Giọt Lệ Khóc Cho Quê Hương




Huế Ơi! Thương Lắm

Năm nay bao nhiêu tai họa dồn dập. Đầu năm nạn dịch Covid_19 ập đến, kế tiếp cháy rừng nhiều tiểu bang ở nước Mỹ, những ngày qua nơi quê nhà lại xảy ra bão lụt lớn.
Nghe ngóng tin tức cũng như được thấy nhiều hình ảnh trên mạng xã hội, đầu tháng 10 tại thành phố Huế bão lụt kéo đến làm vô số người chết, mất tích và mấy chục căn nhà bị ngập lụt. Chưa kể các huyện Quảng Điền, A Lưới, thị xã Hương Trà, Phong Điền v..v…những vụ sạt lở vùi lấp người dân vô tội thật buồn thảm. Nhìn thành phố Huế tứ bề nước lũ mênh mông mà thắt ruột chao lòng khôn tả.
Ngồi bó gối chẳng thể đi đâu vì phòng dịch Vũ Hán, nhìn ra khoảng sân sau vườn, lá thu bay tơi tả, trên cành trơ trụi lá, các loài hoa gần như khép kín nhuỵ đài trong chậu ủ rũ héo hon, chỉ còn vài cây hồng vươn lên lưa thưa mấy bông hoa yếu đuối nhạt sắc. Năm nào xứ Huế cũng gặp bão lụt khoảng tháng này, buồn lo và theo dõi Huế từng ngày.
Nhớ lại những mùa mưa lũ lúc tôi còn ở quê nhà… Kính nghiệm khi nước đang còn thấp, chị tôi nấu nồi cơm lớn, kho nước mắm đường bỏ ớt trái cay nồng, lúc nước dâng, cả nhà chồng ghế kê giường ngồi trên cao, nước bốc khí lạnh lên, ngồi ăn tô cơm với nước mắm kho quẹt thật ngon, miệng cứ muốn ăn hoài và ước chi có thêm thật nhiều cơm.
Sau trận lụt, vườn tược hư hao, mấy đám rau Lang mọc hoang cũng dập nát, chỉ còn vài buồng Chuối, mạ tôi chặt vào gọt sơ lớp vỏ, cắt khúc kho với ruốc ăn cũng thích, hoặc đi chợ chẳng mấy ai bán buôn, chỉ mua được dưa môn về kho ruốc, ăn rất mặn mà. Có khi gặp trận lụt lớn, nước vào ào ào, tuy đã chồng đồ đạt, nhưng nhìn mức nước lên nhanh, cả nhà lo lắng canh suốt đêm giấc ngủ chập chờn, sáng tờ mờ kinh hãi mực nước cao đẩy bàn ghế trôi nổi, bước xuống sàn nhà nước đã ngập gần cổ nên sức đẩy mạnh kinh khủng, chúng tôi rất khó khăn bước đi vì chân muốn hỏng mặt đất, đúng lúc ban phường khóm ngồi trên bè bắt loa yêu cầu mọi gia đình di tản, chúng tôi dọn vài thứ cá nhân cần thiết rồi vịn nhau ra đường chờ các bè kéo đến trường Thanh Nội trú tạm trên lầu.
Nói về mùa đông có nhiều chuyện thật khó quên… hình ảnh chị Lanh trong xóm gánh chè đi bán, ngoài trời mưa tầm tã, các cháu lớn (con chị) thường qua nhà khoảng 8,9 giờ tối:
– O Giang ơi! cho con mượn 2 lon gạo về nấu cháo, em con khóc quá, mạ con giờ chừ chưa về
Giai đoạn đó chúng tôi cũng nghèo rớt mồng tơi, nhưng thấy hoài cảnh trước mắt thì cũng phải “lá rách đùm lá toét” thôi. Hình như trong cảnh khổ người ta cũng đâm liều, chị lại mang bầu tiếp dù đã có 7 con, hôm chị đi sinh, các con lại đem son nồi qua nhà tôi hỏi
– Mấy O có mua không? Con cần tiền mua khoai sắn bới cho mạ đang nằm nơi nhà thương.
Chúng tôi cũng buồn cười, nghẹn ngào thêm, cho tiền bảo cháu mua gì bới cho mẹ ăn.
Chị Lành sinh dậy hết vốn nấu chè bán. Tôi cho mượn tiền, chị nói:
– Ước mơ có vốn lớn hơn mua Su Bắp, Cà Rốt, Khoai Tây từ Đà Lạt chở xuống mùa gần Tết sẽ bán được, chị cần khoảng $100 (bạc Bắc hồi đó) mua hàng đủ thứ bán lời nhiều, chị sẽ trả góp mỗi ngày $10 cho đến khi hết thì mượn lại. Dù tôi khuyên chị không cần trả vốn, nhưng chị nhất quyết làm theo cách đó, chị nói “sợ trả không được”. Đêm khuya gió mưa lạnh cắt da, con chị gõ cửa trả góp tiền, có khi đưa cái bắp su, nói “mạ cho O”, tôi trả lại bắt đem về mà ứa nước mắt nghĩ đến người hiền lương tốt bụng sao lại nghèo khổ vậy. Sau này qua Mỹ rồi, tôi hỏi tin tức để giúp đỡ nhưng nghe gia đình chị đã đi kinh tế mới miền trong.
Người thứ hai là bà Thu bán bánh lọc trần và bánh chưng có chồng ghiền rượu, tối ngày say xỉn ngoài đường đi té lên té xuống, tội nghiệp bà ôm rổ bánh rao dưới trời mưa, những lúc ế ẩm ghé nhà tôi mời ủng hộ, bà cũng mượn chút vốn mua nếp nấu bánh chưng bán thêm.
Tôi miên man nghĩ ngợi những người dân hiền lành thật thà trong xóm đầy tự trọng luôn áp dụng câu “đói cho sạch rách cho thơm”, hình ảnh ấy vẫn in hằn trong tâm trí tôi, lòng thương cảm vô bờ.
Huế ơi! tôi muốn gọi với nỗi xót xa nhớ về chuỗi mùa đông giá rét lạnh căm, những đêm khuya bóng tối dày đặc… Trời đen như mực, bên ngoài mưa rơi, tiếng gió gào thét, tiếng rao của em nhỏ bán bánh mì vừa ra lò, tôi gọi mua…em thò tay vào túi vải lớn lấy ra mấy ổ mì nóng hổi, ánh mắt ngây thơ hiền hòa mừng rỡ nhận tiền, kể đến điều này nước mắt tôi không thể kềm hãm thấy xót tuổi thơ đi trong xóm vắng khuya khoắt, nhất là nhà cửa ở Huế nằm sâu bên trong xa cửa ngõ, cây cối um tùm bao phủ lạnh lùng.
Có lần chiều cuối năm lạnh giá, hình dáng người thiếu phụ đứng co ro góc phố vắng, trông ngóng khách dừng chân ghé mua nhánh mai còn lại, lúc đó tôi và bạn đang đèo nhau trên chiếc xe đạp, may mắn bạn tôi đã mua dùm.
Huế ơi! bao nhiêu năm với đời viễn xứ, cuộc sống như luồng sóng đưa đẩy, quay cuồng, cày bừa trên xứ người, nhưng không vì vậy mà có thể quên tất cả, nhất là những mùa mưa lụt của đất thần kinh.
Nơi này có những đêm thức giấc, tôi vẫn nghe mơ hồ dư âm tiếng kinh cầu của Chùa Diệu Đế vang vọng tới. Có lẽ thói quen mấy chục năm về trước mỗi đêm gần sáng lời kinh vọng vào thành nghe não nuột, âm thanh của sự tĩnh thức tạo nỗi buồn xâm chiếm, tâm tư chùng xuống đã nằm sâu trong tiềm thức.
Ký ức lan man đi xa hơn, kỷ niệm thú vị cùng bạn bè Kim Hoàng, Thu Thuỷ, Kiều Sương, Tố Nghi cùng tôi thỉnh thoảng rủ nhau đến quán nhạc ngồi chờ đợi những giọt cà phê chảy thật chậm qua phin lọc, rồi lắng chìm theo cung điệu lời ca nhạc của Đoàn Chuẩn, Từ Linh, Phạm đình Chương, Cung Tiến, Văn Cao hay những bản nhạc Pháp lời Việt do Phạm Duy dịch như Chiều Tà, Dạ Khúc, Cánh Buồm Xa Xưa… v..v…
Chúng tôi lựa chỗ ngồi dưới mái hiên để được nhìn mưa rơi, mưa tuôn bong bóng vỡ, mưa buồn lê thê, mưa dấu nỗi niềm riêng, chẳng cần thiết để nói với nhau nhưng rất cần ngồi bên nhau, say sưa thấm những dòng nhạc vào hồn đê mê lặng sầu, rồi lâng lâng cảm giác hạnh phúc của kẻ được thoát tục trong khoảnh khắc.
Biết bao kỷ niệm thời ấu thơ, thời hoa mộng. Bạn bè réo gọi tôi về thăm, nhất là bây giờ đứa nào cũng đã retire, chúng nó hẹn hò mỗi tháng 2 buổi họp mặt nơi quán cà phê Nội Thành.
Một hôm, Tuyết gọi FaceTime cho tôi nói chuyện từng bạn trong khung cảnh đang ngồi uống cà phê, nhiều bạn tôi nhận ra và nhiều bạn không nhận ra.
Tôi thèm giây phút họp mặt như vậy lắm chứ, nhưng nghĩ đến chuyến vượt biển năm xưa tôi thấy tiêu tan niềm ước muốn chẳng còn mộng “châu về hợp phố”. Thôi thì cứ sống với hoài niệm, với giấc mơ, với chút tình riêng trao gởi Huế:
Thương Huế 
Hương Giang nước đục phá thêm buồn
Xứ Huế mưa chừ giống lệ tuôn 
Vỹ Dạ con đường hoang lặng tủi
Đông Ba chợ quán lạnh im hờn 
Nơi thành lối cũ cây nghiêng loạn
Chốn cửa nhà xưa gió đảo cuồng 
Diệu Đế chuông Chùa ngưng tiếng vọng
Đìu hiu phố xá cảnh u buồn 
(Minh Thúy Thành Nội)
Biết được cơn mưa lũ nơi quê nhà đã làm điêu đứng dân lành mấy ngày qua. Hàng hàng lớp lớp mái nhà còn lô nhô dưới biển nước đục, trẻ em và người lớn bám víu một cách tuyệt vọng. Nhà cửa trôi, ruộng nương đất đai trồng trọt bị hư hại.
Hầu như nét mặt không còn hồn, không còn sức sống. Tin tức hình ảnh được chuyển liên tục. Lòng người chan chứa, lòng người đầy ắp tình cảm chia sẻ từ Sài Gòn cũng như các nơi đổ ra Quảng Trị, Quảng Bình, Huế. Những đoàn cứu trợ không ngại đường xa vất vả nguy hiểm đến tận vùng lụt nặng để được khóc, được trao tình thương bằng lương thực cũng như tiền bạc, thuốc men.
Tại hải ngoại mọi người cũng nóng ruột hỏi nhau:
– Sao chưa thấy hội đoàn hay các Chùa lên tiếng quyên góp cứu trợ bão lụt?
Chị em chúng tôi chợt nhớ đến sư cô Thích nữ Như Minh trú trì Chùa Tây Linh trong Cầu Kho gần đồn Mang Cá (xưa), lúc ba chồng chúng tôi còn sống thường kêu gọi con cái đóng góp gởi về giúp đỡ bão lụt, khi được xem video Ni sư chèo thuyền đi phát cháo hay các thức ăn khác lúc nước ngập.
Trong vòng một tuần tôi nhận phone liên tục từ chị Phạm Thị An $1,000, Lê Tịnh Tâm $900, Lê Hữu Vinh $500, Minh Thuý $400, Tịnh Thuỷ $250, Diệu Hường $250, Vân Vy $200, Nguyễn Hà $200,Tịnh Thu $150, Quảng Trang $100, Kim Hưng $100, Lê hữu Thọ $100, Bảo Trâm $100, Cindy Huệ Nguyễn $100, Phương Khánh $50, Quỳnh Hoa $50, Phạm Thị Hảo $50, Bích Kiều $50. Tổng cộng được $4,550 (bốn ngàn năm trăm năm mươi) đã gởi Thầy Thích Tánh Tuệ $850, bác sĩ Đặng Nga $550, sư cô Như Minh $2,250, ngoài ra cúng dường thiền viện Trúc Lâm của thầy Thích Pháp Hòa $900 theo yêu cầu. Những hôm này tôi cảm như sức mạnh tăng cường với niềm hăng say phấn khởi đi gởi tiền nhiều lần. Sau khi nhận phiếu hồi báo cũng như email quý thầy cô xác nhận đã nhận tiền, tôi chuyển đến tất cả những người đóng góp, xong công việc lòng thấy nhẹ nhõm hân hoan vô cùng.
Không có niềm vui nào bằng bây giờ, vì một nhóm nhỏ đã thực hiện được chút tình chia sẻ. Tôi nhớ câu nói mạ vẫn thường nhắc “người ta ăn thì còn, mình ăn thì hết”, hay lời vàng ngọc của thầy Thích Tánh Tuệ “Thân từ cát bụi đến. Cát bụi sẽ gọi về. Chỉ có tình thương mến. Ở lại cùng Sơn Khê.” Niềm xúc động dâng tràn tuôn thành thơ:
Bão Lụt Miền Trung 
 
Lũ lụt miền Trung cảnh thảm buồn
Dân mình chịu khổ lệ đầy tuôn
Đau lòng lúc thấy người bồng trẻ
Xót dạ khi trông kẻ kéo xuồng
Mái ngập cơn mưa nào tạnh dứt 
Sông tràn mực nước chẳng lùi buông
Tim nồng gởi hạt từ bi giúp
Xóa dịu cơn đau trận bão cuồng 
(Minh Thúy Thành Nội)
Xem hình ảnh Chùa Tây Linh của Sư Cô Như Mình, hội Từ Thiện Trái Tim Bồ Đề Đạo Tràng (Bodhgaya Heart Foundation) của thầy Thích Tánh Tuệ, “Garage Sale for Charity” của bác sĩ Đặng Nga đi đến các vùng xa xôi phát quà thật khâm phục ngưỡng mộ. Mọi việc đều do sự từ tâm, lòng bác ái mở rộng trái tim yêu thương tự nguyện hy sinh công sức dù cực nhọc vất vả.
Cảm động thêm nữa những YouTube chiếu cảnh bà con ngồi gói bánh tét muốn ứa nước mắt, tôi đã từng lên Chùa phụ giúp công việc này vào dịp gần Tết, quý bác quý cô ngồi đau lưng, đàn ông thức đêm nấu bánh rất cực nhọc công phu.Tôi suy nghĩ những lúc nước dâng phải ngồi trên mái nhà, hoặc nhà sập chịu co ro lạnh giá, nhận chiếc bánh chưng hay gói mì thì còn gì bằng vì được ăn liền trong lúc gió bão cúp điện không thể nấu nướng. Thời bây giờ cơ may mọi người làm ăn ra, tâm bồ đề rộng mở, lòng nhân ái cao dày, nên món ăn cứu đói lụt nâng cao so với tôi ngày xưa ăn mắm kho quẹt, chưa kể sau cơn lụt nhà cửa bị tàn phá, dân còn được nhận tiền gạo.
Đẹp thay tứ chúng đồng tu biết thực hành hạnh bố thí “thương người như thể thương thân”, dù buồn lo cho xứ Huế nhưng đồng thời tôi tìm được niềm ấm áp khi cảm nhận tình người hoa nở đẹp muôn nơi từ trong nước ra hải ngoại. Tôi muốn cảm ơn đến những tấm lòng mở rộng đã giao cho tôi công việc chuyển tiền, chuyển tình thương đến đồng bào trong cơn thiên tai. Bài viết này như sự lưu dấu hồ sơ cứu trợ của nhóm nhỏ về mùa bão lụt miền Trung năm 2020. Xin được ghi lại cảm xúc lần nữa bằng vần thơ mộc mạc:
Thiên Tai Miền Trung 
 
Hiểm họa quê hương quá khổ rồi
Tiêu điều nước lũ nghẹn ngào ôi 
Thê lương cảnh tượng nhìn rơi lệ
Mẹ mất con bầy chịu phận côi
 
Mái nóc ngôi nhà giống mặt sông
Mưa mù trắng xoá ngó rầu không 
Thiên tai giáng xuống trần gian đọa
Phá hoại nương dâu với ruộng đồng
 
Vẫn vậy, mỗi năm vẫn khổ trường
Từng mùa diễn tiếp cứ đeo vương 
Màn trời chiếu đất người đau đớn
Bão gió quay cuồng mịt khói sương
 
Trông toàn mực nước ngập mông mênh
Sức đuối tàn hơi thấm lạnh mềm 
Trẻ đói, già đau, người bệnh hoạn
Ghe thuyền cứu vớt kéo bè lên
 
Thương buồn sáu tỉnh xứ Trung kia
Chú bác, cô dì nhớ sẻ chia 
Nắm gạo tô mì về cứu trợ
Trời xa vẫn nhớ, ruột không lìa 
(Minh Thúy Thành Nội)
Tách trà nóng ấm áp cơ thể tạo cảm giác dễ chịu. Ngoài vườn như có lớp khói mù đang phủ. Chút nắng hiu hắt trên ngọn cây bóng lá ngậm ngùi. Tôi đang giăng thả trời Huế trước mặt với vui buồn hoang dại lẫn lộn. Tôi nguyện cầu nạn lụt sớm chấm dứt nơi quê nhà, mọi sự sinh hoạt trở lại bình yên. Huế của tôi ơi … “ Huế là thơ, Huế là mơ…” và Huế cũng chịu lắm đoạ đày bởi thiên tai bão lụt ….
Minh Thúy Thành Nội 
Tháng 10/2020



Thung Lũng Ngày Xuân

Xuân này ta về thăm thung lũng

Thảm hoa vàng mất dấu đi đâu

Mùi hương cải, thơm tình ngây ngất

Đoá hoa vàng nghiêng ngả bên nhau.

Dấu hương xưa vương vấn trong chiều

Mưa ướt buồn, xanh vết rong rêu

Hồn quanh đây vọng về nỗi nhớ

Để lời thơ, tuôn chảy đôi điều.

Ta đến tìm thăm một nỗi đau

Nhưng em biền biệt ở nơi nào

Hoa có cài trên vầng tóc bạc

Xuân có điểm tô những sắc màu.

Thung lũng, ngày xuân lòng xôn xao

Nhớ về em trong giấc mộng nào

Ngày Tết đến, mùa xuân hoa cải

Xin gửi riêng em, một lời chào.

Lê Tuấn

Mùa xuân trên thung lũng hoa vàng

San Jose 01-12-21




Now Adays – Bây Giờ




Trời Buồn 

Trời Buồn 

 

Trời đất sao buồn như để tang

Mây trời mới tụ gió đã tan

Trăm năm chưa đến đời đã mất

Mà chẳng ai về, qua hỏi han.

 

Chiều qua còn thấy ở nơi đây

Hôm nay hồn đã ở trên mây

Hỏi thăm mới biết người thiên cổ

Thắp nén nhang buồn gửi gió bay.

 

Con chim bói cá trên cọc nhọn

Sõi bóng tìm ai, xuống mặt hồ

Dư ảnh phận người như cát bụi

Hoài công vun xới, cũng hư vô.

 

Ta đợi như chừng bóng cố nhân

Đã bỏ người đi tự lúc nào

Hoàng hôn bóng đổ buồn muốn khóc

Ta không thèm hỏi, bởi tại sao?

 

Nhân thế muộn phiền tan vỡ mộng

Ai còn mê tỉnh vướng thêm sầu

Trần gian thoáng chốc, như sương khói

Một chút tình thân, tiếng kinh cầu.

 

Lê Tuấn

Buồn cho thân phận con người

Đã sớm bỏ cuộc chơi trong mùa dịch bệnh Covid 19.

January 7, 2021

 

Ngày Buồn 

Ngày buồn giống kẻ đội khăn tang 
Cảnh vật đìu hiu lạnh héo tàn 
Tiễn bước anh đi tràn giọt lệ 
Tâm tình cuộn gió thả lang thang 
 
Ngày buồn giấc mộng vẫn quanh đây 
Hạnh phúc vơi đầy gởi đám mây 
Vạn ngã đường đời lăn cát bụi 
Chim đành vẩy cánh thả trời bay 
 
Ngày buồn nhắc nhở thời chung sống 
Nắng hạ mưa thu phẳng lặng hồ 
Ngát đượm vườn hoa mềm giấc nguyệt
Tranh đời điểm phấn vẽ hoà tô 
 
Ngày buồn thủ phận sống hiền nhân 
Phút cuối trà chung sưởi ấm nào 
Vỗ giấc mơ xưa hồn lảo đảo 
An bày số phận tủi vì sao 
 
Ngày buồn tiễn biệt mi nhoà ướt 
Phận bạc đôi mình rẽ lối sâu 
Bước cảnh sương mù thêm héo hắt 
Con tim thổn thức nguyện dâng cầu 
                Minh Thuý Thành Nội 
                     Tháng 1/8/2021




CẢM TÁC ĐẦU XUÂN (gửi bạn bốn phương)

1/4- Hoa đào tươi thắm đón Xuân sang,

Lựa vận thành chương, gửi bạn vàng.

Chúc tụng đồng hương đều phú quý,

Chào mừng thi hữu thảy an khang.

Miệt mài sáng tác càng phong độ,

Liên tục tranh đua thật rộn ràng.

Tết đến dân mình còn đẵm lệ,

Nguyện cầu Đất Tổ sớm vinh quang

2/4- Vinh quang sớm đến với quê nhà,

Đoàn kết cùng xây dựng Quốc gia.

Hạnh phúc Đông Đoài sang tựa ngọc,

Tự Do Nam Bắc quý như ngà.

Văn chương vang tiếng trai nô nức,

Khoa học lừng danh gái thiết tha.

Quốc Tổ Hùng Vương đang réo gọi,

Trong tim ghi khắc chữ sơn hà.

3/4- Sơn hà sẽ tới vận thăng hoa,

Hạnh phúc chen nhau đến mọi nhà.

Cả nước hân hoan chào Ngũ Phúc,(1)

Toàn dân hứng khởi rước Tam Đa (2)

Hô hào thiếu nữ theo đường chính,

Vận động thanh niên tránh nẻo tà.

Luật tắc (3) đất tuần, nhân có vận,

Lẽ thường chính trực thắng yêu ma

4/4- Yêu ma dẫn lối, quỷ đưa đường,

Tam khổ (4) oan cừu chẳng vấn vương.

Dạy cháu sáng chiều rèn đạo lý,

Khuyên con khuya sớm luyện luân thường.

Chủ trương trị quốc khinh chuyên chính,

Phương pháp tề gia (5) trọng kỷ cương.

Thương Ưởng (6) đa tài nhưng khiếm đức

Nghìn sau trân quý kẻ khiêm nhường.

TRƯỜNG GIANG

Họa

Chúc Đầu Năm 2021

 

Tưng bừng vạn vật đón mùa sang 

Nắng chiếu cành mai nở rực  vàng 

Ước nguyện trần gian luôn ổn thỏa 

Mơ cầu thế giới mãi bình an 

Vần xinh vẫy bút cùng thi hội 

Chữ mộng cài chương với diễn đàn 

Bạn hữu đầu năm mừng chúc Tết 

Soi lành mọi nẻo đuốc từ quang 

 

Từ quang cuộc sống đẹp bao nhà 

Kẻ sĩ nhân tài chẳng ẩn gia 

Ổn định quê người soi nước biếc 

Bình an đất mẹ ngắm trăng ngà 

Xây đời xả khổ rèn dung thứ 

Đắp việc gom hiền tập lượng tha

Tuổi trẻ gầy danh cùng xã hội 

Tài năng tạo dựng cảnh yên hà 

 

Yên hà hưởng sắc cúc ,đào ,hoa

Hốt gió chơi vơi buổi nắng tà 

Hạ biếc mùa thương ngời gốc liễu 

Xuân nồng nụ ước thắm cành đa 

Lòng trung quyết chí theo điều phải 

Đạo chính đồng tâm chống việc tà 

Bất khuất tinh thần vì đại nghĩa 

Con đường trí tuệ chống tà ma 

 

Tà ma cám dỗ dễ sa đường 

Bóng tối theo phiền nỗi ám vương 

Cửa dưỡng sông nằm mơ giản dị

Dòng nuôi bến ngủ mộng bình thường 

Thù vào chiến đấu nơi biên ải 

Giặc tới tranh hùng ở trận cương

Cháu lạc con giòng bà Triệu ,Trắc 

Gìn sông giữ biển quyết không nhường 

 

                 Minh Thuý Thành Nội 

                      Tháng 1/8/2021

 




TÌNH NGHĨA QUÂN DÂN 62

 

 Vì Tổ Quốc giang sơn, nòi giống,

Ai khước từ cuộc sống ấm êm ??

Ai đi chinh chiến ngày đêm?

Băng rừng, vượt suối càng thêm nhọc nhằn.

Ai quyết vượt khó khăn, gian khổ?

Ai chẳng nề máu đổ, thịt rơi?

Xông pha khói lửa ngút trời,

Dấn thân mưu ích cho đời mai sau.

Nguồn cơn nghĩ lòng đau như cắt,

Sứ mạng chưa hoàn tất mười mươi.

Thảm chưa ? Thương tích đầy người,

Thực là dở khóc, dở cười hỡi ôi!

Chim hồng hộc (1) vượt đồi gẫy cánh,

Tàu chinh nhân (2) lệch bánh từ đây.

Vì ai phải cụt chân tay?

Đau thương, khổ ải chất đầy hai vai.

Chữ Trung, Hiếu phận trai chưa vẹn,

Tình phu thê khôn nén niềm thương.

Bầy con thiếu vắng học đường,

Lấy ai rèn cặp cho thường ngày đêm.

Việc đi đứng càng thêm vất vả,

Mấy ai màng chị ngã, em nâng!!

Bể dâu (3) nổi sóng đất bằng,

Phế binh chìm đắm vĩnh hằng (4) trần ai.

Cơm thường bữa nhánh khoai, củ sắn,

Nước mắt chan đều đặn thay canh.

Áo quần tơi tả một manh,

Đoái hoài ai kẻ thấu tình giúp cho ??

Thuốc trị liệu kim mò đáy biển,

Hái lá rừng chế biến qua loa.

Tiếng kêu vang dội ngân hà, (5)

Năm Châu, bốn Bể sót xa ngậm ngùi.

Ai chiến hữu ngọt bùi hòe quế ?

Có nhớ tình huynh đệ chi binh ?

Nhớ khi lên thác xuống ghềnh ?

Đói no cùng hưởng, lênh đênh chung giường?

Nào ruột thịt đồng hương hải ngoại!!

Còn nhớ câu ăn trái trồng cây?

Phế binh vất vưởng đêm ngày,

Triền miên thống khổ, đọa đầy bấy lâu.

Chung sức góp mớ rau, cái chén,

Của một đồng, công nén quý thay!

Cùng nhau ta nắm vòng tay,

Một ao nước lã khôn thay máu đào.

Ơn Đất Nước chót cao vô lượng,

Nghĩa Đồng Bào vạn trượng khôn đo.

Dù xây chín bậc phù đồ,

Không bằng làm phúc cứu cho một người.

Đó mới thực tính trời nhân đạo,

Đây chính là tối hảo lương tri.

Quê xưa, nước cũ khắc ghi,

Tình Quân, Dân, Chính ai thì nhớ không?

Khi no bụng nem công chẳng hám,

Lúc đói lòng bát cám cũng mê.

Chúng ta hạnh phúc tràn trề,

Là nhờ người giữ làng quê thủa nào !!

Trước là đáp nghĩa đồng bào,

Còn sau uống nước lẽ nào quên sông ??

Ước mong góp gió thành giông,

Quyên tiền làm nghĩa, góp công là tình.

Ơn đền, nghĩa trả thương binh,

Ấy là truyền thống ân tình Quốc Gia. 62

TRƯỜNG GIANG

 GHI CHÚ :

(1) CHIM HỒNG HỘC : Một loại chim rất lớn, chim đại bàng đã bị gẫy cánh. Ý nói người lính V.N.C.H. khi  giao chiến với Việt Cộng, bị chúng bắn bị thương

(2) TÀU CHINH NHÂN : Tàu chở các chiến binh đi đánh trận bị trật đường rầy. Ý nói người chiến sĩ bị thương tích ngoài mặt trận.

(3)  DÂU BỂ : Do chữ Thương hải tang điền, nghĩa là nơi đất phù sa ở bờ biển được sóng bồi lên thành bãi . Dân cư ngụ lân cận đem cành dâu ra trồng để lấy lá nuôi tằm dệt lụa  may quần áo. Ý nói việc đời thay đổi.

(4VĨNH HẰNG : Luôn luônhiện hữu, không bao giờ thay đổi.

(5) NGÂN HÀ : Giải sao ở thượng tầng không gian, có hàng tỷ ngôi sao, thường gọi là giải Ngân Hà.

Họa

Nhớ Người Thương Binh VNCH

1

Non sông gấm vóc con giòng giống 

Chẳng thể vì đời sống đẹp êm

Chiến trường gối súng từng đêm

Ngăn thù diệt giặc dù thêm mệt nhằn 

2

Còn ai để ý băn khăn khổ 

Dẫu phải mồ hôi đổ ướt rơi

Lăn thân lửa đạn rực trời

Hy sinh tuổi trẻ cho đời về sau 

3

Than ôi ngẫm dạ đau thầm cắt 

Thế sự xoay cờ thắt cuộn mươi

Cảm anh thương phế hư người 

Nghẹn ngào đất nước nụ cười tắt ôi 

4

Đàn chim vượt biển đồi lay cánh 

Tổ ấm đà tan gánh tại đây

Nhìn xem kẻ cụt hai tay

Mưu sinh cơm áo nặng đầy đôi vai

5

Nhìn về tổ quốc trai nào vẹn

Én Nhạn phu thê nén thảm thương

Bầy con giáo dục đứt đường 

Đành chôn chữ nghĩa mộng thường giữa đêm 

6

Thân di chuyển lại thêm cuồng vả 

Lúc khó khăn cùng ngã chẳng nâng 

Nghẹn ôi thảm cảnh cầm bằng 

Thương binh tủi nhục vết hằn hận ai

7

Từng ngày độn bữa khoai cùng sắn 

Lệ nhỏ đầy trôi đặng thế canh

Đêm nằm đắp chiếc chiếu manh

Nhìn quanh đều khổ cũng đành lơ cho

8

Lời than tựa sóng gào ngoài biển 

Bệnh hoạn đành xoay biến bóp xoa 

Có đau cũng chỉ hít hà 

Mười phương bốn bể ngàn xa bùi ngùi 

9

Khi xưa bạn hữu chung trà quế 

Kỷ niệm huynh cùng đệ chiến binh 

Hành quân lội suối băng gềnh

Gian lao nếm đủ lặng tênh trên giường 

10

Ra đi nhớ cố hương quê ngoại 

Khó thể quên dùng trái nhớ cây 

Thương binh lăn lộn từng ngày 

Đầu đường xó chợ khốn đầy từ lâu 

11

Rao mời vé số hay hàng xén 

Chịu nhọc nhằn đè nén tủi thay

Tình thương thể hiện nhanh ngay

Giúp người lính trận không may thải đào 

12

Từ bi bác ái cao đầy lượng 

Nghĩa nặng dù nghìn trượng khó đo

Còn thương còn nghĩ tiền đồ 

Ra tay cứu giúp ban cho bao người 

13

Phù du của cải thời hành đạo

Tạo nghiệp lành hoà hảo túc tri

Nêu cao tổ quốc nhớ ghi 

Hy sinh tánh mạng bao vì biết không 

14

Thời sung túc chẳng ai cần hám 

Lúc đắng cay thau cám quý mê

Bên nay cuộc sống dư trề 

Có đâu quên được tình quê dạo nào 

15

Nghĩ về đất nước ruột bào 

Chim bay xa tổ thể nào lướt sông 

Gom mây kết nắng tan giông 

Cùng nhau hành thiện của công đầy mình 

Ơn sâu đáp trả phế binh

Con tim máu chảy nghĩa tình nước non 

           Minh Thuý Thành Nội 

              Tháng 11/7/2020

____________________________________

HỌA

Ghi Dấu Ngày Về (Lê Tuấn)

 1

Ngày đánh dấu, ta trở về phố thị

Bỏ lại sau lưng vách đá trại tù

Bước chân ta dẫm nát lối hoang sơ

Từng nhịp bước chuyển rung rừng núi.

 2

Đếm năm tháng, tám năm buồn tăm tối

Ta hóa thân, loài vượn giữa núi rừng

Chốn rừng thiêng, mất dấu bóng loài người

Xác thân đó trong hình hài cổ quái.

 3

Em thấy ta, mắt tròn xoe kinh hãi

Chân dung người, biệt xứ mới trở về

Tám năm rồi tỏ mặt với nhau đây

Xáo động cả, buồn vui ngày hội ngộ.

 4

Người qua lại nhìn ta không thăm hỏi

Bước chân đi, từng cặp mắt e dè

Ta mất dấu, nhìn phố xưa xa lạ

Đời lặng im, sét rỉ đến không ngờ.

 5

Và ta thấy thành phố già hơn trước

Cờ máu treo, nhuộm đỏ cả phố phường

Ta xót thương, căm giận lũ hung cuồng

Ta bật khóc, nỗi đau buồn thế sự.           

 6

Lòng chợt nghe, tin buồn vang khắp xứ

Gió cát vụt bay, che khuất đoạn trường

Ta chẳng buồn nhìn lại bóng quê hương

Những mảnh vụn, treo toàn cờ máu đỏ.

 7

Ngày gặp gỡ, trong lòng còn chút mộng

Ta đi tìm người con gái khi xưa

Nàng không đợi, bỏ đi tự bao giờ

Nỗi xót xa, mối tình đầu cũng mất.

 8

Ôi nhân thế! Với lưỡi dao thật sắc

Cắt vụn đời người, cắt nát trái tim

Loài ma quỷ, sùng bái những lũ điên

Bán linh hồn, thâm tâm nào vọng động.

 9

Ta ngước lên, trời cao buồn muôn thuở

Nhìn lại mình, thân phận đã hư hao

Hoàng hôn đến, mái đầu vương tóc trắng

Ta chẳng buồn, tìm hiểu bởi vì sao.

 

Lê Tuấn

Nỗi buồn sau tám năm tù cải tạo

 




Giọt Lệ Khóc Cho Quê Hương




VTLV – Chúc Mừng Giáng Sinh Và Năm Mới 2021




Vương Trùng Dương

Cách đây hai thập niên, vào thời điểm nầy, Lâm Tường Dũ bàn với tôi thực hiện Giai Phẩm Xuân cho tờ Thế Giới Nghệ Thuật. Với nhạc sĩ thì dựa vào các nhạc phẩm sáng tác về Xuân nhưng với ca sĩ thì mông lung nên dựa vào bức tranh tứ quý: mai, lan, cúc, trúc để viết. Tôi chọn 4 ca sĩ khởi đầu với chữ Mai: Mai Hương, Mai Hân, Mai Ngọc Khánh & Mai Lệ Huyền. Lâm Tường Dũ chọn 4 chữ Lan cuối cùng: Thanh Lan, Ngọc Lan, Ý Lan & Hương Lan.

Ngọc Lan sinh ở Nha Trang, qua đời năm 2001, nay đến Mai Hương sinh ở Đà Nẵng từ trần vào chiều Chủ Nhật 29/11/2020 tại Nam California. Tôi thích và thiện cảm với hai ca sĩ nầy từ tiếng hát đến nhân cách sống và gắn liền với nơi chốn cố hương và quê vợ.

Mai Hương là một trong những ca sĩ duy nhất không bị scandal nào trong tình yêu và nghiệp dĩ. Ca sĩ có công việc vững chắc ở Bank of America. Là con chiên rất ngoan đạo Tin Lành, Chủ Nhật nào cũng đi lễ ở nhà thờ Vietnamese United Methodist ở Anaheim, tuy xa nhà nhưng có đông cộng đồng người Việt. Thứ Sáu, 11 tháng 12, nhà thờ làm Lễ Dâng Xác Trương Mai Hương (lấy họ chồng) – tôi là Phật Tử thuần thành nhưng trong văn học nghệ thuật với những khuôn mặt chân chính đều bày tỏ lòng cảm mến.

Trong mùa dịch Covid-19 đang cô lập mọi người, rất tiếc có hai ca sĩ được mọi người ái mộ đã vĩnh biệt cõi trần, ca sĩ Thái Thanh qua đới 17 tháng 3, 2020 và lần nầy đến ca sĩ Mai Hương, những người ái mộ không đến để tiễn đưa lần cuối!

Về tiểu sử Mai Hương đã được đề cập khá nhiều nên ghi tổng quát:

Mai Hương nguyên danh Phạm Thị Mai Hương, gốc Hà Nội, sinh năm 1941 tại Đà Nẵng. Xuất thân trong một gia đình nghệ sĩ, cha mẹ MH là Phạm Đình Sỹ và nữ kịch sĩ Kiều Hạnh, diễn viên đoàn kịch Sao Vàng của Thế Lữ, được Bộ Thông Tin VNCH đã trao tặng danh hiệu nữ kịch sĩ xuất sắc nhất năm 1956. Ông Phạm Đình Sỹ là anh trai của các ca sĩ Thái Hằng (vợ nhạc sĩ Phạm Duy), ca sĩ Thái Thanh, ca sĩ Hoài Trung Phạm Đình Viêm và nhạc sĩ Hoài Bắc Phạm Đình Chương.

Năm 1951, gia đình ông Phạm Đình Sỹ mới trở về Hà Nội, cuối năm 1952 di cư vào Sài Gòn sống cho đến năm 1975. Năm 1953, mới 12 tuổi đã tham dự thi cuộc tuyển lựa ca sĩ của đài phát thanh Pháp Á tại rạp Norodom, với ca khúc Xuân & Tuổi Trẻ (nhạc La Hối, lời Thế Lữ) được trúng tuyển. Mai Hương cộng tác với chương trình nhi đồng của nữ ca sĩ Minh Trang trên đài Phát Thanh Sài Gòn, thời gian cộng tác với các chương trình thiếu nhi, khi trao lại cho kịch sĩ Kiều Hạnh đổi tên là ban Tuổi Xanh. Khi Đài Phát Thanh Pháp Á, sau đổi tên thành Đài Phát Thanh Quốc Gia rồi Đài Phát Thanh Sài Gòn), Ban Tuổi Xanh tiếp tục cộng tác với đài phát thanh hàng tuần. Ban Tuổi Xanh đã quy tụ những tiếng hát Bích Chiêu, Mai Hương, Bạch Tuyết, Quỳnh Giao, Tuấn Ngọc, Hoàng Oanh, Phương Hoài Tâm, Xuân Thu… và  Bạch Tuyết (sinh năm 1943, em gái Mai Hương vừa qua đời cách nay 3 tháng, trùng tên đào cải lương Bạch Tuyết). Mai Hương theo học trường Quốc Gia Âm Nhạc (cùng thời điểm theo tại trường trung học Nguyễn Bá Tòng) được khoảng ba năm về violin, ký âm pháp, đàn tranh và hợp xướng. Sau đó vì bận thi tú tài 1 nên phải bỏ dở.

Khi Mai Hương tham gia trong ban nhạc của Võ Đức Tuyết và Hoàng Lang cùng với những ca sĩ nổi danh của nền tân nhạc lúc đó là Anh Ngọc, Duy Trác, Nhật Bằng, Kim Tước, Mộc Lan, Châu Hà…Và, Mai Hương lần lượt xuất hiện trong nhiều ban ca nhạc khác, như Tiếng Nhạc Tâm Tình của Anh Ngọc, ban Phương Hoa của Vũ Thành, ban Hương Quê của Hoàng Trọng… Và nổi tiếng nhất với Ban Tiếng Tơ Đồng của Hoàng Trọng năm 1967 (Ông hoàng của dòng nhạc Tango, tôi đã viết bài Hoàng Trọng, Ngàn Thu Áo Tím trong quyển Văn Nhân & Tình Sử). Ban nhạc quy tụ những ca sĩ lừng danh, thường trình bày những ca khúc tiền chiến và những ca khúc nổi tiếng của các nhạc sĩ nổi tiếng ổ Sài Gòn. Mai Hương trong tam ca của Ban Tiếng Tơ Đồng (Kim Tước, Quỳnh Giao), theo dòng thời gian từ trong nước, ở Hoa Kỳ. Tiếng hát Mai Hương thường xuyên ngoài Đài Phát Thanh Sài Gòn còn có  Đài Tiếng Nói Quân Đội, Đài Tiếng Nói Tự Do và Đài Truyền Hình Việt Nam trên băng tần số 9 ở Sài Gòn.

Lập gia đình với người bạn đời Trương Dục, tuy không ở trong giới nghệ sĩ năm 1961 nhưng là người cảm thông và khích lệ. Ngày 22 tháng 4 năm 1975, Mai Hương cùng chồng Trương Dục, phục vụ tại Nha Hàng Không Dân Sự, và bốn người con rời Việt Nam tạm trú tại trại Pendleton ở Nam California. Lần đầu tiên Mai Hương được mời đi trình diễn ở thành phố New Orleans.

Năm 1980, Mai Hương phát hành băng nhạc đầu tiên tại hải ngoại mang tên Giấc Mơ Hồi Hương (Ca khúc nổi tiếng cũa Vũ Thành). Và từ đó thu âm, có nhiều CD như Nhặt Cánh Sao Rơi, Serenade, Vàng Phai Mấy Lá… Tổng cộng khoảng 10 CD với tiếng hát của Mai Hương, trong số đó có CD Tìm Nhau Bốn Mùa hát chung với Kim Tước và Quỳnh Giao. Năm 1989 Mai Hương sống ở Rowland Heights, Nam California và làm việc cho ngân hàng Bank Of America. Sau 22 năm với công việc, năm 2000 Mai Hương về hưu và thỉnh thoảng xuất hiện trong các chương trình tưởng nhớ nhạc sĩ qua đời… Tiếng hát của Mai Hương là tiếng hát của hoài vọng, nhớ thương của cung thương ngày cũ.

Mỗi ca sĩ thường có những ca khúc để đời. Với giọng soprano, nhẹ nhàng, dịu dàng, thiết tha, bay bổng, cao vuốt và điêu luyện… thích hợp với những ca khúc bán cổ điển. Mai Hương đã thực hiện trong CD như: Giấc Mơ Hồi Hương, Bóng Ngày Qua, Đi Chơi Chùa Hương, Mai Hương & Những Tuyệt Phẩm Đoàn Chuẩn – Từ Linh, Tình Khúc Dương Thiệu Tước, Khúc Nhạc Ly Hương, Nhạc Tiền Chiến, Nhặt Cánh Sao Rơi, Vàng Phai Mấy Lá, Như Ngọn Buồn Rơi, Sérénade, LỠ Chuyến Đò, Tình Khúc Văn Cao với Quỳnh Giao… Với hàng trăm ca khúc đó cũng hình dung được những bài hát do Mai Hương trình bày.

Trong cuộc phỏng vấn của Nghiêm Xuân Cường thực hiện, ca sĩ Mai Hương đã chia sẻ:

“Trong các kỷ niệm của tôi về thuở niên thiếu, phải nói thời gian êm đẹp nhất là những năm tôi học từ lớp Đệ Ngũ đến Đệ Tam. Tôi nhớ lại những tháng năm ấy như một giòng sông êm đềm trôi mãi trong ký ức bởi lẽ ở tuổi mười bốn, mười lăm, tôi đã bắt đầu biết nghĩ và chớm yêu thơ nhạc nhưng vẫn chưa có gì phải lo nghĩ về thi cử hay về cuộc chiến. Những năm cuối thập niên 60, Sài Gòn vẫn còn huởng không khí tương đối yên bình…

… Từ năm 1972 đến 1975 một số người bỏ đài, không còn hứng khởi hát hò như xưa. Trong số đó có chị Kim Tước ra Nha Trang, chị Hà Thanh ra Huế. Các anh Thanh Vũ, Trần Ngọc (nhạc sĩ Tuấn Khanh) chú Anh Ngọc không hát nữa. Cô Thái Thanh cũng vậy. Trong đài bấy giờ chỉ còn tôi, Hoàng Oanh, cô Mộc Lan, chị Thể Tần và Phượng Bằng, Phương Nga. Quỳnh Giao thì không đi hát đều đặn như trước mà bận dậy đàn nhiều hơn. Ngày 22 tháng 4 năm 1975 chúng tôi rời bỏ quê hương đi lánh nạn xứ người…”

Với tâm niệm của người ca sĩ: “Tôi muốn làm công việc giới thiệu này để nhắc nhở cho những người yêu nhạc rằng kho tàng âm nhạc Việt Nam rất phong phú bằng cách ghi âm lại những bài hát ấy để lưu lại một cái gì cho người, cho mình. Tôi cũng muốn ghi lại giọng ca của mình trong lúc còn có thể hát được vì có ai trẻ mãi với thời gian. Những bản nhạc mà tôi đã chọn để hát cho khoảng hơn 10 CDs cho các trung tâm Diễm Xưa, Tú Quỳnh, Mai Ngọc Khánh… cũng không ngoài mục đích kể trên”.

Với nhạc sĩ Vũ Thành ngoài ca khúc Giấc Mơ Hoài Hương, tôi thích tình khúc Nhặt Cánh Sao Rơi với tiếng hát Mai Hương cũng là chủ đề của CD.

Giờ đây, anh Trương Dục ngậm ngùi thương tiếc hình ảnh người vợ hiền Mai Hương ra người thiên cổ với nỗi lòng trong ca khúc:

“Người năm trước còn nhớ chăng đêm nào

Đầu xanh tóc tình lứa đôi dạt dào

Bạn ngồi bên tôi tay nắm tay tim nghẹn ngào

Lặng nhìn trời xanh thẳm đẹp muôn ánh sao

… Nhưng đêm nay sao trời vẫn sáng

Ngân hà đôi hướng có riêng mình tôi

Lắng buồn đoái nhìn ngàn sao thờ ơ

Áng mây buông lững lờ

Bới trong tro tàn tìm ánh sao xưa”.

Trước đây, thỉnh thoảng tôi gặp anh Trương Dục ở quán cà phê trong khu Catinat Plaza ở Little, sau nầy chưa có dịp gặp nhau.

Tưởng nhớ người quá cố, ca sĩ Mai Hương, gởi đến anh lời chia buồn và tựa đề bài viết: Mai Hương, Một Ánh Sao Rơi trong gia đình anh và mọi người ở trong nước và hải ngoại đã một thời yêu thích tiếng hát theo năm tháng.

Little Saigon, Nov 30, 2020

Vương Trùng Dương




MÙA GIÁNG SINH NĂM NAY SAO BUỒN THẾ?

KIỀU MỸ DUYÊN

          Nhiều người than với tôi: mùa Giáng Sinh năm nay buồn thế? Lạnh thì lạnh hơn, người chết vì dịch cúm Covid-19 càng ngày càng cao, ngày nào cũng có người chết.

          Thưa quý đồng hương, không phải ai bị Covid-19 cũng chết. Nếu già trẻ bị cúm đều chết thì màu tang tóc ảm đạm bao trùm cả vùng trời. Lệnh cấm vận ở trong nhà, nhà thương không đủ phòng để chứa người bệnh, thất nghiệp càng ngày càng tăng, người mướn nhà không có tiền để trả tiền mướn nhà. Không trả tiền nhà đương nhiên sẽ bị đuổi nhà, tín chỉ sẽ rất xấu, trong tương lai sẽ không mua được nhà, nếu đi xin việc làm, chủ công ty hay chính phủ thấy tín chỉ xấu thì sẽ không mướn, sẽ thê thảm hơn nữa. Muốn tín chỉ tốt phải giữ gìn, mua gì cũng phải trả tiền đúng hẹn, mua nhà không trả tiền nhà quá ba tháng thì nhà sẽ bị tịch thu, mướn nhà không trả tiền nhà đúng hẹn thì bị phạt và bị đuổi nhà.

           Nếu người mướn nhà không trả tiền mướn nhà, chủ nhà không có tiền trả tiền nợ thì nhà của chủ nhà sẽ bị tịch thu, khi đó người mướn nhà cũng phải dọn đi, người này khổ kéo thêm người khác khổ.

          Mùa Giáng Sinh năm nay ảm đạm dù có tin vui giữa giờ tuyệt vọng, nhưng than ơi, ngày 15/12/2020 thuốc ngừa Covid-19 chỉ có tối thiểu, ưu tiên cho y tá, bác sĩ, người làm trong nhà thương, bệnh nhân trong viện dưỡng lão.

          Phải đợi, đợi bao lâu? Chưa biết, nước Mỹ có hơn 300 triệu người, thành phố nào bị nhiễm bệnh nhiều nhất được gởi thuốc về nhà nhiều nhất. Ở Orange County, thành phố Santa Ana, rồi đến Anaheim, đến những thành phố khác, hy vọng từ từ cũng sẽ tới phiên mình.

          Niềm mơ ước mùa Giáng Sinh, và nụ cười của mùa Giáng Sinh, ông già Noel ở đâu sao chưa thấy tới? Ngày xưa, lúc còn bé chúng tôi thích ông già Noel để có quà, và nằm mơ cũng thấy ông già Noel. Theo truyền thuyết ông già Noel đến từ ống khói, mặc dù ở Việt Nam nhà không có ống khói. Nhạc mùa Giáng Sinh tuyệt vời, hồi nhỏ những gì tốt đẹp đã vào đầu thì không bao giờ phai nhạt. Chẳng hạn bài hát Tha La Xóm Đạo, một mối tình tuyệt đẹp của chàng trai lính chiến và cô gái ngây thơ, nhưng khi chàng trở về thì nằm trong quan tài. Khi tôi làm phóng viên chiến trường đến Hậu Nghĩa sau khi thăm tiền đồn biên giới Việt Miên, tôi nhất định phải nhờ một sĩ quan tâm lý chiến của sư đoàn 5 Bộ Binh đưa đến Tha La Xóm Đạo ở Hậu Nghĩa, đây là xóm đạo của người Bắc di cư 1945. Đường vào xóm đạo rất đẹp, những hàng trúc xanh mướt dẫn vào nhà thờ. Nhà thờ vào ban đêm lung linh ánh đèn màu. Tình yêu đẹp, nhưng kẻ đi người ở, tình đẹp là tình dang dở, kết cuộc là nước mắt.

          Chúng tôi đến Tha La Xóm Đạo vào dịp Noel. Trời lành lạnh, cuộc chiến bắt đầu thảm khốc, dân ở trong nhà buổi tối, chuông nhà thờ vẫn đổ, người dân sùng đạo vẫn đi nhà thờ. Chỉ có ở nhà thờ là không khí sinh động nhất. Niềm tin mãnh liệt ở tôn giáo làm cho người dân không sợ hãi. Bom đạn vẫn nổ, người dân vẫn đi nhà thờ, sự bình yên trong lòng, sự bình yên trên khuôn mặt của mọi người. Thời chinh chiến mối tình nào cũng đẹp, những người yêu nhau không được gần nhau, nhưng trong tận cùng, trong trái tim có nhau là đủ rồi?

          Yêu nhau qua sự cầu nguyện, yêu nhau qua tiếng nhạc Noel, xa mặt nhưng không cách lòng, gần nhau trong sự cầu nguyện, người này cầu nguyện cho người kia bình yên, hạnh phúc là đủ rồi?

          Tị nạn ở Mỹ hơn 45 năm, mùa Giáng Sinh năm nay buồn nhất, dịch cúm làm cho nhiều người mất người thân, không gì buồn bằng người thân ra đi không trở lại. Thân nhân ở quê nhà bị lụt lội cuốn đi nhà cửa, người làm nghề chài lưới thì còn hai bàn tay trắng, ghe là phương tiện duy nhất của người đánh cá để nuôi gia đình cuốn theo dòng nước. Người ở hải ngoại lo âu, người trong nước buồn rầu, nói sao cho hết nỗi buồn thảm của người bị mất mát, mất người thân trong gia đình, mất tài sản. Buồn ơi là buồn?

          Ngày nào cũng có người chết làm cho mùa Giáng Sinh năm nay mất vui, nhưng niềm tin tôn giáo vẫn còn đây, yêu người, yêu đời mà sống. Thượng Đế trên cao sẽ phù hộ cho người nào sống ngay thẳng, thật thà, có lòng quảng đại. Cứ sống vui vẻ và cẩn thận mang khẩu trang, mặt nạ, đứng cách nhau 6 feet, rửa tay thật kỹ và thường xuyên. Vui vẻ, lạc quan mà sống, người nào cũng thích nghe tiếng cười hơn tiếng khóc, tiếng cười gần gũi con người hơn tiếng khóc.

          Tôi chưa bao giờ nghe thấy sự cầu nguyện nhiều như trong mùa dịch cúm này. Người già cầu nguyện, người trẻ cầu nguyện, anh cầu nguyện, chị cầu nguyện, cháu cầu nguyện, chúng ta cùng cầu nguyện. Xin Thượng Đế ban phúc lành, sức khỏe và bình an cho mọi người.

          Trong một buổi lễ ở nhà thờ Irvine, một người bạn nói với tôi:

          – Chị ơi, khi chưa có dịch cúm, các con của em đi nhà thờ mỗi tuần một lần. Vậy mà, bây giờ các con của em siêng lắm, dự thánh lễ mỗi ngày. Vì chúng làm việc ở nhà, buổi sáng cha giảng chúng nó nghe, buổi chiều có lễ chiều, chúng cũng nghe cha giảng. Các con của em bây giờ sùng đạo lắm. Làm việc ở nhà, quanh quẩn trong nhà, và dự thánh lễ tại nhà. Cha mẹ nào không hạnh phúc khi thấy con cháu của mình ngoan đạo chứ?

          Người mẹ hãnh diện về con cháu của mình. Bằng hữu khi nghe tin thế hệ thứ hai sùng đạo, đi nhà thờ, ngoan ngoãn ở nhà, không tụ họp giữa đám đông, không sợ lây lan, thì mừng lắm.

          Một gia đình không bệnh cúm Covid-19, không lây lan cho người thân của mình, gia đình khác cũng vậy, cho tới ngày có thuốc chữa bệnh, rồi thong dong đi chơi cũng không muộn. Mạng sống của mình, của gia đình mình là quan trọng nhất. Mỗi lần đi đám ma, nhìn trẻ nhỏ chít khăn tang, tôi rất đau lòng. Trẻ nhỏ đâu biết gì, có đứa nắm tay ông nội, bà nội lắc lắc và nói:

          – Nội ơi nội, sao không thức dậy chơi với con.

          Những khuôn mặt ngây thơ, những con mắt ngơ ngác, vừa nói vừa lắc tay người qua đời đang nằm trong quan tài, làm cho người chứng kiến phải xúc động.

          Khi ba tôi qua đời, tôi đang ở Mỹ. Cháu nội của ba tôi cũng làm thế với ông. Khi còn sinh tiền, ba tôi thương cháu nội lắm. Tôi nghĩ đến cảnh cháu nội nắm tay ba tôi lắc lắc và gọi:

          – Ông nội ơi, ông nội ơi!

          Tôi nghe tả lại cảnh này mà muốn khóc, huống gì nếu nghe tận tai, thấy tận mắt, thì còn đau lòng biết mấy?

          Làm thế nào để thoát qua dịch cúm này, hãy làm theo lời bác sĩ chỉ dẫn: rửa tay thường xuyên, không đến chỗ đông người, đeo mặt nạ, ăn uống điều độ, cẩn thận, tập thể dục thể thao. Lạc quan là yếu tố quan trọng để sống. Sống vui vẻ, lòng mình ngay thẳng, không thù oán ai, ngủ ngon và yêu đời.

          Lúc nào tôi cũng cầu nguyện cho tất cả mọi người khỏe mạnh, gặp nhiều may mắn. Sự may mắn trong cuộc đời cần thiết lắm, không có ai tự cho mình giỏi, mình tài. Không có ai huyền năng bằng Thượng Đế, sống có niềm tin ở Đấng Tối Cao thì đời sống thoải mái hơn, bình thản hơn, làm việc có ý nghĩa, hữu ích cho người khác thì cuộc sống của mình sẽ vui hơn.

          Mong quý đồng hương vui vẻ, thương yêu mọi người và được thương yêu. Sống lạc quan, có niềm tin để vượt qua cơn dịch cúm này.

          Xin hãy cầu nguyện cho mình, cho gia đình, người thân của mình, cho đồng bào của mình sức khỏe, may mắn và hạnh phúc.

Orange County, 14/12/2020

KIỀU MỸ DUYÊN

(kieumyduyen1@yahoo.com)

Cô Kiều Mỹ Duyên gửi những lời chúc tốt đẹp nhất đến quý đồng hương nhân dịp lễ Giáng Sinh

Cầu xin ông già Noel mang đến một mùa Giáng Sinh an lành và một năm mới may mắn.

Lớp học do Luật Sư  Nguyễn Văn Đào traning vào Chủ Nhật cách tuần tại văn phòng Ana Real Estate

Các agents và khách mời Louie gửi lời chúc Giáng Sinh đến mọi người




Bích Câu Kỳ Ngộ – Mạn Đàm Phần 3




Chết tập thể trong trại tù “cải tạo”!

CHS/PCT/ ĐN54-60,

Cựu tù nhân cải tạo Chế Văn Thức

Lời nói đầu: Khi chính quyền Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) non trẻ của Miền Nam Việt Nam bị sụp đổ bởi sự phản bội của nước bạn đồng minh. Quân Cộng sản miền Bắc tiến chiếm Miền Nam, trên thế giới đã có một nhận định cho rằng: sẽ có cuộc tắm máu xảy ra.

Nhưng không, rút kinh nghiệm của các nước cộng sản “anh em” và của chính Cộng Sản Việt Nam (CSVN) qua những lần tắm máu, sau khi cướp được chính quyền, bị thế giới lên án nặng nề. Lần này, sau ngày 30 tháng Tư năm 1975, CSVN không áp dụng thủ đoạn tắm máu mà thi hành chính sách KHÔ MÁU! Đối với Quân Dân Cán Chính VNCH.

Bài viết sau đây, tôi kể lại một chuyện thật, không hư cấu, một trong trăm ngàn sự thật về chính sách đối xử tàn độc của chế độ CSVN với nhân dân Miền Nam Việt Nam! Đề tài khô khan, mong người đọc thông cảm.


TRẠI TÙ SUỐI MÁU, Biên Hòa.

Phản Kháng Của Tù Cải Tạo Trong Đêm Noel 1978.

Sau ba năm lao động khổ sai trên vùng rừng núi cao nguyên Lambiang (Lâm Viên) cuối dãy Trường Sơn. Những sĩ quan QLVNCH, người tù chính trị không án, được ngụy trang dưới mỹ từ “cải tạo”, do các đơn vị bộ đội quản lý từ sau ngày 30 tháng Tư năm 1975. Nay vì nhu cầu cuộc chiến xâm chiếm nước láng giềng Cambodia vào cuối năm 1978, bộ đội đã chuyễn chúng tôi trở về trại Suối Máu, Biên Hòa, giao qua ngành công an quản lý.

Tùy tình thân giữa bạn tù với nhau, trong các ngày lễ lớn của bất cứ tôn giáo nào, hay những ngày lễ Quốc Gia, ngày tết Dương Lịch, tết Nguyên Đán, chúng tôi từng nhóm tụ năm tụ bảy hàn huyên tâm sự. Chiều hôm 24 tháng 12 năm 1978, từng nhóm bạn gom góp mỗi người một ít đường, gạo nếp, đốt lửa đó đây dọc theo hè nhà, nấu chè lạc để có bửa ăn chung đón mừng ngày Chúa Giáng Sinh. Trên vọng gác, công an trông thấy dấu hiệu lạ trong các khu giam tù từ K1, đên các khu K2, K3. Khoảng 7 giờ tối, từng toán công an võ trang vào bên trong tuần tra, hỏi chúng tôi chuyện gì mà tụ tập, chúng tôi giải thích. Toán tuần tra rão quanh một vòng rồi trở ra ngoài.

Đến 8 giờ tối, hầu hết các K vang lên tiếng cười cùng tiếng vỗ tay. Khu K1 nơi giam tù sĩ quan cấp Thiếu và Trung úy, tuổi chừng 20 đến 30 rất trẻ, còn tràn đầy sinh khí, ồn ào náo động nhất, họ hát Thánh ca, tình ca với những chiếc đàn guitar tự chế.

Các toán công an võ trang trở vào, ra lệnh “cải tạo viên “ giải tán vào bên trong láng (nhà). Chưa đến 10 giờ đêm, giờ ngủ theo quy định của trại, họ cưỡng lệnh không chịu vào. Có tiếng súng nổ, công an võ trang bắt đi ba người tù đem ra ngoài khu giam.

Lập tức, toàn thể tù nhân khu K1 gọi nhau tập trung ở sân trước đối diện với cửa ra vào Ban giám thị trại. Họ dùng tay làm loa che miệng, đồng thanh kêu gọi Giám thị trại thả người trở vào, cũng hướng về các khu K2 giam tù cấp Tá, khu K3 cấp Đại úy để thông báo tình hình và xin tiếp tay yểm trợ, bằng cách tất cả tù nhân ra khỏi láng, làm theo những gì bạn tù K1 yêu cầu với Giám thị trại.

Bên ngoài, Giám thị trại vẫn im lìm, bên trong âm thanh hò reo của tù nhân vang dội toàn khu trại tù Suối Máu. Ngay lúc này, tại K2 các bạn tù cấp Tá, nhanh chóng thành lập Ủy Ban Hành Động (UBHĐ). Thiếu tá Không Quân Lê Thanh Hồng Vân vóc người to cao, làm Trưởng UBHĐ (hiện nay anh đang định cư tại Florida). Thiếu tá Pháo binh Lê Văn Sanh làm Phó Trưởng Ban (nay anh định cư tại Texas) và nhiều thành viên cho từng bộ phận, như bộ phận Hành Động, bộ phận An Ninh, bộ phận Kế Hoạch. Một số thành viên trong UBHĐ chui hàng rào kẻm gai, sang K1 hổ trợ và bàn kế hoạch. Hàng rào kẽm gai ngăn giữa các K trước đấy rất kiên cố, nhưng sau ba năm do bộ đội quản lý, cán binh bộ đội nhổ bớt cọc sắt ấp chiến lược và tháo lấy kẽm gai để làm việc riêng tư, nên nay hàng rào thưa trống, người chui qua lại rất dễ dàng.

Đã giữa khuya, Giám thị trại vẫn không động tĩnh. Bước đầu UBHĐ kêu gọi nhau hát các bản Thánh ca, trong đó bản HANG BELEM :

Ðêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời

Chúa sinh ra đời nằm trong hang đá nơi máng lừa.

Trong hang Bê-lem ánh sáng tỏa lan tưng bừng . . .

là bản nhạc dễ hát nhất, hầu như ai cũng hát được, không phân biệt tôn giáo, các bạn tù Ki Tô Hữu hát lớn mọi người cùng hát theo, lặp đi lặp lại liên hồi, chen lẫn với tiếng vổ tay, tiếng kêu gọi thả tù. Trời về khuya tỉnh mịch, âm thanh vang dội đến tận vùng dân cư nhà thờ Hố Nai, Biên Hòa.

Có tiếng động cộc cạch từ những loa phóng thanh đặt sẵn trong các K giam tù, để Giám thị trại thông báo chỉ thị, mở đài (radio) phát thanh Hà Nội, đài Saigòn giải phóng cho tù nhân nghe tin tức vào mỗi sáng sớm và chiều tối. Giám thị trại lên tiếng:

“Yêu cầu tất cả “trại viên cải tạo” trong các K giải tán trở vào láng để ngủ, sau đó Ban giám thị sẽ cho ba trại viên trở vào.”

Không ai bảo ai mọi người đồng loạt trả lời:

“ Phải thả người vào trước đã”.

Hai bên, lời qua tiếng lại giằng co mãi, lồng trong tiếng hát Thánh ca mỗi lúc một vang dội hơn, mặc dù đêm đông giá lạnh nhưng mọi người vẫn kiên trì ngồi dưới sương khuya.

Từ xa vọng lại tiếng động cơ nổ rầm rì, rồi dần dần nghe rõ tiếng xích sắt của xe tăng nghiền trên mặt đường nhựa, từ hướng nhà thờ Hố Nai tiến về trại tù Suối Máu. Bọn cai tù lượng định tình thế, kéo dài thời gian xin chỉ thị cấp trên, điều động xe tăng đến mặt trước của trại tù để thị oai. Không nao núng, UBHĐ đưa ra quyết định, gọi lớn ra bên ngoài:

“Nếu ban giám thị trại không thả người vào, đêm nay tất cả trại viên cải tạo sẽ không vào ngủ”.

Tiếng gầm gừ của máy nổ, tiếng xích sắt của tăng nghiền trên mặt đường mỗi lúc nghe ác liệt hơn, rồi từng loạt đại liên trên tăng thay nhau nổ dòn, đạn hú xé không gian, xẹt ánh lửa vèo vèo ngang qua các nóc nhà trại giam.

Trước tình huống đã cởi lưng cọp không thể lùi, UBHĐ họp bàn quyết định, thông báo cho Giám thị trại:

“Ngày mai toàn thể trại viên cải tạo sẽ TUYỆT THỰC nếu trại không thả người vào”.

Đồng thời loan báo đến các K:

“Yêu cầu tất cả các toán anh nuôi, sáng ngày mai KHÔNG ĐƯỢC RA BỘ CHỈ HUY LÃNH GẠO VÀ THỰC PHÂM, cho đến khi Ban giám thị trại thả người vào.”

Tiếng hát Thánh ca tiếng vỗ tay, tiếng gọi thả tù vẫn tiếp tục vang vang trong đêm khuya. UBHĐ kêu gọi các bạn tù lớn tuổi vào láng để nghỉ trước, nhưng không một ai chịu rời chỗ. Biện pháp TUYỆT THỰC của tù nhân là sự việc bất ngờ đối với Giám thị trại. Phần chủ động của quyết định này thuộc về phía tù nhân. Không một toán anh nuôi nào có thể cưởng lại, không chấp hành, nếu họ muốn sống còn.

Thấy tình thế không thuyết phục được đám tù nhân nếu không thả tù:

“Giám thị trại Bằng lên tiếng yêu cầu toàn thể trại viên cải tạo giải tán vào ngủ. Ba trại viên sẽ trở vào khi làm xong kiểm điểm trong một thời gian ngắn”.
Cùng lúc ấy tiếng máy nổ của xe tăng xa dần khu trại tù Suối Máu.

Khuya lắm rôi, tù nhân vẫn ngồi hát Thánh ca. Bổng có tiếng dây xích sắt lỏn cỏn va chạm vào trụ cổng K1, của mở ba bạn tù bước vào bên trong. Tiêng hoan hô, reo hò gọi tên ba bạn tù. UBHĐ thông báo đến mọi người trở vào láng và bỏ lệnh tuyệt thực, để ngày mai các toán anh nuôi tiếp tục làm nhiệm vụ cơm nước.

ĐƯỜNG VÀO ĐỊA NGỤC TRẦN GIAN

Noel, 24 tháng 12 năm 1978, đã là ngày 25 tháng 11 năm Mậu Ngọ, chỉ còn đúng một tháng đến tết Kỷ Mùi 1979. Thời gian này, nước lớn đàn anh Trung Cộng dạy cho bọn đàn em CSVN một bài học ở địa đầu giới tuyến. Không khí trong trại tù sôi sục về thời sự nghe được qua loa phóng thanh của trại.

Sau đêm tù cải tạo phản kháng, chúng tôi nghĩ sẽ có sự trừng phạt đến với một số người. Nhưng không, Giám thị trại, những con cáo già không biểu lộ một thái độ hằn học nào. Ngược lại cục trại giam đưa cán bộ tuyên huấn đến trại nói chuyện về tình hình biên giới Việt Trung, tuyên truyền, đề cao bộ đội cộng sản ở tuyến đầu chống trả quân bành trướng Trung Quốc v.v…

Giám thị trưởng trại tỏ ra thân thiện vui vẽ, liên tiếp vào trại tập họp “trại viên cải tạo” nói chuyện về chánh sách cải tạo khoan hồng của đảng, nhà nước và nhân dân . . . Ngoài ra, giám thị trại bàn đến ngày tết truyền thống, tết Kỷ Mùi, đề ra kế hoạch thi đua, mừng đón Xuân. Mục đích đánh lạc hướng kế hoạch đòn thù mà chúng sẽ áp dụng.

Sau những ngày tết Kỷ Mùi, đầu tháng 2-1979, bửa cơm chiều vừa xong, tù nhân cấp Tá ở K2 chúng tôi, có lệnh tập trung lên hội trường làm việc. Lệnh tập họp bất thường vào chiều tối, mọi người đã đoán có điều bất thường sẽ đến. Quanh hội trường công an võ trang canh gác. Trên bục, giám thị trưởng đọc “lệnh chuyễn trại”.

Trong đời người tù cải tạo, chuyễn trại là cả một cực hình, một nỗi kinh hoàng không kể xiết. Danh sách đen, hơn 350 tù cấp Thiếu, Trung và Đại tá chúng tôi, lần lược được gọi tên, tách riêng, ra sân xếp thành từng đội 30 người. Lệnh cho chúng tôi trở về láng thu xếp tù trang rồi đi ngủ.

Khi có lệnh tất cả tập họp lên sân trại. Chúng tôi được phát một khúc bánh mì bột bo bo kẹp chút thịt heo mỡ. Đúng 4 giờ sáng tiếng ì ầm của đoàn xe Molotova tiến vào trước cổng trại.

Đoàn xe tù lên đường còn trong đếm tối, mãi đến lúc bình minh ló dạng, chúng tôi mới biết đoàn xe đang chạy trên Quốc lộ I, đi về hướng Bắc. Mỗi xe tù có một công an võ trang đi theo, nhưng họ ngôi cùng tài xế ở trước xe, do vậy ở phía sau chúng tôi bàn tán với nhau, đoán già đoán non đủ thứ. Đến trưa đoàn xe tù vào thành phố Phan Rang, đoàn xe ngừng lại ở đầu thành phố. Tài xế vào phố ăn trưa, mỗi chúng tôi cầm khúc bánh mì bo bo ngao ngán.

Người bán hàng rong trong phố, thấy có đoàn xe vừa dừng ở bên ngoài, họ kéo nhau chạy ra, phụ nữ già trẻ có, các cháu nam nữ tuổi rất nhỏ, quần áo bạc màu, rạn rách. Trên tay mỗi người một cái mẹt, một chiếc rổ rá đựng ít củ khoai lan, củ mì (sắn) luộc, mớ trái cây, các loại bánh gói lá chuối. Ra đến nơi, ban đầu họ không biết xe chở khách gì, họ chạy ùa đến rao bán mớ hàng trên tay. Có sự đồng ý của công an võ trang, một số anh em tù chúng tôi đứng lên trong xe, chìa tiền mua thức ăn. Bất chợt một phụ nữ lớn tuổi trong nhóm, nhìn thấy chữ CẢI TẠO thật to, dấu đóng trên lưng áo, trên quần tù nhân. Bà ta la lớn lên gần như gào thét:

“Các chú CẢI TẠO tụi bay ơi, các chú cải tạo tụi bay ơi, đưa lên cho các chú đi đừng lấy tiền của các chú, đưa lẹ lên “.

Cả nhóm nghe theo lời bà. Chúng tôi cầm tiền, cúi gập người xuống năn nĩ các cháu nhỏ lấy tiền, nhưng chúng lắt đầu lia lịa, chúng chia nhau chạy khắp đoàn xe tù, ném đồ ăn lên xe. Một vài cháu lớn tuổi khỏe hơn, chạy thật nhanh vào trong phố gọi thêm các bạn mang hàng ra cho, ra đến nơi đoàn xe tù đã nổ máy chuyễn đi, họ ném theo lên xe tù những gì họ có trên rổ rá và đứng nhìn theo cho đến khi đoàn xe khuất xa – Mắt tôi cay cay nhỏ lệ, không phải chỉ lúc đó mà chính lúc này, tôi đang kể lại ký ức khó quên trong đời tù cải tạo, sau 30 tháng Tư-1975 – Xin nói rõ, trong giai đoạn đầu vào trại tù, bộ đội quản lý, không thu giữ tiền bạc và đồng hồ, nhẩn vàng.

Đoàn xe tù tiếp tục lăn bánh về hướng bắc Quốc lộ I, chúng tôi không đoán được sẽ đi về đâu. Khoảng 4 giờ chiều đoàn xe qua cầu đập Đồng Cam, rồi qua khỏi thị xã Tuy Hòa, Phú Yên đến quận Tuy An, đoàn xe rẽ trái, băng qua thiết lộ hỏa xa, dẫn vào quận Đồng Xuân. Lúc này tôi nhận ra địa danh vì tôi đã từng hành quân trên Khu 22 Chiến Thuật này gồm ba tỉnh: Bình Định, Phú Yên và Phú Bổn.

Trồi lên hụp xuống trên một độc đạo tung bụi đỏ mịt mù, đoàn xe mang chúng tôi vào một thung lũng rọ heo xa hun hút, dưới khí trời vàng vàng mờ ảo trong ánh nắng chiều. Đoàn xe dừng lại trước cổng một trại giam, tứ bề vòng rào lưới B40 và kẽm gai kiên cố. Trại cải tạo XUÂN PHƯỚC quận Đồng Xuân tỉnh Phú Yên, trại tù mang bí số A20. Những trại tù có mang bí số, trực thuộc Cục Quản Lý Trại Giam Trung Ương điều hành, là những trại tù nổi tiếng khắc nghiệt đối với tù nhân

CẢNH ĐỊA NGỤC TRẦN GIAN

Trước khi vào đến trại giam A20, đoàn xe vượt qua một đoạn đường, bên phải là sườn đồi đất đỏ sỏi đá, bên trái là một cánh đông đất sét với những thửa rộng lúa cháy vàng bởi nắng hạn. Một cảnh tượng hải hung, thoạt đầu chúng tôi không ai hiểu nổi là hình ảnh gì, mặc dù chúng tôi cũng trong thân phận người tù!

Trên những thửa ruộng khô, đất đai nứt nẻ, lố nhố những toán người không áo không mũ nón, vỏn vẹn chỉ chiếc quần cụt, để lộ đôi ống xương chân khẳng khiu, thân hình da bọc xương với chiếc đầu lâu sậm màu! Hình ảnh ma quái này, ngày nay nếu sống ở Mỹ chúng ta có thể tưởng tượng được. Vào dịp lễ Halloween 31 tháng 10 mỗi năm, trong các của tiệm bán đồ trang trí lễ ma, chưng bày những bộ xương người, đầu lâu trắng hếu, trông ghê rợn, thì cảnh tượng trên cánh đồng khô, người tù đang lao động giống y chang như vậy. Ở đây những bộ xương ma quái kia biết cử động, đôi tay xương xẩu, nặng nề mệt nhọc nâng cây cuốc đưa lên thả xuống, đang đào xới thửa ruộng đất khô cằn chai cứng!

Trước cổng trại, chúng tôi được lùa xuống sắp hàng trên một sân gạch rộng lớn. Trời đã chiều, từ nhiều hướng các đội tù lao động lần lượt kéo về, sắp hàng chờ khám xét nhập trại. Chúng tôi sửng sờ, tận mắt nhìn rõ những bộ áo quần tù, xám tro bạc màu, rách tả tơi, bay phất phơ trên những bộ xương với có chiếc đầu lâu mà chúng tôi đã nhìn thấy trên cánh đồng trước đó. Những người tù đã cởi bỏ áo quần để không cho thấm ướt mồ hôi, hầu giữ ấm được thân thể khi về trại.

Thành phần tù gì? Họ là ai? Họ là tù hình sự. Phần lớn là con cháu của quân nhân, công chức VNCH. Tuổi chừng 15 đến 30, vào tù cải tạo vì không chịu thi hành nghĩa vụ quân sự, không muốn đem thân bỏ mạng nơi chiến trường Cambodia. Không thi hành nghĩa vụ lao động, theo chính sách cưỡng bức lao động cá nhân, hay buộc phải đi lao động thay thế cho thân nhân già yếu trong gia đình. Công tác lao động thường là công trình thủy lợi, đào kênh dẫn nước, vào núi chẻ đá, khuân vác đất đá, đốn gỗ, xây đập ngăn nước. Một thành phần nữa, là con cháu các gia đình “ngụy quân, ngụy quyền và ngụy dân” bị chính quyền địa phương đẩy đi vùng “kinh tế mới”, cuộc sống thiếu thốn quá khổ, bỏ trốn về các thành phố, mua lén bán chui, kiếm sống, giúp đở mẹ, anh em, trong khi ông, cha đang trong tù cải tạo! Chỉ có dưới chế độ cộng sản, mới có chuyện ba thế hệ gặp nhau trong nhà TÙ!

Chúng tôi tù chính trị, được nhốt chung với tù hình sự trong trại giam Xuân Phước, nhưng ở riêng một khu, cách nhau một sân rộng và nhà hội trường. Trại cấm chúng tôi “liên hệ” với tù hình sự, nhưng rồi đó đây chúng tôi cũng tiếp xúc được.

Dãy nhà tôi ở mang số 8, gọi là láng 8, dài chừng 50 met, nơi tôi ở, sát cạnh một “trạm xá”, ngôi nhà nhỏ diện tích độ 10 x 5 mét, mái tranh vách đất, chỉ một cửa nhỏ ra vào . Nói là trạm xá nhưng nhiều ngày, chẳng thấy y tá hay y sĩ vãng lai, cũng không thấy khám bệnh. Thì ra nơi đó, các cháu bị bệnh lao phổi đến thời kỳ quá nặng, cán bộ trại đưa vào cách ly, nằm chờ chết. Tiếng ho sùng sục bên trong liên hồi vọng ra.

Những cháu còn chút sức, lê thân ra ngoài hóng nắng, mở nút áo để lộ thân hình da bọc xương, đầu trọc không còn chút tóc, người co quắp, thở hỗn hễn, đứt đoạn từng hơi! Dãy nhà 8 nằm cuối cùng, sát hàng rào trại, nên họ ngăn một đoạn ngay đầu nhà, chừng 5 met làm thành một phòng nhỏ, phòng xác! Do vậy, bọn tù ở láng 8 chúng tôi, nhìn qua khe cửa, mỗi ngày chứng kiến ít nhất có từ 2 đến 3 xác chết, quấn bằng manh chiếu hay mền. Trên đầu chiếc giường tre, ngọn đèn dầu leo lắc, một chén cơm có cắm đôi đủa. Họ đưa xác vào đó ban đêm sau 7 giờ tối, khi chúng tôi đã vào bên trong láng ngủ và cửa khóa chặt. Ngày hôm sau, lúc chúng tôi xuất trại đi lao động bên ngoài, cán bộ trại cho đội tù hình sự, có tên Đội Tự Giác, dùng xe cải tiến, loại xe thùng có 2 bánh sắt, chở xác chết ra chôn ở một ven rừng đất đỏ, nghĩa địa của trại.

Những lần đi lao động ngang qua đây, chúng tôi đã thấy nhiều nấm mộ lắm rồi.

Tù cải tạo thuộc diện tù chính trị như chúng tôi, thời kỳ do bộ đội quản lý, mặc dù lao động khổ sai trong vùng rừng núi Trường Sơn, nhưng khi làm lao động có thể đi lại đó đây, tìm kiếm rau lá, bẩy chuột, bắt rắn cóc nhái . . . cải thiện bửa ăn, phụ thêm mớ thực phẫm, do vợ con thân nhân, cực khổ gồng gánh, vượt vạn dặm thăm nuôi. Thân xác chúng tôi cũng đã kiệt quệ, nhưng chưa đến nổi nào.

Đến lúc vào tay ngành công an quản lý, tại trại tù A20 này, quy chế đời sống chúng tôi không khác gì so với các cháu tù hình sự. Phần ăn mỗi bửa đều giống nhau. Nấu bếp làm cơm do tù hình sự phụ trách. Bửa ăn sáng trước giờ đi đồng lao động, mỗi phần ăn độ 4, 5 lát “sâm”. gọi là sâm cho vui, cũng để đánh lừa cái miệng, thực ra nó là những lát mì (củ sắn).

Mì do tù nhân trồng trọt, đến mùa thu hoach (bới lấy củ), cán bộ trại bắt tù nhân ngồi giữa đồi trọc, mỗi người một khúc gỗ, một con dao lớn, chặt củ sắn thành nhiều lát, có bề dày bằng nữa đầu lóng tay, những lát mì tung ra phơi nắng ngay tại chỗ, trên nền đất cát đỏ, qua nhiều ngày đêm, bất kể nắng mưa sương gió, cát bụi bám đầy. Đến lúc lát mì khô đã đổi sang màu sậm, được đưa vào các kho chứa, bao bọc bởi những mành tre thưa mỏng, không đủ sức che mưa gió. Những lát mì đóng lại thành cục, lên men trắng, men vàng rồi men đỏ, lát mì không còn lên men được nữa, trở thành những lát Sâm Cao Ly màu đen lánh!

Phần cơm trưa và cơm chiều giống nhau. Chén cơm chỉ là một chén sâm, cỏng lưa thưa một vài hạt cơm! Thức ăn là tô canh rau xanh, rau do tù trồng, được bón loại phân XANH, tức phân người trộn với lá cây xanh, phân lấy từ cầu tiêu nổi có thùng chứa. Những lúc trời nắng hạn, không sản xuất đủ rau xanh, thay canh bằng lưng nửa chén mắm thối!. Cai tù thầu mua tất cả các loại cá do ngư dân đánh bắt, không đủ phương tiện ướp lạnh, không đủ muối ướp mặn, đã ươn sình, thối rữa. Lâu lâu, xe tải chở cá vào trại, đã nghe mùi hôi tanh. Chúng đổ cá vào hồ làm mắm, hồ xây bằng xi măng rất lớn, tường cao 2 mét, chia thành bốn ngăn khoản 3×2 mét, mặt trên bịt kín, chừa một nắp đậy vuông.

Cá không ăn muối cá ươn, ở đây cá đã ươn sình, đưa vào hồ làm mắn, đổ thêm nước lã, lại không bỏ đủ muối, cá lên men mục nát rất nhanh, trở thành nước mắn. Màu nước mắm đen ngồm, tựa nước ống cống chợ cầu ông Lãnh, Saigon! Những khi toán anh nuôi mở nắp hầm lấy mắm, mùi thối xông lên nồng nặc, tỏa đi khắp khu trại giam, đến nín thở. Cầm chén mắm, không cách nào tôi đưa chén mắm lên miệng được, cho dù dùng mấy ngón tay cố bóp kín lỗ mũi. Tôi không ăn được mắm thối, nhưng cũng không đổ bỏ đi. Đại tá bác sĩ Nguyễn Văn Khái cựu Chỉ huy trưởng Tổng Y Viện Cộng Hòa Saigon, khuyên tôi:

“Anh không ăn được anh cho người khác, tuy mắm thối nhưng nó có chất đạm, rất cần cho cơ thể hiện nay”.

Tôi đã đưa mắm cho người bạn, Đại tá Nguyễn Văn Luật, cùng đội lao động với tôi.

Người tù chính trị trong ngục tù cải tạo, có được sự sống còn, phải nhắc đến công lao vô bờ bến của những người vợ. Mãi mãi tôi ghi nhớ công ơn vợ tôi. Nhờ vợ, hơn một năm tôi thoát khỏi cảnh ăn mắm thối. Trước tết Kỹ Mùi-1979, từ Đà Nẵng vợ tôi lặn lội vào trại tù Suối Máu, Biên Hòa thăm nuôi. Khi ngang qua vùng Nha Trang, vợ tôi mua được 12 con mực khô lớn, loại xuất khẩu, họ đem bán chui.

Ngày đầu mới chuyễn đến trại tù A20 này, công an cán bộ khám xét tù trang, tất cả thức ăn do gia đình tiếp tế đều bị tịch thu, tiền bạc đồng hồ, nhẫn vàng bị thu giữ. May mắn cho tôi, tên công an cán bộ lo xốc xáo quần áo, chăm chú lục tìm những thứ mà chúng có thể bỏ túi luôn được.

Chiếc bao cát tôi đựng mấy con mực và gói muối bột, rơi ra một bên nằm cạnh chân tôi. Lẹ chân tôi hất nhẹ vào đống đồ đã khám xong, nhờ vậy tôi giữ được bao thức ăn vợ tôi vừa tiếp tế. Hàng tuần, trại cho tù xuống bếp hâm đồ ăn một lần vào buổi trưa. Tôi cắt một đoạn mực, chừng một lóng tay, xé thật nhỏ cho vào lon ghi-gô thêm chút muối bột, đun sôi làm thành nước mắm, ăn tằn tiện thoát nổi khổ húp mắn thối mỗi bửa!

CHẾT TẬP THỂ TRONG TRẠI TÙ CẢI TẠO.

Từ môi trường sống đó, ngoài bệnh lao như đã kể trên, hầu hết là ở các cháu tù hình sự. Nhiều thứ bệnh khác thi nhau hoành hành trên thân xác người tù, nhất là bệnh kiết lỵ, loại bệnh dễ lây lan, nguy hiễm, tử vong cao.

Người bệnh, bụng đau nhói ruột co thắt, hậu môn luôn bị thúc dục đi tiêu liên tục, nhưng rất khó khăn, chỉ tiêu ra chút ít đờm giãi lẫn lộn máu tươi. Không thuốc men chửa trị, nhiều bệnh nhân kiệt sức không lê ra được khỏi nơi nằm, tiểu tiện tại chỗ, mùi hôi tanh xông lên, từng đàn ruồi nhặng vù vù bay lượn, trông phát khiếp!

Địa ngục trần gian, đại học máu, những ngôn từ dành để chỉ “ Trại Cải Tạo” dưới chế độ cộng sản, không sai chút nào! Cộng sản Bắc Việt cưỡng chiếm được Miền Nam, chia người dân Miền Nam ra ba thành phần: “Ngụy quân, ngụy quyền và ngụy dân”, điều tôi không bịa đặt, mà lời nói ra từ cửa miệng bọn cán bộ tuyên huấn, trong những lần tiếp xúc với tù nhân.

Một trong những đòn phép tàn độc cộng sản Hà Nội dùng để trả thù nhân dân Miền Nam là: chính sách Bao Tử. Dùng bao tử để hành hạ thân xác con người, bỏ ĐÓI con người, làm cho con người mất hết lý trí, tiêu tan ý chí kháng cự. Nhưng chúng đã lầm!

Nói đến đói trong trại tù cải tạo, thú thật, tôi viết lên điều này, xin người đọc đừng cho tôi chê trách ai đó. Nếu ai chưa chịu đựng qua cái đói trong ngục tù cải tạo, khi nghe nói đến đói, không thể có cảm nhận như người tù cải tạo đã ĐÓI! họ đơn thuần thấy cái bao tử thiếu thiếu vì lỡ một bửa cơm, hay một vài ngày phải nhịn ăn để trị bệnh. Đói trong trại cải tạo là một đòn thù ác nghiệt, có tính toán của cộng sản.

Bao tử người tù cải tạo, lúc nào cũng trống trơn, cơ trắng bao tử chà xát vào nhau, một cảm giác đau đớn không biết diễn tả thế nào cho đúng. Ăn rồi cũng như chưa ăn!, khổ cho cái bao tử cứ bị đánh lừa triền miên. Sau bửa cơm, tôi buồn tình dùng đũa, gõ vào miệng chén, ngâm nga:

“Mình ngỡ những chưa ăn

ai ngờ đã ăn rồi.

Mình ngỡ những chưa ăn,

ai ngời đã ăn xong!

Ôi tấm thân tù tội …”

Khi viết bài này tôi mới biết, vô tình tôi đã đổi lời một đoạn ngắn trong bản nhạc của một nhạc sĩ ăn cơm Quốc Gia thờ ma cộng sản, nhạc sĩ Trịnh CS, bài “ Tình Nhớ “ (Tình ngỡ đã quên đi, như lòng cố lạnh lùng…). Lời tôi đổi, nói lên được tính dã man của con người cộng sản, mà Trịnh CS là một.

Các cháu tù hình sự, không còn lối thoát với cơn đói hoành hành thân xác. Trong những giờ làm lao động bên ngoài, các cháu vớ được bất cứ con trùng gì, như dế, châu chấu, cào cào, bọ ngựa hay cả con trùn, các cháu chỉ cần ngắt chân, lặt cánh, phủi phủi rồi đưa vào miệng ăn sống ngon lành! Gặp bửa, có cháu bắt được nhiều mồi hơn ăn tại chỗ không hết, dấu cán bộ, nhắt vào lai ống quần, tay áo, đem về trại đến đêm lén lút ăn tiếp. Ăn để mà sống qua ngày, đa số ngả bịnh, chết lai rai mỗi ngày.

Trại có một đội lao động gọi là Đội tự giác, nhân số khoảng 40, tất cả đều là các cháu tù hình sự. Được tuyển chọn từ những cháu học tập cải tạo “có tiến bộ”, sinh hoạt “có thành tích”!

Đội tự giác xử dụng khoảng 20 chiếc xe cải tiến, xe thùng có hai bánh niềng sắt. Nhận công việc làm từ cán bộ trại và được tự do ra vào trại để thi hành công tác, có công an Quản giáo giám thị, nhưng không có công an võ trang theo canh giữ. Sức khỏe các cháu Đội tự giác có phần khá hơn, nhờ những lúc chuyên chở thực phẩm từ Bộ chỉ huy trại vào khu giam tù, các cháu có cơ hội bòn tỉa được vài chút thức ăn, tuy vậy cũng không thấm đủ vào đâu, đói vẫn hoàn đói!

Những ngày không có công tác chuyên chở, đội tự giác cũng phải lao động cuốc đất trên các ruộng rẫy, nhưng các cháu Đội tự giác được đi lại dễ dãi hơn. Từ đó các cháu cử hai người đi tìm các loại rau cỏ có thể ăn được, dùng chiếc thùng lớn nấu nước để uống trong lúc làm lao động. Gần cuối giờ, cho rau vào thùng nấu chín, mang về trại chia nhau ăn, phụ thêm cho bửa cơm tù chẳng đủ vào đâu!

Mùa hè, miền rừng núi nắng cháy, rau cỏ dại không còn. Lâu lâu, gặp một vài cơn mưa giông, các vườn trồng cây mì (sắn) được bón phân xanh, gặp mưa rào đâm chồi nhanh hơn loại cây cỏ khác. Các cháu Đội tự giác vào vườn mì, hái đọt mì cho vào thùng nấu làm canh. Khoảng giữa tháng 5 năm 1981, đêm khuya đang ngủ, cửa nhà giam số 8 của chúng tôi có tiếng động mở khóa, cán bộ trực trại rọi đèn pin, bước vào gọi lớn: “Anh Khái, anh Nhu, mau theo tôi “ (tức đại tá bác sĩ Nguyễn Văn Khái và đại tá bác sĩ Phạm Văn Nhu )

Cán bộ trực trại dẫn 2 bác sĩ qua khu tù hình sự. Chừng 15 phút sau, hai vị bác sĩ quay trở về nhà giam số 8, vào trong cửa nói lớn:

“Các cháu Đội tự giác ăn canh đọt mì, trúng độc tình trạng rất nguy kịch, xin các bạn ai còn đường, còn đậu xanh, vui lòng nhín cho một ít để chúng tôi cấp tốc cứu các cháu”

Gom góp được một ít đường đậu, hai bác sĩ vội vã quay nhanh trở lại khu giam tù hình sự. Hơn một tiếng đồng hồ sau, hai bác sĩ trở về láng, trầm buồn nói nho nhỏ:

“Cả đội tự giác chết hết rồi ! cháu Sơn ( đội trưởng) to khỏe như vậy cũng đã chết ngay, may ra còn sống được hai em, nhờ đương bị bịnh, ăn ít hơn!”

Đây đó có tiếng sụt sùi vì qúa xúc động, cảm thương cho các cháu! Tôi thực sự lại khóc khi viết đến đây.

Thật vô nhân, tàn ác, giam tù bỏ đói, bệnh hoạn không thuốc men. Gặp lúc nguy ngập như vầy, không phương tiện cứu chữa. Bác sĩ “ngụy quân” đem giam tù đã 6 năm, hai bàn tay trắng, tài nào cứu được mạng người sắp chết. Vậy mà bọn chúng cũng trơ mặt, há mồm lên tiếng kêu, cứu người.

Xế chiều ngày hôm sau, đội tù chúng tôi đang cuốc đất trên thửa ruộng cạnh ven rừng. Xa xa về hướng trại giam, chúng tôi thấy một đoàn xe cải tiến chừng hơn 15 chiếc, các cháu tù hình sự, một đứa kéo, hai đứa đẩy phía sau xe, hì hục kéo qua con đường đất đỏ dưới chân đồi. Chúng tôi đoán biết đó là đoàn xe chở thi hài 37 cháu trong Đội tự giác đã chết tối hôm qua,

Khi đoàn xe gần đến sau lưng chúng tôi, không ai bảo ai, chúng tôi tự động quay mặt về đoàn xe chở xác, bỏ cuốc xẽm xuống đất, tay dở nón mũ áp vào ngực, đứng cúi đầu. Hai công an võ trang canh gác, đứng trên bờ ruộng, ngạc nhiên hét lớn:

– Các anh làm gì vậy, làm gì vậy, tất cả làm việc đi, làm việc đi.

Mặc cho tên công an võ trang quát tháo, chúng tôi cứ tiếp tục đứng im, chờ cho đoàn xe đưa ma qua hết, chúng tôi mới trở lại làm việc. Không có lấy một chiếc quan tài, thi hài của các cháu được bó trong những chiếc chiếu, chăn mền mà các cháu đã dùng để ngủ! Hai ba thi hài chất lên một xe, đưa ra chôn ở một triền đồi, nơi đã có nhiều mộ của các cháu tù hình sự chết lai rai trước đó, tù nhân chính trị chúng tôi cũng đã có người vĩnh viễn nằm đó.

Đến nay, nghĩa địa này đã nằm sâu dưới đáy đập nước thủy điện Xuân Phước, Phú Yên!

Viết để Tưởng Niệm các bạn tù chính trị, các cháu tù hình sự đã bỏ mình trong ngục tù Xuân Phước. Chắc các bạn, các cháu đã siêu thoát về một thế giới Vĩnh Hằng. Cầu xin các bạn, các cháu hộ trì lại cho Đất Nước Việt, Dân Tộc Việt sớm thoát khỏi chế độ Cộng sản tàn bạo, vô nhân!

CHS/PCT/ĐN5460
Cựu TNCT Chế Văn Thức




NHÀ SÁCH TÚ QUỲNH GIÃ TỪ ĐỒNG HƯƠNG

KIỀU MỸ DUYÊN

          Phan Hoàng Yến, chủ nhân nhà sách Tú Quỳnh, khuôn mặt buồn hiu hắt đi tới đi lui, niềm nở với khách hàng, nhưng không nở nổi nụ cười. Bình thường thì Yến hay cười với khách hàng, bây giờ thì nụ cười biến mất, có ai cười được khi cơ sở thương mại đã hơn 41 năm sắp đóng cửa vì không buôn bán được, trả tiền cho chủ phố đều đặn mà tiền thì không vào. Chồng Yến, ông Đặng Văn Thạnh, chiến sĩ của Liên Đoàn 5 Biệt Động Quân ra đi vĩnh viễn không bao giờ trở lại. Yến đã gầy, bây giờ gầy thêm, giọng nói ngày xưa nhỏ nhẹ, bây giờ gần như nói không ra tiếng. Khách hàng của nhà sách Tú Quỳnh đều là người lớn tuổi, độc giả đã từng gắn bó với tiệm sách này từ mấy chục năm qua, có người ra đi vĩnh viễn không bao giờ trở lại.

          Từ khi tiệm sách sắp đóng cửa, chỉ mở cửa ngày thứ bảy và chúa nhật, đợi đến cuối tháng 12/2020 thì dẹp tiệm luôn. Tôi thường đến mua sách để tặng bằng hữu, những quyển sách tôi chọn lựa là sách triết học về Phật Giáo, Công Giáo, Phật Giáo Tây Tạng, và những quyển sách xuất sắc của những nhà văn nổi tiếng từ mấy chục năm nay.

          Yến tâm sự:

          – Chị em mình quen mấy chục năm rồi phải không chị? Ngày xưa chị hay vào Liên Đoàn 5 Biệt Động Quân làm phóng sự.

          Tôi gật đầu và nói:

          – Chị nhớ ngày xưa khi chiến sĩ Biệt Động Quân định cư ở Hoa Kỳ, ngừng lại ở tiểu bang Cali, ông Thạnh thường đãi tiệc và mời một số bằng hữu, anh em Biệt Động Quân đến tham dự. Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai, chỉ huy trưởng Biệt Động Quân đến quận Cam, vợ chồng ông Thạnh và anh em gia đình Biệt Động Quân đón tiếp mọi người ân cần, niềm nở.                                   

         Và từ đó, bất cứ chiến sĩ Biệt Động Quân nào về Orange County thì cũng được các anh Biệt Động Quân và gia đình Biệt Động Quân đón tiếp một cách long trọng.

          Nói về tiệm sách Tú Quỳnh, nếu là một nhà văn, nhà báo, hay thương gia đứng ra mở tiệm sách thì không ai ngạc nhiên, nhưng người mở tiệm sách lại là một chiến sĩ Biệt Động Quân, nhiều người lấy làm lạ? Mới định cư ở Hoa Kỳ, người nào cũng vừa đi làm vừa đi học. Vợ chồng ông Đặng Văn Thạnh có một đàn con nhỏ, vừa đi học, vừa đi làm, vừa chăm sóc con nhỏ, mà định mở tiệm sách. Thật ra 45 năm về trước, sách, nhạc là nhu cầu cần thiết cho mọi người, vì lúc đó chưa có truyền thanh, truyền hình, chỉ có báo Trắng Đen của ông bà Việt Đinh Phương ở Glendale, Los Angeles County và báo Hồn Việt của Nguyễn Hoàng Đoan ở miền Nam Cali. Lúc đó, tôi nghe nói ở một tiệm cafe nào đó, ông mời một số anh em Biệt Động Quân ngồi uống cafe, thì ông Thạnh nói ở đây cần một tiệm sách. Tức khắc anh em hưởng ứng ngay và nói anh em sẽ ủng hộ để nhà sách thành hình. Yến, vợ ông Thạnh yểm trợ chồng một cách tích cực.

          Tú Quỳnh ở trong Mini Mall Bolsa, thành phố Westminster, là nhà sách đầu tiên của người Việt tị nạn tại nước Mỹ.

          Có nhà sách rồi thì có tác giả xuất bản sách, in lại sách cũ, sách mới. Tú Quỳnh bán sách mới, cũ, bán CD, DVD nhạc, truyện sách đủ loại sách: triết, tiểu thuyết, thơ, nhạc, sách học trò, nghiên cứu,… Nhà văn bốn phương trời gởi sách đến miền Nam in và Tú Quỳnh phát hành khắp nơi trên thế giới. Sau này ở Orange County có thêm nhiều nhà sách khác như: Văn Bút, Văn Khoa, Tự Lực, … nhưng Tú Quỳnh được đồng bào nhớ tới nhiều nhất vì là nhà sách đầu tiên và có sự liên lạc khắp nơi. Có nhiều tác giả in sách ở Đài Loan rồi Tú Quỳnh phát hành.

          Các thư viện của các trường Đại Học Mỹ cũng đến Tú Quỳnh mua sách. Tôi đã từng gặp một giáo sư đại học UCLA đến đây mua sách, và ông cũng mua Chinh Chiến Điêu Linh của Kiều Mỹ Duyên mấy thùng. Tú Quỳnh là nơi hội ngộ của những người thích sách, nghiền đọc sách, nhất là các nhà văn đến từ Âu Châu, Úc Châu và nhiều nơi khác. Tú Quỳnh là trung tâm gặp gỡ của nhiều văn nghệ sĩ. Đó là lý do lúc ông Đặng Văn Thạnh qua đời, tôi gặp nhiều vị lãnh đạo tôn giáo, văn nghệ sĩ, bằng hữu thăm viếng và cầu nguyện cho ông.

          Khi ông Thạnh qua đời nhiều người khóc, bởi vì nhiều người chịu ơn ông. Ông giúp đỡ nhiều người, phóng khoáng, hứa điều gì với ai thì làm ngay điều đó. Tôi thăm viếng ông lần cuối cùng ở nhà quàng Costa Mesa. Văn nghệ sĩ đứng sắp hàng tiễn ông lần cuối. Yến, vợ ông, con ông không còn tiếng khóc. Tôi thương Yến vô cùng. Yến là người đàn bà rất hiền, ít nói, chỉ biết cười. Sau ngày ông ra đi cho đến khi tiệm sách đóng cửa, Yến không còn cười nữa. Các con của ông có công ăn việc làm, còn lo cho gia đình. Yến và những người mê sách, thương ông Thạnh chỉ còn ngậm ngùi giã từ tiệm sách Tú Quỳnh.

          Tôi nói với Yến:

          – Chị thương em lắm.

          Rồi tôi lặng yên, không còn điều gì hơn để nói nữa. Yến nói nhỏ nhẹ như hơi thở:

          – Em sẽ buồn lắm vì hàng ngày em không còn ra đây nữa.

          Yến không biết lái xe, đi đâu chồng chở, con chở, hay bạn bè cho quá giang hoặc đi xe bus.

          Yến hiền lành, ít nói, được nhiều người thương. Tôi thường gặp các ca sĩ, nhà văn, nhà báo, nhà binh có mặt thường trực ở tiệm sách. Sau khi ông Đặng Văn Thạnh ra đi vĩnh viễn thì sự có mặt của những người bạn thường hiện diện ở tiệm sách là niềm an ủi lớn cho Yến, người chủ tiệm còn lại.

          Đại Tá Biệt Động Quân Nguyễn Văn Đương, Thiếu Tá Hồng và nhiều các cấp chỉ huy hay anh em Biệt Động Quân khác thường đến tiệm sách này. Người từ bốn phương Trời tựu họp về đây. Chủ tiệm đã chia lại nửa phần của không gian này cho hội từ thiện Trương Bửu Diệp, vậy mà vẫn còn không đủ tiền để trả cho chủ phố. Người tị nạn khắp nơi trên thế giới về miền Nam Cali đều ghé thăm tiệm sách Tú Quỳnh. Thường du khách mua quà cho người thân của mình khi đến Orange County là sách và đĩa nhạc.

          Tiệm sách Tú Quỳnh cũng là nơi phát hành bút ký Chiến Trường của Kiều Mỹ Duyên là Chinh Chiến Điêu Linh, Phong Thủy và cuộc sống hôm nay, Phong Thủy Bí Quyết để thành công, và Cẩm Nang Phong Thủy áp dụng cho nhà ở và cơ sở thương mại của tác giả Nguyễn Phúc Vĩnh Tung đã tái bản nhiều lần.

          Hôm họp báo để giã từ đọc giả, giã từ đồng hương, Yến chỉ lặng lẽ để cho giáo sư Tô Văn Lai, cựu nghị viện Tony Lâm, ông Nguyễn Ngọc Chân, đạo diễn phim Vì Tôi Là Linh Mục, cũng là chiến sĩ Biệt Động Quân, cựu sinh viên Võ Bị Đà Lạt. Hầu hết báo chí truyền hình đều hiện diện, phát biểu ý kiến nói về sự thành lập của nhà sách Tú Quỳnh rất là cảm động.

          Tuần sau, tôi trở lại tiệm sách để mua thêm sách tặng bằng hữu, đồng hương trẻ. Tôi tìm sách chiến tranh của tác giả Phan Nhật Nam, nhưng chỉ còn một cuốn: Đường Trường Xa Xăm ( Nhà xuất bản Tú Quỳnh, CA 1995). Phan Nhật Nam là phóng viên chiến trường, sinh viên Võ Bị Đà Lạt khóa 18, ở tù nhiều năm dưới chế độ Cộng Sản, định cư ở Mỹ theo diện H.O. Ông sáng tác không ngừng nghỉ và cộng tác với đài truyền hình SBTN và nhiều tờ báo khác nhau. Tôi không tìm được sách “Dấu Binh Lửa” của nhà văn Phan Nhật Nam, mà người bạn yêu lính nhờ tìm dùm. Không tìm được sách, tôi gọi hỏi tác giả. Nhà văn Phan Nhật Nam cho biết sách của ông có bán trên Amazon. Nhà văn Phan Nhật Nam đang sống ở Arizona, nhờ tôi tìm dùm sách của nhà văn Nguyễn Hiến Lê và sách của nhà văn Võ Phiến. Nhà văn Phan Nhật Nam yêu cầu tôi chỉ mua sách ở tiệm sách Tú Quỳnh, vì muốn giúp cho Yến. Nghe tôi gọi, Yến mừng lắm, vội soạn ngay sách mà nhà văn Phan Nhật Nam yêu cầu, hẹn thứ bảy Yến mở cửa tiệm sách tôi đến lấy sách.

          Đồng hương đến Tú Quỳnh mua sách không ai nở nụ cười, âm thầm chọn sách, lựa CD, DVD nhạc,… Hầu như không ai nói chuyện với ai, chỉ nói chuyện với bà chủ tiệm khi trả tiền. Trong các khách mua sách, có một người trẻ hỏi:

          – Cô ơi, sao cháu không thấy Chinh Chiến Điêu Linh của cô Kiều Mỹ Duyên và sách Phong Thủy của tác giả Nguyễn Phúc Vĩnh Tung vậy?

          Bà chủ trả lời:

          – Chinh Chiến Điêu Linh và Phong Thủy bán hết từ lâu rồi, đâu còn quyển nào?

          Có những quyển sách đã bán hết. Sở dĩ Chinh Chiến Điêu Linh và Phong Thủy không còn nữa vì tái bản nhiều lần. Những tác giả có chương trình trên nhiều đài tivi, radio nên bán qua tivi, radio cũng đủ.

          Đồng hương nào đến tiệm sách Tú Quỳnh, khuôn mặt cũng buồn buồn. Buồn vì họ biết sẽ không còn có cơ hội gặp lại những người yêu sách, thích đọc sách sẽ có mặt ở đây.

          Hiện nay cũng còn những tiệm sách hiện diện ở miền Nam California như Tự Lực ở đường Brookhurst, thành phố Garden Grove; Văn Bút, Văn Khoa, Làng Văn, Phượng Oanh ở đường Bolsa, thành phố Westminster. Ngày xưa, cũng có vài ba nhà sách ở miền Nam Cali bây giờ đã đóng cửa. Mỗi lần nhà sách đóng cửa, sách chưa bán hết không biết sẽ làm sao?

          Một ông chủ nhà sách, sau khi tiệm sách đóng cửa nói với tôi:

          – Bán sách thành bán giấy, khoảng 90 cent/1pound. Đau lòng thật phải không quý đồng hương?

          Nhà văn Huy Phương, nhà văn quân đội, tù nhân chánh trị in quyển sách cuối đời, và lời tựa “Như Một Lời Chia Tay”, làm cho nhiều người ngậm ngùi. Tôi nói với nhà văn:

          – Tôi rất lạc quan vì Chinh Chiến Điêu Linh của tôi và Phong Thủy của tác giả Nguyễn Phúc Vĩnh Tung tái bản 26 lần, vẫn có người mua để tặng cho bạn bè. Mỗi lần có tác giả từ bốn phương Trời đến Orange County ra mắt sách, sách đều bán hết, sách bán chạy như tôm tươi. Thư viện quốc gia, thư viện của các thành phố Hoa Kỳ vẫn có sách Việt Nam. Vẫn có người thích đọc sách, cầm quyển sách trên tay đọc vẫn thấy thoải mái hơn đọc trên computer. Vừa đọc sách vừa nghe nhạc vẫn thích hơn nghe người khác đọc sách qua CD.

          Sách vẫn là nhu cầu cần thiết cho những người thích đọc sách, thích mở mang trí tuệ. Người viết sách phải tìm tòi, phải nghiên cứu, phải đem tim, óc của mình ra để viết cho người khác đọc.

          Tôi không phải là nhà văn, tôi là nhà báo, nhà báo như nhà nhiếp ảnh. Nhiếp ảnh gia đưa máy ảnh lên chụp hình người, cảnh, nhà báo cầm cây bút viết ra những điều mình thấy, mình nghe và có đôi khi diễn tả cảm xúc của mình lúc thấy những cành nghèo khổ, hay sự hy sinh, can đảm, gan lì của người lính ở chiến trường.

          Kiều Mỹ Duyên rất quý mến những người cầm bút nói lến sự thật của cuộc đời hay hư cấu, hay tưởng tượng cũng là sự hy sinh. Người nào viết sách, in sách hay thành lập tiệm sách cũng hy sinh tim óc của mình để làm một việc gì đó mà mình cho là lý tưởng, làm việc gì đó vui hay hữu ích cho người khác cũng là việc làm có lý tưởng.

          Tôi rất quý mến vợ chồng ông Đăng Văn Thạnh, nhưng bây giờ một người đã vĩnh viễn ra đi, một người đàn bà yếu đuối còn lại, Yến. Tôi rất thương Yến, và nhiều người thương Yến, chủ tiệm sách Tú Quỳnh.

                   Tôi nói với Yến:

          – Cuối tháng này em dẹp tiệm, chị sẽ không đến, vì chị không muốn nhìn thấy cái cảnh biệt ly vĩnh viễn. Chị thích khai mạc tiệm sách hơn đến để tiễn đưa dẹp tiệm.

          Cũng như tôi thích đón người thân từ bốn phương Trời về thăm Cali, tôi không thích nhìn nước mắt rơi trên đôi mắt của những người đi hoặc người ở lại.

          Cầu mong cho những cơ sở thương mại được vững bền từ đời ông đến đời cha, đến đời cháu, vì làm việc gì cũng phải để tim óc của mình vào việc đó. Thành công thì vui lắm nhưng thất bại hay bất trắc xảy ra thì… buồn lắm bà con ơi.

          Tôi là người lạc quan thích vui hơn buồn, cho nên tôi thích niềm vui đến với tất cả mọi người. Tôi cầu nguyện cho Yến, chủ nhân còn lại của tiệm sách Tú Quỳnh, và tất cả quý đồng hương luôn mạnh khỏe, bình an, hạnh phúc và may mắn.

          Xin Thượng Đế cho mọi người được thương yêu và bình yên trong cuộc sống hàng ngày.

Orange County, 01/12/2020

Kiều Mỹ Duyên

(kieumyduyen1@yahoo.com)

Nhà sách Tú Quỳnh tại số 9581 Bolsa Ave, Westminster, CA 92683, trong khu Bolsa Mini Mall, là nhà sách đầu tiên của người Việt tị nạn tại nước Mỹ.

Tú Quỳnh là thư viện, đủ loại sách, là nơi mọi người có thể đọc lại những quyển sách một thời tuổi thơ.

Kệ trưng bày các băng cassette, VCD, DVD của các ca sĩ, nghệ sĩ nổi tiếng khắp thế giới

Cuộc họp báo giã từ đọc giả ngày 13/10/2020. Kiều Mỹ Duyên, cựu nghị viện Tony Lâm, bà Phan Hoàng Yến, ông Lương Văn Tỷ và giáo sư Tô Văn Lai ngậm ngùi chia tay nhà sách Tú Quỳnh.




Lục Vân Tiên – VTLV Mạn Đàm Phần 4 (Hết)




CÕI ÂM

https://www.facebook.com/vth.ntt

1

Tôi tốt nghiệp đại học tài chính đúng lúc kinh tế Pháp xuống dốc. Kiếm việc lúc bấy giờ khó ơi là khó, nhớ lại mà rùng mình. Đã tưởng một khi cầm được mảnh bằng trong tay ắt đời phải phơi phới lên hương, thế mà rốt cuộc lũ sinh viên vừa ra trường vẫn phải chạy đôn chạy đáo để xin một việc làm bất kỳ mà không được, khốn nạn là thế. Tôi nộp đơn vào ngành bưu điện là ngành tréo cẳng ngỗng nhất hạng đối với chuyên môn của mình vì chẳng còn đường nào khác. Những người trên thông thiên văn dưới thông địa lý bảo: đó chính là nơi duy nhất tôi có cơ may được nhận.
Đơn gửi đi rồi, tôi dài cổ chờ. Một tháng. Rồi hai tháng. Đùng một cái, giữa tháng thứ ba, đang lui cui rửa chén ăn lương giờ cho một quán ăn Tàu, tôi nhận được giấy làm việc ở Sermages thuộc vùng Basse Normandie. Mừng khôn tả. Thiếu nỗi phát điên.
Sermages là một thị trấn nghèo, với hơn trăm ngàn dân, bé tẹo và già lão, nhà cửa ọp ẹp. Ở ven đô còn sót lại một cổng đá hộc đầy hoa phong lữ, một cái hào sâu tối om dưới bóng những gốc tiêu huyền rậm rạp, một pháo đài đổ nát không biết từ thế kỷ nào… Một thị trấn thích hợp với những ông già chờ chết, nhưng không phải với tôi.
Đồng nghiệp trong sở ăn vận chững chạc, nói năng điềm đạm, có điều rất chi hờ hững với thằng tôi lính mới cứ như thể tôi đã ở bên họ từ khươm mươi niên nào. Nói tóm lại, đó là dân Ăng Lê bên này biển Manche, những robots cổ cồn chính hiệu. Thôi thì đành tự thân vận động, được đến đâu hay đến đó, trời sinh voi trời sinh cỏ. Tôi lấy tạm một phòng hẹp gần sở, trả theo tuần, trong một nhà trọ tồi tàn, có rệp, được mỗn cái giá cũng phải chăng. Từ từ rồi sẽ kiếm cho mình một căn hộ, hoặc một ngôi nhà nhỏ, tôi tính thế. Đã đến lúc phải sống cho ra sống. Chẳng gì bây giờ mình cũng là một viên chức, dù là viên chức quèn. Sermages đâu phải nơi phồn hoa đô hội, giá nhà thuê không thể quá đắt. Vĩnh biệt những chambres de bonnes áp mái ở Paris, mùa hè như trong lò bánh mì, mùa đông tha hồ diện áo ấm trong nhà, nơi trú ngụ của bộ lạc sinh viên nghèo.
Tìm nhà ở đây tưởng dễ, hoá không phải. Lang thang đến vẹt gót giày trong cái tỉnh lỵ bằng cái giạng đái, nói ngoa theo cách người xưa, thế mà hai tháng qua cái vèo vẫn chưa kiếm được chỗ nào ưng ý. Nhà ở cũng như đàn bà, người mình ưng thì không ưng mình, người ưng mình thì mình lại không ưng.
May cho tôi gặp được Ngoạn.
Ngoạn cho biết: ngoài anh và tôi ra, ở chốn đèo heo hút gió này không có một người Việt nào khác. Giúp tôi là nghĩa vụ người đến trước, anh vỗ vai tôi đồm độp, nói bằng giọng đàn anh che chở. Được ăn nhiều thịt hươu thịt vượn từ tấm bé trước khi vượt biên đến xứ này, tôi nghe vậy biết vậy, chứ chẳng mấy tin.
Thấp, đen, cục mịch, với một sợi lông dài mọc ra từ một nốt ruồi trên má, Ngoạn giữ nguyên dáng dấp một ông phó cối vùng đồng bằng Bắc bộ ngày xưa, mặc dầu anh đã ở Pháp trên hai mươi năm. Ngoạn làm nghề sửa chữa vặt trong nhà, người Pháp gọi là plombier. Một thằng không bằng cấp, lại vợ đầm (tốn hơn vợ ta nhiều), hai con nhỏ (tốn hơn con ta nhiều), làm plombier là tốt nhất, anh bảo thế. Plombier là thợ đặt đường ống, theo nghĩa nguyên thuỷ, nhưng plombier làm tuốt tuột mọi việc linh tinh lang tang như mở khoá hóc, đặt hố xí, sửa chữa cửa rả, chạy dây điện ngầm…

  • Giờ công việc oải lắm, cậu ơi. Kinh tế mà đã xuống thì kiếm tiền bằng nghề chó nào cũng vất – Ngoạn tâm sự trong một quán cà phê, nơi mọi ghế ngoài vỉa hè đều xếp quay mặt ra đường, rất Paris – Cậu ngồi bàn giấy, trông thì bảnh, cơ mà chông chênh lắm… Mất việc lúc nào không biết. Ngay cả với nhân viên nhà nước.
    Tôi buồn rầu hình dung cái viễn cảnh ấy. Dễ như Ngoạn nói lắm.
  • Mất việc thì đi làm với tớ – thấy tôi thở dài, Ngoạn an ủi – Nghề tớ không sang, khó thì khó, vẫn còn có đồng ra đồng vào…
  • Anh Ngoạn ạ, gặp anh tôi thật may.
  • May cái con khỉ. Này, đừng gọi tớ là Ngoạn, phải gọi là Nô Ăng, theo cách bọn Tây gọi, chứ không thì đến con vợ tớ nó cũng không hiểu. Bọn Tây không phát âm được vần ng, chúng nó đổi béng cái tên của tớ thành Noan. Cho tiện. Được nghe cậu gọi tớ bằng tên cúng cơm, thấy đã con ráy.
    Tôi kể nông nỗi đi tìm nhà. Anh gật gù, suy nghĩ.
    Một tuần sau anh gọi điện cho tôi biết đã tìm được một căn nhà ngoại ô.
  • Mình xem mấy cái, ưng được cái này. Một đôi thì vừa xinh. Một mình thì quá rộng. Ở lâu được, không phải kiếm chỗ khác.
  • Nhà nhiều phòng?
  • To đùng.
  • Tôi chưa định lấy vợ. Nhà to thì tiền to, hãi lắm.
  • Đã biết là bao nhiêu mà rộn. Rẻ rề hà.
    Tôi chờ Ngoạn cho tôi biết tiền nhà, nhưng anh không vội nói ra.
    Anh miêu tả căn nhà, bảo:
  • Không sang, được cái rẻ.
    Anh xướng lên giá thuê. Tôi trợn mắt.
    Làm sao Ngoạn có thể tìm được ngôi nhà với giá hời đến thế?
  • Làm plombier chẳng khác gì làm anh cắt tóc, tha hồ nghe, đủ chuyện tào lao thiên tôn. – Ngoạn nhẩn nha giải thích – Chủ nhà nào cũng thế, cũng hay tâm sự vụn trong lúc ngó nghiêng mình làm việc. Nhất là các ông bà già. Mình nói có ông bạn cần nhà, thế là người nọ mách, người kia mách, chỉ còn có việc nhấc điện thoại mà hỏi. Giỏi gì đâu.
    Những ngôi nhà tôi đã xem cái nào cũng đắt, giá thuê nếu không gấp ba trung bình thì cũng gấp đôi. Tiếc nỗi, từ căn nhà ngoại ô này đi bộ đến sở tính ra mất gần một tiếng, gặp xe buýt thì cũng phải hai mươi phút. Xe buýt ở đây thưa, nửa giờ một chuyến, lại hay đỗ vặt.
    Nhà sẵn đồ đạc, nhiều nữa là khác. Đến nỗi Ngoạn định sẻ cho tôi một ít đồ dùng ở nhà anh, rốt cuộc chẳng phải mang đến thứ gì.
    Đưa cho tôi chìa khoá, ông già chủ nhà dặn:
  • Mọi thứ ở đây ông cứ việc dùng. Điều kiện duy nhất là đồ đạc trong nhà xin ông đâu để nguyên đó, đừng xê dịch. Nếu ông không chịu thì coi như vụ này không thành.
    Tôi chấp nhận điều kiện ấy ngay lập tức, như bất cứ người thuê nhà gặp giá rẻ nào. Thế này là tốt quá rồi, khỏi phải lang thang các siêu thị, rẽ vào các cửa hàng đồ cũ, tha lỉnh kỉnh trăm thứ bà rằn về nhà.

2

Thế mà rồi tôi quên bẵng lời hứa.
Ở được vài hôm, thấy cái giường đặt ở vị trí đối diện lò sưởi là không phải lối, tôi quyết định dịch nó ra bên cửa sổ, vừa có nhiều khí trời, vừa nhiều ánh sáng, đi làm về có thể nằm ườn ra đọc sách mà không cần phải bật điện. Cái tivi cổ lỗ, thuộc thế hệ tivi màu đầu tiên, to như một tủ lạnh, cũng cần đẩy qua bên phải một chút, xoay lại vị trí để cái màn hình đã bạc phếch không bị phản quang do ánh sáng từ cửa sổ chiếu vào.
Một đêm, chợt thức giấc, tôi thấy có bóng người ngồi thu lu trong chiếc ghế bành đặt bên lò sưởi. Nửa tỉnh nửa mê, tôi nhận ra đó là một người đàn ông đứng tuổi vận áo choàng đen, đội mũ phớt. Tôi nổi da gà. Tôi ở một mình, cửa đóng then cài, làm sao có người vào được?
Trong ánh sáng mờ mờ của sao trời chiếu qua cửa sổ tôi thấy người đó không có vẻ một tên trộm. Trộm gì mà bình thản đến thế trong căn nhà nó đột nhập?
Những gì tôi đọc được thì trong tình huống như thế này cách xử sự khôn ngoan nhất là vờ ngủ say. Người vờ ngủ say, cả trong nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, trong mọi mối quan hệ cá nhân cũng như quan hệ xã hội, người sống theo nguyên tắc ba không – không biết, không nghe, không thấy – bao giờ cũng tìm được lối thoát an toàn.
Mắt hé mở, tôi nhìn thấy tên trộm yên vị một lúc lâu trong bóng tối. Ngồi chán, hắn đứng lên, đi đi lại lại, dáng suy nghĩ, đầu hơi cúi, bàn tay phải đưa lên gãi cằm. Rồi đến bên lò sưởi, hắn nhấc từng thứ trên đó lên mà ngắm nghía. Đầu tiên, hắn ngó nghiêng quan sát kỹ tượng cô vũ nữ pha lê với cánh tay trần bị gãy đã được gắn lại bằng keo trong, rồi đến cái bloc lịch bằng gỗ mà thời gian chết cứng với ngày tháng không đổi, thứ lịch không có năm nên không thể biết được nó dừng lại từ năm nào… Trên lò sưởi là cả một lô một lốc đồ không tên, không biết có tự bao giờ, không hiểu được dùng vào việc gì, tất cả chen chúc nhau trên một diện tích bé nhỏ. Cái nào cũng được tên trộm nhấc lên xem xét với vẻ trìu mến. Đáng ngạc nhiên là hắn không bỏ bất cứ thứ gì vào túi. Xem xong cái nào hắn lại nhẹ nhàng đặt vào chỗ cũ. Cái đáng giá nhất trong số những đồ vật ấy là cái ví của tôi, thì hắn thậm chí không thèm cầm lên.
Sau đó tên trộm đi một vòng căn nhà. Rồi lặng lẽ nhìn về phía giường tôi bằng cái nhìn không mấy thiện cảm, tôi không nhìn rõ nhưng cảm thấy thế bởi điệu bộ lầm lì của hắn.

  • Hừ.
    Hắn phát ra một tiếng duy nhất kể từ lúc tôi thấy hắn.
    Thế rồi hắn bắt đầu cúi xuống. đẩy cái tivi trở lại chỗ cũ. Sau cái tivi là cái ghế bành. Công việc rõ ràng nặng nhọc, tôi nghe hắn thở phì phò. Xong cái ghế, hắn tiến về phía chỗ tôi nằm. Một bầu không khí lạnh lẽo trùm lên tôi, càng lúc càng lạnh hơn, cùng với bước chân nhẹ như bước chân mèo của hắn. Trong khi hắn cố gắng đẩy, tôi có cảm giác thân hình hắn phình to dần, to mãi, trùm lên cả cái giường đang nhích đi từng chút một. Trong bóng đêm dày đặc ở chỗ tôi nằm, cặp mắt hắn gắn chặt vào mặt tôi.
    Tôi hét lên, chồm dậy, giơ tay vớ công tắc đầu giường.
    Đèn bật sáng. Tên trộm biến mất. Tôi run rẩy, mãi mới xỏ chân được vào dép, nhìn quanh căn phòng trống rỗng. Thở hổn hển, người lạnh toát vì sợ, tôi quỳ xuống, ngó vào gầm giường. Chẳng có quái gì hết.
    Tôi đi sang phòng ăn, vào bếp, vào phòng ngủ vẫn để trống từ khi tôi dọn đến. Không có gì hết. Kiểm tra lại mọi khoá cửa thấy vẫn y nguyên.
    Tôi ngồi phịch xuống giường, toàn thân ướt đẫm mồ hôi lạnh.

3

Tôi không kể cho Ngoạn nghe chuyện xảy ra. Tôi ngượng. Khi người đàn ông sợ ma, thiên hạ sẽ nhìn hắn như con nít.
Câu chuyện ban đêm tôi vừa kể không phải đến đấy là hết. Sau lần ấy là những lần khác.
Bây giờ tôi đã biết đích xác tên trộm là ai – một hồn ma. Ma thật sự. Các nhà bác học đeo kính trắng trong các phòng thí nghiệm giải thích hiện tượng hồn ma theo đủ mọi cách, thậm chí với những sở cứ có vẻ khoa học, tôi đã đọc. Nhưng tôi là thằng thực tiễn – tôi thừa nhận cái tôi thấy, giải thích cách gì đối với tôi cũng bằng thừa.
Khốn nạn cho tôi là ở chỗ, sau khi thừa nhận sự hiện hữu của con ma nọ, tôi chẳng biết phải làm gì nó? Đánh nhau với nó thì không được rồi – ai cũng biết ma chỉ là cái bóng. Chỉ còn nước bỏ ngôi nhà này mà đi? Để rồi bắt đầu lại, một lần nữa, cuộc lùng kiếm chỗ ở mới, rất mất thời giờ, nghĩ đến đã phát ớn?
Hồn ma nọ còn hiện về vài lần nữa, lần nào cũng như lần nào, với những cử chỉ lặp lại. Hắn rõ ràng chẳng có ý làm khó cho tôi. Hắn lẳng lặng làm công việc hắn muốn làm, và chỉ có thế. Như tôi đã kể, hắn hiền lành cầm các đồ vật lên ngắm nghía, hì hục đẩy các đồ bị xê dịch về chỗ cũ, một cách bực dọc và hoàn toàn vô tích sự – hôm sau tôi vẫn thấy chúng ở nguyên chỗ. Hắn có vẻ một hồn ma đứng đắn. Mọi cử chỉ của hắn đều khoan thai, chững chạc.
Thôi thì thây kệ, tôi nghĩ, mặc cho hắn làm cái việc hắn muốn. Xét cho cùng, sự hiện diện của hắn đâu có gây ra điều gì tệ hại cho tôi? Nếu hồn ma không đủ sức đẩy đồ vật thì hắn có thể làm được gì với tôi, một thằng người trên sáu chục kí lô?
Có điều sau mấy lần quan sát hắn đánh vật với mấy thứ bị tôi dịch chuyển, tôi đâm ra ái ngại cho hắn. Hắn quá vất vả. Mà hoài công. Nếu là tôi, tôi sẽ vứt ngay cái công việc vô tích sự và mất sức ấy. Hì hục như thế để làm gì cơ chứ?
Còn tôi, tại sao tôi không thể giúp hắn một chút? Gì thì gì, để hắn khốn khổ thế là không nên. Làm người phải có lương tâm. Nghĩ rồi, tôi làm liền, tức là đẩy trả lại mấy đồ vật về chỗ mà hắn muốn.
Đêm đến, hồn ma nghiêng ngó ngắm nghía cái tivi, cái ghế bành, cái giường. Hắn phát hiện ra sự thay đổi vị trí. Hắn tỏ vẻ hài lòng. Thay vì kiểm lại những đồ vật trên lò sưởi, hắn đi bách bộ trong phòng. Trông dáng đi của hắn, nhẹ nhàng chứ không uể oải, hơi nhún nhẩy nữa là khác, tôi biết hắn vui. Hình như hắn còn huýt sáo miệng nữa.
Cuối cùng, xoa hai tay vào nhau, hắn quyết định đi về phía tôi nằm.

  • Này ông bạn!
    Tôi nghe hắn dừng lại ở chân giường.
  • Đừng có giả vờ, tôi biết thừa…
  • Hừm, – tôi ọ ẹ – Tôi ngủ hay tôi thức mắc mớ gì tới ông?
  • Ông bạn này – hắn định đặt tay lên vai tôi, nhưng nghĩ sao, hắn rụt tay lại – Dậy đi!
  • Hừm – tôi lại nói.
    Lạ một cái là tôi không cảm thấy sợ như lần đầu thấy hắn. Nhìn vóc dáng hắn thì thấy hắn đã ở tuổi về già. Hắn có vẻ hiền lành, không phải là loại trẻ để có thể giở trò nghịch ngợm vô trách nhiệm.
  • Ông bạn tốt hơn là tôi nghĩ đấy.
  • Hừm – tôi đáp, vẫn nằm yên chỗ.
  • Này – hắn gọi tôi – nhà có cà phê không?
  • Cà phê hử? Có – tôi che miệng ngáp, vẫn giả giọng ngái ngủ.
  • Tuyệt! – hắn nói, lại xoa hai tay vào nhau, vẻ hài lòng.
  • Capuccino, được không? – tôi hỏi hắn một cách không nhiệt tình.
  • Capuccino? – hắn hỏi lại.
  • Có hộp capuccino hoà tan đấy. Ở trong tủ…
    Hắn nhún vai:
  • Capuccino hoà tan? Ồ, không, tôi không bao giờ xài loại ấy.
  • Tôi không có thứ nào khác.
  • Cả đời tôi chỉ uống expresso. Không dễ gì mà bỏ một thói quen lâu ngày như thế.
    Đúng là một hồn ma Pháp. Hồn ma Anh sẽ không đòi cà phê, mà trà sữa.
  • Ờ, thói quen là thứ không dễ bỏ – tôi lầu bầu – Nhưng đào đâu ra expresso bây giờ? Phải ra tận ga mới có một quán cà phê đêm, ông ơi. Mà là cà phê Thổ, loãng toẹt.
  • Đi uống cà phê vào giờ này ấy à? Có mà điên. Nhà có cà phê bột không?
  • Có. Tôi mới mua, hàng hạ giá. Pha kiểu Thổ ư?
    Hắn lắc đầu:
  • Không. Tôi không thích. Trong nhà có máy pha expresso, ông không biết à?
  • Không.
  • Có đấy. Để tôi chỉ cho ông bạn. Hoá ra ông là một thằng lười – hắn càu nhàu – Ở trong nhà ngần ấy thời gian mà không thèm biết có thứ gì, ở đâu…
  • Cái đó đúng, tôi vốn lười.
  • Dậy đi!
    Tôi uể oải ngồi dậy. Trong phòng tối om. Tôi sờ soạng tìm công tắc điện. Hồn ma giơ tay ngăn:
  • Đừng bật đèn. Tôi không thích ánh sáng. Thắp nến đi, nếu ông muốn. Ông biết nến ở đâu chứ?
  • Không.
    Hắn cười hí hí, hoặc tôi có cảm giác như thế. Tôi nghe thấy tiếng của tôi phát ra, chứ tiếng của hắn thì không. Tưởng chừng nghĩa của câu nói phát ra từ miệng hắn đi thẳng vào nhận thức của tôi, thứ lời nói không mảy may làm rung động không khí.
    Hắn dẫn tôi vào căn phòng nhỏ, thứ phòng chứa đồ, mà tôi chưa hề ngó tới vì sự ngổn ngang trăm thứ bà rằn trong đó. Hắn chỉ cho tôi chỗ để mấy hộp nến. Rồi hắn chỉ tiếp cho tôi lấy ra trong hộc một cái tủ xiêu vẹo, một cái máy pha cà phê Krups nằm bên dưới đủ thứ đồ tập tàng. Thứ máy cổ lỗ sĩ này chẳng còn ai dùng, áp suất hơi của nó quá thấp.
    Tôi vào bếp, bật ga, đun nước. Hắn uống cà phê, còn tôi sẽ uống trà đen. Uống cà phê lúc này có mà thức đến sáng.
    Hắn đứng gần tôi, ngay bên cạnh. Tôi rất muốn nhìn xem mặt hắn thế nào, mà ngại. Biết chỗ để nến rồi tôi cũng không muốn thắp lên là vì thế. Tôi sợ nhìn thấy một cái đầu lâu với hai hố mắt sâu hoắm như những hồn ma trong phim kinh dị của Mỹ. Những hồn ma Mỹ thường giống nhau, chắc hẳn do người Mỹ tiết kiệm, phim nọ dùng lẫn chế vật của phim kia. Một cái đầu lâu dưới vành mũ sùm sụp chắc hẳn rất gớm ghiếc. Hình như hắn dễ coi hơn, dưới vành mũ là một cái mặt chứ không phải một cái đầu lâu, tôi nhác thấy nó trong một thoáng, do vô tình, lúc chúng tôi đi song hàng.
    Hắn hài lòng thưởng thức ly expresso. Hắn uống chậm, từng hớp nhỏ. Với tư cách chủ nhà, tôi hài lòng thấy khách hài lòng. Chúng tôi ngồi cách nhau mấy bước, hắn – trong ghế bành, tôi – trên ghế tựa.
  • Ông bạn, e hèm, biết nói thế nào nhỉ, ừm…
  • Sao?
    Hắn gãi đầu:
  • Tức là, tôi muốn nói, ông là người, hì hì … kể ra… cũng được đấy!
  • Ông quá khen.
    Hồn ma gật gù:
  • Trước hết, tôi phải cảm ơn ông.
  • Ơn huệ gì!
  • Ơn chứ. Rốt cuộc, rồi ông đã chiều theo ý tôi trong việc trả lại mấy thứ nọ về chỗ cũ. Tính tôi thế: tôi không thể nào chịu được khi thấy đồ đạc bị di chuyển khỏi chỗ mà tôi đã chọn cho chúng.
  • Có thể đó là một tính tốt. Ít nhất thì nó cũng là một cái quyền mà người ngoài không nên xâm phạm.
    Hắn cười.
  • Tôi không nghĩ rằng ông làm việc tốt cho tôi nhờ lý trí mách bảo. Ông hiểu chứ? Hừm, biết nói thế nào nhỉ, ở ông ấy, trong việc làm tốt đối với tôi có sự dự phần của tấm lòng, nhờ vào khả năng biết cảm thông với tha nhân, hay nói cách khác, khả năng tìm ra cách hành xử phải đạo do biết đặt mình vào vị trí kẻ khác….
    Lời khen của hắn làm tôi bối rối. Tôi ngượng.
  • Đó chẳng qua là sự lui bước của tôi trước sự kiên trì đáng nể của ông thôi. Hoặc là sự thoả hiệp với tình thế bất khả kháng…
    Hắn nhún vai:
  • Ông khiêm tốn. Điều đó có lợi cho ông. Nhờ khả năng đáng quý ấy ông vượt qua được cảm giác sợ…
  • Tôi chưa hiểu ý ông.
  • Có gì mà không hiểu. Ông thú nhận đi, lần đầu ông thấy tôi ông đã sợ tôi, sợ muốn chết…
    Hắn dùng thời quá khứ khi nói rằng tôi đã sợ hắn. Quả thật bây giờ, không hiểu sao, cảm giác ấy không còn. Tự nhiên, tôi không thấy sợ hắn nữa.
    Nghĩ cũng lạ, thoạt đầu tôi còn hơi sợ một tí, giờ thì không sợ chút nào. Tôi lý luận: nếu không phải một vật thể, cái bóng ngồi trước mặt tôi kia chỉ là một khái niệm. Sợ một khái niệm là dở hơi. Ma, với tôi, và với rất nhiều người, chỉ là một khái niệm. Còn hơn thế, một khái niệm rất đỗi mù mờ.
  • Vâng, tôi đã sợ ông. – tôi gật đầu – Đúng thế. Nhưng khi thấy ông quá vất vả xử lý mối mâu thuẫn giữa hai ý muốn của tôi và của ông, thì tôi đâm ra ái ngại.
  • Hay thật!
  • Khi tôi ái ngại thì cảm giác sợ hãi biến dần. Rồi hết. Ở đời, ông ạ, xét cho cùng, có lắm cái đáng sợ hơn nhiều…
  • Chính xác – hắn gật gù.
  • Có thể còn có một nguyên do khác. Ông không biết chứ tôi đã từng sợ, sợ nhiều thứ, sợ bóng sợ gió, sợ tất cả, sợ lắm lắm.
  • Mon Dieu, Trời ạ.
  • Không phải mình tôi, cả thế hệ chúng tôi sợ, còn hơn thế, cả một giống nòi tôi sợ, ông hình dung nổi không: cả-một-giống-nòi? Không hả? Chúng tôi được huấn luyện từ tấm bé để mà sợ.
  • Có chuyện ấy à?
  • Kết cục là chúng tôi không phải chỉ sợ cái đáng sợ, chúng tôi còn sợ cả những cái chẳng có gì đáng sợ nữa. Trong ngôi nhà của mình, chúng tôi đi lại len lén. Trong thành phố của mình, trong nhà của mình chúng tôi nói chuyện với nhau bằng giọng thì thào, nhìn trước nhìn sau, chúng tôi theo dõi những câu nói của chính mình, lúc nào cũng e phạm phải điều gì cấm kỵ, và lo lắng nhỡ điều đó bị phát giác, bị bẩm báo…
  • Khiếp. Đến thế kia ư?
  • Hì hì, tôi biết mà, ông mù tịt về cái đó, ai không nếm trải nỗi sợ ấy người đó chắc chắn không hiểu nổi. Cả ông nữa, ông cũng không phải ngoại lệ, cho dù ông có là… – tôi định nói “cho dù ông có là ma”, nhưng kịp kìm lại – Tuy nhiên, cái gì cũng có giới hạn. Khi sợ quá nhiều và quá lâu, người ta ắt trở thành dạn dĩ, chẳng sớm thì muộn…
    Nhìn hơi nước lởn vởn trên miệng tách cà phê của hắn, tôi nhắc:
  • Ông uống đi kẻo nguội.
  • Tôi đang uống đây. – hắn nói và cúi xuống nhắp một ngụm – Phải thú thực với ông: khi thấy ông sợ tôi, tôi cũng khoái. Đến khi ông không sợ nữa, thì, ông biết không, tôi hơi buồn một chút. Con người ta bao giờ cũng khoái được thấy người khác sợ mình. Ông nói tiếp về cái sợ của ông đi.
    Hắn nói “con người ta” ngon lành, như thể hắn không phải là ma.
  • À, cái sợ… Nó khủng khiếp một cách âm thầm. Tức là, người ta sợ đấy, mà bề ngoài thì như không. Tôi biết có người chỉ nói hớ có một câu xét cho cùng là vô thưởng vô phạt, vậy mà anh ta sợ đến phát khùng, anh ta cứ đinh ninh rồi sẽ phải trả giá đắt cho câu nói ấy, anh ta dỏng tai nghe ngóng mọi phản ứng, cho đến khi biết chắc rằng chẳng ai nghe thấy nó hết…
  • Sợ là một xúc cảm tồi tệ. Tệ hơn bất cứ cảm xúc nào – hắn trầm ngâm – Nó hạ thấp con người.
  • Đúng thế. Điều khả dĩ có thể an ủi ta là kẻ bắt người sợ mình xét cho cùng lại chính là kẻ cũng sợ… một kẻ khác chẳng hạn. Thật vớ vẩn, phải không ông?
    Tôi triết lý vụn, rồi cười cái triết lý của mình. Hắn gật gù cười theo.
  • Ông có thể kể cho tôi nghe đôi điều về cái mà chúng tôi gọi là cõi âm của ông không? – cà phê kích thích tôi, hay là cái gì khác: nỗi buồn man mác chợt đến trong đêm, hay nỗi chán ngán một cái gì không biết và còn hơn thế, không hiểu – Với tôi, câu trả lời của ông hẳn sẽ rất thú vị.
  • Ông nói ông lười cả tò mò cơ mà.
  • Tôi vẫn lười, cả trong sự tò mò này. Nếu ông không muốn kể, tôi sẽ chẳng vật nài. Tôi không tò mò đến cùng. Tôi chỉ tò mò nhân tiện mà thôi.
    Hắn có vẻ suy nghĩ. Trong bóng tối tôi vẫn chưa thấy mặt hắn. Nửa trên bị vành mũ che khuất, còn nửa dưới thì lẫn vào màu đêm.
  • Chẳng có gì đặc biệt đâu ông ơi. – hắn nói sau một ngụm cà phê – Nó, cõi âm, chỉ là cái âm bản của sự sống mà ông biết. Các ông sống, còn chúng tôi sống lại cái sự sống đã qua. Những cư dân của cõi âm không bao giờ biết đến cái gọi là tương lai. Đối với chúng tôi tất cả đều là quá khứ. Chúng tôi sống trong cái khuôn của thời hiện tại-quá khứ nơi mỗi người.
  • Tại sao lại như thế?
    Hắn cười hích hích:
  • Tại sao, tại sao? Ông cứ như một đứa trẻ vậy.
  • Nhưng mà tại sao chứ?
  • Tại vì chúng tôi đã có tất cả những gì chúng tôi từng có, từ điểm khởi đầu cho tới chỗ kết thúc. Chúng tôi chỉ tồn tại bên trong biên cương của cái khoảng ấy mà thôi.
  • Thế thì chán quá nhỉ?
    Hắn có vẻ phật ý:
  • Không chán hơn nơi người sống đâu. Ông không gặp những người còn sống phây phây mà cuộc đời lại gắn chặt với quá khứ đến nỗi gỡ không ra à?
  • Ờ, cái đó quả có thật. Chẳng hạn như lão tổng thống quá cố của chúng tôi, những năm cuối đời lão ta chẳng biết làm gì khác ngoài việc vỗ ngực khoe những việc lão làm… Mà có tốt đẹp gì cho cam.
  • Tôi biết lão – hắn ngắt lời – Ở cõi âm chúng tôi di chuyển nhanh lắm, như chớp ấy, hoặc nói theo cách bây giờ, nhanh hơn ánh sáng, ông không tưởng tượng nổi đâu. Nhưng tôi không khoái chơi với lũ ngợm ấy. Tôi tởm. Có một thằng cha lúc nào cũng lảm nhảm “Bóp chết từ trong trứng! Cho tuốt vào nhà đá! Bắn bỏ!”, hắn la hét suốt. Khốn nạn, có hồn ma nào buồn nghe hắn đâu. Tuy nhiên, về một mặt nào đó, chúng tôi giống nhau, đáng chán là thế … Tuy chúng tôi không sống bằng quá khứ như hắn, nhưng tựu trung mọi hồn ma đều là những kẻ sống trong quá khứ…
  • Thế còn cháo lú? – tôi rụt rè hỏi – Chuyện đó thế nào?
  • Cháo lú? – hắn hỏi lại – À, tôi hiểu rồi. Ông muốn nói cái món súp miễn phí ở đầu đường vào cõi âm.
    Tôi ngạc nhiên:
  • Vào cõi âm cũng phải đi qua một cái ngưỡng, tựa hồ biên giới giữa các quốc gia sao?
    Hắn nhìn tôi, tủm tỉm:
  • Đại khái vậy. Nhưng cõi âm là một quốc gia đặc biệt, ở đấy không có bất cứ sự phân biệt nào trong mọi nhóm dân cư của nó, không màu da, không chủng tộc, không giàu nghèo, không có sự phân biệt giữa VIP và dân thường. Đi vào đó không phải trình hộ chiếu có visa…
  • Có phải ăn cháo lú xong thì linh hồn sẽ quên sạch mọi sự đời?
  • Không một thứ thuốc an thần nào có thể sánh với nó, cái cháo lú ấy – hắn nói với giọng pha chút khoe khoang – Ông tưởng chỉ ở cõi âm mới có cháo lú sao? Ở cõi dương cũng có đấy. Nó được trộn lẫn vào các bài báo, các làn sóng phát thanh, các chương trình truyền hình, các cuốn sách…
  • Ồ, cái đó thì tôi biết quá đi chứ!
  • Ở cõi dương cháo lú còn có một chút lừa mà người tỉnh táo biết được, ở cõi âm người ta không lừa ai. Ai chả biết rằng cuộc đời nào cũng vậy, chẳng nhiều vui thú, húp một đĩa cháo lú là sẽ quên sạch mọi ưu sầu. Nó chẳng qua là thứ cháo thí cho những linh hồn đau khổ. Chao ôi, ông không tưởng tượng nổi đâu. Các linh hồn xô đẩy, chen lấn, tranh nhau thứ cháo miễn phí ấy. Cảnh tượng phải nói là khủng khiếp. Thậm chí họ còn xô đẩy nhau để được nhận suất cháo phát chẩn, nhà bếp luôn tay múc không kịp…
  • Còn ông?
  • Không. Tôi không húp.
  • Tức là, không bắt buộc?
  • Đâu có. Bắt buộc chứ. Nó là cái lệ cho tất cả.
  • Nhưng bằng cách nào ông không…
  • Dương sao âm vậy, ông ơi, đã không muốn thì cũng có cách để tránh. Mấy anh chàng trông coi vụ phát chẩn cũng như những công chức, họ chắp tay sau lưng đứng nhìn, thỉnh thoảng la hét vài tiếng lấy lệ. Chỉ cần láu cá một chút, lăng xăng thay đổi chỗ xếp hàng, làm ra vẻ mình đã húp rồi… Bọn lãnh tụ, vua quan mà tôi nói ấy, sở dĩ còn nhớ quá khứ là vì chúng vẫn giữ nguyên thói trí trá khi còn sống.
  • Hay nhỉ? Tôi hiểu. Vì không ăn, ông nhớ được tất cả?
    Hắn gật. – Ờ… Tôi giả vờ húp vội húp vàng cho xong – im lặng một lát, hắn tiếp -Lừa lúc thiên hạ không để ý thì quay mặt đi mà nhổ ra.
  • Nhưng ông vừa nói: thứ cháo đó tốt. Nó có mục đích nhân đạo.
  • Ông nói “nhân đạo”? Những kẻ chế ra cháo lú, ở cõi dương cũng như ở cõi âm đều muốn mọi người nghĩ chúng nhân đạo, chúng làm tốt cho mọi người. Ông hãy hình dung một con người không nhớ gì hết, không còn phân biệt tốt xấu hay dở, không biết mình là ai…
  • Ờ nhỉ, thế thì chán thật.
  • Tôi không húp vì tôi còn mấy việc dang dở. Tính tôi thế, làm cái gì chưa xong thì trong lòng bứt rứt. Chẳng hạn như cái tượng vũ nữ ba lê này. Tôi rất thích nó. Đặt nó lên đĩa hát đang quay, trông nó sống lắm, cứ như nó đang múa thật. Một hôm tôi vô ý đánh rơi, làm nó gãy một tay. Tôi đã thử gắn lại bằng mọi thứ keo, chẳng cái nào cho hiệu quả ưng ý. Ông nhìn kỹ thì thấy cái tay gãy tôi gắn hơi lệch.
  • Ông muốn làm nốt những việc ấy?
  • Phải. Nhưng tôi nhầm.
  • Ông không gắn lại được?
    Hắn buồn bã thở dài:
  • Nhầm là nhầm thế này. Đã vào trong cõi âm rồi thì mọi việc trần thế là xong tuốt, chẳng còn cái gì làm tiếp, làm thêm, được nữa. Chỉ có thể nhớ lại thôi. Nhưng nhớ tuốt tuồn tuột quá khứ, cái gì cũng nhớ, thì ngán lắm. Những bước gian truân mình đã nếm trải nay lại trở về với nó lần nữa, rồi lần nữa, như một cuốn phim phải xem đi xem lại… Hay một cuộc tình đã xa, nay tự nhiên phải nhớ lại, chẳng cần ai nhắc cũng nhớ, với đầy đủ chi tiết, và hàng trăm lần y như nhau… Ối giời, mệt vô cùng. Người tình của mình thì đã húp sạch sành sanh đĩa súp lú, gặp mình, nàng ngơ ngác: “Ủa, ông là ai”?
    Một đêm khác, tôi hỏi hắn:
  • Ông bạn này, một con ma, xin lỗi, tôi muốn nói một linh hồn, có thể phù hộ cho một con người không?
  • Ông định lợi dụng tôi đấy hử? – hắn chặn ngang, cười hích hích – Ông định nhờ tôi cái gì đây? Một dãy số loto độc đắc? Một áp phe có lợi?
  • Không, ông hiểu nhầm rồi – tôi vội vã cải chính – Tôi không có ý ấy. Tôi chỉ tò mò thôi.
  • Ông tò mò hơi nhiều – hắn hấm hứ.
  • Chả là tôi muốn kiểm chứng điều thiên hạ tin – đành phải phân trần với hắn – Ông không thấy những người đến với Chúa, với Phật cùng mọi thứ thần thánh trong mọi thứ đền thờ không phải chỉ để tỏ lòng ngưỡng mộ, sùng kính hay sao? Ông không biết rằng họ đến đấy chỉ để mua bán sao? Họ mặc cả với tất tần tật các thứ đấng thiêng liêng: nếu tôi được hưởng ân huệ của các vị, tôi hứa sẽ cúng các vị cái này cái kia. Cái này hay cái kia ấy bao giờ cũng phải lớn tương xứng, hoặc nhiều hơn, so với ân huệ mà họ chờ đợi được hưởng… Ân huệ to thì vật hiến tế phải to.
  • Tôi biết chứ – hắn nhún vai – Nói đến cái lũ khốn nạn ấy làm gì!… Bậy! Bậy hết. Lũ ấy nghĩ về thần thánh của chúng, hệt như thần thánh là những chủ tiệm ở chợ trời, có thể mặc cả thoải mái.
  • Cũng có người nhờ cầu khẩn mà được đấy.
  • Đó là sự trùng hợp của những ngẫu nhiên. Người chết rồi, linh hồn, hay là ma, không trừ cả thần thánh, cũng y như tôi đây này, chẳng có sức lực gì hết, chẳng làm nổi cái gì hết. Ông thấy rồi đấy, chỉ đẩy một cái ghế dịch đi một li mà tôi cũng không làm nổi…
    Lời thú nhận của con ma thực thà na ná một dạng báng bổ.
  • Tôi hiểu rồi, vì thế ông chỉ còn cách ngắm nghía các đồ vật xưa cũ cho hết ngày, à quên, hết đêm, phải không?
  • Tôi còn biết làm cái gì khác hở ông bạn thân mến? – hắn nhún vai trước câu hỏi, theo hắn là dớ dẩn – Nó là cái nghiệp của tôi. Đồng thời, khốn nạn cho tôi, cũng lại là thú vui của tôi.
    Nghe giọng hắn thì biết hắn lại bực mình. Lý luận gì mà lăng nhăng, cù nhầy, chắc hắn nghĩ thế.
  • Ông không thấy những người sống cũng có cái thú vui ấy ư? – hắn nói tiếp, không phải hắn hỏi – Có một thằng cha ở gần đây này, tôi không quen hắn, nhưng tôi quen bố hắn. Hắn viết được độc một cuốn sách, đưa ra những ý tưởng điên rồ, lạ tai lạ mắt, bằng cách chửi khắp thiên hạ, gây ra được một sự ồn ào khá lớn ở những kẻ đần độn, hắn khoái lắm. Nói cho đúng, người khen thì ít, người chê thì nhiều. Thiên hạ bình phẩm thế nào hắn tuyệt nhiên không biết, không thèm biết. Thấy người ta chửi nhiều, hắn càng đinh ninh hắn là nhà tư tưởng lớn. Là nhà tư tưởng lớn thì tất nhiên không phải ai cũng hiểu. Thiên hạ càng chửi nhiều hắn càng thích. Hắn cần cái đó – càng bị chửi nhiều thì càng nổi tiếng, một thứ quảng cáo không công mà. Lâu không thấy có ai chửi thì hắn buồn xo. Cả ngày hắn bận bịu với việc cắt những dòng tán dương hắn trong những bức thư độc giả gửi cho hắn để dán vào một cuốn vở dày cộp, ký tên vào những cuốn sách, bìa cứng hẳn hoi, để gửi cho những người hắn có thể gửi mà không bị trả lại. Hoặc kỳ cạch gõ những lời giáo huấn cho những độc giả còn ngưỡng mộ hắn.
  • Hay nhỉ?
  • Đêm nào hắn cũng hí hoáy làm công việc đó, đến nỗi một ông bạn tôi nhầm, tưởng hắn cũng là ma như mình, mới hiện ra bắt quen. Chỉ đến khi thấy hắn hét lên, lăn đùng ra bất tỉnh nhân sự, ông bạn tôi mới biết hắn là người sống…
    Con ma cười ha hả, tay liên tục vỗ đùi, nhưng không thành tiếng.

4

Rốt cuộc rồi tôi cũng phải thú thật với Ngoạn về hồn ma nọ sau mấy lần anh nhận xét về sức khoẻ sa sút của tôi.

  • Sắc mặt cậu xấu lắm. Xanh, má hóp. Sao vậy?
  • Dạo này tôi kém ngủ.
  • Phải tìm ra nguyên nhân mà giải quyết.
    Chúng tôi đã trở thành thân tình hơn kể từ sau khi anh kiếm chỗ ở cho tôi. Mỗi khi có công việc nặng, cần người phụ, vào những ngày nghỉ cuối tuần anh gọi tôi giúp anh. Gọi là giúp chứ công việc xong anh thanh toán đàng hoàng. Anh hơn tuổi tôi, anh tự cho phép anh gọi tôi bằng “cậu”. Chị Jeanette, vợ anh, và hai cháu thì toa moa với tôi, như người trong nhà.
    Đúng là tôi có ít ngủ thật. Những buổi trò chuyện với hồn ma thường kéo dài. Chứ âm khí âm khiếc quái gì đâu. Ngủ ít thì má hóp. Không thể đổ lỗi cho hồn ma. Hắn đâu có đòi nói chuyện với tôi. Những hôm bận công việc ở sở, về đến nhà, tôi ăn xong là lăn ra ngủ, hắn cũng chẳng đánh thức. Nửa đêm tỉnh dậy, thấy hắn thì chúng tôi cũng chỉ chào nhau một tiếng như hai người láng giềng lịch sự. Tôi mới là kẻ chủ động gợi chuyện, trong khi hắn lại là kẻ kiệm lời. Những câu chuyện với hắn, mỗi khi có, đều thú vị.
    Nghe tôi kể, anh hỏi:
  • Hắn không làm gì cậu thật?
  • Không.
    Ngoạn mở to mắt.
  • Không doạ nạt?
    Tôi lắc.
  • Không.
  • Hắn có làm gì khác không?
    Câu hỏi làm tôi phải suy nghĩ. Hắn còn làm gì nữa nhỉ? Không, hắn chỉ chuyện vãn, thế thôi.
  • Hoàn toàn không!
  • Hoàn toàn không?
    Tôi lại lắc.
  • Vô lý.
    Ngoạn ra chiều suy nghĩ.
  • Cậu phải tìm một cái nhà khác – anh bảo – Ở đấy nguy hiểm. Âm dương cách biệt, người là người, ma là ma, ở lẫn với nhau không được.
  • Tôi nghĩ không cần thiết – tôi nói – Hắn chẳng làm gì hại tôi.
  • Cẩn tắc vô áy náy. Không sao, tôi lại tìm nhà cho cậu lần nữa.
    Anh quyết định ngủ lại nhà tôi một đêm xem hư thực ra sao.
    Nửa đêm, con ma đến, chẳng tỏ vẻ ngạc nhiên thấy có người lạ mặt ở trên giường tôi. Ngoạn nằm im thin thít.
    Sáng ngày ra anh bảo tôi:
  • Nói không biết cậu có tin không, hoá ra tôi đã gặp con ma này.
  • Bao giờ?
  • Lâu rồi. Dễ trên chục năm trước. Hồi mới lập gia đình, tụi tôi nghèo lắm. Đêm đến tôi luôn lượn lờ trong khu nhà giàu – họ thường vứt đồ cũ ra hè. Để kiếm cái dùng, vậy đấy. Có nhiều thứ người ta vứt không phải cũ hẳn, nhưng ở đây thế, cứ dọn đến nhà mới là người ta thay tất tật. Cũng có khi là đồ dùng của người vừa chết, thân nhân không muốn giữ lại, không phải họ tin nhảm, mà vì không thích để những nhìn thấy những đồ vật của người thân đã qua đời, nhiều thứ còn mới nguyên, mà có cũ đôi chút thì cũng còn tốt chán với mình. Đi nhặt mấy thứ đồ bỏ ấy không ai đi ban ngày, xấu hổ chết được…
  • Anh đã gặp con ma này trong những lần đi kiếm đồ Tây quăng?
  • Đúng hắn, với cái mũ phớt sùm sụp, với dáng dấp ấy, như đêm qua tôi thấy. Không lẫn được. Tôi không nghĩ hắn là ma.
  • Hồi đó hắn còn là người sống.
  • Có thể lắm.
  • Hắn chắc cũng đã nhận ra anh, nếu gặp?
  • Hừm, biết đâu đấy, chúng tôi chạm trán luôn, nhưng cố tránh không nhìn mặt nhau. Dân đi nhặt đồ đều thế. Họ không bao giờ chào nhau, gặp vài lần cũng cứ lờ đi, không coi nhau là đã quen… Thậm chí vớ được thứ đồ tốt một mình không khuân nổi cũng không dám nhờ nhau, cứ đứng canh đấy cho tới khi vắng người mới chạy đi tìm cabin điện thoại báo cho người nhà biết để ra khiêng cùng…
  • Anh có thấy hắn nhặt gì không?
  • Không. Hắn cứ lượn lờ quanh đám đồ bỏ, tôi chưa thấy hắn nhặt thứ gì. Con ma này phải trị mới được.

5

Con ma cũng nhận ra Ngoạn.
Hắn bảo tôi, cười hì hì:

  • Ông Nô Ăng. Tôi biết ông ấy quá mà. Tôi giả vờ không nhận ra ông ấy thôi. Chúng tôi gặp nhau luôn. Tôi hồi ấy là một anh ký quèn ở sở hoả xa. Ông biết cái ga Sermages rồi. Gọi là ga cho nó oách, chứ ga ghiếc cái quái gì một khối bê tông xám xịt chỉ nhỉnh hơn trạm biến thế một chút. Ông Nô Ăng bạo gan đấy. Có điều ông kể cho ông ta nghe về tôi làm gì?
  • Có cần phải giữ bí mật về ông không?
    Hắn lắc đầu:
  • Không. Không cần. Tôi là cái có đấy mà không đấy. Nói cách khác, tôi là cái vừa hiện hữu vừa không hiện hữu. Nói về tôi hay không nói về tôi thì cũng thế mà thôi. Chỉ người sống mới có bí mật. Ở chỗ chúng tôi mọi linh hồn đều như cởi truồng trong một cái lồng kính, linh hồn này biết hết về linh hồn kia…
  • Chán quá nhỉ?!
    Hắn cười hích hích.
  • Nhưng các linh hồn thường chỉ biết về những gì linh hồn khác đã làm khi họ còn ở cõi dương… Và chỉ ở những linh hồn không húp hết đĩa cháo vô vị.
  • Ông bảo: các linh hồn chỉ lặp lại những gì họ làm khi còn sống?
  • Ý tôi là: linh hồn chỉ lặp lại thói quen. Những gì họ làm trong cõi âm các linh hồn có thể biết mà cũng có thể không biết, tựa như ở cõi dương vậy – người này không thể biết tất tần tật về người kia. Đôi khi linh hồn cũng làm một cái gì đó chứ, nhưng nó chỉ làm được cái ấy nếu như khi còn sống nó từng làm. Linh hồn, ông bạn ạ, chỉ là cái bóng mờ của quá khứ. Nó khoái lắm nếu có ai tưởng nó có khả năng hành động. May cho các ông, những người sống. Chứ không à? Cứ thử nghĩ mà xem, nếu những thằng đểu chết rồi vẫn tiếp tục đểu được với người sống, thì sao?
    Tôi hoàn toàn đồng ý với hắn:
  • May thật!
  • Ông không nên kể về tôi với ông Nô Ăng.
  • Ông đã nhắc tôi rồi.
  • Ông ấy là người tốt, nhưng ông ấy không vượt qua được định kiến: một con ma là một con ma. Ma là cái người ta không hiểu được. Khi không hiểu được thì người ta nghĩ nó xấu xa, nó không tốt.
  • Tôi không nghĩ ông bạn tôi tồi đến thế. Ông ấy chỉ lo cho tôi thôi…
  • Ông ấy hiểu lầm do không hiểu biết. Nhưng lại tưởng mình biết hết. Trong thực tế, cái ông ấy tưởng mình biết lại là cái hiểu lầm mượn của người khác…
  • Ông có những ý nghĩ hay đáo để.
    Hắn cười khà khà. Cảm giác là thế, chứ không có tiếng.
  • Ông khác, ông không có định kiến. Một ưu điểm đấy. Ông lại còn biết thông cảm nữa…
    Hắn nói tiếp, đượm chút buồn rầu:
    -… dù là thông cảm với một con ma…

7

Ngoạn nói anh sẽ mời một đội bắt ma thiện nguyện để tống con ma khỏi nhà tôi.
Tôi phản đối kịch liệt.
Tôi phản đối vì, xét cho cùng, con ma chẳng làm điều gì xấu cho tôi. Ngược lại, nó còn là một bạn chuyện thú vị. Hà cớ tôi lại xử xấu với nó? Nhưng Ngoạn khăng khăng: phải diệt nó. Đó là một người cứng đầu, đã nghĩ ra cái gì là phải làm cho bằng được.
Đội bắt ma thiện nguyện tha các thứ đồ đạc lỉnh kỉnh của họ đến nhà tôi vào một chủ nhật. Họ lăng xăng đi lại, còn tôi thì ngồi yên trong ghế bành, nơi con ma thường ngồi, với bộ mặt nặng chịch. Ba người trong đội bắt ma – một mục sư về hưu, hai sinh viên trẻ gày nhẳng, cả ba đeo kính cận loại nặng. Với các máy móc đo từ trường, đo nhiệt độ, mọi cái đều là loại cực nhạy. Họ rà soát mọi ngóc ngách – gầm giường, gầm bàn, gầm ghế, gầm tủ, với vẻ mặt nghiêm trang của sứ giả nhà trời đi xuống địa ngục. Kim trên những mặt đồng hồ đặt giữa nhà lắc lư lờ đờ.

  • Con ma này ban ngày không ở đây. – ông mục sư trầm ngâm – Ta sẽ túm được nó ban đêm.
    Tôi giật mình. Đúng là tôi chỉ gặp con ma vào ban đêm.
    Đội bắt ma rất mẫn cán. Hôm sau cả ba lại đến cùng một lúc , lập tức bắt tay vào việc. Mấy người đàn ông đứng tuổi, mặt mũi nghiêm trang ngồi trầm ngâm trước những mặt đồng hồ, mắt dán chặt vào những cái kim. Tôi để mặc họ muốn làm gì thì làm.
    Đúng 12 giờ đêm, nhưng cái kim bắt đầu chuyển động, lúc đầu chậm, sau nhanh dần, rồi lắc loạn xạ. Ông mục sư phán:
  • Nó đến đấy.
    Trống ngực đánh thình thịch, tôi thầm lo cho ông bạn ma của tôi.
    Ngoạn ngồi bên tôi, theo dõi nét mặt tôi bằng cái nhìn dò xét.
    Nhưng khi ông mục sư giơ cao thánh giá đi về góc, theo kim chỉ của một cái máy đặt nằm, thì những cái kim đồng hồ lại lờ đờ trở về chỗ cũ. Ông mục sư lắc đầu:
  • Con ma này khôn phết.
  • Nó lẩn tài lắm. – anh sinh viên cao kều cúi xuống thì thào với anh bạn thấp hơn.
  • Khôn mấy thì khôn, rồi ta cũng sẽ tóm được nó. – mục sư nói to, giọng quả quyết.
    Đúng vào lúc ấy tôi nghe thấy giọng con ma bên tai:
  • Ông bạn ông tệ thật, ông ta dẫn mấy tay này đến đây làm gì cơ chứ?
  • Tôi xin lỗi, tôi đâu có muốn thế – tôi lẩm bẩm trả lời, cốt để Ngoạn khỏi nghe tiếng.
  • Ông có thấy ông Nô Ăng nhà ông là đa sự không?
    Tôi gật đầu.
  • Có điều họ chẳng làm gì được tôi đâu – con ma nói.
  • Thật không?
  • Ông đừng lo cho tôi.
  • Tôi vẫn lo đấy – tôi thì thào – Thật không sao chứ?
  • Thật. Không ai có thể bắt được cái không có.
    Tôi thở ra.
    Ngoạn ngờ vực nhìn vào mặt tôi. Anh kêu lên với ông mục sư đang cảnh giác nhìn quanh trong phòng:
  • Con ma đang ở đây này.
  • Đâu? Nó đâu?
    Ông mục sư quên bẵng mình là người bắt ma, nghĩa là mình phải thấy được con ma trước những người khác.
    Ngoạn chỉ vào tôi:
  • Nó ở bên ông bạn tôi đây này.
    Tôi cãi:
  • Tôi đây, chứ ma nào.
    Ba nhân vật bắt ma xô lại phía tôi. Họ quăng một cái lưới bằng sợi gai hôi hám lên người tôi. Ông mục sư đổ cả bình nước thánh lên đầu tôi. Hẳn ông ta nghĩ nước thánh với liều lượng càng lớn thì hiệu quả càng cao. Rốt cuộc tôi bị ướt như chuột lột, toàn thân bị trói chặt trong tấm lưới gai, còn con ma thì chẳng thấy đâu.

8

Sau cái lần bắt ma bất thành, đội bắt ma đi thẳng. Trong những trường hợp như thế bao giờ cũng có những lý do được đưa ra để bào chữa, kiểu như “trên chủ trương đúng, dưới thực hiện sai”; “trên bảo, dưới không nghe”, theo cách nói quen thuộc ở nước tôi.
Con ma sau đó xuất hiện ít hơn, không phải vì sợ cái gì, mà vì hắn bận bịu chuyện gì đó. Cuối cùng rồi hắn cũng bật mí điều bí mật của hắn:

  • Ông có tin ở thuyết luân hồi không?
  • Tôi chẳng có bằng cớ gì để tin. Một expresso nhá?
  • Không, cảm ơn. Giờ tôi phải đi ngay.
  • Hồn ma cũng biết bận?
  • Không. Hồn ma không bao giờ bận. Nhưng nó cũng có việc phải làm. Ông có muốn đi chơi một lần với tôi không?
    Tôi ngần ngừ.
  • Ông sợ?
  • Không. Nhưng đi đâu?
  • Cứ đi với tôi. Ông sẽ không hối tiếc đâu.
    Chúng tôi đi.
    Về sau này, nhớ lại chuyến đi chơi ban đêm với ông bạn ma, tôi thấy ông ta chẳng hề có ý lừa tôi – chuyến đi thực thú vị.
    Dắt tôi vùn vụt đi qua biên giới hai cõi âm dương không có lính biên phòng mặt lạnh, không có cửa hải quan với những cái nhìn soi mói, qua chỗ các âm hồn bách tính tụ tập húp cháo lú, tây ta lẫn lộn, đen trắng không phân biệt, ông ta đưa tôi tới một thành phố lúc nhúc những hồn ma là hồn ma. Tôi không nhớ là ở đó có cửa hàng cửa hiệu gì không, nhưng tôi gặp khá nhiều hồn ma quen. Có người chết đã lâu, có người mới chết. Họ hoàn toàn không nhận ra tôi. Thậm chí viên cai ngục nổi tiếng ác độc thời tôi ở tù dưới quyền hắn còn nhoẻn cười thân thiện với tôi. Trong tay hắn vẫn có cây roi bằng da xoắn, cũng nổi tiếng không kém gì hắn. Cây roi da ấy, những người tù lưu niên kể, đã lập công xuất sắc – ít nhất đã có ba người tù chết vì nó. Nhưng hắn vẫn giữ nguyên dáng đi ngày trước, cái đầu hơi cúi, cặp mắt láo liên soi mói, cái roi trong tay đập đập vào cẳng chân, sẵn sàng vung lên để quất vào ai đó. Ở một chỗ khác, tôi gặp tên lừa đảo có hạng đã từng lừa không ít người, trong đó có tôi, bằng những lời đường mật về những món lãi kếch xù, nếu chung vốn với hắn. Hắn bị một ông quan mà hắn lừa bắn chết, nghe nói là chết oan, đúng vào lúc hắn mang tiền lãi đến nộp cho ông ta. Hắn cũng không nhận ra tôi, chực sán lại để rỉ tai tôi về một kế hoạch thu lợi cực lớn. Thấy tôi lờ, hắn cũng chẳng giận, lại sán đến người khác, xin lỗi, tôi muốn nói: một hồn ma khác.
    Ông bạn ma của tôi dẫn tôi tới một chỗ có mấy vị lãnh tụ mà tôi quen mặt nhờ những bức chân dung được treo trên tường mọi nhà ở quê tôi. Tôi đồ rằng những vị này cũng gian như ông bạn tôi, không chịu húp cháo lú, hoặc húp rất ít, vì thế họ mới có thể quần tam tụ ngũ bên nhau. Nhưng cái giống lãnh tụ nọ là để sống trong thế giới của những kẻ tuân phục, những kẻ rạp mình trước họ, chứ cả một đống lãnh tụ ở cùng một chỗ với nhau thì ngán lắm. Tất cả bọn họ đều ra lệnh cùng một lúc, mà không biết ra lệnh gì, ra lệnh cho ai, chẳng anh nào chịu nghe anh nào, kể cả anh lãnh tụ bị bắn chết cùng với bà vợ, ngực còn toác hoác vết đạn, vẫn tiếp tục vung tay về phía trước, trong dáng điệu của nhà hùng biện trước đám đông há hốc mồm nghe huấn thị.
  • Ê, anh kia, lại đây!
    Vị lãnh tụ quen thuộc của tôi ngồi ủ rũ trên một bệ đá hoa cương thời cổ La Mã, giữa một đám đông chính khách com lê com táo chỉnh tề lăng xăng đi lại. Ông vẫn trong bộ quần áo bình dân cố hữu, y như một lão nông. Hồi còn sống, ông nổi bật trong các chính khách quốc tế nhờ bộ quần áo này. Trong những cuộc họp long trọng ông là ngôi sao sáng. Tiên phong đạo cốt, ông đi những bước nhẹ nhàng trên trần thế, ban phát bên phải bên trái đủ thứ lộc lớn lộc bé, bằng hiện vật cũng như bằng khen, giấy khen. Bây giờ trông ông giống một anh nhà quê ra tỉnh. Trong đống lãnh tụ xênh xang, ông có một vị trí kém cỏi mà giờ đây người ta ưa dùng chữ khiêm tốn thay vào. Chợt nhận ra tôi là đồng hương, ông vồ lấy tôi, nắm tay tôi kéo lại gần để ân cần hỏi han về đời sống của nhân dân. Cứ như thể thiếu ông trên đời mọi người sẽ khốn khổ lắm, côi cút lắm. Không hiểu sao, lúc ấy tôi lại xúc động đến luống cuống, lễ phép chắp tay trả lời ông như một thần dân ngoan ngoãn. Tôi thưa rằng tôi xa nước lâu rồi, lại chưa về thăm nhà lần nào, tôi không thể báo cáo với ông điều gì.
    Ông bạn ma lập tức túm lấy tôi, lôi xềnh xệch đi chỗ khác:
  • Sao ông lại làm thế?
  • Làm thế là thế nào?
    Ông bạn ma cằn nhằn:
  • Thằng cha ấy là cái quái gì mà trước mặt hắn, nói ông tha lỗi, ông lại phải khúm núm? Ông không thấy rằng hắn chẳng hề quan tâm tới nhân dân nhân diếc gì hết sao? Hắn chẳng cần biết ông là ai, đang ở đâu, làm gì, hắn chỉ lặp lại một thói quen thâm căn cố đế mà thôi. Ố là là, ông này hay thật đấy! Rõ vớ vẩn.
    Tôi ngượng ngùng:
  • Hề hề, tôi cũng không ngờ những thói quen lại sống lâu đến thế.
  • Thế thì khi xuống đây ông đừng có theo gương tôi, nhớ mà húp hết khẩu phần cháo lú của mình. Xem ra nó có ích cho ông đấy.
    Giọng ông ta nửa giận dỗi, nửa khinh miệt.
    Ông ta còn dẫn tôi đi nhiều nơi, cho tôi thấy nhiều điều thú vị khác, viết ra phải một cuốn sách. Tôi thì lại không biết viết văn, tôi viết thì sẽ rất dây cà ra dây muống, toàn những “thì” “là” “mà”, làm khổ người đọc. Điều đáng tiếc là ông ta không đưa tôi đến nơi tôi có thể gặp những người thân trong gia đình. Ông ta bảo cái đó không phải mục đích của chuyến đi.
  • Ông nói đến thuyết luân hồi là có ý nghĩa gì? – trên đường về tôi hỏi ông ta.
  • Là tôi sẽ chia tay với ông, để sống một kiếp khác.
  • Tức là luân hồi là có thật?
    Ông ta nhún vai:
  • Tôi cũng không biết nữa. Tôi chỉ biết lần này tôi phải xực hết một khẩu phần cháo lú. Lầnnày khó mà tránh được. Nghe nói chẳng ai thoát. Tôi sẽ đi khỏi cõi này. Đi đâu, tôi không biết. Có lẽ là để sống kiếp khác. Ăn cháo lú rồi, tôi sẽ không biết ông là ai, người ta bảo vậy, ông cũng không thể nhận ra tôi…
  • Nhưng những vị Lạt Ma ở Tây Tạng đầu thai trong kiếp sau vẫn nhớ chuyện kiếp trước đấy thôi. Người ta thuật lại chuyện đó không phải một lần trong những cuốn sách đứng đắn.
  • Ồ, cái đó thì tôi chịu, thật thế hay không, tôi không biết. Có thể, đó là vì những vị Lạt Ma là những người đặc biệt. Những bậc chân tu. Những vị thánh. Tôi không dám nói họ có thể là những tay đại láu cá.
    Tôi tỉnh dậy trên giường. Vạt nắng sớm lọt qua cửa sổ chảy lênh láng trên sàn.
    Có nghĩa là suốt đêm qua tôi chẳng hề đi đâu. Nhưng cảm giác thực của cuộc du hành với ông bạn ma còn nguyên, hệt như trong sách của Bồ Tùng Linh.
    Khác ở chỗ hồn ma của Pháp không giống hồn ma của Tàu, nó chẳng làm hại gì tôi. Mà cũng có thể những hồn ma Tàu trong Liêu Trai đều là đàn bà, còn đây là một hồn ma đàn ông.
    Tôi thì lại không phải một tên đồng ái.

8

Từ đó tôi không bao giờ gặp lại ông bạn ma nữa. Chắc hẳn ông ta đã đầu thai vào một nhà nào đó và đang bĩnh ra tã.
Tôi cũng hơi ân hận một tí. Chơi với nhau bằng ấy thời gian mà chẳng biết tên họ ông bạn là gì. Hình như ông ta mang cái họ rất phổ biến là Dupont mà tôi thấy được ghi trên một món đồ. Chiết tự ra, Dupont có nghĩa là từ chỗ cây cầu, ở nơi gần cầu. Dòng họ Dupont có từ những thế kỷ xa xưa, cũng như dòng họ Dubois với nghĩa từ khu rừng, ở miền rừng. Nước Pháp có vô số cầu, cầu qua sông, cầu qua suối, ai biết được những người thuộc dòng họ này đến từ cái cầu nào. Trên lò sưởi không có cái ảnh nào của ông ta, mà tôi thì vì sợ nên không dám nhìn vào mặt hồn ma, thế là chẳng biết mặt ngang mũi dọc ông bạn mình ra sao.
Ngoạn rồi cũng ít đến tôi. Anh bận nhiều việc, tôi đồ thế.

  • Này, cậu phải cẩn thận mà giữ lấy chỗ làm – anh dặn tôi – Cái nghề khốn nạn của tôi vậy mà bây giờ thiên hạ cũng tranh nhau xông vào. Tôi phải liên tục hạ giá để giữ khách. May mà họ đã quen mình. Hai đứa con càng lớn càng phải chi nhiều, đủ thứ. Sống như thế này vất vả quá. Chết có khi còn sướng hơn…
    Những lời than thở về cuộc sống không thể gọi là chuyện giữa hai kẻ tha hương. Ở với bà vợ đầm lâu ngày, anh dường như không nhớ gì tới đất nước. Nó xa xôi.
  • Tôi bây giờ có muốn giúp cậu cũng chẳng được – anh nói.
    Tôi rất biết ơn Ngoạn đã giúp tôi nhiều khi còn chân ướt chân ráo đến Sermages, nhưng đúng là chúng tôi không biết nói gì với nhau nữa – chúng tôi không còn những đề tài chung để mà trò chuyện. Cũng phải thôi. Ngoạn là một con người bình thường đúng nghĩa, tức là người chẳng quan tâm tới cái gì khác ngoài cuộc sống hằng ngày của gia đình mình. Những vấn đề chính trị xa lạ với anh. Đối với Ngoạn thế giới nào cũng cũ, tức là thế giới nào cũng thế mà thôi cho một kiếp người với tất cả những lo toan tầm thường của nó. Còn tôi thì dù muốn dù không vẫn cứ vướng vào ba cái chuyện chính trị, như nhiều đồng hương đa sự.
    Khi nghe tôi nói chuyện về tình hình đất nước, hoặc tình hình thế giới, Ngoạn thường ngáp vặt, lúc đầu còn lịch sự giấu giếm, sau thì cố ý cho tôi biết mà chuyển sang chuyện khác. Khi không còn đề tài chung để nói chuyện, người ta rất dễ xa nhau. Có người nói anh dạo này hay ốm vặt, nhưng tôi cũng ngại gọi điện hỏi thăm. Tôi ngại những cuộc điện đàm theo phận sự.
    Một đêm tôi đi dự sinh nhật một bạn đồng nghiệp về, thấy ở bên đường gần nhà tôi người ta vứt lỏng chỏng đồ bỏ có nhiều thứ còn tốt, mới dừng lại xem. Ở đây người ta vứt đồ theo ngày, khu này thứ bảy, khu kia chủ nhật. Tôi chọn được một cây đèn bàn có chân bằng đồng, một thứ đồ cổ, kiểu cây đèn thần trong Nghìn Lẻ Một Đêm. Đã toan kẹp nó vào nách mang về, thì chợt thấy một dáng quen quen đang lúi húi gần đấy.
    Trong ánh đèn đường mờ mờ tôi nhận ra cái bóng ấy: Ngoạn. Dễ là anh lắm, với cái áo khoác tàng tàng, dáng đứng hơi gù. Nhưng tôi không dám chắc trăm phần trăm là anh. Thoáng bắt gặp ánh mắt của tôi, người ấy quay ngoắt.
    “Dân đi nhặt đồ đều thế. Do ngượng ngùng, họ không bao giờ chào nhau, gặp vài lần rồi cũng cứ lờ đi, không coi nhau là đã quen…”
    Ngoạn có lần nói với tôi như thế. Nhưng đó là những người gặp nhau lần này lần khác trong những chuyến đi nhặt đồ, chứ không phải là những người quen nhau như tôi với anh.
    Khi thấy tôi chăm chú nhìn, cái bóng càng lúng túng.
  • Anh Ngoạn hử? – tôi gọi khẽ.
    Cái bóng đứng sững khi nghe tiếng gọi. Nhưng không đáp lại, dù bằng một cái gật đầu.
  • Tôi đây mà – tôi nói.
    Cái bóng vẫn nín lặng.
    Tôi rùng mình vì một ý nghĩ chợt đến. Hay là, nói dại, Ngoạn không còn nữa, mà chưa ai kịp báo tin cho tôi? Anh đã trở thành một con ma. Như Dupont.
    Tôi dụi mắt để nhìn cho kỹ hơn. Chẳng lẽ tôi nhầm?
    Đến lúc ấy thì cái bóng mà tôi ngờ là Ngoạn liếc trộm tôi rất nhanh, rồi quầy quả bỏ đi. Nói nó lướt đi thì đúng hơn, bởi vì vừa thấy nó đấy đã chẳng thấy đâu. Nó tan biến. Trong màn đêm mờ mờ ánh đèn đường và khói sương.
    Ngày mai thể nào tôi cũng phải gọi điện cho Ngoạn. Không, tôi chắc mình nhìn nhầm. Cũng có thể không phải là Ngoạn. Dám thế lắm. Nếu là anh, chắc chắn anh sẽ gọi tôi. Chúng tôi đâu có phải là những người xa lạ đến nỗi phải tránh mặt nhau khi làm cái chuyện có vẻ đáng xấu hổ này. Rất có thể không phải Ngoạn. Nếu anh chết, chị Jeanette ắt đã gọi điện cho tôi – ít nhất thì vào lúc anh qua đời ắt chị phải nhớ rằng anh từ đâu đến và ở Sermages có một người cũng đến từ quê hương anh. Nhưng cũng có thể Jeanette đã quên không báo cho tôi biết trong cơn bối rối. Hoặc ngày mai chị mới báo. Hoặc chị không tìm ra sổ địa chỉ.
    Tôi xua đuổi ý nghĩ rằng Ngoạn đã chết. Nhưng ý nghĩ ấy cứ bám chặt lấy tôi. Sinh hữu hạn tử bất kỳ mà. Ai nói trước được? Anh xuất hiện trước mắt tôi lờ mờ như một bóng ma, nhất định không nhận tôi, nói với tôi một câu. Hoặc giả tôi nhầm, bóng ma ấy lại là Ngoạn thật, còn sống? Mừng rồi lại buồn – sao mà mình tệ thế, đến nỗi không phân biệt nổi người sống với hồn ma?
    Tôi bùi ngùi nhìn vào bóng đêm đã mất dấu bạn mình mà thở dài. Tôi hình dung ra anh trong cái cõi âm đáng ngán – hẳn từ nay anh sẽ phải sống, như cái ông Dupont nọ, quẩn quanh trong giới hạn chật hẹp của một kiếp người từ sinh tới tử, để rồi lặp lại trong suốt đời âm của mình những thói quen cố hữu của đời dương?
    Tôi cầm lấy cây đèn, không nhìn về phía cái bóng vừa biến mất, quay gót về nhà.

2005




NGẮM ĐỊA DANH ĐẸP NHẤT THẾ GIỚI

 Mới đây , Big 7 Travel công bố 50 địa điểm đẹp nhất thế giới năm 2020 .

 Dựa trên bản khảo sát trên 1.5 triệu người dùng Pinterest , Instagram .

 Trong đó , hình ảnh Mù Cang Chải ( Yên Bái — Việt Nam ) được thứ 21

– Đứng thứ 21 : Mù Cang Chải – Yên Bái — Việt Nam . Gồm 3 ảnh 

– Đứng đầu danh sách 50 địa điểm là :

 Vườn quốc gia Torres del Paine — Chile .

 2 ảnh 

– Đứng thứ 2 :

 Là quần đảo Faroe — Đan Mạch .

 2 ảnh .

– Đứng thứ 3 :

 Là vườn quốc gia Grand Teton — Wyoming .

 2 ảnh .

– Đứng thứ 4:

 Là sông Quế Giang — Trung quốc .

 2 ảnh .

– Đứng thứ 5 :

 Là Hồ Bled — Slovenia .

 3 ảnh .

– Đứng thứ 6 :

 Là rạn san hô Great Barrier — Úc .

– Đứng thứ 7 :

 Là vườn quốc gia Banff — Canada .

– Đứng thứ 8 :

 Là Palawan — Philippines .

– Đứng thứ 9 :

 Là Cao nguyên Scotland .

– Đứng thứ 10 :

 Là Kyoto — Nhật Bản .

– Đứng thứ 11:

 Là Vách đá Moher — Ireland .

– Đứng thứ 12 :

 Là khu Thánh địa Uluru — Úc .

– Đứng thứ 13 :

 Là Lanterbrunnen — Thụy Sĩ .

– Đứng thứ 14 :

 Là Hồ bơi nuóc nóng ở Pamukkale — Thổ Nhĩ Kỳ .

– Đứng thứ 15 :

 Là thị trấn Sidi Bou Said — Tunisia .

– Đứng thứ 16 :

 Là Thành phố Chefchaouen — Maroc .

– Đứng thứ 17 :

 Là thành phố biển Positano — Ý .

– Đứng thứ 18 :

 Là đảo Boracay — Philippines .

– Đứng thứ 19 :

 Là Vườn quốc gia Fiordland — New Zealand .

– Đứng thứ 20 :

 Là Thành phố Mostar của Bosnia và Herzegovina .

– Đứng thứ 22 :

 Là Thành phố Marrakesh — Maroc .

– Đứng thứ 23 :

 Là thành phố Matera — Ý .

– Đứng thứ 24 :

 Là thủ đô Paris — Pháp .

– Đứng thứ 25 :

 Là công viên địa chất Trương Dịch , tỉnh Cam Túc — Trung quốc .




Sapa vào mùa hoa mai anh đào




CỨU NGƯỜI NHƯ CỨU LỬA; CỨU LỤT BÀ CON ƠI

KIỀU MỸ DUYÊN

Nhìn những tấm hình của đồng bào lênh đênh trên nước, không ai không khỏi xúc động, đồng bào của mình sao khổ quá! Đức Giám Mục Nguyễn Thái Hợp cùng những người thiện nguyện đi cứu trợ. Đức Cha mặc áo phao, nếu ghe lật xuống nước thì người sẽ nổi lên mặt nước nhờ chiếc áo phao này. Năm nào miền Trung cũng bị lụt lội, năm nay còn thê thảm hơn. Các tỉnh Huế, Quảng Trị, Quảng Bình, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quảng Trị, Hà Tĩnh, nhà cửa tan nát, người thì mất chồng, người thì mất cha, người mẹ ôm con trong lòng sau khi đào đất cát lên thì mẹ và con cùng chết, một gia đình không còn ai sống sót. Người thương người, người Việt ở hải ngoại gửi tiền về giúp nạn nhân bão lụt. Qua nhiều năm kinh nghiệm, tiền, mì, quần áo, thuốc men cứu trợ phải tới tay nạn nhân bão lụt không qua chính quyền. Đồng bào ở dọc theo biển, theo sông khổ nhất. Những chiếc ghe là phương tiện để mưu sinh cũng tan rã theo dòng nước lũ. Nhà sập, người di tản, ghe thuyền vỡ nát theo nước, theo bão lụt.

          Người nghèo lại nghèo thêm. Nạn nhân bão lụt chỉ mong vào lòng hảo tâm của đồng hương ở khắp nơi trên thế giới.

          Chỉ có $5 một bao gạo, ai cũng có thể giúp đỡ được nạn nhân bão lụt. Một đứa trẻ bỏ tiền vào heo đất, nhìn những hình ảnh đau thương của nạn nhân bão lụt ở quê nhà, cũng có thể lấy tiền trong heo đất ra mà cứu trợ.

          Thực phẩm cứu trợ gồm có gạo, mì gói, quần áo, thuốc men, tiền. Người nào nghèo nhất ở chốn bình yên cũng có thể cứu giúp người ở quê nhà.

          Một miếng khi đói bằng một gói khi no. Tôi còn nhớ quận Hải Lăng thuộc tỉnh Quảng Trị năm Thìn bão lụt, lúc chúng tôi còn là sinh viên đi cứu trợ. Nạn lụt bây giờ thê thảm hơn năm Thìn bão lụt năm xưa, bởi vì rừng bị đốn, hồ nước bị tháo,…

          Thiên tai dồn dập, tội nghiệp người dân bị đọa đày, khổ ơi là khổ. Người nghèo khổ, người nghèo ở những nơi gần biển, gần sông, đa số sống bằng nghề chài lưới, đánh cá, bắt tôm,…

          Sau nạn lụt nhà đâu để ở? Định cư ở đâu? Tiền ở đâu để làm vốn mua lại ghe nhỏ đi chài lưới?

          Xin mời quý đọc giả theo dõi cuộc phỏng vấn Kiều Mỹ Duyên với Đức Giám Mục Phaolô Nguyễn Thái Hợp, giáo phận Hà Tĩnh:

          – Kính chào Đức Cha, xin Đức Cha gửi lời chào đến quý khán thính giả xem đài.

          – Tôi xin gửi lời chào đến quý thính giả của đài VBS. Rất hân hạnh được gặp quý vị qua đài truyền hình. Chúng tôi cũng đã nhận được sự đóng góp, những món quà của quý vị. Nhân dịp này, thay mặt cho các nạn nhân cảm ơn và gửi lời chào đến tất cả quý vị.

          – Kính xin Đức Cha tường trình với khán giả nhiều nơi, nhiều tiểu bang Hoa Kỳ về việc cứu trợ của Đức Cha gồm những tỉnh nào, làng nào và từ ngày nào cho đến bây giờ. Dù đã có những hình ảnh rất sống động của Đức Cha cũng như các vị thiện nguyện, nhưng chưa hiểu rõ vì không có chú thích, thưa Đức Cha?

          – Chúng tôi hiện thời đang hoạt động ở tỉnh Quảng Bình, Hà Tĩnh. Mặc dầu cũng có một giai đoạn nhỏ chúng tôi tháp tùng Đức Cha Tổng Giám Mục Giuse Nguyễn Chí Linh và Đức Cha Đặng Đức Ngân ở Đà Nẵng. Ba anh em chúng tôi có đi một chuyến từ Đà Nẵng vào Huế, Quảng Trị rồi Quảng Bình. Từ đó đế nay, chúng tôi làm nhiều hơn tại Quảng Bình và Hà Tĩnh. Công tác cứu trợ- cứu trợ khẩn cấp- coi như đã chấm dứt hay đang chấm dứt. Bây giờ bắt đầu giai đoạn hai, đó là giai đoạn ổn định và ổn định cuộc sống cho các nạn nhân lũ lụt, trong đó có vấn đề là co nhà cửa, rồi mua lại gia súc, gia cầm và hạt giống cho họ.

          – Thưa Đức Cha, chúng con có niềm tin vào các vị lãnh đạo tinh thần là quà đến tận tay các nạn nhân, nhưng có người thắc mắc là Đức Cha có gặp khó dễ của Chính Quyền địa phương hay không? Vừa rồi nghe cô ca sĩ Thủy Tiên đi cứu trợ gặp trở ngại. Chúng con có đọc thông cáo từ Việt Nam gửi sang, tỉnh Hải Lăng, Quảng Trị gặp khó khăn, do nhà cầm quyền không cho người cứu trợ đến tận nơi phát tận tay cho đồng hương của mình. Đức Cha thấy như thế nào, thưa Đức Cha?

          – Hiện thời ở Việt Nam đã có sắc lệnh là cấm nhận quà cứu trợ nếu không qua Mặt Trận, qua Hội Chữ Thập Đỏ hay chính quyền địa phương. Sắc lệnh đó hình như vẫn còn ở một vài nơi như Hải Lăng, Quảng Trị, nơi tôi đi qua thì nghe giáo dân nói có chuyện đó. Nhưng bản thân tôi, cũng như là phái đoàn Hội Đồng Giám Mục, ở Hà Tĩnh và một số nơi khác chúng tôi chưa gặp khó khăn đó.

          – Thưa Đức Cha, Đức Cha đang giúp cho đồng bào về việc định cư sau lụt. Xin Đức Cha cho biết chương trình đó như thế nào, và nhân cơ họi này, Đức Cha có thể gửi lời đến quý khán thính giả, đồng hương của mình ở nhiều nơi, nhiều tỉnh miền Đông và miền Tây Hoa Kỳ, có những người lên Youtube hay Internet, bên Úc cũng xem, Âu Châu cũng xem. Đức Cha gửi lời đến để đồng bào mình có thể tiếp tay. Ở đây người nào cũng có thể giúp được. 1 bao gạo 10 kg ở Việt Nam $5, một đứa trẻ chừng 7- 10 tuổi có thể đổ ống heo ra giúp được nhiều gạo cho đồng bào của mình, thưa Đức Cha?

          – Cảm ơn chị Kiều Mỹ Duyên đã cho chúng tôi có cơ hội để qua làn sóng, tiếng nói của chúng tôi đến được đồng bào nhiều nơi. Đó là sự hân hạnh. Xin chân thành cảm ơn. Trở lại câu chuyện hậu cứu lụt, ổn định cuộc sống, tái thiết nhà cửa, lo hạt giống, lo gia súc, gia cầm cho người dân. Đó là câu chuyện chúng tôi đã đi khảo sát, để rồi phân loại những công tác lớn, chẳng hạn như là di dời một số hộ nằm ở vùng ven sông hay bị sạt lở do núi. Do núi là vì trong thời gian mấy chục năm vừa rồi, họ chặt phá rừng để trồng keo. Cây keo là cây phá môi sinh rất nhiều. Chính vì vậy đã gây ra sạt lở khắp nơi như đồng bào đã thấy, quý vị đã thấy, những nơi đó phải di dời. Công tác di dời rất tốn kém và cũng đòi hỏi nhà nước phải cấp đất, cấp chỗ cho người dân có thể đến nơi ở mới. Lúc này, chúng tôi cũng đang gặp khó khăn và phải kiên nhẫn để kiếm được vùng đất ổn định cho dân, để di dời nhà họ, xây dựng cuộc sống mới cho gia đình họ. Điểm thứ hai nữa là xây những căn nhà vượt lũ. Tức là, người dân đang sống trong những căn nhà ở vùng trũng, họ phải sống chung với lũ từ đời nọ đến đời kia, họ cũng không rời khỏi vùng đó. Một số gia đình đã xây nhà lầu thì họ có thể được an cư, khi lũ đến, họ lên trên lầu thì không sao cả. Nhưng mà có những gia đình nghèo sống trong những căn nhà xuềnh xoàng, nhà cấp 4 thì phải cần có những căn nhà đa năng hay nhà vượt lũ, vừa là trung tâm dạy học, dạy giáo lý, sinh hoạt. Trên tầng hai, khi có lũ đến thì đó là trung tâm vượt lũ, trung tâm cứu những người nghèo, những người già, trẻ em được đến đó để được an toàn. Chúng tôi hiện thời cũng đã và đang tiếp tục xây dựng một số căn nhà đa năng, căn nhà vượt lũ đó tại những địa điểm, tại những vùng lũ và tại những nơi người dân phải sống chung với lũ. Một số nơi khác may mắn hơn có đất để họ có thể di dời lên cao, thì giúp họ để họ nâng nhà của họ lên một chỗ cao hơn để họ an cư rồi mới lạc nghiệp. Ngoài ra, trong thời gian vừa rồi, giống lúa thóc bị hư hại rất nhiều, gia cầm, gia súc bị chết. Đây cũng là một vấn đề cần giúp họ là làm sao giúp họ bắt đầu cuộc sống mới trong mùa tới, tron những tháng tới. Đó là đại khái những vấn đề mà chúng tôi đưa ra trong chương trình hậu cứu lụt để họ tái định cư, an cư lạc nghiệp, để làm lại cuộc sống, để cùng dân tổ chức lại cuộc sống của họ.

          – Kính thưa quý khán thính giả, đó là lời tâm huyết của Đức Cha Nguyễn Thái Hợp. Đức Cha Nguyễn Thái Hợp đã sống rất lâu ở Thụy Sĩ cũng như ở Vatican. Ngài đi khắp nơi, và trở về Việt Nam ở một nơi khổ thật khổ. Quý vị có về Hà Tỉnh, miền Trung, quý vị nào có trái tim hướng về miền Trung hoặc có cha mẹ, anh em , bà con ở miền Trung, sẽ thấy miền Trung lụt lội quanh năm khổ lắm. Kính thưa Đức Cha, nếu đồng bào muốn giúp thì ở đây có đài truyền hình của Đức Cha giám đốc đài Joseph Nguyễn Ngọc Chuẩn. Khi biết đồng bào mình khổ quá thì mọi người ở đây sẽ mở lòng. Xin Đức Cha cho biết thêm email hay website nào về tin tức cứu trợ để mọi người có thể giúp đỡ?

          – Chúng tôi chưa thấy trận lụt nào mà người Việt Nam giúp nhau nhiều như lần này. Số đoàn đi cứu trợ, số đoàn hướng về miền Trung, những chuyến xe từ Sài Gòn chạy ra miền Trung, từ Hà Nội, miền Bắc đi vào miền Trung,… Chúng tôi thấy lần này, số xe, số đoàn ra miền Trung cứu trợ gấp ba lần so với các trận lụt trước đây. Đa số những chuyến xe đó hầu hết là của tư nhân. Họ đi, họ muốn trao tận tay những món quà của họ. Nhiều khi đó là một nhóm bạn bè, một thôn xóm, một họ đạo, họ thu được rồi họ đi ra. Chúng tôi thấy rất là cảm động và biết ơn. Tôi vẫn nói là lá lành đùm lá rách. Có những trường hợp, thì không những lá lành đùm lá rách mà lá rách ít đùm lá rách nhiều. Nhiều khi, chính những người ở bên cạnh, của những làng bên, những xứ đạo cũng bị lũ lụt, nhưng chính họ lại đi cứu trợ những người bên cạnh. Lá rách ít đùm lá rách nhiều, lá rách tơi tả đùm nhau. Tôi rất cảm động trước tình cảm đó, mà hoàn toàn là do tư nhân, do sự bộc phát của người dân.

Hội Đồng Giám Mục Việt Nam ngày 27 tới đây có tổ chức một đêm văn nghệ lấy tên là ” Gánh nhau trong đời”. Có những người giàu hơn gánh những người nghèo, trong cuộc đời rất cần thế này. Nhiều lần cũng có những người nghèo gánh nhau và gánh nhau trong đời. Tôi thấy ý nghĩa đó rất hay, đượm tình người. Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác tỉnh, khác nơi nhưng ta cùng chung một dân tộc, một dòng máu. Ước mong rằng kẻ ít người nhiều, chúng ta cùng nhau gánh nhau trong đời và chắc chắn rằng chúng ta giúp nhau chừng đó, lá lành đùm lá rách thì những nạn nhân ấm lòng hơn. Tôi hy vọng họ sẽ làm lại cuộc đời.

          – Kính thưa Đức Cha, sau đây là câu hỏi của Trung Dương (MC đài): Một số quý đồng hương quyên góp Đức Cha, họ thắc mắc đây là do bên tôn giáo quyên góp số tiền này, và cha có chuyển đến những nơi khác không? Đức Cha giúp cho toàn bộ miền Trung hay một vài tỉnh, thưa Đức Cha?

          – Tôi hiện thời phụ trách Hà Tĩnh và Quảng Bình. Chúng tôi với tư cách Hội Đồng Giám Mục, chúng tôi đã đi một chuyến thăm viếng từ Quảng Nam đến Đà Nẵng, Huế, Quảng Trị rồi Quảng Bình, Hà Tĩnh. Chúng tôi chia ra làm việc ở mỗi vùng.Tôi đi nhiều ở Quảng Bình và Hà Tĩnh, nơi mà tôi có trách nhiệm. Chúng tôi đã nhận được nhiều món quà do cha Chuẩn chuyển tới. Có lẽ để dễ hơn, quý vị nên gửi về Đài VBS 57.6. Từ đài, cha Chuẩn sẽ chuyển lại cho chúng tôi. Chúng tôi sẽ phúc đáp khi chúng tôi nhận được. Nếu chuyển về Quảng Nam, Quảng Ngãi, Huế, Quảng Trị thì đài cũng làm được. Nhắn tin cho chúng tôi ở Quảng Bình và Ha Tỉnh. Hãy gửi cho cha Chuẩn rất là đảm bảo. Chúng tôi trong tin thần lá lành đùm lá rách, nếu ở Quảng Nam đang bị lũ lụt nhiều hơn thì chúng tôi cũng sẽ chuyển đến những người nghèo bất phân tôn giáo, bất phân vùng đất.

          – Chúng con chân thành cảm ơn Đức Cha đã trình bày rất tỉ mỉ về việc cứu trợ.

          – Tôi cảm ơn chị Kiều Mỹ Duyên và cha Chuẩn. Qua Đài, chúng tôi chân thành cảm ơn tất cả những ân nhân xa gần, những người ẩn danh, những người tôi chưa biết tên và chưa từng gặp mặt, nhưng đã giúp đỡ chúng tôi để chúng tôi có thể đưa những món quà của quý vị cho những người bị nạn, những nạn nhân của lũ lụt, bất phân tôn giáo, bất phân công việc, điều kiện xã hội.

          – Kính thưa Đức Cha, ngày 26 đây là ngày lễ Tạ Ơn của nước Mỹ. Chúng con nhân cơ hội này, xin tạ ơn Đức Cha đã lo cho các nạn nhân bị lũ lụt. Đức Cha cho chúng con có cơ hội được tiếp tay với Đức Cha. Xin Thiên Chúa ở cùng Đức Cha, xin Ngài phù hộ cho Đức Cha. Kính chúc Đức Cha thật nhiều sức khỏe để lo cho các nạn nhân. Xin ơn trên ban cho những người có lòng thiện nguyện. Quý đồng hương nếu có nghe lời Đức Cha Nguyễn Thái Hợp từ Hà Tĩnh, thấy thảm cảnh vẫn còn kéo dài sau khi lụt qua rồi, đồng bào mất nhà cửa, mất trâu bò, thuyền ghe, mất người thân,… xin hãy đóng góp của ít lòng nhiều. Xin Đức Cha cho đồng bào của mình đang là nạn nhân và quý đồng hương có lòng hảo tâm.

          – Xin Chúa là Đấng toàn năng, xin Ngài luôn luôn nhớ đến chúng con và xin Ngài cũng nhớ đến một số anh chị em chúng con đang sống trong những hoàn cảnh khó khăn, đang sống trong những nơi mà người ta vẫn nói:

Quê hương tôi gạt sỏi tìm cơm,

Hết mưa thôi hạn lại cơn bão gần.

          Xin Ngài giúp cho những người con đó sớm an cư lạc nghiệp. Và xin Ngài nâng đỡ những cảnh đời tan nát vì bão tố, vì lụt lội, vì bất công, vì đói nghèo. Xin Ngài cho họ luôn luôn cảm thấy tình người, được sưởi ấm bởi tình người cũng như là được bàn tay che chở của Ngài. Amen.

          Quý thính giả vừa nghe cuộc phỏng vấn của Kiều Mỹ Duyên với Đức Giám Mục Phaolo Nguyễn Thái Hợp ở Hà Tĩnh. Nếu quý đồng hương cần giúp đỡ nạn nhân bão lụt ở các tỉnh miền Trung, xin liên lạc với chúng tôi. Chúng tôi sẽ cho quý vị email của Đức Cha, quý vị có thể liên lạc thẳng về trong nước. Tiền cứu trợ của quý vị nhất định sẽ tới tay đồng bào nạn nhân của lũ lụt.

          Xin Thượng Đế ban phúc lành cho quý vị lãnh đạo tinh thần, quý ân nhân, quý đồng hương nạn nhân của bão lụt có một đời sống an bình và hạnh phúc.

Orange County, 25/11/2020

KIỀU MỸ DUYÊN

(kieumyduyen1@yahoo.com)

Đức GM Phaolô Nguyễn Thái Hợp thăm và cứu trợ đồng bào vùng bị lũ lụt tại Quảng Bình 20/10/2020

Đức GM Phaolô Nguyễn Thái Hợp thăm và cứu trợ đồng bào vùng bị lũ lụt tại Quảng Bình 20/10/2020

Đức GM Phaolô Nguyễn Thái Hợp thăm và cứu trợ đồng bào vùng bị lũ lụt tại Quảng Bình 20/10/2020

Đoàn Hội đồng Giám mục Việt Nam thăm, cứu trợ tại Giáo phận Hà Tĩnh 21/10/2020

Ngày 21.10.2020, phái đoàn Hội Đồng Giám Mục Việt Nam tiếp tục hành trình chia sẻ tình thương của những vị Mục tử đến với quý anh chị em miền Trung tại Giáo xứ Mỹ Chánh và Giáo xứ Trung Quán, Hà Tĩnh

Đức Cha Phaolô Nguyễn Thái Hợp thăm và hỗ trợ tái thiết cuộc sống sau lũ lụt tại Quảng Bình ngày 01/11/2020 đến thứ Ba ngày 3/11/2020

Đức Cha Phaolô Nguyễn Thái Hợp thăm và hỗ trợ tái thiết cuộc sống sau lũ lụt tại Quảng Bình ngày 01/11/2020 đến thứ Ba ngày 3/11/2020

Thảm cảnh, mẹ ôm con chết sau khi được đào lên từ bùn đất.

Nhà cửa chìm trong biển nước

Nhà cửa chìm trong biển nước




Thanksgiving – Lễ Tạ Ơn




Thần Linh

Thần Linh

Tế Luân

Em là hiện thân của thần linh

Để ta tụng niệm cõi vô hình

Em ngồi đất nứt mọc hoa lạ

Thơm ngát từng mây những cuộc tình.

Trang giấy trắng vần thơ ẩn hiện

Dòng mực đen thấm ướt đường viền

Chỉ một chữ yêu còn hiện diện

Một chữ thôi xóa những ưu phiền.

Chim nhảy nhót mừng ngày huyền thoại

Hoa ngát hương thơm ngát tầng mây

Chỉ một lần hóa thành linh hiển

Mối tình đầu nguyên thủy không phai.

Tế Luân

EM THẦN THOẠI

(kính họa cùng thầy Lê Tuấn)

Em ngồi sợi nắng thẹn lung linh

Suối cũng ngừng reo rọi bóng hình

Gió phủ quanh bờ vai diễm lệ

Ngào thơm hương sắc lẫn hương tình

Ta đắm say cuồng, mơ thoảng hiện

Bờ môi bỏng mọng nét hồng viền

Dáng hoa xuân thắm ngời nhân diện

Chắp cánh cùng bay thoát cõi phiền

Em như giấc mộng đơm thần thoại

Lấp lánh hào quang vẹt áng mây

Ta chốn trần gian lòng khắc khoải

Lo tình muôn thuở sẽ tàn phai

Phương Hoa – NOV 15th 2020

Đêm Thần Tiên

Thiên thần áo trắng đẹp huyền linh

Thánh thiện vời cao một dáng hình

Chỗ ấy em ngồi hoa nở rộ

Trăng sao lấp lánh gợi mơ tình

Vẫy bút say sưa nồng ý tưởng

Tràn nghiên nét mực vẽ tranh viền

Lâng lâng cảm giác vùng sương tỏa

Thế tục lùi xa những não phiền

Tiếng mộng ru hồn say nhịp bước

Cung đàn lã lướt vọng trời mây

Hương lùa tỏa ngát đêm trà nguyệt

Giấc ảo tiên vời khó nhạt phai. 

Minh Thuý Thành Nội

Tháng 11/15/2020




Thảm hoa tím ngợp trời

Hình ảnh thảm hoa tím ở Tà Chì Nhù, VN trải dài bất tận , mênh mông , thơ mộng và hút mắt . Chẳng thua kém gì những cánh đồng hoa Oải Hương ở Pháp .

 Một loài hoa mọc ở Tây Bắc , mang sắc tím như lavender bạt ngàn ven những triền dốc trên đường lên đỉnh núi Phú Lương hay còn gọi là ” Tà Chì Nhù ” ( Trạm Tấu – Yên Bái ). Đây là ngọn núi cao thứ 7 của Việt Nam , có độ cao 2.979 m .

 Người dân tộc Mông gọi hoa tím này là ” Chi Pâu ” nghĩa là ” Không biết ” .

 Thực chất , hoa tím này có tên chính xác là Swertia hoặc Cỏ Mật Rồng hay Đại Tử Đương Dược ( nghĩa là Cây thảo dược có hạt lớn ) .  Là một Chi thuộc Họ Long Đởm Thảo Gentianaceae .

 Theo đó , loài hoa này được miêu tả lần đầu tiên vào năm 1883 . Là một loại thuốc dân gian truyền thống ở vùng Tây Tạng , Vân Nam và Quảng Châu – Trung quốc .

 Ở Việt Nam , họ Long Đởm mọc rất phổ biến ở khu vực núi cao phía Bắc . Là một họ thực vật có hoa chứa khoảng 99 Chi và khoảng 1.740 Loài .

 Đặc trưng nhận dạng là hoa của chúng có hình tia đối xứng và lưỡng tính với các đài hoa , cánh hoa liền và các nhị hoa trên tràng so le với tràng hoa .

 Được sử dụng trong y học cổ truyền và làm hương liệu .

Vân Anh — Petrotimes