VTLV: TRANG ĐẶC BIỆT TƯỞNG NIỆM NGÀY QLVNCH 19/06. CAO MỴ NHÂN: CHÙM THƠ Về QUÂN LỰC VNCH- TS MAI THANH TRUYẾT- DONRY NGUYỄN – LÊ MỸ HOÀN – NGUYỄN PHƯƠNG THÚY – LÊ VĂN HẢI – HỒ DUY HẠ.

TS MAI THANH TRUYẾT: Hằng năm vào khoảng 19 Tháng 6, có nhiều tổ chức thuộc Quân Lực VNCH  ở hải ngoại tổ chức Lễ kỷ niệm Ngày Quân Lực. Năm nay là năm thứ 43.

Ngày 19 Tháng 6, được coi là Ngày Quân Lực VNCH là vì sau đảo chánh lật đổ Tổng Thống Ngô Đình Diệm năm 1963, Chính quyền và Quân Đội  VNCH bị suy yếu trầm trọng bởi tình trạng chỉnh lý, tranh giành quyền lực liên tục giữa các tướng lãnh trong QLVNCH . Tình trạng chính trị , quân sự cũng như kinh tế của Miền Nam lúc đó thật bi đát.

Lợi dụng tình thế bất ổn này, quân chính quy CS Bắc Việt ồ ạt xâm nhập vào Miền Nam. Trước tình trạng khẩn trương, nguy ngập đó Chính phủ dân sự Phan Khắc Sửu quyết định trao trách nhiệm và quyền hành lãnh đạo Quốc Gia cho Quân Lực VNCH.

Một buổi lễ ra mắt Ủy ban Lãnh Đạo Quốc Gia và Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương được long trọng tổ chức tại Thủ Đô Saigon vào ngày 19 Tháng 6, 1965. Hai Ủy ban này đã  tuyên thệ trung thành với Tổ Quốc, nhận trách nhiệm chỉ huy QLVNCH trong việc bảo vệ đất nuớc, quê hương.

Từ đó ngày 19 Tháng 6 là một ngày lịch sử, có tên là “Ngày Quân Lực VNCH”. Sau đó hằng năm ngày Quân Lực 19 Tháng 6 được cử hành rất trọng thể với sự tham gia các đơn vị của các quân binh chủng trong QLVNCH, để biểu dương sức mạnh và ý chí đoàn kết, quật khởi của toàn quân, toàn dân  Miền Nam, quyềt chiến đấu chống CS xâm lược Miền Bắc.

Ngày nay, Quân Lực VNCH không còn nhưng người quân nhân VNCH vẫn không ngừng chiến đấu cho Tự Do, Dân Chủ, Nhân quyền  và sự vẹn toàn lãnh thổ. Tập thể Chiến Sĩ VNCH đã được hình thành để nâng nỗ lực đấu tranh lên tầm mức cao hơn, mạnh mẽ  hơn.

Người chiến sĩ VNCH và đồng bào ỏ hải ngoại hôm nay  không có vũ khí trong tay để anh dũng chiến đấu trên chiến trường như ba mươi ba năm trước đây, nhưng với ý chí kiên cường, bất khuất,  người chiếnsĩ VNCH và đồng bào hải ngoại vẫn tiếp tục đấu tranh đem lại nhiều  thắng lợi trên  Bình diện chính trị. Chắc chắn ngày tự do và hạnh phúc cho toàn dân Việt Nam khắp mọi miền đất nước không còn bao xa.

Dưới bất cứ hoàn cảnh nào, nơi đâu,  tôn chỉ của người quân nhân vẫn là Danh Dự – Tổ Quốc – Trách Nhiệm.

Mai Thanh Truyết

==

CHÙM THƠ 19/06 – CAO MỴ NHÂN

==

CÙNG NHAU HÁT TIẾP KHÚC QUÂN HÀNH.     CAO MỴ NHÂN

Trời chưa sáng đã nghe hồi trống lệnh

Anh lạnh lùng thức dậy, chúng ta đi

Vào  chiến cuộc, bao người đang đến hẹn

Một lòng tin phơi phới: các anh về

*

Cờ vàng đã tung bay trên khắp ngả

Trăng hạ huyền lãng đãng báo tin Xuân

Nền Cộng Hoà thao thức đợi chinh nhân

Rồi từ đó, ta gọi hồn đất cũ

*

Những con đường đã xua mây viễn xứ

Để cho người gặp gỡ người xa xưa

Để cho anh tha thiết gọi hồn thơ

Cho em viết chan hòa lời non nướ

*

Rằng : lý tưởng vẫn bền lòng phục quốc

Dân tộc ơi,  ngàn vạn nét đan thanh

Ôi sung sướng trọn đời ta mong ước

Hãy cùng nhau hát tiếp Khúc quân hành

    Rancho Palos Verdes  9 – 6 – 2026

                 CAO MỴ NHÂN

==

TẶNG ANH.      CAO MỴ NHÂN

Chỉ cần nghe hơi hướng

Tuổi trẻ ở đôi tay

Mới biết mình sung sướng

Sức khỏe còn trên vai

*

Nên mời anh gánh vác

Càn khôn vũ trụ này

Đất trời không xa lắm

Tất cả đều quanh đây

*

Hôm qua là dĩ vãng

Ngày mai đó tương lai

Còn hôm nay hiện tại

Tinh thần phải hăng say

*

Muốn làm nên nghiệp lớn

Hãy đo sức nhân gian

Coi thử hạt bụi vướng

Nghĩ to như thái sơn

*

Khi ta còn tuổi trẻ

Phải tiết kiệm phút giây

Để không buồn tiếc rẻ

Trôi qua những tháng ngày …

Rancho Palos Verdes.   8 – 6 – 2026

         CAO MỴ NHÂN

==

Em GÁI HẬU PHƯƠNG.     CAO MỴ NHÂN

Kích giặc xong rồi, về phố thị

Thong dong đi dạo chợ  Sài Gòn

Ngó cô bán bánh, chào thơm phức

Mời lính biên phòng thử bánh ngon

*

Anh không mắc cở mà đùa rỡn

Cô muốn tôi mua loại bánh nào

Chính chiến mịt mù, nay mới hưỡn

Hậu phương chỉ có bánh thôi sao

*

Cô bé nhìn anh cười, đỏ mặt

Em không biết nữa, anh qua bên

Chị kia chắc có nhiều quà khác

Anh lắc đầu , anh muốn cạnh em

*

Thế rồi, vài tháng sau là vợ

Anh vẫn biên phòng, thương nhớ thêm

Cô bé để rơi dòng lệ tủi

Năm sau, em quả phụ ưu phiền …

(Chuyện một cô bé hậu phương, sau một năm là quả phụ tử sĩ  VNCH )

Rancho Palos Verdes   28 – 5 – 2026

               CAO MỴ NHÂN 

==

VỀ THĂM ĐƯỜNG 9.     CAO MỴ NHÂN

Ôi nhớ quá tiếng xe tăng cày đất

Xẻ sa trường đôi vạt sóng thiên thu

Bạn anh đấy khép hờ đôi mắt sắt

Yên phận nằm nghe gió bão biên khu

*

Anh trở lại Đông Hà qua đường 9

Cây Nhân Sinh từng lớp mọc hoang đường

Đồi 31 còn cuộn dòng uất nghẹn

Bạn anh nhìn pháo lịm bặt bi thương

*

Nửa trăm năm vẫn tanh mùi máu lửa

Ngậm ngùi nhìn dấu vết tiểu đoàn xưa

Anh cứ đứng chôn chân trong nỗi nhớ

Trận chiến nào em khóc sau giông mưa

*

Thôi ta về, chuyến tầu đêm hun hút

Như gọi hồn tử sĩ vọng trời xanh

Không còn ánh hỏa châu soi sáng khắp

Trở về thăm mặt trận vỡ trên thành …

Hawthorne  26 – 5 – 2026

        CAO MỴ NHÂN

==

NỬA TRĂM NĂM GẶP LẠI.     CAO MỴ NHÂN

Nửa trăm năm đã vụt trôi qua

Trông đợi người đi lệ thấm nhòa

Chạnh nhớ ngày xưa khi kích giặc

 Bên nhau nào biết sẽ chia xa

Đồng hoang cỏ cháy nối thương đau

Người với ta chung một nỗi sầu

Cơm xấy sau mưa tràn bếp ngập

Bên trời tên lửa gọi cung dâu 

*

Hẹn hò chớp mắt như tan biến

Kinh rạch đò ngoan vẫn thả chèo

Sóng vỗ ngoài xa nơi đất biển

Hành quân ổn định xóm thôn nghèo

*

Đông Hà, cửa Việt  sương giăng tối

Sao trách ai quên chẳng ngó ngàng

Đành đợi hoả  châu soi sáng lối

Người ôm hoài bão chẳng than van

*

Giờ đây nhịp đập tim đau nhói

Ta hỏi người khi mặt trận tàn

Hoài niệm tình vương theo đạn khói

Có còn chăng, dấu tích tan hoang

*

Người ơi bi lụy càng ngây ngất

Trong nỗi ưu tư liệm mảnh hồn

Thương nhớ dặm về buồn héo hắt

Bên nhau tâm sự não nề tuôn …

         Hawthorne.   9 – 5 – 2026

( Họa Thơ. Nhật Hồng. Nguyễn Thanh Vân  )

                   CAO MỴ NHÂN 

==

DƯỚI CỜ VÀNG.       CAO MỴ NHÂN

Sáng ra chào lá cờ vàng

Tung bay trong nắng huy hoàng mùa xuân

Thấy như gặp lại cố nhân

“Giày saul nón sắt ” tháng năm thủa nào

*

Em nhìn lên tít trời cao

Mây pha sắc áo bay vào sử xanh

Ngàn đời yêu dấu riêng anh

Sa trường sôi động, tan thành mộng mơ

*

Quân đi rầm rập  dưới cờ

Sáng tươi sông núi cùng thơ lên đường

Trăm phen hoa nở khói sương

Đạp lên nỗi chết biên phương hận thù

*

Bây giờ nói chuyện biên khu

Bâng khuâng âm hưởng thiên thu chiến hào

Đạn bay xé mảnh nhung bào

Trái tim thúc giục tuyến đầu ghi công …

            CAO MỴ NHÂN

==

NGANG TRỜI TIẾC THƯƠNG.        CAO MỴ NHÂN

Em về giữa buổi bình minh

Nắng  vừa soi tỏ bóng hình người xưa

Cả không gian bỗng tiễn đưa

Hồn chinh phu trải gió mưa nơi này

*

Chiến trường cạn chén riêng tây

Tình yêu nước đã khô bay mộ chàng 

Trao anh nguyên sắc cờ vàng

Này đây, tất cả lỡ làng quê ta

*

Em về câm nín xót xa

Sau lưng lạnh toát hồn ma tượng đài

Bó nhang chợt tắt u hoài

Nắng hong nỗi nhớ ngang trời Tiếc Thương

*

Thôi anh, tóc rối tơ vương

Vòng tay buông lỏng nghe hương khói tàn

Một mình hận tủi vô vàn

Buồn ơi mộng mị quan san bái từ …

            CAO MỴ NHÂN

==

NGÀY QUÂN LỰC 19/06

Mười Chín Tháng Sáu lại về trong gió,

Tôi nghe vang tiếng quân hành từ dĩ vãng xa xôi.

Những người lính CỘNG HÒA khoác chiến y giữ nước,

Đã từng qua lửa đạn khắp núi đồi.

.

Từ Cổ Thành, An Lộc, Kontum,

Đến những vùng sông nước mịt mùng khói súng,

Máu anh thấm vào lòng đất mẹ

Nở thành những đóa hoa bất khuất của quê nhà.

.

Anh ngẩng cao đầu giữa bão táp phong ba

Gìn giữ tự do bằng danh dự và sinh mệnh.

Dẫu chiến tranh đã lùi vào lịch sử

Tên tuổi người lính VIỆT NAM CỘNG HÒA gìn giữ quê hương

.

Vẫn sáng mãi trong lòng những người yêu nước,

Như ngọn lửa không bao giờ tắt của sử vàng dân tộc.

19/06 toàn dân đều khóc

Tưởng nhớ anh – người lính VIỆT NAM CỘNG HÒA!

Phương Hoa – 19 Tháng 6, 2026 -Ngày QLVNCH

==

LỜI MẶC NIỆM -Donry Nguyên

*

Hỡi oai linh núi sông hùng vĩ,

Đây cơ đồ xương máu tiền nhân.

Đây sự nghiệp, giang sơn gấm vóc,

Đã lưu truyền suốt bốn ngàn năm.

*

Đàn con Việt cúi đầu mặc niệm,

Tưởng nhớ về công khó cha ông.

Bao lớp người hy sinh nằm xuống,

Đem máu mình tô thắm non sông.

*

Hãy hát lên bài ca dựng nước,

Của giống nòi Đại Việt hiên ngang.

Tay vung gươm, tay cầm ngọn bút,

Giữ cõi bờ, chống bọn xâm lăng.

*

Xin nguyện cầu hồn thiêng sông núi,

Thắp sáng lòng con cháu Rồng Tiên.

Cùng hợp sức chung tay xây lại,

Ngọn cờ vàng tươi sáng Việt Nam!

-Donry Nguyễn.

==

BÀI TÌNH CA CỦA GÃ LÍNH GIÀ

*

Có người em hỏi, anh là lính,

Khi đất nước cần, dám đứng lên?

Giống thời trai trẻ, ta nào ngán,

Sẵn sàng giáp mặt với đao binh.

*

Ta gã lính già luôn mong ước,

Được đứng chào nghiêm dưới quốc kỳ.

Thẩm quyền nếu bảo, mai ra trận,

Ta sẽ chấp hành, cất bước đi.

*

Hề chi, ta lính còn quân số,

(Đâu có giấy tờ giải ngũ đâu?)

Tuy đã lâu rồi, lương chẳng nhận,

Bộ áo trây-di bạc thếch màu.

*

Ta chàng lính pháo chưa từng bại

(Kịp đánh đâu mà thắng với thua?)

Chẳng qua thế nước, cơn chìm nổi,

Tạm bước lưu vong, đợi buổi về.

*

Tuổi cao dù yếu, còn dư sức …

Ôm đàn hát lại bản tình ca.

Cho em biết được lòng ta vẫn,

Sau trước yêu em rất thật thà.

*

Em chớ trách hờn sao đi mãi

Chắc là quên mất nợ quê hương?

Thưa em, từ độ mùa xuân ấy …

Nặng trĩu trong ta, một chữ buồn!

*

Đợi giờ sông núi reo mùa mới,

Theo bước hùng binh lại trở về.

Xin hẹn cùng em mùa trẩy hội,

Hai đứa mình đi dưới bóng cờ.

-Donry Nguyễn.

==

THƠ LÊ MỸ HOÀN

==

THU ĐÔI MƯƠI – Lê Mỹ Hoàn

Những chiếc lá cuộn rơi bước chân ngày cũ

Trong vườn tao đàn thuở ấy tuổi đôi mươi

Áo thướt tha như cuộn áng mây trời

Khi những mùa thu về lá rơi ngập lối

Tao đàn lắng tiếng trở mình thức dậy

Còn mãi xa như gợn sóng thời gian

Khi những bài thơ ngàn xưa vang vọng

Vời vợi âm xa lũ lượt trở về

Trong cặp sách thư tình và bài học

Lẫn lộn trang vở những hồi hộp hôm qua

Còn dấu âm thầm tiếng ai hò hẹn

Màu áo anh còn đẫm gió quan hà

Có ánh mắt đêm dài miền đất đỏ

Anh mang về cát bụi chiến chinh xa

Anh mang về cùng với cả giấc mơ

Vườn hoa thơm ngát thanh bình muôn thuở

Cuộc tình năm xưa mùa lá đang rơi

Cùng đếm bước trên vỉa hè Lê Lợi

Những bước thì thầm còn lên tiếng gọi

Ta vẫn hẹn bao năm chờ đợi

Áo em thu vàng cùng với tuổi đôi mươi.

Lê Mỹ Hoàn – 6/2026

==

CHÂN TRẦN TRÊN ĐỒI CÁT

Ngày về thăm quê

Trùng dương bát ngát

Chân trần chạy trên đồi cát

Mượt mà như dải lụa quấn quanh

Chân trần chạy thẳng lên đồi

Tưởng như đến bên trời trước mắt

Gió cát quật vào mặt vào mắt

Mặt trời nghiêng và bóng đổ

Đồi cát chập chùng đôi cánh trắng

Gió thổi tung màn lụa phủ thân ta

Lòng cuộn theo cơn lốc

Bụi mờ vết chân qua

Quá khứ xa xôi

khung trời ẩn hiện

Đại bác nổ rền xé rách đêm thâu

Ánh hỏa châu soi sáng cát vô hồn

Lá cây gầy

lấp loáng giọt sương tuôn

Lòng mẹ mái tranh

nước mắt ru buồn

Bóng anh người lính chiến

Áo chinh nhân xuống biển lên ngàn

Lặng lẽ súng trên tay

Băng qua vùng lửa cháy

Đã một lần nơi đây

Em, anh và quê hương tan nát

Ôi chinh chiến điêu tàn

Tình yêu và biển mặn

Quê hương ước mơ ơi

Hôm nào đã mất

Một non sông và mối tình anh.

   Lê Mỹ Hoàn – 5/2020

==

BIỂN ĐÊM NHỚ SÀIGON

Biển đang dâng chén lưng sầu      

Núi cao mây lấp ngang đầu nỗi đau

Non xanh biển mộng là đâu

Sóng đâu phủ sóng tình sâu đáy lòng

*

Ra đi về hướng đại dương

Có loài rong biển vẫn thương đường về

Đêm nghe tiếng hát trầm mê

Biển còn đắm mộng lời thề vấn vương

*

Ta đi thấu suốt đoạn đường

Mà sao lòng vẫn nhớ thương Sàigon

Sàigon thuở ấy mưa luôn

Hàng me chua ngọt nắng luồn tóc em

 *               

Sóng dồn khát vọng bao đêm

Ai bơi qua mộng hão huyền bên kia

Để rồi năm tháng vô đề

Gót chân phiêu lãng hỏi về nơi đâu

*

Ngàn sao thắp lệ em sầu

Long lanh những ngọn đèn màu phố xưa

Tiếng chân nhịp bước mong chờ

Ngựa thồ cuối ngõ ngoại ô đêm buồn

*

Trưa hè phượng đỏ môi son

Màu son chưa nhạt mái trường năm xưa

Thế rồi sóng bấp bênh bờ

Nấm mồ hoa phượng tình thơ ngậm ngùi

*

Hồ Rùa phủ bóng lá rơi

Dọc đường Nguyễn Huệ từng đôi dập dìu

Ta về nắng gió Pleiku

Áo em gió lộng rừng thu quân hành   

*

Bến Thành quen mãi bước chân

Xuyên qua cửa Bắc lại gần cửa Tây

Mình tao ngộ ở nơi đây

Âm thanh biển bỗng gọi đầy nỗi vui             

*

Ơi! Dòng nước chảy chia hai

Nhà Bè bến nước, Đồng Nai ai về

Tiếng hò sóng nước đê mê

Thôi em, đã lỡ vụng về giấc mơ

*

Huy tà bóng lặng chơ vơ

Từ nghe cõi vọng mơ hồ về đâu

Địa đàng tỉnh giấc canh thâu

Cùng ta chuốc chén mộng sầu ly tan.

          Lê Mỹ Hoàn – 5/2019

==

==

Sau Tháng Tư Đen, những người chiến sĩ VNCH tị nạn CS tại khắp nơi trên thế giới đã sống những ngày tháng còn lại trong nuối tiếc, ngậm ngùi, và ân hận vì đã không làm tròn sứ mạng bảo vệ đất nước.

Món nợ non sông chưa trả đã dầy vò rất nhiều người, nhất là những chiến sĩ có tinh thần trách nhiệm cao đã không ở lại tử thủ khi Sài Gòn đổi chủ. Họ tìm đường sống, tiếp tục sống, tiếp tục theo đuổi và duy trì nhiệm vụ chống chế độ CS đã và đang làm băng hoại đất nước, dân tộc VN. Cuộc tranh đấu tiếp tục kéo dài, giấc mơ hồi hương vẫn xa vời vợi, mục đích vẫn chưa nằm trong tầm tay với. Tâm hồn người chiến sĩ mục rữa vì quá khứ ám ảnh, vì chờ đợi mỏi mòn. Trách nhiệm của người chiến sĩ vẫn đeo đẳng không nguôi mà tuổi già và bệnh tật đã dẫn đường cho thần chết tìm đến. Từng người một giã từ đồng đội, lúc lâm chung không muốn phủ lá Cờ Vàng vì nghĩ rằng mình đã không xứng đáng được hưởng danh dự này.

Cựu Tư lệnh Sư đoàn Nhảy Dù, Chuẩn Tướng Lê Quang Lưỡng (1932-2005) đã nói : “Tôi làm Tướng không bảo vệ được nước. Khi nước mất tôi đã không dám chết theo nước nên khi tôi chết già, yêu cầu đừng phủ quốc kỳ lên quan tài tôi vì tôi tự biết mình không xứng đáng được hưởng lễ nghi nầy.

Xin mặc đồ đen, không mặc quân phục, nếu muốn đến tiễn đưa tôi lần chót.”

Cựu Trung tá Phi đoàn trưởng phi đoàn 239 Phạm Vương Thục (1942-2011) đã để di chúc :

“Không phủ cờ cho Anh vì Anh không đáng được phủ cờ. nếu BCH (Ban Chấp Hành) bắt buộc phải làm thì xin làm theo nghi thức thật bình thường …”

Tôi đọc những lời di chúc này mà ngẩn ngơ. Sao lại thế? Một lần gia nhập quân đội là trọn đời thuộc về quân đội. Dù quân đội đã tan hàng, buông súng nhưng làm sao xóa bỏ quá khứ, cái quá khứ đã làm nên hiện tại, con người ngày nay. Qua lá Cờ Vàng, người chiến sĩ vẫn thấy quê hương, vẫn kính cẩn chào trong những buổi lễ, vẫn còn thấy lòng rung động, vẫn còn thấy nỗi nhục nhằn, chua xót. Bao nhiêu năm sống đời lưu lạc, vẫn ấp ủ quê hương trong lòng, sao đến phút cuối lại tự mình cắt đứt?

Phủ Lá Cờ Vàng

Mai anh chết cờ vàng xin dâng phủ,

Như một lời được nhắn nhủ đến ai.

Dù chiến chinh đã tàn lụi lâu dài,

Dù gươm súng, chiến bào không còn nữa,

Dù chiến bại làm tâm hồn mục rữa,

Dù cuối đời khí phách tựa khói tan,

Cờ vàng kia, anh xứng đáng được quàng,

Để ghi nhận tháng ngày mang nợ nước,

Để cám ơn hy sinh không lường được,

Những hao mòn thân thể, nhược tâm tư,

Những máu xương đã đổ tại chiến khu…

Đâu phải chết mới đền bù nợ nước.

Xin vui nhận lá Cờ Vàng thuở trước,

Là hồn thiêng tổ quốc rước anh về.

Những người con vẫn anh dũng, uy nghi,

Vẫn kiên cường ngay cả khi chiến bại.

Trên quan tài lá Cờ ôm ưu ái,

Hãy trở về, mãi mãi với quê hương!

Nguyễn P. Thúy, 02/07/2012

==

Thơ rất thật viết từ hồn thổn thức,

Từ lòng đau bởi vận nước suy vong.

Thơ căm hờn lũ Cộng sản hại dân,

Thơ sỉ vả kẻ đảo dâng, đất bán.

Thơ cuồng nộ trước độc quyền ngu dốt,

Thơ ngậm ngùi bao uất ức, nổi trôi.

Thơ xót xa quê đói khổ, tả tơi,

Thơ khóc thuyền nhân chết nơi biển rộng.

Thơ uất hận những cùm gông địa ngục,

Thơ đớn đau trước vùi dập, tang thương.

Thơ vạch trần bao dối trá, phỉnh lừa,

Thơ nhạo báng cha, tiên, sư, giả mạo (*).

Thơ nhắc nhở những chiến công đã tạo,

Thơ hô hào vì Quốc đạo, tổ tiên.

Thơ thiết tha tình dân tộc ba miền,

Thơ thúc dục người hiên ngang đứng dậy.

Thơ: vũ khí, tràn đầy bao nung nấu,

Thơ bừng bừng, rực dấu lửa kết tinh.

Lửa Thiện Chân thắp sáng tỏa niềm tin,

Lửa bốc cao thành đuốc thiêng dân tộc.

Đốt cho hết những bạo tàn lũ Cộng,

Cháy ra tro quỷ đỏ đội lốt người.

Để mầm non còn có chỗ đâm chồi,

Vươn lớn mạnh đắp bồi cho đất mẹ.

Thơ reo vui khi Việt Nam trọn vẹn,

Có nhân quyền, đạo đức với tình người.

Một mai đây khi đất nước yên vui,

Thơ thắm thiết chuyện ngọt bùi, tình tự.

Thơ rất thật viết từ hồn hạnh phúc,

Từ lòng vui bởi vận nước phục hưng.

Nguyễn P. Thúy, 3/10/2008

(*) Cộnng Sản bắt dân thờ Hồ Chí Minh như Tiên Thánh và lập ra sư quốc doanh, cha

(linh mục) quốc doanh để chi phối tôn giáo.

**

NHỚ NGƯỜI CHIẾN SĨ VÔ DANH – NGUYỄN PHƯƠNG THÚY

Bao năm qua tôi vẫn nhớ đến anh,

Những người chiến sĩ vô danh, rất trẻ.

Hành trang gói theo: tình thương vỏn vẹn,

Vì non sông nguyện dâng hiến cuộc đời.

Vai ba lô trĩu nặng vội lên đường,

Dù biết trước hiểm nguy đương chờ đợi.

Nhịp quân tiến mù tung trong gió bụi,

Bao hiểm nguy vẫn thách thức tử thần.

Dẫu mai này có vị quốc vong thân,

Vẫn kiêu dũng tròn phận dân nước Việt.

Các chiến sĩ, những người trai tuấn kiệt,

Một ngày nào trả hết nghiệp binh đao.

Người về quê, máu đẫm ướt chiến bào,

Kẻ đất mẹ chôn sâu đời vĩnh viễn.

Thương binh tủi, ngậm ngùi sau cuộc chiến,

Đùm bọc nhau trong túng thiếu, lầm than.

Tháng Tư Đen, sụp đổ cả miền Nam,

Thân bại tướng, không hàng, đành tuẫn tiết.

Tù cải tạo cam chịu bao khắc nghiệt,

Đói triền miên và tật bệnh giết dần.

Nơi đất người, xây dựng lại từ đầu,

Đời no ấm vẫn thấy sầu ghê gớm.

Nỗi nhục nhã, không lúc nào nguôi hận,

Chí kiên cường theo ngày tháng lê thê.

Bao nhiêu năm, vẫn ấp ủ hẹn thề,

Sài Gòn hỡi, ngày về – Xuân Như Ý (*).

Chiến tranh cướp bao đời trai hao hủy,

Nghĩa trang buồn nơi an nghỉ nghìn thu.

Mộ bia anh, không nhang khói, trùng tu,

Dù khi thác vẫn là tù cấm cố.

Vì thương lính, rất hận loài Cộng đỏ,

Góp sức mình tiêu diệt lũ ác nhân.

Tiếp tục con đường anh đã âm thầm,

Quyết chiến đấu đến tận cùng sinh lực.

Ngày nào đó thế thời xoay mệnh nước,

Khi quê hương mạch sống được khơi mầm.

Sử Việt Nam xin trân trọng ghi ân,

Tôn vinh những anh hùng vô danh ấy…

Nguyễn P. Thúy

December 09, 2009

(*) Bài Xuân Như Ý trong thi tập Cõi Lòng của tác giả Vinh Nhất Tâm

==

THƠ HỒ DUY HẠ & THƠ HỌA CỦA BỬU TRUYỀN

=

NGƯỜI LÍNH GIÀ

Người lính già co ro ôn dĩ vãng
Của một thời ngang dọc tuổi thanh xuân
Ngoài biên cương đạn xé tung bảo bùng
Xem nhẹ tựa lông hồng không sợ hải

.

Cuộc đời lính dọc ngang ngoài biên ải
Vì quê hương tổ quốc nên hy sinh
Để lại người thân quên cả chính mình
Lòng sôi sục nuôi căm hờn giữ nước

.

Chinh chiến tàn có ai mà hiểu được
Thèm chút hương yêu ấm áp đậm đà
Anh em mình đồng đội đã lìa xa
Nơi cải tạo trong ngục tù hẻo lánh

.

Rời quê hương đi tìm đường lẫn tránh
Ở xứ người ôn nỗi nhớ không nguôi
Bao nhiêu năm trong dạ vẫn bùi ngùi
Thân lữ khách luôn nhớ về quê mẹ

.

Cảm xúc này con xin dâng chia sẻ
Người lính già ôm ấp nỗi cô liêu
Ba chúng con tuổi đã xế về chiều
Cầu nguyện CHÚA ban bình an phước hạnh

.

“Cảm xúc về thăm khi thấy ba nằm co ro”
Hồ Duy Hạ

=

NGƯỜI LÍNH GIÀ TÂM SỰHỒ DUY HẠ

Ngày Lễ Cha chúng con về sum họp
Đọc bài thơ con dành tặng riêng Ba
Cháu và con quy tụ chung một nhà
Ba xúc động nói lên lời cảm tưởng

.

Chuyện có thật mấy mươi năm về trước
Chị các con gang dạ thật vô biên
Dáng nữ nhi hiếu thảo và ngoan hiền
Ba hãnh diện đứa con đầu can đảm

.

Đời của Ba lớn lên trong sầu thảm
Chính mắt Ba nhìn thấy cảnh đau thương
Lòng của Ba ray rức từng đêm trường
Mong để lớn xung phong đi chiến đấu

.

Trai thanh niên phải hiên ngang hùng hậu
Quyết căm thù ý chí phải xông lên
Yêu quê hương Tổ Quốc phải đáp đền
Thật mới đáng nam nhi trai thời loạn

.

Người cộng hòa hoan nghênh luôn tiếp đón
Người thanh niên nuôi ý chí xông pha
Từ giã Mẹ Cha từ bỏ quê nhà
Nơi chiến trận quên mình in thù hận …

.

Người con gái da vàng yêu Tổ Quốc
Ngồi bên Ba nghe kể chuyện xa xưa
Thuở thiếu niên Ba núp trên ngọn dừa
Chứng kiến cảnh đau thương ôi! Khủng khếp

.

Nỗi khổ con người của từ muôn kiếp
Nung căm thù Ba quyết chí đứng lên
Gánh vác giang sơn nợ sẽ đáp đền
Ba chiến đấu xung phong khi vừa lớn

.

Người lính già vai trò nay đã trọn
Kể chuyện xưa ôn lại thuở ấu thơ
Bao nhiêu năm hình ảnh vẫn không mờ
Con hãnh diện người Ba hiền khả kính ..

.

Tặng đến Ba nhân Ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa .
Ngày 19 Tháng 6 Năm 2008
Hồ Duy Hạ

*

NGƯỜI LÍNH GIÀ TỰ SỰBÀI HỌA CỦA BỬU TRUYỀN

Sinh Nhật Cha, cả nhà vui sum họp
Bảy mươi bảy năm dãi dầu phong ba
Cha kiên tâm xây dựng nên nghiệp nhà
Bên cạnh mẹ chan hòa chung lý tưởng

.

Thời niên thiếu luôn hướng về phía trước
Ươm tương lai xây mộng ước vô biên
Luyện kinh văn, học tập đức thành hiền
Nung chí cả anh hùng gương can đảm

.

Dời núi lấp sông vượt ngàn sầu thảm
Hồ thỉ tang bồng nồng ấm tình thương
Tổ quốc lâm nguy đầu quân chiến trường
Xông pha giết giặc kiên cường tranh đấu

.

Ngày nghỉ phép, gặp người em phúc hậu
Tuổi đôi mươi vầng trăng sáng vừa lên
Đụng tay em, em hờn dỗi mắc đền
Lời xin lỗi, nhưng tim rung tán loạn

.

Kể từ đó, có phép về, em đón
Cầu Bằng Lăng tình thắm nắng vàng pha
Hoa lồng hương chớm kết trước cửa nhà
Tiếng pháo cưới, đám trai làng vỡ hận

.

Chàng tiếp tục lên đường vì tổ quốc
Nàng ôm con chăm sóc mái nhà xưa
Tình yêu nhau ngọt mát như nước dừa
Dù chiến cuộc đến hồi quá khủng khiếp

.

Ngày gẫy súng, binh nghiệp tròn nửa kiếp
Không hận thù, từ chỗ ngã đứng lên
Nợ non sông vẫn canh cánh đáp đền
Nợ tình vợ nuôi cháu con khôn lớn

.

Nợ chiến hữu trả vay còn chưa trọn
Xin gửi trao tất cả các con thơ
Trả hộ Cha, đừng xao nhãng phai mờ
Trong muôn một, nhất là Mẹ yêu kính!

Bửu Truyền

==

Người Lính Năm XưaTHƠ DƯƠNG VIỆT CHỈNH

==

Người Lính Năm Xưa

(19-6, vinh danh các chiến sĩ QLVNCH)

Người lính năm xưa rất hào hùng

Đêm ngày chiến đấu giữ núi sông

Tinh thần bất khuất và cao cả

Vì nước vì dân sống hết lòng

.

Người lính hiên ngang ấy đã từng

Có tình yêu đẹp tựa như trăng                                              

Hẹn ngày đất nước tàn chinh chiến

Đám cưới đầu xuân nắng thanh bình  

.   

Người lính phong sương có gia đình

Hậu phương tiền tuyến vẫn nhớ mong                                 

Hứa ngày về phép vui hạnh phúc

Bữa cơm đoàn tụ thắm nghĩa tình

.

Người lính ước mơ riêng không thành                                                   

Bởi còn khói lửa với đao binh

Những lời hứa hẹn đành chôn chặt        

Giấu nỗi xót xa tận đáy lòng

.

Người lính đắng cay mất nước nhà

Vào tù vì chính nghĩa quốc gia,

Vùi chôn thân xác nơi rừng núi,

Uất hận ly hương mãi không nhòa

.

Người lính lưu vong nay đã già

Đường về quê mẹ cứ dần xa

“Lực bất tòng tâm” đành nuốt lệ

Nhận đất tha phương gọi là nhà

.                                

Người lính như gương sáng rạng ngời

Người hùng một thuở đất nước tôi

Người mang hoài bão nuôi chí lớn

Tôi hảnh diện người chiến sĩ ơi

Dương Việt-Chỉnh, 15-6-2026

==

TIN TỨC VỀ NGÀY QLVNCH 19 THÁNG 6 – KQ LÊ VĂN HẢI

=

==

=

-Ngày Quân Lực 19-6 là dịp để chúng ta tưởng nhớ và tri ân những người lính Việt Nam Cộng Hòa, đã một thời hiến dâng tuổi trẻ, máu xương và cả mạng sống của mình cho lý tưởng Tự Do, Dân Chủ và sự sống còn của dân tộc.

Trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt, khi miền Nam đứng trước hiểm họa mất nước, người lính Việt Nam Cộng Hòa đã can đảm đứng lên nhận lãnh trách nhiệm bảo vệ quê hương. Họ chiến đấu không vì quyền lợi riêng tư, mà vì sự bình an của đồng bào, vì tương lai của các thế hệ mai sau, với tinh thần cao đẹp: “Vì Nước quên mình, vì Dân phục vụ.”

Chiến tranh đã lùi xa hơn nửa thế kỷ, nhưng những hy sinh của trên 300.000 chiến sĩ đã nằm xuống và hàng trăm ngàn thương phế binh còn mang thương tích suốt đời, vẫn là những trang sử hào hùng không thể nào quên. Dù thời gian trôi qua bao lâu đi nữa, lòng tri ân đối với những người đã vị quốc vong thân, vẫn còn nguyên vẹn trong lòng những người Việt yêu chuộng tự do.

Ngày hôm nay, chúng ta kính cẩn nghiêng mình trước anh linh các anh hùng tử sĩ, những người đã chọn hy sinh đời mình để bảo vệ chính nghĩa. Chúng ta cũng không quên những chiến hữu còn sống, những thương phế binh và gia đình quân nhân đã âm thầm chịu đựng biết bao mất mát trong suốt nhiều thập niên qua.

Ngày Quân Lực không chỉ là ngày tưởng niệm quá khứ, mà còn là ngày nhắc nhở chúng ta về những giá trị cao quý của trách nhiệm, danh dự, lòng yêu nước và tinh thần phục vụ tha nhân. Những giá trị cao đẹp ấy vẫn tiếp tục soi sáng con đường của người Việt hôm nay và mai sau.

Nguyện cầu hương linh các vị tướng lãnh, các chiến sĩ vị quốc vong thân và toàn thể quân dân đã hy sinh cho tự do được an nghỉ trong cõi vĩnh hằng. Xin cho thế hệ hôm nay luôn biết trân quý tự do, đoàn kết xây dựng tương lai và gìn giữ những lý tưởng cao đẹp mà các anh đã để lại.

Tinh thần Người Lính Việt Nam Cộng Hòa – Vì Dân mà chiến đấu, Vì Nước mà hy sinh – mãi mãi bất diệt!

Thứ Sáu, Đúng Ngày 19/6, Tại Vườn Truyền Thống Việt

Chút Quà Từ Ủy Ban Thúc Đẩy Xây Dựng Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ San Jose:

=

-Đặc Biệt Nhân Kỷ Niệm Ngày Quân Lực Và Kỷ Niệm 2 Năm Thành Lập Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ San Jose, Ủy Ban TĐXDTĐ, xin Kính tặng Quý Cựu Quân Nhân, một món quà nhỏ và một phong bao lì xì, như một lời cảm tạ và lời chúc sức khỏe!

=

=

=

-Có những người lính chiến thắng được dựng tượng đài bằng đá. Có những người lính thất trận, được dựng tượng đài trong lòng người.

Người lính Việt Nam Cộng Hòa thuộc về lớp người thứ hai!

Họ rời mái trường, gác lại tuổi thanh xuân, khoác lên mình màu áo trận để gìn giữ quê hương, trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt. Hai mươi năm dài, họ đi qua những cánh rừng, những dòng sông, những đồi cao đầy khói lửa, mang trên vai trách nhiệm bảo vệ sự bình yên cho hàng triệu người dân miền Nam.

Rồi chiến tranh khốc liệt kết thúc.

Không chỉ mất một cuộc chiến, họ còn mất quê hương, mất tương lai, mất cả quyền được nhắc đến bằng sự công bằng của lịch sử. Người sống bước vào lao tù, người chết nằm lại trong những nghĩa trang hoang phế. Những thương binh tàn tật sống âm thầm bên lề xã hội. Nhiều gia đình mang theo nỗi đau ấy qua nhiều thế hệ.

Có lẽ đó là một trong những thân phận bi thương nhất của người lính trong lịch sử hiện đại: chiến đấu hết lòng cho lý tưởng mình tin tưởng, rồi phải sống những năm tháng còn lại trong lãng quên, lưu đày và mất mát.

Nhưng thời gian có thể làm phai mờ nhiều thứ, không thể xóa được lòng biết ơn.

Bởi sau tất cả, hình ảnh người lính Việt Nam Cộng Hòa vẫn còn đó trong ký ức của đồng đội, trong những lá Cờ Vàng nơi đất khách, trong những tượng đài tưởng niệm được dựng lên khắp thế giới tự do, và trong trái tim của những người vẫn còn nhớ rằng, đã có một thế hệ thanh niên từng hiến dâng tuổi trẻ, máu xương và cả cuộc đời mình cho quê hương.

Xin thắp một nén hương lòng cho những người lính năm xưa.

Cho những người đã nằm xuống. Cho những người còn sống trong ký ức. Và cho những người, dù bị lịch sử bỏ quên một thời, vẫn không bao giờ bị lãng quên trong lòng dân tộc.

Tinh thần Huynh Đệ Chi Binh vẫn còn đó. Lý tưởng Tự Do vẫn còn đó. Cuộc đấu tranh cho một Việt Nam dân chủ, nhân quyền và không còn độc tài cộng sản vẫn còn đó.

Chúng tôi quyết tâm tiếp tục con đường mà những người lính Việt Nam Cộng Hòa đã chọn: Phụng sự Tổ quốc. Bảo vệ Dân tộc. Tranh đấu cho Tự do.

375bbcf9-7bba-4d29-bf24-3ed71a5efba9nknknknn;nk;.png

Cho đến ngày Việt Nam thật sự có Dân Chủ, Nhân Quyền và Tự Do.

Việt Nam Cộng Hòa Muôn Năm! Tổ Quốc Việt Nam Muôn Năm!

LÊ VĂN HẢI




GS/TS MAI THANH TRUYẾT, 3 BÀI VIẾT: “Hồn Dân tộc qua việc Dạy và Học…” – “Chính Sách Thuộc Đia của Pháp và…” – “Lịch sử Đảng CS trong chương trình giáo dục…” – “SỰ SUY YẾU CỦA QUYỀN TUYÊN CHIẾN CỦA QUỐC HỘI HOA KỲ” –

==

==

==




Tất cả là Một




HOA KỲ KIỂM SOÁT THỰC PHẨM NHẬP CẢNG TỪ VIỆT NAM NHƯ THẾ NÀO?




GS/TS MAI THANH TRUYẾT -Đọc Thi Phẩm Lao Trung Lãnh Vận Của Cụ Trần Văn Hương




GS/TS MAI THANH TRUYẾT – Cảm Nhận Về Niết Bàn




GS/TS MAI THANH TRUYẾT – Globalists và Con Đường Tự Chủ Của Việt Nam.




GS/TS MAI THANH TRUYẾT: Hiện Tượng GLOBALISTS TOÀN CẦU – Nguồn Gốc và Cấu Trúc




GS/TS MAI THANH TRUYẾT: Cao Đài – Những ngày chung quanh 30/4/1975




GS/TS MAI THANH TRUYẾT- Con Đường Việt Nam – Phần XII – Thế nước – Vận Nước Việt Nam Hôm Nay và Viễn Cảnh Tương Lai.




GS/TS MAI THANH TRUYẾT – Con Đường Việt Nam VII – Làm sao mở rộng việc tiếp cận với Tây phương.

Con Đường Việt Nam VII

Làm sao mở rộng việc tiếp cận với Tây phương

Mở rộng tiếp cận phương Tây và duy trì quyền lãnh đạo: Hai khái niệm có đối lập nhau không?

Việc mở rộng tiếp cận phương Tây và tập trung quyền lãnh đạo không nhất thiết là hai xu hướng đối lập. Thực tế, nhiều quốc gia đã thành công trong việc kết hợp cả hai yếu tố này bằng cách học hỏi kinh nghiệm phương Tây để cải cách và phát triển nhưng vẫn giữ vững hệ thống chính trị của mình. Việt Nam có thể tham khảo các mô hình tương tự như Trung Quốc, Singapore hay một số quốc gia Đông Á khác để tìm ra hướng đi phù hợp.

1. Làm thế nào để mở rộng tiếp cận phương Tây mà không làm mất ổn định chính trị?

Chuyển đổi tư duy về hội nhập

  • Không xem phương Tây là một thế lực đối lập, mà là một nguồn tài nguyên tri thức, công nghệ, kinh tế cần khai thác.
  • Học hỏi những giá trị tích cực như quản trị minh bạch, nền kinh tế thị trường, khoa học công nghệ, nhưng vẫn giữ bản sắc riêng trong chính trị và văn hóa.

Mở rộng quan hệ kinh tế nhưng duy trì kiểm soát chính trị

  • Việt Nam có thể tận dụng thương mại, đầu tư và công nghệ từ phương Tây để phát triển kinh tế, nhưng vẫn giữ quyền lãnh đạo của Đảng trong quy định của luật pháp. Nếu bao biện và độc đoán trong lãnh đạo sẽ hạn chế sự phát triển trên.
  • Tiếp tục ký kết và thực thi các hiệp định thương mại tự do (FTA) với phương Tây, thúc đẩy đầu tư nhưng không để nước ngoài kiểm soát các lĩnh vực nhạy cảm.

Cải cách hành chính và pháp luật để phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế

  • Xây dựng hệ thống luật pháp công khai, minh bạch, giảm quan liêu và tham nhũng để tăng cường niềm tin của các nhà đầu tư và người dân.
  • Đảm bảo một hệ thống tư pháp độc lập hơn trong lĩnh vực kinh tế, để tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển theo quy luật thị trường. Dứt khoát không “hô” khẩu hiệu.

2. Những quốc gia nào đã làm được điều này?

Singapore: Kiểm soát chính trị nhưng nền kinh tế thị trường cực kỳ tự do

  • Dưới thời Thủ tướng Lý Quang Diệu, Singapore áp dụng các nguyên tắc quản trị của phương Tây (pháp trị, minh bạch, hiệu quả) nhưng vẫn duy trì sự kiểm soát mạnh mẽ của chính phủ.
  • Kết quả: Một nền kinh tế thịnh vượng với mức sống cao nhưng hệ thống chính trị vẫn tập trung vào một đảng cầm quyền mạnh.

Các nước Bắc Âu: Dân chủ nhưng quản trị tập trung, hiệu quả

  • Các quốc gia như Thụy Điển, Phần Lan, Đan Mạch có nền dân chủ nhưng chính phủ vẫn đóng vai trò chủ đạo trong nhiều lĩnh vực quan trọng như giáo dục, y tế, phúc lợi xã hội.
  • Kết quả: Phát triển bền vững, với mức độ hài lòng của người dân cao.

Nhận định: Việt Nam có thể học hỏi từ các mô hình này để tiếp cận phương Tây mà vẫn duy trì quyền lãnh đạo.

3. Những điều Việt Nam cần làm để cân bằng giữa hội nhập và kiểm soát chính trị

Cần minh bạch trong chính sách và trách nhiệm trong việc thực hiện

  • Xây dựng hệ thống chính phủ điện tử để tăng cường tính công khai và trong sáng, giảm tham nhũng.
  • Tạo ra các kênh đối thoại giữa chính quyền và doanh nghiệp thường xuyên; từ đó, người dân để phản hồi nhanh chóng và hiệu quả hơn.

Tăng cường hợp tác với phương Tây trong giáo dục và khoa học

  • Khuyến khích các chương trình hợp tác giữa các trường đại học Việt Nam với các đại học hàng đầu phương Tây.
  • Đầu tư mạnh vào các ngành công nghệ cao, AI, khoa học dữ liệu để không bị tụt hậu trong nền kinh tế toàn cầu.

Định hướng phát triển kinh tế theo mô hình thị trường tự do nhưng có kiểm soát

  • Tiếp tục cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước nhưng vẫn giữ quyền kiểm soát với các ngành chiến lược như năng lượng, viễn thông, ngân hàng.
  • Thúc đẩy khu vực tư nhân phát triển mạnh hơn, giảm bớt rào cản về thủ tục hành chính.

Mở rộng không gian tự do nhưng trong khuôn khổ ổn định

  • Cho phép báo chí và truyền thông có vai trò giám sát nhưng trong giới hạn nhất định để tránh gây bất ổn.
  • Tăng cường đối thoại chính trị thay vì đối đầu, để người dân có cơ hội đóng góp ý kiến một cách xây dựng.

4. Kết luận: Hai hướng đi không đối lập, nếu có lộ trình phù hợp

Việt Nam không cần lựa chọn giữa phương Tây hay giữ quyền lãnh đạo, có thể làm cả hai điều này song song và không vượt các quyền quy định trong hiến pháp.

Nếu tiếp cận phương Tây thông minh (tận dụng kinh tế, công nghệ, giáo dục) nhưng vẫn kiểm soát chính trị một cách hiệu quả, Việt Nam có thể phát triển mà không gây mất ổn định.

Học hỏi các mô hình như Singapore, hay Bắc Âu có thể giúp Việt Nam tìm ra hướng đi phù hợp nhất.

Vì vậy, Việt Nam trong quá trình hội nhập nên đi theo hướng dung hòa ứng hợp với nền văn hóa Á Đông, không quá khép kín bế quan tỏa cảng như thời phong kiến, cũng không “mở toẹt” như thế giới Tây phương trước khi hấp thụ/tiêu thụ một nền tự do mà Tây phương đánh đổi nhiều thế kỷ

Lịch sử đã cho thấy rằng khép kín hoàn toàn sẽ dẫn đến tụt hậu, trong khi mở cửa quá nhanh, thiếu kiểm soát có thể gây ra những biến động không lường trước được. Do đó, một lộ trình hội nhập có chọn lọc, phù hợp với bản sắc văn hóa và trình độ phát triển của đất nước là hướng đi bền vững nhất.

Mai Thanh Truyết

Houston – Tháng 9-2025

________________________________________

Mai Thanh Truyết https://maithanhtruyet1.blogspot.com/
https://www.facebook.com/MaiThanhTruyetUSA

Hãy để lại cho thế hệ nối tiếp một trái đất Xanh.                                          

Let pass on to the next generation a Green Earth – Mai Thanh Truyết




GS/TS MAI THANH TRUYẾT: 1)-“xvczsaTừ Dân tộc Sanh tồn, qua Chủ thuyết Biến cải…” 2)- Bức tường đá Georgia Guidestones. 3)- Phong trào Gen Z ở Nepal. 4)- Sen Người và Sen Ta.

**

***

***




GS/TS MAI THANH TRUYẾT – Kế Hoạch Hóa Dân Số Thế Giới




GS/TS MAI THANH TRUYẾT: Triết lý Mujō của Nhựt – “Vô thường” – Phần I – PHẦN II – PHẦN III

“Mujõ của Nhựt” khác với Vô thường trong Phật giáo
Trung Hoa và Việt Nam như thế nào? – Phần II

“Mujõ của Nhựt” khác với Vô thường trong Phật giáo
Trung Hoa và Việt Nam như thế nào? – Phần II




GS/TS MAI THANH TRUYẾT: Quán Chiếu 50 Năm Khát Vọng Tự Do – Người Việt Và Tương Lai Dân Tộc Trong Thế Kỷ 21- Kyle Rittenhouse: Thiếu niên Mỹ.




GS/TS MAI THANH TRUYẾT: Tản Mạn Về Ngày Cách Mạng 10-6




GS/TS MAI THANH TRUYẾT – Ngày Con Ong Thế Giới – World Bee Day – 20 Tháng 5.




Viết Về Bác Sĩ Dương Quỳnh Hoa – Mai Thanh Truyết

Tiếc Cho Một Người Lầm Lỡ Vừa Nằm Xuống

LTS. Bài này viết trong năm 2006, “về trường hợp của BS Dương Quỳnh Hoa, một thành viên của Mặt trận Giải phóng Miền Nam… để chúng ta cùng suy nghiệm, đặc biệt cho một số trí thức hải ngoại và quốc nội.” Bài này đăng lại nơi đây để cảnh báo về chiến dịch mới thực hiện nghị quyết 36 của CSBV.

Thân tặng tất cả những người Việt còn có tấm lòng yêu quê hương.

Bà Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa (DQH) vừa nằm xuống ngày thứ bảy 25 – 2 – 2006 tại Sài Gòn, và cũng vừa được hỏa táng vào ngày thứ ba 28/2. Báo chí trong nước cho đến hôm nay, không hề loan tải tin tức trên. Đài BBC có phỏng vấn Ông Võ Nhơn Trí ở Pháp về tin nầy và phát đi ngày 28/2.

Sự im lặng của Việt Nam khiến cho người viết thấy có nhu cầu trang trãi và chia xẻ một số suy nghĩ về cái chết của BS DQH để từ đó rút ra thêm một kinh nghiệm sống về tính chất “chuyên chính vô sản” của những người cầm quyền tại Việt Nam hiện tại.

1- Ô. Bà DQH và Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam

BS DQH là một người sống trong một gia đình theo Tây học, có uy tín và thế lực trong giới giàu có ở Sài Gòn từ thập niên 40. Cha là GS Dương Minh Thới và anh là LS Dương Trung Tín; gia đình sống trong một biệt thự tại đường Bà Huyện Thanh Quan xéo góc Bộ Y tế (VNCH) nằm trên đường Hồng Thập Tự. LS Tín đã bị ám sát tại Đà Lạt trong đó cái chết của ông cũng không được soi sáng, nhưng đa phần có nhiều nghi vấn là do lý do chính trị vì ông có khuynh hướng thân Pháp thời bấy giờ.

Về phần Bà Hoa, được đi du học tại Pháp vào cuối thập niên 40, đã đỗ bằng Bác sĩ Y khoa tại Paris và về lại Việt Nam vào khoảng 1957 (?). Bà có quan niệm cấp tiến và xã hội, do đó Bà đã gia nhập vào Đảng CS Pháp năm 1956 trước khi về nước.

Từ những suy nghĩ trên, Bà hoạt động trong lãnh vực y tế và lần lần được móc nối và gia nhập vào Đảng CSVN. Tháng 12/1960, Bà trở thành một thành viên sáng lập của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam VN dưới bí danh Thùy Dương, nhưng còn giữ bí mật cho đến khi Bà chạy vô “bưng” qua ngõ Ba Thu –Mõ Vẹt xuyên qua Đồng Chó Ngáp. Ngay sau biến cố Tết Mậu Thân, tin tức trên mới được loan tải qua đài phát thanh của Mặt Trận.

Khi vào trong bưng, Bà gặp GS Huỳnh Văn Nghị (HVN) và kết hôn với GS. Trở qua GS Huỳnh Văn Nghị, Ông cũng là một sinh viên du học tại Pháp, đỗ bằng Cao học (DES) Toán. Về VN năm 1957, ông dạy học tại trường Petrus Ký trong hai năm, sau đó qua làm ở Nha Ngân sách và Tài chánh. Ông cũng có tinh thần thân Cộng, chạy vô “bưng” năm 1968 và được kết nạp vào đảng sau đó.

Do “uy tín” chính trị quốc tế của Bà Hoa thời bấy giờ rất cao, Mặt Trận, một lá bài của CS Bắc Việt, muốn tận dụng uy tín nầy để tạo sự đồng thuận với chính phủ Pháp hầu gây rối về mặt ngoại giao cho VNCH và đồng minh Hoa Kỳ. Từ những lý do trên, Bà Hoa là một người rất được lòng Bắc Việt, cũng như Ông Chồng là GS HVN cũng được nâng đỡ theo.

Vào đầu thập niên 70, Ông được chuyển ra Bắc và được huấn luyện trong trường đảng. Tại đây, với một tinh thần thông thoáng dân tộc, cộng thêm nhiều lý luận toán học, Ông đã phân tích và chứng minh những lý thuyết giảng dạy ở trường đảng đều không có căn bản lý luận vững chắc và Ông tự quyết định rời bỏ không tiếp tục theo học trường nầy nữa.

Nhưng chính nhờ uy tín của Bà DQH trong thời gian nầy cho nên ông không bị trở ngại về an ninh. Cũng cần nên nói thêm là ông đã từng được đề cử vào chức vụ Bộ trưởng Kinh tế nhưng ông từ chối.

2- Ô.B DQH và Đảng Cộng sản Bắc Việt

Chỉ một thời gian ngắn sau khi CS Bắc Việt giải tán Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam, Ô Bà lúc đó mới vỡ lẽ ra. Về phần Ô HVN, ông hoàn toàn không hợp tác với chế độ. Năm 1976, trong một buổi ăn tối với 5 người bạn thân thiết, có tinh thần “tiến bộ”, Ông đã công khai tuyên bố với các bạn như sau:”Các “toi” muốn trốn thì trốn đi trong lúc nầy. Đừng chần chờ mà đi không kịp. Nếu ở lại, đừng nghĩ rằng mình đã có công với “cách mạng” mà “góp ý” với đảng”. Ngay sau đó, một trong người bạn thân là Nguyễn Bá Nhẫn vượt biên và hiện cư ngụ tại Pháp. Còn 4 người còn lại là Lý Chánh Trung (giáo sư văn khoa Sài Gòn), Trần Quang Diệu (TTKý Viện Đại học Đà Lạt), Nguyễn Đình Long (Nha Hàng không Dân sự), và một người nữa người viết không nhớ tên không đi. Ông Trung và Long hiện còn ở Việt Nam, còn ông Diệu đang cư ngụ ở Canada.

Trở lại BS DQH, sau khi CS chiếm đóng miền Nam tháng 4/1975, Bà Hoa được “đặt để” vào chức vụ Tổng trưởng Y tế, Xã hội, và Thương binh trong nội các chính phủ. Vào tháng 7/75, Hà Nội chính thức giải thể chính phủ Lâm thời và nắm quyền điều hành toàn quốc, chuyển Bà xuống hàng Thứ trưởng và làm bù nhìn như Nguyễn Hữu Thọ, Nguyễn Thị Bình, Nguyễn Thị Định… Chính trong thời gian nầy Bà lần lần thấy được bộ mặt thật của đảng CS và mục tiêu của họ không phải là phục vụ đất nước Việt Nam mà chính là làm nhiệm vụ của CS quốc tế là âm mưu nhuộm đỏ vùng Đông Nam Á.

Vào khoảng cuối thập niên 70, Bà đã trao đổi cùng Ô Nguyễn Hữu Thọ:”Anh và tôi chỉ đóng vai trò bù nhìn và chỉ là món đồ trang sức rẻ tiền cho chế độ. Chúng ta không thể phục vụ cho một chế độ thiếu dân chủ và không luật lệ. Vì vậy tôi thông báo cho anh biết là tôi sẽ trả lại thẻ Đảng và không nhận bất cứ nhiệm vụ nào trong chính phủ cả”. Đến năm 1979, Bà chính thức từ bỏ tư cách đảng viên và chức vụ Thứ trưởng. Dĩ nhiên là Đảng không hài lòng với quyết định nầy; nhưng vì để tránh những chuyện từ nhiệm tập thể của các đảng viên gốc miền Nam, họ đề nghị Bà sang Pháp. Nhưng sau cùng, họ đã lấy lại quyết định trên và yêu cầu Bà im lặng trong vòng 10 năm.

Mười năm sau đó, sau khi được “phép” nói, Bà nhận định rằng “Đảng CS Việt Nam tiếp tục xuất cảng gạo trong khi dân chúng cả nước đang đi dần đến nạn đói. Và nghịch lý thay, họ lại yêu cầu thế giới giúp đỡ để giải quyết nạn nghèo đói trong nước. Trong thời gian nầy Bà tuyên bố :” Trong hiện trạng của Đất Nước hiện tại (thời bấy giờ), xuất cảng gạo tức là xuất cảng sức khỏe của người dân” Và Bà cũng là một trong những người đầu tiên lên tiếng báo động vào năm 1989 cho thế giới biết tệ trạng bán trẻ em Việt Nam ngay từ 9,10 tuổi cho các dịch vụ tình dục trong khách sạn và các khu giải trí dành cho người ngoại quốc do các cơ quan chính phủ và quân đội điều hành.

Sau khi rời nhiệm vụ trong chính phủ, Bà trở về vị trí của một BS nhi khoa. Qua sự quen biết với giới trí thức và y khoa Pháp, Bà đã vận động được sự giúp đỡ của hai giới trên để thành lập Trung Tâm Nhi Khoa chuyên khám và chữa trị trẻ em không lấy tiền và Bà cũng được viện trợ thuốc men cho trẻ em Việt Nam suy dinh dưỡng nhất là acid folic và các lọai vitamin. Nhưng tiếc thay, số thuốc trên khi về Việt Nam đã không đến tay Bà mà tất cả được chuyển về Bắc. Bà xin chấm dứt viện trợ, nhưng lại được “yêu cầu” phải xin lại viện trợ vì…nhân dân (của Đảng!).

Về tình trạng trẻ con suy dinh dưỡng, với tính cách thông tin, chúng tôi xin đưa ra đây báo cáo của Bà Anneke Maarse, chuyên gia tư vấn của UNICEF trong hội nghị ngày 1/12/03 tại Hà Nội :” Hiện Việt Nam có 5,1 triệu người khuyết tật chiếm 6,3% trên tổng số 81 triệu dân. Qua khảo sát tại 648 gia đình tại ba vùng Phú Thọ, Quảng Nam và Sài Gòn cho thấy có tới 24% trẻ em tàn tật dạng vận động, 92,3% khuyết tật trí tuệ, và 19% khuyết tật thị giác lẫn ngôn ngữ. Trong số đó tỷ lệ trẻ em khuyết tật bẩm sinh chiếm tới 72%.

Vào năm 1989, Bà đã được ký giả Morley Safer, phóng viên của đài truyền hình CBS phỏng vấn. Những lời phỏng vấn đã được ghi lại trong cuốn sách của ông dưới tựa đề Flashbacks on Returning to Việt Nam do Random House, Inc. NY, 1990 xuất bản. Qua đó, một sự thật càng sáng tỏ là con của Bà, Huỳnh Trung Sơn bị bịnh viêm màng não mà Bà không có thuốc để chữa trị khi còn ở trong bưng và đây cũng là một sự kiện đau buồn nhất trong đời Bà.

Cũng trong cuốn sách vưà kể trên, Bà cũng đã tự thú là đã sai lầm ở một khoảng thời gian nào đó. Nhưng Bà không luyến tiếc vì Bà đã đạt được mục đích là làm cho những người ngoại quốc ra khỏi đất nước Việt Nam.

Sau cùng, chúng tôi xin liệt kê ra đây hai trong những nhận định bất hủ của BS DQH là :”Trong chiến tranh, chúng tôi sống gần nhân dân, sống trong lòng nhân dân. Ngày nay, khi quyền lực nằm an toàn trong tay rồi, đảng đã xem nhân dân như là một kẻ thù tiềm ẩn”. Và khi nhận định về bức tường Bá Linh, Bà nói:” Đây là ngày tàn của một ảo tưởng vĩ đại”.

3- BS DQH và Vụ kiện Da Cam

Theo nhiều nguồn dư luận hải ngoại, trước khi ký kết Thương ước Mỹ-Việt dưới nhiệm kỳ của Tổng thống Clinton, hai chính phủ đã đồng ý trong một cam kết riêng không phổ biến là Việt Nam sẽ không đưa vụ Chất độc màu Da cam để kiện Hoa Kỳ, và đối lại, Mỹ sẽ ký thương ước với Việt Nam và sẽ không phủ quyết để Việt Nam có thể gia nhập vào Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) trong tương lai.

Có lẽ vì “mật ước” Mỹ-Việt vừa nêu trên, nên Việt Nam cho thành lập Hội Nạn nhân chất Độc Da cam/Dioxin Việt Nam ngày 10/1/2004 ngay sau khi có quyết định chấp thuận của Bộ Nội vụ ngày 17/12/2003. Đây là một Hội dưới danh nghĩa thiện nguyện nhưng do Nhà Nước trợ cấp tài chính và kiểm soát. Ban chấp hành tạm thời của Hội lúc ban đầu gồm:

– Bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Phó chủ tịch nước làm Chủ tịch danh dự;

– Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp, nguyên Phó chủ nhiệm Tổng cục chính trị QĐND làm Chủ tịch;

– GS,BS Nguyễn Trọng Nhân, nguyên Bộ trưởng Y tế, Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ Việt Nam làm Phó Chủ tịch;

– Ô Trần Văn Thụ làm Thư ký.

Trong buổi lễ ra mắt, Bà Bình đã khẳng định rõ ràng rằng:”Chính phủ Mỹ và các công ty sản xuất chất độc hoá học da cam phải thừa nhận trách nhiệm tinh thần, đạo đức và pháp lý. Những người phục vụ chính thể Việt Nam Cộng Hòa cũ ở miền Nam không được đưa vào danh sách trợ cấp”. Theo một bản tin của Thông tấn xã Việt Nam thì đây là một tổ chức của những nạn nhân chất Da cam, cũng như các cá nhân, tập thể tự nguyện đóng góp để giúp các nạn nhân khắc phục hậu quả chất độc hoá học và là đại diện pháp lý của các nạn nhân Việt Nam trong các quan hệ với các tổ chức và cơ quan trong cũng như ngoài nước. Thế nhưng, trong danh sách nạn nhân chất da cam trong cả nước được Việt Nam ước tính trên 3 triệu mà chính phủ đã thiết lập năm 2003 để cung cấp tiền trợ cấp hàng tháng, những nạn nhân đã từng phục vụ cho VNCH trước đây thì không được đưa vào danh sách nầy (Được biết năm 2001, trong Hội nghị Quốc tế tại Hà Nội, số nạn nhân được Việt Nam nêu ra là 2 triệu!). Do đó có thể nói rằng, việc thành lập Hội chỉ có mục đích duy nhất là hỗ trợ cho việc kiện tụng mà thôi.

Vào ngày 30/1/2004, Hội đã nộp đơn kiện 37 công ty hóa chất ở Hoa Kỳ tại tòa án liên bang Brooklyn, New York do luật sư đại diện cho phía Việt Nam là Constantine P. Kokkoris. (Được biết LS Kokkoris là một người Mỹ gốc Nga, đã từng phục vụ cho tòa Đại sứ Việt ở Nga Sô và có vợ là người Việt Nam họ Bùi). Hồ sơ thụ lý gồm 49 trang trong đó có 240 điều khoảng. Danh sách nguyên đơn liệt kê như sau:

– Hội Nạn nhân Chất Da cam/Dioxin Việt Nam;

– Bà Phan Thị Phi Phi, giáo sư Đại học Hà Nội;

– Ông Nguyễn Văn Quý, cựu chiến binh tham chiến ở miền Nam trước 1975, cùng với hai người con là Nguyễn Quang Trung (1988) và Nguyễn Thị Thu Nga (1989);

– Bà Dương Quỳnh Hoa, Bác sĩ, nguyên Bộ trưởng Y tế Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam, và con là Huỳnh Trung Sơn; và

– Những người cùng cảnh ngộ.

Đây là một vụ kiện tập thể (class action) và yêu cầu được xét xử có bồi thẩm đoàn. Các đương đơn tố các công ty Hoa Kỳ đã vi phạm luật pháp quốc tế và tội ác chiến tranh, vi phạm luật an toàn sản phẩm, cẩu thả và cố ý đả thương, âm mưu phạm pháp, quấy nhiễu nơi công cộng và làm giàu bất chánh để (1) đòi bồi thường bằng tiền do thương tật cá nhân, tử vong, và dị thai và (2) yêu cầu tòa bắt buộc làm giảm ô nhiễm môi trường, và (3) để hoàn trả lại lợi nhuận mà các công ty đã kiếm được qua việc sản xuất thuốc khai quang.

Không có một bằng chứng nào được đính kèm theo để biện hộ cho các cáo buộc, mà chỉ dựa vào tin tức và niềm tin (nguyên văn là upon information and belief). Tuy nhiên, đơn kiện có nêu đích danh một số nghiên cứu mới nhất về dioxin của Viện Y khoa thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Hoa Kỳ, công ty cố vấn Hatfield Consultants của Canada, Bác sĩ Arnold Schecter của trường Y tế Công cộng Houston thuộc trường Đại học Texas, và Tiến sĩ Jeanne Mager Stellman của trường Đại học Columbia, New York.

Chúng tôi đặc biệt quan tâm đến trường hợp của BS Dương Quỳnh Hoa cũng như quá trình hoạt động của Bà từ những năm 50 cho đến hiện tại. Tên Bà nằm trong danh sách nguyên đơn cũng là một nghi vấn cần phải nghiên cứu cặn kẽ.

Theo nội dung của hồ sơ kiện tụng, từ năm 1964 trở đi, Bà thường xuyên đi đến thành phố Biên Hòa và Sông Bé (?) là những nơi đã bị phun xịt thuốc khai quang nặng nề. Từ năm 1968 đến 1976, nguyên đơn BS Hoa là Tổng trưởng Y tế của Chính phủ Lâm thời Cộng hòa miền Nam và ngụ tại Tây Ninh. Trong thời gian nầy Bà phải che phủ trên đầu bằng bao nylon và đã đi ngang qua một thùng chứa thuốc khai quang mà máy bay Mỹ đã đánh rơi. (Cũng xin nói ở đây là chất da cam được chứa trong những thùng phuy 200L và có sơn màu da cam. Chất nầy được pha trộn với nước hay dầu theo tỷ lệ 1/20 hay hơn nữa và được bơm vào bồn chứa cố định trên máy bay trước khi được phun xịt. Như vậy làm gì có cảnh thùng phuy rơi rớt!?).

Năm 1970, Bà hạ sinh đứa con trai tên Huỳnh Trung Sơn (cũng có tên trong đơn kiện như một nguyên đơn, tuy đã mất) bị phát triển không bình thường và hay bị chứng co giật cơ thể. Sơn chết vào lúc 8 tháng tuổi.

Trong thời gian chấm dứt chiến tranh, BS Hoa bắt đầu bị chứng ngứa ngáy ngoài da. Năm 1971, Bà có mang và bị sẩy thai sau 8 tuần lễ. Năm 1972, Bà lại bị sẩy thai một lần nữa, lúc 6 tuần mang thai. Năm 1985, BS Hoa đã được chẩn bịnh tiểu đường. Và sau cùng năm 1998 Bà bị ung thư vú và đã được giải phẫu. Năm 1999, Bà được thử nghiệm máu và BS Schecter (Hoa Kỳ) cho biết là lượng Dioxin trong máu của Bà có nồng độ là 20 ppt (phần ức).

Và sau cùng, kết luận trong hồ sơ kiện tụng là: Bà BS Hoa và con là nạn nhân của chất độc Da cam.

Qua những sự kiện trên chúng ta thấy có nhiều điều nghịch lý và mâu thuẫn về sự hiện diện của tên Bà trong vụ kiện ở Brooklyn?

Để tìm giải đáp cho những điều nghịch lý trên, chúng tôi xin trích dẫn những phát biểu của Bà trong một cuộc tiếp xúc thân hữu tại Paris trung tuần tháng 5/2004. Theo lời Bà (từ miệng Bà nói, lời của một người bạn tên VNT có mặt trong buổi tiếp xúc trên) thì “người ta đã đặt tôi vào một sự đã rồi (fait accompli).

“Tên tôi đã được ghi vào hồ sơ kiện không có sự đồng ý của tôi cũng như hoàn toàn không thông báo cho tôi biết. Người ta chỉ đến mời tôi hợp tác khi có một ký giả người Úc thấy tên tôi trong vụ kiện yêu cầu được phỏng vấn tôi. Tôi chấp nhận cuộc gặp gỡ với một điều kiện duy nhất là tôi có quyền nói sự thật, nghĩa là tôi không là người khởi xướng vụ kiện cũng như không có ý muốn kiện Hoa Kỳ trong vấn đề chất độc da cam.”

Dĩ nhiên cuộc gặp gỡ giữa Bà Hoa và phóng viên người Úc không bao giờ xảy ra.

Bà còn thêm rằng:”Trong thời gian mà tất cả mọi người nhất là đảng CS bị ám ảnh về việc nhiễm độc dioxin, tôi cũng đã nhờ một BS Hoa Kỳ khám nghiệm (khoảng 1971) tại Pháp và kết quả cho thấy là lượng dioxin trong máu của tôi dưới mức trung bình (2ppt).”

Đến đây, chúng ta có thể hình dung được kết quả của vụ kiện.Và ngày 10 tháng 3 năm 2005, Ông chánh án Jack Weinstein đã tuyên bố hủy bỏ hoàn toàn vụ kiện tại tòa án Brooklyn, New York.

4- Bài học được rút ra từ cái chết của BS DQH

Từ những tin tức về đời sống qua nhiều giai đoạn của Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa, hôm nay Bà đã đi trọn quãng đường của cuộc đời Bà. Những bước đầu đời của Bà bắt đầu với bầu nhiệt huyết của tuổi thanh niên, lý tưởng phục vụ cho tổ quốc trong sáng. Nhưng chính vì sự trong sáng đó Bà đã không phân biệt và bị mê hoặc bởi những lý thuyết không tưởng của hệ thống cộng sản thế giới. Do đó Bà đã bị lôi cuốn vào cơn gió lốc của cuộc chiến VN. Và Bà đã đứng về phía người Cộng sản.

Khi đã nhận diện được chân tướng của họ, Bà bị vỡ mộng và có phản ứng ngược lại. Nhưng vì thế cô, Bà không thể nào đi ngược lại hay “cải sửa” chế độ. Rất may cho Bà là Bà chưa bị chế độ nghiền nát. Không phải vì họ sợ hay thương tình một người đã từng đóng góp cho chế độ (trong xã hội CS, loại tình cảm tiểu tư sản như thế không thể nào hiện hữu được), nhưng chính vì họ nghĩ còn có thể lợi dụng được Bà trong những mặc cả kinh tế – chính trị giữa các đối cực như Pháp và Hoa Kỳ, trong đó họ chiếm vị thế ngư ông đắc lợi. Vì vậy, họ không triệt tiêu Bà.

Hôm nay, chúng ta có thể tiếc cho Bà, một người Việt Nam có tấm lòng yêu nước nhưng không đặt đúng chỗ và đúng thời điểm; do đó, khi đã phản tỉnh lại bị chế độ đối xử tệ bạc. Tuy nhiên, với một cái chết trong im lặng, không kèn không trống, không một thông tin trên truyền thông về một người đã từng có công đóng góp một phần cho sự thành tựu của chế độ như Bà đã khiến cho chúng ta phải suy nghĩ, suy nghĩ về tính vô cảm của người cộng sản, cũng như suy nghĩ về tính chuyên chính vô sản của hệ thống xã hội chủ nghĩa.

Đối với chế độ hiện hành, sẽ không bao giờ có được sự đối thoại bình đẳng, trong đó tinh thần tôn trọng dân chủ dứt khoát không hề hiện hữu như các sinh hoạt chính trị của những quốc gia tôn trọng nhân quyền trên thế giới. Vì vậy, với cơ chế trên, hệ thống XHCN sẽ không bao giờ biết lắng nghe những tiếng nói “đóng góp” đích thực cho công cuộc xây dựng Đất và Nước cả.

Bài học DQH là một bài học lớn cho những ai còn hy vọng rằng cơ hội ngày hôm nay đã đến cho những người còn tâm huyết ở hải ngoại ngõ hầu mang hết khả năng và kỹ năng về xây dựng quê hương. Hãy hình dung một đóng góp nhỏ nhặt như việc cung cấp những thông tin về nguồn nước ở các sông ngòi ở Việt Nam đã bị kết án là vi phạm “bí mật quốc gia” theo Quyết định của Thủ tướng Việt Nam số 212/203/QĐ-TTg ký ngày 21/10/2003. Như vậy, dù là “cùng là máu đỏ Việt Nam” nhưng phải là máu đã “cưu mang” một chủ thuyết ngoại lai mới có thể được xem là chính danh để xây dựng quê hương Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Chúng ta, những người Việt trong và ngòai nước, còn nặng lòng với đất nước, tưởng cũng cần suy gẫm trường hợp Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa ngõ hầu phục vụ tổ quốc và dân tộc trong sự thức tỉnh, đừng để bị mê hoặc bởi chủ thuyết của cường quyền.

Tổ quốc là đất nước chung.

Dân tộc là tất cả thành tố cần phải được bảo vệ và

thừa hưởng phúc họa bình đẳng với nhau.

Rất tiếc điều này không xảy ra cho Việt Nam hiện tại.

Ghi chú: Ngày 3/3/2006, trên báo SGGP, GS Trần Cửu Kiếm, nguyên ủy viên Ban Quân y miền Nam, một người bạn chiến đầu của Bà trong MTDTGPMN, có viết một bài ngắn để kỷ niệm về BS DQH. Chỉ một bài duy nhứt từ đó đến nay.

Mong tất cả trí thức Việt Nam đặc biệt là trí thức miền Nam học và thấm thía bài học nầy qua trường hợp của BS Dương Quỳnh Hoa.

Mai Thanh Truyết

https://quangtribacca.blogspot.com/2025/01/viet-ve-bac-si-duong-quynh-hoa-mai.html



GS TS Mai Thanh Truyết: “MẠN ĐÀM VỀ CON ĐƯỜNG DÂN CHỦ HÓA VIỆT NAM” YouTube




ĐÀI VOA Phỏng Vấn: TRẢ THIÊN NHIÊN LẠI CHO THIÊN NHIÊN – GS/TS Mai Thanh Truyết.




GS/TS MAI THANH TRUYẾT – Trả Lại Thiên Nhiên Cho Thiên Nhiên! & Bài Chuyển Dịch Từ YouTube Của Andrew Millison.




Nhìn Thấy Một Tương Lai Việt Nam Rực Rỡ