi nhạn ngẩn ngơ quyện gió mây?  

Trà ngóng Sư Tân …lòng xao xuyến

Tửu mong Thi Hữu…dạ vơi đầy?! 

Biết ai tri ngộ?…vui đàm đạo

Chạnh tưởng Người Thơ…bặt…xứ Tây?!

          Nguyễn Huy Khôi -05-01-2026

 **

 HỮU DUYÊN TƯƠNG NGỘ – (Họa)

             (Gởi Bác Quang Hà)

Tương thức mãn thiên…trải đó đây

Tri âm đắc kỷ…kiếm bao ngày?

Gần?…thì hùa hợt, lòa sương khói

Xa?…lại díu dan, ấm gió mây?!

Thư pháp khởi thần bừng nắng rỡ

Niềm thơ mở sáng rạng trăng đầy!

Hẹn ngày hội ngộ xôm đàm đạo…

Quốc Lủi giao tình…”địch”…tửu Tây.

                                Kính bút!

            Nguyễn Huy Khôi  09-01-2026

                 

      

Screenshot

THƠ XƯỚNG HỌA – ĐỖ CHIÊU ĐỨC – PHƯƠNG HOA – NHƯ THU

 TỜ LỊCH ĐẦU NĂMĐỖ CHIÊU ĐỨC (Xướng)

Tờ lịch đầu năm cảm khái nhiều,

Có thêm năm nữa để thương yêu.

Cám ơn trời đất thương bao biện,

Tạ hết người đời giúp bấy nhiêu.

Nhân ái tương thân đôi lúc khó,

Khoan dung tương trợ biết bao điều.

Cầu mong Bính Ngọ thêm đoàn kết,

Mã đáo… thương yêu, cảm khái nhiều !

   Đỗ Chiêu Đức – 01-02-2026

XÉ LỊCH ĐẦU NĂMPHƯƠNG HOA (Họa)

(Kính cẩn họa cùng thầy Đồ)

Đầu năm xé lịch xuyến xao nhiều 

Liệu thế giới này vẫn đáng yêu?

Mây trải gấm hòa xinh biết mấy

Núi chào hoa dệt đẹp bao nhiêu

TÂN NIÊN nhân loại thêm hoàn hảo

TẾT MỚI trần gian tốt mọi điều

Cầu nguyện nhà nhà luôn hạnh phúc

Tình thương gắn kết tỏa lan nhiều…

        PhươngHoa – JAN 2, 2026

MỪNG XUÂN MỚI  NHƯ THU (Họa)

Tân niên Bính Ngọ hẳn vui nhiều!

Cảnh trí tươi màu thật đáng yêu

Phố thị bình yên nhà hạnh phúc 

Quê làng hớn hở ruộng phì nhiêu

Chờ mong thuận nẻo hòa muôn sắc

Khấn nguyện tròn năm thỏa vạn điều 

Tảng sáng đi chùa xem hái lộc 

Từ nay tấc dạ hẳn vui nhiều! 

Như Thu –

01/03/2026




VTLV- TRANG ĐẶC BIỆT Mừng GIÁNG SINH 2025

**

**

         Bài thơ sau đây :
      
ALBUM THÁNH CA TUYẾT NHUNG

*

**

***

NOEL BUỒN

(Cuộc đối thoại giữa hai người bạn)

**

*

Em than thở Giáng sinh này buồn quá,
Đang một mình không biết tính sao đây…

-Thì xin mời em qua Mỹ chơi đi
Khi nào tới nhắn tin anh đưa rước
Chúa thì chắc không dễ gì gặp được
Nhưng giáo đường nhiều vô kể em ơi

Giáng sinh này em qua Mỹ thăm chơi
Tiền phí tổn đi về coi cũng rẻ
Thấy thiên hạ đi về như đi chợ
Em một lần nên thử độ xem sao

-Nghe anh mình nói chuyện giống chiêm bao
Anh cứ tưởng ai cũng giàu vậy á
Gốc nông dân em bùn lầy vất vả
Hột lúa mùa này đổi hột lúa mùa sau

-Xem ti-vi anh có biết gì đâu
Nghe nói bển bây giờ sang trọng lắm
Đường phố đẹp dập dìu người mua sắm
Nên nghĩ là tiền bạc đủ tiêu hoang

-Anh lầm rồi, giàu có chỉ nhà quan
Còn vô sản như em toàn cơ cực
Chạy miếng ăn đã tàn hơi mệt sức
Không mong gì du lịch được đâu anh

-Giáng sinh này em sẽ lại loanh quanh
Tiền không có mà tình càng chẳng có
Đời vốn dĩ không thương người nghèo khó
Em thở dài, anh chả biết nói sao đây!

-Đông Ry Nguyễn

CHÚA VÀ EM

Em một đời tin Chúa
Ta một đời tin em
Có thể nào em để
Ta lạc loài đức tin

Chúa yêu em thánh thiện
Ta yêu em nồng nàn
Chúa lẽ ra phải khiến
Ta sớm thành chiên ngoan

Mỗi lần em đi lễ
Đọc bao nhiêu lời kinh
Là hiên ngoài ta cũng
Tụng bấy nhiêu thơ tình

Em không là gỗ đá
Sao cứ hoài lặng câm
Để buồn trên thánh giá
Chúa nhìn ta ngại ngần

Hai ngàn năm Chúa vẫn
Cứu rỗi người trần gian
Em lẽ nào cứ để
Linh hồn ta đi hoang

Em một đời yêu Chúa
Ta một đời yêu em
Lẽ nào em không thể
Mở đôi vòng tay ngoan…

Đông Ry Nguyễn

THƠ XƯỚNG HỌA – PHƯƠNG HOA – NGUYỄN HUY KHÔI

*

*

**

*

BÀI VIẾT CỦA TÁC GIẢ SƯƠNG LAM – MỘT CÕI THIỀN NHÀN

Bây giờ là mùa Giáng Sinh.  Mọi người mọi nơi hân hoan chào đón Chúa sinh ra đời. 

Người viết tuy là một Phật tử nhưng vẫn luôn luôn chia sẻ niềm vui ngày Giáng Sinh với bạn bè thân hữu Công Giáo của tôi vì đối với tôi, Chúa giáng trần hay là Phật đản sinh đều đem tin vui  đến cho tất cả mọi người, trong đó có tôi vì tôi vẫn nghĩ:

“Con của Phật hoặc là con của Chúa

Đều tin rằng có một Đấng Toàn Năng

Dạy con người phải luôn nghĩ nhớ rằng:

“Sống đạo đức, từ bi và bác ái”

và chúng ta luôn luôn ghi nhớ:

“Lời Chúa, Phật như suối từ ngọt mát

Chúa giáng trần hay là Phật đản sinh

Để dạy ta sống với một chữ Tình:

“Tình Nhân Loại với Thiện Tâm sẵn có”

 Chữ Phúc Đức chúng ta đều hiểu rõ

Khi con người sống đạo đức thiện tâm

Thì phúc duyên là dòng nước chảy ngầm

Mang an lạc, thiện lành cho ta đó”

(Trích bài thơ Bình An Dưới Thế Cho Người Thiện Tâm của Sương Lam)

Tôi lắng nghe những bài thánh ca đêm Noel với sự trân trọng, tôi thấy lòng mình lắng đọng lại khi ngắm nhìn tuyết trắng rơi rơi vào đêm Giáng Sinh và tôi chia sẻ niềm vui với trẻ thơ khi nhìn những Papa Noel hay Santa Claus áo thụng đỏ, bụng bự, râu trắng vai quảy túi quà đi phân phát cho các em bé.

Tình thương yêu quý mến nhau đâu có phân biệt tôn giáo, phải không Bạn?  Chúng ta đến với nhau với trái tim tình cảm, với nụ cười thân mến, với sự tôn trọng lẫn nhau. Tôi vẫn nghĩ thế.!

Một ngày cuối Thu cách đây năm năm, khi Đông còn đang ngập ngừng nơi ngưỡng cửa, PL đã viết bài thơ Đông Ơi Đừng Vội.

Đông ơi đừng vội

*

Lìa cành lá rơi
Thu qua mất rồi
Đông buồn sắp về
Hồn nghe tái tê

*

Đông ơi chậm thôi
Ta đang vẫn ngồi
Bên dòng nước cạn
Nghe chiều nhẹ trô
i

*

Mây bay lững lờ
Thu buồn hắt hiu
Trời chiều dịu êm
Ta ngồi đợi đêm

*

Xa xa tiếng chuông
Nghe thăm thẳm buồn
Con chim lẻ loi
Nhìn quanh ngó quanh

*

Thu chưa muốn đi
Đông buồn vội về
Ta ngồi đợi mưa
Nghe cơn gió đùa….

Phạm Phan Lang
2/12/2020

Bài thơ Đông Ơi Đừng Vội đã được nhạc sĩ Mai Hoài Thu ưu ái phổ nhạc và biến thành một ca khúc sâu lắng, trữ tình. Ca khúc được trình bày bởi ca sĩ Đông Nguyễn, với giọng hát truyền cảm, nồng nàn.

Cũng từ bài thơ này và cũng với giai điệu Blues nồng nàn này của nhạc sĩ Mai Hoài Thu, nhạc phẩm Đông Ơi Đừng Vội đã tiếp tục được ca sĩ Nhất Chi Mai trình bày. Giọng hát đầy cảm xúc kết hợp với giọng bè nhẹ nhàng, lâng lâng ở cuối mỗi đoạn, khiến người nghe không khỏi xao xuyến và bồng bềnh trong một không gian cảm xúc rất riêng.

      Xin chân thành gửi lời tri ân sâu sắc đến nhạc sĩ Mai Hoài Thu, ca sĩ Đông Nguyễn và ca sĩ Nhất Chi Mai, những người đã thổi hồn vào bài thơ mộc mạc này bằng những giai điệu và giọng ca tuyệt vời, giúp nó thăng hoa và đến gần hơn với người nghe.

      Nhân ngày đầu Đông, xin mời quý vị cùng nghe lại bài hát cũ và kính chúc an vui.

Thân kính,
Phạm Phan Lang

***

MỜI CLICK VÀO LINK BÊN DƯỚI ĐỂ NGHE CÁC CA KHÚC TRỮ TÌNH TỪ TRANG NHÀ THÂN HỮU CỎ THƠM:

:

https://cothommagazine.com/wp/tho-nhac-than-huu-co-thom-thang-12-2021/

:

:
https://cothommagazine.com/wp/tieng-hat-nua-voi-le-da-va-dong-nhac-cua-tran-trinh-1937-2012/

:
https://cothommagazine.com/wp/wp-content/uploads/2025/12/TiengHatNuaVoi-DongNhacCuaNSTranTrinh-PAD.pdf

THƯ PHÁP QUANG HÀ

TRUYỆN DICH – THÁI NỮ LAN


Câu Chuyện Về Cây Giáng Sinh Kỳ Diệu
(Tháng 10, 2015)

Một người cha đặt cây thông Giáng Sinh trong nhà cho các con trai và không bao giờ đem bỏ đi…

Đây là một truyện cổ tích đời nay làm cho ta càng yêu thích sự kỳ diệu của mùa Giáng Sinh. 

Ngày xưa có một gia đình người Mỹ sinh sống ở thành phố nhỏ Wausau ở tiểu bang Wisconsin, miền Đông Bắc Hoa Kỳ. Cha mẹ nuôi dạy sáu đứa con trai thật đáng yêu, sáu cậu đều thích đi câu cá trên thuyền với cha . Khi mùa Đông đến, chúng chạy ùa ra vui thích trượt băng trên cái hồ cạnh nhà suốt buổi chiều ,rồi tranh nhau chạy về nhà để thưởng thức ly sữa sô cô la nóng một cách ngon lành. Rich, người em nhỏ nhất luôn trân quý vô số những kỷ niệm yêu dấu như thế.

Nhưng, từ nhiều năm nay, kỷ niệm thường trở về với cậu ta là cây thông Giáng Sinh được đặt ở góc phòng khách trong ngôi nhà tuổi thơ của cậu. Vào một ngày đẹp trời của tháng mười hai, lúc đó Rich chỉ mới 14 tuổi, cậu và các anh cùng với cha mẹ họ đem một cây thông vào nhà . Neil, người cha luôn tôn trọng tập tục về cây thông Giáng Sinh này, và không gì có thể thay đổi được việc ấy, cho dù các con đều đã trưởng thành. Cây chễm chệ ngự trong phòng khách, đó là cây thông thuộc giống Epica xinh đẹp cao hai mét rưỡi.

Rich vẫn còn nhớ mình đã treo những quả châu đầu tiên lên cây thông Giáng Sinh. Nhưng vài hôm trước ngày Giáng Sinh, một thư thông báo tin không vui giáng xuống gia đình họ: đó là hai anh lớn bị gọi đi nhập ngũ vào thời kỳ chiến tranh ở Việt Nam. Người cha từng là cựu quân nhân của Thế Chiến Thứ Hai và Chiến Tranh Triều Tiên biết rằng thử thách ấy sẽ gay go như thế nào cho các con. Thế là ông đặt ngay một lời nguyền: 

“Tôi chỉ dẹp bỏ cây thông Giáng Sinh khi mà tất cả các con tôi đều trở về sum họp trong ngôi nhà này.”

Neil đã tuyên bố lời nguyền đó từ năm 1974. Rich, người em út của gia đình, nay đã 55t và anh ta đã kể lại câu chuyện này một cách cảm động. Và vì lý do đã kể trên, cây thông Giáng Sinh của gia đình vẫn giữ nguyên vị trí ở phòng khách, đến nay đã được bốn mươi năm. Hai người anh đi lính đã an toàn trở về Mỹ từ cuộc chiến, nhưng một anh là thương binh hạng nặng và đang sống ở tiểu bang Washington, ở đầu mút bên kia của đất nước.

Tình trạng sức khỏe của anh chưa cho phép anh thực hiện chuyến trở về gặp mặt gia đình. Về phần cây thông Giáng Sinh, nó vẫn hiện ngang sừng sững và qua bao nhiêu năm tháng vẫn giữ được nguyên vẹn tất cả những đồ vật trang trí trên mình nó, không sót một món nào. Còn chàng Rich từ nay rất hãnh diện về cha mình cùng với “truyền thuyết” này của gia đình, anh ta còn đùa rằng cây thông Giáng Sinh trở nên thân quen như bàn ghế trong nhà và anh cũng không thèm để ý đến nó nữa.

Phần lớn những cây thông Giáng Sinh lần lượt rụng hết lá sau nhiều tháng không được ở ngoài khí trời, nhưng cây thông của Neil, tất nhiên cũng có vài lá thông bị vàng úa, nhưng cây gần như vẫn y nguyên. Ngay cả những vật trang trí và đèn đóm đều gần 100 tuổi rồi. Đó là một trong những cây thông Giáng Sinh hiếm hoi có chiều dài lịch sử. Và người cha giải thích sự kiện này một cách hết sức đơn giản: 

“Những cành lá của cây thông Giáng Sinh của chúng tôi vẫn còn xanh tốt chỉ vì một nguyên do, đó là chúng chờ đợi con trai tôi trở về. Thật kỳ diệu thay! Nhưng tôi dám cá cược với quý vị là ngày mà con tôi về thì tất cả lá thông ấy sẽ rụng xuống.”

Ta hãy hy vọng rằng Giáng Sinh năm 2015 này, tất cả gia đình sẽ được sum họp đông đủ quanh cây thông Giáng Sinh kỳ diệu ấy.

Câu chuyện tuyệt vời trên đây nhắc cho chúng ta nhớ rằng Giáng Sinh chính là thời điểm để gặp lại người thân và sum họp để gia đình hưởng được những giờ phút đầm ấm bên nhau, và biết đâu, tin vào sự thần diệu của Giáng Sinh…

Nguồn: Eliane Hong,( tháng 10, 2015)- Thái Lan/ Nữ Lan dịch

THƠ MINH THÚY THÀNH NỘI

MỪNG MÙA SAO SÁNG 
*
Lê Hải đầu Văn Thơ Lạc Việt 
Hằng năm tổ chức hiến từ tâm
Dâng lên ý nghĩa mùa sao sáng 
Đón Chúa niềm tin đẹp nở mầm 
*
Chiều nhạc “ Mừng Mùa Sao Sáng “diễn 
Như vừa có Chúa hiện quanh đây 
Thiêng liêng trang trí hình Thiên Chúa 
Trình diễn không gian ấm áp đầy 
*
Gợi nhớ tình quê nhiều kỷ niệm 
Năm mươi năm viễn xứ xa nhà 
Hài Đồng Cứu Thế thương nhân loại 
Nuôi dưỡng loài người góp tiếng ca 
*
Giai điệu ngữ ngôn hòa trống nhạc 
Ca đoàn giáo xứ nhịp nhàng xinh
Thời trang quốc tế màn phong phú 
Hợp tác đàn tranh uyển chuyển tình 
*
Gió lạnh mùa đông vừa chạm ngõ 
Vui mừng nguyện Chúa xuống trần gian 
Bình yên thế giới mùa lễ hội 
Rực rỡ đèn hoa kết mọi đàng 
Minh Thúy Thành Nội 
Mùa lễ Noel 2025

TRUYỆN DỊCH ĐÊM CHÚA GIÁNG TRẦN – THÁI NỮ LAN




VTLV – VIDEO CHƯƠNG TRÌNH BUỔI LỄ “MÙA SAO SÁNG – 50 NĂM VIỄN XỨ” – BÀI TƯỜNG THUẬT VỀ SỰ THÀNH CÔNG BUỔI LỄ – Từ VTLV.

Đêm Nhạc VĂN THƠ LẠC VIỆT & TUỔI TRẺ HẢI NGOẠI: Mùa Sao Sáng-50 Năm Viễn Xứ. Video: PhươngHoa

***

***

MERRY CHRISTMAS – MÙA SAO SÁNG

(Vietnamese – English Bilingual

Merry Christmas, Merry Christmas tonight!

It’s Christmas time again…

Lights are shining, hearts are open…

Come on everybody, sing sing sing…

*

Chúa ơI, Lậy Chúa tôi trên cao

Bầu trời rực sáng đầy ánh sáng sao

Dẫn lối đưa con về miền hy vọng

Đêm Thánh vô cùng. Đêm Thánh vô cùng…

Giáng sinh về rồi. Ánh sáng linh lung

Đèn sáng lên, tim mở, niềm vui chung

Nào cùng nhau hát, cùng nhau sẻ chia…

Niềm vui đón Chúa. Chúa sinh ra đời

*

Snowflakes dancing in the neon light

Carols floating through the silent night

Windows glowing warm and bright

Every street feels just right.

*

Tuyết bay bay dưới ánh đèn khuya

Tiếng ca vang vang quyện hàng thông thưa

Bên máng cỏ Chúa mỉm cười

Mùa sao sáng chơi vơi chơi vơi

Gương Chúa sáng ngời. Đêm Thánh sáng soi…

*

Put your worries down, let the good times stay,

Hold the ones you love, don’t let go today.

Buông ưu phiền xuống cho phút giây này,

Giữ bàn tay Chúa yêu thương nơi đây

*

 Merry Christmas, Merry Christmas tonight!

Let the music lift your heart so high

Clap your hands, sing it loud, sing it right

We’re together — that’s the light.

*

Merry Christmas! Giáng sinh an lành!

Cho âm nhạc nâng tim ta bay nhanh

Vỗ tay lên, hát vang đêm lành

Bên nhau tình yêu Chúa chân thành.

*

Candles glowing on the window sill

Old love songs in front door still

Time slows down, the world stands still

Every heart feels calm and real.

*

Nến lung linh sáng ngời bên máng cỏ

Bài ca xưa “Merry Christmas” vang lên ngoài ngõ

Thời gian đi chậm lại bất ngờ

Lòng người yêu chúa – Thánh Ca êm lời thơ.

*

If you’re far away or close tonight,

You’re not alone in this gentle light.

Dù em rất xa hay đang cạnh bên

Ánh đèn này Cầu Chúa chở che em.

*

Merry Christmas, Merry Christmas tonight!

Let your laughter fill the sky,

Raise your voice, sing it proud and bright

Love is shining tonight!

*

Merry Christmas, Giáng sinh yêu thương!

Tiếng cười vang khắp con đường,

Cùng Cất cao tiếng ca hạnh phúc,

Tình yêu của Chúa đang tỏa hương!

*

Family with Cookies, coffee strong

Family laughing, singing along,

With warm hearts, jokes go no wrong,

But love keeps rolling rolling on.

*

Gia đình với Bánh thơm lừng, cà phê hương ngát

Cả nhà cười vui cùng nhau, hát… hát …

Già Noel túi quà đầy vai, vác… vác…

Mà tiệc yêu thương mãi mãi chẳng tàn.

*

Wishing for all the lonely, for the lost

Get back the dreams that paid the cost

May this night remind all of us

We still rise, rise, when we fall… toss…toss…!

*

Chúc mọi người – hãy gác hết âu lo

Và ước mơ luôn luôn gặt hái

Đêm nay Chúa nhắc ta nhớ mãi

Ban yêu thương theo lời Chúa dặn dò…

Oh-oh-oh… feel it in your soul!

Oh-oh-oh… let the joy take control!

*

Chúa ơi! Chúa ơi! Chúa ơi….

Oh-oh-oh… tim con rộn ràng!

Chúa ơi! Chúa ơi! Chúa ơi….

Oh-oh-oh… trong con niềm vui ngập tràn!

*

Merry Christmas, Merry Christmas tonight!

Let the love outshine the night

Sing it louder, hold on tight

This is our Christmas light!

*

Merry Christmas, Giáng sinh huy hoàng!

Tình yêu sáng mãi, đêm sẽ không tàn

Hát to lên, hát lên, nắm tay hát vang

Ánh nến Noel tỏa sáng, sáng ngập tràn!

*

Wherever you are, far or near

You are all loved… by Jesu Christ

Merry Christmas Merry Christmas…

Tonight, tomorrow, and the whole year.

*

Dù bạn ở đâu, gần hay xa

Bạn luôn được yêu thương bởi Chúa

Chúc Giáng sinh an lành. Giáng sinh an lành.

Merry Christmas Merry Christmas…

Phương Hoa – DEC 18, 2026

BÀI TƯỜNG THUẬT – BUỔI LỄ MÙA SAO SÁNG – 50 NĂM VIỄN XỨ