CA KHÚC SỐNG ĐỘNG: DẬY MÀ ĐI GÌN GIỮ GIANG SAN – THƠ NGUYỄN PHƯƠNG THÚY – NHẠC TRUNG VIỆT
==
NGẮC NGOẢI ĐẾN BAO GIỜ
Nguyễn Phương Thúy
Ông Tô Lâm – Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (Ông cũng là Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Công an Trung ương, Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và An ninh, và Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng, tiêu cực. Còn chức nào ông chưa tóm? Đúng là độc tôn, độc trị!) đến China từ ngày 14 đến 17 tháng 4 năm 2026. Đây là một bước đi ngoại giao đầy quan trọng – cấp nhà nước, trên cương vị là lãnh đạo cao nhất của Việt Nam. Chuyến thăm này không chỉ dừng lại ở những cái bắt tay xã giao; đó là một nỗ lực thúc đẩy thực hành nhanh chóng Chiến lược “3+3” (*), nhằm củng cố “Cộng đồng chia sẻ tương lai” – một cách nói hoa mỹ để diễn tả việc họ đang gắn kết nền kinh tế và an ninh của nhau chặt chẽ hơn bao giờ hết. Tô Lâm trông có vẻ sung sướng, hãnh diện với sự đón tiếp long trọng của China. Các ông lớn mặc âu phục, các bà lớn cũng mặc quốc phục hiện diện sát bên. Nội các China dàn hàng chào danh dự. Tô Lâm bắt tay muốn rụng tay! Càng ngày hình thức ngoại giao càng giống các nước tự do. Con tắc kè thay màu quá lẹ nhưng cái cốt lõi thì vẫn ẹ như xưa! Việt Nam và China đã ký kết hơn 32 thỏa thuận vào ngày 15 tháng 4 năm 2026, tập trung vào các lĩnh vực:
Hải quan & thương mại: Đây là một bước tiến vô cùng to lớn, bởi thương mại giữa hai quốc gia đã hơn 250 tỷ USD trong năm 2025. Hai bên cũng đang triển khai mô hình “cửa khẩu thông minh” nhằm đẩy nhanh tốc độ vận chuyển hàng hóa.
Cơ sở hạ tầng & đường rầy sắt: Trọng tâm phát triển đô thị và kết nối các tỉnh phía Bắc của Việt Nam với mạng lưới đường sắt cao tốc của China chính là một “con đường một chiều”. Một khi những đường rầy ấy đã được lắp đặt theo tiêu chuẩn của China, Việt Nam sẽ bị ràng buộc chặt chẽ về mặt vật lý với China trong suốt 50 năm. Trong nhiều thập kỷ, Việt Nam vẫn duy trì khổ đường rầy sắt khác biệt, nhằm ngăn chặn nguy cơ bị xâm lược dễ dàng. Bằng việc chuyển sang áp dụng các tiêu chuẩn của China, Việt Nam đang thực sự hội nhập về mặt vật lý vào hệ thống hậu cần (logistics) của China. Đây chính là sự thống trị mà không cần chiến tranh. Nếu China nắm quyền kiểm soát hệ thống đường rầy, công nghệ tín hiệu cũng như nguồn tài chính, họ sẽ nắm giữ chiếc “công tắc bật/tắt” đối với nền kinh tế xuất khẩu của Việt Nam.
An ninh chuỗi cung ứng: Nhằm bảo đảm các chuỗi cung ứng xuyên biên giới sẽ không bị gián đoạn bởi những biến động chính trị trên phạm vi toàn cầu.
Du lịch: Phát động chương trình “Năm Hợp tác Du lịch Việt Nam – China 2026-2027” với mục đích thu hút khách du lịch trở lại mức trước đại dịch. Những thỏa thuận này có ảnh hưởng to lớn không thể tránh khỏi như “Con ngựa thành Troy” trong lĩnh vực 5G (the fifth-generation technology standard for broadband cellular networks), dữ liệu lớn (big data) và trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence (AI)). Cơ sở hạ tầng kỹ thuật số luôn có những “cửa hậu” (backdoors). China sẽ nắm trong tay “chìa khóa” của chủ quyền kỹ thuật số, có khả năng giám sát sự di chuyển của con người, hàng hóa và thậm chí cả quân đội….
VIỆT NAM:A Nation Reborn – Created by Nguyễn Phương Thúy – Nhạc nền hòa tấu: “VIỆT NAM VIỆT NAM” Của Phạm Duy
DÂY MÀ ĐI GIỮ GIANG SAN -NGUYỄN PHƯƠNG THÚY CGV
==
Thơ: Nguyễn Phương Thúy – Nhạc: Phạm Trung – Trình bày: Bích Hiền
== THƠ 30 THÁNG THÁNG TƯ ANH & VIỆT – TRANH THƠ: NGUYỄN PHƯƠNG THÚY
==
==
TƯỞNG NIỆM 30 THÁNG TƯ: Ca Khúc MẢNH DA VÀNG, Trần Chương Lương viết nhạc theo thơ của nhà thơ CHU LYNH do ca sĩ Kỳ Nam trình bày và hòa âm được thực hiện tại Golden Production.
*
Tùy Bút 30/4 CỦA 51 NĂM SAU
Sỏi Ngọc
Tàu Trường Xuân, thuyền trưởng: ông Phạm Ngọc Lũy
Từ trái sang phải: Đạo diễn: Robbie Hart; Bà Nguyễn Bùi thị Mùi; tác giả Sỏi Ngọc; cố vấn Phim: anh Khoa Phạm
Lại một tháng Tư đen
Quê người ta tạm trú
Bao giờ về cố thổ
Như máu chảy về tim?
Cuộc chiến đã qua lâu
Lòng ta còn hậu chấn
Hỡi ơi ! Trời biển rộng
Dằng dặc một cơn sầu. (Hoàng Song Liêm)
Tháng Tư vừa mới chớm, trái tim của những người con Việt hải ngoại không ngớt rỉ máu, vết thương của 51 năm qua vẫn mãi chưa bao giờ lành, một khi quê hương đất mẹ vẫn đang bị cầy xéo, dân vẫn khốn đốn, nền tự do dân quyền không có, những cựu chiến binh VNCH với thân hình còi rọc, như những phế nhân lầm lũi sống ở tận đáy xã hội của đất nước nơi mình được sanh ra; họ là những minh chứng sống cho thấy dưới chế độ xã hội chủ nghĩa Cộng Sản sau 51 năm, đời sống không khả quan hơn, vẫn đói khát, bị vùi dập, kiểm soát, bị trả thù đến bao nhiêu kiếp đời.
Tưởng niệm tháng Tư, phim Shining light, một phim tài liệu “ánh sáng tỏa rạng” được trình chiếu tại một trường tư thục, trung học Marianopolis college cho tất cả mọi người, kể cả những em học sinh, tham dự để hiểu về cội nguồn của những người Việt tỵ nạn tại Canada nói riêng và thế giới nói chung.
Phim tài liệu này chỉ dài 30 phút, do nhà sản xuất phim: Peter Raymont, đạo diễn: Robbie Hart, nhân viên Cao Ủy Liên Hiệp Quốc tại Canada: Tracey Maulfair, đồng sản xuất phim và cựu Đại xứ Canada: Gary Smith, cố vấn phim: Khoa Phạm.
Đã được trình chiếu nhiều lần tại Vancouver, Toronto, Montreal, hôm nay được chiếu lại nhưng đặc biệt có sự góp mặt của nhân vật chính, bà Bùi Nguyễn thị Mùi, bà là người mẹ đã mang bầu được 9 tháng vào ngày 30/4/75, biết rằng tánh mạng rất mong manh nếu bà lên tàu Trường Xuân bỏ xứ lánh nạn Cộng Sản thời bấy giờ, nhưng nỗi sợ hãi bị trả thù, cuộc sống đọa đầy sau ngày mà bọn chiến thắng luôn rêu rao là “nền độc lập tự do dân chủ”, trong khi chúng bắt bớ những cựu sĩ quan, lính VNCH bỏ tù, nằm gai nếm mật, trong đó có chồng bà… Bà đã hy sinh mạng sống của chính mình và đứa con trong bụng, ôm bụng bầu sát ngày sanh nở, cùng với con trai nhỏ 2 tuổi, lên chiếc tàu định mệnh cuối cùng vào trưa ngày 30/4 để trốn chạy; đến ngày 2 tháng 5 năm 1975 bụng quặn thắt, và đứa con gái đã chào đời trên tàu Trường Xuân, giữa lòng đại dương mênh mông, với 3600 người tỵ nạn vây quanh, đứa bé gái được đặt tên là Chiêu Anh, ánh sáng rạng rỡ, hy vọng mở ra cho bà một tương lai mới!
Bà Bùi Nguyễn thị Mùi mới sanh cháu Chiêu Anh trên tàu Trường Xuân
Chiêu Anh- cô gái được sanh trên biển cả của ngày hôm nay
Bà Bùi Nguyễn thị Mùi, đạo diễn: Robbie Hart tại trường Marianopolis college
Sau đó, ngày 4/5/1975 tàu Trường Xuân được tàu chở hàng Maersk line của Hong Kong vớt, mẹ con cô được chở vào nhà thương.
Mọi người yên lặng theo dõi bộ phim thật cảm động, tại ngôi trường mà Chiêu Anh đã từng theo học và tốt nghiệp; thỉnh thoảng có tiếng thở dài não ruột, tiếng sụt sùi trong hàng ghế của những người lớn tuổi, cũng có những cái nắm tay thầm lặng chia sẻ nỗi buồn, sự cảm thông của thế hệ trẻ đối với tiền bối.
Phim chấm dứt, ánh đèn sáng lên, bà Bùi ngồi lặng yên trên chiếc ghế ở khán đài, cùng với đạo diễn Robbie Hart, sẵn sàng trả lời những thắc mắc của tất cả mọi người, có cậu bé nói:
– “Tại sao chiến tranh VN đã trải qua 51 năm, đã thống nhất độc lập rồi, mà vẫn còn có người bỏ nước ra đi, còn nghe nói đến sự trốn chạy tìm tự do, tìm nguồn sống mới; họ không chịu nổi áp lực của nhà cầm quyền Cộng Sản?”
Một người khác góp ý:
– “Vào lúc 30 tháng Tư, bọn cộng sản đối với chúng tôi là một điều rất mới mẻ, nhưng kinh nghiệm của thời cải cách ruộng đất thời 1953-1956, chúng đã giết, treo cổ thẳng tay những người họ gọi là “địa chủ”, “tư sản”, tưởng tượng họ cũng đối xử, trả thù những người dân quân miền Nam đã sống, làm việc dưới chính quyền mà họ cho là Mỹ ngụy thì làm sao chịu nổi, vì lý do đó mà nhiều người thà bỏ mạng ngoài đại dương hơn là sống dưới gông cùm của chế độ Cộng Sản.”
Đạo diễn Robbie nói:
– “Chúng tôi dự định sẽ về thăm Việt Nam một chuyến, có dịp sẽ quay những thước phim về những biến cố lịch sử đã xảy ra tại đó cách đây 51 năm, và sự khác biệt với đời sống hôm nay.”
Một khán giả trong phòng thêm ý kiến:
– “Chúng tôi rất mong được các ông làm phim về những người lính VNCH, những người cựu chiến binh, những thương phế binh của chế độ trước bây giờ họ sống ra sao? Con cái họ thế nào? Có được sống như những người dân bình thường hay họ vẫn mãi mãi bị mang lý lịch xấu không thể ngóc đầu lên được, tâm lý sau cuộc chiến bị thất bại, họ mất tất cả, chỉ còn hai bàn tay trắng, lại thêm tù tội cả chục năm, cuộc đời của chính bản thân và con cái có được thành công ở chính quê hương nơi họ sanh ra không? Cộng Sản, những kẻ chiến thắng sau cái mốc định mệnh 30/4 có thật sự như họ đã nói “theo chính sách khoan hồng” giúp đỡ cho kẻ “lầm đường lạc lối” đi đúng hướng, sao chỉ thấy toàn những hình ảnh đói khát ở vùng kinh tế mới với những căn nhà mái lợp bằng lá, mùa mưa thì dột, mùa nắng thì thiêu đốt… Sự trừng phạt hăng máu của kẻ chiến thắng đến bao giờ mới ngừng tay?!”
Hình ảnh của con gái Chiêu Anh cùng với mẹ đi dạo trong một công viên ở Montreal, thanh bình và nhàn nhã, có ai biết quá khứ của họ trắc trở đầy thử thách!
Chiêu Anh chính là Shining Light của bà Mùi, cô là ngọn đèn tỏa sáng trong màn đêm tăm tối, là niềm hy vọng cho cả gia đình sống và phấn đấu, bà Nguyễn Bùi thị Mùi là một dược sĩ có tiếng tại Montreal, Quebec, giúp đỡ cho rất nhiều đồng hương trong thời gian covid.
Bà luôn dậy con gái “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, cô tìm lại được thuyền trưởng của tàu Trường Xuân năm xưa là ông Phạm Ngọc Lũy, đã đến mừng sinh nhật thượng thọ thứ 95 của ông,
Cô gái Trường Xuân năm nào, tưởng đã không thể nào sống nổi, nay thành công rực rỡ trong ngành thiết kế thời trang, cô ra trường ngành thiết kế thời trang ở NewYork, được nhiều giải thưởng danh giá.
Xin gửi lời cảm ơn trân trọng đến đạo diễn Robbie Hart, đến anh cố vấn Khoa Phạm đã tìm lại nhân chứng sống bà Nguyễn Bùi thị Mùi của tàu Trường Xuân sau 51 năm để cùng ngồi lại nơi đây, ôn lại câu chuyện lịch sử, không thể nào quên; câu chuyện của bà là một trong hàng ngàn những câu chuyện hy hữu của những người vượt biển sống sót, may mắn đến bến bờ tự do, sống, làm việc và thành công, như một tấm gương sáng cho thế hệ tương lai.
Chúng tôi ra về với dư âm của chiếc tàu Trường Xuân còn vương vấn, dáng bé nhỏ mảnh khảnh của bà Nguyễn Bùi thị Mùi, với nụ cười ấm áp, ánh mắt chứa chan niềm thân thiện, bà đã sống và cống hiến hơn nửa cuộc đời từ cái mốc 30/4 đến nay cho ngành thuốc, giúp tư vấn cho người bệnh, chích, bán và nhiều khi biếu thuốc cho những hoàn cảnh khó khăn, bà đúng với câu « lương y như từ mẫu », bà tâm sự riêng với tôi :
– “Mình thật may mắn đã được Canada giang tay đón nhận, thì mình phải sống sao cho xứng đáng, trả ơn cho đất nước đã cưu mang và góp phần xây dựng cho tương lai của thế hệ trẻ sau này.”
Tại ai mà mỗi tháng tư, tâm tư của hơn 1,5 triệu người sống xa quê hương có cùng một tâm trạng:
Tháng Tư về, gió chạm hư vô
Ký ức cũ rơi rụng không bờ
Người ở lại quen dần im lặng
Kẻ ra đi mang nặng giấc mơ
Một dòng sông chia hai bờ nhớ
Nửa quê hương trôi dạt phương nào
Hơn nửa thế kỷ rồi vẫn hỏi
Mất gì đây… mà đau đến nao lòng.
Sỏi Ngọc
Montreal 4/4/2026
*
THÁNG TÁM, THÁNG TƯ
Vốn rằng ghi rõ tự Thiên Thư
Cộng sản gian tà từ…”dịch Thu.”
“Cải Cách” lừa bần nông, đấu tố,
“Nhân Văn” phỉnh kẻ sĩ, giam tù.
Rồi đây, nổi giận, dân băm nát
Sắp tới, phân minh, Trời nghiến nhừ
Hậu quả khôn lường đang dần đến
Chúng bây sẽ trả nợ…công, tư.
Bảo Trâm
Chú thích:
“Dich Thu”: Cách mạng tháng tám” năm 1945 của lũ cướp cộng sản.
“Cải Cách”: Cải cách ruộng đất” của Công sản Bắc Việt, từ 1953 đến 1956 , giết hàng chục ngàn nông dân ở miền Bắc.
“Nhăn Văn”: Cộng sản bày ra vụ “Nhân Văn Giai Phẩm” từ 1955-1959, để giết và giam tù, bó đói hằng trăm Văn Nghệ sĩ ở Miền Bắc.
==
CHÙMTHƠ NHƯ THU
THÁNG TƯ MÃI NHỚ
Tháng tư nặng mối ưu hoài
Làng xưa biền biệt đắng cay nỗi lòng!
Phương trời xứ lạ thầm mong
Tàn canh thức trắng chờ trông mỏi mòn
*
Tháng tư giữ dạ sắt son
Đêm dài dỗ giấc trăng tròn xót xa
Vì đâu mãi nhớ thương nhà?
Người ơi gắng đợi cùng ta trở về!
*
Tháng tư nghĩa xóm tình quê
Chân thành đối đãi vẹn bề giúp nhau
Chiều qua gặp gỡ vui chào
Cười tươi hớn hở xôn xao chuyện trò
*
Tháng tư ấp ủ buồn lo
Yêu bầy trẻ dại nằm co dọc đường
Màn trời chiếu đất cảm thương
Bao người khốn khổ muôn phương vội vàng
*
Tháng tư mộng ước hoài mang
Trời Nam, biển Bắc tỏa lan đượm tình
Mây chào rạng ánh bình minh
Sau này hứa hẹn đăng trình chẳng lơi!
*
Tháng tư ngỡ tựa đang mời
Buồm giăng bến gọi chửa ngơi bao giờ
Sum vầy thỏa lắm niềm mơ
Nắng hồng giục giã đôi bờ kết giao.
Như Thu
04/18/2026
**
QUÊ HƯƠNG DẤU YÊU!
Từng nghe nước Việt sẽ dâng Tầu
Có phải quan thầy giấu nhẹm lâu?
Phương Bắc xe vào tim hụt hẫng
Miền Nam giặc đến kẻ u sầu!
Dân hờn bấy nỗi đành im tiếng
Ruột thắt bao lần lại đẫm châu
Ướm hỏi người ơi nhờ tỏ thật…
Vì sao sự thể quá cơ cầu?
Như Thu
04/21/2026
**
THÁNG TƯ ƠI!
Lại tháng tư đen sắp trở về
Bao trùm phố thị cả làng quê!
Mậu Thân súng nổ rền muôn hướng
Bính Ngọ lời than trỗi tứ bề
Non nước căm hờn luôn mải giận
Dân tình bực tức chẳng còn mê
Vùng lên tranh đấu nào suy nghĩ
Nhất dạ đồng tâm giữ vẹn thề!
Như Thu
04/21/2026
==
CHÙM THƠ VĂN THÁNG TƯ – DONRY NGUYỄN
*
CHO NHỮNG NGƯỜI NẰM XUỐNG VÀ NHỮNG NGƯỜI CÒN LẠI
Tháng tư, từ giã mùa chinh chiến. Ta về, đi giữa bóng hoàng hôn… Tay mẹ gầy còm ôm ta khóc, Cạnh đám em thơ nghẹn tủi hờn.
*
Bạn ta nhiều đứa không về nữa, Đem máu xương mình hiến núi sông. Để người sương phụ chia dòng lệ Nửa chịu tang cha, nửa khóc chồng.
*
Rượu không đủ uống ngày thua trận Ta ngước cười khan với đất trời, Trời đã không dung người thất thế, Sá gì thù vặt ngọn đòn roi.
*
Năm xưa vào lính mình ta tiễn, Nay bước lao tù cũng một thân. Mẹ đã tảo tần nuôi ta lớn, Nay còn đội gạo mà thăm con.
*
May lúc lên đường chưa cưới vợ, Nên chẳng dùng dằng vướng nợ ai. Nếu không cũng xót thời son trẻ, Vì chồng nhan sắc em tàn phai.
*
Trong tù ta có thêm bầu bạn, Sáng chiều chia nửa củ khoai lang Ngoài kia hợp tác toàn dân đói, Xã nghĩa thiên đường ráng tiến lên.
*
Trong tù ta sống lòng thanh thản Gánh rổ khoai mì đi rong chơi. Cuốc đất đau lưng mà trí nhẹ Không thành công, ta cũng thành người.
• Nửa đêm tiếng hát từ song sắt, Cao vút ngân lên đụng đỉnh trời. Nhìn gã cai tù đang cúi mặt Ta biết cuối cùng … ai thắng ai!
-Trại tù A30-1977. Donry Nguyễn
**
TRẢ LỜI CÂU HỎI CỦA EM.
“Ta làm chiến binh Sống không bằng chết, Được mất gì mà vỗ ngực xưng tên!”*
• Người hỏi tôi là lính hay quan, Hỏi chi thân thế lúc suy tàn. Mang danh phận lính không tròn phận, Há dám xưng hùng nhận chức quan.
*
Giữ nước sa cơ đành bỏ nước Coi nhà thất thế phải tòng vong. Cho dẫu chỉ là anh lính nhỏ, Lẽ nào trách nhiệm chẳng lo chung.
*
Ngày nay trên bước đường lưu lạc, Món nợ tang bồng lụy áo cơm. Tha phương chén rượu sầu ngơ ngác, Ai chẳng mộng ngày … quy cố hương.
*
Em đừng trách móc sao lần lữa, Chưa về thăm lại mẹ già nua. Lòng riêng ngui ngút niềm thương nhớ Nhỏ lệ âm thầm giữa gác khuya.
*
Ra đi từ bữa hờn sông núi, Lời thề ghi khắc trái tim côi. Mai sẽ trùng tu ngày hội lớn Dựng mái nhà xưa phụng dưỡng người.
*
Nửa thế kỷ qua ngùi đau xót, Bạc màu áo cũ vẫn chờ mong. Lỡ mai tôi chết không về kịp … Chắc gởi tro tàn xuống biển đông.
*
Món nợ ân tình chưa báo đáp Đối mặt quê hương nghĩ thẹn lòng.
-Donry Nguyễn-
* (Trích bài hành Tự Chuốc Rượu của người lính Lôi Hổ Hoàng Hoa Thương)
*
NHỮNG NGƯỜI LÍNH BỊ BỎ LẠI PHÍA SAU.
–Tưởng nhớ Tr/u Liễu Tông Trung cùng đồng đội đã nằm lại rừng núi Kon Tum, tháng ba 1975.
• Bạn tôi là HSQ Tiếp liệu ĐĐ1/TĐ95/LĐ22/BĐQ. hậu cứ đóng tại trại B12, đối diện trại B15 của lực lượng Lôi Hổ, nằm ở phía nam cầu Dakbla thị xã Kon-Tum.
Sau đây là những gì anh ấy kể lại:
Ngày 14/3/1975 anh theo xe tiếp tế lương thực cho đại đội đang đóng ở Đồi Ba Chấm, vị trí này là nơi đơn vị anh lui lại sau khi tản hàng phải rời bỏ căn cứ Kon Sơn Lũ cách đó vài cây số vào năm ngoái.
Lần này anh mang theo cả ba lô súng đạn để tham dự hành quân mặc dù nhiệm vụ của hạ sĩ quan tiếp liệu là ở hậu cứ lo việc quân lương. Lý do: lè phè, ham chơi, đến giờ tiếp tế, tiểu đoàn phải cho người ra phố gọi về.
Sau khi nhận lương thực xong, đại đội được lệnh tiến sâu vào rừng, anh cũng mang súng lầm lũi bước theo. Đi được vài chục thước thì bỗng nhiên vị trung úy Trung đội trưởng ngoắc tay bảo anh:
-Thôi về đi, cảnh cáo lần này, nhớ không tái phạm nghe chưa.
Mừng rỡ bạn tôi chỉ kịp đưa tay chào ông rổi vội vã chạy ngược lại để đuổi kịp chiếc GMC đang lăn bánh. Về tới trại B12 buổi chiều thì tối đó, toàn bộ hậu cứ được lệnh tiêu hủy vũ khí nặng và tất cả giấy tờ tài liệu để gọn gàng lên xe di tản. Nghe lệnh anh bàng hoàng xúc động, nghĩ đến những bạn bè chiến hữu giờ này đang tiến sâu vào rừng, không hay biết gì cả khiến anh chết lặng trong lòng. Hồi trưa nếu đại đội trưởng không cho về thì giờ này anh cũng chung số phận với mọi người rồi.
Suốt đường lui binh, không khi nào anh không nghĩ đến những người bạn cùng đơn vị giờ đây đơn độc giữa rừng sâu trong vòng vây của địch. Nỗi buồn và niềm chua xót nghẹn ứ trong trái tim người lính bất lực trước sự phũ phàng tàn nhẫn của chiến tranh.
Đoàn xe di tản của anh đi đầu, giữ được yếu tố bất ngờ nên không bị tấn công như khúc sau, đến bến đò Thạnh Hội xe lội qua sông Ba nhờ dòng nước lúc này chưa dâng cao. Nhưng khi cách Tuy Hòa khoảng 10 cây số, một quả đạn pháo kích nổ sát sườn xe làm người lính tên Tân là phụ tá tiếp liệu cho anh đứt ngang cổ họng, chết liền tại chỗ. Anh chỉ kịp ngoái lại nhìn xác nó loang máu nằm gục bên vệ đường nói lời vĩnh biệt rồi tiếp tục lao đi. Anh về tới nhà an toàn, ở lại Tuy Hòa mấy hôm chờ đợi tin tức đơn vị nhưng không gặp lại ai, cũng không biết đích xác đại đội của anh thế nào. Sau đó cùng gia đình theo đoàn xe xuôi Nam, đến Nha Trang, nghe ngóng tình hình, thấy tin tức chiến sự hoàn toàn bất lợi, cha mẹ anh quyết định trở về và cho phép anh theo đơn vị. Không thể bỏ cha già mẹ yếu với đám em thơ giữa cuộc ly loạn, anh ở lại Nha Trang cùng gia đình chờ yên ổn trở lại Tuy Hòa.
Lúc ra trình diện ủy ban quân quản thành phố, tình cờ gặp lại một đồng đội cũ. Vui mừng hai người kéo nhau ra một góc vắng thăm hỏi. Người bạn cho biết vắn tắt: đại đội đã chiến đấu cho tới viên đạn và bịch gạo sấy cuối cùng. Không nhận được tiếp tế, cũng không thể liên lạc về bộ chỉ huy nên tự giải tán, mạnh ai nấy tìm đường thoát hiểm, thành ra không ai biết ai thế nào. Nghe xong bạn tôi thở dài nuốt nước mắt vào lòng. Tiếc thương đồng đội cũ trong đó có Tr/u Liễu Tông Trung, đại đội trưởng của anh, là một sĩ quan can trường, tốt nghiệp Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, ông đã cống hiến tuổi trẻ và tâm huyết của mình cho đất nước, cuối cùng đã bị bỏ rơi giữa núi rừng Kon-Tum khi gần tàn cuộc chiến.
Từ đó đến nay tôi vẫn thường hỏi thăm nhiều nơi, gặp nhiều chiến binh Biệt Động để ngóng tin tức giùm bạn tôi mà không ai biết. Duy chỉ một lần tình cờ gặp Đ/u Nguyễn Văn Hồng, người cùng khóa Sĩ Quan Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt với Tr/u Liễu Tông Trung, anh cũng thừa nhận là sau tháng tư 75, được anh em cùng khóa báo cho biết là Liễu Tông Trung mất tích…
Hôm nay nhân mùa Quốc biến, thay mặt bạn mình tôi viết bài thơ tưởng nhớ đến ông và tất cả các chiến sĩ BĐQ đã nằm xuống trên khắp đất nước để bảo vệ Miền Nam Tự Do.
BÀI CA ĐỒI BA CHẤM
Lệnh di tản ban hành trong đêm lạnh, Ta bàng hoàng khi nhận được hung tin. Đại đội ta đóng quân đồi Ba Chấm Mới ban trưa này còn được lệnh hành quân.
Giờ bỗng chốc chẳng khác gì ác mộng, Họ trở thành chốt chặn ngựa qua sông. Ta vơ vội áo quần, ôm cây súng, Giờ ra đi nghe muối xát vào lòng.
Người ở lại âm thầm ngăn bước giặc, Người lên đường lặng lẽ rút nhau đi. Thương đồng đội ta cũng đành bất lực, Bí mật quân cơ đâu thể nói năng gì.
Trời cao nguyên đêm nay buồn ảm đạm, Cơn gió nào thổi vọng đến đồi cao. Nơi bạn ta vẫn tay ghìm họng súng, Giữa rừng khuya cố thủ dưới thông hào.
Thẩm quyền ta, người sĩ quan Võ Bị, Cái ngoắc tay cho ta sống trở về. Nhưng chính ông lại lọt vào tuyệt lộ, Thế trận tàn Hùm dữ cũng sa cơ.
Đường lui binh nhiều lần ta bật khóc, Ôi đâu rồi khí phách một đoàn quân. Đánh trăm trận khiến quân thù tan tác, Giữ non sông từng tấc đất tấc vàng.
Nay chạy trốn để mong cầu sự sống, Lòng ta đau tan nát tựa dao đâm. Giặc pháo theo bạn ta vừa ngã xuống, Máu loang hồng theo vết bánh xe lăn.
Về duyên hải chờ lâu tin không thấy, Lại lên đường tiếp tục tiến về Nam. Gặp đồng đội sụt sùi nghe kể lại: Lính bọn mình đã chiến đấu hiên ngang.
Giây phút cuối không còn quân tiếp viện, Đạn vơi dần, gạo sấy chỉ cầm hơi. Tiếng súng giặc bao trùm lên trận tuyến, Sóng truyền tin không nghe tiếng trả lời.
Tự tan hàng khi thế cùng lực kiệt, Xé đường rừng tìm lối thoát mưu sinh. Người thương tích chờ quân thù bắn giết, Người ngậm ngùi mang thân phận tù binh.
Ta từ giã chiến tranh từ thuở ấy, Mà vết thương còn nhức nhối trong tim. Nửa thế kỷ, ta thấy mình còn nợ, Những anh em ở lại phút sau cùng.
Ai ra lệnh phũ phàng đem con bỏ? Ai chọn đường hoang phế để lui quân? Nửa thế kỷ nỗi buồn đau còn đó, Người vọng phu hóa đá đứng trông chồng…
Ta may mắn xác thân còn nguyên vẹn, Nhưng tâm hồn vĩnh viễn gởi rừng sâu, Nơi bạn ta đã âm thầm ngã xuống, Máu xương đem phân bón cỏ xanh màu.
-Donry Nguyễn- California April 15,2026.
==
GÁNH QUÊ, Trần Chương Lương viết nhạc theo thơ Ý NGA, do ca sĩ Hồng Nhiên trình bày:
==
THƠ NHẠC 30 THÁNG TƯ – CHƯƠNG HÀ & SUNO AI
==
Tháng Tư Dòng Nước Lũ Của Ký Ức – LÊ TUẤN
Tháng Tư trở về không còn là tên của một tháng, mà là một vết cắt hằn sâu trong thân phận. Tháng Tư của một thời đã xa, vừa ập tới như cơn hồng thủy hỗn mang, cuốn phăng mọi trật tự vốn dĩ của đời người.
Không một lời báo trước, không kịp chuẩn bị, chỉ còn hoảng loạn và chia lìa.
Gia đình tan tác. Bè bạn lạc nhau. Quê hương bỏ lại. Tất cả như một đàn chim đang yên ổn giữa trời bỗng bị giông bão xé tung, mỗi con bay về một hướng, không biết có còn ngày gặp lại. Trong cơn cuồng phong ấy, mỗi con người chỉ còn là một hạt bụi nhỏ nhoi, như chiếc lá cuốn theo dòng nước, bị đẩy trôi mà không thể cưỡng lại.
Mọi thứ diễn ra quá nhanh. Những quyết định không còn là lựa chọn, mà chỉ là phản xạ sinh tồn. Giữa trăm mối hỗn độn, người ta chỉ còn biết chạy, chạy trốn khỏi đổ vỡ, chạy về phía một miền đất tự do, dù biết rắng nó rất mơ hồ. Có những điều, khi xảy ra, ta tưởng là bất khả kháng. Nhưng thời gian không xóa đi, nó chỉ làm rõ hơn những khoảng trống trong lòng.
Khi mọi thứ lắng xuống, khi đời sống dần tìm lại nhịp thở, thì ký ức lại dâng lên như một cơn sóng khác, âm thầm mà dữ dội.
Tôi đã không kịp đến. Không một nén hương. Không một lời giã biệt.
Nỗi oan ấy ở lại, không ồn ào, nhưng dai dẳng. Không trách móc, mà lặng lẽ khắc sâu, khiến lòng người không thể nguôi quên. Tháng Tư, vì thế, không chỉ là tháng của biến động. Nó là tháng của những điều chưa kịp làm. Của những lời chưa kịp nói. Và của những cuộc chia ly không có lần sau để sửa lại.
Le Tuan
==
TẠ LỖI
Hãy tha thứ cho anh Giữa chuyển dời nghiêng ngả Bước chân đi vội vã Lạc mất lối quay về.
*
Hãy tha thứ cho anh Một lần buông rơi tất cả Không một lời tiễn biệt Cuối Tháng Tư não nề.
*
Hãy tha thứ cho anh Ngôi mộ buồn lặng lẽ Không khói hương sớm chiều Không một nén phân ưu.
*
Hãy tha thứ cho anh Những tháng năm xa xứ Mỗi lần nhớ đến em Là một lần ray rứt.
*
Hãy tha thứ cho anh Nếu tình còn mắc nợ Xin gửi về quê hương Một giọt buồn quốc hận.
Tế Luân
THƠ NHẠC KHÚC CẦU HỒN – TẾ LUÂN
==
Tháng Tư
Khúc Tưởng Niệm Sài Gòn 30.4.1975 – TẾ LUÂN
Tháng Tư trở về, không ồn ào, không gọi tên, mà lặng lẽ len vào ký ức như một làn sương mỏng. Có những khoảnh khắc của đời người, tưởng đã trôi qua, nhưng thực ra chỉ đang ẩn mình đâu đó, chờ một ngày thức dậy trong nỗi nhớ. Ngày 30 tháng 4 năm 1975, ngày Sài Gòn đổi thay, là một khoảnh khắc như thế: vừa hữu hạn trong thời gian, vừa vô hạn trong lòng người.
Trong cõi vô thường, thời gian như cất lên một tiếng gọi đau thương từ tháng Tư. Tiếng gọi ấy không chỉ vang lên từ ký ức con người, mà còn dội về từ đại ngàn xanh thẫm, từ bầu trời tím ngắt cuối ngày, từ những con đường Sài Gòn xưa cũ. Những chiếc lá trong thành phố dường như cũng cảm nhận được điều gì đó, húng vàng đi sớm hơn thường lệ, chen lẫn vào những chiếc lá đỏ, tạo thành một bức tranh chao nghiêng, ảm đạm của những ngày cuối tháng Tư.
Đất trời như chuyển mình trong một khúc giao hưởng kỳ lạ. Biển xanh không còn hiền hòa, mà dâng lên những cơn sóng giông bão, gào thét vào bờ cát phơi lưng, như muốn kể lại những biến động của một thời khắc lịch sử, của câu truyện thương tâm từ những thuyền nhân. Đó không chỉ là âm thanh của chiến tranh, mà còn là tiếng lòng của một dân tộc, của Mẹ Việt Nam, vừa đau thương, vừa kiên cường, vừa chịu đựng, vừa bao dung.
Và giữa những biến động ấy, vẫn còn đó hương thơm của ruộng đồng, mùi lúa mới lan tỏa như một lời nhắc nhở rằng sự sống vẫn tiếp diễn. Từ bùn đất, từ mồ hôi, từ nước mắt, con người vẫn đứng dậy, vẫn gieo trồng, vẫn hy vọng. Một bài ca dao âm thầm cất lên, không phải để ca ngợi chiến thắng hay thất bại, mà để chiêm nghiệm về một cuộc đổi dời kỳ lạ của vận mệnh.
Năm mươi mốt năm đã trôi qua. Tháng Tư hôm nay không còn khói lửa, nhưng dư âm của nó vẫn còn đó, âm ỉ, sâu lắng, như một dòng chảy ngầm trong tâm thức mỗi người Việt. Nỗi đau không biến mất, mà chỉ lặng lẽ chuyển hóa, trú ngụ trong ký ức, trong những câu chuyện chưa kể hết, trong những giọt nước mắt không rơi thành lời.
Tháng Tư không chỉ là một mốc thời gian. Đó là một miền ký ức. Một vết hằn của lịch sử. Một lời nhắc nhở về sự mong manh của phận người và sự khắc nghiệt của thời cuộc. Nhưng trên tất cả, đó cũng là lời mời gọi con người biết nhìn lại, biết lắng nghe, và biết cảm thông,
để từ đó, học cách sống sâu hơn, bao dung hơn, và gìn giữ hòa bình như một điều quý giá nhất. Tháng Tư vẫn còn đó. Không mất đi. Không phai nhạt. Chỉ là… đã đi vào lòng người.
Tháng Tư Bài Thơ Còn Lại
Tháng Tư về không gọi tên nỗi nhớ Chỉ gió buồn lặng lẽ bước qua tim Sài Gòn đó, một thời như giấc mộng Vỡ âm thầm như lá rụng im lìm.
Có phải trời hôm ấy nhuộm màu tím Màu ly biệt, hoàng hôn về rất lạ Những con phố bỗng dưng thành xa lạ Người đi rồi… không hẹn một ngày về.
Màu cờ đỏ, mưa rơi như dòng máu Lũ giặc tràn vào, tiếng thét thất thanh Thành phố đêm bỗng rùng mình chết lặng Vạn nỗi đau không cất nổi thành lời.
Biển vẫn xanh mà giông bão không nguôi Sóng gào thét như linh hồn đất nước Khúc giao hưởng của một thời xuôi ngược Viết bằng đời, bằng nước mắt Mẹ thôi.
Từ đại ngàn xanh thẳm đến ruộng đồng Hương lúa mới vẫn âm thầm lan tỏa Giữa đổ nát vẫn nhen lên mầm sống Một câu ca dao, âm hưởng Mẹ hiền.
Năm mươi mốt năm… tháng Tư còn đó Không mất đi, chỉ chìm vào ký ức Để đôi lúc trong đêm dài thao thức Nỗi đau xưa trở lại rất con người.
Tháng Tư ơi, khơi lại những cội nguồn Hãy ở lại như một lời nhắc nhở Rằng lịch sử không bao giờ khép cửa Và lòng người còn mãi những chia ly.
Tế Luân
==
THƠ THÁNG TƯ XƯỚNG HỌA – CAO MỴ NHÂN VÀ THI HỮU
THÁNG TƯ TƠI TẢ. CAO MỴ NHÂN (Bài Xướng) – Kính mời quý thi nhân chấp bút họa bài thơ thú vị này của Nữ Sĩ Cao Mỵ Nhân
THÁNG TƯ HẬN, THÁNG TƯ ĐAU – YÊN SƠN (Viết cho mình, viết giùm cho người)
Tháng Tư lại về. Không cần ai nhắc, không cần một dấu hiệu rõ ràng nào, chỉ cần những dư âm Tết nơi xứ người bắt đầu phai nhạt, hay một buổi chiều xuân nhạt nắng rơi xuống sân vườn cô tịch là lòng tôi đã chùng xuống. Nhớ về… Có những tháng trôi qua như một con số. Có những tháng đi qua như một thói quen. Nhưng cũng có những tháng không bao giờ rời khỏi đời người. Đó là Tháng Tư. Tháng Tư, đối với tôi, không phải là ngày tháng bình thường của thời gian. Nó là một dấu mốc thời gian in hằn trong tâm khảm, là một nỗi đau, một vết cứa sâu trong tâm hồn, một nơi mà ký ức dừng lại, xoáy xuống, rồi lan ra, phủ kín cả tâm can. Có những nỗi đau không có âm thanh, không có tiếng khóc. Không thường có những lời than vãn. Nó nằm im, rất sâu, rất lâu, như một mảnh kim loại nhỏ găm trong da thịt. Mảnh kim loại không đủ nguy hại có thể chết người, nhưng đủ để nhói lên mỗi khi cử động. Và Tháng Tư chính là lúc mảnh kim loại ấy trở mình. Đêm hai mươi chín tháng Tư năm ấy, tôi vẫn còn là một người lính. Không phải hình ảnh một người lính trong sách vở, với chiến tuyến rõ ràng và mệnh lệnh rành rọt, mà là một con người đứng giữa một thực tại đang rạn vỡ. Ở phía tây Sài Gòn, quanh vòng đai phi trường Tân Sơn Nhứt… chúng tôi còn chiến đấu. Chiến đấu không phải vì hy vọng chiến thắng, mà vì không thể buông. Không thể đầu hàng. Có những thứ, một khi đã thấm vào máu như danh dự, trách nhiệm, lời thề… thì không dễ gì đặt xuống, không thể buông bỏ, ngay cả khi biết rằng tất cả đang trượt khỏi tầm tay. Chiến tranh trong những giờ phút cuối không còn là chiến tranh theo nghĩa quen thuộc. Nó không còn là một ván cờ. Nó trở thành một cơn sóng lớn. Và chúng tôi là những con người đứng trước làn sóng hung bạo ấy, cố giữ thăng bằng trên những mảnh vỡ còn sót lại. Tiếng súng vẫn nổ. Nhưng không còn nhịp điệu của chiến thuật. Nó dồn dập như nhịp tim của một cơ thể kiệt sức. Mỗi phát súng không còn nhắm đến chiến thắng, mà như một cách níu giữ một hy vọng mong manh dù biết hy vọng ấy gần như không còn. Nhưng cũng không thể bắn bừa. Đạn dược đã cạn. Mỗi viên đạn được đếm như giọt máu cuối cùng. Trong khi đó, đối phương được che chở bởi những tầng phòng không dày đặc. Chúng tôi chiến đấu trong thiếu thốn, trong bị động, trong một thế trận mà phần thua đã hiện rõ. Người Mỹ đã quay lưng. Người Mỹ đã bỏ rơi chúng tôi, bỏ rơi cái tiền đồn mà họ đã từng dùng chúng tôi để ngăn cản sự thống trị của triết thuyết Cộng Sản. Nhưng chúng tôi vẫn phải chiến đấu để bảo vệ nền tự do dân chủ cho người dân chúng tôi, cho đất nước chúng tôi. Anh em vẫn thay nhau bay. Bay trong những điều kiện khắc nghiệt, bay như những võ sĩ bị trói tay chân, ném lên võ đài trước một địch thủ hung tàn. Người này hết giờ, người khác lên. Không ai nói nhưng ai cũng hiểu… chúng tôi đang ở trong một hoàn cảnh vô vọng. Còn nỗi bi thương nào hơn thế không? Tôi còn nhớ những ánh mắt đêm ấy. Không ai nói với ai một lời gì ngoài những thao tác quen thuộc, ngôn ngữ chiến trận quen thuộc. Những ánh mắt gặp nhau giữa ánh chớp và bóng tối chỉ để xác nhận một điều, chúng tôi vẫn còn có nhau như đã từng mỗi khi xông vào lửa đạn, đánh cược với tử sinh. Và cũng không ai nói với ai đó là đêm cuối. Nhưng ai cũng cảm thấy sự bất lực qua từng viên đạn bắn ra. Nhưng ai cũng biết một điều gì đó đang đến hồi kết thúc. Không phải chỉ là một trận đánh mà là cả một thời đại. Viết đến đây, mắt tôi lại nhòe đi. Tôi đứng dậy, bước ra sau vườn, châm một điếu thuốc. Gió thổi qua hàng chuông gió, những tiếng leng keng như tiếng gọi từ một cõi nào xa lắm. Tôi hít sâu. Thở mạnh. Rồi quay vào, tiếp tục viết. Chuyến bay khuya hôm đó… sau khi bàn giao vùng trách nhiệm, tôi trở về cư xá. Hai đứa học trò nhỏ tôi mang về từ trưa hôm trước vẫn còn thức. Hai đứa, như tôi vẫn nói đùa, “trói gà không chặt”. Chúng tôi vừa nằm xuống thì nghe pháo kích dữ dội vào phi trường. Rồi một tiếng rít xé tai – hoả tiễn 122 ly. Nhưng… không nghe tiếng nổ. Cho đến sáng hôm sau, mọi người trong cư xá mới biết là đã thoát chết giữa đêm qua khi nhìn thấy phần đuôi của chiếc hoả tiễn đang cắm sâu vào lòng đất bên cạnh cư xá độc thân. Buổi sáng hôm ấy đã không phải là một buổi sáng bình thường, khi thấy chiếc Tinh Long 7 của phi đoàn tôi bị bắn rơi ngoài vòng đai phi trường, trước nhưng đôi mắt hoảng loạn của anh em. Đó là giọt nước làm tràn ly, không ai nói với ai lời nào, mỗi người chạy đi một ngả. Tôi cùng hai chú em đèo nhau lên chiếc Lambretite, chạy khắp các bãi đậu tìm phi cơ thoát thân. Nhưng những chiếc còn bay được đã bay đi đâu hết. Đang đứng ngơ ngác thì được một niên trưởng kéo tôi chạy theo đến một chiếc C-130 không còn nguyên vẹn, để làm phận sự phi công phụ. Chiếc phi cơ cất cánh từ cuối đường băng. Không đủ tốc độ. Không đủ điều kiện. Nhưng vẫn phải bốc mình lên nhờ vào bốn động cơ bán phản lực. Chiếc máy bay gượng lên, nhắm hướng Vũng Tàu rồi… trực chỉ Utapao, Thái Lan mang theo 115 con người không biết họ đã lên bằng cách nào. Chiều hôm đó, 29 tháng 4 năm 1975, tôi và một số anh em trong phi hành đoàn đã sững sờ rơi nước mắt khi thấy một đội ngũ quân nhân người Mỹ bắc thang lên thân máy bay sơn bỏ huy hiệu Không Quân VNCH, sau khi mọi người bị tước khí giới trước khi bước ra khỏi thân phi cơ. là tôi đã buộc phải rời khỏi đất nước trong bàng hoàng, trong vô thức, không kịp biết được tin cha mẹ anh chị em đã bị thất lạc phương nào mấy tháng qua trong chiến tranh. Không kịp báo tin với người vợ sắp cưới chỉ ở cách phi trường khoảng 6 cây số! Và cứ thế, bị đưa đẩy dọc theo hành trình trở lại đất nước nầy với thân phận vô gia đình, vô tổ quốc. Mãi đến vài năm sau mới liên lạc lại được! Cho đến bây giờ, sau hơn nửa thế kỷ, cái “không kịp” ấy vẫn còn nguyên vẹn trong tôi, như một khoảng trống không bao giờ có thể lấp đầy. Không kịp nhìn cha mẹ lần cuối. Không kịp nói một lời từ biệt với bất cứ người thân yêu nào. Không kịp khép lại một cánh cửa đời quân ngũ theo cách mà một con người lính bình thường đáng được có. Có những cuộc chia ly không có lời từ biệt, và chính vì thế, chúng không bao giờ kết thúc. Tôi ra đi trong một trạng thái không hoàn toàn tỉnh táo. Không phải chỉ hoảng loạn mà là tê điếng. Mọi thứ diễn ra quá sức nhanh, quá sức bất ngờ, con người tôi không còn cảm xúc rõ ràng. Chỉ còn hành động. Chỉ còn bản năng. Tôi ra đi, như một người bị đẩy ra khỏi chính cuộc đời mình trong khi trong lòng vẫn còn một niềm tin rất mong manh rằng đây chỉ là tạm thời. Rằng rồi sẽ có ngày trở lại. Rằng quê hương không thể biến mất chỉ qua một đêm. Rằng những gì đã xây dựng, đã sống, đã yêu, không thể bị xóa đi dễ dàng như vậy. Có nhiều lần tôi nghĩ, sự ra đi bất chợt của tôi sẽ không nhiều hối tiếc, nhiều đớn đau nếu dân tộc tôi được tự do hạnh phúc hơn, đất nước tôi trở nên thanh bình, vươn lên oai nghi, dũng mãnh như con rồng, con hổ. Nhưng rất tiếc! Rất tiếc! Thời gian, bằng sự im lặng kéo dài của nó, đã dần dần dạy tôi hiểu. Không có ngày trở lại như tôi từng mong đợi. Không phải vì không muốn, mà vì con đường đã khép lại từ lúc Việt cộng xâm chiếm miền Nam; chúng đã và đang gây ra bao nhiêu đau thương cho nòi giống, cho mảnh giang sơn gấm vóc của ông bà, tiên tổ. Mất quê hương không phải là một biến cố xảy ra trong một ngày. Nó là một quá trình. Ban đầu là sự bàng hoàng. Sau đó là niềm hy vọng. Rồi niềm hy vọng mỏng dần đi theo ngày tháng. Và cuối cùng là một sự chấp nhận trong im lặng. Không phải chấp nhận vì đồng ý mà vì dường như không còn cách nào khác. Những năm đầu nơi quê hương thứ hai nầy, mọi thứ đều xa lạ. Ngôn ngữ, phong tục, con người, đời sống. Tôi đã học tái sinh trước khi học cách tồn tại. Học cách hiểu người khác, trước khi có thể nói cho người khác hiểu mình. Học cách đứng vững trên chính đôi chân mình khi trong thâm tâm vẫn không ngớt đợi chờ một phép lạ, một ánh sáng nhỏ nhoi ở cuối đường hầm. Người ta có thể quen với nhiều thứ. Quen với thời tiết khác, quen với nhiều món ăn lạ, quen với nhịp sống của một dân tộc khác. Nhưng có một thứ không thể làm quen đó là tình tự quê hương đã mất. Quê hương không chỉ là nơi mình sinh ra. Nó là nơi mà mọi thứ đều có ý nghĩa mà không cần rao giảng. Một con đường, một góc phố, một tiếng rao, một mùi hương… tất cả đều mang theo một phần đời. Khi mất đi, không chỉ là mất một nơi chốn, mà là mất cả một hệ ký ức, một cấu trúc của đời sống con người. Có những buổi sáng, tôi tỉnh dậy và trong một khoảnh khắc rất ngắn, tôi quên mất mình đang ở đâu. Trong khoảnh khắc đó, tôi vẫn là con người của ngày xưa, sống trong một thành phố quen thuộc, những đường bay dọc ngang trên bầu trời miền Nam nước Việt mà tôi đã thuộc lòng. Nhưng rồi thực tại trở về, không ồn ào, nhưng dứt khoát, như một bàn tay ai đó đặt nhẹ nhàng lên vai, nhắc tôi rằng tất cả đã trở thành dĩ vãng. Có nhiều lúc tôi thảng thốt nghĩ rằng: Sợ một mai thân nằm yên lòng đất Hồn lẻ loi tìm không thấy quê nhà Năm mươi mốt năm trôi qua. Một đời người có thể chứa đựng bao nhiêu ký ức? Có thể chịu đựng bao nhiêu mất mát? Có thể giữ lại được bao nhiêu điều mà không đánh mất chính mình? Tôi đã sống. Đã làm việc. Đã xây dựng lại cuộc đời. Đã có những niềm vui, những thành tựu, những mối quan hệ xã hội rất tốt. Nhưng tất cả những điều đó, dù có thật, dù có ý nghĩa, vẫn không thể thay thế được những gì đã mất. Tôi nhớ những ngày tháng trước năm 1975. Không phải vì chúng hoàn hảo, mà vì chúng là một phần đời quan trọng của tôi. Những sáng nắng chiều mưa, những ngày lộng gió, những đường bay quen thuộc, những khung trời bao la, những sinh tử cận kề, những cuộc gặp gỡ, những câu chuyện, những ước mơ chưa kịp thành hình. Một đời sống bình thường như thế nhưng khi mất đi, tôi mới hiểu giá trị của nó sẽ không bao giờ có thể thay thế được. Ký ức, theo thời gian, không phai nhạt đi như người ta tưởng. Nó được chắt lọc. Những gì không quan trọng sẽ rơi rụng tự nhiên. Những gì còn lại sẽ trở nên rõ nét hơn, tinh khiết hơn, và vì thế, cũng đau xót hơn. Và tôi mang trong mình một nỗi hận. Nhưng không phải là một nỗi hận đơn giản. Nó không hướng về những con người bình thường. Tôi không hận người dân Mỹ mà tôi đã gặp, đã sống cùng, đã nhận được sự giúp đỡ của họ để xây dựng lại cuộc đời. Tôi hiểu rằng con người, ở đâu cũng có những điểm tương đồng giữa thiện và ác, hiểu biết và giới hạn. Nhưng tôi không thể không nghĩ đến những quyết định sai lầm của hệ thống cầm quyền chính phủ Mỹ và đồng minh, những phong trào phản chiến ngu xuẩn, những cơ quan truyền thông dối trá, lừa gạt dư luận. Những điều nầy đã góp phần làm thay đổi số phận của những quốc gia nhỏ bé, chậm tiến như Miền Nam Việt Nam của tôi. Một cuộc chiến không chỉ được quyết định bởi những gì xảy ra trên chiến trường mà nó được quyết định bởi những gì xảy ra trong lòng xã hội, qua truyền thông, trên trường chính trị. Khi một bên không còn được thế giới ủng hộ, không còn được bạn bè tin tưởng thì dù còn đầy đủ vũ khí cũng không thể giữ được, huống chi… chúng tôi đã phải chiến đấu với cả một thế lực cộng sản quốc tế hùng mạnh khi vũ khí đã bị chính những người bạn đồng minh tước bỏ đi. Nỗi hận của tôi không phải để nuôi dưỡng oán thù mà là để nhắc nhớ cho chính mình, nhắc nhở con cháu đời sau những gì đã xảy ra cho quê hương, dân tộc tôi không bị đi vào quên lãng. Sau tất cả, điều còn lại trong tôi không chỉ là nỗi đau. Mà là một ước vọng. Ước mong một ngày nào đó, được trở về trong tự do, trong danh dự. Không phải để bắt đầu lại, mà chỉ để nhìn lại. Để bước trên những con đường cũ dù chúng đã bị thay tên đổi họ một thời. Để nghe lại những âm thanh, những tiếng nói quen thuộc ở khắp mọi nơi. Để thấy lại một quê hương bừng sáng, một xã hội văn minh trong tình người. Được thật sự hãnh diện với 4 chữ Con Rồng Cháu Tiên. Ở tuổi này, tôi không còn sợ nhiều điều. Không còn sợ mất mát vì đã mất mát quá nhiều. Không còn sợ thay đổi vì đã sống qua những thay đổi to lớn mà chỉ sợ rằng mình sẽ không còn đủ thời gian. Không đủ thời gian để thấy ngày ấy. Không đủ thời gian để chứng kiến một kết thúc tốt đẹp như thế cho quê hương dân tộc mình; để biết rằng những nghiệt ngã mình đã trải qua trong đời không trở nên vô nghĩa. Sự chờ đợi nào cũng không mấy dễ dàng. Khi còn trẻ thì có dễ dàng hơn, nhưng khi thời gian không còn nhiều, mỗi ngày trôi qua đều mang theo một cảm giác bồn chồn, lo sợ. Không phải vì muốn đạt được điều gì, mà vì sợ không còn cơ hội ấy. Tháng Tư lại đến. Vẫn là những cơn mưa nhẹ buổi sáng, những đám mây trắng bềnh bồng ở buổi chiều dài, những khoảng lặng khó gọi tên… Những ghi nhận nầy không phải để làm thơ, khp6ng phải là thời tiết mà là một phần của đời sống nội tâm, một vùng ký ức mà mỗi năm, vào đúng thời điểm này, lại mở ra trong tôi. Tháng Tư hận. Tháng Tư đau. Mỗi năm vẫn cứ theo nhau trở về Nhưng nếu chỉ có hận và đau, con người đã không thể đi qua hơn nửa thế kỷ. Vì ở đâu đó, rất sâu, rất nhỏ, vẫn còn một thứ khác. Một thứ không sôi nổi lắm, không mạnh mẽ nhiều nhưng bền bỉ. Đó là niềm hy vọng. Hy vọng rằng một ngày nào đó, dù mình còn hay không, trên mảnh đất hình cong chữ S ấy, người dân sẽ được sống an bình, hạnh phúc mà không phải cúi đầu, lo sợ. Sẽ có những tiếng nói không bị bóp nghẹt. Sẽ có những giấc mơ không bị dập tắt. Và khi ngày đó đến, có thể, ở một nơi nào đó rất xa, những người đã ngậm ngùi nằm xuống sẽ mỉm cười. Dù muộn màng nhưng cũng có thể sẽ che giấu được những niềm đau, nỗi hận trong lòng của những người võ sĩ bị ném lên đấu trường sanh tử với tay chân bị trói chặt.
“Tháng Tư lại về, lòng người tị nạn lại xót xa nhớ về quê hương sau 51 năm xa xứ.”NGUYỄN ĐÌNH HÒA
Xin mời qúy vị thưởng thức vài nhạc phẩm của tôi đã viết.
Quê Hương Trong Ta.
Bóng Xưa Chiều Ấy.
Vụng Dại Những Chiều
Ns. Nguyễn Đình Hòa.
==
THƠ MỸ HOÀN
THÁNG TƯ NHỚ EM – MỸ HOÀN
Em đã về đây mỗi tháng Tư
Về quê ngồi lại giữa sương mơ
Có nghe sương rớt bờ vai cũ
Bơ vơ mộng mị chốn xa mờ
*
Để tháng Tư như dòng nước chảy
Bôn ba năm tháng nước về đâu
Ta gục xuống đôi bàn tay lạnh
Lòng nghe rơi rớt ánh tinh cầu
*
Ta nghe mãi bên bờ sông vỗ
Những lời buồn của tháng trôi qua
Lời tình như sóng dòng sông cuộn
Nước mắt nào còn mãi mưa sa
*
Em ôm trái tim nào đã lỡ
Một lời thề mộng ước mai sau
Một nụ cười như vừa nở lại
Cho ta êm ái mối tình sầu
*
Em đã về đây mỗi tháng Tư
Về đây ta kể một lời thơ
Em mặc áo dài hoa cúc nở
Cùng ta đi suốt một nẻo bờ
*
Rồi em cảm động từng cơn khóc
Vạt tóc nào đẫm lệ quê hương
Tổ tiên ta đã từng hơi thở
Dựng Sơn hà một giấc như mơ
*
Nhớ trong tâm tưởng ngày hoa gấm
Nụ môi thơm khép nép hải đường
Ta muốn mở lòng bao câu nói
Lời yêu kia còn mãi vấn vương.
Lê Mỹ Hoàn
2/2025
**
NẮNG HẠN THÁNG TƯ
Tiếng kêu tha thiết gọi đàn
Những ngày nắng hạn đâu tàn trú thân
Lòng ta như thể nắng ran
Thu Đông tan tác, Hạ hoang mang về
Nơi đây đâu phải chốn quê
Cho nên nắng hạn lê thê mỏi mòn
Khô đi những giọt máu hồng
Dần dà cạn hết giấc nồng trong tim
Đôi môi khao khát đi tìm
Tiếng kêu mòn mỏi đắm chìm nơi đâu
Quê hương mấy cuộc bể dâu
Trong ta một nỗi u sầu chưa tan
Thời gian lặng lẽ lướt nhanh
Làm thêm héo nụ cười xanh thuở nào
Ôi cơn nắng hạn lao đao
Hồn ta nứt nẻ ngày vào thángTư.
Lê Mỹ Hoàn
4/20/1990
==
ĐỢT NẮNG THÁNG TƯ
Đông vừa qua ở cuối đoạn đường
Xuân đến những ngày nắng ấm hơn
Tưởng như mùa Hạ nhưng bất chợt
Lạnh lại về cơn sốt miên man
*
Cơn sốt cao, đầu như bổ củi
Như nặng lòng đợt nắng tháng Tư
Vàng sốt bủa vây ngày trốn chạy
Qua cánh đồng nắng trải như phơi
*
Cơn sốt lên cơn mơ lại đến
Chạy vòng quanh chạy đến chân tường
Nghe mơ hồ ai đang hạch hỏi
Bao người ngồi bó gối như ta
*
Rồi tự nhiên nghe mùi muối mặn
Đang lênh đênh trên biển xuôi dòng
Chợt thét gào như cơn thịnh nộ
Biển trời đang cuộn một cơn dông
*
Ta bên nhau thì thầm cầu nguyện
Xin trời cho gió lặng sóng êm
Bỗng mở mắt dường như im lặng
Tự Do đang cười với gió Xuân.
Lê Mỹ Hoàn
3/26/2025
==
THƠ TRẦN CẨM THÀNH
Tháng Tư cảm tác
Tha hương mái tóc của ngày xanh
Năm tháng bạc màu trán vết nhăn
Canh cánh bên lòng bao nuối tiếc
Bâng khuâng tấc dạ những ăn năn
Non sông biến dạng người xa cội
Đất khách dung thân kẻ rã hàng
Nặng trĩu tâm tư đời viễn xứ
“Nỗi buồn nhược tiểu” mãi âm vang.
Trần cẩm Thành- 4/2026.
**
==
THÊM MỘT THÁNG TƯ QUA – HUY VĂN
* Ngày đến. Đêm Trôi. Ngày lại đến Thời gian lắng đọng cuối tháng Tư Tháng của thiên thu buồn lệ nến khóc cảnh miền Nam hóa ngục tù.
*
Máu ai tuôn chảy nơi góc phố?! Chốt thí làm sao chống sơn hà!? Tiếng hờn vọng mãi vào thiên cổ Một trang Hận Sử, mấy Hùng Ca?!
*
Cuối Xuân cuồng lũ dâng hồng thủy Đành buông nợ Nước, phụ tình Nhà! Sông núi điêu linh vì ngạ quỷ Bao giờ yên sóng, lắng phong ba?
*
Ngồi đây mà nhớ thời chiến quốc Một thuở bi hùng lúc dọc ngang Chớp mắt thấy sương pha màu tóc Một tiếng than ôi! Lệ ứa tràn.
*
Nửa đời chìm nổi nơi đất khách Mỗi năm thêm một tháng Tư qua Quốc thù vị báo đầu tiên bạch (*) Thế sự du du nại lão hà. HUY VĂN
* (*)THUẬT HOÀI Thế sự du du nại lão hà? Vô cùng thiên địa nhập hàm ca. Thời lai đồ điếu thành công dị, Vận khứ anh hùng ẩm hận đa. Trí chủ hữu hoài phù địa trục, Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà. Quốc thù vị báo đầu tiên bạch, Kỷ độ Long Tuyền đới nguyệt ma.
ĐẶNG DUNG
* Bản dịch của Tản Đà: Việc đời man mác, tuổi già thôi! Đất rộng trời cao chén ngậm ngùi. Gặp gỡ thời cơ may những kẻ, Tan tành sự thế luống cay ai! Phò vua bụng những mong xoay đất, Gột giáp sông kia khó vạch trời. Đầu bạc giang san thù chưa trả, Long tuyền mấy độ bóng trăng soi.
==
==
MỜI ĐỌC 2 BÀI VIẾT ĐẶC SẮC CỦA KÝ GIẢ KIỀU MỸ DUYÊN DƯỚI ĐÂY
Quê hương tôi là Quảng Ngãi, nơi có Núi Ấn soi bóng xuống Sông Trà Khúc hiền hòa. Dù xa quê từ thuở bé, hình ảnh ấy vẫn in sâu trong tâm khảm như một phần máu thịt không thể tách rời.
Từ nhỏ, tôi theo người bác ruột vào sống tại Đà Lạt, ở vùng Trại Mát, nơi bác hành nghề Đông y. Cuộc sống nơi cao nguyên yên tĩnh phần nào giúp tôi quên đi những biến động của quê nhà, cho đến khi chiến sự lan rộng khắp miền Trung vào đầu năm 1975.
Ngày 21 tháng 3 năm 1975, khi tình hình các tỉnh Tây Nguyên trở nên rối ren, tôi quyết định trở về Quảng Ngãi chỉ với một mong muốn giản dị là thăm mẹ đang lâm bệnh. Khi ấy tôi vẫn còn là một học sinh, chưa hiểu hết thế nào là chiến tranh, nhưng nỗi lo sợ thì hiện rõ trong từng hơi thở. Người ta truyền tai nhau rằng ban đêm, Việt Cộng thường lén xuống các quận gài mìn, khiến ai nấy đều sống trong cảnh phập phồng, bất an.
Gia đình tôi lại có nhiều người liên quan đến Việt Nam Quốc Dân Đảng; từ bác, chú cho đến ông Sáu, nên sự lo lắng càng chồng chất. Cứ mỗi khi màn đêm buông xuống, các chú, các bác lại âm thầm đạp xe vào thành phố để ngủ nhờ, tránh những hiểm nguy có thể ập đến bất cứ lúc nào.
Đêm 22 và 23 tháng 3 năm ấy, tôi ngủ bên mẹ tại vùng phía tây quận Tư Nghĩa. Nhưng đó không còn là những đêm bình yên. Tiếng súng, tiếng pháo kích vang lên liên hồi, dội vào lòng người những cơn run sợ. Mỗi tiếng nổ như xé toạc màn đêm, khiến tôi, một đứa học trò, chỉ biết nằm im, tim đập dồn dập, cầu mong cho trời mau sáng.
Sáng ngày 24 tháng 3 năm 1975, không chịu nổi sự bất an, tôi cùng mẹ rời nhà, tìm đến tá túc tại nhà ông Sáu ở khu vực Thị xã Cẩm Thành, Quảng Ngãi, trung tâm của tỉnh. Đó là một quyết định đầy lo âu nhưng cần thiết, bởi lúc ấy, chiến tranh đã thực sự chạm đến từng mái nhà, từng con người.
Những ngày tháng ấy, tôi không chỉ chứng kiến sự biến động của đất nước, mà còn cảm nhận rõ sự mong manh của đời người, của tình thân trong cơn binh lửa vì anh tôi đã mất trước đó vài tháng tại Pleiku, cậu Tư cũng tử trận tại An Lộc, và người hàng xóm tại Đa lạt cũng bị tử vong bởi pháo kích tận vùng I chiến thuật mà chưa kịp mang xác về chôn,. Dù chỉ là một học sinh, tôi đã sớm hiểu rằng quê hương không chỉ là nơi chôn nhau cắt rốn, mà còn là nơi gắn liền với ký ức, bà con xóm giềng, với yêu thương, và cả những nỗi đau không bao giờ quên.
Chiều ngày 25 tháng 3 năm 1975, trước nhà ông Sáu là nơi có tiểu khu của binh lính Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, mọi sinh hoạt ban đầu vẫn diễn ra như thường lệ. Những người lính Sư Đoàn II Bô Binh vẫn qua lại, vẫn giữ nhịp sống quen thuộc như chưa có điều gì sắp sửa đổi thay. Nhưng đến xế chiều, không khí bỗng chùng xuống. Tôi thấy từng chiếc xe Jeep, xe nhà binh chở đầy binh sĩ nối nhau rời đi, hướng về phía Đà Nẵng. Một linh cảm bất an dâng lên trong lòng, dù khi đó tôi vẫn chưa hiểu hết ý nghĩa của những chuyển động ấy.
Tin đồn bắt đầu lan nhanh trong xóm. Người này truyền cho người kia, không ai biết thực hư ra sao. Có người nói phải “ăn vội rồi đi ngay”, có người bảo phải gom đồ đạc mà chạy, vì chiến sự đã quá gần. Người ta nhắc đến Ông Ngô Quang Trưởng, vị tướng đang cố gắng chống lại làn sóng tiến công từ phía Việt Cộng. Nhưng tất cả chỉ là những lời nghe lại, không kiểm chứng, không rõ nguồn. Trong hoàn cảnh ấy, sự thật không còn quan trọng bằng nỗi sợ.
Gia đình tôi cũng hoang mang như bao gia đình khác. Bữa cơm chiều hôm đó vắng lặng lạ thường. Tôi không thấy các chú, các bác, và cả ông Sáu trở về. Có lẽ họ đã đi đâu đó, hoặc đã nghe được điều gì khẩn cấp hơn mà chúng tôi không biết. Chỉ có Dượng Tám mỗi sáng vẫn thường mở chiếc radio Sony nhỏ, nghe đài BBC rồi kể lại tình hình. Nhưng những mẩu tin rời rạc ấy cũng không đủ giúp chúng tôi hiểu rõ chuyện gì đang xảy ra, chỉ càng làm lòng người thêm rối bời.
Mẹ tôi đang bệnh nặng, không thể ăn uống gì. Tôi nhìn tô cháo bà để lại, lòng nghẹn lại. Không còn thời gian để nghĩ nhiều, tôi húp vội những muỗng cháo nguội để dằn bụng. Đó không phải là một bữa ăn, mà là sự chuẩn bị cho một cuộc chạy trốn không biết ngày về.
Bên ngoài, dòng người đã bắt đầu đổ ra Quốc lộ 1, hướng về phía Đà Nẵng. Tiếng gọi nhau í ới, tiếng bước chân vội vã, tiếng xe cộ lẫn trong sự hỗn loạn. Tôi biết mình phải đi, dù lòng còn nặng trĩu.
Mẹ tôi không đi nổi. Bà nhìn tôi, ánh mắt vừa lo lắng vừa đau đớn. Bà bảo tôi cứ theo hàng xóm mà đi, đừng chần chừ. Lời nói ấy như một nhát dao cắt vào tim. Tôi đứng đó, giữa giây phút chia ly, không biết phải nói gì hơn ngoài một lời từ biệt nghẹn ngào.
Tôi quay đi, hòa vào dòng người chạy loạn, mà phía sau là bóng mẹ tôi đang dần khuất. Trong khoảnh khắc ấy, tôi hiểu rằng mình đã bước sang một ngã rẽ khác của cuộc đời, nơi mà tuổi học trò khép lại, nhường chỗ cho những tháng ngày lưu lạc, và nỗi nhớ quê nhà, nhớ mẹ, sẽ theo tôi suốt cả cuộc đời.
Đêm 25 rạng ngày 26 tháng 3 năm 1975 là một ký ức không bao giờ phai mờ trong cuộc đời này, một ngày mà ranh giới giữa sống và chết mong manh như sợi chỉ. Khi đó, cuộc chiến đã lan rộng khắp miền Trung, và những vùng như Quảng Ngãi đã lần lượt rơi vào tay Việt Cộng trước khi Sài Gòn sụp đổ không lâu sau đó.
Đêm ấy, tôi cùng dòng người hoảng loạn tìm đường chạy giặc. Không còn ai nghĩ đến tài sản hay tương lai, chỉ còn một ý niệm duy nhất là phải sống. Tôi theo dòng người băng qua con dốc Bình Liên, thuộc quận Bình Sơn. Con dốc ngày thường vốn hiền hòa, nhưng hôm đó trở thành một địa ngục trần gian.
Tiếng pháo kích bất ngờ dội xuống. Những tiếng nổ chát chúa xé toạc không gian, đất đá tung lên mù mịt. Người ngã xuống từng loạt. Có người trúng đạn, có người bị mảnh pháo xé thân, có người chỉ vì quá hoảng loạn mà bị dẫm đạp trong dòng người tháo chạy. Tiếng khóc, tiếng la hét, tiếng gọi nhau trong tuyệt vọng hòa lẫn vào nhau, tạo thành một âm thanh kinh hoàng mà đến nay tôi vẫn còn nghe vang vọng trong tâm trí.
Tôi không còn nhớ mình đã chạy như thế nào, chỉ biết bản năng sinh tồn đã đẩy tôi lao xuống một bờ ruộng bên đường. Chính quyết định trong tích tắc ấy đã cứu mạng tôi. Nằm sát mặt đất, tim đập dồn dập, tôi nghe rõ từng tiếng nổ, từng bước chân dẫm đạp phía trên. Mùi khói, mùi đất, và cả mùi tử khí lan trong không khí khiến tôi rùng mình.
Khi cơn pháo kích tạm lắng, tôi mới dám ngẩng đầu lên. Trước mắt là một cảnh tượng không thể diễn tả hết bằng lời: người nằm la liệt, kẻ sống sót thì thất thần, ánh mắt vô hồn. Con đường chạy loạn giờ đây phủ đầy máu và nước mắt
Tôi tiếp tục hòa vào những người còn sống, lặng lẽ đi trong đêm tối, không còn sức để khóc hay nói. Sáng hôm sau, khi ánh bình minh le lói, tôi lần bước ra được thị trấn Châu Ổ, rồi từ đó tiếp tục hướng về Chu Lai. Đó là một hành trình đi bộ đầy gian nan, nhưng ít nhất, tôi biết mình vẫn còn sống.
Ngày 26 tháng 3 năm ấy không chỉ là một ngày chạy loạn. Đó là một vết hằn lịch sử trong đời tôi, một minh chứng cho sự tàn khốc của chiến tranh và sự mong manh của kiếp người. Tôi sống sót, nhưng ký ức ấy mãi mãi ở lại, như một lời nhắc nhở rằng cuộc sống hôm nay đã được trả giá bằng biết bao sinh mạng và nước mắt.
Niềm khát-vọng ngùn-ngụt vút lên cao, mải-miết tìm Trăng hiền-hoà khả-ái. Trăng vẫn còn gục ngủ trong thành đêm sừng-sững âm-u.
Những vệt sáng đèn pha vẫn lia-lịa quét không-trung, nào đã thấy muôn vì sao đang trốn lủi? Mắt lệ mờ nhìn những trái hoả-châu nối tiếp nhau mưa sáng rực cháy bốn phương trời, lòng rạo-rực, mơ Thanh-Bình, mãi tưởng chừng đây dạ-hội hoa-đăng.
Những tiếng phi-cơ ì-ầm sấm động, những chùm đại-bác bạt núi long trời, những tràng liên-thanh nổ tan ròn-rã, xé không-gian, khua giấc ngủ rừng khuya, dậy thôn xóm tiêu-điều, lòng rạo-rực, mơ Thanh-Bình, mãi tưởng chừng đây tưng-bừng dạ-khúc đón xuân sang.
Rồi khi thôn rừng ngừng im tiếng súng, khi hoả-châu tắt sáng, khi những đốm lửa đạn không còn vun-vút đuổi nhau như sao trời đổi hướng, đêm tối vẫn không lùi bước, thành đêm vẫn sừng-sững âm-u, quanh đâu đây nghe khắc-khoải lòng đêm đang thổn-thức, cây lá thở dài, dế khóc nỉ-non, sương đêm sụt-sịt, lòng rạo-rực, mơ Thanh-Bình, nghe thấm buồn như lời kể-lể của những người cô-phụ bi-thương:
Ðằng-đẵng bao năm trường chinh-chiến, tím chiều ngập phủ khắp quê hương. Bom đào ao, đạn cầy ruộng, ruộng xanh um cỏ dại, ao đầy ắp thịt xương.
Hận thù bão táp, mã-tấu tung bay, đau-đớn ngả-nghiêng, bao thôn tre quằn-quại trong rên xiết.
Việt-Nam ơi! thân mòn sức kiệt, mảnh hình-hài tan nát tả-tơi. Chúa ơi, Mẹ ơi! Người ở đâu, sao thành đêm vẫn âm-u sừng-sững? Tôi “thắp nến nguyện cầu, đâu dám rủa nguyền bóng tối” (*). Hồn tôi đây, trí tôi đây, hỡi gió ngàn lồng-lộng! Kéo bổng lên cho Người thấu nghe niềm khát-vọng, lòng rạo-rực, mơ Thanh-Bình, sao Trăng hiền vẫn gục ngủ trong thành đêm sừng-sững âm-u?
-II-
Ðêm âm-u, gió mát vi-vu, dù cho dịu-dàng mơn trớn thiết-tha, vẫn chẳng ru ngon giấc ngủ cô-đơn chập-chờn thao-thức. Tiếng chó tru ghê hồn không át nổi tiếng đại-bác rền vang.
Rồi một sáng xuân mờ sương xốn-xang, phố phường ngổn-ngang quân-trang binh-khí, liệng bỏ hết cho một nhà thuận-hoà, hoan-hỉ, cho chiến-trường dai-dẳng bặt tiếng im hơi. Giáo-đường khắp nơi không ngơi lời kinh tiếng hát: “Kinh Cầu Hoà-Bình” dập tắt chiến-chinh. Thành phố bỗng giật mình ngơ-ngác, thôn ấp chợt sửng-sốt bàng-hoàng. Lạ kìa! màu cờ sao ướt đẵm màu máu thắm loang?
Biển Ðông vẫy sóng trường-giang,
Biệt-ly nước mắt nặng mang ân-tình.
Nghẹn-ngào Mẹ đứng lặng thinh,
Nhìn con dặn với: “Nhớ tình cố-hương!”
Mẹ về chăm giữ đồng nương,
Cho vàng bông lúa ngát hương thôn làng.
Giờ thì mất cả nương đồng,
Thôi đành phó mặc, chẳng màng “vinh-quang”.
Ngày đêm nghe réo loa vang:
“Hoà-bình công-bố, xoá tan hận-thù.”
Hoà-bình lại ở chiến-khu,
Hận-thù mau gót lù-lù về đây.
Ô hay! Lành-lạnh heo may, ùn-ùn mây bay. Sao Trăng gầy đã vội đuổi ngay ngày xanh non-nớt. Mặt trời trốn mất, chẳng để lại chút nóng hâm nóng tình thương. Bóng đêm âm-u gian dối đồng-loã gạt lường. Trùng-dương lại lồng-lộn thét gào khóc thương tương-tàn cốt nhục:
Núi rừng địa ngục,
Tủi nhục xót-xa,
Thân người: xác vật thây ma,
Lìa con, lìa vợ, lìa cha, lìa chồng.
Mồ-hôi tưới ướt ruộng đồng,
Lúa vàng đâu thấy? Thấy hồng máu loang:
Chàng đi “học-tập” ngút ngàn,
Ở nhà thiếp chít khăn tang mãn đời.
Tấm thân trâu ngựa rã-rời:
“Anh-hùng lao-động”, thấu trời than van.
Giành nhau từng dái khoai lang,
Giành nhau chỗ đứng xếp hàng nối đuôi.
Con thuyền ngược sóng ra khơi,
Ruột se bụng thắt, sao tươi nụ cười?
Ôi, nụ cười nước mắt! Đắng cay chua-chát!
Ôi, cơ-đồ sụp nát, nhân-tình đảo-điên!
Biển Ðông đầy ắp oan-khiên,
Quặn đau vĩnh-biệt Mẹ hiền thân yêu.
Mẹ Việt-Nam truân-chuyên. Mẹ Việt-Nam u-uất. Mẹ nhắm nghiền đôi mắt. Mẹ lắng nghe trong bóng đêm hiền-hoà giả dối, tiếng đàn con nỉ-non da-diết niềm khát vọng tha-thiết vô biên. Khát vọng bình-yên. Khát vọng triền-miên. Sao trăng hiền vẫn biền-biệt cho đêm tối bao vây?
Các con Mẹ đâu rồi?
Mẹ mỏi-mắt trông vời.
Mẹ đứng đây, Mẹ giang tay thành-khẩn:
Hãy nhìn xem, nước Việt-Nam u-ẩn!
Hãy nhìn xem, đồng-bào Việt kiên-nhẫn đau thương!
Bao giờ hết đổ máu xương?
Bao giờ tiếng hát giáo-đường ngân-nga ?
Bao giờ nước Việt thái-hoà,
Tự-do công-chính, nhà nhà an vui?
(*) cách-ngôn Tây:”Thà thắp lên một ngọn nến, còn hơn ngồi nguyền rủa bóng tối”
Đất nước Việt Nam đang bị đảng cộng sản cai trị bằng bạo lực.
Bọn cộng sản Việt Nam chỉ là một bọn cướp, may mắn chiếm được nước Việt do các thế lực quốc tế tranh nhau trên bàn cờ thế giới. Chúng không phải là một chính quyền đúng nghĩa!
Chúng ta không biết thế giới có nước nào hiểu rõ bọn cộng sản đang lừa họ hay không?
Nhưng chúng ta biết rõ một điều: nước nào cũng vì lợi cho nước họ trước hết, không nước nào hy sinh cho dân Việt chúng ta. Vì vậy, vận mệnh nước Việt vẫn phải do người Việt hành động, nếu dân ta thực sự muốn cứu lấy dân tộc Việt Nam.
Bọn cầm quyền cộng sản ở Việt Nam chỉ muốn một điều: dân VN càng ngu càng dễ cho chúng nắm đầu. Chúng không hề có ý giúp cho dân giàu, nước mạnh.
Đối với chúng, cộng sản chủ nghĩa hay tư bản chủ nghĩa, không có gì quan trọng cả. Chúng sẽ đi theo và áp dụng bất cứ thứ gì mà chúng có thể dựa vào để tồn tại, như cộng sản Nga, Tàu đã giúp chúng có cơ hội đó thì chúng theo ngay.
Nếu trong tương lai, Mỹ hay bất cứ nước Tây Âu nào cho chúng có cơ hội để tiếp tục việc chúng đang làm thì chúng sẽ gọi Mỹ và nước đó là ông Nội ngay.
Và sau đó chúng sẽ tuyên truyền là “quốc gia” hơn những người quốc gia hiện tại nữa.
Chắc Quý Vị thừa biết hiện nay ở Mỹ và có thể ở bất cứ nước nào trên thế giới, con cháu bọn cướp này mở tiệm buôn bán, chợ búa, thậm chí lập Chùa, hay lập Nhà Thờ…. đều sẵn sàng treo cờ Vàng Ba Sọc Đỏ nơi trang trọng nhất, để câu khách, để chúng có cớ rửa tiền…
Cho rằng chúng là phe cờ đỏ, cờ hồng thì vô tình chấp nhận chính danh của bọn cướp này.
Những bài viết gợi ý, cầu xin, đề nghị hay lên mặt dạy dỗ cho chúng khôn khéo hơn về chính trị và kinh tế, chính là giúp chúng học thêm nhiều bài học để ngày càng tinh vi trong việc cướp sạch đất nước VN nhiều hơn và nhanh hơn.
Xin quý vị thức giả, quý vị còn có lòng tranh đấu cho một nước Việt Nam được Tự Do, Dân Chủ thì hãy hướng trọng tâm vào việc làm sao xóa bỏ bọn cướp ấy.
Việc đó hiện giờ phải nói là rất khó, vì sau lưng bọn cướp này còn có bọn cướp mạnh gấp bội là bọn Nga, Tàu, mà không chừng còn có các nước tư bản giàu có lợi dụng vào sự tồn tại của bọn cướp này
Vì vậy, nếu dân tộc VN chúng ta chưa có cơ hội xóa bỏ bọn chúng thì xin đừng bày thêm nhiều điều tinh khôn để biến thành mưu ma chước quỷ của chúng. Đừng hy vọng chúng sẽ giúp dân VN giàu mạnh, thông minh hơn hay hy vọng chúng sẽ xỏa bỏ lằn ranh gì đó là sai vì chúng đâu có lằn ranh nào để xóa.
Van xin bọn cướp đang ở trong nhà chúng ta, hãy nới lỏng cho chúng ta vươn lên sống bằng nhà của xóm khác… chưa bị cướp là một ý tưởng hão huyền.
Vấn đề là dân Việt Nam đã tỉnh ngộ chưa, đã quyết một lòng để xóa bỏ bọn cướp này hay chưa?
Và Quý Vị, những tinh anh của tộc Việt, xin làm thế nào để giúp dân Việt Nam cùng một lòng tiến tới để xóa sạch bọn chúng?
Bảo Trâm
· Sẵn Sàng Quên?
Chỉ còn vài ngày nữa
“Năm Mốt năm” sẽ sang
Chúng ta luôn chuẩn bị
Chúng tôi cũng sẵn sàng.
Sẵn sàng để chiến đấu
Với bọn quỷ tràn lan
Với thói hư tật xấu
Với những kẻ tham tàn.
Không thể sống yên thân
Không thể quên quá khứ
Khi Cộng ác, vô thần
Đày đọa dân Tộc Việt.
Chúng ta phải tự biết
Nếu quyết sống vô tư
Không màng chi thế sự
Tương lai nào an cư?
Bảo Trâm
Ách Ác Cộng
Do đâu đến nỗi thế này đây,
Dân tộc Việt Nam khổ mỗi ngày.
Bọn cướp may thời tràn khắp chốn,
Quân gian được thế ló ra đầy.
Toàn dân đau đớn đời nô lệ,
Cả nước chông chênh kiếp dạc dày.
Còn giữ hỡi ai lòng hận giặc,
Xin vì chính nghĩa, hãy ra tay.
Bảo Trâm
==
THƠ DONRY NGUYỄN
MÁI TÓC NGƯỜI NỮ TÙ
Chuyện bắt đầu đã hơn bốn mươi năm, Thuở nhà tù mọc đầy trên cả nước. Một buổi chiều trong sân sau nhà bếp, Tôi cùng bạn uống trà nhìn nắng hắt qua sông.
Bên kia rào lạnh lẽo bóng chòi canh, Tay lính gác gườm gườm lia họng súng. Đoàn tù nữ trên đường ra bến tắm, Sau một ngày dài khổ nhọc kiếp tù sai.
Một nữ tù mái tóc xõa bờ vai, Tia nắng chiếu chảy dài trên tóc rối. Những sợi tóc bay trong chiều nắng vợi, Dưới tháp canh tù hút lấy cả hồn tôi.
Nhìn tóc em tôi cảm thấy bồi hồi, Sao giữa cảnh ngục tù có nàng tiên xinh thế. Nét tương phản giữa màu đen đáng sợ Với tóc em dài mang vẻ đẹp hồn nhiên.
Tuổi của em phải khoác áo sinh viên, Ôm sách vở vào giảng đường đại học. Sao đến nỗi?…tôi thấy mình cay mắt, Trên đất nước này em đã mất quê hương!
Tìm tự do em phải đổi gông xiềng, Thân giam hãm giữa ngục tù gian khổ. Gạo thăm nuôi gặm mòn đôi dép mẹ, Đường trở về thành phố quá xa xăm.
Người yêu em mang bản án tử hình, Khi vượt ngục cùng bạn tù cướp súng. Hôm áp giải ra pháp trường xử bắn, Em gục đầu giấu giọt lệ đang lăn.
Đất nước buồn sau một chín bảy lăm, Cả miền nam biến thành nhà lao lớn. Người lính cũ, kẻ tìm phương vượt biển, Đều bị giam chung trong một trại tù.
Em bị bắt khi nào, ở đã bao lâu? Nội quy cấm không dễ gì trao đổi. Dưới chòi canh gió chiều xơ xác thổi, Nắng úa vàng lên mái tóc em xanh.
o0o
Bao đổi dời sau hơn bốn mươi năm, Rồi một buổi tình cờ nơi đất khách. Lần giáp tết cựu tù nhân họp mặt, Những bạn tù gặp lại ấm vòng tay.
Giới thiệu mình: “em Thuận tóc dài” đây, Tôi mới nhận ra em, vì rất khác. Nay tóc ngắn lại thêm nhiều sợi bạc, Nhắc chuyện xưa hiu hắt nụ cười buồn.
Nửa cuộc đời lưu lạc kiếp tha phương, Tôi vẫn nhớ cảnh chòi canh thuở nọ. Tóc em dài rợp trời bay trong gió, Nuôi khát khao vươn đến một chân trời.
Những nhà tù dù vây bủa khắp nơi, Không ngăn được bước chân người quyết chí, Tôi mừng em tự do trên đất Mỹ, Sống làm người đúng nghĩa giấc mơ xưa.
-Donry Nguyễn.
==
VẾT THƯƠNG CÒN MƯNG MỦ
Có một ngày muốn quên, mà vẫn nhớ … Như kim châm, như muối xát vào lòng Ngày nối liền Nam-Bắc một hình cong, Nhưng nửa nước, đau buồn cơn quốc biến!
Người lính vốn, không gây ra cuộc chiến Chế độ nào, bổn phận phải tuân theo Mực chưa khô màu hiệp định Giơ-neo… Vượt giới tuyến đưa quân vào bắn phá.
Người dân Nam phải đứng lên bảo vệ Vì tự do chống chủ nghĩa độc tài Đã bần cùng còn giải phóng cho ai? Lời ma mị tuyên truyền chuyên dối gạt.
Miền Nam thua vì đã không tàn ác Không nhẫn tâm khát máu với đồng bào. Hai mươi năm sức lực đã tiêu hao Bên nào chết cũng đau lòng mẹ Việt!
Ngày thống nhất, tưởng tang thương chấm hết Nào hay đâu kẻ thắng quá đê hèn Trút thù hằn vào phận lính nhỏ nhen Đày ải họ chốn rừng thiêng nước độc.
Tước nhà cửa, bắt vợ con nheo nhóc, Lùa lên vùng kinh tế mới khai hoang Lịch sử xưa nay, bạo chúa hung tàn … Chưa ai ác bằng vô thần cộng sản.
Nửa thế kỷ, hết bom rền lửa đạn Sao mối hờn vết sẹo chẳng liền da Người anh em cùng một mẹ sinh ra Vẫn ngoan cố chia lìa tình cốt nhục!
Nền độc lập đâu ngọn cờ dân tộc Oai linh không hoá giải nỗi hiềm thù Để đoàn người lưu lạc khắp năm châu, Về mang những tài hoa xây cố quốc.
Năm mươi năm, lòng dân còn chia cắt, Xã hội còn đầy dẫy cảnh bất công … Tiếng oán hờn rên siết khắp non sông, Ngày tưởng niệm vết thương còn mưng mủ!
-Donry Nguyễn.
VIẾT TRONG NGÀY TANG CHẾ.
Từ máu lệ âm vang mùa quốc biến, Cả non sông quằn quại dưới chân thù. Lệnh sai lầm khi rút bỏ quân khu, Quân triệt thoái kinh thành trao tay giặc.
Hai mươi năm từng kiên gan giữ đất, Phút sa cơ hối tiếc quá muộn màng. Bao hùng binh buộc xếp giáp quy hàng, Buông khí giới mím môi hờn phẫn uất.
Người chiến đấu phút cuối cùng tự sát, Người lao mình ra chiến hạm khơi xa. Lửa ngập trời lấp ló bóng yêu ma, Nghe việt cộng vào Sài Gòn thảy đều kinh hãi.
Năm mươi mốt năm trang sử buồn lật lại, Khóc non sông phủ trắng một màu tang. Nguyện oan hồn bao nhiêu triệu dân Nam, Nguyện hương linh những anh hùng tử sĩ.
Dưới mồ sâu được nguôi lòng yên nghỉ, Và linh hồn bay đến cõi trời xa. Thời tối tăm rồi cũng sẽ trôi qua, Loài bạo ngược sẽ đến giờ đền tội.
Người lưu lạc từ năm châu bốn bể, Sẽ quay về xây dựng lại quê hương. Biến Việt Nam thành đất nước thịnh cường, Trong sắc áo màu cờ Tự Do-Dân Chủ.
-Donry Nguyễn- (30-4-2026)
==
THƠ HOÀNG THỤC UYÊN
=
BIỂN ĐỘNG VƯỢT SÓNG TRÊN ĐẠI DƯƠNG
Biển Đông giông tố sóng bạc đầu Mưa bão bất ngờ đổ xuống mau Mây đen trời tối biển mờ lối Gió rít từng cơn mưa đổ mau
Vượt biển trùng dương, sóng dâng trào Thuyền như lá úa vượt biển sâu Dào dạt sóng xô thuyền ngàn hướng Bềnh bồng, thuyền dạt khắp muôn phương
Biển động vượt sóng trên đại dương Ào ạt mưa rơi nhòa trùng dương Bềnh bồng thuyền trôi theo ngàn hướng Gió lộng biển động thuyền mờ sương
Tháng 4, mang nặng một nỗi niềm Chinh chiến ba miền nát quê hương Nhìn về quê mẹ, thương sầu nhớ Ngày ấy ra đi, ngàn vấn vương
Chiến tranh tan nát bởi vì đâu ? Ba miền đất nước ngập sóng sầu ! Quê hương điêu linh trong khói lửa Dân lành nghèo đói sống khổ đau .
Ai gây chính chiến nát quê hương ? Ai gây thù oán cảnh đoạn trường ? Chiến tranh không cùng ý thức hệ Tuổi xanh ba miền ngập sầu thương
Người ở người đi thật đau lòng Thương nhà nhớ nước, khóc non sông Người bỏ quê hương, người tù tội. Người tìm tư do, chết biển đông !
Gió lộng biển động sóng hợp tan Thuyền trôi vượt sóng lướt gió ngàn Thuyền xuôi vững lái tìm bến đậu. Bến đục bến trong thuyền về đâu ?
Biển rộng mênh mông sóng ngập trời Dù trong biển động thuyền ngược xuôi Vững Tâm thuận lái theo chiều gió Gió lặng sóng tan, thuyền thảnh thơi ...
Hoàng Thục Uyên Tháng 4 Đen, 1975--2026
==
CA KHÚC THÀ NHƯ – THƠ MẶC KHÁCH – NHẠC VĨNH ĐIỆN- TIẾNG HÁT HÀ THANH
==
THƠ CỦA THI SĨ TRẦN QUỐC BẢO & NHỮNG BÀI HÁT NÓI CỦA NGHỆ SĨ ĐỨC HÙNG
(*)Trong chiến cuộc Việt Nam, có 58,281 chiến binh Hoa Kỳ đã hy sinh, chết và mất tích, trước ngày 30 Tháng 4,1975.
Toàn thể, được ghi tên, trên Bức Tường Đá Đen, tai Thủ Đô Hoa Kỳ.
KÍNH MỜI QUÝ ĐỘC GIẢ THƯỞNG THỨC THỂ HÁT NÓIRẤT ĐỘC ĐÁO CỦA NGHỆ SĨĐỨC HÙNGSydney, Úc Châu, ĐÁP LỄ BÀI “BỨC TƯỜNG ĐÁ ĐEN” CỦA NHÀ THƠ KỲ CỰU TRẦN QUỐC BẢO
HÁT NÓI BÀI 658
Ứng Đáp Nhanh Chóng!| (Bài Hát Nói cảm ơn và đáp lễ hồi âm của Đại Lão Thi Nhân Trần Quốc Bảo. Tựa đề bài Hát Nói này trích từ hồi âm của ĐLTN/TQB.)
Ứng đáp nhanh chóng! Hồi âm như đang lướt sóng, chèo thuyền!
Dù tuổi đời nay đã “rất cao niên” Vẫn phong độ, sáng suốt, thung dung như “Ông Tiên” tại thế!
Ứng ngay! Lập tức! Ngày đang xế! Đáp lại! Mau lên! Tháng đã qua! Tốc độ cao gây ra sức mạnh “dời non, lấp biển”! Như cơn phong ba!
Lòng người hoan hỉ, hài hòa! Giải quyết, thông qua, vui vẻ!
Nhân loại đã tiến bộ vượt bậc! Máy móc tối tân chia sẻ! Xa xôi mà gần gũi! Trao đổi mọi hay đẹp! Và sức khỏe, thơ, nhạc, gia đình . . . ! Cảm ơn Đại Lão Tiên Sinh! Đức Hùng Sydney, Úc Châu, 28/04/2026
Xin ghi nhận và cảm tạ sự đồng cảm, giữa bài “Bức Tường Đá Đen” và bài “Hát Nói 657” dành cho Ngày Quốc Hận 30/4. – Rất phục tài ứng đáp nhanh chóng và tuyệt vời của anh.
TQB
On Monday, April 27, 2026 at 02:27:43 AM EDT, Duc Hung Bui <duchungbui@bigpond.com> wrote:
Xin chân thành cảm ơn bài thơ tuyệt tác “Bức Tường Đá Đen” của Đại Lão Thi Nhân Trần Quốc Bảo.
Xin đáp lễ.
HÁT NÓIBÀI 657– ĐỨC HÙNG –
“Từng Giọt Máu Chiến Trường Vô Giá! Sao Tháng Tư Đen?” (Bài Hát Nói cảm ơn và đáp lễ Đại Lão Thi Nhân Trần Quốc Bảo (ĐLTN/TQB) đã chuyển đến bài thơ tuyệt bút nhân Mùa Quốc Hận Tháng Tư Đen 30/04/1975 – 30/04/2026. Tựa đề bài Hát Nói này trích từ bài thơ đó của ĐLTN/TQB. Kính mời Quý Thi Hữu họa lại bài Hát Nói này.) Từng tấc đất nhuộm máu! Cổ Thành Quảng Trị! Giọt sầu tuôn cuồn cuộn! Bản Mê Thuột ra đi! Thế trận tràn mây cuốn! Phòng bị được những gì? Máu Tân Cảnh, Quảng Đức! Lê Đức Đạt gan lì! Huế quặn mình đau nhức! Vùng Hai đã lâm nguy! Chiến đấu có ai bì? Vận Nước thịnh hay suy? Tuyến Phan Rang gắng gượng!
Trường đồ! Mã lực phi khoan nhượng! Vô ích! Nhân tâm bỗng thoái lui! Giá Súng nay trống rỗng! Kho Đạn cũng ngậm ngùi! Cạn dần! Đành để trống! Tiến chẳng được! Phải lùi! Sao anh hùng, thanh khiết! Cùng chia ngọt, sẻ bùi! Nguyễn Khoa Namtuẫn tiết!
Tháng này, Trần Văn Hai! Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ! Phạm Văn Phúhỏi hoài! Lê Văn Hưngđà biết! Tư duy Trang Sử Việt! Thắng bại bốn ngàn năm! Trụ chiết, Giao Chỉ diệt! Ngùn ngụt Khí Hờn Căm! Đen rồi! Sẽ trắng! Bao năm? Đức Hùng Sydney, Úc Châu, 27/04/2026 11 Tháng Ba (Đủ) Âm Lịch Năm Bính Ngọ, Ngày Tân Mùi : Hành Thổ, Trực Bình, Sao Trương. Cát Thần : Đại Minh, Chúa Là, Hoạt Diệu.
BÀI 659
Nhớ Đôi Bạn Hiền Dương Khuê-Nguyễn Khuyến! (Bài Hát Nói cảm ơn và đáp lễ hồi âm ân cần, tình cảm của Đại Lão Thi Nhân Trần Quốc Bảo, trong đó có viết hai chữ “Bạn Hiền”!) Thật là một đôi bạn hiếm có! Cùng Khoa Bảng Xuất Thân! Cùng là các Danh Sĩ! Cùng tỏ rõ thi tài! Tình bạn có một không hai! Hiểu nhau! Đa văn, bác học! Thơ, Văn, Hát Nói miệt mài! “Viết cho ai, ai biết mà đưa? Rượu ngon không có Bạn Hiền!” Khóc bạn! U hoài! Sương nước mắt!
Bạn hữu chân thành thường vắng ngắt! Hiền nhân thật sự vẫn lưa thưa! Nhiều khi Bạn Vong Niên mà hợp nhau ở mức thượng thừa! Như Hoàng Dược Sư với Dương Qua! Tuổi là Cha, Con! Gặp nhau chưa say chưa tâm sự!
Xin cảm ơn Đại Lão Thi Nhân Trần Quốc Bảo! Tấm thịnh tình! Nhiều tư lự! Kính chúc Cụ luôn mạnh khỏe, an khang, hạnh phúc! Vui văn tự! Sính thơ, ca! Yêu Dân, quý Nước, thương Nhà! Đức Hùng Sydney, Úc Châu, 28/04/2026
==
THƯ PHÁP QUANG HÀ
Thư pháp trên: Thơ Ngữ An (Tháng 3 bỏ Huế)
*
TRĂNG TÀ MỘ HOANG – QUANG HÀ
Một đời vì nước quên mình
Xương tan / thịt nát. Mộ phần có / không
Vật vờ lau lách ven sông
Sáng se gió thổi chiều lồng sương tuôn
Phải trong nắm bụi bên cồn
Có người tử sĩ gởi hồn cỏ hoa
*
Chiến tranh rồi cũng đi qua
Còn kia là ánh trăng tà mộ hoang
Hồn nương theo bóng mây vàng
Vô danh nào có mấy hàng chữ bia?!
Quang Hà
==
KÍNH MỜI QUÝ ĐỘC GIẢ GHÉ VÀO THƯỞNG THỨC TRANG NHÀ THÂN HỮU “LONG HỒ VĨNH LONG” với rất nhiều văn thơ nhạc họa… do “Cô Gái Việt” Kim Oanh quản lý:
TRUYỆN VALENTINE – Con Ngõ Cũ Và một Tình Yêu Câm Nín – Phạm Phan Lang
Tôi đang lênh đênh trên sóng nước vùng biển Bắc Âu trong một hành trình du thuyền thăm Na Uy, ngắm những dãy núi tuyết hùng vĩ, các vịnh hẹp nên thơ và những ngôi làng nhỏ xinh xắn ven biển. Sáng nay trời mưa. Mưa bay bay trên biển, làm mờ đục cả khung trời và dấy lên trong tôi một chút buồn buồn, một chút bâng khuâng – để rồi những hình ảnh xa xưa trong ký ức bỗng lặng lẽ tở về.
Con Ngõ Cũ Và một Tình Yêu Câm Nín
Năm tôi vừa tròn sáu tuổi, Danh từ quê theo gia đình dọn vào thành phố, về ở gần nhà tôi – chỉ cách nhau một con ngõ nhỏ.
Con ngõ ấy ngày xưa nhỏ lắm, chỉ cần chạy vài chục bước là hết. Hai đứa chúng tôi lớn lên trong con ngõ đó, với những trò trốn tìm, đuổi bắt, với tiếng cười con nít, và cả những ngày mưa dầm ngập lối.
Những lúc bão lụt, nước mưa tràn vào con ngõ, tôi sợ không dám bước xuống. Danh liền thưa với ba mẹ:
“Cho con cõng em qua.”
Mẹ tôi gật đầu. Tôi cười thích thú, hai tay ôm chặt cổ anh, như thể cả thế giới của tôi khi đó chỉ là cái lưng bé nhỏ ấm áp kia.
Danh hơn tôi hai tuổi. Tôi thương Danh như thương một người anh trai. Tôi quen được anh chiều, quen được anh dỗ. Mỗi lần tôi dỗi, anh không giận. Mỗi lần tôi khóc, anh không trách. Anh chỉ nhìn tôi và dịu dàng cười khẽ.
Còn Danh… anh thương tôi bằng một cách khác.
Sau này tôi mới biết – anh yêu tôi trong một tình yêu câm nín – một tình yêu không cần nói ra, nhưng bền bỉ.
Hồi đó, Tết với tôi đơn giản lắm – chỉ cần được mặc áo mới, được chạy ra khỏi nhà, và được Danh dắt đi hái lộc là đã thấy cả trời hạnh phúc.
Tết năm ấy, tôi mặc áo đỏ, đầu thắt chiếc nơ xanh. Tôi tung tăng chạy đi tìm Danh. Danh dắt tôi lên con dốc nhỏ, nơi có một ngôi chùa nằm yên trên cao. Hương trong chùa thơm ngây ngất. Tôi không hiểu hết sự linh thiêng, chỉ thấy lòng mình bỗng nhẹ, bỗng vui, bỗng ấm.
Danh hái cho tôi một cành đào rồi khẽ cài lên tóc.
Một động tác rất nhỏ, nhưng sau này nghĩ lại, tôi mới hiểu – có những yêu thương bắt đầu từ những điều giản dị như thế – không ồn ào, không phô bày, chỉ lặng lẽ đặt vào đời nhau một chút dịu dàng.
Xuân Xưa
Xuân ấy em mười một Anh cũng độ mười ba Hai đứa ở gần nhà Chỉ cách nhau con ngõ
Mồng một em áo đỏ Đầu thắt chiếc nơ xanh Tung tăng đi tìm anh Đưa em đi hái lộc
Anh dìu em lên dốc Chùa nhỏ ở trên cao Anh hái em cành đào Và cài hoa lên tóc
Trong chùa hương ngây ngất Phật nhìn em mỉm cười Dâng Phật cành hoa tươi Cầu xin Ngài phù hộ
Bỗng dưng trời mưa đổ Hai đứa chạy về nhà Vội vàng em vấp ngã Rơi mất cánh hoa cài
Về nhà em khóc mãi Anh dỗ dành không thôi Bắt đền hoa cúc mới Em lắc đầu không ưa
Xuân này nhớ xuân xưa Anh nay không còn nữa Thương nhớ nói sao vừa Chuyện những ngày thơ ấy…
phamphanlang
(Xuân Xưa – Ns Mai Hoài Thu phổ nhạc, ca sĩ Diệu Hiền trình bày.)
Rồi thời gian trôi qua.
Tôi lớn lên.
Tôi đi lấy chồng xa.
Ngày tôi lên xe hoa, tôi chỉ bận rộn trong niềm vui của một cô gái sắp về nhà chồng. Tôi vui với họ hàng, bạn bè, tiếng cười, tiếng chúc tụng… Bỗng chợt thấy ở một góc xa, Danh đứng lặng.
Anh nhìn tôi bằng đôi mắt buồn u uẩn.
Anh không nói gì.
Anh chưa từng nói gì.
Nhưng có lẽ có những tình yêu không cần lời. Và cũng có những lời, dù nói ra, cũng không còn kịp nữa…
Rồi Danh vào quân đội.
Trước khi lên đường, anh dặn cô em gái tôi:
“Nhớ nhắn anh mỗi lần chị về thăm nhà… Nếu xin phép được, anh sẽ về… chỉ để nhìn chị thôi.”
Cô em gái nghe lời nên nhiều lần Danh về phép vào đúng dịp tôi từ quê chồng về thăm nhà. Anh không tìm gặp. Không gõ cửa. Anh chỉ ở bên nhà nhìn sang. Hoặc đứng lặng ở đầu ngõ, nhìn vào con dốc sâu – nơi hai đứa từng trốn tìm, đuổi bắt ngày xưa. Nhìn như để cố giữ lại một điều gì – một tuổi thơ, một giấc mơ, một người con gái mà anh thương suốt đời.
Cô Bé Ngày Xưa
Ngày xưa lúc còn bé, Anh thường cõng trên lưng Cô bé hay khóc nhè Mỗi lần bị mẹ la
Có những ngày bão lụt Mưa ngập cả khu nhà Cô bé không xuống nước Mắt nhạt nhòa áo hoa
Anh thưa cùng ba mẹ “Để con cõng bé cho” Mẹ gật đầu ưng thuận Bé thích thú cười to
Ngày lại ngày trôi qua Cô bé không còn bé Nhưng vẫn hay khóc nhè Anh chỉ cười khe khẽ
Anh không còn cõng bé Nhưng vẫn hay dỗ dành Mỗi khi bé buồn giận Anh nhìn bé lớn nhanh
Ngày kia bé lấy chồng Anh đứng ở đầu sông Nhìn bé trong áo cưới Lệ anh rơi trong lòng
Rồi anh vào quân đội Lòng vẫn dõi ngóng trông Cô bé ngày xưa đó Nến vụn có vừa không
Một ngày về quê cũ Gặp bé khăn tang chồng Đôi mắt đen u uẩn Nhặt lá thả trôi sông…
phamphanlang
(Cô Bé Ngày Xưa – Ns Vĩnh Điện phổ nhạc, ca sĩ Đông Nguyễn trình bày.)
Rồi chiến tranh cuốn Danh đi.
Anh mất tích trong một trận chiến.
Không tìm thấy xác.
Chỉ còn lại một khoảng trống mơ hồ – một nỗi đau không có lời giải thích, như một cánh cửa đóng sầm lại giữa đời mà không kịp nói một lời từ biệt.
Mãi sau này, một ngày tôi về thăm nhà, cô em gái trao cho tôi một chiếc hộp kỷ vật. Đơn vị tìm thấy và gửi lại cho gia đình.
Hộp gỗ nhỏ, đơn sơ.
Nhưng trên nắp hộp… là tên tôi.
Tên tôi được khắc ngay ngắn, nắn nót.
Tôi sững lại.
Tôi mở hộp ra.
Bên trong là một hình vẽ – đôi mắt của tôi.
Ngoài ra là những lá thư.
Những bài thơ.
Những dòng chữ không bao giờ gửi.
Tất cả đầy ắp thương yêu và nhung nhớ.
Tôi ngồi lặng.
Trong khoảnh khắc ấy, con ngõ nhỏ ngày xưa bỗng hiện ra rõ ràng trước mắt tôi – có mưa, có nắng, có bông hoa rơi mất, có tiếng khóc con nít, có bờ vai nhỏ ấm áp… và có một cậu bé lặng thầm thương tôi suốt một đời.
Tôi đã đi xa.
Tôi đã qua cầu.
Tôi đã có một gia đình.
Còn Danh… anh vẫn ở lại với con ngõ, với tuổi thơ, và với một tình yêu không nói thành lời.
Còn Đâu
Ta về ngang đầu ngõ, Nhìn vào con dốc sâu, Còn đâu người năm cũ, Chỉ thấy rặng mù u.
Ta như người khách lạ, Đứng đợi mãi bên thềm, Người xưa không trở lại, Tiếng thở dài bi ai.
Cây nến vụn theo chồng, Lòng em có vừa không? Hỡi người yêu dấu cũ, Ta vẫn hoài chờ mong.
Mai này mình gặp lại, Dù em đã qua cầu, Dù mưa giăng ngập lối, Dù dang dở tình đau…
phamphanlang
(Còn Đâu – Ns Mộc Thiêng phổ nhạc, ca sĩ Xuân Phú trình bày.)
Có nhiều lần tôi tự hỏi::
“Nếu ngày đó biết Danh yêu tôi, tôi có khác đi không?”
Tôi không biết.
Tôi chỉ biết – có những tình yêu sinh ra không phải để nắm giữ, mà để làm cho ký ức trở nên thiêng liêng. Và có những người đi qua đời ta, không ồn ào, không đòi hỏi, không trách móc… nhưng lại ở lại lâu nhất.
Bởi vì họ đã yêu ta bằng tất cả sự trong sáng của tuổi thơ, và bằng tất cả sự lặng thầm của một đời người.
Để hôm nay, trong ngày Lễ Tình Nhân, tôi ghi lại câu chuyện xa xưa này và xin khép lại câu chuyện bằng một lời cầu nguyện nhỏ.
Xin Trời Phật cho Danh – người đã mang theo một tình yêu câm nín suốt cả đời mình – được an nghỉ nơi miền thanh thản. Xin cho những ký ức trong trẻo của tuổi thơ, như con ngõ nhỏ ngày xưa, như cành đào ngày Tết, như bờ vai ấm áp trong mùa mưa lụt… sẽ mãi là một góc sáng dịu dàng trong tim tôi. Và nếu ở một nơi nào đó, Danh có thể nghe thấy, tôi chỉ xin nói khẽ một câu: cám ơn anh – vì đã thương tôi bằng tất cả sự hiền lành, nhẫn nại, và thủy chung của một đời người.
phamphanlang
14/2/2026
NGẮM BĂNG TRÔI VÙNG Nam Cực Từ Trên Du Thuyền – PhạmPhanLang.
TƯỜNG THUẬT TỪ TRÊN DU THUYỀN – EMAIL PHẠM PHAN LANG
VẪN CÒN LÀ MÙA THU – KÍNH MỜI QUÝ VỊ THƯỞNG THỨC CA KHÚC THU MỘNG.
Ca khúc: Thu Mộng
Thơ: PhamPhanLang
Nhạc: Mộc Thiêng
Ca sĩ: Hoàng Quân
Hòa âm: Giang Đông
THU MỘNG
Ta đến bên thu nghe gió lạnh Nhìn mây lờ lững giọt chiều rơi Tâm tư mộng tưởng hồn như thoát Nghe tiếng ai về nhịp bước lơi
Khe khẽ xin đừng lay động gió Để ta níu hái cánh mây trời Mắt ai êm ái trong như ngọc Ôm trọn hồn ta mộng chơi vơi
Choàng tỉnh tìm xem người vẫn đó Không gian lạnh vắng lá vàng rơi Lá vàng rơi mãi ta ngồi khóc Người đã đi rồi thu lẻ loi….
phamphanlang
VTLV – TRANG MỪNG NGÀY SINH NHẬT Rất ĐẶC BIỆT – RẤT ĐỘC ĐÁO – Của THÀNH VIÊN NỮ GỐC LÍNH (MỸ) Phạm Phan Lang.
LỜI CẢM ƠN TỪ TRÁI TIM: PHẠM PHAN LANG
LỜI TRI ÂN NHÂN DỊP SINH NHẬT 75
Dù ngày sinh nhật thứ 75 của PL đã qua hơn một tuần, nhưng niềm vui và xúc động vẫn còn lan tỏa mãi trong lòng. PL vô cùng biết ơn những tấm lòng thân thương từ bạn bè, văn thi hữu gần xa đã gửi đến PL bao lời chúc, thiệp mừng, hoa, thơ, nhạc, và cả những món quà tinh thần quý giá khó diễn tả thành lời.
Đặc biệt, PL xin trân trọng cảm ơn:
Văn thi sĩ Y Thy Võ Phú, với bài “Phạm Phan Lang, Nữ Trung Tá Lục Quân Hoa Kỳ Làm Thơ Việt Giữa Hai Bờ Quê Hương” đầy trân quý và cảm động.
Nhạc sĩ Phạm Thái, người đã tận tâm thực hiện Flipbook “Thơ PhạmPhanLang” tuyệt đẹp.
Văn thi sĩ Phương Hoa, với bức tranh thơ và video “Happy Birthday PhạmPhanLang” thật nghệ thuật và chan chứa tình thân.
Nhóm bạn NLG, đã dành cho PL buổi tiệc sinh nhật ấm áp, vui tươi và đầy yêu thương.
Và biết bao bạn bè, thân hữu đã gửi đến PL những lời chúc, thiệp, hoa, bánh, và thơ nhạc qua mạng — tất cả đều là những món quà quý giá mà PL xin ghi lòng tạc dạ.
Gần đây nhất, PL vô cùng cảm kích anh Không Quân Lê Văn Hải, Chủ tịch Thi Đàn Văn Thơ Lạc Việt (VTLV), đã đại diện VTLV viết bài “VTLV nâng ly – chúc thọ văn thi sĩ Phạm Phan Lang 75 tuổi”. Bài viết của anh thật duyên dáng, dí dỏm mà vẫn trang trọng, thể hiện tấm lòng quý mến khó quên. PL đặc biệt bật cười và cảm động khi đọc những dòng anh viết:
“Một ‘đóa hồng… gai! Hawaii’ – vừa lính vừa thi nhân – Chị Phạm Phan Lang của chúng ta, đã chạm mốc 75, mà vẫn tươi như mới… 35!”
Cảm ơn anh Hải, và cảm ơn gia đình VTLV – các anh chị văn thi sĩ Donry Nguyễn, Đỗ Dung, Lê Hoài Niệm – đã gửi đến PL những lời chúc nồng hậu, ấm áp, khiến PL cảm thấy thật hạnh phúc khi được làm một phần của đại gia đình thi văn này.
PL cũng xin tri ân văn thi – nhạc – ca sĩ Huy Tâm Dương Thượng Trúc đã tặng PL bài “Chúc Mừng Sinh Nhật Nhà Thơ Phạm Phan Lang – Nữ Trung Tá Lục Quân Hoa Kỳ”, một món quà tinh thần thật cảm động và tuyệt vời.
Nhiều người hỏi PL vì sao không ngại “khoe tuổi”. PL mỉm cười, vì với PL, mỗi tuổi đời đi qua là một ân huệ. Mỗi năm thêm là một hành trình học hỏi, đong đầy kỷ niệm — có cay đắng, có ngọt bùi, có mất mát và cả những phép lành mà Trời và Đời đã thương ban. PL trân trọng từng dấu mốc của đời mình, bởi đó là minh chứng cho bao trải nghiệm, bao tình thân và bao yêu thương PL đã nhận được.
Xin chân thành cảm ơn tất cả những tấm lòng đã nhớ đến PL trong dịp đặc biệt này. Tình cảm và sự quan tâm của quý anh chị chính là món quà vô giá, khiến tuổi 75 của PL trở nên thật rực rỡ và ý nghĩa.
Trân trọng và mến thương, Phạm Phan Lang
ĐÔI LỜI TỪ BBT VTLV
Kính thưa tất cả nhà VTLV,
Hôm nay nhà VTLV có một chuyện rất hay, vui, lạ, và…độc đáo. Xưa nay nữ giới, không chỉ có “phe tóc dài” con cháu Hai Bà Trưng Triệu Việt Nam, mà dân kẹp tóc trên toàn thế giới, đều không bao giờ muốn “khoe niên kỷ” cho bàn dân thiên hạ biết. Nhưng lần này, Phạm Phan Lang của VTLV, Cựu nữ Trung Tá gốc Việt đầu tiên của Lục Quân Hoa Kỳ (đã được vinh thăng Đại Tá nhưng chưa làm thủ tục nhậm chức thì tự động xin nghỉ hưu vì thích sống ở thành phố biển Hawaii), “đóa hồng gai” này đã can đảm …la lớn lên là mình đã “đụng” cột mốc 75! Xưa nay ông bà mình thường nói, “Thất thập cổ lai hi” nghĩa là người sống đến 70 rất hiếm. Cho nên cột mốc 75 là ba phần tư của bách tuế, quan trọng và quý giá vô cùng. Và điều ngạc nhiên, rất ngạc nhiên, và đầy thích thú, là ngay trong ngày sinh nhật của Phạm Phan Lang, những bài thơ, bài điểm sách tập thơ Phan Lang mới xuất bản, bài nhạc, bản “Flipbook” của tập thơ… không hẹn mà đã được hoàn thành đúng lúc gửi tặng ào ạt. Phải nói, Phạm Phan Lang trong cột mốc ba phần tư thế kỷ cuộc đời đã nhận được những “Món quà văn học” quý giá vô song. Đây là một kỷ lục đáng nể, trước nay chưa từng thấy!
VTLV cũng xin trân trọng chúc mừng Phạm Phan Lang, thành viên đã làm rạng danh cho phái nữ trong VTLV. Kính chúc văn thi sĩ “gốc lính Mỹ” luôn than tâm an lạc và sống trên bách tuế…
VTLV Kính xin chia sẻ những món quà độc đáo Phạm Phan Lang đã nhận trong ngày sinh nhật thứ 75, để cho: 1 triệu, 6 trăm, 67 nghin, 394 độc giả của trang nhà VTLV cùng thưởng thức. (mỗi làn ghé đọc,quý vị có thể kéo xuống hết cuối trang để xem con số và cùng vui với VTLV nha)
1)- Bản Flipbook “Tập thơ phamphanlang” mới toanh của thầy Thái Phạm VTLV tặng
2)-Bài viết về Tác Giả gốc lính Phạm Pham Lang, và Tác Phẩm tập thơ mới phát hành của văn thi sĩ trẻ Y Thy Võ Phú tặng .
3)- Nhiều thật nhiều Thơ và Tranh Thơ dủ loại, cộng Bánh trái, rượu trà, hoa quả hằng bao nhiêu ngưởi gừi tặng
4) – Ca khúc HAPPY BIRTHDAY Phạm Phan Lang do Phương Hoa VTLV tặng
Xin đa tạ sự quan tâm gửi tác phẩm, theo dõi đọc bài vở thơ văn của trang nhà VTLV, mong quý vị tiếp tục gừi tác phẩm về. Đôi khi vì BBT bận đi xa nên bài đăng chậm trễ, nhưng sẽ không bỏ sót bài vở của ai – trừ phi không nhận được vì lý do nào đó – mong quý vị cảm thông và lượng thứ. Mỗi ngày nhìn con số độc giả vô đọc bài đến mấy nghìn views, mọi người trong VTLV đều vô cùng hạnh phúc. (Nhất là sếp Hải của VTLV, hihihi)
Trân trọng kính chào, kính chúc quý vị trong gia đình VTLV và thân hữu khắp nơi luôn an lạc.
Kính,
Phương Hoa – VTLV
Mời quý vị bấm vào hình quyển sách “Flipbook” trên để lật và đọc tập “Thơ phamphanlang“
*** BÀI GIỚI THIỆU TÁC GIẢ VÀ ĐIỂM SÁCH TẬP “THƠ phamphanlang” CỦA VĂN THI SĨ Y THY VÕ PHÚ:
“VTLV NÂNG LY!” – CHÚC THỌ VĂN THI SĨ PHAN PHAN LANG 75 TUỔI!
Kính thưa Quý Thành Viên và Bằng Hữu VTLV,
Thường, khi được mời tham dự Mừng Sinh Nhật của phụ nữ, ai thắc mắc hỏi tuổi, thường nhận được câu trả lời “làm sao biết được, nó thay đổi từng giây, từng phút mà!” Mà ai mà hỏi về chuyện này, đúng là kẻ dzô diên…lãng xẹt! Nhưng một “phe kẹp tóc” của VTLV, thì trái lại, rất hân hoan công bố tuổi của mình!
Hôm nay, VTLV ta có tin vui, rộn ràng hơn cả thơ đăng trang nhà được triệu views! Một “đóa hồng…gai! Hawaii” – vừa lính vừa thi nhân – Chị Phạm Phan Lang của chúng ta, đã chạm mốc 75, mà vẫn tươi như mới… 35!
Người ta thường giấu tuổi, Chị Lang của chúng ta, lại “hét to cho đời biết!…mặt!”:
“Tôi bảy lăm rồi đó, có ai ganh tị không?”
Từ Lục Quân Hoa Kỳ đến vườn thơ VTLV, Chị vẫn giữ phong độ: thơ bay, hồn trẻ, nụ cười tươi như nắng, như sóng biển Hawaii!…ngày không có bão!
Ôi dzui quá xá là dzui! Xin mời Quý Vị, cùng VTLV nâng ly thật cao:
“Kính chúc Chị Phan Lang – Sức khỏe dẻo dai, ăn no chóng lớn! thơ vẫn còn… lai láng, Tuổi 75 – duyên dáng, đáng yêu, đáng kính, đáng… nâng ly!”
Một, Hai, Ba…Dzô! Đùa chút với Chị cho vui Ngày Sinh Nhật, thật ra VTLV muốn Kính chúc văn thi sĩ Phạm Phan Lang – sống vui, sống khỏe, sống… thật có phong cách độc đáo “VTLV”! Thật xông trận, không sợ ai, như lối…Nhà Binh!
Đại diện VTLV
Lê Văn Hải
THƠ DƯƠNG THƯỢNG TRÚC CHÚC MỪNG SINH NHẬT PHẠM PHAN LANG
Vô cùng tự hào về chị Phạm Phan Lang, một bậc nữ lưu tuấn kiệt, vừa giỏi giang đường binh nghiệp lại vừa làu thông kinh sử, văn thơ để lại hậu thế soi chung.
Rất vinh dự được biết chị, hy vọng có dịp được hội kiến để bày tỏ lòng ngưỡng mộ đối với bậc đàn chị kính yêu.
***
Văn thi sĩĐỗ Dung
Chung vui với Phạm Phan Lang , sinh nhật thật vui, nhiều kỷ niệm nhớ đời,
Cám ơn PHoa đã thực hiện món quà đặc biệt cho Phan Lang.
Đỗ Dung
***
Văn Thi Nhạc Sĩ Lê Thị Hoài Niệm
Cảm ơn Thi sĩ Phương Hoa nhiều lắm, đã cho đọc tin….độc đạo còn vui lạ nữa.
Rất hãnh diện về nữ sĩ Phạm Phan Lang. Chúc mừng Sinh nhật…của tuổi mới vào đời, hihi…
Chúc mừng trang nhà TVLV nhiều nhé , Phương Hoa rất tài hoa..
Chúc tất cả mọi người vui, khỏe.
Hoài Niệm
***
Buổi lễ Phát Động Phong Trào Vinh Danh Cờ Vàng – Westminster, California, 5/10/2025
Buổi lễ Phát Động Phong Trào Vinh Danh Cờ Vàng – Westminster, California, 5/10/2025 / Launch Ceremony of the Movement to Honor the Yellow Flag – Westminster, California (Oct. 5, 2025)
Xin trân trọng chia sẻ cùng Quý vị bài tường trình và một số hình ảnh trong Buổi Lễ Phát Động Phong Trào Tôn Vinh Cờ Vàng được tổ chức tại Tượng Đài Chiến Sĩ Việt–Mỹ, Westminster, California, vào Chủ Nhật, ngày 5 tháng 10 năm 2025, với sự tham dự đông đảo của các hội đoàn, tổ chức tôn giáo, binh chủng trong quân phục và đồng hương Việt Nam.
Xin kính mời Quý vị đọc bài viết và xem một số hình ảnh tiêu biểu bên dưới. (Ở cuối email có link album hình đầy đủ để Quý vị thưởng lãm thêm.)
BẢN TIẾNG VIỆT
Tôi rất vinh dự được tham dự Buổi Lễ Phát Động Phong Trào Tôn Vinh Cờ Vàng tại Tượng Đài Chiến Sĩ Việt–Mỹ, Westminster, California vào sáng Chủ Nhật vừa qua (từ 10 giờ sáng đến 1 giờ trưa). Buổi lễ quy tụ đông đảo các hội đoàn, tổ chức tôn giáo, binh chủng trong quân phục và đồng hương Việt Nam, trong không khí trang nghiêm, xúc động giữa rừng cờ vàng tung bay phất phới.
Một điểm đặc biệt làm nên ý nghĩa thiêng liêng của buổi lễ là sự hiện diện của Linh mục Nguyễn Hữu Lễ, 82 tuổi, từ New Zealand sang tham dự và ủng hộ phong trào. Cha Lễ, cùng với các vị lãnh đạo tôn giáo và các đoàn thể chính trị chân chính hải ngoại, là linh hồn và biểu tượng tinh thần của Phong Trào Tôn Vinh Cờ Vàng. Trải qua 13 năm tù đày trong lao tù cộng sản Việt Nam, chịu nhiều gông cùm và khổ nhục, ngài vẫn giữ vững đức tin và ý chí sống kiên cường. Khi được tự do và định cư tại New Zealand, Cha đã viết và xuất bản hồi ký “Tôi Phải Sống” (2003) — một tác phẩm chan chứa lòng yêu nước, niềm tin và tinh thần đấu tranh bất khuất — được tái bản năm lần và lan tỏa sâu rộng trong cộng đồng người Việt hải ngoại
Cha Lễ không chỉ kiên cường đấu tranh để bảo vệ Lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ — biểu tượng thiêng liêng của Tự Do và Dân Chủ Việt Nam — mà còn bền bỉ vận động để khôi phục tên Sài Gòn, thay cho tên Thành phố Hồ Chí Minh mà chế độ cộng sản đã áp đặt từ ngày 2 tháng 7 năm 1976. Sự hiện diện của ngài, một người từng chịu nhiều đọa đày vì đức tin và dân tộc, đã mang lại cho buổi lễ chiều sâu tinh thần đặc biệt, gợi nhớ những ký ức lớn lao và thiêng liêng trong lòng người Việt yêu nước.
Một kỷ niệm riêng khiến tôi vô cùng xúc động là vào năm 2005, khi Cha Lễ đến thăm tôi tại nhà ở Hawaii. Chúng tôi ngồi trên balcony nhìn ra Vịnh Kaneohe, và Cha đã chia sẻ rất nhiều về ước vọng của ngài trong công cuộc lấy lại tên Sài Gòn cho Việt Nam. Hơn 20 năm sau, khi chúng tôi tái ngộ, Cha vẫn nhận ra tôi ngay, còn nhắc đến cảnh đẹp Vịnh Kaneohe và tên ông xã quá cố của tôi — khiến tôi vô cùng cảm động và trân quý tình thân, cũng như lý tưởng kiên định của Cha.
Buổi lễ này không chỉ là một nghi thức phát động mà còn là tuyên ngôn tinh thần, nhắc nhở rằng: dù ở hải ngoại, người Việt vẫn trân trọng di sản của cha ông, vẫn hướng về quê hương trong tư thế kiêu hãnh, không quỵ lụy. Lá Cờ Vàng tung bay giữa không gian Westminster chính là ánh sáng biểu tượng cho lòng tự do, tinh thần đoàn kết và ý chí kiên cường của người Việt yêu nước.
Chương trình gồm phần cầu nguyện trước bàn thờ Tổ quốc do Hòa thượng Thích Minh Tuyên chủ lễ; các bài phát biểu sâu sắc của Hòa thượng Thích Huyền Việt, Linh mục Nguyễn Hữu Lễ, Thị trưởng Charlie Nguyễn Mạnh Chí, Dân biểu Tạ Đức Trí cùng nhiều vị thân hào nhân sĩ khác, xen kẽ với các tiết mục văn nghệ đặc sắc của các ca sĩ địa phương. Đặc biệt, các đoàn ca vũ thuộc Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ do nhạc sĩCao Minh Hưng phụ trách đã mang đến bầu không khí tươi vui và xúc động. Bàn thờ Tổ quốc được trang trí trang nghiêm, đẹp mắt, góp phần làm nổi bật tinh thần thiêng liêng và ý nghĩa trọng đại của buổi lễ.
Tôi rời buổi lễ trong lòng nghẹn ngào — nhìn từng lá cờ vàng bay cao, nghe từng lời phát biểu chan chứa niềm tin, tôi cảm nhận rằng di sản cha ông không hề mai một. Sự hy sinh, niềm tin và khát vọng của Linh mục Nguyễn Hữu Lễ mãi là ngọn đuốc soi đường. Xin cầu chúc cho phong trào này lan rộng, cho tinh thần dân tộc Việt luôn mạnh mẽ và tận hiến.
Trân trọng, Phạm Phan Lang
ENGLISH VERSION
It was my great honor to attend the Launch Ceremony of the Movement to Honor the Yellow Flag at the Vietnamese–American War Memorial in Westminster, California, on Sunday, October 5, 2025, from 10 a.m. to 1 p.m. The event brought together numerous community organizations, religious leaders, and veterans in uniform, as well as a large gathering of Vietnamese compatriots, in a solemn and deeply emotional atmosphere beneath a sea of yellow flags fluttering proudly in the breeze.
A truly meaningful highlight of the ceremony was the presence of Father Nguyễn Hữu Lễ, 82 years old, who traveled from New Zealand to attend and support the movement. Father Lễ, along with other religious leaders and righteous political organizations of the overseas Vietnamese community, stands as the spiritual heart and symbol of the Movement to Honor the Yellow Flag. Having endured 13 years of imprisonment under the Vietnamese communist regime, suffering hardship and humiliation, he remained steadfast in his faith and indomitable will to live. After regaining his freedom and resettling in New Zealand, he wrote and published his memoir, “Tôi Phải Sống” (“I Must Live”), in 2003 — a powerful testament of patriotism, conviction, and resilience, which has been reprinted five times and continues to inspire Vietnamese communities worldwide.
Father Lễ has not only fought tirelessly to defend the Yellow Flag with Three Red Stripes — the sacred emblem of Vietnamese freedom and democracy — but has also persistently advocated for restoring the name “Saigon,” replacing “Ho Chi Minh City,” which the communist regime imposed on July 2, 1976. His presence, as one who has suffered profoundly for his faith and his nation, lent the ceremony a deep spiritual resonance, awakening powerful memories and stirring hearts with national pride.
On a personal note, I was deeply moved to see him again after more than twenty years. Back in 2005, during one of his visits to Hawaii, Father Lễ came to my home. We sat together on the balcony overlooking Kaneohe Bay, where he spoke passionately about his dream of restoring the name Saigon to Vietnam. When we met again this year, he immediately recognized me and fondly recalled the beauty of Kaneohe Bay — and even remembered my late husband’s name — a moment that touched me profoundly and filled me with admiration for his enduring spirit and friendship.
This ceremony was not merely an official event but a spiritual declaration — a reminder that, even in exile, Vietnamese people continue to cherish their heritage, honor their ancestors, and uphold freedom with dignity and pride. The Yellow Flag flying high over Westminster stands as a radiant symbol of liberty, unity, and the unyielding Vietnamese spirit.
The program began with a prayer before the Altar of the Fatherland led by Venerable Thích Minh Tuyên, followed by insightful speeches from Venerable Thích Huyền Việt, Father Nguyễn Hữu Lễ, Mayor Charlie Nguyễn Mạnh Chí, Assemblyman Tạ Đức Trí, and other distinguished community leaders. The ceremony was interwoven with inspiring musical performances by local artists, including a touching performance by the dance troupes of the Artists’ Friendship Club directed by musicianCao Minh Hưng, which brought youthful energy and heartfelt emotion to the gathering. The Altar of the Fatherland, beautifully and reverently decorated, served as a spiritual centerpiece, emphasizing the sacredness and significance of the ceremony.
As I left the event, my heart was filled with emotion. Watching the yellow flags soaring high and listening to the heartfelt words of faith and unity, I realized that our national heritage remains alive. The courage, faith, and devotion of Father Nguyễn Hữu Lễ continue to shine as a guiding light. May this movement grow stronger and may the Vietnamese spirit of freedom endure forever.
CA KHÚC MỚI: MỘNG TƯỞNG và NIỀM QUÊ. Thơ: Phạm Phan Lang – Nhạc: Trần Đại Bản và Mộc Thiêng. Ca sĩ: Anka Ngọc Thúy & Đông Nguyễn.
==
VTLV TRANG ĐẶC BIỆT NGÀY CỦA MẸ. Thành Viên VTLV và Thân Hữu.
BÀI THƠ TẶNG MẸ. CAO MỴ NHÂN
Tặng Mẹ bài thơ viết dở dang
Đèn trời thắp sáng cửa thiên đàng
Mẹ đi khi đó con ngơ ngác
Bà khóc lúc nào lệ chứa chan
Hơn nửa trăm năm rời đất Bắc
Đôi phần nhật nguyệt sống trong Nam
Chẳng bao giờ nghĩ về quê cũ
Đốt nén hương xa thấy bẽ bàng
Ngày Lễ Mẹ danh vang xứ người
Hoan ca phụ nữ đón hoa tươi
Bạch hồng đài các thơm vòng cổ
Hoàng cúc hồn nhiên thắm nụ cười
Không một niềm vui thêm kỷ niệm
Tròn nguyên nỗi khổ mãi trùng khơi
Kiếp sau hạnh ngộ làm con Mẹ
Mẫu tử tình thâm suốt cuộc đời …
Rancho Palos Verdes 8 – 5 – 2025
CAO MỴ NHÂN
11 -5 – 2025
NHỚ MẸ HIỀN – THƠTrần Công/Tiền Giang Tử
Nhớ thương Mẹ lắm, Mẹ hiền ơi!
Mẹ đã xa con mãi mãi rồi
Đã mấy mươi năm con mất Mẹ
Mà lòng thương nhớ vẫn không nguôi.
Mẹ đã đưa con đến với đời
Khổ công dưỡng dục con nên người
Đến ngày ly loạn con xa Mẹ
Không gặp mẫu thân thưa mấy lời.
Ngày Mẹ bước lên tàu thiên cổ
Con đang lưu lạc ở quê người
Không về gặp Mẹ giờ phút cuối
Đau lòng con lắm, Mẹ hiền ơi!
Nuôi con nhờ lúc tuổi về già
Đến lúc Mẹ già, con bỏ đi
Tích cốc phòng cơ, cơ bất cốc
Dưỡng nhi đãi lão, lão vô nhi.
Hương lòng bốc khói tận trời xanh
Tưởng nhớ công ơn đấng sanh thành
Đã lỡ kiếp này con bất hiếu
Xin nguyền đáp nghĩa kiếp lai sanh.
Hoa Đô(Lockwood House)
Trần Công/Tiền Giang Tử.
CHÙM THƠ VỀ MẸ – ĐÔNG RY NGUYỄN
BÁNH XÈO CỦA MẸ NGÀY MƯA
* Hôm nay được đãi bánh xèo Mực cơm tôm thẻ nước lèo rau xanh Ngồi ăn trong dạ chẳng đành Bâng khuâng chống đũa nhớ hình ảnh xưa Bánh xèo Mẹ đúc ngày mưa Bột không với chút dầu dừa mà ngon!
* Nhớ thuở xưa những ngày mưa lạnh lẽo Cha thường kêu mẹ đúc bánh xèo Thấy đàn con háo hức hò reo Mẹ vui vẻ liền đi ngâm gạo Sang hàng xóm xay nhờ bột nhão Lục măng-rê tìm lại chén dầu dừa Rau ngoài vườn đủ thứ chẳng cần mua Thế là đủ cho khuôn tròn lên bếp nóng:
Củi riu riu …lửa hồng lan sức ấm Dầu dừa thơm …réo gọi vị con tì Tiếng xèo xèo …bột chín nổ văng đi
Bánh nóng hổi …mẹ hớt vào lá chuối Chén mắm cái …đỏ au màu ớt tỏi Chấm vào nhai …tay quẹt mũi hít hà! Nhìn con ăn …ngấu nghiến mẹ cười xoà Niềm hạnh phúc …bừng lên bên ánh lửa Cuộc sống nghèo …nhưng nghĩa tình chan chứa Quên sao đành ….hình ảnh mẹ thân thương!
Xa rồi tổ ấm quê hương Giờ con chén đắng viễn phương một mình Chiều nay mưa bất thình lình Ngồi trong quán lạ nhớ hình ảnh xưa…
Bánh xèo mẹ đúc ngày mưa Bột không với chút dầu dừa mà ngon!
–Chàng Đông Ry Nguyễn.
Mẹ Ơi…!
Kiều My
Tháng Năm lại về, mang theo nắng nhẹ và hương thơm của những cành hoa mẫu đơn – loài hoa tượng trưng cho tình mẹ. Giữa cuộc sống nơi xứ người, lòng con luôn hướng về Mẹ – người đã âm thầm nuôi con khôn lớn bằng cả một đời hy sinh. Dù Mẹ còn hay đã khuất, Mẹ vẫn là hình ảnh thiêng liêng không gì sánh bằng, hình bóng Mẹ vẫn luôn là nơi bình yên nhất trong trái tim con.
“Tình Mẹ” thật thiêng liêng và sâu lắng! Có lẽ trên đời này, không có tình cảm nào dịu dàng, bền bỉ và bao la như tình mẹ. Dù ta lớn lên, đi xa hay trải qua bao sóng gió, thì vòng tay và trái tim của mẹ vẫn luôn là nơi chốn bình yên nhất.
Khi con lớn khôn rời xa vòng tay Mẹ, đi đến những chân trời xa lạ rộng mở, con cảm thấy thấm thía nỗi nhớ mỗi lần nghe giọng Mẹ qua điện thoại, mỗi lần thấy bóng dáng ai đó giống Mẹ giữa chợ đông người. Những lời Mẹ dặn con năm nào, giờ đây vang vọng mãi trong tâm hồn con, như ngọn hải đăng soi lối giữa giông tố cuộc đời. Mẹ ơi, nếu có điều gì con luôn muốn nói – ấy là: Con thương Mẹ và con biết ơn từng phút giây được làm con của Mẹ. Dù Mẹ đã ra đi, con vẫn tin rằng tình yêu của Mẹ luôn dõi bước con đi trên đường đời đầy chông gai này và chở che con như thuở nào. Ngày Mother’s Day, con thầm nói: “Mẹ ơi… con thương Mẹ và nhớ Mẹ thật nhiều!”
Ngày Hiền Mẫu, để nhớ về người Mẹ đã ra đi trong nỗi ngậm ngùi– Người đã để lại trongcon một khoảng trống không gì lấp đầy; nhưng cũng là suối nguồn thương yêu bất tận, sống mãi trong tim con. Con nhận ra: Mẹ đã không còn nữa, Mẹ đã về cõi vĩnh hằng; nhưng tình yêu Mẹ để lại vẫn còn nguyên vẹn trong con như ngày nào. Con nhớ Mẹ từng khoảnh khắc sống trong đời, là khi con nấu món canh chua Mẹ từng ưa thích, nghe bài hát Mẹ hay hát không trọn vẹn, hay những câu nói ví von của Mẹ… Những điều nhỏ bé ấy cứ âm thầm nhắc con về Mẹ – về một hình bóng dịu dàng, thân thương mà vĩnh viễn con không thể gặp lại lần nữa.
Có những nỗi nhớ không thể gọi thành tên, chỉ biết rằng từ thẳm sâu trong tâm hồn, con luôn có một chỗ dành cho Mẹ – không ai có thể thay thế. Và con tin, ở một nơi nào đó thật bình yên và thanh thản, Mẹ vẫn dõi theo con. Mỗi lần con vấp ngã, con vẫn cảm nhận được bàn tay Mẹ vô hình đỡ con dậy. Mỗi lần con làm được điều tốt, dường như có nụ cười của Mẹ thoáng hiện trên nền trời mây trắng.
Ngày Mother’s Day, con không thể tặng Mẹ một bó hoa, không thể ôm Mẹ thật chặt; nhưng con có thể thắp lên một ngọn nến, một nén nhang và thì thầm với trời xanh: Mẹ ơi, con nhớ Mẹ vô cùng… và con sẽ sống sao cho xứng đáng với tình yêu Mẹ dành cho con cả một đời.
Ngày Hiền Mẫu, tôi nhớ lại ngày tôi rời nhà, Mẹ không khóc trước mặt tôi, đôi mắt Mẹ đỏ hoe và Mẹ nắm chặt tay tôi hơn thường lệ. Mẹ dặn dò đủ thứ –“Qua đó nhớ giữ gìn sức khỏe và cẩn thận mọi sự việc nơi xứ lạ quê người, nghe con…”; rồi Mẹ gói ghém từ cái áo ấm đến thuốc cảm cúm đặt trong giỏ xách cho tôi. Biết Mẹ lo, nhưng cũng biết Mẹ tự dặn lòng phải mạnh mẽ, để không làm tôi chùn bước. Mẹ tôi không biết nói những lời triết lý cao siêu, không giỏi thể hiện bằng những câu thơ văn, Mẹ chỉ lặng lẽ yêu thương bằng những chăm sóc chu đáo cho tôi. Tình Mẹ tưởng như giản dị mà hóa ra thiêng liêng vô cùng. Nhưng những ngày ấy đã lùi xa vào ký ức. Dù vậy, tôi biết tình mẹ chưa bao giờ xa tôi. Nó vẫn ở đây, trong từng nhịp thở, từng dòng chữ tôi viết, từng đêm trăn trở nhớ mẹ giữa mùa đông lạnh.
Ngày mẹ ngã bệnh, tôi đang ở xứ người và phải lo toan nhiều việc. Mẹ nói: “Đừng về vội, con à. Mẹ còn chịu được.” Tôi nghe mà nhói lòng, vì biết Mẹ sợ tôi lo lắng và bận tâm. Tôi cứ ngỡ còn thời gian một tháng nữa, hai tháng nữa, hay lâu hơn nữa… Rồi bỗng một ngày điện thoại reo giữa đêm khuya… Tôi lặng người! Thời gian không chờ ai, và Mẹ tôi… đã không chờ đợi được nữa!
Chuyến bay trở về nhà hôm ấy là chuyến đi dài nhất trong đời tôi. Không phải vì khoảng cách địa lý, mà vì lòng tôi nặng trĩu. Tôi không dám khóc giữa sân bay đông người, nhưng trong tim tôi, nước mắt đã chảy từ lâu – chảy từ khoảnh khắc tôi biết mình đã không kịp trở về, để nhìn Mẹ lần cuối và nghe Mẹ trối trăn!
Tôi đứng trước bàn thờ Mẹ, gục đầu, thì thầm: “Mẹ ơi, con về rồi đây… Nhưng muộn quá phảikhông Mẹ?” Mẹ lặng thinh! Chỉ có khói nhang bay lên di ảnh của Mẹ làm nhạt nhòe mắt Mẹ như ánh mắt Mẹ ngày tôi xa lìa gia đình. Từ ngày ấy, tôi sống với một vết thương không thể lành – vết thương của sự xa cách cuối cùng. Nhưng cũng từ đó, tôi hiểu sâu hơn về “tình mẹ”: đó là tình yêu không cần sự có mặt, vẫn âm thầm nâng đỡ tôi mỗi ngày, dù Mẹ đã đi xa. Giờ đây, mỗi khi nhìn lên bầu trời, tôi lại khẽ nói: “Mẹ ơi, con nhớ mẹ nhiều lắm.”Và tôi tin đâu đó, Mẹ vẫn mỉm cười nhẹ nhàng như những năm tháng xưa – khi Mẹ đứng trước cửa chờ tôi về, mái tóc bạc lấp lánh trong nắng chiều.
Mẹ –là hình dáng của tình yêu vĩnh cửu. Trong dòng đời hối hả, có một điều luôn âm ỉ cháy không tàn, đó là “ tình yêu của mẹ.” Tình yêu ấy không cần lý do để bắt đầu, cũng không chờ điều kiện để tồn tại. Mẹ là tiếng gọi đầu tiên ta thốt lên, là bóng hình cuối cùng ta giữ mãi trong tim. Có nhiều đại văn hào trên thế giới cũng đã từng ca ngợi “Tình Mẹ” như Victor Hugo viết: “A mother’s arms are made of tenderness and children sleep soundly in them.”
(Vòng tay mẹ được dệt bằng sự dịu dàng, và trong đó con trẻ ngủ giấc bình an.)
Mẹ không chỉ là người sinh ra ta — mà còn là người chắp cánh cho ước mơ, dạy ta biết yêu thương, biết vươn lên giữa giông bão. Dù thời gian có đưa Mẹ đi xa, thì tiếng gọi “Mẹ ơi” vẫn mãi là lời thì thầm thiêng liêng nhất đời người.
Plato đã từng nói: “There is no greater love than that of a mother.”
(Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của một người mẹ.)
Trong mắt Mẹ, ta luôn là đứa trẻ nhỏ cần được vỗ về, dù ta đã là người trưởng thành giữa cuộc đời. Mẹ âm thầm lo lắng khi ta đi xa, thầm lặng vui mừng mỗi lần ta trở về. Mẹ cười sau lưng những thành công của ta, và khóc lặng lẽ cho những tổn thương mà ta chẳng hay biết.
Có một câu nói khuyết danh, nhưng hàm chứa một chân lý sâu xa:
“God could not be everywhere, and therefore he made mothers.”
(Thượng đế không thể có mặt ở khắp nơi, vì thế Ngài đã tạo ra người mẹ.)
Mother’s Day không chỉ là dịp để tặng hoa, gửi quà, mà là một khoảnh khắc để ta lắng động tâm hồn, gởi đến Mẹ một lời cảm tạ từ trái tim. Dù Mẹ còn trên đời hay đã về bên kia thế giới, tình mẹ vẫn là nơi ta hướng về, mỗi khi đời bão giông.
Abraham Lincoln đã nói:
“All that I am, or hope to be, I owe to my angel mother.”
(Tất cả những gì tôi có được, hay hy vọng đạt tới, tôi đều nhờ người mẹ thiên thần của tôi.)
Cùng một nỗi niềm chung về “Tình Mẹ”, ngay trong thế giới âm nhạc mênh mông không biên giới, cũng vẫn có chỗ cho những bài hát ca tụng “Tình Mẹ”. Như hai ca khúc tiêu biểu: Maman oh Maman và Lòng Mẹ – hai bản nhạc cảm động đến tận cùng trái tim, tuy đến từ hai nền văn hóa, địa ly khác nhau; nhưng lại cùng chan chứa một tình yêu vĩ đại; đó là: tình mẫu tử.
“MAMAN OH MAMAN” – LỜI GỌI TỪ TRÁI TIM
Maman oh Maman là một ca khúc Pháp nổi tiếng, một bản tình ca dành cho Mẹ với tất cả yêu thương và biết ơn. Giai điệu của bài hát mộc mạc, dịu dàng như lời thủ thỉ của một đứa con nói với mẹ, nhưng lại chứa đựng cả một trời yêu thương và khát khao. Ca khúc này vượt thời gian và biên giới vì nó chạm đến sợi dây thiêng liêng nhất của con người – đó là tình mẹ. Mỗi lần nghe, người ta như được trở về thuở ấu thơ, được nép vào vòng tay yêu thương nhất, nơi không có lo toan, chỉ có hơi ấm và tiếng ru ngọt ngào.
Maman oh Maman, toi qui m’as donné. Tant de tendresse depuis tant d’années
Tu le sais bien, quand je serai grand. Je penserai à toi, Maman
Maman oh Maman, le jour et la nuit. Je veillerai toujours sur ta vie
Je serai là à tout les instants. Pour te protéger, Maman…
LÒNG MẸ” – BẢN THÁNH CA CỦA TÌNH MẸ
Nếu Maman oh Maman là lời hát của đứa con dành cho mẹ, thì Lòng Mẹ – một ca khúc bất hủ của nhạc sĩ Y Vân – là khúc ngợi ca cao nhất tình mẹ Việt Nam: sâu như biển Thái Bình, bao la như trời lồng lộng. Với những hình ảnh ẩn dụ tuyệt đẹp:
“Lòng Mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào
Tình Mẹ tha thiết như dòng suối hiền ngọt ngào…
“Lòng Mẹ thương con như vầng trăng tròn mùa thu
Tình Mẹ âu yếm như làn gió đùa mặt hồ…”
Bản nhạc Lòng Mẹ rất tha thiết, mỗi khi âm điệu của bản nhạc cất lên làm rung động cả con tim và giọt lệ chợt ứa trong khóe mắt. Tình Mẹ sao quá đỗi ngọt ngào, Mẹ hy sinh cả một đời cho con, Mẹ luôn là người duy nhất không bao giờ bỏ rơi con, dù con thành công hay thất bại, giàu sang hay nghèo khó. Giai điệu ca khúc nhẹ nhàng, da diết, tràn đầy cảm xúc như lời ru vọng lại từ ký ức; khiến không ít người khi cất lên bài hát này đã không thể cầm được nước mắt.
Dù khác ngôn ngữ, khác văn hóa, nhưng Maman oh Maman và Lòng Mẹ đều chạm đến sâu thẳm trái tim người nghe. Mama oh Maman – như tiếng con trẻ nói với Mẹ với tất cả yêu thương hồn nhiên; Lòng Mẹ là tiếng hát thành kính, dạt dào như khúc thánh ca dâng lên người Mẹ hiền đã hy sinh cả cuộc đời cho con.
Hai ca khúc – hai thế giới – nhưng chung một tình yêu: – đó là Tình Mẹ vĩnh cửu.
Happy Mother’s Day DẤU CHÂN MẸ
Kiều My
(Kính tặng những người Mẹ – còn đó hay đã xa…)
Trên đường đời con bước Có dấu chân ai quen Âm thầm như hơi thở Nhưng ấm từng bước lên.
Có Mẹ là có nắng Chợt một ngày đông tan Có Mẹ là tiếng hát Ru con suốt tháng năm.
Mẹ xa rồi trăng khuyết Hương bếp cũ mơ hồ Bóng Mẹ như trong gió Về bên cửa đợi chờ…
Con ngồi nghe mưa rớt Trên mái nhớ ngày xưa Từng bữa ăn đạm bạc Mẹ nhường con hơn thừa.
Dẫu Mẹ còn hay khuất Trong tim con vẫn đầy Một vầng trăng không tắt Dẫn con suốt tháng ngày…
Trong cuộc đời viễn xứ, đôi khi chúng ta không ngờ rằng giây phút chia xa cuối cùng với Mẹ lại đến quá đột ngột. Những dòng hồi tưởng này chan chứa nỗi ngậm ngùi của một người con sống xa quê nhà, mang trong tim nỗi ray rứt không thể ở cạnh Mẹ trong những ngày cuối đời của Mẹ. Nhưng cũng từ đó, ta nhận ra rằng tình mẹ vẫn luôn hiện hữu – âm thầm, bao la, và vĩnh viễn không rời xa. Dù Mẹ còn trên đời hay đã đi xa, tình mẹ vẫn luôn là ánh sáng dịu dàng dẫn lối trong suốt hành trình của đời ta.
Kiều My
California, Mother’s Day 2025
THƠ PHỔ NHẠC PHẠM PHAN LANG:
Vào một mùa Lễ Mẹ của nhiều năm về trước, PL đã viết bài thơ “Mẹ” theo thể Haiku – ngắn gọn nhưng cô đọng những hình ảnh quê hương và nỗi nhớ mẹ da diết trong tim người con xa xứ. Bài thơ mộc mạc ấy đã được hai nhạc sĩ tài hoa ưu ái phổ thành hai ca khúc sâu lắng và cảm động.
MẸ
Buồng chuối chín sau vườn Lá vàng rụng con mương ngoài ngõ Văng vẳng tiếng ầu ơ
Con chinh chiến chưa về Đêm nghe gió đường quê mơ màng
Thấy Mẹ trong giấc mơ Áo hoa con biếu Mẹ ngày nào Che phủ tấm lưng cong
Ngày xưa một đóa hồng Nay áo đẹp má hồng Mẹ phai
Vườn sau xanh bông cải Mẹ thương con tháng ngày dầu dãi Trông con đầu bạc trắng
Dạ con tấc lòng son Đêm nhớ Mẹ mỏi mòn từng đêm
Hoa sứ nở đầy cành Dây trầu xanh lá vẫn vấn quanh Con ơi, sắp về chưa?
Dù đường đời trắc trở Con sẽ về têm miếng trầu xanh
phamphanlang
Bài thơ mộc mạc ấy đã được hai nhạc sĩ tài hoa ưu ái phổ thành hai ca khúc sâu lắng và cảm động:
Nhạc sĩ Vĩnh Điện phổ nhạc và ca sĩ Diệu Hiền trình bày với giọng ca trong trẻo, ngọt ngào: Mẹ – Diệu Hiền, nhạc Vĩnh Điện
Nhạc sĩ Mộc Thiêng cũng xuất sắc phổ thành ca khúc thứ hai, được thể hiện nồng nàn và truyền cảm qua giọng hát của ca sĩ Đông Nguyễn: Mẹ – Đông Nguyễn, nhạc Mộc Thiêng
Nhân dịp Lễ Mẹ, PL xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến hai nhạc sĩ Vĩnh Điện, Mộc Thiêng và hai ca sĩ Diệu Hiền, Đông Nguyễn – những người đã thổi hồn vào bài thơ bằng giai điệu và giọng ca tuyệt vời, giúp bài thơ nhỏ bé này lan tỏa và chạm đến trái tim người nghe.
Xin kính mời quý vị cùng lắng nghe và tưởng nhớ những người Mẹ thân yêu trong mỗi chúng ta.
Kính chúc quý vị một mùa Lễ Mẹ an vui và tràn đầy yêu thương.
PLang
==
THƠ PHƯƠNG HOA
VÀBÀI HÁT “NGÀY MẪU TỪ NHỚ MẸ“
NGÀY MẪU TỪ NHỚ MẸ
*
Từ xa con nhớ Mẹ nhiều
Mơ về cố quốc mỗi chiều quắt quay
Hoàng hôn bảng lảng vầng mây
Hạc vàng xoải cánh chở đầy yêu thương
*
Ngày con từ biệt quê hương
Mẹ già tóc bạc sầu vương chập chùng
Đông Tây sương khói mịt mùng
Bao năm chờ đợi tương phùng vấn an
*
Nhà đưa tin đến bàng hoàng
Đất trời chao đảo hoang mang vô bờ
Từng mong từng ước từng giờ
Ước mong gặp Mẹ cơn mơ ngập sầu
*
Ai làm biển cả ruộng dâu
Mẫu Từ vĩnh biệt lòng đau nghẹn ngào
Mộ phần hương khói ra sao
Đông tàn Xuân đến biết bao nỗi niềm
*
Chiều nay con nhớ Mẹ hiền
Từng cơn gió lượn ngoài hiên não nề
Gian nan đời Mẹ trăm bề
Vì con vất vả không hề trách than
*
Mẹ đà vĩnh biệt trần gian
Bước chân con vẫn lang thang cõi nào
Hoàng hôn thắm trải xôn xao
Nhưng lòng con trẻ dạt dào nhớ thương
*
Chiều về giọt nắng buồn vương
Cầu nơi Cực Lạc Mẹ nương phật đà
Thân con, bốn biển là nhà
Ngày Mẫu Từ, con nhớ Mẹ già…Mẹ ơi….
*
Phương Hoa – Ngày Mother’s Day, MAY 2025
===
THƠ SONG NGỮ VIỆT ANHVỀ MẸ
MẸ TÔI
Năm lên sáu Tôi đã thích đá banh Một bó giẻ tròn Mẹ tôi khâu kết Một trái bưởi xanh Mẹ hái sau vườn Tôi mê chơi Tới tắt mặt trời Quên cả giờ cơm Mẹ la, mẹ rầy
Năm mười sáu Tôi đã biết hẹn hò Ðèn sách biếng lười Mẹ buồn, mẹ lo Tương lai con Không được bằng người
Năm hai mươi Tôi lên đường Ðáp lời sông núi Mẹ không mấy vui Sợ mình sẽ mất Ðứa con trai Ðộc nhất trên đời
Ðơn vị đóng đồn xa Cả năm không về Lòng mẹ xót xa Từng ngày từng giờ Thương con mình vất vả Mũi tên hòn đạn Biết đâu ngờ
Những ngày về phép Ít khi gần gũi mẹ Quen tính lang bạt Tôi tìm lại bạn bè Ðàn ca xướng hát Nửa đêm mới về Mẹ hỏi Sao con không ở nhà với mẹ? Tôi hôn trán mẹ, mỉm cười
Vận nước nổi trôi Chí trai không tròn Tôi đi tù Mẹ già không ai nương tựa Thương con – Nỗi nhớ – Hao mòn Mẹ tôi mất Sáu tháng mới nghe tin Không cầm được nước mắt Hồn đau – Vỡ nát con tim
Trong trại tù Con thèm một tiếng rầy la Con thèm một lời hờn dỗi Con thèm một bàn tay trìu mến Con thèm một điệu ru hời Cuả mẹ ngày xưa Ðưa con vào đời Nhưng, nay còn đâu nữa Mẹ ơi!
NHƯ HOA
ANH NGỮ
MY MOTHER
When I was just a six-year-old boy Iá began playing soccer to enjoỵ A ball of rags my mother sewed around A green pomelo picked from the rear ground. I indulged in the matches forgetting to eat Causing my mother to chide, nearly to beat.
When coming to the age of sixteen I already became on dates keen. I neglected my lessons to learn Leading my mother to sadness and concern That my future would be inferior to my peers’.
When I reached of age twenty years, My country got in danger, I joined the army. This position was not deemed balmy But dangerous and made my mother fear The loss of her only begotten son so dear.
My unit was stationed all year far away. I had no home leave even for half a day. It pained my mother again and again to regard My trying conditions as too hard: Exposed to arrows and bullets, who knows?
After surviving many deadly blows, I obtained permission. But, used to roaming, I went with friends on carousing and foaming, And only came home late at night Allowing myself little time within her sight. My mother asked why. Fearing she got riled, I kissed her on the forehead, and smiled.
The fortune of the country turned ill From bad to worse against my he-man’s will. I became a POW. My mother had no help. She loved me, missed me, but did not yelp. I heard the sad news six months late After she had pined away to fate. I could not hold back and burst into tears; I felt my heart broken for all my life’s years. * * * During my days in the enemy’s jail, How I wished I could hear at me you rail! How I craved for your against-me grudge, Your hand to move my mind hard-to-budge, Your lullaby to raise my good-natured soul Leading me into life, guiding me toward a goal: But now I can’t about those myself bother — Oh my dear mother!
Tôi muốn viết những vần thơ tặng Mẹ Gửi lên trời nhờ mây gió mang đi Mẹ ở trên cao ngàn thu cách biệt Ngày lễ Mẹ, giọt lệ ướt trên mi. Dâng lên Mẹ những vần thơ sầu muộn Cách biệt thiên thu, hoài niệm quay về Trên Thiên quốc nhìn về nơi trần thế Hồn ca dao vang vọng gió hương quê. Chiếc nôi êm ru con ngủ trưa hè Lời Mẹ ru giọt mật thấm trong mê Mẹ là dòng sông êm đềm xuôi bến Tắm ướt hồn con soi sáng đường về.
Dòng sông ơi! Sóng vỗ về lưu luyến Nhớ về Mẹ hồn đau nhói lệ rơi Con ôm cả bó hồng dâng tặng Mẹ Thắp nén nhang buồn khói toả chơi vơi. Tế Luân
Tưởng nhớ đến Mẹ tôi
người đã yên nghỉ trên Thiên Đàng
Bó Hồng Tặng Mẹ
Con cung kính. Bó hồng riêng tặng mẹ
Cả tình thương, sâu thẳm của tâm hồn
Mẹ là suối nguồn, dòng chảy tinh khiết
Nuôi con một đời, đến tuổi lớn khôn.
Dâng lên Mẹ ngàn đóa hồng thắm đỏ
Dòng máu hồng. Mẹ trao tặng cho con
Ngày lễ Mẹ, bồi hồi thêm nỗi nhớ
Nhớ ơn người, nuôi nấng thuở măng non.
Tình yêu mẹ, dạt dào như sóng vỗ
Vỗ giấc bình yên, chăm sóc đời con
Viết về Mẹ, lời thơ đầy nước mắt
Vào nỗi buồn, tuổi xuân đã hao mòn.
Công ơn Mẹ, sánh núi cao, biển cả
Thấu trời xanh. Thượng Đế phải ngậm ngùi
Mẹ là thảo nguyên bao la bát ngát
Dòng suối nguồn, tuôn chảy những ngọt bùi.
Mẹ trên cao, như sao sáng trên trời
Mẹ hiền từ, ôm con cả một đời
Lời nguyện cầu, con ước mơ về mẹ
Tiếng mẹ dịu dàng, nhớ mãi không ngơi.
Tình yêu của mẹ bao la biết mấy
Sáng như mặt trời, đẹp như mây bay
Ai! Còn Mẹ, đừng làm Mẹ bật khóc
Đừng để buồn, giọt lệ ướt trên tay.
Xin gửi đến Mẹ, ngàn đóa hoa hồng
Thắm sương long lanh, ướt cả nỗi lòng
Lời nghẹn ngào, bài thơ ngày lễ mẹ
Buộc vào hoa, gửi mẹ những hoài mong.
Lê Tuấn
Vần thơ tưởng nhớ đến Mẹ.
Gửi đến Mẹ ngàn đóa hoa hồng,
Thấm ướt trên nhánh lá những giọt nước mắt long lanh
thương nhớ Mẹ hiền.
4 Ca Khúc Thơ & Nhạc Lê Tuấn – Hòa Âm & Trình Bày AI
-Ngày của Mẹ (Mother‘s Day) ấn định mừng vào ngày Chủ Nhật thứ nhì của tháng 5 hằng năm. Đây là ngày để tôn vinh các bà mẹ, bà nội, bà ngoại, vì những đóng góp to lớn của họ cho gia đình, cộng đồng và xã hội
Nguồn gốc ngày của Mẹ có từ rất lâu, vào thời kỳ cổ Hy Lạp và La Mã. Nhưng cái gốc lịch sử Ngày Của Mẹ, có thể tìm thấy ở Anh Quốc, nơi đó Chủ Nhật Ngày của Mẹ, đã được tổ chức tưng bừng, trước khi lễ mừng này được “di cư” thành hình, bên Hoa Kỳ.
Dầu vậy, việc ăn mừng liên quan của ngày này, lại được coi là một hiện tượng, chỉ mới gần đây, mới hơn một trăm năm.
Thật ra, phải cảm tạ công khó của những phụ nữ tiền phong, như Julia Ward Howe và Anna Jarvis, mà “ngày này” mới được chính thức thành hình.
Ngày nay, việc tổ chức, tiệc mừng cho Ngày của Mẹ, đã được trên 50 quốc gia của thế giới công nhận. (Mặc dầu vào những ngày khác nhau) Trở thành những Ngày Lễ ý nghĩa, mà mọi người yêu thích nhất! Hàng triệu người trên khắp thế giới, dùng cơ hội này để nhớ đến, kiếm cách trả ơn bà mẹ của mình, tri ân họ về việc sanh thành, dưỡng dục, để họ thành người.
Ngày của Mẹ, được tổ chức tưng bừng nhất ở những quốc gia như: Mỹ, Nga, Anh Quốc, Ấn Độ, Đan Mạch, Phần Lan, Ý, Thổ Nhỉ Kỳ, Úc Đại Lợi, Mễ Tây Cơ, Gia Nã Đại, Trung Hoa, Nhật Bản, và Bỉ. Người ta dùng cơ hội của ngày này, để tỏ lòng tôn kính mẹ của mình và tri ân họ về tình yêu thương, sự nâng đỡ của Mẹ trong đời sống.
Nhưng ngày này, càng ngày càng phai mờ ý nghĩa, vì bị thương mại hóa. Đường dây điện thoại thì bận rộn, kẹt cứng nhất trong năm. Tiêu thụ hoa, quà, card, nhiều nhất! Nhà hàng cũng có khách đông nhất vào ngày lễ này. Ngày của Mẹ trở thành ngày làm ăn hốt bạc, cho những tiệm cắm hoa, những nhà làm thiệp và người bán quà tặng, cho cả dịch vu du lịch. Cơ hội hiếm có để kiếm tiền trong ngày này. Bằng chứng qua những cuộc quảng cáo quy mô, trước đó vài ba tháng, để thu hút khách hàng.
Thật là tiếc để ghi nhận rằng, bà Anna Jarvis đã bỏ hết cuộc đời, cho việc vinh danh ý nghĩa cao đẹp ngày của Mẹ. Giờ chỉ còn là dịp để vui chơi, quà cáp, ăn uống, trong ngày lễ. Những bà mẹ già, vẫn cô đơn mừng ngày này, trong các viện dưỡng lão. Trong khi các con của mình, tưng bừng hội hè ăn chơi phía ngoài, chẳng còn nhớ gì đến Mẹ của mình cả. Thật chua xót về tính cách thương mại hóa của ngày này. Mà đâu phải một lễ này đâu, lễ nào trên đất Mỹ này cũng thế!
Những câu danh ngôn về Mẹ nổi tiếng và ý nghĩa nhất
1. Với mẹ, dù lớn bao nhiêu, con mãi là một đứa trẻ! trong trái tim mình.
(Khuyết danh)
2. Chúa không thể ở khắp mọi nơi, để ban tình thương, ơn lành, nên Ngài sinh, tạo ra người mẹ!
(Proverbe Yiddish)
3. Khi bạn nhìn vào mắt của một người mẹ, bạn sẽ nhận biết được, tình yêu tinh khiết nhất, tuyệt vời nhất, mà bạn có thể tìm thấy trên trái đất.
(Mitch Albom)
4. Mẹ là người có thể thay thế bất kỳ ai khác, nhưng không ai có thể thay thế được mẹ.
(Gaspard Mermillod)
5. Tương lai của đứa con, luôn là công trình, tuyệt phẩm! hãnh diện nhất của người mẹ.
(Napoleon)
6. Tình thương của người mẹ, không bao giờ bị già nua, khi năm tháng trôi qua.
(Tục ngữ Đức)
7. Vũ trụ có nhiều kỳ quan, nhưng kỳ quan tuyệt diệu, quý báu nhất, là trái tim người mẹ!
(Bernard Shaw)
8. Không tình yêu nào vĩ đại, như tình yêu của người mẹ, dành cho đứa con của mình.
(Khuyết danh)
9. Người mẹ thật sự chẳng bao giờ rảnh rỗi, hình bóng con, luôn luôn hiện diện trong đầu và trái tim của Bà suốt cả đời!
(Balzac)
10. Tình yêu của người mẹ là yên bình, bình đẳng. Nó không cần bạn phải thông minh, đẹp đẽ, giỏi giang. Nó không cần bạn phải xứng đáng hay không! Nhiều khi khuyết tật, bạn còn nhận được nhiều hơn nữa!
(Erich Fromm)
11. Mẹ hiền sinh con ngoan, cây tốt sinh trái ngọt, lúa tốt cho gạo ngon.
(Ngạn ngữ Trung Quốc)
12. Người ta không bao giờ hiểu hết, nói hết về Thượng Đế, cũng như nói hết về người Mẹ.
(Ngạn ngữ Ấn Độ)
13. Mẹ nuôi con biển bờ lai láng, con nuôi mẹ kể tháng kể ngày.
(Tục ngữ Việt Nam)
14. Con đi ngàn dặm mẹ lo âu, Mẹ đi ngàn dặm con chẳng sầu.
(Ngạn ngữ Trung Quốc)
15. Khi bạn là một người mẹ, bạn không bao giờ thực sự cô độc trong suy nghĩ của mình. Một người mẹ luôn phải nghĩ hai lần, một lần cho bản thân và một lần cho con cái.
(Sophia Loren)
16. Một người mẹ vẫn mãi là một người mẹ, luôn luôn quan tâm đến những đứa con. Cho dù những đứa con đó đã lớn lên, vẫn là những đứa trẻ của riêng mình.
(Khuyết danh)
17. Trái tim của người mẹ là vực sâu muôn trượng, mà ở dưới đáy, bạn sẽ luôn tìm thấy sự tha thứ.
(Balzac)
18. Làm mẹ là một thái độ sống, thiêng liêng, không chỉ là mối liên hệ về sinh học.
(Robert A Heinlein)
Phong tục “Happy Mother’s Day!” tại các nước trên thế giới
-Đa số các quốc gia trên thế giới ngày nay, ăn mừng Ngày của Mẹ, với các phong tục bắt nguồn từ Bắc Mỹ và Châu Âu. Khi được phổ biến tại các nước khác, ngày của mẹ đôi khi được thay đổi đôi chút, để phản ảnh nền văn hóa từng nơi. Một số nước để hợp nhất ngày lễ này, với những sự kiện quan trọng của nhiều phong tục bản xứ (ví dụ như tôn giáo, lịch sử, và truyền thuyết)
*Ngày của mẹ ở Anh
Ngày của mẹ ở Anh cũng trùng vào ngày Chủ Nhật, bởi vậy mọi người thường tới nhà thờ làm lễ, sau đó mới trở về nhà của mình. Các thành viên trong gia đình, dù ở xa cũng sẽ cố gắng họp mặt đông đủ trong ngôi nhà của cha mẹ. Họ thường tổ chức một buổi tiệc có thiệp mừng, bánh gato, hoa quả, rượu và tặng quà cho những người mẹ.
*Ngày của mẹ ở Mỹ
Ngày của mẹ được khởi xướng trở lại sau thế chiến thứ hai tại Mỹ, do bà Anna Marie Jarvis đấu tranh xác lập, tại phố Grafton, tiểu bang Tây Virginia, Hoa Kỳ. Bà Anna Marie Jarvis quyết tâm thực hiện di nguyện của người mẹ quá cố. Người mẹ của bà Anna khi còn sống là một nhân viên an sinh, luôn đấu tranh không ngừng để làm rạng danh các bà mẹ, tri ân công sức của họ trong đời sống và vì hòa bình. Sau khi người mẹ mất, cộng thêm thái độ thờ ơ lãnh đạm của người dân Hoa Kỳ với thân mẫu của mình, càng thôi thúc quyết tâm của bà. Sau nhiều năm đấu tranh quyết liệt, vào năm 1911, Ngày Của Mẹ được tổ chức ở hầu hết các tiểu bang ở Mỹ. Vào ngày 8/5/1914, tổng thống Mỹ đã ký quyết định ấn định ngày Chủ nhật thứ hai của tháng Năm hàng năm là Ngày của Mẹ. Dần dần trở thành, một trong những ngày lễ được yêu thích nhất. Tiệc tùng cũng linh đình nhất!
*Ngày của mẹ ở Ấn Độ
Người Ấn Độ gọi ngày của mẹ là Durga Puja, trong đó “Durga” là tên của một nữ thần bảo vệ cho người dân Ấn Độ, khỏi mọi nguy hiểm trong cuộc sống. Họ tổ chức Ngày của mẹ như một lễ hội lớn vào tháng Mười, trong vòng… mười ngày! Đồng thời, với những người mẹ thật sự trong cuộc sống, mang nặng đẻ đau 9 tháng 10 ngày, cũng sẽ được người con vào bếp trổ tài nấu ăn và tặng quà cho mẹ.
*Ngày của mẹ ở Tây Ban Nha
Ngày của Mẹ được tổ chức vào ngày Chủ Nhật đầu tiên của tháng năm ở Tây Ban Nha. Người lớn thường tặng mẹ sôcôla, thiệp chúc mừng hay một số món quà ý nghĩa khác. Còn trẻ em thì tự tay làm tặng mẹ những tấm thiệp, hoặc làm món quà đơn giản.
*Ngày của mẹ ở Nhật Bản
Trong ngày của mẹ, trẻ em sẽ vẽ những bức tranh dành tặng cho mẹ của mình và tập hợp những bức ảnh đó thành một cuộc triển lãm nhỏ, với chủ đề tình cảm mẹ con và sự hi sinh thầm lặng của các bà mẹ Nhật.
*Ngày của mẹ ở Úc
Hoa cẩm chướng là loài hoa biểu trưng cho ngày của mẹ ở Úc. Bông hoa cẩm chướng vàng dùng để tặng người mẹ đang còn sống. Còn hoa cẩm chướng trắng được dành tặng một người mẹ đã quá cố. Vào ngày này, trẻ em thường dậy sớm, làm tặng mẹ đồ ăn sáng và mang đến bên giường ngủ, để mẹ thức dậy và thưởng thức.
Con Xin Hôn Mẹ!
(Thơ Trần Quốc Bảo)
-Con quí trọng vết nhăn trên mặt Mẹ,
Lớp da chập chùng như sóng đại dương!
Ấp ủ muôn trùng, lòng Mẹ yêu thương,
Muôn trùng hi sinh! – Muôn trùng đau đớn!
Để con sinh ra, để con khôn lớn.
Để hôm nay, con hiện diện giữa đời.
Me dạy con sống trọn đạo với Trời!
Và yêu người, như chính mình ta vậy.
Con không bao giờ quên lời Mẹ dạy,
Yêu Quê hương, yêu Tổ Quốc, giống nòi.
Mẹ đã dạy con: Thất bại mỉm cười…
Vịn lời Mẹ mà đứng lên can đảm!
Lời Mẹ dạy con: Thành công điềm đạm,
Mở rộng vòng tay giúp đỡ tha nhân.
Mẹ đã về Trời, xa cõi trầm luân…
Con vẫn yêu Mẹ như xưa còn bé.
Vì trong tim con, đậm hình bóng Mẹ!
Kỷ niệm tràn đầy như sóng đại dương.
Lòng Mẹ dạt dào, biển cả yêu thương.
Con xin hôn lớp nhăn trên mặt Mẹ!
Taj Mahal – Tuyệt Tác Kiến Trúc và Tình Yêu Bất Diệt – PHẠM PHAN LANG
Hành Trình Đến Taj Mahal – Tuyệt Tác Kiến Trúc và Tình Yêu Bất Diệt
Khoảng một năm trước, tôi và Barry, chồng tôi, đã có một chuyến viễn du kéo dài 22 ngày cùng Enrichment Journeys, khám phá Ấn Độ và các quốc gia Nam Á bằng cả đường bộ và du thuyền. Trong 10 ngày đầu tiên, chúng tôi rong ruổi trên đất liền, ghé thăm những thành phố nổi tiếng như Delhi, Agra, Jaipur, Mumbai và Goa, trước khi lên tàu để tiếp tục hành trình qua Sri Lanka, Thái Lan, Malaysia và Singapore.
Trong số những điểm đến kỳ vĩ của Ấn Độ, Taj Mahal ở Agra là nơi để lại trong tôi nhiều ấn tượng sâu sắc nhất. Ngày hôm ấy, đoàn chúng tôi gồm khoảng 20 du khách được hướng dẫn viên địa phương đưa đến khu phức hợp Taj Mahal. Vì chân Barry bị đau, chúng tôi thuê một chiếc xe lăn do người dân bản xứ đẩy đi. Điều này giúp chúng tôi có thể di chuyển dễ dàng hơn và tận hưởng trọn vẹn vẻ đẹp huy hoàng của công trình kiến trúc vĩ đại này.
Taj Mahal – Biểu Tượng Của Tình Yêu Vĩnh Cửu
Taj Mahal không chỉ là một kiệt tác kiến trúc mà còn là minh chứng cho tình yêu bất diệt. Công trình này được xây dựng vào thế kỷ 17 theo lệnh của Hoàng đế Shah Jahan để tưởng nhớ người vợ yêu dấu Mumtaz Mahal, người đã qua đời khi sinh đứa con thứ 14. Truyền thuyết kể rằng trước khi mất, bà đã yêu cầu nhà vua xây một lăng mộ thật đẹp để biểu tượng cho tình yêu của họ.
Mất hơn hai thập kỷ để hoàn thành, Taj Mahal huy động khoảng 20.000 thợ thủ công từ khắp nơi trên thế giới, cùng với những kiến trúc sư tài ba từ Ba Tư, Thổ Nhĩ Kỳ và Trung Á. Được làm hoàn toàn bằng đá cẩm thạch trắng nhập từ Rajasthan, Taj Mahal tỏa sáng lấp lánh dưới ánh mặt trời, biến đổi màu sắc theo từng thời khắc trong ngày.
Vẻ Đẹp Kiến Trúc Huyền Bí
Ngay từ khi đặt chân đến khu vực cổng chính, tôi đã bị choáng ngợp bởi vẻ đẹp của Taj Mahal. Lăng mộ chính với mái vòm hoàn hảo cao 73 mét, được trang trí bằng những hoa văn tinh xảo, đá quý và thư pháp Hồi giáo trích từ Kinh Koran.
Bố cục của Taj Mahal được thiết kế theo nguyên tắc đối xứng hoàn hảo. Hai bên lăng chính là hai công trình bằng sa thạch đỏ – một nhà thờ Hồi giáo và một nhà khách – tạo nên sự hài hòa trong tổng thể kiến trúc. Phía trước Taj Mahal là một khu vườn Mughal rộng lớn, với các kênh nước phản chiếu hình ảnh lăng mộ như một tấm gương, tạo cảm giác huyền bí và thơ mộng.
Cảm Nhận Khi Đặt Chân Đến Taj Mahal
Người ta thường nói rằng không có bức ảnh nào có thể lột tả hết vẻ đẹp thực sự của Taj Mahal, và điều này hoàn toàn đúng. Khi đứng trước công trình này, tôi cảm nhận được một sự thanh tịnh và trang nghiêm kỳ lạ. Cảm giác như thời gian dừng lại, và tôi có thể hình dung được tình yêu sâu đậm mà Hoàng đế Shah Jahan dành cho người vợ của mình.
Mặc dù chúng tôi không thể vào bên trong lăng mộ chính, nhưng chỉ cần dạo quanh khuôn viên và nhìn ngắm Taj Mahal từ nhiều góc độ khác nhau cũng đã đủ để khiến chúng tôi trầm trồ và cảm phục. Chúng tôi chụp rất nhiều ảnh để lưu giữ khoảnh khắc đẹp đẽ này, và mỗi bức ảnh đều phản ánh một nét huyền ảo riêng biệt của công trình.
Một Ký Ức Khó Quên
Chuyến thăm Taj Mahal không chỉ là một điểm đến du lịch mà còn là một hành trình cảm xúc, giúp tôi hiểu thêm về tình yêu, sự hy sinh và tài hoa của con người. Đó là một trải nghiệm đáng nhớ mà tôi sẽ luôn trân quý trong suốt quãng đời còn lại.
Xin mời thăm lăng mộ Tal Mahal qua hình ảnh, hy vọng quý vị sẽ cảm nhận được một phần sự kỳ diệu mà Taj Mahal đã mang đến cho chúng tôi.
https://photos.app.goo.gl/jvdmKJVhfduFa4uj7
Kính chúc sức khỏe và bình an.
Thân kính,
Pham Phan Lang
Bảng Tiếng Anh
Journey to the Taj Mahal – A Masterpiece of Architecture and Eternal Love
About a year ago, my husband Barry and I embarked on a 22-day journey with Enrichment Journeys, exploring India and other South Asian countries by land and sea. During the first 10 days, we traveled through famous cities such as Delhi, Agra, Jaipur, Mumbai, and Goa, before boarding a cruise to continue our adventure through Sri Lanka, Thailand, Malaysia, and Singapore.
Among all the magnificent destinations in India, the Taj Mahal in Agra left the deepest impression on me. That day, our group of about 20 tourists was guided to this legendary monument. Since Barry had some difficulty walking, we rented a wheelchair pushed by a local assistant, which allowed us to move easily and fully appreciate the grandeur of this extraordinary architectural wonder.
The Taj Mahal – A Symbol of Eternal Love
The Taj Mahal is not only an architectural masterpiece but also a symbol of undying love. This stunning mausoleum was commissioned in the 17th century by Emperor Shah Jahan in memory of his beloved wife, Mumtaz Mahal, who passed away while giving birth to their 14th child. According to legend, before she died, she asked the emperor to build a magnificent tomb that would stand as an eternal testament to their love.
It took over two decades and around 20,000 skilled artisans from across the world to complete the Taj Mahal. Talented architects from Persia, Turkey, and Central Asia contributed to its design. Constructed entirely from white marble sourced from Rajasthan, the Taj Mahal shimmers under the sunlight, changing hues at different times of the day.
The Enchanting Architecture
From the moment we entered through the grand gateway, we were mesmerized by the sheer beauty of the Taj Mahal. The main mausoleum, with its perfect 73-meter-high dome, is adorned with intricate floral motifs, semi-precious stones, and Quranic inscriptions meticulously carved into the marble.
The layout of the Taj Mahal follows an impeccable symmetrical design. Flanking the central tomb are two red sandstone structures—a mosque and a guesthouse—creating a harmonious architectural balance. In front of the Taj Mahal lies the vast Mughal garden, with reflecting pools that mirror the image of the mausoleum, adding to its ethereal charm.
A Profound Experience
People often say that no photograph can truly capture the essence of the Taj Mahal, and I completely agree. Standing before this monument, I felt an overwhelming sense of serenity and reverence. It was as if time had stopped, allowing me to reflect on the depth of love that inspired its creation.
Although we couldn’t enter the inner sanctum of the mausoleum, simply walking around the complex and admiring the Taj Mahal from different angles was more than enough to leave us in awe. We took countless photos to preserve these precious moments, each picture revealing a unique, magical perspective of this wonder.
A Memory to Cherish Forever
Visiting the Taj Mahal was more than just a sightseeing excursion—it was an emotional journey that deepened my understanding of love, sacrifice, and human creativity. It is an experience that I will always hold dear.
Please enjoy a virtual visit the Taj Mahal through this photo collection, and we hope it will convey a part of the awe and wonder the Taj Mahal inspired in us.
https://photos.app.goo.gl/jvdmKJVhfduFa4uj7
Wishing you good health and peace always.
Warmest regards, Pham Phan Lang
CA KHÚC Khúc Tình Lơi – THƠ: PhamPhanLang – Nhạc: Mai Hoài Thu – Ca sĩ: Vân Khánh
CA KHÚC THÌ THẦM – Thơ Phạm Phan Lang -Nhạc Võ Tá Hân -Hòa âm Nam Vĩnh và Đàm Hà – Tiếng hát Nhất Chi Mai.
Thì thầm
Này anh, hôm nay trời nắng đẹp, Bên kia đời, anh có thấy bóng em Thấp thoáng trong ngôi vườn xanh mát Miệng thầm thì xin anh ngủ thật ngon
Này Me, trên con đường làng nhỏ Dẫn con về nơi chỗ Mẹ nằm, Nơi ấy con sẽ ngồi nhổ cỏ Trên mộ hoang và trồng một cành bông
Này anh trai, em sẽ về nơi anh ngủ Đưa anh về nơi chỗ Mẹ chúng ta Bên dòng sông, góc núi và cạnh nhà Anh sẽ thấy lòng vui vì gần Mẹ
Này tôi, cuộc đời là thế đó, Đến và đi là lẽ sống bình thường, Tạ ơn Trời tim đầy ấp yêu thương Xin nhận lấy những gì trong cuộc sống
PhamPhanlLang
PHẠM PHAN LANG: Thầy Tư. Tác Phẩm Việt Ngữ và Anh Ngữ
Thầy Tư
Vào đêm Giao Thừa Tết Âm Lịch năm 1952, khi tôi vừa tròn hai tuổi, tôi suýt chút nữa thì không qua khỏi. Dĩ nhiên, tôi không nhớ rõ lắm về chuyện đó, nhưng Mẹ đã kể đi kể lại nhiều lần đến mức tôi có cảm giác như mình đã chứng kiến tất cả.
Lúc đó, tôi bị bệnh sởi rất nặng. Các thầy thuốc Trung Hoa kê đủ loại thuốc, nhưng tình trạng của tôi chẳng cải thiện chút nào, càng ngày càng tệ hơn. Tuyệt vọng, ba mẹ tôi đành đưa tôi đi gặp các bác sĩ Tây y. Vị bác sĩ cuối cùng, vào đúng ngày trước Tết Nguyên Đán, khuyên ba mẹ tôi đưa tôi về nhà vì “không còn hy vọng gì nữa.” Ý của ông rõ ràng là tôi sắp chết.
Hồi đó, các nhà tang lễ chưa phổ biến, nên tục lệ là giữ thi hài ở nhà để người thân, bạn bè và hàng xóm đến viếng. Nhưng Tết là dịp mọi hoạt động phải ngừng lại trong sáu ngày, nên Ba phải vội vã lo sắm một cái hòm cho tôi trước khi các cửa hàng đóng cửa. Tệ hơn nữa, có lẽ không có gì xui xẻo hơn là có một người chết trong nhà ngay dịp Tết.
Tôi hầu như bất tỉnh và quá nhỏ để hiểu được chuyện gì đang xảy ra, nhưng rõ ràng là ba mẹ tôi đang đối diện với một tình huống kinh khủng, khi vừa phải lo cho tôi, vừa phải lo tránh đại họa xui xẻo trong dịp năm mới.
Và rồi, một phép màu đã bắt đầu…
Một người bạn của gia đình đến thăm. Người này nói với Ma rằng có một ông thầy pháp tên Thầy Tư sống ở một làng quê cách nhà khoảng mười dặm. Có thể ông ấy sẽ cứu được tôi, vì tiếng tăm của ông đã vang xa. Không chần chừ, Mẹ bọc tôi lại và ngay lập tức đưa tôi đến chỗ ông. Ba phải ở nhà lo cho hai anh trai tôi và làm lễ mời tổ tiên về ăn Tết trên bàn thờ.
Khi chúng tôi đến, đã khoảng 6 giờ tối đêm Giao Thừa. Sau khi khám cho tôi, Thầy Tư bắt đầu “trị liệu” ngay. Ông viết vài chữ Hán trên một tờ giấy trắng đặc biệt, đặt lên người tôi, rồi bắt đầu đọc kinh cầu nguyện để trừ tà ma đang ám tôi. Sau đó, ông đốt tờ giấy, bỏ tro vào nước mưa mà ông đã hứng sẵn và cho tôi uống. Nếu tôi còn tỉnh táo, chắc chắn tôi sẽ khóc thét lên vì sợ!
Tiếp theo, ông sai người giúp việc hái một nhánh cây dâu trong vườn. Với nhánh cây nhỏ đó, ông gõ nhẹ lên toàn bộ cơ thể tôi, như thể đánh đuổi con ma quỷ đang bám lấy tôi. Sau cùng, ông dùng một cây bút nhọn đặc biệt, chấm vào mực xăm và xăm một dấu chữ thập ngay giữa trán tôi.
Ông còn làm cho tôi một cái vòng cổ, dây làm bằng những sợi chỉ màu được xoắn chặt, và mặt vòng là một miếng vải vuông khoảng hai inch. Miếng vải thực ra là một chiếc túi nhỏ chứa “vật thiêng” bên trong để trừ tà. Tôi không bao giờ biết bên trong đó có gì vì nếu mở ra sẽ phá hủy nó. Thầy dặn Ma rằng tôi phải đeo vòng này suốt, trừ khi tắm, lúc đó phải để nó ở nơi sạch sẽ. Ông cũng khuyên không nên cho tôi đi dưới dây phơi quần áo, vì theo ông, đó là thứ dơ bẩn có thể chứa khăn vệ sinh của phụ nữ. Thầy còn cảnh báo rằng dấu thập trên trán tôi phải được giữ mãi mãi, không được xóa, vì làm vậy có thể nguy hiểm đến tính mạng.
Sau tất cả, Thầy bảo Mẹ đưa tôi về. Vì không thấy có dấu hiệu thay đổi nào nên Mẹ do dự, nhưng Thầy trấn an: “Đừng lo, cô bé sẽ ổn thôi.” Mẹ vẫn không tin, nài nỉ được ở lại đến khi tôi tỉnh dậy, nhưng Thầy nói: “Tôi chắc chắn cô bé sẽ khỏi. Nếu không, nếu cô bé chết, bà cứ việc mang xác đến quăng giữa nhà tôi vào đúng ngày Tết.” Nghe đến thế, Mẹ chẳng còn làm gì được ngoài việc mang tôi về và chờ đợi.
Và vào đúng nửa đêm Giao Thừa, tôi tỉnh dậy, ngồi dậy, đứng lên, cười tươi như thể chưa từng bị bệnh. Ba mẹ tôi, cả gia đình và hàng xóm đều kinh ngạc và vui mừng. Sáng sớm hôm sau, Mẹ quyết định đưa tôi trở lại nhà Thầy để cảm ơn. Mẹ kể rằng tôi lúc đó nói khá rõ ràng dù mới hai tuổi, và dù chẳng biết Thầy đã làm gì, khi vừa thấy ông, tôi chạy đến và nói: “Thầy của con!”
Từ đó trở đi, năm nào Mẹ cũng đưa tôi đến gặp Thầy Tư vào dịp Tết để lấy vòng cổ thay thế. Điều này kéo dài cho đến khi tôi kết hôn, chín năm sau khi nhận chiếc vòng cuối cùng. Sau khi tôi không còn đeo vòng chỉ màu, Mẹ tặng tôi sợi dây chuyền vàng có mặt Quan Âm bằng ngọc, mà tôi đeo trong nhiều năm cho đến khi bị mất khi trốn khỏi quê hương vào ngày 29/4/1975 sau khi miền Nam rơi vào tay Cộng Sản.
Những chuyến đi thăm Thầy Tư luôn đầy ắp tiếng cười và niềm vui. Tôi được tha hồ chạy nhảy trong khu vườn rộng lớn, leo trèo cây xoài, cây ổi, chơi đùa với lũ trẻ khác, mà nhiều đứa cũng từng được Thầy cứu sống. Nhà Thầy lúc nào cũng có đầy đồ ăn ngon, quà biếu từ những người mẹ biết ơn như Mẹ.
Dĩ nhiên, tôi ghét cái vòng cổ và hình xăm trên trán mà Thầy đã làm cho tôi. Chúng xấu xí và khiến tôi khác biệt, đến mức bạn bè thường trêu chọc. Đến giờ, tôi vẫn còn giữ hình xăm đó—dấu ấn của sự sống. Hồi nhỏ, tôi thường để mái che đi, còn giờ thì dùng phấn che lại, nhưng dấu đó vẫn sẽ luôn ở đó.
Thật không may, Mẹ không hoàn toàn từ bỏ các thầy thuốc Bấc. Họ có thể chế ra những loại thuốc nước khó uống nhất trên đời. Mỗi khi tôi có triệu chứng bệnh, Mẹ lại vội vã đun sẵn những thứ thuốc Bắc kinh khủng đó. Dù tôi có chống cự thế nào, Ba và các anh trai thường phải giữ tay chân tôi để Mẹ đổ thuốc vào miệng. Đổi lại, tôi thường được dỗ dành bằng kẹo hoặc chuối để ngưng khóc.
Giờ đây, tôi hiểu tại sao Mẹ lại lo lắng cho sức khỏe của tôi đến vậy, mặc dù từ lúc hai tuổi, tôi ít khi bị bệnh. Tuy nhiên, nỗi ám ảnh về thuốc vẫn đeo bám tôi đến tận bây giờ, đặc biệt là thuốc nước. Tôi thà chịu đau đầu cả đêm còn hơn là uống thuốc, vì chỉ cần nhớ đến hương vị là đủ khiến tôi lạnh sống lưng.
Mẹ đã qua đời hơn 17 năm, và nỗi nhớ Mẹ trong tôi vẫn không nguôi ngoai.
Phạm Phan Lang 23/11/2020
==========
Tiếng Anh
ENGLISH VESION
The Shaman
On Lunar New Year’s Eve in 1952, at the tender age of two, I almost didn’t make it. Of course, I don’t remember much of the ordeal, but Me retold the story so many times that it feels like I was there for every moment.
I had a severe case of the measles. The Chinese doctors prescribed medicines, but nothing worked. In fact, I just got worse and worse. My desperate parents then turned to Western doctors. The last one, on the day before Lunar New Year, advised my parents to take me home because there was nothing more that could be done. To him, it was clear—I was going to die.
In those days, funeral parlors weren’t common, and the tradition was to keep the body at home so family, friends, and neighbors could come and pay their respects. But there was a catch: Lunar New Year celebrations shut everything down for six days. Ba had to rush to get a coffin for me before everything closed, as the mere thought of having a dead body in the house during the New Year was seen as the worst omen imaginable.
I was mostly comatose and blissfully unaware of all the chaos swirling around me. But my parents? They were facing the prospect of not only losing a child but also bringing catastrophic bad luck to the family during the most important holiday of the year.
Then, just as hope seemed to be fading, a miracle knocked at our door.
A family friend paid us a visit. This friend told Mẹ about a shaman, called Thầy Tư, who lived about ten miles away in a small country village. The Shaman had a reputation for healing people, and maybe, just maybe, he could help me. Without a second thought, Mẹ bundled me up and off we went, leaving Ba behind to tend to my two older brothers and perform the ritual to invite our ancestors to the family altar for the New Year.
When we arrived at the Shaman’s home, it was about 6 PM on Lunar New Year’s Eve. The moment he saw me, he sprang into action. He scribbled Chinese characters on a piece of special white paper, laid it over my body, and began chanting prayers to drive away the bad spirit that had possessed me. Then, as if things couldn’t get any stranger, he burned the paper, mixed the ashes into a cup of rainwater, and made me drink the concoction. If I’d been conscious, I probably would have protested!
Next, he fetched a small branch from a berry tree in his yard and gently “beat” my body with it, as if driving out whatever evil was clinging to me. He capped off the session by tattooing a cross in the middle of my forehead using a sharp, pen-like tool dipped in ink. And then, as a parting gift, he made me a necklace. It was a colorful, twisted thread necklace with a two-inch square pouch attached. The pouch contained “mystical” ingredients I wasn’t allowed to peek at, but it was designed to ward off evil spirits.
Mẹ was instructed that I had to wear the necklace at all times—except during baths—until I turned ten. Oh, and I wasn’t allowed to walk under clotheslines because, according to the Shaman, they were considered impure. The cross tattoo, he warned, must never be removed; doing so would risk my life.
Despite all this, there was no immediate change in my condition. Me was understandably skeptical and wanted to stay until something—anything—happened. But the Shaman, calm as ever, reassured her: “Don’t worry, she will be alright.” Seeing Me’s lingering doubt, he added, “If she isn’t cured and dies, feel free to bring her dead body back and throw it into the middle of my home on New Year’s Day.”
With no other option, Me brought me home and waited.
And just as the clock struck midnight, I woke up. Not only that—I sat up, stood up, smiled, and acted as if I hadn’t been sick a day in my life. It was a miracle! My parents, family, and neighbors were all amazed. The next morning, Me rushed me back to the Shaman, not out of fear this time, but to thank him. Me told me that even though I was only two years old, I ran up to him, hugged his legs, and declared, “You are my dear Master!”
For years after that, Me would take me to visit Thầy Tư every Lunar New Year to receive a replacement necklace. This continued until the year I got married, nine years after I had worn the last necklace. By then, I had outgrown the thread necklaces, and Me gave me a beautiful gold necklace with a jade Quan Yin pendant. Sadly, I lost that necklace when I fled my homeland on April 29, 1975, during the fall of South Vietnam.
I still remember those yearly visits fondly. While Me would chat with the Shaman, I’d run wild on his enormous property, climbing mango and guava trees, splashing in the stream, and playing with the other children—many of whom had also been “saved” by this mystical man. His house was always filled with delicious food, gifts from grateful mothers like Me.
Of course, I despised that ugly thread necklace and the cross tattoo on my forehead. They made me stand out in all the wrong ways, and my friends never missed an opportunity to tease me. Even today, the tattoo remains—my little life mark. The survivor’s badge. As a child, I’d try to hide it under my bangs. Now, I cover it with makeup, but it’s always there.
Sadly, Me never completely abandoned her faith in Chinese medicine. From that point on, at the first sign of illness, she would rush to prepare those awful, bitter concoctions. No matter how much I resisted, my father and brothers would hold me down while Me poured the revolting liquid down my throat. Usually, I got candies or bananas afterward to stop me from crying too much, but the trauma stuck.
I now understand why Me was so protective of my health, though fortunately, I rarely got sick again after that. However, her overzealousness gave me a lifelong phobia of taking liquid medicine. To this day, I’d rather endure a headache all night than take anything for it, simply because the taste brings back too many memories.
Me has been gone for over seventeen years now, and I miss her more than words can say.
Pham Phan Lang 11/23/2020
CA KHÚC Nhớ Anh | Thơ: Phạm Phan Lang | Nhạc: Thái Phạm | Ca sĩ: Diệu Hiền
Ca khúc: Nhớ Anh Thơ: PhamPhanLang Nhạc: Thái Phạm Ca sĩ: Diệu Hiền Hòa âm: Quang Đạt Video: Thái Pham thực hiên với hình ảnh PL, vườn nhà, núi Ko’OLau và Vịnh Kaneohe trước mặt nhà PL ở Hawaii.
Nhớ anh
Đêm qua anh không viết Em thấy giận anh rồi Cả ngày nay mong ngóng Về đọc thư anh thôi
Nhớ vòng tay âu yếm Nhớ tia mắt nồng nàn Nhớ nụ cười trìu mến Nhớ anh nhớ miên man
Ngày mai anh phải viết Thư dài hơn gấp đôi Nếu không em sẽ giận Sẽ hờn anh chết thôi….
PhamPhan Lang
KÍNH MỜI NGHE 3 CA KHÚC: 1)- TÓC RỐI – Thơ: Phạm Phan Lang – Nhạc NguyễnTâmHàn – Ca sĩ: Hương Giang. 2)- THĂM ANH NGÀY CUỐI NĂM – Thơ: PhamPhanLang – Nhạc: Mai Hoài Thu – Ca sĩ: Lan Phương. 3)- QUÊ HƯƠNG ƠI TA NHỚ – Thơ phamphanlang – Nhạc Mộc Thiêng – Ca sĩ Thụy Long.
TÓC RỐI – Thơ: Phạm Phan Lang – Nhạc NguyễnTâmHàn – Ca sĩ: Hương Giang.
THĂM ANH NGÀY CUỐI NĂM – Thơ: PhamPhanLang – Nhạc: Mai Hoài Thu – Ca sĩ: Lan Phương.
QUÊ HƯƠNG ƠI TA NHỚ – Thơ phamphanlang – Nhạc Mộc Thiêng – Ca sĩ Thụy Long.