VTLV – TRANG ĐẶC BIỆT TƯỞNG NIỆM 51 NĂM THÁNG TƯ ĐEN.

*

=

TRANH THƠ NGUYỄN PHƯƠNG THÚY: “THÁNG TƯ VẪN NHỚ” THƠ PHẠM PHAN LANG

==

APRIL STILL REMAINS (BẢN TIẾNG VIỆT) THƠ PhamPhanLang -Lyrics: PhamPhanLang. MusicPrompts & Video: PhuongHoa USA. Vocals & Performance: Suno AI.

****

BÀI THƠ MA THÁNG TƯ.       CAO MỴ NHÂN 

Nửa đêm, gió chuyển lên đồi

Vầng trăng hốt hoảng xa rời lũng ma

Trăng trôi trên trời bao la

Gió tìm trăng khắp sơn hà thân quen

*

Bỗng từ ký ức vươn lên

Rừng cây lá biếc già thêm mấy tầng

Trăng nhìn cây, chợt bâng khuâng

Gió vừa bắt kịp trăng, mừng rỡ reo

*

Ba vì sao đứng quạnh hiu

Ngắm soi chứng tích tình yêu nơi này

Cây rằng : họ chẳng đổi thay

Gió trăng, trăng gió lượn bay mịt mù

*

Cây rơi từng đợt lá khô

Mùa đang chuyển những tiếng ru vào lòng

Lời nào gởi lại non sông

Lời nào trăng gió bềnh bồng mang đi

*

Bóng hồ linh khuất sơn khê

Trăm năm sao lại tìm về , hỡi ôi

Tháng tư , trăng vỡ ngậm ngùi 

Gió ôm phiền muộn, lệ rơi tuyệt tình  …

     Utah, 25 năm sau  30- 4 – 1975            CAO MỴ NHÂN

==  

Ở PHƯƠNG NÀY.     CAO MỴ NHÂN 

Khi tôi mới tới phương này

Mặt trời còn trắng trong mây lạnh buồn

Tôi ngồi ôm nỗi cô đơn

Nhìn ra biển Thái  Bình Dương ưu phiền

*

Người đang tình tự thay phiên

Trái tim mang cả nỗi tiền vận đau

Mù sương phủ kín công hầu

Đỉnh thương nhớ đã nhạt màu trầm luân

*

Này là tuổi tác phù vân

Say mê sợi nắng tần ngần thả rơi

Chúng mình chung một khung trời

Mà như nghiêng lệch hẳn đời éo le

*

Chốn này chạnh nhớ nơi kia

Từ khi thân phận cách chia chập chờn

Mặt trời chiếu sáng càn khôn

Sao tâm tư vẫn gọi hồn nước xưa … 

Rancho Palos Verdes  11 – 4 – 2026          CAO MỴ NHÂN  

==

SAU CƠN ĐỊA CHẤN.     CAO MỴ NHÂN 

Chỉ còn là thân phận

Mỗi lần em gặp anh

Như một cơn địa chấn

Sau trận động đất nhanh

*

Anh mỉm cười : em yêu

Thì rõ ràng tiếng khóc 

Của tâm hồn quạnh hiu

Mơ hồ trong thao thức

*

Vẫn là anh khao khát

Mặt trời mọc chân mây

Em mang niềm mơ ước

Rực rỡ anh đầu ngày

*

Chúng mình cần sống ngay

Để lánh xa nỗi chết

Tình yêu phải vơi đầy 

Mới thăng hoa, thanh khiết…

Rancho Palos Verdes   12 – 4 – 2026       CAO MỴ NHÂN  

==

DẶM VỀ THÁNG TƯ .      CAO MỴ NHÂN 

Gởi em trọn vẹn nỗi lòng

Từ khi giã biệt phương đông, qua đoài

Từ khi tiếng quốc u hoài

Nghe trong thân phận lạc loài, xót xa

*

Năm châu thiên hạ bao la

Lòng thêm buồn tủi sơn hà hờn căm

Này đây gió thổi mê lầm

Lệ đang thả giọt âm thầm hoang liêu

*

Dặm về khói sớm , sương chiều 

Hồn nghe phiền muộn những điều trái ngang

Tháng tư phai sắc hoa vàng 

Đốt trầm lên, lạy dở dang mộ người 

*

Tháng tư hiu hắt bên trời

Níu chân bước lẻ trọn đời tiếc thương

Nén nhang thắp đã tàn hương

Biển dâu hay cả đại dương nghẹn ngào… 

              CAO MỴ NHÂN 

                18 – 4 – 2026

THÁNG TƯ NÀO.     CAO MỴ NHÂN 

Mỗi năm mất một tháng tư

Nên mình có vẻ bị hư hao đời

Mỗi năm dần mất nụ cười

Ba mươi tháng bốn từ hồi bảy lăm

*

Hơn nửa thế kỷ phù vân

Công danh, sự nghiệp, tuổi xuân điêu tàn

Nghe câu chính nghĩa Việt Nam

Đã bị Cộng thuyết phá tan giống nòi

*

Đưa dòng vô sản lên ngôi

Bắc Nam thống nhất tôi đòi Tàu Nga

Hãy nhìn thế giới người ta

Họ khinh miệt cảnh sơn hà lai căng

*

Đua đòi cải tổ nhân văn

Làm sao chen được gót chân Cộng Hoà

Tháng tư mất hết tinh hoa

 Chỉ còn quỷ đỏ phô ra lộng hành …

Hawthorne 18 – 4 – 2026         CAO  MỴ NHÂN  

===

CÙNG NIÊN KỶ KHÓC. – CAO MỴ NHÂN

Trăng lênh đênh trôi lãng đãng trở về

Cho thấy được cuộc đời là hư ảo

Mây lướt thướt bay chập chờn phiền não

Mới bình minh sao nhuốm vẻ hoàng hôn

*

Khói sương tan trong bát ngát linh hồn

Em mờ mịt tháng năm đầy quá khứ

Tuổi anh lỡ trải dài đường viễn xứ

Đừng nói thêm quê quán chốn hoang liêu

*

Biết đâu tìm ân nghĩa với thương yêu

Tình đã lạt phai tưởng lầm trễ hẹn

Không có gì sao thế gian bịn rịn

Chuyến đò vơi trăng cạn nỗi riêng tư

*

Quán thu phong hơi lạnh buốt bao giờ

Ai viết sử đang chờ người nhuận sắc 

Vách lá ẩm, ướt lời xưa mất mát 

Ta đang cùng niên kỷ khóc chơi vơi…

  CAO MỴ NHÂN ( HNPD )

18 – 4 – 2026

==

==

NGẮC NGOẢI ĐẾN BAO GIỜ

Nguyễn Phương Thúy

Ông Tô Lâm – Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch
nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (Ông cũng là Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Công an
Trung ương, Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và An ninh, và Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về
phòng chống tham nhũng, tiêu cực. Còn chức nào ông chưa tóm? Đúng là độc tôn, độc trị!) đến
China từ ngày 14 đến 17 tháng 4 năm 2026. Đây là một bước đi ngoại giao đầy quan trọng – cấp
nhà nước, trên cương vị là lãnh đạo cao nhất của Việt Nam. Chuyến thăm này không chỉ dừng lại
ở những cái bắt tay xã giao; đó là một nỗ lực thúc đẩy thực hành nhanh chóng Chiến lược “3+3”
(*), nhằm củng cố “Cộng đồng chia sẻ tương lai” – một cách nói hoa mỹ để diễn tả việc họ đang
gắn kết nền kinh tế và an ninh của nhau chặt chẽ hơn bao giờ hết.
Tô Lâm trông có vẻ sung sướng, hãnh diện với sự đón tiếp long trọng của China. Các ông lớn
mặc âu phục, các bà lớn cũng mặc quốc phục hiện diện sát bên. Nội các China dàn hàng chào
danh dự. Tô Lâm bắt tay muốn rụng tay! Càng ngày hình thức ngoại giao càng giống các nước tự
do. Con tắc kè thay màu quá lẹ nhưng cái cốt lõi thì vẫn ẹ như xưa!
Việt Nam và China đã ký kết hơn 32 thỏa thuận vào ngày 15 tháng 4 năm 2026, tập trung vào
các lĩnh vực:

  • Hải quan & thương mại: Đây là một bước tiến vô cùng to lớn, bởi thương mại giữa hai quốc gia
    đã hơn 250 tỷ USD trong năm 2025. Hai bên cũng đang triển khai mô hình “cửa khẩu thông
    minh” nhằm đẩy nhanh tốc độ vận chuyển hàng hóa.
  • Cơ sở hạ tầng & đường rầy sắt: Trọng tâm phát triển đô thị và kết nối các tỉnh phía Bắc của
    Việt Nam với mạng lưới đường sắt cao tốc của China chính là một “con đường một chiều”. Một
    khi những đường rầy ấy đã được lắp đặt theo tiêu chuẩn của China, Việt Nam sẽ bị ràng buộc
    chặt chẽ về mặt vật lý với China trong suốt 50 năm.
    Trong nhiều thập kỷ, Việt Nam vẫn duy trì khổ đường rầy sắt khác biệt, nhằm ngăn chặn nguy cơ
    bị xâm lược dễ dàng. Bằng việc chuyển sang áp dụng các tiêu chuẩn của China, Việt Nam đang
    thực sự hội nhập về mặt vật lý vào hệ thống hậu cần (logistics) của China.
    Đây chính là sự thống trị mà không cần chiến tranh. Nếu China nắm quyền kiểm soát hệ thống
    đường rầy, công nghệ tín hiệu cũng như nguồn tài chính, họ sẽ nắm giữ chiếc “công tắc bật/tắt”
    đối với nền kinh tế xuất khẩu của Việt Nam.
  • An ninh chuỗi cung ứng: Nhằm bảo đảm các chuỗi cung ứng xuyên biên giới sẽ không bị gián
    đoạn bởi những biến động chính trị trên phạm vi toàn cầu.
  • Du lịch: Phát động chương trình “Năm Hợp tác Du lịch Việt Nam – China 2026-2027” với mục
    đích thu hút khách du lịch trở lại mức trước đại dịch.
    Những thỏa thuận này có ảnh hưởng to lớn không thể tránh khỏi như “Con ngựa thành Troy”
    trong lĩnh vực 5G (the fifth-generation technology standard for broadband cellular networks), dữ
    liệu lớn (big data) và trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence (AI)). Cơ sở hạ tầng kỹ thuật số luôn
    có những “cửa hậu” (backdoors). China sẽ nắm trong tay “chìa khóa” của chủ quyền kỹ thuật số,
    có khả năng giám sát sự di chuyển của con người, hàng hóa và thậm chí cả quân đội….

==

VIỆT NAM: A Nation Reborn – Created by Nguyễn Phương ThúyNhạc nền hòa tấu: “VIỆT NAM VIỆT NAM” Của Phạm Duy

DÂY MÀ ĐI GIỮ GIANG SAN -NGUYỄN PHƯƠNG THÚY CGV

==

Thơ: Nguyễn Phương Thúy – Nhạc: Phạm Trung – Trình bày: Bích Hiền

== THƠ 30 THÁNG THÁNG TƯ ANH & VIỆT – TRANH THƠ: NGUYỄN PHƯƠNG THÚY

==

==

*

Tùy Bút 30/4 CỦA 51 NĂM SAU

Sỏi Ngọc

Tàu Trường Xuân, thuyền trưởng: ông Phạm Ngọc Lũy

Từ trái sang phải: Đạo diễn: Robbie Hart; Bà Nguyễn Bùi thị Mùi; tác giả Sỏi Ngọc; cố vấn Phim: anh Khoa Phạm

Lại một tháng Tư đen

Quê người ta tạm trú

Bao giờ về cố thổ

Như máu chảy về tim?

Cuộc chiến đã qua lâu

Lòng ta còn hậu chấn

Hỡi ơi ! Trời biển rộng

Dằng dặc một cơn sầu.  (Hoàng Song Liêm)

Tháng Tư vừa mới chớm, trái tim của những người con Việt hải ngoại không ngớt rỉ máu, vết thương của 51 năm qua vẫn mãi chưa bao giờ lành, một khi quê hương đất mẹ vẫn đang bị cầy xéo, dân vẫn khốn đốn, nền tự do dân quyền không có, những cựu chiến binh VNCH với thân hình còi rọc, như những phế nhân lầm lũi sống ở tận đáy xã hội của đất nước nơi mình được sanh ra; họ là những minh chứng sống cho thấy dưới chế độ xã hội chủ nghĩa Cộng Sản sau 51 năm, đời sống không khả quan hơn, vẫn đói khát, bị vùi dập, kiểm soát, bị trả thù đến bao nhiêu kiếp đời.

Tưởng niệm tháng Tư, phim Shining light, một phim tài liệu “ánh sáng tỏa rạng” được trình chiếu tại một trường tư thục, trung học Marianopolis college cho tất cả mọi người, kể cả những em học sinh, tham dự để hiểu về cội nguồn của những người Việt tỵ nạn tại Canada nói riêng và thế giới nói chung.

Phim tài liệu này chỉ dài 30 phút, do nhà sản xuất phim: Peter Raymont, đạo diễn: Robbie Hart, nhân viên Cao Ủy Liên Hiệp Quốc tại Canada: Tracey Maulfair, đồng sản xuất phim và cựu Đại xứ Canada: Gary Smith, cố vấn phim: Khoa Phạm.

Đã được trình chiếu nhiều lần tại Vancouver, Toronto, Montreal, hôm nay được chiếu lại nhưng đặc biệt có sự góp mặt của nhân vật chính, bà Bùi Nguyễn thị Mùi, bà là người mẹ đã mang bầu được 9 tháng vào ngày 30/4/75, biết rằng tánh mạng rất mong manh nếu bà lên tàu Trường Xuân bỏ xứ lánh nạn Cộng Sản thời bấy giờ, nhưng nỗi sợ hãi bị trả thù, cuộc sống đọa đầy sau ngày mà bọn chiến thắng luôn rêu rao là “nền độc lập tự do dân chủ”, trong khi chúng bắt bớ những  cựu sĩ quan, lính VNCH bỏ tù, nằm gai nếm mật, trong đó có chồng bà… Bà đã hy sinh mạng sống của chính mình và đứa con trong bụng, ôm bụng bầu sát ngày sanh nở, cùng với con trai nhỏ 2 tuổi, lên chiếc tàu định mệnh cuối cùng vào trưa ngày 30/4 để trốn chạy; đến ngày 2 tháng 5 năm 1975 bụng quặn thắt, và đứa con gái đã chào đời trên tàu Trường Xuân, giữa lòng đại dương mênh mông, với 3600 người tỵ nạn vây quanh, đứa bé gái được đặt tên là Chiêu Anh,  ánh sáng rạng rỡ, hy vọng  mở ra cho bà một tương lai mới!

Bà Bùi Nguyễn thị Mùi mới sanh cháu Chiêu Anh trên tàu Trường Xuân

Chiêu Anh- cô gái được sanh trên biển cả của ngày hôm nay

Bà Bùi Nguyễn thị Mùi, đạo diễn: Robbie Hart tại trường Marianopolis college

Sau đó, ngày 4/5/1975 tàu Trường Xuân được tàu chở hàng Maersk line của Hong Kong vớt, mẹ con cô được chở vào nhà thương.

Mọi người yên lặng theo dõi bộ phim thật cảm động, tại ngôi trường mà Chiêu Anh đã từng theo học và tốt nghiệp; thỉnh thoảng có tiếng thở dài não ruột, tiếng sụt sùi trong hàng ghế của những người lớn tuổi, cũng có những cái nắm tay thầm lặng chia sẻ nỗi buồn, sự cảm thông của thế hệ trẻ đối với tiền bối.

Phim chấm dứt, ánh đèn sáng lên, bà Bùi ngồi lặng yên trên chiếc ghế ở khán đài, cùng với đạo diễn Robbie Hart, sẵn sàng trả lời những thắc mắc của tất cả mọi người, có cậu bé nói:

– “Tại sao chiến tranh VN đã trải qua 51 năm, đã thống nhất độc lập rồi, mà vẫn còn có người bỏ nước ra đi, còn nghe nói đến sự trốn chạy tìm tự do, tìm nguồn sống mới; họ không chịu nổi áp lực của nhà cầm quyền Cộng Sản?”

Một người khác góp ý:

– “Vào lúc 30 tháng Tư, bọn cộng sản đối với chúng tôi là một điều rất mới mẻ, nhưng kinh nghiệm của thời cải cách ruộng đất thời 1953-1956, chúng đã giết, treo cổ thẳng tay những người họ gọi là “địa chủ”, “tư sản”, tưởng tượng họ cũng đối xử, trả thù những người dân quân miền Nam đã sống, làm việc dưới chính quyền mà họ cho là Mỹ ngụy thì làm sao chịu nổi, vì lý do đó mà nhiều người thà bỏ mạng ngoài đại dương hơn là sống dưới gông cùm của chế độ Cộng Sản.”

Đạo diễn Robbie nói:

– “Chúng tôi dự định sẽ về thăm Việt Nam một chuyến, có dịp sẽ quay những thước phim về những biến cố lịch sử đã xảy ra tại đó cách đây 51 năm, và sự khác biệt với đời sống hôm nay.”

Một khán giả trong phòng thêm ý kiến:

– “Chúng tôi rất mong được các ông làm phim về những người lính VNCH, những người cựu chiến binh, những thương phế binh của chế độ trước bây giờ họ sống ra sao? Con cái họ thế nào? Có được sống như những người dân bình thường hay họ vẫn mãi mãi bị mang lý lịch xấu không thể ngóc đầu lên được, tâm lý sau cuộc chiến bị thất bại, họ mất tất cả, chỉ còn hai bàn tay trắng, lại thêm tù tội cả chục năm, cuộc đời của chính bản thân và con cái có được thành công ở chính quê hương nơi họ sanh ra không? Cộng Sản, những kẻ chiến thắng sau cái mốc định mệnh 30/4 có thật sự như họ đã nói “theo chính sách khoan hồng” giúp đỡ cho kẻ “lầm đường lạc lối” đi đúng hướng, sao chỉ thấy toàn những hình ảnh đói khát ở vùng kinh tế mới với những căn nhà mái lợp bằng lá, mùa mưa thì dột, mùa nắng thì thiêu đốt… Sự trừng phạt hăng máu của kẻ chiến thắng đến bao giờ mới ngừng tay?!”

Hình ảnh của con gái Chiêu Anh cùng với mẹ đi dạo trong một công viên ở Montreal, thanh bình và nhàn nhã, có ai biết quá khứ của họ trắc trở đầy thử thách!

Chiêu Anh chính là Shining Light của bà Mùi, cô là ngọn đèn tỏa sáng trong màn đêm tăm tối, là niềm hy vọng cho cả gia đình sống và phấn đấu, bà Nguyễn Bùi thị Mùi là một dược sĩ có tiếng tại Montreal, Quebec, giúp đỡ cho rất nhiều đồng hương trong thời gian covid.

Bà luôn dậy con gái “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, cô tìm lại được thuyền trưởng của tàu Trường Xuân năm xưa là ông Phạm Ngọc Lũy, đã đến mừng sinh nhật thượng thọ thứ 95 của ông,

Cô gái Trường Xuân năm nào, tưởng đã không thể nào sống nổi, nay thành công rực rỡ trong ngành thiết kế thời trang,  cô ra trường ngành thiết kế thời trang ở NewYork, được nhiều giải thưởng danh giá.

Xin gửi lời cảm ơn trân trọng đến đạo diễn Robbie Hart, đến anh cố vấn Khoa Phạm đã tìm lại nhân chứng sống bà Nguyễn Bùi thị Mùi của tàu Trường Xuân sau 51 năm để cùng ngồi lại nơi đây, ôn lại câu chuyện lịch sử, không thể nào quên; câu chuyện của bà là một trong hàng ngàn những câu chuyện hy hữu của những người vượt biển sống sót, may mắn đến bến bờ tự do, sống, làm việc và thành công, như một tấm gương sáng cho thế hệ tương lai.

Chúng tôi ra về với dư âm của chiếc tàu Trường Xuân còn vương vấn, dáng bé nhỏ mảnh khảnh của bà Nguyễn Bùi thị Mùi, với nụ cười ấm áp, ánh mắt chứa chan niềm thân thiện, bà đã sống và cống hiến hơn nửa cuộc đời từ cái mốc 30/4 đến nay cho ngành thuốc, giúp tư vấn cho người bệnh, chích, bán và nhiều khi biếu thuốc cho những hoàn cảnh khó khăn, bà đúng với câu « lương y như từ mẫu », bà tâm sự riêng với tôi :

– “Mình thật may mắn đã được Canada giang tay đón nhận, thì mình phải sống sao cho xứng đáng, trả ơn cho đất nước đã cưu mang và góp phần xây dựng cho tương lai của thế hệ trẻ sau này.”

Tại ai mà mỗi tháng tư, tâm tư của hơn 1,5 triệu người sống xa quê hương có cùng một tâm trạng:

Tháng Tư về, gió chạm hư vô

Ký ức cũ rơi rụng không bờ

Người ở lại quen dần im lặng

Kẻ ra đi mang nặng giấc mơ

Một dòng sông chia hai bờ nhớ

Nửa quê hương trôi dạt phương nào

Hơn nửa thế kỷ rồi vẫn hỏi

Mất gì đây… mà đau đến nao lòng.

Sỏi Ngọc

Montreal 4/4/2026

*

THÁNG TÁM, THÁNG TƯ

Vốn rằng ghi rõ tự Thiên Thư

Cộng sản gian tà từ…”dịch Thu.”

“Cải Cách” lừa bần nông, đấu tố,

“Nhân Văn” phỉnh kẻ sĩ, giam tù.

Rồi đây, nổi giận, dân băm nát

Sắp tới, phân minh, Trời nghiến nhừ

Hậu quả khôn lường đang dần đến

Chúng bây sẽ trả nợ…công, tư.

         Bảo Trâm

Chú thích:

“Dich Thu”: Cách mạng tháng tám” năm 1945 của lũ cướp cộng sản.

“Cải Cách”: Cải cách ruộng đất” của Công sản Bắc Việt, từ 1953 đến 1956 , giết hàng chục ngàn nông dân ở miền Bắc.

“Nhăn Văn”: Cộng sản bày ra vụ “Nhân Văn Giai Phẩm” từ 1955-1959, để giết và giam tù, bó đói hằng trăm Văn Nghệ sĩ ở Miền Bắc.

==

CHÙM THƠ NHƯ THU

THÁNG TƯ MÃI NHỚ 

Tháng tư nặng mối ưu hoài 

Làng xưa biền biệt đắng cay nỗi lòng!

Phương trời xứ lạ thầm mong

Tàn canh thức trắng chờ trông mỏi mòn

*

Tháng tư giữ dạ sắt son 

Đêm dài dỗ giấc trăng tròn xót xa 

Vì đâu mãi nhớ thương nhà?

Người ơi gắng đợi cùng ta trở về! 

*

Tháng tư nghĩa xóm tình quê 

Chân thành đối đãi vẹn bề giúp nhau

Chiều qua gặp gỡ vui chào

Cười tươi hớn hở xôn xao chuyện trò 

*

Tháng tư ấp ủ buồn lo

Yêu bầy trẻ dại nằm co dọc đường 

Màn trời chiếu đất cảm thương 

Bao người khốn khổ muôn phương vội vàng 

*

Tháng tư mộng ước hoài mang

Trời Nam, biển Bắc tỏa lan đượm tình 

Mây chào rạng ánh bình minh 

Sau này hứa hẹn đăng trình chẳng lơi!

*

Tháng tư ngỡ tựa đang mời 

Buồm giăng bến gọi chửa ngơi bao giờ 

Sum vầy thỏa lắm niềm mơ 

Nắng hồng giục giã đôi bờ kết giao.

Như Thu

04/18/2026

**

QUÊ HƯƠNG DẤU YÊU! 

Từng nghe nước Việt sẽ dâng Tầu

Có phải quan thầy giấu nhẹm lâu?

Phương Bắc xe vào tim hụt hẫng

Miền Nam giặc đến kẻ u sầu!

Dân hờn bấy nỗi đành im tiếng     

Ruột thắt bao lần lại đẫm châu

Ướm hỏi người ơi nhờ tỏ thật…

Vì sao sự thể quá cơ cầu?

Như Thu

04/21/2026

**

THÁNG TƯ ƠI!

Lại tháng tư đen sắp trở về

Bao trùm phố thị cả làng quê!

Mậu Thân súng nổ rền muôn hướng

Bính Ngọ lời than trỗi tứ bề

Non nước căm hờn luôn mải giận

Dân tình bực tức chẳng còn mê

Vùng lên tranh đấu nào suy nghĩ

Nhất dạ đồng tâm giữ vẹn thề!

Như Thu

04/21/2026

==

*

CHO NHỮNG NGƯỜI NẰM XUỐNG
VÀ NHỮNG NGƯỜI CÒN LẠI

Tháng tư, từ giã mùa chinh chiến.
Ta về, đi giữa bóng hoàng hôn…
Tay mẹ gầy còm ôm ta khóc,
Cạnh đám em thơ nghẹn tủi hờn.

*

Bạn ta nhiều đứa không về nữa,
Đem máu xương mình hiến núi sông.
Để người sương phụ chia dòng lệ
Nửa chịu tang cha, nửa khóc chồng.

*

Rượu không đủ uống ngày thua trận
Ta ngước cười khan với đất trời,
Trời đã không dung người thất thế,
Sá gì thù vặt ngọn đòn roi.

*

Năm xưa vào lính mình ta tiễn,
Nay bước lao tù cũng một thân.
Mẹ đã tảo tần nuôi ta lớn,
Nay còn đội gạo mà thăm con.

*

May lúc lên đường chưa cưới vợ,
Nên chẳng dùng dằng vướng nợ ai.
Nếu không cũng xót thời son trẻ,
Vì chồng nhan sắc em tàn phai.

*

Trong tù ta có thêm bầu bạn,
Sáng chiều chia nửa củ khoai lang
Ngoài kia hợp tác toàn dân đói,
Xã nghĩa thiên đường ráng tiến lên.

*

Trong tù ta sống lòng thanh thản
Gánh rổ khoai mì đi rong chơi.
Cuốc đất đau lưng mà trí nhẹ
Không thành công, ta cũng thành người.


Nửa đêm tiếng hát từ song sắt,
Cao vút ngân lên đụng đỉnh trời.
Nhìn gã cai tù đang cúi mặt
Ta biết cuối cùng … ai thắng ai!

-Trại tù A30-1977.
Donry Nguyễn

**

TRẢ LỜI
CÂU HỎI CỦA EM.

“Ta làm chiến binh
Sống không bằng chết,
Được mất gì mà vỗ ngực xưng tên!”*


Người hỏi tôi là lính hay quan,
Hỏi chi thân thế lúc suy tàn.
Mang danh phận lính không tròn phận,
Há dám xưng hùng nhận chức quan.

*

Giữ nước sa cơ đành bỏ nước
Coi nhà thất thế phải tòng vong.
Cho dẫu chỉ là anh lính nhỏ,
Lẽ nào trách nhiệm chẳng lo chung.

*

Ngày nay trên bước đường lưu lạc,
Món nợ tang bồng lụy áo cơm.
Tha phương chén rượu sầu ngơ ngác,
Ai chẳng mộng ngày … quy cố hương.

*

Em đừng trách móc sao lần lữa,
Chưa về thăm lại mẹ già nua.
Lòng riêng ngui ngút niềm thương nhớ
Nhỏ lệ âm thầm giữa gác khuya.

*

Ra đi từ bữa hờn sông núi,
Lời thề ghi khắc trái tim côi.
Mai sẽ trùng tu ngày hội lớn
Dựng mái nhà xưa phụng dưỡng người.

*

Nửa thế kỷ qua ngùi đau xót,
Bạc màu áo cũ vẫn chờ mong.
Lỡ mai tôi chết không về kịp …
Chắc gởi tro tàn xuống biển đông.

*

Món nợ ân tình chưa báo đáp
Đối mặt quê hương nghĩ thẹn lòng.

-Donry Nguyễn-

* (Trích bài hành Tự Chuốc Rượu của người lính Lôi Hổ Hoàng Hoa Thương)

*

Tưởng nhớ Tr/u Liễu Tông Trung cùng đồng đội đã nằm lại rừng núi Kon Tum, tháng ba 1975.

Ngày 14/3/1975 anh theo xe tiếp tế lương thực cho đại đội đang đóng ở Đồi Ba Chấm, vị trí này là nơi đơn vị anh lui lại sau khi tản hàng phải rời bỏ căn cứ Kon Sơn Lũ cách đó vài cây số vào năm ngoái.

Lần này anh mang theo cả ba lô súng đạn để tham dự hành quân mặc dù nhiệm vụ của hạ sĩ quan tiếp liệu là ở hậu cứ lo việc quân lương.
Lý do: lè phè, ham chơi, đến giờ tiếp tế, tiểu đoàn phải cho người ra phố gọi về.

Sau khi nhận lương thực xong, đại đội được lệnh tiến sâu vào rừng, anh cũng mang súng lầm lũi bước theo. Đi được vài chục thước thì bỗng nhiên vị trung úy Trung đội trưởng ngoắc tay bảo anh:

-Thôi về đi, cảnh cáo lần này, nhớ không tái phạm nghe chưa.

Mừng rỡ bạn tôi chỉ kịp đưa tay chào ông rổi vội vã chạy ngược lại để đuổi kịp chiếc GMC đang lăn bánh.
Về tới trại B12 buổi chiều thì tối đó, toàn bộ hậu cứ được lệnh tiêu hủy vũ khí nặng và tất cả giấy tờ tài liệu để gọn gàng lên xe di tản. Nghe lệnh anh bàng hoàng xúc động, nghĩ đến những bạn bè chiến hữu giờ này đang tiến sâu vào rừng, không hay biết gì cả khiến anh chết lặng trong lòng. Hồi trưa nếu đại đội trưởng không cho về thì giờ này anh cũng chung số phận với mọi người rồi.

Suốt đường lui binh, không khi nào anh không nghĩ đến những người bạn cùng đơn vị giờ đây đơn độc giữa rừng sâu trong vòng vây của địch. Nỗi buồn và niềm chua xót nghẹn ứ trong trái tim người lính bất lực trước sự phũ phàng tàn nhẫn của chiến tranh.

Đoàn xe di tản của anh đi đầu, giữ được yếu tố bất ngờ nên không bị tấn công như khúc sau, đến bến đò Thạnh Hội xe lội qua sông Ba nhờ dòng nước lúc này chưa dâng cao. Nhưng khi cách Tuy Hòa khoảng 10 cây số, một quả đạn pháo kích nổ sát sườn xe làm người lính tên Tân là phụ tá tiếp liệu cho anh đứt ngang cổ họng, chết liền tại chỗ. Anh chỉ kịp ngoái lại nhìn xác nó loang máu nằm gục bên vệ đường nói lời vĩnh biệt rồi tiếp tục lao đi.
Anh về tới nhà an toàn, ở lại Tuy Hòa mấy hôm chờ đợi tin tức đơn vị nhưng không gặp lại ai, cũng không biết đích xác đại đội của anh thế nào. Sau đó cùng gia đình theo đoàn xe xuôi Nam, đến Nha Trang, nghe ngóng tình hình, thấy tin tức chiến sự hoàn toàn bất lợi, cha mẹ anh quyết định trở về và cho phép anh theo đơn vị. Không thể bỏ cha già mẹ yếu với đám em thơ giữa cuộc ly loạn, anh ở lại Nha Trang cùng gia đình chờ yên ổn trở lại Tuy Hòa.

Lúc ra trình diện ủy ban quân quản thành phố, tình cờ gặp lại một đồng đội cũ. Vui mừng hai người kéo nhau ra một góc vắng thăm hỏi. Người bạn cho biết vắn tắt: đại đội đã chiến đấu cho tới viên đạn và bịch gạo sấy cuối cùng. Không nhận được tiếp tế, cũng không thể liên lạc về bộ chỉ huy nên tự giải tán, mạnh ai nấy tìm đường thoát hiểm, thành ra không ai biết ai thế nào.
Nghe xong bạn tôi thở dài nuốt nước mắt vào lòng. Tiếc thương đồng đội cũ trong đó có Tr/u Liễu Tông Trung, đại đội trưởng của anh, là một sĩ quan can trường, tốt nghiệp Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, ông đã cống hiến tuổi trẻ và tâm huyết của mình cho đất nước, cuối cùng đã bị bỏ rơi giữa núi rừng Kon-Tum khi gần tàn cuộc chiến.

Từ đó đến nay tôi vẫn thường hỏi thăm nhiều nơi, gặp nhiều chiến binh Biệt Động để ngóng tin tức giùm bạn tôi mà không ai biết. Duy chỉ một lần tình cờ gặp Đ/u Nguyễn Văn Hồng, người cùng khóa Sĩ Quan Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt với Tr/u Liễu Tông Trung, anh cũng thừa nhận là sau tháng tư 75, được anh em cùng khóa báo cho biết là Liễu Tông Trung mất tích…

Hôm nay nhân mùa Quốc biến, thay mặt bạn mình tôi viết bài thơ tưởng nhớ đến ông và tất cả các chiến sĩ BĐQ đã nằm xuống trên khắp đất nước để bảo vệ Miền Nam Tự Do.

BÀI CA
ĐỒI BA CHẤM

Lệnh di tản ban hành trong đêm lạnh,
Ta bàng hoàng khi nhận được hung tin.
Đại đội ta đóng quân đồi Ba Chấm
Mới ban trưa này còn được lệnh hành quân.

Giờ bỗng chốc chẳng khác gì ác mộng,
Họ trở thành chốt chặn ngựa qua sông.
Ta vơ vội áo quần, ôm cây súng,
Giờ ra đi nghe muối xát vào lòng.

Người ở lại âm thầm ngăn bước giặc,
Người lên đường lặng lẽ rút nhau đi.
Thương đồng đội ta cũng đành bất lực,
Bí mật quân cơ đâu thể nói năng gì.

Trời cao nguyên đêm nay buồn ảm đạm,
Cơn gió nào thổi vọng đến đồi cao.
Nơi bạn ta vẫn tay ghìm họng súng,
Giữa rừng khuya cố thủ dưới thông hào.

Thẩm quyền ta, người sĩ quan Võ Bị,
Cái ngoắc tay cho ta sống trở về.
Nhưng chính ông lại lọt vào tuyệt lộ,
Thế trận tàn Hùm dữ cũng sa cơ.

Đường lui binh nhiều lần ta bật khóc,
Ôi đâu rồi khí phách một đoàn quân.
Đánh trăm trận khiến quân thù tan tác,
Giữ non sông từng tấc đất tấc vàng.

Nay chạy trốn để mong cầu sự sống,
Lòng ta đau tan nát tựa dao đâm.
Giặc pháo theo bạn ta vừa ngã xuống,
Máu loang hồng theo vết bánh xe lăn.

Về duyên hải chờ lâu tin không thấy,
Lại lên đường tiếp tục tiến về Nam.
Gặp đồng đội sụt sùi nghe kể lại:
Lính bọn mình đã chiến đấu hiên ngang.

Giây phút cuối không còn quân tiếp viện,
Đạn vơi dần, gạo sấy chỉ cầm hơi.
Tiếng súng giặc bao trùm lên trận tuyến,
Sóng truyền tin không nghe tiếng trả lời.

Tự tan hàng khi thế cùng lực kiệt,
Xé đường rừng tìm lối thoát mưu sinh.
Người thương tích chờ quân thù bắn giết,
Người ngậm ngùi mang thân phận tù binh.

Ta từ giã chiến tranh từ thuở ấy,
Mà vết thương còn nhức nhối trong tim.
Nửa thế kỷ, ta thấy mình còn nợ,
Những anh em ở lại phút sau cùng.

Ai ra lệnh phũ phàng đem con bỏ?
Ai chọn đường hoang phế để lui quân?
Nửa thế kỷ nỗi buồn đau còn đó,
Người vọng phu hóa đá đứng trông chồng…

Ta may mắn xác thân còn nguyên vẹn,
Nhưng tâm hồn vĩnh viễn gởi rừng sâu,
Nơi bạn ta đã âm thầm ngã xuống,
Máu xương đem phân bón cỏ xanh màu.

-Donry Nguyễn-
California April 15,2026.

==

==

==

Tháng Tư trở về không còn là tên của một tháng, mà là một vết cắt hằn sâu trong thân phận.
Tháng Tư của một thời đã xa, vừa ập tới như cơn hồng thủy hỗn mang, cuốn phăng mọi trật tự vốn dĩ của đời người. 

Không một lời báo trước, không kịp chuẩn bị, chỉ còn hoảng loạn và chia lìa.

Gia đình tan tác. Bè bạn lạc nhau. Quê hương bỏ lại.
Tất cả như một đàn chim đang yên ổn giữa trời bỗng bị giông bão xé tung, mỗi con bay về một hướng, không biết có còn ngày gặp lại.
Trong cơn cuồng phong ấy, mỗi con người chỉ còn là một hạt bụi nhỏ nhoi, như chiếc lá cuốn theo dòng nước, bị đẩy trôi mà không thể cưỡng lại.

Mọi thứ diễn ra quá nhanh. Những quyết định không còn là lựa chọn, mà chỉ là phản xạ sinh tồn.
Giữa trăm mối hỗn độn, người ta chỉ còn biết chạy, chạy trốn khỏi đổ vỡ, chạy về phía một miền đất tự do, dù biết rắng nó rất mơ hồ.
Có những điều, khi xảy ra, ta tưởng là bất khả kháng. Nhưng thời gian không xóa đi, nó chỉ làm rõ hơn những khoảng trống trong lòng. 

Khi mọi thứ lắng xuống, khi đời sống dần tìm lại nhịp thở, thì ký ức lại dâng lên như một cơn sóng khác, âm thầm mà dữ dội.

Tôi đã không kịp đến.
Không một nén hương.
Không một lời giã biệt.

Nỗi oan ấy ở lại, không ồn ào, nhưng dai dẳng. Không trách móc, mà lặng lẽ khắc sâu, khiến lòng người không thể nguôi quên.
Tháng Tư, vì thế, không chỉ là tháng của biến động.
Nó là tháng của những điều chưa kịp làm.
Của những lời chưa kịp nói.
Và của những cuộc chia ly không có lần sau để sửa lại.

Le Tuan

==

TẠ LỖI

Hãy tha thứ cho anh
Giữa chuyển dời nghiêng ngả
Bước chân đi vội vã
Lạc mất lối quay về.

*

Hãy tha thứ cho anh
Một lần buông rơi tất cả
Không một lời tiễn biệt
Cuối Tháng Tư não nề.

*

Hãy tha thứ cho anh
Ngôi mộ buồn lặng lẽ
Không khói hương sớm chiều
Không một nén phân ưu.

*

Hãy tha thứ cho anh
Những tháng năm xa xứ
Mỗi lần nhớ đến em
Là một lần ray rứt.

*

Hãy tha thứ cho anh
Nếu tình còn mắc nợ
Xin gửi về quê hương
Một giọt buồn quốc hận.

Tế Luân

==

Tháng Tư 

Khúc Tưởng Niệm Sài Gòn 30.4.1975 – TẾ LUÂN

Tháng Tư trở về, không ồn ào, không gọi tên, mà lặng lẽ len vào ký ức như một làn sương mỏng.
Có những khoảnh khắc của đời người, tưởng đã trôi qua, nhưng thực ra chỉ đang ẩn mình đâu đó,
chờ một ngày thức dậy trong nỗi nhớ. Ngày 30 tháng 4 năm 1975, ngày Sài Gòn đổi thay, là một khoảnh khắc như thế: 
vừa hữu hạn trong thời gian, vừa vô hạn trong lòng người.

Trong cõi vô thường, thời gian như cất lên một tiếng gọi đau thương từ tháng Tư. Tiếng gọi ấy không chỉ vang lên từ ký ức con người, mà còn dội về từ đại ngàn xanh thẫm, từ bầu trời tím ngắt cuối ngày, từ những con đường Sài Gòn xưa cũ. Những chiếc lá trong thành phố dường như cũng cảm nhận được điều gì đó, húng vàng đi sớm hơn thường lệ, chen lẫn vào những chiếc lá đỏ, tạo thành một bức tranh chao nghiêng, ảm đạm của những ngày cuối tháng Tư.

Đất trời như chuyển mình trong một khúc giao hưởng kỳ lạ. Biển xanh không còn hiền hòa, mà dâng lên những cơn sóng giông bão, gào thét vào bờ cát phơi lưng, như muốn kể lại những biến động của một thời khắc lịch sử, của câu truyện thương tâm từ những thuyền nhân. Đó không chỉ là âm thanh của chiến tranh, mà còn là tiếng lòng của một dân tộc, của Mẹ Việt Nam, vừa đau thương, vừa kiên cường, vừa chịu đựng, vừa bao dung.

Và giữa những biến động ấy, vẫn còn đó hương thơm của ruộng đồng, mùi lúa mới lan tỏa như một lời nhắc nhở rằng sự sống vẫn tiếp diễn. Từ bùn đất, từ mồ hôi, từ nước mắt, con người vẫn đứng dậy, vẫn gieo trồng, vẫn hy vọng. Một bài ca dao âm thầm cất lên, không phải để ca ngợi chiến thắng hay thất bại, mà để chiêm nghiệm về một cuộc đổi dời kỳ lạ của vận mệnh.

Năm mươi mốt năm đã trôi qua. Tháng Tư hôm nay không còn khói lửa, nhưng dư âm của nó vẫn còn đó, âm ỉ, sâu lắng, như một dòng chảy ngầm trong tâm thức mỗi người Việt. Nỗi đau không biến mất, mà chỉ lặng lẽ chuyển hóa, trú ngụ trong ký ức, trong những câu chuyện chưa kể hết, trong những giọt nước mắt không rơi thành lời.

Tháng Tư không chỉ là một mốc thời gian. Đó là một miền ký ức. Một vết hằn của lịch sử. Một lời nhắc nhở về sự mong manh của phận người và sự khắc nghiệt của thời cuộc. Nhưng trên tất cả, đó cũng là lời mời gọi con người biết nhìn lại, biết lắng nghe, và biết cảm thông, 

để từ đó, học cách sống sâu hơn, bao dung hơn, và gìn giữ hòa bình như một điều quý giá nhất.
Tháng Tư vẫn còn đó. Không mất đi. Không phai nhạt. Chỉ là… đã đi vào lòng người.

Tháng Tư
Bài Thơ Còn Lại

Tháng Tư về không gọi tên nỗi nhớ
Chỉ gió buồn lặng lẽ bước qua tim
Sài Gòn đó, một thời như giấc mộng
Vỡ âm thầm như lá rụng im lìm.

Có phải trời hôm ấy nhuộm màu tím
Màu ly biệt, hoàng hôn về rất lạ
Những con phố bỗng dưng thành xa lạ
Người đi rồi… không hẹn một ngày về.

Màu cờ đỏ, mưa rơi như dòng máu
Lũ giặc tràn vào, tiếng thét thất thanh
Thành phố đêm bỗng rùng mình chết lặng
Vạn nỗi đau không cất nổi thành lời.

Biển vẫn xanh mà giông bão không nguôi
Sóng gào thét như linh hồn đất nước
Khúc giao hưởng của một thời xuôi ngược
Viết bằng đời, bằng nước mắt Mẹ thôi.

Từ đại ngàn xanh thẳm đến ruộng đồng
Hương lúa mới vẫn âm thầm lan tỏa
Giữa đổ nát vẫn nhen lên mầm sống
Một câu ca dao, âm hưởng Mẹ hiền.

Năm mươi mốt năm… tháng Tư còn đó
Không mất đi, chỉ chìm vào ký ức
Để đôi lúc trong đêm dài thao thức
Nỗi đau xưa trở lại rất con người.

Tháng Tư ơi, khơi lại những cội nguồn
Hãy ở lại như một lời nhắc nhở
Rằng lịch sử không bao giờ khép cửa
Và lòng người còn mãi những chia ly.

Tế Luân

==

THƠ THÁNG TƯ XƯỚNG HỌA – CAO MỴ NHÂN VÀ THI HỮU

(Thất ngôn bát cú – Chữ T – Điệp tự áp cú)

TÔI thấy tháng Tư thật tả tơi

Tả tơi tan tác toé tung tời

Tung tời tự thủa tang thương thế

Thương thế tới tình tưởng tiếc thời

Thời tiếc tóc tơ tàn tuổi trẻ

Trẻ tung tâm tính trổ tra trời 

Tra* trời tích tụ tàng thiên tuế

Thiên tuế tạ từ thê thiếp thôi … 

                 CAO MỴ NHÂN  

      Hawthorne. 18 – 4 – 2026

*Tra là Già 

=

THÁNG TƯ CẢM THÁNPHƯƠNG HOA

          (Họa 4 vần – áp cú)

Quốc phá gia tàn đã xé tơi

Tơi tơ đứt sợi nghẹn không lời

Lời câm ẩn nhẫn nương phù thế

Thế buộc đành cam chịu thúc thời

Thời vận nhà Nam người cuối bể

Bể dâu đất Việt kẻ chân trời

Trời Tây kết nối chung lòng đợi

 Đợi lúc khải hoàn trở lại thôi…

      Phương Hoa – Tháng Tư, 2026

**

THÁNG TƯ ĐỢI CHỜ

(Họa 4 vần) 

Nghe niềm uất nghẹn hẳn đà tơi!

Tơi nát làm hoen vạn mảnh đời! 

Đời chuyển bao vùng quanh chiến cuộc 

Cuộc lan bấy chốn giữa đương thời

Thời yêu đất mẹ quay cuồng nỗi

Nỗi nhớ làng quê thỉnh nguyện trời

Trời đã thương tình nên hứa hẹn 

Hẹn đàn trỗi nhịp khúc hòa thôi!

Như Thu – 04/22/2026

==

KÝ ỨC THÁNG TƯ – MINH THÚY THÀNH NỘI

(họa 4 vần

Ngẫm tháng tư về dạ nát tơi

Tơi sâu quốc hận chuyện di dời 

Dời chân trốn thoát vì thay đổi 

Đổi ý ra đi bởi xáo thời 

Thời đảo lo căng cầu nguyện lúc

Lúc xoay khiếp hãi cúi xin trời 

Trời cao có thấu người tù tội 

Tội biển tràn đầy xác chết thôi.

Minh Thúy Thành Nội 

Tháng 4/2026

==

NGẪM ĐỜI – SÔNG THU

Ngẫm cuộc đời mình sao rách tơi

Rách tơi thành đám bụi tro tời

Tro tời tung xuống trên phần số

Phần số cuồng quay trước thế thời

Thời thế đổi thay dường giấc mộng

Mộng mơ biến hóa tựa mây trời

Trời cao vời vợi khôn nhìn thấu

Thấu phận con người thảm quá thôi!

Sông Thu

( 24/04/2026 )

Cuối tháng tư nghe những cơn địa chấn

Rất lặng thầm nhưng bỗng chuyển cuồng điên

Anh ở đâu, bỏ lại nỗi ưu phiền

Cho em giữ một mình Dòng nhiễu loạn

*

Sông núi vọng âm vang lời trận mạc

Hỏi  AI  đang  thét gọi sau lưng em 

Trao cho nhau chút thương nhớ êm đềm

Rồi tắt lửa vàng bay vào vũ trụ 

*

Anh đâu rồi ánh hào quang rực rỡ

Hiển thị kiếp này ký ức đời xưa

Cơn địa chấn chẳng yên trời vần vũ 

Hay dung nham  đổ trận Điện mây mưa

*

Đợi bao giờ núi phủ sập hoang sơ

Trái đất thủa hồng hoang thời hiện đại

Em sẽ mang bao nồng nàn dấu ái

Tặng riêng anh Mã Số của Tình Yêu …

Rancho Palos Verdes  23 – 4 – 2026CAO MỴ NHÂN ( HNPD )

 24 – 4 – 2026

==

THÁNG TƯ HẬN, THÁNG TƯ ĐAUYÊN SƠN
(Viết cho mình, viết giùm cho người)

Tháng Tư lại về.
Không cần ai nhắc, không cần một dấu hiệu rõ ràng nào, chỉ cần những dư âm Tết nơi xứ người bắt đầu phai nhạt, hay một buổi chiều xuân nhạt nắng rơi xuống sân vườn cô tịch là lòng tôi đã chùng xuống. Nhớ về…
Có những tháng trôi qua như một con số. Có những tháng đi qua như một thói quen. Nhưng cũng có những tháng không bao giờ rời khỏi đời người. Đó là Tháng Tư. Tháng Tư, đối với tôi, không phải là ngày tháng bình thường của thời gian. Nó là một dấu mốc thời gian in hằn trong tâm khảm, là một nỗi đau, một vết cứa sâu trong tâm hồn, một nơi mà ký ức dừng lại, xoáy xuống, rồi lan ra, phủ kín cả tâm can.
Có những nỗi đau không có âm thanh, không có tiếng khóc. Không thường có những lời than vãn. Nó nằm im, rất sâu, rất lâu, như một mảnh kim loại nhỏ găm trong da thịt. Mảnh kim loại không đủ nguy hại có thể chết người, nhưng đủ để nhói lên mỗi khi cử động. Và Tháng Tư chính là lúc mảnh kim loại ấy trở mình.
Đêm hai mươi chín tháng Tư năm ấy, tôi vẫn còn là một người lính.
Không phải hình ảnh một người lính trong sách vở, với chiến tuyến rõ ràng và mệnh lệnh rành rọt, mà là một con người đứng giữa một thực tại đang rạn vỡ. Ở phía tây Sài Gòn, quanh vòng đai phi trường Tân Sơn Nhứt… chúng tôi còn chiến đấu. Chiến đấu không phải vì hy vọng chiến thắng, mà vì không thể buông. Không thể đầu hàng.
Có những thứ, một khi đã thấm vào máu như danh dự, trách nhiệm, lời thề… thì không dễ gì đặt xuống, không thể buông bỏ, ngay cả khi biết rằng tất cả đang trượt khỏi tầm tay.
Chiến tranh trong những giờ phút cuối không còn là chiến tranh theo nghĩa quen thuộc. Nó không còn là một ván cờ. Nó trở thành một cơn sóng lớn. Và chúng tôi là những con người đứng trước làn sóng hung bạo ấy, cố giữ thăng bằng trên những mảnh vỡ còn sót lại.
Tiếng súng vẫn nổ. Nhưng không còn nhịp điệu của chiến thuật. Nó dồn dập như nhịp tim của một cơ thể kiệt sức. Mỗi phát súng không còn nhắm đến chiến thắng, mà như một cách níu giữ một hy vọng mong manh dù biết hy vọng ấy gần như không còn.
Nhưng cũng không thể bắn bừa. Đạn dược đã cạn. Mỗi viên đạn được đếm như giọt máu cuối cùng. Trong khi đó, đối phương được che chở bởi những tầng phòng không dày đặc. Chúng tôi chiến đấu trong thiếu thốn, trong bị động, trong một thế trận mà phần thua đã hiện rõ.
Người Mỹ đã quay lưng. Người Mỹ đã bỏ rơi chúng tôi, bỏ rơi cái tiền đồn mà họ đã từng dùng chúng tôi để ngăn cản sự thống trị của triết thuyết Cộng Sản. Nhưng chúng tôi vẫn phải chiến đấu để bảo vệ nền tự do dân chủ cho người dân chúng tôi, cho đất nước chúng tôi.
Anh em vẫn thay nhau bay. Bay trong những điều kiện khắc nghiệt, bay như những võ sĩ bị trói tay chân, ném lên võ đài trước một địch thủ hung tàn. Người này hết giờ, người khác lên. Không ai nói nhưng ai cũng hiểu… chúng tôi đang ở trong một hoàn cảnh vô vọng. Còn nỗi bi thương nào hơn thế không?
Tôi còn nhớ những ánh mắt đêm ấy. Không ai nói với ai một lời gì ngoài những thao tác quen thuộc, ngôn ngữ chiến trận quen thuộc. Những ánh mắt gặp nhau giữa ánh chớp và bóng tối chỉ để xác nhận một điều, chúng tôi vẫn còn có nhau như đã từng mỗi khi xông vào lửa đạn, đánh cược với tử sinh.
Và cũng không ai nói với ai đó là đêm cuối. Nhưng ai cũng cảm thấy sự bất lực qua từng viên đạn bắn ra. Nhưng ai cũng biết một điều gì đó đang đến hồi kết thúc. Không phải chỉ là một trận đánh mà là cả một thời đại.
Viết đến đây, mắt tôi lại nhòe đi. Tôi đứng dậy, bước ra sau vườn, châm một điếu thuốc. Gió thổi qua hàng chuông gió, những tiếng leng keng như tiếng gọi từ một cõi nào xa lắm. Tôi hít sâu. Thở mạnh. Rồi quay vào, tiếp tục viết.
Chuyến bay khuya hôm đó… sau khi bàn giao vùng trách nhiệm, tôi trở về cư xá. Hai đứa học trò nhỏ tôi mang về từ trưa hôm trước vẫn còn thức. Hai đứa, như tôi vẫn nói đùa, “trói gà không chặt”. Chúng tôi vừa nằm xuống thì nghe pháo kích dữ dội vào phi trường. Rồi một tiếng rít xé tai – hoả tiễn 122 ly. Nhưng… không nghe tiếng nổ. Cho đến sáng hôm sau, mọi người trong cư xá mới biết là đã thoát chết giữa đêm qua khi nhìn thấy phần đuôi của chiếc hoả tiễn đang cắm sâu vào lòng đất bên cạnh cư xá độc thân.
Buổi sáng hôm ấy đã không phải là một buổi sáng bình thường, khi thấy chiếc Tinh Long 7 của phi đoàn tôi bị bắn rơi ngoài vòng đai phi trường, trước nhưng đôi mắt hoảng loạn của anh em. Đó là giọt nước làm tràn ly, không ai nói với ai lời nào, mỗi người chạy đi một ngả.
Tôi cùng hai chú em đèo nhau lên chiếc Lambretite, chạy khắp các bãi đậu tìm phi cơ thoát thân. Nhưng những chiếc còn bay được đã bay đi đâu hết. Đang đứng ngơ ngác thì được một niên trưởng kéo tôi chạy theo đến một chiếc C-130 không còn nguyên vẹn, để làm phận sự phi công phụ.
Chiếc phi cơ cất cánh từ cuối đường băng. Không đủ tốc độ. Không đủ điều kiện. Nhưng vẫn phải bốc mình lên nhờ vào bốn động cơ bán phản lực. Chiếc máy bay gượng lên, nhắm hướng Vũng Tàu rồi… trực chỉ Utapao, Thái Lan mang theo 115 con người không biết họ đã lên bằng cách nào.
Chiều hôm đó, 29 tháng 4 năm 1975, tôi và một số anh em trong phi hành đoàn đã sững sờ rơi nước mắt khi thấy một đội ngũ quân nhân người Mỹ bắc thang lên thân máy bay sơn bỏ huy hiệu Không Quân VNCH, sau khi mọi người bị tước khí giới trước khi bước ra khỏi thân phi cơ.
là tôi đã buộc phải rời khỏi đất nước trong bàng hoàng, trong vô thức, không kịp biết được tin cha mẹ anh chị em đã bị thất lạc phương nào mấy tháng qua trong chiến tranh. Không kịp báo tin với người vợ sắp cưới chỉ ở cách phi trường khoảng 6 cây số! Và cứ thế, bị đưa đẩy dọc theo hành trình trở lại đất nước nầy với thân phận vô gia đình, vô tổ quốc. Mãi đến vài năm sau mới liên lạc lại được!
Cho đến bây giờ, sau hơn nửa thế kỷ, cái “không kịp” ấy vẫn còn nguyên vẹn trong tôi, như một khoảng trống không bao giờ có thể lấp đầy. Không kịp nhìn cha mẹ lần cuối. Không kịp nói một lời từ biệt với bất cứ người thân yêu nào. Không kịp khép lại một cánh cửa đời quân ngũ theo cách mà một con người lính bình thường đáng được có.
Có những cuộc chia ly không có lời từ biệt, và chính vì thế, chúng không bao giờ kết thúc.
Tôi ra đi trong một trạng thái không hoàn toàn tỉnh táo. Không phải chỉ hoảng loạn mà là tê điếng. Mọi thứ diễn ra quá sức nhanh, quá sức bất ngờ, con người tôi không còn cảm xúc rõ ràng. Chỉ còn hành động. Chỉ còn bản năng. Tôi ra đi, như một người bị đẩy ra khỏi chính cuộc đời mình trong khi trong lòng vẫn còn một niềm tin rất mong manh rằng đây chỉ là tạm thời. Rằng rồi sẽ có ngày trở lại. Rằng quê hương không thể biến mất chỉ qua một đêm. Rằng những gì đã xây dựng, đã sống, đã yêu, không thể bị xóa đi dễ dàng như vậy.
Có nhiều lần tôi nghĩ, sự ra đi bất chợt của tôi sẽ không nhiều hối tiếc, nhiều đớn đau nếu dân tộc tôi được tự do hạnh phúc hơn, đất nước tôi trở nên thanh bình, vươn lên oai nghi, dũng mãnh như con rồng, con hổ. Nhưng rất tiếc! Rất tiếc!
Thời gian, bằng sự im lặng kéo dài của nó, đã dần dần dạy tôi hiểu. Không có ngày trở lại như tôi từng mong đợi. Không phải vì không muốn, mà vì con đường đã khép lại từ lúc Việt cộng xâm chiếm miền Nam; chúng đã và đang gây ra bao nhiêu đau thương cho nòi giống, cho mảnh giang sơn gấm vóc của ông bà, tiên tổ.
Mất quê hương không phải là một biến cố xảy ra trong một ngày. Nó là một quá trình. Ban đầu là sự bàng hoàng. Sau đó là niềm hy vọng. Rồi niềm hy vọng mỏng dần đi theo ngày tháng. Và cuối cùng là một sự chấp nhận trong im lặng. Không phải chấp nhận vì đồng ý mà vì dường như không còn cách nào khác.
Những năm đầu nơi quê hương thứ hai nầy, mọi thứ đều xa lạ. Ngôn ngữ, phong tục, con người, đời sống. Tôi đã học tái sinh trước khi học cách tồn tại. Học cách hiểu người khác, trước khi có thể nói cho người khác hiểu mình. Học cách đứng vững trên chính đôi chân mình khi trong thâm tâm vẫn không ngớt đợi chờ một phép lạ, một ánh sáng nhỏ nhoi ở cuối đường hầm.
Người ta có thể quen với nhiều thứ. Quen với thời tiết khác, quen với nhiều món ăn lạ, quen với nhịp sống của một dân tộc khác. Nhưng có một thứ không thể làm quen đó là tình tự quê hương đã mất.
Quê hương không chỉ là nơi mình sinh ra. Nó là nơi mà mọi thứ đều có ý nghĩa mà không cần rao giảng. Một con đường, một góc phố, một tiếng rao, một mùi hương… tất cả đều mang theo một phần đời. Khi mất đi, không chỉ là mất một nơi chốn, mà là mất cả một hệ ký ức, một cấu trúc của đời sống con người.
Có những buổi sáng, tôi tỉnh dậy và trong một khoảnh khắc rất ngắn, tôi quên mất mình đang ở đâu. Trong khoảnh khắc đó, tôi vẫn là con người của ngày xưa, sống trong một thành phố quen thuộc, những đường bay dọc ngang trên bầu trời miền Nam nước Việt mà tôi đã thuộc lòng. Nhưng rồi thực tại trở về, không ồn ào, nhưng dứt khoát, như một bàn tay ai đó đặt nhẹ nhàng lên vai, nhắc tôi rằng tất cả đã trở thành dĩ vãng.
Có nhiều lúc tôi thảng thốt nghĩ rằng:
Sợ một mai thân nằm yên lòng đất
Hồn lẻ loi tìm không thấy quê nhà
Năm mươi mốt năm trôi qua.
Một đời người có thể chứa đựng bao nhiêu ký ức? Có thể chịu đựng bao nhiêu mất mát? Có thể giữ lại được bao nhiêu điều mà không đánh mất chính mình?
Tôi đã sống. Đã làm việc. Đã xây dựng lại cuộc đời. Đã có những niềm vui, những thành tựu, những mối quan hệ xã hội rất tốt. Nhưng tất cả những điều đó, dù có thật, dù có ý nghĩa, vẫn không thể thay thế được những gì đã mất.
Tôi nhớ những ngày tháng trước năm 1975. Không phải vì chúng hoàn hảo, mà vì chúng là một phần đời quan trọng của tôi. Những sáng nắng chiều mưa, những ngày lộng gió, những đường bay quen thuộc, những khung trời bao la, những sinh tử cận kề, những cuộc gặp gỡ, những câu chuyện, những ước mơ chưa kịp thành hình. Một đời sống bình thường như thế nhưng khi mất đi, tôi mới hiểu giá trị của nó sẽ không bao giờ có thể thay thế được.
Ký ức, theo thời gian, không phai nhạt đi như người ta tưởng. Nó được chắt lọc. Những gì không quan trọng sẽ rơi rụng tự nhiên. Những gì còn lại sẽ trở nên rõ nét hơn, tinh khiết hơn, và vì thế, cũng đau xót hơn.
Và tôi mang trong mình một nỗi hận. Nhưng không phải là một nỗi hận đơn giản. Nó không hướng về những con người bình thường. Tôi không hận người dân Mỹ mà tôi đã gặp, đã sống cùng, đã nhận được sự giúp đỡ của họ để xây dựng lại cuộc đời. Tôi hiểu rằng con người, ở đâu cũng có những điểm tương đồng giữa thiện và ác, hiểu biết và giới hạn.
Nhưng tôi không thể không nghĩ đến những quyết định sai lầm của hệ thống cầm quyền chính phủ Mỹ và đồng minh, những phong trào phản chiến ngu xuẩn, những cơ quan truyền thông dối trá, lừa gạt dư luận. Những điều nầy đã góp phần làm thay đổi số phận của những quốc gia nhỏ bé, chậm tiến như Miền Nam Việt Nam của tôi. Một cuộc chiến không chỉ được quyết định bởi những gì xảy ra trên chiến trường mà nó được quyết định bởi những gì xảy ra trong lòng xã hội, qua truyền thông, trên trường chính trị.
Khi một bên không còn được thế giới ủng hộ, không còn được bạn bè tin tưởng thì dù còn đầy đủ vũ khí cũng không thể giữ được, huống chi… chúng tôi đã phải chiến đấu với cả một thế lực cộng sản quốc tế hùng mạnh khi vũ khí đã bị chính những người bạn đồng minh tước bỏ đi.
Nỗi hận của tôi không phải để nuôi dưỡng oán thù mà là để nhắc nhớ cho chính mình, nhắc nhở con cháu đời sau những gì đã xảy ra cho quê hương, dân tộc tôi không bị đi vào quên lãng.
Sau tất cả, điều còn lại trong tôi không chỉ là nỗi đau. Mà là một ước vọng. Ước mong một ngày nào đó, được trở về trong tự do, trong danh dự. Không phải để bắt đầu lại, mà chỉ để nhìn lại. Để bước trên những con đường cũ dù chúng đã bị thay tên đổi họ một thời. Để nghe lại những âm thanh, những tiếng nói quen thuộc ở khắp mọi nơi. Để thấy lại một quê hương bừng sáng, một xã hội văn minh trong tình người. Được thật sự hãnh diện với 4 chữ Con Rồng Cháu Tiên.
Ở tuổi này, tôi không còn sợ nhiều điều. Không còn sợ mất mát vì đã mất mát quá nhiều. Không còn sợ thay đổi vì đã sống qua những thay đổi to lớn mà chỉ sợ rằng mình sẽ không còn đủ thời gian. Không đủ thời gian để thấy ngày ấy. Không đủ thời gian để chứng kiến một kết thúc tốt đẹp như thế cho quê hương dân tộc mình; để biết rằng những nghiệt ngã mình đã trải qua trong đời không trở nên vô nghĩa.
Sự chờ đợi nào cũng không mấy dễ dàng. Khi còn trẻ thì có dễ dàng hơn, nhưng khi thời gian không còn nhiều, mỗi ngày trôi qua đều mang theo một cảm giác bồn chồn, lo sợ. Không phải vì muốn đạt được điều gì, mà vì sợ không còn cơ hội ấy.
Tháng Tư lại đến.
Vẫn là những cơn mưa nhẹ buổi sáng, những đám mây trắng bềnh bồng ở buổi chiều dài, những khoảng lặng khó gọi tên… Những ghi nhận nầy không phải để làm thơ, khp6ng phải là thời tiết mà là một phần của đời sống nội tâm, một vùng ký ức mà mỗi năm, vào đúng thời điểm này, lại mở ra trong tôi.
Tháng Tư hận.
Tháng Tư đau.
Mỗi năm vẫn cứ theo nhau trở về
Nhưng nếu chỉ có hận và đau, con người đã không thể đi qua hơn nửa thế kỷ. Vì ở đâu đó, rất sâu, rất nhỏ, vẫn còn một thứ khác. Một thứ không sôi nổi lắm, không mạnh mẽ nhiều nhưng bền bỉ. Đó là niềm hy vọng.
Hy vọng rằng một ngày nào đó, dù mình còn hay không, trên mảnh đất hình cong chữ S ấy, người dân sẽ được sống an bình, hạnh phúc mà không phải cúi đầu, lo sợ. Sẽ có những tiếng nói không bị bóp nghẹt. Sẽ có những giấc mơ không bị dập tắt. Và khi ngày đó đến, có thể, ở một nơi nào đó rất xa, những người đã ngậm ngùi nằm xuống sẽ mỉm cười. Dù muộn màng nhưng cũng có thể sẽ che giấu được những niềm đau, nỗi hận trong lòng của những người võ sĩ bị ném lên đấu trường sanh tử với tay chân bị trói chặt.

GIỚI THIỆU TRANG NHÀ: 
http://thovanyenson.com
http://www.thanphongmartialarts.com

==

Xin mời qúy vị thưởng thức vài nhạc phẩm của tôi đã viết.

Quê Hương Trong Ta.

Bóng Xưa Chiều Ấy.

Vụng  Dại Những Chiều

Ns. Nguyễn Đình Hòa.

==

THÁNG TƯ NHỚ EM – MỸ HOÀN

Em đã về đây mỗi tháng Tư

Về quê ngồi lại giữa sương mơ

Có nghe sương rớt bờ vai cũ

Bơ vơ mộng mị chốn xa mờ

*

Để tháng Tư như dòng nước chảy

Bôn ba năm tháng nước về đâu

Ta gục xuống đôi bàn tay lạnh

Lòng nghe rơi rớt ánh tinh cầu

*

Ta nghe mãi bên bờ sông vỗ

Những lời buồn của tháng trôi qua

Lời tình như sóng dòng sông cuộn

Nước mắt nào còn mãi mưa sa

*

Em ôm trái tim nào đã lỡ

Một lời thề mộng ước mai sau

Một nụ cười như vừa nở lại

Cho ta êm ái mối tình sầu

*

Em đã về đây mỗi tháng Tư

Về đây ta kể một lời thơ

Em mặc áo dài hoa cúc nở

Cùng ta đi suốt một nẻo bờ

*

Rồi em cảm động từng cơn khóc

Vạt tóc nào đẫm lệ quê hương

Tổ tiên ta đã từng hơi thở

Dựng Sơn hà một giấc như mơ

*

Nhớ trong tâm tưởng ngày hoa gấm

Nụ môi thơm khép nép hải đường

Ta muốn mở lòng bao câu nói

Lời yêu kia còn mãi vấn vương.

Lê Mỹ Hoàn

2/2025

**

NẮNG HẠN THÁNG TƯ

Tiếng kêu tha thiết gọi đàn

Những ngày nắng hạn đâu tàn trú thân

Lòng ta như thể nắng ran

Thu Đông tan tác, Hạ hoang mang về

Nơi đây đâu phải chốn quê

Cho nên nắng hạn lê thê mỏi mòn

Khô đi những giọt máu hồng

Dần dà cạn hết giấc nồng trong tim

Đôi môi khao khát đi tìm

Tiếng kêu mòn mỏi đắm chìm nơi đâu

Quê hương mấy cuộc bể dâu

Trong ta một nỗi u sầu chưa tan

Thời gian lặng lẽ lướt nhanh

Làm thêm héo nụ cười xanh thuở nào

Ôi cơn nắng hạn lao đao

Hồn ta nứt nẻ ngày vào thángTư.

Lê Mỹ Hoàn

4/20/1990

==

ĐỢT NẮNG THÁNG TƯ

Đông vừa qua ở cuối đoạn đường

Xuân đến những ngày nắng ấm hơn

Tưởng như mùa Hạ nhưng bất chợt

Lạnh lại về cơn sốt miên man

*

Cơn sốt cao, đầu như bổ củi

Như nặng lòng đợt nắng tháng Tư

Vàng sốt bủa vây ngày trốn chạy

Qua cánh đồng nắng trải như phơi

*

Cơn sốt lên cơn mơ lại đến

Chạy vòng quanh chạy đến chân tường

Nghe mơ hồ ai đang hạch hỏi

Bao người ngồi bó gối như ta

*

Rồi tự nhiên nghe mùi muối mặn

Đang lênh đênh trên biển xuôi dòng

Chợt thét gào như cơn thịnh nộ

Biển trời đang cuộn một cơn dông

*

Ta bên nhau thì thầm cầu nguyện

Xin trời cho gió lặng sóng êm

Bỗng mở mắt dường như im lặng

Tự Do đang cười với gió Xuân.

Lê Mỹ Hoàn

3/26/2025

==

Tháng Tư cảm tác

Tha hương mái tóc của ngày xanh

Năm tháng bạc màu trán vết nhăn

Canh cánh bên lòng bao nuối tiếc

Bâng khuâng tấc dạ những ăn năn

Non sông biến dạng người xa cội

Đất khách dung thân kẻ rã hàng

Nặng trĩu tâm tư đời viễn xứ

“Nỗi buồn nhược tiểu” mãi âm vang.

          Trần cẩm Thành- 4/2026.

**

==

Máu ai tuôn chảy nơi góc phố?!
Chốt thí làm sao chống sơn hà!?
Tiếng hờn vọng mãi vào thiên cổ
Một trang Hận Sử, mấy Hùng Ca?!

*

Cuối Xuân cuồng lũ dâng hồng thủy
Đành buông nợ Nước, phụ tình Nhà!
Sông núi điêu linh vì ngạ quỷ
Bao giờ yên sóng, lắng phong ba?

*

Ngồi đây mà nhớ thời chiến quốc
Một thuở bi hùng lúc dọc ngang
Chớp mắt thấy sương pha màu tóc
Một tiếng than ôi! Lệ ứa tràn.

*

Nửa đời chìm nổi nơi đất khách
Mỗi năm thêm một tháng Tư qua
Quốc thù vị báo đầu tiên bạch (*)
Thế sự du du nại lão hà.
HUY VĂN

*
(*)THUẬT HOÀI
Thế sự du du nại lão hà?
Vô cùng thiên địa nhập hàm ca.
Thời lai đồ điếu thành công dị,
Vận khứ anh hùng ẩm hận đa.
Trí chủ hữu hoài phù địa trục,
Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà.
Quốc thù vị báo đầu tiên bạch,
Kỷ độ Long Tuyền đới nguyệt ma.

ĐẶNG DUNG

*
Bản dịch của Tản Đà:

Việc đời man mác, tuổi già thôi!
Đất rộng trời cao chén ngậm ngùi.
Gặp gỡ thời cơ may những kẻ,
Tan tành sự thế luống cay ai!
Phò vua bụng những mong xoay đất,
Gột giáp sông kia khó vạch trời.
Đầu bạc giang san thù chưa trả,
Long tuyền mấy độ bóng trăng soi.

==

==

==

==

==

HỒI KÝ ĐẦY KINH HOÀNG CỦA TS NGUYỄN HỒNG DŨNG

KÝ ỨC VỀ ĐÊM KINH HOÀNG CHẠY GIẶC

NGUYỄN HỒNG DŨNG

Quê hương tôi là Quảng Ngãi, nơi có Núi Ấn soi bóng xuống Sông Trà Khúc hiền hòa. Dù xa quê từ thuở bé, hình ảnh ấy vẫn in sâu trong tâm khảm như một phần máu thịt không thể tách rời.

Từ nhỏ, tôi theo người bác ruột vào sống tại Đà Lạt, ở vùng Trại Mát, nơi bác hành nghề Đông y. Cuộc sống nơi cao nguyên yên tĩnh phần nào giúp tôi quên đi những biến động của quê nhà, cho đến khi chiến sự lan rộng khắp miền Trung vào đầu năm 1975.

Ngày 21 tháng 3 năm 1975, khi tình hình các tỉnh Tây Nguyên trở nên rối ren, tôi quyết định trở về Quảng Ngãi chỉ với một mong muốn giản dị là thăm mẹ đang lâm bệnh. Khi ấy tôi vẫn còn là một học sinh, chưa hiểu hết thế nào là chiến tranh, nhưng nỗi lo sợ thì hiện rõ trong từng hơi thở. Người ta truyền tai nhau rằng ban đêm, Việt Cộng thường lén xuống các quận gài mìn, khiến ai nấy đều sống trong cảnh phập phồng, bất an.

Gia đình tôi lại có nhiều người liên quan đến Việt Nam Quốc Dân Đảng; từ bác, chú cho đến ông Sáu, nên sự lo lắng càng chồng chất. Cứ mỗi khi màn đêm buông xuống, các chú, các bác lại âm thầm đạp xe vào thành phố để ngủ nhờ, tránh những hiểm nguy có thể ập đến bất cứ lúc nào.

Đêm 22 và 23 tháng 3 năm ấy, tôi ngủ bên mẹ tại vùng phía tây quận Tư Nghĩa. Nhưng đó không còn là những đêm bình yên. Tiếng súng, tiếng pháo kích vang lên liên hồi, dội vào lòng người những cơn run sợ. Mỗi tiếng nổ như xé toạc màn đêm, khiến tôi, một đứa học trò, chỉ biết nằm im, tim đập dồn dập, cầu mong cho trời mau sáng.

Sáng ngày 24 tháng 3 năm 1975, không chịu nổi sự bất an, tôi cùng mẹ rời nhà, tìm đến tá túc tại nhà ông Sáu ở khu vực Thị xã Cẩm Thành, Quảng Ngãi, trung tâm của tỉnh. Đó là một quyết định đầy lo âu nhưng cần thiết, bởi lúc ấy, chiến tranh đã thực sự chạm đến từng mái nhà, từng con người.

Những ngày tháng ấy, tôi không chỉ chứng kiến sự biến động của đất nước, mà còn cảm nhận rõ sự mong manh của đời người, của tình thân trong cơn binh lửa vì anh tôi đã mất trước đó vài tháng tại Pleiku, cậu Tư cũng tử trận tại An Lộc, và người hàng xóm tại Đa lạt cũng bị tử  vong bởi  pháo kích tận vùng I chiến thuật mà chưa kịp mang xác về chôn,. Dù chỉ là một học sinh, tôi đã sớm hiểu rằng quê hương không chỉ là nơi chôn nhau cắt rốn, mà còn là nơi gắn liền với ký ức, bà con xóm giềng, với yêu thương, và cả những nỗi đau không bao giờ quên.

Chiều ngày 25 tháng 3 năm 1975, trước nhà ông Sáu là nơi có tiểu khu của binh lính Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, mọi sinh hoạt ban đầu vẫn diễn ra như thường lệ. Những người lính Sư Đoàn II Bô Binh vẫn qua lại, vẫn giữ nhịp sống quen thuộc như chưa có điều gì sắp sửa đổi thay. Nhưng đến xế chiều, không khí bỗng chùng xuống. Tôi thấy từng chiếc xe Jeep, xe nhà binh chở đầy binh sĩ nối nhau rời đi, hướng về phía Đà Nẵng. Một linh cảm bất an dâng lên trong lòng, dù khi đó tôi vẫn chưa hiểu hết ý nghĩa của những chuyển động ấy.

Tin đồn bắt đầu lan nhanh trong xóm. Người này truyền cho người kia, không ai biết thực hư ra sao. Có người nói phải “ăn vội rồi đi ngay”, có người bảo phải gom đồ đạc mà chạy, vì chiến sự đã quá gần. Người ta nhắc đến Ông Ngô Quang Trưởng, vị tướng đang cố gắng chống lại làn sóng tiến công từ phía Việt Cộng. Nhưng tất cả chỉ là những lời nghe lại, không kiểm chứng, không rõ nguồn. Trong hoàn cảnh ấy, sự thật không còn quan trọng bằng nỗi sợ.

Gia đình tôi cũng hoang mang như bao gia đình khác. Bữa cơm chiều hôm đó vắng lặng lạ thường. Tôi không thấy các chú, các bác, và cả ông Sáu trở về. Có lẽ họ đã đi đâu đó, hoặc đã nghe được điều gì khẩn cấp hơn mà chúng tôi không biết. Chỉ có Dượng Tám mỗi sáng vẫn thường mở chiếc radio Sony nhỏ, nghe đài BBC rồi kể lại tình hình. Nhưng những mẩu tin rời rạc ấy cũng không đủ giúp chúng tôi hiểu rõ chuyện gì đang xảy ra, chỉ càng làm lòng người thêm rối bời.

Mẹ tôi đang bệnh nặng, không thể ăn uống gì. Tôi nhìn tô cháo bà để lại, lòng nghẹn lại. Không còn thời gian để nghĩ nhiều, tôi húp vội những muỗng cháo nguội để dằn bụng. Đó không phải là một bữa ăn, mà là sự chuẩn bị cho một cuộc chạy trốn không biết ngày về.

Bên ngoài, dòng người đã bắt đầu đổ ra Quốc lộ 1, hướng về phía Đà Nẵng. Tiếng gọi nhau í ới, tiếng bước chân vội vã, tiếng xe cộ lẫn trong sự hỗn loạn. Tôi biết mình phải đi, dù lòng còn nặng trĩu.

Mẹ tôi không đi nổi. Bà nhìn tôi, ánh mắt vừa lo lắng vừa đau đớn. Bà bảo tôi cứ theo hàng xóm mà đi, đừng chần chừ. Lời nói ấy như một nhát dao cắt vào tim. Tôi đứng đó, giữa giây phút chia ly, không biết phải nói gì hơn ngoài một lời từ biệt nghẹn ngào.

Tôi quay đi, hòa vào dòng người chạy loạn, mà phía sau là bóng mẹ tôi đang dần khuất. Trong khoảnh khắc ấy, tôi hiểu rằng mình đã bước sang một ngã rẽ khác của cuộc đời, nơi mà tuổi học trò khép lại, nhường chỗ cho những tháng ngày lưu lạc, và nỗi nhớ quê nhà, nhớ mẹ, sẽ theo tôi suốt cả cuộc đời.

Đêm 25 rạng ngày 26 tháng 3 năm 1975 là một ký ức không bao giờ phai mờ trong cuộc đời này, một ngày mà ranh giới giữa sống và chết mong manh như sợi chỉ. Khi đó, cuộc chiến đã lan rộng khắp miền Trung, và những vùng như Quảng Ngãi đã lần lượt rơi vào tay Việt Cộng trước khi Sài Gòn sụp đổ không lâu sau đó.

Đêm ấy, tôi cùng dòng người hoảng loạn tìm đường chạy giặc. Không còn ai nghĩ đến tài sản hay tương lai, chỉ còn một ý niệm duy nhất là phải sống. Tôi theo dòng người băng qua con dốc Bình Liên, thuộc quận Bình Sơn. Con dốc ngày thường vốn hiền hòa, nhưng hôm đó trở thành một địa ngục trần gian.

Tiếng pháo kích bất ngờ dội xuống. Những tiếng nổ chát chúa xé toạc không gian, đất đá tung lên mù mịt. Người ngã xuống từng loạt. Có người trúng đạn, có người bị mảnh pháo xé thân, có người chỉ vì quá hoảng loạn mà bị dẫm đạp trong dòng người tháo chạy. Tiếng khóc, tiếng la hét, tiếng gọi nhau trong tuyệt vọng hòa lẫn vào nhau, tạo thành một âm thanh kinh hoàng mà đến nay tôi vẫn còn nghe vang vọng trong tâm trí.

Tôi không còn nhớ mình đã chạy như thế nào, chỉ biết bản năng sinh tồn đã đẩy tôi lao xuống một bờ ruộng bên đường. Chính quyết định trong tích tắc ấy đã cứu mạng tôi. Nằm sát mặt đất, tim đập dồn dập, tôi nghe rõ từng tiếng nổ, từng bước chân dẫm đạp phía trên. Mùi khói, mùi đất, và cả mùi tử khí lan trong không khí khiến tôi rùng mình.

Khi cơn pháo kích tạm lắng, tôi mới dám ngẩng đầu lên. Trước mắt là một cảnh tượng không thể diễn tả hết bằng lời: người nằm la liệt, kẻ sống sót thì thất thần, ánh mắt vô hồn. Con đường chạy loạn giờ đây phủ đầy máu và nước mắt

Tôi tiếp tục hòa vào những người còn sống, lặng lẽ đi trong đêm tối, không còn sức để khóc hay nói. Sáng hôm sau, khi ánh bình minh le lói, tôi lần bước ra được thị trấn Châu Ổ, rồi từ đó tiếp tục hướng về Chu Lai. Đó là một hành trình đi bộ đầy gian nan, nhưng ít nhất, tôi biết mình vẫn còn sống.

Ngày 26 tháng 3 năm ấy không chỉ là một ngày chạy loạn. Đó là một vết hằn lịch sử trong đời tôi, một minh chứng cho sự tàn khốc của chiến tranh và sự mong manh của kiếp người. Tôi sống sót, nhưng ký ức ấy mãi mãi ở lại, như một lời nhắc nhở rằng cuộc sống hôm nay đã được trả giá bằng biết bao sinh mạng và nước mắt.

Viết trong niềm nhớ 51 năm của tháng Tư Đen 2026.

Nguyễn Hồng Dũng

==

==

THÁNG TƯ ĐENHuu-Thien Paul Pham

” Này em có nhớ, rồi tình bỗng cách xa

Khi đất nước ngập tràn trong khói lửa

Tháng Tư đen, đã chia đời đôi lứa

Kẻ đi tù, người bay bổng nơi đâu. “

HVLN

– – – –

Tháng Tư Đen ..

Em nhớ lắm, cuộc tình ta xa cách

Trong đau thương : biến cố Tháng Tư Đen

Ba anh tù : vì thù hận ác hèn .

Nên Mẹ anh , gia đình đau khổ sống .

*

Oan nghiệt quá : Ba em lầm, theo cộng .

Coi trại tù , đã hành hạ Ba anh

Với tháng năm , kiệt thân sức , tan tành

Rồi gục chết trong ngục hình đen tối .

*

Đời em lạnh : với chuỗi ngày sám hối ..

Đến xin anh , vài xúc cảm khoan dung ..

Lặng nhìn anh, trong đau đớn tột cùng .

Khóc , khóc, khóc , em chỉ còn biết khóc .

* * *

Thấy những cảnh đau thương đầy tủi hận

Phải làm sao cho nước Việt oai hùng

Được tự do , dân chủ , sống ung dung

Và hạnh phúc , vinh quang cùng thịnh vượng.

Huu-Thien Paul Pham 

==

CHIẾN TRANH & HÒA BÌNHHuu-Thien Paul Pham 

Chinh chiến tràn lan , khổ kiếp người

Tạo bao đau đớn, hận khôn nguôi

Sta-lin , Mao Trạch , thêm Hồ Chí

Gây họa dân oan , tội ngập trời .

*

Tháng Tư năm đó , triệu người vui

Nhưng triệu người kia , phận khổ xui

Vượt biển , tội tù, bao biến cố

Với nhiều thảm cảnh , dạ bùi ngùi .

*

Câu chuyện quê hương, câu chuyện buồn

Chiến tranh tan tác , lạnh lòng tuôn

Phũ phàng cảnh huống, hồn tê tái

Mang nặng sầu thương , dậy tủi hờn .

*

Câu chuyện văn chương, cũng đoạn trường

Nhớ Thầy, thi sĩ Vũ Hoàng Chương

Sau khi giải phóng vào tù tội

Chết một năm sau (1976) , quá tiếc thương .

*

Trong khi làm việc ở Âu châu

Vận nước khó khăn , khá đậm sâu

Hai đứa con thơ còn kẹt lại

Mỗi lần nghĩ đến , lệ buồn đau .

*

Năm đó (1975) , con trai bốn tuổi thôi

Theo người vượt biển , tạ ơn trời

Nhưng cô bé gái , đau buồn đợi

Đợi đến hai năm (1977) , mới lọt xuôi.

Huu-Thien Paul Pham 

==

KHÁT VỌNG

(thơ xuôi tổng hợp)

Ba mươi năm ấy miệt-mài,

Ai gieo tang tóc phí hoài máu xương?

Bảy lăm lại đến đau thương,

Nhà tan, nước mất, bốn phương lưu đầy.

Cơ-đồ nát bấy, bấy nay,

Buôn dân, bán nước, tội này của ai? 

-I-

Niềm khát-vọng ngùn-ngụt vút lên cao, mải-miết tìm Trăng hiền-hoà khả-ái. Trăng vẫn còn gục ngủ trong thành đêm sừng-sững âm-u.

Những vệt sáng đèn pha vẫn lia-lịa quét không-trung, nào đã thấy muôn vì sao đang trốn lủi? Mắt lệ mờ nhìn những trái hoả-châu nối tiếp nhau mưa sáng rực cháy bốn phương trời, lòng rạo-rực, mơ Thanh-Bình, mãi tưởng chừng đây dạ-hội hoa-đăng.

Những tiếng phi-cơ ì-ầm sấm động, những chùm đại-bác bạt núi long trời, những tràng liên-thanh nổ tan ròn-rã, xé không-gian, khua giấc ngủ rừng khuya, dậy thôn xóm tiêu-điều, lòng rạo-rực, mơ Thanh-Bình, mãi tưởng chừng đây tưng-bừng dạ-khúc đón xuân sang.

Rồi khi thôn rừng ngừng im tiếng súng, khi hoả-châu tắt sáng, khi những đốm lửa đạn không còn vun-vút đuổi nhau như sao trời đổi hướng, đêm tối vẫn không lùi bước, thành đêm vẫn sừng-sững âm-u, quanh đâu đây nghe khắc-khoải lòng đêm đang thổn-thức, cây lá thở dài, dế khóc nỉ-non, sương đêm sụt-sịt, lòng rạo-rực, mơ Thanh-Bình, nghe thấm buồn như lời kể-lể của những người cô-phụ bi-thương:

Ðằng-đẵng bao năm trường chinh-chiến, tím chiều ngập phủ khắp quê hương. Bom đào ao, đạn cầy ruộng, ruộng xanh um cỏ dại, ao đầy ắp thịt xương.

Hận thù bão táp, mã-tấu tung bay, đau-đớn ngả-nghiêng, bao thôn tre quằn-quại trong rên xiết.

Hận-thù bão táp, máu thắm loang trời, đau-đớn ngả-nghiêng, bao thôn dừa ngã gục, trùng-dương cuộn sóng, lồng-lộn thét vang niệm khát-vọng, lòng rạo-rực, mơ Thanh-Bình, nghe ngậm-ngùi tê-tái như đêm trường giá buốt thê-lương.

Việt-Nam ơi! thân mòn sức kiệt, mảnh hình-hài tan nát tả-tơi. Chúa ơi, Mẹ ơi! Người ở đâu, sao thành đêm vẫn âm-u sừng-sững? Tôi “thắp nến nguyện cầu, đâu dám rủa nguyền bóng tối” (*). Hồn tôi đây, trí tôi đây, hỡi gió ngàn lồng-lộng! Kéo bổng lên cho Người thấu nghe niềm khát-vọng, lòng rạo-rực, mơ Thanh-Bình, sao Trăng hiền vẫn gục ngủ trong thành đêm sừng-sững âm-u?

-II-

Ðêm âm-u, gió mát vi-vu, dù cho dịu-dàng mơn trớn thiết-tha, vẫn chẳng ru ngon giấc ngủ cô-đơn chập-chờn thao-thức. Tiếng chó tru ghê hồn không át nổi tiếng đại-bác rền vang.

Rồi một sáng xuân mờ sương xốn-xang, phố phường ngổn-ngang quân-trang binh-khí, liệng bỏ hết cho một nhà thuận-hoà, hoan-hỉ, cho chiến-trường dai-dẳng bặt tiếng im hơi. Giáo-đường khắp nơi không ngơi lời kinh tiếng hát: “Kinh Cầu Hoà-Bình” dập tắt chiến-chinh. Thành phố bỗng giật mình ngơ-ngác, thôn ấp chợt sửng-sốt bàng-hoàng. Lạ kìa! màu cờ sao ướt đẵm màu máu thắm loang? 

Biển Ðông vẫy sóng trường-giang,

Biệt-ly nước mắt nặng mang ân-tình.

Nghẹn-ngào Mẹ đứng lặng thinh,

Nhìn con dặn với: “Nhớ tình cố-hương!”

Mẹ về chăm giữ đồng nương,

Cho vàng bông lúa ngát hương thôn làng.

Giờ thì mất cả nương đồng,

Thôi đành phó mặc, chẳng màng “vinh-quang”.

Ngày đêm nghe réo loa vang:

“Hoà-bình công-bố, xoá tan hận-thù.”

Hoà-bình lại ở chiến-khu,

Hận-thù mau gót lù-lù về đây.

Ô hay! Lành-lạnh heo may, ùn-ùn mây bay. Sao Trăng gầy đã vội đuổi ngay ngày xanh non-nớt. Mặt trời trốn mất, chẳng để lại chút nóng hâm nóng tình thương. Bóng đêm âm-u gian dối đồng-loã gạt lường. Trùng-dương lại lồng-lộn thét gào khóc thương tương-tàn cốt nhục:

Núi rừng địa ngục,

Tủi nhục xót-xa,

Thân người: xác vật thây ma,

Lìa con, lìa vợ, lìa cha, lìa chồng.

Mồ-hôi tưới ướt ruộng đồng,

Lúa vàng đâu thấy? Thấy hồng máu loang:

Chàng đi “học-tập” ngút ngàn,

Ở nhà thiếp chít khăn tang mãn đời.

Tấm thân trâu ngựa rã-rời:

“Anh-hùng lao-động”, thấu trời than van.

Giành nhau từng dái khoai lang,

Giành nhau chỗ đứng xếp hàng nối đuôi.

Con thuyền ngược sóng ra khơi,

Ruột se bụng thắt, sao tươi nụ cười?

Ôi, nụ cười nước mắt! Đắng cay chua-chát!

Ôi, cơ-đồ sụp nát, nhân-tình đảo-điên!

Biển Ðông đầy ắp oan-khiên,

Quặn đau vĩnh-biệt Mẹ hiền thân yêu. 

Mẹ Việt-Nam truân-chuyên. Mẹ Việt-Nam u-uất. Mẹ nhắm nghiền đôi mắt. Mẹ lắng nghe trong bóng đêm hiền-hoà giả dối, tiếng đàn con nỉ-non da-diết niềm khát vọng tha-thiết vô biên. Khát vọng bình-yên. Khát vọng triền-miên. Sao trăng hiền vẫn biền-biệt cho đêm tối bao vây? 

Các con Mẹ đâu rồi?

Mẹ mỏi-mắt trông vời.

Mẹ đứng đây, Mẹ giang tay thành-khẩn:

Hãy nhìn xem, nước Việt-Nam u-ẩn!

Hãy nhìn xem, đồng-bào Việt kiên-nhẫn đau thương!

Bao giờ hết đổ máu xương?

Bao giờ tiếng hát giáo-đường ngân-nga ?

Bao giờ nước Việt thái-hoà,

Tự-do công-chính, nhà nhà an vui?

(*) cách-ngôn Tây:”Thà thắp lên một ngọn nến, còn hơn ngồi nguyền rủa bóng tối”

(Nguồn: Thi Phẩm “VỀ NGUỒN”, Đỗ Quang-Vinh, Toronto, 1995)

. . .

==

BÀI VIẾT CỦA TÁC GIẢ BẢO TRÂM

Có Nên Bàn Thảo Với Cộng Sản?

Đất nước Việt Nam đang bị đảng cộng sản cai trị bằng bạo lực.

Bọn cộng sản Việt Nam chỉ là một bọn cướp, may mắn chiếm được nước Việt do các thế lực quốc tế tranh nhau trên bàn cờ thế giới.  Chúng không phải là một chính quyền đúng nghĩa!

Chúng ta không biết thế giới có nước nào hiểu rõ bọn cộng sản đang lừa họ hay không?

Nhưng chúng ta biết rõ một điều: nước nào cũng vì lợi cho nước họ trước hết, không nước nào hy sinh cho dân Việt chúng ta. Vì vậy, vận mệnh nước Việt vẫn phải do người Việt hành động, nếu dân ta thực sự muốn cứu lấy dân tộc Việt Nam.

Bọn cầm quyền cộng sản ở Việt Nam chỉ muốn một điều: dân VN càng ngu càng dễ cho chúng nắm đầu. Chúng không hề có ý giúp cho dân giàu, nước mạnh.

Đối với chúng, cộng sản chủ nghĩa hay tư bản chủ nghĩa, không có gì quan trọng cả. Chúng sẽ đi theo và áp dụng bất cứ thứ gì mà chúng có thể dựa vào để tồn tại, như cộng sản Nga, Tàu đã giúp chúng có cơ hội đó thì chúng theo ngay. 

Nếu trong tương lai, Mỹ hay bất cứ nước Tây Âu nào cho chúng có cơ hội để tiếp tục việc chúng đang làm thì chúng sẽ gọi Mỹ và nước đó là ông Nội ngay.

Và sau đó chúng sẽ tuyên truyền là “quốc gia” hơn những người quốc gia hiện tại nữa. 

Chắc Quý Vị thừa biết hiện nay ở Mỹ và có thể ở bất cứ nước nào trên thế giới, con cháu bọn cướp này mở tiệm buôn bán, chợ búa, thậm chí lập Chùa, hay lập Nhà Thờ…. đều sẵn sàng treo cờ Vàng Ba Sọc Đỏ nơi trang trọng nhất, để câu khách, để chúng có cớ rửa tiền…   

Cho rằng chúng là phe cờ đỏ, cờ hồng thì vô tình chấp nhận chính danh của bọn cướp này. 

Những bài viết gợi ý, cầu xin, đề nghị hay lên mặt dạy dỗ cho chúng khôn khéo hơn về chính trị và kinh tế, chính là giúp chúng học thêm nhiều bài học để ngày càng tinh vi trong việc cướp sạch đất nước VN nhiều hơn và nhanh hơn. 

Xin quý vị thức giả, quý vị còn có lòng tranh đấu cho một nước Việt Nam được Tự Do, Dân Chủ thì hãy hướng trọng tâm vào việc làm sao xóa bỏ bọn cướp ấy.

Việc đó hiện giờ phải nói là rất khó, vì sau lưng bọn cướp này còn có bọn cướp mạnh gấp bội là bọn Nga, Tàu, mà không chừng còn có các nước tư bản giàu có lợi dụng vào sự tồn tại của bọn cướp này

Vì vậy, nếu dân tộc VN chúng ta chưa có cơ hội xóa bỏ bọn chúng thì xin đừng bày thêm nhiều điều tinh khôn để biến thành mưu ma chước quỷ của chúng. Đừng hy vọng chúng sẽ giúp dân VN giàu mạnh, thông minh hơn hay hy vọng chúng sẽ xỏa bỏ lằn ranh gì đó là sai vì chúng đâu có lằn ranh nào để xóa.

Van xin bọn cướp đang ở trong nhà chúng ta, hãy nới lỏng cho chúng ta vươn lên sống bằng nhà của xóm khác… chưa bị cướp là một ý tưởng hão huyền.

Vấn đề là dân Việt Nam đã tỉnh ngộ chưa, đã quyết một lòng để xóa bỏ bọn cướp này hay chưa? 

Và Quý Vị, những tinh anh của tộc Việt, xin làm thế nào để giúp dân Việt Nam cùng một lòng tiến tới để xóa sạch bọn chúng?

         Bảo Trâm

      ·       Sẵn Sàng Quên?

Chỉ còn vài ngày nữa

“Năm Mốt năm” sẽ sang

Chúng ta luôn chuẩn bị

Chúng tôi cũng sẵn sàng.

Sẵn sàng để chiến đấu

Với bọn quỷ tràn lan

Với thói hư tật xấu

Với những kẻ tham tàn.

Không thể sống yên thân

Không thể quên quá khứ

Khi Cộng ác, vô thần 

Đày đọa dân Tộc Việt.

Chúng ta phải tự biết

Nếu quyết sống vô tư

Không màng chi thế sự

Tương lai nào an cư?

                       Bảo Trâm

Ách Ác Cộng

Do đâu đến nỗi thế này đây,

Dân tộc Việt Nam khổ mỗi ngày.

Bọn cướp may thời tràn khắp chốn,

Quân gian được thế ló ra đầy.

Toàn dân đau đớn đời nô lệ,

Cả nước chông chênh kiếp dạc dày.

Còn giữ hỡi ai lòng hận giặc,

Xin vì chính nghĩa, hãy ra tay.

Bảo Trâm 

==

MÁI TÓC
NGƯỜI NỮ TÙ

Chuyện bắt đầu đã hơn bốn mươi năm,
Thuở nhà tù mọc đầy trên cả nước.
Một buổi chiều trong sân sau nhà bếp,
Tôi cùng bạn uống trà nhìn nắng hắt qua sông.

Bên kia rào lạnh lẽo bóng chòi canh,
Tay lính gác gườm gườm lia họng súng.
Đoàn tù nữ trên đường ra bến tắm,
Sau một ngày dài khổ nhọc kiếp tù sai.

Một nữ tù mái tóc xõa bờ vai,
Tia nắng chiếu chảy dài trên tóc rối.
Những sợi tóc bay trong chiều nắng vợi,
Dưới tháp canh tù hút lấy cả hồn tôi.

Nhìn tóc em tôi cảm thấy bồi hồi,
Sao giữa cảnh ngục tù có nàng tiên xinh thế.
Nét tương phản giữa màu đen đáng sợ
Với tóc em dài mang vẻ đẹp hồn nhiên.

Tuổi của em phải khoác áo sinh viên,
Ôm sách vở vào giảng đường đại học.
Sao đến nỗi?…tôi thấy mình cay mắt,
Trên đất nước này em đã mất quê hương!

Tìm tự do em phải đổi gông xiềng,
Thân giam hãm giữa ngục tù gian khổ.
Gạo thăm nuôi gặm mòn đôi dép mẹ,
Đường trở về thành phố quá xa xăm.

Người yêu em mang bản án tử hình,
Khi vượt ngục cùng bạn tù cướp súng.
Hôm áp giải ra pháp trường xử bắn,
Em gục đầu giấu giọt lệ đang lăn.

Đất nước buồn sau một chín bảy lăm,
Cả miền nam biến thành nhà lao lớn.
Người lính cũ, kẻ tìm phương vượt biển,
Đều bị giam chung trong một trại tù.

Em bị bắt khi nào, ở đã bao lâu?
Nội quy cấm không dễ gì trao đổi.
Dưới chòi canh gió chiều xơ xác thổi,
Nắng úa vàng lên mái tóc em xanh.

o0o

Bao đổi dời sau hơn bốn mươi năm,
Rồi một buổi tình cờ nơi đất khách.
Lần giáp tết cựu tù nhân họp mặt,
Những bạn tù gặp lại ấm vòng tay.

Giới thiệu mình: “em Thuận tóc dài” đây,
Tôi mới nhận ra em, vì rất khác.
Nay tóc ngắn lại thêm nhiều sợi bạc,
Nhắc chuyện xưa hiu hắt nụ cười buồn.

Nửa cuộc đời lưu lạc kiếp tha phương,
Tôi vẫn nhớ cảnh chòi canh thuở nọ.
Tóc em dài rợp trời bay trong gió,
Nuôi khát khao vươn đến một chân trời.

Những nhà tù dù vây bủa khắp nơi,
Không ngăn được bước chân người quyết chí,
Tôi mừng em tự do trên đất Mỹ,
Sống làm người đúng nghĩa giấc mơ xưa.

-Donry Nguyễn.

==

VẾT THƯƠNG
CÒN MƯNG MỦ

Có một ngày muốn quên, mà vẫn nhớ …
Như kim châm, như muối xát vào lòng
Ngày nối liền Nam-Bắc một hình cong,
Nhưng nửa nước, đau buồn cơn quốc biến!

Người lính vốn, không gây ra cuộc chiến
Chế độ nào, bổn phận phải tuân theo
Mực chưa khô màu hiệp định Giơ-neo…
Vượt giới tuyến đưa quân vào bắn phá.

Người dân Nam phải đứng lên bảo vệ
Vì tự do chống chủ nghĩa độc tài
Đã bần cùng còn giải phóng cho ai?
Lời ma mị tuyên truyền chuyên dối gạt.

Miền Nam thua vì đã không tàn ác
Không nhẫn tâm khát máu với đồng bào.
Hai mươi năm sức lực đã tiêu hao
Bên nào chết cũng đau lòng mẹ Việt!

Ngày thống nhất, tưởng tang thương chấm hết
Nào hay đâu kẻ thắng quá đê hèn
Trút thù hằn vào phận lính nhỏ nhen
Đày ải họ chốn rừng thiêng nước độc.

Tước nhà cửa, bắt vợ con nheo nhóc,
Lùa lên vùng kinh tế mới khai hoang
Lịch sử xưa nay, bạo chúa hung tàn …
Chưa ai ác bằng vô thần cộng sản.

Nửa thế kỷ, hết bom rền lửa đạn
Sao mối hờn vết sẹo chẳng liền da
Người anh em cùng một mẹ sinh ra
Vẫn ngoan cố chia lìa tình cốt nhục!

Nền độc lập đâu ngọn cờ dân tộc
Oai linh không hoá giải nỗi hiềm thù
Để đoàn người lưu lạc khắp năm châu,
Về mang những tài hoa xây cố quốc.

Năm mươi năm, lòng dân còn chia cắt,
Xã hội còn đầy dẫy cảnh bất công …
Tiếng oán hờn rên siết khắp non sông,
Ngày tưởng niệm vết thương còn mưng mủ!

-Donry Nguyễn.

VIẾT TRONG NGÀY
TANG CHẾ.

Từ máu lệ âm vang mùa quốc biến,
Cả non sông quằn quại dưới chân thù.
Lệnh sai lầm khi rút bỏ quân khu,
Quân triệt thoái kinh thành trao tay giặc.

Hai mươi năm từng kiên gan giữ đất,
Phút sa cơ hối tiếc quá muộn màng.
Bao hùng binh buộc xếp giáp quy hàng,
Buông khí giới mím môi hờn phẫn uất.

Người chiến đấu phút cuối cùng tự sát,
Người lao mình ra chiến hạm khơi xa.
Lửa ngập trời lấp ló bóng yêu ma,
Nghe việt cộng vào Sài Gòn thảy đều kinh hãi.

Năm mươi mốt năm trang sử buồn lật lại,
Khóc non sông phủ trắng một màu tang.
Nguyện oan hồn bao nhiêu triệu dân Nam,
Nguyện hương linh những anh hùng tử sĩ.

Dưới mồ sâu được nguôi lòng yên nghỉ,
Và linh hồn bay đến cõi trời xa.
Thời tối tăm rồi cũng sẽ trôi qua,
Loài bạo ngược sẽ đến giờ đền tội.

Người lưu lạc từ năm châu bốn bể,
Sẽ quay về xây dựng lại quê hương.
Biến Việt Nam thành đất nước thịnh cường,
Trong sắc áo màu cờ Tự Do-Dân Chủ.

-Donry Nguyễn-
(30-4-2026)

==

THƠ HOÀNG THỤC UYÊN

=

BIỂN ĐỘNG VƯỢT SÓNG
TRÊN ĐẠI DƯƠNG
           
Biển Đông giông tố sóng bạc đầu
Mưa bão bất ngờ đổ xuống mau
Mây đen trời tối biển mờ lối
Gió rít từng cơn mưa đổ mau

Vượt biển trùng dương, sóng dâng trào
Thuyền như lá úa vượt biển sâu
Dào dạt sóng xô thuyền ngàn hướng
Bềnh bồng, thuyền dạt khắp muôn phương

Biển động vượt sóng trên đại dương
Ào ạt mưa rơi nhòa trùng dương
Bềnh bồng thuyền trôi theo ngàn hướng
Gió lộng biển động thuyền mờ sương

Tháng 4, mang nặng một nỗi niềm
Chinh chiến ba miền nát quê hương
Nhìn về quê mẹ, thương sầu nhớ
Ngày ấy ra đi, ngàn vấn vương

Chiến tranh tan nát bởi vì đâu ?
Ba miền đất nước ngập sóng sầu !
Quê hương điêu linh trong khói lửa
Dân lành nghèo đói sống khổ đau .

Ai gây chính chiến nát quê hương ?
Ai gây thù oán cảnh đoạn trường ?
Chiến tranh không cùng ý thức hệ
Tuổi xanh ba miền ngập sầu thương

Người ở người đi thật đau lòng
Thương nhà nhớ nước, khóc non sông
Người bỏ quê hương, người tù tội.
Người tìm tư do, chết biển đông !

Gió lộng biển động sóng hợp tan
Thuyền trôi vượt sóng lướt gió ngàn
Thuyền xuôi vững lái tìm bến đậu.
Bến đục bến trong thuyền về đâu ?

Biển rộng mênh mông sóng ngập trời
Dù trong biển động thuyền ngược xuôi
Vững Tâm thuận lái theo chiều gió
Gió lặng sóng tan, thuyền thảnh thơi ...

          Hoàng Thục Uyên
     Tháng 4 Đen, 1975--2026
🌱🌱🌱🌱🌱🌱

==

CA KHÚC THÀ  NHƯ – THƠ MẶC KHÁCH – NHẠC VĨNH ĐIỆN- TIẾNG HÁT  HÀ THANH

==

THƠ CỦA THI SĨ TRẦN QUỐC BẢO & NHỮNG BÀI HÁT NÓI CỦA NGHỆ SĨ ĐỨC HÙNG

Tháng Tư, tường đá còn thao thức!

Tôi gọi tên anh có tiếng vang

Trong lòng đá xôn xao ký ức,

Đoàn hùng binh, uy dũng hiên ngang!

*

Tháng Tư, tôi đứng bên tường đá,

Chiến trường xưa thấp thoáng hiện sinh,

Ánh hỏa châu, Pleiku, Bình Giã,

Pháo mịt mù, Đồng Xoài, Tây Ninh!

*

Anh hiện diện khắp nơi tất cả,

Từ hậu phương, đến tuyến địa đầu.

Yểm trợ chúng tôi, anh gục ngã!

Tình đồng minh ơn trọng, nghĩa sâu.

*

Tháng Tư hồn vẫn chưa yên giấc,

Trătrở ngàn năm, chuyện thắng thua.

Tâm sự buồn, như mây u ut,

Xót xa gió thở i đêm khuya

*

Lòng đá chợt quặn đau, rên xiết!

Hỏi sao kết cục Tháng Tư Đen?

Sớm ri chiến trường anh không biết, (*)

Bọn chính trị, đốn mạt đê hèn!

*

Chính lúc chiến trưng đang mạnh thế,

Chúng phản đồng minh! Bán các anh!

Cúp viện trợ… cun cờ tồi tệ!

Tháng Tư uất hận ghi sử xanh.

*

Tường đá lưu danh, anh còn đó,

Phấp phới Cờ Hoa, Hồn hiển linh!

Tình chiến hữu chúng mình gắn bó,

Đã một thời huynh đệ chi binh.

*

Tháng Tư. Tôi đến hôn tường đá,

Thấy bạn bè xưa, quen thật quen.

Từng giọt máu chiến trường, vô giá!

Mà sao rốt cuộc Tháng Tư đen! (?) 

           Trần Quốc Bảo

                   Richmond, Virginia

             Địa chỉ điện thư của tác giả:

           quocbao_30@yahoo.com

(*)Trong chiến cuộc Việt Nam, có 58,281 chiến binh Hoa Kỳ đã hy sinh, chết và mất tích, trước ngày 30 Tháng 4,1975.

    Toàn thể, được ghi tên, trên Bức Tường Đá Đen, tai Thủ Đô Hoa Kỳ.

Ứng Đáp Nhanh Chóng!|
(Bài Hát Nói cảm ơn và đáp lễ hồi âm của Đại Lão Thi Nhân Trần Quốc Bảo. Tựa đề bài Hát Nói này trích từ hồi âm của ĐLTN/TQB.)

Ứng đáp nhanh chóng!
Hồi âm như đang lướt sóng, chèo thuyền!

Dù tuổi đời nay đã “rất cao niên”
Vẫn phong độ, sáng suốt, thung dung như “Ông Tiên” tại thế!

Ứng ngay! Lập tức! Ngày đang xế!
Đáp lại! Mau lên! Tháng đã qua!
Tốc độ cao gây ra sức mạnh “dời non, lấp biển”! Như cơn phong ba!

Lòng người hoan hỉ, hài hòa! Giải quyết, thông qua, vui vẻ!

Nhân loại đã tiến bộ vượt bậc! Máy móc tối tân chia sẻ!
Xa xôi mà gần gũi! Trao đổi mọi hay đẹp! Và sức khỏe, thơ, nhạc, gia đình . . . !
Cảm ơn Đại Lão Tiên Sinh!
Đức Hùng
Sydney, Úc Châu, 28/04/2026

Xin ghi nhận và cảm tạ sự đồng cảm, giữa bài “Bức Tường Đá Đen” và bài “Hát Nói 657” dành cho Ngày Quốc Hận 30/4.   –  Rất phục tài ứng đáp nhanh chóng và tuyệt vời của anh.

        TQB

On Monday, April 27, 2026 at 02:27:43 AM EDT, Duc Hung Bui <duchungbui@bigpond.com> wrote:

“Từng Giọt Máu Chiến Trường Vô Giá! Sao Tháng Tư Đen?”
(Bài Hát Nói cảm ơn và đáp lễ Đại Lão Thi Nhân Trần Quốc Bảo (ĐLTN/TQB) đã chuyển đến bài thơ tuyệt bút nhân Mùa Quốc Hận Tháng Tư Đen 30/04/1975 – 30/04/2026.
Tựa đề bài Hát Nói này trích từ bài thơ đó của ĐLTN/TQB. 
Kính mời Quý Thi Hữu họa lại bài Hát Nói này.)

Từng tấc đất nhuộm máu! Cổ Thành Quảng Trị!
Giọt sầu tuôn cuồn cuộn! Bản Mê Thuột ra đi! Thế trận tràn mây cuốn! Phòng bị được những gì?
Máu Tân Cảnh, Quảng Đức! Lê Đức Đạt gan lì! Huế quặn mình đau nhức! Vùng Hai đã lâm nguy!
Chiến đấu có ai bì? Vận Nước thịnh hay suy? Tuyến Phan Rang gắng gượng!

Trường đồ! Mã lực phi khoan nhượng!
 ích! Nhân tâm bỗng thoái lui!
Giá Súng nay trống rỗng! Kho Đạn cũng ngậm ngùi! Cạn dần! Đành để trống! Tiến chẳng được! Phải lùi!
Sao anh hùng, thanh khiết! Cùng chia ngọt, sẻ bùi! Nguyễn Khoa Nam tuẫn tiết!

Tháng này, Trần Văn Hai! Chuẩn Tướng Lê Nguyên VỹPhạm Văn Phú hỏi hoài!  Lê Văn Hưng đà biết!
Tư duy Trang Sử Việt! Thắng bại bốn ngàn năm! Trụ chiết, Giao Chỉ diệt! Ngùn ngụt  Khí Hờn Căm!
Đen rồi! Sẽ trắng! Bao năm?
Đức Hùng
Sydney, Úc Châu, 27/04/2026
11 Tháng Ba (Đủ) Âm Lịch Năm Bính Ngọ, Ngày Tân Mùi : Hành Thổ, Trực Bình, Sao Trương. Cát Thần : Đại Minh, Chúa Là, Hoạt Diệu.

Bạn hữu chân thành thường vắng ngắt!
Hiền nhân thật sự vẫn lưa thưa!

Nhiều khi Bạn Vong Niên mà hợp nhau ở mức thượng thừa!
Như Hoàng Dược Sư với Dương Qua! Tuổi là Cha, Con! Gặp nhau chưa say chưa tâm sự!

Xin cảm ơn Đại Lão Thi Nhân Trần Quốc Bảo! Tấm thịnh tình! Nhiều tư lự!
Kính chúc Cụ luôn mạnh khỏe, an khang, hạnh phúc! Vui văn tự! Sính thơ, ca!
Yêu Dân, quý Nước, thương Nhà!
Đức Hùng
Sydney, Úc Châu, 28/04/2026

==

Thư pháp trên: Thơ Ngữ An (Tháng 3 bỏ Huế)

*

Một đời vì nước quên mình

Xương tan / thịt nát. Mộ phần có / không

Vật vờ lau lách ven sông

Sáng se gió thổi chiều lồng sương tuôn

Phải trong nắm bụi bên cồn

Có người tử sĩ gởi hồn cỏ hoa

*

Chiến tranh rồi cũng đi qua

Còn kia là ánh trăng tà mộ hoang

Hồn nương theo bóng mây vàng

Vô danh nào có mấy hàng chữ bia?!

Quang Hà

==


Long Hồ Vĩnh Long: Em Đến Thăm Anh Lần Cuối – Thơ: Trần Công Tiền Giang Tử – Nhạc: Nguyễn Tuấn

Long Hồ Vĩnh Long: Anh Lính Năm Xưa – Tạ Quang Tuấn

Long Hồ Vĩnh Long: Tháng Tư Sầu Nghẹn Đong Đầy – Phương Hoa

Long Hồ Vĩnh Long: Tưởng Đâu Đó Thân Bồng Bềnh Phiêu Lãng – Nguyễn Phan Ngọc An

Long Hồ Vĩnh Long: Một Ngày Tháng Tư – Đỗ Dung

Long Hồ Vĩnh Long: Ngàn Dặm Ra Đi – Lê Mỹ Hoàn

Long Hồ Vĩnh Long: Cánh Nhạn Về Đâu – Thơ: Phương Hoa – Nhạc: Trần Đại Bản

Long Hồ Vĩnh Long: Tháng Tư Và Tự Do – Hồng Vân

Long Hồ Vĩnh Long: Chiều Tháng Tư Trên Sông Sài Gòn – Lê Tuấn

Long Hồ Vĩnh Long: Tháng Tư Nhớ Người Khôn Nguôi – Tiểu Lục Thần Phong

Long Hồ Vĩnh Long: Thêm Một Tháng Tư Qua – Thơ: Huy Văn – Nhạc Nguyễn Tuấn – AI cover Siliconband

Long Hồ Vĩnh Long: Tiểu Thư Thời Bao Cấp – Nguyễn Thị Thanh Dương

Long Hồ Vĩnh Long: Đêm Trăng Ở San Francisco – Hồng ThủyLong Hồ Vĩnh Long: Cuối Bờ Tình Ca – Luân Tâm

Long Hồ Vĩnh Long: Tinh Thần Văn Bút Miền Đông (VBVNHN VĐBHK) – Dương Việt Chỉnh

Long Hồ Vĩnh Long: Tranh Dệt Bằng Len Của Tuyết Phan Được Chọn Triển Lãm

Long Hồ Vĩnh Long: Cho Tôi Xin Từ Nỗi Nhớ – Dương Việt Chỉnh

Long Hồ Vĩnh Long: Danh Sách Schindler- Steven Spielberg – Thái Lan Sưu Tầm & Dich

Long Hồ Vĩnh Long: Những Cơn Mưa – Ý Nhi

Long Hồ Vĩnh Long: Đất Khách Làm Thơ – Tạ Quang Tuấn

Long Hồ Vĩnh Long: Chân Nguyên Vũ Trụ – Thơ: Hoàng Thục Uyên – Nhạc: Nguyễn Tuấn

Long Hồ Vĩnh Long: Ân Tình Thiên Thu… – Luân Tâm..

Long Hồ Vĩnh Long: Tạc Dạ Nghìn Sau..- Kim Oanh

Kim Oanh