CHÚC MỪNG TÂN CHỦ TỊCH Lê Văn Hải

CHÚC MỪNG TÂN CHỦ TỊCH VTLV LÊ VĂN HẢI

KÍNH MỪNG chủ tịch một vòng hoa

ANH HẢI giờ đây trụ cột nhà

LẠC VIỆT tưng bừng cùng nhạc kịch

VĂN THƠ rộn rã với thi ca

ĐẦU NĂM kính chúc tài vào cửa

TÂN SỬU mong cầu phúc đáo gia

NHIỆM VỤ bảo tồn Văn Hoá Việt

CÔNG THÀNH danh toại tiếng vang xa

Phương Hoa – JAN 16th 2021

***

ĐÓN MỪNG TÂN CHỦ TỊCH LÊ VĂN HẢI

(Họa)

Đón nhận tin mừng chuẩn bị hoa

Chào ông chủ tịch Hải trang nhà

Văn Thơ bút hội reo đồng nhịp

Lạc Việt thi đàn hát hợp ca

Bảo vệ ngôn Cha mình nhập nhóm

Lưu tồn ngữ Mẹ bạn hoà gia

Bao người góp lực xây đoàn kết

Chống Cộng khôn cùng tiếng dội xa

            Minh Thuý Thành Nội

                Tháng 1/17/2021




BÀI THƠ XUÂN HÀNH VÀ CÁC BÀI HỌA

XUÂN HÀNH

Khứ khứ hành nhân viễn,

Trần tuỳ mã bất cùng.

Lữ tình tà nhật hậu,

Xuân sắc tảo yên trung.

Lưu thuỷ xuyên không quán,

Nhàn hoa phát cố cung.

Cựu hương thiên lý tứ,

Trì thượng lục dương phong.

GIẢ ĐẢO (779-843 AD)

XUÂN HÀNH

Người đi thăm thẳm mịt mù,

Bụi hồng vó ngựa sải vù gió sương.

Bâng khuâng lữ khách bên đường,

Cuối chiều xuân sắc khói sương giăng mờ.

Sông loanh quanh quán lặng tờ.

Cố cung vườn ngự bây giờ nở hoa.

Quê  xưa vạn lý nhớ nhà,

Liễu hồ chao động lá pha thẵm  màu !

NGUYỄN THIÊN LONG

(dịch ” Xuân Hành ” của thi gia Giả Đảo (779-843 AD))

————————————————–

(Bài dịch của thầy Phạm Khắc Trí, thầy dạy môn Hán Văn trường Trung Học Phan Thanh Giản & Đoàn Thị Điểm Cần Thơ, và các bài họa của Trầm Vân, Ngô Phủ, Nguyễn Phan Ngọc An, Nguyên Nhung và Lê Hữu Uy).

Bài dịch bài thơ Xuân Hành do thầy PKT

XUÂN HÀNH

Ra đi rồi đi mãi,

Ngựa quen bụi đường xa!

Chiều đông sầu lữ thứ,

Sương xuân buông nhạt nhòa.

Quán vắng buồn soi nước,

Tình ai theo hoa trôi.

Quê xưa giờ xa quá,

Gió liểu hồ chơi vơi …

(Họa lại theo ý bài thơ Xuân Hành của thầy PKT)

XUÂN HÀNH

Ra đi vó ngựa bụi mù,

Tình quê đeo đẵng vân du bước đời.

Xuân sầu đẩm giọt sương rơi,

Quạnh hiu quán vắng trăng soi sóng buồn.

Tình ai theo ngọn gió vương,

Quê xa vời vợi nhớ thương từng giờ.

Tiếng chim ngùi hót ngẩn ngơ,

Ngả nghiêng cành liểu bên hồ chơi vơi ….

Trầm Vân

ĐĂNG TRÌNH

Người đi đi biền biệt,

Bất tận bụi rong cương.

Tình khách theo chiều xuống,

Cảnh xuân tỏa mờ sương.

Quán vắng buồn soi nước,

Hoa lòng trôi vấn vương.

Nghìn trùng xa cố lý,

Gió gợn sầu liểu dương.

Ngô Phủ

HIU QUẠNH

Một bước ra đi chẳng hẹn về

Dặm trường gió bụi thỏa yên cương

Tha hương áo não hoàn hôn đổ

Lả chả sương rơi thắm bụi đường

Hiu quạnh trăng vờn soi bóng nước

Hững hờ tin nhạn biết tìm đâu

Cố hương ngàn dặm mờ sông núi

Lất phất hồ thu cánh liểu sầu

Nguyễn Phan Ngọc An

RA ĐI

(Họa theo ý bài thơ Xuân Hành của thầy PKT)

Một lần đi, biết bao giờ trở lại,

Bụi đường in dấu ngựa mịt mù xa.

Chiều dần buông từng chiều sầu lữ thứ,

Mà quanh ta là sương phủ nhạt nhòa.

Dừng chân mõi, quán chiều soi bóng nước,

Có mãnh tình ai gởi cánh hoa trôi,

Quê nhà ơi! Giờ đây xa vời vợi,

Gió thở dài trong dáng liểu chơi vơi …

Nguyên Nhung

NGƯỜI VỀ

(Bài họa và đối ý với bài thơ Ra Đi của Nguyên Nhung)

Một lần đi, ước hẹn ngày trở lại,

Mà người về đầu bạc sóng trùng dương.

Mặt phù sa mịt mờ chiều sương lạnh,

Dáng xuân về u ẩn khách tha hương.

Bên quán khuya, trăng tà soi bóng nước,

Hoa lục bình trôi nổi mãng tình ai.

Dòng sông ơi! Chứa chan sầu hiu quạnh,

Buồn đong đưa cành thủy liểu chơi vơi!

Lê Hữu Uy


You received this message because you are subscribed to the Google Groups “Van Tho Lac Viet” group.
To unsubscribe from this group and stop receiving emails from it, send an email to van-tho-lac-viet+unsubscribe@googlegroups.com.
To view this discussion on the web visit https://groups.google.com/d/msgid/van-tho-lac-viet/1790669897.719673.1614359206849%40mail.yahoo.com.

‘Vinh Do’ via Van Tho Lac Viet Sat, Feb 27, 7:25 AM (9 days ago)
to Tony, Van, Hoang

Xi gửi bài dịch

XUÂN HÀNH

Khứ khứ hành nhân viễn,
Trần tuỳ mã bất cùng.
Lữ tình tà nhật hậu,
Xuân sắc tảo yên trung.
Lưu thuỷ xuyên không quán,
Nhàn hoa phát cố cung.
Cựu hương thiên lý tứ,
Trì thượng lục dương phong.

Tác giả: Giả Đảo (779-843) ]*]

BÀI DỊCH

ĐI CHƠI XUÂN

Người đi, đi đã xa nhà

Bụi đường vó ngựa cuốn xa chẳng tường.

Chiều buông lữ khách hoài hương,

Sắc xuân hoa cỏ khói sương êm đềm.

Bên dòng nuớc, quán vắng im,

Cung xưa hoa nở đua chen khắp vùng,

Quê xưa ngàn dặm nhớ nhung,

Liễu xanh cợt gió bên dòng hồ, ao.

Đỗ Quang Vinh dịch thơ




Thơ diễn ngâm Về Đâu Cánh Chim Côi




XUÂN YÊU THƯƠNG

           Thơ Phạm Kim Thuận           Tranh Hồ Hiếu

Mùa xuân tô má em hồng

Tô môi tươi thắm cho nồng nàn say

Long lanh mắt phượng mày ngài

Tóc thề buông thả áo dài lưng ong

Xuân về én liệng từng không

Đậu trên cành biếc vui cùng xuân ca

Đất trời thanh ngát hương xa

Hoàng hoa nở đóa mượt mà cúc thơm

Tiếng xuân thanh thoát êm đềm

Đong đưa trong gió dịu mềm lời ru

Ơi em áo lụa hiền nhu

Yêu thương dâng kín tâm tư khách trần

Mùa xuân vọng tiếng chuông ngân

Kinh cầu nguyện khắp thế nhân an lành

Thôn làng, phố thị yên bình

Nàng xuân yêu dấu thắm xinh rạng ngời

Thơ đan kín mộng lòng tôi

Xuân yêu thương thắp sáng đời thiên thu.




Thơ Đường THUẬN NGHỊCH ĐỘC: XUÂN CHÀO TẾT

XUÂN CHÀO TẾT

(Thủ vỹ ngâm – Thuận nghịch độc – 1 X 12)

  1. Bài chính:

(Thuận độc)

Xuân chào đón Tết rực vườn hoa

Cảnh sắc xinh tươi đẹp ngọc ngà

Dâng ngập ý lời gieo vận đối

Trải tuôn tình nghĩa kết thơ hoà

Lâng lâng cánh phấn mai lơi lả

Bảng lảng tơ vàng bướm nhẩn nha

Trần thế tỏa quang ngời sắc thắm

Xuân chào đón Tết rực vườn hoa

2.       Nghịch độc:

Hoa vườn rực Tết đón chào Xuân

Thắm sắc ngời quang tỏa thế trần

Nha nhẩn bướm vàng tơ lảng bảng

Lả lơi mai phấn cánh lâng lâng

Hòa thơ kết nghĩa tình tuôn trải

Đối vận gieo lời ý ngập dâng

Ngà ngọc đẹp tươi xinh sắc cảnh

Hoa vườn rực Tết đón chào Xuân

  • Cắt 2 chữ đầu mỗi câu trong bài chính, thành bài ngũ ngôn:

Đón Tết rực vườn hoa

Xinh tươi đẹp ngọc ngà

Ý lời gieo vận đối

Tình nghĩa kết thơ hoà

Cánh phấn mai lơi lả

Tơ vàng bướm nhẩn nha

Tỏa quang ngời sắc thắm

Đón Tết rực vườn hoa

4.       Cắt 2 chữ cuối mỗi câu trong bài chính, đọc ngược thành bài ngũ ngôn thứ 2:

Rực Tết đón chào Xuân

Ngời quang tỏa thế trần

Bướm vàng tơ lảng bảng

Mai phấn cánh lâng lâng

Kết nghĩa tình tuôn trải

Gieo lời ý ngập dâng

Đẹp tươi xinh sắc cảnh

Rực Tết đón chào Xuân

5.       Cắt 3 chữ cuối mỗi câu trong bài chính, thành bài thơ 4 chữ:

Xuân chào đón Tết

Cảnh sắc xinh tươi

Dâng ngập ý lời

Trải tuôn tình nghĩa

Lâng lâng cánh phấn

Bảng lảng tơ vàng

Trần thế tỏa quang

Xuân chào đón Tết

6.       Cắt 3 chữ cuối mỗi câu trong bài chính, chuyển ngược dưới lên thành bài thơ 4 chữ thứ 2:

Tết đón chào Xuân

Quang tỏa thế trần

Vàng tơ lảng bảng

Phấn cánh lâng lâng

Nghĩa tình tuôn trải

Lời ý ngập dâng

Tươi xinh sắc cảnh

Tết đón chào Xuân

7.       Cắt 3 chữ đầu mỗi câu trong bài chính, thành bài thơ 4 chữ thứ 3:

Tết rực vườn hoa

Tươi đẹp ngọc ngà

Lời gieo vận đối

Nghĩa kết thơ hoà

Phấn mai lơi lả

Vàng bướm nhẩn nha

Quang ngời sắc thắm

Tết rực vườn hoa

8.       Cắt 3 chữ đầu mỗi câu trong bài chính, chuyển ngược dưới lên thành bài thơ 4 chữ thứ 4:

Hoa vườn rực Tết

Thắm sắc ngời quang

Nha nhẩn bướm vàng

Lả lơi mai phấn

Hòa thơ kết nghĩa

Đối vận gieo lời

Ngà ngọc đẹp tươi

Hoa vườn rực Tết

9.       Cắt 4 chữ đầu mỗi câu của bài chính, thành bài thơ 3 chữ:

Rực vườn hoa

Đẹp ngọc ngà

Gieo vận đối

Kết thơ hoà

Mai lơi lả

Bướm nhẩn nha

Ngời sắc thắm

Rực vườn hoa

10.     Cắt 4 chữ cuối mỗi câu trong bài chính, ngược từ dưới lên thành bài thơ 3 chữ thứ 2:

Đón chào Xuân

Tỏa thế trần

Tơ lảng bảng

Cánh lâng lâng

Tình tuôn trải

Ý ngập dâng

Xinh sắc cảnh

Đón chào Xuân

11.     Dùng 3 chữ đầu trong câu 8 của bài chính “thuận độc (bài 1) đảo ngược lại rồi thay cho 3 chữ cuối của câu 1, bài 1, và tiếp tục hoán đổi từ dưới lên cho đến hết 8 câu, thành một bài thất ngôn bát cú khác:

Xuân chào đón Tết, đón chào Xuân

Cảnh sắc xinh tươi tỏa thế trần

Dâng ngập ý lời tơ bảng lảng

Trải tuôn tình nghĩa cánh lâng lâng

Lâng lâng cánh phấn tình tuôn trải

Bảng lảng tơ vàng ý ngập dâng

Trần thế tỏa quang xinh sắc cảnh

Xuân chào đón Tết, đón chào Xuân

12.     Dùng 3 chữ đầu trong câu 8 của bài “nghịch độc” (bài 2), đảo ngược lại rồi thay cho 3 chữ cuối của câu 1, bài 2, và tiếp tục hoán đổi từ dưới lên cho đến hết 8 câu, thành bài thất ngôn bát cú khác thứ 2:

Hoa vườn rực Tết rực vườn hoa

Thắm sắc ngời quang đẹp ngọc ngà

Nha nhẩn bướm vàng gieo vận đối

Lả lơi mai phấn kết thơ hòa

Hòa thơ kết nghĩa mai lơi lả

Đối vận gieo lời bướm nhẩn nha

Ngà ngọc đẹp tươi ngời sắc thắm

Hoa vườn rực Tết rực vườn hoa

Phương Hoa – Xuân Canh Tý – 2020




(thơ song ngữ) THUNG LŨNG HOA VÀNG của QUỐC NAM & THANH-THANH

https://lexuannhuan.tripod.com/ThanhThanh.html

https://lexuannhuan.tripod.com/index.html




Bốn Mùa Thơ Gọi – Minh Thúy

Lời mở đầu

Khi hoa Xuân hé nụ với cây lá xanh tươi đón chào vạn vật, rồi Hạ tiếp với áng mây trời trong xanh, ánh nắng rực rỡ muôn lối, tiếp theo mùa Thu đầy lá vàng rơi êm dịu không gian, cuối cùng thì những hạt mưa rơi buốt giá mùa Đông đến.

Còn niềm vui nào bằng khi được sống với tình yêu của mình cùng nàng thơ. Ban ngày bận rộn với công việc, đêm của sự tĩnh lặng thì tình thơ lại dâng lên. Tôi được may mắn đi vào vườn thơ muôn sắc cùng những thi tài, thi bá và các bậc tiền bối chỉ dạy, hướng dẫn nhiều thể thơ của Đường luật, và tôi đã có những giây phút hạnh phúc để quên đi những nhọc nhằn trong đời sống.

Trân trọng biết ơn đến quý thi hữu đã cùng thở, cùng dâng những cảm xúc qua “Bốn Mùa Thơ Gọi”, mà tôi thiết nghĩ nên lưu lại kỷ niệm đẹp trong thi tập.

Cám ơn hội Văn Thơ Lạc Việt đã cho tôi có được duyên lành gặp Thầy Phạm Thái giúp đỡ hướng dẫn về kỹ thuật và in ấn.

Cám ơn đặc biệt đến người anh, người Thầy Bảo Trâm đã làm trên 1000 tranh thơ hoà điệu, đã dẫn dắt bước đầu về các luật thơ, cũng như giới thiệu đưa vào các hội thơ văn, và tôi được cơ hội học hỏi nhiều nhất từ hội Hoàng Gia.

Hiện tại cũng nhờ anh Bảo Trâm, chịu khó gom tất cả những bài thơ, giúp layout, làm bìa và trình bày nên tôi có được thêm tập thơ thứ hai “Bốn Mùa Thơ Gọi”.

Mời các bạn yêu thơ cùng hòa mình trong sân chơi tao nhã của 4 mùa Xuân Hạ Thu Đông khởi sắc.

                                    Minh Thúy


Xin vui lòng click vào hình để đọc sách




Suối Thơ – Minh Thúy

Vui lòng bấm vào hình để đọc sách

Suối Thơ

Biển đời mênh mông trải những buồn vui, yêu thương thăng trầm theo cuộc sống, bên cạnh đó cũng có những giây phút được đắm mình tắm gội suối thơ cho những ai yêu thích…

Khi màn đêm xuống… ngoài trời gió se lạnh, ngoài trời có bóng trăng chênh chếch soi qua khung cửa sổ, nụ họa nở tươi giữa mùa Xuân, xác Phượng Tím loang màu nắng Hạ trải ngập lối về, tình Thu gieo cảm nỗi buồn man mác hay cơn mưa mùa Đông lạnh lẽo bên tách cà phê nóng, thì những giọt thơ lan tràn trên giấy mực chảy thành suối.

Ký ức ngày Quốc Hận đau thương nặng sâu hình ảnh các vị tướng tuẫn tiết, những anh lính Việt Nam Cộng Hoà hy sinh xương máu tàn phế bảo vệ tổ quốc, những người tù cải tạo chịu khổ ải nơi rừng sâu nước độc, hiện trạng trong nước đầy hình ảnh bất công, dã man đày đọa dân lành, con đường tăm tối quê hương bị Tàu xâm chiếm, những tù nhân chính trị đang bị giam cầm …thì giọt thơ cũng hoà lệ tuôn rơi trong nỗi ngậm ngùi xúc động …

Rồi mùa Phật Đản với niềm tin tôn giáo, đạo pháp như nước suối Cam Lồ cho đời tắm gội và chèo thuyền Bát Nhã thấm sâu luật Sắc Không, tập hành Tứ Diệu Đế (Khổ, Tập, Diệt, Đạo) đã ảnh hưởng vào đường thơ mà tôi được có cơ hội xướng họa cùng Thầy Thích Tánh Tuệ qua những bài pháp, được tán thán cố đại lão Hoà Thượng trong trang nhà Quảng Đức …

Mùa lễ Cha Mẹ đầy nỗi nhớ nhung buốt nhói, tiếng bạn khóc, lời than thở từ chị, từ anh, hay có những khi nỗi buồn không tên, nỗi buồn ly hương vây bám …đó là chất liệu, là vốn liếng, là cảm xúc được tràn vào thơ…

Chưa kể niềm vinh dự được họa bài xướng của bậc tiền nhân như cụ Phan bội Châu, Nguyễn công Trứ, Trần Tế Xương, Hồ Xuân Hương, Hàn mặc Tử, Bà huyện Thanh Quan, còn thêm về lịch sử như Hai Bà Trưng, Trần Bình Trọng, Trần Quốc Toản, vua Quang 5|Tuy ể n T ậ p Th ơ _2019_Minh Thúy

Trung, hoặc thơ tưởng niệm những vị anh hùng đã vong thân vị quốc v…v…

Tất cả đều được các thi bá soạn đưa vào cùng nhau xướng họa thơ Đường Luật với các thể khó như Ngũ độ Thanh, Song Thanh, Tung Hoành Trục Khoán, Bát Âm, Toán Sắc Thi, Lộc Lư Ngũ Bộ, Tập Danh và nhiều thể thơ biến hóa vui lạ khác…v..v.

Ngoài thơ Đường Luật còn có thơ Lục Bát, Tứ Tuyệt, Song Thất Lục Bát, thơ 5 chữ, thơ 8 chữ.

Được buông mọi mệt nhọc lo âu, những phiền não trong cuộc sống để trầm mình tắm gội dòng thơ, niềm đam mê cho tôi hưởng giây phút thật hạnh phúc nhẹ nhàng giải thoát

Tôi trân trọng những bài thơ xướng họa cùng quý thi nhân các hội thơ, đặc biệt nhất là hội thơ Đường Hoàng Gia mà từ ngày đầu, người anh tên Bảo Trâm đã giới thiệu gia nhập hội để học hỏi thêm, sau thời gian anh đã chỉ dạy nhiều luật thơ, từ đó tôi mở mang rộng theo các tiền bối, học hỏi tham gia trò chơi vận trí não đầy say mê thích thú.

Và đây là tập thơ thứ 3 gồm hơn 500 bài thơ của tôi trong năm 2019 cùng 500 bài của các tác giả trong hội thơ được lưu lại vì tôi rất trân quý kỷ niệm.

“Uống nước nhớ nguồn” . Tôi rất biết ơn công lao anh Bảo Trâm đã gom thơ, layout từng bài xướng họa, cùng thầy Thái Phạm đã liên lạc in ấn với Amazon, LuLu để hoàn thành tập 3, thơ sáng tác và xướng họa năm 2019, được gọi là “Suối Thơ”

Tôi cũng chân thành cảm ơn hội trưởng Chinh Nguyên hội Văn Thơ Lạc Việt, đã tạo duyên cho tôi gặp Thầy Phạm Thái phối hợp làm việc chung với anh Bảo Trâm giúp đỡ một cách nhiệt tình hăng hái

Cuối lời, mời các bạn yêu thơ hãy cũng tôi bơi lội trong giòng nước mát, hay dựa gốc cây ngắm suối chảy giữa trời mây bao la, có tiếng thơ muôn hướng của sân chơi tao nhã đầy trí tuệ.

Minh Thúy

Tháng 4/2020




GIỌT NƯỚC MẮT CỦA LÍNH

Tác giả: DHT.

LTS: Đây là một chuyện thật, không có một chút nào hư cấu, chúng tôi là một người lính tác chiến, chiêm nghiệm, có một sự huyền bí mà không giải thích được trong việc trùng phùng giữa cha con sau 40 năm, người SQ/BĐQ hoàn toàn không biết mình đã có một đứa con, TCDV chỉ hiệu đính các lỗi “hỏi ngã”, còn giữ nguyên toàn bộ lời kể của người trong cuộc.
TCDV cho đăng câu chuyện hi hữu này, để riêng tặng cô Hoàng Mai, chủ Snack-Bar tại mũi Nhà Bè các năm 1969, 1970 và các bạn Mũ Nâu đã từng đóng quân nơi này.
Germany, 12.03.2016
– Điều Hợp Viên DĐ Ngôn Ngữ Việt,
– Chủ Nhiệm TCDV.
LÝ TRUNG TÍN (TĐ51/LĐ6BĐQ/QLVNCH)Giọt nước mắt của lính– dht –

Đây là chuyện thật của người bạn học cũ của tôi và người lính Biệt Động Quân VNCH, sau 40 năm thất lạc nhau vì chiến tranh, một bất ngờ duyên trời đã cho anh chị gặp lại nhau, và tôi được nghe anh chị kể cho tôi về một phần đời của họ đầy vui, buồn, sợ hãi, chán chường của một người con gái đẹp đã vì hoàn cảnh mà ra nông nỗi ấy, của một người trai thời loạn thất chí, vì không làm tròn trọng trách đối với núi sông. Hôm được anh chị mời đến nhà chơi, qua một tách trà sen Huế (anh chị và tôi đều gốc Huế), anh nhìn vợ, âu yếm bảo:

– Em kể lại chuyện tình mình cho Mousti ( nick của tôi ) nghe đi, anh nghĩ Mousti sẽ thích chuyện tình đẹp của mình, đẹp như một cổ tích…và chị bắt đầu kể, anh ngồi nghe, lâu lâu thêm vào một vài chi tiết..

Anh nhìn tôi, tay vuốt tóc chị, nói với tôi:

– Cánh Hoa Thời Loạn. Xong quay lại nói với chị:

Anh phải đem em về lại Huế ngày nào đó nhé cưng.
Hạnh phúc thật là nhỏ bé mà đồng thời cũng thật lớn vô cùng.
Gặp nhau chỉ có một giờ
tình yêu bất tận chẳng ngờ tái sinh…( Thơ của anh )

*
Tôi mất anh đã hơn 40 năm rồi, ngày mà quê hương còn rền vang tiếng súng, tiếng đại bác.. của những trận chiến ác liệt như Pleime, Đồng Xoài, Bình Giả…

Lúc đó tôi còn là một người đàn bà 25 tuổi, mở một quán rượu gần đồn lính, thời bấy giờ không biết làm gì để nuôi cuộc sống còn của mình, cha mẹ chết, có người yêu đi lính cũng đã gục ngã trên chiến trường, nhà cửa tiêu tan vì chiến tranh, buồn quá, nhân có con bạn học cũ hoàn cảnh gần như tôi, nhưng nó còn đau hơn tôi là chồng nó bỏ gia đình đi tập kết ra Bắc, bỏ lại vợ con nheo nhóc buôn thúng bán bưng sống qua ngày. Hai đứa tôi, nhìn vẫn còn mặn mà lắm, ngày còn đi học là hai hoa khôi của Gia Long. Bây giờ nghĩ lại thời gian đẹp này chỉ còn trong hoài niệm. Tôi bây giờ đau đớn nói ra, mình đã là một cô gái giang hồ, nôm na là gái điếm. Khách của Vân và tôi gần như là lính, vì thành phố tôi đang ở gần một trại lính. Vân rủ tôi mở quán rượu ở đây vì vậy, lính là những người không có tương lai, sống chết không biết ngày nào nên họ ăn chơi bạt mạng, hễ cuối tháng lãnh lương ra là đến quán nhậu, rượu chè, gái…họ sống như vậy, lao mình vào những ly rượu mạnh hay những cuộc truy hoan để quên nỗi sợ những tiếng súng, những tiếng đại bác, những hầm chông cọc nhọn đang chờ, quên đi tử thần đang rình đâu đó.. Cũng may là Vân và tôi không còn gia đình, nếu không tôi không biết phải ăn nói làm sao với cha mẹ mình về cái nghề tôi đang làm! Lúc mới đầu chưa quen với nghề này, tôi ghét lắm những bàn tay vô tình để lên không đúng chỗ trên thân tôi, hay tiếng đùa giỡn quá trớn của những anh lính uống say, khi tôi đi ngang qua bàn, víu vai tôi xuống, ôm mặt tôi đặt chiếc hôn nặc nồng mùi rượu… có lúc tôi chán nản, muốn bỏ nghề đi tìm một nghề khác dù không đủ tiền nuôi mình, nhưng sau đó, ngày qua ngày, tháng qua tháng rồi cũng bắt đầu quen. Tuy vậy nhiều khi nhì Vân ngả ngớn với mọi người, ăn mặc hở hang, lắm lúc nó ngồi luôn trên chân khách, ỏn ẻn như muốn làm tình luôn ngay tại chỗ. Tôi nhìn những cử chỉ ấy, rồi thấy tởm cho chính mình luôn. Có những chàng lính trẻ khuôn mặt còn non, có thể nặn ra sữa được, phần đông là học sinh bị rớt Tú Tài, đến tuổi phải đăng lính thì nhiều lắm là cỡ tuổi em trai út mình thôi, vậy mà phải chịu đựng khói thuốc trong căn phòng bẩn không mấy sạch, vì làm gì có thời gian để thay đổi chiếu, chăn, nhiều đêm phải tiếp vài người khách là gần trắng đêm rồi, vì họ cho rằng tiền trao cháo múc, có những lần tôi gọi là xáp lá cà vì sự hùng hục không chút dịu dàng, sao cho thoả mãn sinh lý là được, không tình cảm trong đó, chính tôi, tôi cũng chẳng muốn có tình cảm, tôi tuy là một gái điếm nhưng tôi vẫn trọng phần hồn mình, chuyện làm tình với bất cứ ai chỉ là chuyện kiếm cơm mỗi ngày, không ăn thua gì đến trái tim mình cả, quan niệm tôi là vậy. Tôi cũng không bao giờ hy vọng hay ước mong ngày nào đó sẽ có một người sẽ đến yêu tôi và đưa tôi ra khỏi chốn bùn nhơ này. Rồi ngày tháng vẫn trôi qua, cuộc đời của Vân và tôi vẫn vậy, vẫn nhịn nhục chiều chuộng những người đàn ông thoáng qua đời chúng tôi trong vài giờ ngắn ngủi rồi ra đi, không để lại chút gì luyến tiếc. Tiền trao cháo múc mà! Rất hiếm những lần truy hoan có người nhìn tôi âu yếm, hay cử chỉ dịu dàng, chỉ có vừa mới chưa kịp cổi đồ là mình đã như con vật bị lên bàn mổ vậy, hùng hục, hùng hục, đúng như nghĩa của chữ này vậy, xong rồi, nằm thở dốc, hút điếu thuốc, mặc lại quần áo và mở cửa bước ra, không một lời chào hay một cái ngoắc tay từ giã…. Toán lính này đi, toán lính khác đến, không có gì thay đổi trong cuộc sống, không biết Vân nghĩ thế nào, phần tôi, tôi nhầy nhụa thêm như mình đang lội trong vũng bùn cuộc đời vậy.

Vậy mà, một hôm anh đến, anh vừa đổi đến đơn vị này; hôm ấy là ngày phép của anh, anh theo đồng bạn đến quán, gọi một chai martell thứ nặng nhất, mắc nhất uống với nhau. Con Vân đi ngang bàn, ngả ngớn với bạn anh, vuốt tóc anh, anh để tự nhiên cho Vân làm, chỉ mỉm cười chào lịch sự. Bàn anh gọi thức nhậu, Vân lo tán tỉnh với bạn anh, nó ngoắc tay nhờ tôi làm giùm. Tôi mang mấy dĩa đồ nhậu đến bàn anh, tôi thấy ánh mắt anh đậu lại trên mắt tôi một khắc, mỉm cười cám ơn; cả bàn gom tiền lại trả, anh móc túi cho riêng tôi một số tiền khá, anh cầm tay tôi, mở tay tôi ra, đặt tiền vào đó và đóng tay tôi lại, rồi thôi.
Chiều ấy, anh nói với Vân muốn tôi tiếp anh, tôi bằng lòng, đưa anh lên phòng. Trong lúc anh ngồi trên ghế, tôi lấy drap và áo gối mới thay, vì chăn chiếu cũ đã có nhiều người nằm trên ấy, mùi thuôc lá, mùi đàn ông, những dấu vết vàng vàng của những lần làm tình trước dơ dáy.

Không hiểu vì sao tôi lại đối với anh đặc biệt như vậy, tôi cũng tự đang hỏi mình. Anh có một khuôn mặt thật…tôi không biết tả ra sao, cái nhìn ấm áp khi anh nhìn tôi. Sửa soạn giường gối sạch sẽ, tôi như bình thường, mời anh lại giường, tôi đứng cởi đồ trước mặt anh, xong tôi dìu anh nằm dài xuống, và từ từ cởi quần áo cho anh, anh để yên cho tôi làm, xong tôi ngồi xuống giường, nằm xuống cạnh anh, anh dang tay anh ra cho tôi đặt đầu lên, xong quay lại vuốt tóc tôi, hôn lên môi tôi dịu dàng, làm tôi hụt hẫng, bất ngờ trước những cử chỉ trìu mến ấy, rồi anh bắt đầu cuộc chơi. Tôi thú nhận là lần đầu tiên từ ngày tôi làm điếm, tôi có cảm tưởng như tôi là người con gái còn trinh được người yêu yêu mình lần đầu, có một rung động không tên chuyền vào tôi, tôi đáp trả lại anh, tôi không gọi lần này là cuộc truy hoan của một người đàn ông và cô gái điếm. Xong cuộc, anh lấy tấm khăn để trên bàn lau cho tôi và anh, xong anh bảo tôi nằm yên đó, anh chồm dậy lấy bao Capstan châm lửa hút, chợt anh nghe tôi ho, anh dập tắt ngay điếu thuốc chưa kịp hút.

– Tôi làm em ho? Em không chịu được khóí thuốc?

Tôi giật mình xin lỗi nói không phải vì khói thuốc mà ho mà tại tôi có cái tật từ nhỏ là nhạy cảm, và lúc nào bị xúc động là tôi ho. Nghe tôi trả lời, anh ôm đầu tôi lại gần và hôn tôi như anh đang hôn người tình của anh vậy. Rồi hứng lên, anh lại đưa tôi vào cuộc chơi thứ nhì.
Sau lần yêu này, anh đặt đầu anh giữa hai vú tôi, hôn lên đó, và hai vai anh bỗng rung lên, anh khóc nức như đứa trẻ làm tôi sửng sốt. Tôi ôm đầu anh, trìu mến, hỏi anh nguyên do nhưng anh không muốn trả lời…

Anh và tôi nằm yên như vậy một lúc lâu, tôi không còn nghe anh khóc nữa, tôi nhìn anh, anh đang ngủ trên ngực trần tôi. Tôi lấy tay gỡ nhẹ đầu anh, đặt đầu anh lên gối, nhìn anh ngủ, lòng tôi chùng xuống, một tình cảm mới mẻ hiện ra trong tôi không có tên.

Tôi đứng dậy đi tắm và trước khi xuống quán, tôi nhìn anh ngủ, tôi cúi xuống đặt lên môi anh một chiếc hôn hình như có thương yêu trong đó, tôi cũng không hiểu luôn cử chỉ này tại vì sao nữa! Từ ngày hành nghề, tôi luôn tránh nếu có thể những chiếc hôn môi, cái cảm giác lợm giọng hôi nồng nặc thuốc lá và rượu làm tôi muốn ói, nhiều khi khách hôn mình, tôi muốn đấm vào mặt khách một cái, đạp cái thân thể trần truồng xuống đất và chồm dậy mặc nhanh áo quần, chạy trốn như vừa gặp phải ma. Vậy mà chính tôi lại hôn anh.

Tôi xuống quán xem Vân có cần đến tôi không, nhưng tối nay ít khách nên Vân để cho tôi yên.

Tôi xuống bếp làm vài món ăn đem lên phòng, anh đã tỉnh, vẫn nằm yên trong tư thế con nhộng,trên môi một nụ cười hóm hỉnh, nhìn tôi như nói:

– Em thẹn thấy anh trần truồng phải không? Tôi cười nhẹ không trả lời, trả lời sao bây giờ trong hoàn cảnh tôi, một cô gái điếm mà lại mắc cỡ đứng trước người đàn ông trần truồng như gái nhà lành!

Tôi nói anh đi tắm rồi ra ăn cơm với tôi. Trong lúc anh tắm, tôi lại giường, nằm xuống úp mặt lên gối, ngửi mùi tóc anh và mùi mồ hôi anh còn thoảng trên đó, có chút gì thật dễ thương khó quên!

Xong buổi cơm chiều, hai đứa cởi hết đồ, ôm nhau nằm trên giường, chợt nghe anh thở dài, tôi hỏi anh tại sao và anh chưa hề hỏi cho biết tên tôi cũng như tôi chưa biết tên anh, anh nói:

– Anh với em, mình không có tương lai, mai anh đi rồi, biết sống chết ra sao, và em cũng vậy, ngày anh may mắn còn sống trở về, chắc gì mình còn gặp lại nhau, thì thôi nếu em có chút tình cảm cho anh thì cứ giữ vậy làm kỷ niệm, anh không hề xem em là cô gái giang hồ, chỉ xem em là người con gái bất hạnh của cuộc đời trong chiến tranh mà thôi.

À, mà đây, vừa nói anh vừa tháo ở cổ anh sợi dây chuyền vàng có miếng mề đay nhỏ bằng vàng hình trái tim, có khắc số quân của anh. Tôi ngơ ngác, giương mắt nhìn anh:

– Đó là quà cuối cùng của Mẹ anh cho anh trước khi bà mất trong Tết Mậu Thân Huế, bà cho thợ vàng khắc số quân của anh khi lỡ anh chết trận, có trên cổ anh vừa tấm thẻ bài lính và số quân này, như vậy chắc ăn hơn, bà nghĩ vậy. Bây giờ anh gửi tặng em, giữ lấy như quà cưới, vì hôm nay anh không ngờ trước một sự gặp gỡ dễ thương và đáng nhớ như vầy, xem như hôm nay là ngày cưới anh và em, và đêm nay là đêm động phòng của mình. Anh cảm nhận được tình cảm em qua mấy lần yêu nhau chiều nay, em đã đặt tình cảm em trong đó; anh hiểu rõ lắm, vì trước đây, anh cũng đã sống trong trụy lạc, mê đắm trong thuốc lá, trong rượu, cùng gái điếm với những đêm truy hoan nhưng thú thật em, chỉ vì lâu ngày thèm khát đàn bà, với em hôm nay, anh không thèm khát chuyện xác thịt, lúc đầu anh cũng nghĩ sẽ như những cuộc truy hoan với những cô gái giang hồ khác (trong cuộc nói chuyện, anh vẫn tránh chữ gái điếm, và tôi thầm cảm ơn, sự tế nhị này của anh.) nhưng hôm nay thì không, anh có cảm tưởng người đang nằm bên anh là người yêu của anh.
Anh xem em như người bạn đời của anh dù chỉ gặp nhau trong một đêm, và cuộc tình ngắn ngủi này sẽ theo anh suốt dọc quãng đường anh đi tiếp. Tôi tháo chiếc nhẫn bạc kỷ niệm sinh nhật 18 tuổi của mình, đeo vào ngón tay út anh.

Tôi tắt đèn, và hai đứa lại lao vào những trận yêu bỏng cháy đầy tình cảm…

1. CHÚT QUÀ GỬI EM

Liên tiếp tuần sau đó, tôi gặp lại người lính không tên này ngày chủ nhật. Anh đến quán cùng với vài người bạn lính khác, các anh và anh, nhất là anh vẫn oai hùng trong bộ quân phục với áo hoa rừng và chiếc mũ nâu, cũng vẫn khuôn mặt dễ mến mà từ tuần trước khi anh ra về, tôi ra điều kiện với Vân, nếu Vân còn muốn tôi giúp Vân trông nom quán tiếp Vân, tôi sẽ không tiếp khách nữa. Vì hình như tôi vẫn đợi anh đến, tình cảm tôi hình như có sư đổi thay, và hình như tôi có linh tính là cuộc đời tôi đang đến một ngã rẽ khác.

Anh ngồi chơi với bạn, uống một chai bia lạnh hiệu 33, trong không khí đầy khói thuốc lá, mùi rượu, những mẩu chuyện lính đầy tính chất gái giang hồ, và sexe; tôi lén để ý anh, anh chỉ ngồi cười nghe bạn, không hoà đồng vào với bạn, Vân lăng xăng ôm cổ người này đến người khác, bằng lòng cho khách hôn hít, sờ soạng…

Tôi đứng yên sau quầy rượu, giả vờ lau ly, cốc… Anh quay lại nhìn tôi, mỉm cười chào nhẹ bằng một nụ cười thật hiền và dễ thương. Anh làm hiệu cho tôi đến gần anh, anh đứng dậy kéo ghế cho tôi ngồi cạnh. Nhiều bận mấy đồng đội anh định giở trò ờm ờ, những cử chỉ như đối với Vân, anh đưa tay như bảo họ stop, và lạ lùng nhất là họ nghe anh răm rắp, tôi nghĩ trong toán lính này, anh là huynh trưởng của họ, vai vế lớn hơn.

Sau đó, chiều lại, mấy người lính kia đứng dậy đi về trại, anh ngồi lại quán, hỏi Vân với tôi có thể cho anh ăn cơm chiều ở đây không, Vân cười nhìn tôi, ý là cô nàng hiểu anh muốn gì.

Vân đứng dậy dọn ly cốc và vỏ chai không trên bàn, đem đổ tàn thuốc, đưa mắt cho tôi như bảo: Mày lo cho chàng đi. Mâm cơm chiều này tự tay tôi nấu, ngon hay vì cảm tình anh dành cho tôi mà anh thấy ngon?

Chiều nay anh uống hơi nhiều một chút, rồi ngà ngà say, Vân và tôi không để anh về một mình, giữ anh lại cho anh ngủ lại đây.

Sáng hôm sau, khi anh ấy dậy, tôi pha nước cho anh tắm, bưng điểm tâm lên phòng cho anh vì tôi muốn hưởng trọn với anh ấy những giờ phút cuối trước khi anh ấy trở về đơn vị.

Anh kéo ghế sát lại, bảo tôi ngồi cạnh anh, một tay anh cầm cốc café, tay kia anh ôm ngang người tôi, tôi cảm nhận được hơi nóng từ thân thể anh thấm vào người tôi, lòng tôi nhũn ra, nước mắt muốn ứa nhưng không dám vì sợ anh buồn biết tôi đang buồn.

Anh ôm tôi chặt trong vòng tay mạnh mẽ của anh, chặt nhưng trìu mến chứ không như lũ khách tôi thường gặp.

Rồi cũng phải đến giờ xa nhau. Anh cầm tay tôi, quàng cổ tôi đi xuống cầu thang, tôi không để ý đến bao thuốc Capstan anh quên trên bàn. Xuống quán, anh hôn má Vân từ giã, và hôn tôi nồng nàn, môi tôi và anh như bị gắn chặt bởi một thứ keo đặc biệt mà thiên hạ gọi là keo sơn. Vân hỏi anh bao giờ anh ghé ngang, anh chỉ cười, đưa tay lắc lắc như nói không biết được, rồi anh đi. Tôi nhìn theo bóng anh, tim tôi muốn ngất đi vì thương nhớ.

Tôi bỏ Vân một mình vì sớm quá, quán chưa đông, tôi lên phòng, đóng cửa định ngồi khóc cho đã, chợt nhìn thấy trên bàn gói Capstan anh quên, nhưng tôi biết anh xa rồi nên thôi. Tôi mở gói thuốc xem còn thuốc nhiều hay không, chợt tôi khựng lại; trong bao thuốc có một bao giấy gói, tôi mở ra xem: một photo anh ngày còn sinh viên chắc, vì trẻ lắm, một số tiền và một lá thư ngắn có theo một bài thơ.

– Em giữ hộ anh nhé khoản tiền lương tháng này anh vừa lãnh, vì lúc này anh chưa cần đến, và anh tặng em hình chụp ngày anh vừa 17 tuổi như một kỷ niệm. Em giữ số lương anh đến khi nào gặp lại anh em hãy đưa trả anh, còn nếu rủi không gặp nữa, em cứ giữ lấy phòng thân vì không ai biết ngày mai như thế nào với chiến tranh,

2. GỬI EM CHÚT QUÀ

(Bài thơ này anh viết trong đêm khi em ngủ ngon giấc bên cạnh, anh ngồi dậy viết vội tặng em.)

mai lên nớ bao giờ gặp lại
ta biết em trong phút si cuồng
thằng lính trận thấy lòng ấm lại
tình của mình dù chỉ một đêm….

mai lên nớ thèm môi nào ngọt
phút hiến dâng như cả đời mình
ta bỗng chốc thành thằng ngu độn
chín bệ vàng hoàng hậu nương nương

mai lên nớ say cùng chiến trận
dòng chữ ghi ân hận chút tình
bao giấy thuốc thơm tình lính trận
gửi cho người tấc dạ trung trinh

mai lên nớ nhớ thân thể nóng
em rướn người vào bóng trăng tan…..

Người lính không tên…
*
Trước khi anh đi, Anh hỏi tôi có tấm hình nào không? Tôi mở tủ, tìm được một tấm hình mặc áo dài trắng có gắn huy hiệu bông mai của trường Gia Long, hình này tôi giữ kỹ vì để nhớ thời gian mình còn là một nữ sinh trong trắng chưa vướng bụi đời. Tôi đưa cho anh, anh bảo như vậy những khi nhớ tôi anh sẽ nhìn cho nhớ mặt tôi vì hình lúc 10 năm về trước và tôi bây giờ không khác nhau bao nhiêu, tôi ngồi thừ trước hình anh… nước mắt chan hoà..

Sáng hôm sau, anh dậy sớm trở về trại vì đã hết phép. Anh hôn tôi nồng nàn, từ giã Vân và tôi. Tôi nhìn theo anh…hình như tôi vừa mất một cái gì thật thương qúi…

3. GIỌT NƯỚC MẮT BIẾT ĐAU

Quán Vân và tôi bây giờ khách thật đông, ngoài trại lính bên cạnh, tấp nập khách thương di chuyển hàng ngang thành phố, thêm gia đình vợ con lình cũng lên đây để thăm viếng chồng, anh, em trai cho tiện. Quán bây giờ không còn là ổ gái giang hồ mà là quán café và quán ăn. Vân cũng chán cái nghề mà thiên hạ vẫn gọi là nhơ nhớp và đê tiện. Vân trở về với đời sống bình thường, ngày ngày lo công việc rót rượu và các thức uống, mướn thêm người để tiếp khách, phần tôi vì tôi giỏi về nấu ăn nên Vân để trọng trách này cho tôi đảm đương.

Cuộc đời tôi không ngờ lại có sự thay đổi bất ngờ không tính trước, vì vài tháng sau, tôi đang thái rau cải, bỗng cơn buồn nôn thúc tôi chạy vào nhà sau ói, và tắt kinh: tôi mang thai với người lính không biết tên.

Tôi nửa mừng nửa lo, mừng là tôi sẽ lên chức mẹ, nhận ra tôi đã yêu thương anh ta vô cùng và tôi muốn giữ cái bào thai này như một kỷ niệm đẹp của đời mình, lo là không biết rồi đây cái thai lớn lên, rồi tôi sẽ làm gì và đi đâu, tôi kể cho Vân nghe, tôi muốn bỏ quán đi về quê quán để sinh nở nhưng Vân cản lại, Vân bảo thứ nhất là tôi mang thai, không chồng lại mang tiếng đồ gái chửa hoang, thứ hai tôi lấy gì để sống và nuôi cháu bé,

Vân bảo tôi hãy ở lại với Vân, nó rất tốt với tôi, thương tôi như ruột thịt, ở lại đây, dù sao tôi vẫn sống qua ngày được, tôi mềm lòng, cảm ơn Vân và tiếp tục công việc của mình.

Đêm đêm trước khi ngủ, tôi vẫn lấy hình người lính không biết tên ra nhìn, nhớ anh ấy như nhớ người tình hay người chồng của mình. Nhiều khi tôi nghĩ dại, lỡ anh chết ở chiến trường, chắc tôi khóc đến giọt nước mắt cuối cùng, và vui là biết bây giờ tôi còn thêm một kỷ niệm sống với anh sau mấy đêm thương yêu nhau thật như hai người tình.

Ngày tháng cứ theo nhau trôi qua, cuộc sống tạm ở quán Vân và tôi cũng đắp đổi qua ngày. Bây giờ tôi đã sinh nở xong, cháu bé trai ra đời trong tình thương của tôi và Vân. Tôi đặt tên cho cháu là Việt Nam, gọi Vân là dì Vân giùm cho cháu bé. Mỗi lần tôi ngồi cho con bú, tôi nhớ anh ấy kinh khủng, không biết bây giờ tiểu đoàn của anh đã trôi nổi ở chiến trường nào.

Quán chúng tôi bây giờ rất đông đảo, tấp nập đủ hạng khách, nhất là lính. Nhưng lúc này tôi cảm nhận hình như có gì không yên ổn lắm; trên gương mặt của những đám lính đến uống nước ở quán, lúc này có vẻ lo âu, tôi nghe lóm ở họ những tiếng di chuyển, thuyên chuyển, nào những địa danh như Đồng Xoài, Bình Giả…Pleime.

Tiếng máy bay trực thăng rền trên đầu, ngoài đường cái những xe tăng, xe cứu thương, xe jeep, từng đoàn convoi chở đầy lính không biết đi đâu… và càng ngày càng nghe tiếng súng, tiếng đại bác, tiếng bom gần lại. Tôi đâm lo, tôi nói với Vân, Vân cũng nghĩ như tôi, thấy tương lại bấp bênh quá.

Trong toán lính còn đóng ở đơn vị cạnh quán, có một người mặt mày thật chân hậu, dễ mến, xem ra hình như rất cảm nàng Vân và nàng ta cũng vậy, Vân đối với anh ta rất đặc biệt. Thấy anh mặc áo hoa rừng, trên vai có mang chữ V, tôi hỏi nhỏ một người lính bạn anh, anh ấy trả lời, ah, Hậu nó mang lon trung sĩ mà chữ nghĩa lính gọi là cánh gà đó chị.

Một trưa quán ít khách, tôi ngồi ru cháu bé ngủ ở nhà sau, để cho Vân và Hậu (anh ta tên là Nghĩa Hậu) nguyên buổi trưa. Lúc Hậu trở về đơn vị, Vân gọi tôi tâm tình, Vân thổ lộ với tôi là hai anh chị mết nhau lắm, và Hậu bảo Vân, Hậu muốn cùng Vân thành vợ chồng ngày Hậu mãn lính. Vân bằng lòng chờ đợi anh. Vân thú hết với Hậu về đời Vân, nhưng Hậu bảo Hậu không nề hà dĩ vãng của nàng, Hậu bảo Vân và tôi là hai sắc hoa trong thời loạn. Vân rất vui và cảm động tấm lòng độ lượng của Hậu, Vân nói nhưng làm sao anh giới thiệu Vân với gia đình của Hậu ở Đà Lạt lần tới khi anh được nghỉ phép vài ngày, Hậu trả lời không cần phải nói rõ Hậu gặp Vân ở đâu, hơn nữa, anh lớn rồi và anh là lính cuộc đời nay sống mai chết nên anh muốn cho Vân hưởng hạnh phúc cùng anh cho dù vài tháng, vài ngày, vài giây….Vân hứa sẽ lấy Hậu làm chồng và sau đó sẽ gửi quán lại cho tôi trông nom.

Tuần sau đó, Vân bảo tôi Vân sẽ về thăm người dì ruột ở Quảng Trị và hôm rồi sẽ trở về với tôi trông coi quán và chờ Hậu về. Nhưng Vân sẽ không bao giờ về với mẹ con tôi nữa. Chuyến xe đò trong đó có Vân đã trúng mìn, tất cả xe đều chết hết.

Thế là tôi lại bơ vơ thêm lần nữa, mất người bạn thiết, lạc người lính không biết tên mà tôi đã đem lòng yêu thương, tôi khóc hết nước mắt. Hậu cũng đi rồi, không biết phải ra chiến trường nào! Nhiều lúc nghe tiếng súng và đại bác gầm trong đêm, tôi ước có viên đạn lạc nào đó lấy luôn sự sống của tôi cho rồi, nhưng khi tôi nghe tiếng khóc con thơ bên cạnh, tôi sực tỉnh cơn ác mộng. Tôi đã tự hứa với mình là tôi sẽ nuôi cháu cho thành người vì tôi vẫn có hy vọng có thể ngày nào đó mẹ con tôi sẽ gặp lại người xưa.

Tôi vẫn tiếp tục ngày ngày cho quán, nhưng rồi cũng bối rối quá vì hình như có cái gì đó không ổn. Ngoài đường bây giờ từng đoàn người tay nải, tay bế tay bồng chạy, mà chạy đi đâu, không hỏi ai được, rồi thêm vào đó xe chở lính đầy đường, máy bay trực thăng bay rền trời, tôi cũng đâm hoảng, lúc này không còn thấy lính đến uống nước nữa.

Cuối tháng Tư 75.

Đang hoang mang chưa biết phải làm gì thì ngay sáng hôm đó, Hậu không biết từ đâu chạy bay vào quán, réo tôi bảo thu xếp vài thứ cần thiết cho cháu bé, bảo hai cô gái giúp quán cũng vậy, tôi đang còn tần ngần không biết đem gì bỏ gì thì Hậu hét to lên bỏ hết, bỏ hết, mau lên, xong Hậu bồng thằng Nam, một tay nắm tay tôi dắt ra cửa, hai cô gái một cô dùng dằng không chịu đi vì em ấy còn mẹ già và em trai nhỏ, bảo chúng tôi cứ đi, để quán lại em lo tiếp.

Hậu bồng Nam ra xe, trao cháu cho người lính ngồi trên xe, đẩy tôi và cô gái tên Uyên lên xe rồi nhảy phóc lên chỗ tay lái, cho xe chạy thẳng. Trên đường bây giờ thiên hạ như tổ ong vỡ, vừa chạy vừa gào vừa khóc, không còn biết chạy hướng nào nữa. Chiếc xe jeep Hậu phải lách tránh vừa người, vừa  convoy lính, phải tay lái cừ lắm mới không đụng ai và cán ai, có nhiều người muốn níu xe lại xin cho quá giang, như Hậu không ngừng, thì giờ khẩn cấp quá rồi. Tôi như con ngáo, hỏi Hậu là thế nào, mới hay là miền Nam đã mất vào tay cộng sản, và chúng tôi đang tìm đường thoát.

Tội thằng Nam, chắc nó cũng cảm được gì đó không an, nó ngồi êm rơ trong lòng người lính. Xe chạy như vậy không biết đã bao lâu và hướng nào vì đi từ sáng sớm tinh mơ, giờ đã tối thui. Hậu bảo chúng tôi là sắp đến Vũng Tàu. Tôi và cô gái cũng không dám hỏi thêm.

Sau cùng, tôi nhận ra bãi biển Vũng Tàu với những hàng dừa như ngái ngủ bây giờ bị dựng đầu dậy bởi tiếng khóc, tiếng réo, tiếng cầu cứu loạn xà ngầu của đám người chạy loạn cũng đang tìm cách thoát ra khơi bằng đủ cách. Vì Hậu hình như đã tính toán sẵn trước nên khi vừa đến Bãi Trước, anh hối mọi người theo anh chạy xuống mé biển, ở đấy đã có sẵn một chiếc tàu quân sự nhỏ đang chờ chúng tôi, anh để người lính bạn nhảy lên tàu trước, đưa Nam cho anh ta, xong đến cô gái, đến tôi và Hậu cuối cùng, chiếc tàu nhổ neo chạy vọt ra khơi.

Chiếc tàu chúng tôi chạy ra xa, và tiếng máy hình như vừa ngừng lại, trước mắt là một chiếc tàu lớn của binh chủng Mỹ vì có treo cờ Mỹ. Chiếc tàu dừng hẳn lại, trên tàu Mỹ, có mấy người lính Mỹ thả xuống một cái thang bằng dây. Hậu bảo người lính bạn leo lên, Hậu buộc cháu Nam trên lưng anh ta, xong Hậu đỡ tôi leo lên sau, rồi đến phiên cô gái và Hậu.
Thường ngày, leo thang bằng dây như vậy thật là khó khăn, nhưng hôm nay, sự lo lắng và sợ hãi đã làm cho tôi như mọc cánh, leo thật dễ dàng.

Lên đến tàu rồi, thấy Hậu lăng xăng nói chuyện với mấy người lính Mỹ anh gặp. Trong lúc đó tôi nhìn quanh, chiếc tàu lớn này chở có lẽ đến 5, 6 ngàn người vừa lính Mỹ, vừa quân nhân Việt Nam Cộng Hoà, vừa đám người tị nạn như tôi, vợ con quân nhân…những người đầy may mắn chạy thoát đặc biệt như vầy.

Qua khỏi cơn kinh hoàng, bất chợt tôi vừa nhận ra mình sẽ rời xa mãi Việt Nam thân yêu, tôi quay lại nhìn về phía Vũng Tàu, xa lắm nên tôi không còn thấy và nghe tiếng đám người chạy loạn, chỉ thấy lửa; toàn lửa đỏ cả một góc trời và đám khói đen nghịt bốc cao, Vũng Tàu vừa bị đốt. Tôi thở dài, thế là quê hương thân yêu tôi đã bỏ lại sau lưng mình!

Tôi tìm anh lính để cám ơn anh đã lo cho Nam, tôi tìm Hậu để muốn nói một lời nào đó, và để hỏi Hậu về tin tức mình sẽ đi về đâu…Hậu thấy tôi đến gần, anh nhìn tôi, nở một nụ cười đón tôi nhưng thật buồn, rồi thôi, hai chúng tôi đứng bên nhau không nói thêm gì nữa, tôi thấy mắt Hậu nhìn về phia tôi cũng vừa nhìn lúc nãy, đôi mắt anh chứa một nỗi buồn kín đáo, trầm lặng, tôi biết anh đang nghĩ đến quê hương vừa bỏ mất, đến Vân, tình yêu đầu đời của anh nay chỉ còn là một hoài niệm khó quên, hình ảnh của những mảnh thịt da tan tác đó đây, nhầy nhụa máu cùng đất đỏ cao nguyên của Vân, của những người lính đồng đội của anh đã nằm xuống, của những người dân chết vì một viên đạn, một mảnh bom vô tình rơi trúng trên một quãng đường nào đó của quốc lộ…

4 – GIỌT NƯỚC MẮT TRỞ HỒNG LONG LANH
( Tiếp theo giọt nước mắt biết đau )

Trên chiếc Hàng Không Mẫu Hạm Hoa Kỳ chở dân tị nạn chúng tôi bây giờ bớt người, vì đến đảo Subic Bay, có khu trục hạm khác đang đậu chờ để chia bớt số dân di tản chia làm hai ra, dân trên tàu chúng tôi thấy tàu kia tản bớt còn ít người nên ùn ùn xuống bớt tàu nầy qua bên tàu kia. Không biết là chiến hạm này sẽ đi Canada hay Úc thì tôi không rõ lắm.

Thấy bớt được người, Hậu bảo anh bạn lính, Uyên và tôi cứ ở lại đây vì Hậu bảo tàu này chắc sẽ qua thẳng đảo Guam.

Tôi mở ngoặc nói về người Mỹ một chút, những ngày trên tàu, hầu hết lính Mỹ đối với đám dân tị nạn chúng tôi rất tốt, chúng tôi mỗi ngày vẫn nhận được 3 bữa ăn có cơm chỉ khổ là họ không biết biết nấu kiểu Việt Nam, nhiều nước quá nên cơm nhão, nhưng dù sao khi đói ăn gì vẫn thấy ngon, đồ ăn toàn là đồ hộp như thịt hộp…các cháu bé thì được phát thêm sữa bột Mỹ…Tôi cám ơn những người Mỹ đã đón nhận chúng tôi với nỗi thông cảm sâu sắc tình người.

Vì bớt người nên chúng tôi không còn nằm như cá mòi sắp lớp nữa, Hậu tìm được cho bọn con gái chúng tôi một chỗ trên boong, thoải mái. Những người lính Mỹ đem cho chúng tôi mỗi người một tấm nệm bằng cao su,một tấm mền.vừa ấm cũng vừa êm nên cũng đỡ khổ cho tấm lưng gầy, mấy hôm nay bị cong vì nằm hụt chỗ.

Đêm nay, đêm bình yên đầu tiên tôi nhìn thấy trăng, bao ngày lênh đênh trên biển, sự lo âu và đau buồn vì cớ cái chuyện rời bỏ quê hương đang bị dày xéo bởi chế độ khắc nghiệt độc tài sau chiến tranh. Nhớ cái chết thảm thương tội nghiệp của Vân, tôi như người ngồi trên lửa và mắt tôi như mù đi. Đêm nay ngồi ôm cho bé Nam ngủ, tôi ngồi cạnh Hậu, Sang – anh lính chưa quen và Uyên, tôi chợt thấy trên nền trời đêm xanh trong, có mặt trăng và những ngôi sao lấp lánh, chợt tôi nhớ đến 4 câu thơ của người lính không biết tên đọc cho tôi nghe lúc anh nằm cạnh, anh vuốt tóc tôi âu yếm:

Giữa khuya tay gối đợi chờ
em đi vào giấc mơ đời lênh đênh
trăng vào xiêm áo nhẹ tênh
oằn thân ngà ngọc cong vênh cội nguồn….

mắt tôi chợt ướt, tôi lắc đầu cho quên đi kỷ niệm, vì giờ này đâu còn là lúc để nhớ mà chỉ lo ngay ngáy ngày mai mình và con sẽ ra sao, tương lai sẽ đi về đâu…

Lênh đênh trên biển như vậy, sau 11 ngày, thì chiến hạm đến hải phận của đảo Guam. Trước khi cho chúng tôi sang những chiếc tàu nhỏ của tuần dương hạm để vào đảo, họ phát cho chúng tôi ít quần áo, các người đàn ông mỗi người một chiếc sơ mi chim cò kiểu người Phi Luật Tân .

Bỗng tôi nghe có tiếng thét từ trên boong cao, tôi đưa cháu Nam cho Uyên, đưa mắt tìm Hậu nhưng không thấy, tôi chạy vội leo lên boong, thấy Hậu và một nhóm người đang nhìn xuống biển, tôi vội vàng chạy đến tìm Hậu, đưa mắt hỏi. Chỉ nghe Hậu thở dài và đám người kia phần nhiều là quân nhân VNCH, mặt họ thật buồn.

Hậu kể cho tôi nghe câu chuyện từ đâu có tiếng thét nhói tim người nghe lúc nãy: Lúc mọi người được phát cho quần áo, chiếc áo sơ mi chim cò kiểu Phi Luật Tân vẫn mặc. Như mọi người quân nhân khác, Hậu cầm chiếc áo trong tay, tần ngàn không biết nên cởi bộ quân phục đang bận trên người để thay, chợt Hậu thấy đằng xa một anh quân nhân cầm trên tay chiếc áo, vẻ mặt như đang nghĩ ngợi một điều gì quan trọng, có lẽ anh ta đang đối diện với một sự thật tàn nhẫn không thể chối bỏ hay quên được: Đó là danh dự tổ quốc, lý tưởng của người làm trai đã hy sinh cả cuộc đời, tuổi trẻ, gia đình để bảo vệ miền đất tự do của anh đã mất hết. Trong một khắc ngắn, như đã quyết định, anh leo lên bờ boong tàu, lao mình xuống biển mà sóng đã nuốt chửng mất hút thân anh trong biển mênh mông trong lúc Hậu chưa kịp làm một cử chỉ gì để giữ anh lại! Vậy là bao nhiêu chí lớn trong một khắc ngắn đã chìm theo những bọt sóng vô tình….Hậu nắm tay tôi, ngậm ngùi cho hoàn cảnh của những người cầm súng không giữ được quê hương! Hậu nghĩ trong đầu, khi cầm chiếc áo chim cò anh vừa nhận được, anh cảm thấy lòng anh rất thẹn, thẹn vì anh thấy mình thật bất lực, anh là một quân nhân của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, trong tay anh cầm súng cùng với anh em chiến hữu cố chiến đấu đến phút cuối cùng, vậy mà không làm tròn được sứ mạng của người trai lúc quê hương đang gặp nguy biến, không ngăn chận được kẻ thù, anh cũng đã nghĩ đến chỉ có cái chết mới có thể xin tạ lỗi cùng quê hương, nên anh rất hiểu tâm trạng người quân nhân vừa đã nhảy xuống biển tự vẫn vừa rồi.

Tôi nhìn Hậu, thấy sự xót xa trong mắt Hậu, tôi vội bấu chặt lấy cánh tay Hậu:

– Hậu, Hậu đừng làm vậy, đã không có ích gì mà còn làm cho Vân dưới suối vàng buồn thêm, và còn những người còn sống, đồng bạn Hậu, mẹ con chị còn cần đến Hậu.

Vào đến đảo, chúng tôi cũng được đón tiếp đàng hoàng. Mỗi gia đình được chia cho một căn lều vải. Chúng tôi là những người gần như đầu tiên đến đảo, được đối đãi rất tốt. Mỗi ngày nhận được 3 khẩu phần. Cuộc sống trên đảo cũng tạm qua ngày trong lúc chờ đợi Uỷ Ban Liên Hiệp Quốc quyết định cho tương lai của những người di tản.

Trên đảo có một văn phòng đại diện Liên Hiệp Quốc, họ cần những người biết tiếng Pháp, tiếng Anh để làm thông dịch viên. Hậu và tôi tình nguyện vào làm vì chúng tôi nói thạo 3 thứ tiếng.

Sau đó thấy Hậu độc thân, họ hỏi anh muốn đi đâu và có thân nhân ở đâu, Hậu bảo anh đã liên lạc được với vợ chồng em gái anh ở Mỹ và chịu bảo trợ cho anh, và anh đã được đồng ý cho đi Hoa Kỳ. Sau đó đến tôi, thấy tôi thạo tiếng Anh, và có con nhỏ, họ bảo tôi được quyền ưu tiên chọn xứ, và sau đó do sự bảo trợ của nhà thờ, họ tìm được cho tôi một gia đình hai vợ chồng người Mỹ cao tuổi đang cần một người giúp việc nhà, họ liên lạc với gia đình này và tôi được nhận.

Cuộc đời mẹ con tôi đến một ngã rẽ may mắn, nhiều khi nghĩ lại, tôi cũng tự hỏi có phải tôi đẻ bọc điều không, hay định mệnh do Trời Phật xếp đặt.

Ông bà Mỹ đối với mẹ con tôi như người nhà. Ngoài những giờ làm việc, bà chủ cho tôi theo học lớp tiếng Anh cho người ngoại quốc, vì dù tôi thạo tiếng Anh, nhưng ở Mỹ họ nói mau quá khó nghe vì nuốt chữ. Và vì chợ búa, món ăn tôi chưa thạo việc lắm, chỉ có cái vui là ông bà rất thích đồ ăn Việt nên mê những món tôi nấu.

Ở đây có nhiều hội từ thiện các nhà thờ, thường cho mẹ con tôi quần áo …có mặc rồi nhưng chưa cũ lắm, cháu Nam thì ban ngày được đi mẫu giáo, tóm lại, cuộc đời tôi không đến nỗi nổi trôi lắm nếu hai ông bà Mỹ không mất đi. Từ đó, tôi lại phải lo tìm việc khác để làm nuôi con.

Tôi nhờ nhà thờ tìm cho tôi chỗ làm, và tôi được nhận vào nấu ăn cho một nhà hàng Việt, với sự dành giụm, mấy năm sau tôi mua được một căn nhà nhỏ đủ cho mẹ con tôi ở. Tôi tiếp tục như vậy và nuôi con cho đến lúc nó ra đại học. Bây Giờ Nam đã là một luật sư. Nó tìm được chỗ làm tốt cùng với một luật sư người Mỹ gốc Việt.

Hiên nay tôi đã ngoài lục tuần. Tôi vẫn sống độc thân nuôi con, dù có rất nhiều người thương và xin cưới tôi. Trong tim tôi, bao giờ cũng chỉ có một hình bóng duy nhất của người lính không biết tên mà tôi vẫn xem anh như chồng mình. Tôi cứ cầu nguyện Trời Phật cho tôi gặp lại anh ấy dù chỉ một lần là đủ mãn nguyện rồi. Nam từ nhỏ vẫn hỏi cha nó đâu, tôi giải thích cho con cha nó là một người lính trước đây của binh chủng Biệt Động Quân Việt Nam Cộng Hoà.

40 năm sau
…….

Buổi tối hôm đó, tôi đi dự đám cưới con của bạn, tôi không thể nào ngờ là mình đã gặp lại người xưa. Anh đưa tôi về nhà, tôi mời anh hôm sau đến chơi và để cho anh biết một chuyện mà anh không bao giờ ngờ đến.

Trong một bữa tiệc cưới con trai bạn, tôi đi dự hôm đó, mặc chiếc áo dài tím như thời còn là học trò nhưng hở cổ, thân người vẫn mỏng mảnh, và nhìn chung sắc diện cũng còn dễ coi, chưa bị thời gian hằn những nếp nhăn mặc dù đời tôi quá ê chề lúc trẻ. Trên cổ trắng ngần của mình, sợi dây chuyền người lính không biết tên đã tặng vẫn nằm yên cùng chỗ khi người ấy đeo vào cho tôi. Tôi đang đứng nói chuyện với mẹ cô dâu, chợt thấy có một người đàn ông tóc hơi hoa râm nhìn tôi chăm chú, tôi cố nghĩ tìm xem có quen không, thì người ấy đã đi về phía tôi, nhìn đăm đăm vào khoảng cổ trần của tôi:

– Xin lỗi bà về tội tôi đường đột sắp hỏi một câu, nếu có gì thấy thất lễ, mong bà lượng thứ cho. Chưa kịp trả lời bằng lòng hay không, ông ta tiếp theo:

– Xin lỗi bà, làm sao bà có sợi dây chuyền này?

Bất giác tôi nhìn tay ông ta đang cầm cốc rượu, một chiếc nhẫn bạc quen thuộc trên ngón tay út, cả hai người, ông ta và tôi đánh rơi hai cốc rượu xuống đất cùng một lần theo sau hai tiếng như thoát ra từ ngực mỗi người:

– Anh

– Em…

Anh đưa tôi về nhà, tôi mời anh hôm sau đến chơi và để cho anh biết một chuyện mà anh không bao giờ ngờ đến.

Hôm ấy tôi làm một bữa cơm thật giản dị nhưng để hết thương yêu vào những món mà ngày anh đến quán Vân tôi đã tự tay nấu cho anh và nhân thể tôi gọi Nam đến ăn cơm nhưng chưa cho con biết vì sao, tôi căn dặn con là phải đến. Hôm nay tôi cũng sửa soạn làm đẹp một chút và nhìn gương, tôi rất tự hào mình vẫn còn những nét xưa.

Nghe chuông cửa reo, tôi vội vàng ra mở cửa, thấy anh ôm trên tay một bó hồng đỏ và chào tôi bằng một nụ cười thật tươi, tôi sững hết một phút, ban ngày nhìn rõ, nụ cười đó của anh vẫn dành cho tôi những ngày ngắn ngủi thương yêu nhau ngày xưa. Anh đưa cho tôi bó hồng, anh bảo có 40 đoá hoa, tôi hỏi tại sao lại 40 đoá hoa?

– Vì đã 40 năm anh chưa gặp lại em. Và mỗi một đoá hồng là một năm tròn anh nhớ em đó em.

Nước mắt tôi ứa ra vì cảm động. Tối qua ở tiệc cưới, anh bảo anh vẫn ở một mình đến bây giờ vì cũng thầm mong ngày nào đó gặp lại tôi.

Tôi mời anh vào nhà, mời anh vào salon, mời anh ngồi ở chiếc ghế bành một chỗ bên tay trái tôi, tôi mở chai champagne, rót vào hai cốc, mời anh uống rượu khai vị. Anh nắm tay bảo tôi ngồi xuống cạnh anh, anh ôm tôi hôn nồng nàn như đêm đầu tiên mới gặp.

Qua hết những phút cảm xúc, tôi đứng dậy, đi lại bàn viết, mở hộc tủ lâu nay tôi vẫn khoá, tôi lấy bao thuốc lá Capstan cũ đưa cho anh, anh ngạc nhiên nhìn tôi, tôi ra dấu cho anh mở đi.

Anh cầm bao thuốc, mở ra, anh như sững lại: trong bao thuốc anh để lại trên bàn khi anh trở về đơn vị còn y nguyên số tiền lương tháng cuối cùng anh để lại cho tôi, tấm ảnh cũ của anh và bài thơ anh viết vội tặng tôi trước khi anh lên đường. Anh lặng người đi mấy phút, xong anh kéo tôi lại, dang tay ôm trọn tôi trong vòng tay anh.

– Sao em lại để dành số tiền này vậy?

– Vì đó thuộc về những kỷ niệm ít oi anh để lại cho em trước khi anh đi.

– Anh bảo em nếu em cần thì tiêu, không thì ngày gặp lại, em trả lại anh cũng được

– ???

– Vì em không phải cần đến số tiền đó nên…

Ngay lúc ấy, cửa nhà mở, cháu Nam bước vào, thấy anh, nó khựng lại một giây, xong bước lại gần, đứng cụp hai chân với nhau và đưa tay phải lên trán chào anh theo kiểu nhà binh.Thấy anh bỡ ngỡ, Nam lên tiếng trước:

– Con chào Ba, rồi đến gần hôn anh trên má.

Anh ngạc nhiên nhìn Nam rồi nhìn tôi, tôi chưa kịp lên tiếng thì Nam đã giành nói:

– Thưa, con biết là Ba, vì khi con vừa bước vào phòng khách, thấy Ba ngồi trên chiếc ghế mà Mẹ con không mời ai ngồi trên ấy, kể cả bạn bè của Mẹ hay ngay cả chú Hậu, vì Mẹ con vẫn nói với con là người đàn ông nào bước vào nhà và được Mẹ con mời ngồi vào chiếc ghế này sẽ là cha của con mà thôi, vì vậy mà con biết là Ba.

Anh nhìn tôi, tôi hiểu ra, tôi nói :

– Mấy tháng sau khi anh đi, em đã có thai, và đây là con trai chúng mình đấy anh, con tên là Nam, Nguyễn Việt Nam, em khai họ mẹ vì không biết anh tên gì và họ gì, anh cười thật tươi:

– Anh là Cường, Nguyễn Việt Cường.

– Còn em là Trầm Hương, anh trả lời hộ tôi, vì phía trong chiếc nhẫn em tặng anh đêm đó, anh đọc thấy tên em khắc trong nhẫn : Tôn Nữ Trầm Hương, rồi ôm tôi âu yếm…Hạnh Phúc thật bất ngờ còn đến với những người bạc hạnh như tôi.

đht




Còn Nỗi Ngậm Ngùi




Nơi Cây Đa Bến Cũ

Nơi cây đa bến cũ 

Rét mướt gió Xuân về

Gió lay từng nhánh lá 

Bờ tre trên đường quê 

Con về thăm làng cũ 

Gốc phượng xưa đã già

Thăm dòng sông bến nước 

Tổ tiên biền biệt xa

Cha cho con đôi cánh

Mẹ dắt con vào đời

Công Cha như núi Thái

Lòng Mẹ tựa biển khơi 

Mồ hôi Cha ướt áo 

Mẹ dãi dầu nắng mưa

Trên dặm trường rong ruổi 

Quên nhọc nhằn sớm trưa

Cha dạy con lối rẽ 

Vững bước trên đường đời 

Giờ Cha không còn nữa 

Ngậm ngùi gọi, Cha ơi !

Cố hương dù vạn dặm 

Xa khuất nẻo đường quê 

Thăm Cha, thăm nguồn cội

Dẫu xót xa lối về 

Dân oan trên khắp nẻo 

Căm hờn nỗi nhà tan

Chân đau trong cùm xích 

Kiếp lao tù nghiệt oan

Nỗi đau còn chồng chất 

Trong tận cùng, Cha ơi ! 

Mẹ sẽ về lần nữa 

Bên Cha cuối cuộc đời…

Nơi cây đa bến cũ

Vẫn sớm nắng chiều mưa

Người đi rồi, đi mãi          

Có còn nhớ bến xưa…?

San Jose, California 02/ 06/ 2021

Vệ-Trà Huỳnh Kim Anh




Đặc San Xuân Tân Sửu

ĐẶC SAN XUÂN

…Đầu Xuân, nhận được Đặc San Xuân,    

Đọc lại, đọc đi…cả chục lần!     

Bìa sách, tên in…thơ chẳng thấy?    

Văn hay, ảnh đẹp…muốn hoài ngâm!   

 

Cảm ơn công sức ban biên tập,    

Thâm phục tài năng quí trưởng đoàn!    

Đấu lực, đồng tâm…mừng Lạc Việt     

Năm Trâu, đại dịch sớm lùi chân…

Lại mừng Sinh Nhật, thơ và ảnh,    

Lại họp hành, thi tuyển… trống đàn…

Văn Hóa, Văn Minh…lo củng cố…

Tự Do, Dân Chủ…hưởng muôn dân !!

Dương Huệ Anh  27/3/21

BÀI THƠ CÁO LỖI

(Cẩn họa bài “Đặc San Xuân” để tạ lỗi và cám ơn tiền bối Dương Huệ Anh)

Cám ơn cảm nhận “Đặc San Xuân”

Cáo lỗi bác Dương (Huệ Anh) đến vạn lần

Vì nỗi nhận thơ vào đã trễ

Đành đưa “Sách Lật” mọi người ngâm

Kính mời đọc quyển “Online Tập”

Tân Sửu Đặc San đã kết đoàn

Lạc Việt Văn Thơ bài tràn ngập

Mặc dù Covid chẳng chồn chân

Cầu qua đại dịch, văn, thơ, ảnh

Sinh hoạt như xưa rộn tiếng đàn

Ra sách, tuyển thi, mừng sinh nhật…

Bảo tồn Văn Hóa Việt, an dân…

Thay mặt Ban Biên Tập VTLV

Phương Hoa kính bút– MAR 28th 2021

50 Năm Tình Hồng

Dương Huệ Anh

1- Sàigòn. 69. Giữa mùa Xuân.

Chiến cuộc gia tăng cả chục lần.

Ta ráng vui…vì thay đổi chỗ

Bốn năm “kiểm toán” đã chồn chân!

Mời đọc tiếp…

Không quên những mảnh đời “không bao giờ có Mùa Xuân!”

Đón Giao Thừa và ăn Tết Tân Sửu 2021 với Khách Không Nhà (Homeless)

IMG_5946.jpg

Anh Hải Trưởng Nhóm Mõ Nhân Ái, đứng bên cành mai, sửa soạn bao lì xì, trước giờ sinh hoạt đón Tết với những người bất hạnh.

(San Jose) – Sáng Thứ Năm, ngày 11 tháng 2 năm 2021, nhằm ngày Giao Thừa, tuy trong mùa dịch, nhưng Nhóm vẫn giữ những sinh hoạt truyền thống, đưa những niềm vui ngày lễ đến với những khách không nhà, đây là niềm an ủi rất lớn, xoa dịu nỗi cô đơn, giúp họ đỡ tủi thân khi nhìn xã hôi chung quanh, tươi vui hạnh phúc bên những người thân, còn mình thì không!

Nhìn nét mặt của họ, nở nụ cười tươi, khi nhận bao Lì xì, quà xuân, bữa cơm “to go”, bao thực phẩm,… làm các Anh Chị Em trong Nhóm thiện nguyện, cũng cảm thấy ấm áp hạnh phúc lây.

Nhiều người còn biết tiếng Việt, khi nhận quà, không quên “Chúc Mừng Năm Mới!” và ngỏ lời cám ơn Nhóm, bao nhiêu năm nay, đã không quên họ, năm nào cũng cho họ mừng Tết Việt chung.

Đây là truyền thống của Nhóm, đã sống chết, đi bên cạnh những mảnh đời bất hạnh trên 27 năm nay, coi họ như người trong nhà, ngoài cung cấp 2 bữa ăn nóng hổi trong tuần, (Thứ Năm, Thứ Sáu) còn có mục đích, đưa không khí gia đình ấm áp, hạnh phúc của những ngày lễ đến với họ.

Trong mùa dịch, nhất là những ngày giá lạnh mùa đông, họ đã qua đời nhiều nhất trong năm, trong khoảng thời gian khắc nghiệt này.

Không tin cũng phải tin “Mỗi người một số mệnh!” trên đất nước giầu có, văn minh nhất thế gới, lại có những mảnh đời khốn khổ như thế.

Chẳng làm gì được hơn, nhưng vẫn nguyện cầu, ước mong, Chúa Xuân đem niềm vui, hạnh phúc đến khắp nơi nơi, để ai ai cũng có cơ hội nâng ly rượu Mừng Năm Mới! thoát ly đời gian nan nghèo khó.

Một năm hứa hẹn tốt đẹp hơn, với Con Trâu khỏe mạnh, hiền hòa, chăm chỉ.

Mong lắm thay.


Danh ngôn Mùa Xuân:

Ngày Tết là ngày Sinh Nhật chung của mọi người trên thế Giới! (Charles Lamb)

Ngày mà Thượng Đế tạo ra tình yêu, thương mến, hy vọng, cũng chính là ngày, Ngài tạo ra Mùa Xuân! (Ben Willian)



Mừng Giai Phẩm Xuân

Chúc mừng Xuân đến….Xuân Tân Sửu

Hoa nở vẫy chào………Xuân mới sang

An Vui Tài Lộc………..Xuân gồm đủ

Thọ Hạnh dâng đầy…..Xuân tỏa lan

Muôn nhà tiễn biệt……Xuân năm cũ

Khắp nơi háo hức…….Xuân ngập tràn

Giai Phẩm Lạc Việt……Xuân Thơ Phú

Đẹp từng câu chữ…….Xuân Trâu Vàng

                                    Hoàng Mai Nhất


Giai Phẩm Xuân

(Viết mừng Giai Phẩm Xuân Tân Sửu 2021/Văn Thơ Lạc Việt; ra mắt đọc giả đúng ngày mồng Một Tết, 12/2/2021).

Sáng Mùng Một đón mừng xuân giai phẩm

Mùa xuân về trên thung lũng hôm nay

Lật từng trang còn thơm mùi giấy mới

Văn thơ giao hòa vần điệu thật hay

Gió xuân tình nôn nao khoe áo mới

Nguồn văn thơ, trải mơ ước bên đời

Em và thơ cả hai đều duyên dáng

Đem xuân về, gửi tiếng chào muôn nơi

Lê Tuấn


HỒN XUÂN

(Kính họa bài Tiếng Gọi Xuân Về của thi sĩ Lê Tuấn)

Xuân về lộc trỗ vun cành

Nắng vương lên mảnh khăn lanh óng vàng

Được em yêu chẳng dễ dàng 

Hồn rung mấy bậc nhịp nhàng cung thơ 

Đắm say ra ngẩn vào ngơ

Hồn Xuân đã ngủ trên bờ vai em

Dịu dàng cơn gió ru êm

Mơn man vệt mộng ngang thềm nhẹ rơi

Tim bâng khuâng tiếng gọi mời 

Miên man một cõi mây trời tỏa riêng

Cỏ hoa rực rỡ vào Giêng

Sao em nỡ để tâm phiền anh mang

Xuân nồng hôn khóm cúc vàng

Lắt lay cơn gió nhịp nhàng chân đi

Từ yêu em ước mãi khi 

Bướm hoa chung lối mộng thì hoà chan

Phương Hoa – JAN 16th 2020

Vọng xuân thanh bình

Nhân Tết Tân Sửu, thay lời chúc, xin mời quý bạn thưởng thức một bài thơ « đọc xuôi, đọc ngược » (thuận nghịch độc) :


Vọng xuân thanh bình
Ðông tàn, đã thắm rộ đào, mai,
Tết chúc mừng: vinh, phúc, lộc, tài.
Sông núi rộn reo hò chốn chốn,
Thị-thành vang hát xướng nơi nơi.
Mong chờ, vẫn biển ngàn ngăn cách,
Ðợi ngóng, hàng năm tháng miệt mài.
Lòng héo úa thêm chồng chất tuổi,
Nông, sâu, đục nước chuyện cùng ai ?

Ðọc ngược, ta có một bài thơ khác, vẫn giàu tính thơ:
Ai cùng chuyện nước đục, sâu, nông ?
Tuổi chất chồng thêm héo úa lòng.
Mài miệt tháng năm hằng ngóng đợi,
Cách ngăn ngàn biển vẫn chờ mong:
Nơi nơi xướng hát vang thành thị,
Chốn chốn hò reo rộn núi sông,
Tài, lộc, phúc, vinh, mừng chúc Tết,
Mai, đào rộ thắm, đã tàn Ðông.
 
                  Đỗ Quang Vinh

Xin mượn bài thơ này gửi đến bè bạn mọi nơi : đây là lúc mà tâm tình những kẻ tha hương, ngày càng giống nhau và gần nhau hơn[1].
Có thể, vì chúng ta gốc gác Việt Nam nên khen « Tiếng Việt tuyệt vời » nghe không chói tai, chứ kỳ thực người nước nào mà chẳng trau dồi tiếng xứ ấy và sẵn sàng gán cho ngôn ngữ ấy hai chữ « tuyệt vời ». Cách « đọc ngược, đọc xuôi » (« thuận nghịch độc ») đâu phải chỉ là sở trường của ngôn ngữ thơ văn Việt Nam. Sử dụng ngôn ngữ như vậy, đọc xuôi, đọc ngược, gọi là « palindromes », tiếng Pháp tiếng Anh đều có cả.
Sau đây là vài thí dụ văn xuôi tiếng Pháp : ta có thể đọc một từ, hoặc một cụm từ, từ trái sang phải, hoặc đọc từ phải sang trái, đều giống nhau, và nghĩa cũng như nhau. Từng từ một, như : « non », « ici », « ressasser », hoặc một câu nhiều từ như : « élu par cette crapule », « Ésope[2] reste ici et se repose », « un roc si biscornu », « engage le jeu, que je le gagne », « eh, ça va la vache », « Léon n’osa rêver à son Noël », « à l’autel elle alla, elle le tua là »…
Tiếng Anh không thiếu trường hợp tương tự, hoặc một từ, như : « eye », « Eve », « noon », « civic », « madam », hoặc một câu nhiều từ như : « was it a car or a cat I saw ? », « even in eden I win eden in Eve », « Tivoli, I lov’it », « a man, a plan, a canal, Panama », hoặc đọc thuận đọc xuôi cả cụm từ : « King, are you glad you are King ? »…

Tuy nhiên, không phải ngôn ngữ nào cũng đưa cách chơi chữ này đến một vị trí như trong tiếng Việt. Theo Nguyễn Văn Ngọc, trong Nam Thi Hợp Tuyển, thơ thuận nghịch độc tuy làm theo thể thơ Đường nhưng lại là một lối riêng của thơ Việt Nam. Làm một bài thơ Đường luật đã khó, nhưng khi làm thơ « thuận nghịch độc » thì mỗi câu thơ lại đọc xuôi, đọc ngược làm sao cho cả hai cách đọc (xuôi, ngược) đều có ý nghĩa và hợp vần luật. Muốn được như thế, phải nắm bắt được một số quy luật, tuy không khó viết, nhưng viết xong lại khó hay. Hàn Mặc Tử, Tự Đức cũng từng làm thơ đọc xuôi, đọc ngược, nhưng nếu đem so những bài này với các bài thơ khác trứ danh, thì không có gì thật là « siêu phàm »[3]. Có người, vì đã nắm bắt được quy luật như thế, cho đăng luôn trên Mạng đúng 400 bài « thuận nghịch độc ». Làm thơ như vậy, đúng là để phá kỷ lục, chứ không phải vì yêu thơ.
Cho nên, thơ thuận nghịch độc tuy không hiếm, nhưng bấy lâu nay, vẫn chỉ thấy có một bài với tám cách đọc, không biết ai là tác giả :[4]

Bài thơ kỳ lạ, tám cách đọc : đọc xuôi, đọc ngược…

1. Bài thơ gốc:

Ta mến cảnh xuân ánh sáng ngời
Thú vui thơ rượu chén đầy vơi
Hoa cài giậu trúc cành xanh biếc
Lá quyện hương xuân sắc thắm tươi
Qua lại khách chờ sông lặng sóng
Ngược xuôi thuyền đợi bến đông người
Xa ngân tiếng hát đàn trầm bổng
Tha thướt bóng ai mắt mỉm cười.

2. Ðọc ngược bài gốc từ dưới lên:

Cười mỉm mắt ai bóng thướt tha
Bổng trầm đàn hát tiếng ngân xa
Người đông bến đợi thuyền xuôi ngược
Sóng lặng sông chờ khách lại qua
Tươi thắm sắc xuân hương quyện lá
Biếc xanh cành trúc giậu cài hoa
Vơi đầy chén rượu thơ vui thú
Ngời sáng ánh xuân cảnh mến ta.

3. Bỏ hai chữ đầu mỗi câu trong bài gốc,
ta được bài (ngũ ngôn bát cú, luật bằng vần bằng):

Cảnh xuân ánh sáng ngời
Thơ rượu chén đầy vơi
Giậu trúc cành xanh biếc
Hương xuân sắc thắm tươi
Khách chờ sông lặng sóng
Thuyền đợi bến đông người
Tiếng hát đàn trầm bổng
Bóng ai mắt mỉm cười.

4. Bỏ hai chữ cuối mỗi câu trong bài gốc,
đọc ngược từ dưới lên, ta được bài
(ngũ ngôn bát cú, luật bằng vần bằng):

Mắt ai bóng thướt tha
Ðàn hát tiếng ngân xa
Bến đợi thuyền xuôi ngược
Sông chờ khách lại qua
Sắc xuân hương quyện lá
Cành trúc giậu cài hoa
Chén rượu thơ vui thú
Ánh xuân cảnh mến ta.

5. Bỏ ba chữ cuối mỗi câu trong bài gốc,
ta được bài (tám câu, mỗi câu bốn chữ ):

Ta mến cảnh xuân
Thú vui thơ rượu
Hoa cài giậu trúc
Lá quyện hương xuân
Qua lại khách chờ
Ngược xuôi thuyền đợi
Xa ngân tiếng hát
Tha thướt bóng ai.

6. Bỏ ba chữ đầu mỗi câu trong bài gốc, đọc ngược từ dưới lên, ta được bài (tám câu, mỗi câu  bốn chữ):

Cười mỉm mắt ai
Bổng trầm đàn hát
Người đông bến đợi
Sóng lặng sông chờ
Tươi thắm sắc xuân
Biếc xanh cành trúc
Vơi đầy chén rượu
Ngời sáng ánh xuân.
7. Bỏ bốn chữ đầu mỗi câu trong bài gốc,
ta được bài (tám câu, mỗi câu ba chữ) :

Ánh sáng ngời
Chén đầy vơi
Cành xanh biếc
Sắc thắm tươi
Sông lặng sóng
Bến đông người
Ðàn trầm bổng
Mắt mỉm cười.

8. Bỏ bốn chữ cuối mỗi câu trong bài gốc,
đọc ngược từ dưới lên, ta được bài (tám câu, mỗi câu ba chữ):

Bóng thướt tha
Tiếng ngân xa
Thuyền xuôi ngược
Khách lại qua
Hương quyện lá
Giậu cài hoa
Thơ vui thú
Cảnh mến ta.
Âu cũng là một cách thưởng Xuân nhẹ nhàng, ý nhị…
Đ.T.H.
 


[1] http://www.vietnamdaily.com/index.php?c=article&p=14893
[2] Ésope : tác gia ngụ ngôn, gốc cổ Hy Lạp.
[3] https://ocuaso.com/tho-viet-nam/chum-tho-bat-hu/2-bai-tho-thuan-nghich-doc-luc-chuyen-hoi-van-cua-han-mac-tu.html
[4] http://vuhungviet.blogtiengviet.net/2017/03/19/m_tinh

– TẢN MẠN VỀ THƠ THUẬN NGHỊCH ĐỘC Ta thấy, theo bảng luật trên thì câu 1 và câu 8 (2 câu này niêm luật như nhau) đã bị lỗi khổ độc ở 1 chiều đọc, …
http://vuhungviet.blogtiengviet.net/2017/03/19/m_tinh

Thơ Đường THUẬN NGHỊCH ĐỘC: XUÂN CHÀO TẾT

XUÂN CHÀO TẾT

(Thủ vỹ ngâm – Thuận nghịch độc – 1 X 12)

  1. Bài chính:

(Thuận độc)

Xuân chào đón Tết rực vườn hoa

Cảnh sắc xinh tươi đẹp ngọc ngà

Dâng ngập ý lời gieo vận đối

Trải tuôn tình nghĩa kết thơ hoà

Lâng lâng cánh phấn mai lơi lả

Bảng lảng tơ vàng bướm nhẩn nha

Trần thế tỏa quang ngời sắc thắm

Xuân chào đón Tết rực vườn hoa

Xin mời đọc tiếp




Ca Dao Thời Cộng Sản.

Tác phẩm Ca Dao Thời Cộng Sản đã được edit và update đầy đủ
bao gồm quyển Một & Hai.
Tại sao có tác phẩm này: Sau khi cha tôi mất, tôi rất e ngại phải đưa mẹ tôi về Việt Nam thăm các cô con gái của Mẹ.
Tôi xuống Cần Thơ thăm bà cô và hỏi thăm cậu bé bán kem lối đi tới bến Ninh Kiều. Cháu bé bán kem nói với tôi: Đ. M. ông không biết bến Ninh Kiều ở đâu à. Tôi lắc đầu – Tôi biết trước 1975 nay quên rồi…
cháu bán kem bỗng đọc câu ca dao:
“CẦN THƠ CÓ BẾN NINH KIỀU,
ĐỨNG QUANH TƯỢNG BÁC ĐĨ NHIỀU HƠN DÂN” ai chả biết bến Ninh Kiều ở đâu…!
Tôi giật mình và sau đó về Sài Gòn gặp nhà văn đàn anh Vũ Ngọc Đĩnh. hỏi anh và cùng anh nghĩ tới cuốn Ca Dao Thời Cộng Sản.
Anh viết được 2/3 cuốn tác phẩm thi qua đời năm 2016… và để lại cho tôi tiếp theo những ghi lại của anh về những câu “CA DAO THỜI CỘNG SẢN” còn dang dở cho trọn bộ gồm hai quyển Một và Hai, quyển hai đang layout….
thành thật cám ơn quý vị…!
Xin quý vị click vào hình để đọc Ca Dao Thời Cộng Sản (quyển một).




Sen Già Nở Muộn

Xin vui lòng click vào hình để đọc sách




Nhóm LM Nguyễn Kim Điền

Cuộc đời đấu tranh cho Tôn Giáo và Dân Chủ Nhân Quyền.

Xin quý vị click vào hình để đọc




NHÌN LẠI LỊCH SỬ BÁCH VIỆT VÀ QUÁ TRÌNH HÁN HÓA BÁCH VIỆT

08 Tháng Chín 201612:00 SA(Xem: 5056)
Trần Gia Ninh

Tượng Thừa tướng Nam Việt Lữ Gia
ở Linh Tiên Đạo Quán, Hoài Đức, HN.

 
Khi đọc những câu hỏi “Vì sao đã thống trị Việt Nam hơn ngàn năm mà cuối cùng Trung Quốc vẫn không thể đồng hóa Việt Nam?”. Hoặc “Người Việt Nam (tộc người Kinh) vì sao mà khó đồng hóa như vây? (1), nhiều người nghĩ chắc là ý kiến của những anh chàng người Việt nặng đầu óc dân tộc chủ nghĩa. Nhưng thật bất ngờ, những câu hỏi này và tương tự như vậy hiện là những chủ đề nóng của các diễn đàn tranh luận trên mạng Internet của người Trung Hoa, bằng tiếng Trung chứ không phải của người Việt.

 Họ đã chất vấn nhau, đại loại thế này: Hơn một nghìn năm, trước khi nhà Tống lên ngôi, Giao Châu là thuộc Trung Hoa, dù chị em họ Trưng có nổi dậy cũng chỉ mấy năm là dẹp yên. Thế mà vì sao từ đời Tống trở đi các triều đại Trung Hoa không thể thu phục nổi Việt Nam. Hơn nữa, dân tộc Việt Nam, người Kinh ấy, từ đâu mà ra, hình thành từ lúc nào? Người Hán chúng ta từ cổ xưa đã có sức đồng hóa cực mạnh. Số dân tộc đã bị Hán tộc đồng hóa không đếm xuể. Tại sao chừng ấy năm đô hộ vậy mà không đồng hóa nổi Việt Nam… Nếu An Nam là thuộc Trung Quốc từ thời đó, liệu bây giờ quần đảo Nam Sa (VN gọi là Trường Sa) có thành vấn đề không? Việt Nam có còn chiếm được nhiều đảo ở Nam Sa như bây giờ không?

 Là người Việt Nam, chắc ai cũng muốn chính mình tìm câu trả lời cho những câu hỏi thú vị đó. Chúng ta từng nghe nói rằng, từ xa xưa một dải giang sơn mênh mông từ Nam sông Dương Tử trở về Nam là nơi các tộc dân Việt sinh sống và phát triển nền văn minh lúa nước rực rỡ. Thế rồi ngày nay, hầu hết đều trở thành lãnh thổ và giang sơn của người Hán, dùng Hán ngữ và văn hóa Hán. Quá trình đó người ta quen gọi là Hán hóa. Vì vậy nhìn lại lịch sử Bách Việt và quá trình Hán hóa Bách Việt, và quá trình Hán hóa Bách Việt, là một cách ôn cố tri tân hữu ích. Đáng tiếc là thời xa xưa đó lịch sử chủ yếu ghi chép lại bằng Hán ngữ cổ ở Trung Hoa, không dễ tiếp cận với đa số hiện nay. Vì lẽ đó người viết bài này cố gắng tóm tắt những gì mà sử sách cổ còn ghi lại, kết hợp với những tài liệu khoa học đã công bố của một số học giả uy tín trên thế giới, ngõ hầu cung cấp một vài thông tin hữu ích, nhiều chiều, kể cả còn đang tranh cãi.
Bách Việt là ai và ở đâu?

 Vào thời thượng cổ, từ đời nhà Thương 商朝 (khoảng 1600-1046 TCN), trong văn tự thì chỉ có một chữ Việt 戉 (nghĩa là cái rìu), cũng là tên chung cho tộc người ở phía Nam không phải là người Trung Hoa, do tộc người này sử dụng rìu (Việt) làm công cụ. Về sau, vào thời Xuân Thu Chiến quốc 春秋 戰國 (722-221 TCN) bắt đầu trong văn tự có hai chữ Việt là 越 và 粤, đều chỉ bộ tộc Việt, dùng như nhau (Sách cổ viết là 越粵互通-Việt Việt Hỗ Thông), ta hay gọi 越 là Việt bộ tẩu 走 (đi, chạy) và Việt 粤 là Việt bộ mễ 米-(lúa) (2).

 Trong Hán ngữ cận, hiện đại, hai chữ Việt này (có thể từ sau đời Minh) thì dùng có phân biệt rõ ràng. Chữ Việt bộ tẩu 越 là ghi tên tộc Việt của nước Việt có lãnh thổ ở vùng Bắc Triết Giang, ngày nay là vùng Thượng Hải, Ninh Ba, Thiệu Hưng (Cối Kê 會稽 xưa). Một loại ca kịch cổ ở vùng này vẫn còn tên là Việt Kịch 越剧. Chữ Việt bộ tẩu này cũng là tên của tộc Nam Việt (Triệu Đà) Âu Việt và Lạc Việt (Việt Nam ngày nay), Mân Việt (Phúc Kiến), Điền Việt (Vân Nam, Quảng Tây)… Chữ Việt 粤 bộ mễ 米 ngày nay dùng ghi tên cư dân vùng Quảng Đông, Hồng Kong, Ma Cao… những cư dân này sử dụng ngôn ngữ gọi là tiếng Quảng Đông (Cantonese). (Ai đến Quảng Châu đều thấy biển xe ô tô đều bắt đầu bằng chữ 粤 là vì vậy).

 Bởi vì xưa có đến hàng trăm tộc Việt, cho nên sử sách gọi chung là Bách Việt 百越 hoặc 百粤. Tên gọi Bách Việt xuất hiện trong văn sách lần đầu tiên trong bộ Lã thị Xuân Thu 吕氏春秋 của Lã Bất Vi 呂不韋 (291–235 TCN) thời nhà Tần.

 Trong lịch sử Trung Hoa, toàn bộ vùng đất Giang Nam (tên gọi vùng Nam Sông Dương Tử), rộng bảy tám ngàn dặm từ Giao Chỉ đến Cối Kê, từ trước thời Tần Hán đều là nơi cư ngụ của các tộc Bách Việt.
 Thời nhà Hạ gọi là Vu Việt 于越, đời Thương gọi là Man Việt 蛮越 hoặc Nam Việt 南越, đời Chu gọi là Dương Việt 扬越, Kinh Việt 荆越, từ thời Chiến quốc gọi là Bách Việt百越.

Sách Lộ Sử của La Bí (1131 – 1189) người đời Tống viết (3): Việt thường, Lạc Việt, Âu Việt, Âu ngai, Thả âu, Tây âu, Cung nhân, Mục thâm, Tồi phu, Cầm nhân, Thương ngô, Việt khu, Quế quốc, Tổn tử, Sản lí (Tây Song Bản Nạp), Hải quý, Cửu khuẩn, Kê dư, Bắc đái, Phó cú, Khu ngô (Cú ngô)…, gọi là Bách Việt. 
Hán Hóa Bách Việt – Giai đoạn từ thượng cổ đến trước thời Tần-Hán

 Gọi Hán hóa chỉ là để cho tiện thôi, thực ra không đúng, vì lúc này làm gì đã có nhà Hán. Hai nước Ngô – Việt là những tộc Bách Việt được ghi chép rất sớm trong sử sách. Nước Ngô 吴国,còn gọi là Cú Ngô 句吴, Công Ngô 工吴,攻吾… lập quốc vào thời Chu Vũ Vương (thế kỷ 12 TCN), kinh đô ở Tô Châu 苏州 ngày nay, từ thủy tổ là Ngô Thái Bá 吳太伯 truyền đến Phù Sai夫差 thì bị diệt vong bởi nước Việt (473 TCN). Thực ra ghi chép sớm nhất trong sử sách là Vu Việt 于越, tiền thân của nước Việt 越 国 thời Chiến quốc. Nước Việt đã tồn tại muộn nhất cũng từ thời nhà Thương, không tham gia vào sự kiện Vũ Vương Phạt Trụ (1046 TCN), nhưng sử có ghi là khá lâu trước đó đã làm tân khách của Chu Thành Vương 周成王(1132 – 1083 TCN). Nước Việt đã có một văn hóa dân tộc đặc sắc, gọi là Văn hóa Mã Kiều 馬橋文化, mà các chứng tích đã tìm thấy khi khai quật di chỉ Thái Hồ 太湖地區. Nước Việt định đô ở Cối Kê 會稽 (Thiệu Hưng ngày nay) truyền đến đời Câu Tiễn句踐 (496 – 464 TCN) thì bành trướng lên phía Bắc, năm 473 TCN sau khi diệt nước Ngô, mở rộng bờ cõi Bắc chiếm Giang Tô 江蘇, Nam đoạt Mân Đài 閩台 (tức Phúc Kiến ngày nay), Đông giáp Đông Hải 東海, Tây đến Hoàn Nam 皖南 (phía Nam An Huy ngày nay), hùng cứ một cõi Đông Nam. Đến năm 306 TCN, nước Sở 楚國 nhân nước Việt, triều vua Vô Cương, nội loạn, bèn liên kết với nước Tề 齊國 tiến chiếm nước Việt, đổi thành quận Giang Đông, nước Việt tuyệt diệt và bị Sở hóa từ đó. Những sự kiện này được ghi chép tỉ mỉ trong bộ sử Ngô Việt Xuân Thu 吳越春秋 do Triệu Diệp 赵晔 thời Đông Hán soạn (~năm 25). Các nhà khoa học thế giới ngày nay cũng đã phục dựng đầy đủ lịch sử này, ví dụ xem Eric Henry (4).

 Đến đây cần nói rõ, Sở là gốc Hoa Hạ (sau này gọi là Hán) hay là Bách Việt, hiện còn nhiều tranh cãi. Dân Hoa Hạ (chính là tộc Hán sau này) nhận mình là con cháu của Tam Hoàng, Ngũ Đế. Tam Hoàng thì rất thần tiên, mơ hồ, Ngũ Đế có vẻ cụ thể hơn. Theo Sử Ký của Tư Mã Thiên (5) thì đó là năm chi: Hoàng Đế (黃帝), Chuyên Húc (顓頊), Đế Cốc (帝嚳), Đế Nghiêu (帝堯), Đế Thuấn (帝舜). Dân nước Sở tự nhận thuộc chi Chuyên Húc, họ Cao Dương 高阳 tức là tộc Hoa Hạ (Hán). Đất nước Sở nằm ở đoạn giữa sông Trường Giang, vùng Nam Bắc Hồ Động Đình, quen gọi là vùng Kinh Sở (Hồ Bắc – Hồ Nam của Trung Hoa ngày nay). Vùng Kinh Sở nằm chồng lấn phía Nam lưu vực sông Hoài sông Vị của dân Trung Nguyên Hoa Hạ. Đó là vùng đất đầu tiên mà một chi của dân Hoa Hạ (chi Chuyên Húc) thiên di xuống. Nhà thơ Khuất Nguyên (340 – 278 TCN) người nước Sở, mở đầu bài thơ Ly Tao đã viết (6): Bá Dung nhớ cha ta thuở nọ, /Vốn dòng vua về họ Cao Dương (Nhượng Tống dịch thơ). Trước khi con cháu Cao Dương nam thiên đến đây, dân bản địa là tộc nào? Nước Sở lập quốc vào cuối đời Thương đầu đời Chu (1042 TCN). Sách Sử Ký – thiên Sở Thế gia viết rằng người Sở là dân Man (Sở Man), vua Sở nhận mình là dân Man Di (7). Man là chữ người Hoa Hạ gọi dân miền Nam không phải là Trung Hoa. Những khai quật khảo cổ ở vùng Kinh Sở gần đây cũng cho thấy rằng thực ra cư dân tối cổ ở vùng Kinh Sở có nguồn gốc Tam Miêu, một dân tộc thuộc nhóm Bách Việt. Đây có thể là nhóm Âu Việt ở phía Tây nên còn gọi là tộc Tây Âu, để phân biệt với Đông Âu là tộc Âu Việt phía Đông, tức vùng Mân – Đài (Phúc Kiến). Tộc Tây Âu, theo các nhà dân tộc học, có thể là tổ tiên các tộc H’mông, Lào, Miến, Thái… hiện nay, ít nhiều cũng có cùng huyết thống người Việt Nam cổ. Như vậy là quá trình Trung Hoa hóa dân Man (Miêu tộc bản địa) đã bắt đầu từ cuối Thương đầu đời Chu rồi. Có thể tạm gọi đó là đợt đồng hóa thứ nhất. Sự Trung Hoa hóa theo thế lực nước Sở, bành trướng đến Trùng Khánh, Quý Châu, về sau sang tiếp phía Đông, trở thành một trong thất hùng thời Chiến quốc. Đặc biệt là quý tộc Sở cổ đều có họ Hùng (熊 – con gấu), vua Sở là Hùng Vương, phải chăng có liên hệ gì đó đến Hùng Vương ở Việt Nam, chỉ khác chữ Hán viết 雄 – hùng mạnh, (trong sử Trung Hoa cổ không tìm thấy ghi Hùng Vương 雄 này, có lẽ đây là do các nhà Nho Việt Nam viết lại sau này!). Tóm lại đến thời Khuất Nguyên, rồi sau đó là lúc Sở diệt Việt phía Đông, thì Sở đã hoàn toàn biến thành dân Trung Hoa, và quá trình Trung Hoa hóa Ngô – Việt là quá trình đồng hóa thứ hai, tiến hành thông qua nước Sở.

 Các nhà khoa học Nhật, Mỹ, đã có nhiều phát hiện, chứng minh nền văn minh Ngô Việt sau khi nước Việt bị diệt và Trung Hoa hóa (đúng hơn là Sở hóa), đã theo dòng người Ngô Việt chạy ra biển sang Nhật Bản (tiếng Nhật Bản đọc Hán tự theo kiểu nước Ngô, nên gọi là ごおん-Go On- Ngô âm 呉音). Nền văn minh đó chủ yếu theo bộ phận tinh hoa của dân Ngô Việt chạy xuống phía Nam hợp lưu cùng Việt bản địa, thành ra văn minh Việt kéo từ Lĩnh Nam (phía Nam dãy Ngũ Lĩnh – tức Bắc Lưỡng Quảng ngày nay) đến Giao Chỉ. Theo phát hiện của Jerry Norman và Tsu-lin Mei (Washington University và Cornell University) thì nhiều từ cổ của tộc Việt nước Ngô Việt hiện vẫn thông dụng trong tiếng Việt ngày nay, ví dụ các từ: chết; chó, đồng (trong đồng cốt), sông, khái (hổ), ngà (trong ngà voi), con (trong con cái), ruồi, đằm (trong đằm ướt), sam (con sam), biết; bọt , bèo…8 Điều này chứng tỏ rằng dân Lạc Việt ít nhiều có cùng huyết thống với dân Ngô Việt xưa.  
Hán hóa Bách Việt- Giai đoạn sau thời Tần-Hán

 Cho đến trước khi Tần Thủy Hoàng diệt được sáu nước, dẹp bỏ nhà Chu, thống nhất Trung Hoa (221 TCN) thì dân Hoa Hạ (Hán tộc) chỉ chiếm lãnh và đồng hóa được dải đất từ Hoàng Hà xuống đến Ngũ Lĩnh9, còn từ Ngũ Lĩnh trở về Nam (Lưỡng Quảng, Giao Chỉ, Hải Nam… gọi tắt là Lĩnh Nam) thuộc về Âu Việt (gọi chung Tây Âu và Đông Âu) và Lạc Việt. Từ Kinh Sở trở về Tây, Tây Nam (Vân Nam) vẫn còn thuộc về Điền Việt, Tây Âu, Đại Lý…

 Vùng Bách Việt phía Tây Nam này (Vân Nam) thì mãi đến thế kỷ 12 còn độc lập, dù người Hán có tiến hành nhiều cuộc chiến tranh xâm chiếm lẻ tẻ. Chỉ sau khi Mông Cổ chiếm Đại Lý (1253), Vân Nam, rồi sau đó chiếm nốt Trung Hoa, lập ra nhà Nguyên, thì Vân Nam mới nhập vào Trung Hoa. Năm 1381, Minh Thái Tổ mới bình định xong Vân Nam và cuộc Hán hóa hoàn tất rất nhanh. Ngày nay hơn 61% cư dân Vân Nam là người Hán.

 Vùng Lĩnh Nam chiếm làm đất Trung Hoa từ thời Tần – Hán, nhưng quá trình Hán hóa thì khá khó khăn và cho đến nay vẫn chưa xong hết (!). Cổ sử Trung Hoa chép thì Lĩnh Nam có nhiều bộ tộc Việt lập quốc như Tây Âu, Lạc Việt… có nước Dạ Lang (nhưng không thấy chép Văn Lang!). Âu và Lạc (10) là một tộc Việt hay là hai tộc Việt khác nhau, cho đến tận ngày nay vẫn còn tranh cãi. Sách “Hoài Nam Tử” (139 TCN) thì chỉ viết có Tây Âu (11) không có nói đến Lạc chỗ nào cả. Sách “Sử Ký” (94 TCN) muộn hơn một ít thì cũng có viết Âu, không tìm thấy chữ Lạc đứng riêng một mình, mà luôn luôn chỉ có chép Âu Lạc liền nhau (12). Tuy nhiên trong Lã thị Xuân Thu (291–235 TCN) sớm nhất thì có chép” Việt Lạc-越骆” (13). Việt Lạc rất có thể chính là nước Lạc Việt trong sử sách sau này, Việt Lạc là ghi âm trực tiếp từ ngôn ngữ người Việt, theo ngữ pháp Việt, còn sau này ghi Lạc Việt là ghi chép qua thông dịch sang Hán Ngữ, theo ngữ pháp Hán.

 Luận theo sử sách chép, có thể thời tiền Tần thì Âu và Lạc là hai chi Việt khác nhau. Thời kỳ chiến đấu chống lại Tần thì có thể hai chi Việt này liên minh lại với nhau thành một khối Âu Lạc. Lúc đó trung tâm là ở Nam Trung Hoa, vùng Vũ Minh Mã đầu (Nam Ninh – Quảng Tây ngày nay). Chỉ sau khi Hán Vũ Đế bình Nam Việt của Triệu Đà thì hai chi này mới lại phân chia ra, và trung tâm di về vùng quanh Hà Nội ngày nay.

 Đồng thời với nước Lạc Việt có nước Tây Âu hay Âu Việt mà người đứng đầu trong sử chép là Thục Phán. Tuy nhiên Âu Việt lập quốc lúc nào và Thục Phán từ đâu ra thì sử sách không ghi rõ. Rất nhiều ý kiến cho rằng Thục Phán là hậu duệ của vương triều nước Thục. Quả thực sử có chép một quốc gia tên là Thục Quốc, ở Tây Nam Trung Hoa ngày nay. Thường Cừ (347)người đời Tấn viết trong Sách “Hoa Dương Quốc Chí” (14): “Nước Thục Đông giáp nước Ba, Nam giáp Việt, Bắc phân giới với nước Tần, Tây tựa Nga Ba”. Vị trí địa lý như vậy nên cư dân ở đây bao gồm người Khương, người Việt, người Hoa Hạ. Dòng họ Khai Minh làm vua nước Thục, truyền được 12 đời, đến năm 316 TCN đời Chu Thận Vương thì bị nhà Tần diệt (15), hậu duệ chạy về phương Nam. Sử chép đến đây thì đứt đoạn, không nói gì tiếp. Cho nên về sau nói Thục Phán là hậu duệ Khai Minh thị, cha Thục Phán là Khai Minh Chế chiếm lưu vực Diệp Du Thủy (tức thượng nguồn sông Hồng) (16), xưng là An Tri Vương vua nước Tây Âu, sau truyền ngôi cho con là Phán, cũng chỉ là một giả thuyết, chép lại theo truyền thuyết của tộc dân Đại Y (17).

 Lúc này cũng là thời kỳ theo truyền thuyết là có nước Văn Lang ở phía trung và hạ lưu sông Hồng (trong cổ sử Trung Hoa không có tên nước Văn Lang, chỉ có tên một nước là Dạ Lang, liệu có liên quan đến Văn Lang không?), do dòng họ Hùng làm vua. Việc Thục Phán là hậu duệ nước Thục, cũng như nước Văn Lang có vua Hùng trị vì 18 đời trong sử An Nam là ghi lại theo truyền thuyết. Tuy nhiên Thục Vương Tử tên Phán, Hùng Vương vua Lạc Việt, Thục diệt Hùng Vương chiếm lãnh thổ, xưng là An Dương Vương thì có ghi trong sử cổ Trung Hoa từ đầu Công nguyên.

 Theo quyển “Việt sử lược” (18), của tác giả không rõ tên, có lẽ là người Việt Nam khắc in ở Trung Hoa vào quãng cuối Nguyên đầu đời Minh (~1360), có viết về nước Văn Lang, vua là Đối Vương 碓王, sau bị Thục Phán đánh đuổi, Phán xưng là An Dương Vương.

 Sách cổ “Thủy kinh chú” dẫn lại lời ghi trong “Giao châu ngoại vực ký” rằng (19) “… Thục Vương Tử dẫn binh tướng ba vạn đánh lại Lạc Vương 雒王, Lạc hầu 雒侯, thu phục các Lạc Tướng. Rồi đó Thục Vương Tử xưng là An Dương Vương”. Sách “Cựu Đường thư” dẫn lại “Nam Việt chí” chép (20) “Đất Giao Chỉ vô cùng màu mỡ, xưa có vua xưng là Hùng Vương 雄王, có Lạc hầu phò tá. Thục Vương Tử dẫn quân tướng ba vạn tiến đánh, diệt được Hùng Vương. Thục xưng làm An Dương Vương, cai trị Giao Chỉ”. Như vậy thì sử sách có ba tên gọi cho vua nước Lạc Việt: Lạc Vương, Hùng Vương, Đối Vương. Có nhiều ý kiến cho rằng ba tên gọi này là một, chính là Lạc Vương, các tên khác do về sau sao chép nhầm chữ Lạc 雒 của Hán ngữ mà thành (21). Dầu sao thì cũng có hai lý giải về truyền thuyết danh xưng Hùng Vương, một là dòng dõi họ Hùng Vương nước Sở, hai là Lạc Vương vua của dân Lạc Việt. Dù tên tuổi đúng sai thế nào, thì Hùng Vương không chỉ thuần túy là truyền thuyết của Việt Nam, mà cũng có ghi trong cổ sử Trung Hoa. Nhân vật Thục Phán tuy nguồn cội chưa xác định, nhưng cũng có thật, đánh chiếm Lạc Việt lập nên nước Âu Lạc xưng là An Dương Vương cũng là có thật, có ghi trong chính sử không chỉ của Việt Nam (22).

 Tần diệt Sở, rồi đánh chiếm Lĩnh Nam, Đô Úy Triệu Đà được Tần cắt cử quản lĩnh Quế Lâm, Tượng Quận. Nhân khi nơi nơi nổi lên chống Tần, năm 204 TCN Triệu Đà bèn chiếm Lĩnh Nam lập nước Nam Việt, đóng đô ở Phiên Ngung (Quảng Châu) và đánh chiếm Âu Lạc. Sách “Giao Châu ngoại vực ký” chép: “Nam Việt Vương Úy Đà cử binh đánh An Dương Vương. An Dương Vương có thần nhân Cao Thông phù tá, chế ra nỏ thần cho An Dương Vương, một phát giết được ba trăm mạng” (23). Sách “Thái Bình Ngự Lãm” dẫn “Nhật Nam truyện” còn chép phóng đại hơn, nỏ một phát giết ba vạn người và còn kể tỉ mỉ chuyện tình Mỵ Châu Trọng Thủy, chuyện mất nỏ thần, dẫn đến An Dương Vương thất bại (24). Nước Âu Lạc từ đó nhập vào nước Nam Việt (25). Triệu Đà lập nước Nam Việt năm 203 TCN, giữ độc lập với nhà Hán được 92 năm, truyền 5 đời vua, đến đời Triệu Kiến Đức và thừa tướng Lữ Gia (26) thì mất nước vào tay Hán Vũ Đế năm 111 TCN. Một dải Lĩnh Nam và Đông Hải bị Hán chiếm và Hán hóa kéo dài hơn ngàn năm, ngoại trừ Lạc Việt, còn lại hoàn toàn trở thành Hán. Lạc Việt, sau hơn 1000 năm nô lệ và Hán hóa, vẫn giữ được bản sắc và nền văn minh Việt, cuối cùng thì giành được độc lập và trở thành Đại Cồ Việt, Đại Việt, Nam Việt và Việt Nam đến tận ngày nay. Đó là một trường hợp duy nhất mà Trung Hoa không thể Hán hóa được.
Vì sao Đại Việt không bị Hán hóa?

 Đồng hóa dân tộc (national assimilation) gồm:

1 – Đồng hóa tự nhiên: đây là một xu hướng tự nhiên trong tiến trình lịch sử loài người.

2 – Đồng hóa cưỡng chế: sự cưỡng bức một dân tộc bị trị chấp nhận ngôn ngữ, chữ viết, phong tục, tập quán của dân tộc thống trị; đây là một tội ác. (27) Người Hán đã thực hiện cả hai biện pháp đồng hóa này hơn một ngàn năm mà Đại Việt vẫn không bị đồng hóa, người Trung Hoa ngày nay tìm mọi lý lẽ để biện minh nhưng chính họ cũng không thấy thuyết phục lắm. Chẳng hạn:
 * Việt Nam ở xa Trung Nguyên, núi sông cách trở không tiện đồng hóa. Phản bác lại: Tại sao Vân Nam cũng xa, núi sông cách trở hơn nhiều mà chỉ trong mấy trăm năm đã bị đồng hóa hoàn toàn.
 * Việt Nam ở phương Nam, nóng ẩm, người Hán không ở được. Thế tại sao Hải Nam cũng như vậy mà lại ở được, đồng hóa xong rồi.
 * Tại vì số lượng người Hán di dân xuống Việt Nam ít. Thực ra, không có bằng chứng nào là ít hơn Hải Nam, Vân Nam cả. Chỉ riêng số quan lại cai trị và số quân chiếm đóng trong hơn một ngàn năm, cũng không ít hơn số dân bản địa. Chỉ có thể hiểu người Hán ở đây đã bị Việt hóa. Cũng có ý kiến cực đoan bênh vực, nói rằng thực ra đã Hán hóa dân Việt rồi nhưng từ sau năm 1945, Việt Nam đã thanh lọc lại hết!

 Cũng có một số kiến giải của người Trung Hoa bình thường ngày nay, xem ra cũng ít nhiều có lý, ví như:
 * Người Kinh có ba nguồn gốc: Người Lạc Việt, Người Thục, Người Hán. Do vậy người Kinh hấp thụ được tinh hoa của ba chủng tộc nên trở thành một tộc người ưu tú.
 * Người Hán ở Việt Nam kể cả các tầng lớp cai trị không đồng hóa được người Kinh, trái lại bị đồng hóa ngược trở thành người Việt. Người Kinh là một tộc người có năng lực đồng hóa mạnh, bằng nếu không nói là còn hơn người Hán. Hãy xem họ mở rộng về phía Nam thì rõ.

 Nhưng đó chỉ là những lý do bề ngoài mà những người bình thường có thể nhận thấy được. Thực ra, theo các nhà chuyên môn, đồng hóa dân tộc là một vấn đề khoa học lớn, rất nhạy cảm và vẫn chưa có được một lý thuyết nào đứng vững cả, vì vậy tạm thời không bàn đến lý luận trong bài này. Thông thường đồng hóa dân tộc là một sự tổng hòa gồm:
 * Đồng hóa chủng tộc, thường được thực hiện bằng một cuộc chinh phục và kẻ chinh phục hoặc diệt chủng dân bị chinh phục, hoặc xua đuổi dân bị chinh phục để thay thế bằng cư dân của phía chinh phục, hoặc pha loãng huyết thống.
 * Đồng hóa về văn hóa, tín ngưỡng.
 * Đồng hóa về tổ chức cộng đồng, xã hội.
 (Về vấn đề Văn Hóa, Ngôn Ngữ, Tín Ngưỡng, đều là những yếu tố bảo tồn dân tộc Việt, xin dành cho bài sau).

 Sự đồng hóa dân tộc sẽ khó được thực hiện.
 1. Nếu một dân tộc có sức sống sinh học và xã hội mãnh liệt thì sự đồng hóa chủng tộc khó thành công, ví dụ điển hình là dân tộc Do Thái.
 2. Đồng hóa về văn hóa, tín ngưỡng phụ thuộc vào trình độ văn minh của dân tộc. Một dân tộc mạnh về chinh chiến, có thể chiến thắng trong cuộc chinh phục, nhưng nếu trình độ văn minh thấp hơn thì sẽ bị kẻ bại trận đồng hóa, điển hình như tộc Hung Nô, Nữ Chân, Mãn Châu… đều chiến thắng người Hán nhưng lại bị Hán hóa.
 3. Khi một cộng đồng dân tộc có tổ chức tốt, cố kết các thành viên bền chặt, thì dân tộc đó rất khó bị đồng hóa.

 Nhìn lại thì thấy người Việt (người Kinh) có đủ cả ba yếu tố 1,2,3: Người Kinh hiện nay là nơi tập hợp các thành phần ưu tú nhất của Bách Việt, bởi lẽ khi Bách Việt bị Hán hóa, các thành phần ưu tú, tinh hoa trong xã hội Việt là mục tiêu tàn sát của người Hán, do đó các thành phần này phải tháo chạy, và nơi dung nạp họ là mảnh đất cuối trời Bách Việt, tức Việt Nam ngày nay. Hãy xem thí dụ về ngôn ngữ Ngô Việt còn lưu lại trong tiếng Việt (như đã nói ở trên), đó là một bằng chứng cho sự dịch chuyển của người Ngô-Việt xuống đây. Vì vậy tộc người Kinh có sức sống mãnh liệt.

 Tinh hoa của văn minh Bách Việt được cô đọng lại ở người Kinh, chắc chắn không kém nền văn minh Hoa Hạ. Người Việt dù không có văn tự riêng (hay có mà bị xóa sạch sau ngàn năm nô lệ) nhưng vẫn phát triển và bảo tồn được ngôn ngữ dân tộc, dù phải mượn Hán Ngữ để ghi chép, thì thật là một kỳ tích, chẳng kém gì người Do Thái vẫn giữ được tiếng Do Thái dù bị diệt chủng và xua đuổi hai ngàn năm.

 Tổ chức xã hội của tộc Việt, điển hình là làng xã đã cố kết cộng đồng rất chặt. Tổ chức nhà nước cũng có rất sớm, từ thời Chiến quốc, do đó rất khó phá vỡ, nó tồn tại dấu tích sau khi khi đã độc lập. Hãy nhớ đến Hội Nghị Diên Hồng thời Trần để thấy tinh thần của tổ chức xã hội gắn kết người dân với triều đình chặt chẽ đến mức nào. Ngay cả một vương triều thất thế, bị truy đuổi như Triều Mạc, cũng không bán rẻ đất nước cho ngoại bang. Năm 1594, Mạc Ngọc Liễn chiếm giữ Vạn Ninh, trước khi chết để di chúc cho Mạc Kính Cung: “Nay vận khí nhà Mạc đã hết, họ Lê lại phục hưng, đó là số trời, dân ta vô tội mà để phải mắc nợ binh đao, sao lại nỡ thế… Lại chớ nên mời người Minh vào trong nước ta mà để dân ta phải lầm than đau khổ, đó cũng là tội lớn không gì nặng bằng” (28).

 Quân Minh đầu TK 15 cũng khó mà có thể chiếm được Đại Việt làm quận huyện nếu không có những nhóm quý tộc như nhóm Mạc Thúy, vì quyền lợi riêng bán rẻ dân tộc cho người Minh. Nên biết Mạc Thúy là hậu duệ của danh nhân Mạc Đĩnh Chi, một đại thần nhà Trần… Nhà Thanh không thể chiếm Thăng Long nếu không có vua quan bán nước Lê Chiêu Thống, tiếc thay y lại là dòng dõi của anh hùng dân tộc Lê Lợi…

 Than ôi! truyền thống thì hào hùng rực rỡ, tổ tiên phải đổ bao mồ hôi, xương máu mới có, nhưng bán rẻ nó đi thì thật dễ dàng. May sao tự ngàn xưa số những kẻ bán rẻ dân tộc như vậy là vô cùng nhỏ trong cộng đồng người Việt.1

CHÚ DẪN

 1为什么经历了一千多年的统治,中国始终不能同化越南?“Vì sao đã thống trị Việt Nam hơn ngàn năm mà cuối cùng Trung Quốc vẫn không thể đồng hóa Việt Nam?”. http://bbs.tianya.cn/post-no05-226522-1.shtml
 越南人(京族)为何难以同化 “ Người Việt Nam (tộc người Kinh) vì sao mà khó đồng hóa như vây?” http://lt.cjdby.net/thread-1440161-1-1.html

 2 Có học giả Việt đương thời theo tự dạng vội suy đoán rằng viết như vậy có lẽ chỉ tộc người vác rìu đi (chạy) săn và tộc người trồng lúa trong ruộng. Chứng tỏ thời bấy giờ tộc Việt thuộc văn minh săn bắn và trồng trọt. Có lẽ không phải đơn giản như vậy. Khảo sát lịch sử văn tự thì thấy rằng Việt 越 và Việt粵 âm đọc giống nhau, “Sử ký” viết là 越, “Hán thư” viết là 粤. Âm đọc 粤 là từ âm đọc của chữ Vu 于, người cổ đọc 越 là于. Vu 于 viết theo lối chữ triện 篆 là 亏, hài thanh là chữ vũ 雨-mưa, viết lên trên thành 雩. Trong “Hán Thư” còn tồn nhiều chữ cổ, nên chữ Việt 越 đều cải viết thành雩, sau theo lối chữ lệ 隶, chữ khải 楷 mới viết thành ra 粤, tức biến hóa hình chữ vũ 雨 đặt trên chữ Vu亏.
 3 “路史” 罗泌 (1131—1189) 宋朝 : 越裳, 雒越, 瓯越瓯皑, 且瓯, 西瓯, 供人, 目深, 摧夫, 禽人, 苍梧, 越区, 桂国, 损子, 产里(西双版纳), 海癸, 九菌, 稽余, 北带,仆句, 区吴(句吳), 是谓百越。
#4 http://www.sino-platonic.org/complete/spp176_history_of_yue.html The Submerged History of Yuè. By Eric Henry, University of North Carolina

 5 史記-司馬遷 (145 – 86 TCN)
  6屈原在《离骚: 帝高阳之苗裔兮,朕皇考曰伯庸- Đế Cao Dương chi miêu duệ hề, Trẫm hoàng khảo viết Bá Dung.
 7《史记.楚世家》记载: “封熊绎于楚蛮- phong Hùng Dịch ư Sở Man “, “ 熊渠曰: 我蛮夷也不与中国之号谥- Hùng Cừ nói: Ta là dân man di, không cùng hiệu, thụy của Trung quốc. Hùng Dịch (~1006 TCN) là vua lập ra nước Sở, Hùng Cừ (~877 TCN) là vua Sở về sau. Sở Man là tên nhà Thương, Chu gọi dân Kinh Sở bản địa, Man tức là Man Việt, tên tộc Việt thời nhà Thương.
 8 Jerry Norman and Tsu-lin Mei, Monumenta Serica, Vol. 32 (1976), pp.274-301, Published by: Taylor & Francis, Ltd.
 9 五岭 Ngũ Lĩnh-dãy núi phía Nam Trung Hoa chạy qua biên giới các tỉnh Quảng Tây, Hồ Nam, Giang Tây, Quảng Đông, có năm đỉnh cao (Ngũ lĩnh) là 越城 (Việt Thành)、都庞 (Đô Lung), 萌渚 (Manh Chử), 骑田 (Kỵ Điền), 大庾(Đại Dữu).
 10 Chữ Lạc có nhiều cách viết, đều đọc là Lạc. Hai chữ 雒,骆 thường dùng như nhau để chép Lạc Việt trong sách cổ. Tiếng Bắc Kinh đọc là Luo, Quảng Đông đọc lok, Đời Đường đọc lak. Nhiều học giả cho rằng nguồn gốc chữ Lạc là do người Hán ghi âm chữ Lúa, Ló của người Việt, người Mường mà ra. Người Việt là tộc người có nền văn minh lúa nước.
 11《淮南子·人间训:“(秦皇)又以卒凿渠而通粮道,以与越人战,杀西呕君译吁宋。Hoài Nam Tử. Nhân gia huấn: (Tần Hoàng) cho quân đào kênh thông đường vận lương, rồi đánh người Việt, giết được vua Tây Âu là Dịch Hu Tống”.
 12《史记·南越列传》赵佗上呈汉文帝的“谢罪书”:“且南方卑湿,蛮夷中间,其东闽越千人众号称王,其西瓯骆裸国亦称王。” Triệu Đà dâng thư tạ tội với Hán Văn Đế: “ đất phương Nam thấp, ẩm ướt. Trong các tộc man di ở đây, (chỉ dám) xưng vương phía Đông với dân Đông Âu vài ngàn khẩu, phía Tây với nước Âu Lạc khỏa thân (ý nói đóng khố cởi trần).
 13《吕氏春秋·孝行览·本味篇》:“和之美者:阳朴之姜,招摇之桂,越骆之菌。”高诱注:“越骆,国名。菌,竹笋。” Lã thị Xuân Thu-Hiếu hạnh lãm, bản vị thiên:” Những thứ hoàn mỹ là gừng Dương Phác, quế Chiêu Diêu, Khuẩn (Măng) Việt Lạc” Cao Dụ chú giải:” Việt Lạc là tên nước, Khuẩn là măng tre”.
 14 常璩(347)华阳国志-(卷三蜀志): Thường Cừ, “Hoa Dương Quốc Chí” (quyển 3-Thục Chí): “历夏、商、周,武王伐纣,蜀与焉。其地东接于巴,南接于越,北与秦分,西奄峨嶓。” Trải qua Hạ, Thương, Chu,Vũ Vương phạt Trụ, cùng có nước Thục. Nước đó đông giáp nước Ba, nam giáp nước Việt, bắc phân giới với Tần, Tây dựa Nga Ba” (vì vậy cư dân ở đây có thể là người Khương, Hoa Hạ và Việt-TGN).
 #15“华阳国志·蜀志:“周慎王五年秋,秦大夫张仪、司马错、都尉墨等从石牛道伐蜀,蜀王自于葭萌拒之,败绩。王遁走,至武阳为秦军所害,其相、傅及太子退至逢乡,死于白鹿山。开明氏遂亡,凡王蜀十二世 ““Hoa Dương Quốc Chí, thiên Thục Chí”: “Mùa thu đời Chu Thận Vương thứ năm, các Đại Phu nhà Tần là Trương Nghi, Tư Mã Thác, Đô úy Mặc v.v theo đường Thạch Ngưu tiến phạt Thục. Thục Vương thân cùng Gia Mạnh cự địch, bị thất bại. Vương tháo chạy đến Vũ Dương thì bị quân Tần hại, Thái tử thoái lui về và chết tại núi Bạch Lộc. Dòng họ Khai Minh, truyền được 12 đời, đến đây bị diệt”. Vũ Dương nay là huyện Bành Sơn,Tứ Xuyên.
 16 叶榆水
 17岱依人
 18《越史略》卷一载:“周庄王时嘉宁部有异人焉,能以幻术服诸部落,自称碓王,都于文郎,号文郎国。以淳质为俗,结绳为政,传十八世,皆称碓王。越勾践尝遣使来谕,碓王拒之。周末为蜀王子泮所逐而代之。泮筑城于越裳,号安阳王,竟不与周通。” .: Việt sử lược: “thời chu Trang Vương, ở Gia Ninh bộ có người tài, dùng xảo thuật thu phục được các bộ lạc, tự xưng là Đối Vương, đô ở Văn Lang, nước là Văn Lang. Tục lệ thuần hậu, chính sự nghiêm chỉnh, truyền 18 đời, đều xưng là Đối Vương. Việt Vương Câu Tiễn đã từng đến dụ, Vương đều từ chối. Vào cuối đời nhà Chu bị Thục Vương Tử tên là Phán đánh đuổi, thay thế trị vì. Phán xây thành Việt Thường, hiệu là An Dương Vương, tuyệt giao với nhà Chu”.
 19《水经·叶榆水注》中注引《交州外域记》云:“交趾昔未有郡县之时,土地有雒田,其田从潮水上,民垦食其田,因名为雒民。设雒王、雒侯主诸郡县。??后蜀王子将兵三万来讨雒王、雒侯,服诸雒将。蜀王子因称为安阳王。Sách “Thủy Kinh.Diệp Du Thủy chú”, dẫn theo “Giao Châu Ngoại Vực Ký” viết rằng: Giao Chỉ thời chưa có quận huyện, đất đai thì có Lạc điền, nước ruộng lên xuống theo triều, dân làm ruộng sinh sống, nên gọi là Lạc dân. Thiết đặt Lạc Vương, Lạc hầu cai quản các quận huyện. ?? về sau Thục vương tử xua quân tướng ba van đánh Lạc Vương, Lạc Hầu, thu phục các Lạc Tướng. Thục vương tử xưng là An Dương Vương.
20《旧唐书·地理志》则引《南越志》云:“交趾之地,最为膏腴,旧有君长曰雄王,其佐曰雄侯。后蜀王将兵三万讨雄王,灭之。蜀以其子为安阳王,治交趾。Sách “Cựu Đường Thư” dẫn lại “Nam Việt Chí” viết rằng: Đất Giao Chỉ rất mầu mỡ, xưa có vua gọi là Hùng Vương, phò tá là các Hùng Hầu. Về sau ba van quân tướng của Thục vương đánh bại Hùng Vương. Con của Thục Vương xưng là An Dương Vương, cai trị Giao Chỉ.
21 So sánh các sách thì “Giao Châu ngoại vực ký” là cổ nhất, ít nhất là trước đời Ngụy Tấn (TK3), “Nam Việt Chí” soạn sau thời Bắc Ngụy, còn “Việt sử lược” có lẽ soạn thời Hồng Vũ (~1358) nhà Minh sau này. Quân Vương của nước Lạc Việt theo sách cổ nhất (“Giao châu ngoại vực ký”) ghi là Lạc Vương 雒王, sách về sau (Việt sử lược, Nam Việt chí) thì ghi là Đối Vương 碓王, Hùng Vương 雄王. Một số học giả Trung Hoa và Quốc tế ngờ rằng ba chữ 碓, 雄, 雒 (bộ thủ “chuy 隹 “) nguyên chỉ là chữ 雒 (Lạc) do mấy trăm năm sau sao chép nhầm phần các chữ ghép (chữ các 各thành chữ thạch 石 hay chữ quăng 厷) mà ra. Tuy nhiên nhiều học giả Viêt Nam không nhất trí, vì cho rằng các nhà Nho Việt Nam ngày xưa đều rất uyên thâm, khó mà lầm lẫn được. Ai cũng có lý cả!22 Các sách của Việt Nam có nói đến Hùng Vương, An Dương Vương cổ nhất như Lĩnh Nam Chích Quái 嶺南摭怪, Việt Điện U Linh Tập 粵甸幽靈集 hay Đại Việt sử ký toàn thư 大越史記全書 thì cũng soạn vào thời Trần, muộn hơn nhiều so với các sách của Trung Hoa như Giao Châu Ngoại Vực Ký 交州外域记, Thái Bình Ngự Lãm 太平御览. Cho nên các sự tích và tên tuổi như Hùng Vương, An Dương Vương… chắc là chép lại từ sách Trung Hoa, vì Việt lúc đó không có chữ viết… Tất nhiên, cũng không loại trừ có những ý kiến khác.
 23《交州外域记: “南越王尉佗举众攻安阳王。安阳王有神人皋通,下辅佐,为安阳王治神弩一张,一发杀三百人”: Nam Việt Vương Úy Đà cử binh đánh An Dương Vương. An Dương Vương có thần nhân Cao Thông xuống phù tá, chế ra nỏ thần cho An Dương Vương, một phát giết được ba trăm mạng”.
24《太平御览》卷348:《日南傳》曰:一發萬人死,三發殺三萬人。佗退,遣太子始降安陽。安陽不知通神人,遇無道理,通去。始有姿容端美,安陽王女眉珠悅其貌而通之。始與珠入庫盜鋸截神弩,亡歸報佗。佗出其非意。安陽王弩折兵挫,浮海奔竄: “Thái Bình Ngự Lãm, quyển 348 dẫn “Nhật Nam Truyện” viết:.. một phát giết vạn người, ba phát giết ba vạn người. Đà lui, sai thái tử Thủy hàng An Dương. An Dương không biết Thông là thần nhân, thấy (vua) không hiểu đạo lý, Cao Thông bèn bỏ đi. Thủy có tư dung đoan mỹ, con gái An Dương Vương là Mỵ Châu vì thích y đẹp mà xiêu lòng. Thủy sai Châu vào kho cưa đứt nỏ thần rồi về nước báo tin. Đà liền xuất kỳ bất ý (tiến đánh). An Dương Vương nỏ gãy binh tan, trốn chạy ra biển. (Thái Bình Ngự Lãm là sách soạn vào thời Bắc Tống (977 -984), trích dẫn “Nhật Nam Truyện” thì chắc là còn cũ hơn. “Nhật Nam Truyện” hình như đã thất truyền, chỉ thấy trích dẫn lại ở sách này-TGN).
25 Người viết bài này đã đến thăm và khảo sát khá kỹ Bảo Tàng Nam Việt Vương ở Quảng Châu. Bảo tàng xây trên khu lăng mộ của Triệu Mô, vua kế vị Triệu Đà (Thủy chết sớm, Mô là con Thủy thay). Ngôi mộ được phát hiện năm 1983, hầu như còn nguyên vẹn, đồ tạo tác rất kỳ vĩ, tinh xảo chứng tỏ trình độ văn minh của người Việt lúc đó khá cao, nếu không nói là hơn hẳn người Hán. Xem bảo tàng thấy các cổ vật trưng bày như thạp đồng, trống đồng, vũ khí… giống in và còn phong phú hơn nhiều so với Bảo Tàng Lịch Sử quốc gia Việt Nam giai đoạn lịch sử đó.
#26 Lữ Gia, Thừa tướng nắm quyền hành của nước Nam Việt, chống lại nhà Hán, thua trận bị chém chết. Lữ Gia và người ở Quận Cửu Chân (Thanh Hóa ngày nay), lăng mộ và đền thờ hiện còn ở Ân Thi, Hưng Yên
27Nguyễn Hải Hoành: Tại sao Việt Nam không bị đồng hóa sau 1.000 năm Bắc thuộc? – http://nghiencuuquocte.org/2015/09/07/viet-nam-khong-bi-dong-hoa-1000-nam-bac-thuoc/#sthash.0FZriY2F.dpuf.
28 Đại Việt sử ký toàn thư – NXB VHTT năm 2000, tập 3, trang 294.

* Người viết bài này xin bày tỏ lời cảm ơn nhà Hán học, dịch giả Trần Đình Hiến về những thảo luận, góp ý quý giá cho phần dịch các đoạn trích trong các sách sử cổ viết bằng văn ngôn trên đây.




THƠ SONG THẤT LỤC BÁT LIÊN HOÀN THUẬN NGHỊCH ĐỘC

…Về thơ lục bát, để chứng-minh vẻ đẹp độc-đáo của ngôn-ngữ Mẹ Việt, chúng tôi có đề-xuất lối đọc xuôi đọc ngược này trong hai tác-phẩm Tiếng Việt Tuyệt-Vời và Về nguồn. Ngay cả lục bát gián thất, chúng tôi cũng khám phá lối đọc xuôi đọc ngược này, thường thấy trong các thiệp xuân mỗi năm của chúng tôi gửi đến các thân-hữu.

Xin mời đọc TIẾNG VIỆT TUYỆT VỜI, chương 8, tiết §2- HỒN NƯỚC TRONG THƠ VIỆT nơi link => http://doquangvinhvenguon.com/ti7871ng-vi7879t-tuy7879t-v7901i.html

XUÂN THẮM LÀNG, BUÔN
(song thất lục bát thuận nghịch độc liên hoàn)

(đọc xuôi)

Buôn làng mãi in lòng nhung nhớ
Trải lụa vàng hoa gió reo xuân
Xuân tình mạch suối trào tuôn
Làng ơi, luôn thắm sắc xuân, ơi làng!

(đọc ngược)

Xuân reo gió, hoa vàng lụa trải
Nhớ nhung lòng in mãi làng buôn 
Tuôn trào suối mạch tình Xuân,
Làng ơi, Xuân sắc thắm luôn, ơi làng!

(liên hoàn)

Buôn thôn mãi in lòng nhung nhớ
Trải lụa vàng hoa gió reo xuân
 
Xuân tình mạch suối trào tuôn,
v.v…………
 
Đỗ Quang Vinh
(ngày 23 tháng Chạp, năm Tân Sửu (04-2-2021)



LM Nguyễn Văn Lý

Kính mong quí vị hổ trợ bằng mọi phương tiện, để
phát huy tinh thần tranh đấu bất bạo động của nhóm
Linh mục Nguyễn Kim Điền, hầu sớm có tự do tôn
giáo và nhân quyền trên quê hương.
Kính chúc quí vị an bình.
Chinh Nguyên

Xin quý vị click vào hình để đọc




Dòng Thơ Kỷ Niệm

Đông Anh & Chinh Nguyên.

Chúng tôi ấn hành tập Thơ Kỷ Niệm này cũng là để kỷ niệm những bước chân hoang đi ngoài Tổ Quốc. Nhắc kỷ niệm xưa để luôn luôn thôi thúc một ngày về quê hương trong ánh nắng vàng tự do hạnh phúc.
Đông Anh & Chinh Nguyên.

Xin quý vị click vào hình để đọc:




Nếu đời không có thơ

Vài lời tự bạch

Khi tuổi đời đã xế bóng, vấn đề cơm áo tạm ổn định thì hồn thơ bỗng bừng cháy theo kỷ niệm thời áo trắng xa xưa…, của những chiều mưa ngồi bất động thả ánh mắt theo bong bóng nổi tan, hay mùa Thu với những tà áo tím xuất hiện trên khắp nẻo đường của xứ Sông Hương, Núi Ngự, của buổi chiều Hạ tìm hạt nắng mong manh sắp tàn dần theo hoàng hôn…

Thời gian đầu chỉ viết lung tung không lề luật. Rồi cơ may đến, MT gặp được người anh tên Bảo Trâm, đã chỉ dạy, hướng dẫn về các luật thơ, rồi đi xa hơn nữa là giới thiệu MT đến các diễn đàn văn thơ cũng như nhiều hội thơ Thất Ngôn Bát Cú để có cơ hội học hỏi thêm, từ đó MT lại được mời tham gia vào nhiều hội thơ khác nữa.

Khởi đầu, học thơ 5 chữ, 8 chữ, Tứ Tuyệt, Song Thất Lục Bát rồi cuối cùng là thơ Thất Ngôn Bát Cú, với loại thơ TNBC, có rất nhiều thể loại thật thú vị cho trí óc rèn luyện, đây là loại thơ MT thích nhất, vì vậy mà tập đầu tay MT chỉ nghĩ đến thơ Thất Ngôn Bát Cú là chính.

Thơ là sân chơi tao nhã, là cảm xúc dâng tràn theo câu chuyện đời, đôi lời tâm sự từ bạn bè, hay kỷ niệm được cô đọng đã lâu, hoặc là mơ là mộng, là thơ là thẩn đôi ba phút trong thế giới tưởng tượng, để tạm quên đi thực tế chắc hẳn không đẹp như mơ.

Còn gì thú vị bằng khi cùng với bạn thơ xướng họa giải trí sau một ngày làm việc mệt nhọc.

Khi vốn liếng đã đầy ắp, MT muốn lưu niệm cùng quý thi nhân khắp bốn phương trời, ước ao thành hình tập thơ và san sẻ đến những bạn yêu thơ gần xa, mong hỷ xã nếu có nhiều sai sót về mọi mặt 

Cuối cùng MT xin ngỏ lời tri ân đến người anh, người Thầy Bảo Trâm đã hướng dẫn đi vào luật thơ, đã làm hơn một ngàn tranh thơ cho MT, đã gom nhặt, tìm kiếm trên các hội thơ để cất giữ dùm thơ khi thấy MT quá bận rộn “cày bừa” trong tuần, cuối tuần chạy rong ngoài đường lo việc chú bác, chỉ biết xướng hoặc họa thơ mà không nhớ bài nào, không biết cách giữ gìn. Có lẽ người Thầy đã nhiệt tình hăng say khi thấy công lao đào tạo đệ tử…” tạm gọi” là có kết quả về luật thơ?

Nói tóm lại nếu không có Thầy Bảo Trâm thì MT không có được vốn liếng thơ để hôm nay được Thầy trình bày thành tập thơ này. 

Sau nữa MT xin cám ơn hội trưởng Chinh Nguyên của hội Văn Thơ Lạc Việt đã mở lớp học miễn phí về cách sử dụng Computer, về cách trình bày một cuốn sách, cũng như in sách do Thầy Phạm Thái nhiệt tình hướng dẫn và giúp đỡ MT hoàn thành tập thơ Xướng Họa 2017 này.

Xin mời quý độc giả cùng bước vào vườn thơ với muôn cánh hoa đầy hương sắc. 

          Minh Thúy

Xin vui lòng click vào hình để xem sách



Đội Đập Đá

Xin vui lòng click vào hình để xem sách




Đôi Mắt Biển

XIN CHÀO QUÝ VỊ

     Tôi viết và gởi tới quý vị những bài thơ ngẫu hứng không niêm luật không tựa, và có tựa những bài thơ nói lên tình yêu không bao giờ xa rời, nỗi yêu thương không bao giờ đứt đoạn đã và đang ẩn hiện trong lòng chúng ta quê hương ngàn trùng xa cách, và tiếng mẹ như sóng vỗ bờ.

      Tôi nghĩ rằng đó là sự nổi loạn của con tim hay sự trổi dậy của tình người, lời tình gọi mơ hồ như sóng biển chiều vọng lại xa xăm vời vợi thương yêu!

Xin quý vị click vào hình để đọc