CA KHÚC SỐNG ĐỘNG: DẬY MÀ ĐI GÌN GIỮ GIANG SAN – THƠ NGUYỄN PHƯƠNG THÚY – NHẠC TRUNG VIỆT
==
NGẮC NGOẢI ĐẾN BAO GIỜ
Nguyễn Phương Thúy
Ông Tô Lâm – Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (Ông cũng là Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Công an Trung ương, Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và An ninh, và Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng, tiêu cực. Còn chức nào ông chưa tóm? Đúng là độc tôn, độc trị!) đến China từ ngày 14 đến 17 tháng 4 năm 2026. Đây là một bước đi ngoại giao đầy quan trọng – cấp nhà nước, trên cương vị là lãnh đạo cao nhất của Việt Nam. Chuyến thăm này không chỉ dừng lại ở những cái bắt tay xã giao; đó là một nỗ lực thúc đẩy thực hành nhanh chóng Chiến lược “3+3” (*), nhằm củng cố “Cộng đồng chia sẻ tương lai” – một cách nói hoa mỹ để diễn tả việc họ đang gắn kết nền kinh tế và an ninh của nhau chặt chẽ hơn bao giờ hết. Tô Lâm trông có vẻ sung sướng, hãnh diện với sự đón tiếp long trọng của China. Các ông lớn mặc âu phục, các bà lớn cũng mặc quốc phục hiện diện sát bên. Nội các China dàn hàng chào danh dự. Tô Lâm bắt tay muốn rụng tay! Càng ngày hình thức ngoại giao càng giống các nước tự do. Con tắc kè thay màu quá lẹ nhưng cái cốt lõi thì vẫn ẹ như xưa! Việt Nam và China đã ký kết hơn 32 thỏa thuận vào ngày 15 tháng 4 năm 2026, tập trung vào các lĩnh vực:
Hải quan & thương mại: Đây là một bước tiến vô cùng to lớn, bởi thương mại giữa hai quốc gia đã hơn 250 tỷ USD trong năm 2025. Hai bên cũng đang triển khai mô hình “cửa khẩu thông minh” nhằm đẩy nhanh tốc độ vận chuyển hàng hóa.
Cơ sở hạ tầng & đường rầy sắt: Trọng tâm phát triển đô thị và kết nối các tỉnh phía Bắc của Việt Nam với mạng lưới đường sắt cao tốc của China chính là một “con đường một chiều”. Một khi những đường rầy ấy đã được lắp đặt theo tiêu chuẩn của China, Việt Nam sẽ bị ràng buộc chặt chẽ về mặt vật lý với China trong suốt 50 năm. Trong nhiều thập kỷ, Việt Nam vẫn duy trì khổ đường rầy sắt khác biệt, nhằm ngăn chặn nguy cơ bị xâm lược dễ dàng. Bằng việc chuyển sang áp dụng các tiêu chuẩn của China, Việt Nam đang thực sự hội nhập về mặt vật lý vào hệ thống hậu cần (logistics) của China. Đây chính là sự thống trị mà không cần chiến tranh. Nếu China nắm quyền kiểm soát hệ thống đường rầy, công nghệ tín hiệu cũng như nguồn tài chính, họ sẽ nắm giữ chiếc “công tắc bật/tắt” đối với nền kinh tế xuất khẩu của Việt Nam.
An ninh chuỗi cung ứng: Nhằm bảo đảm các chuỗi cung ứng xuyên biên giới sẽ không bị gián đoạn bởi những biến động chính trị trên phạm vi toàn cầu.
Du lịch: Phát động chương trình “Năm Hợp tác Du lịch Việt Nam – China 2026-2027” với mục đích thu hút khách du lịch trở lại mức trước đại dịch. Những thỏa thuận này có ảnh hưởng to lớn không thể tránh khỏi như “Con ngựa thành Troy” trong lĩnh vực 5G (the fifth-generation technology standard for broadband cellular networks), dữ liệu lớn (big data) và trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence (AI)). Cơ sở hạ tầng kỹ thuật số luôn có những “cửa hậu” (backdoors). China sẽ nắm trong tay “chìa khóa” của chủ quyền kỹ thuật số, có khả năng giám sát sự di chuyển của con người, hàng hóa và thậm chí cả quân đội….
VIỆT NAM:A Nation Reborn – Created by Nguyễn Phương Thúy – Nhạc nền hòa tấu: “VIỆT NAM VIỆT NAM” Của Phạm Duy
==
TƯỞNG NIỆM 30 THÁNG TƯ: Ca Khúc MẢNH DA VÀNG, Trần Chương Lương viết nhạc theo thơ của nhà thơ CHU LYNH do ca sĩ Kỳ Nam trình bày và hòa âm được thực hiện tại Golden Production.
*
Tùy Bút 30/4 CỦA 51 NĂM SAU
Sỏi Ngọc
Tàu Trường Xuân, thuyền trưởng: ông Phạm Ngọc Lũy
Từ trái sang phải: Đạo diễn: Robbie Hart; Bà Nguyễn Bùi thị Mùi; tác giả Sỏi Ngọc; cố vấn Phim: anh Khoa Phạm
Lại một tháng Tư đen
Quê người ta tạm trú
Bao giờ về cố thổ
Như máu chảy về tim?
Cuộc chiến đã qua lâu
Lòng ta còn hậu chấn
Hỡi ơi ! Trời biển rộng
Dằng dặc một cơn sầu. (Hoàng Song Liêm)
Tháng Tư vừa mới chớm, trái tim của những người con Việt hải ngoại không ngớt rỉ máu, vết thương của 51 năm qua vẫn mãi chưa bao giờ lành, một khi quê hương đất mẹ vẫn đang bị cầy xéo, dân vẫn khốn đốn, nền tự do dân quyền không có, những cựu chiến binh VNCH với thân hình còi rọc, như những phế nhân lầm lũi sống ở tận đáy xã hội của đất nước nơi mình được sanh ra; họ là những minh chứng sống cho thấy dưới chế độ xã hội chủ nghĩa Cộng Sản sau 51 năm, đời sống không khả quan hơn, vẫn đói khát, bị vùi dập, kiểm soát, bị trả thù đến bao nhiêu kiếp đời.
Tưởng niệm tháng Tư, phim Shining light, một phim tài liệu “ánh sáng tỏa rạng” được trình chiếu tại một trường tư thục, trung học Marianopolis college cho tất cả mọi người, kể cả những em học sinh, tham dự để hiểu về cội nguồn của những người Việt tỵ nạn tại Canada nói riêng và thế giới nói chung.
Phim tài liệu này chỉ dài 30 phút, do nhà sản xuất phim: Peter Raymont, đạo diễn: Robbie Hart, nhân viên Cao Ủy Liên Hiệp Quốc tại Canada: Tracey Maulfair, đồng sản xuất phim và cựu Đại xứ Canada: Gary Smith, cố vấn phim: Khoa Phạm.
Đã được trình chiếu nhiều lần tại Vancouver, Toronto, Montreal, hôm nay được chiếu lại nhưng đặc biệt có sự góp mặt của nhân vật chính, bà Bùi Nguyễn thị Mùi, bà là người mẹ đã mang bầu được 9 tháng vào ngày 30/4/75, biết rằng tánh mạng rất mong manh nếu bà lên tàu Trường Xuân bỏ xứ lánh nạn Cộng Sản thời bấy giờ, nhưng nỗi sợ hãi bị trả thù, cuộc sống đọa đầy sau ngày mà bọn chiến thắng luôn rêu rao là “nền độc lập tự do dân chủ”, trong khi chúng bắt bớ những cựu sĩ quan, lính VNCH bỏ tù, nằm gai nếm mật, trong đó có chồng bà… Bà đã hy sinh mạng sống của chính mình và đứa con trong bụng, ôm bụng bầu sát ngày sanh nở, cùng với con trai nhỏ 2 tuổi, lên chiếc tàu định mệnh cuối cùng vào trưa ngày 30/4 để trốn chạy; đến ngày 2 tháng 5 năm 1975 bụng quặn thắt, và đứa con gái đã chào đời trên tàu Trường Xuân, giữa lòng đại dương mênh mông, với 3600 người tỵ nạn vây quanh, đứa bé gái được đặt tên là Chiêu Anh, ánh sáng rạng rỡ, hy vọng mở ra cho bà một tương lai mới!
Bà Bùi Nguyễn thị Mùi mới sanh cháu Chiêu Anh trên tàu Trường Xuân
Chiêu Anh- cô gái được sanh trên biển cả của ngày hôm nay
Bà Bùi Nguyễn thị Mùi, đạo diễn: Robbie Hart tại trường Marianopolis college
Sau đó, ngày 4/5/1975 tàu Trường Xuân được tàu chở hàng Maersk line của Hong Kong vớt, mẹ con cô được chở vào nhà thương.
Mọi người yên lặng theo dõi bộ phim thật cảm động, tại ngôi trường mà Chiêu Anh đã từng theo học và tốt nghiệp; thỉnh thoảng có tiếng thở dài não ruột, tiếng sụt sùi trong hàng ghế của những người lớn tuổi, cũng có những cái nắm tay thầm lặng chia sẻ nỗi buồn, sự cảm thông của thế hệ trẻ đối với tiền bối.
Phim chấm dứt, ánh đèn sáng lên, bà Bùi ngồi lặng yên trên chiếc ghế ở khán đài, cùng với đạo diễn Robbie Hart, sẵn sàng trả lời những thắc mắc của tất cả mọi người, có cậu bé nói:
– “Tại sao chiến tranh VN đã trải qua 51 năm, đã thống nhất độc lập rồi, mà vẫn còn có người bỏ nước ra đi, còn nghe nói đến sự trốn chạy tìm tự do, tìm nguồn sống mới; họ không chịu nổi áp lực của nhà cầm quyền Cộng Sản?”
Một người khác góp ý:
– “Vào lúc 30 tháng Tư, bọn cộng sản đối với chúng tôi là một điều rất mới mẻ, nhưng kinh nghiệm của thời cải cách ruộng đất thời 1953-1956, chúng đã giết, treo cổ thẳng tay những người họ gọi là “địa chủ”, “tư sản”, tưởng tượng họ cũng đối xử, trả thù những người dân quân miền Nam đã sống, làm việc dưới chính quyền mà họ cho là Mỹ ngụy thì làm sao chịu nổi, vì lý do đó mà nhiều người thà bỏ mạng ngoài đại dương hơn là sống dưới gông cùm của chế độ Cộng Sản.”
Đạo diễn Robbie nói:
– “Chúng tôi dự định sẽ về thăm Việt Nam một chuyến, có dịp sẽ quay những thước phim về những biến cố lịch sử đã xảy ra tại đó cách đây 51 năm, và sự khác biệt với đời sống hôm nay.”
Một khán giả trong phòng thêm ý kiến:
– “Chúng tôi rất mong được các ông làm phim về những người lính VNCH, những người cựu chiến binh, những thương phế binh của chế độ trước bây giờ họ sống ra sao? Con cái họ thế nào? Có được sống như những người dân bình thường hay họ vẫn mãi mãi bị mang lý lịch xấu không thể ngóc đầu lên được, tâm lý sau cuộc chiến bị thất bại, họ mất tất cả, chỉ còn hai bàn tay trắng, lại thêm tù tội cả chục năm, cuộc đời của chính bản thân và con cái có được thành công ở chính quê hương nơi họ sanh ra không? Cộng Sản, những kẻ chiến thắng sau cái mốc định mệnh 30/4 có thật sự như họ đã nói “theo chính sách khoan hồng” giúp đỡ cho kẻ “lầm đường lạc lối” đi đúng hướng, sao chỉ thấy toàn những hình ảnh đói khát ở vùng kinh tế mới với những căn nhà mái lợp bằng lá, mùa mưa thì dột, mùa nắng thì thiêu đốt… Sự trừng phạt hăng máu của kẻ chiến thắng đến bao giờ mới ngừng tay?!”
Hình ảnh của con gái Chiêu Anh cùng với mẹ đi dạo trong một công viên ở Montreal, thanh bình và nhàn nhã, có ai biết quá khứ của họ trắc trở đầy thử thách!
Chiêu Anh chính là Shining Light của bà Mùi, cô là ngọn đèn tỏa sáng trong màn đêm tăm tối, là niềm hy vọng cho cả gia đình sống và phấn đấu, bà Nguyễn Bùi thị Mùi là một dược sĩ có tiếng tại Montreal, Quebec, giúp đỡ cho rất nhiều đồng hương trong thời gian covid.
Bà luôn dậy con gái “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, cô tìm lại được thuyền trưởng của tàu Trường Xuân năm xưa là ông Phạm Ngọc Lũy, đã đến mừng sinh nhật thượng thọ thứ 95 của ông,
Cô gái Trường Xuân năm nào, tưởng đã không thể nào sống nổi, nay thành công rực rỡ trong ngành thiết kế thời trang, cô ra trường ngành thiết kế thời trang ở NewYork, được nhiều giải thưởng danh giá.
Xin gửi lời cảm ơn trân trọng đến đạo diễn Robbie Hart, đến anh cố vấn Khoa Phạm đã tìm lại nhân chứng sống bà Nguyễn Bùi thị Mùi của tàu Trường Xuân sau 51 năm để cùng ngồi lại nơi đây, ôn lại câu chuyện lịch sử, không thể nào quên; câu chuyện của bà là một trong hàng ngàn những câu chuyện hy hữu của những người vượt biển sống sót, may mắn đến bến bờ tự do, sống, làm việc và thành công, như một tấm gương sáng cho thế hệ tương lai.
Chúng tôi ra về với dư âm của chiếc tàu Trường Xuân còn vương vấn, dáng bé nhỏ mảnh khảnh của bà Nguyễn Bùi thị Mùi, với nụ cười ấm áp, ánh mắt chứa chan niềm thân thiện, bà đã sống và cống hiến hơn nửa cuộc đời từ cái mốc 30/4 đến nay cho ngành thuốc, giúp tư vấn cho người bệnh, chích, bán và nhiều khi biếu thuốc cho những hoàn cảnh khó khăn, bà đúng với câu « lương y như từ mẫu », bà tâm sự riêng với tôi :
– “Mình thật may mắn đã được Canada giang tay đón nhận, thì mình phải sống sao cho xứng đáng, trả ơn cho đất nước đã cưu mang và góp phần xây dựng cho tương lai của thế hệ trẻ sau này.”
Tại ai mà mỗi tháng tư, tâm tư của hơn 1,5 triệu người sống xa quê hương có cùng một tâm trạng:
Tháng Tư về, gió chạm hư vô
Ký ức cũ rơi rụng không bờ
Người ở lại quen dần im lặng
Kẻ ra đi mang nặng giấc mơ
Một dòng sông chia hai bờ nhớ
Nửa quê hương trôi dạt phương nào
Hơn nửa thế kỷ rồi vẫn hỏi
Mất gì đây… mà đau đến nao lòng.
Sỏi Ngọc
Montreal 4/4/2026
*
THÁNG TÁM, THÁNG TƯ
Vốn rằng ghi rõ tự Thiên Thư
Cộng sản gian tà từ…”dịch Thu.”
“Cải Cách” lừa bần nông, đấu tố,
“Nhân Văn” phỉnh kẻ sĩ, giam tù.
Rồi đây, nổi giận, dân băm nát
Sắp tới, phân minh, Trời nghiến nhừ
Hậu quả khôn lường đang dần đến
Chúng bây sẽ trả nợ…công, tư.
Bảo Trâm
Chú thích:
“Dich Thu”: Cách mạng tháng tám” năm 1945 của lũ cướp cộng sản.
“Cải Cách”: Cải cách ruộng đất” của Công sản Bắc Việt, từ 1953 đến 1956 , giết hàng chục ngàn nông dân ở miền Bắc.
“Nhăn Văn”: Cộng sản bày ra vụ “Nhân Văn Giai Phẩm” từ 1955-1959, để giết và giam tù, bó đói hằng trăm Văn Nghệ sĩ ở Miền Bắc.
==
CHÙMTHƠ NHƯ THU
THÁNG TƯ MÃI NHỚ
Tháng tư nặng mối ưu hoài
Làng xưa biền biệt đắng cay nỗi lòng!
Phương trời xứ lạ thầm mong
Tàn canh thức trắng chờ trông mỏi mòn
*
Tháng tư giữ dạ sắt son
Đêm dài dỗ giấc trăng tròn xót xa
Vì đâu mãi nhớ thương nhà?
Người ơi gắng đợi cùng ta trở về!
*
Tháng tư nghĩa xóm tình quê
Chân thành đối đãi vẹn bề giúp nhau
Chiều qua gặp gỡ vui chào
Cười tươi hớn hở xôn xao chuyện trò
*
Tháng tư ấp ủ buồn lo
Yêu bầy trẻ dại nằm co dọc đường
Màn trời chiếu đất cảm thương
Bao người khốn khổ muôn phương vội vàng
*
Tháng tư mộng ước hoài mang
Trời Nam, biển Bắc tỏa lan đượm tình
Mây chào rạng ánh bình minh
Sau này hứa hẹn đăng trình chẳng lơi!
*
Tháng tư ngỡ tựa đang mời
Buồm giăng bến gọi chửa ngơi bao giờ
Sum vầy thỏa lắm niềm mơ
Nắng hồng giục giã đôi bờ kết giao.
Như Thu
04/18/2026
**
QUÊ HƯƠNG DẤU YÊU!
Từng nghe nước Việt sẽ dâng Tầu
Có phải quan thầy giấu nhẹm lâu?
Phương Bắc xe vào tim hụt hẫng
Miền Nam giặc đến kẻ u sầu!
Dân hờn bấy nỗi đành im tiếng
Ruột thắt bao lần lại đẫm châu
Ướm hỏi người ơi nhờ tỏ thật…
Vì sao sự thể quá cơ cầu?
Như Thu
04/21/2026
**
THÁNG TƯ ƠI!
Lại tháng tư đen sắp trở về
Bao trùm phố thị cả làng quê!
Mậu Thân súng nổ rền muôn hướng
Bính Ngọ lời than trỗi tứ bề
Non nước căm hờn luôn mải giận
Dân tình bực tức chẳng còn mê
Vùng lên tranh đấu nào suy nghĩ
Nhất dạ đồng tâm giữ vẹn thề!
Như Thu
04/21/2026
==
CHÙM THƠ VĂN THÁNG TƯ – DONRY NGUYỄN
*
CHO NHỮNG NGƯỜI NẰM XUỐNG VÀ NHỮNG NGƯỜI CÒN LẠI
Tháng tư, từ giã mùa chinh chiến. Ta về, đi giữa bóng hoàng hôn… Tay mẹ gầy còm ôm ta khóc, Cạnh đám em thơ nghẹn tủi hờn.
*
Bạn ta nhiều đứa không về nữa, Đem máu xương mình hiến núi sông. Để người sương phụ chia dòng lệ Nửa chịu tang cha, nửa khóc chồng.
*
Rượu không đủ uống ngày thua trận Ta ngước cười khan với đất trời, Trời đã không dung người thất thế, Sá gì thù vặt ngọn đòn roi.
*
Năm xưa vào lính mình ta tiễn, Nay bước lao tù cũng một thân. Mẹ đã tảo tần nuôi ta lớn, Nay còn đội gạo mà thăm con.
*
May lúc lên đường chưa cưới vợ, Nên chẳng dùng dằng vướng nợ ai. Nếu không cũng xót thời son trẻ, Vì chồng nhan sắc em tàn phai.
*
Trong tù ta có thêm bầu bạn, Sáng chiều chia nửa củ khoai lang Ngoài kia hợp tác toàn dân đói, Xã nghĩa thiên đường ráng tiến lên.
*
Trong tù ta sống lòng thanh thản Gánh rổ khoai mì đi rong chơi. Cuốc đất đau lưng mà trí nhẹ Không thành công, ta cũng thành người.
• Nửa đêm tiếng hát từ song sắt, Cao vút ngân lên đụng đỉnh trời. Nhìn gã cai tù đang cúi mặt Ta biết cuối cùng … ai thắng ai!
-Trại tù A30-1977. Donry Nguyễn
**
TRẢ LỜI CÂU HỎI CỦA EM.
“Ta làm chiến binh Sống không bằng chết, Được mất gì mà vỗ ngực xưng tên!”*
• Người hỏi tôi là lính hay quan, Hỏi chi thân thế lúc suy tàn. Mang danh phận lính không tròn phận, Há dám xưng hùng nhận chức quan.
*
Giữ nước sa cơ đành bỏ nước Coi nhà thất thế phải tòng vong. Cho dẫu chỉ là anh lính nhỏ, Lẽ nào trách nhiệm chẳng lo chung.
*
Ngày nay trên bước đường lưu lạc, Món nợ tang bồng lụy áo cơm. Tha phương chén rượu sầu ngơ ngác, Ai chẳng mộng ngày … quy cố hương.
*
Em đừng trách móc sao lần lữa, Chưa về thăm lại mẹ già nua. Lòng riêng ngui ngút niềm thương nhớ Nhỏ lệ âm thầm giữa gác khuya.
*
Ra đi từ bữa hờn sông núi, Lời thề ghi khắc trái tim côi. Mai sẽ trùng tu ngày hội lớn Dựng mái nhà xưa phụng dưỡng người.
*
Nửa thế kỷ qua ngùi đau xót, Bạc màu áo cũ vẫn chờ mong. Lỡ mai tôi chết không về kịp … Chắc gởi tro tàn xuống biển đông.
*
Món nợ ân tình chưa báo đáp Đối mặt quê hương nghĩ thẹn lòng.
-Donry Nguyễn-
* (Trích bài hành Tự Chuốc Rượu của người lính Lôi Hổ Hoàng Hoa Thương)
*
NHỮNG NGƯỜI LÍNH BỊ BỎ LẠI PHÍA SAU.
–Tưởng nhớ Tr/u Liễu Tông Trung cùng đồng đội đã nằm lại rừng núi Kon Tum, tháng ba 1975.
• Bạn tôi là HSQ Tiếp liệu ĐĐ1/TĐ95/LĐ22/BĐQ. hậu cứ đóng tại trại B12, đối diện trại B15 của lực lượng Lôi Hổ, nằm ở phía nam cầu Dakbla thị xã Kon-Tum.
Sau đây là những gì anh ấy kể lại:
Ngày 14/3/1975 anh theo xe tiếp tế lương thực cho đại đội đang đóng ở Đồi Ba Chấm, vị trí này là nơi đơn vị anh lui lại sau khi tản hàng phải rời bỏ căn cứ Kon Sơn Lũ cách đó vài cây số vào năm ngoái.
Lần này anh mang theo cả ba lô súng đạn để tham dự hành quân mặc dù nhiệm vụ của hạ sĩ quan tiếp liệu là ở hậu cứ lo việc quân lương. Lý do: lè phè, ham chơi, đến giờ tiếp tế, tiểu đoàn phải cho người ra phố gọi về.
Sau khi nhận lương thực xong, đại đội được lệnh tiến sâu vào rừng, anh cũng mang súng lầm lũi bước theo. Đi được vài chục thước thì bỗng nhiên vị trung úy Trung đội trưởng ngoắc tay bảo anh:
-Thôi về đi, cảnh cáo lần này, nhớ không tái phạm nghe chưa.
Mừng rỡ bạn tôi chỉ kịp đưa tay chào ông rổi vội vã chạy ngược lại để đuổi kịp chiếc GMC đang lăn bánh. Về tới trại B12 buổi chiều thì tối đó, toàn bộ hậu cứ được lệnh tiêu hủy vũ khí nặng và tất cả giấy tờ tài liệu để gọn gàng lên xe di tản. Nghe lệnh anh bàng hoàng xúc động, nghĩ đến những bạn bè chiến hữu giờ này đang tiến sâu vào rừng, không hay biết gì cả khiến anh chết lặng trong lòng. Hồi trưa nếu đại đội trưởng không cho về thì giờ này anh cũng chung số phận với mọi người rồi.
Suốt đường lui binh, không khi nào anh không nghĩ đến những người bạn cùng đơn vị giờ đây đơn độc giữa rừng sâu trong vòng vây của địch. Nỗi buồn và niềm chua xót nghẹn ứ trong trái tim người lính bất lực trước sự phũ phàng tàn nhẫn của chiến tranh.
Đoàn xe di tản của anh đi đầu, giữ được yếu tố bất ngờ nên không bị tấn công như khúc sau, đến bến đò Thạnh Hội xe lội qua sông Ba nhờ dòng nước lúc này chưa dâng cao. Nhưng khi cách Tuy Hòa khoảng 10 cây số, một quả đạn pháo kích nổ sát sườn xe làm người lính tên Tân là phụ tá tiếp liệu cho anh đứt ngang cổ họng, chết liền tại chỗ. Anh chỉ kịp ngoái lại nhìn xác nó loang máu nằm gục bên vệ đường nói lời vĩnh biệt rồi tiếp tục lao đi. Anh về tới nhà an toàn, ở lại Tuy Hòa mấy hôm chờ đợi tin tức đơn vị nhưng không gặp lại ai, cũng không biết đích xác đại đội của anh thế nào. Sau đó cùng gia đình theo đoàn xe xuôi Nam, đến Nha Trang, nghe ngóng tình hình, thấy tin tức chiến sự hoàn toàn bất lợi, cha mẹ anh quyết định trở về và cho phép anh theo đơn vị. Không thể bỏ cha già mẹ yếu với đám em thơ giữa cuộc ly loạn, anh ở lại Nha Trang cùng gia đình chờ yên ổn trở lại Tuy Hòa.
Lúc ra trình diện ủy ban quân quản thành phố, tình cờ gặp lại một đồng đội cũ. Vui mừng hai người kéo nhau ra một góc vắng thăm hỏi. Người bạn cho biết vắn tắt: đại đội đã chiến đấu cho tới viên đạn và bịch gạo sấy cuối cùng. Không nhận được tiếp tế, cũng không thể liên lạc về bộ chỉ huy nên tự giải tán, mạnh ai nấy tìm đường thoát hiểm, thành ra không ai biết ai thế nào. Nghe xong bạn tôi thở dài nuốt nước mắt vào lòng. Tiếc thương đồng đội cũ trong đó có Tr/u Liễu Tông Trung, đại đội trưởng của anh, là một sĩ quan can trường, tốt nghiệp Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, ông đã cống hiến tuổi trẻ và tâm huyết của mình cho đất nước, cuối cùng đã bị bỏ rơi giữa núi rừng Kon-Tum khi gần tàn cuộc chiến.
Từ đó đến nay tôi vẫn thường hỏi thăm nhiều nơi, gặp nhiều chiến binh Biệt Động để ngóng tin tức giùm bạn tôi mà không ai biết. Duy chỉ một lần tình cờ gặp Đ/u Nguyễn Văn Hồng, người cùng khóa Sĩ Quan Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt với Tr/u Liễu Tông Trung, anh cũng thừa nhận là sau tháng tư 75, được anh em cùng khóa báo cho biết là Liễu Tông Trung mất tích…
Hôm nay nhân mùa Quốc biến, thay mặt bạn mình tôi viết bài thơ tưởng nhớ đến ông và tất cả các chiến sĩ BĐQ đã nằm xuống trên khắp đất nước để bảo vệ Miền Nam Tự Do.
BÀI CA ĐỒI BA CHẤM
Lệnh di tản ban hành trong đêm lạnh, Ta bàng hoàng khi nhận được hung tin. Đại đội ta đóng quân đồi Ba Chấm Mới ban trưa này còn được lệnh hành quân.
Giờ bỗng chốc chẳng khác gì ác mộng, Họ trở thành chốt chặn ngựa qua sông. Ta vơ vội áo quần, ôm cây súng, Giờ ra đi nghe muối xát vào lòng.
Người ở lại âm thầm ngăn bước giặc, Người lên đường lặng lẽ rút nhau đi. Thương đồng đội ta cũng đành bất lực, Bí mật quân cơ đâu thể nói năng gì.
Trời cao nguyên đêm nay buồn ảm đạm, Cơn gió nào thổi vọng đến đồi cao. Nơi bạn ta vẫn tay ghìm họng súng, Giữa rừng khuya cố thủ dưới thông hào.
Thẩm quyền ta, người sĩ quan Võ Bị, Cái ngoắc tay cho ta sống trở về. Nhưng chính ông lại lọt vào tuyệt lộ, Thế trận tàn Hùm dữ cũng sa cơ.
Đường lui binh nhiều lần ta bật khóc, Ôi đâu rồi khí phách một đoàn quân. Đánh trăm trận khiến quân thù tan tác, Giữ non sông từng tấc đất tấc vàng.
Nay chạy trốn để mong cầu sự sống, Lòng ta đau tan nát tựa dao đâm. Giặc pháo theo bạn ta vừa ngã xuống, Máu loang hồng theo vết bánh xe lăn.
Về duyên hải chờ lâu tin không thấy, Lại lên đường tiếp tục tiến về Nam. Gặp đồng đội sụt sùi nghe kể lại: Lính bọn mình đã chiến đấu hiên ngang.
Giây phút cuối không còn quân tiếp viện, Đạn vơi dần, gạo sấy chỉ cầm hơi. Tiếng súng giặc bao trùm lên trận tuyến, Sóng truyền tin không nghe tiếng trả lời.
Tự tan hàng khi thế cùng lực kiệt, Xé đường rừng tìm lối thoát mưu sinh. Người thương tích chờ quân thù bắn giết, Người ngậm ngùi mang thân phận tù binh.
Ta từ giã chiến tranh từ thuở ấy, Mà vết thương còn nhức nhối trong tim. Nửa thế kỷ, ta thấy mình còn nợ, Những anh em ở lại phút sau cùng.
Ai ra lệnh phũ phàng đem con bỏ? Ai chọn đường hoang phế để lui quân? Nửa thế kỷ nỗi buồn đau còn đó, Người vọng phu hóa đá đứng trông chồng…
Ta may mắn xác thân còn nguyên vẹn, Nhưng tâm hồn vĩnh viễn gởi rừng sâu, Nơi bạn ta đã âm thầm ngã xuống, Máu xương đem phân bón cỏ xanh màu.
-Donry Nguyễn- California April 15,2026.
==
GÁNH QUÊ, Trần Chương Lương viết nhạc theo thơ Ý NGA, do ca sĩ Hồng Nhiên trình bày:
==
THƠ NHẠC 30 THÁNG TƯ – CHƯƠNG HÀ & SUNO AI
==
Tháng Tư Dòng Nước Lũ Của Ký Ức – LÊ TUẤN
Tháng Tư trở về không còn là tên của một tháng, mà là một vết cắt hằn sâu trong thân phận. Tháng Tư của một thời đã xa, vừa ập tới như cơn hồng thủy hỗn mang, cuốn phăng mọi trật tự vốn dĩ của đời người.
Không một lời báo trước, không kịp chuẩn bị, chỉ còn hoảng loạn và chia lìa.
Gia đình tan tác. Bè bạn lạc nhau. Quê hương bỏ lại. Tất cả như một đàn chim đang yên ổn giữa trời bỗng bị giông bão xé tung, mỗi con bay về một hướng, không biết có còn ngày gặp lại. Trong cơn cuồng phong ấy, mỗi con người chỉ còn là một hạt bụi nhỏ nhoi, như chiếc lá cuốn theo dòng nước, bị đẩy trôi mà không thể cưỡng lại.
Mọi thứ diễn ra quá nhanh. Những quyết định không còn là lựa chọn, mà chỉ là phản xạ sinh tồn. Giữa trăm mối hỗn độn, người ta chỉ còn biết chạy, chạy trốn khỏi đổ vỡ, chạy về phía một miền đất tự do, dù biết rắng nó rất mơ hồ. Có những điều, khi xảy ra, ta tưởng là bất khả kháng. Nhưng thời gian không xóa đi, nó chỉ làm rõ hơn những khoảng trống trong lòng.
Khi mọi thứ lắng xuống, khi đời sống dần tìm lại nhịp thở, thì ký ức lại dâng lên như một cơn sóng khác, âm thầm mà dữ dội.
Tôi đã không kịp đến. Không một nén hương. Không một lời giã biệt.
Nỗi oan ấy ở lại, không ồn ào, nhưng dai dẳng. Không trách móc, mà lặng lẽ khắc sâu, khiến lòng người không thể nguôi quên. Tháng Tư, vì thế, không chỉ là tháng của biến động. Nó là tháng của những điều chưa kịp làm. Của những lời chưa kịp nói. Và của những cuộc chia ly không có lần sau để sửa lại.
Le Tuan
==
TẠ LỖI
Hãy tha thứ cho anh Giữa chuyển dời nghiêng ngả Bước chân đi vội vã Lạc mất lối quay về.
*
Hãy tha thứ cho anh Một lần buông rơi tất cả Không một lời tiễn biệt Cuối Tháng Tư não nề.
*
Hãy tha thứ cho anh Ngôi mộ buồn lặng lẽ Không khói hương sớm chiều Không một nén phân ưu.
*
Hãy tha thứ cho anh Những tháng năm xa xứ Mỗi lần nhớ đến em Là một lần ray rứt.
*
Hãy tha thứ cho anh Nếu tình còn mắc nợ Xin gửi về quê hương Một giọt buồn quốc hận.
Tế Luân
THƠ NHẠC KHÚC CẦU HỒN – TẾ LUÂN
==
Tháng Tư
Khúc Tưởng Niệm Sài Gòn 30.4.1975 – TẾ LUÂN
Tháng Tư trở về, không ồn ào, không gọi tên, mà lặng lẽ len vào ký ức như một làn sương mỏng. Có những khoảnh khắc của đời người, tưởng đã trôi qua, nhưng thực ra chỉ đang ẩn mình đâu đó, chờ một ngày thức dậy trong nỗi nhớ. Ngày 30 tháng 4 năm 1975, ngày Sài Gòn đổi thay, là một khoảnh khắc như thế: vừa hữu hạn trong thời gian, vừa vô hạn trong lòng người.
Trong cõi vô thường, thời gian như cất lên một tiếng gọi đau thương từ tháng Tư. Tiếng gọi ấy không chỉ vang lên từ ký ức con người, mà còn dội về từ đại ngàn xanh thẫm, từ bầu trời tím ngắt cuối ngày, từ những con đường Sài Gòn xưa cũ. Những chiếc lá trong thành phố dường như cũng cảm nhận được điều gì đó, húng vàng đi sớm hơn thường lệ, chen lẫn vào những chiếc lá đỏ, tạo thành một bức tranh chao nghiêng, ảm đạm của những ngày cuối tháng Tư.
Đất trời như chuyển mình trong một khúc giao hưởng kỳ lạ. Biển xanh không còn hiền hòa, mà dâng lên những cơn sóng giông bão, gào thét vào bờ cát phơi lưng, như muốn kể lại những biến động của một thời khắc lịch sử, của câu truyện thương tâm từ những thuyền nhân. Đó không chỉ là âm thanh của chiến tranh, mà còn là tiếng lòng của một dân tộc, của Mẹ Việt Nam, vừa đau thương, vừa kiên cường, vừa chịu đựng, vừa bao dung.
Và giữa những biến động ấy, vẫn còn đó hương thơm của ruộng đồng, mùi lúa mới lan tỏa như một lời nhắc nhở rằng sự sống vẫn tiếp diễn. Từ bùn đất, từ mồ hôi, từ nước mắt, con người vẫn đứng dậy, vẫn gieo trồng, vẫn hy vọng. Một bài ca dao âm thầm cất lên, không phải để ca ngợi chiến thắng hay thất bại, mà để chiêm nghiệm về một cuộc đổi dời kỳ lạ của vận mệnh.
Năm mươi mốt năm đã trôi qua. Tháng Tư hôm nay không còn khói lửa, nhưng dư âm của nó vẫn còn đó, âm ỉ, sâu lắng, như một dòng chảy ngầm trong tâm thức mỗi người Việt. Nỗi đau không biến mất, mà chỉ lặng lẽ chuyển hóa, trú ngụ trong ký ức, trong những câu chuyện chưa kể hết, trong những giọt nước mắt không rơi thành lời.
Tháng Tư không chỉ là một mốc thời gian. Đó là một miền ký ức. Một vết hằn của lịch sử. Một lời nhắc nhở về sự mong manh của phận người và sự khắc nghiệt của thời cuộc. Nhưng trên tất cả, đó cũng là lời mời gọi con người biết nhìn lại, biết lắng nghe, và biết cảm thông,
để từ đó, học cách sống sâu hơn, bao dung hơn, và gìn giữ hòa bình như một điều quý giá nhất. Tháng Tư vẫn còn đó. Không mất đi. Không phai nhạt. Chỉ là… đã đi vào lòng người.
Tháng Tư Bài Thơ Còn Lại
Tháng Tư về không gọi tên nỗi nhớ Chỉ gió buồn lặng lẽ bước qua tim Sài Gòn đó, một thời như giấc mộng Vỡ âm thầm như lá rụng im lìm.
Có phải trời hôm ấy nhuộm màu tím Màu ly biệt, hoàng hôn về rất lạ Những con phố bỗng dưng thành xa lạ Người đi rồi… không hẹn một ngày về.
Màu cờ đỏ, mưa rơi như dòng máu Lũ giặc tràn vào, tiếng thét thất thanh Thành phố đêm bỗng rùng mình chết lặng Vạn nỗi đau không cất nổi thành lời.
Biển vẫn xanh mà giông bão không nguôi Sóng gào thét như linh hồn đất nước Khúc giao hưởng của một thời xuôi ngược Viết bằng đời, bằng nước mắt Mẹ thôi.
Từ đại ngàn xanh thẳm đến ruộng đồng Hương lúa mới vẫn âm thầm lan tỏa Giữa đổ nát vẫn nhen lên mầm sống Một câu ca dao, âm hưởng Mẹ hiền.
Năm mươi mốt năm… tháng Tư còn đó Không mất đi, chỉ chìm vào ký ức Để đôi lúc trong đêm dài thao thức Nỗi đau xưa trở lại rất con người.
Tháng Tư ơi, khơi lại những cội nguồn Hãy ở lại như một lời nhắc nhở Rằng lịch sử không bao giờ khép cửa Và lòng người còn mãi những chia ly.
Tế Luân
==
THƠ THÁNG TƯ XƯỚNG HỌA – CAO MỴ NHÂN VÀ THI HỮU
THÁNG TƯ TƠI TẢ. CAO MỴ NHÂN (Bài Xướng) – Kính mời quý thi nhân chấp bút họa bài thơ thú vị này của Nữ Sĩ Cao Mỵ Nhân
THÁNG TƯ HẬN, THÁNG TƯ ĐAU – YÊN SƠN (Viết cho mình, viết giùm cho người)
Tháng Tư lại về. Không cần ai nhắc, không cần một dấu hiệu rõ ràng nào, chỉ cần những dư âm Tết nơi xứ người bắt đầu phai nhạt, hay một buổi chiều xuân nhạt nắng rơi xuống sân vườn cô tịch là lòng tôi đã chùng xuống. Nhớ về… Có những tháng trôi qua như một con số. Có những tháng đi qua như một thói quen. Nhưng cũng có những tháng không bao giờ rời khỏi đời người. Đó là Tháng Tư. Tháng Tư, đối với tôi, không phải là ngày tháng bình thường của thời gian. Nó là một dấu mốc thời gian in hằn trong tâm khảm, là một nỗi đau, một vết cứa sâu trong tâm hồn, một nơi mà ký ức dừng lại, xoáy xuống, rồi lan ra, phủ kín cả tâm can. Có những nỗi đau không có âm thanh, không có tiếng khóc. Không thường có những lời than vãn. Nó nằm im, rất sâu, rất lâu, như một mảnh kim loại nhỏ găm trong da thịt. Mảnh kim loại không đủ nguy hại có thể chết người, nhưng đủ để nhói lên mỗi khi cử động. Và Tháng Tư chính là lúc mảnh kim loại ấy trở mình. Đêm hai mươi chín tháng Tư năm ấy, tôi vẫn còn là một người lính. Không phải hình ảnh một người lính trong sách vở, với chiến tuyến rõ ràng và mệnh lệnh rành rọt, mà là một con người đứng giữa một thực tại đang rạn vỡ. Ở phía tây Sài Gòn, quanh vòng đai phi trường Tân Sơn Nhứt… chúng tôi còn chiến đấu. Chiến đấu không phải vì hy vọng chiến thắng, mà vì không thể buông. Không thể đầu hàng. Có những thứ, một khi đã thấm vào máu như danh dự, trách nhiệm, lời thề… thì không dễ gì đặt xuống, không thể buông bỏ, ngay cả khi biết rằng tất cả đang trượt khỏi tầm tay. Chiến tranh trong những giờ phút cuối không còn là chiến tranh theo nghĩa quen thuộc. Nó không còn là một ván cờ. Nó trở thành một cơn sóng lớn. Và chúng tôi là những con người đứng trước làn sóng hung bạo ấy, cố giữ thăng bằng trên những mảnh vỡ còn sót lại. Tiếng súng vẫn nổ. Nhưng không còn nhịp điệu của chiến thuật. Nó dồn dập như nhịp tim của một cơ thể kiệt sức. Mỗi phát súng không còn nhắm đến chiến thắng, mà như một cách níu giữ một hy vọng mong manh dù biết hy vọng ấy gần như không còn. Nhưng cũng không thể bắn bừa. Đạn dược đã cạn. Mỗi viên đạn được đếm như giọt máu cuối cùng. Trong khi đó, đối phương được che chở bởi những tầng phòng không dày đặc. Chúng tôi chiến đấu trong thiếu thốn, trong bị động, trong một thế trận mà phần thua đã hiện rõ. Người Mỹ đã quay lưng. Người Mỹ đã bỏ rơi chúng tôi, bỏ rơi cái tiền đồn mà họ đã từng dùng chúng tôi để ngăn cản sự thống trị của triết thuyết Cộng Sản. Nhưng chúng tôi vẫn phải chiến đấu để bảo vệ nền tự do dân chủ cho người dân chúng tôi, cho đất nước chúng tôi. Anh em vẫn thay nhau bay. Bay trong những điều kiện khắc nghiệt, bay như những võ sĩ bị trói tay chân, ném lên võ đài trước một địch thủ hung tàn. Người này hết giờ, người khác lên. Không ai nói nhưng ai cũng hiểu… chúng tôi đang ở trong một hoàn cảnh vô vọng. Còn nỗi bi thương nào hơn thế không? Tôi còn nhớ những ánh mắt đêm ấy. Không ai nói với ai một lời gì ngoài những thao tác quen thuộc, ngôn ngữ chiến trận quen thuộc. Những ánh mắt gặp nhau giữa ánh chớp và bóng tối chỉ để xác nhận một điều, chúng tôi vẫn còn có nhau như đã từng mỗi khi xông vào lửa đạn, đánh cược với tử sinh. Và cũng không ai nói với ai đó là đêm cuối. Nhưng ai cũng cảm thấy sự bất lực qua từng viên đạn bắn ra. Nhưng ai cũng biết một điều gì đó đang đến hồi kết thúc. Không phải chỉ là một trận đánh mà là cả một thời đại. Viết đến đây, mắt tôi lại nhòe đi. Tôi đứng dậy, bước ra sau vườn, châm một điếu thuốc. Gió thổi qua hàng chuông gió, những tiếng leng keng như tiếng gọi từ một cõi nào xa lắm. Tôi hít sâu. Thở mạnh. Rồi quay vào, tiếp tục viết. Chuyến bay khuya hôm đó… sau khi bàn giao vùng trách nhiệm, tôi trở về cư xá. Hai đứa học trò nhỏ tôi mang về từ trưa hôm trước vẫn còn thức. Hai đứa, như tôi vẫn nói đùa, “trói gà không chặt”. Chúng tôi vừa nằm xuống thì nghe pháo kích dữ dội vào phi trường. Rồi một tiếng rít xé tai – hoả tiễn 122 ly. Nhưng… không nghe tiếng nổ. Cho đến sáng hôm sau, mọi người trong cư xá mới biết là đã thoát chết giữa đêm qua khi nhìn thấy phần đuôi của chiếc hoả tiễn đang cắm sâu vào lòng đất bên cạnh cư xá độc thân. Buổi sáng hôm ấy đã không phải là một buổi sáng bình thường, khi thấy chiếc Tinh Long 7 của phi đoàn tôi bị bắn rơi ngoài vòng đai phi trường, trước nhưng đôi mắt hoảng loạn của anh em. Đó là giọt nước làm tràn ly, không ai nói với ai lời nào, mỗi người chạy đi một ngả. Tôi cùng hai chú em đèo nhau lên chiếc Lambretite, chạy khắp các bãi đậu tìm phi cơ thoát thân. Nhưng những chiếc còn bay được đã bay đi đâu hết. Đang đứng ngơ ngác thì được một niên trưởng kéo tôi chạy theo đến một chiếc C-130 không còn nguyên vẹn, để làm phận sự phi công phụ. Chiếc phi cơ cất cánh từ cuối đường băng. Không đủ tốc độ. Không đủ điều kiện. Nhưng vẫn phải bốc mình lên nhờ vào bốn động cơ bán phản lực. Chiếc máy bay gượng lên, nhắm hướng Vũng Tàu rồi… trực chỉ Utapao, Thái Lan mang theo 115 con người không biết họ đã lên bằng cách nào. Chiều hôm đó, 29 tháng 4 năm 1975, tôi và một số anh em trong phi hành đoàn đã sững sờ rơi nước mắt khi thấy một đội ngũ quân nhân người Mỹ bắc thang lên thân máy bay sơn bỏ huy hiệu Không Quân VNCH, sau khi mọi người bị tước khí giới trước khi bước ra khỏi thân phi cơ. là tôi đã buộc phải rời khỏi đất nước trong bàng hoàng, trong vô thức, không kịp biết được tin cha mẹ anh chị em đã bị thất lạc phương nào mấy tháng qua trong chiến tranh. Không kịp báo tin với người vợ sắp cưới chỉ ở cách phi trường khoảng 6 cây số! Và cứ thế, bị đưa đẩy dọc theo hành trình trở lại đất nước nầy với thân phận vô gia đình, vô tổ quốc. Mãi đến vài năm sau mới liên lạc lại được! Cho đến bây giờ, sau hơn nửa thế kỷ, cái “không kịp” ấy vẫn còn nguyên vẹn trong tôi, như một khoảng trống không bao giờ có thể lấp đầy. Không kịp nhìn cha mẹ lần cuối. Không kịp nói một lời từ biệt với bất cứ người thân yêu nào. Không kịp khép lại một cánh cửa đời quân ngũ theo cách mà một con người lính bình thường đáng được có. Có những cuộc chia ly không có lời từ biệt, và chính vì thế, chúng không bao giờ kết thúc. Tôi ra đi trong một trạng thái không hoàn toàn tỉnh táo. Không phải chỉ hoảng loạn mà là tê điếng. Mọi thứ diễn ra quá sức nhanh, quá sức bất ngờ, con người tôi không còn cảm xúc rõ ràng. Chỉ còn hành động. Chỉ còn bản năng. Tôi ra đi, như một người bị đẩy ra khỏi chính cuộc đời mình trong khi trong lòng vẫn còn một niềm tin rất mong manh rằng đây chỉ là tạm thời. Rằng rồi sẽ có ngày trở lại. Rằng quê hương không thể biến mất chỉ qua một đêm. Rằng những gì đã xây dựng, đã sống, đã yêu, không thể bị xóa đi dễ dàng như vậy. Có nhiều lần tôi nghĩ, sự ra đi bất chợt của tôi sẽ không nhiều hối tiếc, nhiều đớn đau nếu dân tộc tôi được tự do hạnh phúc hơn, đất nước tôi trở nên thanh bình, vươn lên oai nghi, dũng mãnh như con rồng, con hổ. Nhưng rất tiếc! Rất tiếc! Thời gian, bằng sự im lặng kéo dài của nó, đã dần dần dạy tôi hiểu. Không có ngày trở lại như tôi từng mong đợi. Không phải vì không muốn, mà vì con đường đã khép lại từ lúc Việt cộng xâm chiếm miền Nam; chúng đã và đang gây ra bao nhiêu đau thương cho nòi giống, cho mảnh giang sơn gấm vóc của ông bà, tiên tổ. Mất quê hương không phải là một biến cố xảy ra trong một ngày. Nó là một quá trình. Ban đầu là sự bàng hoàng. Sau đó là niềm hy vọng. Rồi niềm hy vọng mỏng dần đi theo ngày tháng. Và cuối cùng là một sự chấp nhận trong im lặng. Không phải chấp nhận vì đồng ý mà vì dường như không còn cách nào khác. Những năm đầu nơi quê hương thứ hai nầy, mọi thứ đều xa lạ. Ngôn ngữ, phong tục, con người, đời sống. Tôi đã học tái sinh trước khi học cách tồn tại. Học cách hiểu người khác, trước khi có thể nói cho người khác hiểu mình. Học cách đứng vững trên chính đôi chân mình khi trong thâm tâm vẫn không ngớt đợi chờ một phép lạ, một ánh sáng nhỏ nhoi ở cuối đường hầm. Người ta có thể quen với nhiều thứ. Quen với thời tiết khác, quen với nhiều món ăn lạ, quen với nhịp sống của một dân tộc khác. Nhưng có một thứ không thể làm quen đó là tình tự quê hương đã mất. Quê hương không chỉ là nơi mình sinh ra. Nó là nơi mà mọi thứ đều có ý nghĩa mà không cần rao giảng. Một con đường, một góc phố, một tiếng rao, một mùi hương… tất cả đều mang theo một phần đời. Khi mất đi, không chỉ là mất một nơi chốn, mà là mất cả một hệ ký ức, một cấu trúc của đời sống con người. Có những buổi sáng, tôi tỉnh dậy và trong một khoảnh khắc rất ngắn, tôi quên mất mình đang ở đâu. Trong khoảnh khắc đó, tôi vẫn là con người của ngày xưa, sống trong một thành phố quen thuộc, những đường bay dọc ngang trên bầu trời miền Nam nước Việt mà tôi đã thuộc lòng. Nhưng rồi thực tại trở về, không ồn ào, nhưng dứt khoát, như một bàn tay ai đó đặt nhẹ nhàng lên vai, nhắc tôi rằng tất cả đã trở thành dĩ vãng. Có nhiều lúc tôi thảng thốt nghĩ rằng: Sợ một mai thân nằm yên lòng đất Hồn lẻ loi tìm không thấy quê nhà Năm mươi mốt năm trôi qua. Một đời người có thể chứa đựng bao nhiêu ký ức? Có thể chịu đựng bao nhiêu mất mát? Có thể giữ lại được bao nhiêu điều mà không đánh mất chính mình? Tôi đã sống. Đã làm việc. Đã xây dựng lại cuộc đời. Đã có những niềm vui, những thành tựu, những mối quan hệ xã hội rất tốt. Nhưng tất cả những điều đó, dù có thật, dù có ý nghĩa, vẫn không thể thay thế được những gì đã mất. Tôi nhớ những ngày tháng trước năm 1975. Không phải vì chúng hoàn hảo, mà vì chúng là một phần đời quan trọng của tôi. Những sáng nắng chiều mưa, những ngày lộng gió, những đường bay quen thuộc, những khung trời bao la, những sinh tử cận kề, những cuộc gặp gỡ, những câu chuyện, những ước mơ chưa kịp thành hình. Một đời sống bình thường như thế nhưng khi mất đi, tôi mới hiểu giá trị của nó sẽ không bao giờ có thể thay thế được. Ký ức, theo thời gian, không phai nhạt đi như người ta tưởng. Nó được chắt lọc. Những gì không quan trọng sẽ rơi rụng tự nhiên. Những gì còn lại sẽ trở nên rõ nét hơn, tinh khiết hơn, và vì thế, cũng đau xót hơn. Và tôi mang trong mình một nỗi hận. Nhưng không phải là một nỗi hận đơn giản. Nó không hướng về những con người bình thường. Tôi không hận người dân Mỹ mà tôi đã gặp, đã sống cùng, đã nhận được sự giúp đỡ của họ để xây dựng lại cuộc đời. Tôi hiểu rằng con người, ở đâu cũng có những điểm tương đồng giữa thiện và ác, hiểu biết và giới hạn. Nhưng tôi không thể không nghĩ đến những quyết định sai lầm của hệ thống cầm quyền chính phủ Mỹ và đồng minh, những phong trào phản chiến ngu xuẩn, những cơ quan truyền thông dối trá, lừa gạt dư luận. Những điều nầy đã góp phần làm thay đổi số phận của những quốc gia nhỏ bé, chậm tiến như Miền Nam Việt Nam của tôi. Một cuộc chiến không chỉ được quyết định bởi những gì xảy ra trên chiến trường mà nó được quyết định bởi những gì xảy ra trong lòng xã hội, qua truyền thông, trên trường chính trị. Khi một bên không còn được thế giới ủng hộ, không còn được bạn bè tin tưởng thì dù còn đầy đủ vũ khí cũng không thể giữ được, huống chi… chúng tôi đã phải chiến đấu với cả một thế lực cộng sản quốc tế hùng mạnh khi vũ khí đã bị chính những người bạn đồng minh tước bỏ đi. Nỗi hận của tôi không phải để nuôi dưỡng oán thù mà là để nhắc nhớ cho chính mình, nhắc nhở con cháu đời sau những gì đã xảy ra cho quê hương, dân tộc tôi không bị đi vào quên lãng. Sau tất cả, điều còn lại trong tôi không chỉ là nỗi đau. Mà là một ước vọng. Ước mong một ngày nào đó, được trở về trong tự do, trong danh dự. Không phải để bắt đầu lại, mà chỉ để nhìn lại. Để bước trên những con đường cũ dù chúng đã bị thay tên đổi họ một thời. Để nghe lại những âm thanh, những tiếng nói quen thuộc ở khắp mọi nơi. Để thấy lại một quê hương bừng sáng, một xã hội văn minh trong tình người. Được thật sự hãnh diện với 4 chữ Con Rồng Cháu Tiên. Ở tuổi này, tôi không còn sợ nhiều điều. Không còn sợ mất mát vì đã mất mát quá nhiều. Không còn sợ thay đổi vì đã sống qua những thay đổi to lớn mà chỉ sợ rằng mình sẽ không còn đủ thời gian. Không đủ thời gian để thấy ngày ấy. Không đủ thời gian để chứng kiến một kết thúc tốt đẹp như thế cho quê hương dân tộc mình; để biết rằng những nghiệt ngã mình đã trải qua trong đời không trở nên vô nghĩa. Sự chờ đợi nào cũng không mấy dễ dàng. Khi còn trẻ thì có dễ dàng hơn, nhưng khi thời gian không còn nhiều, mỗi ngày trôi qua đều mang theo một cảm giác bồn chồn, lo sợ. Không phải vì muốn đạt được điều gì, mà vì sợ không còn cơ hội ấy. Tháng Tư lại đến. Vẫn là những cơn mưa nhẹ buổi sáng, những đám mây trắng bềnh bồng ở buổi chiều dài, những khoảng lặng khó gọi tên… Những ghi nhận nầy không phải để làm thơ, khp6ng phải là thời tiết mà là một phần của đời sống nội tâm, một vùng ký ức mà mỗi năm, vào đúng thời điểm này, lại mở ra trong tôi. Tháng Tư hận. Tháng Tư đau. Mỗi năm vẫn cứ theo nhau trở về Nhưng nếu chỉ có hận và đau, con người đã không thể đi qua hơn nửa thế kỷ. Vì ở đâu đó, rất sâu, rất nhỏ, vẫn còn một thứ khác. Một thứ không sôi nổi lắm, không mạnh mẽ nhiều nhưng bền bỉ. Đó là niềm hy vọng. Hy vọng rằng một ngày nào đó, dù mình còn hay không, trên mảnh đất hình cong chữ S ấy, người dân sẽ được sống an bình, hạnh phúc mà không phải cúi đầu, lo sợ. Sẽ có những tiếng nói không bị bóp nghẹt. Sẽ có những giấc mơ không bị dập tắt. Và khi ngày đó đến, có thể, ở một nơi nào đó rất xa, những người đã ngậm ngùi nằm xuống sẽ mỉm cười. Dù muộn màng nhưng cũng có thể sẽ che giấu được những niềm đau, nỗi hận trong lòng của những người võ sĩ bị ném lên đấu trường sanh tử với tay chân bị trói chặt.
“Tháng Tư lại về, lòng người tị nạn lại xót xa nhớ về quê hương sau 51 năm xa xứ.”NGUYỄN ĐÌNH HÒA
Xin mời qúy vị thưởng thức vài nhạc phẩm của tôi đã viết.
Quê Hương Trong Ta.
Bóng Xưa Chiều Ấy.
Vụng Dại Những Chiều
Ns. Nguyễn Đình Hòa.
==
THƠ MỸ HOÀN
THÁNG TƯ NHỚ EM – MỸ HOÀN
Em đã về đây mỗi tháng Tư
Về quê ngồi lại giữa sương mơ
Có nghe sương rớt bờ vai cũ
Bơ vơ mộng mị chốn xa mờ
*
Để tháng Tư như dòng nước chảy
Bôn ba năm tháng nước về đâu
Ta gục xuống đôi bàn tay lạnh
Lòng nghe rơi rớt ánh tinh cầu
*
Ta nghe mãi bên bờ sông vỗ
Những lời buồn của tháng trôi qua
Lời tình như sóng dòng sông cuộn
Nước mắt nào còn mãi mưa sa
*
Em ôm trái tim nào đã lỡ
Một lời thề mộng ước mai sau
Một nụ cười như vừa nở lại
Cho ta êm ái mối tình sầu
*
Em đã về đây mỗi tháng Tư
Về đây ta kể một lời thơ
Em mặc áo dài hoa cúc nở
Cùng ta đi suốt một nẻo bờ
*
Rồi em cảm động từng cơn khóc
Vạt tóc nào đẫm lệ quê hương
Tổ tiên ta đã từng hơi thở
Dựng Sơn hà một giấc như mơ
*
Nhớ trong tâm tưởng ngày hoa gấm
Nụ môi thơm khép nép hải đường
Ta muốn mở lòng bao câu nói
Lời yêu kia còn mãi vấn vương.
Lê Mỹ Hoàn
2/2025
**
NẮNG HẠN THÁNG TƯ
Tiếng kêu tha thiết gọi đàn
Những ngày nắng hạn đâu tàn trú thân
Lòng ta như thể nắng ran
Thu Đông tan tác, Hạ hoang mang về
Nơi đây đâu phải chốn quê
Cho nên nắng hạn lê thê mỏi mòn
Khô đi những giọt máu hồng
Dần dà cạn hết giấc nồng trong tim
Đôi môi khao khát đi tìm
Tiếng kêu mòn mỏi đắm chìm nơi đâu
Quê hương mấy cuộc bể dâu
Trong ta một nỗi u sầu chưa tan
Thời gian lặng lẽ lướt nhanh
Làm thêm héo nụ cười xanh thuở nào
Ôi cơn nắng hạn lao đao
Hồn ta nứt nẻ ngày vào thángTư.
Lê Mỹ Hoàn
4/20/1990
==
ĐỢT NẮNG THÁNG TƯ
Đông vừa qua ở cuối đoạn đường
Xuân đến những ngày nắng ấm hơn
Tưởng như mùa Hạ nhưng bất chợt
Lạnh lại về cơn sốt miên man
*
Cơn sốt cao, đầu như bổ củi
Như nặng lòng đợt nắng tháng Tư
Vàng sốt bủa vây ngày trốn chạy
Qua cánh đồng nắng trải như phơi
*
Cơn sốt lên cơn mơ lại đến
Chạy vòng quanh chạy đến chân tường
Nghe mơ hồ ai đang hạch hỏi
Bao người ngồi bó gối như ta
*
Rồi tự nhiên nghe mùi muối mặn
Đang lênh đênh trên biển xuôi dòng
Chợt thét gào như cơn thịnh nộ
Biển trời đang cuộn một cơn dông
*
Ta bên nhau thì thầm cầu nguyện
Xin trời cho gió lặng sóng êm
Bỗng mở mắt dường như im lặng
Tự Do đang cười với gió Xuân.
Lê Mỹ Hoàn
3/26/2025
==
THƠ TRẦN CẨM THÀNH
Tháng Tư cảm tác
Tha hương mái tóc của ngày xanh
Năm tháng bạc màu trán vết nhăn
Canh cánh bên lòng bao nuối tiếc
Bâng khuâng tấc dạ những ăn năn
Non sông biến dạng người xa cội
Đất khách dung thân kẻ rã hàng
Nặng trĩu tâm tư đời viễn xứ
“Nỗi buồn nhược tiểu” mãi âm vang.
Trần cẩm Thành- 4/2026.
**
==
THÊM MỘT THÁNG TƯ QUA – HUY VĂN
* Ngày đến. Đêm Trôi. Ngày lại đến Thời gian lắng đọng cuối tháng Tư Tháng của thiên thu buồn lệ nến khóc cảnh miền Nam hóa ngục tù.
*
Máu ai tuôn chảy nơi góc phố?! Chốt thí làm sao chống sơn hà!? Tiếng hờn vọng mãi vào thiên cổ Một trang Hận Sử, mấy Hùng Ca?!
*
Cuối Xuân cuồng lũ dâng hồng thủy Đành buông nợ Nước, phụ tình Nhà! Sông núi điêu linh vì ngạ quỷ Bao giờ yên sóng, lắng phong ba?
*
Ngồi đây mà nhớ thời chiến quốc Một thuở bi hùng lúc dọc ngang Chớp mắt thấy sương pha màu tóc Một tiếng than ôi! Lệ ứa tràn.
*
Nửa đời chìm nổi nơi đất khách Mỗi năm thêm một tháng Tư qua Quốc thù vị báo đầu tiên bạch (*) Thế sự du du nại lão hà. HUY VĂN
* (*)THUẬT HOÀI Thế sự du du nại lão hà? Vô cùng thiên địa nhập hàm ca. Thời lai đồ điếu thành công dị, Vận khứ anh hùng ẩm hận đa. Trí chủ hữu hoài phù địa trục, Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà. Quốc thù vị báo đầu tiên bạch, Kỷ độ Long Tuyền đới nguyệt ma.
ĐẶNG DUNG
* Bản dịch của Tản Đà: Việc đời man mác, tuổi già thôi! Đất rộng trời cao chén ngậm ngùi. Gặp gỡ thời cơ may những kẻ, Tan tành sự thế luống cay ai! Phò vua bụng những mong xoay đất, Gột giáp sông kia khó vạch trời. Đầu bạc giang san thù chưa trả, Long tuyền mấy độ bóng trăng soi.
==
==
MỜI ĐỌC 2 BÀI VIẾT ĐẶC SẮC CỦA KÝ GIẢ KIỀU MỸ DUYÊN DƯỚI ĐÂY
Quê hương tôi là Quảng Ngãi, nơi có Núi Ấn soi bóng xuống Sông Trà Khúc hiền hòa. Dù xa quê từ thuở bé, hình ảnh ấy vẫn in sâu trong tâm khảm như một phần máu thịt không thể tách rời.
Từ nhỏ, tôi theo người bác ruột vào sống tại Đà Lạt, ở vùng Trại Mát, nơi bác hành nghề Đông y. Cuộc sống nơi cao nguyên yên tĩnh phần nào giúp tôi quên đi những biến động của quê nhà, cho đến khi chiến sự lan rộng khắp miền Trung vào đầu năm 1975.
Ngày 21 tháng 3 năm 1975, khi tình hình các tỉnh Tây Nguyên trở nên rối ren, tôi quyết định trở về Quảng Ngãi chỉ với một mong muốn giản dị là thăm mẹ đang lâm bệnh. Khi ấy tôi vẫn còn là một học sinh, chưa hiểu hết thế nào là chiến tranh, nhưng nỗi lo sợ thì hiện rõ trong từng hơi thở. Người ta truyền tai nhau rằng ban đêm, Việt Cộng thường lén xuống các quận gài mìn, khiến ai nấy đều sống trong cảnh phập phồng, bất an.
Gia đình tôi lại có nhiều người liên quan đến Việt Nam Quốc Dân Đảng; từ bác, chú cho đến ông Sáu, nên sự lo lắng càng chồng chất. Cứ mỗi khi màn đêm buông xuống, các chú, các bác lại âm thầm đạp xe vào thành phố để ngủ nhờ, tránh những hiểm nguy có thể ập đến bất cứ lúc nào.
Đêm 22 và 23 tháng 3 năm ấy, tôi ngủ bên mẹ tại vùng phía tây quận Tư Nghĩa. Nhưng đó không còn là những đêm bình yên. Tiếng súng, tiếng pháo kích vang lên liên hồi, dội vào lòng người những cơn run sợ. Mỗi tiếng nổ như xé toạc màn đêm, khiến tôi, một đứa học trò, chỉ biết nằm im, tim đập dồn dập, cầu mong cho trời mau sáng.
Sáng ngày 24 tháng 3 năm 1975, không chịu nổi sự bất an, tôi cùng mẹ rời nhà, tìm đến tá túc tại nhà ông Sáu ở khu vực Thị xã Cẩm Thành, Quảng Ngãi, trung tâm của tỉnh. Đó là một quyết định đầy lo âu nhưng cần thiết, bởi lúc ấy, chiến tranh đã thực sự chạm đến từng mái nhà, từng con người.
Những ngày tháng ấy, tôi không chỉ chứng kiến sự biến động của đất nước, mà còn cảm nhận rõ sự mong manh của đời người, của tình thân trong cơn binh lửa vì anh tôi đã mất trước đó vài tháng tại Pleiku, cậu Tư cũng tử trận tại An Lộc, và người hàng xóm tại Đa lạt cũng bị tử vong bởi pháo kích tận vùng I chiến thuật mà chưa kịp mang xác về chôn,. Dù chỉ là một học sinh, tôi đã sớm hiểu rằng quê hương không chỉ là nơi chôn nhau cắt rốn, mà còn là nơi gắn liền với ký ức, bà con xóm giềng, với yêu thương, và cả những nỗi đau không bao giờ quên.
Chiều ngày 25 tháng 3 năm 1975, trước nhà ông Sáu là nơi có tiểu khu của binh lính Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, mọi sinh hoạt ban đầu vẫn diễn ra như thường lệ. Những người lính Sư Đoàn II Bô Binh vẫn qua lại, vẫn giữ nhịp sống quen thuộc như chưa có điều gì sắp sửa đổi thay. Nhưng đến xế chiều, không khí bỗng chùng xuống. Tôi thấy từng chiếc xe Jeep, xe nhà binh chở đầy binh sĩ nối nhau rời đi, hướng về phía Đà Nẵng. Một linh cảm bất an dâng lên trong lòng, dù khi đó tôi vẫn chưa hiểu hết ý nghĩa của những chuyển động ấy.
Tin đồn bắt đầu lan nhanh trong xóm. Người này truyền cho người kia, không ai biết thực hư ra sao. Có người nói phải “ăn vội rồi đi ngay”, có người bảo phải gom đồ đạc mà chạy, vì chiến sự đã quá gần. Người ta nhắc đến Ông Ngô Quang Trưởng, vị tướng đang cố gắng chống lại làn sóng tiến công từ phía Việt Cộng. Nhưng tất cả chỉ là những lời nghe lại, không kiểm chứng, không rõ nguồn. Trong hoàn cảnh ấy, sự thật không còn quan trọng bằng nỗi sợ.
Gia đình tôi cũng hoang mang như bao gia đình khác. Bữa cơm chiều hôm đó vắng lặng lạ thường. Tôi không thấy các chú, các bác, và cả ông Sáu trở về. Có lẽ họ đã đi đâu đó, hoặc đã nghe được điều gì khẩn cấp hơn mà chúng tôi không biết. Chỉ có Dượng Tám mỗi sáng vẫn thường mở chiếc radio Sony nhỏ, nghe đài BBC rồi kể lại tình hình. Nhưng những mẩu tin rời rạc ấy cũng không đủ giúp chúng tôi hiểu rõ chuyện gì đang xảy ra, chỉ càng làm lòng người thêm rối bời.
Mẹ tôi đang bệnh nặng, không thể ăn uống gì. Tôi nhìn tô cháo bà để lại, lòng nghẹn lại. Không còn thời gian để nghĩ nhiều, tôi húp vội những muỗng cháo nguội để dằn bụng. Đó không phải là một bữa ăn, mà là sự chuẩn bị cho một cuộc chạy trốn không biết ngày về.
Bên ngoài, dòng người đã bắt đầu đổ ra Quốc lộ 1, hướng về phía Đà Nẵng. Tiếng gọi nhau í ới, tiếng bước chân vội vã, tiếng xe cộ lẫn trong sự hỗn loạn. Tôi biết mình phải đi, dù lòng còn nặng trĩu.
Mẹ tôi không đi nổi. Bà nhìn tôi, ánh mắt vừa lo lắng vừa đau đớn. Bà bảo tôi cứ theo hàng xóm mà đi, đừng chần chừ. Lời nói ấy như một nhát dao cắt vào tim. Tôi đứng đó, giữa giây phút chia ly, không biết phải nói gì hơn ngoài một lời từ biệt nghẹn ngào.
Tôi quay đi, hòa vào dòng người chạy loạn, mà phía sau là bóng mẹ tôi đang dần khuất. Trong khoảnh khắc ấy, tôi hiểu rằng mình đã bước sang một ngã rẽ khác của cuộc đời, nơi mà tuổi học trò khép lại, nhường chỗ cho những tháng ngày lưu lạc, và nỗi nhớ quê nhà, nhớ mẹ, sẽ theo tôi suốt cả cuộc đời.
Đêm 25 rạng ngày 26 tháng 3 năm 1975 là một ký ức không bao giờ phai mờ trong cuộc đời này, một ngày mà ranh giới giữa sống và chết mong manh như sợi chỉ. Khi đó, cuộc chiến đã lan rộng khắp miền Trung, và những vùng như Quảng Ngãi đã lần lượt rơi vào tay Việt Cộng trước khi Sài Gòn sụp đổ không lâu sau đó.
Đêm ấy, tôi cùng dòng người hoảng loạn tìm đường chạy giặc. Không còn ai nghĩ đến tài sản hay tương lai, chỉ còn một ý niệm duy nhất là phải sống. Tôi theo dòng người băng qua con dốc Bình Liên, thuộc quận Bình Sơn. Con dốc ngày thường vốn hiền hòa, nhưng hôm đó trở thành một địa ngục trần gian.
Tiếng pháo kích bất ngờ dội xuống. Những tiếng nổ chát chúa xé toạc không gian, đất đá tung lên mù mịt. Người ngã xuống từng loạt. Có người trúng đạn, có người bị mảnh pháo xé thân, có người chỉ vì quá hoảng loạn mà bị dẫm đạp trong dòng người tháo chạy. Tiếng khóc, tiếng la hét, tiếng gọi nhau trong tuyệt vọng hòa lẫn vào nhau, tạo thành một âm thanh kinh hoàng mà đến nay tôi vẫn còn nghe vang vọng trong tâm trí.
Tôi không còn nhớ mình đã chạy như thế nào, chỉ biết bản năng sinh tồn đã đẩy tôi lao xuống một bờ ruộng bên đường. Chính quyết định trong tích tắc ấy đã cứu mạng tôi. Nằm sát mặt đất, tim đập dồn dập, tôi nghe rõ từng tiếng nổ, từng bước chân dẫm đạp phía trên. Mùi khói, mùi đất, và cả mùi tử khí lan trong không khí khiến tôi rùng mình.
Khi cơn pháo kích tạm lắng, tôi mới dám ngẩng đầu lên. Trước mắt là một cảnh tượng không thể diễn tả hết bằng lời: người nằm la liệt, kẻ sống sót thì thất thần, ánh mắt vô hồn. Con đường chạy loạn giờ đây phủ đầy máu và nước mắt
Tôi tiếp tục hòa vào những người còn sống, lặng lẽ đi trong đêm tối, không còn sức để khóc hay nói. Sáng hôm sau, khi ánh bình minh le lói, tôi lần bước ra được thị trấn Châu Ổ, rồi từ đó tiếp tục hướng về Chu Lai. Đó là một hành trình đi bộ đầy gian nan, nhưng ít nhất, tôi biết mình vẫn còn sống.
Ngày 26 tháng 3 năm ấy không chỉ là một ngày chạy loạn. Đó là một vết hằn lịch sử trong đời tôi, một minh chứng cho sự tàn khốc của chiến tranh và sự mong manh của kiếp người. Tôi sống sót, nhưng ký ức ấy mãi mãi ở lại, như một lời nhắc nhở rằng cuộc sống hôm nay đã được trả giá bằng biết bao sinh mạng và nước mắt.
Niềm khát-vọng ngùn-ngụt vút lên cao, mải-miết tìm Trăng hiền-hoà khả-ái. Trăng vẫn còn gục ngủ trong thành đêm sừng-sững âm-u.
Những vệt sáng đèn pha vẫn lia-lịa quét không-trung, nào đã thấy muôn vì sao đang trốn lủi? Mắt lệ mờ nhìn những trái hoả-châu nối tiếp nhau mưa sáng rực cháy bốn phương trời, lòng rạo-rực, mơ Thanh-Bình, mãi tưởng chừng đây dạ-hội hoa-đăng.
Những tiếng phi-cơ ì-ầm sấm động, những chùm đại-bác bạt núi long trời, những tràng liên-thanh nổ tan ròn-rã, xé không-gian, khua giấc ngủ rừng khuya, dậy thôn xóm tiêu-điều, lòng rạo-rực, mơ Thanh-Bình, mãi tưởng chừng đây tưng-bừng dạ-khúc đón xuân sang.
Rồi khi thôn rừng ngừng im tiếng súng, khi hoả-châu tắt sáng, khi những đốm lửa đạn không còn vun-vút đuổi nhau như sao trời đổi hướng, đêm tối vẫn không lùi bước, thành đêm vẫn sừng-sững âm-u, quanh đâu đây nghe khắc-khoải lòng đêm đang thổn-thức, cây lá thở dài, dế khóc nỉ-non, sương đêm sụt-sịt, lòng rạo-rực, mơ Thanh-Bình, nghe thấm buồn như lời kể-lể của những người cô-phụ bi-thương:
Ðằng-đẵng bao năm trường chinh-chiến, tím chiều ngập phủ khắp quê hương. Bom đào ao, đạn cầy ruộng, ruộng xanh um cỏ dại, ao đầy ắp thịt xương.
Hận thù bão táp, mã-tấu tung bay, đau-đớn ngả-nghiêng, bao thôn tre quằn-quại trong rên xiết.
Việt-Nam ơi! thân mòn sức kiệt, mảnh hình-hài tan nát tả-tơi. Chúa ơi, Mẹ ơi! Người ở đâu, sao thành đêm vẫn âm-u sừng-sững? Tôi “thắp nến nguyện cầu, đâu dám rủa nguyền bóng tối” (*). Hồn tôi đây, trí tôi đây, hỡi gió ngàn lồng-lộng! Kéo bổng lên cho Người thấu nghe niềm khát-vọng, lòng rạo-rực, mơ Thanh-Bình, sao Trăng hiền vẫn gục ngủ trong thành đêm sừng-sững âm-u?
-II-
Ðêm âm-u, gió mát vi-vu, dù cho dịu-dàng mơn trớn thiết-tha, vẫn chẳng ru ngon giấc ngủ cô-đơn chập-chờn thao-thức. Tiếng chó tru ghê hồn không át nổi tiếng đại-bác rền vang.
Rồi một sáng xuân mờ sương xốn-xang, phố phường ngổn-ngang quân-trang binh-khí, liệng bỏ hết cho một nhà thuận-hoà, hoan-hỉ, cho chiến-trường dai-dẳng bặt tiếng im hơi. Giáo-đường khắp nơi không ngơi lời kinh tiếng hát: “Kinh Cầu Hoà-Bình” dập tắt chiến-chinh. Thành phố bỗng giật mình ngơ-ngác, thôn ấp chợt sửng-sốt bàng-hoàng. Lạ kìa! màu cờ sao ướt đẵm màu máu thắm loang?
Biển Ðông vẫy sóng trường-giang,
Biệt-ly nước mắt nặng mang ân-tình.
Nghẹn-ngào Mẹ đứng lặng thinh,
Nhìn con dặn với: “Nhớ tình cố-hương!”
Mẹ về chăm giữ đồng nương,
Cho vàng bông lúa ngát hương thôn làng.
Giờ thì mất cả nương đồng,
Thôi đành phó mặc, chẳng màng “vinh-quang”.
Ngày đêm nghe réo loa vang:
“Hoà-bình công-bố, xoá tan hận-thù.”
Hoà-bình lại ở chiến-khu,
Hận-thù mau gót lù-lù về đây.
Ô hay! Lành-lạnh heo may, ùn-ùn mây bay. Sao Trăng gầy đã vội đuổi ngay ngày xanh non-nớt. Mặt trời trốn mất, chẳng để lại chút nóng hâm nóng tình thương. Bóng đêm âm-u gian dối đồng-loã gạt lường. Trùng-dương lại lồng-lộn thét gào khóc thương tương-tàn cốt nhục:
Núi rừng địa ngục,
Tủi nhục xót-xa,
Thân người: xác vật thây ma,
Lìa con, lìa vợ, lìa cha, lìa chồng.
Mồ-hôi tưới ướt ruộng đồng,
Lúa vàng đâu thấy? Thấy hồng máu loang:
Chàng đi “học-tập” ngút ngàn,
Ở nhà thiếp chít khăn tang mãn đời.
Tấm thân trâu ngựa rã-rời:
“Anh-hùng lao-động”, thấu trời than van.
Giành nhau từng dái khoai lang,
Giành nhau chỗ đứng xếp hàng nối đuôi.
Con thuyền ngược sóng ra khơi,
Ruột se bụng thắt, sao tươi nụ cười?
Ôi, nụ cười nước mắt! Đắng cay chua-chát!
Ôi, cơ-đồ sụp nát, nhân-tình đảo-điên!
Biển Ðông đầy ắp oan-khiên,
Quặn đau vĩnh-biệt Mẹ hiền thân yêu.
Mẹ Việt-Nam truân-chuyên. Mẹ Việt-Nam u-uất. Mẹ nhắm nghiền đôi mắt. Mẹ lắng nghe trong bóng đêm hiền-hoà giả dối, tiếng đàn con nỉ-non da-diết niềm khát vọng tha-thiết vô biên. Khát vọng bình-yên. Khát vọng triền-miên. Sao trăng hiền vẫn biền-biệt cho đêm tối bao vây?
Các con Mẹ đâu rồi?
Mẹ mỏi-mắt trông vời.
Mẹ đứng đây, Mẹ giang tay thành-khẩn:
Hãy nhìn xem, nước Việt-Nam u-ẩn!
Hãy nhìn xem, đồng-bào Việt kiên-nhẫn đau thương!
Bao giờ hết đổ máu xương?
Bao giờ tiếng hát giáo-đường ngân-nga ?
Bao giờ nước Việt thái-hoà,
Tự-do công-chính, nhà nhà an vui?
(*) cách-ngôn Tây:”Thà thắp lên một ngọn nến, còn hơn ngồi nguyền rủa bóng tối”
Đất nước Việt Nam đang bị đảng cộng sản cai trị bằng bạo lực.
Bọn cộng sản Việt Nam chỉ là một bọn cướp, may mắn chiếm được nước Việt do các thế lực quốc tế tranh nhau trên bàn cờ thế giới. Chúng không phải là một chính quyền đúng nghĩa!
Chúng ta không biết thế giới có nước nào hiểu rõ bọn cộng sản đang lừa họ hay không?
Nhưng chúng ta biết rõ một điều: nước nào cũng vì lợi cho nước họ trước hết, không nước nào hy sinh cho dân Việt chúng ta. Vì vậy, vận mệnh nước Việt vẫn phải do người Việt hành động, nếu dân ta thực sự muốn cứu lấy dân tộc Việt Nam.
Bọn cầm quyền cộng sản ở Việt Nam chỉ muốn một điều: dân VN càng ngu càng dễ cho chúng nắm đầu. Chúng không hề có ý giúp cho dân giàu, nước mạnh.
Đối với chúng, cộng sản chủ nghĩa hay tư bản chủ nghĩa, không có gì quan trọng cả. Chúng sẽ đi theo và áp dụng bất cứ thứ gì mà chúng có thể dựa vào để tồn tại, như cộng sản Nga, Tàu đã giúp chúng có cơ hội đó thì chúng theo ngay.
Nếu trong tương lai, Mỹ hay bất cứ nước Tây Âu nào cho chúng có cơ hội để tiếp tục việc chúng đang làm thì chúng sẽ gọi Mỹ và nước đó là ông Nội ngay.
Và sau đó chúng sẽ tuyên truyền là “quốc gia” hơn những người quốc gia hiện tại nữa.
Chắc Quý Vị thừa biết hiện nay ở Mỹ và có thể ở bất cứ nước nào trên thế giới, con cháu bọn cướp này mở tiệm buôn bán, chợ búa, thậm chí lập Chùa, hay lập Nhà Thờ…. đều sẵn sàng treo cờ Vàng Ba Sọc Đỏ nơi trang trọng nhất, để câu khách, để chúng có cớ rửa tiền…
Cho rằng chúng là phe cờ đỏ, cờ hồng thì vô tình chấp nhận chính danh của bọn cướp này.
Những bài viết gợi ý, cầu xin, đề nghị hay lên mặt dạy dỗ cho chúng khôn khéo hơn về chính trị và kinh tế, chính là giúp chúng học thêm nhiều bài học để ngày càng tinh vi trong việc cướp sạch đất nước VN nhiều hơn và nhanh hơn.
Xin quý vị thức giả, quý vị còn có lòng tranh đấu cho một nước Việt Nam được Tự Do, Dân Chủ thì hãy hướng trọng tâm vào việc làm sao xóa bỏ bọn cướp ấy.
Việc đó hiện giờ phải nói là rất khó, vì sau lưng bọn cướp này còn có bọn cướp mạnh gấp bội là bọn Nga, Tàu, mà không chừng còn có các nước tư bản giàu có lợi dụng vào sự tồn tại của bọn cướp này
Vì vậy, nếu dân tộc VN chúng ta chưa có cơ hội xóa bỏ bọn chúng thì xin đừng bày thêm nhiều điều tinh khôn để biến thành mưu ma chước quỷ của chúng. Đừng hy vọng chúng sẽ giúp dân VN giàu mạnh, thông minh hơn hay hy vọng chúng sẽ xỏa bỏ lằn ranh gì đó là sai vì chúng đâu có lằn ranh nào để xóa.
Van xin bọn cướp đang ở trong nhà chúng ta, hãy nới lỏng cho chúng ta vươn lên sống bằng nhà của xóm khác… chưa bị cướp là một ý tưởng hão huyền.
Vấn đề là dân Việt Nam đã tỉnh ngộ chưa, đã quyết một lòng để xóa bỏ bọn cướp này hay chưa?
Và Quý Vị, những tinh anh của tộc Việt, xin làm thế nào để giúp dân Việt Nam cùng một lòng tiến tới để xóa sạch bọn chúng?
Bảo Trâm
· Sẵn Sàng Quên?
Chỉ còn vài ngày nữa
“Năm Mốt năm” sẽ sang
Chúng ta luôn chuẩn bị
Chúng tôi cũng sẵn sàng.
Sẵn sàng để chiến đấu
Với bọn quỷ tràn lan
Với thói hư tật xấu
Với những kẻ tham tàn.
Không thể sống yên thân
Không thể quên quá khứ
Khi Cộng ác, vô thần
Đày đọa dân Tộc Việt.
Chúng ta phải tự biết
Nếu quyết sống vô tư
Không màng chi thế sự
Tương lai nào an cư?
Bảo Trâm
Ách Ác Cộng
Do đâu đến nỗi thế này đây,
Dân tộc Việt Nam khổ mỗi ngày.
Bọn cướp may thời tràn khắp chốn,
Quân gian được thế ló ra đầy.
Toàn dân đau đớn đời nô lệ,
Cả nước chông chênh kiếp dạc dày.
Còn giữ hỡi ai lòng hận giặc,
Xin vì chính nghĩa, hãy ra tay.
Bảo Trâm
TRUYỆN NGẮN SỎI NGỌC: Buông Tay & TIẾNG HÁT NGỌC HUYỀN – CA KHÚC THÔI NHÉ ĐỪNG YÊU – ST Yên Vy.
TRUYỆN NGẮN: BUÔNG TAY – SỎI NGỌC
Buông tay cũng là một cách ta yêu thương
Buông tay cho lòng thôi hết vấn vương
Buông tay như là ta hy sinh cho nhau
Buông tay để một cuộc sống mới bắt đầu
(Buông tay- Đức Thành và Phúc Chinh)
Ngắm dáng chàng nằm ngủ thật yên trên chiếc giường rộng của hai vợ chồng, đôi mi khép thật bình an, chiếc miệng hơi mở như một nụ cười toại nguyện. Tôi rúc đầu vào lồng ngực rộng của chàng, đã rất lâu tôi mong có được sự chở che này trong giấc ngủ. Cái hạnh phúc giản dị ấy, rất dễ với mọi người nhưng với chúng tôi, thật khó lắm!
o O o
Cách đây trên 25 năm, hồi chúng tôi học trung học ở Sài Gòn, tuổi ô mai 15-16 ăn chưa no, lo chưa tới, chàng đã từng chơi u, quay dây nhảy, ăn hàng với bọn con gái chúng tôi. Tiếng cười hồn nhiên theo tôi mãi trong ký ức cho đến khi tôi theo gia đình định cư tại Cali, miền đất ấm áp, nơi rất đông người Việt. Kỷ niệm ấy chôn vùi tận sâu trong ký ức với tuổi đời ngày càng lớn, bận rộn cuộc sống.
Sau khi ra trường với mảnh bằng kế toán, tôi được một người quen đưa vào làm ở một công ty may mặc, nơi ấy tôi quen với ông chủ hãng, giàu có, lớn hơn tôi gần 20 tuổi, anh lại là con trai của một người bạn thân của ba tôi khi còn ở quê nhà, và chúng tôi mau chóng tiến đến hôn nhân theo sự thúc giục của ba mẹ hai bên; ba tôi lúc đó sức khỏe không khả quan mấy, ông ta muốn tôi có nơi nương tựa, để nếu ông ra đi cũng yên lòng nơi chín suối, tôi chưa yêu ai nên đã chấp thuận để trả chữ hiếu cho tròn đầy.
Chúng tôi có với nhau một con gái thật ngoan và kháu khỉnh sau một năm, anh ít có thì giờ với nó, sự có mặt của anh ở nhà rất hiếm, với lý do công việc. Tôi tuy cũng bận công việc sở, nhưng phải về nhà đúng giờ để bù đắp sự vắng lặng thiếu sót của cha đối với con bé.
5 năm sống bên cạnh nhau, số ngày thì nhiều, nhưng những cuộc nói chuyện, tâm sự của chúng tôi như đếm trên đầu ngón tay, chúng tôi thực sự không hiểu nhau; mỗi lần bàn chuyện là to tiếng, làm cho bé Hiên bịt tai, lúc đó bé mới 3 tuổi, cả người nó co rúm lại mỗi lần gặp cha nó, nó núp dưới gầm bàn, hoặc sau bức tường, giọng nói lí nhí, bé ít ăn, người gầy nhom, bác sĩ nói:
– Bé có triệu chứng trầm cảm.
Tôi xót xa, chảy nước mắt mỗi khi nhìn thấy con ngày càng xuống cân, đôi mắt sợ hãi nhìn cha, nửa đêm ngủ mớ, rồi cả thân người co rúm lại như con tôm, hai tay bịt tai.
Tôi suy nghĩ rất nhiều, muốn đem con xa khỏi cái không khí thiếu tình gia đình này. Tôi đưa ra quyết định…ly hôn!
Tôi tưởng anh sẽ chống lại, bào chữa, hay tự sửa mình; nhưng không!… Anh cầm bút nhẹ nhàng ký vào đơn ly hôn; anh không đòi nuôi con, cũng chả làm khó dễ gì, hình như anh đang chờ đợi lời đề nghị này của tôi lâu lắm rồi vậy!
Anh trợ cấp cho tôi và con một số tiền kha khá để mua một căn condo gần Bolsa. Trước khi ra đi, anh còn nói một câu:
– Có thể từ nay trở đi, tôi sẽ không về thăm… Hãy sống và dạy bảo con cho tốt.
Đôi mắt tôi ráo hoảnh, hững hờ nhìn dáng anh khuất sau cánh cửa.
o O o
Mười mùa lá vàng trôi qua, tôi 42 tuổi, mẹ đơn thân, một mình kiên cường với cuộc sống, bé Hiên là mục đích, hy vọng duy nhất. Tôi làm việc ngày đêm để quên thời gian, để dành tiền nuôi con ăn học. Con gái Hiên đã 14 tuổi, cái tuổi mà tôi đã từng trải qua, hồn nhiên thánh thiện và bắt đầu bước vào đời.
Giáng Sinh năm ấy, sở tôi tổ chức đi ăn ngày cuối năm, giữa những tiếng cười, tiếng ly chạm nhau, những lời chúc kết thúc một năm cũ, tôi nghe tiếng nói trầm ấm bên tai:
– Cô… Cô ơi, chiếc áo khoác của cô rơi xuống đất rồi…
Tôi quay lại, người đàn ông dáng cao với khuôn mặt thanh tú nhặt giùm chiếc áo dưới đất lên, đưa cho tôi mỉm cười; ánh mắt chàng thật quen lắm, và nhất là kiểu tóc mái rũ…Chàng và tôi nhìn nhau không chớp mắt.
Một lúc, chàng lên tiếng:
– Có phải… hồi xưa cô học ở… Lê Quý Đôn không?
-… Phải rồi… hình như anh là Thiện phải không?
-…Bích Mai phải không?… lúc này làm gì? ở đâu? Gia đình ra sao?…
Chúng tôi rất vui mừng gặp lại bạn xưa, hỏi tin nhau dồn dập.
Thiện nhắc lại kỷ niệm cũ làm chúng tôi cười thật vui như sống lại thuở học trò:
– Mai có nhớ hồi đó Thiện bị mất dép không?… các bạn nữ đã giấu đôi dép mình tuốt trên ngọn cây bồ kết trong sân trường, làm kỳ đó bên đội nam phải chịu thua, cõng từng cô bên đội nữ một vòng sân. Kỳ đó Thiện cõng Mai đó nhớ không?
– Nhớ chứ, mấy tên kia cõng đi nhanh là hết một vòng sân rồi, ai như Thiện cõng Mai đi từ từ, bị chọc là cõng đi ngắm hoa hay sao đó mà lâu mới về đích!
– Ngàn năm một thuở mà, phải tận dụng chớ!
Đã rất lâu, tôi mới được cười hả hê đến thế!
o O o
Thiện cũng như tôi, đã ly dị và có một cháu trai 16 tuổi.
Tình bạn từ trung học ngày xưa làm chúng tôi gắn kết lại một cách dễ dàng, nhanh chóng, nhiều khi không cần nói, chỉ nhìn trong ánh mắt nhau, chúng tôi hiểu đối phương muốn nói gì. Những buổi hẹn hò đi uống nước cuối tuần, chúng tôi như đôi chim sẻ, huyên thuyên kể chuyện, hạnh phúc, quên tất cả mọi mỏi mệt của cuộc sống.
Một buổi chiều, sau 2 năm qua lại, ngồi trong góc một tiệm ăn tối, Thiện bỗng đan tay chàng vào bàn tay tôi, hôn nhẹ lên tóc tôi, dưới ngọn nến lung linh lãng mạn, chàng lướt chiếc nhẫn kim cương lóng lánh sáng vào ngón tay áp út, đề nghị một cách giản dị và chân tình:
– Em và con gái về sống với cha con anh nhé, mình cùng nhau xây lại tổ ấm…
Hơi chút bất ngờ, cảm động, nhưng tôi vẫn ghẹo vui:
– Ủa! sao anh nói ở một mình có cái hạnh phúc riêng mà?
– Nhưng sẽ không hạnh phúc bằng khi có hai người!… Cuối tuần sau anh sẽ đến đón em và con gái nhé?… Không cần mang theo gì đâu, đi tay không là được!
– Ôi sao nhanh thế?… Để em hỏi ý con bé đã, xem nó có chịu cho mẹ nó …đi lấy chồng không đã!
– Chắc chắn con bé sẽ hoan nghênh ngay đấy!
– Anh tự tin quá há!…còn nếu không thì sao?
– Ôi thế thì… người ba dượng này sẽ phải nhanh tay lo đút lót cho con bé mới được!
o O o
Bé Hiên nhìn mẹ vui và hạnh phúc bên chú Thiện, nó không nỡ làm trái ý mẹ, nó đành miễn cưỡng gật đầu theo mọi người về bên chú ấy sống.
Ngày đầu tiên bước vào nhà Thiện, phòng khách và phòng ăn liền nhau, rộng rãi, sáng sủa; nhà có 3 phòng ngủ trên lầu, chàng đã sửa soạn cho bé Hiên một phòng màu hồng xinh xắn, với một cửa sổ nhỏ nhìn xuống sân sau; bên cạnh là phòng của Huy, con trai chàng, căn phòng xanh dương nhẹ, có tầm nhìn xuống góc trái của căn nhà, ánh sáng rộng từ cửa sổ hắt vào làm căn phòng đầy sức sống và cuối dãy là phòng của chúng tôi.
Tôi và con gái cảm thấy vui, hạnh phúc, nghĩ đây chính là gia đình mơ ước cuối đời của chúng tôi.
Buổi tối đầu tiên, bữa ăn còn gượng gạo của hai đứa trẻ, chàng gắp đồ ăn cho bé Hiên, cho tôi, rồi cho Huy, tôi cũng chọn miếng gà nạc cho Huy, miếng cá ngon cho Hiên, chúng cúi đầu ăn nhanh, không nói gì, rồi chuồn vào phòng riêng.
Những ngày tháng tiếp theo, tôi và Thiện thật hạnh phúc, mỗi buổi chiều về nhà đều có tiếng cười, tiếng nói của nhau, đã 10 năm hơn tôi mới được người lo lắng chăm chút, làm tôi thật cảm động, trân quý từng phút giây, nhưng điều làm tôi áy náy nhất là Huy vẫn khuôn mặt không cười và Hiên với cặp mắt chỉ nhìn xuống đất, chúng vẫn không hợp được với nhau! Tôi vẫn giữ hy vọng chúng sẽ hiểu nhau hơn sau này.
Một buổi chiều khi tôi đi làm ra, vội vàng ghé qua chợ mua một giỏ thức ăn, định về nhà sẽ làm món cá chiên chấm nước mắm mà bé Hiên rất thích, và cả tôm càng cho Huy. Vừa mở cửa ra, tôi đã nghe tiếng Huy giận dữ:
– Trả lại cái remote control đây!
-…Em xem TV trước mà… Em…
Thằng bé nhào đến giật cái remote trên tay Hiên:
– TV là của ba tao mua! Về phòng mày đi!
Nghe thấy tiếng “mày tao” của Huy, tôi bỏ giỏ thức ăn ngay ngoài cửa, vội vàng đến cạnh bé Hiên, ôm con gái vào lòng, nói với Huy:
– Sao con lại gọi em bằng mày?… Nó đang xem trước mà, con đến sau phải chờ chứ!
Bỗng Thiện xuất hiện ngay trước cổng nhà, chàng vừa đi làm về, cũng nói:
– Huy nhường em đi, con đi học bài trước rồi lát xem cũng được!
Huy vùng vằng, chạy vội vào phòng, vừa nói:
– Ba lại bênh nó!
Tôi nghe tiếng đóng cửa rầm trên lầu. Bé Hiên không còn lòng dạ nào ngồi xem TV nữa, nó tắt TV và trốn về phòng.
– Thằng Huy đã thiếu tình thương của mẹ từ khi nó mới 6 tuổi, anh chỉ có mình nó, nên bao nhiêu tình thương đều dồn cho nó cả, nay anh san sẻ tình thương này cho em và con gái, nên chắc nó tủi thân, em đừng giận hành động vừa qua của nó nhe, hãy bỏ qua cho nó, tìm cách gần gũi để bù đắp cho nó sự thiếu thốn tình mẫu tử.
– Vâng! Em đang cố gắng cân bằng cho cả hai đứa… con trai thật khó, nó không chịu mở lòng, nhưng em sẽ ráng hết sức…
o O o
Một buổi sáng đầu tuần, chúng tôi ai nấy bận rộn sửa soạn bữa sáng và lấy đồ ăn đem đi làm, tôi nghe tiếng đập cửa inh ỏi trên lầu, cả tôi và Thiện bỏ hết mọi thứ, chạy lên xem, thấy Huy đang đập cửa nhà tắm, giọng vang lên:
– Có ra ngay không, ngủ trong đó sao lâu vậy?…trễ rồi đây, mở cửa ra!
Không có tiếng đáp lại từ bên trong.
Thiện lên tiếng giải quyết:
– Con có thể vào buồng tắm của ba dùng cũng được mà, chắc em Hiên đang bận trong ấy.
– Không! Đây là buồng tắm của con, có bàn chải, khăn và đồ dùng của con trong đó mà, tại sao nó lúc nào cũng chiếm đồ của người khác mà không biết xấu hổ vậy!
Tôi phone vào sở xin nghỉ một ngày. Tôi muốn một mình suy nghĩ cho thật kỹ để đừng quyết định lầm lỡ, bước lại vào vết xe đổ như với người chồng trước.
Tôi ngắm ngôi nhà xinh xắn hạnh phúc này, tôi ngỡ sẽ trải qua phần cuối đời nơi đây, tôi tưởng sẽ chắp nối một cách yên lành cho con gái tôi có thêm một người anh trai, có người bố dượng tốt, có gia đình yên ấm để sau này sẽ không phải cô đơn trong cuộc sống! Nhưng chỉ mới có 4 tháng thôi!
Bốn tháng vỏn vẹn để biết rằng … có hợp rồi có tan!
Nước mắt tuôn chảy không ngừng, mệt quá, tôi gục xuống thành ghế sofa thiếp đi hồi nào không hay.
Tôi tỉnh dậy khi nghe tiếng thét trên lầu của Hiên, mới biết nó vừa đi học về, tôi chạy ba chân bốn cẳng lên lầu.
Trước mắt tôi cả căn phòng bừa bộn, mấy tấm ảnh chụp của bé Hiên treo trên tường bị ném hết xuống đất, tấm nào cũng có bút mực đỏ, đen gạch chéo trên đó, tôi nhìn lên tấm gương to ở bên cạnh, vết viết bằng cây son môi đỏ chói:
– Hãy cút về nhà mày! Trả lại ba cho tao!
Tôi và Hiên sững sờ, nhìn cảnh tan hoang của căn phòng, đoán được rằng hồi sáng trước khi ra khỏi nhà, Huy đã phá nát tan căn phòng của con bé!
Hiên sà vào lòng, ôm lấy tôi, gào to:
– Mẹ ơi, con không ở đây đâu, con không muốn ở nhờ nhà người ta để bị xỉa xói mỗi ngày, con không thể sống nổi nữa đâu mẹ ơi!… Mình về nhà mình đi mẹ! con xin mẹ!
Tôi vuốt tóc con, nước mắt đầm đìa, trấn an:
– Mẹ lúc nào cũng ở bên con, mẹ xin lỗi, mẹ đã sai rồi, mẹ đã làm điều không đúng!
o O o
Hai tháng trôi qua trong ngôi nhà cũ thân thương, yên ấm, bé Hiên đã lấy lại được nụ cười hồn nhiên, con bé vẽ những bức tranh có bầu trời ngập ánh nắng, hoa đủ màu nở rộ và những chú bướm bay lượn; tôi không còn bận rộn làm những bữa cơm cầu kỳ nữa, tôi có nhiều thì giờ bên con gái hơn, xem bài vở, nói chuyện và hướng dẫn con bước vào đời qua những mẩu chuyện con gái kể về bạn bè trong lớp học.
Thiện có text cho tôi:
– Anh xin lỗi em và con gái, thằng bé Huy chưa chuẩn bị tâm lý để có mẹ kế cũng như em gái, hãy cho các con của chúng ta thêm thời gian em nhé. Thằng Huy bỏ nhà đi theo mấy thằng bạn hư hỏng mấy ngày nay, anh gọi phone nó cũng không bắt; anh không muốn làm nó bị tổn thương hơn nữa, xin em hãy thông cảm cho anh, mong em và con gái nhiều sức khỏe và anh không dám hứa điều gì cho tương lai. Bye em!
Tôi không trả lời Thiện, 2 tháng nay chúng tôi không hẹn gặp mặt, ít nhiều gì lòng tự trọng cũng đã bị tổn thương, tôi nhớ chàng đã từng nói:
– Dù gì cuộc đời mình cũng coi như xong, bây giờ anh chỉ muốn cho thằng Huy cũng như con gái em một gia đình có cha, có mẹ, hòa thuận, để sau này chúng ra đời sẽ vững chãi hơn…
Ai ngờ…
Đặt dấu chấm không viết về anh nữa
Đem thu xưa gửi lại thuở bên người
Năm tháng ấy thuộc về miền quá vãng
Vé khứ hồi không hẹn chuyến tàu xưa.
(Buông- thơ Hoàng thị Bích Hà)
Sỏi Ngọc
Montreal, Nov’25
SỎI NGỌC – TRUYỆN NGẮN: Hoàng Hôn Còn Sót Lại.
Hoàng Hôn Còn Sót Lại – Sỏi Ngọc
Ông ta dí một xấp bạc trước mặt mẹ, hai hàm răng nghiến chặt, lăm lăm con dao nhọn hoắt:
– Đếm xem có đủ cho cô xài không?… Nếu thấy đủ rồi thì từ đây hãy ở nhà đi, tôi không muốn tôi bị truy ra tung tích từ cô!… Cô thật là cái nợ lớn cho tôi đó, biến đi! Bỏ tất cả mọi công việc ba xu đi!
– ……
– Còn không hiểu nữa sao mà ngước cặp mắt giả nai lên nhìn nữa! Từ giờ trở đi nếu chúng nó lùng ra tôi… Cô và con bé đừng trách tôi!… Thật phiền quá!
– Khoan! Anh à… Anh…
Ông ta hất mẹ té xuống đất, phóng người ra khỏi nhà bằng ngã sau, nhìn trước nhìn sau rồi biến mất. Mẹ không sao thốt nổi nửa lời, hàng nước mắt long lanh, quẹt nhanh. Vội vàng run rẩy quơ hết đống bạc trên bàn cho vào một cái túi nhỏ giấu dưới đáy tủ, sợ lỡ có ai nhìn thấy thì lại mắc họa vào thân.
Tôi ghì cái mền vào lòng, cắn chặt đôi môi cho khỏi bật khóc thành tiếng, hi hí mắt giả ngủ, nằm yên, thầm khẩn cầu Trời Phật cho ông ta biến mất khỏi cuộc đời khốn khổ của mẹ con tôi.
Tôi thù ông ta! Phải! Chỉ mới gần 8 tuổi thôi mà tôi đã có một kẻ thù không đội trời chung!… Là ông ấy! Đặc biệt vết sẹo dài vắt ngang chân mày trái làm ông ta giống như phù thủy, chiếc miệng không ngớt mắng chửi, đánh đập tôi khi ông về thăm nhà.
Tôi không hiểu sao ông ta có thể là cha ruột của tôi!
Ông đưa tiền cho mẹ một mà nạo tiền mẹ đến mười! Nếu mẹ không cất giấu những đồng tiền ấy đi thì sau này ông ta hỏi mà không có thì mẹ sẽ phải bị hành hạ đến chết!
Mẹ một mình nuôi tôi bằng đồng lương kham khổ, làm cô giáo cấp 1, và may thêm buổi tối ở nhà.
Những người đến đặt hàng may của mẹ, ai cũng hỏi tôi về cha, tại sao cha không bao giờ có mặt ở nhà. Những lúc như thế tôi lại úp mặt vào lòng mẹ, cảm thấy vừa tủi thân, vừa thù hận người đã mang danh hiệu CHA mà không tròn bổn phận với mẹ và tôi!
Mặc dù tuổi còn bé, tôi vẫn biết mẹ phải chịu đựng biết bao khổ sở cực nhọc vì miệng đời. Xã hội còn lạc hậu, nền nếp phong kiến xưa, và vì sự tồn tại của tôi, đứa con không mong muốn!
Tôi không khóc như mẹ, nhưng lì và thù hận ăn sâu trong tim óc non nớt của tôi, tôi nhất quyết phải làm một điều gì đó để cứu cuộc đời cực nhọc của mẹ ra khỏi cái hang hùm ấy.
Một hôm ông ta về nhà trong lúc tôi đang ngồi trước cửa chơi con búp bê bùn sình bẩn thỉu mà mẹ đã lượm từ đống rác cách nhà mấy mươi bước khi đi dạy học về. Ông kéo tôi xềnh xệch vào nhà:
– Đi tắm và lấy bộ đồ mới mặc vào!
– Đi đâu hả cha?
– Mày có quyền lên tiếng hả?
Chưa nói hết câu, ông đã sấn lại tát lên má tôi một cái thật đau điếng mà tưởng chừng thấy ngàn ngôi sao quay vòng vòng trên đầu. Té thụp xuống đất, tôi thút thít và biết là ông sẽ làm hại tôi:
– Con chờ mẹ về rồi mới đi…
– Mày còn trả treo hả? Đi ngay với tao! Tao không phải là cha mày sao?
Tôi lấy hết sức bình sinh và tất cả can đảm, hét lên:
– Không! Ông không phải cha tôi! Ông là người ác độc, ông là…
– Bốp! bốp!
Ông ta táng vào đầu tôi, túm tóc vặn ngược ra đàng sau. Hai con mắt đỏ ngầu, cả người ông tỏa ra mùi rượu nồng nặc, ông kéo lết tôi ngược ra sau nhà, hai cánh tay tôi níu ngược lại sau đầu, nương cho mái tóc như sắp lìa khỏi da đầu. Hai chân tôi cào cấu cố bám víu lấy những vật cản trong nhà, nhưng vô ích.
Ra đến sau bếp, ông mở nắp lu nước đầy 2/3, ông bế xốc tôi lên bỏ vào đó một cách gọn lỏn không do dự. Cái nóng đau rát cùng mồ hôi đổ túa ra đầu cổ từ nãy giờ, gặp lu nước lạnh mát bất thình lình, nhiệt độ trong cơ thể tôi tụt nhanh bất ngờ, tôi hoàn toàn mất tri giác, toàn thân mềm nhũn.
May là ngay lúc ông vừa bước ra khỏi bếp, thì mẹ tôi về đến nhà.
Điều đầu tiên bà làm là vô bếp múc nước rửa tay chân rồi mới bắt đầu làm bếp. Khi mở nắp lu nước ra thấy tôi nằm gọn lỏn trong đó, nước lên ngập đầu, tưởng là đã chết, mẹ hết sức bình sinh lật đổ cái lu, vỡ toang tành, tay chân mẹ bị mảnh sành của lu cứa đến trầy rất nhiều vết thương nhỏ máu, và bế xốc tôi sang nhà hàng xóm cấp cứu. Từ đó tôi và mẹ theo nhau bén gót, mẹ không dám hở tôi ra, sợ ông ta sẽ giết hoặc hại đến tôi.
Ông bà ngoại chỉ có mỗi mình mẹ là con gái duy nhất ở Cao Lãnh, gia đình khá giả nên mẹ được đi học đàng hoàng cho đến hết lớp 12. Một vụ pháo kích bất ngờ của Việt Cộng vào nhà dân khoảng năm 1973 đã làm cả xóm sụp đổ hoang tàn, bao người chết chóc, trong đó có ông bà ngoại! Mẹ được những người dân xung quanh vực dậy, di tản lên Sài Gòn. Mẹ chỉ biết hớt hơ hớt hải chạy theo đoàn người, với hai bàn tay trắng, tâm hồn rạn nứt, trái tim đã chết theo cái chết oan khiên của ông bà ngoại dưới đống đổ nát của nhà cửa làng mạc.
Ở Sài Gòn, chính phủ có xây một nơi tập trung khá rộng bằng mái tole cho những người chạy giặc từ quê lên tạm trú. Nơi đây mẹ một thân một mình, không người thân mà chỉ có những người cùng quê làng mà thôi. Mẹ phải bươn chải, phải tự tìm việc làm thêm để nuôi bản thân mình; còn những người khác ít học thì đi bán vé số, lượm ve chai, gánh hàng đi bán…
May là mẹ đã có một số vốn kiến thức thời trung học và ngoại ngữ loại khá nên làm cô giáo dạy toán và ngoại ngữ cho các em nhỏ ở SàiGòn.
Một buổi chiều đi dạy về tối, một đám côn đồ ra chặn đường, mẹ hốt hoảng không biết phải làm sao với ba bốn tên mặt mày hung dữ, mẹ chả có tiền bạc gì cho chúng cả, mẹ quỳ xuống van xin chúng đừng động tới mẹ, nhưng chúng chỉ cười hung ác, nhào vô cấu xé mẹ. Mẹ sợ đến ngất lịm trên nền đất bùn sình với bóng đêm ngày càng dầy đặc như để che đi cái dã man tàn ác của bọn côn đồ.
Khi chiếc áo nhỏ của mẹ vừa bứt ra khỏi người, tiếng cười man rợ của bọn ma cô vang lên thì ngay lúc ấy mẹ thấy một bóng người lao vút vào, con dao nhọn hoắt múa soạt soạt kinh hồn. Cả đám nhào vào đánh một người. Người “anh hùng” cứu mẹ bị một vết thương ở mặt, máu ào ạt tuôn ra, ông ta vẫn không cảm thấy đau mà cúi người xuống vác mẹ trên vai băng băng chạy thật mau vào những ngõ tối mà cả bọn lưu manh không biết đường đuổi theo.
Theo lời mẹ kể sau ngày ấy, mẹ ở với hắn. Hắn cũng chả yêu thương gì mẹ mà chỉ dùng mẹ như một công cụ kiếm tiền của hắn, một người phục vụ cho hắn. Đã bao lần mẹ muốn trốn đi nhưng không biết phải đi đâu, sợ ở cái đất Sài Gòn rộng lớn này mẹ lại bị hại nữa; mẹ như một con cừu non chưa ra đời, không biết phương hướng giữa bầy sói hoang, thà ở lại với tên lưu manh, phục vụ cho hắn còn hơn!
Thời gian trôi qua, hắn biết mẹ là người con gái đàng hoàng, trinh trắng, hắn là người đàn ông may mắn đầu tiên trong đời mẹ, nên hắn bớt hằn học và tin tưởng giao tiền cho mẹ giữ. Hắn không biết nói chuyện nhã nhặn mà chỉ biết la mắng, uống rượu, thô lỗ. Cả đời sống bên cạnh mẹ, nhưng chưa bao giờ hắn có lời nói nhẹ nhàng hay cử chỉ yêu thương với mẹ cả!
Trên trán hắn có một vết sẹo dài, vết sẹo do lần đánh nhau với bọn lưu manh để cứu mạng mẹ, mỗi lần nhìn thấy vết sẹo ấy, mẹ lại không đành lòng rời xa hắn vì theo mẹ hắn là ân nhân cứu mạng mẹ.
Rồi mẹ mang bầu tôi, hắn đã đánh mẹ một trận nhừ tử, muốn mẹ bỏ cái thai, hắn không muốn có trách nhiệm với con cái, cũng như không muốn nghe tiếng khóc trẻ thơ. Mẹ van xin hắn cho mẹ giữ lại đứa con vô tội trong bụng, mẹ hứa với hắn sẽ không để cho đứa trẻ bật lên tiếng khóc!
Ngày mẹ đi sanh tôi chỉ một thân một mình, khi bế tôi về mẹ cũng cố gắng nuôi tôi bằng dòng sữa mẹ ít ỏi của người.
Tôi là một đứa con gái ngoan ngoãn biết nghe lời mẹ từ khi còn trong bụng. Sợ mẹ bị đòn đau nên tôi chả bao giờ khóc cho dù nhiều lúc tè đầy tã, ướt cả lưng mà tôi vẫn cứ nằm yên chơi với ngón tay, bàn chân mình và chờ mẹ rảnh mới đến lau chùi cho. Tôi lớn lên bên cạnh mẹ, chỉ biết một mình mẹ, chưa bao giờ được cái hôn hay vòng tay ôm của cha.
Hắn đi suốt mấy ngày liền là những ngày tôi và mẹ thật hạnh phúc bên nhau. Chúng tôi cười đùa, mẹ dạy tôi học những chữ cái, dạy tôi đếm. Khi nghe bên ngoài cánh cửa lách cách mở là mẹ và tôi thật im lặng, tôi sợ đến nỗi phải chui xuống gầm giường để trốn hắn!
Hắn rất ít khi nào thấy mặt tôi, trừ một hôm hắn về nhà vào nửa đêm khi tôi và mẹ đang say trong giấc ngủ. Hắn nhìn vào trong giường qua chiếc màn mỏng, tôi nằm co quắp bên cạnh mẹ. Thấy lạ, hắn vén màn vào trong sát mặt nhìn tôi rồi ra vẻ hài lòng.
Đó là lần đầu tiên mẹ nói hắn có vẻ hài lòng khi thấy tôi. Nhưng tôi vẫn tránh hắn, im lặng và tự bảo vệ mình như con chim nhỏ sống bên cạnh con mãnh thú.
Dòng đời vẫn cứ tuôn chảy, cho đến khi miền Nam bị đổi chủ, ai ai cũng bỏ nhà bỏ cửa chạy hết ra bến tàu, hy sinh thí mạng với biển cả. Cha tôi nhân cơ hội đó vơ vét của cải của những gia đình giàu có, ăn cắp tư trang trong sự sơ hở của người dân Sài Gòn rồi đem của cải đó về cho mẹ tôi giữ để bán dần đi tiêu xài.
Mẹ tôi khuyên lơn bao nhiêu cũng bị hắn đánh cho vài bạt tai và không muốn nghe lời khuyên của mẹ. Hắn cứ tiếp tục ăn cắp, ăn cướp đến nỗi tên tuổi của hắn bị công an ở chế độ mới truy lùng. Hắn không dám về nhà thường xuyên nữa. Mà thỉnh thoảng hắn lại xuất hiện khi thì trong bếp, lúc thì ở phòng tắm, ẩn ẩn hiện hiện rồi lại biến.
Lúc ấy tôi đã lớn gần 8 tuổi, tôi chỉ cầu mong cho hắn bị bắt, bị ở tù mọt gông, tôi cầu nguyện cho hắn sẽ biết mất trên cõi đời này để đừng hành hạ mẹ con tôi nữa.
Tiếng gõ cửa nhè nhẹ bên ngoài, chỉ mới 3 giờ sáng! Giọng nói khe khẽ vọng vào:
– Tràm ơi, Mùi đây! Mở cửa đi!
Mẹ ngồi bật dậy, bỏ cánh tay của tôi đang vắt ngang bụng mẹ sang một bên. Tôi lại giả ngủ, lắng nghe.
Dì Mùi là người bạn thân nhất của mẹ ở đất Sài Gòn này, hồi xưa cả hai cùng đi học tiểu học, trung học ở Cao Lãnh, hai người gặp lại khi mẹ dọn đến đây ở, dì Mùi xinh đẹp nhưng vẫn thua sắc đẹp kín đáo, trầm lắng của mẹ.
Dì Mùi và mẹ thầm thì:
Tràm! Ngày mai nghe, nhớ đó… Theo tụi tui thì mình mới sống sót làm lại cuộc đời, chứ sống kiểu này tui không yên tâm thấy con nhỏ cứ bị nay bầm cái vai, mai tím cái mặt… lỡ sau này lớn lên…, “nó” cũng không tha cho con gái nó nữa thì sao? Tui không tin được hắn! Đi cho hai đứa nhỏ có bạn!
– Thiệt ra mình cũng muốn lắm, nhưng sao tôi lo quá! Thật khó tính hết sức…
– Bà chỉ có thể chọn, hoặc ở riết đây, hoặc đổi đời… Tui cho bà một đêm nay nữa thôi… Tội nghiệp con nhỏ, bà nhìn nó có được tương lai nếu chôn chân ở đây không? Suy nghĩ đi!
Dì Mùi nói nhanh rồi bỏ về, mẹ thao thức cả đêm, thở ngắn, thở dài, cuối cùng mẹ chỉ đem một chiếc túi nhỏ quần áo và một chút tro trên bàn thờ của ông bà được xẻ vào hai chiếc túi nylon nhỏ chống nước và bọc thêm túi vải bên ngoài.
Thương mẹ quá, đây là sự quyết định thật táo bạo và liên quan đến cả tương lai cuộc sống của hai mẹ con, mẹ làm sao suy nghĩ nổi chỉ trong đêm nay?! Tôi lại cắn chặt chiếc mền, giấu tiếng nấc!
Sau đó mẹ đứng trước bàn thờ Phật, bàn thờ ông bà, có lẽ đây là lần cuối, mẹ khấn thật lâu, lâu đến nỗi tôi ngủ thiếp đi…
Thoáng chốc 20 năm trên đất Canada thanh bình như những giọt mật hạnh phúc mà mẹ con chúng tôi đang khát khao tận hưởng. Tôi đã thật sự trưởng thành, ra trường và làm luật sư cho một văn phòng ở Montreal.
Mẹ chỉ còn làm bán thời gian nên có thì giờ nghỉ ngơi và đọc sách báo, không những thế mẹ còn sáng tác văn thơ đóng góp cho các báo Việt trên thế giới mà mẹ tìm thấy website trên net.
Một hôm, lưỡng lự mẹ nói:
– Nếu… vì bất đắc dĩ gặp lại cha thì con có muốn… không?
– Không! Dù có tận thế con cũng không muốn nhìn lại ông ta nữa!… Con không thể nào quên được, xin mẹ đừng hỏi con điều này!
Ánh mắt mẹ nhìn tôi sâu lắng:
– Con gái! Hãy bỏ qua tất cả… dù sao cũng là cha con…
– Nhưng ông ta không muốn có con trên đời này mà!
– Con người sẽ thay đổi ý nghĩ khi ở một hoàn cảnh khác, hãy vì mẹ con nhé!
Dì Dượng Mùi vẫn ghé thăm chúng tôi với Đan, con trai của vợ chồng dì, hơn tôi 3 tuổi. Anh vừa xong bằng bác sĩ; chúng tôi thân nhau từ thuở nhỏ bên nhà, anh không những là người anh, mà còn là một người bạn tri âm tri kỷ thật hiếm có!
Anh mới được nhận việc ở một nhà thương lớn. Tôi chịu đựng chai lì từ thuở bé bao nhiêu, thì Đan có một tuổi thơ tuy nghèo nhưng thật trọn vẹn trong tình yêu chan chứa của bố mẹ, trưởng thành với một trái tim sẵn sàng chia sẻ và giúp đỡ chăm sóc người bệnh thật nhiệt tình!
Anh điện thoại, năn nỉ tôi:
– Dỹ Lan, em… giúp anh đóng vai con gái của bác trai này nhé, bác bị bệnh thật nặng, chắc sẽ không qua khỏi trong nay mai… nguyện vọng của bác chỉ muốn được nắm tay con gái của bác lần cuối!
– Em có phải là con gái bác đâu!
– Anh biết!… Người nhà của bác ấy có đăng tin từ mấy tháng nay trên khắp các mặt báo, mà vẫn không tìm ra thân nhân… Anh muốn làm một điều gì đó giúp bác trước khi ra đi! Nên nghĩ đến em!
– Đúng là anh có trái tim nhân hậu của một bác sĩ quá đó!
– Không phải đâu, anh thấy bác lạ lắm, bác có một câu chuyện đời thật đau lòng, bác muốn tạ tội cùng người con gái của bác! Anh không nỡ không giúp… Bác nói sẽ mãn nguyện nhắm mắt nếu thấy được người con gái ấy.
– Hum… Thôi được rồi, em sẽ đến giúp anh!…
– Cám ơn em, mình hẹn chút nữa nhe, yêu em!
Đan lúc nào cũng thế! Cuộc đời đối với chàng là những trang cổ tích màu hồng, ở bên chàng ai cũng cảm thấy được yêu thương bảo bọc, cả đối với bệnh nhân, chàng cũng muốn làm kỳ tích cho họ!
Tôi yêu chàng chắc cũng vì điểm đặc biệt này! Chẳng bao lâu chiếc xe tôi đã đậu ngay trước bệnh viện chàng làm việc. Chàng chờ tôi bên ngoài với chiếc blouse trắng, dưới ánh nắng xuân đong đưa của tàn cây phong, nụ cười tươi nở trên môi, trông chàng thật trong sáng và đẹp; chàng hôn nhẹ lên trán tôi:
– Cám ơn em đã đến! Em nhớ đóng cho nhập vai nhé, trấn tĩnh bác để giúp bác ra đi nhẹ nhàng…
Tôi thấy trong ánh mắt chàng, niềm lo lắng và tận tụy vì người bệnh khiến lòng tôi cũng nặng ưu tư; tôi gật đầu, hứa sẽ làm với tất cả trái tim để giúp người sắp lìa đời…
Chúng tôi vừa bước vào, cả gia đình người bệnh dạt ra hai bên, một người đàn ông gầy yếu, nhỏ bé xanh xao nằm quắp lại, hai mắt nhắm nghiền, miệng há ra, khuôn mặt nhăn nhó vì đau đớn…
Tôi tiến đến, lòng xao động, cầm tay bác và vén những làn tóc đượm mồ hôi trên trán sang một bên, nhìn kỹ khuôn mặt… Vết sẹo! Vết sẹo dài trên chân mày trái hiện rõ nét…
Vết sẹo! Trái tim như ngừng đập, tôi nghẹt thở! Tay chân bủn rủn!
Tôi bật dậy, quay đầu bước ra, Đan chặn tôi lại:
– Em có sao không? Sao mặt xanh vậy?
– Không! Không! Đây không phải sự thật! tôi… không muốn giúp người này đâu! Không! không…
Cả trái tim nhức buốt! Cả tuổi thơ khủng khiếp hiện về…
Kẻ thù duy nhất của tôi!… Đang nằm trước mặt tôi, thoi thóp! Chả lẽ nào lại là ông ta sao?! Người đã tàn nhẫn đày đọa mẹ tôi cả nửa đời người! Nhẫn tâm giết chết cả tuổi thơ của con gái ông ta! Tôi đã thề với lòng sẽ không nhìn lại ông ta nữa mà!
Tôi bật dậy muốn chạy ra khỏi phòng…
… Lời mẹ bên tai, hãy bỏ qua lòng thù hận… Tôi muốn chạy thật xa khỏi đây…
Nhưng, ông ta đang hấp hối… Tôi không nỡ. Quay lại! Lòng trắc ẩn.
Ngồi xuống bên giường, khuôn mặt ông lúc này quằn quại nhăn nhó đau đớn, không còn sức rên rỉ nữa, như đang bị trừng phạt, trả nghiệp. Tôi nắm lấy bàn tay chai đá, hằn những lằn gân xanh, vuốt trán, mỗi cái chạm vào da thịt ông, tôi thấy cả dòng máu hồi sinh đang chảy trong tôi, một huyết thống thật thân yêu khó tả vào giờ phút cuối của đời người, thật chan chứa không sao kể xiết.
Tôi cúi xuống, lần đầu tiên tôi hôn lên tay, hôn lên trán ông một cách thật trìu mến, chân thành như chính con gái ruột nhận lại người cha lâu đời của mình vậy!
Tất cả sự thù hận chất chứa trong tim từ bao năm nay bỗng tan chảy thành hai dòng lệ nóng hổi, dồn dập tuôn tràn:
– Cha ơi! Cha… Đừng bỏ con!
Người bệnh bỗng mở mắt ra! Nhìn sững tôi, thật lâu, đến nỗi tôi tưởng như hàng thế kỷ. Cuối cùng, ông ôm chặt tôi, níu vào lòng:
– Ôi con gái… Con gái của tôi đây rồi… Cám ơn Trời Phật!… Hãy tha lỗi cho cha con gái nhé! Tha lỗi cho cha! Cha thật đáng chết! Thật… đáng chết!…
Bóng mẹ gục đầu sụt sùi bên ngoài cửa…
Thì ra chính mẹ đã nhờ Đan chuyển lời đến tôi, để giải tỏa mọi khúc mắc u buồn trong tôi và người đàn ông mà tôi gọi bằng… CHA.
Sỏi Ngọc
17 tháng 9, 2023
VTLV-CHÚC MỪNG 3 THÀNH VIÊN “SONG TỊCH” – VTLV & CÔ GÁI VIỆT – Thắng Giải Viết Về Nước Mỹ Việt Báo California: SỎI NGỌC (NGỌC HUYỀN), MINH THÚY, và KIM LOAN.
Hình trên từ trái qua:
1- Giải Đặc Biệt Sỏi Ngọc – tức Ngọc Huyền từ Canada. Ghi chú: Vì Sỏi Ngọc không qua Mỹ kip lãnh giải, phải nhờ người lãnh thay, nên VTLV mạn phép thêm hình Sỏi Ngọc vào hình này cho “đủ bộ” trình làng để mọi người trong nhà VTLV biết mặt- mong tác giả Sỏi Ngọc cảm thông.Đặc biệt hơn nữa: Tác Giả Ngọc Huyền từng Thắng GIẢI QUÁN QUÂN VTLV- Thắng cả 3 giải NHẤT, NHÌ, BA Trong các cuộc thi VTLV thời anh Chinh Nguyên và Bác Giao Chỉ làm Giám Khảo. Anh Chinh Nguyên KHI CÒN SINH TIỀN rất quý mến Ngọc Huyền – Sỏi Ngọc.
2- Giải Chung Kết – Vinh danh tác giả & Tác phẩm: Minh Thúy -Thành NộiBắc Cali
3- Giải Vinh Danh Tác Phẩm: Kim LoanCanada.
VTLV CHÚC MỪNG
CHÚC MỪNG BA CÔ GÁI VIỆT TRONG VTLV THẮNG GIẢI VIẾT VỀ NƯỚC MỸ.
CHÚC MỪNG thắng giải, tam nương nương!
Kiệt nữ “Hai Nhà” tiếng bốn phương
MINH THÚY văn bài vừa… cán cột
KIM LOAN bút pháp mới…thăng đường
NGỌC HUYỀN tác giả nơi nơi biết
Ba vị tân khoa chốn chốn tường
LẠC VIỆTVĂN THƠ + CÔ GÁI VIỆT!
Mau mau mở tiệc! Mấy cô nường!
Phương Hoa – VTLV – DEC 1, 2025
Cựu tác Giả Phương Hoa Trao Giải Đặc Biệt Cho Người Đại Diện Tác Giả Sỏi Ngọc.
Tạm thời đăng được nhiêu hình đây thôi, vì file hình lón quá không up lên đuộc nhiề.u
TRUYỆN NGẮN Của Cô Gái Việt SỎI NGỌC: Hoàng Hôn Còn Sót Lại
Hoàng Hôn Còn Sót Lại – Sỏi Ngọc
Ông ta dí một xấp bạc trước mặt mẹ, hai hàm răng nghiến chặt, lăm lăm con dao nhọn hoắt:
– Đếm xem có đủ cho cô xài không?… Nếu thấy đủ rồi thì từ đây hãy ở nhà đi, tôi không muốn tôi bị truy ra tung tích từ cô!… Cô thật là cái nợ lớn cho tôi đó, biến đi! Bỏ tất cả mọi công việc ba xu đi!
– ……
– Còn không hiểu nữa sao mà ngước cặp mắt giả nai lên nhìn nữa! Từ giờ trở đi nếu chúng nó lùng ra tôi… Cô và con bé đừng trách tôi!… Thật phiền quá!
– Khoan! Anh à… Anh…
Ông ta hất mẹ té xuống đất, phóng người ra khỏi nhà bằng ngã sau, nhìn trước nhìn sau rồi biến mất. Mẹ không sao thốt nổi nửa lời, hàng nước mắt long lanh, quẹt nhanh. Vội vàng run rẩy quơ hết đống bạc trên bàn cho vào một cái túi nhỏ giấu dưới đáy tủ, sợ lỡ có ai nhìn thấy thì lại mắc họa vào thân.
Tôi ghì cái mền vào lòng, cắn chặt đôi môi cho khỏi bật khóc thành tiếng, hi hí mắt giả ngủ, nằm yên, thầm khẩn cầu Trời Phật cho ông ta biến mất khỏi cuộc đời khốn khổ của mẹ con tôi.
Tôi thù ông ta! Phải! Chỉ mới gần 8 tuổi thôi mà tôi đã có một kẻ thù không đội trời chung!… Là ông ấy! Đặc biệt vết sẹo dài vắt ngang chân mày trái làm ông ta giống như phù thủy, chiếc miệng không ngớt mắng chửi, đánh đập tôi khi ông về thăm nhà.
Tôi không hiểu sao ông ta có thể là cha ruột của tôi!
Ông đưa tiền cho mẹ một mà nạo tiền mẹ đến mười! Nếu mẹ không cất giấu những đồng tiền ấy đi thì sau này ông ta hỏi mà không có thì mẹ sẽ phải bị hành hạ đến chết!
Mẹ một mình nuôi tôi bằng đồng lương kham khổ, làm cô giáo cấp 1, và may thêm buổi tối ở nhà.
Những người đến đặt hàng may của mẹ, ai cũng hỏi tôi về cha, tại sao cha không bao giờ có mặt ở nhà. Những lúc như thế tôi lại úp mặt vào lòng mẹ, cảm thấy vừa tủi thân, vừa thù hận người đã mang danh hiệu CHA mà không tròn bổn phận với mẹ và tôi!
Mặc dù tuổi còn bé, tôi vẫn biết mẹ phải chịu đựng biết bao khổ sở cực nhọc vì miệng đời. Xã hội còn lạc hậu, nền nếp phong kiến xưa, và vì sự tồn tại của tôi, đứa con không mong muốn!
Tôi không khóc như mẹ, nhưng lì và thù hận ăn sâu trong tim óc non nớt của tôi, tôi nhất quyết phải làm một điều gì đó để cứu cuộc đời cực nhọc của mẹ ra khỏi cái hang hùm ấy.
Một hôm ông ta về nhà trong lúc tôi đang ngồi trước cửa chơi con búp bê bùn sình bẩn thỉu mà mẹ đã lượm từ đống rác cách nhà mấy mươi bước khi đi dạy học về. Ông kéo tôi xềnh xệch vào nhà:
– Đi tắm và lấy bộ đồ mới mặc vào!
– Đi đâu hả cha?
– Mày có quyền lên tiếng hả?
Chưa nói hết câu, ông đã sấn lại tát lên má tôi một cái thật đau điếng mà tưởng chừng thấy ngàn ngôi sao quay vòng vòng trên đầu. Té thụp xuống đất, tôi thút thít và biết là ông sẽ làm hại tôi:
– Con chờ mẹ về rồi mới đi…
– Mày còn trả treo hả? Đi ngay với tao! Tao không phải là cha mày sao?
Tôi lấy hết sức bình sinh và tất cả can đảm, hét lên:
– Không! Ông không phải cha tôi! Ông là người ác độc, ông là…
– Bốp! bốp!
Ông ta táng vào đầu tôi, túm tóc vặn ngược ra đàng sau. Hai con mắt đỏ ngầu, cả người ông tỏa ra mùi rượu nồng nặc, ông kéo lết tôi ngược ra sau nhà, hai cánh tay tôi níu ngược lại sau đầu, nương cho mái tóc như sắp lìa khỏi da đầu. Hai chân tôi cào cấu cố bám víu lấy những vật cản trong nhà, nhưng vô ích.
Ra đến sau bếp, ông mở nắp lu nước đầy 2/3, ông bế xốc tôi lên bỏ vào đó một cách gọn lỏn không do dự. Cái nóng đau rát cùng mồ hôi đổ túa ra đầu cổ từ nãy giờ, gặp lu nước lạnh mát bất thình lình, nhiệt độ trong cơ thể tôi tụt nhanh bất ngờ, tôi hoàn toàn mất tri giác, toàn thân mềm nhũn.
May là ngay lúc ông vừa bước ra khỏi bếp, thì mẹ tôi về đến nhà.
Điều đầu tiên bà làm là vô bếp múc nước rửa tay chân rồi mới bắt đầu làm bếp. Khi mở nắp lu nước ra thấy tôi nằm gọn lỏn trong đó, nước lên ngập đầu, tưởng là đã chết, mẹ hết sức bình sinh lật đổ cái lu, vỡ toang tành, tay chân mẹ bị mảnh sành của lu cứa đến trầy rất nhiều vết thương nhỏ máu, và bế xốc tôi sang nhà hàng xóm cấp cứu. Từ đó tôi và mẹ theo nhau bén gót, mẹ không dám hở tôi ra, sợ ông ta sẽ giết hoặc hại đến tôi.
Ông bà ngoại chỉ có mỗi mình mẹ là con gái duy nhất ở Cao Lãnh, gia đình khá giả nên mẹ được đi học đàng hoàng cho đến hết lớp 12. Một vụ pháo kích bất ngờ của Việt Cộng vào nhà dân khoảng năm 1973 đã làm cả xóm sụp đổ hoang tàn, bao người chết chóc, trong đó có ông bà ngoại! Mẹ được những người dân xung quanh vực dậy, di tản lên Sài Gòn. Mẹ chỉ biết hớt hơ hớt hải chạy theo đoàn người, với hai bàn tay trắng, tâm hồn rạn nứt, trái tim đã chết theo cái chết oan khiên của ông bà ngoại dưới đống đổ nát của nhà cửa làng mạc.
Ở Sài Gòn, chính phủ có xây một nơi tập trung khá rộng bằng mái tole cho những người chạy giặc từ quê lên tạm trú. Nơi đây mẹ một thân một mình, không người thân mà chỉ có những người cùng quê làng mà thôi. Mẹ phải bươn chải, phải tự tìm việc làm thêm để nuôi bản thân mình; còn những người khác ít học thì đi bán vé số, lượm ve chai, gánh hàng đi bán…
May là mẹ đã có một số vốn kiến thức thời trung học và ngoại ngữ loại khá nên làm cô giáo dạy toán và ngoại ngữ cho các em nhỏ ở SàiGòn.
Một buổi chiều đi dạy về tối, một đám côn đồ ra chặn đường, mẹ hốt hoảng không biết phải làm sao với ba bốn tên mặt mày hung dữ, mẹ chả có tiền bạc gì cho chúng cả, mẹ quỳ xuống van xin chúng đừng động tới mẹ, nhưng chúng chỉ cười hung ác, nhào vô cấu xé mẹ. Mẹ sợ đến ngất lịm trên nền đất bùn sình với bóng đêm ngày càng dầy đặc như để che đi cái dã man tàn ác của bọn côn đồ.
Khi chiếc áo nhỏ của mẹ vừa bứt ra khỏi người, tiếng cười man rợ của bọn ma cô vang lên thì ngay lúc ấy mẹ thấy một bóng người lao vút vào, con dao nhọn hoắt múa soạt soạt kinh hồn. Cả đám nhào vào đánh một người. Người “anh hùng” cứu mẹ bị một vết thương ở mặt, máu ào ạt tuôn ra, ông ta vẫn không cảm thấy đau mà cúi người xuống vác mẹ trên vai băng băng chạy thật mau vào những ngõ tối mà cả bọn lưu manh không biết đường đuổi theo.
Theo lời mẹ kể sau ngày ấy, mẹ ở với hắn. Hắn cũng chả yêu thương gì mẹ mà chỉ dùng mẹ như một công cụ kiếm tiền của hắn, một người phục vụ cho hắn. Đã bao lần mẹ muốn trốn đi nhưng không biết phải đi đâu, sợ ở cái đất Sài Gòn rộng lớn này mẹ lại bị hại nữa; mẹ như một con cừu non chưa ra đời, không biết phương hướng giữa bầy sói hoang, thà ở lại với tên lưu manh, phục vụ cho hắn còn hơn!
Thời gian trôi qua, hắn biết mẹ là người con gái đàng hoàng, trinh trắng, hắn là người đàn ông may mắn đầu tiên trong đời mẹ, nên hắn bớt hằn học và tin tưởng giao tiền cho mẹ giữ. Hắn không biết nói chuyện nhã nhặn mà chỉ biết la mắng, uống rượu, thô lỗ. Cả đời sống bên cạnh mẹ, nhưng chưa bao giờ hắn có lời nói nhẹ nhàng hay cử chỉ yêu thương với mẹ cả!
Trên trán hắn có một vết sẹo dài, vết sẹo do lần đánh nhau với bọn lưu manh để cứu mạng mẹ, mỗi lần nhìn thấy vết sẹo ấy, mẹ lại không đành lòng rời xa hắn vì theo mẹ hắn là ân nhân cứu mạng mẹ.
Rồi mẹ mang bầu tôi, hắn đã đánh mẹ một trận nhừ tử, muốn mẹ bỏ cái thai, hắn không muốn có trách nhiệm với con cái, cũng như không muốn nghe tiếng khóc trẻ thơ. Mẹ van xin hắn cho mẹ giữ lại đứa con vô tội trong bụng, mẹ hứa với hắn sẽ không để cho đứa trẻ bật lên tiếng khóc!
Ngày mẹ đi sanh tôi chỉ một thân một mình, khi bế tôi về mẹ cũng cố gắng nuôi tôi bằng dòng sữa mẹ ít ỏi của người.
Tôi là một đứa con gái ngoan ngoãn biết nghe lời mẹ từ khi còn trong bụng. Sợ mẹ bị đòn đau nên tôi chả bao giờ khóc cho dù nhiều lúc tè đầy tã, ướt cả lưng mà tôi vẫn cứ nằm yên chơi với ngón tay, bàn chân mình và chờ mẹ rảnh mới đến lau chùi cho. Tôi lớn lên bên cạnh mẹ, chỉ biết một mình mẹ, chưa bao giờ được cái hôn hay vòng tay ôm của cha.
Hắn đi suốt mấy ngày liền là những ngày tôi và mẹ thật hạnh phúc bên nhau. Chúng tôi cười đùa, mẹ dạy tôi học những chữ cái, dạy tôi đếm. Khi nghe bên ngoài cánh cửa lách cách mở là mẹ và tôi thật im lặng, tôi sợ đến nỗi phải chui xuống gầm giường để trốn hắn!
Hắn rất ít khi nào thấy mặt tôi, trừ một hôm hắn về nhà vào nửa đêm khi tôi và mẹ đang say trong giấc ngủ. Hắn nhìn vào trong giường qua chiếc màn mỏng, tôi nằm co quắp bên cạnh mẹ. Thấy lạ, hắn vén màn vào trong sát mặt nhìn tôi rồi ra vẻ hài lòng.
Đó là lần đầu tiên mẹ nói hắn có vẻ hài lòng khi thấy tôi. Nhưng tôi vẫn tránh hắn, im lặng và tự bảo vệ mình như con chim nhỏ sống bên cạnh con mãnh thú.
Dòng đời vẫn cứ tuôn chảy, cho đến khi miền Nam bị đổi chủ, ai ai cũng bỏ nhà bỏ cửa chạy hết ra bến tàu, hy sinh thí mạng với biển cả. Cha tôi nhân cơ hội đó vơ vét của cải của những gia đình giàu có, ăn cắp tư trang trong sự sơ hở của người dân Sài Gòn rồi đem của cải đó về cho mẹ tôi giữ để bán dần đi tiêu xài.
Mẹ tôi khuyên lơn bao nhiêu cũng bị hắn đánh cho vài bạt tai và không muốn nghe lời khuyên của mẹ. Hắn cứ tiếp tục ăn cắp, ăn cướp đến nỗi tên tuổi của hắn bị công an ở chế độ mới truy lùng. Hắn không dám về nhà thường xuyên nữa. Mà thỉnh thoảng hắn lại xuất hiện khi thì trong bếp, lúc thì ở phòng tắm, ẩn ẩn hiện hiện rồi lại biến.
Lúc ấy tôi đã lớn gần 8 tuổi, tôi chỉ cầu mong cho hắn bị bắt, bị ở tù mọt gông, tôi cầu nguyện cho hắn sẽ biết mất trên cõi đời này để đừng hành hạ mẹ con tôi nữa.
Tiếng gõ cửa nhè nhẹ bên ngoài, chỉ mới 3 giờ sáng! Giọng nói khe khẽ vọng vào:
– Tràm ơi, Mùi đây! Mở cửa đi!
Mẹ ngồi bật dậy, bỏ cánh tay của tôi đang vắt ngang bụng mẹ sang một bên. Tôi lại giả ngủ, lắng nghe.
Dì Mùi là người bạn thân nhất của mẹ ở đất Sài Gòn này, hồi xưa cả hai cùng đi học tiểu học, trung học ở Cao Lãnh, hai người gặp lại khi mẹ dọn đến đây ở, dì Mùi xinh đẹp nhưng vẫn thua sắc đẹp kín đáo, trầm lắng của mẹ.
Dì Mùi và mẹ thầm thì:
Tràm! Ngày mai nghe, nhớ đó… Theo tụi tui thì mình mới sống sót làm lại cuộc đời, chứ sống kiểu này tui không yên tâm thấy con nhỏ cứ bị nay bầm cái vai, mai tím cái mặt… lỡ sau này lớn lên…, “nó” cũng không tha cho con gái nó nữa thì sao? Tui không tin được hắn! Đi cho hai đứa nhỏ có bạn!
– Thiệt ra mình cũng muốn lắm, nhưng sao tôi lo quá! Thật khó tính hết sức…
– Bà chỉ có thể chọn, hoặc ở riết đây, hoặc đổi đời… Tui cho bà một đêm nay nữa thôi… Tội nghiệp con nhỏ, bà nhìn nó có được tương lai nếu chôn chân ở đây không? Suy nghĩ đi!
Dì Mùi nói nhanh rồi bỏ về, mẹ thao thức cả đêm, thở ngắn, thở dài, cuối cùng mẹ chỉ đem một chiếc túi nhỏ quần áo và một chút tro trên bàn thờ của ông bà được xẻ vào hai chiếc túi nylon nhỏ chống nước và bọc thêm túi vải bên ngoài.
Thương mẹ quá, đây là sự quyết định thật táo bạo và liên quan đến cả tương lai cuộc sống của hai mẹ con, mẹ làm sao suy nghĩ nổi chỉ trong đêm nay?! Tôi lại cắn chặt chiếc mền, giấu tiếng nấc!
Sau đó mẹ đứng trước bàn thờ Phật, bàn thờ ông bà, có lẽ đây là lần cuối, mẹ khấn thật lâu, lâu đến nỗi tôi ngủ thiếp đi…
Thoáng chốc 20 năm trên đất Canada thanh bình như những giọt mật hạnh phúc mà mẹ con chúng tôi đang khát khao tận hưởng. Tôi đã thật sự trưởng thành, ra trường và làm luật sư cho một văn phòng ở Montreal.
Mẹ chỉ còn làm bán thời gian nên có thì giờ nghỉ ngơi và đọc sách báo, không những thế mẹ còn sáng tác văn thơ đóng góp cho các báo Việt trên thế giới mà mẹ tìm thấy website trên net.
Một hôm, lưỡng lự mẹ nói:
– Nếu… vì bất đắc dĩ gặp lại cha thì con có muốn… không?
– Không! Dù có tận thế con cũng không muốn nhìn lại ông ta nữa!… Con không thể nào quên được, xin mẹ đừng hỏi con điều này!
Ánh mắt mẹ nhìn tôi sâu lắng:
– Con gái! Hãy bỏ qua tất cả… dù sao cũng là cha con…
– Nhưng ông ta không muốn có con trên đời này mà!
– Con người sẽ thay đổi ý nghĩ khi ở một hoàn cảnh khác, hãy vì mẹ con nhé!
Dì Dượng Mùi vẫn ghé thăm chúng tôi với Đan, con trai của vợ chồng dì, hơn tôi 3 tuổi. Anh vừa xong bằng bác sĩ; chúng tôi thân nhau từ thuở nhỏ bên nhà, anh không những là người anh, mà còn là một người bạn tri âm tri kỷ thật hiếm có!
Anh mới được nhận việc ở một nhà thương lớn. Tôi chịu đựng chai lì từ thuở bé bao nhiêu, thì Đan có một tuổi thơ tuy nghèo nhưng thật trọn vẹn trong tình yêu chan chứa của bố mẹ, trưởng thành với một trái tim sẵn sàng chia sẻ và giúp đỡ chăm sóc người bệnh thật nhiệt tình!
Anh điện thoại, năn nỉ tôi:
– Dỹ Lan, em… giúp anh đóng vai con gái của bác trai này nhé, bác bị bệnh thật nặng, chắc sẽ không qua khỏi trong nay mai… nguyện vọng của bác chỉ muốn được nắm tay con gái của bác lần cuối!
– Em có phải là con gái bác đâu!
– Anh biết!… Người nhà của bác ấy có đăng tin từ mấy tháng nay trên khắp các mặt báo, mà vẫn không tìm ra thân nhân… Anh muốn làm một điều gì đó giúp bác trước khi ra đi! Nên nghĩ đến em!
– Đúng là anh có trái tim nhân hậu của một bác sĩ quá đó!
– Không phải đâu, anh thấy bác lạ lắm, bác có một câu chuyện đời thật đau lòng, bác muốn tạ tội cùng người con gái của bác! Anh không nỡ không giúp… Bác nói sẽ mãn nguyện nhắm mắt nếu thấy được người con gái ấy.
– Hum… Thôi được rồi, em sẽ đến giúp anh!…
– Cám ơn em, mình hẹn chút nữa nhe, yêu em!
Đan lúc nào cũng thế! Cuộc đời đối với chàng là những trang cổ tích màu hồng, ở bên chàng ai cũng cảm thấy được yêu thương bảo bọc, cả đối với bệnh nhân, chàng cũng muốn làm kỳ tích cho họ!
Tôi yêu chàng chắc cũng vì điểm đặc biệt này! Chẳng bao lâu chiếc xe tôi đã đậu ngay trước bệnh viện chàng làm việc. Chàng chờ tôi bên ngoài với chiếc blouse trắng, dưới ánh nắng xuân đong đưa của tàn cây phong, nụ cười tươi nở trên môi, trông chàng thật trong sáng và đẹp; chàng hôn nhẹ lên trán tôi:
– Cám ơn em đã đến! Em nhớ đóng cho nhập vai nhé, trấn tĩnh bác để giúp bác ra đi nhẹ nhàng…
Tôi thấy trong ánh mắt chàng, niềm lo lắng và tận tụy vì người bệnh khiến lòng tôi cũng nặng ưu tư; tôi gật đầu, hứa sẽ làm với tất cả trái tim để giúp người sắp lìa đời…
Chúng tôi vừa bước vào, cả gia đình người bệnh dạt ra hai bên, một người đàn ông gầy yếu, nhỏ bé xanh xao nằm quắp lại, hai mắt nhắm nghiền, miệng há ra, khuôn mặt nhăn nhó vì đau đớn…
Tôi tiến đến, lòng xao động, cầm tay bác và vén những làn tóc đượm mồ hôi trên trán sang một bên, nhìn kỹ khuôn mặt… Vết sẹo! Vết sẹo dài trên chân mày trái hiện rõ nét…
Vết sẹo! Trái tim như ngừng đập, tôi nghẹt thở! Tay chân bủn rủn!
Tôi bật dậy, quay đầu bước ra, Đan chặn tôi lại:
– Em có sao không? Sao mặt xanh vậy?
– Không! Không! Đây không phải sự thật! tôi… không muốn giúp người này đâu! Không! không…
Cả trái tim nhức buốt! Cả tuổi thơ khủng khiếp hiện về…
Kẻ thù duy nhất của tôi!… Đang nằm trước mặt tôi, thoi thóp! Chả lẽ nào lại là ông ta sao?! Người đã tàn nhẫn đày đọa mẹ tôi cả nửa đời người! Nhẫn tâm giết chết cả tuổi thơ của con gái ông ta! Tôi đã thề với lòng sẽ không nhìn lại ông ta nữa mà!
Tôi bật dậy muốn chạy ra khỏi phòng…
… Lời mẹ bên tai, hãy bỏ qua lòng thù hận… Tôi muốn chạy thật xa khỏi đây…
Nhưng, ông ta đang hấp hối… Tôi không nỡ. Quay lại! Lòng trắc ẩn.
Ngồi xuống bên giường, khuôn mặt ông lúc này quằn quại nhăn nhó đau đớn, không còn sức rên rỉ nữa, như đang bị trừng phạt, trả nghiệp. Tôi nắm lấy bàn tay chai đá, hằn những lằn gân xanh, vuốt trán, mỗi cái chạm vào da thịt ông, tôi thấy cả dòng máu hồi sinh đang chảy trong tôi, một huyết thống thật thân yêu khó tả vào giờ phút cuối của đời người, thật chan chứa không sao kể xiết.
Tôi cúi xuống, lần đầu tiên tôi hôn lên tay, hôn lên trán ông một cách thật trìu mến, chân thành như chính con gái ruột nhận lại người cha lâu đời của mình vậy!
Tất cả sự thù hận chất chứa trong tim từ bao năm nay bỗng tan chảy thành hai dòng lệ nóng hổi, dồn dập tuôn tràn:
– Cha ơi! Cha… Đừng bỏ con!
Người bệnh bỗng mở mắt ra! Nhìn sững tôi, thật lâu, đến nỗi tôi tưởng như hàng thế kỷ. Cuối cùng, ông ôm chặt tôi, níu vào lòng:
– Ôi con gái… Con gái của tôi đây rồi… Cám ơn Trời Phật!… Hãy tha lỗi cho cha con gái nhé! Tha lỗi cho cha! Cha thật đáng chết! Thật… đáng chết!…
Bóng mẹ gục đầu sụt sùi bên ngoài cửa…
Thì ra chính mẹ đã nhờ Đan chuyển lời đến tôi, để giải tỏa mọi khúc mắc u buồn trong tôi và người đàn ông mà tôi gọi bằng… CHA.
Sỏi Ngọc
17 tháng 9, 2023
Truyện Ngắn SỎI NGỌC (Ngọc Huyền): Chuyện Tình Không Đoạn Kết & Sinh Tử Một Kiếp Người.
Lời từ Ban Biên Tập:Tác giả SỎI NGỌC (NGỌC HUYỀN)là một thành viên lâu năm của VTLV. Cô từng thắng giải VĂN VTLV. Những truyện ngắn của Sỏi Ngọc được độc giả khăp nơi yêu mến và chuyển đi chia sẻ. Hôm nay VTLV xin giới thiệu 2 truyện ngắn rất hay của tác giả.
Chuyện Tình Không Đoạn Kết – Sỏi Ngọc
Nhìn các con tôi được sanh ra và lớn lên ở đất nước thứ hai đã xong đại học, cả ngày bôn ba, ban ngày đi làm, chiều về làm cơm nước lo gia đình con cái, tối lại lấy thêm course để kiến thức được luôn cập nhật, làm tôi chạnh nghĩ đến cuộc đời mình đã từng như thế trong suốt mấy chục năm qua.
Mới đó, một chớp mắt đã 40 năm ở xứ người mà tôi cảm thấy thân quen hơn quê hương thứ nhất nơi chôn nhau cắt rốn; 40 năm chưa một lần tôi quay trở về thăm nơi ấy, vì ba tôi, chú tôi, những người anh và các bạn tôi một thời sống ở chính nơi mình được sanh ra, đã bị bắt bớ, tù đầy mà không biết vì tội tình gì! Nay kẻ chết, người thành phế nhân…
Tuy nhiên, nền văn hóa Việt và truyền thống đạo đức đẹp đẽ Á Đông vẫn mãi chảy trong huyết quản của tôi.
Một cuộc tình không đoạn kết mãi mãi ghi dấu ấn trong trái tim tôi, đã chôn vùi tận sâu trong lòng, hôm nay bỗng hiện về:
Tôi bắt đầu làm ngân hàng Montreal ở tuổi 26 khi vừa ra trường 1990.
Tôi nhớ ngày đầu tiên, họ dắt tôi vòng quanh xuống basement của một tòa nhà hai tầng thật to và bề thế, lối vào là một sảnh rộng, sàn làm bằng ceramic trắng bóng loáng, soi thấy cả bóng dáng người. Bên trái sảnh là một giàn sáu cô tellers tiếp khách, rút và bỏ tiền vào công, cuối gian phòng cô thư ký ngồi cho bất kỳ câu hỏi nào của khách.
Công việc của tôi là xếp những tấm séc của khách hàng theo thứ tự của số tài khoản, thuở ấy, chưa có máy móc nên tất cả phải xếp bằng tay, chỉ ngồi xếp chi phiếu theo thứ tự thôi, cần đến ba người vì cả ngàn tấm, kế đến phải dò trên hồ sơ nhận từ head office mỗi sáng, chi phiếu nào bắt buộc hai chữ ký vì tài khoản hai người đứng tên, hoặc account nào bị vấn đề, phải đem tấm séc đó so sánh với chữ ký trên hồ sơ chính lần đầu mở tài khoản…
Những công việc này kéo dài hết hơn nửa ngày; sau đó chúng tôi mới ngồi vào máy bấm những tài khoản để rút tiền từ những tờ chi phiếu đó. Việc này tuy là thấp nhất, nhưng đòi hỏi rất nhiều sự tập trung chú ý, vì nếu bấm vào máy lộn một con số thì Nợ và Có sẽ không cân bằng, phải mất rất nhiều thì giờ để coi lại từng cái check với từng con số đã bấm vào máy.
Nhóm chúng tôi gồm 6 người, ba người xếp chi phiếu, hai người bấm máy, một người chạy việc phụ bên ngoài như coi hồ sơ, dò chữ ký… và xoay tua vào mỗi hai ngày.
Tôi học việc rất nhanh, hòa đồng với mọi người; làm được hai năm thì tôi nghỉ một năm sanh con, rồi trở lại làm việc. Vì công việc đã quá quen đến thuộc lòng, tôi định bụng sẽ thi lên một chức vụ mới.
Giờ cơm trưa được một tiếng, cả đám ngồi quây lại với nhau ăn uống, đứa nào cũng đem bánh mì sandwiches với trứng hay jam, chỉ mỗi mình tôi thường đem bún với thịt và rau để ăn cho nhẹ bụng, khi hâm lên mùi thịt xào hành tỏi bay khắp bếp. Từ đó ai cũng để ý đến tôi, và cũng chỉ có mỗi mình tôi là người Á Châu làm việc trong ngân hàng giữa những người tóc vàng và nâu. Chúng tôi nói chuyện với nhau thật rôm rả, ai cũng kể hoàn cảnh gia đình mình ra sao, rồi chia ăn thử đồ ăn của nhau, nhất là món ăn của tôi ai cũng muốn thử!
Thói quen của những người Tây phương là chỉ rửa bát vào cuối ngày, khi bồn đầy chén dĩa, chứ không như người Á Đông, rửa ngay và úp chén cho sạch sẽ. Bữa trưa hôm đó, chén bát bày bừa, tôi thấy khó chịu nên tự ý đi rửa để có cái sạch cho tốp sau vào ăn, từ một giờ đến hai giờ trưa thường là những cấp bậc cao như cố vấn, chuyên viên, giám đốc… Phần lớn hôm nào cũng chỉ một mình tôi đứng rửa bát và xếp vào tủ thật ngăn nắp vì như đã nói ở trên tôi làm việc rất nhanh vì thạo việc nên không cần nhiều thì giờ lắm.
Hôm nay vì chén bát hơi nhiều, tôi rửa mãi vẫn chưa hết, cho đến hơn một giờ, tôi nghe tiếng nói trầm ấm của người đàn ông vang lên sau lưng:
-Cô LiLy siêng năng quá!
Tôi quay lại bắt gặp Martin, giám đốc phân khoa cố vấn, tôi niềm nở chào :
-Chào anh, anh khỏe chứ?
Martin đứng bên cạnh tôi, tay cầm hộp cơm đem từ nhà, định hâm lại:
-Mình làm cùng một nhà băng, mà chẳng bao giờ có thì giờ nói chuyện với nhau, lâu lâu gặp nhau ngoài cửa hoặc vào những buổi họp, tôi chỉ biết nhóm các cô làm việc rất tốt, cho chúng tôi một hậu thuẫn rất đắc lực, nhờ nhóm làm việc cẩn thận nên khách tôi rất hài lòng, gởi lời khen đến các cô đấy.
-Anh đã quá khen thôi; chúng tôi chỉ làm việc theo yêu cầu của khách hàng, khi làm việc phải rất thận trọng, kỹ lưỡng, cũng muốn ngân hàng mãi giữ vị trí số một của Montreal chứ…. Vả lại công việc này tôi đã làm được ba năm nay rồi, nên rất rành, đến thuộc luôn những tên của khách “xộp”.
-Hôm nay tôi mới có cơ hội gặp cô để nói tiếng cám ơn… và đến cả nhóm cô luôn.
-Chúng tôi thường xuyên làm việc dưới basement nên chỉ biết các vị giám đốc, cố vấn … trên list tên của sở, chưa bao giờ được gặp trực tiếp và nói chuyện như vậy…. Hôm nay vì phải rửa đống chén này nên mới có dịp gặp anh!
-Oh mà sao không có ai giúp… em rửa hết vậy? họ ăn xong là bỏ đi hết như vậy sao?…thật bậy quá!
Anh ta lục lọi xung quanh chỗ tôi đứng, lôi ra một cặp găng khác, đeo vào tay và cùng giúp rửa với tôi. Tôi vội vàng xô nhẹ anh ta ra, nói:
-Anh hãy đi ăn cơm trưa đi, không đói hay sao mà đứng rửa chén chứ?… Coi chừng xỉu vì cái bụng rỗng đấy!
Chàng cười vui, để lộ hàm răng trắng đều:
-Tôi cũng muốn được hàn huyên với em một chút đó mà, chén không còn nhiều nữa, hai người rửa sẽ mau hết thôi.
Lần đó tôi mới biết người ta thường nói đàn ông tây phương ga-lăng quả là không sai. Martin vừa rửa chén, rồi lau và xếp vào tủ rất nhanh và thành thạo, còn khoe thành tích :
-Hồi tôi học trung học, đã từng đi làm ở những restaurant rồi nhé, từng khiêng đồ ăn, lấy menu, và rửa bát rất rành, đừng chê tôi đấy!
-Tôi đâu có dám chê, mà ngược lại, phục anh quá, thấy anh rửa là biết người có kinh nghiệm rồi, không có anh giúp thì chắc tôi phải đứng đây thêm nửa tiếng nữa đấy…Lại trễ giờ làm việc!
-Hôm nay nhóm em có nhiều công việc không?
-Cũng không nhiều lắm, chúng tôi rất quen và thạo việc nên cũng không bận lắm.
-…Ah mà em đã làm công việc này bao lâu rồi nhỉ? Nếu hơn hai năm rồi thì nên đổi việc đi!…Có thích công việc đầu tư không? …Nói chuyện với khách, cố vấn họ đầu tư vào loại nào…Em hãy gởi resume cho tôi, phân khoa chúng tôi đang cần người đó!
Chàng như đọc được ý định của tôi.
-Chắc chắn là tôi thích đổi việc rồi, mà …có nhiều người thi vào công việc này không?
-Khoảng vài người thôi, em cũng rất có cơ hội mà, đừng sợ nhé, hãy tự tin chứ!
Tôi nhìn thẳng vào cặp mắt Martin, giữa bóng tối của gian bếp, cặp mắt trong xanh lơ của anh ta thật sáng và đầy cảm tình, cho tôi thêm sự tự tin, chàng lập lại :
-Đừng lo, làm việc với tôi em sẽ tràn đầy năng lượng mỗi ngày…
***
Martin đã hỏi về cách làm việc của tôi rất nhiều qua giám đốc trực tiếp, nghiên cứu resume, nói chuyện với bà giám đốc nhân sự, ai cũng nói tôi rất chăm chỉ, có trách nhiệm và vui vẻ hòa đồng với mọi người.
Chức vụ đó có 4 người thi vào, tôi thật sự rất lo vì ngoài trình độ học vấn không kể đến, họ cùng là người bản xứ, cùng suy nghĩ và tiếng nói với nhau, lẽ nào lại chọn tôi? một người gốc Á, tỵ nạn ở nước họ chưa được bao lâu!… Thôi kệ cứ thi đại cho có kinh nghiệm.
Niềm vui vỡ òa khi một tuần sau đó tôi nhận được email người trúng tuyển vào chỗ trống đó là tôi! Các bạn dưới basement ôm hôn tôi và chúc con đường sự nghiệp của tôi được thăng tiến, nhiều may mắn. Tôi biết mình sẽ xa nhóm bạn cũ, nên trưa nào ăn cơm xong, tôi cũng đứng rửa bát cho mọi người, đến nỗi anh bạn Mario khuôn mặt rầu rĩ nói:
-Sau này cô sẽ bận làm việc lắm, sẽ không có thì giờ xuống dưới đây ăn cơm với tụi này đâu, cô sẽ phải ăn cơm với khách, với các giám đốc …nên bây giờ cứ rửa bát để nhớ đến chúng tôi đi!
Suzy cũng buồn buồn nói lời chia tay dí dỏm với tôi:
-Không biết sau này nhà bank có tìm được ai dễ thương giống Lily không nữa, vừa giỏi việc làm lại siêng năng rửa bát giúp tụi mình…
-Sẽ không còn người nào giống vậy nữa đâu!
Tôi ôm hôn từng người, từ giã họ để rời lên lầu hai làm việc, hứa sẽ xuống thăm mọi người khi có dịp.
***
Martin là giám đốc trực tiếp của tôi, chàng dành cho tôi một phòng làm việc ngay đối diện với phòng chàng, phòng tuy không rộng lắm, nhưng hai bên tường toàn bằng kiếng nên buổi sáng ánh nắng ấm áp chan hòa tràn vào cả phòng, tôi có thể thấy được những người khách đến từ sảnh chính dưới nhà.
Ngay khi bước vào phòng làm việc mới của tôi, đập vào mắt là một bức tranh vẽ bằng mực tàu núi non, có đồng cỏ và ruộng bậc thang, những đường nét đậm lạt cho thấy được không gian đa chiều và có cảm giác nhẹ nhàng thư thái. Tôi được biết bức tranh này do chính tay Martin đã chọn và nhờ người treo lên, tôi trang trí thêm cây trầu bà leo trên đầu tủ sách, hy vọng nó mang đến sự bình an và may mắn trong công việc.
Mỗi sáng, tôi phải xem trên list những khách hàng bỏ tiền vào trương mục của họ, một số tiền trên 10 ngàn đô, xuất xứ từ đâu, với mục đích gì; bấm vào tài khoản của người ấy, xem tất cả mọi dịch vụ của họ có đầy đủ chưa, nếu thiếu dịch vụ nào thì phải phone đến lấy hẹn với khách để mời chào họ, ngoài ra phải có đầu óc nhạy bén nhận biết người này nghề nghiệp gì, hoàn cảnh gia đình ra sao để giúp đỡ họ sâu sát hơn, tạo cho họ một niềm tin vào đội ngũ chúng tôi, lôi cuốn thêm gia đình, bạn bè…
Dưới sự chỉ huy đầy kinh nghiệm của Martin, nhóm chúng tôi gồm bốn người, giám đốc, cố vấn đầu tư, cố vấn cho vay tiền, và một người cho dữ liệu vào máy, chúng tôi làm việc phối hợp nhịp nhàng, lấy hẹn với khách, trình bày đầy đủ mọi chi tiết dịch vụ…nhóm chúng tôi là nhóm đầu tiên của ngân hàng nhận thêm một lượng khách lớn với khối tài sản khá cao.
Sau ba tháng cùng làm việc, sáng nào vào phòng dù sớm hay trễ, tôi cũng thấy ly cafe nóng hổi được pha sẵn với hai gói đường và sữa nhỏ bên cạnh. Lúc đầu tôi tưởng cả nhóm ai cũng được ông giám đốc để mắt lo cho, nhưng khi nói chuyện với họ thì mới biết chỉ có mình tôi được chàng « tốt bụng » thôi.
Có lúc đang bận rộn dán mắt vào màn hình xem từng trương mục của mỗi người khách trên một list dài, chợt khi ngước mặt lên, tôi thấy từ bên kia phòng đối diện, Martin đang ngồi nhìn tôi chăm chăm với một nụ cười đầy ẩn ý, mắc cỡ, cúi xuống, gục đầu vào máy mà trong lòng tự hỏi « tại sao ông ấy lại nhìn mình hoài thế kia! »
Buổi trưa mọi người đi ăn, tôi ngồi nán lại cho xong một hồ sơ, tôi nghe tiếng chân nhẹ của ai đó bước vào phòng, thì thầm :
-Tôi … mua đĩa bún với thịt này ở nhà hàng Việt gần đây, em ăn thử xem gu của họ có ngon như của em làm không nhé…Hãy ngừng tay nghỉ ngơi đi, đừng làm quá sức, còn nhiều ngày ở phía trước mà!
Khi tôi quay đầu nhìn ra, Martin đã để đĩa cơm ở góc bàn, khép cánh cửa phòng nhẹ lại để cho tôi biết ngừng công việc và ăn cơm.
Trong một tuần lễ, mỗi nhân viên phải ở lại một ngày trễ vào buổi chiều đến 8 giờ tối, Martin luôn tìm cách ở lại với tôi để cho tôi quá giang về nhà, nhất là khi trời mùa đông lạnh tuyết và trời tối nhanh.
Chàng rất hiểu hoàn cảnh tôi có hai con nhỏ, nhà trẻ đóng cửa vào giữa mùa hè, tuần gần cuối tháng bảy đến nửa đầu tháng tám, những nhân viên làm thâm niên thường hay lấy hè vào lúc này để được nghỉ hè cùng gia đình. Theo quy định ngân hàng chỉ cho phép hai người nghỉ cùng một thời gian thôi, nhưng chàng dùng « uy quyền » giám đốc cho phép tôi lấy ba tuần liên tiếp nghỉ ở nhà trông con vào thời gian nhà trẻ đóng cửa này; có lúc chàng còn nói với tôi :
-Có tôi ở đây, em hãy hưởng mọi đặc ân mà tôi có thể cho phép được… Đừng ngại!
Tôi chớp mắt tỏ lòng cảm ơn:
-Tôi thật may mắn gặp anh, anh đã nhận tôi vào chức vụ này, tạo điều kiện cho tôi học hỏi thêm, quen biết với nhiều người trong giới ngân hàng, những vị chức cao, cấp liên bang, tôi rất biết ơn!
-Đừng nói thế, nếu không có tôi, em cũng sẽ biết họ thôi, làm ở nhà bank em phải đi họp với họ mà… Làm việc với em, tôi rất thích, tôi cũng được học ở em rất nhiều thứ, mà điều quan trọng nhất là tính cẩn thận và sự khiêm tốn; đừng nói là em mang ơn tôi nhé, mà ngược lại đấy thôi.
Mỗi lần nói chuyện với tôi, chàng nhìn thẳng với đôi mắt trong xanh lơ, tôi có thể nhìn thấy tận đáy tình cảm của chàng dành cho tôi, như một thứ duyên lành câm nín không có dụng ý nào khác, giúp tôi bằng mọi cách, đem lại cho tôi nhiều lợi lộc là niềm hạnh phúc của chàng.
Những buổi tối cho tôi quá giang về, chàng kể về vợ và con trai, trạc bằng con tôi, vợ chàng là người phụ nữ mạnh mẽ, độc lập, ít hiểu nhau vì hai người lập gia đình hơi vội. Trước đó chàng có yêu một cô gái người Nhật, nhưng gia đình cô gái ấy không chấp nhận, cô phải vâng lời cha mẹ, lập gia đình với một người cùng xứ; mối tình đầu tan vỡ đã làm chàng suy sụp và hạnh phúc không trọn vẹn khi lấy người sau này do tình cờ gặp nhau trong một quán bar.
Tôi rất thương cảm những lời tâm sự chân tình của giám đốc, dốc lòng làm việc và trả ơn bằng những kết quả thât khả quan.
Luôn nhủ thầm là người phụ nữ Á Đông, dù xã hội có thay đổi nhưng thấm nhuần sự giáo dục của gia đình, tôi vẫn giữ gìn phẩm hạnh, tôn trọng giá trị gia đình như một cốt lõi đạo đức.
Tôi nhớ nhất vào ngày Giáng Sinh năm 2000, ngân hàng chỉ mời nhân viên thôi, không mời người phối ngẫu tham dự như những năm trước, để tất cả được nhảy nhót, vui chơi hết mình với nhau. Tổ chức ở một nhà hàng lớn sang trọng vùng Laurentide cách Montreal một tiếng rưỡi, khi xe chúng tôi chỉ còn cách nhà hàng chừng một cây số, hai bên đường được trang trí bằng những dây đèn vàng đỏ lấp lánh, hòa với những hạt tuyết trắng lấp lánh trên những hàng thông, có tiếng nhạc réo rắt, tạo thành một cảnh quang vô cùng ngoạn mục như đường vào thiên thai.
Bữa đó là ngày thứ sáu, chúng tôi làm xong lúc 4 :00 chiều, phụ nữ thay quần áo dạ hội, đàn ông mặc tuxedo, đi xe cùng nhau thẳng đến đó; tôi nhớ như in, chàng đã uống khá nhiều như muốn bỏ hết mọi chuyện buồn gia đình sau lưng, muốn vui chơi với các bạn trong công sở hết mình.
Khi tiếng nhạc valse nổi lên, chàng đã nghiêm trang ra trước mặt tôi, hạ người xuống thấp với một tay để sau lưng và một tay đưa ra phía tôi một cách rất lịch sự, mời tôi nhảy bản valse đầu tiên.
Tôi rụt rè và hơi chùn bước, ánh mắt chàng lấp lánh, trong xanh như vì sao đêm, chàng thì thầm bên tai :
-Hãy nhảy với anh… sẽ chẳng còn cơ hội nào khác nữa đâu!
Trái tim tôi thôi thúc, tôi nhận lời, để bàn tay mình vào bàn tay ấm áp của chàng, chàng siết nhẹ lấy tay tôi, kéo ra sàn, chúng tôi không nói với nhau một lời nào, chỉ say sưa đắm đuối nhảy với tất cả trái tim, phút giây ấy như chỉ có hai chúng tôi, gia đình và con cái không còn tồn tại trong đầu óc nữa; qua đó tôi hiểu chàng đã giành cho tôi một thứ tình cảm rất sâu đậm mà không thổ lộ được!
***
Những ngày tháng tiếp nối theo, năm này sang năm khác, thoáng một chốc bốn năm, chúng tôi vẫn tiếp tục làm việc chăm chỉ và đầy nhiệt huyết, chỉ tiêu của nhóm bao giờ cũng đạt hàng đầu, làm chàng thật vui và hãnh diện là đội tiên phong, lập nhiều công trạng nhất cho ngân hàng, cả nhóm tôi đều được hưởng những « bổng lộc » đặc biệt của nhà bank, dưới sự lèo lái tích cực của chàng; mỗi lần được thưởng bonus, chúng tôi lại kéo nhau đi ăn ở một nhà hàng khác nhau, nổi tiếng, để cả nhóm có thể nếm được những món ngon vật lạ của các nước trên thế giới.
Có những lúc làm việc căng thẳng, tôi nhìn sang phòng thấy chàng gục đầu xuống bàn, hai tay ôm lấy thái dương, mặt nhăn nhó, tôi text cho chàng :
-Anh hãy đi khám bệnh xem có bị gì không nhé, độ này thấy anh có vẻ mệt mỏi lắm!
-Chắc làm việc nhiều quá thôi, anh bị migraine từ nhiều năm nay rồi, khó ngủ nữa.
Tôi tiếp tục làm việc trên máy đến giữa trưa, bỗng nghe một tiếng « rầm » như ai bị té xuống đất! Hốt hoảng, vội đứng lên nhìn qua phòng đối diện, giám đốc mặt nhăn nhó, hai tay ôm lấy đầu, mồ hôi vã ra như tắm, chàng gục xuống bàn quằn quại, sắp té xuống đất, xô đẩy lọ đựng viết, bình hoa rớt xuống sàn nhà vỡ toang, rên rỉ :
-Nhức đầu quá! … tôi…tôi…
Tôi vội chạy bay qua phòng chàng, lo lắng gọi khẽ :
-Martin! Martin… anh có sao không? Có cần gọi ambulance không?
-Ôi nhức quá!… nhức…
***
Ba ngày sau, khi bước vào nhà thương, mùi ether nồng nặc, chúng tôi được chỉ lên lầu ba, phòng 304B, tầng này dành riêng cho những người bị bệnh thần kinh, óc não…Tôi thấy những người bệnh mặc những chiếc áo màu xanh lơ dài xuống dưới tận chân, đầu tóc rối bù, những cặp mắt vô thần, đôi môi xám ngoét, tay bị chích bởi những dây nhợ chằng chịt, kéo lê theo những bình nước biển, yên lặng di chuyển qua lại ở hành lang, họ có vẻ từ trong giường mới ra cho đỡ mỏi vì đã nằm lâu quá.
Vừa bước vào phòng giám đốc Martin, đầu chàng quấn băng trắng muốt, đôi mắt khép chặt, bàn tay phải bị chích một chai nước thuốc, vợ chàng ngồi ở ghế bên cạnh, trên bàn bình hoa glaïeul tươi đẹp làm át đi mùi khó chịu của nhà thương, nàng đang cắt cam để sẵn trên bàn, nàng ra dấu cho chúng tôi đi ra ngoài để cho chồng nàng tiếp tục được ngủ yên lặng.
Ra đến ngoài, Clara, vợ của Martin òa khóc nức nở, giọng run run kể cho chúng tôi nghe :
-Bác sĩ báo… báo… Martin bị cancer não, khối u đã lấn chiếm rất to, khó có thể cắt đi được, đôi mắt đã …mù 70% vì bị khối u chắn ngang tầm nhìn, mạng sống của anh ấy có thể tính theo ngày thôi! Hôm nay các bác sĩ đã mổ, chàng đang trong trạng thái bị say thuốc mê… Tôi không biết sẽ sống như thế nào đây… nếu…
Chúng tôi bàng hoàng ôm lấy Clara, đau xót, tôi không giữ được nước mắt, thấy cả người run lên bần bật, muốn té xuống đất, một con dao vô hình đâm thẳng vào tâm hồn, tôi đau cùng một nỗi đau với nàng, chàng còn quá trẻ để …giã từ cuộc sống này! Tại sao chuyện lại xảy ra nhanh như thế? Chàng đã hại ai? Đã làm gì sai để bị trừng phạt như thế chứ? Tại sao những chuyện không may lại xảy đến với người tốt vậy chứ! Trái tim tôi như nổ vỡ, tung ra khỏi lồng ngực!
Tin dữ này được Clara báo cho giám đốc phòng nhân sự, cả ngân hàng ai cũng chết lặng vì Martin là một giám đốc rất nhiệt tình, sôi nổi và làm việc rất hăng hái, đem nhiều tiền và lợi ích cho nhà bank.
Từ ngày không thấy bóng dáng chàng ở phòng đối diện, tôi như người mộng du, đôi mắt luôn hướng về nơi ấy; căn phòng thật trống trải, chiếc ghế da cao đầu được xếp quay vào bên trong, lưng quay về phía phòng tôi, có cảm giác như chàng vẫn ngồi ở đó, nhưng bóng lưng ấy sẽ không còn bao giờ quay lại nhìn tôi mỉm cười, đưa ngón tay cái lên động viên tôi nữa, sẽ chẳng còn ai như anh, chẳng còn cái cười nửa miệng, ánh mắt như nói với tôi vạn điều…
Tôi đem trả lại tượng Phật Bà Quan Âm nhỏ mà chàng đã mua tặng tôi khi chúng tôi cùng nhau đi gặp một người khách hàng người Hoa, ông ta có một tiệm tạp hóa bán những đồ lưu niệm dưới phố Tàu, đặt trên đầu tủ sách của chàng, để ngài phù hộ cho chàng sớm tai qua nạn khỏi, về làm việc lại với đội tôi.
Tôi nhớ khi chàng trao tặng tôi chiếc tượng Phật, chàng nói :
-Tôi mong sao em có thật nhiều may mắn trong cuộc sống, mong em đạt được mọi ước muốn, hạnh phúc! Phụ nữ cần nhất là hạnh phúc; làm gì được để đem lại hạnh phúc cho em, tôi cũng muốn làm, cho dù có khó khăn bao nhiêu…
Tôi đã rất xúc động, biết mình đã có gia đình, con cái, tôi không muốn đi quá giới hạn cho phép, cũng không muốn gây thêm sự hy vọng viển vông cho chàng, tôi chỉ biết nhìn chàng với cặp mắt đầy vẻ biết ơn và quay đi thật nhanh.
Tượng Phật Quan Âm mãi nằm ở ngăn đầu tiên trong tủ sách của tôi, tôi đều tâm sự với Ngài mỗi khi không tìm ra cách giải quyết với một khách hàng khó tính, hôm nay tôi đem trả lại phòng của Martin, mong Ngài sẽ giúp đem lại cho chúng tôi một Martin khỏe mạnh vui tươi hăng hái như xưa!
Điều ước này chắc có lẽ đã quá phù phiếm! Tôi không có phép màu để có thể níu giữ được sinh mệnh chàng!
Cho dù hình hài chàng không còn tồn tại nữa, nhưng trong tâm hồn và trái tim tôi mãi vẫn âm thầm để một ngăn trống cho hình bóng người!
Mỗi lần ngồi học bài buổi tối, nhìn qua căn ấp (chung cư) đối diện, tôi đều thấy căn phòng của bà Sáu, mẹ chị Thương, mở đèn sáng trưng, đến hai ba giờ sáng, cũng vẫn thấy dáng bà còng lưng bên bàn máy may; bà làm việc full time trong hãng may ban ngày, đêm lại cong người trước bàn máy công nghiệp để tạo nên những chiếc áo dài cưới có một không hai trong cộng đồng người Việt.
Những cô dâu mới được truyền tai, đều tìm đến bà Sáu để nhờ chính tay bà may áo mới chất lượng đẹp, bà tỉ mỉ kiên nhẫn đơm từng hạt cườm, đây cũng là niềm đam mê khi ngắm những cái eo con kiến và sự hài lòng của những bậc phụ huynh của các cô dâu tương lai trước ngày cưới. Bà là người thợ may áo dài đầu tiên tại Montréal nên được nhiều người biết đến, chẳng bao lâu căn ấp của bà được trang trí với những nội thất rất nghệ thuật để đón tiếp khách may đồ đến từ khắp nơi.
Chúng tôi là hàng xóm khá thân của nhau trong cùng một «building» cao tầng, gồm cả trăm căn ấp. Từ ngày định cư đến Canada, thành phố Montréal, chính phủ cấp cho chúng tôi mỗi gia đình tùy theo số người, một ấp gồm hai phòng ngủ rộng rãi, một phòng khách, một cái bếp nhỏ; ban đầu họ cho ở không tốn tiền 3 tháng đầu, khi có việc làm là phải trả tiền mỗi tháng, nhưng số tiền mướn chỉ là tượng trưng để giúp cho người di cư có chút vốn tậu đồ đạc trong nhà, sắm sửa quần áo, mua xe cộ đi lại…
Tôi biết gia đình chị Thương gồm hai mẹ con, ngày ấy bà Sáu chưa nhiều tuổi lắm, chỉ trên 40, bà chưa từng bước ra đường kiếm tiền bao giờ hồi còn ở quê hương, thế mà từ ngày đặt chân đến Canada bà đã phải đi làm, ban đầu lau nhà, dọn dẹp rác trong những shopping mall, sau này bà có chút vốn liếng về tiếng Pháp, bà xin được vào hãng may; bà làm cực nhọc để nuôi con gái đi học, bà muốn chị sau này sẽ bớt khổ, sẽ làm một chức vụ nào đó kha khá để khỏi uổng công bà đã mang nặng đẻ đau, bị nhà chồng ruồng bỏ từ khi biết bà mang bầu là con gái; rồi bà và chị đã phải vượt biên chết đi sống lại khổ sở trên biển cả, bao nhiêu khổ cực oan trái bà đã từng cầu xin Trời Phật để bà gánh vác thay con, để con gái có một cuộc sống thật nhàn nhã, sung sướng sau này…..
Thời gian trôi qua nhanh như thoi đưa, những người ở cùng một «building» từ từ ăn nên làm ra, người mua nhà, kẻ đổi đi làm ăn chỗ khác, chỉ còn lại gia đình tôi và bà Sáu vẫn mãi ở cái building này vì giá bèo, nếu dọn ra ngoài thì sẽ không bao giờ tìm được một cái ấp rộng rãi với giá này nữa.
Chị Thương học xong lớp 12, như ý nguyện của mẹ, chị lập gia đình với một người Hoa, có chức vụ cao trong chính phủ; chị là người con gái xinh đẹp mảnh khảnh và duyên dáng nên rất nhiều anh theo tán tỉnh; chị đã yêu và lấy anh Chen, hơn chị 5 tuổi trong số những người theo đuổi chị. Ngày chị dọn ra theo chồng, hai mẹ con ôm nhau khóc từ biệt mà chúng tôi tưởng chừng như sự chia ly mãi mãi không bao giờ gặp lại!
Tôi nghe chị Thương nói với mẹ:
– Mẹ! hãy cẩn thận, chăm sóc bản thân, nhớ ngủ sớm đừng thức khuya quá nhe mẹ, mẹ đang có bệnh trong người, phải nghỉ ngơi nhiều hơn. Con sẽ tìm cách để mẹ con mình đoàn tụ.
– Mẹ rất mong ngày ấy! Con hãy ráng giữ sức khỏe, có gì điện thoại về cho mẹ biết.
– Con sẽ nói chuyện với anh Chen để đón mẹ về ở cùng với con. Con không yên tâm khi thấy mẹ vò võ một mình.
Quay sang tôi, chị nói:
– Thi thoảng em chạy qua thăm mẹ chị, xem bà có cần gì thì em giúp hộ nhé, chừng tháng sau chị sẽ về lại….
Đêm nào cũng như nhau,tiếng máy may chạy sè sè bên nhà đối diện làm tôi không thể nào không nhìn sang. Tiếng ho của bà ngày càng rõ, mỗi ngày một nhiều nhất là về đêm. Bà ôm ngực, ngồi gục xuống đất, tôi vội vàng khoác chiếc áo ấm, chạy qua xem bà ra sao:
– Bác Sáu có sao không? Để con đỡ bác ngồi lên ghế rồi uống chút nước gừng nhe.
Tôi giúp bà đứng dậy, bà tiếp tục ho, ho như xé phổi, tôi đưa tay vuốt ngực, đưa ly nước vào môi bà, nước chưa kịp vào miệng thì bà lại gập người xuống ho như muốn văng luôn mấy chiếc xương sườn còn lại dưới lằn da mỏng manh nhăn nhúm. Tôi chậm những dòng nước mắt nước mũi trào ra cả mặt khi bà vừa ngưng ho, lo lắng:
– Bác Sáu có đi xem bác sĩ chưa vậy? Bác sĩ có nói bệnh bác ra sao không? Cháu thấy bác ho nhiều quá như thế, để lâu sợ trở bệnh nặng thêm.
– Bác có đi xem rồi con, họ nói bệnh ho này khó chữa lắm, với lại… phổi bác có một vết nám… À mà bác nói con biết thôi nhé, đừng cho con Thương biết làm gì, nó lo mất công, con người chẳng ai qua được cửa tử!
– Bác Sáu sao bi quan vậy, phải nói cho chị Thương biết để chị ấy lo chạy chữa cho bác; sống bên Canada chứ có phải bên Việt Nam đâu mà bác sợ tốn tiền hay không có bác sĩ giỏi…
– Ờ… ờ để bác suy nghĩ lại rồi xem sao, nhưng con đừng nói cho nó biết nhe! Nó mắc lo cho chồng và con gái nó, nó không có đủ thì giờ cho bác đâu!
– Hồi đó con nghe bác nói sẽ đến nhà anh chị ấy ở, nuôi giữ con bé luôn mà? Vậy mà cũng đã bao năm trôi qua rồi… bác vẫn một mình.
– Chắc không được nữa đâu con!
– Sao vậy bác?
– Bác không muốn làm gánh nặng cho nó! Con thấy bác phải đi làm, nhận đồ may mỗi đêm là hiểu rồi, mình nuôi con không sao, chứ nhờ con khó lắm! Với lại nó cũng có nỗi khổ riêng của nó. Mình muốn cho con sung sướng hạnh phúc thì bây giờ còn phân bua gì nữa!
Tôi nhìn bác Sáu thật ái ngại, bác chưa lớn tuổi lắm, nhưng da mặt sạm và nhăn, chứng tỏ bác chẳng bao giờ có thì giờ săn sóc bản thân mình, bệnh ho của bác dai dẳng từ khi mới qua đây cũng 20 năm rồi mà chẳng bao giờ dứt, lúc đầu vì đi làm, sợ nghỉ sẽ không có lương nên bác cố chịu đựng, sau này thì bác có đi khám bệnh nhưng lúc đó phổi bác đã có vết nám nhỏ, từ từ lan ra nhanh mà chẳng ai để ý tới.
Mỗi lần hai vợ chồng chị Thương về thăm bác cùng với con bé cháu ngoại, tôi thấy anh chồng thả chị và cháu bé xuống xe vào nhà mẹ, anh hẹn chị đến giờ sẽ tới rước để cho chị tha hồ tâm sự với bà. Nhưng thật ra anh ấy muốn tránh vào nhà, vì có một lần anh đã lên tiếng chê nhà bà hôi mùi dầu ăn, mùi nhà cũ khó chịu, bị dị ứng, chỉ muốn đứng bên ngoài chờ vợ con ra.
Để cho mẹ đừng lo, chị kể gia đình chị rất hạnh phúc, chồng rất chăm sóc yêu thương chị.
Con bé Thi ngoan ngoãn, 8 tuổi hồn nhiên chạy quanh bà ngoại kể đủ thứ chuyện cho bà nghe. Nó ôm cổ bà ngoại hỏi một cách ngây thơ:
– Bà ơi, sao giường bà lại để xuống đất nằm vậy? Sao không kê cao như giường nhà cháu? Bà không sợ con kiến hay con bọ nào đó bò vào trong lúc mình ngủ sao?
Chị Thương giải thích cho con nghe:
– Con biết không! Hồi mới tới định cư tại Montréal này, chính phủ cấp cho bà ngoại và mẹ căn ấp này, lúc đó vô nhà trống trơn không có gì cả, phải lót quần áo ngủ dưới đất, rồi qua hôm sau đi vòng quanh các building gần đây thấy họ dọn nhà vứt rất nhiều đồ tốt như tấm đệm này cùng với nhiều chén bát còn tốt mà những nhà khá giả không dùng nữa, họ để ngay đống rác trước nhà, mẹ và bà ngoại đã hì hục khiêng tấm đệm này về lau chùi cho hết mùi hôi của rác rồi trải tấm vải sạch lên nằm, thế mà đã hơn 20 năm rồi!
– Sao bà không thay chiếc giường mới ngủ cho sướng?
– Thôi, cái gì thay cũng được, nhưng chiếc giường này có mùi quen rồi, bà ngủ vậy cũng được con, mình chỉ cần một chỗ nhỏ thôi, nhắm mắt lại chả thấy gì nữa, cần gì xấu với đẹp!
Chị kể lể với mẹ:
– Căn nhà của tụi con ở rộng rãi, một mình con phải làm vệ sinh từ tầng trên xuống dưới mỗi vài ba ngày một lần, anh Chen rất sạch sẽ, kỹ tính, không muốn ai đến nhà chơi cả,mất công họ đem giày dép vào dơ nhà, mình lại khó nói. Ngay cả ba mẹ ảnh muốn đến ở với chúng con cũng khôngđược ảnh tán thành vì ảnh nói ba mẹ ảnh vô ở rồi sau này con cũng sẽ lấy cớ đó đem mẹ về nuôi, ảnh không muốn con bé sẽ bị ảnh hưởng của sự dạy dỗ cổ xưa của ông bà nội, ngoại; rồi vợ chồng con lỡ khi canh không lành cơm không ngọt thì ông bà lại tham dự vào khuyên răn… từ từ sẽ mất lòng nhau, chi bằng cứ ở xa, khi rảnh đến thăm nhau là được.
Tôi thấy sự hy vọng sẽ rời khỏi cái ấp cũ kỹ này của bà Sáu đã tan biến, khuôn mặt đang tươi vui của bà bỗng chốc thất vọng, tối sầm lại, bà chỉ có một đứa con gái, tất cả đều đặt hy vọng vào nó, sướng khổ gì cũng vì nó. Chỉ một vài phút sau, tôi nghe bà trả lời thông cảm với chị Thương:
– Ừ tính vậy cũng phải, mẹ ở đây một mình rộng rãi, tự do lắm, ăn uống không bao nhiêu nên cũng ít tốn kém, khách khứa đến may đồ hoài, quen rồi cũng vui… Nếu về đàng nhà con thì mẹ sẽ không có gì làm chắc buồn lắm! Thôi không sao, con cứ lấy trái cây trong tủ lạnh về cho cháu bé ăn. Con cũng không đi làm nữa, vậy cầm ít tiền mà mẹ đi làm và làm thêm ban đêm mà dùng nghe, mua đồ mới cho cháu đi học…
– Mẹ! mẹ cũng phải giữ mà dùng chứ, sao cho con nhiều thế?
– Mẹ có cần mua bán gì đâu, mẹ đầy đủ hết rồi, đồ đạc mới cũng chẳng cần mua thêm, cho con tiền, mẹ sẽ làm ra tiền khác, có gì đâu mà lo. Còn con, nào là tiền ăn, tiền điện nước, lo cho con bé đi học, mua sách vở mỗi năm cho con bé, dùng nhiều thứ lắm, chả lẽ cứ xòe tay xin tiền của chồng hoài, người ta khinh cho.
Chị ôm lấy mẹ, nước mắt ngắn dài:
– Con cám ơn mẹ đã hiểu cho con, mẹ đã không trách con không đón mẹ về ở chung mà còn cho con và cháu tiền bạc nữa, những đồng tiền này con biết mẹ làm lụng khổ sở, rất nhiều công sức, mẹ cho con cho cháu rồi sau này lỡ cần thì sao hả mẹ?
– Ôi con, không lo đâu, trời sanh trời dưỡng mà, về đi… yên tâm sống và nuôi con cho thành người là trả hiếu cho mẹ rồi.
Bà xua tay làm dấu cho con gái và cháu ngoại mau mau ra cửa, để khi khép cửa lại sau lưng, tôi thấy bà còng lưng ôm lấy ngực ho xù xụ như bù lại mấy tiếng đồng hồ vừa qua bà đã cố nín! Thấy tôi ngồi yên nơi bàn, nghe hết chuyện, bà phân trần:
– Hứa với bác, con không được nói gì với con Thương nghe không, bác biết nó có nỗi khổ riêng của nó mà, chồng nó là người Hoa, không muốn vợ mình đi làm vì tính hay ghen bóng ghen gió, muốn nó ở nhà làm việc nội trợ, trông con. Những công việc không tên thì nhiều vô số, bác không muốn đến nó ở lại làm vợ chồng nó cắn đắng vì mình, chồng nó đã từ chối ba mẹ ruột của chính mình rồi, thì làm sao có thể chấp nhận người mẹ vợ này nữa chứ! Thôi kệ, mỗi người một kiếp con à!
Tuy nói thế nhưng bà vẫn không thể nào xóa được nỗi buồn, sự tủi hờn cho hoàn cảnh cô đơn của mình. Bà lẳng lặng đi làm, trầm ngâm suy nghĩ, ít ăn, thi thoảng lại thấy bà gục đầu trên bàn máy tủi thân, từng giọt nước mắt lã chã ướt cả cái mặt bàn; sự buồn khổ và chán nản về cuộc đời âm ỷ làm bà bị bệnh trầm cảm, tự giấu mình trong nhà, không muốn gặp ai, từ chối nhận đồ may, ngay cả với tôi mỗi lần đến thăm đem đồ ăn ngon cho bà. Tôi phải vào ngồi nói chuyện với bà rất nhiều để dụ bà cùng ăn cơm với tôi, tiếng ho của bà không còn trong trẻo như xưa mà ngày càng dầy đục, bà than mệt đau ngực và không muốn ăn cơm.
Chị Thương vẫn sống một cuộc sống nhẹ nhàng bên chồng con chẳng hề hay biết mẹ mình đang mang bệnh phổi nặng và trầm cảm.
Cho đến một hôm tôi đang ngủ, khoảng 2 giờ sáng, nghe tiếng ồn ào la ó chói tai vọng vào; bật dậy, thấy mấy chiếc xe cảnh sát và xe ambulance bật đèn xanh đỏ nhấp nháy ở tầng đất, dân chúng bu quanh, đang chưa hiểu chuyện gì xảy ra, đã thấy ở căn ấp đối diện, một cô cảnh sát đang dìu bà Sáu đầu tóc rối bời bước ra khỏi nhà. Tôi hốt hoảng, xỏ đại đôi giày chạy qua hỏi người cảnh sát:
– Sao… cô lại bắt bà về đồn vậy?
– Cô là ai? Có quan hệ gì với bà này?
– Tôi xin lỗi, tôi là người hàng xóm thân nhất của bà, xin cô hãy cho tôi biết có chuyện gì được không?
– Bà này có con cái hay người thân gì không? Cô hãy theo tôi về nhà thương cái đã!
Tôi theo xe cảnh sát đi như cái máy, lo lắng hỏi lại:
– Về nhà thương? Tại sao?
– Bà đã leo lên thành lan can, muốn tự vẫn!
Tôi hốt hoảng, chưng hửng, dựng cả tóc gáy, chưa tin vào đôi tai mình, lắp bắp:
– Bà Sáu… bà Sáu muốn nhảy lầu tự tử sao?
– Phải rồi, may mà có người thấy gọi chúng tôi đến kịp thời. Tôi nghĩ bả bị bệnh, nên bây giờ tất cả chúng tôi muốn đưa bà vào bệnh viện rồi hạ hồi phân giải!
Tôi theo vào ngồi phía sau xe ambulance cùng với bà Sáu, nhìn bà thật thảm hại, cái búi tóc thường ngày cuộn gọn ghẽ sau ót, nay rối bời thành một mảng, cặp mắt cụp xuống tránh tia nhìn mọi người, như một đứa con nít làm lỗi, sợ bị la mắng; một tràng ho như xé phổi vang lên, bà mệt lả quẹo đầu sang một bên, tôi gọi nhỏ:
– Bác Sáu! Bác Sáu! Nghe cháu nói không?
Bà ngẩng đầu lên nhìn tôi, cặp mắt ngây dại:
– Tôi đang ở đâu vậy?
– Con sẽ đưa bác vào bệnh viện.
– Tôi không muốn sống nữa, tôi làm phiền con cái quá, nếu không có tôi thì cuộc đời nó sẽ nhẹ gánh hơn rồi, vì tôi mà con tôi cứ phải bận rộn… Tôi chỉ muốn chết thôi!
Rồi bà hét lên bất thình lình:
– Không! không! tôi không có bệnh gì hết, tôi không vào bệnh viện đâu! Đừng nói gì cho con gái tôi biết nhé, tôi van lạy mọi người đừng nói gì cho con tôi biết cả, hãy để cho nó sống yên lành, đừng xáo trộn cuộc sống của nó! Tôi chịu được mà.
Bà vồ lấy tôi, cong người dưới chân:
– Con… hứa với bác, khi bác hấp hối, hãy để bác ra đi, đừng gọi bác sĩ, đừng gọi xe cứu thương, bác sống đã đủ rồi, bác không cần ai đưa mình sau quan tài đâu! Sống còn không muốn thấy mặt nhau thì khi chết cần gì thăm hỏi! Hãy thiêu bác rồi rải tro ra ngoài biển để cho bác trở về với cát bụi nhe.
Nói một lúc rồi mệt quá, bà xỉu trên vai tôi. Một bác sĩ tâm lý đã nói với tôi:
– Có những người mẹ sống hết lòng vì con cái một cách thái quá, cả đời hy sinh nuôi con ăn học, dựng vợ gả chồng rồi lo lắng luôn cả hạnh phúc tương lai của chúng; lo sợ mình là gánh nặng, gây phiền phức cho con cái, ít tiếp xúc với bạn bè, nên lâm vào bệnh trầm cảm lúc nào không hay. Chỉ có một cách chữa trị duy nhất là người thân phải ở gần bà trong mọi sinh hoạt thường ngày thì mới giúp bà khỏi bệnh trầm cảm này; nhưng có vẻ đây là một đòi hỏi khó thực hiện!
Sau khi chẩn đoán, nhà thương đã giữ bà Sáu lại vì ngoài bệnh trầm cảm ra, bà còn bị ung thư phổi nặng nữa. Tôi bắt buộc không thể giấu chị Thương, và gọi chị vào để gặp bà…..
Bà Sáu cuộn mình ngồi im trong góc phòng của nhà thương, bà không muốn uống thuốc cũng chẳng muốn ăn hoặc nói chuyện, gặp ai bà cũng la hét đuổi thẳng tay:
– Cút hết ra đi! Tôi không cần ai chăm sóc cả, tôi không có bệnh gì hết, hãy để tôi về nhà, tôi phải may áo vì đến ngày giao rồi.
Bỗng nhiên, bà đứng dậy ném hết những đồ đạc xung quanh xuống đất; bà chỉ nhẹ nhàng và chảy nước mắt khi gặp chị Thương vào thăm bà mà thôi.
Chị Thương đã theo chồng từ 10 năm nay, chỉ về nhà thăm mẹ khi anh Chen cho phép, nay vì bà bệnh nặng, chị bỏ mọi công việc nhà đến chăm sóc cho mẹ ở bệnh viện từ sáng sớm đến tối mịt thì bị chồng nhiếc mắng, không vừa lòng mỗi khi về nhà trễ không có cơm sẵn. Cuộc sống gia đình trở nên nặng nề khó sống, cho đến một ngày chồng chị bỗng gằn giọng:
– Một là chọn gia đình này, hai là chọn mẹ, nếu em cứ suốt ngày vào nhà thương chăm sóc bà, bỏ bê gia đình này thì hãy ký vào đơn ly dị đi!
Chị tưởng anh nói chơi, nhưng không! khuôn mặt anh thật lạnh lùng, anh không hiểu lòng chị đang xáo trộn như thế nào sao! Vào hoàn cảnh khó khăn mới biết lòng người, anh là người chồng ích kỷ, chỉ muốn vợ phải hầu hạ mình, chứ không hề đếm xỉa đến gia đình cô ta có hoàn cảnh sống ra sao. Chị đau buồn không muốn to tiếng làm gì nữa vì đã quá hiểu con người của anh qua 10 năm chung sống; lẳng lặng ký vào đơn ly dị và dắt con gái ra khỏi nhà, đến thẳng nhà thương với mẹ. Chị ôm mẹ khóc:
– Mẹ ơi, hãy tha lỗi cho con, hãy thứ lỗi cho đứa con gái ngu muội bất hiếu này, bây giờ con mới hiểu cuộc đời ra sao, chồng có thể lấy người khác, nhưng mẹ thì chỉ có một trên cõi đời này mà thôi! Tại sao con lại nhìn không ra để đến bây giờ mẹ ra nông nỗi này. Con thật bất hiếu! Xin lỗi mẹ!
Từ hôm ấy, chị ở trong nhà thương giúp đỡ mẹ ăn uống, làm vệ sinh, dìu mẹ ra sân sau của bệnh viện ngắm cảnh, tắm nắng; hai mẹ con có dịp tâm sự thật nhiều chuyện. Dần dần bà bớt bệnh trầm cảm, nhưng bệnh ung thư phổi của bà ngày càng khó chữa. Bác sĩ nói bà không chữa trị từ cả 20 năm nay mà sống được đến bây giờ thì thật là một phép màu!
Bà đau đớn mỗi lần ho, cả người quắp lại, khuôn mặt nhăn nhúm, nước mắt nước mũi ràn rụa làm chị cũng không thể nào chịu đựng nổi, ôm lấy bà như sẵn sàng gánh bớt sự dầy vò ấy. Bà thều thào nói với chị trong hơi thở:
– Nếu cuộc sống này thật đẹp, có chất lượng thì sống lâu để hưởng đời, còn nếu khó khăn đau đớn quá, mẹ xin chọn cách ngừng lại đây! Nếu có sống thêm vài ba năm nữa cũng chỉ làm cho các con khổ sở lo lắng thêm cho mẹ, không những vậy, mẹ cũng hành hạ chính bản thân mình. Còn nếu mẹ dừng ở đây thì tất cả như được giải thoát thật nhẹ nhàng.
– Không đâu, mẹ không hề làm phiền gì con cả, con tự nguyện đến chăm sóc và ở bên mẹ mà, nếu không có mẹ, con sẽ rất buồn, rất đau khổ…Mẹ còn trẻ, họ sẽ làm hóa trị cho mẹ, mẹ sẽ khỏi… Mẹ đừng bỏ chúng con!
– Mẹ biết… mẹ sống không lâu nữa, sống đau đớn chịu đựng dằn vặt như thế thì làm sao vui? Hãy hiểu cho mẹ, cho mẹ xin lỗi con và cháu Thi, hãy để mẹ ngưng không chữa trị ung thư phổi nữa nhé… Mẹ xin con! Mẹ cầu xin con…
Chưa nói hết bà đã gục đầu ho, cơn đau xé lồng ngực làm bà ngất xỉu, chị Thương phải gọi bác sĩ chích “morphine” cho bà bớt đau. Để bà nằm trong phòng bệnh, chị ra ngoài cửa gục đầu vào lan can một mình nức nở khóc cho vơi nỗi niềm, thương cho cuộc đời không may của mẹ con mình, buồn cho đời vô thường quá! Chị mong sẽ nối nghiệp mẹ, sẽ nuôi con khôn lớn như mẹ đã từng hy sinh vì hạnh phúc của chị, chị sẽ có những người bạn tốt để tâm sự, giúp đỡ, cổ vũ nhau vươn lên, chị sẽ để con gái sống cuộc đời của nó, sẽ là người bạn thân, nhưng không mong về ở chung với con khi nó lập gia đình, chị muốn có một cuộc sống độc lập của riêng mình.
Càng sống chị càng thấy cuộc đời này như đã được sắp đặt trước, sống chết chỉ cách nhau một ranh giới mỏng manh, có ai bảo chết là hết?
Chị sẽ phải chấp nhận sự quyết định của mẹ, để mẹ được giải thoát, ra đi trong thanh thản, an lành!
Sống chết cận kề trong phút giây
Ngay trong hơi thở, trút thân này!
Quay về Chánh niệm tan niềm tục
Lòng nhẹ nhàng vui trước đổi thay.
(Thích Tánh Tuệ)
Sỏi Ngọc
Tiếng Hát Ngọc Huyền Mtl: Ca Khúc Lettre à Elise (Cho Tình Yêu). 2) Toi Jamais – (Anh Thì Không).
Lettre à Elise (Cho tình yêu) tiếng hát Ngọc Huyền Mtl