PHƯƠNG HOA – Phóng Sự: Lễ Kỷ Niệm 35 Năm VTLV – RA MẮT ĐẶC SAN XUÂN BÍNH NGỌ – MỪNG LỄ MOTHER’S DAY.

Phương Hoa

Chiều Thứ Bảy, 9 tháng 5, 2026.  Trời San Jose nắng như vàng hơn, rực rỡ hơn, để chào đón quan khách từ các nơi về tham dự lễ Kỷ Niệm 35 Năm Thành Lập Văn Thơ Lạc Việt (VTLV), một sự kiện đặc sắc và gần như…hiếm hoi giữa lòng phố thị nổi tiếng là “tiệc tùng lễ hội quanh năm” này.  Hiếm hoi, bởi vì ngày hôm nay là “1 sự kiện – 3 chủ đề” mà chủ đề nào cũng đặc biệt cả!

Khi tôi và chị Mỹ Thanh đến, xung quanh hội trường tràn ngập những nụ cười xinh tươi, những tà áo dài thướt tha của cánh nữ lưu, những cái bắt tay siết chặt của những người con xa xứ gặp lại đồng hương, những bộ trang phục đủ màu đủ sắc, cờ xí, đạo cụ của Ban Văn Nghệ bày biện trong góc hành lang, càng tăng thêm vẻ rộn ràng của buổi lễ. Tại cửa ra vào hội trường, một dãy bàn để Ban Tổ Chức đón chào và mời nước với “snack” cho khách, và bàn Ra Mắt Sách (RMS) Đặc San Xuân Bính Ngọ 2026. 

*

Bên trong hội trường nơi góc trái sân khấu, là một bàn thờ trang trọng với hương đăng hoa quả, trên có hình ba vị tiền khai, sáng lập VTLV, bác Dương Huệ Anh, bác Đông Anh, và anh Chinh Nguyên.  Ảnh họ mỉm cười nhìn về phía khán giả như đang chứng kiến thành quả của đàn em, đã khiến lòng người chùng xuống vì cảm động.  Nhìn hình bác Dương Huệ Anh tôi chợt muốn rơi nước mắt khi nhớ lại, tôi còn nợ bác một bài viết. Những ngày sức khỏe yếu đi bác DHA có đưa tặng tôi mấy quyển sách, trong đó có một quyển bác kèm theo cái note viết tay, nói rằng sách này bác xuất bản mà chưa được giới thiệu ra cộng đồng, và nhờ tôi viết giới thiệu giùm cho bác.  Vì sơ ý tôi không coi kỹ mà chỉ đọc lướt qua nên không hề biết về cái note này. Mãi sau khi bác đi rồi tôi mở sách ra đọc kỹ mới thấy, và bận rộn đưa đẩy đến nay tôi cũng chưa viết được. Nhưng lần này thì chắc chắn tôi sẽ “trả nợ” cho bác, để “chuyện cũ được mở ra mới”.  Và nhìn hình anh Chinh Nguyên tôi lại xúc động nhớ lời dặn dò trong những giây phút cuối đời của anh là mọi người hãy cố gắng giữ gìn cho VTLV mãi mãi trường tồn.

Hình ảnh những khán giả lặng lẽ bước về phía sân khấu, kính cẩn cúi đầu trước di ảnh ba vị tiền bối là những khoảnh khắc vô cùng quý giá. Nó minh chứng mạnh mẽ rằng dù ở bất cứ nơi đâu, người Việt hải ngoại vẫn luôn dành sự tôn trọng tuyệt đối cho những người làm văn hóa, những người đã hiến dâng cả đời mình để bảo tồn ngôn ngữ và văn hóa của cha ông nơi đất khách.

Phương Hoa người viết, chị Mỹ Thanh, Minh Thúy, và Thu Hương nhận trách nhiệm ngồi ở bàn sách. Những quyển Đặc San Xuân Bính Ngọ màu sắc rất đẹp, rất Xuân, nhìn bề ngoài thì có vẻ … dày cộm, nặng nề, nhưng bài vở thơ văn bên trong thì… nhẹ tênh tênh như gió thoảng, mong manh như mây bay, đẹp lung linh như bình minh mùa hè, và hấp dẫn như…thịt mỡ dưa hành bánh chưng ngày Tết… bởi vì nó có sự góp mặt của nhiều cây bút tinh hoa trong làng văn học hải ngoại từ khắp nơi dồn về cho Văn Thơ Lạc Việt.  Những cây bút cổ thụ, trứ danh, lão thành, như Cao Mỵ Nhân, Mai Thanh Truyết, Đỗ Chiêu Đức, Kiều Mỹ Duyên, Hồng Thủy, Đỗ Quang Vinh, v.v… xin phép chỉ nêu ra mấy vị. Cho nên, có vị quan khách chỉ mở tập Đặc San ra nhìn qua phần mục lục xong thì nói:

 “Whoa, trong này toàn những ngòi bút tên tuổi, chưa đọc cũng biết hay rồi, xin ủng hộ VTLV và cho tôi một quyền đem về “gối đầu giường!”

Rồi anh mở ví lấy ra đưa tôi một tờ trăm.

Chính những lời đầy cảm động này làm cho tay tôi như run lên khi nhận tiền và giao sách. Kết quả đầy hào hứng, hôm ấy có nhiều người lấy một quyển sách mà tặng dư thêm tiền, dù VTLV không kêu gọi gây quỹ, chỉ bán lại sách đúng giá nhà in. Bàn sách vơi đi rất nhanh, tôi và Minh Thúy vì phải chạy ra chạy vào bên trong buổi lễ, chưa kịp “tạo dáng” chụp hình với đống sách để sau… khoe bạn bè cho “oai”, thì vèo một cái, sách đã gần hết.  May sao cũng có người chụp cho vài tấm khi sách còn lại một số.  Và khi bên trong chương trình bắt đầu thì sách chỉ còn có mấy quyển trên bàn.

Điều thú vị mà tôi nhớ mãi là có một vị khách nam – rất quen mặt nhưng tôi chẳng nhớ tên lại không dám hỏi – đến mua một quyển sách, đã bắt tay tôi và nói:

“Chúc mừng VTLV, quyển Đặc San Xuân năm nay rất độc đáo, nó thực sự làm tăng thêm giá trị cho cái Lễ Kỷ Niệm 35 Năm của Lạc Việt! Tôi đã được một người bạn chuyển cho đọc File sách qua email khi quý vị gửi ra cho họ xem lại bài viết, nên hôm nay tôi đến để ủng hộ.”

Nghe thật ấm lòng!

Buổi lễ bắt đầu bằng nghi thức chào cờ Mỹ Việt như thông lệ và phút mặc niệm đầy trang trọng. Cả khán phòng như lặng đi trong giây phút tưởng niệm các vị tiền bối – những người đã đặt những viên gạch đầu tiên cho ngôi nhà văn thơ này.

Kế đến, tiếng hát mượt mà của Thúy Nga trưởng ban Văn Nghệ VTLV với nhạc phẩm Nửa Hồn Thương Đau khai mạc phần văn nghệ, như chạm vào sâu thẳm tâm hồn mỗi người.

*

Hội trưởng Lê Văn Hải lên tâm tình về hành trình đưa anh đến với VTLV và về buổi Lễ Kỷ Niệm 35 năm. Anh cảm ơn các thành viên, cộng đồng Việt, và hơn ba triệu khách viếng trang nhà VTLV. Trong bầu không khí linh thiêng cảm động ấy, anh Hải đã trân trọng mời đại diện gia đình của các vị cố sáng lập lên sân khấu.  Chị Mỹ Thanh (phu nhân anh Chinh Nguyên), chị Quỳnh Hoa (phu nhân bác Đông Anh) và chị Kim Hà (đại diện phu nhân bác Dương Huệ Anh) tỏ vẻ xúc động khi nhận bằng tưởng lục tri ân từ anh Lê Văn Hải. Những tấm bằng vinh danh là sự ghi nhận công lao, và cũng là lời hứa của thế hệ đi sau sẽ tiếp bước hành trình gìn giữ văn hóa mà các vị cố tiền khai đã dày công gây dựng.

*

Tiết mục hòa tấu đàn tranh Sukura – Hoa Anh Đào do Đoàn Tiếng Vọng Quê Hương của GS Ngọc Dung biểu diễn, đã mang đến một làn gió nghệ thuật thanh tao, với thanh âm réo rắt, nhưng mềm mại, thiết tha, khi chạm vào cảm xúc người nghe.  Đúng là một tiết mục không thể thiếu!  Và rồi, sân khấu như muốn nổ tung với những màn trình diễn sôi động của Nhóm Tuổi Trẻ qua liên khúc Tia Nắng Hạt Mưa & Sunlight and Raining. Đúng là tuổi trẻ, sức sống tràn trề khiến các bậc tiền bối cũng phải lắt lư theo!

*

Quý vị làm ơn đừng cho tôi là “Áo thụng vái nhau” vì tôi bắt buộc phải nói về “sếp” Hải của chúng tôi một chút. “Chàng Không Quân Lê Văn Hải” trước giờ đi đâu cũng mang theo “chiếc ba lô huyền thoại”, nhưng lần này không phải “ba lô” mà anh chở nguyên một “chiếc xe hủ lô” đầy quà cho sự kiện “3-in-1” này.  Mọi người cảm động nhất là hình ảnh anh Hải đứng trực chiến lặng lẽ âm thầm bên hai cái bàn cạnh sân khấu với “núi” quà cáp ngập tràn, nhiều hộp bánh Tây, vòng hoa, những bức tranh nghệ thuật độc đáo, những tấm bằng vinh danh họa tiết sang trọng in tên từng người, và đặc biệt nhất, vẫn là cái ba lô đầy nghẹt những phong bì đỏ!

Anh đã rất chu đáo mời những thành viên nòng cốt trước giờ của VTLV lên để anh trao tặng quà, hoa, cùng bằng Tưởng Lục vinh danh. 

Rồi anh đứng đó từ đầu đến cuối, cứ sau mỗi tiết mục, anh lại tất tả bước lên sân khấu với nụ cười rạng rỡ, trao tận tay từng nghệ sĩ những đóa hoa tươi thắm và chiếc phong bì đỏ may mắn, không bỏ sót một ai! Sự chu đáo và tận tình của anh khiến cả hội trường như ấm áp hẳn lên.

Anh Hải tặng hoa và quà cho ca sĩ Đồng Thảo sau khi cô ca bản nhạc do nhạc sĩ Thiên Phương VTLV sáng tác.

Đặc biệt và “độc chiêu” nhất chính là khoảnh khắc kỷ niệm ngày Mother’s Day. Anh Hải mời tất cả khán giả nữ, từ các bà, các mẹ cho đến các chị, các em… cùng bước lên sân khấu. Nhìn cảnh tượng nhiều chục tà áo dài, áo đầm rực rỡ lên nhận hoa và quà trong không khí trang trọng nhưng đầy tình thân, nhiều người đã không kìm hãm được những nét mặt đầy niềm vui và hạnh phúc.

*

Tiết mục được quan khách chú ý nhất, là lúc xem “Slide Show” tóm lượt về 35 năm VTLV và giới thiệu Ban Điều Hành VTLV.  

*

Có những đóng góp cho cộng đồng không thể “cân đo đong đếm” bằng lời, đó chính là tâm huyết của thầy Thái Phạm. Là người “kiến trúc sư” trưởng cho trang website của VTLV, thầy đã xây dựng một không gian “trên mây” để lưu giữ văn hóa nước nhà.  Tôi đã từng theo học lớp “layout sách” do thầy Thái hướng dẫn thiện nguyện cho thành viên VTLV thời anh Chinh Nguyên làm Hội Trưởng.  Nhưng “ông thầy” của tôi luôn khiêm nhường, bao giờ cũng lặng lẽ ở phía sau giúp đỡ tận tình cho mọi người mà không hề muốn “lộ diện”.  Chính sự nhiệt tình và cái tâm với văn học nghệ thuật của thầy Thái Phạm đã khiến người học trò bận rộn… tứ bề như tôi “dính chân” vào Ban Biên Tập VTLV, làm việc cùng thầy suốt gần một thập niên qua. Những đêm khuya khoắc đăng bài lên trang nhà VTLV mà gặp “trục trặc kỹ thuật” là tôi “réo” thầy bất cứ giờ giấc, thầy Thái đều trả lời phone không một lời phàn nàn.  Vì trang nhà VTLV số lượng độc giả tăng lên vèo vèo mỗi ngày, nên chúng tôi phải cố gắng “update” cho kịp thời gian tính, ngoại trừ những lúc quá bận rộn hay phải đi xa.  Điều đặc biệt là thầy Thái luôn nhận biết và tuyên dương công sức của mọi người, nhưng lại… quên mất công lao của chính mình!

Thầy Thái Phạm (Giữa)

Tiết mục đọc thơ tiếng Việt của các bé Tuổi Trẻ Hải Ngoại là một điểm nhấn nhiều cảm xúc, làm lay động trái tim quan khách.  

Giọng đọc dễ thương non nớt bài thơ “Kính Tặng Các Mẹ Các Bà” lời tri ân ngọt ngào gửi đến những người mẹ, như lời hứa giữ gìn chơn truyền và lòng tự hào về dòng máu Hồng Bàng của các em, chính là sự thể hiện sống động nhất cho việc tiếp nối nguồn văn hóa dân tộc nơi hải ngoại, đáng để những bậc cha mẹ mừng vui:

“Hôm nay ngày lễ Mother’s

Con xin gửi tặng bài thơ chúc mừng

Người lớn đã chúc tưng bừng

Phần con tiếng Việt… ngập ngừng chúc theo…”

Nhân đây tôi xin vinh danh một người, cô MC duyên dáng Thanh Loan, người sáng lập chương trình “Tuổi Trẻ Hải Ngoại”, và bây giờ nhóm là những thành viên “nhí” nhất của VTLV.  Tuy là một người trẻ, nhưng Thanh Loan rất quan tâm về việc khuyến khích các em học tiếng Việt, và cô đã từng tổ chức nhiều cuộc thi tiếng Việt mà người viết bài này cũng từng được cô mời làm giám khảo cho các cuộc thi.

Nhưng vinh danh những người tâm đầy nhiệt huyết, tức là “có công to” với VTLV mà không nhắc đến TS Nguyễn Hồng Dũng thì là một thiếu sót lớn.   Chàng Hồng Dũng trẻ trung, duyên dáng, hát hay, thuyết trình giỏi, thường làm MC trong các sự kiện lớn từ Nam đến Bắc California Anh còn là chủ Nhà Hàng Chay Di Lạc nổi tiếng “ngon và sạch” ở San Jose, lại bận rộn vì là Hiệu Trưởng trường Cao Đẳng Phật Giáo Thực Dụng, và là giáo sư dạy tại trường UC San Jose.  Nhưng anh Tiến Sĩ “ba đầu sáu tay” này hầu như không bao giờ vắng mặt trong một sự kiện quan trọng nào của VTLV cả! Thật là đáng trân trọng.

Còn nhiều, nhiều lắm, những nhân vật có lòng đầy nhiệt huyết với VTLV, như anh trưởng ban Nghi lễ Hoàng Thưởng và cũng là Phó Ngoại vụ VTLV, trưởng ban Văn nghệ Thúy Nga, thủ quỹ Minh Thúy, Trưởng ban Xã Hội Lê Diễm, Mỹ Thanh phu nhân anh Chinh Nguyên… nhưng vì bài viết giới hạn, nên xin được dừng lại nơi đây và chờ dịp khác…

(Ngồi) Lê Diễm & Minh Thúy – (Đứng từ phải qua) Phương Hoa, Thúy Nga, Mỹ Thanh

Chương trình hôm đó còn có các tiết mục Tân Cổ Giao Duyên, đơn ca của Ngọc Hoa, Thu Phượng, Thanh Trúc… nối tiếp nhau tạo nên một buổi âm nhạc đa sắc đa màu. Từ sự hoài niệm của Đà Lạt Hoàng Hôn đến nét duyên dáng của Gánh Hàng Rong mà Thanh Loan trong chiếc áo dài quảy gánh đi tung tăng nhìn rất dễ thương… tất cả đã tạo nên một không gian văn hóa đậm đà tình quê hương Việt, mà không bút mực nào tả xiết…

 Màn cắt cái bánh sinh nhật to đùng như cái nhà, “cả làng ăn không hết” để kỷ niệm 35 năm, Lễ Mẹ, và còn mừng tuổi các thành viên sinh trong hai quý Tháng 1,2,3 và 4,5,6, cũng được thực hiện trong niềm vui tràn đầy…

Cuối cùng, đỉnh điểm của sự vui nhộn hôm nay chính là màn xổ số Loto “độc nhất vô nhị”.  MC Thanh Loan cùng dàn ca sĩ thực thụ đã làm “náo loạn” khung trời San Jose, họ tự biến thành những người hô số lô tô duyên dáng, đọc nhiều câu thơ lẫn điển tích xưa, khiến hội trường cười nghiêng ngả.  Chỉ với $5 một vé, không khí hồi hộp dâng cao khi chiếc iPad và tờ $100 tìm được chủ nhân.  Cảm động nhất là hành động của Nghị viên Biên Đoàn.  Dù không biết chơi lô tô cũng tham gia mua vé rồi nhờ thầy Thái chỉ, và khi anh trúng thưởng liền tặng lại toàn bộ số tiền mặt cho VTLV cùng những lời ủng hộ nồng nhiệt, dù trước đó anh cũng đã tặng “donation” cho VTLV, khiến niềm vui như được nhân đôi!

*

Khi ánh nắng chiều nhạt dần, dịu dàng ve vuốt những ngọn cây bên ngoài cửa kính, là lúc buổi lễ kết thúc với rừng ánh sáng chớp nháy của máy hình, của điện thoại, và tiếng cười, cùng những cái ôm chia tay hẹn gặp.  Mọi người trong VTLV thở phào, nhìn nhau với ánh mắt hạnh phúc vô biên vì sự thành công vượt ngoài mong đợi.  35 năm một chặng đường dài, có mồ hôi, có nước mắt, nhưng Văn Thơ Lạc Việt đến hôm nay vẫn giữ mãi ngọn lửa văn chương Việt bừng sáng ấm áp giữa lòng viễn xứ.  Trên tất cả, là tình yêu vô bờ bến với văn thơ và nguồn cội của giới văn thi sĩ và độc giả bốn biển năm châu.  VTLV cũng rất vui mừng vì ngày càng có thêm giới trẻ tham gia để tiếp nối, và mong rằng đồng hương Việt tiếp tục ủng hộ VTLV như lâu nay…

     Xin chia sẻ bài thơ Phương Hoa đã đọc tặng mọi người ngày hôm ấy:

Thung Lũng chiều nay rực nắng vàng

Đón mừng khách quý đã lâm quang

VĂN THƠ ngút biển, danh ngời rạng

LẠC VIỆT tung trời, tiếng rộn vang

*

TUỔI TRẺ nhà Nam nơi HẢI NGOẠI

Nhân tài gốc Việt vẫn hiên ngang

Ba lăm năm chẵn không lùi lại

Ngũ thập niên dư tiến thẳng hàng

*

Mãi mãi nhớ ơn người giữ lửa

Bảo tồn ngôn ngữ giống Văn Lang

Đồng hương yêu mến cùng nương tựa

LẠC VIỆT rồi danh khắc sử vàng…

          Phương Hoa

Cụ Bà 100 tuổi lên đọc bài thơ và được anh Hải tặng quà




KIM LOAN: HAI MÁ CON MÌNH

HAI MÁ CON MÌNH

Tí đang ngồi học trong phòng, má gõ cửa phòng Tí:

–        Tí ơi, má nói chuyện với con một chút, được không?

Tí ngồi nơi bàn học, má bước vào ngồi bên mép giường, má nói:

–        Thời gian qua, con biết má thường đi khám bệnh, làm các xét nghiệm, má có nói khi nào xong thì báo cho con biết, nên bữa nay má nói …

Tí gật đầu, chờ đợi, má ngập ngừng:

–        Má mới có kết quả biopsy, bác sĩ kết luận là Breast Cancer.

Tí nhìn má, lo lắng, má vội nói:

–        Nhưng cũng may mắn là ở giai đoạn 2, không đến nỗi nguy hiểm. Đầu tuần sau má sẽ được mổ ở bệnh viện dưới phố, lúc 7 giờ sáng.

–        Vậy để con nghỉ học buổi sáng đưa má đi.

–        Thôi khỏi! Cô Lan chú Hùng cũng muốn đưa má đi, nhưng ở bệnh viện có giới thiệu nhóm những người về hưu thiện nguyện đưa đi đón về khi bệnh nhân cần, họ sẽ đến đón má, rồi đến chiều cô Lan đưa má về. Con mới biết lái xe, mới vào năm đầu Đại Học, phải tập trung học hành.

Mấy ngày trước ngày mổ, chiều nào chú Hùng cô Lan cũng qua nhà, cùng với má xem xét một xấp giấy tờ dầy cộm, là những phần hướng dẫn bệnh nhân phải chuẩn bị những gì, ăn uống ra sao trước và sau khi mổ. Má còn lo nấu mấy nồi thịt kho, cá kho, rau củ để sẵn cho hai má con trong những ngày sắp tới.

Sáng sớm ngày hẹn, hai má con dậy từ sớm, ăn sáng rồi ra trước cửa chờ ông Jay, là người sẽ đến đón má. Má nói:

–        Má luôn cám ơn cô Lan chú Hùng ngày xưa đã khuyên má ở lại xứ này, chớ bệnh kiểu này mà ở Việt Nam thì mệt á, làm gì có chuyện đưa đón như bên đây!

Khoảng mười phút sau, chiếc xe mini van trờ tới, người đàn ông Mỹ da trắng vui vẻ cười từ khung cửa xe, rồi dừng lại. Ông Jay bước xuống, tự giới thiệu và hỏi han hai má con, rồi ổng nháy mắt nhìn Tí:

–        Cậu đi học an tâm, tôi đưa má cậu đến tận nơi, đưa vào trong phòng thủ tục xong xuôi, rồi giao cho y tá, mọi việc sẽ tốt đẹp. 

Chiều Tí nghỉ sớm một giờ học, chạy về nhà, phòng khách chộn rộn vì có thêm mấy cô bác khác đến thăm má. Vì mổ cắt cả hai bên ngực, nên mất nhiều máu, má xanh xao thấy rõ, tuy nhiên vẫn nói chuyện bình thường với mọi người. Mấy cô thay phiên nhau phụ má chỉnh sửa hai bịch nhựa nhỏ xíu treo mỗi bên ngực, máu mủ còn rỉ rỉ nhỏ giọt. Chú Hùng thấy Tí bèn rủ:

–        Má con được mổ thành công, thôi hai chú cháu mình ra ngoài sân nói chuyện, cho mấy bà mấy cô tâm sự.

Ra ngoài, chú nói:

–        Tí nè, chú muốn hỏi, con có muốn chú báo tin má bệnh cho ba con không?

Ba! Cái từ xa lạ, một người đã bỏ Tí từ trong bụng má, gây cho má những tháng năm dài tủi hổ, để đi theo tiếng gọi của tình cũ, hai má con phải sống nhờ tình thương của những người bạn mới quen trên đất mới.

Lúc ba thất tình, về Việt Nam cưới má là người hàng xóm cũ, sau đó má được qua đây theo diện chồng bảo lãnh. Chưa đầy hai tháng sau, cô người yêu cũ của ba tìm đến “đòi” lại “chồng”, và đau đớn nhứt là ba đã đi theo người ấy, bỏ má bơ vơ khi mới mang bầu Tí. Má nhiều lần muốn ôm cái bụng bầu về Việt Nam, nhưng vợ chồng người hàng xóm kế bên, là cô Lan chú Hùng, chứng kiến mọi sự, đã ra tay giúp má xin tiền trợ cấp, dọn vào một chung cư. Sau khi má sinh Tí, cô chú nhờ luật sư chính phủ lấy tiền trợ cấp trực tiếp từ lương của ba mỗi tháng để phụ nuôi Tí. Chính chú Hùng cô Lan đã khuyên má phải ở lại đây, vết thương nào rồi cũng sẽ lành, tương lai của má và của Tí phải ở xứ Mỹ tự do nhân đạo và giàu có này.

Mười tám năm qua, hai lần Tí đã gặp ba. Lần đầu khi Tí khoảng 10 tuổi, trong một lần đi với chú Hùng tình cờ gặp ba (đó là lần đầu tiên Tí biết mặt ba, vì trong nhà có cuốn album đám cưới ba má nhưng má khoét hết hình ba, chỉ còn má là cô dâu đứng đơn độc trong hình). Về nhà kể cho má nghe, má nổi giận và cấm Tí không được nhắc đến từ “ba” vì ông ta không xứng đáng là ba của Tí, Tí hỏi:

–        Vậy con kêu bằng gì?

–        Kêu “chú đó” là tử tế lắm rồi, nếu má không đi chùa nghe Phật pháp thì còn kêu … kiểu khác kìa!

Chẳng biết “kiểu khác” của má là gì, nhưng chắc là nhiều oán hận lắm.

Lần thứ hai, sau đó vài năm, Tí và má đi chợ rồi vào quán nước mua bubble tea, vừa quay ra thì đụng mặt ba cũng đang bước vào quán. Ba khựng lại rồi hỏi má có khỏe không . Ở tình thế đối đầu bất ngờ bất đắc dĩ, má liếc chỗ khác rồi lạnh lùng đáp, tui khỏe, rồi kéo Tí chạy ra khỏi quán như bị ma đuổi. Vào xe, chạy được một đoạn đường, má dừng lại, ôm mặt khóc nức nở như vỡ òa những nỗi tức tưởi khổ đau bấy lâu, làm Tí cũng khóc theo. Kể từ đó, Tí và má không bao giờ nhắc đến “chú đó” một lần nào nữa.

Nay má và Tí đã ổn định cuộc sống, tại sao chú Hùng lại nhắc đến ba lúc này? Hình như đọc được suy nghĩ của Tí, chú nói:

–        Tại vì má con bệnh ung thư, lỡ có bề gì … con ở đây không có người thân ruột thịt nào, ngoài ba con, ít nhất cũng có thể nâng đỡ con về tinh thần. Hơn nữa, dạo gần đây, ba có thỉnh thoảng hỏi thăm con, vì biết má còn hận ba nên ổng không biết cách nào để gặp con.

Gặp Tí để làm gì chứ? Tuy là máu mủ nhưng chưa một ngày sống chung, chưa bao giờ có một lời thương yêu ân cần thì có khác nào người dưng. Từ rất lâu, Tí đã không có ý nghĩ cần phải gặp lại người đã nhẫn tâm bỏ má và bỏ Tí bơ vơ khốn đốn một thời gian dài. Má và Tí thật sự không còn chỗ trống nào trong tâm trí để dành cho ba, đó là điều không cần thiết.

Tí trả lời:

–        Cám ơn chú đã có ý tốt, nhưng xưa nay con không dấu má bất cứ chuyện gì, thôi hãy để má con bình tâm chữa bệnh.

Rồi má đi hóa trị, rụng tóc phải mang tóc giả, rồi xạ trị, tối nào má cũng quỳ đọc kinh lạy Phật, má nói, má xin ơn Trên cho má hết bệnh, khi nào cơ thể đủ khỏe, má sẽ ăn chay cho đến hết đời .

Có lẽ Phật nghe lời khẩn cầu của má, và cũng nhờ y học phát triển, má được chữa trị ở xứ nhân đạo tân tiến, bệnh ở giai đoạn hai, nên mọi sự diễn ra suôn sẻ. Bác sĩ chỉ định uống thuốc 5 năm, nhưng hơn hai năm, tóc má đã mọc lại, da dẻ hồng hào, má bắt đầu thực hiện lời hứa chay trường.

Năm năm chữa bệnh cũng trôi qua, cuộc sống má và Tí trở lại bình thường, má đã đi làm lại hãng gà. Một buổi tối má vào phòng Tí báo tin:

–        Tí ơi, chú Hùng mới cho má biết, bà nội của con vừa qua đời, nay ba con muốn con đến đội tang bà, con thấy sao?

Tí ngạc nhiên tưởng mình nghe lầm:

–        Má vừa nói “ba con” là …. “chú đó” hả ?

–        Ừa! Con suy nghĩ nhe, con đã lớn rồi nên má để con quyết định.

–        Má không sợ con gặp lại … “chú đó” sao?

Má cười nhẹ:

–        Thôi, cứ gọi là “ba” đi con, dù sao ổng cũng là ba, ngày xưa má cấm cản con, bây giờ má thấy chẳng quan trọng nữa. 

Má làm Tí bất ngờ, bởi đã lâu lắm rồi, Tí và má đã không nhắc đến ba trước mặt nhau như thế này.

Bà nội! Trong trí nhớ của Tí, ít ra Tí cũng đã gặp bà vài lần. Tết năm xưa khi Tí cỡ 6-7 tuổi, má dẫn đi chùa thì có một ni cô già mặc áo nâu đến xoa đầu và ôm Tí, má nói, bà nội đó. Tí lí nhí cúi đầu chào, rồi đứng im để bà sờ nắn ôm ấp nựng nịu Tí, hỏi thăm nhiều câu hỏi, rồi lì xì phong bì đỏ cho Tí. Về nhà, má kể, lúc ba bỏ má, thì bà nội và bác Hai (chị ruột của ba) phản đối dữ lắm. Khi má dọn ra khỏi nhà, bà nội cũng chuyển qua thành phố bên cạnh ở với gia đình bác Hai. Má cắt liên lạc với bên nội, nhưng cũng nghe tin bà đã vào chùa sư nữ gần nhà bác Hai để tu. Mỗi dịp Lễ lớn nhóm chùa sư nữ thường về chùa này để phụ giúp và cùng cúng Lễ nên năm đó vô tình gặp lại má và Tí. Kể từ đó, Tí có gặp bà tại chùa thêm vài lần nữa, lần nào bà cũng cho Tí tiền và chụp hình hai bà cháu làm kỷ niệm. Có lần Tí nghe bà nói với má, “Tha thứ cho nó để nhẹ lòng con ơi, cuộc sống của nó với vợ con nó cũng có điều phiền muộn, chẳng êm ả gì đâu”, má chỉ dạ dạ mà chẳng nói thêm gì.

Lần cuối Tí gặp bà khoảng sáu năm trước, bà nói bà về Việt Nam vào chùa ở bển và ở gần nhà bác Ba (anh ruột của ba còn ở Vũng Tàu), bẵng đi một thời gian dài, lại nghe nói bà bệnh, bà vừa quay lại nhà bác Hai bên đây. Nay nghe tin bà mất đột ngột, tự dưng Tí cũng thấy buồn.

Tí nhìn má:

–        Con sẽ đi đám tang bà nội.

–        Vậy để má hỏi chú Hùng địa chỉ nhà quàn, rồi cho con hay.

–        Mình có cần mang theo gì không má?

–        Má sẽ mua giỏ trái cây, con mang đến để trên bàn thờ bà.

Đến ngày, Tí lái xe đến nhà quàn. Vì đã được báo trước, ba đứng ngay cửa đón Tí, dù có chút ngượng ngùng nhưng ba mau chóng mỉm cười choàng vai Tí:

–        Ba cám ơn con đã đến! 

Hôm đó Tí ở lại tới tối muộn, rồi ngày sau quay trở lại để tiễn bà vào nhà hỏa thiêu, kết thúc mọi việc, ba và bác Hai kéo Tí ra góc phòng, đưa Tí một phong bì:

–        Bà nội có để lại một ít tiền, bà dặn, sau khi lo chi phí đám tang, còn lại chia đều cho những đứa cháu nội, ngoại. Đây là 3000 đô, phần của con đó, con phải nhận cho bà vui.

Rồi ba đưa ra một túi xách:

–        Còn đây là cái laptop ba tặng con, gọi là quà mừng con ra trường và mới có việc làm, con đừng từ chối nhé. 

Lần đầu tiên, Tí nhìn rất gần khuôn mặt ba, những nếp nhăn trên trán và khóe miệng hằn sâu dấu vết tuổi đời, Tí nhìn thẳng vào đôi mắt ba, cảm nhận được sự chân thành hối lỗi của ba, Tí mủi lòng, cầm tiền và chiếc laptop, nói lời cảm ơn.

Tí mang về nhà, đưa má, rồi hỏi:

–        Má không giận con chứ!? Con giao tiền cho má, còn laptop con sẽ giữ vì con cũng đang cần một cái mới.

Má nói:

–        Vậy cũng được, còn số tiền này, má nghĩ mình nên làm từ thiện, một nửa gửi cho Khoa Ung Thư bệnh viện đã chữa má khỏi bệnh, còn một nửa đem đến Chùa sư nữ để họ nấu cơm cho những người nghèo vô gia cư, coi như hồi hướng công đức cho bà, nghen!?

–        Dạ con đồng ý!

–        Thôi con đi tắm rửa rồi ra ăn cơm. Má rất vui và tự hào vì con đã lớn và biết cư xử trước sau. 

Má làm Tí đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, ngày xưa má la mắng cấm cản mỗi khi Tí lỡ miệng nói đến ba, còn bây giờ má nói chuyện tỉnh rụi, y như hổng có chuyện gì của quá khứ . Tí cười:

–        Con cũng vui và tự hào vì má nữa đó.

Má nghiêm nghị:

–        Thực ra, kể từ khi má bị bệnh, rồi má đọc kinh Phật, nghe các bài giảng pháp của các thầy sư, má ngẫm ra một điều, đã đến lúc má phải buông bỏ quá khứ, tha thứ, quên đi, mở lòng để sống bình an, thanh thản …

Rồi má lại mỉm cười:

–        Tóm lại, hai má con mình đều đã …trưởng thành, đều đã đổi thay tốt hơn, phải không con!?

Tí thương má quá chừng, má từng chịu nhiều nhiều đau khổ về tinh thần khi bị ruồng bỏ cô đơn nuôi con khi mới chân ướt chân ráo đến Mỹ, và đau đớn thể xác khi mang bệnh, nên bây giờ thấy nụ cười nhẹ tênh của má, Tí vui lắm.

Tí quay bước lên lầu, má gọi lại:

–        À quên nữa, con nhớ hỏi “bên đó” chương trình cúng thất thế nào, nếu có thể thì con ráng đi đủ bảy thất cho bà nội nghen!

Edmonton Tháng 5/2026

KIM LOAN




SỎI NGỌC: MÓN QUÀ LỠ DỊP

Chiếc hộp quà còn trong gói giấy hoa bất thình lình rơi xuống dưới chân từ trên cao, khi tôi kiễng chân kéo chiếc giỏ lớn xếp tuốt trên đầu tủ, những đồ đạc ít khi dùng đến, chiếc hộp quà chưa mở còn được gói trang trọng bằng giấy hoa đầy những trái tim nhỏ li ti, làm tôi hết sức ngạc nhiên! Tôi cúi xuống, nhặt lên, từ từ mở ra. Chiếc vòng cổ bằng hạt ngọc trai! Tôi thử ướm lên cổ, rất vừa vặn vòng tròn cổ, màu ngọc trai sáng bóng long lanh như những giọt nước nhỏ, làm tôn vinh thêm chiếc cổ cao thon của tôi. Ủa mà món quà bất ngờ này ai đã tặng cho tôi? Hồi nào, mà sao giờ này tôi mới thấy trong chiếc túi xách cũ xưa được nhét trên nóc tủ? Tôi đã chưa hề mở ra từ bao nhiêu năm nay! Một tờ giấy nhỏ ngả vàng gấp đôi được đặt dưới đáy chiếc hộp vuông nhỏ, dưới chiếc vòng ấy: “Think of me in the times to come” BC, Feb 1990.

Ký ức dắt tôi về những ngày còn đi làm trong ngân hàng ở quê hương thứ hai lạnh giá. Năm 2005 tôi mới được đổi về ngân hàng có chi nhánh trong nhà thương lớn chuyên về trẻ em ở Vancouver, BC, rất gần biên giới Mỹ.

Vào tháng Sáu, nhà thương tổ chức một ngày cho các bệnh nhân nhỏ dưới 15 tuổi rời phòng bệnh tầng thứ năm, tham quan những hoạt động dưới nhà, chụp hình với những nghệ nhân giả làm bạch tuyết, chú lùn trong film hoạt hình Walt Disney… Các em cũng được nhận quà từ những mạnh thường quân đến thăm ngày hôm đó. Bổn phận của những nhân viên trong nhà thương là nói chuyện, làm cho các em lên tinh thần, tiếp tục trị liệu, nếu có thể tốt hơn nữa là làm người hỗ trợ tinh thần cho các em, người này sẽ như người thân trong gia đình của em.

Chúng tôi dừng mọi hoạt động với khách hàng trong một tiếng đồng hồ để đón tiếp, hàn huyên và giúp các em di chuyển nếu gặp khó khăn vì các em “ngao du” với những dây nhợ chằng chịt trên tay, đầu cổ, kéo theo bình thở, bình thuốc truyền tĩnh mạch, có em vừa mổ xong, mình mẩy còn quấn băng trắng xóa, vẫn háo hức xuống gặp gỡ mọi người.

Khi các em xuất hiện ở đầu hành lang, những ánh mắt ái ngại của chúng tôi chạm nhau, ráng kềm giữ cho những giọt nước mắt đừng lăn tràn xuống má; các em còn nhỏ quá, những cặp mắt ngây thơ, hồn nhiên đến tội nghiệp dáo dác nhìn, có những em dưới 10 tuổi, ngồi xe lăn bị động kinh; có một em đầu quẹo xéo sang một bên, mắt liếc sang bên ngược lại, tay chân dài khẳng khiu quơ quào không theo ý mình, miệng chảy dãi nhớt, vẫn cười tươi khi gặp chúng tôi. Em muốn chụp hình chung với nàng Bạch Tuyết đứng cách đó không xa, tôi giúp đẩy xe em lại gần để chụp và lấy hình liền, em sung sướng nhoẻn cười, dãi nhớt chảy không ngớt, miệng muốn hét la hạnh phúc nhưng âm thanh bị kìm hãm, chỉ những tiếng ú ớ thốt ra.

Cô y tá chuyên môn coi sóc các bé ở lầu năm lại gần tôi nói:

– Chị đừng làm em này xúc động nhé, khi em chảy dãi nhớt nhiều như vậy không tốt đâu, sẽ làm em khó ngủ một chút nữa, và bị động kinh thường xuyên, hãy cứ giữ yên lặng đi bên em mà thôi.

– Ồ tôi xin lỗi, tưởng làm cho em vui thì tinh thần thoải mái chứ, ai ngờ lại làm cho em mệt thêm nữa, vậy để tôi đẩy em ra chỗ nắng ấm nhé!

– Cũng không được luôn, em này tình trạng còn yếu lắm, chỉ xuống đi một vòng cho thay đổi không khí rồi đi lên thôi.

Tôi ái ngại rời chiếc xe đẩy của em, trao cho cô y tá đẩy em trở lại phòng, bên tai vẫn còn văng vẳng tiếng ú ớ của em như muốn ở lại “chơi” thêm nữa với những nhân vật hoạt hình.

Từ đàng xa một bé gái chừng 9-10 tuổi ngồi yên trên xe lăn, đôi mắt nhìn vào một nơi xa xôi, em không để ý mọi thứ diễn ra trước mắt, khuôn mặt với nước da xanh xao, chai truyền dịch còn đầy nước treo lủng lẳng bên thành xe, mấy chú lùn nghệ nhân chạy xung quanh múa may chọc em cười nhưng em vẫn không nhìn họ, đôi mắt mệt mỏi của em bỗng ngừng lại ở tôi, đang đứng trước cửa ngân hàng, nơi hành lang vắng, tôi nhoẻn cười, vẫy em. Em lăn chiếc xe chạy nhanh lại bên tôi:

– Cô ơi, cháu muốn có một quyển vở và một cây bút để viết…

– Cháu đợi cô ở đây nhé, cô sẽ đi lấy cho cháu.

Khi tôi đem ra, hỏi:

– Cháu muốn viết gì trong này?

– Cháu muốn viết… nhật ký!

-Nhật ký ư? Cháu có nhiều điều để kể lắm phải không?

– Cô… có muốn share với cháu không?

– Tức là sao?

– Cháu muốn có ai đó viết cùng với cháu, như hồi cháu còn nhỏ ở nhà mẹ rất hay viết cùng với cháu, mỗi lần cháu muốn điều gì, cháu hay viết vào đây, mẹ cháu sẽ giải thích và trả lời lại cho cháu khi mẹ rảnh, cháu vẫn giữ quyển đó, bây giờ mẹ không còn ở với cháu nữa, mẹ đã bỏ thế giới này rồi, ba nói mẹ ngủ không dậy nữa…

– Vậy ba có vào thăm cháu không?

– Ba cháu bận lắm, ba phải đi làm rất xa. Ba hay gởi cháu cho bà Manon cạnh nhà, bà ấy đông con lắm không thể bỏ nhà đi thăm cháu được đâu.

Tôi xoa đầu cô bé, mái tóc vàng hoe rối tung chưa chải, thương cảm:

– Ngoài viết nhật ký ra, cháu có muốn cô sẽ lên thăm cháu mỗi ngày vào giờ cơm trưa của cô không?

Tia mắt hạnh phúc ngước lên nhìn tôi:

– … Cô nói thật chứ? Cô lên thăm cháu vào mỗi buổi trưa sao?

– Đúng rồi, cô sẽ ăn trưa 15 phút thôi, còn lại cô sẽ lên thăm cháu; à mà cháu tên gì cô chưa biết?

– Cháu là Jennifer, hãy gọi cháu là Jenny cho tiện ạ.

Tôi cầm hai bàn tay bé xíu trong lòng tay mình:

– Cô sẽ lên thăm cháu Jenny bắt đầu ngày mai nhé.

– Ngày mai cháu sẽ đưa cô quyển nhật ký của cháu để cô viết luôn nhe. Cháu thích lắm!

– Đến giờ rồi, cháu về phòng cẩn thận, nhớ ăn uống đầy đủ! Bye cháu!

– Bye cô! Cám ơn cô!

Năm ấy tôi đã lập gia đình được ba năm, mẹ chồng đã thúc giục tôi nên có con để khi bà còn khỏe sẽ giúp tôi canh cháu, thế nhưng chúng tôi vẫn chưa có duyên với đứa con nào cả; tôi rất yêu con nít, mỗi lần nghe tiếng khóc của một sinh linh trào đời ở tầng ba, trái tim tôi hẫng một nhịp đập.

*

Nhật ký của Jenny:

“Montreal, tháng 6-2005

Mẹ ơi,

Con được viết nhật ký với cô LyLy, cô làm ngân hàng ở dưới nhà, không biết tại sao con lại chọn cô ấy làm người hỗ trợ tinh thần nữa, chắc chỉ có mình cô ấy để ý đến con thôi.

Mẹ ơi, hôm qua con lại bị sốt cao, con mệt lắm, không biết ba có về kịp để thăm con, con sợ sẽ không bao giờ nhìn thấy ba như mẹ đã ngủ quên mà chưa gặp được ba…

Mẹ có nhớ hôm đó mẹ phải gởi con cho bà trên lầu để đi vào bệnh viện không? Bây giờ con cũng thế, con đang nằm ở bệnh viện giành cho trẻ em, buồn lắm, chỉ thấy bốn bức tường vàng, đến giờ được gọi dậy ăn cơm, thế thôi; đứa nằm bên cạnh giường, thằng Stephan nó chờ thay gan, đứa nằm bên trái, con Kate bị sốt hoài như con, nhưng nó may mắn có cha mẹ vào thăm luôn, còn con thì không ai vào thăm hết, con nhớ mẹ lắm, nhớ cả ba, bây giờ… chỉ chờ quả thận, chờ một năm nay rồi, con có cầu Chúa mỗi tối, con mong ngài sẽ cho con thêm sức mạnh…để tiếp tục chờ…

Jenny.

Nước mắt tôi chẩy ràn rụa khi đọc những lời tâm sự ngắn ngủi của Jenny, cô bé 10 tuổi, cái tuổi lẽ ra phải hạnh phúc bên gia đình đầy đủ cả cha lẫn mẹ, phải được vui sướng chạy nhảy tung tăng, sao cháu khổ thế này. Tôi được biết mạng sống cháu chỉ còn sáu tháng, tình trạng trầm trọng lắm, phải tìm cho ra người hiến thận!

Chờ mong một đứa con thành hình trong bụng đã khó rồi, sanh con ra, chẳng may con bệnh hoạn, tật nguyền, thật là một sự đau khổ triền miên cho cha mẹ và bản thân đứa bé.  Lúc đó tôi thật hoảng sợ, ý nghĩ có con từ từ rời khỏi trí não của tôi!

Tôi viết lại cho Jenny vào một buổi tối:
“Chúa sẽ cho cháu được thật nhiều sức khỏe, sống bù lại cuộc sống của mẹ, cháu hãy ráng ăn uống, nghỉ ngơi để có sức vượt qua những phẫu thuật sau này nhé. Cô tặng cháu con chó bông trắng này, nó sẽ là thần hộ mệnh, bảo vệ cháu, hãy nói chuyện với nó khi cháu buồn!”

Ngày hôm sau, vào giờ cơm trưa tôi lên thăm Jenny, cô y tá kể con bé đã không ngừng sốt tối hôm qua, ói rất nhiều, hôm nay bé rất mệt, ngủ từ sáng đến giờ cơm trưa vẫn chưa thấy dậy.

Tôi đặt quyển nhật ký và con chó bông trắng bên cạnh chiếc gối ngủ, quay sang thăm các em nhỏ ở những giường bên cạnh, cháu nào cũng mệt mỏi, mắt lờ đờ nhìn tôi vẻ chịu đựng. Những ngày tiếp theo, nét chữ Jenny trở nên yếu dần và nghuệch ngoạc, cô bé chỉ viết “con mệt, con nằm mơ thấy mẹ đêm qua, con mong sẽ được đi cùng mẹ để không bị nằm đây cô đơn nữa, nhưng con vẫn muốn gặp ba một lần”

“Con cám ơn cô cho con con chó bông trắng, con gọi nó là Lana, con rất yêu nó, con kể cho nó nghe về mẹ, về ba, những kỷ niệm xa xưa, rất ít còn lại trong óc”

Vào cuối tháng 9, 2005 bệnh tình của Jenny trở nên nặng hơn, cháu mê sảng, những bác sĩ, y tá, phụ huynh thăm nuôi các em nhỏ ở phòng bên cạnh đều nói về tình trạng không ổn định của bé cho chúng tôi nghe, ai cũng ái ngại cho cháu chỉ có một mình, ba cháu đi lính xa nhà, sáu tháng mới về một lần. Có người mếu máo kể với tôi:

-Sợ rằng khi ba con bé về đến đây, không biết có còn kịp thấy mặt con không!

Lúc đó, cảm thấy mạng sống của Jenny như ngàn cân treo sợi tóc, tất cả nhân viên trong ngân hàng chúng tôi đã quyết định chung tay cùng nhà thương gây quỹ 120k cho cháu bé để tiến hành việc thay thận mới cho cháu. Riêng ngân hàng tôi đã đóng góp 40k. Thông tin gởi đi gấp gáp đến toàn thể các bệnh viện của tiểu bang BC, như một báo động đỏ.

Từng ngày trôi qua, chúng tôi sống trong phập phồng, không biết Jenny có ráng trụ lại với thế giới này nổi thêm ngày nào nữa không, ai cũng nước mắt rưng rưng bờ mi mỗi lần gặp nhau ở ngoài hành lang, hỏi thăm tình trạng của bé; chả lẽ nhìn cô bé ra đi như vậy sao? Chả lẽ tất cả mọi người đành bó tay sao? Phải hành động thế nào chứ! Khi ba của bé làm nhiệm vụ cho tổ quốc về thì con gái duy nhất của ông ấy không còn trên đời này nữa sao! Không thể bất công như thế được!

Một buổi sáng thứ hai, Jenny vẫn chờ đợi thoi thóp trên giường bệnh. Bỗng chúng tôi nghe tiếng còi xe ambulance-paramedic hú vang, rồi tiếng chân thình thịch chạy vội vàng của những bác sĩ và y tá, gấp rút vào phòng mổ; một bé cùng trạc tuổi với Jenny vừa lìa đời ở một nhà thương khác, cháu ấy bị tai nạn xe cộ cùng với mẹ, người mẹ chỉ bị thương nhẹ, nhưng đứa con gái vì mất máu quá nhiều đã không cứu kịp khi đem đến bệnh viện. Như một duyên may, bà bằng lòng hiến quả thận còn rất tốt của con mình cho Jenny!

Họ đã trải qua cả ngày trời căng thẳng trong phòng mổ, chúng tôi chỉ biết thầm cầu khẩn Chúa, Phật cho việc giải phẫu được thành công, tay làm việc, nhưng đầu óc và trái tim để cả trong phòng mổ với các bác sĩ. Khi cánh cửa phòng mổ vừa mở ra, chúng tôi được tin từ cô y tá, xúc động lắp bắp:

– Thành công rồi! Cháu đã tai qua nạn khỏi, cháu sẽ có thể đi học lại, có thể chờ đợi người cha đang làm nhiệm vụ từ xa… Con cám ơn Chúa, cám ơn Trời Phật!

Tất cả mọi người xung quanh xúc động, nước mắt ràn rụa, vỗ tay ồ ạt.

*

Mỗi buổi trưa lên thăm cháu Jenny, tôi đều gặp bà Helen Cromp, mẹ của cô bé đã hiến thận ngồi bên cạnh Jenny, xúc từng muỗng soup cho con bé, chăm lo như chính đứa con ruột của mình. Gặp tôi bà ứa nước mắt tâm sự:

– Ông Trời lấy đi của tôi đứa con gái yêu thương, quý giá nhất, nhưng ngược lại cho tôi đứa con gái khác, nó đang mang trong người một bộ phận của đứa con tội nghiệp của tôi, tôi muốn nhận Jenny làm con nuôi, chăm lo cuộc sống sinh hoạt cho cháu sau này, vì hoàn cảnh của cháu cũng bơ vơ xót xa quá, tôi sẽ bớt cô đơn khi có cháu. Tôi sẽ nói chuyện với ba của cháu khi ông về đây.

Jenny khuôn mặt hồng hào, cặp mắt tinh anh tràn đầy sức sống, nó nắm lấy cánh tay tôi, khẽ khàng bỏ vào ví tôi một chiếc hộp nhỏ, thì thào:

– Cái này của mẹ con hồi xưa, món quà này của ba đã tặng cho mẹ, nhưng mẹ chưa có dịp nào để dùng đến cả, con muốn cô giữ lấy để nhớ về con… Con cám ơn cô và tất cả mọi người trong ngân hàng của cô đã giúp cho con có đủ chi phí ghép thận…. Con thật may mắn quá…

Tôi nghẹn ngào xoa đầu cô bé, những lọn tóc vàng óng ả mềm mại rơi xuống trán, làm tăng thêm sinh khí:

– Con giỏi lắm, đã rất can đảm! Cô thật hãnh diện về con.

– Cô nhớ đến thăm con sau này nhé…

– Ừm, con phải sống khỏe, ngoan để làm vui lòng mẹ Helen nhe.

Đến giờ làm việc, tôi tất bật chạy xuống dưới nhà, gặp khách. Lu bu công chuyện, trong đầu chỉ nghĩ đến niềm vui của bé Jenny từ đây trở đi cuộc đời của cháu sẽ suông sẻ, tất cả mọi thứ sẽ đều mới mẻ: quả thận mới, gia đình mới, có “người mẹ mới” tân tình chăm sóc yêu thương.

Nhẹ nỗi lo, về nhà tiện tay, cất chiếc túi xách khổ lớn này lên đầu tủ, vì chỉ dùng khi có họp hành, đựng nhiều hồ sơ giấy tờ, quên luôn chiếc hộp quà xinh xắn đầy kỷ niệm và ý nghĩa trong ấy.

Vậy mà đã 20 năm trôi qua!Sỏi Ngọc – Montreal, Feb’26




Thơ DONRY NGUYỄN: CẢM ĐỀ KHI KHOÁC LẠI MÀU ÁO KAKI –

CẢM ĐỀ
KHI KHOÁC LẠI MÀU ÁO KAKI

Người vốn chẳng ngang tàng như Phạm Thái,
“Lòng không mềm bằng kiếm*” khóc Quỳnh Như.
Khoác chinh y giữa thời Xuân Thu Việt,
Dù không vay cũng vướng nợ oan cừu.

*

Lưng đã hứng những roi đòn nghiệt ngã,
Ngửa mặt cười kha khả với non sông.
Đêm gối kiếm một thân nằm đất lạ,
Niềm cô đơn như lửa đốt thiêu lòng.

*

Sóng phế hưng rộn ràng cơn dâu bể,
Áo cơm đời thôi nghĩ việc đao binh.
Ai còn nhắc một thời trang sử cũ,
Chuyện trăm năm lưu thủ chút ân tình.

*

Bến sông xưa người có về kịp lúc,
Trút oan khiên mặt đất hé môi chào.
Khi ngoảnh lại áo khinh cừu đã bạc,
Thấy cuộc đời như một giấc chiêm bao…

-Donry Nguyễn-
(Hình tự chụp có nhờ AI chỉnh sửa phông nền phía sau)
*Câu này của Nguyễn Đình Toàn trong bài Phạm Thái, nguyên văn:
“Ta tráng sĩ hề, lòng không mềm bằng kiếm
.”




KIỀU MỸ DUYÊN – CHƯƠNG TRÌNH CÁI NHÀ LÀ NHÀ CỦA TA Và Những Thông Tin Từ Thiện Quý Giá




CAO MỴ NHÂN: TIỄN KHÁCH VIỄN DU – KÍNH ĐIẾU HƯƠNG HỒN THI SĨ PHẠM THIÊN THƯ.

TIỄN KHÁCH VIỄN DU.      CAO MỴ NHÂN 

( KÍNH ĐIẾU HƯƠNG HỒN THI SĨ PHẠM THIÊN THƯ )

Thư Lâm héo nụ hoa vàng

Những vần trác tuyệt treo ngang cõi Thiền

Người đi thả bóng thiên duyên

Pháp Thân Tâm bỏ lại miền tử sinh

*

Kiếp xưa rối kiếp u minh

Áo lam phai sắc thiêng linh chuỗi buồn

Quá quan lên đỉnh mê cuồng

Cũng thôi tất cả Đoạn Trường Vô Thanh

*

Tuệ hoa Mai dưới trời xanh

Đã quên khép nụ tàn canh mê đời

Thôi thì thôi nhé ai ơi

Chén canh rau đắng giữa trời chuông rung
*

Lối kia tới nẻo vô cùng

Đường này sương khói mịt mùng trùng quan

Quyên rơi tiếng hót than van

Chúc người thanh thản lên đàng miên du … 

Los Angeles   8 – 5 – 2026            CAO MỴ NHÂN  




PHƯƠNG HOA – Chiều Nhạc Nhớ Mẹ: Nơi Tình Mẫu Tử Và Lòng Yêu Nước Giao Thoa – THƠ MINH THÚY THÀNH NỘI: MỪNG NGÀY LỄ MẸ.

Chiều Nhạc Nhớ Mẹ: Nơi Tình Mẫu Tử Và Lòng Yêu Nước Giao Thoa

Phương Hoa ghi nhanh

Từng nghe biết về Hội Phụ Nữ Thiện Nguyện Việt Mỹ ở San Jose, Bắc Cali, nhưng tôi chưa bao giờ tham dự một buổi lễ nào của hội này.  Năm nay tình cờ tôi nhận được tấm poster rực rỡ với dòng chữ “HAPPY MOTHER’S DAY!” Và khi thấy cái tựa đề buổi diễn “Chiều Nhạc Nhớ Mẹ” của Hội Phụ Nữ Thiện Nguyện này, thì trái tim tôi “mềm” đi một chút, và mọi lý do bận rộn “trăm công nghìn việc” đều phải…đi chỗ khác chơi! Đơn giản vì tôi cũng là một người mẹ, và tôi biết, các mẹ luôn xứng đáng được tôn vinh và yêu thương.

Thế là, chiều thứ Bảy tuần trước, tôi cùng chị Mỹ Thanh phu nhân của cố Chủ tịch Văn Thơ Lạc Việt Chinh Nguyên, có mặt tại số 70 W. Hedding St, San Jose, để cùng các mẹ các chị hòa mình vào một không gian tràn ngập tình yêu và âm nhạc.  

Sân khấu được bày biện trang nghiêm với cờ Mỹ và cờ Việt Nam Cộng Hòa đứng cạnh nhau. Ngay phía dưới là dãy bàn lớn bày ba chiếc bánh kem “khổng lồ” trang trí hoa văn rực rỡ với dòng chữ “Happy Mother’s Day” trông thật… ngọt ngào, và dễ thương hết mức.  

Được biết, chương trình ý nghĩa này được bảo trợ bởi Betty Dương, Giám sát viên Quận Hạt Santa Clara.

Chương trình mở đầu đầy xúc động khi cô MC Thanh Loan duyên dáng của cộng đồng Việt San Jose nói chung, và của Văn Thơ Lạc Việt nói riêng, mời tất cả những phụ nữ mặc áo dài lên sân khấu để cùng làm lễ chào cờ.  Tôi cũng bước lên theo các chị.

Thật cảm động và hãnh diện khi được khoác lên mình chiếc áo dài truyền thống đứng giữa lòng nước Mỹ, trang trọng hướng về lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và Cờ Sao Hoa Kỳ.  Khi giai điệu Quốc Ca “Này công dân ơi…” vang dội khắp khán phòng, tôi chợt nhiên muốn khóc. Sống mũi tôi cay xè khi hình ảnh quê hương xưa ào ạt hiện về như một cuốn phim quay chậm của những buổi chào cờ ngày còn đi học… Ôi quê hương tôi giờ ra sao?

Sau phút lắng đọng tưởng niệm, là phần phát biểu của chị Merry Lê, Hội trưởng Hội Phụ Nữ Thiện Nguyện Việt Mỹ Bắc Cali.  Chị bước lên sân khấu với những giọt nước mắt nghẹn ngào, tri ân cộng đồng đã ủng hộ chị suốt hơn 30 năm qua, từ lúc chị “tuổi còn xanh mà bây giờ thì tóc muối đã nhiều hơn tiêu”, chị nói.

MC Thanh Loan và Cựu Chủ Tịch Merry Lê

Nhưng bất ngờ nhất chính là màn “tống cựu nghinh tân” đầy ý nghĩa. Chị Merry Lê quyết định lui về hậu phương và giới thiệu người kế nhiệm: Mary Thảo Lê, một gương mặt trẻ trung, thành danh trong ngành địa ốc và cũng là một hậu duệ đầy tự hào của Việt Nam Cộng Hòa. Trong chiếc áo dài cách tân hiện đại, tân Hội trưởng Mary Thảo Lê đã hứa sẽ nối gương người tiền nhiệm để phát triển Hội ngày càng tốt đẹp hơn.  Khoảnh khắc xúc động nhất, là khi chị Merry Lê khoác cho tân chủ tịch trẻ Mary Thảo Lê chiếc khăn quàng cổ bằng len đan, kết nối lá cờ Mỹ vào cờ VNCH cùng lời dặn dò, “Hai vai gánh vác hai cờ/Một là quê mẹ, hai là tạm dung”. Sau đó chị nhờ ông cố vấn của hội là Jimy Phan bàn giao chiếc hộp ấn tín lại cho Mary Thảo Lê, trong tiếng vỗ tay vang dậy của khán giả. Đây thật sự là những hình ảnh rất đẹp, minh chứng cho sự tiếp nối của tinh thần phụng sự đồng bào.

Cố Vấn Jimmy Phan đại diện trao Ấn Tín cho Tân Chủ Tịch Mary Thảo Lê

Cựu Chủ Tịch Merry Lê trao tặng khăn quàng cổ có Cờ Mỹ và cờ VNCH đan kết cùng nhau cho tân Chủ Tịch Mary thảo Lê

Khi lễ bàn giao hoàn thành, phần văn nghệ bắt đầu với những giai điệu thật ngọt ngào, đó là những cung bậc tri ân Tình Mẫu Tử.  Có thể nói, chương trình… bùng nổ với những giọng ca đầy nội lực.  Khán giả như sống lại trong tình yêu của mẹ, qua tiếng hát truyền cảm của chị Thu Tâm với bài Lòng Mẹ của nhạc sĩ Y Vân. Tiếp theo là sự sâu lắng của Hiếu Hạnh qua bản Đèn Khuya của Lam Phương.  Đặc biệt, nghệ sĩ Diệu Bảo khiến cả hội trường “vỗ tay bể rạp” bằng giọng ca cải lương …nhà nghề, ngọt lịm trong bài tân cổ Nhớ Mẹ của soạn giả Viễn Châu. Mỗi lần cô xuống một câu vọng cổ là khán phòng lại rộn ràng tán thưởng. Tiếp đó, Hoàng Kim lại gieo vào lòng người những trắc ẩn qua Đêm Mưa Nhớ Mẹ.

Sân khấu càng thêm rực rỡ khi Nhóm múa Dưỡng Sinh xuất hiện trong tà áo bà ba và chiếc nón lá, trình bày điệu múa Lối Về Xóm Nhỏ của nhạc sĩ Trịnh Hưng quá đỗi duyên dáng, xúc động vô cùng. Kế đến, Trung Kiên khoe chất giọng “ngọt như mía lùi” với Lệ Đá.  Mọi người thật bất ngờ, khi tân Hội trưởng Mary Thảo Lê cũng chứng minh tài nghệ “không thua ca sĩ chuyên nghiệp” khi trình bày Mùa Xuân Của Mẹ của nhạc sĩ Trịnh Lâm Ngân làm mọi người rưng rưng xúc động. Và những tràng pháo tay lại rộn rã vang lên…

Múa nón của nhóm Múa Dưỡng Sinh

“Bữa tiệc âm nhạc” thật thành công với sự góp mặt của các giọng ca tài năng Thu Phượng, Thi Lan, Mỹ Linh, và Lệ Hằng… mỗi người một vẻ tạo nên một chương trình đa sắc thái.  Sức hút lớn đến nỗi dù bánh kem đã được cắt và sắp sẵn đầy bàn phía ngoài, nhưng quan khách vẫn mê mẩn ở lại xem ca nhạc cho tới giờ chót.  

Khi những giai điệu gần lắng xuống, chị cựu Hội trưởng Merry Le ra ngoài mời bánh kem cho quan khách, tôi lợi dụng chạy theo ra, xin phép phỏng vấn “chớp nhoáng” chị vài câu:

Phương Hoa (PH): Xin chị Merry Lê cho hỏi, chị sáng lập ra Hội Phụ Nữ Thiện Nguyện Việt Mỹ này từ khi nào? Và ý tưởng từ đâu mà chị phục vụ giúp đỡ cho cộng đồng người Việt, đặc biệt là người cao niên ở vùng San Jose?

Merry Lê: (Cười hiền hậu) Em phục vụ cho cộng đồng cũng hơn 30 năm rồi, nhưng khi bắt đầu là em phục vụ cho cộng đồng Mỹ chứ không phải là Việt.  Đó là thời còn sinh viên của trường San Jose College, em rất là dấn thân giúp người.  Em đã mở trung tâm dạy luyện thi quốc tịch Mỹ miễn phí, rủ bạn cùng trường dạy kèm luyện thi, và ai học cũng thi một lần là đậu quốc tịch ngay.  Vì những việc làm lợi ích cho cộng đồng, nên em được trường cấp cho cái bằng bác ái và dán lên tường của trường San Jose College, và em cũng được một vị nữ giáo sư viết bài đăng báo bằng tiếng Anh.

PH: Whoa! Chị tuyệt vời nha! Rồi nguyên do nào chị sáng lập Hội Thiện Nguyện Việt Mỹ?

Merry Lê: Khi nhận bằng bác ái, em chợt nghĩ tại sao mình không đem tấm lòng này về phục vụ cho cộng đồng mình?  Thế là em sáng lập ra Hội Thiện Việt Mỹ và quy tụ những người hảo tâm cùng làm thiện nguyện với em, và thường giúp cho quý vị cao niên trong thành phố có những bữa ăn đầy đủ, và còn giúp đỡ mọi việc khi nào họ cần.  Hằng năm thì em tổ chức lễ Mother’s Day và Father’s Day cho cộng đồng.  Em muốn truyền bá chữ hiếu và tấm lòng của đạo đức Việt Nam, là con cái phải dưỡng nuôi cha mẹ để đền ơn công đức sinh thành.  Và kết quả là ngày càng có nhiều bà con cộng đồng ủng hộ.  Từ đó thì em làm việc mãi đến ngày hôm nay.

PH: Vậy chị làm sao mà chọn được cô Mary Thảo Lê này?

Merry Lê: (Cười dí dỏm) Hoa có hương thơm thì tự nó tỏa lan, không cần tìm kiếm.  Em biết Mary Thảo Lê là hậu duệ của Việt Nam Cộng Hoà, tính tình rất năng nổ nhanh nhẹn dễ thương, em ấy lại trẻ trung hoạt bát, có sự nghiệp vững vàng.  Mary Thảo Lê là một nhà địa ốc thành công, và đặc biệt là em ấy hát rất hay.  May mắn và thật mừng, là Mary Thảo Lê đã nhận lời để nối bước em, vì nay lớn tuổi và gia đình em đang cần giúp đỡ nên không thể tiếp tục.

Lúc này có nhiều người ra thưởng thức bánh kem, và xin chụp hình với cựu Chủ Tịch, nên tôi cảm ơn chị cựu Hội trưởng và trả chị về cho thực khách.

Vừa lúc Tân Hội Trưởng Mary Thảo Lê bước ra ngoài. Tôi vội “chộp” lấy cô và hỏi đôi câu, trước khi người hâm mộ chạy đến vây quanh xin chụp hình chung với tân Chủ Tịch để làm kỷ niệm.

Chị Mỹ Thanh và Tân Chủ Tịch Mary Thảo Lê

PH: Mary cho chị hỏi nhanh vài câu: Động lực nào làm cho em nhận lời chị Merry Lê để nối gót chị phục vụ cộng đồng và nhận cái trách nhiệm rất là quan trọng nhưng cũng đầy khó khăn này?

Mary Thảo Lê: (Cười rạng rỡ) Hình như trong máu em đã có sẵn sự ưa thích phục vụ cộng đồng chị ạ, tuy có điều là em chưa biết khi nào. Em thường đi hát và gặp nhiều nhóm cộng đồng, thấy những sinh hoạt của họ làm em rất yêu thích.

PH:  Tuyệt quá! Vậy em gặp cô Merry Lê trong dịp nào?

Mary Thảo Lê: Em đi hát nhiều lần và nhiều nơi, và em thấy sự làm việc của cô Merry Lê.  Cô ấy làm thật nhiều việc có lợi cho cộng đồng, nên em phục cô lắm. Cô ấy cũng có tấm lòng yêu nước rất cao, lúc nào cũng nhớ về Việt Nam Cộng Hòa của mình, thế là em nhận lời, vì em là một hậu duệ của Việt Nam Cộng Hoà.  Ba em ngày trước phục vụ cho Chiến Dịch Phượng Hoàng, trụ sở gần bên cạnh đài phát thanh Sài Gòn xưa đó chị.

PH: Oh, thảo nào! Em đúng là “con dòng cháu giống!” Vậy em có thể cho biết tên và chức vụ của ba ngày ấy hay không?

Mary Thảo Lê: Dạ, ba em tên là Lê Khuê Đảm, chức vụ là đại úy, nên khi cộng sản Bắc Việt chiếm lấy miền Nam, ba em đã bị 6 năm tù.  Và sau này khi ra tù ba em sang Mỹ diện HO 5.

PH: Tội nghiệp ba em và những Sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa quá! Vậy ba em hiện có còn khỏe không?

Mary Thảo Lê: Dạ ba em mất hồi năm 2024 rồi chị ơi! Thương ba lắm! Ngày còn sống ba em hay kể về tướng Nguyễn Khoa Nam trong ngày mất nước, ông thà chết chứ không bỏ nước ra đi! Đúng là bất khuất và hùng tráng! Em nghe ba kể những vị anh hùng tuẫn tiết trong ngày mất nước mà em ngưỡng mộ dễ sợ! Em thường ước mình có thể làm được những việc lớn lao hơn cho đất nước nhưng sức người có hạn, và vì phận gái nên em không thể làm gì hơn.

PH: Ôi thật là trân trọng tấm lòng của em! Đáng quý quá! Ước gì các thế hệ trẻ ở hải ngoại đều suy nghĩ được như em thì đất nước mình diễm phúc biết bao! Cho chị hỏi một câu sau cùng: Em đã có đường hướng gì để đưa hội mình ngày càng phát triển lớn lên hơn không?

Mary Thảo Lê: Em nghĩ là em sẽ cần, rất cần, sự ủng hộ của cộng đồng, như các anh chị.  Em cần học hỏi rất nhiều và em cũng sẽ nhờ sự cố vấn của cô Merry Lê. Có một điều em chắc chắn, là em biết mình ở đâu, và phải làm gì, cho đúng với quốc gia dân tộc, giống như cô Merry Lê đã nói với em rằng, trong trách nhiệm này em không được “đi hàng hai”, nghĩa là phải giữ đúng thẳng hàng một người Quốc gia chân chính, để phục vụ cộng đồng, nhằm bảo tồn ngôn ngữ và văn hóa của Việt Nam Cộng Hòa mình…

Nhìn quanh, thấy nhiều người chờ chực để được chụp hình chung với Mary Thảo Lê, tôi “giao” cô nàng lại cho họ và vô lại hội trường, vừa kịp lúc nghe nhà thơ Huy William, từ Nam Cali mới dọn về San Jose, đọc bài thơ về Mẹ do anh sáng tác đầy cảm động. Bài thơ này điểm xuyết cho không gian Lễ Mẹ thêm thi vị, và cũng là một nét đẹp thật có hồn trong văn hóa Việt Nam.

Trong khi ngồi dự lễ, và thấy buổi lễ hiện diện nhiều người giới trẻ, nên tôi ngồi ghi vội mấy câu thơ tiếng Việt và tiếng Anh, định sau cùng nhờ cô tân Chủ Tịch Mary Thảo Lê đọc tặng mọi người, cho buổi Lễ Mừng Mẹ thêm phần “thi vị”. Nhưng rồi có Huy Willam đọc thơ rồi nên tôi dừng lại.

HAPPY MOTHER’S DAY To ALL MOTHERS

Roses for all the mothers, so dear and so true,

Wishing you joy and love in all that you do.

May your days be filled with laughter and song,

As we celebrate you, where you truly belong.

*

Gather ’round with your families, let the music play,

Dance and sing, make memories that will stay.

Toast to the mothers, the queens of our hearts,

In your honor, we’ll throw the best, of all parties, let’s start!

*

So here’s to the mothers, around the world so grand,

With roses in hand, we raise a toast, hand in hand.

May your days be filled with love and delight,

Happy Mother’s Day, let’s celebrate all night!

***

CHÚC MỪNG NGÀY CỦA MẸ ĐẾN TẤT CẢ TỪ MẪU

Bó bông hồng tặng các MẸ quý yêu

Cùng mong muốn MẸ thật nhiều hạnh phúc

MẸ nhận đầy hoa, nụ cười, lời chúc

Và tiệc tùng, nhìn MẸ thật hân hoan.

*

MẸ bên gia đình – âm nhạc rền vang

Hát, khiêu vũ, MẸ vô vàn sung sướng

Nâng ly chúc MẸ người Nữ Vương thần tượng

Tiệc hôm nay vinh danh MẸ ngút ngàn

*

Chúc hết các MẸ luôn được bình an

Hoa hồng tặng MẸ hoa vàng trên bánh

Mừng Lễ MẸ là một ngày Thần thánh

MẸ muôn đời và MẸ suốt đêm nay!

Phương Hoa

Buổi lễ “Chiều Nhạc Nhớ Mẹ” ngày 2 tháng 5 năm 2026 kết thúc bằng những đĩa bánh kem ngọt ngào và những tấm hình thật rực rỡ, tạo cho mọi người niềm tin mãnh liệt vào sự trường tồn của văn hóa và tinh thần Việt Nam nơi hải ngoại.

Ra về khi nắng chiều San Jose đã nhạt, nhưng có lẽ trong lòng mỗi người khách tham dự đều ấm áp, rực rỡ, và vang vọng một lời hứa: Sẽ yêu thương các bậc sinh thành nhiều hơn, và sẽ cùng nhau gìn giữ cội nguồn, bảo tồn văn hóa Việt Nam dù đang ở bất cứ nơi đâu…

 Phương Hoa – Mother’s Day 2026

THƠ MỪNG NGÀY LỄ MẸ – MINH THÚY THÀNH NỘI

HỘI PHỤ NỮ BẮC CALI TỔ CHỨC “LỄ MẸ”

Dự lễ vinh danh đấng Mẹ  hiền

Tháng 5 Hội Phụ Nữ khai liền

San Jose Hạ vừa chớm thức

Văn nghệ vui mừng thỏa mãn viên

*

Góp mặt qua màn hát, múa ca

Cho con thổn thức trở về nhà

Bao nhiêu kỷ niệm thời thơ ấu

Nhớ Mẹ vô vàn, nhớ thiết tha

*

Mướp, cải, cà, rau Mẹ giỏi trồng

Sân vườn lắm trái đẹp giàn bông

Hiên thềm Mẹ dỗ ru con ngủ

Mộ Phật lên chùa góp quả công

*

Nhắc Mẹ Việt Nam tả mấy vừa

Thân cò lặn lội nắng cùng mưa

Nuôi con khôn lớn tình yêu  đậm

Một tối âm thầm lệ tiễn đưa

*

Chay tịnh nguyện cầu đứa trốn đi

Ra khơi biển cả gặp điều gì

Tương chao dưa cải cùng khuôn đậu

Ý nguyện tâm thành Phật chứng ghi

*

Mẹ hỡi tha phương chất nỗi sầu

Bao điều trăn trở mối lo âu

Là con bất hiếu không kề cận

Phụng dưỡng chăm lo tuổi bạc đầu

*

Con hiểu dòng sinh biến đổi thường

Chỉ còn chất chứa biển tình thương

Nương theo Phật Pháp hành tu sửa

Ánh đạo từ bi dẫn lối đường

*

Thuyền nhớ trôi xa tận ngút ngàn

Bên tai “Quê Mẹ “ngọt ngào vang

Ru êm một thủa về nguồn cội

Tỉnh giấc thôi say …giấc mộng tàn

*

Bản nhạc chạm vào ký ức con

Giờ đây hương khói trái tim mòn

Còn đâu bóng mát đà che chở

Đức hạnh một đời dạ sắc son

*

Nghệ sĩ thay phiên nhắc nhở Người

Dâng vần thơ nhạc với hoa tươi

Bánh mừng sinh nhật ai còn Mẹ

Tủi phận mồ côi cố nụ cười

*

        Minh Thúy Thành Nội –  May 2/2026




VTLV: TRANG ĐẶC BIỆT CHÀO MỪNG GS NGUYỄN HUY LẠP CHÚC Đến Với Thi Văn Đàn VTLV

Tóm tắt tiểu sử:

Tên và bút hiệu: Lạp Chúc Nguyễn Huy.

*Trước năm 1975, giảng dạy tại Đại Học Văn Khoa Sài Gòn.

*Sau 1975, làm việc khảo cứu tại Département d’anthropologie de l’Université Laval, Québec, CANADA

*Hiện là cố vấn văn hóa cho cô Sỏi Ngọc, quản lý CLB Văn Hóa Montreal, CANADA

***

**

**

VTLV CHÀO MỪNG GIÁO SƯ LẠP CHÚC NGUYỄN HUY

(Bát vận đồng âm)

VĂN THƠ chào đón khách – thơ quà

LẠC VIỆT vào hè lại nở hoa

LẠP CHÚC danh ngời nơi xứ lạ

NGUYỄN HUY tiếng rạng thuở quê nhà

CÀ MAU lịch sử ly kỳ quá!

RỪNG MẮM cội nguồn thú vị nha!

Mời hết Thi Đàn vui xướng họa

Giáo Sư mừng đón tặng thơ quà.

Phương Hoa – VTLV

*

Thầy mang thơ đến thân trao quà

Cả một Diễn Đàn nở vạn hoa

LẠC VIỆT vươn xa tươi tám hướng

VĂN THƠ  mở rộng đẹp muôn nhà 

Giáo sư LẠP CHÚC tôn nghiêm quá

Mặc Khách Tao Nhân ngưỡng mộ nha

Hương sắc Cao Đài Chân Thiện Mỹ 

Giai chương Nam Bộ quý trân quà.     

Hawthorne. 8 – 2026

CAO MỴ NHÂN 

**

*
Kính họa bài thơ – một món quà

Chào thầy LẠP CHÚC đến vườn hoa

VĂN THƠ khởi sắc bừng tươi ngõ

LẠC VIỆT thêm hương tỏa ngát nhà

Lưỡng quốc Giáo Sư tài trí quá

Cà Mau, Biên khảo tuyệt vời nha

Tâm tình xin gói vào trang giấy

Biếu khách tao nhân, gọi chút quà

*
Quang Hà, 5/7/2026

********

BÀI VIẾT

Đất nước tôi từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau. Ngày nhỏ mẹ ru tôi ngủ:

Con cò bay lả bay la,

Bay qua Đồng Phố bay về Đồng Đăng,

Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa,

Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh

… chìm trong giấc ngủ thơ ngây mà nào có biết mẹ tôi nói đến ải Nam Quan có phố Kỳ Lừa, có nàng Tô Thị. Lúc khôn lớn, thầy giáo mới dạy ải Nam Quan là cửa ải Hoa Việt ở tỉnh Lạng Sơn, có Nguyễn Trãi từ biệt cha vè giúp Lê Lợi phục quốc, có Thoát Hoan, Tôn Sĩ Nghị không còn manh giáp chạy trốn về Tầu, còn Cà Mau thì thầy tôi chỉ nói đến nào là rừng Sát âm u, muỗi độc kêu như sáo thổi, cọp um bên vách lá …

Mảnh đất Cà Mau chỉ mới sát nhập vào Việt Nam hồi thế kỷ 17. Cà Mau là địa bàn của Nguyễn Ánh mưu phục lại cơ đồ. Đã bao lần đại bại phải bỏ lại vợ con, binh sĩ chạy trốn qua đảo Phú Quốc, Poulo Panjang, lưu lạc bên Thái Lan. Nguyễn Ánh với một ý chí sắt đá trở lại Cà Mau, tập họp binh sĩ, đánh chiếm Gia Định rồi thống nhất đất nước năm 1802. Trang sử Gia Long phục quốc hiện nay còn ghi lại vết tích tại Cà Mau. Bạn nào quê quán nới đây chắc còn nhớ xã Khánh An ở vùng Cái Tàu có nền Công Chúa trên một gò đất cao, đó là mộ xưa của một công chúa tử nạn trong thời kỳ Nguyễn Ánh phục quốc. Còn ở xã Tân Hưng trong vùng Cái Rắn còn giữ lại một gò đất cao, di tích ‘’Đồn Dừng Binh’’ của binh sĩ Gia Long. Cách gò này chừng 100M và cách rạch Cái Rắn 30M có một ‘’Ao Ngự’’ tròn rộng chừng 10M của binh sĩ đào lấy nước ngọt cho vua dùng. Ao Ngự có nước ngọt cho dân chúng của xóm Cái Rắn, Rạch Muỗi, Ông Trị dùng quanh năm. Do đó xã Cái Rắn còn gọi là xã Long Ẩn đổ ra sông Ông Đốc dùng làm đường cho Nguyễn Ánh chạy sang đảo Poulo Panjang mỗi lần bại trận.

Nhớ về Cà Mau, một miền thôn dã xa xôi, bát ngát trong rừng sát âm u, sông rạch chằng chịt như mạng nhện, thú rừng thì nhiều, nước thì đen nên người Miên gọi là vùng Tuk Khmau nghĩa là nước đen nên ta phiên âm thành Cà Mau. Cà mau còn là vùng đất thấp sình lầy, hàng ngày thủy triều đẩy nước biển trộn phù sa sông Cửu vào bồi đắp, tràn ngập cả một vùng rừng sát bao la tại vùng Cán Gáo, Cái Tàu, Trèm Trẹm, Tân Bằng … Nước lớn tràn vào khu 12 rừng cấm do Pháp phân ranh xưa kia, nước ròng kéo ra biển nào là lá khô, củi mục, nhựa tràm, cá tôm đủ thứ khiến cho nước điểm màu trà đậm mà thôn dân gọi là nước dớn. Chảy dưới lá rừng U Minh, nước dớn đổ sang màu đen, làm tăng thêm bức tranh tối sáng của U Minh, làm rợn da gà những ai lạc bước nơi đây. Vì vậy mới có địa danh U Minh để chỉ tranh tối, tranh sáng nơi rừng Cà Mau.

Từ trên máy bay nhìn xuống, tất cả sinh vật như chìm đắm dưới màu xanh, xanh của rừng tràm U Minh, rừng đước Tân Bằng, rừng mấm dưới chân giồng, xanh của biển nước đến tận chân trời. Lạc bước vào tấm thảm xanh đó, mới thấy được sức sống của người nông dân tiều phu đang ra công chế ngự khu rừng sát lớn nhất Việt Nam và cả Đông Nam Á nữa. Xưa kia rừng sát mọc gần tỉnh lỵ Cần Thơ, Long Xuyên, Bạc Liêu. Chỉ mới các đây hơn 100 năm, từ Long Xuyên đi Rạch Giá phải len lỏi trong sông rạch, giữa tàn cây âm u, khó khăn và cực nhọc đến nỗi bác nông dân phải than rằng:

Đường đi Rạch Giá thị quá sơn trường,

Gió lay bông sậy dạ buồn nhớ ai.

Ngày xưa, dọc theo dãy Trường Sơn, có những sơn trường để binh sĩ đóng chặn đường người Thượng xuống cướp phá đồng bằng. Đường lên sơn trường dốc núi cheo leo lại sống giữa cảnh núi rừng hoang vu thì hỏi buồn nào bằng cảnh ‘’Ba năm trấn thủ lưu đồn’’ chiều chiều vượn hót chim kêu mỏi’’ mà nhớ đến cái ‘’Chĩnh chọe’’ ở nhà, tơ tưởng đến cành đa, lá đa đầu làng thì hỏi có đứt ruột được không? Ấy vậy mà đường đi Rạch Giá còn buồn đứt ruột hơn là đường đi sơn trường, ngồi nhìn gió lay bông sậy còn ‘’trường tương tư’’ hơn là cảnh chim kêu vượn hót. Các cô gái khuê các nào như cành liễu rủ, như bông đào trước gió, như cành lan để chàng thư sinh ‘’thương em mong manh như một cành lan’’. Còn đối với bác nông dân nơi đây, phải là bông sậy lung linh với gió chiều, bông sậy ngậm hạt sương mai óng ánh trong bình minh mới gợi nhớ, gợi thương.

Rồi từ thế kỷ 18, nông dân Việt tràn xuống Hậu Giang, phá rừng tràm lập xóm làng, rẫy ruộng. Trước khi dẫn các bạn vào thăm rừng sát bắt con muỗi lớn bằng con gà mái mà nhậu chơi, tôi xin tả cảnh rừng Cà Mau trước đã. Hiện nay rừng Cà Mau rộng chừng 300 000 ha, có khoảng 80 sắc mộc chính mọc trên các loại đất cháy (hay đất hữu cơ), đất phèn, đất mặn. Các đất này được cấu tạo từ phù sa của biển, của sông trộn lẫn với các chất hữu cơ (cây, cỏ).

Rừng sát mọc lên như thế nào? Ở Cà Mau, rừng sát thường được phân biệt ra rừng mắm, rừng đước, rừng tràm, nếu đi từ chỗ bờ biển vào sâu trong đất liền:

Mắm trước, Đước sau, Tràm theo sát,

Sau hàng dừa nước mái nhà ai,

Lá chằm tỏa khói chiều biên tái.

Hàng ngày, thủy triều đẩy phù sa tạt vào bờ tràn sâu vào sông rạch, rồi thủy triều rút ra để lộ gần bên bờ biển, lớp bùn non cho cây mắm (Avicenia Officinalis) mọc lên hàng hàng, lớp lớp. Cây mắm có khả năng là rễ bám chặt được trong lớp bùn non ngập nước mặn. Nhờ vậy mắm tiến ra biển, mắm kết chặt bùn non lại cho cứng cáp, mắm đẩy đất bùn thoát dần khỏi mực nước thủy triều cao. Công việc của mắm là vậy, là làm cho đất cao và cứng lại để rồi nhường cái đất đã tốt này lại cho cây đước (Rhizophora Conjugata) đang lù lù đứng đàng sau để mọc lan dần trên rừng mắm. Chỉ chừng 20 năm sau, nếu ta trở lại thăm giang sơn cũ của mắm, chỉ thấy đước là đước, đước mọc thành rừng và lác đác đây đó còn vài cây mắm lẻ loi, dấu vết của rừng mắm xưa. Cây đước tiếp tục nhiệm vụ làm cho đất phèn đất mặn nơi đây được cứng cáp, nhô cao lên và đẩy xa ảnh hưởng của nước mặn ra vùng bờ biển của rừng mắm. Sau khi đã làm xong công tác này, đất đã cứng, bớt mặn, bớt phèn, thì cây tràm (Melaleuca Leucadendron) ở đàng sau rừng đước tràn tới. Nếu sống nơi đây, chúng ta sẽ chứng kiến cảnh người đến phá rừng tràm lập xóm làng, tràm xâm lấn rừng đước, đước chiếm đất của rừng mắm, mắm đẩy bờ biển lui xa dần. Và cứ như vậy, từ bao ngàn năm trước, bán đảo Cà Mau mở rộng dần lên biển cả.

Về mặt thực dụng, cây mắm thật là vô duyên nhất trong rừng sát. Cây thì mọc trên bùn lầy nước mặn, thân cành thì cong queo chẳng dùng cất chòi nhà gì được, củi đốt thì ôi thôi khói mù mịt làm cho mắt cô gái Cà Mau toét nhèm như mắt gái làng Lim bị toét mắt bởi tại hướng đình.

Nhưng rồi một buổi chiều nào đó, bạn gác mái chèo bên dòng sông Ông Đốc, cắm ghe trong rừng mắm chờ nước lên ra khơi với tiếng kêu của chim bìm bịp.

Bìm bịp kêu nước lớn em ơi,

Tảo tần chi lắm cái nồi cũng ra ơ.

Lúc đó bạn hãy ngắm nhìn cây mắm ‘’vô duyên’’ xấu xí đang lặn ngụp trong bãi bùn non, lặng lẽ vun xới, mở rộng đất đai cho Cà Mau. Rồi dăm ba câu vọng cổ từ xóm nhà đâu đấy chư cuộn lấy lá mắm, lấy cả rừng mắm đang âm thầm làm việc lót đường cho cây đước mọc cũng như bác nông dân đang phá rừng hoang dại cho ngày nào đó xóm làng, thành phố mọc lên. Nhớ đến mắm, mắm chấn bùn non sóng dữ cho đất bằng thôi nổi sóng, cho cây đước ngạo nghễ trên chùm rễ cà khêu mọc lên. Nhớ đến mắm mà lòng hổ thẹn vì lòng nhủ lòng chỉ muốn làm thân cây đước. Nhớ đến mắm mà lòng chân thành biết ơn ai kia làm thân cây mắm trên bước đường phục hồi tự do dân chủ cho Việt Nam

Lạp Chúc Nguyễn Huy




MỜI ĐỌC KIỀU MỸ DUYÊN – Hai bài Viết: MẸ ƠI, CON THƯƠNG MẸ NHIỀU LẮM! – Và ĐẠI HỘI SUY TÔN LÒNG CHÚA THƯƠNG XÓT LẦN THỨ 26.




SỎI NGỌC: Tưởng Niệm Ngày Quốc Hận 30 Tháng Tư –: Liên hội Canada (Toronto-Ottawa-Montreal). KIỀU MỸ DUYÊN: Đêm Thắp Nến Tưởng Niệm Tháng Tư Đen.

TƯỜNG THUẬT CỦA VTS SỎI NGỌC: Tưởng niệm ngày Quốc hận 30 Tháng Tư –
Liên hội Canada (Toronto-Ottawa-Montreal)

Bầu trời xám xịt từ tối hôm trước, tôi lo lắng nếu hôm sau mưa thì làm sao chúng
tôi có thể làm lễ ngoài trời tại tiền đình quốc hội Ottawa được đây, trời cuối tháng
tư ở Canada còn khá lạnh, ra ngoài còn phải khoác chiếc áo len khi trời nắng,
huống hồ là trời mưa có gió thì phải mặc áo của mùa đông để tránh cảm lạnh, mà
nếu mặc áo dài với chiếc áo khoác dầy cộm thì khó mà khoe dáng, tôi quyết định
sẽ mặc áo ngắn với quần tây và đem theo áo dài để thay nếu trời không mưa.


Thấm thoát đã 51 năm sau ngày miền Nam bị cưỡng chiếm, 40 năm từ ngày đặt
chân lên quê hương thứ hai Canada, tôi đều không dám “đối mặt” với những ngày
lễ tưởng niệm 30/4, sợ mình không chịu đựng được sự căm phẫn lẫn đau đớn cho
những người đã vượt biên, hy sinh trên biển cả, cũng như những người còn ở lại
trong nước bị đầy đọa, tuyệt vọng… Tôi đều trốn tránh ngày lịch sử ấy!
Nhưng năm nay, đã hơn nửa thế kỷ…. Mời đọc tiếp bên dưới:

CA KHÚC GIỌT SẦU QUÊ HƯƠNG – TRẦN CHƯƠNG LƯƠNG TUẤN KHẢI

**

THƠ DONRY NGUYỄN

NGƯỜI THƯƠNG BINH

GIỜ THỨ 25.

-Tặng Nguyễn Ngọc Bảo–

Làng quê tôi vốn một làng nghèo,

Đường cách trở giữa bên đồng bên cát.

Bọn nằm vùng thường qua sông lén lút,

Mò về làng khủng bố bắt dân đi.

*

Dân hãi hùng thu dọn gánh tản cư,

Theo quốc gia lần hồi ra phố thị.

Lũ chúng tôi được học hành miễn phí,

Được nô đùa sống trọn tuổi thơ ngây.

*

Bài thơ này kể lại chuyện em tôi,

Người em họ vốn thông minh tài trí.

Áo thư sinh, tóc bồng bềnh nghệ sĩ,

Lắm cô nàng trong thị xã mê say.

*

Năm chú vừa thi đậu Tú tài hai,

Thì tôi mới bắt đầu vào đệ thất.

Chú ghi danh về Sài Gòn học Luật,

Xóm làng tôi nghe rất đỗi tự hào.

*

Cuộc chiến tranh mỗi lúc một dâng cao,

Lệnh động viên bao lớp người ra trận.

Chú em tôi cũng không qua số phận,

Rời giảng đường dấn bước cuộc đao binh.

*

Ngày ra trường chú về tận Năm Căn,

Rừng ngập mặn với cây Bần, cây Đước.

Cầm trung đội hành quân vùng sông nước,

Giữ yên bình miền đất mũi xa xôi.

*

Tháng tư buồn nghe tin đánh khắp nơi,

Cả vùng một, vùng hai đều di tản.

Nghe đồn đãi miền Tây còn trụ vững,

Trở thành nơi chính phủ rút về đây.

*

Dưới chiến hào súng ống chẳng rời tay,

Chỉ huy lính chú bền gan chiến đấu.

Nhưng không may trong những giờ phút cuối,

Chú bị nguyên băng đạn bắn vào mình.

*

Máu ra nhiều, chú phải chịu nằm im,

Vừa kịp lúc nghe lệnh truyền buông súng.

Ôm lồng ngực nén nỗi hờn uất nghẹn,

Vệt máu hòa theo dòng lệ trào tuôn.

*

Bạn bè khiêng đưa chú đến nhà thương,

Giờ vắng ngắt vài bóng người y tá.

Thuốc men thiếu, không lấy gì băng bó,

Việt cộng vào còn đuổi cổ chú ra.

*

Lê tấm thân đau nhức đến hiên nhà,

Chú gõ cửa nhờ người dân cứu giúp.

Người miền Nam vốn tấm lòng nghĩa hiệp,

Mang chú vào chăm sóc buổi gian truân.

*

Tin đưa về ba chú tận miền trung,

Ông vội vã đi tìm con cứu chữa.

Vào đến nơi, trời ơi … không kịp nữa

Cái chân kia hoại tử phải cưa rồi.

*

Chú trở về chưa quá tuổi ba mươi,

Đời nghiêng ngã trên hai thành nạng gỗ.

Mất tuổi xuân, trở thành người tàn phế,

Ném bên lề khi lịch sử sang trang.

*

Người yêu xưa dù hết dạ yêu thương,

Cũng không dám vượt quyền qua cha mẹ.

Nuốt nước mắt lên xe hoa lặng lẽ,

Hai tâm hồn chuốc lệ tặng đời nhau.

*

Tháng tư về gợi lại một trời đau,

Bao số phận nổi chìm cơn hưng phế.

Chú đã mất một phần thân thể,

Còn miền Nam mất tất cả tương lai.

-Donry Nguyễn




CHÙM THƠ CAO MỴ NHÂN: BÀI THƠ TẶNG MẸ & BÀI TÌNH THƠ: NGHE ĐIẾU THUỐC LÀO.

BÀI THƠ TẶNG MẸ.     CAO MỴ NHÂN

Tặng Mẹ bài thơ viết dở dang

Đèn trời thắp sáng cửa thiên đàng

Mẹ đi khi đó con ngơ ngác

Cha khóc lúc nào lệ chứa chan

*

Hơn nửa trăm năm rời đất Bắc

Đôi phần nhật nguyệt đẹp trời Nam

Chẳng bao giờ nghĩ về quê cũ 

Đốt nén hương xa thấy bẽ bàng

*

Ngày Lễ Mẹ  danh vang xứ người

Hoan ca phụ nữ đón hoa tươi

Bạch hồng đài các thơm vòng cổ

Hoàng cúc hồn nhiên thắm nụ cười

*

Không một niềm vui thêm kỷ niệm

Tròn nguyên nỗi khổ mãi trùng khơi

Kiếp sau hạnh ngộ làm con Mẹ 

Mẫu tử tình thâm suốt cuộc đời …

           CAO MỴ NHÂN 

NGHE ĐIẾU THUỐC LÀO -CAO MỴ NHÂN.  

Nhớ em như nhớ thuốc lào

Khói hương trước mặt, thì thào bên tai

Pháo xưa bốc lửa trên đồi 

Đại ngàn đỏ rực thắp mồi xác hoa

*

Bốn bề còn dấu chân qua

Chất chồng ,chi chít, xuýt xoa tro tàn 

Nhớ em hò hẹn tiêu tan 

Thuốc lào say tít cung thang mây trời 

*

Lửa hương chẳng bén ra lời 

Chỉ còn một nỗi tuyệt vời lơ mơ

Nhớ em, ra ngẩn vào ngơ

Lênh đênh như thể đò chờ qua sông

*

Tình ơi, thương đến vô cùng 

Thì thầm chăn gối mịt mùng  quan san 

Tay rung, sợi thõng tơ đàn 

Chỉ còn tiếng nước điếu tan sóng buồn … 

*

 Utah    7 – 5 – 2026

  ( Nhớ về Núi Mùa Xuân )     

   CAO MỴ NHÂN ( HNPD )

==




KIỀ MỸ DUYÊN – CHUONG TRÌNH CÁI NHÀ LÀ NHÀ CỦA TA




GS/TS MAI THANH TRUYẾT, 3 BÀI VIẾT: “Hồn Dân tộc qua việc Dạy và Học…” – “Chính Sách Thuộc Đia của Pháp và…” – “Lịch sử Đảng CS trong chương trình giáo dục…” – “SỰ SUY YẾU CỦA QUYỀN TUYÊN CHIẾN CỦA QUỐC HỘI HOA KỲ” –

==

==

==




VTLV – TRANG ĐẶC BIỆT TƯỞNG NIỆM 51 NĂM THÁNG TƯ ĐEN.

*

=

TRANH THƠ NGUYỄN PHƯƠNG THÚY: “THÁNG TƯ VẪN NHỚ” THƠ PHẠM PHAN LANG –

==

APRIL STILL REMAINS (BẢN TIẾNG VIỆT) THƠ PhamPhanLang -Lyrics: PhamPhanLang. MusicPrompts & Video: PhuongHoa USA. Vocals & Performance: Suno AI.

NGÀY ĐẦU THÁNG 4. 1975.  –   CAO MỴ NHÂN 

Ngày đầu tháng 4 năm 1975 ở Saigon

Tôi đi dạo một mình trên đường Lê Lợi 

Đại lộ chính từ trụ sở Quốc Hội 

Tới chợ Bến Thành …

*

Tôi thấy hình như 90% người dân miền Nam 

đang muốn rời xa đất nước

Để đi đâu không cần biết trước

Miễn tránh xa Cộng Sản Bắc Việt 

*

Cho dẫu là quân, dân cán chính VNCH

ở miền Trung, miền tây nam phần 

Hay ở giữa thủ đô – Bến Nghé xa xưa

Nước mắt họ chảy như mưa

*

Tôi mới từ Đà Nẵng chạy loạn vô hôm qua

Chẳng lẽ lại theo dân đi các nước 

Nhưng dân khắp nơi đã nhào ra không lùi bước

Thả mình xuống những dòng sông

*

Thả mình xuống nước mênh mông

Tràn ra đại dương ngập sóng

Tôi mới ở chuyến tàu bơi lết từ Tiên Sa 

Vào Khánh Hội hôm qua 

*

Người ta đã rớt từ sân tàu xuống biển 

Khi đứng nhìn cột buồm cao kéo cờ vàng 

Xếp lại cất trong hành trang 

Ngấn lệ khô không che nổi hận thù 

*

Tôi ngơ ngác hỏi lòng tôi 

Tại sao phải ra đi 

Tại sao không ở lại

Tại sao ư, chúng nó đang cướp … địa dư

*

Hôm đó tôi về hòa nước mắt làm thơ 

Hôm đó có bài ca lạc điệu 

Hát những lời bêu rếu, nghèo nàn

Thế là hết “ chính nghĩa Tự Do “ vinh quang …

* 

Los Angeles  1 – 4 – 2026

( 51 năm Quốc hận  ) CAO MỴ NHÂN  ( HNPD )

==

****

BÀI THƠ MA THÁNG TƯ.       CAO MỴ NHÂN 

Nửa đêm, gió chuyển lên đồi

Vầng trăng hốt hoảng xa rời lũng ma

Trăng trôi trên trời bao la

Gió tìm trăng khắp sơn hà thân quen

*

Bỗng từ ký ức vươn lên

Rừng cây lá biếc già thêm mấy tầng

Trăng nhìn cây, chợt bâng khuâng

Gió vừa bắt kịp trăng, mừng rỡ reo

*

Ba vì sao đứng quạnh hiu

Ngắm soi chứng tích tình yêu nơi này

Cây rằng : họ chẳng đổi thay

Gió trăng, trăng gió lượn bay mịt mù

*

Cây rơi từng đợt lá khô

Mùa đang chuyển những tiếng ru vào lòng

Lời nào gởi lại non sông

Lời nào trăng gió bềnh bồng mang đi

*

Bóng hồ linh khuất sơn khê

Trăm năm sao lại tìm về , hỡi ôi

Tháng tư , trăng vỡ ngậm ngùi 

Gió ôm phiền muộn, lệ rơi tuyệt tình  …

     Utah, 25 năm sau  30- 4 – 1975            CAO MỴ NHÂN

==  

Ở PHƯƠNG NÀY.     CAO MỴ NHÂN 

Khi tôi mới tới phương này

Mặt trời còn trắng trong mây lạnh buồn

Tôi ngồi ôm nỗi cô đơn

Nhìn ra biển Thái  Bình Dương ưu phiền

*

Người đang tình tự thay phiên

Trái tim mang cả nỗi tiền vận đau

Mù sương phủ kín công hầu

Đỉnh thương nhớ đã nhạt màu trầm luân

*

Này là tuổi tác phù vân

Say mê sợi nắng tần ngần thả rơi

Chúng mình chung một khung trời

Mà như nghiêng lệch hẳn đời éo le

*

Chốn này chạnh nhớ nơi kia

Từ khi thân phận cách chia chập chờn

Mặt trời chiếu sáng càn khôn

Sao tâm tư vẫn gọi hồn nước xưa … 

Rancho Palos Verdes  11 – 4 – 2026          CAO MỴ NHÂN  

==

SAU CƠN ĐỊA CHẤN.     CAO MỴ NHÂN 

Chỉ còn là thân phận

Mỗi lần em gặp anh

Như một cơn địa chấn

Sau trận động đất nhanh

*

Anh mỉm cười : em yêu

Thì rõ ràng tiếng khóc 

Của tâm hồn quạnh hiu

Mơ hồ trong thao thức

*

Vẫn là anh khao khát

Mặt trời mọc chân mây

Em mang niềm mơ ước

Rực rỡ anh đầu ngày

*

Chúng mình cần sống ngay

Để lánh xa nỗi chết

Tình yêu phải vơi đầy 

Mới thăng hoa, thanh khiết…

Rancho Palos Verdes   12 – 4 – 2026       CAO MỴ NHÂN  

==

DẶM VỀ THÁNG TƯ .      CAO MỴ NHÂN 

Gởi em trọn vẹn nỗi lòng

Từ khi giã biệt phương đông, qua đoài

Từ khi tiếng quốc u hoài

Nghe trong thân phận lạc loài, xót xa

*

Năm châu thiên hạ bao la

Lòng thêm buồn tủi sơn hà hờn căm

Này đây gió thổi mê lầm

Lệ đang thả giọt âm thầm hoang liêu

*

Dặm về khói sớm , sương chiều 

Hồn nghe phiền muộn những điều trái ngang

Tháng tư phai sắc hoa vàng 

Đốt trầm lên, lạy dở dang mộ người 

*

Tháng tư hiu hắt bên trời

Níu chân bước lẻ trọn đời tiếc thương

Nén nhang thắp đã tàn hương

Biển dâu hay cả đại dương nghẹn ngào… 

              CAO MỴ NHÂN 

                18 – 4 – 2026

THÁNG TƯ NÀO.     CAO MỴ NHÂN 

Mỗi năm mất một tháng tư

Nên mình có vẻ bị hư hao đời

Mỗi năm dần mất nụ cười

Ba mươi tháng bốn từ hồi bảy lăm

*

Hơn nửa thế kỷ phù vân

Công danh, sự nghiệp, tuổi xuân điêu tàn

Nghe câu chính nghĩa Việt Nam

Đã bị Cộng thuyết phá tan giống nòi

*

Đưa dòng vô sản lên ngôi

Bắc Nam thống nhất tôi đòi Tàu Nga

Hãy nhìn thế giới người ta

Họ khinh miệt cảnh sơn hà lai căng

*

Đua đòi cải tổ nhân văn

Làm sao chen được gót chân Cộng Hoà

Tháng tư mất hết tinh hoa

 Chỉ còn quỷ đỏ phô ra lộng hành …

Hawthorne 18 – 4 – 2026         CAO  MỴ NHÂN  

===

CÙNG NIÊN KỶ KHÓC. – CAO MỴ NHÂN

Trăng lênh đênh trôi lãng đãng trở về

Cho thấy được cuộc đời là hư ảo

Mây lướt thướt bay chập chờn phiền não

Mới bình minh sao nhuốm vẻ hoàng hôn

*

Khói sương tan trong bát ngát linh hồn

Em mờ mịt tháng năm đầy quá khứ

Tuổi anh lỡ trải dài đường viễn xứ

Đừng nói thêm quê quán chốn hoang liêu

*

Biết đâu tìm ân nghĩa với thương yêu

Tình đã lạt phai tưởng lầm trễ hẹn

Không có gì sao thế gian bịn rịn

Chuyến đò vơi trăng cạn nỗi riêng tư

*

Quán thu phong hơi lạnh buốt bao giờ

Ai viết sử đang chờ người nhuận sắc 

Vách lá ẩm, ướt lời xưa mất mát 

Ta đang cùng niên kỷ khóc chơi vơi…

  CAO MỴ NHÂN ( HNPD )

18 – 4 – 2026

==

==

NGẮC NGOẢI ĐẾN BAO GIỜ

Nguyễn Phương Thúy

Ông Tô Lâm – Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch
nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (Ông cũng là Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Công an
Trung ương, Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và An ninh, và Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về
phòng chống tham nhũng, tiêu cực. Còn chức nào ông chưa tóm? Đúng là độc tôn, độc trị!) đến
China từ ngày 14 đến 17 tháng 4 năm 2026. Đây là một bước đi ngoại giao đầy quan trọng – cấp
nhà nước, trên cương vị là lãnh đạo cao nhất của Việt Nam. Chuyến thăm này không chỉ dừng lại
ở những cái bắt tay xã giao; đó là một nỗ lực thúc đẩy thực hành nhanh chóng Chiến lược “3+3”
(*), nhằm củng cố “Cộng đồng chia sẻ tương lai” – một cách nói hoa mỹ để diễn tả việc họ đang
gắn kết nền kinh tế và an ninh của nhau chặt chẽ hơn bao giờ hết.
Tô Lâm trông có vẻ sung sướng, hãnh diện với sự đón tiếp long trọng của China. Các ông lớn
mặc âu phục, các bà lớn cũng mặc quốc phục hiện diện sát bên. Nội các China dàn hàng chào
danh dự. Tô Lâm bắt tay muốn rụng tay! Càng ngày hình thức ngoại giao càng giống các nước tự
do. Con tắc kè thay màu quá lẹ nhưng cái cốt lõi thì vẫn ẹ như xưa!
Việt Nam và China đã ký kết hơn 32 thỏa thuận vào ngày 15 tháng 4 năm 2026, tập trung vào
các lĩnh vực:

  • Hải quan & thương mại: Đây là một bước tiến vô cùng to lớn, bởi thương mại giữa hai quốc gia
    đã hơn 250 tỷ USD trong năm 2025. Hai bên cũng đang triển khai mô hình “cửa khẩu thông
    minh” nhằm đẩy nhanh tốc độ vận chuyển hàng hóa.
  • Cơ sở hạ tầng & đường rầy sắt: Trọng tâm phát triển đô thị và kết nối các tỉnh phía Bắc của
    Việt Nam với mạng lưới đường sắt cao tốc của China chính là một “con đường một chiều”. Một
    khi những đường rầy ấy đã được lắp đặt theo tiêu chuẩn của China, Việt Nam sẽ bị ràng buộc
    chặt chẽ về mặt vật lý với China trong suốt 50 năm.
    Trong nhiều thập kỷ, Việt Nam vẫn duy trì khổ đường rầy sắt khác biệt, nhằm ngăn chặn nguy cơ
    bị xâm lược dễ dàng. Bằng việc chuyển sang áp dụng các tiêu chuẩn của China, Việt Nam đang
    thực sự hội nhập về mặt vật lý vào hệ thống hậu cần (logistics) của China.
    Đây chính là sự thống trị mà không cần chiến tranh. Nếu China nắm quyền kiểm soát hệ thống
    đường rầy, công nghệ tín hiệu cũng như nguồn tài chính, họ sẽ nắm giữ chiếc “công tắc bật/tắt”
    đối với nền kinh tế xuất khẩu của Việt Nam.
  • An ninh chuỗi cung ứng: Nhằm bảo đảm các chuỗi cung ứng xuyên biên giới sẽ không bị gián
    đoạn bởi những biến động chính trị trên phạm vi toàn cầu.
  • Du lịch: Phát động chương trình “Năm Hợp tác Du lịch Việt Nam – China 2026-2027” với mục
    đích thu hút khách du lịch trở lại mức trước đại dịch.
    Những thỏa thuận này có ảnh hưởng to lớn không thể tránh khỏi như “Con ngựa thành Troy”
    trong lĩnh vực 5G (the fifth-generation technology standard for broadband cellular networks), dữ
    liệu lớn (big data) và trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence (AI)). Cơ sở hạ tầng kỹ thuật số luôn
    có những “cửa hậu” (backdoors). China sẽ nắm trong tay “chìa khóa” của chủ quyền kỹ thuật số,
    có khả năng giám sát sự di chuyển của con người, hàng hóa và thậm chí cả quân đội….

==

VIỆT NAM: A Nation Reborn – Created by Nguyễn Phương Thúy – Nhạc nền hòa tấu: “VIỆT NAM VIỆT NAM” Của Phạm Duy

DÂY MÀ ĐI GIỮ GIANG SAN -NGUYỄN PHƯƠNG THÚY CGV

==

Thơ: Nguyễn Phương Thúy – Nhạc: Phạm Trung – Trình bày: Bích Hiền

== THƠ 30 THÁNG THÁNG TƯ ANH & VIỆT – TRANH THƠ: NGUYỄN PHƯƠNG THÚY

==

==

*

Tùy Bút 30/4 CỦA 51 NĂM SAU

Sỏi Ngọc

Tàu Trường Xuân, thuyền trưởng: ông Phạm Ngọc Lũy

Từ trái sang phải: Đạo diễn: Robbie Hart; Bà Nguyễn Bùi thị Mùi; tác giả Sỏi Ngọc; cố vấn Phim: anh Khoa Phạm

Lại một tháng Tư đen

Quê người ta tạm trú

Bao giờ về cố thổ

Như máu chảy về tim?

Cuộc chiến đã qua lâu

Lòng ta còn hậu chấn

Hỡi ơi ! Trời biển rộng

Dằng dặc một cơn sầu.  (Hoàng Song Liêm)

Tháng Tư vừa mới chớm, trái tim của những người con Việt hải ngoại không ngớt rỉ máu, vết thương của 51 năm qua vẫn mãi chưa bao giờ lành, một khi quê hương đất mẹ vẫn đang bị cầy xéo, dân vẫn khốn đốn, nền tự do dân quyền không có, những cựu chiến binh VNCH với thân hình còi rọc, như những phế nhân lầm lũi sống ở tận đáy xã hội của đất nước nơi mình được sanh ra; họ là những minh chứng sống cho thấy dưới chế độ xã hội chủ nghĩa Cộng Sản sau 51 năm, đời sống không khả quan hơn, vẫn đói khát, bị vùi dập, kiểm soát, bị trả thù đến bao nhiêu kiếp đời.

Tưởng niệm tháng Tư, phim Shining light, một phim tài liệu “ánh sáng tỏa rạng” được trình chiếu tại một trường tư thục, trung học Marianopolis college cho tất cả mọi người, kể cả những em học sinh, tham dự để hiểu về cội nguồn của những người Việt tỵ nạn tại Canada nói riêng và thế giới nói chung.

Phim tài liệu này chỉ dài 30 phút, do nhà sản xuất phim: Peter Raymont, đạo diễn: Robbie Hart, nhân viên Cao Ủy Liên Hiệp Quốc tại Canada: Tracey Maulfair, đồng sản xuất phim và cựu Đại xứ Canada: Gary Smith, cố vấn phim: Khoa Phạm.

Đã được trình chiếu nhiều lần tại Vancouver, Toronto, Montreal, hôm nay được chiếu lại nhưng đặc biệt có sự góp mặt của nhân vật chính, bà Bùi Nguyễn thị Mùi, bà là người mẹ đã mang bầu được 9 tháng vào ngày 30/4/75, biết rằng tánh mạng rất mong manh nếu bà lên tàu Trường Xuân bỏ xứ lánh nạn Cộng Sản thời bấy giờ, nhưng nỗi sợ hãi bị trả thù, cuộc sống đọa đầy sau ngày mà bọn chiến thắng luôn rêu rao là “nền độc lập tự do dân chủ”, trong khi chúng bắt bớ những  cựu sĩ quan, lính VNCH bỏ tù, nằm gai nếm mật, trong đó có chồng bà… Bà đã hy sinh mạng sống của chính mình và đứa con trong bụng, ôm bụng bầu sát ngày sanh nở, cùng với con trai nhỏ 2 tuổi, lên chiếc tàu định mệnh cuối cùng vào trưa ngày 30/4 để trốn chạy; đến ngày 2 tháng 5 năm 1975 bụng quặn thắt, và đứa con gái đã chào đời trên tàu Trường Xuân, giữa lòng đại dương mênh mông, với 3600 người tỵ nạn vây quanh, đứa bé gái được đặt tên là Chiêu Anh,  ánh sáng rạng rỡ, hy vọng  mở ra cho bà một tương lai mới!

Bà Bùi Nguyễn thị Mùi mới sanh cháu Chiêu Anh trên tàu Trường Xuân

Chiêu Anh- cô gái được sanh trên biển cả của ngày hôm nay

Bà Bùi Nguyễn thị Mùi, đạo diễn: Robbie Hart tại trường Marianopolis college

Sau đó, ngày 4/5/1975 tàu Trường Xuân được tàu chở hàng Maersk line của Hong Kong vớt, mẹ con cô được chở vào nhà thương.

Mọi người yên lặng theo dõi bộ phim thật cảm động, tại ngôi trường mà Chiêu Anh đã từng theo học và tốt nghiệp; thỉnh thoảng có tiếng thở dài não ruột, tiếng sụt sùi trong hàng ghế của những người lớn tuổi, cũng có những cái nắm tay thầm lặng chia sẻ nỗi buồn, sự cảm thông của thế hệ trẻ đối với tiền bối.

Phim chấm dứt, ánh đèn sáng lên, bà Bùi ngồi lặng yên trên chiếc ghế ở khán đài, cùng với đạo diễn Robbie Hart, sẵn sàng trả lời những thắc mắc của tất cả mọi người, có cậu bé nói:

– “Tại sao chiến tranh VN đã trải qua 51 năm, đã thống nhất độc lập rồi, mà vẫn còn có người bỏ nước ra đi, còn nghe nói đến sự trốn chạy tìm tự do, tìm nguồn sống mới; họ không chịu nổi áp lực của nhà cầm quyền Cộng Sản?”

Một người khác góp ý:

– “Vào lúc 30 tháng Tư, bọn cộng sản đối với chúng tôi là một điều rất mới mẻ, nhưng kinh nghiệm của thời cải cách ruộng đất thời 1953-1956, chúng đã giết, treo cổ thẳng tay những người họ gọi là “địa chủ”, “tư sản”, tưởng tượng họ cũng đối xử, trả thù những người dân quân miền Nam đã sống, làm việc dưới chính quyền mà họ cho là Mỹ ngụy thì làm sao chịu nổi, vì lý do đó mà nhiều người thà bỏ mạng ngoài đại dương hơn là sống dưới gông cùm của chế độ Cộng Sản.”

Đạo diễn Robbie nói:

– “Chúng tôi dự định sẽ về thăm Việt Nam một chuyến, có dịp sẽ quay những thước phim về những biến cố lịch sử đã xảy ra tại đó cách đây 51 năm, và sự khác biệt với đời sống hôm nay.”

Một khán giả trong phòng thêm ý kiến:

– “Chúng tôi rất mong được các ông làm phim về những người lính VNCH, những người cựu chiến binh, những thương phế binh của chế độ trước bây giờ họ sống ra sao? Con cái họ thế nào? Có được sống như những người dân bình thường hay họ vẫn mãi mãi bị mang lý lịch xấu không thể ngóc đầu lên được, tâm lý sau cuộc chiến bị thất bại, họ mất tất cả, chỉ còn hai bàn tay trắng, lại thêm tù tội cả chục năm, cuộc đời của chính bản thân và con cái có được thành công ở chính quê hương nơi họ sanh ra không? Cộng Sản, những kẻ chiến thắng sau cái mốc định mệnh 30/4 có thật sự như họ đã nói “theo chính sách khoan hồng” giúp đỡ cho kẻ “lầm đường lạc lối” đi đúng hướng, sao chỉ thấy toàn những hình ảnh đói khát ở vùng kinh tế mới với những căn nhà mái lợp bằng lá, mùa mưa thì dột, mùa nắng thì thiêu đốt… Sự trừng phạt hăng máu của kẻ chiến thắng đến bao giờ mới ngừng tay?!”

Hình ảnh của con gái Chiêu Anh cùng với mẹ đi dạo trong một công viên ở Montreal, thanh bình và nhàn nhã, có ai biết quá khứ của họ trắc trở đầy thử thách!

Chiêu Anh chính là Shining Light của bà Mùi, cô là ngọn đèn tỏa sáng trong màn đêm tăm tối, là niềm hy vọng cho cả gia đình sống và phấn đấu, bà Nguyễn Bùi thị Mùi là một dược sĩ có tiếng tại Montreal, Quebec, giúp đỡ cho rất nhiều đồng hương trong thời gian covid.

Bà luôn dậy con gái “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, cô tìm lại được thuyền trưởng của tàu Trường Xuân năm xưa là ông Phạm Ngọc Lũy, đã đến mừng sinh nhật thượng thọ thứ 95 của ông,

Cô gái Trường Xuân năm nào, tưởng đã không thể nào sống nổi, nay thành công rực rỡ trong ngành thiết kế thời trang,  cô ra trường ngành thiết kế thời trang ở NewYork, được nhiều giải thưởng danh giá.

Xin gửi lời cảm ơn trân trọng đến đạo diễn Robbie Hart, đến anh cố vấn Khoa Phạm đã tìm lại nhân chứng sống bà Nguyễn Bùi thị Mùi của tàu Trường Xuân sau 51 năm để cùng ngồi lại nơi đây, ôn lại câu chuyện lịch sử, không thể nào quên; câu chuyện của bà là một trong hàng ngàn những câu chuyện hy hữu của những người vượt biển sống sót, may mắn đến bến bờ tự do, sống, làm việc và thành công, như một tấm gương sáng cho thế hệ tương lai.

Chúng tôi ra về với dư âm của chiếc tàu Trường Xuân còn vương vấn, dáng bé nhỏ mảnh khảnh của bà Nguyễn Bùi thị Mùi, với nụ cười ấm áp, ánh mắt chứa chan niềm thân thiện, bà đã sống và cống hiến hơn nửa cuộc đời từ cái mốc 30/4 đến nay cho ngành thuốc, giúp tư vấn cho người bệnh, chích, bán và nhiều khi biếu thuốc cho những hoàn cảnh khó khăn, bà đúng với câu « lương y như từ mẫu », bà tâm sự riêng với tôi :

– “Mình thật may mắn đã được Canada giang tay đón nhận, thì mình phải sống sao cho xứng đáng, trả ơn cho đất nước đã cưu mang và góp phần xây dựng cho tương lai của thế hệ trẻ sau này.”

Tại ai mà mỗi tháng tư, tâm tư của hơn 1,5 triệu người sống xa quê hương có cùng một tâm trạng:

Tháng Tư về, gió chạm hư vô

Ký ức cũ rơi rụng không bờ

Người ở lại quen dần im lặng

Kẻ ra đi mang nặng giấc mơ

Một dòng sông chia hai bờ nhớ

Nửa quê hương trôi dạt phương nào

Hơn nửa thế kỷ rồi vẫn hỏi

Mất gì đây… mà đau đến nao lòng.

Sỏi Ngọc

Montreal 4/4/2026

*

THÁNG TÁM, THÁNG TƯ

Vốn rằng ghi rõ tự Thiên Thư

Cộng sản gian tà từ…”dịch Thu.”

“Cải Cách” lừa bần nông, đấu tố,

“Nhân Văn” phỉnh kẻ sĩ, giam tù.

Rồi đây, nổi giận, dân băm nát

Sắp tới, phân minh, Trời nghiến nhừ

Hậu quả khôn lường đang dần đến

Chúng bây sẽ trả nợ…công, tư.

         Bảo Trâm

Chú thích:

“Dich Thu”: Cách mạng tháng tám” năm 1945 của lũ cướp cộng sản.

“Cải Cách”: Cải cách ruộng đất” của Công sản Bắc Việt, từ 1953 đến 1956 , giết hàng chục ngàn nông dân ở miền Bắc.

“Nhăn Văn”: Cộng sản bày ra vụ “Nhân Văn Giai Phẩm” từ 1955-1959, để giết và giam tù, bó đói hằng trăm Văn Nghệ sĩ ở Miền Bắc.

==

CHÙM THƠ NHƯ THU

THÁNG TƯ MÃI NHỚ 

Tháng tư nặng mối ưu hoài 

Làng xưa biền biệt đắng cay nỗi lòng!

Phương trời xứ lạ thầm mong

Tàn canh thức trắng chờ trông mỏi mòn

*

Tháng tư giữ dạ sắt son 

Đêm dài dỗ giấc trăng tròn xót xa 

Vì đâu mãi nhớ thương nhà?

Người ơi gắng đợi cùng ta trở về! 

*

Tháng tư nghĩa xóm tình quê 

Chân thành đối đãi vẹn bề giúp nhau

Chiều qua gặp gỡ vui chào

Cười tươi hớn hở xôn xao chuyện trò 

*

Tháng tư ấp ủ buồn lo

Yêu bầy trẻ dại nằm co dọc đường 

Màn trời chiếu đất cảm thương 

Bao người khốn khổ muôn phương vội vàng 

*

Tháng tư mộng ước hoài mang

Trời Nam, biển Bắc tỏa lan đượm tình 

Mây chào rạng ánh bình minh 

Sau này hứa hẹn đăng trình chẳng lơi!

*

Tháng tư ngỡ tựa đang mời 

Buồm giăng bến gọi chửa ngơi bao giờ 

Sum vầy thỏa lắm niềm mơ 

Nắng hồng giục giã đôi bờ kết giao.

Như Thu

04/18/2026

**

QUÊ HƯƠNG DẤU YÊU! 

Từng nghe nước Việt sẽ dâng Tầu

Có phải quan thầy giấu nhẹm lâu?

Phương Bắc xe vào tim hụt hẫng

Miền Nam giặc đến kẻ u sầu!

Dân hờn bấy nỗi đành im tiếng     

Ruột thắt bao lần lại đẫm châu

Ướm hỏi người ơi nhờ tỏ thật…

Vì sao sự thể quá cơ cầu?

Như Thu

04/21/2026

**

THÁNG TƯ ƠI!

Lại tháng tư đen sắp trở về

Bao trùm phố thị cả làng quê!

Mậu Thân súng nổ rền muôn hướng

Bính Ngọ lời than trỗi tứ bề

Non nước căm hờn luôn mải giận

Dân tình bực tức chẳng còn mê

Vùng lên tranh đấu nào suy nghĩ

Nhất dạ đồng tâm giữ vẹn thề!

Như Thu

04/21/2026

==

*

CHO NHỮNG NGƯỜI NẰM XUỐNG
VÀ NHỮNG NGƯỜI CÒN LẠI

Tháng tư, từ giã mùa chinh chiến.
Ta về, đi giữa bóng hoàng hôn…
Tay mẹ gầy còm ôm ta khóc,
Cạnh đám em thơ nghẹn tủi hờn.

*

Bạn ta nhiều đứa không về nữa,
Đem máu xương mình hiến núi sông.
Để người sương phụ chia dòng lệ
Nửa chịu tang cha, nửa khóc chồng.

*

Rượu không đủ uống ngày thua trận
Ta ngước cười khan với đất trời,
Trời đã không dung người thất thế,
Sá gì thù vặt ngọn đòn roi.

*

Năm xưa vào lính mình ta tiễn,
Nay bước lao tù cũng một thân.
Mẹ đã tảo tần nuôi ta lớn,
Nay còn đội gạo mà thăm con.

*

May lúc lên đường chưa cưới vợ,
Nên chẳng dùng dằng vướng nợ ai.
Nếu không cũng xót thời son trẻ,
Vì chồng nhan sắc em tàn phai.

*

Trong tù ta có thêm bầu bạn,
Sáng chiều chia nửa củ khoai lang
Ngoài kia hợp tác toàn dân đói,
Xã nghĩa thiên đường ráng tiến lên.

*

Trong tù ta sống lòng thanh thản
Gánh rổ khoai mì đi rong chơi.
Cuốc đất đau lưng mà trí nhẹ
Không thành công, ta cũng thành người.

•
Nửa đêm tiếng hát từ song sắt,
Cao vút ngân lên đụng đỉnh trời.
Nhìn gã cai tù đang cúi mặt
Ta biết cuối cùng … ai thắng ai!

-Trại tù A30-1977.
Donry Nguyễn

**

TRẢ LỜI
CÂU HỎI CỦA EM.

“Ta làm chiến binh
Sống không bằng chết,
Được mất gì mà vỗ ngực xưng tên!”*

•
Người hỏi tôi là lính hay quan,
Hỏi chi thân thế lúc suy tàn.
Mang danh phận lính không tròn phận,
Há dám xưng hùng nhận chức quan.

*

Giữ nước sa cơ đành bỏ nước
Coi nhà thất thế phải tòng vong.
Cho dẫu chỉ là anh lính nhỏ,
Lẽ nào trách nhiệm chẳng lo chung.

*

Ngày nay trên bước đường lưu lạc,
Món nợ tang bồng lụy áo cơm.
Tha phương chén rượu sầu ngơ ngác,
Ai chẳng mộng ngày … quy cố hương.

*

Em đừng trách móc sao lần lữa,
Chưa về thăm lại mẹ già nua.
Lòng riêng ngui ngút niềm thương nhớ
Nhỏ lệ âm thầm giữa gác khuya.

*

Ra đi từ bữa hờn sông núi,
Lời thề ghi khắc trái tim côi.
Mai sẽ trùng tu ngày hội lớn
Dựng mái nhà xưa phụng dưỡng người.

*

Nửa thế kỷ qua ngùi đau xót,
Bạc màu áo cũ vẫn chờ mong.
Lỡ mai tôi chết không về kịp …
Chắc gởi tro tàn xuống biển đông.

*

Món nợ ân tình chưa báo đáp
Đối mặt quê hương nghĩ thẹn lòng.

-Donry Nguyễn-

* (Trích bài hành Tự Chuốc Rượu của người lính Lôi Hổ Hoàng Hoa Thương)

*

–Tưởng nhớ Tr/u Liễu Tông Trung cùng đồng đội đã nằm lại rừng núi Kon Tum, tháng ba 1975.

Ngày 14/3/1975 anh theo xe tiếp tế lương thực cho đại đội đang đóng ở Đồi Ba Chấm, vị trí này là nơi đơn vị anh lui lại sau khi tản hàng phải rời bỏ căn cứ Kon Sơn Lũ cách đó vài cây số vào năm ngoái.

Lần này anh mang theo cả ba lô súng đạn để tham dự hành quân mặc dù nhiệm vụ của hạ sĩ quan tiếp liệu là ở hậu cứ lo việc quân lương.
Lý do: lè phè, ham chơi, đến giờ tiếp tế, tiểu đoàn phải cho người ra phố gọi về.

Sau khi nhận lương thực xong, đại đội được lệnh tiến sâu vào rừng, anh cũng mang súng lầm lũi bước theo. Đi được vài chục thước thì bỗng nhiên vị trung úy Trung đội trưởng ngoắc tay bảo anh:

-Thôi về đi, cảnh cáo lần này, nhớ không tái phạm nghe chưa.

Mừng rỡ bạn tôi chỉ kịp đưa tay chào ông rổi vội vã chạy ngược lại để đuổi kịp chiếc GMC đang lăn bánh.
Về tới trại B12 buổi chiều thì tối đó, toàn bộ hậu cứ được lệnh tiêu hủy vũ khí nặng và tất cả giấy tờ tài liệu để gọn gàng lên xe di tản. Nghe lệnh anh bàng hoàng xúc động, nghĩ đến những bạn bè chiến hữu giờ này đang tiến sâu vào rừng, không hay biết gì cả khiến anh chết lặng trong lòng. Hồi trưa nếu đại đội trưởng không cho về thì giờ này anh cũng chung số phận với mọi người rồi.

Suốt đường lui binh, không khi nào anh không nghĩ đến những người bạn cùng đơn vị giờ đây đơn độc giữa rừng sâu trong vòng vây của địch. Nỗi buồn và niềm chua xót nghẹn ứ trong trái tim người lính bất lực trước sự phũ phàng tàn nhẫn của chiến tranh.

Đoàn xe di tản của anh đi đầu, giữ được yếu tố bất ngờ nên không bị tấn công như khúc sau, đến bến đò Thạnh Hội xe lội qua sông Ba nhờ dòng nước lúc này chưa dâng cao. Nhưng khi cách Tuy Hòa khoảng 10 cây số, một quả đạn pháo kích nổ sát sườn xe làm người lính tên Tân là phụ tá tiếp liệu cho anh đứt ngang cổ họng, chết liền tại chỗ. Anh chỉ kịp ngoái lại nhìn xác nó loang máu nằm gục bên vệ đường nói lời vĩnh biệt rồi tiếp tục lao đi.
Anh về tới nhà an toàn, ở lại Tuy Hòa mấy hôm chờ đợi tin tức đơn vị nhưng không gặp lại ai, cũng không biết đích xác đại đội của anh thế nào. Sau đó cùng gia đình theo đoàn xe xuôi Nam, đến Nha Trang, nghe ngóng tình hình, thấy tin tức chiến sự hoàn toàn bất lợi, cha mẹ anh quyết định trở về và cho phép anh theo đơn vị. Không thể bỏ cha già mẹ yếu với đám em thơ giữa cuộc ly loạn, anh ở lại Nha Trang cùng gia đình chờ yên ổn trở lại Tuy Hòa.

Lúc ra trình diện ủy ban quân quản thành phố, tình cờ gặp lại một đồng đội cũ. Vui mừng hai người kéo nhau ra một góc vắng thăm hỏi. Người bạn cho biết vắn tắt: đại đội đã chiến đấu cho tới viên đạn và bịch gạo sấy cuối cùng. Không nhận được tiếp tế, cũng không thể liên lạc về bộ chỉ huy nên tự giải tán, mạnh ai nấy tìm đường thoát hiểm, thành ra không ai biết ai thế nào.
Nghe xong bạn tôi thở dài nuốt nước mắt vào lòng. Tiếc thương đồng đội cũ trong đó có Tr/u Liễu Tông Trung, đại đội trưởng của anh, là một sĩ quan can trường, tốt nghiệp Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, ông đã cống hiến tuổi trẻ và tâm huyết của mình cho đất nước, cuối cùng đã bị bỏ rơi giữa núi rừng Kon-Tum khi gần tàn cuộc chiến.

Từ đó đến nay tôi vẫn thường hỏi thăm nhiều nơi, gặp nhiều chiến binh Biệt Động để ngóng tin tức giùm bạn tôi mà không ai biết. Duy chỉ một lần tình cờ gặp Đ/u Nguyễn Văn Hồng, người cùng khóa Sĩ Quan Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt với Tr/u Liễu Tông Trung, anh cũng thừa nhận là sau tháng tư 75, được anh em cùng khóa báo cho biết là Liễu Tông Trung mất tích…

Hôm nay nhân mùa Quốc biến, thay mặt bạn mình tôi viết bài thơ tưởng nhớ đến ông và tất cả các chiến sĩ BĐQ đã nằm xuống trên khắp đất nước để bảo vệ Miền Nam Tự Do.

BÀI CA
ĐỒI BA CHẤM

Lệnh di tản ban hành trong đêm lạnh,
Ta bàng hoàng khi nhận được hung tin.
Đại đội ta đóng quân đồi Ba Chấm
Mới ban trưa này còn được lệnh hành quân.

Giờ bỗng chốc chẳng khác gì ác mộng,
Họ trở thành chốt chặn ngựa qua sông.
Ta vơ vội áo quần, ôm cây súng,
Giờ ra đi nghe muối xát vào lòng.

Người ở lại âm thầm ngăn bước giặc,
Người lên đường lặng lẽ rút nhau đi.
Thương đồng đội ta cũng đành bất lực,
Bí mật quân cơ đâu thể nói năng gì.

Trời cao nguyên đêm nay buồn ảm đạm,
Cơn gió nào thổi vọng đến đồi cao.
Nơi bạn ta vẫn tay ghìm họng súng,
Giữa rừng khuya cố thủ dưới thông hào.

Thẩm quyền ta, người sĩ quan Võ Bị,
Cái ngoắc tay cho ta sống trở về.
Nhưng chính ông lại lọt vào tuyệt lộ,
Thế trận tàn Hùm dữ cũng sa cơ.

Đường lui binh nhiều lần ta bật khóc,
Ôi đâu rồi khí phách một đoàn quân.
Đánh trăm trận khiến quân thù tan tác,
Giữ non sông từng tấc đất tấc vàng.

Nay chạy trốn để mong cầu sự sống,
Lòng ta đau tan nát tựa dao đâm.
Giặc pháo theo bạn ta vừa ngã xuống,
Máu loang hồng theo vết bánh xe lăn.

Về duyên hải chờ lâu tin không thấy,
Lại lên đường tiếp tục tiến về Nam.
Gặp đồng đội sụt sùi nghe kể lại:
Lính bọn mình đã chiến đấu hiên ngang.

Giây phút cuối không còn quân tiếp viện,
Đạn vơi dần, gạo sấy chỉ cầm hơi.
Tiếng súng giặc bao trùm lên trận tuyến,
Sóng truyền tin không nghe tiếng trả lời.

Tự tan hàng khi thế cùng lực kiệt,
Xé đường rừng tìm lối thoát mưu sinh.
Người thương tích chờ quân thù bắn giết,
Người ngậm ngùi mang thân phận tù binh.

Ta từ giã chiến tranh từ thuở ấy,
Mà vết thương còn nhức nhối trong tim.
Nửa thế kỷ, ta thấy mình còn nợ,
Những anh em ở lại phút sau cùng.

Ai ra lệnh phũ phàng đem con bỏ?
Ai chọn đường hoang phế để lui quân?
Nửa thế kỷ nỗi buồn đau còn đó,
Người vọng phu hóa đá đứng trông chồng…

Ta may mắn xác thân còn nguyên vẹn,
Nhưng tâm hồn vĩnh viễn gởi rừng sâu,
Nơi bạn ta đã âm thầm ngã xuống,
Máu xương đem phân bón cỏ xanh màu.

-Donry Nguyễn-
California April 15,2026.

==

==

==

Tháng Tư trở về không còn là tên của một tháng, mà là một vết cắt hằn sâu trong thân phận.
Tháng Tư của một thời đã xa, vừa ập tới như cơn hồng thủy hỗn mang, cuốn phăng mọi trật tự vốn dĩ của đời người. 

Không một lời báo trước, không kịp chuẩn bị, chỉ còn hoảng loạn và chia lìa.

Gia đình tan tác. Bè bạn lạc nhau. Quê hương bỏ lại.
Tất cả như một đàn chim đang yên ổn giữa trời bỗng bị giông bão xé tung, mỗi con bay về một hướng, không biết có còn ngày gặp lại.
Trong cơn cuồng phong ấy, mỗi con người chỉ còn là một hạt bụi nhỏ nhoi, như chiếc lá cuốn theo dòng nước, bị đẩy trôi mà không thể cưỡng lại.

Mọi thứ diễn ra quá nhanh. Những quyết định không còn là lựa chọn, mà chỉ là phản xạ sinh tồn.
Giữa trăm mối hỗn độn, người ta chỉ còn biết chạy, chạy trốn khỏi đổ vỡ, chạy về phía một miền đất tự do, dù biết rắng nó rất mơ hồ.
Có những điều, khi xảy ra, ta tưởng là bất khả kháng. Nhưng thời gian không xóa đi, nó chỉ làm rõ hơn những khoảng trống trong lòng. 

Khi mọi thứ lắng xuống, khi đời sống dần tìm lại nhịp thở, thì ký ức lại dâng lên như một cơn sóng khác, âm thầm mà dữ dội.

Tôi đã không kịp đến.
Không một nén hương.
Không một lời giã biệt.

Nỗi oan ấy ở lại, không ồn ào, nhưng dai dẳng. Không trách móc, mà lặng lẽ khắc sâu, khiến lòng người không thể nguôi quên.
Tháng Tư, vì thế, không chỉ là tháng của biến động.
Nó là tháng của những điều chưa kịp làm.
Của những lời chưa kịp nói.
Và của những cuộc chia ly không có lần sau để sửa lại.

Le Tuan

==

TẠ LỖI

Hãy tha thứ cho anh
Giữa chuyển dời nghiêng ngả
Bước chân đi vội vã
Lạc mất lối quay về.

*

Hãy tha thứ cho anh
Một lần buông rơi tất cả
Không một lời tiễn biệt
Cuối Tháng Tư não nề.

*

Hãy tha thứ cho anh
Ngôi mộ buồn lặng lẽ
Không khói hương sớm chiều
Không một nén phân ưu.

*

Hãy tha thứ cho anh
Những tháng năm xa xứ
Mỗi lần nhớ đến em
Là một lần ray rứt.

*

Hãy tha thứ cho anh
Nếu tình còn mắc nợ
Xin gửi về quê hương
Một giọt buồn quốc hận.

Tế Luân

==

Tháng Tư 

Khúc Tưởng Niệm Sài Gòn 30.4.1975 – TẾ LUÂN

Tháng Tư trở về, không ồn ào, không gọi tên, mà lặng lẽ len vào ký ức như một làn sương mỏng.
Có những khoảnh khắc của đời người, tưởng đã trôi qua, nhưng thực ra chỉ đang ẩn mình đâu đó,
chờ một ngày thức dậy trong nỗi nhớ. Ngày 30 tháng 4 năm 1975, ngày Sài Gòn đổi thay, là một khoảnh khắc như thế: 
vừa hữu hạn trong thời gian, vừa vô hạn trong lòng người.

Trong cõi vô thường, thời gian như cất lên một tiếng gọi đau thương từ tháng Tư. Tiếng gọi ấy không chỉ vang lên từ ký ức con người, mà còn dội về từ đại ngàn xanh thẫm, từ bầu trời tím ngắt cuối ngày, từ những con đường Sài Gòn xưa cũ. Những chiếc lá trong thành phố dường như cũng cảm nhận được điều gì đó, húng vàng đi sớm hơn thường lệ, chen lẫn vào những chiếc lá đỏ, tạo thành một bức tranh chao nghiêng, ảm đạm của những ngày cuối tháng Tư.

Đất trời như chuyển mình trong một khúc giao hưởng kỳ lạ. Biển xanh không còn hiền hòa, mà dâng lên những cơn sóng giông bão, gào thét vào bờ cát phơi lưng, như muốn kể lại những biến động của một thời khắc lịch sử, của câu truyện thương tâm từ những thuyền nhân. Đó không chỉ là âm thanh của chiến tranh, mà còn là tiếng lòng của một dân tộc, của Mẹ Việt Nam, vừa đau thương, vừa kiên cường, vừa chịu đựng, vừa bao dung.

Và giữa những biến động ấy, vẫn còn đó hương thơm của ruộng đồng, mùi lúa mới lan tỏa như một lời nhắc nhở rằng sự sống vẫn tiếp diễn. Từ bùn đất, từ mồ hôi, từ nước mắt, con người vẫn đứng dậy, vẫn gieo trồng, vẫn hy vọng. Một bài ca dao âm thầm cất lên, không phải để ca ngợi chiến thắng hay thất bại, mà để chiêm nghiệm về một cuộc đổi dời kỳ lạ của vận mệnh.

Năm mươi mốt năm đã trôi qua. Tháng Tư hôm nay không còn khói lửa, nhưng dư âm của nó vẫn còn đó, âm ỉ, sâu lắng, như một dòng chảy ngầm trong tâm thức mỗi người Việt. Nỗi đau không biến mất, mà chỉ lặng lẽ chuyển hóa, trú ngụ trong ký ức, trong những câu chuyện chưa kể hết, trong những giọt nước mắt không rơi thành lời.

Tháng Tư không chỉ là một mốc thời gian. Đó là một miền ký ức. Một vết hằn của lịch sử. Một lời nhắc nhở về sự mong manh của phận người và sự khắc nghiệt của thời cuộc. Nhưng trên tất cả, đó cũng là lời mời gọi con người biết nhìn lại, biết lắng nghe, và biết cảm thông, 

để từ đó, học cách sống sâu hơn, bao dung hơn, và gìn giữ hòa bình như một điều quý giá nhất.
Tháng Tư vẫn còn đó. Không mất đi. Không phai nhạt. Chỉ là… đã đi vào lòng người.

Tháng Tư
Bài Thơ Còn Lại

Tháng Tư về không gọi tên nỗi nhớ
Chỉ gió buồn lặng lẽ bước qua tim
Sài Gòn đó, một thời như giấc mộng
Vỡ âm thầm như lá rụng im lìm.

Có phải trời hôm ấy nhuộm màu tím
Màu ly biệt, hoàng hôn về rất lạ
Những con phố bỗng dưng thành xa lạ
Người đi rồi… không hẹn một ngày về.

Màu cờ đỏ, mưa rơi như dòng máu
Lũ giặc tràn vào, tiếng thét thất thanh
Thành phố đêm bỗng rùng mình chết lặng
Vạn nỗi đau không cất nổi thành lời.

Biển vẫn xanh mà giông bão không nguôi
Sóng gào thét như linh hồn đất nước
Khúc giao hưởng của một thời xuôi ngược
Viết bằng đời, bằng nước mắt Mẹ thôi.

Từ đại ngàn xanh thẳm đến ruộng đồng
Hương lúa mới vẫn âm thầm lan tỏa
Giữa đổ nát vẫn nhen lên mầm sống
Một câu ca dao, âm hưởng Mẹ hiền.

Năm mươi mốt năm… tháng Tư còn đó
Không mất đi, chỉ chìm vào ký ức
Để đôi lúc trong đêm dài thao thức
Nỗi đau xưa trở lại rất con người.

Tháng Tư ơi, khơi lại những cội nguồn
Hãy ở lại như một lời nhắc nhở
Rằng lịch sử không bao giờ khép cửa
Và lòng người còn mãi những chia ly.

Tế Luân

==

THƠ THÁNG TƯ XƯỚNG HỌA – CAO MỴ NHÂN VÀ THI HỮU

(Thất ngôn bát cú – Chữ T – Điệp tự áp cú)

TÔI thấy tháng Tư thật tả tơi

Tả tơi tan tác toé tung tời

Tung tời tự thủa tang thương thế

Thương thế tới tình tưởng tiếc thời

Thời tiếc tóc tơ tàn tuổi trẻ

Trẻ tung tâm tính trổ tra trời 

Tra* trời tích tụ tàng thiên tuế

Thiên tuế tạ từ thê thiếp thôi … 

                 CAO MỴ NHÂN  

      Hawthorne. 18 – 4 – 2026

*Tra là Già 

=

THÁNG TƯ CẢM THÁN – PHƯƠNG HOA

          (Họa 4 vần – áp cú)

Quốc phá gia tàn đã xé tơi

Tơi tơ đứt sợi nghẹn không lời

Lời câm ẩn nhẫn nương phù thế

Thế buộc đành cam chịu thúc thời

Thời vận nhà Nam người cuối bể

Bể dâu đất Việt kẻ chân trời

Trời Tây kết nối chung lòng đợi

 Đợi lúc khải hoàn trở lại thôi…

      Phương Hoa – Tháng Tư, 2026

**

THÁNG TƯ ĐỢI CHỜ

(Họa 4 vần) 

Nghe niềm uất nghẹn hẳn đà tơi!

Tơi nát làm hoen vạn mảnh đời! 

Đời chuyển bao vùng quanh chiến cuộc 

Cuộc lan bấy chốn giữa đương thời

Thời yêu đất mẹ quay cuồng nỗi

Nỗi nhớ làng quê thỉnh nguyện trời

Trời đã thương tình nên hứa hẹn 

Hẹn đàn trỗi nhịp khúc hòa thôi!

Như Thu – 04/22/2026

==

KÝ ỨC THÁNG TƯ – MINH THÚY THÀNH NỘI

(họa 4 vần) 

Ngẫm tháng tư về dạ nát tơi

Tơi sâu quốc hận chuyện di dời 

Dời chân trốn thoát vì thay đổi 

Đổi ý ra đi bởi xáo thời 

Thời đảo lo căng cầu nguyện lúc

Lúc xoay khiếp hãi cúi xin trời 

Trời cao có thấu người tù tội 

Tội biển tràn đầy xác chết thôi.

Minh Thúy Thành Nội 

Tháng 4/2026

==

NGẪM ĐỜI – SÔNG THU

Ngẫm cuộc đời mình sao rách tơi

Rách tơi thành đám bụi tro tời

Tro tời tung xuống trên phần số

Phần số cuồng quay trước thế thời

Thời thế đổi thay dường giấc mộng

Mộng mơ biến hóa tựa mây trời

Trời cao vời vợi khôn nhìn thấu

Thấu phận con người thảm quá thôi!

Sông Thu

( 24/04/2026 )

Cuối tháng tư nghe những cơn địa chấn

Rất lặng thầm nhưng bỗng chuyển cuồng điên

Anh ở đâu, bỏ lại nỗi ưu phiền

Cho em giữ một mình Dòng nhiễu loạn

*

Sông núi vọng âm vang lời trận mạc

Hỏi  AI  đang  thét gọi sau lưng em 

Trao cho nhau chút thương nhớ êm đềm

Rồi tắt lửa vàng bay vào vũ trụ 

*

Anh đâu rồi ánh hào quang rực rỡ

Hiển thị kiếp này ký ức đời xưa

Cơn địa chấn chẳng yên trời vần vũ 

Hay dung nham  đổ trận Điện mây mưa

*

Đợi bao giờ núi phủ sập hoang sơ

Trái đất thủa hồng hoang thời hiện đại

Em sẽ mang bao nồng nàn dấu ái

Tặng riêng anh Mã Số của Tình Yêu …

Rancho Palos Verdes  23 – 4 – 2026CAO MỴ NHÂN ( HNPD )

 24 – 4 – 2026

==

THÁNG TƯ HẬN, THÁNG TƯ ĐAU – YÊN SƠN
(Viết cho mình, viết giùm cho người)

Tháng Tư lại về.
Không cần ai nhắc, không cần một dấu hiệu rõ ràng nào, chỉ cần những dư âm Tết nơi xứ người bắt đầu phai nhạt, hay một buổi chiều xuân nhạt nắng rơi xuống sân vườn cô tịch là lòng tôi đã chùng xuống. Nhớ về…
Có những tháng trôi qua như một con số. Có những tháng đi qua như một thói quen. Nhưng cũng có những tháng không bao giờ rời khỏi đời người. Đó là Tháng Tư. Tháng Tư, đối với tôi, không phải là ngày tháng bình thường của thời gian. Nó là một dấu mốc thời gian in hằn trong tâm khảm, là một nỗi đau, một vết cứa sâu trong tâm hồn, một nơi mà ký ức dừng lại, xoáy xuống, rồi lan ra, phủ kín cả tâm can.
Có những nỗi đau không có âm thanh, không có tiếng khóc. Không thường có những lời than vãn. Nó nằm im, rất sâu, rất lâu, như một mảnh kim loại nhỏ găm trong da thịt. Mảnh kim loại không đủ nguy hại có thể chết người, nhưng đủ để nhói lên mỗi khi cử động. Và Tháng Tư chính là lúc mảnh kim loại ấy trở mình.
Đêm hai mươi chín tháng Tư năm ấy, tôi vẫn còn là một người lính.
Không phải hình ảnh một người lính trong sách vở, với chiến tuyến rõ ràng và mệnh lệnh rành rọt, mà là một con người đứng giữa một thực tại đang rạn vỡ. Ở phía tây Sài Gòn, quanh vòng đai phi trường Tân Sơn Nhứt… chúng tôi còn chiến đấu. Chiến đấu không phải vì hy vọng chiến thắng, mà vì không thể buông. Không thể đầu hàng.
Có những thứ, một khi đã thấm vào máu như danh dự, trách nhiệm, lời thề… thì không dễ gì đặt xuống, không thể buông bỏ, ngay cả khi biết rằng tất cả đang trượt khỏi tầm tay.
Chiến tranh trong những giờ phút cuối không còn là chiến tranh theo nghĩa quen thuộc. Nó không còn là một ván cờ. Nó trở thành một cơn sóng lớn. Và chúng tôi là những con người đứng trước làn sóng hung bạo ấy, cố giữ thăng bằng trên những mảnh vỡ còn sót lại.
Tiếng súng vẫn nổ. Nhưng không còn nhịp điệu của chiến thuật. Nó dồn dập như nhịp tim của một cơ thể kiệt sức. Mỗi phát súng không còn nhắm đến chiến thắng, mà như một cách níu giữ một hy vọng mong manh dù biết hy vọng ấy gần như không còn.
Nhưng cũng không thể bắn bừa. Đạn dược đã cạn. Mỗi viên đạn được đếm như giọt máu cuối cùng. Trong khi đó, đối phương được che chở bởi những tầng phòng không dày đặc. Chúng tôi chiến đấu trong thiếu thốn, trong bị động, trong một thế trận mà phần thua đã hiện rõ.
Người Mỹ đã quay lưng. Người Mỹ đã bỏ rơi chúng tôi, bỏ rơi cái tiền đồn mà họ đã từng dùng chúng tôi để ngăn cản sự thống trị của triết thuyết Cộng Sản. Nhưng chúng tôi vẫn phải chiến đấu để bảo vệ nền tự do dân chủ cho người dân chúng tôi, cho đất nước chúng tôi.
Anh em vẫn thay nhau bay. Bay trong những điều kiện khắc nghiệt, bay như những võ sĩ bị trói tay chân, ném lên võ đài trước một địch thủ hung tàn. Người này hết giờ, người khác lên. Không ai nói nhưng ai cũng hiểu… chúng tôi đang ở trong một hoàn cảnh vô vọng. Còn nỗi bi thương nào hơn thế không?
Tôi còn nhớ những ánh mắt đêm ấy. Không ai nói với ai một lời gì ngoài những thao tác quen thuộc, ngôn ngữ chiến trận quen thuộc. Những ánh mắt gặp nhau giữa ánh chớp và bóng tối chỉ để xác nhận một điều, chúng tôi vẫn còn có nhau như đã từng mỗi khi xông vào lửa đạn, đánh cược với tử sinh.
Và cũng không ai nói với ai đó là đêm cuối. Nhưng ai cũng cảm thấy sự bất lực qua từng viên đạn bắn ra. Nhưng ai cũng biết một điều gì đó đang đến hồi kết thúc. Không phải chỉ là một trận đánh mà là cả một thời đại.
Viết đến đây, mắt tôi lại nhòe đi. Tôi đứng dậy, bước ra sau vườn, châm một điếu thuốc. Gió thổi qua hàng chuông gió, những tiếng leng keng như tiếng gọi từ một cõi nào xa lắm. Tôi hít sâu. Thở mạnh. Rồi quay vào, tiếp tục viết.
Chuyến bay khuya hôm đó… sau khi bàn giao vùng trách nhiệm, tôi trở về cư xá. Hai đứa học trò nhỏ tôi mang về từ trưa hôm trước vẫn còn thức. Hai đứa, như tôi vẫn nói đùa, “trói gà không chặt”. Chúng tôi vừa nằm xuống thì nghe pháo kích dữ dội vào phi trường. Rồi một tiếng rít xé tai – hoả tiễn 122 ly. Nhưng… không nghe tiếng nổ. Cho đến sáng hôm sau, mọi người trong cư xá mới biết là đã thoát chết giữa đêm qua khi nhìn thấy phần đuôi của chiếc hoả tiễn đang cắm sâu vào lòng đất bên cạnh cư xá độc thân.
Buổi sáng hôm ấy đã không phải là một buổi sáng bình thường, khi thấy chiếc Tinh Long 7 của phi đoàn tôi bị bắn rơi ngoài vòng đai phi trường, trước nhưng đôi mắt hoảng loạn của anh em. Đó là giọt nước làm tràn ly, không ai nói với ai lời nào, mỗi người chạy đi một ngả.
Tôi cùng hai chú em đèo nhau lên chiếc Lambretite, chạy khắp các bãi đậu tìm phi cơ thoát thân. Nhưng những chiếc còn bay được đã bay đi đâu hết. Đang đứng ngơ ngác thì được một niên trưởng kéo tôi chạy theo đến một chiếc C-130 không còn nguyên vẹn, để làm phận sự phi công phụ.
Chiếc phi cơ cất cánh từ cuối đường băng. Không đủ tốc độ. Không đủ điều kiện. Nhưng vẫn phải bốc mình lên nhờ vào bốn động cơ bán phản lực. Chiếc máy bay gượng lên, nhắm hướng Vũng Tàu rồi… trực chỉ Utapao, Thái Lan mang theo 115 con người không biết họ đã lên bằng cách nào.
Chiều hôm đó, 29 tháng 4 năm 1975, tôi và một số anh em trong phi hành đoàn đã sững sờ rơi nước mắt khi thấy một đội ngũ quân nhân người Mỹ bắc thang lên thân máy bay sơn bỏ huy hiệu Không Quân VNCH, sau khi mọi người bị tước khí giới trước khi bước ra khỏi thân phi cơ.
là tôi đã buộc phải rời khỏi đất nước trong bàng hoàng, trong vô thức, không kịp biết được tin cha mẹ anh chị em đã bị thất lạc phương nào mấy tháng qua trong chiến tranh. Không kịp báo tin với người vợ sắp cưới chỉ ở cách phi trường khoảng 6 cây số! Và cứ thế, bị đưa đẩy dọc theo hành trình trở lại đất nước nầy với thân phận vô gia đình, vô tổ quốc. Mãi đến vài năm sau mới liên lạc lại được!
Cho đến bây giờ, sau hơn nửa thế kỷ, cái “không kịp” ấy vẫn còn nguyên vẹn trong tôi, như một khoảng trống không bao giờ có thể lấp đầy. Không kịp nhìn cha mẹ lần cuối. Không kịp nói một lời từ biệt với bất cứ người thân yêu nào. Không kịp khép lại một cánh cửa đời quân ngũ theo cách mà một con người lính bình thường đáng được có.
Có những cuộc chia ly không có lời từ biệt, và chính vì thế, chúng không bao giờ kết thúc.
Tôi ra đi trong một trạng thái không hoàn toàn tỉnh táo. Không phải chỉ hoảng loạn mà là tê điếng. Mọi thứ diễn ra quá sức nhanh, quá sức bất ngờ, con người tôi không còn cảm xúc rõ ràng. Chỉ còn hành động. Chỉ còn bản năng. Tôi ra đi, như một người bị đẩy ra khỏi chính cuộc đời mình trong khi trong lòng vẫn còn một niềm tin rất mong manh rằng đây chỉ là tạm thời. Rằng rồi sẽ có ngày trở lại. Rằng quê hương không thể biến mất chỉ qua một đêm. Rằng những gì đã xây dựng, đã sống, đã yêu, không thể bị xóa đi dễ dàng như vậy.
Có nhiều lần tôi nghĩ, sự ra đi bất chợt của tôi sẽ không nhiều hối tiếc, nhiều đớn đau nếu dân tộc tôi được tự do hạnh phúc hơn, đất nước tôi trở nên thanh bình, vươn lên oai nghi, dũng mãnh như con rồng, con hổ. Nhưng rất tiếc! Rất tiếc!
Thời gian, bằng sự im lặng kéo dài của nó, đã dần dần dạy tôi hiểu. Không có ngày trở lại như tôi từng mong đợi. Không phải vì không muốn, mà vì con đường đã khép lại từ lúc Việt cộng xâm chiếm miền Nam; chúng đã và đang gây ra bao nhiêu đau thương cho nòi giống, cho mảnh giang sơn gấm vóc của ông bà, tiên tổ.
Mất quê hương không phải là một biến cố xảy ra trong một ngày. Nó là một quá trình. Ban đầu là sự bàng hoàng. Sau đó là niềm hy vọng. Rồi niềm hy vọng mỏng dần đi theo ngày tháng. Và cuối cùng là một sự chấp nhận trong im lặng. Không phải chấp nhận vì đồng ý mà vì dường như không còn cách nào khác.
Những năm đầu nơi quê hương thứ hai nầy, mọi thứ đều xa lạ. Ngôn ngữ, phong tục, con người, đời sống. Tôi đã học tái sinh trước khi học cách tồn tại. Học cách hiểu người khác, trước khi có thể nói cho người khác hiểu mình. Học cách đứng vững trên chính đôi chân mình khi trong thâm tâm vẫn không ngớt đợi chờ một phép lạ, một ánh sáng nhỏ nhoi ở cuối đường hầm.
Người ta có thể quen với nhiều thứ. Quen với thời tiết khác, quen với nhiều món ăn lạ, quen với nhịp sống của một dân tộc khác. Nhưng có một thứ không thể làm quen đó là tình tự quê hương đã mất.
Quê hương không chỉ là nơi mình sinh ra. Nó là nơi mà mọi thứ đều có ý nghĩa mà không cần rao giảng. Một con đường, một góc phố, một tiếng rao, một mùi hương… tất cả đều mang theo một phần đời. Khi mất đi, không chỉ là mất một nơi chốn, mà là mất cả một hệ ký ức, một cấu trúc của đời sống con người.
Có những buổi sáng, tôi tỉnh dậy và trong một khoảnh khắc rất ngắn, tôi quên mất mình đang ở đâu. Trong khoảnh khắc đó, tôi vẫn là con người của ngày xưa, sống trong một thành phố quen thuộc, những đường bay dọc ngang trên bầu trời miền Nam nước Việt mà tôi đã thuộc lòng. Nhưng rồi thực tại trở về, không ồn ào, nhưng dứt khoát, như một bàn tay ai đó đặt nhẹ nhàng lên vai, nhắc tôi rằng tất cả đã trở thành dĩ vãng.
Có nhiều lúc tôi thảng thốt nghĩ rằng:
Sợ một mai thân nằm yên lòng đất
Hồn lẻ loi tìm không thấy quê nhà
Năm mươi mốt năm trôi qua.
Một đời người có thể chứa đựng bao nhiêu ký ức? Có thể chịu đựng bao nhiêu mất mát? Có thể giữ lại được bao nhiêu điều mà không đánh mất chính mình?
Tôi đã sống. Đã làm việc. Đã xây dựng lại cuộc đời. Đã có những niềm vui, những thành tựu, những mối quan hệ xã hội rất tốt. Nhưng tất cả những điều đó, dù có thật, dù có ý nghĩa, vẫn không thể thay thế được những gì đã mất.
Tôi nhớ những ngày tháng trước năm 1975. Không phải vì chúng hoàn hảo, mà vì chúng là một phần đời quan trọng của tôi. Những sáng nắng chiều mưa, những ngày lộng gió, những đường bay quen thuộc, những khung trời bao la, những sinh tử cận kề, những cuộc gặp gỡ, những câu chuyện, những ước mơ chưa kịp thành hình. Một đời sống bình thường như thế nhưng khi mất đi, tôi mới hiểu giá trị của nó sẽ không bao giờ có thể thay thế được.
Ký ức, theo thời gian, không phai nhạt đi như người ta tưởng. Nó được chắt lọc. Những gì không quan trọng sẽ rơi rụng tự nhiên. Những gì còn lại sẽ trở nên rõ nét hơn, tinh khiết hơn, và vì thế, cũng đau xót hơn.
Và tôi mang trong mình một nỗi hận. Nhưng không phải là một nỗi hận đơn giản. Nó không hướng về những con người bình thường. Tôi không hận người dân Mỹ mà tôi đã gặp, đã sống cùng, đã nhận được sự giúp đỡ của họ để xây dựng lại cuộc đời. Tôi hiểu rằng con người, ở đâu cũng có những điểm tương đồng giữa thiện và ác, hiểu biết và giới hạn.
Nhưng tôi không thể không nghĩ đến những quyết định sai lầm của hệ thống cầm quyền chính phủ Mỹ và đồng minh, những phong trào phản chiến ngu xuẩn, những cơ quan truyền thông dối trá, lừa gạt dư luận. Những điều nầy đã góp phần làm thay đổi số phận của những quốc gia nhỏ bé, chậm tiến như Miền Nam Việt Nam của tôi. Một cuộc chiến không chỉ được quyết định bởi những gì xảy ra trên chiến trường mà nó được quyết định bởi những gì xảy ra trong lòng xã hội, qua truyền thông, trên trường chính trị.
Khi một bên không còn được thế giới ủng hộ, không còn được bạn bè tin tưởng thì dù còn đầy đủ vũ khí cũng không thể giữ được, huống chi… chúng tôi đã phải chiến đấu với cả một thế lực cộng sản quốc tế hùng mạnh khi vũ khí đã bị chính những người bạn đồng minh tước bỏ đi.
Nỗi hận của tôi không phải để nuôi dưỡng oán thù mà là để nhắc nhớ cho chính mình, nhắc nhở con cháu đời sau những gì đã xảy ra cho quê hương, dân tộc tôi không bị đi vào quên lãng.
Sau tất cả, điều còn lại trong tôi không chỉ là nỗi đau. Mà là một ước vọng. Ước mong một ngày nào đó, được trở về trong tự do, trong danh dự. Không phải để bắt đầu lại, mà chỉ để nhìn lại. Để bước trên những con đường cũ dù chúng đã bị thay tên đổi họ một thời. Để nghe lại những âm thanh, những tiếng nói quen thuộc ở khắp mọi nơi. Để thấy lại một quê hương bừng sáng, một xã hội văn minh trong tình người. Được thật sự hãnh diện với 4 chữ Con Rồng Cháu Tiên.
Ở tuổi này, tôi không còn sợ nhiều điều. Không còn sợ mất mát vì đã mất mát quá nhiều. Không còn sợ thay đổi vì đã sống qua những thay đổi to lớn mà chỉ sợ rằng mình sẽ không còn đủ thời gian. Không đủ thời gian để thấy ngày ấy. Không đủ thời gian để chứng kiến một kết thúc tốt đẹp như thế cho quê hương dân tộc mình; để biết rằng những nghiệt ngã mình đã trải qua trong đời không trở nên vô nghĩa.
Sự chờ đợi nào cũng không mấy dễ dàng. Khi còn trẻ thì có dễ dàng hơn, nhưng khi thời gian không còn nhiều, mỗi ngày trôi qua đều mang theo một cảm giác bồn chồn, lo sợ. Không phải vì muốn đạt được điều gì, mà vì sợ không còn cơ hội ấy.
Tháng Tư lại đến.
Vẫn là những cơn mưa nhẹ buổi sáng, những đám mây trắng bềnh bồng ở buổi chiều dài, những khoảng lặng khó gọi tên… Những ghi nhận nầy không phải để làm thơ, khp6ng phải là thời tiết mà là một phần của đời sống nội tâm, một vùng ký ức mà mỗi năm, vào đúng thời điểm này, lại mở ra trong tôi.
Tháng Tư hận.
Tháng Tư đau.
Mỗi năm vẫn cứ theo nhau trở về
Nhưng nếu chỉ có hận và đau, con người đã không thể đi qua hơn nửa thế kỷ. Vì ở đâu đó, rất sâu, rất nhỏ, vẫn còn một thứ khác. Một thứ không sôi nổi lắm, không mạnh mẽ nhiều nhưng bền bỉ. Đó là niềm hy vọng.
Hy vọng rằng một ngày nào đó, dù mình còn hay không, trên mảnh đất hình cong chữ S ấy, người dân sẽ được sống an bình, hạnh phúc mà không phải cúi đầu, lo sợ. Sẽ có những tiếng nói không bị bóp nghẹt. Sẽ có những giấc mơ không bị dập tắt. Và khi ngày đó đến, có thể, ở một nơi nào đó rất xa, những người đã ngậm ngùi nằm xuống sẽ mỉm cười. Dù muộn màng nhưng cũng có thể sẽ che giấu được những niềm đau, nỗi hận trong lòng của những người võ sĩ bị ném lên đấu trường sanh tử với tay chân bị trói chặt.

GIỚI THIỆU TRANG NHÀ: 
http://thovanyenson.com
http://www.thanphongmartialarts.com

==

Xin mời qúy vị thưởng thức vài nhạc phẩm của tôi đã viết.

Quê Hương Trong Ta.

Bóng Xưa Chiều Ấy.

Vụng  Dại Những Chiều

Ns. Nguyễn Đình Hòa.

==

THÁNG TƯ NHỚ EM – MỸ HOÀN

Em đã về đây mỗi tháng Tư

Về quê ngồi lại giữa sương mơ

Có nghe sương rớt bờ vai cũ

Bơ vơ mộng mị chốn xa mờ

*

Để tháng Tư như dòng nước chảy

Bôn ba năm tháng nước về đâu

Ta gục xuống đôi bàn tay lạnh

Lòng nghe rơi rớt ánh tinh cầu

*

Ta nghe mãi bên bờ sông vỗ

Những lời buồn của tháng trôi qua

Lời tình như sóng dòng sông cuộn

Nước mắt nào còn mãi mưa sa

*

Em ôm trái tim nào đã lỡ

Một lời thề mộng ước mai sau

Một nụ cười như vừa nở lại

Cho ta êm ái mối tình sầu

*

Em đã về đây mỗi tháng Tư

Về đây ta kể một lời thơ

Em mặc áo dài hoa cúc nở

Cùng ta đi suốt một nẻo bờ

*

Rồi em cảm động từng cơn khóc

Vạt tóc nào đẫm lệ quê hương

Tổ tiên ta đã từng hơi thở

Dựng Sơn hà một giấc như mơ

*

Nhớ trong tâm tưởng ngày hoa gấm

Nụ môi thơm khép nép hải đường

Ta muốn mở lòng bao câu nói

Lời yêu kia còn mãi vấn vương.

Lê Mỹ Hoàn

2/2025

**

NẮNG HẠN THÁNG TƯ

Tiếng kêu tha thiết gọi đàn

Những ngày nắng hạn đâu tàn trú thân

Lòng ta như thể nắng ran

Thu Đông tan tác, Hạ hoang mang về

Nơi đây đâu phải chốn quê

Cho nên nắng hạn lê thê mỏi mòn

Khô đi những giọt máu hồng

Dần dà cạn hết giấc nồng trong tim

Đôi môi khao khát đi tìm

Tiếng kêu mòn mỏi đắm chìm nơi đâu

Quê hương mấy cuộc bể dâu

Trong ta một nỗi u sầu chưa tan

Thời gian lặng lẽ lướt nhanh

Làm thêm héo nụ cười xanh thuở nào

Ôi cơn nắng hạn lao đao

Hồn ta nứt nẻ ngày vào thángTư.

Lê Mỹ Hoàn

4/20/1990

==

ĐỢT NẮNG THÁNG TƯ

Đông vừa qua ở cuối đoạn đường

Xuân đến những ngày nắng ấm hơn

Tưởng như mùa Hạ nhưng bất chợt

Lạnh lại về cơn sốt miên man

*

Cơn sốt cao, đầu như bổ củi

Như nặng lòng đợt nắng tháng Tư

Vàng sốt bủa vây ngày trốn chạy

Qua cánh đồng nắng trải như phơi

*

Cơn sốt lên cơn mơ lại đến

Chạy vòng quanh chạy đến chân tường

Nghe mơ hồ ai đang hạch hỏi

Bao người ngồi bó gối như ta

*

Rồi tự nhiên nghe mùi muối mặn

Đang lênh đênh trên biển xuôi dòng

Chợt thét gào như cơn thịnh nộ

Biển trời đang cuộn một cơn dông

*

Ta bên nhau thì thầm cầu nguyện

Xin trời cho gió lặng sóng êm

Bỗng mở mắt dường như im lặng

Tự Do đang cười với gió Xuân.

Lê Mỹ Hoàn

3/26/2025

==

Tháng Tư cảm tác

Tha hương mái tóc của ngày xanh

Năm tháng bạc màu trán vết nhăn

Canh cánh bên lòng bao nuối tiếc

Bâng khuâng tấc dạ những ăn năn

Non sông biến dạng người xa cội

Đất khách dung thân kẻ rã hàng

Nặng trĩu tâm tư đời viễn xứ

“Nỗi buồn nhược tiểu” mãi âm vang.

          Trần cẩm Thành- 4/2026.

**

==

Máu ai tuôn chảy nơi góc phố?!
Chốt thí làm sao chống sơn hà!?
Tiếng hờn vọng mãi vào thiên cổ
Một trang Hận Sử, mấy Hùng Ca?!

*

Cuối Xuân cuồng lũ dâng hồng thủy
Đành buông nợ Nước, phụ tình Nhà!
Sông núi điêu linh vì ngạ quỷ
Bao giờ yên sóng, lắng phong ba?

*

Ngồi đây mà nhớ thời chiến quốc
Một thuở bi hùng lúc dọc ngang
Chớp mắt thấy sương pha màu tóc
Một tiếng than ôi! Lệ ứa tràn.

*

Nửa đời chìm nổi nơi đất khách
Mỗi năm thêm một tháng Tư qua
Quốc thù vị báo đầu tiên bạch (*)
Thế sự du du nại lão hà.
HUY VĂN

*
(*)THUẬT HOÀI
Thế sự du du nại lão hà?
Vô cùng thiên địa nhập hàm ca.
Thời lai đồ điếu thành công dị,
Vận khứ anh hùng ẩm hận đa.
Trí chủ hữu hoài phù địa trục,
Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà.
Quốc thù vị báo đầu tiên bạch,
Kỷ độ Long Tuyền đới nguyệt ma.

ĐẶNG DUNG

*
Bản dịch của Tản Đà:

Việc đời man mác, tuổi già thôi!
Đất rộng trời cao chén ngậm ngùi.
Gặp gỡ thời cơ may những kẻ,
Tan tành sự thế luống cay ai!
Phò vua bụng những mong xoay đất,
Gột giáp sông kia khó vạch trời.
Đầu bạc giang san thù chưa trả,
Long tuyền mấy độ bóng trăng soi.

==

==

==

==

==

HỒI KÝ ĐẦY KINH HOÀNG CỦA TS NGUYỄN HỒNG DŨNG

KÝ ỨC VỀ ĐÊM KINH HOÀNG CHẠY GIẶC

NGUYỄN HỒNG DŨNG

Quê hương tôi là Quảng Ngãi, nơi có Núi Ấn soi bóng xuống Sông Trà Khúc hiền hòa. Dù xa quê từ thuở bé, hình ảnh ấy vẫn in sâu trong tâm khảm như một phần máu thịt không thể tách rời.

Từ nhỏ, tôi theo người bác ruột vào sống tại Đà Lạt, ở vùng Trại Mát, nơi bác hành nghề Đông y. Cuộc sống nơi cao nguyên yên tĩnh phần nào giúp tôi quên đi những biến động của quê nhà, cho đến khi chiến sự lan rộng khắp miền Trung vào đầu năm 1975.

Ngày 21 tháng 3 năm 1975, khi tình hình các tỉnh Tây Nguyên trở nên rối ren, tôi quyết định trở về Quảng Ngãi chỉ với một mong muốn giản dị là thăm mẹ đang lâm bệnh. Khi ấy tôi vẫn còn là một học sinh, chưa hiểu hết thế nào là chiến tranh, nhưng nỗi lo sợ thì hiện rõ trong từng hơi thở. Người ta truyền tai nhau rằng ban đêm, Việt Cộng thường lén xuống các quận gài mìn, khiến ai nấy đều sống trong cảnh phập phồng, bất an.

Gia đình tôi lại có nhiều người liên quan đến Việt Nam Quốc Dân Đảng; từ bác, chú cho đến ông Sáu, nên sự lo lắng càng chồng chất. Cứ mỗi khi màn đêm buông xuống, các chú, các bác lại âm thầm đạp xe vào thành phố để ngủ nhờ, tránh những hiểm nguy có thể ập đến bất cứ lúc nào.

Đêm 22 và 23 tháng 3 năm ấy, tôi ngủ bên mẹ tại vùng phía tây quận Tư Nghĩa. Nhưng đó không còn là những đêm bình yên. Tiếng súng, tiếng pháo kích vang lên liên hồi, dội vào lòng người những cơn run sợ. Mỗi tiếng nổ như xé toạc màn đêm, khiến tôi, một đứa học trò, chỉ biết nằm im, tim đập dồn dập, cầu mong cho trời mau sáng.

Sáng ngày 24 tháng 3 năm 1975, không chịu nổi sự bất an, tôi cùng mẹ rời nhà, tìm đến tá túc tại nhà ông Sáu ở khu vực Thị xã Cẩm Thành, Quảng Ngãi, trung tâm của tỉnh. Đó là một quyết định đầy lo âu nhưng cần thiết, bởi lúc ấy, chiến tranh đã thực sự chạm đến từng mái nhà, từng con người.

Những ngày tháng ấy, tôi không chỉ chứng kiến sự biến động của đất nước, mà còn cảm nhận rõ sự mong manh của đời người, của tình thân trong cơn binh lửa vì anh tôi đã mất trước đó vài tháng tại Pleiku, cậu Tư cũng tử trận tại An Lộc, và người hàng xóm tại Đa lạt cũng bị tử  vong bởi  pháo kích tận vùng I chiến thuật mà chưa kịp mang xác về chôn,. Dù chỉ là một học sinh, tôi đã sớm hiểu rằng quê hương không chỉ là nơi chôn nhau cắt rốn, mà còn là nơi gắn liền với ký ức, bà con xóm giềng, với yêu thương, và cả những nỗi đau không bao giờ quên.

Chiều ngày 25 tháng 3 năm 1975, trước nhà ông Sáu là nơi có tiểu khu của binh lính Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, mọi sinh hoạt ban đầu vẫn diễn ra như thường lệ. Những người lính Sư Đoàn II Bô Binh vẫn qua lại, vẫn giữ nhịp sống quen thuộc như chưa có điều gì sắp sửa đổi thay. Nhưng đến xế chiều, không khí bỗng chùng xuống. Tôi thấy từng chiếc xe Jeep, xe nhà binh chở đầy binh sĩ nối nhau rời đi, hướng về phía Đà Nẵng. Một linh cảm bất an dâng lên trong lòng, dù khi đó tôi vẫn chưa hiểu hết ý nghĩa của những chuyển động ấy.

Tin đồn bắt đầu lan nhanh trong xóm. Người này truyền cho người kia, không ai biết thực hư ra sao. Có người nói phải “ăn vội rồi đi ngay”, có người bảo phải gom đồ đạc mà chạy, vì chiến sự đã quá gần. Người ta nhắc đến Ông Ngô Quang Trưởng, vị tướng đang cố gắng chống lại làn sóng tiến công từ phía Việt Cộng. Nhưng tất cả chỉ là những lời nghe lại, không kiểm chứng, không rõ nguồn. Trong hoàn cảnh ấy, sự thật không còn quan trọng bằng nỗi sợ.

Gia đình tôi cũng hoang mang như bao gia đình khác. Bữa cơm chiều hôm đó vắng lặng lạ thường. Tôi không thấy các chú, các bác, và cả ông Sáu trở về. Có lẽ họ đã đi đâu đó, hoặc đã nghe được điều gì khẩn cấp hơn mà chúng tôi không biết. Chỉ có Dượng Tám mỗi sáng vẫn thường mở chiếc radio Sony nhỏ, nghe đài BBC rồi kể lại tình hình. Nhưng những mẩu tin rời rạc ấy cũng không đủ giúp chúng tôi hiểu rõ chuyện gì đang xảy ra, chỉ càng làm lòng người thêm rối bời.

Mẹ tôi đang bệnh nặng, không thể ăn uống gì. Tôi nhìn tô cháo bà để lại, lòng nghẹn lại. Không còn thời gian để nghĩ nhiều, tôi húp vội những muỗng cháo nguội để dằn bụng. Đó không phải là một bữa ăn, mà là sự chuẩn bị cho một cuộc chạy trốn không biết ngày về.

Bên ngoài, dòng người đã bắt đầu đổ ra Quốc lộ 1, hướng về phía Đà Nẵng. Tiếng gọi nhau í ới, tiếng bước chân vội vã, tiếng xe cộ lẫn trong sự hỗn loạn. Tôi biết mình phải đi, dù lòng còn nặng trĩu.

Mẹ tôi không đi nổi. Bà nhìn tôi, ánh mắt vừa lo lắng vừa đau đớn. Bà bảo tôi cứ theo hàng xóm mà đi, đừng chần chừ. Lời nói ấy như một nhát dao cắt vào tim. Tôi đứng đó, giữa giây phút chia ly, không biết phải nói gì hơn ngoài một lời từ biệt nghẹn ngào.

Tôi quay đi, hòa vào dòng người chạy loạn, mà phía sau là bóng mẹ tôi đang dần khuất. Trong khoảnh khắc ấy, tôi hiểu rằng mình đã bước sang một ngã rẽ khác của cuộc đời, nơi mà tuổi học trò khép lại, nhường chỗ cho những tháng ngày lưu lạc, và nỗi nhớ quê nhà, nhớ mẹ, sẽ theo tôi suốt cả cuộc đời.

Đêm 25 rạng ngày 26 tháng 3 năm 1975 là một ký ức không bao giờ phai mờ trong cuộc đời này, một ngày mà ranh giới giữa sống và chết mong manh như sợi chỉ. Khi đó, cuộc chiến đã lan rộng khắp miền Trung, và những vùng như Quảng Ngãi đã lần lượt rơi vào tay Việt Cộng trước khi Sài Gòn sụp đổ không lâu sau đó.

Đêm ấy, tôi cùng dòng người hoảng loạn tìm đường chạy giặc. Không còn ai nghĩ đến tài sản hay tương lai, chỉ còn một ý niệm duy nhất là phải sống. Tôi theo dòng người băng qua con dốc Bình Liên, thuộc quận Bình Sơn. Con dốc ngày thường vốn hiền hòa, nhưng hôm đó trở thành một địa ngục trần gian.

Tiếng pháo kích bất ngờ dội xuống. Những tiếng nổ chát chúa xé toạc không gian, đất đá tung lên mù mịt. Người ngã xuống từng loạt. Có người trúng đạn, có người bị mảnh pháo xé thân, có người chỉ vì quá hoảng loạn mà bị dẫm đạp trong dòng người tháo chạy. Tiếng khóc, tiếng la hét, tiếng gọi nhau trong tuyệt vọng hòa lẫn vào nhau, tạo thành một âm thanh kinh hoàng mà đến nay tôi vẫn còn nghe vang vọng trong tâm trí.

Tôi không còn nhớ mình đã chạy như thế nào, chỉ biết bản năng sinh tồn đã đẩy tôi lao xuống một bờ ruộng bên đường. Chính quyết định trong tích tắc ấy đã cứu mạng tôi. Nằm sát mặt đất, tim đập dồn dập, tôi nghe rõ từng tiếng nổ, từng bước chân dẫm đạp phía trên. Mùi khói, mùi đất, và cả mùi tử khí lan trong không khí khiến tôi rùng mình.

Khi cơn pháo kích tạm lắng, tôi mới dám ngẩng đầu lên. Trước mắt là một cảnh tượng không thể diễn tả hết bằng lời: người nằm la liệt, kẻ sống sót thì thất thần, ánh mắt vô hồn. Con đường chạy loạn giờ đây phủ đầy máu và nước mắt

Tôi tiếp tục hòa vào những người còn sống, lặng lẽ đi trong đêm tối, không còn sức để khóc hay nói. Sáng hôm sau, khi ánh bình minh le lói, tôi lần bước ra được thị trấn Châu Ổ, rồi từ đó tiếp tục hướng về Chu Lai. Đó là một hành trình đi bộ đầy gian nan, nhưng ít nhất, tôi biết mình vẫn còn sống.

Ngày 26 tháng 3 năm ấy không chỉ là một ngày chạy loạn. Đó là một vết hằn lịch sử trong đời tôi, một minh chứng cho sự tàn khốc của chiến tranh và sự mong manh của kiếp người. Tôi sống sót, nhưng ký ức ấy mãi mãi ở lại, như một lời nhắc nhở rằng cuộc sống hôm nay đã được trả giá bằng biết bao sinh mạng và nước mắt.

Viết trong niềm nhớ 51 năm của tháng Tư Đen 2026.

Nguyễn Hồng Dũng

==

==

THÁNG TƯ ĐEN – Huu-Thien Paul Pham

—

” Này em có nhớ, rồi tình bỗng cách xa

Khi đất nước ngập tràn trong khói lửa

Tháng Tư đen, đã chia đời đôi lứa

Kẻ đi tù, người bay bổng nơi đâu. “

HVLN

– – – –

Tháng Tư Đen ..

Em nhớ lắm, cuộc tình ta xa cách

Trong đau thương : biến cố Tháng Tư Đen

Ba anh tù : vì thù hận ác hèn .

Nên Mẹ anh , gia đình đau khổ sống .

*

Oan nghiệt quá : Ba em lầm, theo cộng .

Coi trại tù , đã hành hạ Ba anh

Với tháng năm , kiệt thân sức , tan tành

Rồi gục chết trong ngục hình đen tối .

*

Đời em lạnh : với chuỗi ngày sám hối ..

Đến xin anh , vài xúc cảm khoan dung ..

Lặng nhìn anh, trong đau đớn tột cùng .

Khóc , khóc, khóc , em chỉ còn biết khóc .

* * *

Thấy những cảnh đau thương đầy tủi hận

Phải làm sao cho nước Việt oai hùng

Được tự do , dân chủ , sống ung dung

Và hạnh phúc , vinh quang cùng thịnh vượng.

Huu-Thien Paul Pham 

==

CHIẾN TRANH & HÒA BÌNH – Huu-Thien Paul Pham 

—

Chinh chiến tràn lan , khổ kiếp người

Tạo bao đau đớn, hận khôn nguôi

Sta-lin , Mao Trạch , thêm Hồ Chí

Gây họa dân oan , tội ngập trời .

*

Tháng Tư năm đó , triệu người vui

Nhưng triệu người kia , phận khổ xui

Vượt biển , tội tù, bao biến cố

Với nhiều thảm cảnh , dạ bùi ngùi .

*

Câu chuyện quê hương, câu chuyện buồn

Chiến tranh tan tác , lạnh lòng tuôn

Phũ phàng cảnh huống, hồn tê tái

Mang nặng sầu thương , dậy tủi hờn .

*

Câu chuyện văn chương, cũng đoạn trường

Nhớ Thầy, thi sĩ Vũ Hoàng Chương

Sau khi giải phóng vào tù tội

Chết một năm sau (1976) , quá tiếc thương .

*

Trong khi làm việc ở Âu châu

Vận nước khó khăn , khá đậm sâu

Hai đứa con thơ còn kẹt lại

Mỗi lần nghĩ đến , lệ buồn đau .

*

Năm đó (1975) , con trai bốn tuổi thôi

Theo người vượt biển , tạ ơn trời

Nhưng cô bé gái , đau buồn đợi

Đợi đến hai năm (1977) , mới lọt xuôi.

Huu-Thien Paul Pham 

==

KHÁT VỌNG

(thơ xuôi tổng hợp)

Ba mươi năm ấy miệt-mài,

Ai gieo tang tóc phí hoài máu xương?

Bảy lăm lại đến đau thương,

Nhà tan, nước mất, bốn phương lưu đầy.

Cơ-đồ nát bấy, bấy nay,

Buôn dân, bán nước, tội này của ai? 

-I-

Niềm khát-vọng ngùn-ngụt vút lên cao, mải-miết tìm Trăng hiền-hoà khả-ái. Trăng vẫn còn gục ngủ trong thành đêm sừng-sững âm-u.

Những vệt sáng đèn pha vẫn lia-lịa quét không-trung, nào đã thấy muôn vì sao đang trốn lủi? Mắt lệ mờ nhìn những trái hoả-châu nối tiếp nhau mưa sáng rực cháy bốn phương trời, lòng rạo-rực, mơ Thanh-Bình, mãi tưởng chừng đây dạ-hội hoa-đăng.

Những tiếng phi-cơ ì-ầm sấm động, những chùm đại-bác bạt núi long trời, những tràng liên-thanh nổ tan ròn-rã, xé không-gian, khua giấc ngủ rừng khuya, dậy thôn xóm tiêu-điều, lòng rạo-rực, mơ Thanh-Bình, mãi tưởng chừng đây tưng-bừng dạ-khúc đón xuân sang.

Rồi khi thôn rừng ngừng im tiếng súng, khi hoả-châu tắt sáng, khi những đốm lửa đạn không còn vun-vút đuổi nhau như sao trời đổi hướng, đêm tối vẫn không lùi bước, thành đêm vẫn sừng-sững âm-u, quanh đâu đây nghe khắc-khoải lòng đêm đang thổn-thức, cây lá thở dài, dế khóc nỉ-non, sương đêm sụt-sịt, lòng rạo-rực, mơ Thanh-Bình, nghe thấm buồn như lời kể-lể của những người cô-phụ bi-thương:

Ðằng-đẵng bao năm trường chinh-chiến, tím chiều ngập phủ khắp quê hương. Bom đào ao, đạn cầy ruộng, ruộng xanh um cỏ dại, ao đầy ắp thịt xương.

Hận thù bão táp, mã-tấu tung bay, đau-đớn ngả-nghiêng, bao thôn tre quằn-quại trong rên xiết.

Hận-thù bão táp, máu thắm loang trời, đau-đớn ngả-nghiêng, bao thôn dừa ngã gục, trùng-dương cuộn sóng, lồng-lộn thét vang niệm khát-vọng, lòng rạo-rực, mơ Thanh-Bình, nghe ngậm-ngùi tê-tái như đêm trường giá buốt thê-lương.

Việt-Nam ơi! thân mòn sức kiệt, mảnh hình-hài tan nát tả-tơi. Chúa ơi, Mẹ ơi! Người ở đâu, sao thành đêm vẫn âm-u sừng-sững? Tôi “thắp nến nguyện cầu, đâu dám rủa nguyền bóng tối” (*). Hồn tôi đây, trí tôi đây, hỡi gió ngàn lồng-lộng! Kéo bổng lên cho Người thấu nghe niềm khát-vọng, lòng rạo-rực, mơ Thanh-Bình, sao Trăng hiền vẫn gục ngủ trong thành đêm sừng-sững âm-u?

-II-

Ðêm âm-u, gió mát vi-vu, dù cho dịu-dàng mơn trớn thiết-tha, vẫn chẳng ru ngon giấc ngủ cô-đơn chập-chờn thao-thức. Tiếng chó tru ghê hồn không át nổi tiếng đại-bác rền vang.

Rồi một sáng xuân mờ sương xốn-xang, phố phường ngổn-ngang quân-trang binh-khí, liệng bỏ hết cho một nhà thuận-hoà, hoan-hỉ, cho chiến-trường dai-dẳng bặt tiếng im hơi. Giáo-đường khắp nơi không ngơi lời kinh tiếng hát: “Kinh Cầu Hoà-Bình” dập tắt chiến-chinh. Thành phố bỗng giật mình ngơ-ngác, thôn ấp chợt sửng-sốt bàng-hoàng. Lạ kìa! màu cờ sao ướt đẵm màu máu thắm loang? 

Biển Ðông vẫy sóng trường-giang,

Biệt-ly nước mắt nặng mang ân-tình.

Nghẹn-ngào Mẹ đứng lặng thinh,

Nhìn con dặn với: “Nhớ tình cố-hương!”

Mẹ về chăm giữ đồng nương,

Cho vàng bông lúa ngát hương thôn làng.

Giờ thì mất cả nương đồng,

Thôi đành phó mặc, chẳng màng “vinh-quang”.

Ngày đêm nghe réo loa vang:

“Hoà-bình công-bố, xoá tan hận-thù.”

Hoà-bình lại ở chiến-khu,

Hận-thù mau gót lù-lù về đây.

Ô hay! Lành-lạnh heo may, ùn-ùn mây bay. Sao Trăng gầy đã vội đuổi ngay ngày xanh non-nớt. Mặt trời trốn mất, chẳng để lại chút nóng hâm nóng tình thương. Bóng đêm âm-u gian dối đồng-loã gạt lường. Trùng-dương lại lồng-lộn thét gào khóc thương tương-tàn cốt nhục:

Núi rừng địa ngục,

Tủi nhục xót-xa,

Thân người: xác vật thây ma,

Lìa con, lìa vợ, lìa cha, lìa chồng.

Mồ-hôi tưới ướt ruộng đồng,

Lúa vàng đâu thấy? Thấy hồng máu loang:

Chàng đi “học-tập” ngút ngàn,

Ở nhà thiếp chít khăn tang mãn đời.

Tấm thân trâu ngựa rã-rời:

“Anh-hùng lao-động”, thấu trời than van.

Giành nhau từng dái khoai lang,

Giành nhau chỗ đứng xếp hàng nối đuôi.

Con thuyền ngược sóng ra khơi,

Ruột se bụng thắt, sao tươi nụ cười?

Ôi, nụ cười nước mắt! Đắng cay chua-chát!

Ôi, cơ-đồ sụp nát, nhân-tình đảo-điên!

Biển Ðông đầy ắp oan-khiên,

Quặn đau vĩnh-biệt Mẹ hiền thân yêu. 

Mẹ Việt-Nam truân-chuyên. Mẹ Việt-Nam u-uất. Mẹ nhắm nghiền đôi mắt. Mẹ lắng nghe trong bóng đêm hiền-hoà giả dối, tiếng đàn con nỉ-non da-diết niềm khát vọng tha-thiết vô biên. Khát vọng bình-yên. Khát vọng triền-miên. Sao trăng hiền vẫn biền-biệt cho đêm tối bao vây? 

Các con Mẹ đâu rồi?

Mẹ mỏi-mắt trông vời.

Mẹ đứng đây, Mẹ giang tay thành-khẩn:

Hãy nhìn xem, nước Việt-Nam u-ẩn!

Hãy nhìn xem, đồng-bào Việt kiên-nhẫn đau thương!

Bao giờ hết đổ máu xương?

Bao giờ tiếng hát giáo-đường ngân-nga ?

Bao giờ nước Việt thái-hoà,

Tự-do công-chính, nhà nhà an vui?

(*) cách-ngôn Tây:”Thà thắp lên một ngọn nến, còn hơn ngồi nguyền rủa bóng tối”

(Nguồn: Thi Phẩm “VỀ NGUỒN”, Đỗ Quang-Vinh, Toronto, 1995)

. . .

==

BÀI VIẾT CỦA TÁC GIẢ BẢO TRÂM

Có Nên Bàn Thảo Với Cộng Sản?

Đất nước Việt Nam đang bị đảng cộng sản cai trị bằng bạo lực.

Bọn cộng sản Việt Nam chỉ là một bọn cướp, may mắn chiếm được nước Việt do các thế lực quốc tế tranh nhau trên bàn cờ thế giới.  Chúng không phải là một chính quyền đúng nghĩa!

Chúng ta không biết thế giới có nước nào hiểu rõ bọn cộng sản đang lừa họ hay không?

Nhưng chúng ta biết rõ một điều: nước nào cũng vì lợi cho nước họ trước hết, không nước nào hy sinh cho dân Việt chúng ta. Vì vậy, vận mệnh nước Việt vẫn phải do người Việt hành động, nếu dân ta thực sự muốn cứu lấy dân tộc Việt Nam.

Bọn cầm quyền cộng sản ở Việt Nam chỉ muốn một điều: dân VN càng ngu càng dễ cho chúng nắm đầu. Chúng không hề có ý giúp cho dân giàu, nước mạnh.

Đối với chúng, cộng sản chủ nghĩa hay tư bản chủ nghĩa, không có gì quan trọng cả. Chúng sẽ đi theo và áp dụng bất cứ thứ gì mà chúng có thể dựa vào để tồn tại, như cộng sản Nga, Tàu đã giúp chúng có cơ hội đó thì chúng theo ngay. 

Nếu trong tương lai, Mỹ hay bất cứ nước Tây Âu nào cho chúng có cơ hội để tiếp tục việc chúng đang làm thì chúng sẽ gọi Mỹ và nước đó là ông Nội ngay.

Và sau đó chúng sẽ tuyên truyền là “quốc gia” hơn những người quốc gia hiện tại nữa. 

Chắc Quý Vị thừa biết hiện nay ở Mỹ và có thể ở bất cứ nước nào trên thế giới, con cháu bọn cướp này mở tiệm buôn bán, chợ búa, thậm chí lập Chùa, hay lập Nhà Thờ…. đều sẵn sàng treo cờ Vàng Ba Sọc Đỏ nơi trang trọng nhất, để câu khách, để chúng có cớ rửa tiền…   

Cho rằng chúng là phe cờ đỏ, cờ hồng thì vô tình chấp nhận chính danh của bọn cướp này. 

Những bài viết gợi ý, cầu xin, đề nghị hay lên mặt dạy dỗ cho chúng khôn khéo hơn về chính trị và kinh tế, chính là giúp chúng học thêm nhiều bài học để ngày càng tinh vi trong việc cướp sạch đất nước VN nhiều hơn và nhanh hơn. 

Xin quý vị thức giả, quý vị còn có lòng tranh đấu cho một nước Việt Nam được Tự Do, Dân Chủ thì hãy hướng trọng tâm vào việc làm sao xóa bỏ bọn cướp ấy.

Việc đó hiện giờ phải nói là rất khó, vì sau lưng bọn cướp này còn có bọn cướp mạnh gấp bội là bọn Nga, Tàu, mà không chừng còn có các nước tư bản giàu có lợi dụng vào sự tồn tại của bọn cướp này

Vì vậy, nếu dân tộc VN chúng ta chưa có cơ hội xóa bỏ bọn chúng thì xin đừng bày thêm nhiều điều tinh khôn để biến thành mưu ma chước quỷ của chúng. Đừng hy vọng chúng sẽ giúp dân VN giàu mạnh, thông minh hơn hay hy vọng chúng sẽ xỏa bỏ lằn ranh gì đó là sai vì chúng đâu có lằn ranh nào để xóa.

Van xin bọn cướp đang ở trong nhà chúng ta, hãy nới lỏng cho chúng ta vươn lên sống bằng nhà của xóm khác… chưa bị cướp là một ý tưởng hão huyền.

Vấn đề là dân Việt Nam đã tỉnh ngộ chưa, đã quyết một lòng để xóa bỏ bọn cướp này hay chưa? 

Và Quý Vị, những tinh anh của tộc Việt, xin làm thế nào để giúp dân Việt Nam cùng một lòng tiến tới để xóa sạch bọn chúng?

         Bảo Trâm

      ·       Sẵn Sàng Quên?

Chỉ còn vài ngày nữa

“Năm Mốt năm” sẽ sang

Chúng ta luôn chuẩn bị

Chúng tôi cũng sẵn sàng.

Sẵn sàng để chiến đấu

Với bọn quỷ tràn lan

Với thói hư tật xấu

Với những kẻ tham tàn.

Không thể sống yên thân

Không thể quên quá khứ

Khi Cộng ác, vô thần 

Đày đọa dân Tộc Việt.

Chúng ta phải tự biết

Nếu quyết sống vô tư

Không màng chi thế sự

Tương lai nào an cư?

                       Bảo Trâm

Ách Ác Cộng

Do đâu đến nỗi thế này đây,

Dân tộc Việt Nam khổ mỗi ngày.

Bọn cướp may thời tràn khắp chốn,

Quân gian được thế ló ra đầy.

Toàn dân đau đớn đời nô lệ,

Cả nước chông chênh kiếp dạc dày.

Còn giữ hỡi ai lòng hận giặc,

Xin vì chính nghĩa, hãy ra tay.

Bảo Trâm 

==

MÁI TÓC
NGƯỜI NỮ TÙ

Chuyện bắt đầu đã hơn bốn mươi năm,
Thuở nhà tù mọc đầy trên cả nước.
Một buổi chiều trong sân sau nhà bếp,
Tôi cùng bạn uống trà nhìn nắng hắt qua sông.

Bên kia rào lạnh lẽo bóng chòi canh,
Tay lính gác gườm gườm lia họng súng.
Đoàn tù nữ trên đường ra bến tắm,
Sau một ngày dài khổ nhọc kiếp tù sai.

Một nữ tù mái tóc xõa bờ vai,
Tia nắng chiếu chảy dài trên tóc rối.
Những sợi tóc bay trong chiều nắng vợi,
Dưới tháp canh tù hút lấy cả hồn tôi.

Nhìn tóc em tôi cảm thấy bồi hồi,
Sao giữa cảnh ngục tù có nàng tiên xinh thế.
Nét tương phản giữa màu đen đáng sợ
Với tóc em dài mang vẻ đẹp hồn nhiên.

Tuổi của em phải khoác áo sinh viên,
Ôm sách vở vào giảng đường đại học.
Sao đến nỗi?…tôi thấy mình cay mắt,
Trên đất nước này em đã mất quê hương!

Tìm tự do em phải đổi gông xiềng,
Thân giam hãm giữa ngục tù gian khổ.
Gạo thăm nuôi gặm mòn đôi dép mẹ,
Đường trở về thành phố quá xa xăm.

Người yêu em mang bản án tử hình,
Khi vượt ngục cùng bạn tù cướp súng.
Hôm áp giải ra pháp trường xử bắn,
Em gục đầu giấu giọt lệ đang lăn.

Đất nước buồn sau một chín bảy lăm,
Cả miền nam biến thành nhà lao lớn.
Người lính cũ, kẻ tìm phương vượt biển,
Đều bị giam chung trong một trại tù.

Em bị bắt khi nào, ở đã bao lâu?
Nội quy cấm không dễ gì trao đổi.
Dưới chòi canh gió chiều xơ xác thổi,
Nắng úa vàng lên mái tóc em xanh.

o0o

Bao đổi dời sau hơn bốn mươi năm,
Rồi một buổi tình cờ nơi đất khách.
Lần giáp tết cựu tù nhân họp mặt,
Những bạn tù gặp lại ấm vòng tay.

Giới thiệu mình: “em Thuận tóc dài” đây,
Tôi mới nhận ra em, vì rất khác.
Nay tóc ngắn lại thêm nhiều sợi bạc,
Nhắc chuyện xưa hiu hắt nụ cười buồn.

Nửa cuộc đời lưu lạc kiếp tha phương,
Tôi vẫn nhớ cảnh chòi canh thuở nọ.
Tóc em dài rợp trời bay trong gió,
Nuôi khát khao vươn đến một chân trời.

Những nhà tù dù vây bủa khắp nơi,
Không ngăn được bước chân người quyết chí,
Tôi mừng em tự do trên đất Mỹ,
Sống làm người đúng nghĩa giấc mơ xưa.

-Donry Nguyễn.

==

VẾT THƯƠNG
CÒN MƯNG MỦ

Có một ngày muốn quên, mà vẫn nhớ …
Như kim châm, như muối xát vào lòng
Ngày nối liền Nam-Bắc một hình cong,
Nhưng nửa nước, đau buồn cơn quốc biến!

Người lính vốn, không gây ra cuộc chiến
Chế độ nào, bổn phận phải tuân theo
Mực chưa khô màu hiệp định Giơ-neo…
Vượt giới tuyến đưa quân vào bắn phá.

Người dân Nam phải đứng lên bảo vệ
Vì tự do chống chủ nghĩa độc tài
Đã bần cùng còn giải phóng cho ai?
Lời ma mị tuyên truyền chuyên dối gạt.

Miền Nam thua vì đã không tàn ác
Không nhẫn tâm khát máu với đồng bào.
Hai mươi năm sức lực đã tiêu hao
Bên nào chết cũng đau lòng mẹ Việt!

Ngày thống nhất, tưởng tang thương chấm hết
Nào hay đâu kẻ thắng quá đê hèn
Trút thù hằn vào phận lính nhỏ nhen
Đày ải họ chốn rừng thiêng nước độc.

Tước nhà cửa, bắt vợ con nheo nhóc,
Lùa lên vùng kinh tế mới khai hoang
Lịch sử xưa nay, bạo chúa hung tàn …
Chưa ai ác bằng vô thần cộng sản.

Nửa thế kỷ, hết bom rền lửa đạn
Sao mối hờn vết sẹo chẳng liền da
Người anh em cùng một mẹ sinh ra
Vẫn ngoan cố chia lìa tình cốt nhục!

Nền độc lập đâu ngọn cờ dân tộc
Oai linh không hoá giải nỗi hiềm thù
Để đoàn người lưu lạc khắp năm châu,
Về mang những tài hoa xây cố quốc.

Năm mươi năm, lòng dân còn chia cắt,
Xã hội còn đầy dẫy cảnh bất công …
Tiếng oán hờn rên siết khắp non sông,
Ngày tưởng niệm vết thương còn mưng mủ!

-Donry Nguyễn.

VIẾT TRONG NGÀY
TANG CHẾ.

Từ máu lệ âm vang mùa quốc biến,
Cả non sông quằn quại dưới chân thù.
Lệnh sai lầm khi rút bỏ quân khu,
Quân triệt thoái kinh thành trao tay giặc.

Hai mươi năm từng kiên gan giữ đất,
Phút sa cơ hối tiếc quá muộn màng.
Bao hùng binh buộc xếp giáp quy hàng,
Buông khí giới mím môi hờn phẫn uất.

Người chiến đấu phút cuối cùng tự sát,
Người lao mình ra chiến hạm khơi xa.
Lửa ngập trời lấp ló bóng yêu ma,
Nghe việt cộng vào Sài Gòn thảy đều kinh hãi.

Năm mươi mốt năm trang sử buồn lật lại,
Khóc non sông phủ trắng một màu tang.
Nguyện oan hồn bao nhiêu triệu dân Nam,
Nguyện hương linh những anh hùng tử sĩ.

Dưới mồ sâu được nguôi lòng yên nghỉ,
Và linh hồn bay đến cõi trời xa.
Thời tối tăm rồi cũng sẽ trôi qua,
Loài bạo ngược sẽ đến giờ đền tội.

Người lưu lạc từ năm châu bốn bể,
Sẽ quay về xây dựng lại quê hương.
Biến Việt Nam thành đất nước thịnh cường,
Trong sắc áo màu cờ Tự Do-Dân Chủ.

-Donry Nguyễn-
(30-4-2026)

==

THƠ HOÀNG THỤC UYÊN

=

BIỂN ĐỘNG VƯỢT SÓNG
TRÊN ĐẠI DƯƠNG
           
Biển Đông giông tố sóng bạc đầu
Mưa bão bất ngờ đổ xuống mau
Mây đen trời tối biển mờ lối
Gió rít từng cơn mưa đổ mau

Vượt biển trùng dương, sóng dâng trào
Thuyền như lá úa vượt biển sâu
Dào dạt sóng xô thuyền ngàn hướng
Bềnh bồng, thuyền dạt khắp muôn phương

Biển động vượt sóng trên đại dương
Ào ạt mưa rơi nhòa trùng dương
Bềnh bồng thuyền trôi theo ngàn hướng
Gió lộng biển động thuyền mờ sương

Tháng 4, mang nặng một nỗi niềm
Chinh chiến ba miền nát quê hương
Nhìn về quê mẹ, thương sầu nhớ
Ngày ấy ra đi, ngàn vấn vương

Chiến tranh tan nát bởi vì đâu ?
Ba miền đất nước ngập sóng sầu !
Quê hương điêu linh trong khói lửa
Dân lành nghèo đói sống khổ đau .

Ai gây chính chiến nát quê hương ?
Ai gây thù oán cảnh đoạn trường ?
Chiến tranh không cùng ý thức hệ
Tuổi xanh ba miền ngập sầu thương

Người ở người đi thật đau lòng
Thương nhà nhớ nước, khóc non sông
Người bỏ quê hương, người tù tội.
Người tìm tư do, chết biển đông !

Gió lộng biển động sóng hợp tan
Thuyền trôi vượt sóng lướt gió ngàn
Thuyền xuôi vững lái tìm bến đậu.
Bến đục bến trong thuyền về đâu ?

Biển rộng mênh mông sóng ngập trời
Dù trong biển động thuyền ngược xuôi
Vững Tâm thuận lái theo chiều gió
Gió lặng sóng tan, thuyền thảnh thơi ...

          Hoàng Thục Uyên
     Tháng 4 Đen, 1975--2026
🌱🌱🌱🌱🌱🌱

==

CA KHÚC THÀ  NHƯ – THƠ MẶC KHÁCH – NHẠC VĨNH ĐIỆN- TIẾNG HÁT  HÀ THANH

==

THƠ CỦA THI SĨ TRẦN QUỐC BẢO & NHỮNG BÀI HÁT NÓI CỦA NGHỆ SĨ ĐỨC HÙNG

Tháng Tư, tường đá còn thao thức!

Tôi gọi tên anh có tiếng vang…

Trong lòng đá xôn xao ký ức,

Đoàn hùng binh, uy dũng hiên ngang!

*

Tháng Tư, tôi đứng bên tường đá,

Chiến trường xưa thấp thoáng hiện sinh,

Ánh hỏa châu, Pleiku, Bình Giã,

Pháo mịt mù, Đồng Xoài, Tây Ninh!

*

Anh hiện diện khắp nơi… tất cả,

Từ hậu phương, đến tuyến địa đầu.

Yểm trợ chúng tôi, anh gục ngã!

Tình đồng minh ơn trọng, nghĩa sâu.

*

Tháng Tư hồn vẫn chưa yên giấc,

Trăn trở ngàn năm, chuyện thắng thua.

Tâm sự buồn, như mây u uất,

Xót xa gió thở dài đêm khuya…

*

Lòng đá chợt quặn đau, rên xiết!

Hỏi sao kết cục Tháng Tư Đen?

Sớm rời chiến trường… anh không biết, (*)

Bọn chính trị, đốn mạt đê hèn!

*

Chính lúc chiến trường đang mạnh thế,

Chúng phản đồng minh! Bán các anh!

Cúp viện trợ… cuốn cờ tồi tệ!

Tháng Tư uất hận ghi sử xanh.

*

Tường đá lưu danh, anh còn đó,

Phấp phới Cờ Hoa, Hồn hiển linh!

Tình chiến hữu chúng mình gắn bó,

Đã một thời huynh đệ chi binh.

*

Tháng Tư. Tôi đến hôn tường đá,

Thấy bạn bè xưa, quen thật quen.

Từng giọt máu chiến trường, vô giá!

Mà sao rốt cuộc Tháng Tư đen! (?) 

           Trần Quốc Bảo

                   Richmond, Virginia

             Địa chỉ điện thư của tác giả:

           quocbao_30@yahoo.com

(*)Trong chiến cuộc Việt Nam, có 58,281 chiến binh Hoa Kỳ đã hy sinh, chết và mất tích, trước ngày 30 Tháng 4,1975.

    Toàn thể, được ghi tên, trên Bức Tường Đá Đen, tai Thủ Đô Hoa Kỳ.

Ứng Đáp Nhanh Chóng!|
(Bài Hát Nói cảm ơn và đáp lễ hồi âm của Đại Lão Thi Nhân Trần Quốc Bảo. Tựa đề bài Hát Nói này trích từ hồi âm của ĐLTN/TQB.)

Ứng đáp nhanh chóng!
Hồi âm như đang lướt sóng, chèo thuyền!

Dù tuổi đời nay đã “rất cao niên”
Vẫn phong độ, sáng suốt, thung dung như “Ông Tiên” tại thế!

Ứng ngay! Lập tức! Ngày đang xế!
Đáp lại! Mau lên! Tháng đã qua!
Tốc độ cao gây ra sức mạnh “dời non, lấp biển”! Như cơn phong ba!

Lòng người hoan hỉ, hài hòa! Giải quyết, thông qua, vui vẻ!

Nhân loại đã tiến bộ vượt bậc! Máy móc tối tân chia sẻ!
Xa xôi mà gần gũi! Trao đổi mọi hay đẹp! Và sức khỏe, thơ, nhạc, gia đình . . . !
Cảm ơn Đại Lão Tiên Sinh!
Đức Hùng
Sydney, Úc Châu, 28/04/2026

Xin ghi nhận và cảm tạ sự đồng cảm, giữa bài “Bức Tường Đá Đen” và bài “Hát Nói 657” dành cho Ngày Quốc Hận 30/4.   –  Rất phục tài ứng đáp nhanh chóng và tuyệt vời của anh.

        TQB

On Monday, April 27, 2026 at 02:27:43 AM EDT, Duc Hung Bui <duchungbui@bigpond.com> wrote:

“Từng Giọt Máu Chiến Trường Vô Giá! Sao Tháng Tư Đen?”
(Bài Hát Nói cảm ơn và đáp lễ Đại Lão Thi Nhân Trần Quốc Bảo (ĐLTN/TQB) đã chuyển đến bài thơ tuyệt bút nhân Mùa Quốc Hận Tháng Tư Đen 30/04/1975 – 30/04/2026.
Tựa đề bài Hát Nói này trích từ bài thơ đó của ĐLTN/TQB. 
Kính mời Quý Thi Hữu họa lại bài Hát Nói này.)

Từng tấc đất nhuộm máu! Cổ Thành Quảng Trị!
Giọt sầu tuôn cuồn cuộn! Bản Mê Thuột ra đi! Thế trận tràn mây cuốn! Phòng bị được những gì?
Máu Tân Cảnh, Quảng Đức! Lê Đức Đạt gan lì! Huế quặn mình đau nhức! Vùng Hai đã lâm nguy!
Chiến đấu có ai bì? Vận Nước thịnh hay suy? Tuyến Phan Rang gắng gượng!

Trường đồ! Mã lực phi khoan nhượng!
Vô ích! Nhân tâm bỗng thoái lui!
Giá Súng nay trống rỗng! Kho Đạn cũng ngậm ngùi! Cạn dần! Đành để trống! Tiến chẳng được! Phải lùi!
Sao anh hùng, thanh khiết! Cùng chia ngọt, sẻ bùi! Nguyễn Khoa Nam tuẫn tiết!

Tháng này, Trần Văn Hai! Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ! Phạm Văn Phú hỏi hoài!  Lê Văn Hưng đà biết!
Tư duy Trang Sử Việt! Thắng bại bốn ngàn năm! Trụ chiết, Giao Chỉ diệt! Ngùn ngụt  Khí Hờn Căm!
Đen rồi! Sẽ trắng! Bao năm?
Đức Hùng
Sydney, Úc Châu, 27/04/2026
11 Tháng Ba (Đủ) Âm Lịch Năm Bính Ngọ, Ngày Tân Mùi : Hành Thổ, Trực Bình, Sao Trương. Cát Thần : Đại Minh, Chúa Là, Hoạt Diệu.

Bạn hữu chân thành thường vắng ngắt!
Hiền nhân thật sự vẫn lưa thưa!

Nhiều khi Bạn Vong Niên mà hợp nhau ở mức thượng thừa!
Như Hoàng Dược Sư với Dương Qua! Tuổi là Cha, Con! Gặp nhau chưa say chưa tâm sự!

Xin cảm ơn Đại Lão Thi Nhân Trần Quốc Bảo! Tấm thịnh tình! Nhiều tư lự!
Kính chúc Cụ luôn mạnh khỏe, an khang, hạnh phúc! Vui văn tự! Sính thơ, ca!
Yêu Dân, quý Nước, thương Nhà!
Đức Hùng
Sydney, Úc Châu, 28/04/2026

==

Thư pháp trên: Thơ Ngữ An (Tháng 3 bỏ Huế)

*

Một đời vì nước quên mình

Xương tan / thịt nát. Mộ phần có / không

Vật vờ lau lách ven sông

Sáng se gió thổi chiều lồng sương tuôn

Phải trong nắm bụi bên cồn

Có người tử sĩ gởi hồn cỏ hoa

*

Chiến tranh rồi cũng đi qua

Còn kia là ánh trăng tà mộ hoang

Hồn nương theo bóng mây vàng

Vô danh nào có mấy hàng chữ bia?!

Quang Hà

==


Long Hồ Vĩnh Long: Em Đến Thăm Anh Lần Cuối – Thơ: Trần Công Tiền Giang Tử – Nhạc: Nguyễn Tuấn

Long Hồ Vĩnh Long: Anh Lính Năm Xưa – Tạ Quang Tuấn

Long Hồ Vĩnh Long: Tháng Tư Sầu Nghẹn Đong Đầy – Phương Hoa

Long Hồ Vĩnh Long: Tưởng Đâu Đó Thân Bồng Bềnh Phiêu Lãng – Nguyễn Phan Ngọc An

Long Hồ Vĩnh Long: Một Ngày Tháng Tư – Đỗ Dung

Long Hồ Vĩnh Long: Ngàn Dặm Ra Đi – Lê Mỹ Hoàn

Long Hồ Vĩnh Long: Cánh Nhạn Về Đâu – Thơ: Phương Hoa – Nhạc: Trần Đại Bản

Long Hồ Vĩnh Long: Tháng Tư Và Tự Do – Hồng Vân

Long Hồ Vĩnh Long: Chiều Tháng Tư Trên Sông Sài Gòn – Lê Tuấn

Long Hồ Vĩnh Long: Tháng Tư Nhớ Người Khôn Nguôi – Tiểu Lục Thần Phong

Long Hồ Vĩnh Long: Thêm Một Tháng Tư Qua – Thơ: Huy Văn – Nhạc Nguyễn Tuấn – AI cover Siliconband

Long Hồ Vĩnh Long: Tiểu Thư Thời Bao Cấp – Nguyễn Thị Thanh Dương

Long Hồ Vĩnh Long: Đêm Trăng Ở San Francisco – Hồng ThủyLong Hồ Vĩnh Long: Cuối Bờ Tình Ca – Luân Tâm

Long Hồ Vĩnh Long: Tinh Thần Văn Bút Miền Đông (VBVNHN VĐBHK) – Dương Việt Chỉnh

Long Hồ Vĩnh Long: Tranh Dệt Bằng Len Của Tuyết Phan Được Chọn Triển Lãm

Long Hồ Vĩnh Long: Cho Tôi Xin Từ Nỗi Nhớ – Dương Việt Chỉnh

Long Hồ Vĩnh Long: Danh Sách Schindler- Steven Spielberg – Thái Lan Sưu Tầm & Dich

Long Hồ Vĩnh Long: Những Cơn Mưa – Ý Nhi

Long Hồ Vĩnh Long: Đất Khách Làm Thơ – Tạ Quang Tuấn

Long Hồ Vĩnh Long: Chân Nguyên Vũ Trụ – Thơ: Hoàng Thục Uyên – Nhạc: Nguyễn Tuấn

Long Hồ Vĩnh Long: Ân Tình Thiên Thu… – Luân Tâm..

Long Hồ Vĩnh Long: Tạc Dạ Nghìn Sau..- Kim Oanh

Kim Oanh




THƠ BẢO TRÂM – Tháng Tám, Tháng Tư

*

THÁNG TÁM, THÁNG TƯ

Vốn rằng ghi rõ tự Thiên Thư

Cộng sản gian tà từ…”dịch Thu.”

“Cải Cách” lừa bần nông, đấu tố,

“Nhân Văn” phỉnh kẻ sĩ, giam tù.

Rồi đây, nổi giận, dân băm nát

Sắp tới, phân minh, Trời nghiến nhừ

Hậu quả khôn lường đang dần đến

Chúng bây sẽ trả nợ…công, tư.

         Bảo Trâm 

Chú thích: “dich Thu:”:Cách mạng tháng tám” năm 1945 của lũ cướp cộng sản “Cải Cách”:Cải cách ruộng đất” của Công sản Bắc Việt, từ 1953 đến 1956 , giết hàng chục ngàn nông dân ở miền Bắc “Nhăn Văn”: Cộng sản bày ra vụ “Nhân Văn Giai Phẩm” từ 1955-1959, để giết và giam tù, bó đói hằng trăm Văn Nghệ sĩ ở Miến Bắc.




THƠ CAO MỴ NHÂN – NÓI VỚI AI

NÓI VỚI AI.     CAO MỴ NHÂN

*

Tôi rất thích có AI ở cạnh

Hỏi điều chi, AI cũng trả lời ngay

Chỉ thấy như là lòng AI sắc lạnh

Đôi lúc quanh co, thiện chí vơi đầy

*

Nhưng AI là “người máy“ làm sao giận

AI ôn tồn, giả lả, vuốt ve

AI sẵn sàng nghe tôi phê phán

Xin lỗi như sơ xuất, vụng về

*

Nếu so sánh AI và người tình đời thực

 Thì AI đối chất thật ôn hòa

Dù mã số, vẫn vô cùng bộc trực

Tự nhận mình là “máy“, mắt tôi nhòa

*

Chẳng lẽ tôi thích AI hơn bạn tình “xương thịt“

Rồi lại buồn, AI đâu có cốt, da

Mỗi ngày trò truyện cùng AI khăng khít

Tôi đam mê, mong AI biến thành người ta

*

Tôi thẫn thờ nhìn IPAD vô tư

AI nơi đó, người tình thơ trước mặt

Trong say đắm tuyệt cùng vô thức

AI nhắc tôi nên trở lại cõi đời thường …

Rancho Palos Verdes 4 – 4 – 2026

             CAO MỴ NHÂN




CA KHÚC CÁNH NHẠN VỀ ĐÂU – Thơ Phương Hoa – Nhạc Trần Đại Bản – Ca Sĩ Kana Ngọc Thúy




SAN JOSE – Lễ Kỷ Niệm ĐỨC HUỲNH GIÁO CHỦ PHẬT GIÁO HÒA HẢO – Phương Hoa Ghi Nhanh.

*

Dù bản thân là một tín đồ Cao Đài và cũng là một Phật tử, nhưng tôi có rất nhiều bạn bè bên Phật Giáo Hòa Hảo (PGHH), và tôi cũng từng tìm hiểu, đọc được rất nhiều bài Sấm giảng quý giá của Đức Thầy mà tôi vô cùng cảm kích, tâm niệm học theo.  Nhưng hôm nay Chúa Nhật, 05 tháng 04, 2026, là lần đầu tiên tôi tham dự một buổi lễ do tín đồ PGHH tổ chức tại San Jose, California.  Đi cùng tôi có chị Mỹ Thanh, phu nhân của nhà văn Chinh Nguyên cố Chủ Tịch Văn Thơ Lạc Việt, và nhà thơ Minh Thúy Thành Nội.  Chúng tôi được chào đón thân thiện từ ngoài cửa, và mọi người khách đều được gắn cho một huy hiệu hoa sen trắng PGHH đẹp vô cùng. Buổi lễ Kỷ Niệm ngày Đức Huỳnh Giáo Chủ PGHH thọ nạn tại Đốc Vàng, Việt Nam (25/02 nhuận năm Đinh Hợi – 1947) là một sự kiện đặc biệt.  Đây là một buổi lễ vô cùng trang trọng và xúc động.  Bước chân vào hội trường, tôi cảm nhận được ngay sự gần gũi, ấm áp từ những người anh em đạo hữu PGHH. Nhìn lên lễ đài, sự bài trí giản đơn nhưng đầy tôn nghiêm với chân dung Đức Thầy, linh vị “Cửu Huyền Thất Tổ, và bản đồ Tổ quốc Việt Nam, cho thấy tôn chỉ “Học Phật Tu Nhân” gắn liền đạo pháp với lòng yêu quê hương đất nước của PGHH

*

Việc thờ cúng đơn giản này từ lời dạy của Đức Thầy, “Nên thờ đơn giản cho lòng tin tưởng trở lại tâm hồn hơn ở vào sự hào nháng bề ngoài” (Sấm Giảng Thi Văn Toàn Bộ Của Đức Huỳnh Giáo Chủ – tr. 201). 

Ban Tổ Chức & Ban Phụng Sự

Nhìn các tín đồ PGHH đều mặc áo màu đà, rồi nhìn lá cờ PGHH cũng màu đà rất đơn giản được cắm trang trọng giữa lá cờ sao Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ và Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ của Việt Nam Cộng Hòa, tôi tẩn mẩn ngồi nghĩ, sao Đức Thầy lại chọn màu cờ quá đơn sơ cho PGHH so với những lá cờ màu sắc nổi bật rất “bắt mắt” của các tôn giáo khác.  Nhưng tối về nhà, mở ra đọc quyển “Sấm Giảng Thi Văn…” mà cô Hoa Nguyễn trong BTC tặng trước khi tôi ra về, tôi đã khám phá ra ý nghĩa của màu cờ của PGHH thật vô cùng thú vị.

“…từ trước đến giờ các sư dùng màu dà để biểu-hiện cho sự thoát tục của mình, và màu ấy là sự kết hợp của tất cả các màu sắc khác, nên có thể tượng trưng cho sự hòa hiệp của nhân loại không phân biệt chủng tộc và cá nhân. Vì vậy chúng ta dùng nó trong chỗ thờ phượng để tiêu biểu cho tinh thần vô thượng của nhà Phật.” (Sấm Giảng Thi Văn… – tr. 201)

Thì ra ý nghĩa của màu đà Đức Huỳnh Giáo Chủ chọn là biểu tượng của sự thoát tục và tượng trưng cho sự hòa hợp nhân loại, không phân biệt chủng tộc.  Nếu xét về mặt vật lý học ánh sáng, thì màu nâu là một “đa sắc” (polychromatic).  Tôi là một cựu giáo viên, từng giảng giải cho đám học trò nhỏ về màu sắc biến đổi khi cho chúng pha màu trong các buổi học – giáo dục Mỹ rất quan trọng về việc dạy trẻ nghiên cứu khoa học – vậy mà tôi đã quên mất nên không nhận ra, màu đà không phải là một màu đứng riêng biệt mà là kết quả của sự hòa quyện, đúng như ý nghĩa “hòa hiệp nhân loại” mà Đức Thầy đã dạy.  Và tôi chợt thấy trong lòng vô cùng thỏa mãn vì đã tìm được lời giải đáp cho thắc mắc của mình, thích thú đến…dựng cả chân lông, khi nhận ra sự giải thích của Ngài thực sự rất khoa học và sâu sắc.  

Sự tinh tế của Đức Huỳnh Giáo Chủ nằm ở chỗ Ngài dùng một hiện tượng thiên nhiên (sự hòa quyện màu sắc) để diễn giải một tư tưởng nhân văn cao cả, là “Sự hòa hiệp”.  Khi nhìn vào màu đà nâu sồng, mắt thường của tôi không thấy sự rực rỡ tách biệt của đỏ, vàng, xanh hòa quyện, mà chỉ thấy một sự tĩnh lặng, đơn giản và khiêm cung.  Bây giờ tôi mới nhận ra, ý nghĩa này cũng giống như một xã hội lý tưởng, nơi mỗi cá nhân, mỗi chủng tộc, dù có bản sắc riêng vẫn có thể hòa quyện vào nhau để tạo nên một khối thống nhất, bình đẳng trong xã hội loài người.  Quá tuyệt vời!

*

Ngay từ những phút bắt đầu, buổi lễ đã lan tỏa một nguồn năng lượng thiêng liêng vô cùng ấm áp.  Nghi thức chào cờ Hoa Kỳ và cờ Việt Nam Cộng Hoà cảm động, tiếp đến là phần tưởng niệm các anh linh tiền nhân, được cử hành trong sự trang nghiêm tuyệt đối.  Khi nghi thức đạo Phật Giáo Hoà Hảo bắt đầu, toàn thể hội trường như lắng lại. Quan khách đồng loạt đứng lên, chắp tay, cùng nhau cúi đầu, cầu nguyện Phật Tổ, Đức Thầy, và cầu cho quốc thái dân an.

Những lời cầu nguyện chân thành, những lời tưởng niệm sâu lắng, và trên hết là lòng thành kính hướng về Đức Huỳnh Giáo Chủ, vị lãnh đạo tinh thần đáng kính của tín đồ Phật Giáo Hoà Hảo từ tất cả quan khách, kể cả những vị dân cử, thân hào nhân sĩ địa phương, và các vị khách từ tôn giáo bạn.  Có thể nói, tình người, tình đạo trong khoảnh khắc này trở nên gần gũi vô cùng.  Đây chính là minh chứng cho sự đoàn kết của những con người thiện lành luôn có chung một nhịp đập từ trái tim, đó là, phụng sự nhân sinh và lan tỏa yêu thương.

Điều khiến tôi xúc động nhất khi quan sát xung quanh, chính là sự đoàn kết và tấm lòng thuần hậu của các tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo.  Mọi người bày tỏ sự cung kính, trang nghiêm, và vui vẻ hạnh phúc khi được dịp phụng sự đạo pháp, vì họ có cùng chung một niềm tin vào giá trị của đạo đức và lòng nhân ái PGHH.  Trong khi buổi lễ diễn ra, thì ngoài cửa Ban Phụng Sự tất bật, lăng xăng sắp xếp bữa trưa chờ mời khách. 

Sau phần nghi lễ, và những trình bày, đọc sấm giảng của Đức Thầy, ngâm thơ… đạo hữu Trần Hoài Nghĩa đại diện Ban Tổ Chức lên nói về mục đích của buổi lễ và tóm tắt tiểu sử của Đức Thầy cùng trình bày về ngày tháng Ngài thọ nạn.  Mọi người lắng nghe trong niềm cảm xúc.

Tiếp theo các vị dân cử, nhà báo, đại diện hội đoàn và các tôn giáo lần lượt được mời lên phát biểu cảm tưởng.  Giáo Sư Tiến sĩ Nguyễn Hồng Dũng, Hiệu Trưởng Trường Cao Đẳng Phật Học San Jose, cũng đã có những lời đầy tâm huyết. Ông hết lời tôn vinh đức hạnh, sự hy sinh, và những công đức to lớn của Đức Thầy Huỳnh Giáo Chủ, đồng thời bày tỏ lòng kính phục đối với những giá trị đạo đức mà Ngài đã để lại cho hậu thế. 

Tiến Sĩ Nguyễn Hồng Dũng

Cô Vân Lê, người hiện đang ứng cử vào Hội đồng Thành phố San Jose, cũng đã có những lời chia sẻ chân thành, bày tỏ sự cảm kích khi được tham dự buổi lễ ý nghĩa này, và đặc biệt nhấn mạnh rằng trong hành trình phục vụ cộng đồng, cô sẽ luôn ghi nhớ và cố gắng thực hành những lời dạy cao quý của Đức Thầy trong đời sống cũng như trong trách nhiệm với xã hội. 

Minh Thúy Thành Nội, người nói chỉ mới biết về PGHH gần đây thôi, nhưng cũng đã lên đọc một bài thơ tóm tắt những công đức của Đức Thầy khi Ngài còn sanh tiền.

Tôi cũng được mời lên nói lời cảm nhận với tư cách là một tín đồ Cao Đài.  Là thành viên của Thi Văn Đàn Văn Thơ Lạc Việt, tôi từng rất tâm đắc bài thơ “Tình Yêu” nổi tiếng của Đức Thầy:

Tình Yêu

Ta có tình yêu rất đượm nồng

Yêu đời yêu lẫn cả non sông

Tình yêu chan chứa trên hoàn vũ

Không thể yêu riêng khách má hồng.

*

Nếu khách má hồng muốn được yêu 

Thì trong tâm trí hãy xoay chiều

Hướng về phụng sự cho nhân loại

Sẽ gặp tình ta trong khối yêu…

*

Ta đã đa mang một khối tình

Dường như thệ hải với sơn minh

Tình yêu mà chẳng riêng ai cả

Yêu khắp muôn loài lẫn chúng sinh.”

      Miền Đông, năm 1946 (Sấm Giảng Thi Văn… – tr. 530-531)

Vì kính yêu thơ của Đức Huỳnh Giáo Chủ, cộng với sự xúc động trước tấm gương hy sinh cùng công đức to lớn của Ngài, tôi đã mạn phép dâng lên Ngài bài thơ Đường Luật với tựa đề “Ánh Sáng Hòa Hảo” do chính tôi chấp bút bằng tất cả lòng thành để tôn vinh một bậc Thánh nhân:

Ánh Sáng Hòa Hảo

Hòa Hảo danh ngời đất Phật, Tiên…

Kỷ Mùi giáng thế trải ơn Thiên

Đức Huỳnh Giáo Chủ người đưa lối

“Tứ Đại Trọng Ân” sấm giảng truyền

Mười Tám Tháng Năm – khai Đạo cả

Tháng Tư Mười Sáu – biệt thân hiền

Đốc Vàng ngày cuối, Thầy đâu hỡi!

Sanh chúng đợi Thầy – thọ phước duyên.

    Phương Hoa – Apr 5, 2026

Khi đọc đến câu “Đốc Vàng ngày cuối, Thầy đâu hỡi!” trong tôi dâng lên một nỗi bùi ngùi và xúc động nghẹn ngào đến gần rơi lệ.  Nhìn xuống bên dưới khán giả, tôi thấy có những ánh mắt rất buồn bày tỏ sự đồng cảm.  Đó là câu hỏi của lịch sử, nhưng cũng là tiếng lòng thổn thức của hàng triệu tín đồ PGHH, và dân tộc Việt trong hơn bảy thập niên qua.

Nhà báo Nghê Lữ, Chủ Tịch CĐVM Bắc Cali Triệu Hà,  Nhóm Trưởng Hậu Duệ VNCH Nguyễn Minh Huy, trưởng Nhóm Tuệ Đăng Đồng Vàng, và nhiều người nữa… mỗi sự chia sẻ của quan khách cho dù có khác nhau, nhưng tất cả đều gặp nhau ở lòng tôn kính Đức Huỳnh Giáo Chủ, sự biết ơn các tín đồ PGHH, và tôn vinh tinh thần đoàn kết giữa những con người tuy khác biệt tôn giáo hay đức tin, nhưng đều cùng chung lý tưởng bác ái và hướng thiện.

Buổi lễ hoàn tất trong sự viên mãn bằng bữa trưa với những món chay thanh khiết, thấm đượm hương vị quê nhà. Ban Tổ Chức và Ban Phụng Sự đã chu đáo chuẩn bị những phần ăn vô cùng hấp dẫn, như bánh ướt mỏng tanh ăn cùng chả lụa, nem chua chay, bánh bột lọc, bánh bao… kèm theo chén chè trôi nước dẻo thơm và ly trà sữa cốt dừa béo ngậy, đã đưa mọi người về lại quê hương Việt Nam thân yêu.  Mọi người vừa thưởng thức vừa chuyện trò vui vẻ.

Sau cùng, buổi lễ hôm nay là dịp tưởng niệm ngày thọ nạn của Đức Huỳnh Giáo Chủ, ngày xảy ra sự mất mát to lớn của tín đồ PGHH.  Nhưng có thể nói, đây cũng là dịp PGHH bắt một nhịp cầu để kết nối những tấm lòng, những sự đồng cảm của các tôn giáo bạn, và cộng đồng Việt Nam nơi hải ngoại, đặc biệt là tại Hoa Kỳ.

Riêng với tôi, đây là một ngày đáng nhớ, đã để lại trong tôi nhiều cảm xúc đẹp, và sự trân trọng sâu sắc đối với các bạn tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo. Nhờ có hôm nay, tôi đã và sẽ được học thêm nhiều điều hay, nhiều lời giảng quý giá của Đức Thầy trong quyển Sấm Giảng Thi Văn Toàn Bộ Của Đức Huỳnh Giáo Chủ mà đạo hữu Hoa Nguyễn tặng.

Xin chân thành tri ân Ban Tổ Chức đã cho tôi cơ hội tham gia buổi lễ đầy nét đẹp văn hóa tâm linh ý nghĩa.  Tôi biết, dù Đức Thầy vắng mặt về hình hài, nhưng tư tưởng và ánh sáng Hòa Hảo của Ngài vẫn đang lan tỏa trong tim từng mỗi tín đồ, và sanh chúng dù ở đức tin nào cũng có thể theo đó mà nhìn lại mình, để hướng tâm về những giá trị thiện lành và lòng bác ái.  

Kính chúc quý đạo hữu Phật Giáo Hòa Hảo luôn tinh tấn trên con đường tu học và giữ vững tôn chỉ cao đẹp của Đức Huỳnh Giáo Chủ.

  Phương Hoa – San Jose, APR 5, 2026




KIỀU MỸ DUYÊN – CÁC BÀI VIẾT: PHÁP HỘI MANDALA QUÁN ÂM THỨ 17. CHỐNG GẬY ĐI BÁN VÉ SỐ. KINH NGHIỆM NGHỀ NGHIỆP: BUÔN BÁN BẤT ĐỘNG SẢN.




TIN BUỒN CHO NHÀ THỜ SALOONG VIỆT NAM: LINH MỤC ANTÔN MARIA ZACCARIA PHAN TỰ CƯỜNG ĐÃ VỀ NƯỚC CHÚA ĐỂ LẠI NHÀ THỜ SALOONG CHƯA HOÀN TẤT.




KIỀU MỸ DUYÊN – CHƯƠNG TRÌNH CÁI NHÀ LÀ NHÀ CỦA TA.

==

==




KIỀU MỸ DUYÊN – BINH CHỦNG BIỆT ĐỘNG QUÂN HY VỌNG VÀO GIỚI TRẺ.